Dictionary Search
phổ đà
Potala (S)
; Potala, Pottala, or Potalaka (skt)—Còn gọi là Bổ Đát Lạc Già Sơn. 1) Cửa khẩu cổ gần cửa sông Ấn Hà: An ancient port near the mouth of the Indus. 2) Điện Phổ Đà trong thủ đô La Sa của Tây Tạng: The Potala in Lhasa. 3) Hải đảo linh thiêng ngoài khơi Ningpo (người ta nói chính nơi đây Thiện Tài Đồng Tử đã nghe Đức Quán Thế Âm thuyết pháp lần thứ 28): The sacred island of Pootoo, off Ningpo.
phổ đà liệt tổ lục
(普陀列祖錄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Triều âm Thông húc (1649-1698) biên soạn vào đời Thanh, ấn hành năm Khang hi 35 (1686), được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Nội dung sách này thu chép lược truyện và cơ duyên của 43 vị Trụ trì hoằng pháp ở núi Phổ đà qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh từ ngài Chân yết Thanh liễu, Tự đắc Tuệ huy, đến các ngài Triều âm Thông húc và Cổ tâm Minh hỗ. Nhưng đa số chỉ được nêu tên mà thôi. Phần phụ lục ở cuối quyển có ghi thêm lược truyện của 5 vị từ các núi khác đến Phổ đà hoằng pháp như Thiên nhạc trú...
phổ đà lạc già sơn
Xem Quang minh sơn.
; Tên một tự viện trên đảo Phổ Đà (P'u-T'o)—Potalaka monastery on the island of Pootoo—See Phổ Đà (3).
phổ đà sơn
P'u-t'o shan (C), Putoshan (C)Một ngọn núi ngoài đảo ở tỉnh Chiết giang, một trong những trung tâm Phật giáo nổi tiếng nhất của Trung quốcXem Quang minh sơn.
; Phổ Đà Sơn là tên của một ngọn núi nổi tiếng về phía nam bờ biển Ấn Độ. Theo Kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện tại núi nầy để phổ độ chúng sanh. Phổ Đà Sơn là nơi có nhiều loại bông trắng nhỏ biểu hiện cho lòng khiêm tốn và đức tính từ bi của Bồ Tát Quán Âm—Potalaka Mountain, name of a famous mountain located on the southern coast of India. According to the Avatamsaka Sutra, Avalokitesvara Bodhisattva manifested herself there to save sentient beings. There are many small white flowers grow; this represents the modesty and compassionate behavior of Avalokitesvara Bodhisattva.
; (普陀山) Cũng gọi Bổ đà sơn, Bổ đà lặc ca sơn, Mai sầm sơn, Tiểu bạch hoa sơn. Núi nằm ở quần đảo Chu sơn, ngoài biển Đông, thuộc huyện Định hải, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, là Thánh địa của bồ tát Quan thế âm. Núi này cùng với các núi Ngũ đài, Nga mi và Cửu hoa là 4 núi nổi tiếng của Phật giáo Trung quốc. Trước đời Đường, tương truyền có các ẩn sĩ như Mai phúc, Cát hồng tu đạo tại đây, vì thế núi này còn được gọi là Mai sầm sơn. Vào khoảng năm Đại trung (847- 860), có 1 vị tăng Ấn độ đến đây, tự đốt 10 ngón tay, được thấy bồ tát Quan thế âm hiện thân thuyết pháp và trao cho vị này viên đá quí 7 màu, nên nơi này được truyền tụng là đất hiển thánh của bồ tát Quan âm. Vào năm Trinh minh thứ 2 (916) đời Hậu Lương thời Ngũ đại, khi ngài Tuệ ngạc –vị tăng người Nhật bản– thỉnh tượng Quan âm từ núi Ngũ đài về nước, thuyền đi đến đảo này cứ xoay vòng không chịu tiến lên, ngài Tuệ ngạc liền dừng lại đây xây dựng chùa để cúng dường và phỏng theo tên Bổ đà lặc ca (Phạm: Potakala), trụ xứ của bồ tát Quan thế âm ở Ấn độ mà đặt tên là Bảo đà. Từ thời Nam Tống về sau, các triều đại cúng dường rất nhiều tài vật, các chùa viện được kiến thiết trên khắp núi, tăng chúng mỗi ngày đông thêm, Phổ đà sơn bèn trở thành 1 đạo tràng lớn và khách thập phương về chiêm bái rất đông. Những người đi biển, khi qua đây cũng thường lên đảo để lễ bái cầu an. Niên hiệu Thiệu hưng năm đầu (1131), các tông phái Phật giáo ở núi Phổ đà thống nhất về Thiền tông. Năm Gia định thứ 7 (1214), lại qui định lấy việc thờ phụng bồ tát Quan thế âm làm chủ yếu. Các triều đại sau kế tiếp tạo lập chùa viện, am thất... trong đó có 3 ngôi chùa lớn nổi tiếng và 72 ngôi chùa nhỏ. Ba chùa lớn là các chùa: Phổ tế, Pháp vũ và Tuệ tế. Ngoài ra, các chùa viện nhỏ và am thất tổng cộng 218 ngôi và tăng ni hơn 2.000 vị. Chiều dài và chiều rộng của toàn núi khoảng 18 km. Mỗi năm khoảng giao mùa Xuân và Hạ, thiện nam tín nữ từ khắp nơi lũ lượt về núi Phổ đà hành hương, nghỉ mát, khiến nơi này trở thành 1 tùng lâm phồn thịnh nhất trong các tỉnh thuộc vùng Giang nam.Chùa Phổ tế chúng tăng đông, phạm vi rộng, đứng đầu toàn núi. Chùa này được xây dựng vào năm Nguyên phong thứ 3 (1080) đời Bắc Tống, gọi là chùa Bảo Đà Quan Âm. Năm Khang hi 38 (1699) đời Thanh, đại điện được xây lại và vua ban bảng hiệu Phổ Tế Quần Linh, nhân đó chùa lấy tên là Phổ tế. Trong đại điện thờ tượng kim thân đức Thích ca mâu ni, phía ngoài cổng chùa có cầu đá, ao sen, lầu chuông... Chùa Pháp vũ được kiến trúc dựa vào núi. Trong điện Quan âm thờ pho tượng Quan âm khắc bằng đá hoa, là 1 kiệt tác của nghệ thuật. Chùa Tuệ tế được sáng lập vào thời vua Thần tông nhà Tống, qua các đời đều được tu bổ. Ba chùa Phổ tế, Pháp vũ và Tuệ tế thuộc tông Lâm tế và Tào động. Ngọn Bạch hoa là đỉnh cao nhất của núi Phổ đà, thường được gọi là núi Phật đính, từ chân núi đến đỉnh có hơn 2.000 bậc đá, sườn núi có tảng đá Vân phất (phủi, quét mây), trên khắc 4 chữ Hải Thiên Phật Quốc (Biển trời nước Phật). Núi Phổ đà 4 mặt là biển bao bọc, có nhiều ngọn lởm chởm và hang động tự nhiên, lung linh mờ ảo, chót vót hiểm hóc. Tiếng sóng triều hòa lẫn với tiếng chuông chùa âm vang giao hưởng, tạo thành 1 cảnh biển trời nước Phật kì tuyệt mênh mang.
Phổ Đăng Lục
(普燈錄, Futōroku): xem Gia Thái Phổ Đăng Lục(嘉泰普燈錄, Kataifutōroku) ở trên.
phổ đẳng
Everywhere alike, universal equality, all equally.
; Tất cả mọi nơi đều giống nhau và bằng nhau (chỉ chúng sanh mọi loài)—Everywhere alike, universal equality, all equally.
phổ đẳng tam muội
(普等三昧) Chỉ cho Tam muội mà trong đó hành giả đồng thời được thấy tất cả chư Phật. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 thượng) nói: Nếu ta thành Phật, các chúng Bồ tát ở cõi nước phương khác, nếu được nghe tên của ta thì đều mau chóng chứng đắc Phổ đẳng tam muội. Trụ trong Tam muội này, cho đến khi thành Phật, thường thấy vô lượng bất khả tư nghị hết thảy Như lai. Về tên của Tam muội này, các kinh gọi có khác nhau, như bản Biệt dịch của hội Vô lượng thọ Như lai gọi là Bình đẳng tam ma địa môn, kinh Vô lượng thọ trang nghiêm gọi là Phổ biến bồ tát tam ma địa, kinhBi hoa quyển 6 gọi là Biến chí tam muội và kinh Đại bi phân đà lợi quyển 3 gọi là Phổ chí tam muội.
phổ đồng vấn tấn
(普同問訊) Cũng gọi Phổ thông vấn tấn, Phổ vấn tấn, Thập vấn tấn. Thăm hỏi vấn an toàn thể đại chúng, hoặc toàn thể đại chúng cùng thăm hỏi vấn an vị Trụ trì hoặc các bậc tôn túc. Điều Đại dạ niệm tụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1148 trung) nói: Người thụ thỉnh bước ra đốt hương, lui về chỗ cũ; đầu tiên, đến trước vị Trụ trì vấn tấn, chuyển sang trước Đông tự vấn tấn, lần lượt từ vị đầu đến vị cuối; rồi đến trước Tây tự vấn tấn, cuối cùng mới vấn tấn toàn thể đại chúng (Phổ đồng vấn tấn). [X. Thích thị yếu lãm Q.trung; Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên].
phổ độ
Universally to ferry across. Phổ độ chúng sinh: to deliver, or save, all beings.
; Mở rộng việc tế độ chúng sanh đáo bỉ ngạn, bao gồm cả việc thế phát độ Tăng—To relieve—Universally to ferry across, including helping people to leave home to become monks.
; (普度) I. Phổ Độ. Độ cho nhiều người cạo tóc xuất gia. Truyện Khổng thừa cung trong Tống sử ghi: Xin sửa chữa những ngôi chùa ở nơi bị chiến tranh tàn phá và độ cho nhiều người làm tăng ni. II. Phổ Độ. Cũng gọi Phổ độ chúng sinh. Ban bố pháp lực rộng rãi để cứu độ chúng sinh. Tức là Phật, Bồ tát thương xót chúng sinh trôi giạt, nổi chìm trong biển lớn sống chết, nên ban bố rộng rãi pháp lực để cứu độ khắp quần sinh, khiến cho họ thoát khỏi biển khổ sinh tử phiền não. Tín ngưỡng dân gian Trung quốc, hàng năm đến tháng 7 âm lịch, dân chúng sắm sửa thức ăn để cúng tế các vong linh, cũng gọi là Phổ độ. Phật giáo cũng có nghi thức Phổ độ đại trai. III. Phổ Độ (1196-1277). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, họ Sử, tự Hư chu. (xt. Hư Chu). IV. Phổ Độ (?-1330). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Đơn dương (huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô), họ Tưởng. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đông lâm tại Lô sơn, tham học nhiều nơi, sau trụ ở chùa Diệu quả tại Đơn dương và Thiện pháp đường chùa Đông lâm, chuyên tu Tam muội niệm Phật. Bấy giờ xuất hiện bọn người tự xưng là Liên tông mà chuyên hành tà pháp, sư thâm cảm niềm lo âu. Cho nên, vào năm Đại đức thứ 9 (1305), sư biên soạn Liên tông bảo giám, 10 quyển, để làm sáng tỏ chính tông của ngài Từ chiếu Tử nguyên. Tháng 5, niên hiệu Chí đại năm đầu (1308) đời Nguyên, vua Vũ tông hạ chiếu chỉ nghiêm cấm Liên tông hoạt động, sư liền quyết định đặt kế hoạch phục hưng. Tháng 10, sư đến chùa Pháp vương tại Kinh đô để cùng bàn bạc với Quốc sư Quán đính, rồi đem bộ Liên tông bảo giám do sư soạn dâng lên vua. Sau khi vua Nhân tông lên ngôi, sư lại dâng biểu xin được phục hưng Liên tông. Tháng giêng, niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), Nhân tông sắc lệnh ban hành Liên tông bảo giám trong nước, đề cử sư làm Giáo chủ Liên tông và ban hiệu cho sư là Hổ Khê Tôn Giả. Niên hiệu Chí thịnh năm đầu (1330) sư thị tịch. Người đời tôn là Ưu đàm tông chủ, tổ Trung hưng Liên tông. [X. bài Tựa trong Lô sơn Liên tông bảo giám; Tịnh độ thần chung Q.10; Tịnh độ toàn thư Q.hạ; Tịnh độ thánh hiền lục Q.4].
phổ độ chúng sanh
Cứu độ tất cả chúng sanh—To deliver, or save all beings.
Phổ Đức
普徳; C: pŭdé; J: futoku; K: podŏk|Tăng sĩ thuộc Cao cú lệ (k: koguryŏ), bị lưu đày sang Tân La vào thời Nguyên Hiểu (元曉, k: wŏnhyo). Là người nổi tiếng tinh thông về kinh Niết-bàn.
phổ đức bồ tát
Bodhisattva Universal Virtue.
Phổ Đức 普徳
[ja] フトク Futoku ||| Podŏk A Koguryŏ monk who was exiled to Silla during the time of Wŏnhyo 元曉. A reputed expert on the Nirvāna Sutra 涅槃經. (k: Podŏk) => Tăng sĩ thuộc Cao cú lệ (k: Koguryŏ), bị lưu đày sang Tân La (Silla) vào thời Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉). Là người nổi tiếng tinh thông về Kinh Niết-bàn.
Phổ 普
[ja] フ fu ||| Widely, generally, universally. => Rộng rãi, nói chung, toàn thể.
Phổ-đà sơn
普陀山; C: pǔtuó-shān; S: potalaka; cũng được gọi là Tiểu Bạch Hoa, Mai Sầm sơn;|Một ngọn núi trên đảo Phổ-đà, một trong Tứ đại danh sơn của Trung Quốc. Núi này là một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng tại đây và được xem là trú xứ của Bồ Tát Quán Thế Âm.|Một vài truyền thuyết kể lại việc Phổ-đà sơn trở thành trú xứ của Quán Thế Âm. Tên Phổ-đà vốn xuất phát từ chữ »Potalaka« của Phạn ngữ, tên của một hòn đảo tại Ấn Ðộ dương. Hòn đảo này cũng được biết là trú xứ của Quán Thế Âm. Năm 847, một vị tăng người Ấn Ðộ bỗng nhiên thấy Quán Thế Âm xuất hiện trong một hang động trên một ngọn núi. Sau đó, vị này đặt tên cho núi này là Potalaka, dịch âm là Phổ-đà.|Một truyền thuyết khác kể rằng, vào khoảng năm 850, một vị tăng đốt hết những ngón tay của mình để cúng dường. Nghe ông than thở, đức Quán Thế Âm hiện ra cứu giúp, vì ông thuyết pháp.|Một truyền thuyết rất nổi tiếng khác bảo rằng, một vị tăng người Nhật muốn thỉnh một tượng Quan Âm từ Ngũ Ðài sơn sang Nhật. Trên đường trở về nước thì thuyền của ông không may gặp bão. Ông nguyện trước bức tượng Quan Âm rằng, nếu thoát khỏi nạn này ông sẽ xây dựng một ngôi chùa để cúng dường. Ngay sau đó thì thuyền của ông – như được một bàn tay vô hình – được dẫn ngay đến núi Phổ-đà. Ðể báo ân, ông bèn lập một ngôi chùa tại đây và từ đó, Quan Âm cũng được xem là vị Bồ Tát chuyên giúp những người đi biển.
phụ cận
Adjacent—Near—Neighboring.
Phụ Giáo Biên
(輔敎編, Hokyōhen): trước tác của Phật Nhật Khế Tung (佛日契嵩), gồm 3 quyển, được thâu lục vào trong Đàm Tân Văn Tập (鐔津文集). Quyển thượng có phần Nguyên Giáo (原敎), Khuyến Thư (勸書); quyển trung có Quảng Nguyên Giáo (廣原敎) và quyển hạ có Hiếu Luận (孝論), Đàn Kinh Tán (壇經賛) và Chơn Đế Vô Thánh Luận (眞帝無聖論). Nó thuyết về sự nhất trí xưa nay về Ngũ Giới Thập Thiện của Phật Giáo với Ngũ Thường của Nho Giáo; Nho thì trị đời còn Phật thì trị tâm và nhờ có trị tâm mới làm cho việc trị thế được hoàn thành. Hơn nữa, tác phẩm này còn chủ trương rằng với vấn đề ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật Giáo hơn hẳn Nho Giáo; mặt khác chính nhờ các vị vương thần mà Phật Giáo tồn tại, cho nên Phật Giáo thể hiện tư thế khẳng định toàn diện đối với quyền lực quốc gia. Vào năm 1061, bộ này được trình lên cho vua Nhân Tông (仁宗), được nhóm Âu Dương Tu (歐陽脩) khen ngợi, rồi năm sau bản Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記) cũng được chấp nhận đưa vào kinh tạng, và Khế Tung được ban cho hiệu là Minh Giáo Đại Sư (明敎大師). Bộ này được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc cũng như Nhật Bản, và thỉnh thoảng được khai bản ấn hành. Đặc biệt, phần Nguyên Giáo và Hiếu Luận có ảnh hưởng rất lớn. Chính Trầm Sĩ Vinh (沉士榮) nhà Minh sau này đã kế thừa tư tưởng của Nguyên Giáo để viết ra cuốn Tục Nguyên Giáo Luận (續原敎論, Zokugenkyōron, năm 1385); còn ảnh hưởng của Hiếu Luận thì có thể tìm thấy ở Trung Phong Minh Bổn (中峰明本, 1263-1323) và Hàm Sơn Đức Thanh (憨山德清, 1546-1623) nhà Nguyên. Còn tại Nhật Bản thì Hiếu Luận cũng được lưu truyền rộng rãi đến nổi người ta đã cho in riêng phần này thành một bản. Ngoài ra ta có thể tìm thấy chủ trương giống như tác phẩm này qua cuốn Nhàn Cư Biên (閑居編, năm 1016) của vị tăng Thiên Thai Tông là Cô Sơn Trí Viên (孤山智圓).
phụ giáo biên
(輔教編) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Khế tung soạn vào đời Bắc Tống, được thu vào Đàm tân văn tập quyển 1-3 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung nói rộng về yếu nghĩa của Phật giáo để dung hòa 2 đạo Nho và Phật. Ngài Khế tung bác bỏ luận điệu bài Phật của Nho gia đương thời và đề xướng thuyết Nho Phật nhất trí (Nho và Phật là một). Ngài phối hợp 5 giới (sát, đạo, dâm, vọng, ẩm tửu) của Phật giáo với 5 thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) của nhà Nho và giải thích rõ ràng. Toàn sách gồm 5 thiên: Nguyên giáo, Khuyến thư, Quảng nguyên giáo, Hiếu luận và Đàn kinh tán. Các ông Tống liêm, Lí chi toàn viết lời tựa và ông Tử nhu soạn bài bạt.
phụ giúp
To help—To assist.
phụ họa
To repeat someone's opinion.
phụ khuyết
To be alternate.
phụ liêu
Deputy in a monastery.
phụ lục
Xem Truyền giới.
phụ lục thân
(父六親) Sáu hàng thân thuộc với cha. Tam tạng pháp số quyển 27 dẫn qui định trong luật có ghi rằng: Để tránh sự hiềm nghi của người đời, đức Phật cấm các tỉ khưu không được nhờ người nữ, hoặc tỉ khưu ni không phải là bà con họ hàng giặt giũ quần áo cho mình, vì thế mà có thuyết Phụ lục thân, Mẫu lục thân. Phụ lục thân là: 1. Bá: Bác của cha, đối với mình là ông bác. 2. Thúc: Chú của cha, đối với mình là ông chú. 3. Huynh: Anh của cha, đối với mình là bác. 4. Đệ: Em của cha, đối với mình là chú. 5. Nhi: Con của cha, đối với mình là anh em. 6. Tôn: Cháu của cha, tức là con của anh emruột, cũng là cháu trai, cháu gái thúc bá của mình.
phụ môn
Bị thua trong cuộc tranh luận—Positions that have been withdrawn from in argument—Defeated.
phụ mẫu
Cha mẹ—Father and mother—Parents. (A) Vô minh và tham ái được coi như là cha mẹ của phiền não và nghiệp chướng—The two 'ignorance and concupiscence' being the parents of all delusion and karma. 1) Phụ Vô Minh: Ignorance is referred to as father. 2) Mẫu Tham Ái: Desire or concupiscence as mother. (B) Tam Ma Địa cũng được coi như cha, và Bát Nhã được coi như mẹ của tất cả trí tuệ và công đức—Samadhi is also referred to as father, and prajna (wisdom) as mother, the parents of all knowledge and virtue. 1) Cha Tam Ma Địa: Samadhi is referred to as father. 2) Mẹ Bát Nhã: Prajna as mother. (C) Trong chập chùng sanh tử luân hồi, tất cả người nam đã từng là cha ta, và tất cả người nữ đã từng là mẹ ta (Nhứt thiết nam nữ ngã phụ mẫu trong kinh Tâm Địa Quán)—In the vast interchanges of rebirth all have been or are my parents, therefore all males are my father and all females my mother.
phụ mẫu phu thê tử tôn thân bằng quyến thuộc
Parents-Husbands and Wives-Children-Friends-Relatives—Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Tám, Cư Sĩ Duy Ma Cật đã nói về phụ mẫu, phu thê, tử tôn, thân bằng, quyến thuộc như sau—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Eighth, trong chúng hội có Bồ Tát tên Phổ Hiện Sắc Thân hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Cư sĩ! Cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc, những người trí thức là ai? Tôi tớ, trai bạn, voi ngựa, xe cộ ở đâu?”—A Bodhisattva called Universal Manifestation, who was present asked Vimalakirti: “Who are your parents, wife and children, relatives and kinsmen, official and private friends, and where are your pages and maids, elephants and horse carts?” Duy Ma Cật dùng bài kệ đáp rằng—In reply Vimalakirti chanted the following: 1) Trí độ mẹ Bồ Tát, phương tiện ấy là cha, Đạo sư tất cả chúng, đều do đấy sinh ra—Wisdom-perfection is a Bodhisattva's Mother, his father is expedient method, For the teachers of all living beings come, Only from these two (upaya and prajna). 2) Pháp hỷ chính là vợ, tâm từ bi là gái, tâm thành thực là trai, rốt ráo vắng lặng nhà—His wife is joy in Dharma's law; Kindness and pity are his daughters; His sons morality and truthfulness; Absolute voidness his quiet abode. 3) Trần lao là đệ tử, tùy ý mà sai xử, đạo phẩm vốn bạn lành, do đấy thành Chánh giác—Passions are his disciples Whom he transforms at will. Bodhipaksita dharma are his friends. Helping him to win supreme enlightenment.
phụ mẫu ân trọng kinh
(父母恩重經) Kinh 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Kinh này gồm có nhiều loại bản in, bản này là bản đào đượcở động Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, Trung quốc, nội dung nói về ân đức sâu dày của cha mẹ và khuyên mọi người vào ngày 15 tháng 7 hàng năm, nên thực hành pháp Vu lan bồn và thường viết chép, đọc tụng kinh này để đền đáp thâm ân của cha mẹ. Nhưng Khai nguyên thích giáo lục thì cho kinh này là do người Trung quốc ngụy tạo. Nhiều người cũng cho rằng đây là kinh giả được soạn vào khoảng trước hoặc đầu đời Đường. Kinh Phụ mẫu ân trọng được lưu thông ở Trung quốc, Nhật bản và có rất nhiều sách chú thích. Trong các tác phẩm văn học của Nhật bản, lời kinh này cũng thường được dẫn dụng, bởi thế có thể nói đây là một bộ kinh Phật bị Nho giáo hóa. Kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân được lưu hành ở Nhật bản và Triều tiên có nội dung rất khác với kinh này. Ngoài ra còn có các bức vẽ về kinh Phụ mẫu ân trọng được lưu truyền phổ biến qua nhiều đời. [X. Ngụy vọng loạn chân lục trong Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Triều tiên Phật giáo thông sử Q.thượng].
phụ nghi
(賻儀) Tiền bạc và phẩm vật tặng thân nhân của người chết để giúp vào việc làm đám tang.Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1128 trung) nói: ... Sau đó dâng tất cả tài vật (phụ nghi) lên để cúng tế, dùng không hết phải trả về thường trụ để thù lao cho những người giúp việc từ các chùa khác đến.
phụ nhân
1) See Phụ (6). 2) Vợ: A wife.
phụ nhân ngộ cô kinh
(婦人遇辜經) Cũng gọi Phật ngộ đối kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thánh kiên dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh thuật lại chuyện của 1 người đàn bà chỉ trong thời gian ngắn mà chồng, con, cha mẹ đẻ, thân nhân nhà chồng... cứ theo nhau mà chết. Vì gặp nỗi bất hạnh ấy, nên trong lòng người quả phụ lo sầu, sợ hãi quá đến nỗi phát khùng. Sau, bà đến tinh xá Kì viên trong vườn Cấp cô độc, đức Phật nói pháp cho nghe (Đại 14, 944 trung): Mệnh người vô thường, có hợp thì có tan, có sống ắt có chết, tất cả đều như thế, không ai tránh khỏi. Nghe xong, người bà tỉnh ngộ và phát đạo tâm.
phụ nữ
Itthī (P), Strī (S), Woman.
phụ phàng
To put away (betray—desert) one's wife or husband.
phụ phật pháp ngoại đạo
Ngoại đạo nằm ngay trong lòng Phật Giáo (chỉ những người mang danh Phật tử mà luôn bị tà vạy mê hoặc)—Heretics within Buddhism.
; (附佛法外道) Chỉ cho những kẻ nương nhờ Phật giáo, sống trong Phật giáo mà lập ra học thuyết sai lầm, phản lại chính nghĩa của Phật giáo. Là 1 trong 3 loại ngoại đạo được đề cập đến trong Ma ha chỉ quán. Như tông Hoa nghiêm cho Độc tử bộ của Tiểu thừa là Phụ Phật pháp ngoại đạo. Ma ha chỉ quán quyển 10, phần đầu (Đại 46, 132 trung) nói: Có ba hạng người sai lầm: 1. Ngoại đạo ngoài Phật pháp. 2. Ngoại đạo nhờ vào Phật pháp. 3. Học Phật pháp trở thành ngoại đạo. Trong 3 trường hợp nêu trên, ngoại đạo ngoài Phật pháp là chỉ cho giáo pháp ngoài Phật pháp, hoặc người mà họ tin thờ. Còn những người tuy học giáo pháp của Phật, nhưng sự hiểu biết của họ lại trái ngược với Phật pháp, nên gọi là học Phật pháp mà trở thành ngoại đạo.
phụ thuộc
Xem Hữu vi.
phụ thuộc lẫn nhau
Interdependent
phụ thành
Thành của phụ vương của Đức Phật hay thành Ca Tỳ La vệ—The paternal or native city, especially Sakyamuni, Kapilavastu.
; (父城) Thành của phụ vương đức Phật, tức là thành Ca tì la, nơi vua Tịnh phạn đóng đô, nên gọi là Phụ thành, cũng là nơi sinh của đức Phật.
phụ thân
Cha—Father—Daddy.
phụ trách
To undertake—To assume the responsibility.
phụ trọng (núi)
Vebhara (P).
phụ tuỳ
(附隨) Pàli: Purivàra. Cũng gọi Phụ lục. Phần phụ lục củatạng Luật, 1 trong 3 bộtạng Luật bằng tiếng Pàli. Nội dung của phần này chủ yếu là giải thích các giới điều, gồm 19 chương: Đại phân biệt, Tỉ khưu ni phân biệt, Nhiếp tụng đẳng khởi, Vô nhàn tỉnh lược và Diệt tránh phân giải, Vấn kiền độ, Tăng nhất pháp, Bố tát sơ giải đáp và Chế giới nghĩa lợi luận, Già đà tập, Tránh sự phân giải, Biệt đích già đà tập, Ha trách phẩm, Tiểu tránh, Đại tránh, Ca hi na y phân giải, Ưu bà li vấn ngũ pháp, Đẳng khởi, Đệ nhị già đà tập, Phát hãn kệ, Ngũ phẩm.
phụ tá
To assist—To help.
phụ tâm
Ungratefulness.
phụ tình
See Phụ Phàng.
phụ tùy
Parivāra (S)Phụ lục, Hậu Thiên; Quyến thuộcMột nội dung trong Luật tạng, gồm 19 phẩm và 19 chương.
; Parivàra (S). Appendix of Vinaya.
Phục
伏; C: fú; J: buku;|Có các nghĩa: 1. Chinh phục, hàng phục, ngăn chặn, đánh bại (s: abhibhava, nigraha). Thuật ngữ nầy thường dùng để chỉ sự hàng phục phiền não. Khi đi cùng với thuật ngữ Đoạn (斷) thì nó có nghĩa là sự khởi đầu, giai đoạn đầu của việc chuyển hoá phiền não, vì thuật ngữ đi sau là Đoạn (斷) liên quan đến sự chuyển hoá rốt ráo toàn bộ phiền não, khác với việc đè nén, đối trị. Trong ý nghĩa nầy, nó đồng nghĩa với Trị (治), xem Phục đoạn (伏斷); 2. Ẩn nấp, che đậy, náu mình, tiềm ẩn.
; 服; C: fú; J: fuku; |1. Mặc; 2. Áo quần; 3. Theo, lắng nghe, cùng đi với. Đáp ứng, phục vụ.
phục
1) Y phục: Clothes. 2) Phúc đáp: To reply. 3) Phục hồi: To revert—Again. 4) Phục: To admire—To esteem. 5) Tang phục: Mourning clothes. 6) Nuốt: To swallow.
phục bái
Bái phục—To prostrate oneself.
phục bát
(伏鉢) Chỉ cho hình dáng cái bát úp, 1 kiểu kiến trúc tháp Phật ở Ấn độ. Tức phần trên của thân tháp Phật có hình dáng tròn như cái bát úp, thường được gọi là Đẩu hình (hình cái đấu). Trong các kiểu tháp Phật thì hình bát úp là xưa nhất và được cấu thành bởi các bộ phận: Lan can, nền tháp, thân tháp, bát úp, đầu bằng, luân can (cột đỡ bánh xe), tướng luân (những bánh xe), bảo bình (bình báu)... Theo phương pháp xây tháp Phật thời xưa ở Ấn độ thì bát úp là phần nền của Cửu luân (9 bánh xe), trên Cửu luân có đặt Lộ bàn (vật hình tròn giống như cái mâm), nhưng nay thì Lộ bàn được dùng làm phần nền của tướng luân, trên tướng luân đặt bát úp, khác hẳn với kiểu cổ. (xt. Cửu Luân, Thừa Lộ Bàn, Tướng Luân, Tháp).
phục chức
To reinstate someone—To restore someone to his former position.
Phục diệt
伏滅; C: fúmiè; J: bukumetsu;|Có các nghĩa: 1. Phá huỷ, cắt đứt, trừ diệt, làm tiêu tan (s: vinivartate; t: ldog pa); 2. Hàng phục và làm tiêu tan hết sạch phiền não. Đồng nghĩa với Phục đoạn (伏斷; theo Thành duy thức luận 成唯識論).
Phục diệt 伏滅
[ja] ブクメツ bukumetsu ||| (1) To destroy, cut off, exterminate, extinguish (Skt. vinivartate Tib. ldog pa). (2) To subdue and then extinguish defilements. Synonymous with 伏斷.〔成唯識論T 1585.31.48b〕 => Có các nghĩa: 1. Phá hủy, cắt đứt, trừ diệt, làm tiêu tan (s: vinivartate; t: ldog pa ) 2. Hàng phục và làm tiêu tan hết sạch phiền não. Đồng nghĩa với Phục đoạn. Theo Thành Duy Thức Luận.
phục dâm kinh
(伏淫經) Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp cự dịch vào đời Tây Tấn, tức là kinh Hành dục trong Trung a hàm. Nội dung kinh này thuật lại việc trưởng giả Cấp cô độc phân biệt rõ ràng về sự tốt xấu của việc mưu cầu và thụ dụng của cải. Chữ dâm ở đây không phải chỉ cho dâm dục mà là chỉ cho việc tìm cầu của cải một cách phi pháp, buông thả không có lễ phép.
phục dược
To take the medicine.
phục dịch
To serve (attend) someone.
phục hoạt
Sống trở lại—To return to life—To live again—To resurrect.
phục hoặc
To tame binding karmas—Phục hoặc có nghĩa là hành giả đã đạt được thành tựu tâm linh nào đó có thể hàng phục được các hoặc nghiệp trói buộc—To tame binding karmas means the cultivator has reached certain spiritual achievements to remain somewhat free from his or her karmic afflictions.
phục hy
Fu-Hsi (C)Tên một vị sư. Cai trị từ 2952-2836 hoặc 2852-2737 BC, thời Tam Hoàng, chồng bà Nữ Oa,.
phục hình
To suffer a punishment.
phục hưng
To rise again—To revive.
phục hồi
To restore.
phục hồi sức khỏe
To restore one's health.
phục hồn
To call (raise) a spirit.
Phục hổ
伏虎; C: fúhǔ; J: fukko;|Có các nghĩa sau: 1. Người hàng phục hổ (Phục hổ nhân), tên ám chỉ Đức Phật và các vị Tổ sư kiệt xuất đã dùng giáo pháp để hàng phục mọi oán nghịch; 2. Tên của một bậc cổ đức, được thêm vào trong bản gốc 16 vị A-la-hán để thành 18 vị (Thập bát A-la-hán 十八羅漢, vị kia là Hàng Long A-la-hán).
Phục hổ 伏虎
[ja] フッコ fukko ||| (1) A "subduer of lions"--a name applied to Śākyamuni or other eminent Buddhist teacher whose preaching of the dharma overcomes all opposition. (2) The name of an ancient worthy whose name was added to the list of the original sixteen arhats to make eighteen arhats 十八羅漢. => Có các nghĩa sau: 1. Người hàng phục hổ (Phục hổ nhân)- tên ám chỉ Đức Phật và các vị Tổ sư kiệt xuất đã dùng giáo pháp để hàng phục mọi oán nghịch. 2. Tên của một bậc cổ đức, được thêm vào trong bản gốc 16 vị A-la-hán để thành 18 vị (vị kia là Hàng Long A-la-hán).
Phục Kiến Thiên Hoàng
(伏見天皇, Fushimi Tennō, tại vị 1287-1298): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thời Liêm Thương, vị Hoàng Tử thứ 2 của Hậu Thâm Thảo Thiên Hoàng (後深草天皇, Gofukakusa Tennō, tại vị 1246-1259), tên là Hy Nhân (熙仁, Hirohito), còn gọi là Trì Minh Viện Điện (持明院殿). Sau khi nhường ngôi, ông làm Viện Chính.
phục ma pháp sư
Abhicāraka (S)Người hàng phục ma quái.
phục mệnh
To carry out an order.
phục nguyện
To make a vow.
Phục Ngưu Tự Tại
(伏牛自在, Fukugyū Jizai, 741-821): người Ngô Hưng (呉興, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Lý (李). Ông xuất gia ở Kính Sơn (徑山), rồi đăng đàn thọ giới tại Tân Định (新定). Sau ông đi tham vấn khắp các nơi, và cuối cùng đạt ngộ với Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) ở Nam Khang (南康, Tỉnh Giang Tây). Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-820), ông thâm giao với Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然) ở Hương Sơn (香山) và còn giao hảo thư từ qua lại với Nam Dương Huệ Trung (南陽慧忠). Ông đã từng đi ngao du khắp các nơi như Long Môn (龍門), Ngọc Ốc Sơn (玉屋山), Tung Sơn (嵩山), v.v., và cuối cùng đến trú tại Phục Ngưu Sơn (伏牛山), Lạc Dương (洛陽, thuộc Tỉnh Hà Nam). Vào năm đầu niên hiệu Trường Khánh (長慶), ông thị tịch tại Khai Nguyên Tự (開元寺), Tùy Châu (隨州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc), hưởng thọ 81 tuổi.
Phục nhẫn
伏忍; C: fúrěn; J: bukunin;|Điều nhẫn nhục thứ nhất được dạy trong Nhân vương kinh (仁王經). Phục nhẫn là giữ cho phiền não không sinh khởi.
phục nhẫn
Nhẫn thứ nhất trong ngũ nhẫn—The first of the five forms of submission—See Ngũ Nhẫn.
; (伏忍) Áp phục phiền não không cho hiện hành, là nhẫn đầu tiên trong 5 nhẫn. Bậc Tam hiền trước Thập địa chưa được trí vô lậu, không thể chứng quả, chỉ tu tập quán xét, dùng thắng trí hữu lậu chế ngự phiền não, nên gọi là Phục nhẫn. Có thể chia làm 3 phẩm Thượng, Trung, Hạ. 1. Hạ phẩm: Tức giai vị Thập trụ. Trước hết, khởi Thập tín, vượt Tiểu thừa, khởi ít phần của việc hóa tha. 2. Trung phẩm: Tức giai vị Thập hành. Tu hành 10 Ba la mật, quán thân, thụ, tâm, pháp đều bất tịnh, khổ, vô thường, vô ngã để đối trị 3 căn bất thiện: Tham, sân, si và sinh khởi 3 căn thiện: Thí, từ, tuệ. Ngoài ra còn quán xét 3 đời mà được Quá khứ nhân nhẫn, Hiện tại nhân quả nhẫn, Vị lai quả nhẫn làm lợi ích rộng lớn cho chúng sinh. 3. Thượng phẩm: Tức giai vị Thập hồi hướng. Ở giai vị này hành giả có được 10 nhẫn, tức quán xét 5 uẩn thì được: Giới nhẫn, định nhẫn, tuệ nhẫn, giải thoát nhẫn, giải thoát tri kiến nhẫn; quán xét nhân quả trong 3 cõi thì được: Không nhẫn, vô tướng nhẫn, vô nguyện nhẫn; quán xét các pháp Nhị đế là vô thường thì được vô thường nhẫn và, cuối cùng, quán xét tất cả pháp là không, thì được Vô sinh nhẫn. (xt. Ngũ Nhẫn).
Phục nhẫn 伏忍
[ja] ブクニン bukunin ||| The first of the five forbearances taught in the Ren wang jing 仁王經. The "subduing forbearance," where the afflictions are kept from arising. => Điều nhẫn nhục thứ nhất được dạy trong Kinh Nhân Vương (c: Ren wang jing 仁王經). Phục nhẫn là giữ cho phiền não không sinh khởi.
phục pháp
See Phục hình.
phục phịch
Fat and clumsy.
phục sinh
Ngoại đạo tin rằng có cái gọi là “Sống lại”—Externalists believe that there exists a so-called Resurection (come to life again or return from the dead).
phục sức
Hoàn tục (người đã một lần tháo bỏ đồ trang sức để xuất gia, nay lại để tóc dài mặc đồ thế tục nên gọi là phục sức)—To return to ordinary garments, i.e. to doff the robes for lay life—Clothes and adornments.
Phục thi
(伏屍・伏尸): thây chết nằm trên mặt đất, như trong Chiến Quốc Sách (戰國策), phần Ngụy Sách (魏策) thứ 4 có câu: “Nhược sĩ tất nỗ, phục thi nhị nhân, lưu huyết ngũ bộ (若士必怒、伏屍二人、流血五步, nếu là kẻ sĩ tất uy thế, xác chết hai người, máu chảy dài năm bước).” Hay trong Văn Tuyển (文選), phần Cổ Nghi (賈誼), Quá Tần Luận (過秦論) lại có câu: “Truy vong trục bắc, phục thi bách vạn, lưu huyết phiêu lỗ (追亡逐北、伏尸百萬、流血漂櫓, đuổi giặc về phướng bắc, thấy chết cả trăm vạn, máu chảy đầy khắp).” Hoặc trong Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) quyển 317 có đoạn: “Trung hữu phục thi, Trúc dạ văn kỳ khấp thanh, hốt kiến nhất phụ nhân, đản bối nhi lai (中有伏尸、竺夜聞其泣聲、忽見一婦人、袒背而來, bên trong có thấy chết; ban đêm Trúc nghe tiếng khóc của thây ma đó, lại chợt thấy một phụ nữ, mặc áo để lộ vai đi đến).” Trong Phật Thuyết Địa Tạng Bồ Tát Phát Tâm Nhân Duyên Thập Vương Kinh (佛說地藏菩薩發心因緣十王經, CBETA No. 20) cũng có đoạn như sau: “Như kim chúng sanh, y ngã tu thiện, linh đắc Phật đạo; nhất thiết chúng sanh, diệc phục như thị, thất chủng phách thức; nhất danh Tước Âm Phách Thần Thức, nhị danh Thiên Tặc Phách Thần Thức, tam danh Phi Độc Phách Thần Thức, tứ danh Thi Cấu Phách Thần Thức, ngũ danh Xú Phế Phách Thần Thức, lục danh Trừ Uế Phách Thần Thức, thất danh Phục Thi Phách Thần Thức (如今眾生、依我修善、令得佛道、一切眾生、亦復如是、七種魄識、一名雀陰魄神識、二名天賊魄神識、三名非毒魄神識、四名尸垢魄神識、五名臭肺魄神識、六名除穢魄神識、七名伏尸魄神識, như nay chúng sanh, theo ta tu thiện, khiến được Phật đạo; hết thảy chúng sanh, cũng lại như vậy, bảy loại phách thức; một là Tước Âm Phách Thần Thức, hai là Thiên Tặc Phách Thần Thức, ba là Phi Độc Phách Thần Thức, bốn là Thi Cấu Phách Thần Thức, năm là Xú Phế Phách Thần Thức, sáu là Trừ Uế Phách Thần Thức, bảy là Phục Thi Phách Thần Thức).”
phục thiện
Làm lành lánh ác—To yield to reason—To do good and get rid of evil.
phục thuỷ luận sư
(服水論師) Phái ngoại đạo chủ trương nước là nguyên nhân sinh ra muôn vật, là một trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Phái ngoại đạo này cho rằng nước là gốc của muôn vật. Nước sinh ra trời đất và hết thảy hữu tình, vô tình; dưới đến địa ngục A tị, trên đến cõi trời A ca ni tra, tất cả đều lấy nước làm chính. Lại vì nước sinh ra vạn vật, mà cũng hủy hoại vạn vật, nên gọi là Niết bàn. Cứ theo phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 và Đại nhật kinh sớ quyển 1, thì Địa đẳng biến hóa ngoại đạo trong 30 loại ngoại đạo chấp rằng 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, không là chân thực, vả lại, mỗi đại đều là nhân sinh ra chúng sinh vạn vật, nếu cúng dường 5 đại thì được giải thoát. Trong đó, ngoại đạo chấp nước có lẽ tương đương với Phục thủy luận sư này. [X. Trung quán luận sớ Q.3, phần đầu; Ngoại đạo triết học].
phục thù
To take revenge.
phục thủy luận sư
Một trong 20 thứ ngoại đạo. Phục Thủy Luận Sư cho rằng nước là căn bản của vạn vật. Nước có khả năng sanh ra trời đất; nước cũng có bản năng hủy hoại vạn hữu. Ngoại đạo nầy lấy nước làm cứu cánh Niết Bàn—The sect of non-Buddhist philosophers (one of the twenty heretic sects) who considered water the beginning and end of all things.
phục tòng
To obey—To yield—To submit.
phục tạng
(伏藏) I. Phục Tạng. Nơi chôn giấu báu vật trong lòng đất. Từ xưa, các chùa viện lớn ở Ấn độ, Nhật bản đều có thiết trí Phục tạng để cất giữ vàng bạc, trân bảo và kinh điển. Ở Tây tạng, người ta cũng từng đào được kinh sách của Phật giáo đời xưa. Tương truyền, vào thế kỉ VIII, IX, các ngài Liên hoa sinh... đem những kinh điển Phật giáo viết tay rất đẹp chôn xuống đất, hoặc cất giấu trong hang núi. Sau, các vị tăng như: Nương ni mã nga sắc (1124-?) và Cổ như khước cát vượng thu (1212-1237) đã lần lượt đào tìm được, gọi là Thượng hạ lưỡng đại phục tạng(Hai kho tàng lớn trong núi và dưới đất). Thế kỉ XV, ngài Nhiệt đặc na lâm ba hối khắc bảnnhữngkinh điển đào được này và ấn hành, đặt tên là Nam bộ phục tạng. Thế kỉ XVI, ngài Nhân tăng quách cát đăng khúc kiên lại đào được những kinh điển khác và khắc in, gọi là Bắc bộ phục tạng. Trong đó gồm có: Ngũ bộ di giáo, Liên hoa sinh di giáo và một số sách thuộc y học. Ngoài ra, kinh Di lặc hạ sinh thành Phật ghi: Trong vị lai, khi Phật Di lặc hạ sinh có 4 Đại tạng từ lòng đất tự nhiên vọt lên, đó là: Đại tạng Đại Y lặc bát ở nước Kiền đà la, Đại tạng Ban trục ca ở nước Di đề la, Đại tạng Tân già la ở nước Tu la tra và Đại tạng Nhương khư ở nước Ba la nại. [X. phẩm Phi thường trong kinh Tăng nhất a hàm Q.49; kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q.1; Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp; luật Tứ phần Q.1; điều Ca tất thí quốc trong Thích ca phương chí Q.thượng]. II. Phục Tạng. Thí dụ phục tạng. Tức chuyện cô gái nghèo không biết trong nhà mình có kho cất giấu của báu dưới đất, đến khi bậc trí chỉ bảo cho mới biết và đào được. Đây là ví dụ chúng sinh không biết trong tự thân có tính Phật, đợi đến khi Phật thuyết pháp chỉ bày mới giác ngộ được. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.7 (bản Bắc); Vô lượng thọ Như lai hội trong kinh Đại bảo tích].
phục vụ
To serve.
Phục đoạn
伏斷; C: fúduàn; J: fukudan;|Có các nghĩa: 1. Sự hàng phục và đoạn trừ phiền não. Phục ám chỉ việc giải trừ sức mạnh và ảnh hưởng của phiền não và Đoạn chỉ cho sự tiêu diệt phiền não vĩnh viễn. Đồng nghĩa với Phục diệt (伏滅); 2. Giải trừ phiền não với ý nghĩa đè nén, phản nghĩa với sự diệt trừ vĩnh hằng (vĩnh đoạn 永斷; theo Du-già luận 瑜伽論).
phục đoạn
(伏斷) Tức phục hoặc và đoạn hoặc. Áp phục phiền não không cho sinh khởi trong nhất thời, gọi là Phục hoặc; dứt hẳn hạt giống của phiền não, làm cho vĩnh viễn không sinh khởi được nữa, gọi là Đoạn hoặc. Dùng đạo hữu lậu để đối trị chỉ có thể phục hoặc; phải nhờ vào đạo vô lậu mới có thể đoạn hoặc. (xt. Phục Đạo).
Phục đoạn 伏斷
[ja] フクダン fukudan ||| (1) The suppression 伏 and severing 斷 of defilements. Suppression implies removing their power and effectiveness and severing implies their permanent extinction. Synonymous with 伏滅. (2) The removal of defilements in the category of suppression. As contrasted to permanent removal of defilements 永斷. 〔瑜伽論T 1579.30.675b6〕 => Có các nghĩa: 1. Sự hàng (phục) và (đoạn) trừ phiền não. Hàng (Phục) ám chỉ giải trừ sức mạnh và ảnh hưởng của phiền não và Đoạn ám chỉ sự tiêu diệt phiền não vĩnh viễn. Đồng nghĩa với Phục diệt伏滅.2. Sự chuyển hoá phiền não chỉ trong dạng đè nén nhất thời. Ngược với sự chuyển hoá phiền não vĩnh viễn (vĩnh đoạn 永斷)
phục đà mật đa
Buddhamitra (skt)—Vị tổ thứ chín trong hai mươi tám tổ Ấn Độ, tác giả của bộ Ngũ Môn Thiền Kinh Yếu Dụng Pháp—Buddhamitra, the eighth patriarch of the twenty-eight patriarchs in India, author of the Pancadvara-dhyana-sutra-mahartha-dharma.
phục đạo
(伏道) Cũng gọi Năng phục đạo. Đạo lực hữu lậu và vô lậu áp phục sự hiện hành của phiền não nghiệp chướng. Phục đạo này thông cả 2 đạo hữu lậu, vô lậu và 3 trí gia hạnh, căn bản, hậu đắc. Trong đó, đạo hữu lậu do tu tập 6 hành quán thích cảnh giới trên, chán cảnh giới dưới để áp phục hoặc chướng; đạo vô lậu dùng trí vô phân biệt đoạn trừ sở tri chướng cùng khởi với định, pháp, ái, nhờ thế lực đó khiến cho phiền não chướng không khởi hiện hành được. Trí gia hành thì dần dần chế phục tùy miên của 2 chướng; còn trí căn bản và trí hậu đắc thì có năng lực đè bẹp hoặc chướng ngay tức khắc. Nói gọn lại, trí gia hạnh và đạo hữu lậu có thể phục đạo chứ không thể đoạn đạo; còn trí căn bản, trí hậu đắc và đạo vô lậu thì vừa phục đạo lại vừa đoạn đạo. Nhưng Thuyết nhất thiết hữu bộ thì cho rằng phục đạo chỉ thông với đạo hữu lậu thế tục, chứ không thông với đạo vô lậu, hơn nữa, chỉ ở trước giai vị Kiến đạo mới có thể phục đạo. [X. luận Thành duy thức Q.10; Đại tì bà sa Q.166; luận Câu xá Q.22; Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần cuối; Đoạn kết nghĩa trong Đại thừa nghĩa chương Q.9]. (xt. Đoạn Đạo).
Phục ưng
服鷹; C: fú yīng; J: fukuyō; |Giữ trong tâm, ghi nhớ kĩ. Nhớ một cách trọn vẹn.
Phục ưng 服鷹
[ja] フクヨウ fukuyō ||| To keep in one's heart. To keep in one's mind. To remember perfectly. => Giữ trong tâm, ghi nhớ kỹ. Nhớ một cách trọn vẹn.
Phục 伏
[ja] ブク buku ||| (1) To subdue, overcome, suppress, defeat (abhibhava, nigraha). This term is often used in reference to the subduing of afflictions. When it is paired with the term 斷 it indicates a preliminary, or partial degree of elimination, as the latter term refers to the complete and final eradication of the afflictions, as opposed to their mere suppression. In this technical sense, it is synonymous with 治. See also 伏斷. (2) To cover, conceal, hide, submerge. [隱] => Có các nghĩa: 1. Chinh phục, hàng phục, ngăn chặn, đánh bại (s: abhibhava, nigraha). Thuật ngữ nầy thường dùng để chỉ sự hàng phục phiền não. Khi nó đi cùng với thuật ngữ Đoạn 斷, thì nó có nghĩa là sự khởi đầu, giai đoạn đầu của việc chuyển hóa phiền não, vì thuật ngữ sau (Phục) liên quan đến sự chuyển hóa rốt ráo toàn bộ phiền não, khác với việc đè nén, đối trị. Trong ý nghĩa nầy, nó đồng nghĩa với Trị 治. Xem Phục đoạn. 2. Ẩn nấp, che đậy, náu mình, tiềm ẩn.
Phục 服
[ja] フク fuku ||| (1) To wear. (2) Clothing. (3) Follow, listen, go along with. To serve. => 1. Mặc. 2. Áo quần. 3. Theo, lắng nghe, cùng đi với. Đáp ứng, phục vụ.
phụng
1) Phụng tế: To serve—To worship. 2) Phụng sự: To serve someone respectfully. 3) Chim Phượng (chim trống): Một loài chim biểu trưng cho sự cát tường—A male phoenix—An auspicious bird.
phụng dưỡng mẹ cha
To support one's parents
phụng gia
See Phụng Nạp.
Phụng giáo 奉教
[ja] ブキョウ bukyō ||| To do real practice according to the teachings. To receive (and revere) the teachings. => Chân thực tu tập theo giáo pháp. Tin nhận và tôn trọng giáo pháp.
phụng hiến
Hiến tặng quà cho bề trên—To offer gifts to one's superiors.
phụng hoàng
Cặp chim Phụng Hoàng. 1) Phụng: A male phoenix. 2) Hoàng: A female phoenix.
; (鳳凰) Tức chim Phượng hoàng, hình dáng giống như chim Cực lạc sống ở Nam dương. Phượng là chim trống, hoàng là chim mái, là loài chim tượng trưng điềm tốt lành, nhưng thực ra chỉ là loài chim trong giả tưởng. Theo truyền thuyết Tây vực, phượng hoàng do hội họa mà tưởng tượng ra. Trong mĩ thuật Phật giáo, như hội họa, điêu khắc, thêu đan... đều dùng chim phượng hoàng để biểu thị điềm lành.
phụng hành
1) Làm theo mệnh lệnh: To execute an order. 2) Tuân theo và thực hành chỉ giáo của Đức Phật: Devout practicing—To obey and practise the Buddha's teaching.
; (奉行) Vâng theo giáo pháp của đức Phậtdạy mà tu hành. Từ ngữ này thường thấy được đặt ở cuối các bộ kinh trong các nhóm chữ như Hoan hỉ phụng hành, Tín thụ phụng hành... Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 844 thượng) ghi: Đầu kinh nói Như thị là tỏ ý có lòng tin mới thâm nhập được; cuối kinh nói phụng hành là biểu thị nghĩa việc vâng nhận đã xong.
Phụng hành 奉行
[ja] ブギョウ bugyō ||| To practice with sincerity and reverence for the Buddha, for the teachings, etc. Bona fide practice. => Thành kính tu tập theo Đức Phật, theo chính pháp,v.v... Chân thật tu hành.
Phụng mao tế mỹ
(鳳毛濟美): lông con chim phụng ngay thẳng, xinh đẹp. Câu này có xuất xứ trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) quyển 2, phần Tổ Tôn Phụ Tử (祖孫父子): “Xưng hoạn hữu hiền lang, viết phụng mao tế mỹ (稱宦有賢郎、曰鳳毛濟美, chúc mừng quan có con trai hiền gọi là phụng mao tế mỹ).” Hay trong hồi thứ 34 của Quan Trường Hiện Hình Ký (官塲現形記) của Lý Bảo Gia (李寶嘉) nhà Thanh có đoạn: “Nhĩ bất thính kiến thuyết tha môn thế huynh tức nhật dã yếu bảo đạo đài, chơn chánh thị phụng mao tế mỹ, khả khâm khả kính (你不聽見說他們世兄卽日也要保道台、眞正是鳳毛濟美、可欽可敬, Người chẳng nghe thấy anh em nhà kia hôm ấy cũng cần phải giữ gìn đạo nghĩa chăng ? Quả đúng là con hiền nối nghiệp cha. Thật đáng phục, đáng kính !).” Cho nên, ngày xưa câu này thường dùng để ví cho người cha đi làm quan, con có thể kế thừa sự nghiệp cha. Về sau, nó được dùng để chúc tụng sinh con trai nhân hậu.
phụng nạp
To make offerings—See Cúng Dường.
phụng pháp yếu
(奉法要) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Hi siêu (336- 377) soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 13 trong Đại chính tạng tập 52. Hi siêu là Tham quân của Đại tư mã Hoàn ôn, Hoàn ôn từng giao cho ông ta quyền sinh sát trong tay, cho nên các quan và danh sĩ đương thời đều e dè và sợ hãi. Về già, ông ta rất ăn năntội lỗi của mình, cho nên mới chỉnh lí những nghĩa cốt yếu mà tín đồ Phật giáo tại gia tín ngưỡng và thực hành mà soạn thành sách này. Nội dung thuyết minh về những giáo lí nền tảng của Phật giáo như: Tam tự qui, Ngũ giới, Thập thiện, Ngũ ấm, Lục tình..., đồng thời nói về ý nghĩa của những vấn đề báo ứng, Niết bàn... Toàn sách nhấn mạnh việc thực hành Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày. Đây là tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu những sinh hoạt của tín đồ Phật giáo tại gia thời bấy giờ.
phụng sát
Một từ dùng để chỉ tự viện Phật giáo—Phoenix ksetra, a term for a Buddhist temple.
; (鳳刹) Chỉ cho chùa Phật. Phượng là loài chim tượng trưng cho điềm lành, nên căn cứ vào ý nghĩa ấy mà gọi chùa Phật là Phượng sát. [X. Tự Viện, Phật Sát)
phụng sơn
Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong quận 11 thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa còn có tên là Chùa Gò, được Hòa Thượng Liễu Thông xây vào đầu thế kỷ thứ 19. Đến năm 1904, chùa được Hòa Thượng Minh Tuệ trùng tu. Bên cạnh chùa có cây bạch mai cao 5 thước, được trồng từ năm 1909. Chùa khi xưa nổi tiếng là một thắng cảnh của tỉnh Gia Định. Gần đây một nhóm các nhà khảo cổ ở thành phố Sài Gòn đã tìm thấy dấu vết của một ngôi đền cổ Bà La Môn, đã chìm sâu dưới đất, được xây cách nay hơn 1.500 năm, với kiểu kiến trúc của vương quốc Phù Nam. Những tác phẩm nghệ thuật bằng gỗ vẫn còn được lưu giữ trong chùa, đặc biệt là các tượng Phật tròn, như bộ tượng tam thế, Ngũ Hiền, vân vân, được chạm trổ từ khoảng năm 1904 đến năm 1915 trong giai đoạn trùng tu chùa. Trong Chánh điện có bộ tượng Ngũ Hiền, gồm năm tượng. Tượng Đức Phật Thích Ca cưỡi sư tử; tượng Văn Thù cưỡi sư tử; tượng Thế Chí cưỡi voi chín ngà; tượng Quán Âm cưỡi cọp; và tượng Phổ Hiền cưỡi lân. Các pho tượng được đặt trên đá chạm lởm chởm—Name of a famous ancient pagoda located in the Eleventh district, Saigon City, South Vietnam. It is also called Gò Pagoda. The pagoda was established by Most Venerable Liễu Thông in the early nineteenth century. The Most Venerable Minh Tuệ rebuilt it in 1904. Next to the pagoda is a five-meter white apricot raised in 1909. At one time, Gò Pagoda was a beauty spot of Gia Định province. Recently, a group of archaeologists of Saigon City have found the remnants of a Hinduist ancient temple built 1,500 years ago, and buried deep underground. The temple symbolized the architecture of Founan Kingdom. The artistic wooden masterpieces conserved in the pagoda primarily are round statues such as those of the Buddhas of the Three Periods, the Five Sages, etc., cast from 1904 to 1915 during the reconstruction of the pagoda. In the Main Hall, there are five statues of the Five sages. The statue of Sakyamuni Buddha was cast riding a lion; that of Majusri Bodhisattva riding a lion; Mahasthama statue sitting on a nine-tusk elephant; Avalokitesvara Bodhisattva statue riding a tiger; and Samantabhadra Bodhisattva riding a unicorn. These statues are placed on a ruggedly carved stone pedestal.
phụng sự
To serve—To carry out an order.
phụng sự chúng sanh tức là cúng dường chư phật
To serve (perform) good deeds for sentient beings, you have also made offerings to the Buddhas.
phụng thỉnh
(奉請) Kính thỉnh chư Phật, Bồ tát, thiên thần... giáng lâm đạo tràng. Cứ theo mục Triệu thỉnh trong Tịnh độ pháp sự tán quyển thượng của ngài Thiện đạo, khi hành pháp, trước hết phải phụng thỉnh Phật Thích ca và chư Phật vào đạo tràng, kế đến, phụng thỉnh 84.000 Tu đa la (kinh) do chư Phật trong pháp giới ở 10 phương tuyên thuyết và xá lợi toàn thân, tán thân của các Ngài, sau đó phụng thỉnh các vị Thanh văn, Duyên giác, các bậc thánh đắc đạo trong 10 phương, rồi phụng thỉnh các vị bồ tát Phổ hiền, Văn thù, Thế chí...vào đạo tràng. Ngoài ra, theo phần nói về Thỉnh Quan âm tán trong mục Phụng thỉnh Quan thế âm, thì đồng thời còn phụng thỉnh người, trời, phàm, thánh trong pháp giới ở 10 phương và thủy lục hư không tất cả hương hoa, âm nhạc, quang minh, bảo tạng, núi hương, áo hương, cây hương, rừng hương, đất hương, nước hương... tất cả đều vào đạo tràng. Sau khi được truyền vào Nhật bản, pháp Phụng thỉnh này có ảnh hưởng rất lớn đối với các tông phái Phật giáo Nhật bản, nhất là đối với pháp hội Niệm Phật. [X. Ngũ hội niệm Phật lược pháp sự tán; Vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi].
phụng thờ
To worship.
phụng thừa
To follow blindly.
Phụng trì 奉持
[ja] ブジ buji ||| (1) To put into practice. (2) To memorize; to preserve, maintain. To uphold and embrace. 〔法華經 T 262.9.46a4〕(3) Holding to the precepts etc., with a reverent mind. => 1. Đưa vào thực hành. 2. Ghi nhớ, giữ gìn, duy trì. Thực hành và hộ trì.
phụng đàm
(鳳潭) (1654-1738) Cũng gọi Phương đàm. Cao tăng kiêm học giả thuộc tông Hoa nghiêm Nhật bản, người Nhiếp tân (phủ Đại phản, có thuyết nói người huyện Phú sơn, Việt trung), họ Hỉ đa, pháp danh Tăng tuấn, hiệu Huyễn hổ đạo nhân, Hoa lãnh sơn nhân, Hoa lãnh đạo nhân. Sư xuất gia năm 16 tuổi, từng theo ngài Thiết nhãn học thiền, đồng thời, nghiên cứu ngoại điển ở Trường kì. Có lần sư định đi Ấn độ nhưng chưa thực hiện được. Sư lại đến Nam đô và núi Tỉ duệ nghiên cứu giáo học của các tông, lập chí phục hưng Hoa nghiêm học, về sau trở thành Tổ trung hưng của tông Hoa nghiêm. Sư có tính cứng rắn, hễ mỗi khi người đương thời đưa ra dị thuyết, sư liền công kích, bác bỏ, thậm chí viết sách lên án kịch liệt, sư trở thành trung tâm tranh luận ở thời bấy giờ. Về già, sư trụ ở chùa Hoa nghiêm tại Kyoto và thị tịch vào năm 1738, thọ 85 tuổi (có thuyết nói thọ 80 tuổi). Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm ngũ giáo chương chân sao 10 quyển, Câu xá luận quán chú 14 quyển, Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí 8 quyển, Pháp hoa văn cú hội sao 50 quyển, Tứ giáo nghi tập chú tăng huy kí 7 quyển.
Phụng 奉
[ja] ブ bu ||| (1) To receive with both hands. (2) to offer, to serve. To present. (3) Respectfully; to have the honor to. (4) Receive, hear, listen. Worship, admire. => 1. Nhận với cả hai tay. 2. Dâng cúng, phụng sự. Trao tặng. 3. Bày tỏ sự kính trọng, tỏ lòng tôn kính. 4. Thọ nhận, lắng nghe. Thờ phụng, ngưỡng mộ.
phụt
1) Phụt lên: To spring up (water). 2) Bất chợt: Suddenly.
phụt tắt
Chợt tắt—Suddenly went out.
phủ châu tào sơn nguyên chứng thiền sư ngữ lục
(撫州曹山元證禪師語錄) Cũng gọi Tào sơn đại sư ngữ lục, Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục, Tào sơn nguyên chứng thiền sư ngữ lục, Tào sơn lục.Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Tào sơn Bản tịch soạn vào đời Đường, ngài Chỉ nguyệt Tuệ ấn –vị cao tăng Nhật bản– hiệu đính, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép hành nghiệp, vấn đáp, ngữ yếu dạy chúng của ngài Bản tịch và các mục: Giải thích Động sơn ngũ vi hiển quyết, Trục vị tụng tịnh chú biệt giản, Ngũ vị chỉ quyết, Tứ chủng dị loại, Tam nhiên đăng... của tác giả, do đệ tử nối pháp của ngài Tuệ ấn là sư Hạt đạo Bản quang biên chép lại. Trong Đại chính tạng tập 47, sau ngữ lục này, còn có Phủ châu Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục 2 quyển. Quyển thượng do ngài Quách ngưng chi biên tập vào đời Minh, nội dung tức là Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục trong Ngũ gia ngữ lục. Còn quyển hạ thì do vị tăng Nhật bản là ngài Nghi mặc Huyền khế biên tập những ngữ lục còn sót lại của ngài Bản tịch.
phủ quyết
To veto.
phủ sơn huyền chuyết
Fuzan Genshutsu (J)Tên một vị sư.
phủi
To dust off.
phức
1) Gấp hai: Double. 2) Lập lại: Repeated. 3) Loại áo kép—Double garments.
phức lễ
(複禮) I. Phục Lễ. Cũng gọi Hồi lễ, Hoàn lễ. Đáp lễ lại. Tức đối diện đáp lại lễ thỉnh của các chùa khác. Hiện nay, phần nhiều chỉ cho việc hồi tín. [X. điều Du phương tham thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5]. (xt. Hồi Lễ). II. Phục Lễ (?-?). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người Kinh triệu (Thiểm tây), họ Hoàng phủ. Sư xuất gia từ nhỏ, trụ ở chùa Đại hưng thiện. Sư từng theo các ngài Địa bà ha la, Thực xoa nan đà phiên dịch kinh điển. Năm Vĩnh long thứ 2 (681) đời Đường Cao tông, quan Thái tử văn học (chức quan quản lí kinh sách ở đời Đường) là Quyền vô nhị nêu ra 20 nghi vấn đối với Phật giáo, sư soạn Thập môn biện hoặc luận để giải đáp,Quyền vô nhị chịu khuất và lễ sư làm thầy.Sư còn soạn Chân vọng tụng, bàn về mối quan hệ giữa chân tâm và vọng tâm, đồng thời thỉnh các sư đương đại giải đáp, hiện còn lời phúc đáp của các ngài Trừng quán và Tông mật. Tương truyền, sư phản đối giáo nghĩa Giả danh bồ tát do ngài Pháp tạng chủ xướng và dâng biểu tâu xin trục xuất ngài Pháp tạng ra khỏi Giang nam. III. Phục Lễ (?-?). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư có đức hạnh cao khiết, được người đương thời quí trọng. Sư từng vâng sắc chỉ của vua tham dự đạo tràng dịch kinh của Đại sư Hiền thủ Pháp tạng. Sư cùng với các ngài Pháp tạng và Đạo thành cùng dịch phẩm Pháp giới kinh Hoa nghiêm.
phức sư
(複師) Vị tăng có nhiệm vụ thuật lại(phức) những lời của Giảng sư để làm cho nghĩa lí sáng tỏ hơn, là một chức vị trong tông Hoa nghiêm.
phức sức
(複飾) Trang sức lại, tức chỉ cho sự hoàn tục. Người đã một lần trút bỏ đồ trang sức để xuất gia, nay lại nuôi tóc làm người thế tục, gọi là Phục sức.
phức tạp
Complicated.
phức tử
(複子) Cũng gọi Phức bao, Phức phạ. Chiếc khăn dùng để gói, bọc đồ vật. Điều Thị viên thượng nhân trong Phật quả Khắc cần thiền sư tâm yếu quyển hạ (Vạn tục 120, 380 hạ) nói: Chú ý, lắng tâm, chọn lựa thiện tri thức chân chính có con mắt thấy suốt tông môn, rồi bỏ phức tử xuống, nương tựa vào đó mà thành biện sự nghiệp. Theo môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên thì chữ Phức...có nghĩa cái áo kép, nhiều lớp chồng chéo) ở đây phải là chữ Phục (cái khăn gói), vì 2 âm giống nhau (theo người Tàu) nên đã lầm lẫn. Bởi thế, Phức là viết lầm từ chữ Phục. [X. điều Trang bao, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Bích nham lục tắc 4; Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục].
phừng
To burst into.
piyadassi
Piyadassi (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili.
pomodrupa
PomodrŪpa (S), phag mo grub pa (T)Đệ tử Gampopa, khai tổ trường phái Kagyu ở Tây tạng.
Pu-ta-li-pa
S: putalipa; »Khất sĩ với bức tranh«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là người Ban-ga-la (s: baṅgala), thuộc giới thương nhân. Ngày nọ có một Du-già sư khất thực đến, ông phục vụ tận tình và phát lòng muốn học hỏi. Vị này truyền cho ông năng lực của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và dạy phép quán tưởng. Ngoài ra vị này còn cho ông một cuộn hình của Hộ Thần Hô Kim cương. Ông đeo cuộn hình vào cổ và thiền quán 12 năm. Sau đó ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi) mà không ai biết cả.|Lần nọ, ông đi ngang lâu đài một nhà vua, vị này thờ các thần của Ấn Ðộ giáo. Vua thấy bức hình ông mang vẽ thần Hô Kim cương ngồi trên toà được các vị thần của mình nâng, rất giận. Pu-ta-li-pa nói Hô Kim cương là thần của các vị kia. Cuối cùng nhà vua cho vẽ lại bức hình, nhưng Pu-ta-li-pa dùng thần lực hoán chuyển ngôi thứ. Vua chịu thua và xin ông giáo hoá. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Phật tính trong mọi loài.|Hãy bỏ con đường sai,|do tư duy xây cất.|Theo con đường tất yếu,|của trái tim vạch rõ,|rồi ngươi sẽ chứng đạt.|Ai được truyền năng lực,|của Ðạo sư đích thật,|là kẻ được chân như,|xuyên chiếu khắp tất cả,|kẻ ấy nếm được mùi,|Tuyệt đối vô sinh tử,|của Kim cương bất hoại.
Pāṇini
(520-460 trước công nguyên): âm dịch là Ba Nhĩ Ni (波爾尼), Ba Nị Ni (波膩尼), Ba Ni Ni (波尼尼), nhà văn pháp trứ danh của Ấn Độ ngày xưa, xuất thân vùng Ta La Đỗ La (s: Śalātura, 娑羅覩邏), nước Kiền Đà La (s, p: Gandhāra, 健駄邏), thuộc Quận Attock, Tỉnh Punjab, Pakistan ngày nay, nằm giữa Rawalpindi và Peshawar. Theo Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 1, phần Kiền Đà La Quốc (健駄邏國), Ba Nhĩ Ni sanh ra đã thông hiểu tất cả, nhạy bén, lanh lợi, có chí muốn viết sách, được trời Tự Tại Thiên (自在天) chỉ giáo cho, nhờ vậy ông nghiên cứu sâu sắc hơn, lấy các ngôn ngữ mà viết thành sách. Sách này thông cả xưa nay, bao quát hết văn từ, ý ngữ; nhà vua thấy vậy rất kinh ngạc, bèn truyền khắp trong nước nếu có ai tụng thuộc sách này thì sẽ được ban thưởng tiền vàng; cho nên sách này được lưu truyền rất thịnh hành. Tương truyền sách này là văn điển Vyākaraṇa (毘伽羅論, Tỳ Già La Luận) gồm 1.000 bài tụng và 32.000 từ. Văn điển do ông trước tác vốn không có tiêu đề và ông rất nổi tiếng về văn pháp tiếng Sanskrit, đặc biệt là hệ thống 3.959 nguyên tắc của hình thái học tiếng Sanskrit về văn phạm, thường được gọi là Aṣṭādhyāyī (nghĩa là “Tám Chương”). Đây là văn bản cơ sở thuộc trường phái văn pháp của Vedāṅga. Aṣṭādhyāyī là sách văn phạm tiếng Sanskrit cổ xưa nhất (mặc dầu một số học giả cho rằng nó lập cước trên các tác phẩm xưa hơn), là tác phẩm sớm nhất về ngôn ngữ học miêu tả và về ngôn ngữ học nói chung. Thông thường lý thuyết dễ hiểu và rất khoa học về văn pháp của Pāṇini được xem như đánh dấu sự chấm dứt giai đoạn tiếng Sanskrit Phệ Đà (Vedic Sanskrit), bằng dịnh nghĩa giới thiệu tiếng Sanskrit Cổ Điển (Classical Sanskrit). Mặc dầu tác phẩm của ông thuần túy mang tính văn pháp và từ điển, chúng ta có thể rút ra vài luận cứ về văn hóa cũng như địa lý qua từ ngữ do ông dùng trong các ví dụ và từ những thư từ ông gởi cho bạn bè văn pháp học của ông.
qua
1) Cái Giáo: (mác—thương)—A spear. 2) Dưa: Gourd—Melon.
qua bích
(戈壁) Mông cổ: Gobi. Cũng gọi Qua Bích than, Qua bích sa mạc. Sa mạc Gobi ở Mông cổ. Sa mạc này phía đông chạy dài đến dãy núi Đại Hưng An, phía tây tiếp giáp cao nguyên Pamir, có thể chia làm 2 phần: Sa mạc Gobi ở phía đông Hami và sa mạc Takla Makan ở phía tây Hami, dài hơn 200 km vào rộng hơn 1.000 km2.Vùng này toàn cát có lẫn muối; vào cuối mùa xuân và đầu mùa hạ thường có cuồng phong, đến nổi khiến gò cát trong 1 đêm dời đổi mấy lần, vì thế gọi là Lưu sa. Vùng này khô ráo, ít cầm thú, không có dấu chân người, mặt đất cỏ mọc không được. Trong Phật quốc kí, ngài Pháp hiển miêu tả cuộc hành trình từ Đôn Hoàng đến nước Thiện thiện(Lâu lan) bên bờ hồ La bố bạc như sau (Đại 51, 857 thượng): Sa mạc có gió nóng quái ác, hễ gặp phải là chết, không ai toàn mạng. Trên không có chim bay, dưới không có thú chạy, (...) chỉ biết lấy xương khô người chết làm dấu mà đi. Tuy nhiên, cũng có những vùng ẩm thấp, có nước và cỏ mọc tốt, thích hợp cho việc chăn nuôi, hoặc có nhiều ao hồ, tiên lợi cho việc làm muối và thả cá. Các nước Tây vực nhờ vào đó mà duy trì sự sống. Các nhà truyền pháp, dịch kinh từ các nước Ấn Độ, Tây vực đến Trung quốc đều phải đi qua sa mạc này; hoặc các vị Cao tăng đại đức từ Trung Quốc đến Ấn Độ cầu pháp, cũng đều phải qua con đường này.[X. Chương thứ 1 trong thiên thứ 1 Trung Quốc Phật giáo phát triển sử của Trung thôn nguyên]. (xt. Tây Vực Phật Giáo, Phật Giáo Nhập Truyền Lộ Tuyến).
Qua miên
(瓜綿): xem phần chú thích qua điệt miên miên (瓜瓞綿綿) bên trên, có nghĩa là con cháu hưng thịnh, đông đúc. Câu “vĩnh thùy diễn tiêu qua miên (永垂衍椒瓜綿)” có nghĩa là mãi mãi được hưởng ân đức của tổ tông để con cháu đông đúc, hưng thịnh.
Qua Nguyệt
(瓜月): tên gọi khác của tháng Bảy Âm Lịch. Do vì trái dưa thường chín, ngát hương vào tháng Bảy Âm Lịch, nên tháng này được gọi như vậy. Như trong Thi Kinh (詩經), Chương Bân Phong (豳風), Thất Nguyệt (七月) có giải thích rằng: “Thất nguyệt thực qua, bát nguyệt đoạn hồ (七月食瓜、八月斷壺, tháng Bảy ăn quả dưa, tháng Tám bửa trái bầu).”
Qua điệt miên miên
(瓜瓞綿綿): còn gọi là miên miên qua điệt (綿綿瓜瓞). Qua (瓜) là loại dưa lớn, điệt (瓞) là loại dưa nhỏ; như Thi Kinh (詩經) có câu: “Đại giả viết qua, tiểu giả viết điệt (大者曰瓜、小者曰瓞, loại lớn gọi là qua, loại nhỏ là điệt).” Miên miên (綿綿) có nghĩa là dài lâu, bền vững, như nhiều trái dưa lớn, dưa nhỏ treo lủng lẳng liên tiếp trên dây leo; cho nên câu này dùng để chúc tụng các đời con cháu hưng thịnh, truyền thế lâu dài. Nó vốn phát xuất từ phần Đại Nhã (大雅) của Thi Kinh: “Miên miên qua điệt, dân chi sơ sinh (綿綿瓜瓞、民之初生, dài lâu con cháu, dân lúc mới sanh).” Trong Mao Truyện (毛傳) lại có câu rằng: “Miên miên bất tuyệt mạo, qua thiệu dã, điệt chước dã (綿綿不絕貌、瓜紹也、瓞瓝也, dài lâu không dứt bóng dáng; dưa lớn nối tiếp, dưa nhỏ kế thừa).”
Quai
乖; C: guāi; J: ke;|Xung đột; mâu thuẫn; đặc biệt là trái nghịch với đạo lí Phật pháp chân chính, chẳng hạn trái với tinh thần Vô ngã hoặc luật nhân quả (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
quai ly sở sanh khổ
xem ba loại khổ.
quan
1) Áo quan: A coffin. 2) Đóng lại: To shut—To include. 3) Nơi bị đóng kín: A closed place. 4) Quan ải: Frontier—Barrier. 5) Quan hệ: To involve. 6) Quan chức: Official—Public. 7) Quan ngại: To concern.
Quan Bình Thái Tử
(關平太子): nhân vật trung hiếu vẹn toàn, còn gọi là Linh Hầu Thái Tử (靈候太子), sanh ngày 13 tháng 5 thuộc năm đầu (178) đời vua Linh Đế nhà Hán, là con nuôi của Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義), có kể chuyện khi Quan Công muốn đến tại Ngọa Ngưu Sơn (臥牛山) để chiêu binh mãi mã, giữa đường gặp một trang viện; vị trang chủ Quan Định (關定) có hai con trai, người con đầu tên là Quan Ninh (關定), chuyên học về văn; người con kế tên là Quan Bình (關平), chuyên học về võ. Người này vâng lời cha theo hầu Tướng Quân Quan Vũ (關羽) và tôn thờ vị này làm cha nuôi. Tánh tình ông khiêm hậu, ôn hòa, được chúng bộ hạ thương kính; hơn nữa võ nghệ của ông lại siêu phàm. Vào năm thứ 19 (214) niên hiệu Kiến An (建安), Quan Công trấn thủ Kinh Châu (荆州), phía Bắc thì đối cự với Tào Tháo (曹操), phía Đông thì hòa hoãn với Tôn Quyền (孫權). Đến năm thứ 24 (219) cùng niên hiệu trên, cha ông bị trúng kế của Lữ Mông (呂蒙), bị quân Đông Ngô bắt giam; Quan Bình thân chinh đến cứu, bị quân địch bao vây và đến tháng 12 cùng năm này, cả hai cha con đều bị hại. Mọi người cảm phục sự trung hiếu vô song của ông, tôn thờ ông cùng với Châu Thương Tướng Quân (周倉將軍) trong Miếu Quan Thánh như là vị thần hai bên tả hữu của Quan Thánh Đế Quân. Thông thường Quan Bình Thái Tử đứng hầu sau Quan Thánh Đế Quân, tay bắt Hán Thọ Đình Hầu Ấn (漢壽亭候印); Châu Thương Tướng Quân đứng bên phải Đế Quân, tay cầm Thanh Long Yển Nguyệt Đao (青龍偃月刀). Như trong Đào Viên Minh Thánh Kinh (桃園明聖經) của Đạo Giáo có xưng tán rằng: “Chí tâm quy mạng lễ: Linh Hầu Thái Tử, văn kinh võ vĩ, khuôn vương hộ quốc, đức nghĩa nguy nguy, trung hiếu tiết nghĩa, toàn thọ toàn quy, kỳ huân tảo kiến ư Tây Thục, dị lược tố trứ ư Bắc Ngụy, đại trung đại hiếu, chí nhân chí dũng, bổ tạo hóa chi bất túc, tá Thánh Đế dĩ lập công, hộ triều hộ quốc, tận hiếu tận trung, Cửu Thiên Uy Linh Hiển Hóa Đại Thiên Tôn (志心皈命禮、靈侯太子、文經武緯、匡王護國、德義巍巍、忠孝節義、全受全歸、奇勳早建於西蜀、異略素著於北魏、大忠大孝、至仁至勇、補造化之不足、佐聖帝以立功、護朝護國、盡孝盡忠、九天威靈顯化大天尊, Một lòng quy mạng lễ: Linh Hầu Thái Tử, văn võ song toàn, phò vua giúp nước, đức nghĩa vời vợi, trung hiếu tiết nghĩa, thảy đều vẹn toàn, mới lập kỳ tích nơi Tây Thục, kinh lược lừng lẫy chốn Bắc Ngụy, đại trung đại hiếu, trọn nhân trọn dũng, thêm tạo hóa còn chưa đủ, phò Thánh Đế để lập công, giúp vua giúp nước, tận hiếu tận trung, Cửu Thiên Uy Linh Hiển Hóa Đại Thiên Tôn).”
Quan Bạch
(關白, Kampaku): tên gọi một chức quan trọng yếu nhằm bổ tá cho Thiên Hoàng và chấp hành các công việc chính trị, được dùng vào cuối thời Bình An trở đi. Vào năm 884, dưới thời Quang Hiếu Thiên Hoàng (光孝天皇, Kōkō Tennō, tại vị 884-887) thì hết thảy văn thư trước khi đưa cho nhà vua ngự lãm thì thường giao qua cho vị Quan Bạch tên Đằng Nguyên Cơ Kinh (藤原基經, Fujiwara Mototsune, 1218-1256) xem trước, và từ đó chức quan này ra đời. Chức quan này thường ngồi cao hơn Thái Chính Đại Thần.
quan bất dung châm tư thông xa mã
(官不容針私通車馬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quan bất dung châm, đứng về phương diện công (lí) mà nói thì luật pháp nghiêm minh, dù sai lầm nhỏ như cây kim (châm) cũng không mảy may dung thứ. Trong Thiền lâm, nhóm từ Quan bất dung châm được chuyển dụng để chỉ cho Đệ nhất nghĩa đế của Phật pháp siêu tuyệt, triệt để, không dung chấp mảy may ngôn ngữ, suy tư. Trái lại, Tư thông xa mã là nói về mặt tư (tình), dù sự sai lầm to bằng xe, ngựa cũng có thể dung thông được. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho quyền xảo phương tiện của Đệ nhị nghĩa đế. Khi dẫn dắt người học, Thiền sư có thể tùy nghi sử dụng mọi phương pháp để giúp họ khai ngộ.Tóm lại, có thuyết cho rằng Quan bất dung châm tư thông xa mã là một ngạn ngữ ở đời Đường được Thiền tông sử dụng để chỉ cho cơ pháp phương tiện tự tại vô ngại mà Thiền sư dùng để tiếp hóa người học.
quan hữu vô đảng
Kuan yu Wu tang (C).
quan nan
Bị rắc rối với pháp luật—In danger from the law—Official oppression.
quan ngại
To obstruct—To hinder.
quan niệm
Concept.
quan niệm không hữu lý
Irrational views .
quan nội tứ thánh
(關內四聖) Cũng gọi Quan trung tứ kiệt. Chỉ cho 4 môn đệ của ngài Cưu Ma La Thập ở đời Hậu Tần, Trung Quốc, học thức uyên bác, đạo hạnh cao thâm, được người đương thời tôn là Quan nội tứ thánh, đó là: Đạo Dung, Tăng Duệ, Tăng Triệu và Đạo Sinh.
quan quách
(棺椁) Chỉ cho cái quan tài có 2 lớp: Quan là cái hòm bên trong đặt xác chết, Quách là cái hòm bọc bên ngoài cái quan. Theo kinh Trường a hàm quyển 4, lúc đức Thế Tôn nhập Niết bàn, các vị đệ tử chiếu theo phép chôn cất vua Chuyển Luân Thánh Vương, trước dùng nước hương nóng tắm gội thân Ngài, sau mặc áo mới rồi dùng 500 tấm dạ mỏng bọc thân đặt vào kim quan, rưới dầu mè vào và đặt kim quan vào trong quách bằng sắt, lại dùng các cái quách bằng gỗ chiên đàn thơm xếp chung quanh, chất đống các thứ gỗ hương làm lễ trà tì. Theo kinh Trủng mộ nhân duyên tứ phương thần chú trong kinh Quán đính quyển 6, khi vua Chuyển luân mệnh chung, 3 loại quan tài được dùng để đặt thân của vua, đó là: Tử ma hoàng kim, sắt và chiên đàn tạp hương. Nhưng, nghi lễ chôn cất của Ấn Độ nói chung, không dùng quan quách, mà trực tiếp đốt xác chết, hoặc để ở trong rừng, hoặc thả xuống sông... Còn ở Trung quốc vì có tục hậu táng nên có chế độ quan quách. Cứ theo Tứ phần luật hành sự sao thì chư tăng chỉ dùng quan chứ không dùng quách, chúng tại gia phổ thông cũng vậy, chỉ những người sang trọng mới dùng quách. Tại Nhật Bản đời xưa, quan tài của những người giàu sang, thường dùng 2 lớp hoặc 3 lớp quách bọc bên ngoài, đôi khi làm quách bằng đá để bảo tồn thi thể lâu dài. [X. kinh Tịnh phạn vương bát niết bàn; kinh Phật bát nê hoàn Q.hạ; kinh Ca Diếp phó Phật niết bàn; thiên Chiêm bệnh tống chung trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4; Phật tổ thống kỉ Q.4; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Hoài nam tử đệ thập tam phiếm luận huấn; Chu bàn truyện trong Hậu Hán thứ 29; Nhật bản thư kỉ 9, 27].
Quan Sát
(關煞): là dụng ngữ thuật số, ngày xưa nhà Tinh Số (chiêm tinh gia bói toán về số mạng con người) cho rằng con người gặp tai nạn do vận mạng quyết định, đó là “Quan Sát”. Con người cho rằng các em nhỏ khi chưa đến tuổi thành niên, thường gặp 36 Quan Sát và 72 sao Thiên Cương (天罡), dễ sanh nhiều bệnh tật, tai họa và chết yểu. 36 Quan Sát gồm: (1) Thiên Nhật Quan (千日關), người sanh ở tuổi Dần, Thân, Tỵ thuộc năm Ngọ, sự tai họa rơi từ trên cao xuống, sanh ra trong vòng 1.000 ngày không nên đến nhà thờ thần linh của bà ngoại, không nên ngồi xe đi phương xa, chủ yếu bị bệnh kinh phong, nôn ọe sữa, không phạm những điều trên thì sẽ bảo đảm bình an; (2) Lôi Công Quan (雷公關), là những người sanh ngày Giáp, Kỷ gặp giờ Ngọ; ngày Ất, Mậu gặp giờ Tuất; ngày Bính, Đinh, Nhâm, Quý gặp giờ Tý; ngày Canh, Tân gặp giờ Dần, khi nghe tiếng sấm sét, tiếng trống đánh, chớ đến gần giếng nước, hay đồ vật bằng sắt, đề phòng ngồi cao té ngã, em bé vui đùa bò lên cao, như vậy sẽ nguy hiểm, chớ ẵm bé lên chỗ cao đùa giỡn, vậy mới bảo đảm bình an; (3) Lạc Tỉnh Quan (落井關), là những người sanh ngày Giáp, Kỷ gặp giờ Tỵ; sanh ngày Ất, Canh gặp giờ Tý; sanh ngày Bính, Tân gặp giờ Thân; sanh ngày Đinh, Nhâm gặp giờ Tuất, chớ đến gần bên giếng, bên sông, nước, đi thuyền bè, đến chơi nơi chỗ nào có huyệt động sâu đều nguy hiểm, có tai họa về nước, chủ yếu chớ nên gần; (4) Kê Phi Quan (雞飛關), là những người sanh ngày Giáp, Kỷ gặp giờ Tỵ, Dậu, Sửu; sanh ngày Ất, Bính, Đinh, Tuất gặp giờ Tý; ngày Canh gặp giờ Hợi, Mão, Mùi; ngày Tân, Nhâm, Quý gặp giờ Dần, Ngọ, Tuất, tránh nhìn thấy sát sanh, giết hại gà, vịt, cá thì sợ, đề phòng bệnh kinh phong khi gà bay qua quá đầu và mổ lên đầu, cần phải thận trọng thì sẽ tránh được chuyện không hay; (5) Thủ Mạng Quan (取命關), là những người sanh ngày Giáp, Ất, Bính, Đinh gặp giờ Thân, Tý, Thìn; ngày Mậu, Kỷ, Canh gặp giờ Hợi, Mão, Mùi; ngày Tân, Nhâm, Quý gặp giờ Dần, Ngọ, Tuất, đề phòng chỗ cao nguy hiểm, chớ nhìn người mất hung dữ, không nên đến gần nơi tang lễ, những đền miếu mới xây, đàn tràng Giải Oan Bạt Độ vào dịp Trung Nguyên; (6) Bạch Hổ Quan (白虎關), là những người sanh năm Kim gặp giờ Mão, Tuất; năm Mộc gặp giờ Thìn, Dậu; năm Hỏa gặp giờ Tý, Mùi, Thân; năm Thủy, Thổ gặp giờ Sửu, Dần, Ngọ, suốt đời nhiều tai hoạn máu me, đề phòng mất chân, phải nên thận trọng ở những chỗ cao nguy hiểm, đối với mạng người nữ cần phải rất thận trọng khi sinh đẻ, để tránh mất mác cả mẹ lẫn con, coi chừng bị bệnh sởi, đậu mùa; (7) Thiết Xà Quan (鐵蛇關), là những người sanh năm Kim gặp giờ Mão, Tuất; năm Mộc gặp giờ Dậu, Thìn; năm Hỏa gặp giờ Sửu, Dần, Ngọ, ngựa đi trên đường cần phải thận trọng, chớ đến gần để tránh nguy hiểm, coi chừng phát sinh bệnh sởi, đậu mùa, dễ bị động vật cắn; (8) Đoạn Trường Quan (斷膓關), là những người sanh ngày Giáp, Ất gặp giờ Ngọ, Mùi; ngày Bính, Đinh gặp giờ Thìn, Tỵ; ngày Mậu gặp giờ Ngọ; ngày Kỷ gặp giờ Mùi; ngày Canh, Tân gặp giờ Dần; ngày Nhâm, Quý gặp giờ Sửu, kỵ nhìn thấy giết heo, dê, chớ vào chỗ đồ tể; (9) Đoản Mạng Quan (短命關), là những người sanh năm Thân, Tý, Thìn gặp giờ Tỵ; năm Tỵ, Dậu, Sửu gặp giờ Dần; năm Dần, Ngọ, Tuất gặp giờ Thìn; năm Hợi, Mão, Mùi gặp giờ Mùi, đề phòng nói lảm nhảm buổi tối, hay kinh sợ; (10) Hòa Thượng Quan (和尚關), là những người sanh năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu gặp giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gặp giờ Tý, Ngọ, Mão, Dậu; năm Dần, Thân, Tỵ, Hợi gặp giờ Dần, Thân, Tỵ, Hợi, chớ vào các đàn tràng cúng chay (trai đàn), không nên vào nhà đám ma, chớ vào chùa gặp Hòa Thượng, tăng ni, nếu không lưu tâm sẽ bị tai ương một đời, nên tránh không nên theo mẹ vào đền miếu dâng hương; (11) Thiên Điếu Quan (天吊關), là những người sanh năm Thân, Tý, Thìn gặp giờ Tỵ, Ngọ; năm Tỵ, Dậu, Sửu gặp giờ Tý, Mão; năm Dần, Ngọ, Tuất gặp giờ Thìn, Ngọ; năm Hợi, Mão, Mùi gặp giờ Ngọ, Thân, qua núi qua sông bất lợi, đi đêm trên đường bất an, đồng thời có nhiều tai nạn cấp bách, họa hoạn; (12) Dạ Đề Quan (夜啼關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Ngọ; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Dậu; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Tý; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Mão, ban đêm không nên ra ngoài du ngoạn, nhìn mặt trời lặn hướng Tây cũng không tốt, buổi tối không nên nhìn ánh sáng đèn để tránh con nít khóc nhè đêm; (13) Mai Nhi Quan (埋兒關), là những người sanh năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu gặp giờ Sửu; năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gặp giờ Mão; năm Dần, Thân, Tỵ Hợi gặp giờ Thân, kỵ nhìn thấy nhập liệm, tống táng, khi nhỏ đã khó nuôi, nên lạy thần minh để xin làm con nuôi mới bảo toàn tánh mạng; (14) Ngũ Quỷ Quan (五鬼關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Thìn; năm Sửu gặp giờ Mão; năm Dần gặp giờ Dần; năm Mão gặp giờ Sửu; năm Thìn gặp giờ Tý; năm Tỵ gặp giờ Hợi; năm Ngọ gặp giờ Tuất; năm Mùi gặp giờ Dậu; năm Thân gặp giờ Thân; năm Dậu gặp giờ Mùi; năm Tuất gặp giờ Ngọ, năm Hợi gặp giờ Tỵ, không nên đến gần đàn tràng Giải Oan Bạt Độ, nếu đến gần sẽ sanh tai tật, kỵ nhìn thấy gỗ làm quan tài, mộ địa; (15) Thiên Cẩu Quan (天狗關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Tuất; năm Sửu gặp giờ Hợi; năm Dần gặp giờ Tý; năm Mão gặp giờ Sửu; năm Thìn gặp giờ Dần; năm Tỵ gặp giờ Mão; năm Ngọ gặp giờ Thìn; năm Mùi gặp giờ Tỵ; năm Thân gặp giờ Ngọ; năm Dậu gặp giờ Mùi; năm Tuất gặp giờ Thân; năm Hợi gặp giờ Dậu, Thiên Cẩu ăn mặt trời, không nên nhìn, sợ nghe tiếng chó sủa, em bé thường có khuôn mặt phá tướng, bị thương tích, sanh ra trong vòng 40 ngày, xuất hành đi xa không lợi, cũng không nên đi đêm, để bảo đảm một năm bốn mùa được bình an; (16) Quỷ Môn Quan (鬼門關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Dậu; năm Sửu gặp giờ Ngọ; năm Dần gặp giờ Mùi; năm Mão gặp giờ Thân; năm Thìn gặp giờ Hợi; năm Tỵ gặp giờ Tuất; năm Ngọ gặp giờ Sửu; năm Mùi gặp giờ Dần; năm Thân gặp giờ Mão; năm Dậu gặp giờ Tý; năm Tuất gặp giờ Tỵ; năm Hợi gặp giờ Thìn, không thể đi xa, suốt đời nơi nào có miếu âm cung thì chớ nên vào, đồng thời cũng không nên vào nhà hung dữ; (17) Chàng Mạng Quan (撞命關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Sửu; năm Sửu gặp giờ Mùi; năm Dần gặp giờ Tý; năm Mão gặp giờ Tỵ; năm Thìn gặp giờ Thìn; năm Tỵ gặp giờ Ngọ; năm Ngọ gặp giờ Ngọ; năm Mùi gặp giờ Sửu; năm Thân gặp giờ Ngọ; năm Dậu gặp giờ Dậu; năm Tuất gặp giờ Mùi; năm Hợi gặp giờ Hợi, khó nuôi con, thân thể suy nhược, nhiều bệnh, có hiện tượng chết yểu; (18) Thang Hỏa Quan (湯火關), là những người sanh năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu gặp giờ Ngọ; năm Sửu, Thân, Hợi gặp giờ Mùi; năm Dần gặp giờ Tỵ; năm Mão gặp giờ Tý; năm Ngọ, Dậu gặp giờ Dần, chủ yếu chú ý về lửa, nước nóng, dầu, không nên đến gần nhà bếp, rất dễ bị thương tích; (19) Trực Nạn Quan (直難關), là những người sanh tháng Mão, Dần (1, 2) gặp giờ Ngọ; tháng Thìn, Tỵ (3, 4) gặp giờ Mùi; tháng Ngọ, Mùi (5, 6) gặp giờ Mão, Tuất; tháng Thân, Dậu (7, 8) gặp giờ Tỵ, Thân; tháng Tuất, Hợi (9, 10) gặp giờ Dần, Mão; tháng Tý, Sửu (11, 12) gặp giờ Thìn, Dậu, thận trọng đề phòng đao khí, vật bén nhọn làm tổn thương; (20) Thâm Thủy Quan (深水關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Dần, Thân, chớ đến gần bên sông, hồ nước, đề phòng tai họa về nước, phạm cha mẹ đời trước, không lạy vào dịp Thanh Minh (清明, khoảng đầu tháng 3 Âm Lịch), Đoan Ngọ (端午, mồng 5 tháng 5 Âm Lịch), Thất Tịch (七夕, mồng 7 tháng 7 Âm Lịch), Trung Thu (中秋, rằm tháng 8 Âm Lịch); (21) Đoạn Kiều Quan (斷橋關), là những người sanh tháng 1, 2 gặp giờ Dần, Mão, chớ qua cầu dài, thuyền nông, chớ đi thuyền qua cầu tre; (22) Tứ Trụ Quan (四柱關), là những người sanh năm Tỵ, Hợi, tháng 1, 2 gặp giờ Thìn, Tỵ, chớ đến gần trước mặt công trình xây dựng, Động Thổ, kỵ ngồi xe con nít; (23) Kim Tỏa Quan (金鎖關), là những người sanh tháng 1, 2 gặp giờ Thân, Mão; tháng 1, 7 gặp giờ Thân; tháng 2, 8 gặp giờ Dậu; tháng 3, 9 gặp giờ Tuất; tháng 4, 10 gặp giờ Hợi; tháng 5, 11 gặp giờ Tý; tháng 6, 12 gặp giờ Sửu, coi chừng dây tiền, mảnh sắt, vàng, đồng rơi vào miệng, hoặc sinh tật bệnh chết yểu; (24) Bách Nhật Quan (百日關), là những người sanh tháng 1, 4, 7, 10 gặp giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; tháng 2, 5, 8, 11 gặp giờ Dần, Thân, Tỵ, Hợi; tháng 3, 6, 9, 12 gặp giờ Tý, Ngọ, Mão, Dậu, sanh ra trong vòng 100 ngày, không nên đến nhà bà ngoại, sợ gặp tai họa, không nên ra khỏi nhà, kỵ đi xa, sợ trúng kinh phong; (25) Vô Tình Quan (無情關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Tý, Dần, Dậu; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Tỵ, Tuất, Hợi; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Sửu, Thân; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Tý, Ngọ, trong thời gian còn nhỏ ít nên đến nhà bà ngoại, tránh cho em nhỏ nhìn thấy người mài dao, nên lạy thần thánh làm cha nuôi, gọi cha mẹ là chú, cô, dì; (26) Cấp Cước Quan (急腳關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Tý, Hợi; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Mão, Mùi; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Dần, Tuất; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Sửu, Thìn, chớ nên đi xa, chớ xem lễ Thượng Lương, Động Thổ, xây dựng; (27) Dục Bồn Quan (浴盆關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Thân, ba buổi sáng kỵ tắm rửa thân thể, khi tắm rửa nên thận trọng; (28) Tướng Quân Tiễn (將軍箭), là những người sanh năm Thìn, Dậu, Tuất gặp giờ Mùi, tất sẽ làm tổn thương người thân ruột thịt, không bắn người khác cũng như chính mình, chớ vào miếu thờ Tướng Quân; (29) Huyết Quang Quan (血光關), là những người sanh vào giờ Sửu tháng 1, giờ Mùi tháng 2, giờ Dần tháng 3, giờ Thân tháng 4, giờ Mão tháng 5, giờ Dậu tháng 6, giờ Thìn tháng 7, giờ Tuất tháng 8, giờ Tỵ tháng 9, giờ Hợi tháng 10, giờ Ngọ tháng 11, giờ Tý tháng 12, dễ bị tai họa chảy máu, hay họa về xe và trúng thương tích, nên dùng tiền bổn mạng và tiền trị nguy hại về xe để khắc chế; (30) Thủy Hỏa Quan (水火關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Mùi, Tuất; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Sửu, Thìn; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Dậu; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Sửu, chủ yếu chú ý về nước nóng, lửa, không nên đến gần nhà bếp, gần nước, lửa; (31) Diêm Vương Quan (閻王關), là những người sanh tháng 7, 8, 9, 10, 12 gặp giờ Tý, Ngọ, Dần, Mão; tháng 1, 2, 3 gặp giờ Sửu, Mùi; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Thìn, Tuất; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Tý, Ngọ; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Dần, Mão, không nên đến gần miếu âm cung, đền Thành Hoàng (城隍); (32) Tứ Quý Quan (四季關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Sửu, Tỵ; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Thìn, Thân; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Hợi, Mùi; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Dần, Tuất, một đời nhiều bệnh, trước khí tiết của bốn mùa, chớ nên đi xa để đề phòng tai ương; (33) Tứ Trụ Quan (四柱關), là những người sanh giờ Thìn, Tỵ, tháng 1, 2 thuộc năm Tỵ, Hợi, em nhỏ nếu phạm quan sát này, cha mẹ không sống lâu với mình, kỵ ngồi xe ngựa, lan can, ghế tre; (34) Đa Ách Quan (多厄關), người nam sinh năm thuộc Kim, gặp tháng 5, 6; sinh năm thuộc Mộc, tháng 2, 3; sinh năm thuộc Thủy, tháng 8, 9; sinh năm thuộc Hỏa, tháng 11, 12; sinh năm thuộc Thổ, tháng 1, 4, phạm loại Quan Sát này; nữ sinh năm thuộc Kim, tháng 8, 9; sinh năm thuộc Mộc, tháng 11, 12; sinh năm thuộc Thủy, tháng 2, 3; sinh năm thuộc Hỏa, tháng 5, 6; sinh năm thuộc Thổ, tháng 1, 4, phạm loại Quan Sát này tai ách liên tục hằng năm; (35) Kiếp Sát Quan (劫煞關), là những người sinh năm Thân, Tý Thìn, thuộc tháng 4; năm Tỵ Dậu, Sửu thuộc tháng 1; năm Dần, Ngọ, Tuất thuộc tháng 10; năm Hợi, Mão Mùi thuộc tháng 7, nên thận trọng đề phòng tiền tài hao tổn; (36) Cơ Bại Quan (基敗關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 thuộc giờ Mùi, Tuất, Hợi; tháng 4, 5, 6 thuộc giờ Tý, Thìn, Tỵ; tháng 7, 8, 9 thuộc giờ Sửu, Thân, Dậu; tháng 10, 11, 12 thuộc giờ Dần, Mão, Ngọ, sau khi sinh ra, trạng huống thân thể khác lạ, khó nuôi, kỵ đào đất, nên lạy thần minh xin làm con nuôi, chú ý trị liệu về ruột, mới có thể chuyển nguy thành an. Trong tác phẩm Dụ Thế Minh Ngôn (喻世明言) của Bằng Mộng Long (馮夢龍, 1574-1646) quyển 28 Lý Tú Khanh Nghĩa Kết Hoàng Trinh Nữ (李秀卿義結黃貞女) có câu: “Ấu niên gian đa nương dữ ngã toán mạng, thuyết hữu Quan Sát nan dưỡng, vi thử xuyên phá lưỡng nhĩ (幼年間爹娘與我算命、說有關煞難養、爲此穿破兩耳, lúc còn nhỏ cha mẹ xem mạng số cho tôi, bảo rằng bị Quan Sát khó nuôi, vì đó mà phá lũng hai tai).”
quan sát
Observation.
; (觀察) Đồng nghĩa: Quán. Buộc ý niệm nơi đối tượng, dùng trí tuệ soi xét, chính quán đối tượng, như thực tu hành gọi là Quán sát. Vãng sinh luận chú quyển hạ giải thích về tự nghĩa của từ Quán sát như sau (Đại 40, 836 thượng): Tâm theo dõi đối tượng gọi là Quán; tâm xem xét đối tượng rõ ràng gọi là Sát. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 10 nói rằng Quán sát có 2 nghĩa: Tâm soi xét bên trong và mắt nhìn kĩ bên ngoài.
quan sát chính hành
(觀察正行) Đối lại: Quán sát tạp hành. Một lòng chuyên niệm quán tưởng Y báo và Chính báo trang nghiêm ở cõi Cực lạc của đức Phật A di đà, gọi là Quán sát chính hành, 1 trong 5 Chính hành vãng sinh Cực lạc do tông Tịnh độ lập ra. Nếu chẳng những chỉ quán tưởng Y báo và Chính báo trang nghiêm của Tịnh độ Di đà, mà còn quán tưởng tất cả sự lí, hiển mật của Đại thừa và Tiểu thừa, thì gọi là Quán sát tạp hành. (xt. Ngũ Chính Hành).
quan sát chư pháp hành kinh
(觀察諸法行經) Kinh, 4 quyển, do ngài Xà Na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này chia làm 3 phẩm: Phẩm Vô biên thiện phương tiện hành, phẩm Tiên thế cần tương ứng và phẩm Thụ kí, nói về việc đức Phật vì bồ tát Hỉ vương mà tuyên thuyết Tam ma địa Quyết định quán sát chư pháp hành. Ngoài ra, trong kinh có những câu như Không hâm mộ Tiểu thừa, cho nên kinh này được xem là tác phẩm của Phật giáo Đại thừa phát triển ở thời kì đầu. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].
quan sát khách quan
Objective observation.
quan sát môn
(觀察門) Pháp môn dùng trí tuệ quán sát công đức trang nghiêm của cõi Tịnh độ, công đức thành tựu sự nghiệp tự lợi lợi tha của đức Phật A di đà và công đức trang nghiêm của các Bồ tát ở cõi ấy, 1 trong 5 Niệm môn do tông Tịnh độ lập ra. (xt. Ngũ Niệm Môn).
quan sát nghĩa thiền
(觀察義禪) Thiền định biết rõ lí Nhân vô ngã, xa lìa mọi sự tạo tác và ý niệm phân biệt mình và người, tùy thuận quán sát nghĩa Pháp vô ngã, là 1 trong 4 loại Thiền được nêu trong phẩm Tập nhất thiết pháp của kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 3. (xt. Tứ Chủng Thiền).
quan sát pháp nhẫn
(觀察法忍) Quán xét lí sâu xa của tất cả pháp không sinh không diệt, an nhiên nhẫn chịu, trong tâm vắng lặng chẳng động, là 1 trong 2 loại nhẫn của Bồ tát tu hành. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.5; Đại minh tam tạng pháp số Q.5]. (xt. Nhị Nhẫn).
Quan Sơn Huệ Huyền
(關山慧玄, Kanzan Egen, 1277-1360): vị tăng của Tông Lâm Tế Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và Nam Bắc Triều, vị tổ khai sáng Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), húy Huệ Nhãn (慧眼), Huệ Huyền (慧玄), đạo hiệu Quan Sơn (關山), nhụ hiệu Bổn Hữu Viên Thành (本有圓成), Phật Tâm Giác Tánh (佛心覺性), Đại Định Thánh Ứng (大定聖應), Quang Đức Thắng Diệu (光德勝妙), Tự Tánh Thiên Chơn (自性天眞), Phóng Vô Lượng Quang (放無量光), Vô Tướng Đại Sư (無相大師), xuất thân vùng Tín Nùng (信濃, Shinano, thuộc Nagano-ken [長野縣]). Ông là người con thứ 2, sanh ra trong gia đình Thủ Cao Gia (守高家) của Mỹ Nùng, lúc còn nhỏ được gọi là Tào Tử Triêu Minh Lữ (曹子朝明麿), theo học với chú là Nguyệt Cốc Tông Trung (月谷宗忠). Ban đầu ông theo xuất gia với Đông Truyền Sĩ Khải (東傳士啓) ở Quảng Nghiêm Am (廣嚴庵), Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Đến năm 1307 (năm thứ 2 niên hiệu Đức Trị [德治]), ông gặp Đại Ứng Quốc Sư Nam Phố Thiệu Minh (大應國師南浦紹明) ở Kiến Trường Tự, được ban cho tên là Huệ Nhãn (慧眼) và theo hầu vị này tu tập. Nhưng vì không có chỗ sở ngộ nên sau đó vào năm 1327 (năm thứ 2 niên hiệu Gia Lịch [嘉曆]) ông lại đến kế thừa dòng pháp của Đại Đăng Quốc Sư Tông Phong Diệu Siêu (大燈國師宗峰妙超) ở Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Năm 1328, ông đến ẩn cư ở vùng Y Thâm (伊深), Mỹ Nùng (美濃, Mino), đến năm 1330 (năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Đức [元德]), ông được ấn chứng cho là đã ngộ được công án chữ Quan (關) của Vân Môn (雲門), nên được ban cho hiệu là Quan Sơn (關山), hiệu là Huệ Huyền (慧玄). Vào năm 1342, Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇, Hanazono Jōkō) biến Hoa Viên Ly Cung thành Diệu Tâm Tự và cung thỉnh ông đến làm tổ khai sơn chùa nầy. Sau đó, ông lại đến dựng am sống ở vùng Viễn Giang (遠江), nhưng đến năm 1351 ông trở về lại Diệu Tâm Tự và cử xướng Thiền phong uy nghiêm của ông. Dòng pháp từ của ông có Thọ Ông Tông Bật (授翁宗弼). Chính dòng pháp hệ nối tiếp Thiệu Minh (紹明), Diệu Siêu (妙超), Huệ Huyền (慧玄) đã chiếm vai trò lãnh đạo Thiền Lâm Tế về sau. Vào năm 1360 (năm thứ 5 niên hiệu Diên Văn [延文]), ông thị tịch, hưởng thọ 84 tuổi. Trước tác của ông có Quan Sơn Hòa Thượng Bách Tắc Công Án (關山和尚百則公案) 1 quyển.
Quan Sơn Huệ Huyền
關山慧玄; J: kanzan egen; 1277-1360;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, nối pháp của Tông Phong Diệu Siêu (j: shūhō myōchō). Sư kế thừa và trụ trì Ðại Ðức tự (daitoku-ji), sau lại trụ trì Diệu Tâm tự (myōshin-ji). Cả hai đều là những thiền viện danh tiếng nhất của tông Lâm Tế tại Kinh Ðô (kyōto).|Sư sinh tại Shinano (phủ Nagano), sớm đã được cha gửi đến một người chú tại Liêm Thương (kamakura) để học Phật pháp. Nơi đây, Sư may mắn được học với Thiền sư Nam Phố Thiệu Minh (nampo jōmyō, 1235-1309). Sau khi Nam Phố tịch, Sư trở về quê nhà tu học khổ hạnh. Khi nghe danh tiếng của Thiền sư Tông Phong tại Liêm Thương, Sư liền đến Ðại Ðức tự tại Kinh Ðô đến tham học. Tông Phong giao cho Sư Công án »Quan« (Bích nham lục, công án 8) của Thiền sư Vân Môn Văn Yển để tham cứu. Sau hai năm quán công án này – một thời gian tu tập cực kì khắc khe với một công án nổi danh là khó giải – Sư ngộ được yếu chỉ của Thiền tông. Tông Phong liền làm một bài kệ ấn chứng cho môn đệ của mình, năm đó Sư đã vượt ngoài năm mươi (1329).|Sau đó, theo lời khuyên của thầy, Sư lên núi ẩn cư tám năm để tiếp tục tu luyện và trong thời gian này, Sư làm việc hằng ngày trên đồng ruộng, đêm thì Toạ thiền trên những tảng đá. Sau thời gian này, Sư nhận lời trụ trì chùa Diệu Tâm. Phong cách giảng dạy của Sư rất nghiêm khắc và cũng vì thế mà Lâm Tế chính mạch được truyền đến những đời sau qua dòng thiền này. Sư chẳng chú trọng đến đồ vật trang trí trong thiền viện và cũng không thích những nghi lễ rườm rà. Sư đòi hỏi nơi đệ tử một ý chí, một tâm trạng tinh tiến tuyệt đối. Một trong những công án Sư thường đưa ra để tham quán là »Ðối với Huệ Huyền, nơi đây không có sinh tử.« Chỉ những thiền sinh đầy ý chí quyết định mới dám ở lại đây, phần lớn đều rời Sư sau một thời gian. Dưới sự hoằng hoá của Sư, Diệu Tâm tự cũng được gọi là »Ðịa ngục tột cùng của Phật pháp.« Sư cũng được gọi là »Tổ sư với những đức tính thầm kín« (Ẩn đức tổ sư; 隱德 [の] 祖師; j: intoku [no] soshi).|Trước khi tịch, Sư trao pháp y lại cho vị kế thừa duy nhất là Thụ Ông Tông Bật (授翁宗弼; j: jūo sōhitsu, 1296-1380), chuẩn bị hành lí và đứng mà tịch. Dòng thiền của Sư sau trở thành dòng chính của tông Lâm Tế Nhật Bản.
quan sơn huệ huyền
Kanzan Egen (J)Hàn Sơn Huệ Huyền Xem Hoa Sơn.
Quan Thánh
(關聖): tên gọi một vị danh tướng của nhà Thục thời Tam Quốc, tên là Quan Vũ (關羽), tự là Trường Sanh (長生), Vân Trường (雲長), thường gọi là Quan Công (關公). Ông đã từng phục vụ cho Lưu Bị (劉僃) nhà Thục, rất liêm chính, cương trực, sau bị Tôn Quyền (孫權) nhà Ngô giết chết. Ông được sùng kính như là vị anh hùng của quốc dân, được xem như là bậc thánh và được thờ tại Quan Đế Miếu (關帝廟), cho nên có tên gọi là Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Ông còn được gọi là Quan Đế Da (關帝爺), Tây Sơn Phu Tử (西山夫子), Cái Thiên Cổ Phật (蓋天古佛), Hiệp Thiên Đại Đế (協天大帝), Phục Ma Đại Đế (伏魔大帝), v.v. Dưới thời nhà Tống, vua Huy Tông (徽宗) phong ông lên ba cấp từ Trung Huệ Công (忠惠公), Sùng Ninh Chơn Quân (崇寧眞君) cho đến Chiêu Liệt Võ An Vương (昭烈武安王). Vua Văn Tông (文宗) nhà Nguyên lại phong cho ông là Hiển Linh Nghĩa Dũng Võ An Anh Tế Vương (顯靈義勇武安英濟王). Vua Thần Tông (神宗) nhà Minh phong cho ông tước hiệu Tam Giới Phục Ma Đại Đế Thần Uy Viễn Trấn Thiên Tôn Quan Thánh Đế Quân (三界伏魔大帝神威遠鎭天尊關聖帝君). Đến thời nhà Thanh, vua Đức Tông (德宗) phong cho ông tước hiệu dài nhất là Trung Nghĩa Thần Võ Linh Hựu Nhân Dũng Hiển Uy Hộ Quốc Bảo Dân Tinh Thành Tuy Tĩnh Dực Tán Tuyên Đức Quan Thánh Đại Đế (忠義神武靈佑仁勇顯威護國保民精誠綏靖翊讚宣德關聖大帝). Tín ngưỡng về Quan Thánh rất phổ biến kể từ thời nhà Đường, nhưng đến thời nhà Thanh thì ông được sùng kính như là vị thần hộ vệ cho hoàng tộc. Vì lẽ đó, trong suốt giai đoạn này bất cứ nơi đâu người ta đều thấy xuất hiện Quan Đế Miếu (關帝廟). Ngoài ra, ông còn được xem như là Thần Tài, vị thần phù hộ làm ra nhiều tiền và thịnh vượng. Đặc biệt, trong Phật Giáo, ông được tôn kính như là vị đại hộ pháp. Trong một vài thư tịch của Thiền Tông, có đề cập đến câu chuyện sau khi ông bị chém đứt đầu chết thì biến thành con quỷ không đầu, hồn phách thường lảng vảng trong rừng trải qua đến ba bốn trăm năm. Cuối cùng con quỷ không đầu ấy gặp Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397)—người sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, được Đại Sư dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. Sau khi được siêu độ, có chánh tín vào Phật pháp, Quan Công phát nguyện lớn đời đời kiếp kiếp sẽ hộ trì chánh pháp, hàng phục yêu ma, bảo hộ già lam thánh chúng. Cho nên ông trở thành vị Bồ Tát hộ pháp cho chốn già lam, được liệt vào hàng ngũ hai vị thần hộ pháp cùng với Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát (韋駄尊天菩薩). Hằng năm, người dân vẫn tưởng niệm ngày khánh đản của ông vào ngày 24 tháng 6 âm lịch. Đạo Giáo Trung Quốc vẫn lưu hành Quan Thánh Đế Quân Giác Thế Chơn Kinh (關聖帝君覺世眞經), trong đó có dạy rằng: “Nhân sanh tại thế, quý tận trung hiếu tiết nghĩa đẳng sự, phương ư nhân đạo vô quý, khả lập ư thiên địa chi gian (人生在世、貴盡忠孝節義等事、方於人道無愧、可立於天地之間, con người ở đời, quý nhất các việc tận trung, hiếu, tiết nghĩa, mới không xấu hổ với mọi người, có thể đứng vững giữa trời đất).”
Quan Thánh Đế Quân
(關聖帝君): tên gọi một vị danh tướng của nhà Thục thời Tam Quốc, tên là Quan Vũ (關羽, ?-219), tự là Trường Sanh (長生), Vân Trường (雲長), thường gọi là Quan Công (關公). Ông đã từng phục vụ cho Lưu Bị (劉僃) nhà Thục, rất liêm chính, cương trực, sau bị Tôn Quyền (孫權) nhà Ngô giết chết. Ông được sùng kính như là vị anh hùng của quốc dân, được xem như là bậc thánh và được thờ tại Quan Đế Miếu (關帝廟), cho nên có tên gọi là Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Ông còn được gọi là Quan Đế Da (關帝爺), Tây Sơn Phu Tử (西山夫子), Cái Thiên Cổ Phật (蓋天古佛), Hiệp Thiên Đại Đế (協天大帝), Phục Ma Đại Đế (伏魔大帝), v.v. Dưới thời nhà Tống, vua Huy Tông (徽宗) phong ông lên ba cấp từ Trung Huệ Công (忠惠公), Sùng Ninh Chơn Quân (崇寧眞君) cho đến Chiêu Liệt Võ An Vương (昭烈武安王). Vua Văn Tông (文宗) nhà Nguyên lại phong cho ông là Hiển Linh Nghĩa Dũng Võ An Anh Tế Vương (顯靈義勇武安英濟王). Vua Thần Tông (神宗) nhà Minh phong cho ông tước hiệu Tam Giới Phục Ma Đại Đế Thần Uy Viễn Trấn Thiên Tôn Quan Thánh Đế Quân (三界伏魔大帝神威遠鎭天尊關聖帝君). Đến thời nhà Thanh, vua Đức Tông (德宗) phong cho ông tước hiệu dài nhất là Trung Nghĩa Thần Võ Linh Hựu Nhân Dũng Hiển Uy Hộ Quốc Bảo Dân Tinh Thành Tuy Tĩnh Dực Tán Tuyên Đức Quan Thánh Đại Đế (忠義神武靈佑仁勇顯威護國保民精誠綏靖翊讚宣德關聖大帝), v.v. Tín ngưỡng về Quan Thánh rất phổ biến kể từ thời nhà Đường, nhưng đến thời nhà Thanh thì ông được sùng kính như là vị thần hộ vệ cho hoàng tộc. Vì lẽ đó, trong suốt giai đoạn này bất cứ nơi đâu người ta đều thấy xuất hiện Quan Đế Miếu (關帝廟). Ngoài ra, ông còn được xem như là Thần Tài, vị thần phù hộ làm ra nhiều tiền và thịnh vượng. Đặc biệt, trong Phật Giáo, ông được tôn kính như là vị đại hộ pháp. Trong thư tịch của Thiền Tông như Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀), có đề cập đến câu chuyện sau khi ông bị chém đứt đầu chết thì biến thành con quỷ không đầu, hồn phách thường lảng vảng trong rừng trải qua đến ba bốn trăm năm. Cuối cùng con quỷ không đầu ấy gặp Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397)—người sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, được Đại Sư dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. Sau khi được siêu độ, có chánh tín vào Phật pháp, Quan Công phát nguyện lớn đời đời kiếp kiếp sẽ hộ trì chánh pháp, hàng phục yêu ma, bảo hộ già lam thánh chúng. Cho nên ông trở thành vị Bồ Tát hộ pháp cho chốn già lam, được liệt vào hàng ngũ hai vị thần hộ pháp cùng với Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát (韋駄尊天菩薩).
Quan thư
(關雎): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Là tên của một thiên trong Thi Kinh (詩經), chương Chu Nam (周南); là chương đầu tiên của toàn thư tịch, cũng là thiên đầu tiên trong 15 thiên ca dao Quốc Phong (國風), là tác phẩm biểu hiện tình yêu nam nữ, được xem như là tổ của những bài thơ tình của Trung Quốc. (2) Từ đó, từ này được mượn để chỉ cho sự hiền thục của hậu phi, hay đức độ của nàng hậu phi. Như trong Hậu Hán Thư (後漢書), chương Hoàng Hậu Kỷ Thượng (皇后紀上), phần Quang Liệt Âm Hoàng Hậu (光烈陰皇后) có câu: “Ký vô quan thư chi đức, nhi hữu Lữ Hoắc chi phong (旣無關雎之德、而有呂霍之風, đã không có đức độ của hậu phi, lại thêm thói quen [tật đố hung tàn] của Lữ Hoắc).” (3) Mượn dùng để chỉ cho vợ chồng. Như trong tác phẩm Bão Trang Hạp (抱妝盒) của tác giả vô danh, chương thứ 4 có câu: “Đa tắc thị thiên sanh phần phước, hựu ngộ trước nhân duyên đối phó, thành tựu liễu lân chỉ quan thư (多則是天生分福、又遇著姻緣對付、成就了麟趾關雎, phần lớn ắt là trời sanh phước phần, lại gặp duyên kết hôn giao phó, thành tựu vợ chồng cao đẹp).” (4) Mượn chỉ cho thục nữ, người con gái hiền thục. Như trong hồi thứ 19 của tác phẩm Ngọc Kiều Lê (玉嬌梨) của Trương Quân (張勻, ?-?) nhà Thanh, có đoạn: “Cửu văn lão tiên sinh lịnh ái hiền thục, hữu quan thư chi mỹ, cố thác vãn sinh kính chấp phủ kha, dục cầu lão tiên sinh khúc tứ chu trần chi hảo (久聞老先生令愛賢淑、有關雎之美、故託晚生敬執斧柯、欲求老先生曲賜朱陳之好, từ lâu đã nghe lịnh ái của ông rất hiền thục, có vẻ đẹp của thục nữ, cho nên xin hãy giao cho hậu sinh được làm mai mối, muốn xin ông thương xót ban cho hai họ tốt lành).” (5) Là tên của một loài chim sống dưới nước, chim ưng bắt cá. Trong Hy Tẩu Thiệu Đàm Thiền Sư Quảng Lục (希叟紹曇禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1390) quyển 3 có câu: “Cù mộc thùy âm, quan thư vịnh đức, huyên thọ bắc đường, tinh chiêu nam cực, xuân dương hu ẩu dục lê nguyên, đại địa thùy nhân bất cảm ân (樛木垂陰、關雎詠德、萱樹北堂、星昭南極、春陽姁嘔育黎元、大地誰人不感恩, cây si rũ bóng râm, chồng vợ ngợi ca đức, cây huyên nơi nhà bắc, sao tỏ sáng cực nam, mùa xuân đem vui nuôi bá tánh, đất trời ai nào chẳng cảm ơn).”
quan thế âm
Xem Quán Thế Âm Bồ tát.
; Avalokitesvara (skt)—See Quán Thế Âm.
Quan Thế Âm Tự
(觀世音寺, Kanzeon-ji): ngôi tự viện của Thiên Thai Tông, tọa lạc tại Dazaifu-shi (大宰府市), Fukuoka-ken (福岡縣). Chùa do Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō) phát nguyện xây dựng để cầu nguyện hồi hướng công đức cho mẹ ông là Tề Minh Thiên Hoàng (齊明天皇, Saimei Tennō) qua đời ở vùng Khủng Tử (筑紫, Chikushi); tuy nhiên đến năm 746 (niên hiệu Thiên Bình [天平] thứ 18) mới hoàn thành. Chùa tọa lạc về phìa Đông của Thái Tể Phủ (大宰府, Daizaifu). Giới Đàn Viện của chùa là một trong 3 giới đàn nổi tiếng trong thiên hạ, cùng sánh ngang hàng với hai Giới Đàn Viện ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji). Tăng ni ở vùng tây nam Nhật Bản đều phải đến đây thọ giới. Chùa đã trãi qua một thời rất hưng thịnh, nhưng đến cuối thời Bình An (平安, Heian) thì suy tàn và trở thành chùa phụ thuộc của Đông Đại Tự. Chùa hiện vẫn còn lưu giữ Phạn Chung thuộc Thời Đại Bạch Phụng (白鳳時代, Hakuhō-jidai), các tượng Thập Nhất Diện Quan Âm (十一面觀音), Mã Đầu Quan Âm (馬頭觀音), Bất Không Quyên Sách Quan Âm (不空羂索觀音), v.v., thuộc Thời Đại Bình An. Trong thời gian bị lưu đày, Quản Nguyên Đạo Chơn (菅原道眞, Sugawara-no-Michizane, 845-903) có vịnh hai câu thơ rất nổi tiếng về chùa này: “Lầu Đô Phủ mới nhìn màu ngói, Chùa Quan Âm vẳng nghe tiếng chuông” (Quản Gia Hậu Tập [菅原後集]).
quan tinh
Guanxing (C).
Quan trưởng 官長
[ja] カンチョウ kanchō ||| Office head; bureau chief; high minister. 〔法華經 T 262.9.37a22〕 => Người đứng đầu cơ quan, trưởng phòng, viên chức cao cấp.
quan trọng nhứt
Most importantly.
quan tâm
To pay attention to.
quan tăng
(官僧) Chỉ cho những người xuất gia được triều đình chứng nhận và cấp cho độ điệp, hoặc chỉ cho những người xuất gia được bổ nhiệm giữ các chức quan tăng như Tăng chính, Tăng đô, Luật sư... Ngoài ra, những người nhận sắc chỉ được phép mặc quan phục như áo bào, xiêm, lụa trắng hoặc ca sa gấm... cũng được gọi là Quan tăng.
quan tự
(官寺) Chùa quan, tức các chùa viện được ban bổng lộc và chịu sự quản lí của triều đình. Tại Trung Quốc, những Thiền viện như Ngũ sơn, Thập sát được đặt ra ở đời Tống là thuộc Quan tự. Ngũ sơn gồm: Hưng thánh vạn thọ thiền tự, Cảnh phúc linh ẩn tự, Tịnh từ tự, Cảnh đức tự và Quảng lợi tự. Thập sát thì có: Trung thiên trúc sơn Thiên ninh vạn thọ vĩnh tộ tự, Đạo tràng sơn Hộ thánh vạn thọ tự, Tưởng sơn Thái bình hưng quốc tự, Vạn thọ sơn Báo ân quang hiếu tự, Tuyết đậu sơn Tư thánh tự, Giang tâm sơn Long tường tự, Tuyết phong sơn Sùng thánh tự, Vân hoàng sơn Bảo lâm tự, Hổ khâu sơn Vân nham tự và Thiên thai sơn Quốc thanh trung tự. Ở Nhật Bản, năm Thiên vũ thiên hoàng thứ 7 (679), Quan tự được chế định, có nhiều loại như Sắc nguyện tự, Định ngạch tự, Ngự nguyện tự, Ngự kì nguyện tự... Từ đời Trung cổ về sau, Quan tự chỉ cho những chùa viện được Mạc phủ đặc biệt bảo hộ.
quan văn
(棺文) Chỉ cho những câu văn mà Thiền gia viết trên quan tài. Cứ theo điều Quan văn trong Chư hồi hướng thanh qui thức quyển 4 thì Quan văn phổ thông được dùng là (Đại 81, 660 thượng): Xuất li sinh tử/Nhập trụ Niết bàn/ Tịch tĩnh vô vi/ Cứu cánh an lạc/(Xa lìa sống chết /Vào trụ Niết bàn/Vắng lặng vô vi /Yên vui tuyệt đối). Hoặc: Mê cố tam giới thành/Ngộ cố thập phương không/Bản lai vô Đông Tây/Hà xứ hữu Nam Bắc?/(Mê nên thành ba cõi/Ngộ nên mười phương không/Xưa nay không Đông Tây/Ở đâu có Nam Bắc?). Còn theo điều Tại gia tống vong trong Tiểu tùng lâm lược thanh qui quyển trung thì ngoài quan tài vẽ vòng tròn lớn, trên nắp quan tài hoặc ở bên cạnh viết (Đại 81, 710 thượng): Xuất li sinh tử/Nhập trụ Niết bàn/Tịch tĩnh vô vi/Cứu cánh an lạc. Bốn câu này phối hợp với 4 phương Đông Tây Nam Bắc mà viết.
quan vũ
Kuan Yu (C)Là một đại tướng
Quan Âm
觀音; J: kannon; nguyên là Quán Thế Âm nhưng do tránh tên nhà vua Ðường là Thế Dân nên gọi là Quan Âm hoặc Quán Âm.|Tên của Bồ Tát Quán Thế Âm (觀世音; s: avalokiteśvara) tại Trung Quốc và các nước lân cận. Phật tử Trung Quốc thường thờ cúng Quan Âm bên cạnh các vị Bồ Tát Phổ Hiền (普賢; s: samantabhadra), Ðịa Tạng (地藏; s: kṣitigarbha) và Văn-thù (文殊; s: mañjuśrī). Ðó là bốn vị Ðại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.|Quan Âm hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm. Phụ nữ không con cũng hay cầu Quan Âm. Trong kinh Ðại thừa vô lượng thọ (s: sukhāvatīvyūha), Quan Âm cũng hay được nhắc tới bên cạnh Phật A-di-đà (s: amitābha). Tại Trung Quốc và Việt Nam, Quan Âm hay được diễn tả dưới dạng nữ nhân.|Tranh trượng hay trình bày Quan Âm dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là dạng một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt. Có khi Quan Âm ẵm trên tay một đứa bé, có khi có một đồng tử theo hầu. Người ta cũng hay vẽ Quan Âm hiện lên trong mây, hoặc cỡi rồng trên thác nước. Hình ảnh Quan Âm đứng trên một hải đảo cứu người bị nạn cũng phổ biến, biển cả tượng trưng cho Luân hồi. Tay Quan Âm hay cầm hoa sen hay bình nước Cam lộ.|Theo quan niệm Trung Quốc, Quan Âm ngự tại Phổ-đà Sơn, miền Ðông Trung Quốc, đó là một trong Tứ đại danh sơn – bốn trú xứ của bốn Ðại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.|Tại Trung Quốc – đến thế kỉ 10 – Quan Âm còn được giữ dưới dạng Nam giới, thậm chí trong hang động ở Ðôn Hoàng, người ta thấy tượng Quan Âm để râu. Ðến khoảng thế kỉ thứ 10 thì Quan Âm được vẽ mặc áo trắng, có dạng nữ nhân. Có lẽ điều này xuất phát từ sự trộn lẫn giữa đạo Phật và đạo Lão trong thời này. Một cách giải thích khác là ảnh hưởng của Mật tông (xem Tan-tra) trong thời kì này: đó là hai yếu tố Từ bi (s: maitrī-karuṇā) và Trí huệ (s: prajñā) được thể hiện thành hai dạng nam nữ, mỗi vị Phật hay Bồ Tát trong Mật tông đều có một »quyến thuộc« nữ nhân. Vị quyến thuộc của Quán Thế Âm được xem là vị nữ thần áo trắng Ða-la (s: tārā), và Bạch Y Quan Âm là tên dịch nghĩa của danh từ đó. Kể từ đó quần chúng Phật tử Trung Quốc khoác cho Quan Âm áo trắng và xem như là vị Bồ Tát giúp phụ nữ hiếm muộn.|Có rất nhiều huyền thoại về Bồ Tát Quan Âm. Theo một huyền thoại Trung Quốc thì Quan Âm là con gái thứ ba của một nhà vua. Lớn lên, mặc dù vua cha ngăn cản nhưng công chúa quyết đi tu. Cuối cùng vua nổi giận, sai đem giết nàng. Diêm vương đưa nàng vào địa ngục, ở đó công chúa biến địa ngục thành Tịnh độ, cứu giúp người hoạn nạn. Diêm Vương thả nàng ra và công chúa tái sinh lại trên núi Phổ-đà biển Ðông và trở thành người cứu độ cho ngư dân. Ðến khi vua cha bị bệnh nặng, nàng cắt thịt đắp lên chỗ bệnh. Nhà vua khỏi bệnh và nhớ ơn, cho tạc tượng nàng. Tương truyền rằng, vì hiểu lầm ý của nhà vua mà người ta tạc nên bức tượng nghìn tay nghìn mắt, được lưu truyền đến ngày nay.
quan âm
Kannon (J), Kanzeon (J), Kwannon (J), Avalokitesvara (S), Kuan-yin (C), Guanyin (C), Tên một vị Phật hay Như LaiXem Quán Thế Âm Bồ tát.
; Avalokitesvara Bodhisattva—Bodhisattva of mercy—Goddess of mercy.
quan âm cấm
Avalokitavrata (S)Đệ từ của Thanh Biện Bồ tát.
quan âm huyền nghĩa
(觀音玄義) Cũng gọi Biệt hành huyền nghĩa, Biệt hành huyền, Quán âm huyền, Quán âm kinh huyền nghĩa. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thiên thai Trí khải soạn vào đời Tùy, học trò là Quán đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 34, là 1 trong 5 tiểu bộ của tông Thiên thai. Nội dung sách này giải thích nghĩa sâu xa của phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7, y theo cách chia khoa Ngũ trùng huyền nghĩa: Thích Danh, Xuất Thể, Minh Thị, Biện Dụng và Giáo Tướng mà ngài Trí Khải đã lập ra trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa. Phần Thông thích và Biệt thích giảng giải một cách tỉ mỉ đại cương của phẩm Phổ môn và 5 chữ cái Quán thế âm phổ môn. Đây là tác phẩm xưa nhất trong những sách chú thích phẩm Phổ môn hiện còn mà các học giả đời sau phỏng đoán là ngài Trí Khải đã giảng thuật trước bộ Ma ha chỉ quán. Sách này và Quán âm nghĩa sớ tuy đều là những tác phẩm quan trọng trình bày về thuyết Tính ác của tông Thiên thai, nhưng trong Trí giả đại sư biệt truyện, Đại đường nội điển lục và Tục cao tăng truyện đều không thấy nói sách này là do ngài Trí khải soạn. Ngoài ra, ngài Tứ minh Tri lễ đời Tống đã dựa theo sách này mà soạn Quán âm huyền nghĩa kí 4 quyển là tập đại thành về thuyết Tính ác. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
quan âm huyền nghĩa kí
(觀音玄義記) Cũng gọi Quán thế âm bồ tát phổ môn phẩm huyền nghĩa kí, Quán âm biệt hành huyền kí, Biệt hành huyền nghĩa kí, Biệt hành huyền kí, Quán âm kinh huyền nghĩa kí. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tứ minh Tri lễ soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Đây là sách chú thích bộ Quán âm huyền nghĩa. Theo lời tựa của tác giả thì sách này ngài Tri Lễ soạn lúc ngài 62 tuổi. Ngài Tri Lễ mới đầu tham học ngài Bảo Vân Nghĩa Thông, đúng lúc ngài Nghĩa Thông đang giảng phẩm Quán âm phổ môn, qua nhiều lần thưa hỏi những chỗ còn nghi mới hiểu được nghĩa sâu xa kín nhiệm. Năm Thiên hi thứ 5 (1021) đời Tống ngài sao chép lại và giải thích ý nghĩa sâu xa theo cái học huấn hỗ của đời Đường, Tống. Năm Thiên thánh thứ 2 (1024), ngài Tuân Thức tâu xin cho sách này được đưa vào Đại tạng kinh. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 25].
quan âm kinh phổ môn phẩm
Xem Quán Thế Âm Phổ môn phẩm.
quan âm kinh trì nghiệm kí
(觀音經持驗記) Cũng gọi Quán thế âm trì nghiệm kí, Quán âm trì nghiệm kí, Quán thế âm kinh chú trì nghiệm kí. Tác phẩm, 2 quyển, do ông Chu Khắc Phục soạn vào năm Thuận Trị 16 (1659) đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 134. Nội dung sách này do tác giả sưu tầm các sách, thu tập 118 sự kiện linh nghiệm về tín ngưỡng Quán âm của tất cả tăng tục từ đời Tấn đến thời Thuận Trị nhà Thanh rồi biên soạn thành. Phạm vi các thư tịch mà tác giả sưu tầm bao gồm những nội, ngoại điển như: Cao tăng truyện, Pháp uyển châu lâm, Biện chính luận, Pháp hoa cảm thông, Quán âm cảm ứng, Minh tường kí, Tuyên nghiệm kí, Thái bình quảng kí, Đàm tẩu, Ngọc đường nhàn thoại, Triều dã thiêm tải..., dưới mỗi sự kiện đều có ghi rõ xuất xứ từ sách nào, đây là tư liệu quan trọng đối với việc nghiên cứu về tín ngưỡng Quán thế âm. Cuối quyển có phụ lục: Quán thế âm đại bi tâm đà la ni, kinh Bạch y đại bi ngũ ấn tâm đà la ni, Lễ Quán âm văn, Biện ngoa ngữ tam tắc...
quan âm mạn đồ la bát đại bồ tát
(觀音曼荼羅八大菩薩) Tám vị bồ tát Đại quán tự tại nói trong kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp. Đó là: 1. Bồ tát Kim cương Quán tự tại. 2. Bồ tát Dữ nguyện Quán tự tại. 3. Bồ tát Sổ châu Quán tự tại. 4. Bồ tát Câu triệu Quán tự tại. 5. Bồ tát Trừ chướng Quán tự tại (cũng gọi bồ tát Thí vô úy Quán tự tại). 6. Bồ tát Bảo kiếm Quán tự tại. 7. Bồ tát Bảo ấn Quán tự tại. 8. Bồ tát Bất thoái chuyển kim luân Quán tự tại. Về hình tượng, vật cầm, ấn khế... của 8 vị Đại quán tự tại này cho đến các pháp tu thờ những Bồ tát này làm Bản tôn và những sự duyên... đều được ghi chép tường tận trong kinh này.
quan âm nghĩa sớ
(觀音義疏) Cũng gọi Phổ môn phẩm sớ, Biệt hành nghĩa sớ, Quán âm kinh sớ. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Thiên Thai Trí Khải giảng vào đời Tùy, đệ tử Quán Đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 34, là 1 trong 5 tiểu bộ của tông Thiên thai. Nội dung sách này giải thích văn nghĩa của phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7. Trước hết, đặt 4 câu hỏi vềThời tiết, Tiêu nhân, Kính nghi và Chính vấn, rồi đáp bằng Khẩu cơ cảm ứng, Ý cơ cảm ứng, Thân cơ cảm ứng, chỉ rõ sự lợi ích ngấm ngầm của Quán âm thụ vương. Kế đến, đặt câu hỏi về 3 nghiệp thân, khẩu, ý và trả lời bằng Biệt đáp, Tổng đáp, khuyên cúng dường... chỉ rõ sự lợi ích công khai của Phổ môn châu vương. Trong sách, tác giả khéo dùng các giáo pháp Tứ giáo, Tam quán để bác bỏ các thuyết của những nhà chú sớ khác và lối giải thích xưa cũ, làm sáng tỏ lí luận và quán hạnh đối với tín ngưỡng Quán thế âm, là kim chỉ nam cho đời sau giải thích phẩm Phổ môn. Sách này và Quán âm huyền nghĩa đều nêu cao pháp môn Tính ác của tông Thiên thai. Ngoài ra, ngài Tứ minh Tri lễ đời Tống đã dựa theo sách này mà soạn bộ Quán âm nghĩa sớ kí 4 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25].
quan âm nghĩa sớ kí
(觀音義疏記) Cũng gọi Quán âm kinh nghĩa sớ kí, Quán âm biệt hành sớ kí, Biệt hành nghĩa sớ kí, Biệt hành sớ kí. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tứ minh Tri lễ soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Nội dung sách này chú thích Quán âm nghĩa sớ của ngài Trí Khải. Sách này và Quán âm huyền nghĩa kí đều là những thư tịch quan trọng xiển minh pháp môn Tính ác của tông Thiên thai. Về sách chú thích bộ Sớ kí này thì có Quán âm kinh nghĩa sớ kí khoa 1 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 25].
quan âm phật
Kouan Yin (C)Tên một vị Phật hay Như Lai. Xem Avalokitecvara.
quan âm phổ hiền đà la ni kinh
(觀音普賢陀羅尼經) Cũng gọi Thanh tịnh Quán thế âm bồ tát Phổ hiền đà la ni kinh, Thanh tịnh Quán thế âm Phổ hiền kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trí Thông dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về việc bồ tát Quán thế âm vì lợi ích chúng sinh mà tuyên thuyết các Đà la ni: Phổ hiền, Kết giới, Phụng thỉnh... và bảo rằng nếu ai tụng trì đà la ni Phổ hiền thì sẽ không bao giờ bị rơi vào các đường ác, thấy được bồ tát Quán thế âm hiện thân và được các công đức của Tam ma địa đà la ni thù thắng. Bản dịch khác của kinh này là kinh Quán tự tại bồ tát thuyết Phổ hiền đà la ni, do ngài Bất không dịch vào đời Đường. So với kinh này thì bản dịch của ngài Bất không, chẳng những thứ tự trình bày khác nhau, mà còn thiếu cả các phần vẽ tượng, vàođàn, pháp cúng dường... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
quan âm sám pháp
(觀音懺法) Cũng gọi Thỉnh quán thế âm sám pháp, Thỉnh quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni tam muội nghi. Pháp tu sám hối cúng dường thờ bồ tát Quán thế âm làm Bản tôn. Bồ tát Quán thế âm còn gọi là Viên Thông Đại sĩ, vì thế pháp sám này cũng gọi Viên Thông sám pháp. Thứ tự của pháp tu này như sau: Trước hết, trang nghiêm đạo tràng, dùng bùn thơm trát lên mặt đất, treo cờ phướn, tàn lọng, chuẩn bị cành dương nước sạch, đốt hương, rải hoa; tôn trí tượng Phật nhìn hướng nam, tượng bồ tát Quán thế âm nhìn hướng đông, hành giả gieo 5 vóc sát đất hướng về tây, dốc lòng đính lễ Phật Thích ca, Phật A di đà; xưng niệm danh hiệu Tam bảo và Quán thế âm. Kế đến, tụng chú Tiêu phục độc hại, chú Phá nghiệp chướng đà la ni, chú Lục tự chương cú... giải bày sám hối nghiệp ác tội lỗi, lễ xong rồi hành đạo đúng như pháp; sau đó, một người lên tòa cao xướng tụng kinh Thỉnh quán thế âm. Tu pháp trong 21 ngày hoặc 49 ngày. [X. kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú; Thỉnh Quán thế âm kinh sớ; Thỉnh Quán âm kinh xiển nghĩa sao; Quốc thanh bách lục Q.1; Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni tam muội nghi].
quan âm sắc tứ tự
Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Chùa còn gọi là chùa Phật Tổ, được Hòa Thượng Tô Quang Xuân dựng lên vào giữa thế kỷ thứ 19. Nguyên thủy chùa chỉ là một cái am nhỏ làm nơi tu hành và phát thuốc cho nhân dân trong vùng. Sau đó Hòa Thượng lên thành Gia Định, tu ở chùa Kim Chương và thị tịch ở đó. Năm 1842, vua Thiệu Trị đã sắc phong cho Hòa Thượng và sắc tứ chùa Quan Âm. Ngôi chùa hiện tại đã được hai vị Hòa Thượng Thiện Tường và Thiện Đức xây dựng vào năm 1936—Name of a temple located in Cà Mau town, Cà Mau province. It is also called Phật Tổ Temple. It was built in the middle of the nineteenth centur by Most Venerable Tô Quang Xuân. At first it was only a small temple where he stayed and worshipped Buddhism, and made prescription to cure the local people. Later, he moved to Gia Định and stayed at Kim Chương Temple, with Buddhist name “Trí Tâm” and passed away there. In 1842, King Thiệu Trị proclaimed him Most Venerable, and offered the Royal Recognization to the temple. The present temple was rebuilt by Most Venerable Thiện Tường and Most Venerable Thiện Đức in 1936.
quan âm thiêm
(觀音簽) Những cái thẻ bằng tre đặt ở trước tượng Quán âm dùng để bói lành dữ. Theo Thích môn chính thống quyển 3 thì có 2 loại thẻ: 100 thẻ và 130 thẻ. Loại 100 thẻ bắt nguồn từ viện Quán âm chùa Thiên trúc, còn loại 130 thẻ thì bắt nguồn từ chùa Viên Thông ở đất Việt.
quan âm tố
(觀音素) Trì trai Quán âm. Tập tục địa phương ở huyện Ngô tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, từ ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch bắt đầu trì trai, đến ngày 19 là ngày đản sinh của bồ tát Quán âm thì chấm dứt, gọi là Quán âm tố. Lại trì trai trong thời gian từ ngày mồng 9 tháng 6 âm lịch đến ngày 19 là ngày bồ tát Quán thế âm thành đạo, cũng gọi là Quán âm tố.
quan âm từ lâm tập
(觀音慈林集) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Hoằng Tán biên tập vào năm Khang Hi 7 (1668) đời Thanh, được thu vào Vạn Tục tạng tập 149. Nội dung sách này do biên tập những kinh điển và sự tích cảm ứng có liên quan đến tín ngưỡng Quán thế âm mà thành. -Quyển thượng là thiên Chư kinh, gồm 10 kinh: Kinh Bi hoa, kinh Quán thế âm Đại thế chí bồ tát thụ kí, kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương, kinh Thỉnh quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú... -Quyển trung và hạ là thiên Cảm ứng, ghi chép những sự tích và cảm ứng liên quan đến tín ngưỡng Quán thế âm của tất cả tăng tục Ấn Độ và Trung Quốc từ đời Tấn đến đầu đời Thanh, gồm 154 sự kiện, mỗi sự kiện đều có ghi rõ xuất xứ. Đây là sách tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử tín ngưỡng Quán thế âm.
quan âm viên thông tam chân thật
(觀音圓通三真實) Ba thứ chân thực về Nhĩ căn viên thông của bồ tát Quán thế âm. Trên hội Lăng nghiêm, 25 vị Thánh Đại Tiểu thừa đều tự nói về phương tiện viên thông mà mình đã chứng được, trong đó, Nhĩ căn viên thông của bồ tát Quán thế âm được ngài Văn thù khen là tối thượng, tối thù thắng. Đồng thời, ngài Văn thù nêu ra 3 thứ chân thực để khen ngợi tính chất viên thông của Nhĩ căn, đó là: 1. Thông chân thực: Cac căn mắt, mũi, lưỡi, thân, ý đều không bằng nhĩ căn (căn tai), vì mắt không thấy vật ngoài bức tường, cho đến tâm ý có lúc bị lăng xăng bất định; còn nhĩ căn thì nghe được âm thanh ngoài bức tường và nghe được cả gần lẫn xa. 2. Viên chân thực: Mười phía cùng đánh trống 1 lúc thì nhĩ căn cũng nghe được âm thanh từ 10 phía. 3. Thường chân thực: Âm thanh khi có khi không, lúc động lúc tĩnh, nhưng tính nghe thì không mất, có âm thanh thì có nghe, không âm thanh thì không nghe, nhưng dù có âm thanh hay không, tính nghe ấy vẫn vắng lặng thường trụ và không sinh diệt. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6].
quan âm đường
Pavilion of Bodhisattva Avalokitesvara—Bodhisattva Avalokitesvara's Hall—Pavilion of Regarder of the Sounds.
Quan Âm Đạo Lợi Viện Hưng Thánh Bảo Lâm Tự
(觀音導利院興聖寶林寺): còn gọi là Hưng Thánh Tự (興聖寺, Kōshō-ji), đạo tràng sơ khai của Tào Động Tông Nhật Bản, hiện tọa lạc tại số 27 Yamada (山田), Uji-shi (宇治市), Kyoto-fu (京都府); hiệu núi là Phật Đức Sơn (佛德山); gọi đủ là Phật Đức Sơn Quan Âm Đạo Lợi Viện Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (佛德山觀音導利院興聖寶林寺). Tượng thờ chính là Thích Ca Tam Tôn. Vị Khai Tổ của Tào Động Tông Nhật Bản là Đạo Nguyên (道元, Dōgen) đã từng sang Trung Quốc cầu pháp, rồi trở về nước vào năm 1232 (Trinh Vĩnh [貞永] nguyên niên), lúc ông 33 tuổi. Năm sau 1233 (Thiên Phước [天福] nguyên niên), ông kiến lập một ngôi chùa trên nền đất cũ của Cực Lạc Tự (極樂寺, Gokuraku-ji), ở vùng Thâm Thảo (深草, Fukakusa), Quận Vũ Trị (宇治郡, Uji-gun); và ban đầu chùa có tên là Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (興聖寶林寺). Khi ấy Chánh Giác Thiền Ni (正覺禪尼) cúng dường tiền xây dựng Pháp Đường, rồi tiếp theo Đằng Nguyên Giáo Gia (藤原敎家) cũng phát tâm cúng dường Đàn Tu Di để phụng nạp trong Pháp Đường này. Trong suốt 11 năm trường cho đến khí dời về Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) ở Fukui-ken (福井懸), chính Đạo Nguyên đã từng thuyết giáo, cao xướng chánh pháp tại đây. Phần lớn các đệ tử nổi danh của ông đều đã từng tu tập tại Thánh địa này. Tuy nhiên, sau khi Đạo Nguyên dời về Vĩnh Bình Tự, cũng như sau khi ông qua đời, ngôi chùa đã bị đốt cháy tan tành, dần lụi tàn theo năm tháng và không còn thấy bóng dáng nữa. Kiến trúc hiện tại của chùa nằm ở vị trí khác với vị trí chùa trước. Vào năm 1648 (Khánh An [慶安] nguyên niên) dưới thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), thể theo lời nguyện ước của vị Thành chủ Thủy Tỉnh Thượng Chính (水井尚政, Nagai Naomasa), ngôi chùa được tái kiến lại. Trong Khai Sơn Đường có thờ tôn tượng của Thiền Sư Đạo Nguyên, và nơi ngôi tháp khai sơn có hài cốt của Thiền Sư.
quan điểm
Concepts—Opinions—Outlook—Point of view—Viewpoint.
quan điểm chính
Central concept.
quan điểm thuần lý
A rational outlook.
quan đại thần
Minister.
quan đế
Kuan-Ti (C)Được dân chúng sùng bái gọi là Phục Ma Đại Đế.
; 1) Quan Đế hay Quan Vân Trường: Kuan-Ti, the god of War, adeified hero of the Three Kingdoms. 2) Vị Hộ Pháp: A protector of Buddhism.
; (關帝) Danh tướng Trung Quốc sống vào đời Tam quốc, tên là Vũ, tự Vân Trường, người huyện Giải, quận Hà Đông, nước Thục Hán.Ông có sức mạnh mẽ hơn người, là hổ tướng một đời. Ông vốn trọng tình nghĩa, bẩm tính trung trực nên lưu danh sử xanh. Thời vua Thần Tông nhà Minh, ông được sắc phong Tam giới phục ma đại đế thần uy viễn chân thiên tôn quan thánh đế quân. Do đó, dân gian đời sau tôn xưng ông là Quan thánh đế quân, hoặc gọi tắt là Quan Đế. Cứ theo Trí Giả truyện trong Phật tổ thống kỉ quyển 6, Đại sư Trí Giả đời Tùy có lần nhập định tại núi Ngọc Tuyền, trong định ngài thấy Quan Đế hiển linh, biến khu đất gồ ghề ở núi Ngọc Tuyền thành nền bằng phẳng để cúng Đại sư xây chùa hoằng pháp. Sau đó, Quan đế còn xin Đại sư truyền 5 giới, chính thức trở thành đệ tử Phật. Phật giáo đời sau cũng có nơi xếp Quan Đế vào hàng thần thủ hộ già lam. Theo truyền thuyết của Đạo giáo thì Quan Đế thường hiển hiện các việc linh dị. Thần lực của ông rất được sùng kính trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, có nhiều nơi lập miếu thờ Quan Đế. Đời sau phần nhiều mượn tên ông để lồng vào trong những bài văn khuyến thiện phổ thông, như: Quan đế giác thế chân kinh, Quan đế minh thánh kinh, Giới sĩ tử văn...
Quan 官
[ja] カン kan ||| (1) An officer; a government clerk, official. (2) Government office. (3) Prince, ruler. (4) The sensory faculties (根): eyes, ears, nose, tongue, skin. => 1. Viên chức; quan chức nhà nước, chính khách. 2. Cơ quan nhà nước. 3. Hoàng thân, người cai trị. 4. Các giác quan (căn 根): mắt, tai, mũi, lưỡi, da.
quan, quán
Vipasyanà, vidarsanà (S). To look into, study, examine, contemplate; contemplation, insight; a study, a Taoist monastery; to consider illusion and discern illusion, or discern the seeming from the real; to contemplate and mentally enter into truth. Giác is defined as awakening or awareness, quá n as examination or study.
Quang
光; C: guāng; J: kō;|Có các nghĩa sau: 1. Ánh sáng, sự rực rỡ, sự chói lọi; 2. Ánh sáng mặt trời; 3. Sự biểu hiện, sự hiển hiện (s: ābhāsa); 4. Phản nghĩa của tối tăm, u ám, sự hiểu biết, thông thái, trí huệ; 5. Vầng hào quang, sự phát tiết.
quang
Prabhāsa (S), Ray Suffix, e.g-Tu di quang Phật = Meruprabhasa-Buddha Xem Vô phiền thiên.
; Prabhà (S). Light, brightness, splendour; to illuminate.
; Prabha—Light—Brightness—There are two kinds: 1) Phật quang: The true light of the Buddha. 2) Ma quang: Mara's delusive light.
quang bạn
(光伴) Cũng gọi Quang ưng, Quang cứ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là làm bạn với sự vẻ vang, rạng rỡ. Trong Thiền lâm, giữa pháp hội, người ngồi gần sát với vị Thủ tọa được gọi là Quang bạn. Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 447 hạ) nói: Đặc biệt đối với vị Thủ tọa tân thỉnh tác lễ bày tỏ lòng cảm tạ, mời cả tri sự đại chúng cùng là Quang bạn. Chỗ ngồi của vị Quang bạn được đặt ở bên phải chỗ ngồi của vị Trụ trì (hoặc đối diện nhưng hơi chếch đi một chút), gọi là Quang bạn vị. Hương đốt để cảm tạ quang bạn gọi là Quang bạn hương. [X.chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; môn Tọa vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
quang bảo
1) Sư Phổ Quang ở chùa Đại Từ Ân bên Trung Quốc thời nhà Đường, tác giả của bộ 30 quyển Câu Xá Luận Ký—A noted monk named Pu-Kuang of Ta-Tzu-Ên monastery under the T'ang dynasty, who was the author of the Record of Kosa Sastra, 30 books. 2) Sư Pháp Bảo cũng tại Đại Từ Ân Tự đời Đường, cùng thời với sư Phổ Quang—A noted monk named Fa-Pao who lived in the same monastery and under the same period with monk Pu-Kuang.
; (光寶) Tức Phổ quang và Pháp bảo, 2 vị tăng, học trò ngài Huyền Trang đời Đường. Hai vị này đều có chú thích luận Câu xá. Sư Phổ quang soạn trước Câu xá luận kí 30 quyển, sư Pháp bảo soạn sau Câu xá luận sớ 39 quyển, gọi là QuangBảo nhị kí, nên người đời thường ghép chung tên 2 vị tăng này mà gọi là Quang Bảo. Tống cao tăng truyện quyển 4 (Đại 50, 727 thượng) nói: Bấy giờ, 2 pháp sư Quang Bảo (Phổ quang và Pháp bảo) cũng đều nổi tiếng như 2 pháp sư Dung Duệ (Đạo dung và Tăng duệ)học trò ngài La Thập vậy.(xt. Pháp Bảo, Phổ Quang).
quang bối
Circle of light behind the Buddha.
quang bội
(光背) Cũng gọi Hậu quang, Quang diệm, Quang. Chỉ cho ánh sáng phía sau lưng của Phật, Bồ tát, tượng trưng cho trí tuệ của các Ngài. Quang bối được chia làm 2 thứ là Đầu quang và Cử thân quang. 1. Đầu quang: Vốn chỉ cho ánh sáng phát ra từ sợi lông trắng khoảng giữa hai đầu chân mày, vì thế còn gọi là Mi gian quang. Theo họa pháp tượng trưng của hội họa Đông phương thì trong các bức họa, xung quanh diện mạo của nhân vật (Phật, Bồ tát) thường vẽ 1 vòng sáng. Còn nghệ thuật điêu khắc tả chân của Cơ đốc giáo thì thường dùng 1 tấm ván mỏng đặt ở phía sau đỉnh đầu của pho tượng. Ở Ân Độ, để biểu hiện những đường nét đẹp của tượng Phật, các họa sĩthườngtạo 1 vòng ánh sáng trên đầu (Đầu quang) pho tượng, với những vầng sáng như châu quang, hỏa diệm và những đường nét nhỏ nhuyễn biểu hiện như dáng phóng ra ánh sang (được gọi là Tuyến quang, Cân quang) ở phía sau giống như hình cái tàn, lọng... các vị thần Thủ hộ trong Phật giáo đều có luân bảo (bánh xe báu)hay hỏa diệm (những ánh lửa) làm quang bối. 2. Cử thân quang (cũng gọi Thân quang): Tức là ánh sáng phát ra từ toàn thân tượng Phật. Có nhiều loại, hoặc là Đầu quang, và Thân quang trên dưới chồng lên nhau làm thành 2 lớp ánh sáng lớn và nhỏ; hoặc là ánh sáng hình chiếc thuyền, hoặc ánh sáng hình cánh sen... Ngoài ra còn có kiểu ánh sáng hừng lên chia thành nhữnggợn sóng, nghìn thể Phật... Trên ánh lửa thường có người trời, chim Ca lăng tần già, chữ Phạm... để làm hình thức trang nghiêm. Ánh lửa của Minh vương Bất động mang hình dáng chim Ca lâu la (chim cánh vàng), ở trên có vẽ nghi quĩ. Tóm lại, Quang bối là vầng ánh sáng được vẽ hay chạm trổ ở phía sau lưng của tượng Phật, biểu thị ý nghĩa thân Phật có ánh sáng bao chung quanh. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; kinh Đà la ni tập 12; Quảng hoằng minh tập Q.17; Phật tượng đồ vựng Q.5]. (xt. Quang Tướng).
quang chiếu như lai tướng
Vairocana-rasmi-pratimandita-dhvaja—Một vị Bồ Tát đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà tiền thân là Tịnh Đức Phu Nhân—A Bodhisattva, disciple of Sakyamuni, who was in a former life Vimaladatta.
quang cảnh
Spectacle—View—Aspect—Outlook.
; (光境) Quang là chủ thể năng chiếu; Cảnh là đối tượng sở chiếu. Nếu năng sở (chủ khách) hợp làm một thì gọi là Quang cảnh nhất như. Nếu tâm chiếu vật và cảnh sở chiếu không đối lập nhau mà dung hợp nhau để đạt đến cảnh giải thoát, thì gọi là Quang cảnh câu vong (quang và cảnh đều mất), Quang cảnh mẫn tuyệt (quang và cảnh dứt bặt). Chương Bàn sơn bảo tích trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 (Đại 51, 253 trung) nói: Tâm trăng một tròn; sáng (quang) nuốt muôn tượng. Quang chẳng soi cảnh, cảnh cũng chẳng còn, quang cảnh đều mất, lại là vật gì?.
quang diệm vương phật
1) Đức Phật có danh hiệu Quang Diệm Vương vì ánh sáng của Đức Phật ấy soi sáng nhất: The royal Buddha of shining flames, or flaming brightness. 2) Đức danh của Đức Phật A Di Đà: Amitabha with his virtues.
quang dung
(光融) Ánh sáng và sự dung hòa. Nghĩa là ánh sáng của Phật pháp có năng lực dung hòa tất cả. Hoằng dương chính pháp để dung hòa và thu nhiếp những người tà kiến vào Phật pháp. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng) nói: Quang dung Phật pháp, tuyên lưu chính hóa.
quang dũng thiền sư
Zen Master Kuang-Yong in Nan-Ta 850-938—Thiền sư Quang Dũng Nam Tháp sanh năm 850 tại Phong Thành (bây giờ thuộc tỉnh Giang Tây). Sư rất thông minh và tinh thông Tứ Thư Ngũ Kinh lúc 13 tuổi. Ông là đệ tử của Thiền Sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, và là thầy của thiền sư Ba Tiêu Huệ Thanh. Vào năm 19 tuổi sư thọ cụ túc giới—Zen Master Nan-Ta-Kuang-Yong was born in 850 in Feng-Cheng (now in Jiang-Xi Province). He was clever, mastering the Confucian classics at the age of thirteen. He was a disciple of Yang-Shan-Hui-Chi, and master of Pa-Chiao-Hui-Ch'ing. At ninetieen, he underwent ordination. • Sư sang miền Bắc yết kiến Lâm Tế, lại trở về hầu Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn hỏi: “Ngươi đến làm gì?” Sư thưa: “Đảnh lễ ra mắt Hòa Thượng.” Ngưỡng Sơn hỏi: “Thấy Hòa Thượng chăng?” Sư thưa: “Dạ thấy.” Ngưỡng Sơn nói: “Hòa Thượng sao giống in lừa.” Sư thưa: “Con thấy Hòa Thượng cũng chẳng giống Phật.” Ngưỡng Sơn hỏi: “Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì?” Sư thưa: “Nếu con phải so sánh Hòa Thượng với cái gì đó, thì Hòa Thượng nào có khác lừa?” Ngưỡng Sơn ngạc nhiên nói: “Phàm Thánh cả hai đều quên, tình hết, thể hiện bày, ta lấy đây nghiệm xét người, hai mươi năm không ngờ vực. Con nên gìn giữ đó.” Ngưỡng Sơn thường chỉ sư bảo với người: “Kẻ nầy là nhục thân Phật.”—When Kuang-Yong return from a trip to visit Lin-Ji, Yang-Shan said: “Why have you come?” Kuang-Yong said: “To pay respects to the master.” Yang-Shan said: “Do you still see me?” Kuang-Yong said: “Yes.” Yang-Shan said: “When I observe the master, you don't look like a Buddha.” Yang-Shan said: “If I don't look like a Buddha, then what do I look like?” Kuang-Yong said: “If I must compare you to something, then how do you differ from a donkey?” Yang-Shan cried out excitedly: “He's forgotten both ordinary and sacred! The passions are exhausted and the body is revealed. For twenty years I've tested them in this way and no one has gotten it. Now this disciple has done it!” Yang-Shan would always point Kuang-Yong and say to people: “This disciple is a living Buddha.” • Có vị Tăng hỏi: “Văn Thù là thầy bảy Đức Phật, Văn Thù có thầy chăng?” Sư đáp: “Gặp duyên liền có.” Vị Tăng hỏi: “Thế nào là thầy Văn Thù?” Sư dựng đứng cây phất tử chỉ đó. Tăng thưa: “Cái ấy là phải sao?” Sư ném cây phất tử khoanh tay—A monk asked Zen master Kuang-Yong: “Manjushri was the teacher of seven Buddhas. Did Manjushri have a teacher or not?” Kuang-Yong said: “Manjushri was subject to conditions, and therefore had a teacher.” The monk said: “Who was manjushri' teacher?” Kuang-Yong help up his whisk. The monk said: “Is that all?” Kuang-Yong put down the whisk and clasped his hands. • Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là diệu dụng một câu?” Sư đáp: “Nước đến thành hồ.” Vị Tăng hỏi: Chơn Phật ở tại chỗ nào?” Nói ra không tướng, cũng chẳng tại nơi khác—A monk asked: What is a sentence of mystic function?” Kuang-Yong said: “The water comes and the ditch fills up.” The monk asked: Where does the real Buddha reside?” Kuang-Yong said: “It doesn't appear in words, nor anywhere else, either.” • Không rõ sư thị tịch năm nào—His date of death was unknown.
quang giáng
The honoured one descends, i.e. the Buddha or bodhisattva who is worshipped, descends.
; Thế Tôn giáng thế, thí dụ như Phật hay Bồ Tát được thờ phượng giáng trần—The honoured one descends, i.e. the Buddha or Bodhisattva who is worshipped descends.
Quang Hiếu Thiên Hoàng
(光孝天皇, Kōkō Tennō, tại vị 884-887): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, Hoàng Tử thứ 4 của Nhân Minh Thiên Hoàng (仁明天皇, Nimmyō Tennō), tên là Thời Khang (時康, Tokiyasu), còn gọi là Tiểu Tùng Đế (小松帝).
quang hiếu tự
(光孝寺) Chùa ở phía tây bắc Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Cứ theo Quang hiếu tự chí thì lúc đầu chùa vốn là nhà cũ của Nam việt vương Kiến đức. Vào thời Tam quốc, vùng đất này thuộc nước Ngô, Ngu phiên bị giáng chức và đày ra ở đây, gọi là Ngu uyển. Khoảng năm Long hòa đời vua Ai đế nhà Đông Tấn, có vị Tam tạng người nước Kế tân đến đây mới sáng lập chùa Phật, gọi là chùa Chế Chỉ, cũng gọi là chùa Vương Viên. Khoảng năm Nguyên gia đời vua Văn đế nhà Lưu Tống, vị Cao tăng Ấn độ là ngài Cầu na bạt đà la đến chùa này sáng lập giới đàn, gọi là Đạo tràng Chế chỉ. Niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời Lương, ngài Tam tạng Trí Dược từ miền Tây Ấn Độ mang cây Bồ đề đến trồng ở đây. Năm Phổ thông thứ 8 (527), Sơ tổ Đạt Ma đến trụ ở đây. Khoảng năm Trinh quán đời Đường, chùa được đổi tên Chế chỉ, Vương viên thành chùa Càn Minh Pháp Tính. Niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676) đời vua Cao tông nhà Đường, Lục tổ Tuệ năng luận về gió động phướn động với 2 vị tăng và xuống tóc dưới gốc cây Bồ đề ở chùa này, sau thiết lập Phong phan đường, Đại giám điện, Nội giám điện. Niên hiệu Thần Long năm đầu (705), ngài Tam tạng Bát lạt mật đế người Tây Vực dịch kinh Thủ lăng nghiêm 10 quyển tại chùa này, do Tể tướng Phòng dung bút thụ. Năm Hội xương thứ 5 (845) chùa được đổi tên Càn Minh Pháp Tính thành Tây vân đạo cung. Khoảng năm Bảo Lịch (825- 826) chùa dựng Đại bi chàng. Đầu đời Bắc Tống, chùa được đổi tên là Thiền viện Càn Minh. Năm Thiệu hưng 20 (1150) đời vua Cao Tông nhà Nam Tống, chùa lại được đổi tên là Báo Ân Quảng Hiếu. Đến năm Thành Hóa thứ 2 (1466) đời vua Hiến Tông nhà Minh mới gọi là chùa Quang Hiếu. Khoảng năm Thiệu Vũ đời Minh, chùa bị quân binh nhà Thanh phá hủy. Đầu năm Khang Hi nhà Thanh, Thiền sư Nguyên Chí kiến thiết lại thành 1 tòa Thiền lâm bậc nhất miền Nam hải. Những điều ghi chép trên đây có lẽ là những sự tích có liên quan đến Phật giáo ở chùa này với vùng Quảng Châu có đúng sự thật hay không thì rất khó biện minh. Ngoài ra còn có nhiều thuyết khác nói về sự thay đổi của chùa này. Hiện nay, chùa còn những kiến trúc quí giá với phong cách kiến trúc đặc thù của vùng Hoa nam như điện Lục tổ, Đại hùng bảo điện được xây dựng vào khoảng năm Thuần hựu đời Nam Tống, tòa tháp bằng sắt ở phía tây, do ông Cung Trừng Xu đúc vào năm Thiên bảo thứ 6 (963) đời Nam Hán. Đến năm Đại Bảo thứ 10 (967) vua Nam Hán là Lưu Sưởng đúc tháp sắt phía đông, gồm 7 tầng, hình 4 góc, mặt ngoài mỗi tầng có tượng Phật, mây, người trời, chim..., kĩ thuật rất tinh xảo, nay đã bị phá hoại, chỉ còn 17 pho tượng gồm La hán, thần Hộ pháp, tín sĩ, người cúng dường... [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Quảng đông thông chí Q.213, 229; Quảng châu phủ chí Q.88; Kim thạch tục biên Q.19; Quảng châu Quang hiếu tự cổ đại mộc điêu tượng đồ lục (Thương thừatộ) ]. (xt. Pháp Tính Tự).
quang hiển
(光顯) Rõ ràng, rạng rỡ. Ma ha chỉ quán quyển 5 hạ (Đại 46, 59 hạ) nói: Pháp chẳng tự hiển mà do người hoằng truyền. Người thực tu được các hạnh thì pháp môn quang hiển.
quang hiểu
(光曉) Ánh sáng ban mai, ví dụ ánh sáng trí tuệ của Phật có công năng phá dẹp phiền não vô minh, giống như ánh sáng ban mai xua tan bóng đêm dày đặc. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 430 hạ) nói: Các tướng có lượng được soi sáng (quang hiểu).
quang hoa
Glorious.
quang huy
bright light.
quang hào
The ùrnà or curl between the Buddha's eyebrows whence streams light that reveals all worlds.
; Sợi lông mày trắng tỏa ánh hào quang, giữa chỗ giao nhau của hai lông mày Đức Phật, có sợi lông trắng dài xoắn lại thành một búi nhỏ luôn tỏa ra ánh sáng. Đây là một trong ba mươi hai tướng hảo của Phật—The urna or curl between the Buddha's eyebrows whence streams light that reveals all worlds, one of the thirty-two characteristics of a Buddha.
quang ký
Trước tác của Phổ Quang Pháp Sư đời Đường—A work of Pu-Kuang in the T'ang dynasty—See Quang Bảo (1).
quang luân
(光輪) Vầng hào quang của Phật tròn trịa như bánh xe. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 3, (Đại 9, 412 hạ) nói: Quang minh luân sáng đẹp, tràn ngập các pháp giới, trùm khắp cả mười phương. Hào quang của Phật có tác dụng chiếu phá vô minh và dẹp tan phiền não của chúng sinh, giống như bánh xe báu của Chuyển luân thánh vương có công năng nghiền nát sỏi đá của núi non, cho nên dùng bánh xe (luân) để dụ cho hào quang của Phật mà gọi là Quang luân. [X. Tán A di đà Phật kệ; Tịnh độ hòa tán]. (xt. Pháp Luân).
quang lãng
Light wave.
quang man thiên tử
(光鬘天子) Một trong 5 vị Thiên Tử (Tự tại thiên tử, Phổ hoa thiên tử, Quang man thiên tử, Ý sinh thiên tử, Biến âm thiên tử) ở cõi trời Ngũ tịnh cư của Mật giáo. Kinh Đại nhật quyển 1 chép tên gọi và ấn ngôn của vị tôn này. Nhưng trong Thai tạng Hiện đồ mạn đồ la, Thai tạng cựu đồ.Đại Hùng Bảo Điện của chùa Quang Hiếu dạng và Thai tạng đồ tượng thì đều không thấy vẽ tượng của vị tôn này. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 16 thì hình tượng của vị tôn này là ngón vô danh, ngón út của hai tay trái và phải co lại, còn 3 ngón kia thì làm dáng như 3 cây gậy hướng lên để ở trước ngực. Ân khế là: Ngón cái của tay phải đặt ngang trong lòng bàn tay, 4 ngón còn lại thì duỗi thẳng và xòe ra. Theo Huyền Pháp tự nghi quĩ và Thanh Long tự nghi quì thì chân ngôn là: Qui mệnh nhạ đổ ô sá tả nan sa phạ hạ.
Quang minh
光明; C: guāngmíng; J: kōmyō; S: āloka, prabhāsvara, amśu, tejas, prabhā.|Ánh sáng rực rỡ, hào quang. Biểu tượng của trí tụê của đức Phật hay của Bồ Tát. Là biểu tượng chỉ cho sự phá huỷ sự tối tăm của vô minh và sự hiển bày đạo lí chân thật. Là từ ngữ tán thán ánh sáng vô biên, vô ngại của Đức Phật A-di-đà, trong đó »Quang« đặc biệt là ánh sáng trí huệ và ánh sáng từ thân tướng của Ngài. »Minh« là biểu tượng cho cái Dụng từ trí huệ của Ngài toả ra.
quang minh
Prabhāsvara (S), Pabhasa (P), Jvāla (S), Halo (S, P)Xà phạ la, Quang minh.prabha: ánh sáng, svara: chói lọi.Xem Quang minh.
; Jvàla (S). The halo.
; Prabha (skt)—Light (bright and clear)—Illumination—To illuminate—T here are two kinds: 1) Sắc quang minh: Physical light. 2) Trí huệ quang minh (tâm quang minh): Wisdom or mental light.
; (光明) I. Quang Minh. Quang, Phạm: Àtapa; Minh, Phạm: Àloka. Quang là ánh sáng của mặt trời, Minh là ánh sáng của mặt trăng, của các ngôi sao, và của các vật khác. Quang và Minh là 2 sắc trong 12 hiển sắc. Quang có 2 màu vàng và đỏ; Minh có 4 màu xanh, đỏ, vàng, trắng. [X. luậnĐại tì bà sa Q.13; luận Thuận chính lí Q.1]. (xt. Hiển Sắc). II. Quang Minh. Phạm: Prabhà. Cũng gọi Quang. Chỉ cho sự phát sáng của Phật, Bồ tát. Ánh sáng phát ra từ thân Phật, Bồ tát gọi là Quang; ánh sáng chiếu rọi vào vật thể thì gọi là Minh. Tác dụng của quang minh là phá trừ bóng tối, soi tỏ chân lí. Đó là ánh sáng phát ra từ thân Phật và Bồ tát, nên gọi là Sắc quang, Thân quang, Ngoại quang. Trái lại, tác dụng của trí tuệ là soi thấy chân tướng của sự vật, nên gọi là Tâm quang, Trí quang, Trí tuệ quang hay là Nội quang. Quang minh của Phật chia làm hai thứ: Thường quang (Viên quang) và Hiện khởi Quang (Thần thông quang, Phóng quang). Thường quang là ánh sáng tròn, rộng độ 1 tầm hoặc 1 trượng, từ thân Phật tỏa ra, vĩnh viễn không diệt. Còn Hiện khởi quang là ánh sáng chỉ ứng theo cơ duyên giáo hóa mà phát ra. Ngoài ra, tùy theo chỗ phát sáng khác nhau, nên Quang minh, lại được chia ra 2 thứ: -Ánh sáng phát ra từ toàn thân, gọi là Cử thân quang. -Ánh sáng phát ra từ 1 chỗ nào đócủa thânthì gọi là Tùy nhất tướng quang. Như ánh sáng phát ra từ tướng Bạch hào (giữa 2 đầu chân mày) thì gọi là Bạch hào quang, Hào quang, Mi gian quang; ánh sáng phát ra từ lỗ chân lông thì gọi là Mao khổng quang... Sắc quang và Tâm quang, hoặc Thường quang và Hiện khởi quang được gọi chung là Nhị chủng quang minh. Ngoài ra còn có sự phân biệt giữa Ma quang và Phật quang. Ma quang thì làm cho tâm người dao động, hoảng hốt; còn Phật quang thì khiến cho người trấn tĩnh, an tịnh; 2 thứ quang này đôi khi cũng được gọi chung là Nhị chủng quang minh. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 11 thì Ngoại quang minh (ánh sáng mặt trời, mặt trăng....) Pháp quang minh (ánh sáng trí tuệ) và Thân quang minh được gọi chung là Tam chủng quang minh. Ánh sáng của Phật có khả năng soi rọi khắp nơi, không bị ngăn ngại, vì thế cũng gọi là Vô ngại quang minh. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng dùng 12 thứ quang để hình dung quang minh của đức Phật A di đà. Kinh Đại bảo tích quyển 30 thì cho rằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni có 41 thứ quang minh. Trong kệ tán A di đà Phật, Ngài Đàm loan nêu các loại quang như: Quang luân, Quang hiểu, Quang xúc, Quang vân, Quang trạch... để tán thán công đức của quang minh. Nói về tác dụng của Phật quang thí ánh sáng phát ra từ thân Phật có những tác dụng không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là Thần quang; Phật quang rất dồi dào ân huệ, cho nên gọi là Từ quang; đồng thời, Phật quang tiêu biểu cho tướng mạo của trí tuệ, cho nên gọi là Quang minh trí tướng. Lại nữa, nhờ quang minh của Phật mà được lợí ích, gọi là Quang ích; nhờ quang minh mà có được hạnh phúc, gọi là Quang thụy; quang minh có thể soi rọi toàn thế giới, rộng lớn như biển, cho nên gọi là Quang minh quảng hải. [X. kinh Pháp hoa Q.1; kinh Quán Phật tam muội hải Q.3; luận Đại trí độ Q.7, 8, 34, 47; Vãng sinh luận chú Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Quán niệm pháp môn; Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần đầu; Vô lượng thọ kinh sao Q.5]. (xt. Tam Chủng Quang Minh).
Quang Minh Biến Chiếu
光明遍照; C: guāngmíngbiànzhào; J: kōmyō-henshō;|Tiếng Hán dịch từ Mahāvairocana Tathā-gata. Đại Nhật Như Lai (大日如來).
Quang minh biến chiếu 光明遍照
[ja] コウミョウヘンショウ kōmyōhenshō ||| A Chinese translation of the name of Mahāvairocana Tathatagata. See => Tiếng Hán dịch từ Mahāvairocana Tathatagata. Xem Đại Nhật Như Lai大日如來.
quang minh bản tôn
(光明本尊) Cũng gọi Quang minh bản, Hội hệ đồ. Bức tranh vẽ theo Mạn đồ la: Trong ánh sáng của Phật A di đà (Bản tôn), lấy danh hiệu Di đà làm trung tâm, chung quanh vẽ Phật, Bồ tát hoặc tượng các vị Tổ sư của tông Tịnh độ để biểu thị sự truyền thừa của Tịnh độ giáo. Hội hệ đồ vốn là loại sách phổ hệ dùng để vẽ hệ phái của tín đồ, về sau, hoặc chịu ảnh hưởng của sổ danh bộ và Quang minh bản tôn mà trở thành loại tranh vẽ đại biểu cho sự truyền thừa. Vị tăng Nhật bản là ngài Giác Như thường răn dạy tín đồ không nên dùng loại Hệ hội đồ dị nghĩa này, nhưng hệ phái thuộc Phật Quang tự tại Nhật Bản cho đến nay vẫn sử dụng. Chính giữa Hội hệ đồ viết: Nam mô Bất khả tư nghị quang Như lai (tức tôn xưng đức Phật A di đà, mỗi chữ đều phóng ra ánh sáng. Nửa dưới phía bên trái viết: Nam mô A di đà Phật; nửa dưới phía bên phải viết: Qui mệnh tận thập phương vô ngại Quang Như lai; ở chính giữa phía dưới bên trái vẽ tượng Phật Di đà, phía dưới bên phải vẽ tượng Phật Thích Ca, đều là tượng đứng. Bên ngoài phía trái vẽ tượng bồ tát Đại thế chí và các bậc tiên đức Ấn Độ như: Long thụ, Thiên thân, Bồ đề lưu chi... Bên ngoài phía trái vẽ tượng các bậc tiên đức Trung Quốc như: Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Hoài cảm, Thiếu khang, Pháp chiếu... và các tiên đức Nhật bản như: Thái tử Thánh Đức, Tăng Đô Huệ Tâm, Nguyên Không, Thân Loan, Tín Không, Thánh Giác Pháp Ấn... Ngoài ra còn có nhiều kiểu Hội hệ đồ khác. [X. Biện thuật danh thể sao; Cổ bản tùng lâm tập Q.4; Cải tà sao Q.thượng; Thực ngộ kí thập di; Dị nghĩa tập Q.7; Tịnh độ chân tông bản tôn khảo].
quang minh chiếu
Xem Địa tạng Phật.
quang minh chánh đại
Clear and upright.
quang minh chân ngôn
Đà La Ni mà một khi trì niệm, hành giả sẽ có được sự sáng suốt và huy hoàng của chư Phật, và mọi tội lỗi đều phải quay đi—A dharani by whose repetition the brightness or glory of Buddha may be obtained, and all retribution of sin be averted.
; (光明真言) Gọi đủ: Bất không đại quán đính quang chân ngôn. Gọi tắt: Quang ngôn. Chỉ cho chân ngôn của đức Đại nhật Như lai, cũng là thần chú chung của tất cả Phật, Bồ tát. Cứ theo kinh Bất không quyên sách Tì lô giá na Phật đại quán đính quang minh chân ngôn chép, thì Quang minh chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh, Tam thân cụ túc, cúng dường) a mô già (amogha, bất không) vĩ lô tả nẵng (Vairucana, quang minh biến chiếu) ma ha mẫu nại ra (mahàmudrà, đại ấn) ma ni (maịi, như ý bảo) bát đầu ma (padme, liên hoa) nhập phạ la (Jvala, quang minh) bát ra miệt đá dã (pravardaya, phát sinh, chuyển) hồng (hàô, bồ đề tâm, năng phá, khủng bố). Nghĩa là từ nơi Đại Ấn của đức Đại Nhật Như Lai sinh ra công đức của ngọc báu, hoa sen, ánh sáng... dùng đại uy thần lực chiếu phá phiền não vô minh, chuyển biến cái khổ của địa ngục thành cái vui của Tịnh độ. Người thụ trì chân ngôn này sẽ diệt được trọng tội sinh tử, trừ được các bệnh chướng do nghiệp đời trước chiêu cảm, phát sinh trí tuệ biện tài, trường thọ phúc lạc. Các tông phái ở Nhật Bản như Thiên Thai, Chân Ngôn... thường trì tụng chân ngôn này hằng ngày, nhất là trong nghi thức thí thực. Ngoài ra, chân ngôn này cũng được khắc trên tháp. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; Kim cương đính chân quang minh chân ngôn nghi quĩ; Giác thiền sao quang minh chân ngôn; Đại quán đính chân ngôn kinh sao].
quang minh chân ngôn mạn đồ la
(光明真言曼荼羅) Cũng gọi Quang minh chân ngôn phá địa ngục mạn đồ la. Mạn đồ la lấy 23 chữ của Quang minh chân ngôn viết thành hình vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, ở giữa viết tên vị tăng truyền thụ chân ngôn. Đây có hàm ý mỗi chữ của Quang minh chân ngôn đều phóng ra ánh sáng, chiếu khắp cõi chúng sinh, phá trừ phiền não vô minh hắc ám. Mạn đồ la này là đại bí pháp ra khỏi sinh tử khổ não vì có năng lực mở toang cửa địa ngục và là đại thần chú mau chóng tiêu trừ các trọng tội nhờ có công đức mở đường Bồ đề. Khi tu pháp quán vòng chữ chân ngôn thì ở trong tâm phải vẽ Mạn đồ la này và quán tưởng nghĩa các chữ theo chiều thuận và nghịch. Người xuất gia hay tại gia đều có thể truyền thụ pháp Mạn đồ la này. Người xuất gia thì trước hết kết tụng ấn ngôn Tam muội da giới, kế đến kết tụng ấn ngôn Ngũ sắc quang mà truyền thụ; còn người tại gia thì kết Kim cương hợp chưởng mà truyền thụ. Thêm nữa, ở giữa Mạn đồ la, ngoài tên vị tăng, còn viết 5 chữ chân ngôn của đức Đại nhật Thai tạng giới, 5 chữ này là Tâm chú của Đại nhật Như lai, còn vòng chữ hình tròn của Quang minh chân ngôn thì là Đại chú của Đại nhật Như lai. Riêng chữ A (chú trong tâm của Đại nhật Như lai) và chủng tử của Đại nhật Kim cương giới, Tùy cầu, Diệt ác thú, Nhất tự kim luân... thì viết ở khoảng giữa vòng chữ. [X. kinh Bất không quyên sách quang chân ngôn; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; Quang minh chân ngôn quán tụng yếu môn].
quang minh chân ngôn pháp
(光明真言法) Cũng gọi Quang minh cúng, Quang ngôn pháp. Pháp tu trong Mật giáo, trì tụng chân ngôn Quang minh để diệt tội, trừ bệnh, tiêu tai... đặc biệt lấy việc diệt tội làm chủ yếu. Ngoài ra, pháp tu gia trì đất cát cũng lấy pháp này làm chính. Kinh Bất không quyên sách quang chân ngôn (Đại 19, 606 trung) nói: Nếu có chúng sinh nào được nghe chân ngôn Đại quán đính quang này tới 237 biến thì trừ diệt tất cả tội chướng (...) Gia trì chân ngôn này vào đất cát 108 biến, rồi đem vào rừng Thi đà rắc trên thi hài người chết, hoặc rải trên mộ, (...) tức thời liền được ánh sáng chiếu thân, tiêu trừ các tội báo, xả bỏ thân khốn khổ, sinh về cõi nước Cực lạc phương Tây, hóa sinh từ hoa sen, chứng được Bồ đề, vĩnh viễn không còn đọa lạc. Mạn đồ la Quang Minh Chân Ngôn. Về vị Bản tôn của pháp tu này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Giác thiền sao quang minh chân ngôn, thì hoặc lấy Bất không quyên sách làm Bản tôn, hoặc lấy Phật A di đà làm Bản tôn. Nhưng theo sự truyền tập bí mật thì lấy Đại nhật Như lai của Thai tạng giới làm Bản tôn. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; Quang minh chân ngôn thổ sa khuyến tín kí; Bạc thảo chỉ].
quang minh cõi
Avabhāṣā (S)Trong hội Pháp hoa, đức Thích Ca thọ ký cho ngài Ca Diếp thành Phật trong vị lai hiệu là Quang Minh Như Lai, thế giới của ngài là Quang đức, kỳ kiếp là Đại Trang nghiêm.
quang minh danh hiệu nhân duyên
(光明名號因緣) Gọi tắt: Quang hiệu nhân duyên. Chúng sinh lấy danh hiệu Phật A di đà làm nhân, lấy quang minh làm duyên thì được sinh về thế giới Cực lạc. Cứ theo Vãng sinh lễ tán của ngài Thiện đạo, nếu chúng sinh nào muốn sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà, thì nên lấy danh hiệu của đức Phật A di đà làm nhân, lấy quang minh của Ngài làm duyên, mới có thể đạt được nguyện vọng vãng sinh. Vì danh hiệu Phật A di đà tròn đầy muôn đức, là nhân năng sinh (như cha); còn quang minh của Ngài chiếu sáng các thế giới trong 10 phương, là duyên sở sinh (như mẹ), cho nên có năng lực tiếp dẫn chúng sinh đến Tịnh độ cực lạc. Nhưng danh hiệu và quang minh của Phật A di đà chỉ là nhân duyên tha lực bên ngoài, hỗ trợ chúng sinh vãng sinh Tịnh độ mà thôi; còn lòng tin của chúng sinh mới là nhân Niết bàn chân thực phát từ trong tâm chúng sinh. Như vậy, cần phải có đầy đủ duyên ngoài và nhân trong mới có thể vãng sinh Tịnh độ.
quang minh giáo
Mithraism Mật đặc la giáoHệ phái của Hiên giáo (Zaroastrianism).
quang minh như lai
Ramiprabhāsa Tathāgatha (S)Trong hội Pháp hoa, đức Thích Ca thọ ký cho ngài Ca Diếp thành Phật trong vị lai hiệu là Quang Minh Như Lai, thế giới của ngài là Quang đức, kỳ kiếp là Đại Trang nghiêm.
quang minh niệm tụng
(光明念誦) Một trong 5 cách thức niệm tụng. Hành giả niệm tưởng vừng trăng tâm của mình trong ngoài đều thanh tịnh, nhờ đó mà phát ra hơi thở, dù thành tiếng hay không thành tiếng, miệng đều có quang minh mà trì tụng danh hiệu Phật hoặc chân ngôn. Bí tạng kí quyển cuối (Đại 86, 8 hạ) nói: Quang là nghĩ tưởng từ miệng phóng ra ánh sáng mà trì tụng, dù thành tiếng hay không thành tiếng thì vẫn trì tụng như thế. (xt. Ngũ Chủng Niệm Tụng).
quang minh phật
See Quang Đức quốc.
quang minh sơn
Potalaka (S)Hải đảo sơn, Tiểu hoa thụ sơn, Phổ đà sơn, Phổ đà lạc già sơn.
; Xem Quán âm tịnh độ.
; Trụ xứ hay nơi trụ của Đức Quán Âm, là tên gọi khác của Potala—The shining hill, or monastery, a name for the abode of Kuan-Yin, said to be in India, and called Potala.
quang minh tâm điện
Chỗ trụ xứ của Đức Đại Nhật Như Lai ở Kim Cang Giới (Trí môn hay Bất Hoại Kim Cang Quang Minh Tâm Điện)—The temple of the bright or shining heart; the seat of Vairocana, the sun Buddha, in the Vajradhatu mandala.
; (光明心殿) Gọi đủ: Bản hữu Kim cương giới tự tại đại tam muội da tự giác bản sơ đại bồ đề tâm phổ hiền mãn nguyện bất hoại kim cương quang minh tâm điện. Gọi tắt: Bất hoạikim cương quang minh tâm điện. Chỉ cho nơi nương ở cùng tột mà Trí pháp thân của đức Đại nhật Như lai tu chứng được. Bất hoại kim cương chỉ cho thân bền chắc thường hằng của chư tôn (ở bên ngoài); Quang minh tâm, chỉ cho cảnh giới giác ngộ trong tâm của chư tôn (ở bên trong). Quang minh tâm biểu thị ý nghĩa tán thán tín ngưỡng. Điện biểu thị nơi nương ở, tức thân bên ngoài (sở trụ) và tâm bên trong (năng trụ) nương tựa đối đãi lẫn nhau, là nơi an trụ của đức Đại nhật Như lai. Ngoài ra, từ gọi đủ của Quang minh tâm điện ở trên có thể chia được thành 5 đoạn để biểu thị đức hiệu sâu kín mầu nhiệm của 5 trí và 5 Phật. Nếu phối hợp 5 đoạn với 5 trí, 5 Phật thì thứ tự như sau: 1. Bản hữu kim cương giới: Biểu thị Pháp giới thể tính trí, phối hợp với Đại nhật Như lai. 2. Tự tại đại tam muội da: Biểu thị Diệu quán sát trí, phối hợp với A di đà Như lai. 3. Tự giác bản sơ: Biểu thị Bình đẳng tính trí, phối hợp với Bảo sinh Như lai. 4. Đại bồ đề tâm phổ hiền mãn nguyệt: Biểu thị Đại viên kính trí, phối hợp với A súc Như lai. 5. Bất hoại kim cương quang minh tâm điện: Biểu thịThành sở tác trí, phối hợp với Thích ca Như lai. [X. luận Biện Hiển Mật nhị giáo Q.hạ; luận Thập trụ tâm Q.10; Chân ngôn phó pháp truyện Q.1; Du kì kinh thập cổ sao Q.thượng; Du kì kinh nghĩa thuật Q.1].
Quang Minh Tạng
(光明藏): tức nói về diệu tâm vốn có của bản thân mình. Bản tâm mình phá tan vô minh, là nơi tàng trữ ánh sáng trí tuệ, làm tỏa ra ánh áng của chân như.
; (光明藏): nơi tàng chứa ánh sáng, tức chỉ cho thân của đức Như Lai. Như trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經, Taishō Vol. 20, No. 1060) có đoạn: “Đương tri kỳ nhân tức thị Quang Minh Tạng, nhất thiết Như Lai quang minh sở chiếu cố (當知其人卽是光明藏、一切如來光明所照故, phải biết người ấy tức là Quang Minh Tạng, vì được ánh sáng của tất cả Như Lai chiếu tỏa).” Hay trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 21 cũng có đoạn: “Ư Quang Minh Tạng trung diệc vị chi độc dược, diệc vị chi Đề Hồ, Đề Hồ độc dược bổn vô tự tánh (於光明藏中亦謂之毒藥、亦謂之醍醐、醍醐毒藥本無自性, ở trong Quang Minh Tạng cũng gọi đó là thuốc độc, cũng gọi đó là Đề Hồ, Đề Hồ thuốc độc vốn không tự tánh).” Hoặc trong bài Mai Lãnh Sơn Cư Thi Dẫn (梅嶺山居詩引) của Trương Hoàng Ngôn (張煌言, 1620-1664) nhà Minh lại có đoạn: “Thiền duyệt chi dư, toại thành Mai Lãnh tân vịnh. Tao da ? Kệ da ? Độc chi như tọa Quang Minh Tạng hĩ (禪悅之餘、遂成梅嶺新詠、騷耶、偈耶、讀之如坐光明藏矣, Vui Thiền nhàn rỗi, bèn thành xướng vịnh Mai Lãnh. Thơ Tao ư ? Kệ ư ? Đọc rồi như ngồi Quang Minh Tạng vậy).”
quang minh tạng
(光明藏) Kho báu ánh sáng, tức chỉ cho thân Như lai. Kinh Tư ích quyển 1 (Đại 15, 34 thượng) nói: Thân Như lai là kho tàng của vô lượng ánh sáng. Ngoài ra, bản tâm của mình phá trừ vô tri, phát huy ánh sáng chân như và thu hút ánh sáng ấy vào trong tâm, cũng gọi là Quang minh tạng. Kinh Thiên thủ đà la ni (Đại 20, 109 trung) nói: Nên biết, thân người ấy chính là thânquang minh, vì ánh sáng của tất cả Như lai đều chiếu rọi thân ấy.
Quang Minh Tự
(光明寺, Kōmyō-ji): ngôi chùa trung tâm bổn sơn của Tịnh Độ Tông, hiệu là Thiên Chiếu Sơn Liên Hoa Viện (天照山蓮華院); tên chính thức là Thiên Chiếu Sơn Liên Hoa Viện Quang Minh Tự (天照山蓮華院光明寺); hiện tọa lạc tại số 6-17-19 Zaimokuza (材木座), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1240 (Nhân Trị [仁治] nguyên niên), vị chấp quyền đương thời là Bắc Điều Kinh Thời (北條經時, Hōjō Tsunetoki) đã kiến lập Liên Hoa Tự (蓮華寺) cho Thiền sư Nhiên A Lương Trung (然阿良忠); sau đó ông dời chùa về vị trí hiện tại, và đổi tên chùa là Quang Minh Tự. Có ký lục ghi rằng chùa được di chuyển vào năm 1243 (Khoan Nguyên [寛元] nguyên niên), nhưng vẫn chưa có xác chứng rõ ràng. Ngoài ra còn có thuyết cho rằng Liên Hoa Tự chính là Ngộ Chơn Tự (悟眞寺). Đến năm 1495, vào đời Quán Dự Hựu Sùng (觀譽祐崇), vị Tổ đời thứ 8 của chùa, ông được Hậu Thổ Ngự Thiên Hoàng (後土御門天皇) quy y theo, nên chùa được sắc phong thành ngôi Tổng Bản Sơn của Tịnh Độ Tông vùng Quan Đông, và từ đó trở đi chùa trở thành nơi bố giáo trung tâm Tông phái vùng Quan Đông. Ngoài ra chùa còn lưu giữ nhiều bảo vật như tượng ngồi Ký Chủ Thiền Sư (記主禪師), tượng ngồi Địa Tạng Bồ Tát bằng đá, Đương Ma Mạn Trà La Duyên Khởi (當麻曼荼羅緣起) 2 bức, truyện tranh Tịnh Độ Ngũ Tổ, tranh vẽ Quang Minh Đại Sư (光明大師), v.v.
; (光明寺, Kōmyō-ji): ngôi tự viện trung tâm của Trấn Tây Nghĩa Lục Phái (鎭西義六派) thuộc Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại số 6-17-19 Zaimokuza (材木座), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣); hiệu núi là Thiên Chiếu Sơn (天照山), Viện hiệu là Liên Hoa Viện (蓮華院). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1243 (Khoan Nguyên [寛元] nguyên niên), Nhiên A Lương Trung (然阿良忠) của Phái Trấn Tây Nghĩa (鎭西義) được người chấp quyền chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương lúc bấy giờ là Bắc Điều Kinh Thời (北條經時, Hōjō Tsunetoki) quy y theo; ông kiến lập ngôi Liên Hoa Tự (蓮華寺) ở Tá Giới Cốc (佐介谷) thuộc Liêm Thương, về sau đổi thành Quang Minh Tự. Bên cạnh đó, Lương Trung còn được sự hỗ trợ của Bắc Điều Thời Lại (北條時頼, Hōjō Tokiyori), lấy chùa này làm trung tâm bố giáo. Về sau, vị Tổ đời thứ 2, đệ tử của ông là Tịch Huệ Lương Hiểu (寂慧良曉), Tổ khai sáng Dòng Bạch Kỳ (白旗流), đã tạo cơ sở hạt nhân cho Phái Trấn Tây Nghĩa (鎭西義). Vào năm 1495 (Minh Ứng [明應] 4), vị Tổ đời thứ 8 là Trường Liên Xã Quán Dự Hựu Sùng (長蓮社觀譽祐崇) tiến hành trì tụng Tịnh Độ Tam Bộ Kinh và Dẫn Thanh Niệm Phật trong cung nội; nhờ vậy chùa được ban cho hiệu là ngôi chùa trung tâm của 6 phái vùng Quan Đông (關東, Kantō). Nhờ vậy, Quang Minh Tự hưng thịnh cao độ với tư cách là ngôi chùa Đàn Lâm của Tịnh Độ Tông; vào năm 1532 (Thiên Văn [天文] nguyên niên), dòng họ Bắc Điều ở Tiểu Điền Nguyên (小田原, Odawara) đã hạ lệnh cho chúng Nhất Hướng Môn Đồ (一向門徒) ở tiểu quốc Tương Mô (相模, Sagami) đến sát nhập làm tín đồ của chùa. Đến năm 1591 (Thiên Chánh [天正] 9), Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) cúng dường thêm đất đai và sau này đã xếp hạng chùa trở thành bậc nhất trong số 18 ngôi chùa Đàn Lâm vùng Quan Đông. Dưới thời đại Giang Hộ, vị thành chủ của vùng Diên Cương (延岡, Nobeoka) thuộc tiểu quốc Nhật Hướng (日向, Hyūga) là Nội Đằng Nghĩa Khái (內藤義概, Naitō Yoshimune) đã dời nhà thờ bài vị cũng như tháp bằng đá từ Linh Nham Tự (靈巖寺) vùng Giang Hộ đến chùa này. Hiện vẫn không xác định được niên đại chùa được di chuyển về vị trí hiện tại lúc nào. Chùa hiện còn lưu giữ một số bảo vật được xếp hạng quốc bảo có Đương Ma Mạn Trà La Duyên Khởi (當麻曼茶羅緣起); các bảo vật khác thuộc Tài Sản Văn Hóa Trọng Yếu như Tịnh Độ Ngũ Tổ Hội Truyện (淨土五祖繪傳), Đương Ma Mạn Trà La Đồ (當麻曼茶羅圖), Thập Bát La Hán Cập Tăng Tượng (十八羅漢及僧像), Tịnh Độ Ngũ Tổ Hội (淨土五祖繪), v.v.
; (光明寺, Kōmyō-ji): ngôi chùa trung tâm của Tây Sơn Tịnh Độ Tông, tên chính thức là Báo Quốc Sơn Niệm Phật Tam Muội Viện (報國山念佛三昧院光明寺), tên gọi riêng là Túc Sanh Quang Minh Tự (粟生光明寺); hiệu núi là Báo Quốc Sơn (報國山); hiện tọa lạc tại Aō (粟生), Nagaokakyō-shi (長岡京市), Kyōto-fu (京都府); được xem như là nơi phát xuất của Tịnh Độ Tông Nhật Bản. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1198, Hùng Cốc Trực Thật (熊谷直實, tức Liên Sanh Phòng [蓮生房]), kiến lập nên đường vũ ở vùng đất Túc Sanh (粟生, Aō) này, và mời Pháp Nhiên đến làm Tổ khai sơn chùa. Vào năm 1227, do vì đồ chúng của Duệ Sơn rắp tâm định phá hoại ngôi mộ của Pháp Nhiên được an táng trên đó, nên hài cốt của ông được dời về chùa này, rồi hành lễ trà tỳ, và tạo nên chỗ thờ mới ở đây. Sau đó, đến thời vị Tổ đời thứ 4 của chùa là Chứng Không (証空), thì trong quan tài bằng đá của Pháp Nhiên bỗng có ánh sáng kỳ lạ phát ra; nhân đó Tứ Điều Thiên Hoàng (四條天皇, Shijō Tennō) mới đặt tên chùa là Quang Minh Tự. Chứng Không vốn là cao đệ của Pháp Nhiên, là người có công lao trong việc đã lập ra được một dòng phái riêng gọi là Tây Sơn Phái (西山派) và lấy chùa này làm đạo tràng căn bản để truyền đạo. Đồng thời ông cũng là vị học Tăng của Thiên Thai Tông, nên đương thời cho dầu nơi đây là ngôi chùa của Tịnh Độ Tông, nhưng vẫn có làm lễ cầu đảo nguyện cầu tật bệnh tiêu trừ. Các ngôi đường xá của chùa đã trãi qua mấy lần bị hỏa hoạn cháy rụi, nhưng rồi cũng được phục hưng lại như cũ. Và các kiến trúc hiện tại là thuộc khoảng niên hiệu Khoan Diên (寛延, 1748-1751). Hiện chùa là nơi linh nghiệm thứ 16 của Pháp Nhiên trong số 25 khu vực trên toàn quốc.
Quang Minh tự
光明寺; C: guāngmíng sì; J: kōmyō-ji;|1. Ngôi chùa của phong trào Tam giai giáo (三階教) toạ lạc ở Trường An; 2. Ngôi chùa nơi Thiện Đạo (善導) làm công việc giáo hoá nhiều nhất.
Quang Minh tự 光明寺
[ja] コウミョウジ Kōmyō ji ||| The Guangming si. (1)A temple of the Sanjie jiao 三階教 movement located in Changan. (2) The temple where Shandao 善導 did much of his teaching. => 1. Ngôi chùa của phong trào Tam giai giáo (c: Sanjie jiao) tọa lạc ở Tràng An (c: Changan). 2. Ngôi chùa nơi Thiện Đạo (c: Shandao 善導) làm công việc giáo hóa nhiều nhất.
quang minh vô lượng nguyện
(光明無量願) Cũng gọi Đắc thắng quang minh nguyện, Tự thân quang vô hạn nguyện, Phật quang vô hạn lượng nguyện, Quang sắc nguyện. Cầu mong được vô lượng ánh sáng, là nguyện thứ 12 trong 48 nguyện của Phật A di đà. Văn nguyện trong kinh Vô lượng thọ bản dịch đời Ngụy như sau (Đại 12, 268 thượng): Nếu tôi được thành Phật mà ánh sáng còn hạn lượng, cho đến ít nhất không chiếu soi được trăm nghìn ức na do tha các cõi nước của chư Phật thì tôi không ở ngôi Chính giác. Trong hội Vô lượng thọ Như lai bản dịch đời Đường thì ghi như sau (Đại 11, 93 hạ): Nếu tôi thành Phật, quang minh có hạn, cho đến ít nhất không chiếu soi ức na do tha trăm nghìn cõi Phật thì tôi không giữ lấy bồ đề. Đây là nguyện của Phật A di đà đã phát khi còn làbồ tát Pháp tạng ở địa vị tu nhân, tức là nguyện khi thànhtựuChính đẳng chính giác, ánh sáng không có hạn lượng, chiếu khắp các cõi nước trong thế giới 10 phương. Nguyện này cùng với nguyện Thọ mệnh vô lượng tạo thành quả thể của Báo thân đức Phật A di đà. [X. kinh A di đà; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng].
quang minh vô tế
Imeasurable illumination.
quang minh vương
Một trong 25 vị Bồ Tát cùng với Phật A Di Đà tiếp dẫn những người lâm chung mà niệm hồng danh Phật—Shining heart bodhisattva, one of the twenty five Boshidattvas who, with Amitabha, welcomes to the Western Paradise the dying who call on Buddha.
quang minh đàn
The fire altar.
quang minh đại phạm
Djyotichprabhā-Brahma (S)Bậc Đại tiên ở cõi trời sắc giới (sơ thiền thiên).
; Jyotisprabha (skt)—The great illustrious Brahman.
quang minh đại sư
Tên của tự viện và cũng là danh hiệu vua Đường Cao Tông ban cho sư Thiện Đạo: Kuang-Ming Tzu, temple and title of Shan-T'ao, a noted monk of the T'ang dynasty (under T'ang Kao-Tsung).
quang minh đồng tử nhân duyên kinh
(光明童子因緣經) Cũng gọi Phật thuyết Quang minh đồng tử nhân duyên kinh, Quang minh đồng tử kinh. Kinh, 4 quyển, do ngài Thí Hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật về nhân duyên xuất giachứng quảcủa đồng tử Quang minh, con của trưởng giả Thiện hiền ở thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn Độ.
quang minh độ
Tên gọi tắt của Vô Lượng Quang Minh Độ, là đức danh của cõi Tây Phương Cực Lạc—The glory land or the Paradise of Amitabha.
Quang minh 光明
[ja] コウミョウ kōmyō ||| (āloka, prabhāsvara, amśu, tejas, prabhā). 'Bright light', 'radiance.' A symbol of the wisdom of a Buddha or bodhisattva. It is an expression indicating the destruction of the darkness of delusion and the manifestation of the reality-principle. It is an expression of praise of the unlimited and unimpeded light of Amitābha Buddha, where 光 is distinguished into the light of his wisdom and the light of his form. 明 is the external manifest functioning expression of this wisdom. => (s: āloka, prabhāsvara, amśu, tejas, prabhā) Ánh sáng rực rỡ, hào quang. Biểu tượng cho trí tụê của Đức Phật hay của Bồ-tát. Là biểu tượng chỉ cho sự tối tăm của vô minh và sự hiển bày đạo lý chân thực. Là từ ngữ tán thán ánh sáng vô biên, vô ngại của Đức Phật A Di Đà, trong đó Quang đặc biệt là ánh sáng trí huệ và ánh sáng từ thân tướng của Ngài. Minh là biểu tượng cho dụng từ trí tuệ của Ngài tỏa ra bên ngoài.
quang mục nữ
Người con gái mắt to và sáng, tiền thân của Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát—The bright-eyed (wide-eyed) daughter, a former incarnation of Ksitigarbha (Địa Tạng).
; (光目女) Tiền thân của bồ tát Địa tạng. Trong đời quá khứ xa xưa, bồ tát Địa tạng từng là người nữ tên Quang mục, nhân biết mẹ mình bị đọa vào đường ác, nên phát nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh, đến khi nào tất cả chúng sinh đều thành Phật rồi thì Ngài mới chứng bồ đề. Nhờ đại thệ nguyện ấy mà mẹ Ngài thoát khỏi ác đạo. [X. kinh Địa tạngbồ tát bản nguyện Q.thượng]. (xt. Địa Tạng Bồ Tát).
quang nghiêm bồ tát
PrabhāvyŪha (S)Tên một vị Bồ tát.
Quang Nghiêm tự
光嚴寺; C: guāngyán sì; J: kōgon-ji;|Ngôi chùa ở Tương Châu (湘州), nơi Tín Hành, người sáng lập Tam giai giáo tập trung vào việc thực hành 16 hạnh Vô tận tạng (無盡藏).
Quang Nghiêm tự 光嚴寺
[ja] コウゴンジ Kōgon ji ||| The Guanyan si; temple in Xiangzhou where Xinxing 信行, founder of the Sanjie jiao 三階教 movement, abandoned himself to the practice of the "sixteen practices" of the Wujinzang 無盡藏 (Inexhaustible Storehouse). => Ngôi chùa ở Xiangzhou, nơi Ngài Tín Hành, người sáng lập Tam giai giáo, bị cấm thực hành "16 hạnh Vô tận tạng" (c: Wujinzang 無盡藏).
quang ngoa
(光靴) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Giầy sáng bóng, hàm ý chỉ cho sự tham thiền thanh đạm, kham khổ,sự sửa đổi hoàn toàn tốt đẹp. Điều Kính sơn Hồng nhân trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 284 hạ) chép: Khi một sợi lông xỏ qua các lỗ thì thế nào? Sư nói: Quang ngoa mặc ông quang ngoa, kết quả mặc ông kết quả. Theo sự giải thích trong Cảnh đức truyền đăng lục sao quyển 3, thì quang ngoa nghĩa là sửa đổi cho được hoàn mĩ. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Cát đằng ngữ tiên Q.2].
quang nguyên
Light source.
Quang Nhân Thiên Hoàng
(光仁天皇, Kōnin Tennō, tại vị 770-781): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thời kỳ Nại Lương, hoàng tôn của Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenji Tennō), con thứ 6 của Thân Vương Thí Cơ (施基, Shiki), tên là Bạch Bích (石壁, Shirakabe). Ông được nhóm Đằng Nguyên Bách Xuyên (藤原百川, Fujiwara-no-Momokawa) đưa lên cầm quyền, cho mời Hòa Khí Thanh Ma Lữ (和氣清麻呂, Waki-no-Kiyomaro) về để thực hiện chính sách cải cách.
quang phổ
Spetrum.
quang phục
To restore.
quang thái
Bright.
Quang Thế Âm
光世音; C: guāngshìyīn; J: kōseion;|Một trong nhiều cách phiên dịch từ Avalokiteśvara (Quán Thế Âm 觀世音) sang tiếng Hán, được Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmapāla) sử dụng.
quang thế âm
See Quán Thế Âm Bồ Tát.
quang thế âm ứng nghiệm kí
(光世音應驗記) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Phó Lượng soạn vào đời Lưu Tống thuộc Nam triều. Hiện nay, tại Trung Quốc, sách đã thất lạc, nhưng viện Thanh Liên ở Kyoto, Nhật Bản, còn giữ được bản chép tay vào giữa thời kì Liêm Thương. Ông Phó Lượng là nhà văn và chính trị gia nổi tiếng ở đời Tống thuộc Nam triều. Nội dung sách nàychủ yếulà căn cứ vào phẩm Quang thế âm phổ môn trong kinh Chính pháp hoa do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào năm Thái Khang thứ 7 (286) đời Tây Tấn. Đây là sử liệu rất quí giá, xưa nhất về tín ngưỡng Quán thế âm được truyền vào Trung quốc. Theo lời tựa sách này thì tác giả nhân đọc sách Quang thế âm ứng nghiệm do ông Tạ Phu soạn vào đời Đông Tấn (sách này hiện nay không còn) và trích theo chỗ nhớ được mà viết thành tác phẩm này.Tục quang thế âm ứng nghiệm kí do ông Trương Diễn soạn vào đời Lưu Tống và Hệ quán thế âm ứng nghiệm kí do ông Lục Cảo soạn vào đời Tiêu Tề, đều là Tục biên của sách này.
Quang Thế Âm 光世音
[ja] コウセイオン Kōseion ||| One of the ways of translating the term Avalokiteśvara 觀世音 into Chinese, used by Dharmapāla 竺法護. => Một trong nhiều tiếng phiên dịch từ Avalokiteśvara 觀世音 sang tiếng Hán, do Ngài Trúc Pháp Hộ sứ dụng.
quang thống
Luật sư Tuệ Quang vào thế kỷ thứ sáu, người đã từ chức quan “Thống” của triều đình để xuất gia—A Vinaya-monk named Hui-Kuang, the sixth century, who resigned the high office of the general supervisor and left home to become a monk.
quang toà
(光座) Cũng gọi Quang phu. Chỉ cho hào quang và tòa ngồi của Phật. Kinh Đà la ni tập quyển 10 (Đại 18, 876 thượng) nói: Thân của tượng ấy cao 1 khuỷu tay 1 thước 3 tấc 5 phân, không kể quang tọa (khoảng 53 cm).
Quang Trí
光智; C: guāngzhì; J: kōchi;|Tiếng Hán dịch ý tên Prabhākaramitra, thường được phiên âm là Ba-la-ca-phả Mật-đa-la (波羅迦頗蜜多羅).
Quang Trí 光智
[ja] コウチ kōchi ||| A Chinese translation of the name Prabhākaramitra, usually transcribed as => Tiếng Hán dịch tên Ngài Prabhākaramitra, thường được phiên âm là Ba-la-ca-phả-mật-đa-la波羅迦頗蜜多羅.
Quang Trạch
光宅; C: guāngzhái; J: kōtaku;|Tên khác của Pháp Vân (法雲), vị trú trì chùa Quang Trạch.
quang trạch
Quang Trạch là tên của một tự viện bên Trung Quốc nơi mà ngài Pháp Vân đã viết bộ luận về Kinh Pháp Hoa hồi đầu thế kỷ thứ sáu—Kuang-Zhai, name of the temple in China where where Fa-Yun wrote his commentary on the Lotus Sutra early in the sixth century.
; (光宅) (467-529) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Nam Triều, người Dương Tiện, Nghĩa Hưng (Nghi hưng, Giang tô). Sư xuất gia năm 7 tuổi, pháp hiệu là Pháp Vân, từng trụ trì chùa Quang Trạch, cho nên người đời gọi sư là Quang Trạch. Sư chuyên nghiên cứu về thuyết giảng kinh Pháp hoa. Sư cùng với 2 ngài Tăng Mân và Trí Tạng được tôn là Tam Đại Pháp Sư đời Lương. Sư có tác phẩm: Pháp hoa kinh nghĩa kí (Pháp hoa kinh nghĩa sớ, Quang trạch sớ).[X. Tục cao tăng truyện Q.5; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, phần cuối].(xt. Quang Trạch Tự, Pháp Vân).
quang trạch tứ giáo
See Tứ Giáo.
Quang Trạch tứ thừa
光宅四乘; C: guāngzhái sìshèng; J: kōtaku-shijō;|Đề cập đến sự lập ra giáo lí Nhất thừa (tứ thừa, cỗ xe thứ tư) do Quang Trạch dựa rên kiến giải của mình về ví dụ Nhà bắt lửa cháy trong kinh Pháp Hoa. Đây là đặc điểm quan trọng của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm.
quang trạch tứ thừa
Ngài Quang Trạch chia Nhà Lửa Tam Giới ra làm Tứ Thừa, được trường phái Thiên Thai thừa nhận—Kuang-Zhai made a division of four yanas from the Burning House parable, which adopted by the T'ien-T'ai: 1) Xe Dê chỉ Thanh Văn Thừa: The goat cart representing the Sravaska. 2) Xe Hươu chỉ Duyên Giác Thừa: The deer cart representing the Pratyeka-buddha. 3) Xe Trâu chỉ Bồ Tát Tiểu Thừa: The ox-cart representing Hinayana Bodhisattva. 4) Xe Trâu Trắng lớn chỉ Bồ Tát Đại Thừa: The great white ox-cart representing the Mahayana Bodhisattva. ** For more information, please see Tứ Giáo.
; (光宅四乘) Nghĩa Tứ thừa của ngài Quang Trạch. Quang Trạch tức là Pháp sư Pháp Vân, trụ trì chùa Quang Trạch vào đời Lương thuộc Nam Triều. Sư căn cứ vào thuyết Tứ xa (4 cỗ xe) trong phẩmThí dụ kinh Pháp hoa mà chia giáo thuyết của đức Phật nói trong 1 đời làm 4 thừa giáo, cho nên gọi là Quang Trạch tứ thừa. Cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1 và Hoa nghiêm thám huyền kí quyển 1 thì 4 xe là: 1. Xe dê: Ví dụ Thanh văn thừa. 2. Xe nai:Ví dụ Duyên giác thừa. 3. Xe trâu: Ví dụ Bồ tát thừa. 4. Xe trâu trắng lớn: Ví dụ Phật quả Nhất thừa. Như vậy, ngoài Tam thừa giáo, ngài Quang Trạch còn lập thêm Nhất thừa giáo, chủ trương Tam thừa giáo là Quyền giáo (giáo pháp tạm thời) nói trước kinh Pháp hoa; còn Nhất thừa giáo là Thực giáo (giáo pháp chân thực) của Nhất thừa Pháp hoa, là nền tảng mở ra các tông Thiên thai, Hoa nghiêm... [X. Pháp hoa nghĩa kinh kí Q.4; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.13]. (xt. Hỏa Trạch Dụ, Tứ Giáo).
Quang Trạch tứ thừa 光宅四乘
[ja] コウタクシジョウ kōtakushijō ||| A reference to the establishment of the doctrine of one vehicle (fourth vehicle) by Guangzhai based on his interpretation of the parable of the burning house in the Lotus Sutra 法華經. This is an important special characteristic of the Tiantai and Huayan schools. => Đề cập đến sự lập ra giáo lý nhất thừa (tứ thừa) do Ngài Quang Trạch dựa trên kiến giải của mình về ví dụ Nhà lửa trong Kinh Pháp Hoa. Đây là đặc điểm quan trọng của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm.
Quang Trạch Tự
(光宅寺, Kōtaku-ji): hiện tọa lạc ở phía Đông Nam Huyện Giang Nam (江南縣), Phủ Giang Ninh (江寧府), Tỉnh Giang Tô (江蘇省, Nam Kinh), còn gọi là Huệ Trạch Tự (慧宅寺). Vào năm đầu (502) niên hiệu Giám Nguyên (監元), có thuyết cho là năm thứ 3 cùng niên hiệu, vua Lương Võ Đế (梁武帝) cải đổi tư gia cũ của mình thành chùa, cho đúc tượng đại Phật bằng đồng vàng an trí tại đây, thỉnh Pháp Vân (法雲)―một trong 3 vị đại Pháp Sư nhà Lương―làm trú trì và định ra quy chế tăng sĩ. Kể từ khi Pháp Vân giảng Pháp Hoa Kinh (法華經), tên gọi Quang Trạch Tự được mọi người trong khắp thiên hạ biết đến; chính Thiên Thai Trí Khải (天台智顗) cũng đã từng giảng Pháp Hoa Kinh, Nhân Vương Kinh (仁王經) tại chùa này vào năm thứ 3 (583) niên hiệu Khai Hoàng (開皇). Đây là ngôi danh lam bảo sát của Giang Nam vào thế kỷ thứ 6.
quang trạch tự
(光宅寺) I. Quang Trạch Tự. Chùa ở Giang Tô (Nam Kinh), Trung quốc, do vua Vũ Đế sáng lập vào niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời Lương (có thuyết nói là năm Thiên giám thứ 3), bấy giờ, tượng Quán âm trong chùa phóng quang trong 7 ngày nên gọi là Quang Trạch tự. Trong chùa có thờ tượng Đại Phật bằng kim đồng, vua ban sắc cho ngài Pháp vân trụ trì và định ra Tăng chế. Nhờ ngài Pháp Vân giảng kinh Pháp hoa ở đây mà chùa nổi tiếng khắp trong nước. Vào niên hiệu Chí Đức năm đầu (583) đời Trần, Đại sư Thiên Thai Trí Khải cũng thuyết giảng các kinh Nhân vương, Pháp hoa ở chùa này. Vào đời Lương, Trần, Quang Trạch là ngôi chùa đứng vào bậc nhất ởvùngGiang nam. [X. Lương cao tăng truyện Q.13; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Thích thị kê cổ lược Q.2]. II. Quang Trạch Tự. Chùa ở phường Quang Trạch, phía tây đường Chu Tước ở Trường An (Tây An, Thiểm Tây), được xây dựng vào năm Nghi phụng thứ 2 (677) đời Đường. Đến năm Trường an thứ 2 (702) triều Vũ Hậu (có thuyết nói là năm Trường an thứ 3), trong chùa có đặt đài Thất bảo, nên chùa cũng được gọi là Thất bảo đài tự. Tượng Phật trong chùa được chạm trổ rất tinh vi, có nhiều pho tượng ở đâyhiệnđược cất giữ tại viện bảo tàng Tokyo, Nhật bản. [X. Đường hội yếu Q.48].
Quang Trạch 光宅
[ja] コウタク Kōtaku ||| Another name for Fayun 法雲 of Guangzhai temple. => Tên khác của Ngài Pháp Vân, trú trì chùa Quang Trạch.
quang tuyến
Ray.
quang tán bát nhã ba la mật kinh
(光贊般若波羅蜜經) Cũng gọi Quang tán ma ha bát nhã kinh, Quang tán kinh, Quang tán bát nhã kinh. Kinh, 10 quyển, do Ngài Trúc pháp hộ dịch vào đờiTây Tấn, là bản dịch đầu tiên của kinh Đại phẩm bát nhã, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Kinh này tương đương với 25.000 bài tụng của 27 phẩm đầu trong 85 phẩm thuộc hội thứ 2 của kinh Bát nhã Ba la mật đa (kinh Đại bát nhã dongài Huyền trang dịch) bản tiếng Phạm. Kinh này cũng tương đương với 30 phẩm đầu trong 90 phẩm kinh Phóng quang bát nhã 20 quyển do ngài Vô xoa la dịch và tương đương với 29 phẩm đầu trong 90 phẩm kinh Ma ha bát nhã ba la mật 27 quyển do ngài Cưu Ma La Thập dịch. Bản tiếng Phạm của kinh này là do ngài sa môn Kì Đa La người nước Vu Điền đem đến nước Trung Quốc vào năm Thái Khang thứ 7 ( 286) đời Tây Tấn và đã được dịch ra vào ngày 25 tháng 11 cùng năm. Nội dung gồm 27 phẩm, bắt đầu từ phẩm Quang tán và kết thúc với phẩm Vũ pháp bảo.Về tên kinh của kinh này là do đứcPhật từ nơi lưỡi của Ngài phóng ra ánh sáng (quang) chiếu khắp ba nghìn đại thiên thế giới, trong ánh sáng sinh ra hoa sen, trên hoa sen lại có chư Phật xuất hiện và tán thánBát nhã này, vì thế nên đặt tên kinh là Quang tán bát nhã ba la mật. [X. Đại phẩm kinh du ý (Cát tạng); Xuất tam tạng kí tập Q.2, 7; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, 11; Đại đường nội điển lục Q.2].
Quang tán kinh
光讃經; C: guāngzàn jīng; J: kōsan kyō;|Kinh, 10 quyển. Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmarakṣa) dịch.
Quang tán kinh 光讃經
[ja] コウサンキョウ Kousan kyou ||| Guangzan jing; 10 fasc., trans. Dharmarakṣa 竺法護; T 222.8.147a-216b. cf. T 220, 221, 223. => (c: Guangzan jing) Kinh, 10 quyển. Trúc Pháp Hộ dịch (s: Dharmarakṣa).
quang tương tự
(光相寺) Chùa ở trên chót đỉnh núi Đại nga, phía tây nam huyện Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Cứ theo Phương dư thắng lãm thì từ Bạch thủy trải qua 84 vòng đường núi quanh co, leo lên tới 60 dặm mới đến chùa này, đây chính là nơi thị hiện của bồ tát Phổ hiền. Tương truyền, chùa này được sáng lập vào đời vua Minh Đế nhà Đông Hán và đặt tên là điện Phổ Quang, về sau được đổi là Quang Tướng tự. Khoảng năm Hồng vũ đời Minh, chùa được trùng tu, cuối đời Minh lại mở rộng thêm, xây điện Thiên vương, điện Tổ sư, điện Long thần, lầu Tàng kinh. Đây là thắng địa của núi Đại Nga. Đứng trên chùa nhìn xuống, núi sông cảnh trí phía dưới đều thu vào tầm mắt. [X. Phật tổ thống kỉ Q.43; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 627; Sơn xuyên điển thứ 173, 174].
quang tướng
(光相) Cũng gọi Quang minh tướng. Chỉ cho tướng ánh sáng phóng ra từ thân của Phật, Bồ tát, tượng trưng cho trí tuệ của các Ngài. Trong hội họa, điêu khắc... quang tướng phần nhiều được biểu hiện bằng hình tròn, nên cũng gọi là Viên tướng, Viên quang. Quang tướng được chia làm 2 loại: 1. Đầu quang (cũng gọi Mi gian quang – ánh sáng phóng ra từ giữa đầu chân mày):Tức là chung quanh đầu và mặt phát ra tướng ánh sáng hình tròn. 2. Thân quang (cũng gọi Cử thân quang): Tức là tướng ánh sáng phát ra từ chung quanh toàn thân. Thân quang thường là hình chiếc thuyền, hình cánh hoa sen. Vòng sáng của các Quang tướng có các kiểu như: 1. Ở trên vòng sáng có thêm đồ án. 2. Ở trong vòng sáng có hình hoa sen. 3. Ở riềm của vòng sáng có thêm những tia lửa. 4. Dùng hình những tia lửa làm vòng tròn. 5. Ở trên ánh sáng của riềm vòng tròn làm hình bảo châu. 6. Ở trong vòng sáng có những đường kim tuyến phóng ra. Các Mạn đồ la được thấy hiện nay phần nhiều là thuộc loại hình thứ 3, loại này dùng vòng tròn để biểu thị trí của tự tính, dùng các tia lửa để biểu thị nghĩa đốt cháy các phiền não. Tượng Phật của Hiển giáo thì phần nhiều dùng loại hình thứ 6. Các tượng của chư tôn Mạn đồ la Kim cương giới thì có 2 lớp tướng tròn trong và ngoài, còn Thai tạng giới thì chỉ có 1 lớp tướng tròn bên trong. Quang tướng này không phải chỉ riêng Phật giáo mới có, mà các tông giáo trên thế giới nói chung đều xem ánh sáng là thiêng liêng và dùng làm đối tượng để sùng bái. Bởi thế, Quang tướng cũng cótác dụng biểu trưng thần thánh hay vĩ nhân. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; luận Đại trí độ Q.8; Quảng hoằng minh tập Q.17]. (xt. Quang Bối).
quang tướng bồ tát
Prabhāketu (S)Minh Tướng Bồ tátTên một vị Bồ tát.
quang tướng tự
Tự viện nằm trên đỉnh núi Nga Mi, thuộc huyện Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, nơi mà Phổ Hiền Bồ Tát đã đạt đạo vô thượng—The monastery at the top of O-Mei-Shan, in Omei district, Szech-Wan province, where P'u-Hsien (Samantabhadra) is supreme.
quang tọa
Prabha-mandala (skt)—Hào quang và bảo tọa của một vị Phật—The halo and throne of a Buddha, or the halo behind the throne of an image (a halo throne).
quang tộ
Kuang-tsu (C), Guangzi (C)Tên một vị sư.
; (光祚) Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Vân môn, sống vào đời Tống, người tỉnh Chiết Giang. Sư từng tham vấn ngài Trừng Viễn ở viện Hương Lâm tại núi Thanh Thành, thuộc Ích Châu (Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên) được tâm ấn và nối pháp của ngài. Lúc đầu, sư trụ ở Song tuyền, Tùy châu, sau dời về chùa Trí Môn mở rộng tông phong, người đời gọi là Trí Môn Quang Tộ thiền sư. Đệ tử của sư có hơn 30 người, nổi tiếng nhất là Tuyết đậu Trùng hiển. Sư có tác phẩm: Trí Môn Tộ Thiền sư ngữ lục 1quyển. [X. Thiên thánh quảng đăng lục Q.22; Liên đăng hội yếu Q.27; Ngũ đăng hội nguyên Q.25].
quang tộ trí môn thiền sư
Zen master Kuang-Zuo-Zhi-Men—Thiền sư Quang Tộ Trí Môn, quê ở Triết Giang, là đệ tử và người nối Pháp của Hương Lâm Trừng Viễn, và là thầy của Tuyết Đậu Trùng Hiển. Ông là một trong những thiền sư đầu tiên dùng thơ ca ngợi những câu châm ngôn hay lời dạy của các thầy thời xưa, đây là một nghệ thuật mà sau nầy học trò của ông là Tuyết Đậu còn vượt trội hơn ông nữa—Zen master Kuang-Zuo Zhi-Men was from Zhe-Jiang Province, was a disciple and dharma successor of Xiang-Lin-Chen-Yuan, and the master of Hsueh-T'ou-Ch'ung-Hsien. He was one of the first masters of Ch'an tradition to celebrate the words of the old masters in poetic form, and art at which his disciple Hsueh-T'ou was even better than his teacher. • Sư thượng đường dạy chúng: “Một pháp nếu có, pháp thân rơi tại phàm phu; muôn pháp nếu không, Phổ Hiền mất cảnh giới ấy. Chính khi ấy Văn Thù nhằm chỗ nào xuất đầu? Nếu đã xuất đầu chẳng được thì con sư tử lông vàng lưng bị gãy. Hân hạnh được một bàn cơm, chớ đợi gạo gừng tiêu.”—Kuang-Zuo entered the hall and addressed the monks, saying: “If there is one Dharma, then Vairocana becomes a commoner. If the ten thousand dharmas are lacking, then Samantabhadra loses his realm. Just when it is like this, Majushri has nowhere to show his head, and if he can't show his head, then the golden-haired lion is cut in two. If you enjoy a bowl of food, don't eat the spicy meat cakes.” • Tên tuổi của Trí Môn được nhắc đến trong những thí dụ 21 và 90 của Bích Nham Lục—Chih-Men appears in examples 21 and 90 of the Pi-Yen-Lu. • Thí dụ thứ 90 của Bích Nham Lục cho chúng ta thấy Trí Môn và lối vấn đáp của ông với đệ tử. Một nhà sư hỏi Trí Môn: “Vật thể của sự khôn ngoan là gì?” Trí Môn đáp: “Có sao Kim mang trong mình nó trăng sáng.” Nhà sư hỏi: “Hiệu quả của sự khôn ngoan là gì?” Trí Môn đáp: “Con thỏ cái chờ lũ thỏ con.”—Example 90 of the Pi-Yen-Lu shows us Master Chih-Men in a conversation with his disciples as followed: A monk asked Chih-Men, “What is the wisdom body?” Chi-Men said, “The Venus mussel bears the bright moon in it.” The monk asked, “And what is the effect of wisdom?” Chih-Men said, “The female hare gets pregnant.” • Trí Môn có đến ba mươi đệ tử kế thừa Pháp. Ông thị tịch năm 1031—Chih-Men had 30 dharma successors. He passed away in 1031.
quang tụ phật đảnh
Tejorāśi (S), Uṣnīṣatejorasi (S)Đề Thù La Thí, Hỏa tụ Phật đảnh, Phóng quang Phật đảnh, Hỏa quang Phật đảnh Hỏa Tụ Phật Đảnh.
; Một trong năm vị Phật Đảnh—One of the five dhyani-Buddhas.
quang tụ phật đảnh luân vương
Xem Quang Tụ Phật đảnh Bồ tát.
quang tụ phật đỉnh
(光聚佛頂) Phạm: Tejoràzyuwịìwa # hoặcUwịìwatejoràzi. Hán âm: Đế nho ra thi u sắt ni sái. Cũng gọi Hỏa tụ Phật đính, Hỏa quang Phật đính, Phóng quang Phật đính, Quang tụ Phật đính luân vương. Vị tôn ngồi ở vị trí thứ 4 đầu hàng dưới bên phải đức Trung tôn Thích Ca Mâu Ni trong viện Thích ca của Mạn đồ la thai tạng giới Mật giáo, là 1 trong 5 và 1 trong 8 vị Phật đính. Vì vị tôn này dùng quang minh của Phật để tụ họp chúng sinh nên gọi là Quang tụ, mật hiệu là Thần thông kim cương. Hình tượng của vị tôn này thân có màu vàng ròng, ngồi trên hoa sen đỏ, bàn tay phải dựng nghiêng, co ngón vô danh, ngón út, tay trái để ở ngang eo, cầm hoa sen, trên hoa có hình Phật đính. Về thân sắc và tòa sen của vị tôn này, trong các kinh quĩ còn có những thuyết khác nhau. Hình Tam muội da là hình Phật đính trên hoa sen(hoặc là hình vật báu trên hoa sen màu vàng). Theo kinh Đại nhật quyển 4 và Tứ bộ nghi quĩ, ấn khế của vị tôn này là chắp tay để rỗng ở giữa (1 trong các ấn mẹ của thủ ấn), đầu ngón của 2 ngón vô danh và 2 ngón út hợp nhau để vào trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ để dính vào lưng 2 ngón giữa và dựng đứng 2 ngón cái, tức là thành hình Phật đính. Nếu thường niệm công năng của vị tôn này thì có năng lực phá hoại được sức mạnh của các chân ngôn thế gian và xuất thế gian, xua đuổi được quỉ mị khó điều phục mà thành tựu tất cả đại Phật sự. Cứ theo Quảng đại nghi quĩ, Huyền pháp tự nghi quĩ và Thanh long tự nghi quĩ, thì chân ngôn của vị tôn này là: Qui mệnh đát lăng (trìm, chủng tử) đế nho ra thi (tejoràzi, quang tụ) u sắc ni sái (uwịìwa, Phật đính) sa phạ hạ (svàhà). [X. kinh Bồ đề đạo tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.1; kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5, 6]. (xt. Bát Phật Đính, Ngũ Phật Đính).
quang tụ tán cái phật đảnh bồ tát
Tejorāśyusnisaḥ (S), Usnisatejorasi (S)Hoả tụ Phật đảnh, Quang tụ Phật đảnh luân vươngTên một vị Bồ tát.
quang vinh
Glorious.
quang viễn
(光遠) ( 1149-1241) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nam Tống, người Định Hải, Tứ minh (Trấn hải, Chiết giang) họ Phương, tên Thiện nguyệt, hiệu Bá đình. Thuở nhỏ, Sư học 6 kinh, (Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân thu), đọc rộng nhớ dai, năm 12 tuổi đã thông hiểu nghĩa Xuân thu. Sau, sư lễ Ngài Đạo tinh chùa Chính giác cầu xuất gia. Năm 15 tuổi, sư được thụ giới Cụ túc. Năm Long Hưng thứ 2 (1164), ngài Đạo Tinh thị tịch, sư đến Nam Hồ nương tựa ngài Thảo Am Đạo Nhân. Ít lâu sau, Sư đến tham yết ngài Tử Am Hữu Luân, nghe nhận yếu chỉ Tướng thế gian thường trụ, sư có chỗ tỉnh ngộ. Sau, sư tham lễ ngài Nguyệt đường Tuệ tuân, nghe thuyết Như lai bất đoạn tính ác, sư hoát nhiên đạt ngộ. Sau đó, sư đến chùa Thọ thánh ở Nam Hồ lễ hầu ngài Trúc Am Khả Quan và được ngài giao cho việc giảng dạy đồ chúng. Sư có phong nghi thanh nhã ôn hòa, đàm luận mẫu mực, rất được ngài Khả Quan khen ngợi.Năm Thuần Hi thứ 7 (1180) sư trụ trì chùa Biện Lợi ở Đông Hồ, sau dời về chùa Bảo Nghiêm ở Từ Khê. Không bao lâu, nhận lời mời của quan Thái sư là Sử chân ẩn, sư về trụ ở chùa Nguyệt Ba, người về theo học rất đông, đạo hạnh của sư được truyền xa. Năm Thiện Hi thứ 2 (1191), nhận lời thỉnh của quan Quận là Hà công đạm, sư dời đến chùa Thọ thánh, tận lực diễn giảng học thuyết tông Thiên thai suốt 13 năm. Năm Gia thái thứ 4 (1204), sư lui về ẩn ở chùa Diễn khanh chuyên tâm vào việc soạn thuật. Niên hiện Thuần hựu năm đầu (1241), sư thị tịch, thọ 93 tuổi. Đệ tử xây tháp thờ sư ở phía đông của chùa. Sư để lại các tác phẩm: -Kim cươngbát nhã kinh hội giải, 2 quyển. -Lăng già kinh thông nghĩa, 6 quyển. -Thai tông thập loại nhân cách luận, 4 quyển. -Tam bộ cách ngôn, 4 quyển. -Kim cương ti luận nghĩa giải, 3 quyển. -Nhân vương sớ kí, 3 quyển. -Sơn gia tự dư tập, 3 quyển. -Lăng nghiêm huyền lãm. -Viên giác lược thuyết. -Giản cảnh thậpsách. -Tông giáo huyền thuật. -Phụ sao tiên yếu... Đệ tử của sư có các vị: Hương lâm Thanh tứ, Y đường Liễu viên, Thạch đường Diệu tuệ, Bán vân Hành nho, Thử thất Đại phương, Hư trung Nguyên chân, Thạch môn Sĩ vân... [X. Phật tổ thống kỉ Q.18, 25; Bổ tục cao tăng truyện Q.3].
quang vân
(光雲) Mây ánh sáng. Ví dụ quang minh của Phật. Mây có khả năng tưới mưa thấm nhuần giúp ích cho vạn vật, giống như ánh sáng làm lợi cho muôn loài, bởi thế dùng mây ví dụ cho quang minh của Phật. Kệ tán A di đà Phật (Đại 47, 421 thượng) nói: Quang vân vô ngại như hư không. Cho nên Phật hiệu Vô ngại quang Tất cả chướng ngại được chiếu sáng. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 4 (Đại 9, 417 thượng) nói: Quán sát ánh sáng Phật Như mây khó nghĩ bàn.
quang võng bồ tát
Jaliniprabhākumarā (S)Quang Võng đồng tửMột trong 25 vị trong Viện Văn thù, cũng là một trong tám vị đại đồng tử của Ngài Văn thùXem Minh Võng Bồ tát.
quang võng đồng tử
Jàlìniprabhakumàra (S). Name of a Bodhisattva.
; Jaliniprabhakumara (skt)—Một trong tám đồng tử có lưới chiếu sáng, theo hầu cạnh Ngài Văn Thù—The youth with the shining net, one of the eight attendants on Manjusri.
; (光網童子) Quang võng, Phạm: Jàlinì-prabha (Hán âm: Chế lị ni ba la bà), hoặcPrabhajàla (Hán âm: Ba ra bà xà la). Cũng gọi Quang võng bồ tát. Vị Đồng tử ngồi ở vị trí thứ nhất bên phải của đức Trung tôn, là 1 trong 8 Đại đồng tử Văn thù, 1 trong 25 vị tôn của viện Văn thù thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Danh hiệu của vị tôn này là biểu thị ánh sáng trí tuệ củabồ tát Văn thù như những tấm lưới trùm khắp pháp giới, dùng các chuỗi ngọc anh lạc trang nghiêm lưới giáo pháp, giăng bủa khắp 10 phương để làm lợi ích cho chúng sinh. Mật hiệu là Sắc tướngkim cương, nghĩa là trí tuệ vi diệu làm đẹp thân tướng. Về hình tượng là hình đồng tử có thân màu vàng, tay trái cầm hoa sen xanh, tay phải cầm vòng dây lụa, ngồi trên tòa sen đỏ. Chủng tử là (jaô) có nghĩa là Sinh bất khả đắc. Đồng tử này và bồ tát Võng minh trong 16 vị tôn Hiền kiếp của Mạn đồ la Kim cương giới là đồng thể. Bồ tát Võng minh thị hiện tướng ngoại dụng, còn đồng tử Quang võng thì biểu thị đức nội chứng. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5; Chư thuyết bất đồng kí Q.5; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.3]. (xt. Võng Minh Bồ Tát ).
quang xúc
(光觸) Ánh sáng của Phật tiếp xúc và chiếu rọi thân hành giả. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 34 (Đại 9, 617 trung) nói: Đức Phật có ánh sángtên là Bảo thân trí, nếu có chúng sinh nào được tiếp xúc với ánh sáng ấy thì thân chúng sinh đó có màu sắc giống với màu sắc của thân Phật. Kệ tán A di đà Phật (Đại 47, 421 thượng) nói: Người được quang xúc thì lìa hữu vô. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Vãng sinh lễ tán].
quang âm
Light and shadow—Passing time.
quang âm cung
Ābhāsvara-vimāna (S)Cực quang tịnh thiên cungTên một cõi giới.
quang âm thiên
Abhassara (P)Xem Cực quang tịnh thiên.
; Abhàsvara (S). Light-sound heavens. The heavens of utmost light and purity.
; Abhasvara (skt)—Quang Âm Thiên hay Cực Quang Tịnh Thiên, là cõi trời thứ ba trong đệ nhị thiền thiên thuộc sắc giới. Tại cõi trời nầy dứt mọi âm thanh, lúc muốn nói thì dùng tịnh quang làm ngôn ngữ, nên gọi là Quang Âm. Thời đại hỏa tai hủy diệt cõi sơ thiền thiên của sắc giới thì chúng sanh ở hạ giới đều tập hợp tất cả vào cõi trời nầy. Chờ tới sau khi thế giới tái thành, buổi ban đầu của thành kiếp, từ cõi trời nầy nổi lên những áng mây vàng, trút mưa lũ xuống để tạo ra thế giới từ sơ thiền thiên xuống tới địa ngục. Khi thế giới đã thành rồi thì chúng sanh ở cảnh trời nầy phúc bạc, dần dần phải đi xuống cõi dưới, thậm chí cho tới địa ngục đều thấy chúng sanh—Light and sound or Light-sound heavens, also styled the heaven of utmost light and purity, the third of the second dhyana heavens, in which inhabitants converse by light instead of words; they recreate the universe from the hells up to and including the first dhyana heavens after it has been destroyed by fire during the final series of cataclysms; but they gradually diminish in power and are reborn in lower states. The three heavens of the second dhyana are: 1) Thiểu Quang Thiên: Minor-Light Heaven. 2) Vô Lượng Quang Thiên: Infinite-Light Heaven. 3) Quang Âm Thiên: Light and Sound Heaven.
; (光音天) Quang âm, Phạm: Àbhàsvara, Pàli: Àbhassara. Hán âm: A ba hội đề bà. Cũng gọi A ba hội thiên, A hội hỗ tu thiên, A ba hỗ tu thiên, A ba la thiên, A ba tối la già thiên. Hán dịch: Quang âm thiên, Thủy vô lượng thiên, Vô lượng thủy thiên, Cực quang tịnh thiên, Cực quang thiên, Quang tịnh thiên, Biến thắng quang thiên, Hoảng dục thiên, Quang diệu thiên. Dịch mới: Cực quang tịnh thiên. Một trongcác tầng trời cõi Sắc, tức là tầng trời thứ 3 của đệ nhị thiền; tầng trời này ở trênVô lượng quang thiên và ở dưới Thiểu tịnh thiên. Chúng sinh ở cõi trời này không có âm thanh, chỉ do ánh sáng phát ra từ định tâm để thay ngôn ngữ mà truyền đạt ý nghĩa, vì thế nên gọi Quang âm thiên. Chúng sinh có nghiệp tương ứng bậc thượng phẩm cõi Nhị thiền được sinh về cõi trời này, được sắc tối thắng, thân cao 8 do tuần, sống lâu 8 đại kiếp, lấy sự vui mừng làm thức ăn, trụ trong an lạc, ánh sáng tự nhiên, đầy đủ thần thông, có thể bay đi trong hư không. Luận Câu xá quyển 12 (Đại 29, 63 thượng) nói: Ban đầu có 1 hữu tình ở cõi trời Cực quang tịnh, chết đi, sinh xuống cõi trời Đại phạm làm Đại phạm vương. Sau, các hữu tình khác cũng từ cõi trời kia chết đi, sinh xuống cõi trời Phạm phụ, (...) dần dần sinh xuống nữa, cho mãi đến cõi người (...)Sau, sinh xuống ngã quỉ, bàng sinh, địa ngục. Đây có ý nói chúng sinh hữu tình của thế giới Sa bà này chính đã từ cõi trời Cực quang tịnh (Quang âm thiên) và lần lần sinh xuống. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 34 thì nói rằng: Lúc kiếp sơ, các Thiên tử từ cõi trời Quang âm đến thế gian này nếm thử mùi ngon của đất, người ăn ít thì thân thể không nặng nề, không mất thần túc nên vẫn bay về được; còn người ăn nhiều thì thân thể nặng nề, mất hết thần túc nên không bay trở về cõi trời được nữa. Ngoài ra, 1 bộ chúng của Ngoại kim cương viện thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo cũng đã xuất thân từ cõi trời Quang âm này. [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế Q.7; kinh Đại lâu thán Q.4; Bí tạng kí].
quang âm thiên cõi
Ābhassaraloka (P), Realm of the Radiant Gods Tên một cõi giới.
quang điệu
Shinning.
quang đoan
Tia sáng cát tường được Phật phóng ra từ giữa hai bộ lông mày của Ngài trước khi Ngài khai pháp—The auspicious ray sent from between the Buddha's eyebrows before a revelation (khai pháp).
quang đài hiện độ
(光臺見土) Trong đài vàng hiện ra Tịnh độ. Quang đài là đài vàng do hào quang của Phật hóa hiện ra. Cứ theo phần Tựa kinh Quán Vô lượng thọ thì phu nhân Vi đề hi chán ngán các nổi khổ, mong cầu được vãng sinh Tịnh độ. Để đáp ứng sự mong cầu của bà, đức Thế Tôn liền từ chỗ giữa 2 đầu chân mày phóng ra 1 luồng ánh sáng màu vàng ròng, soi khắp vô lượng thế giới ở 10 phương, sau đó, đức Phật hóa ra 1 đài vàng trên đỉnh đầu của Ngài, trong đài vàng lại hiện ra các Tịnh độ của chư Phật ở 10 phương, bà Vi Đề Hi thấy trong các Tịnh độ ấy có thế giới Cực lạc ở phương Tây là thanh tịnh trang nghiêm hơn cả, nên bà mong cầu được sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà. Các Tịnh độ trong 10 phương do đức Thế Tôn thị hiện ra vốn không có hơn kém khác nhau, sự đoạn hoặc chứng lí và hạnh mãn quả viên của chư Phật cũng như nhau, nhưng vì tùy cơ ẩn hiện và hóa độ theo căn tính, nên đức Thế Tôn ẩn giấu sự ưu thắng của các Tịnh độ khác mà chỉ hiển bày sự ưu thắng của Tịnh độ Phật A di đà phương Tây để tiếp dẫn phu nhân Vi Đề Hi. [X. Tự phần nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ (Thiện đạo )].
quang đãng
Clear.
quang đế bộc đầu
(光帝襆頭) Tên công án trong Thiền tông. Quang Đế giở khăn chít đầu ra. Đây là đoạn đối thoại nói về việc vua Trang Tông (Đồng Quang Đế) nhà hậu Đường giở khăn chít đầu ra mà được Thiền sư Hưng Hóa Tồn Tưởng khai thị. Cảnh đức truyền đăng lụcquyển 12 (Đại 51, 295trung) ghi: Một hôm, vua Trang Tông nói với sư rằng: Lúc thu phục nước Đại Lương, Trẫm lấy một hạt minh châu quí vô giá, mà chưa có người nào trả giá. Sư nói: Xin Bệ hạ cho xem hạt châu. Nhà vua đưa tay giở khăn chít đầu, Sư nói: Báu vật của nhà vua ai dám trả giá!. Thiền sư Hoành Trí làm bài tụng rằng: Quân vương để ý ngữ trí âm Thiên hạ khuynh thành quì lôi tâm Xuyết xuất Trung nguyên vô giá bảo Bất đồng Triệu bích dữ Yên kim. Trung nguyên chi bảo trình Hưng hóa Nhất đoạn quang minh nan định giá Đế nghiệp kham vi vạn thế sư Kim luân cảnh diệu tứ thiên hạ. (Dịch sát: Nhà vua thực ý bảo trí âm Thiên hạ khuynh thành quì hướng tâm. Trung nguyên lấy được của vô giá Chẳng như ngọc Triệu và vàng Yên Của báu Trung nguyên trình Hưng hóa Minh châu lấp lánh khó định giá. Nghiệp vua đáng bậc thầy muôn đời Mặt trời chiếu sáng khắp thiên hạ). [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.10; Thiền tông chính mạch Q.11]. (xt. Tồn Tưởng).
Quang Định
(光定, Kōjō, 779-858): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Bình An, xuất thân vùng Y Dư (伊予, Iyo, thuộc Ehime-ken [愛媛縣]), họ là Chí (贄). Ông sớm mất cha mẹ, sau vào trong núi sâu tự tu trai giới một mình. Theo lời khuyên của vị tăng Cần Giác (勤覺), ông lên kinh đô Kyoto, và năm 808 thì làm đệ tử của Tối Trừng. Năm 810, ông xuất gia và 2 năm sau thì thọ giới Cụ Túc ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Vào năm 814, ông ngao du vùng Nam Đô, luận tranh với Nghĩa Diên (義延, Gien) của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) và nêu cao tông nghĩa của mình. Ông đóng vai trò rất lớn trong việc lãnh đạo giáo đoàn sau khi Tối Trừng qua đời. Vào năm 838, ông được giao cho làm chức Truyền Đăng Pháp Sư và đến năm 854 thì được cử làm chức Biệt Đương (別當, Bettō, chức Tăng Quan thống lãnh tăng chúng và quản lý mọi việc ở các chùa lớn) của Diên Lịch Tự, cho nên ông thông xưng là Biệt Đương Đại Sư (別當大師). Trước tác của ông có Truyền Thuật Nhất Tâm Giới Văn (傳述一心戒文).
Quang Đức
光德; C: guāngdé; J: kōtoku; K: kwangdǒk, 1927-;|Cao tăng Hàn Quốc thuộc dòng Tào Khê (k: chogye). Sư học ở Đại học Dongguk, sau đó trở thành người đứng đầu tông Tào Khê. Sư dịch nhiều kinh luận Phật giáo sang tiếng Hàn Quốc (han'gul), trong đó có Vô môn quan (無門關).
quang đức quốc
Avabhasa (skt)—Vương quốc ánh sáng (của đức hạnh) nơi Đức Ma Ha Ca Diếp tái sanh như một vị Phật dưới tên Quang Minh Phật—The kingdom of light and virtue (glorious virtue), in which Mahakasyapa (Ma ha ca diếp) is to be reborn as a Buddha, under the name of Rasmiprabhasa (Quang Minh Phật).
Quang Đức 光德
[ja] コウトク kōtoku ||| Kwangdŏk (1927-). Korean monk of the Chogye order. He attended Dongguk university, and later become head of the Chogye sect. He translated a number of Buddhist works into han'gul, including the Wumen guan 無門關. => (k: Kwangdŏk (1927-). Cao tăng Cao Ly thuộc dòng Tào Khê (k: Chogye). Sư học ở Đại học Dongguk, sau đó trở thành người đứng đầu tông Tào Khê (k: Chogye). Sư dịch nhiều kinh luận Phật giáo sang tiếng Han'gul, trong đó có Vô Môn Quan (c: Wumen guan 無門關).
Quang 光
[ja] コウ kō ||| (kirana). (1) Light, brightness, splendor. (2) Sunlight. (3) Manifestation, appearance (ābhāsa). (4) The opposite of dullness; wisdom. (5) Halo, aura. => (s: kirana) Có các nghĩa sau: 1. Ánh sáng, sự rực rỡ, sự chói lọi. 2. Ánh sáng mặt trời. 3. Sự biểu hiện, sự xuất hiện (s: ābhāsa). 4. Phản nghĩa của tối tăm, u ám. Sự hiểu biết, thông thái, trí tuệ. 5. Vầng hào quang, sự phát tiết.
quanh co
Winding.
quanh năm
Throughout the year.
quanh quẩn
To beat about the bush.
quay cuồng
To turn round and round—To be in a whirl.
quay gót
To turn back.
quay trở lại
See Quay Về.
quay về
To return—To go back.
Quán Thủ
(貫首, Kansu hay Kanzu): tiếng kính xưng các vị trú trì các ngôi chùa tổ hay đại tự của các tông phái.
Quản Nguyên Đạo Chơn
(菅原道眞, Sugawara Michizane, 845-903): còn gọi là Quản Công (菅公, Kankō) hay Quản Thừa Tướng, nhà quý tộc, học giả sống đầu thời Bình An, con của Thị Thiện (是善). Ông đã từng làm việc cho Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇), được tín nhiệm, và trải qua các chức như Văn Chương Bác Sĩ, Tạng Nhân Đầu, Tham Nghị, v.v. Vào năm 894, ông được cử làm sứ thần sang nhà Đường, nhưng ông lại kiến nghị phế bỏ việc ấy. Đến thời Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇), ông làm chức Hữu Đại Thần, nhưng vào năm 901 ông bị lưu đày đến Thái Tể Phủ do lời sàm ngôn của Đằng Nguyên Thời Bình (藤原時平), và qua đời tại đó. Chính ông biên tập ra bộ Loại Tụ Quốc Sử (類聚國史), cùng tham gia soạn bộ Tam Đại Thật Lục (三代實錄). Thi văn của ông được thâu tập vào trong Quản Gia Văn Thảo (菅家文草), Quản Gia Hậu Tập (菅家後集). Chính vì sau khi ông qua đời có nảy sinh ra nhiều chuyện quái dị, nên vong linh của ông được tế nơi Bắc Dã Thiên Mãn Cung (北野天滿宮), về sau ông được tôn sùng như là vị thần của học vấn.
quen
To be acquainted with—To be accustomed to—To be used to.
quen biết
To know—To be acquainted with someone.
quen chịu
To be (get—become) accustomed to.
quen cực khổ
To be accustomed to.
quen làm
To be (get) accustomed to doing something.
quen sơ
To be slightly acquainted with.
quen thuộc
To be familiar (acquainted with).
quen thân
To know well.
quen việc
To be accustomed to and familiar (well acquainted) with the work.
qui
Return to, give oneself up to; commit oneself to, surrender.
qui chân
Xem qui nguyên.
qui chính
To return to the right path. Cải tà qui chính, to leave the wrong path for the right one.
qui căn
To revert to type; to trace sth to its origin.
qui kính
To turn to in reverence, put one's trust to and worship.
qui mao
The hair of the turtle.
qui mạng
Xem Nam mô.
qui mạng hiệp chưởng
Prāṇama (S)Ấn thứ 7 trong 12 hiệp chưởng. 10 đầu ngón phải và trái đan chéo nhau, ngón phải để trên ngón trái. Biểu thị tín tâm kiên cố, tâm cung kính cúng dường.
qui mệnh
Namas, namah, namo (S). To devote one's life (to the Buddha, etc); to entrust one's life, to obey Buddha's teaching. Veneration, homage.
qui mệnh bình đẳng chư phật
Namaḥ Samanta Buddhānām (P)Nẵng mồ Tam mãn đà một đà nẫm.
; Namah Samanta Buddhanàm (S).
qui mệnh tam bảo
Xem Quy mạng tam bảo.
qui nguyên
To return to one's origin, enter nirvàna, i.e. to die. Also qui hóa, qui túc, qui bản, qui chân.
qui nguyên trực chỉ
Direct instruction to return to one's origin.
qui ngưỡng
Bhakti (S), Surrender to.
; To turn to in expectancy or adoration, put trust in.
qui ngưỡng du già
Bhakti-yogā (S).
qui ngưỡng luận
Bhakti-śāstras (S).
qui ngưỡng tông
Xem Qui sơn tông.
qui ngưỡng đạo
Bhakti mārga (S), The path of Bhakta.
qui nhất
To unify.
qui nhập
To turn to and enter, e.g. a religion, church, society, etc.
qui phật
To become converted to Buddhism.
qui sơn linh hựu
Kuei-shan Ling-yu (C), Guishan Lingyu (C), Wei-shan Lingyu (C), Isan Reiyu (J)(771-853) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Bách Trượng Hoài Hải. Ngài là một nhà sư Phật giáo nổi tiếng ở Nam Trung quốc vào thời ấy.
qui sơn tông
Igyō-shŪ (J), Kuei-yang tsung (C), Igyo-shu (J)Qui ngưỡng tôngQui là chữ đầu của tên Qui Sơn (Linh Hựu), Ngưỡng là chữ đầu trong tên Ngưỡng sơn Huệ Tịch (đệ tử của ngài Qui Sơn). Từ giữa thế kỳ thứ 10, trường phái này kết hợp với Lâm tế tông và từ đó không còn được xem là một trường phái riêng nữa.
qui tiên
To return to the fairyland.
qui tâm
To turn one's heart toward.
qui tính
To turn from the world (phenomena) to that of eternal reality, to devote oneself to the spiritual rather than the material.
qui tông trí thường
Kishō Chijō (J), Kisu Chijo (J), Wei tsung Chih Chang (C)Tên một vị sư.
qui tỉnh thiền sư
Zen master Kui-Xing—Thiền sư Qui Tỉnh, quê ở Quí Châu, là đệ tử của Thiền sư Thủ Sơn—Zen master Kui-Xing was born in Ji-Chou, was a disciple of Zen master Shou-Shan. • Một hôm Thủ Sơn đưa cái lược tre lên hỏi: “Gọi là lược tre thì xúc chạm, chẳng gọi lược tre thì trái mất, gọi là cái gì?” Sư bèn chụp cái lược ném xuống đất nói: “Là cái gì?” Thủ Sơn bảo: “Mù.” Sư nhơn lời này hoát nhiên đốn ngộ—One day Shou-Shan held up a bamboo comb and asked: “If you call it a bamboo comb, you commit an offense. If you don't call it a bamboo comb, then you have turned away from what you see. What do you call it?” Shou-Shan said: “Blind.” At these words Kui-Xing suddenly experienced unsurpassed awakening. • Sư khai đường, có vị Tăng hỏi: “Tổ Tổ tương truyền Tổ ấn, nay thầy được pháp nối người nào?” Sư đáp: “Cõi trong thiên tử, bờ ngoài tướng quân.”—When Kui-Xing began teaching, a monk asked him: “All the Patriarchs have one after the other passed on the ancestral seal. Whose heritage have you now attained?” Kui-Xing said: “At the center of the realm, an emperor. Beyond the frontier, a general.” • Sư thượng đường dạy chúng: “Tông sư huyết mạch hoặc phàm hoặc Thánh, Long Thọ, Mã Minh, thiên đường, địa ngục, vạc dầu sôi, lò than đỏ, ngưu đầu, ngục tốt, sum la vạn tượng, nhật nguyệt tinh thần, phương khác, cõi nầy, hữu tình vô tình.”—Zen master Kui-Xing entered the hall and addressed the monks, saying: “The blood and marrow of the teachers of our school; what is mundane and holy; Long-Su and Ma-Ming (names of famous Buddhists of earlier times); heaven and hell; the scalding cauldron and furnace embers (tortures of hell); the ox-headed jailers (demons in hell); the myriad phenomena of the universe; heavenly bodies; all things of the earth; animate and inanimate…” • Sư lấy tay vẽ một lằn rồi nói: “Đều vào tông nầy. Trong tông nầy cũng hay giết người, cũng hay tha người. Giết người phải được đao giết người; tha người phải được câu tha người. Cái gì là đao giết người, câu tha người? Ai nói được bước ra đối chúng nói xem? Nếu nói không được là cô phụ bình sanh. Trân trọng!”—Kui-Xing drew a circle in the air with his hand and then continued: “All of them enter this essential teaching. Within this teaching people can be killed and they can be given life. Those who die endure the killing knife. Those who live must attain the life-giving phrase. What are the killing knife and the life-giving phrase? Can you answer me? Come out of the congregation and we'll test you. If you can't speak, then you've betrayed your life! Take care! • Có vị Tăng thưa hỏi về cây bá của Triệu Châu. Sư bảo: “Ta chẳng tiếc nói với ngươi, mà ngươi có tin không?” Tăng thưa: “Lời nói của Hòa Thượng quý trọng con đâu dám chẳng tin.” Sư bảo: “Ngươi lại nghe giọt mưa rơi trước thềm chăng?” Vị Tăng ấy hoát nhiên ngộ, thốt ra tiếng: “Chao!” Sư hỏi: “Ngươi thấy đạo lý gì?” Vị Tăng làm bài tụng đáp: “Thiềm đầu thủy đích Phân minh lịch lịch Đả phá càn khôn Đương hạ tâm tức.” (Giọt mưa trước thềm, rành rẽ rõ ràng Đập nát càn khôn, Liền đó tâm dứt). A monk asked: “What is the meaning of Zhao-Chou's cypress tree in the garden?” Kui-Xing said: “I won't refuse to tell you, but will you believe me or not?” The monk said: “How could I not believe the master's weighty words? Kui-Xing said: “Can you hear the water dripping from the eaves?” The monk was suddenly enlightened. He unconsciously exclaimed: “Oh!” Kui-Xing said: “What principle have you observed?” The monk then composed a verse: “Water drips from the eaves, So clearly, Splitting open the Universe, Here the mind is extingushed.”
qui tịch
(Of Bonze) to die, to pass away.
qui tục
To return to lay life.
qui vị
To regain one's position.
qui y
Xem Nam mô, Xem Quy y.
; To turn to and rely on; to take refuge with.
qui y tam bảo
To commit oneself to the Triratna, to take refuge with the Triratna, i.e. Buddha, Dharma, Sangha; Buddha, his Truth and his church.
qui ước
Xem Thế tục.
; Samvrti (S). Convention, common cosent. Also ước định, thế tục.
quy
1) Con rùa: Turtle—Tortoise. 2) Quy hàng: To give oneself up to—To surrender. 3) Quy phục: To commit oneself to. 4) Trở về: To return.
quy bất thận ngôn
(龜不慎言) Rùa không giữ gìn lời nói, ví dụ phàm phu ngu si thường vì không thận trọng lời nói nên gặp tai họa. Pháp uyển châu lâm quyển 82 nói: (Đại 53, 895 thượng): Thuả xưa, bên ao nước gần A Luyện Nhã có 2 con ngỗng trời làm bạn với 1 con rùa. Sau, nước ao cạn khô, 2 con ngỗng bàn nhau: Nay nước ao cạn khô chắc là bạn ta khổ lắm. Bàn bạc xong liền bảo rùa: Nước ao này khô cạn, bạn không zống được, bạn hãy ngậm lấy 1 cành cây, chúng tôi mỗi đứa ngậm 1 đầu, đưa bạn đến chỗ có nhiều nước; lúc ngậm cành cây, bạn cẩn thận không được nói chuyện. Dặn dò xong, 2 con ngỗng ngậm cành cây bay đi. Khi bay qua làng xóm, lũ trẻ trông thấy bảo nhau: Ô! Chúng mày ơi! Hai con ngỗng trời ngậm 1 con rùa kìa! Rùa nổi giận liền nói: Vậy thì có can dự gì đến chúng bay! Vừa mở miệng, rùa rơi ngay xuống đất và chết.
Quy chơn
(歸眞): quay trở về với chân như bản tánh, trả lại trạng thái xưa nay, tức Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃); cho nên đức Phật cũng như chư Tổ sư viên tịch cũng gọi là quy chơn. Về sau, từ này cũng được dùng phổ cập cho các cao tăng, tu sĩ Phật Giáo khi qua đời; đồng nghĩa với quy tịch (歸寂). Như trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ, phần Tống Chung (送終), giải thích rõ rằng: “Thích thị tử, vị Niết Bàn, viên tịch, quy chơn, quy tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế, giai nhất nghĩa dã; tùy tiện xưng chi, cái dị tục dã (釋氏死、謂涅槃、圓寂、歸眞、歸寂、滅度、遷化、順世、皆一義也、隨便稱之、蓋異俗也, dòng họ Thích [tu sĩ] qua đời, gọi là Niết Bàn, viên tịch, quy chơn, quy tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế, đều cùng một nghĩa cả; tùy tiện mà gọi, vì khác với thế tục vậy).” Trong Tứ Giáo Nghi (四敎義, Taishō Vol. 46, No. 1929) quyển 1 cũng cho biết rằng: “Phù đạo tuyệt nhị đồ, tất cánh giả thường lạc, pháp duy nhất vị, tịch diệt giả quy chơn (夫道絕二途、畢竟者常樂、法唯一味、寂滅者歸眞, phàm đạo dứt hai đường, rốt cùng là thường lạc, pháp chỉ một vị, vắng lặng là về chơn).” Trong bài Đông Đô Phú (東都賦) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán có câu: “Toại linh hải nội khí mạt nhi phản bổn, bối ngụy nhi quy chơn (遂令海內棄末而反本、背僞而歸眞, bèn khiến cho trong nước bỏ ngọn mà tìm nguồn, dứt dối mà về chơn).” Hay trong Nam Nhạc Tổng Thắng Tập (南嶽總勝集, Taishō Vol. 51, No. 2097) quyển Hạ, phần Lương Song Tập Tổ (梁雙襲祖), lại có đoạn: “Hốt nhất nhật vị môn nhân viết: 'Ngô tương nhập thất chi hậu, nhược hữu thiên khí dị thường, tốc lai báo ngô.' Lạp nhật trung ngọ tứ khí trừng thanh, đệ tử báo chi, nhi sách mộc dục phần hương, tịch nhiên quy chơn (忽一日謂門人曰、吾將入室之後、若有天氣異常、速來報吾、翌日中午四氣澄清、弟子報之、而索沐浴焚香、寂然歸眞, Một hôm nọ, Tổ chợt bảo với môn nhân rằng: 'Sau khi vào trong thất rồi, nếu có khí trời khác thường, mau đến báo cho ta biết.' Vào giữa trưa hôm sau, bốn khí lắng trong, đệ tử báo cho ngài biết, Tổ bèn nhờ tắm rửa, xông hương, rồi lẳng lặng ra đi).” Trong bài Bảo Nguyệt Đại Sư Tháp Minh (寶月大師塔銘) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Oánh nhiên Ma Ni, quy chơn thử độ (瑩然摩尼、歸眞於土, suốt trong Ma Ni, quy chơn cõi này).”
quy chế
Rule—Status.
quy củ
Norm—Method—Standard.
Quy Dữ
(歸嶼) (862-936) Cao tăng Trung Quốc sống vào cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại, người ở Thọ Xuân, (huyện Thọ, tỉnh An huy), họ Mi. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, tinh thông cả Đại thừa và Tiểu thừa, đối với các bộ luận như Câu xá, Duy thức, Nhân minh... sư có các kiến giải rất đặc biệt. Sư từng tham học ngài Ngạn huy ở Nam yên, sau trụ trì chùa Đại Tướng Quốc ở Đông Kinh (tức Biện kinh, nay là huyện Khai phong, tỉnh Hà nam). Cuối đời Hậu Lương, sư được vua ban cho áo đỏ và danh hiệu Diễn Pháp Đại Sư, đồng thời, ban tấm biển Trường Giảng Viện ở viện Ngự dung, Đông tháp. Năm Thanh thái thứ 3 (936) đời Hậu Đường, sư thị tịch thọ 75 tuổi, tăng lạp 55. Phật tổ thống kỉ quyển 42, 51 ghi tên của sư là Qui tự (......) và hiệu ban là Diễn Giáo Đại Sư. Sư có tác phẩm: Kinh Luận hội yếu 20 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.7].
quy gia ổn toạ
(歸家穩坐) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Về nhà ngồi yên ổn. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để ví dụ cuộc sống xa lìa mê vọng, 1 niệm phát tâm tu hành Phật đạo, triệt đề cầu tâm chứng thấu suốt. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 140 trung) ghi: Ngũ tổ tiên sư từng nói: Chỉ cần 1 câu khuếch nhiên vô thánh này, nếu người thấu suốt được, thì về nhà ngồi yên ổn, dẹp sạch đám dây bìm dây sắn (ví dụ văn tự ngữ ngôn), chẳng cản trở gì cho việc đập bể thùng sơn.
quy hàng
To yield—To give in---To surrender.
quy hồi
To return—To come back.
quy kính
Trở về quy mệnh và kỉnh lễ Đức Như Lai—To turn to reverence, put one's trust in and worship the Buddha.
quy kính tự
(歸敬序) Cũng gọi Qui kính văn, Qui kính kệ. Chỉ cho phần văn từ bày tỏ lòng qui y kính lễ Tam bảo thường đặt ở đầu Kinh, Luật, Luận trong 3 tạng. Văn qui kính thường là những câu ngắn như: - Qui mệnh Đại trí hải Tì lô giá na Phật. - Nam mô Thích ca mâu ni Phật. - Nam mô A di đà Phật... Cũng có trường hợp văn qui kính được cấu thành bằng những câu kệ, như luận Thuận chính lí (Đại 29, 329 thượng) ghi: Nếu muốn tạo luận Phải có tông thừa Đối với Bản tôn Trước phải qui kính. Trong các Kinh, Luật, Luận bằng tiếng Phạm, Pàli, Tây tạng thì quá phân nửa đều có phụ thêm văn qui kính, như ở đầu kinhVô lượng thọ bản tiếng Phạm có văn quikính như sau: O namo ratnatrayàya, o nama # zrìsarvabuddhabodhisattvebhya #, namo dazadiganaôtàparyaôtaloka = dhàtupratiwỉhitebhya # sarvabuddha = bodhisattvàya zràvakapratyeka = buddhebhyo ’tìtànàgatapratyut = pannebhya #, namo ’mitàbhàya, namo ’cìôtyaguịaôtaràtmane (Án qui mệnh Tam bảo. Án qui mệnh cát tường nhất thiết Phật Bồ tát. Qui mệnh an trụ thập phương vô biên vô lượng thế giới chi qúa khứ vị lai hiện tại nhất thiết Phật Bồ tát, Thánh giả Thanh văn Độc giác. Qui mệnh A di đà bà. Qui mệnh bất khả tư nghị công đức chi cụ túc giả). Còn ở đầu các kinh tiếng Pàli thì phần nhiều có văn qui kinh như sau: Namo tassa bhagevato arahato sammàsam = buddhassa (Nam mô bà già bà a ra ha tam miệu tam Phật đà). Nhưng trong các kinh điển Hán dịch, trừ những kinh quĩ Mật giáo được dịch từ đời Tống về sau, còn ngoài ra rất ít thấy văn qui kính. Đây là do dịch giả bỏ bớt đi, hay là trong nguyên bản không có? Vấn đề này không khảo chứng được. Về dụng ý của tác giả viết văn qui kính ở đầu các bộ luận thì Câu xá luận quang kí quyển 1 nêu ra 3 lí do như sau: 1. Vì sợ có ma sự gây trở ngại nên lễ thỉnh Phật, Bồ tát gia bị. 2. Biết rõ đức Thế tôn có đầy đủ công đức thù thắng nên đối với chính pháp của Ngài nói ra sinh lòng kính tin tôn trọng. 3. Giống như người con có hiếu, bất cứ làm việc gì cũng đều thưa trước với cha mẹ. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng cũng nêu 6 nguyên nhân sau đây: 1. Vì mang ơn nên bày tỏ lòng tôn kính đối với ơn Tam bảo: Phật pháp tăng. 2. Vì xin gia hộ nên khẩn cầu uy lực Tam bảo giúp ích cho việc hoằng truyền đại pháp. 3. Vì phát sinh lòng tin, bởi người tạo luận tự thẹn mình thiếu khả năng nên qui kính Tam bảo để cầu sự giúp sức cho người khác tin nhận. 4. Vì lễ phép cung kính, như bầy tôi trung, người con hiếu ở thế gian, hễ làm việc gì đều tâu vua và trình cha trước. 5. Biểu thị sự thù thắng, bởi vì Tam bảo là tốt lành, hơn hẳn thế gian, cho nên ở đầu để nói tính vượt trội hơn hết. 6. Vì lợí ich chúng sinh, khiến chúng sinh đối với Tam bảo phát tâm tin hiểu quán xét, cúng dường qui y, cho nên dùng văn qui kính biểu thị đính lễ. [X.luật Tứ phần Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.13-20].
Quy kính tự 歸敬序
[ja] キキョウジョ kikyōjo ||| An invocation, dedication. A prefatory statement found in sūtras and śāstras, wherein the author expresses his reverence for and faith in the Buddha, or in the Three Treasures. => Lời cầu khẩn, lời dâng tặng. Lời tựa ở đầu kinh hoặc luận, trong đó tác giả bày tỏ lòng tôn kính Đức Phật hay Tam bảo.
Quy kính 歸敬
[ja] キキョウ kikyō ||| To turn in reverence. To put one's trust in and revere. => Quay về với lòng tôn kính. Đặt mình trong sự tin tưởng và kính trọng.
Quy linh
(龜齡): tuổi rùa. Rùa là loại động vật có tuổi thọ rất lâu, cho nên để ví cho người có tuổi thọ, người ta thường dùng từ quy linh. Hạc là loài chim sống thành đàn, có số lượng rất nhiều không thể đếm được; vì vậy có từ hạc toán (鶴算). Cụm từ “quy linh hạc toán (龜齡鶴算)” này thường được dùng chung để dụ cho người trường thọ cũng như để chúc thọ, đồng nghĩa với quy niên hạc thọ (龜年鶴壽). Nó vốn xuất xứ từ bài từ Thủy Điệu Ca Đầu (水調歌頭, phần Vi Trịnh Tử Lễ Đề Hình Thọ [爲鄭子禮提刑壽]) của Ninh Hầu Trí (甯侯寘): “Tọa hưởng quy linh hạc toán, ổn bội kim ngư ngọc đới, thường cận giả hoàng bào (坐享龜齡鶴算、穩佩金魚玉帶、常近赭黃袍, ngồi hưởng tuổi thọ lâu dài, đeo mãi cá vàng dây ngọc, thường gần áo hoàng bào đỏ)”; cũng như từ bài thơ Du Tiên Thi (遊仙詩) của Quách Cảnh Thuần (郭景純) nhà Tấn: “Tá vấn phù du bối, ninh tri quy hạc niên (借問蜉蝣輩、寧知龜鶴年, mượn hỏi hàng nhện nước, mới biết tuổi sống lâu).”
quy luật
Regulation—Statute and law.
Quy mao
(龜毛): lông rùa. Cũng như sừng thỏ, lông rùa là vật không có thật, vì trời sinh con rùa không bao giờ mọc lông. Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 12 khẳng định rằng: “Hựu như thố giác, quy mao, diệc đản hữu danh nhi vô thật (又如兔角、龜毛、亦但有名而無實, lại như sừng thỏ, lông rùa, cũng chỉ có tên mà không thật).” Trong Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō Vol. 46, No. 1911) quyển 10 dạy rằng: “Nhân ngã như quy mao thố giác bất khả đắc (人我如龜毛兔角不可得, ta và người cũng như lông rùa sừng thỏ, không thể có được).” Hay trong Sở Thạch Phạn Kì Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) lại có câu: “Thiết ngưu bối thượng quát quy mao, thạch nữ yêu biên tài thố giác (鐵牛背上括龜毛、石女腰邊裁兔角, trên lưng trâu sắt tìm lông rùa, bên hông gái đá cắt sừng thỏ).” Hoặc trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) quyển 12, phần Thượng Thư Huyễn Am Hồ Cư Sĩ (尚書幻菴胡居士), cũng có câu: “Thố giác trượng thiêu Hương Thủy hải, quy mao thằng phược Nga Mi sơn (兔角杖挑香水海、龜毛繩縛蛾眉山, gậy sừng thỏ khuấy biển Hương Thủy, thừng lông rùa cột núi Nga Mi).”
quy mao
Lông rùa (hay sừng thỏ), được ví với những chuyện không thể xãy ra được—The hair on a tortoise, i.e. the non-existent.
Quy mao thố giác
龜毛兔角; J: kimō-tokaku;|Lông rùa sừng thỏ
quy mao thố giác
Lông rùa sừng thỏ, ví với những việc không thể xãy ra được—The hair on a tortoise and the horn of a rabbit, i.e. the non-existent.
; (龜毛兔角) Lông rùa sừng thỏ. Rùa vốn không có lông, thỏ cũng chẳng có sừng, nhưng vì rùa bơi trong nước, rong rêu bám vào mình rùa, người đời nhìn vào nhận lầm rong rêu là lông rùa, cũng như nhận lầm 2 cái tai thỏ dỏng lên là sừng thỏ. Bởi thế các kinh luận thường dùng từ ngữ lông rùa sừng thỏ để ví dụ những sự vật chỉ có tên chứ không có thực, hoặc vật hoàn toàn không có trong thực tế; cũng tức là phàm phu, vì vọng chấp mà nhận lầm có thực ngã, thực pháp. Luận Thành thực quyển 2 (Đại 32, 256 thượng) nói: Trong các việc thế gian, sừng thỏ, lông rùa, chân rắn, mùi muối, màu sắc gió... đều là không. [X. kinh Lăng già Q.2; luận Đại trí độ Q.1; Tông kính lục Q.46].
quy mạng
Xem Nam mô.
; Namas, Namah, or Namo (skt)—Nam Mô—Quy mệnh hay về nương—Devotion-of-life bow. 1) Thân mệnh nương theo Đức Phật: To entrust one's life, or to devote one's life to the Buddha, etc. 2) Quy thuận theo giáo mệnh hay lời dạy của Phật: To obey Buddha's teaching. 3) Căn mệnh quy nguyên như Đức Phật đã từng quy nguyên vậy: To cultivate the Buddha's way, hoping one day we can enter nirvana as did the Buddha.
quy mạng tam bảo
Namo-Ratna-trayāya (S), Namo Ratnatrayaya (S)Nam mô hát ra đá la dạ da.
quy mạng thập phương kim cang phật
Take refuge in the Diamond Buddha of the ten directions.
quy mạng tỳ lô xá na phật
Take refuge in Vairocana Buddha.
Quy mạng 歸命
[ja] キミョウ kimyō ||| A translation of the Sanskrit namas, also transliterated as 南無. To devote one's life (to the Buddha, etc.); to entrust one's life; to obey the Buddha's teaching. For an extensive definition of this term see 's Commentary on the Awakening of Faith 起信論疏, T44.1844.203b.11ff. => Dịch chữ Namas từ tiếng Sanskrit, còn Phiên âm là Nam-mô 南無. Hiến dâng hết đời mình (cho Đức Phật,v.v...), giao phó hết sinh mạng mình; sống theo Phật pháp. Về định nghĩa rộng hơn về thuật ngữ nầy, xin xem luận giải về Khởi tín luận sớ (起信論疏e: Commentary on the Awakening of Faith) của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo).
Quy mậu luận chứng phái 歸謬論證派
[ja] キビュウロンショウハ Kibyūronshōha ||| Prāsaṇgika, a later branch of Indian Mādhyamika 中觀派, the name of which literally means "making use of the consequences." This school was developed based on the work of Buddhapālita (佛護, c.470-540) and Candrakīrti (月稱, c. 650), who, in working out the argumentation of the concept of śūnyatā, denied the validity of the use of logical propositions which ended up affirming any sort of positive position. The other competing school which took instead an approach of positive dialectic was called Svātrantika (dulilunzhengpai) 獨立論證派). (s: Prāsaṇgika) => Nguyên là một nhánh của phái Trung quán Ấn Độ, tên gọi có nghĩa là “sử dụng những hệ quả (của đối phương)”. Tông phái nầy phát triển dựa các trên tác phẩm luận giải của Phật Hộ (c: Buddhapālita 佛護, c.470-540) và Nguyệt Xứng (c: Candrakīrti 月稱, c. 650), trình bày những luận chứng khái niệm về Không (s: śūnyatā), khước từ sự hợp lý khi dùng tiền đề luận lý học để kết thúc sự khẳng định dưới bất kỳ dạng nào của các quan điểm tích cực. Phái đối lập thay vì vận dụng phép biện chứng tích cực được gọi là Độc lập luận chứng phái (s: Svātrantika; 獨立論證派).
quy mệnh hợp chưởng
(歸命合掌) Phạm: Praịàma. Hán âm: Bát ra noa ma. Gọi tắt: Qui hợp chưởng. Ân thứ 7 trong 12Hợp chưởng, là ấn mẹ trong các loại thủ ấn của Mật giáo. Hợp chưởng là chắp tay, tướng ấn này như sau: Mười đầu ngón tay phải và tay trái đan vào nhau, ngón tay phải đặt ở trên ngón tay trái. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 13, thì tướng ấn này giống như ấn Kim cương hợp chưởng. Thanh long quĩ quyển thượng thìgọi ấn này là Kim cương hợp chưởng. Kinh và Nghi quĩ của Kim cương đính bộ thì cho rằng ấn nàyvà ấn Kim cương hợp chưởng là giống nhau. Tóm lại, ấn này là ấn tín tâm kiên cố, biểu thị tâm cung kính cúng dường Bản tôn của hành giả Mật giáo. Ngoài ra còn biểu thị ý nghĩa chúng sinh quay về với Phật giới, cho nên trong ấn này, bàn tay phải biểu thị Phậtgiới, bàn tay trái biểu thị Chúng sinh giới. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).
quy mệnh tận thập phương vô ngại quang như lai
(歸命盡十方無礙光如來) Tận thập phương vô ngại quang Như lai là 1 trong các đức hiệu của Phật A di đà. Vì ánh sáng của Phật A di đà chiếu soi khắp các quốc độ trong 10 phương mà không bị ngăn ngại, nên đức ánh sáng ấy của Ngài được gọi là Tận thập phương vô ngại quang. Ý nói ánh sáng của đức Phật A di đà không bị người và pháp làm chướng ngại. Chúng sinh qui y, quy thuận sắc mệnh của Như lai, gọi là Qui mệnh. Mặt khác, Phật A di đà còn thành tựu công đức làm cho chúng sinh an tâm qui mệnh nên tôn xưng danh hiệu của ngài là Qui mệnh tận thập phương vô ngại quang Như lai. Tịnh độ Chân tông của Nhật bản gọi danh hiệu này là Thập tự danh hiệu (Danh hiệu 10 chữ). [X. Vô lượng thọ kinh Ưu bà đề xá nguyện sinh kệ; Tán A di đà Phật kệ]. (xt. Thập Nhị Quang, Thập Nhị Quang Phật).
quy mệnh đỉnh lễ
(歸命頂禮) Cũng gọi Qui mệnh lễ. Thân tâm chí thành cung kính đính lễ Tam bảo. Qui mệnh là đem cả thân tâm qui y Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng, đó là thuộc về ý nghiệp lễ bái. Đính lễ là đầu đặt sát đất, chạm vào chân Phật, đó là thuộc về thân nghiệp lễ bái. Cách lễ bái này được xem là cách cung kính nhất trong các cách lễ bái. [X. Đại nhật kinh sớ Q.12; Vãng sinh lễ tán kệ]. (xt. Nam Mô, Lễ).
quy nguyên
Quy Bổn—Quy Chân—Quy Hóa—Quy Tịch—Ra khỏi cõi sanh diệt để trở về cội nguồn chân như tịch tĩnh (nhập niết bàn)—To return to one's origin, enter nirvana, i.e. to die.
; (歸元) Cũng gọi Qui hóa, Qui chân, Qui tịch, Qui bản, Qui không, Qui khứ. Đồng nghĩa: Viên tịch, Nhập tịch, Thị tịch.Chỉ cho cái chết của người đời hoặc sự thị tịch của giới tăng sĩ. Qui nguyên nghĩa là lìa khỏi cõi đời vô thường sinh diệt để trở về cảnh giới bản nguyên chân tịch (nguồn gốc chân thực vắng lặng, tức Niết bàn), vì thế từ ngữ này thường được dùng để chỉ cho cái chết của tăng sĩ hoặc người chứng đạo. Đến đời sau, nó cũng được dùng chỉ cho cái chết của người thường. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăngnghiêm Q.4; Lăng nghiêm kinh nghĩa sớ chú kinh Q.8; chương Trụ trì trongSắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng; Tăng tục nam nữ vị bài chi thượng đầu văn tự trong Chư hồi hướng thanh qui Q.4].
Quy Nguyên Trực Chỉ Tập
(歸元直指集, Kigenjikishishū): 4 quyển, trước tác của Thiên Y Tông Bổn (天衣宗本, ?-?) nhà Minh, san hành vào năm thứ 32 (1553) niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖), trùng san vào năm thứ 4 (1570) niên hiệu Càn Long (乾隆) bản 2 quyển có lời tựa của Lộc Viên Cư Sĩ Vạn Biểu (鹿園居士萬表), là tập thâu lục 97 thiên gồm những thuyết xưa nay liên quan đến tư tưởng Thiền Tịnh Nhất Trí. Cuối quyển 2 có Tây Phương Bách Vịnh (西方百詠), cuối quyển 4 có Sơn Cư Bách Vịnh (山居百詠).
quy nguỡng tông
Một dòng Thiền được sáng lập bởi ngài Bách Trượng Hoài Hải—A Zen sect established by Pai-Ch'ang-Huai-Hai—See Bách Trượng Hoài Hải.
quy ngưỡng
Adhigamāniya (S).
; Kính ngưỡng và tin tưởng vào—To turn to in expectancy or adoration, put trust in.
; (歸仰) Phạm: Adhigamanìya. Biểu thị ý nghĩa qui mệnh kính ngưỡng, tức là qui y kính lễ chư Phật, Bồ tát. Chương Qui kính trong Pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 4 (Đại 45, 316 trung) nói: Lại khởi tâm trong sạch/Gắng tu nghiệp thù thắng/Tỏ lòng thành qui ngưỡng/Vì thế gọi kính lễ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
Quy Ngưỡng Tông
(潙仰宗, Igyō-shū): một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc; Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐) và pháp từ của ông là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂), được xem như là tổ khai sáng tông phái này. Quy Ngưỡng (潙仰) là sự kết hợp tên đầu của hai ngọn núi Quy Sơn (潙山) và Ngưỡng Sơn (仰山), nơi hai vị tổ sư an trú, để đặt thành tên của tông phái. Vào đầu niên hiệu Nguyên Hòa (, 806-820) nhà Đường, Quy Sơn Linh Hựu, người kế thừa dòng pháp của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), đến Đại Quy Sơn (大潙山) ở phía Tây của Huyện Ninh Hương (寧郷縣, Tỉnh Hồ Nam), kiến lập Đồng Khánh Tự (同慶寺) và tiếp độ cho hơn ngàn đồ chúng. Vào năm thứ 6 (879) niên hiệu Càn Phù (乾符), Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, đệ tử của ông, cũng đến Viên Châu Ngưỡng Sơn (袁州仰山) ở Huyện Nghi Xuân (宜春), Tỉnh Giang Tây (江西省), cử xướng tông phong và hính thành một tông phái riêng. Vào khoảng thời Ngũ Đại (五代, 907-959), tông phái nhất thời huưg thịnh, nhưng đến thời nhà Tống thì suy tàn; cuối cùng hợp dòng với Lâm Tế Tông và tuyệt tích luôn. Mạng mạch của tông môn kéo dài trong khoảng 150 năm mà thôi. Về Tông phong của phái này, Quy Sơn thì có phong cách cơ dụng hùng dũng; Ngưỡng Sơn thì nhờ vừa kế thừa gia phong của Quy Sơn, rồi kết hợp với gia phong của Đam Nguyên Ứng Chơn (耽源應眞, pháp từ của Nam Dương Huệ Trung [南陽慧忠]), nên khi dạy dỗ, hướng dẫn cho học chúng thì một mặt nghiêm khắc, sử dụng 96 loại viên tướng, v.v., của tông phong Nam Dương, và mặt khác làm cho dễ lãnh ngộ hơn. Tông phong này hoàn toàn khác với sự cay đắng của Lâm Tế, sự nghiêm mật của Tào Động; và hình thành tông phong độc đáo, riêng biệt gọi là im lặng khế ngộ trong vấn đáp đối ứng.
Quy Ngưỡng tông
潙仰宗; C: guī-yǎng-zōng; J: igyō-shū;|Một dòng thiền do Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu và đệ tử là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch sáng lập, được xếp vào Ngũ gia thất tông – Thiền chính phái của Trung Quốc. Dòng thiền này sau được tông Lâm Tế hấp thụ và thất truyền trong thế kỉ thứ 10/11.|Một nét đặc biệt của tông này là phương pháp giáo hoá, »đánh thức« môn đệ bằng những biểu tượng được vẽ trong 97 vòng tròn (viên tướng). Hệ thống giáo hoá này được Lục tổ Huệ Năng sử dụng, truyền cho Quốc sư Nam Dương Huệ Trung đến Ðam Nguyên Ứng Chân và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Ngày nay cách sử dụng viên tướng này đã thất truyền nhưng có lẽ đã gây ảnh hưởng lớn đến sự hình thành của Thập mục ngưu đồ (mười bức tranh chăn trâu) và Ðộng Sơn ngũ vị của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới. 97 viên tướng được sử dụng như mật ngữ, và các vị Thiền sư có kinh nghiệm Giác ngộ thâm sâu sử dụng nó để trau dồi kinh nghiệm với nhau. Vì biết được khả năng tiêu hoại khi truyền hệ thống này bừa bãi – nếu bị lạm dụng trở thành một trò chơi – nên các vị giữ kín bí mật này, chỉ truyền cho những môn đệ hạng thượng căn.|Thiền sư Ngưỡng Sơn trả lời như sau khi được hỏi vì sao Sư thấy người đến liền vẽ một vòng tròn trong đó viết chữ »Ngưu« (牛) (Ðịnh Huệ dịch):|»Cái ấy cũng là việc không đâu. Nếu chợt hội được thì cũng chẳng phải từ bên ngoài đến, nếu không hội thì quyết chắc là không biết. Ta hỏi lại ông: Bậc lão túc các nơi – ngay trên thân các ông – chỉ cái gì là Phật tính? Nói là phải hay nín là phải, hay chẳng nói chẳng nín là phải, hay lại đều là không phải? Nếu ông nhận nói là phải thì như là người sờ đuôi voi. Nếu ông nhận nín là phải thì như người mù sờ tai voi. Nếu ông nhận chẳng nói chẳng nín là phải thì như người mù sờ vòi voi. Nói vật vật đều phải thì như người mù sờ nhằm bốn chân voi. Nếu bảo đều chẳng phải tức là ném bỏ con voi ấy, rơi vào không kiến. Chỗ thấy của các người mù kia chỉ ở nơi danh mạo sai biệt trên con voi… Lại nói: ›Ðạo vốn không hình tướng, trí huệ tức là đạo. Người có kiến giải này gọi là chân Bát-nhã.‹ Người có mắt sáng thấy được toàn thể con voi thì thật tính cũng như vậy.«
quy ngưỡng tông
Xem Qui sơn tông
; (潙仰宗) Tên của Thiền phái thuộc pháp hệ ngài Nam nhạc, tôn các ngài Qui Sơn Linh Hựu và Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch làm Tông tổ, lấy 2 chữ Qui ngưỡng làm tên tông, 1 trong 5 nhà 7 tông (Ngũ gia thất tông) của Thiền Nam tông Trung Quốc. Khoảng năm Nguyên hòa đời Đường, ngài Linh Hựu trụ ở Qui sơn (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam), tuyên dương tông phong, đệ tử là Tuệ Tịch kế tiếp tập đại thành. Vào cuối đời Đường và đầu thời Ngũ đại, tông Qui ngưỡng rất hưng thịnh, sang đời Tống thì dần dần suy vi và cuối cùng được sáp nhập với tông Lâm Tế, thế là tuyệt tích sau khi tồn tại 150 năm. Sơ tổ Linh Hựu đắc pháp nơi ngài Bách Trượng Hoài Hải, một mình ở Qui sơn 7 năm. Về sau, nhân có ngài Lại An từ nơi ngài Bách Trượng đến mà người học dần dần qui tụ về đây, thường hơn 1.500 người, lấn lướt cả môn đình ngài Hoàng Bá. Đệ tử là ngài Tuệ Tịch thừa kế, trụ ở Ngưỡng Sơn tại Viên Châu, phát triển tông phong, về sau chia làm 2 phái Tây tháp và Nam tháp. Tây tháp do ngài Ngưỡng Sơn truyền còn chịu ảnh hưởng dòng pháp của ngài Đàm Nguyên Ứng Chân; Nam tháp thì chính thức thuộc pháp hệ Qui sơn. Phái Tây tháp bắt đầu từ ngài Quang Mục, truyền cho ngài Tư Phúc Như Bảo, lại truyền cho ngài Cát Châu Trinh Thúy và Đàm Châu Như Uyển. Phái Nam tháp bắt đầu từ ngài Quang Dũng, rồi truyền cho ngài Ba Tiêu Tuệ Thanh và Thanh hóa Toàn phó. Dưới ngài Tuệ Thanh, có các ngài Trình Châu Kế Triệt, Hưng Dương Thanh Nhượng, U Cốc Pháp Nhãn... Ngoài ra, đệ tử của ngài Ngưỡng Sơn còn có các sư: Hoắc Sơn Cảnh Thông, Vô Trước Văn Hỉ... Trong pháp mạch ngũ gia, tông này suy vi sớm nhất. Pháp hệ truyền thừa chỉ có 4, 5 đời, từ đời Tống về sau thì chấm dứt. Cứ theo Nhân thiên nhãn mục quyển 4 thì tông Qui ngưỡng chia thế giới chủ quan và khách quan ra làm 3 thứ sinh: Tưởng sinh, Tướng sinh, và Lưu chú sinh, mỗi thứ đều có sự phủ định. - Tưởng sinh: Chỉ cho những suy tư chủ quan, cho rằnghễcó tâm tư duy thì đều là nhơ nhớp tạp loạn, cần phải xa lìa mớiđượcgiải thoát. -Tướng sinh: Chỉ cho cảnh sở duyên, tức thế giới khách quan, cũng cần phải phủ định. Cho nên trong sách có câu kệ (Vạn tục 113, 437 thượng): Ánh sáng chiếu vào rõ đường về. Mộng tối tan rồi hai mắt sáng. -Lưu chú sinh: Chỉ cho thế giới chủ quan, khách quan biến hóa vô thường, âm thầm trôi chảy, theo nhau không dứt. Nếu có thể nhìn thẳng vào dòng thác tư duy ấy mà cắt đứt được thì chứng đắc trí viên minh, đạt đến cảnh giới tự tại. Về lí luận tu hành thì tông này theo yếu chỉ Lí sự như như của các Thiền sư Đạo Nhất, Hoài Hải, cho rằng vạn vật hữu tình đều có đủ tính Phật, nếu minh tâm kiến tính thì có thể thành Phật. Thiền phong của tông này là Phương viên mặc khế (lặng lẽ khế hợp tất cả), cơ pháp tiếp hóa người học phần nhiều dùng cách đối đáp để đưa đến chỗ thầm hợp (ngộ). [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Thích thị kê cổ lược Q.3; Ngũ gia tông chỉ toàn yếu Q.hạ].
quy nhập
Quay lại để đi vào đường đạo—To turn to and enter, e.g. a religion.
quy nông
Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận Châu Thành tỉnh Trà Vinh, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng từ lâu, nhưng không ai biết được xây vào năm nào. Chùa được trùng tu vào năm 1900—Name of and ancient temple, located in Châu Thành district, Trà Vinh province, South Vietnam. It was built a long time ago, but no one knows the time. It was rebuilt in 1900.
quy nội cung dưỡng
(歸內供養) Cũng gọi Nhập nội cúng dường. Phụng thỉnh cúng dường Phật, Bồ tát trong cung đình. Vào đời Đường, các vua Trung Tông, Túc Tông, Đại Tông... thường phụng thỉnh cúng dường chư Phật, Bồ Tát ở trong cung. Trong các nghi thức phụng thỉnh, phụng tống đều có sai sứ cầm chiếu thư để thi hành. [X. Nội đạo tràng trong Đại tống tăng sử lược Q.trung; Chính pháp nhãn tạng Q.12, 13].
Quy phạm
(規範): nghĩa là điển phạm, quy mô, quy cách. Như trong tác phẩm Di Kiên Chi Chí Quý (夷堅支志癸), phần Tuyết Phong Tông Nhất (雪峰宗一), của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống, có đoạn: “Tuyết Phong Trưởng Lão Tông Nhất, dĩ Thuần Hy cửu niên lai trú trì, chú tích lưỡng tuế, ưu tự kiến Tỳ Lô Các, an trữ tạng kinh, quy phạm hùng vĩ (雪峰長老宗一、以淳熙九年來住持、駐錫兩歲、於寺建毗盧閣、安貯藏經、規範雄偉, Trưởng Lão Tuyết Phong Tông Nhất, vào năm thứ 9 [1182] niên hiệu Thuần Hy thì đến trú trì, sống được hai năm, ngài dựng Tỳ Lô Các tại chùa này, để an trí kinh tạng, quy mô rất hùng vĩ).” Hay trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) lại có đoạn: “Cố ưng tuân thủ quy phạm, bất đắc tại trú trì tiền tụng nhân chi đoản, bất đắc tại đồng liêu trung hí tiếu (故應遵守規範、不得在住持前訟人之短、不得在同寮中戲笑, vì vậy nên tuân thủ quy phạm, không được bàn cãi lỗi sai của người khác trước mặt trú trì, không được ở trong cùng liêu cười giỡn).”
quy phật
1) Trở thành Phật tử: To become a Buddhist. 2) Vãng sanh Cực Lạc: To go to the Pure Land after passing away.
quy phục
To submit—To yield—To give in—To surrender.
quy sơn
(歸山) I. Qui Sơn. Cũng gọi Đại qui sơn. Tên núi ở phía Tây huyện Trường sa, tỉnh Hồ nam, Trung quốc, là 1 nhánh của dãy Hành sơn, nơi đầu nguồn của dòng sông Qui. Núi này phần nhiều là đất bằng, nước nôi rất tiện lợi, vì thế người xuất gia từ xưa phần nhiều trồng trọt ở nơi này nên có tên là La hán điền (ruộng La hán). Ngài Linh Hựu đời Đường đã sống ở đây, người đời gọi ngài là Qui Sơn Thiền sư. Khoảng năm Đại trung, ông Bùi Hưu tâu vua xin xây chùa Mật Ấn. Ngoài ra còn có các thắng cảnh như: Chùa Đồng Khánh, vườn Hoa quả, am Liên hoa, nhà Quán âm...[X. Cổ kim đồ thư tập thành phương chức điển thứ 1202, 1210]. II. Qui Sơn. Cũng gọi Tiểu qui sơn. Núi ở phía đông huyện Lễ Lăng, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Trên núi có ngôi chùa Tiểu qui sơn do Thiền sư Đại Duyên xây dựng vào đời Đường. III. Qui Sơn. Chỉ cho Thiền sư Qui sơn Linh Hựu, Sơ tổ của tông Qui ngưỡng. (xt. Qui Sơn Linh Hựu).
; (潙山) Cũng gọi Qui tự, Qui viện. Sơn ở đây hàm ý là chùa, viện. Nghĩa là chư tăng khi có việc phải ra khỏi chùa, sau khi xong việc trở về, gọi là Qui sơn.
quy sơn cảnh sách
(潙山警策) Gọi đủ: Qui sơn Đại viên thiền sư cảnh sách. Tác phẩm, 1 quyển, là Ngữ lục của ngài Qui Sơn Linh Hựu soạn vào đời Đường. Ngài Linh Hựu xét thấy những người tu hành lúc bấy giờ dần dần trở nên biếng nhác, cẩu thả, không giữ gìn uy nghi, nên ngài soạn sách này để nhắc nhở họ quay về chính đạo. Sách này được viết theo thể văn xuôi và văn vần. Trước hết, dùng văn xuôi để nói rõ ý chỉ cảnh sách, chia làm 5 đoạn: 1. Nói về cái tai họa sắc thân. 2. Trưng bày thói tệ hại của giới xuất gia. 3. Nói rõ mục đích chân chính của việc xuất gia. 4. Chỉ bày con đường tắt vào đạo. 5. Dặn dò khuyên bảo. Kế đó là văn vần gồm 36 câu, mỗi câu 4 chữ, lời lẽ ngắn gọn, ý tứ thâm thiết. Thiền tông hợp chung sách này với kinh Tứ thập nhị chương và kinh Di giáo, gọi là Phật tổ Tam kinh mà người tu hành cần phải học. Về sách chú Qui sơn cảnh sách thì có: Qui sơn cảnh sách chú, 1 quyển, do ngài Thủ Toại soạn vào đời Tống, Qui sơn cảnh sách chỉ nam, 1 quyển, do ngài Đạo Bái soạn vào đời Minh, Qui sơn cảnh sách chú thích kí, 2 quyển, do ngài Hoằng Tán soạn vào đời Minh, Qui sơn cảnh sách cú thích kí chú, 1 quyển, do ngài Đại Hương soạn vào đời Minh.
Quy Sơn Linh Hựu
(潙山靈祐, Izan Reiyū, 771-853): họ là Triệu (趙), xuất thân vùng Trường Khê (長溪), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), vì ông sống ở Quy Sơn (潙山) nên được gọi là Quy Sơn Linh Hựu. Ông cùng với đệ tử Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂) cử xướng Thiền phong rộng rãi, pháp hệ của họ được gọi là Quy Ngưỡng Tông (潙仰宗) và Linh Hựu là vị tổ của tông này. Năm lên 15 tuổi, ông xuất gia, học kinh luật ở Long Hưng Tự (龍興寺) vùng Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang), rồi đến nhập môn với Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海) ở Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và kế thừa dòng pháp của vị này. Cùng đến tham học với ông lúc bấy giờ có Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), cả hai đã làm chấn động Thiền giới thời nhà Đường. Sau Linh Hựu đến dừng chân trú tại Đại Quy Sơn (大潙山), nỗ lực cử xướng tông phong của mình và tạo được nhiều bậc long tượng xuất chúng. Đệ tử đắc pháp của ông có đến 41 người, đặc biệt trong đó Ngưỡng Sơn Huệ Tịch là nhân vật xuất sắc nhất. Bên cạnh đó còn có Hương Nghiêm Trí Nhàn (香嚴智閑), Diên Khánh Pháp Đoan (延慶法端), Kính Sơn Hồng Nhân (徑山洪諲), Linh Vân Chí Cần (靈雲志勤), Vương Kính Sơ Thường Thị (王敬初常侍), v.v. Ông thị tịch vào ngày mồng 9 tháng giêng năm thứ 7 niên hiệu Đại Trung (大中), hưởng thọ 83 tuổi đời và 64 hạ lạp, được ban cho thụy hiệu là Đại Viên Thiền Sư (大圓禪師). Trước tác của ông có Quy Sơn Cảnh Sách (潙山警策) 1 quyển, Đàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục (潭州潙山靈祐禪師語錄) 1 quyển.
quy sơn linh hữu
(潙山靈祐) ( 771- 853) Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Đường, là Sơ tổ của tông Qui ngưỡng, người Trường Khê, Phúc Châu (phía nam huyện Hà phố, tỉnh Phúc kiến), họ Triệu, pháp danh Linh Hựu. Năm 15 tuổi, sư lễ Luật sư Pháp Thường (cũng gọi Pháp hằng) ở chùa Kiến thiện cầu xuất gia, sauthụ giới Cụ túc ở chùa Long hưng tại Hàng châu. Sư từng gặp 2 ngài Hàn Sơn và Thập đắc. Năm 23 tuổi, sư đến Giang Tây tham học ngài Bách Trượng Hoài Hải, trở thành đệ tử thượng thủ, sau được nối pháp của ngài. Cuối năm Nguyên hòa đời vua Hiến Tông, sư đến trụ ở núi Đại qui tại Đàm Châu. Dân chúng trong vùng cảm mến đức độ của sư, chung nhau xây cất 1 ngôi chùa để sư trụ trì, do ông Lí cảnh nhượng tâu xin, chùa được vua ban hiệu là chùa Đồng Khánh. Về sau (có thuyết nói là đầu năm Đại trung), Tướng quốc Bùi Hưu đến hỏi đạo và từ đó tiếng tăm của sư càng vang xa, các thiền sinh và đồ chúng về tham học rất đông. Trong thời pháp nạn Hội xương (846), sư ẩn mình nơi phố phường. Đến niên hiệu Đại trung năm đầu (847), vua ra lệnh khôi phục Phật giáo, đồ chúng đón sư về chùa cũ, sư vẫn để tóc mặc áo thế gian mà nói pháp, chứ không cạo tóc, mặc ca sa. Tướng quốc Bùi Hưu nghe tin này, đích thân đến khuyến thỉnh, sư mới chịu cạo tóc và mặc pháp phục. Sư ở núi Qui sơn 40 năm, mở mang tông phong, người đời gọi sư là Qui sơn Linh Hựu. Năm Đại trung thứ 7 (853), sư thị tịch, thọ 83 tuổi, pháp lạp 64, thụy hiệu là Đại Viên Thiền Sư. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục 1 quyển, Cảnh sách 1 quyển. Đệ tử nối pháp của sư có 41 vị như: Tuệ Tịch, Hồng Nhân, Trí Nhàn... Trong đó, ngài Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch kế thừa môn phong của sư, tập đại thành mà lập nên tông Qui ngưỡng. [X. Tống cao tăng truyện Q.11; Cảnh đức truyền đăng lục Q.9; Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Tông môn thống yếu tục tập Q.7; Phật tổ lịch đại thông tải Q.23; Thích thị kê cổ lược Q.3; Thiền tông chính mạch Q.9].
quy sơn linh hữu thiền sư ngữ lục
(潙山靈祐禪師語錄) Gọi đủ: Đàm Châu Qui Sơn Linh Hựu thiền sư ngữ lục. Cũng gọi: Đại Viên thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Qui sơn Linh Hựu soạn vào đời Đường, Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi biên tập vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép những lời dạy chúng, luận cứu về pháp môn... của ngài Linh Hựu, cho đến những cuộc đối thoại về tông thừa giữa ngài và các vị: Bách trượng Hoài Hải, Tư Mã Đầu Đà, Đặng Ẩn Phong, Vân Nham, Đạo Ngô, Đức Sơn, Thạch Sương, Ngưỡng Sơn, Hương Nghiêm... tất cả chừng 60 điều và phần ghi vắn tắt về việc ngài Linh Hựu thị tịch.
Quy Sơn Linh Hựu
潙山靈祐; C: guīshān língyòu; J: isan reiyū; 771-853;|Thiền sư Trung Quốc trứ danh, môn đệ của Bách Trượng Hoài Hải và thầy của Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Cùng với Ngưỡng Sơn, Sư khai sáng tông Quy Ngưỡng. Sư là vị Thiền sư nổi danh nhất trong thời đó và môn đệ của Sư trên dưới không dưới 1500. Sư có trứ tác Quy Sơn cảnh sách văn, được phổ biến rộng rãi trong giới Thiền cho đến ngày nay.|Sư họ Triệu, quê ở Trường Khê, Phúc Châu. Sư xuất gia năm mười lăm tuổi và chăm học kinh luật Ðại thừa, Tiểu thừa. Ban đầu, Sư đến núi Thiên Thai, chú tâm nghiên cứu các bài luận của hai vị Ðại luận sư Ấn Ðộ Vô Trước và Thế Thân với giáo lí Duy thức. Tương truyền Sư cũng có gặp hai dị nhân trong giới Thiền tại đây là Hàn Sơn và Thập Ðắc. Không rõ là những bài luận nói trên có gây ấn tượng nào trong Sư không, nhưng chỉ ba năm sau đó (khoảng 796), Sư rời Thiên Thai và quyết định tham học với một vị Thiền sư. Sư đến Giang Tây yết kiến Thiền sư Bách Trượng. Bách Trượng thấy Sư liền cho nhập hội, nơi đây Sư đứng hàng đầu.|Một lần, Bách Trượng hỏi Sư: »Ngươi đem được lửa đến chăng?« Sư thưa: »Ðem được.« Bách Trượng hỏi tiếp: »Lửa đâu?« Sư cầm một nhánh cây làm vẻ thổi lửa. Bách Trượng gạt qua và bảo: »Như sâu đục vỏ cây. Nhìn thì như chữ nhưng chẳng có nghĩa gì!« Hôm khác, Sư vừa đứng hầu, Bách Trượng liền hỏi: »Ai?« Sư thưa: »Con, Linh Hựu!« Bách Trượng bảo: »Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?« Sư vạch ra thưa: »Không có lửa.« Bách Trượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa, đưa lên chỉ Sư bảo: »Ngươi bảo không, cái này là cái gì!« Sư nghe vậy hoát nhiên đại ngộ. Bách Trượng bảo: »Ðây là con đường rẽ tạm thời. Kinh nói ›Muốn thấy Phật tính phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như mê chợt ngộ, như quên rồi nhớ lại, mới biết tĩnh vật của mình không từ bên ngoài được.‹ Cho nên Tổ sư bảo ›Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp.‹ Chỉ là không tâm hư vọng phàm thánh. Xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ.« Sư ở lại hầu Bách Trượng khoảng hai mươi năm rồi vâng lời thầy đến núi Quy khai sơn. Nơi đây thú dữ nhiều, Sư bảo chúng: »Nếu ta có duyên nơi đây thì các ngươi đi chỗ khác, còn không duyên thì cứ ăn thịt ta đi.« Sư nói xong, thú dữ đi hết. Dần dần chúng hay tin Sư ở đây rủ nhau đến tham học và thành lập một ngôi chùa, vua đặt tên là Ðồng Khánh. Sư bắt đầu hoằng hoá và cùng với Hoàng Bá Hi Vận, môn phong của Bách Trượng cao vút từ đây.|Có vị tăng hỏi: »Người được Ðốn ngộ có tu chăng?« Sư trả lời: »Nếu người khi thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng không tu là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lí nơi mình, nhưng vẫn còn Tập khí nhiều kiếp từ vô thuỷ chưa có thể chóng sạch, nên dạy hắn trút sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không có nói một pháp riêng dạy hắn tu hành thú hướng. Từ nghe nhập được lí nghe và lí sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm, hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế. Nói tóm lại ›Chỗ lí chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp.‹ Nếu được như vậy là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàm thánh sạch, hiện bày chân thường, lí sự không hai, tức Phật như như.«|Sư thượng đường bảo chúng: »Sau khi Lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái viết năm chữ ›Quy Sơn Tăng Linh Hựu.‹ Khi ấy gọi là Quy Sơn Tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi là Quy Sơn Tăng? Gọi thế nào mới đúng?«|Ðời Ðường niên hiệu Ðại Trung năm thứ bảy (853), ngày mùng 9 tháng giêng, Sư tắm gội xong ngồi kết già viên tịch, thọ 83 tuổi, 64 tuổi hạ. Vua ban hiệu là Ðại Viên Thiền sư, tháp hiệu Thanh Tịnh. Những lời dạy của Sư còn được ghi lại trong Ðàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền sư ngữ lục.
quy sơn linh hựu
Xem Qui Sơn Linh Hựu.
quy sơn tam chủng sinh
(潙山三種生) Ba thứ cơ pháp do ngài Qui sơn Linh Hựu đặt ra để dắt dẫn người học chứng được Đại viên kính trí mà đạt đến cảnh giới tự tại vô ngại. Ba thứ cơ pháp ấy là. 1. Tưởng sinh: Chỉ cho sự suy nghĩ chủ quan, nghĩa là hay suy tư tán loạn. 2. Tướng sinh: Tướng chỉ cho cảnh sở duyên, tức là đối tượng khách quan mà tâm suy nghĩ duyên theo. 3. Lưu chú sinh: Bụi bặm phiền não nhơ nhớp rất nhỏ nhiệm, nối nhau sinh khởi không dứt. Đối với 3 thứ sinh trên, nếu xa lìa, chối bỏ, hoặc nhìn thẳng vào chúng mà dứt khoát đoạn trừ thì có thể chứng được gương trí tròn sáng, đạt đến cảnh giới tự tại. Nhân thiên nhãn mục quyển 4 (Vạn tục 113, 436 hạ) ghi: Ta lấy trí gương làm tông yếu, nêu ra 3 thứ sinh: Tưởng sinh, Tướng sinh và Lưu chú sinh. Kinh Lăng nghiêm nói: Tưởng tướng là bụi bặm, thức tình là cáu bẩn, cả 2 đều xa lìa thì mắt pháp của ngươi tức thời trong sáng, làm sao mà chẳng thành trí giác vô thượng? Tưởng sinh tức là tâm chủ quan tạp loạn; Tướng sinh tức là đối tượng khách quan rõ ràng; còn Lưu chú sinh thì nhỏ nhiệm, đều là bụi bẩn, phải trừ sạch hết mới được tự tại.
Quy Sơn Thiên Hoàng
(龜山天皇, Kameyama Tennō, tại vị 1259-1274): vị Thiên Hoàng sống giữa thời Liêm Thương, vị Hoàng Tử của Hậu Tha Nga Thiên Hoàng (後嵯峨天皇, Gosaga Tennō, tại vị 1242-1246), tên là Hằng Nhân (恒仁, Tsunehito), vị Thiên Hoàng tại vị trong thời gian đại quân Mông Cổ xâm chiếm Nhật.
quy sương
Kuśana (S)Một triều đại tồn tại khoảng đầu công nguyên.
Quy thú 歸趣
[ja] キシュ kishu ||| Conclusion, destination, refuge, way (mārga). => Chỗ kết thúc, nơi đến, nơi nương tựa, đường đi (s: mārga).
quy tiên
To pass away—To die—To go to the paradise.
quy trình tường tham
(歸程祥參) Xoay ánh sáng chiếu rọi trở vào để tham cứu mày mặt xưa nay của chính mình. Đây là yếu cơ của sự tu hành tinh tiến sau khi đã triệt ngộ để giữ gìn Phật đạo. Phổ khuyến tọa thiền nghi (Đại 82, 2 thượng) ghi: Tuy nói là muôn nghìn sai khác, nhưng chỉ cần xoay ánh sáng chiếu rọi trở vào tham cứu cho rõ (qui trình tường tham); tại sao lại bỏ chỗ ngồi của mình để lăng xăng đi lại theo các cảnh trần bên ngoài?.
quy tàng lục
Chuyện ví dụ về con rùa dấu sáu chi trong mai khi thấy cáo vì sợ cáo vồ lấy ăn thịt, trong khi con cáo thấy rùa bèn rú lên, nên cuối cùng rùa thụt vào mai, cáo không ăn được nên phải chết đói—The parable of the tortoise and the jackal, the tortoise hiding its six vulnerable parts, symbolizing the six senses, the jackal wailing and starving to death.
quy tính
1) Thu nhiếp sự tướng hữu vi để trở về với thực tướng chân như—To turn from the world of phenomena to that of eternal reality. 2) Từ bỏ đời sống vật chất để trở về đới sống tâm linh (vốn là bổn tính của vạn hữu): to devote oneself to the spiritual rather than the material.
; (歸性) Trở về chân tính, nghĩa là thu nhiếp tất cả sự tướng hữu vi đưa về chân như thực tính.Tông Pháp tướng chia thể tính của tất cả các pháp làm 4 lớp xuất thể: Nhiếp tướng qui tính thể, Nhiếp cảnh tông thức thể, Nhiếp giả tùy thực thể và Tính dụng biệt luận thể. Trong đó, Nhiếp tướng qui tính thể nghĩa là thu nhiếp tất cả sự tướng hữu vi mà đưa về chân như thực tính vô vi duy nhất; cũng tức là nói rõ tất cả pháp đều là chân như Như lai tạng, ngoài chân như không có pháp nào khác. Đây là nêu chân tính để làm thực thể.
Quy tính 歸性
[ja] キショウ kishō ||| Returning from conditioned appearances to the original nature of true thusness. => Trở về với nhân duyên hiển lộ thể tính chân như.
quy tông chí chi
Kuei tsung Chih chieh (C)Tên một vị sư.
Quy Tông Nghĩa Nhu
(歸宗義柔, Kisu Gijū, khoảng giữa thế kỷ thứ 10): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, pháp từ của Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益). Ông làm trú trì đời thứ 13 của Quy Tông Tự (歸宗寺) ở Lô Sơn (廬山, Huyện Cửu Giang) thuộc Tỉnh Giang Tây (江西省).
Quy Tông Trí Thường
(歸宗智常, Kiso Chijō, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, ông theo tham học với Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và kế thừa dòng pháp của vị này, sau đó đến trú tại Quy Tông Tự (歸宗寺) trên Lô Sơn (廬山) và chuyên tâm giáo hóa chúng đạo tục. Sau khi viên tịch, ông được ban cho thụy hiệu là Chí Chơn Thiền Sư (至眞禪師).
Quy Tông Trí Thường
歸宗智常; C: guīzōng zhìcháng; J: kishū chijō; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ nối pháp của Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất và là thầy của Thiền sư Cao An Ðại Ngu, người đã làm cho cho Lâm Tế ngộ được pháp của Hoàng Bá.|Sử sách không ghi rõ Sư quê quán ở đâu, chỉ biết rằng Sư đại ngộ nơi Mã Tổ và cùng rời Tổ với các vị Nam Tuyền, Trí Kiên… Sau, Sư trụ tại chùa Quy Tông ở Lô Sơn.|Sư dạy chúng: »Các bậc cổ đức từ trước không phải chẳng hiểu biết, các Ngài là bậc cao thượng chẳng đồng hạng thường. Người thời nay không thể tự thành tự lập, để tháng ngày qua suông. Các ngươi chớ lầm dụng tâm, không ai thế được ngươi, cũng không có chỗ ngươi dụng tâm. Chớ đến người khác tìm, từ trước chỉ nương người khác mà hiểu, nói ra đều kẹt, ánh sáng không thấy suốt, chỉ vì trước mắt có vật.«|Ðại Ngu đến từ biệt Sư. Sư hỏi đi đâu, Ðại Ngu trả lời: »Ði các nơi học Ngũ vị thiền.« Sư bảo: »Các nơi có Ngũ vị thiền, ta trong ấy chỉ có Nhất vị thiền.« Ðại Ngu hỏi: »Thế nào là Nhất vị thiền« Sư cầm gậy đánh, Ðại Ngu hoát nhiên đại ngộ, thưa: »Ngưng, con hội rồi.« Sư quát: »Nói! Nói!« Ðại Ngu vừa suy nghĩ trả lời Sư liền đánh đuổi ra. Ðại Ngu sau thuật lại lời này với Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Hoàng Bá thán phục, nói với chúng: »Mã Ðại sư sinh ra tám mươi bốn vị thiện tri thức, hỏi đến thì cả thảy đều chậm lụt, chỉ có Quy Tông là khá hơn một chút.«|Sư vào vườn hái rau, sẵn tay vẽ một vòng tròn quanh một bụi rau và bảo chúng: »Không được động đến cái này!« Tất cả chúng đều không dám động. Sau đó, Sư trở lại bụi rau, thấy bụi rau còn nguyên, Sư bèn cầm gậy đuổi chúng, bảo: »Cả bọn mà chẳng có một người trí huệ.«|Một vị quan tên Lí Bột đến hỏi: »Kinh sách nói ›Hạt cải để trong núi Tu-di‹, Bột không nghi, lại nói ›Núi Tu-di để trong hạt cỏ‹, phải là nói dối chăng?« Sư hỏi lại: »Người ta đồn Sử quân đọc hết muôn quyển sách phải chăng?« Lí Bột đáp: »Ðúng vậy«. Sư hỏi tiếp: »Rờ từ đầu đến chân bằng cây dừa lớn, muôn quyển sách dể chỗ nào?« Lí Bột nghe rồi lặng thinh.|Sư có một vị đệ tử – vị này sau nổi danh với tên Ðại Thiền Phật Trí Thông – với một cơ duyên giác ngộ rất kì đặc. Một đêm, Ðại Thiền la lớn: »Tôi đại ngộ rồi!« Chúng nghe như vậy đều giật mình. Sáng hôm sau, Sư hỏi: »Ðêm qua ai đại ngộ hãy bước ra?« Ðại Thiền bước ra, nói: »Chính con.« Sư hỏi: »Ông thấy đạo lí gì mà nói đại ngộ?« Ðại Thiền thưa: »Sư cô vốn là phụ nữ.« Sư im lặng chấp nhận.|Không biết Sư tịch năm nào. Sau khi tịch, Sư được sắc phong là Chí Chân Thiền sư.
quy tông trảm xà nhân duyên
(歸宗斬蛇因緣) Tên công án trong Thiền tông. Nhân duyên Qui tông chém rắn. Công án này thuật lại câu chuyện Thiền sư Trí Thường ở chùa Qui tông vào đời Đường, muợn nhân duyên chém rắn để nói lên cái cơ pháp tự tại vô ngại. Chương Qui tông Trí thường trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 3 (Vạn tục 138, 49 thượng) ghi: Một hôm, sư đang giẫy cỏ, có vị tăng chuyên giảng kinh luận đến hỏi đạo, bỗng có con rắn bò qua, sư liền dùng cuốc chặt đứt. Vị tăng nói: Nghe tiếng Qui tông đã lâu, thì ra chỉ là 1 sa môn hạnh thô! Sư nói: Ông thô hay ta thô? Vị tăng hỏi: Thế nào là thô? Sư dựng đứng cái cuốc. Vị tăng hỏi: Thế nào là tế? Sư làm tư thế chém rắn. Vị tăng lại hỏi: Dựa vào đâu mà làm như thế? Sư nói: Việc đó hãy tạm gác đã, nhưng ông do đâu mà thấyta chém rắn? Vị tăng không đáp được. [X. Tổ đường tập Q.15; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7].
quy tông tự
(歸宗寺) Chùa ở chân núi nam Lô Sơn, huyện Tinh Tử, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Ngôi chùa này do Hữu tướng quân Vương Hi chi phá bỏ nhà cũ của mình để xây cất chùa vào năm Hàm khang thứ 6 (340) đời Đông Tấn, cúng dường Tam tạng Phật đà da xá. Khoảng năm Nguyên hòa (806-820) đời Đường, Thiền sư Trí Thường lại xây dựng thêm. Các văn nhân như Bạch lạc thiên, Vương bột... cũng thường đến hỏi đạo. Về sau, chùa trở thành Thiền viện. Năm Thái bình hưng quốc thứ 9 (984) đời Tống, ngài Đạo Thuyên làm Trụ trì, đạo, tục qui tụ rất đông, môn phong phát đạt. Sau, các ngài Khắc văn, Chính hiền, Đàm hoa, Tuệ nam... nối nhau trụ trì, chùa trở thành một đại đạo tràng của Thiền gia. Hiện nay, các kiến trúc trong chùa như Đại hùng Bảo điện, Tì lô điện, Thiên vương điện... vẫn còn đầy đủ. Sân chùa có đài lư hương kiểu đời Tống, trên đỉnh núi phía sau chùa tương truyền có tháp Xá lợi do ngài Phật đà da xá kiến tạo, cảnh trí rất thanh thoát. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Tống cao tăng truyện Q.17; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7, 20, 23, 26; Cổ kim đồ thư tập thành phương chức điển thứ 870;Sơn xuyên điển thứ 138].
quy tông đạo thuyên
Kuei tsung Tao chuan (C)Tên một vị sư.
quy tư
Kucha (skt)—Câu Chi—Khưu Tư—Một vương quốc và thành phố cổ nằm về mạn đông của Trukestan. Được ghi nhận là sinh quán của Ngài Cưu Ma La Thập—An ancient kingdom and city in eastern Turkestan. It is recorded as the native place of Kumarajiva.
; (龜茲) Phạm: Kucìna. Cũng gọi Khưu tư, Khuất chi, Câu chi nang, Câu di, Khúc tiên, Khổ xoa. Tên một nước xưa ở Tây vực (nay thuộc vùng Trung á). Tên gọi hiện nay là Khố xa (Kucha), là đô thành trọng yếu ở phía nam Thiên sơn thuộc Tân cương. Bắt đầu từ thế kỉ thứ III, Qui tư là nơi Phật giáo thịnh hành, dân cư thuộc chủng tộc Aryan. Vương thất lấy chữ Bạch làm họ, thế lực rất mạnh, văn hóa tiến bộ. Đời Đường, Trung quốc đặt Qui tư làm phủ Đô hộ. Từ đời Nam Bắc triều đến đời Đường, những người xuất gia nước ngoài sống tại Trung Quốc phần nhiều xuất thân từ Qui tư, trong đó có ngài Cưu ma la thập rất nổi tiếng. Cứ theo Đại đườngtây vực kí thì Qui tư thịnh hành Phật giáo Tiểu thừa, nhưng căn cứ vào những kinh điển do các vị Tam tạng của nước này đưa đến Trung quốc để dịch thì bao gồm cả kinh điển Đại thừa và Mật giáo, vì thế nên biết Qui tư cũng hoằng truyền Phật giáo Đại thừa. Khoảng thế kỉ thứ X về sau, nước này trở thành lãnh địa của người Thổ nhĩ kì. Thời gần đây, người ta đào được nhiều kinh điển bằng chữ Qui tư (Kuchean) và các cổ vật. Năm 1890, Thượng úy Bower, người Anh, đã phát hiện tại đây những kinh điển Phật bằng tiếng Phạm chép tay rất xưa, viết trênvỏ cây Hoa theo hình lá bối; ông F. Weber cũng tìm được những bản sách thuốc chép tay bằng chữ Qui tư, theo thứ tự gọi là Văn thư Bower (Bao nhĩ), Văn thư Weber (Vi bá). Về sau, các học giả Nhật, Nga, Đức... nhiều lần đào được những mảnh kinh điển Phật bằng chữ Qui tư như kinh Đại bát niết bàn, kinh Pháp cú, kinh Cổ thành tỉ dụ, kinh Bi hoa, Thập tụng tỉ khưu giới bản... Về cách gọi tiếng Qui tư, giữa các học giả phương Tây cũng có những ý kiến khác nhau, hoặc gọi là tiếng Thổ hóa la (Tokhàrì), hoặc gọi là tiếng Thổ lỗ phiên (Turfanisch), hoặc được gọi là Sprach I để phân biệt với tiếng Vu điền. Còn trong dịch âm của kinh Phật Hán dịch thì có 1 số dịch âm của chữ Phạm có lẽ dịch âm từ tiếng Qui tư, như chữ Sa môn tiếng Phạm là Zramaịa, tiếng Qui tư là samane; Ba dật đề tiếng Phạm là Pàyatika, tiếng Qui tư làpàyti... Về dịch ý thì như từ Ngoại đạo tiếng Phạm là mithyàdfwỉi, hàm ý là cái thấy sai lầm; tiếng Qui tư làparnaĩĩe, hàm ý là ngoài. Cho nên biết, trong kinh điển Phật, có 1 số kinh Hán dịch không phải đã dịch thẳng từ nguyên bản tiềng Phạm mà là dịch từ các bản dịch tiếng Phạm của những Thổ ngữ vùng Trung á như tiếng Qui tư, Vu điền... [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55; bài tựa kinh Thập lực; bài tựa kinh Pháp hoa; Lương cao tăng truyện Q.1; Tống cao tăng truyện Q.3; Xuất tam tạng kí tập Q.7; Thủ lăng nghiêm hậu kí Q.8; Chính pháp hoa kinh kí Q.13; An huyền phó truyện Q.14; Cưu ma la thập truyện; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Đại đường tây vực kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.4; Phạm ngữ tạp danh; Hậu hán thư Ban siêu truyện; Đường thư Tây vực liệt truyện thứ 146; Minh sử liệt truyện thứ 220; Khâm định tân cương thức lược; Qui tư Vu điền đích nghiên cứu (Vũ điền hanh, Sử lâm thứ 2, phầm 3); On yuan Chwang, vol. I, by T. Watters; Buddhist Records of the Western World, vol. I by S. Beal]. (xt. Bao Nhĩ Văn Thư).
quy tạng lục
(龜藏六) Rùa giấu 6 chi (đầu, đuôi và 4 chân) vào trong mai. Cứ theo kinh Pháp cú thí dụ quyển 1: Thuở xưa, có 1 đạo nhân tu đạo dưới gốc cây bên sông, nhưng trong 12 năm mà vẫn chưa trừ được vọng niệm, 6 căn tham nhiễm không dừng, khó có thể vào đạo, đức Phật liền hóa làm vị sa môn đến độ cho đạo nhân này, Ngài dùng hình ảnh con rùa thu rút đầu, đuôi và 4 chân giấu vào trong mai để bảo vệ mệnh sống, ví dụ cho chúng sinh thu nhiếp 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý không để cho 6 trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp bên ngoài làm nguy hại. Đại minh tam tạng pháp số quyển 28 giải thích về Qui tàng lục như sau: 1. Rùa rút đầu vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn mắt, không cho thấy sắc thì không bị tất cả sắc trần làm nguy hại. 2. Rùa rút chân trái đàng trước vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn tai, không cho nghe tiếng thì không bị tất cả thanh trần làm nguy hại. 3. Rùa rút chân phải đàng trước vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn mũi không cho ngửi mùi thì không bị tất cả hương trần làm nguy hại. 4. Rùa rút chân trái đàng sau vào trong mai, ví dụ cho chúng sinh thu nhiếp căn lưỡi, không cho nếm vị thì không bị tất cả trần làm nguy hại. 5. Rùa rút chân phải đàng sau vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn thân, không cho giác xúc thì không bị tất cả xúc trầnlàm nguy hại. 6. Rùa rút đuôi vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn ý, không cho biết pháp thì không bị tất cả các pháp trần làm nguy hại.Ngoài ra, trong các kinh A hàm, Niết bàn... cũng có thí dụ này, đều dùng để răn dạy người tu hành nên tự thu nhiếp tâm mình, dứt bặt vọng tưởng, không để cho ma chướng oán địch làm hại. Kinh Tạp a hàm quyển 43 (Đại 2, 311 hạ) nói: Thuả xưa, có một con rùa ở trong một bãi cỏ ven sông, một con dã can đói bụng đi tìm thức ăn, từ xa trông thấy con rùa liền chạy đến bắt, thấy vậy, lập tức rùa rút đầu, đuôi và 4 chân vào trong mai, dã can ngồi rình, chờ cho rùa ló đầu và chân ra để ăn thịt. Dã can ngồi đợi rất lâu mà rùa chẳng thèm ló đầu, cũng không thò chân, dã can đói quá, bực mình bỏ đi. Này các Tỉ Khưu! Hôm nay các ông cũng cần biết như thế, ma Ba tuần thường chờ cơ hội thuận tiện để hại các ông, đợi lúc các ông mắt đắm nhìn sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân giác xúc, ý nhớ nghĩ các pháp, muốn cho 6 căn của các ông đắm nhiễm 6 cảnh. Bởi thế, các Tỉ Khưu! Hôm nay các ông thường phải chấp trì an trụ trong nhãn luật nghi, chấp trì an trụ trong nhãn căn luật nghi thì ác ma Ba tuần chẳng có cơ hội làm hại, lúc đó tùy ý xuất, duyên, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế; đối với 6 căn của các ông, dù xuất dù duyên, ma Ba tuần đều không có dịp làm hại, giống như con rùa không để cho dã can có được cơ hội. Bấy giờ đức Thế tôn liền nói kệ rằng: Con rùa sợ dã can/Rút sáu chi vào mai/Tỉ khưu khéo nhiếp tâm/Giấu kín các giác tưởng/Không theo, không sợ chúng Giữ tâm, chớ nói năng.
quy tắc
Regulation—Rule.
quy tội
To shift away the blame upon someone.
quy tục
Hoàn tục—To return to lay life.
; (歸俗) Người xuất gia không phạm tội lỗi mà tự nguyện trở về với đời sống thế tục, gọi là Qui tục, còn người vì phạm giới cấm mà bị đuổi về đời thì gọi Hoàn tục. Tuy nhiên, qui tục và hoàn tục cũng có khi bị dùng lẫn lộn.[X. môn Tội trách trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Hoàn Tục).
Quy y
歸依; T: kyabdro; Quy y trong Phật giáo Tây Tạng.|Trong mỗi tông phái của Phật giáo Tây Tạng, lễ quy y rất quan trọng, là điều kiện tiên quyết của mọi tu học về Pháp (s: dharma). Quy y của Phật giáo Tây Tạng có khác biệt so với Quy y Tam bảo trong Tiểu thừa hoặc Ðại thừa. Ba đối tượng quy y thông thường là: 1. Phật, 2. Pháp (dharma), 3. Tăng (saṅgha). Trong Kim cương thừa được lưu hành tại Tây Tạng thì ngoài Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), còn thêm một đối tượng nữa là Lạt-ma, vị đạo sư. Trong một số trường phái, người ta có thể có đến sáu đối tượng quy y, tức là ngoài Tam bảo còn có thêm: 4. Lạt ma, 5. Hộ Thần (t: yidam) và 6. Không hành nữ (s: ḍākinī).|Tầm quan trọng của Phật như là đạo sư và Tăng là giáo hội do Ngài xây dựng lên để truyền bá giáo pháp đã được xác lập rất sớm và xem như nhãn quan Phật giáo. Với sự thành hình của Ðại thừa, tính chất quan trọng của đức Phật lịch sử giảm đi và thay vào đó là »Phật quả« có tính chất bao trùm, vượt thời gian. Ðến Kim cương thừa, thì vị đạo sư lại trở nên quan trọng, đó là vị hoá thân của »Phật quả«.|Trong giáo pháp Tan-tra, người ta luôn luôn nhấn mạnh tính chất quan trọng của đạo sư, là người giúp hành giả trong các phép tu khó khăn. Kim cương thừa xem vai trò của đạo sư như là đối tượng quy y thứ tư và quan điểm cho rằng vị đó là hiện thân của Tam bảo bắt nguồn trực tiếp từ các phép tu của trường phái này. Thời gian Kim cương thừa truyền qua Tây Tạng cũng là thời điểm người ta bắt đầu thiết lập việc quy y đạo sư. Tiểu sử của Na-rô-pa (t: nāropa) và Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) còn ghi lại rất rõ điều này. Ngay cả A-đề-sa cũng nhấn mạnh đến việc quy y Lạt-ma và vị vậy ông được tặng danh hiệu »Quy y học giả« (kyabdro paṇḍita). |Trong các tông phái Tây Tạng, khi hành giả chuẩn bị thiền quán phải để ý đến phần quy y và phát Bồ-đề tâm. Tương truyền rằng Na-rô-pa quy y như sau: »Tâm ta là Phật hoàn toàn, Khẩu ta là Pháp hoàn toàn, Thân ta là Tăng hoàn toàn.«
quy y
Skyabs (T), Saraṇagāmāna (P), Kyabdro (T), Saraṇa (P), Take a refuge in.
; To turn to and rely on, or believe in Buddhism. (I) Nghĩa của Quy-Y—The meanings of Taking Refuge: Tin vào Phật giáo và về nương nơi ba ngôi Tam Bảo. Được nhận làm đệ tử tại gia sau nghi thức sám hối và lập lại những lời một vị Tăng về quy y—To take refuge in the Triratna—An admission of a lay disciple, after recantation of his previous wrong belief and sincere repetition to the abbot or monk of the Three Refuges. ** For more information, please see Tam Quy-Y in Vietnamese-English Section. (II) Những lời Phật dạy về Quy-Y trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Taking Refuge in the Dharmapada Sutra: 1) Vì sợ hãi bất an mà đến quy-y thần núi, quy-y rừng cây, quy-y miễu thờ thọ thần—Men were driven by fear to go to take refuge in the mountains, in the forests, and in sacred trees (Dharmapada 188). 2) Nhưng đó chẳng phải là chỗ nương dựa yên ổn, là chỗ quy-y tối thượng, ai quy-y như thế khổ não vẫn còn nguyên—But that is not a safe refuge or no such refuge is supreme. A man who has gone to such refuge, is not delivered from all pain and afflictions (Dharmapada 189). 3) Trái lại, quy-y Phật, Pháp, Tăng, phát trí huệ chơn chánh—On the contrary, he who take refuge in the Buddhas, the Dharma and the angha, sees with right knowledge (Dharmapada 190). 4) Hiểu thấu bốn lẽ mầu: biết khổ, biết khổ nhân, biết khổ diệt và biết tám chi Thánh đạo, diệt trừ hết khổ não—With clear understanding of the four noble truths: suffering, the cause of suffering, the destruction of suffering, and the eighfold noble path which leads to the cessation of suffering (Dharmapada 191). 5) Đó là chỗ quy-y an ổn, là chỗ quy-y tối thượng. Ai quy-y được như vậy mới giải thoát khổ đau—That is the secure refuge, the supreme refuge. He who has gone to that refuge, is released from all suffering (Dharmapada 192).
; (歸依) Phạm: Zaraịa . Pàli: Saraịa. Quay về nương tựa 3 ngôi báu, Phật, Pháp, Tăng. Qui y trong tiếng Phạm hàm nghĩa là cứu giúp, cứu hộ, tức là uy lực của công đức qui y Tam bảo có năng lực giữ gìn, che chở, dắt dẫn người qui y, làm cho họ dứt nỗi sợ hãi lớn lao về sinh tử luân hồi vô tận mà trút bỏ được tất cả khổ não. Theo pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng, phần cuối thì Qui nghĩa là quay trở về, tức từ bỏ thầy tà mà quay trở về vớithầy chân chính; Y nghĩa là nương tựa, nhờ vào, tức nương tựa vào linh giác của tâm mà ra khỏi được 3 đường ác và thoát ly vòng sinh tử trong 3 cõi. Luận A tì đạt ma đại tì bà sa quyển 34 (Đại 27, 177 thượng) nói: Mọi người vì bị nỗi sợ hãi bức bách nên quay về nương tựa vào các núi non, vườn rừng, lùm cây, gò đất...Sự qui y này không hay, không quí, vì nó không giúp người ta thoát đượccác nỗi khổ não. Trái lại, những người qui y Phật, quiy Pháp, qui yTăng, đối với Tứ thánh đế thường dùng trí tuệ quán xét, biết khổ, biết nguyên nhân của khổ, biết xa lìa các khổ, biết Bát thánh đạo đưa tới Niết bàn an lạc. Sự qui y này là thù thắng nhất, tôn quí nhất, nhờ sự qui y này mà trút bỏ được các thống khổ. Bởi vì qui y là do lòng tin sâu xa tha thiết, tin chắc rằng 3 ngôi báu Phật, Pháp, Tăng là nơi chân chính để quay về nương tựa, nhờ vào đó mà có được các công đức. Đã biết Tam bảo có các công đức như thế mới lập nguyện làm 1 đệ tử của Phật, tin nhận vâng làm, khẩn cầu uy đức Tam bảo gia trì nhiếp thụ, đem cả thân tâm mình qui thuộc về Tam bảo và không còn thuộc về thiên ma ngoại đạo nữa. Nói một cách phổ thông thì qui y là lòng tin tưởng, mong cầu sức giúp đỡ từ bên ngoài, nhờ tha lực mà được cứu độ. Nhưng nói theo ý nghĩa sâu xa nhất của việc qui y thì cuối cùng vẫn là quay về với tâm tính của chính mình. Như trên hội Niết bàn, đức Phật đã răn dạy các đệ tử: Hãy nương tựa vào chính mình, nương tựa vào chính pháp, chứ đừng nương tựa vào bất cứ ai hoặc nơi nào khác. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.5 (bản Bắc); luận Câu xá Q.14; luận Hiển tông Q.20]. (xt. Tam Qui Y).
quy y ngũ giới
Nghi thức để trở thành một Phật tử tại gia—The ceremony which makes the recipient an upasaka (Ưu bà tắc—Male disciple) or upasika (Ưu bà di—Female disciple).
quy y pháp
Quy-y thọ pháp—Harman-saranam-gacchami (skt)—Về nương với Phật Pháp—To take refuge in the Dharma or to take refuge in the Dharma and receiving the law.
quy y phật
Buddham-saranam (skt)— Về nương với Phật— To take refuge in the Buddha.
quy y tam bảo
(I) Ý nghĩa của quy-y—The meanings of Taking Refuge: 1) Về nương với Phật, Pháp, Tăng. Người thành tâm quy y Tam Bảo sẽ không còn sa vào các đường dữ nữa. Hết kiếp người sẽ được sanh vào các cõi trời—To take refuge in the Triratna, or to commit oneself to the Triratna, i.e. Buddha, Dharma, Sangha (Buddha, his Truth, and his Order)—To trust the Triratna (Buddha—Dharma—Sangha)—Those who sincerely take refuge in Buddha, Dharma and Sangha shall not go to the woeful realm. After casting human life away, they will fill the world of heaven. 2) Đãõ là Phật tử thì phải quy-y ba ngôi Tam Bảo Phật Pháp Tăng, nghĩa là cung kính nương về với Phật, tu theo giáo pháp của Ngài, cũng như tôn kính Tăng Già. Phật tử thệ nguyện không quy y thiên thần quỷ vật, không thờ tà giáo, không theo tổn hữu, ác đảng. Quy y là trở về nương tựa. Có nhiều loại nương tựa. Khi con người cảm thấy bất hạnh, họ tìm đến bạn bè; khi âu lo kinh sợ họ tìm về nương nơi những niềm hy vọng ảo huyền, những niềm tin vô căn cứ; khi lâm chung họ tìm nương tựa trong sự tin tưởng vào cảnh trời vĩnh cửu. Đức Phật dạy, không chỗ nào trong những nơi ấy là những nơi nương tựa thật sự cung ứng cho ta trạng thái thoải mái và châu toàn thật sự. Đối với người Phật tử thì chuyện quy-y Tam Bảo là chuyện cần thiết. Lễ quy-y tuy là một hình thức tổ chức đơn giản, nhưng rất quan trọng đối với Phật tử, vì đây chính là bước đầu tiên trên đường tu học để tiến về hướng giải thoát và giác ngộ. Đây cũng là cơ hội đầu tiên cho Phật tử nguyện tinh tấn giữ ngũ giới, ăn chay, tụng kinh niệm Phật, tu tâm, dưỡng tánh, quyết tâm theo dấu chân Phật để tự giúp mình ra khỏi sanh tử luân hồi—Any Buddhist follower must attend an initiation ceremony with the Three Gems, Buddha, Dharma, and Sangha, i.e., he or she must venerate the Buddha, follow his teachings, and respect all his ordained disciples. Buddhists swear to avoid deities and demons, pagans, and evil religious groups. A refuge is a place where people go when they are distressed or when they need safety and security. There are many types of refuge. When people are unhappy, they take refuge with their friends; when they are worried and frightened they might take refuge in false hope and beliefs. As they approach death, they might take refuge in the belief of an eternal heaven. But, as the Buddha says, none of these are true refuges because they do not give comfort and security based on reality. Taking refuge in the Three Gems is necessary for any Buddhists. It should be noted that the initiation ceremony, though simple, is the most important event for any Buddhist disciple, since it is his first step on the way toward liberation and illumination. This is also the first opportunity for a disciple to vow to diligently observe the five precepts, to become a vegetarian, to recite Buddhist sutras, to cultivate his own mind, to nurture himself with good deeds, and to follow the Buddha's footsteps toward his own enlightenment. i) Quy-y Phật là về nương tựa nơi Phật Bảo, là vững lòng tu tập, tin tưởng để có thể trở nên giác ngộ như Đức Phật: To take refuge in the Buddha is a confident acceptance of the fact that one can become fully enlightened just as the Buddha. ii) Quy-y Pháp là về nương tựa nơi Pháp bảo, là học hiểu Tứ Diệu Đế, là đặt trọn cuộc sống của mình trên con đường Bát Chánh Đạo: To take refuge in the Dharma means understanding the Four Noble Truths and basing one's life on the Noble Eight fold Path. iii) Quy-y Tăng là về nương nơi Tăng bảo, là tìm sự hỗ trợ, hướng dẫn tu học Bát Chánh Đạo từ các vị chân tu: To take refuge in the Sangha means looking for support, inspiration and guidance from all who walk the Noble eight fold Path. (II) Nghi thức quy-y—The Buddhist Initiation Ceremony: 1) Khung cảnh lễ quy-y—The place for the Buddhist Initiation Ceremony: Nghi thức quy-y nên tổ chức đơn giản, tùy theo hoàn cảnh mỗi nơi. Tuy nhiên, khung cảnh lễ cần phải trang nghiêm, trên là điện Phật, dưới có Thầy chứng tri, chung quanh có sự hộ niệm của chư Tăng ni, các Phật tử khác, và thân bằng quyến thuộc: The initiation ceremony must be simple, depend on the situation of each place. However, it must be solemn. It is led by Buddhist Master who would grace it by standing before the altar decorated with the Buddha's portrait, with the assistance of other monks and nuns, relatives, and friends. 2) Về phần bản thân của vị Phật tử quy-y cần phải trong sạch, quần áo chỉnh tề mà giản dị: As for the initiated, he must be clean and correctly dressed. 3) Lễ quy-y—The Buddhist Initiation Ceremony: Đến giờ quy-y, theo sự hướng dẫn của Thầy truyền trao quy-giới, phát nguyện tâm thành, ba lần sám hối cho ba nghiệp được thanh tịnh—Under the guidance of the Master, he must recite three times the penance verses in order to cleanse his karmas. i) Đệ tử xin suốt đời quy-y Phật, nguyện không quy-y Thiên thần, quỷ vật: As a Buddhist disciple, I swear to follow in Buddha's footsteps during my lifetime, not in any god, deity or demon. ii) Đệ tử xin suốt đời quy-y Pháp, nguyện không quy-y ngoại đạo tà giáo: As a Buddhist disciple, I swear to perform Buddhist Dharma during my lifetime, not pagan, heretic beliefs or practices. iii) Đệ tử xin quy-y Tăng, nguyện không quy-y tổn hữu ác đảng: As a Buddhist disciple, I swear to listen to the Sangha during my lifetime, not evil religious groups. 4) Đức Phật đã nói, “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành.” Ý nói trong chính chúng ta tiềm ẩn Phật tánh chưa được xuất hiện, nên khi ta đã quy-y Tam Bảo bên ngoài, chúng ta cũng phải quy-y Tam Bảo trong tâm của chúng ta, vì vậy chúng ta phải nguyện: The Buddha had said: “I am a realized Buddha, you will be the Buddha to be realized,” meaning that we all have a Buddha-nature from within. Therefore, after having taken the initiation with the Three Gems, we must repeat the above vows, addressing this time the inner Buddha, Dharma, and Sangha. i) Đệ tử nguyện xin tự quy-y Phật (nghĩa là Phật trong tâm): As a Buddhist disciple, I vow to take refuge in the inner Buddha ii) Đệ tử nguyện xin tự quy-y Pháp (nghĩa là Pháp trong tâm): As a Buddhist disciple, I vow to take refuge in the inner Dharma. iii) Đệ tử nguyện xin tự quy-y Tăng (nghĩa là Tăng trong tâm): As a Buddhist disciple, I vow to take refuge in the inner Sangha. ** For more information, please see Tam Quy-Y in Vietnamese-English Section.
quy y thọ pháp
See Quy Y Pháp.
quy y tăng
Sangham-saranam-gacchami—Take refuge in the Sangha.
Quy y 歸依
[ja] キエ kie ||| Same as 歸命. To trust in absolutely; to rely upon without any trace of doubt. To have full and perfect trust in the Buddha's teaching. To "turn to and rely upon." (śaraṇa). (2) To venerate the Three Treasures of Buddhism (the Buddha, the dharma and the sangha). => Đồng nghĩa với Quy mạng 歸命. Tin tưởng một cách tuyệt đối; tin tưởng không một chút nghi ngờ. Có niềm tin đầy đủ và trọn vẹn vào Phật pháp. 'Quay về nương tựa'. Tôn quý tam bảo của Phật pháp (Phật, pháp, tăng).
quy định
To define—To stipulate.
quy ước
Xem Thế tục.
Quy 歸
[ja] キ ki ||| (1) To return (to one's original place). (2) To return something, to give it back. To come again. (3) To go home. (4) To lean on, to follow, accord with. To depend upon, rely on, count on, trust in. (5) That which can or should be trusted in, such as Buddha's teachings. => 1. Quay về (nơi xuất phát). 2. Trả lại điều gì, giao lại cái gì. Đến một lần nữa. 3. Trở về nhà. 4. Nương tựa vào, đi theo, hòa hợp với. Tin vào, nhờ vào, được quan tâm đến, tin tưởng vào. 5. Điều mà người ta có thể hoặc nên tin vào, như Phật pháp.
quyên
To subscribe to a charity—To collect money for a charity purpose.
Quyên cát
(蠲吉): tắm rửa sạch sẽ, thọ trì trai giới, chọn ngày tốt lành. Như trong tác phẩm Kim Liên Ký (金蓮記), phần Trùng Biếm (重貶), của Trần Nhữ Nguyên (陳汝元, ?-?) nhà Minh có câu: “Mông chỉ an trí, quyên cát khởi trình (蒙旨安置、蠲吉起程, mong chiếu chỉ yên trí, chọn ngày tốt khởi hành).” Hay trong Dạ Đàm Tùy Lục (夜譚隨錄), phần A Trĩ (阿稚), của Hòa Bang Ngạch (和邦額, 1736-?) nhà Thanh lại có câu: “Bất tất quyên cát, kim nhật tiện giai, tức khả hoán tế lai bái đưỡng dã (不必蠲吉、今日便佳、卽可喚婿來拜堂也, không cần chọn ngày tốt, hôm nay cũng tốt rồi, tức có thể gọi chàng rễ đến bái đường được).”
quyên góp
Fund raising.
quyên luyến
(圈攣) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quyển là chuồng để nuôi thú; Luyến là dây buộc hoặc dây câu. Trong Thiền tông, từ ngữ này được dùng để ví dụ bậc thầy tiếp hóa những người học có căn cơ linh lợi, nhạy bén, cần phải dùng phương pháp đặc biệt khéo léo để dắt dẫn, bắt giữ, giống như người đời thả câu dùng mồi ngon để nhử bắt cá lớn, hoặc dùng cái chuồng chắc chắn để giữ những con mãnh thú săn bắt được, đề phòng chúng sổng chuồng, ví như giữ cho người học khỏi trở thành ngông cuồng. Trong trường hợp này, cái cơ pháp mà bậc thầy hay dùng nhất là Viên tướng (tướng tròn), tức dùng tay hoặc phất trần, như ý, gậy...vẽ trong hư không hoặc trên mặt đất 1 hình tròn, biểu thị chân lí tuyệt đối, chân như, Phật tính, thực tướng, pháp tính...để làm phương tiện dẫn phát cơ khai ngộ của người học. Bích nham lục tắc 33 (Đại 48, 172 hạ) nói: Khi câu được con ba ba thì phải dùng 1 sợi dây (luyến) để buộc nó lại. [X. Bích nham sao; Bích nham lục Phương ngữ giải].
quyên phi nhu động
(蜎飛蠕動) Chỉ cho loài sinh vật rất nhỏ bé. Quyên phi: Chỉ cho loài trùng nhỏ bay đi trên không như ruồi muỗi; Nhu động: Chỉ cho loài trùng nhỏ có dáng ngọ ngoạy như dòi bọ... Theo Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 3 thì tất cả loài hữu tình, dù nhỏ bé như loài dòibọbay đi, ngọ ngoạy, đức Phật cũng đều hóa độ. [X.phẩm Phát ý thụ tuệ trong kinh A súc Phật quốc Q.thượng; kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác Q.1].
quyên tiền
To subscribe money—To take up a collection.
quyên trợ
To subscribe money.
quyến dụ
To lure—To attract—To seduce—To entice.
quyến luyến
To attach—To love.
quyến rũ
To Allure—To lure—To enchant—To seduce—To attract.
quyến sách
(罥索) Phạm: pāśa. Pàli: pāsa. Hán âm: Bá xả, Bá xa, Ba xá. Cũng gọi Kim cương tác, Quyên tác, Quyên võng, Quyên sách, Bảo tác, Châu tác.Gọi tắt: Tác. Một loại dây dùng để chiến đấu hay săn bắt. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 61, thì quyên tác (sách) là sợi dây thừng, khi chiến đấu, dùng để tròng bắt người, hoặc tròng vào đầu ngựa, chân ngựa để bắt nó, tục gọi là dây treo, thòng lọng. Thông thường được se bằng những sợi chỉ 5 màu, 1 đầu thêm cái vòng, đầu kia thêm nửa cái chày 1 chĩa (tức là hình nửa cái chày 1 chĩa); hoặc cả 2 đầu đều thêm nửa chày 1 chĩa. Trong Mật giáo, Quyên tác là1dụng cụ dùng để giáo hóa những kẻ cứng đầu ương bướng và hàng phục 4 loài ma, tượng trưng cho 4 nhiếp phương tiện, là vật cầm trong tay của Bất động Minh vương, Bất không quyên sách Quán âm, Thiên thủ Quán âm và Kim cương tác bồ tát. Như Bất động Minh vương tay phải cầm gươm sắc, tay trái cầm quyên tác là tượng trưng ý nghĩa trước dùng dâyTứ nhiếp trong tâm bồ đề thanh tịnh trói buộc chúng sinh để dắt dẫn, sau dùng gươm trí tuệ trong tâm bồ đề để đoạn diệt chủng tử vô minh căn bản của chúng sinh. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 633 trung) nói: Sở dĩ cầm dao sắc, dùng dây buộc (quyên tác) là vâng mệnh phẫn nộ của Như lai, muốn giết hết tất cả chúng sinh. Dây buộc là 4 nhiếp phương tiện trong tâm bồ đề, dùng dây này để trói những kẻ không hàng phục, dùng dao trí tuệ sắc bén chặt đứt mệnh nghiệp thọ vô cùng, khiến cho được đại vô sinh. Bồ tát Kim cương tác trong Tứ nhiếp bồ tát cũng dùng tay phải cầm dây buộc, biểu thị nghĩa bắt trói tất cả chúng sinh, khiến ra khỏi chỗ bùn lầy ứ đọng của trí Tam ma địa thực tế Nhị thừa, mà đặt trong cung điện pháp giới của Giác vương. Tay của Thiên thủ Quán âm cầm dây buộc, gọi là Quyên tác thủ (tay dây buộc). Ngoài ra, Quyên tác cũng có nghĩa là giữ gìn, che chở, cho nên nếu đeo ở cổ thì được phúc diệt tội. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; kinh Bất không quyên sách đà la ni tự tại vương chú Q.hạ; kinh Để lí tam muội da Q.thượng; Tuệ lâm âm nghĩa Q.17, 29, 69].
quyến thuộc
Xem Phụ tùy.
; Bà con dòng họ, đặc biệt nói về quyến thuộc của chư Thiên hay chư Phật—Relatives—Family—Retinue, retainers, especially the rtinue of a god, Buddha, etc.
; (眷屬) Phạm, Pàli: Parivàra. Chỉ cho người gần gũi, thuận theo. Quyến là thân ái, Thuộc là lệ thuộc. Theo luận Đại trí độ quyển 33 thì đức Phật có Đại quyến thuộc và Nội quyến thuộc. Nội quyến thuộc chỉ cho những người như: Xa nặc, Cù tì da ... lúc Phật chưa xuất gia, 5 người theo hầu khi Ngài xuất gia tu khổ hạnh và tôn giả A nan...sau khi Ngài đắc đạo. Còn Đại quyến thuộc thì chỉ cho các ngài Xá lợi phất, Mục kiền liên...và các vị bồ tát Di lặc, Văn thù sư lợi...Ngài Thiện Đạo chia quyến thuộc của đức Phật làm 2 loại: Tại gia và xuất gia. Đức Phậtcó 4 người chú, bác là tại gia, gọi là Ngoại quyến thuộc, còn các đệ tử Phật là người xuất gia thì gọi là Nội quyến thuộc. Nếu nói theo nghĩa rộng thì phàm là người nghe pháp thụ giáo đều là quyến thuộc của Phật. Lại nữa, tâm sở và 4 tướng kèm theo trí tuệ thanh tịnh vô lậu mà khởi, cũng gọi là quyến thuộc. Luật tụngPàli chia làm 5 bộ phận, trong đó, bộ phận cuối cùng, cũng gọi là Quyến thuộc, tức là bộ phận bổ túc của Luật tụng. [X. Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.2; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6, hạ; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.13; Đại nhật kinh sớ Q.1].
quyến thuộc bát nhã
(眷屬般若) Lục độ vạn hạnh tương ứng với diệu tuệ, trợ lực phát ra quán chiếu Bát nhã, 1 trong 5 loại Bát nhã. Chân trí vô tướng là quán chiếu Bát nhã, cũng chính là trí tuệ vô lậu thanh tịnh có năng lực soi thấy tất cả đều không, cho đến thể tướng bình đẳng, đây là tự tính của Bát nhã, giúp làm phát ra Bát nhã quán chiếu. Từ Bát nhã này lưu xuất ra các pháp Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp cho đến Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến, đều là quyến thuộc của tuệ tính quán chiếu, vì thế gọi là Quyến thuộc bát nhã. [X. Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Kim cương toản yếu san định kí Q.2, Đại minh tam tạng pháp số Q.20]. (xt. Ngũ Chủng Bát Nhã).
quyến thuộc công đức
(眷屬功德) Một trong 17 thứ làm đẹp cõi nước thuộc 29 loại trang nghiêm Tịnh độ cực lạc. Các Thánh chúng vãng sinh Tịnh độ Cực lạc là quyến thuộc của đức Phật A di đà, đều từ hoa Chính giác của Ngài hóa sinh, bình đẳng như nhau, không có hơn kém; cõi nước có đầy đủ những công đức trang nghiêm này, gọi là Quyến thuộc công đức.Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 830 trung) nói: Khiến cho tất cả người trong cõi nước tôi đều sinh ra từ hoa thanh tịnh của Như lai, quyến thuộc bình đẳng, không có sai khác. Nguyên nhân khởi Tịnh độ này là vì thấy thế giới của chúng sinh do các nghiệp tạp nhiễm chiêu cảm, muôn nghìn sai khác, nên chỗ thác sinh nhơ nhớp, hơn kém không đồng, buồn vui sướng khổ theo đó mà khởi. Đức Phật A di đà thương xót chúng sinh mới thành tựu loại trang nghiêm này, khiến những người vãng sinh đều từ trong hoa sen thanh tịnh vô lậu hóa sinh, tất cả đều như nhau, không hơn kém.[X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; luận Tịnh độ (Thiên thân)].
quyến thuộc diệu
(眷屬妙) Diệu thứ 9 trong Tích môn thập diệu của kinh Pháp hoa do tông Thiên thai lập ra. Tức chỉ cho những người trong các kiếp quá khứ từng đã thụ trì giáo pháp của Như lai, nay đến hỗ trợ Như lai trong việc giáo hóa. Những quyến thuộc này của Như lai được chia làm 5 loại đều chẳng thể nghĩ bàn, nên gọi là Quyến thuộc diệu: 1. Lí tính quyến thuộc: Chỉ cho hết thảy chúng sinh. Vì chúng sinh và Phật thể tính như nhau, bình đẳng không khác, nên dù có kết duyên hay không, đều là Phật tử. 2. Nghiệp sinh quyến thuộc: Chỉ cho những người kiếp trước nhờ thiện nghiệp nghe pháp, mà đời này gặp Phật nghe pháp và được độ. Những chúng sinh này kiếp trước kết duyên với đức Phật Đại thông, nên đời này đều được hóa độ. 3. Nguyện sinh quyến thuộc: Chỉ cho những chúng sinh ở các kiếp trước từng đã phát nguyện, nguyện được sinh vào thời đại đức Phật ấy ra đời. Những chúng sinh này, theo nguyện kiếp trước mà đời nay sinh đến đây, bất luận là thân hay oán, đều được thấy Phật nghe pháp. 4. Thần thông quyến thuộc: Chỉ cho chúng sinh đời trước từng được gặp Phật mà phát chân trí, nhưng vẫn chưa dứt hết phiền não, còn phải thụ sinh lần nữa, cho nên, hoặc đang ở cõi trời, hay đang ở các phương khác, nay nghe Phật xuất thế, hoặc do nguyện lực, hoặc nhờ sức thần thông mà sinh đến cõi này, bất luận là thân hay oán, đều nhờ sự giúp Phật giáo hóa mà đoạn trừ những hoặc chướng còn lại, để ra khỏi 3 cõi. 5. Ứng sinh quyến thuộc: Chỉ cho những người đã dứt trừ hoặc vô minh mà được pháp thân căn bản, lại dùng thân ứng hóa đến cõi Sa bà, dắt dẫn chúng sinh, khiến họ hướng về Phật đạo. Như Phật mẫu là phu nhân Ma da, con Phật là La hầu la, cho đến các vị Thanh văn...tất cả đều là các Bồ tát pháp thân nội bí ngoại hiện (pháp chứng ngộ bên trong là Bồ tát, bên ngoài hiện tướng Thanh văn), ứng duyên mà đến cõi này. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.6 hạ].
quyến thuộc như lai
Tathāgatas' Family.
quyến thuộc vô minh trụ địa
(眷屬無明住地) Chỉ cho các phiền não ngành ngọn (chi mạt). Nhóm từ này được sử dụng trong luận Ma ha diễn quyển 4. Luận Đại thừa khởi tín chia Vô minh (tức phiền não)làm 2 loại là Căn bản phiền não và Chi mạt phiền não. Căn bản phiền não là tâm tướng nhỏ nhiệm do 1 niệm đầu tiên khởi động trong biển chân như của tâm thức chúng ta. Còn Chi mạt phiền não là những tâm nhiễm cành lá nảy sinh từ trong căn bản phiền não. Ở đây gọi quyến thuộc là đối lại với căn bản. Căn bản vô minh có năng lực rất lớn, có thể giữ chặt các Chi mạt phiền não, hơn nữa, là chỗ nương ở của Chi mạt phiền não cho nên gọi là Căn bản vô minh trụ địa. Nhưng Chi mạt vô minh cũng được gọi là Trụ địa, do 3 nguyên nhân. 1. Trong Chi mạt vô minh có 2 thứ vọng hoặc là Vi tế và Thô cường nương vào nhau. Vì hoặc Vi tế thường giữ chặt hoặc Thô cường, vả lại, làm chỗ nương dựa cho hoặc Thô cường, nên gọi là Trụ địa. 2. Hai hoặc Vi tế và Thô cường cũng thường nắm giữ nhau, nương tựa lẫn nhau. 3. Vì Chi mạt vô minh là pháp bám chặt vào Căn bản vô minh, cho nên nói theo chỗ bám víu thì Chi mạt vô minh cũng có thể được gọi là Trụ địa.
quyến thuộc địa ngục
(眷屬地獄) Tám địa ngục nóng căn bản, mỗi địa ngục có 16 địa ngục nhỏ phụ thuộc. Sau khi chúng sinh chịu các khổ báo ở địa ngục căn bản xong, được đưa đến các địa ngục quyến thuộc để chịu hết những khổ báo còn lại. Có 128 địa ngục quyến thuộc, nếu thêm các địa ngục căn bản (8 địa ngục nóng) nữa thì tất cả có 136 địa ngục (136 nại lạc ca). Về nơi chỗ của 16 địa ngục phụ thuộc, các kinh luận nói có khác nhau. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyền 5, mỗi địa ngục căn bản đều có 16 địa ngục quyến thuộc khác nhau, gọi là Thập lục biệt xứ địa ngục (16 chỗ địa ngục riêng biệt). Đó là: 1. Địa ngục Đẳng hoạt: Gồm 16 chỗ là: Thỉ nê xứ (chỗ phân và bùn), Đao luân xứ (chỗ dao và bánh xe), Ung nhiệt xứ (nơi những cái vò được nung nóng), Đa khổ xứ (chỗ nhiều khổ), Ám minh xứ (chỗ tối tăm), Bất hỉ xứ (chỗ không vui), Cực khổ xứ, Chúng bệnh xứ (nơi nhiều bệnh), Lưỡng thiết xứ (nơi cặp sắt), Ác trượng xứ (nơi gậy ác), Hắc sắc thử lang xứ (nơi những con chuột và chó sói màu đen), Dị dị hồi chuyển xứ (nơi luôn luôn quay chuyển), Khổ bức xứ (nơi khổ làm ngặt), Bát đầu ma tu xứ, Pha trì xứ (nơi chứa nước)và Không trung thụ khổ xứ (nơi chịu khổ trong hư không). 2. Địa ngụcHắc thằng: Gồm 16 chỗ, tên gọi cũng giống như trên. 3. Địa ngục Chúng hợp: Gồm 16 nơi là: Đại lượng thụ khổ não xứ, Cát khố xứ (chỗ cắt, mổ), Mạch mạch đoạn xứ (nơi cắt đứt các gân máu)Ác kiến xứ, Đoàn xứ (chỗ tụ họp), Đa khổ não xứ, Nhẫn độ xứ, Chu tru chu tru xứ (nơi giết chóc), Hà hà hề xứ (nơi tra hỏi), Lệ hỏa xuất xứ (nơi chảy nước mắt nóng), Nhất thiết căn diệt xứ (tất cả các căn đều bị diệt), Vô bỉ ngạn thụ khổ xứ (nơi chịu khổ không có bờ bến), Bát đầu ma xứ (nơi da nổi những mụt màu đỏ), Đại bát đầu ma xứ, Hỏa ông xứ (nơi ngập lửa), Thiết hỏa mạt xứ (nơi mạt sắt nóng). 4. Địa ngục khiếu hoán: Gồm 16 chỗ là: Đại hồng xứ (nơi gào to), Phổ thanh xứ (tiếng kêu khắp nơi), Phát hỏa lưu xứ(nơi chảy ra những sợi tóc lửa), Hỏa mạt trùng xứ (nơi những con trùng bằng lửa nhỏ li ti), Nhiệt thiết hỏa chử xứ (nơi những cái chày sắt nóng),Vũ viêm hỏa thạch xứ(nơi mưa đá lửa), Sát sát xứ (nơi giết chóc), Thiết lâm khoáng dã xứ (nơi đồng hoang rừng sắt), Phổ ám xứ (nơi tối tăm), Ám ma la già ước khoáng dã xứ (nơi đồng hoang Ám ma la già), Kiếm lâm xứ (nơi rừng gươm), Đại kiếm lâm xứ, Ba tiêu yên lâm xứ (nơi rừng chuối bốc lửa), Hữu yên hỏa lâm xứ (nơi có rừng bốc lửa), Hỏa vân vụ xứ (nơi mây, sương lửa) và Phân biệt khổ xứ. 5. Địa ngục Đại khiếu hoán: Gồm có 18 chỗ là: Hống hống xứ (nơi gào rống), Thụ khổ vô hữu số lượng xứ (nơi chịu khổ không có số lượng), Thụ kiên khổ não bất khả nhẫn nại xứ (nơi chịu những khổ não không thể nhẫn nại),Tùy ý áp xứ (nơi tùy ý đè ép), Nhất thiết ám xứ (nơi tối tăm tràn lan), Nhân ám yên xứ (nơi người bị khói ám), Như phi trùng đọa xứ (nơi như trùng bay rơi xuống), Tử hoạt đẳng xứ (nơi sống cũng như chết), Dị dị chuyển xứ (nơi di chuyển luôn luôn), Đường bố vọng xứ (nơi trông chờ sợ hãi), Song bức não xứ (nơi bức bách khổ não), Điệt tương áp xứ nơi thay phiên đè nhau), Kim cương tủy điểu xứ (nơi chim mỏ kim cương), Hỏa man xứ (nơi vòng hoa lửa), Thụ phong khổ xứ (chịu khổ mũi nhọn đâm), Thụ vô biên khổ xứ, Huyết tủy thực xứ (nơi ăn tủy máu)và Thập nhất viêm xứ. Tất cả có 18 chỗ (nhiều hơn các địa ngục khác 2 chỗ). 6. Địa ngục Tiêu nhiệt: Gồm 16 nơi là: Đại thiêu xứ (nơi cháy lớn), Phân đồ lê ca xứ (nơi Phân đồ lê ca), Long toàn xứ (chỗ rồng xoáy), Xích đồng di nê ngư toàn xứ (chỗ cá Di nê đồng đỏ xoáy), Thiết hoặch xứ (chỗ vạc sắt), Huyết hà phiêu xứ(chỗ sông máu trôi), Nhiêu cốt tủy trùng xứ (chỗ xương tủy nhiều trùng), Nhất thiết thục xứ (chỗ nấu chín tất cả), Vô chung một nhập xứ (nơi chìm xuống hun hút), Đại bát đầu ma xứ (nơi Đại bát đầu ma), Ác hiểm ngạn xứ (nơi bờ hiểm ác), Kim cương cốt xứ(nơi xương kim cương), Hắc thiết thằng nhận giải thụ khổ xứ (nơi chịu khổ bị dây sắt nóng quấn), Na ca trùng trụ ác hỏa thụ khổ xứ (nơi chịu khổ trói vào cột lửa bị trùng ca na rỉa rúc), Ám hỏa phong xứ (nơi gió lửa tối tăm) và Kim cương thích phong xứ (nơi mũi nhọn kim cương đâm). 7. Địa ngục Đại tiêu nhiệt: Gồm 16 nơi là: Nhất thiếtđại tiêu nhiệt xứ (nơi tất cả lửa đốt), Đại thân ác hống khả úy xứ (nơi thân ác to lớn gào thét đáng sợ), Hỏa kế xứ (nơi búi tóc lửa), Vũ sa hỏa xứ (nơi mưa cát lửa), Nội phí nhiệt xứ (nơi nóng sôi bên trong trào lên), Tra tra tra tê xứ (nơi kêu tra tra tra), Phổ thụ nhất thiết tư sinh khổ não xứ (nơi chịu tất cả khổ não của cuộc sống), Tì đa la ni hà xứ (nơi sông Tì đa la ni), Vô gián ám xứ (nơi không bao giờ có chút ánh sáng), Khổ man xứ (nơi chịu các nổi khổ triền miên), Vũ lũ man đẩu tẩu xứ (nơi mưa lửa liên miên), Man khối ô xứ, Bi khổ hống xứ (nơi kêu gào khổ thảm), Đại bi xứ, Vô bi ám xứ, Mộc chuyển địa ngục xứ. 8. Địa ngục A tị: Gồm 16 chỗ là: Điểu khẩu xứ (nơi miệng chim), Nhất thiết hướng địa xứ (nơi tất cả hướng xuống đất), Vô bỉ ngạn thường trụ khổ não xứ (nơi chịu khổ não triền miên không bờ bến), Dã can hống xứ (nơi dã can kêu rống), Thiết dã can thực xứ (nơi dã can sắt ăn thịt), Hắc đỗ xứ (nơi bụng đen), Thân dương xứ, Mộng kiến uý xứ (nơi ác mộng), Thân dương thụ khổ xứ, Lưỡng sơn tụ xứ (nơi 2 quả núi ép lại), Hống sinh diêm bà cự độ xứ, Tinh man xứ,Khổ não cấp xứ, Xú khí phú xứ, Khoáng diệp và Thập nhất viêm xứ. Mười sáu địa ngục phụ thuộc của mỗi địa ngục căn bản đều giống nhau, gọi là Thập lục tiểu địa ngục, nhưng tên gọi được ghi trong các kinh luận thì có khác nhau. Như kinh Trường a hàm quyền 19 ghi: Hắc sa (cát đen), Phí thỉ (Phân sôi), Ngũ bách đinh (500 đinh), Cơ (đói), Khát, Nhất đồng phũ (1 chõ đồng), Đa đồng phủ (nhiều chõ đồng), Thạch ma (đá mài), Nùng huyết (máu mủ), Lượng hỏa (lượng lửa), Hôi hà (sông tro), Thiết hoàn (viên sắt), Cân phủ (búa rìu), Sài lang, Kiếm thụ (cây gươm) và Hàn băng (giá lạnh). Kinh Tăng nhất a hàm thì gọi là Thập lục cách tử. Tức là: Ưu bát, Bát đầu, Câu mâu đầu, Phân đà lợi, Vị tằng hữu, Vĩnh vô, Ngu hoặc, Súc tụ, Đao sơn, Thang hỏa, Hỏa sơn, Hôi hà, Kinh cức, Phí thỉ, Kiếm thụ và Nhiệt thiết hoàn. Luận Đại trí độ quyển 16 thì chia 16 địa ngục làm 2 loại: Nhiệt và Hàn. Tám nhiệt là: Khôi khanh (hầm than), Phí thỉ (phân sôi), Thiêu lâm (rừng cháy), Kiếm lâm (rừng gươm), Đao đạo (đường dao), Thiết thích lâm (rừng gai sắt), Hàm hà (sông mặn) và Đồngquyết (cọc đồng). Tám hàn là: Át phù đà, Ni la phù đà, A la la, A bà bà, Hầu hầu, Âu ba ba, Ba đầu ma và Ma ha ba đầu ma. Mỗi địa ngục căn bản đều có 4 cửa, mỗi cửa có 4 chỗ (Tứ tăng), cho nên mỗi địa ngục căn bản lại có thêm 16 địa ngục phụ thuộc, gọi là Thập lục du tăng địa. Như Đường ổi tăng (tăng nướng cháy), Thi phẩn tăng (tăng cứt đái), Phong nhận tăng (tăng dao nhọn), Liệt hà tăng (tăng sông lửa)...Chữ tăng (thêm) hàm ý là địa ngục căn bản dùng 1 khổ cụ(đồ tra tấn)để trừng trị tội nhân, nhưng địa ngục phụ thuộc (quyến thuộc) thì dùng nhiều khổ cụ, cho nên gọi là Tăng. Ngoài ra, về vị trí của 8 địa ngục nóng căn bản có 2 thuyết, cho nên về vị trí của các địa ngục quyến thuộc cũng có 2 thuyết: Các kinh Trường a hàm...cho rằng các địa ngục quyến thuộc ở ngoài núi Thiết vi, còn luận Đại tì bà sa thì cho rằng chúng ở dưới cõi Diêm phù đề. [X. kinh Quán Phật tam muội Q.5; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Câu xá Q.11, luận Du già sư địa Q.4]. (xt. Thập Lục Tiểu Địa Ngục).
Quyến thuộc 眷屬
[ja] ケンゾク kenzoku ||| (1) Followers, adherents; one's entourage. Close attendants, retinue (parivāra, kalatra-bhāva; Tib. ḥkhor). (2) A company, a party, a crowd, a bunch. (mātr-grāma) A category. To be included in a category. To be related to a certain category. 〔二障義、 HPC 1.790a〕 (3) Followers of a buddha or bodhisattva (vibuddha). (4) One of a family. (bāndhava) => 1. Môn đệ, người ủng hộ; người tuỳ tùng. Người tận tuỵ phục dịch, tuỳ tùng (s: parivāra, kalatra-bhāva; t: ḥkhor). 2. Một đoàn nhóm, một hội, một nhóm, một bọn (s: mātr-grāma). Một loại. Bao gồm trong một loại. Liên hệ với nhau cùng trong một loại. 3. Đệ tử của Đức Phật hay của Bồ-tát (s: vibuddha). 4. Người trong cùng một gia đình (bāndhava).
Quyết
決; C: jué; J: ketsu;|Quyết định, ấn định, phán đoán, đồng ý chọn, giải quyết, sắp đặt, xác định.
quyết
Nirnaya (S)Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
quyết chí
To resolve—To determine.
quyết chí tu hành
To determine to cultivate the dharma.
Quyết liễu
決了; C: juéliăo; J: ketsuryō;|1. Quyết định dứt khoát; 2. Hiểu rõ tường tận.
quyết liễu
Decided.
Quyết liễu 決了
[ja] ケツリョウ ketsuryō ||| (1) To decide resolutely. (2) To apprehend perfectly. => 1. Quyết định dứt khoát. 2. Hiểu rõ tường tận.
quyết lòng
See Quyết Chí.
quyết nghi
Giải quyết những nghi hoặc—To resolve doubts—Doubts solved.
Quyết Ngưng
決凝; C: juéníng; J: ketsugyō; K: kyŏrŭng, 964-1053;|Học giả tông Hoa Nghiêm trong thời kì Cao Li (k: koryŏ).
Quyết Ngưng 決凝
[ja] ケツギョウ Ketsugyō ||| Kyŏrŭng (964-1053); a major Hwaŏm scholar of the Koryŏ period. => k: Kyŏrŭng (964-1053); Học giả tông Hoa Nghiêm trong thời kỳ Koryŏ
quyết thắng
To resolve to win.
Quyết trạch
決擇; C: juézé; J: ketchaku;|»Quyết định dứt khoát«, »Quyết định và chọn lựa«. 1. Cắt đứt sạch các nghi ngờ và thông suốt nội dung Tứ diệu đế tìm thấy trong Thánh đạo (聖道, s: viniścaya). Đạt được kết quả Tứ thiện căn (四善根); 2. Chọn lấy điều ưu tú nhất; 3. Rút ra một luận lí, một luận đề; Nói chung là sự thông đạt thực tại và hoá giải vô minh thông qua sự vận dụng trí huệ. Xem Quyết trạch phần (決擇分) và Thuận quyết trạch phần (順決擇分); Tên một phẩm trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra).
quyết trạch
Quyết đoán và lựa chọn (chỉ có Thánh đạo mới giúp được ta quyết đoán hoài nghi và biện biệt Tứ Đế)—Deciding and choosing (only Holy Way or Buddhism can help us decide doubts and distinguish the Four Noble Truths).
; (决擇) Phạm: Nairvedhika. Quyết đoán chọn lựa. Tức là dùng Thánh trí vô lậu quyết đoán các mối ngờ vực và phân biệt chọn lựa tướng Tứ đế. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 nêu 4 loại: Đế quyết trạch, Pháp quyết trạch, Đắc quyết trạch và Luận nghĩa quyết trạch. Luận Hiển dương Thánh giáo quyển 19 trở xuống thì liệt kê: Giới sự quyết trạch, Đế sự quyết trạch, Y chỉ quyết trạch, Chư tĩnh lự quyết trạch, Giác phần quyết trạch, Bổ đặc già la quyết trạch, Quả sự quyết trạch, Công đức quyết trạch và Y chỉ Đại thừa quyết trạch. Đời sau chuyển dùng nghĩa này, khi lựa chọn, phân biệt chính tà, hoặc đoán định các nghi vấn về tông nghĩa thì gọi là Tông ý quyết trạch. [X. luận Du già sư địa Q.12, luận Câu xá Q.23; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.16; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối
Quyết trạch phần
決擇分; C: juézéfēn; J: kechakubun;|Nguyên nhân của việc lựa chọn. Trí huệ vô lậu xuất sinh trong giai vị Kiến đạo, vận hành trong giai vị Tu đạo (修道) và ở quả vị Vô học (無學果). Xem Thuận quyết trạch phần (順決擇分).
Quyết trạch phần 決擇分
[ja] ケッチャクブン kechakubun ||| The causes of selection. The undefiled wisdom that is produced at the stage of the Path of Seeing 見道, and which is active in the Path of Cultivation 修道 and the stage of no more learning 無學果. See also 順決擇分 => Nguyên nhân của việc lựa chọn. Trí huệ vô lậu xuất sinh trong giai vị Kiến đạo, vận hành trong giai vị Tu đạo và ở quả vị Vô học. Xem Thuận quyết trạch phần順決擇分.
Quyết trạch 決擇
[ja] ケッチャク ketchaku ||| "Firm Decision," "decision and selection." (1) The cutting off of doubt and discernment of the marks of the four noble truths that occurs in the stage of the sagely path (聖道) (viniścaya). Attained as a result of the four preparatory practices (四善根). (2) To select the most excellent thing. (3) To conclude an argument. (4) In general, the discernment of reality and dissolution of ignorance through the use of wisdom. See 決擇分 and 順決擇分. (5) The title of a section of the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論. => 'Quyết định dứt khoát', 'Quyết định và chọn lựa'. 1. Cắt đứt sạch các nghi ngờ và thông suốt nội dung Tứ diệu đế tìm thấy trong Thánh đạo (聖道s: viniścaya). Đạt được kết quả Tứ thiện căn (四善根). 2. Chọn lấy điều ưu tú nhất. 3. Giải quyết cuộc tranh luận. 4. Nói chung là sự thông đạt thực tại và hoá giải vô minh thông qua sự vận dụng trí huệ. Xem Quyết trạch phần 決擇分và Thuận quyết trạch phần順決擇分. Tên một phẩm trong Du-già sư địa luận (s: Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論).
quyết tâm
Resolute mind.
quyết tâm sắt đá
Adamantine determination.
quyết tình
To be determined to.
quyết tử vì lý tưởng
To decide to die for a good cause.
quyết tử vì sự tồn vong của đạo pháp
To decide to die for the survival of the (one's) religion.
quyết ý
See Quyết Chí.
quyết ý ba la mật
Aditthana pāramitā (S).
Quyết định
決定; C: juédìng; J: ketsujō;|1. Nhất thiết, tất nhiên. Kiên quyết, chắc chắn (s: bhūta-niścaya; nirvicikitsa, avaśyam); 2. Phán xét, giải quyết, xác định. Sự phán xét, sự giải quyết, sự xác định; 3. Bản tính tiên quyết (về phía thiện hay ác); 4. Các pháp thật sự hiện hữu.
quyết định
Niscaya (S), Samcetana (S), Decision.
; Adhimoksa (S). Determination; firm resolve. Also quyết tâm.
; To be determined—To make up one's mind—Fixed and settled—To decide.
; (决定) Phạm: Nizcaya. Đối lại: Bất định. Cũng gọi Nhất định. Gọi tắt: Định. Nhất định không thay đổi. Cứ theo Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 12, tu hành 6 Ba la mật thì được 6 quyết định, đó là: Bố thí quyết định làm nên nhiều của cải, trì giới quyết định được sinh nơi yên vui, nhẫn nhục thì quyết định không lùi bước, tinh tiến thì quyết định tu tập, thiền định quyết định được định nghiệp và trí tuệ thì quyết định được vô công dụng. [X. luận Câu xá Q.23; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Lục Quyết Định).
quyết định nghiệp
(决定業) Phạm: Vinizcit-Karman. Gọi tắt: Định nghiệp Dối lại: Bất định nghiệp Nghiệp quyết định chịu quả dị thục và quyết định thời phần chịu quả dị thục. Luận Câu xá quyển 15 chia nghiệp Quyết định làm 3 loại là Thuận hiện pháp thụ nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp và Thuận hậu thứ thụ nghiệp. 1.Thuận hiện pháp thụ nghiệp (gọi tắt: Thuận thiện nghiệp): Nghiệp được tạo tác ở đời này tăng trưởng thì ở đời này chịu quả báo dị thục. 2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp (cũng gọi Thuận thứ nghiệp, Thuận sinh nghiệp): Nghiệp tạo tác ở đời này tăng trưởng, qua đời thứ 2 mới chịu quả báo dị thục. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp (cũng gọi Thuận hậu nghiệp): Nghiệp đời này tạo tác tăng trưởng, đến đời thứ 3, đời thứ 4 hoặc trong nhiều đời sau nữa mới chịu quả báo dị thục. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 114 thì các nhà Thí dụ cho rằng tất cả nghiệp đều có thể chuyển, kể cả nghiệp vô gián, tức 3 loại nghiệp Thuận hiện nói trên đều là nghiệp bất định. Tuy nhiên, A tì đạt ma luận sư thì chủ trương 3 nghiệp Thuận bất định thụ là có thể chuyển. Luận Đại tì bà sa còn cho biết có các Luận sư khác lập các thuyết Ngũ nghiệp (5 nghiệp), Bát nghiệp (8 nghiệp)... Ngũ nghiệp là ngoài 3 loại Định nghiệp ra, Bất định nghiệp được chia làm 2 thứ là nghiệp Dị thục quyết định và nghiệp Dị thục bất quyết định, cộng chung thành 5 thứ nghiệp, trong đó chỉ có nghiệp Dị thục bất quyết định là có thể chuyển. Còn thuyết Bát nghiệp là 4 nghiệp Thuận hiện, Thuận sinh, Thuận hậu, Thuận bất định, mỗi nghiệp được chia làm 2 thứ là Di thục quyết định và Dị thục bất quyết định, trong đó, các nghiệp Dị thục quyết định đều không thể chuyển, còn các Dị thục bất quyết định thì đều có thể chuyển được. Tám thứ nghiệp này lại được phân biệt làm 4 câu: Thời phần quyết định dị thục bất định, Dị thục quyết định thời phần bất định, Thời phần quyết định dị thục diệc định và Thời phần bất định dị thục diệc bất định. [X. luận Du già sư địa Q.9, 60; luận Hiển dương thánh giáo Q.19; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4, 7; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.40; Câu xá luận quang kí Q.15; Câu xá luận bảo sớ Q.15; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5, phần cuối]. (xt. Tứ Nghiệp).
quyết định thành phật tập
(决定成佛集) Tác phẩm, 4 quyển, do sư Du lạc thuộc tông Tịnh độ Nhật bản soạn, ấn hành vào năm Chính đức thứ 2 (1712). Nội dung sách này nói rộng về lục đạo, giải thích nghĩa an tâm của tông Tịnh độ Nhật Bản; đồng thời, thu chép nhiều truyện kí của những người Trung quốc và Nhật bản được vãng sinh, có thể dùng làm tư liệu văn hiến để nghiên cứu về Vãng sinh Tịnh độ.
quyết định thành tựu chân ngôn
(决定成就真言) Chỉ cho Chân ngôn trong Mật giáo được sử dụng để biểu thị sự quyết định thành tựu các việc. Chân ngôn ấy là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la dã (Vajràya,kim cương) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu).
Quyết định tâm
決定心; C: juédìngxīn; J: ketsujōshin;|1. Sự quyết tâm; sự cam kết bền vững; tâm không bối rối; 2. Hết sức quyết tâm đạt đến giác ngộ; 3. Theo Du-già sư địa luận thì đây là điều kiện để ổn định tư tưởng xảy ra qua tiến trình nhận thức là theo sau »Tầm cầu tâm« (尋求心).
quyết định tâm
(决定心) Chỉ cho tâm quyết đoán, an định, không lay động. Tổng kết các kinh luận, đại khái có 4 nghĩa sau đây: 1. Theo phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 thì tâm an trụ trong giáo mệnh mà không lay động, gọi là Quyết định tâm. 2. Luận Thập trụ tì bà sa quyển 1 gọi Sở nguyện bất quyện (không thấy mỏi mệt đối với những điều mình đã thệ nguyện tu hành) là Quyết định tâm; tức là tâm mình bất động thì tâm mỏi mệt không sinh, đó là nghĩa quyết định. 3. Theo luận Pháp hoa quyển hạ, nếu đã sinh tâm sợ hãi mà có thể dứt trừ được sự sợ hãi ấythìchính là quyết định tâm. Đấy là nói theo tác dụng của Quyết định tâm. 4. Tịnh độ chân tông của Nhật bản chủ trương tín tâm tin tưởng mạnh mẽ nơi bản nguyện của đức Phật A di đà chính là Quyết định tâm. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 835 trung nói: Lòng tin không chuyên nhất, đó là do không quyết định, trái lại, lòng tin chuyên nhất thì đó là vì có quyết định tâm.
Quyết định tâm 決定心
[ja] ケツジョウシン ketsujōshin ||| (1) Firm resolution; stable commitment; imperturbable mind. (2) The deep resolution to attain enlightenment. (3) In the Yogācārabhūmi-śāstra, a condition of settling into thought that occurs in the process of perpeption, subsequent to the "seeking mind 尋求心." 〔瑜伽論T 1579.30.280a24〕 => 1. Sự quyết tâm; sự cam kết bền vững; tâm không bối rối. 2. Hết sức quyết tâm đạt đến giác ngộ. 3. Trong Du-già sư địa luận, điều kiện để ổn định tư tưởng xảy ra qua tiến trình nhận thức là theo sau 'Tầm cầu tâm 尋求心'
Quyết định tín
決定信; C: juédìng xìn; J: ketsujōshin;|Niềm tin bền vững, đức tin kiên cố.
Quyết định tín 決定信
[ja] ケツジョウシン ketsujōshin ||| Unshakable faith, firm faith. => Niềm tin bền vững, đức tin kiên cố.
quyết định tạng luận
Vinirnita-piṭāka śāstra (S).
; (决定藏論) Phạm: Vinirịìta - piỉaka - zàstra. Luận, 3 quyển, do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Luận này chỉ có 1 phẩm tâm địa, thuộc Đại thừa luận bộ, là bản dịch khác của phẩm Ngũ thức thân tương ứng địa ý địa trong phần Quyết trạch của luận Du già sư địa, tương đương với 4 quyển từ quyển 51 trở xuống của luận này, lời dịch giữa 2 bản dịch này có nhiều chỗ khác nhau. Luận này hoàn toàn không có chú thích, nếu tạm coi Du già sư địa luận lược toản quyển 13 (là chú thích phẩm Ý địa của luận Du già sư địa) là sách sớ giải luận này, thì theo đó, 2 quyển thượng, trung của luận này được chia ra 10 môn để nêu rõ 6 thứ trí thù thắng: Ấm, Nhập, Giới, Tứ đế, Nhân duyên, 22 căn; còn quyển hạ là giải thích rộng về 6 thứ trí thù thắng này. [X. Đại chu san định chúng sinh mục lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Du già luận kí Q.25].
Quyết định tạng luận 決定藏論
[ja] ケツジョウゾウロン Ketsujō zō ron ||| The Juedingzang lun; T 1584.30.1018b-1035b. => (j: Kyŏljŏngjang non; c: Juedingzang lun).
Quyết Định Vãng Sanh Tập
(決定徃生集, Kejjōōjōshū): 2 quyển, do vị Tăng Tam Luận Tông Trân Hải (珍海, Chinkai, 1091-1152) soạn; là thư tịch trích dẫn những đoạn văn xưng tán các kinh điển Tịnh Độ như Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) cũng như Khởi Tín Luận (起信論), v.v., tất quyết định vãng sanh.
quyết định vãng sinh tập
(决定往生集) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Trân hải, vị tăng thuộc tông Tam luận Nhật bản soạn; được thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung sách này trình bày ý nghĩa hành giả niệm Phật quyết định vãng sinh, gồm 3 đại cương: Giáo văn, Đạo lí và Tín tâm. Phần Giáo văn dẫn thuyết trong kinh Quán Vô lượng thọ, kinh Xưng tán tịnh độ và luận Khởi tín, cho rằng đã quyết định thì không do dự nữa, đã nói tức sinh thì chẳngphảibiệt thời ý. Phần Đạo lí thì cho rằng chúng sinh có phần xuất li, chư Phật có công dắt dẫn; người phàm phu nếu nguyện vãng sinh thì được vãng sinh, đó là lẽ thường nhân nhỏ quả lớn, trong ngoài duyên khởi. PhầnTín tâm thì trong Tín tâm quyết định có mở ra 3 thứ: Quả quyết định, Nhân quyết định và Duyên quyết định. Sau đó lại chia 3 quyết định này làm 10 môn là: Y báo quyết định,Chính quả quyết định, Thăng đạo quyết định, Chủng tử quyết định, Tu nhân quyết định, Trừ chướng quyết định, Sự duyên quyết định, Hoằng thệ quyết định, Nhiếp thủ quyết định và Viên mãn quyết định.Trong 10 môn này, thì 3 môn đầu là quả, 3 môn kế là nhân, 3 môn kế nữa là duyên, môn sau cùng là thích. Tác phẩm này có dẫn dụng sớ thích của các ngài: Tuệ viễn, Cát tạng, Khuy cơ, Đạo xước, Thiện đạo, Hoài cảm... [X. Viên quang đại sư hành trạng họa đồ dực tán Q.60; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q.ha].
Quyết định 決定
[ja] ケツジョウ ketsujō ||| (1) Necessarily, naturally. Decidedly, undoubtedly. (bhūta-niścaya; nirvicikitsa, avaśyam). (2) To judge, settle, determine. Judgment, settlement, determination. (3) Predetermined nature (toward goodness or evil). (4) Something truly existing. => 1. Nhất thiết, tất nhiên. Kiên quyết, chắc chắn (s: bhūta-niścaya; nirvicikitsa, avaśyam). 2. Phán xét, giải quyết, xác định. Sự phán xét, sự giải quyết, sự xác định. 3. Bản tính tiên quyết (về phía thiện hay ác). 4. Các pháp thực sự hiện hữu.
Quyết 決
[ja] ケツ ketsu ||| To decide, settle, judge, fix agree upon, resolve, arrange, determine. => Quyết định, ấn định, phán đoán, đồng ý chọn, giải quyết, sắp đặt, xác định.
Quyền
權; C: quán; J: gon; |1. Quyền lực, ảnh hưởng; 2. Phương tiện. Giáo lí tạm thời; 3. Quả cân trong cân đứng; 4. Cân, đo; 5. Ngang bằng, làm cho bằng nhau.
quyền
Weight, authority, power; to balance, adjudge; bias, expediency, partial, provisional, temporary, positional; in Buddhist scriptures, it is used like phương tiện expediency, or temporary; itis the adversative of thực.
; 1) Quyền hạn: Authority—Power. 2) Quyền (tạm): Conditional—Diferential—Temporary—Functional. 3) Trong kinh điển Phật, quyền được dùng như phương tiện tạm thời, đối lại với thực: In Buddhist scriptures, it is used like expediency or temporary; it is adversative of “true” or “permanent.”
quyền bi
Pity in regard to beings in time and sense, arising from the Buddhas.
; Lòng đại bi của chư Phật khởi lên đối với chúng sanh—Pity in regard to beings in time and sense, arising from the Buddhas.
quyền biến
To adapt (adjust) oneself to.
quyền biểu quyết
Deliberation voice.
quyền bất khả xâm phạm
Freedom from arrest.
quyền cao
Supreme authority.
quyền cơ
(權機) Đối lại: Thực cơ. Chỉ cho căn cơ thay thế tạm thời. Trong khi đức Phật thuyết pháp, nếu đối cơ chính nghe nhận pháp ấy không xuất hiện, thì Phật nói cho căn cơ tạm thời thay thế một cách không chính thức nghe. Nghĩa là khi Phật thuyết pháp mà chúng đương cơ có khả năng lãnh hội chân lí một cách như thực chưa xuất hiện, thì Phật tạm thời dùng chúng đương cơ không chính thức làm đối tượng để thuyết pháp, gọi là Quyền cơ.
quyền giáo
Temporary, expedient, or functional teaching, preparatory to the perfect teaching, a distinguishing term of the Thiên Thai and Hoa Nghiêm sects, i.e. the teachings of the three previous periods tạng, thông, biệt which were regarded as preparatory to their own viên giáo.
; Còn gọi là Thiên Giáo hay giáo pháp phương tiện tạm thời, chuẩn bị cho thực giáo. Một từ phân biệt của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm, coi ba giáo Tạng, Thông và Biệt là quyền giáo, chuẩn bị cho Viên giáo hay Thực giáo—Knowledge of the realtive—Temporal, expedient, or functional teaching, preparatory to the perfect teaching, a distinguishing term of the T'ien-T'ai and Hua-Yen, i.e. the teachings of the three previous periods of pitaka, general, and different, teachings which were regarded as preparatory to their own. ** For more information, please see Thiên Giáo in Vietnmaese-English Section.
quyền giả
A Buddha or bodhisattva who has assumed a temporary form in order to aid beings.
; Một vị Phật hay Bồ Tát mang tạm thân trần tục để cứu độ chúng sanh—A Buddha or a Bodhisattva who has assumed a temporary form in order to aid beings—See Quyền Hóa.
; (權假) Đối lại: Chân thực. Tạm thời dùng, xong thì bỏ. Nghĩa là giáo pháp phương tiện mà đức Phật tạm thời sử dụng để dắt dẫn chúng sinh vào giáo pháp chân thực, sau khi thành tựu thì bỏ pháp phương tiện này. Ví như thuyền bè để qua sông, nhờ các bậc thang để lên lầu; cuối cùng khi đến đích rồi, thì phải rời bỏ những công cụ tạm thời đặt ra này. Quyền pháp, Quyền giáo tức là những giáo pháp quyền giả ấy. Theo quan điểm của tông Thiên thai thì kinh Pháp hoa là giáo pháp chân thực, còn các kinh đức Phật nói trước kinh Pháp hoa thì đều là pháp môn quyền giả. Cũng thế, theo quan điểm của Tịnh độ chân tông ở Nhật bản thì hoằng nguyện của đức Phật A di đà là pháp nghĩa chân thực tột cùng; trái lại, những chân môn, yếu môn, cho đến Thánh đạo môn khác... đều thuộc pháp môn phương tiện quyền giả. [X. Ma ha chỉ quán Q.3, hạ; Tịnh độ hòa tán]. (xt. Quyền Thực Nhị Giáo).
Quyền hiện
(權現, gongen): quyền (權) nghĩa là quyền nghi, ứng cơ; hiện (現) là hóa hiện; tức chỉ chư phật bồ tát vì độ khắp chúng sanh mà quyền xảo hóa hiện các loại hình tướng; đồng nghĩa với quyền hóa (權化), quyền tích (權迹), ứng hiện (應現), thị hiện (示現), hóa hiện (化現), v.v. Như trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經, Taishō Vol. 16, No. 665), Phẩm Như Lai Thọ Lượng (如來壽量品) thứ 2, quyển 1 có câu: “Thế Tôn Kim Cang thể, quyền hiện ư Hóa Thân (世尊金剛體、權現於化身, Thế Tôn thể Kim Cang, quyền hiện nơi Hóa Thân).” Hay trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 3, phần Thiệu Hưng Phủ Đông Sơn Giác Thiền Sư (紹興府東山覺禪師), lại có đoạn: “Kim thời tùng lâm, tương vị Quảng Ngạch quá khứ thị nhất Phật, quyền hiện đồ nhi (今時叢林、將謂廣額過去是一佛、權現屠兒, tùng lâm ngày nay cho rằng Quảng Ngạch quá khứ là một vị Phật, hóa hiện làm đồ tể).” Hoặc trong Pháp Hoa Kinh Chỉ Chưởng Sớ (法華經指掌疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 33, No. 631) cũng có đoạn: “Nhiên Đạt Đa tuy xưng quyền hiện, nhân hại Phật cố, bất miễn Địa Ngục chi khổ (然達多雖稱權現。因害佛故。不免地獄之苦, tuy nhiên, Đề Bà Đạt Đa tuy gọi là quyền hiện, nhưng vì hại Phật, nên không thoát khỏi cái khổ của Địa Ngục).” Quyền hiện cũng là một trong những tư tưởng đặc trưng của Phật Giáo Nhật Bản. Sau khi Phật Giáo được vào xứ sở Phù Tang này, Thần Đạo trở thành địa vị phụ thuộc, và đến cuối thời kỳ Bình An (平安, Heian, 794-1185), thuyết gọi là Bản Địa Thùy Tích (本地垂迹, honjisuijaku) bắt đầu thịnh hành. Từ thời Nại Lương (奈良, Nara, 710-794) trở đi, việc tiếp cận với chư thần của Phật Giáo dần dần được tiến hành. Với tư cách là chúng sanh phàm phu đầy phiền não, chư thần linh cũng tôn kính Phật Giáo; cho nên việc đọc kinh trước thần linh, các Thần Cung Tự (神宮寺), Trấn Thủ Tự (鎭守寺) cũng được kiến lập. Vào khoảng đầu thời Bình An, các thần dần dần khai ngộ và địa vị của họ cũng được nâng cao. Tỷ dụ như trường hợp Thạch Thanh Thủy Bát Phan Thần (石清水八幡神) đã đạt đến danh hiệu Bồ Tát. Sau đó, trong văn thư của Thái Tể Phủ (太宰府, Dazaifu) gởi cho đền thờ Cừ Khi Bát Phan Cung (筥崎八幡宮, Hakozakihachimangū) vào năm 937 (Thừa Bình [承平] thứ 7), có đoạn văn gọi Bát Phan Thần là quyền hiện. Hay trong tác phẩm Tẩu Thang Duyên Khởi (走湯緣起, Sōtōengi) có các văn thư ghi năm 812 (Hoằng Nhân [弘仁] thứ 3) cũng như 904 (Diên Hỷ [延喜] thứ 4), có thể thấy từ quyền hiện. Đến giữa thời Bình An, chư thần tiến đến rất gần với địa vị của Phật. Trong bức Cúng Dường Nguyện Văn (供養願文) do ca nhân Đại Giang Khuông Hành (大江匡衡, Ōe-no-Masahira, 952-1012) viết khi đến tham bái đền thờ Nhiệt Điền Thần Xã (熱田神社, Atsuta Jingū) ở tiểu quốc Vĩ Trương (尾張, Owari) vào năm 1004 (Khoan Hoằng [寬弘] nguyên niên), ông viết là thùy tích của Nhiệt Điền Quyền Hiện (熱田權現, Atsutagongen). Cũng vào năm thứ 4 (1007) cùng niên hiệu trên, trong ống kinh do Đằng Nguyên Đạo Trưởng (藤原道長, Fujiwara-no-Michinaga, 966-1027) đem thờ trên Kim Phong Sơn (金峯山) có ghi dòng chữ “Tạng Vương Quyền Hiện (藏王權現).” Trong bộ Kim Tích Vật Ngữ Tập (今昔物語集, Konjakumonogatarishū) cũng có xuất hiện từ Hùng Dã Quyền Hiện (熊野權現, Kumanogongen). Việc phổ cập hóa tư tưởng quyền hiện như vậy là đồng thể hóa Phật với Thần; và cho biết rằng đã đến thời kỳ hoàn thành thuyết Bản Địa Thùy Tích. Đến thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333), các đền thờ Thần Xã gọi tên quyền hiện bắt đầu xuất hiện như Địa Chủ (地主), Bạch Sơn (白山), Ái Đãng (愛宕), Xuân Nhật (春日), v.v. Trong tác phẩm Chư Thần Bản Hoài Tập (諸神本懷集, Shojinhongaishū) do Tồn Giác (存覺, Zonkaku, 1290-1373) viết vào cuối thời kỳ Liêm Thương, chia thần thành hai loại là Quyền Xã (權社) và Thật Xã (實社), cho rằng Thần của Quyền Xã là “đức Như Lai xưa kia, vì để mang lại lợi ích cho Bồ Tát, chúng sanh thâm vị, nên giả hiện thân hình thần minh”; song tất cả đều là quay về với sự giáng tích của Phật Di Đà; và cho rằng chư thần của Thật Xã thì cần phải bài xích như là tà thần. Thần Đạo mang tính thần Phật tập hợp vào thời Trung Đại, lấy tư tưởng quyền hiện làm luận cứ quan trọng. Tuy nhiên, sau khi Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu, 1542-1616) qua đời, vị tăng của Thiên Thai Tông là Thiên Hải (天海, Tenkai, 1536-1643) chủ trương thờ phụng đấng quyền hiện và xem đó như là thần hiệu của Gia Khang. Ngoài ra, các Thiên Hoàng Nhật Bản đã từng lấy danh hiệu quyền hiện để ban hiệu sắc hứa cho cấp dưới. Tỷ dụ như Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇, Daigo Tennō, tại vị 897-930) đã ban cho Đằng Nguyên Liêm Túc (藤原鎌足, Fujiwara-no-Kamatari, 614-669) hiệu là Đàm Sơn Quyền Hiện (談山權現); hay Hậu Thủy Vĩ Thiên Hoàng (後水尾天皇, Gomizunō Tennō, tại vị 1611-1629) ban cho Đức Xuyên Gia Khang hiệu là Đông Chiếu Đại Quyền Hiện (東照大權現), v.v.
quyền hiện
Temporary, or ad hoc manifestations, similar to quyền hóa.
; Tạm thời phương tiện hiện ra để cứu độ chúng sanh—Temporary manifestation for saving beings—See Quyền Hóa.
; (權現) I. Quyền Hiện. Đồng nghĩa: Quyền hóa, Quyền tích, Quyền giả, Ứng hiện, Thị hiện, Hóa hiện. Phật và bồ tát dùng phương tiện khéo léo, tạm thời hóa hiện ra các loại hình tướng thích hợp để cứu độ tất cả chúng sinh. Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 1 (Đại 17, 406 hạ) nói: Thể kim cương của Thế tôn, quyền hiện trong hóa thân. Kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển thượng (Đại 17, 902 thượng) nói: Tạm thời hóa hiện, ứng hợp 10 phương. [X. kinh Vu lan bồn; Đại nhật kinh sớ trụ tâm sao thứ 3]. (xt. Quyền Hóa). II. Quyền Hiện. Chỉ cho hóa thân thùy tích, tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Sau khi Phật giáo được truyền bá rộng rãi ở Nhật Bản thì Thần đạo ở vào địa vị phụ thuộc. Vào cuối triều đại Bình An, thuyết Bản địa thùy tích đã rất thịnh hành. Đến đây, các vị thần vốn có từ trước ở Nhật bản đều được coi là thùy tích của Phật và Bồ tát mà gọi các thần là Quyền hiện, tức là sau danh hiệu của các vị thần, thêm vào 2 chữ Quyền hiện để tỏ rằng các vị thần này là do Phật và Bồ tát tùy cơ ứng hóa, khác với các thần thông thường, chẳng hạn như Hùng dã quyền hiện Xuân nhật quyền hiện. Đền thờ các Quyền hiện gọi là Quyền xã, thờ các tà thần như sinh linh, tử linh...gọi là Thực xã. Thuyết này ảnh hưởng rất sâu tư tưởng Thần đạo của Nhật Bản. Ngoài ra, các Thiên hoàng của Nhật Bản cũng dùng từ ngữ Quyền hiện làm danh hiệu sắc ban, như Thiên hoàng Đề hồ ban hiệu Đàm Sơn Quyền Hiện cho Đằng nguyên Liêm túc, Thiên hoàng Thủy vĩ thì ban hiệu Đông Chiếu Đại Quyền Hiện cho Đức xuyên Gia khang... [X.Pháp nhiên thượng nhân hành trạng họa đồ Q.20; Chư thần bản hoài tập].
quyền hiện tạo
(權現造) Cũng gọi Thạch gian tạo. Một trong những kiểu kiến trúc Thần xã ở Nhật Bản; loại kiến trúc này phần nhiều lấy kiểu từ các kiến trúc chùa Phật, mà đặc sắc của nó là nét đơn giản. Thông thường điện của Thần xã có 2 phần là Bản điện và Bái điện. Giữa Bản điện và Bái điện có 1 khoảng trống để xếp những phiến đá, gọi là thạch gian, nối liền 2 điện đường tạo thành hình chữ Công.... Nóc nhà thì dùng kiểu Bát đống tạo theo hình thức Thiên điểu phá phong. Các kiến trúc như Đông chiếu cung miếu, từ thời đại Đào sơn đến đầu thời Giang hộ, đều dùng hình thức kiến trúc này. Nói một cách tổng quát thì đặc sắc của Quyền hiện tạo là ở chỗ trang sức đơn thuần.
quyền hoá
(權化) I. Quyền Hóa. Phạm: Avatàra. Hóa hiện, ứng hiện. Nghĩa là chư Phật và Bồ tát dùng sức thần thông tạm thời hóa hiện các loại thân hình, hoặc các loại vật thể, tùy theo nhu cầu, để cứu độ chúng sinh. Như bồ tát Quán thế âm hóa hiện 32 thân tướng để thu nhiếp chúng sinh, đức Đại nhật Như lai của Mật giáo thì hóa hiện tướng Minh vương phẫn nộ để thức tỉnh những chúng sinh ương ngạnh, khó giáo hóa, cho đến biến hiện các vật như hóa thành...để làm lợi ích và dẫn dắt chúng sinh, như thí dụ Hóa thành trong kinh Pháp hoa. Tư tưởng Quyền hóa đã có ở Ấn Độ từ xưa. Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo, vị thần thường hóa hiện thân hình để thực hiện những mong cầu của nhân loại, cứu vớt người đời qua các nỗi thống khổ và bảo vệ chính nghĩa cho thế gian. Đứng về phương tiện tín ngưỡng mà nói thì Quyền hóa, theo Ấn Độ giáo, là làm cho chúng sinh được giải thoát; còn nói theo quan điểm triết học thì vị thần theo ý hướng của tự thân, dùng tư thái du hí mà hóa hiện ra đời. Trong các thần của Ấn Độ giáo thì thần Ti thấp nô (Phạm: Viwịu) có tính đại biểu đầy đủ nhất của việc thị hiện ở thế gian, thần này có khoảng 10 loại tướng quyền hóa, 3 tướng đầu là hình động vật, tướng thứ 4 là hình nửa người nửa thú, 6 tướng còn lại là hình nhân loại. Ngoài ra, Kì na giáo cũng có tư tưởng quyền hóa, tư tưởng này là sự điều hòa giữa Nhất thần giáo và nhiều hình thái tín ngưỡng khác, chủ yếu là thuyết minh 1 vị thần duy nhất, tuyệt đối dùng các loại hình thái để hóa hiện ở thế gian. Sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, đã nảy sinh tín ngưỡng Pháp thân là bản chất tuyệt đối, tin tưởng rằng Pháp thân dùng Phật, Bồ tát hoặc các loại hình thái khác mà xuất hiện ra thế gian để cứu độ chúng sinh. Trường hợp nổi bật nhất là tín ngưỡng bồ tát Quán thế âm. Trung Quốc, Nhật Bản, Tây tạng và các nước Phật giáo Bắc truyền nói chung, đều tin rằng bồ tát Quán thế âm hóa hiện các loại hình tướng, như 32 thân ứng hóa, để cứu khổ chúng sinh. Đây là tín ngưỡng phổ cập nhất trong dân gian. Chẳng hạn như dân tộc Tây Tạng tin rằng đất nước Tây tạng là trú xứ của bồ tát Quán thế âm và các vị Đạt Lai Lạt Ma tức là hóa thân của Ngài. Ở Nhật Bản, Quyền hóa được xem là đồng nghĩa với ứng hiện, quyền hiện, quyền giả, hóa hiện, thị hiện...Tư tưởng này là sự kết hợp giữa tín ngưỡng thần cách của dân tộc Nhật bản và đối tượng tín ngưỡng của Phật giáo, gọi là thuyết Bản địa thùy tích, như Đại thần Thiên chiếu, Đại thần Bát phan chính là Thùy tích của Như lai Đại nhật và Bồ tát Quán thế âm. [X.phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7; lời tựa Giáo hành tín chứng văn loại]. (xt. Hóa Thân, Bản Địa Thùy Tích, Quyền Hiện). II. Quyền Hóa. Quyền xảo giáo hóa. Đứng về phương diện giáo hóa mà nói thì đức Phật đem Nhất thừa chia ra làm Tam thừa để giáo hóa, gọi là Quyền giáo, nghĩa là giáo hóa một cách khéo léo.
quyền hoá thật hoá
(權化實化) Quyền hóa là sự giáo hóa bằng phương tiện giả tạm; Thực hóa là sự giáo hóa bằng Nhất thừa chân thực. Nghĩa là sự giáo hóa của đức Phật có Quyền pháp và Thực pháp khác nhau. Cứ theo Pháp hoa huyền luận quyển 1 của ngài Cát tạng đời Tùy thì sự giáo hóa trong 1 đời của đức Thích tôn trước sau có 7 môn, trong đó, môn thứ 4 là Thực hóa bất đắc môn, nghĩa là khi đức Phật mới thành đạo, do tâm đại từ bi, Ngài nghĩ phải giáo hóa dắt dẫn chúng sinh bằng lí chân thực, nhưng hàng phàm phu không có năng lực tiếp nhận. Môn thứ 5 là Quyền hóa đắc môn, tức Quyền dụ môn, nghĩa là sự giáo hóa bằng cách chia Nhất thừa ra làm Tam thừa. Môn thứ 6 là Thực hóa đắc môn, nghĩa là sự giáo hóa dần dần theo thứ lớp Tam thừa sắp hoàn thành, cho nên gom Tam thừa lại mà đưa về Nhất thừa. Ngoài ra, trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, hạ của ngài Trí khải còn có thuyết Hóa tha quyền thực cho rằng (Đại 33, 712 thượng): Nếu phân tích các pháp theo 2 trí Quyền và Thực, thì phân biệt vạn tượng là Quyền trí, dứt hết phân biệt vạn tượng là Thực trí, bảo rằng 2 trí này hòa hợp với các duyên, nói theo nhiều cách, tùy theo các thứ ưa muốn, thích nghi, đối trị, rõ biết...mà phân biệt. Tuy nói nhiều thứ, nhiều cách, nhưng đều thuộc về Tích pháp quyền thực (dùng Quyền trí và Thực trí phân tích các pháp), vì thế có 2 trí hóa tha. Đây cũng có thể được xem là một thuyết Quyền hóa và Thực hóa.
quyền hóa
The power of Buddhas and bodhisattvas to transform themselves into any kind of temporal body.
; Quyền Giả—Hóa Giả—Phật lực hay Bồ Tát lực có thể tự hóa thành bất cứ thân trần tục nào để cứu độ chúng sanh—The power of Buddhas and Bodhisattvas to transform themselves into any kind of temporal body in order to aid beings.
quyền hạn
Within competence (authority).
quyền lý
Partial, or incomplete truth.
; Partial or incomplete truth.
quyền lợi
Right—Interest.
quyền lực
Power and influence.
quyền môn
The sects which emphasize phương quảng, i.e. expediency, or expedients; the undeveloped shool.
; Những tông phái nhấn mạnh đến việc dùng phương tiện để cứu độ chúng sanh—The sects which emphasize temporary methods or expedients for saving beings.
quyền mưu
Những phương tiện tạm thời thích hợp với nhu cầu cứu độ chúng sanh—Temporary plans, methods suited to immediate needs—See Quyền Phương Tiện.
quyền năng
Power and capacity.
quyền phương tiện
Expedients of Buddha and bodhisattva for saving all beings.
; Quyền mưu nhất thời của chư Phật và chư Bồ Tát, dùng phương tiện để cứu độ chúng sanh—Expedients of Buddhas and bodhisattvas for saving all beings.
quyền quý
Noble.
quyền tam cương
(權三綱) Đối lại: Chính tam cương. Chỉ cho 3 chức vị trong chúng tăng là: 1. Thượng tọa (Phạm:Sthavira). 2. Tự chủ (Phạm:Vihàra-svàmin). 3. Đô duy na (Phạm: Karma-dàna, cũng gọi Duy na). Ba chức vị này đầu tiên được đặt ra để tự trị trong tăng đoàn ở Ấn độ nhưng không rõ trong chùa có cần phải đặt ra các chức vị này hay không. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 39, vào năm Hiển thánh thứ 2 (675) đời Đường, vua ban sắc xây dựng chùa Tây Minh tại Trường An, bấy giờ, ngài Đạo Tuyên được cử làm Thượng tọa, ngài Thần Thái làm Tự chủ và ngài Hoài Tố làm Duy na.
Quyền thật
(權寔): quyền nghĩa là quyền nghi, chỉ cho phương tiện cần thiết nhất thời; thật là chân thật không dối, sự chân thật tột cùng vĩnh viễn không thay đổi. Quyền thật còn gọi là chân giả. Như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, CBETA No. 1295) quyển 25 có câu: “Đốn tiệm thiên viên, quyền thật không hữu, đinh tủy thiết thiệt, hà mục hải khẩu (頓漸偏圓、權寔空有、釘觜鐵舌、河目海口, đốn tiệm méo tròn, quyền thật không có, mỏ đinh lưỡi sắt, mắt sông miệng biển).” Hay như trong Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh Thiển Chú (大乘本生心地觀經淺註, CBETA No. 367) cũng có câu: “Dĩ thuyết pháp chi công, trang nghiêm tự tánh, quyền thật tự tại, cố tôn vi vương (以說法之功、莊嚴自性、權寔自在、故尊爲王, lấy công đức thuyết pháp, trang nghiêm tự tánh, quyền thật tự tại, nên tôn xưng là vua).”
; 權實; C: quán shí; J: gonjitsu; |»Phương tiện và chân thật«.
quyền thật
Temporal and real; quyền referring to the conditional, functional, differential, or temporary, thật to the fundamental, absolute, or real.
; (權實) Quyền cũng gọi Thiện quyền, Quyền phương tiện, Thiện quyền phương tiện, Giả, Quyền giả, nghĩa là cái phương tiện tạm bợ được đặt ra trong nhất thời, dùng xong thì bỏ; Thực cũng gọi là Chân, Chân thực, nghĩa là cái chân thực rốt ráo không hư dối, vĩnh viễn không thay đổi. Cả 2 được ghép chung gọi là Quyền thực, Chân giả. Từ đó có những cặp dụng ngữ đối nhau như Quyền giáo và Thực giáo, Quyền trí và Thực trí, Quyền nhân và Thực nhân, Quyền quả và Thực quả, Quyền hóa và Thực hóa. Thực giáo là giáo pháp được nói ra đúng thực như pháp tự nội chứng của đức Phật, là giáo pháp căn bản tột cùng; Quyền giáo là giáo pháp phương tiện được đặt ra để dắt dẫn người vào Thực giáo, khi đã đến được cảnh giới của Thực giáo rồi thì phải bỏ Quyền giáo. Thực trí cũng gọi là Chân thực trí, Như thực trí, là trí sáng suốt như thực; Quyền trí cũng gọi là Phương tiện trí, là trí tuệ phát khởi để dắt dẫn hóa độ người khác; Thực nhân chỉ cho hạnh viên đốn; Quyền nhân chỉ cho các hạnh của Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo. Thực quả chỉ cho Đại niết bàn ngầm chứa 3 đức (pháp thân, giải thoát, bát nhã); Quyền quả chỉ cho sự hóa hiện thân vàng cao 1 trượng 6 thước. Thực nhân chỉ cho người thật, còn Quyền nhân là chỉ cho người được biến hóa ra, là do Phật, Bồ tát vì dắt dẫn, cứu độ chúng sinh mà giả hiện tướng mạo người hoặc chư thiên. Thực hóa tức là Phật giáo hóa bằng cách gom Tam thừa đưa về Nhất thừa; Quyền hóa tức là Phật giáo hóa bằng cách chia Nhất thừa ra làm Tam thừa. Tông Thiên thai cho rằng Viên giáo được nói trong kinh Pháp hoa là Thực giáo, còn Thông giáo, Tạng giáo và Biệt giáo được nói trong các kinh khác thì đều thuộc Quyền giáo, cho nên gọi là Tam quyền nhất thực(3 Quyền 1 Thực). Đứng về phương diện bản thể chứng ngộ của Phật mà nói thì Quyền giáo và Thực giáo đều bình đẳng, gọi là Quyềnthực đồng thể. Còn nói theo tác dụng giáo hóa chúng sinh của Phật thì phương pháp tu hành và trình độ giác ngộ của Quyền giáo và Thực giáo có khác nhau, cho nên gọi là uyền thực dị thể. Pháp hoa văn cú quyển 3, thượng, cho rằng có thể dùng 4 câu về quyền, thực để biểu thị trạng thái tồn tại của tất cả sự vật sư sau: -Tất cả các pháp đều là quyền; -Tất cả các pháp đều là thực. -Tất cả các pháp vừa là quyền vừa là thực, -Tất cả các pháp không phải quyền không phải thực. Thập bất nhị môn trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 có lập Quyền thực bất nhị môn, nghĩa là đứng trên lập trường của người mà nói thì 9 cõi từ Bồ tát trở xuống đến địa ngục là Quyền, còn cõi Phật là Thực, gọi là Cửu quyền nhất thực (9 quyền 1 thực); còn nói theo lập trường của giáo pháp thì tuy có chia ra Tam quyền nhất thực(3 quyền 1 thực), nhưng nên quán xét quyền thực viên dung không sai khác. [X. kinh Chính pháp hoa Q.1; Pháp hoa huyền luận Q.4, Ma ha chỉ quán Q.3, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 4, Tứ giáo nghĩa Q.12; Xuất tam tạng kí tập Q.8]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo, Khai Hội).
quyền thật bất nhị môn
The two divisions, the provisional and the perfect are not two but complementary.
; (權實不二門) Tông Thiên thai cho rằng các pháp quyền và thực dung thông nhau, bình đẳng không hai, là 1 trong Thập bất nhị môn. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 14 (Đại 33, 919 hạ) nói: Quyền thực bất nhị môn, nghĩa là trí tuệ rộng lớn bình đẳng, thường chiếu rọi khắp pháp giới, cũng do lí tính 9 quyền 1 thực (tức 9 cõi từ Bồ tát đến địa ngục là quyền, chỉ có 1 cõi Phật là thực), thực ở trong 9 cõi, quyền cũng lại như thế. Quyền thực thầm hợp nhau, trăm cõi một niệm không thể tách rời, nhậm vận thường nhiên. Nghĩa là về mặt lí tính thì tâm phàm phu vốn đầy đủ 9 quyền 1 thực, tức là thực của cõi Phật có đầy đủ quyền của 9 cõi mà quyền của 9 cõi cũng đầy đủ thực của cõi Phật.Do đó, quyền và thực bình đẳng, trăm cõi dung nhiếp, hòa nhập vào nhau, hoàn toàn trong 1 niệm cần yếu này, cho nên, khi quán xét một niệm mà chiếu soi cảnh nhiệm mầu của 3 nghìn thế giới thì có thể thành tựu tu quán sơ tâm, đây là yếu chỉ của pháp môn Quán tâm của tông Thiên thai. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.hạ]. (xt. Thập Bất Nhị Môn).
quyền thật chỉ quán
(權實止觀) Chỉ cho Tam quyền chỉ quán và Nhất thực chỉ quán của tông Thiên thai. Tam quyền chỉ quán là Chỉ quán thiên lệch như Tam tạng quán, Thông quán và Biệt quán trong 4 thời (Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã) 3 giáo (Tạng, Thông, Biệt) do đức Phật nói trước thời Pháp hoa; còn Nhất thực chỉ quán tức là Chỉ quán viên đốn mà đức Phật đã nói trong thời Pháp hoa. Đứng về phương diện quan hệ giữa Tam quyền chỉ quán và Nhất thực chỉ quán mà nói, thìpháp quán đầu là khai, pháp quán sau là hiển, theo ý tông Thiên thai, vì muốn hiển bày (hiển) Nhất thực chỉ quán nên đức Phật mở ra (khai) Tam quyền chỉ quán. Ma ha chỉ quán quyển 3, hạ (Đại 46, 34 thượng) nói: Chư Phật chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời, đó là vì hiển bày Nhất thực chỉ quán mà mở ra Tam quyền chỉ quán. Quyền chẳng phải là bản ý của Phật, mà ý cũng khôngởngoài quyền, cốt mở ra Tam quyền chỉ quán để hiển bày Nhất thực chỉ quán. Đức Phật biết bản tính ưa thích của chúng sinh, cho nên dùng Tứ tất đàn để tùy thuận hóa độ. Trong Tứ tất đàn, đức Phật dùngThế giới tất đàn thuận theo ý muốn của chúng sinh mà nói Tam quyền nhất thực chỉ quán: Nếu người muốn nghe Chính nhân duyên thì nói Tam tạng quán; nếu muốn nghe lí nhân duyên tức không thì nói Thông quán; nếu muốnnghe đạo tu hành trong nhiều kiếp thì nói Biệt quán; nếu muốn nghe diệu lí Tức trung thì nói Viên quán.
quyền thật nhị giáo
(權實二教) Từ gọi chung Quyền giáo và Thực giáo được ghép lại. Quyền giáo cũng gọi là Phương tiện giáo, tức là giáo môn tùy theo ý muốn của chúng sinh mà tạm thời giả đặt (quyền giả) ra để làm phương tiện giáo hóa. Thực giáo cũng gọi là Chân thực giáo, là giáo môn rốt ráo chân thực, vĩnh viễn không thay đổi, tức là giáo pháp được nói ra từ nghĩa chân thực nội chứng của Phật và theo ý của Phật. Nói một cách đại thể thì giáo thuyết của các tông, các phái trong Phật giáo tuy đều là Thánh ngôn chân thực không hư dối, nhưng trong đó có hai hệ thống lớn với chủ trương không giống nhau. Một là hệ thống chủ trương tất cả chúng sinh đều có tính Phật và thừa nhận chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Hai là hệ thống chủ trương chúng sinh có 5 loại căn tính khác nhau và phủ nhận sự thành Phật của Nhị thừa định tính và Hữu tình vô tính trong 5 loại căn tính. Nếu nói theo các kinh luận thì hệ thống 1 thuộc kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn... tức là thuyết Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện; còn hệ thống 2 thì thuộc kinh Giải thâm mật, luận Du già... tức là thuyết Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện. Tông Thiên thai căn cứ theo kinh Pháp hoa mà lập thuyết Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện, gọi kinh Pháp hoa là Thực giáo, các kinh còn lại là Quyền giáo. Ngoài ra còn căn cứ vào Bộ và Giáo mà nói về sự khác nhau giữa Quyền và Thực. Tức là nói theo Giáo thì Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo là Quyền, Viên giáo là Thực; nói theoBộ thì Kiêm, Đãn, Đối, Đới thuộc 4 thời: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã là Quyền; Nhất thực khai quyền thuộc thời Pháp hoa là Thực. Tông Tam luận chủ trương Nhất tính giai thành, tuy cũng lập thuyết Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện, nhưng chủ trương ngoài Tam thừa không có Nhất thừa, cho nên khác với thuyết của tông Thiên thai. Tông Pháp tướng duy thức y cứ vào kinh Giải thâm mật mà chủ trương thuyết Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện, cho rằng thuyết Duy hữu nhất thừa của kinh Pháp hoa chẳng qua là phương tiện được đặt ra để dẫn dắt hàng Thanh văn bất định tính chứ thực ra thì chúng sinh vốn có 5 tính khác nhau, mà giáo, lí, hành, quả của Tam thừa cũng khác, bởi thế tông Pháp tướng duy thức chủ trương thuyết Duy hữu nhất thừa là giáo pháp phương tiện, còn thuyết Tam thừa mới là giáo pháp chân thực. Tông Hoa nghiêm thì cũng giống như tông Thiên thai, cũng chủ trương ngoài Tam thừa còn có pháp Nhất Phật thừa và cho rằng 3 xe ở trong cửa mới là phương tiện, chỉ cho các hư giả, còn xe trâu trắng lớn ở ngoài cửa mới là chân thực. Trong Ngũ giáo (Tiểu thừa giáo, Đại thừa thủy giáo, Đại thừa chung giáo, Đốn giáo, Viên giáo) mà tông Hoa nghiêm phân định thì cho rằng Tiểu thừa là Ngu pháp nhị thừa giáo, Đại thừa thủy giáo là Tam thừa giáo, đều thuộc Quyền giáo; còn Đại thừa chung giáo và Đốn giáo thì vì chủ trương Nhất thừa nhất tính nên tuy có lúc cũng gọi là Thực giáo, nhưng vì không chủ trương Tất cả chúng sinh đều có tri kiến Phật, cho nên chỉ có Lí tính nhân xa chứ không có Quả tính quả xa, do đó vẫn thuộc Tam thừa, cũng là Quyền giáo; chỉ có Biệt giáo Nhất thừa của kinh Hoa nghiêm mới là Thực giáo. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Vô tự tính tướng kinh Giải thâm mật Q.2; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7, thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Ngu thốc sao Q.thượng].
Quyền thật nhị trí
權實二智; C: quánshí èrzhì; J: gonjitsu nichi; |Hai loại trí huệ chư Phật vận dụng. Thật trí (實智), hàm ý nhận thức trực tiếp thực tại như chúng đang là; quyền trí (權智), dùng chân lí tương đối và phương tiện để dẫn dắt mọi người đến chân lí.
quyền thật nhị trí
(權實二智) Cũng gọi Quyền thực nhị tuệ. Quyền trí và Thực trí ghép chung lại. Quyền trí cũng gọi Phương tiện trí, là trí biết rõ pháp Tam thừa quyền hóa; Thực trí, cũng gọi Chân thực trí, Như thực trí, là trí thấu suốt pháp Nhất thừa chân thực. Thực trí thuộc về thể, Quyền trí thuộc về dụng. Đại thừa nghĩa chương quyển 19 cho rằng, dựa theo Đối quyền minh thực (đối với quyền mà rõ được thực) mà luận thì trí rõ biết pháp Nhất thừa chân thực, gọi là Thực trí; còn trí thấu suốt pháp Tam thừa quyền hóa thì gọi là Phương tiện trí. Nói về Phương tiện trí cho rằng, dựa theo Quyền xảo phương tiện (Phương tiện tạm thời khéo léo) mà bàn, thực ra không có việc ấy, nhưng giả đặt một cách khéo léo, cho nên gọi là Phương tiện. Trong đó, Phật có pháp Tam nghiệp phương tiện là: 1. Thân xảo: Vì hóa độ chúng sinh mà tạm thời giả hiện các thân hình một cách khéo léo như Phật, vượn, nai, ngựa... 2. Khẩu xảo: Thực không có Tam thừa sai khác, nhưng tùy thuận căn cơ của chúng sinh mà tạm nói pháp Tam thừa. 3. Ý xảo: Nghĩ về sự hành hóa phương tiện khéo léo của chư Phật quá khứ, ta nay đã đượcđạo, cũng nên tuyên thuyết pháp Tam thừa. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2, thượng (Đại 33, 693 thượng) nói: Phật pháp không ngoài quyền thực, pháp ấy rất sâu xa mầu nhiệm, khó thấy khó thấu suốt, tất cả loài chúng sinh, không thể nào biết rõ Phật, vì thực trí của Phật rất sâu xa vi diệu. Còn các pháp khác của Phật cũng không thể suy lường mà biết được, vì quyền trí của Phật rất vi diệu. Hai pháp ấy duy Phật với Phật mới có thể cùng suốt được thực tướng của chúng. Cũng Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, hạ, cho rằng hai trí quyền thực có thể được chia làm 7 loại: Tích pháp quyền thực, Thể pháp quyền thực, Thể pháp hàm trung quyền thực, Thể pháp hiển trung quyền thực, Biệt quyền thực, Biệt hàm viên quyền thực và Viên quyền thực. Bảy loại quyền thực trí này mỗi loại chia ra 3 thứ: Tự hành quyền thực, Hóa tha quyền thực và Tự hành hóa tha quyền thực, tổng hợp lại có 21 loại quyền thực. Ngoài ra, Mật giáo lấy đài hoa sen ở chính giữa Mạn đồ la Thai tạng giới làm Thực trí và lấy 8 cánh sen nở rộ làm Quyền trí. [X. Pháp hoa huyền luận Q.4; Pháp hoa huyền tán Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.6; Ma ha chỉ quán Q.3 hạ]. (xt. Quyền Thực).
Quyền thật nhị trí 權實二智
[ja] ゴンジツニチ gonjitsu nichi ||| The two kinds of wisdom employed by the buddhas: The true wisdom 實智, which implies the direct perception of reality as it is, and expedient wisdom 權智, which uses relative truths and expedient means to lead people to the real truth. => Hai loại trí huệ chư Phật vận dụng. Thật trí, hàm ý nhận thức trực tiếp thực tại như chúng đang là; quyền trí 權智, dùng chân lý tương đối và phương tiện để dẫn dắt mọi người đến chân lý.
quyền thật tứ cú
(權實四句) Bốn câu phân biệt do tông Thiên thai lập ra để nói rõ về quyền thực. 1. Tất cả pháp đều quyền: Chỉ cho tất cả pháp đều có ngôn thuyết, mà ngôn thuyết ấy là cái cơ quan năng thuyên; đối với thực lí sở thuyên mà nói, thì đó gọi là Quyền giả. 2. Tất cả pháp đều thực: Cái chân thực chính là ở sự chứng nhập, mà tất cả ngôn thuyết đều lấy sự chân thực chứng nhập ấy làm gốc, cho nên gọi tất cả pháp đều thực. 3. Tất cả pháp vừa quyền vừa thực: Hợp 2 câu nói ở trên lại thì bên năng thuyên là Quyền; bên sở thuyên là Thực. Như phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa, khi nói về thực tướng các pháp, cho rằng các pháp là Quyền, thực tướng là Thực, mà các pháp tức Thực tướng, thể của chúng chẳng phải là 2, cho nên gọi là vừa quyền vừa thực. 4. Tất cả pháp chẳng phải quyền chẳng phải thực: Thể của tất cả pháp chính là lí Trung đạo nhiệm mầu, lí này dứt bặt nói năng, cho nên gọi là chẳng phải Quyền chẳng phải Thực. Bốn câu phân biệt quyền thực trên đây chính là hiển bày yếu chỉ phá lập của kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa văn cú Q.3].
quyền thật đồng thể di thể
(權實同體异體) Tông Thiên thai cho rằng Quyền giáo và Thực giáo là bình đẳng không hai, gọi là Quyền thực đồng thể, trái lại, Quyền giáo và Thực giáo khác nhau thì gọi là Quyền thực dị thể. Trong đó, Quyền thực đồng thể là nói theo ý của Phật, tức là từ Nhất Phật thừa mà chia ra nói thành Tam thừa, bảo rằng Quyền của Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Thực của Viên giáo là bình đẳng không hai, cùng là một thể. Còn Quyền thực dị thể là nói theo tác dụng giáo hóa tùy thuận của Phật đối với hữu tình, nghĩa là quá trình tu chứng của Tạng, Thông, Biệt, Viên đều khác nhau. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.17; Tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.1].
Quyền thật 權實
[ja] ゴンジツ gonjitsu ||| 'Expedient and True.' => Phương tiện và chân thật'.
quyền thế
Power and influence—Authority.
quyền thừa thật quả
(權乘實果) Thừa phương tiện và quả chân thực, do tông Chân ngôn Nhật bản chủ trương. Tông Chân ngôn lập ra thuyết Thập trụ tâm, 9 trụ tâm đầu là Quyền thừa, trụ tâm thứ 10 là Thực quả. Tông Chân ngôn cho rằng các tông Duy thức, Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai...là Quyền thừa (giáo pháp phương tiện), Phật của các tông này đều là Quyền Phật của nhân vị (còn ở địa vị tu nhân), chứ chưa phải là Chân Phật, chỉ có Pháp thân Phật của Trụ tâm thứ 10 mới là Phật quả chân thực.
quyền thực
Quyền pháp và thực pháp—Temporal and real. 1) Quyền: Pháp tạm thời thích ứng với nghi cơ—Conditional—Functional—Temporary—Provisional. 2) Thực: Pháp cứu cánh bất biến—Fundamental—Absolute—Real—Perfect.
quyền thực bất nhị môn
Quyền và thực không hai, mà là bổ khuyết cho nhau—The two divisions of provisional and the perfect, are not two but complementary.
quyền thực nhị trí
Thực trí và quyền trí (Phật pháp chẳng ra khỏi quyền thực nhị trí)—The knowledge or wisdom of reality and that of relative—See Thực Trí, and Quyền Trí.
Quyền trí
權智; C: quánzhì; J: gonchi; |Trí phương tiện căn cứ trên chân lí tương đối, dùng để dẫn dắt chúng sinh đến Thật trí, căn cứ trên chân lí tuyệt đối. Tương đương với nghĩa »phương tiện«.
quyền trí
Buddha-wisdom of the phenomenal, in contrast with thật trí knowledge of the fundamental or absolute.
; Phật trí hiện tượng, ngược với Phật trí tuyệt đối hay thực trí (thông đạt về thực tướng của chư pháp)—Buddha-wisdom of the phenomenal, in contrast with knowledge of the fundamental or absolute. ** For more information, please see Thực Trí.
Quyền trí 權智
[ja] ゴンチ gonchi ||| Expedient wisdom based on relative truths, which is used to guide sentient beings to the real wisdom 實智 that is based on the ultimate truth. Similar in connotation to "expedient means" 方便. 1. Trí phương tiện căn cứ trên chân lý tương đối, dùng để dẫn dắt chúng sinh đến Thật trí, căn cứ trên chân lý tuyệt đối. Tương đương với nghĩa “phương tiện.”
quyền tuyệt đối
Absolute power.
quyền tích
Temporary traces, evidences of the incarnation of a Buddha in human form.
; (權迹) Thân quyền hóa thùy tích do chư Phật thị hiện. Nghĩa là chư Phật vốn đã thành Phật từ rất nhiều kiếp lâu xa về trước, nhưng muốn hóa độ chúng sinh mà thị hiện thân thùy tích; như 8 tướng thành đạo của đức Phật Thích ca. Quyền là đối với Thực, Tích là đối với Bản. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10, thượng (Đại 33, 800 trung) nói: Xóa hết quyền tích, hiển bày thực bản. (xt. Bản Tích Nhị Môn).
quyền tự quyết
Right of self-determination.
quyền uy
Authority.
quyền điền lôi phủ
(權田雷斧) (1846-1934) Cao tăng Nhật Bản, thuộc tông Chân ngôn, người huyện Tân Tích. Ban đầu, sư nghiên cứu học tập các luận Câu xá, Duy thức, Nhân minh ở Phong sơn; sau học Mật giáo, Hoa nghiêm, Thiên thai, sau chuyển sang tu Thiền theo tông Tào động, rồi sau lại theo ngài Phúc điền Hành giớihọcTịnh độ giáo. Năm 32 tuổi, sư trở về Phong sơn, lần lượt giữ các chức Giáo sư Đại học Tân nghĩa, Quản trưởng phái Phong sơn, Hiệu trưởng Đại học Phong sơn, Đại học Đại chính. Năm 79 tuổi, sư đến Trung quốc hoằng pháp, mở rộng Mật giáo. Sư có các tác phẩm: Mật giáo cương yếu, Ngã quán Mật giáo phát đạt chí, Phật tượng tân tập, Mạn đồ la thông giải, Tục huyền bí khúc.
quyền đại thừa
The temporary, or partial schools of Mah...y...na, the th"ng and biệt, in contrast with thật đại thừa schools which taught universal Buddhahood, e.g, Hoa nghiêm and Thiên Thai schools.
; Những trường phái “Thông” và “Biệt” giáo trong Đại thừa (Pháp Tướng và Tam Luận), đối lại với Thực Đại Thừa như những tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai, chủ trương hết thảy chúng sanh đều có khả năng thành Phật—The temporal or partial schools of Mahayana, in contrast with the schools which taught universal Buddhahood, e.g. Hua-Yen and T'ien-T'ai schools.
; (權大乘) Đối lại: Thực đại thừa. Cũng gọi Quyền giáo đại thừa, Đại thừa quyền giáo. Gọi tắt: Quyền đại. Chỉ cho giáo pháp phương tiện tạm thời trong Đại thừa giáo. Tức là vì tùy thuận căn cơ của chúng sinh mà phương tiện nói Đại thừa bất liễu nghĩa, chứ chưa phải là giáo nghĩa Đại thừa chân thực. Trong các tông Đại thừa, phần nhiều tự cho giáo lí của tông mình là thực pháp, còn các tông khác là quyền pháp. Chẳng hạn, nói theo quan điểm của các tông chủ trương Nhất thừa như Thiên thai, Hoa nghiêm, thì các tông chủ trương Tam thừa như Pháp tướng, Tam luận là Quyền đại thừa. Ngược lại, nói theo quan điểm của các tông chủ trương Tam thừa như Pháp tướng, Tam luận, thì các tông chủ trương Nhất thừa như Thiên thai, Hoa nghiêm là Quyền đại thừa. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.9; Thủ hộ quốc giới chương Q.trung, thượng, Q.hạ trung; Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.1]. (xt. ThựcĐạiThừa).
quyền ưu tiên
Priority.
Quyền 權
[ja] ゴン gon ||| (1) Power, influence. (2) Expedient. Provisional teaching(s). (3) A weight used in steelyards. (4) To weigh, measure. (5) Equal, to equalize. => 1. Quyền lực, ảnh hưởng. 2. Phương tiện. Giáo lý tạm thời. 3. Quả cân trong cân đứng. 4. Cân, đo. 5. Ngang bằng, làm cho bằng nhau.
Quyển
[ja] カン kan ||| [Also written 卷.] (1) Roll, a roll of something. (2) An examination paper. (3) a rolled volume, scroll, fascicle. (4) To roll (up). 巻[còn viết 卷.] => 1. Cuốn, cuộn một vật. 2. Bài thi. 3. Cuộn sách, bảng danh sách, tập. 4. Cuốn lại.
quyển thư
(卷舒) Trong Thiền lâm, quyển và thư là 2 cơ pháp mà bậc thầy dùng để dẫn dắt người học. Quyển nghĩa là thu lại, nắm giữ lấy, thuộc phương pháp tiếp hóa đả phá, phủ định; Thư nghĩa là giãn ra, buông ra, thuộc phương pháp tiếp hóa nhiếp thụ, khẳng định. Bậc thầy dựa theo căn cơ, trình độ của người học mà sử dụng những phương pháp giáo hóa khác nhau, hoặc nắm giữ, hoặc buông thả, vận dụng một cách linh hoạt, tự tại để giúp người học đạt được khai ngộ.[X. Bích nham lục tắc 3, 5].
quyển tử bản
(卷子本) Bản sách cuốn tròn, tức là viết chữ trên 1tờ giấy dài rồi cuốn lại thành hình ống tròn, 1 trong những hình thức đóng sách ở đời xưa. Từ rất sớm, các quốc gia phương Tây đã có Quyển tử bản bằng giấy hoặc bằng da thú. Trung quốc nhờ đã phát minh ra giấy, nên từ đời Đông Hán về sau, trong khoảng 1.000 năm, Quyển tử bản đã trở thành hình thức tiêu chuẩn cho tất cả các loại sách vở, trong đó có cả kinh điển Phật giáo. Những Quyển tử bản phát hiện được ở vùng Trung á hầu như đều là những sản phẩm dưới ảnh hưởng nền văn hóa của Trung quốc. Ngoài chữ Hán ra còn có chữ Túc đặc, chữ Tây tạng, chữ Hồi hột, chữ Tây hạ...đều được viết trên giấy, tập trung ở các khu vực Đôn hoàng, Cao xương, thành Hắc thủy...Trong đó, Quyển tử bản chữ Hán chiếm phần lớn, vả lại, giấy viết phần nhiều cũng được vận chuyển từ Trung quốc đến. Các dụng cụ để viết thì có bút lông thỏ, bút gỗ, cọng lau...Trong những bản sao đào được ở Đôn hoàng phần nhiều là Quyển tử bản kinh Phật bằng chữ Hán, còn các kinh điển của Ma ni giáo, kinh điển của Cảnh giáo tìm thấy ở Cao xương cũng là Quyển tử bản, nhưng có vẻ khác với Quyển tử bản của Trung quốc. Quyển tử bản chép kinh điển Phật bằng chữ Hán thông thường từ 20 đến 30 trang giấy được dán dính lại với nhau bằng hồ, chiều dài trang giấy khoảng 40 cm, rộng từ 40 đến 80 cm. Về chiều hướng viết và đọc thì tùy theo các loại văn tự mà có khác nhau. Như chữ Hán và chữ Tây hạ thì viết theo hàng dọc từ bên phải sang bên trái, hàng cuối cùng ở bên trái; chữ Túc đặc và chữ Hồi hột thì viết theo hàng ngang, cũng từ phải sang trái; còn chữ Tây tạng thì viết ngang từ trái sang phải, hàng cuối cùng ở phía dưới. Vì ngày xưa giấy rất quí nên có khi người ta viết chữ vào những chỗ trắng ở mặt sau của trang giấy, giữa khoảng các dòng chữ đã viết ở mặt trước. Ngoài ra, có khi Quyển tử bản được làm bằng tơ lụa, vải thô hoặc vỏ cây Hoa. Quyển tử bản bằng vỏ cây Hoa hiện nay chỉ tìm thấy 1 quyển ở Hòa điền, đó là quyền kinh Pháp cú được sao chép vào khoảng thế kỉ II từ văn tự địa phương Ca la thuộc Kiện đà la. Hình thức quyển kinh này là 2 đầu phải và trái của những trang vỏ cây Hoa được đính lại với nhau bằng chỉ; văn kinh được viết theo chiều rộng của trang vỏ cây và viết ngang từ phải sang trái, hàng cuối cùng ở phía dưới. Qua suy đoán, nguồn gốc của Quyển tử bản này có vẻ như không dính dáng gì đến nến văn hóa của Trung Quốc.
quàn
To leave the corpse in a temporary shelter prior to burial.
quàng cổ
To wear around the neck.
quàng vai
To wear around the shoulders.
quàng xiên
To talk nonsense
quá
To pass; past; gone; transgression. error.
; 1) Lỗi: Error—Transgression. 2) Quá khứ: Past—Passed. 3) Vượt qua: To pass.
quá chừng
Exceeding—Beyond measure.
quá cố
Deceased.
quá diệt tịnh địa
Xem Càn Huệ Địa.
quá dư
Exuberant.
quá hiện vị
Quá khứ, hiện tại và vị lai—Past, present, future.
quá hiện vị lai nghiệp báo trí lực
(過現未來業報智力) Cũng gọi Nghiệp dị thục trí lực. Trí lực của Như lai biết rõ tất cả nghiệp duyên, quả báo, nơi sinh đến... của hết thảy chúng sinh trong 3 đời quá khứ, vị lai và hiện tại, 1 trong 10 lực của Như lai. (xt. Thập Lực).
quá hoạn đoạn
(過患斷) Cũng gọi: Tình hữu đoạn. Đối lại: Công đức đoạn. Đoạn trừ quá hoạn phiền não. Tức nương vào trí Thủy giác mà đoạn trừ các lỗi lầm do tâm vọng chấp sai biệt của tình hữu tạo ra. Mật giáo chủ trương vốn không có phiền não, khi chứng biết thì tự thành nghĩa đoạn, vì thế nương vào môn Bản giác mà thực hành công đức đoạn. Trái lại, Hiển giáo thì nương vào môn Thủy giác, vì theo tình hữu thì phiền não là quá hoạn nên phải đoạn trừ. [X. luận Thích ma ha diễn Q.3; Thích ma ha diễn luận tán huyền sớ Q.3].
quá hạ
Cách gọi khác của an cư kiết hạ—To pass the summer, or the summer retreat—See An Cư Kiết Hạ.
quá hạn
To exceed the limit.
quá hải hoà thượng
(過海和尚) Tức là ngài Giám Chân, vị Cao tăng Trung Quốc sống vào đời Đường. Cứ theo Đường quốc sử bổ, vào những năm cuối niên hiệu Thiên Bảo, Hòa thượng Giám chân ở Dương Châu, vượt qua Hắc Hải, Xà sơn đến Nhật bản để truyền bá Luật học, vì vậy, học trò của ngài tôn xưng ngài là Quá Hải Hòa thượng (Hòa thượng vượt biển). (xt. Giám Chân).
quá khích
Extremist.
quá khứ
Attita (P), Atikkanta (P), Atikranta (S), Atita (S)đã qua.
; Passed, past.
; See Quá (2).
; (過去) Phạm: Atikrànta. Pàli:Atikkanta. Cũng gọi Quá khứ thế. Gọi tắt: Quá. Chỉ cho thời điểm mà tác dụng của sự vật hữu vi đã chấm dứt, nói cách khác, tác dụng của các pháp không còn tiếp diễn đến hiện tại, 1 trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Luận Tập dị môn túc quyển 3 (Đại 26, 378 hạ) nói: Đời quá khứ là gì? Đáp: Các hành đã khởi, đã cùng khởi, đã sinh, đã cùng sinh, đã chuyển, đã hiện chuyển, đã tụ tập, đã xuất hiện, đã rơi vào quá khứ, đã diệt hết và biến thành tính quá khứ, loại quá khứ, thuộc về đời quá khứ, đó là đời quá khứ. Ngoài ra, Tát bà đa bộ lập thuyết Tam thế thực hữu nên chủ trương pháp quá khứ có thực thể. Còn Kinh lượng bộ và Duy thức đại thừa thì lập thuyết Quá (khứ) vị (lai) vô thể nên cho rằng quá khứ và vị lai đều không có thực thể. [X. kinh Tạp a hàm Q.3; luận Đại tì bà sa Q.76; luận Du già sư địa Q.3].
quá khứ hiện tại nhân quả kinh
(過去現在因果經) Cũng gọi Quá hiện tại nhân quả kinh, 4 quyển (hoặc 5 quyển), do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Kinh này trình bày dưới hình thức tự truyện Phật Thích ca; đời quá khứ Phật là vị tiên Thiện tuệ tu hành, thờ đức Phổ quang Như lai làm thầy, đến sau khi thành Phật, Ngài thuật lại sự tích tiền thân, nhờ nhân duyên ấy mà Ngài thành tựu được Nhất thiết chủng trí. Trong các kinh điển Hán dịch, bộ kinh này rất có giá trị về mặt văn học, còn có tên là kinh Hội nhân quả (dưới hình thức truyện tranh) hiện đang lưu hành ở Nhật bản. Ngoài ra, về các bản dịch khác của kinh này còn có: -Kinh Tu hành bản khởi, do các ngài Trúc Đại Lực và Khang Mạnh Tường cùng dịch vào đời Hậu Hán. -Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô. Cả 2 bản dịch trên cũng đều được thu vào Đại chính tạng tập 3. Nhưng, theo Khai nguyên thích giáo lục thì ngoài các bản dịch ghi trên, còn có 3 bản sau: Kinh Tiểu bản khởi 2 quyển, do ngài Chi Diệu dịch vào đời Hậu Hán; kinh Thái tử bản khởi thụy ứng 2 quyển, do ngài Khang Mạnh Tường dịch vào đời Hậu Hán; kinh Quá khứ nhân quả 4 quyển, do ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch vào đời Đông Tấn. Điều đáng tiếc là cả 3 bản dịch này hiện nay đều đã mất. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.4, 7, 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, 2, 3, 5].
quá khứ hiện tại nhân quả kinh hội quyển
(過去現在因果經繪卷) Cũng gọi Hội nhân quả kinh. Truyện Phật bằng tranh, 8 quyển, được chia làm 2 phần thượng, hạ; phần thượng là tranh vẽ, phần hạ là văn kinh viết mỗi hàng 8 chữ. Bản được lưu hành gồm 4 quyển, mỗi quyển lại chia làm 2 quyển thượng, hạ, hợp chung lại thành 8 quyển. Kinh được vẽ vào thời kì Thiên Bình của Nhật bản (gọi là Cổ nhân quả kinh), đến nay không còn đủ bộ. Dùng hình thức hội họa hoặc điêu khắc để miêu tả truyện Phật là đề tài chủ yếu của mĩ thuật Phật giáo Ấn Độ từ xưa đến nay.
quá khứ thánh linh
Thần thức của người quá vãng—The spirit of the departed.
quá khứ thất phật
The seven past Buddhas: Tỳ bà thi Vipasyin, Thi khí Sikkin,Tỳ xá phù Visvabhù, Câu lưu tôn Krakucchanda, Câu na hàm mâu ni Kanakamuni, Ca Diếp Kasyapa and Thích ca mâu ni Sakyamuni.
; The seven past Buddhas—See Thất Phật.
; (過去七佛) Chỉ cho 7 đức Phật xuất hiện ở đời quá khứ, đó là: 1. Tì bà thi Phật (Phạm:Vipazyin). 2. Thi khí Phật (Phạm:Zikhin). 3. Tì xá phù Phật (Phạm:Vizvabhù). 4. Câu lưu tôn Phật (Phạm: Krakucchanda). 5. Câu na hàm mâu ni Phật (Phạm: Kanakamuni). 6. Ca diếp Phật (Phạm:Kàzyapa). 7. Thích ca mâu ni Phật (Phạm: Sàkyamuni). Trong các kinh như: Tạp a hàm quyển 34, kinh Đại bản Trường a hàm quyển 1, kinh Tăng nhất a hàm quyển 45, kinh Hiền kiếp quyển 7, kinh Thất Phật phụ mẫu tự tính, kinh Thất Phật... đều có ghi rõ về sự ra đời, dòng họ, cha mẹ, con cái, đệ tử, thị giả, chỗ ở, đạo tràng, chúng hội thuyết pháp đầu tiên... của 7 Đức Phật trên. [X. kinh Quán đính Q.8; kinh Phật danh Q.1; Pháp uyển châu lâm Q.8].
quá khứ thế
1) Kiếp quá khứ: The past age, or world. 2) Thời quá khứ—The past—The past time
quá khứ trang nghiêm kiếp
(過去莊嚴劫) Kiếp có 3 loại: Đại kiếp, Trung kiếp, Tiểu kiếp. Đại kiếp của hiện tại gọi là Hiền kiếp; Đại kiếp của quá khứ gọi là Trang nghiêm kiếp và Đại kiếp của vị lai gọi là Tinh tú kiếp. Trong mỗi kiếp đều có 1.000 vị Phật ra đời. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Khởi nhân bản Q.9].
quá khứ trang nghiêm kiếp thiên phật danh kinh
(過去莊嚴劫千佛名經) Cũng gọi Tập chư Phật công đức sơn kinh, Trang nghiêm kiếp thiên Phật danh kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Lương thuộc Nam triều (không rõ dịch giả), thu trong Đại chính tạng tập 14. Trong Đại tạng đời Minh, kinh này được nhập chung với kinh Hiền kiếp thiên Phật danh và kinh Tinh tú kiếp thiên Phật danh để phối hợp với 3 đời, tán thán 3.000 đức Phật. Nhận xét theo hình thức và tư tưởng của kinh này, thì đại khái dùng hình thức hợp nhất 3 đời để giải thích Tam thế tam thiên Phật. Toàn kinh liệt kê rất nhiều danh hiệu chư Phật, mục đích là để khuyên dạy sám hối và nói rõ nếu đọc tụng kinh này sẽ được công đức sống lâu vô lượng như Phật A di đà. Ngoài ra, nói theo quan điểm Danh thuyên tự tính thì tự thể Phật đã được hiển bày trong mỗi danh hiệu Phật. Ngoài việc trì tụng có tính chất phổ thông ra, kinh này cũng thường được sử dụng mỗi khi có nghi lễ, như cầu siêu độ, sám hối diệt tội...
quá khứ trướng
(過去帳) Cũng gọi Linh bạ, Điểm quỉ bạ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Chỉ cho quyển sổ ghi tên người chết, tức ghi pháp danh, ngày, tháng, năm sinh và mất của người quá cố để lưu giữ trong chùa viện. Trong Phật đường của mỗi gia đình cũng có đặt bài vị ghi tên, tuổi của những người thân thuộc đã qua đời. Thời tông của Nhật Bản gọi loại sổ này là Vãng cổ quá khứ trướng, từ vị Tổ thứ 2 là ngài Chân Giáo (1237-1319) cho đến nay, các Tổ sư nhiều đời đều mang bên mình danh sách pháp danh của tín đồ tăng tục đã qua đời trong giáo đoàn để hồi hướng hàng ngày. Nói chung, Quá khứ trướng là tư liệu trọng yếu cho việc nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản đương thời.
quá khứ trần điểm kiếp
(過去塵點劫) Kiếp chấm (điểm) bụi (trần) quá khứ, ví dụ sự lâu xa đã qua. Trong phẩm Hóa thành dụ của kinh Pháp hoa có nhóm từ Tam thiên trần điểm kiếp (Kiếp chấm bụi 3 nghìn), nghĩa là đem 3 nghìn đại thiên thế giới mài thành mực, rồi cứ đi qua 1.000 quốc độ lại rỏ xuống 1 chấm mực nhỏ như hạt bụi, cho đến khi hết số mực đó; lại nghiền nát tất cả quốc độ đã trải qua thành bụi nhỏ, cứ 1 hạt bụi nhỏ như thế tính là 1 kiếp. Đó là ví dụ nói lên thời gian từ khi đức Phật Đại thông trí thắng nhập diệt đến nay cũng lâu xa như thế.
quá khứ tạng
Atita kośa (S).
quá kỳ
Vượt quá thời hạn quy định—Beyond the time.
quá lố
Excessive.
quá mạn
Atimāna (S)Tự cho mình hơn người hay bằng mình.
; The pride which among equals regards self as superior and among superiors as equal; one of the seven arrogances.
; Một trong thất mạn—One of the seven arrogances—See Thất Mạn (2).
; (過慢) Tâm kiêu căng tự đại, cậy mình lấn người, 1 trong 7 thứ mạn. Khi mình bằng người thì cho là mình hơn người; khi người hơn mình thì cho rằng mình bằng người. (xt. Mạn).
quá mộc kiều
Vượt qua độc mộc kiều (thần thức của người quá vãng phải vượt qua để tái sanh)—To cross over the single log bridge, i.e. only one string to the bow.
; (過木橋) Tên công án trong Thiền tông. Qua cây cầu độc mộc, sự tích ngài Thần sơn Tăng mật và ngài Động sơn Lương giới qua cầu. Điều Thần sơn Tăng mật trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 5 (Vạn tục 138, 93 hạ) nói: Ngài Tăng mật và ngài Động sơn qua cầu độc mộc. Ngài Động sơn qua trước rồi nhấc bỗng cây cầu lên và nói: Qua đây! Ngài Tăng mật gọi: Giới xà lê! Ngài Động Sơn liền buông cây cầu xuống. [X. điều Tăng mật trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Động Sơn Lương giới thiền sư ngữ lục].
quá mức
See Quá lố.
quá ngọ bất thực
(過午不食) Cũng gọi Trì ngọ. Không được ăn khi đã qua ngọ (giữa trưa). Giới luật Phật chế qui định người xuất gia không được ăn phi thời, nghĩa là không được ăn quá giữa trưa. Về lí do chế giới này, theo luật Tứ phần quyển 14 và luật Ngũ phần quyển 8, thì lúc trời chạng vạng, tỉ khưu Ca lưu đà di vào thành La duyệt khất thực, trong bóng tối nhá nhem, 1 người đàn bà có thai thấy ông, tưởng là quỉ hiện, vì bà ta sợ quá nên đã sa thai. Do đó Phật mới chế giới này. [X. Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.7; luật Thập tụng Q.13; luận Ma ha tăng kì Q.17]. (xt. Trì Trai, Ca Lưu Đà Di).
quá sức
Beyond one's strength.
quá thất
Fault, error, mistake.
quá tin
To be over confident on oneself.
quá tinh tế
Exceedingly subtle.
quá trớn
To overstep a limit.
quá tệ
Worse.
quá vãng
To pass away—To die.
quá vị vô thể
(過未無體) Pháp quá khứ, vị lai đều không có thực thể, chỉ có pháp hiện tại mới có thực thể. Đây là chủ trương của Duy thức Đại thừa. Còn Tát bà đa bộ (tức Thuyết nhất thiết hữu bộ) của Tiểu thừa thì lập thuyết Tam thế thực hữu, cho rằng 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai là có thực, là hằng hữu; đối lại, Duy thức Đại thừa lập thuyết Quá vị vô thể để phá thuyết của Tát bà đa bộ. Dị bộ tông luân luận sớ thuật kí (Vạn tục 83, 226 thượng) nói: Hiện tại có thể và dụng, được gọi là thực có; quá khứ, vị lai không có thể và dụng, nên chẳng phải thực có; đã có, sẽ có là quá khứ, vị lai. [X. luận Câu xá Q.20; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần cuối].
quá ác
Dausthalva (S). Surpassing evil; extremely evil.
; Dausthulya (skt)—Cùng hung cực ác, khuynh hướng xấu, hay sự sai lầm—Surpassing evil; extremely evil, evil tendency, or error.
quá đáng
Unduly—Excessive—Exaggerated.
quá đường
(過堂) Cũng gọi Thướng đường, Phó đường. Chư tăng lên nhà trai dùng cơm. Điều Tống bát vị trong Bị dụng thanh qui quyển 6 (Vạn tục 112, 51 hạ) nói: Duy Na đi ra cửa trước, Thủ tọa, Đô tự mang bát quá đường. Ngoài ra, chúng tăng vào nhà trai thụ thực, tâm không được tham đắm, đó là ý nghĩa quá đường. [X. môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
quá độ
1) Không điều độ: Immoderate. 2) Vượt ra khỏi cảnh sanh tử: To pass from mortal life.
quá độ nhân đạo kinh
(過度人道經) Gọi đủ: Phật thuyết A di đà tam da tam. Phật tát lâu Phật đàn quá độ nhân đạo kinh. Gọi tắt: A di đà kinh. Kinh, 2 quyển, do cư sĩ Chi Khiêm dịch ở nước Ngô thời Tam quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Để phân biệt với kinh Tiểu A di đà do ngài Cưu Ma La Thập dịch, kinh này còn được gọi là kinh Đại A di đà. Đây là 1 trong 5 loại bản dịch khác của kinh Vô lượng thọ hiện còn. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh).
Quách Am Sư Viễn
(郭庵師遠, Kakuan Shion, khoảng thế kỷ 11-12): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Quách Am (郭庵), xuất thân Hợp Xuyên (合川, Tỉnh Cam Túc), họ Lỗ (魯). Ông kế thừa dòng pháp của Đại Tùy Nguyên Tĩnh (大隨元靜) và trú tại Lương Sơn (梁山) thuộc Phủ Thường Đức (常德府, Tỉnh Hồ Nam). Tác phẩm Thập Ngưu Đồ Tụng (十牛圖頌) do ông thêm vào 10 bài tụng cho bản Mục Ngưu Đồ (牧牛圖) của Thanh Cư Hạo Thăng (清居晧昇), rất thịnh hành trong Thiền lâm Trung Quốc, Nhật Bản, v.v.
Quách Lịnh Công
(郭令公, 697-781): tên của vị danh tướng dưới thời vua Túc Tông nhà Đường, hiệu là Trung Võ (忠武), người đã từng dẹp yên vụ loạn An Sử (安史). Do vì ông được phong làm Phần Dương Công (汾陽公) nên được gọi là Quách Phần Dương (郭汾陽), bên cạnh đó ông còn làm chức Trung Thư Lịnh (中書令) nên cũng được gọi là Quách Lịnh Công.
quách ma
Kakuan (J), Kuoan (C), Kakuan (J).
quách thị song phu
(椁示雙趺) Hai chân Phật thị hiện thò ra ngoài kim quan. Sau khi đức Phật nhập diệt ở rừng cây Sa la bên ngoài thành Câu thi na yết la được 7 ngày thì ngài Ca diếp mới đến nơi, Ngài thương nhớ đi quanh kim quan đức Thế tôn, nhất tâm kính ngưỡng, tán thán Phật đức. Lúc đó, 2 chân Phật có tướng thiên bức luân (1 trong 32 tướng) bỗng thò ra khỏi kim quan. Do sự tích này, người đời sau dùng nhóm từ Quách thị song phu để biểu thị ý nghĩa đức Phật hiện thân ra ngoài kim quan. [X. Tổ đình sự uyển Q.1; Vân môn lục Q.thượng].
quách tượng
Guo Xiang (C)Tên một vị sư.
quái
1) Khiếm khuyết: Impediment. 2) Nguyên nhân của lo âu: Cause of anxiety. 3) Treo: To hang—To suspend.
quái chân
Treo chân dung của một vị tôn quý như Đức Phật—To hang up a picture of a Buddha.
quái dị
Strange—Peculiar.
quái kiệt
Man of exceptional talent.
quái lạ
How strange.
quái lạc
Còn gọi là Quái La, tên một loại áo cà sa ngắn (do các thiền Tăng Trung Quốc chế ra)—A short garment, or cover; a waistcoat.
quái ngại
A hindrance—An impediment.
quái niệm
Lo lắng—To be anxious about.
quái ti
(罣罳) Cũng gọi Phù ti. Vốn chỉ cho bức bình phong khắc bằng gỗ có thông ánh sáng, hoặc chỉ cho tấm lưới giăng để bắt chim; về sau được chuyển dụng để chỉ cho tấm gỗ che sau lưng chiếc ghế ngồi, hoặc chỉ cho bức màn che. Chiếc ghế sau lưng có phụ thêm tấm gỗ che, gọi là Quái ti ỷ tử. Trong Thiền lâm, quái ti thường được dùng khi thuyết pháp, phổ thuyết. Điều Cáo hương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1120 thượng) nói: Đến ngày ấn định, thị giả nhờ vị Khách đầu bày Quái ti ỷ tử ở Phương trượng hoặc ở Pháp đường. Điều Bỉnh phất trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1153 hạ) nói: Hành giả Đường ti bày biện pháp tòa, phía tay trái đặt Quái ti, chuẩn bị chỗ ngồi cho vị Trụ trì.
quái tích
Treo tích trượng (khi các vị sư dừng lại nơi nào nghỉ chân)—To hang up one's staff.
quái tử
Tên một loại áo cà sa—A peg for a garment.
quái đáp
Chỉ việc các vị sư dừng lại một nơi nào đó để nghỉ ngơi—To dwell in a place.
quái đơn
Vị du Tăng ghé lại chùa nghỉ qua đêm—One who hangs up all his possessions, i.e. a wandering monk who stays for the night in a monastery.
Quái 怪
[ja] カイ kai ||| (1) Strange, weird, extraordinary. (2) To regard as strange or extraordinary. => 1. Kỳ lạ, khác thường, lạ thường. 2. Nhìn như điều kỳ lạ, khác thường.
Quán
觀; S: vipaśyanā; P: vipassanā; |Nghĩa là quán sát bằng trí huệ, minh sát; có thể hiểu hai cách, đó là: 1. Phương pháp tu tập quán sát song song với tu Chỉ và 2. Kết quả, mục đích, sự trực chứng Ba tính chất của vạn sự (s: trilakṣaṇa) là Vô thường, Vô ngã và Khổ. Trong Ðại thừa, quán cũng được xem là sự phân tích sự vật để tự trực nghiệm tính Không (s: śūnyatā). Kiến giải này giúp ngăn ngừa tham Ái khởi sinh. Quán là một trong hai yếu tố giúp đạt Giác ngộ, yếu tố kia là Chỉ (s: śamatha).
quán
Ayāna (S), Vipaśyanā (S), Vipassanā (P), Vīmaṃsā (S), Visualization(1) Quan (trong Quán chiếu, Quán đạo, Quán đạo) (2) Nhập, chứng hội Tỳ bà xá na, Quán chiếu, Minh sát tuệCòn dùng chỉ pháp thiền Nội quán.
; Vipasyana or Vidarsana (skt). I. 1) Đi xuyên qua: To pass through. 2) Rửa: To wash—To sprinkle. 3) Xỏ xâu: To thread—To string. 4) Ngẫm nghĩ cẩn thận (tế tư): Contemplation—Examination—To look into—To study—To contemplate—To contemplate and mentally enter into truth—Contemplation can be used to dispel distractions and defilements. To consider illusion and discern illusion or discerning the seeming from the real: a) Quán tình thương triệt tiêu lòng sân hận: Contemplation on love to dispel anger. b) Quán sự biết ơn và tâm hỷ triệt tiêu lòng ganh ghét: Contemplation on appreciation and rejoicing in the good qualities of others can dispel the problem of jealousy. c) Quán vô thường và niệm chết giúp giảm bớt sự tham ái: Contemplation on impermanence and death awareness can reduce covetousness. d) Quán bất tịnh giúp giảm thiểu chấp thủ: Contemplation on the impurity can help reduce attachment. e) Quán vô ngã và tánh không giúp triệt tiêu những tư tưởng xấu xa: Contemplation on non-ego (non-self) and emptiness can help eliminate (eradicate) completely all negative thoughts. II. Two kinds of contemplation: 1) Quán sự: Contemplation or meditation on the external forms of the phenomenal. 2) Quán lý: Contemplation or meditation on the real or underlying nature.
Quán (xuyến) tập
串習; C: guànxí; J: genshū;|Tập thành thói quen; phát triển thông qua hành động thường xuyên, đều đặn. Thực hành thường xuyên, thường dùng ý thức chuyên cần tu tập nhắm đến việc gieo trồng thiện căn (善根).
quán bất tư nghị cảnh
(觀不思議境) Cũng gọi Quán bất khả tưnghị cảnh, Phân biệt bất tư nghị cảnh, Thiện thức bất tư nghịch cảnh, Tín giải chính nhân duyên, Tín chính nhân duyên, Thiện thức bất tư nghịnhân duyên. Bất tư nghị cảnh là cảnh sở quán (đối tượng bị quán xét). Quán bất tư nghị cảnh nghĩa là quán xét 1 niệm vọng tâm hiện tiền của chúng ta có đủ 3 nghìn các pháp, tâm ấm vọng này tức không, tức giả, tức trung, là cảnh Tam đế mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn. Đây là pháp quán thứ 1 trong 10 pháp quán do tông Thiên thai lập ra. Muốn tu quán hạnh, trước phải quyết định cảnh sở quán, nhưng muôn pháp đều có đủ 3 nghìn 3 đế, dung nhiếp lẫn nhau, không phân biệt nhân quả, mê ngộ, mỗi mỗi đều là diệu đế bất tư nghị. Bởi vậy, tuy tất cả đều là cảnh sở quán, nhưng vì vạn pháp duy tâm nên đặc biệt lấy một niệm vọng tâm hiện tiền làm cảnh sở quán. Bậc thượng căn tu 1 pháp quán này tức đầy đủ 10 pháp quán, được bước lên địa vị Sơ trụ chân nhân ...... Còn các hàng trung căn, hạ căn thì chưa thể tiến tu hạnh này nên phải tu từ quán hạnh thứ 2 trong 10 quán hạnh trở xuống. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu; Tứ giáo nghĩa Q.11]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).
Quán bất tịnh
Bất tịnh quán (不淨觀)|Là phép quán tử thi được gọi theo kinh điển Nam truyền (Thanh tịnh đạo). Bất tịnh tưởng (nghĩ đến) cũng là quán 32 thân phần. Phép quán này là cách đối trị cái tham dục và sự thấy đảo ngược của tâm, cho là sạch đẹp những gì vốn không sạch (Ðảo kiến).
quán chiếu
Xem Quán. Xem Minh sát tuệ.
; To be enlightened as the result of insight, or intelligent contemplation.
; Lấy trí tuệ mà soi sáng hay chiếu kiến sự lý—To reflect—To be enlightened or to enlighten as a result of insight (intelligent) contemplation. ** For more information, please see Bát Bát Nhã and Tam Bát Nhã.
; (觀照) Dùng trí tuệ quán xét các pháp sự và lí, soi thấy rõ ràng, gọi là Quán chiếu. Còn trí tuệ soi rọi rõ lí thực tướng của các pháp sự và lí, thì gọi là Quán chiếu bát nhã. (xt. Ngũ Chủng Bát Nhã).
quán chiếu bát nhã
The prajnà or wisdom of meditative enlightenment on reality.
; Một trong ba loại Bát Nhã, lấy trí tuệ quán chiếu cái lý thực tướng hay nhờ thiền quán mà giác ngộ được chân lý—One of the three kinds of Prajna, the prajna or wisdom of meditative enlightenment on reality. ** For more information, please see Bát Nhã and Tam Bát Nhã.
quán chiếu “khổ”
1) To reflect on suffering. 2) Quán chiếu “khổ” là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta mới có khả năng chấm dứt mọi chấp trước, ham muốn và dục vọng—Reflection on suffering is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we are able to end all attachments, aspirations and desires.
quán chiếu “tỉnh lặng”
1) Reflection on calmness or tranquility. 2) Quán chiếu “Tỉnh Lặng” là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không khuấy rối tâm mình—Reflection on calmness is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we do not disturb our mind.
quán chiếu “vô ngã”
1) Reflection on No-Self. 2) Quán chiếu “Vô Ngã” là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không lầm chấp vào cái ngã ảo huyền—Reflection on “No-self” is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we do not mistakenly attach to an illusive self.
quán chiếu “vô thường”
1) To reflect on impermanence. 2) Quán chiếu vô thường là một trong những cửa ngõ đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta mới có khả năng thấy được bộ mặt thật của những dục vọng trong nhà lửa tam giới—Reflection on impermanence is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we are able to reflect and see the real face of all the desires of the triple world burning house.
quán chúng sanh
To contemplate a living beings—Theo Kinh Duy Ma Cật, khi ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vâng mệnh Phật đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật—According to the Vimalakiriti Sutra, Manjusri Bodhisattva obeyed the Buddha's command to call on Vimalakirti to enquire after his health: • Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật: “Bồ Tát quán sát chúng sanh phải như thế nào?”—Manjusri asked Vimalakirti: “How should a Bodhisattva look at living beings?” • Ông Duy Ma Cật đáp: “Ví nhà huyễn thuật thấy người huyễn của mình hóa ra, Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như người trí thấy trăng dưới nước, thấy mặt trong gương, như ánh nắng dợn, như âm vang của tiếng, như mây giữa hư không, như bọt nước, như bóng nổi, như lõi cây chuối, như ánh điển chớp, như đại thứ năm, như ấm thứ sáu, như căn thứ bảy, như nhập thứ mười ba, như giới thứ mười chín. Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như sắc chất cõi vô sắc, như mộng lúa hư, như thân kiến của Tu Đà Hoàn, như sự nhập thai của A Na Hàm, như tam độc của A la hán, như tham giận phá giới của Bồ Tát chứng vô sanh pháp nhẫn, như tập khí phiền não của Phật, như mù thấy sắc tượng, như hơi thở ra vào của người nhập diệt tận định, như dấu chim giữa hư không, như con của thạch nữ (đàn bà không sanh đẻ), như phiền não của người huyễn hóa, như cảnh chiêm bao khi đã thức, như người diệt độ thọ lấy thân, như lửa không khói. Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế đó.”—Vimalakirti replied: “ A Bodhisattva should look at living beings like an illusionist does at the illusory men (he has created); and like a wise man looking at the moon's reflection in water; at his own face in a mirror; at the flame of a burning fire; at the echo of a calling voice; at flying clouds in the sky; at foam in a liquid; at bubbles on water; at the (empty) core of a banana tree; at a flash of lightning; at the (non-existent) fifth element (beside the four that make the human body); at the sixth aggregate (beside the five that make a sentient being); at the seventh sense datum (beside the six objects of sense); at the thirteenth entrance (ayatana-beside the twelve involving the six organs and six sense date); at the nineteenth realm of sense (beside the eighteen dhatus or fields of sense); at form in the formless world; at the (non-existent) sprout of a charred grain of rice; at a body seen by a srota-apanna (who has wiped out the illusory body to enter the holy stream); at the entry of an Anagamin (or a non-returning Sravaka) into the womb of a woman (for rebirth); at an arhat still preserving the three poisons (of desire, anger and stupidity which he has eliminated for ever); at a Bodhisattva realizing the patient endurance of the uncreate who is still greedy, resentful and breaking the prohibitions; at a Buddha still suffering from klesa (troubles); at a blind man seeing things; at an adept who still breathes air in and out while in the state of nirvanic imperturbability; at the tracks of birds flying in the air; at the progeny of a barren woman; at the suffering of an illusory man; at a sleeping man seeing he is awake in a dream; at a devout man realizing nirvana who takes a bodily form for (another) reincarnation; and at a smokeless fire. This is how a Bodhisattva should look at living beings.”
quán cơ
Quán xét căn cơ trình độ của người học để theo đó mà dạy bảo.
quán cốt tam muội
Contemplating bone samàdhi.
quán di lặc thượng sanh đâu suất thiên kinh
Xem Di Lặc thượng sanh Kinh.
quán Duyên khởi
xem quán Mười hai nhân duyên.
quán dược vương dược thượng nhị bồ tát kinh
(觀藥王藥上二菩薩經) Phạm: Bhaiwajya-ràja Bhaiwajya samudgata bodhisattva sùtra. Cũng gọi Quán dược vương dược thượng bồ tát kinh, Dược vương dược thượng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cương Lương Da Xá dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật trụ ở tinh xá Thanh liên hoa trì tại nước Tì da li nói về công đức, quán pháp và tiền thân ở quá khứcủa hai vị bồ tát Dược vương, Dược thượng. Hai vị Bồ tát này ở đời quá khứ là 2 anh em Tinh Tú Quang và Điện Quang, từng đem thuốc tốt Ha lê lặc đề hồ cúng dường tỉ khưu Nhật Tạng. Nhờ nhân duyên ấy mà 2 Bồ tát có được pháp dược thượng diệu đem bố thí rộng khắp cho hết thảy chúng sinh, diệt trừ tất cả phiền não của họ. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4].
quán giác
Awakening—Awareness. 1) Quán: Examination or study. 2) Giác: Awakening or awareness.
quán giải
To contemplate ultimate reality and unravel or expound it.
; Quán niệm và giải lý được chân lý—To contemplate and expound the ultimate reality.
Quán Hiền
(觀賢, Kangen, 854-925): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Tự Trưởng đời thứ 9 của Đông Tự, Tọa Chủ đời thứ 4 của Cao Dã Sơn, húy là Quán Hiền (觀賢), tên lúc nhỏ là A Cổ Ma Lữ (阿古麻呂); thường gọi là Bát Nhã Tự Tăng Chánh (般若寺僧正). Ông theo Thánh Bảo (聖寶) lên kinh đô, rồi năm 872 thì xuất gia thọ giới với Chơn Nhã (眞雅), đến năm 895 thì thọ phép Quán Đảnh với Thánh Bảo ở Đông Tự. Năm 900, ông làm chức Biệt Đương của Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), rồi sáng lập ra Bát Nhã Tự (般若寺, Hannya-ji) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Đến năm 909, ông làm Tự Trưởng của Đông Tự, rồi năm sau thì làm Quyền Thiếu Tăng Đô, năm 916 thì làm Quyền Đại Tăng Đô, năm 918 làm Kiểm Hiệu của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), năm 919 làm Tọa Chủ của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), và sau được bổ nhiệm làm Tọa Chủ của Cao Dã Sơn. Cũng vào năm 919, ông thâu hồi lại được bộ Tam Thập Thiếp Sách Tử (三十帖册子) của Không Hải và đem nạp vào Tàng Kinh Các của Đông Tự. Ông được xem như là vị Tổ đời thứ 12 của Chơn Ngôn Tông. Trước tác của ông để lại có rất nhiều như Đại Nhật Kinh Sớ Sao (大日經疏抄) 4 quyển, Tam Thập Thiếp Sách Tử Khám Văn (三十帖册子勘文), v.v.
quán hoa
Chuỗi hoa, lời kệ tụng trong kinh gọi là “Quán Hoa” hay chuỗi hoa (lời văn trong kinh gọi là “Tán Hoa” hay hoa rời)—A string of flowers, a term for the gathas in sutras, i.e. the prose recapitulated in verse.
quán huệ
Trí tuệ quán sát thấu hiểu được chân lý—The wisdom which penetrates to ultimate reality.
quán hành
1) Quán lý ở tâm rồi đích thân thực hành đúng theo lý đó—Contemplation and accordant action. 2) Pháp Quán Sát Hành Pháp của Tâm: Method of contemplating.
; (觀行) Hành pháp quán tâm. Tức là tu hành quán tâm, soi rọi tâm mình để rõ suốt bản tính; hoặc chỉ cho hành tướng của pháp quán. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1008 hạ) nói: Nếu không hiểu rõ kinh luật Đại thừa, không hiểu được các tướng khinh, trọng, thị, phi; không hiểu được các pháp tập chủng tính, trưởng dưỡng tính, bất khả hoại tính, đạo chủng tính, chính tính... trong Đệ nhất nghĩa đế, trong đó, quán hành nhiều hay ít, ra vào 10 thiền chi, tất cả hành pháp ấy đều không hiểu thì chẳng hiểu gì về ý nghĩa trong pháp này. Ngoài ra, giai vị thứ 3 trong Lục tức vị thuộc hành vị của Viên giáo trong tông Thiên thai chính là Quán hành vị.
quán hành (hạnh) phật
See Quán Hành Tức Phật and Lục Tức Phật.
quán hành ngũ phẩm vị
The T'ien-T'ai five stages of meditation and action.
; (觀行五品位) Chỉ cho Quán hành tức trong sáu hành vị (Lục tức) của bồ tát Viên giáo do tông Thiên Thai lập ra. Đây là giai vị đã biết danh tự mà khởi quán hành, tâm quán sáng láng, lí và tuệ ứng hợp nhau, có khả năng thành tựu 5 phẩm công đức: Tùy hỉ phẩm, Độc tụng phẩm, Thuyết pháp phẩm, Kiêm hành lục độ và Chính hành lục độ. Quán hành tức tương đương với Ngũ phẩm đệ tử vị trong 8 vị, nên được ghép chung lại mà gọi là Quán hành ngũ phẩm vị. (xt. Lục Tức).
quán hành tức phật
Quán và hành như Phật. Đây là giai đoạn thứ ba của Lục Tức Phật. Vị Bồ Tát đã đạt được ngũ phẩm Phật Địa—To contemplate and act as a Buddha. The third of the six stages of Bodhisattva developments. Any Bodhisattva or disciples who have attained to the fifth stage of Bodhisattvahood. ** For more information, please see Lục Tức Phật.
quán hơi thở
Anàprànasmrti (S), Anàpànasati (P). Mindfulness on the in-and-out breathing. Also sổ tức quán, nhập tức xuất tức niệm.
quán hư không tạng bồ tát kinh
Kuan Hsu-k'ung-tsang p'u-sa hui (C)Tên một bộ kinh.
quán hưu
(貫休) (832-912) Cao tăng Trung Quốc sống vào cuối đời Đường đầu thời Ngũ Đại, người Lan Khê, Vụ Châu (Kim Hoa, Chiết Giang), họ Khương, tự Đức Ẩn, Đức Viễn. Năm 7 tuổi, sư lễ ngài Viên Trinh xin xuất gia ở chùa Hòa An, huyện Kim Hoa. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư vào núi Ngũ Duệ ở Chiết Đông tu thiền 10 năm, từng tham yết Thiền sư Vô Tướng. Sau, sư đến chùa Khai Nguyên ở Hồng Châu nghe giảng kinh Pháp hoa và luận Đại thừa khởi tín, thông hiểu hết nghĩa sâu xa. Sư nổi tiếng về thi ca và hội họa. Sư giỏi vẽ tượng Phật, nhất là tượng La hán thủy mặc. Sư vẽ tượng La hán với tướng mạo cổ lỗ, quê mùa, mi rậm, mắt to, mũi cao, má lộ, quai hàm dài, trán rộng, cổ gầy, thể hiện phong mạo người Ấn Độ, là đặc trưng tác phẩm của sư dựa vào chỗ thấy trong mộng. Sư cũng chuyên về cách viết các kiểu chữ triện, lệ, thảo với 1 phong cách độc đáo, người đời gọi lối viết chữ của sư là Khương thể và ví sư với ngài Hoài tố đời Đường; thơ của sư cũng rất được giới sĩ phu khen ngợi. Khoảng năm Thiên Phục (901-904) đời vua Chiêu Tông, sư vào đất Thục, rất được vua Thục là Vương Kiến kính trọng, ban
quán hạnh
Contemplation and (accordant) action; method of contemplating .
quán khê
Kuan chi (C).
Quán Khê Chí Nhàn
(灌溪志閑, Kankei Shikan, ?-895): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Quán Đào (館陶), Ngụy Phủ (魏府, Tỉnh Hà Bắc), họ là Sử (史). Hồi nhỏ ông theo xuất gia với Bá Nham (柏巖), sau kế thừa dòng pháp của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄). Ông đã từng sống tại vùng Quán Khê (灌溪), Trường Sa (長沙, Tỉnh Hồ Nam). Ông thị tịch vào ngày 29 tháng 5 năm thứ 2 niên hiệu Càn Ninh (乾寧) nhà Đường.
quán không
To regard all things as unreal, or as having no fundamental reality.
; Quán chiếu vạn hữu giai không hay không tướng của các pháp—To contemplate (regard) all things as unreal (no fundamental reality.
quán kinh
Xem Kinh Quán Vô lượng thọ Phật.
quán kinh lục duyên
(觀經六緣) Sáu nhân duyên đức Phật nói kinh Quán Vô lượng thọ. Thuyết này được căn cứ vào Tự phần nghĩa trong Quán kinh sớ của ngài Thiện đạo mà lập ra. Sáu nhân duyên ấy là: 1. Cấm phụ duyên: Thái tử A Xà Thế giam cấm vua cha, đó là nhân duyên Quán kinh hưng khởi. 2. Cấm mẫu duyên: Thái tử cấm cố mẫu hậu là Vi Đề Hi trong thâm cung 7 lớp cửa, đó là nhân duyên Phật nói pháp cho bà nghe. 3. Yếm khổ duyên: Bà Vi Đề Hi bị giam cầm, chán ngán nỗi khổ của thế gian, đó là nhân duyên đức Phật nói pháp cho bà nghe. 4. Hậu tịnh duyên: Bà Vi Đề Hi bị khổ não dày vò nên thích cầu về nơi an lạc thanh tịnh, đó là nhân duyên đức Phật nói kinh này.5. Tán thiện hiển hành duyên: Đức Phật nói về các pháp tán thiện (hiển hành) như Tam phúc, Cửu phẩm... trong 3 pháp quán sau cùng của Thập lục quán để được vãng sinh Tịnh độ, đó cũng là nhân duyên Phật nói kinh này. 6. Định thiện thị quán duyên: Đức Phật nói về định thiện (quán môn) do tu 13 pháp quán trước trong 16 quán để được sinh về thế giới Cực lạc, đó là nhân duyên Phật nói kinh này.
quán kinh mạn đồ la
(觀經曼荼羅) Biến tướng Tịnh độ được vẽ theo nội dung của kinh Quán Vô lượng thọ. Trong Tịnh độ giáo của Nhật bản thì Quán kinh mạn đồ la là chỉ cho Đương ma mạn đồ la, Trí quang mạn đồ la (thời đại Nại lương) và Thanh hải mạn đồ la (giữa thời kì Bình An) được gọi chung là Tịnh độ tam mạn đồ la, là tranh vẽ biến tướng Tịnh độ nổi tiếng về mĩ thuật của Tịnh độ giáo Nhật Bản.
quán kinh nghĩa sớ
Commentary on the Contemplation sŪtra Tên một bộ luận kinh.
quán kinh nghĩa sớ chính quán kí
(觀經義疏正觀記) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí, Linh chiquán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí. Gọi tắt: Chính quán kí. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Giới Độ soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 33. Nội dung sách này chú thích bộ Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Nguyên Chiếu đời Tống, có nêu ra ý chỉ (Vạn tục 33, 10 hạ): Gắng tu chính quán, mau rõ tâm này là Phật. Lúc đầu, ngài Giới độ định bác bỏ thuyết sai lầm Phụ chính giải của ngài Đạo nhân, nên soạn luận Quán Vô lượng thọ kinh phù tân, sau lại soạn bộ Sớ kí này để bổ túc những điểm còn thiếu sót.
quán kinh ngũ phần
(觀經五分) Chỉ cho 5 đoạn khoa tiết do ngài Thiện đạo đời Đường chia ra để giải thích kinh Quán Vô lượng thọ. Năm khoa tiết ấy là: Tự phần, Chính tông phần, Đắc ích phần, Lưu thông phần và Kì xà hội phần. Ngoài thuyết 3 phần Tự, Chính, Lưu thông ra, ngài Thiện đạo còn lập thêm các khoa tiết đặc biệt để giải thích Quán kinh. [X. Tự phần nghĩa trong Quán kinh sớ].
Quán Kinh Sớ
(觀經疏, Kangyōsho): tên gọi tắt của Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ (觀無量壽經疏, Kammuryōjukyōsho), 4 quyển, là bộ sách của Thiện Đạo (善導, 613-681) Trung Quốc, chú thích về Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經), một trong ba bộ kinh trọng yếu của Tịnh Độ Giáo. Nó được phân làm 4 thiếp, nên được gọi là Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ (觀經四帖疏), gọi tắt là Tứ Thiếp Sớ (四帖疏). Tại Trung Quốc, sách chú thích này không được quảng bá rộng rãi cho lắm; tuy nhiên, tại Nhật Bản, Pháp Nhiên (法然, Hōnen), Tổ khai sáng Tịnh Độ Tông, là người đầu tiên có duyên với bộ Sớ này; xem nó như là bậc thầy với quan niệm “thiên y Thiện Đạo (偏依善導, nương hẳn về phía Thiện Đạo)”. Sau này, Thân Loan (親鸞, Shinran), Tổ sư khai sáng Tịnh Độ Chơn Tông, cũng xem như là “Thiện Đạo độc minh Phật chánh ý (善導獨明佛正意, chỉ một mình Thiện Đạo làm sáng tỏ chánh ý của Phật)” và đã ca tụng bộ Sớ này trong bài Chánh Tín Niệm Phật Kệ (正信念佛偈) của ông. Như vậy, thư tịch này đã tạo ảnh hưởng rất to lớn trong việc hình thành tư tưởng Tịnh Độ của Nhật Bản. Bộ này chia làm 4 quyển: (1) Quyển 1: Quán Kinh Huyền Nghĩa Phần (觀經玄義分), thuật rõ ý nghĩa của Quán Vô Lượng Thọ Kinh, đầu tiên có bài kệ tụng Quy Tam Bảo Kệ (歸三寶偈), rồi chia thành 7 phần để giải thích rõ cách nhìn đối với kinh điển. (2) Quyển 2: Quán Kinh Tự Phần Nghĩa (觀經序分義), chú thích về phần tựa của kinh. (3) Quyển 3: Quán Kinh Chánh Tông Phần Định Thiện Nghĩa (觀經正宗分定善義), chú thích về Định Thiện Thập Tam Quán (定善十三觀) trong phần Chánh Tông. (4) Quyển 4: Quán Kinh Chánh Tông Phần Tán Thiện Nghĩa (觀經正宗分散善義), chú thích các phần Đắc Ích (得益), Lưu Thông (流通), Kì Xà (耆闍) trong phần Chánh Tông và thêm phần Bạt Hậu.
quán luyện huân tu
(觀練熏修) Từ ngữ gọi chung Quán thiền, Luyện thiền, Huân thiền và Tu thiền. Thiền có 3 loại: Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Xuất thế gian thượng thượng thiền. Trong đó, Xuất thế gian thiền là thiền có 4 giai đoạn: Quán, Luyện, Huân, Tu. 1. Quán thiền: Chỉ cho thiền có đối tượng quán chiếu rõ ràng, tức quán tưởng những cảnh bất tịnh để phá trừ ý nghĩa dâm dục; như Cửu tưởng, Bát bội xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ... 2. Luyện thiền: Chỉ cho loại thiền đem cảnh giới thiền quán tiến lên bước nữa tôi luyện làm cho trong sạch, tức dùng thiền vô lậu tôi luyện các thiền hữu lậu, giống như luyện vàng; như Cửu thứ đệ định (9 định thứ đệ). 3. Huân thiền: Chỉ cho thiền lại đem 1 cảnh giới trước tiến lên bước nữa huân tập (xông ướp) cho thuần thục để mở ra cảnh địa tự tại, tức có khả năng huân tập khắp các thiền làm cho đều thuần thục, đều thông lợi, chuyển biến tự tại; như tam muội Sư tử phấn tấn. 4. Tu thiền: Chỉ cho thiền lại đem cảnh giới ở trước tiến lên bước nữa mà tu trị để tăng trưởng công đức, tức là thiền xuất nhập, thuận nghịch đều siêu việt tự tại; như tam muội Siêu việt. Tu thiền là cảnh giới thiền xuất thế gian cao nhất, nên cũng được gọi là Đính thiền. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.10; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 thượng].
quán lạp
Hàng năm cứ đến ngày Hạ Mãn, tức rằm tháng bảy âm lịch, các tự viện đều cử hành nghi thức “quán lạp” hay tắm Phật—The washing of the Buddha's image at the end of the monastic year, or the end of summer, usually the 15th of the seventh lunar month.
; (灌臘) Quán là tắm Phật; Lạp chỉ cho ngày mãn hạ an cư. Ngày mãn hạ 15 tháng 7 âm lịch hàng năm cử hành nghi thức tắm Phật, gọi là Quán lạp.
quán môn
Contemplation or meditation as one of the two methods of entry into truth, i.e. instruction and meditation; also one of the lục diệu môn
; 1) Thiền quán là một trong hai môn giáo quán để thấu triệt chân lý: Contemplation or meditation as one of the two methods of entry into the truth. 2) Thiền quán cũng còn là một trong sáu “Diệu Môn” cho người tu Phật: Contemplation or meditation is also one of the six wonderful strategies or doors for Buddhist cultivators. ** For more information, please see Lục Diệu Môn.
quán môn thập pháp giới
To contemplate on the ten dharma realms—See Thập Pháp Giới.
quán Mười hai nhân duyên
(Thập nhị nhân duyên quán): còn gọi là quán Duyên khởi (Duyên khởi quán), nghĩa là hành giả quán chiếu sự sanh khởi của tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà có, thảy đều không có thật tướng, thật tánh.
quán nhân duyên
To penetrate the concept of Nidanic causation.
quán niệm
To look into and think over, contemplate and ponder.
; Nhìn vào sự vật để quán tưởng—To look into (things) and think over—To contemplate and ponder.
quán niệm hơi thở
Ānāprānasmṛti (S), Ānāpānasati (P), Mindfullness of In- and Out-breathing, Mindfulness of breathing.
quán niệm luận
(觀念論) Trong Phật giáo có các tông như tông Duy thức, tông Hoa nghiêm... chủ trương vũ trụ là do tâm biến hiện, nếu lìa tâm thì tất cả muôn pháp cũng không tồn tại, cho nên có các câu nói như: Ba cõi duy nhất tâm, ngoài tâm không pháp khác, Chỉ có thức không có cảnh... Do nhấn mạnh thuyết Duy tâm hoặc Duy thức nên Phật giáo thường được giới triết học phương Tây xem là Quan niệm luận hoặc Duy tâm luận. Nhưng, Phật giáo nhấn mạnh duy tâm là nói về phương diện chủ thể thực tiễn, chứ không giống như luận điểm của các nhà Duy tâm tồn tại luận chủ trương tâm là thực tại duy nhất. Vả lại, Phật giáo cũng thường nói tâm và sự vật ngoài tâm đều không có tự tính, đều là không. Trong Ma ha chỉ quán, Đại sư Trí khải tông Thiên thai, khi giải thích về giáo nghĩa Nhất niệm tam thiên (Một niệm ba nghìn), từng nhấn mạnh, nếu cho rằng một niệm lúc này là thực tại, hoặc 3 nghìn thế giới là thực tại, thì đều là kiến giải thiên lệch; mà phải nhận xét từ quan hệ hỗ tương y tồn (nương vào nhau mà tồn tại) của Một niệm tức ba nghìn, ba nghìn tức một niệm để thể ngộ lí Trung đạo. (xt. Duy Tâm).
quán niệm niệm phật
See Quán Tưởng Niệm Phật.
; (觀念念佛) Chuyên tâm lắng ý niệm Phật. Tức quán xét tưởng niệm tướng hảo, ánh sáng của thân Phật và thực tướng pháp thân, dùng miệng xưng danh niệm Phật. Cách niệm Phật này phải dứt tâm tán loạn, đoạn trừ vọng niệm, quán niệm tướng hảo của Phật... nên gọi là Quán niệm niệm Phật, thông thường chỉ cho tưởng niệm Phật A di đà. Niệm Phật nói trong 6 niệm, 10 niệm đều thuộc Quán niệm niệm Phật. Các ngài Lô sơn Tuệ viễn, Thiên thai Trí khải, Tứ minh Tri lễ... cũng đều đề xướng quán niệm niệm Phật, hoặc quán xét tướng hảo của Phật, quán công đức, quán pháp thân của Phật, quán thực tướng của Phật... và chủ trương nếu người không thể tu quán thì nên tu khẩu xưng niệm Phật. Khẩu xưng niệm Phật cũng chia làm 2 thứ: Quán và Vô quán. Quán niệm niệm Phật là đối lại với Khẩu xưng niệm Phật của Vô quán. Nhưng niệm Phật chủ yếu vẫn lấy quán niệm làm chính. (xt. Niệm Phật).
quán niệm pháp môn
(觀念法門) Cũng gọi Quán niệm A di đà Phật tướng hải tam muội công đức pháp môn, Quán niệm A di đà tập. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Sách này trình bày về quán niệm, hành tướng tác pháp và công đức của Phật A di đà. Nội dung chia làm 3 đoạn: Trước nói rõ hành tướng tam muội, kế đến nói về công đức của 5 duyên, sau cùng khuyên người tu hành. Sách chú thích có: Quán niệm pháp môn quán môn yếu nghĩa sao 3 quyển của ngài Không Chứng, Quán niệm pháp môn Kiến văn 2 quyển của ngài Thánh Thông, Quán niệm pháp môn tư kí 2 quyển của ngài Lương Trung.
quán pháp
Methods of contemplation, or obtaining of insight into truth.
; Contemplation of mind-objects. (A) Phép quán niệm chân lý ở tâm—Methods of contemplation (obtaining of insight into truth). (B) Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy về 'quán pháp' như sau—According to the Satipatthanasutta, the Buddha taught about 'contemplation of mind-objects' as follows: 1) Năm Triền Cái—The Five Hindrance: Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với năm triền cái (năm món ngăn che). Và nầy các Tỳ Kheo, thế nào là các Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Vị Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các nội pháp; hay sống quán niệm pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán niệm pháp trên cả nội pháp lẫn ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các pháp. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên các pháp. “Có pháp đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp—And how, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects? Here a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances? A Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects internally, or he abides contemplating mind-objects as mind-objects externally, or he abides contemplating mind-objects as mind-objects both internally and externally. Or else he abides contemplating in mind-objects their arising factors, or he abides contemplating in mind-objects their vanishing factors, or he abides contemplating in mind-objects both their arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there are mind-objects' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances. a) Nầy các Tỳ Kheo, ở đây nội tâm Tỳ Kheo có ái dục, vị ấy ý thức rằng nội tâm của mình đang có ái dục. Khi nội tâm không có ái dục, vị ấy ý thức rằng nội tâm của mình không có ái dục. Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy ý thức được sự đang sanh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đã sanh, vị ấy ý thức được sự đã sanh khởi ấy. Khi ái dục đang được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy ý thức như vậy—Here, there being sensual desire in him, a Bhikkhu understands: “There is sensual desire in me;” or there being no sensual desire in him, he understands: “There is no sensual desire in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen sensual desire, and how there comes to be the abandoning of arisen sensual desire, and how there comes to be the future non-arising of abandoned sensual desire. b) Khi nội tâm có sân hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang có sân hận. Khi nội tâm không có sân hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang không có sân hận. Khi một niệm sân hận chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự bắt đầu sanh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đã sanh khởi, nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Khi một niệm sân hận đã được đoạn diệt và tương lai không còn sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being ill-will in him, a Bhikkhu understands: “There is ill-will in me;” or there being no ill-will in him, he understands: “There is no ill-will in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen ill-will, and how there comes to be the abandoning of arisen ill-will, and how there comes to be the future non-arising of abandoned ill-will. c) Khi nội tâm có hôn trầm thụy miên (mê muội và buồn ngủ), vị ấy ý thức được sự hôn trầm thụy miên ấy. Khi nội tâm không có hôn trầm thụy miên, vị ấy ý thức được nội tâm của mình đang không có hôn trầm thụy miên. Khi hôn trầm và thụy miên chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự đang sanh khởi ấy. Khi hôn trầm và thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đang đoạn diệt ấy. Khi hôn trầm và thụy miên đã được đoạn diệt và tương lai không thể sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được điều đó—There being sloth and torpor in him, a Bhikkhu understands: “There are sloth and torpor in me;” or there being no sloth and torpor in him, he understands: “There are no sloth and torpor in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen sloth and torpor, and how there comes to be the abandoning of arisen sloth and torpor, and how there comes to be the future non-arising of abandoned sloth and torpor. d) Khi nội tâm có trạo hối (sự dao động bất an và hối hận), vị ấy ý thức rằng mình đang có dao động bất an và hối hận. Khi nội tâm không có dao động bất an và hối hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang không có sự dao động bất an và hối hận. Khi dao động bất an và hối hận sanh khởi, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang sanh khởi dao động bất an và hối hận. Khi dao động bất an và hối hận đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Với dao động bất an và hối hận đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being restlessness and remorse in him, a Bhikkhu understands: “There are restlessness and remorse in me;” or there being no restlessness and remorse in him, he understands: “There are no restlessness and remorse in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen restlessness and remorse, and how there comes to be the abandoning of arisen restlessness and remorse, and how there comes to be the future non-arising of abandoned restlessness and remorse. e) Khi nội tâm có nghi, vị ấy ý thức được nội tâm của mình đang có nghi. Khi nội tâm không có nghi, vị ấy ý thức được nội tâm mình đang không có nghi. Khi nội tâm với nghi chưa sanh nay đang sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi ấy. Với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being doubt in him, a Bhikkhu understands: “There is doubt in me;” or there being no doubt in him, he understands: “There is no doubt in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen doubt, and how there comes to be the abandoning of arisen doubt, and how there comes to be the future non-arising of abandoned doubt. 2) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với ngũ uẩn. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quán chiếu như sau: Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five aggregates affected by clinging. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five aggregates affected by clinging? Here a Bhikkhu understands: a) Đây là sắc (hình thể), đây là sắc tập (sự phát sinh ra hình thể), đây là sắc diệt—Such is material form, such its origin, such its disappearance. b) Đây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt—Such is feeling, such its origin, such its disappearance. c) Đây là tưởng, đây là tưởng tập, đây là tưởng diệt—Such is perception, such its origin, such its disappearance. d) Đây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt—Such are the formations, such their origin, such their disappearance. e) Đây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt—Such is consciousness, such its origin, such its disappearance. 3) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ?—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the six internal and external bases. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the six internal and external bases? a) Vị ấy ý thức về mắt và đối tượng của mắt là hình sắc và về những ràng buộc tạo nên do mắt và hình sắc. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã phát sanh nay được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the eye, he understands forms, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. b) Vị ấy ý thức về tai và đối tượng của tai là âm thanh và về những ràng buộc tạo nên do tai và âm thanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh, nay đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the ear, he understands sounds, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. c) Vị ấy ý thức về lổ mũi và đối tượng của mũi là mùi hương và những ràng buộc tạo nên do lổ mũi và mùi hương. Vị nầy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã phát sanh và đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the nose, he understands odours, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. • Vị ấy ý thức về cái lưỡi và đối tượng của lưỡi là vị nếm và những ràng buộc tạo nên do cái lưỡi và vị nếm. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã phát sanh nay đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa— Here a Bhikkhu understands the tongue, he understands flavours, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. d) Vị ấy ý thức về thân và đối tượng của thân là sự xúc chạm. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh khởi nay đang được sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh khởi đang được đoạn tận. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the body, he understands tangibles, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. e) Vị ấy ý thức về đối tượng của ý là tư tưởng và về những ràng buộc tạo nên do ý là tư tưởng. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh khởi đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the mind, he understands mind-objects, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. 4) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên pháp đối với thất giác chi. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên pháp đối với thất giác chi?—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the seven enlightenment factors. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the seven enlightenment factors? a) Khi nội tâm có niệm giác chi (yếu tố chánh niệm), vị ấy ý thức là mình có chánh niệm. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có chánh niệm. Khi không có chánh niệm, vị ấy ý thức rằng tâm mình không có chánh niệm. Vị ấy ý thức về chánh niệm chưa sanh khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về chánh niệm đã phát sanh nay đang thành tựu viên mãn—Here, there being the mindfulness enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the mindfulness enlightenment factor in me;” or there being no mindfulness enlightenment factor in him, he understands: “There is no mindfulness enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen mindfulness enlightenment factor, and how the arisen mindfulness enlightenment factor comes to fulfilment by development. b) Khi nội tâm có trạch giác chi (giám định đúng sai thiện ác). Vị ấy ý thức là mình đang có sự phân định đúng sai thiện ác. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có sự giám định đúng sai thiện ác. Khi không có sự giám định, vị ấy ý thức là mình đang không có sự giám định. Vị ấy ý thức về một sự giám định chưa sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về một sự giám định đã sanh khởi nay đang thành tựu viên mãn—Here, there being the investigation-of-states enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the investigation-of-states enlightenment factor in me;” or there being no investigation-of-states enlightenment factor in him, he understands: “There is no investigation-of-states enlightenment factor in me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen investigation-of-states enlightenment factor, and how the arisen investigation-of-states enlightenment factor comes to fulfilment by development. c) Khi nội tâm có tinh tấn giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có sự tinh chuyên. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có sự tinh chuyên. Khi nội tâm không có sự tinh chuyên, vị ấy ý thức rằng tâm mình không có sự tinh chuyên. Vị ấy ý thức về một sự tinh chuyên chưa sanh khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự tinh chuyên đã sanh khởi nay đang đi đến thành tựu viên mãn— Here, there being the energy enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the energy enlightenment factor in me;” or there being no energy enlightenment factor in him, he understands: “There is no enegy enlightenment factor in me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen energy enlightenment factor, and how the arisen energy enlightenment factor comes to fulfilment by development. d) Khi nội tâm có hỷ giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có an vui. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang an vui. Khi nội tâm không có an vui, vị ấy ý thức là mình đang không có an vui. Vị ấy ý thức về niềm an vui chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về niềm an vui đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn—Here, there being the rapture enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the rapture enlightenment factor in me;” or there being no rapture enlightenment factor in him, he understands: “There is no rapture enlightenment factor in me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen rapture enlightenment factor, and how the arisen rapture enlightenment factor comes to fulfilment by development. e) Khi nội tâm có khinh an giác chi, vị ấy ý thức tâm mình đang có khinh an (nhẹ nhõm). Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có khinh an. Khi nội tâm không có khinh an, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình không có sự khinh an. Vị ấy ý thức về sự khinh an chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự khinh an đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn—Here, there being the tranquility enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the tranquility enlightenment factor in me;” or there being no tranquility enlightenment factor in him, he understands: “There is no tranquility enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen tranquility enlightenment factor, and how the arisen tranquility enlightenment factor comes to fulfilment by development. f) Khi nội tâm có định giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có định. Khi nội tâm không có định, vị ấy ý thức là mình đang không có định. Khi định chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi, vị ấy ý thức như vậy. Khi định đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn, vị ấy cũng ý thức như vậy—Here, there being the concentration enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the concentration enlightenment factor in me;” or there being no concentration enlightenment factor in him, he understands: “There is no concentration enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen concentration enlightenment factor, and how the arisen concentration enlightenment factor comes to fulfilment by development. g) Khi nội tâm có xả giác chi, vị ấy ý thức là mình đang buông xả. Vị ấy quán chiếu là tâm mình có buông xả. Khi nội tâm không có sự buông xả, vị ấy ý thức là tâm mình đang không có sự buông xả. Vị ấy ý thức về sự buông xả chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự buông xả đã sanh khởi, nay đang đi đế sự thành tựu viên mãn—Here, there being the equanimity enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the equanimity enlightenment factor in me;” or there being no equanimity enlightenment factor in him, he understands: “There is no equamity enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen equanimity enlightenment factor, and how the arisen equanimity enlightenment factor comes to fulfilment by development. 5) Lại nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với Tứ Diệu Đế. Này các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với bốn sự thật cao quý? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo ý thức: “Khi sự kiện là đau khổ, vị ấy quán niệm đây là đau khổ. Khi sự kiện là nguyên nhân tạo thành đau khổ, vị ấy quán niệm đây là nguyên nhân tạo thành sự đau khổ. Khi sự kiện là sự chấm dứt khổ đau, vị ấy quán chiếu đây là sự chấm dứt khổ đau. Khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau, vị ấy quán niệm đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.”—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the Four Noble Truths. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the Four Noble Truths? Here a Bhikkhu understands as it actually is: “This is suffering;” he understands as it actually is: “This is the origin of suffering;” he understands as it actually is: “This is the cessation of suffering;” he understands as it actually is: “This is the way leading to the cessation of suffering.” *** For more information, please see Quán Tâm, Lục Quán Pháp, and Chỉ Quán.
; (觀法) Phương pháp quán tưởng chân lí, là pháp môn thực hành phổ thông của Phật giáo. Những dụng ngữ đồng loại có: Quán, tu quán, quán niệm, quán tưởng, quán hành, quán sát, quán môn... gọi chung là Quán pháp. Quán (Phạm: Vipazyanà; Hán âm: Tì bát xá na), nghĩa là dùng trí tuệ chuyên tâm quán tưởng một đối tượng đặc biệt nhất định như Phật hoặc pháp... và dốc toàn lực vào việc chứng ngộ. Chẳng hạn như Nhật tưởng quán (quán tưởng mặt trời), Nguyệt luân quán (quán tưởng mặt trăng), Cửu tưởng quán... đều là quán tưởng 1 đối tượng cụ thể trong tâm, đây là pháp quán bước đầu. Sau đó lại tiến thêm bước nữa là thông qua đối tượng cụ thể ấy để quán tưởng giáo nghĩa sâu xa hoặc triết lí của Phật giáo. Các kinh luận có bàn nói rất nhiều về Quán, như kinh Đại an ban thủ ý, kinh Ấm trì nhập, kinh Tu hành đạo địa, kinh Thiền yếu, kinh Nội thân quán chương cú, kinh Pháp quán, kinh Thân quán, kinh Thiền bí yếu pháp, kinh Tọa thiền tam muội, kinh Bồ tát ha sắc dục pháp, Thiền pháp yếu giải, Tư duy lược yếu pháp, kinh Đạt ma đa la thiền, Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp... tất cả đều giải thích rõ về quán pháp. Quán có rất nhiều loại, mà phương pháp và mục đích cũng đều khác. Nay liệt kê các uán pháp tương đối có tính cách đại biểu như sau: 1. Quán pháp về Tứ đế, Thập nhị nhân duyên mà Phật giáo nguyên thủy nhấn mạnh: Như quán 4 đế gọi là Tứ đế quán; quán 12 nhân duyên gọi là Thập nhi nhân duyên quán; quán hơi thở ra vào gọi là Sổ tức quán; quán thân bất tịnh gọi là Bất tịnh quán; quán các hành vô thường gọi là Vô thường quán; quán các pháp vô ngã gọi là Vô ngã quán; quán 4 cái chẳng thường (vô thường, khổ, không, vô ngã) gọi là Phi thường quán; quán 5 cách dừng vọng tâm gọi là Ngũ đình tâm quán; quán 4 niệm xứ gọi là Tứ niệm xứ quán. 2. Quán pháp phân tích các pháp sắc, tâm là không: Đối với Tiểu thừa, như quán không gọi là Không quán; quán sinh không gọi là Sinh không quán; quán pháp không gọi là Pháp không quán; phân tích sắc là không gọi là Tích không quán. Đối với Đại thừa, như thấu suốt đương thể của các pháp tức không gọi là Thể không quán; quán thắng nghĩa đều không gọi là Thắng nghĩa giai không quán. 3. Quán pháp về Tam đế Không, Giả, Trung của tông Thiên thai: Như quán giả gọi là Giả quán; quán từ giả vào không gọi là Nhị đế quán; quán từ không vào giả gọi là Bình đẳng quán; quán trung đạo đệ nhất nghĩa đế gọi là Trung đạo quán; tu 3 quán theo thứ tự gọi là Thứ đệ quán; trong 1 tâm quán 3 đế gọi là Nhất tâm tam quán. 4. Quán pháp của tông Hoa nghiêm quán xét về thực tướng các pháp: Như quán thực tướng gọi là Thực tướng quán; quán 4 pháp giới gọi là Tứ pháp giới quán. 5. Tông Pháp tướng có quán pháp quán 3 cõi duy tâm: Như quán 5 lớp duy thức gọi là Ngũ trùng duy thức quán. 6. Quán pháp trọng yếu của tông Tam luận: Như quán bát bất trung đạo gọi là Bát bất trung đạo quán. 7. Quán pháp quan trọng của tông Chân ngôn: Như quán 5 tướng của tâm bồ đề thanh tịnh gọi là Ngũ tướng thành thân quán. 8. Quán pháp trọng yếu của tông Tịnh độ: Như quán mặt trăng gọi là Nguyệt luân quán; quán nước gọi là Thủy tưởng quán; quán đất ở cõi Tịnh độ gọi là Địa quán; quán tòa hoa sen gọi là Hoa tòa quán; quán hình tượng gọi là Tượng quán; quán chân thân của Phật gọi là Chân thân quán; quán ứng thân của Phật gọi là Ứng thân quán; quán tướng chung của thân Phật gọi là Tổng tướng quán; quán tướng riêng gọi là Biệt tướng quán. Quán đối lại với Chỉ (Phạm:Zamatha, Hán âm: Xa ma tha, tức là công phu chú tâm vào 1 đối tượng, ngăn dứt vọng niệm), Trung đạo quán tuy cũng gọi là Quán nhưng là Chỉ Quán song tu, nghĩa là Quán hợp với Xả (Phạm:Upekwà, Hán âm: Ưu tất xoa). Cho nên, các loại Quán được trình bày ở trên tuy gọi chung là Tì bát xá na, nhưng Trung đạo quán thì có nghĩa khác. Đối cảnh bị quán gọi là Quán cảnh; trí tuệ tác quán gọi là Quán trí hoặc Quán tuệ; tư duy về chân lí và hiểu rõ về chân lí gọi là Quán giải; quán các pháp vô ngại mà đạt được diệu lí tam đế viên dung chẳng thể nghĩ bàn gọi là Quán đạt. Ngoài ra, trong các quán pháp của tông Thiên thai, có Nhất niệm tam thiên, Nhất tâm tam quán là quán về bản tính của tâm mình, vì thế nên cũng gọi là Quán tâm. Còn tông Hoa nghiêm thì lấy quán pháp làm con đường thông vào cảnh giới giác ngộ, nên gọi là Quán đạo. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.31 (bản Bắc); luận Vãng sinh; luận Câu xá Q.28; luận Du già sư địa Q.45; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.10; Ma ha chỉ quán Q.3 thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.10].
quán pháp vô ngã
xem Bốn niệm xứ.
quán phật
To contemplate, or meditate upon Buddha.
; 1) Tắm Phật: Dục Phật—Lễ tắm Phật trong ngày Phật Đản. Đây là một công việc có nhiều phước đức và được thực hiện với nhiều nghi thức—To wash the image or statue of the Buddha during the Buddha's Birthday, usually with scented water, which is a work of great merit and done with much ceremony. 2) Quán niệm hồng danh của Phật: To meditate or contemplate upon Buddha. 3) Theo Kinh Duy Ma Cật, chương mười hai, phẩm Thấy Phật A Súc, Đức Thế Tôn hỏi Duy Ma Cật rằng: “Ông nói ông muốn đến đây để thấy Như Lai thì lấy chi quán sát?”—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Twelve, Seeing Aksobhya Buddha, the Buddha asked Vimalakirti: “You spoke of coming here to see the Tathagata, but how do you see Him impartially?” • Duy Ma Cật thưa: “Như con quán thực tướng của thân, thân Phật cũng thế. Con quán Như Lai đời trước không đến, đời sau không đi, hiện tại không ở; không quán sắc, không quán sắc như, không quán sắc tánh; không quán thọ, tưởng, hành, thức, không quán thức như, không quán thức tánh; không phải tứ đại sinh, cũng không như hư không; sáu nhập không tích tập, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm đã vượt qua; không ở ba cõi, đã lìa ba cấu; thuận ba môn giải thoát; có đủ ba minh, cùng ngang vô minh, không một tướng, không khác tướng, không có tự tướng, không có tha tướng, không phải không tướng, không phải chấp tướng; không bờ bên nầy, không bờ bên kia, không giữa dòng mà hóa độ chúng sanh; quán tịch diệt cũng không diệt hẳn; không đây, không kia, không nương nơi đây, không nương nơi kia; không thể dùng trí mà hiểu được, không thể dùng thức mà biết được; không tối không sáng; không danh không tướng; không mạnh không yếu; không phải sạch không phải nhơ; không ở phương sở, không lìa phương sở; không phải hữu vi, không phải vô vi; không bày không nói; không bố thí, không bỏn xẻn; không giữ giới, không phạm giới; không nhẫn không giận; không tinh tấn không giải đãi; không định không loạn; không trí không ngu; không thực không dối; không đến không đi; không ra không vào; bặt đường nói năng; không phải phước điền, không phải không phước điền; không phải xứng cúng dường, không phải không xứng cúng dường; không phải thủ, không phải xả; không phải có tướng, không phải không tướng; đồng với chân tế bình đẳng như pháp tánh; không thể cân, không thể lường, qua các sự cân lường, không lớn không nhỏ; không phải thấy, không phải nghe, không phải giác, không phải tri; lìa các kiết phược, bình đẳng các trí, đồng với chúng sanh; đối các pháp không phân biệt; tất cả không tổn thất, không trược không não, không tác không khởi, không sanh không diệt, không sợ không lo, không mừng không chán, không đã có, không sẽ có, không hiện có, không thể lấy tất cả lời nói phân biệt chỉ bày được. Bạch Thế Tôn! Thân Như Lai như thế, con quán cũng thế, nếu người nào quán theo đây gọi là chánh quán, quán khác gọi là tà quán.”—Vimalakirti replied: “Seeing reality in one's body is how to see the Buddha. I see the Tathagata did not come in the past, will not go in the future, and does not stay in the present. The Tathagata is seen neither in form (rupa, the first aggregate) nor in the extinction of form nor in the underlying nature of form. Neither is He seen in responsiveness (vedana), conception (sanjna), discrimination (samskara) and consciousness (vijnana) (i.e. the four other aggregates), their extinction and their underlying natures. The Tathagata is not created by the four elements (earth, water, fire and air), for He is (immaterial) like space. He does not come from the union of the six entrances (i.e. the six sense organs) for He is beyond eye, ear, nose, tongue, body and intellect. He is beyond the three worlds (of desire, form and formlessness) for He is free from the three defilements (desire, hate and stupidity). He is in line with the three gates to nirvana and has achieved the three states of enlightenment (or three insights) which do not differ from (the underlying nature of ) unenlightenment. He is neither unity nor diversity, neither selfness nor otherness, neither form nor formlessness, neither on this shore (of enlightenment) nor in mid-stream when converting living beings. He looks into the nirvanic condition (of stillness and extinction of worldly existence) but does not dwell in its permanent extinction. He is neither this nor that and cannot be revealed by these two extremes. He cannot be known by intellect or perceived by consciousness. He is neither bright nor obscure. He is nameless and formless, being neither strong nor weak, neither clean nor unclean, neither in a given place nor outside of it, and neither mundane nor supramundane. He can neither be pointed out nor spoken of. He is neither charitable nor selfish; he neither keeps nor breaks the precepts; is beyond patience and anger, diligence and remissness, stillness and disturbance. He is neither intelligent nor stupid, and neither honest nor deceitful. He neither comes nor goes and neither enters nor leaves. He is beyond the paths of word and speech. He is neither the field of blessedness nor its opposite, neither worthy nor unworthy of worship and offerings. He can be neither seized nor released and is beyond 'is' and 'is not'. He is equal to reality and to the nature of Dharma (Dharmata) and cannot be designated and estimated, for he is beyond figuring and measuring. He is neither large nor small, is neither visible nor audible, can neither be felt nor known, is free from all ties and bondage, is equal to the All-knowledge and to the (underlying) nature of all living beings, and cannot be differentiated from all things. He is beyond gain and loss, free from defilement and troubles (klesa), beyond creating and giving rise (to anything), beyond birth and death, beyond fear and worry, beyond like and dislike, and beyond existence in the past, future and present. He cannot be revealed by word, speech, discerning and pointing. “World Honoured One, the body of the Tathagata being such, seeing Him as above-mentioned is correct whereas seeing Him otherwise is wrong.”
quán phật hương thang
(灌佛香湯) Nước thơm hơi nóng dùng để tắm tượng Phật. Cứ theo kinh Dục tượng công đức thì Hương thang được nấu bằng các hương liệu như: Chiên đàn ngưu đầu, Tử đàn, hương Đa ma la, Cam tùng, Khung cùng, Bạch đàn, Đinh hương, Uất kim, Long não, Trầm hương. Xạ hương... hễ có được thứ nào thì nấu bằng thứ đó. Nhưng theo Thiền tông thì Hương thang được nấu bằng 6 loại hương: Trầm hương, Bạch đàn, Cam tùng, Đinh tử, Huân lục và Uất kim. [X. môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].
quán phật hội
(灌佛會) Hội tắm Phật. Tức là pháp hội tắm gội tượng Phật được cử hành vào ngày mồng 8 tháng 4 hàng năm (ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh). Theo các kinh điển như kinh Ma ha sát đầu... và bức điêu khắc bằng đá ở vườn Lộc Dã (vườn Nai) bên Ấn Độ, lúc đức Phật đản sinh thì Phạm thiên, Đế thích và Long vương dùng nước thơm tắm gội thân Phật. Vì thế, hàng năm đến ngày Phật đản, tín đồ dùng nước hương cam trà tắm gội tượng Phật sơ sinh từ đầu trở xuống, gọi là Quán Phật hội. Tượng Phật sơ sinh là tượng đứng, cao khoảng 20 cm, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất, thông thường được tôn trí trong cái đình có treo hoa để tắm gội. Quán Phật hội thịnh hành ở Ấn độ và các nước vùng Trung á; ở Trung quốc thì bắt đầu vào khoảng thế kỉ IV, đến thời đại Đường Tống thì trở thành phong tục phổ biến. Tại Nhật bản, vào thế kỉ IX, Quán Phật hội bắt đầu được cử hành trong cung vua, về sau mới phổ cập các chùa và thần xã. [X. kinh Phổ diệu Q.2; kinh Quán tẩy Phật hình tượng; kinh Dục Phật công đức; kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; Pháp uyển châu lâm Q.33; Phật tổ thống kỉ Q.33]. (xt. Dục Phật).
quán phật kệ
(灌佛偈) Cũng gọi Dục Phật kệ. Bài kệ đọc khi tắm tượng Phật. Điều Phật giáng đản, chương Báo bản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng có ghi bài kệ tắm Phật như sau (Đại 48, 1116 thượng): Nay con tắm gội đấng Như lai/Trang nghiêm trí tịnh công đức tụ/Chúng sinh năm trược lìa cáu bẩn/Cùng chứng được pháp thân Như lai. Nhật bản Oánh sơn thanh qui quyển hạ thì ghi bài kệ tắm Phật như sau (Đại 82, 43 hạ):Cúi đầu lạy đức Bạc già phạm/Đấng tôn quí của cả trời người /Nay chúng con dùng nước công đức /Tắm gội tịnh pháp thân Như lai. [X. kinh Dục tượng công đức]. (xt. Dục Phật).
quán phật tam muội
A samàdhi on the characteristic marks of a Buddha.
; Nhứt tâm quán tưởng tướng mạo hình sắc của Phật (thành tựu được tam muội nầy thì thấy Phật hiện đến)—A samadhi on the characteristic marks of a Buddha.
; (觀佛三昧) Gọi tắt: Quán Phật. Nhất tâm quán tưởng tướng hảo và công đức của thân Phật. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 1 (Đại 15, 646 thượng) nói: Nếu người nào một lòng buộc niệm bên trong, ngồi ngay thẳng chính quán sắc thân Phật, thì nên biết tâm người ấy hệt như tâm Phật, không khác với Phật, tuy sống trong phiền não, nhưng không bị các điều xấu ác che lấp.Ngoài việc quán tưởng tướng tốt đẹp của thân Phật ra, quán Phật còn có các pháp quán như: Pháp thân, Thực tướng... Theo luận Đại trí độ quyển 21 thì thứ tự tu tập quán Phật như sau: Trước hết niệm 10 hiệu của Phật, kế đến niệm 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và năng lực thần thông công đức của Phật; tiếp sau niệm 5 phần pháp thân giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến của Phật, cuối cùng niệm Nhất thiết trí, Nhất thiết trí kiến, Đại từ, Đại bi, Thập lực, Tứ vô sở úy, Tứ vô ngại trí, Thập bát bất cộng pháp... của Phật. Trong Tư duy lược yếu pháp của ngài Cưu ma la thập thì nói: Về pháp Quán Phật tam muội thì trước nên quán tướng tốt đẹp của Phật, kế đến quán các thiện nghiệp như: Thập lực, Tứ vô sở úy, Đại từ, Đại bi của pháp thân, sau cùng lại tu quán thực tướng các pháp. Trong Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng, ngài Tịnh ảnh cho rằng quán Phật có 2 pháp: Quán Chân thân và quán Ứng thân. Quán Chân thân tức là quán thân bình đẳng của Như lai trùm khắp pháp giới, thuộc về quán thực tướng pháp thân; còn quán Ứng thân là quán sắc thân tướng hảo của Như lai, thuộc về quán sắc thân.Trong Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng cũng nói niệm Phật có 2 cách: Niệm pháp thân Phật và Niệm sinh thân Phật; điều này cũng có nghĩa là quán sắc thân và quán pháp thân. Trong Quán niệm pháp môn của mình, ngài Thiện đạo đã y cứ vào kinh Quán Vô lượng thọ và kinh Quán Phật tam muội hải mà nói rõ về pháp Quán Phật tam muội như sau: Quán sắc thân màu vàng ròng của đức Phật A di đà, hào quang tròn sáng soi suốt, tướng hảo trang nghiêm đoan chính không gì sánh bằng. Trong Vãng sinh yếu tập quyển thượng, phần cuối, ngài Nguyên tín của Nhật Bản chia quán Phật làm 3 loại: Biệt tướng quán (quán riêng từng tướng hảo một của Phật), Tổng tướng quán (quán chung 1 lúc tất cả tướng hảo quang minh của Phật) và Tạp lược quán(quán đơn giản từng phần). Thông thường lấy quán tượng Phật để làm phương tiện quán Phật. Vãng sinh yếu tập quyển trung, phần đầu, cũng chủ trương người mới phát tâm trước nên tu tập pháp quán sắc thân, sau mới dần dần tiến đến quán pháp thân và quán thực tướng. Đời Tống, ngài Tri Lễ đề xướng nghĩa Ước tâm quán Phật, tức là Y báo và Chính báo của Phật A di đà không ngoài tâm mình, nương vào đó mà quán Phật để hiển bày lí ấy. Từ đời Tống về sau thuyết này khá thịnh hành. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; luận Vãng sinh; luận Thập trụ tì bà sa Q.9; An lạc tập Q.thượng; Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.3 (Thiện đạo)].
quán phật tam muội hải kinh
(觀佛三昧海經) Phạm: Buddha-dhyànasamàdhisàgara-sùtra. Cũng gọi Quán Phật tam muội kinh, Quán Phật kinh. Kinh, 10 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật ở rừng Ni Câu Lâu Đà, gần thành Ca Tì La, thuyết pháp độ cho phụ vương là Duyệt Đầu Đàn và Di mẫu là Kiều Đàm Di, Ngài dạy trụ trong tam muội Quán Phật, vì Tam muội này có công đức sâu rộng, có năng lực đưa đến giải thoát. Kinh này gồm 12 phẩm: Phẩm Lục thí, phẩm Tự quán địa, phẩm Quán tướng, phẩm Quán Phật tâm, phẩm Quán tứ vô lượng tâm, phẩm Quán tứ uy nghi, phẩm Quán mã vương tàng, phẩm Bản hạnh,phẩm Quán tượng, phẩm Niệm thất Phật, phẩm Niệm thập phương Phật và phẩm Quán Phật mật hạnh. Phần Đơn dịch khuyết bản lục trong Khai nguyên thích giáo lục quyển 14 có nêu kinh Quán Phật tam muội 1 quyển do ngài Cưu ma la thập dịch, nhưng không cho biết sự dị đồng giữa kinh ấy và kinh này như thế nào. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
quán phật tam muội hải kinh lục thí
(觀佛三昧海經六譬) Sáu thí dụ để ví dụ cho công đức thù thắng của tam muội Niệm Phật nói trong kinh quán Phật tam muội hải. Sáu thí dụ ấy là:1. Ví dụ cho vàng Diêm phùđàn màu đỏ tươi của trưởng giả. 2. Ví dụ cho ấn báu của vua. 3. Ví dụ cho ngọc Như ý của trưởng giả.4. Ví dụ cho thần chú tốt lành của người tiên.5. Ví dụ cho hạt châu trên búi tóc của lực sĩ. 6. Ví dụ cho núi Kim cương ở mạt kiếp. [X. Vãng sinh yếu tập Q.hạ].
quán phật tam muội kinh
Buddha-dhyāna-samādhiśāgāra sŪtra (S)Quán Phật kinhTên một bộ kinh.
quán phật vi tông
(觀佛爲宗) Pháp môn quán Phật do ngài Thiện Đạo đời Đường phán lập. Tịnh độ giáo luận định kinh Vô lượng thọ của 2 tông: Niệm Phật tam muội và Quán Phật tam muội. Trong đó, tông lấy quán tưởng Di đà làm pháp môn niệm Phật chủ yếu gọi là Quán Phật vi tông. Phần Huyền nghĩa trong Quán kinh (Đại 37, 247 thượng) nói: Nay, Quán kinh này lấy Quán Phật tam muội làm tông, cũng lấy Niệm Phật tam muội làm tông và lấy nhất tâm hồi hướng nguyện vãng sinhTịnh độ làm thể. [X. An lạc tập Q.thượng; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. NiệmQuán Lưỡng Tông).
quán phổ hiền bồ tát hành pháp kinh
(觀普賢菩薩行法經) Cũng gọi Xuất thâm công đức kinh. Gọi tắt: Quán phổ hiền kinh, Phổ hiền quán kinh, Phổ hiền kinh, Quán kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm ma mật đa (Phạm: Dharmamitra) dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Kinh này đức Phật nói ở tinh xá Đại Lâm tại nước Tì Xá Li, sau khi nói kinh Pháp hoa. Vì đức Phật tuyên bố sau 3 tháng nữa Ngài sẽ vào Niết bàn nên tôn giả A nan liền thỉnh vấn rằng sau khi Phật nhập diệt thì các đệ tử nên tu hành như thế nào; đồng thời thỉnh vấn Phật về pháp yếu Đại thừa. Do đó, đức Phật nói về Phổ hiền quán môn, về pháp sám hối tội lỗi của 6 căn và các công đức sau khi sám hối. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7, 8, 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.3-5].
quán phức
(觀複) Cao tăng Trung Quốc sống vào đời Tống, hiệu Tiếu Am. Sư trụ ở chùa Hoa Nghiêm tại Tì Lăng. Sư cùng với các vị Đạo Đình, Sư Hội, Hi Địch được gọi chung là Hoa Nghiêm tứ đại gia. Sư theo ngài Tông Vũ học Hoa nghiêm ngũ giáo chương, soạn Ngũ giáo chương chiết tân kí 5 quyển để giải thích thuyết Biệt giáo nhất thừa trong Ngũ giáo chương. Quan điểm của sư thừa kế thuyết của các ngài Trừng quán, Tông mật, đứng trên lập trường đối kháng, bác bỏ Ngũ giáo chương phần tân của ngài Sư hội, do đó, 2 vị bắt đầu cuộc luận nạn bắt bẻ lẫn nhau. Ngoài ra, sư còn soạn Viên giác kinh sao biện nghi ngộ, Diễn nghĩa sao hội giải kí, Kim cương biệt kí, Di giáo kinh luận kí... tất cả 4 bộ 18 quyển lưu hành ở đời.
quán sanh diệt
Knowledge of comtemplation of rise and fall. (A) Theo Thanh Tịnh Đạo, các đặc tính không thể hiện rõ khi một vật không được chú ý đến, bởi thế, có cái gì khuất lấp chúng. Trước hết, đặc tính vô thường không trở nên rõ rệt bởi vì khi sanh và diệt không được chú ý, thì đặc tính ấy bị che lấp bởi tính tương tục. Đặc tính khổ không hiện rõ vì khi sự bức bách liên tục không được chú ý, thì đặc tính nầy bị che lấp bởi các dáng điệu uy nghi. Đặc tính vô ngã không hiện rõ, vì khi sự phân tích thành các giới không được tác ý, thì đặc tính nầy bị che lấp bởi tính nguyên vẹn. Nhưng khi sự tương tục bị gián đoạn do phân biệt sinh diệt, thì đặc tính vô thường trở nên rõ rệt trong thực chất của nó. Khi các dáng điệu được tác ý là bị áp bức liên tục, thì đặc tính khổ hiện rõ trong thực chất của nó. Khi sự phân biệt thành các giới được thực hiện đối với cái vẻ nguyên vẹn, thì đặc tính vô ngã hiện rõ trong thực chất nó: According to the Path of Purification, the characteristics fail to become apparent when something is not given attention and so something conceals them. Firstly, the characteristic of impermanence does not become apparent because, when rise and fall are not given attention, it is concealed by continuity. The characteristic of pain does not become apparent because, when continuous oppression is not given attention, it is concealed by the postures. The characteristic of not self does not become apparent because, when resolution into the various elements is not given attention, it is concealed by compactness. However, when continuity is disrupted by discerning rise and fall, the characteristic of impermanence becomes apparent in its true nature. When the postures are exposed by attention to continuous oppression, the characteristic of pain becomes apparent in its true nature. When the resolution of the compact is effected by resolution into elements, the characteristic of not-self becomes apparent in its true nature. (B) Trong Phân Biệt Xứ nói tóm tắt như sau: “Đặc tính vô thường rõ rệt khi một cái đĩa rớt xuống vỡ toang; đặc tính khổ rõ rệt khi một ung nhọt xuất hiện trên cơ thể. Nhưng đặc tính vô ngã không rõ rệt. Dù chư Phật có xuất hiện hay không, các đặc tính vô thường và khổ vẫn được biết đến, nhưng nếu không có chư Phật ra đời thì không có lý vô ngã được công bố. Trong Luận về Kinh Trung Bộ 22: In the commentary to the Ayatana-Vibhanga we find: “Impermanence is obvious, as when a saucer falls and breaks; pain is obvious, as when a boil appears in the body; the characteristic of not-self is not obvious; whether Perfect Ones arise or do not arise the characteristics of impermanence and pain are made known but unless there is the arising of a Buddha, the characteristic of not-self is not is not made known. Again, in the commentary to Majjima Nikaya Sutta 22: 1) Sau khi hiện hữu nó trở thành không, bởi thế nó là vô thường. Nó vô thường vì bốn lý do: vì sinh diệt, vì biến dị, vì tính chất tạm thời, và vì không có chuyện trường cửu. Theo Thanh Tịnh Đạo, khi sự tương tục bị gián đoạn, nghĩa là khi sự tương tục bị phơi bày ra do quán sát sự đổi khác của các pháp, khi chúng nối nhau sanh khởi. Vì không phải qua sự liên kết của các pháp mà đặc tính vô thường trở nên rõ rệt cho một người chánh quán sinh diệt, mà chính là qua sự gián đoạn của chúng: Having been, it is not, therefore it is impermanent; it is impermanent for four reasons, that is, in the sense of the state of rise and fall, of change, of temporariness, and of denying permanence. According to the Path of Purification, when continuity is disrupted means when continuity is exposed by observing the perpetual otherness of state as they go on occuring in succession. For it is not through the connectedness of state that the characteristic of impermanence becomes apparent to one who rightly observes rise and fall, but rather the characteristic becomes more thoroughly evident through their disconnectedness, as if they were iron darts. 2) Nó là khổ vì sự bức bách theo bốn ý nghĩa: thiêu đốt, khó chịu nổi, là căn đế của khổ, và ngược với lạc. Khi các uy nghi được phơi bày, có nghĩa là khi nỗi khổ nội tại ẩn nấp trong các uy nghi lộ ra. Vì khi cơn đau khởi lên nơi một uy nghi, thì uy nghi khác đã được áp dụng, làm cho hết đau. Và như vậy, dường như khuất lấp sự khổ. Nhưng khi đã biết chân chánh rằng, nỗi khổ trong mỗi uy nghi được di chuyển bằng cách thay thế uy nghi khác, thì sự khuất lấp cái khổ tiềm ẩn trong các uy nghi được lộ rõ, vì rõ ràng các hành liên tục bị tràn ngập bởi đau khổ: It is painful on account of the mode of oppression; it is painful for four reasons, that is, in the sense of burning, of being hard to bear, of being the basis for pain, and of opposing pleasure. According to the Path of Purification, when the postures are xposed, means when the concealment of the pain that is actually inherent in the postures is exposed. For when pain arises in a posture, the next posture adopted removes the pain, as it were, concealing it. But once it is correctly known how the pain in any posture is shifted by substituting another posture for that one, then the concealment of the pain that is in them is exposed because it has become evident that formations are being incessantly overwhelmed by pain. 3) Nó vô ngã vì không chịu được một năng lực nào tác động lên nó, và vì bốn lý do: trống rỗng, không sở hữu chủ, không sáng tạo chủ, và vì đối lại với ngã. Sự phân tích cái khối nguyên vẹn là phân thành đất, nước, lửa, gió; hoặc xúc, thọ, vân vân. Khi phân tích thành các giới đã được thực hiện là khi cái có vẻ nguyên vẹn như một khối hay như một nhiệm vụ duy nhất, đã được phân tích ra. Vì khi các pháp sắc, vô sắc sinh khởi củng cố cho nhau, như danh và sắc, thì khi ấy ta hiểu lầm có một khối nguyên vẹn do không thể nhận ra các hành bị bức bách. Cũng thế ta nhận lầm có một nhiệm vụ duy nhất trong khi thực sự các pháp có nhiệm vụ khác nhau. Cũng vậy, ta lầm cho rằng có một đối tượng duy nhất, trong khi mỗi tâm pháp đều có đối tượng riêng của nó. Khi phân tích thành các giới như vậy, chúng phân tán như bọt dưới bàn tay nén lại. Chúng chỉ là pháp sinh khởi do nhiều duyên, trống rỗng. Với cách ấy, đặc tính vô ngã trở nên rõ rệt: It is not-self on account of the mode of insusceptibility to the exercise of power; it is not-self for four reasons, that is, in the sense of voidness, of having no owner-master, of having no Overlord, and of opposing self: Resolution of the compact is effected by resolving what appears compact in this way. The earth element is one, the water element is another, etc., distinguishing each one; and in this way, contact is one, feeling is another, etc, distinguishing each one. When the resolution of the compact is effected, means that what is compact as a mass and what is compact as a function or as an object has been analyzed. For when material and immaterial states have arisen mutually steadying each other, mentality and materiality, for example, then, owing to misinterpreting that as a unity, compactness of mass is assumed through failure to subject formations to pressure. And likewise compactness of function is assumed when, although definite differences exist in such and such states' functions, they are taken as one. And likewise compactness of object is assumed when, although differences exist in the ways in which states that take objects make them their objects, those objects are taken as one. But when they are seen after resolving them by means of knowledge into these elements, they disintegrate like froth subjected to compression by the hand. They are mere states occuring due to conditions and void. In this way the characteristic of the not-self becomes more evident.
quán sát
Prvicaya (S). Investigation; meditation on and inquiry into; vibhàvana, clear perception.
; Pravicaya or Vibhavana (skt)—Investigation—Meditation on and inquiry into—Clear perception. ** For more information, please see Ngũ Niệm Môn.
quán sát chánh hạnh
Quán sát về Tây Phương Tịnh Độ, một trong năm chánh hạnh đảm bảo vãng sanh Tây Phương Cực Lạc—Meditation on the Pure Land, one of the five proper courses to ensure the bliss of the Pure Land. ** For more information, please see Ngũ Chánh Hạnh.
quán sát môn
Contemplation of the joys of Amitàbha's Pure Land, one of ngũ niệm môn.
; Một trong ngũ niệm môn của Tịnh Độ tông, là pháp môn quán tưởng về tướng trang nghiêm của cõi Tịnh Độ Cực Lạc—Contemplation of the joys of Amitabha's Pure Land, one of the five devotional gates of the Pure Land sect. ** For more information, please see Ngũ Niệm Môn.
quán sát pháp nhẫn
Một trong nhị nhẫn, quán pháp chư pháp thể tính chẳng sinh chẳng diệt, an nhiên nhẫn chịu và tâm chẳng động—Physical and mental patience or endurance—One of the two kinds of patience, imperturbable examination of or meditation in the law of all things.
quán sát tha tâm thần túc
Xem Chiên niệm thị hiện.
quán sát trí
Pravicàyabuddhi (S). Observing-mind.
; Pravicayabuddhi (skt)—Cái trí thấy suốt vào tự tính của hiện hữu là cái trí vượt khỏi tứ cú hay bốn mệnh đề của sự phân biệt—The intellect that sees into the self-nature of existence which is beyond the fourfold proposition of discrimination—For more information, please see Tứ Cú Phân Biệt in Vietnamese-English Section.
quán sổ tức
Ana or Anapana (skt). (A) Breathing meditation—Ana có nghĩa là thở ra—Ana means exhaling; pana (skt) có nghĩa là thở vào—Pana means inhaling. Theo Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm, thế nào là tu tập Nhập Tức Xuất Tức Niệm để được công đức lớn?—According to the Anapanasatisutta, how is mindfulness of breathing developed and cultivated, so that it is of great fruit and great benefit?—Đây là phương pháp Thiền Quán căn bản cho những người sơ cơ. Nếu chúng ta không thể thực hành những hình thức thiền cao cấp, chúng ta nên thử quán sổ tức. Thiền Sổ Tức hay tập trung vào hơi thở vào thở ra qua mũi. Chỉ tập trung tâm vào một việc là hơi thở, chẳng bao lâu sau chúng ta sẽ vượt qua sự lo ra và khổ não của tâm—This is the basic meditation method for beginners. If we are unable to engage in higher forms of meditation, we should try this basic breathing meditation—Meditation or concentration on normal inhalations and exhalations of breath through our nostrils. Just focus our mind on one thing: breathing, we will soon overcome a lot of distractions and unhappy states of mind. Try to calm the body and mind for contemplation by counting the breathing. Ở đây, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm vị ấy thở ra—Here a Bhikkhu, gone to the forest or to the root of a tree or to an empty hut, sits down; having folded his legs crosswise, set his body erect, and established mindfulness in front of him, ever mindful he breathes in, mindful he breathes out. 1) Thở vô dài, vị ấy biết mình đang thở vô dài. Hay thở ra dài, vị ấy biết mình đang thở ra dài. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết mình đang thở vô ngắn. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết mình đang thở ra ngắn. Vị ấy tập: “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “An tịnh toàn thân tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra.”—Breathing in long, he understands: “I breathe in long;” or breathing out long, he understands: “I breathe out long.” Breathing in short, he understands: “I breathe in short;” or breathing out short, he understands: “I breathe out short.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the whole body of breath.” He trains thus: “I shall breathe in traqilizing the bodily formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the bodily formation.” 2) Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Cảm giác an tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác an tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing rapture;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing rapture.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing pleasure;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing pleasure.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the mental formation;” he trains this: “I shall breathe out experiencing the mental formation.” He trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the mental formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the mental formation.” 3) Vị ấy tập: “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing the mind;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the mind.” He trains thus: “I shall breathe in gladdening the mind;” he trains thus: “I shall breathe out gladdening the mind.” He trains thus: “I shall breathe in concentrating the mind;” he trains thus: “I shall breathe out concentrating the mind.” He trains thus: “I shall breathe in liberating the mind;” he trains thus: “I shall breathe out liberating the mind.” 4) Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating impermanence;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating impermanence.” He trains thus: “I shall breathe in contemplating fading away;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating fading away.” He trains thus: “I shall breathe in contemplating cessation;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating cessation.” He trains thus: “I shall breathe in contemplating relinquishment;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating relinquishment.” (B) Và như thế nào, nầy các Tỳ Kheo, là nhập tức xuất tức niệm được tu tập? Như thế nào làm cho sung mãn, khiến bốn niệm xứ được viên mãn?—And how, Bhikkhus, does mindfulness of breathing, developed and cultivated, fulfil the four foundations of mindfulness? 1) Khi nào, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo thở vô dài, vị ấy biết là mình đang thở vô dài. Hay khi thở ra dài, vị ấy biết là mình đang thở ra dài. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết là mình đang thở vô ngắn. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết là mình đang thở ra ngắn. Vị ấy tập: “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra.” Trong khi tùy quán thân thể trên thân thể, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nầy các Tỳ Kheo, đối với các thân, Ta đây nói là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán thân thể trên thân thể, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—Bhikkhus, on whatever occasion a Bhikkhu, breathing in long, understands: “I breathe in long;” or breathe out long, understands: “I breathe out long;” breathing in short, understands: “I breathe in short;” breathing out short, understands: “I breathe out short.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the bodily formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the bodily formation.” On that occasion, a Bhikkhu abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. I say that this is a certain body among the bodies, namely, in-breathing and out-breathing. That is why on that occasion a Bhikku abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 2) Khi nào, nầy các vị Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo nghĩ về cảm giác hỷ thọ: Bhikkhus! On whatever occasion a Bhikkhu thinks about 'experiencing rapture': a) Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing rapture.” b) Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out experiencing rapture.” c) Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing pleasure.” d) Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out experiencing pleasure.” e) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing the mental formation.” f) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out experiencing the mental formation.” g) Vị ấy tập: “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the mental formation.” h) Vị ấy tập: “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the mental formation.” Trong khi tùy quán thọ trên các thọ, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nầy các Tỳ Kheo, đối với các thọ, Ta đây nói là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán thọ trên các thọ, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—On that occasion, a Bhikhu abides contemplating feelings as feelings, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. I say that this is a this is a certain feeling among the feelings, namely, giving close attention to in-breathing and out-breathing. This is why on that occasion a Bhikkhu abides contemplating feelings as feelings, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 3) Khi nào, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo nghĩ về cảm giác tâm: Bhikkhus, on whatever occasion, thinks of the 'experiencing the mind.' a) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm, tôi sẽ thở vô.” A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in experiencing the mind.” b) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out experiencing the mind.” c) Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô.”—A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in gladdening the mind.” d) Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra.”—A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe out gladdening the mind.” e) Vị ấy tập: “Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở vô.”— A Bhikkhu trains thus: A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in gladdening the mind.” f) Vị ấy tập: “Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở ra.”—A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe out concentrating the mind.” g) Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in liberating the mind.” h) Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe out liberating the mind.” Trong khi tùy quán tâm trên tâm, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nầy các Tỳ Kheo, sự tu tập nhập tức xuất tức niệm không thể đến với kẻ thất niệm, không có tỉnh giác. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán tâm trên tâm, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—On that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind as mind, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. I do not say that there is the development of mindfulness of breathing for one who is forgetful, who is not fully aware. That is why on that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind as mind, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 4) Khi nào nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo nghĩ về 'quán vô thường': Bhikkhu, on whatever occasion, a Bhikkhu thinks about 'contemplation of impermanence': a) Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating impermanence.” b) Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out contemplating impermanence.” c) Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating fading away.” d) Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out contemplating fading away.” e) Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating cessation.” f) Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out contemplating cessation.” g) Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating relinquishment.” h) Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out contemplating relinquishment.” 5) Trong khi tùy quán pháp trên pháp, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Vị ấy, do đoạn trừ tham ưu, sau khi thấy với trí tuệ, khéo nhìn sự vật với niệm xả ly. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán pháp trên các pháp, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—On that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. Having seen the wisdom the abandoning of covetousness and grief, he closely looks on with equanimity. That is why on that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 6) Nhập tức xuất tức niệm, nầy các Tỳ Kheo, được tu tập như vậy làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn—Bhikkhus, that is how mindfulness of breathing, developed and cultivated, fulfils the four foundations of mindfulness. (C) Và Bốn niệm xứ, nầy các Tỳ Kheo, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho thất giác chi được viên mãn?—An how, Bhikkhus, do the four foundations of mindfulness, developed and cultivated, fulfil the seven enlightenment factors? 1) Nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán thân trên thân, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời, trong khi ấy, niệm không hôn mê của vị ấy được an trú. Trong khi niệm không hôn mê của vị ấy cũng được an trú, nầy các Tỳ Kheo, trong khi ấy niệm giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỳ Kheo, trong khi ấy, Tỳ Kheo tu tập niệm giác chi. Trong khi ấy niệm giác chi được Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—Bhikkhus, on whatever occasion a Bhikkhu abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world, on that occasion unremitting mindfulness is established in him. On whatever occasion unremitting mindfulness is established in a Bhikkhu, on that occasion the mindfulness enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, and by development, it comes to fulfilment in him. 2) Nầy các Tỳ Kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy trạch pháp giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỳ Kheo. Trong khi ấy, Tỳ Kheo tu tập trạch pháp giác chi. Trong khi ấy trạch pháp giác chi được Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—Abiding thus mindful, he investigates and examines that state with wisdom and embarks upon a full inquiry into it. On whatever occasion, abiding thus mindful, a Bhikkhu investigates and examines that state with wisdom embarks upon a full inquiry into it. On that occasion, the investigation-of-states enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 3) Nầy các Tỳ Kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với vị Tỳ Kheo. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, sự tinh tấn không thụ động được bắt đầu khởi lên với Tỳ Kheo ấy. Trong khi ấy tinh tấn giác chi được Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—In one who investigates and examines that state with wisdom and embarks upon a full inquiry into it, tireless energy is aroused. On whatever occasion, tireless energy is aroused in a Bhikkhu who investigates and examines that state with wisdom embarks upon a full inquiry into it. On that occasion, the energy enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 4) Hỷ không liên hệ đến vật chất được khởi lên nơi vị tinh tấn tinh cần. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên nơi Tỳ Kheo tinh tấn tinh cần, trong khi ấy hỷ giác chi bắt đầu khởi lên trong vị Tỳ Kheo. Trong khi ấy hỷ giác chi được vị Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—In one who arouses energy, worldly rapture arises. On whatever occasion, unworldly rapture arises in a Bhikkhu who has aroused energy, on that occasion, the rapture enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 5) Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi Tỳ Kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy, khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỳ Kheo. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỳ Kheo tu tập. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỳ Kheo làm cho đi đến sung mãn—In one who is rapturous, the body and mind becometranquil. On whatever occasion, the body and mind become tranquil in a Bhikkhu who is rapturous, on that occasion, the tranquility enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 6) Một vị có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi Tỳ Kheo có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt đầu khởi lên nơi vị Tỳ Kheo nầy. Trong khi ấy định giác chi được Tỳ Kheo tu tập. trong khi ấy định giác chi được Tỳ Kheo làm cho đi đến sung mãn—In one whose body is tranquil and who feels pleasure, the mind becomes concentrated. On whatever occasion, the mind become concentrated in a Bhikkhu who is tranquil and feels pleasure, on that occasion, the concentration enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 7) Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn sự vật với ý niệm xả ly. Nầy các Tỳ kheo, trong khi Tỳ Kheo làm với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn sự vật với ý niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi được Tỳ Kheo tu tập. trong khi ấy xả giác chi được vị Tỳ Kheo làm cho đi đến sung mãn—He closely looks on with equanimity at the mind thus. On whatever occasion, a Bhikkhu closely looks on with equanimity at the mind thus, on that occasion, the equanimity enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him.
quán sở duyên duyên luận
Āamba-naparīkśā śāstra (S), Ālambanaprtyaya dhyāna śāstra (S)Tên một bộ luận kinh do ngài Trần Na biên soạn.
; Alambanapratyàya-dhyàna-sàstra (S).
; (觀所緣緣論) Luận, 1 quyển, do ngài Trần Na soạn, ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Luận này có nhiều bản dịch, như luận Vô Tướng tư trần 1 quyển do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần trong tạng kinh Hán dịch; Quán sở duyên (kệ)và Quán sở duyên chú, thuộc hòm 95 Kinh sớ bộ trong Đan châu nhĩ của tạng kinh Tây tạng... Như bản dịch Tây tạng và bản dịch của ngài Huyền Trang cho thấy thì văn kệ của luận này là 4 câu 1 hàng, tất cả có 32 câu. Mục đích của luận này là y cứ vào pháp Tam chi nhân minh (Tông, Nhân, Dụ) để nói rõ rằng sở duyên duyên ngoài tâm chẳng phải có, còn sở duyên duyên trong tâm thì chẳng phải không. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo lục Q.11].
quán sở duyên duyên luận thích
(觀所緣緣論釋) Cũng gọi Quán sở duyên luận thích, Quán sở duyên thích. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hộ Pháp soạn, ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Đây là sách chú thích luận Quán sở duyên duyên. Nội dung sách này giải thích rõ ý nghĩa cho và đoạt để phá ngoại chấp được nói trong luận Quán sở duyên duyên, đồng thời trình bày rõ về nội cảnh của tự tông, nhưng không đề cập đến sự sai biệt. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].
quán sứ
Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Xưa kia thuộc địa phận thôn An Tập, huyện Thọ Xương, Thăng Long thành. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, vào thời nhà Lê, các nước Chiêm Thành, Siêm, và Ai Lao thường gửi sứ thần đến triều cống. Nhà vua cho xây một ngôi chùa dùng làm nơi trú ngụ cho các sứ thần nầy vỉ các nước nầy rất sùng đạo Phật, vì thế mà chùa có tên là chùa Quán Sứ. Chùa đã trải qua nhiều thay đổi. Năm 1934, Tổng Hội Phật Giáo Bắc Phần ra đời, đặt trụ sở tại chùa. Chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyên Xuân Tùng do Tổ Sư Vĩnh Nghiêm duyệt xét bào năm 1941. Chánh Điện trong chùa được trang trí trang nghiêm. Các pho tượng đều khá lớn và thếp vàng lộng lẫy. Lá cờ Phật giáo thế giới lần đầu tiên được treo tại Việt Nam tại chùa Quán Sứ nhân ngày lễ Phật Đản năm 1951 (Phật lịch 2495)—Name of an ancient temple, located in Hoàn Kiếm district, Hanoi City, North Vietnam. At first, it belonged to An Tập village, Thọ Xương district, Thăng Long ancient citadel. According to Đại Nam Nhất Thống Chí, in the Lê dynasty (1428-1788), Champa, Siam, Laos, all sent their envoys to Vietnam to offer the tributes. The King had a temple built as the residence for the envoys, because these above countries are devout Buddhists. The temple, therfore, was named Quán Sứ to distinguish it from other temples. Quán Sứ Temple has been changed many times. In 1934, the North Vietnam Buddhist Sangha Association was founded and the temple was chosen its headquarter. It was rebuilt, following a plan drawn out by the two architects Nguyễn Ngọc Ngoạn and Nguyễn Xuân Tùng, with the acceptance of Patriarch Vĩnh Nghiêm in 1941. The Main Hall is solemnly decorated. The statues are pretty big and splendidly lacquered in red and gild colours. For the first time in Vietnam, the flag of the World Buddhist Association was hung at Quán Sứ Temple in 1951for celebrating the Buddha's Holy Birthday.
quán tam ma địa đoạn hành thành tựu thần túc
Xem Quán định.
quán tha tâm
Xem Chiên niệm thị hiện.
quán thiền
Contemplation and meditation, to sit in abstract trance.
; Quán sát và thiền định—Contemplation and meditation—To sit in abstract trance.
Quán thân
Thân quán (身觀); P: kāyagata-sati;|Chỉ sự tỉnh giác, chú tâm vào thân thể. Một phần tu tập được ghi lại trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna), bao gồm: tỉnh giác trong lúc thở ra, thở vào cũng như trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm (Hành, trụ, toạ, ngọa); tỉnh giác trong mọi hành động; quán 32 thân phần; Phân tích thân phần (p: dhātu-vavatthāna); Quán tử thi.|Tuy nhiên, danh từ »Quán thân« thường được sử dụng để chỉ riêng cách quán 32 thân phần.
quán thân
Kāyanupassana (S).
quán thân bất tịnh
xem Bốn niệm xứ.
; To be penetrated with the concept of the essential impurity of self.
; Contemplation on the impure body—Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy—According to the Satipatthanasutta, the Buddha taught: 1) Này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quan sát thân nầy, từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau. Trong thân nầy: “Đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.” Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hạt như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quan sát: “Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi.” Cũng vậy, nầy các Tỳ Kheo, một Tỳ Kheo quan sát thân nầy dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau. Trong thân nầy: “Đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.”—Bhikkhus, a Bhikkhu reviews this same body up from the soles of the feet and down from the top of the hair, bounded by skin, as full of many kinds of impurity thus: “In this body there are head-hairs, body-hairs, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone-marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, large intestines, small intestines, contents of the stomach, feces, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, spittle, snot, oil of the joints, and urine.” Just as though there were a bag with an opening at both ends full of many sorts of grain, such as hill rice, red rice, beans, peas, millet, and white rice, and a man with good eyes were to open it and review it thus: “This is hill rice, this is red rice, these are beans, these are peas, this is millet, this is white rice;” so too, a Bhikkhu reviews this same body… as full of many kinds of impurity thus: “In this body there are head-hairs… and urine.” 2) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quan sát thân nầy về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân nầy có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.” Nầy các Tỳ Kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quán sát thấy thân nầy về vị trí các giới: “Trong thân nầy có địa đại, thủy đại và phong đại.”—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu reviews this same body, however it is placed, however disposed, as consisting of elements thus: “In this body there are the earth element, the water element, the fire element, and the air element.” Just as though a skilled butcher or his apprentice had killed a cow and was seated at the crossroads with it cut up into pieces; so too, a Bhikkhu reviews this same body… as consisting of elements thus: “In this body there are the earth element, the water element, the fire element, and the air element.” 3) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỳ Kheo quán niệm- thân thể ấy như sau: 'Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”—Again, Bhikkhus, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, one, two, or three days dead, bloated, livid, and oozing matter, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 4) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, ỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài dòi bọ rúc rỉa. Tỳ Kheo quán chiếu sự thực ấy vào thân thể của chính mình: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”—Again, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, being devoured by crows, hawks, vultures, dogs, jackals, or various kinds of worms, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 5) Nầy các Tỳ Kheo, lại nữa, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được nối liền bởi các đường gân…, với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt, nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại với nhau…, với các bộ xương không còn dính thịt, không còn dính máu, không còn được các đường gân cột lại với nhau, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rãi rác chỗ nầy chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỳ Kheo ấy quán niệm thân ấy như sau: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh tánh chất ấy.”—Again, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, a skeleton with flesh and blood, held together with sinews… a fleshless skeleton smeared with blood, held together with sinews… a skeleton without flesh and blood, held together with sinews.. disconnected bones scattered in all directions, here a hand-bone, there a foot-bone, here a shin-bone, there a thigh-bone, here a hip-bone, there a back-bone, here a rib-bone, there a breast-bone, here an arm-bone, there a shoulder-bone, here a neck-bone, there a jaw-bone, here a tooth, there the skull, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 6) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc…, chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm…, chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỳ Kheo ấy quán niệm thân ấy như sau: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh tánh chất ấy.”—Again, Bhikkhus, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, bones bleached white, the color of shells… bones heaped up, more than a year old… bones rotted and crumbled to dust, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 7) Như vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way he abides contemplating the body as a body internally, or he abides contemplating the body as a body internally, or he abides contemplating the body as a body both internally and externally. Or else he abides contemplating in the body its arising factors, or he abides contemplating in the body its vanishing factors, or he abides contemplating in the body both its arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there is a body' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body. *** For more information, please see Seven types of contemplation on the impure body.
quán thây sình thối
Asubhà-bhàvanà (S). Meditation having as object a corpse in decomposition. Also cửu tưởng quán.
quán thông
To understand (penetrate) thoroughly.
quán thất
Căn phòng làm lễ quán đảnh của Mật Giáo—The building in which the esoterics practice the rite of baptism.
; (灌室) Nơi thiết lập đàn tràng bí mật, dùng những đạo cụ đặc biệt để cử hành nghi thức quán đính, chủ yếu chỉ cho đạo tràng quán đính Truyền pháp của Thai Mật (Mật giáo do tông Thiên thai Nhật bản truyền) Nhật Bản.
quán thần túc
Vīmaṃsā-samādhi (S), (S, P).
; Vìmamsà-samàdhi (S). Concentration on investigation.
quán thế
To be the ace during the lifetime.
quán thế tự tại
Sovereign Regarder (not associated with sounds or cries)—See Quán Thế Âm.
Quán Thế Âm
(s: Avalokiteśvara, 觀世音): âm dịch là A Phược Lô Chỉ Để Thấp Phiệt Ra (阿縛盧枳低濕伐邏), cựu ý dịch là Quang Thế Âm (光世音), tân ý dịch là Quán Tự Tại (觀自在), Quán Thế Tự Tại (觀世自在), tên gọi vị Bồ Tát lấy hạnh nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh với lòng từ bi của mình. Do vì ngài thường xuyên ban bố sự không sợ hãi cho mọi người nên được gọi là Thí Vô Úy (施無畏). Theo Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品) của Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh (八華嚴經), ngài hiện trú tại Bổ Đà Lạc Sơn (s: Potalaka, 補陀洛山) thuộc miền Nam Ấn Độ. Trong Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), v.v., ngài thường hầu bên đức Phật A Di Đà với Thế Chí Bồ Tát (s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至). Hơn nữa, trong Đại Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền Đà La Ni Kinh (大清淨觀世音普賢陀羅尼經), ngài thưòng hầu hạ bên đức Phật cùng với Phổ Hiền Bồ Tát (s: Samantabhadra, 普賢). Trong số các vị Bồ Tát của Đại Thừa, cùng với đức Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊) có trí tuệ, Phổ Hiền hạnh nguyện rộng khắp, đức Quán Thế Âm là nổi tiếng nhất, thông qua Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, tín ngưỡng Quan Âm phổ biến rất rộng rãi và các hình tượng điêu khắc cũng như tranh vẽ có rất nhiều. Ngài được xem như là vị Phật có thân biến hóa rộng khắp, cho nên trong Quán Âm Kinh (觀音經) có dạy rằng ngài biến hóa thành 33 thân để cứu độ hết thảy chúng sanh; vì vậy ngài có nhiều tên gọi khác nhau như Thiên Thủ Thiên Nhãn (千手千眼, ngàn tay ngàn mắt), Thập Nhất Diện (十一面, 11 mặt), Chuẩn Đề (准胝), Như Ý Luân (如意輪), Bất Không Quyên Sách (不空羂索), Thanh Cảnh (青頸, cổ xanh), Hương Vương (香王), v.v. Ngoài ra còn có một số tên gọi khác như Thánh Quán Âm (聖觀音), Mã Đầu (馬頭, đầu ngựa), Bạch Y (白衣), Thủy Nguyệt (水月), Dương Liễu (楊柳), Đa La (多羅), Ngư Lam (魚籃), v.v.
; 觀世音; S: avalokiteśvara; J: kanzeon; T: chen-resi [sPzan-ras-gzigs]; cũng gọi là Quán Tự Tại, Quan Âm;|Một trong những vị Bồ Tát (s: bodhisattva) quan trọng nhất trong Ðại thừa (s: mahāyā-na). Có nhiều luận giải khác nhau về nguyên nghĩa tên Ngài. Có người hiểu »īśvara« là một »người nam« quán chiếu thế giới, có người hiểu »svara« là »Âm«, tức là vị Bồ Tát lắng nghe mọi tiếng thế gian.|Nhìn chung, Quán Thế Âm là thể hiện lòng Bi (s, p: karuṇā), một trong hai dạng của Phật tính. Vì vậy, có khi người ta đặt tên cho Ngài là bậc Ðại Bi (s: mahākaruṇika). Dạng kia của Phật tính là Trí huệ (Bát-nhã; s: prajñā), là đặc tính được Bồ Tát Văn-thù (s: mañjuśrī) thể hiện. Quán Thế Âm là vị Bồ Tát thể hiện nguyện lực của Phật A-di-đà (s: amitābha) và được xem như quyến thuộc của Ngài (Tịnh độ tông). Với lòng từ bi vô lượng, Quán Thế Âm thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến Ngài lúc gặp hiểm nguy. Trong nhân gian, Ngài là vị bảo hộ tránh khỏi tai hoạ và hay được phụ nữ không con cầu tự.|Trong các loại tranh tượng về Ngài, người ta thấy có 33 dạng, khác nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường ta thấy tượng Ngài có ngàn tay ngàn mắt, có khi 11 đầu. Trên đầu có khi có tượng của A-di-đà, xem như đặc điểm chính. Trên tay có khi thấy Ngài cầm hoa sen hồng, vì vậy Ngài cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa sen; s: padmapāṇi) hay nhành dương liễu và một bình nước Cam-lộ (s: amṛta). Số tay của Ngài biểu hiện khả năng cứu độ chúng sinh trong mọi tình huống.|Trong tranh tượng với 11 đầu, thì Quán Thế Âm mang 9 đầu của chín vị Bồ Tát, một đầu của một vị Phật và cuối cùng là đầu của Phật A-di-đà. Cứ mỗi ba đầu tượng trưng là ba đặc tính: từ bi với chúng sinh khổ nạn, quyết tâm đối trị cái xấu, hoan hỉ với cái tốt. Theo một cách nhìn khác thì 11 đầu biểu tượng cho mười cấp của Thập địa và Phật quả.|Một thuyết khác giải thích tích của 11 đầu và nghìn tay: lúc Quán Thế Âm quán chiếu cảnh khổ của chúng sinh thì đầu Ngài đau xót vỡ ra từng mảnh. Phật A-di-đà xếp các mảnh đó lại thành 11 đầu. Xuất phát từ nguyện lực cứu độ mọi chúng sinh, thân Ngài mọc ra nghìn tay, trong mỗi tay có một mắt. Quán Thế Âm cũng hay được vẽ là kẻ cứu độ chúng sinh trong sáu nẻo Luân hồi (Lục đạo): trong súc sinh, Quán Thế Âm đầu ngựa, hoặc cưỡi sư tử; trong địa ngục, là kẻ có nghìn cánh tay; trong cõi A-tu-la, là kẻ có 11 đầu.||H 47: Quán Thế Âm Bồ Tát được trình bày trong hình này dưới một dạng ít thấy, đó là »Sư Tử Hống Quán Tự Tại« (獅子吼觀自在; s: siṃhanāda-lokeśvara). Dưới dạng này, Ngài là một dược sư, đặc biệt cứu độ những người bệnh phong cùi (e: lepra). Mắt Ngài đang nhìn bệnh nhân và mắt chính giữa (huệ nhãn) đang tập trung chẩn bệnh. Hai bảo vật bên vai cũng là những dụng cụ của một dược sĩ, bình sắc thuốc bên trái của Ngài và đao trừ tà (bệnh) bên phải. Sư tử Ngài cưỡi xuất phát từ một sự tích. Tương truyền rằng, có một con sư tử sinh được một con nhưng con chết ngay sau khi sinh. Ðau đớn quá nó rống lên thật to và nhờ tiếng rống uy dũng này, nó làm cho con nó sống lại. Vì thế mà có sự liên hệ giữa tên của Ngài (»giọng sư tử«) với nghề nghiệp của một dược sĩ »gọi người sống lại«.|Tại Trung Quốc, Việt Nam và Nhật, Quán Thế Âm có tên là Quan Âm, hay được trình bày dưới dạng »Phật Bà« Tại Tây Tạng, Quán Thế Âm (t: chenresi [spzan-ras-gzigs]) là »người bảo vệ xứ tuyết« và có ảnh hưởng trung tâm trong truyền thống Phật giáo tại đây. Người ta xem Ngài là cha đẻ của dân tộc Tây Tạng và nhờ Ngài mà Phật giáo được truyền bá qua nhà vua Tùng-tán Cương-bố (t: songten gampo, 620-649), được xem là một hiện thân của Quán Thế Âm. Ðạt-lại Lạt-ma và Cát-mã-ba (t: karmapa) cũng được xem là hiện thân của Ngài. Câu Man-tra OṂ MA-NI PAD-ME HŪṂ được xem là thuộc tính của Quán Thế Âm, là thần chú đầu tiên truyền đến Tây Tạng và ngày nay được tụng đọc nhiều nhất. Tranh tượng của Ngài được biểu diễn bằng một người có 11 đầu và ngàn cánh tay hoặc trong dạng có bốn tay, ngồi toà sen.
quán thế âm
Xem Quán Thế Âm Bồ tát.
; Avalokitesvara (skt)—Quán Âm—Quan Âm—Quán Thế Tự Tại—Quán Tự Tại. (A) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng tọa lạc trong quận Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào năm 1922 và được trùng tu lại từ năm 1964 đến 1969. Chùa là di tích cuối cùng của Bồ Tát Thích Quảng Đức (vị Pháp thiêu thân)—Name of a famous pagoda located in Phú Nhuận district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1922 and rebuilt from 1964 to 1969. It is the last memento of Thích Quảng Đức Bodhisattva (burnt himself for the sake of Buddhism). (B) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, chúng sanh khổ não mà nhất tâm xưng danh ngài, tức thời ngài quán sát âm thanh của họ (tầm thanh) và độ cho họ được giải thoát. Khởi thủy tượng của ngài là tượng nam, nhưng bây giờ thì thường là tượng nữ. Nghĩa xác thực của Quán Âm chưa được xác định. Quán Âm là bộ Tam Thánh với Phật A Di Đà, thường đứng bên trái của Phật Di Đà, nhưng có đến ba mươi ba hình thức khác nhau của ngài Quán Thế Âm, có thể là một con chim, một tịnh bình, một nhành liễu, một viên ngọc ma ni, hay ngàn mắt ngàn tai, vân vân; khi làm người trợ giúp những em bé thì ngài bồng trên tay một đức trẻ. Đảo Phổ Đà là trung tâm chính thờ phượng Đức Quán Âm bên Tàu, nơi đó ngài là người bảo hộ những kẻ khổ đau hoạn nạn, đặc biệt là những người đi biển. Phẩm 25 trong Kinh Pháp Hoa là phẩm Phổ Môn nói về công hạnh của Đức Quán Thế Âm. Thỉnh thoảng người ta lầm ngài Quán Âm với Phật A Di Đà hay Phật Di Lặc—Regarder of the world's sounds or cries—Goddess of Mercy—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Avalokitesvara is one who contemplates the world's sounds, originally represented as a male, the images are now generally those of a female figure. The meaning of the term is in doubt. Kuan-Yin is one of the triad of Amitabha, is represented on his left, and is also represented as crowned with Amida; but there are as many as thirty-three different forms of Kuan-Yin, sometimes with a bird, a vase, a willow wand, a pearl, a thousand eyes and hands, etc. and when as bestower of children, carrying a child. The island of P'u-T'o (Potala) is the chief center of Kuan-Yin worship, where she is the protector of all in distress, especially of those who go to sea. Chapter 25 of the Lotus Sutras devoted to Kuan-Yin, and is the principal scriptures of the cult. Kuan-Yin is sometimes confounded (bị lầm lẫn) with Amitabha and Maitreya. (C) Những danh hiệu của Ngài Quán Thế Âm—Various titles of Avalokitesvara Bodhisattva: 1) Quán Âm: See Quán Thế Âm. 2) Quán Tại Tát Đỏa: Kuan-Yin Bodhisattva. 3) Quán Thế Âm: Regarder or Observer of the world's sounds, or cries (sounds that enlighten the world). 4) Quán Thế Tự Tại: See Quán Tự Tại. 5) Quán Tự Tại: The Sovereign Beholder, not associated with sounds or cries. 6) Quang Thế Âm: See Quán Thế Âm. ** For more information, please see Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
quán thế âm bồ tát
Tchenrezig (T), Guan Shr Yin (C), Avalokiteshvara (S), Avalokitecvara (S), Avaloki-teśvara (S), Chenrezi (T), Chenresi (T), Kwan Seum Bosal (K), Great Compassionate One, Mahākaruna (S); Kouan Yin (C); Kouan-non (J); Lokecvara (S), Avalokitesvara (S); Guan Yin, Guan Shr Yin (C), Byakue-Kannon (J), Kwan Um (K), Quán Tự Tại, Từ tâm bất sát, Quán Tự Tại Bồ tát, Quan Âm, Quán thế Âm, Quan Thế Kwan Seum Bosal (K) Âm; A na bà lâu cát để du, A lê gia bà lâu cát, A phạ lư tích để thấp phạt la, A bà lư cát dế xá bà la, A phạ lư tích đế thấp phạt la1- Quán Thế Âm Phật: Kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển 6, Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật Thích Ca rằng:"Thế tôn,! Tôi nhớ lại thuở xưa, cách nay hằng hà sa số kiếp có một đức Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm. Tối đối trước đức Phật ấy, phát Bồ đề tâm, Ngài dạy cho tôi ba phép: Văn, Tu, Tư mà vào cảnh Tam ma địa..." 2- Quán Thế Âm Bồ Tát: Có 32 hoá thân khác. Trong Kinh Bát nhã Ba la mật thì Ngài hiện thân là Quán Tự tại Bồ tát, ở Mật giáo thì hiện thân là Đức Phật mẫu Chuẩn đề thiên thủ thiên nhãn, có khi hiện thân là Quán thế âm tứ thủ, Mã đầu Quán thế âm để trừ tà ma,... Là một trong ba vị Phật quan trọng của tông Tịnh độ. Phật Quán thế âm được giới thiệu vào Trung quốc ở thế kỷ thứ 5, đầu tiên là hình tượng Bồ tát ngàn tay ngàn mắt, sau là Phật mẫu. Có rất nhiều huyền thoại về xuất xứ của Phật mẫu. Đền thờ Phật mẫu được xây dựng khắp nơi ở Trung quốc cũng như những nơi khác tại Châu á. Tại Tây tạng Phật Quan thế âm cón gọi là Phật Tara. Chenrezi là một hình tượng khác của Phật Quán thế âm ở Tây tạng. Ngài có đồng một từ tâm với Như Lai cho nên Ngài ứng hiện 32 thân vào các quốc độ khác nhau mà độ thoát chúng sanh, cùnh với 14 công đức thí vô úy để độ chúng sanh khỏi nạn tai.
; Avalokitesvara Bodhisattva (S). Regarder of the world's sounds, or cries, the so called Goddess of Mercy. Originally represented as a male, the images are now generally those of a female figure. One of the triad Amitàbha, represented on his left. Chapter 25 of the Lotus S-tra is devoted to Qu n thế âm.
; Avalokitesvara (skt)—Vị Bồ Tát được Phật tử Bắc tông thờ phượng—Kuan Shi Yin Bodhisattva—A Bodhisattva worshipped by the northern Buddhists. ** For more information, please see Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section and Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (觀世音菩薩) Quán thế âm, Phạm: Avalokitezvara. Hán âm: A phược lô chỉ đê thấp phạt la. Cũng gọi Quan thế âmbồ tát, Quán tự tại bồ tát, Quán thế tự tại bồ tát, Quán thế âm tự tại bồ tát, Hiện âm thanh bồ tát, Khuy âm bồ tát. Gọi tắt: Quán âm bồ tát. Tên gọi khác: Cứu thế bồ tát, Liên hoa thủ bồ tát, Viên thông đại sĩ. Vị bồ tát lấy lòng thương xót cứu giúp chúng sinh làm bản nguyện. Ngài còn có danh hiệu tiếng Phạm khác là Àryàvalokitezvara (Hán âm: A rị da bạt lô chỉ đê thước phược ra), nghĩa là Thánh Quán thế âm. Bồ tát này và bồ tát Đại thế chí là 2 vị Bồ tát đứnghầu đức Phật A Di đà ở thế giới Cực lạc phương Tây mà người đời gọi là Tây phương tam thánh. Nếu chúng sinh nào gặp nạn mà tụng niệm danh hiệu của Ngài thì Ngài liền quán sát tiếng cầu cứu ấy mà đến cứu giúp, cho nên gọi là Quán thế âm bồ tát. Lại vì đối với cảnh lí sự Ngài quán sát một cách thông suốt, tự tại vô ngại, cho nên cũng gọi là Quán tự tại bồ tát. Phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 có nói rõ về việc làm lợí ích cho chúng sinh ở thế giới Sa bà của vị Bồ tát này như sau: Chúng sinh đang bị nạn khổ, một lòng xưng danh, bồ tát Quán thế âm tức thời quán sát âm thanh ấy, làm cho được giải thoát; nếu có mong cầu điều gì cũng đều khiến cho được như ý Bồ tát Quán thế âm có năng lực thị hiện các loại thân như thân Phật, thân tỉ khưu, than ưu bà tắc, thân trời, thân Dạ xoa... tùy theo nhu cầu mà cứu độ. Về chỗ ở của bồ tát Quán thế âm thì kinh Hoa nghiêm quyển 68 (bản dịch mới) nói là Ngài ở núi Bổ đà lạc tại Nam hải, cho nên chỗ ở của Ngài chính là tại thế giới Sa bà. Nhưng kinh Đại A di đà quyển thượng, kinh Vô lượng thọ quyển hạ và kinh Quán thế âm thụ kí thì cho rằng bồ tát này theo hầu đức Phật A di đà, thường ở thế giới Cực lạc phương Tây để giúp đức Phật A di đà trong việc giáo hóa, tức chỗ ở chính của vị Bồ tát này là Tịnh độ phương Tây. Mật giáo cũng cho rằng vị Bồ tát này là thị giả của Phật A di đà và bảo Bồ tát này và Phật A di đà vốn khác nhau về nhân quả, tức tìm về bản giác thì Bồ tát này chính là Phật Vô lượng thọ, nhưng vì bản thệ nên thị hiện hình tướng Bồ tát đại bi. Mật giáo còn an lập Bồ tát này ở Mạn đà la Thai tạng giới và trong các viện như viện Trung đài bát diệp, viện Quán âm, viện Biến tri, viện Thích ca, viện Văn thù, viện Hư không tạng, viện Tô tất địa... hình tượng, vật cầm đều khác. Nhưng kinh Nhất thiết công đức trang nghiêm vương và kinh Thanh tịnh Quán thế âm phổ hiền đà la ni thì cho rằng Bồ tát Quán thế âm là thị giả của đức Phật Thích ca. Về hình tượng của bồ tát Quán thế âm thì vì sự ứng hóa của Ngài không có nơi chốn nhất định và dưới nhiều hình thức, cho nên tướng trạng cũng rất sai khác, nhưng lấy Quán âm có 2 tay làm hình tướng chính, còn ngoài ra đều là do lực dụng thần biến của Ngài thị hiện một cách tự tại vô ngại. Chẳng hạn như ngài thị hiện các loại hình tượng có 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, cho đến nghìn đầu, vạn đầu, 8 vạn 4 nghìn đầu thước ca ra; hình tượng có 2 tay, 4 tay cho đến 1 vạn tay, 8 vạn 4 nghìn tay mẫu đà la; hình tượng có 2 mắt, 3 mắt cho đến 8 vạn 4 nghìn mắt báu thanh tịnh. Hóa thân của Ngài có: Thiên thủ thiên nhãn, Thập nhất diện, Chuẩn đề, Như ý luân, Bất không quyên sách, Thanh cảnh, Hương vương, A ma lai..., cũng đều có nghi quĩ riêng. Còn kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn thì nêu: Tứ diện đại bi Quán âm, Trừ bát nạn tiên Quán âm, Bá noa mục khư Quán âm, Đại phạm thân tướng Quán âm, Căn bản liên hoa đính Quán âm, Quảng đại minh vương ương câu xả Quán âm... Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 2, phần đầu nêu 6 loại Quán âm; Chư tôn chân ngôn cú nghĩa sao nêu 15 loại Quán âm, còn có 25 loại Quán âm, 33 loại Quán âm... Trong đó, có 1 số không phải căn cứ vào kinh quĩ mà có, mà là do sự hỗn hợp tín ngưỡng, phong tục dân gian của Trung Quốc và Nhật bản ở đời sau mà sinh ra. Tín ngưỡng Quán Thế Âm bắt đầu từ Ấn Độ, Tây Vực, sau được truyền đến nội địa Trung Quốc, Tây Tạng, Nam Hải, Nhật Bản... cho nên có rất nhiều thuyết về Quán thế âm. Tín ngưỡng Quán thế âm ở Tây tạng rất đặc biệt hưng thịnh, các vị Đạt lai lạt ma các đời đều được tôn xưng là Hóa thân của bồ tát Quán thế âm và chân ngôn của Ngài (Lục tự đại minh chú, tức là Án ma ni bát di hồng) đến nay vẫn còn được lưu truyền khắp cõi Tây Tạng. Từ sau khi kinh Chính pháp hoa được ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn thì tín ngưỡng Quán thế âm cũng bộc phát tại nội địa .Trung Quốc và các trứ tác hữu quan cũng rất nhiều. Từ đời Bắc Ngụy về sau, phong khí tạo tượng Quán âm càng thịnh, hiện nay ở các nơi như Đại đồng, Long môn, Đà sơn... còn rất nhiều di phẩm. Từ các đời Tùy, Đường về sau, theo đà truyền nhập của Mật giáo, các loại tượng Quán thế âm cũng được tạo lập rất nhiều, như trong số tượng Bồ tát ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng thì tượng Quán thế âm chiếm quá phân nửa. Rồi bắt đầu từ kinh Cao vương Quán âm của Tôn kính đức đời Nguyên Ngụy, các loại kinh Quán âm như: Kinh Quán thế âm bồ tát cứu khổ, kinh Quán thế âm thập đại nguyện, kinh Quán thế âm tam muội... cũng nối nhau xuất hiện. Tương truyền, đạo tràng bồ tát Quán thế âm thị hiện thuyết pháp là ở núi Phổ đà tại tỉnh Chiết Hiang, Trung Quốc. Cũng theo truyền thuyết thì Ngài đản sinh vào ngày 19 tháng 2 âm lịch, xuất gia ngày 19 tháng 9 và thành đạo vào ngày 19 tháng 6.
quán thế âm bồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú kinh
(觀世音菩薩秘密藏如意輪陀羅尼神咒經) Gọi tắt: Quán thế âm Bồ tát bí mật tạng thần chú kinh, Như ý luân đà la ni thần chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thực Xoa Nan Đà dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này chia làm 6 phẩm: 1. Phẩm trừ phá nhất thiết ác nghiệp đà la ni. 2. Phẩm nhất thiết ái nhạo pháp. 3. Phẩm Hòa a già đà dược pháp linh nhân ái nhạo. 4. Phẩm Hàm dược. 5. Phẩm Nhãn dược. 6. Phẩm Hỏa án đà la ni dược. Kinh Như ý luân đà la ni do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch là bản dịch khác của kinh này.
quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni kinh
Xem Như ý ma ni Đà la ni kinh.
; (觀世音菩薩如意摩尼陀羅尼經) Phạm: Padmacintàmaịidhàraịìsùtra. Gọi tắt: Như ý ma ni đà la ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bảo tư duy dịch vào năm Thần long thứ 2 (706) đời đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về công năng của các thần chú: Căn bản chú, Tâm chú, Tùy tâm chú..., đồng thời nêu ra phương pháp trị liệu các bịnh. Các kinh: Như ý luân đà la ni do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch, kinh Quán tự tạibồ tát như ý tâm đà la ni chú do ngài Nghĩa tịnh dịch, kinh Quán thế âmbồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú do ngài Thực xoa nan đà dịchlànhững bản dịch khác hoặc là kinh đồng loại của kinh này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.3].
quán thế âm bồ tát phổ môn phẩm
(觀世音菩薩普門品) Phạm: Samantamukhaparivarto nàmàvalokitezvara-vikurvaịa-nirdeza Cũng gọi Quán âm kinh phổ môn phẩm, Quán thế âm kinh, Quán âm kinh, Phổ môn phẩm kinh, Phổ môn phẩm. Kinh, 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 9, là bản lưu hành riêng của phẩm Quán thế âmbồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7. Nội dung phẩm này nói về sự diệu dụng thị hiện rộng khắp của bồ tát Quán thế âm, được trình bày bằng thể văn trường hàng (văn xuôi)và kệ tụng (văn vần), nhưng phần kệ tụng trong các bản Hán dịch thì bản có bản không rất khác nhau. Phẩm kinh này có 3 loại bản Hán dịch: 1. Quang thế âm bồ tát phẩm thứ 23 kinh Chính pháp hoa, do Ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 2. Quán Thế âm bồ tát Phổ môn phẩm thứ 25 kinh Diệu pháp liên hoa, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. 3. Quán thế âmbồ tát Phổ môn phẩm thứ 24 kinh Thiêm phẩm pháp hoa, do ngài Xà na quật đa và Đạt ma cấp đa cùng dịch vào đời Tùy. Trong 3 loại bản dịch trên, kinh Chính pháp hoa hoàn toàn thiếu phần kệ tụng, kinh Diệu pháp liên hoa do ngài Cưu ma la thập dịch lúc đầu cũng không có kệ tụng, đến đời Tùy, ngài Xà na quật đa mới thêm vào, cho nên hoàn toàn giống với phần kệ tụng của kinh Thiêm phẩm pháp hoa. Phẩm Phổ môn đã được rút ra làm bản kinh lưu hành riêng rất sớm, như kinh Quang thế âm 1 quyển (rút ra từ kinh Chính pháp hoa, hoặc gọi là Quang thế âm phổ môn phẩm), kinh Quán thế âm 1 quyển (rút ra từ kinh Thiêm phẩm pháp hoa). Hai kinh này được nêu trong Xuất tam tạng kí tập quyển 4, nhờ đó ta mới biết được. Xưa nay ở Ấn Độ, Trung Á, Trung Quốc, Tây Tạng, Mông Cổ, Nhật Bản... tín ngưỡng Quán âm được lưu truyền rất rộng. Thời gần đây người ta còn phát hiện những mẩu vụn của phẩm Phổ môn viết bằng các thứ tiếng Hồi Hột, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ... Theo sự nghiên cứu của các học giả cận đại, trong bản văn củaphẩm kinh này có vài ba chỗ dẫn dụng thuyết của kinh Phệ đà, cho nên giữa kinh này và tín ngưỡng Bà la môn có sự quan hệ rất sâu đậm, bởi thế, đa số học giả khi bàn về nguồn gốc của bồ tát Quán thế âm thường nói đến Thần Thấp bà của Bà la môn giáo. Ngoài ra, về các sách chú thích của phẩm kinh này thì có: Quán âm huyền nghĩa 2 quyển của ngài Trí Khải đời Tùy, Quán âm nghĩa sớ 2 quyển cũng của ngài Trí Khải. Quán âm huyền nghĩa kí 4 quyển, Quán âm nghĩa sớ kí 4 quyển của ngài Trí Lễ đời Tống. [X. Pháp kinh lục Q.2; Đại đường nội điển lục Q.2; Hồi hột văn Pháp hoa kinh Phổ môn phẩm chi đoạn phiến (Vũ điền hanh, Đông dương học báo)].
quán thế âm bồ tát thọ ký kinh
Avalokiteśvara-bodhisattva-mahāsthama-prāpta-bodhisattva-vyākaraṅa sŪtra (S)Xem Quán Thế Âm Bồ tát đắc đại thế chí thọ ký kinh.
quán thế âm bồ tát thụ kí kinh
(觀世音菩薩授記經) Phạm: Avalokiteśvara-bod-hisattva-mahāsthāma-prāpta-bodhisattva-vyā-karaṇa-sūtra. Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm Vô Kiệt dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này trước hết thuật lại việc Phật trụ ở vườn Nai tại nước Ba la nại nói về cách dùng pháp vô y chỉ được tam muội Như huyễn chobồ tát Hoa đức tạng nghe, các bồ tát Di Lặc, Văn thù và 2 Đại sĩ Quán âm, Thế chí ở cõi nước An lạc đều được Tam muội này. Kế đến nói về nhân duyên phát tâm chính đạo củabồ tát Quán âm, Thế chí và cho biết sau khi đức Phật A di đà diệt độ, bồ tát Quán thế âm sẽ thành Đẳng chính giác, hiệu là Phổ quang công đức vương Như lai. Ngoài ra, kinh Đại A di đà quyển thượng, kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác quyển 3, kinh Bi hoa quyển 3, kinh Đại thừa bi phân đà lợi quyển 3... cũng có nói về việc cácbồ tát Quán âm Thế chí thành đạo, giống như ý thú của kinh này. Kinh Quán thế âm bồ tát Đắc đại thế chí bồ tát thụ kí (do ngài Trúc Pháp Hộ dịch), kinh Quán thế âm thụ kí (do ngài Nhiếp Đạo Chân dịch) và kinh Như huyễn tam ma địa vô lượng ấn pháp môn ( do ngài Thí Hộ dịch) là các bản dịch khác của kinh này.[X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.6. 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.2,5,12,14].
quán thế âm bồ tát đắc đại thế chí thọ ký kinh
Avalokiteśvara-bodhisattva-mahā-sthāma-prāpta-bodhisattva-vyākaraṅa-sŪtra (S)Quán Thế Âm Bồ tát thọ ký kinh.
quán thế âm kinh
Xem Quán Thế Âm Phổ môn phẩm.
quán thế âm mẫu
Tàrà (S). The sakti, or female energy of the masculine Avalokitesvara.
; Tara (skt)—The sakti, or female energy of the masculine Avalokitesvara.
quán thế âm phổ môn phẩm
Samantamukhaparivarto-nāmavalokiteśvara-vikurvana-nirdeśa (S)Quán Thế Âm kinh, Quán Âm kinh, Phổ môn phẩm, Phẩm Phổ Môn, Quan Âm kinh Phổ môn phẩm.
quán thế âm quán kinh
Kuan-shih-yin kuan ching (C)Tên một bộ kinh.
quán thế âm tín ngưỡng
(觀世音信仰) Chỉ cho tín ngưỡng tông giáo lấy Bồ tát Quán thế âm làm đối tượng thờ phụng. Theo phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa thì khi chúng sinh gặp tai ách khổ nạn, chỉ cần tụng niệm danh hiệu của bồ tát Quán thế âm thì tức thời Ngài quán sát âm thanh ấy mà đến cứu giúp. Trong các viên thông của 25 vị Thánh thì nhĩ căn viên thông của bồ tát Quán thế âm là thù thắng nhất. Ở Trung quốc, tín ngưỡng Quán thế âm cũng rất phổ cập. Việc dịch kinh có liên quan đến tín ngưỡng Quán thế âm ở Trung quốc cũng rất sớm, đầu tiên là năm Ngũ phụng thứ 2 (255) đời Ngô thời Tam quốc, ngài Chi Cương Lương tiếp đã dịch kinh Pháp hoa Tam muội (nay đã thất lạc). Kế đến, ngài Trúc Pháp Hộ dịch phẩm Quang thế âm phổ môn kinh Pháp hoa vào năm Thái khang thứ 7 (286) đời Tây Tấn; rồi lần lượt đến các ngài Cưu Ma La Thập dịch phẩm Quán thế âm bồ tát Phổ môn kinh Diệu pháp liên hoa vào năm Hoằng thủy thứ 8 (406) đời Diêu Tần; các ngài Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa cùng dịch phần kệ tụng của phẩm Phổ môn kinh Thiêm phẩm pháp hoa vào niên hiệuNhân thọ năm đầu (601) đời Tùy, ngài Đàm vô kiệt dịch kinh Quán thế âmbồ tát thụ kí vào đời Lưu Tống ...Theo với đà tín ngưỡng kinh Pháp hoa nói nhiều về công đức của Bồ tát Quán thế âm được mở rộng và phổ cập, tín ngưỡng Quán thế âm cũng đi sâu vào nhân gian. Ngoài kinh Pháp hoa, kinh Vô lượng thọ do ngài Khang tăng khải dịch vào năm Gia bình thứ 4 (252) đời Tào Ngụy, kinh Quán Vô lượng thọ do ngài Cương Lương Da Xá dịch, phẩm Pháp giới kinh Hoa nghiêm do ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch... cũng đều nói rộng về sự lợi ích mà bồ tát Quán thế âm ban bố cho chúng sinh. Kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú do ngài Trúc nan đề dịch vào đời Đông Tấn, kinh Thập nhất diện Quán thế âm thần chú do ngài Da Xá Quật Đa dịch vào thời Bắc Chu thì nói rõ về công đức và sự linh nghiệm của việc xướng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm. Ngoài ra cũng có sự truyền bá rộng rãi Bát nhã ba la mật đa tâm kinh trong dân gian. Sự phiên dịch các kinh điển nói trên đã làm cho tín ngưỡng Quán thế âm phát triển sâu rộng. Cùng với phong trào này cũng đã xuất hiện một số lớn kinh điển phổ biến tín ngưỡng Quán thế âm bị ngờ là các kinh giả tạo, như kinh Cao vương Quán thế âm, kinh Quán thế âm thập đại nguyện, kinh Quán thế âm vịnh thác sinh, kinh Quán thế âmbồ tát vãng sinh tịnh độ bản duyên, kinh Quán thế âm sám hối trừ tội chú, kinh Quán thế âmbồ tát cứu khổ, kinh Quán thế âm sở thuyết hành pháp, kinh Quán thế âm Tam muội... Trong đó, kinh Cao vương Quán thế âm còn được gọi là kinh Tiểu Quán âm. Ông Phó lượng (374- 426) đời Tống căn cứ vào Quán thế âm ứng nghiệm truyện của ông Tạ phu soạn vào đời Đông Tấn mà viết thành Quang thế âm ứng nghiệm kí. Ông Trương diễn (tiền bán thế kỉ V) đời Tống soạn Tục quang thế âm ứng nghiệm kí. Ông Lục cảo (459-532) đời Tề soạn Hệ Quán thế âm ứng nghiệm kí... Căn cứ vào đó ta cóthể biết cái tình hình hưng thịnh của tín ngưỡng Quán thế âm trong xã hội Trung Quốc vào cuối đời Đông Tấn đến thời Lục triều. Sang đời Tùy, ngài Trí Khải y cứ vào phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa mà soạn Quán âm huyền nghĩa 2 quyển, Quán âm nghĩa sớ 2 quyển; rồi lại dựa theo kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú mà soạn Thỉnh Quán thế âm kinh sớ 1 quyển, Thỉnh Quán âm sám pháp 1 quyển. Mặt khác, Ngài Trí Khải còn tích cực dẫn dụng thuyết trong các kinhgiả như kinh Quán âm tam muội... để chỉ rõ cách nhìn và hiểu về tín ngưỡng Quán âm, làm khuôn mẫu cho việc giải thích phẩm Phổ môn của người sau. Ngài Tri Lễ soạn Quán âm huyền nghĩa kí 4 quyển, Quán âm nghĩa sớ kí 4 quyển là thêm phần kệ tụng, đồng thời chú thích 2 bộSớ của ngài Trí Khải. Đến đời Đường, ngài Bảo Tư Duy dịch kinh Quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni 1 quyển, Đà la ni niệm tụng pháp 1 quyển. Ngài Thực Xoa Nan Đà cũng dịch kinh Quán thế âm bồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú 1 quyển. Thời kì giữa đời Đường về sau, Mật giáo hưng thịnh, tín ngưỡng Quán âm cũng có sự phát triển khác nhau. Vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, Ngài Tuệ Ngạc, vị tăng Nhật Bản, thỉnh được tượng Quán âm từ núi Ngũ Đài để thờ ở động Triều âm tại quần đảo Chu sơn, sáng lập viện Quán âm, gọi Chu sơn là núi Bổ đà lạc, là Thánh địa của bồ tát Quán thế âm.Cứ theo truyền thuyết, kinh Cao vương Quán thế âm vốn ngắn, vì số trang có ít, người ta muốn cho dài nên tăng thêm số trang, do đó mới có tạp chú xen kẽ trong đó. Khi tác phẩm Phật tổ thống kỉ được thành lập vào đời Nam Tống thì kinh Cao vương Quán thế âm đã trở thành 1 áng văn tạp nhạp lưu hành trong dân gian; tuy nhiên, tác giả của Phật tổ thống kỉ là ngài Chí bàn vẫn tin sâu và không nghi ngờ gì về sự không linh nghiệm của việc trì tụng kinh này. Trái lại, ngài Vân Thê Châu Hoành đời Minh thì cực lực bài bác kinh Cao vương Quán thế âm, nhưng từ Minh, Thanh, đến nay do chịu ảnh hưởng của kinh này, tín ngưỡng Quán âm lại càng tiến sâu hơn vào nhân gian. Từ đời Thanh về sau lại xuất hiện hình tượng Quán âm tống tử làm cho phạm vi tín ngưỡng Quán âm càng rộng thêm. Ngài Hoằng tán đời Thanh soạn Quán âm từ lâm tập 3 quyển. Năm Thuận trị 16 (1659) cư sĩ Chu khắc phục soạn Quán âm kinh trì nghiệm kí 2 quyển, nội dung ghi thuật 118 sự tích linh nghiệm, cuối quyển có phụ thêm Quán thế âm đại bi tâm đà la ni, kinh Bạch y đại bi ngũ ấn tâm đà la ni, Lễ Quán âm văn, Biện ngoa ngữ... Do tín ngưỡng Quán thế âm phổ cập nên chẳng những việc dịch kinh, soạn luận đã nhiều, mà ngay cả việc tạo tượng Quán thế âm cũng nhiều không thể kể xiết, nhất là sau đời Bắc Ngụy, phong trào tạo tượng càng hưng thịnh, cho đến nay, các nơi như Đại đồng, Long môn, Đà sơn... vẫn còn rất nhiều di phẩm. Từ các đời Tùy, Đường trở đi, do ảnh hưởng của Mật giáo hưng thịnh nên đã có các loại hình tượng Quán âm như: Thập nhất diện Quán âm, Thiên thủ Quán âm, Như ý luân Quán âm, Bất không quyên sách Quán âm, Chuẩn đề Quán âm... Rồi căn cứ vào sự cảm ứng của những người có tín tâm nên lại có các loại tượng như: Cáp lợi Quán âm (Quán âm ngồi trên con sò), Mã long phụ Quán âm (Quán âm vợ chàng họ Mã), Thủy nguyệt Quán âm (Quán âm ngồi trên sườn núi trong biển cả), Ngư lam Quán âm (Quán âm xách giỏ cá)... Trong số tượng Bồ tát ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng, thì tượng Quán thế âm chiếm hơn phân nửa. Ngoài kinh, luận, tạo tượng ra, các chùa viện lấy Quán thế âm làm đối tượng thờ phụng chủ yếu, hoặc tên các chùa viện đứng đầu bằng 2 chữ Quán Âm cũng không thể kể xiết.Ở Nhật Bản, xưa nay tín ngưỡng Quán thế âm cũng hưng thịnh. Cứ theo Phú tang lược kí quyển 3 thì Thiên hoàng Suy cổ (trị vì 592- 628) từng ban sắc khắc tượng Quán thế âm bằng gỗ thơm trầm thủy. Thái tử Thánh đức cũng tôn trí tượng Cứu thế Quán thế âm tại Mộng điện chùa Pháp Long và ở Kim Đường chùa Tứ Thiên Vương. Thiên hoàng Thánh vũ và Hoàng hậu Quang Minh triều Nại lương rất sùng tín Phật giáo, vua cho xây chùa Quốc Phần ni tự tại các nơi và an vị tượng Quán thế âm, tạo 177 pho tượng Quán thế âm, viết chép 177 quyển kinh Quán âm; đồng thời, ở các nơi tạo tượng Bất không quyên sách Quán âm, Thiên Thủ Quán âm, Thập nhất diện Quán âm... Tín ngưỡng Quán âm ở triều Bình an cũng rất phổ cập. Có rất nhiều tác phẩm quí giá điêu khắc, hội họa tượng Quán thế âm qua các triều đại, hiện nay có tới 450 tượng được xếp vào hàng quốc bảo. Ngoài ra, các trứ tác nói về sự linh nghiệm của Quán thế âm cũng nhiều như: Quán âm cảm thông truyện, Quán âm tân nghiệm lục, Trường cốc tự duyên khởi, Quán âm diệu ứng tập, Chuẩn đề Quán âm niệm tụng linh nghiệm kí đồ hội, Chuẩn đề bồ tát niệm tụng linh nghiệm kí, Lạc dương Quán âm linh nghiệm chân sao... Qua những điều trình bày trên đây, ta thấy được sự thịnh hành của tín ngưỡng Quán thế âm ở Trung quốc và Nhật bản, nhưng vì hòa nhập với Mật giáo nên tín ngưỡng Quán thế âm ở Trung quốc trở nên phức tạp. Sau lại kềt hợp với Đạo giáo mà phát triển thành tín ngưỡng Nương nương miếu. Tín ngưỡng nhân gian vốn sùng bái Quán thế âm như vị nữ thần, nên lâu ngày bèn hỗn hợp với tín ngưỡng Nương nương thần của Đạo giáo mà có danh xưng là Quán âm nương nương. [X. luận Đại trí độ Q.26, 30, 34; luận Du già sư địa Q.7; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.4; Pháp kinh lục Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; Chư thuyết bất đồng kí Q.2, 3, 5, 7].
quán thế âm viên thông
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Sáu, Đức Phật hỏi ngài Quán Thế Âm về viên thông và ngài Quán Thế Âm đã bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tôi từ căn tai tu tam muội viên chiếu, duyên tâm, tự tại, bởi tu để tiếng động vào căn tai, vào rồi mất…, để được tam ma địa, thành tựu Bồ Đề. Bạch Thế Tôn! Đức Phật kia khen tôi khéo được pháp môn viên thông. Trong đại hội của Ngài, tôi được thọ ký là Quán Thế Âm. Bởi tôi quán nghe cả mười phương đều viên minh, nên tên Quán Thế Âm khắp cả mười phương thế giới—In th Surangama Sutra, book Six, the Buddha asked Avalokitesvara Bodhisattva about perfect penetration, and Avalokitesvara Bodhisattva reported to the Buddha as follows: “World Honored One! From the gateway of ear, I obtained perfect and illumining samadhi. The conditioned mind was at ease, and therefore I entered the appearance of the flow, and obtaining samadhi, I accomplished Bodhi. World Honored One! That Buddha, the Thus Come One, praised me as having obtained well the Dharma-door of perfect penetration. In the great assembly he bestowed a prediction upon me and the name, Kuan-Shih-Yin.
quán thế âm ứng nghiệm kí
(觀世音應驗記) Tác phẩm, 1 quyển, được thu vào Lục cổ dật Quán thế âm ứng nghiệm kí đích nghiên cứu do ông Mục Điền Đế Lượng soạn. Sách này do hiệu đính Quang thế âm ứng nghiệm kí 7 bài của Phó lượng (374- 426), Tục Quang thế âm ứng nghiệm kí 10 bài của Trương diễn (sống vào tiền bán thế kỉ V) và Hệ Quán thế âm ứng nghiệm kí 69 bài của Lục cảo (459- 532) mà thành. Cứ theo lời tựa của ông Phó lượng thì ông Tạ phu đời Đông Tấn có soạn Quán thế âm ứng nghiệm truyện hơn 10 bài đem tặng cho thân phụ Phó lượng là ông Phó viện. Nhưng vào năm Long an thứ 3 (399) xảy ra loạn Tôn ân, bộ ứng nghiệm truyện này bị thất lạc, Phó lượng bèn dựa vào trí nhớ mà soạn Ứng nghiệm truyện kí 7 bài.
quán thể
Nature of visualization.
quán thọ thị khổ
xem Bốn niệm xứ.
quán thụ
Contemplating the tree (of knowledge as Sakyamuni is said to have done after his enlightenment.)
; (觀樹) Quán cây Bồ đề. Đức Thế Tôn sau khi thành đạo, rời tòa Kim cương mà quán cây Bồ đề. Pháp hoa huyền tán quyển 4 phần cuối (Đại 34, 729 thượng) nói: Đức Phật thành đạo rồi, đi dạo dưới gốc cây, nhìn cây mà vui mừng vì đạo quả của mình đã viên thành, đi dạo mà nghĩ đến việc làm lợi ích cho chúng sinh; lại nhìn cây mà tâm lắng vào diệu lí, đi dạo mà nghĩ đến việc giáo hóa quần sinh; lại nhìn cây mà nghĩ đến bóng mát che bốn loài, đi dạo mà nghĩ việc ban phát phúc tuệ. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa].
quán thụ (thọ)
(A) Quán cây Trí Tuệ như Đức Phật Thích Ca khi thành đạo rồi thì từ tòa Kim Cương trở dậy quán cây Bồ Đề (Ngài nói rằng ta mới ngồi ở đạo tràng cũng đã từng quán thụ hay quán cây Bồ Đề)—To contemplate the tree of knowledge, as Sakyamuni is said to have after his enlightenment. (B) Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy về 'quán cảm thọ' như sau—According to the Satipatthanasutta, the Buddha taught about the 'contemplation of feeling' as follows: 1) Nầy các Tỳ Kheo, như thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm cảm thọ trên các cảm thọ? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo khi cảm giác lạc thọ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc.” Mỗi khi có một cảm thọ đau khổ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ đau khổ.” Mỗi khi có một cảm thọ không khoái lạc cũng không đau khổ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ không khoái lạc cũng không đau khổ.” Khi có một cảm thọ khoái lạc vật chất, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc vật chất.” Khi có một cảm thọ khoái lạc tinh thần, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc tinh thần.” Khi có một cảm thọ khổ đau vật chất, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau vật chất.” Khi có một cảm thọ khổ đau tinh thần, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau tinh thần.” Khi có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không đau khổ.” Khi có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không khổ đau.”—And how, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating feelings as feelings? Here, when feeling a pleasant feeling, a Bhikkhu understands: “I feel a pleasant feeling;” when feeling a painful feeling, he understands: “I feel a painful feling;” when feeling a neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: “I feel a neither-painful-nor-pleasant feeling.” When feeling a worldly pleasant feeling, he understands: “I feel a worldly pleasant feling;” when feeling an unworldly pleasant feling, he understands: “I feel an unworldly pleasant feeling;” when feeling a worldly painful feeling, he understands: “I feel a worldly painful feeling;” when feeling an unworldly painful feeling, he understands: “I feel an unworldly painful feeling;” when feeling a worldly neither-painful-nor pleasant feeling, he understands: “I feel a worldly neither-painful-nor-pleasant feeling;” when feeling an unworldly neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: “I feel an unworldly neither-painful-nor-pleasant feeling.” 2) Như vậy vị ấy sống quán niệm cảm thọ trên các nội thọ; hay sống quán niệm cảm thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán cảm thọ thể trên cả nội thọ lẫn ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các thọ; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các thọ. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm cảm thọ trên các cảm thọ—In this way he abides contemplating feelings as feelings internally, or he abides contemplating feelings as feelings externally, or he abides contemplating feelings as feelings both internally and externally. Or else he abides contemplating in feelings their arising factors, or he abides contemplating in feelings their vanishing factors, or he abides contemplating in feelings both their arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there is feeling' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating feelings as feelings.
quán thủ
(貫首) Cũng gọi Quán chủ, Quản chủ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Quán là quê quán; Thủ là đầu, trước hết. Quán thủ vốn chỉ cho người mà tên được ghi ngay ở đầu cuốn sổ hộ tịch, về sau được dùng để chỉ cho lãnh tụ của 1 tông 1 phái. Tông Thiên Thai Nhật Bản sử dụng cách gọi này sớm nhất để chỉ cho vị Tọa chủ. Nay thì từ ngữ này được dùng một cách rộng rãi để tôn xưng các vị Trụ trì của các Đại bản sơn và các chùa lớn của mỗi tông. [X.bài tựa Hiếu kinh (Khổng an quốc); Loại tụ danh vật khảo Q.124].
quán triệt
Parinna (S), Full understanding Xem Liễu tri.
; To penetrate thoroughly
quán trí
Wisdom obtained from contemplation.
; Trí tuệ đạt được qua thiền định—Wisdom obtained from contemplation.
Quán tuế
(丱歲): thưở bé, tuổi nhỏ. Quán (丱) có nghĩa là bện tóc làm hai múi hai bên, nên quán tuế (丱歲) là tuổi bện tóc thành hai múi, tuổi để tóc chỏm. Như vậy, tuổi đồng sấn (童齔) còn trẻ nhỏ hơn quán tuế vài tuổi. Như trong bài Hậu Chu Minh Uy Tướng Quân Lương Công Thần Đạo Bi (後周明威將軍梁公神道碑) của thi sĩ Dương Quýnh (楊炯, 650-695) nhà Đường có câu: “Quán tuế đằng phương, thiều niên siêu ái (丱歲騰芳、髫年超靄, tuổi nhỏ hiển đạt, lớn lên siêu quần).” Trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) có đoạn rằng: “Sư, Vĩnh Gia nhân, tánh Đới thị; quán tuế xuất gia, biến thám Tam Tạng, tinh Thiên Thai Chỉ Quán viên diệu pháp môn (師、永嘉人也、姓戴氏、丱歲出家、遍探三藏、精天台止觀圓妙法門, sư người vùng Vĩnh Gia, họ là Đới; tuổi nhỏ xuất gia, tìm khắp Tam Tạng, tinh thông pháp môn mầu nhiệm tròn đầy của Thiên Thai Chỉ Quán).” Hơn nữa, trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 32 cũng có đoạn: “Trường Sa Phủ Quy Sơn Ngũ Phong Như Học Thiền Sư, Lâm Đồng Nhậm thị tử, quán tuế thất hỗ, tùng Ngũ Đài Thiên Tề trĩ phát, viên cụ ư Trừng Luật Sư (長沙府溈山五峰如學禪師、臨潼任氏子、丱歲失怙、從五臺天齊薙髮、圓具於澄律師, Thiền Sư Như Học ở Quy Sơn Ngũ Phong, Phủ Trường Sa, con nhà họ Nhậm ở Lâm Đồng, tuổi nhỏ đã mất cha, xuống tóc xuất gia với Thiên Tề ở Ngũ Đài Sơn, thọ Cụ Túc giới với Trừng Luật Sư).”
quán tuệ
The wisdom which penetrates to ultimate reality.
; Đem trí tuệ quán chân lý, hay lấy trí tuệ quán sát thấu hiểu được chân lý—The wisdom which penetrates to ultimate reality.
quán tác
(觀作) Cũng gọi Nội đàn, Tâm đàn. Trong Mật giáo, tác pháp Mạn đồ la được chia làm 2 loại: Họa tác (vẽ) và Quán tác (quán tưởng). Mạn đồ la được quán tưởng ở trong tâm, gọi là Quán tác. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 12 (Vạn tục 36, 451 hạ) nói: Nếu hành giả trải tòa ngồi Mạn đồ la của Bản tôn ở trong nội tâm hoặc ở bên ngoài. Trong đó, trải ở trong nội tâm tức là Quán tác. Pháp quán tác là quán tưởng chữ chủng tử thành hình Tam muội da, hình Tam muội da này tức là Bản tôn. [X. phẩm Cúng dường nghi thức trong kinh Đại nhật Q.7]. (xt. Nội Ngoại Mạn Đồ La).
quán tâm
Contemplation of the mind, mental contemplation, contemplation of all things as mind.
; Citta-nupassana (p). (A) Quán sát tâm tính. Tâm là chủ muôn pháp, không có một sự nào ở ngoài tâm cả—Contemplation of the mind—Mental contemplation, contemplation of all things as mind. (B) Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy về 'quán tâm' như sau—Accroding to the Satipatthanasutta, the Buddha taught about 'contemplation of mind' as follows: 1) Nầy các Tỳ Kheo, như thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm tâm thức nơi tâm thức? Nầy các Tỳ Kheo, mội khi nơi tâm thức có tham dục, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có tham dục. Mỗi khi tâm thức không có tham dục, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình không có tham dục. Mỗi khi trong tâm thức mình có sân hận, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có sân hận. Mỗi khi tâm thức của mình không có sân hận, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có sân hận. Mỗi khi tâm thức mình có si mê, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang si mê. Mỗi khi tâm thức của mình không có si mê, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có si mê. Mỗi khi tâm thức mình có thu nhiếp, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có thu nhiếp. Mỗi khi tâm thức mình tán loạn, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang tán loạn. Mỗi khi tâm thức mình trở thành khoáng đạt, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang trở thành khoáng đạt. Mỗi khi tâm thức mình trở nên hạn hẹp, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang trở nên hạn hẹp. Mỗi khi tâm thức mình đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức mình không đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình không đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức mình có định, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có định. Mỗi khi tâm thức mình không có định, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có định. Mỗi khi tâm thức mình giải thoát, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang giải thoát. Mỗi khi tâm thức mình không có giải thoát, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có giải thoát—And how, Bhikkhus, doeas a Bhikhu abide contemplating mind as mind? Here a Bhikhu understands mind affected by lust as mind affected by lust, and mind unaffected by lust as mind unaffected by lust. He understands mind affected by hate as mind affected by hate, and mind unaffected by hate as mind unaffected by hate. He understands mind affected by delusion as mind affected by delusion, and mind unaffected by delusion as mind unaffected by delusion. He understands contracted mind as contracted mind, and distracted mind as distracted mind. He understands exalted mind as exalted mind, and unexalted mind as unexalted mind. He understands surpassed mind as surpassed mind, and unsurpassed mind as unsurpassed mind. He understands concentrated mind as concentrated mind, and unconcentrated mind as unconcentrated mind. He understands liberated mind as liberated mind, and unliberated mind as unliberated mind. 2) Như vậy vị ấy sống quán niệm tâm thức trên nội tâm; hay sống quán niệm tâm thức trên cả nội tâm lẫn ngoại tâm. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên tâm thức; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên tâm thức. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên tâm thức. “Có tâm đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm tâm thức trên các tâm thức—In this way he abides contemplating mind as mind internally, or he abides contemplating mind as mind externally, or he abides contemplating mind as mind both internally and externally. Or else he abides contemplating in mind its arising factors, or he abides contemplating in mind its vanishing factors, or he abides contemplating in mind both its arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there is mind' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating mind as mind.
; (觀心) Quán chiếu tâm mình để thấy rõ bản tính của tâm. Đặc biệt tông Thiên thai hay dùng từ Quán tâm, như Nhất tâm tam quán, Nhất niệm tam thiên... đều là những dụng ngữ có liên quan đến quán tâm. Tu Nhất tâm tam quán tức là đối với một niệm vọng tâm của chính mình, cùng lúc phải quán nó là Giả, là Không, là Trung. Đối tượng của sự quán sát là Tâm, Phật và Chúng sinh, trong đó, tự quán tâm mình là dễ dàng nhất và cũng là quan trọng nhất. Bởi vì Tâm là gốc rễ của muôn vật, mà cũng là cội nguồn của mê vọng, cho nên cần phải quán xét bản tính của tâm mình. Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa quyển 2, phần đầu (Đại 33, 696 thượng) nói: ... Những pháp được trình bày ở trên đâu có khác với tâm? Nhưng vì pháp chúng sinh thì quá rộng, mà Phật pháp thì lại quá cao siêu, cho nên đối với những người mới học là rất khó. Còn tâm, Phật và chúng sinh thì cả 3 đều không sai khác, thế nên chỉ cần tự quán tâm mình thì dễ dàng hơn. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.7, phần đầu; Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3].
quán tâm bản tôn sao
(觀心本尊抄) Gọi đủ: Như lai diệt hậu ngũ ngũ bách tuế thủy quán tâm bản tôn sao. Gọi tắt: Bản tôn sao, Quán tâm sao. Tác phẩm, 1 quyển, do sư Nhật liên người Nhật bản soạn vào năm 1273, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Đây là Thánh điển tối quan trọng của tông Nhật liên Nhật bản, cũng là bộ sách trọng yếu nhất trong Tam đại bộ, Ngũ đại bộ. Luận điểm trong sách này có các thuyết như sau: -Thuyết minh về Bản thể luận, tức sự tương quan của Thập pháp giới. -Nêu rõ sự thể nghiệm tông giáo của thuyết Tín tâm thành Phật. -Định vững sự tuyệt đối của đức Phật bản tôn. -Luận về thuyết Mạt pháp trong kinh Pháp hoa là chính đáng. -Giáo phán luận nêu rõ sự thống nhất tất cả các tông giáo qua 3 giai đoạn. -Đề xướng nước Đại nhật bản là trung tâm của cõi Diêm phù đề. Sách chú thích tác phẩm này có: Bản tôn sao kiến văn của Nhật thường, Bản tôn sao lược yếu của Nhật huy...
quán tâm giác mộng sao
(觀心覺夢鈔) Gọi tắt: Giác mộng sao. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Lương Biến người Nhật Bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 71.Đây là sách nhập môn của Duy thức học. Quán tâm có nghĩa là quán xét tất cả sự vật bên ngoài sau khi đã chia lìa với tâm thì không còn tồn tại; nhờ sự quán tâm duy thức này mà người ta có thể từ trong mê mộng giác ngộ chân lí, cho nên gọi là Giác mộng. Nội dung sách này chia làm 13 chương, giải thích về giáo nghĩa pháp tướng và bàn rõ về sự quan hệ giữa tâm và sự vật ngoài tâm, đồng thời, thuyết minh nhờ lí duy thức mà đạt được khai ngộ. Tác giả Lương Biến đã dung hợp Duy thức với các giáo nghĩa khác của Đại thừa mà soạn thành sách này.
quán tâm huyền xu
(觀心玄樞) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975) soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Trong sách này, ngài Diên Thọ đã đứng trên lập trường của Thiền tông mà bàn về huyền chỉ quán tâm của Phật giáo, cho rằng nếu người ta muốn thoát khỏi sự trói buộc của các trần cảnh, chấm dứt phân biệt, thực hành đầy đủ 6 Ba la mật: Bố thí, trì giới..., hộ trì chính pháp, hiểu rõ pháp tướng, thấu suốt 4 đế, làu thông Tam tạng, hàng phục 4 ma, biện biệt nhơ sạch...thì tất cả đều phải do pháp quán tâm mới thành tựu được. Nếu không quán tâm thì hết thảy đều hỗn loạn điên đảo, như 96 thứ ngoại đạo sai lầm. Cuối quyển có phụ thêm bài kệ biền ngẫu theo thể văn tứ lục(4 chữ, 6 chữ), nguyện sinh Duy tâm tịnh độ. Sách này kế thừa tư tưởng thuộc hệ quán tâm của tông Thiên thai... viện dẫn các đoạn văn có liên quan đến quán tâm trong các kinh điển, nói rõ các yếu nghĩa quán tâm như: Tâm tức Đại thừa, Tâm tức Phật tính, Tâm nhiếp chư giáo.
quán tâm luận
(觀心論) I. Quán Tâm Luận. Cũng gọi Phá tướng luận. Tác phẩm, 1 quyển, tương truyền do Tổ Bồ Đề Đạt Ma soạn vào đời Lương, cũng có thuyết nói do ngài Thần Tú soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung luận này nói về pháp quán tâm, dùng 1 pháp quán tâm bao nhiếp hết các pháp, rất đơn giản khái quát. Sách này là bản khác của Quán tâm luận (Đạt ma Đại sư Quán tâm luận) trong Thiền môn toát yếu quyển thượng, Phá tướng luận trong Thiếu thất lục môn tập. II. Quán Tâm Luận. Cũng gọi Tiễn nhũ luận. Tác phẩm, do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46.Nội dung lấy quán tâm làm chính, bàn rõ về 4 loại Tam muội. Toàn sách gồm 36 bài kệ, chia làm 10 chương: 1. Nói rõ vềgiáolí viên diệu bất khả thuyết. 2. Nói rõ việc không thể rơi vào lí giáo mà mê lầm về Kiến hoặc và Tư hoặc. 3. Thuyết minh do trình độ giác ngộ chân lí có cạn, sâu khác nhau mà chia làm 4 giáo. 4. Nói rõ về phạm vi của 4 loại Tam muội để tìm hiểu giáo lí. 5. Thuyết minh về 25 phương tiện. 6. Thuyết minh về các cảnh hỗn tạp phát khởi khác nhau. 7. Quán xét 1 cảnh mà thuật theo Thập thừa quán pháp. 8. Nói rõ nếu thành tựu 10 pháp quán thì liền chứng được trụ vị của các Địa. 9. Nói về sự khác nhau của việc khởi tác dụng hóa độ chúng sinh. 10. Nói rõ về pháp môn Tự độ độ tha (độ mình và độ người khác).
quán tâm luận sớ
(觀心論疏) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Quán Đính giảng vào đời Tùy, ngài Trí Việt soạn tập, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Đây là sách chú thích bộ luận Quán tâm của Đại sư Thiên thai Trí Khải, đồng thời cũng là trứ tác nổi tiếng y cứ vào tư tưởng Ma ha chỉ quán để phát huy ý chỉ của luận Quán tâm. Nội dung trước hết chia khoa luận Quán tâm làm ba phần Tựa, Chính tông và Lưu thông. Phần tựa chiếm hết quyển 1 và nửa quyển 2, còn toàn bộ từ đó trở xuống là phần Chính tông, gồm 10 chương, trình bày bốn loại Tam muội, 25 phương tiện, 10 loại cảnh giới, 1 tâm 3 trí, 10 pháp thánh thừa, phá khắp các pháp, không khởi đạo thuận ái pháp..., sau cùng kết thúc bằng việc giải thích nghĩa Lục tức.
quán tâm nhị bách vấn
(觀心二百問) Gọi đủ: Pháp trí di biên quán tâm nhị bách vấn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tri Lễ giảng vào đời Tống, ngài Kế Trung biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Vào thời Triệu Tống, nhân vấn đề thật, giả liên quan đến hai bản Kim quang minh kinh huyền nghĩa Quảng và Lược của ngài Thiên thai Trí Khải mà gây ra cuộc tranh luận kéo dài suốt 7 năm giữa hai phái Sơn gia và Sơn ngoại. Đến năm Cảnh đức thứ 3 (1006), ngài Tri lễ gom góp văn thư qua lại trước sau 10 lần giữa 2 phái mà soạn thành Thập nghĩa thư.Năm sau, ngài Khánh Chiêu cũng soạn Đáp thập nghĩa thư để đối khángThập nghĩa thư.Ngài Tri Lễ bèn soạn sách này (Quán tâm nhị bách vấn), dùng 10 khoa của Thập nghĩa thư làm cơ sở, đặt ra 198 câu hỏi để vặn lại, từ đó, cuộc luận chiến được kết thúc. Tất cả sách vở được soạn trong 7 năm tranh luận, hiện nay chỉ còn Thập nghĩa thư và Quán tâm nhị bách vấn, cho nên hai sách này đã trở thành những tư liệu quan trọng để nghiên cứu về tông Thiên thai đời Tống.
quán tâm thích
(觀心釋) Một trong 4 phương thức giải thích mà Đại sư Trí Khải tông Thiên thai sử dụng để giải thích câu văn kinh Pháp hoa. Tức là lấy pháp nghĩa do đức Như lai nói làm đối cảnh để quán tâm, nhờ quán xét tâm mình một cách sâu rộng mà vào được diệu lí thực tướng, gọi là Quán tâm thích. Pháp hoa kinh văn cú quyển 1, phần đầu (Đại 34, 3 hạ) nói: Quán tâm thích nghĩa là quán xét tất cả giáo nghĩa chân thực do đức Như lai nói trong Thế giới đàn đều là pháp nhân duyên sinh, đó là quán chung; nhân duyên tức Không, tức Giả, đó là quán riêng; hai quán này thuộc về hai đạo phương tiện để vào Trung đạo Đệ nhất nghĩa đế. [X. Pháp hoa kinh khoa chú Q.1]. (xt. Tứ Chủng Thích Nghĩa).
quán tâm thích hoa nghiêm kinh đề
(觀心釋華嚴經題) Dùng Nhất tâm pháp giới để giải thích đề kinh Hoa nghiêm. Tên đầy đủ của kinh Hoa nghiêm là: Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Hoa Nghiêm kinh sớ dùng Nhất tâm pháp giới để giải thích từng chữ trong 7 chữ của đề kinh Hoa nghiêm. Cách giải thích như sau: 1. Đại là thể của tâm: Đại nghĩa là thường hằng, trúm khắp; Thể là thể của tâm. Thể của tâm chứa đựng pháp giới, xứng tính chu biến, bình đẳngrộng lớn, không có đổi dời, cũng không có ngằn mé, cho nên gọi ‘Đại là thể của tâm. 2. Phương là tướng của tâm: Phương tức là phương pháp; Tướng tức là quĩ trì. Nghĩa là vô biên pháp tướng, hằng sa tính đứcđều do1 tâm duy trì dung nhiếp, vì thế gọi Phương là tướng của tâm. 3. Quảng là dụng của tâm: Quảng là rộng lớn, dụng là nghiệp dụng. Nghĩa là nghiệp dụng của tâm rộng lớn vô biên, có năng lực sinh ra muôn pháp và ứng dụng vô tận, vì thế gọi Quảng là dụng của tâm. 4. Phật là quả của tâm: Phật tức bậc giác ngộ; Quả tức là quảbồ đề.Nghĩa là bậc lìa các phiền não, rõ biết muôn pháp, đầy đủ tất cả trí, đượcbồ đề vô thượng,bậc chứng đắc quả bồ đề của tâm mình, quả này chẳng phải được từ bên ngoài, cho nên gọi Phật là quả của tâm. 5. Hoa là nhân của tâm: Hoa tức ví dụ cho muôn hạnh công đức; Nhân tức là hạnh. Nghĩa là nhân hoa của muôn hạnh đều là sự khơi mở giác ngộ của tâm, vì thế gọi Hoa là nhân của tâm. 6. Nghiêm là công của tâm: Nghiêm tức trang nghiêm; Công tức công dụng. Nghĩa là dùng nhân hoa muôn hạnh để tô điểm cho quả thể pháp thân, đều là công vận dụng nhất tâm, cho nên gọi Nghiêm là công của tâm. 7. Kinh là giáo của tâm: Kinh tức ngôn giáo năng thuyên; Giáo tức ngôn thượng. Nghĩa là 1 câu 1 lời, các pháp các lí, đều có thể hoằng hóa tất cả, đều là thuyên lượng bao quát của tâm, vì thế gọi Kinh là giáo của tâm.
quán tâm thực pháp
(觀心食法) Cũng gọi Quán thực pháp. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí Khải giảng vào đời Tùy, được thu vào Vạn tục tạng tập 99. Sách này dạy người dùng pháp quán mà thụ thực (tức dùng pháp quán làm thức ăn), trở thành Bát nhã thực, hiển bày chỉ thú của Tam quán trung đạo, đồng thời, dẫn lời trong kinh Tịnh danh (Vạn tục 99, 55 thượng): Chẳng phải có phiền não, chẳng phải lìa phiền não, chẳng phải nhập định tâm, chẳng phải khởi định tâm, đó gọi là Thực pháp. [X.chương 4 trong Thiên thai giáo học sử (Tuệ nhạc)].
quán tâm tụng kinh pháp kí
(觀心誦經法記) Cũng gọi Quán tâm tụng kinh kí. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí Khải giảng vào đời Tùy, ngài Trạm Nhiên ghi thuật vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 99. Sách này dạy người khi giảng nói, đọc tụng kinh điển, phải thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý, phối hợp với 3 quán Không Giả Trung, vận dụng 2 pháp Từ bi và lấy hướng tới Đệ nhất nghĩa không làm chỉ thú.[X.chương 3 trong Thiên thai giáo học sử (Tuệ nhạc)].
quán tâm vô thường
xem Bốn niệm xứ.
quán tương thuộc luận
Saṃbandha-pariksa (S)Tên một bộ luận kinh.
quán tướng thuộc luận
(觀相屬論) Phạm: Sambandha- parìkwa. Cũng gọi Tương thuộc quán sát luận. Luận, 1 quyển, do Luận sư Pháp xứng người Ấn độ soạn vào khoảng thế kỉ thứ VI, VII, là 1 trong 7 bộ luận về Nhân minh. Nội dung luận này nói rõ về sự quan hệ tương thuộc giữa các khái niệm kiến lập luận thức. Cuối sách có phụ thêm phần chú thích do chính tác giả tự soạn. Chế độ học tập tại 3 ngôi chùa lớn của phái Cách lỗ thuộc Phật giáo Tây tạng qui định: Trong chương trình bước đầu học tập Nhân minh phải lấy sách này làm gốc để tìm hiểu nguyên tắc cơ bản về mối quan hệ giữa các khái niệm.
quán tưởng
Bhàvanà (S). To meditate and think. Meditation, mental development.
; Dùng cái tâm năng quán để quán cái cảnh sở quán, khi quán thành thì niệm khởi, cảnh liền hiện, như quán mặt trời thì niệm khởi thấy ban đêm như ban ngày.
; Contemplation—See Thiền. (I) Ý nghĩa của quán tưởng—The meanings of contemplation. 1) Quán tưởng là phương pháp Phật tử áp dụng hằng ngày, luyện cả thân tâm, đem lại sự hòa hợp giữa tinh thần và vật chất, giữa con người và thiên nhiên: Contemplation is the daily practice of Buddhist adepts for training the body and mind in order to develop a balance between Matter and Mind, between man and the universe. 2) Quán tưởng và niệm hồng danh một vị Phật trong tâm, đặc biệt là Phật A Di Đà—To contemplate—To focus—To visualze—To meditate and think—To contemplate Buddha, especially Amitabha, in the mind and repeat his name. 3) Quán tưởng là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích và suy nghiệm một vấn đề, giúp cho thân an và tâm không loạn động, cũng như được chánh niệm. Quán tưởng không phải là chuyện đơn giản. Thật vậy, trong thế giới máy móc hiện đại hôm nay, cuộc sống cuồng loạn làm tâm trí chúng ta luôn bị loạn động với biết bao công chuyện hằng ngày khiến cho chúng ta mệt mỏi về thể xác lẫn tinh thần, nên việc làm chủ thân mình đã khó, mà làm chủ được tâm mình lại càng khó hơn: Contemplation can fundamentall be defined as the concentration of the mind on a certain subject, aiming at realizing a tranquil body, and an undisturbed mind as a way to perform right mindfulness. Contemplation is not a simple matter. In the world today, based on mechanical and technological advances, our life is totally distrubed by those daily activities that are very tiresome and distressing for mastering; thus, the body is already difficult and if we want to master the mind, it is even more difficult. (II) Trước khi quán tưởng—Before contemplation: See Thiền Định (IV). (III) Những phương pháp quán tưởng—Methods of contemplation: 1) Ngũ đình tâm quán: Five-fold procedures for quieting the mind—See Ngũ Đình Tâm Quán. 2) Tứ Niệm Xứ: Four types of Buddhist meditation for eradicating illusions and attaining enlightenment—See Tứ Niệm Xứ. (IV) Những lời Phật dạy về “Quán Tưởng” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Contemplation” in the Dharmapada Sutra: 1) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Phật Đà—The disciples of Gotama are always well awake. Those who always contemplate the Enlightened One by day and night (Dharmapada 296). 2) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Đạt Ma—The disciples of Gotama are always well awake. Those who always contemplate the Dharma by day and night (Dharmapada 297). 3) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Tăng già—The disciples of Gotama are always awake. Those who always contemplate the Sangha by day and night (Dharmapada 298). 4) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng sắc thân—The disciples of Gotama are always awake. Those who always contemplate the body by day and night (Dharmapada 299). 5) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường vui điều bất sát—The disciples of Gotama are always awaken. Those who always contemplate delight in harmlessness or compassion by day and night (Dharmapada 300). 6) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường ưa tu thiền quán—The disciples of Gotama are always awaken. Those who always contemplate delight in meditation by day and night (Dharmapada 301). 7) Không có trí huệ thì không có thiền định, không có thiền định thì không có trí tuệ. Người nào gồm đủ thiền định và trí tuệ thì gần đến Niết bàn—There is no concentration in one who lacks wisdom, nor is there wisdom in him who lacks concentration. He who has both concentration and wisdom is near Nirvana (Dharmapada 372).
; (觀想) Gọi tắt: Tưởng. Tập trung tưởng niệm vào 1 đối tượng duy nhất nào đó để áp phục những vọng tưởng như tham dục..., hoặc là 1 loại quán tưởng phương tiện cần phải thực hành để đi vào chính quán. Kinh Tọa thiền tam muội quyển hạ (Đại 15, 281 trung) nói: Người tu hành đạo Bồ tát, trong 3 độc nếu thấy nghiêng nặng về dâm dục thì trước phải quán thân, xương, thịt, da dày, da mỏng, gân, mạch, mồ hôi, máu, gan, phổi, ruột, dạ dày, phân, nước tiểu, nước mắt, nước miếng, đờm, dãi, 36 vật, 9 thứ quán tưởng bất tịnh, chuyên tâm quán xét bên trong, không nhớ nghĩ bên ngoài, nếu nhớ nghĩ đến các duyên bên ngoài thì lập tức thu nhiếp các duyên trở về. Đây nói tu, Cửu tưởng quán có công năng đoạn trừ dâm dục. Theo kinh Quán Vô lượng thọ thì tu quán mặt trời... là phương tiện để đi vào chân quán chính báo, y báo của thế giới Cực Lạc. Mật giáo đối với những hành giả mới phát tâm bồ đề cũng thường đặt ra các loại quán tưởng phương tiện, như quán tưởng hình tượng, hình Tam muội da... của các vị tôn, nhờ sự quán tưởng ấy để diệt trừ vọng niệm, dần dần từ hữu tướng tiến vào vô tướng, dứt bặt tất cả cái thấy chủ quan, khách quan sai biệt, thể chứng muôn pháp bình đẳng mà ứng hợp với Bản tôn.[X. kinh An tượng tam muội nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.11, 14; phẩmTrì tụng pháp tắc trong Đại tì lô giá na kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ].
quán tưởng danh hiệu phật
Buddha remembrance.
quán tưởng hình ảnh
utpattikrama (S), Visualization stage.
quán tưởng niệm phật
To contemplate Buddha (especially Amitàbha) in the mind and repeat his name.
; Quán tưởng Đức Phật A Di Đà mà niệm thầm hồng danh ngài, đối lại với niệm ra bằng lời—To contemplate Buddha, especially Amitabha, in the mind and repeat his name silently, in contrast with repeating his name loudly .
; (觀想念佛) Ngồi ngay thẳng, chuyên tâm chính niệm quán tưởng tướng hảo trang nghiêm của thân Phật, là 1 trong 4 cách niệm Phật được nói trong Phổ hiền hành nguyện phẩm sớ sao của ngài Tông mật. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 9, 10 và kinh Tọa thiền tam muội quyển thượng, nếu chuyên quán1 trong 32 tướng của Phật thì diệt được tội nặng sinh tử trong 90 ức na do tha hằng hà sa vi trần số kiếp; nếu quán tưởng hảo của toàn thân Phật thì phải ngồi ngay thẳng và chính thụ buộc niệm nơi thân Phật, không nghĩ đến các pháp khác như đất, nước, lửa, gió... thường chỉ nhớ nghĩ thân Phật, thấy chư Phật ở 3 đời 10 phương đều ở ngay trước mắt, thì diệt trừ được tội chướng của vô lượng kiếp. Ngoài ra, quán tưởng niệm Phật còn có Nhất tướng quán, Đa tướng quán, Toàn tướng quán khác nhau. (xt. Tứ Chủng Niệm Phật).
quán tượng
Diễn tả voi bằng cách cảm biết thay vì nhìn thấy, như trường hợp một nguời mù rờ voi (chỉ đúng ngay lúc đó mà thôi, chứ không phải là chân lý)—To describe an elephant from feeling rather than seeing it, as a blind man does (from feeling it, i.e. immediate and correct knowledge).
quán tượng niệm phật
To contemplate the image of (Amitàbha) Buddha and repeat his name.
; Một trong bốn loại niệm Phật, niệm hình tượng hóa thân của Đức Phật A Di Đà trong tâm mình, hoặc nhìn hình tượng mà niệm hồng danh ngài—One of the four kinds of contemplation of the Buddha, to contemplate the image of Amitabha Buddha and repeat his name.
quán tại tát đỏa
Kuan-Yin Bodhisattva—See Quán Thế Âm and Avalokitesvara.
quán tẩy
Tắm rửa tượng Phật, thường được tổ chức trong ngày Khánh Đản—To wash a Buddha's image, usually done during the Buddha's Birthday.
quán tổng tướng luận tụng
Sarva-lakṣaṇadhyāna-śāstra-kārikā (S)Do ngài Trần Na biên soạn.
quán tứ niệm xứ
To meditate upon the Body, Feelings, Mind and Dharma—To contemplate the four contemplations: 1) Quán thân bất tịnh—To contemplate that the body is not sanitary: Vì điên đảo mộng tưởng mà đa số chúng ta đều cho rằng thân nầy quý báu hơn hết. Nên thân nầy cần phải được ăn ngon mặc đẹp. Chính vì vậy mà chúng ta vật lộn với cuộc sống hằng ngày. Đời sống hằng ngày không còn là nơi an ổn nữa, mà trở thành đấu trường của tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng, tỵ hiềm, ganh ghét và vô minh. Từ đó ác nghiệp được từ từ kết tạo. Người tu chân thuần phải quán thân từ mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng, hậu môn, vân vân đều là bất tịnh. Khi ngồi chúng ta nên quán tưởng thân nầy là bất tịnh, được bao phủ bởi một cái túi da nhơ nhớp, bên trong như thịt, mỡ, xương, máu, đàm, và những chất thừa thải mà không một ai dám đụng tới. Thân nầy, nếu không được tắm rữa bằng nước thơm dầu thơm và xà bông thơm, thì chắc chắn không ai dám tới gần. Hơn nữa, thân nầy đang hoại diệt từng phút từng giây. Khi ta ngừng thở thì thân nầy là cái gì nếu không phải là cái thây ma? Ngày đầu thì thây ma bắt đầu đổi màu. Vài ngày sau đó thây thảy ra mùi hôi thúi khó chịu. Lúc nầy, dù là thây của một nữ tú hay nam thanh lúc còn sanh thời, cũng không ai dám đến gần. Người tu Phật nên quán thân bất tịnh để đối trị với tham ái, ích kỷ, và kiêu ngạo, vân vân. Một khi ai trong chúng ta cũng đều hiểu rằng thân nầy đều giống nhau cho mọi loài thì chúng ta sẽ dễ thông hiểu, kham nhẫn và từ bi hơn với mình và với người. Sự phân biệt giữa người già, người phế tật, và các chủng tộc khác sẽ không còn nữa—Due to illusions, most of us think that our body is more valuable than any thing else. So it needs be provided with better foods and expensive clothes. Therefore, the 'struggle for life' has come into play. Life is no longer a peaceful place, but a battle field with greed, hatred, envy, arrogance, doubt, wrong views, killing, stealing, sexual misconduct, lying. Evil karma is gradually formed as a result. Earnest Buddhists should view the body (eye, ear, skin, hair, nose, tongue, mouth, anus, etc) is unclean (Quán thân bất tịnh) which covered with a bag of skin, inside are flesh, fat, bone, blood, mucus and waste matters of which no one wishes to touch. The body itself, if not being washed frequently with fragrant water and soap, no one wants to stay close to it. In addition, it is prone to decay minute after minute, second after second. If we stop breathing, what is the body called if not a corpse? During the first day, its color is changing. A few days later, it becomes bluish and produces offensive odor. At this time, even if that disintegrated body once was the most beautiful woman or a handsome man, no one wants to be close to it. Earnest Buddhist should always contemplate that the body is unclean. This contemplation is designed to cure greed, attachment, selfishness, and arrogance. Also, when people realize that they are physically and biologically the same, they would easily understand, tolerate and compassionate among themselves and others. The discrimination against the aging, people with disabilities, and the other race would be diminished. 2) Quán rằng cảm thọ là đau khổ—To view all the feelings are painful: Có ba loại cảm thọ là vui sướng, khổ đau và trung tính; tuy nhiên, Phật dạy mọi cảm thọ đều đau khổ vì chúng vô thường, ngắn ngủi, không nắm bắt được, và do đó chúng là không thật, ảo tưởng. Hơn nữa, khi chúng ta nhận của ai cái gì thì lẽ đương nhiên là chúng ta phải làm cái gì đó để đền trả lại. Rất có thể chúng ta phải trả giá cao hơn cho những gì mà chúng ta đã nhận. Tuy nhiên, sự nhận về phần vật chất vẫn còn dễ nhận ra để đề phòng hơn là sự cảm thọ tinh thần, vì cảm thọ là một hình thức thọ nhận mà phần đông chúng ta đều vướng bẫy. Nó rất vi tế, nhưng hậu quả tàn phá của nó thật là khốc liệt. Thường thì chúng ta cảm thọ qua sáu căn. Thí dụ như khi nghe ai nói xấu mình điều gì thì mình lập tức nổi trận lôi đình. Thấy cái gì có lợi thì mình bèn ham muốn. Tham sân là hai thứ thống trị những sinh hoạt hằng ngày của chúng ta mà chúng ta không tài nào kiểm soát chúng được nếu chúng ta không có tu. Quán thọ thị khổ dần dần giúp chúng ta kiểm soát được những cảm thọ cũng như thanh tịnh tâm của chúng ta, kết quả sẽ làm cho chúng ta có được an lạc và tự tại—There are three kinds of feelings: pleasures, pain and neutral ones; however, according to Buddha's teaching, all feelings are painful because they are impermanent, transcient, ungraspable, and therefore, they are unreal, illusive and deceptive. (Quán thọ thị khổ). Furthermore, when you accept something from others, naturally, you have to do something else for them in return. It might cost you more than what you have accepted. However, we can easily refuse material things, but the hardest thing to escape is our own feelings. Feeling is a form of acceptance that most of us could easily be trapped. It is very subtle, but its effect is so destructible. We usually feel whatever conveyed to us by the six senses. For example, hearing someone bad-mouth on us, we feel angry at once. Seeing something profitable, we readily feel greedy. After all, if we don't cultivate, greed and angry are two uncontrollable agents which dominate and overwhelm our daily activities. To contemplate all the feelings are painful will gradually assist us to keep the feelings under control as well as to purify our mind; and as a result, provide us the joy and peace. 3) Quán thấy tâm ngắn ngủi vô thường—To view the mind is transcient or impermanent: Nhiều người cho rằng tâm họ không thay đổi vì thế cho nên họ luôn chấp vào những gì họ nghĩ và tin rằng đó là chân lý. Rất có thể một số cũng thấy tâm mình luôn thay đổi, nhưng họ không chấp nhận mà cứ lờ đi. Người tu Phật nên quán sát tâm thiện, tâm ác của ta đều là tướng sanh diệt vô thường không có thực thể. Tất cả các loại tâm sở tướng nó chợt có chợt không, chợt còn chợt mất thì làm gì có thật mà chấp là tâm mình. Trong khi ngồi thiền định, người ta sẽ có cơ hội nhận ra rằng tâm nầy cứ tiếp tục nhẩy nhót còn nhanh hơn cả những hình ảnh trên màn ảnh xi nê. Cũng chính vì vậy mà thân không an vì phải luôn phản ứng theo những nhịp đập của dòng suy tưởng. Cũng chính vì vậy mà con người ta ít khi được tĩnh lặng và chiêm nghiệm được hạnh phúc thật sự. Phật tử thuần thành nên luôn nhớ rằng tâm không phải là một thực thể của chính nó. Nó thay đổi từng giây. Chính vì thế mà Phật đã dạy rằng tâm của phàm phu như con vượn chuyền cây, như gió, như điển chớp hay như giọt sương mai trên đầu cỏ. Pháp quán nầy giúp cho hành giả thấy được mọi sự mọi vật đều thay đổi từ đó có khả năng dứt trừ được bệnh chấp tâm sở là thật của ta—Most people think that their mind is not changed; therefore, they attach to whatever they think. They believe that what they think reflects the truth. Probably some of them would discover that their mind is changing, but they refuse to accept it. Buddhist practitioners should always contemplate their wholesome and unwholesome minds, they are all subject to rising and destroying. They have no real entity. In sitting meditation, one will have the chance to recognize the facts that the mind keeps jumping in a fast speed as pictures on a movie screen. The body, therefore, always feels restless and eager to react on the thinking pulses. That is why people are rarely calm down or experiencing true happiness. Earnest Buddhists should always remember that the mind does not have any “real entity” to itself. It changes from second to second. That's why the Buddha viewed the mind of an ordinary person is like a swinging monkey, the wind, lightning or a drop of morning dew (Quán tâm vô thường). This contemplation helps the practitioners see that everything is changed so that the practitioners will have the ability to eliminate attachment to what they think. 4) Quán pháp vô ngã—To view the Dharma is without-self: Quán pháp không có tự tánh. Mọi vật trên đời, vật chất hay tinh thần, đều tùy thuộc lẫn nhau để hoạt động hay sinh tồn. Chúng không tự hoạt động. Chúng không có tự tánh. Chúng không thể tự tồn tại được. Thân thể con người gồm hàng tỷ tế bào nương tựa vào nhau, một tế bào chết sẽ ảnh hưởng đến nhiều tế bào khác. Cũng như vậy, nhà cửa, xe cộ, đường xá, núi non, sông ngòi đều được kết hợp bởi nhiều thứ chứ không tự tồn. Do vậy, mọi vật trên đời nầy đều là sự kết hợp của nhiều vật khác. Chẳng hạn như nếu không có chất bổ dưỡng, nước, và không khí thì thân thể nầy chắc chắn sẽ ốm o gầy mòn và cuối cùng sẽ bị hoại diệt. Chính vì vậy mà Đức Phật dạy rằng vạn pháp vô ngã, không, và vô thường. Hành giả nào thường quán pháp vô ngã thì những vị ấy sẽ trở nên khiêm nhường và đáng mến hơn—Everything in the world, either physical or mental, is depend upon each other to function or survive. They are not free from one another or free to act on their owns, on their own will. They do not have a "self.” They are not capable of being self-existed. A human body is composed of billions of cells that depend on one another; one cell dies will effect so many other cells. Similarly, a house, a car, a road, a mountain, or a river all are compounded, not being self-existed. Everything, therefore, is a combination of other things. For instance, without nutritious foods, water, and fresh air, this body will certainly be reduced to a skeleton and eventually disintegrated. Thus the Buddha taught: “All existents are selfless, empty, and impermanent.” Practitioners who always contemplate 'the dharma is without-self,' they should become more humble and likable.
quán từ bi
(từ bi quán): phép quán tưởng trong đó hành giả khởi tâm từ bi hướng đến tất cả chúng sanh.
Quán tử thi
觀死屍; P: sīvathikā;|Một phần trong phép quán thân, được ghi lại trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna-sutta).
quán tử thi
Sīvathikā (S), Aśubha-bhāvanā (S), Meditation on dead body.
quán tự tâm sở hiện cố
Do bởi sự thông hiểu rằng thế giới là biểu hiện của chính cái tâm mình—By thoroughly comprehending that the world is the manifestation of one's own mind.
Quán Tự Tại
觀自在|Quán Thế Âm
quán tự tại
Xem Bồ tát Quán thế âm.
; Sovereign Regarder (not associated with sounds or cries)
; Sarvayogavasavartin (skt)—Ở cảnh sự lý vô ngại, đạt quán tự tại (không có quan hệ với tầm thanh cứu khổ). Đức Phật được xem như là bậc “Quán Tự Tại.”—One who contemplates at ease—Reality Observant Bodhisattva—Sovereign Regarder (beholder), not associated with sounds or cries. The Buddha is regarded as Sarvayogavasavartin. ** For more information, please see Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section.
quán tự tại bồ tát
Xem Quán Thế Âm Bồ tát.
; Bodhisattva of Free Reflection—Bodhisattva Avalokitesvara—See Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section and Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
quán tự tại bồ tát như ý luân du già
Avalokiteśvara-cintamāṇi-bodhisattva-yogādharma-mahārtha (S)Quán Tự Tại Bồ tát như ý luân du già niệm tụng phápTên một bộ kinh.
quán tự tại bồ tát như ý luân du già niệm tụng pháp
Xem Quán Tự Tại Bồ tát như ý luân du già.
quán tự tại vương như lai
(觀自在王如來) Tên gọi khác của đức Phật A di đà ở phương Tây, là 1 trong 5 đức Phật của Mật giáo, mật hiệu là Thanh tịnh kim cương. Thân hình Ngài màu đỏ, trụ trong ấn Tam ma địa, hình Tam muội da là hoa sen. Bốn phía quanh Ngài có 4 vị Bồ tát: Phía trước là bồ tát Kim cương pháp, bên phải là bồ tát Kim cương lợi, bên trái là bồ tát Kim cương nhân, phía sau là bồ tát Kim cương ngữ. Mật giáo dùng danh hiệu Như lai này làm tên gốc của Phật A di đà. Bồ tát Quán âm ngồỉ ở góc Tây bắc trong viện Bát diệp của Thai tạng giới tức là nhân vị thị hiện của đức Phật này. [X. Lược thuật kim cương đính Du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn].
Quán vô lượng thọ kinh
觀無量壽經; S: amitayurdhyāna-sūtra;|Một trong ba bộ kinh quan trọng nhất của Tịnh độ tông. Kinh mô tả thế giới Phương Tây của Phật A-di-đà và dạy cách hành trì: bằng cách sống thanh tịnh, giữ Giới luật (s: śīla) và niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hành giả giải thoát các nghiệp bất thiện và được tái sinh nơi Tịnh độ của Ngài.|Kinh này chỉ rõ quá trình phát sinh giáo pháp của Tịnh độ tông và thật ra đã được đức Phật lịch sử Thích-ca trình bày. Tương truyền rằng, hoàng hậu Vaidehi, mẹ của vua A-xà-thế, bị con mình bắt hạ ngục cùng với chồng là Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra). Bà nhất tâm cầu nguyện Phật và khi Phật hiện đến, Bà xin tái sinh nơi một cõi yên lành hạnh phúc. Phật dùng thần lực cho bà thấy mọi thế giới tịnh độ, cuối cùng bà chọn cõi Cực lạc của A-di-đà. Phật dạy cho bà phép thiền định để được tái sinh nơi cõi đó. Phép thiền định này gồm 16 phép quán tưởng, và tuỳ theo nghiệp lực của chúng sinh, các phép này có thể giúp tái sinh vào một trong chín cấp bậc của Tịnh độ. Mười sáu phép quán tưởng đó là: quán mặt trời lặn; quán nước; quán đáy sông; quán cây cối; quán nước cam lộ; quán thế giới thực vật; quán nước và đáy nước; quán toà sen; quán ba báo thân của ba vị thánh A-di-đà, Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí; quán ba ứng thân của Phật A-di-đà; của Quán Thế Âm; của Ðại Thế Chí; quán A-di-đà trong cõi Tịnh độ; quán ba vị thánh trong cõi Tịnh độ; quán cấp thượng căn trong cõi Tịnh độ; quán cấp trung căn và hạ căn trong cõi Tịnh độ. Các phép quán này giúp hành giả có thể thấy được A-di-đà và hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí ngay trong đời này và đó là dấu hiệu chắc chắn hành giả sẽ được tái sinh về Tịnh độ.
quán vô lượng thọ kinh
Amitāyurdhyāna-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; Amitàyurdhyàna-sùtra (S). Sùtra of the meditation on Amitàyus.
; Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh—Quán Kinh—Một Kinh Đại Thừa quan trọng, liên hệ tới Phật A Di Đà và trường phái Tịnh Độ (có nhiều luận cho bộ kinh nầy)—The Sutra of Contemplation of Infinite Life. An important Mahayana sutra relating to Amitabha Buddha and the Pure Land (there are numerous commentaries on it).
; (觀無量壽經) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ Phật kinh, Vô lượng thọ Phật quán kinh, Vô lượng thọ quán kinh, Thập lục quán kinh. Gọi tắt: Quán kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cương lương da xá dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạngtập 12. Đây là 1 trong 3 bộ kinh của Tịnh độ giáo nói về y báo, chính báo của thế giới Cựclạc phương Tây. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật nhận lời thỉnh cầu của phu nhân Vi đề hi thịh iện ra cõi Tịnh độ Cực lạc ở phương Tây, đồng thời nói tu 3 phúc và 16 pháp quán tưởng để được vãng sinh. Ngài Thiện Đ ạo đời Đường cho rằng kinh này lấy Quán Phật tam muội và Niệm Phật tam muội làm tông chỉ. Trái với các ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn và Gia tường Cát tạng chủ trương 16 pháp quán đều là Định thiện; ngài Thiện Đạo lại cho 3 quán sau (Thượng bối quán, Trung bối quán, Hạ bối quán) trong 16 pháp quán thuộc về 9 phẩm, là Tán thiện. Ngài Thiện Đạo còn cho rằng tuy đức Phật nói rộng về sự lợi ích của Định môn và Tán môn, nhưng trong thâm ý đức Phật chỉ muốn chúng sinh chuyên niệm danh hiệu Phật A di đà mà thôi. Như những câu văn trong Hạ phẩm hạ sinh nói (Đại 12, 346 thượng): Dốc lòng như thế, tiếng niệm không dứt, đầy đủ 10 niệm, xưng Nam mô A di đà Phật. Ngài Thiện đạo dựa vào những câu văn trên mà giải thích từ ngữ nãi chí thập niệm (cho đến 10 niệm) của nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ là chỉ cho 10 tiếng xưng niệm danh hiệu Phật, nên ngài chủ trương tán tâm xưng danh là chính định nghiệp được vãng sinh của tất cả phàm phu thiện ác. Sư Nguyên Không của Nhật Bản đã căn cứ vào những điều ngài Thiện đạo nói mà sáng lập tông Tịnh độ Nhật Bản. Vì kinh này thuộc 1 trong những Quán kinh, nên là cùng loại với các kinh như kinh Quán Phật tam muội hải, kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp, kinh Quán Di lặc thướng sinh Đâu suất thiên, kinh Quán thế âm quán... kinh này nói về 3 bậc Thánh: A di đà, Quán thế âm, Đại thế chí và về pháp trang nghiêm Tịnh độ cực lạc. Lại trong 16 pháp quán thìA di đà Phật chân thân quán (thứ 9) là pháp quán trọng yếu nhất, tên kinh cũng theo đó mà đặt. Về việc phiên dịch kinh này thì các bộ kinh lục cũng như Tăng truyện nói đều khác nhau. Xuất Tam tạng kí tập quyển 4 cho rằng kinh này không rõ dịch giả. Lương cao tăng truyện quyển 3 thì bảo kinh này do ngài Cương lương da xá dịch vào đời Lưu Tống, Tăng hàm ghi chép.Các bộ kinh lục khác từ Pháp kinh lục trở xuống đều theo thuyết này. Lịch đại tam bảo kỉ quyển 4, 7, thì ngoài bản dịch của ngài Cương Lương Da Xá ra, còn liệt kê 2 bản không rõ dịch giả được dịch vào đời Đông Hán và Đông Tấn. Kinh này có rất nhiều sách chú thích, trọng yếu nhất là các bộ sau đây: -Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, 2 quyển, của ngàiTuệ Viễn. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ, 1 quyển, của ngài Trí Khải. -Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, 1 quyển, của ngài Cát Tạng. -Quán Vô lượng thọ kinh sớ, 4 quyển, của ngài Thiện đạo. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh đồ tụng, 1 quyển, của ngài Truyền đăng. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh ước luận, 1 quyển, của ông Bành Tế Thanh. -Quán Vô lượng thọ kinh phù tân luận, 1 quyển, của ngài Giới Độ. Trong các sách chú thích trên đây, bộ Quán Vô lượng thọ kinh sớ 4 quyển của ngài Thiện Đạo đời Đường được lưu thông rộng rãi hơn cả. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.1,5; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ
(觀無量壽經義疏) I. Quán Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ.Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa kí, Tịnh ảnh Quán kinh sớ. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập37. Ngài Tuệ Viễn đứng trên lập trường của tông Địa luận để giải thích kinh Quán Vô lượng thọ, đây là bộ chú sớ đầu tiên về Quán kinh hiện còn. Bộ sớ này phán định thân độ của đức Phật A di đà là Ứng thân ứng độ, người sinh về 9 phẩm ở Tịnh độ của Ngài là các vị Thánh lớn, nhỏ và qui tắc chung về sự tu chứng cũng như tự lực tu hành của các vị Thánh này không khác nhau, không bàn về năng lực thù thắng của bản nguyện Di đà và những điều được nói đến trong bộ sớ này rất trái với nghĩa thú của Tịnh độ giáo, vì thế ngài Thiện Đạo đời Đường đã soạn Quán Vô lượng thọ kinh sớ để bác bỏ. Qua bộ sớ này của ngài Tuệ Viễn, người ta có thể thấy được phần nào kiến giải ở thời Tùy, Đường về Tịnh độ giáo. Đây là tác phẩm rất cần thiết cho việc nghiên cứu Quán kinh sớ của ngài Thiện đạo. [X. Tục cao tăng truyện Q.8; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1]. Tranh 16 pháp quán tưởng trong Quán kinh. II. Quán Vô lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ. Cũng gọi Gia tường Quán kinh sớ. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Trong bộ sớ này, ngài Cát tạng đã đứng trên lập trường của Tam luận mà giải thích kinh Quán Vô lượng thọ. Thuyết của ngài Cát Tạng cũng giống như thuyết của ngài Tuệ Viễn trong Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, cũng dùng ý nghĩa tu hành tự lực của Thánh đạo môn để phán định nhân quả vãng sinh Tịnh độ Di đà, cho nên bị ngài Đạo Xước chê là giải thích sai lầm. Trong Quán kinh tứ thiếp sớ, ngài Thiện Đạo cũng bác bỏ lập trường tư tưởng của bộ sớ này.
Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ
(觀無量壽經疏, Kammuryōjukyōsho): xem Quán Kinh Sớ (觀經疏, Kangyōsho) bên trên.
quán vô lượng thọ kinh sớ
(觀無量壽經疏) I. Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ. Cũng gọi Quán kinh thiên thai sớ, Quán kinh sớ. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Nội dung sách này là giải thích về kinh Quán Vô lượng thọ. (xt. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ). II. Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ. Cũng gọi Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ, Quán kinh sớ, Quán kinh ngự thư, Quán kinh ngự sớ, Quán kinh nghĩa thư, Quán sớ nghĩa, Quán kinh yếu nghĩa, Quán kinh tứ thiếp sớ, Tứ thiếp sớ. Kinh sớ, 4 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường. Nếu nói theo nội dung thì sách này còn được gọi là Khải định sớ, Chứng thành sớ,Chứng định sớ, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Đây là sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ. Nội dung sách này chia làm 4 thiếp: Huyền nghĩa phần, Tự phần nghĩa, Định thiện nghĩa và Tán thiện nghĩa, giải thích nghĩa trọng yếu của tín ngưỡng tha lực, có thể nói đây là trung tâm hệ thống tư tưởng của ngài Thiện Đạo. Huyền nghĩa phần thuyết minh ý nghĩa tông chỉ của Quán kinh, Tự phần nghĩa giải thích bài tựa của Quán kinh, Định thiện nghĩa giải thích 13 pháp quán tạp tưởng trước trong 16 pháp quán, Tán thiện nghĩa thì giải thích 3 pháp quán sau cùng. Sách này chủ trương tất cả phàm phu thiện, ác đều có thể nhờ nguyện lực của đức Phật A di đà mà vãng sinh Tịnh độ Cực lạc, lấy xưng danh niệm Phật là chính nghiệp, lấy tụng kinh, lễ bái, tán thán, quán sát là trợ nghiệp, đồng thời nhấn mạnh rằng nếu người nào nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A di đà, trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm đều niệm niệm không bỏ thì có thể vãng sinh Tịnh độ. Thuyết này có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau. Ngoài ra, sách này thông thường được dùng làm sách căn bản về giáo nghĩa và giáo tướng của Tịnh độ giáo. Vì tuy các ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn, Gia Tường Cát Tạng, Ca Tài...đã chú sớ Quán kinh trước ngài Thiện Đạo, nhưng đều chưa hiện bày được cái diệu dụng của bản nguyện siêu việt thế gian, chỉ một mình ngài Thiện đạo là đã chỉ rõ được ý chính của đức Phật, bởi thế xưa nay đều lấy bộ sách này làm khuôn mẫu nhất định cho các thuyết mà gọi là Khải định sớ. [X. Lạc bang văn loại Q.2; Vãngsinh yếu tập nghĩa kí Q.5].
quán vô lượng thọ phật kinh
Kuan Wu-liang-shou-fo ching (C)Tên một bộ kinh.
quán vô lượng thọ phật kinh nghĩa sớ
(觀無量壽佛經義疏) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ. Gọi tắt: Tân sớ. Kinh sớ, 3 quyển, do ngài Linh Chi Nguyên Chiếu soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Sách này chú thích kinh Quán Vô lượng thọ Phật. Quyển thượng nói về huyền nghĩa, chia làm 4 môn: Giáo hưng lai trí, Nhiếp giáo phân tề, Biện định tông chỉ và Liệu giản dị đồng. Quyển trung vàquyển hạ thì theo văn giải nghĩa. Sách này nghiên cứu rộng về nghĩa trọng yếu của các nhà, phần giải thuyết thì sử dụng lối thích nghĩa của các ngài Trí Khải và Thiện Đạo, như giải thích 16 pháp quán thì sử dụng thuyết của ngài Trí Khải, giải thích 9 phẩm thì dùng luận của ngài Thiện Đạo, nhưng cách nhìn 16 pháp quán của sách này khác với thuyết quán tâm của ngài Trí Khải. Còn cách giải thích về sự lí và quán pháp trong môn Biện định tông chỉ và những điều trình bày trong môn Liệu giản dị đồng thì đều là những đặc điểm của sách này. Về các sách chú thích của bộ sớ này thì có: Quán Vô lượng thọ kinh phù tân luận 1 quyển, Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí 3 quyển, do ngài Giới độ soạn vào đời Tống; Quán Vô lượng thọ kinh bạch liên kí 3 quyển, do ngài Dụng khâm soạn vào đời Tống.
quán vô lượng thọ phật kinh sớ
(觀無量壽佛經疏) I. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ. Cũng gọi Quán kinh sớ, Quán Vô lượng thọ kinh sớ, Quán kinh Thiên thai sớ, Thiên thai Quán kinh sớ. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Thiên thai Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Đây là sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ Phật. Nội dung sách này trước hết lập 5 lớp nghĩa huyền để giải thích tên kinh, kế đến phán định kinh Quán Vô lượng thọ lấy quán tâm làm tông chỉ, lấy thực tướng làm thể, lấy sinh thiện diệt ác làm dụng, thuộc về Đốn giáo của tạng Bồ tát. Sau hết theo văn giải nghĩa và cho tất cả 16 pháp quán đều là Định thiện. Từ khi ngài Tứ minh Tri lễ đời Tống soạn Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao để phát huy chỉ thú của bộ sớ này thì nó đã trở thành là 1 trong 5 Tiểu bộ của tông Thiên thai và cũng được xem là điển tịch trọng yếu của giáo học Thiên thai. Nhưng theo sự xét định của các học giả cận đại về nội dung của sách này chỉ ra rằng văn trong phần Ngũ trùng huyền nghĩa (5 lớp nghĩa huyền) đã được trích ra từ Kim quang minh kinh sớ quyển 1 của ngài Trí khải, cho nên họ ngờ đây là sách ngụy tác của người đời sau. Còn trong phần Tùy văn giải thích thì lại được chép ra từ Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn, bởi thế họ suy đoán đây là sách giả. Về sách chú thích của bộ kinh sớ này thì có: -Quán Vô lượng thọ Phật kinh kí, 1 quyển, do ngài Pháp thông soạn vào đời Đường. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh dung tâm giải, 1 quyển, do ngài Tri lễ soạn vào đời Tống. [X. Tân biênchưtông giáo tạng tổng lục Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.25]. II. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ. Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh sớ. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thiện đạo soạn vào đời Đường. Đây là sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ Phật. (xt. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ).
quán vô lượng thọ phật kinh sớ diệu tông sao
(觀無量壽佛經疏妙宗鈔) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao, Quán kinh sớ diệu tông sao, Quán kinh diệu tông sao, Diệu tông sao. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tứ Minh Tri Lễ soạn vào đời Tống, được đưa vào Đại chính tạng tập 37. Thời đại ngài Tri Lễ chịu ảnh hưởng tai họa chiến tranh ở cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, giáo học Phật giáo suy đồi, nội bộ tông Thiên thai thì chia thành 2 phái Sơn gia vàSơn ngoại. Trong tác phẩm này, ngài Tri lễ thuộc phái Sơn gia đã theo văn giải thích bộ Quán kinh sớ của Đại sư Thiên thai Trí Giả, nhằm phê phán những ý kiến khác của các pháiSơn ngoại, đề xướng nghĩa Tức tâm niệm Phật, đồng thời lập thuyết Sắc tâm song cụ. Sau khi bộ sách này được ấn hành đã dẫn đến cuộc tranh luận giữa phái Sơn gia và Sơn ngoại.
quán vô lượng thọ phật kinh đồ tụng
(觀無量壽佛經圖頌) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ Phật kinh phụ đồ tụng. Gọi tắt: Quán kinh đồ tụng. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Truyền Đăng soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 33. Toàn sách chia từng đoạn, nêu văn kinh của kinh Quán Vô lượng thọ và hiển bày ý nghĩa của văn kinh bằng các bức tranh vẽ, tất cả có 35 bức, cạnh mỗi bức tranh lại phụ thêm bài kệ tụng thất luật, nhưng ít có chú thích văn kinh. Mục đích của việc soạn thuật sách này được thấy trong bài kệ tụng cuối cùng, đại ý như sau (Vạn tục 33, 55 hạ): Thấy Phật, thấy cõi nước và thấy tranh (đồ) Ba cái thấy ấy đều dùng một cái thấy này. Thấy Phật tức thấy Chân pháp thân, Thấy cõi nước tức thấy Thường tịch quang. Há chẳng thấy tranh cùng hai cái thấy ấy? Trong mỗi bức tranh thấy Y báo, Chính báo nhiệm mầu của Phật, Con mong những người thấy kinh tranh này . Đều nên một lòng quán tưởng như thế.
quán vô lượng thọ phật kinh ước luận
(觀無量壽佛經約論) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Bành Tế Thanh soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 33. Sách này có thể được xem là bộ khái luận về kinh Quán Vô lượng thọ. Nội dung chia làm 4 khoa: Đề danh, Tự phần,Chính tông phầnvà Lưu thông phần. Trong đó, tuy tác giả thường dẫn những dụng ngữ của giáo học Thiên thai, nhưng lại biểu lộ ý phản đối sự giải thích của ngài Trí Khải về 9 phẩm và cách phối hợp 13 pháp quán với 9 phẩm của ngài Tứ Minh Tri Lễ.
quán vô ngã
các pháp do nhân duyên mà sanh, cũng do nhân duyên mà diệt, nên vốn thật không có người làm (tác giả), người chịu (thọ giả). Y theo phép quán vô ngã thì đạt được chỗ thấy biết chân thật như vậy.
; To penetrate the concept of unreality of self.
quán xuyến
Have a good grasp of worldly affairs.
quán xương trắng
(bạch cốt quán): phép quán tưởng trong đó hành giả hình dung bộ xương trắng để thấy thân người là không thật, đầy những sự nhơ nhớp và không bao lâu sẽ tan hoại.
quán âm
Xem Quán thế âm.
; See Quán Thế Âm.
quán âm kinh
Xem Quán Thế Âm Phổ môn phẩm.
quán âm tịnh độ
Potalaka (S). Heavenly palace of Avalokiteshvara. Also Bổ đà lạc ca, Quang minh sơn.
quán đĩnh
Xem quán đảnh.
quán đạo
1) Thấu triệt giáo pháp: To know the doctrine thoroughly. 2) Thiền Quán: Contemplation—Meditation—Insight.
quán đạt
Đạt được chân lý qua thiền quán—To penetrate to reality through contemplation.
quán đảnh
(của đạo Bà-la-môn): nghi lễ do một vị thầy bà-la-môn thực hiện, bao gồm việc đọc kinh cầu nguyện và rưới nước bốn biển lên đầu cho vua. Khi một vị vua lên ngôi, cần phải làm lễ quán đảnh như một nghi lễ chính thức để được nhân dân thừa nhận sự cai trị của vị vua ấy.
; MŪrdhajata (S), Abhisluka (S)Lễ rưới nước lên đầu truyền giới, truyền Pháp, truyền quả Phậật gọi là quán đảnh. Từ khi thọ quán đảnh, giới tử chính thức vào trong Phật pháp. Phật cũng ban lễ quán đảnh cho Bồ tát nhất là để trao truyền đạo pháp hoặc để thọ ký quả Phật.
; See Abhisheka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; 1) Điểm đạo: Abhisekana or Murdhabhisikta (skt). a) Quán đảnh đệ tử bằng cách đặt tay hay rưới nước lên đầu đệ tử. Chư Phật quán đảnh đệ tử bằng cách đặt tay lên đỉnh đầu của đệ tử. Tục lệ Ấn Độ nầy thường thấy trong lễ phong vương, bằng cách rưới lên đầu tân vương nước từ bốn bể, và nước từ những con sông trong lãnh địa của ông ta. Bên Trung Quốc, người ta thường dùng nghi thức Phật Giáo cho các vị đại quan, cũng như lễ thọ cụ túc giới cho chư Tăng Ni. Các thầy Mật Giáo dùng nghi thức quán đảnh để điểm đạo cho đệ tử của mình, cho các cấp lãnh đạo, cũng như trong các buổi đàn tràng siêu độ (cầu nguyện sau khi xãy ra tai ương hay chuẩn bị cho sự tái sanh)—Baptism—Initiation—Head—Superintendent—Empowerment—Inauguration or consecration by placing the hand on or sprinkling or pouring water on the head. Every Buddha baptizes a disciple by laying a hand on his head. An Indian custom on the investiture of a king, whose head was baptized with water from the four seas and from the rivers in his domain. In China, it is administered as a Buddhist rite chiefly to high personages and for ordination purpose. Among the esoterics it is a rite especially administered to their disciples; and they have several categories of baptism, e.g. that of ordinary disciples, of teacher or preacher, of leader, of office-bearer; also for special causes such as relief from calamity, preparation for the next life, etc. b) Quán Đảnh Chân Ngôn—The ritual of anointment of the Shingon School: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy: • Chân Ngôn tông có nghi quỹ quán đảnh (Abhiseka) cũng như nghi quỹ đàn tràng. Nơi sửa soạn lễ quán đảnh phải được trang hoàng bằng mạn đà la của cả hai giới; và tất cả những nhu cầu lễ tiết phải được thực hiện đầy đủ. Đôi khi các mạn đà la được nới rộng ra để thành lập môi trường hành lễ. Do đó mà nơi đây được gọi là mạn đà la. Chỉ khi nào nghi thức được triệt để tuân hành mới có thể đạt được linh nghiệm từ năng lực gia trì của Phật. Theo truyền thuyết, Thiện Vô Úy và đồ đệ là Nhất Hành, truyền thừa Thai Tạng giới, trong lúc Kim Cương Trí và đệ tử là Bất Không giảng thuyết về Kim Cang giới. Thế nên ta phải nhận định rằng có đến hai dòng truyền thừa, mà mỗi dòng chỉ là một phần hay phiến diện: The Shingon School has the ritual of anointment (Abhikesa) as well as the ordination ceremony. The area of anointment must be decided with the Circles of the two realms; all ritual requirements must be fulfilled. Sometimes the Circles are spread out and thereby the ritual area is formed. So the area is called “Circle.” Only the adequate performance of the ritual can make the evoking of any enfolding power of Buddha effective. According to tradition, Subhakarasimha and his pupil, I-Hsing, transmitted the Matrix doctrine, while Vajrabodhi and his pupil, Amoghavajra, taught the Diamond doctrine. Thus we must presume that there were two traditions of transmission, both being only partial or one-sided. • Tuy nhiên, sự khám phá mới đây của giáo sư Tucci về Tattvasamgraha ở Tây Tạng, và của giáo sư Ono về cuốn Vajra-Sekhara ở Nhật đã khiến cho những truyền thuyết cũ không còn đứng vững nữa, bởi vì quyển Vajra-sekhara trình bày trong Ngũ Bộ Tâm Quán được giữ bí mật tại tự viện Mii ở Ômi và Shorenin, Kyoto. Ngũ Bộ là Phật, Liên Hoa, Đa Bảo, Kim Cương, và Kiết Ma. Đây nguyên là các bộ phận của Kim Cang giới; rõ ràng là ngay từ đầu chúng ta đã có bản kinh về Kim Cương giáo thuyết do Thiện Vô Úy mang đến. Thực sự chúng là dòng truyền thừa của Thiện Vô Úy. Từ đó, chúng ta nhận thấy rằng vào thời của Thiện Vô Úy, cả hai giáo thuyết về Kim Cương và Thai Tạng đã có mặt ở Trung Quốc. Bản của Tucci bằng Phạn ngữ và của Ono là bản giải thích bằng tranh ảnh, nếu không có nó thì khó mà theo dõi nguyên bản Sanskrit. Những người nghiên cứu Mật giáo có thể hy vọng được hỗ trợ thực tế nhờ khảo cứu các bản văn nầy: However, the recent discovery of the Tattva-sangraha in Tibet by Professor Tucci and the Vajra-sekhara in Japan by Professor Ono make the old traditions entirely untenable, because the Vajra-sekhara represented in the Five Assemblies was kept in secret in the Mii Monastery in Ômi and Shorenin in Kyoto. The Five Assemblies are Buddha, Padma, Ratna, Vajra and Karma. These being originally the divisions of the Diamond Realm, it is clear that we had from the beginning the text of the 'Diamond' doctrine brought by Subhakarasimha. They were actually the transmission by Subhakarasimha. From this it will be seen that at the time of Subhakarasimha both the 'Diamond' and 'Matrix' doctrines were existing in China. Tucci's text is Sanskrit and Ono's is pictorial explanation without which a perusal of Sanskrit original often becomes impossible. Students of mysticism may expect a real contribution from the study of these texts. 2) Quán Đảnh Bồ Tát: Một nghi thức rưới nước lên đầu một vị Bồ Tát, khi vị ấy sắp bước vào giai đoạn cuối cùng đến Phật quả—Ceremonial sprinkling of water on a bodhisattva's head, is said to be done when a bodhisattva is about to enter the ultimate state and become Buddha. 3) Quán Đảnh Đại Sư (561-632)—Kuan-Ting Great Master (561-632): Quán Đảnh là vị tổ thứ năm của tông Thiên Thai. Ba tác phẩm lớn của ngài Trí khải đều do Quán Đảnh tập thành toàn vẹn—Kuan-Ting is the fifth patriarch of the T'ien-T'ai School. The three great works of Chih-I are all compilations of Kuan-Ting.
quán đảnh bồ tát
Xem Quán đảnh.
quán đảnh tam muội
Vilokita-murdha-samādhi (S).
; Tam muội đạt được trong thiền quán—The samadhi of the summit of contemplation (the peak whence all the samadhis may be surveyed).
quán đảnh trụ
Thập trụ của một vị Bồ Tát khi vị nầy đã được Phật thọ ký (xức dầu quán đảnh) thành Phật—The tenth stage of a Bodhisattva when he is anointed by the Buddha as a Buddha.
Quán đỉnh
灌 (潅) 頂; S: abhiṣeka; C: guàndĭng; J: kanchō; nghĩa là rưới nước lên đầu; |Một nghi thức tôn giáo trong những buổi lễ long trọng. Trong Kim cương thừa, danh từ quán đỉnh được dùng chỉ những nghi lễ, trong đó vị Ðạo sư (s: guru; t: lama) cho phép đệ tử tu tập một Tan-tra. Vì vậy trong Phật giáo Tây Tạng, người ta hay sử dụng danh từ »Truyền lực« (t: dbang-bskur).|Trong Vô thượng du-già (s: anuttarayoga-tantra), người ta kể bốn cấp quán đỉnh từ dưới lên trên: 1. Quán đỉnh bình (s: ka-lābhiṣeka; bình ở đây là tịnh bình); 2. Quán đỉnh bí mật (s: guhyābhiṣeka); 3. Quán đỉnh trí huệ (s: prajñābhiṣeka); 4. Quán đỉnh thứ tư (s: caturthābhiṣeka).|Quán đỉnh bình bao gồm sự khai giảng về năm khía cạnh của Phật gia (s: buddhaku-la).|Thông thường, vị Ðạo sư đọc Nghi quỹ (s: sā-dhana) qua một lần và lần đọc này có giá trị cho phép người đệ tử tu học Nghi quỹ này. Sau đó, Ðạo sư bình giảng những điểm khúc mắc, khó hiểu, những bí truyền trong Nghi quỹ để bảo đảm sự tu tập chính tông, đúng đắn của đệ tử.
quán đỉnh
Abhiseka (S). Anointing.
; (灌頂) I. Quán Đính. Phạm: Abhiwecana, hoặc Abhiweka. Nghi thức rưới nước lên đỉnh đầu. Ở Ấn Độ thời xưa, khi vua lên ngôi hoặc lập Thái tử, thì vị Quốc sư đem nước lấy từ 4 biển rưới lên đầu để bày tỏ sự chúc phúc. Cứ theo phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm quyển 27 (bản dịch cũ), khi Bồ tát địa thứ 9 tiến vào địa thứ 10 là Pháp vân địa, thì chư Phật dùng nước trí rưới lên đầu vị ấy để chứng minh vị ấy đã nhận chức Pháp vương, gọi là Thụ chức quán đính (nhận chức Quán đính) hoặc Thụ chức quán đính (trao chức Quán đính). Còn theo phẩm Bồ tát thập trụ trong kinh Hoa nghiêm quyển 8 (bản dịch cũ) và phẩm Hiền thánh danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc quyển thượng thì giai vị thứ 10 của Thập trụ được gọi là Quán đính trụ. Hoặc theo thuyết trong Đại sự (Phạm: Mahàvastu) thì địa thứ 10 của Bồ tát thập địa, gọi là Quán đính địa, còn Quán đính vị thì đặc biệt chỉ cho giai vị Đẳng giác trên Thập địa. Quán đính được thực hành trong Mật giáo gọi chung là Bí mật quán đính (gọi tắt: Mật quán). Trong các tông phái Phật giáo thì Mật giáo đặc biệt coi trọng pháp Quán đính. Tác pháp này do vị Thượng sư lấy nước từ 5 cái bình (tượng trưng cho 5 trí Như lai) rưới lên đầu đệ tử, biểu thị ý nghĩa kế thừa địa vị Phật. Tác pháp Quán đính có rất nhiều loại, nhưng chủ yếu thì có 3 loại: 1. Kết duyên quán đính: Pháp quán đính kết duyên rộng rãi với Phật, không kể tăng hay tục, thượng căn hay hạ căn, tất cả đều được quán đính. Người nhận quán đính tung hoa lên các tôn tượng của chư Phật ở trên đàn để chọn vị Phật có duyên với mình (vị Phật mình tung hoa dính trúng) làm vị Bản tôn, sau đó xướng danh hiệu Phật, vị Thượng sư 3 lần lấy nước trong bình rưới lên đỉnh đầu, rồi trao cho 1 ấn (ấn khế)và 1 minh (đà la ni). 2. Học pháp quán đính (cũng gọi Thụ minh quán đính, Đệ tử quán đính, Hứa khả quán đính): Đối với đệ tử muốn học Mật giáo, trước hết chọn người, thời gian, địa điểm nhất định, đồng thời chuẩn bị tác pháp, rồi trao nghi quĩ pháp minh của 1 vị tôn cho đệ tử ấy. 3. Truyền pháp quán đính (cũng gọi Truyền giáo quán đính, Phó pháp quán đính, A xà lê quán đính): Người tu hành đúng pháp, muốn làm bậc thầy hoặc làm A xà lê, thì trao cho họ nghi quĩ pháp minh của Đại nhật Như lai. Đây là pháp quán đính truyền chân ngôn sâu xa bí mật nhất, có thể chia ra 3 loại: a) Ấn pháp quán đính (cũng gọi Bí ấn quán đính, Thủ ấn quán đính, Li tác nghiệp quán đính): Đệ tử thành tâm muốn tu hành chân ngôn, nhưng vì không đủ khả năng chu toàn tất cả nhu cầu cần thiết; trong trường hợp này, vị thầy nên xem xét tâm hạnh của đệ tử ấy mà cử hành nghi thức quán đính bằng cách bỏ bớt các tác nghiệp, chỉ trao ấn bí mật của Bản tôn cho họ thôi. b) Sự nghiệp quán đính(cũng gọi Tác nghiệp quán đính, Cụ chi quán đính): Bảy ngày trước khi nhận quán đính, đệ tử phải thành tâm sám hối, vị thầy cũng phải hành trì trong thời gian 7 ngày, sau đó mới thiết lập đàn tràng, sắm sửa các thứ hương đèn hoa quả cúng dường. Đây là pháp quán đính truyền trao ấn bí mật và người nhận phải có điều kiện tài chính dồi dào mới có thể thực hành. c) Dĩ tâm quán đính (cũng gọi Tâm thụ quán đính, Bí mật quán đính, Du kì quán đính): Pháp quán đính này được ứng dụng trong trường hợp cả vị thầy và đệ tử đều thành tựu Tam muội da giới. Tức không cần bày đàn tràng ở ngoài tâm mà kiến lập Mạn đồ la trong tâm vị A xà lê, tâm đệ tử nhập vào đàn tâm của thầy, rồi trong đó thầy trò trao truyền và tiếp nhận quán đính. Nơi cử hành pháp quán đính gọi là Quán thất. Tiếp nhận quán đính gọi là Thụ quán. Thiết lập đạo tràng Mạn đồ la để cử hành nghi thức quán đính thì gọi là Mật đàn quán đính. Ấn khế và Đà la ni được truyền trao trong lúc quán đính, gọi là Quán đính ấn minh. Trong Mật giáo, khi thụ giới đều phải cử hành quán đính, thế nên thụ giới Chân ngôn tam muội da gọi là Thụ giới quán đính. Lại trong lúc quán đính, nếu người nhận quán đính muốn nhờ đó mà tiêu trừ tai chướng, thì tu pháp Hộ ma, đốt các vật cúng dường như hương hoa, nhũ mộc... Đây gọi là Quán đính hộ ma. Về số lần tu pháp này hoặc về các phẩm vật cúng dường thì có nhiều loại khác nhau. Hiện nay, Đông Mật (Mật giáo do tông Chân ngôn của Nhật Bản truyền) của Nhật Bản sau khi tu pháp Kim cương giới xong, trong khoảng từ đầu hôm đến cuối đêm đều thực hành pháp tu hộ ma, gọi là Trung gian hộ ma. Ngoài ra, để lợi ích cho các loài thủy tộc, Mật giáo dùng phướn quán đính hoặc cái tháp thả vào sông, biển, gọi là Lưu quán đính, hoặc Lưu thủy quán đính. [X. phẩm Đính sinh vương trong kinh Hiền ngu Q.13; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5; phẩm Trì tụng pháp tắc kinh Đại nhật Q.7; phẩm Phân biệt hộ ma kinh Nhuy hi da Q.hạ; phẩm Bản tôn quán đính kinh Tô tất địa yết la Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.3, 15, 16; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5]. II. Quán Đính. Gọi đủ: Quán đính phan. (xt. Quán Đính Phan). III. Quán Đính (561-632). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người Chương an, Lâm hải, họ Ngô, người đời gọi ngài là Chương an đại sư. (xt. Chương An).
quán đỉnh bộ
(灌頂部) I. Quán Đính Bộ. Tên khác của Bảo bộ, 1 trong 5 bộ thuộc Kim cương giới, Mật giáo. Bảo bộ tứccủabáu công đức, là nội chứng trao phúc đức cho hết thảy chúng sinh, nhờ đó mà chúng sinh bước lên ngôi vị của bậc Giác vương. Vì lấy nghĩa trao quán đính cho, nên gọi Bảo bộ là Quán đính bộ. II. Quán Đính Bộ. Thánh giáocóliên quan đến Truyền pháp quán đính, Kết duyên quán đính và Tam muội da giới, gọi chung là Quán đính bộ.III. Quán Đính Bộ. Kinh điển của Mật giáo. Mật giáo cử hành nghi thức quán đính, truyền trao nghĩa lí sâu xa mầu nhiệm của kinh điển, nên gọi chung kinh điển của Mật giáo là Quán đính bộ. Thích thị kê cổ lược quyển 3 (Đại 49, 822 hạ) nói: Trong Quán đính bộ, tụng ra 1 phẩm, gọi là kinh Lăng nghiêm.
quán đỉnh gia hành
(灌頂加行) Cũng gọi Nhập đàn gia hạnh. Chỉ cho gia hạnh (chuẩn bị) được tu trước khi vào đàn quán đính Truyền pháp của Mật giáo. Theo nguyên tắc, Tứ độ gia hạnh (tu chuẩn bị 4 lần) tuy là chuẩn bị để vào đàn quán đính Truyền pháp, nhưng sau khi hành giảđã thành tựu đầy đủ Tứ độ gia hạnh rồi mà vẫn chưa thể vào ngay được thì đặc biệt phải tu gia hạnh thêm, đó là điều thông thường. Nhưng về thời gian gia hạnh và cách hành trì, thì các phái đều nói khác nhau. Phẩm Hộ ma trong kinh Nhiếp chân thực quyển hạ (Đại 18, 282 hạ) nói: Nếu khi vị A xà lê trao pháp quán đính cho đệ tử, thì trước đó 3 tháng phải quán xét tâm của người ấy như thế nào rồi sau mới trao pháp cho.
quán đỉnh hộ ma
(灌頂護摩) Pháp tu đốt các phẩm vật cúng dường như hương hoa, nhũ mộc... để cầu tiêu trừ tai họa, chướng nạn của hành giả thụ pháp Quán đính trong Mật giáo. Theo thuyết của các kinh quĩ căn bản thì Quán đính hộ ma thông thường do vị Đại a xà lê thực hành, nhưng thời gần đây phần nhiều do vị Giáo thụ sư làm thay. Bởi vì pháp này được cử hành ở khoảng giữacủa1 tòa, cho nên cũng gọi là Trung gian hộ ma. Nhưng hiện nay, Đông Mật của Nhật Bản, sau khi tu pháp Kim cương giới xong thì tu pháp Hộ ma trong khoảng từ đầu hôm đến cuối đêm, đặc biệt gọi là Trung gian hộ ma. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; kinh Cù hi Q.hạ; Thai quán kí trong A sa phược sao Q.1].
quán đỉnh kinh
(灌頂經) Phạm: Mahàbhiweka-mantra. Gọi đủ: Đại quán đính thần chú kinh. Cũng gọi Đại quán đính kinh. Kinh, 12 quyển, do ngài Bạch thi lê mật đa la dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này được tạo thành bởi 12 bộ kinh nhỏ, từ kinh Quán đính Tam qui ngũ giới đới bội hộ thân chú cho đến kinh Quán đính bạt trừ quá tội sinh tử đắc độ; 12 bộ kinh này đều căn cứ vào công đức của mỗi kinh mà có 4 chữ Phật thuyết quán đính, vì thế nên gọi Quán đính kinh. Trong đó, kinh Bạt trừ quá tội sinh tử đắc độ và kinh Dược sư Như lai bản nguyện do ngài Đạt ma cấp đa dịch, kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyệncông đứcdo ngài Huyền trang dịch là cùng bản Phạm mà khác tên người dịch. Kinh này bị ngờ là kinh giả được soạn vào trước đời Lương, Trung quốc. [X. kinh Phật danh Q.1; Nghi kinh ngụy soạn tạp lục trong Xuất tam tạng kí tập Q.5; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.3, 19].
Quán đỉnh kinh 灌頂經
[ja] カンジョウキョウ Kanjō kyō ||| Guanding jing (Sutra of Consecration); An abbreviation of the title Guanding shiwanerjian shenwang hu biqiu zhou jing 灌頂七萬二千神王護比丘呪經. 12 fasc. (T 1331), trans. Śrīmitra 帛戸梨蜜多羅 in the early fourth century. For a study and English translation see Strickmann (1990). Partly corresponds to Tibetan translations [To.503, 504]. => (c: Guanding jing; e: Sutra of Consecration). Tên gọi tắt của kinh Quán đỉnh thất vạn nhị thiên thần vương hộ tỷ-khưu chú kinh (c: Guanding shiwanerjian 灌頂七萬二千神王護比丘呪經 (c: Guanding jing; e: Sutra of Consecration). Tên gọi tắt của kinh Quán đỉnh thất vạn nhị thiên thần vương hộ tỷ-khưu chú kinh Guanding shiwanerjian shenwang hu biqiu zhou jing 灌頂七萬二千神王護比丘呪經. 12 quyển. Bạch-hộ-lê-mật-đa-la (s: Śrīmitra 帛戸梨蜜多羅) dịch vào đầu thế kỷ thứ 4. Để nghiên cứu bản dịch tiếng Anh, xem Strickmann (1990). Có phần nào tương ứng với bản dịch tiếng Tây Tạng.
quán đỉnh phan
(灌頂幡) Gọi tắt: Quán đính. Lá phan có công đức quán đính, nên gọi là Quán đính phan. Có thuyết cho rằng phan này treo thật cao, sao cho đuôi phan chạm vào đỉnh đầu của người, giống như quán đính (rưới đầu), vì thế phụ thêm 2 chữ quán đính làm tên gọi. Ở Ấn Độ đời xưa, khi Thái tử của Chuyển luân thánh vương làm lễ quán đính lên ngôi, thì cờ phan được treo lên để tô điểm cho nghi thức ấy. Về sau, Phật giáo phỏng theo nghi thức này nên dùng phan làm pháp cụ. Thời xưa phan này thường được làm bằng lá đồng mỏng trên đó có chạm trổ. Phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 27 (Đại 9, 572 trung) nói: Ví như Thái tử của Chuyển luân thánh vương đến tuổi đăng quang thì Chuyển luân thánh vương bảo Thái tử ngồi vào tòa làm bằng vàng Diêm phù đàn đặt trên lưng voi trắng báu, phía trên giăng màn, trang nghiêm bằng các thứ cờ phan, kĩ nhạc, dùng nước lấy từ 4 biển lớn đựng trong chung vàng rưới lên đỉnh đầu của Thái tử, gọi là Quán đính đại vương. Theo Bí tạng kí thì tâm đại bi của chư Phật nghĩa là quán, người đời gọi phan là quán đính, cho nên công đức của phan, trước làm Luân vương, sau cùng thành Phật, cho đếnquảPhật gọi là Quán đính, vì vậy lấy quả gọi nhân.
quán đỉnh tam muội
(觀頂三昧) Một trong 108 tam muội. Tam muội (Phạm:Samàdhi) là trạng thái vắng lặng khi tâm an trụ ở 1 cảnh. Ngườivàođược tam muội này thì thấy khắp tất cả các tam muội khác, như đứng trên đỉnh núi thấy toàn thể cảnh vật. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.27; luận Đại trí độ Q.47].
quán đỉnh tam muội da
(灌頂三昧耶) Tam muội da nghĩa là thệ nguyện trọng yếu. Trong Mật giáo, khi cử hành pháp Quán đính, hành giả phát thệ nguyện trọng yếu, kiên cố, gọi là Tam muội da. Tức căn cứ vào tác pháp gọi là Quán đính; còn căn cứ vào tâm người nhận quán đính thì gọi là Tam muội da, tên gọi tuy khác, nhưng thể tính thì là một. Phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5 nói về 3 thứ Quán đính và 5 thứ Tam muội da, tức tùy theo sự sai khác về tác pháp mà có 3 thứ quán đính: Kết duyên, Truyền pháp, Dĩ tâm; còn tùy theo sự sâu cạn của quán đính mà có 5 thứ tam muội da: Sơ kiến, Nhậpđổ, Cụ đàn, Truyền giáo, Bí mật. [X. Đại nhật kinh sớ Q.15].
Quán đỉnh thất vạn nhị thiên thần vương hộ tỷ-khưu chú kinh 灌頂七萬二千神王護比丘呪經
[ja] カンジョウシチマンニセンジンノウゴビクジュキョウ Kanjō shichiuman nisen jinnou gobikuju kyō ||| The Guanding qiwanerjian shenwang hu biqiu zhou jing; an apocryphal text written on the topic of popular faith; 4 fasc., T 1331.21.495a-536b. Usually abbreviated as Guanding jing 灌頂經. => (c: Guanding qiwanerjian shenwang hu biqiu zhou jing); là kinh nguỵ tác, nội dung ngắm vào tín ngưỡng của giới bình dân; bốn quyển. Thường được gọi tắt là Quán đỉnh kinh (c: Guanding jing 灌頂經).
Quán đỉnh trú 灌頂住
[ja] カンジョウジュウ kanjōjū ||| The tenth of the Ten Abidings 十住. The "abiding of sprinkling water on the head." The stage of being able to view the principle of emptiness and no-aspects without producing wisdom. => Giai vị thứ 10 trong Thập trú. Giai vị thấy được nguyên lý tính Không và Vô tướng chẳng phải bên ngoài sự lưu xuất của trí tuệ.Quán đỉnh 潅頂 , 灌頂 [ja] カンジョウ kanjō ||| (1) 'Sprinkling water on the head' (abhiseka); a ceremony in esoteric Buddhism for conferring the precepts, a certain mystic teaching, etc., on a person. (2) (561-632) The name of Zhiyi's 智顗 disciple who was the second patriarch of the Tiantai sect 天台宗. => Rưới nước trên đầu'(s: abhiseka); một nghi thức của Phật giáo Mật tông khi truyền giới, hoặc khi truyền dạy một giáo pháp bí mật v.v... cho một người. 2. Quán Đỉnh (561-632); tên một đệ tử của ngài Trí Khải (c: Zhiyi's 智顗), là Tổ thứ nhì của tông Thiên Thai.
quán đỉnh đàn
(灌頂壇) Cũng gọi Mật đàn. Chỉ cho đàn tràng tu pháp Quán đính của Mật giáo. Quán đính cần phải có các đàn như: Đàn Tam muội da giới, đàn Đại, đàn Chính giác, đàn Tổ sư, đàn Hộ ma... Vì nghi thức rưới nước trong bình Ngũ trí lên đầu người nhận pháp Quán đính được cử hành ở đàn Chính giác, nên có khi đàn Chính giác đặc biệt được gọi là đàn Quán đính. Còn các đạo cụ của đệ tử thì được trao cho tại đàn Quán đính, như trước khi quán đính thì trao cho 2 thứ là cành dương và dây kim cương; sau khi quán đính thì trao cho 4 vật: Mũi tên vàng, gương sáng, bánh xe báu và pháp loa (tù và pháp). [X. kinh Kim cương đính du già lược xuất niệm tụng Q.4].
quán đỉnh đàn mạn đồ la
(灌頂壇曼荼羅) Tức Mạn đồ la 12 Đại thánh được dùng trong đàn Chính giác của Mật giáo. Đàn Chính giác là chỉ cho đàn tu pháp thực hành tác pháp quán đính khi hành giả đã bước lên địa vị Chính giác, nên cũng gọi là đàn Quán đính. Sau khi hành giả tiếp nhận pháp Quán đính thì tự thân thành Đại nhật Như lai ở Trung đài, khuyến thỉnh 12 vị tôn đi vòng chung quanh, sau đó là tu Hộ ma cúng dường tự thân Đại nhật Như lai. Trong Mạn đồ la này, ở 4 góc của đàn Quán đính vẽ 4 vị Chấp kim cương, ở chính giữa đàn vẽ hoa sen 8 cánh. Trong 8 cánh thì 4 cánh ở 4 phương vẽ 4 vị Bồ tát, cánh ở 4 góc vẽ 4 vị sứ giả phụng giáo, tất cả là 12 vị tôn, nên gọi là Mạn đồ la 12 Đại thánh. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.8].
quán đỉnh ấn minh
(灌頂印明) Chỉ cho ấn khế (ấn) và chân ngôn (minh) mà vị A xà lê trao cho hành giả khi cử hành các pháp quán đính: Truyền pháp, Kết duyên, Du kì... trong tông Chân ngôn Nhật bản. Trong đó, ấn của quán đính Truyền pháp thông thường dùng ấn Vô sở bất chí và ấn Ngũ cổ. Ấn Vô sở bất chí có mở, đóng khác nhau; ấn Ngũ cổ thì có trong, ngoài bất đồng. Chân ngôn cũng có nhiều loại: Ngũ tự minh (chân ngôn 5 chữ), Nhất tự minh... Còn ấn minh của 2 bộ Kim cương và Thai tạng thì có các loại: Hai ấn 2 minh; 1 ấn 2 minh; 1 ấn 1 minh... [X. Bí mật trang nghiêm truyền pháp quán đính nhất dị nghĩa; Quán đính truyền thụ bí lục Q.thượng].
quán định
Vismamsa-samādhi (S)Quán Tam ma địa Đoạn hành thành tựu thần túcĐịnh thứ tư trong Tứ Thần túc.
; (觀定) Pàli: Vìmaôsà-samàdhi. Thiền định Quán tam ma địa đoạn hành thành tựu thần túc, là định thứ 4 trong Tứ thần túc. [X. luận Thanh tịnh đạo 3]. (xt. Tứ Thần Túc).
Quán 慣
[ja] カン kan ||| (1) To become accustomed to, get used to. Become habituated. (2) Habits, customs. (3) To learn. => 1. Trở nên quen, quen thuộc với. 2. Thói qun, tập quán. 3. Tập, học.
quáng
Blinded.
quát
To shout (scold) loudly.
quát cốt chi ngôn
(刮骨之言) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời nói đẽo xương. Tức là bậc thầy dùng lời sắc bén, sâu xa để đả phá các chấp trước mê vọng của người học một cách triệt để. Chương Động sơn Lương giới trong Tổ đường tập quyển 6 chép: Sư dạy chúng rằng Các nơi có Kinh nhân chi cú (câu nói khiến người ta sợ hãi) thì ở đây ta có Quát cốt chi ngôn. Ngoài ra, cái phương pháp mà thầy sử dụng để tiếp dẫn người học kín kẽ mạnh bạo, không sơ hở chút nào, gọi là Quát bì kiến cốt (cạo da thấy xương); nếu thiền sinh đã đốn ngộ được cơ thiền, đạt đến chỗ dứt bặt lời nói, đốt bỏ sách dở thì gọi là Quát ngữ thiêu thư (nạo lời đốt sách). [X. Hư đường hòa thượng ngữ lục Q.2].
quát thiệt
(刮舌) Nạo lưỡi.Tức khi vị tỉ khưu súc miệng, rửa mặt, dùng cành dương để nạo chất dơ trên mặt lưỡi gọi là Quát thiệt. Lúc nạo lưỡi, có 5 việc cần chú ý: 1. Nạo rửa 3 lần. 2. Nếu trên lưỡi chảy máu thì phải ngưng ngay. 3. Không được vấy bẩn y áo và 2 chân. 4. Cành dương đã dùng rồi, không được vứt bỏ bừa bãi. 5. Lúc nạo lưỡi, không được để người khác thấy. [X. kinh Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng].
quát đốc thành gia
(刮篤成家) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Nghĩa là lấy tinh thần nghiêm túc, rất mực chân thành làm gia phong. Tức là nếu dùng thái độ chân thành để xử lí mọi việc hằng ngày, đi đứng ngồi nằm đều hợp qui củ, thì chắc chắn có chỗ chứng ngộ mà tự tạo thành 1 gia phong riêng. Trong Thiền Lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho người học tuy sống giữa cuộc đời ô trọc, nhưng vẫn chuyên tâm tinh tấn không bị đắm nhiễm, tự tạo cho mình 1 phong cách riêng. Thung dung lục tắc 98 (Đại 48, 291 thượng) nói: Không vào đời (thân để ngoài vật), chẳng theo duyên (tự có gia phong riêng – Quát đốc thành gia).
quân
1) Quân bình: Balance—Equal. 2) Anh (nói theo kiểu quý phái): Prince—Noble—Ideal man. 3) Quân Đội: An army—Military—Martial.
quân bình
To balance
quân danh
(君名) Cũng gọi Khanh danh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cách xưng hô con em những nhà quan chức khi chúng mới vào cửa Phật, chưa được chính thức xuất gia. Như con em bậc công khanh qui y cửa Phật thì được gọi là Binh bộ khanh, Thiếu nạp ngôn khanh. Nếu sau này các con em ấy trở thành người xuất gia chính thức,thì cũng được gọi là Binh bộ khanh pháp ấn.
quân na
Kunda (skt). 1) See Quân Đồ. 2) Một loại hoa, có lẽ là hoa lài: a kind of flower, perhaps jasmine.
quân na hoa
(軍那花) Quân na, Phạm: Kunda. Cũng gọi Quân đà hoa, Quần đà hoa. Tên một loài hoa ở Ấn Độ, màu trắng gọi là Bạch mạt lị hoa, thường được Mật giáo dùng để cúng dường. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 632 thượng) nói: Như hoa quân na, gốc ở phương Tây, màu cũng trắng tươi.
Quân nhiên 灼然
[ja] シャクネン shakunen ||| Clear, obvious; to clarify, illuminate, disclose. 〔二障義HPC 1.811a19〕 => Trong sáng, rõ ràng; làm sáng sủa, làm rạng rỡ, phơi bày.
Quân Như
均如; C: jūnrú; J: kinnyo; K: kyunyŏ, 923-973.|Học giả Hàn Quốc có uy tín về kinh Hoa Nghiêm trong thời kì Cao Li (k: koryŏ). Ông viết nhiều luận giải về tác phẩm của các vị tổ Hoa Nghiêm tông Trung Hoa và thiết lập nền tảng cho việc lập lại mối tương quan của Hoa Nghiêm tông và Thiền tông trong tương lai qua thái độ cởi mở theo quan điểm của lớp người sau. Các tác phẩm của ông là một nguồn rất quan trọng cho tri thức hiện đại để nhận ra bản chất đặc biệt của Hoa Nghiêm tông Triều Tiên. Một trong những tài liệu có liên quan đến Quân Như là Quân Như truyện (均如傳, k: kyunyŏ-jŏn), đã được Adrian Buzo và Tony Prince dịch sang tiếng Anh.
quân như
(均如) ( 923-973) Cao tăng người nước Cao Li, thuộc tông Hoa Nghiêm, người ở Kinh Nhạc, Hoàng Châu, họ Biên. Sư mồ côi từ nhỏ, dáng người xấu xí nhưng thông minh. Năm 15 tuổi, sư theo người anh họ là Thích thiện quân đến chùa Phục Hưng xuất gia, lễ Hòa thượng Thức hiền tu học Phật pháp. Sau, sư đến chùa Linh Thông, gần gũi Ngài Nghĩa Thuận, chịu khó học tập, chuyên tâm tìm hiểu kinh Phật. Sư và Thủ tọa Nhân dụ đều thích du ngoạn các danh sơn, qua lại với nhau để trao dồi Phật pháp, đồng thời mở lớp giảng dạy Phật pháp, chư tăng trẻ tuổi về theo học rất đông. Sư là pháp tôn của ngài Hi Lãng, Tổ khai sáng phái Bắc nhạc thuộc tông Hoa nghiêm cuối thời kì Tân La. Vì cảm nhận mối tệ của sự chia rẽ giữa Nam nhạc và Bắc nhạc, nên sư lập định lại tông nghĩa, dẫn dụng kinh Phật hoặc luận của các vị Bồ tát để sửa lại những sai lầm ngõ hầu hòa hợp các phái. Lúc bấy giờ, triều đình có mở hội ở chùa Vương luân để tuyển chọn bậc long tượng trong Phật giáo, đều công nhận nghĩa hạnh của sư là chính thống, ngoài ra là bàng hệ. Lúc còn sinh tiền, sư từng có nhiều việc cảm thông thần dị. Ngoài việc tinh thông học thuyết Hoa nghiêm, sư còn giỏi văn chương thi ca, từng dựa vào 10 nguyện vương củabồ tát Phổ Hiền mà soạn ra 11 bài ca để giáo hóa người đời. Văn từ của sư thanh nhã, diễm lệ, rất có giá trị về mặt văn học ở Hàn Quốc. Năm Quang tông 24 (973), sư thị tịch ở chùa Pháp qui, hưởng dương 51 tuổi, tăng lạp 26. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm sưu huyền phương quĩ kí 10 quyển, Hoa nghiêm khổng mục chương kí 8 quyển, Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp 4 quyển, Nhập pháp giới phẩm sao kí 1 quyển, Thích giám huyền kí viên thông sao 28 quyển (các tác phẩm trên đây đều đã thất lạc), Hoa nghiêm kinh Tam bảo chương viên thông sao, Thích hoa nghiêm chỉ qui chương viên thông sao, Thập cú chương viên thông kí, Nhất thừa pháp giới đồ viên thông kí (mỗi loại đều 2 quyển), Thích hoa nghiêm giáo phần kí viên thông sao 10 quyển... hiện nay đều được ông Kim tri kiến biên vào Quân Như Đại Sư Hoa Nghiêm Học Toàn Thư.
quân như đại sư hoa nghiêm học toàn thư
(均如大師華嚴學全書) Toàn thư, do Đại sư Quân như người Cao Li soạn, ông Kim Tri Kiến biên tập và chú thích, do Hội Xuất Bản thuộc viện Nghiên Cứu Phật Giáo Truyền Thống Đại Hàn ấn hành vào năm 1977. Nội dung sách này gồm có: Hoa nghiêm Tam bảo chương viên thông sao, Thích hoa nghiêm chỉ qui chương viên thông sao, Thập cú chương viên thông kí, Nhất thừa pháp giới đồ viên thông kí (mỗi thứ 2 quyển), Thích hoa nghiêm giáo phần kí viên thông sao 10 quyển. Đây là tổng tập nghiên cứu Hoa nghiêm học do ngài Quân Như soạn. Sách này còn phụ thêm Đại hoa nghiêm thủ tọa viên thông lưỡng trùng đại sư Quân như truyện do Tiến sĩ Hách liên đĩnh soạn vào năm Cao Li Văn tông 29 (1075). Bộ sách này được tìm thấy ở lầu chứa kinh của chùa Hải ấn tại Hàn quốc. Theo sự nhận xét của người biên tập là Kim tri kiến thì sách này có các giá trị sau đây: 1. Cho thấy sự thành tựu của Đại sư Quân Như, là tư liệu quan trọng để nghiên cứu Hoa nghiêm học của 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn. 2. Có thể dựa vào sự nghiên cứu của Đại sư về Ngũ giáo chương trong Giáo phần kí của ngài để giải quyết vấn đề bối cảnh truyền nhập kinh sách Hoa nghiêm bản tiếng Nhật, bản đời Tống ở thời kì đầu tại Nhật bản. 3. Trong bộ Toàn thư này có nội dung của Diệu lí viên thành quán của Đại sư Thần Tú thuộc Thiền Bắc tông của Trung Quốc soạn.
Quân Như 均如
[ja] キンニョ Kinnyo ||| Kyunyŏ (923-973), an influential Hwaŏm 華嚴 scholar of the Koryŏ period. He commented prolifically on the works of the Chinese Huayan patriarchs, and lay the ground for the future rapprochement of Hwaŏm and Sŏn by his accommodating attitude stance toward the latter. His works are an important source for modern scholarship in terms of identifying the distinctive nature of Korean Hwaŏm. One of the documents related to Kyunyŏ, the Kyunyŏ-jŏn 均如傳), has been translated into English by Adrian Buzo and Tony Prince. => k: Kyunyŏ (923-973) Học giả có uy tín về kinh Hoa Nghiêm trong thời kỳ Cao Lệ (k: Koryŏ). Ông viết nhiều luận giải về tác phẩm của các vị tổ Hoa Nghiêm tông Trung Hoa, Và thiết lập nền tảng cho việc lập lại mối tương quan của Hoa Nghiêm tông và Thiền tông trong tương lai qua thái độ cởi mở theo quan điểm của lớp người sau. Các tác phẩm của ông là một nguồn rất quan trọng cho tri thức hiện đại để nhận ra bản chất đặc biệt của Hoa Nghiêm tông Triều Tiên. Một trong những tài liệu có liên quan đến Quân Như là Quân Như truyện (Kyunyŏ-jŏn 均如傳), đã được Adrian Buzo và Tony Prince dịch sang tiếng Anh.
quân noa lợi
Xem Quân Đồ Lợi Minh Vương.
quân sư phụ
King master and father.
quân thần ngũ vị
(君臣五位) Năm vị vua tôi, do Thiền sư Tào Sơn Bản tịch dựa theo thuyết Ngũ vị của ngài Động Sơn Lương Giới mà lập ra. Thiền sư Động Sơn Lương Giới – Tổ khai sáng của Tông Tào động – lấy chân lí lập làm Chính vị ., lấy sự vật lập làm Thiên vị ,rồi dựa vào lí Thiên và Chính xoay trở lẫn nhau mà lập thành thuyết Ngũ vị (Chính trung thiên, Thiên trung chính, Chính trung lai, Thiên trung chí và Kiêm trung đáo). Thiền sư Tào Sơn Bản tịch lại nương theo bản ý của ngài Động Sơn mà phát minh thêm, mượn ví dụ vua tôi để nói rõ yếu chỉ của Ngũ vị, gọi là Quân thần ngũ vị. Tức là: 1. Quân vị (địa vị vua): Chỉ cho cõi hư không xưa nay vốn chẳng có 1 vật gì, là Chính vị, tức Chính trung lai trong Ngũ vị. 2. Thần vị (địa vị bầy tôi): Chỉ cho cõi sắc, muôn tượng có hình, là Thiên vị, tức là Thiên trung chí trong Ngũ vị. 3. Thần hướng quân (bầy tôi hướng lên vua): Bỏ sự về lí, tức là Thiên trung chính hướng lên, trở về trạng thái vắng lặng. 4. Quân thị thần (vua nhìn xuống bầy tôi): Bỏ lí theo sự, tức là Chính trung thiên hướng xuống, theo duyên sinh khởi muôn pháp. 5. Quân thần đạo hợp(đạo vua tôi hợp nhau): Ngầm ứng các duyên mà không rời vào hữu vi, tức là Kiêm trung đáo, chỉ cho địa vị đạo Đại giác cùng tột, chẳng phải Chính, chẳng phải Thiên, động tĩnh hợp nhất, sự lí không hai. [X. Chương Tào sơn bản tịch trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.17; Tào sơn Nguyên chứng thiền sư ngữ lục]. (xt. Động Sơn Ngũ Vị).
quân trà lợi
Xem Quân Đồ Lợi Minh Vương.
quân trà lợi minh vương
Kundali-raja (skt)—See Quân Đồ Lợi Minh Vương.
quân trì
Xem Thủy bình.
; Kundi or Kundika (skt)—Quân Trì Ca—Vận Trì. 1) Chiếc bình trong tay của Đức Quán Âm: The vase in Kuan-Yin's hand—An asecetic' water bottle. 2) Một trong 18 vật dụng của Tỳ Kheo: One of the eighteen utensils of Bhikkhus.
; (軍持) Phạm: Kuịđikà. Cũng gọi Quân đĩnh, Quấn trĩ ca. Hán dịch: Bình, Tháo bình, Thủy bình. Vật cầm của Phạm thiên, Thiên thủ Quán âm, cũng là 1 trong 18 vật dụng của các vị tỉ khưu. Quân trì là đồ đựng nước mang theo bên mình, cũng dùng để đựng các vật như dầu xoa, muối, đường phèn... Vì công dụng khác nhau nên cách gọi cũng khác, như bình rửa chân, bình rửa tay, bình sạch (bình đựng nước uống), bình dơ (bình dùng đi đại tiện)... Về chất liệu thì bình được làm bằng đất nung, đồng, sắt... [X. kinh Đà la ni tập Q.3; Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni; luật Tứ phần Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.9].
Quân tử
君子; C: jūnzí; J: kunshi; |Người tốt, người tài, người đức hạnh theo giáo lí nhà Nho, được lập trong sự tương phản với Tiểu nhân (小人).
Quân tử 君子
[ja] クンシ kunshi ||| The superior man, noble man, gentleman of the Confucian teachings, who is established in contrast to the 小人, or "petty man." => Người tốt, người tài, người đức hạnh theo giáo lý Khổng Nho, được lập trong sự tương phản với Tiểu nhân 小人.
quân vương tí lạc
(君王臂落) Cánh tay nhà vua rơi. Đây là sự tích về ông vua bức hại tôn giả Sư tử, vị Tổ thứ 24 của Thiền tông Ấn Độ. Sau khi đắc pháp, Tôn giả Sư tử đến nước Kế tân thuộc Bắc Ấn Độ hoằng hóa và truyền pháp cho Ngài Bà Xá Tư Đa. Không bao lâu, nước này bị pháp nạn, nhà vua miệt thị Phật giáo. Một hôm, vua nói với Tôn giả Sư tử (Đại 51, 215 thượng): Đã lìa sinh tử chưa? (...) Nếu đã lìa sinh tử thì hãy bố thí cho ta cái đầu. Tôn giả đáp: Thân chẳng phải của ta, đâu có tiếc cái đầu? Nhà vua nghe xong liền vung gươm chém đầu tôn giả, chỗ vết chém sữa trắng phun lên vài thước, lúc ấy cánh tay nhà vua cũng tự nhiên đứt lìa. Đây là vì vua nước Kế tân xem khinh Phật pháp, cũng chẳng để ý đến sức công đức tự giác của Tôn giả Sư tử nên hiện tại phải chịu quả báo. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; chương Sư tử tôn giả trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Bảo lâm truyện Q.5].
quân đề
Kun-Ti (Ch). a) Người ta nói đây là một đệ tử thuần thành của Ngài Xá Lợi Phất: Said to be a devoted disciple of Sariputra. b) Một trong những thị giả của Ngài Văn Thù: One of the attendants on Manjusri.
; (均提) Phạm: Kunti. I. Quân Đề. Chỉ cho sa di Quân Đề, con của một nhà Bà la môn ở Ấn Độ, 7 tuổi xuất gia, ngài Xá Lợi Phất đưa đến Tịnh xá Kì Hoàn, dần dần nói pháp cho nghe, sau Quân Đề chứng được quả A la hán. Sau khi đắc đạo, vì cảm niệm ân đức của thầy nên Quân Đề nguyện suốt đời làm sa di để thị giả và cung phụng những gì thầy cần. [X. phẩm Sa di Quân Đề trong kinh Hiền ngu Q.13; Kinh luật dị tướng Q.22]. II. Quân Đề. Chỉ cho đồng tử Quân Đề, là thị giả của bồ tát Văn Thù. Theo Ngũ đăng hội nguyên Q.9 thì Thiền sư Vô Trước Văn Hỉ ở Hàng Châu, khi đến núi Ngũ Đài có gặp đồng tử Quân Đề.
quân đề đồng tử
See Quân Đề (b).
quân đồ
Kunda (skt)—Lò lửa, dùng làm phép Hộ Ma trong Mật Giáo—A hole in the ground, or a brazier, or a fire-pot, for the fire at the fire altar; the homa or fire altar in the esoteric sects in fire-worship.
; (軍荼) Phạm: Kuịđa, hoặc Agnìkuịđa. Hán dịch: Hỏa lô. Vốn chỉ cho các loại bình, lọ được dùng trong tông giáo, Mật giáo đặc biệt chỉ cho cái lò lửa (hỏa lô) được sử dụng khi tu pháp Hộ ma (pháp cúng tế lửa), cho nên cũng gọi Hộ ma lô, Hộ ma hỏa lô. Tùy theo các loại pháp tu mà hình dáng của quân đồ có khác nhau. Như cái lò lửa của pháp tu Tức tai có hình tròn, của pháp tu Tăng ích có hình vuông, của pháp tu Hàng phục có hình tam giác, của pháp tu Câu triệu có hình chày kim cương, của pháp tu Kính ái có hình hoa sen... Tuệ lâm âm nghĩa quyển 36 (Đại 54, 584 trung) nói: Quân đồ là tiếng Phạm Trung quốc dịch là Địa hỏa lô, tức là cái lò Hộ ma. [X. phẩm Hộ ma trong kinh Du già đại giáo vương Q.5; kinh Tô tất địa yết la Q.trung; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ].
quân đồ bát thán
Kundapadhaniyaka (P)Một trong bốn vị đại Thanh văn hộ pháp trụ thế.
; (君徒鉢嘆) Phạm: Kundapadhaịiyaka . Cũng gọi Quân đầu bà hán. Một trong 4 vị Đại thanh văn hộ pháp ở đời. Tên gọi này ít thấy trong kinh luận. Cứ theo kinh Xá lợi phất vấn thì khi cháu của vua A dục là Phất sa di đa la làm vua, phá hủy các chùa, tháp 500 vị La hán phải lên núi Nam sơn lánh nạn, lúc ấy Quân đồ bát thán ra đời giữ gìn kinh điển, nhờ đó mới còn truyền đến đời sau. [X.phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Di lặc hạ sinh; luận Phân biệt công đức].
quân đồ lị
Xem Thủy bình.
quân đồ lộ
Kunda (S). Nectar jug. Also thủy bình, quân trì, tịnh bình.
quân đồ lợi
Kundalin (skt)—Thủy bình hình tròn như chiếc nhẫn—A ring-shaped vase or bottle.
quân đồ lợi minh vương
Kuṇdali-rāja (S)Quân Trà Lợi, Quân Noa LợiTên một vị thiên.
; Amrta (skt). 1) Một trong ngũ đại minh vương, Cam Lộ Minh Vương—One of the five Ming-Wang, the ambrosia king. 2) Dạ Xoa trong hình thức trừ ma: Also known as Yaksa in his firece form of queller of demons.
quân đồ lợi minh vương pháp
(軍荼利明王法) Quân đồi lợi, Phạm: Kuịđalì. Pháp tu lấy Minh vương Quân đồ lợi làm Bản tôn để tu các pháp Điều phục, Tức tai hoặc Tăng ích trong Mật giáo. Khi tu pháp này, hành giả phải xoay mặt về hướng nam hoặc hướng đông. Mạn đồ la (đàn tu pháp) của pháp này thông thường là hình vuông hay hình tròn. Nhưng xưa nay rất ít người tu riêng 1 pháp này mà phần nhiều nhập chung trong Ngũ đại tôn cúng để tu.
quây quần
To gather together (around) —To cluster.
quãng đơn
Là giường rộng dài của Thiền đường, mỗi giường có thể nằm mấy chục người. Đơn vị mỗi người nằm rộng cỡ 0,8m.
quét sạch
To brush aside.
quê nhà
Birthplace—Homeland.
quên dĩ vãng
Let bygones be bygones—To forget the past.
quên lãng
Bị Quên lãng—Buried and forgetten.
quên mình
To sacrifice oneself—To forget oneself for the sake of others.
quên mất bồ đề tâm mà tu hành các thiện pháp đó là ma nghiệp
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật đã dạy rằng: “Quên mất Bồ đề tâm trong khi tu hành các thiện pháp, đó là ma nghiệp.” Một thí dụ cụ thể là nếu chúng ta không vì Bồ đề tâm mà bố thí thì cái bố thí ấy có thể vì danh vì lợi hay vì muốn được khen tặng, vân vân, đó là cách cách hành xử của loài ma—In Avatamsaka Sutra, the Buddha taught: “To neglect the Bodhi Mind when practicing good deeds is the action of demons.” A concrete example is that if we neglect our Bodhi mind suring we give charity; the charity may be made for fame, benefits or praise, and so on; such conduct is the conduct of the demons.
quí
Thấy mắc cở cho người—Shame for others.
quý
Apatrapya (S)Sợ quả báo tội lỗi, biết xấu hỗ với người khác. Một trong 10 thứ của Đại thiện địa pháp.
; 1) Đắc giá: Dear—Precious. 2) Hổ thẹn: Hổ thẹn vì việc làm xấu của người (đối với việc xấu mình làm mà không ai biết, tuy nhiên bản thân mình cảm thấy xấu hổ thì gọi là “Tàm.” Đối với việc xấu mình làm mà người khác thấy, mình thấy xấu hổ thì gọi là “Quý” hay hổ thẹn)—Ashamed for the misdeeds of others. 3) Quý trọng: To esteem—To reverence. 4) Tôn quý: Honourable.
; (愧) Phạm: Apatràpya. Đối lại: Vô quí. Thẹn, tự thẹn. Nghĩa là mình làm điều xấu, mặc dù người khác không thấy, không biết, nhưng mình cảm thấy tự hổ thẹn, gọi là Quí, là tên của tâm sở, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Tông Câu xá cho Quí là 1 trong 10Đại thiện địa pháp, còn tông Duy thức thì cho là 1 trong các pháp thiện. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.19; (bản Bắc); luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Vô Quí, Tàm Quí).
quý báu
Precious—Valuable.
quý khách
Honoured guests.
quý kỉ đẳng phật
(貴己等佛) Cho mình quí bằng Phật, lời quở trách kẻ bàn suông về tâm tính, vì hiểu câu Sinh Phật nhất như là chúng sinh và Phật như nhau, nên kẻ ấy sinh tâm cao mạn, cho mình là quí. Đứng về phương diện lí mà nói tuy chúng sinh và Phật nhất như, nhưng đứng về mặt nhân quả mê ngộ mà nhìn, thì giữa chúng sinh và Phật còn cách xa nhau lắm. Nghĩa là Phật đã giác ngộ mà chúng sinh vẫn còn mê muội, vậy nếu một mực cho mình đã bằng với Phật thì sẽ sinh tâm kiêu ngạo và lơ là với việc thực tu.
quý mến
To esteem.
quý ngự độc kinh
(季禦讀經) Cũng gọi Niên ngự độc kinh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Ở Nhật Bản, vào 2 mùa Xuân, Thu (tháng 2 và tháng 8) hàng năm, mỗi mùa chọn lấy ngày tốt lành, thỉnh 100 vị tăng theo lệ đã qui định, vào cung vua tụng kinh Đại bát nhã để cầu cho quốc gia an vui, Thiên hoàng mạnh khỏe. Đây là 1trong những việc làm trọng đại hàng năm của giới Phật giáo Nhật Bản.
quý nhân
Noble person—Distinguished person.
quý phái
Aristocracy—Nobility.
quý sơ lễ
(季初禮) Lễ đầu mùa. Trong Thiền lâm, vào ngày đầu của mỗi mùa như: Mồng 1 tháng 1, mồng 1 tháng 4, mồng 1 tháng 7 và mồng 1 tháng 10, vị Trụ trì đi tuần xem xét các nhà, khi đến nhà tọa thiền thì lạy 3 lạy sát đất, rồi đi quanh nhà 1 vòng, gọi là Quí sơ lễ. [X.Niên trung hành sự trong Xương thụ lâm thanh qui Q.hạ].
quý sương vương triều
(貴霜王朝) Phạm: Kwàịa. Vương triều thống nhất ở vùng tây bắc Ấn Độ hưng thịnh từ cuối thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ III. Thời kì đầu do Tộc trưởng Khưu tựu khước (Kujula, Kadphises I) của bộ lạc du mục Nguyệt thị ở vùng Trung Á thống lãnh. Đến con ông là Diêm cao trân (Wema Kadphises) mở rộng lãnh thổ. Đời thứ 3 là vua Ca nị sắc ca thống trị miền Bắc Ấn Độ, thế lực bành trướng đến tận Trung á, Iran, mở ra 1 đại cường quốc kể từ sau vua A Dục. Vương triều này cũng có quan hệ với Trung quốc, La mã... Thời ấy, sự giao lưu văn hóa Đông Tây rất thịnh, Vương triều Quí sương nhân đó đã chịu ảnh hưởng văn hóa Hi lạp sâu đậm, như y học, thiên văn học, luận lí học, nghệ thuật Phật giáo... đều chịu ảnh hưởng Hi lạp, La mã... Lại nhờ vàng được lưu hành trong nước khiến nền kinh tế rất phát đạt, học thuật, văn nghệ cũng hưng thịnh. Tín ngưỡng thì bao gồm các vị thần trong tín ngưỡng của Hi lạp và trong tông giáo Ba tư, do đó, đã dung hòa cả văn hóa dị tộc ngoại lai. Thời này, giáo nghĩa của Thuyết nhất thiết hữu bộ rất thịnh hành và ngài Mã minh là nhân vật xuất chúng hoạt động trong giới văn học Phật giáo. Đồng thời, chư tăng trong miền Trung á nối nhau đến Trung quốc dịch kinh. Mĩ thuật Phật giáo Kiện đà la, Mạt thố la cũng phát triển rực rỡ. Về sau, Vương triều Quí sương bị Vương triều Tát san (Sasan) nổi lên vào cuối thế kỉ III tiêu diệt.
quý tiện
Dear and cheap—Noble and vile—Noble and base—Your and my.
quý trọng
To esteem—To Admire and respect. .
quý tướng
Appearance (face) of a noble person.
quý tộc
Nobility—Aristocracy.
; (貴族) Chế độ Quí tộc của Ấn độ bắt đầu khoảng 1.000 năm trước Tây lịch, khi giống dân Aryan từ vùng Ngũ hà (Punjab) dần dần di chuyển về hướng đông, đến mãi sông Jumna và khoảng giữa sông Hằng, chiếm lấy vùng đất đồng bằng và mầu mỡ (tức vùng trung tâm kinh tế, chính trị của Ấn Độ). Sau khi cuộc tiến chiếm kết thúc, người Aryan thiết lập 1 chế độ xã hội, tự xưng mình là Bà la môn, tức giai cấp cao nhất, còn dân địa phương bị chinh phục thì phải làm nô lệ. Đến khoảng 500 năm trước Tây lịch, nền văn hóa Ấn độ đã xảy ra 1 cuộc thay đổi lớn. Trung tâm văn hóa dần dần di chuyển về phía đông; các đô thị mới mọc lên, các giai cấp mới cũng lần lượt quật khởi, uy quyền của giái cấp Bà la môn dần dần bị giai cấp Vũ sĩ (Phạm: Kwatriya, Sát đế lợi) thay thế.Đức Phật đã ra đời vào thờikì này. Tuy xuất thân từ dòng quí tộc, nhưng đức Phật vẫn lấy việc thực hiện Pháp (Phạm: Dharma) làm tông chỉ, Ngài thường nói: Không kể dòng dõi, chỉ kể sự tu hành. Tức không nhìn vào trang phục, dòng dõi, gốc tích mà cho là quí tộc, chỉ xem người ấy có khả năng giác ngộ chân lí và theo đúng pháp tu hành mà cho là quí. Do đó, những người vào tăng đoàn, không kể sang hèn, bất luận thuộc giai cấp nào đều gọi là Thích tử.
quý tử
Precious son.
quý vật
Valuable things.
Quý Đàm Tông Lặc
(季潭宗泐, Kitan Sōroku, 1318-1391): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Quý Đàm (季潭), còn gọi là Toàn Thất (全室), xuất thân Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), họ Châu (周). Năm 8 tuổi, ông đến tham học với Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đến khoảng cuối thời nhà Nguyên, ông vào ẩn cư trong Kính Sơn (徑山). Cho đến năm đầu (1368) niên hiệu Hồng Võ (洪武), ông làm trú trì Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺) ở Hàng Châu (杭州). Sau đó, vâng chiếu nhà vua, ông đến trú tại Thiên Giới Tự (天界寺) ở Kim Lăng (金陵), rồi đến năm thứ 10 (1377) cùng niên hiệu trên, ông đi sứ sang Tây Vức (西域). Vào ngày mồng 10 tháng 9 năm thứ 24 niên hiệu Hồng Võ, ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi. Trước tác của ông có Toàn Thất Ngoại Tập (全室外集) 9 quyển. Ông cũng có mối quan hệ với Nhật Bản như đã từng soạn lời tựa cho bản Không Hoa Tập (空華集) của Nghĩa Đường Châu Tín (義堂周信, 1325-1388) hay Viên Thông Đại Ứng Quốc Sư Ngữ Lục (圓通大應國師語錄) của Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明, 1235-1308).
Quý Đông
(季冬): tên gọi tháng cuối cùng của tiết Đông, tức là tháng 12 Âm Lịch. Trong Lễ Ký (禮記), chương Nguyệt Lịnh (月令) có ghi rằng: “Quý Đông chi nguyệt, nhật tại Vụ Nữ, Hôn Lâu trung, Đán Đê trung (季冬之月、日在婺女、昏婁中、旦氐中, vào tháng cuối năm, mặt trời ở sao Vụ Nữ, buổi tối thì ở trong sao Lâu, buổi sáng sớm thì ở trong sao Đê).” Hay trong bài thơ Đầu Thánh Du (投聖俞) của Tư Mã Quang (司馬光, 1019-1086) nhà Tống có câu: “Cửu cù Quý Đông nguyệt, phong sa chánh thảm độc (九衢季冬月、風沙正慘黷, khắp nẻo đường tháng Chạp, gió cát thật nhơ nhớp).” Trong Kính Sơn Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 3 có câu: “Quý Đông cực hàn, vạn mộc đoản tàn, duy hữu Mai hoa, thập phần thanh vận (季冬極寒、萬木短殘、惟有梅花、十分清韻, tháng Chạp băng hàn, cây cỏ điêu tàn, chỉ có hoa Mai, mười phần tươi xanh).” Trong bài Tặng Tường Cảnh Hưu Từ Chánh (贈祥景休嗣正) của Ngô Sơn Tịnh Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (吳山淨端禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1449) quyển 2 có đoạn: “Hy Ninh Quý Đông tiết, dạ tọa canh dĩ cửu, nguyệt sắc xạ song hộ, tùng phong minh cốc khẩu (熙寧季冬節、夜坐更已久、月色射窗戶、松風鳴谷口, Hy Ninh tiết tháng Chạp, đêm ngồi canh đã lâu, ánh trăng xuyên song cửa, gió tùng vang miệng khe).” Hoặc trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 9 lại có đoạn: “Quý Đông hàn tiết, khứ lai vô biệt, thiên sơn vạn sơn, duy tích tàn tuyết, Thiền khách tương phùng, tương hà diễn thuyết, các thỉnh quy đường, tùy duyên điềm yết (季冬寒節、去來無別、千山萬山、唯積殘雪、禪客相逢、將何演說、各請歸堂、隨緣憩歇, cuối Đông lạnh tiết, đến đi chẳng khác, ngàn núi vạn núi, chỉ chất trắng tuyết, khách Thiền gặp nhau, lấy gì diễn thuyết, đều mời về phòng, tùy duyên nghỉ mệt).”
Quý 愧
[ja] キ gi ||| (apatrāpya). 'shame,' 'embarrassment.' One of the ten 'virtue-producing' mental function elements listed in the Abhidharmakośabhāsya, one of the eleven good mental function elements in the doctrine of the Yogācāra school. The mental function of feeling shame expressed towards others for one's own misdeeds. => (s: apatrāpya). Sự xấu hổ, sự ngượng ngùng. Là một trong nhóm Thập thiện địa pháp trong Tâm sở pháp theo liệt kê của A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, là một trong 11 Tâm sở thiện theo Du-già hành tông. Tâm hành xấu hổ biểu lộ do hành động xấu của mình gây ra cho người khác.
quýnh
To be overjoyed—To be excited with joy.
quăng bỏ
To throw away.
quăng xuống
To throw down.
quơû
To reprimand—To rebuke—To scold—To blame.
quạ và chim cú
chim quạ đi ăn ban ngày, chim cú đi ăn ban đêm, hai loài trái ngược nhau không thể cùng chung sống. Ví dụ dùng để chỉ việc vô lý, không thể xảy ra.
Quả
果; C: guŏ; J: ka;|1. Trái cây, kết quả; 2. Sinh ra quả, một kết quả, sự tất yếu, sự kết luận; 3. Sự khai hoa kết trái. Kết quả của một hành vi hay tu tập, phương diện quả của nghiệp (s: karma, phala, kārya); 4. Kết quả của việc tu tập, chứng ngộ, giác ngộ, giải thoát, – là Phật quả; 5. Một trong Bốn quả vị của hàng Thanh văn; 6. Một trong Mười như thị được đề cập trong kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是)
quả
Phala (P), Fruits of kammaChủng quả, kết quả.
; Phala (S). Fruit; offspring; result, consequence, effect; reward, retribution; it contrasts with nhân cause, i.e. nhân quả cause and effect.
; Phala (skt). 1) Trái cây: Fruit. 2) Hậu quả: Effect—Consequence. 3) Quả báo: reward—Retribution—See Quả Báo. 4) Từ “Quả” đối lại với “Nhân”: The term “consequence” or “effect” contrasts with “cause,” or “Fruit” contrasts with “seed.” 5) Hết thảy các pháp hữu vi là trước sau nối tiếp, cho nên đối với nguyên nhân trước mà nói thì các pháp sinh ra về sau là quả: The effect by causing a further effect becomes also a cause—See Ngũ Quả.
; (果) Phạm: Phala. Hán âm: Phả la. Vốn chỉ cho trái cây, sau được chuyển dụng để chỉ cho kết quả do nhân sinh ra. Bởi vì tất cả pháp hữu vi là trước sau nối nhau, cho nên đối lại với nhân ở trước thì pháp sinh ra sau gọi là quả. Lại như Trạch diệt tuy là pháp vô vi, nhưng do đạo lực là nhân chứng đắc, nên cũng gọi là quả. Còn hư không và Phi trạch diệt đều không có nhân đối đãi ở trước, mà cũng chẳng có pháp sinh ra ở sau, cho nên đều thuộc pháp phi quả. Về chủng loại của quả thì Hữu bộ Tiểu thừa (luận Đại tì bà sa quyển 21, luận Câu xá quyển 6) và tông Duy thức Đại thừa (luận Thành duy thức quyển 8) chia làm 5 loại như sau: 1. Đẳng lưu quả: Tất cả quả thiện do nhân thiện sinh ra, hoặc tất cả quả ác từ nhân ác sinh, đều có cùng 1 tính chất với nhân, cho nên gọi là Đẳng lưu quả. Cũng gọi là Tập quả, Tập khí quả. 2. Dị thục quả: Quả do nhân nghiệp thiện, bất thiện, tức quả vô kí (chẳng phải thiện, chẳng phải bất thiện) do nhân dị thục sinh ra, gọi là Dị thục quả. Là quả báo do tính chất khác nhau của nhân sinh ra, cũng gọi là Báo quả. 3. Sĩ dụng quả: Quả do nhân Câu hữu và nhân Tương ứng sinh ra. Tức là quả do lực dụng của nhân tạo thành, như những sự nghiệp (quả) được thành tựu nhờ sức (nhân) của cùng một nhóm người (sĩ phu), là nhân quả đồng thời. 4. Tăng thượng quả: Quả không bị chướng ngại mà còn được sức trợ giúp thêm cho sinh ra. Tức ngoài nhân Năng tác chính ra, còn nhờ tất cả pháp hữu vi khác làm nhân Năng tác trợ giúp để thành tựu quả. Quả của nhân Năng tác tức là quả Tăng thượng. Bốn quả trên gọi là quả Hữu vi, vì đều thuộc phạm vi pháp hữu vi. 5. Li hệ quả: Quả vô vi. Li hệ là lìa khỏi sự trói buộc của phiền não. Li hệ quả là chỉ cho Trạch diệt và Niết bàn. Lại theo luận Đại tì bà sa quyển 121 thì các Luận sư nước Kiện đà la lập thuyết 9 quả, tức ngoài 5 quả nêu trên còn thêm 4 quả sau đây: 1. An lập quả: Chỉ cho quả dựa vào pháp khác mà được an lập, như dựa vào phong luân mà có thủy luân, dựa vào thủy luân mà có kim luân, dựa vào kim luân mà có đại địa (đất liền), dựa vào đại địa mà có hữu tình, phi tình... 2. Gia hạnh quả: Chỉ cho quả nhờ tu hành mà được, như nhờ sức gia hạnh quán các pháp bất tịnh... mà phát sinh trí vô lậu. 3. Hòa hợp quả: Chỉ cho quả do các nhân hòa hợp mà sinh ra, như nhãn căn và sắc hòa hợp mà sinh ra nhãn thức, ý và pháp hòa hợp mà sinh ra ý thức... 4. Tu tập quả: Chỉ cho quả do tu tập Thánh đạo mà sinh ra. Lại như Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng pháp, Tự tại thần lực... của đức Phật đều là kết quả nhờ tu hành mà được, nên cũng gọi là Quả lực.Trong kinh điển Phật, chữ quả có nhiều hàm nghĩa và cách dùng, chẳng hạn nói theo nghĩa tương ứng tương báo thì nhân thiện sinh ra quả thiện, nhân ác sinh ra quả ác; quả báo khổ gọi là quả khổ, quả báo vui gọi là quả vui. Nói theo sự quan hệ hiện tại, vị lai đối đãi, thì thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ... là 5 quả thuộc hiện tại; trái lại, sinh, lão tử là 2 quả thuộc vị lai. Ngoài ra, Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, gọi là 4 quả Sa môn; quả Độc giác gọi là Độc giác quả; quả Phật gọi là Phật quả, Diệu quả, Vô thượng quả; quả đức của Phật tròn đủ không khuyết, gọi là quả Mãn, quả Cực; trí tuệ của Phật chứng được, gọi là quả Trí; quả Phật có đầy đủ công đức gọi là quả Đức; nếu dùng sự sâu rộng của biển cả để ví dụ cho quả đức thì gọi là quả Hải; quả Phật của Đại thừa và quả A la hán của Tiểu thừa đều là quả cao tột, gọi là Cực quả. Thể tính của quả, gọi là quả Thể; tướng trạng của quả, gọi là quả Tướng; lực dụng của quả, gọi là quả Dụng; đối lại với Nhân phần gọi là Quả phần; đối lại với Nhân địa gọi là Quả địa... [X. kinh Bồ tát địa trì Q.3; luận Phẩm loại túc Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần đầu].
Quả báo
果報; C: guŏbào; J: kahō; S, P: vipāka;|Kết quả, hiệu quả của các hành vi trước đây; kết quả của nghiệp (s: karma, phala). Là sự chín muồi của một »quả« (dị thục quả) trong nguyên lí Nhân quả (Nghiệp). Một khi quả chín, nó sẽ tác động lên người gieo quả đó theo một cách nhất định. Sự chín muồi một quả có thể xảy ra trong đời này, cũng có thể trong đời sau. Người ta cho rằng một quả xấu mà chín ngay trong đời này vẫn tốt hơn là đợi đến đời sau.
quả báo
Karmic retribution.
; Retribution—Những hệ quả của tiền kiếp. Những vui sướng hay đau khổ trong kiếp nầy là ảnh hưởng hay quả báo của tiền kiếp. Thế cho nên cổ đức có nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.” Có nghĩa là muốn biết nhân kiếp trước của ta như thế nào, thì hãy nhìn xem quả báo mà chúng ta đang thọ lãnh trong kiếp nầy. Muốn biết quả báo kế tiếp của ta ra sao, thì hãy nhìn vào những nhân mà chúng ta đã và đang gây tạo ra trong kiếp hiện tại. Một khi hiểu rõ được nguyên lý nầy rồi, thì trong cuộc sống hằng ngày của người con Phật chơn thuần, chúng ta sẽ luôn có khả năng tránh các điều dữ, làm các điều lành—Consequences (requitals) of one's previous life—The pain or pleasure resulting in this life from the practices or causes and retributions of a previous life. Therefore, ancient virtues said: “If we wish to know what our lives were like in the past, just look at the retributions we are experiencing currently in this life. If we wish to know what retributions will happen to us in the future, just look and examine the actions we have created or are creating in this life.” If we understand clearly this theory, then in our daily activities, sincere Buddhists are able to avoid unwholesome deeds and practice wholesome deeds. 1) Quả báo của ăn cắp vặt là nghèo nàn khốn khó: The retributions of robber and petty thieves are poverty and accute suffering. 2) Quả báo của bỏn xẻn là cầu bất đắc: The retributions of being stingy are frustrated desires. 3) Quả báo của của việc phỉ báng là không lưỡi hay thối miệng: The retributions of being slandering and harsh speech are tongueless and cankerous mouth. 4) Quả báo của bần tiện tham lam là nghèo nàn: The retribution of mean and greedy is poverty. 5) Quả báo của việc gây thù chuốc oán là bản thân bị hại: The retribution of being creating hatred with others is to live an endangered life. 6) Quả báo của việc mắng chưỡi kẻ ăn xin là chết đói giữa đường: The retribution of being laughing at or scolding the beggar is to starve to death at the road side. 7) Quả báo của vị kỷ hại người là suốt đời canh cô (không ai muốn gần gủi mình): The retribution of being benefitting oneself by bringing harmness to others is to be life-long friendless. 8) Quả báo của việc loan tin thất thiệt hại nguời là không còn ai tin mình về sau nầy nữa: The retribution of bringing harm to others by spreading rumours is to become distrust (mistrustful) forever. 9) Quả báo của việc phỉ báng Tam Bảo là vĩnh viễn đi vào địa ngục vô gián: The retribution of being slandering the Triratna (Buddha, Dharma and Sangha) is to enter Avici forever.
; (果報) Phạm:Vipàka. Cũng gọi Dị thục, Quả thục, Báo quả, Ứng quả, Dị thục quả. Tức là cái kết quả do nghiệp nhân từ quá khứ mang lại. Có 2 loại: 1. Tổng báo: Quả báo do dẫn nghiệp (nghiệp báo chung) đưa đến, như sự sống còn của con người là do dẫn nghiệp từ đời trước mang lại. 2. Biệt báo: Quả báo riêng của mỗi người do mãn nghiệp (nghiệp báo riêng) đưa đến, cũng gọi Mãn quả, như cùng sinh làm người nhưng có nam, nữ, nghèo, giàu... khác nhau. Nói về thời gian thì có quả báo 3 thời của nghiệp 3 thời: 1. Thuận hiện báo (cũng gọi Hiện báo): Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng ngay.2. Thuận sinh báo: Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng trong đời sau. 3. Thuận hậu báo: Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng ở đời sau nữa. Trong 6 đường thì trời và người là quả báo do giữ 5 giới, tạo 10 nghiệp thiện mà được, cho nên gọi là Thiện quả; nhưng thiện quả này vẫn còn phiền não mê vọng, vì thế cũng gọi là Điên đảo thiện quả. Tuy nhiên, nếu nói một cách chặt chẽ, thì ý nghĩa quả và báo cũng có khác nhau, như quả Đẳng lưu là do nhân cùng loại sinh ra gọi là Quả; còn quả Dị thục là do nhân khác loại sinh ra, thì gọi là Báo. Cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2, phần đầu, thì Tập quả là quả, còn báo quả là báo. Phiền não đời sau là Tập quả, đau khổ thì gọi là Báo quả; cho nên nghèo, giàu, khổ, vui... đều là Quả báo. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.trung, phần 2; Câu xá thích luận Q.3, 5; Pháp uyển châu lâm Q.69; Kim cương bát nhã ba la mật đa kinh chú giải; Ma ha chỉ quán Q.8, phần cuối].
quả báo ba đời
See Tam Quả Tứ Nhân.
Quả báo thức
果報識; C: guŏbàoshì; J: kahōshiki; |Thành thục thức; một cách diễn tả thức A-lại-da.
quả báo tứ tướng
The four forms of retribution - birth, age, sickness, death.
; Quả báo tiền kiếp trong tứ tướng sanh trụ dị diệt (sanh, già, bịnh, chết)—Consequences of one's previous life in four forms of the present life: 1) Sanh: Birth. 2) Già: Old age. 3) Bịnh: Disease. 4) Chết: Death. ** For more information, please see Tứ Tướng
quả báo độ
The realm of reward, where Bodhisattvas attain the full reward of their deeds, also called thực báo vô chướng ngại độ, one of the tứ độ of Thiên Thai.
; Tên khác của Thực Báo Vô Chướng Ngại Độ, một trong Tứ Độ trong tông Thiên Thai—The realm of reward, where bodhisattvas attain the full reward of their deeds, one of the four realms according to the T'ien-T'ai Sect. ** For more information, please see Tứ Độ.
Quả báo 果報
[ja] カホウ kahō ||| The results, or effects of prior actions; the fruits of karma (phala). The maturation of karma. 〔法華經 T 262.9.56a8〕 => Kết quả, hiệu quả của các hành vi trước đây; kết quả của nghiệp (karma, phala). Sự thành thục, chín muồi của nghiệp.
quả báo, dị thục
Retribution for good or evil deeds, implying that different conditions in this (or any) life are the variant ripenings, or fruit, of seed sown in previous life or lives.
quả báu
Xem Dị thục.
quả chứng
Fruition.
; Retribution, reward.
; (果證) Quả vị chứng ngộ được do tu hành nhân vị. Bài tựa trong Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện (Đại 50, 220hạ) nói: Chỉ bày việc đó bằng nhân tu, làm sáng tỏ việc đó bằng quả chứng. Tứ thập nhị chương kinh chú nói: Lúc đức Phật mới xuất gia, tu đạo ở núi Tuyết, vua Tịnh phạn sai 5 người như A Thấp Bà, Ma Ha Nam, Kiều Trần Như... đi theo hầu và bảo vệ Ngài. Sau khi đức Thế Tôn thành Chính giác, 5 vị này đều được quả chứng.
Quả câu hữu
果倶有; C: guŏjùyŏu; J: kaguu; |Tính chất đồng thời của các chủng tử và sự hiện hành của chúng. Một trong 6 đặc tính của chủng tử trong tàng thức (chủng tử lục nghĩa 種子六義).
Quả câu hữu 果倶有
[ja] カグウ kaguu ||| Simultaneity of seeds and their manifestations. One of the six characteristics of the seeds in the store consciousness 種子六義. => Tính chất đồng thời của các chủng tử và sự hiện hành của chúng. Một trong 6 đặc tính của chủng tử trong tàng thức (chủng tử lục nghĩa 種子六義).
quả cảm
Courageous—Daring.
quả cực
Fruition perfect, the perfect virtue or merit of Buddha enlightenment.
; Quả mãn cực thành—Fruition perfect, the perfect virtue or merit of Buddha-enlightenment.
quả cực pháp thân
The dharmakàya of complete enlightenment.
; Pháp thân quả mãn cực thành—The dharmakaya of complete enlightenment.
; (果極法身) Đồng nghĩa: Pháp tính thân. Đối lại: Ứng hóa pháp thân. Chỉ cho pháp thân cực thành mãn quả, cũng là thân chứng được chân lí pháp tính. [X. phẩm Nhân quả trong kinh Anh lạc Q.hạ].
quả danh
Quả Hiệu—Danh hiệu của mỗi vị Phật chỉ sự giác ngộ của vị Phật ấy—Attainment-name, or reward-name or title, i.e. of every Buddha, indicating his enlightenment.
quả danh, quả hiệu
Attainment-name, or reward-name or title, i.e. of every Buddha, indicating his enlightenment.
quả duy thức
The wisdom attained from investigating and thinking about philosophy, or Buddha-truth, i.e, of the sùtras and abhidharma; this includes the first four under ngũ chủng duy thức.
; Trí tuệ đạt được do tư duy và quán sát cái lý của duy thức (tầm và tứ), bao gồm bốn thức đầu trong bát thức—The wisdom attained from investigating and thinking about philosophy, or Buddha-truth, i.e. of the sutras and Abhidharmas; this includes the first four kinds of “only-consciousness.”
quả giới viên hiện
In the Buddha-realm, i.e. of complete bodhi-enlightenment, all things are perfectly manifest.
; Trong Phật Giới, hay giới của các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, mọi việc đều hiện lên một cách viên dung—In the Buddha-realm, i.e. of complete bodhi-enlightenment, all things are perfectly manifest.
quả hải
The ocean of bodhi or enlightenment.
; Biển Bồ Đề hay giác ngộ—The ocean of bodhi or enlightenment.
; (果海) Biển quả, ví dụ trí tuệ, công đức của Phật sâu rộng như biển. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 5 (Đại 35, 534 hạ) nói: Suốt cả nguồn nhân và bao trùm biển quả.
quả hậu phương tiện
(果後方便) Phương tiện độ sinh sau khi chứng quả. Chư Phật đã chứng quả rồi, nhưng vì mục đích cứu độ chúng sinh, nên lại thị hiện tướng tu nhân cảm quả để làm pháp môn phương tiện. [X. Pháp hoa văn cú Q.9].
quả ly
To cut off the fruit, or results, of former karma. The arhat who has a "remnants of karma" though he has cut off the seed of misery, has not yet cut off its fruits.
quả lực
(果力) Chỉ cho lực dụng của quả vị Phật. Như Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng pháp... đều thuộc về Quả lực. Ở nhân vị có hạnh nguyện thù thắng, nên ở quả vị cũng có lực dụng vi diệu. Nếu hạnh nguyện siêu việt thì lực dụng cũng theo đó mà siêu việt. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 840 thượng) nói: Nay thần lực tự tại của đức A di đà Như lai là do nguyện phát ra lực, nhờ lực mà nguyện thành tựu, nguyện chẳng phải nguyện suông, lực không là lực rỗng, lực và nguyện phù hợp nhau, quyếtkhông sai chệch, cho nên nói là thành tựu.
quả mãn
The full or complete fruition of merit; perfect reward.
; Công đức tròn đầy của bậc quả thượng hay nhân tròn đầy thành bậc chánh giác—The full or complete fruition of merit—Perfect reward.
quả mãn chuyển
(果滿轉) Cũng gọi Quả viên mãn chuyển, Viên mãn chuyển. Quả vị Phật cùng tột, 1 trong 6 chuyển vị do tông Duy thức lập ra. Hành giả ở giai vị này nhập định Kim cương, được trí tuệ kim cương, đoạn diệt tất cả phiền não thô trọng, chứng được quả Phật viên mãn, vì thế gọi là Quả mãn chuyển. [X. Lâm gian lục Q.hạ]. (xt. Lục Chủng Chuyển Vị).
quả môn
(果門) Pháp môn tự nội chứng của chư Phật, cũng tức là pháp môn của quả vị Như lai. Đây là cảnh giới mà hàng Bồ tát ở địa vị tu nhân không thể thấy và hiểu được, chỉ có những bậc đã chứng chính giác mới có thể rõ biết. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
quả mạn đà la
Kim Cang Mạn Đà La, đối lại với Thai Tạng Giới Mạn Đà La—Vajradhatu mandala, in contrast with Garbhadhatu mandala (nhân mạn đà la).
quả ngịch lưu
Xem Tu đà hườn.
quả nhân
Những bậc tu hành đã chứng đắc quả thượng, thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, gồm có ba bậc—Those who have obtained the fruit, i.e. escaped the chain of transmigration: 1) Phật: Buddha. 2) Bích Chi Phật: Pratyeka-buddha. 3) A La Hán: Arhat.
quả nhập lưu
Xem Tu đà hườn.
quả năng biến
Phala-pariṇāma (S).
; Phalaparinàma (S). Fruiting.
; (果能變) Phạm: Phalapariịàma. Gọi tắt: Quả biến. Đối lại: Nhân năng biến. Một trong 2 thứ năng biến do tông Duy thức lập ra. Quả năng biến là chỉ cho sức năng biến của tập khí đẳng lưu trong thức thứ 8, dẫn sinh ra quả 3 tính (thiện, ác, vô kí) của 8 thức; còn sức năng biến của tập khí dị thục thì dẫn sinh ra quả vô kí của 6 thức trước và thức thứ 8. Như vậy, sự hiện hành của 8 thức từ nơi tự thể của chúng có khả năng biến hiện ra Kiến phần và Tướng phần; gọi là Quả năng biến. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2]. (xt. Nhân Năng Biến).
quả phược
Retribution-bond; the bitter fruit or transmigration binds the individual so that he cannot attain release. This fruit produces tử phược or further seeds of bondage.
; Khổ quả sinh tử trói buộc không cho chúng ta giải thoát. Nghiệp nhân dẫn đến khổ quả đã trói buộc ta, là tử phược—Retribution bond—The bitter fruit of transmigration binds the individual so that he cannot attain release. This fruit produces further seeds of bondage.
quả phược đoạn
Cutting off the ties of retribution, i.e. entering nirvàna, e.g. entering salvation.
; Cắt bỏ mọi trói buộc tức là nhập vào Niết Bàn—Cutting off the ties of retribution, entering nirvana, entering salvation.
Quả phần
果分; C: guŏfēn; J: kabun; |Phương diện kết quả của công phu tu tập – Phật quả, khác với phương diện nhân (nhân phần 因分) – là chúng sinh. Tính hải quả phần (性海果分).
Quả phần bất khả thuyết
果分不可説; C: guŏfēn bùkě shuō; J: kabunfu-kasetsu; |Ngược với Nhân phần khả thuyết (因分可説). Theo giáo lí kinh Hoa Nghiêm, niềm tin vào quả vị Phật (giác ngộ) không phải là điều có thể giải thích bằng ngôn từ.
Quả phần bất khả thuyết 果分不可説
[ja] カブンフカセツ kabunfukasetsu ||| As contrasted to the concept of yinfenkeshuo 因分可説. In Huayan teaching, the belief that the content of the Buddha-fruit (enlightenment) is not something that can be explained in words. => Ngược với Nhân phần khả thuyết 因分可説. Theo giáo lý kinh Hoa Nghiêm, niềm tin vào quả vị Phật (giác ngộ) không phải là điều có thể giải thích bằng lời.
Quả phần khả thuyết
果分可説; C: guŏfēn kěshuō; J: kabun kasetsu; |Theo giáo lí Mật tông, đực tin vào sự hoàn hảo của »quả phần« (nghĩa là cảnh giới Phật là »quả«) là điều có thể giảng giải được. Điều nầy ngược với giáo lí chỉ có nhân phần của Phật quả mới có thể giải thích được – giai đoạn tu tập có thể được xem là nguyên nhân của sự giác ngộ là có thể giải thích được, nhưng cảnh giới tối thượng, lĩnh vực tu đạo thì không thể giảng giải được.
Quả phần khả thuyết 果分可説
[ja] カブンカセツ kabun kasetsu ||| In the Esoteric Teaching, the belief that the perfection of the 'effect aspect' (i.e., the Buddha-realm as the "effect") is something that can be explained. This is in contrast to the theory that only the causal aspects of Buddhahood can be explained--the stages of practice that are regarded as the causes of awakening can be explained, but the ultimate realm that is the aspect of practice cannot be explained. => Theo giáo lý Mật tông, đực tin vào sự hoàn hảo của 'quả phần'(nghĩa là cảnh giới Phật là 'quả') là điều có thể giảng giải được. Điều nầy ngược với giáo lý chỉ có nhân phần của Phật quả mới có thể giải thích được—giai đoạn tu tập có thể được xem là nguyên nhân của sự giác ngộ là có thể giải thích được, nhưng cảnh giới tối thượng, lĩnh vực tu đạo thì không thể giảng giải được.
Quả phần 果分
[ja] カブン kabun ||| The fruition aspect of practice--buddhahood, as opposed to the causal aspect of practice 因分--sentient being. Also see 性海果分 (xinghai guofen). => Phương diện kết quả của công phu tu tập--Phật quả, khác với phương diện nhân (nhân phần 因分)--là chúng sinh. Xem Tính hải quả phần 性海果分.
quả phận
The reward, e.g. of ineffable nirvàna, or dharmakàya.
; The reward, e.g. of ineffable nirvana, or dharmakaya.
quả phật tánh
Quả Phật Toàn Giác, một trong năm Phật tánh—The fruition of the Buddha-enlightenment, its perfection, one of the five forms of the Buddha-nature—See Ngũ Phật Tánh (B) (4).
quả phật tính
Fruition of the Buddha-enlightenment, its perfection, one of the five forms of the Buddha-nature.
quả quyết
Determined—Decided—Resolute.
quả quả
The fruit of fruit, i.e. nirvàna, the fruition of bodhi.
; The fruit of fruit. 1) Niết Bàn: Nirvana. 2) Bồ Đề là quả, mà cũng là kết quả của việc tu hành nên gọi là quả quả: the fruition of bodhi. Bodhi itself is a fruit; however, it is also the fruit of a life-long cultivation.
; (果果) Chỉ cho quả của Quả vị. Cứ theo phẩm Sư tử hống trong kinh Niết bàn quyển 25 (bản Nam) và Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm (hội bản) quyển 5 phần đầu, như vô minh là nhân, các hành là quả; các hành là nhân, thức là quả. Đối lại với vô minh là nhân của nhân (nhân nhân) thì thức là quả của quả (quả quả). Phật tính cũng thế, nhân thì có nhân của nhân, quả thì có quả của quả; 12 nhân duyên (3 nhân của lí tính) là nhân, bồ đề (trí đức của quả Phật) là quả; Bồ đề là nhân, Niết bàn(đoạn đức của quả Phật) là quả. Trí tuệ là nhân của nhân thì Niết bàn là quả của quả. [X. Duy ma kinh huyền sớ Q.3; Tứ giáo nghĩa Q.10].
quả quả phật tánh
The fruition of that fruition, or the revelation of parinirvana—See Ngũ Phật Tánh (B) (5).
quả quả phật tính
The fruit of the fruit of Buddhahood, i.e. parinirvàna, one of the ngũ Phật tính.
quả sanh y
Upādhi-vepakka (P).
quả tang
Flagrant—To be caught in the act or fact (red-handed).
quả thượng
In the stage when the individual receives the consequences of deeds done.
; Nhờ công đức tu hành mà chứng đắc được quả địa (quả địa nầy ở trên nhân vị trong lúc đang tu) gọi là quả thượng—In the stage when the individual receives the consequences of deeds done.
quả thần
Môi của Phật đỏ như trái của cây Bimba—Fruit lips, Buddha's were “red like the fruit of the Bimba tree.”
quả thật
Indeed—Truly—As a matter of fact.
quả thục thức
The Alaya-vjnàna, i.e. storehouse or source of consciousness, from which both subject and object are derived.
; The Alaya-vijnana (skt)—A Lại Da Thức hay Tàng Thức—The storehouse or source of consciousness, from which both subject and object are derived.
quả tiểu thừa
Hai quả vị Thanh văn và Duyên giác—Fruit of the two vehicles of Sravakayana and Pratyeka-buddha.
quả trung thuyết nhân
(果中說因) Phạm: Kàraịe kàryopacàra. Đối lại: Nhân trung thuyết quả. Trong quả nói nhân. Như thấy 1 bức họa đẹp (quả)liền nói trong đó ắt có bàn tay khéo (nhân) của họa sĩ. Cũng như nói chư Phật tức là chúng sinh, trâu bò tức là cỏ nước... Những cách nói như thế đều gọi là Quả trung thuyết nhân. [X. kinh Niết bàn Q.37 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.3, 30, 43; luận Câu xá Q.4; Vãng sinh luận chú Q.thượng]. (xt. Nhân Trung Thuyết Quả).
quả trục
Quả đi theo (quả đi theo nhân như hình với bóng)—The fruit follows (the fruit follows the cause as the image and its shadow).
quả trục nguyện
Sự chắc chắn của việc phổ cứu, nguyện thứ hai mươi trong Tứ Thập Bát Nguyện của Phật A Di Đà—The assurance of universal salvation, the twentieth of Amitabha's forty-eight vows. ** For more information, please see Tứ Thập Bát Nguyện (20).
quả tình
See Quả Thật.
Quả tính
果性; C: guŏxìng; J: kashō; |1. Sự giác ngộ như kết quả của việc tu tập, khác với Lí tính (理性); nguyên lí không thay đổi hay là bản tính như là nguyên nhân của giác ngộ.
Quả tính 果性
[ja] カショウ kashō ||| The "result nature;" awakening as the result of practice as distinguished from lixing 理性, the unchanging principle or original nature as the cause of awakening. => Sự giác ngộ như là kết quả của việc tu tập, khác với Lý tính 理性, Nguyên lý không thay đổi hay là bản tính như là nguyên nhân của giác ngộ.
quả tướng
Reward, retribution or effect; especially as one of the three forms of the àlaya-vijnàna.
; Quả thể tổng báo của giới hữu tình, là một trong ba hình thức của A Lại Da Thức—Reward—Retribution—Effect—One of the three forms of the alaya-vijnana. ** For more information, please see A Lại Da Thức and Alaya-vijnana.
quả tử
1) Quả và Nhân—Fruit and Seed. 2) Quả sanh Nhân: Fruit produced seeds.
quả viên
Fruit complete, i.e. perfect enlightenment, one of the eight ThiênThai perfections.
; Quả vị viên mãn, một trong tám quả viên mãn của tông Thiên Thai—Fruit complete, i.e. perfect enlightenment, one of the eight T'ien-T'ai perfection.
quả vô sanh
The stage of non-birth.
quả vị
The stage of attainment, or reward as contrasted with the cause-stage, i.e. the deeds.
; Vị của quả Phật, đối lại với nhân vị—The stage of attainment, or reward as contrasted with the cause-stage, i.e. deed. ** For more information, please see Nhân Vị.
quả đoán
Decided—Determined.
quả đoạn
1) Dứt bỏ hoặc nghiệp: To cut off the fruit or results of former karma. 2) Bậc A La Hán ở Hữu Dư Niết Bàn, tuy đã dứt bỏ được nhân đau khổ (tử phược), nhưng chưa dứt bỏ được quả phược: The Arhat who has a “remnant of karma,” though he has cut off the seed of misery, has not yet cut off its fruits.
; (果斷) Đoạn trừ quả khổ sinh tử, 1 trong 2 loại giải thoát. Bậc A lán hữu dư Niết bàn đã đoạn trừ Tử phược, nhưng chưa đoạn trừ Quả phược. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 29, phần đầu (Đại 12, 536 thượng) nói: Giải thoát có 2 loại: Tử đoạn và Quả đoạn. Tử đoạn là dứt trừ phiền não; bậc A la hán đã dứt trừ phiền não, mọi nội kết đều đã tan rã hết.
quả đầu
Quả Thượng—Tu nhân được quả, đặc biệt là quả vị Giác Ngộ Bồ Đề—The condition of retribution, especially the reward of bodhi or enlightenment. ** For more information, please see Quả Thượng.
quả đầu phật
Bậc đã đạt được quả vị Phật, một thuật ngữ của tông Thiên Thai—He who has attained the Buddha-condition, a T'ien-T'ai term.
quả đầu vô nhân
(果頭無人) Đồng nghĩa: Hữu giáo vô nhân. Có quả vị mà không có người chứng, chỉ cho 3 giáo Tạng, Thông, Biệt do tông Thiên Thai phán lập. Quả đầu là chỉ cho quả Phật. Trong 4 giáo Tạng Thông Biệt Viên, thì 2 giáo Tạng, Thông, đứng về phương diện nhân vị mà nói thì tuy có đủ cả giáo pháp và người hành chứng giáo pháp; nhưng về mặt quả vị thì chỉ có giáo pháp chứ không có người hành chứng giáo pháp. Vì Tạng giáo và Thông giáo cho quả do khôi thân diệt trí mà được chứ thực không có người chứng. Còn Biệt giáo cũng thế, khi đến quả vị từ Sơ địa trở lên thì người của Biệt giáo đã trở thành người Viên giáo, hệt như Sơ trụ của Viên giáo, vì thế từ Sơ địa trở lên chỉ có giáo pháp chứ không có người hành chứng. Tóm lại, 3 giáo Tạng, Thông, Biệt gọi là Quả đầu vô nhân, có giáo pháp mà không có người chứng; chỉ có Viên giáo là đủ cả giáo pháp và người hành chứng mà thôi. [X. Ma ha chỉ quán Q.3, phần cuối].
quả địa
Quả vị Phật, đối lại với nhân địa hay nhân tu hành—Resulting Buddhahood, in contrast with the causal ground or fundamental cause, the state of practicing the Buddha-religion—The stage of attainment of the goal of any disciplinary course.
; (果地) Cũng gọi Quả vị, Quả cực. Đối lại: Nhân vị, Nhân địa. Do tu hành nhân vị mà chứng được cực vị của quả mãn Diệu giác. Kinh Lăng nghiêm quyển 4 (Đại 19, 122 thượng) nói: Phải nên quán xét cho thấu đáo, nhân địa phát tâm và quả địa giác giống nhau hay khác nhau.
Quả địa vạn đức
果地萬徳; C: guŏdì wàndé; J: kaji mantoku; |Công đức vô lượng của Đức Phật. Khác với Nhân vị vạn hạnh (因位萬行).
quả địa vạn đức
(果地萬德) Đối lại: Nhân vị vạn hạnh. Do ứng với muôn hạnh của nhân vị để đạt đến địa vị của quả Phật mà thành tựu được vô lượng diệu đức. Do sự quan hệ đối đãi giữa nhân và quả, nên đối lại với nhân địa mà có quả địa; đối lại với vạn hạnh mà có vạn đức. Bởi thế, nói theo ý nghĩa tương báo tương ứng của nhân quả thì vô lượng công đức của quả Phật là do tương ứng với muôn hạnh của nhân vị mà có, cho nên gọi là đức Quả địa vạn đức. (xt. Quả).
Quả địa vạn đức 果地萬徳
[ja] カジマントク kaji mantoku ||| The infinite merit possessed by the Buddha. In contrast to 因位萬行. => Công đức vô lượng của Đức Phật. Khác với Nhân vị vạn hạnh因位萬行.
quả đọa
The stage of attainment of the goal of any disciplinary course.
Quả đức
果徳; C: guŏ dé; J: katoku;|1. Công đức nằm trong kết quả; 2. Công đức nằm bên sau sự giác ngộ.
quả đức
The merits of nirvàna, e.g. thường eternal, lạc blissful, ngã personal (or autonomous), tịnh pure, all transcendental.
; Quả đức của Niết bàn hay công đức của bậc quả thượng là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh—The merits of nirvana (Thường: Eternal, Lạc: Blissful, Ngã: Personal or Autonomous, Tịnh: Pure). ** For more information, please see Tứ Đức (A).
; (果德) Chỉ cho công đức của quả vị nhờ tu hành mà chứng được, cũng chỉ cho vô lượng công đức mà quả Phật có đủ, như Niết bàn có 4 đức: Thường, lạc, ngã, tịnh. [X. An lạc tập Q.thượng].
Quả đức 果徳
[ja] カトク katoku ||| (1) The merit contained in the result. (2) Merit beyond awakening. => 1. Công đức đạt được từ kết quả. 2. Công đức đạt được do giác ngộ.
Quả 果
[ja] カ ka ||| (1) Fruit. (2) To bear fruit; a result; a necessary; conclusion. (3) To come to fruition. The effects of an action or practice; the result aspect of karma (phala, kārya). (4) As the result of practice, enightenment, awakening, liberation--the fruit of buddhahood 佛果. (5) One of the four accomplishments ("fruits") 四果 of the śrāvaka path. (6) One of the ten such-likes taught in the Lotus Sutra. See 十如是. => 1. Trái cây, kết quả. 2. Sinh ra quả, một kết quả, sự tất yếu, sự kết luận. 3. Sự khai hoa kết trái. Kết quả của một hành vi hay tu tập, phương diện quả của nghiệp (s: karma, phala, kārya). 4. Kết quả của việc tu tập, chứng ngộ, giác ngộ, giải thoát,--là Phật quả. 5. Một trong Bốn quả vị của hàng Thanh văn. 6. Một trong Mười như thị được đề cập trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập như thị十如是.
quải bát
(掛鉢) Cũng gọi Quải đơn, Quải đáp đơn, Quải tích, Quải bát. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vị tăng du phương, khivào Tăng đường, đem áo, mền... mình mang theo treo lên cái móc ởtrongTăng đường, ngụ ý muốn ở lại tùng lâm. Bài tựa Cổ thanh qui của ông Dương ức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 8 (Đại 48, 1158 thượng) nói: Học chúng không kể nhiều ít, không chia cao thấp, vào hết trong Tăng đường, sắp xếp theo thứ tự tuổi hạ, đặt những cái giường nối liền nhau, có những giá mắc áo (quải đáp) để treo đạo cụ.Theo điều Du phương tham thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5, theo qui chế xưa, người cầu quải đáp (xin trú ngụ), trước hết đến ra mắt vị Khách ti (người có nhiệm vụ tiếp khách), kế đến vị Đường ti quải đáp(người trông nom việc khách tăng đến tạm trú) để ghi tên chờ xét định; sau đó, đến vị Thị ti (thị giả) thông báo và nhờ đưa đến bái yết vị Trụ trì. Cuối cùng được đưa đến Đán quá (nhà nghỉ tạm) để chờ đợi. (xt. Quải Tích).
; (掛鉢) Đồng nghĩa: Quải đáp, Quải đơn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Treo bát lên. Trong Thiền lâm, sau khi ăn xong thì rửa và treo bát của mình lên cái móc ở sau chỗ mình ngồi. Từ đó dẫn đến nghĩa tạm trú trong tùng lâm. Điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 hạ) nói: Ăn xong, niệm kệ (...) vị Trụ trì đứng dậy treo bát (quải bát), khiến chúng tăng đều làm theo. [X. môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Quải Đáp).
quải bát nang
(掛挂鉢囊) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Treo cái túi đựng bát. Sau khi chấm dứt cuộc du phương, vị tăng hành cước liền treo túi bát. Trong Thiền lâm, Quải bát nang được dùng để chỉ cho việc tham học các nơi đã kết thúc. Thung dung lục tắc 20 (Đại 48, 240 thượng) nói: Khi đã đặt được chân lên thực địa (tức khai ngộ)thì có thể treo cao túi bát, bẻ gãy tích trượng.
quải chân
(掛真) Chỉ cho nơi treo bức tượng của vị tôn túc đã thị tịch. Theo môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên thì Chân là chân nghi, tức là bức tượng giống hệt vị tôn túc quá cố. Khi bậc tôn túc thị tịch có 2 nơi có thể treo bức tượng đó, một là Pháp đường, hai là Chân đình ở đầu cửa chùa. Nghi thức cử hành Quải chân, gọi là Quải chân Phật sự, Quải chiếu Phật sự. [X. điều Cáo hương phổ thuyết trong Vô môn khai hòa thượng ngữ lục Q.hạ; điều Thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5].
quải giác linh dương bất kiến tung
(掛角羚羊不見蹤) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho ngôn ngữ hành vi không để lại mảy may dấu vết nhiễm ô nào. Giathái phổ đăng lục quyển 29 có chép bài kệ tụng của Quốc thanh giản đường Cơ thiền sư gởi cho vị tăng xây tháp Phổ đồng như sau (Vạn tục 137, 211 hạ): San san ngọc cốt bản linh lung Quải giác linh dương bất kiến tung. Đặc địa tác đình đồ thậm mạ? Vị lân tùng trúc dẫn thanh phong. Tạm dịch: Sáng ngời xương ngọc vốn linh lung Dê núi sừng treo biến mất tung Dựng đình muốn vẽ chi nơi đó? Làn gió thoảng qua ngọn trúc tùng. Bởi vì con dê rừng ban đêm treo sừng lên cây mà ngủ, chân không chạm đất, cho nên không lưu lại dấu vết. Trong Thiền lâm, hình ảnh này được dùng để miêu tả cảnh giới tự tại vô ngại của bậc đại ngộ triệt để.
quải lạc
(掛絡) Cũng gọi Quải tử, Quải la, Lạc tử. Áo ca sa nhỏ choàng trên 2 vai thòng xuống ngực, là biến hình của áo An đà hội. Các thiền tăng thường mặc áo này lúc làm việc, hoặc đi đường cho tiện. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 287 thượng) nói: Không mặc ca sa, chẳng thụ giới đủ, chỉ dùng tấm lụa 5 màu làm quải tử. Trong đó, tấm lụa 5 màulà chỉ cho ca sa 5 nẹp, Quải tử là tên khác của ca sa 5 nẹp. Loại ca sa này thịnh hành vào đầu đời Tống, nhưng trong các luật không thấy tên gọi Quải tử, Lạc tử. Điều Pháp y trong Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 45, 270 hạ) nói: Lạc tử hoặc Quải tử là do các vị tăng tiền bối sáng chế, những vị tăng sau bắt chước. Vì không có tên gọi, chỉ thấy dây treo (quải lạc) trên mình nên gọi như thế. Nay thiền tăng phương Nam đều mặc lúc làm việc. Vì điều tướng không đúng pháp, các luật không ghi tên, nên bị các dòng phái chê trách. [X. môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. An Đà Hội).
quải thần xỉ
(掛挂唇齒) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là môi bị kẹp (treo) ở giữa răng thì không thể nuốt được vật gì. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để ví dụ nếu cứ chấp chặt vào lời nói của người khác thì không thể hiểu được ý nghĩa chân chính. Thung dung lục tắc 87 (Đại 48, 283 trung) ghi: Sơ sơn đến, Qui sơn liền hỏi: Nghe sư nói rằng câu Có câu Không như bìm leo cây (Quải thần xỉ).
Quải tích
掛錫; J: kashaku;|Nghĩa là »treo Tích trượng«; chỉ bước nhập môn của một thiền tăng sau một cuộc Hành cước, khi đã tìm được vị Thiền sư thích hợp với căn cơ của mình.|Thiền sinh có thể tự chọn Thiền viện để gia nhập. Quan trọng nhất cho sự tu tập của thiền sinh là việc chọn đúng vị thầy thích hợp mà mình tin tưởng tuyệt đối. Vì vậy mà các thiền sinh thường đến viếng nhiều thiền viện, tham vấn nhiều vị Thiền sư khác nhau trước khi chọn được vị »chân sư« của mình. Nhưng – như thiền sinh chọn thầy – các vị Thiền sư cũng lựa chọn kĩ các vị mới đến trước khi cho phép nhập môn. Nếu Thiền sư thấy rõ mình không phải là thầy thích hợp cho một thiền sinh nào đó thì sẽ gửi vị này đến một vị khác thích hợp hơn.|Khi đến cổng (sơn môn) của một thiền viện sau một cuộc hành cước, thiền sinh sẽ thấy hai tấm bản gỗ nằm hai bên của cửa cổng: Một bản ghi tên của thiền viện và bản khác ghi tên của vấn đề mà vị Thiền sư trụ trì đang Ðề xướng. Những bước chân vào cổng của thiền sinh – cửa cổng thường được xây dựng rất kiên cố, cách biệt với bên ngoài – với lòng mong mỏi được thâu nhận làm đệ tử chính là những biểu hiện của sự quyết chí bước vào con đường tu học vô cùng tận để chứng ngộ Phật pháp.
quải tích
Kashaku (J).
; (掛錫) Cũng gọi Lưu tích. Đồng nghĩa: Quải đáp. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Treo tích trượng. Ngày xưa, mỗi khi vị tăng đi du phương (tham học các nơi) đều có mang theo tích trượng. Lúc vào tùng lâm nàonếu được phép ở lại thì vị ấy treo tích trượng vào cái móc ở trên vách, ngụ ý đã được ở trong chùa. Nay từ ngữ Quải tích đặc biệt được dùng để chỉ cho vị Thiền tăng đến ở trong tùng lâm để tu học. Tổ đình sự uyển quyển 8 nói rằng: Tỉ Khưu ở Tây Vực, đi đâu ắt cầm tích trượng, có 25 uy nghi, khi vào trong nhà, không được để tích trượng trên đất, mà phải treo lên cái móc ở trên vách. Ngoài ra, vị tăng đảm nhiệm việc trụ trì 1 ngôi chùa cũng gọi là Quải tích.
quải đơn
Quải là ở đậu, đơn là đơn vị. Tất cả Tu sĩ sống trong Tòng lâm như một ông Tăng là một đơn vị, ở đậu một ngày thì làm chủ (như một công dân) Tòng lâm một ngày, ở đậu mười năm thì làm chủ mười năm.
quản
1) Ống: A pipe—A tube. 2) Quản ngại: To mind. 3) Quản trị: To control—To rule.
quản chủ bát
(管主八) Danh tăng Trung Quốc sống vào đời Nguyên. Sư từng giữ chức Tăng lục phủ Tùng giang, tỉnh Giang tô, được ban hiệu Quảng Phúc Đại Sư. Cứ theo mục San kí của Đại tông địa huyền văn bản luận quyển 3 trong Đại tạng kinh bản Tích sa Diên thánh viện, thì sư có chí hoằng dương chính giáo, nên trong nhiều năm đã ấn tống hơn 50 bộ Đại tạng kinh bản Hán, hơn 30 bộ kinh Đại niết bàn, hơn 1 ngàn bộ kinh Hoa nghiêm, hơn 500 bộ Kinh Luật Luận sớ sao cùng với vô số các kinh điển khác. Đồng thời, sư còn biên chép các kinh Đại Hoa nghiêm và Pháp hoa... bằng chữ kim nhũ, gồm 100 quyển; cúng dường tượng Phật màu bằng vàng ròng, ấn tống các bức tranh tượng Phật, thiết trai cúng dường hơn 10 vạn vị tăng, mở các lớp giảng truyền pháp, tự đặt thời khoá mỗi ngày tụng kinh Hoa nghiêm cho đến 100 bộ, hoằng pháp với tất cả sức lực của mình. Năm Đại đức thứ 6 (1302), sư vâng mệnh vua in hơn 30 bộ Đại tạng kinh bằng chữ Hà tây (Tây hạ) và Đại kinh Hoa nghiêm, Lương hoàng bảo sám, Hoa nghiêm đạo tràng sám nghi, mỗi thứ hơn 100 bộ ở chùa Đại vạn thọ; đường Hàng châu, đạo Triết tây, Giang nam, để tặng cho các chùa viện ở vùng Cam túc. Sư cũng in hơn 30 loại kinh chú như Càn đà, Bát nhã, Bạch tản cái... mỗi thứ hơn 1000 bộ bằng chữ Tây phiên (Tây Tạng) để ấn tống cho địa khu Tây tạng. Năm Đại đức thứ 10 (1306), sư khắc bổ túc tạng Tích sa hơn 1.000 quyển, bấy giờ, đem so sánh đối chiếu giáo tạng miền Bắc (bản chùa Hoằng pháp) với các bản giáo tạng miền Nam (Giang nam) thì thấy các bản giáo tạng miền Nam bị thiếu mất vài trăm quyển kinh luật luận thuộc tạng Bí mật, sư liền thành lập sở in kinh ở đường Hàng châu, rồi căn cứ theo bản chùa Hoằng pháp khắc in để bổ túc. [X. lời Bạt trong luận Chương sở tri; Anh ấn tốngTích sa tạng kinh tập đầu, phần 2; Nguyên đại Tùng giang phủ tăng lục Quản chủ bát Đại sư chi khắc tạng sự tích (Tiểu dã huyền diệu, Phật điển nghiên cứu 2, 13)].
quản giáo
To look after—To instruct—To take care of.
quản huyền giảng
Ống, dây, và giảng là ba thứ đi cùng với nhau trong nghi lễ bên Ấn Độ—Pipes, strings, and preaching, and accompanied service in India.
; (管弦講) Thổi sáo (quản), gảy đàn (huyền) để cúng dường Phật. Phong tục này đã có từ xưa ở Ấn Độ. Cứ theo kinh Trườnga hàm quyển 10 thì thần Chấp nhạc của trời Đế Thích là Ban già dực (Phạm:Paĩcazikha) đã đến động Đế thích ở Ma yết đà tấu đàn lưu li khen ngợi công đức của Như lai. Tại Nhật Bản, vào thời đại Bình An, Quản huyền giảng rất thịnh hành. [X. Thập huấn sao Q.3].
Quản Lãnh
(管領, Kanrei): tên gọi một chức quan dưới thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi), bổ tá cho Tướng Quân và tổng quản toàn bộ chính vụ của chính quyền Mạc Phủ, tương đương với người chấp quyền của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương. Ban đầu chức quan này được gọi là Chấp Sự (執事).
quản lý
To administer.
quản pháp thành
(管法成) Nhà tông giáo học và dịch kinh người Tây Tạng, sống vào đời Đường. Sư xuất thân trong gia đình quí tộc ở vùng Đạt Na (địa khu Nhật khách tắc) thuộc Hậu Tạng. Năm Thái hòa thứ 7 (833), sư đến chùa Vĩnh Khang ở Sa châu (Đôn Hoàng) chuyên việc dịch kinh. Sư lần lượt trụ các chùa Tu đa ở Cam châu (Trương dịch, Cam túc), chùa Khai nguyên ở Sa châu... Những kinh sách do sư dịch có 23 loại. Trong đó, từ chữ Hán dịch sang chữ Tây tạng có 14 loại, như kinh Kim quang tối thắng vương, Giải thâm mật kinh sớ... Từ tiếng Tây tạng dịch ra chữ Hán thì có 5 loại, như Bát nhã ba la mật đa tâm kinh, Chư tinh mẫu đà la ni kinh... Ngoài ra, các kinh sách do sư sao chép, giảng nói có 4 loại, như Đại thừa tứ pháp kinh luận cập Quảng thích khai quyết kí]. (xt. Pháp Thành).
quản thuộc tăng ni
(管屬僧尼) Chế độ quản lí tăng ni của triều đình Trung Quốc đời xưa. Cứ theo điều Quản thuộc tăng ni trong Đại tống tăng sử lược quyển trung, trong thời kì đầu Phật giáo truyền vào Trung Quốc, thì tăng ni đều do Hồng Lô tự của triều đình quản lí, đến đời Hậu Tần mới đặt ra Tăng quan, nhưng vẫn chưa có cơ cấu hoàn bị. Thời Nam Bắc triều bắt đầu thiết lập Quan thự, chuyên trông coi các công việc của Phật giáo. Thời Bắc Ngụy lập Giám phúc tào cai quản tăng ni trên khắp nước, sau đổi tên là Chiêu huyền tự (cũng gọi Chiêu huyền tào), đặt ra 1 vị Đại thống, 1 vị Thống, 3 vị Đô duy na, dưới đặt Công tào chủ bạ viên. Đại thống hoặc Thống thông thường gọi là Sa môn Đại thống, Chiêu huyền Đại thống, hoặc là Sa môn Thống, Chiêu huyền Thống. Đời Tùy đổi là Sùng huyền thự, đầu đời Đường trực thuộc Hồng Lô tự, sau lại đưa về Sùng huyền thự. Niên hiệu Diên tải năm đầu (694), Vũ tắc thiên ban sắc lệnh tăng ni toàn bộ trực thuộc Từ bộ. Đến năm Thiên bảo thứ 6 (747) lại ban lệnh cho tăng ni trực thuộc Lưỡng nhai công đức sứ, sau lại cho trực thuộc Từ bộ. Thời vua Hiếu tông, dưới Lưỡng nhai công đức sứ có thiết lập Tăng lục. Đến đời Ngũ đại và đời Tống, đại khái các cơ cấu và chức năng ấy vẫn tiếp tục được sử dụng. Đời Nguyên lập ra viện Tuyên chính để cai quản Tăng đồ và công việc Phật giáo ở Tây tạng, dưới Chánh sứ phải dùng tăng lữ làm Phó sứ. Đời Minh đặt ti Tăng lục bên cạnh chính phủ Trung ương tại kinh đô để thống lãnh Phật giáo trên toàn quốc, dưới đó, đặt ti Tăng cương ở các phủ, ti Tăng chính ở các châu và ti Tăng hội ở các huyện để trông coi công việc Phật giáo ở địa phương. Đời Thanh vẫn noi theo chế độ này.
quản thúc
To confine.
quản đắc
Being able to control.
Quản đắc 管得
[ja] カントク kantoku ||| To experience (reality) for oneself. => Kinh nghiệm thực tế của chính mình.
quản độc mộc
(管毒木) Ống sáo bằng thứ gỗ độc hại, là 1 trong những vật cầm tay của đồng nữ Thường Cù Lê. Có thuyết cho rằng Quản độc mộc là khúc gỗ hình 4 góc; có thuyết nói dùng thứ gỗ làm thành vật có hình dạng cái ống sáo; có thuyết cho rằng Quản độc mộc không phải là 1 khúc gỗ mà do nhiều khúc gỗ có chất độc hại bó lại thành một. Thướng cù lê là hóa thân củabồ tát Quán tự tại, trụ ở núi Hương túy; Ngài lấy việc tiêu phục các thứ độc hại làm bản thệ, không để cho các loài rồng độc, rắn độc xâm hại chúng sinh. (xt. Nhương Ngu Lí Đồng Nữ).
quảng
Vipula (S). Broad, wide, extensive, spacious; extended, enlarged, expanded.
; 1) Rộng rãi: Vipula (skt)—Broad—Wide—Extensive—Spacious—Extended—Enlarged—Expanded. 2) Vaipulya (skt)—See Phương Quảng.
quảng bá
To spread—To broadcast.
quảng bác
Wide and spacious, extensively read, very learned.
; Đọc nhiều học rộng—Wide and spacious, extensively read, very learned.
quảng bác nghiêm tịnh bất thoái chuyển luân kinh
(廣博嚴淨不退轉輪經) Cũng gọi Quảng bác Nghiêm tịnh kinh, Quảng bác nghiêm tịnh bất thoái chuyển kinh, Bất thoái chuyển pháp luân kinh, Bất thoái chuyển kinh. Kinh, 6 quyển, do Ngài Trí nghiêm dịch vào đờiLưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung kinh này tường thuật việc bồ tát Văn Thù Sư Lợi và tôn giả Xá Lợi Phất dùng sức thần thông đi đến các thế giới trong 10 phương cúng dường chư Phật, đồng thời, nhóm họp tất cả Bồ tát trở về Kì Viên thỉnh Phật chuyển pháp luân bất thoái. Đức Phật nhân dịp này nói những lời bí mật như La hán thành tựu ngũ nghịch, mãn túc ngũ dục, xa lìa chính kiến... đại chúng trong pháp hội đều kinh ngạc, hoài nghi, ngài Văn thù mới giải thích rõ chođại chúng được hiểu. Ngoài ra còn có những lời nói bí mật của các Bồ tát, lời Phật giải thích, kệ tán thán của Bồ tát...Kinh này có các bản dịch khác là: Kinh A duy việt trí già, kinh Bất thoái chuyển pháp luân. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].
Quảng bác nghiêm tịnh bất thối chuyển luân kinh 廣博嚴淨不退轉輪經
[ja] コウハクゴンジョウフタイテンリンキョウ kōhaku genjō futaitenrin kyō ||| Guangbo yanjing butuizhuanlun jing; 6 fasc., trans. Zhiyan 智嚴; T 268.9.254b-285c. cf. T 266, 267. => (c: Guangbo yanjing butuizhuanlun jing); 6 quyển. Trí Nghiêm (c: Zhiyan 智嚴) dịch.
quảng bác thân
The one whose body fills space, Vairocana.
; Một thân của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na bao trùm khắp cả hư không—The one body fills space, Vairocana.
quảng bác thân như lai
Vipulakāya-Tathāgata (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Đức Phật Tỳ Lô Giá Na—Vairocana Buddha.
; (廣博身如來) Phạm:Vipulakàya-tathàgata. Tên gọi khác của đức Đại nhật Như lai. Vì thân Phật rộng lớn trùm khắp pháp giới nên gọi là Quảng bác thân, tức chỉ cho đức Phật Tì lô Giá Na ở chính giữa trong 5 đức Như lai. Cứ theo kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni, nếu được nghe danh hiệu của đức Như lai Quảng bác thân thì có năng lực khiến cho nghiệp lửa trong cuống họng nhỏ như cây kim của các quỉ đói ngừng đốt, được mát mẻ thông suốt, có ăn uống thứ gì cũng đều được vị cam lộ ngon ngọt và no đủ như ý. [X. Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi; Bí tạng kí bản].
quảng bác tiên nhân
Vyaśa (S).
; (廣博仙人) Quảng bác, Phạm: Vyaøsa. Cũng gọi Tì da sa tiên nhân, Bà da sa tiên nhân, Tì a sa tiên nhân. Biệt hiệu của ông Bạt đa la diễn na (Phạm: Bàdaràyaịa), Tổ của phái Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta) trong 6 pháiTriết học ở Ấn Độ. Vyàsavốn có nghĩa là người biên tập, người chỉnh đốn, là từ gọi chung các nhà soạn thuật, biên tập ở Ấn Độ vào thời thái cổ, nay thì đặc biệt chỉ cho Quảng bác tiên nhân là người biên tập kinh điển Phệ đà, vì tác phẩm của ông là bất hủ nên ông còn được gọi là Thường trụ (Phạm: Sàzvata). Cứ theo truyền thuyết xưa của Ấn Độ thì Quảng Bác tiên nhân là con riêng của tiên Parasara do tư thông với vợ vua Satyavatìmà sinh ra. Vì ông được sinh ra trên1 hòn đảo nhỏ ở sông Yamunà nên đặt tên là Dvìpàyana (Đảo sinh); lại vì màu da ông đen kịt nên còn có tên là Kfwịa (Hắc ám). Sau, Quảng bác muốn xuất gia, nhưng theo phép nước, việc ấy phải do mẹ ông đồng ý mới được, bởi vậy, Quảng bác bỏ ý định xuất gia và cưới 2 góa phụ làm vợ. Còn theo sách Phú lan na (Phạm: Puràịa) thì Quảng bác tiên nhân là do Tì nữu thiên (Phạm: Viwịu) hoặc Phạm thiên (Phạm: Brahmà) hóa hiện ra để biên soạn kinh Phệ đà, đồng thời, Phú lan na có ghi sự tích của 28 vị Quảng bác tiên nhân. Lại vì tác giả của Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), 1 trong 2 Đại sử thi của Ấn độ, của sách Phú lan na (Phạm: Puràịa) và của Pháp luận (Phạm: Dharma-sàstra) đều kí tên làSàzvata. Như vậy, Sàzvata, tức là Quảng bác tiên nhân – người biên tập kinh điển Phệ đà ở trên–vàSàsvata, tác giả của Ma ha bà la đa, Phú lan na và Pháp luận, là cùng 1 người hay khác nhau? Vấn đề này, cho đến nay, vẫn không được rõ. [X. kinh Đại bảo tích Q.49; Pháp hoa kinh văn cú Q.9, thượng; Niết bàn kinh nghĩa kí Q.6; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.21; A Classical dictionary of Hindu mythology byJ. Dowson].
quảng bách luận
Śata-ṣāstra vaipulya (S)Tên một bộ luận kinh.
quảng bách luận bản
Śataśāstravaipulya (S)Tên một bộ luận kinh.
; Satasàstravaipulya (S).
; (廣百論本) Cũng gọi Tứ bách luận tụng, Quảng bách luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thánh Thiên (Đề Bà) soạn vào thế kỉ thứ III, ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Luận này gồm có 200 bài kệ tụng theo thể 5 chữ. Nội dung chia làm 8 phẩm: Phá thường, Phá ngã, Phá thời, Phá kiến, Phá căn cảnh, Phá biên chấp, Phá hữu vi tướng và Giáo giới đệ tử. Lập trường chủ yếu của luận này là phá trừ vọng chấp của ngoại đạo và Tiểu thừa cho rằng các pháp là có thật, đồng thời, thuyết minh lí chân không vô ngã. Ngài Thánh Thiên còn soạn Bách luận và Bách tự luận. Bộ Bách luận do ngài Cưu Ma La Thập dịch, là sách cương yếu của Quảng bách luận bản. Còn Bách tự luận thì do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch, là sách cương yếu của bộ Bách luận. Bản tiếng Phạm của luận này gọi là Tứ bách luận tụng, bản Hán dịch là nữa sau của nguyên văn 400 bài tụng, 16 phẩm, vì so sánh với Bách luận nên gọi luận này là Quảng Bách luận. Ngài Hộ pháp chú thích luận này thành là Quảng bách luận thích luận.Ngoài ra, Trung luận chú (Prasannapadà) bằng tiếng Phạm của ngài Nguyệt xứng (Phạm: Chandrakìrti) và các bản Hán dịch Trung luận, luận Thuận trung, luận Phật thích, luận Bát nhã đăng, luận Nhập đại thừa, luận Thành thực, Đại thừa trung quán thích luận... đều có dẫn dụng thuyết của Tứ bách luận, do đó mà biết Tứ bách luận đã lưu truyền rất rộng. [X. Đại đường tây vực kí Q.5; Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4].
quảng bách luận bổn
Catuḥśataka (S)Bách Luận, Tứ Bách tánTức quyển Bách Luận do Bồ tát Thánh Thiên sáng tác.
Quảng bách luận bổn 廣百論本
[ja] コウヒャクロンホン kōhyaku ron bon ||| Guangbailun ben; 1 fasc., by Āryadeva 聖天, trans. Xuanzang 玄奘T 1570.29.182a-187a. See above 廣百論. => (c: Guangbailun ben); 1 quyển; của Thánh Thiên (s: Āryadeva 聖天), Huyền Trang (c: Xuanzang 玄奘 dịch.
quảng bách luận thích luận
(廣百論釋論) Cũng gọi Đại thừa quảng bách luận thích luận, Quảng bách luận, Quảng bách luận thích. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Hộ pháp soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Đây là sách chú thích Quảng bách luận bản của ngài Thánh Thiên. Nội dung chia làm 8 phẩm, mỗi phẩm có 25 bài kệ tụng, tổng cộng gồm 200 bài kệ tụng, chủ yếu là phá sự mê chấp của ngoại đạo, Tiểu thừa cho các pháp là có thật, khiến chứng ngã, pháp đều không và hiển bày nghĩa Trung đạo chân không vô ngã. Ngài Thánh thiên (Phạm: Kàịa- deva) là Đại sư của phái Trung quán, còn ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla) là Đại sư của phái Duy thức. Thông thường, người đời sau đều cho rằng giáo pháp của 2 hệ thống Trung quán và Du già là Không và Hữu đối lập nhau, như vậy, về mặt bản chất có cái gì đó không ổn. Nhưng, sự xuất hiện của bộ Quảng bách luận thích luận này đã chứng minh rằng giáo pháp của 2 hệ đã giúp nhau và bổ sung cho nhau. Trong luận này, ngài Hộ pháp chẳng những nói Chân Đế không của Trung quán, mà còn nói Tục đế hữu của Duy thức, cho nên sách này đã do dung hòa 2 học phái mà hình thành. Sách chú thích luận này có nhiều, nhưng hiện chỉ còn quyển 1 của Quảng bách luận sớ (vốn 10 quyển) do ngài Văn Quĩ soạn vào đời Đường. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
Quảng bách luận 廣百論
[ja] コウヒャクロン Kōhyaku ron ||| Guangbai lun; the Catuhśataka-śāstra-kārikā. An expanded version of the Bai lun 百論 (T 1569), for which there are two entries in Taishō. One is the 大乘廣百論本, 1 fasc. by Āryadeva 聖天, trans. by Xuanzang 玄奘, T 1570.29.182a-187a. The other, Dasheng guangbai lun shīun 大乘廣百論釋論 is an explication of the same text by Dharmapāla 護法 , 10 fasc., trans. Xuanzang 玄奘 , T 1571.30.187a-250b. => (c: Guangbai lun; s: Catuhśataka-śāstra-kārikā). Bản khai triển của Bách luận (c: Bai lun 百論). Có hai bản trong Đại chính tân tu Đại tạng kinh; một là Đại thừa quảng bách luận bổn; một quyển, của Thánh Thiên, Huyền Trang dịch. Bản kia là Đại thừa quảng bách luận thích luận, là bản giải thích luận trên của Hộ Pháp; gồm 10 quyển; Huyền Trang dịch.
quảng chiếu huệ giác thiền sư
Zen Master Kuang-Zhao-Hui-Jue—Thiền sư Quảng Chiếu, quê ở Tây Lạc, là đệ tử của Thiền sư Phần Dương. Cha làm Thái Thú Hoành Dương (nay là một thành phố thuộc miền nam tỉnh Hồ Nam), rồi mất ở đó, sư phò linh cửu cha về xứ. Sau khi mai táng cha xong, ông đã xuất gia tại chùa Dược Sơn—Zen master Kuang-Zhao-Hui-Jue, came from Xi-Luo, was a disciple of Fan-Yang. His father was a governor of Heng-Yang (a city in southern Hunan Province) . His father died there, and Kuang-Zhao, fulfilling his filial obligation, carried his father's casket back to their native home. After burying his father, he left home to become a monk at Yueh-Shan Temple. • Một vị Tăng hỏi sư: “Cái gì là Phật?” Sư đáp: “Đầu đồng, trán sắt.” Vị Tăng hỏi: “Là nghĩa gì?” Sư đáp: “Chim mỗ, cá vẫy vùng.”—A monk asked Kuang-Zhao: “What is Buddha?” Kuang-Zhao said: “Copper head, iron forehead.” The monk said: “What does that mean?” Kuang-Zhao said: “Bird beak, fish gills.” • Vị Tăng hỏi: “Sen là cái gì trước khi trồi lên mặt nước?” Sư đáp: “Mèo đội nón giấy.” Một người lại hỏi: “Sau khi sen trồi khỏi nước là cái gì?” Sư đáp: “Chó thấy roi là chạy.”—A monk asked: “How is it before the lotus comes out of the water?” Kuang-Zhao said: “The cat wears a paper hat.” The person asked: “How about after the lotus comes out of the water?” Kuang-Zhao said: “The dog runs when it sees the whip.” • Một hôm sư thượng đường dạy chúng: “Thấy, nghe, hiểu biết đều là nhơn sanh tử. Thấy nghe hiểu biết chính là gốc giải thoát. Thí như sư tử nhào lộn không nhất định đứng ở Nam Bắc Đông Tây. Cả thảy các ngươi nếu là chẳng biết, đâu những cô phụ ông già Thích Ca—One day, Kuang-Zhao entered the hall and addressed the monks, saying: “Hearing about enlightenment and wisdom, these are the cause of life and death. Hearing about enlightenment and wisdom, that itself is the root of liberation. It's as if a lion were staggering around in every direction with no place to live. If you don't understand, don't let yourself forsake old Sakyamuni! Hey!”
quảng cáo
To advertise—To make something public.
quảng giám anh
Kuang chien Ying (C).
quảng giáo
Full or detailed teaching by the Buddha about the duties of the order, in contrast with lược gi o general or summerized teaching; the detailed teaching resulting from errors which had crept in among his disciples.
; Quảng Giáo là giai đoạn mà Đức Phật nói rộng về giới luật cho giáo đoàn của Ngài, Ngài dạy bảo nhất nhất đều phải tuân theo giới luật, đối lại với “Lược Giáo” hay giai đoạn 12 năm đầu sau khi Phật thành đạo, Ngài chỉ nói một cách tóm lược về giáo pháp của Ngài như “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo,” cũng như những phép tu hành cho đệ tử. Tuy nhiên, có quá nhiều người làm sai trái, nên Đức Phật bèn nói “Quảng Giáo”—Full or detailed teaching by the Buddha about the duties of the order, in contrast with general or summarized teaching; the detailed teaching resulting from errors which had crept in among his disciples.
; (廣教) Giáo pháp rộng rãi đầy đủ. Lời dạy của đức Phật về giới luật được chia làm Quảng giáo và Lược giáo. Khoảng 12 năm đầu, sau khi đức Phật thành đạo, đại chúng đều thanh tịnh, không có ai phạm lỗi, nên đức Phật chưa chế giới, Ngài chỉ dạy: Chớ làm các điều ác... Hành pháp răn dạy các đệ tử như vậy, gọi là Lược giáo, cũng gọi là Lược giới. Sau 12 năm, trong hàng ngũ đệ tử số người trái phạm giới dần dần thêm nhiều, nên Phật phải nói rộng về giới luật, chỉ ra những lỗi lầm của từng giới một, gọi là Quảng giáo hay là Quảng giới.
quảng hiệp
Rộng và hẹp—Broad and narrow.
quảng hiệp tự tại vô ngại môn
(廣狹自在無礙門) Cũng gọi: Chư tạng thuần tạp cụ đức môn (cách gọi của Cổ thập huyền môn). Môn thứ 2 trong Tân thập huyền môn của tông Hoa nghiêm. Môn này là nói theo không gian. Quảng (rộng) là chỉ cho lực dụng của 1 hạt bụi, 1 pháp lan tràn tất cả không có giới hạn. Hiệp (hẹp) chỉ cho 1 có khả năng bao nhiếp tất cả mà không mất bản vị của nó, biểu hiện tướng sai biệt. Bởi thế hiệp có khả năng bao chứa quảng một cách tự tại vô ngại, như tấm gương 1 thước hiện bóng nghìn dặm, gương là hiệp, nghìn dặm là quảng; lại như mắt là hiệp, có thể thấy ngoại cảnh từ xa là quảng. Mục đích của môn Quảnghiệptự tại vô ngại này là hiển bày cảnh giới sự sự vô ngại để phá trừ sự chấp trước của chúng sinh đối với các pháp như Lục độ... và trừ diệt sự ngờ vực của chúng sinh về sự rộng hẹp vô ngại của các pháp trong 1 niệm. Trong Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn do ngàiTrí Nghiễm, Tổ thứ 2 của tong Hoa nghiêm soạn có lập môn thứ 6 là Chư tạng thuần tạp cụ đức môn, đây là nói theo Thí môn, vì các độ đều không bao nhiếp Thí môn, nên gọi là Thuần; trong Thí môn có đầy đủ các độ thì gọi là Tạp, đó là thuần và tạp dung hòa vào nhau mà không ngăn ngại nhau. Về sau, trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 do ngài Pháp tạng, Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm,thì Chư tạng thuần tạp cụ đức môn được đổi thành Quảng hiệp tự tại vô ngại môn, về thứ tự cũng đổi từ vị thứ 6 thành vị thứ 2. [X. phẩm Thập định kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển); phẩm Nhập pháp giới; Hoa nghiêm huyền đàm Q.6]. (xt. Thập Huyền Môn).
quảng hoằng minh tập
(廣弘明集) Tác phẩm, 30 quyển, do Luật sư Đạo Tuyên (596-667) soạn vào niên hiệu Lân đức năm đầu (644) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Ngài Đạo Tuyên trứ tác rất nhiều, được khen là Luật sư Tăng hựu đời Lương tái sinh. Tác phẩm này và Tập cổ kim Phật đạo luận hành 4 quyển đều là những điển tịch quan trọng của Phật giáo. Bộ Hoằng minh tập đời Lương (do ngài Tăng Hựu soạn) thu chép những nhà hộ pháp từ đời Đông Tấn đến Tống, Tề, Lương; còn Quảng hoằng minh tập là tác phẩm thu chép hơn 130 vị từ thời Lục triều đến đời Đường. Sách này tuy là Tục biên của Hoằng minh tập, nhưng vì nội dung trình bày hơi khác nên không gọi Tục mà gọi Quảng, ghi chép sự hưng phế của Phật giáo qua các triều đại từ khi truyền vào Trung quốc cho đến đầu đời Đường; các cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo, sự bàn thảo về nghĩa lí của Phật giáo... Mỗi khi gặp các vấn đề liên quan đến ngoại điển thì tác giả thường nêu ra những luận thuyết, văn thư, thi phú, chiếu lục... tư liệu rất phong phú để so sánh. Toàn sách gồm 296 thiên chia làm 10 loại; Qui chính, Biện hoặc, Phật đức, Pháp nghĩa, Tăng hạnh, Từ tế, Giới công, Khải phúc, Hối tội và Thống qui. Những bản văn đơn lẻ, truyện kí rời rạc rất dễ bị thất lạc xưa nay, may mắn được sách này gom chép lại mới còn truyền đến đời sau. Đây là tư liệu cực kì quí giá. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.20; Tống cao tăng truyện Q.14].
Quảng hoằng minh tập 廣弘明集
[ja] コウグミョウシュウ kō gumyō shū ||| Guang hongming ji; 30 fasc., by Daoxuan 道宣. T 2103.52.97-363. => (c: Guang hongming ji); 30 quyển, của Đạo Tuyên (c: Daoxuan 道宣).
quảng huệ
Vipulaprajna (skt)—See Quảng Tuệ.
Quảng Huệ Nguyên Liên
(廣慧元漣[蓮 hay 璉], Kōe Genren, 951-1036): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Huyện Tấn Giang (晋江縣), Phủ Tuyền Châu (泉州府), Tỉnh Phúc Kiến (福建省), họ là Trần (陳). Năm lên 15 tuổi, ông đến xuất gia tại Báo Cúc Viện (報劬院), sau đi khắp nơi tham vấn hơn 50 vị lão túc, và cuối cùng đại ngộ với Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念). Vào năm đầu (1004) niên hiệu Cảnh Đức (景德), ông đến trú tại Quảng Huệ Viện (廣慧院) thuộc vùng Nhữ Châu (汝州). Chính trong thời gian này, Vương Tham Chính Thư (王參政書), Hứa Lang Trung Thức (許郎中式), Thị Lang Dương Ức (侍郎楊億), v.v., có đến tham học với ông. Vào ngày 26 tháng 9 năm thứ 3 niên hiệu Cảnh Hựu (景祐), ông thị tịch, hưởng thọ 86 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Chơn Tuệ Thiền Sư (眞慧禪師).
quảng huệ thanh văn
(廣慧聲聞) Cũng gọi Quảng huệ thanh văn. Chỉ cho bậc A la hán xa lìa phiền não chướng và giải thoát chướng, được định, tuệ tự tại, như các tôn giả Xá lợi phất, Mục kiền liên... Luận Du già sư địa quyển 65 (Đại 30, 663 thượng) nói: Hoặc Bồ tát tu hành Tì bát xá na chưa đượctự tạivà hàng Quảng tuệ thanh văn, hoặc các bậc Hữu học, hoặc A la hán, các bậc ấy tác ý thiện đối với cõi Vô sắc thì cũng duyên với tất cả pháp ở cõi dưới. Thànhduy thức luận thuật kí quyển 7 phần đầu (Đại 43, 481 thượng) nói: Các bồ tát Thập địa, Quảng huệ thanh văn, cùng với Độc giác cũng đều được vô lậu thuần tịnh.
Quảng Hàn Cung
(廣寒宮): trong tác phẩm Long Thành Lục (龍城錄), phần Minh Hoàng Mộng Du Quảng Hàn Cung (明皇夢游廣寒宮), của Liễu Tông Nguyên (柳宗元, 773-819) nhà Đường cho biết rằng tương truyền vào ngày Rằm tháng 8, khi vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường ngao du trên mặt trăng, chợt thấy một cung phủ lớn, có tấm bảng ghi là: “quảng hàn thanh hư chi phủ (廣寒清虛之府, phủ lạnh lẽo trống không).” Về sau, người ta gọi cung tiên trên mặt trăng là Quảng Hàn Cung. Như trong bài thơ Túc Thủy Đình (宿水亭) của Bảo Dung (鮑溶, ?-?) nhà Đường có câu: “Dạ thâm tinh nguyệt bạn Phù Dung, như tại Quảng Hàn Cung lí túc (夜深星月伴芙蓉、如在廣寒宮裏宿, trăng sao đêm nữa bạn hoa sen, như ở Cung Quảng Hàn tá túc).” Hay trong tác phẩm Liêu Trai Chí Dị (聊齋志异), chương Bạch Vu Ngọc (白于玉), của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh, lại có đoạn: “Đồng đạo nhập Quảng Hàn Cung, nội dĩ thủy tinh vi giai, hành nhân như tại kính trung (童導入廣寒宮、內以水晶爲階、行人如在鏡中, đồng đạo vào Cung Quảng Hàn, bên trong lấy thủy tinh làm bực thềm, người đi như ở trong kính).” Hoặc trong Thiền Tông Tạp Hải Độc (禪宗雜毒海, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 8, phần Sơn Cư (山居), lại có bài thơ rằng: “Thảo đường thu tợ Quảng Hàn Cung, kim sắc hoa khai bích ngọc tùng, tọa cửu bất tri phàm cốt hoán, thiên hương thanh tán nguyệt minh trung (草堂秋似廣寒宮、金色花開碧玉叢、坐久不知凡骨換、天香清散月明中, nhà tranh thu tựa Quảng Hàn Cung, hoa nở sắc vàng ngọc biếc tùng, chẳng biết ngồi lâu phàm cốt đổi, hương trời tỏa ngát trăng sáng trong).”
quảng hương
Tên một ngôi già lam nổi tiếng trong quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Trí Thủ xây năm 1958. Đây là chi nhánh của Phật Học Viện Nha Trang. Bên phải Chánh điện có đại hồng chung nặng 330 kí lô, đúc tại Phật Học Viện Nha Trang năm 1966. Trên chuông có khắc bài văn ghi lại lịch sử của chùa mà Hòa Thượng Trí Thủ đã ghi lại vào ngày 31 tháng 3 năm 1966—Name of a famous pagoda in Gò Vấp district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1958 by Most venerable Trí Thủ. It has been the school of basic Buddhist Studies for Monk students. A 330 kilogram great bell cast at Nha Trang Institute of Buddhist Studies in 1966 is hung on the right of the Main Hall. On the bell there is a text written by Most Venerable Trí Thủ on March 31, 1966, telling us the history of the monastery. On the right, in the back of the monastery, stands a stupa and stele commemorating Most Venerable Trí Thủ.
quảng hạnh
Great deed—Vast deed—Extensive deed.
Quảng Học Thụ Nghĩa
(廣學竪義, Kōgakuryūgi): gọi chung là Thụ Nghĩa (竪義, ryūgi), còn gọi là Lập Nghĩa (立義), từ dùng cho các vị tăng nêu ra những kiến giải của mình về kinh điển trong các pháp hội thuyết giảng. Những vị tăng học thức trãi qua một thời gian lâu dài nghiên cứu giáo lý Phật Giáo, được gọi là Thụ Giả (竪者, người đứng trên kiến giải của mình để đối đáp những chất vấn của người khác). Thông qua mấy lần đối đáp thông suốt các chất vấn của những bậc học tượng nổi danh trong pháp hội, hội đồng sẽ quyết đinh chọn ra người có kiến thức uyên bác về Phật Giáo để làm học tượng sau này. Ở vùng Nam Đô thì nó được gọi là Nghiên Học Thụ Nghĩa (研學竪義, Kengakuryūgi) và Bắc Lãnh là Quảng Học Thụ Nghĩa; cả hai đều là các tổ chức học vấn nổi tiếng đương thời.
quảng hữu tự
(廣祐寺) Cũng gọi Bạch tháp tự. Chùa ở phía ngoài cửa Tây, thành Liêu Dương, Liêu ninh, được sáng lập vào đời Kim (1115-1234). Vào năm Thiên thông thứ 9 ( 1635), vua Thái tông nhà Thanh trùng tu, thờ pho tượng Phật mà tương truyền do đời trước dân làng đến Quảng ninh buôn bán, giữa đường gặp 1 đồng tử nhờ họ đưa đến chùa Quảng hựu, khi đến nơi thì đồng tử ấy hóa thành 1 tượng Phật bằng vàng. Khu vực chùa này rất rộng, phía trước chùa núi non trùng điệp, phong cảnh rất đẹp, nhờ đó mà chùa nổi tiếng. Sau vì mở đường sắt nên chùa bị phá hủy. Nay chỉ còn 1 ngôi tháp trắng 8 góc 13 mái và 2 pho tượng Phật.
quảng kết thiện duyên
To strengthen affinity with others.
Quảng Long Tự
(廣隆寺, Kōryū-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Ngự Thất (御室派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Sakyō-ku (右京區), Kyōto-to (京都市), Kyōto-fu (京都府); còn gọi là Phong Cang Tự (蜂岡寺), Thái Tần Tự (太秦寺), Tần Tự (秦寺), Tần Công Tự (秦公寺), Cát Dã Tự (葛野寺); hiệu núi là Phong Cang Sơn (蜂岡山). Ở vùng này, vào thời đại Ứng Thần Thiên Hoàng (應神天皇), con cháu của vua Tần Thủy Hoàng cũng như những người di dân từ Vương Quốc Bách Tế (百濟, Kudara) bên Triều Tiên sang đã làm cho hưng thạnh sản nghiệp, và đây cũng là nơi di thực nền văn minh từ vùng Đại Lục Trung Hoa vậy. Trong số những người dân đến đây có người hậu duệ của nhà họ Tần là Tần Hà Thắng (秦河勝). Tương truyền vị này nhân để an trí tượng Phật mà được Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtōku Taishi) ban tặng vào năm 604, cũng như các tượng Phật do hai nước Tân La (新羅) và Nhậm Na (任那) ban tặng, đã tạo lập nên ngôi chùa này nơi vùng đất nhà họ Tần. Sau đó, vào năm 810 và 1150 thì chùa bị cháy tan tành, nhưng cũng đã được tái kiến lại mấy lần. Chùa này vốn là chùa của dòng họ Tần, là ngôi chùa tối cổ ở vùng Kinh Đô Kyoto, là một trong bảy ngôi chùa có liên quan đến hành trạng của Thái Tử, bên cạnh Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), Tứ Thiên Vương Tự (四天王寺, Shitennō-ji). Quần thể kiến trúc hiện tại có Giảng Đường là kiến trúc được tái kiến dưới thời Bình An. Trong tòa nhà này ở chính giữa thờ tượng ngồi A Di Đà Phật bằng gỗ, bên phải có tượng Địa Tạng Bồ Tát, bên trái có tượng Hư Không Tạng Bồ Tát (虛空藏菩薩), phía đằng sau hai bên phải trái lại có an trí hai tượng Bất Không Quyên Sách Quan Âm (不空羂索觀音), Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音). Còn Chánh Điện Quế Cung Viện (桂宮院) là kiến trúc ảnh hưởng phong trào tín ngưỡng Thái Tử vào thời Liêm Thương, được xây dựng dưới hình thức Mộng Điện, nhà hình tròn bát giác. Trong điện thờ tượng ngồi bán già Như Ý Luân Quan Âm (如意輪觀音) bằng gỗ. Thượng Cung Vương Viện Thái Tử Điện (上宮王院太子殿) lại là Chánh Điện chính của chùa, thờ tượng Thánh Đức Thái Tử ngồi bán già. Linh Bảo Điện (靈寶殿) là nơi tàng trữ những vật báu của chùa ngang tầm cỡ quốc bảo. Bảo vật của chùa có tượng Bồ Tát Di Lặc ngồi bán già, bằng gỗ; tượng ngồi A Di Đà Như Lai, bằng gỗ; tượng đứng Bất Không Quyên Sách Quan Âm, bằng gỗ; tượng đứng Thiên Thủ Quan Âm, bằng gỗ; tượng đứng Thập Nhị Thần Tướng, bằng gỗ; Chánh Điện Quế Cung Viện, v.v.
Quảng luận 廣論
[ja] コウロン Kōron ||| Guanglun; see 廣百論. => (c: Guanglun); Xem Quảng bách luận廣百論.
quảng luật
(廣律) Cũng gọi Quảng giáo. Chỉ cho luật nghi có nội dung rõ ràng đầy đủ, là những khuôn phép sinh hoạt của Tỉ Khưu và Tỉ Khưu Ni. Sau khi đức Phật thành đạo 12 năm thì trong hàng ngũ đệ tử số người phạm lỗi dần dần thêm nhiều, nên Phật đã căn cứ vào những giới luật cần phải giữ gìn mà nói rộng từng giới một, tạng Luật ghi chép duyên do của mỗi giới và nói rõ các giới một cách chi tiết này, gọi là Quảng luật. Các bản Hán dịch có 5 loại là luật Tứ phần, luật Thập tụng, luật Ma ha tăng kì, luật Ngũ phần và luật Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ. Quảng luật nói chung bao gồm 3 bộ phận: 1. Ngũ thiên nhất tụ: Nói rõ nguyên do hình thành các giới cấm và những qui tắc xử phạt. 2. Kiền độ: Những qui định cụ thể về những lễ nghi sinh hoạt hằng ngày của tăng ni. 3. Những điều mục phụ thuộc: Trong đó, những giới điều được nói trong phần 1, gọi là Giới bản (Phạm: Pràtimokwa, Hán âm: Ba la đề mộc xoa). Trong 5 bộ Luật tạng, Ca diếp di bộ chỉ truyền Giới bản, chứ không truyền dịch Quảng luật. Phật giáo Nam truyền thì truyền Quảng luật bằng tiếngPàli. [X. Luật tông trong Bát tông cương yếu].
quảng lược bản tôn
(廣略本尊) Chỉ cho hình thức thờ phụng Bản tôn của tông Nhật Liên, Nhật Bản. Hình thức Bản tôn của tông này có 2 loại: Mạn đồ la khắc tượng gỗ và Mạn đồ la vẽ chữ, hợp lại gọi chung là Mộc họa bản tôn. Mỗi loại Mộc đồ la bản tôn lại có 2 hình thức Quảng và Lược. Hình thức Quảng của Mạn đồ la bản tôn vẽ chữ tức là Thập giới khuyến thỉnh đại mạn đồ la, còn hình thức Lược thì chỉ cho đề kinh của kinh Diệu pháp liên hoa. Về Bản tôn của Mạn đồ la khắc tượng gỗ thì hình thức Quảng là các vị tôn đã nói trong Thập giới khuyến thỉnh đại mạn đồ la, mỗi vị tôn đều khắc tượng gỗ. Còn hình thức Lược thì khắc tượng gỗ 1 đức Phật Thích ca, hoặc Phật Thích ca và 4 vị Bản hóa bồ tát:Thượng hành, Vô biên hành, Tịnh hành, An lập hành (Nhất tôn tứ sĩ), hoặc Phật Thích ca, Phật Đa bảo, và 4 Bồ tát bản hóa (Nhị tôn tứ sĩ) làm Bản tôn. Phân biệt Quảng và Lược là ứng theo cơ duyên mà có hình dung sai khác, chứ thực ra thì chỉ có Bản tôn của Bản môn duy nhất mà thôi. (xt. Bản Tôn).
quảng lược tương nhập
(廣略相入) Môn Quảng và môn lược tức là nhau, hòa vào nhau. Gom hết 84 nghìn pháp môn của đức Phật dạy, rồi chỉ rõ các tướng sai khác của các pháp, như thế gọi là môn Quảng (nói rộng ra). Còn hiển bày cái lí bình đẳng của tướng sai biệt này, thì gọi là môn Lược (nói vắn tắt lại). Hai môn dung thông nhau thì gọi là Tướng nhập, như các sự tướng trang nghiêm của thế giới Cực lạc và lí thể chân như không hình tướng là 1 thể dung nạp lẫn nhau. Cứ theo kinh Đại phẩm bát nhã quyển 21, Bồ tát tu học Lục ba la mật theo 2 tướng Quảng và Lược thì phải biết tướng Quảng và Lược của tất cả pháp. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 841 trung) nói: Vì sao thị hiện quảng lược tương nhập? Vì chư Phật, Bồ tát có 2 loại pháp thân: Một là Pháp tính pháp thân, hai là Phương tiện pháp thân. Từ pháp tính pháp thân sinh ra Phương tiện pháp thân; từ phương tiện pháp thân sinh ra Pháp tính pháp thân; 2 pháp thân này tuy khác nhưng không thể tách rời nhau, 1 mà chẳng đồng nhau; vì thế nên quảng lược tương nhập, tên thống nhất của các pháp. Nếu Bồ tát không biết quảng lược tương nhập thì không thể tự lợi lợi tha. [X. kinh Nguyệt đăng tam muội Q.8; luận Vãng sinh; luận Đại trí độ Q.82; Vãng sinh luận chú kí Q.5].
quảng lược yếu
(廣略要) Từ gọi chung Quảng, Lược,Yếu, 1 trong những phương pháp giải thích rõ các điểm cốt yếu của kinh luận. Đề cập đến toàn bộ gọi là Quảng, rút gọn 1 phần gọi là Lược, trích ra những chỗ chủ chốt gọi là Yếu. 1. Trong Vãng sinh yếu tập lược liệu giản của mình, ngài Nguyên Không, vị tăng người Nhật Bản, đã dùng phương pháp Quảng lược yếu để giải thích Vãng sinh yếu tập của ngài Nguyên Tín. Trong đó, Quảng tức là dùng ý của toàn bộ văn chương để nói rõ việc quán tưởng Phật; Lược tức là lấy việc niệm Phật làm chính nghiệp và lấy các hạnh tu khác làm trợ duyên kiêm tu; còn Yếu tức là khuyên tu 1 hạnh niệm Phật. 2. Tông Nhật liên của Nhật bản, khi thuyết minh văn kinh và tu hành cũng lập Quảng lược yếu khác nhau. Về văn kinh thì toàn thể 8 quyển kinh Pháp hoa là Quảng, phẩm Phương tiện và phẩm Thọ lượng là Lược, còn tên kinh là Yếu, trong đó chỉ lấy yếu mà bỏ quảng và lược. Còn về tu hành thì phải chú ý cả 3mặt quảng lược yếu của văn kinh. [X. Pháp hoa thủ yếu sao; Tổ thư cương yếu san lược Q.2].
quảng lượng
Generosity.
quảng lợi tự
Kōri-ji (J)Tên một ngôi chùa.
quảng lục độ hành
(廣六度行) Cũng gọi Lục đức hạnh. Rộng tu hạnh Lục độ. Bồ tát phải rộng tu hạnh Lục độ mới có thể hoằng dương pháp nghĩa. Cứ theo kinh Thành cụ quang minh định ý thì Quảng lục độ hạnh gồm: 1. Quảng thí: Bồ tát có tâm rộng lớn, biết rõ thân này và tất cả của cải đều vô ngã, vô thường, cho nên sẵn sàng bố thí hết thảy mà không luyến tiếc, vướng mắc; lại có thể mở rộng pháp thí để khai hóa chúng sinh mê muội. 2. Quảng giới: Bồ tát kiên trì tuân thủ các giới luật để giữ cho 3 nghiệp thân, khẩu ý, được thanh tịnh, lại khuyến hóa người khác để mở rộng giới pháp. 3. Quảng nhẫn: Đối với tất cả cảnh trái ý, Bồ tát đều có thể chịu đựng, xem các cảnh ác như không có nên không sinh tâm giận tức; đồng thời, cũng giáo hóa chúng sinh cũng tu hạnh nhẫn nại. 4. Quảng tinh tiến: Bồ tát tinh tiến tu trì, không biếng nhác, ăn uống ngủ nghỉ đều có điều độ, không thái quá, không bất cập, không ngại khó nhọc nói các pháp yếu để mở mang sự tối tăm của mọi người và khuyến hóa tất cả đều tinh tiến. 5. Quảng nhất tâm: Lúc Bồ tát tu thiền định, thường nhất tâm tịch lặng, không tán loạn, trong tất cả thời gian nơi chốn đều có khả năng chuyên chú 1 lòng, không lay động và giáo hóa chúng sinh cũng tu hạnh như thế. 6. Quảng trí tuệ: Bồ tát dùng trí tuệ soi rõ tất cả, tuy ở trong cảnh 5 trược ác nhưng tâm kiên cố không mất, dứt hẳn vọng tưởng trong 3 cõi mà chứng Niết bàn; cũng giáo hóa chúng sinh cùng tu trí tuệ.
Quảng Mục Thiên
(s: Virūpākṣa, p: Virūpakkha, 廣目天): âm dịch là Tỷ Lựu Ba A Xoa (鼻溜波阿叉), Bễ Lộ Ba Ha Ngật Xoa (髀路波呵迄叉), Tỳ Lâu Bà Xoa (毘樓婆叉), Tỳ Rô Bác Xoa (毘嚕博叉); còn gọi là Ác Nhãn Thiên (惡眼天), Xú Mục Thiên (醜目天), Tạp Ngữ Chủ Thiên (雜語主天), Phi Hảo Báo Thiên (非好報天); là một trong 4 vị Thiên Vương, một trong 12 vị trời, một trong 16 vị thiện thần. Vị này trú tại lưng chừng phía Tây Tu Di Sơn; thường lấy con mắt trời thanh tịnh để quán sát chúng sanh cõi Diêm Phù Đề, là vị thiện thần hộ pháp ở phương Tây; nên có tên là Tây Phương Thiên (西方天); chuyên xét xử trừng phạt người ác, khiến cho họ sanh khởi đạo tâm. Vị trời này cũng là chủ của các loài rồng. Trong Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Kinh (佛母大孔雀明王經, Taishō Vol. 19, No. 982) quyển Thượng cho biết rằng: “Thử Tây phương hữu đại Thiên Vương, danh viết Quảng Mục, thị đại long chủ; dĩ vô lượng bách thiên chư long nhi vi quyến thuộc, thủ hộ Tây phương (此西方有大天王、名曰廣目、是大龍主、以無量百千諸龍而爲眷屬、守護西方, phương Tây này có vị Thiên Vương lớn, tên là Quảng Mục, là chủ của con rồng lớn; lấy vô lượng trăm ngàn các loài rồng làm quyến thuôc, giữ gìn phương Tây).” Về hình tượng của vị trời này, các thuyết không giống nhau. Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 11 giải thích rằng thân của Tỳ Rô Bác Xoa dài một khuỷu tay, mang các loại y khác nhau, trang sức vô cùng tinh xảo, kỳ diệu, tương xứng với thân; tay trái duỗi ra cầm cây giáo, tay phải cầm dây thừng màu đỏ. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Tripitaka Vol. 19, No. 926) cho biết thêm rằng: “Tây phương Quảng Mục Đại Thiên Vương, kỳ thân hồng sắc chấp quyến sách, thủ hộ bát Phật Tây phương môn (西方廣目大天王、其身紅色執罥索、守護八佛西方門, Quảng Mục Đại Thiên Vương ở phương Tây, thân màu hồng cầm cây roi, giữ gìn tám Phật cửa phía Tây).” Trong đồ hình Mạn Trà La của Thai Tạng Giới Mật Giáo, vị này ngự ở Tây môn của Kim Cang Bộ Viện. Tại Trung Quốc, có nhiều loại tạo hình về Quảng Mục Thiên; như tượng khắc trên tường phía Tây Nam Cư Dung Quan (居庸關) ở Hà Bắc thì tay phải cầm con rắn, tay trái đặt trước ngực; chân trái đạp lên lưng con ác quỷ, có vị đứng hầu bên trái lõa thể, cầm cây Chày Kim Cang. Bên cạnh đó, bức tượng phát hiện tại Thiên Phật Động ở Đôn Hoàng (敦煌) mặc áo lụa màu, hình tượng mang áo giáp da theo thể thức chế tạo của Trung Quốc; lấy áo trời, đồ vàng để trang sức thân thể, tay phải và trái cầm kiếm, hai chân đạp lên con quỷ Dạ Xoa (s: yakṣa, p: yakkha, 夜叉). Đại Hội Kinh (大會經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 12 còn cho biết rằng: “Tây phương Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương, lãnh chư Cưu Bàn Trà quỷ, hữu đại uy đức, hữu cửu thập nhất tử, diệc tự Nhân Đà La, hữu đại thần lực (西方毗樓博叉天王、領諸鳩槃茶鬼、有大威德、有九十一子、亦字因陀羅、有大神力, Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương ở phương Tây, thống lãnh quỷ Cưu Bàn Trà, có uy đức lớn, có chín mươi mốt người con, cũng tên Nhân Đà La, có thần lực lớn).”
quảng mục thiên
Virùpàksa (S). The wide-eyed deva, diversely-eyed, having deformed eyes, an epithet of Siva, as represented with three eyes; name of one of the four Mahàràjas, he who guards the west.
; (廣目天) Phạm: Virùpàkwa. Pàli: Virùpakkha. Hán âm: Tị lựu ba a xoa, Tì lô ba ha hất xoa, Tì lâu bà xoa, Tì rô bác xoa. Cũng gọi Ác nhãn thiên, Xú mục thiên, Tạp ngữ chủ thiên, Phi hảo báo thiên. Tây phương thiên. Một trong 4 vịThiên vương, 1 trong 12 vị trời, 1 trong 16 vị thiện thần, trụ ở lưng chừng núi Tu di về phía tây, thường dùng mắt trời trong sáng quan sát chúng sinh ở cõi Diêm phù đề, là vị thiện thần hộ pháp giữ gìn phương tây, coi việc xử phạt người ác, khiến họ phát khởi đạo tâm. Vị Thiên vương này cũng là chúa các rồng. Kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển thượng (Đại19,422 thượng) nói: Ở phương Tây, có Đại thiên vương tên là Quảng mục, cũng là vua loài rồng, có vô lượng trăm nghìn các rồng là quyến thuộc, giữ gìn phương tây. Về hình tượng của vị Thiên vương này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 11 và Tì rô bác xoa thiên vương tượng pháp, thì tượng của vị Thiên vương này cao 1 khuỷu tay, mặc các loại áo trời, trang sức cực kì lộng lẫy, tương xứng với thân, tay trái duỗi thẳng cầm giáo, tay phải cầm vòng dây đỏ. Cứ theo Dược sư Lưu ly quang vương thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quĩcúng dường pháp, thì Đại thiên vương Quảng mục phương tây, thân màu hồng, cầm vòng dây lụa, giữ gìn cửa phía tây của 8 vị Phật. Còn trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo thì vị tôn này được an vị ở cạnh cửa Tây của viện Ngoại kim cương. Tại Trung Quốc, hình tượng của Quảng mục thiên có nhiều loại, như tượng khắc trên vách tây nam của ải Cư dung thuộc tỉnh Hà bắc, tay phải cầm rắn, tay trái co lại để trước ngực, chân trái đạp lên lưng ác quỉ; bên trái có người lõa thể đứng hầu, cầm chày kim cương. Còn tượng Quảng mục thiên phát hiện được ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng thì mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt kiểu Trung quốc, trang sức bằng vàng bạc, tay phải cầm kiếm, tay trái đỡ ở đoạn giữa của thanh kiếm, 2 chân đạp trên mình Dạ xoa. [X. kinh Trường a hàm Q.19; phẩm Tứ thiên vương kinh Khởi thế Q.6; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.52; Bát nhã thủ hộ thập lục thiện thần hình thể; Thanh long tự nghi quĩ Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
Quảng Mục Thiên Vương
xem Bốn Thiên Vương hộ thế.
quảng mục thiên vương
VirŪpakśa (S), Virupakkha (P)Một trong 4 cõi dục giới của Tứ thiên vương thiên: Trì quốc thiên vương (đông), Tăng trưởng thiên vương (nam), Quảng mục thiên vương (bắc), Đa văn thiên vương( bắc).
; Virupaksa (skt)—Tiếng Phạn là Tỳ Lưu Bát Xoa, vị thiên vương có ba mắt xấu xa. Tên của một trong bốn vị Thiên Vương, vị nầy là vị trời thủ hộ phương tây (Ngài trụ về phương tây của núi Tu Di, và dùng tịnh nhãn để quan sát chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề)—The wide ugly-eyed (diversely eyed) Maharaja, with three eyes, one who has deformed eyes. Name of one of the four Maharajas, he who guards the west.
Quảng mục thiên 廣目天
[ja] コウモクテン Kōmokuten ||| Virūpākṣa. One of the four heavenly kings 四天王. He lives in the sky on the western part of Mt. Sumeru, and rules over the nāgas 龍 and pūtanas 富單那, protecting the western continent. He possesses the pure divine eye, which allows him to see everywhere. He is usually depicted as having a red body and wearing a helmet. => s: Virūpākṣa Một trong Tứ vương thiên. Cư ngụ trong cõi trời phía Tây núi Tu-di, cai quản loài rồng (s: nāgas 龍) và Phú-đơn-na (s: pūtanas 富單那), hộ trì cõi giới phía Tây. Vị vua trời nầy có thiên nhãn thanh tịnh để nhìn được suốt khắp nơi. Thường được miêu tả có sắc thân màu đỏ và đội mũ sắt.
Quảng Nghiêm
xem Tỳ-da-li.
; 廣嚴; 1121-1190|Thiền sư Việt nam thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 11. Sư nối pháp Thiền sư Trí Thiền. Môn đệ nổi danh của Sư là Thường Chiếu.|Sư họ Nguyễn, quê ở Ðan Phượng, mồ côi từ thuở bé. Ban đầu, Sư theo học Phật pháp với người cậu là Bảo Nhạc. Sau khi Bảo Nhạc qua đời, Sư Hành cước, viếng thăm nhiều pháp hội. Nghe Thiền sư Trí Thiền giảng pháp ở chùa Phúc Thánh, hạt Ðiển Lãnh, Sư liền đến tham vấn.|Một hôm, khi nghe Trí Thiền giảng Ngữ lục của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển, đến chỗ Ðạo Ngô Viên Trí và Tiệm Nguyên Trọng Hưng đối đáp về vấn đề sinh tử ở nhà đàn việt, Sư bỗng có tỉnh, liền hỏi: »Một câu Thoại đầu ấy, người xưa nói ở trong sinh tử, lại có lí hay không?« Trí Thiền đáp: »Ngươi nhận được lí này chăng?« Sư hỏi lại: »Thế nào là lí không sinh tử?« Trí Thiền bảo: »Chỉ ở trong sinh tử nhận lấy.« Sư thưa: »Ðạt vô sinh rồi.« Thiền bảo: »Vậy thì tự liễu.« Ngay câu này, Sư thấu suốt, hỏi thêm: »Làm sao gìn giữ?« Thiền đáp: »Ðã liễu ngộ lại đồng chưa liễu.« Sư quì xuống lạy.|Sư trước đến chùa Thánh Ân trụ trì, sau lại đến chùa Tịnh Quả giáo hoá. Một vị tăng hỏi: »Thế nào là Pháp thân?« Sư đáp: »Pháp thân vốn không tướng.« Hỏi: »Thế nào là Bát-nhã?« Sư đáp: »Bát-nhã không hình.« Hỏi: »Thế nào là cảnh Tịnh Quả?« Sư đáp: »Cây thông, cây thu bên ngôi mộ xưa.« Hỏi: »Thế nào là người trong cảnh?« Sư đáp: »Một mình ngồi bịt miệng bình.« Hỏi: »Chợt gặp tri âm làm sao tiếp?« Sư đáp: »Tuỳ duyên nhướng đôi mày.« Hỏi: »Thế ấy là cháu chắt Kiến Sơ, là con Âu Tông?« Sư đáp: »Người ngu nước Sở.« Tăng không đáp được.|Ngày 15 tháng 2 năm Canh Tuất, niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 5, Sư biết sắp tịch bèn nói kệ:|離寂方言寂滅去。生無生後說無生|男兒自有衝天志。休向如來行處行|Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ|Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh|Nam nhi tự hữu xung thiên chí|Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.|*Lìa tịch mới bàn câu tịch diệt|Ðược vô sinh sau nói vô sinh|Làm trai có chí xông trời thẳm|Chớ dẫm Như Lai vết đã qua.|Nói kệ xong, Sư chắp tay thị tịch, thọ 69 tuổi.
quảng nghiêm thiền sư
Zen Master Quảng Nghiêm (1121-1190)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Đan Phượng, Bắc Việt. Ngài mồ côi cha mẹ từ lúc nhỏ. Sau khi cha mẹ mất, ngài theo học Phật pháp với cậu là thầy Bảo Nhạc. Khi thầy Bảo Nhạc thị tịch, ngài gặp và trở thành đệ tử của Thiền sư Trí Thiền. Ngài là pháp tử đời thứ 11 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Ngài thị tịch năm 1190, thọ 69 tuổi— A Vietnamese Zen master from Đan Phượng, North Vietnam. He lost his parents when he was very young. After his parents passed away, he studied Buddha Dharma with master Bảo Nhạc, his uncle on the mother side. After his master passed away, he met and became a disciple of Zen master Trí Thiền. He was the dharma heir of the eleventh generation of the Wu-Yun- T'ung Zen Sect. He passed away in 1190, at the age of 69.
quảng nghiêm thành
Vaiśālī (S), Vesāli (P)Tỳ xá ly, Tỳ ly, Phệ xá ly, Duy da ly, Xá lyMột đô thị lớn ở xứ Vrji hồi Phật sanh tiền. Nơi tổ chức đại hội kết tập 100 năm sau khi Phật nhập Niết bàn, triều vua Ca la A Dục (Calasoka). Nay là Basarh, cách Patna 40km về phía Tây bắc, giữa sông Hằng và Hi mã lạp sơn.
; Vaisàli (S). Also Tì xá li, tì da li.
; Vaisali (skt)—Tỳ Xá Ly, một thành rộng rãi trang nghiêm tại vùng trung Ấn Độ—Broad ornate city, in Central India.
quảng phá kinh
Vaidalya-sŪtra (S)Phương đẳng kinh, Kinh Phương đẳngTên một bộ kinh.
quảng phá luận
Vaidalyaprakaraṇa (S)Tên một bộ luận kinh.
quảng phúc đàm chương
Kuang fu Tan chang (C)Tên một vị sư.
quảng phổ
, núi Vepulla (P).
quảng quả thiên
Vṛhatphala (S), Bṛhatphala (S), Vehapphala (P)Cực Diệu Thiên, Đại Quả thiên, Mật quả thiênMột trong các cõi thuộc Tứ thiền thiên: Vô vân thiên, Phước sanh thiên, Quảng quả thiên. Quả báo của chư thiên vô cùng rộng lớn, không đâu bằng.
; Brhatphala (S). The twelfth Brahmaloka, the third of the eight heavens of the fourth dhyàna in the realm of form.
; Brhatphala (skt)—Tên cõi trời thứ ba trong tám cõi trời đệ tứ thiền sắc giới (Đệ Tứ Thiền Thiên là cõi trời tối thắng mà phàm phu được sanh vào. Từ cõi trời nầy trở lên năm cõi trời thì gọi là Ngũ Tịnh Cư Thiên mà chỉ riêng bậc Thánh mới được sanh vào)—The twelfth Brahmaloka, the realm of form; name of the third heaven of the eight heavens of the fourth dhyana realm of form where there are great fruit, or abundant merits.
; (廣果天) Quảng quả, Phạm: Bhatphala, Pàli: Vehapphala. Hán âm: Tì nghi ha phá la, Duy vu phả la, Duy vu phan, Tỉyba la, Duy a bát. Cũng gọi Quả thực thiên, Nghiêm sức quả thực thiên, Mật quả thiên, Đại quả thiên, Quảng thiên, Cực diệu thiên. Một trong 18 tầng trời cõi Sắc, ở tầng thứ 3 trong 9 tầng trời Tứ thiền, tức ở trên cõi trời Phúc sinh và ở dưới cõi trời Vô phiền. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 21 thì vào kiếp phong tai (tai nạn vì gió), người thế gian tu đạo Tứ thiền, sau khi chết được sinh lên cõi trời Quảng quả. Sau khi phong tai xảy ra thì thế giới hoại diệt hết, cõi trời này là nơi phàm thánh ở xen lẫn nhau. Về tuổi thọ ở cõi trời này, theo kinh Trường a hàm quyển 20, người ở đây sống lâu đến 4 kiếp, còn luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì cho rằng họ sống đến 500 đại kiếp. Về thân lượng, theo Pháp uyển châu lâm quyển 3, người ở cõi trời này cao đến 500 do tuần. Trong cõi trời Quảng quả có 1 chỗ cao, gọi là Vô tưởng thiên mà Thượng tọa bộ coi là 1 cõi trời khác, nhưng Thuyết nhất thiết hữu bộ và Kinh lượng bộ thì xếp cõi ấy vào trong cõi trời Quảng quả, vì nó ở trong phạm vi của Quảng quả thiên. [X. kinh Khởi thếQ.8; kinh Khởi thế nhân bản Q.8; kinh Bồ tát bản nghiệp; kinh Đạo hành bát nhã Q.3; kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.402].
Quảng quả thiên 廣果天
[ja]コウカテン kōka ten ||| The heaven of extensive rewards (bṛhat-phalāḥ), which is the third of the eight heavens included in the fourth dhyāna of the form realm 四禪天. Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. [Dictionary References]Naka399d FKS5992 DFB BCS0430 [Credit] cmuller(entry) => (s: bṛhat-phalāḥ) Cõi trời thứ 3 trong 8 tầng trời Tứ thiền thiên. Còn được xếp vào một trong 17 cõi trời thiền của cõi Sắc.
quảng sanh phật đảnh
Xem Đại Chuyển Luân Phật Đảnh. Xem Cao Phật đảnh.
quảng tham
(廣參) Đối lại: Độc tham. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, chúng tăng tập họp ở Tham đường (nhà học tập, hỏi đạo) để cùng tham hỏi Thiền sư, nghiên cứu thảo luận về tông thú, gọi là Quảng tham. Trái lại, học trò một mình vào thất của thầy để trình kiến giải của mình về công án mà mình đã nghiên cứu, thì gọi là Độc tham. [X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.11].
Quảng Thanh Lương truỵên 廣清涼傳
[ja] コウショウリョウデン Kō Shouryō den ||| Guang Qingliang zhuan; 3 fasc., by Yanyi 延一; T 2099.51.1101-1127. => (c:Guang Qingliang zhuan); 3 quyển, của Diên Nhất (c: Yanyi 延一)
Quảng thuyết 廣説
[ja] コウセツ kōsetsu ||| (1) To explain in detail; to explain in full, or exactly. (2) The mark of the end of a quote. (3) A detailed commentary (毘婆沙). => 1. Giảng giải chi tiết, giảng giải đầy đủ, chính xá. 2. Chú thích ở cuối mỗi đoạn trích dẫn. 3. Luận giải chi tiết (Theo Luận Tỳ-bà-sa 毘婆沙).
Quảng thích Bồ-đề tâm luận 廣釋菩提心論
[ja] コウシャクボダイシンロン kōshaku bodaishinron ||| The Guangshi putixin lun; Skt. Bhāvanākrama; Tib. bsgom pa'i rim pa [To.3915]; (Extensive Explanation of the Treatise on Bodhi-mind.). 4 fasc. (T 1664.32.563), composed by Kamalaśīla 蓮華戒 in the 8th century CE, trans. Dānapāla 施護 in 1009 CE. => (c: Guangshi putixin lun; s: Bhāvanākrama; t: bsgom pa'i rim pa; e: Extensive Explanation of the Treatise on Bodhi-mind.). bốn quyển. Liên Hoa Giới (s: Kamalaśīla 蓮華戒) soạn vào thế kỷ thứ tám. Thi Hộ dịch năm 1009.
quảng thắng tự
(廣勝寺) Chùa ở phía nam Hoắc Sơn, huyện Triệu Thành, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, tương truyền được sáng lập vào khoảng năm Kiến Hòa (147-149) đời Hậu Hán, nhưng không có bằng chứng xác thực. Cứ theo điều Chu tấn châu Hoắc Sơn Nam tháp duyên trong Tập thần châu tam bảo cảm thông lục quyển thượng của ngài Đạo Tuyên đời Đường, thì ngôi tháp ở phía nam Hoắc Sơn là 1 trong các tháp của vua A dục. Cứ theo Sắc lệnh năm Đại lịch thứ 4 (769) đời Đường cho xây chùa Quảng Thắng, thì Ngũ nguyên Quận vương là Lí quang toản tâu vua xin xây 1 ngôi chùa ở tháp viện vua A dục, nhà vua cho phép bằng Sắc lệnh trên và ban hiệu là Đại Lịch Quảng Thắng Chi Tự. Đây chính là thời gian sáng lập chùa này, tức năm Đại lịch thứ 4 (769) đời Đường. Về sau, trải qua nhiều lần trùng tu, đến đời Nguyên đã có trên trăm gian điện đường. Đến đời Minh, vận chùa suy sụp, tháp cũng đổ nát, ngài Đạt liên quyên tiền sửa chữa, ngói lưu li được dùng để trùng tu tòa tháp, chạm trổ trang sức khá lộng lẫy, được liệt vào hàng đệ nhị tháp (Đệ nhất tháp là tháp lưu li chùa Báo ân ở Nam kinh). Tháp này xây bằng gạch hình bát giác, gồm 13 tầng, cao 36 trượng, lợp bằng ngói lưu li, có nhiều hình chạm nổi như rồng, voi, ngựa, chùa tháp....; bên trong tháp thờ tượng Phật bằng đồng, tháp xá lợi nhỏ... Nền tháp có nhà lang bao quanh, vốn để thờ các tôn tượng, rất tiếc nay chỉ còn đài tòa mà thôi. Trong chùa có cất giữ Đại tạng kinh được khắc in vào đời Kim, là tư liệu cực kì quí giá. Ngoài ra còn có bản bổ sung của chùa Hoằng pháp được khắc vào đời vua Thái tông nhà Nguyên, các bản bổsung ở đời Minh, Thanh và các loại chương sớ nằm ngoài Đại tạng. Cách chùa này không xa, ở chân núi phía trước còn có chùa Quảng thắng hạ. Gần chùa hạ có suối Hoắc, trên suối có miếu thờ Minh ứng vương, cũng gọi là miếu Thủy thần, chính điện được xây cất vào năm Diên hựu thứ 6 (1319) đời vua Nhân tông nhà Nguyên. Đầu năm Chí nguyên (1264-1294) đời Nguyên, Giới sư Đạo khai ở chùa Quảng thắng dời miếu Minh ứng vương về nền chùa này, bên cạnh đó cất tăng xá, từ đời Minh đến nay, miếu này được gọi là chùaQuảng thắng hạ. Cửa phía nam, an vị tượng Tứ thiên vương, điện Tì lô thờ tượng Như lai, 2 bên vách có vài mươi tượng chư thiên, chính điện thờ 3 tượng Phật (Phật tam thế) và tượng Quan đế nhỏ..., vách phía nam có vẽ tượng các ngài Vô trước, Thế thân... Nay phần nhiều đã bị tróc, chỉ còn lại dấu vết. [X. Tống tạng di trân tự mục; Bình dương phủ chí Q.33; Đại thanh nhất thống chí Q.99, 116; Chi na văn hóa sử tích giải thuyết Q.8].
quảng trung thuyết lược
(廣中說略) Đối lại: Lược trung thuyết quảng. Dùng những lời giản lược, hàm súc để thuyết minh 1 cách tổng quát các việc có phạm vi rộng lớn, gọi là Quảng trung thuyết lược (trong rộng nói vắn tắt). Trái lại, dùng những lời có phạm vi rộng rãi để thuyết minh các việc giản lược, thì gọi là Lược trung thuyết quảng. Đây là 1 trong những cách nói pháp tùy theo căn cơ mà đức Phật ứng dụng. Vì hành nghiệp của chúng sinh vô lượng vô biên, nên đức Phật ứng cơ hóa đạo mà vận dụng những phương pháp khác nhau để giảng giải chính pháp giúp chúng sinh lãnh ngộ. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 33 (bản Bắc) thì khi giảng nói 12 nhân duyên cho các tỉ khưu nghe, đức Phật dạy rằng 12 nhân duyên là nhân quả; cách thuyết pháp này là đem 12 pháp rộng lớn rút lại thành 2 pháp nhân và quả, đó là Quảng trung thuyết lược. Còn khi tuyên giảng pháp Tứ đế cho các tỉ khưu nghe thì đức Phật dạy rằng: Khổ là vô lượng nổi khổ, tập là vô lượng phiền não, diệt là vô lượng giải thoát, đạo là vô lượng phương tiện. Cách thuyết này là mở rộng 4 pháp giản lược, gọi là Lược trung thuyết quảng.
Quảng Trí
廣智; ?-1091 (?)|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 7. Sư nối pháp Thiền sư Thiền Lão. Hai vị đệ tử nổi danh của Sư là Mãn Giác và Ngộ Ấn.|Sư họ Nhan, người ở kinh đô. Năm đầu niên hiệu Chương Khánh Gia Khánh (1059), Sư xuất gia, đến tham vấn Thiền Lão. Chỉ qua một câu nói của Thiền Lão mà Sư ngộ được yếu chỉ và từ đây, Sư chú tâm vào thiền học.|Sau, Sư trụ chùa Quán Ðỉnh núi Không Lộ ở Từ Sơn, sống rất đạm bạc. Sư cùng với một vị tăng tên Minh Huệ kết bạn đồng tu và người thường nói rằng, đó là Hàn Sơn và Thập Ðắc tái sinh.|Khoảng niên hiệu Quảng Hựu (1085-91), Sư viên tịch.
quảng trí
Extensive knowledge—Immense learning.
; (廣智) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Bắc Tống, người Tứ Minh (Chiết Giang), pháp danh Thượng Hiền, vua ban hiệu là Quảng Trí. Sư theo tôn giả Tứ Minh Tri Lễ học giáo quán của tông Thiên thai, nghe giảng kinh Tịnh danh liền đốn ngộ diệu chỉ tính tướng, vì theo học đã lâu nên được xếp vào hàng cao đệ. Năm Thiên thánh thứ 6 (1028) sư kế thừa ngài Pháp Trí trụ trì chùa Diên Khánh, hóa đạo rất thịnh. Bấy giờ, Thiền sư Trùng hiển ở chùa Tuyết đậu cũng đến hỏi đạo, người đương thời truyền tụng là việc rất có ý nghĩa.Nhóm các vị Thiệu lương ở núi Tỉ Duệ tại Nhật bản theo học sư 3 năm, sau khi trở về nước cũng mở rộng pháp môn của sư. Sư có các tác phẩm: Xiển u chí, Thích kim quang huyền nghĩa. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 12; Tục truyền đăng lục Q.11].
quảng trí bất không
Amoghavajro (S)Bất không kim cangHọc trò Ngài Kim Cang Trí Tam Tạng cùng thầy sang trung quốc truyền Mật pháp, dịch (10) bộ kinh gồm 143 quyển. Ngài là một đại dịch sư sau Ngài Huyền Trang.
quảng trí thiền sư
Zen master Quảng Trí—Thiền sư Việt Nam, quê ở Thăng Long, Băc Việt. Năm 1059, ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Thiền Lão tại núi Tiên Du. Ngài trở thành Pháp tử đời thứ bảy dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Chẳng bao lâu sau tiếng tăm của ngài lan rộng và nhiều đệ tử đến với ngài. Về sau ngài trụ tại chùa Quán Đảnh trên núi Không Lộ. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài đã chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1091—A Vietnamese Zen master from Thăng Long, North Vietnam. He left home in 1059 to become a disciple of Zen master Thiền Lão in Tiên Du. He became the Dharma heir of the seventh generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. His reputation soon spread all over North Vietnam and he had a lot of followers. Later, he stayed at Quán Đỉnh Temple on Mount Không Lộ. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1091.
quảng trường thiệt
Lưỡi to và dài, một trong 32 tướng hảo của Như Lai, có thể che kín mặt, tới chân tóc nơi trán (theo Đại Trí Độ Luận, có người hỏi Phật:”Như Đức Thế Tôn, là bậc Đại Đức đáng kính trọng, nhưng vì sao lưỡi lại to dài như tướng khinh tiện?” Phật đáp: “Tướng lưỡi như vậy thì lời nói ắt chân thực, như xưa Phật thè chiếc lưỡi to dài, che kín mặt cho tới tận chân tóc nơi trán, và nói với vị Bà La Môn rằng: 'Nhà ngươi xem trong kinh sách có người nào lưỡi như vậy lại nói lời tà vọng không?'” Vị Bà La Môn nói: “Người nào mà lưỡi thè ra che kín mũi đã không nói lời hư vọng, huống hồ là người mà lưỡi che kín cả mặt tới tận chân tóc nơi trán. Lòng ta tin rằng Đức Phật tất không nói lời hư vọng.”—A broad and long tongue, one of the thirty-two marks of a Buddha, big enough to cover his face; it is also one of the marvels in the Lotus Sutra. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật.
quảng trường thiệt tướng
A broad and long tongue, one of the thirty two marks of a Buddha, big enough to cover his face; it is also one of the "marvels" in the Lotus sùtra.
; (廣長舌相) Phạm: Prabhùta-jihvatà, hoặc Prabhùta-tanu-jihvatà. Pàli: Pahùtà-jivha. Cũng gọi: Quảng trường luân tướng. Gọi tắt: Trường thiệt tướng, Quảng trường thiệt, Thiệt tướng. Tướng lưỡi rộng dài, 1 trong 32 tướng Lưỡi của chư Phật rộng dài, mềm mại, có màu hồng và mỏng; khi thè ra thì trùm cả mặt cho đến lằn tóc ở trán. Tướng này có 2 đặc trưng: 1. Lời nói chân thật. 2. Biện thuyết vô cùng, người khác không thể hơn được. Luận Đại trí độ quyển 8 (Đại 25, 115 trung) nói: Nếu người có lưỡi trùm được mũi thì lời nói không hư dối, huống chi dài chấm lằn tóc. Tâm ta tin Phật chắc chắn không nói dối. Theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 3 thì tướng lưỡi rộng dài của Phật là do quả báo tu 10 Ba la mật, 10 điều thiện mà cảm được; phía dưới và 2 bên lưỡi có 2 viên bảo châu, tiết ra mùi vị cam lộ thấm đượm thiệt căn. Các người trời, người thế gian, bồ tát Thập địa đều không có tướng lưỡi và vị cam lộ này. Lại trên lưỡi của đức Phật có 5 nét vạch, giống như những hoa văn của bảo ấn, khi vị cam lộ chảy vào 5 nét vạch thì thấm ra trên dưới rồi chảy vào cuống lưu li. Khi Phật thè lưỡi thì lưỡi như cánh hoa sen, lên đến lằn tóc, che kín mặt Phật. Phẩm Thần lực kinh Pháp hoa (Đại 9, 51 hạ) nói: Hiện ra sức thần lớn Thè lưỡi tướng rộng dài Lên đến trời Phạm thế. Kinh A di đà (Đại 12, 347 trung) ghi: Chư Phật nhiều như số cát sông Hằng, đều ở cõi nước của mình, thè lưỡi rộng dài, che kín 3 nghìn thế giới đại thiên, nói lời chân thật. Theo kinh Phạm ma trong Trung a hàm quyển 41, kinh Tăng nhất a hàm quyển 8 và kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng thì ngoài chư Phật ra, Chuyển luân Thánh vương cũng có đủ tướng lưỡi này. [X. kinh Trung a hàm Q.11; kinh Bát nhã ba la mật đa Q.5; kinh Bồ tát địa trì Q.10; Tam thập nhị tướng hiển yếu sao Q.trung].
quảng tu
(廣修) (771-843) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, người Hạ Côn, Đông Dương (Chiết Giang), họ Lưu, là Tổ thứ 11, (có thuyết nói thứ 10) của tông Thiên thai, người đời gọi là Chí hành tôn giả. Sư theo ngài Đạo Thúy từ lúc nhỏ tuổi, học tập giáo quán của tông Thiên thai. Sư trụ ở chùa Thiền Lâm, hằng ngày tụng các kinh Pháp hoa, Duy ma, Kim quang minh, Phạm võng và Tứ phần giới bản làm thường khóa, rồi trong 6 thời còn tu các pháp sám hối không hề biếng nhác, cho đến tuổi già vẫn còn tinh tiến tu Tam muội mỗi ngày. Năm Khai thành thứ 5 (840), vị tăng người Nhật bản là Viên tải đến Trung quốc, đem Thai giáo nghi vấn tam thập khoa (Ba mươi nghi vấn về giáo học của tông Thiên thai) để xin sư giải đáp. Trải qua 5 năm, sư và đệ tử là Duy Quyên mới giảng giải xong. Sau, sư Viên tải đưa tác phẩm này truyền về Nhật bản.Quan Thứ sử Thai châu là Vi hành, vốn quí trọng giáo môn, thỉnh sư vào quận đường tuyên giảng Ma ha chỉ quán, người nghe đều vui mừng. Năm Hội xương thứ 3 (843), sư thị tịch ở chùa Thiền Lâm, thọ 73 tuổi, pháp lạp 52, an táng ở đạo tràng Kim địa. [X. Tống cao tăng truyện Q.30; Phật tổ thống kỉ Q.8; Thích môn chính thống Q.2].
quảng tu cúng dường
Broad cultivation and making abundant offerings—Đây là hạnh nguyện thứ ba trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Quảng tu cúng dường là khởi lòng tín giải rất sâu, đem đồ cúng dường thượng diệu mà cúng dường pháp hội của chư Phật. Tuy nhiên, trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là quý hơn cả. Pháp cúng dường là tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường, làm lợi ích cho chúng sanh để cúng dường, chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường, nhiếp thọ chúng sanh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để cúng dường, không thối chuyển Bồ Tát hạnh để cúng dường, chẳng rời tâm Bồ đề để cúng dường—This is the third of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. Broad cultivation and making abundant offerings means to have deep belief and understanding in the Buddha teachings and to make offerings of superb and wonderful gifts. However, of all offerings, the gift of dharma is supreme. Dharma offerings mean offering of cultivation according to the teachings, the offering of benefitting all living beings, the offering which gathers in all living beings, the offering of standing in for all beings to undergo their suffering, the offering of diligently cultivating good roots, the offering of not forsaking the deeds of Bodhisattvas, and the offering of not renouncing the Bodhi-mind.
quảng tuệ
Vipulaprajnà, vipulamati (S). Vast wisdom, an epithet of a Buddha, one able to transform all beings.
; Vipulaprajna or Vipulamati (skt)—Trí tuệ rộng lớn, danh hiệu của Đức Phật, có trí tuệ rộng lớn có thể chuyển hóa được chúng sanh mọi loài—Vast wisdom, an epithet of a Buddha, one able to transform all beings.
quảng tế
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa tọa lạc tại phía đông triền đồi Quảng Tế, về phía tây bắc Đàn Nam Giao. Năm 1807, vị Tiền Quân Đô Đốc Phủ Chưởng Phủ Sự tước phong Lương Tài Hầu Trần Văn Năng dựng lên một thảo am, lấy địa danh gọi tên chùa là Quảng Tế. Sau khi xây chùa một thời gian, đại sư Tánh Linh Quang Hiển đã được cử trông coi chùa. Năm 1844, Hòa Thượng Hải Nhu, tăng cang chùa Thiên Mụ, cùng với thí chủ Bùi Tín Tại đã kiến thiết chùa, mở rộng qui mô, đổi tranh lợp ngói. Năm 1894, Hòa Thượng Thanh Trí, với sự hỗ trợ của bà Thánh Cung, vợ vua Đồng Khánh, tiến hành trùng tu chùa, đúc một đại hồng chung nặng 230 cân. Năm 1989, Thầy Chơn Hương đã xây cổng Tam Quan làm cho cảnh chùa thêm vẻ uy nghi—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is situated on the east side of Quảng Tế hill, which is northwest of the Altar to Heaven. In 1807, Lương Tài Hầu Trần Văn Năng built a thatched temple on the east side of Quảng Tế hill and named it after the land. Sometime after the temple was built, the senior monk named Tánh Linh Quang Hiển took charge of the temple. In 1844, Most Venerable Hải Nhu, the royal-recognized monk of Thiên Mụ temple with lay person named Bùi Tín Tại rebuilt the temple, enlarged the structure and replaced thatched with tiles for the roof. In 1894, Most Venerable Thanh trí, with the help from Thánh Cung, wife of king Đồng Khánh, undertook the reconstruction. A great-sized bell, 230 pounds was contributed to the temple by the royal family. In 1989, Venerable Chơn Hương constructed an old-style three-entrance gate giving the temple a more impressive appearance.
quảng văn
(廣聞) (1189-1263) Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Nam Tống, người huyện Hầu Quan, Phúc Châu (Phúc kiến), họ Lâm, hiệu là Yết khê, đệ tử đời thứ 18 của phái Thiền Nam Nhạc. Năm 18 tuổi, sư lễ Hòa thượng Trí Long chùa Quang Hiếu cầu xuất gia, sau theo ngài Chiết ông Như diễm tu học ở Kính Sơn, nhờ tham cứu công án Triệu châu rửa bát mà sư được tỏ ngộ. Niên hiệu Thiệu Định năm đầu (1228), sư hoằng pháp ở chùa Tịnh Từ tại phủ Khánh Nguyên (tỉnh Chiết Giang). Sau lại trụ ở các chùa Trí Độ, Vạn thọ ở cùng phủ. Năm Thuần Hựu thứ 5 ( 1245), vua ban sắc cho sư trụ trì chùa Tư Thánh ở núi Tuyết Đậu. Về sau, sư lần lượt trụ các chùa Quảng Lợi ở núi A dục vương, chùa Tịnh từ ở phủ Lâm An. Năm Bảo Hựu thứ 2 (1254), sư trụ trì chùa Linh ẩn, được vua ban hiệu Phật Trí Thiền Sư. Năm Cảnh định thứ 4 (1263), sư thị tịch, thọ 75 tuổi, pháp lạp 58. Sư có tác phẩm: Yếu khê hòa thượng ngữ lục 2 quyển.
Quảng Đăng Lục
(廣燈錄, Kōtōroku): xem Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, Tenshōkōtōroku) bên dưới.
quảng đăng lục
(廣燈錄) Cũng gọi Thiên thánh quảng đăng lục, Thiền tông quảng đăng lục. Ngữ lục, 31 quyển, do Phó mã Đô uý là Lí tuân úc soạn vào đời Bắc Tống, hoàn thành vào năm Thiên Thánh thứ 7 (1029), Hoàng đế Nhân tông (trị vì 1022-1063) viết lời tựa, được thu vào Vạn tục tạng tập 135. Nội dung sách này ghi chép cơ duyên ngữ cú và lược truyện của 336 vị từ đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến 27 vị Tổ Ấn Độ bắt đầu từ vị Ca Diếp và các vị Tổ sư Thiền tông Trung Quốc. Sau khi soạn giả mất, tiểu truyện và các cơ duyên ngữ cú của ông cũng được thu chép vào cuối quyển 18 của bộ sách này. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27; Thích thị kê cổ lược Q.4].
quảng đại
Broad and great.
; Rộng lớn—Broad and great.
quảng đại bao dung
Generosity.
quảng đại chuyển
(廣大轉) Chuyển vị thứ 6 trong 6 thứ chuyển vị, là tiếng dùng biểu thị quả vị tột cùng của Đại thừa. Nghĩa là chứng được cảnh giới chân như, dứt bặt mê ngộ đối đãi, đi vào viên chuyển tự tại. Tông Duy thức tùy theo giai vị chứng được mà chia quả chuyển y làm 6 thứ, gọi là Lục chủng chuyển y. Chuyển y nghĩa là chuyển bỏ chỗ y chỉ thấp để chứng được quả vị cao. Lâm gian lục quyểnhạ (Vạn tục 148, 308 hạ) nói: Quảng đại chuyển thứ 6 là quả vị Đại thừa, thông suốt nhị không, dứt hết 2 chướng, mau chứng bồ đề, có năng lực rất thù thắng.
quảng đại hành
(廣大行) Tạng: Rgya-chen-spyod-pa. Từ ngữ được dùng để gọi Du già hành trong Phật giáo Tây Tạng. Trong các bộ luận của Phật giáo Đạithừa nói chung, Quảng đại hành được gọi là Thậm thâm quảng đại (Phạm: Gambhìrodàra, gambhìrya-udàrya). Người đời sau đem chia ra làm 2 phần là Thậm thâm và Quảng đại; rồi dùng Thậm thâm cho quán và dùng Quảng đại cho hành, vì thế mà có 2 thuyết Thậm thâm quán và Quảng đại hành; từ đó lại diễn biến thành Trung quán và Du già hành. (xt. Thậm Thâm Quán).
quảng đại hội
The centre where vast virtues meet, a term for Amitàbha.
; Trung tâm nơi hội họp của những con người quảng đại bao dung, một từ ngữ đặc biệt nói về cõi nước A Di Đà—The centre where vast virtues meet, a term for Amitabha.
; (廣大會) Một trong 17 danh hiệu của đức Phật A di đà. Tất cả chúng sinh trong 10 phương được sinh về Cực lạc đều nhờ đức Phật A di đà có đầy đủ công đức tập hội rộng lớn, vì thế nên gọi Phật A di đà là Quảng đại hội. Hội này rất lớn, từ hội đầu tiên của Phật A di đà cho đến đời vị lai, vô lượng vô biênchúng sinhkhông thể kể hết nguyện tham dự pháp hội rộng lớn này, đều do đức Phật a di đà chủ tọa. Kệ tán Phật A di đà có câu: Cúi đầu đính lễ Quảng đại hội.
quảng đại phát nguyện tụng
Mahāprani-dhānotpāda gāthā (S)Tên một bộ luận kinh.
quảng đại trí
The vast wisdom of Buddha beyond measure.
; Trí huệ rộng lớn của Như Lai là không thể đo lường, không thể nghĩ bàn—The vast wisdom of Buddha beyond measure.
; (廣大智) Trí tuệ của Phật rộng lớn không thể tính lường, là trí kiến tối thắng vô thượng, cho nên gọi trí của Phật là Quảng đại trí. Kinh Đại nhật quyển 3, (Đại 18, 18 trung) nói: Lành thay chân ngôn hành, đầy đủ Quảng đại trí. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 8 (Vạn tục 36, 390 hạ): nói: Tiếng Phạm của từ Quảng đại này là tì phú la, vì âm thanh chân ngôn vang rền khắp tất cả pháp giới, đồng như hư không, chẳng nơi nào không đến, nên biết tâm Phật cũng vậy, vì thế gọi là Quảng đại trí. Kinh Hoa nghiêm quyển 49 (bản 80 quyển) nói rằng: Biết tâm hành của tất cả chúng sinh, biết tất cả pháp, biết hết thảy văn tự biện tài, dù sinh trong bất cứ nơi nào cũng có đầy đủ 10 loại Quảng đại trí, như Nhất thiết trí. (xt. Thập Chủng Quảng Đại Trí).
Quảng đại trí huệ 廣大智慧
[ja] コウダイチエ kōdai chie ||| Vast wisdom; extensive wisdom; incalculable wisdom. A synonym for the wisdom of the Buddha 佛智. 〔法華經、T 262.9.58a18〕 => Trí tuệ rộng lớn; trí tuệ không thể nghĩ bàn. Đồng nghĩa với Phật trí (佛智).
Quảng đại trí 廣大智
[ja] コウダイチ kōdaichi ||| Vast wisdom; extensive wisdom; incalculable wisdom. A synonym for the wisdom of the Buddha 佛智. => Trí tuệ rộng lớn; trí tuệ không thể nghĩ bàn. Đồng nghĩa với Phật trí (佛智).
Quảng đại tâm 廣大心
[ja] コウダイシン kōdaishin ||| Vast mind; excellent mind (udāra-citta). A reference to the possession of the four boundless minds 四無量心.〔二障義 HPC 1.808b〕 => Tâm bao dung; tâm ưu việt (s: udāra-citta). Nói đến sự hiện hữu của Tứ vô lượng tâm (四無量心).
Quảng đại 廣大
[ja] コウダイ kōdai ||| (1) Excellent, magnificent, (udāra, atyudāra). (2) Bright, brilliant, beautiful, calm (visada). (3) Broad, rich, vast, abundant (vipula). => 1. Ưu tú, cao thượng (s: udāra, atyudāra). 2. Sáng ngời, rực rỡ, tốt đẹp, trầm tĩnh (s: visada). 3. Phóng khoáng, giàu có, menh mông, phong phú (s:vipula).
quảng đức
Great favour.
quảng ấn
(廣印) (1566-1636) Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Minh, người ở Gia Thiện, Tuy lí (huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang), họ Chu, tự Văn Cốc, biệt hiệu Chưởng Thạch. Năm 13 tuổi, sư xuất gia ở chùa Khai Nguyên tại Hàng Châu, từng tham lễ các ngài Nghi phong, Vô huyễn... ở Tây thục. Sau, sư theo ngài Vân Thê Chu Hoành thụ giới Bồ tát, sớm chiều thỉnh ích hỏi đạo. Về sau, sư đến núi Ngũ Đài và Kính sơn, than thở Thiền giới đất Ngô việt suy thoái, sư bèn ở lại chùa Chân tịch tìm cách phục hưng. Sư lại dời đến trụ ở chùa Tịnh Từ, tiếp hóa đệ tử rất đông. Năm Sùng Trinh thứ 9 (1636), sư thị tịch, thọ 71 tuổi. Sư có tác phẩm: Tông môn cảnh ngữ 2 quyển, Ngữ lục 4 quyển. [X. Chân tịch Văn cốc đại sư tháp minh trong Vĩnh giác quảng lục Q.18; Ngũ đăng toàn thư Q.120].
Quảng 廣
[ja] コウ kō ||| (1) Width, breadth, range. (2) Wide width. (3) Wide, broad, extensive, vast, magnificent. (4) Full, detailed, accurate. (5) Explained in full, explained in detail. => 1. Rộng rãi, phóng khoáng, dãy, hàng. 2. Rộng khắp, 3. Rộng, bao la, bao quát, menh mông, nguy nga. 4. Đầy đủ, chi tiết, chính xác. 5. Giải thích đầy đủ, giảng giải chi tiết.
quấn quít
To hang about (around).
quấn thập giáo
(捃拾教) Từ ngữ do tông Thiên thai sử dụng để chỉcho giáo pháp của kinh Niết bàn. Quấn thập nghĩa là lượm lặt những bông lúa rơi rớt trong lúc gặt hái. Tông thiên thai dùng việc này để ví dụ cho giáo pháp kinh Niết bàn là giáo pháp nhặt nhạnh, thu gom những căn cơ mà hội Pháp hoa còn bỏ sót. Vì trong hội Pháp hoa đức Phật tuyên giảng giáo pháp Nhất thừa, lúc ấy có những chúng sinh chưa đủ năng lực lãnh nhận nên tự rút lui khỏi pháp hội, hoặc dời đến phương khác để chờ đến hội Niết bàn. Vì hội kinh Niết bàn lượm lặt những căn cơ mà hội kinh Pháp hoa bỏ sót lại, giống như thu gom những bông lúa rơi rớt sau mùa thu hoạch, nên ví dụ kinh Pháp hoa là Đại thu (mùa thu hoạch chính), mà ví dụ kinh Niết bàn là Quấn thập. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.10, thượng; Quán âm huyền nghĩa kí Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi].
quấn đa
(捃多) Phạm: Kunta. Pàli:Kuntha. Hán dịch: Quấn đa nghị, Nghị tử, Chiết cước nghị. Một trong các loài kiến. Vốn chỉ cho loài trùng nhỏ, côn trùng. Ngoài ra còn chỉ cho trứng kiến. [X. luận Pháp uẩn túc Q.1; luận Du già sư địa Q.8; Du già luận kí Q.2, phần cuối].
quất
To whip.
quất phu nhân niệm trì phật
(橘夫人念持佛) Tượng Phật trì niệm do Quất phu nhân, mẹ của Hoàng hậu Quang Minh, người Nhật Bản tạo. Tức chỉ cho tượng A di đà Tam tôn thờ trong Niệm trì Phật trù tử (khám thờ Phật) đặt tại Kim đường chùa Pháp Long. Trù tử này cao 2,63m, cửa ở 4 mặt có vẽ các bức tranh. Niệm trì Phật tức là tượng A di đà Tam tôn bằng đồng giát vàng, tòa ngồi là ao sen khắc nổi. Sau lưng tượng Phật có bức bình phong do 3 mảnh ghép lại, phía trên là người trời được khắc nổi, các chuỗi anh lạc rất đẹp. Trên miệng 3 pho tượng như mỉm cười, kĩ thuật đúc tạo cực kì tinh vi, là tác phẩm tiêu biểu cho thời kì đầu Thiên Bình (Bạch Phượng) ở Nhật Bản. Tượng Bản tôn cao 33,3cm, tượng 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên cao 26,9cm. [X. Nhật Bản quốc bảo toàn tập 47; Nhật Bản công nghệ sử khái luận].
quấy
To be wrong.
quấy nhiễu
To bother—To disturb—To trouble—To discommode—To annoy.
quấy rầy
See Quấy Nhiễu.
quấy rối
To harass—To trouble—To disturb.
quần
Gaṇa (P), Flock Tứ 4 người trở lên gọi là tăng già, từ ba người trở xuống gọi là "quần".
; A flock of sheep, herd, multitude, the flock, crowd, all.
; 1) Cái quần: Nivasana (skt)—A skirt, a kind of garment, especially an under garment. 2) Một đàn—A flock (of sheep)—A crowd—A herd.
quần chúng
The public.
quần hữu
All that exists
; Các cõi hiện hữu (có quả báo và chúng sanh thụ quả báo), một trong tam hữu hay cửu hữu—All that exists, one of the three stages of mortal existence or nine stages or conditions in which sentient beings enjoy to dwell. ** For more information, please see Tam Hữu, and Cửu Hữu in Vietnamese-English Section.
Quần hữu 群有
[ja] グンウ gun'u ||| (1) All existence; all realms of existence; all phenomena. (2) All living beings 衆生. => 1. Mọi hiện hữu; moim cõi giới hiện hữu; tất cả mọi hiện tượng. 2. Chúng sinh 衆生.
quần loại
All classes of living beings, especially the sentient.
; Tất cả chủng loại chúng sanh, đặc biệt là những chúng sanh hữu tình—All classes of living beings, especially the sentient.
quần manh
Xem Quần sanh.
; Bahu-jana (S). All the shoots, sprouts, or immature things, i.e. all the living as ignorant and undeveloped. A mass of people. a crowd. Also quần sinh, quần chúng.
; Những gì mới lú mầm chưa thành thục, ví với những chúng sanh mới phát tâm đạo, chưa phát triển, hãy còn bị vô minh che lấp minh tâm—All the shoots, sprouts, or immature things, i.e. all the living as ignorant and undeveloped.
; (群萌) Phạm: Bahu-jana. Cũng gọi Quần sinh. Chỉ cho chúng sinh. Manh là cái mầm của câycỏ mới nhú ra, hãy còn lờ mờ chưa rõ, hoặc cái tướng của hạt giống chưa nứt. Đạo tâm của chúng sinh mới phát, nhưng còn bị vô minh che khuất, giống như cái mầm của cỏ cây, thế nên dùng từ quần manh đểví dụ cho chúng sinh. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) nói: Đức Như lai đem tâm đại bi vô lượng, thương xót khắp 3 cõi, (...) khiến tất cả quần manh được lợi ích chính pháp. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 24 hạ) nói: Thiên nhân tôn trí khắp. Thương xót loài quần manh Hay mở cửa cam lộ Rộng độ hết tất cả. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.40; Huyền ứng âm nghĩa Q.6; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng; A di đà kinh nghĩa sớ văn trì kí Q.thượng (Giới độ)].
Quần manh 群盲
[ja] グンモウ gunmō ||| Blind masses; blind populace, who need religious instruction. => Những người đui mù; chúng sinh đang bị mê mờ, cần được giáo hoá.
quần mê
All the deluded; all delusions.
; Chỉ chung những chúng sanh hãy còn mê mờ điên đảo—All the deluded; all delusions.
quần nghi luận
Answers to Doubts and Skepticism Commentary—Đây là quyển luận giải tỏa các mối nghi ngờ của Phật tử về pháp môn niệm Phật, được viết bởi một vị Tổ Tịnh Độ—A commentary which provides explanations and clarifications to Buddhists' doubts and skepticism of the Pureland Buddhism, written by a Pureland Patriarch.
Quần phẩm 群品
[ja] グンボン gunbon ||| All kinds of sentient beings (群生). => Mọi loại chúng sinh (quần sinh 群生)
quần quật
To work hard all day long without rest.
quần sanh
Bahu-jana (S)Quần manhManh là cây cỏ mới nhú, chưa rõ hình dáng. Chỉ chúng sanh mới phát đạo tâm, giống như hạt giống chưa nứt.
quần sinh
All the living, especially all living, conscious beings.
; Tất cả chúng sanh, đặc biệt là những chúng sanh hữu tình—All the living , especially all living, conscious beings.
quần thoa
Woman.
Quần 群
[ja] グン gun ||| A group, a bunch, a flock. => Nhóm, bầy, đàn.
quầng (hào quang)
Halo.
quẩn bách
To be in financial difficulties
quẩn trí
To become senseless
quẫ nhân
Those who have obtained the fruit, i.e. escaped the chain of transmigration, e.g. Buddha, Pratyeka-Buddha, Arhat.
quẫn trí
To get stuck in something that the mind becomes senseless—To become senseless.
quật
1) Cái hang: Guha (skt)—A cave. 2) Đào lên: To dig. 3) Nổi bật—Distinguished—Sừng sửng—Lofty.
quật cư bộ
Xem Kê Dẫn bộ.
quật cường
To refuse to submit or yield to.
quật cụ la
Nhang của phương tây (An Tức hương)—A kind of western incense.
quật luân
Đảo Côn Luân (có lẽ là Côn Sơn) thuộc Việt Nam ở biển Đông—Polo Condre of Vietnam in the South China Sea.
quật ngoại
See Quật Nội.
quật nội
Phái Trong Hang. Trong xứ Ma Kiệt Đà có ngọn núi Nam Sơn, cách ngọn Nam Sơn về phía bắc có một hang đá lớn. Sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài Ca Diếp chủ trì cuộc kết tập Tam tạng kinh điển trong hang đá nầy. Đồng thời bên ngoài cách hang đá chừng 20 dậm, lại có một số khác tập hợp lại để kết tập Ngũ Tạng. Do đó mà có hai phái trong hang và ngoài hang. Trong hang là Thượng Tọa Bộ, ngoài hang gọi là Đại chúng bộ—“Within the cave,” the assembly of the elder disciples, after Sakyamuni's'death, in the cave near Magadha, when, according to tradition, Kasyapa presided over the compiling of the Tripitaka; while at the same time, the disciples “outside the cave" compiled another canonknown as Pancapitaka. To this separation is ascribed, without evidence, the formation of the two schools of the Mahasthavirah and Mahasanghika.
quật nội quật ngoại
(窟內窟外) Trong hang động ngoài hang động. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 và Tông luân luận thuật kí, thì từ phía tây nam vườn trúc Ca lan đà tại nước Ma yết đà, đi về phía bắc núi Nam sơn 5 đến 6 dặm, có 1 hang động lớn, là nơi mà, sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Đại Ca Diếp đã kết tập 3 tạngKinh, Luật, Luận, gọi là Quật nội kết tập (cuộc kết tập trong hang). Cùng lúc đó, cách nơi hang động này hơn 20 dặm, ngài Bà sư bà đứng đầu số đại chúng còn lại kết tập 5 tạng (3tạng Kinh, Luật, Luận cộng thêm Tạp tập tạng và Cấm chú tạng), gọi là Quật ngoại kết tập (cuộc kết tập ngoài hang). (xt.. Kết Tập).
quật sơn
Núi Kỳ Xà Quật hay núi Linh Thứu—Vulture Peak—See Grdhrakuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
quật đa
Xem Cúc đa.
; Chữ viết tắt của Ưu Ba Cúc Đa—An abbreviation for Upagupta—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (4).
quắc thước
Vigorous.
quẳng gánh lo âu
To throw away the burden of anxiety.
quế lâm đoạn nhai thạch phật
(桂林斷崖石佛) Quần thể hang đá khắc tượng Phật ở Quế Lâm, phía bắc tỉnh Quảng Tây, xưa nay nổi tiếng là nơi núi sông đẹp nhất Trung Quốc. Vùng này núi non chót vót, trùng điệp, hang động liên tiếp, rộn lớn. Bờ tây sông Li có núi Điệp thái, núi Phục ba, ngọn Độc tú, núi Li sơn; vùng núi tây bắc có ngọn Quán âm, ngọn Thạch ngư, ngọn Tây phong, núi Lão quân; bờ đông sông Li thì có núi Nguyệt nha, núi Thất tinh... Trong các núi nói trên, gần đây người ta đã phát hiện tượng Phật A súc ngồi, được khắc vào niên hiệu Điều Lộ năm đầu (679) đời vua Cao Tông nhà Đường; những tượng Phật, bia ghi việc khắc tạo tượng Phật, bia ghi các kinh, những di tích bằng đá khắc và những thơ văn, đề từ của tao nhân mặc khách lưu niệm... được khắc vào thời Đường, Tống. Niên đại Phật giáo truyền đến Quế Lâm nay không thể khảo chứng, chỉ biết ngôi chùa xưa nhất ở đây hiện còn là chùa Khai nguyên được xây dựng vào đời Tùy và chùa Diên linh ở núi Tây được kiến thiết vào trước thời vua Cao Tông nhà Đường, nhưng vì Vũ Tông nhà Đường huỷ Phật nên phần lớn chùa và tượng Phật ở đây đã bị phá huỷ. Trong những tượng khắc bằng đá, đáng chú ý nhất là pho tượng ở ngọn Quán Âm thuộc núi Tây, được khắc vào niên hiệu Điều Lộ năm đầu (679); tượng cao 1,4 m, tay trái để trên bắp vế, tay phải duỗi thẳng thõng xuống đầu gối trong tư thế bắt ấn Xúc địa (chạm đất), bên cạnh có ghi việc tạo tượng, chữ do Lí thực ở Chiêu Châu viết cùng năm đó, cho nên rất được xem trọng. Pho tượng này làm nổi bật phong cách cũng như kĩ xảo điêu khắc của đời Đường. Nói một cách đại thể, cùng là tượng Phật đời Đường, nhưng nghệ thuật điêu khắc ở miền Bắc, như Long môn, phần nhiều còn du nhập phong cách triều đại Cấp đa (Phạm: Gupta), Trung Ấn độ, còn ở miền Nam, như Quế lâm, đã dung hòa với phong cách tả thực của Trung quốc. Ngoài ra, các tượng Phật được khắc trong hang động Hoàn châu ở núi Phục ba cũng được bảo tồn rất tốt. Tượng 2 vị Bồ tát đứng được khắc ở vách bên cạnh động vẫn còn, bài minh ghi lại việc tạo tượng khắc vào năm Đại trung thứ 6 (852) đời vua Tuyên tông nhà Đường, vì tay phải của tượng cầm tịnh bình nên được cho rằng đây là tượng bồ tát Quán thế âm. Do loại tượng của Mật tông này mà có thể suy định rằng quần thể tượng Phật trong các hang động ở Quế Lâm đã được khắc tạo vào thời đại Trung Đường.
Quế Nguyệt
(桂月): có hai nghĩa chính:(1) Chỉ mặt trăng; vì truyền thuyết cho rằng trên mặt trăng có cây quế, nên có tên như vậy. Như trong bài Đông Phi Bá Lao Ca (東飛伯勞歌) thuộc Tạp Khúc Ca Từ Bát (雜曲歌辭八) của Lạc Phủ Thi Tập (樂府詩集) có câu: “Nam song Bắc dũ quế nguyệt quang, la duy ỷ trướng chỉ phấn hương (南窗北牖桂月光、羅帷綺帳脂粉香, cửa Nam song Bắc tỏa sáng trăng, rèm the màn lưới phấn sáp thơm).” Hay trong bài Chung Nam Sơn Nghĩa Cốc Minh (終南山義谷銘) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Quế nguyệt nguy huyền, phong tuyền hư vận (桂月危懸、風泉虛韻, mặt trăng treo cao, suối reo tiếng lắng).” Hoặc trong bài Đối Nguyệt Liễu Tàn Kinh (對月了殘經) của Liễu Đường Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (了堂惟一禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1417) quyển 4 lại có đoạn: “Thiên biên quế nguyệt quyên quyên, lô thượng đàn yên kiêu kiêu, khoáng kiếp tằng khan để kinh, vị triển quyển thời đô liễu (天邊桂月娟娟、爐上檀煙梟梟、曠劫曾看底經、未展卷時都了, bên trời trăng tỏ xinh xinh, trên lò khói bốc nghi ngút, muôn kiếp từng đọc bao kinh, khi chưa mở ra đã ngộ).” (2) Chỉ cho tháng Tám Âm Lịch, vì vào tháng này hoa quế nở rộ, nên có tên như vậy. Như trong bài Tăng Chi Kim Lăng (僧之金陵, Tăng Đi Kim Lăng) của Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục (虛堂和尚語錄, q.7, Taishō Vol. 47, No. 2000) quyển 7 có đoạn: “Lương tiêu quế nguyệt cảnh trung đình, củng tại thanh sa diệp để minh, biệt ngã thốn tâm như thốn thiết, bất tri Nam quốc kỉ đa trình (良宵桂月耿中庭、蛩在青莎葉底鳴、別我寸心如寸鐵、不知南國幾多程, đêm nay trăng tỏ rạng mái đình, dế mèn dưới cỏ kêu ỏi inh, mình ta tấc lòng như nặng trĩu, chẳng hay nước Nam mấy dặm trình).”
Quế Sâm
桂琛|La-hán Quế Sâm
quế sâm thiền sư
Thiền Sư Quế Lâm ở Viện La Hán sanh năm 867, quê ở Thường Sơn. Từ thuở nhỏ đã ăn chay và nói những lời hay ho lạ thường. Sư xuất gia và thọ cụ túc giới với đại sư Vô Tướng tại chùa Vạn Tuế—Zen master Kui-chen was born in 867 from an ancient Chang-Shan. It is said that from early childhood he could speak very well and would not eat meat. He left home to become a monk and received full ordination at Wan–Sui Temple, under a teacher named Wu-Xiang. • Lúc đầu sư học Luật rất nghiêm, nhưng về sau sư tuyên bố rằng nếu chỉ giữ không phá luật không thôi, không phải thật sự xuất gia, nên sư ra đi tìm học với thiền tông—At first he closely followed the teachings of the Vinaya, but later declared that just guarding against breaking the vows and adhering to the precepts did not equal true renunciation. He then set off to explore the teachings of the Zen school. • Sau sư đến Huyền Sa yết kiến Đại Sư Tông Nhất, vừa nghe một câu khai phát liền rỗng suốt không ngờ—He arrived at Hsuan-Sha's place. Hsuan-Sha, who is said to have brought Kui-Chen erase all his doubts and to attain full awakening. • Một hôm Huyền Sa hỏi sư: “Tam giới duy tâm, ngươi biết thế nào?” Sư chỉ cái ghế dựa hỏi lại Huyền Sa: “Hòa Thượng kêu cái ấy là gì?” Huyền Sa đáp: “Ghế dựa.” Sư thưa: “Hòa Thượng không biết tam giới duy tâm.” Huyền Sa bảo: “Ta bảo cái ấy là tre gỗ, ngươi kêu là gì?” Sư thưa: “Con cũng gọi là tre gỗ.” Huyền Sa lại bảo: “Tận đại địa tìm một người hiểu Phật pháp cũng không có.” Sư do đây càng được khích lệ thêm—One day, Hsuan-Sha questioned Kui-Chen, saying: “In the three realms, there is only mind. How do you understand this?"”Kui-Chen pointed to a chair and said: “What does the master call that?” Hsuan-Sha said: “A chair.” Kui-Chen said: “Then the master can't say that in the three worlds there is only mind.” Hsuan-Sha said: “I say that it is made from bamboo and wood. What do you say it's made from?” Kui-Chen said: “I also say it's made from bamboo and wood.” Hsuan-Sha said: “I've searched across the great earth for a person who understands the Buddhadharma, but I haven't found one.” • Huyền Sa bảo chúng: “Mặc dù Quế Sâm tàng ẩn trong chúng, nhưng tiếng tăm vang xa—Hsuan-Sha told the monks: “Although Kui-Chen did not aspire to a leading position in the Buddhist community, his reputation as an adept nevertheless spread widely. • Một vị Tăng hỏi: “Thế nào là một câu của La Hán?” Sư đáp: “Ta nói với ngươi, liền thành hai câu.”—A monk asked: “What is Luo-Han's single phrase?” Kui-Chen said: “If I tell you it will turn into two phrases.” • Sư thượng đượng dạy chúng: “Tông môn huyền diệu chỉ là thế ấy sao? Hay riêng có chỗ kỳ đặc? Nếu riêng có chỗ kỳ đặc, các ông hãy nên xem cái gì? Nếu không, chẳng nên đem hai chữ bèn cho là Tông Thừa. Thế nào là hai chữ? Nghĩa là Tông Thừa và Giáo Thừa. Các ông vừa nói đến Tông thừa liền thành Tông thừa, nói đến Giáo thừa liền thành Giáo thừa. Chư Thiền đức! Phật pháp tông thừa nguyên lai do miệng các ông an lập danh tự, làm lấy nói lấy bèn thành. Lẽ ấy cần phải nhằm trong đó nói bình nói thật, nói viên nói thường. Thiền đức! Các ông gọi cái gì là bình thật? Nắm cái gì làm viên thường? Kẻ hành khất nhà bên cần phải biện rành, chớ để chôn vùi; được một ít thanh sắc danh tự chứa trong đầu tâm, nói ta hội giải khéo hay giản biện. Các ông biết cái gì? Ghi nhớ được danh tự ấy, giản biện được thanh sắc ấy. Nếu chẳng phải thanh sắc danh tự, các ông làm sao ghi nhớ giản biện? Gió thổi thông reo cũng là thanh, tiếng ếch nhái, chim, quạ, kêu cũng là thanh, sao chẳng trong ấy lắng nghe để giản trạch đi. Nếu trong ấy có hình thức ý tứ cùng các Thượng Tọa. Chớ lầm! Hiện nay thanh sắc dẫy đầy, là đến nhau hay chẳng đến nhau? Nếu đến nhau, thì linh tánh kim cang bí mật của ông nên có hoại diệt. Vì sao có như thế? Vì thanh xỏ lủng lỗ tai ông, sắc đâm đui con mắt ông, duyên thì lấp mất huyễn vọng của ông, càng chẳng dễ dàng vậy. Nếu chẳng đến nhau, thì chỗ nào được thanh sắc? Biết chăng? Đến nhau, chẳng đến nhau thử biện rành xem?—Kui-Chen entered the hall and addressed the monks, saying: “If you want to come face-to-face with the essential mystery of our order, here it is! There's no other special thing. If it is something else, then bring it forth and let's see it. If you can't show it, then forget about it. You can't just recite a couple of words and then say that they are the vehicle of our school. How could that be? What two words are they? They are known as the 'essential vehicle.' They are the 'teaching vehicle.' Just when you say 'essential vehicle,' that is the essential vehicle. Speaking the words 'teaching vehicle' is itself the teaching vehicle. Worthy practitioners of Zen, our school's essential vehicle, the Buddhadharma, comes from and is realized through nothing other than the names and words from your own mouths! It is just what you say and do. You come here and use words like 'tranquility,' 'reality,' 'perfection,' or 'constancy.' Worthy practitioners! What is this that you call 'tranquil' or 'real'?What is that's 'perfect' or 'constant'? Those of you here on a pilgrimage, you must test the principle of what I'm saying. Let's be open about it. You've stored up a bunch of sounds, forms, names, and words inside your minds. You prattle that 'I can do this' or 'I'm good at figuring out that,' but actually what can I do? What can you figure out? All that you're remembering and holding on to is just sounds and forms. If it weren't all sounds and forms, names and words, then how would you remember them or figure them out? The wind blows and the pine makes a sound. A frog or a duck makes a sound. Why don't you go and listen to those things and figure them out? If everywhere there are meaningful sounds and forms, then how much meaning can be ascribed to this old monk? There's no doubt about it. Sounds and forms assault us every moment. Do you directly face them or not? If you face them directly then your diamond-solid concept of self will melt away. How can this be? Because these sounds penetrate your ears and these forms pierce your eyes, you are overwhelmed by conditions. You are killed by delusion. There isn't enough room inside of you for all of these sounds and forms. If you don't face them directly then how will you manage all of these sounds and forms? Do you understand? Face them or not face them. See yourself. • Sư dừng giây phút, lại nói: “Viên thường bình thật ấy là người gì? Nói thế nào? Chưa phải là kẻ ở trong thôn Hoàng Di thì biết nói thế nào? Đó là các vị Thánh xưa bày chút ít giúp đỡ hiển phát. Thời nay không hiểu phải quấy, liền cho là toàn thật, nói ta riêng có tông phong huyền diệu. Phật Thích Ca không chót lưỡi, chẳng giống với các ông có chút ít bèn chỉ hông chỉ ngực. Nếu luận về tội sát, đạo, dâm, tuy nặng mà vẫn còn nhẹ, vì có khi hết. Kẻ nầy chê bai Bát Nhã làm mù mắt chúng sanh, vào địa ngục A Tỳ, nuốt hoàn sắt nóng chớ bảo là thong thả. Do đó, cổ nhơn nói: 'Lỗi tại hóa chủ, chẳng can hệ việc ông.' Trân trọng!”—After a pause, Kui-Chen continued: “'Perfection.' 'Constancy.' 'Tranquility.' 'Reality.' Who talks like this? Normal people in the village don't talk like this. Its just some old sages that talk this way and a few of their wicked disciples that spread it around. So now, you don't know good from bad, and you are absorbed in 'perfection' and 'reality.' Some say I don't possess the mysterious excellence of our order's style. Sakyamuni didn't have a tongue! Not like you disciples here who are always pointing at your own chests. To speak about killing, stealing, and lewdness is to speak of grave crimes, but they are light by comparison. It's unending, this vilification of nirvana, this blinding the eyes of beings, this falling in the Avici Hell and swallowing hot iron balls without relief. Therefore the ancients said: 'When the transgression is transformed into the host, it no longer offends.' Take care!” • Sư thị tịch năm 928, được vua ban hiệu “Chơn Ứng Đại Sư.”—He died in 928. After death, he received the posthumous title “Zen Master True Response.”
quế thâm
Kuei-Ch'en (C)Tên một vị sư.
Quế điện
(桂殿): có ba nghĩa khác nhau. (1) Từ mỹ xưng các ngôi điện vũ của Đạo Giáo cũng như Phật Giáo. Như trong bài Túc Diệu Đình Quán Thứ Đông Pha Cựu Vận (宿妙庭觀次東坡舊韻) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Quế điện xuy sanh dạ bất quy, Tô tiên thi bảng quải không bi (桂殿吹笙夜不歸、蘇仙詩板掛空悲, điện quế kèn vang đêm chẳng về, Đông Pha thơ bảng vọng không buồn).” (2) Chỉ cho chốn thâm cung, nơi ở của các Hậu Phi. Như trong bài Thượng Lại Bộ Thị Lang Đế Kinh Thiên (上吏部侍郎帝京篇) của Lạc Tân Vương (駱賓王, 640-684) nhà Đường có câu: “Quế điện âm sầm đối ngọc lâu, tiêu phòng yểu điệu liên kim ốc (桂殿陰岑對玉樓、椒房窈窕連金屋, điện quế thâm u đối ngọc lầu, Hậu Phi yểu điệu bao nhà vắng).” Hay trong bài Trường Môn Oán (長門怨) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà nhà Đường lại có câu: “Quế điện trường sầu bất ký xuân, hoàng kim tứ ốc khởi thu trần (桂殿長愁不記春、黃金四屋起秋塵, điện quế mãi sầu chẳng biết xuân, vàng ròng nhà cửa dậy bụi trần).” (3) Chỉ cho Nguyệt Cung (月宮), tức cung trăng. Như trong bài Hòa Mã Bá Dung Trừ Nam Đài Trung Thừa Dĩ Thi Tặng Biệt (和馬伯庸除南台中丞以詩贈別) của Tát Đô Thích (薩都剌, khoảng 1272-1355) nhà Nguyên có câu: “Quế điện thả lưu tu nguyệt phủ, Ngân Hà vị hứa độ tinh diêu (桂殿且留修月斧、銀河未許度星軺, cung Quảng còn lưu búa sửa trăng, Ngân Hà chưa hẹn xe chở sao).” Từ đó, có thuật ngữ quế điện lan cung (桂殿蘭宮, điện quế cung lan) để chỉ cho những cung điện quý phái, hoa mỹ, tráng lệ. Trong Ngu Am Trí Cập Thiền Sư Ngữ Lục (愚菴智及禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1421) quyển 7, bài Ngoại Đạo Vấn Phật (外道問佛), có đoạn: “Hạo nguyệt đương không tợ giám viên, trần mao sát hải chiếu vô thiên, mê vân tán tận bác tang hiểu, quế điện Thường Nga oán vị miên (皓月當空似鑑圓、塵毛剎海照無偏、迷雲散盡搏桑曉、桂殿嫦娥怨未眠, trăng tỏ trên không tợ gương soi, chiếu soi muôn vật khắp mọi nơi, mây mù bủa khắp trời mờ sáng, cung Quảng Hằng Nga oán mãi hoài).”
Quế ảnh
(桂影): chỉ bóng mặt trăng, ánh trăng. Theo Dậu Dương Tạp Trở (酉陽雜俎) quyển 1, chương Thiên Chỉ (天咫) của tiểu thuyết gia Đoàn Thành Thức (段成式, 803-863) nhà Đường cho biết rằng tương truyền trên mặt trăng có một cây Nguyệt Quế (月桂) cao 500 trượng. Dưới thời nhà Hán có một người tên là Ngô Cương (吳剛), say mê về tiên đạo mà không lo chuyên tâm học tập; vì vậy Thiên Đế nổi giận, đem chàng ta giam tại cung trăng, bắt chàng phải chặt cây quế và bảo rằng nếu như chặt đỗ cây quế đó thì có thể lấy được thuốc tiên. Ngô Cương bắt đầu chặt cây quế, nhưng sau khi chặt xong một nhát đao thì vết chặt tự nhiên liền lại. Ngày qua ngày, chàng trai tận lực đốn cây quế, nhưng không thành. Cho nên, Ngô Cương vẫn còn làm công việc này, vì cây quế vẫn chưa ngã và người đời sau thấy hình tượng chàng thanh niên kia chặt cây quế không ngừng nghỉ. Vì vậy, hình ảnh cây quế luôn gắn liền với mặt trăng qua một số từ ngữ như quế phách (桂魄), quế điện (桂殿), quế nguyệt (桂月), v.v. Như trong bài thơ Sơn Trung Dạ Tọa Ký Cố Lí Hữu Sinh (山中夜坐寄故里友生) của Lý Hàm Dụng (李咸用, ?-?) nhà Đường có câu: “Trùng thanh xúc xúc thôi hương mộng, quế ảnh cao cao quải lữ tình (蟲聲促促催鄉夢、桂影高高掛旅情, tiếng trùng thúc giục cố hương mộng, ánh trăng cao vút chở tình xa).” Trong bài từ Chúc Anh Đài Cận (祝英台近) của Lưu Cơ (劉基, 1311-1375) nhà Minh có đoạn: “Thúy yên thu, châu lộ hạ, tinh Hán cọng tiêu sái, quế ảnh bồi hồi, bạch tuyết xán diêm ngõa (翠煙收、珠露下、星漢共瀟灑、桂影徘徊、白雪粲簷瓦, khói biếc thu, sương châu rụng, ông sao cùng thong thả, bóng trăng bồi hồi, tuyết trắng cười ngói mái nhà).” Trong Sách Pháp Hiệu Nghĩa Biện Phúng Tụng Văn (索法號義辯諷誦文, Taishō Vol. 85, No. 2857) có câu: “Liên hoa ái nhi quế ảnh trầm huy, phương thọ điêu nhi lan tư bãi úc (蓮花靉而桂影沈暉、芳樹彫而蘭姿罷郁, hoa sen tối mà ánh trăng thầm sáng, cây thơm tàn mà dáng lan rực rỡ).”
quỉ
Preta (S). A disembodied spirit, dead person, ghost; a demon, evil being, devil; spectre, goblin, boggy; apparition. Xem Cửu quỉ
quỉ bệnh
Sickness caused by demon, or ghost.
quỉ giới
The region or realm of demon.
quỉ khốc thần sầu
Terrible, terrific, dreadful, terrifying, awe-inspiring.
quỉ kiến
Demon views, i.e. heterodox teaching.
quỉ lục
The iron record containing the sins of men in Yama's office in Hades.
quỉ môn
The north-east corner of a house, or of a city-gate, through which the spirits can come and go.
quỉ mị
Imps or demons who cause sickness, especially malaria in certsin regions.
quỉ nhập tràng
Chamanda (S).
quỉ sứ
Hell-envoy; infernal emissary; demon.
quỉ sử thần sai
To be led beyond one's control.
quỉ thành
The demon-city, that of the Gandharvas.
quỉ thần
Ghosts and spirits, a general term which includes the spirits of the dead, together with the demon and the eight classes of spirits such as devas, etc. Quỉ is intp as oai causing fear, Thần as năng potent, powerful. Devils and gods Xin quỉ thần chứng minh, to call gods to witness; to swear by all the gods.
quỉ thực thời
The time when the demons feed, i.e. night.
quỉ tử mẫu
Xem Ha lỵ đế.
; Hàritì (S). A woman who having vowed to devour all the babies at Ràjagriha was reborn as a ràkshasi, and gave birth to 500 chidren, one of which she was to devour everyday. Converted by Sàkyamuni, she entered a convent. Her image is to be seen in all nunneries. Another account is that she is the mother of 500 demons, andthat from being an evil goddess or spirit she was converted to become a protectress of Buddhism.
quỉ vương
The King of the demons.
quỉ đạo, quỉ thú
The way or destiny of yaksa, ràksasas, and hungry ghosts. Quỉ đạo also means in league with demons, or following devilish ways.
quốc
A country, a nation; national.
; Xứ sở—A country—A nation.
quốc bảo
(國寶) Của báu của đất nước. Chỉ cho người có đầy đủ học thức, đức hạnh, có khả năng làm thầy và được mọi người tôn sùng, giống như quốc bảo vậy. Chương Lục tổ Tuệ năng trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 236 hạ) nói: Đến ngày mồng 5 tháng 5 niên hiệu Vĩnh thái năm đầu, Đại tông mộng thấy Lục tổ Đại sư thỉnh y bát (...), nay sai Trấn quốc Đại tướng quân Lưu sùng cảnh cung kính đưa về, trẫm cho rằng đó là Quốc bảo. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 1].
quốc dịch nhất thiết kinh
(國譯一切經) Chỉ cho bộ Phật điển tùng thư gồm 255 quyển được soạn thuật hoặc phiên dịch thành tiếng Nhật bản, do nhà xuất bản Đại đông ấn hành. Nội dung bộ sách này được chia làm 2 phần: 1. Ấn Độ soạn thuật bộ: Thu tập những kinh, luật, luận do các vị Tổ sư Ấn Độ soạn thuật đã được dịch ra chữ Hán, rồi dịch sang tiếng Nhật. Có tất cả 155 quyển, xuất bản lần đầu vào năm Chiêu hòa11(1936); hiệu đính tái bản vào năm Chiêu hòa 53 (1978). Trong phần này gồm có A hàm bộ, Bản duyên bộ, Bát nhã bộ, Pháp hoa bộ, Hoa nghiêm bộ và Luận tập bộ. 2. Hòa Hán soạn thuật bộ: Thu tập các chú sớ kinh, luật, luận, sử truyện và trứ tác của chư Tổ các tông phái ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, có tất cả 100 quyền. Trước khi Đại chiến lần II kết thúc, xuất bản được 66 quyểnrồi tạm đình chỉ, năm Chiêu hòa 33 (1958) tiếp tục xuất bản, đến nay đã hoàn thành được 95 quyển. Căn cứ vào sự phân loại trong sách thì bộ Hòa Hán này gồm Chư tông bộ, Luật sớ bộ, Sự vựng bộ, Sử truyện bộ, Kinh sớ bộ, Luận sớ bộ và Hộ giáo bộ. Trong 2 bộ trên đây, mỗi bộ còn có thêm 1 quyển Sách dẫn, ghi Tổng mục lục và nội dung Sách dẫn. Nét nổi bật của bộ tùng thư này là ngoài phần chính văn Nhật dịch ra, mỗi bộ kinh đều có phần giải thích tên kinh, giới thiệu tác giả, quá trình thành lập, đặc sắc của bộ kinh, nội dung cương yếu và những khảo chứng tâm đắc. Trong văn có thêm chú giải, đối với những chỗ không rõ ràng thì nêu ra sự sai khác giữa bộ kinh với bản Pàli và bản dịch khác thuộc Bắc truyền. Đây là bộ sách Phật học nhập môn trọng yếu, giúp ích rất nhiều cho những người bắt đầu học Phật.
quốc giáo
National religion.
quốc họa
National disaster (calamity).
quốc hồn
National soul (spirit).
quốc kế dân sinh
National economy and the livelihood of the people.
quốc nạn
See Quốc họa.
quốc phần tự
(國分寺) Những chùa viện do Thiên hoàng Thánh Vũ (724-749) của Nhật Bản ban sắc xây dựng ở 69 nơi trên toàn quốc. Các chùa tăng đặt tên là Kim quang minh Tứ thiên vương hộ quốc, còn các chùa ni thì có hiệu là Pháp hoa diệt tội. Chùa tăng gọi chung là Quốc phân tự, chùa ni gọi chung là Quốc phân ni tự. Các chùa viện này đều chung 1 lí tưởng là Chính giáo nhất trí (Chính trị và tông giáo là một), cầu nguyện chư Phật gia hộ để tiêu trừ tai họa, tăng trưởng phúc đức. Quốc phân tự là phỏng theo Khai nguyên tự của Trung quốc do vua Huyền tông thiết lập vào đời Đường. Trong các Quốc phân tự thì lấy Đông đại tự làm Tổng quốc phân tự, còn Pháp hoa tự ở Nại lương là Tổng quốc phân ni tự. Loại chùa viện này phần nhiều được xây dựng tại các thành thị lớn của địa phương, ngày nay rất nhiều nền cũ đã được phát hiện, cũng có nhiều chỗ chỉ còn là địa danh hoặc được xem là sử tích mà thôi.
quốc sư
Kokushi (J).
; Imperial preceptor, a title conferred on certain Buddhist monks.
; Ông thầy của cả nước, thường là một vị Tăng (trong các quốc gia Phật giáo)—Imperial Teacher—Imperial preceptor or preceptor of the State, usually a Buddhist monk.
; (國師) I. Quốc Sư. Phong hiệu mà các triều đại đế vương Trung quốc phong cho vị Cao tăng có học vấn và đức hạnh, có thể làm bậc thầy tiêu biểu chomột nước. Quốc sư có nghĩa là thầy của dân chúng trong nước và thầy của vua. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 11, 14 và Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4 thì các ngài Cưu ma viêm và Thắng quân từng được phong làm Quốc sư. Như vậy, tước hiệu này vốn đã lưu hành ở Ấn Độ, Tây vực từ trước rồi. Như ngài Ha Lê Bạt Ma, vì đã chiết phục được các luận sư ngoại đạo ở nước Ma yết đà, Trung Ấn Độ, nên được vua phong làm Quốc sư. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung quốc thì ở Tây vực cũng đã có phong hiệu Quốc sư rồi, như vào năm Kiến nguyên 18 (382) đời Tiền Tần, Đông sư Tiền bộ vương di đệ của Tây vực đến thăm Trường an, Quốc sư của ông là ngài Cưu Ma Bạt Đề cũng đi cùng. Rồi như phụ thân của ngài Cưu ma la thập là Cưu ma viêm đã nói ở trên, từ bỏ địa vị Tể tướng để đi xuất gia, đi về phía đông, vượt qua dãy núi Thông lãnh, vua nước Cưu tư nghe danh kính mộ, thỉnh ngài làm Quốc sư. Còn cao tăng Trung quốc cũng có vị làm Quốc sư ở Tây vực, như ngài Pháp ái ở Lũng tây. Chức Quốc sư ở Trung quốc vốn không phải để phong riêng cho các bậc Cao tăng, mà được phong chung cho cả người ngoài đời, như Vương mãng đã phong Lưu hâm làm Quốc sư để dạy Thái tử, hoặc dùng chức Quốc sư để gọi thay cho Thái sư, Quốc tử tế tửu (chức quan dạy Thái tử). Phổ thông cho rằng người đầu tiên phong cao tăng làm Quốc sư là vua Văn tuyên đời Bắc Tề: Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (550), vua ban sắc triệu thỉnh cao tăng Pháp thường vào cung tuyên giảng kinh Niết bàn rồi tôn ngài làm Quốc sư. Về sau, vào đời Đường, có các ngài Pháp tạng được phong là Khang tạng Quốc sư, ngài Trừng quán là Thanh lương Quốc sư, ngài Tuệ Trung là Nam Dương Quốc sư, ngài Vô nghiệp là Đại đạt Quốc sư... Đến đời Tống, lúc Thiền tông toàn thịnh thì có rất nhiều thiền sư được ban hiệu nhưng không thấy có danh hiệu Quốc sư. Đến các đời Nguyên, Minh, Thanh, đối với các vị lãnh tụ của Phật giáo Tây tạng cũng có phong hiệu Quốc sư. Nhất là triều đình nhà Nguyên vì quá tôn sùng và ưu đãi Lạt ma giáo, Quốc sư thường nắm giữ cả quyền lực tông giáo và chính trị nên đã tạo ra nhiều cái thối nát. Đến đầu đời Minh, triều đình tăng cường quan hệ với dân tộc Tây tạng, tuy vẫn theo chế độ nhà Nguyên, phong Lạt ma làm Đế sư, Quốc sư, nhưng quyền hành đã giảm bớt nhiều, không còn được như ở đời Nguyên. Đến đời Thanh thì chỉ có năm Khang Hi 45 (1706), Chương gia Hô đồ khắc đồ được phong Quốc sư, trông coi các việc Lạt ma giáo ở Nội mông cổ. Còn về phía Cao tăng người Hán được triều Nguyên phong làm Quốc sư thì có 9 vị, trong đó có Quốc sư Hải Vân đời vua Thế tổ là nổi tiếng hơn cả. Ngoài ra, ở Triều tiên ngài Nghĩa Thiên hiệu Đại Giác Quốc sư cũng rất nổi tiếng. Còn ở Nhật Bản thì Thiên Hoàng Hoa Viên ban thụy hiệu Thánh Nhất Quốc Sư đầu tiên cho ngài Viên Nhĩ Biện Viên vào năm 1308, nhưng khác với Trung Quốc ở chỗ đây là thụy hiệu được phong sau khi thị tịch. Về sau, ở Nhật Bản, cũng có người được phong Quốc sư lúc còn sống. [X. Lương cao tăng truyện Q.1; Tục cao tăng truyện Q.16; Đại tống tăng sử lược Q.trung; Nguyên hanh thích thư Q.7, 8; Xưng hô môn trong Thiền lâm tượng khí tiên]. II. Quốc Sư. Chức quan tăng của Nhật Bản trụ ở các Quốc phân tự (chùa nhà nước), trông nom mọi việc trong chùa, quản lí tài sản, kiêm việc tụng kinh giảng đạo. Chức quan này được đặt ra vào năm Đại bảo thứ 2 (702). (xt. Quốc Phân Tự).
quốc sư tam hoán
(國師三喚) Tên công án trong Thiền tông. Quốc sư gọi 3 lần. Chỉ cho câu chuyện Quốc sư Tuệ Trung 3 lần gọi thị giả, 3 lần thị giả dạ!. Chương Nam dương Tuệ Trung trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 244 thượng) ghi: Một hôm sư gọi thị giả, thị giả thưa dạ!, cứ thế 3 lần sư gọi, 3 lần thị giả đều dạ!. Sư nói: Tưởng rằng ta phụ ngươi, nào ngờ ngươi phụ ta. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.3; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.8; Tông môn cát đằng tập Q.thượng].
quốc sư thuỷ oản
(國師水碗) Tên công án trong Thiền tông. Quốc sư và bát nước. Công án này nói về việc Thiền sư Nam Dương Tuệ Trung lấy 1 bát nước, bỏ vào đó 7 hạt gạo, rồi đặt một chiếc đũa ở trên bát để trắc nghiệm xem Tử Lân Cung Phụng có hiểu được ý Phật không. Bích Nham lục tắc 48 (Đại 48, 184 thượng) chép: Trung Quốc sư hỏi Tử Lân Cung Phụng: -Ta nghe nói Cung phụng chú giải kinh Tư ích đúng không? Phụng đáp: Dạ đúng! Sư nói: Hễ chú giải kinh thì cần phải hiểu rõ ý của Phật mới được. Phụng thưa: Nếu không hiểu ý thì làm sao dám nói là chú giải kinh. Sư liền sai thị giả lấy bát nước, 7 hạt gạo và chiếc đũa để trên bát đưa đến cho Cung phụng. Sư hỏi: Đây là nghĩa gì? Phụng đáp: Không hiểu! Sư nói: Ý của lão tăng mà ngươi còn không hiểu thì làm sao mà hiểu được ý của Phật? [X. chương Nam dương Tuệ trung trong Liên đăng hội yếu Q.3].
quốc sư tháp dạng
(國師塔樣) Cũng gọi Trung quốc sư vô phùng tháp, Túc tông thỉnh tháp dạng. Tên công án trong Thiền tông. Quốc sư và kiểu tháp. Cơ duyên vấn đáp giữa vua Đường túc tông và Quốc sư Nam Dương Tuệ Trung về kiểu tháp không có tầng bậc. Bích nham lục tắc 18 (Đại 48, 157 hạ) ghi: Hoàng đế Túc tông hỏi Quốc sư Tuệ Trung: -Sau khi Thầy viên tịch, đệ tử phải làm gì để tưởng niệm thầy? Quốc sư đáp: Làm cho lão tăng một cái tháp không có tầng bậc. Vua nói: Xin thầy cho kiểu tháp. Quốc sư im lặng giây lâu rồi hỏi: Hiểu không? Vua đáp: Không hiểu. Quốc sư nói: Tôi có đệ tử phó pháp là Đam Nguyên, am hiểu việc này, xin vua hỏi ông ta. Sau khi Quốc sư thị tịch, vua hạ chiếu hỏi ngài Đam Nguyên ý đó là thế nào? Ngài Đam nguyên đáp: Sông Tương ở phía nam, cái đầm ở phương bắc. Có thuyết cho rằng công án này là cơ duyên vấn đáp giữa vua Đường đại tông và Quốc sư Nam dương Tuệ Trung. [X. Thung dung lục tắc 85; Thiền uyển mông cầu Q.trung].
quốc sử
National history.
quốc sự
National affair.
quốc thanh bách lục
(國清百錄) Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Quán Đính biên soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này ban đầu do Sa môn Trí Tịch biên tập các văn cảo và văn bia của Đại sư Trí Khải, nhưng sách chưa được hoàn thành thì ngài Trí Tịch đã thị tịch, ngài Quán Đính nối tiếp soạn thêm, tất cả có 104 điều. Đây là tư liệurấtcần thiết để hiểu rõ cuộc đời và sự nghiệp của Đại sư Trí Khải tông Thiên thai. Sách này vốn có 2 loại bản, 1 đầy đủ và tóm tắt; bản đầy đủ đã bị thất lạc, bản hiện còn là bản tóm tắt. Vì Đại sư Trí Khải trụ ở chùa Quốc thanh núi Thiên thai nên sách mang tên này. [X. Phật tổ thống kí Q.25; Đại minh tam tạng pháp số mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1].
Quốc Thanh Tự
(國清寺, Kokusei-ji): ngôi chùa tọa lạc tại sườn núi phía nam của ngọn Phật Lũng Phong (佛隴峰), thuộc Thiên Thai Sơn (天台山), Huyện Thiên Thai (天台縣), Tỉnh Triết Giang (浙江省), là nơi phát xuất của Thiên Thai Tông Trung Quốc. Vào năm 596 (niên hiệu Khai Hoàng [開皇] thứ 18 nhà Tùy), vua nhà Tấn là Dương Quảng (揚廣, tức Dương Đế [煬帝]) sáng lập ngôi chùa này cho Đại Sư Trí Khải (智顗). Lúc đầu tiên, Thiền Sư Định Quang (定光) đến trú tại núi này, thường dạy chúng đệ tử rằng không bao lâu nữa sẽ có bậc thiện tri thức lỗi lạc đến đây. Sau đó, quả nhiên có Trí Khải đến quảng bố giáo pháp, nhưng chưa thành tựu bao nhiêu thì đã thị tịch ở Nam Kiến Tự (南建寺), Phật Lũng (佛隴). Nhà vua rất thương tiếc, bèn cúng dường trai tăng cho ngàn vị tăng để hồi hướng cho Trí Khải, và tiến hành trùng kiến các ngôi đường vũ. Ban đầu chùa có tên là Thiên Thai Sơn Tự (天台山寺), sau nhân lần đầu tiên khi Trí Khải đến núi, Định Quang mộng báo cho biết 3 nước (Bắc Chu, Bắc Tề và Trần) hợp thành một, có một người rất có thế lực mới có thể làm cho chùa thành tựu được, chùa thành tựu thì nước mới thanh bình; cho nên chùa được đặt tên là Quốc Thanh Tự. Vào năm 605 (niên hiệu Đại Nghiệp [大業] nguyên niên nhà Tùy), chùa được ban sắc ngạch với tên gọi như vậy. Không bao lâu sau, Quán Đảnh (灌頂) đến trú trì chùa và nơi đây trở thành đạo tràng căn bản của Thiên Thai Tông. Từ niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) 9 nhà Đường trở về sau, các lưu học tăng Nhật Bản đến chùa tham học càng đông, như Tối Trừng (最澄), Nghĩa Chơn (義眞), Viên Giới (圓戒), Viên Tu (圓修), Thành Tầm (成尋), Tuấn Nhưng (俊芿), Trùng Nguyên (重源), Vinh Tây (榮西), v.v. Mọi người đều đến đảnh lễ miếu tháp của Trí Khải, sau đó mang về nước các tượng Phật, kinh luận, v.v., và khai sáng Thiên Thai Tông Nhật Bản. Theo cuốn Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký (入唐求法巡禮行記) của Viên Nhân (圓仁), đương thời chùa thường có khoảng150 vị tăng lưu trú, đến mùa An Cư kiết hạ thì có hơn 300 người; cho nên lúc bấy giờ chùa đang hồi cực thịnh. Đến lúc nạn Hủy Phật Hội Xương (會昌), chùa bị binh hỏa thiêu rụi. Vào năm 851 (niên hiệu Đại Trung [大中] thứ 5), chùa được trùng kiến lại và đến năm 1005 (niên hiệu Cảnh Đức [景德] thứ 2 nhà Tống), chùa đổi tên thành Cảnh Đức Quốc Thanh Tự (景德國清寺). Sau đó, chùa lại bị binh hỏa thiêu cháy, mấy trăm quyển sách của ba triều đại đều mất sạch, chỉ còn lại Liên Kinh (蓮經) do Trí Khải đề bút, 1 quyển kinh lá bối của Tây Vức và tượng Phật bằng gỗ Chiên Đàn thời nhà Tùy cũng như răng Phật mà thôi. Vào năm 1128 (niên hiệu Kiến Viêm [建炎] thứ 2 nhà Nam Tống), triều đình ban sắc lệnh trùng tu chùa, cho nên cảnh trí chùa đẹp hơn ngày xưa. Hai năm sau, triều đình hạ chiếu chuyển chùa sang Thiền Tông, vì vậy nơi đây trở thành Thiền tự. Về sau, chùa đã trải qua bao lần tái tạo và khuôn viên chùa được gọi là một trong 4 thắng cảnh trong thiên hạ. Nơi đây có cầu tên Phong Can Kiều (豐干橋), tương truyền dưới thời nhà Đường, Phong Can (豐干), Hàn Sơn (寒山) và Thập Đắc (拾得) đã từng đến chơi ở đây. Cũng phát xuất từ nhân duyên Của Thiền Sư Phong Can với chùa, nên từ đó về sau chùa được đội thành Thiền tự. Trước chùa có tháp 9 tầng bằng ngói. Bảo vật của chùa có tháp Xá Lợi bằng đồng do Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thục (錢弘淑) tạo.
quốc thanh tự
(國清寺) Chùa ở chân núi phía nam ngọn Phật Lũng, núi Thiên Thai, phía bắc huyện Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc là nơi phát tích của tông Thiên thai. Vào năm Khai Hoàng 18 (596) đời Tùy, Tấn vương Dương Quảng (sau là Dạng Đế) đã sáng lập chùa này để cúng dường Đại sư Trí khải. Đầu tiên, Thiền sư Định Quang trụ ở ngọn núi này, ngài từng bảo đệ tử rằng không bao lâu nữa sẽ có bậc đại thiện tri thức thống lãnh đồ chúng đến ở núi này. Sau, quả nhiên có ngài Trí Khải đến đây truyền bá giáo pháp, ngài muốn xây chùa ở phía nam ngọn núi Phật lũng, nhưng ý định chưa được thực hiện thì ngài đã viên tịch. Tấn vương Dương Quảng vô cùng thương tiếc và vì ngài mà thiết trai cúng dường 1.000 vị tăng, sau đó, lại xây cất thêm điện đường ở chùa. Lúc đầu, Tấn Vương đã đặt tên chùa là Thiên thai sơn tự, sau nhân lúc ngài Trí Khải mới vào núi này, Thiền sư Định Quang từng báo mộng rằng: 3 nước (chỉ cho Bắc Chu, Bắc Tề và Trần) hợp làm một thì sẽ có người nhiều thế lực có thể làm được chùa này, nếu chùa được hoàn thành thì quốc gia sẽ thanh bình, nên đặt tên là Quốc thanh tự. Niên hiệu Đại Nghiệp năm đầu (605) đời Tùy, vua ban biển ngạch Quốc Thanh Tự. Ít lâu sau, ngài Quán Đính trụ trì, từ đó, chùa trở thành đạo tràng căn bản của tông Thiên thai. Từ năm Trinh nguyên đời Đường về sau, rất nhiều vị tăng Nhật bản du học Trung quốc đã đến tham bái chùa Quốc thanh, như các sư Tối Trừng, Nghĩa Chân, Viên Tải, Viên Trân, Thành Tầm, Tuấn Nhưng, Trọng Nguyên, Vinh Tây...đều đã đến lễ tháp thờ ngài Trí Khải, hoặc có vị làm việc Phật, hoặc có vị đem tượng Phật và kinh luận về nước, nhân đó mà sáng lập tông Thiên thai của Phật giáo Nhật Bản. Cứ theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 1 của ngài Viên Nhân, trong chùa Quốc Thanh lúc nào cũng có 150 vị tăng thường trú, hạ an cư thì có từ 300 vị trở lên, như vậy ta có thể thấy pháp vận của chùa thời đó hưng thịnh đến mức nào. Trong Pháp nạn Hội xương (846) đời Đường, chùa đã bị đốt, năm Đại trung thứ 5 (851) được xây dựng lại. Năm Cảnh đức thứ 2 (1005) đời Tống, chùa được đổi tên là Cảnh Đức Quốc Thanh Tự. Sau lại bị lửa chiến tranh hủy hoại, mấy trăm quyển sách của các vua 3 triều cháy hết, chỉ còn Liên kinh của ngài Trí khải, 1 quyển kinh lá bối từ Tây vực, tượng Phật bằng gỗ chiên đàn tạc vào đời Tùy và răng Phật. Năm Kiến viêm thứ 2 (1128) đời Nam Tống, vua ban sắc trùng tu, chùa trở nên đẹp đẽ gấp bội so với ngày trước. Năm Kiến viêm thứ 4 (1130), vua hạ lệnh đổi Giáo thành Thiền, từ đó về sau chùa Quốc thanh trở thành Thiền tự. Sau, trải qua nhiều lần xây cất thêm, chùa trở thành 1 trong Tứ tuyệt trong thiên hạ từ xưa đến nay. Hai bên chùa có 5 ngọn núi (Bát trụ, Linh cầm, Tường vân, Linh chi và Ánh hà) bao vòng chung quanh chùa, có 2 dòng suối chảy vòng hợp lại ở trước chùa. Chùa có cây cầu tên là Phong can, tương truyền đó là nơi mà Thiền sư Phong can đời Đường thường dạo chơi với các ngài Hàn sơn và Thập đắc. Lại do nhân duyên của Thiền sư Phong can với chùa này mà biết được rằng tuy đến đời Tống chùa mới được đổi thành Thiền tự, nhưng ngay từ đầu đời Đường chùa đã dần dần được Thiền hóa rồi. Hiện nay các kiến trúc trong chùa còn nguyên vẹn, phía trước chùa có ngôi tháp gạch 9 tầng, tương truyền do Tùy dạng đế (Tấn vương Dương quảng) sai Tư Mã Vương hoằng kiến thiết để thờ ngài Trí Khải; tháp cao khoảng 23 trượng, mặt bằng, 6 góc, qui mô rộng lớn, nhưng có vẻ là kiến trúc đời Tống. Bảo vật còn được cất giữ trong chùa có tháp xá lợi bằng đồng do Ngô việt vương Tiền hoằng thục tạo, tháp này là 1 trong 8 vạn 4 nghìn tháp, là vật đã đào được trong khu vực chùa, cao 19 cm, phần dưới cùng của tháp bên trong có khắc chữ. Cảnh chùa có 2 nơi di tích của ngài Nhất Hạnh (673-727). Ngài Nhất Hạnh là vị cao tăng đời Đường,1 nhà Thiên văn học nổi tiếng, từng sửa lại lịch Đại diễn. Ngài đến chùa Quốc Thanh, cùng với vị tăng trong chùa nghiên cứu về số học. Người đời sau xây mộ dựng bia ở phía sau thápThất Phật trước chùa để tưởng niệm ngài, trên đề dòng chữ: Đường Nhất Hạnh Thiền Sư Chi Tháp (Tháp thiền sư Nhất Hạnh đời Đường). Lại truyền rằng khi ngài Nhất Hạnh đến đây thì núi Bắc mưa lớn, dòng suối ở núi Đông trước chùa chảy mạnh, tràn ngược về phía Tây. Nay, bên cầu Phong can có tấm bia đá vuông, trên đó viết 7chữ: Nhất Hạnh Đảo Thử Thủy Tây Lưu (Ngài Nhất hạnh đến đây nước chảy về tây). [X. Bài tựa Quốc thanh bách lục; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện, Thiên thai sơn toàn chí; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 123].
quốc thống
(國統) Tên 1 chức quan tăng ở thời Đông Ngụy thuộc Bắc triều, Trung Quốc. Theo Tăng chế qui định, chức quan này có thẩm quyền xử trị các tăng ni phạm tội giết người và các tội khác. Lúc đầu, chức này được gọi là Chiêu huyền thống. Dưới chức này có chức Quốc đô (nguyên gọi là Chiêu huyền đô Duy na). Chế độ quan tăng bắt đầu được đặt ra vào thời Ngụy thuộc Nam Bắc triều. Người đầu tiên lập chức Quốc thống là vua Diêu hưng đời Hậu Tần; đến khoảng năm Hoằng thủy (396-397) thì Đạo vũ đế nhà Bắc Ngụy thiết lập chức Đạo nhân thống để quản lí tông đồ. Đến niên hiệu Hưng an năm đầu (452), ngài Sư hiền đảm nhiệm chức Đạo nhân thống, sau khi ngài Sư Hiền thị tịch thì ngài Đàm Diệu kế vị, đổi tên gọi là Sa môn thống. Niên hiệu Hòa bình năm đầu (460), vua Văn thành nhà Bắc Ngụy đổi Giám phúc tào (cơ cấu quan tăng Trung ương được thiết lập từ trước) làm Chiêu huyền tự (có thuyết nói do Hiếu văn đổi); Sa môn thống của Chiêu huyền tự được gọi là Chiêu huyền thống. Ngài Pháp thượng thời đó từng giữ chức Chiêu huyền thống suốt 40 năm, từ thời Bắc Ngụy đến thời Bắc Tề. Sau khi Bắc Ngụy bị chia thành Đông Ngụy và Tây Ngụy thì chức Chiêu huyền thống ở Đông Ngụy được gọi là Quốc thống. (xt. Tăng Quan)
quốc túy
National characteristics or spirit.
quốc tăng chính
Văn phòng Tăng Thống—National superintendent of the clergy, an office which at one time existed.
quốc vương
Quốc vương hay Thái tử, người được phước báo cao trong hiện tại nhờ tiền kiếp tu trì thập thiện—A king or a prince—One who has attained to his present high estate consequent on keeping all the ten commandments in a previous incarnation.
; (國王) Cũng gọi Quốc chủ, Nhân vương. Chỉ cho ông vua cai trị một nước. Nói theo nhân quả thì người kiếp trước thụ trì giới thập thiện, nhờ thế mà đời này được làm vua thống lãnh đất nước, làm chủ nhân dân. Lại nhân được chư thiên bảo hộ nên cũng gọi là Thiên tử. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng].
quốc vương bất lê tiên nê thập mộng kinh
(國王不梨先泥十夢經) Bất lê tiên nê, Phạm: Prasenajit. Pàli: Prasennadi, Hán âm: Ba tư nặc. Gọi tắt: Thập mộng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm Vô Lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Đây là bản lưu hành riêng của kinh thứ 9, phẩm ĐạiÁi đạo bát niết bàn phần trong kinh Tăng nhất a hàm. Nội dung kinh này nói về việc vua Ba tư nặc nằm mộng thấy 10 điều kì lạ, ngoại đạo cho là điềm xấu, khuyên vua nên giết vợ và cận thần để tế trời, cầu bình an, cát khánh. Sau nhờ đức Phật dùng trí tuệ chân chính giải mộng, vua mới được yên lòng. Kinh này có 2 bản dịch khác, đó là kinh Xá vệ quốc vương mộng kiến thập sự và kinh Xá vệ quốc vương thập mộng.
quốc vương ngũ chủng khả ái lạc pháp
(國王五種可愛樂法) Năm pháp đáng ưa thích của ông vua một nước. Cứ theo kinh Phật vị Ưu Điền Vương thuyết vương pháp chính luận thì ông vua 1 nước có5 điều làm cho nhân dân trong nước tôn kính và yêu thích như sau: 1. Ân dưỡng thương sinh: Quốc vương thường ban bố nhân nghĩa, làm việc lợi ích cứu giúp mọi người, vì thế nhân dân đều được thấm nhuần ân đức và hết lòng yêu quí Quốc vương. 2. Anh dũng cụ túc: Quốc vương trí dũng song toàn, đức trùm muôn cõi, uy vang 4 biển, vì thế nhân dân sợ uy cảm đức của vua và đều quí mến. 3. Thiện quyền phương tiện: Quốc vương tài trí mưu lược, quyền biến khó lường, che chở những người nhu thuận, dùng phương tiện khéo léo chế ngự những kẻ ương ngạnh, hung bạo, vì thế nhân dân sợ uy cảm đức và đều yêu kính vua. 4. Chính thụ cảnh giới: Quốc vương thường khéo trù tính, lo toan, dự trữ đầy đủ kho tàng, đem lòng yêu thương cứu giúp những người bệnh hoạn, nghèo túng, vì thế nhân dân được thấm nhuần ân huệ, không ai không yêu kính quốc vương. 5. Khuyến tu thiện pháp: Quốc vương có đủ lòng tin chân chính, hiểu rõ quả báo mà tu tập chính nhân để chứng chính quả, vì thế nhân dân tôn kính, học tập theo vua và hết lòng yêu mến.
quốc ân
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế. Chùa tọa lạc tại phía tây bắc núi Ngự Bình, trong thôn Phước Quả, phường Trường An. Nguyên chùa có tên là Vĩnh Ân do Hòa Thượng Siêu Bạch Nguyên Thiều, một du tăng Trung Hoa khai sơn vào khoảng năm 1683. Năm năm sau, chúa Nguyễn Phước Thái công nhận là quốc tự và đặt tên lại là Quốc Ân. Năm 1805, công chúa Long Thành hiến 300 lạng bạc để trùng tu. Năm 1842, vua Thiệu Trị lại cấp cho chùa 500 lạng bạc để hoàn chỉnh như chúng ta thấy ngày nay—Name of an old temple in Huế. It is located at northwest of Ngự Bình Hill, in Phước Quả hamlet, Trường An precint. Its original name was Vĩnh An. The temple was built in 1683 by Most Venerable Siêu Bạch Nguyên Thiều, a wandering Chinese monk. Five years later, Lord Nguyễn Phước Thái recognized it as a national temple and renamed it Quốc Ân. In 1805, Princess Long Thành, an elder sister of king Gia Long, had it rebuilt with 300 ounces of silver. In 1842, king Thiệu Trị granted 500 ounces of silver to accomplish its reconstruction as we can see it today.
quốc độ
Kṣetra (S), Khetta (P).
; A country, land, native land, abode of a race or races.
; Nơi ở của các chúng hữu tình—A country—Native land—Abode of a race, or races.
; (國土) Phạm: Kwetra. Hán âm: Sát đa la. Gọi tắt: Sát. Hán dịch: Độ, Sát độ. Chỉ cho đất đai, lãnh thổ hoặc chỗ ở của chúng sinh. Quốc độ có Tịnh độ và Uế độ khác nhau.
quốc độ a du đà
Ayodhyā (S).
quốc độ hải thế giới hải
(國土海世界海) Chỉ cho cõi nước của Phật. Kinh Hoa nghiêm chia cõi nước Phật làm 2 loại là Quốc độ hải và Thế giới hải. 1. Quốc độ hải: Cõi Phật không thể nghĩ bàn, là y báo của tự thể Phật quả, là cảnh giới Phật viên dung tự tại, không thể hình dung được. Đây là cõi nước do chính đức Phật chứng ngộ trong nội tâm, bởi thế chi có Phật hiểu rõ, còn chúng sinh ở giai vị tu nhân không thể nào xét biết được, cũng không thể dùng lời nói để biểu đạt, mà dù có miễn cưỡng biểu đạt bằng lời nói thì cũng chỉ có thể dùng những ngôn từ có tính cách phản diện như: Diệu cực nan tư, bất khả ngôn thuyết... Trong Ngũ giáo chương thông lộ kí quyển 26, ngài Ngưng Nhiên, người Nhật Bản đem Phật sát, Phật quốc, Sát tịnh, Sát khởi trong Thập cú bất tư nghị mà bồ tát Văn thù sư lợi tán thán trong phẩm Như lai danh hiệu của kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) xếp vào Quả phần y báo, chính là chỉ cho Quốc độ hải. 2. Thế giới hải: Chỉ cho quốc độ mà Bồ tát đang trong giai đoạn tu nhân nương ở, hoặc chỉ cho cõi nước do đức Phật giáo hóa, có thể chia làm 3 loại: a) Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải (cũng gọi Liên hoa tạng thế giới, Hoa tạng giới): Tuy là cảnh giới thuộc về Quả phần không thể nói bàn, nhưng là chỗ nương ở của Chứng nhập sinh cuối cùng trong 3 sinh (Kiến văn sinh, Giải hành sinh và Chứng nhập sinh), cho nên là thế giới hải có thể nói bàn. Tuy có tướng đồng với cảnh giới không thể nói bàn, nhưng chẳng phải luận thế giới phân biệt nhất tướng nhất tịch, mà là cảnh giới hỗ tương chủ bạn đầy đủ, không giới hạn, giống như tấm lưới của cung điện trời Đế thích. b) Thập trùng thế giới hải: Ngoài 3.000 thế giới còn có 10 thế giới: Thế giới tính, Thế giới hải, Thế giới luân, Thế giới viên mãn, Thế giới phân biệt, Thế giới toàn, Thế giới chuyển, Thế giới liên hoa, Thế giới tu di và Thế giới tướng. Đây là cõi nước Giải hành sinh được thị hiện cho hàng bồ tát Thập địa. c) Vô lượng tạp loại thế giới hải (cũng gọi Tạp loại thế giới): Nơi nương ở của Kiến văn sinh, chỉ cho thế giới có hình núi Tu di hoặc hình sông, hình quay tròn, hình vòng xoáy, hình bánh xe, hình cây, hình lầu gác, hình áng mây, cho thế giới hình chúng sinh đầy khắp các pháp giới mà không bị ngăn ngại. Tóm lại, chỗ thấy của 3 sinh đều không giống nhau, cho nên mới chia làm 3 loại, nhưng 3 loại đều dung hợp nhau chứ không ngăn ngại nhau, vì thế trở thành 1 loại thế giới Hoa nghiêm và là nơi do đức Phật Tì lô giá na giáo hóa. Ngoài những điểm ghi trên, từ Thế giới hải cũng chỉ chung cho thế giới phổ thông, đặc biệt là chỉ cho thế giới hải thứ 2 trong 10 lớp thế giới. [X. kinh Hoa nghiêm Q.4 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3, 4, Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3, Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.26].
quốc độ thân
The Buddha as Buddhaksetra or abode of the living; the world as the body of Vairocana.
; Đức Tỳ Lô Giá Na ứng theo căn cơ của chúng sanh mà hiện ra quốc độ cho họ nương vào—The Buddha as Buddhaksetra, or abode of the living; the world as the body of Vairocana.
; (國土身) Phạm: Kwetra-kàya. Tức là khí thế gian, 1 trong 10 thân dung 3 thế gian do tông Hoa nghiêm lập ra. Theo tông Hoa nghiêm thì cõi nước mà hữu tình chúng sinhnươngở là do thể chính giác của Tì lô giá na Như lai tùy theo căn cơ của chúng sinh mà hóa hiện ra, cho nên gọi là Quốc độ thân. [X. kinh Hoa nghiêm Q.26 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.14]. (xt. Thập Thân).
Quốc độ thân 國土身
[ja] コクトシン kokudoshin ||| In Huayan teaching, one of the ten Buddhas of the Realm of Understanding. The land of mountains, rivers, the great earth, grass and trees, just as they are--the body of the Buddha. Seeing the land itself as the body of the Buddha. => Theo giáo lý Hoa Nghiêm, là một trong 10 Phật giới. Núi, sông, đất liền, cỏ cây, tất cả chỉ là thân Phật. Nhìn quốc độ như chính là thân Phật.
quốc độ thế gian
The world of countries on which people depend for existence.
; Theo Kinh Hoa Nghiêm thì đây là cảnh giới mà chúng sanh dựa vào để sinh tồn, một trong ba loại thế gian—According to the Flower Adornment Sutra, one of the three worlds, the world of countries on which people depend on for existence—See Tam Thế Gian (2).
; (國土世間) Cũng gọi Khí thế gian, Trụ xứ thế gian. Một trong 3 loại thế gian. Chúng sinh trong 10 pháp giới đều tùy y báo của mình mà có 10 chỗ cư trú khác nhau. Thân năng y của chúng sinh có 10 loại bất đồng, nên quốc độ sở y cũng đều khác nhau, vì thế gọi là Quốc độ thế gian. [X. luận Đại trí độ Q.47; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng]. (xt. Tam Thế Gian).
quốc độ tuyệt đối
Sáng tỏ của thể dụng của tự tánh tuyệt đối bất nhị. Khắp thời gian chẳng sanh diệt gọi là Niết bàn; khắp không gian chẳng khứ lai gọi là Như lai; chẳng thị phi phân biệt gọi là Bát nhã; chẳng trụ chẳng đi gọi là thể dụng Bất nhị; chẳng trụ thì phi tịnh, chẳng đi thì phi động, gọi là Như Như Bất Động.
Quốc 國
[ja] コク koku ||| A country, a state. To establish a country. => Quốc gia, nhà nước. Kiến lập quốc gia.
quở mắng
See Quở.
quở phạt
To reprimand with punishment.
quở trách
To rebuke—To scold.
quỳ
To go down on one's knees—To kneel.
quỳ bái
Quỳ lạy hay kỉnh lễ—To kneel and worship, or pay respect.
quỳ hương
Một hình thức phạt mà người bị phạt phải quỳ cho đến khi tàn một cây hương. Một vài loại nhang cháy hết phải mất mấy giờ đồng hồ—A form of punishment where on has to kneel until the incense burned out. Some incense takes several hours before it burned out completely.
quỳ lô
Quỳ để dâng hương—To kneel and offer incense.
Quỳ tâm
(葵心): tấm lòng trong sạch hướng về ánh sáng mặt trời, tâm tận trung và cung kính đối với nhà vua hay người bề trên. Quỳ (葵) là một loại rau hướng về bốn phương mà nở hoa; như Sở Quỳ (楚葵) là loại rau cần, Phù Quỳ (鳬葵) là rau nhút, Nhật Hướng Quỳ (日向葵) là hoa hướng dương, v.v. Cho nên quỳ tâm còn có nghĩa là tâm chí thành, chí kính hướng về đấng tối cao. Trong bài thơ Hữu Tửu (有酒) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường có câu: “Quỳ tâm khuynh hề hà hướng, tùng ảnh trực nhi thục minh (葵心傾兮何向、松影直而孰明, Lòng thành nghiêng chừ nào hướng, tùng bóng thẳng mà sáng đâu ?).” Hay trong bài Phụng Hòa Trần Hiền Lương (奉和陳賢良) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống cũng có câu: “Vọng cùng hải biểu thiên hoàn viễn, khuynh tận quỳ tâm nhật du cao, thân ngoại phù danh hưu tỏa tỏa, mộng trung quy tư dĩ thao thao (望窮海表天還遠、傾盡葵心日愈高、身外浮名休琐琐,梦中归思已滔滔。身外浮名休瑣瑣、夢中歸思已滔滔, Trông cùng biển cả trời xa thẳm, nghiêng tận lòng thành trời lên cao, thân thoát huyễn danh thôi bôn tẩu, mộng trong về ngẫm thôi lao đao).” Hoặc trong bài Đào Hoa Phiến (桃花扇) của Khổng Thượng Nhiệm (孔尚任, 1648-1718) nhà Thanh có câu: “Bồ kiếm hà tu thức, quỳ tâm vị khẳng sai (蒲劍何須試、葵心未肯差, Kiếm cỏ làm sao thử, lòng thành đâu biết sai).”
quỳnh chi ngọc diệp
Jade branches and leaves (talk of imperial descendants).
quỵ
1) Quỳ gối: To kneel. 2) Té quỵ: To fall on one's knees.
quỵ bái
(跪拜) Một trong các cách lễ bái ở Ấn Độ. Lúc đức Phật còn tại thế, người trong nước gặp Bà la môn thì quì lạy, gặp sa môn thì kính lễ. Tì nại da tạp sự quyển 1 (Đại 24, 207 hạ) nói: Lục chúng bảo rằng: Các ngươi đồ ngu không biết cách lễ bái, ai là người quì lạy, ai là người nên kính lễ? Những người ấy trả lời: Chúng tôi chỉ biết rằng hễ gặp người Bà la môn già thì quị bái, nếu thấy Tỉ khưu thì kính lễ.
quỵ lô
(跪爐) Quì trước lư hương để niệm hương, thông thường được thực hành vào các dịp Thánh tiết, quốc kị, hoặc ngày kị Tổ sư. Trong điều Thánh tiết, chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng có ghi rõ tác pháp Quị lô, tức lúc cử hành pháp hội thì Lưỡng tự chia ra 2 ban đứng đối diện nhau, vị Trụ trì liền đến quì, phía sau vị Trụ trì là vị Tri khách quì dâng cái lư hương cầm tay (tức lư hương có cán), rồi đến vị Thị giả quì dâng hộp hương. Đợi đến khi vị Duy na bạch Phật tuyên sớ xong, thì vị Tri khách lại quì để tiếp lấy lư hương, sau đó vị Trụ trì mới thu tọa cụ. Nghi thức lễ bái này rất thịnh hành trong các tùng lâm Trung quốc thời xưa. [X.điều Hành hương xướng đạo trong Đại tống tăng sử lược Q.trung; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].
quỵt
To refuse to pay.
quỵt nợ
To refuse to pay a debt.
quỷ
(I) Nghĩa của quỷ—The meanings of preta: 1) Ma quỷ: Preta (skt)—Tiếng Phạn là Lệ Tiết Đa, trước kia dịch là quỷ đói, nay chỉ dịch là quỷ—Demon—Evil being—Disembodied spirit—Dead person—Ghost—Devil—Departed—See Ngạ Quỷ. 2) Trục: An axle. 3) Luật lệ: A rule. (II) Phân loại quỷ (theo nghĩa #1)—Categories of pretas (according to the meaning of #1): A1) Tam Chủng Quỷ—Three kinds of demons: 1) Cự Khẩu Quỷ: Quỷ có miệng bốc lửa như ngọn đuốc—Ghosts with mouths like burning torches. 2) Châm Hầu Quỷ: Quỷ có cuống họng nhỏ như cây kim—Demons with throats no bigger than needles. 3) Xú Quỷ: Quỷ có hơi thở hôi thối—Demons with vile breath. A2) Tam chủng quỷ—Other three classifications of demons: 1) Châm Mao Quỷ: See Quỷ (4). 2) Xú Mao Quỷ: See Quỷ (5). 3) Anh Quỷ: See Quỷ (6). A3) Tam chủng quỷ khác—Other three classifications of demons: 1) Hy Từ Quỷ: See Quỷ (7). 2) Hy Thí Quỷ: See Quỷ (8). 3) Đại Thế Quỷ: See Quỷ (9). B) Cửu Quỷ: Chín loại quỷ—Nine classes of demons—See Cửu Quỷ.
; (鬼) Phạm: Preta. Pàli: Peta. Quái vật có hình tướng rất đáng sợ, làm não hại người, là 1 trong 5 đường, 1 trong 6 đường, thông thường chỉ cho tinh linh người chết. Trong kinh điển Đại thừa có lập Ngã quỉ đạo trong Lục đạo. Ngã quỉ đạo do chư thiên sai khiến và thường chịu khổ đói khát. Ngoài ra còn có các loài quỉ như: Tệ quỉ, Hữu uy đức quỉ (quỉ có uy đức), Vô uy đức quỉ, Đa tài ngã quỉ (ngã quỉ nhiều của), Vô tài ngã quỉ...đều ở trong cõi Diêm ma.Ở Ấn độ đời xưa, người chết rồi mà không được cúng dường thì bị coi là quỉ. Ngã quỉ sự kinh (Pàli: Petavatthu) là 1 kinh của Tiểu bộ kinh thuộc Đại tạng kinh Nam truyền, chuyên thu tập sự tích của loài quỉ đói này. Trong kinh Phật nói A bàng, La sát, Sơn tinh, Tạp mị ... đều là quỉ thần. Còn những tinh linh hung bạo, ngục tốt ở địa ngục cũng là 1 loại quỉ. Cứ theo luận Câu xá quyển 8 thì quỉ có 2 loại là Thai sinh và Hóa sinh. Còn luận A tì đạt ma thuận chính lí, quyển 31 thì nêu 9 loại quỉ là: Cự khẩu quỉ (quỉ miệng lửa), Châm khẩu quỉ (quỉ miệng kim), Xú khẩu quỉ(quỉ miệng hôi), Châm mao quỉ (quỉ lông nhọn như kim), Xú mao quỉ (quỉ lông hôi), Anh quỉ (quỉ bướu cổ), Hi tự quỉ (quỉ mong được cúng tế), Hi khí quỉ (quỉ mong được đồ vứt bỏ) và Đại thế quỉ (quỉ có thế lớn).[X. kinh Hiền ngu Q.13; kinh Phật bản hạnh tập Q.49]. (xt. Cửu Loại Quỉ, Quỉ Thần).
quỷ biện
(詭辯) Biện luận một cách kỳ quái. Ở khoảng thế kỷ V trước Tây lịch, lối biện luận này được gọi là Quỉ biện học (Sophist) chuyên về thuật tranh luận kì quái. Ở một phương diện thì quỉ biện mang lại cái tinh thần phê phán, nhưng ở một mặt khác, nó lại hãm người ta vào cái thế biện luận quỉ quyệt, đoạt lời cướp lí. San xà da (Phạm, Pàli: Saĩjaya) trong 6 phái ngoại đạo ở Ấn Độ tức là người chủ trương Quỉ biện luận (Pàli:Amara-ikkepika). Sự biện luận của họ nhiều mưu gian. khéo léo trơn tru, giống như cá chạch, khó nắm bắt được, hơn nữa, vì nó thiếu giá trị tri thức chính xác nên còn được gọi là Bất khả tri luận (Pàli: Ajĩàna - vàda). Cứ theo phẩm Lô ca da đà và Trường bộ kinh chú (Sumaígala-vilàsinì) tiếng Pàli, ngoại đạo Thuận thế (Phạm, Pàli: Lokàyata, Hán âm: Lô ca da đà, Lộ già da tha) trong các ngoại đạo Ấn độ thời xưa là 1 học phái quỉ biện nổi tiếng; họ rất giỏi thuật biện luận kì quặc (Pàli: Vitaịđa-vàda-satthà), thường dùng những lời nói quanh co, khéo léo để mê hoặc người đời, bác bỏ thần cách truyền thống của Bà la môn, ngoài 4 đại chủng (đất, nước, lửa, gió) còn lập thêm linh ngã và chủ trương chủ nghĩa khoái lạc của Duy vật luận. TrongLuận lí học của Ấn Độ, Quỉ biện luận được xem là 1 yếu tố lớn của Luận lí học, nhưng Phật giáo thì cho đó là hí luận (Phạm:Prapaĩca). [X. Đại thừa quảng bách luận thích luận Q.2; luận Thành duy thức Q.1; luận Kim thất thập].
quỷ biện bà la môn
(鬼辯婆羅門) Tên của 1 Bà la môn ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, có tài biện luận khéo léo, sau bị ngài Mã minh hàng phục. Đại đường tây vực kí quyển 8 (Đại 51, 913 thượng) nói: Phía bắc tháp Kiến kích kiền trĩ có một nền cũ, xưa là chỗ ở của Quỉ biện Bà la môn. Ngày trước, trong thành có 1 người Bà la môn sống trong căn nhà hoang vắng tồi tàn, không giao thiệp với đời, thờ cúng quỉ để cầu phúc, yêu quái nương cậy, thường cao giọng bàn luận suông, lời lẽ văn nhã, có người đến hỏi vặn thì buông màn đối đáp, học rộng tài cao không ai sánh bằng, mọi người đều ngưỡng mộ như thánh.
quỷ bịnh
Bị ma quỷ ám vào người mà thành bệnh—Sickness caused by demons or ghosts.
quỷ bố mộc
(鬼怖木) Loại cây làm cho quỉ phải sợ hãi, tức chỉ cho cây liễu. Theo kinh Quán đính quyển 9, thuả xưa, khi có đức Thế tôn trụ thế, dân nước Duy da li phần nhiều làm nghề săn bắn, giết chóc, cho nên mang lại bệnh dịch. Bấy giờ, có tỉ khưu Thiền đề đến nước này, dùng thần chú Triệu long vô thượng của Như lai giáo hóa nhân dân, chữa trị các bệnh, trong 1 thời gian, trăm họ hết lo âu, khí độc không hoành hành. Nhưng sau khi tỉ khưu Thiền đề mệnh chung, khí độc lại nổi lên, dịch bệnh càng nhiều, người chết vô số. Nhân dân nhớ đến tỉ khưu Thiền đề, liền đến chỗ ở của ngài, thấy cành dương mà lúc còn sống, ngài dùng để xỉa răng, rồi vứt xuống đất, nay đã mọc thành cây, dưới gốc cây có dòng suối nước trong, họ bảo nhau lễ bái cây ấy, rồi bẻ lấy cành dương và múc nước suối đem về, nhúng cành dương vào nước và rảy lên thân người bệnh, tất cả đều mát mẻ, trăm bệnh khỏi hết. Người đời sau căn cứ vào sự tích này mà gọi cây liễu là Quỉ bố mộc.
quỷ dục
The evil demon of lust.
quỷ hiệu thần khấp
(鬼號神泣) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quỉ gào thần khóc, miêu tả cái dáng vẻ mừng giận, buồn vui cực kì mãnh liệt, giống như quỉ thần cũng bị xúc động mà gào khóc. Bích nham lục tắc 59 (Đại 48, 192 thượng) nói: Nước rưới không dính, gió thổi chẳng vào, hổ (cọp) bước rồng lượn, quỉ gào thần khóc (...) chẳng những chỉ ông tăng này mà cả đến quỉ cũng gào, thần cũng khóc, giống như gió lướt cỏ rạp vậy.
quỷ hỏa
Lửa của loài quỷ—Spirit lights.
quỷ kiến
Cái thấy biết của loài quỷ, ví với tà giáo—Demon views, i.e. heterodox teaching.
; (鬼見) Cái thấy của quỉ, tức chỉ cho tà kiến. Vọng kiến cho rằng không có nhân quả, ở đời chẳng có nguyên nhân nào mang lại kết quả, mà cũng chẳng có kết quả nào từ nguyên nhân sinh ra, bởi thế cái ác không đáng sợ, mà điều thiện cũng chẳng đáng ham. Kiến chấp sai lầm này là loại kiến chấp tà khúc nhất trong các tà kiến, cho nên gọi làQuỉ kiến. [X. luận Thành duy thức Q.6; luận Câu xá Q.19]. (xt. Ngũ Kiến).
quỷ kế
Wicked (evil) scheme.
Quỷ Lý Tử Đan
(鬼理死丹): xem Cát Lợi Chi Đan (吉利支丹) bên trên.
quỷ lục
Tờ trát bằng sắt ghi tội ở phủ Diêm Vương—The iron records, containing the sins of men in Yama's office in Hades.
; (鬼錄) Quyển sách do quỉ thần ghi chép. Theo kinh Kim cương đính quyển 12, trong điện của vua Diêm la có 1 quyển sách để ghi chép những tội lỗi mà người đời đã phạm phải. Quyển sách này là do quỉ thần ở dưới đất chiếu theo những tội ác mà người đời đã tạo để ghi chép rồi tâu lên, cuối cùng, vua Diêm la căn cứ vào đó để quyết định các hình phạt nặng hay nhẹ đối với các tội nhân.
quỷ miếu
(鬼廟) Miếu thờ thần Quỉ Tử mẫu. Thần Quỉ tử mẫu tức là Ha Lợi đế mẫu, là thần bảo hộ sự sinh nở và trẻ thơ được bình an, cho nên ở Ấn Độ từ xưa đã có tập tục lập miếu cúng thần này, nhưng ngày nay ít thấy. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 303 trung) nói: Tương truyền, các chùa ở Trung quốc có lập Quỉ miếu (Tăng huy kí ghi chú rằng: Tức là miếu thờ Quỉ tử mẫu).
quỷ môn
Cửa quỷ, cửa Đông Bắc của nhà ở và thành quách, là nơi mà quỷ có thể đến và đi—The northeast corner of the house, through which the spirits can come and go.
; (鬼門) Cửa quỉ ra vào. Xưa nay trong dân gian tương truyền rằng cửa quỉ ra vào là ở góc đông bắc của nhà ở hay thành quách, cho nên dân gian thường kiêng cữ hướng góc đông bắc. [X. Pháp uyển châu lâm Q.6; Loại tụ danh vật khảo Q.338].
quỷ nan
(鬼難) Tai nạn do quỉ thần gây ra. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 57 hạ) nói: Giả sử có ý hại/Đẩy xuống hầm lửa lớn (...)/Hoặc trôi giạt giữa biển/Các quỉ nạn rồng cá/Niệm sức Quán âm kia/Sóng nước chẳng nhận chìm.
quỷ nhãn tình
(鬼眼睛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Con mắt quỉ quái. Trong Thiền lâm, cụm từ này được dùng để ví dụ cái thấy không chân chính, hoặc kiến giải không chút giá trị gì. Phần giáp chú (chú thích bên cạnh) trong Bích nham lục tắc 5 (Đại 48, 144hạ) ghi: Sơn tăng này xưa nay không dám đùa giỡn với con mắt quỉ quái.
quỷ niêm ngũ xứ
(鬼粘五處) Quỉ dính vào 5 chỗ. Nghĩa là quỉ có thể dính chặt vào tứ chi và đầu của người, nhưng cuối cùng không thể tiêu diệt được sức tinh tiến của người. Luận Đại trí độ quyển 16 kể rằng: Tiền thân của đức Phật Thích ca từng là một thương gia, một hôm gặp quỉ La sát. Thương gia dùng nắm tay phải đánh quỉ, nắm tay liền dính vào quỉ, kéo mãi không ra; lại dùng nắm tay trái đánh nữa và cũng bị dính như nắm tay phải, kéo cũng không ra; thương gia dùng chân phải đá nó, chân cũng bị dính, lại dùng chân trái cũng bị như vậy, cuối cùng dùngđầuhúc nó, đầu cũng dính luôn. Lúc đó, quỉ hỏi (Đại 25, 174 trung): Bây giờ ông đã như thế, muốn làm gì nữa không? Chịu khuất phục chưa? Đáp: Tuy 5 chỗ của ta bị dính vào ngươi, nhưng cuối cùng tâm ta không bị ngươi hàng phục, ta sẽ dùng sức tinh tiến đối địch với ngươi, quyết không lùi bước. Quỉ suy nghĩ về sức tinh tiến liền thả thương gia ra và cho đi.
quỷ pháp giới
Một trong mười pháp giới chúng sanh, thế giới của loài quỷ—The region or realm of demons, one of the ten regions of existence—See Thập Giới (2).
quỷ phạm
Rule—Mode.
quỷ phạm sư
Acarya (skt)—A Xà Lê—Giáo thọ—A teacher of rules, disciplines, morals.
quỷ quyệt
Cunning—Crafty—Foxy—Clever.
quỷ quật lí
(鬼窟裏) Cũng gọi Giả giải thoát khanh. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hang quỉ ở, tức chỗ tối tăm. Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ cho cảnh giới câu nê vào tình thức nên mờ mịt không thấy được chân lí. Hoặc chỉ cho quá trình tu thiền cầu ngộ,Thiền giả bị rơi vào 1 bên không mà chấp đó là ngộ, thành ra bị kẹt không thông, trở thành tà kiến. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 141 thượng) nói: Thôi đừng nhớ!( Nói cái gì? Tìm kế sống trong hang quỉ à!). [X.Bích nham lục tắc 97].
quỷ thuật
Magic.
quỷ thành
Tên khác của thành Càn Thát Bà (lầu do hơi nước biến thành)—The demon-city, that of Gandharvas.
; (鬼城) Tên gọi khác của thành Càn thát bà. Càn thát bà là 1 trong 8 bộ chúng, thuộc loại quỉ thần, cho nên thành của thần này ở gọi là Quỉ thành. (xt. Càn Thát Bà Thành).
Quỷ thần
(鬼神): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho quái vật có đủ uy lực khủng khiếp, có thể biến hóa tự tại; được chia thành hai loại thiện và ác. Trường hợp bảo vệ thế gian hoặc hộ trì Phật pháp như Đại Phạm Thiên Vương (大梵天王), Tam Thập Tam Thiên Vương (三十三天王), Tứ Thiên Vương (四天王), Viêm Ma Vương (炎魔王), Nan Đà Long Vương (難陀龍王), Bạt Nan Đà Long Vương (跋難陀龍王), v.v., đều là quỷ thần thiện. Trường hợp như La Sát (s: rākṣasa, 羅剎), v.v., thuộc về quỷ thần ác. Còn Dạ Xoa (s: yakṣa,p: yakkha, 夜叉) thì thuộc về cả hai thiện và ác. Tuy nhiên, quỷ thần được đề cập trong Phật Giáo là chỉ cho 6 bộ quỷ thần, gồm Càn Thác Bà (s: gandharva, p: gandhabba, 乾闥婆), Dạ Xoa, A Tu La (s, p: asura, 阿修羅), Ca Lâu La (s: garuḍa, 迦樓羅), Khẩn Na La (s: kiṃnara, p: kinnara, 緊那羅), Ma Hầu La Già (s: mahoraga, 摩睺羅伽). Vào thời cổ đại Ấn Độ, từ thời đại Veda trở về sau, trong dân gian rất thịnh hành tín ngưỡng quỷ thần; về sau một bộ phận tín ngưỡng này thâm nhập vào Phật Giáo, nổi bậc nhất là Mật Giáo; tỷ dụ như các Minh Vương có hình giận dữ vốn hiển hiện pháp thân của Phật Tỳ Lô Giá Na, cũng thuộc loại quỷ thần. Ngoài ra, trong Kim Quang Minh Kinh (金光明經, Taishō Vol. 16, No. 663) thuật lại rất rõ chư thiên quỷ thần, và quý vị này được Thiên Thai Tông tôn sùng cao độ. Trong bộ Trùng Biên Chư Thiên Truyện (重編諸天傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1658), 2 quyển, do Thích Hành Đình (釋行霆) ở Ô Thú (烏戍) nhà Tống biên soạn, thâu lục đầy đủ các quỷ thần được đề cập trong kinh điển. Trong bài Nguyên Quỷ (原鬼) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) có giải thích rằng: “Vô thanh dữ hình giả, quỷ thần thị dã (無聲與形者、鬼神是也, cái không có tiếng và hình chính là quỷ thần vậy).” Trong Đoạn Trường Tân Thanh có câu rằng: “Mai sau dầu đến thế nào, kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỷ thần.” (2) Chỉ chung cho các thần linh, tinh khí. Như trong Sử Ký (史記), phần Ngũ Đế Bổn Kỷ (五帝本紀), có câu: “Lịch nhật nguyệt nhi nghênh tống chi, minh quỷ thần nhi kính sự chi (曆日月而迎送之、明鬼神而敬事之, trãi tháng năm mà đón đưa ấy, rõ quỷ thần mà kính thờ ấy).” (3) Chỉ cho hình thể và linh hồn. Như trong Lễ Ký (禮記), phần Lễ Vận (禮運), có đoạn: “Cố nhân giả, kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, Ngũ Hành chi tú khí dã (故人者、其天地之德、陰陽之交、鬼神之會、五行之秀氣也, cho nên con người là đức của trời đất, giao tiếp của âm dương, tụ hội của quỷ thần, khí tốt của Ngũ Hành vậy).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) giải thích rõ rằng: “Quỷ vị hình thể, thần vị tinh linh (鬼謂形體、神謂精靈, quỷ là hình thể, thần là linh hồn).”
quỷ thần
1) Quỷ và thần, từ dùng để gọi chung những người chết, cùng với quỷ, vá bát bộ Thần như Thiên, Long, vân vân—Ghosts and spirits, a general term which includes the spirits of the dead, together with demons, and the eight classes of spirits, such as devas, nagas, etc—See Thiên Long Bát Bộ. 2) a) Quỷ diễn dịch cái gây nên sự ghê sợ: Preta is interpreted as “Causing fear.” b) Thần diễn dịch sự uy nghi mạnh mẽ: Spirits are interpreted as “Potent and powerful.”
; (鬼神) Loại chúng sinh có uy lực đáng sợ, thường biến hóa một cách tự tại, được chia làm 2 loại thiện và ác. Nếu che chở cho thế gian, hoặc giữ gìn, bảo vệ Phật pháp, như Đại phạm thiên vương, Tam thập tam thiên vương, Tứ thiên vương, Viêm ma vương, Nan đà long vương, Bạt nan đà long vương ... thì đều là quỉ thần thiện; nếu như La sát... thì là quỉ thần ác. Còn Dạ xoa thì thuộc cả 2 loại thiện và ác. Trong Phật giáo thì quỉ thần thông thường là chỉ cho 6 bộ quỉ thần: Càn thát bà, Dạ xoa, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la và Ma hầu la già. Ở Ấn Độ đời xưa, từ thời đại Phệ đà về sau, tín ngưỡng quỉ thần lưu hành rất rộng, sau này, một bộ phận được du nhập Phật giáo, nhất là Mật giáo, chẳng hạn như hình tướng phẫn nộ của các vị Minh vương là do pháp thân Tì lô giá na hiển hiện, đều thuộc loại này. Ngoài ra, kinh Kim quang minh nói rất rõ về chưthiên, quỉ thần; loại quỉ thần này rất được tông Thiên thai tôn sùng. Ngài Hành Đình đời Tống có biên soạn Chư thiên truyện 2 quyển, thu chép các kí lục về quỉ thần trong các kinh. [X. kinh Đại hội trong Trường a hàm Q.12; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.49; kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ quyển thượng; Kinh luật dị tướng Q.46].
quỷ thần thực thời
Giờ ăn của quỷ thần, thường về ban đêm hay chạng vạng tối—The time when the spirits and ghosts feed, i.e. at night.
quỷ thực thời
See Quỷ Thần Thực Thời.
quỷ tiên
Pretas or malevolent rsis—Ghost genii.
quỷ tiên cố thi
(鬼鞭故尸) Quỉ đánh vào xác chết. Kinh luật dị tướng quyển 46 chép: Xưa có 1 người chết, hồn trở lại tự đánh vào xác chết, người bên cạnh hỏi (Đại 53, 244 thượng): Người này đã chết, vì sao còn đánh? Đáp: Đây là thân cũ (cố) của tôi, làm nhiều điều ác, không tán thán giới kinh, trộm cắp lừa gạt, xâm phạm phụ nữ, bất hiếu với cha mẹ, không thương yêu anh em, tiếc của không chịu bố thí. Nay chết rồi khiến tôi phải đọa vào đường ác, đau đớn khổ sở không thể nói hết, nên tôi trở lại đánh nó!.
quỷ tiễn mao
loài quỷ có lông cứng tua tủa trên thân như mũi tên.
quỷ trì
Biết luật và giữ luật không sai chạy—A rule and its observance, to know the rule and hold it without confusion with other rules or doctrines.
quỷ tử mẫu
Hariti (skt)—Tiếng Phạn gọi là Ha Lê Đế, là người đàn bà thề ăn hết con nít trong thành Vương Xá, đã tái sanh làm Nữ La Sát, và sanh ra 500 con, rồi sau đó bà tuần tự mỗi ngày ăn mỗi đứa. Tuy nhiên sau nầy bà quy-y với Đức Phật và đắc lực hộ trì chư Tăng Ni cũng như tứ chúng, nhất là những người đàn bà trong thời kỳ sanh đẻ. Người ta thường thấy hình của bà trong các ni viện—A woman who has vowed to devour all the babies at Radjagriha, was reborn as Rakshasi, and gave birth to 500 children, one of which she was to devour every day. However, she was converted by Sakyamuni Buddha, she entered a convent and became a protectress of Buddhism. Her image is to be seen in all nunneries.
quỷ tử mẫu kinh
(鬼子母經) Gọi đủ: Phật thuyết quỉ tử mẫu kinh. Kinh, 1 quyển, không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này nói về việc Quỉ tử mẫu ăn thịt con trẻ của người ta, đức Phật bèn giấu đứa con mà nó yêu thương để hóa độ nó. Nhờ đó, Quỉ tử mẫu tỉnh ngộ, không cònăn thịt trẻ con nữa và dốc lòng hộ trì Phật pháp.
quỷ tử mẫu thần
Nữ Dạ Xoa ăn thịt người—A Raksasi who devours men.
; (鬼子母神) Phạm: Hàrìtì. Hán âm: Ha lợi để, Ha lợi đế, Ha lợi đế mẫu.Hán dịch: Ái tử mẫu, Thiên mẫu, Công đức thiên. Mẹ của 500 quỉ con, vốn là vợ của ác thần. Vì kiếp trước phát tà nguyện ăn thịt trẻ con trong thành Vương xá, nên chết rồi sinh ra làm Dược xoa, đến thành Vương xá chuyên trộm trẻ thơ của người ta để ăn thịt. Vì muốn răn dạy nên đức Phật đem giấu đứa con thương yếu nhất của nó, do đó, Quỉ tử mẫu buồn thương thảm thiết. Đức Phật liền dạy (Đại 54,209 trung): Ngươi có tới 500 đứa con, nay ta chỉ lấy của ngươi có 1 đứa mà ngươi đã đau đớn thảm thương như thế, vậy ngươi ăn thịt bao nhiêu đứa con của những người khác thì họ đau đớn đến chừng nào?. Quỉ tử mẫu nghe đức Phật dạy liền ăn năn sám hối, xin qui y Phật, lập thệ nguyện làm thần hộ trì sự sinh sản được bình an và bảo vệ những trẻ thơ. Theo điều Thụ trai quĩ tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 thì các chùa ở Ấn độ đều có thờ Quỉ tử mẫu. Ở cửa nhà hoặc bên cạnh bếp, đắp vẽ hình người mẹ ôm 1 đứa con, dưới gối thì 5 đứa hoặc 3 đứa để tượng trưng cho Quỉ tử mẫu. Hàng ngày thức ăn ở trước hình tượng để cúng. Nếu người bị bịnh hoặc không có con, xin thức ăn ấy về ăn thì đều toại nguyện. Hình tượng Quỉ tử mẫu là hình Thiên nữ, tay cầm quả cát tường. [X. kinh Ma ha ma da Q.thượng].
quỷ vương bạch hổ
The White Tiger Ghost King.
quỷ vương chủ cầm
The Lord of Birds Ghost King.
quỷ vương chủ hao
The Bad News Ghost King.
quỷ vương chủ hiểm
The Lord of Danger Ghost King.
quỷ vương chủ họa
The Lord of Calamities Ghost King.
quỷ vương chủ mạng
The Lord of Life Ghost King.
quỷ vương chủ mị
The Lord of Mountain Spirit Ghost King.
quỷ vương chủ súc
The Lord of Domestic Animals Ghost King.
quỷ vương chủ sản
The Lord of Birth Ghost King.
quỷ vương chủ thú
The Lord of Beasts Ghost King.
quỷ vương chủ thực
The Lord of Food Ghost King.
quỷ vương chủ tài
The Lord of Wealth Ghost King.
quỷ vương chủ tật
The Lord of Sickness Ghost King.
quỷ vương huyết-hổ
The Blood Tiger Ghost King.
quỷ vương lang nha
The Wolf-Tooth Ghost King.
quỷ vương ngũ mục
The Five-Eye Ghost King.
quỷ vương phi thân
Flying Body Ghost King.
quỷ vương phúc lợi
Thần Tài, nhưng trong Phật giáo, ông được liệt vào quỷ vương—The Blessings and Profit Ghost King—Who is actually the spirit of wealth, but in Buddhism, he is classified as a ghost king.
quỷ vương phụ thạch
The Rock Bearer Ghost King.
quỷ vương tam mục
The Three-Eye Ghost King.
quỷ vương thiên nhãn
The Ghost King Thousand Eyes.
quỷ vương thực noãn
The Womb and Egg-Eating Ghost King—The one who is responsible for miscarriages and premature stillbirths.
quỷ vương truyền bịnh
The Sickness-Spreading Ghost King—Quỷ vương chạy vòng vòng truyền bịnh và dịch tật cho chúng sanh—The one who runs about spreading diseases and encouraging epidemics.
quỷ vương tán-ương
The Ghost King who Brings Disasters.
quỷ vương tụ độc
The Poison-Gathering Ghost King—Người là hóa thân của Bồ Tát, người đã cứu chúng sanh bằng cách gom góp hết tất cả những độc hại của phàm nhân—The beneficial ghost king, he is really a transformation body of a Bodhisattva. He rescues living beings by gathering the poison which they have contracted.
quỷ vương tứ mục
The Four-Eye Ghost King.
quỷ vương từ tâm
The Kindhearted Ghost King—One who leads other ghosts to resolve their thoughts on enlightenment.
quỷ vương tỳ xá da
Pisaca (skt)—A type of evil god that sucks blood and eats phlegm—Loài quỷ dữ chuyên hút máu và ăn tinh khí—See Quỷ vương Đạm Tinh Khí in Vietnamese-English Section.
quỷ vương vô độc
The Poisonless Ghost King.
quỷ vương xích hổ
The Crimson Tiger Ghost King.
quỷ vương ác mục
Evil-Eyed Ghost King.
quỷ vương ác độc
The Ghost King Evil Poison.
quỷ vương đa ác
The Many-Evils Ghost King.
quỷ vương điển quang
The Lightning Flash Ghost King.
quỷ vương đại tranh
The Great Argument Ghost King.
quỷ vương đạm (dã) thú
The Ghost King Animal Eater—The one who eats tigers and other large beasts.
quỷ vương đạm huyết
Blood-eating Ghost King.
quỷ vương đạm tinh khí
Pisaci (skt)— Essence-and-Energy-Eating Ghost King— Ghost King who eats the essential energies of both people and plants—Đạm Tinh Khí Quỷ Vương là vua quỷ người ăn tất cả tinh khí của người và cây cỏ. Người đã giết nhưng không nhường những thịt kiếm được cho vợ mình, không cho ngay cả máu để uống. Đã đối đãi với vợ con như vậy, chúng ta có thể tưởng tượng nó đối xử với người khác như thế nào. Nó cực kỳ bỏn xẻn và kết quả là nó ăn tất cả những bất tịnh nhục—The Ghost king who got his position because he liked to kill but would not give the flesh of any animals he killed to his wife. He would not even give her the blood to drink. Since he treated his own wife this way, you can imagine how he treated other people. He extremely stingy, and as a result, he has to eat the most unclean things.
quỷ vấn mục liên kinh
(鬼問目連經) Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này thuật lại việc các ngã quỉ hỏi ngài Mục liên về nghiệp nhân của các quả báo ác, ngài Mục liên giải đáp rõ từng điều một.
quỷ ám
Bị quỷ ám—To be possessed by the devil.
quỷ đạo
Đường quỷ, còn gọi là Quỷ Thú. Trong lục đạo có hai loại quỷ—The way or destiny of yaksas, raksasas and hungry ghosts, to follow devilish ways. There are two ways of ghosts in the six ways: 1) Ngạ quỷ: Hungry ghosts—See Ngạ Quỷ. 2) A Tu La: Asuras—See A Tu La.
quỹ
1) Cái tủ: A cupboard—A bureau. 2) Ngân quỹ: Funds—Treasure.
quỹ đầu
Người giữ cửa tiệm—A storekeeper.
ra
To come (go—get) out—To exit—To leave. 1) Ra Công: To invest by offering labor—To take pains to do something. 2) Ra Dấu: To sign (signal). 3) Ra Đi: To depart—To start (away—off—out) one's way—To leave. 4) Ra Đi Nhẹ Tợ Lông Hồng: To leave the secular world as lightly as a feather at the end of one's life. 5) Ra Điều: To appear as if (one knew everything). 6) Ra Đời: To be born—To come into this world. 7) Ra Gì: To be worth something. 8) Ra Hiệu: See Ra Dấu. 9) Ra Hồn: See Ra Gì. 10) Ra Khỏi: See Ra. 11) Ra Lệnh: To command—To order. 12) Ra Mắt: To report oneself to—To appear before—To present. 13) Ra Mặt: To appear—To show oneself. 14) Ra Ngoài: See Ra. 15) Ra Người: To be worth of being a man. 16) Ra Oai: To put on airs. 17) Ra Rả: Without interruption—Incessantly—Ceaselessly. 18) Ra Sức: To make every effort to do something. 19) Ra Tài: To show one's talent. 20) Ra Tay: To set about—To begin to do something. 21) Ra Uy: See Ra Oai. 22) Ra Về: To return—To go back.
ra hạ
Pavàranà (S). Ceremony of the end of the rainy retreat. Also giải hạ, tự tứ, Phật lạp nhật.
ra hầu la
Xem La hầu la.
ra đát nẵng mô nại ra hạ đát đa
Xem Bảo ấn thủ Bồ tát.
Ra-ma-na Ma-ha-ri-shi
S: ramana mahāṛṣi [mahārishi]; 1879-1950, »Ma-ha-ri-shi« là một danh hiệu, dịch nghĩa là Ðại Thấu Thị (大透視), một vị đã nhìn thấu suốt vạn sự;|Một trong những Bậc giác ngộ Ấn Ðộ vĩ đại nhất của thế kỉ này. Năm lên 17 tuổi, Sư tự ngộ được bản tính thanh tịnh – không có sự hướng dẫn của một vị thầy nào – và từ đó luôn luôn sống với sự trực nhận rằng, bản thể và tuyệt đối là một không hai. Sau nhiều năm ẩn cư, tịnh khẩu tại núi A-ru-na-cha-la (arunācala) miền Nam ấn, Sư chấm dứt sự im lặng và trả lời những câu hỏi của những người mộ Ðạo từ bốn phương.|Sư không theo một hệ thống tôn giáo, triết lí nào, chỉ an nhiên trả lời theo kinh nghiệm Bất nhị (s: advaita) đã tự ngộ nhập được. Sư chẳng lưu lại bút tích gì; »Giáo lí« của Sư chỉ là những buổi vấn đáp với những người tầm đạo, được các môn đệ ghi lại và những bài dạy, những bài kệ ngắn gọn. Phương pháp giảng dạy của Sư rất đơn giản: Không đi vòng quanh, rườm rà mà chỉ thẳng vào tự tính thanh tịnh và hướng dẫn người tham vấn trên con đường đến nơi ấy bằng cách tự vấn rằng, »Ta là ai?«|Hỏi: »Thưa Ngài, con là ai? Làm sao con đạt giải thoát?«. M.: »Bằng cách tự nghiên cứu liên tục ›Ta là ai?‹ Ông sẽ tự nhận ra chính mình và đạt giải thoát.«|Hỏi: »Con là ai?« M.: »Cái Chân ngã hoặc Tự tính không phải là thân này, cũng chẳng phải năm giác quan thông thường hoặc cơ quan hoạt động. Thần thức hoặc chân khí (s: prāṇa) không phải là nó, cũng như trạng thái ngủ say không mộng, khi người ta không còn nhận thức được gì.«|Hỏi: »Nếu con không phải là tất cả những gì nêu trên, vậy con là gì?« M.: »Nếu ông đã loại bỏ được tất cả chúng nó và có thể tự bảo rằng ›Chúng không phải là ta‹ thì cái duy nhất còn sót lại là Chân ngã và đó là Thức (s: vijñāna).«|Hỏi: »Ðặc tính của Thức này là gì?« M.: »Nó là ›Sat-Cit-Ānanda‹ [nghĩa là Chân lí – Nhận thức tuyệt đối – A-nan-đà]; trong đó, khái niệm tự ngã biệt tích, không còn một dấu vết. Nó được gọi là ›Tịch tịnh‹ (s: mouna) hoặc ›Ðại ngã‹ (s: ātman) hay Tự tính. Nó là cái duy nhất có thật. Nếu bộ ba ›Thế giới-Ngã-Thượng đế‹ còn được xem là ba thành phần cá biệt thì đó vẫn chỉ là Ảo ảnh (s: māyā).«|Các lời dạy của Sư được những người mộ đạo trên thế giới hâm mộ, quý trọng bởi vì chúng vượt qua mọi giới hạn tôn giáo thông thường, gây nguồn cảm hứng vô tận cho người đọc.|Sư sinh tại Ti-ru-chu-li (tiruculi), Ta-mil Na-đu (tamil nadu), miền Nam Ấn Ðộ, được cha mẹ đặt tên là Ven-ka-ta-rā-man – gọi tắt là Ra-ma-na. Năm lên 17, Sư bỗng dưng trực cảm được kinh nghiệm »chết« (Tử) và ngay lúc đó, Sư tự nhận được: »Thân của ta chết, nhưng Thức không bị vướng mắc bởi tử thần. Như vậy là: ›Ngã‹ chính là Thức bất tử. – Tất cả những kinh nghiệm này không phải là kết quả của tư duy: Chúng đến với ta như một sự thật mãnh liệt, một sự thật mà ta đã tự trực nhận, hầu như không dùng đến tư duy. ›Ngã‹ là một sự thật, là sự thật duy nhất của trạng thái bấy giờ. Tất cả những hoạt động tự giác liên quan đến thân của ta đều được dẫn vào cái ›Ngã‹ này. Từ giờ phút đó, cái ›Ngã‹ hoặc ›Tự tính‹ này đòi hỏi với một sức thu hút lạ kì sự chú tâm tuyệt đối của ta. Cái tâm sợ chết của ta đã bị tiêu huỷ hoàn toàn. Từ lúc này trở đi, ta hoàn toàn chìm lắng trong ›Tự tính.‹«|Sau kinh nghiệm này Sư chẳng còn chú tâm đến những việc thế tục và sau đó rời nhà để đến núi A-ru-na-cha-la, một ngọn núi mà Sư đã nghe qua danh. Nơi đây, Sư ban đầu ẩn cư trong một góc tối tăm tại một ngôi đình dưới chân A-ru-na-cha-la, sau đó trong nhiều hang động trên núi. Trong thời gian hoà nhập mình vào tự tính, Sư quên lãng chính mình, để côn trùng tuỳ tiện huỷ hại thân thể. Khi bà mẹ đến khuyên Sư trở về, Sư cũng không mở miệng nói gì, làm ra vẻ như không thấy sự hiện diện của bà. Khi các người hâm mộ xung quanh khẩn thiết yêu cầu Sư trả lời bà mẹ tuyệt vọng, Sư chỉ viết vài chữ trên giấy: »Ðịnh mệnh tương ưng với Nghiệp quả đang chín trong đời này (s: prārab-dha-karma). Sự việc nào không nên xảy ra, sẽ không xảy ra, dù mẹ muốn thế nào đi nữa. Việc nào nên xảy ra, nó sẽ xảy ra, cho dù mẹ muốn ngăn cản nó xảy ra thế nào đi nữa. Ðó là một sự việc chắc chắn. Hành động hay nhất là sự im lặng.«|Sau một thời gian, Sư phá vỡ bức tường im lặng, bắt đầu trả lời những người đang trên đường tìm về tự tính. Học chúng sau đến rất đông, trong đó có những học giả, triết gia, Du-già sư nổi danh như Yo-ga-nan-đa (s: yogānanda), P. Brunton và W. Y. Ewans-Wentz. Học chúng sau thành lập một Già-lam (s: āśrama) tại Ti-ru-van-nā-ma-lai ở chân núi A-ru-na-cha-la, và đây, vào năm 1950, Sư nhập Ðại định (s: mahāsamādhi). Trước khi nhập diệt, Sư bảo các môn đệ rằng: »Người ta bảo rằng, ta sẽ chết. Nhưng ta chẳng đi. Ta nên đi đâu? Ta ở đây!«
rakkhita
Rakkhita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
ramakrishna
Ramakriṣna (1936-1886) Shri Ramakrishna, nhà lãnh đạo tinh thần người Bengal được rất nhiều người Ấn độ giáo tôn thờ.
ramanamaharshi
Ramanamahārshi (1879-1950) Shri Ramanamaharshi, một trong những nhà lãnh đạo tinh thần vĩ đại của Ấn độ ngày nay. Ngày sanh ngày 29-12-1879 ở Tiruchuli, Tamil Nadu (miền nam Ấn độ).
ramanuja
Ramanuja (Vào khoảng 1055-1137) Một vị thánh và cũng là một triết gia miền nam Ấn độ, tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếngnhư: Shribhashya, Bhagavad Gita, Vedantasara, Vedartha-Samgraha, Vedantadipa,...
rangjung dorje
Rangjung Dorje (S), 1284-1339 C.E..
rangton phái
Rangton School.
ranh giới
Frontier—Boundary—Bound.
ranh mãnh
Cunning.
reo
1) Reo vui: To cheer—To shout. 2) Làm reo (đình công): To be on strike—To strike (làm reo).
reo mừng
To shout with joy.
Ri-mê
T: rime [ris-med]; nguyên nghĩa là »Bất thiên vị«;|Danh từ dùng để chỉ một phong trào trong Phật giáo Tây Tạng, bắt nguồn từ miền Ðông Tây Tạng trong thế kỉ 19. Mục đích chính của phong trào này là phá vỡ những thành kiến, sự chê bai, tranh chấp lí luận giữa những các tông phái và chấp nhận sự độc lập, sắc thái riêng biệt của chúng. Phong trào này được một Lạt-ma dòng Tát-ca (t: sakya-pa) là Jam-yang Khyen-tse Wang-po (1820-1892) khai sáng. Hai môn đệ kế thừa quan trọng nhất của Sư là Chog-yur De-chen Ling-pa (1829-1870) và Jam-gon Kong-trul (1811-1899). Tư tưởng Ri-mê được biểu lộ rõ nhất trong các tác phẩm của Lạt-ma Jam-gon Kong-trul và vẫn còn sống động trong các tông Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) và Ninh-mã (t: nyingmapa).
Rin-chen Sang-po
T: rinchen sangpo [rin-chen bzaṅ-po]; 958-1055, dịch âm Hán Việt là Lâm-thân Tăng-pha;|Một trong những tăng sĩ quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng, đã bắt đầu truyền giáo từ miền Tây của nước này. Sư là người xây dựng khoảng 108 ngôi chùa, trong đó có chùa To-ling nổi tiếng. Các tác phẩm thuộc giáo pháp Tan-tra (Mật tông Ấn Ðộ) được Sư dịch ra và khác với các bản dịch của giáo phái Ninh-mã (t: nyingmapa). Người ta còn nhắc lại truyền thuyết cuộc gặp giữa Sư và A-đề-sa (s: atīśa), cuối cùng Sư chấp nhận A-đề-sa làm thầy.
riết
Without intermission—Continuously
rong
1) Đi rong: To go about from place to place. 2) Rong rêu: Moss.
rong chơi
To wander.
roõ
Clear.
ru ngủ
To lull to sleep.
ru rú
To stay at home at all time.
run sợ
To tremble.
rung rinh
To shake—To vibrate.
rung động
To thrill.
ruồng bỏ
To abandon—To desert.
ruồng rẫy
See Ruồng Bỏ.
ruộng phước
xem phước điền.
rà rẫm
To feel one's way.
ràn rụa
Floods of tears.
ràng buộc
A fetter
ràng buộc và giải thoát
Bondage and freedom from bondage—Theo Kinh Duy Ma Cật, khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vâng mệnh Phật đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, Duy Ma Cật đã nhắn nhủ các vị Bồ Tát là không nên khởi những sự ràng buộc—According to the Vimalakirti Sutra, when Manjusri Bodhisattva obeyed the Buddha's command to call on Vimalakirti to enquire after his health, Vimalakiriti reminded that a Bodhisattva should not tie himself up (with wrong views). • Sao gọi là ràng buộc? Sao gọi là giải thoát? Tham đắm nơi thiền vị là Bồ Tát bị ràng buộc. Dùng phương tiện thọ sanh là Bồ Tát được giải thoát. Lại không có phương tiện huệ thì buộc, có phương tiện huệ thì giải thoát, không huệ phương tiện thì buộc, có huệ phương tiện thì giải—What is tying and what is untying? Clinging to serenity (dhyana) is a Bodhisattva's bondage, but his expedient rebirth (for the salvation of others) is freedom from bondage. Further, he is held in bondage by wisdom which lacks expedient methods (upaya), but is liberated by wisdom supported by expedient device; he is (also) held in bondage by expedient methods which are not upheld by wisdom but is liberated by expedient methods backed by wisdom. • Sao gọi là không có phương tiện thì buộc? Bồ Tát dùng ái kiên trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh ở trong pháp Không, vô tướng, vô tác mà điều phục lấy mình, đó là không có phương tiện huệ thì buộc—What is bondage by wisdom unsupported by expedient methods? It is bondage caused by the Bodhisattva's desire to embellish the Buddha land (with merits) in order to bring living beings to perfection while practicing for his self-control (the three gates to nirvana, namely,) voidness, formlessness and inactivity. This is called bondage by wisdom unsupported by expedient methods (upaya). • Sao gọi là có phương tiện huệ thì giải? Bồ Tát không dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp 'không,' 'vô tướng,' 'vô tác' điều phục lấy mình, không nhàm chán mỏi mệt, đó là có phương tiện huệ thì giải—What is liberation by wisdom backed by expedient methods? It is liberation achieved in the absence of desire to embellish the Buddha land (with merits) in order to bring living beings to perfection, while practicing unremittingly for his self-control (the three gates to nirvana, namely) voidness, formlessness and inactivity. This is called liberation by wisdom supported by expedient methods (upaya). • Sao gọi là không có phương tiện huệ thì buộc? Bồ Tát trụ nơi các món phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến, vân vân mà trồng các cội công đức, đó là không có huệ phương tiện thì buộc—What is bondage by expedient methods unsupported by wisdom? It is bondage caused by a Bodhisattva's lack of determination to keep from desire, anger, perverse views and other troubles (klesa) while planting all wisdom roots. This is called bondage by expedient methods which lack wisdom. • Sao gọi là có huệ phương tiện thì giải? Là xa lìa các thứ phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến, vân vân mà vun trồng các cội công đức, hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đó là có huệ phương tiện thì giải—What is liberation by expedient methods sustained by wisdom? It is liberation won by a Bodhisattva who keeps from desire, anger, perverse views and other troubles (klesa) while planting all virtuous roots which he dedicates to his realization of supreme enlightenment. This is called liberation by expedient methods sustained by wisdom.
ràng buộc vừa phát sinh
A fetter has arisen.
ràng buộc, gắn bó
Bhanda (S). Bond, fetter.
ràng ràng
Very clearly (evidently).
rành
To master—To know perfectly.
rành mạch
Explicit—Clear.
rành rành
See Ràng Ràng.
rào
Fence—To enclose—To fence—To shut in.
rác
Garbage—Litter—Rubbish.
rách
Torn.
rách bươm
In rags.
rán sức
To endeavor—To strive—To make efforts
ráo
Dry.
ráo hoảnh
To be completely dry.
ráo riết
Keen—Hard.
rã mắt
Very tired eyes—Weary eyes.
rã ruột
To be very hungry.
rã rời
Exhausted—Worn out—To be very tired.
rèn
To forge.
rèn luyện
To cultivate—To form one's will.
rèn luyện đạo đức và tinh thần
Cultivation of moral and spiritual growth
rén
Rón rén—To walk on tiptoe.
réo gọi
To shout (call out) to.
rét
Very cold.
rên siết
To groan—To moan.
rêu rao
To speak ill of someone.
rì rào
To rustle.
rình
To watch—To be on the watch (on the look-out) for someone—To spy on.
rình mò
See Rình.
ròng
1) Nước ròng: To ebb—To flow back to the sea. 2) Thuần kim: Pure (metal). 3) Suốt: Throughout (the year).
rón rén
To walk on tiptoe.
rõ mồn một
Absolutely clear.
rõ ràng
Obvious—Clear—Evident.
rù quến
To allure—To lure—To entice.
rùa
Turtle—Tortoise.
rùa mù
See Manh Quy.
rùa mù gặp bộng cây nổi
ví dụ để chỉ những điều rất khó xảy ra. Theo ví dụ này thì có con rùa mù ở giữa biển, cứ 100 năm mới nổi lên một lần, lại có khúc cây có lỗ bộng, cứ 100 năm mới trôi ngang qua chỗ con rùa một lần. Nếu có khi nào con rùa tình cờ nổi lên đúng vào lúc khúc cây trôi qua, lại đúng vào chỗ bộng cây để chui vào (vì rùa mù không nhìn thấy) thì thật là chuyện cực kỳ hiếm có.
rùng mình
To shiver (tremble) with cold or fear.
rùng rợn
Terrifying—Dreadful—Horrifying.
rú
To yell—To scream.
rút bớt
To reduce—To diminish.
rút cuộc
See Rốt Cuộc.
rút lại
To withdraw—To take back.
rút ngắn
To cut short.
rút rỉa
To extract.
rút êm
To run away secretly.
răm rắp
To obey absolutely (completely).
răn
1) Vết nhăn: Cracked. 2) Khuyên răn: To counsel—To advise—To warn.
răn bảo
See Răn (2).
răn rắt
See Răm rắp.
răng long
Răng lung lay—Our teeth fall out—Loose teeth.
rũ rượi
To be worn (tired) out—To be exhausted.
rơi
To drop—To fall—To come down.
rơi lệ
To shed tears.
rơi vào đoạn kiến
To fall into “Nihilism.”
rơm
Pala (S), Straw.
rơm rác
Things of no value.
rơï
Barbarian.
rơù
To touch.
rước
To greet—To welcome—To receive.
rưới
To spirnkle.
rười rượi
Gloomy—Sad.
rườm rà
Wordy—Formal—Lengthy.
rường cột
Supports and columns—Keystones.
rượt
To run after—To chase—To pursue.
rượu nếp
Chang (S).
rạn nứt
To crack.
rạng danh
To become famous.
rạng rỡ
Brilliant—Radiant.
rạo rực
To feel excited—To have sensation or excitement.
rả rích
To be continuous.
rải
To distribute—To scatter—To spread.
rải hoa
Offering flowers.
rảnh
To be free (at leisure—at liberty—available).
rảnh mắt
Not to see.
rảnh rang
See Rảnh.
rảnh rổi muôn duyên
To be free of all conditions and entanglements.
rảo bước
To walk at a rapid pace
rảy nước thánh
Ngoại đạo cho rằng mọi tội lỗi có thể được rữa sạch hoặc họ có thể được ban phúc nếu để cho một vị chủ chăn rưới nước lên thân mình—Externalists believe that sins can be washed away or they can be blessed by letting a religious person to sprinkle holy water on their body.
rất
Very much—Most—Badly.
rất hữu lý
To be very rational.
rất tinh vi
To be very sophisticated.
rất tiến bộ
To be very advanced.
rất đỗi
Excessively—Extremely.
rầm rì
To whisper.
rầm rập
Noisy—Loudly.
rầm rộ
See Rầm Rập.
rầy la
To scold—To reprimand—To chide
rầy lộn
To quarrel.
rầy rà
To be troublesome.
rập khuông
To copy (imitate) closely.
rắc rối
Complicated (question)—Complex (charater)—Intricate (problem).
rắn
1) Con rắn: Snake. 2) Cứng rắn: Hard and solid.
rắn mãng xà
Python.
rắn như đá
Cứng như đá—As hard as rock—Admonished.
rắn độc
Poisonous snake—Lòng tham như rắn độc—Greed is similar as a poisonous snake.
rắp tâm
To attempt seriously—To intend—To mean.
rẻ
1) Rẻ tiền: Inexpensive—Low in price—Cheap. 2) Khinh rẻ: To despite—To disregard—To despite.
rẻ rúng
To disregard—To scorn—To contemn.
rẽ hướng
To deviate—To change direction.
rọi
To light.
rọi sáng
To illuminate.
rối loạn
Confused and agitated.
rối ren
Confusion—Disorder.
rống
To roar (of lion).
rốt cuộc
Finally.
rốt ráo
Eventual.
rồi
Already.
rồng
Xem long.
Rồng thật
(眞龍, shinryū, chơn long): nghĩa là con rồng thật sự chứ không phải rồng được vẽ trên giấy hay điêu khắc. Tích sợ rồng này căn cứ vào câu chuyện Diệp Công Hiếu Long (葉公好龍, Diệp Công Thích Rồng) được thuật lại trong tác phẩm Tân Tự (新序), phần Tạp Sự (雜事) 5 của Lưu Hướng (劉向, 77-5 ttl.) nhà Hán như sau: “Diệp Công Tử Cao hiếu long, câu dĩ tả long, tạc dĩ tả long, ốc thất điêu văn dĩ tả long; ư thị thiên long văn nhi hạ chi, khuy đầu ư dũ, thi vĩ ư đường; Diệp Công kiến chi, khí nhi hoàn tẩu, thất kỳ hồn phách, ngũ sắc vô chủ; thị Diệp Công phi hiếu long dã (葉公子高好龍、鉤以寫龍、鑿以寫龍、屋室雕文以寫龍、於是天龍聞而下之、窺頭於牖、施尾於堂、葉公見之、棄而還走、失其魂魄、五色無主、是葉公非好龍也, Diệp Công Tử Cao rất thích rồng, trên móc câu vẽ hình rồng, nơi cái đục vẽ hình rồng, các điêu trong phòng nhà đều vẽ hình rồng; nhân đó rồng trên trời nghe mà giáng xuống, thò đầu vào cửa sổ, vòng đuôi quanh nhà; Diệp Công thấy vậy, bỏ mà chạy trốn, mất cả hồn phách, chẳng còn tự chủ; đó chẳng phải là Diệp Công thích rồng).” Diệp Công tức là vị quan Đại Phu nước Sở dưới thời Tam Quốc, tên là Tử Cao (子高); ông được phong làm quan xứ Diệp, nay thuộc Diệp Huyện (葉縣), Hà Nam (河南); nên có tên là Diệp Công. Đây là câu chuyện nói về người thấy rồng thật thì sợ, mà lại yêu thích rồng giả.
rồng độc
Độc long—Ferocious dragons.
rồng, rắn
Nàga (S) Dragon, snake.
rỗi
To be free.
rỗi việc
To be unoccupied.
rỗng tuếch
Absolutely empty.
rộng
Broad—Wide—Extensive.
rộng bụng
Generous—Tolerant.
rộng lượng
See Rộng Bụng.
rộng rãi
Roomy—Spacious.
rộng rãi trang nghiêm
Spacious and beautiful adorned.
rớt lại
To drop back—To fall behind.
rờ rẫm
To feel—To grope.
Rờ voi
(摸象, mozō, mô tượng): thí dụ nói về việc câu nệ vào ngôn ngữ văn tự của kinh điển, luận thư Phật Giáo mà không biết được toàn thể của Phật đạo. Câu chuyện “hạt tử mô tượng (瞎子摸象, người mù rờ voi)” này được thuật lại rất rõ trong các kinh như Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) 32, Thú Điểu Phẩm (獸鳥品) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經) 19, Nghĩa Túc Kinh (義足經) quyển Hạ, v.v. Như trong Lăng Nghiêm Kinh Chứng Sớ Quảng Giải (楞嚴經證疏廣解, CBETA No. 288) có đoạn rằng: “Hữu chư manh nhân, quần thủ mô tượng, kỳ mô tỷ giả vân tượng như ky; kỳ mô dịch giả vân tượng như trụ; kỳ mô vĩ giả vân tượng như trửu, kỳ mô phục giả vân tượng như thạch, nãi chí mô nhãn tắc vân như cổ phong thác, mô nhĩ tắc vân như đảo thùy diệp, mô đề tắc vân như phú địa bôi (有諸盲人、群手摸象、其摸鼻者云象如箕、其摸股者云象如柱、其摸尾者云象如帚、其摸腹者云象如石、乃至摸眼則云如鼓風橐、摸耳則云如倒垂葉、摸蹄則云如覆地杯, có các người mù lấy tay rờ voi, người rờ lỗ mũi thì bảo con voi giống như cái nia; người rờ bắp đùi thì bảo con voi giống như cột nhà; người rờ đuôi thì bảo con voi giống như cái chổi; người rờ bụng thì bảo con voi giống như tảng đá; cho đến người rờ con mắt thì bảo giống như ông bễ thổi gió; rờ lỗ tai thì bảo giống như lá rũ xuống; rờ móng chân thì bảo giống như cái bát úp xuống).” Hay như trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, CBETA No. 1297) quyển 33, có câu: “Mô tượng manh nhân thuyết dị đoan, hô ngưu hoán mã các ban ban (摸象盲人說異端。呼牛喚馬各般般, rờ voi người mù nói khác nhau, bảo trâu luận ngựa thảy oang oang).”
rời
To come loose—To become detached—To separate.
rời rã
To be exhausted.
rỡ ràng
Brilliant.
rỡn
To jest—To joke.
rục rịch
To be ready.
rụng
To drop—To fall.
rụng rời
Panic-stricken
rụt
To take back—To withdraw.
rụt rè
Shy—Timid.
rủ
1) Mời: To invite. 2) Rủ xuống: To hang down.
rủa
To call down—To curse.
rủi ro
Unlucky—Unfortunate.
rứt ra
To pull off.
rừng
Forest—Jungle—Woods.
rừng chư thiên
Devavana (P).
rừng hạnh phúc
Subhaga (P)Tên một bộ kinh.
rừng Khổ hạnh
(Khổ hạnh lâm): tên Phạn ngữ là Tapovana, thuộc địa phận xứ Ưu-lâu-tần-loa (Uruvel), ngày nay nằm về phía đông của thôn Mục-chi-lân-đà (Mucilinda). Trong thời gian tu khổ hạnh, Phật từng sống trong khu rừng này. Cho đến thời gian gần đây vẫn còn tồn tại một vùng cây cối rậm rạp ở đó.
rừng kiếm
Forest of knives—Rừng mà trong đó tất cả cây cối, từ thân lá, đến bông trái đều bén như gươm đao. Người có tội bị các loài thú dữ rượt bắt, hoảng sợ chạy leo lên cây trốn, bị gió mạnh thổi tới, nhánh lá cây đều khua động, chém người đó nát như tương. Rừng kiếm nầy dành trị tội kẻ săn bắn thú vật, hay thiêu đốt các loại chúng sanh—A forest in which everything is sharp as knives and daggers. The offenders are chased by vicious predators; to overcome with terror, they climb onto trees to escape. A great cold wind gusts the leaves on the trees to move rapidly, shredding the prisoners to a thick bloody syrup. This hell is reserved for those who find pleasure in hunting and burning sentient beings.
rừng Kỳ-đà
nguyên khu vườn rừng này trước là sở hữu của ông trưởng giả Kỳ-đà, sau cúng dường đức Phật và chư tăng làm chỗ tu tập nên gọi tên là rừng Kỳ-đà. Tên Phạn ngữ là Jetavana Anthapindada-rma.
rừng phiền não
(phiền não tòng lâm) phiền não nhiều vô số, ví như cây cối mọc xen nhau trong rừng rậm, nên gọi là rừng cây rậm rạp phiền não.
rừng sa la song thụ
Sālavana (S)Sa la lâm, rừng cây salaRừng cây sa la nơi Phật nhập diệt.
rừng sâu núi thẳm
Deep forest and high mountain.
rừng tha ma
khu rừng ở ngoài thành Vương-xá được dùng làm bãi tha ma vất xác người chết. Bản Hán văn dùng hàn lâm (寒林), nghĩa là khu rừng lạnh lẽo, dịch ý từ Phạn ngữ là Śitavana, thường phiên âm là Thi-đà hay Thi-đa-bà-na.
rừng trúc
Venuvana (S). Bamboo grove. Also Trúc lâm.
rửa
To wash—To clean.
rửa nhục
To take vengeance for an insult—To wash out an insult.
rực rỡ
Radiant—Bright—Brilliant.
sa
Bàlukà. (S). Sand; sands, e.g. of Ganges, hà sa implying countless.
; 1) Bất cẩn: Careless. 2) Cát: Baluka (skt)—Gravel—Sand or sands, e.g. of Ganges. 3) Dễ dàng: Easy-going. 4) Hằng sa: Vô số kể—Countless.
; (娑) Cũng gọi Tát, Táp, Tạt, Tam, Tham, Tán. Chỉ cho chữ (sa), 1 trong 42, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Mật giáo thường gọi chữ Sa là Đế. Nếu giải thích một cách nông cạn theo tướng chữ thì Đế là xét kĩ, là chắc thật; còn nếu giải thích một cách sâu xa theo nghĩa chữ thì Đế là bất khả đắc. Vì thế, phẩm Thích tự mẫu trong kinh Kim cương đính gọi chữ Sa là tất cả pháp, tất cả đế bất khả đắc. Kinh Văn thù vấn giải thích Sa là tiếng hiện chứng Nhất thiết trí (Phạn: Sarvajĩànàbhisambodhana). Còn kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì giải thích Sa là nghĩa vì chúng sinh mà diễn nói chính pháp khiến cho tâm của chúng vui mừng. [X. kinh Đại phẩm Bát nhã Q.5; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2].
sa bà
Saha (skt)—Còn gọi là Sa Ha Lâu Đà, hay Sách Ha, nghĩa là chịu đựng hay nhẫn độ; nơi có đầy đủ thiện ác, cũng là nơi mà chúng sanh luôn chịu cảnh luân hồi sanh tử, được chia làm tam giới—That which bears, the earth, interpreted as bearing, enduring; the place of good and evil; a universe, or great chiliocosm, where all are subject to transmigration and which a Buddha transforms; it is divided into three regions and Mahabrahma Sahampati is its lord.
; (娑婆) Phạn: Sahà. Cũng gọi Sa ha, Sách ha. Hán dịch: Nhẫn, Kham nhẫn, Năng nhẫn, Nhẫn độ. Chỉ cho thế giới Sa bà (Phạm:Sahàlokadhàtu), tức là thế giới hiện thực do đức Phật Thích ca mâu ni giáo hóa. Chúng sinh trong thế giới này làm 10 điều ác, chịu đựng các phiền não mà không muốn lìa bỏ, vì thế gọi là Nhẫn. Lại khi chư Phật, Bồ tát làm việc lợi lạc ở thế gian này, các Ngài phải chịu mọi thứ phiền não để biểu thị lòng vô úy và từ bi của cácNgài, cũng gọi là Nhẫn. Sa bà còn được dịch là Tạp ác, Tạp hội, nghĩa là cõi Sa bà là chỗ Tam ác, Ngũ thú tụ hội phức tạp. Ngoài ra, danh từ Sa bà vốn chỉ cho cõi Diêm phù đề, nơi cư trú của chúng sinh, đời sau, Sa bà trở thành 1 thế giới Tam thiên đại thiên do đức Phật Thích ca mâu ni giáo hóa, cho nên gọi chung thế giới có trăm ức núi Tu di là Sa bà. [X. Pháp hoa văn cú Q.2, hạ; Pháp hoa huyền tán Q.2; Đại đường tây vực kí Q.1].
sa bà bà
Sahassakkha (S)Tên khác của trời Đế Thích, đứng đầu cõi trời Đao lợi.
; (娑婆婆) Pàli: Sahassàkkha. Cũng gọi Bà bà, Bà sa bà, Bà sa thỏa. Tên khác của trời Đế Thích, đứng đầu cõi trời Đao lợi. Trời Đế thích có rất nhiều tên, trong đó, những tên thường thấy hơn thì có: Thích đề hoàn nhân, Kiếu thi ca, Nhân đà la... mà tên nào cũng có nguyên do cả. Cứ theo Kinh Tạp A Hàm quyển 40 thì có vị Tỳ Khưu đã từng thỉnh vấn đức Phật rằng: Tại sao Thích đề hoàn nhân còn có các tên gọi khác như: Phú lan đà la, Ma già bà, Kiều thi ca, Thiên... Đức Phật liền giải thích nguyên do các tên của trời Đế thích, trong đó, về Sa bà bà, Phật nói như sau: Khi trời Đế thích còn làm người ở thế gian, thường đem áo Bà sân tư (Phạm: Vàsava, cũng gọi áo Bà sân hòa) cúng dường sa môn, bà la môn, nên có tên là Sa bà bà. [X. Pháp uyển châu lâm Q.2]. (xt. Đế Thích Thiên).
sa bà ha
Svàha (S). Hail! So be it. Ritual term pronounced at the end of the prayer. Also Tát bà ha.
; Svaha (skt)—Chữ cuối trong mỗi bài chú—Hail!—The last word in any mantra—A Brahminical salutation at the end of a sacrifice.
sa bà thế giới
Saha-loka-dhatu (skt)—Saha World—The world of human beings—The world.
sa bà tức tịch quang
(娑婆即寂光) Thế giới Sa bà đầy dẫy gạch ngói gai gốc này chính là cõi Tịch quang chân thường cứu cánh. Thể của cõi Tịch quang có đầy đủ 3 đức: Pháp thân, Bát nhã và Giải thoát. Nếu nhìn bằng cái nhìn của chúng sinh đầy nghiệp chướng, thì 3 đức trên đây trở thành 3 đạo: Hoặc, Nghiệp và Khổ. Do đó, tuy nói là Tịnh độTịch quang chân thường cứu cánh, nhưng thể của nó không phải tách rời thế giới Sa bà này mà tồn tại riêng biệt, cho nên, nếu nhìn bằng con mắt Phật thì thế giới Sa bà này chính là Tịnh độTịch quang vậy.
sa ca bà la sơn
(娑迦婆羅山) Sa ca bà la, Phạn: Cakravàđa-parvata. Cũng gọi Chước ca la sơn. Hán dịch: Thiết vi sơn. Tên dãy núi ngoài cùng trong 8 dãy núi bao quanh núi Tu di theo thế giới quan của Phật giáo. (xt. Thiết Vi Sơn).
sa chỉ đa thành
(娑枳多城) Sa chỉ đa, Phạn; Pàli: Sàketa. Cũng gọi Sa chỉ thái thành, Bà sí đa thành, Sa kê đa thành, Bà chỉ đa thành (chữ Bà này do lầm từ chữ Sa mà ra). Tên 1 đô thành ở phía nam thành Xá vệ, trung Ấn độ, cách thành A du xà ở phía nam nước Kiêu tát la bằng con sông. Gần thành này có khu rừng An thiện, đức Phật thường thuyết pháp ở đây. Về phía nam thành có ngôigià lam to lớn, là nơi A la hán Đề bà thiết ma soạn luận Thức thân túc, cũng là nơi A la hán Cù bà soạn luận Thánh giáo yếu thực và cũng là nơi mà bồ tát Hộ pháp đã phản bác học thuyết của các Luận sư Tiểu thừa. Đức Phật từng giáo hóa ở đây trong 6 năm. Vùng đất của thành này ngày xưa hiện nay là vùng phụ cận thành phố Fyzabad thuộc tiểu bang Liên hợp. [X. kinh Trường a hàm Q.3; Cao tăng Pháp Hiển truyện; điều Tì sách ca quốc trong Đại đường tây vực kí Q.5; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.3].
sa côn đát la
(莎昆妲蘿) Phạn: Zakuntalà. Gọi đủ:Abhijĩànazakuntalam. Tên một hí khúc của Ấn độ cổ đại, gồm 7 màn, do nhà Đại văn hào Gia lí đà sa (Phạn: Kàlidàsa) soạn vào khoảng thế kỉ V. Đây là tác phẩm văn học bằng tiếng Phạn cổ điển kiệt xuất nhất. Năm 1789, Sir William Jones giới thiệu tác phẩm này đến châu Âu, gây chấn động trong giới trí thức châu Âu, văn hào Kàlidàsa từ đó bèn được tặng cho mĩ danh là Shakespeare của Ấn độ. Nội dung của hí khúc này đại khái như sau: Một hôm, quốc vương Đỗ sử dương đa vào săn bắn trong rừng sâu, tình cờ gặp cô con gái nuôi của ẩn sĩ Cam hoa là Sa tì đát la. Không bao lâu, nhà vua vì rung động trước sắc đẹp và tình yêu của Sa tì đát la nên trao nhẫn đính hôn, nhưng do vận mệnh ngang trái dẫn đến bi kịch. Về sau, nhà vua thấy lại chiếc nhẫn, như vừa tỉnh mộng, hiểu rõ việc sai lầm ngày trước, do đó, 2 người lại được sum hợp và kết thúc bằng kịch vui. Câu chuyện này có lẽ đã thoát thai từ Sử thi Mahàbhàrata (cũng gọi là Đại chiến thi) và Padmapuràịacủa Ấn độ, do đó, có thể nói, hí khúc Zakuntala đã lấy cảm hứng từ 2 tác phẩm văn học cổ trên đây, rồi dùng thể văn mới, cấu tưởng mới, sáng tác theo lối mới mà thành 1 tác phẩm văn học lớn. Cho đến nay, hí khúc này được dịch ra nhiều thứ tiếng. Riêng tại Trung quốc, trước sau đã có Sa côn đa la dođại sư Mạn thù dịch; Sa cung đạt la của Lư tiên và Sa côn đát la của Mi văn khai.
sa cơ
Bị hoạn nạn—To meet with an accident—To have misfortune.
Sa Di
(s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌): cách xưng hô của Phật Giáo đối với người xuất gia trên 7 tuổi và chưa đủ 20 tuổi, là một trong 5 chúng đệ tử của đức Phật, chỉ cho những người đã thọ 10 giới, chưa thọ giới Cụ Túc. Âm dịch Phạn ngữ là Thất La Ma Noa Lạc Ca (室羅摩拏洛迦), Thất La Mạt Ni La (室羅末尼羅), Thất La Ma Noa (室羅摩拏); ý dịch là Cầu Tịch (求寂), Pháp Công (法公), Tức Ác (息惡), Tức Từ (息慈), Cần Sách (勤策); tức có nghĩa là dừng lại các điều ác, thực hành từ bi, tìm cầu sự yên vui, vắng lặng. Người nữ xuất gia thì gọi là Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼). Ma Ha Tăng Kỳ Luật (s: Mahāsaṅghavinaya, 摩訶僧祇律) quyển 29 dựa vào tuổi tác mà phân biệt Sa Di thành 3 hạng khác nhau: (1) Khu Ô Sa Di (驅烏沙彌, Sa Di Đuổi Quạ), tuổi trong phạm vi từ 7 đến 13, nghĩa là người có năng lực đuổi chim quạ ngoài đồng. (2) Ứng Pháp Sa Di (應法沙彌), tuổi từ 14 đến 19, tức là những vị Sa Di không bao lâu nữa có thể tham dự sinh hoạt xuất gia. (3) Danh Tự Sa Di (名字沙彌), tuổi đã quá 20 trở lên mà vẫn chưa thọ giới Cụ Túc, nhưng vẫn còn hình thức Sa Di. Giới điều vị Sa Di lãnh thọ được gọi là Cần Sách Luật Nghi (勤策律儀), gồm 10 giới: (1) Không sát sanh; (2) Không trộm cắp; (3) Không tà dâm; (4) Không vọng ngữ; (5) Không uống rượu; (6) Không nằm ngồi giường cao rộng lớn; (7) Không mang vong hoa thơm hay dùng hương thơm xoa mình; (8) Không ca múa, hòa tấu, đi xem nghe; (9) Không ăn phi thời; (10) Không nắm giữ vàng bạc, báu vật. Như trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú (沙彌律儀要略增註, CBETA No. 1118) quyển Thượng có giải thích rằng: “Phạn ngữ Sa Di, thử vân Tức Từ, vị tức ác hành từ, tức thế nhiễm nhi từ tế chúng sanh dã; diệc vân Cần Sách, diệc vân Cầu Tịch (梵語沙彌、此云息慈、謂息惡行慈、息世染而慈濟眾生也、亦云勤策、亦云求寂, tiếng Phạn Sa Di, Tàu dịch là Tức Từ, nghĩa là chấm dứt điều ác và thực hành từ bi, chấm dứt sự ô nhiễm thế tục và thương xót cứu độ chúng sanh; còn gọi là Cần Sách, còn gọi là Cầu Tịch).”
sa di
Śrāmaṇera (S), Shami (J), Sami(K), Sāmaṇera (P), pabbajja (P), Novice monk Cần sáchPhái nam xuất gia đã thọ 10 giới. Khi thọ giới Sa di (10 giới), Tăng Ni phải ở chùa được 5 năm.
; Sràmanera (S). Novice-monk.
; Sramanera (s&p)—Thất La Ma Na Lạc Ca—Thất Ma Na Y Lạc Ca—Thất La Ma Ni La—Người nam mới tu, còn đang tập giữ những giới khinh và mười giới sa Di—A male observer of the minor commandments (các giới khinh)—Sramanera is the lowest rank of a person cultivating the way. He must keep properly ten precepts. 1) Cần Sách Nam: Người nam cần cù chăm gắng tuân theo lời chỉ dạy của các bậc đại Tăng—A Zealoues Man who zealously listen to the instructions of great monks. 2) Thất La Ma Ni La: a) Người tu hành cầu tịch tịnh viên mãn—One who seek rest. b) Cầu Niết Bàn Tịch: One who seeks the peace of nirvana. ** For more information, please see Tam Chủng Sa Di.
; (沙彌) Phạn: Zràmaịesaka, Zràmaịera. Pàli: Sàmaịera. Cũng gọi: Thất la na noa. Gọi đủ: Thất la ma noa lạc ca, Thất la mạt ni la. Hán dịch: Cầu tịch, Pháp công, Tức ác, Tức từ, Cần sách. Chỉ cho người nam xuất gia trong tăng đoàn của Phật giáo, tuổi từ 7 đến 19, đã thụ 10 giới, chưa thụ giới Cụ túc, 1 trong 5 chúng, 1 trong 7 chúng. Sa di hàm ý là tìm cầu sự vắng lặng trong tâm hồn, chấm dứt các việc ác, tu hành tất cả điều thiện. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 29, tùy theo tuổi tác, Sa di được chia làm 3 loại: 1. Khu ô Sa di: Khoảng từ 7 tuổi đến 13 tuổi,đã có thể xua đuổi được chim quạ (khuô) trên sân khi phơi thóc gạo. 2. Ứng pháp Sa di: Từ 14 tuổi đến 19 tuổi, đã có năng lực làm các việc nặng nhọc, thị giả thầy, tham thiền, tụng kinh... nghĩa là Sa di đã có đủ khả năng tham dự các sinh hoạt xuất gia hằng ngày. 3. Danh tự Sa di: Người đã trên 20 tuổi mà chưa thụ giới Cụ túc, thì vẫn là Sa di. Ba loại Sa di trên đây gọi chung là Tam Sa di.Trong tăng đoàn Phật giáo, vị Sa di đầu tiên là La hầu la. Đến đời sau, vị Sa di thụ trì giới, gọi là Pháp đồng Sa di, người đã cạo tóc mà chưa thụ giới thì gọi là Hình đồng Sa di. Ngoài ra, ở Nhật bản có loại Tại gia Sa di, tức là người xuất gia tu hành mà có vợ con. [X. luật Tứ phần Q.34; luật Ngũ phần Q.17, luật Thập tụng Q.21; Thiện kiến luật tì bà sa Q.16; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4; Câu xá luận quang kí Q.14; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3]. (xt. Thất Chúng).
sa di giới
The ten commandments, or precepts taken by the novice-monk.
; Mười giới Sa Di—The ten commandments (precepts) taken by a sramanera 1) Không sát sanh: Not to kill living beings. 2) Không trộm đạo: Not to steal. 3) Không dâm dục: Not to have sexual intercourse. 4) Không láo xược: Not to lie or speak evil. 5) Không uống rượu: Not to drink wine. 6) Không ghim hoa trên đầu, không dồi phấn, không xức dầu: Not to decorate oneself with flowers, nor utilize cosmetologic powder, nor use perfumes. 7) Không ca hát, không khiêu vũ như kỷ nữ dâm nữ: Not to sing or dance. 8) Không ngồi ghế cao, không nằm giường rộng: Not to occupy high chairs high beds. 9) Không ăn quá ngọ: Not to eat out of regulation hours. 10) Không cất giữ tiền, vàng bạc, của cải: Not to possess money, gold, silver, and wealth.
; (沙彌戒) Cũng gọi Cần sách luật nghi. Chỉ cho 10 giới của vị Sa di thụ trì: 1. Không giết hại. 2. Không trộm cắp. 3. Không dâm dục. 4. Không nói dối. 5. Không uống rượu. 6. Không ngồi giường cao. 7. Không đeo tràng hoa, bôi nước hoa lên mình. 8. Không xem nghe múa hát. 9. Không cất giữ vàng bạc, vật quí báu. 10. Không ăn phi thời (không ăn quá ngọ). (xt. Giới, Sa Di).
sa di hạt thực
(沙彌喝食) Gọi tắt: Sa hát. Trong Thiền lâm, khi đại chúng thụ trai, người đứng một bên trong Trai đường hô hiệu lệnh mời đại chúng thụ trai, gọi là Hát thực hành giả (người thỉnh trai); thông thường 1 đồng tử chưa xuống tóc, thụ giới (chú điệu) làm việc này. Tại Nhật bản, vị Sa di mặc áo hát thực đặc biệt gọi là Sa hát. [X.môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên).
sa di ni
Sramaṇerika (S), Novice nun, Sāmaṇeri (P)Sa di nữPhái nữ xuât gia đã thọ 10 giới.
; Sràmanerika. Novice-nun.
; Sramanerika (s&p)—Thất La Ma Na Lí Ca—Nữ tu mới gia nhập giáo đoàn Phật giáo, nguời trì giữ mười giới khinh—A female observer of the minor commandments (các giới khinh)—A female religious novice who has taken a vow to obey the ten commandments. • Cần Sách Nữ: A zealous woman, devoted. ** For more information, please see Sa Di.
; (沙彌尼) Phạn: Zràmaịerikà. Pàli: Sàmaịerì. Gọi đủ: Thất la ma noa lí ca. Hán dịch: Cần sách nữ, Tức từ nữ. Chỉ cho người nữ mới xuất gia thụ trì 10 giới, chưa thụ giới Cụ túc, 1 trong 5 chúng, 1 trong 7 chúng. Mười giới mà Sa di ni thụ trì cũng giống như 10 giới của Sa di. Theo kiền độ Tỳ khưu ni trong luật Tứ phần quyển 48, người nữ 18 tuổi chưa lập gia đình mà đi xuất gia, thì thụ 10 giới Sa di ni rồi, lại phải thụ Thức xoa ma na trong 2 năm, đủ 20 tuổi mới được thụ giới Tỳ khưu ni; nếu là thiếu phụ 10 tuổi từng đã lấy chồng (Ấn độ có tục tảo hôn), thì cũng phải thụ Thức xoa ma na trong 2 năm mới được thụ giới Tỉ khưu ni. [X. kinh Sa di ni giới; Đàm vô đức luật bộ tạp yết ma; luận Câu xá Q.14; Câu xá luận quang kí Q.14; Tứ phần tỉ khưu ni sao Q.1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3; Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Thức Xoa Ma Na, Sa Di).
sa di ni giới
The ten precepts taken by the novice-nun.
; Mười giói Sa Di Ni—The ten commandments taken by the sramanerika—See Sa Di Giới.
sa di thập giới
Ten precepts of Sramanera—See Sa Di Giới.
sa di đạo hầu
Một người mới tu, chưa đủ tuổi để thọ giới đàn—A novice monk who is not old enough to be ordained.
sa duy đức lợi
(娑維德利) I. Sa Duy Đức Lợi. Phạn: Savitf. Chỉ cho vị thần trong Phệ đà hiển hiện công năng của mặt trời, hoặc chỉ cho mặt trời, hàm ý là người cổ vũ, người sinh sản, người sáng tạo. Hình tượng của vị thần này là toàn thân màu vàng ròng, ngồi xe màu vàng đi khắp cõi trời và nhân gian, thường thức tỉnh người ngủ say, ban đêm thì giúp người vào giấc ngủ; đồng thời có năng lực làm cho người sống mãi, nếu người chết thì đưa linh hồn họ lên cõi trời. Vị thần này rất được Bà la môn giáo sùng bái. II. Sa Duy Đức Lợi. Vốn là tên 1 bài tán ca ca tụng thần Sa duy đức lợi trong kinh Phệ đà, thường gọi là Già da đức lợi (Phạn: Gàyatrì). Về sau trở thành tên của nữ thần; hoặc là vợ hay con gái của Phạm thiên, hoặc là vợ của thần lửa A kì ni. Cũng có thuyết cho là thần độc lập. Thần này có 3 đầu, tay cầm chuỗi tràng, phất trần và sách. III. Sa Duy Đức Lợi. Tên của Nữ chủ giác trong câu chuyện Sa duy đức lợi trong bộ Đại sử thi Ma ha bà la đa (Phạn:Mahàbhàrata) của Ấn Độ.
sa già đà
(娑伽陀) Phạn: Svàgata. Pàli: Sàgata. Cũng gọi Tu già đà. Hán dịch: Thiện Lai. Một trong các vị đệ tử của đức Phật. Lúc mới sinh ra, ngài có dung mạo rất dễ thương, dáng vẻ trang nghiêm, thân phụ của ngài trông thấy, trong lòng vui mừng liền nói: Thiện lai!(Lành thay! Hãy lại đây!), do đó mà ngài có tên là Thiện lai. Sau, Ngài chứng được quả Thanh văn, có thần thông Hỏa giới. [X. điều Ẩm tửu học xứ ghi trong Hữu bộ tì nại da Q.42].
Sa giới
(沙界): hằng hà sa số thế giới, tức vô lượng vố số thế giới của Phật nhiều như cát sông Hằng (s, p: Gaṅgā, 恆河) ở Ấn Độ. Kim Cang Bát Nhã Kinh (金剛般若經) có đoạn rằng: “Chư Hằng Hà sở hữu sa số Phật thế giới, như thị ninh vi đa phủ (諸恆河所有沙數佛世界、如是寧爲多不, vô số các thế giới Phật có ở sông Hằng, như vậy liệu có nhiều chăng ?).”
; (沙界): chỉ cho Hằng hà sa số thế giới, cõi nước nhiều giống như cát sông Hằng. Như trong bản Đầu Đà Tự Bi Văn (頭陀寺碑文) của của Vương Triệt (王屮, ?-?) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Diễn vật chiếu chi minh, nhi giám cùng sa giới (演勿照之明、而鑒窮沙界, diễn bày ánh sáng không chiếu, mà soi tỏ cùng khắp sa giới).” Hay trong bài thơ Quán Hồ (觀湖) của thi sĩ Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống lại có câu: “Hồi thủ bất tri sa giới thiểu, phiêu y do giác sắc trần cao (回首不知沙界小、飄衣猶覺色塵高, hồi đầu nào hay sa giới nhỏ, áo bay mới biết bụi trần cao).” Trong Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca (永嘉證道歌, Taishō Vol. 48, No. 2014) cũng có câu: “Đại thiên sa giới hải trung âu, nhất thiết thánh phàm như điện phất (大千沙界海中漚、一切聖賢如電拂, cõi nước cùng khắp trong bọt biển, hết thảy thánh phàm như điện chớp).” Hoặc trong Vĩnh Minh Trí Giác Thiền Sư Duy Tâm Quyết (永明智覺禪師唯心訣, Taishō Vol. 48, No. 2018) có đoạn: “Bất động vi hào chi công, phỉ di ty phát chi bộ, ưu du sa giới, biến lịch đạo tràng, hà Phật sát nhi bất đăng, vô nhất tướng nhi phi thật tướng, vô nhất nhân nhi phi viên nhân (不動微毫之功、匪移絲髮之步、優游沙界、遍歷道塲、何佛剎而不登、何法會而不涉、無一相而非實相、無一因而非圓因, chẳng động mảy lông công lao, không dời sợi tóc bước chân, rong chơi khắp chốn, trãi cùng đạo tràng, chẳng chùa Phật nào mà không đến, không pháp hội nào mà chẳng qua, không một tướng nào mà chẳng phải thật tướng, không một nhân nào mà chẳng phải nhân tròn).”
sa giới
Hằng hà sa số thế giới hay thế giới nhiều như cát sông Hằng—Worlds as numerous as the sand of Ganges.
; (沙界) Hàm ý là thế giới nhiều như cát sông Hằng, tức chỉ cho thế giới Phật nhiều vô lượng vô số. Kinh Kim cương bát nhã (Đại 8, 751 trung) nói: Thế giới Phật như số cát của các sông Hằng, như thế có nhiều không? Trong kinh Phật cũng có câu kệ (Đại 47, 290 thượng): Tâm bọc thái hư, lượng trùm sa giới. [X. Chú Hoa nghiêm kinh đề pháp giới quán môn tụng].
sa giới, hằng hà sa số thế giới
Worlds as numerous as the sands of Ganges.
sa ha
Sahà (S). The world around us, the present world. Also Ta bà
; Saha (skt)—Còn gọi là Sa Bà hay Ta Bà, thế giới Ta bà của chúng ta hiện tại—Saha world—The world around us—The present world.
; (娑呵) Phạn: Sahà. I. Sa Ha. Hán dịch: Kham nhẫn, Nhẫn độ. Chỉ cho thế giới Sa bà. Chúng sinh ở thế giới này cam lòng chịu đựng tất cả những phiền não, khổ lụy, chứ không muốn thoát ra, cho nên gọi thế giới này là Sa ha. (xt. Sa Bà). II. Sa Ha. Hán dịch: Sử lưu. Tên một loại cỏ thuốc nói trong kinh Đại bát niết bàn quyển 25 (bản Bắc). Loại cỏ thuốc này mọc trên núi Tuyết, nếu người nào được trông thấy nó thì sẽ sống lâu vô lượng và không có bệnh khổ. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].
sa hữu
Xem đường điXem Chỉ Đa Mật.
sa ka la, sa ga la
Sakala (S). Actual Siàlkot.
sa khả đế
Sakti (S)Tên một vị thiên. Bà phi cũa ngài Phẫn nộ vương.
sa kiếp
Hằng sa số kiếp---Kalpas countless as the sands of Ganges.
sa kiệt la
Xem Biển.
; Sàgara (S). Ocen of Nàgas. Also Hàm hải Sa kiệt la long.
; Sagara (skt). 1) Biển: Hàm hải—The ocean. 2) Theo Kinh Pháp Hoa, đây là biển nơi có cung điện của vua rồng, ở về phương bắc núi Tu Di, nơi có nhiều ngọc quý, có long vương vũ; nơi đây nàng Long Nữ (con của Long Vương) mới tám tuổi đã thành Phật: According to the Lotus sutra, the Naga king of the ocean palace, north of Mount Meru, possessed of priceless pearls; the dragon-king of rain; his eight-year-old daughter instantly attained Buddhahood.
sa kiệt la long vương
Śāgāra-nāgarāja (S).
; (娑竭羅龍王) Phạn: Sàgara-nàgaràja. Cũng gọi Sa già la long vương. Vua rồng Sa kiệt la, 1 trong 8 Đại long vương. Sa kiệt la nghĩa là biển, vì vua rồng này ở dưới biển nên có tên gọi là Sa kiệt la. Cung điện của vua rồng ở dưới đáy biển cả, mỗi bề rộng 8 vạn do tuần, 7 lớp tường vách, 7 lớp lan can, 7 lớp lưới giăng, 7 lớp hàng cây, chung quanh đều được trang sức bằng 7 thứ báu, vô số các loài chim cùng hót. Nhưng các rồng đều bị chim Kim sí (cánh vàng)ăn thịt, chỉ có 16 vị Long vương như Long vương Sa kiệt la, Long vương Nan đà... là may mắn thoát khỏi nạn này.Long vương Sa kiệt la là vị thần làm ra mưa, cho nên xưa nay thường được thờ làm Bản tôn trong các pháp tu cầu mưa. Vị Long vương này cũng là quyến thuộc của bồ tát Thiên thủQuan âm, là 1 trong 28 bộ chúng của Ngài. Thân hình Long vương này màu đỏ lợt, tay trái cầm rồng đỏ, tay phải cầm dao, dáng vẻ đầy uy vũ. Vị Long vương này có cô con gái mới 8 tuổi mà trí tuệ rất thông lợi, nhờ công đức trì kinh Pháp hoa mà được tức thân thành Phật, hiện thân nam tử, đầy đủ các hạnh Bồ tát. Các kinh như: Kinh Hải long vương, kinh Phật vị Hải long vương thuyết pháp ấn, kinh Phật vị Sa kiệt la Long vương sở thuyết đại thừa... đều là những kinh đức Phật nói cho vị Long vương này nghe. [X. phẩm Long điểu trong kinh Trường a hàm Q.19; kinh Khởi thế Q.5; Pháp hoa văn cú Q.2, hạ; Hoa nghiêm kinh sớ Q.5].
sa kế
(莎髻) Sa là cỏ gấu; Kế là cả búi tóc. Nghĩa là dùng cỏ gấu để kết thành búi tóc. Đây vốn là phong tục tập quán của những người nô bộc ở Ấn độ đời xưa. Trong Mật giáo, Minh vương Bất động là thị giả của Như lai, trụ trong tam muội Nô bộc, nên tóc trên đầu kết thành 7 búi, số 7 tượng trưng cho 7 phần Bồ đề, Sa kế biểu thị thân phận 1 thị giả của Như lai. Phần đuôi của Sa kế là 1 chùm tóc, rủ xuống bên trái, biểu trưng lòng thương xót các chúng sinh cực ác khổ não. [X. kinh Để lí tam muội Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5].
sa la
Sàla (S). Sal tree.
; Sala (skt)—Cây Ta La—Sala tree—The teak tree.
sa la ba
Sha-lo-pa (C).
; (沙囉巴) (1259-1314) Cao tăng Trung quốc, sống vào đầu đời Nguyên, tương truyền sư là người Hà tây (có thuyết nói là người Tích ninh, Tây vực).Thưở nhỏ, sư theo Ngài Bát tư ba (Tạng: Fphags-pa), vị Đế sư (Quốc sư) đầu tiên của triều Nguyên, xuất gia, tu tập pháp Quán đính của các bộ và theo Thượng sư Trước lật xích học ĐạiTiểu thừa. Sư lại vâng mệnh Đế sư theo ngài Lật ôn bốc thụ pháp Diệm mạn đức ca (Phạn: Yamàntaka). Sư thông hiểu tiếng Tây tạng và có thể thuyết giảng diệu pháp bằng ngôn ngữ này, sư cũng hiểu văn tự các nước khác. Sau, sư được Đế sư triều Nguyên đời thứ 5 đưa đến ra mắt Nguyên Thế tổ, vua ban sắc cho sư dịch các kinh Hiển, Mật chưa được truyền dịch ở Trung quốc và đặc biệt ban cho sư hiệu Đại Biện Quảng Trí.Vua Thế tổ lo lắng về phong cách đồi bại của giới tăng sĩ đương thời, nên ban cho sư làm chức Thích giáo đô tổng thống vùng Giang Chiết để chỉnh đốn giới tăng sĩ ở Giang nam. Sau khi sư đến, bắt đầu giảm bớt phiền hà và an định chư tăng tại các nơi Giang Chiết, rồi sư quan tâm đến các vùng Phúc Kiến, Quảng Đông, biết tình trạng giáo đồ rất khổ vì sự nhũng nhiễu của việc quan, nên tâu xin bãi bỏ các chức quan cai quản chư tăng ở địa phương, rồi sư lui về Lũng sơn ở Thiểm tây. Tháng 10 niên hiệu Diên hựu năm đầu (1314), sư ngồi thẳng nhìn Phật mà thị tịch, thọ 56 tuổi. Các kinh do sư dịch gồm có: Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ 2 quyển, Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quỉ cúng dường pháp, kinh Hoại tướng Kim cương đà la ni, kinh Phật đính đại bạch tản đà la ni, kinh Văn thù bồ tát tối thắng chân thực danh nghĩa, luận Chương sở tri 2 quyển. X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.36; Đại minh cao tăng truyện Q.1; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.1; Bổ tục cao tăng truyện Q.1; Mông Tạng Phật giáo sử tập thượng].
sa la ca lân đề
Sarasa-karanda (S)Sa la sa điển Ca lân đề, Sa la ca lân đểTên một loài chim.
; (娑羅迦鄰提) Phạn: Sàrasa kàraịđa. Sa la, gọi đủ là Sa la sa. Sa la sa và Ca lân đề là tên của 2 con chim. Hai con chim này như cặp uyên ương, thường quấn qúyt nhau như hình với bóng. Phật dùng chim này ví dụ Bồ tát tu hành 1 hạnh tức là tu hành tất cả hạnh. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.3 (bản Bắc)].
sa la ca lân để
Xem Sa la ca lân đề.
sa la cấp đa
(娑羅笈多) Phạn: Sàlagupta. Hán dịch: Trinh cố. Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Huỳnh xuyên, đất Trịnh (mạn tây huyện Trường cát, tỉnh Hà nam), họ Mạnh. Năm 14 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đẳng từ tại Phiếm thủy. Hai năm sau, sư đi tham học khắp nơi, như đến An châu học kinh Phương đẳng nơi Thiền sư Đại du, được vài tuần thì diệu tướng hiện tiền, rồi sư đến Tương châu theo ngài Thiện đạo học kinh Di đà. Sư suốt đời chuyên cần học tập không mệt mỏi, thông hiểu 3 tạng. Sư từng đến Ấn độ cầu pháp, sau 3 năm thì trở về nước, tuyên dương Luật học, giáo hóa vô số, nhưng chưa đầy 3 năm sư đã tịch diệt. [X. Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.hạ].
sa la di tụ lạc
(娑羅洟聚落) Sa la di, Phạn: Sàrathì. Hán dịch: Điều ngự thành. Tên một khu làng xóm ở Ấn độ vào thời đức Phật còn tại thế. Đức Phật đã từng đến làng này thuyết pháp, rồi tại đây Ngài lại qua làng Lô hê đa kha tô nâu mà đến bờ sông Hằng để tiếp tục cuộc hành trình giáo hóa. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.33].
sa la ha
(沙羅訶) Phạn: Saraha. Hành giả đầu tiên của Kim cương thừa ở Ấn độ, sống vào thế kỉ VII, người Lạp cát nị (Phạn: Ràjĩì) thuộc miền Đông Ấn độ. Tương truyền, thân phụ của sư thuộc dòng Bà la môn, thân mẫu thuộc dòng Noa cát nễ (Phạn: Đàkinì). Khi lớn khôn, sư thông hiểu cả Bà la môn giáo và Phật giáo, có lần sư hiện thần biến trước mặt vua Lạp Đặc Nạp Cáp Lạp (Phạn: Ratnaphala) và quan Tể tướng Bà la môn, khiến họ kính tin và qui y Phật giáo. Sau Sư trông nom chùa Na lan đà và học Chân ngôn thừa, tu hành Du già, thành tựu Đại hành pháp (Phạm:Mahàmudrà). Sư là 1 trong các vị A xà lê đầu tiên đem phổ biến hóa Đát đặc la thừa (Phạm:Tantra-yàna) mà xưa nay vốn bí truyền và làm cho tông thừa này được phổ cập. Bởi thế, chương 43 trong tác phẩm Ấn độ Phật giáo sử của mình, ngài Đa la na tha (Phạn: Tàranàtha, Tạng: Kun-dga# sĩiĩ-po) đã xếp sư vào bậc nhất trong các A xà lê tất địa. Sư là người đã giới thiệu Đát đặc la căn bản và Đát đặc la Phật đính cái với mọi người. Sư có trứ tác một số tán ca bằng tiếng Bengal và nhiều tác phẩm khác. Những tác phẩm chủ yếu của sư gồm: Cát tường Phật đính cái Đát đặc la nan ngữ thích cụ tuệ (Phạn: Zrìbuddhakapàla-tantra-paĩjikàjĩànavatì), Cát tường Phật đính cái thành tựu pháp (Phạn: Zrìbuddhakapàla-sàdhana), Nhất thiết bộ đa cúng vật nghi quĩ (Phạn: Sarva-bhùtabah-vidhi), Cát tường Phật đính cái mạn đồ la nghi quĩ thứ đệ minh (Phạn: Zrìbuddhakapàla-maịđala-vidhi-kramapradyotana), Đạo bả tạng ca (Phạn: Dohà-kosa-gìti), Tam thế gian chinh phục thế tự tại thành tựu pháp (Phạn: Trailokya-vazaôkara-lokezvarasàdhana). [X. An Introduction to Buddhist Esoterism by Benoytosh Bhattacaryya; The Life ofNàgàrjunafrom Tibetan and Chinese Sources by M. Walleser].
sa la hoa
(娑羅華) I. Sa La Hoa. Sa la, Phạn: Zàla. Hoa của cây Sa la, màu vàng nhạt, thuộc họ hoa Sơn trà. Quả của nó có thể ăn được. II. Sa La Hoa. Hoa bằng giấy trắng bày cúng trước khám thờ. Khi đức Phật nhập Niết bàn, cây Sa la song thụ biến thành màu trắng, người đời sau căn cứ vào sự tích này mà làm hoa Sa la bằng giấy trắng để dùng trong nghi thức lễ tang.
sa la lâm
Xem Sa la song thụ.
; Salavana (skt)—Rừng cây Ta La Song Thọ gần thành Câu Thi Na, nơi mà Đức Phật ngồi vào giữa hai hàng cây rồi thị tịch (thành Câu Thi Na còn có tên là Giác thành. Thành có ba góc nên gọi là giác, cũng gọi là ngưu giác vì có những cây Ta La mọc song đôi. Sau khi Đức Phật thị tịch thì có 4 cây khô héo, còn lại 4 cây còn tươi)—The forest of sala trees, or the grove of Sala trees near Kusinagara, the reputed place of the Buddha's death.
sa la lân
Sàlavana (S). Sal grove.
sa la lê phất
Salaribhu (skt)—Tên của một vương quốc hay một tỉnh cổ của Ấn Độ, mà vị trí chính xác không ai rõ—An ancient kingdom or province in India, exact position is unknown.
sa la sa
Sarasa (skt)—Một loài chim sếu bên Ấn Độ—The Indian crane.
sa la sa điển ca lân đề
Xem Sa la ca lân đề.
sa la sa điểu
(娑羅娑鳥) Sa la sa, Phạn: Sàrasa. Tên một giống chim ở Ấn độ. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 3 thì hình dáng chim này giống như chim uyên ương, nhưng hơi lớn hơn, tiếng nó hót rất thanh nhã, ở Trung quốc không có loài chim này, cho nên dịch ý là Nhạn. Tuệ lâm âm nghĩa thì dịch là Cộng hành điểu hoặc Bạch hạc.
sa la song thọ
Ta la song thọ (hai cây Ta La song đôi), nơi Phật đã nhập Niết bàn—The twine trees in the grove in which Sakyamuni entered nirvana.
sa la song thụ
Sāla (S), (S, P)Tên một loại cây có một gốc nhưng hai thân. Tương truyền Phật nhập diệt trong rừng cây sa la, giữa bốn cây sa la song thụ.
; The twin trees in the grove Sa la lâm in which Sàkyamuni entered nirvàna.
sa la thất phạt để tiết
(娑羅室伐底節) Phạn: Sarasvatì pùja. Ngày lễ của Bà la môn giáo và của Ấn độ giáo ở Ấn độ, được cử hành vào tháng Ma khư hay tháng Tinh (Phạn: Màgha, tương đương với tháng 1, tháng 2 Dương lịch) theo lịch Ấn độ để kỉ niệm Sa la thất phạt để (Phạn: Sarasvatì, Hán dịch: Biện tài thiênnữ). Vào dịp lễ này, chẳng những tượng của Sa la thất phạt để, mà những công cụ có liên quan đến việc mang lại tri thức như bút, mực, giấy, sách vở... đều được tín đồ sùng bái.
sa la thọ
Cây Ta La—Sala tree.
sa la thọ vương
Salendrarāja (S).
; Salendra-raja (skt)—Danh hiệu của ngài Diệu Trang Nghiêm Vương vị lai thành Phật có danh hiệu là Sa La Thụ Vương Như Lai, ngài cũng là cha của ngài Quán Âm—A title of Salendra-raja Buddha, or Subhavyuha, father of Kuan-Yin.
sa la thụ
(娑羅樹) Sa la, Phạn: Zàla. Cũng gọi Tát la thụ, Tô liên thụ. Hán dịch: Kiên cố, Cao viễn. Tên khoa học: Shorea rohusta. Tên một loại cây cao, thuộc họ hương long não, mọc ở các vùng nhiệt đới như Ấn độ, Tích lan... Loại cây này thân cao khoảng 32m, lá dài khoảng 16 đến 25 cm, rộng khoảng 10 đến 16 cm, hình bầu dục, đầu lá nhọn, hoa nhỏ màu vàng lợt, gỗ rất cứng, có thể dùng làm vật liệu kiến trúc, hạt có thể ép lấy dầu. Theo truyền thuyết, cây Sa la là cây đạo tràng của đức Phật Tì Xá Bà, 1 trong 7 đức Phật quá khứ. Kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1 (Đại 1, 2 trung) nói: Đức Phật Tì Xá Bà ngồi dưới gốc cây Sa la, thành Tối chính giác. Rừng cây Sa la ở ngoài thành Câu thi na yết la,Trung Ấn độ cũng là Thánh địa nổi tiếng vì đó là nơi đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn. Theo sự ghi chép trong các kinh, khi đức Thích Tôn sắp nhập Niết bàn, ở bên ngoài thành Câu Thi Na Yết La thì 4 phía giường Ngài nằm mỗi phía đều có 1 cây Sa la, gồm 2 nhánh cùng gốc, vì đau buồn thảm thương nên một nhánh mỗi bên của cây Sa la biến thành màu trắng, cành lá, hoa quả, vỏ cây đều nứt ra và rơi xuống đất, dần dần khô héo, còn 1 nhánh thì vẫn tươi, vì thế cây song thụ này cũng được gọi là Tứ khô tứ vinh thụ (cây 4 khô 4 tươi), hoặc Phi khô phi vinh thụ (cây chẳng phải khô, chẳng phải tươi). Do đó mà có các thí dụ: Hai cây ở phía đông là thường và vô thường, hai cây ở phía tây là ngã và vô ngã, ở phía nam là lạc và vô lạc và ở phía bắc là tịnh và bất tịnh. Lại vì rừng cây Sa la khô héo có màu trắng như chim hạc nên cũng gọi là Hạc lâm. Theo Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 1 thì Sa la song thụ, mỗi phía1 gốc 2 nhánh, 4 phía 4 gốc 8 nhánh, đều cao 5 trượng, 4 nhánh khô 4 nhánh tươi, gốc liền nhau, cành hợp nhau, lá um tùm, hoa tròn như bánh xe, quả to bằng cái bình, vị ngọt như mật, vì thế xưa nay rừng cây này được gọi là Song thụ lâm, Kiên cố lâm, Kiên lâm. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.37; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.2; Ma ha chỉ quán Q.7, thượng].
sa la thụ vương
(娑羅樹王) Tên khác của Khai phu hoa vương Như lai (Phạn: Saôkusumitaràja-tathàgata) ngồi ở phía nam trong viện Trung đài bát diệp của Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Đức Như lai này muôn đức nở rộ, đều đã đạt đến kim cương thực tế, cho nên dùng hoa quả tốt tươi, cứng chắc, không hư nát của cây Sa la (Phạn: Zala) để ví dụ 2 đức của Ngài. Thân Ngài màu vàng ròng, ca sa phủ kín 2 vai, bàn tay phải ngửa hướng ra ngoài, các đầu ngón tay rủ xuống, tay trái cầm góc áo ca sa để ở bên rốn. Mật hiệu là Bình đẳng kim cương. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.4].
sa la thụ vương phật
(沙羅樹王佛) Sa la thụ vương, Phạn: Zàlendraràja. Cũng gọi: Sa la vương. Hán dịch: Kiên cố, Tịch thắng. Tên một đức Phật được nói trong kinh Pháp hoa. Cứ theo phẩm Diệu trang nghiêm vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa quyển 7 thì trong đời quá khứ cách đây đã vô lượngA tăng kì kiếp, có một vị vua tên là Diệu trang nghiêm (Phạn: Zubha-vyùha) lúc đầu tin thờ ngoại đạo, chấp trước pháp Bà la môn. Nhưng Hoàng hậu và 2 vương tử thì đều tin Phật pháp một cách thuần thành. Do sự hướng dẫn của 2 vương tử, dần dần nhà vua sinh lòng vui mừng tin nhận Phật pháp. Sau, vào ngày 2 vương tử xuất gia, nhà vua đến chỗ đức Phật Vân lôi âm tú vương hoa trí, đức Phật nói pháp cho vua nghe và kí biệt rằng trong vị lai vua sẽ thành Phật hiệu là Sa la thụ vương. [X. Pháp hoa nghĩa kí Q.8; Pháp hoa văn cú Q.10, hạ; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
sa la vương
Salaraja (skt)—Danh hiệu của Phật—A title of the Buddha.
sa lạc ca
Charaka (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là tên của một tịnh xá trong thành Kapisa—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, this is the name of a monastery in Kapisa.
sa lộ đa la
Srotra (skt)—Nhĩ căn—The ear.
sa ma
Samaveda (skt)—Sách thứ ba trong bộ kinh Vệ Đà—The third of the Vedas, containing the hymns.
sa ma la
Smara (skt)—Ký ức—Recollection—Remembrance.
sa ma lị ca
Sannagarika (S). A sect. Also Mật lâm sơn bộ.
sa ma phệ đà
Sama-veda (S)Vệ đà phái.
; (沙摩吠陀) Phạn, Pàli: Sàma-veda. Cũng gọi Tam ma phệ đà, Sa ma bệ đà, Sa ma tì đà. Hán dịch: Ca tụng minh luận, Tác minh mĩ ngôn, Lễ nghi mĩ ngôn trí luận. Một trong 4 bộ kinhPhệ đà của Ấn độ đời xưa, liên quan đến ca vịnh và Toàn luật (Phạn: Sàman), tức thu tập các bài tán ca do những Ca vịnh tăng (Phạn: Udgàtf) xướng đọc khi tế Tô Ma, tức Phệ đà dùng vào việc tế lễ. Nội dung của bộ kinh Phệ đà này gồm những điểm trọng yếu về pháp cúng tế Tô Ma được giảng thuyết cho Nguyệt Thiên nghe. Kinh này có bản do 3 phái lưu truyền, chia làm 2 quyển. Giống như các Phệ đà khác, kinh này cũng được tập thành do phần Ca tụng (Phạn: Saôhità, tức Bản tập) và phần Tác pháp (Phạn: Bràhmaịa, tức Phạm thư), tất cả gồm 1.810 bài tụng (lược bỏ những bài trùng lắp thì còn 1.549 bài tụng), phần lớn do sửa đổi những bài ca tụng trong kinh điển căn bản Lê câu Phệ đà mà thành, còn những bài hoàn toàn mới được thấy trong kinh này thì chỉ có 70 bài tụng mà thôi. (xt. Phệ Đà).
sa ma tha
Là thiền quán cực tịnh, quán các pháp đều không như gương soi các tướng.
; Là thiền quán cực tịnh, quán các pháp đều không, như gương soi các tướng.
sa ma vệ đà
Sàmaveda (S). The 3rd of four books of Veda.
sa ma đế
Xem Chánh lượng bộ.
; Sammatìya (S). A sect. Also Chính lượng bộ.
; Sammatiya (skt)—Chánh Lượng Bộ, một trong 18 tông Tiểu Thừa—One of the eighteen Hinayana sects.
Sa Môn
(s: śramaṇa, p: samaṇa, 沙門): âm dịch là Thất La Mạt Noa (室羅末拏), Xá Ra Ma Noa (舍囉摩拏), Thất Ma Na Noa (㗌摩那拏), Sa Ca Muộn Nang (沙迦懣囊); Sa Môn Na (沙門那), Sa Văn Na (沙聞那), Ta Môn (娑門), Tang Môn (桑門), Táng Môn (喪門); là từ chuyển âm của phương ngôn Tây Vức, như từ samāne của tiếng Quy Tư (s: Kucīna, 龜茲), hay samanā của tiếng Vu Điền (s: Kustana, 于闐, nay là Khotan); ý dịch là cần lao (勤勞), công lao (功勞), cù lao (劬勞), cần khẩn (勤懇), tĩnh chí (靜志), tịnh chí (淨志), tức chỉ (息止), tức tâm (息心), tức ác (息惡), cần tức (勤息), tu đạo (修道), bần đạo (貧道), phạp đạo (乏道). Đây là từ tổng xưng cho người xuất gia, thông cả nội và ngoại đạo; cũng dùng để chỉ việc cắt bỏ râu tóc, dừng lại và chấm dứt các điều ác, khéo điều phục thân tâm, siêng năng thực hành các điều thiện, và khát vọng đạt được mục đích xuất gia tu đạo, chứng quả Niết Bàn. Theo Du Hành Kinh (遊行經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 3, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 66, Sa Môn được phân làm 4 loại như sau: (1) Thắng Đạo Sa Môn (勝道沙門), còn gọi là hành đạo thù thắng, như Phật hay Độc Giác, vì có thể tự giác được. (2) Thị Đạo Sa Môn (示道沙門), còn gọi là Thuyết Đạo Sa Môn (說道沙門), nghĩa là khéo thuyết giảng nghĩa đạo; chỉ cho người thuyết giảng về đạo không sai lầm, như Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v., có thể thường theo đức Phật chuyển bánh xe pháp. (3) Mạng Đạo Sa Môn (命道沙門), còn gọi là Hoạt Đạo Sa Môn (活道沙門), nghĩa là nương theo đạo mà sinh hoạt; tức chỉ cho người nương theo đạo mà sống, như tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), v.v., tuy có học vị mà giống như vô học, đa văn, khéo vâng giữ, đầy đủ giới cấm thanh tịnh, truyền pháp thân huệ mạng cho cuộc đời. (4) Ô Đạo Sa Môn (污道沙門), còn gọi là Hoại Đạo Sa Môn (壞道沙門), chỉ cho những người ngụy thiện, làm nhơ nhớp Thánh đạo, như Tỳ Kheo Mạc Khát Lạc Ca (莫喝落迦), thường trộm cắp tài vật của người khác. Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論, Taishō Vol. 30, No. 1579) quyển 29 giải thích rằng Thắng Đạo Sa Môn là bậc Thiện Thệ (s: sugata, 善逝, đấng thật sự qua bờ bên kia mà không còn trở lui biển sanh tử nữa), Thuyết Đạo Sa Môn là người tuyên thuyết các chánh pháp, Hoạt Đạo Sa Môn là người tu các thiện pháp, và Hoại Đạo Sa Môn là thực hành các việc làm sai trái. Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 112 có nêu 4 loại Sa Môn khác là (1) Hình Phục Sa Môn (形服沙門, Sa Môn bên ngoài mặc sắc phục tu sĩ), (2) Uy Nghi Khi Cuống Sa Môn (威儀欺誑沙門, Sa Môn khinh thường oai nghi tế hạnh), (3) Tham Cầu Danh Văn Sa Môn (貪求名聞沙門, Sa Môn tham cầu tiếng tăm) và (4) Thật Hành Sa Môn (實行沙門, Sa Môn tinh tấn thực hành chánh pháp). Trong Hương Tổ Bút Ký (香祖筆記) quyển 8 của Vương Sĩ Chân (王士禛, 1634-1711) nhà Thanh có câu: “Sa Môn dĩ Hòa Thượng vi tôn quý chi xưng (沙門以和尚爲尊貴之稱, Sa Môn lấy Hòa Thượng làm từ xưng hô tôn quý).” Hay trong Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) quyển 22 có câu: “Tây Kinh Tây Minh Tự Sa Môn Viên Chiếu soạn (西京西明寺沙門圓照撰, Sa Môn Viên Chiếu ở Tây Minh Tự, Tây Kinh soạn).”
sa môn
Śramaṇa (S), Monk, Shamon (J), Samaṇa (P), Samano (P), Śravana (S), Śramani (S), Sāmaṇeri (P)Bần tăng, Bần đạo, Cần tứcLà thầy tu xuất gia theo đạo Phật. Sa môn có nghĩa là người cần cù tu thiện pháp, ngưng dứt các ác pháp, người chịu thiếu nghèo không giữ của cải riêng, không có gì là riêng của mình.
; Sramana (S). (1) Ascetics of all kinds. (2) Buddhist monks who have left the family and quitted the passions. Explained by công lao toilful achievement, cần tức diligent quieting (of the mind and the passions), tịnh chí purity of mind, bần đạo poverty.
; Sramana (skt)—Ta Môn—Tang Môn—Bà Môn—Sa Môn Na—Xá La Ma Na—Thất La Ma Na—Sa Ca Mãn Nang—Thất Ma Na Nã. (I) Nghĩa của Sa Môn—The meanings of Sramana: 1) Tu hành khổ hạnh: Ascetics of all kinds. 2) Nhà tu Phật giáo, từ bỏ gia đình, từ bỏ dục vọng, cố công tu hành và thanh bần tịnh chí—Buddhist monk or Buddhist priest who have left their families, quitted the passions and have the toilful achievement (công lao tu hành). Diligent quieting (Cần tức) of the mind and the passions, Purity of mind (tịnh chí) and poverty (bần đạo). (II) Những lời Phật dạy về “Sa Môn” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Sramana” in the Dharmapada Sutra: 1) Hàng Sa-môn (Mâu Ni) đi vào xóm làng để khất thực ví như con ong đi kiếm hoa, chỉ lấy mật rồi đi chứ không làm tổn thương về hương sắc—As a bee, without harming the flower, its color or scent, flies away, collecting only the nectar, even so should the sage wander in the village (Dharmapada 49). 2) Một đàng đưa tới thế gian, một đàng đưa tới Niết bàn, hàng Tỳ Kheo đệ tửø Phật, hãy biết rõ như thế, chớ nên tham đắm lợi lạc thế gian để chuyên chú vào đạo giải thoát—One is the path that leads to worldly gain, and another is the path leads to nirvana. Once understand this, the monks and the lay disciples of the Buddha, should not rejoice in the praise and worldly favours, but cultivate detachment (Dharmapada 75). 1) Chư Phật thường dạy: “Niết bàn là quả vị tối thượng, nhẫn nhục là khổ hạnh tối cao. Xuất gia mà não hại người khác, không gọi là xuất gia Sa-môn.”—The Buddhas say: “Nirvana is supreme, forebearance is the highest austerity. He is not a recluse who harms another, nor is he an ascetic who oppresses others.” (Dharmapada 184).
; (沙門) Phạn: Zramaịa. Pàli: Samaịa. Hán âm: Thất la mạn noa, Xá ra ma noa, Sất ma na noa, Sa ca mãn nang. Cũng gọi: Sa môn na, Sa văn na, Tang môn. Hán dịch: Cần lao, Công lao, Cù lao, Cẩn khẩn, Tĩnh chí, Tịnh chí, Tức chỉ, Tức tâm, Tức ác, Cần tức, Tu đạo, Bần đạo, Phạp đạo. Là từ ngữ chuyển âm của phương ngôn Tây vực (tiếng Cưu tư:Samàne, tiếng Vu điền: Samanà), chỉ chung những người xuất gia, cạo bỏ râu tóc, ngăn dứt các điều ác, siêng tu các việc thiện, điều phục thân tâm, cầu mong đạt đến Niết bàn. Từ này dùng chung cho cả nội đạo và ngoại đạo. Cứ theo kinh Du hành trong Trường A Hàm quyển 3 và luận Đại tì bà sa quyển 66 thì Sa môn có thể được chia làm 4 loại như sau: 1. Thắng đạo sa môn (cũng gọi hành đạo thù thắng): Những bậc có khả năng tự giác, như Phật, Độc giác... 2. Thị đạo sa môn (cũng gọi Thuyết đạo sa môn): Chỉ cho người khéo giảng nói đạo nghĩa, có khả năng thường theo Phật chuyển đại pháp luân, như ngài Xá lợi phất... 3. Mệnh đạo sa môn (cũng gọi Hoạt đạo sa môn, Y đạo sinh hoạt): Chỉ cho những người sống theo đạo pháp, học rộng nhớ dai, đầy đủ giới cấm, truyền pháp thân tuệ mệnh cho đời, tuy còn ở địa vị Hữu học, nhưng đồng với địa vịvô học, như ngài A nan... 4. Ô đạo sa môn (cũng gọi Hoại đạo sa môn, Vi đạo tác uế): Chỉ cho những người bề ngoài mang hình tướng Sa môn nhưng tâm thì tà vọng, dối trá, làm những việc ô uế, trộm cắp tài vật của người khác, bôi nhọ đạo pháp, như Tỳ khưu Mạc hát lạc ca...Luận Du già sư địa quyển 29 cũng nêu 4 loại Sa môn, cho rằng Thắng đạo Sa môn tức là Chư thiện thệ, Thuyết đạo Sa môn tức là Thuyết chư chính pháp, Hoạt đạo Sa môn tức là Tu chư thiện pháp và Hoại đạo Sa môn tức là Hành chư tà hạnh. Ngoài ra, hội Phổ Minh Bồ Tát trong kinh Đại Bảo Tích quyển 112 cũng liệt kê 4 loại Sa môn là: Hình phục sa môn, Uy nghi khi cuống sa môn, Tham cầu danh văn sa môn và Thực hành sa môn. Sa môn có 4 quả chứng đắc khác nhau, gọi là Tứ sa môn quả, tức là: Quả Tu đà hoàn (đoạn tam kết: Hữu thân kiến, Giới cấm thủ, Nghi), quả Tư đà hàm (đoạn tam kết tham khuể si bớt dần), quả A na hàm (dứt hết 5 phiền não ở cõi Dục là: Dục tham, sân khuể, hữu thân kiến,giới cấm thủ và nghi), quả A la hán(vĩnh viễn không còn tham khuể si và tất cả phiền não). [X. kinh Tạp a hàm Q.29; kinh A tu la trong Trung a hàm Q.8; kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.5; kinh Phật nê hoàn Q.thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q.39; kinh Đại bát niết bàn Q.34 (bản Bắc); luật Thập tụng Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Tứ Chủng Tăng, A Na Hàm, Tư Đà Hàm, Tu Đà Hoàn).
sa môn (nữ)
Sramaṇī (P), Sāmaṇī (P), Samaṇī (S), Nun.
sa môn bất kính vương giả luận
Ordained Buddhists Do Not Have to Honor Royalty—See Luận Sa Môn Bất Kính Vương Giả.
; (沙門不敬王者論) Gọi tắt: Bất kính vương giả luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ Viễn soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 5 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung nói về lí do tại sao giới Sa môn không cần phải lễ kính hàng vương hầu để bác lại thái độ hống hách, cửa quyển của giới quan lại đương thời buộc tăng sĩ Phật giáo phải lễ lạy họ. Trong phần Tự luận của sách này, tác giả trình bày lí do soạn luận Sa môn bất kính vương giả, kế đến là thiên thứ nhất Tại gia và thiên thứ 2 Xuất gia, nói về bản chất của người xuất gia theo Phật giáo, nhấn mạnh rằng sự sinh hoạt của người xuất gia tất nhiên là siêu việt hơn sự sinh hoạt của người thế tục. Thiên thứ 3 Cầu tông bất thuận hóa cho rằng người cầu Phật đạo không nên thuận theo thế tục, mà phải sống khác với thế tục. Thiên thứ 4 Thể cực bất kiêm ứng cho rằng người thể nhận được Phật pháp không nên tùy thuận thế tục. Thiên thứ 5 Hình tận thần bất diệt cho rằng nhục thể cuối cùng sẽ chết, nhưng tinh thần thì vĩnh viễn không diệt mất. Đến đời Đường, ngài Ngạn tông căn cứ vào luận này mà gom các luận Bất bái đã có từ trước rồi biên tập thành bộ Tập Sa môn bất ưng bái tục đẳng sự gồm 6 quyển. [X. Lương cao tăng truyện Q.6; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Thích thị kê cổ lược Q.2; Đường thư nghệ văn chí thứ 49].
sa môn cồ đàm
Samaṇa Gotama (S)Tên một số người khác dùng để gọi đức Phật.
; Sramana Gautama (S). An epithet of the Buddha.
sa môn nhị chủng
Hai loại Sa Môn—Two kinds of Sammatiya: 1) Chánh mệnh sa môn: Monk who makes his living by mendicancy (right livelihood for a monk). 2) Tà mệnh sa môn: Monk who works for a living (improper way of living).
sa môn quả
The fruit, or rebirth, resulting from the practices of the sramana.
; The fruit, or rebirth resulting from the practices of the sramana.
sa môn quả kinh
Sàmannaphalasuttanta (P).
; (沙門果經) Bản kinh thứ 27 trong kinh Trường A Hàm, do các ngài Phật đà da xá và Trúc Phật niệm cùng dịch vào năm Hoằng thủy 14 (412) đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này, nửa phần trước là giới thiệu các học thuyết của Lục sư ngoại đạo, so với các tư liệu trọng yếu liên quan đến Lục sư ngoại đạo thì có thể nói kinh này là đầy đủ nhất. Còn nửa phần sau thì chỉ ra những tư tưởng trung tâm của Phật giáo, đồng thời, nói rõ về quả báo đời hiện tại và 3 học giới, định, tuệ của sa môn. Kinh này còn có 2 bản dịch khác sau đây: 1. Phật thuyết tịch chí quả kinh, do ngài Trúc đàm vô lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào đại chính tạng tập 1. 2. Bản kinh thứ 7 trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 39, do ngài Tăng già đề bà dịch vào đời ĐôngTấn, được thu vào đại chính tạng tập 2. Ngoài ra, kinh thứ 2 Sàmaĩĩa-phala bằng tiếng Pàlitrong Trường bộ thuộc kinh điển của Thượng tọa bộ phương Nam, tương đương với kinh này. [X. The Dìgha Nikàya vol.I (PTS: London, 1889) by Rhys Davids and J.E.Carpenter; Dialogues of the Buddha Part I, 1913 by T.W.Rhys Davids].
sa môn thống
Vị Tăng Thống các Tăng Đồ trong nước, được bổ nhậm bởi các vua đời nhà Ngụy—The national superintendent of archbishop over the Order appointed under Wei dynasty.
sa na lị ca
Samagrika (S)Mật lâm sơn bộMột trong 18 bộ Tiểu thừa.
sa na lợi ca
Sannagarika (skt)—Mật Lâm Sơn Bộ—Một trong 18 tông phái Tiểu Thừa—One of the eighteen Hinayana sects.
sa ngã
To go wrong—To fell—To be corrupted.
sa sút
Decadent.
sa sầm
To darken—To become dark (gloomy).
Sa Thạch Tập
(沙石集, Sasekishū hay Shasekishū): bộ sách kể chuyện Phật Giáo dưới thời đại Liêm Thương, gồm 10 quyển, do Vô Trú Đạo Hiểu (無住道曉, Mujū Dōgyō) trước tác từ năm thứ 2 (1279) niên hiệu Hoằng An (弘安) cho đến năm 6 (1283) cùng niên hiệu trên thì hoàn thành. Ban đầu tác phẩm được viết suông sẻ từ quyển 1 đến 5; nhưng rồi bị gián đoạn, dừng giữa chừng, và sau đó mới hoàn thành phần còn lại. Nếu nhìn từ tư tưởng Phật Giáo, Sa Thạch Tập thể hiện quan điểm tôn trọng việc tu hành, tư tưởng Không của Phật Giáo Đại Thừa, tư tưởng Tam Đế Viên Dung (三諦圓融) của Thiên Thai Tông, và quan niệm phủ định sự chấp trước đối với thế tục. Tác phẩm này chủ trương tính cọng thông của các tông phái, khắp nơi đều nêu rõ thái độ giảm thiểu sự luận tranh giữa các tông phái với nhau. Vô Trú được xem như là vị tăng học cả hai tông Lâm Tế và Chơn Ngôn; nên ông thể hiện rõ lập trường độc đáo dung hợp cả hai tông ấy. Ngoài Vô Trú ra, người có được lập trường như vậy không dễ mấy ai. Trong quyển 1, phần lớn ghi lại những việc liên quan đến sự tập hợp của Thần Phật, Bản Địa Thùy Tích (本地垂迹). Về danh nghĩa, Sa Thạch Tập có nghĩa là “lấy vàng ra từ cát, lấy ngọc ra từ đá” với ý nghĩa thuyết Chân Đế của phật giáo từ những sự việc mang tính thế tục; là một tác phẩm văn học trích dẫn khá nhiều kinh điển từ lập trường của vị tu sĩ, tạo sự hứng thú liên tục cho độc giả. Trước tác này có nội dung đa dạng, từ câu chuyện linh nghiệm cũng như truyện chư vị cao tăng của các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, cho đến sự tình do Vô Trú thấy nghe được ở các tiểu quốc, thực tế sinh hoạt của tầng lớp thứ dân, chuyện đàm tiếu, v.v. Chính lời văn nhẹ nhàng, thanh thoát của Sa Thạch Tập đã tạo ảnh hưởng to lớn đối với Đồ Nhiên Thảo (徒然草, Tsurezuregusa), Cuồng Ngôn (狂言), Lạc Ngữ (落語) sau này.
sa thạch tập
Shaseki-shŪ (J).
; (沙石集) Tác phẩm, 10 hoặc 12 quyển, do ngài Vô Trụ Nhất Viên, vị tăng Nhật bản soạn từ năm Hoằng an thứ 2 đến năm Hoằng an thứ 6 (1279-1283). Sa thạch hàm ý là đãi cát tìm vàng, chọn đá mài ngọc. Sách này thu chép tất cả 149 mẩu chuyện lạ về Phật giáo của Nhật bản. Bằng những ngôn từ bình dị, tác giả đã trình bày những mẩu chuyện mà người thế tục thường bàn để đưa người ta vào Phật đạo mà nhận chân được sự cao quí của chính pháp, hệt như đãi cát được vàng, mài đá thành ngọc vậy. Vì thế tác giả đã đặt tên cho tập sách của mình là Sa thạch. Là 1 vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế, nhưng tác giả thông hiểu tất cả tông phái Phật giáo, cũng như Thần đạo, Nho gia. Tuy vậy, sư không hề có thái độ thiên về 1 tông phái nào để bài xích hay bênh vực các tông phái khác. Đối với lịch sử tư tưởng của Phật giáo Nhật bản, tác phẩm này có ý nghĩa rất trọng đại.
sa thải
To dismiss—To fire.
; (沙汰) Nguyên nghĩa là gạn bỏ (thải) cát (sa) bị lẫn ở trong gạo ra. Từ đó chuyển dụng để chi cho ý nghĩa phân biệt thiện ác, tốt xấu, phải trái để loại bỏ những điều ác, xấu, trái mà giữ lại những cái thiện, tốt, phải. Hoặc dùng với nghĩa khai trừ 1 người xấu xa ra khỏi 1 đoàn thể, tổ chức nào đó. (xt. Sa Thải Tăng Ni).
sa thải tăng ni
(沙汰僧尼) Sa thải có nghĩa là đãi lọc, gạn lọc. Sa thải tăng ni nghĩa là bắt buộc 1 số tăng ni hoàn tục để chỉnh đốn lại tổ chức tăng ni trong giáo đoàn. Tại Trung quốc, vào thời NgụyTấn Nam Bắc Triều để hạn chế giới tu sĩ, triều đình đã nhiều lần sa thải tăng ni. Truyện ngài Tăng lãng trong Lương cao tăng truyện quyển 5 (Đại 50, 354 trung) ghi: Sau, vua Phù kiên sa thải chúng tăng, có hạ lệnh riêng rằng: Pháp sư Tăng lãng là người có giới đức trong sạch như băng tuyết, học trò thanh tú, riêng núi Côn lôn không nằm trong trường hợp này. Phật tổ thống kỉ quyển 36 (Đại 49, 341 hạ) cũng ghi: Năm Long an thứ 2 (398) đời vua An đế nhà Đông Tấn, Hoàn huyền giữ chức Phụ chính, khuyên vua sa thải tăng ni, lệnh rằng: Những tăng ni nào có khả năng soạn thuật kinh sớ, diễn nói nghĩa lí, luật hạnh tu chính thì đều được tiếp tục tu tập, ngoài ra đều phải hoàn tục, chỉ có Lô sơn là nơi các vị có đạo đức cư trú, không bị chi phối bởi lệnh này.Ngoài ra, vào năm Nguyên gia 12 (435) đời Tống văn đế, theo lời tâu của Doãn tiêu mô ở Đơn dương, vua hạ chiếu hạn chế việc đúc tượng đồng và kiến tạo chùa tháp, tinh xá, đồng thời sa thải mấy trăm tăng ni. Năm Đại Minh thứ 2 (458) đời Hiếu Vũ đế, do đạo nhân Đàm Tiêu và người Khương mưu phản, vua hạ lệnh sa thải tăng ni và đạo sĩ. Thời Tiền Phế đế (464-465) có xẩy ra việc đuổi tăng phá chùa, thờiTề vũ đế (482-493), vua từng sai Tăng chính Pháp hiến và Huyền sướng đến Tam ngô sa thải tăng ni. [X. Lương cao tăng truyện Q.8, 13; Nam tề thư bản kỉ].
sa thất ni hà
(沙匹尼河) Sa thất ni, Phạn: Sarpinì; Pàli: Sappinì. Tên con sông nằm ở vùng phụ cận thành Vương xá (Pàli: Ràjagaha), Trung Ấn độ đời xưa; bên bờ sông này có vườn tăng Du hành, các vị tăng du hành nổi tiếng như An nạp ba lạp (Pàli: Annabhàra), Uy lạp đạt lạp (Pàli:Varadhara), Tắc khắc lỗ đạt y (Pàli: Sakulùdàyì)... đều đã ở trong vườn này. Theo tăng chi bộ kinh 3.46 thì Xá la bộ (Pàli:Sarabhù) là người ra khỏi giáo đoàn của đức Thích tôn đến ở vườn tăng Du hành, từng khoe khoang rằng mình đã hiểu biết hết Phật pháp, cho nên thoát thai từ pháp luật của Phật mà ra. Về sau, đức Thích tôn đến vườn tăng này hỏi thăm Xá la bộ, 3 lần nói pháp cho Xá la bộ nghe. [X. Tăng chi bộ kinh 4.30].
sa tâm
Hằng hà sa số tâm—Mind like sand in its countless functionings.
sa tì ca la
(娑毗迦羅) Phạn: Kapila. Cũng gọi Kiếp tì la. Hán dịch: Hoàng phát, Kim đầu, Qui chủng. Tên một vị tiên đời xưa ở Ấn độ, là Tổ của học phái Số luận. Vì râu tóc mặt mày của vị tiên này đều có màu vàng đỏ nên được gọi là Hoàng xích sắc tiên nhân. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
sa tỳ ca la
Kapila (skt)—Có lẽ là Tăng Kỳ Sa Tỳ Ca La, tên của vị ngoại đạo đã sáng lập ra phái Số Luận Sư—Possibly Sankhya Kapila, the founder of the sankhya philosophy.
sa uyển
(沙畹) Emanuel Edouard Chavannes, 1865-1918 Học giả Đông phương học người Pháp. Năm 1889, ông ở Công sứ quán Pháp tại Bắc kinh, Trung quốc, chuyên nghiên cứu về học thuật. Sau, ông trở về Pháp. Năm 1893, ông làm Giáo sư Đại học công lập Pháp quốc, năm 1902 được suy cử làm hội viên viện Học sĩ. Từ năm 1903 về sau, ông tự lực biên tập tạp chí Đông phương học nghệ Thông báo (Toung pao). Khoảng năm 1895 đến năm 1905, ông ấn hành Sử kí dịch chú (Les Mémoires Historiques de Se-ma-Ta’ien), 5 quyển. Năm 1907, ông lại đến Trung quốc nghiên cứu các bài minh khắc trên các bia, rồi xuất bản Mission Archéologique dans la Chine Setentrionale, tome 5, 1909- 1915, Le T’ai Chan, 1910, Documents Chinois Découvert par Aurel Stien dans les Sables Turkestan Oriental, 1913... Ông có trình độ Phật học rất sâu, trong thiên Phật tượng điêu khắc trong Mission Archéologique dans la Chine Setentrionale bộ thứ 2 nói trên, ngoài việc thu chép các đồ bản giải thích về các hang động Vân cương, Long môn, chùa Thạch quật ở huyện Củng, núi Thiên quật..., ông còn dịch ra tiếng Pháp tác phẩm: Đại đường Tây vực cầu pháp cao tăng truyện (Mémoires sur les Religieux éminents qui allérent chercher la Loi dans les Pays d’Occident, 1849) và dịch chung với ông S. Lévis tác phẩm Nhập trúc kí của ngài Ngộ không (Voyages des pélerines Bouddhistes, L’Itinéraire d’Ou-kong, 1895); ông dịch ra tiếng Pháp qua bản dịch tiếng Anh của S.Beal tác phẩm Tống văn sứ Tây vực kí (Voyages de Song Yun dans l’UdyànaetleGandhàra, 1903), tác phẩm Ngũ bách thí dụ soạn tập (Cinq cent contes et apologues extraits du Tripiỉaka chinois, 1910-1911). Dịch chung với ông S.Lévis tác phẩm: Hộ pháp thập lục La hán (Les Seize Arhats Protecteurs de la Loi, 1916)... Về Ma ni giáo thì ông có soạn chung với ông P. Pelliot tác phẩm: Trung quốc phát hiện Ma ni giáo di văn khảo thích (Traité Manichéenne Retrouvé en Chine, 1913). [X. Âu mĩ Phật giáo; Sử tịch giải đề; T’oung Pao, 1918].
sa xa quốc
(莎車國) Cũng gọi Cứ sa quốc. Tên một vương quốc xưa ở Tây vực, nay là huyện Sa xa, tỉnh Tân cương, nằm ở thượng lưu sông Tháp lí mộc, thủ đô là Diệp nhĩ khương; phía nam giáp Ấn độ, phía tây giáp Afghanistan. Đây là điểm giao thông quan trọng ở biên giới, việc thông thương rất thịnh. Vào thời Bắc Ngụy, nước này được gọi là nườc Cừ sa. Ngài Huyền trang đời Đường gọi nửa phần phía nam của nước này là Chước cú ca. Đại đường tây vực kí quyển 12 (Đại 51, 943 thượng) nói: Trong nước này có số bộ kinh điển Đại thừa rất nhiều, đến đâu cũng thấy Phật pháp hưng thịnh, 10 vạn bài tụng làm thành bộ, gồm có 10 số. Ngoài ra, Lương cao tăng truyện quyển 2 cho biết, ngài Cưu ma la thập từng cùng với thân mẫu ngài đi quanước Sa lặc theo Vương tử Sa xa nghiên cứu Phật giáo Đại thừa. [X. Hán thư Tây vực truyện; Ngụy thư Tây vực truyện].
sa xuống
To fall—To drop.
sa yết đà
Xem Thiện Lai.
; Svàgata (S). Welcome. Also thiện lai.
; Svagata (skt)—Thiện lai (lời để chào hỏi)—Well-come, a term of salutation.
sa đa bà ha vương
Xem Dẫn Chánh vương.
; (娑多婆呵王) Sa đa bà ha, Phạn: Sàtavàhana. Cũng gọi Sa đa bà hán na vương. Hán dịch: Dẫn chính vương. Vua nước Kiêu tát la thuộc Nam Ấn độ, qui y ngài Long thụ, nổi tiếng là vị vua có công chấn hưng Phật pháp. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 thì vị vua này tin sâu Phật pháp, sùng kính ngài Long thụ, từng cho đục núi Bạt la mạt la kì li ở phía nam nước này để xây dựng già lam. Vua từng thỉnh 1 nghìn vị tăng lễ tụng, tuyên giảng các kinh Phương đẳng Đại thừa, lưu truyền rộng rãi, làm cho chính pháp được hồi phục. Ngài Long thụ từng dùng thi kệ trình bày đại ý về Thập thiện, Thất giác chi, Thập nhị nhân duyên... để tặng vua. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 227 hạ) nói: Bồ tát Long thụ dùng thơ kệ thay cho kinh sách gọi là Tô hiệt lí li khư, dịch là Mật hữu thư, gửi cho Đại quốc vương, vị đàn việt ở phương nam hiệu Sa đa bà hán na, tên là Thị dần đắc ca. [X. kinh Đại phương đẳng vô tưởng Q.5; Long thụ bồ tát truyện; Long Thụ Bồ Tát khuyến giới vương tụng; Long Thụ Bồ Tát khuyến giới chư vương yếu kệ].
sa đa bà na
Sadvahana, or Satavahana (skt)—Tên của một vị thí chủ hoàng tộc của ngài Long Thọ—Name of a royal patron of Nagarjuna.
sa đa cát lí
(娑多吉裏) Phạn: Zata-giri. Cũng gọi Sa đa kì lí, Sa đa kì lê. Một trong 8 vị Đại tướng Dược xoa, quyến thuộc của trời Tì sa môn. Trong Bí sao vấn đáp, Sa đa cát lí được dịch là Chúng thính, trong kinh Khổng tước (bản dịch đời Lương) được dịch là Thất sơn chủ, còn ngài Nghĩa tịnh thì dịch là Bình sơn. Trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, vị tôn này được an bài ở vị trí thứ tư, phía đông trời Tì sa môn. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].
sa đa cát lý
Satakri (skt)—Tên của một trong những vị tướng của loài Dạ Xoa—Name of one of the yaksa generals.
sa đa kỳ lý
Xem Oai Thần.
sa để dã
Satya or Satyata (skt)—Dịch là “Đế” có nghĩa là chắc chắn hay đúng sự thật—True—Truth—A truth.
sa độ
Sadhu (skt)—Thiện lành—Good—Virtuous—Perfect—A sage—A saint.
; (娑度) Phạn: Sàdhu. Hán dịch: Thiện, Thiện tai. Hay thay! Lành thay! Đây là lời cảm thán khi 1 việc diễn ra phù hợp với ý mình mong muốn. Đây cũng là từ được dùng để hỏi đáp giữaGiới sư vàGiới tử khi tác pháp thụ giới. [X. Hữu bộ bách nhất yết ma Q.1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].
Sa 娑
[ja] シャ sha ||| (1) To dance, lounge around, saunter, walk around. (2) Old woman; grandma. (3) Transliteration for Sanskrit sa and sha sounds. => 1. Múa, đi thơ thẩn, đi tản bộ, đi loanh quanh. 2. Bà già, bà. 3. Phiên âm hai âm Sa và Sha trong tiếng Sanskrit.
Sa-bà thế giới
娑婆世界; S: sahalokadhātu; T: mi-jied ‘jig-rten-gyi khams; cũng được gọi là Sa-ha, Ta-bà thế giới, cũng được dịch nghĩa là Nhẫn độ (忍土), Kham nhẫn thế giới (堪忍世界);|Là cõi của con người, chịu nhiều khổ đau nên phải kham nhẫn tu học để đạt chính quả.
Sa-bà thế giới 娑婆世界
[ja] シャバセカイ shaba sekai ||| The sahā world (sahā-loka-dhātu). See 娑婆. 〔法華經 T 262.9.02a19〕 => (s: sahā-loka-dhātu). Xem Sa-bà 娑婆.
Sa-bà 娑婆
[ja] シャバ shaba ||| (sahā) The secular world; this world that we live. The corrupt world. The world in which Śākyamuni teaches. => (s: sahā) Cõi thế gian; thế giới chúng ta đang sống. Thế x đầy ô trược. Thế giới Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đang giáo hoá.
Sa-bà-bà 娑婆婆
[ja]サババ Sababa ||| Sahassākkha; another name for Śakra Devānām-indra. See 帝釋天. => (s: Sahassākkha); tên gọi khác của Trời Đế thích (s: Śakra Devānām-indra). Xem Đế thích thiên帝釋天.
Sa-di
沙彌; C: shāmí; J: shami; S: śrāmaṇera; P: sā-maṇera;|Là tiểu tăng, tiểu sa-môn, chú tiểu, dịch nghĩa mới là Cần sách (勤策). Chỉ tăng hoặc ni mới gia nhập Tăng-già và thụ mười Giới (s: śīla). Một nữ sa-di được gọi là Sa-di-ni (s: śrāmaṇerikā; p: sāmaṇerikā) hoặc Nữ cần sách. Phần lớn các sa-di còn là trẻ con, nhưng ít nhất bảy tuổi mới được thu nhận. La-hầu-la, con trai đức Phật là sa-di nổi tiếng nhất, gia nhập Tăng-già từ lúc bảy tuổi.|Thông thường sa-di được Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni hướng dẫn tu học và đến một tuổi nhất định, sau một cuộc khảo hạch, thụ giới cụ túc sẽ trở thành tỉ-khâu hoặc tỉ-khâu-ni.
Sa-di 沙彌
[ja] シャミ shami ||| A transcription of the Sanskrit śrāmanera. A novice monk or nun. => Phiên âm chữ śrāmanera từ tiếng Sanskrit. Vị tăng hay ni trẻ tập sự.
Sa-già-la
tên một vị long vương, phiên âm từ Phạn ngữ Sgara.
Sa-già-la 娑伽羅
[ja] サガラ Sagara ||| Sagara. The name of a dragon-king. 〔法華經 T 262.9.2a21〕 => (s: Sagara) Tên một loài rồng.
Sa-ka-ra
S: sakara; »Liên Hoa tử«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 9.|Nhà vua In-đra-bu-ti (s: indrabhūti) đã lâu chưa có con. Ngày nọ hoàng hậu mơ thấy điềm lành, chín tháng sau bà sinh một hoàng tử, đặt tên là Sa-ka-ra (nghĩa là người sinh ra giữa hồ nước, trong một hoa sen, vì vậy cũng được gọi là Liên Hoa đồng tử; s: sarohura kumāra). Sau đó hoàng hậu sinh thêm một con trai nữa. Về sau khi vua băng hà, Sa-ka-ra không nối ngôi, nhường ngôi cho em và trở thành một Sa-môn, lên đường đi Ðăng-da Ka-ta-ka (śrī dhānyakaṭaka). Giữa đường, Sa-ka-ra gặp hoá thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngài dùng thần lực cho ông thấy Man-đa-la của Hộ Thần Hô Kim cương (s: hevajra). Sau khi Quán đỉnh cho ông, Quán Thế Âm biến mất.|Ông bắt đầu tu tập Nghi quỹ (s: sādhana) được giao phó. Trong thời gian đó có một người tên Ra-ma (s: rāma) đến xin hầu hạ ông và Sa-ka-ra hứa lúc đạt đạo sẽ giáo hoá cho người đó. Trong lúc đó thì nạn đói xảy ra, khắp nơi người ta chết rất nhiều. Thế nhưng Ra-ma không hề nói cho thầy biết, sợ thầy mất tập trung thiền định. Ra-ma hầu hạ đầy đủ và chỉ ăn đồ dư thừa của thầy. Ngày nọ Ra-ma đói quá ngã gục, Sa-ka-ra hỏi ra mới biết nạn đói đang hoành hành. Ông đem gạo cúng dường, thi triển thần thông gọi Long vương lên và ra lệnh trong vòng vài ngày phải có mưa, mưa lương thực, mưa gạo cơm, mưa vàng ngọc. Long vương nghe lời làm theo, dân chúng bớt khổ. Sau đó Sa-ka-ra giáo hoá cho Rā-ma và vị này cũng đạt thần thông đáng kể. Chứng đạo ca của Sa-ka-ra như sau:|Long vương Ba-sū-ka,|cho mưa cứu dân lành.|Chỉ trong cõi Chân như,|rồng chúa chịu nghe lời.|Rồng là vua tri kiến,|của Bí mật tan-tra,|sẵn lòng làm mưa trí,|cho chư vị tăng ni.
sa-la
tên một loại cây, phiên âm từ Phạn ngữ là sla, dịch nghĩa là kiên cố, bền chắc. Gần thành Câu-thi-na có rừng cây sa-la, mỗi cây thường có hai thân sóng đôi nên gọi tên là rừng Sa-la Song thọ.
Sa-la song thọ 娑羅樹林
[ja] シャラジュリン Sharajurin ||| Śāla Forest. The place where Śākyamuni passed into nirvāna, located on the outskirts of Kusinagara, along the Ajitavati river. => Rừng cây sa-la. Nơi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhập niết-bàn, nằm ở ngoại ô vùng Câu-thi-na (s: Kusinagara), dọc theo sông Ajitavati.
Sa-mu-đra
S: samudra; »Người mò ngọc«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, đệ tử của A-chin-ta (s: aciṅtapa), có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9, 10.|Ông sống tại Sạc-va-ti-ra (sarvaṭira), làm nghề thợ lặn mò ngọc trai. Lần nọ, không mò được ngọc, ông buồn bã đến bãi thiêu xác, ngồi rầu rỉ. Lúc đó A-chin-ta đi qua, hỏi han ông. Ông bỗng tỏ lòng kính trọng, cầu khẩn xin được học pháp. A-chin-ta cho ông nhập môn, giảng về Bốn tâm vô lượng (Bốn phạm trú) và bốn tâm hỉ lạc:|Hãy biết cách thay thế,|tám bận tâm thế gian,|bằng tâm Từ tâm Bi,|bằng tâm Hỉ tâm Xả.|Rồi hãy quán tưởng rằng,|trong chứng thật hoàn toàn,|một luồng lạc thụ lớn,|chảy vào đỉnh đầu ngươi.|Bốn tâm hỉ lạc lớn,|nằm trong bốn trung tâm,|phát sinh Không và Lạc,|Không-Lạc không rời nhau.|Khi lạc thụ ra đời,|Khổ tự nhiên biến mất.|Người thợ lặn nghe lời, chuyên tâm thiền định. Sau ba năm, ông đạt quả Tất-địa (s: siddhi). Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Ngộ được lí vô sinh,|không thực hành thiền định,|ví kẻ ăn thịt người,|trên tay bồng trẻ nhỏ.|Mà không hành thiền định,|tách rời xa Tự tính,|ví như thớt voi mạnh,|bị lún sâu trong bùn.
Sa-môn
沙門; C: shāmén; J: shamon; S: śramaṇa; P: samaṇa;|Phiên âm chữ śramaṇa từ tiếng Phạn và chữ samaṇa từ tiếng Pali. Hán dịch là Tức (息), Tức tâm (息心), Tịnh chí (淨志), Tĩnh chí (靜志), Phạp đạo (乏道), Bần đạo (貧道), Cần tức (動息), v.v… Là người tu đạo từ bỏ cuộc sống thế tục, nỗ lực tìm cầu giải thoát. Để gọi một Tăng sĩ hay Ni cô.|1. Đầu tiên ở Ấn Độ, chữ śramaṇa để chỉ cho những ai cạo bỏ râu tóc, từ bỏ cuộc sống và của cải thế gian, hướng tâm ý nỗ lực đình chỉ việc ác, siêng năng làm việc thiện. Nguyên chỉ cho những tu sĩ ngoài Phật giáo như Kì-na giáo, đặt niềm tin vào tín ngưỡng Vệ-đà (s: veda) và Áo nghĩa thư (s: upaniṣad). |2. Tăng sĩ hay Ni cô Phật giáo.
sa-môn
chỉ những người xuất gia tu hành nói chung, vì vào thời đức Phật danh xưng này cũng được dùng cho các tu sĩ ngoại đạo. Tuy nhiên, về sau có khuynh hướng chỉ dùng để chỉ các tu sĩ Phật giáo mà thôi. Danh từ này phiên âm từ Phạn ngữ là śramaṇa nên đôi khi cũng đọc là sa-môn-na, đồng nghĩa. Các âm đọc khác là sa-văn-na (沙聞那), tang-môn (桑門), táng-môn (喪門). Về ý nghĩa cũng có rất nhiều cách dịch khác nhau như: cần lao (勤勞), công lao (功勞), cù lao (劬勞), cần khẩn (勤懇), tĩnh chí (靜志), tịnh chí (淨志), tức chỉ (息止), tức tâm (息心), tức ác (息惡), cần tức (勤息), tu đạo (修道), bần đạo (貧道), phạp đạo (乏道). Tựu trung các danh xưng này đều mô tả tính chất của sự tu tập và mục đích hướng đến của vị sa-môn.
Sa-môn quả
沙門果; C: shāménguŏ; J: shamonka; |1. Kết quả của sự tu tập. Công đức khi xuất gia; 2. Thành tựu rốt ráo của công phu tu đạo – niết-bàn; 3. Tứ quả trong pháp tu của hàng Tiểu thừa.
Sa-môn quả 沙門果
[ja] シャモンカ shamonka ||| (1) The effects of religious practice. The merit of leaving the secular world. (2) The final accomplishment of the practitioner--nirvāna. (3) The four fruits (四果) of Hīnayāna practice. => 1. Kết quả của sự tu tập. Công đức khi xuất gia. 2. Thành tựu rốt ráo của công phu tu đạo--niết-bàn. 3. Tứ quả trong pháp tu của hàng Tiểu thừa.
Sa-môn 沙門
[ja] シャモン shamon ||| A transcription of the Pali samaṇa and the Sanskrit śramaṇa. Translated into Chinese with such terms as 息、 息心、靜志、淨志、乏道、貧道、動息、etc. A world-renunciant religious practitioner striving for liberation. A monk or nun. (1) Originally in India, śramaṇa was a general term for someone who shaved their head, renounced their worldly status and possessions and trained their mind and body in the attempt to stop evil activities and strive for the good. Originally referred to non-Buddhist practitioners such as the Jains who based their beliefs on the Vedas and Upanishads. 〔長阿含經、 T 1.107a〕(2) A Buddhist monk or nun. ( => . Phiên âm chữ śramaṇa từ tiếng Sanskrit và chữ samaṇa từ tiếng Pali. Hán dịch là Tức, Tức từ息心, Tịnh chí, Tĩnh chí靜志, Phạp đạo乏道, Bần đạo貧道, Cần tức動息, v.v...Là người tu đạo từ bỏ cuộc sống thế tục, nỗ lực tìm cầu giải thoát. Để gọi một Tăng sĩ hay Ni cô. 1. Ban đầu ở Ấn Độ, chữ śramaṇa để chỉ cho những ai cạo bỏ râu tóc, từ bỏ cuộc sống và của cải thế gian, hướng tâm ý nỗ lực đình chỉ việc ác, siêng năng làm việc thiện. Cũng thường chỉ cho những tu sĩ ngoại đạo như Kỳ-na giáo, đặt niềm tin vào tín ngưỡng Vệ-đà (Vedas) và Áo nghĩa thư (s: Upanishads). 2. Tăng sĩ hay Ni cô Phật giáo.
sa-môn-na
xem sa-môn.
Sa-ra-ha
S: saraha; »Ðại Bà-la-môn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng của 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 8, 9. Ông được nhiều Ðạo sư Phật giáo hướng dẫn cách tu tập Tan-tra.|Ông là người thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Ban ngày ông hành nghề Du-già sư theo truyền thống Ấn Ðộ, nhưng ban đêm ông âm thầm tu tập Mật giáo và thỉnh thoảng uống rượu. Các vị đồng giới Bà-la-môn xin vua trục xuất ông vì tật uống rượu nhưng ông thi triển thần thông đến nỗi vua phải bái phục. Sau một thời gian, ông lấy một cô gái trẻ tuổi làm vợ và cả hai rút vào rừng sâu tu tập.|Câu chuyện nổi tiếng nhất về Sa-ra-ha là ông bảo vợ nấu món cà-ri củ cải rồi sau đó ngồi thiền định suốt 12 năm. Ðến khi xả thiền, ông hỏi về món ăn đó. Bà vợ, trong thời gian qua đã đắc đạo, khuyên ông »Ðộc cư không phải là sống một mình. Cách sống đơn độc hay nhất là thoát khỏi thành kiến, thoát khỏi một tâm thức chật hẹp, cái suy nghĩ hạn chế. Nếu ông xuất định sau mười hai năm mà vẫn còn đòi ăn cà-ri củ cải thì vào núi tu tập còn ý nghĩa gì!« Ông nhân đây tỉnh ngộ và làm bài kệ sau:||H 48: Sa-ra-ha đang ngắm cái nhất thể trong đa dạng.|Hỡi bạn, đừng dại quên,|cái Tuyệt đối có sẵn|Ðừng tìm cầu gì khác,|ngoài đôi môi Ðạo sư|Hãy nhận hiểu lời ông,|về Tự tính sâu thẳm,|và tâm thì bất tử,|thân không hề già yếu.
Sa-tiệp-đồ 娑揵圖
[ja] サケント sakento ||| A transcription of the Sanskrit skandha. See 蘊. => Phiên âm chữ Skandha từ tiếng Sanskrit. Xem Uẩn蘊.
Sa-va-ri-pa
S: śavaripa; »Thợ săn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là đệ tử của Sa-ra-ha và Long Thụ, sống khoảng cuối thế kỉ thứ 8, đầu thứ 9.|Là thợ săn, Sa-va-ri-pa chuyên giết hại thú vật. Bồ Tát Quán Thế Âm thương hại ông, hiện hình thành thợ săn. Sa-va-ri-pa gặp vị Bồ Tát hỏi: »Ông là ai?« »Một người thợ săn như ông«, Quán Thế Âm trả lời. Sa-va-ri-pa, rất hãnh diện với tài bắn cung của mình, hỏi: »Ông bắn một mũi trúng bao nhiêu con?« »Ba trăm con«, câu trả lời của Quán Thế Âm. Sa-va-ri-pa cười to nói: »Tôi cũng muốn xem ông bắn ra sao!«|Sáng hôm sau, hai người gặp một bầy nai và với một mũi tên, Quán Thế Âm hạ được cả bầy nai. Ngài bảo Sa-va-ri-pa đến khuân một con về nhưng vì phép mầu, con nai nặng ngàn cân, ông nhấc lên không nổi. Tính kiêu mạn bất chợt tan biến và ông quì xin chỉ dạy. Quán Thế Âm buộc ông một tháng không được ăn thịt và giết hại. Tháng sau Quán Thế Âm xuất hiện và vẽ Mạn-đa-la cho ông và vợ thấy chính mình trong cảnh địa ngục đau khổ. Ông sợ hãi, xin theo học Phật pháp. Sau mười hai năm quán lòng từ bi, ông đạt thánh quả và tình nguyện ở lại thế gian cho đến khi Phật Di-lặc ra đời. Chứng đạo kệ của ông như sau:||H 49: Sa-va-ri-pa (śavaripa) đang nhận thức sự Tuyệt đối|Trong rừng sâu vô minh,|con nai đang dẫy dụa,|tên của nó: Tha hoá.|Ta là người thợ săn,|dương cây cung tri kiến|của phương tiện khéo léo,|lắp vào đó mũi tên,|của Thật tại cuối cùng:|con nai bị hạ gục|Tư duy đã rãy chết!|Ta dọn bạn bữa tiệc,|linh đình phi nhị nguyên.|Ướp đầy đủ hương vị|của lạc thú thanh tịnh,|Bạn đạt cái tuyệt vời|của phép Ðại thủ ấn!|*Xem thêm câu chuyện rất giống như trên của Thiền sư Thạch Củng Huệ Tạng.
sa-văn-na
xem sa-môn.
saccanama
Saccanama (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sai
Mrsà (S). Falsehood, lie. Also không thật.
; wrong—Err.
sai biệt
Vivesa (S)Tính chất riêng biệt của mọi vật.
; Pariccheda (skt)—Sai biệt hay khác biệt, hay sự phân biệt, đối lại với “bình đẳng.”—Difference—Discrimination—Opposite of on the level.
; (差別) I. Sai Biệt. Phạn: Vizewa. Đối lại: Bình đẳng. Chỉ cho tính chất riêng biệt của mọi vật. Phẩm Pháp thân trong kinh Nhập lăng già quyển 7 (Đại 16, 550 trung) nói: Đại tuệ! Giữa pháp thân Như lai và 5 ấm khác nhau thì có 2 pháp, thể tướng không đồng, như 2 cái sừng của con bò, tuy giống nhau nhưng lại thấy có thể riêng, dài ngắn khác nhau. Đại tuệ! Như vậy, đáng lẽ tất cả các pháp không khác nhau mà lại có khác nhau, như cái sừng bên trái của con bò khác với sừng bênphải, sừng bên phải khác với sừng bên trái. Các pháp cũng như thế.[X.hội Thụ huyễn sư Bạt đà la kí trong kinh Đại Bảo Tích Q.85; luận Đại trí độ Q.35, Khởi tín luận sớ Q.thượng]. II. Sai Biệt. Phạn: Viziwỉa. Chỉ cho điểm đặc biệt thù thắng và sai khác của các pháp. Luận Câu xá quyển 30 (Đại 29, 159 thượng) nói: Tức sự chuyển biến này, vào giờ phút cuối cùng, có công năng Vô gián thù thắng sinh ra quả thù thắng hơn các sự chuyển biến khác, cho nên gọi là Sai biệt.Luận Thuận chính lí quyển 35 (Đại 29, 541 hạ) nói: Tại sao gọi là chuyển biến? Thế nào gọi là sai biệt? (...) Tức trong vô gián này, vào lúc sinh ra quả, có công lực thù thắng hơn trước, nên gọi là Sai biệt.[X. luận Hiển dương thánh giáo Q.11; Phật địa kinh luận Q.6; Câu xá luận quang kí Q.4, 30]. III.Sai Biệt. Tiếng dùng trong Nhân minh. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh, còn danhtừtrước (tiền trần) là Tự tính. Như lập luận: Tông: Âm thanh là vô thường thì Âm thanh là tự tính, vô thường là sai biệt, bởi vì vô thường có công dụng phát huy ý nghĩa đặc thù của âm thanh. 2. Chỉ cho ý tứ (ý hứa: hiểu ngầm với nhau) được giấu kín trong danh từ trước (tiền trần) của Tông.
Sai biệt chính hạnh 差別正行
[ja] シャベツショウギョウ shabetsu shōgyō ||| Ten layers, or levels of distinct practices that are carried out sequence, such as the ten pāramitās practiced by the bodhisattvas. Abbreviated as 別行. 〔辯中邊論 T 1600.31.474c〕 => Mười lớp hay 10 bậc công hạnh khác nhau đưa đến sự tương tục, như pháp tu Thập ba-la-mật của hàng Bồ-tát. Gọi tắt là Biệt hạnh別行.
sai biệt cực thành
(差別極成) Tiếng dùng trong Nhân minh. Cũng gọi Xứng pháp, Năng biệt. Chỉ cho sự đồng ý ngầm (ý hứa) giữa người lập luận và người địch luận, 1 trong 4 thứ Cực thành trong Nhân minh. Cực thành nghĩa là rất mực thành tựu. Tông thì hoàn toàn không có lỗi, gọi là Sai biệt cực thành. Trái lại, cả đôi bên không chấp nhận ngầm với nhau thì có lỗi, gọi là Sai biệt bất cực thành. [X. Nhân minh đại sớ lê trắc] (xt. Cực Thành).
sai biệt mê lầm
Misled or misconducted.
Sai biệt phân biệt 差別分別
[ja] シャベツフンベツ shabetsu funbetsu ||| The mistaken discrimination of distinction. Viewing of the objects of the world an discriminating them as having form, lacking form, etc. One of the eight kinds of mistaken discrimination 八種分別. 〔顯揚論, T 1602.31.558b17-18〕 => Sự sai lầm do phân biệt. Sai lầm khi nhìn về hiện tượng trong thế giới phân biệt chúng là sắc hay không phải sắc v.v... Là một trong Bát chủng phân biệt 八種分別.
sai biệt tướng
See Vọng Kế Tự Tính.
Sai biệt 差別
[ja] シャベツ shabetsu, sabetsu ||| (1) To discriminate (viśesana). (2) To differ, different (bhinna). (3) Discrimination, distinction (saṃbheda, pravibhāga). (4) The discrimination of a mode of existence. Type, kind (prakāra). (5) Distinction; distinctive quality (viśesa). (6) Synonym (paryāya). (7) Various, variation. => 1. Phân biệt (s: viśesana). 2. Bất đồng, khác, không giống (s: bhinna). 3. Sự phân biệt, sự khác nhau (s: saṃbheda, pravibhāga). 4. Sự phân biệt tình trạng hiện hữu. Loại, dạng (s: prakāra). 5. Tính khác biệt. Đặc tính khác biệt (s: viśesa). 6. Từ đồng nghĩa (paryāya). 7. Khác nhau, sự khác nhau.
sai bét
Completely wrong.
sai bảo
To send—To command—To order—To direct.
sai hẹn
To break an appointment.
sai khiến
See Sai Bảo.
sai la ba ni
Ksarapaniya (skt). 1) Một loại chất lỏng có chứa chất kiềm chua ăn da tay: Alkaline water, caustic liquid. 2) Một loại y áo: A kind of garment.
; (差羅波尼) Phạn: Zara-parịì. Cũng gọi: Xoa la ba nị, Sấn la bát ni. Hán dịch: Hôi thủy. Tên một loại thảo mộc. Áo được may bằng loại thảo mộc này gọi là Sấn la bát ni y, 1 trong 10 loại áo. [X. luật Tứ phần Q.1, 39; Phiên Phạm ngữ Q.10].
sai lạc
To distort.
sai lầm
Vitatha (S)Hư ngụy.
; Mithyà (S). Untrue, wrong. Also Vọng, hư giả.
; Error.
sai lời
To dishonour one's promise—To break one's words.
sai lợi ni ca
Ksirinika (skt)—Một loại cây có mủ—A sap-bearing tree.
sai lợi ni ca thụ
(差利尼迦樹) Sai lợi ni ca, Phạn: Kwiriịika. Hán dịch: Nghiên chi. Một loại cây hay tiết ra chất nước như sữa. [X. kinh Bản hạnh tập Q.32, 41].
sai ma
(差摩) Phạn: Zamà. Hán dịch: An ẩn. Tên của vợ 1 người Bà la môn ở thành La duyệt lúc đức Phật còn tại thế. Nhà tuy nghèo nhưng bà rất ham làm việc bố thí cúng dường. Nhờ tín tâm kiên cố, thụ trì giới Bát quan trai nên La sát không hại được bà. Sau nhờ nghe đức Phật thuyết pháp mà tâm ý bà mở tỏ, liền chứng được quả Tu đà hoàn. [X. phẩm Sai ma hiện báo trong kinh Hiền ngu Q.3].
sai ma liên hoa tiên
(差摩蓮華鮮) Tên vị Tỳ khưu ni ở thời đại đức Phật còn tại thế. Vị Tỳ khưu ni này hay hiển hiện thần thông, thường tĩnh tọa dưới gốc cây, tư duy chính đạo. Có bọn du dãng thấy ni cô liền sinh tâm xấu, rình lúc ni cô xuống nước tắm gội, chúng xông đến níu kéo áo của Ni cô, mang đến chỗ khuất, muốn xâm phạm giới thể. Lúc đó, Liên hoa tiên động lòng xót thương bọn chúng, tự móc 2 tròng mắt mình để dạy họ, rồi hiện bày ngũ tạng và toàn thân hóa thành xương máu nhơ nhớp, bọn ác thấy vậy cúi đầu hối lỗi, xin thụ 5 giới. [X. kinh Luật dị tướng Q.23].
sai một li, đi ngàn dậm
If you are off track by a thousandth of an inch, you are a thousand miles away from your destination.
sai trái
Wrong-doing.
sai áp
To seize property—To confiscate.
sai đa la
Ksetra (skt)—Đất—Land—region—Country.
sai định
(差定) I. Sai Định. Vâng theo lệnh người nào đó để đảm nhiệm 1 chức vụ trong Thiền lâm, gọi là Sai định. [X. Tùng lâm thịnh sự Q.hạ]. II. Sai Định. Chỉ cho cuốn sổ ghi chép các nghi lễ, pháp tắc trong pháp hội.
sai ước
To break one's promise.
sakyapa
Sakyapa Sa-skya-pa (T)Trường phái SakyapaTên một trường phái Phật giáo ở Tây tạng, đặt theo tên tu viện Sakya ở Nam Tây tạng. Tu viện này được xây dựng từ năm 1073, các viện trưởng đều xuất thân từ gia đình Khon. Họ là những người dành trọn đời mình cho việc truyền dạy giáo lý Kim Cang thừa, còn được gọi là giáo lý Lamdre và được công nhận là hóa thân của Văn thù Sư lợi Bồ.
sam rông ek
Tên của một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng nhất của Phật Giáo Nguyên Thủy trong tỉnh Trà Vinh, chùa tọa lạc trong quận Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, Nam Việt Nam. Chùa được xây lần đầu tiên vào năm 1373 và được trùng tu nhiều lần. Trong chùa hiện còn giữ được một bức tượng cổ bằng đá quý, gọi là tượng Noria—Name of one of the most famous ancient temples of Theravada Buddhism in Trà Vinh, located in Châu Thành district, Trà Vinh province, South Vietnam. It is said that the temple was first built in 1373 and has been rebuilt many times. The temple has conserved an ancient statue made of precious stone, called Noria.
Sam-ba-la
S: śambhala;|Tên của một xứ huyền bí, tương truyền ở Bắc Ấn. Xứ này được xem là gốc của giáo pháp Thời luân (s: kālacakra), đóng một vai trò quan trọng trong Phật giáo Tây Tạng. Tương truyền rằng, lúc nhân loại đứng trước hoạ nạn diệt vong thì các nhân vật của xứ này lại xuất hiện để trợ cứu nhân loại.|Vị trí xứ này là một nghi vấn, được xem nằm từ Trung á đến Bắc cực. Thật sự thì vị trí không hề quan trọng, mà người ta cho rằng xứ này có một »giá trị tinh thần« đặc biệt. Truyền thuyết Tây Tạng xem Sam-ba-la là trú xứ bí ẩn, chỉ xuất hiện trong thời đại hoạ. Tương truyền rằng Thời luân giáo sẽ được 25 vị chân truyền. Vị cuối cùng sẽ xuất hiện trong thời hoàng kim, lúc đó mọi thế lực đen tối sẽ được đối trị. Người ta cho rằng đó cũng là thời kì Gê-sar và thời kì Di-lặc hạ sinh. Vị Ban-thiền Lạt-ma thứ ba viết một tác phẩm nổi danh về con đường dẫn đến Sam-ba-la. Huyền thoại về xứ này cũng được phương Tây biết đến.
san
Desa (S).
; See San Hô.
san bằng
To flatten—To level.
san hô
Một trong thất bảo—Coral, one of the seven treasures—See Thất Bảo.
san kỳ đại tháp
Sanchi (S)Tên một tháp lớn ở Bắc Ấn.
san nhã
Sanjna (skt)—Một con số thật lớn, 10,000 tỷ (1,000,0007)—A particularly high number, 1,000 septillions.
san nhã bà
A wasting disease.
san ni la xà
Tên một con sông ở Udyana—Name of a river of Udyana.
san tham
Matsarā-rāga (S)Khan tham Bỏn xẻn, tham lam, không bố thí, tham cầu không biết đủ. Nuối tiếc vật chất không muốn bố thí: khan; bụng tham lam không chán: tham.
san xà dạ tì la chi tử
(删闍夜毗羅胝子) San xà dạ tì la chi, Phạn: Saĩjayavairaỉì. Pàli:Sanjaya-velaỉỉhi; Tử, Phạm: Putra; Pàli: Putta. Cũng gọi San xà da tì lan đồ, Tán nhã di tì la lê tử, Tiên quì cưu đọa la tri tử, Bà nhã dã vĩ la trí tử, Bà nhã tì la trì tử, Tiên tỉ lư trì, San xà dạ, San nhã, Sa nhiên. Một trong 6 Luận sư ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. San xà dạ là tên tự của ông, Hán dịch là Đẳng thắng; Tì la chi là tên mẹ ông. San xà dạ là ngoại đạo rất có thế lực ở thời đại đức Phật, các ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên, trước khi qui y Phật, đã từng thờ ông làm thầy. Học thuyết của ông không được rõ, hoặc có chỗ cho là chủ nghĩa tiêu cực Hoài nghi luận, chủ trương bỏ hết tất cả trí (sự hiểu biết), chuyên trọng tu hành thực tiễn. Theo Chú duy ma cật kinh quyển 3 thì San xà dạ tì la chi tử cho rằng đạo chẳng cần phải cầu, trải qua vô số kiếp sống chết thì khổ sẽ hết, tự nhiên đắc đạo. Thuyết này giống với thuyết của Ni kiền đà nhã đề tử nói trong kinh Niết bàn. [X. kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; kinh Đại bát niết bàn Q.19 (bản Bắc); kinh Phật bản hành tập Q.48; luận Đại trí độ Q.42, Duy ma kinh nghĩa kí Q.2, phần đầu;Ma ha chỉ quán Q.10, thượng; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27] .
san xà dạ tỳ la chi tử
Sanjaya-Vairatiputra or Samjayin Vairadiputra (skt)—San Thệ Di Tỳ Lạt Tri Tử—Một trong lục sư ngoại đạo (sáu vị sư ngoại đạo). Vị nầy cho rằng ở lâu trong cõi sanh tử, trải hết số kiếp, sau đó sẽ tự hết vòng khổ đau phiền não, giống như cuốn cuộn chỉ, sợi hết thì thôi, không cần phải tìm đạo—One of the six founders of heretical or non-Buddhist schools, whose doctrine was that pain and suffering would end in due course, like unwinding a ball of silk, hence there was no need of seeking the “Way.”
san xà tà tỳ la để
Sanjaya-Vairati (skt). 1) Vua của một loài Dạ Xoa: A king of yaksas. 2) Thầy của Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất trước khi các vị nầy quy-y theo Phật: Name of the teacher of Maudgalyayana and Sariputra before their conversion.
san đà dạ tì la đế tử
Sanjaya Vairattìputra (S).
san đà na
(珊陀那) Phạn: Santàna. Hán dịch: Tục đoạn, Hòa hợp. Tên 1 loại cây thuốc trong thần thoại. Vỏ của nó dùng để chữa ghẻ lở hoặc vết thương, rất mau lành và không để lại sẹo. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 20 (Đại 35, 488 trung) nói: San đà na là loại cây thuốc rất lớn, Hán dịch là Tục đoạn dược, nghĩa là loại cây thuốc này có thể làm cho các vết thương mau lành và không mang sẹo. [X. Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Chỉ quật dịch thổ tập Q.10].
san đâu xuất đà
Saṃtushita-devarāja (S)Vua cõi trời Đâu suất.
san đề lam
Được diễn tả như một thế giới xa xăm. Vào thời đó có vị Luân Vương tên là Vô Tránh Niệm có 1000 người con, (nhưng điều nầy hãy còn nhi ngờ)—Described as a fabulous world of the past whose name is given as Sandilya, and who has 1,000 children, but this is doubtful.
san đề lam quốc
(删提嵐國) San đề lam, Phạn: Saịđilya. Tênmộtcõi nước ở đời quá khứ, nơi đức Phật A di đà và đức Phật Thích ca phát tâm bồ đề. Cứ theo kinh Bi Hoa quyển 2 thì trong 1 thế giới ở đời quá khứ lâu xa, có vị Chuyển luân thánh vương tên là Vô tránh niệm, có 1 nghìn người con, Đại thần tên là Bảo Hải, có con xuất gia thành Phật, hiệu là Bảo tạng, lần lượt độ cho vua và 1 nghìn Vương tử. Thế giới ấy chính là San đề lam, Bảo hải tức là Phật Thích ca, vua Vô tránh niệm tức là Phật A di đà, 1 nghìn Vương tử chính là bồ tát Quán âm, bồ tát Thế chí, A súc Như lai. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.2].
San định kí
刊定記; C: kāndìng jì; J: kanjō ki;|Tên gọi tắt của tác phẩm Tục Hoa Nghiêm kinh lược sớ san định kí (續華嚴經略疏刊定記).
San định ký 刊定記
[ja] カンジョウキ Kanjō ki ||| An abbreviation of the title of the Xu huayanjing lueshu kandingji . => Tên gọi tắt tác phẩm Tục Hoa Nghiêm Kinh Lược Sớ San Định Ký續華嚴經略疏刊定記.
San-thệ-di Tỳ-lạt-tri tử
xem San-xà-da Tỳ-la-chi tử.
San-ti-pa
S: śāntipa; »Nhà truyền giáo tự phụ«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 11, được xem là một trong những Ðạo sư của A-đề-sa. |Sư là nhà thông thái nổi danh của viện Phật học danh tiếng Siêu Giới (s: vikramaśīla) được nhà vua Tích Lan cho mời đến giảng dạy. Trên đường về lại Ấn Ðộ, Sư gặp một nông dân tên Kô-ta-li-pa (s: koṭālipa), khuyên người này nên biết »gieo trồng hạt giống của tâm thức.« Về sau, khi Sư bị bệnh gần như mù loà thì Kô-ta-li-pa đã đạt thánh quả, đến thăm thầy cũ. Sư tự nhận với đệ tử là mình ham giảng giải lí luận, xao lãng thiền định, và vì thế không đạt yếu chỉ. Kô-ta-li-pa bèn dạy lại cho thầy. Sau đó San-ti-pa đắc đạo. Cuộc đời của San-ti-pa là một bài học cho những ai quá tin vào khả năng luận lí, quá tin vào lí trí. Thành đạo ca của San-ti-pa như sau:|Như một đứa trẻ thơ,|nhờ bà mẹ nuôi nấng,|lớn thành người khỏe mạnh,|thì tâm thức non nớt,|nhờ Ðạo sư dạy dỗ,|mà vào được Ðại thừa.|Bệnh tật có thuốc men,|bệnh do »tôi«, »của tôi«,|được Ðạo sư khai thị,|chữa lành ngay tức thì.
San-xà-da Tỳ-la-chi tử
phiên âm từ Phạn ngữ là Sađjaya-vairaṭỵ putra, cũng đọc là San-thệ-di Tỳ-lạt-tri tử (刪逝移毘剌知子), là một trong sáu vị thầy ngoại đạo (lục sư ngoại đạo) vào thời đức Phật. Vì là con của bà Tỳ-la-chi nên gọi là Tỳ-la-chi tử, còn San-xà-da (刪闍耶) là tên, Hán dịch là Đẳng thắng, cũng viết là San-xà-dạ (刪闍夜).
san-địa-niết-mộ-chiết-na
Sandhinirmochana-s-tra (S). Giải thâm mật kinh. Scripture Unlocking the Mysteries.
sang
1) Mụt nhọt: A sore—Ulcer. 2) Quý phái: Noble. 3) Sang nhượng: To tranfer something in return for some money.
sang giàu
Noble and rich.
sang hay hèn
Noble or common—Noble birth or low.
sang môn
Chín lổ trong thân thể—Ulcerating orifices, i.e. the nine orifices in the body which discharge—See Cửu Khổng Bất Tịnh.
; (瘡門) Những cái lỗ hổng rỉ ra chất nhớp nhúa trong thân người, tức chỉ cho mắt, tai, mũi, miệng, 2 đường đại tiện, tiểu tiện là 6 sang môn; nếu tính tai, mắt, mũi là 2 thì thành 9 lỗ, gọi là Cửu Sang Môn. Ngoài ra, có chỗ đặc biệt gọi riêng 2 đường đại tiện, tiểu tiện là Sang Môn. Nhưng nếu nói 6 căn là cửa rỉ chảy ra các phiền não thì 6 căn cũng có thể được gọi là 6 sang môn (sang là mụn nhọt rỉ mủ). [X. luận Câu xá Q.13, 20].
sang sảng
Sonorous.
sang trọng
Noble—Splendid and comfortable—Luxurious.
Sang 瘡
[ja] ソウ sō ||| A tumor, boil, abscess, which needs to be treated by a skillful doctor. A metaphor for the afflictions that are treated by the Buddha. 〔瑜伽論 T 1579.30.625b6〕 => Khối u, nhọt, áp-xe, cần phải được bác sĩ tài giỏi chữa trị. Dụ cho phiền não của chúng sinh phải được điều phục bởi Đức Phật.
sanh
Saṃbhāvati (P), bhava (S, P), Spring from, Becoming, Prabhāva (S)Một trong 4 hành tướng của Tập đế: Nhân, Tập, Sanh, Duyên.
; Jati (skt)—Born—See Sinh.
; (笙) Phạn: Sughwaka. Hán âm: Sách già sa ca. Cũng gọi Sanh địch. Tên 1 loại nhạc khí hình dáng giống như ống sáo, lưu hành ở các nước Đông phương thời xưa, nhưng không rõ nguồn gốc. Cứ theo Thông điển quyển 144 thì Sanh của Trung quốc cổ đại được làm bằng quả bầu, cắm 1 cái ống vào trong quả bầu, dưới đáy ống đặt cái vè (lưỡi gà) làm bằng đồng để khi thổi thì phát ra tiếng. Sanh có nhiều loại: Loại 13 vè, loại 17 vè, loại 19 vè... Trong các kinh Phật, như kinh Phật bản hạnh tập quyển 14 phẩm Thường sức nạp phi, quyển 30 phẩm Thành vô thượng đạo; kinh Đại bát niết bàn quyển 11 (bản Bắc) phẩm Hiện bệnh, kinh Đại Ai quyển 68 phẩm Bất cộng pháp, kinh Chứng khế đại thừa quyển thượng... đều có ghi tên của nhạc cụ này. Thời cận đại, trong những bức Tịnh độ biến tướng đào được ở Đôn hoàng, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, có bức tranh Thiên nữ thổi Sanh. [X. Phạm ngữ thiên tự văn; Tùy thư âm nhạc chí thứ 10, Huyền ứng âm nghĩa Q.7].
sanh báo
Next life retribution or rebirth retribution—Một trong Tam Báo và Tứ Báo—Kiếp nầy (sanh báo) gây nghiệp thiện ác thì kiếp sau sẽ chịu quả báo sướng khổ—One of the three and four retributions, life's retribution. The deeds, wholesome or unwholesome, done in this life produce their results, meritorious retributions or evil karma, in the next reincarnation.
sanh báo nghiệp
Upapadya-vedaniya-karma (S)Nghiệp đời này, đời sau thành thục.
sanh bởi tội báo
To be born as retribution for their karmic offenses.
sanh chi
See Sinh Chi.
sanh chân như
Xem Lưu chuyển chân như.
sanh chủ
Xem Đại Tiên.
sanh chủ thần
Xem Ba xà ba đề.
sanh diệt
Utpāda-nirodha (S), Uppāda-nirodha (P).
; Utpadanirodha (skt)— 1) Sanh và Diệt: Arising and extinction—Beginning and end—Production and annihilation—Appearance and disappearance—Birth and extinction. 2) Các pháp hữu vi dựa vào nhân duyên hòa hợp, từ pháp chưa có trở thành có gọi là sanh; dựa vào nhân duyên mà pháp đã có trở thành không gọi là diệt—All life or phenomena that have birth and death.
sanh diệt khứ lai
Trung Luận cho rằng sinh diệt khứ lai, chỉ là những từ ngữ tương đối và không thật (ký thật chư pháp vốn là Như Lai Tạng bất sanh bất diệt bất khứ bất lai)—The Madhyamika-Sastra believed that all things coming into existence and ceasing to exist, past and future, are merely relative terms and not true in reality. ** For more information, please see Bát Bất Trung Đạo.
sanh diệt khứ lai nhất dị đoạn thường
Coming into existence and ceasing to exist, past and future; unity and difference, impermanence and permanence. ** For more information, please see Bát Bất Trung Đạo.
sanh hóa
See Hóa Sanh.
sanh hữu
Một trong bốn hình thức của sự hiện hữu—One of the four forms of existence—See Tứ Hữu Vi Tướng.
sanh hỷ tâm
Hasituppada-citta (S), Rootless mirth-producing mind.
sanh không
Một trong hai loại không, chúng sanh do ngũ uẩn hợp lại chứ không có thực thể—One of the two kinds of void, empty at birth, or void of a permanent ego. ** For more information, please see Nhị Không.
sanh khổ
Birth is suffering.
sanh khởi
Uppāda (P), Rising, Arising, Jāta (S)Các pháp hữu vi khởi lân gọi là sanh khởi. Sanh khởi là nhân duyên thứ 11 trong Thập nhị nhân duyên.
; Utpada or Pravritti (skt)—Arising—Appearance. 1) Năng Sanh (sanh) Sở Sinh (khởi): The beginning and rise. 2) Sự sanh ra và những gì khởi lên từ sự sanh ra ấy: Birth and what arises from it. 3) Nguyên nhân của một hành động: Cause of an act.
sanh khởi chân thật
Xem Lưu chuyển chân như.
sanh khởi thức
Pravritti-vijnana (skt)—See Chuyển Thức.
sanh kinh
Những chuyện về tiền thân Đức Phật và các đệ tử của Ngài, được Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch ra năm quyển, vào khoảng thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch—Stories of the previous incarnations of the Buddha and his disciples, translated by Dharmapala, 5 books (chuan), third century A.D..
sanh linh
Tâm thức (tâm và trí thông minh) của một chúng sanh còn gọi là linh hồn—The mind or intelligence of the living—A living intelligent being—A living soul.
sanh làm người là khó
It's difficult to be born in the human realm—Cõi người sướng khổ lẫn lộn, nên dễ tiến tu để đạt thành quả vị Phật; trong khi các cõi khác như cõi trời thì quá sướng nên không màng tu tập, cõi súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục thì khổ sở ngu tối, nhơ nhớp, ăn uống lẫn nhau nên cũng không tu được—Human beings have both pleasure and suffering, thus it's easy for them to advance in cultivation and to attain Buddhahood; whereas the beings in the Deva realm enjoy all kinds of joy and spend no time for cultivation; beings in the realms of animals, hungry ghosts and hells are stupid, living in filth and killing one another for food. They are so miserable with all kinds of sufferings that no way they can cultivate.
sanh lão bịnh tử
Sanh già bệnh chết là bốn nỗi khổ đau của con người—Birth, Old Age, Sickness, Death, the four afflictions that are the lot of every man. ** For more information, please see Tứ Khổ, Ngũ Khổ, and Bát Khổ.
sanh lão bịnh tử khổ
Birth is suffering, old age or growing old is suffering, sickness is suffering, death is suffering.
sanh lực
Xem khí.
sanh manh
Mù lúc sanh—Born blind.
sanh nghi
To become doubtful.
sanh nghiệp
nghiệp lực tương tục tạo thành đời sống của chúng sanh nên gọi là sanh nghiệp.
sanh nhàm chán
To grow tired and fed up.
sanh nhàm chán nơi thân bất tịnh (nơi ta và nơi người) để giảm thiểu dục vọng
To develop a deep sense of disgust of our own body and the bodies of others to decrease the desire of lust.
sanh nhân
Janana (S)Một trong ngũ nhân.
sanh nhẫn
See Sinh Nhẫn,
sanh niệm xứ bồ tát
Xem Ức Niệm Bồ tát.
; Vị Bồ Tát thứ hai bên phải của Hư Không Tạng Bồ Tát trong Thai Tạng Giới—The second bodhisattva on the right of the Bodhisattva of Space (Hư Không Tạng Bồ Tát) in the Garbhadhatu.
sanh pháp
Prasava-dharma (S), Prasavadharnim (S).
; Người và vật hay hữu tình và phi tình—The living and things—Men and things—The self and things: 1) Hữu Tình: Chúng hữu tình là những chúng sanh có tình cảm và lý trí—The living—The sentient or those with emotions and wisdom. 2) Phi Tình: Những chúng sanh không có tình cảm và lý trí—Insentient things or those without emotions nor wisdom.
sanh pháp nhị thân
Hóa thân và pháp thân—The physical body (Nirmanakaya) and the spiritual body (Dharmakaya).
sanh phạn
Xuất Phạn—Xuất Chúng Sanh Thực—Theo Kinh Niết Bàn thì đây là một phần cơm cúng cho ma quỷ và chư chúng sanh trước khi chư Tăng Ni độ cơm—According to the Nirvana Sutra, these are offerings made before a meal of a small portion of food to ghosts and all others living or souls.
sanh phạn bàn
Chén hay tô để cơm cúng ma quỷ và chư hương linh—The bowl in which the offerings of food to ghosts are contained.
sanh phạn đài
Tấm kệ để cơm cúng cho ma quỷ và chư hương linh—A board on which the offerings of food to ghosts are placed.
sanh phật
See Sinh Phật.
sanh phật nhứt như
See Sinh Phật Nhứt Như.
sanh ra lo lắng
To become more and more anxious.
sanh sanh
xem mạng mạng.
; Birth and rebirth.
sanh sanh tử tử
See Sanh Tử.
sanh sanh điểu
Xem cộng mạng điểu.
sanh sắc
Jata-rupa (skt)—See Sinh Tượng Sinh Tự (1).
sanh thiên
Những cõi trời nơi chúng sanh có thể tái sanh vào (từ Tứ Thiền Thiên đến Tứ Thiên Vương)—The heavens where those living in this world can be reborn (from the Four Dhyana Heavens to the Four Heavenly Kings)—See Tứ Thiên Vương, and Tứ Thiền Thiên.
sanh thân
1) Sanh thân của Phật và Bồ Tát, đối lại với pháp thân—The physical body )sinh thân) of a Buddha or a Bodhisattva, in contrast with his dharmakaya (pháp thân). 2) Thân (biến dịch và sinh tử) của một vị Bồ Tát khi sanh ra trong cõi luân hồi—A Bodhisattva's body when born in a mortal form.
sanh thân cúng
Pháp hội cúng dường xá lợi sinh thân của Đức Phật—The worship paid to the Buddha-relics. ** For more information, please see Nhị Chủng Xá Lợi.
sanh thân xá lợi
The Buddha-relics—See Nhị Chủng Xá Lợi.
Sanh thân xá-lợi
xem xá-lợi Phật.
sanh thú
Bốn cách sinh và sáu nẻo luân hồi—Four forms of birth and the six forms of rebirth or transmigrations—See Tứ Sanh, and Lục Đạo.
sanh thể
Birth nature.
sanh tiền
Until one's death—Life-before.
sanh tri
Innately intelligent—To realize in bodily experience.
sanh triệu dung duệ
Quan Trung Tứ Thánh—Bốn vị Thánh ở đất Quan Trung hay bốn đại đệ tử của ngài Cưu Ma La Thập—Four great disciples of Kumarajiva: 1) Đạo Sinh: Tao-Shêng—Indian Buddhajiva. 2) Tăng Triệu: Sêng-Chao (Chinese). 3) Đạo Dung: Tao-Jung (Chinese). 4) Tăng Duệ: Sêng-Jui (Chinese).
sanh trụ diệt
Utpadasthitinirodha (skt)—Birth, existence, death (birth-abiding-disappearance).
sanh trụ dị diệt
See Sinh Trụ Dị Diệt.
sanh tâm kiên cố
To develop a firm mind.
sanh tân
Bến sanh—The ford of life—Mortality.
sanh tức vô sanh, vô sanh tức sanh
To be born is not to be born, not to be born is to be born—See Sinh Tức Vô Sinh, Vô Sinh Tức Sinh.
Sanh tử
(生死): vấn đề sanh tử (sống chết) được xem như vô cùng trọng đại đối với con người. Phật Giáo chia sanh tử của chúng sanh làm 2 loại: Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dị Sanh Tử (變異生死). Phần Đoạn Sanh Tử, còn gọi là Phần Đoạn Tử (分段死), Hữu Vi Sanh Tử (有爲生死), đối xưng với Biến Dị Sanh Tử, tức chỉ chúng sanh mỗi đời quả báo chiêu cảm không giống nhau, cho nên hình tướng, thọ mạng cũng khác nhau; đó được gọi là Phần Đoạn Thân (分段身). Sau khi thọ thân này, tất phải có một lần kết thúc sinh mạng, vì vậy có tên là Phần Đoạn Sanh Tử. Biến Dị Sanh Tử, hay Vô Vi Sanh Tử (無為生死), Bất Tư Nghì Biến Dị Tử (不思議變易死), Biến Dị Tử (變易死), tức chỉ sự sanh tử của các bậc thánh trong Ba Thừa như A La Hán (阿羅漢), Bích Chi Phật (辟支佛), Bồ Tát (菩薩), v.v., do vì bi nguyện cứu độ chúng sanh mà trở lại cõi đời này. Trong kinh điển Phật Giáo có rất nhiều ví dụ về sanh tử. Như Câu Xá Luận (俱舍論) ví sanh tử như bùn: “Sanh tử nê giả, do bỉ sanh tử, thị chư chúng sanh trầm nịch xứ cố, nan khả xuất cố, sở dĩ thí nê (生死泥者、由彼生死、是諸眾生沉溺處故、難可出故、所以譬泥, bùn sanh tử là do sanh tử ấy, là nơi chúng sanh bị chìm đắm, khó có thể ra được, vì vậy mới ví như bùn).” Thành Duy Thức Luận (成唯識論) thì ví như đêm dài: “Vị đắc chơn giác, hằng xử mộng trung, cố Phật thuyết vi sanh tử trường dạ (未得眞覺、恆處夢中、故佛說爲生死長夜, chưa được chánh giác, thường ở trong mộng, cho nên Phật dạy sanh tử là đêm dài).” Trong Phật Sở Hành Tán (佛所行讚) lại cho sanh tử là biển cả: “Đương thừa trí tuệ chu, siêu độ sanh tử hải (當乘智慧舟、超度生死海, phải lên thuyền trí tuệ, vượt qua biển sanh tử).” Hay Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) thì xem sanh tử như là đám mây mù: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Trong khi đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論) ví sanh tử là bánh xe: “Sanh tử luân tải nhân, chư phiền não kiết sử, đại lực tự tại chuyển, vô nhân năng cấm chỉ (生死輪載人、諸煩惱結使、大力自在轉、無人能禁止, xe sanh tử chở người, các phiền não kiết sử, lực lớn tùy ý chuyển, chẳng ai ngăn cấm được).” Hoặc Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) lại ví dụ sanh tử là khu vườn: “Thị ứng hóa thân, hồi nhập sanh tử viên, phiền não lâm trung du hí thần thông (示應化身,迴入生死園、煩惱林中遊戲神通, hiện thân ứng hóa, trở lại vào vườn sanh tử, thần thông rong chơi trong rừng phiền não).” Tại bảo tháp của Tổ Giác Tiên (覺先, 1880-1936), người khai sơn Chùa Trúc Lâm tại Huế và cũng là vị sáng lập Hội An Nam Phật Học Trung Việt, có câu đối: “Tàng bách niên sanh tử, quy nhất lộ Niết Bàn (藏百年生死、歸一路涅槃, ẩn trăm năm sống chết, về một đường Niết Bàn).” Tại Lâm Dương Tự (林陽寺) thuộc Phúc Châu (福州) có câu đối rằng: “Chúc khứ phạn lai mạc bả quang âm già diện mục, chung minh bảng hưởng thường tương sanh tử quải tâm đầu (粥去飯來莫把光陰遮面目、鐘鳴板響常將生死掛心頭, cháo đi cơm đến chớ để tháng ngày chơ mặt mũi, chuông ngân bảng vọng thường đem sanh tử mang trong tâm).” Thiền Sư Giới Không (界空, ?-?) của Việt Nam có một bài thơ về sanh tử rằng: “Ngã hữu nhất sự kỳ đặc, phi thanh huỳnh xích bạch hắc, thiên hạ tại gia xuất gia, thân sanh ố tử vi tặc, bất tri sanh tử dị lộ, sanh tử chỉ thị thất đắc, nhược ngôn sanh tử dị đồ, trám khước Thích Ca Di Lặc, nhược tri sanh tử sanh tử, phương hội lão tăng xứ nặc, nhữ đẳng hậu học môn nhân, mạc nhận bàn tinh quỹ tắc (我有一事希特、非青黃赤白黑、天下在家出家、親生惡死爲賊、不知生死異路、生死衹爲失得、若言生死異塗、賺卻釋迦彌勒、若知生死生死、方會老僧處匿、汝等後學門人、莫認盤星軌則, ta có một việc kỳ đặc, chẳng xanh vàng đỏ trắng hắc, trên đời tại gia xuất gia, thích sống ghét chết là giặc, chẳng biết sống chết hai nẻo, sống chết chỉ là được mất, nếu bảo sống chết khác đường, lừa cả Thích Ca Di Lặc, nếu biết sống chết sống chết, mới biết lão tăng chốn nào, các người môn nhân hậu học, chớ lầm khuôn mẫu phép tắc).” Hay Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) cũng có nhận định về sanh tử như sau: “Tâm chi sanh hề sanh tử sanh, tâm chi diệt hề sanh tử diệt, sanh tử nguyên lai tự tánh không, thử huyễn hóa thân diệc đương diệt (心之生兮生死生、心之滅兮生死滅、生死元來自性空、此幻化身亦當滅, tâm mà sanh chừ sống chết sanh, tâm mà diệt chừ sống chết diệt, sống chết nguyên lai tự tánh không, thân huyễn hóa này cũng phải diệt).” Câu “phần đoạn sanh tử quả nhân (分斷生死果因、盡滅冤恩煩惱)” có nghĩa là đoạn trừ từng phần nhân và quả của sanh tử, nhờ vậy mới có thể diệt tận mọi oán ân, phiền não.
sanh tử
Samsara or Janma-marana (skt)—Sống chết (do hoặc nghiệp của hết thảy chúng sanh gây ra, hễ có sanh là có tử)—Life and death—Living and dying—Birth and death—Rebirth and redeath. ** For more information, please see Nhị Chủng Sanh Tử.
sanh tử dã
The wilderness of life and death.
sanh tử giải thoát
1) Thoát ra những hệ lụy của vòng luân hồi sanh tử: Release from the bonds of births and deaths. 2) Niết Bàn: Nirvana.
sanh tử hà
River of birth-and-death.
sanh tử khứ lai
Sống và chết, đi và đến—Living and dying—Going and coming.
sanh tử luân
1) Bánh xe sanh tử: The wheel of samsara (births-and-deaths). 2) Vòng sanh tử: The round of mortality.
sanh tử luân hồi
Chết đi đầu thai lại không ngừng nghỉ—Samsara or transmigrations—Deaths and Rebirths continuously.
sanh tử lưu
Dòng sanh tử (sự sanh tử khiến cho con người bị trôi dạt chìm đắm nên gọi là dòng sinh tử)—The flow of transmigrations.
sanh tử ngạn
Bờ bên nầy của biển sanh tử—The shore of mortal life—See Nhị Ngạn.
sanh tử niết bàn bình đẳng
Samsara-nirvanasamata (skt)—Sự bình đẳng của sanh tử và Niết Bàn, một trong những chứng đắc của vị Bồ Tát, và tuy vậy vị Bồ Tát thực hành các hành động “không dụng công” và các “phương tiện thiện xảo” phát xuất từ lòng đại bi—The sameness of birth-and-death and Nirvana, one of the spiritual attainments of the Bodhisattva, who, however, practices “effortless” deeds and “skillful means” born of a great compassionate heart.
sanh tử nê
Vũng lầy của luân hồi sanh tử—The quagmire of the circle of life and death.
sanh tử trường dạ
Đêm dài của luân hồi sanh tử—The long night of births and deaths.
sanh tử tế
Cõi sanh tử, đối lại với cõi Niết Bàn—The region of births-and-deaths, as compared with nirvana.
sanh tử tức niết bàn
Phiền não tức bồ đề, sinh tử tức niết bàn—Affliction is bodhi and mortality (samsara) is nirvana.
sanh tử tử sanh
To be born gain and again—See Sanh Sanh Tử Tử.
sanh tử viên
See Sinh Tử Viên.
sanh tử vân
Mây mù sanh tử—The envelopment in cloud of life and death.
sanh tử đại hải
Biển lớn sanh tử—The ocean of mortality—Mortal life.
sanh tử đại sự
The great issue of birth and death—The clarification of life and death is one great purpose of all Buddhists.
sanh về cõi nào
Where will a person be reborn?—Theo Ấn Quang Đại Sư, sau khi tắt thở rồi thì thần thức lìa ra khỏi xác thân. Nơi nào còn nóng sau rốt là thần thức xuất ra ở đó, và do đó người ta biết được người ấy sẽ tái sanh vào cõi nào—According to Great Master Yin-Kuang, when we take our last breath, our spirits or Alaya Consciousness will leave the body. Thus the area of the body that remains warm is where the spirit left the body. 1) Đảnh Thánh—Crown enlightenemt: Một người đã chết, thân thể đã giá lạnh, nhưng đỉnh đầu hơi nóng ấm cũng còn gần bằng như lúc sống. Thần thức do nơi đỉnh đầu mà xuất ra. Ở vào trường hợp nầy thì ta biết chắc chắn rằng thần thức của người chết ấy được siêu thoát về nơi Thánh cảnh, ví dụ như cõi Tây Phương Tịnh Độc của Đức Phật A Di Đà—A person who has been dead, the entire body has turned cold, yet the crown of that person's head remains warm just as if that person was still alive, the spirit or the soul of the dead has left the body by that of the crown. In this case, we are absolutely certain the spirit of the person who has just died has attained liberation to the enlightened realm, i.e., the Western Pureland of the Amitabha Buddha. 2) Mắt Sanh Trời—Eyes born in Heaven: a) Khi các phần thân thể đều lạnh hết nhưng nơi mắt và trán vẫn còn nóng thì ta biết chắc chắn rằng thần thức của người chết ấy xuất ra từ nơi mắt và như thế, người nầy được siêu thoát về cõi trời—When all other parts of the body have turned cold but the eyes and forehead remain warm, then the spirit of the person who has just died left the body through the eyes. In this case, the person will be born in Heaven. b) Người nào khi sắp lâm chung sẽ sanh lên cõi Trời thì có những dấu hiệu sau đây—When nearing death, people who will be born in Heaven will exhibit the following signs and characteristics: • Sanh lòng thương xót người khác: Having compassion for others. • Phát khởi tâm lành: Give rise to a whole some mind. • Lòng thường vui vẻ: Often happy and contented. • Chánh niệm hiện ra: Proper thoughts are apparent. • Đối với tiền của, vợ con, không còn tham luyến: No longer having greed and attachment for money, possessions, spouse, children, etc. • Đôi mắt có vẻ sáng sạch: The eyes are clear and shiny. • Ngước mắt nhìn lên không trung mỉm cười, hoặc tai nghe tiếng thiên nhạc, mắt trong thấy tiên đồng: Eyes staring into space, smiling, ears hearing heavenly music or eyes seeing heavenly landscape. • Thân không hôi hám: Body does not emit odor. • Sống mũi ngay thẳng, không xiên xẹo: Nose bridge remains straight without crookedness. • Lòng không giận dữ: Mind does not exhibit hate and resentment. 3) Ngực sanh lại cõi người—Chest born in the Human Realm: a) Khi các phần thân thể đều lạnh hết, nhưng nơi tim và ngực là chỗ nóng tối hậu thì thần thức của người chết đó sẽ được sanh trở lại cõi người—When other parts of the body have turned cold, but the chest and heart remain as the last 'warm spot,' the spirit of that dead person will return to the human realm. b) Người nào khi lâm chung sẽ đáo sanh trở lại cõi người thì có những dấu hiệu sau đây—When nearing death, those who will be reborn to the human realm will exhibit the following signs and characteristics: • Thân không bệnh nặng: Body is not burdened with major illnesses. • Khởi niệm lành, sanh lòng hòa diệu, tâm vui vẻ, vô tư, ưa việc phước đức: Give rise to good and wholesome thoughts, have peace and happiness, enjoy practicing meritorious and virtuous deeds. • Ít sự nói phô truơng, nghĩ đến cha mẹ, vợ con: There is little boasting, thinking of mother, father, spouse, and children. • Đối với các việc lành hay dữ, tâm phân biệt rõ ràng không lầm lẫn: With regard to good and evil, their minds are capable of discriminating clearly. • Sanh lòng tịnh tín, thỉnh Tam Bảo đến đối diện quy-y: Give rise to pure faith, requesting the Triple Jewels to be present to take refuge. • Con trai, con gái đều đem lòng thương mến và gần gũi xem như việc thường: Sons and daughters are near and adore them just as before without showing indifference. • Tai muốn nghe tên họ của anh chị em và bạn bè: Ears are fond of hearing the names of brothers, sisters, and friends. • Tâm chánh trực không dua nịnh: Remaining dignified and having integrity instead of being petty and sycophant. • Rõ biết bạn bè giúp đỡ mình, khi thấy bà con đến săn sóc thời sanh lòng vui mừng: Clearly recognize helping friends, when seeing family members take care of them, they are happy and contented. • Dặn dò, phó thác lại các công việc cho thân quyến rồi từ biệt mà đi: Advise and give responsibilities to loved ones before making the last goodbye. 4) Bụng sanh loài ngạ quỷ—Stomach born in the realm of hungry ghosts: Nếu bụng là chỗ nóng sau cùng thì thần thức của người chết đó sẽ bị đọa vào trong loài ngạ quỷ—If the stomach is the last warm spot, then the spirit of the dead person will be condemned to the realm of hungry ghosts. 5) Đầu gối sanh loài súc sanh—Knee born in the animal realm: Nếu đầu gối là chỗ nóng sau cùng thì thần thức của người chết đó sẽ bị đọa vào loài bàng sanh (súc sanh)—The the knee is the last warm spot, then the spirit of the dead will be condemned to the animal realm. 6) Nơi lòng bàn chân đọa vào địa ngục—The sole of the feet born in the hells: Nếu lòng bàn chân là điểm nóng sau cùng thì thần thức của người chết sẽ bị đọa vào địa ngục—If the last warm spot is at the sole of the feet when the entire body has turned cold, then, undoubtedly, the spirit of the dead person will be condemned into hells.
sanh điền
The three regions of the constant round of rebirth—See Tam Giới.
sanh được làm thân người là khó
Human birth is difficult—See Sanh Làm Người Là Khó.
sanh đắc
Upapatti-pratilambhika (S)Thọ sanh đắc, Bẩm sanhSanh ra đã có sẵn.
sanh đồ
Đường sanh tử luân hồi của chúng sanh—The way or lot of rebirth or mortality.
sao
1) Bắt giữ: To seize all. 2) Giấy bạc: A banknote—A voucher—Paper-money. 3) Ngôi sao: Star. 4) Ra sao: How. 5) Sao chép: To copy.
sao băng
Falling (shooting) star.
sao kinh
(抄經) Cũng gọi Biệt kinh sao, Sao bản, Biệt sao kinh điển. Trích lấy chương phẩm trong 1 bộ kinh nào đó, rồi sắp xếp lại trước sau, tạo thành 1 kinh riêng, gọi là Sao kinh. Sao kinh khác với Sao dịch kinh nhưng rất dễ lẫn lộn. Sao dịch kinh là kinh trích ra từ bộ kinh lớn bằng tiếng Phạm, được phiên dịch lại và lưu hành riêng, thuộc về loại trùng dịch bản. Phương thức sao dịch đã có từ xưa, nhưng ban đầu người dịch không có ý cắt đoạn văn kinh để tạo thành 1 bản kinh riêng mà là vì nhận thấy dịch toàn bộ là khó nên người xưa trích lấy nghĩa cốt yếu, tỉnh lược lời văn, rút gọn bản tiếng Phạn. Như Tân tập kinh luận lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 2 do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương có liệt kê: Sao kinh 5 bộ 11 quyển, đó là:Kinh Đại đạo địa 2 quyển do người nước ngoài sao, ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, kinh Đạo hành 1 quyển do người nước ngoài soạn, ngài Trúc Phật sóc dịch vào đời Hậu Hán, kinh Bột sao 1 quyển do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, kinh Ma ha bát nhã ba la mật đạo hành 2 quyển do ngài Vệ sĩ độ lược dịch vào đời Tây Tấn, Ma ha bát nhã ba la mật kinh sao 5 quyển, do ngài Đàm ma ti dịch vào đời Đông Tấn... đều do rút gọn bản Phạm mà thành. Nhưng người đời sau không xét kĩ ý tứ của người xưa, cứ tự ý sao chép, có người phân tán các phẩm, có người chia cắt chính văn, tùy ý trích lấy chương tiết trong các kinh điển Hán dịch đã hoàn thành rồi đặt tên riêng để lưu hành, khiến cho Thánh ngôn mất gốc, người học thì theo ngọn. Chẳng hạn như Tân tập sao kinh lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 5 có nêu Sao hoa nghiêm kinh 14 quyển, Sao phương đẳng đại tập kinh 12 quyển của Cánh lăng Văn tuyên vương đời Nam Tề và Bát nhã kinh vấn luận tập 20 quyển của ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn... gồm 46 bộ, 352 quyển, đều thuộc về loại này, trong đó, có 1 số không khác gì kinh giả. Lại trong Tân tập nghi kinh ngụy soạn tạp lục có nêu kinh Quán đính do ngài Tuệ giản sao soạn vào đời Lưu Tống, Phật pháp hữu lục nghĩa đệ nhất ưng tri 1 quyển, do ngài Pháp nguyện sao tập vào đời Nam Tề... gồm 4 bộ, 8 quyển, cũng thuộc về loại này. Về tựa đề của Sao kinh, có những bộ kinhvốn là tiểu kinh đã có tên trong nguyên kinh, như các tiểu kinh biệt sao của kinh Trường a hàm, kinh Trung a hàm, kinh Lục độ tập... phần nhiều trực tiếp sử dụng tựa đề của nguyên kinh, cũng có trường hợp tiểu kinh vốn không có tên trong nguyên kinh mà do người sao lục tự đặt. Lại nữa, phần lớn Sao kinh được sao chép theo y nguyên văn, nhưng cũng có khi người sao chép tự ý sửa chữa câu văn, thay đổi thể tài của nguyên bản, chỉ giữ lại ý kinh mà thôi. Hơn nữa,Sao kinh phần nhiều không ghi tên dịch giả hoặc soạn giả, khiến người đời sau mờ mịt, cứ yên trí đó là bộ kinh mất tên người dịch hoặc là Kinh ngụy soạn độc lập. Việc lưu hành của Sao kinh đến cuối năm Khai hoàng đời Tùy thì chấm dứt. Sau đó, vì kinh điển bắt đầu được biên tập thành Đại tạng kinh nên khi 1 nguyên kinh được in ấn thì không cần phải sao chép nữa. Trong các bộ kinh lục, bộ Xuất tam tạng kí tập tuy đáng được coi là hoàn chỉnh, nhưng tác phẩm này vẫn chưa xét kĩ và phân biệt rạch ròi những kinh biệt sao. Đến đời Tùy, ngài Pháp kinh biên soạn bộ Chúng kinh mục lục mới bắt đầu phân biệt một cách chặt chẽ giữa các bản nguyên kinh và sao kinh, đồng thời, kiểm tra đối chiếu mà lập riêng 1 bộ môn Sao kinh mục lục. Kết quả, trong Sao kinh mục lục có tất cả 682 bộ kinh luật luận Đại Tiểu thừa. Những Sao kinh mục lục trong các bộ kinh lục đời sau hoặc lấy đó làm chuẩn tắc, hoặc kiểm tra thêm để san bổ. Ngoài ra, trong các bộ kinh lục đều có ghi Sao kinh, trong đó có bộ đem các Sao kinh được liệt kê trong Xuất tam tạng kí tập phối hợp với các khoa: Biệt Sinh, Ngụy Vọng, Nghi Ngụy. Còn Đại đường nội điển lục quyển 10, Khai nguyên thích giáo lục quyển 18 thì không lập riêng bộ môn Sao kinh mục lục mà đem các Sao kinh của Văn tuyên vương... biên vào Nghi ngụy kinh luận lục, Ngụy vọng loạn chân lục.[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.15; Pháp kinh lục Q.6, Ngạn tông lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.28; Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận bộ 2 chương 3 (Tiểu dã Huyền diệu)].
sao la hầu
Xem La hầu vương.
sao trấn
Xem Thổ tinh.
sao tuế
Xem Bột lợi cáp tư phạ đế.
Sao 抄
[ja] ショウ shō ||| (1) To extract and annotate from a text. (2) Notes exegesis, commentary, to a text. => 1. Phần trích dẫn và chú thích kinh văn. 2. Luận giải về kinh, chú giải kinh luận.
Sao 鈔
[ja] ショウ、ソウ shō, sō ||| (1) To copy; to transfer in writing. To extract, to excerpt. (2) To steal; to plagiarize. (3) To scoop up, to dip up. (4) A summary of the contents of a large book. Digest. Gist. => 1. Chép; Chép lại. Trích dẫn. 2. Trộm ý văn. 3. Hất lên, múc, đong. 4. Tóm tắt nội dung một tác phẩm lớn. Sắp xếp có hệ thống. Ý chính.
Sar-nath
S: sārnāth; viết tắt của chữ Sāraṅganātha, có nghĩa là »Chúa tể loài thú vật«;|Tên bây giờ của Tiên uyển (p: isipatana; s: ṛṣipatana), nơi Phật Thích-ca chuyển Pháp luân lần đầu. Ðây là một khu vườn tĩnh mịch, cách thành phố Be-na-res (benares) khoảng 8 km.
saraha
Saraha (S)Một thành tựu giả Ấn độ.
sau
After—Behind.
sau công nguyên
C.E. Christian Era.
sau khi chết
After death—Theo Phật giáo, chết không phải là hết. Sau khi chết chỉ có thân xác ngừng hoạt động, còn thần thức, có người gọi là linh hồn, chuyển theo nghiệp lành hoặc nghiệp dữ mà đầu thai vào nơi thiện hoặc nơi ác, phát khởi sự tái sinh gọi là luân hồi. Thông hiểu giáo lý đạo Phật giúp cho Phật tử sắp mãn phần được bình thản, không loạn động, vững tâm tin tưởng nơi tương lai của chính mình, chỉ nương theo nghiệp đã tạo mà đi, không sợ hãi; ngược lại, người Phật tử trước khi mãn phần có thể bình tĩnh tin tưởng trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời rằng sống thế nào thì chết như thế ấy. Trong thực tế, có rất nhiều Phật tử hay không Phật tử, không hiểu giáo lý nhà Phật lại cho rằng chết là hết, suy nghĩ về cái chết làm gì cho mệt, hãy sống cho hiện tại. Đây là lối sống của những người không biết sống đúng theo hạnh phúc an vui mà Phật đã dạy. Họ không hiểu mối tương quan nhân quả giữa các thế hệ, giữa các cuộc sống tiếp nối nhau. Khi họ còn trẻ, còn mạnh, họ có thể lướt qua được những cơn đau ốm, đến khi già yếu tiền bạc hao mòn, thân thích xa rời, sự sợ hãi, nỗi âu sầu, cảnh buồn bã, lòng luyến tiếc đối với họ quá mạnh, sự xúc động trước cảnh tử biệt, làm cho họ hối hận nhưng không còn kịp nữa. Người Phật tử phải luôn nhớ câu ngạn ngữ “Phải đào giếng trước khi khát nước” để khỏi mang tâm trạng hối hận thì đã muộn—According to Buddhism, death is not end. After death, the heart ceases to beat, only consciousness generally identified as the soul follows its course determined by the dead's karmic forces to enter the embryo to be reborn. Such a process is called reincarnation. If we understand the Buddha's Teachings, before parting, we can remain as calm as possible; we will not fear, knowing that our next rebirth is dedicated by our own karma, not by any external power. They will have a strong faith on “the way you live is exactly the way you die.” In reality, there are so many Buddhists and non-Buddhists who do not thoroughly understand the Buddha's Teachings. For them, death is the end; thinking of death only makes them tired. They just live for the present. This is the way of living for those who do not know how to live a happy and joyful life in accordance with the Buddha's Teachings. They do not understand the relationship between cause and effect, linking generations to generations or successive lives. When they are young and strong, they feel comfortable with everything, but when they become sick, or aged, isolated from kinfolk or short of money, they will be agitated, but it is too late for them to regret. Buddhists should always remember the old proverb “You need to dig the well before you are thirsty” to prevent the feeling of late regret.
sau một khắc ngộ đạo
After a glympse of enlighenment.
say khướt
Dead drunk.
say đắm
Passionately fond of .
se sẽ
Softly—Lightly—Gently.
Sen
S: padma; L: nelumbo nucifera; Hán Việt: Liên hoa (蓮花);|Sen có một vị trí quan trọng trong đạo Phật. Sen tuy mọc trong bùn (tượng trưng cho Luân hồi và sự Ô nhiễm), nhưng vẫn hoa vẫn thơm tho trong sạch (tượng trưng cho thể tính của con người), nhờ đạt Giác ngộ (s, p: bodhi) mà có. Hoa sen hay được vẽ trong tranh tượng làm toà sen của đức Phật (Phật toạ). Hoa sen cũng tượng trưng cho đức Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara). Trong Tịnh độ tông, hoa sen là biểu tượng của giáo pháp.
sen báu
Jewelled Lotus Flowers.
seû
Chia sẻ—To divide—To share.
shanghata
Xem Chúng hiệp địa ngục.
Si
癡 (痴); S, P: moha;|Si ở đây có nghĩa là đặt niềm tin vào một cái gì nghịch lí, không thể có (Lông rùa sừng thỏ). Trong đạo Phật, si được sử dụng tương tự như biểu đạt Vô minh, không nhận được chân tính hoặc Phật tính nằm trong các Pháp – nói tóm lại là không biết ý nghĩa của cuộc sống.|Theo quan niệm của đạo Phật thì con người bị sáu Thức – năm giác quan thông thường và thêm vào đó là ý thức (tri thức), thức biết phân biệt – làm mê hoặc, si mê. Một tâm trạng vướng mắc vào sáu thức nêu trên dẫn dắt con người đi vào cõi mê bởi vì chúng thúc đẩy, tạo điều kiện làm cho con người dễ tin rằng, thế giới hiện hữu là sự thật tuyệt đối, mặc dù nó chỉ là một khía cạnh, một khía cạnh rất hạn chế của sự thật.|Quan niệm rằng, thế giới nằm ngoài Tâm cũng là một quan niệm cuồng si, bởi vì thế giới chính là sự phản chiếu của tâm, là những biến chuyển của tâm thức (thức biến). Như vậy không có nghĩa là thế giới hiện hữu hoàn toàn không có. Nếu các vị Ðại sư trong Phật giáo bảo rằng, các pháp hiện hữu đều không có thật thì người ta nên hiểu rằng, chư vị nói như thế để phá tà kiến, niềm tin của một phàm phu vào một thế giới nằm ngoài tâm, thế giới khách thể, cho rằng nó chính là sự thật. Mục đích của đạo Phật là tiêu diệt si mê qua kinh nghiệm Giác ngộ và trong tất cả các trường phái thì Thiền tông nổi bật lên với quan niệm Kiến tính thành Phật, trực nhận chân lí.|Theo giáo lí tối thượng của Phật giáo như Thiền, Ðại thủ ấn, Ðại cứu kính, giác ngộ và si mê, thế giới hiện hữu và sự thật tuyệt đối, sắc và Không (s: śūnyatā), Luân hồi (s: saṃsāra) và Niết-bàn (s: nirvāṇa) là một, không hai. Ðể đạt đến sự nhận thức này, người ta cũng có thể dùng phương pháp biện chứng, suy luận phân tích – như nhiều trường phái Phật giáo khác. Nhưng Thiền tông lại cho rằng, cái thức phân biệt – vốn đã bị một màn si mê bao phủ, dẫn dắt con người đến bể khổ trầm luân – chỉ có thể vượt qua bằng kinh nghiệm giác ngộ trực tiếp, như »người uống nước biết mùi vị như thế nào«.
si
Moha (S), Mogha (P), Stupidty, Delusion Vô trí, Vô kiến, Vô minh, Ngu siChẳng rõ thực tướng của sự vật, vốn không thật mà chấp cho là thật. Một trong 6 Đại tuỳ phiền não địa pháp. Một trong Thập sử. Trong tam độc Gồm: tham (desire), sân (anger), si (stupidity).
; Moha (S). Unconsciousness, delusion, perplexity, ignorance, folly, infatuation, stupidity. It is intp by vô minh unenlightened, i.e. misled by appearances, taking the seeming for real; from this unenlightened condition arises every kind of klesa, i.e. affliction or defilement by the passions, etc. It is one of the tam độc three poisons tham desire, sân dislike, si delusion.
; Chẳng có thật tướng của sự vật vốn không thật mà cho là thật.
; Moha (skt)—Mudha (p). 1) Phiền não: Klesa (skt)—Phiền não hay sự uế nhiễm của tham dục—Affliction or delifement by the passions. 2) Tà kiến: Wrong views. 3) Tâm ám muội: Deluded mind. 4) Vô minh: Mê sự bỏ lý, nghi ngờ chánh pháp, từ đó tất cả mọi phiền não khởi lên. Đây là một trong tam độc tham, sân, si—Ignorance—Foolish—Delusion—Unconsciousness—Perplexity—Silly—Infatuation. Ignorance is interpreted by unenlightened, i.e. misled by appearances, taking the seeming for real; from this unenlightened condition arises every kind of klesa, i.e. affliction or defilement by the passions, etc. It is one of the three poisons, desire, dislike, delusion.
; (癡) Phạn: Moha, Mùđha. Đồng nghĩa: Vô minh, Vô trí. Ngu si, tên 1 tâm sở, là tác dụng tinh thần của sự ngu muội vô tri, không rõ sự lí. Tông Câu xá cho Si là 1 trong các Đại phiền não địa pháp, còn tông Duy thức thì coi nó là 1 trong những tâm sở phiền não, 1 trong 3 căn bất thiện, 1 trong 6 phiền não căn bản, 1 trong 10 Tùy miên, là chỗ nương tựa của hết thảy phiền não. Theo luận Du già sư địa quyển 86 thì Si còn có các tên gọi khác nữa là: Vô trí, Vô kiến, Phi hiện quán, Hôn muội, Ngu si, Vô minh, Hắc ám...Cũng luận đã dẫn quyển 55 cho rằng trong các Tùy phiền não thì Phú, Cuống, Siểm, Hôn trầm, Vọng niệm, Tán loạn, Bất chính tri... đều lấy 1 phần của Si làm thể. Theo luận Thành duy thức quyển 6 thì sự sinh khởi của các phiền não đều do Si, vì thế Si nhất định là tương ứng với 9 phiền não căn bản còn lại. [X. kinh Đại Bản trong Trường A Hàm Q.1; kinh Đại Bát Niết Bàn Q.5 (bản Bắc); luận Thuận Chính Lí Q.11; luận Câu Xá Q.21; luận Du Già Sư Địa Q.58; luận Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp tập Q.6; Câu Xá Luận Quang Kí Q.4]. (xt. Vô Minh).
si cẩu
Deluded dogs.
; Con chó ngu si, được đem ví với chúng sanh đầy dẫy tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, tà kiến, vân vân—Deluded dogs, i.e. a person who is full of desire, dislike, delusion, pride, doubt, wickedness, wrong views, etc.
si hoặc
Unenlightened and deluded, ignorant of the right way of seeing life and phenomena.
; Si mê và nghi hoặc, khiến chúng sanh không thấy được chánh đạo—Unenlightened and deluded, ignorant of the right way of seeing life and phenomena (ignorance misleads sentient beings to be blind of the right way).
si hầu
Lấy hình ảnh con khỉ ngu si, chụp lấy bóng trăng trong nước để ví với một con người ám muội, lấy hư làm thực, lấy giả làm chơn—The deluded monkey seizing the reflection of the moon in the water, e.g. unenlightened men who take the seeming for the real.
si mê
Unenlightened and led astray.
; Tâm ngu si mê muội đối với sự lý, không tin nhân quả luân hồi, nghi ngờ chánh pháp—Ignorance—Illusion—Unenlightened and led astray.
si mê là nguồn gốc của tất cả mọi phiền não
Delusion (ignorance or stupidity) is the source of all afflictions.
si mê tột bực
Total ignorance.
si mạn
Ignorance and pride, or ignorant pride.
; Ngu si và ngã mạn cống cao, hay sự ngã mạn mê muội—Ignorance and pride, or ignorant pride.
si mị võng lượng
(si mị võng lượng ) Si mị và Võng lượng đều là tên quỉ thần, yêu quái. PhẩmThí dụ kinh Pháp hoa (Đại9,14 thượng) nói: Nhà ấy đáng sợ, chỗ nào cũng thấy si mị võng lượng biến hiện. Trong phẩm Đà la ni hộ trì quốc giới kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 2 và Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi cũng có ghi các tên gọi này. Trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 6, ngài Cát tạng dẫn Trương bình tử Tây kinh phú giải thích rằng (Đại 34, 535 trung): Thần ở trong núi là Si, mang hình cọp (hổ); thần ở trong nhà là Mị, mang hình người, đầu heo (lợn), có đuôi; còn loài yêu quái ở trong gỗ đá thì là Võng lượng. Xuân thu quyển 10 thì giải thích: Si là thần núi, hình thú; Mị là quái vật; Võng lượng là thần nước. Thực ra, Si mị võng lượng là tên của quỉ thần chỉ thấy trong các sách vở của Trung quốc đời xưa, kinh điển Phật giáo chỉ mượn dùng mà thôi. Trong kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm hoàn toàn không có nguyên ngữ tương đương của Si mị võng lượng. [X. kinh Đại bát nhã Q.501, 540; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.1; kinh An trạch thầnchú; kinh Thí ngã quỉ cam lộ vị đại đà la ni; kinh Quán đính Q.12; luận Thuận chính lí Q.12, 67; Trị thiền định bí yếu pháp Q.hạ; Pháp hoa văn cú kí Q.6, hạ; Pháp hoa huyền tán Q.6, phần đầu; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27; Hi lân âm nghĩa Q.1].
si ngốc đại huệ
Chigotsu Daie (J)Tên một vị sư.
si phàm
The common, unenlightened people. Also si tử.
; Phàm phu si mê ám muội—The common, unenlightened people.
si phược
Moha-bandhana (S)Một trong tam phược.
; The bond of unenlightenment.
; Sự trói buộc của si mê—The bond of unenlightenment.
si sử
The messenger, lictor, or affliction of unenlightenment.
; Một trong thập kiết sử, vô minh sai khiến con người đến chỗ lầm lạc, khổ não, không rõ chánh kiến, không biết chánh đạo—The messenger, lictor, or affliction of unenlightenment, one of the ten bonds or fetters. ** For more information, please see Ngũ Hạ Phần Kết and Ngũ Thượng Phần Kết in Vietnamese-English Section.
si thiền
(癡禪) I. Si Thiền. Cũng gọi Si thất. Thiền ngu si, là thứ thiền định của người chỉ biết ngồi trơ trơ như gỗ đá, tâm địa không mở tỏ. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, phần 1 (Đại 48, 399 hạ) nói: Đáy nước đầm trong, bóng hiện rõ ràng, đâu có như hạng si thiền chỉ chấp giữ sự yên lặng rỗng không, như kẻ cuồng tuệ chỉ biết tìm chương trích cú?. II. Si Thiền. Pháp hiệu của ngài Nguyên diệu, vị tăng tông Vân môn, đời Nam Tống. (xt. Nguyên Diệu).
si thuỷ
(癡水) Đối lại: Trí thủy. Phiền não ngu si ví như nước đục, nên gọi làSi thủy.Trái lại, trí tuệ thanh tịnh, ví như nước trong, gọi là Trí thủy. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 143 hạ) nói: Hết thảy các đức Như lai trong 10 phương, hễ thấy ngã mạn thì gọi là uống nước si (si thủy); còn Bồ tát thấy ngã mạn như vũng bùn lớn, cần phải tránh xa.
si thủ
The klesa of moha, held in unenlightenment.
; Chấp vào sự mê lầm mà gây ra phiền não—The klesa of moha, held in unenlightenment.
si thủy
The turbid waters of ignorance; also to drink the water of delusion.
; 1) Nước uế trược của sự si muội: The turbid waters of ignorance. 2) Uống nước uế trược: To drink the water of delusion.
Si Tuyệt Đạo Xung
(癡絕道沖, Chizetsu Dōchū, 1169-1250): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Si Tuyệt (癡絕), xuất thân Trường Giang (長江), Võ Tín (武信, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Tuân (荀, hay Cẩu [苟]). Ông đến tham học với Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳) ở Tiến Phước Tự (薦福寺) và làm Thủ Tòa, rồi sau đó khế ngộ huyền chỉ của Tào Nguyên Đạo Sanh (曹源道生). Sau một thời gian đi tham vấn khắp chốn tùng lâm, vào năm thứ 12 (1219) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông bắt đầu tuyên thuyết Thiền phong của mình ở Thiên Ninh Tự (天寧寺) vùng Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), rồi lại chuyển sang Tương Sơn (蔣山). Đến năm thứ 3 (1239) niên hiệu Gia Hy (嘉熙), ông lên Tuyết Phong Sơn (雪峰山) ở Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), rồi sau chuyển đến Thiên Đồng Sơn (天童山) vùng Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang). Vào năm thứ 4 (1244) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông đến trú trì Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Đến năm thứ 9 cùng năm này, Kinh Triệu Duẫn (京兆尹) quy y theo ông, cho nên ông khai sáng ra Pháp Hoa Tự (法華寺) ở vùng Ngô Hưng (呉興, Tỉnh Triết Giang). Cùng năm đó, ông đến trú tại Kính Sơn (徑山) thuộc vùng Lâm An (臨安, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 13 tháng 5 năm thứ 10 niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi đời và 61 hạ lạp. Ông có để lại bộ Si Tuyệt Đạo Xung Thiền Sư Ngữ Lục (癡絕道沖禪師語錄) 2 quyển.
si tâm
An unenlightened mind, ignorance darkening the mind.
; Tâm ám muội hay tối ám gây ra bởi vô minh—Deluded mind—Unenlightened mind, ignorance darkening the mind.
si tình
To be madly in love.
si tử
See Si Phàm.
si võng
The net of ignorance.
; Lưới ngu si—The net of delusion, or ignorance.
si ái
Ignorance and desire, or unenlightened desire, ignorance being father, desire mother, which produce all affliction and evil karma.
; Avidya (skt)—Si mê và ái dục hay sự tham ái mê muội, vô minh hay si mê là cha, tham ái là mẹ, hai thứ nầy sản sanh ra tất cả các phiền não và ác nghiệp—Ignorance and desire, or unenlightened desire, ignorance is being father, desire is mother, which produce all affliction and evil karma.
Si ái 癡愛
[ja] チアイ chiai ||| Folly and desire; stupidity and attachment--an abbreviation of the combination of 愚癡 and 貪愛. Two of the three poisons 三毒.〔法華經 T 262.9.08b11〕 => Si mê và ham muốn; ngu muội và chấp trước – viết tắt của ngu si 愚癡 và tham ái 貪愛. Là 2 thứ trong Tam độc三毒.
si ám
The darkness of the unenlightened condition.
si đăng
The lamp of delusion, attracting the unenlightened as a lamp does the moth.
; Si muội vô minh lôi cuốn người ám muội (không giác ngộ) như ánh đèn lôi cuốn loài thiêu thân vậy—The lamp of delusion, attracting the unenlightened as a lamp does the moth.
si đạc ta
Siddhàrta (S). Prince Siddhàrta. Also Tất đạt đa.
si định
The samàdhi of ignorance, i.e. without mystic insight.
; Phép thiền định ám muội, chẳng những không giúp trí huệ phát triển, mà còn làm cho tâm trí thêm mờ tối không tỏ ngộ—The samadhi of ignorance, i.e. without mystic insight.
; (癡定) Chỉ cho loại thiền định không có trí tuệ. Trái lại, chỉ có trí tuệ mà không có sức thiền định thì gọi là Cuồng tuệ. Hành giả si định giống như người mù cỡi ngựa đui, ở trong thiền định rất dễ bị rơi xuống hố thẳm tà vọng. [X. Quán âm huyền nghĩa Q.thượng].
si đồ
Sự tối ám của ngu si—The darkness of the unenlightened condition.
si độc
The poison of ignorance, or delusion, one of the three poisons.
; Một trong tam độc, sự độc hại của ngu si (ngu si chẳng những hại mình mà còn hại người, chẳng những não loạn mình mà còn não loạn người khác)—The poison of ignorance, or delusion, one of the three poisons.
si độn
Foolish—Stupid.
si độn không tính
Chidon KŪshō (J)Tên một vị sư.
Si 癡
[ja] チ chi ||| (moha, mūdha): 'delusion', 'ignorance.' Also written yuchi 愚癡. The modern character is 痴. The affliction of confusion regarding all relative and absolute truths. In the Abhidharmakośa-bhāsya it is listed as one of the evil producing elements; in the doctrine of the Yogācāra school, it is listed as one of the primary afflictions (六煩惱). Also, one of the three "roots of non-virtue" (三不善根) and one of the "ten secondary dullnesses" (十隨眠). A synonym for 無明. Regarded as the origin of all afflictions. (s: moha, mūdha) => 'Si mê', 'vô minh'. Còn viết là ngu si (c: yuchi 愚癡). Còn viết là 痴. Là phiền não mê mờ đối với mọi chân lý tương đối và tuyệt đối. Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, nó được xem là một trong các đại phiền não địa pháp, theo giáo lý Duy thức, nó là một trong 6 căn bản phiền não. Nó còn là một trong Tam bất thiện căn (三不善根), và là một trong Thập tuỳ miên (十隨眠). Đồng nghĩa với với vô minh. Được xem như là nguồn gốc của mọi phiền não.
Si-da-li-pa
S: śyalipa; »Du-già sư dã can«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là người làm thuê, ở gần một bãi đốt xác. Mỗi đêm ông sợ nghe tiếng chó hoang tru tréo. Nhân dịp gặp một Du-già sư, ông tiếp đãi nồng hậu và cầu xin cách đối trị nỗi sợ. Vị Du-già sư dạy ông cách dĩ độc trị độc, khuyên ông quán tưởng mọi âm thanh trên thế gian đều là tiếng chó hoang và sống ngay giữa bầy chó hoang trên bãi xác chết. Sau chín năm thiền định, ông lĩnh hội được sự đồng thể của âm thanh và tính Không. Ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa, luôn luôn mang trên vai một tấm lông chó. Chứng đạo ca của ông như sau:|Hoạ sĩ vẽ sắc hình,|Nhìn qua đã kinh hoàng.|Hãy nhìn kĩ lại đi,|gạt qua lòng sợ hãi,|chúng chỉ là hình vẽ,|vô thật, là phản chiếu,|ngoài ra không gì cả.
sidari
Sidari (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sinh
Jàti (S). Life. Utpàda means coming forth, birth, production. Sinh means beget, bear, birth, rebirth, born, begin, produce life, the living. One of the twelve nidànas
; 1) Jati (skt)—Life—Rebirth—Born—The living—See Tứ Sinh. 2) Utpada (skt)—Coming forth—Birth—Production. 3) Một trong Thập Nhị Nhân Duyên: One of the twelve nidanas—See Thập Nhị Nhân Duyên.
; (生) Phạn: Jàta,Jàti. Pàli:Jàti. I. Sinh. Cũng gọi Sinh chi. Chỉ cho chi thứ 11 trong 12 duyên khởi, do nghiệp lực quá khứ mà kết thành quả sinh ra trong vị lai. Cứ theo luận Câu xá quyển 9 thì chi Sinh là chỉ cho 1 sát na trong vị lai thác thai kết sinh trong bào thai; nhưng tông Duy thức thì giải thích rộng hơn, cho rằng từ thân Trung hữu đến lúc thác thai còn 1 khoảng thời gian chưa già suy, đều thuộc về chi Sinh. [X. luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên). II. Sinh. Chỉ cho cái sinh lực thôi thúc pháp hữu vi trong khoảng từ vị vị lai sinh vào vị hiện tại; sinh lực này nếu được hiểu như 1 thực thể, thì đó chính là tướng Sinh, 1 trong 4 tướng. (xt. Tứ Tướng). III. Sinh. Chỉ cho Sinh hữu, tức các sát na (tích tắc) có mặt lúc đầu thai thụ sinh ở đời này. Người thụ sinh gọi là Kết sinh hay Thụ sinh; người thai sinh thì gọi là Thác thai, hay Thác sinh. Là 1 trong 4 Hữu. (xt. Tứ Hữu). IV. Sinh. Đối lại: Diệt. Một trong Bát kế (đối lại với Bát bất). Bát kế là: Sinh, diệt, thường, đoạn, nhất, dị, lai, khứ. (xt. Bát Bất Trung Đạo). V. Sinh. Chỉ cho sự sinh tồn, sinh nhai..., tức sinh ra rồi chết đi,để lại sinh ra, cứ thế sinh ra nhiều lần, gọi là Đa sinh; sự sống ở hiện tại, gọi là Kim sinh; sự sống ở quá khứ, vị lai, gọi là Tha sinh. VI. Sinh. Chỉ cho các chúng sinh do cách thụ sinh khác nhau mà có sự phân loại bất đồng, như 9 loại sinh là chỉ cho 4 loại: Thai, noãn, thấp, hóa và thêm 5 thứ là hữu sắc, vô sắc, hữu tướng, vô tưởng,phi hữu tương phi vô tưởng. Trong 9 loại sinh này, lại bỏ phi hữu tưởng phi vô tưởng đi, rồi thêm vào 4 loại là phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng thì gọi là 12 loại sinh. [X. luậnPháp uẩn túc Q.10; luận Thuận chính lí Q.25; luận Đại tì bà sa Q.9, 23; luận Thành duy thức Q.6].
sinh biến
Xem Nhân năng biến.
; (生變) Đối lại: Duyên biến. Cũng gọi: Chuyển. Chuyển biến, chỉ cho Nhân năng biến. Nhà Duy thức căn cứ vào các thức biến hiện ra các pháp mà chia ra 2 loại là Nhân năng biến và Quả năng biến. Biến của Nhân năng biến là do chủng tử trong thức thứ 8 chuyển biến mà sinh ra các pháp, bởi thế biết rằng chữ sinh của Sinh biến thực ra cũng có nghĩa là biến, cho nên gọi là Sinh biến. [X. luận Thành duy thức Q.1, 2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu]. (xt. Nhân Năng Biến).
sinh báo
Life's retribution, i.e. the deeds done in this life produce their results in the next reincarnation.
; Life's retribution—See Sanh Báo.
; (生報) Đời này tạo các nghiệp thiện, ác, đời sau chịu báo khổ, vui. Một trong 3 báo. (xt. Tam Báo).
sinh bát niết bàn
(生般涅槃) Phạn: Upapadya-parinirvàyin. Gọi tắt: Sinh ban. Chỉ cho quả vị Bất hoàn thứ 3 trong 4 quả Thanh văn, 1 trong 5 thứ Bất hoàn. Bậc Thánh quả Bất hoàn, sau khi sinh vào cõi Sắc, không bao lâu có thể khởi Thánh đạo, đoạn trừ các hoặc còn lại mà vào Niết bàn, gọi là Sinh ban niết bàn. [X. luận Câu xá Q.21]. (xt. Ngũ Chủng Bất Hoàn, A Na Hàm).
sinh bình
During one's lifetime.
sinh bất nhị
All are Buddha, and of the same dharmakaya (pháp thân) or spiritual nature, and the same infinity (không).
sinh bất tăng bất diệt
The indestructibility of the living and the Buddha; neither increase, nor decrease, nor extinct.
sinh chi
Linga or Anga-jata (skt)—Nam căn hay bộ phận sinh dục nam—The male organ or penis.
; (生支) I. Sinh Chi. Một trong 12 chi duyên khởi. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Sinh). II. Sinh Chi. Phạn: Liíga hoặc Aíga-jata. Hán âm: Ương già xã đá. Hàm nghĩa nam căn. Hữu bộ bách nhất yết ma quyển 6 (Đại 24, 481 hạ) nói: Ương già xã đá Hán dịch là Sinh chi, tức làcăn vậy. Theo Tì nại da tạp sự quyển 4, khi tâm dục bị khơi dậy làm cho sinh chi nổi lên thì phải tu quán bất tịnh để đối trị. Tịch chiếu đường cốc hưởng tục tập quyển 4 cũng có nói đến các việc do sinh chi mà phạm như là Ô đà di, con trưởng giả đau lưng, con trưởng giả căn dài... (xt. Nam Căn).
sinh chuyện
To seek a quarrel with.
Sinh chân như 生眞如
[ja] ショウシンニョ shō shinnyo ||| The suchness of arising. The fact that all conditioned phenomena arise uniquely. One of the seven kinds of suchness 七種眞如. 〔十八空論 T 1616.31〕 => Tất cả các pháp hữu vi đều sinh khởi một cách khác thường. Là một trong 7 loại chân như (thất chủng chân như七種眞如 )
sinh chủ
(生主) Phạn: Prajàpati. Hán âm: Bát la xà bát để. Cũng gọi Tạo vật chủ. Từ ngữ gọi vị thần sáng tạo trong thần thoại Ấn độ. Nhưng cũng còn các cách gọi khác, như trong Phệ đà thì Sinh chủ là chỉ cho các thần Nhân đà la (Phạn: Indra), Sa duy đức lợi (Phạm:Savitf), Tô ma (Phạn: Soma), Kim thai (Phạn: Hiraịya-yarbha). Còn trong pháp điển Ma nô thì thần sáng tạo là chỉ cho Phạm thiên, cũng có khi chỉ cho Ma nô (Phạn: Manu), hoặc chỉ cho 10 người con tâm sinh của Phạm thiên, đó là: Ma lí chất (Phạn: Marìci), A để lị (Phạn: Atri), Ương kì la tư (Phạn: Aígiras), Bổ la sa để la (Phạn: Pulastya), Bổ la ha (Phạn: Pulaha), Ca la đồ Phạn: Kratu), Bà tư tra (Phạn:Vasiwỉha), Bát la chất đa tư (Phạn: Pracetas) hoặc Đạt lợi, Ba lợi hỗ (Phạn: Bhfgu) và Na la đà (Phạn: Nàrada). Cũng có thuyết cho rằng Sinh chủ có 7, hoặc 21 thần, nhưng tên gọi không nhất trí.
sinh công tứ luân
(生公四輪) Chỉ cho thuyết Tứ luân do ngài Trúc đạo sinh lập vào thời Đông Tấn. Luân có nghĩa phá diệt, có năng lực phá diệt hoặc nghiệp của chúng sinh để vượt ra ngoài 3 cõi. Cứ theo Hoa nghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 6 thì Tứ luân là: 1. Thiện tịnh pháp luân: Tu pháp Ngũ giới, Thập thiện, phá diệt nghiệp 4 ác thú, được quả báo trời, người. 2. Phương tiện pháp luân: Tu đạo phương tiện 4 đế, 12 nhân duyên mà chứng quả Nhị thừa. 3. Chân thực pháp luân: Tu quán thực tướng trung đạo, phá diệt nghiệp phiền não vô minh, chứng quả Phật Nhất thừa. 4. Vô vi pháp luân: Tu diệu quán tam đức, phá diệt phiền não Ngũ trụ, chứng quả Niết bàn vô vi.
sinh diệt
Utpàdanirodha (S). Birth and death, production and annihilation; all life, all phenomena have birth and death, beginning and end. The Tam luận tông Màdhyamika school deny this in the Thực absolute, but recognize it in the Giả relative.
; (生滅) Cũng gọi: Khởi diệt. Đồng nghĩa: Sinh tử. Sinh ra và diệt hết, có sinh tất có diệt. Sinh tử là nói về loài hữu tình, còn sinh diệt thì dùng chung cho cả hữu tình và phi tình. Tất cả các pháp hữu vi được thành lập là do nhân duyên hòa hợp (tức đầy đủ mọi điều kiện), vì có tính chất dời đổi (vô thường) nên ắt có sinh diệt. Nếu lìa nhân duyên mà tồn tại bất biến (tức các pháp vô vi, thường trụ), thì không sinh không diệt. Nói theo chính kiến trung đạo của Đại thừa thì sự sinh diệt của các pháp hữu vi là giả sinh giả diệt, chứ chẳng phải thực sinh thực diệt. Nói theo nhân sinh quan của Phật giáo thì hết thảy muôn pháp đều liên tục sinh diệt trong từng sát na, hệt như 1 dòng nước chảy xiết vậy. Ngoài ra, Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung phần đầu cho rằng Như lai tạng tâm theo duyên mà khởi diệt, có nhiễm và tịnh khác nhau, gọi làTâm sinh diệt, tức chỉ cho pháp hữu vi. Nếu lấy đơn vị thời gian nhỏ nhất (sát na) để bàn về sinh diệt, thì cũng có sinh diệt trong mỗi sát na, gọi làSát na sinh diệt (Sát na diệt). Đối lại, chúng sinh hữu tình từ sinh đến tử, sinh diệt trong 1 thờikì, gọi là Nhất kì sinh diệt. Sát na sinh diệt và Nhất kì sinh diệt hợp lại, gọi chung là Nhị chủng sinh diệt. [X. kinh Đại câu hi la trong Trung A Hàm Q.7; kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung A Hàm Q.11; luận Đại trí độ Q.15; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2 hạ; Đại thừa huyền luận Q.1; Trung quán luận sớ Q.3].
sinh diệt diệt tị
(生滅滅巳) Sinh diệt diệt rồi. Nghĩa là đã xa lìa thế giới vô thường sinh diệt, đạt đến Niết bàn vắng lặng không sinh không diệt. Kinh Đại bát niết bàn (bản 3 quyển ) quyển hạ (Đại 1, 204 hạ) nói: Chư hành vôthường; Thị sinh diệt pháp; Sinh diệt diệt dĩ; Tịch diệt vi lạc (Các hành vô thường; Là pháp sinh diệt; Sinh diệt diệt rồi; Tịch diệt là vui).
sinh diệt khứ lai
Coming into existence and ceasing to exist, past and future, are merely relative terms and not true in reality.
; (生滅去來) Sinh diệt đi đến. Chỉ cho Như Lai tạng. Đây là 4 pháp trong Bátbất do tông Tam luận thuyết minh. Đứng trên lập trường chính kiến trung đạo mà nhìn thì không có sinh diệt khứ lai (tức không sinh, không diệt, không đi, không đến). Nếu thấy các pháp có sinh diệt khứ lai thì đó là vọng kiến phân biệt, chấp trước. Kinh Lăng nghiêm quyển 2 (Đại 19, 114 thượng) nói: Sinh diệt khứ lai vốn là Như lai tạng. (xt. Bát Bất Trung Đạo).
sinh diệt khứ lai nhất di đoạn thường
(生滅去來一异斷常) Tông Tam luận lập thuyết Bát bất trung đạo và cho đó là yếu chỉ tột cùng. Bát bất là: Bất sinh bất diệt, bất khứ bất lai, bất nhất bất dị, bất đoạn bất thường. Ngược lại là: Sinh diệt, khứ lai, nhất dị, đoạn thường, gọi là Bát mê. Nếu phá trừ được Bát mê này thì đạt đến trung đạo. (xt. Bát Bất Trung Đạo).
sinh diệt nhị quán
Contemplation on birth and death.
; (生滅二觀) Chỉ cho Sinh quán và Diệt quán. Sinh quán: Y theo thứ tự thuận mà quán xét tướng sinh khởi của 12 nhân duyên, như quán từ duyên vô minh sinh hành, duyên hành sinh thức, cho đến duyên sinh sinh lão tử... cũng tức là từ nhân hướng quả, đó là Lưu chuyên môn. Diệt quán: Tức quán ngược 12 nhân duyên, từ lão tử... quán đến vô minh, các tướng hoại diệt từ quả hướng nhân, theo thứ tự quán ngược lại, đó là Hoàn diệt môn.[X. Thiên thai tứ giáo nghi].
sinh diệt quán
(生滅觀) Tên khác của Tích không quán. Tức quán xét lí các pháp hữu vi sinh diệt từng sát na để phá trừ thường kiến (xt. Tích Không Quán).
sinh diệt tứ đế
(生滅四諦) Một trong 4 loại Tứ đế do Đại sư Trí Khải tông Thiên thai thành lập. Đây là nói về 3 tạng giáo, chủ trương nhân duyên sinh diệt là có thật, cho rằng 3 đế Khổ, Tập và Đạo nương nơi nhân duyên mà thực có sinh diệt. Diệt đế cũng được xem là pháp diệt có thật. Tức là Tứ đế được thành lập trên quan điểm thực sinh thực diệt.1. Khổ đế: Khổ nghĩa là bức bách;có 3 khổ, 8 khổ... tức là quán xét sự vô thường bức bách của các pháp sắc, tâm mà biết sinh tử là thực khổ. 2. Tập đế: Quán xét các phiền não hoặc nghiệp là nguyên nhân tạo ra khổ sinh tử. 3. Diệt đế: Tức quán xét lí Niết bàn, qui các khổ sinh tử về tịch diệt. 4. Đạo đế: Quán xét đạo giới, định, tuệ, dứt hết phiền não hoặc nghiệp, sinh khởi chính trí để chứng vào Niết bàn. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2,hạ; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng, hạ]. (xt. Tứ Đế).
Sinh duyên 生縁
[ja] ショウエン shōen ||| (1) The various causes which contribute to a thing's coming into being. (2) Dependent co-arising → 縁起. (pratītya-samutpāda) (3) One of the "three barriers" → 三關. (4) Ina-Zgaki has "Native place; one's original state of Buddhahood." => 1. Những nguyên nhân khác nhau góp phần đưa đến sự hiện hữu của một vật. 2, Duyên khởi (縁起s: pratītya-samutpāda). 3. Một trong Tam quan 三關. 4. Chốn quê nhà; bản thể Phật tính theo Ina-Zgaki.
Sinh dĩ 生已
[ja] ショウイ shōi ||| To be fully arisen. To be completely produced. 〔瑜伽論 T 1579.30.291b2〕 => Sinh khởi rồi. Hoàn toàn được sinh ra rồi.
sinh dục
To give birth and to rear.
sinh giả tất diệt
(生者必滅) Có sinh ắt có diệt, nói lên nghĩa vô thường của tướng thế gian. Đây là điểm xuất phát của chân lí nhân sinh tột cùng trong Phật giáo. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn Q.2 (bản Bắc); kinh Vô Thường; kinh Vị Sinh Oan].
sinh hoạt
Living—Life.
sinh hòa hợp tịnh
Amathitakappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.
sinh hóa
See Hóa Sanh.
sinh hóa nhị thân
The physical body of Buddha and his transformation body capable o any form; the Nirmàna-kàya in its two forms of ứng and hóa.
; The nirmanakaya in its two forms of physical body (ứng thân) and transformation body (hóa thân) are capable of any form.
sinh hóa, hóa sinh
Aupapàduka (S). One of the four forms of birth, i.e. by transformation, without perentage, and in full maturity; thus do bodhisattvas come from the Tusita heaven; the dhyàni-buddhas and bodhisattvas are also of such miraculous origin.
sinh hữu
One of the four forms of existence.
; See Sanh Hữu.
sinh khí
Prāṇa (S), Vital energy bindu (T), Pāṇa (P)Sanh lực, Luồng thần lựcCái sức tiềm ẩn mà nhân đó sinh vật sống được và tăng trưởng.
; Jìvitindriya (S). Breath of life; vitality, animation, liveliness.
; The breath of life—Vitality.
sinh không
Xem Nhân vô ngã.
; Empty at birth, i.e. ngã không, nhân không void of a permanent ego
; (生空) Phạn: Àtma-zùnyatà. Cũng gọi Ngã không, Nhân không. Chúng sinh do 5 uẩn, sắc, thụ, tưởng, hành, thức giả hòa hợp mà thành, không có ngã thể thường nhất, 1 trong 2 thứ không. (xt. Ngã Không).
sinh không tam muội
(生空三昧) Chỉ cho thiền định quán tưởng chúng sinh là do 5 uẩn giả hòa hợp mà thành, không có ngã thể cố định bất biến. Bí tạng bảo thược luận quyển trung (Đại 77, 366 thượng) nói: Sinh không tam muội biết rõ thần ngã chỉ là ảo ảnh.
sinh khổ
The suffering at birth.
; (生苦) Phạn: Jàti-du#kha. Pàli: Jàti-dukkha. Chỉ cho những khổ não mà chúng sinh phải chịu lúc vừa sinh ra, 1 trong 4 khổ, 1 trong 8 khổ. Theo luận Du già sư địa quyển 61 thì Sinh khổ có 5 tướng: 1. Bị các khổ theo đuổi: Sinh vàoNa lạc ca (địa ngục) và ngã quỉ, hoặc do thai sinh, noãn sinh, bị các ưu khổ theo đuổi, cho nên khổ. 2. Bị thô trọng theo đuổi: Bị các phiền não theo đuổi, tính không điều hòa, chẳng được tự tại, cho nên khổ. 3. Bị các khổ nương tựa: Tức làm chỗ nương tựa cho các khổ như già suy, bệnh tật... cho nên khổ. 4. Bị phiền não nương tựa: Sau khi thụ sinh, làm chỗ nương cho các phiền não tham, sân, si... thân tâm không thể an trụ, cho nên khổ. 5. Pháp li biệt không theo điều mình muốn: Có sinh ắt có chết, không được như ý muốn, cho nên khổ. Ngoài ra, kinh Ngũ vương cũng nói đến những nỗi khổ khi ở trong thai mẹ. [X. kinh Phân biệt thánh đế trong Trung A Hàm Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần đầu]. (xt. Bát Khổ, Tứ Khổ).
sinh khởi
Utpàda (S). Birth and what arises from it; cause of an act; the beginning and rise. Rising, coming into existence; birth.
; (生起) Chỉ cho Năng sinh và Sở sinh. Năng sinh làcáisinh ra, gọi là Nhân; Sở sinh là cái được sinh ra, gọi là Quả. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 1, thượng (Đại 33, 684 hạ) nói: Sinh khởi nghĩa là cái sinh ra là sinh, cái được sinh là khởi.
sinh khởi bản mạt
(生起本末) Gốc ngọn của sự sinh khởi. Tức chỉ cho nguyên nhân căn bản và kết quả diễn thành sự vật sinh khởi.
sinh khởi nhân
(生起因) Cũng gọi Sinh nhân. Chỉ cho nghiệp nhân thiện, ác ở đời này sẽ sinh ra quả báo vui, khổ ở đời sau, là 1 trong 2 nhân, 1 trong 10 nhân. Sinh khởi nhân và Khiên dẫn nhân đều chỉ cho tác dụng năng sinh tự quả của chủng tử; chủng tử ở hiện tại có sẵn tác dụng sinh ra quả, gọi là Sinh khởi nhân. (xt. Nhị Nhân, Thập Nhân).
Sinh khởi thức 生起識
[ja] ショウキシキ shōkishiki ||| The active consciousnesses, arisen consciousnesses (pravṛtti-vijñāna). The other seven consciousnesses besides the container consciousness (藏識), also written as 轉識. 〔攝大乘論 T 1593.31.115c17〕 => Thức đang hoạt động, thức đang sinh khởi. 7 thức ngoài tàng thức, còn gọi là Chuyển thức轉識.
Sinh khởi tương vi 生起相違
[ja] ショウキソウイ shōkisōi ||| Contradictions in production, the third of the six kinds of contradictory causes taught in the Yogācārabhūmi-śāstra. The conflict that appears when the necessary preconditions for the production of certain object events are not present.〔瑜伽論T 1579.30.501b〕 => Sự mâu thuẫn nhau trong sự sinh khởi, loại thứ ba trong sáu loại nguyên nhân mâu thuẫn được dạy trong Du-già sư địa luận. Những mâu thuẫn xuất hiện khi cần thiết những điều kiện có trước cho sự phát sinh một sự kiện khách quan nào đó không hiện hữu.
Sinh khởi 生起
[ja] ショウキ shōki ||| (1) The arising, production, coming into being of things. (utpāda, upagama) (2) A situation that is arising. => Sự phát sinh, hình thành, hiện hữu của mọi vật (s: utpāda, upagama). Trạng thái sinh khởi.
sinh kinh
Stories of the previous incarnations of the Buddha and his disciples
sinh linh
The mind or intelligence of the living; a living intelligent being. Khiến cho sinh linh phải đồ thán, to cause people's misery; to reduce the people to destitution.
; (生靈) I. Sinh Linh. Đối lại: Tử linh. Chỉ cho thần thức của người sống. II. Sinh Linh. Chỉ cho người lúc sống ôm lòng oán giận và phục thù. (xt. OánLinh).
sinh luận
(生論) Phạn: Utpàda-vàdin. Nghị luận của ngoại đạo về sự sinh khởi của các sự vật, gọi chung là Ngoại đạo nhất thiết vọng kế chí luận(tất cả các luận vọng chấp của ngoại đạo). Vì họ tuy có nói bất sinh bất diệt, nhưng đều là nhân sinh tử vọng tình phân biệt, cho nên gọi là sinh luận. Kinh Lăng già quyển 4 (Đại 16, 507 trung) nói: Diệt trừ sinh luận ấy, kiến lập nghĩa bất sinh.
sinh ly
To be separated in life.
sinh lão bệnh tử
(生老病死) Cũng gọi Tứ tướng, Tứ khổ. Chỉ cho 4 thứ tướng trong 1 kì hạn của chúng sinh. Tướng sinh ra của chúng sinh gọi là Sinh tướng, tướng già suy gọi là Lão tướng, tướng bệnh hoạn gọi là Bệnh tướng và tướng tử vong gọi là Tử tướng. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 19 cho rằng người mang kiến chấp hữu, vô, không thể thoát li sinh già bệnh chết, lo buồn khổ não. [X. kinh Vô thường; kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. (xt. Tứ Khổ).
sinh lý
Livelihood.
sinh lực
Vital force; life force; energy, vigour, strength.
; Vital force—Life force.
sinh manh
Born blind.
; (生盲) Người mù bẩm sinh. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 thượng) nói: Tất cả chúng sinh, trừ kẻ sinh manh, bọn có mắt đều thấy mặt trời lặn. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.9; luận Thuận chính lí Q.50].
sinh manh xiển đề
(生盲闡提) Cũng gọi Sinh manh nhất xiển đề. Ví dụ người Nhất xiển đề (Phạn: Icchantika) là sinh manh. Sinh manh chỉ cho người sinh ra đã mù;Xiển đề chỉ cho kẻ đã dứt hết tất cả căn lành và không thể thành Phật. Người không tin Phật pháp, cũng như kẻ sinh manh không tin rằng trên thế giannàycòn có ánh sáng, bởi thế Nhất xiển đề không thể phát tâm cũng giống như người sinh manh không thể chữa lành. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 9 (Đại 12, 660 hạ) nói: Ví như thầy thuốc giỏi, có khả năng chữa trị những người mù, giúp họ thấy được ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao và tất cả sắc tượng, duy đối với người sinh manh thì đành bó tay. Kinh Đại niết bàn Đại thừa này cũng lại như thế, có năng lực vì hàng Thanh văn Duyên giác mà mở con mắt tuệ, giúp họ an trú nơi vô lượng vô biên kinh điển Đại thừa. Người chưa phát tâm, dù phạm 4 trọng cấm, 5 tội vô gián, đều khiến họ phát tâm bồ đề, chỉ trừ lũ sinh manh nhất xiển đề. Pháp sự tán quyển hạ của ngài Thiện đạo nói rằng: Bọn sinh manh xiển đề vì hủy diệt đốn gíáo mà vĩnh viễn chìm đắm. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao quyển 5 thì đặc biệt gọi kẻ phỉ báng pháp Niệm Phật vãng sinh là Sinh manh xiển đề. [X. kinh ĐạibátNiết bàn Q.9 (bản Nam); An lạc tập Q.thượng].
Sinh manh 生盲
[ja] ショウモウ shōmō ||| blind from birth (Skt. jātyandha); used to indicate that ignorance is the fault of the perception not the object (as, for example, in the first chapter of the Vimalakīrti-sūtra 維摩經); it is also used to denote the icchantika 一闡提. => Sinh ra đã bị mù (s: jātyandha); để chỉ vô minh là sai lầm của nhận thức chứ không phải ở đối tượng ( ví dụ như được trình bày trong phẩm đầu kinh Duy-ma-cật Vimalakīrti-sūtra 維摩經); còn dùng để chỉ cho hạng Nhất-xiển-đề (s: icchantika 一闡提).
sinh mệnh
Ajìva (S). Life, livehood.
; (生命) Chỉ cho giai đoạn giữ liên tục từ lúc sinhđếnlúc chết mà vẫn có độ ấm (noãn) và ý thức thức). Trong Phật giáo gọi là Thọ mệnh hoặc Mệnh căn. Thọ là dịch ý từ chữ Phạn jìvita. Cũng có thể giải thích Thọ và Mệnh riêng rẽ. Thọ duy trì noãn và thức; trái lại, noãn và thức cũng duy trì sự sống còn (Thọ), hai yếu tố này có quan hệ nương vào nhau mà tồn tại. Lúc con người chết thì thọ, noãn, thức thoát ra ngoài nhục thể. Thọ này do sự sai khác của 6 đường 3 cõi mà lượng của nó có hạn định, gọi là Thọ lượng. Thọ mệnh của Phật không có hạn lượng, cho nên gọi Thọ mệnh vô lượng hay Vô lượng thọ (Phạn: Amitàyus, A di đà).
sinh nghi
To become suspicious—To be in doubt.
sinh nghiệp
Janaka-karma (S). Regenerative karma, productive karma.
Sinh nghiệp 生業
[ja] ショウゴウ shōgō ||| (1) The work that one does to make a living; one's livelihood. (karman) (2) Particularizing karma--the karma that determines precise conditions in one's rebirth, such as one's personality, level of intelligence, social status, and so forth; same as 滿業, which contrasts with directive karma 引業, which determines more general conditions, such as the species into which one is born. This karma is generally understood as being produced from desire, whereas directive karma is produced from ignorance. 〔瑜伽論T 1579.30.612b〕 => Công việc mà người ta làm để sinh sống; nghề nghiệp (s: karman). Nghiệp đặc biệt–nghiệp định đoạt chính xác điều kiện tái sinh, như tính cách, sự thông minh, hoàn cảnh xã hội v.v... Đồng nghĩa với Mãn nghiệp 滿業, khác với Dẫn nghiệp 引業, là nghiệp dẫn đến những hoàn cảnh chung, như chủng loại được sinh ra. Sinh nghiệp thường được hiểu là gây ra do tham dục, trong khi Dẫn nghiệp phát sinh do vô minh.
sinh nhai
Means of living—See Sinh lý.
sinh nhân
The primary cause of birth.
; Janmahetu (skt)—Nguyên nhân của sự sinh—Birth-cause.
; (生因) I. Sinh Nhân. Đối lại: Liễu nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong tác pháp 3 chi, Sinh nhân thuộc chi Nhân, 1 trong 6 nhân. Sinh là sinh khởi, khai phát. Sinh nhân như hạt giống nảy mầm sinh ra cây cỏ, vì thế gọi là Sinh nhân. Ví như người lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường Nhân: Vì nó có tính cách được tạo ra Cái Nhân (lí do) trong luận thức trên chứng minh âm thanh là vô thường chứ không phải thường trụ, giúp đối phương (người vấn nạn) nghe rồi hiểu rõ chân lí âm thanh là vô thường, không còn hoài nghi cố chấp nữa. Như vậy, Nhân ở đây đã giúp người địch luận (đối phương) mở được chính trí, như hạt giống sinh mầm, cho nên, đứng về phương diện người Lập luận mà gọi là Sinh nhân. Do công dụng của Sinh nhân có khác nhau nên lại được chia làm 3 loại: 1. Ngôn sinh nhân: Tức là ngôn ngữ của người Lập luận sử dụng để nói rõ lí do (Nhân), như Vì nó có tính cách được tạo ra nói ở trên. 2. Trí sinh nhân: Tức tri thức, trí tuệ của người Lập luận. Như trong Luận thức nói trên, nếu người Lập luận không có tri thức về bản chất của âm thanh thì đã không thể nêu lí do Vì nó có tính cách được tạo ra, cho nên trí là Sinh nhân. 3. Nghĩa sinh nhân: Chỉ cho đạo lí bao hàm trong Nhân do người Lập luận nêu ra. Sở dĩ ngôn ngữ giúp người ta hiểu rõ vấn đề là hoàn toàn nhờ ý nghĩa bao hàm trong đó và cái đối tượng mà ngôn ngữ ám thị, do đó, nghĩa cũng là Sinh nhân. Ba loại Sinh nhân trên đây có mối quan hệ chồng chéo lẫn nhau. Tức là người Lập luận có trí mới có thể nhận thức nghĩa lí, đồng thời, sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt nghĩa lí ấy, cho nên Trí sinh nhân là nhân của Ngôn sinh nhân và nghĩa sinh nhân; còn Ngôn sinh nhân và Nghĩa sinh nhân là quả của Trí sinh nhân. Lại giữa Ngôn sinh nhân và Nghĩa sinh nhân cũng có quan hệ nhân quả. Trước hết, người Lập luận nhận biết nghĩa lí mới có thể dùng ngôn ngữ diễn đạt nghĩa lí, vì thế, Nghĩa sinh nhân là nhân của Ngôn sinh nhân, Ngôn sinh nhân là quả của Nghĩa sinh nhân. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Lục Nhân). II. Sinh Nhân. Một trong 5 nhân. Chỉ cho hoặc nghiệp. Vì chúng sinh nương vào hoặc nghiệp mà sinh ra thân này, cũng như hạt giống cây cỏ nhờ vào đất mà nảy sinh, cho nên gọi là Sinh nhân. (xt. Ngũ Nhân). III. Sinh Nhân. Chỉ cho 4đại chủng đất, nước, lửa, gió là nguyên nhân sinh khởi các sắc pháp. [X. luận Câu xá Q.7]. (xt. TứĐại). IV. Sinh Nhân. Đối lại: Dẫn nhân. Sinh là nhân của quả gần và quả chính. Quả gần chỉ cho quả báo của nhân gần; quả chính chỉ cho việc tu đạo có chỗ chứng ngộ, khác với cách tu mù quáng của ngoại đạo, cho nên gọi quả chứng đắc của người tu học Phật pháp là quả chính. (xt. Dẫn Nhân).
sinh nhân bản nguyện
(生因本願) Cũng gọi Sinh nhân nguyện. Chỉ cho bản nguyện của đức PhậtA di đà khi còn ở địa vị tu nhân thệ nguyện cứu độ chúng sinh và cầu nguyện chúng sinh trong 10 phương dốc lòng tin ưa muốn vãng sinh Tịnh độ. Điều nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Nếu tôi được thành Phật mà chúng sinh trong 10 phương dốc lòng tin ưa, muốn sinh về cõi nước của tôi, cho đến 10 niệm, nếu không được sinh thì tôi không thành chính giác, chỉ trừ những người phạm tội Ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo giải thích nguyện này cho rằng đức Phật A di đà thệ nguyện chúng sinh lấy pháp môn Xưng danh niệm Phật làm nhân được vãng sinh Tịnh độ. Nhưng ngài Nghĩa tịch thì lấy 3 điều nguyện 18, 19 và 20 làm Bản nguyện sinh nhân. Trong đó, điều nguyện thứ 18 nhiếp lấy nguyện dốc lòng muốn sinh, là nguyện nhiếp thu những người thuộc phẩm Hạ hạ; điều nguyện thứ 19 nhiếp lấy nguyện tu đức muốn sinh, là nguyện nhiếp thu những ngườithuộc Thượng phẩm; điều nguyện thứ 20 thì nhiếp lấy nguyện nghe tên muốn sinh, là nguyện nhiếp thu những người thuộc Trung phẩm. Còn các ngài Pháp vị, Huyền nhất, Cảnh hưng... thì cho điều nguyện 18 là nguyện nhiếp thu Thượng phẩm, điều nguyện 19 là nguyện nhiếp thu thuộc Trung phẩm, còn điều nguyện 20 thì là nguyện nhiếp thu Hạ phẩm.
sinh nhất như
The living and the Buddha are one—See Sinh Nhứt Thể.
sinh nhất thiết chi phần ấn
(生一切支分印) Thủ ấn gia trì vào tứ chi (2 tay, 2 chân) ngũ thể (trán, 2 khuỷu tay, 2 đầu gối) của đệ tử khi tu pháp Quán đính trong Mật giáo.Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 10 (Vạn tục 36, 410 hạ) nói: Kế đến phải kết ấn Sinh nhất thiết chi phần, rồi rưới nước trên đỉnh đầu của đệ tử (...)Nếu không dùng ấn này thì pháp thức không được đầy đủ.
sinh nhẫn
Common or ordinary patience, i.e. of chúng sinh the masses.
; 1) Nhẫn bình thường: Common or ordinary patience. 2) Nhẫn của chúng sanh: The common or ordinary patience of the masses.
sinh nhật đại hội
(生日大會) Ngày lễ đản sinh của đức Phật. Hữu bộ mục đắc ca quyển 5 (Đại 24, 35 thượng) nói: Trưởng giả bạch Phật: Bồ tát sinh ra vào ngày tháng nào? Phật bảo Trưởng giả: Ngày trăng tròn, tháng Bệ xá khư là ngày sinh của ta. Trưởng giả bạch Phật: Con nay muốn cử hành Đại hội sinh nhật. Phật nói: Nên làm. (xt. PhệXá Khư).
sinh nhứt thể
The living and the Buddha are of the same substance—See Sinh Bất Nhị.
sinh niệm xứ bồ tát
The second Bodhisattva on the right of the Bodhisattva of Space Hư không tạng in the Garbhadhàtu.
; See Sanh Niệm Xứ Bồ Tát.
; (生念處菩薩) Sinh niệm xứ, Phạn: Smritisajàtya#. Cũng gọi Ức niệm bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2 phía trái bồ tát Hư không tạng ở viện Hư không tạng trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, mật hiệu là Ức trì kim cương. Vị Bồ tát này sinh ra muôn pháp và trí tuệ, chủ về 4 hạnh đức Từ, Bi, Hỉ, Xả của bồ tát Hư không tạng. Về hình tượng của vị Bồ tát này thì thân màu da người, ngồi bán già trên hoa sen đỏ, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen có thương khư (pháp loa) đặt trong nguyệt luân; tay trái ngón trỏ duỗi thẳng, những ngón còn lại hơi co, để ngửaở ngang ngực. Hình Tam muội da là chày yết ma hoặc thương khư trên hoa sen. [X. Huyền pháp tự nghi quĩ Q.2; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Bí tạng kí]
sinh pháp
The living and things, i.e. nhân pháp, ngã pháp, men and things, the self and things; the hữu tình sentient, or those with emotions, i.e. the living; and vô tình those without, i.e. insentient things.
; (生法) Phạn: Prasava-dharma, Prasavadharmìn. Cũng gọi Nhân pháp, Ngã pháp. Cái có tác dụng của tâm, gọi là Sinh, tức hữu tình; cái không có tác dụng của tâm, gọi là Pháp, tức phi tình. Chẳng hạn như chúng sinh nhờ vào sự hòa hợp của nhân duyên mà được thành lập, đó là Sinh; 5 uẩn là những yếu tố cấu tạo thành chúng sinh, đó là Pháp. Phật sở hành tán quyển 3 (Đại 4, 23 hạ) nói: Ta quán sinh pháp này, cũng là pháp chủng tử.
sinh pháp nhị không
(生法二空) Cũng gọi Ngã pháp nhị không, Nhân pháp nhị không, Nhân pháp nhị vô ngã. Gọi tắt: Nhị không, Nhị vô ngã. Chỉ cho Sinh không và Pháp không, tức thấu suốt được cái ta thường nhất và tự tính các pháp đều không, dứt trừ ngã chấp, pháp chấp mà chứng Ngã không chân như và Pháp không chân như. Đây là pháp quán của Đại thừa; còn Tiểu thừa thì chỉ tu Sinh không quán thôi, nên không dễ gì đoạn trừ pháp chấp. [X. phẩm Quán tà kiến trong Trung luận Q.4; chương Nhân pháp nhị không trong Hoa nghiêm khổng mục chương Q.3; Bách pháp vấn đáp sao Q.7]. (xt. Nhân Pháp Nhị Không).
sinh pháp nhị không quán
Contemplation on the emptiness of living and things.
sinh pháp nhị thân
The physical body and the spiritual body of the Buddha.
; (生法二身) Chỉ cho Sinh thân và Pháp thân. Tiểu thừa chủ trương thân đứcPhật sinh trong cung vua là Sinh thân, còn các công đức vô lậu có được từ giới định tuệ là Pháp thân. Đại thừa thì cho rằng chân thân lí và trí ngầm hợp là pháp thân, thân Ứng hóa tùy cơ hiện sinh là Sinh thân; tức trong 3 thân thì Pháp thân và Báo thân hợp chung lại là Pháp thân, còn Ứng thân là sinh thân. Luận Đại trí độ quyển 9 (Đại 25, 121 hạ)nói: Phật có hai thân,mộtlà thân Pháp tính, hai là thân do cha mẹ sinh. Thân Pháp tính trùm khắp hư không trong 10 phương, vô lượng vô biên, sắc tượng đoan chính, tướng hảo trang nghiêm, ánh sáng vô lượng, âm thanh vô lượng, chúng nghe pháp cũng đấy ắp hư không (chúng này cũng là thân Pháp tính, chẳng phải người sinh tử có thể thấy được); thường hiện ra các loại thân, các loại danh hiệu, các nơi sinh đến, các phương tiện hóa độ chúng sinh, thường cứu độ hết thảy, không phút chốc nào ngừng nghỉ. Như vậy, thân Pháp tính của Phật có năng lực cứu độ chúng sinh trong khắp 10 phương. Còn Sinh thân của Phật là thân nhận chịu các quả báo và cũng nói pháp theo thứ lớp như người bình thường. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.19].
Sinh pháp 生法
[ja] ショウボウ shōbō ||| The dharma of life. That quality which gives life to things. (prasava-dharma) (2) The dharma of selfhood. 〔瑜伽論T 1579.30.〕 => Pháp của cuộc sống. Đức tính ban tặng sự sống cho vạn vật (s: prasava-dharma). Pháp của riêng con người.
sinh phạn
(生飯) Trước khi ăn, dành ra chút ít cơm (phạn) để bố thí cho chúng sinh. Vì rải cơm bố thí cho quỉ thần nơi đồng trống nên cũng gọi là Tán phạn. Đối tượng cúng thí thông thường là chim đại bàng cánh vàng, chúng quỉ thần ngoài đồng trống, mẹ con quỉ La sát... Nếu cúng dường Tam bảo, minh vương Bất động và thần Quỉ tử mẫu thì gọi là Tam phạn (hay Tam bả). Lại vì có hàm ý là bày thức ăn ra để cúng thí chúng sinh, nên cũng gọi là Xuất thực, Xuất sinh, Sinh thực, Chúng sinh thực. Cứ theo phẩm Phạm hạnh trong kinh Niết bàn quyển 16 (bản Bắc) và Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 31 thì pháp cúng thí này do chính đức Phật qui định để các đệ tử thực hành, tuy chỉ cúng thí 7 hạt cơm thôi, nhưng nhờ sức chú nguyện nên chúng sinh cũng được no đầy đủ. Lại nữa, ở nơi vắngvẻ, yên tĩnh làm 1 cái đài, trên đó đặt cơm cúng thí để cho chim, thú, sâu bọ... ăn, cái đài nàygọi là Sinh đài hoặc Sinh bàn (mâm để thức ăn cho chúng sinh). Cái đồ đựng cơm cũng gọi là Sinh bàn. Phép cúng thí: Khi niệm chú cúng dường, thị giả cầm đũa trong tay chắp tay lại, đưa đũa lên. Trước tụng kệ, sau trì chú. Bài kệ niệm cúng dường bữa cơm sáng là (Đại 82, 771 thượng): Pháp lực bất tư nghị; Đại bi vô chướng ngại; Thất lạp biến thập phương; Phổ thí chu sa giới. Thần chú: Án độ lợi ích sa ha (7biến). (Sức pháp chẳng nghĩ bàn; Đại bi không ngăn ngại; Bảy hạt đến mười phương; Cúng thí khắp sa giới)¡. Bài kệ niệm cúng dường bữa trai ngọ: Đại bằng kim sí điểu; Khoáng dã quỉ thần chúng; La sát quỉ tử mẫu ;Cam lộ tất sung mãn. Thần chú: Án mục đế sa ha (7 biến). (Chim đại bàng cánh vàng; Chúng quỉ thần đồng trống; Mẹ con quỉ La sát; Cam lộ đều no đủ). [X. kinh Bảo vân Q.5; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Tế cúng trong Thiền lâm tượng khí tiên] .
sinh phật
Buddha alive; a living Buddha.
; 1) Vị Phật sống: A living Buddha. 2) Chúng sanh và Đức Phật: All the living and the Buddha.
; (生佛) I. Sinh Phật. Đồng nghĩa: Sinh Như lai, Sinh Bồ tát. Chỉ cho đức Phật hiện còn ở đời. Thích môn chính thống quyển 3 (Vạn tục 130, 395 thượng) nói: Bấy giờ, vua Ưu điền nhớ Phật khôn xiết, liền đúc vàng làm tượng Ngài (...) Hàng ngày chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, như lúc Ngài còn sinh tiền (Sinh Phật). Sinh Phật còn chỉ cho các bậc cao tăng, danh tăng, thiện thức... được mọi người tôn kính như Phật giáng thế. II. Sinh Phật. Chỉ cho chúng sinh và Phật, như thường thấy trong các nhóm từ Sinh Phật bất nhị Sinh Phật nhất như. III. Sinh Phật (?-?). Cũng gọiTính Phật. Tên vị cao tăng thuộc tông Thiên thai, Nhật bản. Sư xuất gia vào thời đại Thiên hoàng Tứ điều đang trị vì. Sư bị mù và hay kể chuyện cổ Bình gia bằng giọng nói rất truyền cảm, khiến người nghe đều xúc động.
sinh phật bất nhị
The living and the Buddha are one—See Sinh Phật Nhứt Như.
sinh phật bất tăng bất giảm
Tánh không hoại diệt, bất tăng bất giảm, và tuyệt đối của chúng sanh và Phật—The indestructibility of the living and the Buddha; they neither increase nor decrease, being the absolute.
; (生佛不增不减) Chỉ cho Sinh Phật nhất như, tức chúng sinh trong pháp giới tuy thành Phậtmà cõi chúng sinh không giảm, cõi Phật cũng không tăng. Hoặc bảo cõi chúng sinh và cõi Phật đều là vô lượng vô biên; vì cõi chúng sinh vô biên, nên chúng sinh thành Phật mà cõi chúng sinh không giảm; vì cõi Phật vô biên, nên chúng sinh vào cõi Phật mà cõi Phật không tăng. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 9 (Đại 36, 65 hạ), nói: Sinh Phật bất tăng bất giảm, nếu phân biệt, thì nghĩa tuy khác mà tên không khác. Nghĩa là pháp tính đã đồng, thì dù hết thảy chúng sinh cùng thành Phật 1 lượt, cõi chúng sinh cũng không giảm, cõi Phật cũng không tăng; vì cõi chúng sinh và cõi Phật đã đồng là pháp tính, thì không thể dùng pháp tính để tăng thêm pháp tính, ví như hư không phương đông là chúng sinh, hư không phương tây là Phật, không thể đem hư không phương đông thêm vào hư không phương tây, để làm cho đông giảm đi và tây tăng lên, vì thế nên nói là bất tăng bất giảm. (xt. Sinh Phật Nhất Như).
sinh phật giả danh
Những từ ngữ chúng sanh và Phật chỉ là những giả danh tạm thời—The living and the Buddha are but temporary names, borrowed or derived for temporal indication.
; (生佛假名) Chúng sinh và Phật đều là tên giả. Tức đứng về phương diện tục đế mê tình mà nói thì là giả danh, còn đứng về phương diện chân đế giác ngộ mà nói thì là chân như bình đẳng, chẳng có chúng sinh cũng không có Phật. Thủy chung tâm yếu chú (Vạn tục 100, 332 thượng) nói: Trong cõi chân như không hề có giả danh chúng sinh và Phật, trong tuệ bình đẳng, đâucó hình tướng mình và người.
sinh phật nhất như
(生佛一如) Cũng gọi Mê ngộ bất nhị, Sinh Phật bất nhị, Sinh Phật bình đẳng, Phật phàm nhất thể, Phàm thánh bất nhị. Lí tính sẵn có của chúng sinh và pháp thân của chư Phật là bình đẳng không sai khác. Nghĩa là chúng sinh và Phật chẳng phải tồn tại cá biệt, mà là tương tức bất nhị, trong đó có hàm ý phiền não tức bồ đề, sinh tử tức Niết bàn. Tông Thiên thai chủ trương Sinh Phật nhất như là y cứ vào lí thực tướng các pháp; Mật tông thì y cứ vào thuyết Lục đại nhất thực mà chủ trương Sinh Phật nhất như. Chỗ y cứ của 2 tông tuy không giống nhau, nhưng dựa vào lí tính bình đẳng sẵn có của chúng sinh thì lí tính và sự tướng không thể tách rời nhau, sự và lí là một, chỉ có tên khác mà thôi. Kinh Bất tăng bất giảm (Đại 16, 467 thượng) nói: Đệ nhất nghĩa đế tức là chúng sinh, cõi chúng sinh tức là Như lai tạng, Như lai tạng tức là Pháp thân. (...). Bởi thế, Xá lợi phất! Ngoài cõi chúng sinh không có Pháp thân, ngoài Pháp thân không có cõi chúng sinh. Cõi chúng sinh tức Pháp thân, Pháp thân tức cõi chúng sinh. Này Xá lợi phất! Hai pháp đó nghĩa như nhau, chỉ có tên khác nhau mà thôi. Đại thừa chỉ quán pháp môn quyển 1 (Đại 46, 643 hạ) nói: Nếu đứng trên lập trường tâm thể bình đẳng mà nói thì chẳng có tu và không tu, thành và không thành, cũng không có giác và bất giác, chỉ vì muốn nêu tỏ Phật như như mà cưỡng nói là giác. Lại nữa, nếu y cứ vào tâm thể bình đẳng mà xem thì cũng không có sai khác giữa Tâm,Phật và chúng sinh, cho nên kinh nói Tâm, Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác. Tuy nhiên, tâm tính duyên khởi thành pháp giới, pháp giới tự nhiên chẳng hoại, vì thế nên thường bình đẳng, thường sai biệt. Thường bình đẳng, nênTâm, Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác; thường sai biệt, nên khi xuôi dòng theo 5 đường gọi là chúng sinh, ngược dòng trở về nguồn gọi là Phật. [X. kinh Chư Phật vô hành Q.hạ; kinh Lực trang nghiêm tam muội Q. trung; luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính Q.3, 4; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.hạ].
sinh phật nhứt như
Sinh Phật Nhứt Thể—Sinh Phật Bất Nhị—Phàm Thánh Nhứt Như—Chúng sanh và Phật đều như một, là nhất thể, là bất nhị, là không sai khác—The living and the Buddha are one, i.e., all are the one undivided whole, or absolute; they are all of the same substance; all are Buddha, and of the same dharmakaya, or spiritual nature; all are of the same infinity.
sinh phật nhứt thể
All the living and the Buddha are the one undivided whole—See Sinh Phật Nhứt Như.
Sinh Phật 生佛
[ja] ショウブツ shōbutsu ||| Sentient being and Buddha. => Chúng sinh và Phật.
sinh quá tương tự quá loại
(生過相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, phần Đồng dụ của người lập luận vốn đã chính xác, nhưng người vấn nạn (địch luận) muốn gây khó nên cưỡng yêu cầu người lập luận viện lí do chứng minh lại để mình có cơ hội phản bác. Nhưng mục đích đã không đạt được mà mình lại tự chuốc lấy lỗi. Lỗi này gọi là Sinh quá tương tự quá loại, là lỗi thứ 13 trong 14 lỗi Tự năng phá do ông Tổ của Cổ nhân minh là ngài Mục túc lập ra. Như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì có tính cách được tạo ra. Dụ: Như cái bình. Thanh luận sư muốn bác bỏ lập luận trên đây, nên mới hỏi: Tính vô thường có Nhân (lí do) không? Nếu đệ tử Phật đáp là có thì Thanh luận sư sẽ bắt bẻ rằng: Tính vô thường của âm thanh bất cực thành, phải dùng Nhân được tạo ra để thành lập. Nhưng tính vô thường của cái bình đã được cả 2 bên cùng thừa nhận, lại dùng Nhân được tạo ra để thành lập, tức phạm lỗi Tương phù. Nếu đệ tử Phật đáp là Không nhân thì Thanh luận sư bắt bẻ rằng: Về âm thanh nếu không có tính cách tạo ra thì không thể hiển bày được Tông vô thường; về cái bình, nếu không lập Nhân thì cũng không thể thành nghĩa vô thường, tức phạm lỗi Sở lập bất cực thành trong Dụ. Luận nạn trên đây là căn cứ vào điều kiện cực thành và cộng hứa của Dụ để yêu cầu lập chứng, đã phi lí lại mắc lỗi, nên gọi là Sinh quá tương tự quá loại. [X. luận Nhân minh chính lí môn; nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy hiền, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 21]. (xt. Nhân Minh).
sinh quán
Meditation on birth.
; Birth place—Native place.
Sinh quý trụ 生貴住
[ja] ショウキジュウ shōkijū ||| The fourth of the Ten Abidings (十住) - The "abiding of producing virtues." The stage of dwelling peaceably in the principle of "no-self' where the seed natures are purified. => Giai vị thứ 4 trong Thập trụ. Giai vị an trú trong thể tính 'vô ngã', nơi bản chất của các chủng tử đề thanh tịnh.
sinh sinh
Birth and rebirth (without end).
; (生生) Chỉ cho sinh tử, tử sinh, lưu chuyển luân hồi vô cùng vô tận. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 117 trung) nói: Sinh tử, tử sinh, sinh sinh tử tử như vòng lửa quay, không có ngưng nghỉ.
sinh sinh thế thế
(生生世世) Cũng gọi Thế thế sinh sinh. Kiếp kiếp đời đời. Chỉ cho sự sống chết ở đời không bao giờ cùng tận. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 3 (Đại 3, 302 trung) nói: Loài hữu tình sống chết vòng quanh trong 6 sđường, giống như bánh xe quay tròn không đầu cuối; hoặc làm cha mẹ hoặc làm con cái, đời đời kiếp kiếp mang ơn lẫn nhau. Cùng kinh đã dẫn quyển 6 phẩm Li thế gian (Đại 3, 318 hạ) nói: Hoặc có Bồ tát vì nghiệp nói dối mà bị khủng bố, đời đời kiếp có nói điều gì, tất cả chúng sinh đều không tin nữa. [X. luận Tịnh độ Q.hạ (Ca tài); Kim thạch tụy biên Q.10; Thanh châu xá lợi tháp hạ minh].
Sinh sinh thế thế 生生世世
[ja] ショウショウセゼ shoushouseze ||| Continous life, death and rebirth through numberless eons of time. => Đời sống tương tục, sống chết qua vô số đời kiếp.
sinh sinh tướng
(生生相) Chỉ cho pháp làm cho Tướng sinh sinh khởi, cùng với 3 tướng Trụ trụ, Dị dị, Diệt diệt, đều là Tùy tướng hoặc Tiểu tướng của 4 tướng, đối lại với tướng sinh trong 4 tướng. Bốn tướng là: Sinh, Trụ, Dị, Diệt, cũng gọi là Bản tướng, Đại tướng, là 4 loại tướng của tất cả pháp hữu vi. Đối lại với 4 tướng này là 4 tướng: Sinh sinh, Trụ trụ, Dị dị, Diệt diệt, gọi là Tùy tướng, Tiểu tướng. (xt. Tứ Tướng, Pháp).
sinh sinh điểu
Jivajiva (skt)—See Cộng Mệnh Điểu and Mệnh Quang Điểu.
sinh sát
Life and death.
sinh sôi nẩy nở
To multiply—To reproduce.
sinh sắc
Jàta-rùpa. Gold.
sinh sớ
(生疏) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho người chưa quen, còn bỡ ngỡ, tức tới lui không đúng phép, cử chỉ ngượng ngạo, quê kệch. Phần chú thích về Lưỡng tự tiến thoái trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1134 trung) nói: Những người mới vào tùng lâm, đối với mọi việc hãy còn bỡ ngỡ (sinh sơ), dù được chỉ dẫn nhưng lòng dạ vẫn còn lo âu khôn xiết.[X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.15].
sinh thiên
The heavens where those living in this world can be reborn, i.e. from that the Tứ thiên vương to the Phi tưởng thiên.
; See Sanh Thiên.
; (生天) Sinh lên cõi trời. Tư tưởng sinh thiên vốn không phải của Phậtgiáomà là tín ngưỡng phổ biến của người Ấn độ đời xưa, sau được du nhập Phật giáo. Trong các phái triết học ở Ấn độ, phái Di mạn sai chủ trương sau khi tế lễ sẽ được 1thứnăng lực mới, nếu là thiện thì nhờ năng lực ấy đời sau được sinh thiên (Phạn: Abhyudaya), hưởng thụ các thú vui cùng tột, thoát khỏi vòng luân hồi. Abhyudaya có nghĩa là đi lên, thành công, phồn vinh... Phái Thắng luận qui nạp học thuyết của họ với thực tiễn là pháp (Phạn: Dharma), pháp lại được chia ra 2 phương diện: Sinh thiên và Tối thượng thiện (Phạn: Ni#zreyasa), Sinh thiên là kết quả quyền chứng của Phệ đà: Tối thượng thiện là cái tri (biết) do nghiên cứu triết học 6 cú nghĩa mà được kết quả giải thoát. Bởi vì phái này tuy cũng thực hành tế lễ Phệ đà, nhưng cho rằng quyền chứng Phệ đà chỉ là quả báo sinh thiên, nhưng quả báo này vẫn chưa thoát khỏi luân hồi, cho nên cần phải nghiên cứu triết học 6 cú nghĩa mới có thể đạt được giải thoát chân thật. Nói theo quan điểm của Phật giáo thì Thiên là 1 trong 6 đường, vì thế khó thoát khỏi luân hồi. Trong các kinh điển nói nhiều về thiện nghiệp sinh thiên, như kinh A hàm nói nhờ lễ kính Phật tích, cha mẹ, sáu phương, tu tập phạm hạnh, hành thiện, trì giới... mà được sinh thiên. Ngoài ra, kinh Bát nhã, kinh Kim quang minh, kinh Lăng già... đều có thuyết Sinh thiên. [X. kinh Trường a hàm Q.4; kinh Soạn tập bách duyên Q.6; kinh Pháp hoa Q.3; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; kinh Đại phẩm bát nhã Q.1]. (xt. Thiên).
sinh thiên nhân
(生天因) Chỉ cho nghiệp nhân sinh lên cõi trời. Thích thị yếu lãm quyển trung dẫn lời kinh Nghiệp báo sai biệt (Đại 54, 291 thượng) nói: Tu đủ 10 điều thiện tăng thượng được sinh lên tầng trời Tán địa của cõi Dục; nếu tu 10 điều thiện hữu lậu, nhờ tương ứng với định, được sinh lên trời cõi Sắc; nếu tu lìa sắc, xa lìa thân, khẩu, nhờ tương ứng với định, được sinh lên cõi Vô sắc. Ngoài ra, sách đã dẫn còn trích lời kinh Chính pháp niệm xứ (Đại 54, 291 trung) nói: Nhân giữ các giới không giết hại, không trộm cắp, không dâm dục, nhờ 3 việc thiện này mà được sinh thiên.
sinh thiện tất đàn
(生善悉檀) Phạn: Siddhànta. Hán dịch: Thành tựu, Tông, Lí. Cũng gọi Vị nhân tất đàn, Các các vị nhân tất đàn. Tức tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thuyết pháp, khiến cho thiện căn của họ tăng trưởng, 1 trong 4 tất đàn. (xt. Tứ Tất Đàn).
sinh thành
To give birth and to raise.
sinh thân
The physical body; also that of a Buddha in contrast with his dharmakàya; also a bodhisattva's body when born into the mortal form.
; Buddha's earthly body.
; (生身) Đối lại: Pháp thân. Chỉ cho thân Phật đầu thai nơi cha mẹ mà sinh ra, có đầy đủ 32 tướng. Và nhục thân do sức thần thông nhất thời hóa hiện ra, cũng gọi là Sinh thân. Phật giáo Đại thừa cho rằng hóa thân phương tiện là Sinh thân Phật, như Di Đà, Quán Âm, Phổ Hiền, Di Lặc... đều là Sinh thân Phật. Thông thường, sinh thân cũng có thể được chỉ chung cho nhục thân của phàm phu và Bồ tát. [X. kinh Pháp lạc tỉ khưu ni trong Trung a hàm Q.18; kinh Đại bát niết bàn Q.34 (bản Bắc); Phật địa kinh luận Q.7; luận Đại trí độ Q.9, 29]. (xt. Nhị Thân).
; (生身) Cũng gọi Sinh thân Phật, Phụ mẫu sinh thân, Nhục thân, Tùy thế gian thân.
sinh thân cung
(生身供) Pháp hội được cử hành để cúng dường xá lợi nhục thân của đức Thế tôn. Trong Mật giáo, đối với đức Phật hoặc Tổ sư tiên đức quán tưởng sinh thân mà cúng dường, cũng gọi là Sinh thân cúng. (xt. Sinh Thân).
sinh thân cúng
The worship paid to Buddha-relics.
sinh thân xá lợi
Buddha-relics.
sinh thú
(生趣) Chỉ cho Tứ sinh và Lục thú. Tứ sinh là noãn (đẻ từ trứng ra), thai (đẻ từ bào thai), thấp (đẻ nơi ẩm ướt)và hóa(tự nhiên sinh ra).Lục thú (6 nẻo) là trời, người, quỉ, súc, địa ngục và A tu la. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 855 thượng) nói: Do kiếp trước bỏ chính theo tà, nên phải trôi nổi trong sinh thú.
Sinh thượng 生上
[ja] ショウジョウ shōjō ||| To be reborn into a higher level of existence. 〔二障義HPC 1.795b23〕 => Tái sinh trong một cảnh giới cao hơn.
sinh thời
While alive.
sinh trái
To begin to fruit.
Sinh trú dị diệt 生住異滅
[ja] ショウジュウイメツ shōjūimetsu ||| The arising, abiding, changing and extinction of all existences. Also called the four aspects (四相) of arising, abiding...etc. Also called 'four characteristics', 'four conditioned aspects.' For the Sarvāstivādins 有部, these aspects of arising, abiding, changing and ceasing are said to be the nature of real existence. For the Sautrāntikas 經量部 and so forth, these are not considered to be real, but four provisionally established characteristics. Yogācāra theory 瑜伽行派 is also opposed to the Sarvāstivādin interpretation. => Sự sinh ra, tồn tại, biến chuyển và hoại diệt của mọi hiện tượng. Còn gọi là Bốn tướng. Đối với Hữu bộ, Sinh trú dị diệt được xem là bản chất thật sự của mọi hiện hữu. Đối với Kinh lượng bộ (Sautrāntikas 經量部) v.v..., thì những yếu tố nầy không được xem là thực có, mà chỉ là các tướng giả lập. Giáo lý của Du-già hành phái cũng không đồng ý với kiến giải của phái Hữu bộ.
sinh trưởng
To be born and grow up.
sinh trụ dị diệt
Birth, stay, change (or decay), death.
; Bốn tướng sanh già bệnh chết của pháp hữu vi—Birth, stay, change (decay), death.
sinh tân
(生津) Bến sông sinh tử. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 205 hạ) nói: Nương theo đó mà tu hành thì đều được lên bờ kia, ngược lại thì sẽ bị chìm đắm nơi bến sinh tử (sinh tân).
sinh tân, bến sông
The ford of life, or mortality.
sinh tô kinh
(生蘇經) Chỉ cho các kinh của thời Phương đẳng trong 5 thời giáo do tông Thiên thai thành lập. Ngài Trí Khải theo thứ tự thuyết pháp của đức Phật mà chia loại, giải thích nội dung các kinh điển Phật giáo làm 5 thời: Hoa Nghiêm, Lộc Uyển, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa Niết Bàn và phối hợp 5 thời này với 5 vị: Sữa, lạc, sinh tô, thục tô và đề hồ. Kinh Sinh tô chỉ cho các kinh điển thuộc thời Phương đẳng như các kinh Đại thừa: Duy ma, Tư ích, Kim quang minh, Thắng man... Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 thượng (Đại 33, 692 hạ) nói: Sinh tô kinh (...) thì 3 thô 1 diệu.
sinh tô sát nhân
(生酥殺人) Ngài Trí khải tông Thiên thai chia giáo pháp của đức Phật nói trong 1 đời làm 5 thời: Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa Niết bàn và phối hợp 5 thời này với 5 vị: Sữa, lạc, sinh tô, thục tô và đề hồ. Trong đó, vị sinh tô phối hợp với thời Phương đẳng, tức sinh tô được ví dụ như giáo pháp Phương đẳng Đại thừa. Nghĩa là trong các kiếp quá khứ đã từng được nghe giáo nghĩa Đại thừa, ví như bị trúng độc; nay lại được nghe những giáo pháp Phật đã nói ngày trước mà tỉnh ngộ, ví dụ chất độc phát sinh tác dụng, đến nỗi chết người. Tức là các vị Bồ tát của thời Phương đẳng, nghe giáo pháp Đại thừa mà thấy được tính Phật, tất cả phiền não kết hoặc trong vô lượng kiếp bỗng nhiên dứt hết, vào Đại niết bàn, như người chết đi vừa sống lại (đại tử nhất phiên).
sinh tôn quý gia nguyện
(生尊貴家願) Nguyện được sinh vào nhà tôn quí. Chỉ cho nguyện thứ 43 trong 48 điều nguyện của đức PhậtA di đà. Tức hành giả niệm danh hiệu Phật A di đà, sau khi mệnh chung được sinh vào nhà tôn quí. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 thượng) nói: Nếu tôi được thành Phật, chúng Bồ tát ở các cõi nước phương khác, nghe danh hiệu của tôi, sau khi mệnh chung sẽ được sinh vào nhà tôn quí. Nếu không như thế thì tôi không lên ngôi Chính giác.
sinh tĩnh lự
(生靜慮) Tĩnh lự, Phạm : Dhyàna. Pàli: Jhàna. Hán âm: Thiền, Thiền na. Đối lại: Định tĩnh lự. Chỉ cho thiền định thứ 4 trong 4 thiền định của cõi Sắc. Sinh tĩnh lự do nương vào Định tĩnh lự mà sinh vào Tĩnh lự địa của cõi Sắc. (xt. Tứ Thiền).
sinh tướng
(生相) Phạn: Pàli: Jàti. Gọi tắt: Sinh. Chỉ cho nhân thù thắng làm cho pháp hữu vi chuyển từ vị lai vào hiện tại, cũng chính là nhân năng sinh sinh ra pháp ở vị lai, là 1 trong 4 tướng, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Đây là sinh tướng của pháp hữu vi, chẳng phải thực pháp, chỉ nương nơi nhân duyên mà sinh ra, vì trước không mà nay có nên giả gọi là Sinh tướng. Lại nói theo sự tương tục trong 1 kì của loài hữu tình thì lúc hữu tình mới sinh ra ở đời hiện tại, tức gọi là Sinh tướng. [X. luận Đại tì bà sa Q.39; luận Câu xá Q.5; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại thừa A tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Tứ Tướng).
sinh tượng
(生像) Vàng và bạc. Sinh (Phạm,Pàli:Jàta-rùpa, cũng gọi: Sinh sắc) nghĩa là màu sắc xưa nay vốn như vậy, tức hàm ý là vàng. Tượng (Phạn: Rùpya, Pàli: Rùpiya, cũng gọi Tự sắc, Tự sinh sắc), nghĩa là màu sắc gần giống như sinh, tức hàm ý là bạc. Hợp chung cả 2 lại gọi là Sinh tượng, cũng gọi Sinh sắc tự sắc.Sa di thập giới pháp tinh uy nghi (Đại 24, 926 trung) nói: Giữ giới Sa di, suốt đời không cầm giữ sinh tượng(vàng bạc) vật báu.Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ, phần 4 (Đại 40, 421 thượng) nói: Sinh sắc tức là vàng, màu của nó vốn sinh ra đã vàng; Tự sắc tức là bạc, vì màu của nó có thể nhuộm được. [X. kinh Đại bát nhã Q.380; luật Ma ha tăng kì Q.10; luật Tứ phần Q.7, 34; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].
sinh tượng sinh tự
Tự nhiên và tương tự với tự nhiên, như vàng và bạc—Natural and similar, i.e. gold and silver. 1) Sinh Tượng: Vàng là loại kim khí thiên nhiên và toàn hảo từ phẩm chất lẫn màu sắc—The proper natural or unchanging (colour)—Gold being the natural and perfect metal and colour. 2) Sinh Tự: Bạc được sắp hạng kế vàng, dù có thể bị mờ nhạt đi—The tarnishable or changing (colour)—Silver being next, though it will tarnish.
sinh tượng, sinh tợ
Natural and similar, i.e. gold and silver, gold being the natural and perfect metal and colour; silver being next, though it will tarnish; the two are also called sinh sắc and khả nhiễm, i.e. the proper natural (unchanging) colour, and the tarnishable.
sinh tệ
To become bad.
sinh tịnh độ bát pháp
Eight methods, or ways to be reborn in the Pure Land.
; (生淨土八法) Tám pháp làm nhân sinh về Tịnh độ. Theo phẩm Hương tích trong kinh Duy ma cật quyển hạ, cư sĩ Duy ma cật trả lời câu hỏi của các vị Bồ tát từ nước Chúng hương rằng: Ở cõi này thành tựu 8 pháp thì sẽ được sinh về Tịnh độ. Tám pháp ấy là: 1. Làm lợi ích cho chúng sinh mà không mongđượcbáo đáp, chịu mọi khổ não thay cho tất cả chúng sinh. 2. Đem tâm bình đẳng đối đãi với hết thảy chúng sinh, nhún nhường không ngại. 3. Coi các Bồ tát như Phật. 4. Nghe những kinh chưa được nghe bao giờ mà không sinh tâm nghi ngờ. 5. Không chống trái với hàng Thanh văn. 6. Không ghen ghét lợi lộc của người khác, không khoe khoang lợi lộc của mình. 7. Thường tự xét lỗi mình, không nói khuyết điểm người khác. 8. Luôn luôn dốc lòng cầu các công đức.[X. phẩm Hương tích kinh Duy ma cật sở thuyết].
sinh tồn
Bhava (S). Process of existence, process of becoming.
; To survive—To subsist—To exist.
sinh tức vô sinh
Birth is non-birth.
; (生即無生) Sinh chính là vô sinh, không hai không khác. Đây là giáolí được nói trong các bộ Bát nhã và cũng là ý nghĩa tột cùng của tông Tam luận. Trong Nhị đế bát bất trung đạo của tông Tam luận, Sinh của Tục đế thì Chân đế coi là Vô sinh. Bởi vì Sinh của Tục đế chẳng phải thực sinh mà là giả sinh của nhân duyên hòa hợp, cho nên là vô sinh. Bởi vậy, nương vào cái vô sinh mà sinh thì chính là sinh tức vô sinh. Ngược lại, vô sinh của Chân đế là dựa vào giả sinh của Tục đế mà lập, cho nên giống với giả sinh của Tục đế. Đã biết vô sinh của Chân đế là giả vô sinh, cho nên cái nương vào sinh mà vô sinh thì chính là Vô sinh tức sinh. Ngoài ra, sự vãng sinh Tịnh độ trong Tịnh độ giáo cũng có thể giải thích theo ý nghĩa sinh tức vô sinh; nghĩa là vãng sinh Cực lạc chẳng phải sinh nơi tục đế hư vọng của 3 cõi (Dục,Sắc, Vô sắc), mà là theo ý nghĩa của Chân đế chứng được sinh của vô sinh. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Tịnh độ chân yếu sao Q.cuối].
sinh tức vô sinh, vô sinh tức sinh
To be born is not to be born, not to be born is to be born - an instance of the identity of contraries. It is an accepted doctrine of the Bát nhã prajnà teaching and the ultimate doctrine of the Tam luận tông Màdhyamika school. Birth, creation, life each is but a giả temporary term, in common statement tục đế it is called birth, in truth chân đế it is not birth, in the relative it is birth, in the absolute non-birth.
; Sanh tứ là không sanh, không sanh tức là sanh. Đây là thuyết của các kinh Bát Nhã và là tuyệt ý của Tam Luận tông. Sanh chỉ là một từ ngữ giả tạm. Tục Đế gọi là “sanh,” nhưng Chân Đế lại là “vô sanh,” tương đối là “sanh” trong khi tuyệt đối là “vô sanh.”—To be born is not to be born, not to be born is to be born—It is an accepted doctrine of the Prajna teaching and the ultimate doctrine of the Madhyamika school. Birth, creation, life, each is but a temporary term, in common statement it is called birth, in truth it is not birth; in the relative it is birth, in the absolute non-birth.
Sinh tử
生死|Luân hồi, Vòng sinh tử
sinh tử
Samsàra (S). Birth and death; rebirth and redeath; life and death.
; See Sinh Sát, Sanh Tử, and Thập Nhị Chủng Sanh Tử.
; (生死) Phạn: Saôsàra, hoặc Jàti-maraịa. Hán âm: Thiện ma mạt lạt nam, Xà đề mạt lạt nam. Cũng gọi Luân hồi. Đối lại: Niết bàn.Theo nghiệp nhân sống và chết nối nhau trong 6 đường cõi mê: Trời, người, a tu la, ngã quỉ, súc sinh, địa ngục, mãi mãi không bao giờ cùng tận. Tùy theo tính chất, sinh tử được chia loại như sau: 1. Hai thứ sinh tử: Luận Thành duy thức nêu 2 thứ sinh tử: a) Phần đoạn sinh tử: Lấy nghiệp thiện ác hữu lậu làm nhân, phiền não chướng làm duyên, sẽ chịu quả báo thô trọng trong 3 cõi, do sự dài ngắn của thọ mệnh, tướng lớn nhỏ của thân thể mà quả báo có sự hạn chế nhất định, cho nên gọi là Phần đoạn thân. Nhận Phần đoạn thân này mà luân hồi gọi là Phần đoạn sinh tử. b) Biến dịch sinh tử (cũng gọi Bất tư nghị biến dịch sinh tử): Các bậc A la hán, Bích chi phật, Đại lực bồ tát... tuy không chịu Phần đoạn sinh tử, nhưng vì có nghiệp phân biệt vô lậu làm nhân, sở tri chướng làm duyên, ở ngoài 3 cõi thụ thân thù thắng vi diệu, tức thụ thân Ý sinh, rồi dùng thân này trở lại trong 3 cõi tu hạnh Bồ tát, cho đến thành quả Phật. Vì sức bi nguyện mà thụ thân này nên thọ mệnh, nhục thân đều có thể biến hóa thay đổi một cách tự do chứ không bị hạn chế nhất định, cho nên gọi là Biến dịch thân. Thụ thân biến dịch gọi là Biến dịch sinh tử. 2. Bốn thứ sinh tử: Luận Hiển thức cho rằng Phần đoạn sinh tử nương nơi 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà có 3 thứ sinh tử, nếu lại thêm Biến dịch sinh tử ở ngoài 3 cõi thì thành 4 thứ sinh tử. Luận Phật tính quyển 2 và Nhiếp đại thừa luận thích quyển 10 (bản dịch đời Lương) lại chia Biến dịch sinh tử làm 4 thứ sinh tử: Phương tiện, Nhân duyên, Hữu hữu và Vô hữu (cũng gọi là 4 oán chướng). Thắng man bảo quật quyển trung, phần cuối, cũng lập 4 thứ sinh tử là Lưu lai sinh tử, Phần đoạn sinh tử, Trung gian sinh tử và Biến dịch sinh tử. 3. Bảy thứ sinh tử: Cứ theo luận Hiển thức và Ma ha chỉ quán quyển 7 thượng thì vì Phần đoạn sinh tử nương nơi 3 cõi mà có 3 thứ khác nhau, 3 thứ này lại thêm vào 4 thứ Biến dịch sinh tử nói trên, thành là 7 thứ sinh tử. Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 7, phần 1 vàĐại minh tam tạng pháp số quyển 30 thì 7 thứ sinh tử là:a) Phần đoạn sinh tử. b)Lưu nhập sinh tử(cũng gọi Lưu lai sinh tử): Ở sát na đầu tiên, vì mê lí chân như mà bị trôi vào cõi mê sinh tử. c)Phản xuất sinh tử: Ở sát na đầu tiên, nhờ phát tâm mà từ trong sinh tử trở ra. d) Phương tiện sinh tử: HàngNhị thừa dứt hếtKiến hoặc và Tư hoặc, vượt ra 3 cõi, sinh vào các cõi nước phương tiện. Trong lúc đoạn hoặc chứng quả, vì nhân dời quả đổi nên nói là sinh tử. e) Nhân duyên sinh tử: Hàng Bồ tát từ Sơ địa trở lên, lấy nghiệp vô lậu làm nhân, vô minh làm duyên mà thị hiện sinh tử. f) Hữu hậu sinh tử(cũng gọi Hữu tình sinh tử): Hàng Bồ tát Thập địa còn lại 1 phẩm vô minh sau cùng chưa dứt, cho nên phải chịu 1 lần sinh tử. g) Vô hậu sinh tử (cũng gọi vô hữu sinh tử): Bồ tát Đẳng giác dứt sạch 1 phẩm vô minh cuối cùng, rốt ráo không còn thụ thân sau. [X. kinh Tạp a hàm Q.6, 13; kinh Na tiên tỉ khưu Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.18; Tông kính lục Q.73]. (xt. Thất Chủng Sinh Tử, Tứ Chủng Sinh Tử).
sinh tử chi tế
Giữa cái sống và cái chết—Between life and death.
sinh tử dã
The wildness of the mortal life.
; (生死野) Cánh đồng sinh tử, ví dụ sự sống chết rộng lớn, bát ngát, bao la. Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng (Đại 46, 49 thượng) nói: Đôi chân cứng chắc này sẽ vượt qua cánh đồng sinh tử.
sinh tử giải thoát
Release from the bonds of births-and-deaths, nirv...na.
; (生死解脫) Cởi bỏ được sự trói buộc của sinh tử mà vào cảnh giới Niết bàn. Kinh Cự lực trưởng giả sở vấn đại thừa quyển thượng (Đại 14, 830 hạ) nói: Tùy theo căn khí lớn nhỏ của mỗi chúng sinh, ưa muốn tu học, xa lìa sinh tử, giải thoát yên vui.
sinh tử hải
The ocean of mortality, mortal life, luân hồi samsàra, or transmigration.
; (生死海) Biển sống chết. Chúng sinh chìm đắm trong cõi mê sinh tử, quay vòng không cùng, giống như biển cả mông mênh không bờ bến, nên gọi là Sinh tử hải. Phật sở hành tán quyển 3 (Đại 4, 22 trung) nói: Nên dong thuyền trí tuệ, vượt qua biển sinh tử. Đại bát niết bànkinhnghĩa kí quyển 4 (Đại 37, 715 trung) nói: Như lai được thuyền Niết bàn, qua lại khắp nơi cứu vớt chúng sinh, cho nên có khả năng làm bậc thuyền trưởng trong biển cả sinh tử. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 thượng].
sinh tử lao quan
(生死牢關) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho cửa ải sinh tử luân hồi đóng chặt, khó vượt qua. Cù châu Kiệt phong Ngu thiền sư thị Ngũ đài thiện giảng chủ Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1103 trung) nói: Phải rõ đại sự của mình, muốn thấu thoát cửa ải sống chết thì trước hết phải cắt đứt tất cả kiến giải hư vọng thánh phàm.
sinh tử luân
Bhavacakra (S). The wheel of births-and-deaths, the round of mortality.
; (生死輪) Phạn: Bhava-cakra. I. Sinh Tử Luân. Bánh xe sinh tử. Chúng sinh sống chết vòng quanh trong 3 cõi 6 đường, giống như bánh xe xoay chuyển không ngừng. Luận Đại trí độ quyển 5 (Đại 25, 100 thượng) nói: Bánh xe sinh tử vận chuyển người, các phiền não trói buộc sai khiến, sức của chúng mạnh mẽ, không ai ngăn cấm được. II. Sinh Tử Luân. Cũng gọi Ngũ đạo luân, Thập nhị duyên khởi đồ, Ngũ thú sinh tử luân. Chỉ cho hình vẽ cái vòng tròn hiển bày sự sinh tử luân hồi của chúng sinh. Hữu bộ tì nại da quyển 34 (Đại 23, 811 thượng) nói: Nay ta bảo các tỉ khưu vẽ cái vòng sinh tử trên vách của chùa. Trong hang điện số 17 ở A chiên đa (Phạn: Ajantà), Ấn độ, hiện còn bức tranh cổ vẽ vòng sinh tử (sinh tử luân). Ở Trung quốc cũng có phong tục vẽ hình này.[X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.17, Thích thị yếu lãm Q.hạ; The Buddhism of Tibet, by L. A. Waddell].
sinh tử luân hồi
See Sanh Tử Luân Hồi.
sinh tử lưu
Gati (S). The flow of mortal life. Course of existence. Also dòng đời.
; (生死流) Dòng sống chết. Vì sinh tử có năng lực cuốn trôi chúng sinh như dòng nước, cho nên gọi là Sinh Tử Lưu. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 trung) nói: Giả sử lửa cháy khắp thế giới, cũng cần phải nghe pháp, sẽ được thành Phật đạo, rộng độ sinh tử lưu.
sinh tử ngạn
The shore of mortal life.
; See Sanh Tử Ngạn.
; (生死岸) Bờ sống chết. Chỉ cho chúng sinh còn bị chìm đắm trong biển sinh tử luân hồi. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 39 (Đại 2, 761 hạ) nói: Phạm chí không hiểu rõ, còn vào bờ sinh tử.
sinh tử nhục thân
(生死肉身) Nhục thân sống chết, 1 trong 2 loại thân của Bồ tát. Chỉ cho Bồ tát ở giai vị Tam hiền (Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng), chưa chứng pháp tính, nên vẫn còn thụ thân sinh tử luân hồi trong 3 cõi. (xt. Nhị Chủng BồTát Thân).
sinh tử nê
The quagmire of mortal life.
; See Sanh Tử Nê.
; (生死泥) Vũng bùn sống chết. Nghĩa là chúng sinh chìm đắm trong sinh tử, như ở trong vũng bùn lầy nên dùng bùn để ví dụ. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 thượng) nói: Sinh tử nê, có nghĩa sinh tử là nơi chúng sinh bị chìm ngụp, khó ngoi ra được, cho nên dùng bùn (nê) để ví dụ.
sinh tử phược
The bonds of birth-and-rebirth.
sinh tử phọc
(生死縛) Sống chết trói buộc. Các thứ phiền não sinh tử như tham, sân, si... trói buộc chúng sinh không được tự tại, cũng như lưới rập trói buộc người, cho nên gọi làSinh tử phược. Thuyết vô cấu xưng kinh sớ quyển 3, phần cuối (Đại 38, 1046 trung) nói: Ái là ái thủ, hữu ái chính là duyên nhuận sinh, đó là cỗi rễ của sinh tử phược. [X. kinh Tối thắng vương Q.2].
sinh tử sự đại
(生死事大) Sống chết việc lớn. Nghĩa là vấn đề sinh tử rất là trọng đại. Phẩm Hành do trong Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh (Đại48,348 thượng) nói: Người đời, sống chết là việc lớn, các ông suốt ngày chỉ cầu phúc điền, không cầu ra khỏi biển sinh tử, tự tính nếu mê thì phúc nào cứu được? Các ông mỗi người xem lại trí tuệ của mình, nhận lấy tính bát nhã của chính bản tâm mình. [X. Đại tuệ phổ giác thiền sư ngữ lục Q.19; điều Cáo hương, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Thiền lâm bảo huấn Q.4].
sinh tử trường dạ
The long night of births-and-deaths.
; (生死長夜) Đêm dài sống chết.Nghĩa là chúng sinh chìm đắm trong cái khổ sinh tử như đêm dài tối tăm. Sinh tử như giấc mộng, đang còn trong mộng thì không biết đó là mộng, đến khi tỉnh dậy mới nhớ lại những cảnh trong mộng là hư ảo.Chúng sinh luân hồi trong sinh tử cũng như giấc mộng, cho nên dùng đêm dài để ví dụ. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 39hạ) nói: Chưa được chân giác thì hằng ở trong mộng, cho nên đức Phật nói đêm dài sống chết.
sinh tử tế
The region of births-and deaths.
sinh tử tức niết bàn
Mortality is Nirvàna.
; See Sanh Tử Tức Niết Bàn.
; (生死即涅槃) Sinh tử và Niết bàn tương tức không hai. Sinh tử là quả khổ của cõi mê, Niết bàn là quả chứng của cõi ngộ. Nhóm từ này thường đi đôi với nhóm từ Phiền não tức Bồ đề, trực tiếp chỉ cho giáo nghĩa của Phật giáo Đại thừa. Duy có điều đối với nghĩa của chữ Tức thì các giáo phái nói mỗi khác. Luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) quyển hạ (Đại 31, 129 trung) nói: Sinh tử tức Niết bàn, cả 2 không phân chia đây kia, cho nên ở trong sinh tử, chẳng phải bỏ chẳng phải chẳng bỏ, ở trong Niết bàn cũng vậy, không phải được cũng không phải không được. Thuyết Sinh tử tức Niết bàn chỉ có Đại thừa mới bàn đến. Nếu thấu suốt các pháp, trụ nơi vô ngã thì có thể đạt đến cảnh giới này.[X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.13; Vãng sinh luận chú Q. hạ (Đàm loan); Ma ha chỉ quán Q.1 thượng; Tứ giáo nghĩa Q.6 (Trí khải). (xt. Phiền Não Tức Bồ Đề).
sinh tử uyên
The abyss of the mortal life.
; (生死淵) Vực sống chết. Vì sinh tử khiến cho người ta chìm đắm nên dùng cái vực để ví dụ. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 6 (Đại 2, 575 thượng) nói: Qua dòng thành vô lậu để vượt qua vực sống chết.
sinh tử viên
The garden of life and death, this mortal world in which the unenlightened find their satisfaction.
; Vườn sanh tử, hay thế giới Ta Bà nơi mà chúng sanh vừa ý hay bằng lòng một cách mê muội—The garden of life and death, this mortal world in which the unenlightened find their satisfaction.
; (生死園) Khu vườn sống chết. Cõi sinh tử là nơi phàm phu thích dạo chơi, cũng là chỗ Bồ tát du hóa, giống như 1 khu vườn, cho nên gọi là Sinh tử viên. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 843 trung) nói: Thị hiện thân ứng hóa, đi vào vườn sinh tử, trong khu rừng phiền não, hiển du hí thần thông.
sinh tử vân
(生死雲) Mây sống chết. Mây được dùng để ví dụ sự tối tăm của sinh tử. Phật giáo cho Hoặc, Nghiệp, Khổ là nhân quả của sống chết vòng quanh, 3 đường Hoặc, Nghiệp và Khổ này thường che lấp bản tính, giống như đám mây đen che khuất mặt trời, mặt trăng giữa hư không. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 272 hạ) nói: Mặt trời tuệ chiếu thế gian phá tan mây sinh tử. [X. Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.hạ].
sinh tử đại hải
See Sanh Tử Đại Hải.
Sinh tử 生死
[ja] ショウシ ショウジ セイシ shōshi shōji seishi||| Skt. jarā-marana, saṃsāra, janana-marana; life-and-death. An expression of the vicissitudes of the transmigration in the world of delusion. Also, a synonym for lunhui 輪廻 'transmigration.' An allusion to suffering and delusion. => (s: jarā-marana, saṃsāra, janana-marana), Sống và chết. Biểu tượng cho sự thăng trầm của chuyển hoá trong thế giới vô minh. Đồng nghĩa với luân hồi (c: lunhui 輪廻). Ám chỉ cho đau khổ và vô minh.
Sinh vô sinh 生無性
[ja] ショウムショウ shō mushō ||| One of the 'three non-natures' (三無性) of the Faxiang school. Life, and existence have no self-nature. Life appears dependent upon causes and conditions and its existence is provisional. => Một trong Tam vô tính (三無性) theo Pháp tướng tông. Sinh mạng, và sự hiện hữu không có tự tính. Sinh mạng ra đời tuỳ thuộc vào nhân duyên và sự hiện hữu của nó chỉ là giả tạm.
sinh vô sắc
(生無色) Đối lại: Định vô sắc. Sinh vào 4 cõiVô sắc, là quả của định Vô sắc. Cõi Vô sắc gồm 4 tầng trời: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trong 4 nơi này, mỗi nơi đều có 2 thứ định thể là Sinh vô sắc và Định vô sắc; trong đó,Sinh vô sắc là quả báo do tu định Vô sắc mà được sinh vào cõi Vô sắc, nên có tên như thế. (xt. Định, Định Vô Sắc, Vô Sắc Giới).
sinh xứ tháp
(生處塔) Ngôi tháp ở trong vườn Lâm tì ni (Phạn: Lumbinì), nơi đức Phật giáng sinh, 1 trong 8 tòa linh tháp của Ấn độ. (xt. Bát Đại Linh Tháp).
Sinh xứ 生處
[ja] ショウショ shōsho ||| (upapatti-sthāna). The locus for the arising of something. The place where something was once (formerly) produced. Place of birth. 〔二障義HPC 1.796b4〕 => (s: upapatti-sthāna). Nơi phát sinh. Nơi một vật được sinh ra. Nơi sinh.
sinh điền
The three regions tam giới of the constant round of rebirth.
; (生田) Ruộng sinh tử. Chỉ cho 3 cõi: Dục, Sắc và Vô sắc. Tức chúng sinh sống chết vòng quanh trong 3 cõi, như cây lúa cấy rồi gặt, gặt xong lại cấy, quay vòng không dứt. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 215 thượng) nói: Loài chúng sinh coi việc ăn mặc là quan trọng nhất, nó như gông cùm, khống chế cả sinh điền.
sinh đắc huệ
(生得慧) Đối lại: Gia hành thiện. Chỉ cho tâm thiện tự nhiên có được cùng 1 lúc khi sinh ra, là tâm thiện hữu lậu không phải do công sức mà tự nhiên thành tựu. Theo luận Đại tì bà sa quyển 144 thì thiện có 3 thứ là: Gia hành đắc, Li nhiễm đắc và Sinh đắc. Đại thừa nghĩa chương quyển 3 (Đại 44, 517 thượng) nói: Sinh đắc thiện tâm nghĩa là thiện tâm tương ứng với tín, tiến, niệm... do công tu tập từ đời quá khứ mà được thành tựu. [X. luận Câu xá Q.4; luận Đại tì bà sa Q.11; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6, phần cuối]. (xt. Thụ Sinh Đắc).
sinh đắc thiện
(生得善) Chỉ cho trí tuệ có được cùng 1 lượt khi sinh ra, là 1 trong 4 tuệ. Theo luận Đại tì bà sa quyển 42 thì trước tiên thụ trì, chuyển đọc 3 tạng 12 phần giáo... mà được trí tuệ, gọi là Sinh đắc tuệ; nương theo tuệ này có thể được tuệ do nghe mà thành, lại theo thứ tự có thể được tuệ do suy tư mà thành và tuệ do tu hành mà thành. Nhưng, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần cuối thì nói (Đại 45, 354 trung): Đối với Ngũ minh giáo, thiện tâm có được trong giác tuệ kém cỏi gọi là Sinh đắc tuệ. Sau khi nghe pháp, khởi tác ý sai biệt, thấy rõ thiện tâm, gọi là Văn tuệ. Không thuận theo pháp xuất thế, chẳng phải do công sức sinh khởi, tính không rõ ràng, đọc và hiểu văn nghĩa, tự nhiên phát khởi, gọi là Sinh đắc tuệ. (xt. Tứ Tuệ).
sinh đắc định
(生得定) Đối lại: Tu đắc định. Chỉ cho tâm định khi mới sinh ra đã có được, vì nhờ sức thiện nghiệp ở đời trước mà tự nhiên được định địa. Đây chỉ cho 8 thứ định địa gồm 4 định của cõi Sắc là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền và 4 định của cõi Vô sắc là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trường hợp người mới sinh ra đã được định tâm (Sinh sắc định) là vì khi còn ở cõi Dục (Tán địa) nhờ sức tu hành (đã được tâm đinh, đến khi sinh lên 4 cõi Thiền Sắc giới và 4 cõi Thiền Vô sắc giới thì tâm định liền sinh khởi. (xt. Định).
Sinh đắc 生得
[ja] ショウトク shōtoku ||| Obtained in the process of being born. Those qualities which are inborn (utpatti-lābhika). The opposite of this is 作得, which means "obtained by effort." 〔二障義HPC 1.801a〕 => Đạt được trong quá trình sinh ra. Những đặc tính bẩm sinh (s: utpatti-lābhika). Ngược lại là Tác đắc作得, nghĩa là đạt được do nỗ lực mà có.
sinh đồ
The way or lot of those born, i.e. of mortality.
; (生途) Chỉ cho đường sinh tử. Thích môn qui kínhnghi quyển thượng (Đại 45, 895 trung) nói: Mê tưởng kiến thì sinh đồ ngày càng tăng, ngộ hình tâm thì con đường cao xa ngầm khởi.
sinh động
Lively—Lifelike.
Sinh 生
[ja] ショウ shō ||| (1) To produce, to bring forth, to beget. To be born. (2) Life, living. [Buddhism] (jāti); 'arising', 'production.' Coming into existence. In Yogācāra and Abhidharmakośa theory, the arising of conditioned elements (dharmas). Also birth, or the life of sentient beings. One of the four aspects 四相 of existence (arising, abiding, changing, and extinction). Also one of the twelve limbs of conditioned origination 十二因縁. (3) One of the four basic forms of suffering 四苦. => 1. Sinh khởi, gây ra, sinh ra. Được sinh ra. 2. Đời sống, cuộc sống. [Phật học](s: jāti); sinh; khởi. Hiện hữu. Theo giáo lý Du-già hành phái và A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, là sự sinh khởi của các pháp hữu vi (dharmas). Là đời sống, sinh mạng của chúng sinh. Là một trong bốn tướng hiện hữu (sinh, già, bệnh, chết). Là một chi phần trong 12 nhân duyên十二因縁.. 3. Một trong Tứ khổ四苦.
sinh, lão, bệnh, tử
Birth, age, sickness, death.
siêng
Industrious—Hard-working—Diligent—Laborious.
siêng cần
Earnestly striving.
siêu
Vikrama (S). Leap over, surpass, excel; exempt from; to save. Super, transcendent.
; Vikrama (skt). 1) Siêu độ hay cứu độ: To save. 2) Siêu việt: Leap over—To surpass.
siêu bát
Surpassing the eight other schools, as does the teaching of the Lotus and Nirvàna Sùtras, according to Thiên Thai.
; Theo tông Thiên Thai thì giáo thuyết trong những Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn vượt hẳn giáo thuyết của tám tông phái khác—According to the T'ien-T'ai sect, the teaching of the Lotus and Nirvana sutras surpasses the eight other schools—See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo.
siêu bát đề hồ
(超八醍醐) Tiếng dùng của tông Thiên thai. Giáo nghĩa kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn siêu việt tám giáo (4 giáo Hóa nghi và 4 giáo Hóa pháp), là vị đề hồ trên hết trong 5 vị, vì thế gọi là Siêu bát đề hồ.
siêu bạt
To outshine, excel, transcend.
; To surpass—To go beyond.
siêu bảo
(超寶) (1635-1709) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Thanh, người Lô lăng, Dự chương (Giang tây), họ Lưu. Năm lên 9 tuổi, sư đột nhuốm bệnh, rất nguy kịch, thân phụ liền đưa sư đến chùa Kì đà, lễ ngài Từ thừa xin xuất gia. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Thanh nguyên Mi am thụ giới Cụ túc, tham học với ngài hơn 10 năm. Sau, sư đến tham học Thiền sư Viên chiếu Lữu khê ở Hàng châu, nỗ lực tham cứu tâm chỉ, được ngài ấn kí, tiếp tục ở lại chỗ ngài Viên chiếu 3 năm. Đến năm Khang hi 36 (1697), nhận lời thỉnh của chư tăng núi Thiên mục, sư đến thuyết pháp hoằng hóa. Ba năm sau, sư về am Hoạt mai ở gần chùa cũ để tĩnh dưỡng. Năm Khang hi 48 (1709), sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Ngữ lục 8quyển. [X. Chính nguyên lược tập Q.9; Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].
siêu dật
Out of the common.
siêu giới
Vikramaśīla (S)Tên một vị sư.
siêu giới tự
(超戒寺) Phạn: Vikramazìla. Tạng: Vi-kra-ma-zì-la#igtsug-lagkhaí. Cũng gọi Siêu hành tự. Tên ngôi chùa ở tiểu bangBihàr (Tỉ cáp nhĩ) tại Ấn độ, do vua Đạt ma ba la đời thứ 2 (Phạm: DharmapàlaII) thuộc Vương triều Ba la (Phạn: Pàla) sáng lập vào cuối thế kỉ thứ VIII đến đầu thế kỉ thứ IX Tây lịch. Vào thế kỉ thứ X, chùa này trở thành trung tâm của Mật giáo Ấn độ. Chùa này cùng với các chùa Na lan đà (Phạn: Nàlandà), chùa Ôđan tháp phổ lạp (Phạn: Udaịđapura) và chùa Bà kì la sa nạp (Phạn: Vajrasana) được gọi chung là Ấn độ tứ đại tự (4 ngôi chùa lớn ở Ấn độ). Toàn chùa có 107 ngôi điện đường và 6 ngôi học xá, ở chính giữa là Đại điện Quán âm, chung quanh có 53 ngôi điện lớn nhỏ, thờ các tượng thần của Mật giáo. Các học tăng đến đây học tập rất đông; chùa này và chùa Na lan đà đều là trung tâm của Kim cương thừa (Phạm: Vajrayàna). Vị đại sư nổi tiếng của Mật giáo làA đề sa (Phạm:Atiza), lúc nhỏ đã thụ giới, học tập và sau giữ chức Trụ trì của chùa này. Năm 1203, chùa này bị phá hủy.[X. Manual of Indian Buddhism by H. Kern; Early History of India by V. A. Smith; VikramazìlaMonastery (J. A. S. B. 1909) by N. L. Dey; The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India].
siêu hay đọa
Salvation or perdition.
siêu hình học
Metaphysics.
siêu linh
Metapsychic(al). Siêu linh học, metapsychics.
siêu linh học
Matapsychics.
siêu lên thượng giới
To attain the highest ground—See Bodhisattva's Ten Grounds.
siêu nhiên
Lokottara (S), Supramandane Lokuttara (P)Xuất thế, Siêu thế.
; Supernatural, preternatural.
; Supernatural.
siêu nhân
Uttari-manussa (P), Superman Xem Đại sĩ.
; Uttari-manussa (P). Superman.
; Superman.
siêu nhật nguyệt quang
(Phật). Surpassing the sun and moon light Buddha.
siêu nhật vương
Vikramāditya (S).
; Vikramàditya (S) An Indian King.
; Vikramaditya (skt)—Còn gọi là Lực Nhật Vương, là vị vua của nước A Du Đồ, người đã chinh phục các vương quốc của dân tộc Scythians, thống trị cả một vùng bắc Ấn, là vị vua khôn ngoan nhất của vương triều Cấp Đa. Ông còn là người bảo hộ các tôn giáo (Vô Trước là người cùng thời với nhà vua)—A celebrated Hindu king, around 57 B.C., who drove out the Sakas or Scythians, ruled all northern India, was one of the wisest of Hindu kings and a great patron of literature.
; (超日王) Phạn: Vikramàditya. Hán âm: Ngật la ma a diệt đa, Tật kha la ma trật đa. Cũng gọi Chính cần nhật vương. Vị Đại vương của Vương triều Quật đa (Phạn: Gupta) ở Ấn độ, ra đời sau đức Phật nhập diệt được 1000 năm. Uy phong của vua lừng lẫy, các nước ở Ấn độ thời đó đều thần phục. Lúc bấy giờ, Ấn độ giáo (Hinduism) phục hưng, văn học tiếng Phạm cũng rất thịnh, trong Phật giáo có nhiều vị Đại luận sư xuất hiện như các ngài Vô trước, Thế thân... cổ xúy Phật giáo Du già, đồng thời nhà vua cũng khuyến khích các loại văn học, nghệ thuật của các tông giáo. Nhà vua còn thương xót cứu giúp những người nghèo khổ, chiếu cố đến các quan lại, cho nên các quan Đại thần... tôn vua là Thánh tiên đại vương (Phạn: Ràjàdhiràjs-fwi). Khi ngài Pháp hiển đến Ấn độ (402- 411) thì gặp lúc vua Siêu nhật đang còn tại vị. [X. điềuKiện đà la quốc trong Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.21; Tuệ lâm nghĩa Q.76]. (xt. Cấp Đa Vương Triều).
siêu phàm
Extraordinary, out of the common.
; Supermundane—Eminent—Super human.
siêu phật việt tổ
(超佛越祖) Cũng gọi Sát tổ sát Phật. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cảnh giới tột cùng vượt qua Phật và Tổ. Tức là cảnhgiới trong đó tâm không còn chấp trước bất cứ sự vật gì, đã đạt đến sự tự do tuyệt đối. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 17 (Đại 51, 339thượng chép: Hỏi: Thế nào là lời nói siêu Phật, siêu Tổ? Sư đáp: Lão tăng đang hỏi ông đấy! Vị tăng nói: Xin Hòa thượng hãy gác vấn đề này lại đã. Sư nói: Một câu hỏi củalão tăng mà ông còn chẳng tự hiểu thì còn hỏi làm gì lời siêu Phật siêu Tổ! [X. Tổ đường tập Q.6, 8; Cổ tôn túc ngữ lục Q.9; Thiền môn niêm tụng tập Q.24; Tông môn thống yếu tục tập Q.18; Thiền lâm loại tụ Q.18].
siêu quá
Samatikram (S). To go beyond, cross over, transgress.
; Samatikram (skt)—Vượt quá—To go beyond—To cross over—To transgress.
siêu quá tam giới
To cross over the threefold world.
siêu quần
Outstanding.
siêu sinh
To go beyond the cycle of death and rebirth.
siêu sinh tịnh độ
To enter the Pure Land (of Amitàbha-Buddha).
siêu sinh tử
To go beyond the cycle of death and rebirth.
siêu thiền
(hay siêu việt thiền), thường gọi là siêu việt tam-muội, chỉ cách xuất nhập thiền định tự tại của Phật và các vị Bồ Tát, không theo trình tự thông thường như hàng Thanh văn, như từ Sơ thiền lên Nhị thiền, Tam thiền... Với siêu việt tam-muội, hành giả có thể trực nhập bất cứ cảnh giới thiền định nào tùy ý, không cần phải theo trình tự. Vì thế cũng gọi là Tự tại định.
siêu thoát
Xem siêu sinh. Supramundane, unwordly; free from human bondage; lofty, exalted.
siêu thần
Atidesa (P).
siêu thế
Lokuttara (P), SupramundaneXem Siêu nhiên.
; Lokottara (S). Surpassing the world, superior to anything in the world. Transcendental. Also siêu việt.
; Vượt hơn hẳn mọi thứ trên thế gian nầy—Surpassing the world—Superior to anything in the world.
siêu thế gian trí
Jānam-laukottarataman (S).
; Jnànam-laukottara-tamam (S). Knowledge of the supreme supra world.
siêu thế gian tán
Lokatitastava (S).
siêu thế nguyện
Thệ nguyện vượt hơn hẳn các lời nguyện khác, ý nói 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà vượt hơn hẳn các lời nguyện của Tam Thế chư Phật—Vows that are superior to any other vows, i.e. the forty-eight vows of Amitabha Buddha—See Tứ Thập Bát Nguyện.
; (超世願) Chỉ cho 48 nguyện của đức Phật A di đà. Khi đức Phật A di đà còn là tỉ khưu Pháp tạng ở địa vị tu nhân, Ngài tham khảo các nguyện của chư Phật, suy nghĩ rất kĩ suốt trong 5 kiếp, rồi mới lập thành 48 điều nguyện. Nguyện của Ngài thù thắng hơn hết các nguyện của chư Phật ở thế gian, cho nên gọi là Siêu thế nguyện. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
siêu thế pháp
Lokuttara dhammas (P).
siêu thế trí
Lokuttara citta (P).
siêu thế đạo
Lokuttaramagga (S).
siêu tông việt cách
(超宗越格) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Siêu tông nghĩa là không lập phương pháp chân như Phật tính; Việt cách nghĩa là không theo hình thức ước lệ từ xưa. Tức chỉ cho người có năng lực siêu việt hình thức phàm thánh, chỉ còn thiên cơ mà thôi. Lời tựa của ngài Phổ chiếu trong Bích nham lục (Đại 48, 139 thượng) nói: Thiền sư Tuyết đậu có chính nhãn siêu tông việt cách, nêu cao chính lệnh.
siêu việt
Surpassing, supreme; to pass over, be exempt from.
; To be transcendental (transcending)—Supermundane—Pass over—Surpassing—Supreme.
; (超越) Việt qua lên trên những cái thông thường. Nhất thần giáo cho rằng vị thần sáng tạo thế giới là thần Siêu việt. Nhưng trong chân lí của Phật giáo thì hoàn toàn không có vị thần siêu việt tồn tại đối lập với thế giới và loài người. Hàm nghĩa đích thực của từ ngữ Siêu việt là dùng để đột phá các loại khái niệm hoặc giá trị quan nhị nguyên đối lập. Chẳng hạn như nhóm từ Siêu phàm việt thánh mà Thiền tông sử dụng, chẳng phải biểu thị sự đối lập giữa phàm phu và Thánh nhân (cũng bao hàm cả đức Phật), mà là nói về sự vượt thoát cái kiến giải phân biệt tương đối phàm thánh nhị nguyên .
siêu việt chứng
(超越證) Cũng gọi Siêu chứng, Siêu quả. Đối lại: Thứ đệ chứng. Chứng vượt bậc, nghĩa là vượt qua quả vị trước mà chứng ngay vào quả vị cao hơn.Như Thanh văn thừa có 4 quả, từ Sơ quả, theo thứ tự, chứng quả Tư đà hàm, A na hàm, rồi đến quả A la hán, gọi là Thứ tự chứng; còn vượt qua quả vị trước mà chứng ngay vào quả vị sau thì gọi Siêu việt chứng. Bàn về Siêu việt chứng lại có các thuyết khác nhau. Theo luận Câu xá thì từ phàm phu chỉ có thể trực tiếp chứng quả thứ 2 và quả thứ 3, gọi là Siêu tiền nhị quả (vượt 2 quả trước). Luận Duy thức lại cho rằng một khi đã chứng được Sơ quả thì có thể vượt qua quả thứ 2 và quả thứ 3 mà chứng thẳng đến quả thứ 4. Còn tông Thiên thai thì chủ trương vượt 3quả trước, cho nên thành lập 4 loại Siêu: 1. Bản đoạn siêu: Gốc vốn là phàm phu ngoại đạo, người tu 6 hành quán hữu lậu, đoạn trừ 6 phẩm Tư hoặc của cõi Dục, vào Kiến đạo ở tâm thứ 16 dứt Kiến hoặc rồi, vượt quả Dự lưu và quả Nhất lai mà chứng thẳng đến quả Bất hoàn thứ 3. 2. Tiểu siêu: Các Thánh đệ tử ở tâm thứ 16 của Kiến đạo chứng quả Dự lưu, sau lại tuVô lậu đạo, đoạn trừ Tư hoặc của 3 cõi, hay dứt 9 phẩm hoặc của cõi Dục, vượt quả thứ 2 mà trực tiếp chứng quả Bất hoàn thứ 3; hay trong 1 lúc đoạn trừ các Hoặc của 8 địa dưới (trừ Hữu đính địa), vượt quả thứ 2 và quả thứ 3 mà chứng thẳng vào A la hán hướng; hay cùng 1 lúc dứt hết các hoặc của 9 địa trên mà chứng ngay quả A la hán. 3. Đại siêu: Tức vượt 3 quả trước, trực tiếp chứng vào quả thứ 4. Như phàm phu ngoại đạo thời đức Phật tại thế, nghe Phật nói pháp chứng ngay quảA la hán. 4. Đại đại siêu: Các Bồ tát Tam tạng giáo trong 34 tâm dứt trừ tất cả phiền não mà thành Phật quả. Trên đây chỉ là nghĩa của tông Thiên thai, còn các tông khác thì chưa bàn đến vấn đề này. [X. luận Đại tì bà sa Q.153; luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Câu xá Q.5, 23, 24; Duy thức luận Thuật kí Q.10; Ma ha chỉ quán Q.6 thượng; Chỉ quán giảng thuật Q.5; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung; Quán kinh sớ huyền nghĩa phần].
siêu việt tam muội
(超越三昧) Chỉ cho tam muội mà Phật và Bồ tát chứng nhập, có năng lực vượt qua các cõi trên dưới và tùy ý xuất nhập. Đây là cảnh giới cao nhất trong các loại Quán thiền, Luyện thiền, Huân thiền và Tu thiền do tông Thiên thai nói, vì thế nên gọi là Đính thiền. Trong các pháp môn, Tam muội này có năng lực xuất nhập tự tại, cho nên được gọi là Tự tại định, hoặc gọi là Siêu thiền, Siêu việt thiền, Siêu việt đẳng chí... Về thứ lớp cạn, sâu của thiền định được sắp xếp là: Tứ thiền, Tứ vô sắc, và Diệt tận định. Phàm khi xuất, nhập thiền định đều phải tuần tự theo thứ lớp này, đó là phép tắc chung. Như người tâm tán loạn không thể trực tiếp nhập định Tứ vô sắc, mà trước phải nhập định Sơ thiền, rồi tuần tự vào Đệ tứ thiền, sau đó mới vào định đầu tiên của Tứ vô sắc. Cũng thế, khi xuất định cũng không được xuất trực tiếp, mà phải tuần tự theo thứ lớp ngược mà xuất. Đây là pháp của Thanh văn. Nhưng đối với Phật và Bồ tát đã tu chứng đến địa vị cao sâu thì không phải theo thứ tự xuất, nhập này, mà có thể từ tâm tán loạn vượt ngay vào định Diệt tận và, ngược lại, cũng có thể từ Diệt tận định vượt ngay ra tâm tán loạn. Pháp tam muội siêu nhập, siêu xuất này, gọi là Siêu việt tam muội. [X. luận Đại trí độ Q.81].
siêu việt tam-muội
xem siêu thiền.
siêu vĩnh
(超永) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh,người Huề lí, tỉnh Chiết giang, họ Diêu, hiệu Tễ luân. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, lớn lên, gặp lúc binh biến vào cuối những năm Sùng trinh, mấy lần chết đi sống lại nên sư lạnh nhạt với công danh, đến khi được đọc Kim túc dung ngữ lục thì sư lập chí xuất tục. Mùa hạ năm Thuận trị thứ 7 (1650), sư lễ ngài Thâm Vân quả ở Gia Hưng xin xuất gia. Mùa thu năm ấy sư tham yết ngài Bách Ngu Tịnh Tư, sau đó, sư lần lượt đi tham bái các danh lam thắng tích như núi Thiên đồng, chùa Báo Ân, chùa Kim Túc, Kính Sơn... Mùa xuân năm Thuận trị thứ 9 (1652), sư tham vấn ngài An Điền Tĩnh ở Phúc Nguyên và được ấn khả. Sau, sư trụ ở chùa Thánh Cảm tại Tây sơn, Bắc Kinh, sau đó, sư lần lượt đi hoằng hóa tại các vùng Bình Hồ thuộc Chiết Giang Thượng Hải, Gia Hưng, Thiểm Tây...Sư có các tác phẩm: Ngũ đăng toàn thư 120 quyển; Thâm tuyết thảo đường tập 30 quyển, Pháp uyển anh hoa, Độc thư tùy kí, Cổ kim tăng thi 60 quyển.
siêu âm
Ultra-sound—Supersonic—Above the speed of sound.
siêu đẳng
Super—Above the ordinary.
siêu định
Super-meditation.
; (超定) Vượt qua giai đoạn trung gian mà vào 1 thứ thiền định cao hơn. Thông thường, tu thiền định đều y theo thứ tự Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền... mà tiến lên; nhưng nếu tu luyện được nhuần nhuyễn, thì có thể vượt qua 1 giai đoạn trong đó, từ Sơ thiền đến Tam thiền, từ Nhị thiền đến Tứ thiền. Nói chung, khi tu thiền định hữu lậu thì 4 thiền định đều thuộc hữu lậu, nhưng khi đã vào định vô lậu thì đều thành vô lậu. Như vị A la hán Bất thời giải thoát đã đoạn phiền não được định tự tại, thì có thể vượt qua thứ tự thiền định trên dưới, thuận nghịch, vượt bỏ giai vị thiền định hữu lậu, vô lậu mà ra, vào thiền định 1 cách tự do tự tại, gọi là Siêu định. [X. luận Đại tì bà sa Q.165; luận Câu xá Q.28; luận Đại trí độ Q.17].
siêu độ
To pass across the mundane existence; to go beyond the cycle of death and rebirth; to leave for ever the life on earth, the world of becoming; to release (souls) from purgatory.
; To free souls from suffering.
; (超度) Tụng kinh, lễ sám cầu nguyện để cứu độ vong linh người chết, khiến họ siêu thoát khổ nạn.
siếc
Rên siếc—To moan—To groan.
siết
To squeeze—To press.
siểm
Nịnh bợ hay dối gạt—Flattery—Conceit.
; (諂) Phạn: Màyà. Đồng nghĩa: Thảo hảo, A khúc, Siểm khúc. Dua nịnh, ton hót, chỉ nói theo ý của người mà giấu kín ý mình. Là tên của Tâm sở, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Luận Đại thừa quảng ngũ uẩn (Đại 31, 853 trung) nói: Bày ra các phương tiện giả dối, giấu kín điều xấu ác của mình, tâm tính quanh co, tham danh hám lợi, đó là 1 phần của si, lấy sự cản trở việc dạy dỗ chính đáng làm nghiệp. Các nghiệp thân, khẩu, ý do Siểm phát sinh, gọi là Khúc nghiệp (nghiệp quanh co). Tông Câu xá cho rằng Tâm sở này tương ứng với 1 phần nhỏ pháp nhiễm ô, theo với phiền não căn bản mà sinh khởi, vì thế nên Siểm là 1 trong các Tùy phiền não, 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp, 1 trong Lục cấu. Siểm và Cuống là các phiền não trói buộc của cõi Dục và Sơ địa, tương ứng với ưu, hỉ trong các thụ mà tự tại sinh khởi, cho nên chỉ thuộc về Tu sở đoạn. Còn tông Duy thức thì cho rằng Siểm là một trong các Tiểu tùy hoặc, cùng với tham, si đều thuộc giả hữu, nhưng không tương ứng với khổ thụ. [X. luận Đại tì bà sa Q.47; luận Tạp a tì đàm tâm Q.4; luận Câu xá Q.4, 21; luận Thành duy thức Q.6; luận Thuận chính lí Q.11, 54; luận Hiển dương thánh giáo Q.1].
siểm khúc
Vanka (S), Kuhana (S)Lừa dối quanh co để thuận theo ý người.
; Flattery and fawning.
; (諂曲) Phạn: Vaíka, Kuhana. Nịnh hót quanh co. Nghĩa là vì muốn lừa dối người khác, nên cố làm ra vẻ ngoan ngoãn đáng yêu, ra sức chiều chuộng làm vừa lòng người hòng gạt gẫm họ. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 trung) nói: Ngã mạn tự kiêu căng, siểm khúc tâm chẳng thật. Lại đối với các vật mà không chấp trước thì gọi là Vô siểm khúc. Luận Kim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1251 thượng) nói: Ni dạ ma cũng có 5 giới: Không giết hại, không trộm cướp, nói lời chân thật, giữ phạm hạnh, không siểm khúc. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Bồ tát địa trì Q.5; luận Thập trụ tì bà sa Q.8; Thập địa kinh luận Q.2].
so bì
To compare.
so bằng
To equalize.
so sánh
To compare.
sobhita
Sobhita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
soi
To look at—To admire oneself (in a looking glass).
soi gương
See Soi.
soi sáng
To light—To illuminate—To give light to someone—To shed light on something—Ánh từ quang Phật Pháp soi sáng thế giới khổ đau tăm tối như ngọn hải đăng chiếu sáng cho nhân loại—The radiance of Buddha's dharma goes through a world of suffering and darkness like a beacon light to guide and illuminate mankind.
soi sáng trạng thái tâm
To shed light on this state of mind.
soi xét
To investigate—To examine.
soi đèn
To light with a lamp.
son sắt
Steadfast—Constant.
song
Một cặp—A pair—A couple—Twin—Mates—Matched.
song hỷ
Doubled joys
song luận
Yamaka (P), Book of Pairs Một tập trong 7 tập của bộ Thắng Pháp Tạng.
; (雙論) Pàli: Yamaka . Hán âm: Da ma ca. Một trong 7 bộ luận bằng tiếng Pàli của Thượng tọa bộ phương Nam. Luận này đượcviết theo hình thức vấn đáp, nội dung chia làm 10 phẩm: 1. Căn bản song luận. 2. Uẩn song luận. 3. Xứ song luận. 4. Giới song luận. 5. Đế song luận. 6. Hành song luận. 7. Tùy miên song luận. 8. Tâm song luận. 9. Pháp song luận. 10. Căn song luận. Trong 10 phẩm mỗi phẩm đều có 3 phần: Thi thiết phần, Chuyển phần, Biến tri phần, trong đó, phần Thi thiết lại được chia làm phần Tổng thuyết và phần Thích nghĩa. Riêng trong phẩm Căn bản song luận và phẩm Tâm song luận thì không có Chuyển phần và Biến tri phần. Phẩm Tùy miên song luận thì được chia ra 7 phần là: Tùy tăng, Hữu tùy miên, Đoạn, Biến tri, Dĩ đoạn, Sinh, Giới... khác với các song luận khác. Luận này nói về sự quan hệ hỗ tương và định nghĩa các pháp. Nguyên văn luận này đã được bà Rhys Davids, học giả Phật giáo người Anh, xuất bản và được ông Độ biên Chiêu hoành, người Nhật bản, dịch ra tiếng Nhật, thu trong Nam truyền Đại tạng kinh quyển 48, 49. [X. Nam phương Thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A History of Pàli Literture by B. C. Law; Dictionary of Pàli Proper Names by G.P. Malalasekera].
song lâm
Hàng cây Ta La (song thọ), khu rừng nơi Đức Thế Tôn nhập diệt—Twin trees, the sala-trees under which the Buddha entered nirvana.
song lưu
Hai dòng giáo pháp hay hai anh em song sinh, hóa đạo và quán tâm (cần phải thọ trì cả hai)—The twin streams of teaching and mystic contemplation.
song mộc
See Song Lâm.
song nhập
Yuganaddha (S).
; (雙入) Phạn: Yuganaddha. Tạng:Zuí-du-#juy-pa. Cũng gọi Song vận. Yuga nghĩa là một đôi; Naddha là kết hợp. Phật giáo (nhất là Phật giáo Đát đặc la) thường dùng từ ngữ này để biểu thị nghĩa hợp nhất bất nhị. Trong Ngũ thứ đệ (Phạn: Paĩca= krama) tương truyền do ngài Long thụ soạn, thì Thứ đệ thứ 5 là Song nhập thứ đệ (Phạn:Yuganaddha-krama), gồm 21 thứ song nhập như Luân hồi và Niết bàn, Phiền não và Tịch tịnh, Hữu tướng và Vô tướng, Sở chấp và Năng chấp... Đại thừa trang nghiêm kinh luận (Phạn: Mahàyà= nasùtràlaôkàra) cũng có nói về Song nhập, xếp Song nhập vào loại thứ 6 trong 11 thứ Tác ý (Phạn:Manaskàra) mà thông thường Hán dịch là Nhị tương ứng tác ý. Đây chính là biểu thị nhất nguyên hóa của nhị nguyên Chỉ và Quán. Chương 14 trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận (bản tiếng Phạn) nói rằng: Tu pháp Chỉ có thể biết hết tên của các pháp; tu pháp Quán có thể hiểu rõ nghĩa các pháp, còn Song nhập thì có thể hợp nhất 2 pháp Chỉ Quán trên. Lí niệm song nhập được biểu hiện qua nghệ thuật tạo hình đã sản sinh ra Song thân Phật (Tạng: Yab-yum) của Phật giáo Tây tạng.[X. Lí thú kinh chi nghiên cứu (Mai vĩ Tường vân); Yuganaddha by H. V. Genther; The Hevajra-tantra by D.L. Snellgrove]. (xt. Ngũ Thứ Đệ).
song nhập thứ đệ
Yuganaddha-krama (S).
song phương
Bilateral.
song quyển kinh
(雙卷經) Cũng gọi Lưỡng quyển kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Khang tăng khải dịch vào đờiTào Ngụy, tức chỉ cho kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, cũng vì để phân biệt với kinh Quán vô lượng thọ 1 quyển, nên giới Phật giáo đặc biệt gọi kinh Vô lượng thọ là Song quyển kinh, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Cứ theo Quán kinh huyền nghĩa phần khải định kí thì Đại kinh là chỉ cho kinh Vô lượng thọ. Trong 3 bộ kinh của Tịnh độ giáo, kinh này nghĩa lí rộng nhất, nên đối với 2 bộ kinh kia mà gọi là Đại kinh. Tông Thiên thai thì gọi kinh này là Đại bản, còn kinh A di đà là Tiểu bản. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh).
song tháp tự
(雙塔寺) 1. Chùa ở góc đông nam nội thành huyện Ngô, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Theo điều Tô châu phủ trong Đại thanh nhất thống chí quyển 55 thì chùa Song tháp là chùa Bát nhã được xây dựng trong năm Hàm thông (860-873) đời Đường, sau được đổi là Thọ ninh vạn tuế thiền viện. Trong năm Ung hi (984-987) đời Tống, vua Văn vương xây 2 ngôi tháp gạch trong vườn chùa, từ đó, chùa được gọi là Song tháp tự. Theo Ngô đô pháp thừa quyển 30 thì Thiền viện Thọ ninh vạn tuế nằm về phía đông nam huyện Trường châu, là viện La hán cũ, vì chùa có 2 ngôi tháp đứng song song đối nhau nên gọi là Song tháp tự. Tháp xây bằng gạch, hình dáng cao thon, 7 tầng 8 cạnh, có đẩu củng bằng gạch, diềm mái bằng gỗ, trên chót tháp có hình bánh xe (Luân tướng). 2. Hai ngôi tháp ở chùa Song tháp tại tỉnh Giang tô. Phạn: Kwuma. Cũng gọi Trâu ma, Tu ma, Sô ma ca, Tô ma, Sám ma. Áo may bằng sợi cây gai. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 31 (Đại 54, 514 hạ) nói: Áo sô ma, cả 2 chữ đều là phiên thiết, gọi đúng âm tiếng Phạm là Trâu ma. Hán dịch là Ma y. [X. Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
song thân
1) Cả cha lẫn mẹ: Both parents. 2) Hai thân, đặc biệt là hai thân của Phật Tỳ Lô Giá Na: Twin-bodied, especially the two bodies of Vairocana.
song trì
Yugarjidhara (S), Yugaṃdhara (S)Du càn đà laMột trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Núi này cao 12.000 do tuầnTên một con sông.
; Yugamdhara (S). Name of a river. Also Du căn đà la.
Song Tuyền Sư Khoan
(雙泉師寛, Sōsen Shikan, ?-?): nhân vật sống vào thời nhà Tống, vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc. Ông kế thừa dòng pháp của Vân Môn Văn Yển (雲門文偃), rồi đến sống tại Song Tuyền Tự (雙泉寺) thuộc Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc). Ông được ban cho hiệu là Minh Giáo Thiền Sư (明敎禪師).
song tâm kinh
Dreddhàvitakka-sutta (P). Also Niệm kinh.
song vương
Từ dùng để gọi Dạ Ma Vương—A term for Yama.
sorata
Sorata (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
soát
To examine—To check—To verify.
soạn
1) Sửa soạn: To prepare. 2) Soạn nhạc: To compose. 3) Soạn sách: To compile.
soạn hiệu
Tên của người soạn giả—Compiler's name—Author's title.
; (撰 效) Tên họ của người soạn thuật được ghi ở đầu sách Phật; ngoài tên họ ra còn ghi địa danh, tên chùa. Có khi chính mình ghi, cũng có khi do người khác ghi. Nói một cách đại khái, những sách do Ấn độ thì ghi tên họ hoặc pháp danh trước chữ tạo hoặc chữ thư; các sách do Trung quốc soạn thì ghi tên họ hoặc pháp danh trước chữ thuật, chữ tập, chữ soạn. Thuật, tập, soạn là truyền thuật lại thuyết của người xưa, chứ không phải mình sáng tác, cũng không thêm ý mới. Nếu do thầy thuyết giảng, do đệ tử ghi thuật lại, cũng gọi là Soạn hiệu.
Soạn tập bách duyên kinh
撰集百緣經; S: śatāvadāna;|Tập truyện kể vừa có khuynh hướng Tiểu thừa vừa Ðại thừa, chuyên nói về các vị Bồ Tát. Bộ truyện này xuất phát từ thế kỉ thứ 2, kể lại các câu chuyện tiền thân các thánh nhân và nhấn mạnh tính chất quan trọng của Nghiệp.
soạn tập bách duyên kinh
Avadànasataka (S). Collection of a hundred avadànas.
Su-zu-ki, Dai-set-su
鈴木大拙; J: suzuki, daisetsu [daisetz]; 1870-1966; dịch nghĩa Hán Việt là Linh Mộc Ðại Chuyết;|Một học giả lừng danh người Nhật, người đã góp công rất nhiều trong việc truyền bá Thiền tông sang Tây phương. Ông viết rất nhiền sách về thiền và nổi danh nhất có lẽ là bộ Thiền luận (Essays in Zen-Buddhism), gồm ba quyển. Ngoài ra, ông còn viết những tác phẩm quan trọng như Nghiên cứu kinh Lăng-già (Studies in the Laṅkāvatāra-Sūtra), Thiền và phân tâm học (Zen-Buddhism and Psychoanalysis).|Ông sinh trong một gia đình Hiệp sĩ (j: samurai), trong một thời kì Nhật bắt đầu tiếp xúc với nền văn hoá Tây phương. Mất cha sớm, ông sống cực khổ và chính cái khổ này đã thúc đẩy ông học hỏi nhiều để được dạy trong một trường phổ thông kiếm tiền nuôi mẹ.|Sau khi mẹ qua đời, ông đến Ðông Kinh (tōkyō), sau lại đến Liêm Thương (kamakura) tu học với một vị Thiền sư danh tiếng đương thời là Thích Tông Diễn (j: shaku sōen; cũng được gọi là Hồng Nhạc Tông Diễn; j: kōgaku sōen) tại Thiền viện Viên Giác (engaku-ji). Tông Diễn sớm nhận ra tài năng của ông và cho phép đi cùng đến tham dự Hội nghị tôn giáo thế giới (World’s Parliament of Religions) tại Chicago, Mĩ năm 1893. Tại hội nghị này, người Tây phương lần đầu tiên nghe được chút đỉnh về danh từ »Thiền«. Sau hội nghị này, ông ở lại Mĩ hơn mười năm để nghiên cứu, phiên dịch các tác phẩm triết học Ðông phương sang Anh ngữ, với sự giúp đỡ của Eduard Hegeler, một nhà triệu phú kiêm xuất bản, người gốc CHLB Ðức (Bremen). Trong thời gian này, ông bắt đầu học Phạn ngữ và hoàn tất tác phẩm quan trọng đầu tiên là Nghiên cứu về Ðại thừa Phật giáo (Studies in Mahāyāna-Buddhism). Hegeler cũng gửi ông sang Paris để sao lại những tác phẩm quý giá được lưu trữ tại đây. Trước khi về Nhật, ông còn sang Anh và nơi đây phiên dịch các tác phẩm của Swedenborg sang Nhật ngữ.|Năm 1908, ông trở về Nhật và 1910, lại trở lại châu Âu. Ông lập gia đình với Beatrice Lane (1911), một nữ thông thiên học (e: theosophy) xuất xứ từ New York, người đã tận lực giúp đỡ ông trong việc biên tập, phiên dịch cho đến giờ phút cuối của bà (1938). Sau, ông đảm nhận nhiều trách nhiệm như giảng dạy tại các đại học Nhật, biên soạn sách vở và đi đây đó thuyết trình Thiền học. Sự ra đời của bộ Thiền luận ba quyển của ông được ví như sự tái sinh, cải lão hoàn đồng của Thiền tông và Thiền lần đầu được trình bày, giảng giải, đưa đến châu Âu, Mĩ dưới dạng tuyệt vời nhất, thích hợp nhất. Năm 1957, ông cùng với hai nhà phân tâm học là Erich Fromm và Richard de Martino đã cho ra một quyển sách rất quan trọng là Thiền và phân tâm học và trong sách này, hai nhà phân tâm học đã xác định được sự liên hệ mật thiết giữa Thiền và Tâm lí học.|Su-zu-ki đã thực hiện được những gì mà Tông Diễn mong muốn khi ông đặt tên cho người học trò yêu quý của mình trước khi từ giã: Ðại Chuyết, nghĩa là »sự vụng về lớn.« Nhưng người ta cũng có thể hiểu »vụng về« ở đây như trong ngạn ngữ Nhật »Nghệ thuật cao siêu phớt nhìn thì trông như vụng về« (j: dai-kō wa dai-setsu no gotoshi). Ông chẳng phải là một Tỉ-khâu chính thức, chỉ là một Sa-di nhưng con đường đời đầy kinh nghiệm, học thức uyên bác đã giúp ông trở thành một nhà thuyết giảng độc nhất vô nhị của Thiền Ấn Ðộ, Trung Quốc, Nhật Bản cho thế giới hiện đại. Không ít người trong giới Thiền tại Nhật đã lắc đầu e ngại vì những lời giảng tỉ mỉ của ông mà người ta cho là quá liều lĩnh, táo bạo cho một tông phái đặc biệt đề cao đến việc »Bất lập văn tự«, »Bất khả thuyết.« Ngay chính ông cũng thú nhận rằng, việc làm này của mình là »một tội lỗi lớn« của cuộc đời. Dù sao đi nữa, Thiền học nhờ ông được lan tràn khắp năm châu, ngày càng được nhiều người chú trọng và người ta có thể cảm nhận được ảnh hưởng này của ông đến ngày nay.|Ông mất ngày 12 tháng 7 năm 1966 tại Ðông Kinh (tōkyō), sau một cơn bệnh nhẹ, thọ 96 tuổi.|Các tác phẩm quan trọng của Su-zu-ki (trích): 1. Essays in Zen Buddhism (Thiền luận), First-Third Series, London 1950/1953; 2. Studies in the Lanka-vatara Sutra (Nghiên cứu kinh Lăng-già), London 1930; 3. Introduction to Zen Buddhism (Thiền pháp nhập môn), Kyoto 1931; 4. The Zen Doctrine of No-Mind (Giáo lí vô niệm), London 1949; 5. Living by Zen (Thiền sinh hoạt), London 1950; 6. Zen-Buddhism and Psychoanalysis (Thiền và Phân tâm học); 7. The Essence of Buddhism (Cốt tuỷ của đạo Phật), London 1947; 8. Zen and Japanese Culture (Thiền và văn hoá Nhật), Kyoto 1958; 9. Studies in Zen (Thiền bách đề), London 1955.
Su-zu-ki, Shun-ryu
J: suzuki, shunryū; 1905-1971;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng. Sư sang Mĩ năm 1958 và thành lập tại đây nhiều Thiền viện (San Francisco, Tassajara), những thiền viện đầu tiên tại Tây phương.
sudassan
Sudassan (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sudatha
Sudatha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sui gia
Related by marriage.
sum họp
To come (gather) together—To meet.
Sum Điền Ngộ Do
(森田悟由, Morita Goyō, 1834-1915): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Minh Trị, vị trú trì đời thứ 64 của Vĩnh Bình Tự, vị Quản Trưởng của Tào Động Tông, đạo hiệu là Đại Hưu (大休), hiệu Lục Trạm (六湛), Không Hoa (空華), nhụ là Tánh Hải Từ Thuyền Quốc Sư (性海慈船國師), xuất thân vùng Vĩ Trương (尾張, Owari). Năm 1841, ông theo xuất gia với Long Sơn Thái Môn (龍山泰門) ở Long Quang Viện (龍光院) vùng Danh Cổ Ốc (名古屋, Nagoya), Vĩ Trương, đến năm 1860 thì kế thừa dòng pháp của vị pháp huynh là Bạch Long (白龍). Ông đã từng sống qua vài nơi như Long Đức Tự (龍德寺), Thiên Long Viện (天龍院), Thiên Đức Viện (天德院) ở Kim Trạch (金澤, Kanazawa), rồi Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), và năm 1888 ông hoàn thành bản Động Thượng Hành Trì Quỹ Phạm (洞上行持軌範). Vào năm 1891, ông làm Quán Thủ Vĩnh Bình Tự. Trong khoảng thời gian nầy ông đã nổ lực giải quyết êm xuôi cuộc phân ly giữa hai chùa Vĩnh Bình Tự và Tổng Trì Tự. Đến năm 1895, ông được cử làm Quản Trưởng Tào Động Tông. Trước tác của ông có Sư Nhũ (獅乳), Động Thượng Hóa Đạo Yếu Nghĩa (洞上化道要義), Thiền Giới Pháp Thoại (禪戒法話), Phật Giới Lược Nghĩa (佛戒略義), Ngộ Do Thiền Sư Pháp Thoại Tập (悟由禪師法話集), Đại Hưu Ngộ Do Thiền Sư Quảng Lục (大休悟由禪師廣錄).
sumangala
Sumangala (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sundara
Sundara (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
Sung mãn
充滿; C: chōngmăn; J: jūman;|Đầy đủ, chứa đầy, dồi dào (s: pūrna).
sung mãn
Sufficient—Abundant—Complete.
sung mãn của tuổi trẻ
At the height of youth.
sung mãn nhứt thiết trí
The understanding of ubiquity.
Sung mãn 充滿
[ja] ジュウマン jūman ||| To be filled with, to be pregnant with, teem with (pūrna). => Đầy đủ, chứa đầy, dồi dào (s: pūrna).
sung sướng
Blissful—Well-being—Happy.
Sung túc
充足; C: chōngzú; J: jūsoku;|Đầy đủ, trọn vẹn, hoàn toàn.
sung túc
Well-off—Sufficient.
Sung túc 充足
[ja] ジュウショク jūsoku ||| To be full, be whole, be complete. => Đầy đủ, trọn vẹn, hoàn toàn.
supatitthita
Supatitthita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
sutava
Sutava (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
suy
1) Suy đồi: Decline—Decay—Fade—Frayed. 2) Suy nghĩ: To think.
suy công qui bản
(推功 歸本) Đưa công về gốc. Tức đưa cái đức của nghiệp dụng về cái thể căn bản của nó. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 2 (Vạn tục 37, 17 thượng) nói: Như nghi thức nói pháp của hết thảy chư Phật đều do nơi Ứng thân (...), nhưng đưa công về gốc thì chính là Pháp thân nói.
Suy Cổ Thiên Hoàng
(推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628): vị Thiên Hoàng sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 và đầu thế kỷ thứ 7, vị nữ đế đầu tiên của Nhật, người con gái thứ 3 của Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539-571), mẹ là Kiên Diêm Viện (堅塩媛, Kitashihime, con gái của Tô Ngã Đạo Mục [曽我稻目, Soga-no-iname]), Hoàng Hậu của Mẫn Đạt Thiên Hoàng (敏達天皇, Bidatsu Tennō, tại vị 572-585), tên là Phong Ngự Thực Xuy Ốc Cự (豐御食炊屋姫, Toyomikeka Shikiyahime), hay còn gọi là Hoàng nữ Ngạch Điền Bộ (額田部, Nukatabe). Sau khi Sùng Tuấn Thiên Hoàng (崇峻天皇, Sushun Tennō, tại vị 587-592) bị ám sát, bà lên ngôi kế vị ở Phong Phố Cung (豐浦宮) của nước Đại Hòa (大和, Yamato), về sau dời về Tiểu Khẩn Điền Cung (小墾田宮). Bà giao cho Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622) làm Nhiếp Chính và cho thi hành chính sách quan vị 12 cấp và hiến pháp 17 điều.
suy cứu
to consider.
suy diễn
To deduce.
suy giảm
To decrease—To decline.
suy gẫm
To contemplate—To think over.
suy hoạn
Tai họa của suy thoái như nạn đói hay dịch bệnh—The calamities of decadence, famine, epidemics.
suy luận
To deduce—To reason.
suy lý
See Suy Luận.
suy nghĩ
Cinteti (p)—Cintayati (skt)—To have thought or idea—To ponder—To think—To think about—To think of.
suy nghĩ thế tục
The worldly way of thinking—Để phù hợp với suy nghĩ thế tục của chúng ta nên Đức Phật nói đến sinh trụ dị diệt như là những sự vật hiện hữu thật sự, kỳ thật không có gì được sanh, không có gì đang sanh và cả nhân duyên cũng không ở đâu cả; không có cái gì hiện hữu, không ở đâu có hiện hữu—In order to conform to our worldly way of thinking and expereince, the Buddha talks of birth, stay, change and disappearance as if things were really existent. In reality, nothing is produced, nothing is producing, and even causality is nowhere, there exists nothing whatever anywhere.
suy nguyên
To trace to original.
suy nhược
Weak—Feeble—Delibitated.
suy quan
(推官) Tên 1 chức quan ở đời Đường, thuộc dưới quyền Tiết độ sứ và Quan sát sứ, tức là chức Quận tá ở đời Tống, chuyên xem xét và quyết định các việc phải trái. Bích nham lục tắc 68 (Đại 48, 198 thượng) nói: Một hôm, có vị quan nhân đến tham yết ngài Ngưỡng Sơn, ngài hỏi: - Ông làm chức quan gì? Đáp: Suy quan. Ngài Ngưỡng Sơn dựng thẳng cây phất tử, hỏi: - Có suy (đánh đổ) được cái này không? Vị quan nhân không đáp được.
suy rộng
To generalize.
suy suyển
To be deminished (lessened).
suy sụp
To decline.
suy thịnh
Decadent and properous—Decadence and prosperity.
suy tàn
To decay—To decline.
suy tính
To reflect—To calculate—To ponder—To think.
suy tướng
Dấu hiệu khi sắp chết—The indication of approaching death—See Ngũ Suy Tướng.
; (衰相) Khi người cõi trời sắp chết thì hiện ra 5 tướng suy báo trước. Đó là: Áo nhuốm bụi, tràng hoa héo úa, nách ra mồ hôi, mình có mùi hôi hám và không thích ngồi chỗ cũ, gọi là Thiên nhân Ngũ suy. [X. luận Câu xá Q.10].
suy tưởng
To think over.
suy vi
To sink into decay—To decline.
suy xét
To think out—To consider.
suy yếu
Feeble—Weak.
suy đoán
See Suy Diễn.
suy đồi
To degenerate—To decay—Downfall—See Kinh Suy Đồi in Appendix E.
suyển
1) Ước lượng—To estimate—To guess. 2) Đoàn (vo cho tròn): To roll into a ball, or roll together.
suyển thực
Đoàn Thực hay vo tròn cơm cũng như những thức ăn, đây là tập tục của người Ấn Độ là vo tròn thức ăn trong tay trước khi ăn—To roll rice, etc., into a ball in eating, the Indian way, or Hindu fashion of eating by first rolling the food into a ball in the hand.
suyễn
Ướt đẫm—Soak—Wet—Damp.
suyễn phật
An image of Vairocana in the open.
suôn
Straight and high.
suông
Empty—Hollow (rỗng)—Useless—Tasteless.
suất
1) Cái vợt có tay cầm—A net with handle. 2) Theo đuổi: To pursue—To follow after.
suất lộc cần na
Srughna (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Suất Lộc Cần Na là một vương quốc và thành phố cổ nằm gần Yamuna, có lẽ là vùng giữa Saharanpur và Srinagar bây giờ—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Srghna is an ancient kingdom and city near the upper course of the Yamuna, probably the region between Saharanpur and Srinagar.
Suất nhĩ 率爾
[ja] ソツニ sotsuni ||| The mind "as it is"--one of three successive stages of mind taught in the Yogācārabhūmi-śāstra. 〔瑜伽論 T 1579.30.280a24〕 => Tâm khinh suất, xem thường–một trong 3 tiến trình của tâm được dạy trong Du-già sư địa luận.
suất tiền
(率錢) Cũng gọi Suất tài. Chỉ cho tiền bạc quyên góp từ chúng tăng để chi dụng cho các vật cúng dường như hương, hoa... trong các dịp cử hành lễ giỗ Tổ sư hay các Phật sự khác. Ngoài ra, các vị tăng mới được nhận cho ở tham học trong tùng lâm, góp tiền mua dầu, hương để tỏ lòng cảm tạ, cũng gọi là Suất tiền.[X. điều Cáo hương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2].
Suất Đô Bà
(s: sthūpa, p: stūpa, 率都婆): âm dịch của từ tháp (塔) hay tháp bà (塔婆). Ngoài từ Suất Đô Bà này ra, còn có những âm dịch khác như Tốt Đồ Ba (窣堵波), Tốt Đổ Bà (窣覩婆), Tẩu Đẩu Bà (藪斗婆), Đâu Bà (兜婆), Thâu Bà (偷婆), v.v. Ý dịch của từ này là Cao Hiển Xứ (高顯處), Công Đức Tụ (功德聚), Phương Phún (方墳), Viên Trũng (圓塚), Miếu (廟), Trũng (塚).
suất đô bà
Stupa (skt)—A mound—See Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (率都婆) Phạn: Stùpa. Pàli: Thùpa. Cũng gọi Tốt đô bà, Tốt đổ ba, Tẩu đẩu bà. Gọi tắt: Tháp bà, Đâu bà, Phù đồ, Tháp. Suất đô bà vốn là kiểu mộ tháp ở Ấn độ đời xưa có hình dáng giống như cái bánh hỏi (bánh ú). Sau khi đức Phật nhập diệt, Suất đô bà ngoài ý nghĩa phần mộ ra còn mang tính chất là vật kỉ niệm, nhất là những ngôi tháp cấu trúc bằng gạch nung được xây dựng vào thời vương triều Khổng tước, trong đó có an trí di cốt, vật dụng, tóc... của đức Phật, thì Suất đô bà dần dần đã trở thành tiêu xí của Thánh địa và kiến trúc trang nghiêm chùa viện. Về sau, tháp được dùng làm trung tâm điểm để vận động tân hưng Phật giáo, từ đó phát triển thành Phật giáo đại thừa. Ở Trung Quốc, Nhật Bản, tháp và kim đường đều được xếp vào hàng các kiến trúc quan trọng, được dùng để an trí xá lợi Phật, tượng trưng cho chùa viện. Phần tướng luân ở phía trên cùng của tháp 3 tầng hoặc 5 tầng, vẫn còn giữ nguyên phong cách Ấn độ. Còn có tập quán dùng 1 thanh gỗ nhỏ và dài làm thành hình tháp, dựng bên cạnh mộ để truy tiến người chết. Loại tháp bằng gỗ này được gọi là Suất đô bà, Tháp bà, còn tháp kiến trúc thì chỉ gọi là tháp để dễ phân biệt. Những kinh văn được viết chép trên loại tháp bằng gỗ, gọi là Suất đô bà kinh. Trong Mật Giáo, đặc biệt thiết lập ngôi tháp hình ngũ luân (5 yếu tố) để làm tiêu xí của đức Đại Nhật Như Lai. Đây là căn cứ vào tư tưởng ngũ luân, tức hết thảy muôn pháp đều do 5 yếu tố đất, nước, lửa, gió, hư không tạo thành, nhờ đó mà có nhục thân và ngay nơi nhục thân ấy là thân Phật. Ngoài ra, tượng Phật, Bồ tát trong Mật giáo, có các vị dùng tháp làm hình Tam muội da, hoặc làm vật cầm. (xt. Tháp).
suối vàng
Hell—Hades.
suốt
Throughout—Through.
suốt đời
Throughout the life.
suồng sã
To be too familiar.
sài
Củi—Firewood—Fuel—Brushwood.
sài lang
Chó sói—A wolf.
sài lang địa ngục
Một trong 16 du tầng địa ngục, nơi sói beo tới ăn thịt tội nhân—One of the sixteen hells, where sinners are devoured by wolves.
sài phị vô xu cơ
(柴扉無樞機) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Xu là cái chốt để chốt cửa; Cơ (ki) là cái then để cài cửa. Sái phi vô xu cơ nghĩa là cửa làm bằng phên thì không cần đóng chốt cài then làm gì. Trong Thiền tông, nhóm từ này được dùng để chỉ cho cảnh giới tự do tự tại, không chấp nhặt vào sự đến đi.
sài đầu
Vị Tăng phụ trách về củi lửa trong tự viện—The one who looks after firewood in a monastery.
; (柴頭) Chức vụ coi việc củi đóm trong tùng lâm, chức này dưới chức Phạn đầu. Nhiệm vụ chủ yếu của vị Sài đầu là vào núi lấy củi về cho đại chúng sử dụng. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.20; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
sàm siểm
To slander and flatter.
sàn đề
Xem nhẫn nhục.
sàn đề ba la mật
Xem Nhẫn nhục Ba la mật.
sàn đề la
(羼提羅) Phạn: Waịđhilà. Cũng gọi Phiến đề la. Hán dịch: Thạch nữ. Chỉ cho người đàn bà không có bộ sinh dục (nữ căn). [X. kinh Thắng man bảo quật quyển thượng, phần đầu].
sàn đề tiên nhân
(羼提仙人) Phạn: Kwànti-vàdi-fwi. Cũng gọi Sằn đề bà lê (Phạm:Kwàntipàla), Sằn đề Tỳ khưu. Hán dịch: Nhẫn nhục tiên. Tên gọi đức Thế tôn ở đời quá khứ lúc Ngài tu hạnh Bồ tát và thành tựu hạnh nhẫn nhục. Cứ theo phẩm Sằn đề bà lê trong kinh Hiền ngu quyển 2 thì trong 1 kiếp quá khứ lâu xa, vua Ca lợi (Phạn: Kàli) nước Ba la nại, Ấn độ, cắt tay, chân, tai, mũi của Sằn đề ba lê, vì tu hạnh nhẫn nhục nên vị tiên Sằn đề thản nhiên chịu đựng, nét mặt không hề thay đổi, nhờ đó mà cảm hóa được ông vua cực kì hung bạo. [X. luận Đại trí độ Q.14]. (xt. Nhẫn Nhục Tiên).
sàn đề đề bà
(羼提提婆) Phạn: Kwàntideva. Tên vị thầy dạy võ cho Thái tử Tất đạt đa lúc thiếu thời. [X. phẩm Tập kĩ nghệ trong kinh Phật bản hạnh tập Q.11].
sàng
(床) Cái giường, vật dụng để ngồi, nằm của vị Tỳ khưu, có thể chia làm 2 loại: 1. Tọa sàng (Phạn; Pàli:Pìtha): Giường dây, giường ngồi thiền. Tức dùng dây, cỏ hoặc mây đan lại thành cái giường (ghế) gấp, gọn nhẹ để có thể mang theo được, là 1 trong 18 vật dụng của Tỳ khưu. 2. Ngọa sàng (Phạn: Maĩca hoặc Khaỉva): Giường gỗ, phần nhiều dùng trong nội thất. Chân giường có nhiều loại: Luật Ngũ phần quyển 6 nêu 2 loại: Chân giường nhọn và không nhọn. Luật Tứ phần nêu 5 loại: Chân tròn, chân thẳng, chân cong, chân bệ, không chân. Ngoài ra, cách làm giường cũng có nhiều loại: Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp quyển 9 nêu ra 3 loại: Giường nhỏ chân tròn, giường dây để ngồi và giường dây để nằm ngủ.Luật Ma ha tăng kì quyển 14 nêu ra 10 loại giường ngồi Ô đà na, giường nằm chân tròn, giường ngồi chân tròn, giường nệm để ngồi, giường nệm để nằm... Về chiều cao của giường, theo Tỳ khưu giới bản trong luật Tứ phần, thì giường ngồi và giường nằm đều cao 8 ngón tay Như lai (tức khoảng 60 cm). Theo điều Ngọa tức phương pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 thì giường nằm rộng 2 khuỷu tay (khoảng 80 cm), dài 4 khủy rưỡi (1, 8 m). Theo phần Giới tướng bộ trong Pháp uyển châu lâm quyển 88 thì giường nằm rộng 4 thước (1,2 m), dài 8 thước (2,4 m), vượt quá hạn định ấy thì thuộc loại giường to lớn, cao rộng không được dùng. [X. luật Tứ phần Q.19, 50; luật Thập tụng Q.12, 19, Tứ phần tăng giới bản; Giải thoát giới kinh; Hữu bộ tì nại da tụng Q.trung; Sa di tắc ngũ phần giới bản; Thập tụng tỉ khưu ba la đề mộc. Ghế ngồi đan bằng dây xoa giới bản; luận Câu xá Q.14; Đại đường tây vực ký Q.2; môn Khí vật trong Thiềnlâm tượng khí tiên].
sàng lịch
(床曆) Sàng là cái giường kê trong nhà Tăng; Lịch là quyển sổ ghi chép lí lịch của chúng tăng.Trong Thiền lâm, giường nằm của chúng tăng trong nhà Tăng được xếp đặt theo thứ tự giới lạp (tuổi hạ) của chúng tăng nhiều hay ít. Thông thường, giường của vị Thủ tọa được đặt ở vị trí thứ nhất. [X. điều Duy na, chương Lưỡng tự trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.4; điều Hạ tiền xuất thảo đơn, chương Tiết lạp trong sách dẫn thượng Q.7; điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Bạ khoán trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Sàng 床
[ja] ショウ shō ||| (1) A (raised) bed, especially used by a sick person. (2) A raised platform for conducting meditation. => 1. Cái giường, đặc biệt dành cho người bệnh. 2. Cái đơn để ngồi thiền.
sành sỏi
To be expert (experienced) in.
Sào Phủ
(巢父): tên gọi của vị ẩn sĩ sống dưới thời nhà Nghiêu. Theo Cao Sĩ Truyện (高士傳), phần Sào Phủ của Hoàng Phủ Mật (皇甫謐, 215-282) nhà Tấn cho biết rằng: “Sào Phủ giả, Nghiêu thời ẩn nhân dã; sơn cư bất doanh lợi thế; niên lão, dĩ thọ vi sào nhi tẩm kỳ thượng, cố thời nhân hiệu viết Sào Phủ (巢父者、堯時隱人也、山居不營世利、年老、以樹爲巢而寢其上、故時人號曰巢父, Sào Phủ là ẩn sĩ dưới thời nhà Nghiêu; ông sống trong núi, không màng đến danh lợi trần thế; đến tuổi già ông lấy cây cao làm tổ mà ngủ trên đó, cho nên người đương thời gọi là Sào Phủ).” Ông đã từng từ chối ngôi vị Thiên tử của nhà Nghiêu. Câu chuyện ông dắt trâu lên uống nước ở dòng phía trên trong khi Hứa Do rửa tai ở dòng phía dưới đã trở thành điển cố nổi tiếng, xuất hiện trong nhiều tác phẩm văn học, thi ca, v.v. Như trong Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Tụng Cổ Không Cốc Tập (林泉老人評唱投子青和尚頌古空谷集, CBETA No. 1303) có câu: “Hứa Do tẩy nhĩ, Sào Phủ khiên ngưu, phất tích thành ngấn, dục ẩn di lộ (許由洗耳、巢父牽牛、拂跡成痕、欲隱彌露, Hứa Do rửa tai, Sào Phủ dắt trâu, chùi dấu thành vết, muốn giấu càng lộ).”
sác tập lực
(數集力) Cũng gọi Quán tập lực,Tập lực. Sác nghĩa là luôn luôn, nhiều lần; Tập nghĩa là tập quen, luôn luôn tập quen, gọi là Sác tập. Lực là sức, cái sức do tập quen nhiều lần mà thành, gọi là Sác tập lực. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 13 (Đại 31, 755 trung) nói: Phiền não sinh khởi là do quán tập lực, Thánh đạo hiện tiền thì phiền não tự dứt. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; luận Câu xá Q.29;luận Thành duy thức Q.2].
sách
Quyển sách—A book—A treatise—A tablet.
; (索) Phạn: Pàza. Hán âm: Bá xả, Bá xa. Cũng gọi: Tác, Bảo tác, Kim cương tác. Sơi dây thừng se bằng những sợi chỉ 5 màu, một đầu để cái vòng, đầu kia thêm nửa cây chày 1 chẽ. Sách vốn là chiến cụ hoặc đồ dùng săn bắn. Nhưng trong Mật giáo, nó được dùng để tượng trưng cho phương tiện Tứ nhiếp, trói buộc những chúng sinh cứng đầu khó giáo hóa và hàng phục 4 thứ ma. Nó tương ứng với sự nội chứng của Bồ tát Kim cương sách thuộc Kim cương giới. Nó cũng là vật cầm tay của các vị bồ tát Bất không quyên sách và Thiên thủ Quán âm. [X. phẩm Cụ duyênkinh Đại nhật, kinh Bất không quyên sách Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.61].
sách bồ tát
(索菩薩) Gọi đủ: Kim cương sách bồ tát (Phạm: Vajra-pàza#). Cũng gọi: Tác bồ tát, Kim cương tác bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở gần cửa phía nam, hàng thứ nhất trong Mạn đồ la Kim cương giới, 1 trong Tứ nhiếp, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo, mật hiệu là Đẳng Dẫn Kim Cương, Từ dẫn kim cương. Vị Bồ tát này dùng tâm từ bi bình đẳng dắt dẫn chúng sinh tiến vào Phật đạo, đồng thời, cũng là vị tôn dùng tâm bồ đề thiền định dẫn nhiếp chư Phật vào đạo tràng. Nếu phối hợp với Tứ nhiếp sự của Hiển giáo thì vị tôn này là nội chứng Ái ngữ. Trong hội Thành thân, hình tượng vị tôn này màu vàng lợt, tay trái nắm co lại, để ở chỗ thắt lưng, tay phải cầm sợi dây rắn. Trong hội Vi tế, hội Hàng ma thì tay phải vị tôn này cầm vòng dây. Trong hội Cúng dường, vị này ngồi ngay thẳng trên hoa sen, 2 tay cầm sợi dây. Chủng tử là biểu thị ý nghĩa đem tất cả pháp duyên sinh nhập vào Bồ đề tự chứng đại không. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Giáo vương Q.2; Liên hoa bộ tâm quĩ].
sách dẫn
(索引) Đem nội dung của các kinh luận biên thành mục lục để dễ kiểm tra, như Đại trí độ luận loại tụ tiêu mục, Tông kính lục yếu nghĩa điều mục, Pháp hoa huyền luận tiêu mục v.v... tức đem những mục trọng yếu nêu ở trên sách.
sách dục vấn hoà
(索欲問和) Tiếng dùng trong giới luật. Khi đại chúng trong tùng lâm sắp nhóm họp, nếu 1 vị Tỳ khưu nào đó có việc gấp, cần phải vắng mặt trong cuộc họp để giải quyết công việc, thì gọi là Dục pháp (pháp mong cầu, ở đây nghĩa là mong cầu được vắng mặt). Vị Tỳ khưu muốn được vắng mặt ấy phải đem Dục pháp truyền đạt cho vị Tỳ khưu sẽ có mặt trong cuộc họp, gọi là Dữ dục (giáo dục pháp cho). Vị Tỳ khưu tiếp nhận Dữ dục gọi là Thụ dục (người nhận Dục pháp). Đến khi đại chúng nhóm họp, vị chủ tọa trước tiên phải hỏi: -Hữu thụ Dục giả phủ (Có ai nhận Dục pháp không)? Gọi là Sách dục. Lúc đó, người thụ dục đáp: - Mỗ dữ dục ư ngã (Vị Tỳ khưu tên là... có nhờ tôi). Như vậy là biết đã có pháp sách dục, không có ai phá hòa hợp tăng. Bấy giờ, vị Chủ tọa lại hỏi: - Nhất đồng hòa phủ (Tất cả hòa hợp không)? Đây gọi là Vấn hòa. Hai pháp Sách dục và Vấn hòa phải được thực hành ngay từ lúc đầu của tất cả các loại yết ma. Nói một cách nôm na và vắn tắt cho dễ hiểu là: Theo luật của tăng, khi đại chúng hội họp, tất cả đều phải có mặt. Nhưng nếu vì 1 lí do đặc biệt nào đó, như bệnh nặng chẳng hạn, mà người ấy phải vắng mặt, không dự họp được, thì phải nhờ người khác đưa lí do vắng mặt của mình ra trình bày trước cuộc họp, mong được sự đồng ý chấp thuận để tránh việc phá hòa hợp của chúng tăng. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 3].
sách ha
(索呵) Phạn: Sahà. Hán dịch: Kham Nhẫn, Nhẫn Độ. Chỉ cho cõi nhân gian này, là thế giới do đức Thế tôn giáo hóa. Chúng sinh ở thế giới này thường làm 10 điều ác, nhẫn chịu các phiền não, vì thế gọi là Sách Ha. Từ đời Tùy trở về trước, Sách ha được dịch là Sa Bà, Tạp Hội.
sách phát a xà lê
(策發阿闍梨) Cũng gọi Sách phát sư. Vị giới sư khích lệ sa di khi sa di thụ giới Cụ túc, 1 trong Thập sư. Hoằng giới pháp nghi quyển thượng (Vạn tục 106, 498 hạ) nói: Hai vị Dẫn thỉnh đến liêu Thập sư, thỉnh Sách phát sư.
sách thoại
(索話) Cũng gọi Sách ngữ, Điếu ngữ, Điếu thoại. Trong Thiền lâm, khi thướng đường thuyết pháp, trước hết, bậc thầy nói pháp ngữ, nếu người học có điều gì nghi ngờ thì hỏi, bậc thầy nhờ đó mà giải quyết mối ngờ của người học, đồng thời nhân đó mà thử nghiệm chỗ hiểu biết của người học, giống như người câu cá thả câu tìm cá. Nhưng theo môn Thùy Thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên thì người học thời xưa, khi thướng đường thuyết pháp, nếu có điều ngờ không giải quyết được thì đứng ra thưa hỏi, gọi là Sách thoại: Sách ngữ đời sau đã khác với ý của người xưa. Lại cứ theo Thiền lâm bảo huấn quyển 3 thì Hòa thượng Vạn Am Nhan nói (Đại 48, 1003 trung): Người xưa thướng đường, trước nêu cương yếu của đại pháp để thẩm vấn đại chúng, người học đứng ra thưa hỏi, nhờ đó mà vấn đề được sáng tỏ. Người đời nay thì hư cấu ra 4 câu thơ lạc vận để làm Điếu thoại, rồi 1 người thình lình ra trước chúng, cao giọng ngâm 1 bài thơ xưa, gọi nhau om sòm, rất thô tục! Thật đáng buồn, đáng đau xót! Qua đây, ta thấy diễn biến của đời sau lại càng phức tạp. [X.điếu Tứ tiết bỉnh phất trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7].
sách thánh
Sacred Books.
sách tu
To stimulate—To cultivation of the good; to keep oneself up to the mark.
sách tử bản
(册子本) Bản sách đóng, 1 trong các hình thức đóng sách ở Trung quốc thịnh hành vào đời Tống, những bản kinh Phật đào được ở Đôn hoàng hầu hết là loại Sách tử bản. Sách tử bản là hình thức bản sách thuộc thể bút kí, phần lớn là lấy 1 tờ giấy gấp làm đôi rồi dùng hồ dán từng tờ dính lại, hoặc dùng sợi dây nhỏ khâu gáy đóng thành sách. Có 2 loại: Hồ điệp trang và Đại trang. Hồ điệp trang giống như cách đóng sách ở phương Tây hiện nay, tức là hình thức gấp đôi tờ giấy giống như 2 cánh bướm (Hồ điệp) và khâu lại ở chỗ nếp gấp giấy. Một tờ gấy như thế có 4 mặt chữ. Nhưng Hồ điệp trang của Trung quốc ngày xưa thường dán dính ở chỗ mở tờ giấy, làm thành 1 tờ giấy 2 mặt chữ. Còn Đại trang chính là tương phản với Hồ điệp trang, chỗ đóng ở nơi mở ra của tờ giấy gấp đôi, hình cái túi (đại) có 2 mặt chữ. Sách đóng bằng chỉ phần nhiều theo cách đóng này. Ngoài ra, Sách tử bản cũng từ Trung quốc truyền đến vùng Trung á, như ở các nơi Đôn hoàng, Cao xương, Hắc thủy thành... đều có đào được các bản kinh Phật thuộc loại Sách tử bản, ngoài phần lớn kinh điển bằng chữ Hán ra, còn có các kinh điển bằng các thứ tiếng Tây tạng, Hồi hột, Tây hạ... Chiều hướng viết của các Sách tử bản không giống nhau vì văn tự các nơi có khác nhau, như chữ Hán và chữ Tây hạ đều viết thẳng theo hàng dọc từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Chữ Hồi hột thì có 2 cách: Viết thẳng dọc xuống và viết ngang. Cách viết thẳng dọc là từ trái sang phải, cách viết ngang là từ phải sang trái. Còn chữ Tây tạng thì viết ngang từ trái sang phải. (xt. Triệp Bản).
sách đa
(索哆) Phạn: Sattva. Pàli:Satta. Cũng gọi Tát đóa. Hán dịch: Hữu tình, hàm thức, dũng mãnh. Chỉ cho hữu tình dũng mãnh, tinh tiến, kiên trì, nhẫn nại và vui với việc tu hành. [X. luận Phật tính Q.2; luận Đại trí độ Q.31]. (xt. Tát Đóa).
sái
1) Tưới—To sprinkle. 2) Phơi nắng cho khô: To dry in the sun.
; (灑) Cũng gọi Sa, Soát, Sát, Sí. Chỉ cho chữ (wa), 1 trong 50, hoặc 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Nghĩa là tất cả pháp tính độn, là âm thanh chế phục 6 chỗ (6 căn), chứng được 6 thần thông. Tại Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì vì Bát nhã vô tri tự tính độn, cho nên hợp với chữ Sái này. Cái gọi là tự tính độn chính là cái tâm hoàn toàn không phân biệt; không ngu, không trí, không tuệ, không thức, không tri, không vọng, không giác, cho đến hết thảy các pháp không thể lay động, là 1 kim cương địa thuần tịnh, kiên cố. Như người thế gian quí chuộng trí tuệ, ghét bỏ ngu si, ưa thích Niết bàn, nhàm chán sinh tử. Nhưng chữ Sái này biểu trưng tất cả vốn chẳng sinh, cho đến tất cả vốn là tính vắng lặng, nên thực thì không có lợi (sắc bén – trí tuệ), độn (cùn lụt – ngu si) khác nhau, ví như dao kim cương sắc bén, nếu đối với vật không cứng chắc thì có thể nói là sắc bén, nhưng đối với kim cương mà nói thì sắc bén và cùn lụt cũng không 2 không khác. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 trung) nói: Nếu nghe chữWa liền biết 6 tướng của thân người. Vì chữ Phạm waw nghĩa là 6, lấy chữ wa(sái) làm chữ đầu của chữ waw, Trung quốc dịch là Lục (6) cho nên mới có thuyết Hễ nghe chữWa (sái) liền biết 6 tướng của thân người. Ngoài ra, kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 nêu ra nghĩa chế phục 6 chỗ, được 6 thần thông. Về nghĩa này thì phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng và phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù vấn cũng nói giống nhau. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; kinh Đại phẩm bát nhã Q.8, 53; kinh Hoa nghiêm Q.57 (bản dịch cũ); phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính].
sái chỗ
Out of place—Misplaced
sái phép
Against the rules—Contrary to the rules
sái sái lạc lạc
(灑灑落落) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sái sái là tâm không mê hoặc; lạc lạc là không bị mắc kẹt vào vật, tức là cảnh giới tự tại, tâm không bám dính, xa lìa tất cả sự trói buộc và nhiễm ô. Thiền tông dùng cụm từ này để biểu thị cảnh giới của người đại triệt đại ngộ. Thung dung lục tắc 8 (Đại 48, 232 trung) nói: Nếu ông đã đạt đến cảnh giới đại triệt đại ngộ (sái sái lạc lạc) thì chẳng ngại ta giống như đứa trẻ sơ sinh (khóc oa oa – đà đà hòa hòa).
sái thuỷ kị
(灑水忌) Cũng gọi Hiếu lực kị, Quang hỉ kị. Cứ theo điều Truy kị danh số thường đệ trong Chư hồi hướng thanh qui quyển 4 thì Sái thủy kị là chỉ cho tuần thất thứ 3 (ngày thứ 21) của người chết. Vào ngày này, thân nhân của người chết thường tụng kinh lễ sám, làm phúc tu thiện, bố thí cúng dường để hồi hướng nguyện cầu cho vong linh của người quá cố được vãng sinh Tịnh độ.
sái thủy
Rảy nước—To sprinkle the water.
sái thủy quan âm
Một trong 33 vị Quan Âm, tay phải cầm bình rảy nước cam lồ—One of the thirty-three forms of Kuan-Yin, who holds a vase of sweet-dew in his right hand.
sái tịnh
Phép tu của tông Chân Ngôn, lấy nước cam lồ trong bình tịnh thủy mà rảy khắp đàn tràng (khi rảy nguyện cho tâm Bồ Đề thanh tịnh của hết thảy chúng sanh đều được tăng trưởng)—To purify by sprinkling.
; (灑淨) Cũng gọi Sái thủy. Rưới nước thơm để cho mọi vật được trong sạch. Tức dùng nước thơm đã được gia trì ấn chú rảy quanh đạo tràng và trên các vật cúng khiến cho tất cả được thanh tịnh. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 2, thì tiên nhân Kiếp tỉ la đã kết giới sái tịnh cho 4 vị Vương tử con vua Ý ma di, rồi 4 Vương tử xây dựng thành Kiếp tỉ la. Trong Mật giáo, trước khi tu bí pháp cần phải sái thủy đạo tràng và các vật cúng cho thanh tịnh, về sau bí pháp thịnh hành nên đã phát sinh ra nghi thức sái tịnh. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 1 thì tay phải cầm 1 cành liễu, tay trái cầm chày kim cương và xâu chuỗi, ngồi xoay mặt hướng đông, tụng Phật đính tâm chú, dùng cành liễu khuấy nước, niệm 108 biến chú, rồi cầm bình nước đã trì chú vào trong đạo tràng, bắt đầu rảy nước thơm từ góc đông bắc. Phẩm Tối thắng lập ấn Thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quĩ pháp trong kinh Kim cương thủ quang minh quán đính (Đại 21, 3 thượng) nói: Ấn Kim cương 3 chĩa, quán không gia trì vào đầu ngón cái, tam luân nhưkim cương, trên tất cả vật cúng đều rảy nước thơm để tịnh trừ. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì giống như nước thơm rảy ở trên đất, để trừ sạch dơ uế, Như lai cũng thế, dùng hương giới tính tịnh, hòa hợp với nước bi tính tịnh, rảy vào tâm địa của chúng sinh trong khắp pháp giới, làm cho tất cả hí luận đều được trừ sạch. Trong giới Phật giáo hiện nay, trước khi cử hành pháp hội như thụ giới, Phật thất, bái sám... đều có dùng nước thơm rảy khắp đạo tràng, đó là nghi thức kết giới thanh tịnh. [X. kinh Tô tất địa yết ra Q.trung; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ; kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.4].
sám
Jānabhadrā (S)Trí HiềnHối hận lỗi đã làm.
; Ksamayati (S). To seek forgiveness, patience or indulgence, ksamà meaning patience, forbearance, tr. as sám quá repentance or regret for error; also as confession. It especially refers to the regular confessional service for monk and for nun.
; Ksamayati (skt)—Hối hận về lỗi lầm (hối quá) và xin được tha thứ. Sám hối là nghi thức tu tập thường xuyên trong các khóa lễ của chư Tăng Ni—To repent or regret for error and seek forgiveness, or to ask for pardon. It especially refers to the regular confessional service for monks and nuns—See Sám Hối.
sám chủ
(懺主) Từ tôn xưng ngài Tuân thức, vị cao tăng chùa Linh sơn Thiên trúc ở Hàng Châu, Trung Quốc. Khi trụ trì chùa Linh Sơn, ngài xây dựng sám đường Kim Quang Minh, tu sám Kim quang minh, soạn Kim quang minh tam muội nghi và rất nhiều tác phẩm về nghi thức sám hối, cho nên người đời gọi ngài là Bách bản sám chủ, Thiên Trúc sám chủ, Từ vân sám chủ.
Sám hối
(s: deśanā, kṣama, paṭi karoti, āpatti-pratideśanā, 懺悔): còn gọi là hối quá (悔過, ăn năn những điều sai lầm), là hành vi bộc bạch trước chư Phật và các vị tỳ kheo về những tội lỗi, sai lầm tự mình phạm phải và cầu xin được công nhận. Nguyên ngữ tiếng Sanskrit của từ này có mấy loại khác nhau. Kṣama (悔摩, hối ma) nghĩa là cầu xin tha tội và ăn năn, hối lỗi với những tội lỗi của quá khứ. Trong Luật, khi thuyết giới vào mỗi nữa tháng hay vào ngày chấm dứt kỳ An Cư (安居), có nghi thức tụng giới bổn và phát lộ những tội lỗi đã vi phạm trước đại tăng từ 1 người (Đối Thủ Sám [對首懺]) cho đến 4 người (Chúng Pháp Sám [眾法懺]); hình thức này được gọi là āpatti-pratideśanā (đối trước người khác bộc bạch). Trong A Hàm Kinh (阿含經), có nhiều trường hợp bộc bạch tội lỗi lên đức Thế Tôn và cầu xin tha tội. Trong Phật Giáo Đại Thừa, có nghi thức lễ bái mười phương chư Phật, phát lộ những tội lỗi của Ba Nghiệp thân, miệng, ý cũng như các tội lỗi khác và cầu xin sám hối. Tại Trung Quốc, sám hối đã trở thành một nghi lễ đặc biệt, cho nên nghi thức Sám Pháp (懺法) được hình thành và rất phổ cập, tỷ dụ như Lương Hoàng Sám (梁皇懺), Thủy Sám (水懺), Đại Bi Sám (大悲懺), Dược Sư Sám (藥師懺), Tịnh Độ Sám (淨土懺), Địa Tạng Sám (地藏懺), v.v. Thiên Thai Trí Khải Đại Sư (天台智顗大師) chia sám hối thành Sự Sám (事懺, thể hiện sám hối bằng hành động), Lý Sám (理懺, nhờ quán pháp về lý của thật tướng mà diệt được tội lỗi) và phân ra 3 loại: Tác Pháp (作法, sám hối theo Luật), Thủ Tướng (取相, quán pháp), Vô Sanh (無生, lý sám hối). Đạo Tuyên (道宣) của Nam Sơn Luật Tông (南山律宗) cho rằng Chế Giáo Sám (制敎懺) của giới luật là thuộc về Tiểu Thừa, còn Hóa Giáo Sám (化敎懺) với hình thức sám hối các tội của nghiệp đạo là cọng thông tất cả Phật Giáo, không giới hạn ở thừa nào cả. Y cứ vào Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆沙論), trong giáo học của Thiên Thai Tông có nội dung của sám hối với 5 giai đoạn là Sám Hối (懺悔), Khuyến Thỉnh (勸請), Tùy Hỷ (隨喜), Hồi Hướng (廻向), Phát Nguyện (發願). Bài kệ văn sám hối rất phổ biến được lấy từ quyển 4, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (普賢行願品) của Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經, Taishō 10, 847) là: “Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp, giai do vô thỉ tham sân si, tùng thân ngữ ý chi sở sanh, nhất thiết ngã kim giai sám hối (我昔所造諸惡業、皆無始貪瞋癡、從身語意之所生、一切我今皆懺悔, con xưa vốn tạo các nghiệp ác, đều do từ trước tham sân si, do thân miệng ý mà sanh ra, hết thảy con nay xin sám hối).”
sám hối
Kṣamaya (S), Pariśuddhi (S), Kṣamayati (P), Kṣama (S), Kṣamā (P), Khama (P), Khamāpanā (P), Confession (Suddha = Thanh tịnh)Sự ăn năn xưng tội trước một vị tăng, tượng Phật hay giáo hội. Sám là bày tỏ lỗi ác trước. Hối là cải bỏ những lỗi trước, tu tỉnh những việc sau. Thường thiện nam tín nữ và chư Tăng tụng Hồng Danh Sám vào tối 14 hay 29, 30 âm lịch mỗi tháng.Xem Sám ma.
; Khamàpanà (P). Repentance, confession.
; Ksama (skt)—Repentance (confession and reform)—Sám hối hay Sám ma có nghĩa là thân nên kiên trì nhẫn nại nói ra những lỗi lầm của mình, và thỉnh cầu tiền nhân tha thứ. Trong vô số kiếp luân hồi của ta kể từ vô thủy cho đến ngày nay, vì vô minh tham ái tài, sắc, danh, thực, thùy, của cải, quyền uy, vân vân phủ che khiến cho chơn tánh của chúng ta bị mê mờ, do đó thân khẩu ý gây tạo không biết bao nhiêu điều lầm lạc. Hơn nữa, do từ nơi ngã và ngã sở chấp, nghĩa là chấp lấy cái ta và cái của ta, mà chúng ta chỉ muốn giữ phần lợi cho riêng mình mà không cần quan tâm đến những tổn hại của người khác, vì thế mà chúng ta vô tình hay cố ý làm não hại vô lượng chúng sanh, tạo ra vô biên tội nghiệp, oan trái chất chồng. Ngay cả đến ngôi Tam Bảo chúng ta cũng không chừa, những tội nghiệp như vậy không sao kể xiết. Nay may mắn còn chút duyên lành dư lại từ kiếp trước nên gặp và được thiện hữu tri thức dạy dỗ, dắt dìu, khiến hiểu được đôi chút đạo lý, thấy biết sự lỗi lầm. Thế nên chúng ta phải phát tâm hổ thẹn ăn năn, đem ba nghiệp thân khẩu ý ra mà chí thành sám hối. Sám hối là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà nội tâm chúng ta luôn được gội rữa: Patience or forebearance of repentance or regret for error. From infinite reincarnations in the past to the present, we have existed in this cycle of rebirths. Because of ignorance and greediness for desires of talent, beauty, fame, food, sleep, wealth, and power, etc. which have masked and covered our true nature, causing us to lose our ways and end up committing endless karmic transgressions. Moreover, because of our egotistical nature, we only hold to the concept of self and what belong to us, we are only concerned with benefitting to ourselves but have absolutely no regards on how our actions may affect others. Thus, in this way, whether unintentionally or intentionally, we often bring pains and sufferings to countless sentient beings, committing infinite and endless unwholesome karma, consequently, creating countless enemies. Even the most precious Triple Jewels, we still make false accusations and slander. All such karmic transgressions are countless. Now we are fortunate enough, having a few good karma leftover from former lives, to be able to meet a good knowing advisor to guide and lead us, giving us the opportunity to understand the philosophy of Buddhism, begin to see clearly our former mistakes and offenses. Therefore, it is necessary to feel ashame, be remorseful, and bring forth the three karmas of body, speech and mind to repent sincerely. Repentance is one of the most entrances to the great enlightenment; for with it, the mind within is always stilled.
; (懺悔) Ăn năn tội lỗi, xin được tha thứ. Sám nói đủ là Sám ma (Phạn: Kwama), nghĩa là nhẫn, tức cầu xin người khác tha tội; Hối nghĩa là ăn năn hối hận tội lỗi mình đã gây ra trong hiện tại và quá khứ, nay đối trước Phật, Bồ tát, sư trưởng, đại chúng nói ra hết không giấu giếm, cầu mong đạt mục đích diệt tội. Theo phần chú thích trong Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 15 do ngài Nghĩa tịnh dịch thì Sám và Hối có ý nghĩa khác nhau, Sám là cầu xin được tha thứ(tội nhẹ); Hối, tiếng Phạn là Àpattipra tide- zana (Hán âm: A bát để bát lạt để đề xá na), nghĩa là tự trình bày tội trạng (tội nặng), tức thuyết tội. Trong giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy, khi 1 vị Tỳ khưu phạm tội thì đức Phật bảo vị ấy thực hành sám hối, rồi cứ mỗi nửa tháng cử hành Bồ tát và vào ngày cuối cùng của hạ an cư thì thực hành Tự tứ. Về phương pháp và tính chất của sám hối thì được chia làm nhiều loại: 1. Hai loại sám hối: Theo Tứ phần luật yết ma sớ quyển 1 thì sám hối có 2 loại là Chế giáo sám và Hóa giáo sám. a) Chế giáo sám: Người phạm tội về giới luật phải thực hành pháp sám hối này, chỉ áp dụng cho 5 chúng xuất gia, Tiểu thừa, hiện hành phạm... Chế giáo sám lại chia làm 3 loại: -Chúng pháp sám: Sám hối trước chúng tăng từ 4 người trở lên. -Đối thú sám: Sám hối trước vị sư gia. -Tâm niệm sám: Sám hối trước vị Bản tôn. b) Hóa giáo sám: Người phạm tội nghiệp đạo phải thực hành pháp sám hối này, được áp dụng chung cho tất cả. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 2, thượng, sám hối có Sự và Lí khác nhau. Sự sám là sám hối bằng các việc làm như: Lễ bái, tán thán, tụng kinh... Còn Lí sám (cũng gọi Quán sát thực tướng sám hối) là sám hối bằng cách quán xét lí thực tướng để đạt đến diệt tội. 2. Ba loại sám hối (gọi tắt: Tam sám), có xuất xứ từ Kim quang minh kinh văn cú kí quyển 3, tức là: a) Tác pháp sám hối (gọi tắt: Tác pháp sám): Sám hối được thực hành theo tác pháp của Luật. b) Thủ tướng sám hối (gọi tắt: Thủ tướng sám, cũng gọi Quán tướng sám hối): Tức sám hối bằng cách quán tưởng tướng hảo của Phật để diệt tội. Hai cách sám hối trên đều thuộc Sự sám. c) Vô sinh sám hối (gọi tắt: Vô sinh sám): Sám hối bằng cách quán xét lí thực tướng, quán tưởng thể của tội vốn vô sinh. Đây thuộc Lí sám. 3. Năm loại sám hối: Theo kinh Quán phổ hiền bồ tát thì pháp sám hối của người tại gia có 5 việc: a) Không chê baiTam bảo, cho đến tu lục niệm. b) Hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính sư trưởng. c) Dùng chính pháp trị nước, khiến cho lòng người chân thật, ngay thẳng. d) Vào 6 ngày trai, không giết hại. e) Tin nhân quả, tin đạo Nhất thực, tin Phật bất diệt. 4. Lục căn sám hối(cũng gọi Pháp hoa sám pháp): Sám hối tội chướng của 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thực hành theo Pháp hoa tam muội sám pháp của ngài Trí khải tông Thiên thai. Ngoài ra, trong Vãng sinh lễ tán có nêu 3 pháp sám hối Quảng, Yếu, Lược. 1. Yếu sám hối: Tức pháp sám hối bằng cách xướng tụng bài kệ 10 câu: Nam mô sám hối 10 phương Phật, nguyện diệt hết thảy tội trạng... ngưỡng nguyện thần quang trao tay, nương theo bản nguyện của Phật, được sinh về Tịnh độ cực lạc... 2. Lược sám hối: Tu hành 5 việc: Sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng, phát nguyện. 3. Quảng sám hối: Sám hối các tội nghiệp ở quá khứ hoặc hiện tại trước Tam bảo Phật, Pháp, Tăng và đại chúng đồng tu. [X. kinh Tạp a hàm Q.40; kinh Đại bảo tích Q.40; kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.thượng; kinh Tâm địa quán Q.1, 3; luật Tứ phần Q.37; luật Ngũ phần Q.10, Hữu bộ Tì nại datạpsự Q.13, 26; Pháp uyển châu lâm Q.86; Từ bi thủy sám Q.thượng; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ].
sám hối nghiệp chướng
Repent misdeeds and mental hindrances—Đây là hạnh nguyện thứ tư trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Sám hối nghiệp chướng là vì từ vô thỉ tham, sân, si đã khiến thân khẩu ý tạp gây vô biên ác nghiệp, nay đem trọn cả ba nghiệp thanh tịnh thân, khẩu và ý thành tâm sám hối trước mười phương tam thế các Đức Như Lai—This is the fourth of the ten conducts and vows of Universal Worthy Bodhisattva. Repent misdeeds and mental hindrances means from beginningless kalpas in the past, we have created all measureless and boundless evil karma with our body, mouth and mind because of greed, hatred and ignorance; now we bow before all Buddhas of ten directions that we completely purify these three karmas.
sám hối tam nghiệp
To repent three (body, speech, and mind) karmas. 1) Sám hối thân nghiệp: To repent the body karma—Đức Phật dạy: “Thân là nguồn gốc của tất cả nỗi khổ, là nguyên nhân của mọi hình phạt và quả báo trong tam đồ ác đạo.” Chúng sanh vì ngu muội nên chỉ biết có thân mình chớ chẳng cần biết đến thân người khác. Chỉ biết nỗi khổ của mình chớ chẳng nghĩ đến nỗi khổ của người. Chỉ biết mình cầu được yên vui, mà không biết rằng người khác cũng mong được yên vui. Hơn nữa, cũng vì vô minh mà ta khởi tâm bỉ thử, từ đó mà sanh ra ý tưởng thân sơ, dần dần kết thành thù oán lẫn nhau, gây nghiệp oan trái tiếp nối đời đời kiếp kiếp. Thân nghiệp có ba lỗi lớn là sát sanh, trộm cắp và tà dâm (see Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam). Muốn sám hối nơi thân, phải đem thân lễ kính Tam Bảo, nghĩ biết rằng sắc thân nầy vô thường, nhiều bệnh hoạn khổ đau, và hằng luôn thay đổi, chuyển biến, rốt lại chúng ta chẳng thể nào chủ trì hay chỉ huy được thân nầy. Vì thế chúng ta chớ nên quá lệ thuộc vào thân và đừng nên vì thân nầy mà tạo ra các điều ác nghiệp—The Buddha taught: “The body is the origin of all sufferings, is the root of all tortures, punishments and karmic retributions in the three domains.” Because of ignorance and stupidity, sentient beings are only concerned with our bodies and have not the slightest care of other people's bodies. We are only aware of our own sufferings, but completely oblivious of others' pains and sufferings. We only know of our hopes for peace and happiness but unaware that others, too, have hope for peace and happiness. Moreover, because of ignorance and stupidity, we give rise to the mind of self and other, which gives rise to the perception of friends and strangers. Gradually over time, this perception sometimes develops into feuds and hatred among people, who become enemies for countless aeons (life after life, one reincarnation after reincarnation). There are three kinds of body karma: killing, stealing, and sexual misconducts. To repent the body karma, we should bow and prostrate our body to the Triple Jewels, and realize that our body is inherently impermanent, filled with sicknesses, constantly changing, and transforming. Thus, in the end, we cannot control and command it. We should never be so obssessed and overly concerned with our body and let it causes so many evil deeds. 2) Sám hối Khẩu nghiệp: To repent the speech karma—Đức Phật dạy: “Miệng là cửa ngỏ của tất cả mọi oán họa.” Quả báo của khẩu nghiệp nặng nề vào bậc nhất. Khẩu nghiệp có bốn thứ là nói dối, nói lời mạ lỵ, nói lời thêu dệt, và nói lưỡi hai chiều. Do nơi bốn cái nghiệp ác khẩu nầy mà chúng sanh gây tạo ra vô lượng vô biên tội lỗi, hoặc nói lời bay bướm, ngọt ngào, giả dối, lừa gạt, ngôn hành trái nhau. Một khi ác tâm đã sanh khởi thì không nói chi đến người khác, mà ngay cả cha mẹ, sư trưởng, chúng ta cũng không chừa, không một điều nào mà ta không phỉ báng, chúng ta không từ một lời nói độc ác, trù rủa nào, hoặc nói lời ly tán khiến cho cốt nhục chia lìa, không nói có, có nói không, nói bừa bãi vô trách nhiệm. Phật tử chơn thuần phải luôn sám hối khẩu nghiệp, phải dùng cái miệng tội lỗi ngày xưa mà phát ra những lời ca tụng, tán thán công đức của chư Phật, tuyên nói những điều lành, khuyên bảo kẻ khác tu hành, ngồi thiền, niệm Phật hay tụng kinh. Sau đó, thề trọn đời không dùng miệng lưỡi đó nói ra những lời thô tục, hổn láo. Đối trước Tam Bảo phải thành kính bày tỏ tội lỗi chẳng dám che dấu. Cũng cùng cái miệng lưỡi tội lỗi ngày xưa đã từng gây tạo ra biết bao ác khẩu nghiệp, thì ngày nay tạo dựng được vô lượng công đức và phước lành—The Buddha taught: “The mouth is the gate and door to all hateful retaliations.” The karmic retribution for speech-karma is the greatest. Speech-karma gives rise to four great karmic offenses: lying, insulting, gossiping, and speaking with a double-tongue (see Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam). Because of these four unwholesome speeches, sentient beings accumulate infinite and endless offenses ranging from speaking artificially, sweetly, manipulatively to speaking untruthfully, words and actions contradicting one another, etc. Once the mind of hatred arises, not mention strangers, even one's parents, religious masters, etc., there is not an insult one will not speak. No malicious words will be spared, whether saying hateful words with intention of causing separation between two people, saying something happened when it didn't or when it didn't happened saying it did; thus speaking irresponsibly and chaotically without the slightest consideration of what is being said. Sincere Buddhists should always repent the body-karma by using the “mouth of transgressions” of the past to change it into praises and glorification of the virtuous practices of the Buddhas. Use that speech often to speak of kindness, encouraging others to cultivate the Way and change for the better, i.e. sitting meditation, Buddha-Recitation, or chanting sutras, etc. Thereafter, for the remainder of this life, vow not to use one mouth and tongue to speak vulgarly, disrespectfully, and before the Triple Jewels, sincerely confess and willingly admit to all offenses without concealment. Thus, use the same mouth and tongue which has created countless offenses in the past to give birth to infinite merits, virtues, and wholesome karma at the present. 3) Sám hối Ý nghiệp: To repent the mind-karma—Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ rằng tất cả năm thức từ nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, sở dĩ gây nên vô số tội lỗi là do ở nơi ý thức. Ý thức nầy cũng ví như mệnh lệnh của vua ban xuống quần thần. Mắt ưa ngắm bậy, tai ham nghe âm thanh du dương, mũi ưa ngửi mùi hương hoa, son phấn, lưỡi ưa phát ngôn tà vạy, thân ưa thích sự xúc chạm mịn màng. Tất cả tội nghiệp gây ra từ năm thức nầy đều do chủ nhân ông là tâm hay ý thức mà phát sanh ra. Cuối cùng phải bị đọa vào tam đồ ác đạo, chịu vô lượng thống khổ nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy: “Phòng ý như phòng thành, giữ tâm như giữ gìn tròng con mắt. Giặc cướp công đức, một đời hay nhiều đời, không gì hơn ý.” Nay muốn sám hối ý nghiệp, trước hết phải nghĩ rằng ba nghiệp tham sân si (see Tam Độc) của ý là mầm mống gây tạo nên vô lượng nghiệp tội, là màng vô minh che mất trí huệ, là phiền não bao phủ chơn tâm. Thật là đáng sợ. Phật tử chơn thuần phải đem hết tâm ý sám hối ăn năn, thề không tái phạm—Sincere Buddhists should always remember that the mind consciousness is the reason to give rise to infinite offenses of the other five consciousnesses, from Sight, Hearing, Scent, Taste, and Touch Consciousnesses. The mind consciousness is similar to an order passed down from the King to his magistrates and chancellors. Eyes take great pleasure in looking and observing unwholesome things, ears take great pleasure in listening to melodious sounds, nose takes great pleasure in smelling aromas and fragrance, tongue takes great pleasure in speaking vulgarly and irresponsibly as well as finding joy in tasting the various delicacies, foods, and wines, etc; body takes great pleasure in feeling various sensations of warmth, coolnes, softness, velvet clothing. Karmic offenses arise from these five consciousness come from their master, the Mind; the mind consciousness is solely responsible for all their actions. In the end, this will result in continual drowning in the three evil paths, enduring infinite pains and sufferings in hells, hungry ghosts, and animals. In the Dharmapada, the Buddha taught: “Guard one's mind much like guarding a castle; protect the mind similar to protecting the eye ball. Mind is an enemy capable of destroying and eliminating all of the virtues and merits one has worked so hard to accumulate during one's existence, or sometimes many lifetimes. To repent the mind-karma, sincere Buddhists should think that the three karmas of Greed, Hatred, and Ignorance of the mind are the roots and foundations of infinite karmic transgressions. The mind-karma is the web of ignorance which masks our wisdom and is the affliction and worry that cover our true nature. It should be feared and needs be avoided. Sincere Buddhists should use their heart and mind to sincerely confess and repent, be remorseful, and vow never again to commit such offenses—See Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam.
sám hối văn
(懺悔文) Chỉ cho bài văn được đọc khi sám hối diệt tội. Có nhiều loại dài, ngắn khác nhau, trong đó, nổi tiếng nhất là bài kệ trong phẩm Phổ hiền hành nguyện của kinh Hoa Nghiêm quyển 40 như sau (Đại 10, 847 thượng): Con xưa gây nên bao ác nghiệp- Đều bởi vô thủy tham sân si- Từ thân miệng ý phát sinh ra- Hết thảy con nayđều sám hối. Bài kệ này gọi là Lược sám hối và hiện nay rất nhiều người tu hành trong Phật giáo đều thuộc lòng. Ngoài ra, Bát thập bát Phật đại sám hối văn cũng là 1 trong những hành pháp trọng yếu trong các pháp hội hiện nay.
sám hối với mười phương chư phật
To repent to the ten directions of Buddhas.
Sám hối 懺悔
[ja] ザンゲ zange ||| To repent. Repentance. "Please forgive me for the crimes I have committed." To confess one's crimes before the Buddha. => Ăn năn. Sự ân hận.
Sám Ma
(s: kṣama, 懺摩): ý dịch là hối (悔), nhẫn thứ (忍恕), nghĩa là thỉnh cầu tha nhân tha thứ cho tội lỗi, sai lầm do mình tạo nên. Như trong Đắc Ngộ Long Hoa Tu Chứng Sám Nghi (得遇龍華修證懺儀, CBETA No. 1488) quyển 4 có câu: “Cố chư cổ đức, thỉ khai Sám Ma nhất môn, ý linh địch cựu nhiễm nhi thọ tân huân nhĩ (故諸古德、始開懺摩一門、意令滌舊染而受新薰耳, cho nên chư vị cổ đức xưa kia, bắt đầu khai mở cửa sám hối, với ý khiến cho rửa sạch ô nhiễm cũ mà thọ nhận hương thơm mới).” Hay trong Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ Bút Tước Ký Hội Duyệt (大乘起信論疏筆削記會閱, CBETA No. 768) quyển 9 lại có giải thích rằng: “Hối quá giả, Phạn ngữ Sám Ma, thử vân hối quá, vị trần lộ tiên tội, cải vãng tu lai (悔過者、梵語懺摩、此云悔過、謂陳露先罪、改徃修來, Hối quá, tiếng Phạn là Sám Ma, Tàu gọi là hối quá, tức bày tỏ tội lỗi trước, sửa đổi quá khứ và tu tập tương lai).”
sám ma
Ksamayati (S). To have patience with, to forbear; ask for consideration or pardon.
; Ksama (skt)—Xoa Ma—Nhẫn Thứ hay kiên nhẫn thỉnh cầu được tha thứ cho những lỗi lầm—To forebear or to have patience with; ask for consideration or pardon.
; (懺摩) I. Sám Ma. Phạn: Kwama. Hán dịch: Hối, Nhẫn thứ. Cầu xin người khác tha thứ cho những tội lỗi của mình. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển trung, phần 4, hạ (Đại 40, 349 trung) nói: Tiếng Phạm Sám ma, Hán dịch là Hối Vãng. [X. điều Tùy ý thành qui trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2]. II. Sám Ma. Phạn: Kwauma. Áo may bằng sợi cây gai. Tiếng Sám ma có xuất xứ từ Tứ phần luật khai tông kí quyển 3 phần cuối. Còn theo Đại đường tây vực kí quyển 2 thì trong các loại y phục của người Ấn Độ, loại dệt bằng tơ tằm gọi là Kiều xa da y, còn loại dệt bằng sợi cây gai thì gọi là Tùng ma y.
sám ma y
Clothing made of ksauma, i.e. wild flax.
; Y áo làm bằng một loại cây gai dại—Clothing made of ksauma, i.e. wild flax.
sám nghi
The rules for confession and pardon.
; Nghi thức của phép sám hối (Pháp Hoa Sám Pháp, Phương Đẳng Sám Pháp, Quán Âm Sám Pháp, Di Đà Sám Pháp)—The rules for confession and pardon.
sám nguyện tâm
Repentance-Vow Mind—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, sao gọi là Sám Nguyện Tâm? Chúng ta từ vô thỉ kiếp đến nay, do nơi chấp ngã quá nặng nên bị vô minh hành xử, thân, khẩu, ý vì thế mà tạo ra vô lượng nghiệp nhân, thậm chí đến các việc nghịch ân bội nghĩa đối với cha mẹ, Tam Bảo, vân vân chúng ta cũng không từ. Ngày nay giác ngộ, ắt phải sanh lòng hỗ thẹn ăn năn bằng cách đem ba nghiệp thân khẩu ý ấy mà chí thành sám hối. Như Đức Di Lặc Bồ Tát, đã là bậc Nhất sanh Bổ xứ thành Phật vậy mà mỗi ngày còn phải sáu thời lễ sám, cầu cho mau dứt vô minh, huống là chúng ta! Tâm Sám Nguyện phải bao gồm sám hối nghiệp chướng nơi thân khẩu ý, và nguyện hưng long ngôi Tam Bảo—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, what is a Repentance-Vow Mind? From infinite eons, because we have been drowning deeply in the concept of “Self,” ignorance has ruled and governed us. Thus, our body, speech, and mind have created infinite karmas and even great transgressions, such as being ungrateful and disloyal to our fathers, mothers, the Triple Jewels, etc, were not spared. Now that we are awakened, it is necessary to feel ashamed and be remorseful by using the same three karmas of body, speech, and mind to repent sincerely. Maitreya Bodhisattva, even as a “One-Birth Maha-Bodhisattva,” six times daily he still performs the repentance ceremony praying to eliminate binding ignorance quickly. As a Maha-Bodhisattva, his 'binding ignorance' is infinitesimal, yet He still repents to eliminate them; thus, how can we not repent given that, as unenlightened foolish mortals, we are bound by countless ignorance. Repentance-Vow Mind must include the followings: 1) Sám Hối—Repentance: a) Sám Hối Thân nghiệp—Repentance on the Body Karma: Thân nghiệp tỏ bày tội lỗi, phát lồ cầu được tiêu trừ, rồi dùng thân ấy mà hành thiện nghiệp như bố thí cúng dường, vân vân—Body karma openly confess all transgressions and pray for them to disappear, and then use that body to practice wholesome actions, such as alms givings, offerings, etc. b) Sám Hối Khẩu Nghiệp—Repentance on the Speech Karma: Khẩu nghiệp tỏ bày tội lỗi, phát lồ cầu được tiêu trừ, rồi dùng khẩu ấy mà niệm Phật, tụng kinh, hay ăn nói thiện lành, vân vân—Speech karma openly confess all transgressions and pray for them to disappear, and then use that speech to practice Buddha Recitation, chant sutras, speak wholesomely, etc. c) Sám Hối Ý Nghiệp—Repentance on the Mind Karma: Ý nghiệp phải thành khẩn ăn năn, thề không tái phạm—Mind Karma must be genuine, remorseful, vowing not to revert back to the old ways. 2) Phát Nguyện—Vow-Developing: Phát nguyện hưng long ngôi Tam Bảo, độ khắp chúng sanh để chuộc lại lỗi xưa và đáp đền bốn trọng ân Tam Bảo, cha mẹ, sư trưởng, và chúng sanh—Develop vow to make the Triple Jewels glorious, help and rescue sentient beings, in order to compensate and atone for past transgressions and repay the four-gratefuls including the Triple Jewels, parents, teachers of both life and religion, and all sentient beings.
sám pháp
The mode of action, or ritual, at the confessional; also the various types of confessional, e.g. of Quán Âm, Di Đà, etc.
; Nghi thức hay phương cách sám hối; có nhiều loại như Quán Âm Sám Pháp, Di Đà Sám Pháp, vân vân—The mode of action, or ritual, at the confessional; the various types of confessional, e.g. that of Kuan-Yin, Amitabha, etc.
; (懺法) Cũng gọi Sám nghi. Chỉ cho nghi thức sám hối tội lỗi theo lời dạy trong các kinh. Sám pháp trong Phật giáo Trung quốc bắt đầu từ đời Tấn, dần dần thịnh hành vào thời Nam Bắc Triều. Từ đời Lương thuộc Nam Triều trở về sau, Sám pháp có nội dung sám hối và lễ tán trong các kinh Đại thừa được sử dụng và lưu hành dưới nhiều hình thức thì từ đó đã có rất nhiều văn lễ tán và văn sám hối. Cứ theo thiên Hối tội trong Quảng hoằng minh tập quyển 28 thì có các văn sám hối sau đây: Niết bàn sám khải, Lục căn sám hối, Hối cao mạn văn của vua Giản văn đế đời Lương, Sám hối văn của ngài Trầm ước, Từ bi đạo tràng sám (thường gọi Lương hoàng bảo sám), Kim cương bát nhã sám văn, Ma ha bát nhã văn của vua Lương vũ đế, Quần thần thỉnh Trần vũ đế sám văn của Trần giang Tổng văn, Thắng thiên vương bát nhã sám văn của vua Tuyên đế nhà Trần, Diệu pháp liên hoa kinh sám văn, Kim quang minh sám văn, Đại thông phương quảng sám văn, Hư không tạng bồ tát sám văn, Phương đẳng đà la ni trai sám văn, Dược sư trai sám văn, Sa la trai sám văn, Vô ngại xá thân hội sám văn của vua Trần văn đế. Về các kinh điển y cứ của Sám pháp thì có: kinh Niết bàn, kinh Bát nhã, kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh... Bản tôn được thờ khi tu Sám pháp cũng tùy theo các kinh mà có khác nhau. Về sau lại có nhữngSám nghi y cứ theo các kinh Viên giác, Dược sư, Địa tạng...,đồng thời còn có Thủy sám pháp mang đậm sắc thái chú thuật và Xí thịnh quang pháp liên quan đến tinh tú... Ngoài ra, Chiêmsát sám pháp, Tháp sám pháp... có tư tưởng Đạo giáo cũng dần dần hưng thịnh. Đến khoảng Tùy, Đường, các tông phái Phật giáo dần dần hưng khởi, mỗi phái dựa theo kinh điển mà mình y cứ để soạn ra các hành pháp sám hối, như Đại sư Trí khải tông Thiên thai soạn Pháp hoa tam muội sám nghi, Thỉnh Quán thế âm sám pháp, Kim quang minh sám pháp, Phương đẳng sám pháp, Phương đẳng tam muội hành pháp; Tam giai giáo có ngài Tín hành soạn Thất giai Phật danh; Tịnh độ tông có ngài Thiện đạo soạn Tịnh độ pháp sự tán, ngài Pháp chiếu soạn Ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán; tông Hoa nghiêm có ngài Tông mật soạn Viên giác kinh đạo tràng tu chứng nghi, ngài Nhất hạnh soạn Hoa nghiêm sám pháp; Mật tông có ngài Bất không dịch Phật thuyết tam thập ngũ Phật danh lễ sám văn... Ngoài ra, ngài Tri huyền sao chép Viên giác kinh đạo tràng tu chứng nghi của ngài Tông mật và soạn Từ bi thủy sám pháp, đến nay vẫn còn lưu hành rộng rãi; ngài Trí thăng lại thu gom thành Tập chư kinh lễ sám nghi, đây là ấn bản sớm nhất về các loại nghi tắc sám pháp. Đời Tống là thời kì toàn thịnh của Sám pháp, các bậc đại sư của tông Thiên thai lúc bấy giờ như ngài Tứ minh Tri lễ, Từ vân Tuân thức, Đông hồ Chí bàn... đều thừa kế di pháp của ngài Trí khải, chủ trương lễ sám là hành pháp quan trọng đối với việc tu tập Chỉ quán, cho nên chuyên về Sám nghi. Trong đó, ngài Trí lễ thường tu các Sám pháp như: Pháp hoa sám, Kim quang minh sám, Di đà sám, Thỉnh Quán âm sám, Đại bi sám và soạn Kim quang minh tối thắng sám nghi; Đại bi sám nghi, Tu sám yếu chỉ; ngài Tuân thức(cũng được gọi là Từ vân sám chủ)soạn Kim quang minh sám pháp bổ trợ nghi; ngài Chí bàn soạn Thủy lục đạo tràng nghi quĩ; còn ngài Nguyên chiếu thì soạn Lan bồn hiến cúng nghi, cũng là 1 trong các sám pháp. Vương tử thành đời Kim vậng tập các nhân duyên về Tịnh độ mà soạn thành Lễ niệm Di đà đạo tràng sám pháp (gọi tắt: Di đà sám pháp), được in lại vào năm Chí thuận thứ 3 (1332) đời Nguyên, lưu hành rất rộng. Vua Thái tổ nhà Minh thường mở pháp hội ở Tưởng sơn tại Nam kinh để cầu siêu độ cho các chiến sĩ chết trong cuộc chiến vào những năm cuối đời Nguyên. Về sau, Sám pháp rất phổ biến và cử hành nghi thức sám pháp trở thành 1 trong những pháp tu hành trọng yếu của chư tăng. Đến những năm cuối đời Minh, ngài Vân thê Chu hoành soạn nhiều Sám pháp, sửa chữa lại Thủy lục đạo tràng nghi quĩ, hiệu đính Du già tập yếu thí thực đàn nghi và soạn Thí thực bổ chú (tức Thủy lục và Diện khẩu lưu hành ở thời cận đại). Ngài Thụ đăng soạn Chuẩn đề tam muội hành pháp, Dược sư tam muội hành pháp; ngài Trí húc soạn Chiêm sát thiện ác nghiệp báo kinh hành pháp, Tán lễ địa tạng bồ tát sám nguyện nghi (tức Địa tạng sám pháp), ngài Thiền tu soạn Y lăng nghiêm cứu cánh sự sám(gọi tắt: Lăng nghiêm sám pháp); ngài Như tỉnh soạn Đắc ngộ Long hoa tu chứng nghi (gọi tắt: Long hoa sám nghi). Đến đời Thanh, Hạ đạo nhân biên tập Chuẩn đề phần tu tất địa sám hối huyền văn(gọi tắt: Chuẩn đề sám pháp), lại có Tiêu tai Diên thọ Dược sư sám pháp và Từ bi Địa tạng bồ tát sám pháp (không rõ soạn giả); ngài Kế tăng soạn Xá lợi sám pháp, ngài Hoằng tán biên tập Cúng chư thiên khoa nghi, ngài Kiến cơ thu tập Kim cương kinh khoa nghi bảo quyển, ngài Trí chứng thu tập Thủy sám pháp tùy văn lục, ngài Tây tông tập chú Thủy sám pháp khoa chú... Về sau Sám pháp phổ biến nhất ở thời cận đại thì có: Lương hoàng bảo sám, Thủy sám, Đại bi sám,Dược sư sám, Tịnh độ sám, Địa tạng sám... Ngoài ra còn có Kim cương sám, Bát thập bát Phật hồng danh bảo sám, Thiên Phật hồng danh bảo sám... cũng là những Sám pháp thường được thực hành. Tại Nhật bản, những Sám pháp được thực hành ở thời xưa được gọi là Hối quá, có nhiều loại như Dược sư hối quá, Cát tường hối quá, A di đà hối quá... Sau thời đại Bình an thì có Pháp hoa sám pháp, A di đà sám pháp, Phật danh sám pháp, Xá lợi sám pháp... trong đó, Pháp hoa sám pháp là phổ biến nhất. [X. Thích thị thông giám Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.8, 10, 25; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27; Tục cao tăng truyện Q.11, 17; Hoằng tán Pháp hoa truyện Q.3, 6, 7; Thích thị kê cổ lược Q.2]. (xt. Sám Hối).
sám trừ
Confession and forgiveness.
; Confession and forgiveness.
sán lạn
Bright—Radiant.
sán nhã
Sanjaya (skt)—Entirely Vanquishing (hoàn toàn bị đánh bại). 1) Tên của một vị sáng lập ra một trong mười phái ngoại đạo: Name of the founder of one of the ten heretical sects. 2) Tên của vị thầy của Xá Lợi Phất và Mục Kiến Liên trước khi hai vị nầy về quy-y Phật: Name of the teacher of Maudgalyayana and Sariputra before they were converted by the Buddha. 3) Vua của loài Dạ Xoa: Name of a king of yaksas.
sáng
Brilliant—Lunimous—Bright.
sáng dạ
Intelligent.
sáng dạ thần
Nisakara (skt)—Người tạo ra ban đêm—Maker of the night.
sáng khởi
To create.
sáng loáng
Shining—Flashing—Glittering—Sparkling.
sáng lập
To found—To establish.
sáng ngời
See Sáng Loáng.
sáng suốt
Clear-sighted—Clear-headed (minded)—Conscious—Able-minded.
sáng thế chủ
(創世主) Chỉ cho vị thần linh được xem là đấng sáng tạo ra trời đất, muôn vật và loài người. Về vấn đề này, các tông giáo đều có quan điểm khác nhau. Như Do thái giáo cho rằng Sáng thế chủ đã từ trên đất và nước còn lẫn lộn trong hư không mà tạo ra thế giới, rồi lại dùng đất bụi tạo ra con người. Tông giáo của người Ba tỉ luân (Babylonian) và người Ai cập (Egyptian) chủ trương Sáng thế chủ dùng vật chất có sẵn để tạo ra thế giới và người; đạo Cơ đốc cho rằng Sáng thế chủ tạo ra thế giới từ trong không tuyệt đối. Trung quốc thì có thuyết Bàn cổ khai thiên lập địa, nghĩa là Bàn cổ (thủy tổ của nhân loại) mở ra trời và đất từ một khối đang ngưng kết lẫn lộn ở một chỗ, rồi sau đó lại đem thân mình hóa thành các bộ phận của thế giới. Riêng Phật giáo thì không bàn đến vấn đề Sáng thế chủ và thế giới từ đâu mà có, là vì Phật giáo tuy thừa nhận có rất nhiều thần linh, chư thiên, nhưng xem những vị này chỉ là một hình thức khác của chúng sinh, chủ trương tinh thần bất diệt, nhưng phủ nhận sự tồn tại của 1 vị thần sáng tạo ra vũ trụ, muôn vật. Phật giáo đặt nền tảng trên lập trường Duyên sinh (khởi) tính không, chủ trương vô thần (người sáng thế), vô ngã (linh hồn thường trụ ất biến), cho rằng vũ trụ là do nghiệp lực của cộng đồng chúng sinh chiêu cảm, do nhiều nhân duyên tạo thành; bản thể của chúng sinh là thức bị nghiệp xông ướp (huân tập); thức là thể bị nghiệp nhiễm thành; hành nghiệp tăng giảm từng sát na (tích tắc), bản thể của thức cũng theo đó mà biến động không ngừng, vì thế không có 1 linh hồn thường trụ bất biến, cũng không có vị thần nào sáng tạo và chủ tể thế giới.
sáng trí
Intelligent—Able-minded—Clear-headed.
sáng trưng
Brilliant—Bright—Dazzling.
sáng tác
To compose (music)—To write (a book).
sáng tạo
Creatively—To create—To invent
sáng tỏ
To clear up (explain--solve) all misunderstandings.
sáng ý
See Sáng Trí.
sáng, trưa, chiều, tối chỉ một hồng danh a di đà
Devoted cultivators should recite Amitabha's name without interruption in the morning, at noon, in the evening and at night.
sánh bước
To walk abreast (alongside of someone).
sánh bằng
To be comparable (equal) to.
sáp nhập với
To be incorporated with.
sáp đan
(插單) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Đơn là đơn vị, chỉ cho cái giường ngồi có dán tên của tỉ khưu. Sau được dùng để chỉ cho chỗ ngồi của vị tăng. Sáp nghĩa là sáp nhập, chỉ cho vị Tỳ khưu vào Thiền đường tọa thiền, sáp nhập với chúng tăng để tu hành, tức đem cái chỗ ngồi của mình sáp nhập với chỗ ngồi của chúng tăng. Vị tăng hành cước du phương đến tùng lâm, chỉ sau khi sáp đơn mới được xem là 1 thành viên của Tăng đường, được sinh hoạt chung với chúng tăng. Điều Tân giới tham đường trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1138 hạ) nói: Sau đó, về Tăng đường sáp sơn, theo chúng ngồi thiền. Ngoài ra, dời đổi chỗ ngồi cũng gọi là sáp sơn.
Sát
刹; C: chà; J: setsu;|1. Thế giới, đất nước, cõi (s: kṣetra); 2. Một cây cột dựng thẳng trước một Phật điện, cho biết đây là một tự viện, một ngôi chùa, và vì vậy, cũng có nghĩa là một ngôi chùa; 3. Một lối viết tắt của Sát-đế-lợi (刹帝利; s: kṣatriya), một giai cấp xã hội bao gồm vua chúa và quân binh; 4. Một ngôi chùa, một bảo tháp.
sát
Kśa (S), Ksha (S)ĐộĐất, ruộng (Thí dụ: Phật sát = Phật quốc, Tịnh sát = Tịnh độ).
; Ksetra (S). Land, fields,country, place; also a universe consisting of three thousand large chiliocosms.
; 1) Cắt đứt mạng sống: To cut down, or cut off the life. 2) Chà sát: To rub—To wipe. 3) Sát sanh: To kill. 4) Đất: Land. 5) Khoảng thời gian rất ngắn (Sát na): A very short period of time. 6) Sát (rãi ra): To scatter—To set loose—To sow. 7) Vicara (p): Sustained application—Danh từ “Sát” có nghĩa là quan sát hay dò xét. Trong A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), “Sát” có nghĩa là “liên tục đặt tâm trên đối tượng.”—The word “vicara” usually means “examination,” but in Abhidharma it signifies the “sustained application” of the mind on the object. Whereas “vitakka” is the directing of the mind and its concomitants towards the object, vicara is the continued exercise of the mind on the object. a) “Tầm” tựa như con chim đang xoải cánh rộng ra để bay, còn “Sát” thì tựa như con chim đang bay lượn trên không trung với đôi cánh xoải rộng: Vitakka is like a bird's spreading out its wings to fly, vicara is like the bird's gliding through the air with outstretched wings. b) “Tầm” tựa như con ong bay hướng về cánh hoa, “Sát” tựa như con ong đang bay lượn trên hoa: “Vitakka” is like a bee's diving towards a flower, vicara is like the bee's buzzing above the flower. c) Trong thực tập thiền, thì “Sát” giúp tạm thời khắc phục hoài nghi: In practicing meditation, “vicara” serves to temporarily inhibit the hindrance of doubt.
; (殺) I. Sát. Phạn: Kwetra. Gọi đủ: Hột sai đát la, Sát đa la, Sai đa la, Sát ma. Hán dịch: Thổ điền, Độ, Quốc, Xứ. II. Sát. Phạn: Lakwatà. Gọi đủ: Lạt sắt chi. Hán dịch: Tiêu chí, Kí hiệu. Chỉ cho cái cột phướn, cột cờ. Thông thường chùa viện được gọi là Tự sát, Phạm sát, Kim sát hoặc Danh sát, bởi vì từ xưa có phong tục dựng cây cột phướn trước cửa chùa nên mới có cái tên gọi trên. Khi các vị tăng nói chuyện với nhau, thường gọi chùa của nhau là Bảo sát.
; (刹) I. Sát. Cắt đứt sự liên tục của dòng sống. Đại nhật kinh sớ quyển 10 cho rằng dứt trừ gốc rễ gọi là Sát(giết), tức dứt trừ mệnh căn (gốc sự sống) của tất cả chúng sinh. Nhưng theo Mật giáo, mệnh căn chính là các thứ phiền não vô thủy vô minh, đoạn trừ vô minh phiền não là nghĩa sâu xa của chữ Sát (tức giết chết tất cả vô minh phiền não). [X. Đại thừa nghĩa chương Q.7]. II. Sát. Cũng gọi Sa, Sái. Chỉ cho chữ (wa) trong 50 hoặc 42 chữ cáiTất đàm. Theo phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du Già Kim Cương đính thì chữ Sái chỉ cho độn tính của tất cả các pháp. (xt. Sái).
sát can
Yasti (skt)—Sát Trụ—Kim Sát—Biết Sát—Cây cột cờ của tự viện, dựng trên đỉnh tháp, bên trên có gắn bảo châu hay hỏa châu mạ vàng, một biểu tượng của Đạo Phật—The flagpole of a monastery, surmounted by a gilt ball or pearl, symbolical of Buddhism; inferentially a monastery with its land.
sát cánh
To be side by side (elbow to elbow).
sát giả
The murderer, a name for Màra.
; Kẻ sát nhân, một tên của ma quân—The murderer, a name for mara
sát giới
Precept on not-killing.
sát hãn
Lau mồ hôi—To wipe off sweat.
sát hạch
to examine.
sát hại
To kill.
sát hại tưởng
Vihiṃsa-saṃjā (S).
sát hải
Land and sea.
; Đất và biển—Land and sea.
; (刹海) Gọi đủ: Sát độ đại hải. Tục gọi là Vũ trụ. Chỉ cho thế giới trong 10 phương. Chữ Sát là dịch âm tắt từ chữ Phạn Kwetra, Hán dịch là Quốc độ, sát độ; Hải nghĩa là biển cả. (xt. Sát).
Sát lợi 刹利
[ja] セツリ setsuri ||| A transliteration of the Sanskrit kṣatriya (刹帝利), the warrior/political caste in ancient India. => Phiên âm chữ Kṣatriya (Sát-đế-lợi刹帝利) từ tiếng Sanskrit, thành phần chiến sĩ, vua quan trong xã hội thời cổ đại Ấn Độ.
sát lỵ
Kṣatriya (S), Khattiya (P)Sát đế lợiGiai cấp vua chúa, vương quyền, võ sĩ, giai cấp thứ hai ở Ấn ngày xưa Xem Sát đế lỵ.
sát ma
Ksema (skt)—Nơi cư ngụ—A residence, dwelling, abode, land, property.
Sát Na
(s: kṣaṇa, p: khaṇa, 刹那): âm dịch là xoa nô (叉拏), ý dịch là niệm (念), niệm khoảnh (念頃, khoảnh khắc của niệm). Ở Ấn Độ, nó được dùng như là đơn vị biểu thị thời gian ngắn nhất. Thông thường người ta cho rằng đối với một người có sức mạnh thì trong một khoảng khảy móng tay đã trải qua 65 sát na. Theo Câu Xá Luận (s: Abhidharmakośabhāṣya, 倶舍論), 120 sát na là 1 Đát Sát Na (s: tatkṣaṇa, 怛刹那), 60 Đát Sát Na là 1 Lạp Phược (s: lava, 臘縛), 30 Lạp Phược là 1 Mâu Hô Lật Na (s: muhūrta, 牟呼栗多), 30 Mâu Hô Lật Na là một ngày đêm. Theo đó, ta thấy rằng 1 Sát Na là 1/75 giây, thể hiện thời gian rất ngắn đến nỗi không thể có cảm giác biết được.
sát na
Kṣaṇa (S), Khanika (P), Setsuna (J)NiệmKhoảng thời gian bằng một ý tưởng thoáng qua. 90 sát na bằng một niệm (đơn vị thời gian). Một sát na có 900 lần sinh diệt.
; Ksana (S). An indefinite space of time, a moment, an instant; the shortest measure of time, as kalpa is the longest.
; Là thời gian rất ngắn, 1/60 của giây.
; Ksana (skt)—Một khoảnh khắc được xem như một đơn vị đo lường thời gian—An instance as a measure of time. 1) Khoảnh khắc của một khoảng thời gian rất ngắn, đối lại với kiếp là một khoảng thời gian dài: The shortest period or measure of time, a moment, an instant; in contrast with kalpa, the longest period of time. 2) 65 (có chỗ nói 60) sát na tương đương với một cái khảy móng tay—Sixty-five (some says 60) ksanas are said to pass the clicking of the fingers. 3) 90 sát na được coi như một niệm: 90 ksanas are equal to a thought. 4) Một sát na tương đương với một phần bảy mươi lăm giây, hay 4.500 sát na tương đương với một phút—A ksana is equal to one seventy-fifth of a second, or 4,500 ksanas are equal to a minute.
; (刹那) Phạn: Kwaịa. Pàli:Khaịa. Cũng gọi Xoa noa. Hán dịch: Tu du, Niệm khoảnh. Từ ngữ chỉ đơn vị thời gian cực ngắn như chớp mắt, giây lát... có các thuyết sau đây: 1. Theo luận Câu xá quyển 12 thì 120 sát na là 1 đát sát na (Phạn: Tat-kwaịa), 60 đát sát na là 1 lạp phược (Phạn: Lava, cũng gọi La dự), 30 lạp phược là 1 mâu hô lật đa (Phạn: Muhùrta, Hán dịch là tu du), 30 mâu hô lật đa tức là 1 ngày đêm. 2. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 17 thì 20 niệm là 1 chớp mắt, 20 chớp mắt là 1 cái búng móng tay, 20 cái búng móng tay là 1 la dự (lạp phược), 20 la dự là 1 tu du, 30 tu du là 1 ngày đêm. 3. Có thuyết cho rằng 1 sát na khác với 1 niệm. Theo phẩm Quán không trong kinh Nhân vương quyển thượng (bản dịch của ngài Cưu ma la thập) thì 90 sát na là 1 niệm. Còn theo Vãng sinh luận chú quyển thượng thì 60 sát na là 1 niệm. 4. Theo luận Đại trí độ quyển 30, 83 thì 60 niệm là 1 cái búng tay; theo luận Câu xá quyển 12 thì 65 sát na là 1 cái búng móng tay. 5. Cứ theo thứ tự 1 ngày đêm, 1 ngày, nửa ngày, 1 giờ, khoảng bữa ăn, chốc lát, giây lát, khoảng chớp mắt, hơi thở... nói trong kinh Đại bát nhã quyển 347, thì 1 sát na tương đương với khoảng bữa ăn. 6. Theo phẩm Quán không trong kinh Nhân vương quyển thượng do ngài Cưu ma la thập dịch thì trong 1 sát na có 900 lần sinh diệt; còn theo Vãng sinh luận chú quyển thượng thì trong 1 sát na có 101 lần sinh diệt. Ngoài ra, sự sinh diệt trong khoảng 1 sát na được gọi là Sát na sinh diệt hoặc Sát na vô thường. Một sát na hiện tại gọi là Hiện tại, sát na trước gọi là Quá khứ, sát na sau gọi là Vị lai, đó là Sát na tam thế. [X. luận Đại tì bá sa Q.136; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Thuận chính lí Q.32; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18]. (xt. Thời).
sát na sinh diệt
Ksanabhanga (S). All things are in continuous flow, born and destroyed every instant. Perpetual and simultaneous transformations of thought.
; Chư pháp chuyển động liên tụ, trong khoảnh khắc một sát na có cả sinh và diệt—All things are in continuous flow, born and destroyed every instant.
; (刹那生滅) Chỉ cho sự sinh khởi và diệt vong trong 1 sát na. Luận Đại trí độ quyển 15 (Đại 25, 171 thượng) nói: Trong khoảng búng móng tay có 60 thời, trong mỗi thời tâm đều có sinh diệt.(...) Hành giả quán tâm sinh diệt như nước chảy, đèn cháy. (xt. Sinh Diệt, Sát Na).
sát na tam thế
The moments past, present, future.
; Ba thời khác nhau trong khoảnh khắc ba sát na, sát na quá khứ, sát na hiện tại và sát na vị lai—The moments past, present, future.
sát na vô thường
Not a moment is permanent, but passes through the stages of birth, stay, change, death.
; Không có lúc nào được gọi là thường hằng, chỉ trong khoảnh khắc một sát na mà có đầy đủ bốn tướng sanh, trụ, dị , diệt—Not a moment is permanent, but passes through stages of birth, stay, change, death.
; (刹那無常) Đối lại: Nhất kì vô thường. Sự vô thường trong 1 sát na. Chỉ cho khoảng 1 sát na có đủ 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, nghĩa là vô thường biền chuyển. (xt. Sát Na, Vô Thường).
sát na đẳng khởi
Tatkṣaṣa-Samutthana (S)Tâm sở và nghiệp khởi trong cùng một sát na khi tạo nghiệp.
; (刹那等起) Đối lại: Nhân đẳng khởi. Cũng gọi Tùy chuyển tâm, Hậu đẳng khởi, Cộng sát na duyên khởi. Tâm chuyển thì nghiệp cũng đồng thời phát khởi. Đối với nhân năng phát (Nhân đẳng khởi) của niệm đầu tiên mà nói, từ niệm thứ 2 trở về sau, cùng với tâm, tâm sở cùng chuyển mà phát ra Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp thì gọi là Sát na đẳng khởi. Nghĩa là chính lúc đang tạo nghiệp, nghiệp và tâm không lìa nhau. Trong 3 loại: Thẩm lự tư, Quyết định tư và Động phát thắng tư, tông Duy thức cho Sát na đẳng khởi thuộc về Động phát thắng tư. [X. luận Câu xá Q.13; luận Thuận chính lí Q.36; Thành duy thức luận diễn bí Q.2, phần đầu]. (xt. Nhân Đẳng Khởi, Chuyển Tùy Khởi).
sát na định
Khanika-samādhi (P), Kṣanika-samādhi (S), Kṣaṇabhaṅga (S), Khaṇabhaṅa (P), Momentary concentration.
; (刹那定) Phạn: Kwaịika-samàdhi. Pàli:Khaịika-samàdhi. Sát na đầu tiên của Thiền định ở cõi Sắc. Khi hành giả vào Sơ thiền mà sinh vui mừng là sát na đầu tiên củathiền định cõi Sắc, gọi là Sát na định, tức trước Cận hành định và An chỉ định. [X. luận Thanh tịnh đạo 4].
sát nghiệp
The karma resulting from killing.
; Một trong mười ác nghiệp, tức ác nghiệp giết hại các loài hữu tình khác—One of the ten kinds of evil karma, the karma resulting from kiling—See Thập Ác.
sát nghĩa
Exact sense.
sát nhau
Close together.
sát nhân bất triếp nhãn
(殺人不眨眼) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Giết người không chớp mắt, nghĩa là giết người một cách bình tĩnh, thản nhiên, không run sợ. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ bậc thầy đã triệt ngộ, tiếp hóa người học với thái độ lạnh lùng, nghiêm khắc, không biểu lộ mảy may tình cảm nào. Bích nham lục tắc 4 (Đại 48, 144 trung) nói: Kẻ nào giết người không chớp mắt, thản nhiên như không mới có thể thành Phật tức khắc. Người thành Phật tức khắc thì tự nhiên giết người chẳng chớp mắt, mới có phần tự do tự tại. X. Thung dung lục tắc 16, Bích nham lục tắc 13].
sát nhân đao hoạt nhân kiếm
(殺人刀活人劍) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Dao giết người, gươm cứu người, ví dụ bậc thầy vận dụng phương pháp chỉ dẫn người họcmột cách tự do khéo léo, rất linh hoạt, vừa nghiêm khắc vừa khoan dung, không thiên chấp 1 phương pháp nào, nên ví dụ là dao giết người, gươm cứu người. Bích nham lục tắc 12 (Đại 48, 152 hạ) nói: Dao giết người và gươm cứu người là quy củ của tông phong đã có từ thời xưa và cũng là then chốt của thời nay. Nếu nói về chỗ giết người thì chẳng thương tổn mảy may; mà bàn về chỗ cứu người thì vùi thân mất mạng.
sát nhân đao, hoạt nhân kiếm
Dao giết người, kiếm làm sống. Cơ xảo của chư Tổ tiếp dẫn hậu học có cao thấp. Thấp là tiểu cơ tiểu dụng, nghĩa là chỉ biết dùng sát nhân đao mà chẳng biết dùng hoạt nhân kiếm. Cao là đủ đại cơ đại dụng, khéo dùng sát nhân đao, cũng khéo dùng hoạt nhân kiếm. Sát nhân đao chỉ có thể khiến người tiểu tử tiểu hoạt, còn đồng thời biết dùng sát nhân đao và hoạt nhân kiếm thì có thể khiến người đại tử đại hoạt.
sát niệm
A thought (90 ksana equal one finger-snap, 90th of a thought equal 4.500th a minute).
sát niệm sanh diệt
All things are in continuous flow, born and destroyed every instant.
sát niệm tam thế
The moments, past, present and future.
sát niệm vô thường
Not a moment is permanent, but passes through the stages of birth, stay, change and death.
sát phật sát tổ
(殺佛殺祖) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Giết Phật giết Tổ. Chỉ cho cảnh giới siêu việt, không chấp trước Phật và Tổ. Sát là phá trừ chấp trước; sát Phật là đả phá sự chấp trước Phật; hoặc trước tiên phải không có ý thức về mình là Phật thì mới có thể thành Phật chân thực. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 240 hạ) nói: Nếu học Phật ngồi, thì Phật không có tướng nhất định; đối với pháp vô trụ không nên lấy bỏ. Nếu ông học Phật ngồi tức là giết Phật.
sát quỉ
To slay demons; a ghost of the slain; a murderous demon; a metaphor for impermanence.
sát quỷ
1) Loài quỷ giết hại chúng sanh (các chùa thường vẽ sát quỷ với hai tay ôm lấy bánh xe luân hồi): To slay demons; a ghost of the slain; a murderous demon. 2) Ám chỉ vô thường: A metaphor for impermanence.
; (殺鬼) Chỉ cho sự vô thường giống như quỉ giết người. Bởi lí vô thường khiến mọi người đã sinh ra thì không kể giàu nghèo sang hèn đều phải chết, không ai tránh khỏi.bMa ha chỉ quán quyển 7 (Đại 46, 93 hạ) nói: Vô thường sát quỉ, không chọn hiền tài. [X. kinh Pháp cú thí dụ Q.1].
sát sanh
See Sát Sinh.
sát sanh giới
Prāṇātipāta (S), Pāṇavadha (P), Pāṇatipāta (P)Sát sanh.
sát sinh
Pànaghàta (P). To take life, kill the living, or any conscious being; the taking of human life offends against the major commands, of animal life against the less stringent commands. Suicide also leads to severe penalties.
; Panatipata (p). (I) Nghĩa của sát sanh—The meanings of Panatipata: 1) Một trong mười ác nghiệp, giết hại mạng sống của loài hữu tình. Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, sát sanh là cố ý giết chết một chúng sanh. Trong Phạn ngữ, “Panatipata,” pana có nghĩa là đời sống tâm vật lý của một chúng sanh. Xem thường đời sống, tiêu diệt, cắt đứt, ngăn chận sức tiến của năng lực một đời sống, không cho nó tiếp tục trôi chảy là panatipata. Pana còn có nghĩa là cái gì có hơi thở. Do đó tất cả những động vật, kể cả loài thú, đều được xem là pana—One of the ten kinds of evil karma, to kill living beings, to take life, kill the living, or any conscious being. According to The Buddha and His Teaching, written by Most Venerable Narada, killing means the intentional destruction of any living being. The Pali term pana strictly means the psycho-physical life pertaining to one's particular existence. The wanton destruction of this life-force, without allowing it to run its due course, is panatipata. Pana also means that which breathes. Hence all animate beings, including animals, are regarded as pana. 2) Cây cỏ không được xem là “sinh vật” vì chúng không có phần tinh thần. Tuy nhiên, chư Tăng Ni cũng không được phép hủy hoại đời sống của cây cỏ. Giới nầy không áp dụng cho những cư sĩ tại gia—Plants are not considered as “living beings” as they possess no mind. Monks and nuns, however, are forbidden to destroy even plant life. This rule, it may be mentioned, does not apply to lay-followers. 3) Theo giáo thuyết nhà Phật thì giết người là phạm trọng giới, giết bất cứ loài sinh vật nào cũng đều phạm khinh giới. Tự vẩn cũng đưa đến những hình phạt nặng nề trong kiếp lai sanh—According to the Buddhist laws, the taking of human life offends against the major commands, of animal life against the less stringent commands. Suicide also leads to severe penalties in the next lives. (II) Năm điều kiện cần thiết để thành lập một nghiệp sát sanh—Five conditions that are necessary to complete the evil of killing: 1) Có một chúng sanh: A living being. 2) Biết rằng đó là một chúng sanh: Knowledge that it is a living being. 3) Ý muốn giết: Intention of killing. 4) Cố gắng để giết: Effort to kill. 5) Giết chết: Consequent death. (III) Hậu quả hay quả báo của sát sanh: Nghiệp dữ gây ra do hành động sát sanh nặng hay nhẹ tùy sự quan trọng của chúng sanh bị giết—The consequences of killing. The gravity of the evil deed of killing depends on the goodness and the magnitude of the being concerned. 1) Giết một bậc vĩ nhân hiền đức hay một con thú to lớn tạo nghiệp nặng hơn là giết một tên sát nhân hung dữ hay một sinh vật bé nhỏ, vì sự cố gắng để thực hiện hành động sát sanh và tai hại gây ra quan trọng hơn: The killing of a virtuous person or a big animal is regarded as more heinous than the killing of a vicious person or a small animal, because a greater effort is needed to commit the evil and the loss involved is considerably great. 2) Quả dữ của nghiệp sát sanh bao gồm—The evil effetcs of killing include: a) Yểu mạng: Brevity of life. b) Bệnh hoạn: Ill-health. c) Buồn rầu khổ nạn vì chia ly: Constant grief due to the separation from the loved one. d) Luôn luôn lo sợ: Constant fear. (IV) Những lời Phật dạy về “Sát Sanh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Killing” in the Dharmapada Sutra: 1) Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng sợ sự chết; vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết chớ bảo giết—All tremble at sword and rod, all fear death; comparing others with onerself, one should neither kill nor cause to kill (Dharmapada 129). 2) Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng thích được sống còn; vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết chớ bảo giết—All tremble at sword and rod, all love life; comparing others with oneself; one should not kill nor cause to kill (Dharmapada 130). 3) Nếu lấy đao gậy hại người toàn thiện toàn nhân, lập tức kẻ kia phải thọ lấy đau khổ trong mười điều—He who takes the rod and harms a harmless person, will soon come to one of these ten stages (Dharmapada 137): a) Thống khổ về tiền tài bị tiêu mất, thân thể bị bại hoại, hoặc bị trọng bịnh bức bách—He will be subject to cruel suffering of infirmity, bodily injury, or serious sickness (Dharmapada 138). b) Hoặc bị tán tâm loạn ý, hoặc bị vua quan áp bách, hoặc bị vu trọng tội, hoặc bị quyến thuộc ly tán—Or loss of mind, or oppression by the king, or heavy accusation, or loss of family members or relatives (Dharmapada (139) c) Hoặc bị tài sản tan nát, hoặc phòng ốc nhà cửa bị giặc thiêu đốt, và sau khi chết bị đọa vào địa ngục—Or destruction of wealth, or lightening fire fire burn his house, and after death will go to the hell (Dharmapada 140).
; (殺生) Phạn: Pràịatipàta. Giết hại sinh mạng của tất cả loài hữu tình như người, súc vật... Theo luận Đại trí độ quyển 13 thì trong các tội, tội sát là nặng nhất, còn trong các công đức thì công đức không sát sinh là lớn nhất. Người thế gian tham tiếc mạng sống cũng là bậc nhất, dứt mất mạng sống của người và súc vật, tự tay mình giết hay sai bảo người khác giết, tội cũng như nhau. Tỳ khưu giết người phạm tội Ba la di; tự sát thì kết tội Thâu lan gia, tự làm tổn thương thân thể thì kết tội Đột cát la; giết hại súc sinh, phạm tội Ba dật đề. Người phạm giới sát, sau khi chết sẽ phải đọa vào 3 đường ác địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, khi được làm người cũng không tránh khỏi nhiều tật bệnh và chết yểu.
sát sinh giới
(殺生戒) Sát sinh, Phạn: Pràịàtipàta hoặc Pràịàtighàta. Cũng gọi Đoạn nhân mệnh học xứ, Sát nhân giới,Sát giới. Giới cấm giết hại người và súc vật, là 1 trong 4 tội Ba la di, 1 trong 10 trọng cấm, 1 trong 5 giới, 1 trong 8 giới, 1 trong 10 giới.Phàm chính tay mình giết người, hoặc sai bảo người khác, hoặc cầm dao trao cho người rồi khuyên họ tự sát, đều phạm tội Ba la di (tội nặng nhất). Theo luật Tứ phần quyển 2, đức Phật ở thành Tì xá li nói pháp Quán bất tịnh, các vị Tỳ khưu vì nhàm chán thân mệnh nên nhờ 1 người tên là Vật lực già nan đề đến giết mình dùm. Đức Phật sau khi biết được việc ấy liền chế định giới này. Về thứ tự giới Sát nằm trong các giới thì các bộ luật nói không giống nhau, có chỗ đặt ở vị trí thứ 3 trong 4 Ba la di, lại có chỗ đặt ở vị trí thứ nhất. Theo sự giải thích trong Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ quyển 1 của ngài Pháp tạng, thì Bồ tát lấy đại bi làm gốc, bởi thế Đại thừa đặt giới sát ở vị trí thứ nhất; giới Thanh văn thì không lấy giới Sát làm đầu mà đặt giới Dâm vào bậc nhất, vì rất ít người xuất gia phạm giới Sát. Vả lại, giới Thanh văn là giới căn cứ vào điều đã phạm mà kết tội, lại vì dâm dục dễ khởi nên các bộ luật xếp theo thứ tự: Dâm, Đạo, Sát, Vọng. Người tại gia phần nhiều cầu phúc đức, hàng Bồ tát Đại thừa thì lấy đại bi làm nền tảng, vả lại, Sát là tội thể tính, vì thế trong 5 giới hoặc 10 giới, Sát được xếp vào vị trí đầu. Về tướng phạm giới Sát thì các kinh luận nói hơi khác nhau, nhưng đại khái có thể chia làm 5 tướng: Khởi tâm giết, có chúng sinh để giết, có ý tưởng về chúng sinh muốn giết, dùng phương tiện để giết và cuối cùng thực hiện việc giết. Căn cứ vào chúng sinh bị giết khác nhau mà phạm tội cũng có khác nhau: Giết người thì phạm tội Ba la di, giết súc sinh phạm tội Ba dật đề; hoặc chia làm 3 phẩm: Giết hại chúng sinh thượng phẩm như chư Phật, thánh nhân, cha mẹ... thì phạm tội Ngũ nghịch; giết hại chúng sinh trung phẩm như người, trời... thì phạm tội Ba la di; giết hại chúng sinh hạ phẩm như súc sinh... thì là tội Khinh cấu (tội nhẹ). Về quả báo của hành động sát sinh, theo kinh Hoa nghiêm quyển 24 (bản dịch cũ) thì tội sát sinh phải đọa vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ; nếu được sinh làm người thì phải chịu 2 loại quả báo: Chết non và nhiều bệnh tật. [X.luật Ma ha tăng kì Q.4; luật Ngũ phần Q.2; luật Thập tụng Q.2; luận Thành thực Q.8; luận Du già sư địa Q.59; Bồ tát giới kinh nghĩa sớ Q.hạ].
Sát sinh 殺生
[ja] サツショウ satsushō ||| (1) The taking of life; killing a living being (prāṇa-atipāta). This is one of the ten evil actions 十惡, and is prohibited as part of the basic moral conduct in Buddhism, in the five precepts 五戒. (2) A killer. Someone who takes life. => 1. Sát hại mạng sống; sát hại chúng sinh (s: prāṇa-atipāta). Đây là một điều trong Thập ác十惡, bị cấm không được vi phạm như là một phần giới luật căn bản trong đạo Phật; là một trong năm giới cấm. 2.Kẻ sát hại, người chiếm đoạt mạng sống kẻ khác.
sát thanh
(殺聲) Cách đánh chuông, trống báo hiệu sắp chấm dứt, đánh chuông, trống lúc đầu đánh chậm, rồi nhanh dần, lúc sắp đổ hồi thì đánh thật nhanh và liên tục, cuối cùng chấm dứt hồi thứ nhất, đặc biệt đánh 1 tiếng thật to để báo hiệu hồi thứ nhất đã chấm dứt. Khi chấm dứt hồi thứ 2 thì đánh 2 tiếng, 1 tiếng nhẹ, 1 tiếng mạnh; hồi thứ 3 thì đánh 3 tiếng cuối cùng, 1 tiếng vừa, 1 nhẹ và 1 tiếng mạnh để báo hiệu đã kết thúc việc đánh chuông, gọi là Sát chung. Nếu là đánh trống thì gọi là Sát cổ. [X. điều Cảnh chúng trong Thiền uyển thanh qui Q.6].
sát thân
To kill oneself.
sát trần
Lands, countless as the dust.
; Vô số những hạt bụi nhỏ hay vô số quốc độ—Lands, countless as the dust.
; (刹塵) Cõi bụi. Ví dụ số lượng cõi nước rất nhiều, không thể đếm được, như nóivô số quốc độ. Phẩm Thế chủ diệu nghiêm trong kinh Hoa nghiêm quyển 4 (Đại 10, 16 trung) nói:Thanh tịnh từ môn sát trần số; Cộng sinh Như lai nhất diệu tướng; (Cửa từ thanh tịnh số sát trần; Cùng sinh diệu tướng của Như lai). [X. Bí tạng bảo thược Q.hạ].
sát trụ
(刹柱) Cũng gọi Sát can, Sát can sát. Chỉ cho cây cột để treo cờ, phướn ở trước các chùa viện. Thời xưa, trước cửa các chùa viện thường dựng 1 cây cột dài, bên trên cột có gắn bảo châu bằng đồng mạ vàng hình ngọn lửa để biểu thị nơi chùa viện.Ở Trung Quốc vào thời Lục triều, phần nhiều kiến trúc chùa viện đều có dựng Sát trụ, nhưng vì được làm bằng gỗ nên đến nay quá phân nửa đã bị mục nát. Tại Nhật bản, cây Sát trụ xưa nhất hiện còn là cây Sát trụ dựng trên ngọn ngôi tháp 5 tầng bằng gỗ ở chùa Pháp Long. [X. Phú ngải khắc giáo thụ luận Lục triều chi tháp (Lưu đôn trinh, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san tập 59].
sát tâm
To kill one's mind; murderous mind.
sát tặc
Ksìnàsrava (S). Thief-destroyer, i.e. conqueror of the passions, an arhat.
; Ksinasrava (skt)—Người tiêu diệt những tên đạo tặc (của chúng sanh), người chế ngự dục vọng, hay bậc A La Hán—Thief-destroyer, i.e. conqueror of the passions, an arhat.
Sát tặc 殺賊
[ja] セツゾク setsuzoku ||| Lit. "killer of thieves"--one of the original translations of the term arhat 阿羅漢, understood to be developed from the two components of ari (thief) and han (to kill). Tib. dgra bcom pa. => (t: dgra bcom pa). “Giết kẻ cướp”-- một trong những cách dịch sát nghĩa thuật ngữ A-la-hán (arhat 阿羅漢), được hiểu là phát triển từ hai thành tố Ari (kẻ cướp) và Han (sát hại).
sát đất
Close to the ground.
sát đế lợi
Śastriya (S)Giai cấp vương tộc, chiến sĩ thời Trung cổ ở Ấn độXem Sát lỵ.
; Ksatriya (S). The second, or warrior and ruling cast.
; Một trong bốn giai cấp chính ở Ấn Độ—One of the four Indian castes. 1) Ở Ấn Độ, sát Đế Lợi là giai cấp thứ nhì, dòng dõi chiến đấu hay giai cấp cai trị trong thời Phật còn tại thế—In India, it is the second or warrior and ruling caste in India during Sakyamuni's time. 2) Hoa ngữ dịch là giai cấp địa chủ và Vương chủng, giai cấp mà từ đó Đức Phật được sanh ra: Chinese render it as landowners and royal caste, the caste from which the Buddha came forth. 3) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thân từ giai cấp nầy—Sakyamuni Buddha belonged to this caste (came from this caste).
; (刹帝利) Phạn: Kwatriya. Gọi tắt: Sát lợi. Hán dịch: Địa chủ, Vương chủng. Giai cấp thứ 2 trong 4 giai cấp của Ấn độ, là giai cấp thuộc hàng vương tộc, quí tộc, sĩ tộc, nắm giữ việc quân sự, chính trị trong nước. Đức Phật Thích ca xuất thân từ giai cấp này. (xt. Tứ Tính).
Sát độ
(剎土): chỉ quốc độ, cõi nước. Sát (s: kṣetra, 剎), âm dịch là Sai Đa La (差多羅), Hột Sai Đát La (紇差呾羅); ý dịch là ruộng đất. Như trong Phật Thuyết Thập Địa Kinh (佛說十地經, Taishō Vol. 10, No. 287) quyển 8, có câu: “Như Lai tọa nhất sát độ, nhất thiết thế giới tất hiện thân (如來安坐一剎土、一切世界悉現身, Như Lai ngồi một quốc độ, hết thảy thế giới đều hiện thân).” Hay trong Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (仁王護國般若波羅蜜多經, Taishō Vol. 8, No. 246) lại có đoạn: “Phụ thứ, Thuận Nhẫn Bồ Tát ! Vị Diệm Huệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, năng đoạn Tam Chướng, tâm phiền não phược, năng ư nhất thân biến vãng thập phương ức Phật sát độ, hiện bất khả thuyết thần thông biến hóa, lợi lạc chúng sanh (復次、順忍菩薩、謂焰慧地、難勝地、現前地、能斷三障、心煩惱縛、能於一身遍往十方億佛剎土、現不可說神通變化、利樂眾生, Lại nữa, này Thuận Nhẫn Bồ Tát ! Rằng Diệm Huệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, có thể đoạn Ba Chướng, tâm phiền não trói buộc, có thể nơi một thân mà biến qua mười phương ức cõi nước Phật, hiện thần thông biến hóa không thể bàn, làm lợi lạc chúng sanh).”
sát độ
Ksetra (S). Land, country. Field, plot of land. Also nhất sát, sát hải.
; Ksetra (skt). 1) Đất đai hay xứ sở: Land—Field—Country—Place. 2) Vũ trụ bao gồm Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới: A universe consisting of three thousand large chiliocosms (great cosmo). 3) Tháp cờ trong tự viện: Flagstaff on a pagoda or monastery.
; (刹土) Phạn: Kwetra. Hán âm: Sai đa la, Hột sai đát la. Hán dịch: Độ điền. Chỉ cho quốc độ (cõi nước). Huyền ứng âm nghĩa quyển 1 nói: Sai đa la, Hán dịch là Độ điền (cõi đất). Trong kinh có chỗ gọi là Quốc, có chỗ gọi là Độ, cũng cùng với nghĩa này.
sát độ tự tại
(刹土自在) Cũng gọi Tịnh độ tự tại. Chỉ cho sự tự tại tự do sinh vào các cõi nước của hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên.(xt. Tự Tại).
Sát 刹
[ja] セツ setsu ||| (1) World, country, realm (kṣetra). (2) A staff or pole erected in front of a buddha-hall as a sign of a temple--hence, a temple. (3) An abbreviation of 刹帝利, kṣatriya, a caste in India which consists of kings and warriors. (4) A temple; a stūpa. => Có các nghĩa sau: 1. Thế giới, cõi giới, quốc độ. 2. Cây trụ trượng hay cột cờ dựng trước điện Phật như là 1 biểu tượng của tự viên, do đó, có nghĩa là Chùa. 3. Viết tắt của Sát-đế-lợi (s: kṣatriya), 1 giai cấp ở Ấn Độ, gồm quân vương và chiến sĩ.
Sát 殺
[ja] サツ、セツ satsu, setsu ||| To kill, murder; to take a life (vadha). => Giết hại, giết người; chiếm đoạt mạng người (s: vadha).
Sát-lợi
刹利; C: chàlì; J: setsuri;|Cách phiên âm của chữ Phạn kṣatriya (Sát-đế-lợi 刹帝利), một giai cấp xã hội bao gồm vua chúa và quân binh tại Ấn Độ thời cổ.
sát-lỵ
xem bốn giai cấp.
Sát-na
剎那; C: chànà; J: setsuna; S: kṣaṇa;|Một khoảng thời gian rất ngắn, một đơn vị thời gian của một niệm, một ý nghĩ.
Sát-na diệt
刹那滅; C: chànà miè; J: setsunametsu;|Tính chất khoảnh khắc. Một trong sáu tính chất của A-lại-da thức (Chủng tử lục nghĩa 種子六義).
Sát-na diệt 刹那滅
[ja] セツナメツ setsunametsu ||| Momentariness. One of the six characteristics of the seeds in the ālaya consciousness 種子六義. => Khoảng thời gian rất ngắn. Một trong sáu đặc điểm của chủng tử trong A-lại-da thức (chủng tử lục thức).
Sát-na sát-na
刹那刹那; C: chànàchànà; J: setsunasetsu-na;|Mỗi khoảnh khắc, từng khoảnh khắc một (theo Du-già luận 瑜伽論).
Sát-na sát-na 刹那刹那
[ja] セツナセツナ setsunasetsuna ||| Every single moment. 〔瑜伽論T 1579.30.327c11〕 => Mỗi một khoảnh khắc thời gian rất nhỏ.
Sát-na 刹 那
[ja] セツナ setsuna ||| (kṣana). A moment; an instant. => Một khoảnh khắc; một chốc lát.
sát-đế-lỵ
xem bốn giai cấp.
sáu ba la mật
Gồm đàn na (bố thí), thi la (trì giới), xiển đề (nhẫn nhục) tỳ lê da (tinh tấn), thiền na (thiền định) bát nhã (trí huẹ), cũng gọi là lục độ.
; Cũng gọi là Lục độ, gồm Đàn na (bố thí), Thi la (trì giới), Sằn đề (nhẫn nhục), Tỳ lê da (tinh tấn), Thiền na (thiền định), Bát nhã (trí huệ).
sáu chánh niệm
là sáu pháp nghĩ nhớ chân chánh, cũng gọi là sáu niệm xứ (lục niệm xứ), gồm có: 1. niệm Phật (thường nghĩ nhớ đến chư Phật), 2. niệm Pháp (thường nghĩ nhớ đến Chánh pháp), 3. niệm Tăng (thường nghĩ nhớ đến chư Tăng), 4. niệm thí (thường nghĩ nhớ đến việc thực hành bố thí), 5. niệm giới (thường nghĩ nhớ đến giới luật đã thọ nhận), 6. niệm thiên (thường nghĩ nhớ đến mọi điều lành, là nhân được sanh lên cõi trời).
sáu chỗ
(lục xứ): chỉ sáu căn duyên theo sáu trần, bao gồm: hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm và các pháp.
sáu cung kính pháp
Garava (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu pháp cung kính—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six kinds of respect: 1) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận bậc ĐẠO SƯ—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the TEACHER. 2) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận PHÁP—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the DHAMMA. 3) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận TĂNG—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the SANGHA. 4) Ở đây vị Tỳ Kheo cung kính, tùy thuận HỌC PHÁP—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the TRAINING. 5) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, không tùy thuận BẤT PHÓNG DẬT—Here a monk behaves respectfully and in respect with EARNESTNESS. 6) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận LỄ PHÉP XÃ GIAO—Here a monk behaves respectfully and in respect of HOSPITALITY.
sáu cách chấn động
(lục chủng chấn động): Theo kinh Đại phẩm Bát-nhã, quyển 1, thì 6 cách chấn động này là: 1. Phương đông vọt lên, phương tây chìm xuống; 2. Phương tây vọt lên, phương đông chìm xuống; 3. Phương nam vọt lên, phương bắc chìm xuống; 4. Phương bắc vọt lên, phương nam chìm xuống; 5. Bốn phương vọt lên, ở giữa chìm xuống; 6. Ở giữa vọt lên, bốn phương chìm xuống.
sáu cách phung phí tài sản
Six ways of wasting one's property—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu cách phung phí tài sản—According to the Sigalaka Sutra, there are six ways of wasting one's property. 1) Đam mê các loại rượu: Addiction to strong drinks and sloth-producing drugs is one way of wasting one's substance. 2) Du hành đường phố phi thời: Haunting the streets at unfitting time. 3) La cà đình đám hý viện: Attending fairs. 4) Đam mê cờ bạc: Being addicted to gambling. 5) Giao du ác hữu: Keeping bad company. 6) Quen thói lười biếng: Habitual idleness.
sáu cõi (luân hồi)
rikdruk (T), Six realms of Samsar, Six worlds of existence, Gồm: - địa ngục (naraka-gati) - quỷ đói (preta-gati) - cõi súc sanh (tiryayoni-gati) - cõi người (mausya-gati) - cõi a-tu-la (asura-gati) - cõi trời (deva-gati)Xem Lục dục thiên.
sáu cõi luân hồi
Six realms of samsara
Sáu cõi trời thuộc Dục giới
(Dục giới Lục thiên): bao gồm: 1. Tứ thiên vương thiên (Caturmahrjika), 2. Đao-lợi thiên hay Tam thập tam thiên (Tryastriṃśa), 3. Dạ-ma thiên (Yma), 4. Đâu-suất thiên (Tuṣita), 5. Hóa lạc thiên (Nirmṇarati), 6. Tha hóa tự tại thiên (Para-nirmita-vaśa-vartin). Mỗi cõi trời này đều có một vị Thiên vương đứng đầu các vị thiên chúng.
sáu căn nhân
The six chief causes—See Lục Căn Nhân.
sáu cảnh trời
Xem Lục dục thiên.
sáu giác quan
Six sense-organs.
sáu hòa kính pháp
Six things conducive to communal living—See Lục Hòa.
sáu hạng A-la-hán
Bao gồm: 1. Thối pháp A-la-hán: khi gặp nghịch duyên có thể sanh phiền não, thối chuyển đạo tâm, đánh mất chỗ sở đắc; 2. Tư pháp A-la-hán: tuy được giải thoát nhưng thường lo sợ sự thối chuyển, thường nghĩ cách tự đoạn dứt mạng sống; 3. Hộ pháp A-la-hán: được giải thoát rồi thì hoan hỷ phòng hộ chỗ chứng đắc của mình; 4. An trụ pháp A-la-hán: đạt được giải thoát và trụ yên vững vàng, không cần phòng hộ cũng không có thối chuyển, nhưng không được tăng tiến; 5. Kham đạt pháp A-la-hán: đạt được giải thoát và đủ sức nhận lãnh giáo pháp cao siêu, tu tập tinh tấn để đạt đến quả vị rốt ráo; 6. Bất động pháp A-la-hán: đạt được giải thoát rốt ráo và vững vàng không thể xao động, không thể lay chuyển, thối thất.
sáu không cung kính pháp
Agarava (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu không cung kính pháp—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six kinds of disrespect: 1) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận bậc ĐẠO SƯ—Here a monk behaves disrepectfully and discourteously towards the TEACHER. 2) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận PHÁP—Here a monk behaves disrespectfully and discourteously towards the DHAMMA. 3) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận TĂNG—Here a monk behaves disrespectfully and discourteously towards the SANGHA. 4) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận HỌC PHÁP—Here a monk behaves disrespectfuly and discourteously towards the TRAINING. 5) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, BẤT PHÓNG DẬT—Appamade (p)—Here a monk behaves disrespectfully and in not respect of EARNESTNESS. 6) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận sự LỄ PHÉP—Patisanthare (p)—Here a monk behaves disrespectfully and not in respect of HOSPITALITY.
sáu loài gia súc
Six kinds of domestic animals.
sáu loại thực phẩm
Six kinds of food—See Lục Trần.
sáu loại tâm tánh
Carita (p)—Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có sáu tâm tánh hay sáu đề mục hành thiền. Carita là bản chất cố hữu của một người. Bản chất nầy lộ ra khi ở vào trạng thái bình thường, không có gì làm xao động. Bẩm tánh mỗi người khác nhau là do nơi hành động hay nghiệp trong quá khứ khác nhau. Nơi một số người thì tham ái mạnh hơn, trong khi vài người khác thì sân hận lại mạnh hơn—According to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teachings, there are six kinds of natures, six kinds of temperament, or six subjects of meditation. Carita signifies the intrinsic nature of a person which is revealed when one is in normal state without being preoccupied with anything. The temperaments of people differ owing to the diversity of their past actions or kamma. In some people raga or lust is predominant, while in others dosa or anger, hatred. 1) Bẩm tánh tham ái: Ragacarita (p)—Covetousness, or lustful temperament. 2) Bẩm tánh sân hận: Dosacarita (p)—Ill-will, or hateful temperament. 3) Bẩm tánh si mê: Mohacarita (p)—Ignorance, or ignorant temperament. 4) Bẩm tánh có nhiều đức tin: Saddhacarita (p)—Faith, or devout temperament. 5) Bẩm tánh thiên về tri thức: Buddhicarita (p)—Wisdom, or intellectual temperament. 6) Bẩm tánh phóng dật: Vitakkacarita (p)—Distracted—Loose—Unrestrainted, or discursive temperament.
sáu luận chứng về duy tâm
Six proofs for the “Mind-Only.”—Trong Kinh Lăng Già, có sáu luận chứng về Duy Tâm như sau—According to The Lankavatara Sutra, there are six proofs for the “Mind-Only” as follows: 1) Sự việc các sự vật không như vẻ dáng bề ngoài của chúng, được chứng tỏ từ sự so sánh với một giấc mộng và với những sáng tạo bằng huyễn thuật. Khi vua La Bà Na, vua xứ Lăng Già, nhìn thấy những hình ảnh của Đức Phật quanh khắp ông rồi sau đó những hình ảnh nầy biến mất, ông nghĩ “Có thể đây là một giấc mộng? Hay một hiện tượng huyễn ảo giống như thành của các Càn Thác Bà?” Rồi ông lại suy nghĩ “Đây chỉ là sự phóng chiếu của những sáng tạo tâm thức của chính ta.” Vì chúng ta không thực sự hiểu các sự vật đúng như các sự vật nên chúng ta tách biệt cái bị thấy với người thấy; do đó mà tạo ra một thế giới nhị biên. “Ở chỗ nào không có sự phân biệt sai lầm, ở đấy người ta thực sự nhìn thấy Đức Phât.” Hễ chừng nào chúng ta còn ở trong mộng, chúng ta vẫn không hiểu được rằng tất cả chúng ta đều đang mộng, rằng chúng ta là những nô lệ của sự phân biệt sai lầm. Vì chỉ khi nào chúng ta tỉnh mộng thì khi ấy chúng ta mới biết chúng ta ở đâu. Thí dụ về giấc mộng hoàn toàn là một luận điểm chống lại cái thực tính của một thế giới bên ngoài, nhưng thí dụ ấy không có giá trị gì đối với những ai đang thực sự nằm mộng. Những sáng tạo thuộc ảo thuật cũng như thế, người Ấn Độ đã được ghi nhận là tinh xảo trong khoa phù phép và không có dân tộc nào mà việc xử dụng các mật chú và đà la ni phổ biến như người Ấn Độ. Do đó mà trong văn học Phật giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa thường có những ám chỉ về ảo thuật. Nhà ảo thuật hết sức thành thạo trong việc làm cho các khán giả trông thấy các sự vật ở tại nơi không có cái gì cả. Chừng nào các khán giả còn bị ảnh hưởng bởi phù phép của ông ta thì vẫn không có cách nào làm cho họ hiểu rằng họ là những nạn nhân của thuật thôi miên. Những ví dụ hay ngoài ví dụ về giấc mộng, về huyễn thuật được rút ra từ Lăng Già để chỉ vào sự không thực của các sự vật được nhìn thấy bên ngoài và bên trong như là—Things are not what they seem is proved from the analogy of a dream and magical creations. When Ravana, king of Lanka, saw images of the Buddha all around him, which later disappeared, he thought, “Could this be a dream? Or a magical phenomenon like the castle of the Gandharvas?” He reflected again, “This is no other than the projection of my own mental creations.” As we do not truly understand things as they are, we separate the seen from the seer, thus producing a world of dualities. “Where there is no false discrimination, one really sees the Buddha.” As long as we are in the dream, we do not realize that we are all dreaming, that we are slaves of false discrimination. For it is only when we are awakened from it that we know where we have been. The analogy of dream is quite a strong argument against the reality of an external world, but it is not all effective for them who are actually dreaming. So it is with magical creations. The Indians have been noted for their skill in the art of conjuration, and thee are no people among whom the use of mantrams and dharanis is so universal. Hence the frequent allusions to magic in the literature of Mahayana and Hinayana Buddhism. The magician is so wonderfully proficient in making the spectators see objects where there are none whatever. As long as they are under his spell, there is no way of making them realize that they are the victims of hypnotism. The favorite analogies besides the dream and magic that are resorted to in the Lankavatara to show the unreality of objects seen externally and internally are: a) Các bức tranh: Paintings. b) Một vòng tóc đối với người bị nhặm mắt: A hair-circle to the dim-eyed. c) Sự quay tròn của một bánh xe lửa: A revolving fire-wheel. d) Một bong bóng trông giống như mặt trời: A bubble looks like a sun. e) Cây cối phản chiếu trong nước: Reflected trees in water. f) Các hình ảnh trong một tấm kiếng: Images in a mirror. g) Một tiếng dội: An echo. h) Ảo ảnh: Fata morgana. i) Người máy: A mechanical man. j) Đám mây trôi: A floating cloud. k) Ánh chớp: Lightning. 2) Tất cả các sự vật đều tương đối và không có cái tự tính nào mãi mãi phân biệt một cách tuyệt đối sự vật nầy với sự vật khác. Các sự vật chỉ là những tương đối; hãy phân tách chúng thành những thành phần của chúng thì sẽ không còn lại gì cả. Và những cấu trúc của tâm há chẳng phải đều là những tương đối? Cái tâm nhìn thấy nó bị phản ánh là do bởi sự phản ánh hay suy nghĩ và phân biệt; đến đây thì sự việc chẳng gây hại gì, vì những cấu trúc tâm thức được nhận thức như thế và không có những phán đoán sai lầm về chúng. Sự rắc rối khởi đầu ngay khi chúng ta bị chấp như là có thực ở bên ngoài, có giá trị riêng của chúng, độc lập với chính cái tâm đánh giá. Đây là lý do khiến bộ kinh nhấn mạnh sự quan trọng của cái nhìn vào sự vật như thực, đúng thực như các sự vật khi chúng được nhìn bằng cái nhìn như thực thì chúng chỉ là cái tâm mà thôi. Nguyên lý về tương đối tạo thành một thế giới của các đặc thù, nhưng khi nguyên lý nầy bị vượt qua, thì đó chính là cái tâm mình: All things are relative and have no substance (svabhava) which would eternally and absolutely distinguish on from another. Things are nothing but relations; analyze them into their component elements and there will be nothing left. And are not all relations the constructions of the mind? Thus the citta seing itself reflected is due to reflection and discrimination; so far no harm is done, for the mental constructions are perceived as such and there are no wrong judgments about them. The trouble begins at once when they are adhered to as externally real, having their own values independent of the valuing mind itself. This is why the sutra emphasizes the importance of looking at things (yathabhutam), as they really are. When they are thus looked at things, they are no more than the mind itself. The principle of relativity creates a world of individuals, but when it is transcended, there is Mind itself. 3) Luận chứng thứ ba—The third proof: a) Các tên gọi hay danh và ác hình ảnh hay tướng chỉ là những dấu hiệu giả danh và không có thực tính nào (phi hữu) trong tự chúng, vì chúng thuộc về sự tưởng tượng hay biên kiến sở chấp. Sự tưởng tượng là một cái tên khác dùng cho sự phân biệt sai lầm vốn là tác nhân tinh quái của sự sáng tạo. Sự kiện nhất tâm do đó bị chôn vùi trong sự sai biệt của những hiện hữu đặc thù. Lại nữa, theo ngôn từ, họ phân biệt một cách sai lầm và nêu ra những khẳng định về thực tính; và vì những khẳng định nầy mà họ bị đốt trong địa ngục. Trong sự giao tiếp hằng ngày mà ta mang nợ ngôn từ biết bao nhiêu. Và tuy thế, do từ ngôn từ, không những về luận lý mà cả về mặt tâm linh nữa, ta phải chịu hậu quả trầm trọng biết bao nhiêu! Ánh sáng của tâm bị che phủ hết trong ngôn từ. Và với ngôn từ quả thực là do tâm tạo rà, và bây giờ tưởng ngôn từ là những thực tính độc lập với cái tạo ra nó, tâm trở thành vướng víu trong ngôn từ, để rồi bị nuốt chửng trong cơn sóng của luân hồi sanh tử: Names and images are mere signs (samketa) and have no reality whatever (abhava) in themselves, for they belong to the imagination (parikalpita). Imagination is another name for false discrimination, which is the mischievous agency of creation. The fact of One Mind (ekacittam) is thus buried in the differentiation of individual existence. According to words they discriminate wrongfully and make statements concerning reality; and because of these statements they are burned in hell. How much we owe in our daily intercourse to words! And yet what grave consequences, not only logically but spiritually, we suffer from words! The light of the mind is altogether beclouded in and with words. The mind has, indeed, created words, and now taking these words for realities independent of their creator, it gets entangled in them, and is swallowed up in the waves of transmigration. b) Người ngu tưởng những gì do chính cái tâm biểu hiện là những thực tính khách quan vốn không thực sự hiện hữu, và do bởi sự diễn tả sai lạc nầy mà phân biệt bị trở thành sai lầm. Tuy nhiên, trường hợp của người trí thì không như thế: The ignorant take what is presented by the mind itself for objective realities which do not really exist, and because of this wrong representation, discrimination is falsified. This, however, is not the case with the wise. c) Người trí biết rằng các tên gọi, các hình tướng và các tượng trưng phải được xem là những gì mà chúng được định từ ban đầu: The wise know that names and signs and symbols are to be taken for what they are intended from the beginning. d) Trong khi người ngu thì chấp vào chúng như chúng là những thực tính và để cho tâm họ mù quáng bám riết theo sự chấp trước nầy. Như thế họ trở thành bị ràng buộc vào nhiều hình tướng và nuôi dưỡng cái kiến giải rằng quả thực có cái “tôi” và cái “của tôi,” do bởi làm như thế, họ chấp chặt vào các tướng trong cái tính phức tạp của chúng. Do bởi những ràng buộc chấp trước nầy mà trí tuệ của họ bị ngăn ngại không vươn lên được; tham, sân, si bị quấy động lên, và mọi thứ nghiệp bị mắc phạm. Vì những chấp trước nầy cứ bị mắc phạm mãi bên người ngu thấy mình bị cuốn chặt một cách vô vọng bên trong những cái kén được dệt thành do bởi những phân biệt sai lầm của họ. Họ bị nuốt chửng trong những cơn sóng luân hồi sanh tử, không biết làm sao để tiến lên trong công việc giải thoát, vì họ cứ quay tròn giống như cái bánh xe nước. Quả thực do bởi vô minh mà họ không thể hiểu được rằng tất cả các sự vật, giống như huyễn ảo, như hạt bụi sáng, hay như ánh trăng trên nước, không có tự tánh hay ngã thể, rằng trong chúng không có gì để chấp làm “tôi” hay “của tôi;” rằng tất cả các sự vật là không thực hay hư vọng, được sinh ra do phân biệt sai lầm; rằng thực tính tối hậu vượt khỏi cái nhị biên của cái được định tính và cái định tính vượt khỏi dòng sinh, trụ, dị, diệt; rằng tất cả những gì được biểu hiện là do chính cái tâm người ta phân biệt những gì hiển lộ ra đối với nó. Tưởng rằng thế giới được sinh ra từ đấng Tự Tại, thời gian, nguyên tử hay linh hồn, vũ trụ; người ngu bị mê đắm vào các danh xưng và hình tướng, do đó mà để cho chúng thống trị: While the ignorant cling to them as if they were realities and let their minds blindly follow up this clinging. Thus, they get attached to a variety of forms and entertain the view that there are really “I” and “mine,” and by doing so, they hold fast to appearances in their multiplicity. Because of these attachments, their higher wisdom is obstructed; greed, anger, and infatuation are stirred up, and all kinds of karma are committed. As these attachments are repeatedly committed, the ignorant find themselves hopelessly enwrapped within the cocoons woven out of their wrong discriminations. They are swallowed up in the waves of transmigration, and do not know how to go ahead in the work of emancipation for they turn round and round like the water-wheel. It is owing to their ignorance, indeed, that they fail to realize that all things, like maya, the shining mote, or the moonlight on water, have no self-substance, that there is nothing in them to take hold of as “me” and “mine;” that all things are unreal (abhuta) born of wrong discrimination; that ultimate reality is above the dualism of marked and marking, and the course of birth, staying, and disappearance; that is manifested due to the discriminating by one's own mind of what is presented to it. Imagining that the world is born of Isvara, Time, Atom, or Universal Soul, the ignorant are addicted to names and forms thereby allowing themselves to be swayed by them. 4) Luận chứng thứ tư—The fourth proof: a) “Những gì không được sinh ra thì không dính dáng gì đến nhân quả, không có người tạo lập, tất cả chỉ là sự kiến lập của tâm, như ta thuyết giảng về những gì bất sinh.” Sự việc không có người tạo lập nào như đấng Tự Tại, bậc Thắng giả hay Phạm Thiên là một trong những chủ đề chính của Phật giáo Đại Thừa. Theo kinh Lăng Già, ý niệm về một đấng tạo lập là do bởi phân biệt, điều nầy luôn luôn có khuynh hướng dẫn cái tâm theo một hướng sai lầm. Khi người ta thấy rằng tất cả là duy tâm thì những gì bất sinh sẽ hiện ra thay cho ý niệm ấy: “That which is unborn has nothing to do with causation, there is no creator, all is nothing but the construction (vyavasthana) of the mind, as I teach that which is unborn." That there is no creator such as Isvara or Pradhana or Brahma is one of the principal theses of Mahayana Buddhism. According to the Lankavatara, the notion of a creator is due to discrimination, which always tends to lead the mind in a wrong direction. When it is seen that all is mind-only (cittamatra), that which is unborn will present itself instead. b) Vô sinh không phải do vì phi hiện hữu, cũng không phải do vì hiện hữu là những thứ phải được xem là tùy thuộc lẫn nhau, cũng không phải do vì một cái tên gọi cho hiện hữu, cũng không phải vì tên gọi không có thực tính đằng sau nó. Sự việc tất cả là vô sinh không thuộc lãnh vực của hàng Thanh Văn, Duyên Giác hay các triết gia, hay của chư Bồ Tát đang còn ở địa thứ bảy. Vô sinh được xây dựng trên chân lý Duy Tâm: No birth, not because of non-existence, nor because existence is to be regarded as mutually dependent, nor because there is a name for existence, nor because name has no reality behind it. That all is unborn does not belong to the realm of Sravakas, Pratyekabuddhas, or philosophers, or of those Bodhisattvas who are still on the seventh stage; no-birth is constructed on the truth of the Mind-Only. 5) Nhất Nguyên Luận Tuyệt Đối—The absolutely idealistic monism: a) Sự cần thiết về luận lý để đạt đến cái ý niệm tối hậu về nhất tính, vì thế mà Kinh Lăng Già chấp nhận học thuyết Duy Tâm thay vì Duy Sắc. Khi không có đấng tạo hóa tạo lập nào được nhận biết và tất cả các hình thức nhị biên đều bị gạt bỏ như là không phù hợp với trạng thái thực sự của các sự vật thì chỉ còn hai cách thành tựu sự thống nhất tư tưởng, đó là hiệp thực luận và lý niệm luận hay lý tưởng luận; vì Lăng Già bác bỏ cái thực tính của một thế giới bên ngoài hay cảnh giới, hay các sự vật bên ngoài (ngoại cảnh) là những thứ được định tính chủng chủng hợp thành, nên học thuyết Duy Tâm hẳn phải là kết quả tự nhiên. Do đó nhất nguyên luận tuyệt đối là luận bằng cái trí siêu việt vượt lên trên sự nhận biết đa phức của một thế giới đối tượng bởi cái trí tương đối: The logical necessity of reaching the ultimate notion of unity; thus, the Lankavatara accepts the doctrine of “Mind-Only” instead of “Matter-Only.” When no creator is recognized and all forms of dualism are set aside as not in accord with the real state of things, there remain two ways for achieving the unification of thought, realism and idealism; and the Lankavatara denies the reality of an external world (vishaya), or outside objects (bahyabhava) that are characterized with multitudinousness (vicitrata), the doctrine of “Mind-Only” seems to be the natural conclusion. Thus the absolutely idealistic monism is to use the transcendental knowledge (prajna or jnana) to take cognisance of the manifoldness of an objective world, not by the relative knowledge (vijnana). b) Lại nữa, cái trí siêu việt nầy không ở trong phạm vi của hai thừa, vì quả thực nó vượt qua khỏi cảnh giới của hữu, cái trí hiểu biết của hàng Thanh Văn vận hành bằng cách tự ràng buộc nó vào các hữu thể mà họ tưởng là các thực tính, trong khi cái trí siêu việt thanh tịnh hay lý nhất tính của Như Lai thì thấu nhập vào trong chân lý Duy Tâm. Trong khi thế giới đối tượng làm nhiễu động cái nhất tính và làm cho tâm bị nhiễu động. Thế rồi tâm nầy lại chấp vào những nhiễu động có tính cách phân biệt hóa nầy mà cho rằng đấy là thực và do đó mất hết sự tinh thuần hay nhất tính vốn có của nó trong chúng. Đây chính là nguồn gốc của những khổ đau: Again, this transcendental knowledge is not within the reach of the two Vehicles, as it, indeed, goes beyond the realm of beings; the knowledge of Sravakas moves by attaching itself to beings which they take for realities, while the pure transcendental knowledge of the Tathagata penetrates into the truth of the Mind-Only. While the objective world disturbed this unity and makes the mind, thus disturbed, perceive manifoldness within its own body. It then clings to these individualizing disturbances as real, thus losing its original purity or unity altogether in them. This is the source of spiritual tribulations. 6) Tam Giới Duy Thị Tự Tâm—The three worlds are mind itself: a) Luận chứng mạnh mẽ nhất trong tất cả các luận chứng có thể được nêu ra trước để khẳng định rằng thế giới là chính cái tâm hay tam giới duy thị tự tâm, là luận chứng về cái biết trực giác hay hiện lượng. Trong khi đây là cái biết tối hậu trong mọi hình thức xác quyết, thuộc lý thuyết hay thực tiễn thì người ta cảm thấy cái sức mạnh của nó đặc biệt mãnh liệt trong cái chân lý có tính cách tôn giáo vốn là những chân lý được xây dựng không phải trên lý luận mà là trên sự nhận thức trực tiếp. Theo Kinh Lăng Già thì nguyên lý tối hậu của cái biết không phụ thuộc vào bất cứ điều gì được lập luận bằng luận lý (điều tôi thấy và tôi tin), mà là điều được thể nghiệm bên trong chính mình, nhờ cái trí tối thượng của Đức Như Lai, hoặc đúng hơn, nó là chính cái trí tuệ tối thượng, vì sự tỉnh thức của trí tuệ nầy nghĩa là sự thủ nhiếp cái nguyên lý tối hậu vốn cùng một thứ với sự thể nghiệm bên trong cái tâm thức nội tại của người ta về cái chân lý bảo rằng không có gì trong thế giới ngoại trừ cái tâm. Chân lý nầy vượt khỏi phạm vi của cái trí lý luận. Cái trí chuyên biệt nầy vốn có thể được gọi là thuộc về trực giác—The strongest of all the proofs that can be advanced for the statement that the world is mind itself (tribhavas-vacittamatram), is that of intuitive knowledge (pratyaksha). While this is what is final in all form of conviction, speculative or practical, the force is especially strongly felt in religious truths, which are not founded upon reasoning but upon immediate perception. So with the Lankavatara, its thesis is derived from its immediacy and not from its intellectual precision. The ultimate principle of knowledge is not dependent upon anything logically reasoned: it is “I see and I believe.” It is what is realized within oneself means of the supreme wisdom (aryajnana) of the Tathagata, or rather it is the supreme wisdom of itself, for the awakening of this wisdom means the grasping of the ultimate principle, which is the same thing as the realization within one's inmost consciousness of the truth that there is nothing in the world but the Mind. This truth is beyond the realm of discursive knowledge. This special knowledge which may be called intuitive. b) Đức Phật dạy ngài Mahamati trong Kinh Lăng Già: “Cái trí thủ đắc cái tối hậu thì không thể bị đưa vào một hệ thống các phạm trù; vì nếu nói về cái tối hậu bằng một điều gì đó thì điều nầy trở thành một ý niệm về tối hậu, và cái nhân thực không còn ở đấy nữa, và kết quả là chỉ chuốc lấy lầm lẫn hay hư vọng mà thôi. Chấp vào những thực tính mà cho rằng chúng có tự tính là do không biết rằng không có gì ngoài cái được phản ánh và được nhận thức bởi cái tâm của chính mình. Kỳ thật sự tỉnh giác một cái gì đó được thức tỉnh trong tâm thức và nó được nhận ra ngay rằng tất cả đều là tâm. Sự tỉnh giác thì ở bên trên cái nhị biên của hữu và phi hữu; hữu và phi hữu là do phân biệt sai lầm mà có, ngược lại tỉnh thức là sự thấy cái nguyên lý tối hậu về hiện hữu đúng như sự hiện hữu trong chính nó hoặc bằng cái khác với nó. Điều nầy gọi là thấy biết như thực: The Buddha taught Mahamati in The Lankavatara Sutra: “Oh Mahamati, if they form any notion at all about it, there will be no supreme wisdom taking hold of reality (vastu). By this we know that knowledge that takes hold of the ultimate cannot be brought into a system of categories; for if anything is to be said about it, it turns into an idea of it and the real thing is no more there, and what is left behind is nothing but confusion or delusion. Attachment to realities as having self-substance is produced from not knowing (anavabodha) that there is nothing but that which is projected and perceived by one's own mind. Avabodha is really awakening; something is awakened within the consciousness, and it is at once recognize that all is mind. The awakening is above the dualism of “to be” (sat) and “not to be,” (asat), the latter being due to false discrimination (vikalpa). The awakening is, therefore, the sight of the ultimate principle of existence as it is in itselt and not determined by any form of confusion or otherness. This is what meant by “To see yathabhutam. .”
sáu mươi hai kiến chấp
Tứ cú x ngũ uẩn = 20; 20 x tam thế = 60; 60 + hữu vô = 62. Tất cả kiến chấp đều chẳng ra ngoài 62 kiến này. Như chấp sắc là có, là không, là chẳng có chẳng không, là cũng có cũng không; hoặc quá khứ không, hiện tại có, vị lai không, hoặc quá khứ có, hiện tại có, vị lai không, hoặc tam thế đều có, hoặc tam thế đều không v.v... cng chung thành 62 thứ kiến chấp.
; Tứ cú x ngũ uẩn = 20. 20 x tam thế = 60. 60 + hữu, vô = 62. Tất cả kiến chấp đều không ra ngoài 62 kiến này. Như chấp là có, là không, là chẳng có chẳng không, là cũng có cũng không; hoặc quá khứ không, hiện tại có, vị lai không; hoặc quá khứ có, hiện tại có, tam thế đều có, hoặc tam thế đều không… Cộng chung thành 6 kiến chấp.
sáu nguy hiểm của thói quen lười biếng
Six dangers when one attaches to idleness—Theo Kinh Thi Ca La Việt, thói quen lười biếng có sáu mối nguy hiểm—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one attaches to idleness: 1) Vì nghĩ rằng trời quá lạnh, nên người ta không chịu làm việc: Thinking it's too cold, one does not work. 2) Vì nghĩ rằng trời quá nóng, nên người ta không chịu làm việc: Thinking it's too hot, one does not work. 3) Vì nghĩ rằng hãy còn quá sớm nên người ta không chịu làm việc: Thinking it's too early, one does not work. 4) Vì nghĩ rằng đã quá trễ để làm việc: Thinking it's too late, one does not work. 5) Vì nghĩ rằng tôi quá đói nên không thể làm việc: Thinking I'm too hungry, one does not work. 6) Vì nghĩ rằng quá no để làm việc: Thinking I'm full, one does not work.
sáu nguy hiểm khi du hành trên đường phố phi thời
Six dangers when one wanders the streets at unfitting time—Theo Kinh Thi Ca La Việt, du hành trên đường phố phi thời có sáu mối nguy hiểm —According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one wanders the streets at unfitting time: 1) Tự mình không được che chở hộ trì: One is Defenseless and without protection. 2) Vợ con không được che chở hộ trì: Wife and children are defenseless and without protection. 3) Tài sản không được che chở hộ trì: One's property is defenseless and without protection. 4) Bị tình nghi là tác nhân của ác sự: One is suspected of crimes. 5) Nạn nhân của các tin đồn thất thiệt: False reports are pinned on one. 6) Tự rước vào thân nhiều khổ não: One encounters all sorts of unpleasantness.
sáu nguy hiểm khi la cà đình đám hý viện
Six dangers when one frequents fairs and parties—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu nguy hiểm khi la cà đình đám—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one frequents fairs and parties: 1) Luôn luôn tìm xem chỗ nào có múa: One is always thinking, where is there dancing? 2) Chỗ nào có ca: Where is there sinning? 3) Chỗ nào có nhạc: Where are they playing music? 4) Chỗ nào có tán tụng: Where are they reciting? 5) Chỗ nào có nhạc tay: Where is there hand-clapping? 6) Chỗ nào có trống: Where are the drums?
sáu nguy hiểm khi thân cận ác hữu
Six dangers when one keeps bad company—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu mối nguy hiểm khi thân cận ác hữu (bạn xấu)—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one keeps bad company: 1) Nguy hiểm của những kẻ cờ bạc: The danger of gamblers. 2) Nguy hiểm của những kẻ loạn hành: The danger of any glutton. 3) Nguy hiểm của những kẻ nghiện rượu: The danger of the drunkard. 4) Nguy hiểm của những kẻ trá ngụy: The danger of cheaters. 5) Nguy hiểm của những kẻ lường gạt: The danger of tricksters. 6) Nguy hiểm của những kẻ bạo động: The danger of the bully.
sáu nguy hiểm khi đam mê các loại rượu và thuốc
Six dangers when one attaches to addiction of alcoholic drinks and drugs—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu nguy hiểm khi đam mê các loại rượu và thuốc—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one attaches to addiction of alcoholic drinks and drugs: 1) Tài sản hiện tại bị tổn thất: Present waste of money. 2) Tăng trưởng sự gây gỗ: Increased quarrelling. 3) Bệnh tật dễ xâm nhập: Liability to sickness. 4) Thương tổn danh dự: Loss of good name. 5) Để lộ âm tàng: Indecent exposure of one's person. 6) Trí lực tổn hại: Weakening of the intellect.
sáu nguy hiểm khi đam mê cờ bạc
Six dangers when one attaches to gambling—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu mối nguy hiểm khi đam mê cờ bạc—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one attaches to gambling: 1) Kẻ thắng thì sanh thù oán: The winner makes enemies. 2) Người bại thì sanh tâm sầu muộn: The loser bewails his loss. 3) Tài sản hiện tại bị tổn thất: One wastes one's present wealth. 4) Tại hội trường hay trong đại chúng, lời nói không hiệu lực: One's word is not trusted in the assembly. 5) Bằng hữu đồng liêu khinh miệt: One is despised by one's friends and companions. 6) Vấn đề cưới gả không được tín nhiệm, vì người đam mê cờ bạc không thể quán xuyến lo lắng được vợ con: One is not in demand for marriage. Because a gambler cannot afford to maintain a wife.
sáu nguyên lý
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có sáu nguyên lý tổng quát cho các tông phái Phật Giáo Đại Thừa—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, there are six general principles, commonly especially to all schools of Mahayana: 1) Nguyên lý Duyên Khởi: The Principle of Causation—See Duyên Khởi. 2) Nguyên lý Vô Ngã: The Principle of Indeterminism of the Differentiated—See Vô Ngã. 3) Nguyên lý Tương Đối: The Principle of Reciprocal Identification—See Tương Đối (Nguyên Lý). 4) Nguyên lý Như Thực: The Principle of True Reality—See Như Thực Nguyên Lý. 5) Nguyên lý Viên Dung: The Principle of Totality—See Viên Dung. 6) Nguyên lý Niết Bàn hay Giải Thoát Cứu Cánh: The Principle of Perfect Freedom—See Niết Bàn Nguyên Lý.
sáu nhập
(lục nhập): xem ấm, nhập, giới.
sáu niệm xứ
xem sáu chánh niệm.
Sáu nẻo luân hồi
Lục đạo
sáu nẻo luân hồi
xem lục đạo.
; Six Realms of Existence—See Lục Đạo, and Lục Phàm Tứ Thánh.
sáu pháp vô vi trong duy thức học
The six Unconditioned Dharmas: 1) Hư không vô vi: Akasha (skt)—Unconditioned Empty Space. 2) Trạch diệt vô vi: Pratisamkhyanirodha (skt)—Unconditioned Extinction which is attained through selection. 3) Phi trạch vô vi diệt pháp: Apratisamkhyanirodha (skt)—Unconditioned Extinction which is Unselected. 4) Bất động diệt vô vi: Aninjya (skt)—Unconditioned Unmoving Extinction. 5) Tưởng thọ diệt vô vi: Samjnavedayitanirodha (skt)—Unconditioned Extinction of Feeling. 6) Chơn như vô vi: Tathata (skt)—Unconditioned True Suchness.
sáu phương pháp tu tập thần bí của ngài naropa
Gồm: - giáo lý về hoả hầu tam muội (=tummo, Tib) - giáo lý về thân giả huyễn - giáo lý về tình trạng mộng - giáo lý về tri giác - giáo lý về thân trung ấm sau khi chết - giáo lý về chuyển di tâm thức.
sáu suy tư đến hỷ
Somanassupavicara (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu suy tư đến hỷ—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six pleasurable investigations: 1) Khi mắt thấy sắc, hoan hỷ khởi lên, sắc ấy được suy tư: When, on seeing a sight-object with the eye, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 2) Khi tai nghe tiếng, hoan hỷ khởi lên, âm thanh ấy được suy tư: When, on hearing a sound-object with the ear, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 3) Khi mũi ngửi hương, hoan hỷ khởi lên, mùi hương ấy được suy tư: When, on smelling a smell-object with the nose, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 4) Khi lưỡi nếm vị, hoan hỷ khởi lên, vị ấy được suy tư: When, on tasting a taste-object with the tongue, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 5) Khi thân xúc chạm, hoan hỷ khởi lên, sự xúc chạm ấy được suy tư: When, on touching a touch-object with the body, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 6) Khi ý nhận pháp, hoan hỷ khởi lên, pháp ấy được suy tư: When, on knowing a mind-object with the mind, one investigates a corresponding object productive of pleasure.
sáu suy tư đến xả
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu suy tư đến xả—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six indifferent investigations: 1) Khi mắt thấy sắc, xả khởi lên, sắc ấy được suy tư: When, on seeing a sight-object with the eye, one investigates a corresponding object productive of indiffernce. 2) Khi tai nghe tiếng, xả khởi lên, âm thanh ấy được suy tư: When, on hearing a sound-object with the ear, one investigates a corresponding object productive of indifference. 3) Khi mũi ngửi hương, xả khởi lên, mùi hương ấy được suy tư: When, on smelling a smell-object with the nose, one investigates a corresponding object productive of indifference. 4) Khi lưỡi nếm vị, xả khởi lên, vị ấy được suy tư: When, on tasting a flavour with the tongue, one investigates a corresponding object productive of indifference. 5) Khi thân xúc chạm, xả khởi lên, sự xúc chạm ấy được suy tư: When, on touching a touch-object with the body, one investigates a corresponding object productive of indifference. 6) Khi ý nhận pháp, xả khởi lên, pháp ấy được suy tư: When, on knowing a mind-object with the mind, one investigates a corresponding object productive of indifference.
sáu suy tư đến ưu
Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu suy tư đến ưu—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six unpleasurable investigations: 1) Khi mắt thấy sắc, ưu khởi lên, sắc ấy được suy tư: When, on seeing a sight-object with the eye, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 2) Khi tai nghe tiếng, ưu khởi lên, âm thanh ấy được suy tư: When, on hearing a sound-object with the ear, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 3) Khi mũi ngửi hương, ưu khởi lên, mùi hương ấy được suy tư: When, on smelling a smell-object with the nose, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 4) Khi lưỡi nếm vị, ưu khởi lên, vị ấy được suy tư: When, on tasting a flavour with the tongue, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 5) Khi thân xúc chạm, ưu khởi lên, sự xúc chạm ấy được suy tư: When, on touching a touch-object with the body, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 6) Khi ý nhận pháp, ưu khởi lên, pháp ấy được suy tư: When, on knowing a mind-object with the mind, one investigates a corresponding object productive of displeasure.
sáu thầy ngoại đạo
(lục sư ngoại đạo): sáu vị thầy của sáu phái ngoại đạo lớn vào thời đức Phật ra đời: 1. Phú-lan-na, 2. Mạt-già-lê Câu-xá-ly tử, 3. San-xà-da Tỳ-la-chi tử, 4. A-kỳ-đa Sí-xá Khâm-bà-la, 5. Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên, 6. Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử. Xem thêm ở các mục từ mang tên những vị này.
Sáu thắng trí
S: ṣaḍabhijñā; P: saḷabhiññā;|Lục thông
sáu thứ chấn động
Chia làm ba: l. Sáu thời chấn động: Phật nhập thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập niết bàn. 2. Sáu phương chấn động: Đông nổi Tây chìm, Tây nổi Đông chìm, Nam nổi Bắc chìm, Bắc nổi Nam chìm, Biên nổi Trung chìm, Trung nổi Biên chìm. 3. Sáu tướng chấn động: tướng động, tướng nổi, tướng chấn, tướng kích, tướng rống, tướng nổ. Những chấn động kể trên đều tượng trưng triệu chứng tốt đẹp, nhưng người có thiên nhãn mới được thấy.
; Chia làm ba: 1. Sáu thời chấn động: Phật nhập thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết bàn. 2. Sáu phương chấn động: Đông nổi Tây chìm, Tây nổi Đông chìm; Nam nổi Bắc chìm, Bắc nổi Nam chìm; Biên nổi Trung chìm, Trung nổi biên chìm. 3. Sáu tướng chấn động: Tướng động, tướng nổ, tướng chấn, tướng kích, tướng rống, tướng nổ. Những chấn động kể trên đều tượng trưng triệu chứng tốt đẹp, nhưng người có thiên nhãn mới được thấy.
sáu trần
(lục trần): tức các đối tượng nhận biết của các giác quan, gồm hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm và các pháp.
sáu tầng trời dục giới
Six Deva Realms of desire: 1) Tứ Thiên vương (bốn người canh giữ quanh triền núi Tu Di): The four celestial kings, who are the protectors of the four directions and live on the slope of Mount Meru. 2) Ba mươi ba vị trời trên đỉnh Tu Di: The thirty-three gods who live on the summit of Mount Meru. 3) Trời Diệm Ma: Thường xuyên sống trong trạng thái hạnh phúc—The Yamas or Suyamas who are in the state of continual happiness. 4) Trời Đâu Xuất: Những vị trời thỏa mãn—The peaceful and contented gods. 5) Trời vui sáng tạo ảo thuật: Gods who take joy in magical creations. 6) Trời Mara: The gods who attempt to dominate each other.
sáu tỳ-kheo xấu ác
tức lục quần tỳ-kheo, là nhóm tỳ-kheo xấu tánh, ngay trong khi Phật còn tại thế vẫn thường làm nhiều việc phạm vào giới luật, khiến chúng tăng phải mang tai tiếng.
sáu vị
(lục vị): là các vị ngọt, chua, mặn, đắng, cay, nhạt. Sáu vị này là sáu vị chính, được pha lẫn với tỷ lệ khác nhau tạo thành tất cả những vị mà lưỡi chúng ta có thể nếm biết.
sáu xúc
(lục xúc): Sáu sự tiếp xúc giữa sáu căn ở trong và sáu trần ở ngoài. Bao gồm: 1. Mắt tiếp xúc với hình sắc, 2. Tai tiếp xúc với âm thanh, 3. Mũi tiếp xúc với mùi hương, 4. Lưỡi tiếp xúc với vị nếm, 5. Thân tiếp xúc với các vật thể, 6. Ý tiếp xúc với các pháp.
Sáu xứ
S: ṣaḍāyatana; P: saḷāyatana;|Lục xứ
sáu ýù nghĩa của chữ “thế tôn”
The six meanings of the Honoured One or Bhagava: 1) Tự tại: At ease and comfortable. 2) Rực rỡ hào quang: Radiant halo. 3) Trang nghiêm: Upright and adorned. 4) Danh xưng: Renowned. 5) Kiết tường: Auspicious. 6) Tôn quí: Honoured and noble.
sáu đường
Six paths—See Lục Đạo.
sáu đường luân hồi
xem lục đạo.
sáu đại
sáu yếu tố hình thành vũ trụ, gồm bốn đại (tứ đại) là địa, thủy, hỏa, phong, thêm vào hai đại nữa là không và thức. Tất cả các sự vật hữu tình, vô tình đều do nơi sáu đại này tạo thành. Xem thêm bốn đại.
sâm
Dầy đặc như rừng—Forest-like—Dense.
Sâm la
森羅; C: sēn luó; J: sinra; |Nhiều vật xếp vào nhau dày đặc hoặc liên tiếp chen nhau. Tiếp diễn không giới hạn.
Sâm la vạn tượng
森羅萬像; C: sēnluó wànxiàng; J: sinraban-shō; |Vô số hiện tượng đang hiện hữu.
sâm la vạn tượng
Các loại hiện tượng tồn tại trong vũ trụ , vô số hình thể hay thiên hình vạn trạng dầy đặc và gần gụi nhau bày ra trong vũ trụ—The myriad forms dense and close, i.e. the universe.
; (森羅萬象) Muôn tượng la liệt trong vũ trụ giống như trong rừng cây cối mọc um tùm. Trong Phật giáo, Sâm la vạn tượng đặc biệt chỉ cho thế giới hiện tượng tương đối với bản thể, vì tính chất thiên sai vạn biệt của thế giới hiện tượng, cho nên sâm la vạn tượng là 1 khái niệm đối lại với vạn pháp nhất như của bản thể. Pháp cú kinh sớ (Đại 85, 1435 thượng) nói: Sâm lavàvạn tượng là dấu ấn của một pháp. Hiện nay, người đời cũng thường dùng nhóm từ Sâm la vạn tượng chính là từ ngữ bắt nguồn từ Phật giáo.
sâm la vạn tượng chi tâm
Theo Khởi Tín Luận thì đây là nguồn của mọi hiện tượng. Nguyên tâm tròn đầy, bao trùm khắp mười phương—According to the Awakening of Faith, the original mind is the source of all phenomena, the mind which is in all things—See Nguyên Tâm.
sâm la vạn tượng tức pháp thân
Theo Hiển giáo thì pháp của tam thiên đại thiên thế giới là pháp thân. Theo Mật giáo thì pháp của tam thiên thế giới đều là hình tam muội da của Đức Đại Nhật pháp thân—The universe in its vast variety is the dharmakaya, or Buddha-body; in the esoteric school it is the Vairocana-body.
Sâm la vạn tượng 森羅萬像
[ja] シンラバンショウ sinrabanshō ||| All of the numberless things in existence. => Vô số hiện tượng đang hiện hữu.
Sâm la 森羅
[ja] シンラ sinra ||| Many things arranged together, or connected together. To go on limitlessly. => Nhiều vật xếp vào nhau dày đặc hoặc liên tiếp chen nhau. Tiếp diễn không giới hạn.
sâm lâm thư
Xem A luyện nhã.
; (森林書) Phạn: Àraịyaka. Hán âm: A xà da ca, A lan nhã ca. Tên 1 bộ sách của Bà la môn giáo ở Ấn độ. A lan nhã ca nghĩa là rừng cây, Sâm lâm thư nghĩa là bộ sách mà Người lánh đời, ẩn cư trong nơi rừng rậm đọc tụng. Sách này là phần phụ thuộc của Phạm thư, được dành cho những tín đồ Bà la môn giáo thuộc chủng tính Bà la môn hay Sát đế lợi học tập trong thời kì ở ẩn. Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư có thể được xem là Tục biên của Phạm thư. Nội dung chính yếu là trình bày về lí luận tế tự, cho đến các vấn đề quan hệ giữa người, thần linh và tự nhiên... Ý nghĩa triết học của sách này rất sâu xa. Về tính chất cũng như hình thức không sai khác mấy với Phạn thư. Sâm lâm thư hiện còn có 4 loại bản: Quảng sâm lâm thư, Chá cô thị sâm lâm thư, Tha thị sâm lâm thư và Kiêu thi đa cơ sâm lâm thư. Loại sau cùng được chia làm 3 chương, chương thứ 3 là Kiêu thi đa cơ Áo nghĩa thư.
Sâm sai 參差
[ja] サンシャ sansa ||| (1) Irregular, uneven. (2) To arrange, to collate. (3) To alternate. => Có các nghĩa sau: 1. Không đúng quy cách, không đồng dạng. 2. Sắp đặt, đối chiếu. 3. Luân phiên.
sâm thương
(參商 ) Chỉ cho sao Sâm và sao Thương (tức sao Hôm và sao Mai). Sao Sâm đứng ở vị Thân phía tây nam, sao Thương đứng ở vị Mão phía đông. Hai sao này cách xa nhau giữa 2 hướng đông và tây, không thể trông thấy cùng lúc, bởi thế, Sâm, Thương được dùng để ví dụ sự xa cách lâu không được gặp nhau, hoặc anh em không hợp ý nhau. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng (Đại 48, 401 thượng) nói: Yếu chỉ thiền môn không phải, không quấy, xoá bỏ oán thân, chẳng giận, chẳng vui. Vậy tại sao có sự hiềm khích như nước với lửa Nam Năng, Bắc Tú, như Sâm với Thương giữa Hồng châu, Hà trạch?.
Sâm thần 參辰
[ja] シンシン shinshin ||| Orion and Mercury, which never appear in the sky at the same time, hence a metaphor for two things which never meet or appear at the same time. => Sao Sâm và sao Thương, không bao giờ xuất hiện trên bầu trời cùn một lúc, nên đó là ẩn dụ cho hai sự kiện không bao giờ xuật hiện hay gặp nhau cùng một lúc.
sân
Dosa (S), Dveṣa (S), Dosa (P) Pratigha (S), Paṭigha (P), Pratigha (S), Anger, AversionSân nhuế, hận, ghét, giận dữ đối với nghịch cảnh. Một trong Thập sửNão hại; Nhuế1- sân 2- Sân kết: Mối trói buộc mà người đắc quả A na hàm dứt được là không còn bị ràng buộc vào sự giận, oán, thù, ghét nửa.
; Krodha; pratigha; dvesa (S). Anger, ire, wrath, resentment.
; Do đối cảnh hoặc ghi nhớ, kích thích sanh khởi cái tâm phẩn nộ hoặc oán hận.
; Krodha or Pratigha or Dvesa (skt)—Hất La Đà—Căn bản phiền não “Sân Khuể” hay sự nóng nảy, một trong tam độc (tham, sân, si)—Anger, ire, wrath, resentment, one of the six fundamental klesas or one of the three poisons (passion, anger, and ignorance)—See Sân Hận.
; (嗔) Phạn: Pratigha hoặc Dvewa. Pàli: Patigha hoặc Dosa. Cũng gọi Sân khuể, Sân nộ, Khuể, Nộ. Hán âm: Đề tì sa. Chỉ cho sự tức giận, 1 trong các pháp Bất định địa thuộc tông Câu xá, 1 trong các pháp phiền não của tông Duy thức. Cứ theo luận Câu xá quyển 16 và luận Thành duy thức quyển 6, đối với những người làm trái ý mình mà nổi giận, oán ghét, khiến tâm mình bực bội không yên, thì gọi là sân. Các Tùy phiền não như phẫn, hận, não, tật (ghen ghét), hại... đều lấy 1 phần của Sân làm thể. Sân là 1 trong 6 phiền não căn bản (hoặc 1 trong 10 Tùy miên). Vì Sân là loại tâm sở (tác dụng của tâm) không có tính chất suy xét, tìm hiểu, tác dụng của nó lại trì độn (chậm lụt), cho nên nó thuộc 1 trong 5 Độn sử. Sân cùng với tham, si gọi là Tam độc (3 cái nọc độc hại), đồng thời cũng là 1 trong Thập ác, Ngũ cái. Sân là loại phiền não chỉ có ở cõi Dục, chứ ở cõi Sắc và cõi Vô sắc thì không có. Tham sinh khởi từ đối tượng đáng yêu; trái lại,Sân nổi lên từ đối cảnh đáng ghét. Sân là chướng ngại rất lớn đối với người tu học Phật pháp, cho nên các kinh luận thường cảnh giác. Luận Đại trí độ quyển 14 ( Đại 25, 167 trung) nói: Tai hại do Sân gây nên là sâu nặng nhất trong 3 độc; trong 98 phiền não, Sân là bền chặt nhất; còn trong các chứng bệnh của tâm thì Sân khó trị nhất. [X. kinh Tạp a hàm Q.27, 28; kinh Bi hoa Q.6; luận Đại tì bà sa Q.27, 34, 44, 48; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Thuận chính lí Q.40; luận A tì đạt ma hiển tông Q.25; Câu xá luận quang kí Q.16; Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần cuối].
sân giác
xem ba loại tư tưởng xấu ác.
sân hận
Hatred, resentment.
; Dosa (skt). (I) Nghĩa của sân hận—The meanings of dosa: 1) Sân hận là một trong tam độc, hay một trong ba ngọn lửa đang đốt cháy tâm. Sân hận là nhiên liệu đốt cháy cả rừng công đức của kẻ tu hành. Người tu phải luôn chế ngự sân hận và phát triển lòng từ bi trong tâm: Anger—Ill-will—Hatred—One of the three poisons in Buddhism (greed, anger, ignorance)—One of the three fires which burn in the mind until allowed to die for fuelling---Anger manifests itself in a very crude manner, destroying the practitioner in a most effective way. To subdue anger and resentment, we must develop a compassionate mind. 2) Theo tâm lý học Phật giáo, yếu tố tâm thức về sân hận luôn nối kết với kinh nghiệm khổ đau. Người ta có thể tham và lạc cùng một lúc, nhưng không thể nào vừa sân hận mà lại vừa vui vẻ cùng một lúc được. Bất kỳ ai vun xới oán ghét, sân hận, giận dữ, tính ác nuôi dưỡng sự trả thù hay bảo tồn lòng căm giận đều bị trói buộc vào kinh nghiệm khổ đau như thế, vì người ấy đã chấp chặt vào một nguồn cội rất mạnh của khổ đau. Những ai gieo hận thù cho người khác như giết chóc hay hành hạ hay cắt xéo thân thể, có thể sẽ tái sanh vào những cảnh giới nơi mà họ phải cảm thọ những kinh nghiệm cực kỳ đau đớn, nhức nhối, khắc nghiệt. Chỉ trong những hoàn cảnh như thế họ mới có thể kinh nghiệm những nỗi khốn khổ mà do sự bất thiện của chính họ, họ đã tự đem dến cho chính họ—According to Buddhist psychology, the mental factor of aversion is always linked to the experience of pain. One may be greedy and happy, but never angry and happy at the same time. Anyone who cultures hatred, anger, malice, nurses revenge or keeps alive a grudge is bound to experience much suffering for he has laid hold a very potent source of it. Those who exercise their hatred on others as in killing, torturing or maiming may expect birth in a state, compared in the scriptural simile to a pitfull of glowing situations, where they will experience feelings which are exclusively painful, sharp, severe. Only in such an environment will they be able to experience all the misery which they, by their own cruelty to others, have brought upon themselves. 3) Đức Phật dạy: “Giặc cướp công đức, không gì hơn sân hận. Vì khi tâm sân hận nổi lên thì chúng sanh lập tức tạo nghiệp, và do đó mà muôn ngàn chướng ngại lập tức hiện ra, ngăn che Thánh đạo, lấp mờ Phật tánh. Cho nên nói 'Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai,' nghĩa là chỉ vì một niệm giận tức mà phải lãnh chịu bao nhiêu chướng nạn” —The Buddha taught: “Bandits who steal merits are of no comparison to hatred and anger. Because when hatred and anger arise, inevitable innumerable karma will be created. Immediately thereafter, hundreds and thousands of obstructions will appear, masking the proper teachings of enlightenment, burying and dimming the Buddha Nature. Therefore, A thought of hatred and anger had just barely risen, ten thousands of karmic doors will open immediately. It is to say with just one thought of hatred, one must endure all such obstructions and obstacles.” 4) Sân hận là nguyên nhân chính của khổ đau và địa ngục: The anger or dosa is the root of suffering and the rebirth in hell. (II) Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có hai điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp sân hận—According to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teaching, there are two conditions that are necessary to complete the evil of ill-will: 1) Một người khác: Another person. 2) Tư tưởng muốn tạo phiền não cho người đó: The thought of doing harm. (III) Cũng theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, đây là những hậu quả tất yếu của sự sân hận—Also according to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teachings, these are the inevitable consequences of ill-will: 1) Thân hình xấu xa: Ugliness. 2) Cơ thể bệnh hoạn: Manifold diseases. 3) Bẩm tánh khó thương: Detestable nature. (IV) Sám Hối Tâm Sân Hận—To repent the mind of hatred and anger: See Sám Hối Tam Nghiệp (3). (V) Những lời Phật dạy về Sân Hận trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Anger” in the Dharmapada Sutra: 1) Xa bỏ lòng giận dữ, trừ diệt tánh kiêu căng, giải thoát mọi ràng buộc, không chấp trước danh sắc; người không có một vật chi ấy, sự khổ chẳng còn theo dõi được—One should give up anger; one should abandon pride. One should overcome all fetters. No suffering befall him who calls nothing his own (Dharmapada 221). 2) Người nào ngăn được cơn giận dữ nổi lên như dừng được chiếc xe đang chạy mạnh, mới là kẻ chế ngự giỏi, ngoài ra chỉ là kẻ cầm cương hờ mà thôi—He who controls his anger which arises as a rolling chariot. He is a true charioteer. Other people are only holding the rein (Dharmapada 222). 3) Lấy từ bi thắng nóng giận, lấy hiền lành thắng hung dữ, lấy bố thí thắng xan tham, lấy chơn thật thắng ngoa ngụy—Conquer anger by love; conquer evil by good; conquer stingy by giving; conquer the liar by truth (Dharmapada 223). 4) Gìn giữ thân đừng nóng giận, điều phục thân hành động, xa lìa thân làm ác, dùng thân tu hạnh lành—One should guard against the bodily anger, or physical action, and should control the body. One should give up evil conduct of the body. One should be of good bodily conduct (Dharmapada 231). 5) Gìn giữ lời nói đừng nóng giận, điều phục lời nói chánh chơn, xa lìa lời nói thô ác, dùng lời nói tu hành—One should guard against the anger of the tongue; one should control the tongue. One should give up evil conduct in speech. One should be of good conduct in speech (Dharmapada 232). 6) Gìn giữ ý đừng nóng giận, điều phục ý tinh thuần, xa lìa ý hung ác, dùng ý để tu chân—One should guard against the anger of the mind; one should control the mind. One should give up evil conduct of the mind. One should practice virtue with the mind (Dharmapada 233).
Sân hận 瞋恨
[ja] シンコン shinkon ||| Grudge, hatred, malice, bitterness. => Hận thù, căm hờn, ác tâm, gay gắt.
sân hỏa
The fire of anger.
; Lửa sân hận (sự sân hận một khi nổi lên chẳng khác nào lửa đốt cháy cả rừng công đức)—The fire of anger, once arises can burn the whole forest of merits.
sân khuể
See Sân in Vietnamese-English Section.
sân khuể cái
(嗔恚蓋) Phạn: Pàli: Vyàpàda-nìrvaraịa. Sân khuể là sự nóng giận; Cái là cái lọng, cái nắp, che đậy; là tên gọi khác của phiền não. Nghĩa là sự nóng giận ví như cái lọng, cái nắp che lấp tâm tính, cản trở thiền định nên gọi là Sân khuể cái, là 1 trong Ngũ cái. [X. luận Đại tì bà sa Q.38; luận Câu xá Q.21]. (xt. Ngũ Cái).
sân khuể hoả
(嗔恚火) Lửa nóng giận. Sự giận tức ví như ngọn lửa, có khả năng thiêu đốt tất cả công đức. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 14 (Đại 2, 619 hạ) nói: Chư Phật đã vào Niết bàn, vì lửa nóng giận mà các ông không được gặp. (xt. Sân).
sân khuể sứ
Sứ giả sân hận (mối sai khiến do lòng sân hận gây ra), là một trong năm độn sử—The messenger or lictor of anger, one of the five envoys of stupidity. ** For more information, please see Ngũ Độn Sử.
sân khuể tam chủng phát tướng
(嗔恚三種發相) Ba thứ tướng giận dữ phát sinh lúc hành giả tu thiền định. Cứ theo Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4 thì 3 tướng ấy là: 1. Phi lí sân tướng: Khi hành giả tu thiền định, chẳng hiểu vì lí do gì mà cảm giác giận dữđột nhiênnổi lên, gây chướng ngại cho thiền định. 2. Thuận lí sân tướng: Khi hành giả tu thiền định, bị người quấy nhiễu mà sinh nóng giận; giống người trì giới, thấy điều phi pháp thì sinh tức giận. Sự nóng giận này tuy là thuận lí nhưng vẫn trở ngại thiền định. 3. Tranh luận sân tướng: Hành giả lúc tu thiền định, chấp trước chỗ tỏ ngộ của mình là đúng, còn những điều người khác nói và làm đều là sai, vì điều người ta nói không thuận với mình, liền sinh nóng giận làm chướng ngại thiền định.
sân khuể tâm
Sân Tâm—Tâm tức giận nóng nảy hay lòng sân nhuế, một trong tam độc—The heart of anger, one of the three poisons.
sân kết
Xem não hại.
sân nhuế
Vyāpāda (S), Ill-will Anger Giận hờn. Xem Sân.
sân nhuế cái
Pratigha-āvaraṇa (S)Một trong ngũ cái.
sân nhuế hỏa
The fire of anger.
sân nhuế sử
The messenger, or lictor of anger.
sân nhuế tưởng
Vyāpāda-saṃjā (S).
Sân nhuế 瞋恚
[ja] シンイ shin'i ||| Anger, rage, scorn (kruddhi). Also commonly expressed with either of these logographs alone. To be angry at that which is disagreeable to oneself. To become angry. Malice, hatred. The term is often written simply with the first ideograph. 〔法華經 T 262.9.16a06〕 (2) One of the 'three poisons' (三毒), along with desire and ignorance. To become wholly embroiled with malice and commit evil deeds (dvesa). => Giận dữ, thịnh nộ, coi khinh (kruddhi). Thường được diễn tả bằng một trong 2 chữ nầy. Giận dữ đối với những gì không vừa ý với mình. Trở nên giận dữ. ác tâm, căm hờn. Một trong Ba độc (三毒), cùng với tham lam và ngu si. Làm cho người ta trở nên hoàn toàn ác tâm và phạm vào ác nghiệp (s: dvesa).
sân phiền não
The passion or defilement of anger.
; Phiền não do sân hận gây ra—The passion or defilement of anger.
sân phược
Dveṣa-bandhana (S)Một trong tam phược.
; Một trong tam phược, sự trói buộc của sân hận—One of the three fetters, the fetter (bind) of anger—See Tam Phược.
sân si
Quick-tempered, irascible, choleric.
sân tâm
Dosa-mŪla-citta (P).
; A heart of anger.
; See Sân Khuể Tâm.
sân tâm bất thụ hối giới
(嗔心不受悔戒) Cũng gọi Sân bất thụ hối giới, Sân bất thụtạ giới, Cố sân giới. Giới ngăn cấm tâm sân hận khi người khác có lỗi mà không nhận sự sám hối của họ, là giới thứ 9 trong 10giới trọng cấm của Bồ tát. Kinh Phạm Võng quyển hạ (Đại 24, 1005 thượng) nói: Nếu Phật tử tự mình nổi giận, bảo người khác nổi giận, đối với nhân giận, duyên giận, pháp giận, nghiệp giận, là Phật tử đáng lẽ phải làm cho tất cả chúng sinh đều sinh căn lành không tranh cãi, thường sinh tâm từ bi; đàng này, trái lại, đối với tất cả chúng sinh, cho đến loài phi chúng sinh, lại dùng lời mắng nhiếc làm nhục, thậm chí còn dùng tay, dao, gậy đánh đập, vẫn không nguôi cơn giận, rồi người ta dùng lời nhẹ nhàng xin sám hối, tạ tộicũngvẫn không hả giận, Phật tử mà hành sử như vậy là phạm tội Ba la di. Trong Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 4, ngài Pháp tạng đã trình bày rõ 10 lí do chế giới này: 1. Trong các phiền não tâm sân hận là nặng nhất. 2. Sân là nhân tạo ra ác thú và đường ác nghiệp. 3. Nó đốt cháy tiêu hết thảy căn lành của các kiếp trước. 4. Nó buộc chặt mối oán thù, nhiều đời khó cởi mở. 5. Do đó thường làm hại các chúng sinh.6. Nó hay tạo các tội vô gián. 7. Thường ngăn ngại Nhẫn ba la mật của Bồ tát. 8. Làm hại lòngđại bi của Bồ tát. 9. Khiến Bồ tát lìa bỏ việc giáo hóa chúng sinh. 10. Thành tựu đầy đủ trăm nghìn chướng nạn. Ngoài ra, kinh Bồ tát địa trì quyển 5, luận Du già sư địa quyển 40, kinh Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi và Bồ tát giới bản do ngài Đàm vô sấm dịch, đều cho Sân là 1 trong 4 tội Ba la di. Kinh Bồ tát thiện giới coi nó là 1 trong 8 pháp trọng, còn kinh Bồ tát nội giới thì nói Sân là 1 trong 47 giới. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; luận Du già sư địa Q.41; Bồ tát giới nghĩa sớ Q.hạ].
sân đấu cấu địa
(瞋斗㖃地) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tục ngữ thông dụng ở đời Tống, Trung quốc. Sân là giận dữ, Đẩu là vẻ dữ tợn, Hậu là gầm thét, Địa là trợ từ. Sân đẩu hậu địa, ý nói giận dữ kịch liệt. Chính pháp nhãn tạng của ngài Đại tuệ Tông cảo (Vạn tục 118, 2 hạ) nói: Khi chưa đụng chạm thì có vẻ nhẹ nhàng, trông rất dễ mến, nhưng nếu có người vừa đụng đến thì tam bành nổi lên (sân đẩu hậu địa), chẳng ai dám gần.
sân độc
The poison of anger.
Sân 瞋
[ja] シン shin ||| (pratigha, dveṣa, doṣa, kupita; Pali dosa, kupito; Tib. khoṅ khro). 'anger','antipathy.' The mental action of antipathy regarding situations or things that run counter to one's own disposition, preventing the body and mind from having stability. In the Abhidharmakośa-bhāsya, one of the undetermined elements, in the doctrine of the Yogācāra school, it is counted as one of the six primary defilements 六煩惱. Also one of the three poisons (三毒). This is the most basic form of antipathy, which has several distinctive manifestations that are included in the secondary afflictions 隨煩惱. => (s: pratigha, dveṣa, doṣa, kupita; p: dosa, kupito; t: khoṅ khro). 'giận', 'ác cảm'. Tâm sở ác cảm khi tình thế hay vật chạy về phía đối lập, ngăn không cho thân tâm an định. Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, đó là một trong các bất định pháp; theo giáo lý Duy thức, đó được xem là một trong 6 căn bản phiền não. Cũng là một trong ba độc (三毒). Đây là dạng căn bản nhất của giận dữ, có vài biểu hiện khác biệt bao gồm trong tuỳ phiền não 隨煩惱.
sâu rộng
Profound and extensive.
sâu xa
So deep.
sè tay
To open one's hand.
sí di la
(翅夷羅) Một loại áo ca sa. Áo này được may bằng lông cánh chím. [X. Tứ phần luật khai tông kí Q.6]. (xt. Ca Sa).
sí do la
(翅由邏) Phạn: Keyùra. Cũng gọi Chỉ do la, Cát do la. Hán dịch: Anh lạc. Đồ trang sức làm bằng châu ngọc đeo ở cổ mà hàng vương công quí tộc ở Ấn độ thường dùng. Ngoài ra, tượng các vị Bồ tát và người trời phần nhiều cũng đeo chuỗi anh lạc để trang nghiêm thân tướng. [X. Khả hồ ngâm nghĩa Q.5 hạ].
sí xá khâm bà la
(翅舍欽婆羅) Phạn: Kezakambala. Cũng gọi Hệ xa khâm bà la. Hán dịch: Phát y. Phái thứ 5 trong 10 phái ngoại đạo ở Ấn độ. Cứ theo Tứ phần sớ sức tông kí quyển 7 phần cuối thì ngoại đạo này mặc áo may bằng tóc (phát y), vì vậy nên có tên này.Thông thường, Lục sư ngoại đạo ở Ấn độ là chỉ cho: San xà da tì la chi tử, A kì đa síxá khâm bà la, Mạt già câu lê xá lê, Phú lan na ca diếp, Ca la cưu đà ca chiên diên và Ni kiền đà nhã đề tử. Nhưng Tứ phần luật và Tứ phần luật sớ cho rằng Lục sư ngoại đạo này tuy chỉ có 6 tông phái, nhưng kì thực thì có tới 10 người và Sí xá khâm bà la là 1 trong số 10 người ấy, mà A kì đa sí xá khâm bà la trong Lục sư ghi ở trên chính là tên gộp chung của Sí xá khâm bà la và A kì đa, người thứ 4 trong số 10 người.
sòng phẳng
To be punctual in the payment of one's debts.
sóng gió
Waves and wind—Ups and downs
sóng soài
To fall in full length.
sóng sông hằng
Gaṅgālaharī (S), Wave of the Ganges.
sót
To leave (miss) out—To omit.
sô
1) Chim non: A fledgling. 2) Cỏ khô: Hay—Straw.
sô ha
Xem ta bà ha.
sô ma
Ksauma or Ksaumaka (skt)—Còn gọi là Sấm Ma, Sô Ma Ca, Thủ Ma, Tô Ma, hay Tu Ma, nghĩa là thứ quần áo làm bằng gai—Flax—Linen—Linen garment.
Sô ngu
(騶虞, sūgu): (1) Tên một loài linh thú giống như hổ, lông trắng vằn đỏ, không ăn thịt, không đạp phá cỏ hoa, thể hiện cho cái đức của bậc Thánh. (2) Tên người quản lý chim thú của Thiên tử. (3) Tên gọi một thiên Chiêu Nam (召南) của Thi Kinh (詩經). (4) Tên một loại âm nhạc.
sô tăng
Vị Tăng còn non trẻ—A fledgling priest, neophyte.
sông a-trí-la-phạt-để
Aciravati (P, S).
sông diêm phù
JambŪ River.
Sông Hằng
(s, p: Gaṅgā, 恒河): là dòng sông lớn chảy vào phía Bắc Ấn Độ. Chính ngay nơi lưu vực sông này, Phật Giáo đã từng một thời hưng thịnh.
sông hằng
Ganges River.
sông ni liên thiền
Anoma River
sõi
Old but still in good health.
sùng
1) Cao ngất: Lofty—Eminent. 2) Tôn sùng: To reverence—To adore—Honourable.
sùng bái
Xem Lễ bái.
; Namasyà (S). Veneration, worship.
; To worship—To adore.
; (崇拜) Tôn sùng và kính bái đối với đối tượng mà mình tin tưởng, thờ phụng. Sùng bái là 1 trong những yếu tố cơ bản của tông giáo. Căn cứ vào các đối tượng sùng bái khác nhau mà có thể phân loại các tông giáo bất đồng. Như tông giáo Tự nhiên có sùng bái tự nhiên, tông giáo Bộ lạc có sùng báiđồ đằng (vật tô– Totem); tông giáo của xã hội văn minh thì có sùng bái ngẫu tượng, sùng bái thần linh... Mục đích chủ yếu của các loại tông giáo này là cảm tạ, cầu nguyện hoặc học tập khuôn mẫu của các đối tượng mà mình tin thờ, sùng kính, do đó mà phát triển ra các thứ nghi thức và chuyên chức chủ trì nghi thức như Tế tư, Tăng lữ...
sùng huyền thự
(崇玄署) Chỉ cho cơ quan trung ương thống lãnh tăng ni, đạo sĩ ở đầu đời Đường, trách nhiệm như những tăng quan nắm giữ giấy tờ sổ sách và trông coi các việc trai đàn... Đầu tiên cơ quan này được đặt dưới quyền Hồng lô tự. Về sau, quyền hạn dần dần thu hẹp, không còn độc lập nữa mà phải chịu lệ thuộc dưới sự điều khiển của các quan thế tục. [X. Đường thư bách quan chí 38].
sùng hưng
Tên một ngôi chùa cổ trong quận Phú Quốc (đảo), tỉnh Kiên Giang. Không ai biết người nào đã xây dựng và chùa đã được xây vào năm nào—Name of an ancient temple, located in Phú Quốc district, Kiên Giang province. No one knows who built the temple and when it was built.
sùng kính
To revere—To respect—To reverence and respect.
Sùng Ninh Thanh Quy
(崇寧清規): xem Thiền Uyển Thanh Quy(禪苑清規, Zennenshingi) bên dưới.
sùng phúc tự
See Thiên Phúc Tự.
; (崇福寺) Chùa ở Trường an, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Lúc đầu, Hoàng thất nhà Đường tự nghĩ đã dựng nghiệp ở Thái nguyên, để báo đền ơn đất, mới xây 5 ngôi chùa ở Dương Châu, Kinh Nam, Thái Nguyên, Tây Kinh và Đông Kinh, đều đặt tên chùa là Thái Nguyên. Thời Vũ hậu, 5 ngôi chùa được trùng tu và đổi tên chùa Thái nguyên ở Tây kinh là Ngụy quốc Tây tự, chùa ở Đông Kinh là Đại phúc tiên tự, lại đổi Ngụy quốc Tây tự là Sùng phúc tự. Pháp sư Thần Khải từng hoằng truyền luận Nhiếp đại thừa, luận Câu xá... ở chùa này, do đó mà chùa trở thành đạo tràng của tông Pháp tướng. Về sau, chùa Thái nguyên ở Thái nguyên cũng đổi tên là Sùng phúc tự, người đời bèn gọi chùa Sùng phúc này là Tân sùng phúc tự để phân biệt với chùa Sùng phúc ở Thái nguyên. Trong năm Khai Nguyên, pháp sư Trí Thăng trụ ở chùa này soạn Khai nguyên thích giáo lục, nổi tiếng ở đời.
Sùng Phước Tự
(崇福寺, Sūfuku-ji): ngôi tự viện cổ tọa lạc tại Ōtsu-shi (大津市), Shiga-ken (滋賀縣), hiện tại là ngôi chùa hoang phế. Tương truyền năm 668, sau khi dời đô về kinh đô Đại Tân (大津, Ōtsu), Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō) đã xây dựng ngôi chùa này trong ngọn núi phía Tây Bắc cung thành, tôn thờ tượng Di Lặc Bồ Tát nơi đây. Chùa rất hưng thạnh cho đến thời đại Bình An, về sau thì trải qua nhiều lần bị hỏa hoạn rồi dẫn đến tình trạng hoang phế. Vào năm 1230, chùa phụ thuộc vào Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji), rồi sau đó thì bị phế tuyệt luôn.
Sùng Phạm
崇範; 1004-1087|Thiền sư Việt Nam thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 11. Sư nối pháp Thiền sư Vô Ngại và truyền lại hai vị còn được nhắc đến là Ðạo Hạnh và Trì Bát.|Sư họ Mâu, dáng mạnh mẽ to lớn, hai lỗ tai dài chấm vai. Sau khi xuất gia, Sư đến Thiền sư Vô Ngại ở Hương Thành tu học và được truyền tâm ấn. Sau đó, Sư sang Thiên Trúc (Ấn Ðộ) 9 năm để tu học thêm. Trở về nước, Sư đến chùa Pháp Vân thuyết giảng Phật pháp, học chúng quy tụ rất đông.|Năm Ðinh Mão, niên hiệu Quảng Hựu thứ 3 đời Lí Nhân Tông, Sư viên tịch, thọ 84 tuổi.
sùng phạm
Thiền Sư Sùng Phạm (1004-1087)—Thiền sư Sùng Phạm, đời thứ 11 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sau khi xuất gia sư đến tham vấn với ngài Vô Ngại ở Hương Thành. Ít lau sau đó sư đi vân du khắp các miền xứ Thiên Trúc và trở về trụ tại chùa Pháp Vân làng Cổ Pháp để hoằng dương Phật Pháp. Sư thị tịch năm 1087, thọ 84 tuổi—Zen master Sùng Phạm, the Dharma heir of the eleventh lineage of the Vinitaruci Zen Sect. After leaving home to become a monk, he went to see Zen Master Vô Ngại to study meditation. Sometime later he went to India and wandered all over India to study dharmas. He went back to Vietnam and stayed at Pháp Vân Temple in Cổ Pháp to expand the Buddha Dharma. He passed away in 1087, at the age of 84.
Sùng Tuấn Thiên Hoàng
(崇峻天皇, Sushun Tennō, tại vị 587-592): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thế kỷ thứ 6, con của Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō), tên là Bạc Lại Bộ (泊瀬部), nơi vua ở là Sài Thản Cung (柴坦宮) thuộc Thương Thê (倉梯, Kurahashi) thuộc nước Đại Hòa (大和, Yamato). Ông rất phẩn uất vì sự chuyên quyền của tay Đại Thần Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako) và định tìm cách hạ bệ tên này, nhưng ngược lại cuối cùng lại bị Tô Ngã ám sát.
Sùng Tín
崇信|Long Ðàm Sùng Tín
sùng tín
Tôn sùng và tin tưởng—Reverence and faith, to revere and trust.
Sùng đức 崇徳
[ja] スウトク sūtoku ||| (1) To revere virtue. (2) To elevate one's level of virtue by cultivation of it. => 1. Tôn trọng đạo đức. 2. Nâng cao phẩm đức bằng cách tu tập.
Sùng 崇
[ja] スウ sū (1) To venerate, respect, revere, adore ||| (2) Lofty, noble, high. (3) To gather, increase, improve. (4) To guide. => 1. Kính trọng, tôn trọng, tôn kính, tôn sùng. 2. Cao quý, cao thượng, lớn, trọng. 3. Hợp lại, gia tăng, phát triển. 4. Hướng dẫn.
sú
Mùi hôi thối—Stinking smell.
sú khẩu quỷ
Demons with stinking breath.
súc
To rear, feed, domesticate; restrain; cattle.
; Nuôi nấng trong nhà—To rear—To feed—To domesticate.
Súc kim ngân bảo 蓄金銀寶
[ja] チクコンギンホウ chikukonginhō ||| The accumulation of gold, silver and jewelry prohibited for members of the Buddhis clergy in the ten precepts 十戒. => Cất chứa vàng bạc, của quý. Điều cấm đối với chư tăng Phật giáo trong 10 giới.
súc sanh
Tiracchāna (P), Tiraścīna (S).
; Tiryagyoni (skt)—Để Lật Xa—Bàng Sanh—Một trong lục thú trong tam đồ ác đạo, nơi mà chúng sanh sanh vào để chịu khổ trong tay của thợ săn, đồ tể, hay bị thương buôn và nông dân bắt buộc phải làm việc cực nhọc—Domestic animals—Animals—The realm of animals—Animality—One of the sixth forms of rebirth and one of the three Evil Paths is rebirth as an animal in the human world. Beings who are reborn as animals suffer at the hands of hunters, trappers, and butchers, and by being forced to work as beast of burden for farmers and merchants.
súc sanh nhân
Nghiệp nhân khiến chúng sanh phải tái sanh vào loài súc sanh trong Thích Thị Yếu Lãm, có 5 tội phải sanh làm súc sanh: 1) Phạm giới trộm cắp, 2) Nợ nần không trả, 3) Sát sanh, 4) Không thích nghe giảng kinh pháp, 5) Thường vì nhân duyên khó đến trai hội. The cause, or karma, of rebirth as an animal.
súc sanh thú
Một trong sáu loại chúng sanh, nơi sinh sống của các loài súc sanh (do nghiệp nhân mà sau khi chết phải đọa vào súc sanh)—The way, destiny, or gati of rebirth as animals, one of the six forms of rebirth.
súc sanh đạo
Tiryayoni-gati (S).
; See Súc Sanh Thú.
súc sinh
Xem Súc vật.
; Tirascina (S). Animals, beasts. Cảnh giới súc sinh. Tirascinayoni (S). Rebirth as an animal; animal womb.
; (畜生) Phạn: Tiryaĩc. Pàli: Tiracchana. Hán âm: Để lật xa. Cũng gọi Bàng sinh, Hoạnh sinh, Súc sinh đạo, Bàng sinh thú. Chỉ chung cho các loài động vật như chim, cá, muông thú, côn trùng... là 1 trong 3 ác đạo, 1 trong 6 đường, 1 trong 5 đường. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 18 thì súc sinh tổng cộngcó tới34 ức loại, về tướng mạo, màu sắc, cách ăn uống, sinh sống... đều khác nhau. Luận Đại trí độ quyển 30 cho rằng, căn cứ vào chỗ ở của súc sinh có thể chia làm 3 loại: Bay trên không, đi trên đất và bơi dưới nước. Nếu căn cứ vào ngày, đêm thì có thể chia làm 3 loại: Loài đi lúc ban ngày, loài đi lúc ban đêm và loài đi cả ban ngày lẫn ban đêm. Còn theo luận Đại tì bà sa quyển 120 và luận Câu xá quyển 8 thì súc sinh và loài người đều có 4 cách sinh: Sinh từ bào thai, từ trong trứng, sinh ở chỗ ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh. Còn thọ mệnh của súc sinh thì hoặc 1 ngày 1 đêm, hoặc như Long vương... thọ 1 trung kiếp, mỗi loài mỗi khác. [X. luận Đại tì bà saQ.172; luận Lập thế a tì đàm Q.7; luận Câu xá Q.11; luận Tạp a tì đàm tâm Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần đầu].
súc sinh giới
The animal kingdom.
; (畜生界) Chỉ cho thế giới của loàisúc sinh, 1 trong 10 giới do tôngThiên thai lập ra. Các loài sinh sống trong thế giới này là những chúng sinh ngu si, do kiếp trước tạo nghiệp ác mà chuyển sinh đến. (xt. Thập Giới, Súc Sinh).
súc sinh hữu
(畜生有) Quả báo của loài súc sinh là có thật, 1 trong 7 Hữu được nói đến trong Trường A Hàm thập báo pháp kinh quyển thượng.
súc sinh nhân
The cause, or karma, og rebirth as an animal.
; (畜生因) Nghiệp nhân dẫn sinh vào đường súc sinh. Thích thị yếu lãm quyển trung dẫn lời trong kinh Biện ý cho rằng: Nghiệp nhân dẫn sinh vào đường súc sinh có 5: Phạm giới ăn trộm, mắc nợ không trả, giết hại, không thích nghe nhận kinh pháp, thường tìm mọi cách để ngăn cản, quấy rối người khác cử hành trai hội.
súc sinh thú
The destiny of rebirth as an animal.
súc sinh thực thời
(畜生食時) Chỉ cho thời gian ăn uống của loài súc sinh, 1 trong 4 thời ăn. Loài súc sinh phần nhiều ăn uống vào buổi chiều. [X. Pháp uyển châu lâm Q.42].
súc sinh đạo
The way of rebirth as an animal.
; (畜生道) Cũng gọi Súc sinh thú. Chỗ nương ở của súc sinh, 1 trong Lục đạo.Chúng sinh lúc còn sống tạo các nghiệp ác, gieo nhân súc sinh, sau khi chết, sinh vào cõi súc sinh, gọi là Súc sinh đạo.(xt. Lục Đạo).
Súc sinh đạo 畜生道
チクショウドウ chikushōdō ||| Rebirth as an animal. See 畜生. => Sinh trong đường súc vật. Xem Súc sinh畜生.
Súc sinh 畜生
[ja] チクショウ chikushō ||| Rebirth as an animal (tiryag-yoni). One of the six destinies 六道, one of the three evil destinies 三惡趣, one of the ten realms 十界. This rebirth occurs due to a predominance of mistaken activity in one's prior lifetime, due mostly to foolishness. 〔菩薩善戒經T 1582.30.961b2〕 => Sinh làm súc vật (tiryag-yoni). Một trong Lục đạo 六道, một trong Tam ác thú 三惡趣, một trong Thập giới 十界. Sự tái sinh nầy do những hành vi sai trái đã tạo ra trong kiếp trước quá nặng, chủ yếu là do tính ngu si.
súc tích
To collect—To accumulate.
súc vật
Paśu (S), Animals Pasu (P)Súc sinh.
; See Súc Sanh.
Súc 畜
[ja] チク chiku ||| (1) To store, stock up, save, put aside, keep, accumulate, gather. (2) That which is stored, kept, gathered, etc. (3) To restrain, stop. (4) To rear, to feed, to cultivate. (5) Cattle, domestic animals. => 1. Chứa, dự trữ, giữ lại, để dành, giữ lại, tích luỹ, gom chứa. 2. Những gì được cất chứa, tích luỹ.v.v... 3. Cản trở, dừng lại. 4. Nuôi dạy, cung cấp, nuôi dưỡng. 5. Súc vật, gia súc.
sún
Toothless.
săn sóc
To take care—To care.
săn đuổi
To chase—To pursue.
sĩ
A gentleman—Scholar.
sĩ diện
Scholar's pride.
sĩ dụng quả
Puruṣakāra phala (S)Một trong ngũ chủng quả (đẳng lưu, dị thục, ly hệ, sĩ dụng, tăng thượng quả).
; Purusakàraphala (S). Manliness, virility.
; Purusakara-phala (skt)—Quả đồng thời sanh ra bởi “câu hữu nhân,” có nghĩa là tứ đại đều là nhân câu hữu với nhau, không có cái gì bị loại bỏ; và “tương ưng nhân,” như sự tương ưng giữa những điều kiện tâm và tinh thần, chủ quan và khách quan—Simultaneous effect produced by the co-operative causes (sahabhu-hetu), as the four elements in nature, not one of which can be omitted; and the mutual responsive or associated causes (samprayukta-hetu), i.e. mind and mental conditions, subject with object.
; (士用果) Phạn: Puruwakàra-phala. Cũng gọi Sĩ phu quả, Công dụng quả. Chỉ cho quả do nhân Câu hữu và nhân Đồng loại mang lại, vì sức của nó mạnh nên gọi là Sĩ dụng quả (ví như sức người (sĩ) dùng công cụ tạo tác ra), là 1 trong 5 loại quả. LuậnThành duy thức quyển 8 (Đại31, 42 trung) nói: Sĩ dụng, nghĩa là những người làm (sĩ) mượn các công cụ để tạo ra sự nghiệp. Thành duy thức luận thuật kí quyển 8, phần đầu, dựa vào đó mà cho rằng Sĩ dụng quả có 2 nghĩa: 1. Nói về người: Lực dụng này nương vào hữu tình mà sinh, như lúa gạo của nhà nông, tiền bạc của nhà buôn... đều nhờ sức của con người(sĩ) mà làm nên sự nghiệp. 2. Nói về pháp: Các pháp sinh là do các công cụ mà có, như nhà nông do cấy lúa mà có thóc, nhà buôn do mua bán mà có lời, tác giả mượn các công cụ mà làm thành mọi việc. Kết quả này chung cho tất cả pháp hữu vi. Ngoài ra, luận Câu xá quyển 6 cho rằng quả do nhân Câu hữu và nhân Tương ứng mà được, cũng tương đương với quả Sĩ dụng nói ở đây. [X. luận Đại tì bà sa Q.121; luận Thuận chính lí Q.18; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Du già sư địa Q.5].
sĩ hạnh
Scholar's virtue.
sĩ khuê
(士圭) (1083-1146) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người ở Thành đô, tỉnh Tứ Xuyên, họ Sử, tự Trúc am, hiệu Lão thiền. Sư xuất gia từ tuổi niên thiếu, siêng học kinh giáo, chuyên nghiên cứu Lăng nghiêm. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư đến tham học ngài Phật nhãn Thanh viễn và được nối pháp ngài. Sau, sư lần lượt trụ ở các chùa: Long Tường, Thiên Ninh, Bao Thiền, Đông Lâm... Khoảng năm Thiệu hưng, sư và ngài Tông cảo soạn chung hơn 100 tắc Tụng cổ ở Vân môn, được người đời quí trọng. Về sau, sư dời đến trụtại Cổ sơn thuộc tỉnh Phúc kiến, rồi lại dời đến trụ trì các chùa Năng nhân tại Nhạn đãng và Long tường ở Ôn châu... Sư tinh thông cả ngoại điển và thư pháp. Năm 1146, Sư tịch, thọ 63 tuổi. Sư có tác phẩm: Trúc Am Khuê hòa thượng ngữ yếu 1 quyển, Đông lâm hòa thượng Vân môn am chủ tụng cổ 1 quyển. [X. Gia thái phổ đăng lục Q.16; Ngũ đăng hội nguyên Q.20].
sĩ khí
See Sĩ Diện.
sĩ nhân
Man of letters—Learned man.
sĩ nông công thương
Bốn giai cấp chính trong xã hội phong kiến—Four main classes in the feudal society: 1) Sĩ: Intellectuals. 2) Nông: Peasants. 3) Công: Workers. 4) Thương: Tradesmen.
sĩ phu
được dịch từ tiếng Phạn là puruṣa, phiên âm là bổ-lô-sa (補盧沙), với nghĩa chỉ phần tình thức, tinh thần, bản thể của con người, hoàn toàn không liên quan đến nghĩa của chữ “sĩ phu” thường được hiểu trong chữ Hán (người có học, nho sĩ...). Có nơi cũng dịch chữ này là linh hồn. Khái niệm này đã có từ trước thời đức Phật. Sau khi chứng ngộ và nhận biết rõ ràng về tâm thức cũng như nghiệp lực của mọi chúng sanh, đức Phật đã chỉ ra rằng quan niệm về một linh hồn thường tồn là hoàn toàn sai lầm.
; Intellectuals.
sĩ đạt đa
Xem Tất đạt đa.
; See Siddhartha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Sơ
初; C: chū; J: sho;|Có các nghĩa sau: 1. Sự bắt đầu, ban đầu, sự khai mạc, lúc đầu, sự khởi đầu (s: adaya, adi); 2. Sự phát khởi niềm tin ban đầu; 3. Giai vị đầu tiên trong Thập trú (Phát tâm trú).
sơ
Beginning, first.
; 1) Bắt đầu: Beginning—First. 2) Cắt vải: To cut cloth for clothes. 3) Đơn sơ: simple. 4) Sơ khai: Primitive.
sơ a hậu đồ
(初阿後荼) Chữ A ở đầu, chữ Đồ ở cuối, tức chỉ cho 2 chữ đầu và cuối trong 42 chữ của tiếng Phạn. Các kinh như Hoa nghiêm, Bát nhã... đều lấy 42 chữ này làm pháp môn quán tưởng nghĩa chữ, bởi vì mỗi một chữ đều có ý nghĩa đặc thù của Phật pháp. Trong đó, chữ (a) có nghĩa tất cả các pháp vốn chẳng sinh; chữ (đha) có nghĩa vào chỗ rốt ráo các pháp chẳng diệt chẳng sinh.Ngoài ra, ngài Nam nhạc Tuệ tư soạn Tứ thập nhị tự môn thích 2 quyển, đem phối trí 42 chữ Phạm này với 42 giai vị tu hành của Bồ tát Đại thừa; 40 chữ trước là Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, 2 chữ sau là Đẳng giác và Diệu giác.[X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Hoa nghiêm Q.57 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.48].
sơ canh
See Sơ Dạ.
Sơ chuyển pháp luân
初轉法輪; C: chūzhuănfǎlún; J: shotenbō-rin;|Chuyển pháp luân lần đầu. Lần giảng pháp đầu tiên của Phật Thích-ca Mâu-ni.
sơ chuyển pháp luân
(初轉法輪) Lần thuyết pháp đầu tiêncủa đức Phật sau khi xuất gia thành đạo. Lần này, ở vườn Lộc dã, đức Phật nói Tứ thánh đế, Bát chính đạo cho 5 vị tỉ khưu Kiều trần như... chỉ bày con đường lìa bỏ 2 cực đoan ái dục và khổ hạnh mà tu hành trung đạo. [X. Tạp a hàm Q.15; kinh Chuyển pháp luân]. (xt. Bát Tướng, Lộc Dã Uyển).
Sơ chuyển pháp luân 初轉法輪
[ja] ショテンボウリン shotenbōrin ||| The "first turning of the wheel of the dharma." Śākyamuni's first sermon. => Chuyển pháp luân lần đầu. Lần giảng pháp đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
sơ cơ
(初機) Cũng gọi Sơ học, Sơ tâm, Sơ phát tâm. Cơ, tức căn cơ, cơ loại; Sơ cơ chỉ cho người mới học đạo. Bích nham lục tắc 2 (Đại 48, 141 trung) nói: Bậc thượng sĩ tham cứu đã lâu thì không cần phải nói, nhưng đối với kẻ sơ cơ hậu học thì cần được chỉ dạy.
Sơ duyên
初縁; C: chūyuàn; J: shoen;|Có hai nghĩa: 1. Duyên đầu tiên; 2. Duyên gần nhất (s: samanantara-pratyaya).
Sơ duyên 初縁
[ja] ショエン shoen ||| (1) First condition. (2) Immediate condition (samanantara-pratyaya). => Có hai nghĩa: 1. Duyên đầu tiên. 2. Duyên gần nhất (s: samanantara-pratyaya).
Sơ dạ
(s: prathama-yāma, p: paṭhama-yāma, 初夜): đầu đêm, còn gọi là sơ canh (初更, canh đầu), là một trong 6 thời khắc trong một ngày đêm; tức khoảng 8 giờ tối sau buổi trưa. Trong kinh điển thường dùng thuật ngữ này. Như trong Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 53 có câu: “Ư thực trung năng tri chỉ túc, sơ dạ hậu dạ tinh tấn giác ngộ (於食中能知止足、初夜後夜精進覺悟, ngay trong khi ăn có thể biết đủ và dừng lại, đầu đêm giữa đêm tinh tấn giác ngộ).” Hay trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 16 lại có đoạn: “Hành giả như thị, ư thiện pháp trung, sơ dạ, trung dạ, hậu dạ, tụng kinh, tọa Thiền, cầu chư pháp thật tướng (行者如是、於善法中、初夜、中夜、後夜、誦經、坐禪、求諸法實相, hành giả như vậy, ở trong thiện pháp, đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm, tụng kinh, ngồi Thiền, cầu thật tướng các pháp).” Hoặc trong Pháp Hoa Kinh Hiển Ứng Lục (法華經顯應錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1540) quyển 1, phần Thiên Thai Tảo Thiền Sư (天台璪禪師), cũng có đoạn: “Sơ dạ tọa Thiền, nãi kiến nhất cửu đầu long tùng địa dũng xuất, thượng thăng hư không (初夜坐禪、乃見一九頭龍從地涌出、上升虛空, Thiền Sư đầu đêm ngồi Thiền, bèn thấy một con rồng chín đầu từ đất vọt ra, bay lên hư không).”
sơ dạ
Lúc đầu hôm (phần đầu, giữ khuya và hừng sáng)—The first of the three divisions (watch) of the night.
; (初夜) Phạn: Prathama-yàma. Pàli: Paỉhama-yàma. Cũng gọi Sơ canh. Bắt đầu vào đêm, tức khoảng 8 giờ tối, 1 trong 6 thời. KinhQuá khứ hiện tại nhân quả quyển 3 (Đại 3, 641 trung) nói: Lúc bấy giờ, Bồ tát dùng sức từ bi (...) tự nghĩ rằng: Tất cả chúng sinh không người cứu vớt, trôi nổi trong 5 đường, không biết bến bờ thoát ra. Tất cả đều giảdối, không chân thực, cứ ở trong đó sinh ra khổ vui. Bồ tát suy nghĩ như thế đến hết sơ dạ. Phẩm Đại thừa trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 15 (Đại 26, 104 trung) nói: Sơ dạ, hậu dạ tùy thời giác ngộ, quán tướng duyên thủ, ưa trụ chỗ không, quí ở trì giới. [X. kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.hạ; luận Đại thừa A tì đạt ma tạp tập Q.8; Vãng sinh lễ tán kệ].
sơ dạ kệ
(初夜偈) Kệ được tụng vào lúc đầu đêm. Vãng sinh lễ tán kệ của ngài Thiện đạo ghi (Đại 47, 440 hạ): Phiền não sâu không ; Biển sinh tử không bờ; Thuyền cứu vớt chưa có; Làm sao vui ngủ yên? Hãy mạnh mẽ tinh ; Nhiếp tâm thường ngồi thiền. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Thái tửthụy ứng bản khởi Q.hạ; phẩm Đại thừa trong luận Thập trụ tì bà sa Q.15]. (xt. Lục Thời).
sơ giang vương
(初江王) Cũng gọi Sở giang vương. Ông vua thứ 2 trong 10 ông vua cõi U minh. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương thì bản địa của vị vua này là đức Thích Ca Như lai, là ông quan coi việc người chết qua sông. Sau khi chết, thân Trung hữu trong 14 ngày đến trước đại điện vua này; trên quãng đường đến đây, có cây cầu Nại hà, bên bờ sông, dưới cây Y Lãnh, có bà già đoạt áo (Đoạt y bà), đợi khi người chết đến, lột lấy áo của họ, giao cho ông Huyền Y (Huyền y ông), ông này đem áo treo trên cành cây để xem tội nặng hay nhẹ; nếu tội nặng thì cành cây trĩu xuống và người chết bị 2 con quỉ đầu trâu, đầu ngựa lôi đến điện vua Sơ Giang để được phán quyết. [X. Phật tổ thống kỉ Q.33]. (xt. Diêm La Thập Điện).
sơ hoan hỷ địa
The first of the ten stages toward Buddhahood, that of joy.
; Địa vị thứ nhất của Thập Địa, giống như Hoan Hỷ Địa—The stage of joy, the first of the ten stages toward Buddhahood.
Sơ học
初學; C: chūxué; J: shogaku;|Mới bắt đầu tu học. Người mới học.
sơ học
Elementary.
sơ học kí
(初學記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Bản Nhiên Thanh Giác (1043-1121) soạn vào đời Tống, ngài Đạo An chú thích, ấn hành vào năm Hoàng Khánh thứ 2 (1313) đời vua Nhân Tông nhà Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Ngài Thanh giác cho rằng muốn đi nghìn dặm thì phải bước 1 bước đầu, nên viết Sơ học kí để tiếp dẫn kẻ hậu tiến, khai ngộ quần mê, hoằng dương yếu chỉ Tam thừa Thập địa, giúp những người sơ tâm dễ học tập, lâu ngày sẽ quen, tự có chỗ thấy biết, rồi tiến lên thực hành để đạt cứu cánh. Nội dung sách này bao gồm các vấn đề như: Phật đạo không thể không học, sinh tử không thể không lo, muốn không bị lừa dối thì chớ lìa Thập địa Tam thừa. Bát nhã tỏ lòng thấy tính, danh mục nhắc nhớ nội phàm; kẻ sơ học trước cầu nhân địa, tu tập theo giới định tuệ, phải biết danh mục thứ bậc. Ngoài ra, trong sách cũng bàn đến vài mươi hạng mục như: Quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, Pháp vân địa, Diệu giác địa...
Sơ học 初學
[ja] ショガク shogaku ||| Beginning study. A beginner. => Mới bắt đầu tu học. Người mới học.
sơ hội
(初會) Chỉ cho hội thuyết pháp đầu tiên của đức Phật sau khi Ngài thành đạo, hoặc chỉ cho hội đầu tiên Phật giảng nói về 1 bộ kinh nào đó.
sơ khai
Primitive—Aboriginal—Existing from the beginning.
Sơ khởi
初起; C: chūqǐ; J: shoki;|Sự sinh khởi đầu tiên của các pháp; khởi đầu sự vận hành của các pháp; sự hoạt hoá, khởi đầu (theo Đối pháp luận 對法論).
Sơ khởi 初起
[ja] ショキ shoki ||| The first arising of something; the initial activation of something; to activate; initiate. 〔對法論 T 1606.31.737b7〕 => Sự sinh khởi đầu tiên của các pháp; khởi đầu sự vận hành của các pháp; sự hoạt hóa, khởi đầu.
sơ kim hậu thai
(初金後胎) Đối lại: Sơ thai hậu kim. Trong Mật giáo, khi truyền (hoặc tu) pháp của 2 bộ Kim cương và Thai tạng, thì trước thực hành pháp Kim cương giới, rồi sau mới truyền pháp Thai tạng giới; trình tự này thường được áp dụng trong nghi thức nhập đàn quán đính, tức là trước truyền quán đính Kim cương giới rồi sau mới truyền quán đính Thai tạng giới, gọi là Sơ kim hậu thai. Ngược lại, nếu ban đầu thụ quán đính Thai tạng giới rồi sau mới truyền quán đính Kim cương giới, thì gọi là Sơ thai hậu kim. Sơ thai hậu kim và Sơ kim hậu thai đều là chân nghĩa của mật pháp tương truyền, nếu đứng về phương diện phối lập pháp môn mà nói thì hoàn toàn không có một chuẩn tắc nào nhất định, cho nên không thể bàn đến khía cạnh cạn sâu của nó. Trong đó, Sơ thai hậu kim là do Lí ngộ nhập Trí, thuộc thứ tự Bản hữu hướng Tu sinh; còn Sơ kim hậu thai thì do Trí hiển bày Lí, thuộc thứ tự Tu sinh hướng Bản hữu. Nhưng đối với địa vị cùng tột của 2 bộ Kim, Thai thì không thể nào bàn đến sự dị đồng giữa Bản hữu và Tu sinh, bởi vì Lí và Trí đều là bản hữu, chứ không phải Lí, Trí có trong ngoài, Kim cương, Thai tạng có cạn sâu khác nhau. Nếu nói theo thứ tự Sơ kim hậu thai hoặc Sơ thai hậu kim, thì đại khái cần lựa chọn pháp tu, nghĩa là pháp nào trọng yếu hơn. Sơ thai hậu kim là pháp do ngài Kim cương trí truyền cho ngài Bất Không; còn Sơ kim Hậu thai là pháp do ngài Long Trí truyền cho Ngài Bất Không.
sơ lược
Summary.
sơ nguyện
First vows.
sơ nhật phần
Buổi sáng sớm trong ngày—The first of the three divisions of the day—See Sơ Trung Hậu.
sơ nhị hồi hỗ
(初二回互) Cho cảnh giới Thiên trung chí trong thuyết Ngũ vị của ngài Động sơn. Ngài Động sơn Lương giới –Tổ khai sáng tông Tào động– chia quá trình tu hành làm 5 giai đoạn, gọi là Động sơn ngũ vị, gồm: Chính trung thiên, Thiên trung chính, Chính trung lai, Thiên trung chí và Kiêm trung đáo. Sơ nhị (Hai vị đầu) tức là Chính trung thiên và Thiên trung chính, ở 2 vị này, Chính vị và Thiên vị đều hoàn toàn độc lập, đến giai đoạn thứ 4, tức Thiên trung chí, thì Chính vị và Thiên vị mới hồi hỗ lẫn nhau, biểu thị từ diệu dụng sai biệt của hiện tượng giới mà thể ngộ hiện tượng và bản thể ngầm hợp với nhau, đạt đến cảnh giới vô niệm vô tưởng. [X. Bất năng ngữ ngũ vị thuyết]. (xt. Ngũ Vị, Động Sơn Ngũ Vị).
Sơ nhị quả
初二果; C: chūèrguǒ; J: shonika;|Hai quả vị đầu trong 4 quả vị của Tiểu thừa: Tu-đà-hoàn (Dự lưu) và Tư-đà-hàm. Tứ hướng tứ quả (四向四果).
Sơ nhị quả 初二果
[ja] ショニカ shonika ||| The first two fruits of the four fruits of the lesser vehicle path: 須陀 "stream-enterer" [預流] and 斯陀今 "once-returner." See also 四向四果. => Hai quả vị đầu trong bốn quả vị của Tiểu thừa: Tu-đà-hoàn (Dự lưu) và Tư-đà-hàm. Xem Tứ hướng tứ quả.
sơ năng biến
The initiator of change, or mutation, i.e. the àlaya-vijnàna, so called because the other vijnànas are derived from it.
; Alaya-vijnana (skt)—Cái tâm thứ biến hiện chư cảnh thành tám thức. A-Lại Da hay thức thứ tám được gọi là “Sơ Năng Biến” vì các thức khác đều từ đó mà ra—The initiator of change, or the first power of change, or mutation, i.e. the alaya-vijnana, so called because other vijnanas are derived from it—See A Lại Da Thức in Vietnamese-English Section.
sơ pháp minh đạo
(初法明道) Tạng: Chos-snaí-ba#i-sgo chossnaí-ba#i-tshul-dan-po. Cũng gọi Tâm minh đạo, Sơ pháp minh môn.Hành giả chân ngôn chứng được tâm bồ đề thanh tịnh, diệt trừ các nghiệp khổ phiền não mà vào địa vị đầu tiên, gọi là Sơ pháp minh đạo. Hành giả lúc mới phát tâm, quán chiếu tâm bồ đề thanh tịnh vô tướng (Tạng: Byaí-chub-sems-dpa#i-sems-rnampar-dag-pa#i-sgo), tự biết thực tướng tâm mình vốn không sinh, tâm ấy thanh tịnh an trụ, phát sinh ánh sáng đại trí tuệ, chiếu khắp vô lượng pháp tính, thấy con đường chư Phật đã đi, liền được tam muội Trừ nhất thiết cái chướng, thấy rõ thực tướng của 8 vạn 4 nghìn phiền não, thành tựu 8 vạn 4 nghìn Bảo tụ môn. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 590 thượng) nói: Bồ tát trụ nơi Bảo tụ môn này, cần khổ tu học, chẳng bao lâu đã chứng được tam muội Trừ nhất thiết cái chướng, nhập vào trí tuệ Phật, có vô lượng môn phương tiện. Nay tông này lấy tâm bồ đề thanh tịnh làm pháp môn, nếu vào môn này tức là bước đầu đi vào cảnh giới của Như lai, nhưbồ tát Di lặc mở cửa lầu gác, đồng tử Thiện tài liền thấy trong đó vô lượng sự việc không thể nghĩ bàn, khó dùng lời mà diễn tả được, chỉ có người bước vào tự biết mà thôi. Như thực nhất đạo vô vi tâm thứ 8 của Thập trụ tâm trong Bí tạng bảo thược quyển hạ (Đại 77, 371 trung ) nói: Tướng hư không vô tướng, chẳng phải xanh, chẳng phải vàng... đây là nói rõ về chân lí của pháp thân chân như và nhất đạo vô vi mà đức Phật gọi là Sơ pháp minh đạo, luận Đại trí độ gọi là Nhật Phật đạo sơ môn. Phật đạo là chỉ cho Đại mạn đồ la Phật ở cung Kim cương giới; đối với Hiển giáo thì đó là pháp thân Lí trí cứu cánh, trong môn Chân ngôn thì đó là Sơ môn. Đây chính là hành giả chân ngôn đã được tam muội Trừ cái chướng tiến vào giai đoạn phần chứng Sơ địa của Bí mật trang nghiêm trụ tâm thứ 10 vậy. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.1; luận Đại trí độ Q.6; luận Bí mật mạn đồ la thập trụ tâm Q.8].
sơ phát tâm
The initial determination to seek enlightenment.
; Cái tâm mới phát cầu đạo Bồ Đề—The initial determination to seek enlightenment.
sơ phát tâm thời tiện thành chánh giác
Tần Hoa nghiêm Kinh nói rằng: “Vừa mới phát tâm, liền thành chánh giác, biết rõ chân tánh thật của chư pháp đầy đủ ở tuệ thân, không phải là sự giác ngộ từ những cái khác.”—The Chin dynasty Hua-Yen Ching says: “At the very moment of the initial determination, the novice enters into the status of perfect enlightenment.”
sơ quả
Śrota-apatti-phala (S), First fruit, Śrotanni (S), Sotapanna (P), Quả Nhập lưu, quả Ngịch lưu. Trong 4 quả: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán. Quả vị đầu tiên của người bước chân lần đầu vào dòng suối chảy Niết bànXem Tu đà hườn.
; Srotàpanna (S). The initial fruit, or achievement, the stage of Srotàpanna, illusion being discarded and the stream of enlightenment entered.
; Quả dự lưu thứ nhất hay Tu Đà Hoàn, nơi đây mọi phiền não bị đoạn tận đề bước vào dòng giải thoát—The initial fruit or achievement—The stage of Srota-apanna, where illusion being discarded and the stream of enlightenment entered.
sơ quả hướng
The aiming at sơ quả.
; Hướng về quả Tu Đà Hoàn hay Dự Lưu—The aiming at the fruit of Srota-apanna.
sơ quả nhị nghĩa
(初果二義) Chỉ cho quả Tu đà hoàn trong 4 quả Sa môn, người chứng quả này đã dứt trừ kiến hoặc trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà dự vào vòng Thánh nhân. Tu đà hoàn, Phạn: Srota-àpanna, Hán dịch: Dự lưu, Nghịch lưu. Chữ lưu ...ở đây có 2 nghĩa là Dự lưu và Nghịch lưu.1. Dự lưu: Dự nghĩa là vào, tức bậc thánh chứng được Sơ quả là đã nhập vào dòng Thánh đạo. Nghịch lưu: Nghịch nghĩa là ngược, tức bậc thánh Sơ quả đi ngược lại dòng sinh tử. [X. kinh Niết bàn quyển 36 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.46; luận Câu xá Q.23].
sơ sát na thức
The initial ksana, initial consciousness, i.e. the eighth or àlaya-vijnàna, from which arises consciousness.
; Thức thứ tám là sơ thức. Trong sát na đầu tiên chỉ có a lại da thức hay thức thứ tám phát sinh mà thôi—The initial ksana, initial consciounes, i.e the eighth or alaya-vijnana, from which arises consciousness.
sơ sơ
Slightly.
Sơ Sơn Khuông Nhân
(疎山匡仁, Sozan Kyōnin, 837-909): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, còn gọi là Quang Nhân (光仁), người vùng Cam Dương (淦陽), Lô Lăng (廬陵, Tỉnh Giang Tây), họ Lý (李). Ông xuất gia lúc nhỏ, chuyên nghiên tầm kinh luật luận, đã từng tham vấn Hương Nghiêm Trí Nhàn (香嚴智閑), v.v., và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Động Sơn Lương Giới (洞山良价). Sau đó, ông cũng có đến tham học với Quy Sơn Đại An (潙山大安), và đến năm thứ 3 (883) niên hiệu Trung Hòa (中和), ông bắt đầu khai mở đạo tràng thuyết pháp giáo hóa tại Sơ Sơn (疎山) vùng Lâm Xuyên (臨川), Phủ Châu (撫州, Tỉnh Giang Tây). Vào năm thứ 6 niên hiệu Thiên Hựu (天祐), ông thị tịch, hưởng thọ 73 tuổi.
sơ sơn quang nhân
Sozan kōnin (J).
Sơ sở duyên 疎所縁
[ja] ソショエン soshoen ||| A term used in Consciousness-only theory to describe the true nature of the object that gives rise to the objective aspect of consciousness. In contrast to qinsuoyuan 親所縁. => Thuật ngữ dùng trong giáo lý Duy thức diễn tả chân tính của vật thể sinh khởi trên phương diện khách quan của thức. Đối nghịch với Thân sở duyên 親所縁.
Sơ thiền
初禪; C: chūchán; J: shozen;|Sơ thiền định (初禪定).
sơ thiền
Pathama-jhāna (P), Prathama-dhyāna (S)Nền tảng là tâm an trụ.
; The first stage of dhyàna meditation.
; (初禪) Phạn: Prathama-dhyàna. Pàli: Pathama-jjhàna. Dịch mới: Sơ tĩnh lự. Một trong 4 Thiền. Chỉ cho cảnh giới thiền định trong tâm thanh tịnh, các lậu không động, đó là Sơ thiền. Cảnh giới thiền này có đủ 5 chi tầm, tứ, hỉ,lạc và tâm nhất cảnh tính, đạt được 8 xúc, 10 công đức, tâm thường tĩnh lặng thẩm lự, cảm thấy lìa các áccủacõi Dục mà mừng, vui, tâm cảm nhận hỉ thụ, thân cảm nhận lạc thụ, nên gọi là Li sinh hỉ lạc, nhưng vẫn có tâm lí tầm, tứ hoạt động, gọi là Sơ thiền. Tầm, xưa dịch là Giác, là tác dụng thô phân biệt của tâm; Tứ xưa dịch là Quán, là tác dụng tế phân biệt của tâm. Vì người được thiền định này vẫn còn tác dụng tầm, tứ nên cũng gọi là Hữu quán hữu giác. Nếu đời hiện tại thành tựu Sơ thiền, thì được quả báo sinh lên tầng trời Sơ thiền đối trị được 5 loại chướng nạn của việc tu đạo là: Tầm, khổ, ưu (lo), phạm giớivà tán loạn. Ngoài ra, ở trong thiền định này vì còn tâm lí tầm (tìm), tứ (dò xét) nên có các hoạt động như thấy, nghe, xúc chạm, vả lại có thể khởi ngữ nghiệp. [X. kinh Đạibátniết bàn Q.33 (bản Bắc); luận Câu xá Q.28; luận Hiển dương thánh giáo Q.2, 19]. (xt. Tứ Thiền).
sơ thiền phạm thiên
Devas in the realms of form, who have purged themselves from all sexuality.
; Chư Thiên trong cõi Trời sắc giới, do xa lìa dâm dục mà được thanh tịnh—Devas in the realms of form, who have purged themselves from all sexuality.
sơ thiền thiên
Trời Sơ thiền có những tầng trời: - Phạm thân thiên - Phạm chúng thiên - Phạm phụ thiên - Đại Phạm thiên.
; The first of the four dhyàna heavens, corresponding to the first stage of dhyàna meditation.
; Cõi Thiền Thiên thứ nhất trong tứ thiền thiên—The first region, as large as one whole universe. The first of the four dhyana heavens, corresponding to the first stage of dhyana meditation. ** For more information, please see Tứ Thiền, and Tứ Thiền Thiên.
; (初禪天) Một trong 4 trời Thiền cõi Sắc, là nơi sinh đến của những người tu định Sơ thiền sau khi mệnh chung, hoặc chỉ cho chúng sinh sống ở cõi trời này. Vì chúng sinh ở cõi trời này đã xa lìa các pháp xấu ác ở cõi Dục, sinh khởi cảm nhận mừng, vui, nên cõi trời này còn được gọi là Li sinh hỉ lạc địa (nơi lìa ác sinh mừng vui). Cứ theo luận Câu xá quyển 8, 28 và luận Thuận chính lí quyển 21, chúng sinh cõi trời này được chia làm 3 hạng: 1. Đại phạm thiên (Phạn: Mahàbrahman): Vua cõi Sơ thiền, cũng là Đại phạm vương, chúa tể thế giớiSa bà. Đại phạm thiên nhờ có duyên lành rộng lớn mà được sinh ra, là người sinh đầu tiên và chết sau cùng, được định Trung gian, uy đức thù thắng. 2. Phạm chúng thiên (Phạn: Brahmapàriwadya): Chúng trời thuộc quyền sở hữu, giáo hóa và thống lãnh của Phạm thiên. 3. Phạm phụ thiên (Phạn: Brahmapurohita): Chúng trời xếp hàng đi trước để phụ giúp và bảo vệ Đại phạm thiên. Trong phẩm Đao lợi thiên kinh Trường a hàm quyển 20, ngoài 3 hạng trên, còn liệt kê,Phạm thân thiên (Phạn: Brahma- kàyika), cộng chung là 4 hạng. Ngoài ra, kinh Trường a hàm quyển 20, luận Đại tì bà sa quyển 136, luận Câu xá quyển 11 và luận Lập thế a tì đàm quyển 3, 7... còn nói rõ về chỗ ở, thân lượng, thọ lượng... của các chúng trời cõi Sơ thiền. Lại nữa, cõi trời này là thế giới của Đại phạm thiên cư trú, cho nên cũng gọi là Phạm giới (Phạn: Brahma-loka). [X. luận Du già sư địa Q.4; luận Đại tì bà sa Q.98; luận Đại trí độ Q.9]. (xt. Tứ Thiền Thiên, Sắc Giới).
Sơ thiền định
初禪定; C: chū chándìng; J: sho zenjō;|Trạng thái đầu tiên trong Tứ thiền định (四禪定).
sơ thiền định
The first dhyàna, the first degree of dhyàna meditation, which produces rebirth in the first dhyàna heavens.
; Bậc thiền thứ nhất trong bốn bậc thiền định—The first dhyana, the first degree of dhyana, which produces rebirth in the first dhyana heaven. ** For more information, please see Tứ Thiền Định.
Sơ thiền định 初禪定
[ja] ショゼンジョウ sho zenjō ||| The first of the four meditative concentrations 四禪定. => Bậc đầu tiên trong Tứ thiền định四禪定.
Sơ thiền 初禪
[ja] ショゼン shozen ||| See . => Xem Sơ thiền định
sơ thô
Rude—Coarse.
sơ thời giáo
A term of the Pháp tướng tông Dharma-laksana school, the first of the three periods of the Buddha's teaching in which he overcame the ideas of heterodox teachers that the ego is real, and preached the four noble truths and the five skandhas, etc
; Một trong ba thời giáo mà Pháp Tướng Tông đã lập ra, trong giai đoạn nầy Đức Phật cố vượt qua những tà thuyết cho rằng có một cái ngã thực, trong giai đoạn nầy Ngài cũng dạy về Tứ Diệu Đế và Ngũ Uẩn—A term of the Dharmalaksana school, the first of the three periods of the Buddha's teaching, in which he overcame the ideas of heterodox teachers that the ego is real, and preached the four noble truths and the five skandhas, etc.
Sơ Tri
初知; C: chūzhī; J: shochi;|»Biết trước tiên«. Tiếng Hán dịch tên của Ājñāta-kaundinya từ tiếng Phạn. A-nhã Kiêu-trần-như (阿若憍陳如).
Sơ tri 初知
[ja] ショチ shochi ||| "The first to know." A Chinese translation of the name of Ājñāta-kaundinya. See 阿若憍陳如. => "Biết trước tiên". Tiếng Hán dịch tên của Ājñāta-kaundinya từ tiếng Phạn. Xem A-nhã Kiều-trần-như 阿若憍陳如.
sơ triển
(初展) Trong nghi thức lễ bái, khi lễ thì trải (triển) tọa cụ ra và lễ 3 lễ. Sơ triển là trải tọa cụ lễ 1 lễ đầu tiên. Trong tùng lâm, khi làm lễ để bày tỏ lời chúc mừng hoặc xin hỏi điều gì, đối với các bậc tông sư đángtôn kính như Trụ trì... muốn biểu ý rất tôn sùng thì 3 lạy. Nhưng khi trải tọa cụ để lạy 1 lạy đầu thì tôn sư thường khoát tay phải ra dấu miễn lễ, bởi thế có khichỉtrải tọa cụ ra mà không lễ bái, rồi gấp tọa cụ lại để thưa hỏi. [X. điều Tọa cụ tác pháp trong Hành trì quĩ phạm Q.3].
sơ trung hậu
Ba thời trong ngày—The three divisions of the day, beginning, middle and end.
sơ trung hậu thiện
The Dharma the Buddha preached is always good in the beginning, in the middle, and in the end.
; (初中後善) Từ ngữ khen ngợi kinh văn. Có 3 cách giải thích: 1. Phối hợp 3 mật thân khẩu ý: Vì thân mật là thô nên phối với Sơ thiện; vì ý mật là tế nên phối với Hậu thiện; vì ngữ mật là dẫn từ bên trong biểu hiện ra ngoài nên phối với Trung thiện. 2. Phối hợp giới định tuệ:Tức sự phối hợp y theo thứ tự tróc giới, phược định, sát tuệ nói trong luậnThành thực. 3. Phối hợp 3 phần tựa, chính tông, lưu thông của 1 bộ kinh: Phần tựa là Sơ thiện, phần chính tông là Trung thiện, phần lưu thông là Hậu thiện. Cứ theo Lí thú thích quyển thượng thì Sơ thiện là thân mật của tất cả Như lai, chỉ cho hết thảy ấn khế, thân uy nghi; Trung thiện là mật ngữ của tất cả Như lai, chỉ cho Chân ngôn đà la ni, Pháp vương giáo sắc, không được trái vượt; Hậu thiện là Du già của Bản tôn, chỉ cho tất cả Tam ma địa vô lượng trí giải thoát.
Sơ trụ
tức là Phát tâm trụ, địa vị đầu tiên trong Thập trụ của hàng Bồ Tát. Gồm có: 1. Phát tâm trụ, 2. Trì địa trụ, 3. Tu hành trụ, 4. Sanh quý trụ, 5. Phương tiện cụ túc trụ, 6. Chánh tâm trụ, 7. Bất thối trụ, 8. Đồng chân trụ, 9. Pháp vương tử trụ, 10. Quán đỉnh trụ.
sơ trụ
The first of the ten stages, or resting places, of the Bodhisattva.Trụ is the resting place, or stage for a particular course of development; địa is the position or rank attained by the spiritual characteristics achieved in this place.
; See Sơ Trụ Địa.
sơ trụ địa
Trụ thứ nhất trong thập trụ Bồ Tát—The first of the ten stages or resting places of the bodhisattva. 1) Trụ: The resting-place or stage for a particular course of development. 2) Địa: The position or rank attained by the spiritual characteristics achieved in this place.
Sơ tu quán Bồ Tát
初修觀菩薩; C: chūxiūguān púsà; J: sho-shukan bosatsu;|Bồ Tát vừa mới phát tâm (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).
Sơ tu quán Bồ-tát. 初修觀菩薩
[ja] ショシュカンボサツ shoshukan bosatsu ||| Novice bodhisattvas. 〔攝大乘論 T 1593.31.117a24〕 => Bồ-tát vừa mới phát tâm. Theo Nhiếp Đại thừa Luận 攝大乘論
sơ tuần
Mười ngày đầu trong tháng hay 10 năm đầu của thế kỷ—The first ten day (or decade) of the month.
sơ tâm
Nava-yāna-samprasthita (S).
; The initial resolve or mind of the novice.
; Cái tâm mới phát của người mới tu tập (chưa qua thực hành sâu sắc)—First intention or the initial resolve or mind of the novice.
; (初心) Phạn: Nava-yàna-saôprasthita. Gọi đủ: Sơ phát tâm, Sơ phát ý. Chỉ cho người mới phát tâm cầu đạo bồ đề. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 trung) nói: Lại có vô lượng Bích chi vô học và những sơ tâm đều đến chỗ Phật. (xt. Tâm Phát Ý).
sơ tâm ngộ đạo
Newly awakened mind.
sơ tăng kỳ
The first of the three asamkhyeya or incalculable kalpas.
; Kiếp thứ nhất trong 3 a tăng kỳ kiếp—The first of the three assamkhyeya or incalculable kalpas.
Sơ tĩnh lự
初靜慮; C: chūjìnglǜ; J: shojōryo;|Sơ thiền. Sơ thiền định (初禪定).
Sơ tĩnh lự 初靜慮
[ja] ショジョウリョ shojōryo ||| The first concentration. See chuchanding 初禪定. => Sơ thiền. Xem Sơ thiền định初禪定.
sơ tổ
First ancestor—First Patriarch.
sơ tổ am
(初祖庵) Am ở dưới ngọn Ngũ nhũ, phía tây bắc chùa Thiếu lâm, chân núi phía bắc núi Thiếu thất, mạn bắc huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc. Hiện chỉ còn 1 điện, 2 đình và gác Thiên Phật. Đại điện được xây cất vào năm Tuyên hòa thứ 7 (1125) đời Bắc Tống, trên các trụ đá ở trong điện chạm trổ hình võ sĩ, rồng bay, phượng múa, phi thiên, đàn hạc đùa với hoa sen, chim công xuyên hoa... trông rất sống động như thật. Phía đông nam Đại điện có 1 cây bách cổ, tương truyền do Lục tổ Tuệ năng trồng. Hiện nay, ở gần am này, người ta còn bảo tồn được hơn 40 di hẩm khắc trên đá, chữ do các ông Hoàng đình kiên và Thái biện viết.
sơ vị
The initial stage on the road to enlightenment.
; Địa vị thứ nhất của hành vị tam thừa trên đường đi đến giác ngộ—The initial stage on the road to enlightenment.
sơ xuất
Careless.
sơ ý
Negligent—Careless.
sơ đàn
(初壇) Trong thủ tục thụ giới Cụ túc, đầu tiên thụ giới Sa di, kế đến thụ giới Tỉ khưu, sau cùng thụ giới Bồ tát. Trong đó, đầu tiên thụ giới Sa di gọi là Sơ đàn, sau đó, Tượng đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên theo thứ tự là Nhị đàn, Tam đàn. Chương Phạm hạnh Hoàng bá thanh qui quyển 5 (Đại 82, 770 trung) nói: Hôm nay ở tại chùa... thuộc núi... phủ... tỉnh... kiến đàn thuyết giới, Sơ đàn vào ngày mồng 3 tháng... năm... truyền giới Sa di, Nhị đàn vào ngày 6 tháng... năm... truyền giới Tỉ khưu, Tam đàn vào ngày mồng 8 tháng... năm... truyền giới Bồ tát.
sơ đẳng
Elementary.
Sơ địa
địa vị đầu tiên trong Thập địa, cũng gọi là Hoan hỷ địa (Pramuditbhmi). Đạt đến địa vị này, Bồ Tát được hoan hỷ trên đường tu học, phát tâm cứu độ cho tất cả chúng sanh thoát khỏi luân hồi, không còn nghĩ riêng đến bản thân mình nữa. Bồ Tát vì thế thực hiện hạnh bố thí không cầu phước đức, chứng được tính vô ngã của tất cả các pháp. Xem Mười địa vị.
; 初地; C: chūdì; J: shoji;|Giai vị đầu tiên trong Thập địa.
sơ địa
Xem Cực hỷ địa.
; The first of the thập địa ten Bodhisattva stages to perfect enlightenment and nirvàna.
; Địa vị thứ nhất trong thập địa đi đến toàn giác và niết bàn—The first stage of the ten bodhisattva stages to perfect enlightenment and nirvana.
sơ địa dĩ thượng
The stages above the initial stage of a Bodhisatva's development.
Sơ địa 初地
[ja] ショジ shoji ||| The first of the ten bhūmis. => Giai vị đầu tiên trong Thập địa.
Sơ 初
[ja] ショ sho ||| (1) Commencement, inception; the beginning, the opening, the start, the outset (adaya, adi). (2) The inception of the arousal of the mind of faith. (3) The first of the ten abidings (十住). (4) The beginning of entry into religious practice. => Có các nghĩa sau: 1. Sự bắt đầu, ban đầu, sự khai mạc, lúc đầu, sự khởi đầu (s: adaya, adi) . 2. Sự phát khởi niềm tin ban đầu. 3. Giai vị đầu tiên trong Thập trú (Phát tâm trú.)
Sơ 疎
[ja] ソ so ||| (1) Penetrate, pierce, pass through. (2) Distant, estranged, alienated. To distance oneself from, neglect, shun. (3) Rough, wild, sparse, sporadic. => 1. Thấm vào, xuyên qua, đi qua. 2. Lạnh nhạt, làm cho xa lạ. Xa lánh, thờ ơ, lảng xa. 3. Sơ sài, hoang dại, thưa thớt, rời rạc.
sơn
A hill, mountain; a monastery.
; 1) Ngọn đồi: Hill. 2) Ngọn núi: Mountain. 3) Sơn: To paint. 4) Tịnh xá: Monastery.
sơn am tạp lục
(山庵雜錄) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Vô uẩn soạn vào khoảng năm Hồng vũ đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 148. Nội dung sách này thu chép hành trạng của các bậc tôn túc danh đức từ các sách La hồ dã lục, Vân ngọa kỉ đàm, Tùng lâm công luận, Thiền lâm bảo huấn, Chư truyền đăng lục và sự thấy nghe của các vị hành cước tham học đương thời. Đối với những truyện có sự nhầm lẫn thì soạn giả khảo xét lại những chứng cứ để sửa chữa lại cho rõ hơn. Quyển thượng thu chép từ Hòa thượng Định Thủy Bảo Nguyệt đến Hòa thượng Vô Tượng Vị, gồm hơn 70 điều. Quyển hạ thu chép từ ngài Hồ Châu Tăng Tịnh đến ngài Đàn Chủ Đức Ngung, gồm hơn 60 điều. Tất cả đều là những niêm đề và lời hay hạnh đẹp của các bậc danh đức trong Thiền lâm thời cận cổ.
sơn biên tập học
(山邊習學) (1882-1944) Danh tăng Nhật bản thuộc phái Đại cốc Chân tông, người huyện Sơn Hình. Sau khi tốt nghiệp Đại học Chân tông, sư đến Nam dương quan sát tình hình các tôn giáo. Sau đó, sư du học Ấn độ, Anh quốc trong 4 năm. Khi trở về nước, sư lập Hiệp hội Văn hóa Phật giáo làm cơ quan phổ biến tư tưởng Phật giáo, vận động đào tạo nhân tài. Sư lần lượt giữ các chức Giáo sư Đại học Đại cốc Chân tông, Thư viện trưởng... Sư có các tác phẩm: Phật đệ tử truyện, Phật giáo văn học, Phật giáo tinh yếu, Nhật bản văn hóa dữ Phật giáo, Thánh điển vật ngữ, Giáo hành tín chứng giảng nghĩa 3 quyển, Tân dịch Phật giáo thánh điển.
sơn chủ
(山主) Vị chủ của 1 sơn môn, là tiếng tôn xưng vị Trụ trì 1 ngôi chùa. Vì chùa viện phần nhiều được xây cất trong rừng núi, tên chùa lấy hiệu núi, cho nên vị Trụ trì gọi là Sơn chủ. Sơn trưởng của Thư viện cũng gọi là Sơn chủ. Ngoài ra, vị Thượng tọa của chùa viện lớn trong Thiền lâm cũng được gọi là Sơn chủ. [X. môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].
sơn cân
Cân dùng để cân núi Tu Di, dùng để ví với thọ mệnh của Đức Phật khó thể nghĩ lường (núi Tu Di còn có thể cân lạng, nhưng thọ mạng của Đức Như Lai không thể nghĩ bàn)—The weight of a mountain, or of Sumeru—May be more readily ascertained than the eternity of the Buddha.
; (山斤) Chỉ cho trọng lượng của núi Tu di, ví dụ tuổi thọ vô lượng của Phật. Thích môn chính thống quyển 4 (Vạn tục 130, 400 thượng) nói: Thọ lượng của đức Thích tôn rất lâu dài, cho dù trọng lượng của núi, giọt nước của biển, hạt bụi của đất, cõi hư không, cũng không thể sánh được. [X. phẩm Thọ lượng kinh Kim quang minh].
Sơn Danh
(山名, Yamana): tên của một dòng họ thuộc hàng Chiến Quốc Đại Danh, một trong 4 dòng họ quan chức nổi tiếng của chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh. Con của Tân Điền Nghĩa Trọng (新田義重, Nitta Yoshishige) là Nghĩa Phạm (義範, Yoshinori) đến sống ở vùng Sơn Danh, Thượng Châu và trở thành Tổ khai công của dòng họ này.
Sơn Danh Tông Toàn
(山名宗全, Yamana Sōzen, 1404-1473): vị Võ Tướng sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh; húy là Trì Phong (持豐); Tông Toàn (宗全) là tên sau khi xuất gia; biệt danh là Tiểu Thứ Lang (小次郎), Tông Toàn Nhập Đạo (宗全入道), Xích Nhập Đạo (赤入道); giới danh là Đạt Ma Viện Điện Tối Cao Tông Phong Đại Cư Sĩ (達碧院殿最高宗峰大居士); thân phụ là Sơn Danh Thời Hy (山名時煕, Yamana Tokihiro), thân mẫu là con gái của Võ Tướng Sơn Danh Sư Nghĩa (山名師義, Yamana Moroyoshi). Trong vụ Loạn Gia Cát ông được Xích Từng Mãn Hựu (赤松滿祐, Akamatsu Mitsusuke) mến mộ, cả gia tộc đến giữ chức quan Thủ Hộ của 8 tiểu quốc. Sau đó ông kết thân với Tế Xuyên Thắng Nguyên (細川勝元, Hosokawa Katsumoto), rồi nhân việc người vợ của Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Chính (足利義政, Ashikaga Yoshimasa) là Nhật Dã Phú Tử (日野富子, Hino Tomiko) tín nhiệm người con là Túc Lợi Nghĩa Thượng (足利義尚, Ashikaga Yoshihisa), ông sinh ra đối kháng với Tế Xuyên Thắng Nguyên và tạo nên vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂). Trong khi chiến loạn thì ông chết giữa trận mạc.
sơn gia
Thậm phái hay hệ phái giảng sâu về tông Thiên Thai, được phát triển bởi Tứ Minh—The “mountain school,” the profounder interpretation of T'ien-T'ai doctrines developed by Shu-Ming—For more information, please see Sơn Ngoại Tông.
; (山家) Chỉ cho sư chủ hoặc môn đồ của ngài trụ ở trong núi. Tại Trung quốc, Đại sư Trí khải của tông Thiên thai trụ trong núi Thiên thai khá lâu, ngài Tứminh Tri lễ thuộc tông Thiên thai thì trụ rất lâu trong núi Tứ minh, các ngài đều ở trong núi diễn nói pháp nghĩa, đề xướng học thuyết tông Thiên thai, cho nên đều gọi là Sơn gia. Lại như trong các sách Sơn gia nghĩa uyển, Sơn gia tự dư tập, Sơn gia giáo điển chí... từ Sơn gia là chỉ cho tông Thiên thai hoặc các nhà Thiên thai. Ở Nhật bản, từ Sơn gia đặc biệt chỉ cho ngài Tối trừng – Tổ khai sáng tông Thiên thai Nhật bản, đồng thời, cũng được sử dụng để chỉ chung cho môn phái núi Tỉ duệ, như ngài Tối trừng có danh xưng Sơn gia Đại sư, các tác phẩm Thiên thai Pháp hoa tông niên phần học sinh thức gọi là Sơn gia học sinh thức, Hợp đàn quán đính kí gọi là Sơn gia quán đính kí, Thiên thai Pháp hoa tông truyền pháp kệ, gọi là Sơn gia truyền pháp kệ, Viên đốn Bồ tát giới gọi là Sơn gia luật...
sơn gia học sinh thức
(山家學生式) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tối trừng, vị cao tăng Nhật bản soạn, được thu vào Đại chínhtạng tập 74. Nội dung sách này chia làm 3 phần: - Thiên thai Pháp hoa tông niên phần học sinh thức (gồm 6 điều). - Khuyến tưởng Thiên thai tông niên phần học sinh thức (gồm 8 điều). - Thiên thai Pháp hoa tông niên phần độ giả hồi tiểu hướng đại thức (gồm 4 điều). Đối với Phật giáo ở Nam đô, Nhật bản, thì sách này minh xác qui địnhtu hành của tông Thiên thai và là 1 tác phẩm trọng yếu y cứ vào giới Đại thừa để quyết định chủ trương độc lập của 1 tông phái.
sơn gia nghĩa uyển
(山家義苑) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Khả quán (1092-1182) tông Thiên thai soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 101. Mục đích sách này nói về phái Nam bình, môn hạ của ngàiTứ minh Tri lễ thuộc pháiSơn gia tông Thiên thai, đồng thời trình bày về nghĩa trọng yếu của tông Thiên thai. Nội dung gồm: - Quyển thượng: Song du nghĩa, Kim Ti nghĩa 10 thiên, Thập bất nhị môn trung tổng biệt nghĩa, Biện nhạc sư tam thiên thư. - Quyển hạ: Bộ giáo nghĩa, Định giáo nghĩa, Thụ giới phổ thuyết, Nghị lan bồn 5 chương, Sơ diệm chính nghĩa, Liệu giản tá biệt danh thông. Ngoài việc giải thích rõ về giáo phán của tông Thiên thai, sách này còn bàn đến nghĩa Ngũ nghịch báng pháp trong kinh QuánVô lượng thọ, yếu nghĩa thụ giới trong Phạm Võng giới sớ. Ngoài ra, đối với các cuộc tranh luận về các vấn đề như Phật thân thường trụ thuyết, Phật tính thuyết, Lí sự tam thiên thuyết... giữa phái Sơn gia và Sơn ngoại của tông Thiên thai đời Tống, sách này cũng có bình luận về quan điểm của các ngài Tứ minhTri lễ, Tịnh giác Nhân nhạc, Cô sơn Trí viên... về những vấn đề trên. Đây là tư liệutrọng yếuliên quan đến tông Thiên thai đời Tống. (xt. Sơn Gia Sơn Ngoại).
sơn gia quán tâm dị luận quyết
(山家觀心異論决) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Chân điêu (?-1659) thuộc tông Thiên thai Nhật bản soạn. Sách này trình bày về 2 luận thuyết khác nhau của pháiSơn gia và Sơn ngoại thuộc tông Thiên thai đời Tống, Trung quốc. Nội dung chia làm 5 thiên: Sự lí tức cụ, Tâm pháp quán thể, Quán cảnh chân vọng, Tam thiên tổng biệt và Tam đế minh thể.(xt. Sơn Gia Sơn Ngoại).
sơn gia sơn ngoại
(山家山外) Chỉ cho phái Sơn Gia và phái Sơn Ngoại thuộc tông Thiên thai Trung quốc. Vào những năm đầu đời Bắc Tống, tông Thiên thai bị chia làm 2 phái, phái được xem là Thiên thai chính thống do ngài TứminhTri lễ đứng đầu, gọi là phái Sơn gia; đối lại, phái Tiền đường của các ngài Khánh chiêu, Trí viên... không được xem là chính thống thì gọi là phái Sơn ngoại. Vào cuối đờiĐường, Trung quốc rơi vào trạng huống loạn lạc liên miên, sách vở của tông Thiên thai phần nhiều bị thất lạc, về sau, những sách vở ấy được mang về từ Triều tiên, Nhật bản tạo nên tình hình phục hưng học thuyết Thiên thai ở thế kỉ IX, X. Nhưng do cách nhìn khác nhau đối với sách cũ đã dẫn đến tình trạng chia rẽ về quan điểm, lâu dần trở thành 2 phái Sơn Gia và Sơn Ngoại đối lập nhau. Nguyên nhân bắt đầu từ cuộc tranh luận về vấn đề thật giả giữa Lược bản và Quảng bản Kim quang minh kinh huyền nghĩa củaĐại sư Trí Khải, vì Quảng Bản có 1 chương Quán tâm thích, còn Lược bản thì không. Hai phái thựcsự phân hóa vào cuối đời Ngũ đại. Bấy giờ, môn hạ của ngài Cao luận Thanh tủng – Tổ thứ 11 tông Thiên thai –có các vị Nghĩa tịch ở Loa Khê, Chí Nhân ở Chiết Giang. Đệ tử ngài Chí Nhân là Ngộ Ân ở Từ quang. Đệ tử ngài Ngộ Ân có Nguyên Thanh ở Phụng Tiên, Hồng Mẫn ở Linh Quang. Đệ tử ngài Nguyên Thanh có Khánh Chiêu ở Phạm Thiên, Trí Viên ở Cô Sơn. Đệ tử ngài Khánh Chiêu có Hàm Nhuận ở Vĩnh Phúc, Kế Tề ở Vĩnh Gia... Đó là hệ thống phái Sơn ngoại. Còn về hệ thống phái Sơn gia thì đệ tử ngài Nghĩa Tịch có Nghĩa Thông ở Bảo Vân, Tông dục ở Quốc Thanh. Đệ tử ngài Nghĩa Thông có Tri Lễ ở Tứ Minh, Tuân Thức ở Từ Vân, Thiện Tín ở Bảo Sơn. Ngài Tri Lễ lại có các đệ tử là Quảng Trí Thượng Hiền, Thần chiếu Bản Như, Hưng giáo Phạm Trăn, Quảng Từ Tuệ Tài, Tịnh Giác Nhân Nhạc, như đồ biểu sau đây: Cuộc bút chiến sôi nổi diễn ra giữa 2 phái, bắt đầu là ngài Ngộ Ân phái Sơn ngoại viết Phát huy kí cho rằng Quán tâm thích là do người đời sau thêm vào và chỉ giải thích Lược bản thôi. Môn đệ của ngài Ngộ Ân là các vị Nguyên Thanh, Hồng Mẫn nêu ra 20 câu hỏi và cũng theo chủ trương của ngài Ngộ ân, phủ định Quán tâm thích trong Quảng bản. Bấy giờ, có người thiện tín viết thư đến xin ngài Tứ minh Tri lễ soạn văn đáp lại 20 câu hỏi của các vị Nguyên thanh, Hồng mẫn. Do đó, ngài Tri lễ mới soạnPhù tông thích nạn chỉ trích 20 câu hỏi. Các vị đệ tử của ngài Nguyên thanh là Khánh chiêu và Trí viên cùng nhau soạn Biện ngoa để hỗ trợ Phát huy kí của thầy mình. Ngài Tri lễ lại viết Vấn nghi thư để vặn lại Biện ngoa, ngài Khánh chiêu cũng viết Đáp nghi thư để trả lời. Ngài Tri lễ lại viết Cật nạn thư, ngài Khánh chiêu thì soạn Ngũ nghĩa thư để trình bày thêm ý của mình, ngài Tri lễ lại viết Vấn nghi thư gạn hỏi, qua năm vẫn chưa nhận được thư đáp nên ngàiTri lễ lại gửiPhúc vấn thư để thúc dục, ngài Khánh chiêu liền soạn Thích nạn kí trả lời. Cứ như thế hỏi qua đáp lại 5 lần, suốt thời gian 7 năm. Năm Cảnh đức thứ 3 (1006), ngài Tri lễ tổng hợp văn nghĩa các luận văn qua lại giữa 2 bên trước sau 10 lần mà soạn thành Thậpnghĩathư. Năm sau, ngài Khánh chiêu cũng soạn Đáp thập nghĩa thư, để đối kháng, ngài Trilễ lại soạn Quán tâm nhị bách vấn để gạn hỏi. Hơn 10 năm sau, ngài Trí viên soạn Quang minh huyền biểu vi kí, lại dùng Tứ nạn phủ nhận Quán tâm thích trong Quảng bản. Năm sau, ngài Tri lễ soạn Quang minh huyền thập di kí, luận phá thuyết của ngài Trí viên. Từ khi ngài Ngộ Ân phủ nhận Quảng Bản cho đến khi ngài Tri Lễ Luận Phá Tứ Nạn, tổng cộng là 40 năm. Thời gian tranh cãi tuy có nhiều luận điểm, nhưng rốt cuộc thìchủ đề chính yếu vẫn là tranh luận về sự chân, vọng của cảnh giới quán tâm. Phái Sơn Gia chủ trương Vọng tâm quán, nghĩa là mục đích quán xét tâm là nhằm chuyển phàm tâm để thực hiện lí tâm, cho nên phải lấy tâm sát na sinh diệt hằng ngày làm đối tượng trực tiếp, chứ lí tâm chân tính vốn chẳng phải là cái có tính đối tượng, do đó, nó không là đối tượng để quán xét, mà chỉ có cái vọng tâm vô minh là đối tượng, vì chính vọng tâm này mới có thể quán xét diệu lí của 3 đế.Trái lại, phái Sơn ngoại thì chủ trương Chân tâm quán, nghĩa làđiểmcốt yếu của pháp tu quán là nương vào diệu giải để định diệu hạnh; diệu giải là hiểu rõ lí tam đế tam thiên viên dung, diệu hạnh là thực hành tam quán viên diệu. Nhờ diệu giải mà được diệu hạnh, tức không còn chân vọng khác nhau, cũng tức là nương vào diệu giải mà được lí tâm của thực tướng tam đế. Do đó, phải xem lí tâm này là đối tượng trực tiếp của quán pháp, lí tâm này (nhất tâm, nhất niệm) chẳng phải là nhất tâm của vọng tâm, vọng niệm, mà là cái tự tính linh tri, là cảnh giới bất khả tư nghị.Đứng trên quan điểm triết học mà nhận xét thì có thể nói sự tranh luận trên có thể được xem là cuộc tranh luận giữa Sơn gia thực tướng luận và Sơn ngoại duy tâm luận. Duy tâm luận của phái Sơn ngoại hiển nhiên đã bắt nguồn từ thuyết Tính cụ của tông Thiên thai, xích lại gần với lập trường tư tưởng Hoa nghiêm mà môi giới là luận Đại thừa khởi tín. Phái Sơn ngoại lấy luận Khởi tín làm tư tưởng Duy viên, phái Sơn gia thì lấy đó làm tư tưởng Biệt giáo và Viên giáo, cho nên trong Thập bất nhị môn chỉ yếu sao, ngài Tri lễ lập Hoa nghiêm làm Biệt giáo, chủ trương Biệt lí tùy duyên, bị phái Sơn ngoại phản đối.Ngoài ra, về vấn đề Lí tính độc hại nói trong Thỉnh quan âm kinh sớ của ngài Trí khải, giữa ngài Tri lễ và ngài Trí viên cũng có tranh luận. Ngài Trí viên soạn Xiển nghĩa sao, chủ trương lí độc phải tiêu phục, cho nên lí độc là có thể đoạn chớ không phải tính ác. Ngài Tri lễ liền soạn Thích tiêu độc tam dụng chương, Thập cửu, đề ra luận thuyết Lí độc tức tính ác nghĩa là tính ác có thể đoạn. Do đó mà biết ngài Trí viên chỉ đứng trên lập trường của Viên giáo mà lập luận, còn ngài Tri lễ thì đứng trên lập trường của Biệt giáo và Viên giáo mà lập thuyết. Về sau, đệ tử của ngài Khánh chiêu là Hàm nhuận soạn Tiêm nghi bài xích ngài Tri lễ, học trò ngài Tri lễ thì soạn Chỉ nghi để phản bác.Ngoài ra, về thuyết Sắc cụ tâm cụ nói trong Quán kinh sớ diệu tông sao, 2 phái cũng chủ trương khác nhau. Diệu tông sao là tác phẩm của ngài Tri lễ, trong đó tác giả chủ trương tâm pháp và sắc pháp là đồng thể, đều có đủ tam thiên, đều là tổng thể năng tạo năng cụ. Ngài Hàm nhuận thì soạn Chỉ hà phản đối thuyết của ngài Tri lễ, chủ trương tâm pháp và sắc pháp khác nhau, tâm pháp có đủ tam thiên, là tổng thể năng tạo năng cụ, nhưng sắc pháp thì không thế, mà chỉ là thể sở tạo sở cụ mà thôi. Ngài Tịnh giác liền soạn Quyết mô để bài xích ngài Hàm nhuận. Về hữu tướng vô tướng của tam thiên 2 phái cũng đều chấp 1 mối. Phái Sơn gia chủ trương lí sự nhất thể, bất luận là tam thiên lí tạo hay tam thiên sự tạo đều là hữu tướng, đồng thời có hiện tượng sai biệt. Phái Sơn ngoại thì cho rằng tam thiên lí cụ là bình đẳng vô tướng, còn tam thiên sự tạo mới là hữu tướng và có hiện tượng sai biệt. Từ những năm cuối đời Ngũ đại, phái Sơn gia gồm có các vị: Nghĩa tịch, Nghĩa thông, Đế quán, Tuân thức, Tri lễ, Tông dục, Thượng hiền, Bản như, Phạm trăn, Tuệ tài, Nhân nhạc... Còn phái Sơn ngoại thì gồm các vị: Chí nhân, Ngộ ân, Nguyên thanh, Trí viên, Khánh chiêu, Hàm nhuận, Kế tề... Nhưng đệ tử ngài Tri lễ là ngài Tịnh giác Nhân nhạc và pháp tôn (cháu nội trong đạo) của ngài là Thần trí Tòng nghĩa, về sau lại xung đột với ngài về quan điểm quán tâm quán Phật và từ bỏ pháp tọa của ngài mà ra sáng lập riêng thuyết mới, người đương thời gọi là Hậu sơn ngoại hay Tạp truyền phái. Để phân biệt với phái Hậu sơn ngoại này, phái Sơn ngoại của các ngài Nguyên thanh, Khánh chiên... nói trên được gọi là Tiền sơn ngoại. [X. Tứ minh thập nghĩa thư; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.2, 3; Sơn gia tự dư tập Q.hạ; Thích môn chính thống Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.8, 14; Thiên thai giáo học sử chương 4 (Tuệ nhạc); Tống đại Thiên thai giáo lí sử (Lí thế kiệt)]. (xt. Hậu Sơn Ngoại
sơn gia tự dư tập
(山家緒餘集) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Thiện nguyệt (?-1241) thuộc tông Thiên thai soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 101. Nội dung sách này gồm 2 thiên Giáo và Quán. TrongthiênGiáo gồm 31 luận đề, như Khai quyền thông luận, Thanh văn hóa nguyên, Vô lượng nghĩa kinh đồng dị thể luận, Tính ác nghĩa...Trong thiênQuán gồm có 8 luận đề, như Quán cảnh chân vọng luận, Tam thiên tổng biệt nghĩa, Thập chủng cảnh giới nghĩa... [X. Phật tổ thống kỉ Q.25]. (xt. SơnGia SơnNgoại).
sơn hiệu
(山號) Tên núi, thường được dùng để đặt cho tên chùa. Thời xưa,chùa việnphần nhiều được xây cất ở trong núi, vì thế thường lấy tên núi để đặt tên chùa. Cho mãi thời gần đây, dù chùa được xây dựng ở đồng bằng cũng vẫn thường phụ thêm tên núi, do đó, tên núi bèn trở thành tên riêng của ngôi chùa, như chùa Đông lâm ở Lô sơn thuộc Tầm dương, Giang châu, chùa Thê hà ở Nhiếp sơn, chùa Diệu thiện ở núi Cối kê, chùa Quốc thanh ở núi Thiên thai, chùa Đại hoa nghiêm ở núi Thanh lương, chùa Độ môn ở núi Đương Dương... đại khái đều lấy tên núi ở các nơi đó đặt trước tên chùa. Thời gần đây, ngôi chùa Luật tông nổi tiếng ở Trung Quốc là chùa Long Xương lại dùng tên núi Bảo Hoa – cũng là ngọn núi Trứ Danh – để gọi nên ít người biết đến tên chùa. Phật Quang Sơn ở Đài Loan cũng thuộc dạng này. Ngoài ra, ở Nhật bản thì chùa Diên Lịch ở núi Tỉ Duệ cũng chỉ gọi tên núi chứ không gọi tên chùa.
sơn hào
Writing brushes as numerous as mountains, or as the trees on the mountains, and ink as vast as the ocean.
; (山毫) Bút núi, ví dụ số nhiều vô lượng. PhẩmNhập pháp giới kinh Hoa nghiêm nói về số lượng rộng lớn của kinh,cho rằngdù có dùng nước của các đại dương để làm mực và gom góphết số bút nhiều như núi Tu di để biên chép kinh điển thì cũng không thể hết được. Hồng tự nghĩa (Đại 77, 406 hạ) nói: Bốn thân (Pháp thân, Báo thân, Ứng thân, Hóa thân) như mực đất; 3 mật (thân mật, khẩu mật,ýmật) như bút núi.
sơn hào hải vị
Những món ngon từ miền núi và miền biển—Succulent and fragrant dishes—Delicacies from the moutain and the sea.
sơn hình trụ trượng
(山形拄杖) Chỉ cho nguyên hình cây gậy được chặt từ trong núi mà không đẽo gọt gì thêm. Bích nham lục tắc 18 (Đại 48, 158 thượng) ghi: Ngài Tuyết đậu nói rằng: Cây gậy nguyên hình được chặt từ trong núi (...) dưới cây không bóng hội họp cùng thuyền.
Sơn hải chi công
(山海之功): công ơn to lớn như núi và biển của cha mẹ. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.” Trong bài tán dùng khi cúng lễ phát tang cũng có câu nói lên công đức trời biển của đấng sinh thành: “Hải đức thâm nan báo, sơn công đại mạc thù, linh tiền phi tố phục, ức niệm kỉ thời hưu (海德深難報、山功大莫酬、靈前披素服、憶念幾時休, đức biển sâu khó báo, công núi lớn sao đền, linh đài mang tang áo, thương nhớ bao giờ nguôi).”
Sơn Hải Huệ Bồ-tát kinh 山海慧菩薩經
[ja] サンカイエボサツキョウ Sankaie bosatsu kyou ||| The Shanhaihui pusa jing; 1 fasc., T 2891.85.1405c-1409d. => Kinh , (c: Shanhaihui pusa jing); 1quyển.
sơn hải huệ tự tại thông vương
Xem Sơn hải huệ Tự tại thông vương Phật.
; Sàgara varadhara buddhi vikrìdità bhidjna (S) The name under which Ananda is to reappear as Buddha.
sơn hải huệ tự tại thông vương như lai
Śāgāravaradharabuddhi-vikreditabhidja (S)Sơn hải huệ Tự tại thông vương Phật, Sơn hải huệ Tự tại thông vươngĐức Thích Ca có thọ ký cho ngài A Nan vể vị lai sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, cõi của ngài là Thường lập Thắng Phan, kỳ kiếp là Diệu âm biến mãn.
; See Sơn Hải Như Lai.
Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai 山海慧自在通王如來
[ja] サンカイエジザイツウオウニョライ Sankai ejizaitsūō nyorai ||| The Tathataga-King whose Wisdom Freely Penetrates the Mountains and Seas. This is the name that Ānanda will have in his future incarnation as a buddha, according to the prediction made in the Lotus Sutra by Śākyamuni. In the 人記 chapter of the Lotus Sutra it says: "佛告, 阿難, 汝於來世當作佛. 號山海慧自在通王如來." Also see Leon Hurvitz: Scripture of the Lotus Blossom of the Fine Dharma, p. 168. Here Rāhula and Ānanda somewhat selfishly and vainly nag the Buddha to give predictions for them, since he has given predictions of Buddhahood for the others present at the assembly.〔法華經 T 262.9.29c6〕 => Là danh hiệu của A-nan sẽ thành Phật trong kiếp sau, theo sự thọ ký của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trong kinh Pháp Hoa. Trong phẩm Nhân ký kinh Pháp Hoa có ghi: “Phật bảo A-nan, đời sau ông sẽ thành Phật, hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai”. Xem thêm Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (e: Scripture of the Lotus Blossom of the Fine Dharma) của Leon Hurvitz, trang 168; trong đó ghi rằng La-hầu-la và A-nan hơi có chút nghĩ đến mình và nài nỉ một cách tự phụ xin Thế tôn thụ ký cho mình, vì Ngài đã thụ ký cho mọi người khác trong pháp hội.
Sơn Hải Huệ Tự Tại 山海慧自在
[ja] サンカイエジザイ Sankaiejizai ||| The name by which Ānanda 阿難 is to be called when he attains buddhahood. See 山海慧自在通王如來; also abbreviated as 山海如来. => Danh hiệu mà A-nan được thọ ký khi thành Phật. Xem Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai 山海慧自在通王如來. Còn gọi tắt là Sơn Hải Như Lai 山海如来
sơn hải không thị
Bốn nơi mà con người không thể tránh khỏi con mắt của vô thường hay sứ giả của tử thần—The four places which men cannot conceal from the eye of impermanence ( a messenger of death): 1) Sơn (núi): Mountain. 2) Hải (biển): Ocean. 3) Không (không trung): Sky or Space. 4) Thị (nơi chợ búa): Market place. ** Từ trên đây tóm tắc câu chuyện về bốn anh em cố dùng phép thần thông để trốn chạy tử thần bằng cách trốn lên non, xuống biển, vào hư không, và lẫn lộn vào nơi chợ búa. Người nơi chợ búa được báo cáo là chết trước nhất. Thế mới biết tu chợ là khó—This phrase sums up a story of four brothers who tried to use their miraculous power to escape death by hiding in the mountains, seas, sky, and market places. The one in the market place was the first to be reported as dead. It is so difficult to stay and cultivate in the market place.
; (山海空市) Núi, biển, hư không, giữa chợ. Từ ngữ này hình dung sự vô thường bức bách, khiến người ta không thể lẩn tránh. Bởi vì vô thường (cái chết) đối với loài hữu tình như bóng theo hình, sức mạnh của nó mau chóng như thác đổ, gió bão, điện xẹt, dù có trốn vào núi rừng, xuống đáy biển, lên hư không hay giữa chợ cũng không thoát, vẫn bị nó bức bách và theo đuổi bén gót. Cứ theo kinh Pháp cú thí dụ quyển 1, thời xưa có 4 anh em Phạm chí đều có thần thông, một hôm đoán biết sau 7 ngày đều sẽ bị chết, 4 người bàn nhau dùng sức thần thông để tránh tử thần. Sau đó, mỗi người tìm 1 nơi để trốn, người lặn xuống tận đáy biển, người chui vào trong lòng núi Tu di, người bay lên hư không và người ra giữa chỗ chợ đông đúc. Nhưng đúng 7 ngày sau, vô thường vụt đến, trong 4 Phạm chí không 1 ai thoát chết. [X. kinh Bà la môn tị tử]. (xt. Bà La Môn Tị Tử Kinh).
Sơn Hải Kinh
(山海經): điển tịch tối cổ của Trung Quốc, gồm 18 quyển, tương truyền do Vũ Vương (禹王) nhà Chu và triều thần của vua là Bá Ích (伯益) trước tác, nhưng đúng ra là do người đời sau viết ra. Nội dung bộ sách này gồm các ký thuật về những phương diện thần thoại, địa lý, động vật, thực vật, khoáng sản, tôn giáo, cổ sử, y dược, dân tục, dân tộc cổ đại, v.v. Đây cũng được xem như là bộ sách Địa Lý được viết dưới dạng không tưởng, cho nên trong phần ký thuật về các nước ven Trung Quốc, có rất nhiều ký sự kỳ quái. Trong đó có phần chú thích của Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Đường. Nguyên lai Sơn Hải Kinh có đồ hình, gọi là Sơn Hải Đồ Kinh (山海圖經), từ thời Ngụy, Tấn thì bị thất truyền.
sơn hải như lai
Sagara-varadhara-buddhi-vikridita-bhijna—Sơn Hải Tuệ (Huệ)—Tự Tại Thông Vương Như Lai—Theo Kinh Pháp Hoa, sau nầy A Nan Đà sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải Như Lai—According to the Lotus Sutra (in Anavanamita-vaijayanta), during the kalpa Manojna-sabdabhigarjita, this is the name under which Anada is to reappear as Buddha.
; (山海如來) Cũng gọi Sơn hải tuệ tự tại thông vương Như lai. Danh hiệu của ngài A nan trong vị lai khi thành Phật. Cứ theo phẩm Thụ học vô học nhân kí trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì vô lượng kiếp về trước, đức Thế tôn và ngài A nan cùng phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề ở nơi đức Phật Không vương (Phạm: Dharmaganàbhyudgataràja). Vì ngài A nan thường ưa thích nghe nhiều và lấy đó làm bản nguyện hộ trì pháp tạng của đức Phật Thích ca và chư Phật đời vị lai, giáo hóa thành tựu các chúng Bồ tát, nên mới được thụ kí như vậy.
Sơn Hải Như Lai 山海如來
[ja] サンカイニョライ sankai nyorai ||| See 山海慧自在通王如來. => Xem Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai山海慧自在通王如來.
Sơn Khi Ám Trai
(山崎闇齋, Yamazaki Ansai, 1618-1682): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Gia (嘉); tự Kính Nghĩa (敬義); thông xưng là Gia Hữu Vệ Môn (嘉右衛門); hiệu là Ám Trai (闇齋); Linh Xã hiệu là Thùy Gia Linh Xã (垂加靈社); xuất thân kinh đô Kyoto. Ông từng xuống tóc xuất gia ở Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), rồi chuyển đến vùng Thổ Tá (土佐, Tosa, thuộc Kōchi-ken [高知縣]), theo học với Cốc Thời Trung (谷時中) về Chu Tử Học thuộc Nam Học Phái. Sau đó, ông hoàn tục, trở về kinh đô và khai giảng giữa chợ vào năm 1655 (Minh Lịch [明曆] nguyên niên). Ông được nhóm Bảo Khoa Chánh Chi (保科正之, Hoshina Masayuki), Phiên chủ của Phiên Hội Tân (會津藩, Aizu-han), đãi ngộ trọng dụng. Rồi ông theo học Thần Đạo với Cát Xuyên Duy Túc (吉川惟足, Yoshikawa Koretari), và khai sáng ra thuyết Thùy Gia Thần Đạo (垂加神道) mang tính Thần Nho Nhất Trí (神儒一致). Môn đệ của ông có đến 6.000 người, trong đó có những nhân vật kiệt xuất như Tá Đằng Trực Phương (佐藤直方), Chánh Thân Đinh Công Thông (正親町公通), v.v., hình thành nên Khi Môn Học Phái (崎門學派). Trước tác chủ yếu của ông có Văn Hội Bút Lục (文會筆錄), Thùy Gia Văn Tập (垂加文集), Y Thế Thần Cung Nghi Thức Tự (伊勢神宮儀式序), v.v.
Sơn Khoa
(山科, Yamashina): khu vực thộc phía Đông của Phố Kyoto, nơi ấy có lăng của Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō), Sơn Khoa Biệt Viện (山科別院), v.v.
sơn kì
(山琦) Phạn: Zànti. Thánh tích của Phật giáo nằm trên 1 giải đất gò cao gần vùng Belsa thuộc Bhopal, Trung Ấn Độ, nhờ có trụ đá do vua A Dục dựng và Đại tháp mà nổi tiếng khắp thế giới. Vùng đất này vốn tên là Kakanaya hoặc Kakanara, là con đường giao thông trọng yếu giữa miềnTrung Ấn Độ và nước Ujjayini (Ô xà diễn na) mà Đại sử gọi là Tháp sơn ở phía tây nam. Tên Sơn Kì (Sanchi) không biết được đặt từ thời nào, trong kinh Phật cũng chưa xác định rõ là đức Phật đã từng đến nơi này hoặc các vùng phụ cận hay không? Chỉ do chiều cao, kiểu cách của ngôi Đại tháp và hình dáng khám thờ Phật... phù hợp với lời ghi chép trong luật Ma ha tăng kì mà suy biết tòa tháp này đúng là kiểu tháp của Ấn độ đời xưa. Luật Ma ha tăng kì quyển 33 (Đại 22, 497 hạ) nói: Bấy giờ, đức Thế tôn tự dựng tháp Phật Ca diếp, nền tháp hình tròn, chung quanh có lan can bao bọc, 4 hướng có cửa ra vào, trên chóp tháp có lọng che biểu thị Luân tướng (tướng bánh xe). Phật dạy cách thức dựng tháp phải như thế. Khi chưa lên ngôi, vua A Dục từng giữ chức Tổng đốc ở Malwa và cưới 1 người con gái ở làng Vedisa (Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 gọi là thôn Ti đề tả), cách Sơn Kì chỉ vài dặm Anh, làm vợ. Về sau, Sơn kì trở thành 1 trung tâm Phật giáo quan trọng. Vào thế kỉ XI, nơi này bắt đầu đổ nát, mãi đến thế kỉ XVIII, XIX mới lần lượt được khai quật. Những văn vật cổ tích ở Sơn kì hiện còn gồm có: 1. Đại tháp:Nền hình tròn, đường kính hơn 36 mét, cao hơn 4 mét, thân tháp có hình dạng như cái bát úp, cao khoảng 12 mét, mặt bằng trên đỉnh tháp có đường kính hơn 10 mét, xung quanh có lớp lan can bằng đá bao bọc. Ở chính giữa mặt bằng vạch thành 16 ô vuông, trên đó dựng 1 cái khám thờ Phật bằng đá, hình vuông, cao 3,5 mét, trên nóc khám dựng cây lọng. Luân tướng cũ của Đại tháp đã đổ nát, gần đây, chính phủ Ấn Độ đã xây dựng lại. Chung quanh nền tháp có lan can bằng đá bao bọc, 4 hướng đều mở 1 cửa ra vào. Lan can cao 3,3 mét, niên đại kiến tạo muộn hơn Đại tháp. Bốn cửa đều được làm bằng đá màu vàng sậm. Trên đầu mỗi trụ đá hình vuông lớn ở 4 góc đều có hình tượng động vật hoặc thần Kim cương. Cửa Đông, cửa Bắc khắc hình voi chúa, cửa Tây là Lực sĩ Kim cương, cửa Nam là sư tử, chiều cao hơn 10 mét, trong đó, cửa Nam là xưa nhất, cửa Bắc được bảo toàn hoàn chỉnh hơn cả. Các cửa tháp đều có những bức khắc nổi liên quan đến Phật truyện, Bản sinh đàm là sự tích lễ bái cúng dường Phật. Những bức khắc nổi ở đây cùng với các bức tranh vách ở động đá Ajantà (A chiên đa) đều là tinh hoa của mỹ thuật Phật giáo Ấn độ. Vào thời vua A dục, Đại tháp được kiến tạo bằng đá và gạch, đến thế kỉ II trước Tây lịch từng được mở rộng thêm. 2. Tháp thờ di cốt: Cách Đại tháp về phía đông bắc khoảng 60 mét, có ngôi tháp thờ di cốt của ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, 2 vị đệ tử lớn củađức Phật, tháp có hình thức giống như Đại tháp và cũng rất nổi tiếng. Ngoài ra còn có các tháp nhỏ gần đó có xá lợi của các ngài Ca Diếp ba, Mạt thị ma... 3. Tháp số 2: Tháp này thờ di cốt của các vị Đại sư truyền giáo nổi tiếng trong đoàn truyền giáo của vua A dục. Những di cốt này do học giả Cunningham, người Anh, phát hiện và được đưa về đây. Tính cách quan trọng của tháp này là ở các bài văn khắc trên những hộp đá trắng đặt di cốt. Trên đó có ghi tên người và các sự tích có tính chính xác về các vị Đại sư truyền giáo do vua A Dục phái đi được nói đến trong các bộ Đại sử và Đảo sử. Do đó, giá trị sử liệu của 2 bộ sử trên rất được đề cao.4. Tháp số 4: Tháp nằm về phía đông bắc của tháp số 3, qui mô nhỏ hơn, là kiến trúc thuộc thời kì sau này, nhưng giữ gìn không được tốt. Gần đây đã được Chính phủ Ấn Độ sửa sang lại. 5. Trụ đá vua A Dục và các trụ đá khác: Trong số này, có 4 trụ tương đối quan trọng, xưa nhất là trụ đá vua A dục ở trước cửa Nam của Đại tháp, chiều cao khoảng 12 mét, được tạo nên bởi 1 khối đá hoàn chỉnh, nhưng nay chỉ còn đầu trụ và 1 phần thân, đầu sư tử của trụ đá thì còn được cất giữ trong viện bảo tàng. Còn 3 cây trụ kia thì là những kiến trúc thuộc cácVương triều Huân ca và Cấp đa, chiều cao đều kém xa trụ đá vua A Dục. 6. Chùa viện: Ở phía nam Đại tháp, có ngôi chùa được kiến tạo vào khoảng năm 650 Tây lịch, nay chỉ còn lại đầu cột của 9 cây cột rất lớn, 1 đoạn tường ngắn chỉ cao 1,2 mét, với mấy mảnh gạch ngói và bát vỡ. Chếch về phía đông Đại tháp 1 chút, có ngôi miếu nhỏ, được giữ gìn toàn vẹn, do các khối đá tạo thành, dọc hành lang trước điện, có 4 cây cột đá Làm trụ chống. Phía đông Đại tháp thì có một ngôi chùa được xây dựng vào khoảng thế kỉ IX, X Tây lịch, là kiến trúc muộn nhất ở Sơn kì và là di tích được xếp vào hàng thứ 45, phần lớn kiến trúc này đã sụp đổ. [X. Thế giới mỹthuật toàn tập Q.3, 5; The Bhilsa topes, by A unningham; Tree and Serpent Worship, by J. Fergusson; Modern India, by S.M. William; Ấn độ Phật giáo thánh tích giản giới (Phương chi)].
Sơn Lộc Tố Hành
(山鹿素行, Yamaga Sokō, 1622-1685): Nho gia và là nhà binh pháp học, Tổ của Phái Cổ Học; sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; xuất thân vùng Hội Tân (會津, Aizu); tên là Cao Hựu (高祐), Nghĩa Củ (義矩); tự Tử Kính (子敬); thông xưng là Thậm Ngũ Hữu Vệ Môn (甚五右衛門); hiệu là Nhân Sơn (因山), Tố Hành (素行). Ông theo học Nho học với Lâm La Sơn (林羅山) và học về binh pháp học với Tiểu Phan Cảnh Hiến (小幡景憲, Obata Kagenori), Bắc Điều Thị Trường (北條氏長, Hōjō Ujinaga). Vì ông cho san hành bản Thánh Giáo Yếu Lục (聖敎要錄) với chủ trương phê phán Chu Tử Học và thay đổi theo tư tưởng của chư vị Thánh hiền cổ đại, vào năm 1666 (Khoan Văn [寛文] 6) thì bị lưu đày đến vùng Xích Tuệ (赤穗, Akō), Bá Ma (播磨, Harima). Đến năm 1675 (Diên Bảo [延寶] 3), ông được xá tội và trở về Giang Hộ. Ông là người thông hiểu về cổ điển cũng như Thần Đạo của Nhật Bản, đã lưu lại một số tác phẩm như Trung Triều Sự Thật (中朝事實) 2 quyển, Võ Gia Sự Kỷ (武家事紀) 58 quyển, v.v.
Sơn Môn
(山門): cửa núi. Các tự viện của Trung Quốc cũng như các nước Phật Giáo Đại Thừa phần lớn đều kiến lập trong núi; cho nên cổng lớn của chùa được gọi là Sơn Môn; tượng trưng cho cổng dẫn đến đường Bồ Đề, chuyển mê thành ngộ, rời ô nhiễm để nhập vào thanh tịnh, xa lìa khổ để chứng đắc an lạc. Thông thường Sơn Môn có một cổng hay 3 cổng; vì vậy có tên gọi là Bất Nhị Môn (不二門), hay Tam Môn (三門), thể hiện ba cánh cửa giải thoát, gồm: Không Môn (空門), Vô Tướng Môn (無相門) và Vô Tác Môn (無作門). Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 20 có giải thích rằng: “Thí như thành hữu tam môn, nhất nhân thân bất đắc nhất thời tùng tam môn nhập; nhược nhập tắc tùng nhất môn; chư pháp thật tướng thị Niết Bàn thành, thành hữu tam môn: Không, Vô Tướng, Vô Tác (譬如城有三門、一人身不得一時從三門入、若入則從一門、諸法實相是涅槃城、城有三門、空、無相、無作, giống như thành có ba cổng, một thân người không thể cùng một lúc vào được ba cổng; nếu muốn vào thì phải vào một cổng; thật tướng của các pháp là thành Niết Bàn, thành ấy có ba cửa: Không, Vô Tướng, Vô Tác).” Hay như trong Lăng Nghiêm Kinh (楞嚴經) quyển 4 có câu: “Linh nhữ đản ư nhất môn thâm nhập, nhập nhất vô vọng, bỉ Lục Tri Căn nhất thời thanh tịnh (令汝但於一門深入、入一無妄、彼六知根一時清淨, khiến ngươi chỉ vào trong một cửa, vào rồi không sai lầm, sáu căn biết của người ấy nhất thời trong sạch).” Tánh quy nguyên vốn không có hai, và phương tiện thì có nhiều cửa để vào. Pháp môn tu hành của Phật Giáo có 84.000 loại khác nhau, tượng trưng cho vô số hình thức, phương pháp tu hành. Trong Phật Giáo Đại Thừa có rất nhiều hình thức cũng như cửa tu hành khác nhau, nhưng tựu trung nguyên tắc cũng như mục tiêu tu học thì giống nhau. Pháp môn vốn bình đẳng, không có cao thấp, sang hèn, tốt xấu, v.v. Như tại Thạch Đầu Tự (石頭寺), Hành Sơn (衡山), Tỉnh Hồ Nam (湖南省) có câu đối rằng: “Thạch kính hữu trần phong tự tảo, Sơn Môn vô tỏa nguyệt thường quan (石徑有塵風自掃、山門無鎖月常關, lối đá bụi trần gió tự quét, cửa Thiền chẳng khóa trăng thường soi).” Hay trong Tỉnh Am Pháp Sư Ngữ Lục (省庵法師語錄) quyển Hạ của Đại Sư Thật Hiền Tỉnh Am (實賢省庵, 1686-1734) có câu: “Tịnh Độ nhân hà độc chỉ Tây, yếu linh tâm niệm hữu quy thê, nhất môn nhập hậu môn môn nhập, sơ bộ mê thời bộ bộ mê (淨土因何獨指西、要令心念有歸栖、一門入後門門入、初步迷時步步迷, tịnh độ vì sao chỉ riêng Tây, cần khiến tâm niệm quay trở về, một cửa nhập rồi cửa cửa nhập, bước đầu mê lạc bước bước mê).” Trong thời công phu buổi khuya của Thiền môn có câu: “Thập Địa đốn siêu vô nan sự, Tam Môn thanh tịnh tuyệt phi ngu (十地頓超無難事、三門清淨絕非虞, Mười Địa siêu thăng không việc khó, Tam Môn thanh tịnh hết âu lo).”
sơn môn
Sammon (J).
; The gate of a monastery; a monastery.
; Cửa chùa hay chùa chiền—The gate of a monastery—A monastery.
; (山門) I. Sơn Môn. Cũng gọi Tam môn. Chỉ cho cổng chính (cửa Tam quan) của các chùa viện. Vì chùa phần nhiều được xây cấtởchốn núi rừng nên có tên này. Thông thường Sơn môn có 3 cửa tượng trưng cho Tam giải thoát môn (Không môn, Vô tướng môn, Vô tác môn), cho nêncũng gọi là Tam môn. (xt. Tam Môn). II. Sơn Môn. Cũng gọi Sơn tự. Chỉ chung cho các chùa viện. Bởi vì các chùa viện thời xưa phần nhiều được kiến tạo trong núi rừng nên dùng Sơn Môn (cửa núi) làm tên khác của chùa viện. Nhưng đời sau, dù chùa viện được xây cất ở đồng bằng, nơi thị tứ, cũng vẫn gọi chung là Sơn Môn. Ngoài ra, toàn thể mọi người tu hành trong 1 ngôi chùa, từ vị Trụ trì trở xuống, cũng gọi chung là Sơn Môn. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. III. Sơn Môn. Chỉ cho phái Diên lịch tự ở núi Tỉ duệ thuộc phái Sơn Môn của tông Thiên Thai, Nhật bản,đối lại với phái Tự môn của chùa Viên thành ở Tam tỉnh.
sơn môn kị phật điện
(山門騎佛殿) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là cổng chùa cỡi điện Phật. Nghĩa bóng là ngay cái thế giới sai biệt của hiện tượng giới là thực tướng bình đẳng, tức hàm ý tất cả đều thành Phật. Nhân thiên nhãn mục quyển 1 (Đại 48, 305 trung) nói: Hãy ở ngoài cửa giữ trọng trách làm thần Kim Cương, sơn môn cỡi điện Phật.
sơn môn la hán
(山門羅漢) Tượng 16 vị hoặc 500 vị La hán thờ trên lầu sơn môn để cầu các Ngài hộ trì sơn môn và làm cho chính pháp trụ lâu nơi thế gian.
sơn môn sớ
(山門疏) Bài văn sớ do vị Thư kí làm được đọc trong lễ khuyến thỉnh (chúc mừng) vị Tân trụ trì nhập tự viện trong Thiền tông. Văn sớ cung thỉnh các vị Trụ trì các sơn môn lân cận đến dự lễ, gọi là Chư sơn sớ; thiệp chúc mừng của các vị Trụ trì chùa viện các nơi gửi đến vị Tân trụ trì, gọi là Giang hồ sớ; bài biểu do đồng môn dâng lên chúc mừng Tân trụ trì, gọi là Đồng môn sớ. [X. Phật quang quốc sư ngữ lục Q.3; Thường quang quốc sư ngữ lục Q.hạ; môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Thỉnh tân trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3].
sơn môn tam đại thiền sư
(山門三大禪師) Chỉ cho 3 vị: Đô Tự, Duy Na và Thị giả trong các Thiền viện. Từ Thiền sư ở đây chẳng phải là chức vị, mà chỉ được dùng để bày tỏ lòng tôn kính đối với các vị này. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
sơn môn tam đại thị giả
(山門三大侍者) Chỉ cho 3 vị thị giả lớn: Thị giả đốt hương, Thị giả thư kí vàThị giả thỉnh khách phụ távịTrụ trì trong mọi hoạt động trong chùa viện. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tam Môn Tam Đại Thị Giả).
Sơn môn 山門
[ja] サンモン sanmon ||| (1) "Mountain gate;" the gate to a monastery. (2) The monastery itself. => 1. Cổng vào tu viện. 2. Chùa, tự viện.
sơn ngoại tông
Một nhánh của tông phái Thiên Thai được Ngộ Ân sáng lập khoảng năm 986 sau Tây Lịch, giảng cạn về tông phái. Sở dĩ gọi là “Sơn Ngoại” ví nó được phát triển trong những tự viện xa núi Thiên Thai. Thậm phái được phát triển ngay tại núi Thiên Thai nên được gọi là Tông Sơn Gia—A branch of the T'ien-T'ai school founded by Wu-En in around 986 A.D., giving the “shallower” interpretation of the teaching of this sect; called Shan-Wai because it was developed in temples away from the T'ien-T'ai mountain. The “profounder” sect was developed at T'ien-T'ai and is known as “the sect of the mountain family” or “home sect.” ** For more information, please see Sơn Gia.
sơn nhạc sùng bái
(山岳崇拜) Thần cách hóa núi cao để sùng bái. Tại Trung Quốc từ xưa đã có tín ngưỡng sơn thần, như truyền thuyết Sơn trung phương thất nhật, thế thượng sổ thiên niên (ở trong núi mới 7 ngày mà trên thế gian đã nghìn năm). Những chỗ mây phủ mịt mù trong núi sâu thường được xem là chỗ thần tiên cư trú. Truyện Tây nam di trong Hậu Hán thư cũng nói: Thần núi thần biển linh thiêng, chim thú lạ lùng. Những cuộc tế lễ lớn nhất ở Trung quốc đời xưa đều do Hoàng đế đích thân chủ trì, như cúng tế thần núi Thái Sơn. Ngoài ra, người Ấn Độ coi dãy núi Hỉ Mã Lạp Nhã là trung tâm của thế giới. Người Moses (Do thái) ở núi Si nại nhìn thấy Da hòa hoa (Jehowah: Thượng đế) hiện ra. Ở Nhật bản thời xưa cũng do tín ngưỡng sùng bái núi non kết hợp với Mật giáo mà đã sản sinh ra Tu nghiệm đạo, chủ trương người tu hành phải khổ tu trong rừng núi.
sơn pháp
(山法) Cũng gọi Sơn Qui. Chỉ cho những phép tắc, qui định riêng của mỗi chùa viện được đặt ra ngoài những thanh qui chung.
sơn phục
(山伏) Cũng gọi Sơn Ngọa, Tu Nghiệm giả, Nghiệm giả, Hành giả. Từ ngữ gọi vị hành giả thuộc phái Tu nghiệm đạo ở Nhật Bản. Phục Sơn có nghĩa là vào núi báu Pháp tính chân như, hàng phục vô minh phiền não. Là người ở trong núi hoang vắng, tu luyện khổ hạnh, được pháp thần nghiệm nhiệm mầu. Tùy theo trình độ tu hành mà Sơn phục có các cấp bậc khác nhau như: Đại tiên đạt, Chính tiên đạt, Tam tăng kì, Nhị tăng kì, Nhất tăng kì... Về mặt hình thức, Sơn phục có 2 hạng: Người để tóc có vợ con và tăng cạo tóc thanh tịnh.Người để tóc và cạo tóc khác nhau nên chia làm 3 loại: Pháp thân hình, Báo thân hình và Ứng thân hình. 1. Pháp thân hình(cũng gọi Hạ sơn phục): Chỉ cho Ưu bà tắc, hình thức bề ngoài giống người thế tục. 2. Báo thân hình (cũng gọi là Trích sơn phục): Người để tóc 1 tấc 8 phân. 3. Ứng thân hình (cũng gọi Thế sơn phục): Hình tướng Tỳ khưu cạo tóc. Từ thời đại Giang hộ về sau, phục sức, vật phẩm, khí cụ của hành giả Tu nghiệm đạo đều có qui định. Các đạo cụ được sử dụng chủ yếu có 12 loại: Khăn chít đầu,dù, áo pháp, kết ca sa, pháp loa (cái tù và), tràng hạt, gậy tích, trắp sách, hòm (rương), gậy kim cương, đồ trải để ngồi, mảnh vải quấn ống chân... (xt. Tu Nghiệm Đạo).
sơn thanh thủy tú
Fine scenery, lovely landscape.
sơn thiệu kỳ
Tsu yin Chu ne (S), Chu ne, Chu shan Shao chi (C).
sơn thuỷ bình phong
(山水屏風) Bức bình phong có vẽ cảnh non nước đặt ở phía sau tòa A xà lê khi cử hành nghi thức Quán đính hoặc tu pháp Cúng dường mạn đồ la trong Mật giáo. Bởi vì đàn tràng cử hành nghi thức Quán đính vốn được thiết lập trên bãi đất trống ngoài trời, đây là 1 định chế của Ấn Độ đời xưa, cho nên, đời sau, do không có điều kiện lập đàn tràng ngoài trời, giữa cảnh non nước thiên nhiên, người ta mới dùng bình phong có vẽ cảnh sơn thủy để tượng trưng. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật].
sơn thuỷ nạp
(山水衲) Y phục của Thiền tăng Trung quốc ở đời Tống, tức y phục có hoa văn được may bằng loại tơ lụa đắt tiền. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 391 trung) nói: Thiền tăng thời nay phần nhiều mặc áo đơn trái với pháp phục, may bằng tơ lụa, có thêu hoa văn,gọi là Sơn thủy nạp, giá trị tới số nghìn.
sơn thế
Mountain world, i.e. monasteries.
; Mountain world—Monasteries.
sơn thủy
Mountain and water.
sơn thủy nạp
Mountain and water robe. 1) Tên của một loại y mặc trong tu viện dưới thời nhà Tống: Name of a monastic garment during the Sung dynasty. 2) Về sau nầy từ nầy được dùng để chỉ những loại y thêu dệt màu mè: Later this was the name given to a richly embroidered dress.
sơn trang
House in the mountain.
sơn tăng
Sansō (J).
; Hill-monk, self deprecatory term used by monks. A monk dwelling apart from monasteries.
; Hill monk. 1) Tăng lữ ở miền sơn dã xa rời sự sung túc của chùa chiền: A monk dwelling apart from monasteries. 2) Tăng lữ tự xưng hô một cách nhún nhường: A self-deprecatory term used by monks.
; (山僧) Chỉ cho các vị tăng ở trong núi. Về sau, các vị tu ở thôn làng cũng gọi là Sơn tăng. Sơn tăng trở thành từ tự xưng khiêm nhường và phần nhiều được các vị Thiền tăng sử dụng. Lâm tế thiền sư ngữ lục (Đại 47, 498 thượng) ghi: Lời sơn tăng nói khác với người trong thiên hạ. [X. Hoàng long Tuệ nam thiền sư ngữ lục; Đông Sơn Tuệ Không thiền sư ngữ lục].
sơn tướng khích bồ tát
Giryagrapra-mardirāja (S)Tên một bộ kinh.
sơn vương
King of mountains, Giricakra-vartin (S), Girirāja (S).
; Vua núi—ngôi vị cao nhất—The king of the mountains—The highest peak.
sơn vương quyền hiện
(山王權現) Cũng gọi Nhật cát quyền hiện, Sơn vương thất xã. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Từ gọi chung các vị thần hộ trì kinh Pháp Hoa của tông Thiên Thai ở núi Tỉ Duệ.Khi ngài Tối trừng khai sáng Tỉ duệ sơn, ngài khuyến thỉnh Tam luân đại thần làm thần trấn giữ. Về sau, vị thần này được thờ làm bản tôn của Sơn vương thần đạo. Những đạo tràng cúng tế Sơn vương quyền hiện gồm có: Đại cung, Nhị cung, Thánh chân tử, Bát vương tử, Khách nhân, Thập thiền sư và Tam cung, gọi là Thượng thất xã (7 xã bậc thượng); nếu thêm 7 xã bậc trung và 7 xã bậc hạ nữa thì thành 21 xã. Do chính sách tông giáo Thần và Phật tách rời nên Sơn vương quyền hiện bị phế bỏ mà đổi thành Nhật cát thần xã.
sơn ông đạo mân
(山翁道忞) (1596-1674) Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người ở Triều dương, Triều châu (Quảng đông), họ Lâm, tự Mộc trần, hiệu Sơn Ông. Thửa nhỏ, sư đã khác với những trẻ thường, lớn lên, sư đọc Đại tuệ thiền sư ngữ lục và có chí xuất gia. Sư tham yết ngài Nhã muội Trí minh ở chùa Khai tiên ở Khuông lư, rồi xuất gia. Sau, sư tham học Thiền sư Mật vân Viên ngộ 14 năm và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư lần lượt trụ trì các chùa Linh phong, Vân môn, Quảng nhuận, Đại năng nhân, Vạn Thọ ở Chiết giang, chùa Pháp khánh ở Sơn đông và 2 lần chú tích núi Thiên Đồng. Năm Thuận trị 16 (1659) đời Thanh, sư vâng sắc cùng vấn đáp với học sĩ Vương hi ở điện Vạn thiện tại Bắc Kinh, được vua ban hiệu Hoằng Giác Thiền Sư. Năm Khang Hi 13 (1674), sư thị tịch, thọ 79 tuổi, pháp lạp 55. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục 20 quyển, Tấu đối lục 3 quyển, Bắc du tập 6 quyển, Bố thủy đài văn tập 32 quyển. [X. Tục chỉ nguyệt lụcQ.19; Ngũ đăng toàn thư Q.66].
sơn đông
Shantung (C)Tên một tỉnh của Trung quốc.
sơn đầu
(山頭) I. Sơn Đầu. Chỉ cho nghĩa trang, nơi chôn cất người chết.[X. điều Vong tăng bản trướng thức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7]. II. Sơn Đầu. Cũng gọi Hóa đàn. Chỉ cho đài Niết bàn, tức cái nền đặt quan tài. (xt. Hóa Đàn).
sư
phra (S), Monk (Thai); Bhikkhu (S).
; Upàdhyàya (S). A host, army; a leader, preceptor, teacher, model, Buddhist priest. Spiritual teacher.
; Upadryaya (skt)—Ô Ba Nễ. 1) Thầy: Teacher. 2) Nhà sư Phật giáo: Buddhist monk.
; (師) Phạn: Upàdhyàya, Zàstf. Pàli: Satthar hoặcSatthu. Hán âm: Ô ba nễ. Cũng gọi Sư trưởng, Sư tăng, Sư phụ, Sư gia. Từ gọi chung các bậc thầy đem đạo dạy người. Trong Luật tạng, Sư được chia làm 2 loại là Đắc giới sư và Thụ nghiệp sư. Thích thị yếu lãm thì nói 2 loại Thân giáo sư và Y chỉ sư. Hai loại sư trong Luật tạng chỉ cho bậc thầy độ người xuất gia, còn 2 loại sư trong Thích thị yếu lãm thì chỉ cho bậc thầy dạy người học Tam tạng. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 11 thì bậcSư trưởng đem 5 việc dạy đệ tử: 1. Thuận theo pháp mà răn dạy. 2. Dạy điều đệ tử chưa nghe. 3. Đệ tử hỏi điều gì đều phải giải thích nghĩa lí cho rõ ràng. 4. Xem đệ tử như người bạn tốt. 5. Truyền dạy cho đệ tử tất cả những chỗ mình hiểu biết, không xẻn tiếc. Còn theo Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển 15 thì vị Hòa thượng cần phải có 15 đức: 1. Phải hiểu biết về giới. 2. Phải giữ giới nghiêm túc. 3. Không phạm giới. 4. Phải hiểu biết rõ nghĩa lí của kinh. 5. Phải tự giữ mình. 6. Phải dạy kinh. 7. Phải răn dạy. 8. Phải dạy tu tâm, ý. 9. Nên dạy nhận lãnh vừa đủ. 10. Phải dạy phép tắc. 11. Cần tự có ẩn đức. 12. Thường dạy bảo tín đồ. 13. Không được có tâm che giấu. 14. Có người đem các thứ đến cúng dường, nên nói đều là các thứ của chúng tăng.15. Thăm người đau yếu phải đối xử bình đẳng. [X. Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.12; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3].
sư biểu
Model teacher. Vạn thế sư biểu, the master of all times, i.e. Confucius Khổng tử.
sư bà
The Mother Superior (of a Buddhist nunnery).
; Old Buddhist nun.
sư bác
A senior bonze.
sư bảo
(師保) Bậc sư trưởng che chở cho đệ tử, chỉ dạy cho họ tu hành các pháp lành để không bị đọa vào đường ác, nên gọi là Sư bảo. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.14; luận Đại trí độ Q.1].
sư bị
Xem Huyền sa.
; (師備) (835-908) Thiền sư Trung Quốc sống vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, người huyện Mân, Phúc Châu, họ Tạ. Sư tinh khôn từ nhỏ, thích câu cá và dong thuyền đi chơi. Năm 30 tuổi, sư mới có chí thoát trần và lễ Thiền sư Linh huấn ở núi Phù dung cầu xuất gia. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư tu pháp Đầu đà, suốt ngày ngồi yên lặng, nên người đời gọi sư là Bị đầu đà. Sư thường gần gũi pháp huynh là ngài Tuyết Phong Nghĩa tồn như tình thầy trò, cùng nhau tu hành, người đến tham học rất đông. Một hôm, xem kinh Lăng Nghiêm, tâm địa của sư bừng sáng, người từ khắp nơi đến học đạo đông như ngày hội. Ban đầu, sư trụ ở viện Phổ ứng tại Mai khê, không bao lâu, sư dời đến núi Huyền Sa, tùy cơ tiếp hóa trên 30 năm, độ hơn 800 người. Bấy giờ có Mân soái là Vương thẩm tri hết lòng thờ kính sư, tâu vua ban cho sư áo đỏ và hiệu là Tông Nhất Đại Sư. Năm Khai bình thứ 2 (908) đời Hậu Lương, sư thị tịch, hưởng thọ 73 tuổi (có thuyết nói sư thọ 70 hoặc 75 tuổi). Sư có tác phẩm: Ngữ lục 3 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.13; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18].
sư bồ
(樗蒲) Tên một trò chơi đánh bạc đời xưa. Vật này giống như hạt táo. Ném Sư bồ để vui chơi đỏ đen đại khái cũng giống như xoa hạt xúc xắc của người Trung Quốc. Luật Tứ phần quyển 19 (Đại 22, 692 hạ) nói: Thích tử Bạt nan đà vào thôn ngoài giờ qui định, cùng ném Sư bồ với các cư sĩ. Kinh Phạm Võng lục thập nhị kiến (Đại 1, 265 thượng) nói: Có người dị đạo, ăn của tín thí, thường ném Sư bồ. Suy đó thì có thể biết trò chơi Sư bồ đã thịnh hành ở Ấn độ từ rất sớm và bị đức Phật chế giới cấm.[X. Bồ tát giới nghĩa sớ sao Q.hạ;Loại tụ danh vật khảo Q.169].
sư chất
(師質) Tên 1 người Bà la môn ở nước Xá vệ vào thờiđức Phật tại thế. Ông này lo buồn vì không có con, nên đến nhờ Phật xem tướng. Đức Phật bảo là tướng ông ta sẽ có con. Ông vui mừng thỉnh Phật và các vị Tỳ khưu đến nhà để cúng dường. Khi Phật và các Tỳ khưu nhận sự cúng dường xong, trên đường trở về tinh xá, gặp 1 con vượn đến xin bát của ngài A Nan để đựng mật cúng dường Phật. Không bao lâu con vượn chết, liền sinh vào nhà ông Sư chất, tên là Ma đầu la thế chất, sau xuất gia và đắc đạo. [X. kinh Hiền ngu Q.12].
sư chủ
(師主) Cũng gọi Sư gia, Sư phụ. Chỉ cho vị thầy làm chủ răn dạy và là nơi nương tựa của đệ tử, cho nên gọi là Sư chủ. [X. Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.27].
sư cân
See Sư Huyền.
sư cô
A buddhist nun. Also ni cô.
; A nun—A Buddhist nun (Bhiksuni)—See Tỳ Kheo Ni.
; (師姑) Vốn chỉ cho bậc Ni sư tuổi cao đức trọng. Từ đời Tống về sau, từ Sư cô được dùng dể chỉ chung cho các người nữ xuất gia.
sư cụ
The superior of a Buddhist monastery, Buddhist abbot.
sư gia
(師家) Chỉ cho bậc thầy có học vấn, đức hạnh, có khả năng hướng dẫn chúng tăng tu hành. Từ này cũng được dùng để gọi vị thầy tu Thiền. Trong Thiền tông Nhật Bản, người có đủ khả năng và tư cách làm thầy chúng tăng, nhưng phải được sư phụ của mình ấn khả, mới có thể trở thành bậc Sư gia.
sư giới
(師戒) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Vân ôn, sống vào đời Tống. Sư nối pháp ngài Song tuyền Sư khoan, trụ ở Long Tượng Hải Hội, núi Ngũ Tổ tại Kì châu (Hồ bắc), phát huy tông phong. Cứ theo Ngũ đăng toàn thư quyển 32 thì Thượng phương Tề nhạc kết bạn với ngài Tuyết đậu Trùng hiển đi du ngoạn Hoài Sơn, nghe tiếng sư hay trắc nghiệm người học, liền đến gạn hỏi sư. Sư hỏi (Vạn tục 140, 379 hạ): Thượng nhân tên gì? Đáp: Tề nhạc. Sư hỏi: Cái gì giống núi Thái Sơn? Tề nhạc không trả lời được, sư đánh đuổi ra. Hôm sau, Tề nhạc lại đến yết kiến. Sư hỏi: - Ông làm gì vậy? Tề nhạc xoay đầu làm thành 1 hình tròn trình sư. Sư bảo: - Đến treo cái lò sưởi này lên! Tề nhạc còn đang nghĩ ngợi, sư liền huơ gậy đuổi ra khỏi cửa. Vài ngày sau, Tề Nhạc lại đến chỗ sư, đưa tọa cụ lên nói: - Trải ra thì đại thiên sa giới, không trải thì mảy lông chẳng còn; như vậy thì nên trải hay không nên trải? Sư liền bước xuống giường, túm lấy Tề nhạc, nói: - Đã là người quen, tại sao phải như thế? Nhạc cũng ngậm miệng, sư liền đánh đuổi ra. Về già, sư trụ ở núi Đại Ngu tại Cao An (Giang tây), dựa cây gậy cười nói mà hóa.[X. Thiên thánh quảng đăng lục Q.21; Liên đăng hội yếu Q.27; Ngũ đăng hội nguyên Q.15].
Sư Hiệu
(師號, Shigō): còn gọi là Tứ Hiệu (賜號, danh hiệu được ban tặng), xưng hiệu do triều đình ban tặng cho chư vị cao tăng thạc đức, tỷ dụ như Đại Đức (大德), Quốc Sư (國師), Thiền Sư (禪師), v.v.
sư hiệu
(師號) Cũng gọi Tứ hiệu. Tên hiệu để gọi các bậc Sư tăng cao đức do vua ban tặng, như Đại sư, Quốc sư, Thiền sư...
sư huynh
Master and elder; senior fellow-student.
; (師兄) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho Pháp huynh, từ gọi chung những người xuất gia thụ giới trước mình. Môn Xưng Hô trong Thiền lâm tượng khí tiên trong quyển 5 nói: Cùng được một thầy dạy dỗ, người học trước ta gọi là Pháp huynh. [X. chương Thuyền tử đức thành trong tổ đường tập Q.5].
sư huyền
Ví như có người lấy gân sư tử làm dây đàn, một khi âm thanh gảy lên thì các loại đàn khác ắt phải im tiếng—A tiger's tendons as lute-strings, i.e. bodhi music silences all minor strings.
; (師弦) Dây đàn sư tử, tức dùng gân con sư tử làm dây đàn, khi gảy lên thì các loại đàn dây khác đều im bặt; dùng để ví dụ tâm bồ đề át hết những công đức nhỏ nhặt khác. [X. kinh Tân hoa nghiêm Q.78].
Sư hống
(獅吼): hay sư tử hống (獅子吼), là tiếng rống của con sư tử, tỷ dụ cho sự thuyết pháp của đức Phật hùng dũng như tiếng gầm của chúa tể sơn lâm làm chấn động cả vũ trụ, càn khôn. Như Thắng Man Kinh (s: Śrīmālā-siṁha-nāda-sūtra, 勝鬘經) còn có tên gọi khác là Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Kinh (勝鬘師子吼一乘大方便經), Sư Tử Hống Kinh (師子吼 經), Thắng Man Sư Tử Hống Kinh (勝鬘師子吼經), Sư Tử Hống Phương Quảng Kinh (師子吼方廣經), Thắng Man Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh (勝鬘大方便方廣經), v.v. Trong Duy Ma Cật Kinh (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩詰經), Phẩm Phật Quốc (佛國品) có đoạn: “Sư tử hống vô úy âm dã, phàm sở ngôn thuyết bất úy quần tà dị học, dụ sư tử hống chúng thú hạ chi (獅子吼無畏音也、凡所言說不畏群邪異學、諭獅子吼眾獸下之, tiếng rống của con sư tử là âm thanh không sợ hãi, phàm giáo thuyết của ngài nói ra đều không sợ giáo học khác của chúng tà đạo, giống như tiếng rống của con sư tử làm cho các loài thú đều phải thần phục).” Ngoài ra, sư tử hống còn được dùng để ví cho âm thanh chửi mắng người khác của người vợ hung dữ. Trong dân gian vẫn thường dùng từ “Hà Đông Sư Hống (河東獅吼, tiếng rống của con sư tử Hà Đông)”, vốn phát xuất từ trong Dung Trai Tùy Bút (容齋隨筆) quyển 3, phần Trần Quý Thường (陳季常) của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống. Dưới thời Bắc Tống có một văn nhân tên Trần Quý Thường, tự xưng là Long Kheo Cư Sĩ (龍丘先生), thường vui vẻ tiếp đãi khách quý, thích giao du với các kỹ nữ; tuy nhiên, vợ ông họ Liễu, là người rất hung dữ, thường hay la rầy chồng. Có hôm nọ, người bạn thân là Tô Đông Pha (蘇東坡) khiêu khích Quý Thường đi chơi xuân. Bà vợ sợ chồng mình đi chơi với hàng kỹ nữ nên không cho phép ông ra bước khỏi nhà; tuy nhiên, họ Trần bảo đảm và hứa hẹn là nếu có kỹ nữ thì sẽ chịu hình phạt thích đáng; nhờ vậy bà họ Liễu mới chấp thuận. Về sau, bà biết được chồng có ăn chơi với các kỹ nữ, nên phạt đánh đòn. Quý Thường sợ bị đánh, tha thiết cầu xin tha tội và chịu quỳ phạt bên bờ hồ. Tô Đông Pha ghé thăm, chứng kiến sự tình như vậy, cảm thấy sỉ nhục cho đấng đại trượng phu nam tử, bèn quở trách bà họ Liễu; từ đó cả hai bên bắt đầu cãi vả nhau. Cuối cùng, bà biết được sự việc Đông Pha đã dụ dỗ chồng chơi với các kỹ nữ, rồi lại còn đến can thiệp vào chuyện riêng của gia đình mình; cho nên, bà tức giận lớn tiếng đuổi ông ra khỏi nhà. Nhân sự việc này, Tô Đông Pha có làm bài thơ rằng: “Long Kheo Cư Sĩ diệc khả lân, đàm không thuyết hữu dạ bất miên, hốt văn Hà Đông sư tử hống, trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên (龍丘居士亦可憐、談空說有夜不眠、忽聞河東獅子吼、柱杖落手心茫然, Long Kheo Cư Sĩ cũng đáng thương, đàm không luận có suốt đêm trường, chợt nghe Hà Đông sư tử rống, gậy chống buông tay tâm hoảng liền).” Bà họ Liễu vốn người Hà Đông (河東), cho nên Hà Đông sư tử (河東獅子) được dùng để ví cho bà. Về sau, Uông Đình Nột (汪廷訥) nhà Minh soạn tác phẩm Sư Hống Ký (獅吼記) cũng dựa trên bài thơ của Tô Đông Pha. Câu “cách phàm thành Thánh, tốc đăng sư hống chi lâm (革凡成聖、速登獅吼之林)” có nghĩa là khi đã chuyển hóa phàm tâm thành bậc Thánh thì sẽ mau chóng được lên khu rừng có tiếng rống thuyết pháp của sư tử.
sư hổ mang
A profligate bonze.
sư hội
(師會) (1102-1166) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Tống, hiệu Khả Đường. Từ nhỏ sư đã nghiên cứu giáo chương Hoa nghiêm, không hề trễ nải. Đương thời sự học thịnh hành, các dị thuyết rối bời, học giả phần nhiều không biết chỗ qui thú, nên sư soạn sách Phần tân để cảnh giác người đời. Danh từ Phần tân (đốt củi) là lấy sự tích thu góp các kinh giả đem đốt ở Nam sơn để trở về với Chính pháp. Sư cũng đau xót trước sự suy đồi của tư tưởng Hoa nghiêm nên nghiên cứu cặn kẽ Khổng mục chương, Sưu huyền kí và Thám huyền kí, sư đặc biệt tinh thông Khổng mục chương, cùng suốt áo chỉ Lục tướng, Thập huyền. Về sau, vì cho rằng việc soạn thuật chẳng dễ, hoặc sợ làm cho người khác mê lầm, nên sư bỏ cầm bút rất lâu. Đến năm Càn đạo thứ 2, lúc đó đã 65 tuổi, sư mới bắt đầu soạn Ngũ giáo chương phục cổ kí để thỏa lòng mong muốn đã lâu. Nhưng khi soạn đến chương Đoạn hoặc phân tề thì sư lâm bệnh, an nhiên thị tịch, dạy đệ tử là Thiện hi tiếp tục công việc, thụy hiệu là Pháp Chân Đại Sư. Sư cùng với 3 vị: Đạo đình, Quan phục và Hi địch sau này được gọi chung là Tống Triều Hoa Nghiêm Tứ Đại Gia.Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm ngũ giáo chương phần tân 2 quyển, Hoa nghiêm ngũ giáo chương phục cổ kí 3 quyển, Hoa nghiêm dung hội nhất thừa nghĩa chương minh tông kí. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương phần tân Q.thượng; Chư tông chương sớ lục Q.2; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục].
sư hữu
Master and friends.
sư khổ hạnh
Ascetic monk.
Sư Lợi 師利
[ja] シリ Shiri ||| Shīi (ca. Early 8th century--Tang); monk of the Sanjie jiao 三階教 movement involved in the production of the apocryphal Foshuo shi suofanzhe yuqie fajing jing 佛説示所犯者瑜伽法鏡經 (T 2896.85.1416-1422). => Shīi (đời Đường, trước thế kỷ thứ tám); Tăng sĩ thuộc Tam giai giáo (c: Sanjie jiao 三階教), có liên quan đến việc ra đời của bản kinh nguỵ tác Phật thuyết thị sở phạm giả Du-già pháp cảnh kinh (c: Foshuo shi suofanzhe yuqie fajing jing 佛説示所犯者瑜伽法鏡經).
sư ma úy
Siṃhanada (S)Tổ tiên đời thứ sáu cũa dòng họ Thích Ca.
sư mẫu
Mistress; master's wife.
sư nhan
Jui-yen (C), Zuigan (J), Shih-yen (C), Jui-yen (C), Zuigan, Shigen (J)Tên một vị sư khoảng TK thứ 9.
sư nói sư phải, vãi nói vãi hay
There's a reason for everything.
sư nương
Ni sư—A nun.
sư phụ
Satthu (S), Upadhaya (S), Sastṛ (S); Satthar (P), Satthu (P)Sư trưởng.
; Guru, master, teacher.
; Master—Teacher.
sư sự
To treat as a preceptor or teacher.
sư thích
(師釋) Chỉ cho các trứ tác do các bậc sư gia đời sau soạn thuật, tức là các sách chú sớ, giải thích những kinh do đức Phật nói và những luận do các Bồ tát, La hán tạo.
sư truyền
Transmitted directly from the teacher.
sư trưởng
Xem Sư phụ.
; Master; superior.
; Elder master.
sư tôn
Disciple of a disciple.
; Học trò của học trò ai—Disciple of a disciple.
; (師孫) Từ gọi đệ tử của hàng đồ đệ, tức là Pháp tôn của thầy mình. Môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Đệ tử của đệ tử gọi là Sư tôn.
sư tăng
(師僧) Chỉ cho vị tăng có đức hạnh xứng đáng làm thầy người. Ngoài ra, Sư tăng cũng là từ tôn xưng chúng tăng. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 1 (Đại 47, 988 trung) nói: Lại ngày trước có vị lão túc, suốt 9 tuần an cư chẳng vì Sư tăng thuyết pháp. Từ Sư tăng ở đây chỉ cho chúng tăng. Ngoài ra, trong Tùng Lâm, vị Thiền tăng có khả năng tự lập, tự gánh vác trách vụ của mình, thường được gọi là Sư tăng gia. Như Bích nham lục tắc 33 (Đại 48, 172 trung) ghi: Ngài Vân Môn nói: Này Thượng thư! Ông chớ nên sơ suất! Bậc sư tăng gia đã luyện hết 3 kinh 5 luận mà vào tùng lâm, trải 10 năm, 20 năm mà vẫn còn chưa được thì làm thế nào mà Thượng thư hiểu nổi?
Sư tư
(師資): ý là sư đệ, sư đồ, thầy trò. Sư (師) ở đây nghĩa là người, vị thầy dạy dỗ đồ đệ, học trò; tư (資) là tư tài do thầy dạy ban cho, cũng có nghĩa là đệ tử. Đối với nhà Phật, mối quan hệ thầy trò đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thầy truyền trao pháp phái cho đệ tử, gọi là sư tư tương thừa (師資相承), huyết mạch (血脈). Theo Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh (尸迦羅越六方禮經, Taishō Vol. 1, No. 16) cho biết, đệ tử hầu thầy có 5 việc: (1) Phải kính cẩn, vui mừng; (2) Phải luôn nhớ ơn thầy; (3) Vâng theo lời thầy dạy; (4) Nghĩ nhớ không chán; (5) Phải đi theo sau khen ngợi thầy. Trong khi đó, thầy dạy đệ tử cũng có 5 điều: (1) Phải làm cho trò nhanh hiểu biết; (2) Phải làm cho trò hơn đệ tử người khác; (3) Muốn làm cho đệ tử không quên; (4) Các nghi vấn khó khăn đều phải giải thích rõ ràng; (5) Muốn khiến cho trí tuệ của đệ tử hơn thầy. Như trong Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư Ngữ Lục (雪峰義存禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1333) quyển 1, phần Khắc Tuyết Phong Ngữ Lục Duyên Khởi (刻雪峰語錄緣起), có đoạn: “Kiến đường trung hữu bảo tượng dữ Tam Môn điện vũ, hoảng như mộng trung sở kiến, nhân tất sư tư tương ngộ, thiên cổ do thông (見堂中有寶像與三門殿宇、恍如夢中所見、因悉師資相遇、千古猶通, thấy trong nhà có tượng báu và những ngôi điện vũ Tam Môn, mơ màng như thấy trong mộng, nhân đó thầy trò gặp nhau, thiên cổ được thông).”
sư tư
(師資) Chỉ cho thầy và trò. Sư là bậc thầy dạy dỗ đệ tử, Tư là những giáo pháp (tư liệu) mà thầy truyền trao cho đệ tử, đồng thời cũng có nghĩa là đệ tử. Trong Phật giáo, sự quan hệ giữa thầy và trò rất trọng yếu. Vị thầy trao truyền mệnh mạch giáo pháp cho đệ tử, gọi là Sư tư tương thừa, Huyết mạch. Cứ theo kinhThi ca la việt lục phương lễ thì đệ tử thờ thầy phải đủ 5 việc là: 1. Phải kính khen thầy. 2. Phải ghi nhớ ơn thầy. 3. Phải vâng theo những lời thầy dạy bảo.4. Luôn luôn nhớ nghĩ đến thầy. 5. Phải theo sau và tán thán thầy. Thầy dạy đệ tử cũng có 5 việc là: 1. Phải dạy cho chóng hiểu biết. 2. Phải dạy giỏi hơn đệ tử của người khác. 3. Muốn cho đệ tử nhớ biết mãi không quên. 4. Những điều khó khăn nghi ngờ của đệ tử đều phải giải nói cho hiểu biết. 5. Muốn cho trí tuệ của đệ tử được hơn thầy.Điều Sư tư chi đạo trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 (Đại 54, 222 trung) nói: Phép thờ thầy được truyền dạy cho nhau ở bên Tây vực là: Đầu đêm, cuối đêm phải đến chỗ thầy ở. Thầy bảo đệ tử ngồi yên, sau đó, trong 3 tạng kinh điển tùy thời dạy trao, hoặc sự, hoặc lí không để luống qua. Thầy xét giới hạnh của đệ tử, không được để thiếu trái, biết đệ tử có phạm lỗi, phải dạy sám hối ngay. Về phần đệ tử thì có bổn phận xoa bóp thân thể cho thầy, gấp xếp xiêm áo, lau quét phòng thầy, xem trùng, lọc nước, các việc lớn nhỏ đều làm thay thầy. Đó là phép kính thờ thầy. Ngoài ra, trong Giáo giới tân học Tỳ khưu hành hộ luật nghi, ngài Đạo Tuyên nêu ra 51 điều về phép thờ thầy để làm khuôn phép thờ thầy cho hàng Tỳ khưu mới học. [X. kinh Thiện sinh trong Trường a hàm Q.11; bài Tựa luật Tứ phần; luận Lục môn giáo thụ tập định; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3]. (xt. Huyết Mạch).
Sư Tư Huyết Mạch Truyện
(師資血脈傳, Shishikechimyakuden): tác phẩm của Thần Hội (神會), có ghi lời tựa của Độc Cô Phái (獨孤沛) trong Bồ Đề Đạt Ma Nam Tông Định Thị Phi Luận (菩提達摩南宗定是非論). Nó tương đương với truyền ký của 6 đời từ Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨) cho đến Lục Tổ Huệ Năng (慧能) của thư tịch Đôn Hoàng bản Thần Hội Ngữ Lục (神會語錄). Ngoài ra, nó còn là tên gọi khác của Lịch Đại Pháp Bảo Ký (歷代法寳記). Trong phần chú giải đầu quyển của Lịch Đại Pháp Bảo Ký có đoạn rằng: “diệc danh Sư Tư Huyết Mạch Truyện, diệc danh Định Thị Phi Tồi Tà Hiển Chánh Phá Hoại Nhất Thiết Tâm Truyện, diệc danh Tối Thượng Thừa Đốn Ngộ Pháp Môn (亦名師資血脈傳、亦名定是非摧邪顯正破壞一切心傳、亦名最上乘頓悟法門沛, cũng có tên là Sư Tư Huyết Mạch Truyện, cũng có tên là Định Thị Phi Tồi Tà Hiển Chánh Phá Hoại Nhất Thiết Tâm Truyện, và cũng có tên là Tối Thượng Thừa Đốn Ngộ Pháp Môn).”
sư tư thất tổ phương tiện ngũ môn
(師資七祖方便五門) Tác phẩm, 1 quyển, phụ đề là: Trích cú trừu tâm lục chi như tả. Đây là quyển sách viết tay hình lá bối, tìm thấy ở Đôn Hoàng, do 1 người Nhật bản là Thốc thị Hựu tường cất giữ. Các học giả cho rằng sách này nêu lên tinh hoa yếu chỉ của bộ Lăng già sư tư kí và bộ Đốn ngộ chân tông kim cương bát nhã đạt bỉ ngạn yếu trạch. Ngoài ra, những văn hiến phát hiện ở Đôn hoàng tương quan với Đốn ngộ chân tông kim cương bát nhã đạt bỉ ngạn yếu trạch và Đại thừa khai tâm hiển tính đốn ngộ chân tông luận... đều là những tư liệu thuộc hệ thống Thiền Bắc tông. [X. Thiền tư tưởng sử nghiên cứu2].
sư tượng
(師匠) Thầy thợ. Bậc sư trưởng dạy dỗ đệ tử thành tựu giới, định, tuệ, như người thợ giỏi làm thành các đồ hữu dụng, cho nên ví dụ sư trưởng như người thợ (tượng). Kinh Đại Bảo Tích quyển112 (Đại 11, 638 trung) nói: Thành tựu được vô lượng nghiệp phúc đức, thiền định, khéo điều hòa tâm thường trong trạng thái vắng lặng, đó là sư tượng. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 40 cũng nói (Đại 23, 845 hạ): Các ông nên tìm bậc sư tượng tốt nhất.
sư tổ
The teacher of one's teacher. Patriarch.
; Thầy của thầy ai—The teacher of one's teacher.
; (師祖) I. Sư Tổ. Cũng gọi Sư ông. Chỉ cho sư phụ của thầy mình (tức ông nội của thế tục). Thiền lâm bảo huấn quyển 1 (Đại 48, 1019 thượng) ghi: Ngài Diễn tổ nói: (...) Người nắm giữ công việc trong sơn môn, phải hiểu biết nhân quả, như sư ông giúp sư tổ Từ Minh vậy!. II. Sư Tổ (?-?). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, thuộc hệ thống ngài Nam nhạc, là đệ tử nối pháp của ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện. Sau, sư trụ ở chùa Vân tế tại Nam Sơn. [X.Cảnh đức truyền đăng lục Q.10; Ngũ đăng hội nguyên Q.4].
sư tử
Simha (S). A lion. Buddha, likened to the lion, the king of animals, in respect of his fearlessness.
; Simha (skt). 1) Sư tử là vua của loài thú: Loài sư tử trong các loài 4 chân, nó không sợ loài nào, mà ngược lại có khả năng hàng phục tất cả các loài—A lion, the king of animals. 2) Đức Phật cũng giống như loài sư tử vì đức vô úy của Ngài: The Buddha, likened to the lion, king of animals, in respect of his fearlessness.
; (師子) I. Sư Tử. Phạn: Siôha. Pàli: Sìha. Sư tử là chúa của trăm loài thú, cho nên trong các kinh, luận nó thường được dùng để ví dụ cho đức vô úy và tính vĩ đại của đức Phật. Lại như tòa ngồi của Phật gọi là tòa Sư tử, Phật nói pháp gọi là Sư tử hống. II. Sư Tử (?-259). Phạn, Pàli: Siôha. Cũng gọi Sư tử Tỳ khưu, Sư tử bồ đề. Vị Tổ thứ 24 trong 28 vị Tổ truyền thừa của hệ phổ Thiền tông Ấn Độ. Ngài là người Trung Ấn Độ, xuất thân từ dòng Bà la môn. Sau khi được Tổ Hạc lặc na truyền pháp cho, ngài đến nước Kế tân, giáo hóa các vị Ba lợi ca, Đạt ma đạt..., đồng thời, truyền pháp cho Bà xá tư đa và sai vị này qua Nam Thiên trúc giáo hóa, còn ngài một mình ở lại nước Kế tân. Bấy giờ gặp lúc nhà vua xứ ấy bách hại Phật giáo, ngài bị ác vương giết chết vào năm 259. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Bảo lâm truyện Q.5].
sư tử bồ tát
Xem Đạo sư Bồ tát.
sư tử bồ đề
Shishibodai (J)Tên một vị sư.
Sư Tử Bồ-đề
獅子菩提; S: siṃhabodhi;|Tổ thứ 24 của Thiền tông Ấn Ðộ.
sư tử du hí tam muội
(師子游戲三昧) Phạn: Siôha-vikrìđita-samàdhi. Một trong 8 loại tam muội. Như sư tử vờn bắt hươu nai, tự tại đùa giỡn, đức Phật cũng vàoTam muội này, xoay chuyển cõi đất, làm cho đại địa rúng động, thế nên gọi là Sư tử du hí tam muội. Sư tử một mình đứng giữa trăm loài thú mà không sợ, đức Phật làbậcsư tử trong loài người, hàng phục các ngoại đạo mà không khiếp sợ. Ngài nương vào sức Tam muội này làm cho hết thảy chúng sinh trong đường ác địa ngục đều được giải thoát mà sinh lên cõi trời. [X. phẩm Tựa kinh Đại phẩm bát nhã Q.1, 5; luận Đại trí độ Q.8, 47].
sư tử du hý tam muội
Siṃha-vikridita-Samādhi (S).
; The joyous samàdhi which is likened to the play of the lion with his prey. When a Buddha enters this degree of samàdhi he causes the earth to tremble, and the purgatories to give up their inmates.
; Sư Tử Du Hý Tam Muội được ví với sự vui thú tự tại của sư tử giởn mồi làm chấn động các loài thú. Khi Đức Phật nhập vào Tam Muội nầy thì cả địa cầu chấn động, hào quang chiếu khắp các chúng sanh trong cõi địa ngục khiến họ được giải thoát mà sanh về cõi nhân Thiên—The joyous samadhi which is likened to the play of the lion with his prey. When the Buddha enters this degree of samadhi he causes the earth to tremble, and the purgatories to give up their unmates.
sư tử giác
Buddha-siṃha (S)Tên một vị sư.
; Buddhasimha (S)
; (師子覺) Phạn: Buddhasiôha. Hán âm: Phật đà tăng ha. Cao tăng Ấn Độ, đệ tử của bồ tát Vô trước, thông suốt mật hạnh, nổi tiếng ở đời. Ngài có soạn chú sớ bộ Đại thừa A tì đạt ma tạp tập luận của bồ tát Vô trước. Theo điều A du đà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 5 thì cả 3 ngài Sư tử giác, Vô trước và Thế thân từng nói với nhau (Đại 51, 896 hạ): Chúng ta tu hành mục đích mong được hầu cận đức Từ thị (Di lặc), nếu ai xả bỏ thân này trước, được toại nguyện xưa, thì nên báo tin cho nhau biết có được sinh về Đâu suất hay không? Về sau, ngài Sư tử giác tịch trước, nhưng đã 3 năm mà vẫn chưa thấy ngài về báo tin. Rồi tiếp theo,bồ tát Thế thân cũng tịch, nhưng 6 tháng đã trôi qua mà vẫn không thấy tin tức gì. Bấy giờ, các phái ngoại đạo đều chê cười họ, cho rằng các ngài Sư tử giác và Thế thân đã trôi lăn trong đường ác rồi, cho nên không linh hiển. Sau, vào lúc đầu đêm, bồ tát Vô trước đang dạy đệ tử phương pháp thiền định, thì cómột người cõi trời từ hư không đi xuống, bảo ngài Vô trước: Từ khi tôi bỏ thân mệnh được thác sinh từ hoa sen ra và ở trong chúng của đức Từ thị trên cõi trời Đổ sử đa, (...) Tôi vừa đi quanhđược1 vòng,liền trở lại đây báo tin cho ngài biết. Lại nói thêm: Khi tôi đi quanh thì thấy Sư tử giác ở trong số người bên ngoài đang tham đắm dục lạc, không còn rảnh rỗi để nhìn nhau, thì làm sao có thể trở về báo tin?.Cứ đó mà suy ra thì biết ngài Sư tử giác dù học vấn uyên bác nhưng chưa được hưởng ngôi cao. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.4].
sư tử giác vương
Siṃhahanu (S)Em của vua Tịnh Phạn.
sư tử giáp
Siṃhasannaha (S)Tổ tiên đời thứ ba cũa dòng họ Thích Ca.
sư tử giáp vương
Simhahànu (S). Great father of the Buddha.
; Simhahanu (skt)—Ông nội của Đức Phật Thích Ca, vị chúa thành Ca Tỳ La Vệ, cha của Tịnh Phạn Vương, Hộc Phạn Vương…,—The paternal grandfather of sakyamuni, a king of Kapilavastu, father of Suddhodana, Suklodana, Dronodana, and Amrtodana.
; (師子頰王) Sư tử giáp, Phạn: Siôhahanu. Pàli: Sìha-hanu. Vua nước Ca tì la vệ, Ấn độ, ông nội Thái tử Tất đạt đa. Vua Sư tử giáp có 4 người con là Tịnh phạn, Bạch phạn, Hộc phạn và Cam lộ phạn. Vua Tịnh phạn là con lớn của vua Sư tử giáp và là thân phụ của Phật Thích Ca Mâu Ni. Nhưng, theo chương 3 trong Đảo sử thì vua Sư Tử Giáp có 5 người con. [X. kinh Khởi thế Q.10; luật Ngũ phần Q.15; luận Đại trí độ Q.3; luận Chương sở tri Q.thượng].
sư tử hiền
Haribhadrā (S)Tên một vị sư.
; (師子賢) Phạn: Haribhadra. Cao tăng Ấn độ, sống vào giữa thế kỉ thứ VIII, xuất thân từ giai cấp Sát đế lợi Sư xuất gia vào đời vua Đức ngõa ba lạp (Phạn: Devapàla), học rộng cả nội điển và ngoại điển, đặc biệt tinh thông Bát nhã. Sư từng theo ngài Duy lô tả nẵng phạ đa lạp (Phạn: Vairocanabhadra) học tập pháp sám hối của đức Di lặc. Một hôm, sư bỗng nằm mộng thấy 1 vị tăng khuyên sư đến xứ Ca sa lộ ba nạp (Phạn: Khasarpaịa); sau khi tỉnh dậy, sư nhịn ăn trong 3 ngày để suy xét về việc trong giấc mộng. Sau, sư lại mộng thấy mình ở trong chùa Áo đan tháp phổ lợi (Phạn: Odantapuri), lúc ấy có vị thần, chỉ hiện nửa thân phía trên, đứng trong áng mây, cúi mình lễ bái sư, sư hỏi lí do vì sao lễ bái, vị thần nói với sư là mình đang lễ bái đức Di lặc giải nói 8 nghìn bài tụng Bát Nhã (Phạn: Awỉsàhasrikà). Không bao lâu, sư mộng thấy đức Di Lặc, toàn thân màu vàng ròng, trên đầu có Chi đề (tháp không có xá lợi), tay kết ấn Thuyết pháp, sư đính lễ thưa hỏi: Trong đa số các sách chú giải bộ luận Hiện quán trang nghiêm (Phạn: Abhisamayàlaôkara) do đức Di Lặc trứ tác thì nên lấy bản nào làm tiêu chuẩn? Đức Di Lặc liền bảo: Đợi sau khi ông đã lãnh hội toàn bộ các sách chú giải ấy, rồi từ trong đó, ông lại viết ra bộ sách chú giải khác. Do nhân duyên này nên sau khi tỉnh mộng, sư mới ra sức tìm xem và soạn thuật. Danh tiếng sư lúc bấy giờ được vua Mã Hi Ba Lạp (Phạn: Mahìpàla) trọng vọng, nhà vua triệu thỉnh sư đến đô thành để chuyên việc trứ tác. Sư soạn rất nhiều chú sớ, nổi tiếng hơn cả thì có các bộ: - Vimuktasena chú. -Paĩcaviôzàhasrikà-prajĩà pàramità chú (chú thích 25.000 bài tụng Bát nhã) -Awỉasàhasrikà-prajĩàpàramitàvyàkhyà, Abhisamayàlaôkàsàloka (Hiệnquán trang nghiêm minh chú thích 8 nghìn bài tụng Bát nhã). - Bhagavad-ratnaguịasaĩcaya-gàthà nàmapaĩjika (Bạc già phạm công đức bảo tập tụng nam ngữ thích). - Vibhakti-karikà (Chuyển thanh tụng)... Các tác phẩm trên hiện còn trong Đan châu nhĩ của Đại tạng kinh Tây tạng. [X. Pag Sam Jon Zang by Zrì Sarat Chandra Das; Geschichte des Buddhismus in Indien by F. A. Schiefner; History of Buddhism by Buston, by E. Obermiller].
sư tử hương bồ tát
(師子香菩薩) Sư tử hương, Phạn: Siôha-gandha. Tên của đức Phật A di đà (con trai thứ 7 của vuaVô tránh niệm) khi Ngài tu hành đạo Bồ tát ở đời quá khứ. Vị Bồ tát này và Bồ tát Quán Thế Âm đã cùng phát nguyện dưới tòa đức Bảo tạng Như Lai mà được thụ kí thành Phật. Kinh Bi Hoa quyển 4 (Đại 3, 191 trung) nói: Những điều ông nguyện cầu đã được thành tựu, từ trên trời, các loại hương vi diệu đã được rắc xuống và có vô số chúng sinh cung kính chắp tay phát tâm Vô thượng chính đẳng chánh giác, bởi thế nên tên ông là Sư Tử Hương. Kinh trên còn ghi: Bồ tát Sư Tử Hương phát 40 điều nguyện, trong đó, ý nghĩa của điều nguyện thứ 38 gần giống với ý nghĩa của các điều nguyện 17 và 18 trong kinh Vô lượng thọ. [X. kinh Đại thừa bi phân đà lợi Q.3; kinh Văn Thù Sư Lợi Phật độ nghiêm tịnh Q.thượng, hạ].
sư tử hống
Khi Phật thuyết pháp, bọn ma nhiếp phục, ý dụ cho khi sư tử rống thì bá thú đều phục.
; Simhanàda (S). The lion's roar, a term designating authoritative or powerful preaching. As the lion's roar makes all the animals tremble, so Buddha's preaching overthrows all other religions, subdues devils, conquers heretics, and arrests the misery of life.
; Khi Phật thuyết pháp, bọn ma khiếp phục, ý dụ cho sư tử rống thì bách thú đều phục vậy.
; Simhanada (skt). (A) Đức Phật trong đại chúng nói điều quyết định mà không sợ hãi—The lion's roar, a term designating authoritative or powerful preaching. (B) Sư Tử Hống có bốn tác dụng—A lion's roar has four functions: 1) Làm cho cân não của các giống thú tê liệt: A lion'' roar makes all animals tremble. 2) Hàng phục loài voi: A lion's roar subdues elephants. 3) Làm cho chim sa: A lion's roar arrests birds in their flight. 4) Làm cho cá lặn: A lion's roar makes fishes sunk deeply in the water. (C) Tiếng Phật và Bồ Tát thuyết pháp cũng có bốn tác dụng—Buddha's or Bodhisattva's preaching also has four functions: 1) Đánh đổ mọi giáo thuyết khác: Overthrows all other religions or religious theories. 2) Hàng phục thiên ma: Subdues devils. 3) Đánh bạt tà đạo: Conquers heretics. 4) Thâu phục và đoạn diệt mọi phiền não: Arrest the misery of life.
; (師子吼) Phạn: Siôhanàda. Tiếng rống (kêu) của sư tử. Đức Phật dùng âm thanh vô úy để thuyết pháp như tiếng rống của sư tử. Sư tử là vua của trăm loài thú, đức Phật cũng là bậc chí tôn trong loài người, gọi là Nhân trung sư tử, cho nên tiếng thuyết pháp của Phật được ví với tiếng rống của sư tử. Khi đức Phật thuyết pháp, các Bồ tát khởi tâm dũng mãnh cầu đạobồ đề, do đó màngoại đạovà ác masợ hãi; cũng như khi sư tử cất tiếngkêurống thì những con sư tử nhỏ cũng tăng thêm uy lực, khiến trăm thú sợ hãi, nép phục. Về ngữ nghĩa của nhóm từ Sư tử hống thì Thắng nam bảo quật quyển thượng, phần đầu, nêu ra 3 ý: 1. Như thuyết tu hành: Lời nói phải đi đôi với việc tu hành, chứ không nói suông, hoặc nói 1 đường làm1nẻo. 2. Vô úy thuyết: Phu nhân Thắng man tự đứng trước đức Phật, dùng biện tài tuyên dương diệu pháp giữa đại chúng mà không sợ sệt. Trong đây lại chia làm 2: a) Không sợ người: Có khả năng hơn người nên lên pháp tòa hoằng đạo 1 cách tự tin vững chắc. b) Làm người sợ: Khiến cho ngoại đạo kinh thẹn, thiên ma khiếp đảm. 3. Quyết định thuyết: Nương vào lí tột cùng mà nói pháp cứu cánh, trên hoằng đại đạo, dưới lợi quần sinh, dẹp tà, hiển chính. Ngoài ra,Duy ma cật sở thuyết kinh chú quyển 1, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18, luận Đại trí độ quyển 25... cũng đều nêu ra nhiều cách giải thích về từ ngữ Sư tử hống. Trong đó, luận Đại trí độ quyển 25 có nêu ra sự sai khác giữa Phật sư tử hống và Sư tử hống. Tức Sư tử hống hay làm cho các loài thú kinh sợ, giống như sự đau khổ lúc hấp hối sắp chết, còn Phật sư tử hốngthìchẳng những không sợ như sợ chết mà còn làm cho người nghe sinh tâm vui mừng. Lại kinh Hoa Nghiêm quyển 57 (bản dịch mới) nêu ra 10 thứ Sư tử hống và kinh Niết bàn quyển 27 (bản Bắc) cũng nêu ra 11 việc liên quan đến Sư tử hống. Đời sau thường trích dẫn từ ngữ Sư tử hống trong kinh điển Phật để hình dung sự vâng giữ chính nghĩa, bài trừ dị đoan, giữa đám đông lớn tiếng cổ vũ lòng khảng khái. Hoặc dùng để ví dụ tiếng hung ác của người vợ dữ tợn thốt ra khiến người nghe run sợ; như thơ của Tô đông pha đời Tống, chế diễu Trần Quí thường bị vợ là Liễu thị hay ghen: Hốt văn Hà đông sư tử hống Trụ trượng lạc thủ tâm mang mang. (Bỗng nghe sư tử Hà đông rống. Tay run gậy rớt lòng sợ hãi). [X. kinh Sư tử hống trong Trung a hàm Q.26; kinh A Nâu Di trong Trường A Hàm Q.11; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; chương Nhất thừa kinh Thắng Man].
sư tử hống bồ tát
Siṃhanadanadin (S)Tên một vị Bồ tát.
sư tử hống kinh
Xem Thắng Man kinh.
sư tử khải
Xem Ha ly bạt ma.
; Harivarman (skt)—Cha đẻ của thuyết Thành Thực Luận—To whom the Satyasiddhi sastra is ascribed.
sư tử ngoạ pháp
(師子臥法) Cách nằm của Sư tử. Đồng nghĩa: Cát tường ngọa, Cát tường thụy.Phép nằm của Tỳ khưu giống như cách nằm của sư tử, tức là nằm nghiêng hông bên phải và 2 chân chồng lên nhau. Kinh Thị Giả trong Trung A Hàm quyển 8 (Đại 1, 473 hạ) nói: A nan! Ông nên nằm như cách nằm của sư tử. (...) Sư tử là chúa các loại thú, ban ngày đi kiếm ăn, ăn rồi vào hang. Lúc sư tử muốn ngủ thì nằm hông bên phải, chân trước chân sau đều chồng lên nhau,đuôi duỗi thẳng ra phía sau.[X. Bách trượng qui thằng tụng trong Thiền uyển thanh qui Q.10].
sư tử nhũ
Lion's milk, like bodhi-enlightenment, which is able to annihilate countless ages of the karma of affliction.
; (師子乳) Sữa của Sư tử. Ví dụ tâm bồ đề. Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm quyển 78 (Đại 10, 432 hạ) nói: Ví như người đem các loài sữa của bò, dê... chứa đầy cả biển lớn, nhưng chỉ cần nhỏ vào đó 1 giọt sữa sư tử rơi thẳng qua mà không bị ngăn ngại. Bậc Đại bồ tát cũng lại như thế, đem sữa tâm bồ đề của Như lai Sư tử bỏ vào giữa biển lớn sữa nghiệp phiền não từ vô lượng kiếp thì sữa nghiệp kia đều tan diệt hết, sữa tâm bồ đề thẳng suốt qua mà không bị ngăn ngại.
sư tử nhẫn
Kṣāntisiṃha (S)Tên một vị sư.
sư tử nhủ
Sữa sư tử, giống như sự giác ngộ bồ đề, có khả năng triệt tiêu nghiệp của vạn ức kiếp, chỉ cần một giọt sữa sư tử có thể làm mất hết mùi vị của tất cả các loại sữa khác—Lion's milk, like bodhi-enlightenment, which is able to annihilate countless ages of the karma of affliction, just as one drop of lion's milk can disintegrate an ocean of ordinary milk.
sư tử pháp môn
(師子法門) Chỉ cho pháp môn của chư Phật Bồ tát giáo hóa chúng sinh. Phẩm thứ 11 trong kinh Niết bàn (bản Bắc) có liệt kê 11 việc liên quan đến Sư tử hống, rồi phối hợp 11 việc ấy với các pháp môn của Bồ tát. Luận Đại Trí Độ, khi nói về hình tướng uy thế của sư tử chúa, cũng lần lượt đem phối với các công đức của chư Phật. Còn kinh Bảo Vũ quyển 5 thì nêu ra 10 thứ thiện pháp của Bồ tát, rồi lần lượt đem ra ví dụ với Sư tử vương.
sư tử phát
Harikeśa (S)Yết lí li xáTên một vị sư. Tên một loại quỷ Dạ xoa.
sư tử phạt y tư na phạt phái
Śrīvaisnava (S)Tên một tông phái.
sư tử phấn chấn tam muội
Siṃha-Vijrmbhit-Samādhi (S).
sư tử phấn tấn
The lion aroused to anger, i.e. the Buddha's power of arousing awe.
; Khí thế của con sư tử dũng mãnh được dùng để ví với sự uy mãnh của chư Phật—The lion aroused to anger, i.e. the Buddha's power of arousing awe.
; (師子奮迅) Sư tử chồm lên nhanh chóng. Khi sư tử lấy sức chồm lên thì các căn của nó đều giãn ra và mở rộng, lông trên mình đều dựng đứng, uy thế mạnh mẽ nhanh nhẹn, cất tiếng gầm thét thìcác loài thú khác đều hoảng sợ và chạy trốn, làm cho uy thế củanhữngsư tử con cũng tăng thêm. Bởi vậy,trong các kinh thường dùng Sư tử phấn tấn để dụ cho sức uy thần lớn của Phật. [X. phẩm Dũng xuất trong kinh Pháp Hoa; phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm Q.45 (bản dịch cũ); Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí Q.18]. (xt. Sư Tử Phấn Tấn Tam Muội).
Sư tử phấn tấn Bồ-tát sở vấn kinh 師子奮迅菩薩所問經
[ja] シシフンシンボサツショモンキョウ Shishi funshin bosatsu shomon kyō ||| The Shizi fenxun pusa suowen jing (T 1357.21.875-877); see Huaji tuoluoni shenzhou jing 華積陀羅尼神呪經. => (c: Shizi fenxun pusa suowen jing ); Xem Hoa tích đà-la-ni thần chú kinh Huaji tuoluoni shenzhou jing 華積陀羅尼神呪經).
sư tử phấn tấn tam muội
(師子奮迅三昧) Phạn: Siôha-vijfmbhita-samàdhi. Cũng gọi Sư tử uy tam muội, Sư tử tần thân tam muội. Gọi tắt: Phấn Tấn Tam Muội. Loại thiền định có uy lực lớn, giống như sức mạnh mẽ, nhanh nhẹn của sư tử, cho nên gọi là Sư Tử Phấn Tấn Tam Muội. Theo Hoa Nghiêm kinh pháp giới thứ đệ quyển trung thì Tam muội này có thể chia làm 2 loại: 1. Dứt trừ các hoặc vô tri nhỏ nhiệm. 2. Xuất nhậpTam muội cực kì nhanh chóng. Loại Tam muội thứ 2 này lại được chia làm 2 thứ: a) Nhập thiền phấn tấn tam muội: Xa lìa các pháp bất thiện của cõi Dục mà vào Sơ thiền cõi Sắc, có đầy đủ giác và quán, rồi cứ thế lần lượt tiến vào các Tam muội như: Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Không xứ, Thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ và, cuối cùng, vào Diệt thụ tưởng định. b) Xuất thiền phấn tấn tam muội: Thứ tự xuất định của Tam muội này trái lại với thứ tự của Tam muội nhập định trên, nghĩa là bắt đầu ra từ định Diệt thụ tưởng, rồi vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, lại ra khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ mà tiến vào Vô sở hữu xứ, cứ như thế lần lượt ra và vào đến Thức xứ, Không xứ, Tứ thiền, Tam thiền, Nhị thiền, Sơ thiền cho đến Tam muội ra khỏi tâm tán loạn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.18; kinh Hoa nghiêm Q.44 (bản dịch cũ); phẩm Thập định trong kinh Hoa nghiêm Q.40 (bản dịch mới); kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần đầu].
sư tử phật
Siṃha-Buddha (S)Tên một vị Phật thời vị lai.
sư tử quang
Siṃha-rasmi (S), Siṃhaprabha (S)Tên một vị sư.
; Simharasmi (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Sư Tử Quang là một người chống đối trường phái Du Già, sống vào khoảng năm 630 sau Tây Lịch—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, Simharasmi was a learned opponent of the Ygacara school who lived about 630 A.D.
; (師子光) Phạn: Siôha-razmi. Tên vị học tăng ở chùa Na Lan Đà, Trung Ấn Độ vào thời ngài Huyền Trang đến Ấn Độ cầu pháp. Theo Đại Từ Ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4, lúc ngài Huyền Trang ở chùa Na Lan Đà vâng lời Luận sư Giới hiền giảng về Duy thức. Trước đó, Đại đức Sư tử quang đã giảng chođại chúng nghe về Trung luận và Bách luận. Đại đức dựa vào nghĩa của luận Trung quán để bài xích học thuyết Du già. Ngài Huyền Trang thương Đại đức Sư tử quang hẹp lượng nên nhiều lần gạn hỏi, ngài lại trình lên Luận sư Giới hiền và đại chúng 300 bài tụng Tông luận do ngài soạn. Mọi người đều khen hay và cùng tuyên hành. Đại đức Sư tử quang tự cảm thấy hổ thẹn, bèn đến chùa Đại bồ đề, mời người bạn đồng học của mình ở Đông Ấn Độ là ngài Chiên Đà La Tăng Ha đến tranh luận với ngài Huyền Trang, mong rửa sạch nỗi nhục trước. Nhưng, khi ngài Chiên Đà La Tăng Ha đến chùa Na Lan Đà, thấy uy nghi của ngài Huyền Trang đâm ra sợ, nên im lặng không dám hé răng mở miệng, do đó, tiếng tăm ngài Huyền Trang càng lừng lẫy.
sư tử quốc
Simhala (S). Sri-Lanka.
; Simhala (skt)—Tích Lan, một vương quốc nổi tiếng được thành lập bởi một thương gia tên Sư Tử, trước là thương gia, sau hàng phục ma quỷ mà lập quốc và làm vua tại đảo quốc nầy—Ceylon, the kingdom reputed to be founded by Simha, first an Indian merchant, later king of the country, who overcame the demons of Ceylon and conquered the island.
sư tử quốc đảo
Xem Lăng già đảo.
sư tử sàng
Simhasana (skt)—See Sư Tử Tòa.
Sư tử sơn 獅子山
[ja] シシザン Shishi zan ||| The Saja san school, one of the original "nine mountain 九山" schools of Korea, established during the Silla period by Toyun 道允. => e: Saja san school; Một trong Cửu sơn, chín tông phái của Phật giaod Cao Ly, được Đạo Duẫn (k: Toyun 道允) thành lập trong thời kỳ Tân La (Silla).
sư tử thân trung trùng
Trùng trong thân sư tử. Không một loài nào có thể ăn thây con sư tử, mà chỉ có những con trùng bên trong mới ăn chính nó; cũng như Phật pháp, không một giáo pháp nào có thể tiêu diệt được, mà chỉ những ác Tăng mới có khả năng làm hại giáo pháp mà thôi (trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật bảo A Nan: “Này ông A Nan, ví như con sư tử mệnh tuyệt thân chết, tất cả chúng sanh không ai dám ăn thịt con sư tử ấy, mà tự thân nó sinh ra dòi bọ để ăn thịt tự nó. Này ông A Nan, Phật pháp của ta không có cái gì khác có thể hại được, chỉ có bọn ác Tỳ Kheo trong đạo pháp của ta mới có thể phá hoại mà thôi.”)—Just as no animal eats a dead lion, but it is destroyed by worms produced within itself, so no outside force can destroy Buddhism, only evil monks within it can destroy it.
; (師子身中蟲) Gọi tắt: Sư trùng. Trùng trong thân sư tử trở lại ăn thịt sư tử; ví dụ hạng tỉ khưu xấu ác vào trong cửa Phật, trở lại phá hoại Phật pháp. Theo kinh Liên hoa diện quyển thượng thì con sư tử tuy đã chết, nhưng trăm thú vẫn sợ uy của nó nên không dám đến ăn thịt, chỉ có những con trùng ở ngay trong thân sư tử trở lại ăn thịt sư tử mà thôi. Phật pháp cũng thế, ngoại đạo thiên ma không phá hoại được, chỉ do các Tỳ khưu xấu ác ở trong Phật pháp, như những trùng độc, trở lại phá hoại Phật pháp. [X. phẩm Chúc lụy trong kinh Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Q.hạ; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần đầu].
sư tử toà
(師子座) Phạn: Siôhàsana. Cũng gọi Sư Tử Sàng, Nghê tòa. Vốn chỉ cho tòa ngồi của đức Thích Ca Mâu Ni. Vì đức Phật là sư tử trong loài người, nên nơi Phật ngồi (giường, chỗ... ) đều gọi làSư tử tòa. Lại vì Phật ngồi trên tòa này nói pháp Vô vi sư tử hống, nên cũng gọi là Sư tử tòa.Về sau, đài tòa của tượng Phật, Bồ tát trong các chùa viện và tòa ngồi thuyết pháp của các bậc cao tăng... đều gọi chung là Sư tử tòa. Tượng bồ tát Văn Thù cỡi Sư tử cũng mang ý nghĩa như trên.[X. kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; luận Đại trí độ Q.7, 8; Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].
sư tử trùng thực sư tử nhục
Just as no animal eats a dead lion, but it is destroyed by worms produced within itself, so no outside force can destroy Buddhism, only evil monks within it can destroy it.
sư tử trụ
Harivarman (skt)—See Sư Tử Khải.
sư tử trụ, sư tử khải
Harivarman (S)
sư tử tòa
Siṃha-sana (S).
; Simhàsana (S). A lion throne, or couch. A Buddha throne or seat; wherever the Buddha sits, even the bare ground; a royal throne.
; Simhasana (skt)—Theo Trí Độ Luận, Phật là sư tử trong loài người. Bất kỳ chỗ nào Phật ngồi, dù đó là góc phố, hay nơi trống trải, chỗ đó được gọi là “Tòa Sư Tử.”—According to the Maha-Prajnaparamita sastra, a lion throne, or couch. A Buddha throne, or seat; wherever the Buddha sits, even the corners of the town, the bare ground; a royal throne.
sư tử tôn giả
Aryasimha (S). The 24th patriarch.
; Aryasimha or Simha-bhiksu (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (24).
sư tử tướng
Simdhadhvaja (S). "Lion-flag", a Buddha south-east of our universe, fourth son of Mahàbhijna.
; Simhadhvaja (skt)—Tên vị Phật ở về phía đông nam của vũ trụ, con trai thứ tư của Mahabhijna—A Buddha south-east of our universe, fourth son of Mahabhijna.
sư tử tỳ kheo
Siṃha-bhiksu (S)Sư tử tôn giảTên vị tổ sư đời thứ 24 trong 28 vị Tổ sư Phật giáo Ấn độ.
; Aryasimha or Simha-bhiksu (skt)—See Sư Tử Tôn Giả.
sư tử vô úy quan âm
Xem Mã đầu quan âm Bồ tát.
sư tử vương
The lion king, Buddha.
; Ví chư Phật và chư Bồ Tát là vua trong loài (vì đức vô úy)—The lion king Buddhas or Bodhisattvas for their fearlessness.
; (師子王) Cũng gọi Sư tử thú vương. Vua Sư Tử. Sự thuyết pháp của đức Như Lai có năng lực diệt trừ tất cả hí luận, đối với hết thảy ngoại đạo tà kiến không hề sợ sệt,giống như sư tử chúa kêu rống thì trăm loài thú đều phải nép sợ, vì thế ví dụ như Sư tử vương. [X. kinh Nhất A Hàm Q.22; kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ]. (xt. SưTử Hống).
sư tử âm
Simhaghosa (S). "Lion's voice", a Buddha south-east of our universe, third son of Mahàbhijna.
; Simhaghosa (skt)—Sư Tử Âm Phật, là vị Phật ở về phía đông nam vũ trụ, con trai thứ ba của Mahabhijna—Lion's voice, a Buddha south-east of our universe, third son of Mahabhijna.
sư tử ý bồ tát
Siṃhamati (S)Tên một vị Bồ tát.
Sư tử 師子
[ja] シシ shishi ||| A synonym of 獅子, meaning "lion." In Buddhism, this term is an epithet of the Buddha, as it refers to his being the greatest among human beings, as the lion is the king of beasts (siṃha). This term is used ubiquitously in such texts as the Śrīmālā-sūtra and and the Nirvana Sutra. => Đồng nghĩa với 獅子, Trong Phật pháp, thuật ngữ nầy là một tên gọi của Đức Phật, vì Ngài là vĩ đại nhất trong loài người, như sư tử là vua của loài thú (s: (s: siṃha). Thuật ngữ nầy được dùng nhiều trong các kinh văn như kinh Thắng Man và kinh Niết-bàn.
Sư tử 獅子
[ja] シシ shishi ||| The lion, a metaphor for the Buddha. In Buddhist texts, this is most commonly written as 師子. => Dụ cho Đức Phật. Trong kinh Phật, từ nầy thường được viết là 師子.
sư vũ
(師雨) Đồng nghĩa: Pháp Lạp, Hạ Lạp. Sư là pháp sư; Vũ chỉ cho mùa mưa, tức mùa an cư kết hạ. Đức Phật chế định người xuất gia hàng năm vào mùa mưa phải kết hạ an cư, vì thế từ ngữ Sư vũ được sử dụng để tính số năm xuất gia của hàng tăng lữ. Huyền ứng âm nghĩa quyển 25 ghi: Sư vũ nghĩa là mùa mưa an cư, nói sư được bao nhiêu tuổi hạ.
sư đàn
Tăng và Đàn hay Tăng và tín thí—Teacher and donor, or monk and patron.
; (師檀) Từ ngữ gọi chung đàn việt (thí chủ) và sư tăng. Luận Thuyết pháp minh nhãn nói: Một ngày sư đàn, trăm kiếp kết duyên.
sư đạo
The teacher's duty.
sư đệ
Teacher and student, master and pupil; junior fellow-student.
; 1) Teacher and student. 2) Younger disciple.
; (師弟) Chỉ cho sự quan hệ giữa sư phụ và đệ tử trong Phật giáo. Năm anh em Kiều trần như là những người đầu tiên nghe đức Phật thuyết pháp và trở thành đệ tử của Ngài, đây là quan hệ thầy trò sớm nhất trong Phật giáo.Về sau, hàng đệ tử của Phật tăng lên hơn nghìn người; trong tình hình ấy, đức Phật là bậc thầy đã đạt đạo lí mà con người chưa đạt, đã biết đạo lí mà con người không biết và đã nói đạo lí mà con người chưa nói. Còn đệ tử là những người nương theo chính đạo của Phật dạy và đi sau Ngài, được Ngài trao cho đạo lí giải thoát thực tiễn. Trong hàng đệ tử, có những vị lắng nghe âm thanh của đức Phật nói pháp mà được vào Thánh đạo, gọi là Thanh văn. Trong phần 5 của Luật tạng đại phẩm tiếng Pàli và trong luật Tứ phần quyển 34 Hán dịch, đều có nói rõ về nhiệm vụ mà thầy là Hòa thượng (Pàli: Upajjhàya) hoặc A xà lê (Phạn: Àcarya) và đệ tử (Pàli: Saddhivihàrika) phải thực hành. Trong Trường a hàm quyển 11 cũng nói đệ tử phải đem 5 việc để kính thờ thầy. Khi đức Thích tôn còn tại thế, Ngài là thầy của toàn thể giáo đoàn Phật giáo, sau khi Ngài nhập diệt thì hàng đệ tử lấy giáo pháp hoặc giới luật làm thầy, do các bậc Trưởng lão nối tiếp truyền thừa, vì thế mà Phật giáo chia ra nhiều học phái và giáo phái. Rồi các vị Trưởng lão của các phái lại tuần tự trao truyền cho đồ đệ, như vậy mới giữ gìn được truyền thống đời đời nối tiếp nhau. Riêng trong Mật giáo, không có sự trao truyền công khai, nên gọi là Bí truyền. Còn trong Thiền tông thì chỉ trao truyền giữa 1 thầy 1 đệ tử, vì thế, những người chưa tiếp nhận sự trao truyền ấy thì không được thừa nhận là đệ tử chính thức.(xt. Tương Thừa, Sư Tư).
sư đồ
Teacher and student.
sư-tử bồ đề
Siṃhabodhi (S).
sưï
(A) Artha (skt). 1) Nhật Ca Tha: Sự việc—Affair—Matter—Thing. 2) Biến Cố: Event. 3) Hành Động: Action. 4) Thực Hành: Practice. 5) “Sự” hay các pháp hữu vi do nhân duyên sanh ra, đối lại với “Lý” hay các pháp vô vi xa lìa khỏi mọi nhân duyên sanh ra: Phenomena in contrast with Noumena. 6) “Thực hành” đối lại với “Lý thuyết”: “Practice” or the thing, affair, matter, in contrast with “Theory” or the underlying principle. (B) Vastu (skt): 1) Vatsu nghĩa là một đối tượng đặc thù được cái tâm phân biệt, nhưng nó cũng có thể chỉ thực tính tối hậu được quan niệm như là một đối tượng của trực giác siêu việt: Vatsu means a particular object discriminated by the mind, but it may also designate ultimate reality conceived as an object of transcendental intuition. 2) Sự có nghĩa là sự việc, là cớ sự xãy ra, hay là một vật hiện hữu, nhưng nghĩa thông thường vẫn là “sự việc.” Phật tử không tin tưởng vào thực tại của những hiện hữu cá nhân vì kinh nghiệm cho biết không có gì tồn tại được dù chỉ trong chốc lát. Tất cả đều biến đổi, lần hồi, chầm chậm, nên lâu ngày chầy tháng ta mới nhận ra. Cảm giác của ta gắn liền với ý niệm thời gian và đo bằng không gian, cho nên mọi sự việc tiếp nối diễn ra trong thời gian đều chuyển thành một chuỗi thực tại cá biệt trong không gian—Vatsu means “a matter,” “an event,” or “a happening,” or “an existing thing.” However, its general meaning is “an event.” Buddhists do not believe in the reality of an individual existence, for there is nothing in our world of experience that keeps its identity even for a moment; it is subject to constant change. The changes are, however, imperceptively gradual as far as our human senses are concerned, and are not noticed until they pass through certain stages of modification. Human sensibility is bound up with the notion of time-divisions; it translates time into space; a succession of events is converted into a spatial system of individual realities. 3) “Sự” theo nghĩa thông thường là sự việc, là cơ sự, nhưng theo Phật giáo, “sự” có nghĩa là cái cá thể, cái dị biệt, cái cụ thể, cái đơn thể. Sự luôn đối lập với lý và đi đôi với lý thành “sự lý.” Sự thì sai biệt và phân biệt, còn lý thì vô sai biệt và vô phân biệt. Theo nghĩa thông thường trong đạo Phật, lý tức là “không,” và sự tức là “sắc.”: “Sự” ordinarily means “an event,” “a happening,” but according to Buddhist philosophy, “Vastu” means “the individual,” “the particular,” “the concrete,” “the monad.” “Sự” always stands contrasted to “lý.” “Sự” is distinction and discrimination, and “lý” is non-distinction and non-discrimination. In regular Buddhist terminology, “lý” corresponds to Sunyata, Void or Emptiness, while “sự” is form.
sương vệ
(厢衛) Gọi đủ: Giáp môn sương vệ. Cũng gọi Sương Khúc. Chỉ cho chỗ thần hộ vệ ở, canh giữ 2 bên cửa thông trong Mạn đồ la Mật giáo. Đại Nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 6 giải thích Giáp môn sương vệ như sau: Giáp là giữ gìn; Sương là chỗ quanh 2 bên đông tây của cửa; Vệ là hộ vệ. Tức là đặt chỗ hộ vệ 2 bên cửa để phòng ngừa việc ma tà. Ngoài ra, 4 phíacủa 3 lớp mạn đồ la đều có đặt cửa, nhưng chỉ mở 1 cửa phía tây, các cửa còn lại thì dùng dây kim cương giăng ngang. Sương vệ phía nam của cửa thông đặt Ưu a tốn na giữ cửa, phía bắc đặt Tốn na giữ cửa, phía nam của viện thứ 2 đặt Long vương Nan đà, phía bắc đặt Long vương Bạt nan đà, phía nam và phía bắc của viện gần giữa đặt 2 vị thần giữ cửa hướng vào nhau (Bất khả việt và Tương hướng). Mạn đồ la do A Xà Lê Thiện vô úy truyền chỉ đặt 1 cửa ở phương tây, các phương khác không đặt. Sương vệ ở 2 bên cửa thông làm thành hình chữ đột (.. ) hoặc hình chữ á (.. ), mỗi góc đặt cọc kim cương. Tức là lấy 1 phương của Sương vệ mà nói là hình (.. ), đặt 6 cọc, 2 phương hợp lại thì là hình (.. ), cộng chung là 12 cọc. Trong Đại Nhật kinh sớ quyển 6 có nói rộng về phân lượng của số cọc, cửa và sương vệ. Diễn mật sao căn cứ vào đây mà vẽ vị trí của 3 lớp mạn đồ la giáp môn (như hình vẽ), khuyên tròn trong hình vẽ biểu thị vị trí của những cọc kim cương. Trong Mạn Đồ La Thai tạng giới hiện nay, trừ phương đông của viện Ngoại Kim Cương bộ, 3 phươngtây, nam,bắc, mỗi nơi đặt 1 cửa, mỗi cửa đặt Sương vệ canh giữ; viện Thích ca và việnVăn Thù ở phương đông, mỗi viện đặt 1 cửa, ở chính giữa đặt vị Chủ tôn, nhưng chỉ vẽ Điểu cư môn (Phạn: Toraịa) để tượng trưng cho cửa chứ không làm Sương vệ. [X. Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.18; Mạn đồ la chi nghiên cứu (Mai vĩ Tường vân)].
sướng
Satisfied—Content.
sướng mắt
Pleasant to the eye.
sạ dung
(sạ dung ) (?-195) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào cuối đời Đông hán, người Đơn Dương (An huy), tự Vĩ Minh. Khi loạn Hoàng cân nổi lên, ông kêu gọi nhiều người đi theo quan Thứ sử Từ châu là Đào khiêm. Khiêm rất quí trọng và cho ông làm quan coi việc vận chuyển lương thực ở 3 quận Quảng Lăng, Hạ Bì và Bành Thành, đồng thời, làm tướng trấn giữ Hạ Bì. Cứ theo Ngô Chí trong Tam quốc chí quyển 4 thì Sạ dung rất kính tin Phật giáo, ông xây cất 1 ngôi chùa rất lớn, đúc tượng Phật bằng đồng mạ vàng, mặc áo gấm, hàng ngày ông tụng kinh. Mỗi lần Phật đản, ông làm lễ tắm Phật và đem thức ăn cho những người nghèo đói. Dân gian đời Hán xây chùa thờ Phật, làm các việc Phật, tụng kinh lễ bái, bắt đầu từ đó. Lại do việc Sạ dung tụ tập dân chúng đọc tụng kinh Phật mà người ta biết chắc là thời bấy giờ đã có kinh điển Phật giáo được dịch ra chữ Hán. Qua các sinh hoạt tín ngưỡng này, ta cũng có thể thấy được tình hình Phật giáo ở Từ châu vào những năm cuối đời Linh đế và thời Hiến đế (190) nhà Hậu Hán. [X. Phật tổ thống kỉ Q.35; Hậu Hán thư Q.103].
Sạc-va Bắc-sa
S: sarvabhakṣa; »Kẻ háo ăn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ là đệ tử của Sa-ra-ha, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 8, đầu thứ 9.|Ông là thần dân của vua Siṅgha-can-dra nước A-bi-ra (ābhira). Ông tham ăn, có cái bụng to như cái trống, cái gì cũng ăn được cả. Ngày nọ không kiếm ra gì để ăn, ông bị vào trong một hang động ngồi thở dốc. Ðạo sư Sa-ra-ha gặp ông hỏi han. Ông thú nhận nếu không ăn thì bụng như bị lửa đốt, cồn cào chịu không nổi. Sa-ra-ha nói nếu chút đói bụng mà không chịu được thì mai sau thành Ngạ quỷ sẽ như thế nào. Nghe xong, ông toát mồ hôi, cầu xin tu tập để thoát khổ đó. Sa-ra-ha cho ông nhập môn và dạy ông phép tu của »Kẻ lười biếng« (s: bhusuku) Tịch Thiên (s: śāntideva) như sau:|Hãy tưởng tượng ra rằng,|bụng: bầu trời trống rỗng,|lửa: hoả tai kiếp nạn;|mọi hiện tượng trên đời,|là thức ăn thức uống,|và ăn hết vũ trụ.|Ông tinh cần tu tập, ăn mặt trời mặt trăng, nuốt luôn núi Tu-di. Lúc đó loài người bị mất ánh sáng mặt trời mặt trăng, họ kêu gào sợ hãi. Các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) phải đến cầu cứu Sa-ra-ha. Sa-ra-ha dạy tiếp cho ông, hãy quán tưởng những gì nhai nuốt vào bụng là tính Không. Ông lại đạt tri kiến hiện tượng và tính Không là một, lúc đó mặt trời mặt trăng lại hiện, mọi người hò reo. Sau 15 năm, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Vô minh, nhiều mùi vị,|Ðắc đạo, chỉ một thứ.|Ðối với kẻ phàm phu:|còn Niết-bàn, Sinh tử.|Khi đã chứng đắc rồi,|Một thanh tịnh duy nhất.
sạch
Clean—Pure.
sạo sụt
To search for something.
sạt nghiệp
To ruin oneself.
sải
Buddhist nun.
sản tử thiền
(剗子禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho Thiền pháp thấy tất cả đều là không. Sản tử là cái bừa, ý nói một mực phủ nhận sự tồn tại của tất cả sự vật, trong tâm hoàn toàn không có chút nghĩa lí hay các thứ pháp đối lập nào trong thế gian hết. Nhưng cũng vì hiểu các pháp không một cách hời hợt như thế, nên chẳng nhận thức được Phật pháp, không hiểu được yếu chỉ của tông môn. Giống như chỉ biết dùng bừa bừa bỏ hết tất cả sỏi cát, đất đá, bùn lầy chứ không biết lựa chọn đất đai màu mỡ để lại mà dùng. Vả lại, sau khi đã bừa bỏ tất cả, cũng không biết phải xây dựng 1 ngôi nhà nào để ở. Trong Thiền Lâm, từ ngữ Sản tử thiền thường được dùng để chê trách những người tu Thiền mà chủ trương tất cả đều là không một cách hời hợt, thiên lệch.
sảng
To rave (nói sảng).
sảng sốt
To fall into a panic.
sấm
Điềm báo trước—The book of oracles—Prognosticate--Prophecy.
sấm la bán ni
Ksarapaniya (skt). 1) Nước tro: Ash-water. 2) Y áo màu nước tro: Ash-coloured garments.
sấm sét
Zeus.
sấn
(䞋) Phạn: Dakwiịà. Pàli:Dakkhiịà. Gọi đủ: Đạt sấn noa, Đà khí ni. Gồm có 4 nghĩa: 1. Chỉ chung cho sự bố thí thông thường, cũng như Đànthí, Bố thí. 2. Chỉ cho tiền bạc, tài vật tín đồ dùng để bố thí cho chúng tăng. 3. Chỉ cho sự bố thí tiền bạc, tài vật của tín đồ cho chư tăng. 4. Chỉ cho việc chư tăng thuyết pháp sau khi được tín đồ bố thí thức ăn. Thuyết pháp ở đây cũng gọi là Đạt sấn, Đạt sấn thuyết pháp. Về các dụng ngữ thuộc loại bố thí tài vật thì ngoài chữ Sấn nói trên, trong Phật giáo còn có những từ ngữ như: Thượng sấn, hạ sấn, đường sấn, biểu sấn, trọng sấn, cung sấn, đàn sấn, đại sấn, sấn kim, sấn tài, sấn tư, sấn thí, sấn tiền... Trong đó, thượng sấn là tín đồ dâng tiền bạc, tài vật lên; hạ sấn là tín đồ đem tài vật bố thí đặt ở trước tượng chư Phật, Tổ sư; sấn thí là tín đồ bố thí cho chư tăng. Còn đường sấn, biểu sấn, sấn vật, sấn tư, sấn tiền... đều chỉ cho việc tín đồ bố thí tài vật cho chư tăng hoặc chùa viện, hoặc chỉ cho tài vật bố thí, hoặc đặc biệt chỉ cho tiền kinh sám mà tín đồ bố thí cho chư tăng sau khi đã vì họ mà làm xong các Phật sự. Ngoài ra, khi cử hành pháp hội trong Thiền lâm, vị Trụ trì đem tiền tài do tín đồ bố thí đặt trước tượng chư Phật và Tổ sư để cúng dường cũng gọi là Sấn kim, Sấn tiền. Lại trong pháp hội, nếu vị Trụ trì thấy các thí vật dâng cúng chưa được đầy đủ, liền bảo người dâng thêm, thì thí vật dâng thêm được gọi là Thiếp thí. Điều Đạt sấn trong Thiền lâm tượng khí tiên dẫn kinh Tăng nhất a hàm nói: Lúc đó, ngài Ca diếp vâng lời Phật dạy đến nhà người Phạm chí. Khi ngài Ca diếp đến nơi, vợ người Phạm chí thỉnh ngài ngồi và dâng các món ăn thịnh soạn cúng dường ngài. Sau khi thụ thực, ngài Ca diếp bèn nói pháp đạt sấn cho vợ người Phạm chí Bà la môn nghe. [X. kinh Hoa nghiêm Q.44 (bản dịch củ), luật Tứ phần Q.49; luận Tôn bà tu mật Bồ tát sở tập Q.2; Tứ phần luật hành sự sao Q.hạ, phần 3; điều Trung diên trai trong Thiền uyển thanh qui Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.1; môn Tiền tài trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Đạt Sấn).
sấn kim
(嚫金) Cũng gọi Sấn tài, Sấn tiền. Gồm có 3 nghĩa: 1. Chỉ cho tiền bạc, y vật tín đồ dâng cúng Tam bảo. 2. Chỉ cho vàng bạc của tín đồ cúng dường mà vị Trụ trì đặt trước chư Phật và Tổ sư khi có pháp hội. 3. Chỉ cho số tiền tín đồ cúng dường chư tăng sau khi chư tăng đã làm xong các Phật sự cho tín đồ. (xt. Đạt Sấn, Sấn).
sấn thí
(嚫施) Sấn, Phạn: Dakwiịà. Pàli: Dakkhiịà. Hán dịch: Tài thí, Thí tụng. Cũng gọi: Sấn. Sấn thí là từ ghép chung tiếng Phạn và chữ Hán, nghĩa là bố thí. Điều Tôn túc thiên hóa trong Thiền uyển thanh qui quyển thượng (Vạn tục 111, 458 hạ) nói: Vào ngày khởi khám (động quan), bản viện tùy khả năng đặt trai soạn, sấn thí quí ở chỗ bình thường, không nên cầu kì; đến giờ, thỉnh 1 vị tôn túc nâng khám. (xt. Sấn).
sấn vật
(嚫物) Đồng nghĩa: Sấn tư. Chỉ cho vật bố thí, hoặc đặc biệt chỉ cho vật bố thí cho chúng tăng. (xt. Đạt Sấn, Sấn).
sấn y
(襯衣) Cũng gọi Sấn thân y, Sấn thể y. Áo lót mình. Áo này mặc khi lạnh hoặc khi có nhân duyên khác. Theo luật Thập tụng quyển 39, có lần, 1 vị Tỳ khưu không mặc sấn y mà đứng dựa vào bức tranh mới vẽ trên vách, làm cho nó tróc hết màu, đức Phật liền qui định Tỳ khưu không mặc sấn y mà dựa lưng vào tranh vách thì phạm tội Đột cát la. Luật Ngũ phần quyển 21 ghi: Bấy giờ, Lục quần Tỳ khưu may áo sấn thân cỡ bằng Tăng kì chi, hoặc bằng Nê hoàn tăng. Các Tỳ khưu đem việc ấy bạch đức Phật,Ngài dạy: Không nên may như thế, nên may theo 3 bậc sau đây: -Bậc thượng: Trên phủ đầu, dưới che đếnmắt cá chân, tay trái che kín hết. -Bậc trung: Trên phủ đầu, dưới phủđến nửa ống chân, tay trái che đến cổ tay. -Bậc hạ: Trên phủ đầu, dưới phủ đến đầu gối, tay trái che đến nửa khuỷu tay. [X. luật Tứ phần Q.52; Hữu bộ Tì nại da tạp sự Q.14].
sầu
Sorrowful—Sad.
sầu bi
Sad—Pitiful.
sầu cảm
Gloomy—Melancholy.
sầu khổ
To be sorrowful.
sầu muộn
Daurmanasya (S). Grief, distress.
; Afflicted—Grieved—Distressed—Sadness.
sầu não
Mournful—Doleful.
sầu vạn cổ
Never-ending sorrow.
sập xuống
To fall down.
Sắc
色; S, P: rūpa;|Ngũ uẩn
sắc
hay sắc tướng, sắc pháp, Phạn ngữ rpa, chỉ chung mọi biểu hiện có thể nhận biết được của vật chất, gồm cả năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), năm trần (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, đối tượng xúc chạm) và mọi vật hữu hình. Sắc cũng là một trong năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
; RŪpa (S, P), Form, MatterHình sắc, Sắc tướngSắc là một trần trong lục trần. Sắc đối với Tâm, vôsắc. Thọ Tưởng Hành Thức thuộc tâm. Tứ Đại: đất nước gió lửa thuộc sắc.
; Rùpa (S). Outward appearance, form, colour, matter, thing; the desirable, especially the feminine attraction. It is defined as that which has resistance; or which changes and disappears, i.e. the phenomenal; also as hiển sắc colour and quality, hình sắc form or the measurable, and biểu sắc mode or action.
; Rupa (skt)—Form—Hình tướng của vật chất. Có nhiều loại sắc (vật chất, hình thể, hay hình dáng vật thể—matter, form, or material shape)—Appearance—Object. There are several different categories of rupa: (I) Nghĩa của sắc—The meanings of Rupa: Sắc là hình thể, nhưng thường dùng theo nghĩa thể chất, có một vị trí trong không gian, và ngăn ngại với những hình thể khác. Vậy, sắc có thể tích, do đó có hạn cuộc, bị tùy thuộc. Sắc phát hiện khi hội đủ những nhân duyên nào đó, và tùy những nhân duyên ấy mà trụ một thời gian, rồi tiêu diệt mất. Sắc vốn vô thường, lệ thuộc, hư giả, tương đối, nghịch đảo và sai biệt—Form is used more in the sense of “substance,” or “something occupying space which will resist replacement by another form.” So it has extension, it is limited and conditioned. It comes into existence when conditions are matured, as Buddhists would say, and staying as long as they continue, pass away. Form is impermanent, dependent, illusory, relative, antithetical, and distinctive. (II) Phân loại sắc—Categories of Rupa: (A) Hai Loại Sắc—Two kinds of rupa. 1) Nội sắc (những căn của giác quan như nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân): inner rupa as the organs of sense (eye, ear, nose, tongue, body). 2) Ngoại sắc (những trần cảnh bên ngoài như màu sắc, âm thanh, mùi thơm, hương vị, sự xúc chạm): Outer rupa as the objects of sense (colour, sound, smell, taste, touch). (B) Ba loại sắc—Three kinds of rupa: 1) Khả kiến hữu đối sắc (các sắc trần, trắng, xanh, vàng, đỏ, v.v.): Visible objects (white, blue, yellow, red, etc.). 2) Bất khả kiến hữu đối sắc (thanh, hương, vị, xúc): Invisible objects (sound, smell, taste, touch). 3) Bất khả kiến vô đối sắc (những vật thể trừu tượng): Invisible immaterial or abstract objects. (C) Thập Nhất Sắc (Mười Một loại Sắc)—Eleven kinds of rupa: 1) Ngũ Căn—The five organs of the sense: a) Nhãn: Eye. ii) Nhĩ: Ear. iii) Tỷ: Nose. iv) Thiệt: Tongue. v) Thân: Body. 2) Ngũ Cảnh—The five objects of the sense: i) Sắc: Colour. ii) Thanh: Sound. iii) Hương: Smell. iv) Vị: Taste. v) Xúc: Touch. 3) Vô Biểu Sắc—The immaterial object: (D) Thập Tứ Sắc (Mười Bốn loại sắc)—The fourteen elements: 1) Ngũ Căn—The five organs of sense (see Ngũ Căn in (C) (a). 2) Ngũ Cảnh—The five objects of sense (see Ngũ Cảnh in (C) (b). 3) Tứ Đại—The four elements: i) Đất: Earth. ii) Nước: Water. iii) Lửa: Fire. iv) Gió: Air or wind.
; (色) Phạn, Pàli: Rùpa. Nói theo nghĩa rộng, Sắc là từ gọi chung tất cả vật chất tồn tại; còn nói theo nghĩa hẹp thì Sắc là chỉ những cảnh mà nhãn căn duyên theo. Ngữ căn của từ rùpa là động từ rùp (tạo hình), cho nên rùpa hàm nghĩa có hình dáng. Cũng có thuyết cho rằng ngữ căncủarùpa là động từrù (hoại) cho nên có nghĩa biến hoại, biến hóa. I. Sắc. Tên gọi chung tất cả vật chất tồn tại. Như là Sắc uẩn trong 5 uẩn, Sắc pháp trong 5 vị. Sắc có tính chất ngại và biến hoại. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 thì Sắc gồm 11 thứ là: 5 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), 5 cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và Vô biểu sắc. Tông Duy thức chia Sắc làm 11 thứ: 5 căn, 5 cảnh và Pháp xứ sở nhiếp sắc. Pháp xứ sở nhiếp sắc là đối cảnh củaÝ thức, bao gồm Cực lược sắc, Cực qúynh sắc, Thụ sở dẫn sắc, Biến kế sở khởi sắc và Tự tại sở sinh sắc. Trong các sắc pháp này lại có thể căn cứ vào tính chất của mỗi pháp mà qui nạp thành các loại sau: 1. Nội sắc (5 căn) và Ngoại sắc (5 cảnh). 2. Tế sắc (Vô biểu sắc, hoặc chỉ cho Sắc của cõi Sắc) và Thô sắc (sắc do Cực vi tạo thành, hoặc chỉ cho sắc của cõi Dục). 3. Định quả sắc (sắc dothiền định sinh ra) và Nghiệp quả sắc (sắc do nghiệp tạo ra). 4. Khả kiến hữu đối sắc (chỉ cho sắc theo nghĩa hẹp, tức sắc cảnh), Bất khả kiến hữu đối sắc (chỉ chothanh, hương, vị, xúc, 5 căn) và Bất khảkiếnvôđối sắc (chỉ cho Vô biểu sắc). X. kinh Tạp a hàm Q.1, 13; kinh Đại niết bàn Q.39 (bản Bắc);luận Câu xá Q.2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập]. (xt. Ngũ Căn, Ngũ Cảnh,Sắc Uẩn, Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc). II. Sắc. Cũng gọi Sắc cảnh, Sắc xứ, Sắc giới. Đối cảnh của nhãn căn duyên theo, như các cảnh chất ngại xanh, vàng... là 1 trong 5 cảnh, 1 trong 6 cảnh, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Theo luận Du già sư địa quyển 1 thì Sắc này đại để có 3 loại: 1. Hình sắc: Dài, ngắn, vuông, tròn, cao thấp, ngay thẳng và không ngay thẳng. 2. Hiển sắc: Xanh, vàng, đỏ, trắng, mây, khói, bụi, sương mù, bóng, ánh sáng, bóng tối... 3. Biểu sắc: Đi, đứng,ngồi,nằm, lấy, bỏ, co, duỗi... Các loại sắc trên đặc biệt thuộc đối cảnh của nhãn căn duyên theo. [X. luận Thức thân túc Q.11; luận Đại tì bà sa Q.13, 75; luận Thuận chính lí Q.1; luận A tì đạt ma tạng hiển tông Q.2; Câu xá luận quang kí Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu; Hữu tông thất thập ngũ pháp kí Q.1]. (xt. Biểu Sắc, Hình Sắc, Hiển Sắc).
sắc bào
The material as a bubble, impermanent.
; Sắc Diệm—Vật chất vô thường như bào như diệm (như bong bóng như ánh lửa)—The material as a bubble, or a flame; impermanent.
sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ tưởng, hành, thức diệt phục như thị
Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy—Form does not differ from emptiness (the void), emptiness does not differ from form; form itself is emptiness, emptiness itself is form; the same is true for feelings, conceptions, impulses and consciousness.
sắc chúng
Xem sắc ấm, sắc uẩn.
; See Sắc Uẩn.
sắc cái
The concealing, or misleading, character of the visible, or material, the seeming concealing reality.
; 1) Bản chất của vật chất là che đậy và làm cho chúng sanh mê muội—The concealing, or misleading, character of the visible or material. 2) Cái giả che đậy cái thật: The seeming concealing reality.
; (色蓋) Sắc là sắc trần, Cái là che lấp. Vì sắc trần thường che lấp chân tính, cho nên gọi là Sắc cái.
sắc căn
VatthurŪpa (P).
sắc cảnh
RŪpa-visaya (S).
; Visible objects, the realm of vision, or form.
; Cảnh sắc, cảnh giới có hình sắc (các pháp xanh, vàng, đỏ, trắng đều là cảnh giới đối với nhãn căn)—Visible objects, the realm of vision or form.
; (色境) Cũng gọi Sắc xứ, Sắc giới. Gọi tắt: Sắc. Chỉ cho những đối cảnh xanh, vàng... chất ngại do nhãn căn duyên theo, là 1 trong 5 cảnh, 1 trong 6 cảnh, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Sắc cảnh được chia làm 2 loại: 1. Hình sắc: Dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, chính, bất chính. 2. Hiển sắc: Xanh, vàng, đỏ, trắng, mây, khói, sương mù, bụi, bóng, sáng... [X.luận Đại tì bà sa Q.13; luận Câu xá Q.1]. (xt. Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Ngũ Cảnh, Lục Cảnh, Biểu Sắc).
Sắc cảnh 色境
[ja] シキキョウ shikikyō ||| (rūpa-visaya). 'color.' One of the five classes of objects. The object of the vision faculty. In Consciousness-only theory, an aspect of the eye-consciousness.` => (j: shikikyō; s: rūpa-visaya) Là một trong năm loại trần cảnh. Là đối tượng của nhãn căn. Theo giáo lý Duy thức tông, sắc cảnh là phạm trù đối tượng của nhãn thức.
sắc cụ
Material objects.
; Vật thể—Material objects.
Sắc cứu cánh thiên
cõi trời Sắc cứu cánh. Xem A-ca-ni-trá.
sắc cứu cánh thiên
Akṣanirtha (S), Akaniṣṭha (S), Akanittha (P), Akanitthadeva (P), Highest Heaven of the world of form Tên một cõi giới trong ngũ tịnh cư thiên hay Tịnh cư thiên, Tịnh phạm địa, cõi cuối cùng trong Tứ thiền thiên = A ca ni trá thiên, A cá ni tráChư thiên cõi này quán xét rốt ráo đến chỗ vi tế các trần.
; Akanistha (skt)—Tầng trời sắc giới cao nhất—The highest of the material heavens. ** For more information, please see Sắc Giới and Thiên.
; (色究竟天) Sắc cứu cánh, Phạn: Akaniwỉha hoặc Aghaniwỉha. Hán âm: A ca ni tra, A ca ni sư tra, A ca nị tra, A ca ni sắt trá. Cũng gọi Ngại cứu cánh thiên, Chất ngại cứu cánh thiên,Nhất cứu cánh thiên, Nhất thiện thiên, Vô kết ái thiên, Vô tiểu thiên. Tầng trời cao nhất trong Tứ thiền thiên thuộc cõi Sắc, 1 trong 18 tầng trời cõi Sắc, 1 trong Ngũ tịnh cư thiên. Người tu Tứ thiền tối thượng phẩm được sinh về cõi trời này, quả báo ở đây thù thắng nhất trong cõi Sắc. Về tuổi thọ của chúng sinh ở cõi trời này, theo kinh Đại lâu thán quyển 4 là 100 kiếp, tuy nhiên cũng có sự chết yểu. Theo kinh Trường A Hàm quyển 20 thì tuổi thọ ở đây là 5 nghìn kiếp, hoặc giảm chút ít; còn luận Lập thế A Tì Đàm quyển 7 và luận Câu xá quyển 11 thì cho là 1 vạn 6 nghìn đại kiếp và thân cao 1 vạn 6 nghìn do tuần. [X. kinh Đại lâu thán Q.1; kinh Khởi thế Q.1; luận Đại tì bà sa Q.136; luậnTạp a tì đàm tâm Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.3; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.31]. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên, Sắc Giới).
Sắc cứu cánh thiên 色究竟 天
[ja]シキクキョウテン shikikukyō ten ||| The heaven of the most rarefied form (akaniṣṭhāḥ), which is the eighth of the eight heavens included in the fourth dhyāna of the form realm 四禪天. Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Cõi trời trong đó chúng sinh ở trong dạng sắc thể tinh vi tế nhị nhất. Là cõi trời thứ 8 trong 8 cõi trời thuộc Tứ thiền thiên. Được liệt kê là cõi trời thiền thứ 17 trong 17 cõi trời thiền của Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên 色界十七天).
sắc cứu cánh thiên, sắc định
Akanistha (S). The highest of the material heavens.
sắc duy đặc lợi
Savitṛ (S)Nghĩa: hoạt động của mặt trời.
sắc dục
Rùparàga (S). Sexual desire, or passion; lusts of the flesh, cocupiscence. Ham mê sắc dục, to indulge in carnal desires, in the sins of the flesh.
; Ham muốn nhục thể hay xác thịt—Sexual desire—Lusts of flesh—Passion.
; (色欲) Phạn: Rùpa-Kàma. Phàm đắm trước các sắc cảnh như xanh, vàng, dài, ngắn... hoặc rung động trước sắc tình nam, nữ, đều gọi Sắc dục, là 1 trong 5 dục. Ma ha chỉ quán quyển 4 (Đại 46, 43 hạ ghi: Như trong Thiền môn thường nói, sắc dục rất tai hại, hay làm cho người cuồng say, gốc rễ sinh tử đều do đó mà ra. (xt. Ngũ Dục).
Sắc giới
xem Ba cảnh giới.
; 色界; S, P: rūpadhātu, rūpaloka;|Ba thế giới
sắc giới
RŪpa-bhŪmi (P), RŪpavacara (S), RŪpaloka (S, P), RŪpa-dhātu (S), zuk kham (T), RŪpa-brahma plane, World of form, Form realm Một trong ba cảnh: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Sắc giới là miền của các đấng không còn ưa muốn, song còn hình thể, các đấng này đều đắc quả từ sơ thiền đến tứ thiền, chia thành 20 tầng trời: tứ thiền thiên chiếm 13 tầng, còn 7 tầng thuộc Tịnh phạm đîa Có 20 cõi: - Sơ thiền thiên: Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên, Đại phạm thiên. - Nhị thiền thiên: Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên, Quang âm thiên - Tam thiền thiên: Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên - Tứ thiền thiên: Vô vân thiên, Phước sanh thiên, Quảng quả thiên. - Tịnh phạm thiên: Vô tưởng thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên.
; Rùpadhàtu, rùpavacara, rùpaloka (S). Any material world, or world of form; it especially refers to the second of the Trailokya tam giới, the Brahmalokas above the Devalokas, comprising sixteen or seventeen or eighteen "Heavens of Form" divided into four Dhyànas.
; Rupadhatu, or rupavacara, or rupaloka (skt)—World of form or material world. (I) Nghĩa của Sắc giới—The meanings of Rupadhatu: Sắc giới, đệ nhị giới trong tam giới—Realm of form, or material form, or material world. It especially refers to the second Trailokya. (II) Phân loại Dục giới—Categories of Rupadhatu: Tứ Thiền Thiên: Brahmalokas (skt)—The four dhyana heavens—See Tứ Thiền Thiên.
; (色界) I. Sắc Giới. Phạn, Pàli:Rùpa-dhàtu. Cũng gọi Sắc thiên, Sắc hành thiên. Từ ngữ gọi chung thế giới và chúng sinh có sắc chất thanh sạch tốt đẹp, là chỗ cư trú của chư thiên, 1 trong 3 cõi. Chúng sinh ở cõi này tuy đã xa lìa dâm dục, không đắm trước các sắc pháp thô xấu nhơ nhớp, nhưng vẫn còn bị ràng buộc bởi sắc pháp nhỏ nhiệm thanh sạch, cho nên để phân biệt với cõi Dục ở dưới và cõi vô sắc ở trên mà gọi cõi này là cõi Sắc. Chư thiên cõi này không phân biệt nam nữ, y phục tự nhiên, dùng ánh sáng làm thức ăn và tiếng nói. Ở cõi này căn cứ vào thứ tự nhập định cạn sâu mà chia làm 4 địa (tức Tứ thiền thiên, Tứ tĩnh lự xứ). Sơ thiền gọi là Li sinh hỉ lạc địa, Nhị thiền gọi là Định sinh hỉ lạc địa, Tam thiền gọi là Li hỉ diệu lạc địa và Tứ thiền gọi là Xả niệm thanh tịnh địa. Cứ theo luận Câu xá quyển 8 thì Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền mỗi nơi đều có 3 tầng trời,còn Tứ thiền thì có 8 tầng trời, cộng chung lại thì tất cả là 17 tầng trời được phân bố như sau: A. Ba tầng trời cõi Sơ thiền: 1. Phạm chúng thiên (Phạn: Brahmapàriwadya) 2. Phạm phụ thiên (Phạn: Brahmapurohita) 3. Đại phạm thiên (Phạn: Mahàbrahman) B. Ba tầng trời cõi Nhị thiền: 1. Thiểu quang thiên (Phạn: Pàrìttàbha). 2. Vô lượng quang thiên (Phạn: Apramàịàbhà). 3. Cực quang tịnh thiên (Phạn: Àbhàsvara) C. Ba tầng trời cõi Tam thiền: 1. Thiểu tịnh thiên (Phạn: Parìtta- Zubha). . Vô lượng tịnh thiên (Phạn: Apramàịa- Zubha) 3. Biến tịnh thiên (Phạn: Zubhakftsna) D. Tám tầng trời cõi Tứ thiền: 1. Vô vân thiên (Phạn: Anabhraka). 2. Phúc sinh thiên (Phạn: Puịyaprasava). 3. Quảng quả thiên (Phạn: Bfhatphala). 4.Vô phiền thiên (Phạn:Avfha). 5. Vô nhiệt thiên( Phạn:Atapa). 6. Thiện hiện thiên (Phạn:Sudfza). 7. Thiện kiến thiên (Phạn: Sudarzana). 8. Sắc cứu cánh thiên: (Phạn: Akaniwỉha). Mười bảy tầng trời trên đây gồm khí thế gian và các hữu tình gọi chung là Sắc giới. Nhưng sự phế lập các tầng trời cõi Sắc có rất nhiều thuyết khác nhau. Kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Khởi thế quyển 8 và kinhĐại bát nhã quyển 403, đều liệt kê 22 tầng trời: Phạm thân thiên, Phạm phụ thiên, Phạm chúng thiên, Đại phạm thiên, Quang thiên, Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên, Quang âm thiên, Tịnh thiên, Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên, Nghiêm sức thiên, Tiểu nghiêm sức thiên, Vô lượng nghiêm sức thiên, Nghiêm sức quả thực thiên, Vô tưởng thiên, Vô tạo thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên, Đại thiện kiến thiên và A ca ni tra thiên. Còn kinh Hoa nghiêm quyển 13 (bản dịchcũ), quyển 21 (bản dịch mới), kinh Đại Bát Nhã quyển 402 và kinh Phật bản hạnh tập quyển 9 thì bỏ bớt Vô tưởng thiên mà chỉ nêu có 21 tầng trời. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 136, luận Lập thếa tì đàm quyển 6 và luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 thì bỏ đi 4 tầng trời: Phạm thân, Quang thiên, Tịnh thiên và Nghiêm sức thiên mà lập thuyết Thập bát thiên (18 tầng trời). Rồi kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 3, luận Thuận chính lí quyển 21 và luận Chương sở tri quyển thượng lại bỏ bớt Vô tưởng thiên trong Thập bát thiên mà lậpthuyết Thập thất thiên (17 tầng trời). A Tì Đàm tâm luận kinh cũng lập thuyết Thập thất thiên bằng cách cắt bỏ Đại phạm thiên mà thay bằng Vô tưởng thiên. Rồi trong thuyết này, kinh Địa động trong Trung a hàm quyển 9 lại loại bỏ Vô tưởng thiên mà chỉ nêu có 16 tầng trời thôi. Về chỗ ở, thân lượng, tuổi thọ của chúng sinh trong Tứ thiền thiên thuộc cõi Sắc thì kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 9,luận Lập thế a tì đàm quyển 3, luận Đại tì bà sa quyển 134, 136, luận Câu xá quyển 11, luận Thuận chính lí quyển 31... đều có trình bày rõ ràng nhưng hơi khác nhau. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; kinh Bồ tát địa trì Q.2; luận Đại trí độ Q.16; luận Thành thực Q.12; luận Câu xá Q.5, 28; Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.1; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối]. II. SắcGiới. Tức Sắc giới trong 18 giới. (xt. Sắc Cảnh).
sắc giới hệ
(色界系) Sự trói buộc bởi các pháp ở cõi Sắc. Luận Đại tì bà sa quyển 52 (Đại 27, 271 hạ) nói: Bị dục trói buộc nên gọi là Dục giới hệ; bị sắc trói buộc nên gọi là Sắc giới hệ, bị vô sắc trói buộc nên gọi là Vô sắc giới hệ. Như trâu, ngựa bị buộc vào cây cọc hoặc gốc cột, gọi là Trụ đẳng hệ.Cùng luận đã dẫn quyển 145 (Đại 27, 746 hạ) nói: Nếu pháp bị Ái và Kiến của cõi Dục chứa giấu và chấp trước thì gọi là Dục giới hệ, bị Ái và Kiến của cõi Sắc chứa nhóm và chấp trước thì gọi là Sắc giới hệ, bị Ái và Kiến của cõi Vô sắc chứa giấu và nắm giữ thì gọi là Vô sắc giới hệ. Nếu căn cứ vào 98 tùy miên (phiền não) để phân biệt sự trói buộc ở cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, thì cõi Dục có 36 tùy miên, cõi Sắc, cõi Vô sắc mỗi cõi có 31 tùy miên. Luận Câu xá quyển 2 lại căn cứ vào 18 giới để phân biệt sự trói buộc ở các cõi, cho rằng sự trói buộc ở cõi Dục có đủ cả 18 giới, ở cõi Sắc chỉ có 14 giới vì trừ ra 2 cảnh hương, vị và 2 thức mũi, lưỡi. Luận Câu xá quyển 3 còn dùng 22 căn để phân biệt, bảo rằng sự trói buộc ở cõi Sắc là 15 căn, vì trừ ra 3 căn vô lậu và 4 căn nam, nữ, ưu, khổ. [X. luận Đại tì ba sa Q.50; luận Đại thừa A Tì Đạt Ma tạp tập Q.2; luận Câu xá Q.8]. (xt. Sắc Giới, Giới Hệ, Tùy Miên).
sắc giới thiên
RŪpabrahmaloka (P)Tên một cõi giới.
sắc giới thập bát thiên
Mười tám tầng tứ thiền sắc giới—Eighteen “Heavens of form.” Sơ Thiền Thiên—The first dhyana heavens: 1) Phạm Chúng Thiên: Brahmaparisadya (skt). 2) Phạm Phụ Thiên: Brahmapurohita or Brahmakayika (skt). 3) Đại Phạm Thiên: Mahabrahma. (II) Nhị Thiền Thiên—The second dhyana heavens: 4) Thiểu Quang Thiên: Parittabha (skt). 5) Vô Lượng Quang Thiên: Apramanabha (skt). 6) Quang Âm Thiên: Abhasvara (skt). (III) Tam Thiền Thiên—The third dhyana heavens: 7) Thiểu Tịnh Thiên: Parittasubha (skt). 8) Vô Lượng Tịnh Thiên: Apramanasubha (skt). 9) Biến Tịnh Thiên: Subhakrtsna (skt). (IV) Tứ Thiền Thiên—The fourth dhyana heavens: 10) Vô Vân Thiên: Anabhraka (skt). 11) Phúc Sanh Thiên: Punyaprasava (skt). 12) Quảng Quả Thiên: Brhatphala (skt). 13) Vô Tưởng Thiên: Asanjnisattva (skt). 14) Vô Phiền Thiên: Avrha (skt). 15) Vô Nhiệt Thiên: Atapa (skt). 16) Thiện Hiện Thiên: Sudrsa (skt). 17) Sắc Cứu Cánh Thiên: Akanistha (skt). 18) Đại Mục Tại Thiên: Mahamahesvara (skt). ** For more information, please see Thiên III.
; (色界十八天) Mười tám tầng trời của cõi Sắc. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 136 thì Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền cộng tất cả là 18 tầng trời. Sơ thiền gồm3 tầng trời: Phạm phụ, Phạm chúng, Đại phạm. Nhị thiền gồm 3 tầng trời: Thiểu quang, Vô lượng quang và Quang âm. Tam thiền gồm 3 tầng trời: Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Biến tịnh. Tứ thiền gồm 9 tầng trời: Tiểu nghiêm sức, Vô lượng nghiêm sức, Nghiêm sức quả thực, Vô tưởng, Vô tạo, Vô nhiệt, Thiện kiến, Đại thiện kiến và A ca ni tra. Ngoài ra cũng có các kinh luận chủ trương các thuyết khác nhau như 22 tầng trời, 21 tầng trời, 17 tầng trời, 16 tầng trời... [X. luậnLập thế a tì đàm Q.6; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Đại thừa A Tì Đạt Ma Tạp tập Q.6]. (xt. Sắc Giới).
Sắc giới thập thất thiên 色界十七天
[ja] シキカイジュウシチテン shikikai jūshichiten |||The seventeen dhyāna heavens of the form realm 色界. The first three dhyanas have three heavens each, while the fourth has eight heavens. The heavens of the first dhyāna 初禪天 are: 1) , fanzhongtian 梵衆天 Brahma-pāriṣadhya; the Heaven of Brahma's Councilors; 2) fanfutian 梵輔天 Brahma-purohita, the Heaven of Brahma's High Priests; and 3) dafantian 大梵天 Mahābrahman, Brahma's heaven. The heavens of the second dhyāna 二禪天 are: 1) 少光天 Parītta-ābha, the Heaven of Lesser Light; 2) 無量光天 Apramāṇa-ābha, the Heaven of Infinite Light; and 3) 極光淨天 ābhās-vara, the Heaven of the Most Brilliant Purity. The Heavens of the third dhyāna 三禪天 are: 1) 少淨天 Parītta-śubha, the Heaven of Lesser Purity; 2) (s: Apramāṇa-śubha, e: Heaven of Infinite Purity). ; and 3) bianjingtian 遍淨天 'Subha-kṛitsna, the Heaven of Universal Purity. The fourth dhyāna 四禪天 heavens are: 1) 無雲天 Anabhraka, the Cloudless Heaven; 2) 福生天 (c: fushengtian; s: Puṇya-prasava, e: Heaven of Merit Production); 3) guangguotian 廣果天 Bṛihat-phala, the Heaven of Extensive Rewards, 4) wufantian 無煩天 Abṛiha, the heaven of no anxieties; 5) wuretian 無熱天 Atapa, the heaven without afflictions; 6)善現天 (c: shanxiantian e: Sudṛiśa, e: Heaven of Good Appearances). ; 7) shanjiantian 善見天 Sudarśana, the Heaven of Good Sight; and 8) sejiujingtiantian 色究竟天Akaniṣṭha, the Heaven of Ultimate Form. => Mười bảy cõi trời thiền của Sắc giới. Ba cõi giới thiền trước mỗi cõi có ba cõi trời, trong khi cõi giới thiền thứ tư có đến tám cõi trời. Các cõi trời của Sơ thiền thiên 初禪天 gồm: 1. Phạm chúng thiên 梵衆天( c: fanzhongtian; s: Brahma-pāriṣadhya; e: the Heaven of Brahma's Councilors). 2. Phạm phụ thiên (梵輔天 (c: fanfutian; s: Brahma-purohita, e: Heaven of Brahma's High Priests). 3. Đại phạm thiên 大梵天( c: dafantian; s: Mahābrahman; e:Brahma's heaven). 1. Thiểu quang thiên 少光天 (s: Parītta-ābha, e: Heaven of Lesser Light). 2. Vô lượng quang thiên 無量光天 (s: Apramāṇa-ābha, e: Heaven of Infinite Light). 3. Cực quang tịnh thiên 極光淨天 (s: ābhās-vara, e: Heaven of the Most Brilliant Purity). Các cõi trời của Tam thiền thiên 三禪天 gồm: 1. Thiểu tịnh thiên 少淨天 (s: Parītta-śubha, e: Heaven of Lesser Purity). 2. Vô lượng tịnh thiên 無量淨天 (s:Apramāṇa-śubha, e: Heaven of Infinite Purity). 3. Biến tịnh thiên 遍淨天 (c: bianjingtian, s: Subha-kṛitsna, e: Heaven of Universal Purity). Các cõi trời của Tứ thiền thiên 四禪天 gồm: 1. Vô vân thiên 無雲天 (s: Anabhraka, e: Cloudless Heaven). 2. Phước sinh thiên 福生天 (c: fushengtian; s: Puṇya-prasava, e: Heaven of Merit Production). 3. Quảng quả thiên 廣果天 (c:guangguotian; s: Bṛihat-phala, e: Heaven of Extensive Rewards). 4. Vô phiền thiên 無煩天( c: wufantian; s:Abṛiha, e: heaven of no anxieties). 5. Vô nhiệt thiên 無熱天 (c: wuretian; s:Atapa, e: heaven without afflictions). 6. Thiện hiện thiên 善現天 (c: shanxiantian e: Sudṛiśa, e: Heaven of Good Appearances). 7. Thiện kiến thiên善見天 (c: shanjiantian s: Sudarśana, e: Heaven of Good Sight). 8. Sắc cứu cánh thiên 色究竟天(c: sejiujingtiantian; s: Akaniṣṭha, e: Heaven of Ultimate Form).
Sắc giới 色界
[ja] シキカイ shikikai ||| The "form realm," which is the second of the three realms 三界. (1) Existence constituted of pure materiality, free from the afflictions of the desire realm 欲界 (yujie). Although the desires have subsided, one still possesses a body. It is the locus of the four meditation heavens. (2) Objects of vision. One of the eighteen realms. => Cõi giới thứ nhì trong Tam giới 三界. 1. Cõi giới chỉ hiện hữu gồm những thể chất thanh tịnh, không còn phiền não của cõi dục giới (欲界 c: yujie). Dù tham muốn đã được tiêu trừ, nhưng vẫn còn thân thể. Đây là cảnh giới của cõi trời Tứ thiền. 2. Đối tượng của nhãn căn. Là một trong 18 giới.
sắc hoàng
(勅黃) Sắc chỉ của Thiên tử viết trên giấy màu vàng. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại48,1131 thượng) nói: Các bậc tôn túc danh đức thời xưa phần nhiều vâng theo sự triệu thỉnh của triều đình và các ngôi chùa lớn nổi tiếng hễ nhận được Thánh chỉ sắc hoàng thì vị Trụ trì liền chấp hành đầy đủ nghi thức tạ biểu.
sắc hữu
Material existence.
; Một trong tam hữu—One of three kinds of existence, material existence. ** For more information, please see Tam Hữu.
; (色有) Chỉ cho cõi Sắc, 1 trong 3 hữu: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu, đồng nghĩa với 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc. Vì quả báo của Tứ thiền thiên thuộc cõi Sắc là có thật nên gọi cõi Sắc là Sắc hữu.[X. kinh Bồ tát thiện giới Q.1; luận Đại trí độ Q.3]. (xt. Tam Hữu, Sắc Giới).
Sắc không
(色空): sắc và không. Sắc (s, p: rūpa, 色) là cái mang tính vật chất. Không (s: śūnya, p: suñña, 空) là cái không có thật thể cố định. Trong Kinh Bát Nhã của Phật Giáo Đại Thừa đã phủ định triệt để hết thảy mọi cố định của các sự vật hiện tượng (sắc, pháp, v.v.) và chính Long Thọ (s: Nāgājruna, 龍樹) đã hoàn chỉnh và hình thành nên hệ thống lý luận triết học về Không này.
sắc không ngoại đạo
Heretics who denied material existence (and consequently sought self-control, or nirvàna.
; Một trong mười loại ngoại đạo, phủ nhận sắc hữu, tìm cầu sự tự kiểm soát và cho rằng đây là niết bàn (dùng sắc phá hữu dục, dùng không phá sắc hữu)—One of the ten kinds of heretics, who denied material existence, and consequently sought self-control, or nirvana.
sắc kim cang bồ tát
RŪpavajra (S)Tên một vị Bồ tát.
sắc kim cương
(色金剛) Phạn: Rùpa-vajra. Vị Bồ tát ngồi ở cửa phía đông của viện ngoài hội Lí thú trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, tương đương với bồ tát Câu trong Tứ nhiếp bồ tát. Vị tôn này dùng sắc đẹp và đức hạnh để hóa độ chúng sinh nên gọi là Sắc kim cương. Theo Lí thú hộiquĩ thì chân ngôn của vịtôn này là: Án (oô) phạ nhật ra (vajra,kim cương) rô bế (rùpe, sắc) nhạ (ja#, chủng tử câu). Ấn khế cũng dùng ấn Tứ minh, tức là kết ấn Hàng tam thế, co ngón tay trỏ lại thành hình móc câu. Vị tôn này cầm cái móc câu để biểu thị bản thệ nội chứng của mình. [X.Bát nhã ba la mật đa lí thú kinh đại thừa bất không tam muội chân thực kim cương tát đoá bồ tát đẳng nhất thập thất thánh đại mạn đồ la nghĩa thuật].
sắc lượng
(色量) Trong kinh điển Phật giáo, từ ngữ Sắc lượng được dùng để chỉ chung cho các đơn vị của các loại vật chất. Theo luận Câu xá quyển 12 thì đơn vị nhỏ nhất của sắc pháp là cực vi, 7 cực vi là 1 vi (Phạn: Aịu), 7 vi là 1 kim trần (Phạn: Loha-raja), 7 kim trần là 1 thủy trần (Phạn: Ap-raja), 7 thủy trần là 1 thố mao trần (Phạn: Zaza-raja), 7 thố mao trần là 1 dương mao trần (Phạn: Aviraja), 7 dương mao trần là 1 ngưu mao trần (Phạn: Go-raja), 7 ngưu mao trần là 1 khích du trần (Phạn: Vàtàyanacchidra-raja), 7 khích du trần là 1 con rận con (Phạn: Likwà), 7 con rận con là 1 con rận mẹ (Phạn: Yùka), 7 con rận mẹ là 1 hạt lúa mạch (Phạn: Yava), 7 hạt lúa mạch là 1đốt ngón tay (Phạn: Aíguliparva). Trên đây đều thuộc đơn vị dung tích. Ấn Độ còn định đốt ngón tay là đơn vị cơ bản đo chiều dài, 3 đốt ngón tay là 1 ngón tay (Phạn: Aígula), 24 ngón tay là 1 khuỷu tay (Phạn: Hasta), 4 khuỷu tay là 1 cung (Phạn: Dhanu), 500 cung là 1 câu lô xá (Phạn: Kroza), 8 câu lô xá là 1 du thiện na (Phạn: Yojana, tức do tuần). Như vậy, ta có thể biết sự đo lường dung tích của Ấn độ theo pháp tiến 7. Căn cứ theo sự giải thích trong Câu xá luận pháp nghĩa thì bất luận là vật chất phân tích đến đơn vị nào cũng đều phải đủ 7 phần (ngoại trừ cực vi) là: Trên, dưới, trái, phải, trước, sau, chính giữa. Theo luận Đại tì bà sa quyển 136 thì Vi (7 cực vi bằng 1 Vi) là sắc trần bé nhỏ nhất mà nhãn thức duyên theo, chỉ có mắt chư thiên, mắt Chuyển luân vương và mắt Bồ tát hậu hữu mới thấy được. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 nói rằng: Chúng sinh không thể thấy được cực vi trần, chỉ có Như Lai và Bồ tát thân sau cùng mới thấy được. Về Sắc lượng, trên đại thể, các kinh luận nói giống nhau, chỉ có tên dịch là khác. Chẳng hạn như Cực vi có chỗ dịch là Lân hư và dịch âm là Ba la nô la xà; Vi có chỗ dịch âm là A nhu, a nậu; kim trần có chỗ dịch là thiết trần, đồng trần... [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; Câu xá luận quang kí Q.12; Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Do Tuần, Câu Lô Xá, Cực Vi).
sắc mạng căn
RŪpa-jīvitindriyā (S), (S, P).
sắc mệnh căn
Rùpa-jìvitindriyà (S). Vital power of physical faculties.
sắc nhập
Chỗ hay nơi mà căn trần gặp nhau thì gọi là “Sắc Nhập” hay “Sắc Xứ,” một trong thập nhị nhơn duyên—The entrances, or places, where the organs and objects of physical sense meet, one of the twelve nidanas. ** For more information, please see Lục Nhập.
sắc nhập, sắc xứ
The entrances, or places, where the organs and objects of physical sense meet, ten in all, cf ngũ nhập. Also one of the twelve nidànas.
sắc pháp
Rùpa-dharma (S). 11 Form-elements: (1) nhãn caksu, eye; (2) nhĩ srotra, ear; (3) tỉ ghràna, nose; (4) thiệt jihvà, tongue; (5) thân kàya, body; (6) sắc rùpa, form; (7) thanh sabda sound; (8) hương gandha, smell; (9) vị rasa, taste; (10) xúc sparsa, touch; (11) pháp dharmà-yatanasamgr-hìtam-rùpam, forms included in dharma-àyatana, elements as objects of consciousness: (a) cực lược sắc, a substantial form analyzed to utmost, the smallest atom; (b) cực hánh sắc, an unsubstantial form as aerial space or colour analyzed to utmost, the remotest atom; (c) định quả sắc, a form produced by meditation; (d) vô biểu sắc, a perceptive form conceived at ordination, the innermost impression; (e) biến kế sở chấp sắc, a momentary illusive form.
; Rupani (skt)—Material.
; (色法) Phạn: Rùpa-dharma. Danh từ chỉ chung cho vật chất tồn tại, tức là những vật có tính chất ngại và biến hoại chiếm 1 khoảng không gian nhất định, ngăn trở lẫn nhau. Tất cả pháp có thể chia làm 5 vị: Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở pháp, Tâm bất tương ứng hành pháp và Vô vi pháp. Trong đó, Sắc pháp trong 5uẩn gọi là Sắc uẩn, Tâm pháp gọi là Thức uẩn. Trong 5 vị 75 pháp của tông Câu xá Tiểu thừa và trong 5 vị 100 pháp của tông Pháp tướng Đại thừa, Sắc pháp được chia làm 3 loại 11 món: 1. Ngũ căn: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân. 2. Ngũ cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. 3. Vô biểu sắc. Trong 5 vị 75 pháp, Sắc pháp được đặt trước Tâm pháp, vì nó có khả năng dẫn khởi các pháp nhơ nhớp như tham muốn, đắm đuối say mê... và được coi là đối tượng quan trọng nhất cần được đối trị. Còn trong 5 vị 100 pháp thì Sắc pháp đặt sau Tâm pháp và Tâm sở pháp, vì chính nó không có công năng sinh khởi mà chỉ là sự biến hiện của Tâm và Tâm sở. (xt. Tâm, Sắc).
Sắc pháp 色法
[ja] シキホウ shikihō ||| Material existence. In Consciousness-only theory, all existence is divided into form elements and mental elements. Those which have the nature of occupying space are called material elements. The five organs of sense and their objects are all considered as material elements. => Sự hiện hữu của vật thể. Theo giáo lý Duy thức, mọi hiện hữu được phân thành sắc pháp và tâm pháp. Những gì có đặc tính choán chỗ trong không gian được gọi là sắc pháp. Nam giác quan (ngũ căn) và năm đối tượng nhận biết của chúng (ngũ trần) đều được xem là sắc pháp
sắc quang
Physical light, as contrasted with tâm quang light of the mind; every Buddha has both, e.g. his halo, aura.
; Thân quang hay ánh hào quang, đối lại với “tâm quang;” mỗi vị Phật đều có đầy đủ cả hai—Physical light in contrast with light of the mind; every Buddha has both.
; (色光) Cũng gọi Ngoại quang, Thân quang. Đối lại: Tâm quang. Chỉ cho ánh sáng từ sắc thân của Phật, Bồ tát phóng ra. Trong các thứ sắc quang, ánh sáng từ toàn thân đức Phật phóng ra, gọi là Cử thân quang; ánh sáng từ tướng nào đó trong 32 tướng phóng ra, gọi là Tùy nhất tướng quang; ánh sáng phóng ra từ tướng Bạch hào (sợi lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày), gọi là Bạch hào quang, Hào quang, Mi gian quang; ánh sáng phóng ra từ lỗ chân lông, gọi là Mao khổng quang; ánh sáng tròn từ đỉnh đầu phóng ra, gọi là Đầu quang; ánh sáng từ phía sau lưng của Phật phóng ra, gọi là Hậu Quang. (xt. Quang Minh).
sắc quang minh
Physical light.
sắc sai trụ trì viện
(勅差住持院) Chỉ cho những chùa viện thuộc cấp cao nhất ở đời Tống, được triều đình đãi ngộ đặc biệt. Vị Trụ trì của các chùa viện này do sắc chỉ của vua bổ nhiệm, khác hẳn với các chùa viện thông thường và chùa viện thập phương. Trong các tông phái, Thiền Tông chiếm số nhiều các chùa viện thuộc loại này.
sắc sắc không không
Forms and emptiness; Reality is the non-dual Absolute.
sắc sở duyên
RŪparammāna (S), Visible object.
sắc sứ niêm hương
(勅使拈香) Niêm hương cảm tạ vị Sắc sứ. Thời xưa, vị Trụ trì các ngôi chùa lớn nổi tiếng ở Trung Quốc là do sắc chỉ của vua tuyển chọn và bổ nhiệm, ngày cử hành lễ nhập tự, vua sai sứ đến dự và vị tân Trụ trì niêm hương cảm tạ sứ giả, gọi là Sắc sứ niêm hương. Môn Tùng quĩ 9 trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên ghi: Hai chùa Đại Đức và Diệu Tâm được vua bổ nhiệm Trụ trì, cho nên vào ngày khai đường, vị Sắc sứ đến dự pháp hội, 2 chùa viện đều niêm hương cảm tạ sứ giả.
sắc sử môn
Chokushimon (J).
sắc thanh
The visible and audible.
; Thấy và nghe được—The visible and audible.
sắc thân
RŪpakāya (S), zuk kyi ku (T), kāyas, Form body, zug ku (T).
; Rùpa-kàya (S). The physical body, as contrasted with the pháp thân dharma-kàya, the immaterial, spiritual, or immortal body.
; Rupakaya (skt)—Thân do các sắc pháp như tứ đại ngũ trần tạo ra của Phật, đối lại với pháp thân hay chân thân của Phật (phần tâm linh phi vật chất và bất tử)—The physical body (of the Buddha), as contrasted with the dharma-kaya, the immaterial, spiritual, or immortal body.
; (色身) Phạn, Pàli: Rùpa-kàya. Đối lại: Pháp thân, Trí thân. Chỉ cho nhục thân của đức Phật, có đầy đủ 32 tướng. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.12; Đại thừa nghĩa chương Q.19].
sắc thân viên đức
(色身圓德) Đức viên mãn của sắc thân Như lai, thuộc về Quả viên đức trong 3 Viên đức. Cứ theo luận Câu xá quyển 27 thì sắc thân viên đức có 4: 1. Đầy đủ 32 tướng. 2. Đủ 8 nét đẹp tùy hình. 3. Có sức mạnh lớn. 4. Xương trong thân cứng chắc hơn kim cương, ngoài chiếu ánh sáng hơn trăm nghìn mặt trời.
Sắc thân 色身
[ja] シキシン shikishin ||| (1) Material body; physical body (2) The physical body of the Buddha manifest in the world. => 1. Thân thể vật chất, thể chất (s: rūpa-kāya). 2. Thân tướng của Đức Phật biểu hiện trong thế gian nầy.
sắc thải
(色彩) Chỉ cho 5 màu sắc chính: Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen là những màu sắc đẹp đẽ được dùng để trang nghiêm, như ánh sáng 5 màu ở cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà, sợi tơ 5 màu trong kinh Dược Sư, áng mây ngũ sắc của bồ tát Thiên thủ Quan Âm... Mật giáo dùng 5 màu phối hợp với giáo nghĩa 5 Phật, 5 trí, 5 đại, 5 căn... Lá cờ Phật giáo cũng được biểu trưng bằng 5 màu xanh, vàng,đỏ,trắng và cam. Ngoài ra, thông thường hoa 5 màu, màn 5 màu cũng được xử dụng làm các đạo cụ để trang nghiêm đạo tràng. (xt. Ngũ Sắc, Phật GiáoGiáo Kì).
sắc thị sắc, không thị không
Matter is matter, immaterial is immaterial.
sắc thụy
(敕諡號) Cũng gọi Sắc thụy hiệu. Danh hiệu do triều đình truy tặng cho người đã qua đời căn cứ theo đức hạnh lúc còn sống. Tại Trung Quốc, việc vua ban hiệu cho chư tăng bắt đầu từ Minh Nguyên đế (ở ngôi 409-423) đời Bắc Ngụy; thời ấy, ngài Pháp quả được truy tặng hiệu là Hồ Linh Công. Đến đời Đường, vào năm Thần long thứ 2 (706), vua Trung tông truy tặng ngài Thần tú hiệu Đại Thông Thiền Sư. Ngoài ra, sau các tăng hiệu được ban thường có thêm những từ tôn xưng như Đại sư, Quốc sư, Thiền sư, Bồ tát, Hòa thượng, Pháp sư, Thượng nhân...
sắc trần
The quality of form, colour, or sexual attraction; one of lục trần.
; Ruparammana (skt)—The visual object—Một trong lục trần, các màu sắc (xanh, đỏ, vàng, trắng, v.v.) và hình sắc hấp dẫn của nam nữ (mang tánh ô nhiễm)—The quality of form, color, or sexual attraction. ** For more information, please see Lục Trần.
; (色塵) Chỉ cho đối cảnh mà nhãn căn, nhãn thức duyên theo, thu lấy, 1 trong 5 trần, 1 trong 6 trần. Sắc này làm cho tâm thức nhơ nhớp, sinh ra phiền não, cho nên gọi là Trần (bụi bặm). (xt. Ngũ Cảnh, Ngũ Trần, Sắc).
Sắc trần 色塵
[ja] シキジン shikijin ||| "Form objects." One of the six kinds of objects, those of vision. The ideograph 塵, while meaning 'object,' also implies defilement.` => Là một trong 6 trần cảnh, như cảnh tượng. Chữ 'trần'塵 có nghĩa là 'đối tượng', còn hàm nghĩa là nhiẽm ô.
Sắc tu Bách Trượng thanh quy
敕修百丈清規; C: chìxiū bózhàng qīngguī; J: rokushu hyakujō shōki;|Sách, 1 quyển, tên gọi tắt là Bách Trượng thanh quy (百丈清規).
sắc tu bách trượng thanh quy
(勅修百丈清規) Gọi tắt: Sắc tu thanh qui, Bách trượng thanh qui. Thanh qui, 10 quyển (có chỗ ghi 2 quyển), do ngài Đông dương Đức huy biên soạn vào đời Nguyên, các ngài Toàn ngộ Đại hân và sa môn Học nghiệp cùng giáo chính, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Năm Chí nguyên thứ 2 (1336) đời Nguyên, ngài Đức huy vâng sắc chỉ của Hoàng đế Thuận tông, đem bộ Bách trượng cổ thanh qui ở Đại trí Thọ thánh Thiền tự tại núi Bách Trượng, đối chiếu, tham khảo và so sánh với các bộ Cổ thanh qui, Giáo định thanh qui, Bị Dụng thanh qui và Huyễn Trụ thanh qui... rồi kết hợp lại để biên tập thành bộ Sắc tu Bách trượng thanh qui này. Nội dung của bộ thanh qui này chia làm 9 chương: 1. Chương Chúc li: Liệt kê 6 điều mục về cách thức chúc tụng tán thán đối với triều đình. 2. Chương Báo ân: Tán tụng công ơn quốc gia và ân đức rộng lớn của Phật. 3. Chương Báo bản: Liệt kê các điều mục theo thứ tự về ngày Phật đản sinh, Phật thành đạo, Phậtniết bàn và đề cao tinh thần báo ân. 4. Chương Tôn tổ: Ghi những ngày kị của 4 vị là tổ Đạt Ma, tổ Bách Trượng, tổ Khai Sơn và vị thầy nối pháp để báo đáp ân đức Tổ sư. 5. Chương Trụ trì: Đề ra 17 mục như Thướng đường, Tiểu tham, Nhập viện, Thiên hóa... để chỉ cho vị Trụ trì biết những việc phải làm hàng ngày. 6. Chương Lưỡng tự: Gồm 21 hạng mục chỉ dạy sự tiến thoái của Lưỡng tự (nhà Đông, nhà Tây), cách đi và đến của Thị giả, phép pha trà đun nước và các việc linh tinh khác. 7. Chương Đại chúng: Chỉ dạy các phép tắc hàng ngày như việc độ sa di, cách tham đường của người mới thụ giới Cụ túc, cho đến việc du phương tham thỉnh, phó trai chúc, phổ thỉnh, niệm tụng bệnh tăng... 8. Chương Tiết lạp: Nói về các việc kết chế, giới lạp, niệm tụng... 9. Chương Pháp khí: Nêu rõ tất cả pháp khí như: Chuông, mộc bản, mõ, khánh, trống... và chỉ dạy cách đánh các pháp khí này. Chín chương trên đây bao gồm hết các thanh qui của Thiền lâm. Đầu quyển có lời Thượng dụ viết vào năm Chí nguyên thứ 2 (1336) và bài tựa lần khắc in lại của quan Thượng thư bộ Lễ Hồ Huỳnh viết vào tháng 4 năm Chính thống thứ 7. Cuối quyển có bài minh tháp tổ Bách trượng, bài Bách Trượng Sơn Thiên Hạ Sư Biểu Các Kí của Hoàng tấn, bài tựa Cổ thanh qui của Dương Ức, bài tựa Sùng ninh thanh qui, bài tựa Hàm thuần thanh qui, bài tựa Chí đại thanh qui và bài tựa của Hàn Lâm Trực học sĩ Âu Dương Huyền viết vào tháng 3 năm Chí nguyên thứ 2 (1336). Cũng tháng 3 năm Chí nguyên thứ 2, tác giả Đức huy viết lời tựa, trong đó có đoạn (Đại 48, 1159 thượng): Bách trượng thanh qui vẫn còn lưu hành trong thế gian. Từ đời Đường đến nay, trải qua nhiều đời, bao nhiêu thay đổi khác nhau, do đó, không tránh khỏi có sự thêm bớt, luôn luôn thấy có các bản xuất hiện, người học không biết phải theo bản nào nên sinh ra ngờ vực, đó chính là nguyên do soạn bộ sách này. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Vĩnh bình thanh qui Q.hạ; Tăng đường thanh qui phàm lệ; Thiền học tư tưởng sử .thượng].
Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy 勒 修百丈清規
[ja] ロクシュヒャクジョウショウキ Rokushu hyakujō shōki ||| Lexiu bozhang qinggui; 1 fasc. abbreviated title Baizhang qinggui 百丈清規. T 2025.48.1109c-1160b. => (c: Lexiu bozhang qinggui) Sách, 1 quyển, tên gọi tắt là Bách Trượng Thanh Quy百丈清規. (Tôi e rằng cmuller nhầm chữ Lặc 勒 với chữ Sắc 勅 !)
sắc tài
Beauty and talent.
sắc tâm
Matter and mind, the material and immaterial.
; 1) Sắc (pháp có hình chất gây trở ngại và không có tri giác): Matter or material. 2) Tâm (pháp không có hình chất, không thể thấy được, nhưng có tri giác): Mind or immaterial. 3) Ở chư pháp thì gọi là “Sắc Tâm,” trong các loài hữu tình thì gọi là “Thân Tâm”: In inanimate we call “Material and immaterial,” in living things or animate we call “Matter and mind.”
sắc tướng
Xem Sắc.
; The material, material appearance, or external manifestation, the visible. Form, appearance, phenomenon.
; Rupalakshana (skt)—Tướng mạo sắc thân bên ngoài, có thể nhìn thấy được hay các đặc trưng của cơ thể—Material appearance—External manifestation—The visible or corporeal features.
; (色相) I. Sắc Tướng. Hình chất và tướng dáng, là 1 trong các bản chất của tất cả sắc pháp. Bất luận là sinh mệnh hữu tình hay khí thế gian đều có hình chất và tướng dáng của nó. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 115 hạ) nói: Sắc tướng đã không có thì ai biết được bản chất của không? II. Sắc Tướng. Chỉ cho tướng dáng của sắc thân hiện ra bên ngoài có thể thấy được. Như chư Phật, Bồ tát vì phương tiện nhiếp hóa chúng sinh nên tạm thời giả hiện ra tướng dáng sắc thân. Kinh Hoa Nghiêm quyển 1, nói: Vô biên sắc tướng, ánh sáng tròn đầy.
sắc tướng độ
A Buddha's material or visible world.
; Thế giới sắc tướng của chư Phật (có thể thấy được)—A Buddha's material or visible world.
; (色相土) Chỉ cho cõi nướcnươngở của sắc thân vi trần tướng hải của Như lai, là 1 trong Ngũ độ. Cõi này muôn đức thành tựu và trang nghiêm bằng vô số báu vật, rộng khắp không ngằn mé. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.20]. (xt. Ngũ độ).
sắc tượng
Form.
Sắc tứ
(敕賜): Hoàng Đế hạ lệnh ban cho. Như trong Đại Đường Thanh Long Tự Tam Triều Cúng Phụng Đại Đức Hành Trạng (大唐青龍寺三朝供奉大德行狀, Taishō Vol. 50, No. 2057) có đoạn: “Sắc tứ đao nhất khẩu, ư Thanh Long Đại Phật Điện tiền, thọ sắc dữ Hòa Thượng nhị đồng tử thế đầu, tứ Ca Sa y bát các lưỡng phó (敕賜刀一口、於青龍大佛殿前、授敕與和上二童子剃頭、賜袈裟衣缽各兩副, nhà vua sắc ban cho đao một lưỡi, tại trước Chánh Điện của Chùa Thanh Long, sắc ban cho Hòa Thượng [Huệ Quả] hai đồng tử xuống tóc, ban y Ca Sa và bình bát, mỗi thứ hai bộ).” Hay trong Kim Sử (金史) quyển 38, phần Ngoại Quốc Sứ Nhập Kiến Nghi (外國使入見儀) có đoạn: “Thứ dẫn Cao Lệ, Hạ sứ tinh chí đan trì, tam sứ tinh cúc cung, hữu sắc tứ tửu thực, vũ đạo, ngũ bái (次引高麗、夏使幷至丹墀、三使幷鞠躬、有敕賜酒食、舞蹈、五拜, kế đến dẫn sứ thần Cao Lệ, nhà Hạ cùng đến thềm ngọc, cả ba sứ thần vòng tay cúi đầu, vua ban cho rượu thịt, nhảy múa, rồi lạy năm lạy).” Xưa kia, dưới thời quân chủ, phần lớn các tự viện đều được nhà vua ban biển ngạch sắc tứ. Như tại Chùa Trúc Lâm ở Xã Thủy Xuân, Thành Phố Huế có bức hoành đề: “Sắc Tứ Trúc Lâm Đại Thánh Tự (敕賜竹林大聖寺)”. Tại Chùa Quốc Ân, Huế có Long Vị của Tổ Nguyên Thiều (元韶, 1648-1728) đề: “Sắc Tứ Quốc Ân Đường Thượng Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Tam Thế Húy Nguyên Thiều Thượng Thọ Hạ Tôn Lão Hòa Thượng (敕賜國恩堂上臨濟正宗三十三世諱元韶上壽下尊老和尚).”
sắc tứ quan âm cổ tự
See Quan Âm Sắc Tứ Tự.
sắc tứ tập phước
See Tập Phước.
sắc tứ từ ân tự
See Từ Ân Sắc Tứ Tự.
sắc tức thị không
Form is emptiness.
; (色即是空) Phạn: Rùpaô-zùnyatà hoặc Yad rùpaô sà zùnyatà. Đối lại: Không tức thị sắc. Sắc tức là không, câu này có xuất xứ từ Bát Nhã Tâm Kinh do ngài Huyền trang dịch. Chữ Sắc, theo nghĩa rộng, chỉ chung cho vật chất. Câu này có nghĩa là tất cả hiện tượng đều là không vô, hư huyễn, chẳng có thực thể. Tiểu thừa cho con người là do 5 uẩn hòa hợp, trong đó không có thực thể tồn tại độc lập nên nói Nhân vô ngã. Đại thừa chẳng những cho nhân vô ngã mà ngay cả 5 uẩn cũng hư giả chẳng thật, nên nói Pháp vô ngã. Nói 5 uẩn đều không, tức là bất luận hiện tượng vật chất (tương đương với sắc) hay hiện tượng tinh thần (thụ, tưởng, hành, thức), đều thuộc pháp nhân duyên sinh, không có tự thể cố định bất biến, vì thế bản chất của sắc là không. [X. Bát nhã ba la mật đa tâm kinh; phẩm Thực tế trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.25; kinh Liễu nghĩa bát nhã ba la mật đa; phẩm Nhập bất nhị pháp môn kinh Duy ma Q.trung; luận Đại trí độ Q.90; phẩm Quán hành Trung luận Q.2; Bát nhã tâm kinh sớ; Bát nhã ba la mật đa tâm kinh tán; Hoa nghiêm chú pháp giới quán môn]. (xt. Không Tức Thị Sắc).
sắc tức thị không, không tức thị sắc
Rupam eva sunyata, sunyataiva rupam (p & skt)—Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Này Xá Lợi Phất! Thế giới hiện tượng hay sắc tướng này là không, và không quả thực là thế giới hiện tượng. Không không khác với thế giới hiện tượng hay Sắc, thế giới hiện tượng hay Sắc không khác với Không. Cái gì là thế giới hiện tượng thì cái đó là Không, cái gì Không thì cái đó là thế giới hiện tượng”—Matter is just the immaterial, the immaterial is just matter (form is emptiness and the very emptiness is form). In the Heart Sutra, the Buddha told Sariputra: “Sariputra! This phenomenal world or form is emptiness, and emptiness is truly the phenomenal world. Emptiness is not different from the phenomenal world, the phenomenal world is not different from emptiness. What is the phenomenal world that is emptiness, what is emptiness that is the phenomenal world.”
sắc tự tướng
Rupasvabhava (skt)—Tự tính của thế giới bên ngoài—The self-nature of the external world.
Sắc tự tại địa 色自在地
[ja] シキジザイチ shikijizaiji ||| The stage of unimpeded form. The eighth of the ten bhūmis (十地) of the bodhisattva path. => Cảnh giới không chướng ngại sắc chất. Giai vị thứ 8 trong Thập địa của hàng Bồ-tát.
sắc uẩn
UpadarŪpa (P), RŪpa-khandha (P), RŪpa-skandha (S), Aggregate of form RŪpa-khandha (P)Trong ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
; Rùpa skandha (S). The skandha of rùpa, or that which has form, v.ngũ uẩn.
; Sắc uẩn thuộc về thân, còn bốn uẩn kia thuộc về tâm—The skandha of rupa (or that which has form)—Aggregate matter or the skandha of form relates to the physical body, while the remaining four concern the mind.
; (色蘊) Phạn: Rùpa-skandha. Pàli:Rùpa-kkhandha. Cũng gọi Sắc ấm, Sắc tụ ấm. Sự tụ tập của các pháp có tính chất ngại và biến hoại, là 1 trong 5uẩn. Theo luận Hiển dương thánh giáo quyển 5 thì Sắc uẩn đại khái có 5 tướng: 1. Tự tướng: Các pháp sắc thân đều có tướng riêng khác nhau, như cứng là tướng của đất, ướt làtướngcủa nước, nóng là tướng của lửa, động là tướng của gió. 2. Cộng tướng: Tướng hòa hợp của các pháp sắc thân, nghĩa là tất cả sắc thân đều từ đất nước lửa gió hòa hợp thành tướng. 3. Sở y năng y tương thuộc tướng: Tức sắc thân 4 đại chủng là tướng sở y, sắc 4 đại tạo là tướng năng y. 4. Thụ dụng tướng:Các căn mắt, tai... có sức tăng thượng nên sản sinh ra các cảnh giới sắc trần, từ đó có tướng thụ dụng khổ vui nghịch thuận. 5. Nghiệp tướng: Sắc thân có khả năng tạo tác các tướng nghiệp hành, cho nên tất cả nghiệp hành đều nhờ sắc thân nhiếp thụ mà tăng trưởng. [X. kinh Tạp A Hàm Q.2; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.26; luận Đại Tì Bà Sa Q. 75, 76, 128; luận Tạp A Tì Đàm Tâm Q.1, 2; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5, phần đầu; luận Thuận chính lí Q.1; luận Đại thừa A Tì Đạt Ma Tạp tập Q.1; luận Đại thừa bách pháp minh môn; luận Duy thức Q.1, 2; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 1]. (xt. Ngũ Uẩn).
Sắc uẩn 色蘊
[ja] シキウン shikiun ||| (rūpa-skandha). The 'aggregate of form.' The gathering of materiality. The cluster of material existence. One of the five skandhas. It refers to material existence as opposed to mental functions as the other four skandhas do. In Abhidharmakośa theory this category consists of the eleven elements of the five sense organs, their five objects and unmanifest form. In Yogācāra theory, there are also eleven elements in this category, including the five sense organs, the five faculties and subtle form. => (s: rūpa-skandha). Sự nhóm chứa các sắc thể. Tổ hợp của các vật thể hiện hữu. Là một trong 5 uẩn. Sắc uẩn liên quan đến sự hiện hữu của sắc pháp khác với phạm trù tâm pháp như 4 uẩn còn lại. Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, Sắc uẩn gồm 11 thành phần từ 5 giác quan, 5 trần cảnh và một Vô biểu sắc. Theo giáo lý Duy thức, cũng có 11 thành phần gồm 5 giác quan, 5 trần cảnh và một Tế sắc
sắc vi
Atoms of things of form, or colour.
; Vi trần—Atoms of things, of form, or colour.
sắc vị
The flavour of sexual attraction, love of women.
; Hương vị của sự hấp dẫn dục tình—The flavour of sexual attraction, or love of women.
sắc xứ
Xem sắc nhập.
; See Sắc Nhập.
sắc y
(色衣) Màu sắc của áo ca sa. Theo phẩm Thế gian giới trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng thì 5 bộ (Đàm vô đức, Tát bà đa, Di sa tắc, Ca diếp di và Ma tăng ha kì) được khu biệt bằng màu sắc của áo ca sa, đời sau bèn dựa vào đó để biểu thị thứ bậc cao thấp của tăng chúng, nên ý nghĩa đã khác nhau. Nguyên do Sắc y của chư tăng Phật giáo Trung quốc bắt nguồn từ những tử y (áo tía), phi y (áo màu hồng đào) mà triều đình ban cho các bậc Cao tăng, Đại đức, hoặc vì mục đích lãnh đạo tăng ni mà đặt ra 1 màu áo nhất định để may phục sức của các vị quan tăng. Về sau, các tông căn cứ vào màu sắc của áo pháp để phân biệt cấp bậc của chư tăng. [X. điều Sắc y trong Phật tượng tiêu xí nghĩa đồ thuyết Q.thượng; Hiển mật uy nghi tiện lãm Q.thượng].
sắc ái
Xem sắc dục.
sắc ái kết
RŪparāga (S), Desire for fine material existence 1- Trong hai thằng thúc: dây trói buộc chúng sanh vào vòng luân hồi là ham muốn đeo níu trong Sắc giới (ruparaga) và ham muốn đeo níu trong Vô sắc giới. 2- Lòng còn thích hưởng phước ở cảnh tiên sắc giới. Một trong ngũ thượng kết: sắc ái kết, vô sắc ái kết, mạn kết, trạo kết, vô minh kết. 3- Mối trói buộc mà người đắc quả A la hán trừ dứt được là không còn thích hưởng phước cõi tiên hay sắc giới nữa.
sắc âm
See Sắc Uẩn.
sắc ấm
một trong năm ấm. Xem năm ấm.
; Rùpa-skandha. Xem sắc uẩn.
Sắc 色
[ja] シキ shiki ||| (1) (rūpa): 'form.' 1) That which changes and decays, has the quality of shape and mutual obstruction. The Sanskrit root of the word rūpa, rup, is a verb which means to have form, therefore the primary meaning of 'something which has form.' It is understood as something created by forming (Skt. rūpyata iti rūpam). It also has the meaning of the verbal root ru, meaning decay, or break down, and therefore, something which decays or breaks down, or changes. It is a word which refers to a material object which has shape, is formed or created, and changes. It is understood with the meaning of "materially obstructing," and bianhuai 變壞, "changing and decaying," both of which are the nature of all that possesses form. Other technical usages of the term include the meanings of (1) color, colorful (Skt. varna, citra, ranga); (2) color and form; that is, as an object of the eye consciousness. That which can be seen by the eye. All material existence, possessing form. The objects of the faculties of perception, so not simply color, but color and form together. Objects of vision; one of the five object-fields. Also called sechen 色塵 the 'data-field of form,' which is one of the 'six data-fields' or six objects of consciousness. Also has the meaning of 'form realm' (色界). In the Abhidharmakośa school, 色 is also interpreted as 顯色, that is, visible color as opposed to 形 (xing) which means visible shape. (3) In the doctrine of the Yogacara school 瑜伽行派, one of the five categories of elements within the group of form elements (色法). When considered as one of the five object realms (五境), it is the object-realm of the faculty of sight. => (s: rūpa; j: shiki; e: form) 1. Thứ thay đổi và biến hoại, có đặc tính hình dạng và ngăn ngại lẫn nhau. Từ gốc trong tiếng Sanskrit của rūpa là rup, là động từ với nghĩa có hình dáng. Được hiểu là một vật thể được tạo ra do sự tạo hình (Skt. rūpyata iti rūpam). Còn có nghĩa xuất phát từ động từ gốc là Ru, có nghĩa là tàn hoại hay hư nát, do vậy, sắc là thứ biến hoại, hư nát, và thường biến đổi. Là từ ngữ đề cập đến vật chất có hình dáng, được tạo tác, và thường xuyên biến dạng. Còn được hiểu với nghĩa là “chất ngại” 質礙) và biến hoại 變壞, cả hai đều là đặc tính của những vật có sắc chất. Cách dùng có tính cách chuyên biệt khác của từ nầy còn có nghĩa là màu sắc (Skt. varna, citra, ranga). 2. Màu và sắc; có nghĩa là đối tượng của nhãn thức. Những vật có thể thấy được bằng mắt. Tất cả những vật thể hiện hữu, đều có hình sắc. Đối tượng của ý thức, không chỉ đơn thuần là màu sắc, mà gồm cả màu sắc và hình dáng. Đối tượng của sự nhìn thấy; là một trong năm trần cảnh. Còn gọi là sắc trần, là một trong sáu lĩnh vực hay sáu đối tượng của thức. Còn có nghĩa là sắc giới (色界). Theo tông A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, sắc được hiểu là Hiển sắc 顯色, có nghĩa là sắc màu có thể thấy được, khác với hình 形 ), có nghĩa là hình dáng có thể thấy được. 3. Theo giáo lý Du-già hành tông, sắc là một trong năm nhóm thuộc Sắc pháp (色法). Khi xem sắc là một trong năm trần cảnh (五境), nó chính là trần cảnh, đối tượng của nhãn căn.
sắc, thanh, danh, lợi
Form, sound, fame, fortune or profit.
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp
Forms, sounds, scents, tastes, textures (touches), and mental objects.
sắp
1) To put in order—To arrange. 2) To be on the point of (about to).
sắp xếp thời khắc tu hành
To establish (arrange) a time-table (frame) to practice the way.
sắp đặt
See Sắp (1).
sắt
Ống sáo—A lute.
sắt thạch
Tảng đá dùng làm ngôi cho Bất Động Minh Vương—The stone of which the throne of Arya-acalanatha-raja consists—See Bất Động Minh Vương.
sằn đề
Ksanti (S). Patience, forbearance, enduring shame.
sằn đề ba la mật
Xem Kiên nhẫn Ba la mật.
; Ksànti-pàramità (S). Cardinal patience.
sằn đề tiên nhân
Ksàntirsi (S). Name of Sàkyamuni in a previous incarnation, the patient or enduring rsi.
sằn đề đề bà
Śāntideva (S)Tịch Thiên.
; Kṣānti-vadirsi (S), Kṣāntideva (S)Thầy dạy võ Thái Tử Tất đạt Đa thuở nhỏ = Đồng Thần, Nhẫn nhục ThiênThầy dạy võ của Thái tử Tất Đạt Đa.
Sằn-đề ba-la-mật
phiên âm từ Phạn ngữ là Kṣantipramit, tức là Nhẫn nhục ba-la-mật, một trong sáu pháp ba-la-mật. Cũng gọi là Nhẫn độ.
sẳn có
Available.
sẳn sàng
Ready—Prepared.
sỉ
1) Răng: Đặc biệt là răng trên phía trước—Teeth (especially the front and upper teeth). 2) Sỉ Nhục: Disgrace—Shame—Ashamed.
sỉ mạ
To affront—To insult.
sỉ mộc
Dantakastha (skt)—Cái que tăm làm sạch răng—A stick for cleaning the teeth.
sỉ nhục
Disgrace—Dishonour—Shame.
sỉ tiểu mộ đại
Chối bỏ hay mắc cở với cái nhỏ (Tiểu Thừa) và mến mộ cái lớn (Đại Thừa)—Ashamed of the small (Hinayana) and in love with the great (Mahayana).
; (耻小慕大) Hổ thẹn nhỏ, mến chuộng lớn. Nghĩa là khởi tâm hổ thẹn đối với sự nông cạn, yếu kém của Tiểu thừa giáo mà hâm mộ sự cao siêu, tôn quí của Đại thừa giáo. Trong 5 thời phán giáo do tông Thiên thai thành lập thì thời Phương đẳng thứ 3 là thời pháp quở trách sự thiên chấp của Tiểu thừa và khen ngợi sự viên dung của Đại thừa. Hàng Thanh văn được nghe thời pháp này liền phát tâm Sỉ tiểu mộ đại. Đây là lợi ích của sự quở trách ở thời Phương đẳng vậy. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10]. (xt. Đàn Thiên Tích Tiểu).
sỉ ấn
Ấn có hình răng cưa—A serrated seal.
Sỉ 恥
[ja] チ chi ||| (1) To be ashamed; to shame oneself. (2) Shame, embarrassment. => 1. Xấu hổ, tự mình xấu hổ 2. Sự ngượng ngùng, tình trạng bối rối.
sị
Bí sị—Sad.
sỏi đời
Experienced.
số
To number, count, enumerate, figure out, calculate, reason, reprimand; numbers, an account, fate, destiny; flurried. It is also used for trí knowledge and for mental content or conditions as in tâm số.
; 1) Con số: Number (n). 2) Đếm số: To Count—To Enumerate—To figure out. 3) Số mệnh: Fate—Destiny—Lot.
; (數) Phạn: Saôkhyà. Số lượng biểu thị sự tồn tại của các pháp, 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức, 1 trong 24 đức của học phái Thắng luận. Ấn Độ chia Số làm 3 loại: Đơn số (1 số), Song sốb(2 số) và Phức số (nhiều số). Từ 1 đến vô số (Phạn:Asaôkhya, a tăng kì) thông thường được biểu thị bằng 52 loại số tăng dần theo pháp thập tiến (decimal system) như sau: Một, mười, trăm, nghìn, vạn, lạc xoa (Phạn: lakwa), a để lạc xoa (Phạn: atilakwa), câu chi (Phạn: koỉi), mạt đà (Phạn: madhya), a dođa (Phạn: ayuta), đại a do đa, na do đa (Phạn: nayuta), đại na do đa, bát la do đa, đại bát la do đa, căng yết la, đại căng yết la, tần bạt la, đại tần bạt la, a sô bà, đại a sô bà, tì bà ha, đại trí bà, đại địa trí bà, hê đô, đại hê đô, yết lạp bà, đại yết lạp bà, ấn đạt la (Phạn: indra), đại ấn đạt la, tam ma bát đam, đại tam ma bát đam, yết để, đại yết để, niêm phiệt la xà, đại niêm phiệt la xà, mỗ đạt la, đại mỗ đạt la, bạt lam, đại bạt lam, san nhã (Phạn: saôjĩà), đại san nhã, tì bộ đa, đại tì bộ đa, bạt la sàm, đại bạt la sàm, a tăng kì. A tăng kì cũng gọia tăng kì da,a tăng xí da,a tăng, tăng kì... Hán dịch là vô số, vô ương số, nghĩa là không thểtính đếm. Nhưng từ 1 đến a tăng kì vốn có 60 loại số, về sau thất lạc 8 số, cho nên chỉ còn 52 số, Phiên dịch danh nghĩa đại tập thì có thêmvào 8 số thất lạc mà thành 60 số. Ngoài ra, muốn biểu thị số cực lớn thì dùng số vi trần (bụi nhỏ) để ví dụ; phân số dưới số 1 là số cực nhỏ (hoặc1 phần 16), gọi là Ca la phần; phân số nhỏ nhất gọi là U ba ni sát đàm phần (Phạn: upaniwadam, Ưu ba ni sát đà phần). Kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch mới) dùng 1 A tăng kì làm đơn vị rồi nêu ra 10 số:A tăng kì, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khảsổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả thuyết, đây gọi là Thập đại số. Phép tính này là đem A tăng kì nhân với A tăng kì, gọi là A tăng kì chuyển; A tăng kì chuyển lại nhân với A tăng kì chuyển thì thành vô lượng; các số lớn tiếp theo sau cứ đó mà suy ra. [X. luận Du già sư địa Q.3, 56; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa bách pháp minh môn; Du già luận kí Q.15, phần cuối].
số châu
Lần chuỗi hạt, thường là 108—To count or tell beads (rosary), which consist of various numbers, generally 108.
; (數珠) Phạn: Pàsakamà là. Hán âm: Bát tắc mạc. Cũng gọi Niệm châu, Tụng châu, Chú châu. Tràng hạt dùng để niệm danh hiệu Phật. Theo kinh Đà la ni tập thì tràng hạt có các loại: 21 hạt, 42 hạt, 54 hạt và 108 hạt. Theo kinh Sổ châu công đức thì có các loại: 14 hạt, 27 hạt, 54 hạt và 108 hạt. Theo kinh Kim cương đính du già niệm châu thì loại nhiều nhất là 1.080 hạt, thông dụng là 108 hạt, trung bình là 54 hạt và ít nhất là 27 hạt. Theo đó thì số hạt cơ bản là 108 hạt. Về ý nghĩa thì 108 hạt là chỉ cho 108 tam muội đoạn trừ 108 phiền não; 54 hạt là biểu thị 54 giai vị trong quá trình tu hành của Bồ tát như Thậptín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và 4 thiện căn nhân địa; 42 hạt thì biểu thị cho 42 giai vị: Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác; 27 hạt là chỉ cho 18 bậc Hữu học và 9 Vô học tu hành Tứ hướng, Tứ quả của Tiểu thừa; 21 hạt biểu thị 21 giai vị là Thập địa, Thập ba la mật và Phật quả; còn 14 hạt thì chỉ cho 14 đức vô úy của bồ tát Quán thế âm. Về chất liệu thì tràng hạt được làm bằng các loại vàng, bạc, đồng đỏ, hạt bồ đề, hạt sen, hạt kim cương, chiên đàn đen, chiên đàn đỏ, chân châu, san hô, hổ phách, lưu li, sắt... Các kinh phần nhiều cho rằng dùng hạt bồ đề là tốt hơn cả. Về niên đại thì Phật giáo bắt đầu sử dụng tràng hạt từ sau thế kỉ II. Truyện ngài Đạo xước trong Tục cao tăng truyện quyển 30 (Đại 50, 593 hạ) nói: Mọi người đều lần tràng hạt, miệng cùng niệm Phật. Nhờ đó mà biết được việc dùng tràng hạt để đếm danh hiệu Phật đã có từ thời Tùy, Đường ở Trung quốc. [X. kinh Mộc hoạn tử; phẩm Trì niệm trong kinh Đại bi không trí; Thích thị yếu lãm Q.trung; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.18; Loại tụ danh vật khảo Q.255]. (xt. Niệm Châu).
số cát sông Hằng
(Hằng hà sa số): số lượng rất lớn, không thể tính đếm, cũng như số cát của con sông Hằng. Trong kinh Phật thường dùng cách nói này để diễn đạt những số lượng rất lớn.
số diệt vô vi
See Trạch Diệt.
số duyên tận
Pratisamkhyanirodha (skt)—Số diệt vô vi—See Trạch Diệt.
số hành phiền não
Dục vọng và hậu quả của nó—The common passions and their consequences.
số kiếp
Destiny—Fate.
số luận
Sàmkhya (S). A non-buddhist sect. Also Tiến hóa nhị nguyên luận.
; Các bộ luận của phái Tát Bà Đa Bộ (bàn về bản pháp số của Phật giáo)—The sastras of the Sarvastivadins. (I) Triết học Số Luận (Nhị Nguyên), mà Câu Xá Tông lấy làm nền tảng triết học chính, là một trong những nền triết học tối cổ ở Ấn Độ, có nhiều điểm tương đồng với Phật Giáo. Theo “Những Nền Tảng Triết Học Chính Yếu Của Phật Giáo” của Giáo Sư Junjiro Takakusu, thì phái nầy chủ trương rằng vạn hữu thường tồn dù chúng biến chuyển liên tục không ngừng nghỉ; không có cái gì mới xuất hiện, mà cũng không có cái gì biến mất. Tuy nhiên, Phật giáo chủ trương vạn hữu chỉ hiện hữu trong từng sát na, chứ hoàn toàn không có bản thể lưu tồn. Cả Số Luận và Phật Giáo đều phủ nhận lý thuyết về suy luận (tỷ lường). Do đó ta có thể nói Phật giáo chủ trương lý thuyết về thể tính tạm thời hay tức khắc (thuyết sát na diệt), nghĩa là mọi phân chia mọi thực tại thành những pháp “sát na sinh diệt.” Trong khi học phái Số Luận chủ trương thuyết “cực vi” và thừa nhận có ba thứ cực vi—The Sankhya Philosophy (Dualism), which the Kusa School based on for its main philosophy, one of the oldest philosophies of India, which has several tenets in common with Buddhism. According to Prof. Junjiro Takakusu in “The Essentials Buddhist Philosophy,” this school maintains that all things exist eternally though they are constantly changing; nothing new appears and nothing disappears. Buddhism, however, holds that everything exists only instantaneously; there is no abiding substance at all. Both Buddhism and the Sankhya Philosophy deny the theory of inherence. Buddhism may be said to hold, therefore, the theory of momentariness or instantaneous being. All reality may be split into separate elements which are instantaneous. The Kusa School maintains the atomic theory and asserts the existence of three atoms: 1) Vi Tế Cực Vi: Parama-anu (skt)—Bảy vi tế cực vi tạo thành hữu hình cực vi, là bản thể vật chất nhỏ nhất, có hình lập phương. Vi tế cực vi bất khả phân, vô cùng vi tế và không thể phân tích được nữa, nó chỉ có thể nhận ra được bằng thiền định—The finest atom. Seven of these finest atoms constitute the form atom which is the finest substance. It is of cubic form. The finest atom is the finest divisable atom of all and cannot be further analyzed. It is conceived only by meditation. 2) Hữu Hình Cực Vi: Anu (skt)—The form atom—Bảy hữu hình cực vi tạo thành vi trần cực vi mà mắt của một vị Bồ Tát , một vị Phật tương lai, có thể nhận thấy được—Seven of these form atoms constitute the fine dust atom which can be perceived by the eyes of a Bodhisattva, a future Buddha. 3) Vi Trần Cưc Vi: Rajas (skt)—The fine dust atom. (II) Theo Số Luận, mỗi yếu tố hay pháp tạo thành những dữ kiện giác quan và những dữ kiện tư tưởng trong từng sát na, được phái Duy Thực nói đến lần đầu tiên trong lịch sử triết học Ấn Độ. Ý niệm một sự thể không có bản thể thường trụ đi đôi với thuyết sinh diệt hay vô thường, mọi vật không thường tồn. Theo thuyết nầy thì chỉ có hiện tại là hiện hữu. Quá khứ không hiện hữu vì nó không còn nữa, và vị lai thì bất thực vì nó chưa xuất hiện. Thuyết nầy được các bộ phái Phật giáo khác trung thành chủ trương như: Đại Chúng Bộ, Pháp Tạng Bộ, và Kinh Lượng Bộ—According to the Sankhya, all elements or dharmas which constitute momentary sense-data and thought-data were enumerated by the Realistic School, perhaps for the first time in the history of Indian philosophy. The idea that a thing has no “sub-stance” goes along with the theory of change or impermanence, everything has no duration. According to this theory, only the present exists. The pas does not exist, because it is no more, and the future is not real, because it has not yet come into existence. This theory has been faithfully held by such other Buddhist schools as the Mahasanghika, the Mahisasaka, and the Sautrantika.
; (數論) Cũng gọi Số kinh. Tên gọi khác củaLuận tạng thuộc Thuyết nhất thiết hữu bộ (Tát bà đa bộ) Tiểu thừa, cũng là từ gọi thay cho Thuyết nhất thiết hữu bộ. Chữ số trong Số luận có 2 nghĩa, một là Tuệ số, hai là Pháp số. Nói theo nghĩa Tuệ số thì trong Tam học của Tam tạng, Thuyết nhất thiết hữu bộ chú trọng về A tì đàm, vì thế cũng gọi là Tì đàm tông. Giáo nghĩa của tông Tì đàm hiển bày là dùng Tuệ học để đoạn hoặc chứng lí, nhưng tông nghĩa của tông này lại đặc biệt chú trọng Tâm sở hữu pháp mà thời xưa cũng gọilàTâm số, do đó, có thể thấy tông này lấyTuệ số làm gốc, vì thế nên tên Luận tạng của tông này cũng gọi là Số luận. Nếu nói theo nghĩa pháp số thì Thuyết nhất thiết hữu bộ lập 75 pháp số; hơn nữa, tông nghĩa của tông này cũng là căn bản pháp số của Phật giáo, vì thế mà pháp do tông này nói hoặc Luận tạng do tông này y cứ được gọi là Số luận. Từ thời đại Nam Bắc triều đến khoảng đầu đời Đường, giới Phật giáo Trung quốc quen gọi các vị Luận sư của tông Thành thực là Luận gia, gọi các vị Luận sư của tông Địa luận là Địa sư và gọi các vị Luận sư của tông Nhiếp luận là Nhiếp sư, theo đó nên gọi các Luận sư của tông Tì đàm là Số gia, Số sư, Số nhân... Ngoài ra, trong 6 phái Triết học ở Ấn độ, phái được thành lập sớm nhất cũng gọi là Số luận (Phạn: Saôkhya), tông nghĩa của phái này dùng trí tuệ phân biệt để suy tính các pháp và theo đó mà đặt tên là Số luận. Mặc dù tên gọi của phái này đồng với tông Tì đàm của Tiểu thừa, nhưng giáo nghĩa và chỉ thú của 2 phái thì khác nhau rất xa, cho nên xưa nay trong kinh điển Phật giáo thường gọi phái này là Số luận ngoại đạo để phân biệt với Số luận Tì đàm của Phật giáo. [X. Pháp hoa huyền luận Q.8, 10; Duy ma nghĩa sớ Q.trung; Duy ma kinh am la kí Q.16; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng, 6 thượng; Đại thừa huyền luận Q.2, 5]. (xt. Tì Đàm Tông).
số luận học phái
(數論學派) Số luận, Phạn: Saôkhya. Hán âm: Tăng khư, Tăng xí da. Hán dịch: Số luận, Số thuật, Chế số luận. Học phái Số luận được thành lập sớm nhất trong 6 phái triết học của Ấn độ. Tương truyền Tổ khai sáng là tiên nhân Ca tì la (Phạm:Kapila). Học phái này dùng trí tuệ phân biệt để tính toán các pháp, đồng thời lấy số làm nền tảng để đặt tên luận thuyết, cho nên gọi là phái Số luận. Ởthời kì đầu, phái này chủ trương tinh thần và vật chất hợp nhất thành Ngã tối cao, tức là đứng trên lập trường Hữu thần luận và Nhất nguyên luận; nhưng đến thời kì cuối thì phủ nhận Ngãtối cao, trở thành Nhị nguyên luận của Vôthần luận.Thần ngã là ý thức thuầntúy, không có tác dụng, chỉ quán chiếu tự tính mà thôi. Tự tính theo thứ lớp triển khai thành Giác (Phạn: Buddhi), Ngã mạn (Phạn: Ahaôkàra), Ngũ đại, Thập lục biến dị. Nguyên lí này cùng với Thần ngã, Tự tính gọi chung là 25 đế. Cái gọi là Tự tính (Phạn: Prakfti) có khả năng triển khai thành 1 hạt nhân duy nhấtmà yếu tố cấu thành là 3 đức: Thuần chất (Phạn: Sattva), kích chất (Phạn: Rajas) và ế chất (Phạn: Tamas). Thần ngã thoát li kết quả của vật chất, phát sinh sau khi triển khai. KhiThần ngã tách rời vật chất mà tồn tại độc lập thì gọi là giải thoát. Kinh điển xưa nhất của học phái này là Tăng khư tụng (Phạn: Saôkhyakàrikà) do ngài Tự tại hắc (Phạn: Ìzvarakfwịa) trứ tác vào khoảng thế kỉ IV, V. Những sách chú thích Tăng khư tụng gồm có luận Kim thất thập và các sách chú thích của Gauđapàda và Màỉhàra... đều xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ VI. Về sau lại có Tăng khư kinh (Phạn: Saôkhya-sùtrà), cũng là sách quan trọng của học phái này. Trong các ngoại đạo ở Ấn độ, Số luận là học phái có thế lực nhất. Trong các kinh điển của Phật giáo có rất nhiều chỗ bác bỏ học thuyết của phái này. Ngày nay, Số luận trở thành học phái độc lập tồn tại ở vùng phụ cận phía tây Ngõa lạp na tại Ấn độ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.16, 39 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.70; luận Du già sư địa Q.6; luận Thành thực Q.3; luận Ngoại đạo tiểu thừaniết bàn; luậnNgoại đạo tiểu thừa tứ tông; luận Kim thất thập Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Ngoại đạo triết học; Ấn độ lục phái triết học].
số luận kinh
Saṃkhyā sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
số luận ngoại đạo sư
Kapila (skt)—Kiếp Tỳ La là người sáng lập ra Số Luận Ngoại Đạo. Bộ luận cố đặt vạn pháp trong 25 đế. Thiên Thân Bồ Tát đã viết Chân Thực Luận để phá lại bộ Tăng Khư Luận nầy—Founder of the Sankhya philosophy (Tăng Khư Luận). It is an attempt to place all concepts in twenty-five categories, with Purusa at the head and the others in ordered progress. It also teaches “the eternity and multiplicity of souls.” Vasubandhu wrote in criticism of the system.
số luận phái
Sankha (P), Sāmkhyā (S), Sankha (P)Tăng khứ sư, Tăng khư đa, Tiến hóa nhị nguyên luận1- Học phái Tăng khư đa (Học phái Số luận), một phái tu của Bà la môn giáo ở Thiên trúc hoạt động trước khi đức Phật ra đời, dựa vào hai nguyên lý tinh thần thuần túy và nguyên chất căn bản để thuyết minh thế giới hiện thực. Tổ là ngài Ca tỳ la (Karpilarsi), kinh căn bản là Tăng khư đa. 2- Tăng khu luận trong Vệ đà.
số luận sư
Founder of the Sànkhya philosophy.
; Kapila (skt)—See Số Luận Ngoại Đạo Sư.
Số luận sư 數論師
[ja] スロンシ Suronshi ||| (1) Kapila, the founder of the Sāṃkhya sect. (2) A Sāṃkhya philosopher. => 1. Kapila, vị sáng lập trường phái Số luận (s: Sāṃkhya) 2. Triết gia thuộc phái Số luận.
số luận tụng
Xem Tăng Khư tụng.
; (數論頌) Phạn: Saôkhya-kàrikà. Cũng gọi Số luận kệ, Tăng khư tụng. Kinh điển của học phái Số luận (Phạn: Sàôkhya) trong 6 phái triết học của Ấn độ, do ngài Tự tại hắc (Phạn: Ìzvara= kfwịa) soạn vào khoảng thế kỉ IV, V. Nội dung sách này gồm 72 bài kệ, chủ trương lấy việc quán tưởng các nỗi thống khổ của cuộc đời làm điểm xuất phát và lấy 25 đế làm nguyên lí cơ bản mà thực tiễn tu hành pháp quán, thì có thể đạt được giải thoát. Hết thảy các pháp đều có thể tóm thu trong 25 đế; 25 đế lấy Thần ngã (Phạn: Puruwa) và Tự tính (Phạn: Prakfti) làm 2 nguyên lí trọng đại, từ Tự tính triển khai thành Giác (Phạn: Buddhi) và Ngã mạn (Phạn:Ahaôkàra), từ Ngã mạn triển khai thành Ý căn (Phạn: Manas), 5 Tri căn (Phạn: Buddhìndriya, tức 5 giác quan), 5 Tác căn (Phạn: Karmendriya, tức cơ năng vận động), 5 Duy (Phạn:Tanmàtra, tức sắc, thanh, hương, vị, xúc), 5 Duy lại triển khai ra 5 Đại (Phạn: Mahàbhùta, tức đất, nước, lửa, gió, không). Bản chất của Tự tính là 3 đức: Thuần (Phạn: Sattva), Kích chất (Phạn: Rajas) và Ế chất (Phạn: Tamas), sự hoạt động biến hóa của 3 đức sản sinh ra hết thảy mọi hiện tượng. Thần ngã là trí thuần túy, không có thuộc tính, không có tác dụng. Nếu thể nhận được sự sai khác về mặt bản chất giữa Tự tính và Thần ngã thì Tự tính đình chỉ hoạt động mà được giải thoát. Về những sách chú thích quan trọng của Số luận tụng thì có luận Kim thất thập và các bộ chú thích của Cao đạt phạ đạt (Phạn: Gauđapàda) và Ma đạt la (Phạn: Màỉhara)...
Số luận 數論
[ja] スロン Suron ||| (1) Sāṃkhya . An Indian brahmanistic philosophical sect founded by Kapila 數論師. Often mentioned in Buddhist treatises as one of the six heterodox schools 六外道. (2) Hīnayāna abhidharma; Sarvāstivāda. => (s: Sāṃkhya) Một trường phái triết học Bà-la-môn do Kapila sáng lập (Số luận sư). Thường được đề cập trong kinh luận Phật giáo như là một trong sáu trường phái ngoại đạo. A-tỳ-đạt-ma Tiểu thừa ; Nhất thiết hữu bộ.
số mệnh
Niyati (S), Fate Số phận, Xem Số mệnh.
; Nìyati (S). Fate, destiny. Also s- phận.
; Destiny.
số nhân
Another name for the Sarvastivahad—See Số Pháp Nhân in Vietnamese-English Section, and Sarvastivada in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
số pháp nhân
Người của bộ Tát Bà Đa hay Đại Chúng Bộ cho rằng vạn hữu là thực—Those of the Sarvastivadah school, who held that all things are real. ** For more information, please see Sarvastivada in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
số rủi
Bad luck.
số thủ thú
Pudgala (skt)—Bổ Đặc Già La—Tất cả các loài hữu tình đều phải lưu chuyển trong luân hồi sanh tử—A definition of Pudgala, i.e. all beings subject to transmigration.
số tức
See Sổ Tức.
số tức quán
(數息觀) Phạn: Ànàpàna-smfti. Cũng gọi: A na ban na quán, An na ban na niệm, Niệm an ban, An ban thủ ý. Hán dịch: Niệm nhập xuất tức, Niệm vô sở khởi, Tức niệm quán, Trì tức niệm. Gọi tắt: An ban, Sổ tức. Phép đếm số lần hơi thở vào hoặc ra để thu nhiếp tâm vào 1 cảnh, khiến thân tâm ngưng lặng, 1 trong Ngũ đình tâm quán, 1 trong Bát niệm, 1 trong Thập niệm. Đây là pháp tu diệt trừ tán loạn để vào chính định. Trong tiếng Phạm, àna vốn có nghĩa là bảo đến, ở đây chỉ cho hơi thở vào;apàna vốn có nghĩa là đuổi đi, ở đây chỉ cho hơi thở ra. Đây là phương pháp điều hòa hơi thở, trước thở vào, sau thở ra. Nhưng cũng có thuyết chủ trương trước thở ra, sau thở vào mà Hán dịch là Niệm xuất nhập tức. Nếu chia nhỏ Sổ tức quán ra thì có 5 loại: Toán số tu tập, Ngộ nhập chư uẩn tu tập, Ngộ nhập duyên khởi tu tập, Ngộ nhập thánh đế tu tập và Thập lục hành quán tu tập. [X. kinh Tạp a hàm Q.29; kinh Tu hành đạo địa Q.5; kinh Đại an ban thủ ý Q.hạ; luận Câu xá Q.22; luận Du già sư địa Q.27].
số đỏ
Good fortune—Luck.
sống chết
Life and death.
sống dai
To live long.
sống hòa hợp với người khác
To live in harmony with each other.
sống không gia đình
Anagāriya (P), Homelessness.
sống lại
To revive—To come to life again—To come alive again—To arise from death.
sống sót
To survive.
sống sượng
Tactless—Crude.
sống theo dục lạc
Sống theo dục lạc, bất cần đạo lý—To operate under the pleasure principle. Doing things in life that brings one pleasure regardless of morals and virtues.
sống thác
See Sống Chết.
sống thọ
Longevity. Những lời Phật dạy về “Sống thọ” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Longevity” in the Dharmapada Sutra: 1) Sống trăm tuổi mà phá giới và buông lung, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà trì giới, tu thiền định—To live a hundred years, immoral and uncontrolled, is no better than a single-day life of being moral and meditative (Dharmapada 110). 2) Sống trăm tuổi mà thiếu trí huệ, không tu thiền, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà đủ trí, tu thiền định—To live a hundred years without wisdom and control, is no better than a single-day life of being wise and meditative (Dharmapada 111). 3) Sống trăm tuổi mà giải đãi không tinh tấn, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà hăng hái tinh cần—To live a hundred years, idle and inactive, is no better than a single-day life of intense effort (Dharmapada 112). 4) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp vô thường sinh diệt, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp sinh diệt vô thường—To live a hundred years without comprehending how all things rise and pass away, is no better than a single-day life of seeing beginning and end of all things (Dharmapada 113). 5) Sống trăm tuổi mà không thấy đạo tịch tịnh vô vi, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy đạo tịch tịnh vô vi—To live a hundred years without seeing the immortal state, is no better than a single-day life of one who sees the deathless state (nirvana) (Dharmapada 114). 6) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp tối thượng, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp tối thượng—To live a hundred years without seeing the Supreme Truth, is no better than a single-day life of someone who see the highest law (Dharmapada 115).
sống tạm
To live temporarily.
sống vào của cúng dường
To live on alms.
sống vất vưởng
Precrious lives.
sống yên ổn
Life of tranquility.
sống đầy đủ
To live in comfort.
sống động
Vivid.
sống đời khổ cực
To lead a miserable life.
sống ở miền núi
Giriśanta (S), Inhabiting in the mountains.
sốt sắng
Fervent—Zealous.
sồng sộc
To rush into the room.
sổ châu
Màlà (S). A rosery; to tell beads, which consist of various numbers, generally 108. Also chuỗi hạt.
Sổ châu 數珠
[ja] ジュジュ ジュズ ズズ juju juzu zuzu ||| A string of small beads used for counting prayers made to a buddha or great bodhisattva, in English, rosary (akṣa-sūtra、 japa-māla, pāsakamālā). The tradition of using rosaries in India predates Buddhism, as such implements were used earlier in Brahmanistic religions. Made of twenty-seven, fifty-four, or 108 beads. The number 108 is the number of afflictions; fifty-four is half of this, and twenty-seven is again half. Also written 念珠. => Chuỗi hạt dùng để đếm khi niệm danh hiệu Phật hoặc Bồ-tát. Tiếng Anh là rosary (s: akṣa-sūtra、 japa-māla, pāsakamālā). Truyền thống dùng chuỗi hạt được ghi nhận là có trước thời Đức Phật, được dùng trước đó trong tín ngưỡng Bà-la-môn. Gồm 27, 54, và 108 hạt. 108 là biểu trưng cho 108 phiền não, 58 là một nửa, và 27 là một phần tư. Còn gọi là Niệm châu念珠.
Sổ diệt vô vi
xem Ba pháp vô vi.
Sổ duyên diệt 數縁滅
[ja] シュエンメツ shuenmetsu ||| Extinguishing afflictions by analytical meditation, or analytical wisdom; equivalent to 數縁盡. (pratisaṃkhyā, pratisaṃkhyā-nirodha) => Diệt trừ phiền não bằng pháp thiền minh sát, hay minh sát tuệ; Đồng nghĩa với Sổ duyên tận (數縁盡 s: pratisaṃkhyā, pratisaṃkhyā-nirodha).
Sổ duyên tận 數縁盡
[ja] シュエンジン shuenjin ||| Extinguishing afflictions by analytical meditation, or analytical wisdom; equivalent to 數縁滅. (pratisaṃkhyā, pratisaṃkhyā-nirodha) => Diệt trừ phiền não bằng pháp thiền minh sát, hay minh sát tuệ; Đồng nghĩa với Sổ duyên diệt (數縁滅 s: pratisaṃkhyā, pratisaṃkhyā-nirodha).
sổ lồng
To escape from a cage.
sổ quán, sổ môn, sổ tức môn
Anàpàna (S). Xem sổ tức.
sổ sanh tử
Register of births and deaths.
Sổ tập 數習
[ja] サクシュウ sakushū ||| To repeatedly enact the same habit or custom; to be habituated by repetition. (abhyāsa, paricaya, saṃstava) 〔顯揚論, T 1602.31.508b〕 => Lặp lại thường xuyên một tập quán hay thói quen; tập quen bằng cách lập lại.
sổ tức
Paranayama (S), Ānāpāna (S).
; To count the breathings in order to calm mind and body for meditation.
; Đếm hơi thở, từ đó lắng đọng thân tâm vào thiền định—To count the breathings in order to calm mind and body for meditation.
sổ tức môn
Pháp môn thiền quán bằng cách đếm hơi thở để lắng đọng thân tâm—The method of meditation practice through counting the breathings in order to calm mind and body.
sổ tức quán
Ānāpāna (S), Ānāpāna-smṛti (S), Breathing An ban, An na bát naPhép thiền định hành giả tập trung vào sự đếm hơi thở ra và vào của mình.
; Anàprànasmrti (S), Anàpànasatti (P). Mindfulness on the in-and-out breathing.
; Anapanasatti (p)—Contemplation by counting the breathing. (A) Ý nghĩa của Quán Sổ Tức—The meanings of Contemplation by counting the breathing: Có nhiều phương pháp quán, nhưng quán sổ tức là dễ thực hành nhất. Sổ tức là phép quán đến hơi thở để loại trừ những tạp niệm. Trước khi bắt đầu phải thở ra hít vào khoảng 10 lần cho điều hòa. Khi thở ra nhẹ nhàng và dài, nên tưởng 'những điều phiền não tham sân si cũng như các chất ô trược đều bị tống khứ ra ngoài hết.' Khi hít vào cũng nhẹ nhàng và dài như lúc thở ra và tưởng 'những chất thanh tịnh của vũ trụ đều theo hơi thở thấm vào khắp thân tâm.' Điều cần nhớ là cần phải chuyên tâm vào hơi thở, không để tạp niệm xen vào; nếu có quên hay lầm lộn con số, đừng nên lo lắng, chỉ cần bắt đầu đếm lại rõ ràng—There are many methods of contemplation, but the method of contemplation by counting the breathing is the easiest way to practice. A meditation of counting breathings to eliminate scattering thoughts. First we inhale and exhale the air ten times for normalization. When exhaling deeply, imagine that what is impure in our body such as worry, greed, anger, and ignorance would be rejected in the atmosphere. When inhaling deeply, imagine that what is pure from the cosmos would follow the air to impregnate our body and mind. The most important detail to remember is to pay close attention to the breathing. Do not let the mind wander. If there is some error in the counting, don't worry, just do it again. (B) Có bốn cách đếm như sau—There are four ways of counting: 1) Đếm hơi chẳn—Even counting: Hít vào, thở ra đếm 1; hít vào thở ra đếm hai; đếm đến 10 rồi đếm lại trong khoảng thời gian 30 đến 45 phút: Counting the cycle of breathing that comprises both inhaling and exhaling. Count 1 for the first cycle, count 2 for the second cycle, and so on until 10 and do it again and again for 30 or 45 minutes. This way of counting is the most commonly applied. 2) Đếm hơi lẽ—Odd counting: Thở vào đếm 1, thở ra đếm 2, đếm đến mười rồi tiếp tục trở lại trong khoảng thời gian 30 đến 45 phút—Counting 1 for the inhaling process; counting 2 for the exhaling process until 10 and repeat the same process for 30 or 45 minutes. 3) Đếm thuận: Đếm theo hai cách trên tuần tự từ 1 đến 10—Counting from 1 to 10, utilizing either one of the above two methods. 4) Đếm nghịch: Đếm theo hai cách trên từ 10 đến 1—Counting from 10 to 1 utilizing either one of the above two methods.
Sổ tức quán 數息觀
[ja] シュソクカン shusokukan ||| Breath counting meditation. Focusing the mind by counting exhalations. A method of stilling the mind. => Pháp thiền đếm hơi thở. Tâp trung tâm ý bằng cách đếm hơi thở ra vào. Một phương pháp an định tâm. [ja] サクサク sakusaku ||| Often, repeatedly, frequently, again (Skt. abhīkṣṇa; Pali abhiṇhaṃ). 數數Sổ sổ (sác sác) ja] サクサク sakusaku ||| Often, repeatedly, frequently, again (Skt. abhīkṣṇa; Pali abhiṇhaṃ). => Thường, đều đặn, thường xuyên, lập lại (s: abhīkṣṇa; p: abhiṇhaṃ).
Sổ, số 數
[ja] シュ、スウ、シャク shu sū saku ||| I. シュ(1) 'Habituation by repetition,' which contributes to the special conscious functions of the six faculties. (2) Often. (3) An earlier translation of "mental functions" 心所. II. (1) Number (saṃkhyā). (2) To count (ganana). (3) In Consciousness-only theory, one of the 24 elements not concomitant with mind. Calculating the various material and mental elements. (4) Countable (saṃkhyeya). (5) A synonym for wisdom (智); especially analytical wisdom (pratisaṃkhyā). (6) sū: (samudācaritatta, punnappunam); 'number,' also 'often,' 'calculation.' => I. '1. Tập bằng cách lặp lại', góp phần vào tác dụng đặc biệt của thức trong 6 căn. 2. Thường . 3. Trước đây dùng để dịch Tâm sở 心所. II. 1. Số (s: saṃkhyā). 2. Đếm ( s: ganana). 3. Theo giáo lý Duy thức, là một trong 24 tâm bất tương ưng hành pháp. Là phần tử suy lường vô số hiện tượng và tâm ý khác nhau. 4. Có thể tính đếm được (s: saṃkhyeya). 5. Đồng nghĩa với Trí (智); đặc biệt là trí phân tích (s: pratisaṃkhyā). 6. Số (s: samudācaritatta, punnappunam); cón có nghĩa là Thường, tính toán.
Sớ
(疏): còn gọi là Sớ Văn (疏文), Văn Sớ (文疏), hay Tấu Sớ (奏疏), có hai nghĩa: (1) Là văn thư của quần thần điều trần dâng lên bậc trên như đức vua, như trong Văn Thể Minh Biện (文體明辯) của Từ Sư Tằng (徐師曾, 1546-1610) nhà Minh có giải thích rằng: “Án Tấu Sớ giả, quần thần luận gián chi tổng danh dã (按奏疏者、群臣論諫之總名也, xét Sớ Tâu là tên gọi chung của các văn thư do quần thần can gián, luận nghị).” Hay như trong Tống Sử (宋史) quyển 32, Truyện Chu Trác (朱倬傳) có đề cập rằng: “Mỗi thượng sớ, triếp túc hưng lộ cáo; nhược Thượng Đế giám lâm, Tấu Sớ phàm số thập (每上疏、輒夙興露告、若上帝鑒臨、奏疏凡數十, mỗi lần dâng sớ, thường kính cẩn thưa rõ ràng; nếu Thượng Đế giáng xuống, sớ tâu thường mười phong).” Hoặc như trong bài Khiển Hứng Thi (遣興詩) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường cũng có câu: “Thượng sớ khất hài cốt, hoàng quan quy cố hương (上疏乞骸骨、黃冠歸故鄉, dâng sớ xin hài cốt, mũ vàng về cố hương).” Tấu Sớ còn gọi là Tấu Chương (奏章), Tấu Nghị (奏議). (2) Trong khoa nghi của Đạo Giáo cũng như Phật Giáo, Sớ Văn được dùng rất rộng rãi và phổ biến, với tư cách là văn thư thành kính dâng lên đấng tối cao, đấng chí tôn như Thần, Thánh, Phật; là chiếc cầu tiếp nối giữa cõi hữu hình với thế giới vô hình. Như trong Đạo Giáo có các bộ Linh Bảo Văn Kiểm (靈寶文檢), Tâm Hương Diệu Ngữ (心香妙語), v.v., là những thư tịch chuyên dùng cho khoa nghi Công Văn. Về phía Phật Giáo có bộ Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252), 4 quyển, do Thạch Cổ Chủ Nhân Thích Nguyên Hiền (石鼓主人釋元賢) nhà Minh (1368-1662) biên soạn. Một số văn sớ thường dùng trong Đạo Giáo như: Nguyên Đán Khánh Hạ Văn Sớ (元旦慶賀文疏), Ngọc Hoàng Thượng Đế Khánh Hạ Văn Sớ (玉皇上帝慶賀文疏), Thượng Nguyên Thiên Quan Đại Đế Khánh Hạ Văn Sớ (上元天官大帝慶賀文疏), Thái Thượng Lão Quân Khánh Hạ Văn Sớ (太上老君慶賀文疏), Huyền Thiên Thượng Đế Khánh Hạ Văn Sớ (玄天上帝慶賀文疏), Thiên Thượng Thánh Mẫu Khánh Hạ Văn Sớ (天上聖母慶賀文疏), Trương Thiên Sư Khánh Hạ Văn Sớ (張天師慶賀文疏), Trung Nguyên Địa Quan Đại Đế Khánh Hạ Văn Sớ (中元地官大帝慶賀文疏), Hạ Nguyên Thủy Quan Đại Đế Khánh Hạ Văn Sớ (下元水官大帝慶賀文疏), Bắc Đẩu Giải Ách Văn Sớ (北斗解厄文疏), An Phụng Thần Vị Văn Sớ (安奉神位文疏), An Phụng Trị Niên Thái Tuế Văn Sớ (安奉值年太歲文疏), v.v. Linh Bảo Văn Kiểm nhấn mạnh vai trò của Sớ Văn là: “tuyên diễn đạo pháp, lợi thế chi tân lương dã (宣演道法、利世之津梁也, bờ bến để tuyên bày đạo pháp và làm lợi ích cho cuộc đời).” Từ ý nghĩa đó, Sớ được dùng rộng rãi trong Phật Giáo như là phương tiện độ sanh cần phải có đối với mọi trường hợp, như trong tác phẩm này có giới thiệu. Đặc biệt, có một loại Sớ Văn gọi là Pháp Đường Sớ (法堂疏) được dùng trong Thiền môn, là văn từ của vị Trưởng Lão Trú Trì của một tự viện nào đó, dùng để khải thỉnh khai đường thuyết pháp.
sớ
1) Giải thích: Explanation. 2) Sớ dâng lên Tây Phương Giáo Chủ khẩn nguyện Ngài cứu độ những vong linh quá vãng—Request addressed to the Lord of the Western Paradise asking him to save the souls of the deceased.
; (疏) I. Sớ. Cũng gọi Nghĩa sớ. Từ gọi chung các sách chú thích kinh luận.Kinh Phật nghĩa lí sâu xa, nếu không sớ giải khai thông thì khó thấu hiểu được, cho nên cần phải theo văn nghĩa mà giải thích, phân biệt chỉ thú, thẩm định hơn kém, khiến không bị tắc nghẽn. Như Pháp hoa nghĩa sớ của ngài Trúc pháp sùng; Pháp hoa kinh sớ của ngài Trúc đạo sinh đời Đông Tấn... Văn chú giảiSớ gọi là Sao. Sao là lược sao, tức thuận theo bảnSớ gốc mà giải thích sơ lược thêm, làm cho diệu nghĩa của kinh sớ rõ ràng dễ hiểu hơn. [X. A di đà kinh sớ sao diễn nghĩa Q.1].II. Sớ. Cũng gọi Tuyên sớ. Chỉ cho lá sớ được đọc trước Phật để bày tỏ ý thú phát nguyện trong pháp hội. Như Khai bạch sớ, Kết hội sớ... Điều Diên trai trong Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 454 hạ) nói: Pháp sự xướng lễ, Duy na tuyên sớ.
sớ lặc
(疏勒) Phạn: Khàsa. Hán dịch: Ác tính, Bất chính ngữ. Cũng gọi Sa lặc, Khư bộ đát lặc, Già sa, Khư sa, Kì sa, Thất lợi,Ngật lật đa để, Ca sư cát lê, Khả thất cáp nhĩ. Tên 1 nước thời xưa ởTây vực. Có thuyết cho rằng tên này lấytên1 ngọn núi trong xứ, ngày nay có lẽlàvùng Khách thập cát nhĩ ở Tân cương. Từ đời Tây Hán về sau, đây là con đường giao thông then chốt giữa Đông phương và Tây phương ở phía bắc Trung quốc. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 thì người nước này tính tình dữ tợn, thường hay dối trá, chữ viết lấy từ Ấn độ. Phật giáo đã truyền vào nước nàykhoảng thế kỉIII, đến đầu đời Đường thìdần dần hưng thịnh, chủ yếu là Tiểu thừa giáo. Từ thời Trung đường về sau, vì tín đồ Hồi giáo xâm nhập nên Phật giáo bị tiêu diệt, hiện chỉ còn nền hoang của chùaOch-Merwan ở phía bắc Khách thậpcát nhĩ khoảng 16 cây số và tháp hoang Mauri Tìm ở phía đông bắc Khách thập cát nhĩ khoảng 48 cây số. Ngài Cưu ma la thập đời Hậu Tần có đến nước này lễ bái bình bát của đức Phật và thỉnh được luận A tì đàm, luận Lục túc, kinh Tăng nhất a hàm. Pháp sư Trí mãnh đời Hậu Tần thì thấy 1 cái ống nhổ bằng đá vân của Phật ở đây. Cao tăng Pháp hiển truyện có thuật lại việc nước này tổ chức hội Bát già việt sư (đại hội 5 năm). Đời Tùy, ngài Đạt ma cấp đa, trên đường đến Trung quốc, có dừng lại ở nước này giảng luận Thuyết phá (luận Niệm phá) và luận Như thực, mỗi luận đều có tới 2.000 bài kệ, cho chúng tăng nghe. Trong kinh Phật có nói nhiều về nước Sơ lặc,có chỗ nói nước này là 1 trong những nước biên thùy có kinh pháp hưng thịnh, hoặc nói nước này có núi Ngưu đầu là trụ xứ của Bồ tát; hoặc cho rằng nước này là nơi ở của thần Đạt ma ba la (Phạn: Dharmapàla), hoặc Phật từng đem nước này phó chúc cho Thiên tử Phát sắc, Tất tú, hoặc ở xứ này từng xuất hiện 98 vị Phật... X. kinh Thân nhật; kinh Hoa nghiêm Q.45 (bản dịch mới); kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.trung; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.45, 55, 56; kinh Mật tíchkim cương lực sĩ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.14; Tục cao tăng truyện Q.2; On Yuan Chwangvol. III,by T. Watters].
sớ mê hoặc
(疏迷惑) Cũng gọi Bối thượng sử. Chỉ cho 4 hoặc tham, sân, si, mạn trong 10 hoặc mà hành giả ở giai vị Kiến đạo phải đoạn trừ. Mười hoặc phải đoạn ở giai vị Kiến đạo là: Hữu thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi. Trong đây, 5 hoặc đầu gọi là Ngũ kiến. Ngũ kiến và Nghi là hoặc thân duyên, tức là hoặc do trực tiếp mê chân lí mà khởi; còn tham, sân, mạn là hoặc trùng duyên, không phải là hoặc trực tiếp mê chân lí mà là hoặc duyên theo Ngũ kiến và Nghi mà khởi. Si (vô minh) thì thông cả thân duyên và trùng duyên; nên đối lại với thân mà gọi hoặc trùng duyên là Sơ mê hoặc. [X. luận Câu xá Q.19; Câu xá luận quang kí Q.19]. (xt. Kiến Hoặc).
sớ pháp hoa
Commentary on the Lotus Sutra—Trước khi tông Thiên Thai được thành lập, việc nghiên cứu Kinh Pháp Hoa đã được khởi xướng rất sớm, từ năm 300 sau Tây Lịch. Và những cuộc diễn giảng được mở ra khắp nơi. Một bản sớ giải gồm bốn quyển do Trúc Pháp Tổng hoàn thành, nhưng sự nghiên cứu chủ đề của Pháp Hoa thì bắt đầu từ sau bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, vào năm 406. Nhờ ghi nhận nhiều bản sớ giải Pháp Hoa được soạn từ thế kỷ thứ 5 do các đồ đệ và truyền nhân của Cưu Ma La Thập mà chúng ta có thể hiểu rõ và đánh giá được tầm phổ biến và việc nghiên cứu Kinh Pháp Hoa đã diễn ra nghiêm mật như thế nào. Suốt trong thời gian nầy, có tám bản sớ giải đã được hoàn tất và nhiều khảo cứu chuyên môn về những khía cạnh đặc biệt của học thuyết đã được thực hiện. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, mặc dù công cuộc khảo cứu và những công trình về Pháp Hoa khởi đầu ở phương Bắc, nghĩa là những việc phiên dịch và sớ giải đã bắt đầu ở phương Bắc, tông phái nghiêng về học thuật nầy đặc biệt nẩy nở ở phương Nam, như sự kiện thành lập tông Thiên Thai—Prior to the establishment of the T'ien-T'ai School, a study of the Lotus text was commenced as early as 300 A.D. and lectures were delivered everywhere. A commentary in 4 volumes was completed by Chu-Fa-Tsung but research into the subject matter of Lotus was started after Kumarajiva's translation of the text in 406 A.D. By noticing the many commentaries compiled in the fifth century by his pupils and successors, we can well understand and appreciate to what an extent and how seriously the study of the Lotus was undertaken. During the time eight complete commentaries were written and many special studies of particular aspects of the doctrine were made. According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Phiosophy, although the study and the work of Lotus were commenced in the North., i.e., the translation and commentaries, was begun in the North, the school of learning flurished particularly in the South, a fact which eventually gave rise to the foundation of the T'ien-T'ai School.
Sớ sao 疏抄
[ja] ショショウ shoshō ||| Commentaries and notes attached to a scriptural text. => Luận giải và chú thích của bản kinh văn.
sớ sơn
(疏山) I. Sơ Sơn. Núi ở cách huyện Kim khê, phủ Phủ châu, tỉnh Giang tây khoảng 29 cây số về hướng tây bắc. Trong núi có chùa Sơ Sơn. Sơ sơn vốn là nơi ẩn sĩ Hà tiên chu đời Đường ở ẩn đọc sách, nên gọi là Thư Sơn. Khoảng năm Trung hòa (881-884) cuối đời Đường, ngài Sơ Sơn Khuông Nhân,đệ tử nối pháp của Thiền sư Động Sơn Lương giới, bắt đầu xây chùa ở đây, vua ban tấm biển hiệu chùa là Bạch Vân. Đến đời Nam Đường, đổi là chùa Sơ Sơn. II. Sơ Sơn. Chỉ cho Thiền sư Sơ Sơn Khuông Nhân sống vào cuối đời Đường. xt. Khuông Nhân).
sớ sơn hữu cú vô cú
(疏山有句無句) Cũng gọi Sơ sơn hữu vô, Sơ sơn bố đơn. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc ngài Sơ sơn Khuông nhân cuối đời Đường, lần lượt tham yết ngài Trường khánh Đại an và ngài Minh Chiêu Đức Khiêm (Độc nhãn long) ởVụ châu, Chiết giang. Ngài Sơ Sơn đến Qui Sơn, Phúc châu tham học ngài Đại an câu Hữu cú vô cú, như đằng ỷ thụ (Có câu không câu, như bìm nương cây), hỏi (Vạn tục 138, 241 hạ): Bỗng gặp cây đổ, bìm khô, thì cú nương vào đâu? Ngài Đại an nghe xong, buông chậu đất xuống, cười hả hả trở về phương trượng. Ngài Sơ sơn bất mãn, tiếc thầm đã bán hết gia tài, chỉ vì 1 việc này mà đã từ xa đến đây, rốt cuộc chẳng được gì. Ngài Đại an bèn dặn thị giả đưa cho sư 200 tiền và mách cho sư biết là ngài Minh chiêu Đức Khiêm có thể điểm hóa cho sư. Sơ sơn đến chỗ ngài Minh Chiêu, ngài Minh chiêu muốn điểm hóa nên nói: Đầu cũng ngay mà đuôi cũng ngay, chỉ là chẳng gặp tri âm thôi!. Sư cũng không rõ được, lại hỏi: - Bỗng gặp cây đổ, bìm khô, cú nương vào đâu? Ngài Minh chiêu đáp: - Lại làm cho tiếng cườicủa Qui sơn càngthêm mới. Ngay câu nói đó, sư đại ngộ, cảm thán nói: Trong tiếng cườicủaQui sơn vốn có dao.[X. Ngũ đăng hội nguyên Q.13].
sớ sơn đảo a
(疏山倒屙) Tên công án trong Thiền tông. Sơ Sơn bị đại tiện ngược (đảo a), đây là câu chuyện ngài Sơ Sơn Khuông nhân cuối đời Đường, vì tội ngạo mạn, ác kiến nên sư huynh là ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn đoán trước sẽ bị đại tiện ngược (đi tiêu đàng mồm) trong 30 năm. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11, có 1 vị tăng hỏi ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn (đệ tử nối pháp của Thiền sư Qui sơn Linh hựu): Khi không tôn trọng các bậc Thánh và bản lai diện mục của chính mình thì thế nào? Ngài Hương nghiêm trả lời (Đại 51, 284 thượng) nói: Muôn cơ chấm dứt, nghìn thánh chẳng mang. Lúc ấy ngài Sơ sơn có mặt bèn nôn ra tiếng cười mỉa; ngài Hương Nghiêm nhìn ngài Sơ sơn thỉnh giáo, Sơ sơn yêu cầu Hương Nghiêm phải lễ mình như thầy. Ngài Hương Nghiêm rời chỗ ngồi lễ bái. Ngài Sơ sơn bảo: Sao không nói dù có tôn trọng cũng chẳng được gì? Vì tội ác kiến và kiêu ngạo ấy nên ngài Hương Nghiêm đoán trước là ngài Sơ sơn sẽ phải đại tiện ngược 30 năm, hơn nữa, dù có ở núi cũng không có củi đốt, gần nước cũng không có nước uống. Sau đó, ngài Sơ Sơn Khuông Nhân về trụ ở núi Sơ Sơn và đúng như lời đoán trước của ngài Hương Nghiêm. Được 27 năm thì lành bệnh, liền nói: Sư huynh Hương Nghiêm thụ kí cho ta 30 năm đại tiện ngược, nay còn thiếu 3 năm!. Từ đó, sau mỗi bữa ăn, ngài Sơ Sơn lấy tay móc cho mửa ra để ứng với lời thụ kí trước.
sớ sở duyên duyên
(疏所緣緣) Đối lại: Thân sở duyên duyên. Một trong 2 tính sở duyên duyên do tôngDuy thức thành lập. Bản chất của Sơ sở duyên duyên là lìa thể tướng của năng duyên mà nương nhờ vào cảnh do thức của người khác biến ra và cảnh do thức khác trong thân mình biến ra, có khả năng sinh khởi tướng phần suy tư, vì nó gián tiếp cấu thành sở duyên duyên, cho nên gọi là Sơ sở duyên duyên. Gọi Sở duyên duyên là vì khi Kiến phần của tâm duyênvới Tướng phần thì tâm là Năng duyên, tướng là Sở duyên. Khi Năng duyênvà Sở duyên hợp với nhau, gọi là Sở duyên duyên. Sở duyên duyên lại được chia làm 2 thứ: 1. Thân sở duyên duyên: Kiến phần của ý thức duyên theo Tướng phần của những bóng dáng do chính nó biến ra. 2. Sơ sở duyên duyên: Phải nhờ vào bản chất mới có thể sinh khởi Tướng phần suy tư bên trong, vì bản chất sinh khởi nên gọi là duyên, đồng thời kiến phần cũng biến ra Tướng phần giống như bản chất, cho nên gọi là Sở duyên. Tóm lại, pháp và thể thức năng duyên tuy là lìa nhau, hoặc do tâm thức người khác biến ra và thức khác trong chính thân mình biến ra, nhưng vì bản chất nương nhờ không thể duyên thủ Tướng phần của chính nó, nên gọi là Sơ sở duyên duyên. Như núi sông, đất đai, mặt trời, mặt trăng, các tinh tú... là Tướng phần của thức thứ 8 biến ra, thức mắt nương nhờ vào Tướng phần này làm bản chất để duyên theo. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 40 hạ) nói: Nếu lìa thể năng duyên mà bản chất vẫn có thể khởi sự lo lường bên trong, thì nên biết đó chính là Sơ sở duyên duyên. Thân sở duyên duyên đều có năng duyên, nhưng nếu lìa sự lo lường bên trong thì không thể sinh khởi; còn Sơ sở duyên duyên thì hoặc có năng duyên, hay lìa sự nương gá bên ngoài vẫn có thể sinh khởi được. (xt. Tứ Duyên, Sở Duyên Duyên).
sớ tử
(疏子) Bài văn biểu bạch ca tụng PhậtTổ hoặc các bậc cao tăng đại đức. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 276 trung) nói: Sớ tử tức là văn chúc Phật, thể theo ý của thí chủ. Trong lời chúc không dám lấy nhỏ làm lớn, cho nên văn từ cần phải xác thực, không thể dối trá ngụy vọng mà tự chuốc lấy sự lo buồn. Trong Thiền lâm, thường nhân dịp thỉnh bậc danh đứctrụ trì, có thói quen làm sớ để bày tỏ tấm lòng tha thiết. Văn sớ do chùa viện trình bày lời cầu thỉnh bậc danh đức đến trụ trì, gọi là Sơn môn sớ. Sớ của hững người đồng môn chúc mừng vịTân trụ trì, gọi là Đồng môn sớ. Sớ của các vị Trụ trì các chùa lân cận chúc mừng Tân trụ trì, gọi là Chư sơn sớ. Ngoài ra còn có Giang hồ sớ, Đạo cựu sớ, Pháp quyến sớ, Phương ngoại sớ... Ngôn ngữ tán thán Phật Tổ và các bậc cao tăng danh đức, gọi là Sớ ngữ. [X. Văn sớ môn trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].
Sớ 疏
[ja] ショ sho ||| (1) To write a commentary. A commentary, usually on a sutra or śāstra, done in order to elucidate the meaning. (2) A letter. (3) A memorandum to the emperor. => 1. Viết luận giải. Luận giải, thường là chú giải về một bộ kinh hay luận, để làm sáng tỏ nghĩa lý. 2. Một bức thư. 3. Một bản giác thư gởi cho vua.
sớm
Soon—Early.
sớm mai a di đà, chiều cũng a di đà, dù gấp thế mấy cũng không rời a di đà
Recite Amitabha Buddha's name in the morning, recite it again in the evening, no matter how rush you are, do not part from the recitation of Amitabha Buddha's name.
sớm muộn
Sooner or later.
sớm quá
Too soon—Too early.
sờ
To feel—To touch.
sờ sờ
Evident—Clear—Obvious.
sờ tác nhân
Xem Năng tác nhân.
sở
A place; where, what, that which, he (etc.) who.
; 1) Cơ sở—A place—Where—What—That which. 2) Rõ ràng: Clear—To clear up.
sở biến kế
That by which the mind is circumscribed, i.e. impregnated with the false view that the ego and things possess reality.
; Hết thảy chư pháp đều do cái tâm hay ý thức so đo tính toán chấp trước mà sanh ra—That by which the mind is circumscribed, i.e. impregnated with the false view that the ego and thing possess reality.
Sở biến kế 所遍計
[ja] ショヘンゲ shohenge ||| The complement of 能遍計. The operation objectively discriminated objects of self and elements, that are discriminated by the action of the subjective consciousness. Nanda called this a non-substantial existence, but called it a dependently arisen substantial existence. The objective aspect in the of the sixth and seventh consciousness. => Đối lại là Năng biến kế 能遍計. Tính phân biệt khách quan về đối tượng ngã và pháp, là phân biệt do hoạt động của thức chủ quan. Nanda gọi đây là hiện hữu vô thể, nhưng Hộ Pháp (s: Dharmapāla 護法 ) gọi nó là hiện hữu sinh khởi tuỳ theo thực thể. Là tướng phần trong hoạt động của thức thứ sáu và thức thứ bảy.
sở biến tri
Parijneya (S). To be known accurately.
Sở biến 所變
[ja] ショヘン shohen ||| That into which something has been transformed. A transformation, an incarnation. => Điều đã được chuyển hoá. Sự chuyển hoá, một hiện thân.
sở biệt
The subject of the thesis of a syllogism in contrast with năng biệt the predicate; that which is differentiated.
; Chủ đề của một luận đề có thể suy diễn, đối lại với năng biệt hay cái đã bị tách biệt không còn suy diễn gì được nữa—The subject of the thesis of a syllogism in contrast with the predicate; that which is differentiated.
; (所別) Cũng gọi: Hữu pháp (Phạn: Dharmin), Tiền trần, Thể, Tự tính. Tiếng dùng trong Nhân minh. Bộ phận chủ yếu của chi Tông (mệnh đề) trong tác pháp 3 chi của Nhân minh. Thông thường gọi là Tiền trần, tương đương với chủ từ của mệnh đề trong Luận lí học phương Tây. Trong Luận lí Nhân minh, danh từ Tiền trần (danh từ trước) phải bao hàm ý nghĩa của danh từ Hậu trần (danh từ sau), vìvậy, danh từ Tiền trần của Tông còn được gọi là Hữu pháp (có thuộc tính), danh từ Hậu trầncủaTông cũng gọi là Pháp (thuộc tính). Tiền trần của Tông là thể,Hậu trần là nghĩa. Như lập Tông Âm thanh là vô thường thì thể của Tiền trần âm thanh là Hữu pháp, sở biệt, còn nghĩa của Hậu trần vô thường là pháp, năng biệt. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.2, 3]. (xt. Thể).
sở biệt bất cực thành quá
(所別不極成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Sở biệt bất cực thành (Phạn: Aprasiddha-vizewya) là 1 trong 9 lỗi thuộc về Tông (mệnh đề) trong 33 lỗi của Nhân minh. Sở biệt chỉ cho danh từ trước(tiền trần) của Tông;Bất cực thành nghĩa là không thành tựu, tức là vấn đề không được thành lập vì không có sự đồng ý của cả 2 bên. Lỗi này là do danh từ trước của Tông không được đối phương (người vấn nạn) thừa nhận. Luận lí Nhân minh qui định, danh từ trước(tiền trần)và danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề) đều phải được cả đôi bên (người lập luận và người vấn nạn) cùng thừa nhận mới thành lập được; như Tông Ngã là tư do ngoại đạo Số luận đối với đệ tử Phật mà lập, trong đó ngã là sở biệt, tư là năng biệt; tư tuy được cả đôi bên cùng chấp nhận, nhưng ngã thì đệ tử Phật không thừa nhận, vì đệ tử Phật chủ trương ngã chỉ là giả ngã do 5 uẩn hòa hợp, chứ không có ngã chân thực tồn tại, cho nên Tông ngã là tư doSố luận sư đề ra không thể thành lập khi 2 bên chưa tiến hành đối luận chính thức.Đó là lỗi Sở biệt bất cực thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.4].
sở bất năng tri
An object cannot be recognized.
sở bị
(所被) Cũng gọi Sở bị chi duyên, Sở bị chi cơ, Sở vi. Gọi đủ: Sở bị cơ loại. Chỉ cho các loại căn cơ chúng sinh được giáo pháp của Phật thấm nhuần, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 3 (Đại 35, 517 hạ) nói: Giáo sở bị cơ có nghĩa là giáo pháp nhân cơ mà được hiển bày, lìa cơ thì không có lời nói, nghĩa lí nói trên rất là sâu rộng, chưa biết phó thác cho căn khí nào; nếu Năng ứng là10 thân viên âm thì Sở bị chung có 10 loại. Theo Tam luận du ý nghĩa thì duyên sở bị tức bẩm thụ giáo Nhị đế. Quán kinh huyền nghĩa phần y cứ vào sự tích trong kinh QuánVô lượng thọ, Hoàng hậu Vi đề hi thỉnh cầu đức Phật thuyết pháp mà cho rằng Phật là Năng vi, Hoàng hậu Vi đề hi người lãnh thụ giáo pháp – là Sở vi, Sở vi tức chỉ cho Sở bị. Ngoài ra, Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng, phần đầu, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng... đều có giải thích rõ về căn cơ Sở bị. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 thượng; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1, phần đầu].
Sở bị 所被
[ja] ショヒ shohi ||| Teach and transform. To edify. => Giáo hoá. Khai mở tâm trí.
Sở chứng 所證
[ja] ショショウ soshō ||| (1) That which is realized (anubhūta) (2) That which is awakened (to). Enlightenment (adhigama, prapti). => 1. Điều được nhận ra (s: anubhūta). 2. Điều được thức tỉnh (về). Sự giác ngộ (s: adhigama, prapti).
sở cầu
Desideratum.
; (所求) Điều mong cầu. Đối với Tịnh độ giáo thì điều mong cầu là được sinh về Tịnh độ ở phương Tây. Trong Thập nhất nghĩa môn của phần Tán thiện nghĩa trong Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ, ngài Thiện đạo đờiĐường chủ trương hồi hướng các công đức mà mình tu được nguyện sinh về cõi nước của Phật A di đà. Trong mục Thượng phẩm hạ sinh thì cho rằng nơi hồi hướng công đức chính là nơi sở cầu. Trong Quán kinh tán thiện yếu nghĩa thích quán môn nghĩa sao quyển 3, ngài Chứng Không – vị tăng người Nhật bản – cho rằng sở cầu nghĩa là hân cầu, chỉ cho cõi Cực lạc y theo hạnh sở ái mà cầu.
sở cầu như ý
Sự việc xãy ra như ý muốn—Things are going as (in accordance with) one's wishes—Things are going our way.
Sở cầu 所求
[ja] ショグ shogu ||| That which is sought after--in Buddhism, enlightenment, nirvana, or the Pure Land. 〔二障義 HPC 1.810a〕 => Điều mà mọi người theo đuổi—trong đạo Phật , đó là giác ngộ giải thoát, niết-bàn, hay cõi Tịnh độ.
sở duyên
Ārammaṇa (P), Preoccupation Xem Phan duyên.
; Alambana (S). That upon which something rests or depends, hence object of perception; that which is the environmental or contributory cause; attendant circumstances.
; Alambana (skt)—Cảnh đối đãi với tâm thức (pháp tâm và sở tâm là năng duyên, cảnh là sở duyên)—Upon which something rests or depends, hence objects of perception; that which is the environmental or contributory cause; attendant circumstances.
; (所緣) Phạn, Pàli: Àlambana. Đối lại: Năng duyên. Chỉ cho đối tượng của sự nhận thức, là nhân sinh ra các pháp tâm, tâm sở, vả lại bị cácthứtâm ấy chấp lấy. Tông Câu xá kiến lập thuyết Sáu thức, cho nên chủ trương cảnh Sở duyên là 6 cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tức là thức mắt duyên sắc cảnh, thức tai duyên thanh cảnh, thức mũi duyên hương cảnh, thức lưỡi duyên vị cảnh, thức thân duyên xúc cảnh, thức ý duyên pháp cảnh. Tông Pháp tướng kiến lập thuyết Tám thức, cho nên ngoài các thức và các cảnh sở duyên nói ở trên, còn nói đến cảnh sở duyên của 2 thức 7 và 8.Tức là thức thứ 7 lấy Kiến phần của thức thứ 8 làm cảnh sở duyên; thức thứ 8 thì lấy 3 cảnh là chủng tử, hữu căn thân và khí thế giới làm cảnh sở duyên. Vả lại, theo ý chỉ Vạn pháp duy tâm, tông Duy thức cho rằng các pháp của 6 cảnh sở duyên là do ảnh tượng Tướng phần của 6 thức tụ sinh khởi; những ảnh tượng ấy lấy Tướng phần của thức thứ 8 làm bản chất, tức Tướng phần là do nghiệp lực của thức thứ 8 nhậm vận biến hiện ra. Ngoài ra, luận Đại thừa a tì đạt matạp tập quyển 5, có nêu 29 loại Sở duyên như: Phi hữu sở duyên, Hữu sở duyên, cho đến Tu du sở duyên, Tùy chuyển sở duyên... Lại nữa, Sở duyên có 2 loại thân và sơ khác nhau: 1. Thân sở duyên: Tức ảnh tượng do tác dụng của thức bên trong sinh ra. 2. Sơ sở duyên: Tức bản chất của cảnh đối diện bên ngoài. Luận Thành duy thức quyển 7 cho rằng Thân sở duyên và Sơ sở duyên nói trên đều là Sở duyên duyên trong 4 duyên; nhưng luận Duy thức nhị thập thì cho rằng Thân sở duyên là Sở duyên duyên trong 4 duyên, còn Sơ sở duyên thì là Tăng thượng duyên trong 4 duyên. [X. luận Đại tì bà sa Q.16; luận Du già sư địa Q.1; luận Câu xá Q.7; luận Duy thức Q.2; Quán sở duyên luận thích]. (xt. Năng Duyên).
Sở duyên cảnh 所縁境
[ja] ショエンキョウ shoenkyō ||| The objects of consciousness. The objects upon which the mind and mental functions are contingent. See 所縁. => Đối tượng của thức. Đối tượng nà tâm và tâm sở y cứ. Xem Sở duyên所縁.
sở duyên duyên
Ālambana pratyaya (S).
; Adhipati-pratyàya (S). The influence of one factor in causing others, one of the tứ duyên.
; See Duyên Duyên.
; (所緣緣) Phạn: Àlambana-pratyaya. Cũng gọi Duyên duyên. Duyên của sở duyên, 1 trong 4 duyên. Sở duyên chỉ cho đối tượng của tâm và tác dụng tâm (đối tượng của tác dụng nhận thức). Nếu khi đối tượng của tâm và tác dụng tâm trở thành nguyên nhân khiến tâm và tác dụng tâm sinh ra kết quả, thì đối tượng của tâm và tác dụng tâm được gọi là Sở duyên duyên, còn tâm và tác dụng tâmthìgọi là Tăng thượng quả. Xưa nay thường giải thích là tâm, tâm sở pháp do nương gá các duyên mà sinh khởi, là sở duyênlựcủa tự tâm. Bởi thế cũng có thể cho rằng Sở duyên duyên tức là tất cả pháp. Luận Câu xá quyển 7 (Đại 29, 37 thượng) nói: Tính của sở duyên duyên tức là tất cả pháp, tâm và tâm sở ứng hiện tùytheo sở duyên duyên này. Như thức mắt và pháp tương ứng, lấy tất cả sắc làm sở duyên duyên. Cũng thế, thức tai và pháp tương ứng lấy tất cả thanh, thức mũi tương ứng lấy tất cả hương, thức lưỡi tương ứng lấy tất cả vị, thức thân tương ứng lấy tất cả xúc, thức ý tương ứng lấy tất cả pháp làm sở duyên duyên. Luận Thành duy thức lập 2 loại sở duyên duyên là Thân sở duyên duyên và Sơ sở duyên duyên. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 40 hạ) nói: Thể của sở duyên duyên có thân và sơ. Nếu không lìa thể năng duyên mà nương gá lo lường trong Kiến phần này, thì nên biết đó là Thân sở duyên duyên; còn nếu lìa thể năng duyên, mà bản chất có thể nương gá lo lường bên trong, thì nên biết đó là Sơ sở duyên duyên. Năng duyên của Thân sở duyên duyên trong trường hợp nào cũng đều có, lìa sự nương gá lo lường bên trong thì chắc hẳn không sinh; còn năng duyên của Sơ sở duyên duyên thì hoặc có hoặc không, nếu lìa sự nương gá lo lường bên ngoài cũng có thể sinh được. Trong đó, Thân sở duyên duyên là pháp nương gá lo lường bên trong Kiến phần, Tự chứng phần..., tức chỉ cho Tướng phần ảnh tượng. Còn Sơ sở duyên duyên là pháp lìa tâm năng duyên, tức là Tướng phần bản chất. [X. luận Thuận chính lí Q.19; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Du già sư địa Q.3]. (xt. Tứ Duyên).
Sở duyên duyên 所縁縁
[ja] ショエンエン shoenen ||| (ālambanam). An object as a conditioning element; object as cause. Suoyuan 所縁 itself refers to the objects of mind and mental functions. When the object of the mind and mental functions is taken as a cause, this object is considered as a "conditioning object" and the mind and mental functions are called the "dominant result" 増上果. . 〔攝大乘論 T 1593.31.115c27〕 => (s: ālambanam). Đối tượng của tâm tâm sở như là yếu tố nhân duyên; đối tượng như là nguyên nhân. Sở duyên (c: Suoyuan 所縁 ) tự nó liên quan đến đối tượng của tâm và tâm sở. Khi đối tượng của tâm và tâm sở được xem là nguyên nhân , thì đối tượng này được gọi là sở duyên duyên, tâm và tâm sở được gọi là Tăng thượng quả 増上果
sở duyên hữu đối
(所緣有對) Đối nghĩa là ngăn chặn, chướng ngại. Sở duyên hữu đối chỉ cho 6 thức và các tâm sở tương ứng bị cảnh sở duyên làm chướng ngại, không sinh khởi được ở những cảnh khác, là 1 trong 3 hữu đối. Sáu thức và các tâm sở chỉ có thể chuyển biến được đối với cảnh sở duyên của chính chúng, như nhãn thức chỉ có thể chuyển biến được đối với sắc cảnh, nhĩ thức chỉ có thể chuyển biến được đối với thanh cảnh, như thể thì tất nhiên chúng bị pháp sở duyên câu thúc, ngăn ngại, khiến không thể nào sinh khởi tác dụng đối với các trần cảnh khác được, như nhãn thức không thể sinh khởi tác dụng với các trần cảnh thanh, hương, vị... [X.luận Đại tì bàsa Q.76, 128; luận Câu xá Q.2; Câu xá luận quang kí Q.2; Câu xá luận bảo sớ Q.2]. (xt. Hữu Đối).
Sở duyên phược 所縁縛
[ja] ショエンバク shoenbaku ||| Binding defilements that arise in connection with external objects. One of two kinds of fetters 二縛.〔二障義HPC 1.807a1〕 => Phiền não nhiễm ô ràng buộc sinh khởi khi dính mắc với ngoại cảnh. Một trong Nhị phược二縛.
sở duyên phọc
(所緣縛) I. Sở Duyên Phược. Đối lại: Tương ứng phược. Phược là trói buộc, tên khác của phiền não; vì các phiền não có khả năng trói buộc, khiến con người không được tự do, tự tại, nên gọi là Phược, 1 trong 2 phược. Các phiền não trói buộc tâm, tâm sở và cảnh sở duyên, có thể chia làm 2 loại là Tương ứng phược và Sở duyên phược. Trong đó, Tương ứng phược nghĩa là các phiền não trói buộc tâm, tâm sở, đồng thời lại tương ứng với các tâm này, làm cho không được tự tại đối với cảnh sở duyên. Còn Sở duyên phược nghĩa là khi các phiền não duyên với cảnh thì chắc chắn có thế lực rất mạnh trói buộc cảnh sở duyên này, khiến chúng không được tự tại. Trong Sở duyên phược lại có 4 thứ khác nhau là: Đồng bộ đồng phẩm, Đồng bộ dị phẩm, Dị bộ đồng phẩm và Dị bộ dị phẩm. Như 10 tùy miên của Khổ đế ở cõi Dục mỗi mỗi trói buộc nhau, thành Sở duyên phược đồng bộ; các hoặc Biến hành của Tập đế trói buộc các pháp thuộc Khổ đế, thành Sở duyên phược dị bộ; còn các phiền não ở giai vị Tu đạo thì trói buộc 5 uẩn thiện, vô kí... [X. luận Đại tìbà sa Q.86; Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5 phần đầu].II. Sở Duyên Phược. Đối lại: Năng duyên phược. Cảnh sở duyên bị tâm năng duyên trói buộc, gọi là Năng duyên phược; trái lại, tâm năng duyên bị cảnh sở duyên ngăn ngại thì gọi là Sở duyên phược. (xt. Sở Duyên, Sở Duyên Hữu Đối).
sở duyên thọ
Alamana-vedaniyata (S).
Sở duyên 所縁
[ja] ショエン shoen ||| (1) That upon which mind and mental functions are contingent, which usually means objects of perception or conception (Skt. ālambana; Tib. dmigs pa). This term refers especially to the fact that consciousness cannot arise by itself without objects, or an objective realm. The complement of 能縁. It is closely related in meaning to the term 攀縁 as that to which the mind attaches to and clambers upon as it finds it way in the world. The terms refers to the fact that, like a crippled person without a crutch, without their contingent objects, the mind and mental functions are powerless. "縁謂攀縁, 心心所法名能縁, 境是所縁. 有彼所縁故名有所縁, 心心所法其性羸劣, 執境方起猶如羸人非杖不行." 〔倶舍光記 T 1821.41〕 (2) Something with which there is an established relationship. => Nhờ vào đó mà tâm và tâm sở y cứ, thường có nghĩa là đối tượng của nhận thức hay tri giác (s: ālambana; t: dmigs pa). Thuật ngữ nầy đặc biệt đề cập đến sự kiện các thức không thể tự sinh khởi khi không có đối tượng, hay là cảnh giới khách quan. Đối lại là năng duyên. Rất gần với thuật ngữ Phan duyên, vì đó là điều mà tâm đeo dính và vin vào để tìm cách thể hiện. Thuật ngữ nói đến sự kiện như một người què chân không có nạng, không có đối tượng để nương vào, thì tâm và tâm sở đều bất lực. “"縁謂攀縁, 心心所法名能縁, 境是所縁. 有彼所縁故名有所縁, 心心所法其性羸劣, 執境方起猶如羸人非杖不行." [倶舍光記] “duyên vị phan duyên, tâm tâm sở pháp danh năng duyên, cảnh thị sở duyên. Hữu bỉ sở duyên cố danh hữu sở duyên, tâm tâm sở pháp kỳ tính luy liệt, chấp cảnh phương khởi, do như luy nhân, phi trượng bất hành- duyên nghĩa là phan duyên, tâm và tâm sở pháp gọi là năng duyên, trần cảnh gọi là sở duyên, do có sở duyên kia nên gọi là hữu sở duyên, tính của tâm và tâm sở pháp là yếu ớt, nương vào phương tiện mới sinh khởi, cũng giống như người bị liệt chân, không có gậy không thể đi được ”.[Câu xá quang ký].
sở dĩ
That's why—Therefore.
Sở dĩ nhiên 所以然
[ja] ショイゼン shoizen ||| The reason for, the cause; the circumstances of. => Lý do, nguyên nhân; do hoàn cảnh.
Sở dĩ 所以
[ja] ショイ shoi ||| Hence, therefore. That by which something is effected. The reason, the way something happened. => Do đó, do vậy. Điều mà cái gì bị ảnh hưởng. Lý do, cách mà sự việc xảy ra.
sở dẫn
That which is brought forward or out; a quotation.
; Đưa ra lời trích dẫn—That which is brought forward or out; a quotation.
sở dục trí hoạn kinh
(所欲致患經) Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời TâyTấn, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này nói về những nỗi thống khổ lo buồn do 5 thứ sở dục gây nên. Lúc các tỉ khưu vào thành Xá vệ khất thực, gặp các ngoại đạo dị học... hỏi về nguyên nhân của những khổ hoạn như: Năm ấm, sáu sắc, đau ngứa, tư tưởng, sống chết, thức... ; các tỉ khưu bèn đến chỗ đức Phật thỉnh giáo, Phật liền chỉ dạy về 5 nhân duyên sinh ra sở dục và các sự lo buồn do 5 sở dục ấy gây ra. Đặc biệt đức Phật dạy dùng Bất tịnh quán để đối trị nữ sắc, khuyên họ đoạn trừ ái dục, nhập Tứ thiền. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.15; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.24].
sở giang vương
Vua của địa ngục thứ nhì trong thập điện địa ngục—King of the grievous river, the second of the ten rulers of Hades.
sở hoá
(所化) Phạn: Vinìta. Đối lại: Năng hóa. Chỉ cho đối tượng được giáo hóa. Trong 3 loại thế gian nêu trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 7 thì Trí chínhgiác thế gian của Thập Phật là Năng hóa, còn Chúng sinh thế gian thì là sở hóa. [X. kinh Cầu giải trong Trung a hàm Q.48; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; Phậtđịa kinh luận Q.7; luận Thi thiết Q.6]. (xt. Năng Sở).
sở huân tứ nghĩa
(所熏四義) Bốn nghĩa sở huân, tức là 4 điều kiện sở huân do tông Pháp tướng lập ra. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2 thì năng huân (7 chuyển thức) và sở huân (thức A lại da thứ 8) mỗi thứ đều có 4 nghĩa, trong đó, 4 nghĩa sở huân là chỉ cho 4 điều kiện mà thức A lại da thứ 8 phải có đầy đủ, đó là: 1. Kiên trụ tính: Kiên ở đây có nghĩa là thuần 1 loại; Trụ có nghĩa là nối tiếp. Tức tính kiên trụ không có các biến động như lo, mừng, khổ, vui, thiện, bất thiện... , trước sau chỉ 1 loại nối tiếp mới giữ gìn được tập khí. Trái lại, như 7 chuyển thức năng huân thì dễ chuyển biến theo các cảnh lo, mừng, khổ, vui... , cho nên gọi là chuyển thức, vì thế không có tính kiên trụ.2. Vô kí tính (gọi đủ: Vô phú vô kí tính): Tức có tính chẳng phải thiện chẳng phải ác, vì thế xem các pháp đều bình đẳng, không có sai khác, nhờ vậy mới có khả năng dung chứa tập khí.3. Khả huân tính (gọi đủ: Khả thụ huân tính): Tức thể của nó độc lập tự tại, không cần nương vào pháp khác để sinh khởi, tính nó lại chẳng khép kín, nhờ thế mới có thể thu nhận tập khí. 4. Dữ năng huân cộng hòa hợp tính: Tức thức thứ 8 sở huânvà7 chuyển thức năng huân tồn tại cùng lúc, cùng chỗ, không là nhau mà cũng chẳng lìa nhau, hòa hợp một mối và làm nhân quả lẫn nhau. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (bản dịch đời Lương); Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. Huân Tập).
sở hành tạng
Cariyataka (S), Cariya Pitaka Một trong 15 quyển của Tiểu a hàm, gồm 35 chuyện kễ về tiền thân của Phật Thích ca theo lời thỉnh cầu của ngài Xá lợi Phật..
Sở hành xứ 所行處
[ja] ショギョウショ shogyōsho ||| The extent or limit of function. Object. => Mức độ hay giới hạn của sự hoạt động. Đối tượng.
Sở hành 所行
[ja] ショギョウ shogyō ||| (1) That which is practiced; the method that is actualized; the complement of 能行. (2) The actual state of things; their way of being. (3) That which is composed; that which is compounded (saṃskāra). (4) The formulation of the content of cognition. (ākāryate)〔瑜伽論 T 1579.30.279-280〕 => 1. Điều thực hành, phương pháp thực hiện; đối lại là Năng hành. 2. Tình trạng thực tế của mọi hiện tượng; cách mà các hiện tượng hiện hữu. 3. Điều được làm ra; điều được bày ra (s: saṃskāra). 4. Việc công thức hoá một nội dung của nhận thức (s: ākāryate).
sở hóa
The one which is transformed or instructed.
; Người đã được chuyển hóa—The one who is transformed or instructed.
sở hạnh
(所行) Đối lại: Năng hành. Nói theo nghĩa rộng thì Sở hành chỉ chung cho tất cả hành vi, hành sự, hành pháp của ta; còn nói theo nghĩa hẹp thì chỉ riêng cho tất cả các pháp mà ta tu hành, các việc mà ta thực hiện trong quá trình cầu chứng bồ đề. Như trong việc niệm Phật thì danh hiệu Phật là sở hành, ý chí chủ quan, năng lực niệm danh hiệu Phật của chúng sinh là năng hành. Trong kinh Phật, cặp đôi Năng và Sở thường được sử dụng để biểu hiện mối quan hệ chủ thể và khách thể hoặc chủ động và bị động, trong đó Năng là chủ thể có đủ năng lực chủ động tự phát; còn Sở là đối cảnh, đối cơ bị động, hoặc các loại tác nghiệp được hình thành, được tạo tác. Thường thấy nhất là các cặp từ như Năng tạo sở tạo, Năng y sở y, Năng hóa sở hóa, Năng lập sở lập, Năng tu sở tu, Năng thuyên sở thuyên, Năng thủ sở thủ... [X. kinh Na tiên tỉ khưu Q.thượng (bản 2 quyển)].
sở hạnh tạng
Cariyàpitaka (P). Collection of the conducting.
; (所行藏) Pàli: Cariỳa-piỉaka. Cũng gọi Nhã dụng tạng. Một trong các Tiểu bộ kinh (Khuddaka-nikàya) tiếngPàli. Nội dung nói về Sở hành (Cariya) của đức Thích tôn trong kiếp hiện tại, tức là truyện tích bản sinh của đức Thích tôn. Kinh này gồm 7 Ba la mật, thu chép 35 truyện Bản sinh.1. Thí ba la mật: Gồm có 10 chuyện bản sinh như Đại thiện kiến vương (Mahàsudassana), Đại điển tôn (Mahàgovinda), Ni di vương (Nimi)... 2. Giớ iba la mật: Gồm có 10 chuyện bản sinh như Chiêm tì da long (Campey= yanàga), Ma đăng già (Màtaíga), Pháp thiên tử (Dhamma-devaputta)... 3. Xuất li ba la mật: Gồm có 5 chuyện bản sinh như Ưu đát xà da vương tử (Yudhaĩjaya), Thụ mã na sa vương tử (Somanassa)... 4. Quyết định ba la mật: Chỉ có 1 chuyện bản sinh là Thiết mật nhã (Temiya). 5. Chân thực ba la mật: Gồm có 6 chuyện bản sinh như Ngư vương (Maccharàya), Phổ minh vương (Sutasoma)... 6. Từ bi ba la mật: Gồm có 2 chuyện bản sinh là Thư phàm na sa mã (Suvaịịasàma) và Da ca lạp nhạ vương (Ekaràja). 7. Xả ba la mật: Chỉ có 1 chuyện bản sinh là Ma ha lạc mã hãn tản (Mahàlomahaôsa). Sách chú thích của kinh này được thu vào Chân đế đăng (Paramattha-dìpanì) do ngài Đạt ma ba la soạn. Sách này liệt kê 7 Ba la mật, so sánh với 10 Ba la mật được lưu truyền trong Đại tạng kinhPàli thì không thấy nêu ra các bản sinh tương đương với 3 Ba la mật: Trí tuệ, Tinh tiến và Nhẫn nhục. Trong 35 bản sinh được thu tập trong sách này, trừ 2 bản sinh Đại điển tôn và Pháp thiên tử, số còn lại đều có cốt truyện tương đồng với khoảng 550 chuyện bản sinh trong kinh Bản sinh (Jàtaka) bằng tiếng Pàli. Nếu so với 34 loại bản sinh được thu chép trong Bản sinh man bằng tiếng Phạm của ngài Thánh dũng (Phạm: Àryazùra)thì có 12 loại mang nội dung giống nhau. Ngoài ra, cách trình bày về các bản sinh trong sách này so với cách trình bày trong kinh Bản sinh thì ngắn gọn quá, có chỗ cho là trích lục từ kinh Bản sinh. Nhưng dụng ngữ trong sách này thì chất phác, chân thật, giống như dụng ngữ của kinh Pháp cú tiếngPàli, mà kinh Bản sinh hiện còn lại cho thấy dấu vết chịu ảnh hưởng của sách này; bởi vậy, các học giả vẫn chưa xác định được trong 2 tác phẩm này, tác phẩm nào là gốc. [X. Thiện kiến luận tìbà sa Q.1; A History ofPàliLiterature by B. C. Law; Dictionary ofPàliProper Names by G.P. Malalasekera].
sở hữu
That one has, what there is, whatever exists.
; 1) Cái mà người ta có: What one has—Possession—Ownership—Proprietorship. 2) Cái đang hiện hữu: What there is—What ever exists.
Sở hữu 所有
[ja] ショウ shou ||| (1) All; the various . . . (sarva). (2) Any; whichever. (3) Related to, possessed by. (4) Existent. 〔二障義HPC 1.789c〕 => 1. Tất cả, nhiều...(s: sarva). 2. Bất kỳ, bất cứ cái nào. 3. Liên quan đến, sở hữu của. 4. Tồn tại.
sở kiến
Drisya (skt)—Những gì hiển lộ ra cho người ta thấy—What is presented to one's view.
Sở kỳ 所期
=> Điều mong mỏi, hy vọng, trông mong, mong đợi.
sở lưu phật
Niśyandabuddha (S).
; Nisyandabuddha (S).
sở lưu sở mục nhiếp phương tiện
(所流所目攝方便) Chỉ cho Sở lưu nghĩa, Sở mục nghĩa và Nhiếp phương tiện nghĩa nói trong giáo học Đồng giáo Nhất thừa của tông Hoa nghiêm. Hoa nghiêm Khổng mục chương quyển 1 của ngài Trí nghiễm, Tổ thứ 2 của Tông Hoa nghiêm giải thích như sau: 1. Sở lưu: Tất cả phápTam thừa đều nương vào Nhất thừa mà được thành lập; tất thảy đều từ Nhất thừa lưu xuất. 2. Sở mục: Nhất thừa là giềng lưới rộng lớn, Tam thừa là mắt lưới; do giềng lưới rộng lớn mà có 3 mắt lưới. 3. Nhiếp phương tiện: Pháp Tam thừa do đức Phật nói đều vì khiến chúng sinh tiến vào Nhất thừa, đó là tiền phương tiện tóm thu Tam thừa về Nhất thừa; bởi vậy, nhờ Tam thừa mớicó thểthành tựu Nhất thừa.
sở lượng
Prameya (S)Đối tượng nhận biết. Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
; That which is estimated; the content of reasoning, or judgment.
; That which is estimated; the content of reasoning, or reasoning.
; (所量) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận lí Nhân minh, đối tượng bị nhận biết gọi là Sở lượng; còn cái tính chất có thể bị suy lường thì gọi là Sở lượng tính. [X. Nhân minh nhập chính lí luận].
sở lập
Xem Thành tựu giả.
; A thesis; that which is set up.
; Luận đề đã được xắp đặt sẳn—A thesis; that which is set up.
; (所立) I. Sở Lập. Phạn: Siddha. Hàm ý là được thành lập. [X. luận Câu xá Q.1]. II. Sở Lập. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, Sở lập là mệnh đề chủ trương mà người lập luận đưa ra và chờ chứng minh, tức là chi Tông trong 3 chi của luận thức Nhân minh. Đối lại, chi Nhân (lí do) và chi Dụ (ví dụ) được dùng để chứng thành chi Tông có được xác lập hay không, thì gọi là Năng lập. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
sở lập bất khiển quá
(所立不遣過) Tiếng dùng trong Nhân Minh. Sở lập bất khiển, Phạm:Sàdhyaavyàvftta, nghĩa là lỗi không trái hẳn với Tông, 1 trong 5 lỗi thuộc Dị dụ trong 33 lỗi Nhân minh. Tức là khi dùng Li tác pháp, Dị dụ tuy trái với Nhân năng lập, nhưng lại không hoàn toàn trái với Tông sở lập, nên bị lỗi này. Như Thanh luận sư đối với Thắng luận sư lập luận: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì không là chất ngại. Đồng dụ: Những gì không chất ngại đều là thường còn,như hư không. Dị dụ: Những gì vô thường đều là chất ngại, như cực vi. Nhưng Thanh luận sư và Thắng luận sư đều thừa nhận cực vi là thường còn, có tính chất ngại, cho nên tuy có dị phẩm Nhân, nhưng vì cực vi là thường còn chứ không phải vô thường, nên không đủ dị phẩm Tông. Vì thế nên bị lỗi. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
sở lập pháp bất thành quá
(所立法不成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Sở lập pháp bất thành, Phạn: Sàdhyadharma-asiddha, 1 trong 5 lỗi thuộc Đồng dụ trong 33 lỗi Nhân minh. Khi Đồng dụ không cùng một phẩm loại với Tông thì bị lỗi này. Như lập luận: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì không phải là chất ngại. Dụ: Những gì không chất ngại đều là thường còn, như sự hiểu biết. Sự hiểu biết là một hiện tượng tinh thần, không phải là vật chất nênkhông chất ngại. Nhưng sự hiểu biết vốn là vô thường, chứ không phải là thường còn, cho nên Đồng dụ trong luận thức trên không phải là đồng phẩm với Tông, do đó mà phạm lỗi bất thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.5; Đông phương luận lí học (Nhất Hạnh)].
sở nam
(楚南) (813-888) Thiền sư Trung Quốc sống vào đời Đường, người tỉnh Phúc kiến, họ Trương. Thửa nhỏ, sư theo ngài Đàm Ái ở chùa Khai Nguyên. Sau khi cạo tóc, sư đến núi Ngũ Đài thụ giới Cụ túc, học luật. Theo lời chỉ dạy của ngài Phù Dung Linh huấn, sư đến tham yết ngài Hoàng Bá Hi Vận, sau được nối pháp của ngài. Gặp pháp nạn Hội Xương, sư ở ẩn trong rừng. Về sau, nhận lời thỉnh của Tướng quốc Bùi Hưu, sư trụ ở chùa Báo Ân hơn 20 năm. Năm Quang Khải thứ 3 (887), Tiền vương hạ chiếu thỉnh sư vào nội cung thuyết pháp và được ban tử y. Niên hiệu Văn đức năm đầu (888), sư thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Bát nhã tâm kinh tụng 1 quyển, luận Phá tà 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.17; Cảnh đức truyền đănglụcQ.12; Thích thị kê cổ lược Q.3].
sở nguyện
Wish—Desire.
Sở nguyện 所願
[ja] ショガン shogan ||| That which one desires. One's wishes, hopes, prayers (praṇidhānu). 〔法華經、T 262.9.8b6〕 => Điều mong mỏi. Điều ước nguyện, bản nguyện của mình (s: praṇidhānu).
sở nhiễm
Upaklista (S). That which is soiled, or stained.
sở quy
(所歸) Nơi quay về. Tịnh độ giáo lấy đức Phật A di đà làm thể sở qui. Thuyết này có xuất xứ từ các mục Thượng phẩm thượng sinh, Thượng phẩm trung sinh... trong Quán kinh Tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo đời Đường. Trong Tịnh độ tông yếu tập quyển 4, ngài Lương trung, vị tăng người Nhật bản, lấy đức Di đà làm sở qui, lấy cõi Cực lạc làm sở cầu và lấy niệm Phật làm sở hành, 3 sở này có đủ trong nhất tâm. Còn trong Quán kinh tán thiện yếu nghĩa thích quán môn nghĩa sao quyển 4 thì ngài Chứng không vị tăng người Nhật lấy Cực lạc tịnh độ làm sở qui.
Sở quy 所歸
[ja] ショキ shoki ||| That which is depended upon. That which one always returns to. => Điều tuỳ thuộc vào. Điều mà người ta luôn luôn quy hướng về.
Sở sinh 所生
[ja] ショショウ soshō ||| (janya). That which produces. That which gives birth. Parents. => Điều phát sinh, cái sinh ra.
sở sơn thiệu kỳ
Ch'u-Shan-Shao-Chi—Thiền Sư Sở Sơn Thiệu Kỳ, tác giả công án 'Ai đang niệm Phật?' Trong Thiền Luận, Tập II của Thiền sư D.T. Suzuki, Thiền sư Sở Sơn Thiệu Kỳ đã dạy về công án và niệm Phật như sau: “Người sơ cơ cần nhất là phải có một vật để mà nắm vào Thiền; vì thế họ được dạy pháp môn niệm Phật. Phật tức tâm, Tâm tức Phật. Tâm và Phật từ đâu mà có? Có phải đều từ tâm?. Nhưng Tâm ấy không phải là tâm, không phải Phật, không phải vật. Vậy là cái gì? Muốn thấy ra, hãy vứt bỏ đi tất cả những cái đã tích chứa do học tập, tri thức, kiến giải; hãy chỉ hoàn toàn chuyên chú vào một câu hỏi: 'Ai đang niệm Phật?' Hãy để cho nghi tình nầy nghi đến cực độ; đừng say sưa theo những nghĩ tưởng mê lầm; đừng để cho những ý tưởng phân biệt cùng khởi lên. Một khi công phu bền bĩ, liên tục không gián đoạn, thì thiền định của các người sẽ được thuần thục, và nghi tình của các người nhất định bùng vỡ dữ dội. Rồi các người sẽ thấy rằng Niết Bàn và sanh tử, cõi tịnh độ và cõi uế trược chỉ là hý luận, và ngay từ đầu chẳng cần gì giải thích hay bình chú, và thêm nữa, Tâm không thuộc cảnh giới tâm ý thức, do đó là Bất Khả Đắc.”—Zen master Ch'u-Shan-Shao-Ch'i, the author of the koan 'Who is that practises the recitation of the Buddha name.' In the Essays in Zen Buddhism, composed by Zen master D.T. Suzuki, Zen master Ch'u-Shan-Shao-Ch'I taught about koan and recitation of Buddha name as follows: :It is necessary for the uninitiated to have a kind of too wherewith to take hold of Zen; and it is for this reason that they are told to practise the Recitation of Buddha name, that is thinking of the Buddha. The Buddha is no other than Mind, or rather, that which desires to see this Mind. Where does this desire, this thought, take its rise? From the Mind, we all say. And this Mind is neither a mind, nor a Buddha, nor a something. What is it then? To find it out, let them abandon all that they have accumulated in the way of learning, intellection, and knowledge; and let them devote themselves exclusively to this one question 'Who is it that practises the Recitation of Buddha name?' Let this inquiring spirit assert itself to the highest degree. Do not try to reason it out; do not assume a state of mere passivity for enlightenment to come by itself; do not allow yourself to cherish false thoughts and imaginations; do not let ideas of discrimination assert themselves. When your striving and seeking is constant, permitting to breaks and interruptions, your Dhyana will naturally be matured, and your inquiring spirit brough up to the inevitable crisis. You will then see that Nirvana and Samsara, the land of purity and the land of defilement, are mere idle talk, and that there is from the beginning nothing requiring explanation or commentary, and further that Mind is not somewhat belonging to the realm of empirical consciousness and therefore not an object of mental comprehension.
sở thuyên
That which is expouded, explained, or commented on.
; Nghĩa lý của kinh điển là sở thuyên (còn dựa vào kinh văn mà làm cho sáng tỏ nghĩa lý thì gọi là năng thuyên)—That which is expounded, explained, or commented.
; (所詮) I. Sở Thuyên. Đối lại: Năng thuyên. Chỉ cho nghĩa lí trong kinh văn được giải thích rõ ràng. Căn cứ vào ngữ cú của kinh văn để giải thích rõ nội dung và hiển bày ý nghĩa của nội dung ấy, nên gọi kinh văn là Năng thuyên, nghĩa lí là Sở thuyên. Tứ giáo nghĩa quyển 1 cho rằng giáo là Năng thuyên, lí là Sở thuyên. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 phần đầu nói: Pháp được diễn bày là Sở thuyên, danh cú văn tự y cứ là Năng thuyên. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng, phần cuối]. II. Sở Thuyên. Hàm ý tột bậc. Tức chỉ cho mục đích sau cùng.
Sở thuyên 所詮
=> Điều được giảng giải trong kinh. Mục tiêu tối hậu. Cứu cánh.
Sở thuyết 所説
[ja] ショセツ shosetsu ||| That which is explained; the point being explained (Skt. deśita; Tib. gsuṅs). 〔法華經 T 262.9.36c21〕 => Điều được giảng nói; điểm đang được giải thích (s: deśita; t: gsuṅs).
sở thích
Taste.
sở thạch
(楚石) (1296-1370) Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Nguyên, người ở Tượng Sơn, Minh Châu, họ Chu, tên Phạm Kì, tự Sở thạch. Sư là đệ tử nối pháp của ngài Hạnh đoan ở Kính Sơn, pháp tôn đời thứ 20 dòng Nam Nhạc. Năm 16 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Chiêu Khánh tại Hàng Châu. Về sau, sư đắc pháp nơi ngài Nguyên Tẩu Hạnh Đoan, lần lượt trụ trì các chùa Vĩnh tộ ở Thiên Ninh, chùa Bản Giác ở Gia Hưng và chùa Báo Quốc ở Hàng Châu. Năm Chí chính thứ 7 (1347) đời Nguyên, vua Thuận tông ban cho sư danh hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu Tuệ Biện Thiền Sư. Năm Hồngvũ thứ 3 (1370), sư hét 1 tiếng rồi thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. có tác phẩm: Sở thạch Phạm kì ngữ lục 20 quyển. [X. Thích thị kê cổ lược tục tập Q.2; Nam Tống Nguyên Minh thiền lâm tăng bảo truyện Q.10; Tăng tập tục truyền đăng lục Q.4]. (xt. Phạm Kì).
sở thạch phạm kì thiền sư ngữ lục
(楚石梵琦禪師語錄) Gọi đủ: Phật nhật phổ chiếu tuệ biện Sở thạch thiền sư ngữ lục. Cũng gọi Sở thạch thiền sư ngữ lục, Sở thạch lục. Ngữ lục, 20 quyển, do ngài Phạm kì soạn vào cuối đời Nguyên, các vị Tổ Quang, Đàm Thiệu, Lương Ngạn biên tập, được thu vào Vạn tục tạng tập 24. Nội dung bộ sách này biên tập các ngữ lục của ngài Phạm kì giảng dạy tại các chùa Phúc Trăn, chùa Vĩnh Tộ ở Thiên Ninh, chùa Bản Giác ở Gia Hưng, chùa Báo Quốc ở Hàng Châu và các phần Bỉnh phất tiểu tham, Tụng cổ, Pháp ngữ,Tạp trứ. Ngoài ra còn phụ thêm phần Hành trạng, bài tựa và bài minh tháp do ông Tống liêm soạn.
Sở Thạch Phạm Kỳ
(楚石梵琦, Soseki Bonki, 1296-1370): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Đàm Diệu (曇曜), Sở Thạch (楚石), hiệu Tây Trai Lão Nhân (西齋老人), sinh tháng 6 năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Trinh (元貞), xuất thân Tượng Sơn (象山), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), họ Chu (朱). Năm 9 tuổi, ông đến tham yết và xuất gia với Nột Ông Mô (訥翁模) ở Thiên Ninh Tự (天寧寺), Hải Diêm (海塩, Tỉnh Triết Giang). Ngoài ra, ông còn tham vấn Tấn Ông Tuân (晉翁洵) ở Sùng Ân Tự (崇恩寺) vùng Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang). Năm 16 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới ở Chiêu Khánh Tự (昭慶寺) vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Từ đó, ông lại đến tham yết một số danh tăng khác như Hư Cốc Hy Lăng (虛谷希陵) ở Kính Sơn (徑山), Vân Ngoại Vân Tụ (雲外雲岫) ở Thiên Đồng Sơn (天童山), Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺), v.v. Cuối cùng ông đến tham vấn Nguyên Tẩu Hành Đoan (元叟行端) ở Kính Sơn và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào mùa đông năm đầu (1324) niên hiệu Thái Định (泰定), thể theo lời thỉnh cầu ông đến trú trì Phước Trăn Tự (福臻寺) ở Hải Diêm, rồi đến ngày mồng 3 tháng 2 năm đầu (1328) niên hiệu Thiên Lịch (天曆) đến Thiên Ninh Vĩnh Tộ Tự (天寧永祚寺), ngày 25 tháng 7 năm đầu niên hiệu Chí Nguyên (至元) đến Đại Báo Quốc Tự (大報國寺) ở Lộ Phụng Sơn (路鳳山), Hàng Châu (杭州), và ngày mồng 8 tháng 8 năm thứ 4 (1344) niên hiệu Chí Chánh (至正) đến Bổn Giác Tự (本覺寺) ở Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông nhận sắc chỉ được ban tặng hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Thiền Sư (佛日普照慧辯禪師). Ngoài ra, vào ngày mồng 1 tháng 8 năm thứ 17 cùng niên hiệu trên, ông đến sống ở Báo Ân Quang Hiếu Tự (報恩光孝寺), rồi trở về lại Thiên Ninh Vĩnh Tộ Tự. Đến năm thứ 19 (1359) niên hiệu Chí Chánh, ông xây dựng một ngôi chùa ở phía tây Thiên Ninh Tự, đặt tên là Tây Trai Tự (西齋寺) và lui về đó ẩn cư. Sau đó, ông phụng chiếu khai đường thuyết pháp ở Tương Sơn Tự (蔣山寺), Kim Lăng (金陵). Ông có mối thâm giao với Tống Cảnh Liêm (宋景濂). Vào ngày 26 tháng 7 năm thứ 3 niên hiệu Hồng Võ (洪武), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 63 hạ lạp. Ông có để lại một số trước tác như Tịnh Độ Thi (淨土詩), Từ Thị Thượng Sanh Kệ (慈氏上生偈), Bắc Du Tập (北遊集), Phụng Sơn Tập (鳳山集), Tây Trai Tập (西齋集), Hòa Thiên Thai Tam Thánh Thi (和天台三聖詩), Vĩnh Minh Thọ Thiền Sư Sơn Cư Thi (永明壽禪師山居詩), Đào Tiềm Thi (陶潛詩), Lâm Thông Thi (林通詩), v.v. Nhóm môn nhân Tổ Quang (祖光) của ông biên tập bộ Sở Thạch Phạm Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄) 20 quyển, lại còn có Chí Nhân (至仁) soạn bản Sở Thạch Hòa Thượng Hành Trạng (楚石和尚行狀). Tống Cảnh Liêm soạn văn Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Thiền Sư Tháp Minh (佛日普照慧辯禪師塔銘).
sở thủ
Grahya (skt)—Cái bị nắm lấy hay cái bị nhận thức—Seized, that which is perceived.
sở thủ năng thủ
Grahyagrahaka (skt)—Cái được nhận thức hay được hiểu, và cái nhận thức hay cái hiểu—That which is perceived or apprehended, and that which perceives or apprehends—See Năng Thủ.
Sở thủ 所取
[ja] ショシュ shoshu ||| (1) That which is known; the objects of consciousness; those objects which are grasped by the subjective consciousness. The objective standpoint. (Skt. grāhya, grāhya-bhūta; Tib. gzuṇ ba) 〔對法論T 1606.31.764a〕 (2) Objects of attachment. That which is grasped. 〔二障義 HPC 1.800a〕 => 1. Điều được biết; đối tượng của thức; những đối tượng được nắm bắt bởi nhận thức khách quan. Quan điểm chủ quan (s: grāhya, grāhya-bhūta; t: gzuṇ ba). 2. Đối tượng của chấp trước. Điều bị chấp trước.
sở tri
(所知) Tên khác của thức A lại da. Tông Duy thức lấy 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực làm pháp Sở tri. Thức A lại da là chỗ y chỉ của 3 tính, nên gọi thức này là Sở tri y. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.1 (ngài Huyền trang dịch); Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. A Lại Da Thức).
sở tri chướng
Jeyāvaraṇa (S), shes sgrib (T), Cognitive obscurations, Knowledge hindrance Chấp trước pháp sở chướng, làm chướng ngại trí chân.
; Jneyàvarana (S). Hindrance of the one's own knowledge; the barrier of the known, arising from regarding the seeming as real.
; Tri kiến do bộ óc nhận thức được đều làm chướng ngại sự kiến tánh.
; Jneyavarana (skt)—Trở ngại của tri thức—Hindrance of knowledge—Thế gian trí thường coi sự vật như thật là một chướng ngại cho chân trí, thường đi kèm với phiền não chướng (trở ngại của các phiền não)—Worldly wisdom which assumes seeming as real which is a hindrance to true wisdom (the barrier of the known, arising from regarding the seeming as real), generally coupled with Klesavarana, hindrance of passions. ** For more information, please see Nhị Chướng (A) (2).
; (所知障) Phạn: Jĩeyàvaraịa. Cũng gọi Trí chướng, Trí ngại. Đối lại: Phiền não chướng. Chấp chặt vào pháp đã chứng được, khiền cho trí chân như căn bản bị ngăn che, là 1 trong 2 chướng. Do vô minh căn bản mà chúng sinh mờ mịt đối với cảnh giới sở tri, che lấp pháp tính mà trở thành chướng ngại cho chủng trí trung đạo, cho nên gọi là Trí ngại. Theo luận Đại tì bà sa quyển 141, luận Đại thừa khởi tín và Câu xá luận quang kí quyển 1 thì Bất nhiễm ô vô tri tức là Sở tri chướng. Còn luận Thành duy thức quyển 9 và Phật địa kinh luận quyển 7 thì cho rằng Sở tri chướng lấy Tát ca da kiến chấp trước các pháp biến kế làm đầu. Nghĩa là tất cả nghiệp phát khởi và quả thu được của các pháp Kiến, Nghi, Vô minh, Ái, Khuể, Mạn... đều bao hàm trong Sở tri chướng, đều lấy pháp chấp và vô minh làm căn bản, vì thế chướng này chỉ tương ứng với 2 tâm Bất thiện và Vô kí, trong tất cả phiền não đều có chướng này. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 9 thì Nhiễm ô sở tri chướng có 3 loại: Bì (lớp bên ngoài), Phu (lớp ở giữa) và Cốt (lớp trong cùng),bậc Hoan hỷ trụ đoạn được Bì, bậc Vô khai phát vô tướng trụ đoạn được Phu, bậc Như lai trụ mới đoạn được Cốt tủycủa Sở tri chướng. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; phẩm Hóa trong kinh Nhập lăng già Q.8; luận Thành duy thức Q.10; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng phần cuối, Q.hạ phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3].
Sở tri chướng 所知障
[ja] ショチショウ shochishō ||| The noetic hindrances, also called "hindrance by the known", hindrances of the knowable, as well as known as "hindrances to wisdom" 智障 (jñeya-āvaraṇa). . These are the subtle hindrances of cognition, based primarily on a lack of full penetration into the principle of the emptiness of elemental constructs. In more everyday terms, it means to be hindered from attaining enlightenment by none other than our own knowledge, our own habituated way of knowing. That is, it is exactly what we think we know, which keeps us from enlightenment. The concept is originally developed in Yogācāra texts such as the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽師地論, Mahāyāna-saṃparigraha-śāstra 攝大乘論, etc., but can also be found in later East Asian works such as the Awakening of Faith 起信論 and Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經. These hindrances are taught along with the afflictive hindrances 二障--the hindrances by karmically habituated passions. while the afflictive hindrances can be mostly eliminated by the contemplation techniques of the practitioners of the two vehicles, the most subtle of the noetic hindrances are only eliminated by the advanced compassion and wisdom of the bodhisattvas. They are referred to together as the "two types of hindrances." The most concentrated discussion of the Two Hindrances is to be found in Wŏnhyo's Doctrine of the Two Hindrances (Ijangŭi: 二障義). => Sự chướng ngại của lý trí, còn gọi là “ tri chướng”, chướng ngại của nhận thức, còn gọi là “trí chướng”(智障 s: jñeya-āvaraṇa). Đây là người chướng ngại vi tế của nhận thức, chủ yếu căn cứ vào thiếu sự thâm nhập vào nguyên lý tính không về sự cấu thành các pháp. Trong thuật ngữ thông dụng, nó có nghĩa là bị chướng ngại giải thoát không gì khác hơn là do tri kiến , do thói quen trong cách nhìn của chính mình. Nghĩa là, ta cứ nghĩ điều ta biết là đúng, chính điều ấy đã ngăn không cho ta được giác ngộ. Là khái niệm thường gặp trong các kinh văn của Du-già hành tông như Du-già sư địa luận, Nhiếp Đại thừa luận,v.v..., và cũng có thể gặp trong các kinh luận được phát triển ở Đông Nam Á sau nầy như Luận Đại thừa khởi tín và Kinh Viên Giác. Chướng ngại nầy được trình bày là đi cùng với phiền não chướng (Nhị chướng) là nghiệp chướng do tập khí ái nhiễm. Trong khi phiền não chướng hầu như có thể trừ diệt bằng pháp tu quán chiếu của hàng Nhị thừa, thì sở tri chướng vi tế chỉ có thể được trừ sạch bằng tu tập từ bi và trí tuệ của hàng bồ-tát. Thường được gọi chung là “nhị chướng”. Đề tài tập trung về Nhị chướng được tìm thấy qua tác phẩm Nhị chướng nghĩa (二障義e: Doctrine of the Two Hindrances; k: Ijangŭi) của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo).
Sở tri cảnh 所知境
[ja] ショチキョウ shochikyō ||| The objective realm that is known by the consciousnesses, which has six aspects: delusion 迷亂, the basis of delusion 迷亂所依, the basis of non-delusion 不迷亂所依, delusion in non-delusion 迷亂不迷亂, non-delusion 不迷亂, and that which is analogous with non-delusion 不迷亂等流. 〔對法論T 1606.31.764a3-8〕 => Cảnh giới khách quan được nhận biết bởi thức, gồm sáu phương diện: mê loạn迷亂, mê loạn sở y迷亂所依,, bất mê loạn sở y不迷亂所依, mê loạn bất mê loạn迷亂不迷亂, bất mê loạn不迷亂, và bất mê loạn đẳng lưu不迷亂等流.
sở tri y
Xem A lại da thức.
; That on which all knowledge depends, i.e. the àlayavijnàna, the other vijnànas being derived from it.
; Là cơ sở cho mọi tri thức hay mọi pháp tốt xấu tùy thuộc vào, đây là tên khác của A Lại Da Thức—That on which all knowledge depends; another name for alaya-vijnana—See A Lại Da Thức. **For more information, please see Bát Thức.
Sở tri 所知
[ja] ショチ shochi ||| The known; that which is known; that which will be known; that which should be known; object of knowledge (jñeya). => Cái biết; điều nhận thức được; điều sẽ được biết; điều nên phải biết, đối tượng của cái biết (s: jñeya). .
sở trường
Strong point.
sở tác
That which is done, or to be done, or made, or set up etc.
; To be done.
; (所作) I. Sở Tác. Đối lại: Năng tác. Chỉ cho sự phát động tạo tác của 3 nghiệp thân, miệng, ý. Ba nghiệp thân, miệng, ý là chủ thể năng tác, những cái do 3 nghiệp tạo tác ra gọi là Sở tác. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung) nói: Cũng không có sở tác, cũng không có sở hữu. [X. Đại thừa trung quán thích luận Q.4]. II. Sở Tác. Cũng gọi Yết ma. Làm việc theo đúng Thánh pháp mà có công giúp thành. (xt. Yết Ma).
sở tác biện địa
Xem Dĩ Tác Địa.
sở tác tương tự quá loại
(所作相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi thứ12 trong 14 lỗi Tự năng phá do ngài Túc mục, Tổ của Cổ nhân minh lập ra. Đây là lỗi do ngườivấn nạn với ý đồ xấu dùng mánh khóe đểbác bỏ lập luận của đối phương, nhưng thất bại và tự chuốc lấy lỗi. Nghĩa là khi tranh luận, người lập luận dùng Nhân (lí do) chính xác để chứng minh cho chủ trương của mình, nhưng người vấn nạn lại tách rời Nhân và Đồng dụ ra để công kích là Nhân của đối phương không thành lập được. Như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó được tạo tác ra. Dụ: Như cái bình. Đây là luận thức hoàn toàn chính xác, nhưng tín đồ ngoại đạo muốn bác bỏ mới bắt bẻ rằng: Cái bình là từ đất nặn thành, cho nên có thể nói là được tạo tác ra; nhưng âm thanh thì không từ đất nặn thành,vì thế nó không phải được tạo ra. Nạn phá như vậy là do không hiểu cái tướng chung của những vật thể được tạo tác ra nên mắclỗi. Loại lỗi này tương đương với Sự dị nạn nói đến ở phẩm Đạo lí nan trong luận Như thực của ngài Thế thân. X. luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy hiền, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 21]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).
Sở tác 所作
[ja] ショサ sosa ||| (1) Duty, responsibility, obligation. That which should be done. The accomplishment of a goal. (2) The operation of the three modes of activity (thought, word, deed). Act, action, activity, deed, function (kriyā). Ability. (3) That which has been created. => 1. Phần việc làm, trách nhiệm, nghĩa vụ. Việc phải làm. Sự thành tựu mục đích. 2. Quá trình hoạt động của ba hành vi (thân, khẩu, ý). Hành động, công việc, sự hoạt động, hành vi, chức năng (s: kriyā). Năng lực. 3. Điều được tạo ra.
sở tín
See Năng Tín.
sở tướng năng tướng
Lashyalakshana (skt)—Cái nêu định và cái được nêu định—Predicating and predicated.
sở tạo sắc
(所造色) Gọi tắt: Sở tạo. Chỉ cho tất cả các sắc pháp đều do 4 đại đất, nước, lửa, gió tạo ra, vì thế gọi là Sở tạo sắc, còn 4 đại là Năng tạo. Theo luận Thành thực thì 4 trần (sắc, hương, vị, xúc) là Năng tạo, 5 căn (nhãn, nhĩ,tị, thiệt, thân) là Sở tạo, còn 4 đại thì vừa là Năng tạo vừa là Sở tạo. [X. luận Đại tìbà sa Q.127; phẩm Đại thực hữu trong luận Thành thực]. (xt. Tứ Đại, Năng Tạo SởTạo).
Sở tạo 所造
[ja] ショゾウ shozō ||| The creation (of objects) out of basic (four) elements 四大. The composition of material phenomena from the basic elements (bhautika-ārthya). 〔瑜伽論 T 1579.30.279a〕 => Sự tạo thành (vật thể) từ bốn yếu tố cơ bản (tứ đại 四大). Sự cấu tạo của các hiện tượng vật chất từ các yếu tố cơ bản (bhautika-ārthya).
sở vi lượng
(所違量) Cũng gọi Tiền lượng. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Tỉ lượng trong luận thức Nhân minh do người lập luận lập ra. Tỉ lượng chỉ cho sự hiểu biết do suy luận so sánh mà có được. Tỉ lượng của người vấn nạn (địch luận) dùng để chống lại người lập luận,gọi là Hậu lượng hoặc Năng vi lượng. Sở vi lượng và Năng vi lượng đều làtỉ lượng chính xác của Nhân (lí do) và Dụ (thí dụ), cho nên khó định đoạt giữa người lập luận và người vấn nạn ai đúng ai sai. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
sở viên
(楚圓) (986-1039) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, người ở Thanh tương, Toàn châu (huyện Quế lâm, tỉnh Quảng tây), họ Lí. Thủa nhỏ sư là 1 Nho sinh, rắp tâm theo đuổi sự nghiệp Khoa cử. Năm 22 tuổi, sư hồi tâm theo đạo Phật, xuất gia ở chùa Ẩn tĩnh tại Tương sơn. Không bao lâu, sư đến cửa Tương miễn, kết bạn với ngài Thủ chi Cốc tuyền cùng vào Lạc dương. Nghe tiếng tăm ngài Thiện chiêu là bậc nhất trong thiên hạ, sư bèn đến Phần châu, nương tựa ngài được 2 năm nhưng vẫn chưa được nghe pháp yếu. Mỗi lần thấy sư thì ngài Thiện chiêu lại chửi mắng, hoặc chê bai các nơi, có dạy bảo điều gì cũng chỉ là việc tầm thường của thế tục. Một hôm, sư đến trách ngài, chưa dứt lời thì ngài nhìn chằm chằm vào sư mà mắng rằng (Đại 51, 482 thượng): Ác tri thức này dám chê bai ta! rồi giơ gậy lên đuổi. Sư định giải thích, ngài liền bụm miệng. Sư chợt đại ngộ, thưa rằng: Thế mới biết đạo của Lâm tế vượt ngoài thường tình. Sư hầu hạ ngài Thiện chiêu khoảng 12 năm (có thuyết nói 7 năm), lãnh hội hết yếu chỉ của ngài. Sau, sư đến Tinh châu tham vấn ngài Đường Minh Trí tung, lại cùng với các bậc danh sĩ đương thời như Dương Đại Niên, Lí tuân úc thường họp bàn về đạo lí. Sư muốn về làng thăm mẹ, nhưng khi đi ngang qua Quân Châu (tỉnh Tứ Xuyên), sư gặp ngài Hiểu Tở Động Sơn, y chỉ ngài 3 năm, rồi lại đến Ngưỡng Sơn. Lúc đó, Dương Đại Niên gửi thư cho quan Thái thú Nghi xuân là Hoàng Tông Thả thỉnh sư đến trụ trì chùa Quảng Lợi ở Nam Nguyên tại Viên Châu (tỉnh Giang Tây). Ở đó được 3 năm, sư từ biệt về thăm mẹ. Sau đó, sư lại đến tham yết ngài Thần đỉnh Hồng Nhân. Ngài Hồng Nhân rất khen ngợi sư, từ đó danh tiếng sư lừng lẫy. Lúc đầu, sư làm Thủ tọa ở đạo tràng của ngài Đạo ngộ tại Đàm Châu (tỉnh Hồ Nam), kế đến trụ chùa Sùng Thắng ở núi Thạch Sương, rồi lại dời đến ở chùa Phúc nghiêm tại Nam nhạc; cuối cùng, lại dời đến trụ chùa Hưng hóa ở Đàm Châu. Tháng giêng năm Bảo Nguyên thứ 2 (1039), sư thị tịch ở chùa Hưng Hóa tại Đàm Châu, thọ 54 tuổi, thụy hiệu Từ Minh Thiền Sư. Trong 50 vị đệ tử nối pháp, nổi tiếng nhấtlà các sư Hoàng Long Tuệ Nam và Dương Kì Phương Hội, mỗi vị này lại thành lập 1 phái riêng. Sư có tác phẩm: Thạch Sương Sở Viên thiền sư ngữ lục 1 quyển (do ngài Tuệ nam biên chép lại). [X. Tục truyền đăng lục Q.3; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.21].
sở viện từ minh thiền sư
Zen master Zhi-Ming-Chu-Yuan—See Từ Minh Sở Viện Thiền Sư.
Sở văn 所聞
[ja] ショモン shomon ||| That which one hears; that which one is taught, or believes. => Điều mình nghe được; điều mình được dạy hay tin nhận.
sở vương anh
(楚王英) Con của vua Quang Vũ đế đời Đông Hán, Trung quốc, là em của vua Hiếu minh đế. Theo chính sử của Trung quốc thì ông là người đầu tiên tin theo Phật giáo. Cứ theo Liệt truyện thứ 32 trong Hậu Hán thư thì lúc còn trẻ, Vương anh thích làm hiệp sĩ, giao du với các tôn khách, về già, ông lại thích học thuyết của Hoàng lão, thực hành trai giới cúng lễ theo Phật giáo.Điều Thiên Trúc quốc trong Liệt truyện thứ 78 củaHậu Hán thư nói: Sở vương anh là người đầu tiên tin đạothuật ấy (đạo Phật), nhân đó Trung quốc có rất nhiều người thờ phụng đạo Phật. Điều này đủ chứng tỏ nền Phật giáo mà Sở vương anh tin thờ cũng chỉ thuộc loại phương thuật cúng tế. [X. Phật tổ thống kỉ Q.35; Phật tổ lịch đại thông tải Q.4; Thích thị kê cổ lược Q.1; Hậu hán kỉ Q.10].
Sở vọng 所望
[ja] ショモウ shomō ||| That which is expected, hoped for, waited for, or anticipated. => Điều hy vọng, trông chờ vào, trông đợi, mong đợi.
sở y
Aśraya (S), Basis, Asaya (P)Điều được/bị nương tựa; căn bản.
; Asraya (S). That on which anything depends, the basis of the vijnànas. Abode, deposit.
; Asraya (skt)—Cơ sở mà mọi thứ phải tùy thuộc vào, hay căn bản của các thức. Đây là sự chuyển biến hay đột chuyển xãy ra giữa căn bản của tâm thức, nhờ đó người ta có thể nắm được cái chân lý thâm sâu nhất của tất cả sự hiện hữu, mà giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc của phân biệt. Tất cả việc tu tập trong Phật giáo đều nhằm vào cái biến cố nầy, không có nó sẽ không có sự cải tiến nào cả. Khi người ta hiểu thông rằng thế giới bên ngoài chỉ là sự biểu hiện của chính tâm mình; thì có một sự đột chuyển từ căn bản của phân biệt, đấy là sự giải thoát chứ không phải là sự hủy diệt. Sự đột chuyển nầy là chân như, là chỗ trú thoát ngoài sự phân biệt—That on which anything depends, the basis of the vijnanas. This is a sudden revulsion or turning over which takes place at the basis of consciousness, whereby we are enabled to grasp the inmost truth of all existence, liberating us from the fetters of discrimination. All the Buddhist discipline aims at this catastrophe, without which there is no permanent conversion at all. When it is thoroughly comprehended that the external world is no more than the manifestation of one's own mind, there is a revulsion at the basis of discrimination, which is emancipation and not destruction. The revulsion is Suchness; the abode is free from discrimination—See Năng Y.
; (所依) Phạn: Àzraya. Pàli:Assaya. I. Sở Y. Đối lại:Năng y. Chỗ được nương tựa. Duy thức học gọi cái chỗ mà khi 8 thức tâm, tâm sở sinh khởi nương vào, gá vào là Sở y. Có 3 loại: 1. Nhân duyên y (cũng gọi Chủng tử y): Chỉ cho nhân sinh khởi của các pháp hữu vi, cũng tức là chủng tử của mỗi pháp trong tất cả các pháp.2. Tăng thượng duyên y (cũng gọi Câu hữu y): Chỉ cho chỗ nương của tâm, tâm sở pháp khi khởi chuyển, tức chỉ cho Nội lục xứ. 3. Đẳng vô gián duyên y (cũng gọi Khai đạo y): Chỉ cho chỗ nương hiện khởi của tâm, tâm sở pháp, tức là nghĩa tiền diệt. Luận Thành duy thức quyển 4, khi giải thích rõ về Câu hữu y của các thức, có phân biệt Y và Sở y, cho rằng Y là chung cho tất cả pháp sinh diệt, như vua và các quan nương lẫn nhau. Còn Sở y tức là Nội lục xứ, chỉ giới hạn ở 5 căn, và ý căn, phải có đủ 4 nghĩa: Quyết định, có đối tượng, làm chủ và giữ lấy cái mình duyên theo, mới được gọi là Câu hữu sở y. Trong 8 thức thì Câu hữu sở y của 5 thức gồm 4 loại: Đồng cảnh y (5 căn), Phân biệt y (thức thứ 6), Nhiễm tịnh y (thức thứ 7) và Căn bản y (thức thứ 8); ý thức thứ 6 thì có 2 loại Câu hữu sở y là thức thứ 7 và thức thứ 8, thức mạt na thứ 7 chỉ có 1 loại là thức thứ 8, thức thứ 8 cũng chỉ có 1 loại là thức thứ 7. Trên đây lại có Cộng y và Bất cộng y khác nhau. Cộng y là sở y chung, còn Bất cộng y là sở y riêng. Ngoài ra, trong kinh luận cũng có nhiều chỗ gọi cái có thể làm chỗ nương cho sự vật là Sở y. Như luận Du già sư địa quyển 99 có liệt kê 5 thứ Sở y mà người phạm hạnh nên an trụ là: Thôn điền sở y, Cư xứ sở y, Bổ đặc già la sở y, Chư y phục đẳng tư cụ sở y và Uy nghi sở y. Còn như giáo chỉ căn bản của các tông phái thì có các kinh luận chính sở y và bàng sở y... đều thuộc về nghĩa sở y nói ở đây. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.2; luận Đại tìbà sa Q.127; luận Du già sư địa Q.1, 55; Thành duy thức luận thuật kí Q.4; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ, phần đầu]. (xt.Y, Năng Y). II. Sở Y. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho danh từ trước (tiền trần) của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Luận Nhân minh nhập chính lí (Đại 32, 11 hạ) nói: Hư không có thật vì nó là sở y của muôn vật, nếu chấp hư không chẳng có thật thì nghĩa sở y không thành. Bởi vì trong Nhân minh qui định rằng danh từ trước của Tông là thể, là pháp sở y của Nhân (lí do), cho nên gọi là Sở y. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung, phần cuối].
sở y bất thành quá
(所依不成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Sở y bất thành, Phạn: Àzraya-asiddha. Sở y (cũng gọiTiền trần) chỉ cho Hữu pháp của chi Tông(mệnh đề) trong tác pháp 3 chi của Nhân minh; Bất thành(gọi đủ: Bất cực thành) nghĩa là không thành tựu. Sở ybất thành là 1 trong 4 lỗi Bất thành về Nhân (lí do) trong 33 lỗi của Nhân minh, tức là không được cả 2 bên chấp nhận nên Nhân không thành lập được. Bởi vì Nhân minh qui định rằng danh từ trước (tiền trần)và danh từ sau(hậu trần)của Tông đều phải được cả người lập luận và người vấn nạn chấp nhận, trong đó, danh từ trước là Sở y của Nhân(lí do) nếu đối phương không chấp nhận thì không thành lập được, như vậy thì chi Nhân và chi Dụ (thí dụ) cũng không thành lập được, gọi là Sở y bất thành. Như Thắng luận sư đối với Vô không luận sư mà lập luận thức: Hư không là có thật, vì nó là sở y của muôn vật, trong đó, danh từ trước của Tông là Hư không được Thắng luận sư chấp nhận nhưng không được Vô không luận sư thừa nhận, vì Vô không luận sư chủ trương Hư không không có thể thực. Do đó, không thể thành lập và bị lỗi Sở y bất thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.5].
Sở y sở duyên 所依所縁
[ja] ショエショエン shoeshoen ||| Bases and objects, both of which are necessary for the development of discriminations. 〔二障義 HPC 1.800a; 瑜伽論 T 1579.30.582a〕 => Chỗ y cứ và đối tượng, cả hai đều cần thiết cho sự phát huy tính phân biệt
sở y đế
Xem Thật.
Sở y 所依
[ja] ショエ shoe ||| (āśraya, niśraya, vastu, adhisthāna) (1) That on which something depends. A basis, a ground, a foundation. For example, the visual consciousness depends one the "bases" of the eye organ 眼 and form 色. (2) A shelter, a person or place to depend upon. Fact, reality. (3) Basis, foundation. As the basis for transmigratory existence, the ālaya-vijñāna 阿頼耶識. (4) To supervise, manage, survey (adhisthāyaka). (5) To be managed, controlled, guided. => 1. Điều mà các pháp y cứ vào mà phát sinh. Cơ sở, căn cứ, nền tảng. Chẳng hạn nhãn thức y cứ vào 'cơ sở' là nhãn căn và sắc. 2. Nơi nương tựa, là người hay nơi chốn để y cứ vào. Cơ sở lập luận, thực tế. 3. Căn bản, nền tảng. Là cơ sở tạo nên luân hồi, là A-lại-da thức. 4. Giám sát, quản lý, khảo sát (s: adhisthāyaka). 5. Được kiểm soát, bị điều khiển, được hướng dẫn.
sở đoạn
Heya (S).
sở đoản
Weakness.
sở đắc chân lý
To attain the truth.
Sở đắc 所得
[ja] ショトク shotoku ||| (upalambha, apalabdhi). (1) Acquisition, realization, cognition. (2) View, opinion. The view of the essential truth of the Buddha-dharma gained through the path of study and practice. (3) The discriminating mind that picks and chooses. (s: upalambha, apalabdhi). => 1. Sự đạt được, chứng ngộ được, nhận thức được. 2. Quan điểm, ý kiến. Quan niệm về bản chất chân lý Phật pháp đath được thông qua con đường tu học. 3. Tâm phân biệt chọn lựa.
Sở ưng 所應
[ja] ショオウ shoō ||| (1) To act accordingly, respond appropriately; to fit to the shape. (2) To wish for, hope for. (3) That which should be done. 〔二障義HPC 1.681d〕 => 1. Hành động một cách xứng hợp, đáp ứng một cách thích đáng; hợp với sự định hướng. 2. Ước nguyện, mong muốn. 3. Điều nên được làm.
Sở 所
[ja] ショ sho ||| (1) An indicator of the object or the passive. That which... Whereby. (2) Place, location, scene, situation. (3) Extent, to a certain extent. (4) Object (sthāna). => 1. Từ chỉ thị cho đối tượng hay quá khứ. Cái mà... nhờ đó mà... 2. Nơi chốn, địa điểm, quang cảnh, vị trí. 3. Phạm vi, đến mức nào đó. 4. Đối tượng, khách thể (s: sthāna). .
sợ
To be afraid of—To fear—To dread—To feel (be) frightened—To apprehend.
sợ chết
To be afraid of (fear) death.
sợ cuống chân
Paralyzed with fear.
sợ hãi
Bhaya (S), Fear Khủng bố.
; Fear.
sợ hãi chỉ là trạng thái tâm thần
Fear is only a state of mind.
sợ hết hồn
To be frightened out of one's wits.
sợ nhân quả
To fear of cause and Effect.
sợ run
To tremble (shiver—quiver) with fear.
sợi dây ràng buộc
Bandha (S), Bondage.
sụ mặt
Sad face.
sục sạo
To search—To make (conduct) a search.
sụm
To drop on one's knees.
sụp
To fall in—To collapse—To come (go) down.
sụt
To lower—To decrease—To diminish.
sủng
Ân sủng—Favour—Grace.
sủng ái
To love.
sủy thực
(揣食) Phạn: Kavađiô - kàràhàra hoặc Kavalì - Kàràhàra. Pàli: Kabaliíkàràhàra. Cũng gọi Đoàn thực, Đoạn thực, Kiến thủ thực. Vê nhuyễn thức ăn thành viên để ăn. Đây là cách ăn của người Ấn độ, 1 trong 4 cách ăn. Ngoài ra, Sủy thực cũng chỉ cho tất cả thức ăn của cõi Dục. Thức ănởcõi Dục lấy 3 trần hương, vị, xúc làm thể, vì chia ra từng phần, từng đoạn mà ăn để nuôi sống, duy trì sinh mệnh nên gọi là Đoạn thực.[X. luận Câu xá Q.10; luận Thành duy thức Q.4; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5]. (xt. Tứ Thực).
sứ chú pháp kinh
(使咒法經) Kinh, 1 quyển, do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh nói về nghi quĩ của Hoan hỉ thiên Tì na dạ ca, bao gồm Nhất tự chú, Tượng pháp cúng dường pháp,Kệ tụng, Xử thế đà la ni... Ngài Bồ Đề Lưu Chí còn dịch kinh Đại Sử Chú Pháp, là quảng bản của kinh này, nội dung phần lớn giống nhau, chỉ khác nhau chút ít.
sứ giả
Ceti (S), Cetaka (S); Duti (S); Duta (S).
; Messenger—Men of noble countenance.
; (使者) Phạn: Ceỉaka,Ceỉì, Dùta, Dùtì. Hán âm: Chế tra ca, Chế để, Độ đa, Độ để. Người truyền đạt mệnh lệnh giáo hóa và lòng từ bi của Phật, Bồ tát cho chúng sinh.Trong tiếng Phạn, các chữ Ceỉì (chế để),Dùta (độ đa) và Dù tì (độ để) cũng có thể dịch là Thị giả, Sứ giả, Nữ sứ giả... Độ đa, Độ để là truyền sứ của Phật và Bồ tát; Chế tra ca, Chế để nghĩa là nô bộc, nô tì, là những người gắng sức, siêng năng hoàn thành bản thệ của Phật và Bồ tát. Ngoài ra, Độ đa, Chế tra ca là các sứ giả nam, còn Độ để, Chế để là các sứ giả nữ. Trong các viện như: Quán âm, Kim cương thủ, Văn thù... của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, phần nhiều đều có vẽ các loại sứ giả này; trong kinh Bất không quyên sách cũng thường được nói đến. Ngoài ra, tên của các bộ, viện sở thuộc phần nhiều được đặt trước tên của sứ giả, như sứ giả của viện Quán Âm thì gọi là Liên hoa sứ giả, Liên hoa bộ sứ giả; sứ giả của viện Kim cương thủ thì gọi là Kim cương sứ giả... Còn có khi căn cứ vào bản thệ của Bản tôn mà vị sứ giả cung phụng để gọi tên như: Cung phụng sứ giả, Bảo cúng dường sứ giả, Thiên hương cúng dường sứ giả... Loại sứ giả này thường mang hình thiên nữ, hoặc quì 2 gối, hoặc quì 1 gối.
sứ giả như lai
A messenger of the Tathagata.
sứ mạng
Mission.
sứ đồ
Apostle.
sức
Trang sức—To adorn.
sức khỏe
Health.
sức lực
Strength.
sức mạnh
Forces.
sức mạnh thiên nhiên
Natural forces.
sức mạnh tinh thần
Thought-power.
sức nghe
Power of hearing—Audition.
sức ép
Pressure.
sừng sững
To stand motionless.
sừng thỏ
xem lông rùa, sừng thỏ.
Sử
使; C: shǐ; J: shi.|1. Phiền não, nhiễm ô, ưu phiền, sai khiến; vì sự sai sứ »khiến« cho con người làm đủ mọi việc; 2. Phiền não tiềm ẩn (= tùy miên 隨眠); 3. Theo luận Thập địa Tì-bà-sa (十地毘婆娑論), Sử được nhìn nhận như những Căn bản phiền não (根本煩惱), phân biệt với Cấu, được xem như là Tùy phiền não (隨煩惱); 4. Là 98 sử (九十八使); 5. Nếu, giả sử.
sử
To send, cause; a messenger sứ; a pursuer, molester, lictor, disturber, troubler, intp as phiền não klesa, affliction, distress, wordly cares, vexations, and as consequent reincarnation. There are categories of 10, 16, 98, 112 and 128 such troublers, e.g. desire, hatred, stupour, pride, doubt, erroneous views, etc. leading to painful results in future rebirths, they are karma-messengers executing its purpose.
; 1) History. 2) To order—To command. 3) Klesa (skt)—“Sử” là tên khác của phiền não hay những lo âu thế gian, dẫn đến luân hồi sanh tử. Chúng là những trở ngại như ham muốn, thù ghét, cao ngạo, nghi ngờ, tà kiến, vân vân, dẫn đến những hậu quả khổ đau trong tương lai tái sanh, vì chúng là những sứ giả bị nghiệp lực sai khiến—Affliction, distress, worldly cares, vexations, and as consequent reincarnation. They are such troubles as desire, hate, stupor, pride, doubt, erroneous views, etc., leading to painful results in future rebirths, for they are karma-messengers executing its purpose.
; (使) Gọi đủ: Chính Sử. Tên khác của phiền não. Vì phiền não xui khiến con người rong ruổi trong thế giới mê vọng, cho nên gọi phiền não là Sử (sai khiến). Sử đồng nghĩa với Tùy miên. Trong 10 Tùy miên, có 5 Kiến thuộc về tính thấy là: Hữu thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến. Tính chất suy cầu đạo lí của 5 kiến này rất linh lợi nên gọi là Ngũ lợi sử. Còn tính chất của tham, sân, si, mạn, nghi thì chậm lụt và khó điều phục, nên gọi là Ngũ độn sử. (xt. Ngũ Lợi Sử, Ngũ Độn Sử, Chính Sử, Tùy Miên).
sử dụng
To employ—To utilize—To use—To exercise.
sử lợi na cách lạp
(史利那格拉) Phạn: Zrìnagara. Pàli: Sirìnagara. Thủ phủ của nước Ca thấp di la (Phạn: Kazmìra) ở Ấn Độ đời xưa, có Tân và Cựu đô, Cựu đô do vua A Dục (Phạn: Azoka) sáng lập, trongvăn khắc (văn khắc trên các vách đá – Ma nhai) gọi là Sirinagara, cũng gọi là Puràịàdhiwỉhàna. Vị trí của Cựu đô này có lẽ nằm khoảng Vùng Pàndreỉhan hiện nay, cách Tân đô 5 cây số về phía nam. Trong Đại vương thống sử (Pàli:Mahàvaôsa), kí sự về Phật giáo được đề cập đầu tiên là nói về việc xây dựng Cựu đô này. Tân đô do Phổ lạp ngoã bệ nạp (Phạn: Pravasena) đời thứ 2 sáng lập, cũng gọi là Phổ lạp ngõa lạp phổ nạp (Phạn: Pravarapura), tương đương với Sử lợi na gia (Srinagar) ngày nay. Điều Ca thấp di la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 3 gọi 2 Tân đô và Cựu đô này là Tân thành và Cố thành.
sử man nhĩ tháp phái
Smartha (S)Một tông phái Bà la môn Ấn độkhoảng 400 - 200 BC.
sử mạn nhĩ tháp phái
(史曼爾塔派) Sử man nhĩ tháp, Phạn: Smàrta. Một trong các phái thuộc Ấn Độ giáo. Kinh điển căn bản mà phái này y cứ là Thánh truyện (Phạn: Smfti), nhất là kinh Gia đình (Phạn: Gfhya-sùtra), trong gia đình thực hành các nghi lễ cúng tế giản dị rõ ràng, về sau mở rộng phạm vi, trở thành 1 phái lưu hành tại Ấn Độ. Đặc sắc của phái này là ở chỗ lễ bái 5 vị thần: Tì thấp nô (Phạn: Viwịu), Thấp bà (Phạn: Ziva), Đỗ nhĩ gia (Phạn: Durgà), thần Thái dương (Phạn: Sùrya) và thần Học vấn (Phạn: Gaịeza), tức lấy việc cúng dường 5 vị thần này làm sự cầu nguyện hàng ngày. Sự thực tu có tính tông giáo của phái này là lấy giáo thuyết của học phái Di Mạn Sai trong 6 phái Triết học làm cơ sở; còn giáo lí có tính triết học thì lấy thuyết Bất nhị nhất nguyên của Thương yết la (Phạn: Zaíkaràcàrya), thuộc học phái Phệ Đàn Đa làm chỗ y cứ. Vì thế nên có thuyết cho rằng: Tổ khai sáng của phái này hoặc là Cưu ma lợi la (Phạn: Kumàrila) thuộc phái Di mạn sai, hoặc là Thương yết la thuộc phái Phệ đàn đa. Hiện nay, phái này ở Nam Ấn Độ và Tây Ấn Độ theo học thuyết của Thương yết la thì khá chặt chẽ, nhưng ở Bắc Ấn độ thì lỏng lẻo hơn.
sử mục nhĩ đệ cập nhiếp na khắc nhĩ đệ
(史穆爾弟及聶那克爾弟) Phạn: Smftijĩànakìrti. Danh tăng học giả người Ấn Độ sống vào khoảng thế kỉ XI. Vào thời A Lí vương (Tạng: Mía#-ris), thể theo lời mời của nhà dịch kinh người Ni Bạc Nhĩ (Nepal) là Phan Đức Mã Lỗ Kì (Phạn: Padmaruci, Tạng: Rme-ru-rtes), sư kết bạn với người Thù khố tu mã đệ lỗ ca (Phạn: Sùwmadìrgha, Tạng: Phra-larií-ba) cùng đến Tây Tạng. Nhưng không bao lâu thì Phan Đức Mã Lỗ Kì bị bệnh dịch tả và qua đời, 2 vị chưa thông hiểu tiếng Tây Tạng nên dời đến 2 châu Tạng, Vệ. Về sau, sư lại nhận lời mời của Dpyalse-rtsab bsod-nams-rgyal-mthan đến Sman-luịsthuyết giảng giáo nghĩa. Sau đó, sư đến Fdan-kloí-thaí thuộc châu Khams sáng lập học phái A tì đạt ma Câu Xá luận. Lúc đó, sư đã thông thạo tiếng Tây tạng và bắt đầu công việc trứ tác, phiên dịch. Sư soạn bộ Tứ tòa thích (Phạn: Catuwpìỉha-ỉìkà) và dịch ra tiếngTây tạng các bộ: Thánh văn thù sư lợi danh đẳng tụng cụ bí mật thành tựu pháp thích tuệ minh (Phạn: Àrya-Maĩjuzrìnàmasaígìtiguhyavadvidhi-vftti-jĩànadìpa), Chân ngôn nghĩa thắng quán (Phạn: Mantràrtha-vipazyinì). Sư còn soạn bộ sách về văn pháp (Grammar) đề là Ngữ ngôn (Phạn: Vacanamukha,Tạng: Smrasgo).Ngoài những sách đã kể trên, sư còn soạn các bộ: Chân tính an lập (Phạn: Waỉtattva-vyavasthàna), Bồ đề tâm thích chú (Phạn: Boddhicittavivaraịa-ỉìkà), Du già lục chi thích (Phạn: Wadaígayoga-nama-ỉìkà), Khai nhãn nghi quĩ (Phạn: Pratiwỉhà-vidhi), Kim cương tồi phá đà la ni ưu bà đề xá (Phạn: Vajravidàraịà nàma dhàraịyupadeza)... tất cả đều được xếp vào bộ Đan châu nhĩ (Luận trứ phiên dịch) trong Đại tạng kinh Tây tạng. [X. Tây tạng Đại tạng kinh tổng mục lục (Nhật bản Đông bắc Đại học); Pag sam jon zang bySarat Chandra Das; History of Buddhism by Bu-ston, Part 2, by E. Obermiller].
sử thản nhân
(史坦因) Stein, Sir Mark Aurel (1862-1943) Học giả khảo cổ học Đông phương người Anh, gốc Hungary. Thời còn trẻ, ông từng đến Ấn độ, giỏi tiếng Phạm. Từ năm 1899 về sau, ông thường đến thám hiểm ở các xứ Iran, Tây bắc Ấn độ, Trung á, miền Tây đại lục Trung quốc... và có những phát hiện trọng đại về mặt khảo cổ học. Trong đó, ở thung lũng Tháp lí mộc thuộc tỉnh Tân cương, ở Vu điền... ông đã tìm thấy những văn thư và bích họa cổ (1900- 1901), ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng phát hiện các loại kinh điển cổ (1906-1908) và dùng mánh khóe lừa đạo sĩ Vương viên lục– người trụ trì động Thiên Phật thời đó– để lấy đi hơn 9 nghìn quyển kinh Phật với giá rẻ mạt, sau đó, đăng trên Báo cáo thư Tắc lâm địch á Serindia, 1921). Sau sự kiện này, giới Hán học quốc tế đã dấy lên phong trào nghiên cứu Đôn hoàng học rất cuồng nhiệt. Một lượng lớn trong số 9 nghìn quyển kinh mà ông mang về hiện nay đang được cất giữ ở viện bảo tàng nước Anh. Ngoài ra, ở Mông cổ, cao nguyên Pamir, Afghanistan... ông còn tìm ra con đường giao thông trọng yếu (1913-1916) ở thời xưa. Ông rất nổi tiếng trong giới khảo cổ học. Sau, ông qua đời tại Afghanistan. Những trứ tác chủ yếu của ông gồm có: Chroircle of Kings of Kashmir, 3 vols., 1900; Sandburied Ruins of Khotan, 1903, Ruins of Desert Cathay, 2 vols., 1912, The Thousand Buddhas, 3 vols., 1922, On Alexander’s Track to the Indus, 1929, On Old Routes of Western Iran, 1940.
sử tích xước
(史錫綽) (1876-1925) Học giả Phật giáo Trung quốc, người huyện Vạn, tỉnh Tứ xuyên, tự Dụ như, Nhất như, Tĩnh như. Ông tốt nghiệp Đại học Đế quốc ở Đông kinh, Nhật bản, tinh thông tiếng Anh và tiếng Nhật, kiến thức uyên bác, ông từng dạy ở các trường Đại học tại Kinh đô (Kyoto). Năm Dân quốc thứ 7 (1918), ông phát tâm nghiên cứu Phật pháp, viết tác phẩm: Phật giáo luận lí học để làm sáng tỏ chỉ thú của môn Nhân minh học. Sau đó, ông nhận lời mời về giảngdạy tại Phật học viện Vũ xương. Ngoài việc dạy học, ông còn biên tập và viết bài cho tạp chí Hải Triều Âm. Những tác phẩm và dịch phẩm trọng yếu của ông gồm có: Tiểu thừa Phật giáo khái luận, Nhân minh nhập chính lí luận giảng nghĩa, Trung hoa Phật giáo sử, Ấn độ Phật giáo sử, Ấn độ lục phái triết học, Đại thừa khởi tín luận giảng nghĩa, Kim cương bát nhã kinh tổng cương, Luận hữu pháp sai biệt tương vi nhân chi phân bản tác biệt tác nhị pháp... Con ông là Sử giác thu gom các di phẩm của ông biên thành 1 tập gọi là Tuệ Viên Cư Sĩ Tập.
Sử 使
[ja] シ shi ||| (1) Defilements, contaminants, affliction, proclivities--since proclivities "cause" people to do various things. (2) Latent afflictions = 隨眠. (3) In the Shidi piposuo lun, the 使 are identified as fundamental afflictions 根本煩惱, as distinguished from the 垢, which are identified as secondary afflictions 隨煩惱. 〔十地毘婆娑論 T 1521.26.108b28〕(4) The ninety-eight proclivities 九十八使. (5) If, supposing that. => 1. Phiền não, nhiễm ô, ưu phiền, sai khiến-- vì sự sai sứ "khiến" cho con người làm đủ mọi việc. 2. Phiền não tiềm ẩn = tùy miên. 3. Theo Luận Thập Địa Tỳ Bà Sa, sử được đồng nhất với Căn bản phiền não, phân biệt với Cấu, được được đồng nhất với Tùy phiền não. 4. 98 sử.5. Nếu, giả sử.
sửa chữa
To repair—To mend—To make repairs.
sửa lỗi
To correct an error (a mistake).
sửa sai
To correct a wrong doing.
sửa trị
To punish.
sửa tánh
To change one's way of living.
sửa túi nâng khăn
To serve one's husband.
sửa áo ngay thẳng
Arrange one's robe, to.
sửa đổi
To reform—To mend—To modify.
sửng sốt
Amazed.
sửu giới già tỏa
(杻械枷鎖) Gông, cùm, xiềng, xích. Những đồ dùng để trói buộc phạm nhân trong tù. Cứ theo Quan âm nghĩa sớ quyển thượng của ngài Trí khải giải thích, bị trói ở tay, gọi là Nữu(xiềng), ở chân gọi là Giới(cùm), ở cổ gọi là Già (gông), quấn toàn thân gọi là Tỏa(xích). Phẩm Quan thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 56 hạ) nói: ... Nếu lại có người, hoặc có tội hoặc không tội, thân bị gông cùm xiềng xích, nếu xưng niệm danh hiệu bồ tát Quan thế âm, thì gông cùm xiềng xích ấy đều đứt nát mà được giải thoát. [X. phẩm Hộ quốc trong kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ, kinh Đại bảo tích Q.55; kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.1; kinh Phật thuyết thập vương(đào được ở Đôn hoàng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.10, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.18].
Sự
事; C: shì; J: ji;|1. Một sự việc, một công việc. Hiện tượng hiển nhiên (s: vastu); cụ thể; 2. Hiện tượng cá biệt, cá biệt, sai biệt; 3. Công năng, chức năng, hoạt động, chuyển động (s: kriyā); 4. Vật, đối tượng, thể chất (s: dravya); 5. Cõi, giới, trạng thái, môi trường, bối cảnh; 6. Theo giáo lí Hoa Nghiêm, Sự là một trong Tứ pháp giới, là pháp giới của những hiện tượng cá biệt, được nhắc trong mối tương phản với Lí pháp giới, cõi vô phân biệt.
sự
Artha (S). Affair, concern, matter; action, practice; phenomena; to serve. It is "practice", or the thing, affair, matter in contrast with lí theory, or the underlying principle.
; (事) Phạn: Artha. Đối lại: Lí. Chỉ cho tất cả pháp hữu vi do nhân duyên sinh, tức muôn ngàn hiện tượng sai biệt trong vũ trụ. Luận Bảo Tạng của ngài Tăng Triệu (Đại 45, 143 hạ) nói: Lí hợp muôn đức, sự thì nghìn thứ; sự tuy vô cùng, lí chỉ một đường. [X. luận Câu xá Q.25; Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chỉ Quán; Ma Ha Chỉ Quán Q.1, phần đầu]. (xt.Sự Lí).
sự báo ứng
Retribution.
sự bất yếm tế
(事不厭細) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Việc không ngán sự nhỏ nhặt. Nghĩa là đối với mọi sự vật đều phải xem xét thận trọng,làm việc phải chú tâm tinh tế. Trong Thiền lâm, nhóm từ trên được dùng để nhắc nhở người học trong việc tu hành phải luôn luôn tỉnh táo, không được lơ là, sơ suất. Thung dung lục tắc 89 (Đại 48, 385 trung) ghi: Cỏ um tùm, mông mênh (thẳng xuống không đáy, bên cạnh không bờ),trong cửa ngoài cửa ông tự xem (coi chừng vướng chân vấp ngã), giữa rừng gai gốc đặt chân dễ (trong ruộng hoang chọn cỏ), ngoài rèm trời sáng xoay mình khó(đất sạch khước từ người mê). Hãy xem (sự bất yếm tế) được bao nhiêu?
Sự chướng
事障; C: shìzhàng; J: jishou;|»Chướng ngại của thế giới hiện tượng«. Cùng với Lí chướng (理障) – theo kinh Viên Giác –, chúng trì hoãn quá trình đạt giác ngộ. Sự chướng bao gồm những tâm trạng mê muội của chúng sinh như yêu ghét, và tất cả những cảm giác tham ái cũng như đau khổ khác có liên quan đến chúng, nguyên nhân trói buộc chúng sinh vào vòng sinh tử. Vì thế nên Sự chướng này tương đương với Phiền não chướng (煩惱障) trong học thuyết của trường phái Duy thức. So với Lí chướng thì Sự chướng tương đối nhỏ nhặt, và vì vậy, có thể được khắc phục bằng những phương pháp tu tập của hàng Nhị thừa (二乘; theo Viên Giác kinh 圓覺經)
sự chướng
Phenomenal hindrances to entry into nirvàna, such as desire etc.; Lí chướng are noumenal hindrances, such as false doctrines, etc.
; Chướng ngại của tham dục, đối lại với lý chướng—Hindrances of passions to entry into nirvana such as desires, in contrast with noumenal hindrances (lý chướng). ** For more information, please see Nhị Chướng (C).
; (事障) Đối lại: Lí chướng. Chỉ cho các phiền não tham, sân, mạn, vô minh, kiến, nghi..., những phiền não này thường khiến cho sinh tử tiếp tục mà ngăn ngại Niết bàn, nên gọi là Sự chướng, 1 trong 2 chướng. Kinh Viên Giác (Đại 17, 914 trung) nói: Hai chướng là gì? Một là Lí chướng, thường ngăn cản chính kiến; hai là Sự chướng, hay nối tiếp sinh tử. (xt. Nhị Chướng).
sự chấm dứt sinh tử
Bhavanirodha (S), Extinction of life-death circle.
sự cung dưỡng
(事供養) Cũng gọi Sự cúng. Đối lại: Lí cúng dường. Tức đặt những vật cúng dường như hương thoa, tràng hoa... lên đàn, nhờ sức gia trì của Tam mật mà1 nén hương, 1 vòng hoa được lan tỏa khắp pháp giới để cúng dường hết thảy chư Phật trong 10 phương 3 đời. Trong đó, hương thoa tượng trưng cho nghĩa thanh tịnh, rửa sạch những cáu bẩn hí luận trong tâm bồ đề, tiêu trừ nhiệt não sinh tử; tràng hoa biểu thị chủng tử ở trong thai tạng đại bi nở rộ muôn hạnh. Lại nữa, 1 vòng hoa, 1 đĩa đèn đều là pháp tính khởi của 6 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, thức, cũng tức là đều lấy 6 đại làm thể tính. [X. phẩm Cúng dường trong kinh Tô Tất Địa Yết La Q.hạ; Đại Nhật kinh sớ Q.7, 8].
sự cố
Reason of matter
Sự cứu cánh
事究竟; C: shìjiùjìng; J: jikukyō;|Cái tối hậu, cái tuyệt đối trong thế giới hiện tượng. Một cách dịch ý chữ Phạn pāramitā (Ba-la-mật 波羅密; theo Chính pháp hoa kinh 正法華經)
sự dữ nguyện vi
(事與願違) Sự việc thực tế trái với ý muốn của mình. Nói theo thường tình, người đời ai cũng mong cầu phúc lộc sống lâu, nhưng nhìn qua lăng kính của triết lí Phật giáo thì vì thế gian là vô thườngnênsinh lão bệnh tử hoàn toàn không do con người quyết định, dù chỉ là mảy may. Ngoài ra, còn có nỗi khổ như mong cầu không được, thương yêu mà phải chia lìa, oán ghét mà cứ gặp gỡ... luôn đeo đuổi con người như bóng theo hình; bởi vậy, sự mong muốn càng sâu nặng, thì sự bất như ý càng chồng chất, nỗi khổ não càng nhiều.
sự giáo
Giáo lý nói về hiện tượng—Teaching dealing with phenomena—Đặc tính Tam Tạng Kinh Điển được nêu ra bởi tông Thiên Thai Biệt Giáo và Tiểu Thừa Giáo Giới: The characterization by T'ien-T'ai of the Tripitaka or Hinayana teaching as: 1) Giới Nội Sự Giáo: Giáo thuyết về hiện tượng bên trong tam giới (Dục, sắc, và Vô Sắc): Teaching dealing with phenomena inside or inferior within the three realms of desire, form, and formlessness. 2) Giới Ngoại Sự Giáo: Giáo thuyết về hiện tượng siêu việt bên ngoài Tam Giới—Teaching dealing with outside or superior to those realms; the one deals with the activities of time and sense, the other transcended these but was still involved in the transcient.
; (事教) Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai thành lập, để phân biệt giữa Sự sai biệt và Lí chân đế nên gọi Tạng giáo là Sự giáo của giới nội (trong 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc), Thông giáo là Lí giáo của giới nội; Biệt giáo là Sự giáo của giới ngoại (ngoài 3 cõi), Viên giáo là Lí giáo của giới ngoại. Trong đó, Sự giáo của giới nội là phân tích và giải thích rõ sự tướng sai khác của các pháp sắc, tâm trong hiện thực; còn Sự giáo của giới ngoại thì trước hết từ giới ngoại lại trở về hiện thực; tức đối với các loại sự tướng của hiện thực, đặt chúng vào vị trí chân thực tự tại để giải thích hằng sa vô lượng sự tướng. (xt. Hóa Pháp Tứ Giáo).
sự giải thoát
Vimutti-kkhanda (P).
sự hoả ngoại đạo
(事火外道) Ngoại đạo thờ lửa, 1 trong các phái ngoại đạo ở Ấn Độ đời xưa. Phái này thờ cúng các vị thần như Hỏa Thiên (Phạn: Agni, Pàli: Aggi)... và chấp lầm rằng cách thờ cúng này là nhân sinh lên cõi trời trong tương lai. Tín đồ của phái này gọi là Sự hỏa loa phát (Pàli:Aggikajaỉila, tóc xoắn thờ lửa), hoặc Sự hỏa bà la môn (Pàli: Aggikabràhmaịa). Bởi Sự hỏa ngoại đạo cho rằng lửa là cái miệng của các trời, vì thế mới bỏ các vật cúng như thóc gạo, dầu bơ vào trong lửa để cúng dường các trời. Các trời được ăn rồi thì sẽ ban phúc cho con người. Vào thời đức Phật còn tại thế, pháp thờ lửa rất thịnh hành. Sau khi đức Thế tôn thành đạo, Ngài đến thăm 3 anh em Ca Diếp Sự hỏa Bà la môn bên bờ sông Ni liên thiền, trước hết, đức Thế tôn hàng phục con rồng lửa, sau đó, Ngài lại thị hiện các thứ thần thông, 3 anh em Ca Diếp liệng bỏ các dụng cụ thờ lửa xuống sông, rồi qui y theo Phật. Luận Phương tiện tâm (Đại 32, 24 thượng) ghi: Sáng sớm kính lễ Sát sinh cúng tế Đốt các loại hương Dâng đủ đèn dầu Bốn thứ ấy là Sự hỏa ngoại đạo. Ngoài ra, phẩm Thế xuất thế hộ ma pháp trong kinh Đại nhật quyển 6 có nêu ra từng tên gọi của các pháp thờ cúng lửa mà ngoại đạo tu, đều là các pháp thờ lửa được ghi chép trong kinh điển Phệ đà, đó tức là 44 hỏa pháp, nhưng trong kinh Đại nhật chỉ nêu có 40 pháp. Đó là: 1. Đại hạm thiên(Tạng: shaís-pachen-po-me). 2. Phaphạ cú (Tạng: shaís- pa#ibu).3. Phạm phạn (Tạng: Tshaís-pa#i- Zas).4. Tất đát ra (Tạng: ha-ra-ta). 5. Phệ thấp bà nại la (Tạng:Bai-zvana-ra-da). 6. Ha phạ nô (Tạng: a-ba-na). 7. Hợp tì phạ ha na (Tạng: rog-byalen).8. Pha thuyết tamtịđổ (Tạng: Íosbsruís). 9. A thát mạt noa (Tạng: A-ta-ba-na). 10. Bát thể đa (Tạng: Par ?) 11. Bổ sắc ca lộ đào. 12. Mang lộ đa. 13. Phạ ha mang nang. 14. Mâng bálư. 15. Bát già bồ (Tạng:Pra-ga-la). 16. Pha thể vô (Tạng: Bar-ỉhi-ba). 17. Tuất chi (Tạng:Gtsaí). 18. Sát tì (Tạng:Zad-bi). 19. Mô bà phạ (Tạng:Kuí-byuí). 20. Tố lí da (Tạng:Ĩi-ma). 21. Du giả ca (Tạng: Sbyor-byed). 22. Bạt na dịch ca (Tạng:A-gne-ya). 23. Pha phạ cú (Tạng: Pa-ba-ka). 24. Phạm hỏa (Tạng: Tshaís-pa#ime).25. Phiến đô (Tạng: Shi-ba). 26. A phược hạninh (Tạng: A-ba-nika).27. Vi phệ chi (Tạng: Bi-ci-ci). 28. Bà ha sa (Tạng: Sva-ha-sa). 29. Hợp vi thệ da (Tạng: Ha-bi). 30. Nhĩ địa (Tạng: Gter). 31. A mật lật đa (Tạng: Mri-ỉa). 32. Na rô noa (Tạng:Da-ru-na). 33. Ngật lật đán đa (Tạng: Stobs-sbyin). 34. Phẫn nộ (Tạng:Khro-bo). 35. Ca ma nô (Tạng:Fdod-las-skyes). 36. Sứ giả (Tạng: Pho-ía). 37. Xã sá lộ (Tạng: Dsa-tha-ra). 38. Bạc xoa (Tạng: Za-za). 39. Phược noa bà mục khư (Tạng: Rgod-ma#i-kha). 40. Du càn đa (Tạng: jig-pa). Ngoài ra, pháp Hộ Ma của Mật giáo hiển nhiên là đã thực hành theo Sự hỏa của ngoại đạo, nhưng pháp Hộ Ma xuất thế gian trong Mật giáo lấy nội quán làm cơ sởcủaHộ ma, điều này thì Sự hỏa ngoại đạo không thể sánh được. [X. kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung a hàm Q.11; kinh Trường a hàm Q.19; kinh Đại bát niết bàn Q.16 (bản Bắc); Đại nhật kinh sớ Q.8; Bách luận sớ Q.trung]. (xt. Thập Nhị Hỏa).
sự hoặc
Illusions arising in practice.
sự hỏa
Phenomenal fire; also fire-worship.
; 1) Sự hỏa đối lại với “tánh hỏa.”—Phenomenal fire, in contrast with natural fire (tánh hỏa). 2) Thờ Thần Lửa: Fire-worship.
sự hỏa bà la môn
Aggikabrahmāna (S).
sự hỏa loa phái
Aggikajatita (S)Một tông phái Bà la môn.
sự hộ ma
(事護摩) Cũng gọi Ngoại hộ ma. Một trong các pháp tu hành của Mật giáo. Tức chọn đất lập đàn, đốt các vật cúng như nhũ mộc, ngũ cốc... để làm cho 3 nghiệp của hành giả thanh tịnh, thành tựu cácphápTức tai, Tăng ích. Pháp tu này là việc được thực hành ở ngoài tâm, vì thế cũng gọi Ngoại hộ ma. Ngược lại, nếu hành giả vận dụng lửa trí của sự quán tưởng để đốt sạch các nghiệp phiền não thì gọi là Nội hộ ma. (xt. Ngoại Hộ Ma, Hộ Ma).
sự khẩn yếu lúc lâm chung
The critical importance of the moment of death.
sự kiện
Vastu (S), Vatthu (P)Dữ kiện.
; Fact.
sự luận
Discussion of phenomena in contrast with lí luận.
; Bàn về sự sai biệt của sự tướng (hiện tượng hay sự thực hành) thì gọi là “Sự Luận,” đối lại với “Lý Luận” hay bàn về chân lý tuyệt đối—Discussion of phenomena in contrast with discussion of noumena or absolute truth. ** For more information, please see Lý Luận.
; (事論) Đối lại: Lí luận. Luận thuyết bàn rõ về các sự tướng sai biệt trong vũ trụ, tức làVũ trụ luận tìm hiểu xem vạn pháp trong vũ trụ sinh khởi như thế nào à các hiện tượng sai biệt hiển hiện như thế nào. Trong giáo lí Phật giáo, đối với 2 nghĩa Sự và Lí, cũng như sự sinh khởi của vạn pháp, thì các tông phái đều có luận thuyết khác nhau. 1. Tông Câu xá: Dùng nghiệp lực để thuyết minh sự sinh khởi của vạn pháp trong vũ trụ (Nghiệp cảm duyên khởi); rồi trong vạn pháp thì lấy các hiện tượng hư vọng làm Sự và lấy Tứ đế khổ, tập, diệt, đạo làm Lí. 2. Tông Duy thức: Chủ trương chủng tử của tất cả các pháp đều hàm chứa trong thức A lại da thứ 8 của con người, đã biến hiện ra muôn tượng sum la, đây chính là chủ trương Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức (A lại da duyên khởi); rồi trong vạn pháp thì cái nương vào duyên khác mà sinh khởi là Sự, còn chân như vốn tự viên thành như thực là Lí. 3. Luận Đại thừa khởi tín: Chủ trương bản thể (chân như) của tâm siêu việt hiện tượng là nguyên nhânthứ nhất của muôn pháp trong vũ trụ (Chân như duyên khởi); vì chân như là cái chẳng sinh chẳng diệt và tuyệt đối bình đẳng nên nói Sự tức Lí, Lí tức Sự, chỉ do nhiễm tịnh mê ngộ khác nhau mà có thuyết Tâm chân như môn và Tâm sinh diệt môn, tuy nhiên, 2 môn này chẳng phải một, chẳng phải khác, không có thể tính riêng. 4. Tông Hoa Nghiêm: Chủ trương từ thực thể của chân như khai phát ra vạn pháp trong vũ trụ, lại từ chân như bình đẳng mà biến hiện ra muôn ngàn hiện tượng sai biệt (Pháp giới duyên khởi), trong đó, các pháp duyên khởi sai biệt là Sự,lí tính chân như bình đẳng là Lí. Nhưng, Duyên khởi quan của tông Hoa Nghiêm có 2 điểm đặc biệt khác với thuyết Duyên khởi của các tông khác là: a) Mỗi một pháp của các pháp trong pháp giới đều là thực thể, mà thực thể của muôn tượng cũng đều là hiện tượng, 1 tức hết thảy, hết thảy tức 1, nêu 1 vật thì gồm thu tất cả vật, 1 hạt bụi là chủ thì các pháp là bạn, tương tức tương nhập, giao thoa, dung hợp tự tại, làm chủ, bạn lẫn nhau, nhân duyên, sự sự vô ngại, trùng trùng vô tận. b) Duyên khởi trong giáo nghĩa Hoa Nghiêmđặc biệt gọi là pháp môn Tính khởi, nghĩa là sự sinh khởi của các pháp là duyên khởi từ pháp tính, không nương vào duyên khác, chẳng phải như nhân duyên hoặc nghiệp của Câu xá, Sự tướng sai biệt thức của Duy thức, Chân như vô minh duyên sinh luận của luận Khởi tín, mà chính là học thuyết Tính khởi, tức là muôn pháp từ thể tính hiện khởi,chứ khôngcần chờ đợi các nhân duyên khởi, toàn thể tức dụng, pháp tính của chân như 1 khi khởi động thì liền hiện ngay tác dụng, biến thành các pháp mê và ngộ, tình và phi tình... trùm khắp 10 phương, xuyên suốt 3 đời. 5. Mật giáo: Chủ trương Tì lô giá na (Đại nhật Như lai) là nguồn gốc của vũ trụ, thực thể của vạn hữu, mà thể của Tì lô giá na thì tức là 6 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, thức; 6 đại tức là thân Phật, thân Phật tức là 6 đại (Lục đại duyên khởi); đồng thời cho rằng trong vũ trụ vạn hữu do 6 đại tùy duyên khởi động mà thành thì pháp hữu vi do nhân duyên sinh là Sự, còn pháp vô vi không sinh không diệt là Lí. (xt. Sự Lý).
sự lí
Practice and theory; phenomenon and noumenom, activity and principle, or the absolute; phenomena ever change, the underlying principle, being absolute, neither changes nor acts, it is the chân như.
; (事理) Cũng gọi Lýsự. Sự là sự tướng, sự pháp; Lý là chân lí, lí tính. Trong Phật giáo, ý nghĩa tương đối giữa Sự và Lýcó 2: 1. Sự tướng mà phàm phu thấy được do mê tình, gọi là Sự; Chân lí mà bậc Thánh thấu suốt nhờ trí kiến, gọi là Lí.Chân lí ở đây tùy theo lập trường của các tông phái mà có khác, hoặc chỉ cho lí Tứ đế, hoặc chỉ cho lí Chân không, hoặc chỉ cho lí Trung đạo. 2. Sự pháp sai biệt của các hiện tượng, gọi là Sự; bản thể bình đẳng vô sai biệt của các hiện tượng, gọi là Lí. Về mối quan hệ giữa Sự của hiện tượng và Lí của bản thể, các tông phái lập thuyết có khác nhau: 1. Theo luận Câu xá quyển 25: Bốn đế khổ, tập, diệt, đạo, là Lí, hiện tượng hư vọng là Sự. Kiến hoặc do mê lí mà sinh khởi nên phải y theo vô sự mà tu, Tư hoặc thì do mê các hiện tượng thô tạp mà khởi nên phải y theo hữu sự mà tu. Cùng luận đã dẫn quyển 6, gọi Vô vi pháp là Vô sự, gọi Hữu vi pháp là Hữu sự; đồng thời, chia Sự tướng làm 5 loại: Tự tính, Sở duyên, Hệ phược, Sở nhân, Sở nhiếp. 2. Theo tông Duy thức: Sự là các sự pháp nương vào cái khác mà sinh khởi, còn Lí là chân như vốn tự viên thành như thực; giữa Sự và Lí có mối quan hệ bất tức bất li. Sự khác nhau giữa Sự và Lí chẳng qua là do hữu vi và vô vi bất đồng, cho nên nói Sự lí bất tức (không phải 1 thể); còn lí chân như thì tự thể của nó tuy lặng lẽ chẳng động, nhưng lại có thể liên tục phát sinh các hiện tượng và thực thể làm chỗ nương tựa cho các sự pháp, nên nói Sự lí bất li (ngoài pháp này không có pháp nào khác). 3. Theo luận Đại thừa khởi tín: Chân như (Lí) tùy duyên mà triển khai ra hiện tượng vạn pháp (Sự), do đó mà Sự tức Lí, Lí tức Sự. 4. Theo tông Hoa nghiêm: Các pháp duyên khởi sai biệt là Sự, lí tính chân như bình đẳng là Lí, Lí và Sự dung hợp nhau không ngăn ngại; là Lí sự vô ngạipháp giới trong 4 Pháp giới; là Lí sự vô ngại quán trong 3 lớp Quán môn. 5. Theo tông Thiên thai: Sự và Lí tương đương với Bản môn và Tích môn của kinh Pháp Hoa, Sự của tục đế thuộc Tích môn; Lí của chân đế thuộc Bản môn. Nếu phối hợp với 4 giáo hóa pháp, thì Tạng giáo là giới nội Sự giáo, Thông giáo là giới nội Lí giáo, Biệt giáo là giới ngoại Sự giáo, Viên giáo là giới ngoại Lí giáo. Ngoài ra, y cứ vào sự khác nhau giữa Sự và Lí này, tông Thiên thai còn chia Quán làm Sự quán và Lí quán, chia Hoặc làm Mê sự hoặc và Mê lí hoặc, chia Sám hối làm Sự sám và Lí sám. Lại nữa, theo nghĩa Tính cụ của tông Thiên thai thì ba nghìn các pháp trong 10 giới đều là tính cụ, chứ không phải nương vào nhân duyên mà sinh, vì thế cũng là pháp chân như thường trụ. 6. Theo thuyết của Mật giáo: Các pháp hữu vi do nhân duyên sinh là Sự, pháp vô vi bất sinh bất diệt là Lí. Lí là giữ lấy, nghĩa là tất cả sự tướng hữu vi, mỗi mỗi đều giữ lấy thể của nó, tức là Lí; thể của nó là 6 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, thức, gọi là Lục đại pháp giới. Nói tóm lại, Sự chỉ cho thế giới mê lầm; Lí chỉ cho thế giới giác ngộ. Trong sự phát triển của các loại tư tưởng giáo lí từ xưa đến nay, nếu xem trọng Lí hơn, thì tư tưởng tương tức của sự lí thịnh hơn; còn nếu từ việc thực hiện đầy đủ chân lí mà đặc biệt coi trọng hiện thực, thì địa vị của Sự càng quan trọng hơn, ngay nơi Sự là chân, một niệm ba nghìn là những dụng ngữ nói rõ loại hiện tượng này. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán; luận Bảo tạng; Ma ha chỉ quán Q.2, phần đầu; Đại thừa huyền luận Q.4; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Vạn thiện đồng qui tập Q.3; Tô tất địa kinh sớ Q.1; Bách pháp vấn đáp sao Q.4]. (xt. Sự Luận).
sự lí bất nhị
(事理不二) Pháp hữu vi do nhân duyên sinh là Sự, pháp vô vi không sinh không diệt là Lí. Sự tuy theo duyên mà sinh, nhưng lí không sinh không diệt lúc nào cũng ở trong Sự; Lí tuy là chân như lặng lẽ bất động, tịch tĩnh vô vi, nhưng nếu không nhờ cóSự do nhân duyên sinh thì Lí không thể hiển bày được. Do đó, tứcsự tứclí, tức lí tức sự, gọi là Sự lí bất nhị. VìSự và Lí tuy vốn hoàn toàn khác nhau, vảlại có tính đối đãi, nhưng ngoài Sự ra thì không có Lí và, ngược lại, ngoài Lí, cũng không có Sự, cho nên Sự và Lí tự nhiên không thể tồn tại 1 cách độc lập được. Nếu nói theo tính thực tiễn thì Sự lí bất nhị cũng có thể gọi là Sự lí vô ngại. Các dụng ngữ như Lí sự bất nhị, Lí sự mẫn nhiên là biểu thị lí và sự bình đẳng không sai biệt, đều đồng nghĩa với Sự lí bất nhị. [X. Hoa nghiêm pháp giới huyền kính Q.thượng].
sự lí song tu
(事理雙修) Cũng gọi Sự lí song hành. Tu cả sự và lí. Tức tu sự và quán lí đều quan trọng như nhau. Thông thường, nếu siêng năng tinh tiến thực hành các tác pháp về sự thì thường dễ xem nhẹ lí quán chứng ngộ, còn nếu coi trọng lí quán chứng ngộ thì lại dễ xem thường hành sự tác pháp. Chẳng hạn nói về việc niệm Phật thì xưng danh niệm Phật là sự hành, quán tưởng danh hiệu Phật là lí hành, tức phải trong miệng thì xưng niệm, trong tâm thì quán tưởng, đồng thời vận dụng cả 2 mới là hành pháp niệm Phật sự lí song tu. [X. Ma ha chỉ quán Q.7, phần cuối].
sự lí tam thiên
The three thousand phenomenal activities and three thousand principles, a term ođ the Thiên Thai school.
; (事理三千) Cũng gọi Lưỡng trùng tam thiên, Lưỡng chủng tam thiên, Lý cụ tam thiên sự dụng tam thiên, Lý tạo tam thiên biến tạo tam thiên, Lýtạo tam thiên sự tạo tam thiên, Tính cụ tam thiên tu cụ tam thiên. Tông Thiên Thai đem Lí cụ tam thiên và Sự tạo tam thiên hợp chung lại gọi là Sự lý tam thiên. Cứ theo Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng của ngài Tứ Minh Tri Lễ soạn, thì Lí chỉ cho lí tính thực tướng, Cụ nghĩa là xưa nay vốn sẵn đủ. Lí cụ tam thiên nghĩa là vạn hữu xưa nay vốn mỗi mỗi đầy đủ 3 nghìn các pháp, chứ chẳng phải do ngườitrờiquỉ súc tạo ra. Sự chỉ cho sự tướng sum la sai biệt;Tạo đồng nghĩavới Cụ. Sự tạo tam thiên nghĩa là 3 nghìn các pháp do tâm tùy theo các duyên nhiễm tịnh mà biến hóa sinh khởi, mỗi mỗi pháp đều hiển hiện rõ ràng và có các tướngtrạng sum la sai biệt. Ngoài ra, Sự lí tam thiên là do phương tiện phối hợp đối chiếu danh mục, đối lại với Lí cụ tam thiên mà lập danh tướng Sự tạo tam thiên, hợp cả 2 lại tức là Sự lí tam thiên,chứ không phải nói tất cả 6 nghìn pháp, đó là vì lí thể không sai khác, sự lí chẳng phải 2, cho nên chỉ có 1 Tam thiên duy nhất. Lại nữa, trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai lập ra, nếu nói theo quan điểm của Biệt giáo thì các pháp sự, lí rõ ràng có khác, nhưng nói theo quan điểm của Nhất thừa Viên giáo thì 7 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, kiến,thứccho đếncác pháptrong Thập giới tam thiên, đương thể của mỗi mỗi pháp chính là lí tính thực tướng. Bởi thế, các pháp tuy muôn tượng sum la nhưng lại dung nhiếp lẫn nhau, 1 tức tất cả, tất cả tức 1, cho nên tông Thiên Thai đồng thời có thuyết Tam thiên viên cụ và Tam đế viên dung, cả 2 đều tồn tại 1 cách vô ngại, đây là chỗ tột cùng trong giáo nghĩa tông Thiên thai. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3]. (xt. Sự LýBất Nhị).
sự lý
1) Thực hành và lý thuyết: Practice and theory. 2) Pháp hữu vi hay hiện tượng do nhân duyên sanh ra và pháp vô vi không do nhân duyên sanh ra, tuyệt đối, không thay đổi vì nó là chơn như bất biến: Phenomenon and noumenon, activity and principle or the absolute; phenomena ever change, the underlying principle, being absolute, neither change nor acts, it is the bhutatathata.
sự lý ngũ pháp
See Ngũ Pháp (B).
sự lý tam thiên
Ba ngàn sự tạo và ba ngàn sự lý được tông Thiên Thai dùng đến—The three thousand phenomenal activities and three thousand principles, a term of the T'ien-T'ai Sect.
sự lý vô ngại pháp giới
Một trong tứ pháp giới—One of the four realms—See Tứ Pháp Giới.
sự lười biếng hôn trầm
Lazy and lethargic manner.
sự mật lí mật
(事密理密) Cũng gọi Sự lí câu mật. Sự và Lý đều kín đáo. Sự mật chỉ cho sự tướng tam mật thân khẩu ý của Như lai; Lý mật chỉ cho sự nói rõ lí thực tướng bất nhị. Thai mật (Mật giáo do tông Thiên thai của Nhật bản truyền) của Nhật bản cho rằng vì các giáo pháp Đại thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa...có bao hàm các lí bí mật do đức Như Lai nói như thế tục, thắng nghĩa, viên dung bất nhị... cho nên cũng có thể gọi là Mật giáo; tuy nhiên, trong đó chỉ nói lí viên dung bất nhị, vì thế chỉ có thể gọi là Lí bí mật giáo. Còn các kinh điển căn bản của Mật giáo như kinh Đại nhật, kinh Tô tất địa, kinh Kim Cương đính... thì không những chỉ tuyên thuyết về lí mật, mà còn nói rõ về pháp tam mật thân khẩu ý, giải bày hết lí nghĩa bí mật của Như lai, cho nên gọi là Sự lí câu mật giáo. [X. Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.1;Chân tông giáo thời vấn đáp Q.3].
Sự nghiệp
事業; C: shìyè; J: jigyō;|1. Việc làm, hành động, chức năng, hoạt động (s: karman, prakriyā); 2. Những gì nên được làm; 3. Những hoạt động, hành dộng có liên hệ đến cuộc sống của người ta.
sự nghiệp anh hùng
Xem Thí dụ. Xem Kinh Thí dụ.
sự nghiệp nghiên cứu
Ganthadhura (S), Career of study.
sự nghiệp thế gian
Worldly careers or undertakings—Người tu nên luôn nhớ rằng sự nghiệp thế gian như giác chiêm bao, như trò huyễn hóa, như bọt bóng, như tiếng vang, chỉ thoáng chốc rồi tan biến, không có lợi gì cho công cuộc tu hành giải thoát—Cultivators should always remember that the worldly affairs are like a dream, an illusion, a bubble, an echo, existing for but a moment before returning to the void; they offer no real benefit to our cultivation for liberation.
sự nghiệp tối thắng
Perfect in constant performance.
Sự pháp
事法; C: shìfǎ; J: jihō;|Những hiện tượng riêng biệt.
sự pháp giới
The phenomenal world, phenomenal existence. Sự pháp thân, the Buddha-nature in practice. Lí pháp thân, the Buddha-nature in principle or essence, or the truth itself.
; Sự pháp giới, một trong bốn pháp giới—The phenomenal world, phenomenal existence, one of the four dharma-realms. ** For more information, please see Tứ Pháp Giới.
; (事法界) Đối lại: Lý pháp giới. Chỉ cho thế giới hiện tượng nghìn muôn sai khác trong vũ trụ, là pháp giới thứ nhất trong 4 pháp giới do tông Hoa Nghiêm thành lập. Tức các loại sự vật trong vũ trụ, mỗi loại đều có sự khu biệt và giới hạn, như các pháp sắc, tâm của chúng sinh, mỗi mỗi sai khác, đều có giới hạn riêng. (xt. Tứ Pháp Giới).
sự pháp thân
Phật tánh thực hành, đối lại với Phật tánh trong lý thuyết, hay chân lý, hay “Lý Pháp Thân.”—The Buddha-nature in practice, in contrast with the Buddha-nature in principle or essence, or the truth itself (Lý pháp thân). ** For more information, please see Lý Pháp Thân.
sự phân biệt thức
Vastuprativikalpa-vijāṇa (S), Knowledge of discrimination.
; Vastuprativikalpa-vijnàna (S). Knowledge of the discriminating of things.
; Vastuprativikalpajnana (skt)—Cái tâm thực nghiệm hay tâm thức theo nghĩa khả năng phân biệt các sự vật đặc thù—Emperical mind or consciousness as the faculty of discriminating particular object.
sự phấn chấn
Ubbilla (P).
sự quán
Quán tưởng về hình tướng bên ngoài—Contemplation (meditation) on the external forms or the phenomenal—See Nhị Quán.
sự quán lí quán
(事觀理觀) Cũng gọi Sự lý nhị quán. Chỉ cho 2 pháp quán Sự và Lí. Sự quán là quán chiếu những sự vật sai biệt đến sum la; Lí quán là quán chiếu lí vô sinh bình đẳng. Đối với Sự quán và Lí quán, 2 phái Sơn gia, Sơn ngoại thuộc tông Thiên Thai đều có quan điểm khác nhau. Các học giả phái Sơn gia cho rằng sở dĩ có chỗ khác nhau giữa Sự quán và Lí quán là do phương pháp quán chiếu bất đồng, còn cảnh sở quán thì không sai khác mà chỉlà 1 niệm mê sự. Trong tông Thiên Thai, thuyết Sự Quán, Lí Quán này bắt đầu từ ngài Kinh Khê Trạm Nhiên, trong Chỉ quán nghĩa lệ 2 quyển do ngài soạn có dẫn dụng Duy thức quán và Thực tướng quán nói trong kinh Chiêm sát quyển hạ để ấn chứng cho Sự quán và Lí quán. Vì Duy thức quán tức là Sự quán gồm đủ 3 tính, dùng sự suy xét tứ cú để đạt đến lí thực tướng; còn Thực tướng quán tức là Lí quán để đạt đến Thực tướng; bởi vậy, nói theo Duy thức quán và Thực tướng quán thì cũng không được dùng cảnh sở quán để phân tích Sự sai biệt và Lí bình đẳng. Ngoài ra, trong Chỉ quán nghĩa lệ tùy thích quyển 4, ngài Nguyên xử theo ý ngài Tứ minh Tri lễ, chỉ trích thuyết của các học giả phái Sơn ngoại cho rằng quán chiếu nội tâm là lí quán, quán chiếu ngoại sắc là sự quán. Trong sách đã dẫn ở trên còn bàn rõ về sự quan hệ giữa 4 loại Tam muội và Sự quán lí quán. [X. Trung luận sớ Q.7; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.thượng]. (xt. Quán Pháp).
sự ràng buộc của nghiệp
Karmic bondage.
sự sám
(事懺) Cũng gọi Sự sám hối, Tùy sự phân biệt sám hối. Đối lại: Lí sám. Chỉ cho tác pháp sám hối theo sự tướng. Phàm các hành vi như lễ bái chiêm ngưỡng của thân, xưng niệm tán tụng của miệng, quán tưởng thánh dung của ý, dùng 3 nghiệp ân cần thiết tha cầu xin sám hối các tội nghiệp đã tạo trong quá khứ, hiện tại, đều gọi là Sự sám. Còn quán xét lí thực tướng để diệt trừ tội lỗi thì gọi là Lí sám. Thông thường, nói sám hối phần nhiều là chỉ cho Sự sám. [X. Ma ha chỉ quán Q.2, phần đầu]. (xt. Sám Hối).
sự sư
Teaching dealing with phenomena. The characterization by Thiên Thai of the Tripitaka or Hìnayàna teaching as Giới nội sự sư within the three realms of desire, form, and formlessness; and the Biệt giáo different teaching as Giới ngoại sự sư outside or superior to those realms; the one dealt with the activities of time and sense, the other transcended these but was still involved in the transient.
sự sư pháp
(事師法) Phép thờ thầy. Trong Giáo giới tân học tỉ khưu hành hộ luật nghi, Luật sư Đạo tuyên có nêu ra 51 pháp Sự sư, như ở trước mặt thầy không được để người khác lễ bái mình, thấy khăn áo của thầy dơ bẩn phải thưa để thầy biết, sau đó mang đi giặt sạch sẽ; nếu theo thầy ra đi không được cười nói ồn ào; không được dẫm đạp lên bóng của thầy, phải đi cách thầy hơn 7 thước; không được gièm chê hoặc nịnh nọt người khác trước mặt thầy; nều thầy muốn đi xa phải chuẩn bị đầy đủ các vật cần dùng cho thầy.
Sự sư pháp ngũ thập tụng
事師法五十頌; C: shìshī fǎ wǔshí sòng; J: jishi hō gojū ju; S: gurupañcāśikā; T: bla ma lnga bcu pa;|Một tác phẩm được xem là của Bồ Tát Mã Minh (馬鳴菩薩; s: aśvaghoṣa), được Nhật Xứng (日稱) và một số người khác dịch sang Hán văn. Một luận văn hướng dẫn ngắn gọn tìm một bậc chân sư như thế nào, và khi đã có một mối liên hệ thầy trò rồi sử sự như thế nào mới đúng. Luận tụng này có mối liên hệ rõ ràng với hệ thống thực hành mật giáo Vô thượng du-già (無上瑜伽; s: anuttarayoga-tantra).
sự sư pháp ngũ thập tụng
(事師法五十頌) Tác phẩm, 1 quyển, dobồ tát Mã minh biên tập, ngài Nhật xứng dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Toàn quyển gồm 50 bài tụng, nói về việc 2 chúng xuất gia và tại gia đều phải kính trọng Quán đính sư A xà lê, nhờ đó mà được các công đức lợiích. Trái lại, nếu khinh nhờn, phỉ báng thì sẽ chịu các thứ khổ báo tai ách. Trong sách cũng nói rõ các lễ pháp và việc hầu hạ... mà người đệ tử nên phụng hành đối với bậc tôn sư của mình. Ngoài ra, những danh tướng nghi quĩ, quán đính, chân ngôn, hộ ma... xuất hiện trong sách này hiển nhiên là những dụng ngữ của Mật giáo, bởi vậy, tác giả có đích xác là bồ tát Mã Minh hay không thì còn phải chờ sự nghiên cứu khảo chứng.
sự sư pháp ngũ thập tụng thích
(事師法五十頌釋) Tác phẩm, do Tổ khai sáng phái Hoàng giáo thuộc Lạt Ma giáo Tây Tạng là ngài Tông Khách Ba soạn ở chùa Nhiệt Chấn vào năm Kiến văn thứ 4 (1402) đời Huệ Đế nhà Minh. Nội dung sách này nói rõ về thái độ và những phép tắc mà người học tăng nên tuân giữ đối với bậc thầy khuôn mẫu của mình. Cứ theo bản dịch Tây Tạng thì văn dụng gốc (nguyên tác) do ngài Bạt Tì Thiên biên tập, nhưng theo bản Hán dịch thì do bồ tát Mã Minh biên tập. Trước ngài Tông Khách Ba không có văn chú thích, chỉ do thầy truyền miệng cho trò, lâu ngày dần dần nảy sinh tranh luận. Ngài Tông Khách Ba trích dẫn các kinh luận để giải thích rộng về ý nghĩa của những bài tụng gốc. Đây là 1 trong các tác phẩm quan trọng của ngài Tông Khách Ba.
sự sự vô ngại
No obstruction between thing and thing; each "thing-event" involves every other, and is seen to be self-determinative, self-generated.
; (事事無礙) Hết thảy sự sự vật trong thế giới hiện tượng đều liên quan rất mật thiết và giao thoa dung hợp mà không hề ngăn ngại lẫn nhau. Đây là dụng ngữ của tông Hoa Nghiêm hiển bày diệu nghĩa Nhất đa tương tức, Đại tiểu tương dung. Hiện tượng tức bản thể... (xt. Tam Trùng Quán Môn).
sự sự vô ngại pháp giới
Perfectly unimpeded interpenetration—“Sự” theo Hoa Nghiêm liên quan đến thuật ngữ “Vatsu” trong Phạn ngữ có nghĩa là “sự việc,” “cớ sự xãy ra,” hay “một vật hiện hữu.” Tuy nhiên nghĩa thông thường của “sự” là “sự việc.” Người Phật tử chúng ta không tin tưởng vào thực tại của những hiện hữu cá nhân vì kinh nghiệm cho biết không có gì tồn tại được dù trong chốc lát. Tất cả đều biến đổi, lần hồi, chầm chậm, nên lâu ngày chầy tháng ta mời nhận ra. Cảm giác của chúng ta thường gắn liền với ý niệm về thời gian và đo bằng không gian, cho nên mọi sự việc tiếp nối diễn ra trong thời gian đều chuyển thành một chuỗi thực tại cá biệt trong không gian. Giáo lý “sự sự vô ngại pháp giới,” chỉ thấu triệt được khi ý thức của chúng ta hoàn toàn thâm nhập với dòng diễn biến vô tận của muôn sự muôn vật kể trên—According to the Avatamsaka terminology, which is a Sanskrit term “Vatsu” meaning “matter,” or “event,” or “happening,” or “ an individual thing or substance.” However, its general idea is “an event.” We, Buddhists, do not believe in the reality of an individual existence, for there is nothing in our world of experience that keeps its identity even for a moment; it is subject to constant change. The changes are, however, imperceptively gradual as far as our human senses are concerned , and are not noticed until they pass through certain stages of modification. Human sensibility is bound up with the notion of time-divisions; it translates time into space; a succession of events is converted into a spatial system of individual realities. The idea of “pefectly unimpeded interpenetration Dharmadhatu” is attained only when our consciousness is thoroughly pervaded with a feeling for a never-ending process of occurrences mentioned above.
; (事事無礙法界) Pháp giới thứ 4 trong 4 giới do tông Hoa nghiêm thành lập. Nghĩa là thể dụng của các pháp tuy duyên khởi khác nhau, mỗi pháp giữ gìn tự tính của nó, nhưng sự sự trông nhau, nhiều duyên ứng hợp nhau mà thành môt duyên, một duyên cũng ứng hợp cùng khắp thành nhiều duyên, lực dụng giao thoa, nương nhau tồn tại, vô ngại tự tại, trùng trùng vô tận. (xt. Tứ Pháp Giới).
sự sự vô ngại quán
(事事無礙觀) Cũng gọi Sự sự vô ngại pháp giới quán. Pháp giới quán thứ 4 trong 4 pháp giới quán do tông Hoa nghiêm thành lập. Nghĩa là quán xét hết thảy sự vật trong thế giới hiện tượng đều giao thoa dung hợp với nhau mà không bị ngăn ngại. Pháp giới quán này cũng nói rõ sự thể nhận và chứng đắc chân lí tuyệt đối 1 cách trực tiếp ngay trong thế giới hiện tượng muôn nghìn sai khác. (xt. Thập Huyền Môn, Tam Trùng Quán Môn, Tứ Pháp Giới).
sự thiền
Hữu lậu định hay thiền định tập trung tư tưởng vào hiện tượng—The dhyana of or concentration on phenomena.
sự thần biến của chư phật
The miracles of all Buddhas.
sự thật
Realities—Truth.
sự thật của đời sống
The realities of life.
sự thể
Affairs—Matters.
sự thực quy ước
Conventional truth.
sự trường tồn của phật giáo
The longevity for the Buddhism.
sự tình
Situation of matter.
sự tích
Traces of the deeds or life of an individual; biography. Story, tale.
; Dấu tích hành động hay đời sống của một cá nhân—Biography—Traces of the deeds or life of an individual.
sự tướng
Phenomenon, affair, practice. The practices of the esoterics are called sự tướng bộ as contrasted with their open teaching called giáo tướng bộ. Sự tướng thiền sư, a mystic, or monk in meditation, yet busy with affairs: an epithet of reproach.
; Các pháp hữu vi hay các hiện tượng có sanh có diệt—Phenomenon—Affair—Practice.
; (事相) Đối với tác pháp tu hành Tam mật, Mật tông gọi là Sự tướng. Tức là tu hành các pháp như: Chọn đất, làm đàn, hộ ma, quán đính, kết ấn, tụng chú... Đây là nhân duyên sự tướng mà trong đó giáo lí Chân ngôn được kí thác. Lại vì mục đích của sự tu hành có khác nhau nên có thể chia làm 4 loại pháp, 5 loại pháp, 6 loại pháp... Bốn loại pháp là: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục và Kính ái, nếu thêm pháp Câu triệu thì thành 5 loại pháp, lại thêm pháp Diên mệnh nữa thì thành 6 loại pháp. Sự tướng chủ yếu có: Thập Bát đạo, Kim Cương giới, Thai Tạng giới, Hộ Ma Hành pháp, Quán Đính... đều nương vào giáo lí và tương quan mật thiết với giáo tướng. Chẳng hạn như kết các loại thủ ấn, đều có bao hàm nghĩa lí bên trong, bởi thế, có thể nói, sự tu pháp trong Mật giáo là thông qua sự tướng để thực hành giáo lí. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại Nhật Q.1; Đại Nhật kinh sớ Q.7, 8].
sự tướng (thiền) sư
Vị (thiền) sư với hình tướng bên ngoài, nhưng kỳ thật chỉ bận bịu với những việc thế gian—A mystic, or monk in meditation, but always busy with worldly affairs.
sự tướng bộ
Pháp thực hành của mật giáo (thân khẩu ý mật), đối lại với “Giáo Tướng Bộ.”—The practices of the esoterics, as contrasted with their open teaching.
sự tướng cách lịch
(事相隔曆) Tất cả sự vật tồn tại trong thế giới hiện tượng đều sai khác nhau, không dung hợp lẫn nhau, gọi là Sự tướng cách lịch. Thế giới hiện tượng là từ trong thế giớibản thể hiển hiện ra, cho nên nếu khi nhiếp thế giới hiện tượng về bản thể thì mỗi mỗi sự tướng không có sai khác. Nhưng nếu chỉ nói riêng về thế giới hiện tượng thì thấy các sự tướng đều sai khác, không dung hợp lẫn nhau. Trong giáo phán về 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên Thai thì thuyết Sự tướng cách lịch này là giáo lí của Biệt giáo, còn thuyết Hiện tượng giao dung trong bản thể là giáo lí của Viên giáo.[X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Duy ma nghĩa kí Q.1, phần cuối].
sự tạo
Lập thuyết của tông Thiên Thai về 3000 tính cụ—Phenomenal activities. According to T'ien-T'ai there are 3,000 underlying factors or principles giving rise to the 3,000 phenomenal activities.
; (事造) Đối lại: Lí cụ. Giáo nghĩa của tông Thiên Thai. Tông này cho rằng chân lí (lí thể pháp tính) tròn đủ 3 nghìn các pháp, 3 nghìn các pháp này do các duyên nhiễm, tịnh... mà hiển hiện các tướng trạng sai biệt, gọi là Sự tạo. (xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Lí Cụ Sự Tạo).
sự việc kỳ lạ
Strange and wonderful occurrences.
sự độ
Salvation by observing the five commandments (precepts), the ten good deeds, etc.
; Cứu độ bằng cách hành trì ngũ giới hay thập thiện (sự tu phước là việc thiện)—Salvation by observing the five commandments, the ten good deeds, etc.
; (事度) Giữ gìn 5 giới, thực hiện 10 điều thiện để độ thoát các nỗi khổ của ác đạo. Bởi vì 5 giới, 10 điều thiện đều thuộc sự tướng hữu vi, cho nên gọi là Sự; Độ nghĩa là độ thoát các khổ trong 3 ác đạo địa ngục, súc sinh và ngã quỉ. Ma ha chỉ quán quyển 2 phần cuối (Đại 46, 17 trung) nói: Các cái che lấp là ác, sự độ là thiện. [X. Kim Quang Minh kinh Văn Cú Kí Q.3 phần cuối].
sực
All of a sudden---Suddenly.
sực nhớ
To remember suddenly.
sực tỉnh
To wake up suddenly.
ta
1) Nương tựa vào—To rely on—To avail oneself of. 2) Tiếng thở dài: To sigh—Alas!
Ta Bà
(s, p: sahā, j: saba, 娑婆): âm dịch là Sa Ha (娑訶), Sách Ha (索訶), ý dịch là nhẫn (忍), nói cho đúng là Ta Bà Thế Giới (s, p: sahā-lokadhātu, 娑婆世界), ý dịch là thế giới chịu đựng (nhẫn độ, nhẫn giới), tức chỉ thế giới, cõi đời này, thế giới mà đức Thích Tôn giáo hóa. Nó còn được gọi là Nhân Gian Giới (人間界, cõi con người), Tục Thế Giới (世俗界, thế giới phàm tục), Hiện Thế (現世, cõi đời này). Chúng sanh ở trong thế giới này chịu đựng các phiền não, vì vậy mới có tên là thế giới chịu đựng. Bên cạnh đó từ này còn được dịch là Tạp Hội (雜會) hay Tập Hội (集會). Nguyên ngữ của từ tập hội là sabhā, muốn ám chỉ sự tập hội phức tạp của các tầng lớp như con người, trên trời, Sa Môn, Bà La Môn, Sát Đế Lợi, cư sĩ, v.v. Người ta cho rằng nguyên lai từ sahā cũng phát xuất từ sabhā, là thế giới có nhiều loại người khác nhau làm đối tượng hóa độ của đức Phật Thích Ca. Thiền sư Chơn Không (眞空, 1045-1100) của Việt Nam có bài thơ rằng: “Diệu bổn hư vô minh tự khoa, hòa phong xuy khởi biến Ta Bà, nhân nhân tận thức vô vi lạc, nhược đắc vô vi thỉ thị gia (妙本虛無明自誇、和風吹起遍娑婆、人人盡識無爲樂、若得無爲始是家, diệu bản thênh thang sáng tự khoa, gió hòa thổi khắp cõi Ta Bà, người người thảy biết vô vi lạc, nếu đạt vô vi mới là nhà).” Cổ Côn Pháp Sư (古崑法師) cũng có hai câu đối như sau: “Ta Bà giáo chủ bi nguyện hoằng thâm thệ độ khổ nhân ly hỏa trạch, Cực Lạc đạo sư từ tâm quảng đại thường nghinh mê tử nhập Liên Trì (娑婆敎主悲願宏深誓度苦人離火宅、極樂導師慈心廣大常迎迷子入蓮池, Ta Bà giáo chủ bi nguyện rộng sâu thề độ người khổ xa nhà lửa, Cực Lạc đạo sư từ tâm rộng lớn thường đón kẻ mê vào Liên Trì).”
Ta bà
(娑婆): có mấy nghĩa. (1) Dáng vẻ cành lá trơ trọi. Như trong bài thơ Hậu Thổ Miếu Quỳnh Hoa (后土廟瓊花) của Vương Vũ Xưng (王禹偁, 954-1001) nhà Tống có câu: “Hốt tợ thử thiên thâm giản để, lão tùng kình tuyết bạch ta bà (忽似暑天深澗底、老松擎雪白娑婆, chợt giống mùa hè khe sâu đáy, tùng già vác tuyết trắng trọi trơ).” (2) Thong dong, nhàn rỗi. (3) Âm dịch của Phạn ngữ sahā, còn gọi là Sa Ha (娑訶), Sách Ha (索訶); ý dịch là nhẫn (忍); nói đủ là Ta Bà Thế Giới (s, p: sahā-lokadhātu, 娑婆世界); ý dịch là nhẫn độ (忍土), nhẫn giới (忍界, cõi chịu đựng), tức chỉ thế giới, cõi đời này, thế giới do đức Thích Tôn giáo hóa. Như trong Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận (釋淨土群疑論, Taishō Vol. 47, No. 1960) có đoạn: “Thánh chúng lai nghênh, quy thú Tịnh Độ, xả Ta Bà uế chất, thành Cực Lạc tịnh thân (聖眾來迎、歸趣淨土、捨娑婆穢質、成極樂淨身, Thánh chúng đến nghinh, quay về Tịnh Độ, bỏ Ta Bà chất nhớp, thành Cực Lạc sạch thân).”
ta bà
Saha (S), Human world, Sahaloka (S)Đại nhẫn thế giới, Kham nhẫn, Năng nhẫn, Nhẫn độChính là cõi giới chúng ta vì đau khổ rất nhiều, vì chúng sanh rất độc ác, đất đai chẳng yên tịnh, chúng sanh gây 10 điều ác mà chẳng chịu lìa bỏ.
; Jambudvida (skt)— The saha world—The worldly world—Impure Land—Ta Bà có nghĩa là khổ não, lại cũng có nghĩa là phiền lụy hay trói buộc, chẳng được ung dung tự tại. Thế giới Ta Bà, nơi đầy dẫy những mâu thuẫn, hận thù và bạo động. Nơi mà chúng ta đang sống là một thế giới bất tịnh, và Phật Thích Ca đã bắt đầu thanh tịnh nó. Con người sống trong thế giới nầy chịu phải vô vàn khổ hãi vì tam độc tham, sân, si cũng như những dục vọng trần tục. Cõi Ta Bà nầy đầy dẫy những đất, đá, gai chông, hầm hố, gò nổng, thường có những mối khổ về đói khát, lạnh, nóng. Chúng sanh trong cõi Ta Bà phần nhiều tham đắm nơi phi pháp, tà pháp, chớ chẳng chịu tin chánh pháp, thọ số của họ ngắn ngủi, nhiều kẻ gian trá. Nói về vua quan, dầu có nước để cai trị, họ chẳng hề biết đủ, mà ngược lại sanh lòng tham lam, kéo binh đánh chiếm nước khác, khiến cho nhiều người vô tội chết oan; lại thêm nhiều thiên tai như hạn hán, bão lụt, mất mùa, đói khát, vân vân nên chúng sanh trong cõi nầy phải chịu vô lượng khổ sở. Nơi cõi Ta Bà nầy, sự thuận duyên cùng an vui tu tập thì ít, mà nghịch duyên phiền não thì nhiều. Hầu hết người tu hành đều dễ bị thối thất tâm Bồ Đề đã phát lúc ban đầu. Theo Đức Phật, quả đất mà chúng ta đang ở đây có tên là Nam Thiệm Bộ Châu, nằm về hướng nam của núi Tu Di, vốn là một phần nhỏ nhất trong hệ thống Đại Thiên Thế Giới do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm giáo chủ—Saha means sufferings and afflictions; it also means worries, binding, unable to be free and liberated. The worldly world is full of storm, conflict, hatred and violence. The world in which we live is an impure field, and Sakyamuni is the Buddha who has initiated its purification. People in this world endure many sufferings stemming from three poisons of greed, anger and delusion as well as earthly desires. The Saha World is filled with dirt, rocks, thorns, holes, canyons, hills, cliffs. There are various sufferings regarding thirst, famine, hot, and cold. The people in the Saha World like wicked doctrines and false dharma; and do not have faith in the proper dharma. Their lives are short and many are fraudulent. Kings and mandarins, although already have had lands to govern and rule, are not satisfied; as they become greedy, they bring forces to conquer other countries causing innocent people to die in vain. In addition, there are other infinite calamities such as droughts, floods, loss of harvest, thirst, famine, epidemics, etc. As for this Saha World, the favorable circumstances to cultivate in peace and contenment are few, but the unfavorable conditions of afflictions destroying path that are rather losing Bodhi Mind they developed in the beginning. Moreover, it is very difficult to encounter a highly virtuous and knowledgeable advisor. According to the Buddha, the planet in which we are currently living is called Virtuous Southern Continent. It is situated to the south of Mount Sumeru and is just a tiniest part of the Great World System of the Saha World in which Sakyamuni Buddha is the ruler.
ta bà ha
Svāhā (S, P), Soha (T)Tát bà ha, ta bà ha, tá hát, tá ha, số ha, xóa haNghĩa là Thành tựu, kiết tường, tiêu tai tăng phước, kính giác chư Phật chứng minh công đứcXem Ta bà ha.
; Svàhà (S). An oblation by fire, also Hail! a brahminical salutation at the end of a sacrifice. It also means: successful, auspicious, blissful, etc.
ta bà thế giới
Mi-jied 'jig-rten-gyi khams (T), Sahalokadhātu (S), Human world.
; Saha-loka-dhatu (skt)—The world of human beings.
ta bà thế giới chủ
Brahma-sanamku (S)Một tên khác của Phạm Thiên.
ta bà tịnh độ
Samsara and the Pure Land—Theo Kinh Phật Thuyết A Di Đà, có hai cõi là Ta Bà và Tịnh Độ—According to the Amitabha Sutra, there are two realms, they are samsara and the Pure Land: 1) Ta Bà: Samsara—See Ta Bà. 2) Tịnh Độ: The Pure Land—See Tịnh Độ.
ta bà, sa bà
Sahà (S). That which bears, the earth; intp as bearing, enduring; the place of good and evil; a universe, or great chiliocosm,w here all are subject to transmigration and which a Buddha transforms. It is divided into three regions tam giới and Mahà Brahmà Sahàmpati PhạmThiên is its lord.
ta cát lợi đa da ni
Agni (skt)—See Ác Kỳ Ni.
ta già la
Sàgara (S). The ocean. The Nàga king of the ocean palace north of Mt Meru, possessed of priceless pearls; the dragon king of rain; his eight year old daughter instantly attained Buddhahood, v. the Lotus sùtra.
ta già la long vương
Xem biển.
ta ha
A miraculous medicine.
ta ha đề bà
Sahadeva (S)Câu sanh thầnTên một vị quan trong triều vua TịnhPhạn.
ta kiệt la
Xem Ta già la.
ta la
Sàla, sàla (S). The Sàl tree.
ta la bồ tát
Bồ Tát Ta La là một hình thức của Quan Âm, người ta nói rằng Bồ Tát Ta La được tạo thành bởi con mắt của Quán Âm—Tara Bodhisattva, as a form of Kuan-Yin, is said to have been produced from the eye of Kuan-Yin.
ta la chỉ
Saketa (S).
Ta La Song Thọ
(娑羅雙樹): gọi tắt là Ta La (s: śāla, p: sāla, 娑羅) là một loại cây rất cứng, chắc, cao, lá rộng thường xuyên, vốn có của Ấn Độ, vỏ cây có màu xanh trắng, lá có hình tròn thuẫn. Khi đức Thế Tôn nhập diệt ở bên bờ Ni Liên Thuyền thuộc ngoại thành Câu Thi Na, chính Ngài đã nhập Niết Bàn dưới hai gốc cây Ta La này. Tương truyền khi ấy do đau buồn vì sự nhập diệt của đức Thế Tôn, cây này đã khô héo. Khi cây này khô héo đi thì biến thành sắc màu trắng giống như con bạch hạc, cho nên rừng Ta La Song Thọ còn được gọi là Hạc Lâm (鶴林). Cây Song Thọ ở phía đông được ví cho thường và vô thường, cây ở phía Tây là ví cho ngã và vô ngã, cây ở phía Nam ví cho lạc và vô lạc, còn cây ở phía Bắc là ví cho tịnh và vô tịnh.
ta la song thụ, ta la lâm
Sàlavana (S). The grove of Sàl trees near Kusinagara, the reputed place of the Buddha's death.
ta la thất phạt để
Xem Biện Tài thiên.
ta la thọ
The Tala tree—Its edible fruit resembling the pomegranate, its leaves being used for writing.
ta la thọ vương hoa khai phu phật
Xem Khai Phu Hoa Vương Như Lai.
ta la thọ vương phật
Sāladrarāja (S), Sāladrarāja-buddha (S), Calendrarāja (S), Sala Tree King Buddha Phật Vân Lôi Âm Túc Vương Hoa Trí có thọ ký cho vua Diệu Trang nghiêm vương về sau sẽ thành Phật có Phật hiệu này. Trong hội Pháp hoa, đức Thích Ca Hoa đức Bồ tát la hậu thân của Diệu Trang Nghiêm vương.
ta ma vệ đà
Sàma-Veda (S). The 3rd of four books of Veda.
ta ra
Tàrà (S). Name of a Goddess related to Avalokitesvara.
ta thán
Parideva (S).
; To complain.
ta thông khai đạo
Hai tông Biệt giáo và Viên giáo đều dựa vào Thông giáo để tiến hóa—The two other schools of Differentiated and Complete Teachings depend on the T'ung or Intermediate school for their evolution.
Ta 嗟
[ja] サ sa ||| To polish, esp. jewelry. A metaphor for polishing one's character. => Đánh bóng, đặc biệt là nữ trang. Nghĩa bóng là làm cho tao nhã, lịch sự.
ta, ngã
Atman (S). Self, ego, personality, soul.
Ta-bà thế giới
娑婆世界; S: sahalokadhātu;|Sa-bà thế giới
tagarasikhi
Tagarasikhi (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili.
Tai
哉; C: zāi; J: sai; |Có các nghĩa sau: 1. Dùng trong câu hỏi – Chẳng phải vậy sao?; 2. Nghi vấn từ; 3. Từ diễn đạt sự ngạc nhiên, thán phục, hay thương cảm; 5. Bắt đầu.
tai
1) Lỗ tai: Ear. 2) Tai họa: Calamity.
tai biến
Catastrophe—Disaster—Calamity.
tai hoạn
(灾患) Chỉ cho các chướng ngại làm phương hại việc hướng thượng tu đạo, gồm 8 thứ là tầm(tìm cầu), tứ(rình xét), khổ, vui, lo mừng, thở ra và hít vào. Tám thứ này ngăn trở việc tiến vào Đệ tứ thiền cõi Sắc, vì thế gọi là Bát tai hoạn.
tai hại
Damaging—Disastrous.
tai họa
Disaster—Terrible that happens unexpectedly.
tai nạn
Accident.
tai nạn bất kỳ
Unfoerseen accident.
tai thính
Quick ear.
tai tiếng
Bad reputation.
tai to mặt lớn
Important or distinguished person.
tai ương
Disaster.
Tai 哉
[ja] サイ sai ||| (1) Rhetorical question--isn't it so?. (2) An interrogative. (3) A particle expressing surprise, admiration or grief. (4) To begin. => Có các nghĩa sau: 1. Dùng trong câu hỏi tu từ-- Phải vậy không? 2. Nghi vấn từ. 3. Từ diễn đạt sự ngạc nhiên, thán phục, hay thương cảm. 4. Bắt đầu.
Tai 災
[ja] サイ sai ||| Calamity, misfortune, woe, evil, curse (vyasana, upadrava). => Tai ương, tai hoạ, bất hạnh, điều xấu ác, sự nguyền rủa (s: vyasana, upadrava).
Tai-lô-pa
S: tilopa, tailopa;|Một trong những vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahā-siddha) và là người đầu tiên truyền phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā). Sư là người thống nhất các phép tu Tan-tra của Ấn Ðộ và truyền cho đệ tử là Na-rô-pa (t: nāropa). Dưới tên Na-rô-pa (Na-rô lục pháp; t: nāro chodrug), giáo pháp này được truyền bá rộng rãi tại Tây Tạng và đóng vai trò quan trọng trong phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Tên »Tai-lô-pa« có nghĩa là »người làm dầu mè« vì Sư từng ép dầu mè kiếm sống.|Tai-lô-pa là vị Ðạo sư (s: guru; xem A-xà-lê) đầu tiên được biết đến trong lịch sử Phật giáo: không phải là một Pháp sư (người tinh thông và thuyết giảng Tam tạng), không phải là Luận sư (người chuyên tranh luận và viết luận) mà chỉ là một người siêng năng tu tập, thực hành Phật pháp. Với Tai-lô-pa, trong lịch sử Phật giáo xuất hiện một hạng Ðạo sư mới.||H 50: Tai-lô-pa (tilopa)|Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn tại Śāliputra (Hoa Thị thành?). Mặc dù Long Thụ được xem là thầy của Sư nhưng Sư không theo tông phái nào, chỉ thí nghiệm nhiều phương pháp tu mật và trong lúc nhập định, Sư chứng kiến được các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) và A-đề Phật, ngộ sự nhất thể của mình với họ. Hộ Thần (s: sādhita) của Sư là Cha-kra sam-va-ra (s: cakrasaṃvara). Về cuộc đời giáo hoá của Sư sau đó thì có nhiều tài liệu khác nhau. Tương truyền rằng, Sư trụ trì tại một tịnh viện tại Odantaputra và nơi đây Sư truyền pháp lại cho Na-rô-pa. Phật tử Tây Tạng rất tôn thờ Sư, mặc dù Sư không bao giờ bước chân đến đây. Ðại tạng của Tây Tạng còn giữ lại chín tác phẩm của Sư và dòng Ca-nhĩ-cư (kagyupa) xem Sư là Sơ tổ.|Trong hệ thống 84 vị Ma-ha Tất-đạt Ấn Ðộ, Tai-lô-pa là Ðạo sư của nhà vua xứ Viṣṇunagara. Ngày nọ, bỗng nhiên Sư cảm nhận cuộc đời vô thường, vô vị và ngay tối hôm đó lẳng lặng ra đi về miền Nam. Sư được môn đệ là Na-rô-pa tận lòng phục vụ. Sau mười năm tu tập, Sư đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Tranh tượng hay trình bày Sư tay không bắt cá. Kệ tụng của Sư như sau:|Chim đậu núi Tu-di,|hầu như làm bằng vàng.|Thánh nhân, kẻ đã biết,|tất cả đều khả dĩ,|bỏ thế gian vật chất,|bám đậu vào đất Phật.
tam
Tri- (S), Trini-, Trayo-, Traya-,Tisro-, Tisra-.
; Tri, trayas (S). Three.
; Tri or Traya (skt)—Three.
tam a tăng kỳ kiếp
Ba A Tăng Kỳ kiếp—The three great asamhkyeya kalpas—The three timeless periods of a bodhisattva's progress to Buddhahood.
; (三阿僧祇劫) Cũng gọi Tam đại a tăng kì kiếp, Tam kiếp a tăng xí da, Tam a tăng xí da, Tam a tăng kì, Tamkì, Tam vô số đại kiếp, Tam vô số kiếp, Tam kiếp. Ba kiếp a tăng kì, tức là khoảng thời gian mà vị Bồ tát phải trải qua kể từ khi phát tâm tu hành đến khi đạt thành quả Phật viên mãn. A tăng kì (Phạm: Asaôkhya) nghĩa là vô lượng số; Kiếp là đơn vị thời gian rất lâu xa, có đại kiếp, trung kiếp và tiểu kiếp khác nhau. Trong 3 kiếp a tăng kì, đức Thích ca đã được gặp vô số Phật. Theo luận Đại tì bà sa quyển 178, trong kiếp thứ nhất, Ngài phụng sự 7 vạn 5 nghìn đức Phật; trong kiếp thứ 2, Ngài phụng sự 7 vạn 6 nghìn đức Phật và trong kiếp thứ 3, Ngài phụng sự 7 vạn 7 nghìn đức Phật. Về việc phối hợp 3 kiếp với các giai vị tu hành,trong kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Trong Tứ giáo nghĩa quyển 4, Đại sư Trí khải tông Thiên thai, phối hợp 3 kiếp với các giai vị của Thanh văn như sau:1. Kiếp a tăng kì thứ nhất: Phối với vị Ngoại phàm, tức chứng được các giai vị Biệt tướng niệm xứ và Tổng tướng niệm xứ trong Ngũ đình tâm. 2. Kiếp a tăng kì thứ hai: Phối với Noãn vị của Nội phàm, tức giai vị dùng trí tuệ của pháp Noãn tu tập 6 độ. 3. Kiếp a tăng kì thứ ba: Phối với Đính vị, tức giai vị siêng tu 6 độ, quán xét và hiểu rõ Tứ đế.Theo thuyết của Nhiếp đại thừa luận bản quyển hạ thì: 1. Kiếp a tăng kì thứ nhất: Phối với các giai vị Bồ tát Địa tiền, tức 40 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng. 2. Kiếp a tăng kì thứ hai: Phối với các giai vị từ Sơ địa đến Thất địa. 3. Kiếp a tăng kì thứ ba: Phối với các giai vị từ Bát địa đến Thập địa. Luận Nhiếp đại thừa quyển hạ (bản dịch đời Lương) thì nêu các thuyết 7 a tăng kì và 33 a tăng kì: I. Bảy kiếp a tăng kì: 1. Bất định a tăng kì. 2. Địa a tăng kì 3. Thụ kí a tăng kì. (Ba kiếp a tăng kì trên đây phối với 40 giai vị Địa tiền). 4. Y thực đế a tăng kì (từ Sơ địa đến Tam địa). 5. Y xả a tăng kì (từ Tứ địa đến Lục địa). 6. Y tịch tĩnh a tăng kì (từ Thất địa đến Bát địa). 7. Y trí tuệ a tăng kì (từ Cửu địa đến Thập địa). II. Ba mươi ba kiếp a tăng kì, tức Địa tiền có: 1. Tín hành a tăng kì. 2. Tinh tiến a tăng kì. 3. Thú hướng hành a tăng kì. Trong Thập địa thì mỗi địa đều có 3 a tăng kì, vì mỗi địa đều có 3 thứ bậc: Nhập vị, Trụ vị, Xuất vị, mỗi thứ bậc lập 1 a tăng kì, cộng chung với 3 kiếp của Địa tiền thì thành 33 kiếp. Về số kiếp được lập tuy là 7 hoặc 33, nhưng về lượng kiếp thì không khác gì với 3 kiếp a tăng kì nói trên. Phẩm Tu tam thập nhị tướng nghiệp trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 (Đại 24, 1039 thượng) ghi: Đại Bồ tát tu xong nghiệp này rồi thì gọi là Mãn tam a tăng kì kiếp, sẽ lần lượt được Vô thượng chính đẳng chánh giác. Thiện nam tử! Thủa xưa, ở nơi đức Phật Bảo đính ta đã đầy đủ kiếp a tăng kì thứ nhất;nơi đức Phật Nhiên đăng ta đã đầy đủ kiếp a tăng kì thứ hai và ở nơi đức Phật Ca diếp ta đã đầy đủ kiếp a tăng kì thứ ba. [X. luận Đại trí độ Q.4; luận Du già sư địa Q.48; luận Câu xá Q.18; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2, 3; Câu xá luận quang kí Q.18].
Tam a-tăng-kì kiếp
三阿僧祇劫; C: sān āsēngqí jié; J: sana-sōgikō;|»Ba vô lượng kiếp« (A-tăng-kì). Năm mươi hai cấp bậc tu tập của một vị Bồ Tát được chia thành ba a-tăng kì kiếp. Thập tín (十信), Thập trú (十住), Thập hạnh (十行) và Thập hồi hướng (十迴向) thuộc về đại kiếp thứ nhất. Từ địa vị thứ nhất đến thứ bảy của Bồ Tát thập địa kéo dài một đại kiếp, đại kiếp thứ hai, và địa thứ tám đến mười được thực hiện trong đại kiếp thứ ba.
tam an cư
Varsàh (S). The three months ơođ summer retreat.
; The three months of Summer Retreat.
tam ba la mật đa
(三波羅蜜多) I. Tam Ba La Mật Đa. Gọi tắt: Tam ba la mật. Tông Pháp tướng dựa vào địa vị Năng tu mà chia 10 Ba la mật làm 3 loại: 1. Ba la mật đa: Hàng Bồ tát giai vị Tam hiền thuộc Địa tiền ở vô số kiếp thứ nhất, tu 10 Ba la mật như Bố thí... thế lực của Bồ tát này còn yếu kém, không đàn áp được phiền não, mà trái lại, bị phiền não chinh phục và hiện hành. 2. Cận ba la mật đa: Bồ tát từ Sơ địa đến Thất địa, ở vô số kiếp thứ hai, tu 10 Ba la mật, thế lực của hàng Bồ tát này dần dần tăng lên, không bị phiền não áp phục, mà có khả năng áp phục được phiền não, nhưng lại cố ý hiện hành phiền não để tu hành, cho nên sự tu hành này là cố ý chứ chẳng phải là sự tu hành nhậm vận tự do, không cần dụng công. 3. Đại ba la mật đa: Hàng Bồ tát từ Bát địa đến Thập địa, ở vô số kiếp thứ ba, tu 10 Ba la mật, thế lực của hàng Bồ tát này đã trở nên lớn mạnh, đủ sức áp phục tất cả phiền não 1 cách hoàn toàn, vĩnh viễn không cho hiện hành. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; luận Thành duy thức Q.9; Thành duy thức luận diễn bí Q.3, phần cuối]. II. Tam Ba La Mật Đa. Cũng gọi Tam chủng ba la mật. Căn cứ vào sự sai khác giữa phàm phu, Nhị thừa và Bồ tát mà chia 6 độ như Bố thí... làm 3 loại: 1. Thế gian ba la mật: Chỉ cho các pháp 6 độ hữu lậu mà hàng phàm phu tu hành với tâm chấp trước ngã, ngã sở, đoạn, thường... để cầu mong được quả báo tốt đẹp như sinh lên cõi trời Phạm thiên... 2. Xuất thế gian ba la mật: Chỉ cho 6 độ của hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác tu hành để tự độ, với lòng mong cầu đạt đến cảnh giới vắng lặng của Niết bàn vô dư.3. Xuất thế gian thượng thượng ba la mật: Sáu độ của các vị Bồ tát biết vạn pháp duy tâm, không trụ nơi 6 trần, thấu suốt mình và người là cùng 1 thể nên không bỏ tất cả chúng sinh, mà tu hành 6 độ với tâm không phân biệt năng sở để làm lợi ích cho họ.[X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.4; Lăng già a bạt đa la bảo kinh chú giải Q.4, phần cuối].
tam biến độ điền
(三變土田) Cũng gọi Tam biến độ tịnh, Tam biến độ.Ba lần biến đổi Uế độ thành Tịnh độCứ theo phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4, khi đức Thích ca Như lai giảng nói kinh Pháp hoa thì tháp báu của đức Phật Đa bảo từ dưới đất nhô lên, đức Thích ca liền nhân nơi nguyện xưa của Phật Đa bảo nhóm họp các phân thân của mình đang thuyết pháp trong khắp 10 phương, trước hết biến thế giới Sa bà thành Tịnh độ, chỉ trừ hội chúng của hội ấy (hội Pháp hoa), còn các trời, người đều được dời đến các cõi khác, nhưng vẫn không thể chứa hết phân thân của 1 phương, nên ở 8 phương mỗi phương đều biến 200 vạn ức na do tha cõi nước thành Tịnh độ, lại dời các trời, người đến cõi khác, nhưng vẫn không thể dung chứa hết, vì thế ở 8 phương mỗi phương lại biến 200 vạn ức na do tha cõi nước thành Tịnh độ và dời các trời, người đến cõi khác. Pháp hoa văn cú quyển 8, hạ, giải thích Tam biến độ điền là do năng lực của Tam muội, Tam muội này có 3 nghĩa: 1. Biến cõi Sa bà là Bối xả, có năng lực biến uế thành tịnh. 2. Biến 2 trăm na do tha là Thắng xứ, chuyển biến tự tại. 3. Biến 2 trăm na do tha là Nhất thiết thắng xứ đối với cảnh không trở ngại. Sự biến hóa lần thứ nhất biểu thị trừ sạch 4 trụ địa, sự biến hóa lần thứ hai biểu thị trừ sạch hoặc trần sa và sự biến hóa lần thứ ba biểu thị trừ sạch hoặc vô minh. [X. Pháp hoa huyền luận Q.9; Pháp hoa kinh huyền tán Q.8, phần cuối; Pháp hoa văn cú kí Q.8, phần 4].
tam bách lục thập hội
(三百六十會) Cũng gọi Tam bách hội. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ba trăm sáu mươi hội. Chỉ cho số pháp hội rất nhiều trong 1 đời thuyết pháp của đức Phật. [X. Bích nham lục tắc 6].
tam bách tứ thập bát giới
348 rules for a nun.
tam báo
Three recompenses: 1) Hiện báo: Immediate result—Quả báo ngay trong kiếp hiện tại, hay quả báo của những hành động, lành hay dữ, ngay trong đời nầy—Recompeses in the present life for deeds done now, or result that happens in this present life. 2) Sinh báo: Future result—Hành động bây giờ mà đến đời sau mới chịu quả báo—Recompenses in the next rebirth for deeds now done, or future result which will happen in the next life. 3) Hậu báo: Deffered result—Hậu báo là quả báo về lâu xa sau nầy mới gặt—Recompenses in subsequent lives, or result that is deffered for some time to come.
; (三報) Chỉ cho 3 thứ nghiệp báo được chia theo thời gian chịu quả báo, đó là: 1. Hiện báo: Nghiệp thiện, ác được tạo ra ở đời hiện tại thì hiện thân này phải chịu quả báo của nghiệp thiện, ác ấy. 2. Sinh báo: Nghiệp thiện, ác tạo tác ở đời này, đến đời sau mới chịu quả báo thiện, ác. 3. Hậu báo: Nghiệp thiện, ác đã tạo ra trong vô lượng kiếp ở quá khứ, đến đời này chịu quả báo thiện, ác hoặc trong vô lượng kiếp ở vị lai mới chịu quả báo thiện ác. [X. luận Thành thực Q.8; Từ bi thủy sám pháp Q.trung; Lương cao tăng truyện Q.6; Đại minh tam tạng pháp số Q.11]. (xt. Tam Nghiệp).
tam bát la khư đa
(三鉢羅佉多) Phạm: Saôpràgata. Cũng gọi Tăng bạt. Hán dịch: Thời chí, Chính chí, Thiện chí.Lời của vị tăng Duy na xướng trước khi chúng tăng thụ trai, có 2 nghĩa: 1. Thí chủ bày tỏ ý bố thí bình đẳng đối với chúng tăng. 2. Chỉ cho các món ăn mà chúng tăng dùng đều 1 vị như nhau. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ mục đắc ca quyển 8 và Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1, trước khi thụ trai, đem các thức cúng dường đặt trước chúng tăng, rồi sai 1 người cầm món ăn, chắp tay quì thẳng trước vị Thượng tọa, cúi đầu cung kính xướng Tam bát la già đa, xướng xong mới được thụ thực, nếu chưa xướng mà ăn thì phạm tội ác tác. Tam bát la già đa là tiếng thần chú có năng lực tiêu trừ chất độc trong thức ăn, làm cho độc tố (nếu có) đều thành mĩ vị. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 3; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ mục đắc ca chú Q.8].
tam bát nhã
Three perfect enlightenments: (1)-thực tướng bát nhã wisdom in its essence or reality; (2) quán chiếu bát nhã the wisdom of perceiving the real meaning of the last; (3) phương tiện or văn tự bát nhã the wisdom of knowing things in their temporary and changing condition.
; The three prajnas or perfect enlightenments: 1) Thực tướng Bát nhã: Wisdom in its essence or reality. 2) Quán chiếu Bát nhã: The wisdom of perceiving the real meaning of all things. 3) Phương tiện Bát nhã: The wisdom of knowing things in their temporal and changing condition. ** For more information, please see Bát Nhã.
; (三般若) Bát nhã, Phạm:Prajĩà. Hán dịch: Trí tuệ. Cũng gọi Tam chủng bát nhã. I. Tam Bát Nhã. Chỉ cho Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã và Văn tự bát nhã. Đại thừa nghĩa chương quyển 10 căn cứ vào luận Đại trí độ mà lập 3 nghĩa Bát nhã:1. Văn tự: Văn tự tuy không phải là Bát nhã, nhưng là phương tiện để giải thích Bát nhã, lại có năng lực sinh khởi Bát nhã, vì thếgọilà Văn tự bát nhã. Tức chỉ cho các bộ kinh Bát nhã. 2. Quán chiếu: Dụng của tâm tuệ chiếu suốt, thể của nó tức là Bát nhã, cho nên gọi là Quán chiếu bát nhã. 3. Thực tướng:Cảnh giới do quán chiếu mà biết được, thể của nó tuy chẳng phải là Bát nhã, nhưng có năng lực sinh khởi Bát nhã, vì thế gọi là Thực tướng bát nhã. Trong 3 Bát nhã thì Văn tự bát nhã và Thực tướng bát nhã là pháp Bát nhã chứ không phải chính chúng là Bát nhã, còn Quán chiếu bát nhã thì là thể của Bát nhã. Theo Bích nham lục tắc 10 thì Thực tướng Bát nhã chính là chân trí, Quán chiếu bát nhã chính là chân cảnh, còn Văn tự bát nhã chính là Văn tự năng thuyên. Ba Bát nhã này thêm vào 2 Bát nhã nữa là Cảnh giới bát nhã và Quyến thuộc bát nhã, gọi là Ngũ chủng bát nhã. Ngoài ra, Văn tự bát nhã cũng có khi được gọi là Phương tiện bát nhã. [X. Kim cương bát nhã kinh sớ; Đại phẩm kinh nghĩa sớ Q.1; Bát nhã tâm kinh lược sớ; Tam luận huyền nghĩa; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3]. II. Tam Bát Nhã. Chỉ cho Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã và Phương tiện bát nhã. Cứ theo Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng và Kim quang minh huyền nghĩa thập di kí quyển 2 thì Bát nhã là Đại giác viên mãn thường hằng, Đại giác này có 3 đức: 1. Thực tướng bát nhã: Lí thể của Bát nhã. Lí thể này tất cả chúng sinh đều có sẵn, chẳng phải vắng lặng chẳng phải chiếu soi, lìa hết thảy tướng hư vọng, là tính thực của Bát nhã. Tức là Nhất thiết chủng trí. 2. Quán chiếu bát nhã: Thực trí quán chiếu thực tướng. Nghĩa là đức quán chiếu chẳng phải soi mà soi, rõ suốt các pháp vô tướng, gọi là Quán chiếu. Tức Nhất thiết trí. 3. Phương tiện bát nhã: Quyền trí phân biệt các pháp. Nghĩa là đức phương tiện chẳng phải lặng mà lặng, khéo léo phân biệt các pháp, gọi là Phương tiện. Tức là Đạo chủng trí. Thuyết này cho rằng 3 thứ Phương tiện, Quán chiếu và Thực tướng chính là Bát nhã, đây là nghĩa của Tính tông.
tam bát nhật
(三八日) Chỉ cho 3 ngày mồng 8, 18 và 28 mỗi tháng, là những ngày chúng tăng trong Thiền gia tụng niệm trên điện Phật. Thời xưa thì thực hành trong 6 ngày mồng 3, 13, 23, mồng 8, 18, 28 mỗi tháng. Vào các ngày 3 thì cầu nguyện quốc gia thanh bình, thịnh vượng, Phật pháp hưng long, thí chủ an ổn; còn vào các ngày 8 thì quán niệm vô thường và cầu nguyện sự nghiệp tu hành của mình được thành tựu viên mãn. Về sau, diễn biến thành 3 ngày 8 là Thượng bát (mồng 8), Trung bát (18) và Hạ bát (28). Các ngày Thượng bát và Trung bát thì cầu nguyện cho đất nước phồn vinh, đạo pháp hưng thịnh; còn ngày Hạ bát thì đại chúng nhớ nghĩ vô thường. [X. điều Niệm tụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Tiết thời trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Tam Bình Nghĩa Trung
三平義忠; C: sānpíng yìzháng; J: sampei gichū; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc dòng Thạch Ðầu Hi Thiên, môn đệ của Ðại Ðiên Bảo Thông.|Sư họ Dương, quê ở Phúc Châu. Ban đầu Sư đến tham vấn Thạch Củng Huệ Tạng. Thạch Củng dương cung bảo: »Xem tên đây!« Sư bèn vạch ngực thưa: »Ðây là mũi tên giết người, đâu là mũi tên cứu người?« Thạch Củng gảy dây cung ba cái, Sư liền làm lễ. Thạch Củng bảo: »Ba mươi năm một phen dương cung, một hai mũi tên chỉ bắn được nửa người thánh.«|Sư đến tham vấn Ðại Ðiên thuật lại việc trên, Ðại Ðiên bảo: »Ðã là mũi tên cứu người, vì sao nhằm trên dây cung mà biện?« Sư đáp không được. Ðại Ðiên bảo: »Ba mươi năm sau cần người nhắc câu này cũng khó được.« Sư hỏi: »Chẳng cần chỉ Ðông vẽ Tây, thỉnh thầy chỉ thẳng.« Ðại Ðiên bảo: »Cửa sông U Châu người đá ngồi xổm.« Sư bảo: »Vẫn là chỉ Ðông vẽ Tây« Ðại Ðiên bảo: »Nếu phượng hoàng con không đến bên này bàn.« Sư làm lễ, Ðại Ðiên bảo: »Nếu chẳng đặng câu sau thì lời trước khó tròn.«|Sư dạy chúng: »Các ngươi! Nếu chưa gặp trí thức thì chẳng nên, nếu từng gặp trí thức rồi phải nhân ngay ý độ ấy, đến trên chót núi, hóc đá, ăn cây, mặc lá, thế ấy mới có ít phần tương ưng. Nếu chạy cầu hiểu biết nghĩa cú, tức là trông quê hương muôn dặm xa vậy.«|Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.
tam bình nghĩa trung
Sampei GichŪ (J).
tam bình đẳng
The esoteric doctrine that the three body, mouth, and mind - are one and universal. Thus in samàdhi the Buddha "body" is found everywhere and in averything (pan-Buddha), every sound becomes a "true word", dhàrani or potent phrase, and these are summed up in mind. Other definitions of the three are: Phật, Pháp, Tăng the Triratna;
; Tâm, Phật, chúng sanh là một—Mind, Buddha and the living are one and universal.
tam bình đẳng quán
(三平等觀) Cũng gọi Tam tam muội da quán. Quán xét 3 thứ đều bình đẳng, đây là giáo nghĩa của Mật giáo. Tức quán Phật, Pháp, Tăng; hoặc thân, ngữ, ý; hoặc tâm, Phật và chúng sinh là bình đẳng. Tam bình đẳng quán theo nghĩa rộng là dùng Tam mật thu nhiếp tất cả các pháp, tức là: Tất cả sắc nhiếp về thân mật, thân mật chính là ấn khế; tất cả thanh nhiếp về ngữ mật, ngữ mật chính là chân ngôn; tất cả lí nhiếp về tâm mật, tâm mật chính là thực tướng. Tam mật bình đẳng bao trùm khắp cả mọi nơi, cho nên cảnh giới mà hành giả trông thấy đều là thân trùm khắp mọi nơi của Đại nhật Như lai, âm thanh mà hành giả nghe thấy đều là Đà la ni, là tiếng nói pháp của chư Phật. Tam bình đẳng quán theo nghĩa hẹp thì chia làm 3 loại: 1. tự tam bình đẳng quán: quán xét Tam mật bình đẳng của hành giả là bình đẳng, bao trùm khắp pháp giới. 2. Tha tam bình đẳng quán: Quán xét Tam bình đẳng của hành giả và Tam bình đẳng của Bản tôn là cùng 1 duyên tướng. 3. Cộng tam bình đẳng quán: Quán tưởng hành giả, Bản tôn và hết thảy chư Phật đã thành, chưa thành đều là cùng 1 duyên tướng. Quán xét như thế, hành giả và Bản tôn dung hòa làm 1 thể, tức là chỗ tột cùng nhập ngã ngã nhập của năng chứng. Pháp quán trên đây thuộc về pháp quán Chính niệm tụng hoặc lúc bình thường. Nếu khi tu Hộ ma thì dựa vào Tam mật: Bản tôn, Lư đàn, Hành giả mà quán tưởng, Tam mật ấy là bình đẳng, gọi là Nội hộ ma quán. Nhờ tu quán tam bình đẳng của Nội hộ ma mà sự lí trong ngoài ứng hợp nhau, đạt được Tất địa. Bản tôn được quán tưởng và hành giả có thân khẩu ý, lư đàn cũng có thân khẩu ý (tức thân lò, miệng lò, lửa lò), thân của Bản tôn chính là thân lò, cũng là thân của hành giả; khẩu của Bản tôn chính là miệng lò, cũng là khẩu của hành giả; trí của Bản tôn chính là lửa lò, cũng là lửa trí của hành giả; quán xét sự bình đẳng của Tam mật này như thế cũng gọi là Tam bình đẳng quán. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.20; Quán nội hộ ma; Bí tạng kí; Hộ ma kí bản trong A sa phược sao Q.40].
tam bình đẳng địa
The three universal positions or stages, i.e. the three states expressed by không, vô tướng, and vô nguyện.
tam bí mật
The three mysteries, a term of the esoteric school for thân, khẩu, ý; i.e. the symbol; the mystic word, or sound; the meditation of the mind. Tam bí mật thân is a term for the mystic letter, the mystic symbol and the image.
; See Tam Mật.
tam bí mật thân
(三秘密身) Chỉ cho 3 thứ thân bí mật. Theo giáo nghĩa của tông Chân ngôn thì các vị tôn đều có 3 thứ thân là: 1. Tự bí mật thân: Dùng chữ (Phạm) làm thể, biểu thị công đức của Phật, được chia làm 2 loại: a) Âm thanh: Những âm thanh vi diệu của chuông, mõ... được biểu hiện cho những hành giả lấy âm thanh làm cảnh sở quán. b) Sắc tướng: Những chủng tử, chân ngôn... trong nguyệt luân được hiển hiện cho những hành giả lấy sắc tướng làm cảnh sở quán. 2. Ấn bí mật thân: Lấy ấn làm thể, biểu thị bản thệ của Phật, cũng được chia làm 2 loại:a) Ấn khế hữu tình: Ấn có hình tướng hiển hiện ra cảnh sở quán của những hành giả mới phát tâm. b) Ấn vô hình: Trong tâm vô tướng hiển hiện ra cảnh sở quán của hành giả đã đạt. 3. Hình bí mật thân: Thân lấy hình tượng làm thể, cũng được chia làm 2 loại: a) Phi thanh tịnh: Thân có tướng phi thanh tịnh thị hiện cho hành giả mới phát tâm. b) Thanh tịnh: Thân thanh tịnh vô tướng thị hiện cho hành giả đã đạt. [X. phẩm Thuyết bản tôn tam muội trong kinh Đại nhật Q.6; Thánh Quan âm quyển trong A sa phược sao Q.83; Đại nhật kinh sớ Q.20].
tam bạch thực
(三白食) Cũng gọi Tam chủng bạch thực, Tam chủng bạch tịnh thực, Tam tịnh thực. Chỉ cho 3 thức ăn trắng và sạch: Sữa, lạc (cao sữa) và cơm gạo, là thực phẩm của hành giả Mật giáo dùng khi tu pháp. Kinh Nhất tự tâm chú (Đại 19, 317 thượng) nói: Người trì pháp cần phải giữ giới, thường dùng Tam bạch thực, đó là sữa, lạc và cơm gạo, không được phá trai. [X. phẩm Thỉnh vũ trong kinh Đại vân; kinh Nhất thiết công đức trang nghiêm vương; kinh Thập nhất diện thần chú tâm; truyện Nguyên tuệ trong Lương cao tăng truyện Q.23].
tam bạt chí
Saṃparti (S)Tam bạt đề.
tam bạt la
Xem cấm giới.
tam bạt la đà da đát đặc la
(三跋羅陀耶怛特羅) Phạm: Zrì-mahàsaôvarsdayatantraràja. Gọi tắt: Saôvarodayatantra. Tác phẩm, là tư liệu trọng yếu của Mật giáo thuộc hệ thốngSaôvara. Từ trước đến nay, Đát đặc la này được xem là sách chú giải Đát đặc la Cakrasaôvara-tantra trung tâm (Laghusaôvaratantra hiện hành), nhưng thực ra, nội dung của sách này đã tiến bộ hơn và trở thành điển tịch căn bản của Mật giáo thuộc hệ thốngSaôvara. Toàn sách gồm 32 phẩm: Phẩm thứ nhất là phẩm Thỉnh vấn, bồ tát Kim cương thủ xin đức Thế tôn khai thị, phẩm thứ 2 là thứ tự sinh khởi, phẩm thứ 3 là thứ tự cứu cánh, phẩm thứ 4 là các pháp số: 4 Đại chủng, 5 uẩn, 18 giới... đối ứng với 5 trí, 5 Phật, phẩm thứ 5 là sự vận hành của mặt trời, mặt trăng đối ứng với sự vận động của gió trong thân người, phẩm thứ 6 là 5 thứ gió trong thân người, phẩm thứ 7 là sự đối ứng giữaPìỉha, các bộ phận của thân thể và mạch máu (Phạm:Nàđì) của các bộ phận tồn tại, trở thành tư liệu trọng yếu của thuyết Nộipìtha, phẩm thứ 8 là các vấn đề thực tiễn liên quan đến Mạn đồ la như: Cúng dường Mạn đồ la, đặc tính và hành vi của A xà lê, nghĩa vụ của thí chủ..., phẩm thứ 9 liên quan đến những động tác bí mật (Phạm:Chomà) và Du già giả và Du già nữ (Phạm:Đàkinì) cùng xác nhận, sự đối ứng giữa các chủng loại tuần lễ địa và địa danh thực tế, giữaPìỉhavà Bồ tát Thập địa, các loại hành pháp Tức tai, Hàng phục, Câu triệu..., phẩm thứ 10 nói về các loại chú pháp như sử dụng bùa hộ thân: (Phạm:Yantra)..., phẩm thứ 13 là Mạn đồ la Saôvarodaya, do 13 vị tôn tạo thành, phẩm thứ 17 nói về phương pháp cụ thể hướng dẫn vẽ Mạn đồ la, phẩm thứ 18 thuyết minh về Quán đính, phẩm thứ 19 là điềm báo trước về cái chết và gió Du già, phẩm thứ 21 nói rõ về thái độ sinh hoạt của hành giả Đát đặc la, phẩm 23 và phẩm 28 nói về Hộ ma, phẩm 26 nói về cách gây rượu thánh, phẩm 31 nói về 4 loại Du già nữ, thuyết Tứ luân (Phạm: Cakra), khai triển tâm bồ đề..., phẩm thứ 33 là nói vềSaôvara của trạng thái Tất địa. Còn các phẩm khác tuy là những mảnh đứt rách rời rạc nhưng nhiều chỗ vẫn còn phát hiện được các sự tích Mật giáo rất thú vị. [X. The Saôvarodayatantra Selected Chapters, Tokyo, 1974; by Shinichi TSUDA; Saôvara hệ Mật giáo ư pìỉha thuyết chi nghiên cứu (Phong sơn học báo); Đàkinìjàla chi thực thái; Saĩcàra (chuyển vị của Du già nữ); Tứ luân tam mạch chi thân thể quan].
tam bạt đề
Xem Tam bạt chí.
Tam Bảo
(s: tri-ratna, ratna-traya, p: ti-ratana, ratanattaya, j: sampō, 三寶): chỉ cho ba ngôi báu, gồm Phật Bảo (佛寶), Pháp Bảo (法寶) và Tăng Bảo (僧寶), mà một tín đồ Phật Giáo cần phải tôn kính, cúng dường; còn gọi là Tam Tôn (三尊). (1) Phật (s, p: buddha, 佛), chỉ cho đấng tự giác ngộ mình và làm cho người khác giác ngộ, là vị giáo chủ phật giáo có thể dạy đỗ, hướng dẫn người khác; hoặc chỉ chung cho chư Phật. (2) Pháp (s: dharma, p: dhamma, 法), là giáo pháp, lời dạy được đức Phật giác ngộ và tuyên thuyết cho người khác. (3) Tăng (s, p: saṅgha, 僧), chỉ cho tập đoàn đệ tử của đức Phật chuyên hành tì, tu tập giáo pháp của Ngài. Thường giáo đoàn này phải 3 người trở lên mới được gọi là Tăng. Ba ngôi báu này có uy đức rất cao tột, vĩnh viễn không thay đổi, giống như bảo vật trên đời, nên có tên là Tam Bảo. Cứu Cánh Nhất Thừa Thật Tánh Luận (究竟一乘寶性論, Taishō Vol. 31, No. 1611) quyển 2 có nêu ra 6 nghĩa của Tam Bảo: (1) Hy hữu, hiếm có, nghĩa rằng ba ngôi này trãi qua trăm ngàn vạn kiếp khó mà găp được, giống như trân bảo trên thế gian vậy. (2) Minh tịnh, trong sạch, nghĩa là ba ngôi báu này xa lìa hết thảy các pháp Hữu Lậu (s: sāsava, p: sāsrava, 有漏); nên không nhơ nhớp mà trong sạch. (3) Có thế lực, nghĩa là ba ngôi báu này đầy đủ năng lực oai đức tự tại không thể nghĩa bàn. (4) Trang nghiêm, nghĩa là ba ngôi báu này có thể trang nghiêm cõi xuất thế gian; giống như các bảo vật có thể làm trang nghiêm thế gian vậy. (5) Tối thắng, nghĩa là trong các pháp xuất thế gian, ba ngôi báu này là pháp vượt hơn hết tất cả. (6) Bất biến, không thay đổi, nghĩa là ba ngôi báu này là pháp Vô Lậu (s: anāsrava, p: anāsava, 無漏), không bị Tám Pháp của thế gian làm cho lay động, thay đổi. Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương (大乘法苑義林章, Taishō Vol. 45, No. 1861) quyển 6 lại đưa ra 4 nghĩa khác để làm sáng tỏ nguyên do sáng lập Tam Bảo: (1) Tà Tam Bảo (邪三寶) để đối trị ngoại đạo, nghĩa là phản tà quy chánh. (2) Đức Phật là bậc thầy điều ngự, Pháp là giáo pháp của vị thầy đó, Tăng là học trò của thầy đó. Sự chứng đắc của ba ngôi này là vô lượng, chủng loại giống nhau, nên hợp thành một pháp; nhưng vì nhân quả chứng đắc có khác nhau, nên phân thành thầy trò. (3) Người thượng căn muốn chứng quả Bồ Đề của Phật, nên gọi đó là Phật Bảo; người trung căn muốn cầu trí tự nhiên mà liễu đạt pháp nhân duyên, nên gọi đó là Pháp Bảo; người hạ căn nương vào thầy thọ pháp, lý sự không sai khác, nên gọi đó là Tăng Bảo. (4) Đức Phật như vị lương y, Pháp như phương thuốc mầu nhiệm; Tăng giống như người khán bệnh; đối với người bệnh mà nói thì vị lương y, phương thuốc mầu nhiệm và người khán bệnh không thể nào thiếu được. Trong Lễ Phật Nghi Thức (禮佛儀式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1492) có đoạn: “Hựu phàm vi lễ bái, tất tu tiên kính Tam Bảo, Tam Bảo thị tối thắng cát tường, lương hựu phước điền, năng tiêu chúng sanh nghiệp cấu (又凡爲禮拜、必須先敬三寶、三寶是最勝吉祥、良祐福田、能消眾生業垢, lại phàm là lễ lạy, tất nên trước kính trọng Tam Bảo, Tam Bảo là điều tốt lành trên hết, là ruộng phước phù hộ tốt, có thể tiêu trừ nghiệp cấu của chúng sanh).” Hay trong Quy Giới Yếu Tập (歸戒要集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1129) quyển 1 cũng có đoạn: “Phù Tam Bảo giả, tánh tướng thường trụ, thể châu pháp giới, tiếp vật ứng cơ, như nhật diệu ư thiên giang, vi thế chu hàng (夫三寶者、性相常住、體周法界、接物應機、如日曜於千江、爲世舟航, phàm ba ngôi báu, tánh tướng thường trụ, thể khắp pháp giới, theo vật ứng cơ, như mặt trời tỏa sáng nơi ngàn sông, làm thuyền bè cho thế gian).”
Tam bảo
Ba ngôi báu là Phật, Pháp và Tăng.
; 三寶; C: sānbăo; J: sanbō; S: triratna; P: tiratana; »Ba ngôi báu«;|Ba cơ sở chính của Phật giáo: Phật, Pháp, Tăng, tức là bậc giác ngộ, giáo pháp của bậc giác ngộ và bạn đồng học. Người có niềm tin kiên cố nơi Tam bảo được gọi là bậc Dự lưu (vào dòng). Người Phật tử biểu lộ sự tin tưởng bằng cách quy y Tam bảo (Ba quy y). Trong mười phép quán Tuỳ niệm (p: anussa-ti), ba đối tượng đầu tiên là Tam bảo.|Ý nghĩa của Tam bảo được hiểu rộng hơn theo truyền thống Ðại thừa. Trong các buổi giảng dạy về Thiền, đặc biệt sau các chương trình Tiếp tâm (j: sesshin), quán Công án, các thiền sinh được hướng dẫn vào lối nhìn Tam bảo của Ðại thừa. Theo cách nhìn này thì người ta có thể phân ý nghĩa Tam bảo ra ba tầng cấp: a) Nhất thể tam bảo (j: ittai-sambō), b) Hiện tiền tam bảo (j: genzen-sambō) và c) Trụ trì tam bảo (j: juji-sambō).|Nhất thể tam bảo (一體三寶; cũng được gọi là Ðồng thể tam bảo; 同體三寶) bao gồm: 1. Ðại Nhật Phật, hiện thân của Pháp thân (s: dharmakāya), biểu hiện của sự bình đẳng vô vi, sự thông suốt tính Không (s: śūnyatā) và Phật tính của vạn vật; 2. Pháp (s: dharma), được hiểu là luân lí của toàn thể vũ trụ và theo đó thì tất cả những pháp hiện hữu đều theo nhân duyên mà sinh, đều phụ thuộc vào nhau; 3. Sự xuyên suốt giữa hai điểm 1. và 2. nêu trên và từ đó xuất phát ra một sự thật, một sự thật mà chỉ một bậc Giác ngộ mới có thể trực chứng được.|Hiện tiền tam bảo (現前三寶; cũng có lúc được gọi là Biệt thể tam bảo; 別體三寶) gồm có: 1. Ðức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni), người sáng lập Phật giáo qua sự giác ngộ của chính mình và là người đã thực hiện được Nhất thể tam bảo; 2. Pháp, ở đây được hiểu là giáo lí của đức Phật, được Ngài thuyết giảng và 3. Các vị đệ tử của Ngài.|Trụ trì tam bảo (住持三寶) bao gồm: 1. Những tranh tượng của đức Phật được truyền lại đến ngày nay; 2. Những lời dạy của chư vị Phật trong kinh sách và 3. Chư Phật tử hiện nay, những người đang tu học và thực hiện Chính pháp.
tam bảo
Tiratna (P), dkon mchog gsum (T), Triratna (S), Tiratanattaya (P), Tiratanam (P), Ratnatraya (S), Ratnattaya (P), Sambō (J), Three Treasures, Triple Jewels, Triple Gem, Three Jewels, Three Precious Ones Gồm: Phật, Pháp, Tăng.
; Triratna, or Ratnatraya (S). The three Precious Ones: Buddha, Dharma, Sangha, i.e. Buddha, the Law, the Order. Popularly the tam bảo are referred to the three images in the main hall of monasteries. The centre one is Sàkyamuni, on his left Bhaisajya Dược Sư, and on his right Amitàbha. Three Gems, three jewels.
; Nền móng trong Phật Giáo là Tam Bảo. Không tin, không tôn kính Tam Bảo thì không thể nào có được nếp sống Phật giáo—Three Precious Ones—Triple Jewel—Triple Gem (Buddha, Dharma, Sangha)—The foundation of Buddhism is the Three Treasures, without trust in which and reverence for there can be no Buddhist religious life. There are three kinds of Triratna (three Treasures): (A) Nhất Thể Tam Bảo—The Unified or one-body Three Treasures: 1) Phật Tỳ Lô Giá Na: Sự biểu thị sự thể hiện của thế giới Tánh Không, của Phật tánh, của tánh Bình Đẳng Vô Ngại: The Vairocana Buddha, representing the realization of the world of Emptiness, of Buddha-nature, of unconditioned Equality. 2) Pháp: Pháp từ vô thỉ vô chung mà tất cả mọi hiện tượng theo nhân duyên tùy thuộc vào đó: The Dharma that is the law of beginningless and endless becoming, to which all phenomena are subject according to causes and conditions. 3) Sự hòa hợp giữa Phật Tỳ Lô Giá Na và Pháp (hai yếu tố trên) tạo thành toàn bộ thực tại như những bậc giác ngộ kinh nghiệm: The harmonious fusion of the preceding two, which constitutes total reality as experienced by the enlightened. (B) Hiện Tiền Tam Bảo—The Manifested Three Treasures: 1) Đức Phật Lịch Sử Thích Ca Mâu Ni: Người đã thể hiện nơi chính mình sự thật của Nhất Thể Tam Bảo qua sự thành tựu viên mãn của Ngài: The historic Buddha Sakyamuni, who through his perfect enlightenment relaized in himself the truth of the Unified Three Treasures. 2) Pháp: Bao gồm những lời dạy và những bài thuyết pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni trong ấy đã giải rõ ý nghĩa của Nhất Thể Tam Bảo và con đường đi đến thể hiện được nó: The Dharma, which comprises the spoken words and sermons of Sakyamuni Buddha wherein he elucidated the significance of the Unified Three Treasures and the way to its realization. 3) Những môn đệ trực tiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Bao gồm luôn cả những đệ tử trong thời Ngài còn tại thế, đã nghe, tin, và thực hiện nơi bản thân họ Nhất Thể Tam Bảo mà Ngài đã chỉ dạy: Sakyamuni Buddha's Disciples, including the immediate disciples of the Buddha Sakyamuni and other followers of his day who heard, believed, and made real in their own bodies the Unified Three Treasures that he taught. (C) Thọ Trì Tam Bảo—The Abiding Three Treasures: 1) Phật bảo: Sự thờ cúng hình tượng chư Phật như đã được truyền đến chúng ta: The Buddha—The Supremely Enlightened Being. The iconography of Buddhas which have come down to us. 2) Pháp bảo: Bao gồm những bài giảng, bài thuyết pháp của chư Phật (tức là những đấng giác ngộ viên mãn) như đã thấy trong các kinh điển và bản văn Phật giáo khác vẫn được phát triển: The Dharma—The teaching imparted by the Buddha. All written sermons and discourses of Buddhas (that is, fully enlightened beings) as found in the sutras and other Buddhist texts still extant. 3) Tăng bảo: Bao gồm các môn đệ đương thời tu tập và thể hiện chân lý cứu độ của Nhất Thể Tam Bảo đầu tiên được Phật Thích Ca Mâu Ni khai thị: The Sangha—The congregation of monks and nuns or genuine Dharma followers. Sangha consists of contemporary disciples who practice and realize the saving truth of the Unified Three Treasures that was first revealed by Sakyamuni Buddha. (D) See Kinh Tam Bảo in Appendix E.
; (三寶) Phạm: Tri-ratna hoặc Ratna-traya. Pàli: Ti-ratana hoặc Ratanattaya. Cũng gọi Tam tôn. Chỉ cho 3 ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo được tín đồ Phật giáo tôn kính, cúng dường. Phật (Phạm:Buddha) là bậc đã giác ngộ, có năng lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, là Giáo chủ của Phật giáo, hoặc chỉ chung cho hết thảy chư Phật; Pháp (Phạm: Dharma) là giáo pháp của đức Phật; Tăng (Phạm: Saôgha) là tăng đoàn đệ tử của Phật tu học theo giáo pháp. Ba ngôi trên có uy đức cao tột, có năng lực mang lại giải thoát, yên vui cho hết thảy chúng sinh, như của báu thế gian, nên gọi là Tam bảo. Theo luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 2 thì Tam bảo có 6 nghĩa: 1. Hi hữu: Ba ngôi báu này trải qua trăm nghìn muôn kiếp mới có, cũng như vật trân bảo ở thế gian rất khó có được. 2. Minh tịnh: Ba ngôi báu này xa lìa tất cả pháp hữu lậu, trong sạch sáng suốt. 3. Thế lực: Ba ngôi báu này có đầy đủ uy đức tự tại không thể nghĩ bàn. 4. Trang nghiêm: Ba ngôi báu này có năng lực trang nghiêm xuất thế gian, giống như của báu ở thế gian có thể làm đẹp thế gian.5. Tối thắng: Ba ngôi báu này thù thắng mầu nhiệm hơn hết trong các pháp xuất thế gian. 6. Bất biến: Ba ngôi báu này là pháp vô lậu, tám pháp của thế gian không thể làm cho lay động, biến đổi. Đại thừa nghĩa chương quyển 6, phần đầu thì nêu 4 nghĩa thiết lập Tam bảo: 1. Vì đối trị tà tam bảo của ngoại đạo, đó là nghĩa bỏ tà về chính. 2. Phật là bậc Điều ngự sư, Pháp là giáo pháp của Phật, Tăng là đồ đệ của Phật. Chỗ chứng ngộ của 3 ngôi báu này là vô lượng, nhưng chủng loại giống nhau, cho nên lập chung là 1 pháp. Nhưng, vì nhân quả chứng ngộ có khác nhau nên chia ra thầy và trò. 3. Vì người thượng căn muốn chứng được quả Phật bồ đề mà nói Phật bảo; vì người trung căn cầu được trí tự nhiên để rõ suốt pháp nhân duyên mà nói Pháp bảo; vì người hạ căn nương theo thầy lãnh nhận giáo pháp, sự lí không trái mà nói Tăng bảo.4. Phật như thầy thuốc giỏi, Pháp như thuốc hay, Tăng như người khám bệnh; đối với 1 người đang có bệnh mà nói thì thầy thuốc giỏi, phương thuốc hay và người xem bệnh đều rất cần thiết, không thể thiếu một. Còn luận Du già sư địa quyển 64 thì nói Tam bảo có 6 nghĩa khác nhau: 1. Tướng khác nhau: Phật là tướng của sự giác ngộ tự nhiên, Pháp là quả tướng của sự giác ngộ, Tăng là tướng tu hành chân chính theo lời Phật chỉ dạy. 2. Việc làm khác nhau: Việc làm của Phật là giảng nói giáo pháp chân chính, việc của Pháp là diệt trừ các khổ phiền não do cảnh sở duyên tạo ra, việc của Tăng là dũng mãnh tinh tiến. 3. Tin hiểu khác nhau: Đối với Phật bảo phải có lòng tin hiểu gần gũi, phụng sự; đối với Pháp bảo phải có lòng tin mong cầu chứng ngộ; đối với Tăng bảo phải có lòng tin hiểu hòa hợp đồng nhất, cùng an trú trong pháp tính. 4. Tu hành khác nhau: Đối với Phật bảo phải tu hành chân chính, phụng thờ; đối với Pháp bảo phải tu chính hạnh phương tiện du già; đối với Tăng bảo phải tu chính hạnh cùng thụ tài pháp. 5. Tùy niệm khác nhau: Mỗi người nên tùy theo các tướng mà niệm Phật, Pháp và Tăng bảo. 6. Sinh phúc khác nhau: Đối với Phật y vào 1 hữu tình mà sinh phúc tối thắng; đối với Pháp y vào pháp này mà sinh phúc tối thắng; đối với Tăng y vào nhiều hữu tình mà sinh phúc tối thắng. Cứ theo các luận thì Tam bảo có nhiều chủng loại, phổ thông có 3 thứ: 1. Biệt tướng tam bảo(cũng gọi Giai thê tam bảo, Biệt thể tam bảo): Phật, Pháp, Tăng, mỗi mỗi đều khác nhau. Đầu tiên, Phật thành đạo ở gốc cây Bồ đề, chỉ thị hiện thân trượng sáu và khi nói kinh Hoa nghiêm thì đặc biệt hiện thân Phật Lô xá na, cho nên gọi là Phật bảo. Các kinh luật Đại thừa, Tiểu thừa do đức Phật nói trong 5 thời, gọi là Pháp bảo. Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát nhờ tu theo giáo pháp của Phật mà chứng được quả giác ngộ, giải thoát gọi là Tăng bảo. 2. Nhất thể tam bảo(cũng gọi Đồng thể tam bảo, Đồng tướng tam bảo): Đứng về phương diện ý nghĩa và bản chất mà nói, Phật Pháp, Tăng có 3 tên gọi khác nhau nhưng thể tính chỉ là một. Chẳng hạn như đứng trên lập trường của người giác ngộ mà nói thì Phật là thể tính linh giác, soi rõ các pháp, chẳng phải không, chẳng phải có nên gọi là Phật bảo; chỉ Phật mới có đầy đủ đức hạnh làm khuôn phép cho tất cả chúng sinh, cũng tức là pháp tính vắng lặng mà có hằng sa tính đức, đều đáng làm khuôn mẫu, cho nên cũng gọi là Pháp bảo; lại như Phật là trạng thái hòa hợp, hoàn toàn không tranh đua, mà đặc chất của Tăng đoàn là hòa hợp không tranh đua, vì thế cũng gọi là Tăng bảo. Như vậy thì trong một Phật bảo mà có đủ cả Tam bảo. 3. Trụ trì tam bảo: Chỉ cho Tam bảo lưu truyền, duy trì Phật pháp ở đời sau, tức là 3 ngôi báu: Tượng Phật, kinh Phật và các tỉ khưu xuất gia. Đại thừa cho rằng 8 tướng thành đạo là Trụ trì Phật, tất cả giáo pháp làm lợi ích cho thế gian gọi là Trụ trì pháp và chúng Tam thừa được giáo hóa, thành lập là Trụ trì tăng. Ba ngôi báu này gọi chung là Trụ trì tam bảo. Ngoài ra còn có các thuyết 4 loại Tam bảo (Nhất thể Tam bảo, Duyên lí Tam bảo, Hóa tướng Tam bảo, Trụ trì Tam bảo), 6 loại Tam bảo (Đồng thể, Biệt thể, Nhất thừa, Tam thừa, Chân thực và Trụ trì)... Về tiêu biểu của Tam bảo thì Trung quốc và Nhật bản từ xưa đến nay tương đối ít dùng phù hiệu hay hình vẽ để tượng trưng Tam bảo, nhưng ở Ấn độ thì việc sử dụng phù hiệu hoặc hình vẽ để biểu thị Tam bảo tương đối phổ biến. Có 2 loại biểu hiện khác nhau: 1. Dùng hình tháp tượng trưng Phật bảo, bánh xe tượng trưng Pháp bảo và tòa Bồ đề hoặc tòa Sư tử tượng trưng Tăng bảo. 2. Vẽ hình dáng cây kích 3 chĩa để tượng trưng Tam bảo. Còn Phật giáo Tây tạng thì dùng hạt bảo châu có 3 cánh để tượng trưng Tam bảo.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Quán Vô lượng thọ; kinh Hoa nghiêm Q.18 (bản dịch mới); phẩm Cụ túc trong luận Thành thực Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.10; luận Đại tì bà sa Q.34; luận Câu xá Q.14; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Tam Qui Y, Tam Bảo Chương, Tứ Chủng Tam bảo).
tam bảo chương
(三寶章) Cũng gọi Tam bảo tiêu, Tam bảo, Tam xoa, Tam cổ. Chỉ cho hình vẽ, phù hiệu... được dùng để tượng trưng Tam bảo. Tam bảo chương đã thịnh hành ở thời đại vua A dục tại Ấn độ. Tam bảo chương thường được sử dụng để trang sức đầu nhọn, cột, xà ngang của cửa tháp. Hình thức của Tam bảo chương là trên pháp luân(bánh xe pháp) đặt phù hiệu 3 chĩa để tượng trưng Tam bảo. Có thuyết cho rằng 3 chĩa tượng trưng Phật bảo, bánh xe pháp tượng trưng Pháp bảo và lá cây tượng trưng Tăng bảo. Hiện nay, ở 4 cửa ra vào của tháp Sơn kì (Phạm:Zànti) còn có các bức khắc Tam bảo chương. Và trên lan can của Đại tháp A ma la đề bà (Phạm: Amaràvatì) người ta tìm thấy 2 loại hình khắc Tam bảo chương, 1 loại ở khoảng trên khắc tháp Phật, khoảng giữa khắc bánh xe pháp, khoảng dưới khắc cái cây, còn 1 loại thì ở giữa khắc tháp Phật, bên trái khắc bánh xe pháp, bên phải khắc cây.[X. The Bhilsa Topes, Stùpa of Bharhut by A. Cunningham; Tree and Serpent Worship by J.Fergusson; History of Indian and Eastern Architecture by J.Fergusson; Ấn độ Phật tích thực tả giả thuyết; Ấn độ lữ hành kí (Thiên chiểu Tuấn nhất)].
tam bảo hội từ
(三寶繪詞) Cũng gọi Tam bảo hội. Tác phẩm, 3 quyển, do Nguyên vi hiến người Nhật bản soạn vào năm 984. Nội dung sách này thu chép các truyện tích của Phật giáo. Tam bảo chỉ cho Phật, Pháp, Tăng. Quyển thượng gồm các truyện bản sinh của đức PhậtThích ca; quyển trung gồm các truyện kí của 18 vị tăng tục người Nhật bản, đại thể đều được trích ra tự Linh dị kí của Nhật bản; còn quyển hạ thì giải thích về các hành sự (pháp hội) của Phật giáo vào mỗi tháng. Sách này là tư liệu trọng yếu giúp người ta hiểu rõ về xã hội Nhật bản ở thời bấy giờ. Ấn Tam Bảo Tam Bảo Chương Tam Bảo Điểu
Tam bảo kỉ
三寶紀; C: sānbăojì; J: sanbōki;|Lịch đại tam bảo kỉ (歴代三寶紀).
tam bảo lễ
(三寶禮) Cũng gọi Tam kính lễ, Kính lễ. Lễ bái Tam bảo. Có rất nhiều loại văn lễ, như văn lễ chép trong cuốn Phật môn tất bị khóa tụng bản thông dụng trong các chùa viện hiện nay vốn được trích ra từ phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch cũ) như sau (Đại 9, 430): Con qui Phật rồi, nguyện cho chúng sinh Hiểu thấu đạo lớn, phát lòng vô thượng. Con qui Pháp rồi, nguyện cho chúng sinh Hiểu sâu tạng kinh, trí tuệ như biển. Con quiTăng rồi, nguyện cho chúng sinh Thống lí đại chúng, hết thảy không ngại. Trong Pháp hoa tam muội sám nghi của ngài Trí khải thì chép (Đại 46, 950 trung): Hết thảy cung kính, Dốc lòng kính lễ 10 phương thường trụ Phật. Dốc lòng kính lễ 10 phương thường trụ Pháp. Dốc lòng kính lễ 10 phương thường trụ Tăng. Trong Vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi của ngài Tuân thức thì chép (Đại 47, 491 hạ): Dốc lòng kính lễ thường trụ Phật ở khắp pháp giới trong 10 phương. Dốc lòng kính lễ thường trụ Pháp ở khắp pháp giới trong 10 phương. Dốc lòng kính lễ thường trụ Tăng ở khắp pháp giới trong 10 phương. Tất cả văn lễ trên đây đều lấy việc lễ kính Tam bảo làm chủ yếu. Lại cứ theo Vãng sinh lễ tán kệ thì hư không trong 10 phương là vô biên, Tam bảo là vô tận, nếu dốc lòng đính lễ 1 lạy, thì thêm phúc vô lượng, công đức vô cùng, 3 nghiệp thân khẩu ý được thanh tịnh, giải thoát. [X. Pháp sự tán Q.thượng; Di đà sám nghi; Lễ niệm Di đà đạo tràng sám pháp Q.1].
tam bảo lục nghĩa
(三寶六義) Sáu nghĩa của Tam bảo được ghi trong Chư kinh yếu tập quyển 1: 1. Nghĩa hiếm có: Chúng sinh bạc phúc, trăm nghìn muôn đời không được gặp Tam bảo; giống như của trân quí ở thế gian, người nghèo cùng không có được. 2. Nghĩa lìa cáu bẩn: Tam bảo đã sạch hết lậu hoặc, không còn cấu nhiễm, giống như trân bảo ở thế gian, trong ngoài sáng bóng, trong suốt. 3. Nghĩa thế lực: Tam bảo có đầy đủ 6 thần thông, cứu giúp chúng sinh, ra khỏi đường khổ; giống như vật trân bảo ở thế gian làm cho chúng sinh hết nghèo khó, bệnh hoạn, có thế lực lớn. 4. Nghĩa trang nghiêm: Tam bảo có năng lực dùng chính pháp trang nghiêm người tu hành, khiến thân tâm được thanh tịnh, giống như vật trân quí ở thế gian, trang sức thân thể, làm cho người xinh đẹp.5. Nghĩa tối thắng: Tam bảo là thù thắng nhất thế gian, giống như vật trân quí ở đời là hơn hết trong các vật. 6. Nghĩa không biến đổi: Tam bảo không bị 8 pháp thế gian làm thay đổi, giống như vàng ròng, dù có nung đốt mài dũa cũng không làm cho nó biến đổi.
tam bảo phật
Phật Thích Ca là ngôi thứ Nhất của Tam Bảo, thì pháp của Ngài là ngôi Hai, và Tăng đoàn là ngôi Ba. Tất cả ba ngôi nầy được coi như là sự thị hiện của chư Phật—While Sakyamuni Buddha is the first person of the Trinity, his Law the second, and the Order the third, all three by some are accounted as manifestations of the All-Buddha. ** For more information, please see Tam Bảo.
tam bảo sắc tứ tự
Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào đầu thế kỷ thứ 19. Khi Chúa Nguyễn Ánh lên ngôi, chùa đã được sắc phong là Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Nguyên thủy chùa chỉ làm bằng gỗ, mái lợp tranh, do bà Dương Thị Cán dựng lên để làm nơi tu trì. Ngôi chùa hiện tại là do Hòa Thượng Chí Thiền xây dựng lại năm 1917—Name of a temple, located in Rạch Giá town, Kiên Giang province, South Vietnam. The temple was built in early nineteenth century. When Lord Nguyễn Ánh ascended the throne, the temple was offered the royal proclamation. At first the temple was made of wood and thatched roof, was a place for Ms. Dương Thị Cán stayed and worshipped Buddhism. The present temple was rebuilt by Most Venerable Chí Thiền in 1917.
tam bảo tương hệ tương tùy
Một người không nhận ra Nhất Thể Tam Bảo thì không thể nào hiểu sâu ý nghĩa sự giác ngộ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, không thể đánh giá sự quý báu vô cùng của những lời Ngài dạy, cũng như không thể ấp ủ hình ảnh chư Phật như những thực thể sinh động. Lại nữa, Nhất Thể Tam Bảo sẽ không được biết đến nếu nó không được Phật Thích Ca Mâu Ni thể hiện nơi thân tâm Ngài và con đường thể hiện do Ngài triển khai cũng vậy. Cuối cùng, không có những người giác ngộ theo con đường của Phật trong thời đại chúng ta khích lệ và dẫn dắt người khác theo con đường Tự Ngộ nầy thì Nhất Thể Tam Bảo chỉ là một lý tưởng xa xôi. Câu chuyện lịch sử cuộc đời Đức Phật Thích Ca sẽ là câu chuyện lịch sử khô héo về những lời Phật dạy, hoặc sẽ là những chuyện trừu tượng vô hồn. Hơn nữa, khi mỗi chúng ta thể hiện Nhất Thể Tam Bảo, thì nền móng của Tam Bảo không gì khác hơn chính tự tánh của mình—The Three Treasures are mutually related and interindependent. One unrealized in the Unified Three Treasures can neither comprehend in depth the import of Sakyamuni Buddha's enlightenment, nor appreciate the infinite preciousness of his teachings, nor cherish as living images and pictures of Buddhas. Again, the Unified Three Treasures would be unknown had not it been made manifest by Sakyamuni in his own body and mind and the Way to its realization expounded by him. Lastly, without enlightened followers of the Buddhas' Way in our own time to inspire and lead others along this Path to Self-realization, the Unified Three Treasures would be a remote ideal, the saga of Sakyamuni's life desiccated history, and the Buddhas' words lifeless abstractions. More, as each of us embodies the Unified Three Treasures, the foundation of the Three Treasures is none other than one's own self.
tam bảo tạng
The Triratna as the treasury of all virtue and merit; also the Tripitaka tam tạng, sùtras kinh, vinaya luật, luận abhidharma; also sravakas thanh văn, pratyeka-buddhas duyên giác, bodhisattvas bồ tát.
tam bảo vật
The things appertaining to the Triratna, i.e. to the Buddha-temples and images etc; to the Dharma-the scriptures; to the Sangha-cassock, bowl etc.
; (三寶物) Chỉ cho những vật thuộc về Phật, Pháp, Tăng. 1. Phật vật: Như các loại tượng Phật, điện đường, hương hoa, phướn lọng... tất cả vật dụng cúng dường Phật đều không được dùng vào các việc khác, nếu lạm dụng thì phạm tội ăn cắp. Cứ theo Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1 thì vật cúng dường Phật có 4 thứ: a) Phật thụ dụng vật: Những vật sở hữu của Phật như nhà cửa, y phục, giường màn... b) Thí thuộc Phật vật: Những vật bố thí cho Phật như tiền bạc, của báu, ruộng vườn, người và súc vật... c) Cúng dường Phật vật: Những vật cúng dường Phật như hương đèn, hoa phướn, vật cúng... d) Hiến Phật vật: Những vật dâng cúng như thuốc thang, thức ăn uống... Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 1 thì nêu 6 thứ Phật vật, trong đó, 4 thứ trước giống như 4 thứ vừa nói ở trên, còn 2 thứ sau là: a) Phật bảo vật: Vật chuyên để cúng dường Phật: Lúc Phật còn tại thế thì do sắthân Phật thụ dụng; sau khi Phật nhập diệtthì do pháp thân Phật thụ dụng. b) Cục Phật vật: Tức là vật chỉ thuộc về 1 đức Phật, như vật cúng dường tượng Phật Thích ca thì không được đem cúng dường tượng Phật A di đà, hoặc gỗ vốn dành để khắc tượng Phật không được dùng để tạc tượng Tăng hoặc tượng thiên thần, Bồ tát... 2. Pháp vật: Như các loại kinh Phật, giấy bút, hòm tráp, khăn đậy kinh... Tất cả những vật này không được sửa đổi lại để dùng vào việc khác. Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1, nêu 4 thứ Pháp vật: a) Pháp thụ dụng vật: Những vật sở hữu của Pháp, như trục cuốn, hòm tráp, khăn... b) Thí thuộc pháp vật: Những vật được bố thí cho Pháp như ruộng vườn... Có thể chia làm 2 phần, 1 phần dành cho kinh điển và 1 phần dành cho người đọc tụng kinh điển. c) Cúng dường pháp vật: Những vật cúng dường kinh điển như hương, hoa... d) Hiến pháp vật: Những thứ cúng dường kinh điển như thức ăn uống... Bồ tát giới bản sớ, ngoài 4 thứ cúng dường Pháp ghi trên, nêu thêm 2 thứ nữa là: a) Pháp bảo vật: Vật để trong tháp, chuyên dùng để cúng dường Pháp bảo. b) Cục pháp vật: Vật chỉ hạn cuộc ở 1 bộ kinh nhất định nào đó, như giấy định dùng để biên chép kinh Đại phẩm thì không được dùng để biên chép kinh Niết bàn... 3. Tăng vật: Chỉ cho các loại vật dụng thuộc về Tăng như: Phòng tăng, ruộng vườn, áo bát, thóc gạo, rau quả... Tăng vật có 2 loại: Một là Thường trụ vật, như chùa viện, tinh xá, rừng cây, kho lẫm...; hai là những vật đã có nơi chốn cố định, tức những vật không được dời đi nơi khác. Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1, nêu ra 4 thứ Tăng vật: a) Thường trụ thường trụ vật: Gồm những vật cố định được sử dụng ở một trụ xứ như nhà bếp, nhà kho, chùa viện, tinh xá, đồ dùng, hoa trái, rừng cây, ruộng vườn, người giúp việc, súc vật... b) Thập phươngthường trụ vật: Những vật do chúng tăng trong 10 phương cùng nhau thụ dụng như cơm, bánh... c) Hiện tiền hiện tiền vật: Những vật như y phục, thuốc thang, phòng xá, đồ dùng... mà thí chủ cúng dường chúng tăng hiện tiền thì do chúng tăng ấy thụ dụng. d) Thập phương hiện tiền vật: Những vật do thí chủ cúng dường chúng tăng 10 phương hiện tiền thì chúng tăng ấy chia dùng. Bồ tát giới bản sớ thì nêu 5 thứ Tăng vật:a) Tăng bảo vật: Vật do thí chủ đặt vào trong tháp để cúng dường Tăng đệ nhất nghĩa đế. b) Thường trụ tăng vật: Tức là Thường trụ thường trụ vật và Thập phương thường trụ vật nói trong Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1. c) Thập phương hiện tiền tăng vật. d) Chúng tăng vật. Hai thứ Tăng vật này hợp chung lại tức là Thập phương hiện tiền vật nói trong Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1. e) Kỉ giới cục tăng vật: Như vật bố thí cho chúng tăng chùa này thì không được đem đi bố thí cho chư tăng chùa khác. Do đó mà biết, đối với vật của Tam bảo, hoặc lấy trộm, hoặc chuyển dụng hay vay mượn không trả thì tùy theo nặng nhẹ mà trị tội. [X. luận Hiển dương đại giới Q.3; Thích thị yếu lãm Q.trung; Ma ha chỉ quán Q.8 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.8, phần 3; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4]. (xt. Phật Vật, Pháp Vật, Tăng Vật).
tam bảo điểu
(三寶鳥) Cũng gọi Phật pháp tăng điểu. Loại chim có tiếng hót nghe giống như âm thanh Phật pháp tăng nên gọi là chim Tam bảo. Hình dáng chim này giống như quạ khoang nhưng hơi béo và lớn hơn. Mình màu lục thẫm, cánh và đuôi màu xanh, đỏ tía; mỏ ngắn, đầu mỏ hơi cong, mỏ và chân đều đỏ như màu son. Loài chim này sống ở các vùng nhiệt đới, bình thường ít nghe nó kêu, hoặc chỉ trên hội giảng kinh tình cờ nghe nó hót.Đây là loài chim thiêng hiếm thấy.
tam bảo ấn
(三寶印) Chỉ cho khuôn dấu có khắc 4 chữ Phật Pháp Tăng Bảo, mục đích là cầu nguyện Tam bảo gia hộ, được dùng trong các chùa viện thuộc Thiền tông ở Nhật bản. Khuôn dấu có hình vuông hoặc tròn, đôi khi cũng có hình quả ấu. Còn chữ khắc trên khuôn dấu thì có nhiều kiểu: Chữ triện, chữ lệ, chữ Phạm... [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tam bất dị
Three non-easy things—Three reasons why the text should not be changed.
tam bất hộ
The three that need no guarding, i.e. the tam nghiệp of a Buddha, his body, mouth and mind which he does not need to guard as they are above error.
; Ba thứ không cần phải bảo hộ—The three that need no guarding because they are above error. They are Buddha's body, mouth and mind.
; (三不護) Phạm:Trìịi tathàgatasyàrakwyàni. Pàli: Tìni tathàgatassàrakkheyyàni. Chỉ cho Thân bất hộ, Ngữ bất hộ và Ý bất hộ. Nghĩa là 3 nghiệp thân khẩu ý của Như lai xưa nay vốn thanh tịnh, không lỗi lầm, không cần phải giữ gìn phòng hộ. Nếu thêm Mệnh bất hộ (sự sống của Như lai vốn thanh tịnh, không cần giữ gìn) thì gọi là Tứ bất hộ. Những đặc tính này của đức Phật khác với A la hán. Ba nghiệp của A la hán tuy thanh tịnh nhưng vẫn thường phải giữ gìn phòng hộ mới có thể tránh lỗi lầm. [X. luận Tập dị môn túc Q.4; luận Du già sư địa Q.83; luận Hiển dương thánh giáo Q.4; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. (xt. Tứ Bất Hộ).
tam bất khả tận
(三不可盡) Ba thứ không thể hết: 1. Kinh pháp không thể hết: Các kinh pháp do đức Như lai nói ra tùy theo căn cơ của chúng sinh mà có khác nhau, hoặc rộng hoặc lược, tuy dùng 1 âm thanh để diễn nói nhưng trùm khắp 10 phương, cho nên nói là không thể hết. 2. Nghĩa của văn tự không thể hết: Diệu nghĩa của kinh giáo do đức Như lai nói ngang thì trùm khắp 10 phương, dọc thì suốt cả 3 đời, lớn thì không đâu không đến, nhỏ thì không sót mảy may. Những người căn cơ nhỏ hẹp, trí tuệ nông cạn không thể nào thấy được nghĩa sâu kín nhiệm mầu ấy, nên là không thể hết. 3. Sự dạy dỗ do đức Như lai tuyên nói không thể hết: Ngôn giáo do đức Như lai nói ra để dạy dỗ chúng sinh, hoặc nói Đại thừa, hoặc nói Tiểu thừa, tùy loại hiện hành, giáo hóa bằng nhiều cách, lợi ích vô lượng, cho nên nói là không thể hết. [X. kinh Đại bảo tích Q.14].
tam bất kiên pháp
Three unstable things - the body thân, length of life thọ mệnh, wealth tài sản.
; Three unstable things: 1) Thân: The body. 2) Mạng: The length of life. 3) Tài: Wealth.
; (三不堅法) Ba thứ không bền chắc, không thể giữ được mãi mãi ở thế gian. Đó là: 1. Thân không bền chắc: Thân do cha mẹ sinh ra là nhờ sự giả hợp của 4 đại đất, nước, lửa, gió mà thành, sinh diệt vô thường, không thể giữ được mãi mãi. 2. Mệnh không bền chắc: Mệnh sống con người tuy có dài ngắn không đồng nhưng đều như mộng huyễn, không thể giữ được mãi mãi. 3. Của cải không bền chắc: Của cải ở thế gian tụ tán vô thường, còn đó rồi mất đó, không thể giữ được mãi mãi. [X. kinh Bản sự Q.7].
tam bất năng
(三不能) Chỉ cho 3 việc không thể làm được. 1. Không thể thay đổi được định nghiệp: Tuy đức Phật có đầy đủ trí tuệ, đối với tất cả hiện tượng không chấp trước, nhưng đối với định nghiệp mang lại quả báo thiện ác thì Phật cũng không có cách nào thay đổi được. 2. Không thể độ người vô duyên: Tuy Phật biết rõ tính chất của mọi chúng sinh, thấu suốt hết các sự việc, nhưng cũng không thể nào hóa đạo những chúng sinh không có duyên. 3. Không thể độ hết chúng sinh trong cõi chúng sinh: Đức Phật tuy có thể độ tất cả chúng sinh trong thế gian, nhưng không thể nào độ hết chúng sinh trong cõi chúng sinh.Tam bất năng là lời của Thiền sư Nguyên khuê ở đời Đường, nhưng ngài cho rằng Tam bất năng là nói theo Ứng thân Phật của Tiểu thừa, chứ nói theo Pháp thân Phật của Đại thừa thì không có Tam bất năng. [X. luận Đại thừa khởi tín; luận Đại trí độ Q.64; luận Hộ pháp; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4].
tam bất tam tín
This refers to the state of faith in the worshipper; the three bất are impure, not single, not constant; the three tín are the opposite.
Tam bất thiện căn
三不善根; C: sān bùshàngēn; J: san fuzengon;|Ba cội nguồn bất thiện là tham (貪), sân (瞋) và si (癡). Chúng tương đương với Ba độc (tam độc 三毒; theo Du-già luận 瑜伽論)
tam bất thiện căn
Tini-akuśala-mŪlani (P), Triny-akuśala-mŪlani (S), Three Unwholesome Roots Gồm: tham, sân, si.
; Three bad roots, or qualities - desire tham, anger sân, and stupidity si. Also tam độc.
; Theo Kinh Trường Bộ, Phúng Tụng Kinh, có ba bất thiện căn—According to the Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three bad (unwholesome) roots or qualities: 1) Tham Bất Thiện Căn: The unwholesome root of Greed or Desire. 2) Sân Bất Thiện Căn: The unwholesome root of Anger or Hatred. 3) Si Bất Thiện Căn: The unwholesome root of Stupidity, or Ignorance, or Delusion.
; (三不善根) Phạm: Trìịy akuzala-mùlàni. Pàli: Tìịi akusala-mùlàni. Đối lại: Tam thiện căn. Chỉ cho 3 thứ bất thiện: Tham bất thiện, Sân bất thiện và Si bất thiện.Tham là tham đắm cảnh thuận, Sân là phẫn nộ trước cảnh nghịch, Si là vô minh, không phân biệt được sự lí. Ba phiền não này là gốc rễ sinh ra các điều ác, cho nên gọi là Bất thiện căn. Ngoài ra, Tam bất thiện căn đều tương ứng với 6 thức. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; luận Thành duy thức Q.6; luận A tì đạt ma Q.7; luận Đại tì bà sa Q.47, 112; Câu xá luận quang kí Q.16]. (xt. Tam Thiện Căn).
tam bất thiện giới
Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại bất thiện giới—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome elements. 1) Dục giới: The unwholesome element of sensuality. 2) Sân giới: The unwholesome element of enmity. 3) Hại giới: The unwholesome element of cruelty.
tam bất thiện nghiệp môn
Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), có ba cửa gây ra bất thiện nghiệp—According to the Abhidharma, there are three doors of unwholesome kamma: 1) Cửa Thân: The door of bodily action. i) Sát Sanh: Killing. ii) Trộm Cắp: Stealing. iii) Tà Dâm: Sexual misconduct. 2) Cửa Khẩu: The door of verbal action. i) Nói Dối: False speech. ii) Nói Đâm Thọc: Slandering. iii) Nói lời Thô Lỗ: Harsh speech. iv) Nói Nhảm Nhí: Frivolous talk. 3) Cửa Ý: The door of mental action. i) Tham Ái: Covetousness. ii) Sân Hận: Ill-will. iii) Tà Kiến: Wrong views.
tam bất thiện tư duy
Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại thiện tư duy—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome thought. 1) Dục tư duy: The unwholesome thought of sensuality. 2) Sân tư duy: The unwholesome of enmity. 3) Hại tư duy: The unwholesome of cruelty.
tam bất thiện tưởng
Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại bất thiện tưởng—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome perception. 1) Dục tưởng: The unwholesome perception of sensuality. 2) Sân tưởng: The unwholesome perception of enmity. 3) Hại tưởng: The unwholesome perception of cruelty.
tam bất thiện tầm
Akusala-vitakka (skt)—Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba thức suy nghĩ thiện—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome investigation. 1) Dục tầm: Kama-vitakko (skt)—The unwholesome investigation of sensuality. 2) Sân tầm: Vyapada-vitakko (skt)—The unwholesome investigation of enmity. 3) Hại tầm: Vihimsa-vitakko (skt)—The unwholesome investigation of cruelty.
tam bất thoái
The three non-backslidings, i.e. from position attained, from line of action pursued, and in dhyàna.
; (三不退) Trong quá trình tu hành Phật đạo, nhờ công đức đã giác ngộ mà vào được địa vị không trở lui, gọi là Bất thoái. Bất thoái có 3 là:1. Vị bất thoái: Địa vị đã chứng được không trở lui. 2. Hành bất thoái: Pháp tu hành không lui sụt. 3. Niệm bất thoái: Chính niệm không lui mất: Về việc phối hợp Tam bất thoái này với các giai vị tu hành của Bồ tát thì các tông nói không giống nhau. Tông Pháp tướng gọi giai vị muôn kiếp tu nhân vào Thập trụ, thành tựu Duy thức quán, không còn rơi trở lại địa vị do nghiệp ác mà phải trôi lăn trong sinh tử là Vị bất thoái; đã vào được Sơ địa, thành tựu chân Duy thức quán, đối với hạnh lợi tha không lui sụt, gọi là Hạnh bất thoái; từ Bát địa trở lên, được trí vô công dụng, niệm niệm nhập vào biển chân như, trong định, trong tán thường hằng tự tại, gọi là Niệm bất thoái. Tông Thiên thai thì chủ trương từ Sơ trụ đến Thất trụ của Biệt giáo là Vị bất thoái, trong giai đoạn này dứt trừ tất cả Kiến hoặc, Tư hoặc mà thoát hẳn sinh tử trong 3 cõi; từ Bát trụ đến hết Thập hồi hướng là Hạnh bất thoái, trong giai đoạn này phá trừ hoặc Trần sa mà không lui mất tâm lợi tha; từ Sơ địa trở lên là Niệm bất thoái, trong giai đoạn này dứt trừ hoặc Vô minh, vĩnh viễn không lui mất chính niệm Trung đạo. Nếu phối hợp với Viên giáo thì từ Sơ tín đến Thất tín là Vị bất thoái, từ Bát tín đến hết Thập tín là Hạnh bất thoái, từ Sơ trụ trở lên là Niệm bất thoái. Ngoài ra, trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 1, ngài Cát tạng có nêu ra 4 thuyết khác về Tam bất thoái sau đây: 1. Trong giai vị Thập trụ, Bồ tát từ Thật trụ trở lên không còn trở lui lại địa vị Nhị thừa, gọi là Vị bất thoái; trong Thập địa, sự tu hành của Bồ tát Thất địa không còn chuyển lui nữa, gọi là Hạnh bất thoái; Bồ tát từ Bát địa trở lên nhập vào Vô công dụng đạo, tự nhiên tiến đạo mà không động niệm, gọi là Niệm bất thoái. 2. Lục tâm của giai vị Ngoại phàm là Vị thoái, Thất tâm trở lên là Vị bất thoái, còn Hạnh bất thoái và Niệm bất thoái thì cũng giống như trước đã giải thích. 3. Tập chủng tính gọi là Vị bất thoái, Đạo chủng tính, giải và hành đều thuần thục, gọi là Hạnh bất thoái; Sơ địa trở lên được Vô sinh nhẫn, không còn sinh tâm động niệm, gọi là Niệm bất thoái. 4. Thập tín thập trụ là Tín bất thoái, Thập hành là Vị bất thoái, Thập hồi hướng là Hạnh bất thoái, Thập địa là Niệm bất thoái. Tam bất thoái nếu thêm Xứ bất thoái thì thành Tứ bất thoái. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.2; Duy ma kinh lược sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, thượng; Pháp hoa văn cú kí Q.2, trung]. (xt. Bất Thoái).
tam bất thành
(三不成) Ba thứ không thành. Chỉ cho sự quan hệ giữa Tịnh độ và Uế độ, về mặt bản chất, có 3 thứ không thành. Đó là: 1. Một chất không thành: Tịnh độ và Uế độ chẳng phải được thành lập bởi cùng 1 bản chất. 2. Khác chất không thành: Tịnh độ và Uế độ chẳng phải được thành lập bởi bản chất hoàn toàn khác nhau. 3. Không chất chẳng thành: Tịnh độ và Uế độ đều chẳng phải được thành lập từ chỗ vô bản chất. Trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 1, ngài Hoài cảm giải thích (Đại 47, 34 hạ): Tịnh độ và Uế độ là do 2 nghiệp tịnh, uế khiến cho tự tâm của chúng sinh biến hiện ra tướng tịnh, uế. Tướng tịnh, uế này là do tâm hiện ra, hễ tâm tịnh thì độ tịnh, tâm uế thì độ uế, đều do tự tâm cả. Tâm đã khác thì độ làm sao là 1 được, vì thế nói là 1 chất không thành. Lại tuy tịnh tâm và uế tâm biến hiện thành Tịnh độ và Uế độ, tâm có 2 thể, độ có 2 tướng, nhưng cùng chỗ cùng thời, không ngăn ngại nhau, không thể nói chỗ có tịnh không có uế, chỗ có uế không có tịnh. Vì cùng chỗ cùng thời biến hiện tịnh, uế nên nói là khác chất không thành. Tịnh độ và Uế độ tuy cùng hiện 1 chỗ nhưng 2 tướng khác nhau, đều do nhân duyên 2 nghiệp tịnh, uế không đồng mà biến hiện ra rừng cây, gai gốc, đất đá, gạch ngói... từ duyên sinh ra, Y tha khởi tính mới thành tướng độ, khác với tính Biến kế sở chấp tình có thể không, không hình không chất, cho nên nói không chất chẳng thành. Người chủ trương Tam bất thành này từ trước đến nay được xem là Pháp sư Đạo an, nhưng theo luận Thích tịnh độ quần nghi thì trong các sách từ An lạc tập về trước đều không thấy nói đến thuyết này, như vậy không thể đoán định Tam bất thành là của ngài Đạo an đời Tiền Tần mà có lẽ do ngài Đạo an đời Bắc Chu đề xướng. Tam bất thành thêm vào Hữu chất bất thành nữa thì là Tứ bất thành, do các ngài Trừng quán, Tông mật... chủ trương. [X. Đại thừa huyền luận Q.5; An lạc tập Q.thượng; Hoa nghiêm đại sớ sao Q.7; Tông kính lục Q.89; Thành duy thức luận học kí Q.3].
tam bất thất
The three never lost, idem tam bất hộ.
tam bất thối chuyển
The three non-backslidings—Three kinds of non-retreat: 1) Vị bất thối: Không thối chuyển từ chỗ đã đạt: From position attained—Non-retreat from position—Never receding from position attained. 2) Hạnh bất thối: Không thối chuyển từ những hành động thiện lành đang theo đuổi: From line of good action pursued—Non-retreat from practice—Never receding from a right course of action. 3) Niệm bất thối: Không thối chuyển trong thiền định: In dhyana—Non-retreat from mindfulness—Never receding from pursuing a right line of thought or mental discipline.
tam bất túc
(三不足) Ba thứ không đủ làm trở ngại việc tham thiền: Áo mặc không đủ, cơm ăn không đủ và ngủ nghỉ không đủ. Tọa thiền dụng tâm kí (Đại 82, 412 ha nói: Áo mặc không đủ, cơm ăn không đủ và ngủ nghỉ không đủ gọi là Tam bất túc, đều là nhân duyên làm cho việc tu hành lui sụt.
tam bất tịnh nhục
The three kinds of flesh unclean to a monk.
; Three kinds of unclean flesh to a monk: 1) Mắt thấy giết: When he has seen the animal killed. 2) Tai nghe giết: When he has heard the animal killed. 3) Ngờ là người giết vì mình: When he has doubted that the animal killed to offer to him.
; (三不淨肉) Ba thứ thịt không thanh tịnh. Cứ theo luật Thập tụng quyển 26 thì tỉ khưu không được ăn 3 thứ thịt sau đây: 1. Kiến sát: Thấy giết, tức thấy con vật ấy vì mình mà bị giết để đãi mình. 2. Văn sát: Nghe giết, tức nghe người đáng tin nói rằng người ta giết con vật ấy để đãi mình. 3. Nghi sát: Ngờ giết, tức ở nơi không có nhà đồ tể, cũng không có con vật tự chết, ngờ là con vật ấy bị giết để đãi mình. (xt. Tam Chủng Tịnh Nhục).
tam bệnh
Three ailments.
; (三病) Bệnh, Phạm:Vyàdhi. I. Tam Bệnh. Tùy theo tính chất, bệnh được chia làm 3 loại: Phong, hàn, khí hoặc nhiệt, phong và lãnh, là 3 thứ bệnh lớn của thế gian.Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 39 (bản Bắc) thì dùng tô đối trị bệnh nóng, dùng dầu đối trị bệnh phong và dùng mật đối trị bệnh lạnh. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12]. II. Tam Bệnh. Ba thứ bệnh: Dễ trị, khó trị, không thể trị, hoặc bệnh nặng, bệnh rất nặng, bệnh không thể trị. Ngoài ra có chỗ dùng 3 thứ bệnh khó trị ví dụ cho 3 hạng người khó giáo hóa: 1. Người phỉ báng Đại thừa: Người không tin nhận giáo pháp của Như lai, vọng sinh hủy báng kinh điển Đại thừa, như căn bệnh nặng ở thế gian, thực là khó trị. 2. Người phạm năm tội nghịch: Giết cha, giết mẹ, hại A la hán, làm cho thân Phật chảy máu và phá hòa hợp tăng, như căn bệnh rất nặng ở thế gian, cực kì khó trị. 3. Nhất xiển đề: Người bài bác luậtnhân quả, tà kiến tráo trở, không tin có báo ở hiện tại và vị lai, không chịu gần gũi bạn lành, không nghe lời chư Phật răn dạy, như chứng bệnh nặng ở thế gian, rất khó chữa khỏi. [X. luật Ngũ phần Q.5; luận Hiển dương đại giới Q.1]. III. Tam Bệnh. Chỉ cho 3 thứ bệnh: Nghiệp, quỉ, tứ đại. Bệnh nghiệp dùng thiện căn đối trị, bệnh quỉ dùng chú dược đối trị và bệnh tứ đại dùng y dược đối trị. Đức Dược sư Như lai dùng lí trí giáo hóa 3 nghiệp để diệt trừ 3 thứ bệnh này. [X. Đại tạng pháp số Q.11; Nhũ vị sao Q.8].IV. Tam Bệnh. Chỉ cho 3 thứ bệnh nói trong kinh Niết bàn quyển 39 (bản Bắc). 1. Bệnh tham: Tu bất tịnh quán để đối trị. 2. Bệnh sân: Tu từ bi quán để đối trị. 3. Bệnh si: Tu nhân duyên quán để đối trị.
tam bịnh
The three ailments: (A) 1) Tham: Lust—Craving—Greed—For which the meditation on uncleanness (Quán thân bất tịnh) is the remedy. 2) Sân: Anger—Hate—Ire—For which the meditation on kindness (từ) and pity (bi) is the remedy. 3) Si: Stupidity—Ignorance—Unwilling to learn the truth—For which the meditation on causality (Nhơn duyên) is the remedy. (B) 1) Hủy báng Đại Thừa: Slander of Mahayana. 2) Phạm tội Ngũ nghịch: Commit the five gross sins (Xem Ngũ nghịch). 3) Tu theo ngoại đạo: To practice outsider or heathen doctrine.
tam bố thí
Three kinds of dana or charity: 1) Tài Thí: Tài thí gồm có ngoại tài (tiền bạc, vật chất) và nội tài thí (mắt, tai, óc, v.v.)—Giving of goods includes outward (money, materials) and inward giving (eyes, ears, brain, etc). 2) Pháp Thí: Nói pháp giảng kinh hóa độ quần sanh—Giving of the doctrine—Giving of the dharma to preach or to speak Dharma to save sentient beings. 3 Vô Úy Thí: Abhaya—Khi thấy ai sợ sệt, hay đang trong cơn nguy hiểm, mà mình có thể an ủi vỗ về, hay đem sự vô úy không sợ hãi lại cho người, là vô úy thí—Giving of courage or fearlessness—Whenever we find someone who is frightened or encountered some difficult circumstances, we try to comfort.
tam bối
(三輩) Ba nhóm. Chỉ cho 3 hạng chúng sinh vãng sinh Tịnh độ được nói trong kinh Vô lượng thọ. Đó là: 1. Thượng bối: Chúng sinh bỏ nhà lìa dục làm sa môn, phát tâm bồ đề, một lòng niệm danh hiệu Phật Vô lượng thọ, nguyện sinh về cõi nước của đức Phật ấy. 2. Trung bối: Chúng sinh phát tâm bồ đề, 1 lòng chuyên niệm danh hiệu Phật Vô lượng thọ, vâng giữ trai giới, xây tháp tạo tượng, cúng dường sa môn, treo phan thắp đèn, rải hoa đốt hương, nguyện sinh về cõi nước của đức Phật ấy. 3. Hạ bối: Những chúng sinh phát tâm bồ đề, 1 lòng chuyên chú cho đến 10 niệm, nguyện sinh về cõi nước của đức Phật kia. Về Tam bối này và Cửu phẩm (9 bậc) nói trong kinh Quán vô lượng thọ có các giải thích khác nhau. Trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ, ngài Tuệ viễn cho rằng chúng sinh của 3 bậc Thượng phẩm (Thượng thượng, Thượng trung, Thượng hạ) hợp lại là Thượng bối, chúng sinh của 3 bậc Trung phẩm (Trung thượng, Trung trung, Trung hạ) hợp lại là Trung bối và chúng sinh của 3 bậc Hạ phẩm (Hạ thượng, Hạ trung, Hạ hạ) hợp lại là Hạ bối. Trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng thì cho rằng những chúng sinh bậc Thượng trung phẩm nói trong Quán kinh là Thượng bối, những chúng sinh của các bậc Trung thượng và Trung trung phẩm là Trung bối, còn những chúng sinh của bậc Hạ hạ phẩm là Hạ bối.Trong Du tâm an lạc đạo, ngài Nguyên hiểu cho rằng Biên địa thai sinh là 1 loại riêng chứ không nằm trong Cửu phẩm. Nhưng, trong Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán quyển hạ thì ngài Cảnh hưng lại cho rằng những chúng sinh Biên địa thai sinh nằm trong 2 phẩm Trung hạ và Hạ thượng,vì Tam bối Cửu phẩm không có tính cách rộng hẹp mà là thu nhiếp hết tất cả chúng sinh vãng sinh.Trong Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ, ngài Nguyên chiếu cho rằng Tam bối của kinh Vô lượng thọ đều nêu rõ việc phát tâm bồ đề, cho nên đều thuộc về ba phẩm Thượng của Quán kinh, còn 3 phẩm Trung và 3 phẩm Hạ thì vì nhân hạnh khác nhau nên không được xếp vào Tóm lại, về phía chủ trương Tam bối và Cửu phẩm giống nhau thì gồm có các ngài: Đàm loan, Tuệ viễn, Trí khải, Cát tạng, Pháp vị, Long hưng và Cảnh hưng; còn phía cho Tam bối và Cửu phẩm khác nhau thì có các ngài: Nghĩa tịch, Trí viên, Nguyên chiếu và Giới độ. Hiện nay, tông Tịnh độ theo thuyết của ngài Đàm loan chỉ có khai hợp là khác nhau mà thôi. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Tuệ viễn); Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng)].
tam bối sự phật
(三輩事佛) Ba hạng người phụng sự Phật. Cứ theo kinh Phân biệt thì phụng sự Phật có chân, giả khác nhau nên chia làm ba loại: . Đệ tử của ma thờ Phật: Đệ tử của ma tuy thụ giới của Phật, nhưng tâm ưa thích nghiệp tà, không tin đạo chân chính, không biết có quả báo của tội ác, giả danh thờ Phật, thường đi theo tà. 2. Trời, người thờ Phật: Trời, người giữ gìn 5 giới, làm 10 điều thiện, đến chết không phạm, dốc lòng tin nhân quả tội phúc, thường nhớ nghĩ chính pháp. 3. Đệ tử của Phật thờ Phật: Đệ tử của Phật vâng giữ 5 giới, học rộng kinh pháp, tu tập trí tuệ, biết rõ các khổ trong 3 cõi, tâm không tham đắm, muốn được giải thoát, thực hành 6 độ, không tiếc thân mệnh, không tạo nghiệp tà.
tam bồ đề
Saṃbodhi (S), Perfect enlighten-mentChánh đẳng chánh giác, Chánh giác.
; Sambodhi (S). Chính đẳng giác. Perfect universal awareness, perfectly enlightened.
; Sambodhi—The insight, wisdom and assimilation of truth essential to the higher attainment of Arhatship.
; (三菩提) I. Tam Bồ Đề. Cũng gọi Tam thừa bồ đề. 1. Thanh văn bồ đề: Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác mà không dạy người khác phát tâm bồ đề, không làm cho người khác khởi lòng tin, do nhân duyên này, tâm được giải thoát, gọi là Thanh văn bồ đề.2. Duyên giác bồ đề(cũng gọi Độc giác bồ đề, Bích chi phật bồ đề): Thiện nam tử, thiện nữ nhân, tự mình phát tâm bồ đề mà không dạy người khác phát tâm bồ đề, không làm cho người khởi tín tâm, không tự mình thụ trì nghĩa kinh Đại thừa, cũng không vì người khác giải nói rộng rãi, do nhân duyên này nên tâm chứng Bích chi bồ đề. 3. Vô thường chính đẳng bồ đề (cũng gọi Vô thượng bồ đề, A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, Chư Phật bồ đề): Thiện nam tử, thiện nữ nhân tự mình phát tâm bồ đề, cũng lại dạy người khác phát tâm bồ đề khiến người khác khởi lòng tin, dù có người đến hay không đến, đều cung kính tùy hỉ, sự tự lợi lợi tha như thế đều là vì lợi ích, an vui cho nhiều người, cho nên gọi là Vô thượng chính đẳng bồ đề. Ba thừa trên đây ví như 3 người vượt sông Hằng, người thứ nhất kết bè cỏ để qua; người thứ hai dùng đãy bằng da, hay thuyền bằng da để qua; người thứ ba làm 1 con thuyền lớn để qua, thuyền này chở được cả trăm nghìn người. Thí dụ này được thấy trong kinh Xuất sinh bồ đề tâm. [X. kinh Tạp a hàm Q.28; phẩm Tam chủng bồ đề trong kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Đại trí độ Q.53]. II. Tam Bồ Đề. Dựa vào 3 thân Phật chia làm 3 loại: 1. Ứng hóa Phật bồ đề(cũng gọi Phương tiện bồ đề, Cứu cánh bồ đề): Bồ đề này lấy hóa dụng thiện xảo tự tại làm đạo. 2. Báo Phật bồ đề(cũng gọi Thực trí bồ đề, Thanh tịnh bồ đề): Bồ đề này lấy trí tuệ xứng lí làm đạo. 3. Pháp Phật bồ đề(cũng gọi Chân tính bồ đề, Thực tướng bồ đề, Vô thượng bồ đề): Bồ đề này lấy lí thực tướng làm đạo. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 5, hạ, đem 3 bồ đề này phối hợp với Tư thành quĩ, Quán chiếu quĩ và Chân tính quĩ. Còn Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3, phần 1, thì phối hợp với giải thoát, bát nhã và pháp thân. [X. Kim quang minh huyền nghĩa Q.thượng]. (xt. Tam Thân, Bồ Đề).
tam bổn căn
Xem Tam luận tông.
tam bộ
(三部) Ba bộ. Mật giáo chia các vị tôn của Thai tạng giới làm 3 bộ: Liên hoa bộ, Kim cương bộ và Phật bộ, biểu thị cho 3 đức của Phật là Đại bi, Đại trí và Đại định. 1. Liên hoa bộ: Chúng sinh vốn có sẵn lí của tâm bồ đề thanh tịnh, lí này tuy trải qua 6 đường, 4 loài, trôi lăn trong bùn lầy sinh tử mà không nhuốm bẩn giống như hoa sen mọc lên từ bùn nhơ mà vẫn thơm ngát, nên gọi Liên hoa bộ. 2. Kim cương bộ: Trong lí của tự tâm có trí, trí này tuy trải qua vô số kiếp mà vẫn không mất không nát, có khả năng tiêu trừ phiền não, tính chất cứng chắc và công năng phá dẹp của trí này giống như kim cương, cho nên gọi là Kim cương bộ.3. Phật bộ: Lí trí trọn đủ, giác đạo viên mãn, nên gọi là Phật bộ. Bộ mẫu và bộ chủ của 3 bộ này đều khác nhau, Phật bộ lấy Kim cương Phật đính làm Bộ chủ, lấy Bạn đà la phược tự ni (tức Bạch y Quan âm) làm Bộ mẫu. Kim cương bộ lấy Kim cương thủ làm Bộ chủ, lấy Mang ma kê làm Bộ mẫu. Nếu căn cứ vào viện Trung đài bát diệp để phân biệt 3 bộ thì Tì lô giá na biểu thị tổng thể, nên được dùng làm Phật bộ; Tứ hành bồ tát biểu thị đức Đại bi, nên được dùng làm Liên hoa bộ; Tứ Phật biểu thị trí giác, nên được dùng làm Kim cương bộ. Hoặc lấy Đại nhật Như lai làm Phật bộ; Di đà làm Liên hoa bộ và Bảo chàng làm Kim cương bộ. Hoặc lấy Phật Di đà làm Liên hoa bộ, Phật Thích ca làm Kim cương bộ, Phật Bảo chàng và Khai phu hoa làm Phật bộ.Nếu phân biệt 3 bộ trong lớp thứ nhất (của Mạn đồ la) thì viện Biến tri và viện Ngũ đại thuộc Phật bộ, viện Quan âm thuộc Liên hoa bộ và viện Kim cương thủ thuộc Kim cương bộ. Nếu y cứ vào toàn thể Mạn đồ la mà phân biệt 3 bộ thì các viện: Trung đài bát diệp, Biến tri, Thích ca, Văn thù, Ngũ đại, Hư không tạng và Tô tất địa thuộc Phật bộ; các viện Quan âm, Địa tạng ở bên phải thuộc Liên hoa bộ; còn các viện Kim cương thủ, Trừ cái chướng ở bên trái và viện Ngoại kim cương bộ chung quanh thì thuộc Kim cương bộ. Nếu thêm Bảo bộ và Yết ma bộ nữa thì thành 5 bộ (của Kim cương giới). [X. kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng; Đà la ni chư bộ yếu mục; Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí; Thai tạng giới mạn đồ la sao Q.hạ]. (xt. Ngũ Bộ, Thai Tạng Giới).
tam bộ bí kinh
(三部秘經) Cũng gọi Chân ngôn tam bộ, Bí mật tam bộ, Đại nhật tam bộ. Gọi tắt: Mật giáo tam bộ kinh. Chỉ cho 3 bộ kinh: Kinh Đại nhật, kinh Kim cương đính, và kinh Tô tất địa. Ba bộ kinh này đặc biệt được Thai Mật (Mật giáo do tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản truyền thừa) xem trọng. (xt. Tam Bộ Kinh).
tam bộ giả danh sao
(三部假名鈔) Tác phẩm, 7 quyển, do ngài Hướng a Chứng hiền người Nhật soạn vào khoảng năm 1221-1323, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Nội dung sách này dùng hình thức đối thoại của các vị cao tăng ở Chân như đường... ví dụ lòng từ bi của đức Phật A di đà như cha, tâm nhớ tưởng của chúng sinh là con, Thông thường, những tác phẩm Giả danh pháp ngữ của Nhật bản là nhắm vào các độc giả không thông thạo chữ Hán, nên phần nhiều không trau chuốt câu văn, nhưng sách này thì trái lại, được viết bằng tiếng Nhật, là 1 tác phẩm có giá trị văn học rất cao, cổ xúy mạnh mẽ tư tưởng Tịnh độ.
Tam Bộ Kinh
(三部經, Sambukyō): tên gọi ba bộ kinh có cùng chung nhất với nhau về nghĩa lý, được rút ra từ trong kinh điển. Tiêu biểu nhất là ba bộ Pháp Hoa, gồm Vô Lượng Nghĩa Kinh (無量義經), Pháp Hoa Kinh (法華經) và Quán Phổ Hiền Kinh (觀普賢經). Ở Nhật ngoài ba bộ này ra còn có ba bộ Trấn Hộ Quốc Gia, được gọi là Hộ Quốc Tam Bộ Kinh (護國三部經), gồm Pháp Hoa Kinh, Nhân Vương Bát Nhã Kinh (仁王般若經), và Kim Cang Minh Kinh (金剛明經). Thêm vào đó còn có ba bộ Đại Nhật gồm Đại Nhật Kinh (大日經), Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經) và Tô Tất Địa Kinh (蘇悉地經); ba bộ Di Lặc gồm Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經), Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經), và Di Lặc Thành Phật Kinh (彌勒成佛經), v.v. Trong bộ Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集) của Pháp Nhiên, lần đầu tiên dùng đến tên gọi Tịnh Độ Tam Bộ Kinh (淨土三部經), gồm Vô Lượng Thọ Kinh (無量義經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量義經), và A Di Đà Kinh (阿彌陀經).
Tam bộ kinh
三部經; C: sānbùjīng; J: sanbukyō;|Ba bộ kinh căn bản, thay đổi tuỳ theo truyền thống: I. Pháp Hoa tam bộ kinh (法華三部經); 2. Di-lặc tam bộ kinh (彌勒三部經); 3. Tịnh độ tam bộ kinh (淨土三部經); 4. Đại Nhật tam bộ kinh (大日三部經); 5. Trấn hộ quốc gia tam bộ kinh (鎮護國家三部經).
tam bộ kinh
(三部經) Gọi tắt: Tam kinh. Ba bộ kinh. Các tông phái thường hay chọn lấy 3 bộ kinh đặc biệt trong tạng Kinh để làm chỗ y cứ cho giáo nghĩa của tôn phái mình. Phổ thông nhất thì có: 1. Tịnh độ tam bộ kinh(cũng gọi Tịnh độ tam bộ kinh điển): Gồm kinh Vô lượng thọ (2 quyển), kinh Quán Vô lượng thọ (1 quyển) và kinh A di đà (1 quyển). 2. Pháp hoa tam bộ kinh(gọi tắt: Trấn quốc tam bộ): Gồm kinh Vô lượng nghĩa (1 quyển), kinh Pháp hoa (7 quyển) và kinh Quán Phổ hiền (1 quyển). 3. Đại nhật tam bộ kinh (cũng gọi Chân ngôn tam bộ, Bí mật tam bộ): Gồm kinh Đại nhật (7 quyển), kinh Kim cương đính (3 quyển) và kinh Tô tất địa (3 quyển). 4. Di lặc tam bộ kinh: Gồm kinh Thướng sinh (1 quyển), kinh Há sinh, (1 quyển) và kinh Thành Phật (1 quyển). Ngoài ra Phật giáo Nhật bản cũng có Trấn hộ quốc gia tam bộ kinh, tức là kinh Pháp hoa (7 quyển), kinh Kim quang minh (10 quyển) và kinh Nhân vương (2 quyển).[X. Di lặc thướng sinh kinh sớ; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].
tam bộ nhứt bái
Three steps one bow.
tam bộ đại pháp
(三部大法) Chỉ cho 3 bộ pháp lớn, đó là: Kim cương giới đại pháp, Thai tạng giới đại pháp và Tô tất địa đại pháp, là thuyết đặc biệt của Thai mật Nhật bản. Đông Mật(Mật giáo do ngài Không hải của Nhật bản truyền, lấy Đông tự làm đạo tràng căn bản nên gọi là Đông Mật)y cứ vào kinh Kim cương đính và kinh Đại nhật; chỉ nói có 2 bộ đại pháp Kim cương giới và Thai tạng giới mà thôi.
tam ca diếp
Three brothers Kàsyapa, all three said to be disciples of the Buddha: Ưu lâu tần loa Ca diếp Uruvilva Kàsyapa, Già da Ca diếp Gaya Kàsyapa, Na đề Ca diếp Nadi Kàsyapa.
; (三迦葉) Ca diếp, Phạm: Kàzyapa. Hán dịch: Quang ba. Ba vị Ca diếp. Vì thân của các vị tỏa ra ánh sáng nên có tên là Ca diếp. Ở thời đức Phật Tì bà thi, 3 vị cùng nhau xây dựng chùa viện, nhờ nhân duyên ấy nên chiêu cảm quả báo làm anh em. 1. Ưu lâu tần loa ca diếp (Phạm: Uruvilvà-kàzyapa): Ưu lâu tần loa nghĩa là rừng mộc qua (cognassier, loại cây có quả dùng làm rượu), vì chỗ ngài ở gần khu rừng này nên gọi là Ưu lâu tần loa. Ngài thường ủng hộ 4 chúng, cung cấp các thứ cần dùng, không thể thiếu thốn. 2. Na đề ca diếp (Phạm: Nadì- Kàzyapa): Na đề nghĩa là sông, vì chỗ ở của ngài gần con sông nên gọi là Na đề. Tâm ý ngài vắng lặng, hàngphục các kết nghiệp, tinh tiến tu hành. 3. Già da ca diếp (Phạm: Gayà- Kàzyapa): Già da nghĩa là thành, vì nhà ngài ở cách thành Vương xá 7 do tuần về phía nam nên gọi là Già da. Ngài thường quán xét các pháp, giáo hóa chúng sinh và không chấp trước vào bất cứ điều gì. Ba anh em ngài Ca diếp vốn là ngoại đạo thờ lửa, mỗi vị theo thứ tự, có 500, 300, 200 đồ chúng, sau khi đức Phật thành đạo ít lâu, cả 3 vị được Ngài giáo hóa, qui y chính pháp. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.4; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.hạ; kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi].
Tam Ca-diếp
三迦葉; C: sān jiāyè; J: sankashō;|Ba anh em họ Ca-diếp: 1. Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (優楼頻螺迦葉; s: uruvilvā-kāśya-pa); 2. Na-đề Ca-diếp (那提迦葉; s: kāśya-pa); 3. Già-da Ca-diếp (伽耶迦葉; s: gayā-kāśyapa). Họ nguyên là Pháp sư chuyên thờ thần lửa với hơn ngàn đệ tử. Khi được đức Phật chuyển hoá, họ gia nhập tăng-già với chúng đệ tử của họ. Ba anh em này sau là những người góp phần trong việc quản lí, tổ chức tăng-già sau này.
tam chi
(三支) I. Tam Chi. Gọi đủ: Tam chi tác pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tam chi là Tông (mệnh đề), Nhân (lí do) và Dụ (thí dụ). (xt. Tam Chi Tác Pháp). II. Tam Chi. Chỉ cho 3 vị danh tăng dịch kinh người nước Nguyệt chi: Chi lâu ca sấm đời Hậu Hán, Chi lượng và Chi khiêm đời Tam quốc.
tam chi (tỷ lượng)
Three members of a syllogism: pratijnà tông the proposition, hetu nhân the reason, udàharana dụ the example. cf Nhân minh.
Tam chi tác pháp
三支作法; C: sānzhī zuòfǎ; J: sanshi sahō;|Ba thành phần của Tam đoạn luận pháp (e: syllogism) trong tân phái của Nhân minh học Phật giáo. Ba thành phần này là: Tông (宗; s: pratijñā), là tông chỉ; Nhân (因; s: hetu), nguyên nhân; và Dụ (喩; s: udāharana), thí dụ cụ thể. Các cựu phái thường sử dụng luận pháp với năm thành phần (Ngũ chi tác pháp 五支作法), nhưng kể từ thời Trần-na, năm thành phần như vậy được xem là thừa và thay vào đó, Tam chi tác pháp được sử dụng.
tam chi tác pháp
(三支作法) Cũng gọi Tam phần tác pháp. Gọi tắt: Tam chi, Tam phần. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho luận thức gồm 3 phần Tông, Nhân, Dụ, của Tân nhân minh. 1. Tông là chủ đề của cuộc tranh luận. Tông do chủ từ và tân từ kết hợp thành. Theo qui định của Nhân minh, chủ từ và tân từ phải được cả người lập luận lẫn người vấn nạn chấp nhận. Khi kết hợp chủ từ và tân từ lại để thành lập 1 luận thức thì lúc đó mới trở thành chủ đề để tranh luận. Như Âm thanh là vô thường thì chủ từ âm thanh và tân từ vô thường được liên kết lại bằng chữ là. 2. Nhân là căn cứ của luận chứng, là lí do để thành lập Tông. Nhân phải có đủ 3 điều kiện sau đây: -Biến thị tông pháp tính, nghĩa là Nhân phải hoàn toàn có quan hệ với Tông, tức Nhân lúc nào cũng phải hiện hữu trong Tông. -Đồng phẩm định hữu tính, nghĩa là Nhân phải có tính cách cùng phẩm, cùng loại với Tông. -Dị phẩm biến vô tính, nghĩa là Nhân tuyệt đối không được mang tính cách khác loại với Tông. 3. Dụ là nguyên lí chung của sự tranh luận, biểu thị chân lí được cả đôi bên lập luận và địch luận cùng thừa nhận, tương đương với Đại tiền đề của Luận lí học phương Tây. Dụ có 2 thứ là Đồng dụ và Dị dụ; Đồng dụ là ví dụ cùng phẩm loại với Tông, Dị dụ là ví dụ khác phẩm loại với Tông. Luận thức dùng Đồng dụ gọi là Hợp tác pháp, còn luận thức dùng Dị dụ thì gọi là Li tác pháp. Sau đây là luận thức Tam chi tác pháp hoàn chỉnh: Tông(chi 1): Âm thanh là vô thường. Nhân (chi 2): Vì nó có tính cách được tạo ra. Dụ (chi 3): Những gì có tính cách được tạo ra đều là vô thường, như cái bình... (Đồng dụ–Hợp tác pháp); Những gì không phải là vô thường thì đều không có tính cách được tạo ra, như hư không (Dị dụ–Li tác pháp). [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí]. (xt. Ngũ Chi Tác Pháp, Nhân Minh).
tam chiếu
The three shinings; the sun first shining on the hill-tops, then the valleys and plains. So, according to Thiên Thai teaching of the Hoa Nghiêm sùtra, the Buddha's doctrine had three periods of such shining: (a) first, he taught the Hoa Nghiêm sùtra, transforming his chief disciples into bodhisattva; (b) second, the Hìnayàna sùtras in general to sravaka and pratyeka-buddha in the Lumbini garden; (c) the phương đẳng sùtras down to the Niết bàn kinh for all the living.
; So sánh giáo pháp nhà Phật với ba ánh chiếu của mặt trời; một là ánh mặt trời trên đỉnh đồi, sau đó là ánh chiếu trong thung lũng và cuối cùng là ánh chiếu trên vùng đồng bằng. Đức Phật thuyết giảng Hoa nghiêm để chuyển hóa các đệ tử thành Bồ tát; sau đó Ngài giảng Tiểu thừa cho hàng Thanh văn Duyên giác trong vườn Lâm Tỳ Ni, và sau cùng Ngài thuyết giảng Phương Đẳng và Niết Bàn cho chúng sanh mọi loài—The Buddha's teachings compare to the three shinings of the sun; the sun first shining on the hill-tops, then the valleys and plains. The Buddha first preached Avatamsaka sutra (Kinh Hoa Nghiêm) transforming his chief disciples into bodhisattvas; second he preached Hinayana sutras to sravaskas and Pratyeka-buddhas in the Limbini garden; third he preached Vaipulya (Phương Đẳng) and Nirvana for all the living.
; (三照) Thứ tự chiếu soi của mặt trời có 3 nấc từ khi mới mọc. Cứ theo phẩm Bảo vương Như lai tính khởi trong kinh Hoa nghiêm quyển 34 (bản dịch cũ) thì ví dụ như mặt trời mọc, trước hết chiếu soi hết tất cả núi chúa(cao nhất), kế đến chiếu soi tất cả núi lớn và núi báu Kim cương, sau cùng chiếu soi tất cả đại địa. Sự giáo hóa chúng sinh của đức Phật cũng tuần tự theo các thứ lớp như sau: Trước hết, giáo hóa từ Đại bồ tát, rồi Duyên giác, Thanh văn, chúng sinh thiện căn quyết định, tất cả chúng sinh và cuối cùng cho đến chúng sinh tà định tụ. Trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1, ngài Trí khải căn cứ vào thứ tự thuyết pháp của đức Phật mà chia ra: Núi cao, thung lũng và đồng bằng, rồi đem phối với 5 thời giáo để giải thích; nghĩa là: Chiếu núi cao là thời Hoa nghiêm, chiếu các thung lũng là thời A hàm, chiếu đồng bằng thì chia làm 3 thời, theo thứ tự là: Thời Phương đẳng(ví dụ lúc 8 giờ sáng), thời Bát nhã(lúc 10 giờ) và thời Pháp hoa Niết bàn(lúc 12 giờ trưa). [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Quán âm nghĩa sớ kí Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.14]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
tam chu thuyết pháp
(三周說法) Cũng gọi Pháp hoa tam chu. Đức Phật vì muốn cho hàng đệ tử Thanh văn ngộ nhập lí Nhất thừa thực tướng, nên Ngài dựa theo căn cơ thượng, trung, hạ mà nói pháp lập đi lập lại 3 vòng, gọi là Tam chu thuyết pháp. Đó là: 1. Pháp thuyết chu(cũng gọi Sơ chu): Đức Phật vì hàng thượng căn, y cứ vào pháp thể mà trực tiếp nói thực tướng các pháp và lí Thập như, xóa bỏ Tam thừa phương tiện, khiến họ liễu ngộ Nhất thừa chân thực. Trong vòng thuyết pháp này chỉ có 1 vị là Đại trí Xá lợi phất tỏ ngộ và được thụ kí(phẩm Phương tiện). 2. Thí thuyết chu(cũng gọi Trung chu): Đối với hàng trung căn chưa tỏ ngộ ở vòng đầu (Sơ chu), đức Phật lại nói về ba xe, một xe để hóa độ họ. Trước nói 3 xe là dùng phương tiện, sau cho 1 xe lớn hiển chân thực để giúp họ tỏ ngộ lí Nhất thừa. Vòng thuyết pháp thứ 2 này có 4 vị đại đệ tử là các ngài Ma ha Ca diếp, Ma ha Ca chiên diên, Ma ha Mục kiền liên và Tu bồ đề lãnh ngộ và được thụ kí (phẩm Thí dụ). 3. Túc thế nhân duyên chu (cũng gọi Hạ chu, gọi tắt: Nhân duyên chu): Đức Phật vì hàng hạ căn không thể tỏ ngộ trong 2 vòng thuyết pháp trước mà nói đời trước họ đã gieo nhân căn cơ Nhất thừa dưới thời đức Phật Đại thông trí thắng, khiến họ thấy rõ cơ duyên lâu xa đời trước mà được tỏ ngộ. Trong vòng thuyết pháp này, có 1.200 vị Thanh văn tỏ ngộ và được thụ kí, đó là các ngài Phú lâu na, Kiều trần như...(phẩm Hóa thành dụ). Tam chu trên đây được chia làm 4 giai đoạn là: Chính thuyết(Phật nói),Lãnh giải (nói lên sự hiểu tỏ của đệ tử), Thuật thành (Phật thừa nhận sự hiểu tỏ của các đệ tử) và Thụ kí(Phật nói trước về sự thành Phật của các đệ tử). Đức Phật theo đây để hóa độ đầy đủ 3 căn thượng, trung, hạ. [X. Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.3; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.8 (Cát tạng); Pháp hoa văn cú Q.4, thượng; Pháp hoa kinh huyền tán Q.3].
tam chu thụ ký
(三周授記) Đức Phật thụ kí cho hàng Thanh văn thành Phật qua 3 vòng thuyết pháp của kinh Pháp hoa. Đó là: 1. Pháp thuyết chu: Thụ kí cho bậc thượng căn, như việc thụ kí cho ngài Xá lợi phất trong phẩm Thí dụ. 2. Thí thuyết chu: Thụ kí cho hàng trung căn, như việc thụ kí cho 4 vị đại Thanh văn: Ma ha Ca diếp, Tu bồ đề, Ca chiên diên và Mục kiền liên trong phẩm Thụ kí. 3. Nhân duyên chu: Thụ kí cho hàng hạ căn, như việc thụ kí cho ngài Phú lâu na, 1.200 vị Thanh văn, các ngài Kiều trần như, Ưu lâu tần loa ca diếp... trong phẩm Ngũ bách đệtửthụ kí, việc thụ kí cho 2.000 vị như ngài A nan.. trong phẩm Thụ học vô học, việc thụ kí cho Đề bà đạt đa trong phẩm Đề bà đạt đa và việc thụ kí cho tỉ khưu ni Ba xà, cùng 6.000 vị tỉ khưu ni Hữu học vô học trong phẩm Khuyến trì. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.4 thượng; Pháp hoa văn cú kí Q.4 trung, hạ; Pháp hoa huyền luận Q.5]. (xt. Tam Chu Thuyết Pháp, Thụ Kí).
Tam chuyển ngữ
(三轉語, Santengo): ba loại ngữ cú làm chuyển từ mê sang ngộ, tỷ như Ba Lăng Tam Chuyển Ngữ (巴陵三轉語), Triệu Châu Tam Chuyển Ngữ (趙州三轉語), v.v.
tam chuyển
Ba lần chuyển Pháp Luân khi Đức Phật giảng pháp trong vườn Lộc uyển—The three turns of the law-wheel when the Buddha preached in the Deer Park: 1) Thị chuyển: Indicative, postulation and definition of the Four Noble Truths. 2) Cần chuyển: Khuyến chuyển—Hortative, suffering should be diagnosed—See Khuyến Chuyển. 3) Chứng chuyển: Evidential overcoming suffering.
tam chuyển pháp luân
The three turns of the law-wheel when the Buddha preached in the Deer Park Lộc Uyển: (a) thị chuyển indicative, i.e. postulation and definition of the tứ đế four noble truths; (b) khuyến chuyển hortative, e.g. khổ đương tri suffering should be diagnosed; (c) chứng chuyển evidential, e.g. I have overcome suffering etc.
; (三轉法輪) I. Tam Chuyển Pháp Luân. Gọi tắt: Tam pháp luân, Tam luân. Chỉ cho 3 thứ chuyển pháp luân là Căn bản pháp luân, Chi mạt pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp. Đây là danh từ phán giáo do ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận đặt ra. 1. Căn bản pháp luân: Giáo thuyết căn bản trực tiếp tuyên bày cảnh giới giác ngộ cho các vị Đại bồ tát. Nhất thừa giáo 1 nhân 1 quả nói trong kinh Hoa nghiêm thuộc về giáo pháp căn bản này. 2. Chi mạt pháp luân: Vì những người ít phúc, căn tính chậm lụt, chưa có khả năng hiểu được Phật pháp nên phương tiện chia giáo pháp Nhất thừa làm Tam thừa mà nói các kinh. Đây là giáo pháp ngành ngọn(chi mạt) từ giáo pháp gốc rễ(căn bản) mà phân hóa ra, cho nên gọi là Chi mạt pháp luân. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân(pháp luân đưa ngọn về gốc): Đưa giáo pháp Tam thừa chi mạt qui kết về giáo pháp Nhất thừa căn bản, đây chính là giáo thuyết của kinh Pháp hoa. Lại nữa, các kinh Đại thừa như Bát nhã, Tịnh danh, nếu nói theo ý nghĩa Bất phế Tam thừa(không bỏ Tam thừa)thì có thể gọi các kinh này là Chi mạt pháp luân hoặc giáo pháp Tam thừa nhập Nhất thừa cũng có thể gọi là Chi mạt pháp luân. Nếu nói theo giáo pháp Trực nhập Nhất thừa(vào ngay Nhất thừa) thì gọi là Căn bản pháp luân.Ngoài ra, theo sự phán giáo của tông Tam luận thì Thanh văn tạng và Bồ tát tạng là chính, còn Tam chuyển pháp luân thì là phụ. [X. phẩm Tín giải kinh Pháp hoa; Pháp hoa du ý; Trung luận sớ Q.1]. II. Tam Chuyển Pháp Luân. Chỉ cho pháp luân 3 lần chuyển Tứ đế của đức Phật. 1. Thị chuyển: Chỉ ra rằng Đây là khổ, đây là tập, đây là diệt, đây là đạo. 2. Khuyến chuyển: Khuyên rằng Đây là khổ, các ông nên biết; đây là tập, các ông nên dứt; đây là diệt, các ông nên chứng; đây là đạo, các ông nên tu. 3. Chứng chuyển: Chứng rằng Đây là khổ, ta đã biết, không còn gì để biết; đây là tập, ta đã dứt, không còn gì để dứt; đây là diệt, ta đã chứng, không còn gì để chứng; đây là đạo, ta đã tu, không còn gì để tu. Mỗi 1 lần chuyển đều có 4 hành tướng là nhãn, trí, minh, giác, cho nên 3 chuyển thành là 12 hành tướng. (xt. Tam Chuyển Thập Nhị Hành Tướng).
tam chuyển pháp luân kinh
(三轉法輪經) Phạm: Dharmacakrasùtra. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Lúc mới thành đạo, đức Phật đến vườn Lộc dã tuyên giảng về lí Tứ đế cho 5 vị tỉ khưu là các ngài Kiều trần như... nghe. Vì đức Phật giảng giải 3 lần, mỗi lần có 4 hành tướng, nên gọi là Tam chuyển thập nhị hành tướng mà thành kinh này. Kinh này còn có 1 bản dịch khác là kinh Chuyển pháp luân, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Đông Hán. Kinh này được xem là bản Tuyên ngôn khai giáo của đức Phật và là nền tảng của giáo nghĩa. Phật giáo Nam truyền cũng có kinh này.
tam chuyển thập nhị hành tướng
Tri-parivarta-dvadaśakaradharma-cakra-pravartana (S).
; (三轉十二行相) Phạm:Trì-parivarta-dvàdazàkàradharma-cakra-pravartana.Cũng gọi Đương tam chuyển tứ luân thập nhị hành pháp luân, Tứ đế pháp luân tam hội thập nhị chuyển thuyết, Tam chuyển thập nhị hành pháp luân. Chỉ cho 3 lần đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế, mỗi một lần chuyển đều có 4 hành tướng, cộng chung thành 12 hành tướng. Còn Tam chuyển thì 4 đế mỗi đế đều có 3 chuyển:Thị tướng chuyển (đây là khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế), Khuyến tướng chuyển(đây là khổ đế nên biết, là tập đế nên dứt, là diệt đế nên chứng, là đạo đế nên tu) và Chứng tướng chuyển (đây là khổ đế đã biết, là tập đế đã dứt, diệt đế đã chứng, đạo đế đã tu). Ba chuyển này mỗi chuyển đều có 4 hành tướng: Nhãn (Phạm: Cakwu= mắt), Trí (Phạm: Jĩàna), Minh (Phạm: Vidyà) và Giác (Phạm: Buddhi), hoặc 3 vòng xoay quanh 4 thánh đế, cho nên gọi là Thập nhị hành tướng.Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 79 thì Nhân, Trí, Minh, Giác có 2 nghĩa: 1. Nhãn tức Pháp trí nhẫn, Trí tức các Pháp trí, Minh tức các loại Trí nhẫn và Giác tức là các loại Trí. 2. Nhãn nghĩa là quán thấy: Trí nghĩa là quyết đoán; Minh tức là chiếu rõ và Giác nghĩa là tỉnh biết. Trong mỗi đế đều có 3 chuyển 12 hành tướng, cho nên 4 đế cộng chung lại thì có 12 chuyển 48 hành tướng. Ba chuyển này theo thứ tự có thể phối với Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo, cứ như thế chuyển từng món một, mỗi chuyển đều có 4 hành tướng Nhãn, Trí, Minh, Giác, cho nên khổ đế có 3 chuyển 12 hành tướng, các đế khác cũng thế.[X. kinh Tạp a hàm Q.15; luật Tứ phần Q.32; luận Câu xá Q.24; luận Du già sư địa Q.95; Pháp hoa kinh huyền tán Q.4; Câu xá luận quang kí Q.24]. (xt. Chuyển Pháp Luân).
tam chuyển độc văn
(三轉讀文) Cũng gọi Thập như tam chuyển. Ba cách chuyển đọc văn kinh để hiển bày 3 đế Không, Giả, Trung do Đại sư Trí khải tông Thiên thai đặt ra. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa có đoạn văn Thập như thị (Đại 9, 5 hạ): Chư pháp như thị tướng, Như thị tính, Như thị thể, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên, Như thị quả, Như thị báo, Như thị bản mạt cứu cánh đẳng. Đại sư Trí khải chia đoạn văn này làm 3 cách đọc khác nhau là Không chuyển, Giả chuyển và Trung chuyển, gọi là Tam chuyển: 1. Không chuyển: Nếu đọc là Thị tướng như cho đến Thị bản mạt cứu cánh đẳng như, thì sẽ hiểu là các pháp đều không, hiển bày Không đế. 2. Giả chuyển:Nếu đọc là Như thị tướng cho đến Như thị bản mạt cứu cánh đẳng, thì sẽ hiểu là Không tức giả, hiện tượng tức sai biệt, hiển bày Giả đế. 3. Trung chuyển: Nếu đọc là Tướng như thị cho đến Bản mạt cứu cánh như thị thì sẽ hiểu là Các pháp tức thực tướng các pháp, hiển bày Trung đế. [X. Pháp hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.2, thượng].
tam chánh
(三正) Cũng gọi Tam trung. Chỉ cho 3 chính: Đối thiên chính, Tận thiên chính và Tuyệt đãi chính. Đây là sự giải thuyết về giáo nghĩa Phá tà hiển chính do tông Tam luận thành lập. 1. Đối thiên chính: Nhằm đối lại với các thiên kiến như đoạn kiến, thường kiến mà hiển bày chính lí, cũng như tùy bệnh cho thuốc. 2. Tận thiên chính: Diệt trừ các thiên kiến đoạn, thường mà hiển hiện chân lí, giống như dùng thuốc chữa bệnh. 3. Tuyệt đãi chính: Khi các thiên kiến đoạn, thường đã dứt sạch thì chính lí tương đối cũng chẳng còn, vì thế chính lí là chẳng phải thiên chẳng phải chính. Tuy không thể gọi là chính lí, nhưng vì để biểu thị tính chất tuyệt đối của nó, nên cũng gượng gọi là chính lí, cũng hệt như thuốc đến thì bệnh hết. [X. Tam luận huyền nghĩa].
Tam chánh niệm xứ
xem Ba chỗ niệm.
tam chân như
Three aspects of the bhùtatathatà, implying it is above the limitations of form, creation, or a soul: (1) (a) vô tướng chân như without form; (b) vô sinh chân như without creation; (c) vô tính chân như without anything that can be called a nature for comparison; e.g. chaos, or primal matter. (2) (a) thiện pháp chân như the bhùtatathatà as good; (b) bất thiện pháp chân như as evil; (c) vô ký pháp chân như as neutral.
; Three aspects of Bhutatathata: (A) 1) Vô tướng: Without form—Above the limitation of form. 2) Vô sinh: Without creation—Above the limit of creation. 3) Vô tánh: Without nature (soul)—Above the limit of a soul. (B) 1) Thiện pháp chân như: The bhutathatata as good. 2) Bất thiện pháp chân như: The bhutathatata as evil. 3) Vô ký pháp chân như: The bhutathatata as neither good nor evil. **For more information, please see Chân Như.
; (三真如) I. Tam Chân Như. Thể tính chân thực không thay đổi của các pháp gọi là chân như. Luận Thành duy thức y cứ vào Tam vô tính mà lập ra Tam chân như: 1. Vô tướng chân như: Thể của các pháp không có tướng hư vọng của Biến kế sở chấp. 2. Vô sinh chân như: Các pháp do nhân duyên mà sinh nên chẳng phải là thực sinh.3. Vô tính chân như: Thể chân thực của các pháp không rơi vào lời nói, dứt tuyệt lo lường, cho nên không có thực tính của vọng tình sở chấp. II. Tam Chân Như. Tam chân như do luận Tạp tập thành lập là: 1. Thiện pháp chân như: Chân như theo duyên thành thiện pháp. 2. Bất thiện pháp chân như: Chân như theo duyên thành bất thiện pháp. 3. Vô kí pháp chân như: Chân như theo duyên là vô kí pháp.
tam chướng
Triny-āvaraṇani (S), Tayokincana (P).
; The three vighna, i.e. hinderers or barriers of which three groups are given: (1) (a) phiền não chướng the passions; (b) nghiệp chướng the deeds done; (c) báo chướng the retributions. (2) (a) bì phiền não chướng; (b) nhục phiền não chướng; (c) tâm phiền não chướng skin, flesh and heart (or mind) troublers, i.e. delusions from external objects, internal views, and mental ifnorance. (3) tam trọng chướng the three weighty obstructions: (a) ngã mạn self-importance; (b) tật đố envy;(c) tham dục desire.
; Ba loại chướng ngại—Three kinds of Vighna—Three hinderers—Three barriers (A) 1) Phiền não chướng: Hoặc chướng—Hindrances of affliction—Chướng gây nên bởi dục vọng, ham muốn, hận thù và ngu si—Hinderers or barriers caused by passions, desires, hate, stupidity. 2) Nghiệp chướng: Karmic hindrances—Chướng ngại gây nên bởi những nghiệp đã được làm—Hinderers caused by the deeds done. 3) Báo chướng: Hindrances of retribution—Chướng gây nên những quả báo—Hinderers caused by the retributions. (B) 1) Bì phiền não: Chướng ngại bởi ngoại cảnh—Delusions from external objects. 2) Nhục phiền não: Chướng ngại gây nên bởi nội kiến—Delusions from internal views. 3) Tâm phiền não: Chướng ngại gây nên bởi tâm thần mê muội—Delusions from mental ignorance. (C) 1) Ngã mạn: Self-importance. 2) Tật đố: Envy. 3) Tham dục: Desire.
; (三障) Phạm:Trìịy-àvaranàni. Ba thứ chướng ngại. I. Tam Chướng. Cũng gọi Tam trọng chướng. Chỉ cho Phiền não chướng, Nghiệp chướng và Dịthục chướng ngăn ngại thánh đạo và các thiện căn gia hạnh trước đó. 1. Phiền não chướng (Phạm: Klezàvaraịa): Bản tính con người vốn đầy đủ 3 phiền não tham, sân, si, rất khó trừ bỏ, khó dạy bảo, khó mở tỏ, khó chán lìa, khó được giải thoát. Đây cũng chính là chỉ cho phiền não thường xuyên sinh khởi. 2. Nghiệp chướng (Phạm: Karmàvaraịa: Tức chỉ cho nghiệp 5 vô gián, là những nghiệp ác do thân, miệng, ý tạo tác ra. 3. Dị thục chướng (Phạm: Vipakàvaraịa,cũng gọi Báo chướng, Quả báo chướng): Những quả báo 3 đường ác do nhân phiền não và nghiệp đưa đến. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.11 (bản Bắc); kinh Phật danh Q.1; luận Phát trí Q.11; luận Thành thực Q.8; luận Câu xá Q.17; luận Đại trí độ Q.5; luận Đại tì bà sa Q.115]. II. Tam Chướng. Cứ theo kinh Đại thừa du già đại giáo vương Q.5 thì vì 3 thứ chướng làm trở ngại nên không được gặp pháp Tam ma địa của Du già bí mật. Ba thứ chướng là: 1. Ngã mạn trọng chướng: Người bị cái chướng cao ngạo nặng nề, kiến chấp tà ác che lấp, đến nỗi không thể hạ tâm kính thờ chư Phật, Bồ tát, sư trưởng, phụ mẫu, không thể tu học chính pháp của Như lai. 2. Tật đố trọng chướng: Người bị cái chướng tật đố nặng nề thường hay ganh ghét bậc hiền đức, người tài năng, tự cho mình là hay, người khác là dở, thấy người tu thiện thì mang lòng đố kị, không thể tu học chính pháp của Như lai. 3. Tham dục trọng chướng: Người bịcái chướng nặng nề nhiều tham muốn, trây lười, ngủ nghỉ, tối tăm, động loạn, phá giới, không thể tu học chính pháp của Như lai.Ba hạng người trên đây, không biết gì về nhân quả, không kính sư trưởng, cũng chẳng trọng người hiền lương, không hộ trì đạo nghiệp, gây nhiều nghiệp ác, vì thếkhông được gặp chính pháp Tam mật. III. Tam Chướng. Chỉ cho 3 thứ chướng ngại ngăn trở thiền định. Đó là: 1. Hôn trầm ám tế chướng: Người thường ngủ gục li bì, tâm trí mờ tối khiến không phân biệt được điều gì, ngăn trở các thiền định, đến nỗi không khai phát được. 2. Ác niệm tư duy chướng: Tuy không mờ tối nhưng niệm ác chợt sinh, khiến phá các giới cấm, đến nỗi làm những việc bất thiện. 3. Cảnh giới bức bách chướng: Tuy tâm không mờ tối, không nghĩ đến các việc ác, nhưng thân lại đau nhức, hoặc bị đất vùi lửa đốt, ngã từ sườn núi, mãnh hổ rượt đuổi, ma phiền não nổi lên, các tướng ác như thế hiện ra, bức não người tu hành, khiến tâm sinh sợ hãi, đến nỗi chướng ngại các thiền định, không khai phát được. Ba thứ chướng nêu trên đều trở ngại việc tu tập thiền định. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.4; Thiên thai tứ giáo nghi tập giải tiêu chỉ sao Q.hạ, phần 4; Đại tạng pháp số Q.9]. IV. Tam Chướng. Cũng gọi Tam thô trọng, Tam phiền não.Chỉ cho 3 thứ phiền não chướng là Tu hoặc, Kiến hoặc và Vô minh, theo thứ tự được ví dụ với da, thịt và tim, hoặc da dày da mỏng và xương. 1. Bì phiền não chướng: Chỉ cho Tu hoặc. Tu hoặc nổi lên khi 5 căn tiếp xúc với 5 trần bên ngoài, như da(bì) ở ngoài, nên dùng da làm ví dụ. 2. Nhục phiền não chướng: Chỉ cho Kiến hoặc. Kiến hoặc do mê lầm về lí luận, quan điểm mà sinh khởi, thuộc về chấp trước phân biệt trong tâm, như thịt ở phía trong da, nên dùng nhục (thịt) làm ví dụ. 3. Tâm phiền não chướng: Chỉ cho Vô minh. Vô minh là nguồn gốc của tất cả sự mê vọng, do mê chân theo vọng mà sinh ra, cho nên dùng tâm (tim) làm ví dụ.Đại thừa nghĩa chương quyển 5, phần đầu, lại lập Vô minh làm 3 chướng Bì, Phu, Cốt(da dày, da mỏng, xương). Nghĩa là Vô minh phẩm thô to là Bì chướng, Vô minh phẩm thô vừa là Phu chướng và Vô minh phẩm nhỏ nhiệm là Cốt chướng. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.15 (bản dịch đời Lương); Hoa nghiêm khổng mục chương Q.3]. (xt. Tam Thô Trọng, Tam Hoặc).
tam chấp thủ
Three attachments—Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, để chứng ngộ Nhất Thiết Không, người ta phải lìa bỏ ba sự chấp thủ—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, to realize Total-Voidness, one must do away with the three attachments. 1) Chấp thủ vào giả Danh Tâm—Attachment to the temporary name: Vạn hữu và vạn vật, vì hiện hữu như là sự kết hợp của những nhân quả được liệt vào giả danh bởi vì không có cách nào để chỉ định hiện hữu biến chuyển của nó ngoại trừ bằng tên gọi. Ta phải nhận ra rằng thật vô dụng khi bám chặt vào một tự ngã mà thực sự nó chỉ là một tên gọi. Trước hết chúng ta phải từ bỏ sự chấp thủ vào giả danh của mình—All beings and things, since they exist as the combination of causations, are given temporary names, beause there is no way to designate changing existence except by name. One must realize that it is useless to be attached to a self which is in truth only an appellation. One must first get rid of this attachment to one's temporary name. 2) Chấp thủ vào Pháp Tâm—Attachment to all elements: Các pháp là nền tảng mà tên giả danh khởi lên. Từ bỏ sự chấp thủ vào các pháp là chúng ta phải chứng nhập không tánh như trên—The elements are the basis on which the temporary name arises. To be rid of the attachment to the elements is to realize their voidness. 3) Chấp thủ vào Không Tâm—Attachment to the Void itself: Khi chúng ta chứng ngộ không tánh của Ngã và Pháp, chúng ta tưởng chừng đã có thể đạt được Nhất Thiết Không; kỳ thật, chúng ta vẫn còn có ý thức về Không chẳng khác gì như có một sự thể nào đó đang hiện hữu. Không tâm nầy có thể xóa bỏ khi người ta đi vào Diệt Tận Định (Nirodha-samapatti) hay vào Niết Bàn viên mãn. Diệt tận Định, như ở nơi vị A La Hán, là một trạng thái trong đó tất cả những tham dục đều bị xả ly; và Niết Bàn viên mãn, như ở trường hợp của Đức Phật, là trạng thái trong đó tất cả những điều kiện của sự sống, tâm và vật, đều bị diệt tận bằng sự giác ngộ, giống như bóng tối bị tiêu diệt bởi ánh sáng; bởi vì Đức Phật đã đạt đến trạng thái Niết Bàn viên mãn, nơi đây không còn những phẩm tánh phân biệt, và siêu viêu việt cả “Tứ Cú.”—When as above, we have realized the voidness of both the individual self and of the elements, we may sem to have attained Total Voidness, but the truth there still remains the consciousness of the Void, and we are liable to be attached to the idea of the Void as much as if it were something existent. This void-consciousness can be removed when one enters into the Meditation of Extinction (nirodha-samapatti or into Perfect Nirvana. The former is, as in an Arhat, a state in which all passions we have been done away with, and the later is as in the case of the Buddha, the state in which all conditions of life, matter and mind, have been extinguished by virtue of Enlightenment as darkness is extinguished by light, because the Buddha had attained the state of Perfect Nirvana which is in itself devoid of any extinguishing qualities and he had transcended the “four arhument.
tam chỉ
(三止) I. Tam Chỉ. Ba chỉ hành do tông Thiên thai lập ra để đối lại với Tam quán Không, Giả, Trung. Đó là: 1. Thể chân chỉ: Đối lại với Không quán. Thể đạt cái hư vọng điên đảo của vô minh chính là chân như của thực tướng, gọi là Thể chân chỉ. Vì người đã thấu suốt được các pháp do nhân duyên hòa hợp là không vô tự tính, nên có thể ngăn dứt hết thảy phan duyên vọng tưởng mà chứng lí không, không chính là chân, vì thế gọi là Thể chân chỉ. Nếu đạt được cảnh giới này thì phát định, mở mắt tuệ, thấy được Đệ nhất nghĩa, thành tựu tam muội Chân đế. 2. Phương tiện tùy duyên chỉ(cũng gọi Phương tiện chỉ, Hệ duyên thủ cảnh chỉ): Đối lại với Giả quán. Bồ tát tùy duyên từng trải các cảnh, tâm an trụ nơi tục đế mà bất động, gọi là Phương tiện tùy duyên chỉ. Bởi vì Bồ tát biết rõ không chẳng phải thật không nên dùng các phương tiện khéo léo, tùy duyên phân biệt thuốc và bệnh để giáo hóa chúng sinh, đồng thời, tâm ở trong tục đế mà không bị ngoại cảnh làm cho lay động. Nhờ đó mà mở mắt tuệ, thành tựu tam muội Tục đế. 3. Tức nhị biên phân biệt chỉ(cũng gọi Chế tâm chỉ): Đối lại với Trung quán. Chỉ cho tướng không phân biệt 2 bên: Sinh tử và Niết bàn, Hữu và Vô... Bởi vì, như đã trình bày ở trên, Thể chân chỉ thiên về Chân, Phương tiện tùy duyên chỉ thì thiên về Tục, đều không phù hợp với lí Trung đạo. Đã biết Chân chẳng phải chân thì là bên Không tịch tĩnh; biết Tục chẳng phải tục thì là bên Hữu tịch tĩnh, cũng tức là dứt 2 bên Chân, Tục mà trụ chỉ ở Trung đế. Nếu đạt được cảnh giới này thì phát định Trung đạo, khơi mở mắt Phật, thành tựu tam muội Trung đạo.[X. chương Tiểu chỉ quán chứng quả; Ma ha chỉ quán Q.3, thượng]. II. Tam Chỉ. Tức Phật tam chỉ, Xá lợi phất tam thỉnh nói trong phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa. (xt. Tam Chỉ Tam Thỉnh).
tam chỉ tam thỉnh
(三止三請) Ba lần ngăn lại, ba lần thỉnh cầu. Đây là điển tích đức Phật tuyên giảng kinh Pháp hoa. Theo phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa, lúc đầu, đức Phật định nói kinh Pháp hoa, nhưng Ngài tự nghĩ thực tướng các pháp rất sâu xa mầu nhiệm thính chúng khó lãnh hội được, nên Ngài thôi, không muốn nói nữa. Sau, tôn giả Xá lợi phất thay mặt đại chúng, thỉnh cầu đức Phật giảng nói nhưng Phật ngăn lại. Cứ như thế, bên thỉnh, bên ngăn đến 3 lần, đức Phật mới chấp nhận lời thỉnh cầu lần thứ 3 của Tôn giả Xá lợi phất mà nói rộng về Diệu pháp, nên gọi là Tam chỉ tam thỉnh.
tam chủng
Three kinds, sorts, classes, categories, etc.
; Three kinds, sorts, classes or categories.
tam chủng ba la mật
The three kinds of pàramità ideals, or methods of perfection: (a) Thế gian ba la mật that of people in general relating to this world; (b) xuất thế gian ba la mật that of sràvakas and pratyeka buddhas; (c) xuất thế gian thượng thượng ba la mật the supreme one of bodhisattvas, relating to the future life of all.
; Ba loại Ba La Mật—Three kinds of Paramitas. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật đưa ra ba loại Ba La Mật—In the Lankavatara Sutra, the Buddha gave three kinds of Paramitas: 1) Xuất thế gian thượng thượng Ba La Mật—Paramitas of the supreme ones of Bodhisattvas, relating to the future life for all: Các loại Ba La Mật siêu thế gian trong ý nghĩa cao nhất được thực hành bởi một vị Bồ Tát hiểu rằng thế giới được quan niệm một cách nhị biên do bởi cái tâm phân biệt và vị ấy thoát khỏi những tưởng tượng sai lầm và những ràng buộc hư vọng như tâm, hình tưởng, đặc tính, vân vân. Vị ấy thực hành đức hạnh bố thí chỉ nhằm làm lợi cho tất cả chúng sanh hữu tình và đưa họ đến trạng thái tâm linh hạnh phúc. Vị ấy thực hành trì giới mà không ra bất cứ điều kiện hay sự ràng buộc nào, ấy là trì giới Ba La Mật của một vị Bồ Tát. Vị ấy biết được sự khác biệt giữa chủ thể và đối tượng, nhưng vẫn yên lặng chấp nhận mà không khởi lên bất cứ ý nghĩ nào về sự gắn bó hay tách rời nào, đó chính là nhẫn nhục Ba La Mật của một vị Bồ Tát. Vị ấy tu tập một cách mạnh mẽ suốt ngày suốt đêm, hòa mình theo mọi đòi hỏi của kỹ luật mà không khởi lên cái tâm phân biệt nào, đó chính là tinh tấn Ba La Mật. Vị ấy không chấp vào kiến giải về Niết Bàn của các triết gia và thoát khỏi mọi sự phân biệt, đó chính là Thiền định Ba La Mật. Còn về Bát Nhã Ba La Mật, vị ấy không sanh tâm phân biệt bên trong mình, không nhìn thế giới bằng bất cứ loại hiểu biết hay phân tách nào, không rơi vào nhị biên mà gây nên sự chuyển biến từ căn bản của tâm thức. Đó là không đoạn diệt sự vận hành của nghiệp trong quá khứ, mà cố gắng tu tập để tạo ra một trạng thái tự chứng—The Paramita that are super-worldly in the highest sense are practiced by a Bodhisattva who understands that the world is dualistically conceived, because of the discriminating mind, and who is detached from erroneous imaginations and wrong attachments of all kinds, such as mind, form, characters, etc. He would practice the virtue of charity solely to benefit sentient beings and to lead them a a blissful state of mind. To practice morality without forming any attachment to condition in which he binds himself, this is his sila-paramita. Knowing the distinction between subject and object, and yet quietly to accept it without waking any sense of attachment or detachment, this is the Bodhisattva's Kshanti-paramita. To exercise himself most intently throughout the day and night, to conform himself to all the requirements of discipline, and not to evoke a discriminating mind, this is his Vyria-paramita. Not to cling to the philosopher's view of Nirvana and to be free from discrimination, this is his Dhyana-paramita. As to Prajna-paramita, it is not to evoke a discriminating mind within oneself, nor to review the world with any kind of analytical understanding, not to fall into dualism, but to cause a turning at the basis of consciousness. It is not to destroy the working of a past karma, but to exert oneself in the exercise of bringing about a state of self-realization, this is Prajna-paramita. 2) Xuất thế gian Ba La Mật—Paramitas for Sravakas and Pratyeka-buddhas relating to the future life for themselves: Loại Ba La Mật siêu thế gian được chư Thanh Văn và Duyên Giác thực hành. Chư vị nầy chấp vào ý niệm về Niết Bàn và quyết đạt cho được Niết Bàn bằng mọi giá. Họ cũng giống như người thế gian bị ràng buộc vào sự hưởng thụ quy ngã—The super-worldly kind of paramitas is practiced by Sravakas and Pratyekabuddhas who, clinging to the idea of Nirvana, are determined to attain it at all costs; they are like the worldly people who are attached to the enjoyment of egotism. 3) Thế gian Ba La Mật—Paramitas for people in general relating to this world: Loại thế gian Ba La Mật được thực hành bởi những người thế gian tầm thường, thường chấp vào ý niệm về “ngã” và “ngã sở;” họ không thể vùng thoát khỏi những ràng buộc nhị biên như hữu và phi hữu, và tất cả những đức hạnh mà họ thực hành đều được đặt căn bản trên ý niệm đạt một cái gì đó có tính cách vật chất như là một sự đền đáp lại. Họ có thể đạt được một số khả năng tâm linh nào đó và sau khi chết được sanh vào cõi Trời của Phạm Thiên—The worldly kind of paramitas is practiced by worldly people who cling to the idea of an ego and what belongs to it; they are unable to shake themselves off the fetters of dualism such as being and non-being, and all the virtues they would practice are based on the idea of gaining something material as a reward. They may gain certain psychic powers and after death be born in the heaven of Brahma.
tam chủng biến dịch sanh tử
(三種變易生死) Ba nghĩa của sinh tử biến dịch: 1. Sự sinh diệt nhỏ nhiệm gọi là Biến dịch tử, vì vô thường đổi khác trong từng niệm, niệm trước đổi, niệm sau dời nên gọi là Biến dịch. Lại nữa, biến dịch là chết nên gọi là Biến dịch tử. Biến dịch tử này chung cho cả phàm và thánh. 2. Thân pháp tính chứng được do duyên theo vô lậu gọi là Biến dịch tử, vì thân này có thần thông biến hóa vô ngại, thường chuyển biến thường dời đổi, nên gọi là Biên dịch. Nghĩa này chung cho cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. 3. Chỉ cho Pháp thân thực chứng, thân này ẩn hiển tự tại, thường chuyển biến, thường đổi dời nên gọi là Biến dịch. Sự biến dịch này chẳng phải là chết, nhưng Pháp thân này chưa ra khỏi sinh diệt, vẫn còn là pháp sinh tử vô thường, tùy theo chỗ biến đổi trên thân mà có sinh tử, cũng gọi là Biến dịch tử. Nghĩa này chỉ có trong Đại thừa. [X. Thắng man kinh bảo quật Q.trung, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.8; Tam luận đại nghĩa sao Q.4]. (xt. Biến Dịch Sinh Tử).
tam chủng bất kiên dịch tam kiên pháp
(三種不堅易三堅法) Ba thứ bất kiên(không bền chắc)đổi thành 3 pháp kiên (3 pháp kiên cố). Kinh Bản sự quyển 7 đem 3 thứ bất kiên là tài, thân và mệnh chuyển thành 3 pháp kiên. Đó là: 1. Bất kiên tài đổi thành kiên tài: Tất cả của cải ở thế gian không có tính chất bền chắc, còn đó mất đó, không giữ được lâu. Nếu bố thí của cải ấy cho người nghèo khó, và người phạm hạnh thanh tịnh để cầu Niết bàn an lạc vô thượng, hoặc cầu quả vui trời, người trong đương lai, thì đó chính là Kiên tài(của cải kiên cố).2. Bất kiên thân đổi thành kiên thân: Thân cha mẹ sinh ra là do 4 đại giả hòa hợp, mong manh không thực, chẳng có tính bền chắc, sống chết bất kì, không giữ được lâu. Nếu giữ gìn 5 giới, thanh tịnh không nhơ nhuốm, tu tập đạo vô thượng bồ đề để chứng thân kim cương bất hoại, thì đó là Kiên thân (thân bền chắc). 3. Bất kiên mệnh đổi thành kiên mệnh: Mệnh sống của con người tuy có thọ yểu khác nhau nhưng đều là mộng huyễn, thể tính không bền chắc, giây phút vô thường, khó giữ lâu được. Nếu biết rõ 4 đế, tu tập chính pháp, siêu việt sinh tử để tuệ mệnh thường trụ, thì đó chính là Kiên mệnh (mệnh sống kiên cố).
tam chủng bệnh tướng
(三種病相) Ba thứ tướng bệnh nói trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4. 1. Tướng bệnh do 4 đại thêm lên: a) Vì địa đại tăng lên nên sinh ra các bệnh sưng tấy trầm trọng, thân khô đét. b) Vì thủy đại tăng lên nên sinh ra bệnh phù thũng, ăn uống không tiêu. c) Vì hỏa đại tăng lên nên sinh ra bệnh nhiệt, các khớp xương đau nhức. d) Vì phong đại tăng lên nên sinh ra các chứng chóng mặt, nôn mửa, thở gấp... 2. Tướng bệnh do 5 tạng sinh: a) Nếu bệnh sinh từ tim thì thân nóng lạnh, trong miệng khô ráo. b) Nếu bệnh sinh từ phổi thì thân thể phù thũng, chân tay đau nhức, mũi bị nghẹt. c) Nếu bệnh sinh từ gan thì lo sầu nóng nảy, nhức đầu mỏi mắt. d) Nếu bệnh sinh từ lá lách thì khắp mình phong giật, ngứa ngáy khó chịu, ăn uống mất ngon. e) Nếu bệnh sinh từ thận thì cổ họng bị nghẹn, bụng trướng tai ù. 3. Tướng bệnh trong 5 căn: a) Mắt hoặc đỏ hoặc đau, màng mắt che mờ, thấy hoa giữa hư không, đó là bệnh mắt.b) Tai hoặc đau hoặc điếc, hoặc tự nhiên ù tai, nghe tiếng rầm rì, đó là bệnh tai.c) Mũi bị nghẹt và chảy mủ, đó là bệnh mũi.d) Lưỡi hoặc nổi nhọt, hoặc tê cứng, ăn uống không thấy ngon, đó là bệnh lưỡi.e) Tứ chi đau nhức, toàn thân ê ẩm, đó là bệnh thân.
tam chủng bố thí
Ba loại bố thí—Three kinds of dana or charity—See Tam Bố Thí.
tam chủng bồ đề
Three kinds of bodhi. (A) 1) Thanh Văn Bồ Đề: Bồ Đề mà hàng Thanh Văn đạt được—The enlightenment of sravakas. 2) Duyên Giác Bồ Đề: Bồ Đề mà hàng Duyên Giác đạt được—The enlightenment of Pratyeka-buddhas. 3) Phật Bồ Đề: Bồ Đề mà Phật đạt được—The enlightenment of Buddhas. (B) 1) Hành nguyện Bồ Đề Tâm: To start out for bodhi-mind to act out one's vows to save all living beings—See Hành Nguyện Bồ Đề Tâm. 2) Thắng Nghĩa Bồ Đề Tâm: Bodhi-mind which is beyond description, and which surpasses mere earthly ideas—See Thắng Nghĩa Bồ Đề Tâm. 3) Tam Ma Địa Bồ Đề Tâm: Samadhi-bodhi mind—See Tam Ma Địa Bồ Đề Tâm.
tam chủng bồ đề tâm
(三種菩提心) Cũng gọi Tam Bồ đề tâm. I. Tam Chủng Bồ Đề Tâm. Theo luận Bồ đề tâm thì hành tướng của tâm bồ đề có 3 thứ khác nhau là Hạnh nguyện, Thắng nghĩa và Tam ma địa, gọi là Tam chủng bồ đề tâm. 1. Hạnh nguyện bồ đề tâm: Tức tâm Đại bi. Hạnh chỉ cho tất cả muôn hạnh thuộc Tứ hoằng, Lục độ; Nguyện chỉ cho Nguyện ba la mật. Ngoại đạo và Nhị thừa không khởi tâm này, chỉ có hàng Bồ tát đại sĩ mới phát được. Tức Bồ tát làm lợi ích cho cõi hữu tình không sót, nguyện cho họ được yên vui, quán tưởng hàm thức trong 10 phương cũng như thân mình, lại cứu giúp bằng môn Đại bi, tùy nguyện của chúng sinh mà chu cấp cho họ, ngay cả thân mệnh cũng không tiếc. 2. Thắng nghĩa bồ đề tâm (cũng gọi Thân bát nhã tâm): Bồ tát rõ biết tất cả pháp không có tự tính, cũng tức quán Phật tính thắng nghĩa không, để cầu tâm bồ đề. Nói theo Thập trụ tâm thì trước hết chán bỏ vọng tâm dị sinh đê dương của thế gian, kế đến xả bỏ tâm Nhị thừa duy uẩn vô ngã, lại xả bỏ các pháp môn tiệm tu, cứ như thế y theo lời dạy của Như lai, trước hết dùng trí tuệ tối thượng đối chiếu với 10 tâm hơn kém mà quán không 9 thứ tín tâm; kế đến, dùng diệu tuệ bát nhã sâu xa, quán không tất cả vọng tưởng của chúng sinh, thuyết pháp của chư Phật, trực tiếp quán các pháp duyên sinh không có tự tính mà không hóa 9 thứ trụ tâm. Vượt qua các trụ tâm này mà phát tâm bồ đề, thực hành hạnh bồ đề, đó chính là Thắng nghĩa bồ đề tâm.3. Tam ma địa bồ đề tâm: Tức Ngũ bộ bí quán tương ứng với Tam mật. Tất cả chúng sinh tuy vốn có đủ 4 thứ Pháp thân của đức Phật Đại tì lô giá na và 4 thứ Mạn đồ la, nhưng vì 5 chướng, 3 độc... che lấp nên không giác ngộ được; nếu quán nhật nguyệt luân trong tâm, tụng từng chữ từng tiếng Chân ngôn, phát huy gia trì tam mật và sự diệu dụng của 4 trí thì ánh sáng của đức Đại nhật sẽ chiếu soi khắp pháp giới, các vị tôn của Ngũ bộ, Tam bộ đều hiển hiện, trụ trong Tam muội này thì tất cả đức dụng bất khả tư nghị đều đầy đủ trong thân tâm, biết ngay nơi thân này là thể của Đại nhật, đó là Tam ma địa bồ đề tâm. [X. Bồ đề tâm luận khám văn Q.thượng; Giáo thời vấn đáp Q.3, 4; Đại nhật kinh sớ trụ tâm sao Q.6]. (xt. Bồ Đề Tâm). II. Tam Chủng Bồ Đề Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm bồ đề được nêutrong luận Đại thừa khởi tín, đó là: 1. Trực tâm: Tâm thường ngay thẳng, không nịnh hót quanh co, thực hành chính pháp, đó chính là tâm bồ đề. 2. Thâm tâm: Đối với chính pháp, sinh tâm tin sâu và thích tu tất cả thiện hạnh. 3. Đại bi tâm: Thương xót tất cả chúng sinh chịu khổ, thường nghĩ đến việc cứu giúp khiến họ được yên vui.
tam chủng chí giáo
(三種至教) Chỉ cho 3 thứ giáo rất lớn nói trong luận Hiển dương thánh giáo quyển 11: 1. Thánh ngôn sở nhiếp: Đối với chính pháp, thánh chế do đức Như lai và các đệ tử của ngài nói ra, người tu hành nên tuân thủ, tin hiểu, tu tập, không được trái vượt. 2. Đối trị tạp nhiễm: Người tu hành làm điều thiện, bỏ các ác phải có pháp đối trị, như tâm tán loạn thì đối trị bằng thiền định, tâm tham nhiễm thì đối trị bằng bất tịnh quán, như thế thì dứt vọng về chân, được vào chính đạo. 3. Bất vi pháp tướng: Người tu hành phải tuân thủ pháp tướng của chính giáo do đức Như lai nói ra, tư duy và tu hành đúng như lí, 1 lòng tinh tiến, không dám trái vượt.
tam chủng chấp thủ
See Tam Chấp Thủ.
tam chủng chỉ quán
Three Thiên Thai modes of entering dhyàna: (a) Tiệm thứ gradual, from the shallow to the deep, the simple to the complex; (b) bất định irregular, simple and complex mixed; (c) viên đốn immediate and whole.
; Ba loại chỉ quán—Three modes of entering dhyana (three methods of attaining abstraction): 1) Tiệm Thứ Chỉ Quán: Trước cạn sau sâu, trước đơn giản sau phức tạp, chẳng hạn như trụ tâm tại đỉnh mũi hay rốn, vân vân—Gradual, from the shallow to the deep, from the simple to the complex, such as fixing the mind on the nose, or navel, etc. 2) Bất Định Chỉ Quán: Đơn giản và phức tạp dung hòa lẫn nhau, chẳng hạn như ngừng sự suy nghĩ khi nó vừa khởi lên—Irregular, simple and complex mixed, such as stopping every thought as it arises. 3) Viên Đốn Chỉ Quán: Tức thì và toàn diện, nghĩa là trước và sau không khác, trụ tư tưởng vào chỗ không có gì tự hiện hữu, mà hiện hữu do nhân từ trước—Immediate and whole, such as dwelling on the thought that nothing exists of itself, but from a preceding cause.
; (三種止觀) Gọi tắt: Tam chỉ quán. Chỉ cho Tiệm thứ chỉ quán, Bất định chỉ quán và Viên đốn chỉ quán do tông Thiên thai thành lập. Đó là: 1. Tiệm thứ chỉ quán(gọi tắt: Tiệm thứ quán): Pháp quán trước cạn sau sâu dần, giống như bước lên thang lầu từ thấp đến cao. Đầu tiên là giữ giới, đạt được 3 đường thiện; kế đến là tu thiền định, dứt dục phá lưới Dục giới, đạt được Sắc định và Vô sắc định; kế nữa là tu vô lậu, ra khỏi ngục 3 cõi, đạt được đạo Niết bàn; lại tu từ bi, ngăn dứt việc tự chứng, đạt được đạo Bồ tát; sau đó, dần dần quán thực tướng, ngăn dứt thiên chấp 2 bên, đạt được đạo thường trụ. Đây chính là tướng của Tiệm thứ chỉ quán, các pháp môn này có năng lực khiến cho hành giả thấy được tính Phật, trụ Đại niết bàn. 2. Bất định chỉ quán: Pháp quán chẳng phải trước quán thực tướng, cũng chẳng phải theo thứ tự từ cạn đến sâu, mà là trước sau thay đổi nhau. Như đặt viên kim cương dưới ánh mặt trời thì hiện ra nhiều màu sắc bất định. Đây là giai vị không phân biệt, tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thực hành pháp trước cạn sau sâu, hoặc trước sâu sau cạn, hoặc cạn sâu, sự lí, tiệm đốn bất định... để thành tựu pháp quán thực tướng. Tức chỉ cho thế giới là Đệ nhất nghĩa, hoặc chỉ cho Đệ nhất nghĩa là vị nhân đối trị; hoặc dứt Quán là Chỉ, hoặc chiếu Chỉ là Quán, cho nên gọi là Bất định chỉ quán. Đây là nhờ đã trồng căn lành từ nơi các đức Phật quá khứ, nên nay tu chứng Thập nhị môn, hoát nhiên khai ngộ mà được Vô sinh nhẫn. 3. Viên đốn chỉ quán: Vừa mới phát tâm liền quán thực tướng. Quán trong pháp giới nhất sắc nhất hương đều là Trung đạo, cõi mình, cõi Phật và cõi chúng sinh cũng thế, cho nên vô minh trần lao chính là bồ đề, không có Tập đế để đoạn; biên, tà đều là Trung, chẳng có Đạo đế để tu; sinh tử tức niết bàn, không có Diệt đế để chứng. Giống như người có thần thông bay lên hư không, mới duyên theo thực tướng mà hành, giải đều viên đốn. Đây là dùng pháp tính tịch nhiên mà tu 4 thứ Tam muội, thực hành 8 chính đạo, tuy có trước sau nhưng thực không hai không khác, cho nên ở nơi đạo tràng mà mở ra tri kiến Phật, được Vô sinh nhẫn.[X. Ma ha chỉ quán Q.1, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10, thượng]. (xt. Bất Định Chỉ Quán, Chỉ Quán, Viên Đốn Chỉ quán, Tiệm Thứ Chỉ Quán).
tam chủng chứng tướng
(三種證相) Ba loại tướng chứng thấy. Cứ theo Pháp hoa sám nghi thì hành giả thuộc 3 căn thượng, trung, hạ tu tập tam muội Pháp hoa, trong 21 ngày, nhất tâm tinh tiến, nhưng vì căn tính khác nhau nên tướng chứng thấy không giống nhau, được biểu hiện qua 3 tướng như sau:1. Hạ căn chứng tướng: Chỉ cho người tu hành thuộc hạ căn, trong 21 ngày, đạt được giới căn thanh tịnh, được chia làm 3 phẩm: a) Tướng hạ phẩm giới căn thanh tịnh dần dần: Trong 21 ngày, hoặc đạt được mộng lành linh dị, hoặc có cảm giác các căn trong sáng, 4 đại nhẹ nhàng, tâm đạo phát khởi mạnh mẽ. b) Tướng trung phẩm giới căn thanh tịnh: Trong 21 ngày, khi hành đạo, tọa thiền chợt thấy các màu sắc trong sạch, sáng đẹp như hoa, nghe mùi hương mầu nhiệm và âm thanh vi diệu khen ngợi, thân tâm vui mừng, được pháp hỉ lạc. c) Tướng thượng phẩm giới căn thanh tịnh: Trong 21 ngày, thân tâm vắng lặng, hoặc tự thấy thân mình mặc áo pháp thanh tịnh, uy nghi tề chỉnh, thân tướng đoan nghiêm, lòng tin khơi mở, được pháp hỉ lạc, không còn sợ hãi. 2. Trung căn chứng tướng: Chỉ cho tướng chứng thấy của hành giả thuộc trung căn, cũng có 3 phẩm khác nhau: a) Tướng hạ phẩm định căn thanh tịnh: Trong lúc ngồi thiền, chợt có cảm giác thân tâm vắng lặng, phát được các thiền định, giác và quán rõ ràng, hỉ và lạc 1 tâm. b) Tướng trung phẩm định căn thanh tịnh: Trong khi tọa thiền thân tâm an định, cảm biết hơi thở dài ngắn nhỏ nhiệm ra vào trong các lỗ chân lông khắp trên thân không ngăn ngại, hoặc thấy các tướng bất tịnh của tự thân, nhân đó phát ra thiền định, thân tâm khoái lạc, lặng lẽ chính thụ. c) Tướng thượng phẩm định căn thanh tịnh: Lúc tọa thiền, thân tâm an tĩnh, duyên theo thân 5 ấm của mình liền cảm biết vô thường, khổ, không, mộng huyễn không thật, cho đến biết tất cả các pháp chẳng sinh chẳng diệt, tịch lặng vô vi, chán xa thế gian, dứt bặt phiền não. 3. Thượng căn chứng tướng: Chỉ cho tướng chứng biết của hành giả thuộc thượng căn. Cũng có 3 phẩm khác nhau: a) Tướng hạ phẩm chứng biết tuệ căn: Trong lúc đi lại, ngồi thiền hay tụng niệm, chợt có cảm giác thân tâm như mây như bóng, mộng huyễn không thật, nhân đó mà tâm tỉnh giác, phát sinh trí tuệ, rõ suốt các pháp, không bị ngăn ngại, đối với các kinh luận, theo nghĩa mà giải thích, vấn nạn không bị trở ngại. b) Tướng trung phẩm chứng biết tuệ căn: Trong khi đi lại, ngồi thiền hay tụng niệm, thân tâm vắng lặng, giống như hư không, trụ trong chính tuệ, trước mặt thấy bồ tát Phổ hiền và vô lượng Bồ tát khác tự vây quanh, đều hiện ở trước mặt mình, lúc đó được đại trí tuệ, thông suốt diệu nghĩa của các pháp do chư Phật nói, giảng thuyết vô cùng tận. c) Tướng thượng phẩm chứng biết tuệ căn: Trong lúc đi lại, tọa thiền hoặc tụng niệm, thân tâm hoát nhiên thanh tịnh, thâm nhập thiền định, giác tuệ rõ ràng, được tổng trì vô ngại, chứng lục căn thanh tịnh, khơi mở tri kiến Phật, nhập vào ngôivị Bồ tát.
tam chủng cúng dường
Three modes of serving (the Buddha, etc.): (a) Lợi cúng dường ọfferings of incense, flowers, food, etc.; (b) Kính cúng dường of praise and reverence; (c) Hạnh cúng dường of right conduct.
; Ba loại cúng dường—The three kinds of offerings—See Tam Cúng Dường.
tam chủng cảnh a lại da thức
See A Lại Da Thức Tam Chủng Cảnh.
tam chủng diệt
(三種滅) I. Tam Chủng Diệt. Ba thứ diệt của các pháp Hữu vi và Vô vi: Trạch diệt, Phi trạch diệt, Vô thường diệt.1. Trạch diệt: Sự tịch diệt lìa tất cả phiền não ràng buộc. 2. Phi trạch diệt: Sự tịch diệt không lìa tất cả phiền não ràng buộc. 3. Vô thường diệt: Các hành tam hoại phá diệt. Trong 3 thứ tịch diệt trên đây, Trạch diệt và Phi trạch diệt thuộc về pháp Vô vi, còn Vô thường diệt thì thuộc về pháp Hữu vi. X. luận Đại tì bà sa Q.31]. (xt. Phi Trạch Diệt Vô Vi, Trạch Diệt). II. Tam Chủng Diệt. Ba thứ diệt của pháp Hữu vi: Niệm niệm diệt, Tương vi diệt và Vô dư diệt. 1. Niệm niệm diệt: Sự hoại diệt của tất cả pháp hữu vi trong từng sát na. 2. Tương vi diệt: Tính chất của sự phá diệt tương tục giữa các sát na trước sau trái nhau. 3. Vô dư diệt: Như sự diệt tắt của lửa đèn, sau khi diệt không còn gì sót lại. Ba thứ diệt trước đây đồng nghĩa với 3 thứ Vô thường nói trong luận Thuận trung quyển hạ là Niệm niệm hoại diệt vô thường, Hòa hợp li tán vô thường và Tất cánh như thị vô thường. III. Tam Chủng Diệt. Ba phương thức đoạn diệt phiền não, đó là: 1. Vị hữu diệt: Phiền não chưa sinh khởi thì không để cho nó sinh khởi. 2. Phục li diệt: Phiền não đã sinh khởi, nhờ ở đạo thế, xuất thế mà hiện thời không khởi.3. Vĩnh li diệt: Phiền não đã nép phục, không sinh khởi, xa lìa nhân diệt, diệt mãi không còn, cho nên trong vị lai chắc chắn sẽ không sinh khởi lại. [X. luận Tứ đế Q.3]. IV. Tam Chủng Diệt. Ba loại Diệt đế được nêu trong luận Thành duy thức quyển 8 và trong Thành duy thức luận thuật kí quyển 9, phần đầu. 1. Tự tính diệt: Chỉ cho tính Biến kế sở chấp. Diệt có nghĩa là không sinh, bởi vì tự tính không sinh nên giả gọi là Diệt. 2. Nhị thủ diệt: Chỉ cho tính Y tha khởi. Nhị thủ là Năng thủ, Sở thủ. Bởi vì tướng của Năng thủ, Sở thủ vốn không sinh nên gọi là Nhị thủ diệt. 3. Bản tính diệt: Chỉ cho Chân như. Bởi vì thể của Chân như xưa nay vốn vắng lặng, cho nên gọi là Bản tính diệt. X. luận Biện trung biên Q.trung; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.6, phần cuối; Thành duy thức luận đồng học sao Q.85].
Tam chủng duyên
三種縁; C: sānzhǒngyuàn; J: sanshuen;|Tam duyên.
Tam chủng duyên sinh
三種縁生; C: sānzhǒng yuànshēng; J: sanshu enshō;|Ba loại nhân duyên, nguyên do của một sự tái sinh: 1. Cùng sinh tử duyên sinh (窮生死縁生): nhân do đã đến giới hạn của sinh tử; 2. Ái phi ái đạo duyên sinh (愛非愛道縁生): nhân do không còn luyến ái và cũng không không luyến ái và 3. Thụ dụng duyên sinh (受用縁生): Đã đạt được một thân hưởng thụ (Thụ dụng thân; theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).
tam chủng duyên từ
Xem tam chủng từ bi.
tam chủng dục
The three kinds of desire - food, sleep, sex.
; Three kinds of desire—See Tam dục.
tam chủng giáo tướng
The three modes of the Buddha's teaching of the South Sects; đốn immediate; tiệm gradual or progressive; bất định indeterminate.
; See Tam Giáo Tướng.
; (三種教相) I. Tam Chủng Giáo Tướng. Cũng gọi Giáo tướng tam ý. Ba sự sai khác về mặt giáo tướng giữa kinh Pháp hoa và các kinh trướcPháp hoa.1. Căn tính dung bất dung tướng: Tức phán giáo Năm thời Tám giáo. Bốn thời (thời Hoa nghiêm, thời A hàm, thời Phương đẳng, thời Bát nhã) trước Pháp hoa là dùng 4 giáo Hóa nghi và Hóa pháp để giáo hóa hàng Nhị thừa, Tam thừa, Ngũ thừa căn tính chưa thuần thục. Trong 4 giáo Hóa pháp tuy có Viên giáo nhưng chỉ có Pháp khai hội(nghĩa là tất cả giáo pháp đều tương đồng nhất trí) chứ không có Nhân khai hội (nghĩa là loại bỏ sự khác nhau giữa Tam thừa, vì mọi người đều có khả năng thành Phật). Những người được Pháp hoa giáo hóa là những căn cơ Nhất Phật thừa, căn tính thuần thục, pháp năng hóa thì đủ cả Pháp khai hội và Nhân khai hội, tức là mở bày Viên giáo thuần tuý vi diệu. 2. Hóa đạo thủy chung bất thủy chung tướng: Các giáo khác ứng theo căn cơ làm lợi ích chúng sinh, không nói đến ý nghĩa giáo hóa bằng cách đưa Quyền về thực của Như lai. Còn Pháp hoa thì nói rõ bản ý thiết lập giáo pháp của Phật là khéo léo vì các căn cơ của chúng sinh mà gieo các chủng tử Đốn, Tiệm, Bất định, Hiển, Mật... sau đó dùng các giáo pháp này mà điều phục, trưởng dưỡng và làm cho họ thuần thục, cuối cùng là độ thoát họ. Đủ biết việc thiết lập giáo pháp của đức Phật có 3 giai đoạn lợi ích: Chủng, Thục, và Thoát. 3. Sư đệ viễn cận bất viễn cận tướng: Các kinh khác đều nói rằng khi Phật thành đạo ở gốc cây Bồ đề thì Thực trí mới tròn đủ, mới thi thiết Quyền trí, các đệ tử Nhị thừa không vào được Thực trí thì cũng không thi thiết được Quyền trí. Còn kinh Pháp hoa thì cho rằng trước khi Phật ngồi dưới gốc cây Bồ đề, Ngài đã thành Phật từ lâu, đã đầy đủ cả hai trí Quyền và Thực; vả lại, các đệ tử cũng đã vào Thực trí rất lâu, cũng đã hiểu Quyền trí và thực hành rồi, cho nên, thầy và đệ tử đều đã có Quyền và Thực trí từ lâu xa trước khi Phật ngồi ở gốc cây Bồ đề. Trong 3 loại giáo tướng trên đây, ngài Trí khải thường dùng cách phán giáo thứ nhất, ngài Kinh khê Trạm nhiên, ngài Tối trừng(người Nhật bản)thường dùng cách phán giáo thứ hai, ngài Nhật liên(Tổ của tông Nhật liên, Nhật bản) thì thường dùng cách phán giáo thứ ba. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1]. II. Tam Chủng Giáo Tướng. Chỉ cho 3 thứ giáo tướng thường được các Luận sư phương Nam sử dụng. 1. Đốn giáo: Giáo pháp Hoa nghiêm dùng để giáo hóa hàng Bồ tát, như mặt trời chiếu trên núi cao, nên gọi là Đốn giáo.2. Tiệm giáo: Lại chia làm Hữu tướng giáo và Vô tướng giáo. Tam tạng giáo(Tiểu thừa giáo) để hóa độ Tiểu thừa, trước dạy Bán tự giáo, gọi là Hữu tướng giáo. Sau khi thành Phật được 12 năm, đức Thế tôn vì hàng Đại thừa mà nói 5 thời Bát nhã cho đến thường trụ, gọi là Vô tướng giáo. Hữu tướng, Vô tướng đều thuộc về Tiệmgiáo.3. Bất định giáo: Như các kinh Thắng man, Kim quang... chẳng phải đốn, chẳng phải tiệm, nói rõ về Phật tính thường trụ, cho nên gọi là Thiên phương bất định giáo.[X. Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.thượng, phần 1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, thượng].
tam chủng hiện hữu
Theo quan niệm Phật Giáo, vạn hữu sinh khởi do tâm, và chỉ có tâm mà thôi. Nhứt là trong học thức “Duy Thức,” cái mà chúng ta gọi là hiện hữu nó tiến hành từ thức mà ra. Theo Duy Thức Tông, mọi vật hiện hữu được xếp tùy theo bản tánh của nó vào ba loại—According to the Buddhist idea, all things are born from mind and consist of mind only. Especially in the idealistic theory, what we generally call existence proceeds from consciousness. According to the Mind-Only School, everything that exists is classified as to the nature of its origin into three species: 1) Vọng Hữu Tánh: Parikalpita-laksana (skt)—Còn được gọi là “Biến Kế Sở Chấp Tánh.” Những hiện hữu không thật vốn đồng thời không có một bản thể, như ma quỷ chỉ hiện hữu trong sự tưởng tượng của con người chứ không có trong thực tại—False existence, also called “Character of Sole Imagination.” Those of false existence which are at the same time bereft of an original substance (adravya), just like a ghost that exists merely in one's imagination but not in reality. 2) Giả Hữu Tánh: Paratantra-laksana (skt)—Còn được gọi là “Y Tha Khởi Tánh.” Những hữu thể giả tạm hay nhất thời không có tánh thường tại, như căn nhà được dựng bằng gỗ, gạch, ngói, vân vân. Nó chỉ hiện hữu bằng một tràng tổng hợp những nhân duyên và không tự hữu. Nó không có thực tại thường tồn—Temporary or transitory existence, also called “Character of Dependence upon others.” Those of temporary or transitory existence, having no permanent character (asvabhava), like a house that is built by timbers, stones, tiles, etc. It exists only by a combination of causes or causal combination, and is not self-existent. It has no permanent reality. 3) Chân Hữu Tánh: Parinispanna-laksana (skt)—Còn được gọi là “Viên Thành Thật Tánh.” Những hữu thể chân thật, nghĩa là phi hữu trong ý nghĩa cao nhất của danh từ nầy, xa lìa tất cả tướng không thật và giả tạm hay vô tướng. Sự thực, cái nầy không phải là phi hữu mà là hiện hữu siêu việt. Tánh nầy còn được gọi là “Bản Thể của tất cả” và chỉ có những người có trí tuệ siêu việt mới thấu hiểu nó được. Tánh nầy tiêu biểu những gì còn sót lại sau khi hai tánh trước đã bị loại bỏ—True existence, also called “Character of Ultimate Reality.” Those of true existence, that is to say, non-existent in the highest sense of the word, bereft of all false and temporary nature (alaksana). This is, in truth, not non-existence but transcendental existence. This is also called the “Substratum of all” and can be known only by a person of supreme knowledge. It represents merely the remainder after the elimination of the first two.
Tam chủng huân tập
三種熏習 (薰) 習; C: sānzhǒng xūnxí; J: sanshu kunshū;|Ba loại Huân tập (chữ Huân cũng được viết 熏 thay vì 薰): I. 1. Danh ngôn huân tập (名言薫習): Sự huân tập của danh ngôn; 2. Sắc thức huân tập (色識薫習), huân tập của sắc thức và 3. Phiền não huân tập (煩惱薫習), sự huân tập của những loại phiền não. II. 1. Huân tập của ngôn thuyết (言説); 2. Huân tập của Ngã kiến (我見) và 3. Huân tập có liên hệ đến sự tồn tại của chính mình (有分), tỉ như ở trong một trong Tam giới hoặc Lục thú (theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).
tam chủng huân tập
(三種熏習) I. Tam Chủng Huân Tập. Chỉ cho 3 thứ tập khí: Danh ngôn tập khí, Ngã chấp tập khí và Hữu chi tập khí.[X. luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Đường)]. (xt. Tam Chủng Tập Khí).II. Tam Chủng Huân Tập. Ba thứ huân tập. Huân là xông ướp (như ướp trà bằng các loại hoa); Tập là tập tành luôn thành thói quen, như ướp trà bằng nhị sen, lâu ngày trà có mùi sen. Ba thứ huân tập là: 1. Danh ngôn huân tập: Danh là danh tự; Ngôn là ngôn thuyết. Thức phân biệt danh tự và ngôn thuyết này chính là Ý thức thứ 6, do thức Mạt na thứ 7 truyền tống vào huân tập thức Chủng tử thứ 8, tạo thành tướng phần nhiễm ô, vì thế gọi là Danh ngôn huân tập. 2. Sắc thức huân tập: Sắc là các sắc này dẫn sinh ra nhãn thức, gọi là Sắc thức. Phân biệt các sắc này chính là Ý thức thứ 6, cũng do thức Mạt na thứ 7 truyền tống vào để huân tập trong thức Chủng tử thứ 8 mà tạo thành tướng phần nhiễm ô, nên gọi là Sắc thức huân tập. 3. Phiền não huân tập: Chỉ cho các phiền não tham, sân, tà kiến... Các phiền não này là do Ý thức thứ 6 khởi động rồi do thức Mạt na thứ 7 truyền tống vào để huân tập trong thức Chủng tử thứ 8 mà tạo thành tướng phần nhiễm ô, cho nên gọi là Phiền não huân tập. [X. Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.3].
tam chủng hành nghi
(三種行儀) Chỉ cho 3 nghi thức niệm Phật: Tầm thường hành nghi, Biệt thời hành nghi, và Lâm chung hành nghi. Ba nghi thức này do vị tăng người Nhật bản là ngài Biện a căn cứ vào thuyết của các ngài Thiện đạo (Trung quốc)và Nguyên tín(Nhật bản) mà lập ra. Cứ theo Mạt đại niệm Phật thụ thủ ấn của ngài Biện a thì Tầm thường hành nghi không câu nệ nơi chốn, thân thể, y phục, thức ăn uống tịnh hay bất tịnh, cũng không kể thời gianlâu mau hoặc lúc đi, đứng, ngồi, nằm... đều có thể niệm Phật. Biệt thời hành nghi thì phải chú trọng đến sự thanh tịnh của đạo tràng, thân thể, y phục... phải thường đứng, thường ngồi, thường ăn 1 bữa, không ăn thịt, hành tỏi... và không uống rượu, dốc lòng niệm Phật từ 1 ngày đến 10 ngày. Còn Lâm chung hành nghi thì cũng giống như Biệt thời hành nghi.
tam chủng hương
Ba loại nhang—Three kinds of scents or incense. 1) Nhang làm bằng cành cây: Incense made from branches. 2) Nhang làm bằng rễ cây: Incense made from roots. 3) Nhang làm bằng bông: Incense made from flower).
; (三種香) Chỉ cho 3 thứ hương ở thế gian được làm bằng rễ, cành và hoa của cây. Cứ theo kinh Giới đức hương thì người ta chỉ ngửi thấy mùi thơm của 3 thứ hương này khi thuận gió, còn nếu ngược gió thì không ngửi thấy. Ngài A nan tự nghĩ muốn tìm loại hương thù thắng hơn 3 thứ hương này, có thể bay ngược chiều gió mà lan tỏa khắp 10 phương, Ngài bèn thỉnh ý đức Phật. Phật liền dạy: Nếu giữ gìn 5 giới, làm 10 điều thiện, kính thờ Tam bảo, nhân từ đạo đức, không phạm uy nghi... thì hương giới của các việc ấy lan tỏa khắp 10 phương mà không phụ thuộc vào gió có hay không, xuôi hay ngược; hương giới ấy thanh tịnh nhất, không 1 loại hương thế gian nào có thể sánh được. (xt. Giới Hương).
tam chủng hữu
Three kinds of existence (a) Tương đối hữu that of qualities, as of opposites, e.g. length and shortness; (b) giả danh hữu that of phenomenal things so-called, e.g. a jar, a man; (c) pháp hữu that of the nounenal, or imaginary, understood as facts and not as illusions, such as a "hare's horn" or a "turtle fur".
; Three kinds of existence—See Tam Hữu.
; (三種有) Chỉ cho 3 thứ pháp tồn tại. 1. Tương đãi hữu: Như đối với dài mà có ngắn, đối với ngắn mà có dài; đối với cảnh mà có tâm, đối với tâm mà có cảnh. Lại như nặng nhẹ, đây kia, lớn nhỏ, cao thấp...cũng thế. 2. Giả danh hữu: Mượn nhiều thứ tập hợp lại thành 1 vật, như mượn 4 đại hòa hợp thành thân người, có cái tên giả mà không có thể thực. 3. Pháp hữu: Tất cả pháp do nhân duyên sinh ra, tuy không có tự tính, nhưng cũng chẳng như lông rùa, sừng thỏ hữu danh vô thực, cho nên gọi là Pháp hữu. [X. luận Đại trí độ Q.12; Đại minh tam tạng pháp số Q.13].
tam chủng không
The three voids or immaterialities. The first set of three is (a) không; (b) vô tướng; (c) vô nguyện; xem tam tam muội. The second (a) ngã; (b) pháp; (c) câu không, the self, things, all phenomena as empty or immaterial. The third relates to charity (a) giver; (b) receiver; (c) gift, all area empty tam luân không tịch.
tam chủng khổ
xem ba loại khổ.
tam chủng kiến hoặc
Three classes of delusive views, or illusions - those common to humanity; those of inquiring mind; and those of the learned and settled mind.
; Ba loại kiến hoặc—Three classes of delusive views or delusions: 1) Thường hoặc: Nghi hoặc thông thường—Common delusions to humanity. 2) Tụ hoặc: Trong khi tu tập thấy những điều nghi hoặc—Delusions of the inquiring mind. 3) Thông thái hoặc: Nghi hoặc của những học giả thông thái—Delusions of the learned and settled mind.
tam chủng kỳ đặc sự
(三種奇特事) Ba việc đặc biệt kì lạ. Cứ theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 4 thì Phật có 3 việc đặc biệt kì lạ, đó là: 1. Thần thông kì đặc: Phật khéo thích ứng với mọi căn cơ, hiện đại thần thông không thể nghĩ bàn, khiến tất cả chúng sinh và các tà ma ngoại đạo đều quay về với chính pháp. 2. Tuệ tâm kì đặc: Tâm trí tuệ của đức Phật sáng tỏ vắng lặng, soi rõ tất cả các pháp, thành tựu Nhất thiết chủng trí. 3. Nhiếp thụ kì đặc: Phật khéo biết các căn lợi độn của chúng sinh, mở đường giáo hóa, khiến họ đều nghe chính pháp, tiến tu các hạnh, ra khỏi sinh tử.
tam chủng luật nghi
(三種律儀) Ba loại luật nghi. Thuyết nhất thiết hữu bộ chia luật nghi (tức phòng hộ) làm 3 loại: 1. Biệt giải thoát luật nghi: (Phạm: Pràtimokwa-saôvara, cũng gọi Biệt giải thoát giới): Tức Dục triền giới, là những giới điều mà 8 chúng phải thụ trì. 2. Tĩnh lự sinh luật nghi: (Phạm: Dhyàna-saôvara, cũng gọi Tĩnh lự luật nghi hoặc Định cộng giới): Tức Sắc triền giới, là luật nghi do tĩnh lự sinh ra. 3. Đạo sinh luật nghi (Phạm: Anàsvara-saôvara, cũng gọi Vô lậu luật nghi hoặc Đạo cộng giới): Là luật nghi của các Thánh nhân thành tựu. Ba loại luật nghi trên, nếu thêm Đoạn luật nghi nữa thì thành là Tứ chủng luật nghi, cũng gọi Tứ giới. [X. luận Đại tì bà sa Q.119; luận Câu xá Q.14; luận Thuận chính lí Q.36]. (xt. Biệt Giải Thoát Luật Nghi, Giới, Vô Lậu Luật Nghi, Tĩnh Lự Luật Nghi).
tam chủng lạc sanh
Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại lạc sanh—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of happy rebirths. 1) Có những loài hữu tình trong quá khứ luôn luôn tạo ra thiền định lạc hay sống trong sự an lạc, như các vị Phạm Chúng Thiên: There are beings who continually produced happiness now dwell in happiness, such as the devas of the Brahma group. 2) Có những loài hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu cảm hứng 'Ôi an lạc thay,' như chư Quang Âm Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, full of it, immersed in it, so that they occasionally exclaim 'oh what bliss' such as the Radiant Devas. 3) Có những loại hữu tình thấm nhuấn, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Họ sống mãn túc với an lạc ấy, cảm thọ an lạc, như chư Biến Tịnh Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, full of it, immersed in happiness, who supremely blissful, experience only perfect happiness, such as the Lustrous Devas.
tam chủng lễ phật
(三種禮佛) Ba hình thức lễ Phật. 1. Thành quá lễ: Lúc lễ Phật, uy nghi của thân không nghiêm chính, tương ứng với khinh mạn mà thành ra lỗi lầm. 2. Tương tự lễ: Lúc lễ Phật, uy nghi của thân tuy có vẻ đoan chính, nhưng lại tương ứng với cảm giác tạp nhiễm. 3. Thuận thực lễ: Lúc lễ Phật, uy nghi của thân đoan chính, tương ứng với chính trí, thuận theo thực lí. [X.Hoa nghiêm khổng mục chương Q.1].
tam chủng ma
Three types of demons—“Ma” tiếng Phạn gọi là mara, Tàu dịch là “sát,” bởi nó hay cướp của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người tu. “Ma” cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối thất đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác, rồi kết cuộc bị sa đọa. Những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến niết bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong luân hồi sanh tử, gọi là ma sự. Người tu càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung hiểm cường thạnh. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, ma tuy nhiều, nhưng cốt yếu chỉ có ba loại: phiền não ma, ngoại ma và Thiên ma—“Demons” are called “mara” in Sanskrit. In Chinese, the word has connotation of “murderer” because demons usually plunder the virtues and murder the wisdom-life of cultivators. “Demons” also represent the destructive conditions or influences that cause practitioners to retrogress in their cultivation. Demons can render cultivators insane, making them lose their right thought, develop erroneous views, commit evil karma and end up sunk in the lower realms. These activities which develop virtue and wisdom and lead sentient beings to Nirvana are called Buddha work. Those activities which destroy good roots, causing sentient beings to suffer and revolve in the cycle of Birth and Death, are called demonic actions. The longer the practitioner cultivates, and the higher his level of attainment, the more he discovers how wicked, cunning and powerful the demons are. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, although there are numerous demons, they can be divided into three types: demons of afflictions, external demons and celestial demons. 1) Phiền Não Ma: Demons of Afflictions. a) Phiền não ma chỉ cho các phiền não tham nhiễm, hờn giận, si mê, khinh mạn, nghi ngờ, ác kiến; cho đến các thứ ma ngũ ấm, lục nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Loại ma nầy cũng gọi là nội ma, do lòng mê muội điên đảo sanh ra, nên phải dùng tâm chân chánh sáng suốt giác ngộ mà giải trừ. Phàm phu tự mình đã có những nghiệp riêng, lại do cộng nghiệp sống chung trong khung cảnh, mà người xung quanh phần nhiều tánh tình hiểm ác, nghiệp chướng sâu dầy, nên dễ động sanh phiền não. Có kẻ không chịu đựng nổi sự lôi cuốn của ngũ trần nên bị sa ngã. Có người vì nghịch cảnh, khiến cho bi thương sầu não, chí tiến thủ tiêu tan. Những sự việc nầy xui khiến người tu nhẹ thì ưu sầu, uất ức sanh đau bệnh; nặng thì chán nãn bỏ đạo, hoặc phẫn chí tự tận; nguy hại hơn nữa, tất đến chỗ đối với hàng xuất gia tại gia đều mất hết mỹ cảm, tránh xa chán ghét, sanh việc khinh rẽ chê bai, không tin nhân quả, làm điều ác, rồi phải đọa tam đồ—These demons represent the afflictions of greed, anger, resentment, delusion, contempt, doubt and wrong views. They also include the demons of the Five Skandas, the Six Entrances, the Twelve Sense Fields, and the Eighteen Elements. These demons are also called “internal” as they created by topsy-turvy, delusive states of mind. Therefore, they must be overcome by the bright, enlightened mind. The human mind is easily moved, developing afflictions not only because of personal karma but also because of the common karma of living in an environment filled, for the most part, with evil beings. Some persons cannot resist the attractions of the five Dusts and thus fall into evil ways. Others, encountering adverse conditions, grow sad and mournful and lose their determination to progress. Such developments depending on their severity, render the cultivator despondent , indignant and ill, or worse still, cause him to abandon the Buddhist Order or even to commit suicide out of despair. More harmful still, they can lead to loss of respect and good will toward other cultivators, sometimes even hatred and avoidance of clergy and lay people alike. Loss of faith in cause and effect, bad karma and finally, descent upon the three Evil Paths are the end result. b) Muốn đối trị thứ ma nầy, hành giả phải quán xét phiền não là hư huyễn, xao động, nóng bức, trói buộc, tối tăm, chỉ làm khổ cho người và mình. Dứt phiền não, ta sẽ trở về chân tâm tự tại giải thoát, mát lặng sáng trong, an vui mầu nhiệm. Đối với sự mê chấp từ năm ấm cho đến mười tám giới, cũng nên quán như thế—To counteract these demons, the practitioner should reflect that all afflictions are illusory, upsetting, suffocating, binding, evil and conducive only to suffering for both himself and others. To eliminate afflictions is to return to the True Mind, free and liberated, fresh and tranquil, bright and clear, happy and at peace, transcendental and wondrous. The cultivator should also meditate in the same way on all attachments, from the Five Skandas to the Eighteen Elements. • Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật bảo: “Các ngươi chớ nên tham đắm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, dù thô hay dù tế. Nếu mê đắm tham trước, Tất bị nó thiêu đốt: In the Lotus Sutra, Sakyamuni Buddha said: “You should not be greedy and attached to gross and vile forms, sound, smell, taste, touch and dharmas. If you do, they will burn you up.” • Khi xưa Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi một vị Thiên nữ: “Ngươi xem mười tám giới như thế nào?” Thiên nữ đáp: “Như thấy kiếp lửa đốt thế gian!” Đây là những lời cảnh giác để phá trừ loại ma phiền não: Manjusri Bodhisattva once asked a female deity, “How do you see the Eighteen Elements?” The deity replied, “They are similar to the eonic fire burning up the whole world.” These are words of warning, reminding us to eliminate the demons of afflictions. • Phiền não ma hay nội ma, nếu không chế phục được, tất sẽ chiêu cảm đến ngoại ma ở ngoài đến phá. Lời xưa nói: “Trong cửa có tiểu nhơn, ngoài cửa tiểu nhơn đến. Trong cửa có quân tử, ngoài cửa quân tử đến.” Lại như khi ăn trộm đào ngách muốn vào nhà, gia chủ hay được tỏ ra bình tỉnh răn trách, tất nó phải sợ hãi bỏ đi. Nếu chủ nhà kinh sợ rối rít năn nỉ, đó chính là thái độ khuyên rước trộm vào nhà vậy: If the demons of afflictions or internal demons are not subdued, they will attract external demons which wreak havoc. The ancient have said: “If inside the door there are mean-spirited people, mean-spirited people will arrive at the door; if inside the door there are virtuous, superior people, noble superior people will arrive at the door.” As an example, when thieves try to enter a house through the side door, if the owner calmly scolds them in a loud voice, they will naturally be frightened and leave. If on the other hand, he is terrified and panic-stricken, and begs them to desist, he will unwittingly be inviting them into his house. 2) Ngoại Ma: External Demons—Ngoại ma là những loài ma quỷ thần yêu mị bên ngoài. Người tu khi có đôi chút công phu, liền bị nó đến thử thách phá khuấy. Loài nầy có thể chia thành ba hạng là bố ma, ái ma và não ma—External demons take the form of various spirits, ghosts and deities. Once the cultivator has reached a certain level of attainment, he will be subject to demonic disturbances which will put him to the test. External demons may be divided into three groups: a) Bố Ma: Terrorizing Demons—Bố ma là loài ma ưa khủng bố làm cho người kinh sợ. Thứ ma nầy thường hóa hình cọp, sói, rắn, rít, hoặc các loài thú hung dữ kỳ lạ, hay hình ác quỷ ghê rợn để dọa nhát người tu. Những hình tướng nầy biến huyễn vô cùng, hoặc không đầu, nhiều đầu, nhiều tay, nhiều mắt; hoặc mình người đầu thú, mình thú đầu người, hoặc cầm khí giới, hoặc phung lửa đỏ. Nếu hành giả kinh hãi, liền bị nó phá làm mất chánh niệm, lắm khi sanh điên cuồng. Gặp cảnh nầy, nên nghĩ các tướng đều giả dối, ma chỉ có thể hủy diệt huyễn thân chớ không thể phá hoại được chân tâm. Suy xét như thế rồi bình tĩnh không sợ chết, an nhiên chuyên tâm niệm Phật hoặc trì chú, nó sẽ tự rút lui—These are ghosts that like to frighten and terrorize people. They usually take the form of tigers, wolves, deadly serpents, poisonous snakes or other ferocious beasts or hallucinatory, diabolic apparitions to scare the cultivator. Their forms change ad infinitum. They may have no head or many heads, many hands, many eyes, or a half-human, half-bestial body. They may brandish weapons or spit fire. If the practitioner is frightened, he loses his right thought and often goes insane. Faced with these occurences, we should reflect that all forms and marks are illusory, and that demons can only destroy the illusory body, not the True Mind. Meditating this way, we should remain calm and unafraid of death, peacefully concentrating on Buddha or Mantra Recitation. The demons will then retrest of their own accord. b) Ái Ma: Demons of Lust and Attachment—Ái ma là loài ma khích động lòng ái dục cho đến tâm tham nhiễm cảnh ngũ trần. Chúng hóa hình nam, nữ lõa lồ xinh đẹp; hoặc hình cha mẹ anh em, kẻ thân mến, cho đến thân Phật, Bồ Tát tướng tốt trang nghiêm để khuyến dụ. Nếu người thích ăn ngon, chúng hóa sơn hào hải vị, hương thơm ngào ngạt đem dâng; người ưa bảo vật, chúng hiện hình thú lạ ngậm châu ngọc đến hiến tặng. Tùy tâm niệm hành giả ưa thích điều chi, chúng liền hiện ra thứ ấy. Chúng có thể dùng ma lực khiến cho người tu được tà định, tà trí, tài biện thuyết, phép thần thông biết quá khứ vị lai. Những kẻ không hiểu cho là đã chứng đạo quả, thảy đều tin phục; song kỳ thật người kia trong tâm điên đảo, chuyên làm phép quỷ mê hoặc thế gian—These are a type of demon which excites a range of emotions, from lust to delusive attachment to the realm of the five Dusts, i.e., this world. They take the appearance of alluring, nude men and women or of parents, siblings or close relatives, as well as of Buddhas and Bodhisattvas with beautiful, adorned features, in order to entice the practitioner. If he is fond of good food, these demons bring him succulent, fragrant dishes. If he likes diamonds or gold, they take the appearance of strange animals holding precious stones in their mouths as offerings. They cause whatever the practitioner desires to appear. They can also use their psychic power to lead him into evil samadhi, evil wisdom and eloquence, giving him the mystic power to know the past and the future. Those who do not understand will mistake these occurences for evidence that the practitioner has attained Enlightenment, and thus believe in and trust him. In reality, however, the cultivator's mind is upside down and he spends all his time engaging in errant, demonic practices to deceive others. • Có một nhà sư Việt Nam tu tại một ngôi chùa bỏ hoang bên Lào. Trong khi thiền định ông thấy một nhóm mỹ nhân lõa lồ, nắm tay nhau nhảy múa. Sư trấn định tâm không nổi, bèn thành khẩn niệm Phật, tướng ấy liền tan—Once there was a Vietnamese monk cultivating at a deserted temple in Laos. In one of his meditation sessions, he saw a group of beautiful, ethereal women, all naked, holding hands and dancing around. The monk, unable to calm his agitated mind, immediately recited the Buddha's name in all earnestness. Only then did this scene disappear. • Một câu chuyện khác—Another story—Khi xưa bên Trung Quốc có một vị sư đang tham thiền, nhân khi trời lạnh bụng đói, động niệm tưởng ăn; sư liền thấy một thiếu phụ bưng thức ăn đến cúng dường. Thiếu phụ quỳ xuống sớt đồ ăn vào bát, thỉnh sư nên dùng liền kẻo nguội mất ngon. Sư vì đói muốn thọ dụng ngay, nhưng nghĩ chưa đến giờ thọ trai, nên nhẫn nại bảo hãy tạm để một bên, chờ đúng giờ sẽ ăn. Thiếu phụ nghe nói, có vẻ hờn giận bỏ đi. Giây lâu sau đúng ngọ, sư giở bát ra thấy trong ấy toàn là dòi bò lúc nhúc. Chừng ấy ông mới tỉnh ngộ, biết vừa động sanh vọng niệm, liền rước lấy cảnh ma; may nhờ có chút định lực mới khỏi ăn đồ dơ và phạm giới sát—Once in China, there was a monk seated in meditation. Because he was cold and hungry, the thought of food arose in his mind. He suddenly saw a woman presenting him with an offering of food. The woman knelt, put food in his bowl, and respectfully asked him to eat immediately, before the food grew cold and lost all taste. The monk, being hungry wanted to eat at once but remembering that it was not yet noontime, he patiently told her to put the bowl aside for the time being. The woman left, appearing angry and upset. Some time later, at noon, he uncovered the bowl to discover that it was full of worms, crawling all around. He then understood that his false thought of food had attracted the demonic apparitions. Thanks to his self-restaint and power of concentration, however, limited, he avoided consuming the dirty food and violating the precept against killing. • Lại cũng một vị sư tu thiền trong núi, thấy mình lẻ loi cô quạnh, nên sanh vọng tưởng muốn được một ít người cùng ở chung cho vui. Vừa đâu có bà lão dẫn hai cô gái trẻ đẹp, bảo nhà ở dưới làng chân núi, tìm đến am tranh cầu xin dạy đạo. Vị Tăng ban đầu không nghi ngờ, liền thuyết pháp khai thị. Tới lui như thế lâu ngày, một hôm bà lão bạch sư xin cho hai cô gái làm thị giả lo việc giặt giủ cơm nước cho sư đỡ cực nhọc. Sư nghe nói thoáng sanh lòng nghi, liền nghiêm trách từ chối. Ba người tỏ vẻ hờn thẹn bỏ đi. Sư lén theo dõi qua một khúc quanh bỗng chợt mất bóng, sư đến xem thì đã cùn đường, lại không có nhà cửa chi cả, chỉ thấy ba gốc cổ thụ, một to hai nhỏ. Sư suy nghĩ biết đây là yêu tinh cổ thụ, muốn đem búa chặt đốn hoặc nổi lửa thiêu đốt để dứt trừ hậu hoạn. Vừa nghĩ đến đó bỗng thấy ba người hiện ra cầu sám hối và xin tha mạng. Thế mới biết tâm yên cảnh lặng, vọng khởi ma sanh, người tu phải ghi nhớ điều nầy—Yet another story concerns a Zen monk who practiced in a deserted mountain area. Lonely and isolated, he had a deluded thought, wishing to have some fellow-cultivators practicing along with him to make life more bearable. Immediately, an old woman appeared from nowhere, leading two beautiful young girls by the hand, who, she said, lived in the village down in the valley. They had come, they claimed , to seek guidance in the Way. The monk, unsuspicious, immediately gave a Dharma talk to the group. One day, after many such visits over a period of time, the old woman respectfully requested that the two girls be allowed to become attendants to the monk and relieve him of his daily chores. The monk, hearing this, became suspicious. He reprimanded the old woman severely and refused the offer. The three women left, apparently angry and ashamed. The monk, intrigued, followed them discreetly until they disappeared around a bend in the road. When he reached the spot, he found it was a dead end with no habitation or anything else around, except for three very old trees, one big tree and two small ones. He thought it over and realized that he had been tested . A fleeting thought occurred to him, that he should cut down the trees, start a bonfire, and burn them into ground. At that moment, the three women reappeared, repentant, begging him to forgive them and spare their lives. Therefore, the cultivator should remember: when the mind is still, all realms are calm; when delusion arises, demons are born. c) Não Ma: Nuisance Demons. • Não ma là loại ma chuyên phá rối, làm não loạn người tu. Có giống tinh mị mỗi loài đến theo giờ của nó, đại khái mỗi giờ có ba loài, mười hai giờ thành ba mươi sáu loài tinh thú. Như giờ Dần đến, tất là loài cọp, beo, gấu; giờ Mẹo đến là loài mèo, thỏ, cáo; giờ Thìn là loài, rồng, cá, thuồng luồng…Theo trong Tọa Thiền Chỉ Quán có thứ quỷ Du Lạp Kiết Chi, Tàu gọi là Đôi Dịch, đầu mặt như cây đàn tỳ bà, bốn mắt hai miệng, thường ưa khuấy động phá rối người tu. Chúng chờ khi người tu đang tụng niệm, hóa ra sâu trùng, hoặc bò lên khắp đầu mặt, hoặc chun vào miệng, lỗ mũi, mắt, lỗ tai; hoặc chui vào nách, bụng của hành giả mà cắn chích. Đôi khi chúng kêu vang vào lỗ tai, làm thành tiếng ồn ào, nhức óc; hoặc chợt ôm giữ người, quơ tìm thì không đụng thấy. Chúng còn hóa ra cảnh ngũ trần hoặc thuận, hoặc nghịch, hoặc không thuận nghịch, biến huyễn khôn lường, làm cho hành giả loạn động chẳng biết đâu mà nhận thức, dễ mất định tâm. Muốn đối trị với ba mươi sáu loài tinh thú, cứ theo giờ kêu tên của nó mà quở trách; với ma Đôi Dịch, nên tụng tam quy ngũ giới hoặc giới bổn, bởi chúng là thứ quỷ phạm tội phá giới. Làm như thế chúng liền ẩn mất. Hoặc cách đối trị tổng quát là nên nhiếp tâm vào chánh định, hay chuyên chỉ trì chú niệm Phật, chúng sẽ tan biến—This type of demon concentrates on harassing and disturbing the practitioner. There is a certain species of spirits and ghosts which can be subdivided into many types, each appearing at a fixed time of the day. In general, each hour has three types of spirits. For example, during the period between seven and nine in the morning, they take the appearance of dragons, fish, and serpent-like creatures. In his commentaries Samatha and Vipassana for Beginners, the Patriarch Chih-I mentioned a type of demon with a face like a pear-shaped lute, four eyes and two mouths, which enjoys disturbing cultivators. Waiting for the individual to begin to practice, it takes the form of worms or tiny insects and crawls all over his head and face, penetrates into his mouth, nose, eyes and ears, or goes under his armpits or belly to sting him. At other times it shouts loudly into the practitioner's ears, creating a great disturbance and giving him a headache; or it suddenly embraces him tightly. If the practitioner attempt to seize it in return, nothing is there. This type of nuisance demon also causes scenes of the five Dusts to appear, either favorable or unfavorable, or neither favorable nor unfavorable. Such transformations are countless and can cause the practitioner to become agitated. As he does not know what to make of all this, he loses his concentration. The general way to subdue these nuisance demons is to “gather” the mind in correct samadhi or diligently recite mantras or the Buddha's name, they will then all disappear. • Ngoại ma còn là những ma bàng môn tả đạo. Những vị kiếp trước hoặc kiếp nầy đã từng tu theo ngoại đạo, sau trở lại quy y Phật pháp; hoặc những vị tuy chỉ nương về Tam Bảo, nhưng xưa kia ông bà cha mẹ đều theo bàng môn tả đạo, thường hay bị ngoại ma phá rối. Bởi lối tu của ngoại đạo đều không rời phiền não hữu lậu, còn trong vòng tự cao chấp ngã, tham đắm quyền danh, nên hàng ngoại đạo hay quy tụ bè phái, không muốn cho người có ít nhiều liên hệ với phe mình tu theo đạo khác: External demons also include demons belonging to externalist cults and other false or quasi-Buddhist sects; or practitioners who have belonged to cults in this or previous lives but have now converted to Buddhism, as well as those who are themselves Buddhists but who come from families formerly active in other faiths and cults, tend to be bothered by external demons. This is because the cultivation methods of externalists are within the realm of worldly afflictions and are tainted with pride, ego attachment, power and fame. Therefore, they stick together and do not want people connected with them in some way to follow other teachings. 3) Thiên Ma: Celestial Demons. a) Thiên ma là loại ma ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại, thuộc tầng thứ sáu của trời Lục Dục. Loại ma nầy có phước báo, hưởng sự vui mầu nhiệm cao tột của ngũ trần, cho đó là cảnh khoái lạc tuyệt đối, nắm quyền hạn về dục nhiễm, không muốn ai thoát khỏi phạm vi ấy. Khi hành giả đạt đến mức tu khá cao, tâm quang phát lộ, ánh sáng chiếu thấu lên cõi trời Tha Hóa làm cho cung điện ma rung động, chúng liền phát giác và vì sợ e có người giải thoát, quyến thuộc mình sẽ giảm bớt đi, nên tìm cách phá hoại. Chúng hiện ra nhiều cảnh, hoặc hăm dọa, hoặc khuyến dụ, hoặc giúp sức cho tà định tà trí cùng thần thông cốt để gạt gẫm; lại thay phiên nhau rình rập không giây phút nào rời để chờ cơ hội thuận tiện. Nếu hành giả có một niệm sơ hở, liền bị chúng ám nhập, xúi dục làm những điều trái đạo đức, đời tu kể như đã hư tàn: This refers to the type of demon that resides in the Sixth Heaven, also called the Heaven of Free Enjoyment of Others' Emanations. This type of demon possesses merits and blessings and enjoys the highest heavenly bliss in the Realm of desire, of which our world is but a small part. They then mistake such happiness and bliss as ultimate, and do not wish anyone to escape their influence. When a practitioner has attained a fairly high level of cultivation, his mind-light develops and shines up to the realm of the Sixth Heaven. It is then discovered by the celestial demons, who seek ways to sabotage his cultivation. Such action can take many forms, threatening or cajoling, or even helping the practitioner attain false samadhi “wisdom” and spiritual power, with the aim of ultimately deceiving him. These demons take turns watching the practitioner constantly and without interruption, waiting for the opportunity. If the practitioner has a delusive thought, they pounce on him or steer him toward things contrary to the Way. The practitioner's entire lifetime of cultivation is then over, for all practical purposes. b) Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát đã từng khuyên dạy: “Trong khi hành giả tịnh tu, thường bị các thiên ma, ngoại đạo, hoặc quỷ thần làm não loạn. Chúng hiện các hình tướng ghê rợn để khủng bố, hoặc tướng nam nữ xinh đẹp để quyến rũ. Có khi chúng hiện thân Phật, Bồ Tát hay chư Thiên đẻ các tướng trang nghiêm; hoặc nói các môn đà la ni; hoặc nói pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ; hoặc nói các pháp bình đẳng, không, vô tướng, vô nguyện, khen ngợi cảnh không oán không thân, không nhân không quả, cứu cánh rỗng không vắng lặng, bảo đó là chân niết bàn. Hoặc chúng làm cho hành giả biết đời trước của mình, suốt việc quá khứ vị lai, thấu rõ tâm niệm của mọi người, cho đến được biện tài vô ngại. Chúng khiến người tu tham luyến danh lợi thế gian, tánh tình thất thường, hay giận, hay cười, ưa ngủ, nhiều bệnh, dễ xót thương xúc cảm, có khi rất tinh tấn, lắm lúc lại trễ nải biếng nhác. Hoặc chúng xui hành giả sanh tâm nghi ngờ không tin, nhiều lo nghĩ, bỏ pháp tu căn bản trở lại tu các tạp hạnh, đắm nhiễm những việc triền phược ở thế gian. Hoặc chúng làm cho hành giả được một ít phần tương tợ như tam muội, có thể ở trong định từ một ngày cho tới bảy ngày, thân tâm an vui không biết đói khát; song đó là do sức tà chứng của ngoại đạo gia bị, không phải chân tam muội. Hoặc lại khiến cho hành giả ăn uống không chừng độ, khi nhiều khi ít, sắc mặt biến đổi luôn. Khi gặp những cảnh như trên, người tu phải dùng trí tuệ quán sát, gắng giữ chánh niệm, đừng sanh tâm chấp trước mà lạc vào lưới tà. Phải kiên trì như thế mới xa lìa được ma chướng.”—In the Awakening of Faith, the Patriarch Asvaghosha admonished: “There may be some disciples whose root of merit is not yet mature, whose control of mind is weak and whose power of application is limited, and yet who are sincere in their purpose to seek enlightenment, these for a time may beset and bewildered by maras and evil influences who are seeking to break down their good purpose. Such disciples, seeing seductive sights, attractive girls, strong young men, must constantly remind themselves that all such tempting and alluring things are mind-made; and, if they do this, their tempting power will disappear and they will no longer be annoyed. Or, if they have vision of heavenly gods and Bodhisattvas and Buddhas surrounded by celestial glories, they should remind themselves that those, too, are mind-made and unreal. Or, if they should be uplifted and excited by listening to mysterious Dharanis, to lectures upon the paramitas, to elucidations of the great principles of the Mahayana, they must remind themselves that these also are emptiness and mind-made, that in their essence they are Nirvana itself. Or, if they should have intimations within that they have atained transcendental powers, recalling past lives, or foreseeing future lives, or, reading others' thoughts, or freedom to visit other Buddha-lands, or great powers of eloquence, all of these may tempt them to become covetous for worldly power and riches and fame. Or, they may be tempted by extremes of emotion, at times angry, at other time joyous, or at times very kind-hearted and compassionate, at other times the very opposite, or at times alert and purposeful, at other times indolent and stupid, at times full of faith and zealous in their practice, at other times engrossed in other affairs and negligent. All of these will keep them vacillating, at times experiencing a kind of fictitious samadhi, such as the heretics boast of, but not the true samadhi. Or later, when they are quite advanced they become absorbed in trances for a day, or two, or even seven, not partaking of any food but upheld inward food of their spirit, being admired by their friends and feeling very comfortable and proud and complacent, and then later becoming very erratic, sometimes eating little, sometimes greedily, and the expression of their face constantly changing. Because of all such strange manifestations and developments in the course of their practices, disciples should be on their guard to keep the mind under constant control. They should neither grasp after nor become attached to the passing and unsubstantial things of the senses or concepts and moods of the mind. If they do this they will be able to keep far away from the hindrances of karma.” c) Kết lại, chỉ có hai loại ma là nội ma và ngoại ma; Thiên ma cũng thuộc về loài ngoại ma. Nhưng sở dĩ lập Thiên ma thành một loại riêng, là vì muốn cho hành giả lưu ý đến sự phá hoại nguy hiểm tinh vi của nó. Ngoài phiền não ma, ngoại ma, Thiên ma như trên, trong kinh còn nói đến bệnh ma và tử ma. Bởi cơn đau bệnh thường làm cho hành giả tiêu giảm công phu, lại tu chưa đến đâu rồi chết có thể khiến người thối thất đạo quả, nên mới gọi là ma. Nhưng bệnh ma và tử ma đại ý chí sự chướng ngại của bệnh và chết thuộc về thân tứ đại trên đường tu, không có tính cách phá hoại khuấy rối để giết hại đạo tâm theo đúng nghĩa của ma—In summary and as a further generalization, there are only two types of demon, internal and external. Celestial demons are within the category of external demons; however, we described them separately to alert the practitioner to the dangerous, subtle havoc they can cause. In addition to the demons of afflictions, external demons and celestial demons described above, Buddhist sutras also mention “disease demons” and the “demons of death.” For disease will usually wither the practitioner's efforts, while death in the midst of cultivation can make him retrogress. Thus, disease and death are called demons. In general, they represent obstacles to the way that affect the physical body, but they cannot harm and destroy the Bodhi-Mind in the true sense of the word “demon.” d) Sức tu của người thời nay phần nhiều bị phiền não ma hoặc ngoại ma phá hoại, chưa đủ để cho Thiên ma phải ra tay. Loại ma nầy chỉ đến với những vị tu cao. Nếu Thiên ma quyết phá, những vị sức tu tầm thường khó có hy vọng thoát khỏi. Trong Kinh Lăng Nghiêm, vì thương đường tu nhiều hiểm nạn, Đức Phật khuyên các hành giả tham thiền nên kiêm trì mật chú, để được nhờ thần lực gia hộ, thoát khỏi nạn ma thành tựu chánh định. Ấn Quang Đại Sư đã bảo: “Mới xem qua dường như Kinh Lăng Nghiêm khác quan điểm với Tịnh Độ, nhưng xét nghĩ sâu mới thấy kinh nầy vô hình đã khen ngợi tuyên dương Tịnh Độ. Tại sao thế? Bởi bậc đã chứng đệ tam Thánh quả A Na Hàm mà còn có thể bị ma cảnh làm cho thối đọa, thì sự niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ càng nổi bậc thêm tánh cách trọng yếu, trong ánh sáng nhiếp hộ của Đức A Di Đà không còn nạn ma nữa.”—Considering the level of cultivation of today's practitioners, they generally face harassment only from demons of afflictions or external demons. Such cultivators are not advanced enough to arouse opposition from celestial demons. However, should the latter set their minds to destroying someone, that person has little hope of escaping harm, unless his cultivation is examplary. In the Surangama Sutra, Sakyamuni Buddha, out of compassion for cultivators faced with many dangers along the Way, advised those who practiced meditation to recite mantras at the same time. This would enable them to rely on the power of the Buddhas to escape harm from demons and achieve correct samadhi. The Patriarch Yin Kuang once said: “At first glance, it would appear that the Surangama Sutra has a different viewpoint from Pure Land. However, upon closer scrutiny, that sutra, in its essence, actually praised and commended the Pure Land School. Why is this so? It is because, if even those who have attained the third level of sagehood can suffer retrogression caused by demons, we can see the crucial importance of Buddha Recitation and rebirth in the Pure Land: in the gathering and helping light of the Lord Amitabha Buddha, there is no more danger of demons. e) See Năm Điều Kiện Cần Thiết Để Thành Công Của Người Tu Thiền. f) Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát sau khi kết hợp tổng quát về tinh yếu của pháp Đại Thừa, và trình bày xong đường lối tu tập, Ngài đã bảo: “Cõi Ta Bà phiền não cang cường, chánh tín khó vững, không thường được gặp Phật nghe pháp, đường tu nhiều hiểm nạn chướng duyên. Nên biết Đức Như Lai có phương tiện thù thắng, dạy cầu sanh về cõi Tịnh Độ ở Tây Phương. Như trong khế kinh nói 'nếu chuyên tâm niệm Phật A Di Đà, đem công đức tu hồi hướng cầu sanh Tây Phương, thì sẽ được về thế giới Cực Lạc, thường thấy Phật nghe pháp, không còn thối chuyển. Nếu hành giả y theo đường lối tu nầy, quyết định sẽ được vào chánh định tụ.”—In the Awakening of Faith, after summarizing the essential points of Mahayana doctrine and explaining the path of cultivation, the Patriarch Asvaghosha added: “Next, suppose there is a man who learn this teaching for the first time and wishes to seek the correct faith but lacks courage and strength. Because he lives in this world of suffering, he fears that he will not always be able to meet the Buddhas and honor them personally, and that faith being difficult to perfect, he will be inclined to fall back. He should know that the Tathagathas have an excellent expedient means by which they can protect his faith: that is, through the strength of wholehearted meditation-recitation on Amitabha Buddha, he will in fulfillment of his wishes be able to be born in the Buddha-land beyond, to see the Buddha always, and to be forever separated from the evil states of existence. It is as the sutra says, 'if a man meditates wholly on Amitabha Buddha in the world of the Western Paradise and wishes to be born in that world, directing all the goodness he has cultivated toward that goal, then he will be born there.' Because he will see the Buddha at all times, he will never fall back. If a cultivator follows this path, he will be able to be born there in the end because he abides in the correct samadhi.”
tam chủng nhân
Three kinds of people—See Nhị Chủng Nhân.
tam chủng nhân nan báo
(三種人難報) Ba hạng người khó báo đền ân đức. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 66 thì có 3 hạng người mà ân đức của họ đối với hữu tình rất khó báo đền. Đó là: 1. Người khuyên mình xuất gia: Nếu có người nói pháp cho mình nghe, khuyên mình xuất gia, cạo tóc nhuộm áo, đem tâm chính tín thụ trì tịnh giới, cho đến thành tựu bồ đề, thì ân đức của người ấy rất khó báo đền. 2. Người giúp mình biết rõ họa phiền não: Chúng sinh tích chứa phiền não hoặc nghiệp, chuốc lấy các khổ sinh tử; nếu có người nói pháp cho mình nghe, khiến mình thấy rõ sự tai hại của phiền não mà diệt trừ, thì ân đức của người ấy rất khó báo đền.3. Người giúp mình được lậu tận: Nếu có người nói pháp cho mình nghe, chỉ dạy mình tu hành đúng như pháp, phá trừ phiền não, thoát khỏi khổ sinh tử, chứng được niềm vui của Niết bàn chân không, thì ân đức người ấy rất khó báo đền.
tam chủng nhẫn hành
Three kinds of patience or forbearance—See Tam nhẫn.
; (三種忍行) Ba thứ hạnh nhẫn chịu. Cứ theo Chư kinh yếu tập quyển 10 thì Bồ tát tu hành có 3 hạnh nhẫn của thân, khẩu, ý: 1. Thân nhẫn hạnh: Khi tu hành, Bồ tát xả bỏ thân mệnh, tài sản không hề sẻn tiếc, cho đến dù có bị chém đứt thân thể cũng vẫn chịu đựng được. 2. Khẩu nhẫn hạnh: Khi tu hành, Bồ tát dẫu có bị khinh khi, đánh mắng, cũng vẫn nhẫn chịu, không phân trần tranh cãi. 3. Ý nhẫn hạnh: Khi tu hành, dù Bồ tát bị người hủy báng nhục mạ, nổi nóng mắng chửi, cũng vẫn nhẫn chịu như không nghe thấy gì, không sinh tâm oán giận...
Tam chủng phiền não
三種煩惱; C: sānzhǒng fánnăo; J: sanshu bonnō;|Ba loại phiền não: 1. Những phiền não xảy ra trên Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道), và những phiền não không xuất sinh trên hai con đường trên (theo Nhị chướng nghĩa 二障義). 2. Lục căn (六根), Lục cảnh (六境) và Lục thức (六識).
tam chủng phiền não
xem ba loại phiền não.
tam chủng pháp hoa
(三種法華) Ba loại Pháp hoa. Chỉ cho Căn bản, Ẩn mật và Hiển thuyết Pháp hoa, đây là chủ trương của tông Thiên thai Nhật bản. 1. Căn bản Pháp hoa: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Kinh này là pháp tự nội chứng của đức Phật, thuộc về Pháp hoa mà Phật vẫn chưa nói ra. 2. Ẩn mật Pháp hoa: Chỉ cho các kinh ở thời A hàm, Phương đẳng, Bát nhã. Các kinh này thuộc về Tam thừa mà đức Phật phương tiện nói rộng cho các căn cơ thấp kém hơn, nhưng nghĩa lí giáo thuyết trong đó cũng có ẩn chứa pháp Nhất thừa. 3. Hiển thuyết Pháp hoa: Chỉ cho kinh Pháp hoa. Kinh này nói rõ Phật thừa duy nhất. Về phương diện Pháp hoa khẩu truyền thì có Tam chủng Pháp hoa do ngài Tuệ tư và Tuệ uy lập riêng. Ngoài ra còn có các thuyết lập Tứ chủng Pháp hoa, Ngũ chủng Pháp hoa, Thất chủng Pháp hoa... Thuyết này kết hợp với Mật giáo thì nói rõ 2 bộ Thai tạng giới và Kim cương giới là chẳng phải hai, hoặc nói ấn và chủng tử là chẳng phải một cũng chẳng phải khác.
tam chủng pháp thân
Three kinds of dharmakaya—See Tam Pháp Thân.
; (三種法身) I. Tam Chủng Pháp Thân. Ba loại Pháp thân do ngài Cưu ma la thập thành lập. 1. Pháp hóa sinh thân: Hóa thân Phật do pháp tính hóa hiện, tức thân Kim cương. 2. Ngũ phần pháp thân: Tức 5 phần công đức giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát, tri kiến. 3. Thực tướng pháp thân: Tức thực tướng của các pháp tính không. [X. Chú Duy ma kinh Q.3]. II. Tam Chủng Pháp Thân. Ba loại Pháp thân do tông Thiên thai thành lập. 1. Đãn không pháp thân: Pháp thân của Tiểu thừa. 2. Tức giả pháp thân: Pháp thân của Đại thừa Biệt giáo, là diệt sắc vô thường mà đạt được Thường; 3 pháp còn lại là Lạc, Ngã, Tịnh cũng như thế. 3. Tức trung pháp thân: Pháp thân của Đại thừa Viên giáo. Nghĩa là pháp thân của Như lai chẳng phải thường chẳng phải vô thường, 3 pháp Lạc, Ngã, Tịnh, cũng thế.[X. Thiên thai nhân vương kinh sớ Q.2].III. Tam Chủng Pháp Thân. Chỉ cho Lí pháp thân, Trí pháp thân và Lí trí vô ngại pháp thân.
tam chủng phát tâm
(三種發心) I. Tam Chủng Pháp Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm bồ đề mà Bồ tát phát khởi ở giai vị tu đạo, đó là: 1. Tín thành tựu phát tâm: Hạnh Thập tín viên mãn, tín tâm đã thành tựu, tiến vào Sơ phát tâm trụ trong giai vị Thập trụ.2. Giải hành phát tâm: Giải là hiểu rõ, Hành là tu hành. Nghĩa là trong giai vị Thập hành hiểu được pháp tính vốn không, tu hành 6 độ, phát tâm hồi hướng, tiến vào giai vị Thập hồi hướng. 3. Chứng phát tâm: Chứng là chứng nhập. Nghĩa là nhập Sơ địa cho đến Thập địa. Sự chứng nhập này không có cảnh giới, chỉ là trí Chân như, gọi là Pháp thân; pháp thân hiển phát nên gọi là Chứng phát tâm. [X. Thập địa kinh luận Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. II. Tam Chủng Phát Tâm. Ba thứ tâm bồ đề do Bồ tát phát khởi trong Bồ đề tâm văn. Đó là: 1. Đại bi tâm: Bồ tát đã liễu ngộ tự tâm vốn không sinh diệt nên thương xót chúng sinh uổng chịu trầm luân trong 6 đường, tuy mình chưa chứng bồ đề nhưng nguyện cho chúng sinh giải thoát. Do đó, phát tâm đại bi đồng thể rộng lớn, thực hành Tứ nhiếp pháp suốt đời vị lai, nhiếp thụ các chúng sinh ấy, khiến về nguồn chân, cùng thành Phật đạo. 2. Đại trí tâm: Bồ tát đã khởi phát đại trí, thệ độ chúng sinh, phẩm loại rất nhiều, căn khí khác nhau, nên phải phụng sự hết thảy chư Phật, học rộng diệu pháp, mỗi mỗi chứng nhập, chuyển hóa chúng sinh, phát trí đại bi rộng lớn. 3. Đại nguyện tâm: Tâm vốn thanh tịnh, nhưng bị trần lao che lấp lâu ngày nên tập khí khó có thể tiêu trừ ngay được, sợ bị luân hồi trong các đường ác, không gặp được thắng duyên Phật pháp, nên phát đại nguyện tu đủ muôn hạnh, hạnh và nguyện trợ giúp lẫn nhau, giống như chiếc xe vận chuyển không ngừng, thẳng đến bồ đề. III. Tam Chủng Phát Tâm. Chỉ cho 3 thứ phát tâm cầu vãng sinh nói trong kinh Quán Vô lượng thọ Phật, đó là: 1. Chí thành tâm: Chúng sinh ở thế giới Sa bà này muốn sinh về cõi nước của đức Phật kia thì nên phát tâm chuyên chí thành thực, chính niệm chân như, cầu nguyện vãng sinh. 2. Thâm tâm: Người muốn cầu quả Phật vô thượng thì tâm cần phải khế hợp thâm lí, trồng chắc căn lành, như gốc sâu khó trốc. 3. Phát nguyện tâm: Khéo hồi hướng công đức của thực tâm Chân như và thiện tâm Thú quả, phát nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ, mau chứng pháp nhẫn, diệt trừ tất cả khổ não cho chúng sinh. [X. kinh Quán Vô lượng thọ Phật]. (xt. Tam Tâm).
tam chủng phương ngôn
(三種方言) Ba thứ ngôn giáo dùng để giải thích Bát bất trung đạo do ngài Hưng hoàng Pháp lãng thuộc tông Tam luận đời Tùy lập ra. Cứ theo Đại thừa huyền luận quyển 1 thì 3 loại phương ngôn ấy là: 1. Loại phương ngôn thứ nhất: Chẳng phải sinh, chẳng phải chẳng sinh là trung đạo, sinh mà chẳng sinh là giả danh. Đã là sinh giả thì khó gọi được là sinh hay chẳng sinh, cho nên gọi là Tục đế trung đạo. Mà chẳng sinh giả thì cũng khó gọi được là chẳng sinh hay chẳng phải chẳng sinh, cho nên gọi là Chân đế trung đạo. Sinh diệt của Tục đế đều chẳng phải là sinh diệt, là sinh diệt của vô sinh diệt, sinh diệt của Chân đế đều chẳng phải là vô sinh diệt, là vô sinh diệt của sinh diệt, cho nên chẳng phải là sinh diệt, chẳng phải là vô sinh diệt, là Nhị đế hợp minh trung đạo. Cách thuyết minh 3 thứ Trung đạo này là Đoạt phá môn triệt để phá trừ lập trường mà đối phương chấp trước để nêu tỏ trung đạo. 2. Loại phương ngôn thứ hai: Sinh diệt của vô sinh diệt là Tục đế trung đạo, vô sinh diệt của sinh diệt là Chân đế trung đạo; chẳng phải sinh diệt, chẳng phải vô sinh diệt là Nhị đế hợp minh trung đạo. Cách thuyết minh này là Tung phá môn tạm thời thừa nhận lập trường của đối phương để chỉ trích sự mâu thuẫn của họ là giả chấp, triệt để phá bệnh chấp của đối phương để nêu tỏ Trung đạo. 3. Loại phương ngôn thứ ba: Tục đế là giả sinh tức bất sinh, giả diệt tức bất diệt, loại bất sinh bất diệt này là Tục đế trung đạo; chẳng phải chẳng sinh, chẳng phải chẳng diệt là Chân đế trung đạo; chẳng phải sinh diệt, chẳng phải chẳng sinh diệt là Nhị đế hợp minh trung đạo. Cách thuyết minh này là Bình đẳng môn trực tiếp hiển bày đạo lí chân thực, triệt để phá trừ bệnh chấp của đối phương để nêu tỏ Trung đạo. Về ngữ nghĩa của từ ngữ phương ngôn, Đại thừa tam luận đại nghĩa sao quyển 2 của ngài Huyền duệ cho rằng: Phương là phương vực, là phương vực sở duyên của chúng sinh; Ngôn là ngôn giáo, là ngôn giáo tùy duyên của năng hóa. Tóm lại, ngôn ngữ của 1 địa phương gọi là Phương ngôn, cũng tức là ngôn giáo của bậc Thánh năng hóa là tùy theo căn cơ sở hóa mà được thiết lập. [X. Trung quán luận sớ Q.1, phần đầu; Đại thừa chính quán lược tư kí; Tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu Q.3; Đại thừa huyền vấn đáp Q.1; luận Thập trụ tâm Q.7].
tam chủng phật tử
Có ba loại Phật tử—There are three kinds of Buddhist followers: 1) Ngoại Tử: Người chưa tin đạo—External sons, who have not yet believed. 2) Thứ Tử: Người theo Tiểu Thừa—Secondary sons, or Hinayanists. 3) Chân Tử: Người theo Đại Thừa—True sons, or Mahayanists.
tam chủng quang minh
The three kinds of lights: (a) external -sun, moon, stars, lamps, etc.; (b) dharma, or the light of right teaching and conduct; (c) the effulgence or bodily halo emitted by Buddha, bodhisattva, deva.
; Ba loại ánh sáng—Three kinds of light: 1) Ngoại quang: External light (sun, moon, stars, lamps, etc). 2) Pháp quang: Dharma light or light of right teaching and conduct. 3) Phật quang: The effulgence or bodily halo emitted by Buddhas, Bodhisattvas and devas,
; (三種光明) Ba thứ ánh sáng được nói trong luận Du già sư địa quyển 11, đó là: 1. Ánh sáng bên ngoài: Chỉ cho ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, các vì sao, hỏa châu, đèn đuốc... Các thứ ánh sáng này có khả năng xua tan bóng tối, vì thế gọi là Ánh sáng bên ngoài. 2. Ánh sáng của pháp: Chỉ cho ánh sáng do nghe pháp rồi quán sát tu tập mà hiển hiện, làm cho tâm sáng và thấy rõ tính. Loại ánh sáng này có công năng phá trừ bóng tối của sự ngu si, hiển phát bản giác diệu minh, vì thế gọi là Ánh sáng của pháp. 3. Ánh sáng trên thân: Chỉ cho ánh sáng hiển hiện trên thân của chư Phật, Bồ tát, Nhị thừa và chư thiên... Loại ánh sáng này cũng có công năng phá trừ bóng tối, nên gọi là Ánh sáng trên thân.
tam chủng quán đảnh
Ba loại quán đảnh—Three kinds of baptism—Every Buddha baptizes a disciple by either one of the below three kinds: (A) Theo truyền thống Đại Thừa—Mahayana Tradition: 1) Ma đảnh quán đảnh: Every Buddha baptizes a disciple by laying a hand on his head. 2) Thọ ký quán đảnh: Buddhas baptizes a disciple by predicting Buddhahood to him. 3) Phóng quang quán đảnh: Buddhas baptizes a disciple by revealing his glory to him to his profit. (B) Theo truyền thống Mật Giáo—Tantric Tradition: 1) Sái Thủy Quán Đảnh: To sprinkle the head with water. 2) See (A) (2). 3) See (A) (3).
tam chủng quán đỉnh
The threekinds of baptism: (1) (a) Ma đỉnh quán đỉnh every Buddha baptizes a disciple by laying a hand on his head; (b) thụ ký by predicting Buddhahood to him; (c) phóng quang by revealing his glory to him to his profit. (2) Shingon Chân ngôn tông has (a) baptism on acquiring the mystic word; (b) on remission of sin and prayer for blessing and protection; (c) on seeking for reward in the next life.
tam chủng quỷ thần ma
(三種鬼神魔) Chỉ cho 3 loại quỉ nói trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4: 1. Tinh mị quỉ: Quỉ này do yêu tinh biến hóa để mê hoặc người, hiện hình những con thú như chuột, trâu... trong 12 giờ, hoặc hình thiếu niên, thiếu nữ, ông già, hoặc các hình tướng dễ sợ để não loạn người tu hành. Mỗi con thú sẽ đến vào đúng giờ của nó. Nếu nó thường đến vào giờ mão thì chắc chắn đó là loài chồn, thỏ, hễ nói đúng tên của chúng thì tinh mị liền tan. Nếu chúng đến vào các giờ khác thì cứ suy đây mà biết, gọi đúng tên chúng thì đều tiêu diệt. 2. Phụ dịch quỉ: Phụ dịch tức là ác dạ xoa. Cứ theo Ma ha chỉ quán thì vào thời mạt pháp của đức Phật Câu na hàm, có 1 tỉ khưu thích não loạn chúng tăng, bị đuổi ra khỏi tinh xá, bèn phát lời thề ác độc là thường não loạn người tọa thiền. Loài quỉ này cũng biến ra nhiều hình tướng như loài sâu bọ bám vào đầu và mặt người mà châm chích, hoặc ôm chặt lấy người, hoặc nói năng ồn ào và biến làm hình các con thú để não loạn người tu hành. Hành giả phải hay biết ngay lúc đó và trong bóng tối quở mắng loài quỉ kia (Đại 46, 507 thượng): Ta hiện giờ biết ngươi rồi, ngươi ở trong cõi Diêm phù đề này ăn lửa và ngửi trộm hương lạp cát chi. Ngươi là loại tà kiến thích phá giới. Ta nay giữ giới, quyết không sợ ngươi, rồi tụng giới luật để trừ khử nó, quỉ kia liền rút lui, không não loạn được. 3. Ma la quỉ (Ma la, Phạm:Màra, nghĩa là hay cướp mệnh sống): Quỉ này thường cướp mệnh sống trí tuệ của người tu hành, thường biến ra 3 loại hình tướng để não loạn người tu hành, tức hiện ra 5 trần cảnh đáng sợ như màu sắc trông xấu xí, hôi thối, âm thanh nghe rùng rợn, chối tai... và các hình tướng trái ý như là hổ(cọp), chó sói, sư tử... hoặc hiện ra 5 trần cảnh khả ái như sắc đẹp, tiếng hay và các hình tướng thuận tình như cha, mẹ... hoặc hiện ra 5 trần cảnh tầm thường vẫn thấy và các hình tướng chẳng trái chẳng thuận... Ba loại hình trên đây hoặc làm sợ hãi, hoặc khiến ưa thích, đều có thể làm cho tâm người tu hành động loạn, thiền định không hiển phát được.
tam chủng sa di
Ba loại Sa Di dựa theo tuổi tác—Three kinds of Sramanera which are recognized according to age: 1) Khu Ô Sa Di: Sa Di đuổi quạ, tuổi từ 7 đến 13 (đủ khả năng đuổi quạ)—“Drive away crows” Sramanera, age from 7 to 13, old enough to drive away crows. 2) Ứng Pháp Sa Di: Sa Di Ứng Pháp, tuổi từ 14 đến 19, đủ khả năng thực hành theo Phật pháp—One who is able to respond to or follow the doctrine, age from 14 to 19. 3) Sa Di: Tuổi từ 20 đến 70—Sramanera, age from 20 to 70.
tam chủng sanh thân
(三種生身) Ba thứ thân do học phái Số luận thành lập.1. Vi tế thân(gọi tắt: Tế thân): Chỉ cho thân mới sinh, tức là thân trung ấm. Thân vi tế này sinh vào trong thai, nhờ tinh huyết của cha mẹ hòa hợp mà được tăng trưởng. Vì sự sai biệt vi tế của nó có khả năng sinh ra thân đầu tiên, nên gọi là thân Thường trụ. Ngay khi thô thân chết đi thì tế thân nếu tương ứng với thiện trong các pháp hữu lậu thì theo thứ tự thụ sinh trong các cõi: Phạm, Trời, Thế chủ, người...; nếu tương ứng với ác trong các pháp hữu lậu thì thụ sinh vào đường súc sinh như các loài 4 chân(bò, ngựa, chó, dê...), có cánh (chim), bò sát(rồng, rắn...), đi ngang(cua...). Vì thân vi tế thường trụ chưa sinh trí chán lìa nên luân chuyển trong 8 nơi; nếu sinh khởi trí chán lìa thì bỏ thân vi tế này mà được giải thoát. 2. Phụ mẫu sinh thân: Chỉ cho Tế thân vào trong thai mẹ dần dần đầy đủ tướng mạo con người. Thân này và Cộng hòa hợp thân đều thuộc thô thân. Thô thân nương vào máu, thịt, gân của mẹ và móng, lông, xương của cha mà sinh. Đây là Lục y thân (thân nương vào 6 thứ trên)giúp ích cho Tế thân ở trong. 3. Cộng hòa hợp thân(cũng gọi Đại dị thân): Thân sinh ra từ Phụ mẫu sinh thân trong thai và lấy 5 đại (đất, nước, lửa, gió, không)bên ngoài làm chỗ nương ở. Thân này và Phụ mẫu sinh thân đều có sinh diệt, cho nên không phải thân thường trụ. [X. luận Kim thất thập Q.trung; luận Đại trí độ Q.12].
tam chủng sinh
The three sources, or causes of the rise of the passions and illusions: (a) Tưởng sinh the mind, or active thought; (b) tướng sinh the objective world; (c) lưu chú sinh their constant interaction, or the continuous stream of latent predispositions.
tam chủng sinh ái dục
Ba nguồn gốc gây nên dục vọng và ảo tưởng—Three sources or causes of the rise of the passions and illusions: 1) Tưởng sinh: The mind or active thought. 2) Tướng sinh: The objective world. 3) Lưu chú sinh: Constant interaction, or the continuous stream of latent predispositions.
tam chủng sám hối pháp
Three modes of repentance: (a) vô sinh sám to meditate on the way to prevent wrong thoughts and delusions; (b) thủ tướng sám to seek the presence of the Buddha to rid one of sinful thoughts and passions; (c) tác pháp sám in proper form to confess one's breech of the rules before the Buddha and seek remission.
; Ba loại sám hối—Three modes of repentance: 1) Vô sinh sám hối: To meditate on the way to prevent wrong thoughts and delusions—See Vô Sanh Hối. 2) Thủ tướng sám hối: To seek the presence of the Buddha to rid one of sinful thoughts and passions—See Thủ Tướng Sám. 3) Tác pháp sám: In proper form to confess one's breach of the rules before the Buddha and seek remission—See Tác Pháp Sám.
tam chủng sắc
Three kinds of rùpa, i.e. appearance or object: (1) (a) visible objects; (b) invisible objects, e.g. sound; (c) invisible, immaterial, or abstract objects. (2) (a) colour; (b) shape; (c) quality.
; Ba loại sắc—Three kinds of rupa (appearance or object): (A) 1) Hiện sắc: Visible objects (body, face). 2) Ẩn sắc: Invisible objects (sound, voice). 3) Trừu tượng sắc: Immaterial or abstract objects. (B) 1) Sắc: Color. 2) Tướng (hình thể): Shape. 3) Phẩm chất: Quality.
tam chủng sở sanh khổ
xem ba loại khổ.
tam chủng tam muội
The three meditations on the relationship of the noumenal and phenomenal of the Hoa Nghiêm tông: (a) lý pháp giới the universe as law or mind, that all things are chân như, i.e. all things or phenomena are of the same Buddha-nature, or the Absolute; (b) lý sự vô ngại pháp giới that the Buddha-nature and the thing, or the Absolute and phenomena are not mutually exclusive; (c) sự sự vô ngại pháp giới that phenomena are not mutually exclusive, but in a common harmony as part of the whole.
tam chủng tam quán
The three types of meditation on the principles of tam đề, i.e. không, giả, trung.
tam chủng tam thế
See Tam Thế.
tam chủng thanh tịnh
The three purities of a bodhisattva: (a) Tâm thanh tịnh a mind free from all impurity; (b) thân thanh tịnh a body pure because never to be reborn save by transformation; (c) tướng thanh tịnh an apparence perfectly pure and adorned.
; Ba loại thanh tịnh của Bồ Tát—Three purities of a bodhisattva—See Tam Thanh Tịnh.
; (三種清淨) Ba thứ thanh tịnh mà Bồ tát phải có đầy đủ được nói trong luận Đại trí độ quyển 43. Đó là: 1. Tâm thanh tịnh: Không sinh tâm nhiễm ô, tâm sân hận, tâm kiêu mạn, tâm keo tham, và tâm tà kiến. 2. Thân thanh tịnh: Tâm thanh tịnh nên không còn phải chịu thân đời sau, thường được hóa sinh. 3. Tướng thanh tịnh: Tâm và thân đều đã thanh tịnh, thì được thân có đầy đủ tướng hảo trang nghiêm.
tam chủng thiên
Three definitions of heaven: (a) as a name, o oname, or title, e.g. divine king, son of Heaven, etc.; (b) as a place for rebirth, the heavens of the gods; (c) the pure Buddha-land.
; Ba loại trời—Thre kinds of heaven: (A) 1) Tự thiên: Heaven by name or title (divine king, son of king, etc). 2) Tái sanh thiên: Heaven as a place of rebirth (the heavens of the gods). 3) Tịnh Phật thiên: Cung trời nơi chư Phật đồng cư—The pure Buddha-land. (B) 1) Danh Thiên: Thiên vương hay thiên tử, vua trong loài người—Famous rulers on earth 2) Sanh Thiên: Thiên thú trong lục thú (từ vương thiên đến phi tưởng thiên)—The highest incarantions of the six paths. 3) Tịnh Thiên: Cõi của các bậc Thánh giả từ Thanh Văn đến Duyên Giác, đã diệt trừ hết phiền não cấu chướng—The pure or the saints, from Sravakas to Pratyeka-buddhas.
tam chủng thiền
(三種禪) Ba thứ thiền định. 1. Thế gian thiền: Chỉ cho thiền định cõi Sắc và cõi Vô sắc. Có 2 thứ: a) Căn bản vị thiền, có 3 phẩm: Tứ thiền, Tứ vô lượng và Tứ thông, gọi chung là Thập nhị môn thiền. Người chán ngán sự tán loạn ở cõi Dục thì tu Tứ thiền; người muốn cầu phúc lớn thì tu Tứ vô lượng, còn người chán sự bó buộc ở cõi Sắc thì tu Tứ không. b) Căn bản tịnh thiền: Gặp Phật ra đời, nghe Phật thuyết pháp, nhờ đó mà phát ngay được trí vô lậu, cho nên gọi là Tịnh thiền. Cũng có 3 phẩm: Lục diệu môn, Thập lục đặc thắng và Thông minh thiền, theo thứ tự là pháp tu của người nhiều tuệ tính, người nhiều định tính và người định tuệ bằng nhau. 2. Xuất thế thiền: Có 4 loại: Quán, Luyện, Huân, Tu. a) Quán thiền: Quán là quán chiếu rõ ràng các cảnh bất tịnh nên gọi là Quán. Có 4 thứ: Cửu tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ và Thập nhất thiết xứ. b) Luyện thiền: Luyện là rèn luyện, tức chỉ cho Cửu thứ đệ định; định này từ cạn đến sâu, theo thứ tự rèn luyện Tứ thiền đến Diệt tận định, không xen lẫn các niệm khác, dùng vô lậu rèn luyện hữu lậu, thông suốt Bát địa. c) Huân thiền: Huân là huân tập thuần thục, như tam muội Sư tử phấn tấn có công năng diệt trừ sự xen tạp các niệm khác, thuận nghịch tiến thoái đều tùy ý tự tại. d) Tu thiền: Loại thiền định siêu việt, tu các định trước làm cho tinh diệu, có thể xuất nhập một cách tự tại. 3. Xuất thế gian thượng thượng thiền: Tức 9 thứ Đại thiền nói trong kinh Địa trì quyển 5. a) Tự tính thiền: Tu quán thực tướng của tâm, không tìm cầu bên ngoài. b) Nhất thiết thiền: Được tất cả công đức tự hành, hóa tha. c) Nan thiền: Thiền sâu xa, mầu nhiệm khó tu. d) Nhất thiết môn thiền: Tất cả thiền định đều từ môn này mà ra. e) Thiện nhân thiền: Thiền này các chúng sinh có thiện căn lớn đều cùng tu. f) Nhất thiết hành thiền: Bao nhiếp tất cả hành pháp của Đại thừa. g) Trừ não thiền: Trừ diệt khổ não của chúng sinh. h) Thử thế tha thế lạc thiền: Thiền khiến cho chúng sinh đều được niềm vui trong đời này và đời khác. i) Thanh tịnh tịnh thiền: Dứt hết hoặc nghiệp, được quả báo thanh tịnh đại bồ đề. [X. luận Câu xá Q.18; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, phần 1; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.1, thượng].
tam chủng thiện căn
The three kinds of good roots - almsgiving bố thí, mercy từ bi, and wisdom trí tuệ.
; Ba loại thiện căn—Three kinds of good roots: 1) Bố thí: Almsgiving. 2) Bi mẫn: Mercy. 3) Trí huệ: Wisdom.
tam chủng thiện thân
Ba điều thiện nơi thân—Three good deeds of the body: 1) Không sát sanh: Not to kill any living beings. 2) Không trộm cắp: Not to steal any properties of others. 3) Không tà dâm: Not to commit adultery.
tam chủng thiện tri thức
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, người đả thất chuyên tu (chuyên tu bảy ngày trong thất), phải có ba bậc thiện tri thức—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, in conducting a seven-day retreat, one can either practice alone, to attain purity more easily, or with many other cultivators. There are three types of good spiritual advisors: 1) Giáo Thọ Thiện Tri Thức: Teaching Spiritual Advisor—Giáo thọ thiện tri thức là vị thông hiểu Phật pháp và có kinh nghiệm về đường tu để thường chỉ dạy mình; hay mình đến để thỉnh giáo trước và sau khi kiết thất. Trong trường hợp nhiều người đồng đả thất, nên thỉnh vị giáo thọ nầy làm chủ thất, mỗi ngày đều khai thị nửa giờ hoặc mười lăm phút—This is someone conversant with the Dharma and experienced in cultivation. The retreat members can have him follow their progress, guiding them throughout the retreat, or they can simply seek guidance before and after the retreat. When several persons hold a retreat together, they should ask a spiritual advisor to lead the retreat and give a daily fifteen-to-thirty-minute inspirational talk. 2) Ngoại Hộ Thiện Tri Thức: Caretaking Spiritual Advisor—Đây là một hay nhiều vị ủng hộ bên ngoài, lo việc cơm nước, quét dọn, cho hành giả được yên vui tu tập. Thông thường, vị nầy thường được gọi là người hộ thất—This refers to one or several persons assisting with outside daily chores such as preparing meals or cleaning up, so that on retreat can cultivate peacefully without distraction. Such persons are called “Retreat assistant.” 3) Đồng Tu Thiện Tri Thức: Common Practice Spiritual Advisor—Đây là những người đồng tu một môn với mình, để nhìn ngó sách tấn lẫn nhau. Vị đồng tu nầy có thể là người đồng kiết thất chung tu, hoặc có một ngôi tịnh am tu ở gần bên mình. Ngoài sự trông nhìn sách tấn, vị đồng tu còn trao đổi ý kiến hoặc kinh nghiệm, để cùng nhau tiến bước trên đường đạo. Lời tục thường nói: “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn” là ý nghĩa nầy—These are persons who practice the same method as the individual(s) on retreat. They keep an eye on one another, encouraging and urging each other on. These cultivators can either be participants in the same retreat or cultivators living nearby. In addition to keeping an eye out and urging the practitioners on, they can exchange ideas or experiences for the common good. This concept has been captured in a proverb: “Rice should be eaten with soup, practice should be conducted with friends.”
tam chủng thiện tâm
Ba điều thiện nơi tâm—Three good deeds of the mind: 1) Không tham lam: Not to be greedy. 2) Không sân hận: Not to be angry. 3) Không si mê tà kiến: Not to be ignorant with wrong views.
tam chủng thuỵ miên
(三種睡眠) Thụy miên nghĩa đen là ngủ gục, nghĩa bóng là phiền não; Thụy miên ở đây là tác dụng làm cho tâm trở nên mờ tối. Theo Di giáo kinh luận thì có 3 nguyên nhân gây ra thụy miên: 1. Do ăn uống gây ra. 2. Do thời tiết gây ra. 3. Do tâm sinh ra. Hai nguyên nhân đầu là Thụy miên của A la hán, có thể dùng sự tinh tiến để đối trị; như ban ngày thì siêng năng tu tập các pháp lành, lúc đầu hôm và cuối đêm cũng không bỏ phế, nửa đêm có thể tụng kinh, không vì ngủ nghĩ mà luống phí 1 đời. Riêng thụy miên từ trong tâm sinh khởi thì có 2 cách đối trị: 1. Đối trị bằng tư duy quán sát: Quán xét các pháp 5 ấm sinh diệt, hư hoại, nghĩ về lửa vô thường thiêu đốt các cõi thế gian, cầu trí tuệ thiền định để tự độ. 2. Đối trị bằng giới pháp thanh tịnh: Thiền định tương ứng với giới tâm, để tâm mình an trụ trong 6 cảnh sắc, thanh..., có năng lực làm cho tự địa(hoàn cảnh của mình) thanh tịnh trang nghiêm, cũng khiến cho tha địa(hoàn cảnh của người khác) không lỗi. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.31; kinh Phật bản hạnh tập Q.59]. (xt. Thụy Miên).
tam chủng thành tựu
(三種成就) Chỉ cho 3 thứ thành tựu: Chủng tử, Tự tại và Hiện hành là giáo thuyết của tông duy thức. 1. Chủng tử thành tựu: Chỉ cho tất cả phiền não do Kiến đạo đoạn và Tu đạo đoạn, các pháp vô kí tự nhiên sinh khởi và tất cả chủng tử chưa bị tổn hại, vẫn còn tồn tại như Sinh đắc thiện...; được chia làm 2 thứ: a) Thể thành tựu: Thể chân thực vĩnh viễn không bị tổn hoại. b) Công năng thành tựu: Tác dụng công năng không cần phải đối trị mà thành tựu. 2. Tự tại thành tựu: Chỉ cho những thiện pháp nhờ sức gia hạnh mà sinh ra; loại chủng tử này được nhậm vận tự tại, cho nên gọi là Tự tại thành tựu. 3. Hiện hành thành tựu: Chỉ cho sự hiện hành của tất cả pháp. Tức các pháp 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới thông cả hữu lậu, vô lậu, thiện, bất thiện, vô kí... [X. luận Du già sư địa Q.52, 56; luận Câu xá Q.21; luận Thành duy thức Q.1; luận Đại tì bà sa Q.15].
tam chủng thân
The Thiên Thai school has a definition of sắc thân the physical body of Buddha; pháp môn thân his psychological body with its vast variety; thật tướng thân his real body or dharmakàya. The esoteric sect ascribes a trikàya to each of its honoured ones.
; See Tam Thân.
; (三種身) Ba thứ thân. Thân nghĩa là tụ tập. Luận Đại thừa ngũ uẩn cho Danh, Cú, Văn là 3 thứ thân. Đó là: 1. Danh thân: Y cứ vào việc mà đặt tên, tên nói lên tự tính, đó là Danh thân. 2. Cú thân: Văn pháp tiếng Phạm là do liên kết các chữ lại thành câu, như bồ là 1 chữ, đề là 1 chữ, liên kết 2 chữ lại gọi là Bồ đề. Cho nên câu nói lên sự sai khác, đó là Cú thân: 3. Văn thân: Văn tức văn tự, là chỗ nương của 2 pháp Danh và Cú.
tam chủng thân khổ
Three dukhas or afflictions of the body: 1) Già: Old age. 2) Bịnh: Sickness. 3) Chết: Death.
tam chủng thường
A Buddha in his three eternal qualities: (a) bản tính thường in his nature or dharmakàya pháp thân; (b) bất đoạn thường in his unbroken eternity, sambhogakàya báo thân; (c) in his continuous and eternally varied forms, nirmànakàya ứng hóa thân. (c) tương tục thường
; Ba phẩm chất thường hằng của Phật—A Buddha in his three eternal qualities: 1) Bổn tánh thường: Buddha nature or Dharmakaya. 2) Bất đoạn thường: Buddha's unbroken eternity or Sambhogakaya. 3) Tương tục thường: Buddha's continuous and eternally varied forms or Nirmanakaya.
; (三種常) Chỉ cho 3 tính thường hằng của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân: 1. Bản tính thường: Bản tính của Pháp thân là thường trụ, không sinh không diệt.2. Bất đoạn thường: Báo thân thường nương vào Pháp thân, không có gián đoạn. 3. Tương tục thường: Ứng thân sau khi mất đi lại tiếp tục hóa hiện vô cùng.
tam chủng thần biến
(三種神變) Cũng gọi Tam chủng thị đạo, Tam thị hiện, Tam thần biến. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 86 thì đức Như lai có 3 thứ thần biến là: 1. Thuyết pháp thần biến: Như lai dùng trí vô ngại biết rõ nghiệp nhân thiện ác và quả báo thiện ác của chúng sinh, hiện tất cả thần biến mà nói pháp cho chúng sinh nghe. 2. Giáo giới thần biến: Như lai dạy các đệ tử điều gì nên làm, điều gì không nên làm, điều gì nên tin, điều gì không nên tin, cái gì nên gần gũi, cái gì không nên gần gũi, các pháp tạp nhiễm, các pháp thanh tịnh... và hiện các thần thông biến hóa mà dạy răn họ. 3. Thần thông biến hóa: Như lai vì điều phục các chúng sinh kiêu mạn, nên hoặc hiện 1 thân làm nhiều thân, hoặc hiện nhiều thân làm 1 thân, ra vào sườn núi, vách đá không bị ngăn ngại, trên thân ra lửa, dưới thân ra nước; hoặc dưới thân ra lửa, trên thân ra nước; hoặc vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất... dùng các thứ thần thông biến hóa như thế để điều phục các chúng sinh.
tam chủng thắng dũng mãnh
(三種勝勇猛) Ba thứ dũng mãnh thù thắng trong việc tu tập Phật đạo được nói đến trong phẩm Qui y của Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 1. Đó là: 1. Nguyện thắng dũng mãnh: Lúc mới bắt đầu tu hành, phát 4 thệ nguyện rộng lớn, phát tâm mạnh mẽ thành Phật bồ đề, hóa độ tất cả chúng sinh. 2. Hạnh thắng dũng mãnh: Dốc lòng học đạo, tu các diệu hạnh, phát tâm mạnh mẽ, quyết tới bồ đề. 3. Quả thắng dũng mãnh: Nhất tâm tinh tiến, thường thực hành mọi thiện hạnh, phát tâm mạnh mẽ, quyết cầu thành Phật, nhờ tu nhân mà cảm quả, cùng với Phật bình đẳng không hai.
Tam Chủng Thế Gian
(三種世間, Ba Loại Thế Gian): gồm (1) Hữu Tình Thế Gian (有情世間), (2) Khí Thế Gian (器世間), và (3) Ngũ Ấm Thế Gian (五陰世間).
tam chủng thế gian
(三種世間) Cũng gọi Tam thề gian. Chỉ cho 3 loại thế gian. I. Tam Chủng Thế Gian. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 47 thì 3 loại thế gian là: 1. Chúng sinh thế gian: Chỉ cho tất cả chúng sinh được cấu tạo thành bằng 5 ấm, là chính báo năng cư. 2. Quốc độ thế gian: Tức khí thế gian, chỉ cho cõi nước mà hữu tình cư trú, như núi, sông, đất liền..., thuộc về y báo sở cư. 3. Ngũ uẩn thế gian(cũng gọi Ngũ ấm thế gian): Ngũ uẩn tức sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Năm uẩn trong 10 cõi đều có sai khác, cho nên gọi là Ngũ uẩn thế gian, là thể chung của y báo và chính báo. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3]. II. Tam Chủng Thế Gian. Cứ theo Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 thì Tam chủng thế gian gồm:1. Khí thế gian: Chỉ cho 3 nghìn thế giới, là cảnh giới do đức Thích ca Như lai hóa đạo. Khí nghĩa là dung chứa và nương dùng, tức là núi, sông, đất liền... dung chứa chúng sinh, là nơi chúng sinh dùng để nương ở. 2. Chúng sinh thế gian: Năm ấm hòa hợp, cùng chung sinh ra, gián cách khác nhau, là những căn cơ do đức Thích ca Như lai giáo hóa. 3. Trí chính giác thế gian: Chỉ cho bậc Trí giả dùng trí vô lậu mà được Chính giác, tức là đức Phật trong chính báo; hoặc chỉ cho cảnh giới mà các bậc trí nương ở, cũng tức là thế gian siêu xuất 3 cõi luân hồi.[X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.14]. (xt. Xuất Thế Gian). III. Tam Chủng Thế Gian. Ba loại thế gian do học phái Số luận của Ấn độ thành lập: 1. Thiên thượng thế gian: Chỉ cho các Thiên chúng ở trên cõi trời. 2. Nhân gian thế gian: Chỉ cho loài người sống trên mặt đất. 3. Thú đạo thế gian: Chỉ cho loài cầm thú sống ở giữa khoảng trời và đất. Ba loại thế gian này đều do 1 Tự tính đế duy nhất sinh ra. [X. luận Kim thất thập Q.thượng].
tam chủng thị đạo
Three ways in which bodhisattvas manifest themselves for saving those suffering the pains of hell, i.e. thân physically, by supernatural powers, change of form, etc.; ý mentally, through power of memory and enlightenment; khẩu orally, by moral exhortation.
; Ba cách dẫn dắt—Three ways in which bodhisattvas manifest themselves for saving those suffering the pains of hell: 1) Thần biến thị đạo: Dùng thân nghiệp dẫn dắt—Physically, by supernatural powers, change of form. 2) Giáo giải thị đạo: Dùng khẩu nghiệp (lời nói) mà dẫn dắt—Orally, by moral exhortation. 3) Ký thuyết thị đạo: Lúc nào cũng ghi nhớ và tìm đủ mọi cách mả giảng giải bằng ý nghiệp—Mentally, through powers or memory and enlightenment.
; (三種示導) Phạm;Trìịi pràtihàryàịi. Pàli: Tìịi pàỉihàriyàni. Cũng gọi Tam thị hiện, Tam giáo hóa Tam biến hiện, Tam luân, Tam nghiệp luân, Tam thần túc, Tam chủng thần biến. Ba thứ thị đạo, là đức dụng của 3 nghiệp thân, khẩu, ý do Phật, Bồ tát thị hiện để giáo hóa chúng sinh. Cứ theo kinh Đại bát nhã quyển 469 thì Bồ tát có 3 thứ thị đạo là: 1. Thần biến thị đạo: Bồ tát vì thương xót nỗi khổ trong địa ngục kia nên thị hiện sức thần thông, diệt trừ các khổ cụ như nước sôi, dao kiếm, khiến cho chúng sinh nhờ sức thần biến này được ra khỏi địa ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui. 2. Kí thuyết thị đạo: Bồ tát vì thương xót nỗi khổ trong địa ngục kia, nên ghi lấy những điều mà chúng sinh nghĩ trong tâm rồi nói pháp cho họ nghe, khiến chúng sinh nhờ sức pháp này được ra khỏi địa ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui.3. Giáo giới thị đạo: Bồ tát vì thương xót nỗi khổ trong địa ngục kia, nên phát tâm từ bi hỉ xả, nói pháp dạy răn, khiến các chúng sinh nhờ sự dạy răn này, được ra khỏi địa ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui. Còn cứ theo luận Câu xá quyển 27 thì 3 thứ thị đạo là: 1. Thần biến thị đạo (Phạm:Fidhipratihàryaô). 2. Kí tâm thị đạo (Phạm:Anuzàsanìpratihàryaô). 3. Giáo giới thị đạo (Phạm:Àdesapratihàryaô). Ba thứ Thị đạo này tương đương với 3 thông trong 6 thông, tức là Thần biến thị đạo tương đương với Thần cảnh thông, Kí tâm thị đạo tương đương với Tha tâm thông và Giáo giới thị đạo thì tương đương với Lậu tận thông. Lại vì Thần biến, Kí tâm là để giáo hóa ngoại đạo khiến họ qui phục mà tin nhận, còn Giáo giới là để khiến họ phát tâm tu hành nên được xem là tôn quí và thù thắng nhất. Ngoài ra, luận Du già sư địa quyển 27, kinh Đại bảo tích quyển 86, kinh Trung a hàm quyển 35, kinh Trường a hàm quyển 16, kinh Tạp a hàm quyển 8... đều có thuyết Tam chủng thị đạo, hoặc Tam thị hiện, Tam thần túc, nhưng nội dung hơi khác. [X. luận Tập dị môn túc Q.6; luận Tạp a tì đàm tâm Q.6; luận Đại tì bà sa Q.103]. (xt. Lục Thông, Thị Hiện).
tam chủng tinh tiến
(三種精進) I. Tam Chủng Tinh Tiến. Ba thứ tinh tiến do luận Thành duy thức quyển 9 thiết lập. 1. Bị giáp tinh tiến: Phát đại thệ nguyện lợi mình lợi người mạnh mẽ, dù trải qua vô số kiếp cũng không có ý nghĩ trở lui, thề thành tựu việc lớn, cũng như người trong uy thế hùng dũng mặc giáp ra trận.2. Nhiếp thiện tinh tiến: Thu nhiếp các thiện pháp, tinh tiến tu hành. 3. Lợi lạc tinh tiến: Đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh, tâm không mỏi mệt. II. Tam Chủng Tinh Tiến. Ba thứ tinh tiến được thành lập trong kinh Bồ tát thiện giới quyển 5. 1. Trang nghiêm tinh tiến: Bồ tát phát tâm tinh cần tu tập tất cả phạm hạnh, trang nghiêm đạo quả. Lại thị hiện thụ sinh trong 3 cõi để hóa độ chúng sinh, cho đến mở lòng đại bi đi vào trong địa ngục để chịu khổ thay cho chúng sinh, tâm không ngừng nghỉ.2. Nhiếp thiện pháp tinh tiến: Bồ tát đã tu 6 độ, phạm hạnh, không bị phiền não, ác nghiệp và tà kiến khuynh đảo, thu giữ tất cả pháp lành trong thế gian và xuất thế gian, tâm không buông lơi. 3. Lợi ích chúng sinh tinh tiến: Bồ tát trong tất cả thời gian, tu tập Thánh đạo, làm lợi ích hết thảy chúng sinh, dùng mọi phương tiện hóa đạo chúng sinh, khiến họ đều đoạn diệt nhân ác, thành tựu quả thiện, dù trải vô số kiếp, tâm không hề mỏi mệt. [X. luận Vô tính nhiếp Q.7]. (xt. Tinh Tiến).
tam chủng tinh tấn
Theo Luận Thành Duy Thức, có ba loại tinh tấn—According to the Consciousness Only Sastra (Mind-Only-Sastra), there are three kinds of virya: 1) Bộ Giáp Tinh Tấn: Luôn mặc áo đại giáp của Bồ tát, không còn sợ tai ương gì nữa—Entering the world with a Bodhisattva's robe, and without and fear of calmities, i.e. to go on a Bodhisattva path—See Bồ Tát Đạo. 2) Nhiếp Thiện Tinh Tấn: Chăm tu thiện pháp không biết mệt mỏi—To cultivate good deeds with zeal. 3) Lợi Lạc Tinh Tấn: Chuyên cầu giáo hóa chúng sanh mà không nhập vào thế tục—To benefit beings with the power of unfailing progress.
tam chủng trang nghiêm
(三種莊嚴) I. Tam Chủng Trang Nghiêm. Cũng gọi Tam chủng thành tựu tâm trang nghiêm, Tam chủng nguyện nghiêm, Tam nghiêm. Ba loại công đức trang nghiêm cõi Tịnh độ cực lạc. 1. Quốc độ trang nghiêm: Công đức trang nghiêm cõi nước của Phật, gồm có 17 thứ như Trang nghiêm thanh tịnh công đức thành tựu, Trang nghiêm lượng công đức thành tựu... 2. Phật trang nghiêm: Gồm có 8 thứ như Trang nghiêm tòa công đức thành tựu... 3. Bồ tát trang nghiêm: Gồm có 3 thứ công đức Trang nghiêm chia làm 29 câu, cho nên cũng gọi là Tam chủng nhị thập cửu cú trang nghiêm. [X. luận Vãng sinh; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. II. Tam Chủng Trang Nghiêm. Chỉ cho 3 loại Y báo trang nghiêm do tông Tịnh độ lập ra, đó là: 1. Địa hạ trang nghiêm: Như ánh sáng của tất cả bảo chàng phản chiếu lẫn nhau. 2. Địa thượng trang nghiêm: Như tất cả đất báu, ao rừng, lầu báu, cung điện... 3. Hư không trang nghiêm: Tất cả cảnh biến hóa như cung báu, mạng lưới hoa, mây báu, chim hóa, phong quang, động phát, tiếng nhạc... Ba loại trang nghiêm này đều là tướng thù thắng, vô lậu chân thực ở cõi nước Cực lạc của đức Phật A di đà. [X. phần Huyền nghĩa trong kinh Quán Vô lượng thọ].
tam chủng trí
Ba loại trí huệ—Three kinds of wisdom—See Tam Trí.
tam chủng trọng tội
(三種重罪) Ba thứ tội nặng do Mật tông thành lập. Đó là: 1. Thoái tam muội da: Sau khi nhận pháp, hành giả lui mất bản thệ, không tu hành. 2. Phá tam muội da: Hành giả đã nhận mật pháp, lại sinh tâm ngờ vực và chê bai Mật tạng. 3. Việt tam muội da(cũng gọi Việt pháp tội): Chưa được cho phép mà tự ý xem nghe. [X. kinh Cù hê Q.hạ; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.1].
tam chủng tác ý
(三種作意) Ba loại tác ý. Tác ý là làm cho tâm chú ý để dẫn tới hoạt động. Ba loại tác ý là: 1. Tự tướng tác ý: Tức quán xét tự tướng của các pháp như sự biến đổi và chất ngại của sắc, sự phân biệt và rõ biết của thức... gọi là Tự tướng quán; còn sự chú ý do tương ứng với Tự tướng quán này mà sinh khởi thì gọi là Tự tướng tác ý, cũng tức là tác dụng tinh thần sinh khởi do tương ứng với trí tuệ của Tự tướng quán. 2. Cộng tướng tác ý: Tác ý sinh khởi do tương ứng với 16 hành tướng (16 hành tướng là cộng tướngchung của các pháp sắc và tâm) như khổ, không, vô thường, vô ngã... từ Tứ đế trở lên, cũng tức là tác dụng tinh thần sinh khởi do tương ứng với trí tuệ của Cộng tướng quán. 3. Thắng giải tác ý: Tác ý sinh khởi do tương ứng với Bất tịnh quán, Tứ vô lượng tâm, Hữu sắc giải thoát, Bát thắng xứ, Thập biến xứ..., cũng tức là tác dụng tinh thần sinh khởi do tương ứng với Giả tưởng quán. Bất tịnh quán là quán tưởng sự nhớp nhúa của các pháp để xa lìa tham dục, như quán tưởng xác chết của 1 người đẹp đã chương sình, hôi thối, và bị dòi bọ rút rỉa, đó là Giả tưởng quán; cảnh sở quán của Giả tưởng quán không bị ràng buộc mà tự do quán giải, cho nên gọi là Thắng giải. [X. luận Câu xá Q.7; luận Đại tì bà sa Q.11].
tam chủng tâm khổ
The three kinds of mental distress, desire tham, anger sân, stupidity si; idem tam độc.
; Three kinds of mental distress (tham: desire, sân: hatred, si: stupidity)—See Tam Độc.
tam chủng tăng
(三種僧) I. Tam Chủng Tăng. Cứ theo phẩm Báo ân trong kinh Tâm địa quán quyển 2 thì Tam chủng tăng là: 1. Bồ tát tăng: Như các vị bồ tát Văn thù, Di lặc... 2. Thanh văn tăng: Như các ngài Xá lợi phất, Mục kiền liên... 3. Phàm phu tăng: Những vị tăng có đầy đủ Biệt giải thoát giới, chính kiến... và có khả năng thuyết pháp làm lợi ích cho người khác. II. Tam Chủng Tăng. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 22 thì Tam chủng tăng là: Thanh văn tăng, Bích chi phật tăng và Bồ tát tăng. III. Tam Chủng Tăng. Cứ theo phẩm Kim cương thân trong Đại bát niết bàn quyển 3 (bản Bắc) thì Tam chủng tăng là: 1. Phạm giới tạp tăng: Tỉ khưu tuy giữ giới cấm nhưng vì lợi dưỡng nên thường gần gũi người phá giới, làm những việc giống như họ, tiêm nhiễm những thói thô tạp, lâu ngày nhân đó mà phá giới. 2. Ngu si tăng: Tỉ khưu tuy sống ở chốn A lan nhã(nơi yên tĩnh thanh tịnh) nhưng các căn chậm lụt, ngu độn, thô lỗ, không có khả năng hiểu rõ kinh luật luận, đối với các đệ tử vi phạm giới cấm cũng không có khả năng dạy bảo họ sám hối để được thanh tịnh.3. Thanh tịnh tăng: Tỉ khưu tính vốn thanh tịnh, giữ giới luật nghiêm túc, thông hiểu kinh luận, không bị các loại ma nhiễu loạn, lại có khả năng điều phục và làm lợi ích cho chúng sinh, giảng nói cho họ nghe về tính cách nặng nhẹ của các giới cấm, xứng đáng được gọi là những vị Đại sư hộ pháp vô thượng khéo giữ gìn giới luật. Luận Đại trí độ quyển 3 chia Phạm giới tạp tăng làm 2 loại là Hữu tu tăng(tăng biết xấu hổ)và Vô tu tăng(tăng không xấu hổ), cộng chung thành Tứ chủng tăng.
tam chủng tư hoặc
(三種思惑) Chỉ cho 3 thứ Tư hoặc sinh khởi do tâm tham đắm các trần cảnh. 1. Câu sinh tư hoặc: Tư hoặc sinh ra cùng lúc với thân, tức tâm yêu ghét sinh ra khi đầu thai. 2. Y kiến tư hoặc: Tư hoặc sinh ra theo kiến hoặc, tức hoặc nghiệp phát khởi do sự dắt dẫn của tà sư, tà giáo, tà tư duy... 3. Tam giới hệ tư hoặc(cũng gọi Chính tam độc): Tư hoặc trong 3 cõi 9 địa. (xt. Kiến Hoặc, Tu Hoặc).
tam chủng tướng
The three kinds of appearance: (1) In logic, the three kinds of percepts: (a) Tiêu tướng inferential, as fire is inferred in smoke; (b) hình tướng formal, or spatial, as length, breadth, etc. (c) thể tướng qualitative, as heat is in fire, etc. (2) (a) Giả danh tướng names, which are merely indications of the temporal; (b) pháp tướng dharmas, or things; (c) vô tướng tướng the formless - all threes are incorrect positions.
; Ba loại tướng—Three kinds of appearance: (A) 1) Phiêu tướng: Inferential, as fire is inferred from smoke. 2) Hình tướng: Formal or spacial, as length, breadth, ect. 3) Thể tướng: Qualitative, as heat is in fire. (B) 1) Giả danh tướng: Names, which are merely indications of the temporal. 2) Pháp tướng: Dharmas or things. 3) Vô tướng tướng: The formless.
; (三種相) I. Tam Chủng Tướng. Theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao thì Tam chủng tướng là: Tiêu tướng, Hình tướng và Thể tướng. 1. Tiêu tướng: Tiêu là biểu hiệu, như thấy khói thì biết có lửa... 2. Hình tướng: Chỉ cho hình dáng dài, ngắn, vuông, tròn... 3. Thể tướng: Thể tức là thể chất, như thể chất của lửa là nóng. II. Tam Chủng Tướng. Theo luận Đại trí độ quyển 1 thì Tam chủng tướng là: Giả danh tướng, Pháp tướng và Vô tướng tướng. 1. Giả danh tướng: Tất cả sự vật và chúng sinh ở thế gian đều do các duyên hòa hợp mà có những tên gọi, đều không có tự tính, hư giả chẳng thật; vì mê lầm nên chúng sinh khởi tướng chấp lấy cái giả danh này, nên gọi là Giả danh tướng. 2. Pháp tướng: Các pháp 5 uẩn, 12 nhập, 18 giới... nhìn bằng con mắt thế tục thì thấy là có, nhìn bằng con mắt trí tuệ thì thấy là không; chúng sinh vì mê lầm nên khởi tướng chấp lấy các pháp này, nên gọi là Pháp tướng. 3. Vô tướng tướng: Xa lìa Giả danh tướng và Pháp tướng trên thì chỉ có Vô tướng; nhưng chúng sinh vì mê lầm nên trong vô tướng lại khởi tướng chấp thủ cho nên gọi là Vô tướng tướng. III. Tam Chủng Tướng. Theo luận Thành thực quyển 12 thì Tam chủng tướng là Phát tướng, Chế tướng và Xả tướng. 1. Phát tướng: Khi tâm mờ tối li bì thì dùng hạnh tinh tiến để kích phát, gọi là Phát tướng. 2. Chế tướng: Khi tâm động loạn thì dùng pháp tịch lặng để cấm chế, gọi là Chế tướng. 3. Xả tướng: Lúc tâm không mờ tối, không động loạn thì xả bỏ Phát tướng và Chế tướng nêu trên, gọi là Xả tướng.
Tam chủng tất-địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam quả bí mật đà-la-ni pháp
三種悉地破地獄轉業障出三界祕密陀羅尼法; C: sānzhǒng xīdì pòdìyù zhuàn yèzhàng chū sānjiè mìmì tuóluónífǎ; J: sanshu shicchi hajigoku ten gosshō shutsu sangai himitsu daranihō;|»Bí mật đà-la-ni của ba loại thành tựu, tiêu diệt địa ngục, chuyển biến nghiệp chướng trong tam giới«. Một tác phẩm bao gồm một quyển, tác giả được xem là Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākarasiṁha). Quyển này có những đoạn đề cập đến sự tương quan giữa Ngũ tự (五字) và Ngũ bộ (五部) của Mật giáo đạo Phật và Ngũ Hành thuyết (五行説) của Đạo giáo và chính những đoạn văn này cũng thường được trích dẫn làm một ví dụ – xuất phát từ phía Trung Hoa –, là biểu trưng của một sự tổng hợp tư tưởng Ấn Hoa.
tam chủng tầm cầu
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại tầm cầu—According to the Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of searches: 1) Tầm Cầu Về Dục: The search for sensual pleasure. 2) Tầm Cầu Về Hữu: The search for existence. 3) Tầm Cầu Về Phạm Hạnh: The search for a holy life.
tam chủng tập khí
(三種習氣) Cũng gọi Tam chủng huân tập, Tam huân tập. Chỉ cho 3 thứ tập khí: Danh ngôn, Ngã chấp và Hữu chi. 1. Danh ngôn tập khí: Các chủng tử thân nhân duyên khác nhau của pháp hữu vi do danh ngôn huân tập (xông ướp) mà thành, được chia làm 2 thứ: a) Biểu nghĩa danh ngôn: Những âm thanh khác nhau có năng lực giải thích nghĩa lí rõ ràng. b) Hiển cảnh danh ngôn: Tâm, tâm sở pháp có khả năng phân biệt rõ các cảnh giới.2. Ngã chấp tập khí: Các chủng tử do ngã chấp huân tập mà thành, làm cho hữu tình khởi lên sự sai khác về mình và người, cũng được chia làm 2 thứ: a) Câu sinh ngã chấp: Chung cho thức thứ 6(ý thức) và thức thứ 7(thức Mạt na), ngoại trừ các vị Vô học của Nhị thừa, hàng Bồ tát từ địa thứ 8 trở lên và Như lai, các chúng sinh khác đều có tập khí này.b) Phân biệt ngã chấp: Chỉ có ở thức thứ 6, là tập khí sinh khởi ở vị Tư lương của Dị sinh(phàm phu). 3. Hữu chi tập khí: Các chủng tử do Hữu chi huân tập mà thành quả Dị thục thiện, ác khác nhau, lại cũng được chia làm 2 thứ: a) Hữu lậu thiện: Nghiệp nhân có năng lực mang lại quả báo đáng ưa thích. b) Chư bất thiện: Những nghiệp nhân có năng lực đưa đến các quả báo chẳng đáng ưa. Hữu chi tập khí lấy thiện, ác tương ứng với Tư của thức thứ 6 làm Tăng thượng duyên, trợ giúp việc nuôi lớn các Danh ngôn chủng tử của Dị thục vô kí, làm cho sinh ra quả ở đương lai. Danh ngôn chủng tử là Tư chủng tử của thức thứ 6, có công năng hiển rõ tự nghĩa và phân biệt cảnh giới; theo đó, chủng tử huân tập 5 uẩn tự thân là lí do cắt nghĩa sự sai khác mình, người, sinh thành tập khí ngã chấp, xoay vần lẫn nhau mà làm thành các pháp hữu lậu, hữu vi, tự tha, thiện ác... [X. kinh Giải thâm mật Q.3; luận Thành duy thức Q.8; Nhiếp đại thừa luận thích Q.3 (bản dịch đời Đường); Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần đầu]. (xt. Tập Khí).
tam chủng tịnh nghiệp
The threfold way of obtaining a pure karma, idem tam phúc
; Ba loại tịnh nghiệp—Three foldway of obtaining a pure karma—See Tam Phước.
; (三種淨業) Ba thứ chính nhân tịnh nghiệp vãng sinh Tịnh độ nói trong kinh Quán Vô lượng thọ, đó là: 1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết, tu 10 điều thiện. 2. Thụ trì 3 qui y, đầy đủ các giới, không phạm uy nghi. 3. Phát tâm bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến khích người tinh tiến tu hành.
tam chủng tịnh nhục
xem ba loại thịt trong sạch.
; (三種淨肉) Chỉ cho 3 thứ thịt thanh tịnh tỉ khưu được phép ăn mà không phạm giới. 1. Không phải con vật bị giết để đãi mình ăn, mình không thấy nó bị giết. 2. Không phải vì mình mà con vật bị giết, mình cũng không nghe nó kêu khi bị giết.3. Mình không nghi ngờ là con vật bị giết để đãi mình ăn. Tuy nhiên, theo kinh điển Đại thừa, thì ăn thịt là trái với tinh thần đại từ bi của đức Phật, cho nên Đại thừa cấm chỉ ăn thịt. Còn cho phép ăn 3 thứ thịt thanh tịnh chẳng qua là phương tiện cho hàng Thanh văn mà thôi. [X. luật Tứ phần Q.42; luật Thập tụng Q.37; Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh Q.9; Phạm võng kinh yếu giải Q.5]. (xt. Tịnh Nhục).
tam chủng tức thân thành phật
(三種即身成佛) Chỉ cho 3 nghĩa Tức thân thành Phật: Lí cụ, Gia trì và Hiển đắc do tông Chân ngôn, Nhật bản, thành lập. Ba nghĩa này đều là sự nghiệp tự nhiên, vô tác trong pháp giới bình đẳng, gọi chung là Tức thân thành Phật.Nói theo thứ tự dọc thì Lí cụ thông cả nhân quả phàm thánh; Gia trì thì suốt từ Sơ địa trở lên cho đến quả Phật, mỗi mỗi giai vị đều có đủ sự gia trì cảm ứng; Hiển đắc chỉ cho giai vị Đệ thập nhất địa viên cực. Còn nói theo ý nghĩa ngang thì tâm bồ đề sẵn có của hành giả là Lí cụ; giáo môn của Bản tôn và Tam mật là Gia trì; nhân trong và duyên ngoài ứng hợp nhau thì công đức của Hải hội mạn đồ la hiện ra trước mắt là Hiển đắc. Nếu đem phối hợp với Tam đại thì Lí cụ là Thể, Gia trì là Tướng và Hiển đắc là Dụng. [X. Dị bản tức thân thành Phật nghĩa; Bí tông giáo tướng sao Q.6; Khai tâm sao Q.trung; Tông nghĩa quyết trạch tập Q.21]. (xt. Tức Thân Thành Phật).
tam chủng từ bi
Ba nguyên nhân của Từ bi—Three reasons of a bodhisattva's pity—See Tam Từ Bi.
tam chủng từ bi (duyên từ)
The three reasons of a bodhisattva's pity: because all beings are like helpless infants chúng sinh duyên từ bi; because of his knowledge of all laws and their consequences pháp duyên từ bi; without external cause, i.e. because of his own nature, vô duyên từ bi.
tam chủng viên dung
Three kinds of unity or identity of: (a) Sự lý phenomena with "substance" e.g. waves and the water; (b) Sự sự phenoma with phenoma, e.g. wave with wave; (c) Lý lý substance with substance, e.g. water with water.
; See Tam Viên Dung.
tam chủng viên mãn an lạc
(三種圓滿安樂) Cứ theo luận Du già sư địa quyển 41 thì người tu hạnh Bồ tát có khả năngthành tựu 3 thứ viên mãn an lạc là: 1. Thành tựu gia hạnh viên mãn: Đối với tịnh giới không dám hủy phạm, thân khẩu ý thanh tịnh vô nhiễm, nếu có lỗi lầm thì sám hối ngay để giới thể viên mãn. 2. Thành tựu ý lạc viên mãn: Vì pháp mà xuất gia chứ không vì mưu sinh, chỉ vì cầu bồ đề vô thượng và niềm vui đại Niết bàn, hăng hái mạnh mẽ, không sinh tâm biếng nhác, không xen lẫn các pháp ác, không bị khổ sinh lão bệnh tử trong đương lai. 3. Thành tựu túc nhân viên mãn: Ở đời trước từng tu phúc thiện, cho nên đời này các nhu cầu cho cuộc sống đều được đầy đủ, còn có khả năng giúp đỡ người khác, tâm không sẻn tiếc.
tam chủng vãng sanh
Chúng sanh tu tập cầu vãng sanh về Cực Lạc nhiều không kể xiết, còn hơn vô số điểm giọt mưa. Tuy nhiên, theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, chúng sanh cầu về Tịnh Độ không riêng những hạng chán cảnh khổ Ta Bà ngũ trược ác thế, mà cũng có hạng vì thương xót muốn tế độ chúng sanh cõi Ta Bà, cho đến những bậc “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.” Tuy sở nguyện có cao thấp, một khi đã sanh về Cực Lạc thì cũng đồng được sự lợi ích như nhau, nghĩa là tất cả đều không thối chuyển, cuối cùng đều đạt đến quả vị Phật. Cổ đức đã bảo: “Pháp môn Tịnh Độ rất cao thâm mầu nhiệm, duy có Phật với Phật mới biết hết được, vì bậc Đẳng giác còn nguyện vãng sanh, ngôi Nhất Sanh Bồ Tát còn phải trụ nơi miền Cực Lạc để học hỏi. Các Kinh Đại Thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Đại Bảo Tích, vân vân đều khen ngợi Tịnh Độ và đề cập đến sự vãng sanh.” Xét chung về tâm nguyện cầu sanh của những vị ấy, có ba loại vãng sanh—Countless sentient beings will be reborn in the Pure Land, their numbers exceeding even the innumerable rain drops. However, according to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, sentient beings who seek rebirth in the Pure Land are not limited to those weary of the sufferings in the realm of the Five Turbidities, there are also those who compassionately wish to save sentient beings in the Saha World, and those who look upward to the goal of Buddhahood and downward to the salvation of deluded sentient beings throughout the worlds of the ten directions. Whether their vows and aspirations are low or high, once they are reborn in the Pure Land, all derive the same benefits; none will ever retrogress and will ultimately achieve Buddhahood and help sentient beings. Ancient masters once said: “The Pure Land method is extremely lofty, profound and wonderful; only the Buddhas can really fathom its depth. This is why even those great Bodhisattvas who have reached the level of Equal Enlightenment still vow to be reborn there. Even “One-life Bodhisattvas” or those who will become Buddhas in their next lifetime must remain there to study and practice. Such Mahayana texts as the Avatamsaka Sutra, the Lotus Sutra, the Maharatnakuta Sutra, etc., all extol the Pure Land and discuss rebirth there. There are are three categories of rebirth in the Pure Land. 1) Hạng thứ nhất, là những phàm phu thấp kém nhưng chân thật, không hiểu công đức cùng sự trang nghiêm ở Tịnh Độ, chỉ cảm nghĩ đời sống nhiều vất vã khổ nhọc, cõi Ta Bà đầy chán nãn lo phiền, nên nguyện sanh về cõi nước thanh tịnh an vui—The first category comprises ordinary beings who are of limited capacities but true and sincere. They may not understand what constitutes the virtues or adornments of Buddha lands; nevertheless, realizing that life is full of hardship and suffering, and that the Saha World abounds in worries and troubles, they vow to be reborn in a pure and happy land. 2) Hạng thứ hai, tuy cũng là phàm phu nhưng có trí huệ và chí nguyện lớn, muốn sanh về cõi Cực Lạc để bảo đảm thoát ly nẻo luân hồi, mau chứng đạo quả, hoàn thành chí nguyện tự độ độ tha—The second category is composed of individuals who, although ordinary beings, possess great aspirations and a certain degree of wisdom. They seek rebirth in the Pure Land to ensure escape from transmigration, swift attainment of Buddhahood and fulfillment of their Vows to rescue themselves and others. 3) Hạng thứ ba, gồm từ hàng tiểu Thánh đã thoát ly vòng sống chết cho đến bậc Đẳng Giác Bồ Tát, vì muốn mau tiến lên thượng địa, muốn học hỏi diệu pháp thành Phật, nên phát nguyện vãng sanh—The third category ranges from the lesser saints who have escaped Birth and Death to the greatest Bodhisattvas, those at Equal Enlightenment stage. They vow to be reborn in the Pure Land in order to progress swiftly to the ultimate “Bodhisattva ground” and study the wonderful Dharma leading to Buddhahood.
tam chủng vô thường
xem ba loại vô thường.
tam chủng xiển đề
Ba loại xiển đề—Three kinds of icchantika: 1) Nhứt Xiển đề: The wicked. 2) A Xiển đề ca: Đại bi Xiển đề—Bodhisattvas who become icchantika to save all beings, i.e. Earth Store Bodhisattva. 3) Vô tính Xiển đề: Those without a nature for final nirvana.
tam chủng ác
(三種惡) Ba thứ ác nói trong luận Thành thực quyển 10. 1. Ác: Làm những việc trái với đạo lí như giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối... đều thuộc về Ác. 2. Đại ác: Tự mình làm và dạy người làm, như mình giết, và dạy người giết, tự mình keo kiệt và dạy người keo kiệt... đều thuộc về Đại ác. 3. Ác trung ác: Tự mình sẻn pháp, và dạy người sẻn pháp, vì 1 người sẻn pháp thì làm cho nhiều người bị rơi vào ác đạo, cũng là đoạn diệt Phật pháp, đó là Ác trung Ác.
tam chủng ý sanh thân
(三種意生身) Ba thứ Ý sinh thân. Hàng Bồ tát Thông giáo Đăng địa được tam muội Như huyễn, có năng lực thị hiện vô lượng thần thông tự tại, vào khắp các cõi Phật, tùy ý không ngại, ý muốn đến nơi nào thì thân theo đến nơi ấy, cho nên gọi là Ý sinh thân. Cứ theo phẩm Nhất thiết ngữ tâm trong kinh Lăng già quyển 3 thì Bồ tát Thông giáo có 3 thứ Ý sinh thân là: 1. Tam muội lạc chính thụ ý sinh thân: Khi Bồ tát Đệ tam địa, Đệ tứ địa, Đệ ngũ địa của Thông giáo tu Tam muội thì chứng được niềm vui chân không tịch diệt, vào khắp tất cả cõi Phật, tùy ý không ngại.2. Giác pháp tự tính tính ý sinh thân: Bồ tát Thông giáo Đệ bát địa biết rõ tất cả tính của tự tính các pháp như huyễn như hóa, thảy đều không có, dùng vô lượng thần lực vào khắp tất cả cõi Phật, nhanh chóng như ý muốn, tự tại vô ngại. 3. Chủng loại câu sinh vô hành tác ý sinh thân: Bồ tát Đệ cửu địa và Đệ thập địa của Thông giáo, biết rõ tất cả pháp đều là Phật pháp, nếu được 1 thân thì cùng lúc phổ hiện vô lượng thân, như hình tượng trong gương, tùy theo các loại mà cùng hiện ra 1 lượt, tuy hiện các hình tượng nhưng không có tác vi.
tam chủng đoạn
The three kinds of uccheda, cutting off, excision, or bringing to an end: (1) (a) tự tính đoạn with the incoming of wisdom, passion or illusion ceases of itself; (b) bất sinh đoạn with realization of the doctrine that all is không unreal, evil karma ceases to arise; (c) duyên phược đoạn illusion being ended, the causal nexus of the passions disappear and the attraction of the external ceases. (2) The three sràvakas or ascetic stages are: (a) kiến sở đoạn ending the condition of false views; (b) tu hành đoạn getting rid of desire and illusion in practice; (c) phi sở đoạn no more illusion or desire to be cut off.
; Three kinds of cutting-off, excision or bringing to an end (Uccheda)—See Tam Đoạn.
tam chủng đà la ni
Three kinds of Dharani—See Tam Đà La Ni.
tam chủng đại trí
The three major kinds of wisdom: (a) vô sư trí self acquired,no master needed; (b) tự nhiên trí unacquired and natural; (c) vô nghi trí universal.
; Ba loại đại trí—Three kinds of major wisdom: 1) Tự đạt trí: Self-acquired, no master needed. 2) Tự tánh trí: Unacquired or natural. 3) Phổ trí: Trí hiểu biết rộng lớn nhờ tu tập thiền định—Universal mind through practicing medtiation.
tam chủng địa ngục
The three kinds of hells - hot, cold, and solitary.
; Three kinds of hells: 1) Nhiệt địa ngục: Hot hells. 2) Hàn địa ngục: Cold hells. 3) Cô độc địa ngục: Solitary hells. ** See Địa Ngục.
tam chủng định nghiệp luân
(三種定業輪) Ba thứ bánh xe định nghiệp. Cứ theo phẩm Thập luân trong kinh Địa tạng thập luân quyển 2, đức Như lai dùng 3 bánh xe pháp Thiền định, Tụng tập và Doanh phúc để phá diệt tất cả phiền não hoặc nghiệp, đồng thời, khiến chúng sinh tu hành đúng như lời Phật dạy để chứng đạo quả, cho nên nói Tam chủng định nghiệp luân này. 1. Kiến lập tu định nghiệp luân: Khiến chúng sinh tu hành chính quán, quán xét tướng sinh diệt của vô minh phiền não, dùng các pháp như Sổ tức tu tập tĩnh lự, phá diệt tất cả hoặc nghiệp, khiến tâm an trụ nơi chính định. 2. Kiến lập tập tụng nghiệp luân: Khiến chúng sinh tập tụng kinh giáo Đại thừa, đầu hôm, nửa đêm, gần sáng, siêng năng không mệt mỏi, tâm không tán loạn, trừ diệt tất cả hoặc nghiệp. 3. Kiến lập doanh phúc nghiệp luân: Khiến chúng sinh tu hành giữ giới, bố thí, tạo tượng, xây tháp, cúng dường Tam bảo, làm mọi việc phúc báo để phá trừ tất cả hoặc nghiệp.
tam cung dưỡng
(三供養) Ba pháp cúng dường được nêu trong Phổ hiền hành nguyện sớ, đó là: 1. Tài cúng dường: Đem của báu thế gian và các thứ cúng dường thượng diệu để cúng dường chư Phật và Bồ tát. 2. Pháp cúng dường: Y theo giáo pháp đức Phật dạy mà tu mọi hạnh, cho đến không bỏ hạnh Bồ tát, không lìa tâm bồ đề, đó chính là đem pháp cúng dường chư Phật và Bồ tát. 3. Quán hạnh cúng dường: Nương vào diệu quán Trung đạo mà quán xét trong tâm 1 niệm có đầy đủ pháp Tam đế, không hề thiếu xót, chúng sinh và chư Phật là bình đẳng không 2, phiền não sinh tử tức là bồ đề niết bàn, niệm niệm quán xét như thế chính là cúng dường chư Phật và Bồ tát. (xt. Cúng Dường).
tam cá cáo sắc
(三個告敕) Ba lần dạy bảo của đức Phật đối với các Bồ tát tích hóa và các Bồ tát đến từ các phương khác được ghi trong kinh Pháp hoa.1. Không bao lâu nữa đức Như lai sẽ vào Niết bàn nên Ngài muốn phó chúc kinh Pháp hoa cho các đệ tử và người đời sau.2. Đức Phật bảo đại chúng, sau khi Ngài diệt độ, nếu ai có khả năng đọc tụng hộ trì kinh Pháp hoa thì nay trước đức Phật hãy tự nói lời thệ. 3. Đức Phật lại bảo các thiện nam tử, sau khi Phật diệt độ, nếu người nào có khả năng thụ trì, đọc tụng kinh Pháp hoa này thì nay trước đức Như lai hãy tự nói lời thệ.[X. phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa Q.4].
tam cùng
Three togethers: 1) Cùng ăn: Eat together. 2) Cùng ở: Live together. 3) Cùng làm việc: Work together.
tam cú
(三句) Ba câu chuyển ngữ của các Thiền sư dùng để khai thị người học. Các tam cú sau đây được xem là có tính cách đại biểu: 1. Vân môn tam cú: Ba câu của Thiền sư Vân môn Văn yển: a) Hàm cái càn khôn: Ngậm chứa trời đất.b) Mục cơ thù lượng: Tùy theo căn cơ. Tam Cổ Câu Tam Cổ Kích Nội phược Tam cổ ấn c) Bất thiệp vạn duyên: Không dính các duyên. 2. Đức sơn tam cú: Ba câu của Thiền sư Đức sơn Duyên mật. a) Hàm cái càn khôn: Ngậm chứa trời đất.b) Tiệt đoạn chúng lưu: Dứt bặt các dòng. c) Tùy ba trục lãng: Theo nước đuổi sóng.(xt. Vân Môn Tam Cú). 3. Ba lăng tam cú: Ba câu của Thiền sư Ba lăng Hạo giám: a) Ngân uyển lí thịnh tuyết: Trong chén bạc đựng tuyết. b) San hô chi chi sanh trứ nguyệt: Cành cành san hô chống đỡ trăng. c) Kê hànthướng thụ áp hàn há thủy: Gà lạnh lên cây, vịt lạnh xuống nước. Ba câu này rất được ngài Vân môn Văn yển tán thưởng. Ngài từng nói (Đại 48, 313 thượng): Sau này vào ngày giỗ của lão tăng, các ông chỉ cần cử xướng 3 câu chuyển ngữ này để cúng dường lão tăng là đủ rồi!. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2]. (xt. Ba Lăng Tam Chuyển Ngữ). 4. Nham đầu tam cú: Ba câu của Thiền sư Nham đầu Toàn khoát: a) Giảo khứ giảo trụ: Chấp trước đi và đứng. b) Dục khứ bất khứ dục trụ bất trụ: Muốn thoát khỏi đi, đứng lại bị kẹt vào đi, đứng. c) Hoặc thời nhất hướng bất khứ hoặc thời nhất hướng bất trụ: Hoàn toàn thoát khỏi đi, đứng. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.6]. 5. Phần dương tam cú: Ba câu của Thiền sư Phần dương Thiện chiêu: a) Trước lực lớn: Lực lượng lớn mạnh. b) Chuyển thân cú: Cơ dụng chắc chắn, vững chãi. c) Thân thiết cú: Khế hợp nhanh chóng. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2]. 6. Lâm tế tam cú: Ba câu của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền: a) Tam yếu ấn khai chu điểm trắc, Vị dung nghĩ nghị chủ tâm phân: Một niệm khai ngộ, Phật chân thật hiện tiền. b) Diệu giải khởi dung vô trước vấn, Âu hòa tranh phụ tiệt lưu cơ: Dùng các pháp phương tiện để cầu giải thoát tuyệt đối.c) Khán thủ bằng đầu lộng ổi lỗi, Trừu khiên đô lai lí hữu nhân: Vì những người độn căn mà bày ra các pháp môn phương tiện để dắt dẫn, giúp họ khai ngộ. (xt. Lâm Tế Tam Cú).
tam cú giai đoạn
(三句階段) Gọi tắt: Tam cú. Giai đoạn 3 câu. Ba câu hàm ý là Nhân, Căn, Cứu cánh hoặc Nhân, Hành, Quả. Ba câu này biểu thị giai đoạn từ tu nhân đến Phật qua của Mật giáo, tức lấy tâm bồ đề làm nhân, lấy đại bi làm căn và lấy phương tiện làm cứu cánh. 1. Tâm bồ đề là nhân: Tâm Bồ đề tức là lòng tin trong sạch, chúng sinh sẵn có tính Phật, có đầy đủ công đức nhân quả tự hành hóa tha, vượt ngoài tất cả hí luận, thanh tịnh như hư không, được sức tin sâu, lìa tâm ngờ vực, vào được biển Phật, công đức muôn hạnh từ đó tăng trưởng. 2. Đại bi là căn: Bi là dịch ý từ tiếng Phạm Karuịà (Hán âm: Ca lô noa); Ka nghĩa là khổ,ruịà nghĩa là cắt đứt. Từ như trồng cấy lúa tốt, Bi như cắt bỏ cỏ dại. Căn nghĩa là có khả năng giữ gìn, giống như gốc cây giữ gìn thân cây, cành lá, hoa quả, không để gãy đổ. Tức là hành giả dùng tâm bồ đề thanh tịnh trùm khắp mọi nơi làm các Phật sự, phát khởi bi nguyện hồi hướng chúng sinh, nhờ căn lành của chính mình và sức gia trì pháp giới của Như lai mà các sự nghiệp vi diệu mình làm đều được thành tựu. Tức muôn hạnh do hành giả tu, nhờ đại bi mà tự nhiên khai phát. 3. Phương tiện là cứu cánh: Muôn hạnh đầy đủ cùng tột, không còn gì thêm nữa, phương tiện tùy cơ độ sinh được tự tại, mọi việc làm được rốt ráo, tức diệu quả đề hồ, nguồn gốc tam mật. Nếu đem Tam cú phối hợp với Ngũ chuyển thì tâm bồ đề là nhân phối với phát tâm, đại bi là căn phối với tu hành, phương tiện là cứu cánh phối với bồ đề, niết bàn, cứu cánh. Nếu đem phối hợp với Tam bộ thì nhân phối với Liên hoa bộ năng tàng, căn phối với Kim cương bộ trí đức và cứu cánh phối với Phật bộ viên mãn.[X. kinh Đại nhật Q.1; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.1; luận Bồ đề tâm; Đại nhật kinh sớ Q.1, 2].
tam cúng dường
Ba pháp cúng dường—Three modes of serving the Buddha: 1) Tài Cúng Dường: Dâng hương, hoa, quả—Offerings of incense, flowers and fruits. 2) Lễ Bái Cúng Dường: Tỏ lòng tôn kính—Offerings of praise and reverence. 3) Giới Cúng Dường: Hành trì tốt—Good (right) conduct.
Tam căn
三根; C: sāngēn; J: sankon;|1. Chỉ ba căn cơ của con người: Thượng, trung và hạ; 2. Ba nguồn gốc bất thiện là Tham, sân và si.
tam căn
The three (evil) roots - desire, hate, stupidity, idem tam độc. Another group is the three grades of good roots, or abilities, thượng, trung, hạ superior, medium and inđerior. Another is the three grades of faultlessness tam vô lậu căn.
; Three cultivated levels—Mỗi căn trong lục căn đều có ba khả năng khác nhau—Each of the six organs has three different powers: 1) Thượng Căn: Clever (high). 2) Trung Căn: Middle capacity (intermediate). 3) Độn căn: Dull (low).
; (三根) I. Tam Căn. Cũng gọi Tam bối. Căn tính của chúng sinh có 3 bậc thượng, trung, hạ gọi là Tam căn. Cứ theo phẩm Dược thảo dụ trong kinh Ba vị Ca diếp qui y đức Phật (bức khắc nổi ở tháp Sơn kì)Pháp hoa quyển 3, giống như cây cỏ um tùm trong rừng, có loại gốc nhỏ thân nhỏ cành nhỏ lá nhỏ, có loại gốc vừa thân vừa cành vừa lá vừa, có loại gốc lớn thân lớn cành lớn lá lớn; bậc thượng, trung, hạ tùy cây lớn nhỏ mà sức hấp thu khác nhau. Chúng sinh cũng thế, người thượng căn (lợi căn) căn tính lanh lẹ, bén nhạy, trí hiểu biết phát sinh nhanh chóng, có năng lực chịu đựng đối với việc khó làm và có khả năng chứng diệu quả; kế đến là người trung căn, còn người hạ căn (độn căn) là yếu kém nhất. Ma ha chỉ quán quyển 6, hạ (Đại 46, 79 trung) nói: Người hạ căn dứt hết hoặc (phiền não) mới ra khỏi Giả, trong kinh Pháp hoa, Phật phá tâm chấp trước Niết bàn của hạng người này, khuyến khích họ phát tâm Vô thượng đạo, khởi tuệ phương tiện (...) Người trung căn sau khi đoạn Kiến hoặc thì sinh tử rút ngắn dần, Tư hoặc tự nhiên đoạn. (...) Người thượng căn thì tâm chớm sinh trí tuệ liền thấu suốt Kiến hoặc và Tư hoặc tức không. [X. luận Đại trí độ Q.54; Pháp hoa huyền luận Q.9; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6, phần 3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ]. II. Tam Căn. Gọi đủ: Tam bất thiện căn. Chỉ cho 3 phiền não tham, sân và si. (xt. Tam Bất Thiện Căn). III. Tam Căn. Gọi đủ: Tam vô lậu căn. Tức chỉ cho Vị tri đương tri căn, Dĩ tri căn và Cụ tri căn trong 22 căn. (xt. Tam Vô Lậu Căn).
tam cương
The three bonds, i.e. directors of a monastery: (a) thượng tọa sthavira, elder, president; (b) tự chủ, viện chủ vihàrasvàmin, trụ trì the abbot; (c) duy na karmàdana who directs the monks.
; (A) Ba bổn phận của con người được Khổng Tử dạy trong Tứ thư—Three relations of a man's duty taught in Confucian theory: 1) Quân thần: King and subject. 2) Phụ tử: Father and son. 3) Phu phụ: Husband and wife. (B) Ba vị sư chính trong tự viện—Three main monks in a monastery: 1) Tự Chủ: Vị sư trong coi tổng quát trong tự viện—Head of a monastery—An abbot, or controller of all affairs in a monastery. 2) Thượng Tọa: Vị sư trông coi việc hoằng pháp—Venerable, or bhikkhu who is responsible for preaching the dharma. 3) Duy Na: Vị sư giám viện—Supervisors of monks in a monastery.
; (三綱) I. Tam Cương. Ba chức vụ nòng cốt lãnh đạo chúng tăng trong tùng lâm là Thượng tọa, Tự chủ và Đô duy na. 1. Thượng tọa(Phạm:Sthavira): Vốn chỉ cho vị tỉ khưu Thượng tọa có tuổi hạ cao, ở đây chỉ cho người có tuổi hạ cao, danh đức trọng vọng được cử ra để thống lãnh chúng tăng. 2. Tự chủ(Phạm: Vihàra-svàmin): Vốn chỉ cho người xây cất chùa viện, ở đây thì chỉ cho người trông coi việc tu tạo điện đường trong chùa hoặc quản lí mọi việc... 3. Đô duy na, gọi tắt: Duy na: Đô duy là tiếng Hán, Na là tiếng Phạm karmadàna (dịch âm là Yết ma đà na, dịch ý là trao việc), bởi thế, Đô duy na là danh từ ghép chung cả Phạm và Hán. Hoặc được dịch là Duyệt chúng(làm cho chúng tăng đẹp lòng), là trông coi các việc lặt vặt trong chúng tăng. Chế độ Tam cương bắt đầu được đặt ra vào thời đại Diêu Tần (cuối thế kỉ IV).[X. luận Tập dị môn túc Q.4; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Phật tổ thống kỉ Q.38]. II. Tam Cương. Chỉ cho 3 chức vụ: Tự chủ, Tri sự, Duy na. Có khi cũng gọi là Thượng tọa, Duy na, Điển tọa. [X. Đại tống tăng sử lược Q.trung].
tam cảnh
Theo Pháp Tướng Tông, đối tượng của thế giới bên ngoài in hình bóng vào tâm thức gồm có ba loại cảnh. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, thì thuyết về ba loại cảnh có thể là xuất xứ từ Na Lan Đà. Những bài kệ thông dụng của Pháp Tướng Tông lại hầu như có nguồn gốc từ Trung Hoa, như sau: “Tâm cảnh bất tùy tâm. Độc ảnh duy tùy kiến. Đái chất thông tình bản. Tánh chủng đẳng tùy ưng.” Bài kệ nầy giải thích bằng cách nào mà ba loại cảnh liên hệ với nhiệm vụ chủ thể và bản chất nguyên bản ngoại tại. Bạn có thể điên đầu trong khi tìm hiểu vì sao Duy Thức Học lại có cái gọi là “thực thể nguyên bản.” Thực ra, đừng quên rằng mặc dù nó là thực thể ngoại tại, nó lại là cái biểu lộ ra ngoài từ nơi thức. Đệ bát A Lại Da thức tự nó không phải là thực thể cố định không thay đổi; nó luôn luôn biến chuyển từng sát na, và được huân tập hay ghi nhận ấn tượng bằng tri nhận và hành động, nó trở thành tập quán và hiệu quả trong sự biểu lộ ngoại tại. Nó giống như dòng nước chảy không bao giờ dừng lại ở một nơi nào trong hai thời hạn tiếp nối nhau. Và chỉ duy có dựa vào sự liên tục của dòng nước ta mới có thể nói về “dòng sông”—According to the Dharmalaksana, the objects of the outer world (visaya), which throw shadows on the mind-face are of three kinds. The theory of three kinds of the object-domain may have originated from Nalanda, but the four-line memorial verse current in the school is probably of Chinese origin. It runs as follow: “The object of nature does not follow the mind (subjective). The subject may be good or evil, but the object is always neutral. The mere shadow only follows the seeing (subjective). The object is as the subject imagines. The object with the original substance. The character, seed, etc, are various as occasions require. The object has an original substance, but the subject does not see it as it is.” This four-line verse explains how the three kinds of the object-domain are related to the subjective function and the outer original substance. One may be puzzled in understanding how an idealism can have the so-called original substance. We should not forget that though it is an outer substance it is after all a thing manifested out of ideation. The eighth, the Alaya-consciousness itself, is not an unchangeable fixed substance (dravya), but is itself ever changing instantaneously (ksanika) and repeatedly; and, being 'perfumed' or having impressions made upon it by cognition and action, it becomes habituated and efficient in manifestation. It is like a current of water which never stops at one place for two consecutive moments. It is only with reference to the continuity of the stream that we can speak of a river. Let examine these three kinds of object-domain: 1) Tánh Cảnh: Tri nhận tức thời, nghĩa là đối tượng có bản chất nguyên bản và trình bày nó như là chính nó, cũng như năm đối tượng giác quan, sắc, thinh, hương, vị, xúc, được tri nhận như vậy. Tiền ngũ thức và đệ bát A Lại Da thức, tri nhận đối tượng theo cách nầy—The object domain of nature or immediate perception, i.e., the object that has the original substance and presents it as it is, just as the five objects of the sense, form, sound, smell, taste and touch, are perceived as they are. The first five sense-consciousnesses and the eighth, the store-consciousness, perceive the object in this way. 2) Độc Ảnh Cảnh: Hay là ảo giác. Hình bóng chỉ xuất hiện tự nơi tưởng tượng và không có hiện hữu thực sự. Lẽ dĩ nhiên, nó không có bản chất nguyên bản, như một bóng ma vốn không có hiện hữu. Chỉ có trung tâm giác quan thứ sáu hoạt động và tưởng tượng ra loại cảnh nầy—The object-domain of mere shadow or illusion. The shadow-image appears simply from one's own imagination and has no real existence. Of course, it has no original substance as a ghost which which does not exist at all. Only the six sense-center, functions on it and imagines it to be. 3) Đối Chất Cảnh: Đối tượng có một bản chất nguyên bản nhưng lại không được tri nhận đúng y như vậy. Khi đệ thất Mạt Na Thức nhìn lại nhiệm vụ chủ thể của đệ bát A Lại Da Thức, nó xem thức nầy như là ngã. Nhiệm vụ chủ thể của A Lại Da đệ bát thức có bản chất nguyên bản, nhưng nó không được đệ thất Mạt Na Thức nhìn thấy y như vậy, và chỉ được xem như là ngã, mà thực tại thì chỉ là ảo giác vì nó không phải là ngã—The object-domain with the original substance. The object has an original substance and yet is not perceived as it is. When the seventh, the thought-center, looks at the subjective function of the eighth, the store-center, it considers that it is self or ego. The subjective function of the eighth, the store-center, has its original substance or entity, but it is not seen as it is by the seventh consciousness and is regarded to be self or an abiding ego, which is in reality an illusion since it is not self at all.
tam cấu
The three defilers - desire, hate, stupidity (or ignorance)
; (三垢) Cấu, Phạm: Mala. Ba thứ cáu bẩn. Chỉ cho 3 độc tham (Phạm: Ràga), sân (Phạm: Dvewa) và si (Phạm: Moha) làm cho tâm hành của chúng sinh nhớp nhúa. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng (Đại 37, 103 hạ) nói: Tiêu trừ tam cấu, cứu giúp ách nạn, pháp Tiểu thừadạy dứt tuyệt 3 độc, gọi là Trừ tam cấu, tức nói tam độc là tam cấu. Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao quyển 16, thượng, giải thích câu Phật Tì xá phù không có tam cấu cho 3 thứ hiện hành, chủng tử và tập khí là tam cấu. Còn các nhà Thiên thai thì gọi Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc và Vô minh hoặc là Tam cấu. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung].
tam cấu nhiễm
Tam Độc—Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba Cấu Nhiễm—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three defilers or stains: 1) Tham Cấu Nhiễm: Desire—Greed—The stain of lust. 2) Sân Cấu Nhiễm: Anger—Ire—The stain of hatred. 3) Si Cấu Nhiễm: Stupidity—Ignorance—The stain of delusion.
tam cổ
(三股) Cũng gọi Tam cổ chử, Tam cổ kim cương, Tam cổ bạt chiếc la, Tam cổ phạ nhật ra, Để lí thường câu, Tam cổ. Chày 3 chĩa (Phạm: Tri-zaíku#), 1 trong các pháp khí của Mật giáo. Tam cổ vốn là 1 thứ vũ khí của Ấn độ đời xưa, ở đầu chia làm 3 chĩa, tượng trưng cho 3 bộ là Phật bộ, Kim cương bộ, Liên hoa bộ của Thai tạng giới và 3 mật Thân, Ngữ, Ý; hoặc tượng trưng chung cho pháp môn Tam quĩ là 3 trí, 3 quán... Theo kinh Tô tất địa, khi hành giả cầm chày 3 chĩa thì không bị Tì na dạ ca gây chướng ngại; còn khi niệm tụng Hộ ma, cầm chày 3 chĩa bên tay trái thì thành tựu mọi việc. [X. kinh Kim cương đính Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
tam cổ câu
(三股鈎) Cũng gọi Kim cương câu. Móc câu 3 chĩa, vốn là 1 trong những thứ vũ khí của Ấn độ đời xưa, về sau được Mật giáo sử dụng để tượng trưng cho hình Tam muội da của các vị tôn. Như các bồ tát Kim cương câu trong Tứ nhiếp bồ tát của Mạn đồ la Kim cương giới, Kim cương diện thiên của Ngoại kim cương bộ, bồ tát Đại an lạc bất không chân thực trong viện Biến tri của Mạn đồ la Thai tạng giới, bồ tát Bất không câu Quán thế âm của viện Hư không tạng v.v... đều cầm Tam cổ câu.[X. Kim cương giới thất tập Q.thượng; Chư thuyết bất đồng kí Q.2]
tam cổ kých
(三股戟) Phạm:Tri-sùlahoặc Zakti#. Hán âm: Điệt lí thủ la. Cũng gọi Tam đầu kích, Tam kích xoa, Tam cổ mâu. Gọi tắt: Tam kích. Cây kích 3 chĩa đầu nhọn, 1 trong các thứ pháp khí của Mật giáo. Tam cổ kích là hình Tam muội da của Phẫn nộ nguyệt yểm tôn trong viện Kim cương thủ của Mạn đồ la Thai tạng giới, biểu thị ý hàng phục 3 độc tham, sân, si để hiển bày nghĩa của các vị tôn thuộc 3 bộ là Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ. Tam cổ kích là pháp khí cầm tay của các vị tôn như Hàng tam thế, Đại uy đức, Thắng tam thế phẫn nộ nguyệt yểm, Thiên thủ Quan âm, Tinh tiến ba la mật... trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Ngoài ra, Y xá na thiên, Quảng mục thiên, Ô ma phi, quyến thuộc của Thủy thiên... trong viện Ngoại kim cương bộ, cũng đều cầm cây kích này, đại khái là tượng trưng cho đức phá dẹp ác ma trong và ngoài. [X. Đại nhật kinh sớ Q.16; Chư thuyết bất đồng kí Q.4].
tam cổ ấn
(三股印) Cũng gọi Tam cốc ấn, Tam cổ kim cương chử ấn, Tam cổ chử ấn. Ấn khế tượng trưng hình cây chày kim cương 3 chĩa của Mật giáo. Ấn được kết 1 nửa gọi là Tam tiểu cổ ấn, đối lại, ấn này cũng được gọi là Tam đại cổ ấn. Y cứ vào Nội phược và Ngoại phược của ấn mẫu mà có 2 loại là Nội phược tam cổ ấn và Ngoại phược tam cổ Tam Cổ Chử ấn. Ấn tướng của Nội phược tam cổ ấn là 2 tay kết Nội phược quyền, 2 ngón giữa dựng thẳng chạm đầu vào nhau, 2 ngón trỏ co lại như hình móc câu, đều đặt ở lưng của 2 ngón giữa(để cách khoảng chừng 1 hạt thóc), tạo thành hình dáng cây chày 3 chĩa. Ấn Ma ma kê nói trong phẩm Mật ấn kinh Đại nhật chính là Nội phược tam cổ ấn. Về ấn tướng của Nội phược tam ấn còn có nhiều thuyết khác nhau. Trái lại, ấn mẫu ngoại phược, thì gọi là Ngoại phược tam cổ ấn. Ngoài ra, ấn Mãng mạc kê của Kim cương bộ mẫu, ấn Kết giới của Đại tam muội da... nói trong Cam lộ quân đồ lợi quĩ, cũng đều là Tam cổ ấn.
tam cổng niết bàn
Ba cửa ngõ đi vào Niết Bàn—Three gates to the city of nirvana: 1) Không: The emptiness—The void—Immaterial. 2) Vô tướng: Vô sắc—Formless. 3) Vô tác: Inactivity.
tam cụ túc
The three essential articles for worship: flower vase, candlestick and censer.
; Ba món cần thiết khi thờ cúng—The three essential articles for worship: 1) Bình hoa: Flower vase. 2) Đèn: Candlestick. 3) Lư hương: Censer.
; (三具足) Đầy đủ 3 thứ. Tức chỉ cho lô hương, bình hoa và chân đèn cúng dường ở trước Phật.
tam cử
The three exposures, i.e. the three sins of a monk, each entailing his unfrocking - wilful non confession of sin, unwillingness to repent, claiming that lust is not contrary to the doctrine.
; (三舉) Ba tội được nêu ra (cử) để chúng tăng xét xử trong khi làm pháp yết ma. Người vi phạm 1 trong 3 tội này thì bị đuổi ra khỏi đại chúng. Tam cử là: 1. Bất kiến cử: Người phạm tội, sau khi được người khác thành thực khuyên bảo nhưng vẫn không chịu thừa nhận là mình có tội. 2. Bất sám cử: Người có lỗi nhưng không có tâm ăn năn sửa đổi. 3. Ác kiến bất xả cử: Người cho mình biết tất cả pháp do đức Phật nói, đồng thời chủ trương phạm dâm dục không phải là chướng ngại đạo pháp. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1, phần 2; thiên Trị nhân trong Tăng yết ma Q.hạ].
tam cực thiểu
The three smallest things, i.e. an atom, as the smallest particle of matter; a letter, as the shortest possible name; a ksana, as the shortest periodof time.
; (三極少) Chỉ cho đơn vị nhỏ nhất của 3 thứ là vật chất, danh xưng và thời gian. Đơn vị nhỏ nhất của vật chất là cực vi; đơn vị nhỏ nhất của danh xưng là 1 chữ; đơn vị nhỏ nhất của thời gian là sát na. [X. luận Câu xá Q.12].
tam da tam bồ
Xem Tam miệu Tam Phật đà.
tam da tam phật
Xem Tam miệu Tam Phật đà.
tam dao động
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba Dao Động—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of trouble: 1) Tham Dao Động: The trouble of lust. 2) Sân Dao Động: The trouble of hatred. 3) Si Dao Động: The trouble of delusion.
tam diện đại hắc thiên
Trời mặt đen—The three-faced great black deva—Mahakala.
tam diệt đế
(三滅諦) Chỉ cho 3 loại Diệt đế do tông Duy thức dựa vào 3 tính mà lập ra. 1. Tự tính diệt: Tự tính của tính Biến kế sở chấp chẳng sinh. Diệt nghĩa là chẳng sinh. Tự tính chẳng sinh, giả gọi là Diệt, hoàn toàn chẳng thuộc về Đế. Đó là tính thực đế giả. 2. Nhị thủ diệt: Nhị thủ(năng thủ, sở thủ) của tính Y tha khởi là chẳng sinh. Diệt là trạch diệt. Theo ngài Hộ pháp thì đoạn trừ năng thủ, sở thủ của tính Y tha khởi thuộc phần nhiễm thì có thể được bất sinh, bất sinh là trạch diệt, đó tức là Diệt đế. Năng thủ, sở thủ chẳng sinh là cửa của trạch diệt từ đó mà ra, cho nên trạch diệt giả gọi là tính Y tha khởi, nhưng thể của diệt thì chẳng phải tính Y tha khởi. Đó là tính giả đế thực. Còn theo ngài An tuệ thì năng thủ, sở thủ là tính Biến kếsở chấp, nhị thủ nương vào phần thể của thức nhiễm ô là tính Y tha khởi. Nếu dứt phần tự thể của tính Y tha khởi làm chỗ nương cho năng thủ, sở thủ này thì có thể được không sinh, không sinh tức là diệt, giả gọi là tính Y tha khởi. 3. Bản tính diệt: Tức bản tính của chân như vốn vắng lặng. Bản tính chân như không có nhiễm ô, cho nên là bản tính diệt. Chân như là bản tính diệt, nếu chỉ nói theo thuyên(giải rõ)thì là tính thực, đế giả; còn nếu nói cả thuyên và chỉ(yếu chỉ) thì là đế và tính đều thực. [X. luận Thành duy thức Q.8; luận Biện trung biên Q.trung; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu].
tam diệu
(三妙) Chỉ cho thuyết Tâm, Phật và chúng sinh dung hòa vào nhau một cách mầu nhiệm tự tại do tông Thiên thai thành lập. Đây là từ ngữ hình dung sự bao nhiếp lẫn nhau giữa mình và người. Bởi vì kinh Pháp hoa có 2 diệu là Tương đãi diệu và Tuyệt đãi diệu; 2 diệu này được dùng để dung hợp 3 pháp Tâm, Phật và chúng sinh 1 cách mầu nhiệm thì pháp chúng sinh cũng có 2 diệu, pháp Phật và pháp Tâm mỗi pháp cũng đều có 2 diệu, dung hòa lẫn nhau 1 cách tự tại mà thành là Tam diệu. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2, thượng].
tam diệu hạnh
Trini-sucaritani (S)Gồm: Thân diệu hạnh, Ngữ diệu hạnh, ý diệu hạnh.
; A muni, recluse or monk, who controls his body, mouth, and mind thân khẩu ý. Also tam mâu ni.
; Ba phẩm chất của một tăng sĩ—Three characteristics of a good monk: 1) Kềm thúc nơi thân: Control his body. 2) Kềm thúc nơi khẩu: Control his mouth. 3) Kềm thúc nơi ý: Control his mind.
; (三妙行) Chỉ cho cái giường thiền trongTăng đường. Giường này rộng 3 thước (Tàu). Trên đầu giường có 3 cái đòn tay, cho nên gọi là Tam điều chuyên hạ. Chiều dài của giường là 6 thước, gọi là Đơn tiền; ván giường dày 1 thước, cộng chung là 7 thước, gọi là Thất xích đơn tiền. Tùy kích thước khác nhau mà có Lục xích đơn, Ngũ xích đơn... Bích nham lục tắc 25 (đại 48, 166 hạ) nói: Nếu những người ấy thấy được thì là cùng tham với am chủ Liên hoa phong. Còn nếu chưa được như thế thì tam điều chuyên hạ, thất xích đơn tiền, hãy tham kỹ thử xem!. [X. Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Tây thiền kế đồ thiền sư chương].
Tam duyên
三縁; C: sānyuàn; J: san'en;|Ba loại nhân duyên (điều kiện). I. 1. Chung sinh (終生): Nhân duyên chấm dứt cuộc sống; 2. Đoạn hoặc (斷惑): Nhân duyên cắt đứt lậu hoặc, phiền não; 3. Thụ sinh (受生): Nhân duyên thụ sinh (thụ thai, tái sinh). II. Tà sư, tà giáo và tà kiến. III. Theo Thiện Đạo (善導) thì có ba nhân duyên thiện hảo được khởi dẫn trong lúc niệm Phật: 1. Thân duyên (親縁): Hành giả trở nên thân thiện hơn với Phật A-di-đà trong lúc xưng tán hồng danh của ngài, quán tưởng công đức của ngài cũng như tỏ vẻ cung kính tuỳ thuận; 2. Cận duyên (近縁): Hành giả nhờ lòng thành tha thiết yết kiến Phật mà được ngài cảm ứng; 3. Tăng thượng duyên (増上縁): Vì lòng thành xưng tán danh hiệu Phật nên hành giả tiêu diệt được nghiệp chướng, đạt được một cấp bậc tái sinh tốt hơn.
tam duyên
The three nidànas or links with the Buddha resulting from calling upon him, a term of the Pure land sect: (1) thân duyên that he hears those who call his name, sees their worship, knows their hearts and is one with them; (2) cận duyên that he shows himself to those who desire to see him; (3) tăng thượng duyên that at every invocation aeons of sin are blotted out, and he and his sacred host receive such a disciple at death.
; Ba mối duyên nối kết khi chúng ta cầu niệm Phật—Three nidanas or links with the Buddha resulting from calling upon him: 1) Thân duyên: Đức Phật A Di Đà nghe những người trì niệm hồng danh của Ngài, thờ phụng Ngài, biết tâm họ và tâm Ngài là một—That Amitabha hears those who call his name, sees their worship, knows their hearts and is one with them. 2) Cận duyên: Đức Phật A Di Đà hiển hiện ngay trước những người mong mỏi được thấy Ngài—That Amitabha shows himself to those who desire to see him. 3) Tăng thượng duyên: Những người mà trong mỗi lời nguyện luôn nguyện tẩy sạch tội chướng, khi lâm mạng chung thời Đức Phật A Di Đà sẽ tiếp dẫn—At every invocation (cầu nguyện) aeons of sins are blotted out (tẩy đi), Amitabha and his sacred host receive such a disciple at death.
; (三緣) Cũng gọi Nhiếp thủ tam duyên. Chỉ cho Thân duyên, Cận duyên và Tăng thượng duyên. Từ ngữ này có xuất xứ từ Quán kinh sớ định thiện nghĩa quyển 3 của ngài Thiện đạo đời Đường, nói về duyên do mà những hành giả tu Tịnh độ được ánh sáng của đức Phật A di đà nhiếp thủ. Tam duyên là: 1. Thân duyên: Khi hành giả miệng xưng danh hiệu Phật, thân lễ kính Phật, tâm thầm niệm Phật thì Phật nghe người ấy xưng danh, thấy ngườiấy lễ kính, biết người ấy niệm Phật. Như vậy, hành giả và Phật nhớ nghĩ lẫn nhau, cả 2 đều có sự quan hệ thân thiết không thể chia cắt được. 2. Cận duyên: Khi hành giả muốn thấy Phật thì Phật liền đáp ứng lòng mong muốn ấy của hành giả mà hiện ra ở gần bên hành giả.3. Tăng thượng duyên: Hành giả xưng niệm danh hiệu Phật, niệm niệm diệt trừ tội chướng, lúc lâm chung, Thánh chúng đến đón, không bị nghiệp chướng trói buộc, chắc chắn được vãng sinh. Ngoài ra, Tam duyên cũng chỉ cho Từ bi duyên(tức Chúng sinh duyên), Pháp duyên và Vô duyên duyên. (xt. Từ Bi).
Tam Duyên Sơn Chí
(三緣山志, Sanenzanshi): 9 quyển, trước tác của Trúc Vĩ Thiện Trúc (竹尾善筑, Takeo Zenchiku, 1782-1839), cháu của Sơn Huyện Đại Nhị (山縣大貳, Yamagata Daini, 1725-1767), nhà binh học dưới thời Giang Hộ; là thư tịch viết về lịch sử của Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji), ngôi chùa trung tâm của Phái Trấn Tây (鎭西派) thuộc Tịnh Độ Tông.
tam dư
The three after death remainders, or continued mortal experiences of sràvakas and pratyeka-buddhas who mistakenly think they are going to vô dư niết bàn final nirvàna, but will still find phiền não dư further passion and illusion, nghiệp dư further karma and quả dư continued rebirth, in realms beyond tam giới trailokya.
; Ba thứ còn thừa lại khiến chúng sanh tiếp tục luân hồi—The three after death remainders, or continued mortal experiences, of sravakas and pratyeka-buddha, who mistakenly think they are going to final nirvana (Vô dư Niết bàn), but will still find the following three remainders: 1) Phiền não dư: Further passion and illusion. 2) Nghiệp dư: Further karma. 3) Quả dư: Continued rebirth, in realms beyond the trailoka (tam giới).
; (三餘) Cũng gọi Tam chủng dư. Dư là thừa ra, sót lại. Nghĩa là hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác tuy đã vào Niết bàn vô dư nhưng vẫn còn sót lại 3 thứ là phiền não, nghiệp và quả báo. Đó là: 1. Phiền não dư(cũng gọi Chướng dư): Hàng Nhị thừa tuy đã dứt trừ Phiền não chướng, vào Niết bàn vô dư nguội thân bặt trí, nhưng vẫn chưa đoạn trừ Sở tri chướng, các phiền não nhỏ nhiệm vẫn chưa được diệt hết, đây chính là tàn dư của phiền não. 2. Nghiệp dư(cũng gọi Đạo dư): Hàng Nhị thừa tuy đã dứt trừ tất cả nghiệp hữu lậu, nhưng vẫn còn chịu thân biến dịch và nghiệp vô lậu tàn dư. 3. Quả báo dư(cũng gọi Quả dư, Báo dư, Khổ dư): Hàng Nhị thừa tuy đã đoạn trừ Phiền não chướng, dứt hết nghiệp hữu lậu, xả bỏ thân phần đoạn mà vào Niết bàn vô dư, nhưng vì chưa đoạn trừ Sở tri chướng, chưa diệt hết nghiệp vô lậu, chưa dứt bỏ thân biến dịch nên vẫn còn chịu quả báo của thân biến dịch tàn dư. [X. luận Phật tính Q.3; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.50].
Tam Dương
(三陽): Dịch Học Tượng Số thời nhà Hán lấy 12 quẻ tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Trong đó, tháng 10 là quẻ Khôn (坤卦), thuần về hào âm; tháng 11 là quẻ Phục (復卦), một dương sanh bên dưới; tháng 12 là quẻ Lâm (臨卦), hai dương sanh bên dưới; tháng Giêng là quẻ Thái (泰卦), ba dương sanh bên dưới. Lúc này âm dần tiêu, dương dần tăng trưởng, có ý là vạn sự vạn vật đều đổi mới. Cho nên, sau này người ta thường dùng từ Tam Dương khai thái (三陽開泰), Tam Dương giao thái (三陽交泰) để xưng tụng, chúc mừng đầu năm mới hoặc ngụ ý cát tường, tốt đẹp. Như trong tờ Hạ Nguyên Đán Biểu (賀元旦表) của Trương Cư Chánh (張居正, 1525-1582) nhà Minh có đoạn: “Tư giả đương Tam Dương khai thái chi hầu, chánh vạn vật xuất chấn chi thời, khí chuyển hồng quân, cọng lạc Nghiêu thiên chi hóa nhật (茲者當三陽開泰之候、正萬物出震之時、氣轉鴻鈞、共樂堯天之化日, nay gặp lúc khí tiết đầu xuân tốt đẹp, đúng phải lúc vạn vật chuyển mình, khí rung đất trời, cùng vui ngày chuyển hóa dưới trời vua Nghiêu).” Hay trong Tục Chỉ Nguyệt Lục (續指月錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1579) quyển 11 có câu: “Tam Dương giao thái, vạn vật hàm tân, hiển nhất chân chi diệu dụng, tổng tạo hóa chi uyên nguyên, trần trần hợp đạo, xứ xứ thông tân, pháp diên đại khải, giác uyển hoằng khai (三陽交泰、萬物咸新、顯一眞之妙用、總造化之淵源、塵塵合道、處處通津、法筵大啟、覺苑弘開, đầu xuân an thái, muôn vật mới toanh, lộ nguồn chơn ấy diệu dụng, thảy tạo hóa ấy uyên nguyên, nơi nơi hợp đạo, chốn chốn thấm nhuần, cỗ pháp rộng mở, vườn giác phô bày).”
Tam dục
xem Ba sự ham muốn.
tam dục
The three lusts, i.e. for form, carriage or beauty, and refinement or softness to the touch.
; The three lusts—Three kinds of desire: (A) 1) Hình mạo dục: Ưa thích mặt mày mình mẩy đẹp đẻ—Lust for form. 2) Tư thái dục: Ưa thích dung nghi cốt cách—Lust for carriage or beauty. 3) Tế xúc dục: Thích sự xúc chạm nhẹ nhàng êm ái—Lust for softness to the touch or refinement. (B) 1) Dâm: Sex. 2) Thực: Food. 3) Thùy: Sleep.
; (三欲) I. Tam Dục. Ba cái tham muốn trong tâm chúng sinh, đó là: 1. Hình mạo dục: Thấy dáng người xinh đẹp liền sinh lòng tham đắm. 2. Tư thái dục: Thấy cử chỉ đi đứng khoan thai, thái độ vui vẻ, yểu điệu liền sinh tâm ái nhiễm. 3. Tế xúc dục: Thấy làn da của nam, nữ mịn màng, bóng láng liền sinh tâm đắm nhiễm. Kinh Đại niết bàn (bản Bắc) quyển 12 (Đại 12, 434 thượng) nói: Lúc Đại bồ tát quán xét như thế thì tất cả xương trong thân đều chia lìa. Quán được như vậy rồi liền dứt tam dục. II. Tam Dục. Ba thứ dục của người xuất gia nói trong kinh Niết bàn, đó là: 1. Ác dục: Muốn làm bậc Thượng thủ trong đại chúng, khiến tất cả chư tăng phải theo mình, 4 chúng đều phải cúng dường cung kính khen ngợi mình; nếu có nói pháp cho họ nghe thì muốn họ đều tin nhận và dâng cúng cho mình y phục, thức ăn, nhà cửa... dồi dào. 2. Đại dục: Bảo cho 4 chúng biết mình đã được Sơ thụ cho đến Tứ vô ngại trí để mong lợi dưỡng. 3. Dục dục: Muốn được sinh lên cõi trời Phạm thiên cho đến dòng Sát đế lợi để được tự tại. III. Tam Dục. Chỉ cho 3 thứ dục vọng lớn ở cõi Dục nói trong thiên Pháp giới của Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3, đó là: 1. Ẩm thực dục: Đối với các thức ăn uống thơm ngon, người phàm phu thường sinh tâm tham đắm. . Thụy miên dục: Tâm người phàm phu thường mờ tối, không chịu siêng năng tu hành đạo nghiệp, chỉ thích ngủ nghỉ. 3. Dâm dục: Tất cả nam nữ đều say đắm nhau, làm các việc dâm dục.
tam dục sanh
Kamupapattiyo (skt)—Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại dục sanh—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of rebirth in the realm of Sense-Desire. 1) Có những loại hữu tình do dục an trú. Đối với các dục họ chịu sự an trú, họ bị chi phối phụ thuộc, như loài người, một số chư Thiên, và một số tái sanh trong các đọa xứ: There are beings who desire what presents itself to them, and are in the grip of that desire, such as human beings, some devas, and some in state of woe. 2) Có những loại hữu có lòng dục đối với những sự vật do họ tạo ra. Họ tạo ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng ấy, như các loài chư Thiên, Hóa Lạc Thiên: There are beings who desire what they have created, such as the devas who rejoice in their own creation. 3) Có những loại hữu tình có lòng dục đối với sự vật do các loài khác tạo ra. Họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng đối với sự vật do các loài khác tạo ra, như các loài Tha Hóa Tự Tại Thiên: There are beings who rejoice the creations of others, such as the devas Having Power over Others' Creation.
Tam giai giáo
三階教; C: sānjiē-jiào; J: sankaikyō;|»Giáo lí dành cho ba giai cấp«. Một phong trào Phật giáo được khởi dẫn bởi Tín Hành (信行, 540-594). Tam giai tương ưng với căn cơ khác nhau của chúng sinh, bao gồm: 1. Căn cơ tu hành theo Nhất thừa, dành cho những người căn cơ tuyệt đỉnh; 2. Căn cơ thực hiện Tam thừa, dành cho những người tuy không thực hiện được Nhất thừa, nhưng vẫn có khả năng phán đoán chân chính, phân biệt đúng sai, và 3. Không có căn cơ, khả năng gì, hoặc căn cơ thấp kém nhất, phá giới, ôm ấp tà kiến. Giáo lí dành cho hai giai cấp đầu được gọi là Biệt pháp (別法), giáo lí phân tích, phân biệt được chân nguỵ và giáo lí dành cho giai cấp cuối cùng được gọi là Phổ pháp (普法), lấy nguyên tắc »tất cả đều là Pháp thân« làm cơ sở, đặc biệt dành cho những chúng sinh căn cơ thấp kém, mù quáng từ lúc sinh ra (sinh manh 生盲), không có khả năng phân biệt thiện ác, chân nguỵ.|Phái này chia giáo pháp đức Phật ra ba giai đoạn: 1. Giai đoạn Chính pháp, là lúc mọi người đều tuân thủ giáo pháp Phật, kéo dài khoảng 500 năm kể từ Phật nhập diệt; 2. Giai đoạn Tượng pháp, là lúc pháp bị lẫn lộn đúng sai, kéo dài khoảng 1000 năm; 3. Giai đoạn Mạt pháp, là lúc giáo pháp không còn ai tin và bị huỷ diệt, giai đoạn này kéo dài 10.000 năm. Thời mạt pháp được xem là bắt đầu từ năm 550 sau Công nguyên và hiện nay còn kéo dài.|Tín Hành và các môn đệ cho rằng, chỉ môn phái của mình mới giữ đúng giáo pháp. Phái Tam giai chủ trương giữ nghiêm khắc Giới luật (s: śīla), ép xác, khổ hạnh, chỉ ăn mỗi ngày một bữa. Giáo phái này công kích các phái khác, gọi các nhà cầm quyền là »chệch hướng« nên bị cấm năm 600, và khoảng năm 845 mới thật sự biến mất.|Theo Tín Hành thì Nhất thừa (s: ekayāna) hay Phật thừa được giảng trong giai đoạn thứ nhất. Trong giai đoạn thứ hai thì Ba thừa (Thanh văn, Ðộc giác, Bồ Tát thừa) được truyền bá. Theo tông này, cả hai giai đoạn này đều có giới hạn. Giai đoạn thứ ba dành cho thời kì mạt pháp. Giáo lí phải thật toàn triệt và Tam giai giáo là đại diện.|Thời kì mạt pháp có đặc tính là con người chê bai giới luật, ngã theo tà đạo, không phân biệt tốt xấu, đúng sai. Theo phái này thì con người như thế nhất thiết phải tái sinh ở địa ngục, và một đời sống thiền định, phạm hạnh trong tu viện cũng không cứu được con người trong thời mạt pháp. Tông này chủ trương tu sống khổ hạnh, rời tu viện và sống với sự nghèo khổ của quần chúng. Quan điểm của phái này là mọi hiện tượng đều do Phật tính biến hiện ra, tất cả chúng sinh là »Phật sẽ thành«. Nhằm biểu hiện quan điểm này, đệ tử phái này hay quì lạy những người chẳng quen biết ngoài đường ngoài chợ, thậm chí quì lạy cả chó mèo và vì vậy hay bị cười đùa. Ðệ tử của Tam giai giáo tu phép bố thí và vì thế, hay nhận được của bố thí. Nhờ vậy với thời gian, phái này có nhiều của cải, có nhiều phương tiện làm việc thiện xã hội. Họ tổ chức những hoạt động từ thiện, ban phát quần áo, thức ăn cho người nghèo khổ hay bỏ tiền sửa chữa chùa chiền, tổ chức nghi lễ.
tam giai giáo
(三階教) Cũng gọi Đệ tam giai tông, Tam giai tông, Phổ pháp tông. Tông phái Phật giáo Trung quốc do ngài Tín hành (540-594) sáng lập vào đời Tùy đến đời Trung đường thì bị cấm lưu hành. Ngài Tín hành tự xưng là Nhất thừa bồ tát, đề xướng Phật giáo giai đoạn thứ 3, bỏ giới Cụ túc, chủ trương khổ hạnh nhẫn nhục, làm các việc nặng nhọc, ngày ăn 1 bữa, và sống bằng cách khất thực. Phản đối việc sùng bái ngẫu tượng mà chỉ lễ bái tháp. Sư cho rằng tất cả chúng sinh đều là chân Phật, cho nên trên đường đi gặp bất cứ ai đều lễ lạy. Về phương diện kinh tế, vào năm Khai hoàng thứ 3 (583) đời vua Văn đế nhà Tùy, sư thiết lập chế độ 16 thứ Vô tận tạng hạnh, khuyến hóa tín đồ thí xả tiền tài, lương thực và do các chùa cất giữ, sau đó đem bố thí hoặc cho các tín đồ nghèo túng vay mượn, hoặc dùng vào việc sửa chữa chùa tháp, kinh tạng... Năm Khai hoàng thứ 9 (589) quan Thượng thư Tả bộc xạ là Cao dĩnh thỉnh ngài Tín hành vào ở chùa Chân tịch (chùa Hóa độ) tại Trường an để hoằng pháp, ở đây sư lại sáng lập các chùa Quang minh, Từ môn, Tuệ nhật, Hoằng thiện... Đến tháng giêng năm Khai hoàng 14 (594) sư thị tịch. Đệ tử có các vị: Tuệ định, Đạo tiến, Vương thiện hạnh, Vương thiện tính... Sư có các tác phẩm: Tam Giai Phật pháp, Đối căn khởi hành pháp... gồm 35 bộ, 44 quyển. Năm Khai hoàng 20 (600), hệ phái này bị coi là dị đoan và bị vua ban sắc lệnh cấm lưu hành, nhưng đồ chúng vẫn duy trì. Vào năm Chứng thánh thứ 2 (696), Vũ tắc thiên nhà Đường ban sắc cấm chỉ các hành pháp khác ngoài việc khất thực, trường trai, giải giới, tọa thiền. Năm Khai nguyên 13(725), vua Huyền tông lại ra lệnh phá bỏ các viện Tam giai do tín đồ Tam giai xây dựng trong khuôn viên các chùa để ngăn cách chùa, buộc chúng tăng ở chung với nhau và cấm chỉ giáo đồ Tam giai ở riêng 1 chỗ. Lại cứ theo Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 10 thì vào tháng 4 năm Trinh nguyên 16 (800) đời vua Đức tông nhà Đường, sách vở tông Tam giai được đưa vào Đại tạng kinh, nhưng về sau, lại bị loại trừ ra khỏi Đại tạng, đến đời Tống thì mất hẳn không nghe nói đến nữa. Mãi đến thời cận đại, khi những di vật văn hóa được phát hiện tại Đôn hoàng thì 2 ông A. Stein (người Anh) và P. Pelliot (người Pháp) mới lần lượt tìm được 1 số kinh sách của Tam giai giáo trong hang đá Đôn hoàng, từ đó, việc nghiên cứu về Phật pháp Tam giai mới dần dần được giới học giả xem trọng. Tông này căn cứ vào những yếu tố Thời(thời đại), Xứ(xứ sở) và Cơ(con người) mà chia Phật pháp ra làm 3 giai đoạn: 1. Giai đoạn thứ nhất: Thời là thời đại Chính pháp, Xứ là nước Phật, Cơ là Phật, Bồ tát. Giáo pháp thụ trì trong giai đoạn này là Phật pháp Nhất thừa của Đại thừa.2. Giai đoạn thứ hai: Thời là thời đại Tượng pháp. Xứ là thế giới 5 trược ác, Cơ là phàm thánh lẫn lộn, giáo pháp lưu hành trong giai đoạn này là Tam thừa (gồm cả Đại thừa và Tiểu thừa). 3. Giai đoạn thứ ba: Thời là thời Mạt pháp, Xứ cũng là thế giới 5 trược ác, Cơ thì đều là tà giải tà hành(hiểu sai làm sai).Ngài Tín hành cho rằng thời đại của ngài lúc bấy giờ đã là giai đoạn thứ 3, chỉ toàn là những người không giữ giới, mất chính kiến mà thôi, nếu nương theo các pháp khác như Nhất thừa của giai đoạn thứ nhất, Tam thừa của giai đoạn thứ hai mà tu hành thì thực rất khó khăn cho nên phải nương vào Phổ pháp của giai đoạn thứ ba mà qui y tất cả Tam bảo, đoạn trừ tất cả điều ác, tu trì tất cả đều thiện thì Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.4; Tam giai giáo nghi nghiên mới dễ thành tựu. Đó chính là chủ trương căn bản của tông Tam giai. X. Tam giai Phật pháp mật kí Q.thượng; cứu (Thỉ xuy Khánh huy)].
Tam giai Phật pháp
三階佛法; C: sānjiē fófǎ; J: sankai buppō;|Tam giai Phật pháp là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của Tam giai giáo trong thời kì Tuỳ-Đường; người ta đã tìm thấy lại nhiều bản ở cả hai nước, Nhật Bản và Trung Hoa.
tam giai phật pháp
(三階佛法) Cũng gọi Tam giai biệt tập, Tam giai tập lục, Tam giai tập, Tứ quyển tam giai. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tín hành (549-594) soạn vào năm Khai hoàng 12 (592) đời Tùy và được thu vào Đại chính tạng tập 85, cũng được thu chép vào thiên Tam Giai giáo chi nghiên cứu của học giả Thỉ xuy Khánh huy người Nhật bản. Sách này là giáo điển căn bản của Tam giai giáo thịnh hành 1 thời váo các đời Tùy Đường và cũng là Thánh điển được giáo đồ Tam giai tôn sùng nhất. Vào các đời Tùy, Đường, Tam giai giáo đã từng nhiều lần bị triều đình cấm lưu hành, nên sách này cũng như các sách vở khác của Tam giai giáo hầu hết đã bị thất truyền. Nhưng, thời gần đây, toàn bộ 4 quyển của sách này đã được tìm thấy ở chùa Hưng thánh tại Kyoto, Nhật bản. Còn trong các di vật văn hóa đào được ở Đôn hoàng cũng bao gồm các mảnh đứt rách của quyển 2, quyển 3 sách này; quyển 2 do ông A. Stein thu tập, hiện được cất giữ ở viện bảo tàng Đại anh tại Luân đôn, quyển 3 thì do ông P. Pelliot sở hữu và hiện được tàng trữ ở thư viện Quốc gia tại Ba lê. Lại theo tác phẩm Tam giai Phật pháp mật kí đào được ở Đôn hoàng thì nội dung sách này có thuyết Ba đại đoạn, Mười tử đoạn, Hai mươi lăm tử cú. Đại đoạn thứ nhất căn cứ vào tập khí ở quá khứ mà giải thích rõ về nghĩa của căn cơ Tam giai; Đại đoạn thứ hai căn cứ vào con người hiện tại mà bàn về sự tà chính của Tam giai; Đại đoạn thứ ba thì trước hết căn cứ vào kinh giáo được bẩm thụ mà nêu rõ pháp Tam giai có thượng trung hạ, nhẹ nặng, cạn sâu khác nhau, sau đó căn cứ vào bi điền(ruộng thương), kính điền(ruộng kính) mà nói rõ rằng người Tam giai giáo nương theo cảnh mà khởi hành, sự lợi ích và duyên do của sự khởi hành ấy... [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.10; Khai nguyên thích giáo lục Q.18]
tam giai phật pháp mật ký
(三階佛法密記) Tác phẩm, 3 quyển, hiện nay chỉ còn quyển thượng, là bản do ông P. Pelliot lấy được ở Đôn hoàng, mang số hiệu 2412. Đây là sách chú thích bộ Tam giai Phật pháp do ngài Tín hành soạn vào đời Tùy. Nội dung quyển thượng có 4 môn: Thị danh, Cử số, Thích nghĩa và Chỉ văn, trình bày về giáo nghĩa Tam giai.
tam giác
The three kinds of enlightenment: (1) (a) tự giác enlightenment for self; (b) giác tha for others; (c) giác hạnh viên mãn perfect enlightenment and accomplishment; the first is an arhat's, the first and second a bodhisattva's, all three a Buddha's. (2) From the Awakening of Faith Khởi tín luận: (a) bản giác inherent, potential enlightenment or intelligence of every being ; (b) thủy giác initial, or early stages of such enlightenment brought about through the external perfuming or influence of teaching, working on the internal perfuming of subsconscious intelligence; (c) cứu cánh giác completion of enlightenment the subjective mind in perfect accord with the subsconcious mind, or the inherent intelligence.
; Ba loại giác ngộ—Three kinds of enlightenments: (A) 1) Tự giác: Enlightenment for self. 2) Giác tha: Help others attain enlightenment. 3) Giác hạnh viên mãn: Perfect enlightenment and achievement. (B) 1) Bổn giác: Inherent, potential enlightenment or intelligence of every being. 2) Thủy giác: Initial or early stage of enlightement, brought about through the external or influence of teaching. 3) Cứu cánh giác: Completion of enlightenment.
; (三覺) I. Tam Giác. Cũng gọi Tam bất thiện giác, Tam ác giác, Tam giới. Chỉ cho Dục giác, Sân giác, và Hại giác, là 3 thứ ác giác làm chướng ngại thiền định của phàm phu. 1. Dục giác(cũng gọi Tham giác): Suy nghĩ về những thứ hấp dẫn của thế gian mà sinh tâm ham muốn. 2. Sân giác(cũng gọi Khuể giác): Suy nghĩ về những việc oán ghét ở thế gian mà sinh tâm tức giận. 3. Hại giác(cũng gọi là Não giác): Sinh tâm ghen ghét mà có ý niệm làm não hại người khác. [X. kinh Tạp a hàm Q.24; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.17; luận Phẩm loại túc Q.5]. (xt. Tam Tưởng). II. Tam Giác. Cũng gọi Tam thiện giác. Chỉ cho 3 thứ Thiện giác dùng để đối trị 3 thứ Ác giác, đó là: 1. Li dục giác(cũng gọi Xuất giác): Dùng để đối trị Dục giác. 2. Vô khuể giác(cũng gọi Vô sân giác): Dùng để đối trị Sân giác. 3. Vô hại giác: Dùng để đối trị Hại giác.[X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Phẩm loại túc Q.5; phẩm Thiện giác luận Thành thực Q.14]. III. Tam Giác. Chỉ cho Tự giác, Giác tha, và Giác hạnh viên mãn của quả Phật Diệu giác. 1. Tự Giác: Giác biết tất cả các pháp trong 3 đời, pháp nào là thường, pháp nào là vô thường..., tỏ ngộ tính chân không, rõ biết các hoặc là hư vọng, thành tựu trí mầu nhiệm, chứng đạo viên giác nên gọi là Tự giác.2. Giác tha: Vận dụng tâm từ bi vô duyên, cứu độ chúng sinh, khiến họ thoát khổ sinh tử, được vui Niết bàn. 3. Giác hạnh viên mãn(cũng gọi Giác mãn): Hết sạch 3 hoặc, đầy đủ mọi đức, lên ngôi Diệu giác, hạnh mãn quả viên. Bậc A la hán chỉ có Tự giác; hàng Bồ tát được Tự giác và Giác tha, chỉ có Phật mới đầy đủ Tam giác. [X. luận Phẩm loại túc Q.5; Quán kinh huyền nghĩa phần Q.1; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng]. IV. Tam Giác. Chỉ cho Bản giác, Thủy giác và Cứu cánh giác nói trong luận Đại thừa khởi tín. 1. Bản giác: Chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh xưa nay vốn có của tất cả chúng sinh. 2. Thủy giác: Tri giác có được nhờ bản giác huân tập(xông ướp) bên trong và giáo pháp huân tập bên ngoài mà vọng tâm dần dần khế hợp với bản giác. 3. Cứu cánh giác: Thủy giác và bản giác hoàn toàn nhất trí.
Tam Giác sơn
三角山; C: sānjueshān; J: sankakusan; K: samgaksan.|Một ngọn núi nằm ở quận Cao Dương (高陽郡; k: koyanggun), Hàn Quốc, nổi danh vì những chùa chiền ở đây.
tam giác đàn
A three-cornered altar in the fire-worship of Chân Ngôn tông, connected with exorcism.
Tam giáo
三教; C: sānjiào; J: sankyō;|Có hai cách phân loại thường gặp: I. Ba truyền thống Đạo học lớn tại Đông á: 1. Phật giáo (佛教), 2. Nho giáo (儒教) và 3. Đạo giáo (道教); II. Theo Thiền sư Khuê Phong Tông Mật trong bài chú giải Viên Giác kinh (圓覺經) thì cách phân chia Tam giáo trong Phật giáo như sau: 1. Đốn giáo (頓教) được trình bày trong kinh Hoa nghiêm (華嚴經), 2. Tiệm giáo (漸教) trong thời kì Phật giảng dạy ở Lộc Uyển cho đến khi nhập niết-bàn tại Sa-la thụ viên, và 3. Bất định giáo (不定教), dạy về tính viên mãn vô khiếm, vĩnh hằng của Phật tính.
tam giáo
The three teachings, i.e. Nho Confucianism, Phật Buddhism and Đạo Taoism; or Khổng, Lão, Thích Confucianism, Taoism, Buddhism. In Japan they are Shinto thần đạo, Confucianism and Buddhism. In Buddhism the term is applied to the three periods of Sàkyamuni's own teaching of which there are several definitions: (1) The Giang Nam school describe his teaching as (a) tiệm progressive or gradual; (b) đốn immediate; (c) bất định indeterminate. (2) Quang Thống describes the three are: (a) tiệm progressive for beginners; (b) đốn immediate for the more advanced; (c) viên complete for the most advanced. (3) The Nam Sơn deals with (a) Tính không of Hìnayàna; (b) Tướng không of Mahàyàna; (c) Duy thức viên the perfect idealism. Thiên Thai accepts the division of tiệm, đốn and bất định for pre-Lotus teaching trước thời Pháp Hoa, but adopts tiệm, đốn, viên with the Lotus as the perfect teaching; it also has the division of tam tạng giáo, thông giáo and biệt giáo.
; (A) Three religions: Buddhism, Confucianism and Taoism. (B) Sakyamuni's teaching: 1) Tạng giáo hay Tam tạng giáo: The Tripitaka doctrine (the orthodox of Hinayana)—See Tạng Giáo, Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo and Thiên Thai Tông. 2) Thông giáo: The intermediate, or interrelated doctrine (Hinayana-cum-Mahayana)—See Thông Giáo and Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo. 3) Biệt giáo: The differentiated or separated doctrine (Early Mahayana as a cult or development, as distinct from Hinayana)—See Biệt Giáo.
; (三教) Thánh giáo 1 đời của đức Phật được các nhà phán giáo chia làm 3 loại: Thuyết này thịnh hành ở Trung quốc từ thời Nam Bắc triều về sau. I. Tam Giáo. Chỉ cho Đốn giáo. Tiệm giáo và Bất định giáo. 1. Đốn giáo: Giáo này không tuần tự theo thứ lớp mà ngay từ đầu đã nói giáo pháp sâu xa, kín nhiệm như kinh Hoa nghiêm. 2. Tiệm giáo: Chỉ cho giáo pháp tiến tới dần dần theo thứ lớp từ cạn đến sâu, từ nhỏ đến lớn, như các kinh A hàm, Bát nhã, Niết bàn... 3. Bất định giáo(cũng gọi Thiên phương bất định giáo, Vô phương giáo): Giáo pháp thu nhiếp cả Đốn lẫn Tiệm, tùy cơ, tùy thời mà ứng biến, như các kinh Thắng man, kinh Kim quang minh... Tiệm giáo nói trên lại được chia ra nhiều tầng bậc giáo pháp, cho nên đã sản sinh các thuyết như Tam thời giáo, Tứ thời giáo, Ngũ thời giáo... Pháp sư Cấp ở núi Hổ khâu chia làm 3 giáo, nghĩa là trong thời gian từ khi đức Phật thành đạo đến năm thứ 12, Ngài tuyên giảng đạo lí các pháp có thật, gọi là Hữu tướng giáo, như kinh A hàm; trong thời gian từ năm thứ 12 trở đi đến thời Pháp hoa thì Ngài tuyên giảng yếu chỉ các pháp đều không, gọi là Vô tướng giáo; sau cùng, khi ở rừng Song thụ là lúc tuyên thuyết giáo pháp Hữu, Vô song chiếu, đức Thế tôn nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính và Xiển đề cũng có khả năng thành Phật, gọi là Thường trụ giáo. Giữa khoảng Vô tướng giáo và Thường trụ giáo, Pháp sư Tông ái lại thêm Đồng qui giáo mà thành 4 giáo. Ngài Tăng mân ở chùa Trang nghiêm cũng cùng chủ trương này. Còn các ngài Tuệ quán ở chùa Đạo tràng, Tăng nhu ở chùa Định lâm, Tuệ thứ ở chùa Tạ... thì giữa khoảng Vô tướng giáo và Đồng qui giáo, lại thêm Bao biếm ức dương giáo (như các kinh Tịnh danh, Tư ích...) mà thành 5 giáo. Về Bất định giáo thì Ngài Trí khải chia làm 2 loại là Hiển lộ bất định và Bí mật bất định, được gọi tắt là Bất định giáo, Bí mật giáo rồi thêm vào 2 giáo Đốn, Tiệm, tuy thành 4 giáo nhưng thực ra không ngoài 3 Đốn, Tiệm, và Bất định nói trên. Ngoài ra, Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 tuy nói 3 giáo này thông dụng cả ở Nam và bắc, nhưng có lẽ đã do các sư ở Giang nam lập ra, cho nên còn có tên là ‘Nam trung tam giáo. Trong đó, Đốn giáo và Tiệm giáo do ngài Tuệ quán thành lập đầu tiên, còn Bất định giáo thì do người sau thêm vào, nhưng không rõ người đầu tiên đề xướng là ai. [X. Đại phẩm kinh du ý (Cát tạng); Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.10 (Tuệ trừng); Đại thừa nghĩa chương Q.1; Tam luận huyền nghĩa]. II. Tam Giáo.Cũng gọi Quang thống tam giáo. Chỉ cho Tiệm giáo, Đốn giáo và Viên giáo do ngàiTuệ quang (người đời gọi là Luật sư Quang thống) đời Bắc ngụy lập ra. 1. Tiệm giáo: Giáo pháp nói theo thứ lớp từ cạn đến sâu để độ những người căn cơ chưa thuần thục, như trước nói vô thường, sau nói thường, trước nói không, sau nói bất không. 2. Đốn giáo:Đối với những căn cơ bén nhạy thì trong 1 pháp môn, nói đủ cả thường, vô thường, không, bất không. 3. Viên giáo: Vì những người đạt đến cảnh giới Phật mà nói các pháp môn tự tại của Như lai như Vô ngại giải thoát,cứu cánh quả hải, viên cực bí mật... như kinh Hoa nghiêm chính là Viên giáo. Như vậy, ngài Tuệ quang là người đầu tiên lập kinh Hoa nghiêm làm Viên giáo. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].III. Tam Giáo. Chỉ cho Lập tướng giáo, Xả tướng giáo và Hiển chân thực giáo do tông Địa luận thành lập. 1. Lập tướng giáo: Giáo pháp hữu tướng nói cho hàng Nhị thừa. 2. Xả tướng giáo: Kinh Đại phẩm... thuyết minh rộng về lí vô tướng, nên gọi là Xả tướng. 3. Hiển chân thực giáo: Kinh Hoa nghiêm... hiển bày đạo lí chân thực, nên gọi là Hiển chân thực giáo. Thuyết này được khai sáng sau ngài Tuệ quang. [X. Đại thừa huyền luận Q.5] IV. Tam Giáo. Chỉ cho Tính không giáo, Tướng Không giáo và Duy thức viên giáo do ngài Nam sơn Đạo tuyên thành lập. 1. Tính Không Giáo: Các pháp tính không, vô ngã, đem lí này soi rọi tâm, đó là Tiểu thừa. 2. Tướng Không giáo: Tướng của các pháp vốn là không, chỉ do tình chấp mà thấy có, dùng lí này soi rọi là Tiểu bồ tát, thuộc giáo nông cạn của Đại thừa như kinh Bát nhã... 3. Duy thức viên giáo: Các pháp trần bên ngoài vốn không, chỉ do thức biến hiện, lí nầy sâu xa mầu nhiệm, chỉ có ý duyên biết, bao nhiếp tất cả thâm nghĩa Đại thừa, như các kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa, Lăng già, luận Nhiếp đại thừa... đều thuộc Duy thức Viên giáo. Trong 3 giáo trên, 2 giáo trước là Quyền giáo, giáo thứ 3 là Thực giáo. Còn 3 pháp quán dựa theo 3 giáo này mà được lập ra thì gọi là Tính không quán, Tướng không quán và Duy thức quán. [X. thiên Sám lục tụ pháp trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 4; Bát tông cương yếu Q.thượng]. V. Tam Giáo. Chỉ cho Hiển giáo, Mật giáo và Tâm giáo, do ngài Tán ninh đời Tống thành lập.1. Hiển giáo: Chỉ cho kinh, luật, luận của các thừa. Giáo này tôn ngài Ca diếp ma đằng làm Thủy tổ. 2. Mật giáo: Chỉ cho Du già, Quán đính, Ngũ bộ, Hộ ma, Tam mật, Mạn noa, Luân pháp... Giáo này tôn ngài Kim cương trí làm Thủy tổ. 3. Tâm giáo: Chỉ cho pháp thiền chỉ tâm người, thấy tính thành Phật. Giáo này tôn ngài Bồ đề đạt ma làm Thủy tổ. [X. Tống cao tăng truyện Q.3]. VI. Tam Giáo. Chỉ cho 3 giáo: Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân, và Trì pháp luân do ngài Chân đế dựa theo kinh Kim quang minh (phẩm Nghiệp chướng kinh Hợp bộ Kim quang minh quyển 2) mà thành lập. Trong 7 năm, sau khi thành đạo, đức Phật giảng nói về lí Tứ đế ở vườn Lộc dã, gọi là Chuyển pháp luân. Sau 7 năm ấy, ở nước Xá vệ, đức Phật nói Bát nhã... dùng Không chiếu Hữu, lúc này có đủ cả Chuyển pháp luân và Chiếu pháp luân. Ba mươi năm sau, trước khi vào Niết bàn, ở nước Tì xá li, Phật nói kinh Giải tiết... cho các vị Bồ tát nghe, Không, Hữu đều chiếu, lúc này đủ cả 3 luân là Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì pháp luân. Đây là thuyết của ngài Chân đế nói trong Giải tiết kinh sớ, được ghi trong Giải thâm mật kinh sớ quyển 5 của ngài Viên trắc và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1 của ngài Trừng quán. Theo Giải thâm mật kinh sớ quyển 5, Tam giáo lập trong Bộ tông dị luận kí của ngài Chân đế là: Tiểu thừa pháp luân, Đại thừa pháp luân, và Nhất thừa pháp luân. Trong đó, Pháp luân đầu là Tam tạng giáo, chỉ cho Tiểu thừa, tức kinh A hàm; Pháp luân thứ 2 chung cho cả Đại thừa và Tiểu thừa, tức kinh Niết bàn; Pháp luân thứ 3 thì chỉ riêng cho Đại thừa, tức các kinh Hoa nghiêm, Bát nhã... Đây là thuyết khác của 3 pháp luân: Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân, và Trì pháp luân. VII. Tam Giáo. Chỉ cho 3 giáo: Căn bản pháp luân, Chi mạt pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp luân, do ngài Cát tạng ở chùa Gia tường thành lập vào đời Tùy. 1. Căn bản pháp luân: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Kinh này được đức Phậtgiảng nói đầu tiên sau khi thành đạo. 2. Chi mạt pháp luân: Các kinh Phật giảng nói sau đó cho hàng Tiểu thừa. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân: Chỉ cho kinh Pháp hoa. Nội dung kinh này nói về lí Hội tam qui nhất (qui Tam thừa về Nhất thừa) tức Nhiếp mạt qui bản (đưa ngọn về gốc) được đức Phật tuyên thuyết sau khi thành đạo 40 năm. (xt. Tam Chuyển Pháp Luân). VIII. Tam Giáo. Chỉ cho Hữu giáo, Không giáo, và Trung đạo giáo, do ngài Huyền trang thành lập vào đời Đường. Đây là phán giáo của tông Pháp tướng. 1. Hữu giáo: Thời đầu tiên ở vườn Lộc dã, đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế của Tiểu thừa, nói về yếu chỉ Ngã không pháp hữu. 2. Không giáo: Thời thứ 2 ở núi Linh thứu, đức Phật tuyên thuyết các bộ Bát nhã, nói về ý chỉ các pháp đều không. 3. Trung đạo giáo: Thời thứ 3, đức Phật tuyên thuyết kinh giải Thâm mật... nói về sự phá chấp Hữu, Không mà hiển bày lí Trung đạo. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương,3 thời này được dùng để chỉ cho Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì pháp luân. Lại theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 thì Luận sư Giới hiền của Ấn độ lập thời thứ nhất là Nhân không pháp hữu (Hữu giáo), thời thứ hai là Chư pháp giai không (không giáo) và thời thứ 3 là Phi hữu phi không (Trung đạo giáo) nội dung cũng giống với Tam giáo do ngài Huyền trang thành lập. [X. bài tựa trong Khởi tín luận nghĩa kí]. (xt. Tam Pháp Luân, Tam Thời Giáo).IX. Tam Giáo. Chỉ cho Tam thời giáo do Luận sư Trí quang của Ấn độ y cứ vào kinh Bát nhã, luận Trung quán... mà thành lập. 1. Thời đầu tiên: Đức Phật vì những người tiểu căn mà nói các pháp Tiểu thừa như Tứ đế ở vườn Lộc dã để hiển bày ý chỉ Tâm cảnh đều có. 2. Thời thứ hai: Phật nói pháp tướng Đại thừa cho những người trung căn để hiển bày lí cảnh không tâm có theo nghĩa Duy thức. 3. Thời thứ ba: Phật vì những người thượng căn mà nói Đại thừa vô tướng để hiển bày nghĩa tâm cảnh đều không, bình đẳng nhất vị, tức nghĩa Bát nhã. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; bài tựa Khởi tín luận nghĩa kí]. Ngoài 9 loại Tam giáo được phân biệt theo nội dung Phật pháp nói trên, ở Trung quốc người ta cũng thường gọi Phật giáo, Nho giáo, và Đạo giáo là Tam giáo, còn tại Nhật bản thì Phật giáo, Thần đạo giáo và Nho giáo cũng được gọi là Tam giáo. Loại Tam giáo này, trong lịch sử Trung quốc và Nhật bản từng xảy ra sự kiện bài xích lẫn nhau. (xt. Tam Giáo Luận Hành).
tam giáo bình tâm luận
(三教平心論) Tác phẩm, 2 quyển, do ông Lưu mật soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Vì thấy cuộc tranh luận giữa Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo kéo dài cả nghìn năm đến nay mà đúng sai vẫn chưa dứt khoát, cho nên tác giả Tĩnh trai Lưu mật mới đặc biệt soạn sách này để biện minh. Trước hết tác giả cho rằng Tam giáo đều là pháp ngăn ác làm thiện, Phật dùng để trị tâm, Đạo dùng để trị thân và Nho dùng để trị đời, không thể bỏ 1 bên nào; kế đến nói về hiệu quả của Tam giáo có cạn, sâu khác nhau nên giáo có rộng, hẹp, xa, gần bất đồng; Nho giáo và Đạo giáo là pháp thế gian, Phật giáo thì bắt đầu ở pháp thế gian, mà kết thúc ở pháp xuất thế gian; sau cùng, tác giả cực lực bác bỏ thuyết của Phó dịch, Hàn dũ đời Đường, đồng thời, nêu ra các quan điểm chủ trương của Trình minh đạo, Chu hi, Trương hoành cừ, Trình y xuyên... để luận phá.
Tam Giáo Chỉ Quy
(三敎指歸, Sankōshiiki, Sankōshiki): sách tuyên ngôn xuất gia của Không Hải Đại Sư, được viết dưới dạng tiểu thuyết ngụ ý mang tính tôn giáo, là trước tác ra đời vào năm thứ 16 (797) niên hiệu Khánh Lịch (慶曆), lúc Đại Sư 24 tuổi; gồm 3 quyển: quyển Thượng là Quy Mao Tiên Sinh Luận (龜毛先生), quyển Trung là Hư Vong Ẩn Sĩ Luận (虛亡隱士論) và quyển Hạ là Giả Danh Khất Nhi Luận (假名乞兒論). Trong lời tựa, Đại Sư thuật rõ lý do rời khỏi ghế nhà trường, nhân duyên gặp gỡ vị Sa Môn, phát tâm xuất gia và viết bộ này. Từ phần luận của Quy Mao Tiên Sinh trở về sau được cấu thành theo phong cách Hí Khúc. Trước hết, trong phần Quy Mao Tiên Sinh Luận, đối với tuổi thanh niên bất lương, phóng đãng, không chịu vâng lời của đứa cháu ngoại của Ông Thố Giác (兔角公) là Điệt Nha Công Tử (蛭牙公子), từ lập trường của Nho Giáo, Quy Mao Tiên Sinh thuyết giáo về đạo lý nhân luân, trung hiếu để cải hóa. Kế đến, trong phần Hư Vong Ẩn Sĩ Luận, khi ngồi bên lắng nghe sự việc như vậy, Hư Vong Ẩn Sĩ thuyết về tính ưu việt của Đạo Giáo hơn Nho Giáo để khuất phục Quy Mao Tiên Sinh, Điệt Nha Công Tử và Ông Thố Giác. Trong quyển Hạ Giả Danh Khất Nhi Luận, nhân vật Giả Danh Khất Nhi dưới dạng nhà khất thực (sự thật là Không Hải lúc tuổi thanh niên) khẳng định rằng chữ Hiếu vốn phủ định việc xuất gia là hạnh hiếu nhỏ; chính xuất gia mới là đại hiếu; vì vậy Phật Giáo ưu việt hơn cả Nho Giáo và Đạo Giáo; và cuối cùng Đại Sư kết thúc với bài Sanh Tử Hải Chi Phú (生死海之賦) cũng như Thập Vận Chi Thi (十韻之詩). Trong tác phẩm này, Quy Mao Tiên Sinh ám chỉ cho người chú bên mẹ của Không Hải là A Đao Đại Túc (阿刀大足). Tác phẩm thêu dệt câu chuyện Đại Sư nghỉ học, sống cuộc đời của người cư sĩ tại gia với chí nguyện xuất gia; nhưng bị cả gia đình dòng họ Tá Bá (佐伯) phản đối kịch liệt. với ý nghĩa đó, đây là thư tịch rất quý báu, thể hiện rõ bóng dáng thời đại thanh niên của Không Hải và sự chuyển biến về mặt tư tưởng của Đại Sư trong thời gian ấy.
tam giáo chỉ quy
(三教指歸) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Không hải, vị tăng người Nhật soạn. Năm 18 tuổi, tác giả soạn bản thảo của sách này đặt tên là Lung cổ chỉ qui (bản viết tay của tác giả hiện được cất giữ ở núi Cao dã), đến năm 20 tuổi, tác giả sửa chữa lại và lấy tên sách như hiện nay. Sách này viết bằng chữ Hán theo thể văn biền ngẫu tứ lục, lời đẹp, ý tứ phong phú, nói về sự hơn kém giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo, chủ trương xuất gia là đạo trung hiếu chân chính. Nội dung chủ yếu sách này gồm: Tiên sinh Qui mao nói về Nho giáo, ẩn sĩ Hư vong nói về Đạo giáo và Khất sĩ Giả danh bàn về sự tu hành của Phật giáo.
tam giáo luận hoành
(三教論衡) I. Tam Giáo Luận Hành. Chỉ cho cuộc tranh luậngiữa 3 giáo Nho, Phật và Đạo. Nho giáo và Đạo giáo là các tông giáo của Trung quốc, còn Phật giáo là tông giáo ngoại nhập, được truyền từ Ấn độ tới, cho nên bất luận về phương diện nào, hoặc tư tưởng tín ngưỡng hoặc nghi lễ tập quán, đều có sự sai khác rất lớn, cho nên giữa Tam giáo thường xảy ra các cuộc tranh luận về giáo nghĩa, nghi lễ... Cứ theo Hán pháp bản nội truyện vào thời vua Minh đế nhà Hậu Hán (lúc Phật giáo mới truyền vào Trung quốc) thì đạo sĩ Chử thiện tín đã từng tranh biện với các ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan (hai người đầu tiên truyền Phật giáo vào Trung quốc) và cuối cùng đã bị ngài Ma đằng hàng phục. Vào thời Tam quốc, ngài Khang tăng hội ở nước Ngô từng biện luận với Tôn hạo về thuyết Thiện ác báo ứng của Chu công, Khổng tử, và cho rằng thuyết này còn thiển cận, không sánh được với thuyết Thiện ác báo ứng của Phật giáo. Rồi Tào thực cũng viết Biện đạo luận để bác bỏ thuyết Trường sinh bất lão bất tử của Đạo giáo. Những sự kiện này đều là Tam giáo luận hành thuộc thời kì đầu. Sang thời Tây Tấn, có Đạo sĩ Vương phù và ngài Bạch viễn tranh luận về sự hơn, kém giữa Đạo giáo và Phật giáo. Vương phù ngụy tác kinh Lão tử hóa hồ để phỉ báng đức Phật, sau đó, Phật giáo đồ soạn kinh Thanh tịnh pháp hành để đáp lại. Đến thời Đông Tấn, Tôn thịnh viết Thánh hiền đồng quĩ Lão đam phi đại hiền luận để bài xích Đạo giáo. Rồi cư sĩ Quân chương ở La hàm và ngài Tuệ viễn ở Lô sơn đều soạn Cánh sinh luận. Hình tận thần bất diệt luận để biện luận về thần thức bất diệt. Ngoài ra, ngài Tuệ viễn còn viết Sa môn bất kính vương giả luận và Sa môn đản phục luận để nói rõ rằng lễ nghi Phật giáo khác với lễ nghi truyền thống của Trung quốc. Nghĩa là các vị sa môn Ấn độ không bao giờ lạy các ông vua Ấn độ thì cũng đừng bắt các vị sa môn Trung quốc lạy vua Trung quốc. Thời đại Lưu Tống, Trịnh đạo tử, và Tăng hàm viết Thần bất diệt luận, Tuệ lâm viết Bạch hắc luận; Hà thừa thiên thì soạn Đạt tính luận; chủ trương thần thức tiêu diệt để chê bai Phật giáo. Tông bính liền soạn Minh Phật luận, Nhan diên soạn Thích hà hành dương Đạt tính luân và Lưu thiếu phủ viết luận Đáp hà thừa thiên để luận phá thuyết của Hà thừa thiên. Đạo sĩ Cố hoan viết Di hạ luận cho rằng Phật pháp là pháp của dân mọi rợ (di địch). Lập tức ngài Tăng thiện viết Chính nhị giáo luận, cư sĩ Tạ trấn chi viết Dữ Cố đạo sĩ chiết Di hạ luận, ngài Tuệ thông thì soạn Bác cố đạo sĩ Di hạ luận... để bài bác chủ trương của đạo sĩ Cố hoan. Vào thời Tiêu Tề, Trương dung viết Môn luật đề xướng chủ trương Đạo, Phật nhất trí’, Mạnh cảnh dực viết Chính nhất luận tán thành đề xướng của họ Trương. Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy thâm tín Đạo giáo, nghe lời Đạo sĩ Khấu khiêm, vào năm Thái bình chân quân thứ 7 (446), bắt đầu thi hành chính sách bài Phật giáo, đến thời vua Văn thành đế Phật giáo mới được phục hưng. Vua Văn tuyên nhà Bắc Tề từng tổ chức các cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo nhằm bài xích Đạo giáo. Đến Vũ đế nhà Bắc Chu ban sắc cho tín đồ Đạo giáo và Phật giáo tranh luận về sự hơn, kém của 2 tông giáo theo lời tâu thỉnh của đạo sĩ Trương tân và Vệ nguyên tung. Vua sai quan Tư lệ đại phu là Chân loan chủ tọa và thẩm định việc này. Sau đó, Chân loan làm Tiếu đạo luận nói lên sự hư dối của Đạo giáo, đồng thời, ngài Đạo an viết Nhị giáo luận công kích Đạo giáo. Đến năm Kiến đức thứ 3 (574) Vũ đế nhà Bắc Chu hạ lệnh phế bỏ Đạo giáo và Phật giáo, nhưng thực ra là bãi bỏ Phật giáo để lập Đạo giáo. Sang đời Đường, vì tổ tiên nhà Đường là họ Lí nên Đạo giáo được xem trọng, bởi vậy, giữa Đạo giáo và Phật giáo thường xảy ra xung đột. Vào đầu đời Đường các cuộc thảo luận về Tam giáo thường được tổ chức và rất hữu ích. Năm Vũ đức thứ 4 (621), có thuyết nói năm thứ 7) đời vua Cao tổ, quan Thái sử là đạo sĩ Phó dịch dâng biểu phế Phật, Ngài Pháp lâm liền viết Phá tà luận; Lí sư chính viết Nội đức luận và Minh khái viết Quyết đối Phó dịch phế Phật pháp tăng sự để phá chủ trươngcủa Phó dịch. Năm Trinh quán 13 (639) đời Vua Thái tông, quan Tế tửu là Khổng dĩnh đạt, sa môn Tuệ tịnh và đạo sĩ Thái hoảng họp nhau ở điện Hoằng văn để đàm luận về Tam giáo. Thời vua Cao tông, Đạo giáo được nhận làm quốc giáo và Lão tử được trung phong thụy hiệu là Huyền Nguyên hoàng Đế, thế lực của Đạo giáo được hưng thịnh một thời và lượm lặt những giáo lí của Phật giáo để soạn thành kinh của Đạo giáo. Vào niên hiệu Lân đức năm đầu (664), Đạo thế dâng biểu tâu về sự dối trá của các kinh Đạo giáo, do đó, đến niên hiệu Tổng chương năm đầu (668), vua ban lệnh thảo luận về việc kinh Lão tử hóa hồ là thật hay giả, nhưng chưa bao lâu việc này đã bị cấm. Năm Trinh nguyên 12 (796), Từ đại cùng với Sa môn Đàm diên và Đạo sĩ Cát tham thành họp ở điện Lân đức để giảng bàn Tam giáo. Năm sau, Tả nhai tăng sự là ngài Đoan phủ vào nội điện để giảng về Nho giáo và Đạo giáo, được vua ban cho áo đỏ. Thời kì từ vua Huyền tông đến Văn tông, ngài Trạm nhiên, vốn xuất thân từ Nho gia, hoằng dương Thiên thai giáo quán, đệ tử của ngài lànhàNho Lương túc soạn Chỉ quán thống lệ; ngài Trừng quán thì bàn về Hoa nghiêm và Kinh Dịch, Lí tường viết Phục tính thư sử dụng tư tưởng Đại thừa khởi tín, Viên giác và Lăng nghiêm, đây chính là đầu mối của Tống Nho sau nầy. Thời vua Hiến tông, Hàn dũ viết Nguyên đạo, Nguyên nhân dâng Luận Phật cốt biểu và viết Dữ mạnh tường thư để công kích và bài bác Phật giáo. Mạnh giản liền soạn Luận Di hạ và Nhân quả báo ứng để trả lời Hàn dũ. Ngài Khuê phong Tông mật soạn Nguyên nhân luận để phá sự chấp mê của Đạo giáo và Nho giáo, đồng thời, trình bày về sự quan hệ giữa Chu dịch và Chân như duyên khởi. Năm Hội xương thứ 5 (845), Vũ tông thi hành chính sách phế Phật, nhất thời Đạo giáo hưng thịnh, nhưng không bao lâu, Phật giáo lại được phục hưng. Từ đây trở đi, Tam giáo luận hành chỉ còn là hình thức và Tam giáo luận đàm cũng chỉ là 1 nghi lễ của triều đình mà thôi. Sang đời Tống, Nho giáo bỗng hưng thịnh, một mặt hấp thu giáo lí Phật giáo để tạo thành 1 nền học vấn mới, đồng thời, mặt khác lại dấy lên 1 phong khí bài Phật cũng ồn ào không kém. Như Nho nhục thuyết của Tôn thái sơn, Bản luận của Âu dương tu, Quái đạo của Thành thủ đạo, Sùng chính biện của Hồ dần, Tiềm thư của Lí thái bá... đều chủ trương bài Phật; Âu dương tu soạn Tân đường thư, Ngũ đại sử, trong đó, họ Âu lại bỏ hết những sự việc có liên quan đến Phật giáo! Về vấn đề này, ngài Trí viên soạn Nhàn cư biên đề xướng thuyết Tam giáo tịnh tồn (ba tông giáo cũng tồn tại) không thể bỏ; ngài Khế tung soạn Phụ giáo biên và Phi hàn cực lực chủ trương Nho Thích nhất quán (Nho giáo và Phật giáo cùng một lí mà suốt cả mọi việc); cư sĩ Trương thương anh soạn Hộ pháp luận bác bỏ chủ trương của Hàn dũ và Âu dương tu. Đặc biệt các nhà Đại nho như Trương tái, Trình minh đạo, Trình y xuyên, Chu hối am... tuy chủ trương bài Phật, nhưng trong các học thuyết của họ lại nhan nhản những tư tưởng của Phật giáo. Đến khi Tống huy tông sùng tín Đạo giáo thì năm Sùng ninh thứ 5 (1106), vua ban sắc các chùa viện phải thờ tượng Khổng tử và Lão tử, thứ bậc các Đạo sĩ được xếp ở trên tăng ni; trong sách Phật hễ có chỗ nào chê Đạo giáo và Nho giáo thì đều bị đốt bỏ. Vào đời Nam Tống, ngài Tông cảo là người đầu tiên đề xướng thuyết Tam giáo dung hợp, vua Hiếu tông, các vị Tông hiểu, Lưu mật, Tử thành, Chí bàn, Lí thuần phủ... đều kế thừa thuyết của ngài Tông cảo. Năm Thuần hựu thứ 9 (1249), Lí chí thường nắm quyền quản lí Đạo giáo trên toàn quốc thì lại đẩy Đạo giáo và Phật giáo vào vết xẻ đổ tương tranh cũ. Đến đời Nguyên, vua Thế tổ được vị tăng Quốc sư người Tây tạng là Bát tư ba truyền giới Bồ tát, thì phản cảm của các đạo sĩ càng mãnh liệt hơn. Vào năm Bảo hựu thứ 3 (1255), đạo sĩ Khâu xử cơ, Lí chí thường... phá hủy miếu thờ Khổng tử ở Tây kinh, chiếm đoạt hơn 400 ngôi chùa Phật giáo. Năm Chí nguyên 18 (1281), vua ban sắc, chỉ trừ Đạo đức kinh, còn Đạo tạng và tất cả kinh sách liên quan đến Đạo giáo đều bị đốt hết. Đồng thời với biến cố này, Vương trung phu sáng lập Toàn chân giáo, Lịch hi thành lập Đại đạo giáo và Trương tông diễn lập Chính nhất giáo, thống nhất Bắc nam, và xác định Giáo hội Đạo giáo. Sang đời Minh, khoảng năm Chính thống, việc biên soạn Đạo tạng được hoàn thành. Tam giáo luận và Thích đạo luận của vua Minh thái tổ, Tục nguyên giáo luận của Trần sĩ vinh, Đạo dư lục của Diêu quảng hiếu, Phật pháp kim thang biên của Đồ long, Trung môn sùng hành lục của Châu hoành, Chu dịch của Thiền giải và Tứ thư ngẫu ích giải của Trí húc... tất cả đều chủ trương thuyết Tam giáo điều hoà; nhưng Hồ kính trai và Vương dương minh thì theo Nho, bài Phật. Tóm lại, đời Minh, chủ trương điều hòa giữa Nho giáo và Phật giáo tương đối mạnh hơn các đời trước. Sang đầu đời Thanh, có Nhất minh soạn Hội tâm nội tập cũng đề xướng thuyết Tam giáo dung hội. Nhưng thời kì này, các tông giáo đều rơi vào tình trạng trầm trệ, mất sinh khí và suy vi, không còn thế lực gì đáng nói. [X. Hoằng minh tập, Lương cao tăng truyện Q.7; thiên Qui chính trong Quảng hoằng minh tập; Đường hộ pháp sa môn Pháp lâm biệt truyện Q.thượng; Thích thị lục thiếp Q.8; Âu dương tu ngoại truyện]. II. Tam Giáo Luận Hành. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ huấn, thuộc tông Tào động, Nhật bản soạn vào năm Diêu hưởng thứ 3 (1746). Nội dung sách này chia làm 3 thiên: Tổng luận, Tạp luận, và Biệt luận, trình bày về sự dị đồng giữa Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và đại ý của các nhà, các tông.
tam giáo sưu thần đại toàn
(三教搜神大全) Tác phẩm, 7 quyển, không rõ tác giả, có lẽ được trứ tác vào khoảng năm Vĩnh lạc (1402-1424) đời Minh về sau. Nội dung sách này là vẽ hình tượng của 120 vị thần, thánh thuộc 3 tông giáo Nho, Phật, Đạo như Ngọc hoàng thượng đế, Tây nhạc thần, Chiêu linh hầu, Ngũ ôn sứ giả, Đảng nguyên soái, Phật đà da xá thiền sư, Bản tịnh thiều sư... Ở đầu quyển 1 ghi chép nguồn gốc của Tam giáo. Bộ sách rất có giá trị về mặt nghiên cứu tông giáo. Có thuyết cho rằng sách này chính là Họa tượng sưu thần quảng kí bản đời Nguyên, hoặc y cứ vào sách này rồi khắc thêm mà thành.
tam giáo thông khảo
A Thorough Study in the Three Religions—Bộ sách được biên soạn bởi An Thiền Thiền Sư, Thiền sư nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 19. Sách được biên soạn vào giữa thế kỷ thứ 19, có lẽ được in vào khoảng năm 1845. Sách gồm ba phần—A book composed by Zen master An Thiền, A Vietnamese famous Zen master in the early nineteenth century. The book was composed in the middle of the nineteenth century. Probably printed in 1845. The bok included three divisions: I) Quyển thứ nhất—Phật Giáo: First volume—Buddhism. 1) Phụng Chiếu cầu pháp: Việc du học của Thiền sư Tính Tuyền Trạm Công—The travel in seeking the Buddha Dharma of Zen Master Tính Tuyền Trạm Công. 2) Bản Quốc Thiền Môn Kinh Bản: Các bản kinh khắc ở Việt Nam—Sutras printed in Vietnam. 3) Đại Nam Thiền Học Sơ Khởi: Khởi thủy Thiền học Việt Nam—The beginning of Zen in Vietnam. 4) Đại Nam Phật Tháp: Các tháp Phật ở Việt Nam—Buddha stupas in Vietnam. 5) Vô Ngôn Thông Truyền Pháp: Thiền phái Vô Ngôn Thông—Wu-Yun-T'ung Zen Sect. 6) Danh Trấn Triều Đình: Các cao Tăng nổi tiếng ở triều đình—Famous monks at the Royal Palace. 7) Lê Triều Danh Đức: Các cao Tăng thời Tiền Lê—Famous monks during the Tiền Lê Dynasty. 8) Lý Triều Danh Đức: Các cao Tăng thời nhà Lý—Famous monks during the Lý Dynasty. 9) Trần Triều Danh Đức: Các cao Tăng đời Trần—Famous monks during the Trần Dynasty. 10) Tỳ Ni Đa Lưu Chi Truyền Pháp: Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi—Vinitaruci Zen Sect. 11) Tuyết Đậu Truyền Pháp: Thiền phái Thảo Đường—Thảo Đường Zen Sect. 12) Những việc thần bí liên quan đến các Thiền sư Việt Nam qua các triều đại: Mystic things involving Vietnamese Zen masters throughout all dynasties. 13) Danh từ Phật học và các thần thoại Phật Giáo ở Trung Hoa và Việt Nam: Buddhist terms and mythological stories about Buddhism in China and Vietnam. II) Quyển thứ hai—Khổng Giáo: Second volume—Confucianism. III) Quyển thứ ba—Lão Giáo: Third volume—Taoism.
tam giáo tướng
Ba cách dạy của Phật—The three modes of the Buddha's teaching of the Southern sects: 1) Đốn: Immediate—See Đốn Giáo and Đốn Tiệm. 2) Tiệm: Gradual or progressive—See Tiệm Giáo. 3) Bất định: Intermediate—See Bất Định Giáo.
tam giáo đồ
(三教圖) Cũng gọi Tam giáo thánh nhân đồ, Tam thánh đồ. Bức họa vẽ tượng 3 vị Thánh là Khổng tử, Thích ca và Lão tử để biểu trưng sự hòa hợp giữa Tam giáo Nho, Thích, Đạo. Ngoài ra, cũng có các bức tranh vẽ 3 vị; Thiền sư Phật ấn, Tô đông pha và Hoàng lỗ trực đại biểu cho tam giáo Phật, Nho, Đạo. Tư tưởng Tam giáo nhất trí đã thịnh hành ở Trung quốc từ xưa, từ giữa đời Đường về sau rất nhiều Thiền sư tán đồng tư tưởng này. Về giới hội họa thì có Tôn vị đời Đường, Mã viễn, Trần thanh ba, Vương tề hàn, Hứa đạo ninh... đời Tống rất thích vẽ 3 vị Thánh này. [X. Biện ngụy lục Q.2; Thiền tông chính mạnh Q.16; Sơn phòng tạp lục]. (xt. Tam Toan Đồ). Tam Giáo Đồ
tam giả
Prajnapti (S). The word giả in Buddhist terminology means that every thing is merely phenomenal, and consist of derived elements; nothing therefore has real existence, but all is empty and unreal hư vọng bất thật. The three giả are pháp things, thụ sensations, and danh names.
; Prajnapti (skt)—Ba cái không thật—Trong Phật giáo, đặc biệt là trong Thành Thực Luận và Kinh Bát Nhã, mọi vật chỉ là hiện tượng, gồm những yếu tố cấu thành; không có cái gì có thực hữu, chỉ là hư không và không thật—Three unrealities or three phenomenals—Three fallacious postulates—In Buddhism, especially in the Satyasiddhi-sastra and the Maha-Prajna Sutra, everything is merely phenomenal, and consists of derived elements; nothing therefore has real existence, but all is empty and unreal: 1) Pháp giả: Chư pháp tự tánh vốn là hư giả không thật (pháp do nhân duyên mà sinh ra)—All dharmas (things) are unreal. 2) Thọ giả: Thọ nhận vốn không thật (chư pháp đều thọ nhận nơi các pháp khác, như thọ nhận tứ đại mà thành vô tình chúng sanh, thọ nhận ngũ uẩn mà thành hữu tình chúng sanh, tức là thọ nhận biệt thể để làm thành tổng thể)—Sensations (feelings) are unreal. 3) Danh giả: Cái tên của chư pháp đều không thật (Danh nương vào ý tưởng mà có chứ không có tự tánh)—Names are unreal.
tam giả quán
Ba cách quán chư pháp là giả tạm—The meditation on three unreal objects: 1) Quán pháp giả: Contemplate on unreal dharmas. 2) Quán thọ giả: Contemplate on unreal sensations. 3) Quán danh giả: Contemplate on unreal names.
; (三假觀) Chỉ cho 3 pháp quán: Pháp giả hư thực quán, Thụ giả hư thực quán và Danh giả hư thực quán được nêu trong phẩm Tựa kinh Nhân vương bát nhã ba la mật quyển thượng. Tông Thiên thai giải thích rõ 3 pháp quán này như sau: 1. Pháp giả hư thực quán: Quán xét sắc ấm hư thực. 2. Thụ giả hư thực quán: Quán xét 4 ấm thụ, tưởng, hành, thức hư thực. 3. Danh giả hư thực quán: Quán xét 2 thứ pháp và thụ hư thực. Ba pháp này tự chúng không có thực thể, phải nhờ pháp khác mới có nên gọi là giả(mượn). Một hư một thực cùng sánh với nhau thì không có tên, cả 3 đều là hư dối, phàm phu cho là thực, người trí thì thấy hư dối, thực chính là hư, cho nên gọi là hư thực, đây là nghĩa của Thông giáo. Nếu nói theo nghĩa của Biệt giáo thì trong Tam giả, mỗi giả đều có Tam quán. Nói pháp tức hư, đó là Không quán; nói Giả tức thực, đó là Giả quán; còn nói 1 chữ Quán không thôi thì đó là Trung quán. Vì không và Giả là phương tiện nên không đặt tên Quán, khi đã vào Trung đạo thì chỉ có 1 thôi nên gọi là Quán. Trên đây là giải thích Pháp giả hư thực quán, còn Thụ giả và Danh giả thì cứ theo cách giải thích trên cũng rõ. Nếu theo nghĩa của Viên giáo thì 3 pháp tức Không tức Giả tức Trung, đều chiếu soi, đều dứt bặt. [X. Nhânvươngkinh hợp sớ Q.thượng].
tam giả thí thiết
(三假施設) Gọi tắt: Tam Giả. I. Tam Giả Thi Thiết. Cũng gọi Tam nhiếp đề, Tam ba la nhiếp đề. Chỉ cho 3 thứ pháp giả được thiết lập trong kinh Bát nhã. Đó là: 1. Pháp giả: Pháp chỉ cho các pháp sắc tâm, tự tính của các pháp ấy xưa nay vốn hư giả không thật, cho nên gọi là Pháp giả. Các pháp nhờ nhân duyên giả hợp mà sinh, không có thực tính, đó là Tự tính giả.2. Thụ giả: Pháp chung hàm chứa pháp riêng mà cấu thành nhất thể, như hàm chứa 4 đại mà thành cỏ cây, hòa hợp 5 uẩn mà thành chúng sinh, tức hợp riêng làm chung, nên gọi là Thụ giả. 3. Danh giả: Danh là tên gọi của tất cả các pháp; vì pháp nương theo ý tưởng giả mà đặt ra tên gọi cho nên gọi, là Danh giả.Theo thứ tự quán xét để phá bỏ thì trong Tam quán, trước hết phá bỏ Danh giả, kế đến, phá bỏ Thụ giả và sau cùng phá bỏ Pháp giả mà chứng nhập thực tướng các pháp, tức là Chân không. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.23; luận Đại trí độ Q.41; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa huyền luận Q.1]. II. Tam Giả Thi Thiết. Chỉ cho Nhân thành giả, Tương tục giả và Tương đãi giả được nói trong phẩm Giả danh tướng của luận Thành thực. Tức là: 1. Nhân thành giả: Tất cả pháp hữu vi đều nhờ nhân duyên mà được thành lập, cho nên gọi là giả. 2. Tương tục giả: Tâm thức chúng sinh niệm niệm nối nhau, niệm trước vừa diệt, niệm sau sinh liền. Trong dòng nối tiếp này vốn không có thực thể, cho nên gọi là giả.3. Tương đãi giả: Tất cả các pháp đều có đối đãi, như đối với dài mà nói ngắn, đối với ngắn mà nói dài, đối với không mà nói có, đối với có mà nói không, lớn nhỏ, nhiều ít, mạnh yếu... cũng đều như thế. Biết rõ các pháp đối đãi này vốn không có thực thể, cho nên gọi là giả. Ngoài ra, luận Thành duy thức quyển 8, cũng nêu Tam giả là Tụ tập giả, Tương tục giả và Phần vị giả. Như cái bình, cái chậu, hữu tình... do nhiều pháp đồng thời tụ tập lại mà thành, năng tập tuy thật nhưng sở thành là giả, gọi là Tụ tập giả, tương đương với Nhân thành giả nói ở trên; như nhân quả các đời quá khứ, vị lai... trong nhiều pháp nhiều thời gian lập thành 1 pháp giả, gọi là Tương tục giả, cũng giống với Tương tục giả nói ở trên; như pháp Bất tương ứng hành trong 1 pháp cùng 1 thời gian thành lập 1 pháp giả, gọi là Phần vị giả, tương đương với Tương đãi giả nói ở trên.[X. phẩm Giáo hóa kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.9; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.6, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.5; Chỉ quán phụ hành truyền hoằngquyết Q.5, phần 5]. III. Tam Giả Thi Thiết. Y cứ vào nghĩa Tam vô tính thì 5 uẩn, 12 nhân duyên, mỗi pháp đều có Tam giả là Phân biệt giả, Y tha giả và Chân thực giả. Cảm nhận khổ, vui là Phân biệt giả; thể của phân biệt do nhân duyên mà sinh, tức do nhân sinh ra quả, là Y tha giả, còn như Đệ nhất nghĩa đế là Chân thực giả. [X. luận Thập bát không].
tam giả thí thiết, tam nhiếp đề
The three fallacious postulates in regard to pháp, thụ, danh. Tam giả quán the meditation on the above.
tam giải thoát
Vimokshatraya (skt)—Ba đối tượng quán chiếu dẫn tới giải thoát—Three subjects or objects of the meditation that lead toward liberation (three emancipations): 1) Không: Sunyata (skt)—Emptiness—Hiểu được bản chất của vạn hữu vốn không nên làm cho cái tâm không, cái tôi không, cái của tôi không, khổ không, là giải thoát—To empty the mind of the ideas of me, mine and sufferings which are unreal. 2) Vô Tướng: Animitta (skt)—Signlessness (having no-signs)—Đoạn trừ mọi hình tướng bên ngoài là giải thoát—To get rid of the idea of form, or externals. There are no objects to be perceived by sense-organs. 3) Vô Nguyện: Apranihita (skt)—Wishlessness (desirelessness)—Đoạn trừ tất cả mọi mong cầu cho đến khi nào không còn một mảy may ham muốn hay cố gắng để đạt được bất cứ thứ gì là giải thoát—To get rid of all wishes or desires until no wish of any kind whatsoever remains in the cultivator's mind, for he no longer needs to strive for anything.
Tam giải thoát môn
xem Ba môn giải thoát.
; 三解脫門; C: sān jiětuō mén; J: sange-datsumon;|Ba cửa giải thoát.
tam giải thoát môn
Trini-vimoksa-mukhani (S), Gồm: Không môn, Vô tướng môn, Vô nguyện môn Ghi trong kinh Đại-Bát-Nhã, tức là Không, Vô Tướng, Vô Nguyện. Tên gọi dù có ba, nhưng thể vốn là mt. Chư pháp thể Không, có tướng đều vọng, nguyện là mong cầu. Người sơ tâm phát nguyện chỉ là phương tiện tạm thời. Phật là người vô cầu, nếu chấp tướng, chấp nguyện, thì chẳng thể từ Không hiển dụng mà lại chướng ngại sự giải thoát vì họ có sở trụ vậy.
; Ghi trong Đại Bát Nhã, tức là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Tên gọi dù có ba, nhưng thể vốn là một, chư pháp thể “không”, có tướng đều vọng, nguyện là mong cầu. Người sơ tham phát nguyện chỉ là phương tiện tạm thời. Phật là người vô cầu, nếu chấp tướng, chấp nguyện thì chẳng thể từ “không” hiển dụng, mà lại chướng ngại sự giải thoát, vì là có sở trụ vậy.
; (三解脫門) Phạm: Trìịi vimokwa-mukhàni. Gọi tắt: Tam Giải thoát, Tam thoát môn, Tam môn. Chỉ cho 3 pháp môn giúp hành giả được giải thoát, đến Niết bàn. Đó là: 1. Không môn (Phạm: Sùnyatà): Quán xét tất cả các pháp đều không tự tính, do nhân duyên hòa hợp mà sinh; nếu thông suốt lí ấy thì đối với các pháp được tự tại. 2. Vô tướng môn (Phạm: Animitta), cũng gọi Vô tưởng môn: Đã biết tất cả pháp là Không, liền quán tưởng các tướng nam nữ, nhất dị... thực bất khả đắc; nếu thông suốt lí các pháp vô tướng, thì lìa tướng sai biệt mà được tự tại. 3. Vô nguyện môn (Phạm: Apraịihita), cũng gọi Vô tác môn, Vô dục môn: Nếu biết tất cả pháp vô tướng thì trong 3 cõi không mong cầu điều gì; nếu không mong cầu thì không tạo tác nghiệp sinh tử; nếu không tạo nghiệp sinh tử thì không phải chịu quả khổ, do đó được tự tại. Ba môn giải thoát nương vào 3 Tam muội vô lậu là Không tam muội, Vô tướng tam muội, và Vô nguyện tam muội mà vào; 3 Tam muội này giống như 3 cái cửa đưa vào giải thoát, cho nên gọi là Tam giải thoát môn. Tuy nhiên, Tam muội chung cho cả hữu lậu và vô lậu, còn Tam giải thoát môn thì chỉ dành cho vô lậu thôi. Bởi vì Tam giải thoát môn là Pháp đặc biệt thanh tịnh vô lậu của thế gian và xuất thế gian nên là cửa vào của Niết bàn. Ngoài ra, theo luận Du già sư địa quyển 74 thì Tam giải thoát môn là y cứ vào tam tự tính mà được kiến lập, tức do tự tính Biến kế sở chấp mà lập Không giải thoát Tam Giai Phật Pháp (bản đào được ở Đôn hoàng) môn, do tự tính Y tha khởi mà lập Vô nguyện giải thoát môn và do tự tính Viên thành thực mà lập Vô tướng giải thoát môn. [X. luận Câu xá Q.28; luận Đại tì bà sa Q.104; Thập địa kinh luận Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Ma ha chỉ quán Q.7 thượng]. (xt. Tam Tam Muội).
tam giải thoát môn, the three emancipations, idem tam không and tam tam muội
They are không giải thoát môn, vô tướng giải thoát môn, vô tác giải thoát môn.
Tam Giới
(s: trayo dhātavaḥ, p: tisso dhātuyo, 三界): Ba Cõi, có nhiều ý nghĩa khác nhau. (1) Chỉ ba cõi mà chúng sanh đang sống gồm Dục Giới (s: kāma-dhātu, 欲界), Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界) và Vô Sắc Giới (s: ārūpa-dhātu, 無色界). Chúng hữu tình mê vọng lưu chuyển trong vòng sanh tử biến hóa, tùy theo cảnh giới mà chia thành 3 giai cấp khác nhau. Nó còn được gọi là Tam Hữu (三有). Tam Giới là lãnh vức mê khổ của chúng sanh, như biển lớn không có giới hạn, nên được gọi là Khổ Giới (苦界, Cõi Khổ), Khổ Hải (苦海, Biển Khổ). Dục Giới là thế giới cư trú của chúng hữu tình đầy dâm dục, tình dục, sắc dục, tham dục, v.v. Cõi này bao gồm trên từ cõi trời thứ 6 Tha Hóa Tự Tại Thiên (他化自在天), giữa có bốn châu lớn của con người và dưới đến Vô Gián Địa Ngục (無間地獄), v.v. Do vì nam nữ cùng sống chung với nhau, nhiễm các mong muốn, nên gọi là Dục Giới. Cõi Dục Giới có Địa Cư (s: Bhauma, 地居), Hư Không Cư (s: Āntarikṣavāsina, 虛空居), Tứ Thiên Vương Thiên (s: Cāturṁahārājakāyika, 四天王天, gồm Trì Quốc Thiên [s: Dhṛtarāṣṭra, 持國天], Tăng Trưởng Thiên [s: Virūḍhaka, 增長天], Quảng Mục Thiên [s: Virūpākṣa, 廣目天] và Đa Văn Thiên [s: Vaiśrāmana, 多聞天]), Đao Lợi Thiên (s: Trāyastriṁśa, 忉利天), Tu Dạ Ma Thiên (s: Yāma, 須夜摩天), Đâu Suất Thiên (s: Tuṣita, 兜率天), Hóa Lạc Thiên (s: Nirmāṇarati, 化樂天), Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Parmanirmitavaśavartin, 他化自在天). Sắc Giới, sắc ở đây có nghĩa là thị hiện (hiện rõ), là thế giới cư trú của chúng hữu tình đã xa lìa được dâm dục, thực dục và có đầy đủ sắc chất thanh tịnh. Cõi này năm trên Dục Giới, không có dục nhiễm, cũng chẳng có hình nữ; chúng sanh ở đây đều do hóa sanh mà có. Cung điện tại đây cao lớn, do sắc hóa sanh, nên hết thảy đều đặc biệt, khác thường. Do vì cõi này có sắc chất nên được gọi là Sắc Giới. Căn cứ vào Thiền định sâu cạn, thô tế mà cõi này được chia thành 4 cấp khác nhau, từ Sơ Thiền Phạm Thiên (初禪梵天) cho đến A Ca Nị Tra Thiên (阿迦膩吒天), có 28 cõi trời. Cõi này có Sơ Thiền Thiên (初禪天, gồm Phạm Thiên [s: Brahmakaya, 梵天], Phạm Chúng Thiên [s: Brahmapārṣadya, 梵眾天], Phạm Phụ Thiên [s: Brahmapurohita, 梵輔天] và Đại Phạm Thiên [s: Mahābrahmā, 大梵天]), Nhị Thiền Thiên (二禪天, gồm Thiểu Quang Thiên [s: Parittābha, 少光天], Vô Lượng Quang Thiên [s: Apramāṇābha, 無量光天] và Quang Âm Thiên [s: Ābhāsvara, 光音天]), Tam Thiền Thiên (三禪天, gồm Thiểu Tịnh Thiên [s: Parittaśubha, 天], Vô Lượng Tịnh Thiên [s: Apramāṇaśubha, 天] và Biến Tịnh Thiên [s: Śubhakṛtsna, 少淨天]), Tứ Thiền Thiên (四禪天, gồm Vô Vân Thiên [s: Anabhraka, 無雲天], Phước Sanh Thiên [s: Puṇyaprasava, 福生天] và Quảng Quả Thiên [s: Bṛhatphala, 廣果天]) và Tịnh Phạm Địa (淨梵天, gồm Vô Tưởng Thiên [s: Avṛha, 無想天], Vô Phiền Thiên [s: Atapa, 無煩天], Vô Nhiệt Thiên [s: Sudrśa, 無熱天], Thiện Kiến Thiên [s: Sudarśana, 善見天], Sắc Cứu Cánh Thiên [s: Akaniṣṭha, 色究竟天], Hòa Âm Thiên [s: Aghaniṣṭha, 和音天] và Đại Tự Tại Thiên [s: Mahāmaheśvara, 大自在天]). Vô Sắc Giới là thế giới cư trú của chúng hữu tình không có vật chất mà chỉ có 4 tâm là Thọ (受), Tưởng (想), Hành (行) và Thức (識). Cõi này không có vật chất, thân thể, cung điện, quốc độ gì cả; chỉ lấy tâm thức mà trú trong Thiền định sâu xa vi diệu; nên có tên gọi như vậy. Nó nằm trên Sắc Giới, có 4 cõi trời (Không Vô Biên Xứ [s: Akāśānantyāyatana, 空無邊處], Thức Vô Biên Xứ [s: Vijñānānantyāyatana, 識無邊處], Vô Sở Hữu Xứ [s: Ākiñcanyāyatana, 無所有處] và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ [s: Naivasaṁjñānāsaṁjñāyatana, 非想非非想處]), được gọi là Tứ Vô Sắc (四無色), Tứ Không Xứ (四空處). Quả báo, khổ vui, v.v., trong Tam Giới tuy có khác nhau; nhưng cả 3 đều thuộc vào cõi mê lầm, nên chúng sanh trong đó đều phải chịu sự chi phối của quy luật luân hồi sanh tử. Vì vậy, bậc thánh thường xa rời ba cõi này. Trong Phẩm Thí Dụ (譬喩品) của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Tam Giới vô an, do như hỏa trạch, chúng khổ sung mãn, thậm khả bố úy (三界無安、猶如火宅、眾苦充滿、甚可怖畏, Ba Cõi không an, giống như nhà lửa, các khổ đầy ắp, rất đáng sợ hãi)”. Bên cạnh đó, Phẩm Hóa Thành Dụ (化城喩品) của kinh này cũng diễn tả rằng: “Năng ư Tam Giới ngục, miễn xuất chư chúng sanh (能於三界獄、勉出諸眾生, có thể nơi ngục của Ba Cõi, làm cho các chúng sanh ra khỏi)”. Như vậy, kinh này muốn cho mọi người thấy rõ rằng Tam Giới không phải là thế giới an ổn thật sự, nên phải thường cầu mong thoát khỏi thế giới ấy. (2) Tam Giới chỉ cho ba con đường đối trị của giải thoát, gồm: Đoạn Giới (斷界), Ly Giới (離界) và Diệt Giới (滅界). Đoạn Giới là đoạn trừ Cửu Kết (九結, 9 loại phiền não), trong đó trừ Tham ra, còn lại 8 thứ kia đều đoạn trừ, hoặc đoạn trừ Vô Minh Kết (無明結, sự ràng buộc của vô minh). Ly Giới là đoạn trừ phiền não của Tham, hay đoạn trừ Ái Kết (愛結, sự ràng buộc của ái). Diệt Giới là đoạn diệt Hữu Lậu (有漏) và các pháp Hữu Vi (有爲), v.v. (3) Chỉ Sắc Giới (色界), Vô Sắc Giới (無色界) và Tận Giới (盡界). (4) Chỉ Pháp Giới (法界), Tâm Giới (心界) và Chúng Sanh Giới (眾生界). Trong Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義), hồi thứ 26 có đoạn: “Siêu xuất Tam Giới ngoại, bất tại Ngũ Hành trung (超出三界外、不在五行中, vượt ra ngoài Ba Cõi, chẳng ở trong Năm Hành).” Hay trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) cũng có đoạn rằng: “Tam Giới nghiệp báo, duy tâm sở sanh, bổn nhược vô tâm, ư Tam Giới trung, tức xuất Tam Giới; kỳ Tam Giới giả, tức Tam Độc giả; Tham vi Dục Giới, Sân vi Sắc Giới, Si vi Vô Sắc Giới; cố danh Tam Giới (三界業報、唯心所生、本若無心、於三界中、卽出三界、其三界者、卽三毒也、貪爲欲界、嗔爲色界、癡爲無色界、故名三界, nghiệp báo của Ba Cõi, do tâm sanh ra, nếu vốn không tâm, ở trong Ba Cõi, tức ra Ba Cõi; Ba Cõi ấy tức là Ba Độc; Tham là Cõi Dục, Sân là Cõi Sắc, Si là Cõi Vô Sắc; nên gọi là Ba Cõi).”
Tam giới
三戒; C: sānjiè; J: sankai;|Ba loại giới luật. Giới luật dành cho cư sĩ, cho tăng sĩ và giới luật dành chung cho cả hai nhóm này.
; 三界; C: sānjiè; J: sangai; S: triloka;|Ba cõi hiện hữu trong Vòng sinh tử: 1. Dục giới (欲界), nơi chúng sinh chỉ đắm say vào những khoái lạc thân thể; 2. Sắc giới (色界), nơi chúng sinh đã vượt khỏi những khoái lạc thân thể nêu trên, nhưng vẫn còn cảm nhận thân sắc vi tế. Đây là cõi của Tứ thiền thiên (四禪天); 3. Vô sắc giới (無色界), là cõi tối cao của Luân hồi, chúng sinh đã thoát khỏi sự tồn tại vật chất, hoàn toàn không có sắc tướng. Đây là cõi của Tứ vô sắc định (四無色定).|Theo A-tì-đạt-ma Câu-xá luận của Thế Thân, Tam giới nêu trên còn được phân thành nhiều cõi khác nhau. Dục giới bao gồm 20 cõi. Gồm có: Tứ đại châu (四大洲), Bát nhiệt địa ngục (八熱地獄), và sáu cõi trời của Dục giới – Lục dục thiên (六欲天). Ngoài Lục dục thiên ra còn có 17 cõi trời của Sắc giới – Sắc giới thập thất thiên (色界十七天). Bên trên Sắc giới là Vô sắc giới, nơi vật chất, sắc tướng không còn tồn tại. Ba thế giới
tam giới
Triloka (S, P), Traidhātuka (S), Tibhāva (P), Tiloka (P), Trailokya (S), Tribhāva (S), Tibhava (P), Three Realms, Three worlds Tam hữuBa cõi sinh tữ: dục, sắc, vô sắcDục-giới (có nam nữ dâm dục), Sắc-giới (không có nam nữ dâm dục), Vô-sắc-giới (không có sắc thân, chỉ có thần thức).
; The three sets of commandments, or precepts, i.e. the ten for the ordained who have left home, the eight for the devout at home, and the five for the ordinary laity.
; Traidhatuka (skt)—Trailokya (p)—Tại Thế—Three realms (three worlds) and Three sets of commandments: (A) Three realms: Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, cõi luân hồi sanh tử được chia làm ba—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, the realms of births and deaths divided into three realms of existence: 1) Dục giới: Kamadhatu (skt)—Cảnh giới tham sắc dục và thực dục. Gồm sáu cõi trời, cõi người và địa ngục. Chúng sanh trong cõi dục giới nầy đều có ngũ uẩn tạo thành thân thể vật chất (thế giới vật chất bao trùm từ lục đạo đến các cõi trời đều thuộc dục giới nầy)—The realm of passions—The realm of (sensuous) desire of sex and food. It includes the six heavens, the human world, and then hells. All beings in this realm possess five aggregates or panca-skandha—See Ngũ Uẩn. 2) Sắc giới: Rupadhatu (skt)—Cảnh giới bên trên Dục giới gồm Tứ Thiền Thiên—Đây là cõi của thiên thần bậc thấp (Chúng sanh trong cõi nầy không có dâm dục và thực dục, chỉ có thân thân thể vật chất tốt đẹp thù thắng, cõi nước cung điện nguy nga. Tóm lại trong cõi nầy tham dục vật chất không ngừng tự thạnh, nhưng chưa giải thoát hết các mối phiền trược của vật chất vi tế. Y cứ theo tinh thần tu dưỡng cao cấp, cõi nầy chia làm tứ thiền thiên)—The realm of Beauty—The realm of form or matter. It is above the lust world. It is represented in the Brahamlokas (tứ thiền thiên)—The realm of the lesser deities—See Tứ Thiền Thiên. 3) Vô sắc giới: Arupadhatu (skt)—Cảnh giới vô sắc, không còn thân thể, cung điện, đồ vật. Nơi đó tâm an trụ trong thiền định thâm diệu. Cảnh giới nầy trải dài đến Tứ Không Xứ—Đây là cõi của thiên thần bậc cao (cảnh giới nầy cao hơn cảnh sắc giới, chúng sanh không còn bị vật chất ràng buộc, đương thể thuần là tinh thần độc lập, chúng sanh trong cõi nầy thường trụ trong thâm định, không có cảnh giới xứ sở. Y theo thắng liệt của thiền định, cõi nầy là cõi tứ không xứ)—The realm of no Beauty (non-form)—The formless or immaterial realm of pure spirit. There are no bodies, palaces, things. Where the mind dwells in mystic contemplation. Its extent is indefinable in the four “empty” regions of spaces (Tứ không xứ)—This is the realm of the higher deities—See Tứ Không Xứ. (B) Ba giới khác—Three more realms: 1) Sắc giới: Rupa-dhatu (skt)—The realm of form. 2) Vô sắc giới: Arupa-dhatu (skt)—The formless realm. 3) Diệt giới: Nirodha-dhatu (skt)—The realm of cessation. (C) Ba loại giới khác—Three other realms: 1) Liệt giới: Hina-dhatu (skt)—The low realm. 2) Trung giới: Majjhima-dhatu (skt)—The middle realm. 3) Thắng giới: Panita-dhatu (skt)—The sublime realm. (D) Ba loại giới luật—Three sets of commandments: 1) Sa di giới: Mười giới Sa Di—The ten commandments for the novice. 2) Bát quan trai giới: The eight commandments for the devout Buddhist at home. 3) Ngũ giới: Năm giới cho Phật tử tại gia—The five commandments for the ordinary laity. ** For more information, please see Tam Hữu.
; (三界) Phạm: Trayo-dhàtava# Pàli:Tisso dhàtuyo. I. Tam Giới. Cũng gọi Khổ giới, Khổ hải. Chỉ cho Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới.1. Dục giới (Phạm:Kama-dhàtu): Thế giới của các loài hữu tình có tính dâm dục, tình dục, sắc dục và thực dục cư trú. Trên từ cõi trờiTha hóa tự tại thứ 6, giữa gồm 4 đại châu cõi người, dưới đến địa ngục Vô gián; vì nam nữ ở lẫn lộn, nhiều thứ dục nhiễm nên gọi là Dục giới. 2. Sắc giới (Phạm:Rùpa-dhàtu): Sắc có nghĩa biến ngại hoặc thị hiện, là thế giới cư trú của loài hữu tình đã xa lìa dâm dục và thực dục của cõi Dục, nhưng vẫn còn có sắc chất thanh tịnh. Cõi này ở phía trên cõi Dục, không có các thứ dục nhiễm, cũng không có thân nữ, chúng sinh ở cõi này đều do hóa sinh, cung điện cao lớn, là do sự hóa sinh của sắc, tất cả đều thù thắng đẹp đẽ. Vì cõi này vẫn còn sắc chất nên gọi là Sắc giới. Cõi này tùy theo thiền định sâu cạn thô diệu mà được chia làm 4 bậc, từ Sơ thiền Phạm thiên cho đến A ca nị tra thiên, tất cả có 18 tầng trời.3. Vô sắc giới (Phạm:Àrùpya-dhàtu): Thế giới cư trú của loài hữu tình chỉ có thụ, tưởng, hành, thức không có 1 vật gì là vật chất, cũng không có thân thể, cung điện, quốc độ, chỉ có tâm thức trụ trong thiền định sâu xa mầu nhiệm, nên gọi là Vô sắc giới. Thế giới này ở phía trên cõi Sắc, có tất cả 4 tầng trời(Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, và Phi phi tưởng xứ), cũng gọi là Tứ vô sắc, Tứ không xứ. Tam giới được chia nhỏ ra làm 25 Hữu (Giới), nếu chia Na hàm thiên của cõi Sắc ra làm 5(tức Ngũ na hàm thiên) thì có tất cả 29 Hữu. Sự quan hệ giữa Tam giới và Cửu địa (9 nơi) được biểu đồ như sau: Hữu Ngũ Thú Tạp Cư Địa LiSinh Hỉ Lạc Địa Định Sinh Hỉ Lạc Địa Li Hỉ Diệu Lạc Địa Xả Niệm Thanh Tịnh Địa Không Vô Biên Xứ Địa Thức Vô Biên Xứ Địa Vô Sở Hữu Xứ Địa Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa Cửu Địa Sơ Thiền Nhị Thiền Tam Thiền Tứ Thiền Tam Giới Dục Giới Sắc Giới Vô Sắc Giới Bốn ác thú (4) Bốn châu cõi người (4) Sáu trời Dục (6) trời cõi Thiền (4) Phạm thiên (1) Năm Na hàm thiên (1) Vôtưởng thiên (1) Bốn Vô Sắc thiên (4) Lục Đạo Địa ngục Ngã quỉ Súc sinh Tula Nhân ThiênQuả báo của 3 cõi này tuy có hơn, kém, khổ, vui, khác nhau, nhưng đều thuộc cõi mê, là đường sinh tử luân hồi của chúng sinh, cho nên các bậc Thánh đều nhàm chán lìa bỏ. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 14 hạ) nói: Ba cõi (tam giới) không yên ổn, giống như căn nhà lửa, chúng sinh chịu toàn khổ não, rất đáng sợ hãi. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.13; (bản Nam); luận câu xá Q.8; luận Phẩm loại tác Q.5; luận Đại tì bà sa Q.75; luận Du già sư địa Q.4; Đại trí độ Q.21; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.2]. (xt. Cửu Địa, Sắc Giới, Dục Giới, Vô Sắc Giới). II. Tam Giới. Chỉ cho Đoạn giới, Li giới, và Diệt giới là 3 pháp đoạn trừ phiền não đưa đến vô vi giải thoát. 1. Đoạn giới: Tức đoạn trừ 8 phiền não trong 9 kết(trừ tham)hoặc đoạn trừ Vô minh kết. 2. Li giới: Đoạn diệt phiền não tham hoặc đoạn trừ ái kết. 3. Diệt giới: Đoạn diệt các pháp hữu lậu, hữu vi và các phiền não vô phú vô kí... tức là đoạn trừ tất cả các pháp hữu lậu còn sót lại. Luận Đại tì bà sa quyển 29 (Đại 27, 148 trung) nói: Tất cả hành đoạn nên gọi là Đoạn giới; tất cả hành lìa nên gọi là Li giới; tất cả hành diệt nên gọi là Diệt giới.[X. luận Thuận chính lí Q.72; luận Câu xá Q.25]. III. Tam Giới. Chỉ cho Sắc giới, Vô sắc giới và Tận giới.[X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Phẩm loại túc Q.5]. IV. Tam Giới. Chỉ cho Pháp giới, Tâm giới, và Chúng sinh giới. Tam giới này là căn cứ vào thuyết Tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau trong kinh Hoa nghiêm mà được thành lập. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3]. V. Tam Giới. Chỉ cho Thượng giới, Trung giới và Hạ giới.Đây là quan niệm cơ bản của Tát mãn giáo. Theo quan niệm này thì vũ trụ được chia ra làm Tam giới thượng, trung, hạ, nhưng tùy theo các dân tộc mà ý nghĩa có hơi khác nhau. Như Tát mãn giáo của dân tộc Mông cổ thì cho rằng Thượng giới là thế giới của Thần linh, Trung giới là nơi ở của loài người và động vật; còn Hạ giới là thế giới của thần chết và ma quỉ tu tập, tức là địa ngục. Ở khoảng giữa Trung giới và Hạ giới lại có một thế giới không thể biết được, là nơi mà con người sau khi chết sẽ đi đến.
tam giới do tâm sinh
Cittamhi-traidhatukayonih (skt)—Tâm là nguồn gốc của ba cõi—The mind is the origin of the triple world.
tam giới duy nhất tâm
The triple world is but one mind; from a verse of Hoa Nghiêm sùtra; it proceeds Tâm ngoại vô biệt pháp, Tâm Phật cập Chúng sinh, thị tam vô sai biệt "outside mind there is no other thing; mind Buddha and all the living, these there are not different"; in other words there is no differentiating between these three, for all is mind.
; Tribhavasva-cittamatram (skt)—Tam giới duy thị tự tâm hay tam giới duy chỉ do tâm nầy. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Vị Bồ tát Ma ha Tát thấy rằng thế giới chỉ là sự sáng tạo của tâm, mạt na và ý thức; rằng thế giới được sinh tạo do phân biệt sai lầm bởi cái tâm của chính mình; rằng không có những tướng trạng hay dấu hiệu nào của một thế giới bên ngoài mà trong đó nguyên lý đa phức điều động; và cuối cùng rằng ba cõi chỉ là cái tâm của chính mình—The triple world is but one mind—The triple world is just Mind. In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “The Bodhisattva-mahasattvas sees that the triple world is no more than the creation of the citta, manas, and mano-vijnana, that it is brought forth by falsely discriminating one's own mind, that there are no signs of an external world where the principle of multiplicity rules, and finally that the triple world is just one's own mind.”
tam giới duy thị tự tâm
Svacitta-matram-traidhatukam (skt)—Ba cõi chỉ là tâm của mình—The triple world is no more than one's own mind—See Tam Giới Duy Nhất Tâm.
tam giới duy tâm
Tribhāvacittamātra (S).
; Tribhàvacittamàtra (S). The threefold existence is nothing but the mind.
; (三界唯心) Cũng gọi Tam giới duy nhất tâm. Ba cõi do một tâm. Tất cả mọi hiện tượng trong 3 cõi đều do tâm biến hiện ra, vì tâm là bản thể của muôn vật nên không 1 vật nào ngoài tâm. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 10 (Đại 9, 465 hạ) nói: Tâm như người thợ vẽ, vẽ các thứ 5 ấm, trong tất cả thế giới, không pháp nào chẳng tạo. Tâm cũng như Phật, Phật cũng như chúng sinh. Tâm, Phật và chúng sinh, cả 3 không sai khác. Chư Phật đều biết rõ, tất cả do tâm chuyển, (...) tâm tạo các Như lai. Về nghĩa của Tâm này; các nhà Pháp tính và Pháp tướng đều nói khác nhau: Theo tông Pháp tướng thì Tâm này là chỉ cho tâm thức A lại da, vì dùng tâm này mà chứng A lại da duyên khởi là nghĩa duy thức biến hiện, cho nên Nhiếp đại thừa luận thích quyển 4 giải là Tam giới duy thức nghĩa là tâm tương ứng với các ái kết như dục... nên bị đọa trong 3 cõi. Còn theo tông Pháp tính thì Tâm này là chỉ cho Tự tính thanh tịnh tâm của Như lai tạng, có nghĩa là chân như tùy duyên mà tạo tác các pháp. Tức là Tâm tạo tất cả pháp, còn tất cả pháp thì vốn lìa tướng ngôn thuyết, tướng danh dự, tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, không chuyển dời, không đổi khác, tất cả chỉ có Tâm này, cho nên gọi là Chân như. Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ quyển 40 căn cứ vào nghĩa này mà nêu ra 3 cách giải thích khác nhau: 1. Hàng nhị thừa thấy cảnh trước mắt không rõ đó là duy tâm, giả sử có nghe nói tâm thì cũng chỉ cho đó là 1 trong các chân đế, hoặc cho là do tâm chuyển biến, chứ chẳng phải đều là tâm. 2. A lại da dị thục được coi là 1 tâm, vì chỉ có tâm chứ không có ngoại cảnh nên nói là 1 tâm. 3. Tính Như lai tạng thanh tịnh, lí không có 2 thể nên vốn là 1 tâm. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Biện trung biên Q.thượng, luận Đại thừa khởi tín; Đại nhật kinh sớ Q.2; Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.thượng].
tam giới hùng
The hero of the trailokya, Buddha.
; (三界雄) Đức hiệu của Phật. Phật là bậc đại hùng trong 3 cõi, có năng lực hàng phục tất cả ma chướng. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 296 trung) nói: Nguyện và trí tuệ đều viên mãn, được là bậc đại hùng trong 3 cõi.
tam giới hỏa trạch
The burning house of the triple world, as in the Lotus parable.
; The burning house of the triple worlds—See Tam Giới Như Hỏa Trạch.
tam giới khổ luân
(三界苦輪) Ba cõi là vòng mê khổ, quay mãi không ngừng. Tức là cảnh giới sinh tử luân hồi của chúng sinh. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 837 trung) nói: Thập thiện bồ tát phát tâm rộng lớn, mãi mãi xa lìa biển khổ luân hồi 3 cõi (Tam giới khổ luân hải). [X. kinh Thắng thiên vương bát nhã Q.1].
tam giới nhãn
The trailokya—Buddha who sees all the realms and the way of universal escape.
; (三界眼) Con mắt của 3 cõi, danh từ tôn xưngđức Phật. Phật là bậc đại trí đại giác, là con mắt của mọi loài trong 3 cõi, dắt dẫn chúng sinh ra khỏi hiểm nạn sinh tử, vì thế gọi là Tam giới nhãn. Kinh Phật bát nê hoàn quyển hạ (Đại 1, 169 thượng) nói: Phật là bậc đại minh, là con mắt trong 3 cõi, nay Phật vào Niết bàn là con mắt trong 3 cõi không còn nữa.
tam giới như hỏa trạch
Dục giới, sắc giới và vô sắc giới đang thiêu đốt chúng sanh với những khổ đau không kể xiết. Tam giới giống như nhà lửa đang hừng hực cháy. Kinh Pháp Hoa dạy: “Ba cõi không an, dường như nhà lửa, sự khổ dẫy đầy, đáng nên sợ hãi.” Chúng sanh trong ba cõi, đặc biệt là chúng sanh trong cõi Ta Bà nầy, luôn bị những sự khổ não và phiền muộn bức bách. Sống chen chúc nhau trong đó như ở giữa một căn nhà đang bốc cháy, dẫy đầy hiểm họa, chẳng biết còn mất lúc nào. Ấy thế mà mọi người chẳng biết, chẳng hay, cứ mãi nhởn nhơ vui thú của ngũ dục, làm như không có chuyện gì xãy ra cả. Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ vậy để lúc nào cũng chuyên cần tinh tấn tu hành cầu giải thoát—The three realms of Desire, Form and Formless realms scorching sentient beings, such sufferings are limitless. The triple worlds as a burning house. In the Lotus Sutra, the Buddha taught: “The three worlds are unsafe, much like a house on fire. Suffering is all pervasive, truly deserving to be terrified and frightened.” Sentient beings in the three worlds, especially those in the Saha World, are hampered constantly by afflictions and sufferings. Living crowded in the suffering conditions of this Saha World is similar to living in a house on fire, full of dangers, life can end at any moment. Even so, everyone is completely oblivious and unaware, but continues to live leisurely, chasing after the five desires, as if nothing was happening. Sincere Buddhists should always remember this and should always diligently cultivate to seek liberation.
tam giới sàng
The sick-bed of the trailokya, especially this world of suffering.
; The sick-bed of the Trailokya—The Saha World of suffering.
tam giới trí
(三界智) Nyanatiloka (1878-1960) Danh tăng người Đức, sinh ở thành phố Wiesbaden, là vị tỉ khưu đầu tiên của nước Đức.Sư vốn là 1 học giả Phật giáo và lại chuyên nghiên cứu âm nhạc. Sau sư đến Rangoon, thủ đô nước Miến điện và xuất gia tại đó. Năm 1903, sư đến Tích lan cư trú trên đảo Polgasduwa, tham dự vào tăng đoàn Tích lan, học tập và nghiên cứu kinh điển bằng tiếngPàli. Về sau, sư chuyên phiên dịch kinh điển Phật và tu trì độ chúng, trong đó có vài mươi vị tỉ khưu người Đức. Sư là khuôn mẫu điển hình của việc học tập và thực hành giáo lí Phật giáo đối với giới nghiên cứu Phật học phương Tây. Trong cuộc đại chiến lần thứ nhất, sư bị người Anh nghi là gián điệp nước Đức nên bắt giam tại Hán khẩu ở Trung quốc; sau nhờ sự can thiệp của hội Hồng thập tự quốc tế nên sư được trả tự do và trở về nước. Năm 1926, sư lại đến Tích lan và thị tịch tại đó vào năm 1960, thọ 82 tuổi. Sư có các tác phẩm:Pàli văn pháp, Phật giáo kệ tụng, Phật giáo từ điển.
Tam giới tôn
bậc cao quý nhất trong Ba cõi là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
tam giới tôn
The honoured one of the three worlds, i.e. Buddha.
; The Honoured One of the three worlds (Buddha).
; (三界尊) Bậc tôn quí trong 3 cõi. Là danh từ tôn xưng đức Phật. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma (đại 14, 537 hạ) nói: Con nay cúi đầu kính lễ bậc tôn quí trong 3 cõi(Tam giới tôn).
Tam giới tạng
三界藏; C: sānjiècáng; J: sankaizō;|Ba cõi hiện hữu được xem như là xuất xứ của tất cả những phiền não, nghiệp chướng (Nhất thiết chúng sinh phiền não bất xuất tam tạng giới 一切衆生煩惱不出三界藏, theo Nhân vương kinh 仁王經).
tam giới tạng
The trailokya-garba, the womb or storehouse of all the transmigrational.
; The Trailokya-garbha—The womb or storehouse of all the transmigrational.
; (三界藏) Ba cõi là cái kho chứa đựng phiền não nghiệp quả của tất cả chúng sinh, cho nên gọi là Tam giới tạng. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật quyển thượng (Đại 8, 826 hạ) nói: Phiền não của hếtthảychúng sinh không ngoài kho 3 cõi.
tam giới từ phụ
The kindly father of the triple world, Buddha.
; The kindly father of the triple world.
tam giới vô an
(三界無安) Trong 3 cõi: Dục, Sắc và Vô sắc không thể tìm được sự an lành chân thật. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 14 hạ) nói: Ba cõi không yên, giống như nhà lửa; đầy dẫy các khổ, rất đáng sợ hãi.Phẩm Thế tục kinh Pháp cú quyển thượng (Đại 4, 566 trung) nói: Đời đều có chết, ba cõi không yên; các trời tuy vui, phúc hết cũng mất. [X. Phẩm Vô não chỉ man trong kinh Hiền ngu Q.11; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 3, 4; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.hạ, phần 1].
tam giới vạn linh bài
(三界萬靈牌) Bài vị của các vong linh trong 3 cõi được đặt ở điện Phật của các chùa viện để hàng ngày nguyện cầu cho những chúng sinh vô duyên cũng được nhờ ơn Phật mà chóng siêu thoát. Trên bài vị này, viết các hàng chữ: Tam giới vạn linh, Thập phương chí thánh, Lục thân quyến thuộc, Thất thế phụ mẫu.(Muôn linh ba cõi, Các thánh mười phương, Họ hàng sáu thân, Cha mẹ bảy đời). Hoặc viết: Tam giới vạn linh, Lục đạo tứ sinh, Thất thế phụ mẫu, Lục thân quyến thuộc... bài vị này cũng được đặt trên đàn cúng ngạ quỉ khi mở hội Thí ngạ quỉ. Tại Nhật bản, phong tục thờ bài vị này thịnh hành từ đầu thời đại Liêm thương. [X. Đại giám thiền sư tiểu thanh qui; môn Đồ bài trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.16].
tam giới độc tôn
(三界獨尊) Từ tôn xưng đức Phật. Phật là đấng tôn quí nhất trong 3 cõi, đầy đủ trí tuệ và phúc đức, là bậc duy nhất được 3 cõi tôn kính quí trọng, là bậc thầy dẫn đường cho 4 loài. Phẩm Quang chiếu không hữu trong luận Bảo tạng (Đại 45, 145 trung) nói: Phật là bậc tôn quí nhất trong 3 cõi, đã giác ngộ lí không, không làm mà làm, việc làm đã viên mãn. [X. kinh Trường a hàm Q.1].
Tam hiền
三賢; C: sānxián; J: sangen;|1. Trong A-tì-đạt-ma của Tiểu thừa, Tam hiền đây là Ngũ đình tâm quán (五停心觀), Biệt tướng niệm trú (別相念住), và Tổng tướng niệm trú (總相念住). 2. Trong Pháp tướng tông, Tam hiền gồm ba nhóm Thập trú, Thập hạnh và Thập hồi hướng.
tam hiền
Người chứng đắc ba quả vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng.
; (三賢) Chỉ cho 3 giai vị tu hành các thiện căn để ức chế phiền não, khiến cho tâm được điều hoà. Tam hiền có Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau. 1. Tiểu thừa tam hiền vị (cũng gọi Ngoại phàm vị): Giai vị tu các thiện căn hữu lậu,(tức Thuận giải thoát phần), có 3 vị: a. Ngũ đình tâm quán vị: Giai vị dùng Ngũ đình tâm quán để ngăn dứt tham, sân, si, ngã kiến và tâm tán loạn. b. Biệt tướng niệm trụ vị: Giai vị quán riêng các tự tướng: Bất tịnh, khổ, vô thường và vô ngã thuộc thân, thụ, tâm, pháp, đồng thời, quán các cộng tướng: Vô thường, khổ, không, và vô ngã. c. Tổng tướng niệm trụ vị: Giai vị quán chung các cộng tướng: Vô thường khổ, không và Vô ngã thuộc Tứ niệm trụ.Ba giai vị trên đầy và 4 giai vị Thiện căn hợp lại gọi chung là Thất phương tiện vị, là giai vị tu hành chuẩn bị vào Kiến đạo. Giai vị Ngũ đình tâm quán thành tựu Xa ma tha(Chỉ), 2 giai vị còn lại thì thành tựu Tì bát xá na(Quán). 2. Đại thừa tam hiền vị(cũng gọi Tam thập tâm): Chỉ cho hàng Bồ tát trước Thập địa, giai vị này có 3 bậc Thập tâm khác nhau. a. Thập trụ: Tâm lãnh hội được lí, an trụ chẳng động, gọi là Trụ. Thập trụ gồm có: Phát tâm trụ, Trị địa trụ, Tu hành trụ, Sinh quí trụ, Cụ túc phương tiện trụ, Chính tâm trụ, Bất thoái trụ, Đồng chân trụ, Pháp vương tử trụ và Quán đính trụ. b. Thập hạnh: Tu hành 10 hạnh này sẽ có năng lực tiến tới quả, gọi là Hạnh. Thập hạnh gồm có: Hoan hỉ hạnh, Nhiêu ích hạnh, Vô vi nghịch hạnh, Vô khuất náo hạnh, Vô si loạn hạnh, Thịện hiện hạnh, Vô trước hạnh, Nan đắc hạnh, Thiện pháp hạnh, và Chân thực hạnh. c. Thập hồi hướng: Hồi nhân hướng quả, gọi là Hồi hướng. Thập hồi hướng gồm có: Cứu chư chúng sinh li chúng sinh tướng hồi hướng, Bất hoại hồi hướng, Đẳng nhất thiết chư Phật hồi hướng, Chí nhất thiết xứ hồi hướng, Vô tận công đức tạng hồi hướng, Nhập nhất thiết bình đẳng thiện căn hồi hướng, Đẳng tùy thuận nhất thiết chúng sinh hồi hướng, Chân như tướng hồi hướng, Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng, và Nhập pháp giới vô lượng hồi hướng. Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng là Tam hiền vị của kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp, còn Tam hiền vị của kinh Nhân vương bát nhã ba la mật là Thập tín tập chủng tính, Thập chỉ tính chủng tính, Thập kiên tâm đạo chủng tính và Tam hiền vị của kinh Phạm võng quyển thượng là Thập phát thú Thập trưởng dưỡng, Thập kim cương... [X. Tứ giáo nghĩa Q.5; Bồ tát anh lạc bản nghiệp kinh sớ Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Ngũ Thập Nhị Vị, Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Niệm Trụ, Bồ Tát Giai Vị).
tam hiền thập tánh
Thập trụ + thập hạnh + thập hồi hướng.
tam hiện quán
(三現觀) Chỉ cho Kiến hiện quán, Duyên hiện quán và Sự hiện quán. Hiện quán là dùng, trí tuệ vô lậu quán xét lí của Tứ thánh đế hiện tiền. 1. Kiến hiện quán: Pháp này căn cứ vào pháp Kiến đế mà được thành lập, tức dùng trí huệ vô lậu quán xét cảnh các đế, hiện thấy rõ ràng. 2. Duyên hiện quán: Pháp quán này là dựa vào pháp năng duyên mà được thành lập, tức trí tuệ vô lậu và các tâm, tâm sở tương ứng với trí ấy đều duyên theo cảnh của Tứ đế. 3. Sự hiện quán: Pháp quán này là y cứ vào pháp cùng làm 1 việc mà được thành lập, tức pháp năng duyên nói trên cùng với Đạo cộng giới và các pháp không tương ứng như sinh, trụ, dị, diệt,.. cùng làm 1 việc hiện quán Tứ đế. [X. luận Câu xá Q.22, 23; Dị bộ tông luân luận thuật kí]. (xt. Hiện Quán).
tam hoang vu
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba Hoang Vu—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of barrenness: 1) Tham Hoang Vu: The barrenness of lust. 2) Sân Hoang Vu: The barrenness of hatred. 3) Si Hoang Vu: The barrenness of delusion.
tam hoàng
San-huang (C), Sanhuang (C)Ba vị hoàng đế huyền thoại của Trung quốc: Phục Hy, Thần Nông và Viêm Đế cai trị từ 2852-2697 hay 2952-2490 B.C.E.
Tam hoặc
三惑; C: sānhuò; J: sanwaku;|Ba sự mê hoặc, ba phiền não. Có hai cách phân loại: 1. Ba loại phiền não căn bản là Tham dục (貪欲), Sân khuể (瞋恚), và Ngu si (愚癡). Chúng tương đương với Ba độc (Tam độc 三毒); 2. Trong Thiên Thai tông, ba loại hoặc chính là là Kiến tư hoặc (見思惑) – Phiền não xuất phát từ những kiến giải, những mối tư duy sai –, Trần sa hoặc (塵沙惑) – phiền não cản trở trí huệ và nhiều như số cát sông Hằng –, và Vô minh hoặc (無明惑), những phiền não gây chướng ngại cho việc thấu hiểu sự vật. Loại hoặc đầu được phá huỷ bởi hành giả Tiểu cũng như Đại thừa. Hai loại hoặc sau chỉ được tiệt đoạn bởi những vị Bồ Tát.
tam hoặc
A Thiên Thai classification of the three illusions; also styled tam phiền não trials or temptations, tam lậu leakages, tam cấu uncleanesses, tam kết bonds. The first of the following three is common to all disciples, the two last to bodhisattvas. They arise from a-Kiến Tư hoặc things seen and thought, i.e. illusions from imperfect perception with temptation to love, hate, etc.; to be rid of these false views and temptations is the discipline and nirvàna of ascetic or Hìnayàna Buddhists. Mahàyàna proceeds further in and by its bodhisattva aims, which produce their own difficulties, i.e. b-Trần sa hoặc illusion and temptation through the immense variety of duties in saving men; and c-Vô minh hoặc the illusions and temptations that arise from failure philosophically to understand things in their reality.
; Tam phiền não—Tam lậu—Tam cấu—Three delusions. (A) Theo tông Thiên Thai, có ba loại hoặc—According to the T'ien-T'ai Sect, there are three delusions: 1) Kiến tư hoặc: Thấy và nghĩ tưởng theo ảo vọng từ những nhận xét không hoàn hảo, với những cám dỗ của yêu ghét, vân vân. Muốn loại bỏ những cấu chướng nầy, người ta phải tuân thủ và hành trì giới luật (mê chấp tướng sanh tử)—Things seen and thought illusions from imperfect perception, with temptation to love, hate, etc., to be rid of these false views and temptations, one must cultivate and observe moral precepts. 2) Trần sa hoặc: Phiền não và cám dỗ trong lúc cứu độ chúng sanh (mê chấp cứu độ chúng sanh để đuợc vào cõi Niết Bàn)—Illusion and temptation through the immense variety of duties in saving others. 3) Vô minh hoặc: Phiền não và cám dỗ khởi lên từ chỗ không hiểu chư pháp và thực tánh của chúng. Phiền não khởi lên từ căn bản vô minh làm che lấp mất chân lý. Trong Biệt Giáo và Viên Giáo, Bồ Tát khắc phục vô minh hoặc trong sơ địa (mê chấp về tướng nhị biên)—The illusions and temptations that arise from failure philosophically to understand things in their reality—Illusion arising from primal ignorance which covers and hinders the truth. In the Differentiated Teaching, this illusion is overcome by the Bodhisattva from the first stage; in the Perfect Teaching, it is overcome by the Bodhisatva in the first resting-place. (B) Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, có ba nhóm lậu hoặc—According to the Hinayana Buddhism, there are three groups of delusions: 1) Dục lậu: Say mê về dục lạc trần thế: Kamasava (p)—Intoxicant of worldly desires or sensual pleasures. 2) Hữu lậu: Bhavasava (p)—Sự ham muốn hiện hữu trong một trong những cảnh giới hữu lậu—The love of existence in one of the conditioned realms. 3) Vô minh lậu: Avijjasava (p)—Sự uế nhiễm trong tâm khởi lên từ sự ngu si—The defilements of ignorance in mind. *** Ngoài ra, có người còn cho rằng có lậu thứ tư là Kiến lậu, là những quan điểm đồi bại—Besides, some considers the fourth delusion: the corruption of views.
; (三惑) I. Tam Hoặc. Cũng gọi Tam chướng. Chỉ cho Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc và Vô minh hoặc. 1. Kiến tư hoặc: Kiến hoặc và Tư hoặc. Kiến hoặc là do các tà kiến sinh khởi khi ý căn tiếp xúc với pháp trần. Tức là phiền não mê lầm đối với đạo lí trong 3 đời. Tư hoặc là tư tưởng chấp trước dấy lên khi 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tham đắm nơi 5 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tức là phiền não mê lầm đối với sự lí ở hiện tại. Kiến hoặc và Tư hoặc này do cả 3 thừa Thanh văn, Duyên giác, và Bồ tát cùng đoạn trừ, cho nên gọi là Thông hoặc. Vì chúng chiêu cảm sinh tử trong 3 cõi nên thuộc về hoặc giới nội, phải dùng Không quán để đối trị. 2. Trần sa hoặc: Các hoặc chướng sinh khởi vì mê lầm đối với các pháp thuộc giới nội, giới ngoại nhiều như số cát sông Hằng, gọi là Trần sa hoặc. Bồ tát sau khi đoạn trừ Kiến tư hoặc, dễ bị dính mắc vào Không quán, gây chướng ngại cho việc tự tại giáo hóa độ sinh của Bồ tát, nên Trần sa hoặc còn được gọi là Trước không hoặc, Hóa đạo chướng hoặc. Vì hoặc này chỉ do Bồ tát đoạn trừ nên cũng gọi là Biệt hoặc, thuộc cả giới nội và giới ngoại, phải dùng Giả quán để đối trị. 3. Vô minh hoặc: Đối với tất cả pháp không rõ biết nên gọi là Vô minh. Tức là phiền não mê lầm về Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Vô minh hoặc là chủng tử của nghiệp thức, cội rễ của phiền não, thuộc về giới ngoại, chỉ có Bồ tát Đại thừa, tu cả định lẫn tuệ, đầy đủ muôn hạnh mới đoạn trừ được hoặc này, cho nên cũng gọi là Biệt hoặc và phải dùng Trung quán để đối trị. Nếu bàn về giai vị đoạn trừ thì giữa Biệt giáo và Viên giáo có khác nhau. Theo thuyết của Biệt giáo thì giai vị Thập tín mới chỉ nép phục được Kiến tư hoặc, Sơ trụ đoạn trừ được Kiến hoặc, Thất trụ đoạn sạch Tư hoặc, Bát trụ, Cửu trụ, và Thập trụ đoạn trừ được Trần sa hoặc thuộc giới nội, Thập hạnh đoạn trừ Trần sa hoặc thuộc giới ngoại, Thập hồi hướng nép phục Vô minh hoặc, từ Sơ địa trở lên cho đến giai vị Diệu giác đoạn trừ được 12 phẩm Vô minh hoặc. Còn theo thuyết của Viên giáo thì Giai vị Ngũ phẩm đệ tử nép phục được phiền não Ngũ trụ địa, giai vị đầu của Thập tín đoạn trừ được Kiến hoặc, giai vị Thất tín đoạn trừ hết Tư hoặc, Bát tín, Cửu tín và Thập tín, đoạn trừ được Trần sa hoặc thuộc giới nội, từ Sơ trụ trở lên cho đến giai vị Diệu giác đoạn trừ được 12 phẩm Vô minh hoặc. Thật ra Tam hoặc vốn từ 1 hoặc mà chia ra theo tính chất thô và tế, chứ thể của hoặc thì không khác, tính thô gọi Kiến tư, tính tế gọi là Vô minh, ở khoảng giữa thì gọi là Trần sa, cho nên việc đoạn trừ lẽ ra không có thời gian trước, sau khác nhau. Nếu lại phối hợp Tam hoặc với Nhị chướng thì tương đương với Sở tri chướng. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 thượng; 6 thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.3 hạ, 4 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6, phần 3, 7, phần 4; Tứ giáo nghĩa Q.1; Tứ niệm xứ Q.4]. II. Tam Hoặc. Tên gọi khác của Tam độc, tức 3 thứ mê hoặc căn bản là tham dục, sân khuể và ngu si.
Tam Huyền
(三玄): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Từ gọi chung của các nhà huyền học thời Ngụy Tấn (魏晉南北朝, 220-589) đối với 3 thư tịch Lão Tử (老子), Trang Tử (莊子) và Chu Dịch (周易). Đạo Giáo cũng dùng đến thuật ngữ này. Như trong Nhan Thị Gia Huấn (顏氏家訓), chương Miễn Học (勉學), giải thích rằng: “Kịp ư Lương thế, tư phong phục xiển, Trang, Lão, Chu Dịch, tổng vị Tam Huyền (洎於梁世、茲風復闡、莊、老、周易、總謂三玄, đến thời nhà Lương, phong thái này lại được mở ra, Trang Tử, Lão Tử và Chu Dịch, gọi chung là Tam Huyền).” (2) Chỉ cho mặt trời, mặt trăng và sao. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) có đoạn: “Thiên hữu Tam Huyền, vị nhật, nguyệt, tinh dã (天有三玄,謂日、月、星也, trời có Tam Huyền, tức là mặt trời, mặt trăng và sao).” (3) Thuật ngữ Thiền, chỉ cho 3 loại áo nghĩa, giáo chỉ do Thiền sư Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄, ?-866) của Lâm Tế Tông tuyên xướng; gồm: (1) Thể Trung Huyền (體中玄), (2) Cú Trung Huyền (句中玄), (3) Huyền Trung Huyền (玄中玄). Trong một câu có Ba Huyền, trong một Huyền có Ba Yếu, tổng cọng có 9 pháp. Như trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 9, phần Đông Kinh Hoa Nghiêm Phổ Tư Thiền Sư (東京華嚴普孜禪師), có đoạn: “Sư vi nhân thanh tú kiệt xuất, xướng Lâm Tế hạ Tam Huyền Cửu Đái, tạo Tào Động Ngũ Vị Thập Huyền, giai diệu đắc kỳ gia phong yếu chỉ (師爲人清秀傑出、唱臨濟下三玄九帶、造曹洞五位十玄、皆妙得其家風要旨, Thiền Sư là người thanh tú kiệt xuất, cổ xướng Ba Huyền Chín Pháp của Lâm Tế, tạo ra Năm Vị Mười Huyền của Tào Động, đều đạt được gia phong yếu chỉ của người một cách diệu xảo).” Hay trong bài thơ Tiên Hòa Thượng Tọa Thoát (仙和尚坐脫) của Triệu Phong (趙渢, ?-?) nhà Kim cũng có đoạn: “Dũng để thoát thời vô nhất vật, cơ luân chuyển xứ hữu Tam Huyền (桶底脫時無一物、機輪轉處有三玄, đáy thùng vỡ rồi chẳng một vật, cơ phong chuyển hóa có Ba Huyền).” Hoặc trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 38, phần Đầu Thủ Tứ Tiết Bỉnh Phất (頭首四節秉拂), lại có câu: “Hoát khai Tam Yếu Tam Huyền lộ, tọa đoạn Tu Di đệ nhất phong (豁開三要三玄路、坐斷須彌第一峰, mở toang Ba Yếu Ba Huyền nẻo, nghiễm nhiên ngồi chót đỉnh Tu Di).”
tam huyền tam yếu
Là cơ xảo của Lâm Tế để kích thích hành giả tham thiền phát khởi nghi tình.
; (三玄三要) Tiếng dùng trongThiền lâm. Phương pháp tiếp dẫn người học của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền. Tam huyền là: 1. Thể trung huyền: Chỉ cho câu nói hoàn toàn không trau chuốt văn hoa, chỉ y cứ vào chân tướng là đạo lí của mọi sự vật mà biểu hiện. 2. Cú trung huyền: Chỉ cho lời nói chân thực, không hề liên quan đến tình thức phân biệt, tức không câu nê vào ngôn ngữ mà chỉ nhằm tỏ ngộ ý nghĩa sâu kín của lời nói. 3. Huyền trung huyền (cũng gọi Dụng trung huyền): Chỉ cho câu nói sâu xa mầu nhiệm, xa lìa tất cả lí luận tương đãi và sự trói buộc củangữ cú... Trong 3 huyền môn, mỗi huyền môn lại có 3 yếu tố quan trọng gọi là Tam yếu. Theo Thiền sư Phần dương Thiện chiêu thì Tam yếu là: 1. Yếu thứ nhất: Trong lời nói không có phân biệt tạo tác. 2. Yếu thứ hai: Nghìn Thánh vào thẳng nghĩa sâu xa mầu nhiệm. 3. Yếu thứ ba: Dứt bặt nói năng. [X. bài tựa trong Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục; Ngũ gia huyền chỉ toản yếu Q.thượng; Thiền học đích hoàng kim thời đại (Ngô kinh hùng); Nhân thiên nhãn mục Q.1]. (xt. Lâm Tế Tam Cú).
Tam huệ
三慧 (惠); C: sānhuì; J: san'e;|Ba loại trí huệ, Văn tư tu.
tam huệ
Tisrah-prajāh (S)Gồm: Văn huệ, Tư huệ, Tu huệ.
; Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, có ba cách đạt được trí huệ—According to the Theravadan Buddhism, there are three modes of attaining moral wisdom: 1) Văn Huệ: Sutamaya-panna (p)—Đạt được văn huệ qua đọc nghe và những lời giáo huấn—Attaining moral wisdom from reading, hearing and instruction—Attaining wisdom based on learning. 2) Tư huệ: Cintamaya-panna (p)—Đạt được tư huệ qua suy tư—Attaining moral wisdom from reflection—Attaining wisdom based on thinking. 3) Tu huệ: Bhavanamaya-panna (p)—Đạt được tu huệ qua tu hành phát triển tâm linh—Attaining moral wisdom from practice of abstract meditation (attaining wisdom based on mental development).
Tam Hà
(三河): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Dưới thời nhà Hán, là tên gọi của 3 quận Hà Nội (河內), Hà Đông (河東) và Hà Nam (河南), tức hiện tại là Tỉnh Hà Nam (河南省), Phố Lạc Dương (洛陽市) và một dãy Nam Bắc. Như trong Sử Ký (史記), phần Hóa Thực Liệt Truyện (貨殖列傳) có đoạn rằng: “Tích Đường nhân đô Hà Đông, Ân nhân đô Hà Nội, Chu nhân đô Hà Nam; phù Tam Hà, tại thiên hạ chi trung; nhược đỉnh túc, vương giả sở cánh cư dã (昔唐人都河東、殷人都河內、周人都河南、夫三河、在天下之中、若鼎足、王者所更居也, xưa kia kinh đô nhà Đường là Hà Đông, kinh đô nhà Ân là Hà Nội, kinh đô nhà Chu là Hà Nam; phàm ba quận này ở trong thiên hạ; nếu kết hợp thành thế chân vạc, là chốn an cư của bậc đế vương).” (2) Chỉ cho 3 con sông Hoàng Hà (黃河), Tứ Chi Hà (賜支河) và Hoàng Hà (湟河). Như trong bài Nghệ Lâm Phạt Sơn (藝林伐山), phần Tam Hà (三河) của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh có câu: “Đường thi 'Thiên Tử Tam Hà mộ thiếu niên' (唐詩'天子三河募少年', thơ Đường có câu 'ba sông của Thiên Tử chiêu mộ thiếu niên').” (3) Chỉ cho 3 con sông Hoàng Hà (黃河), Hoài Hà (淮河) và Lạc Hà (洛河); và đôi khi cũng chỉ cho tất cả các sông ngòi.
Tam Hà Tứ Hải Cửu Giang
(三河四海九江): ba sông, bốn biển, chín sông, là từ chỉ chung cho những nơi có nước như ao hồ, sông ngòi, biển cả trên khắp thế giới. Như trong Thái Thượng Linh Bảo Ngọc Quỹ Minh Chơn Đại Trai Quan Công Nghi (太上靈寶玉匱明眞大齋官功儀) của Đạo Giáo có đoạn cung thỉnh rằng: “Cẩn thượng thỉnh Tam Nguyên Quân, Thượng Nguyên Thiên Quan, Trung Nguyên Địa Quan, Hạ Nguyên Thủy Quan, Tam Cung Cửu Phủ, Bách Nhị Thập Tào, Ngũ Nhạc Đại Thần, Thập Đại Động Thiên, Tam Thập Lục Động Thiên, Nhị Thập Tứ Hóa, Tam Hà Tứ Hải, Cửu Giang Thủy Đế, Thập Nhị Hà Nguyên, Cửu Cung Chân Nhân, Thập Nhị Tiên Quân, Cửu Thiên Ty Mạng, Ngũ Nhạc Trượng Nhân, Cửu Thiên Sứ Giả, Trữ Phó Chánh Chức Tá Mạng Đại Thần, Thiên Tiên Địa Tiên, Phi Tiên Thần Tiên, Vương Đồng Ngọc Nữ, binh mã kỵ thừa, giáng lâm tiêu tòa (謹上請三元君、上元天官、中元地官、下元水官、三宮九府、百二十曹、五嶽大神、十大洞天、三十六洞天、二十四化、三河四海、九江水帝、十二河源、九宮眞人、十二仙君、九天司命、五嶽丈人、九天使者、儲副正職佐命大神、天仙地仙、飛仙神仙、王童玉女、兵馬騎乘、降臨醮座, xin cung thỉnh Tam Nguyên Quân, Thượng Nguyên Thiên Quan, Trung Nguyên Địa Quan, Hạ Nguyên Thủy Quan, Ba Cung Chín Phủ, Trăm Hai Mươi Tào, Đại Thần Năm Núi, Trời Mười Động Lớn, Trời Ba Mươi Sáu Động, Hai Mươi Bốn Hóa, Ba Sông Bốn Biển, Chín Sông Thủy Đế, Mười Hai Nguồn Sông, Chân Nhân Chín Cung, mười hai tiên quân, Cửu Thiên Ty Mạng, Ngũ Nhạc Trượng Nhân, Cửu Thiên Sứ Giả, Trữ Phó Chánh Chức Tá Mạng Đại Thần, Thiên Tiên Địa Tiên, Phi Tiên Thần Tiên, Vương Đồng Ngọc Nữ, cỡi mang binh ngựa, giáng xuống đàn cúng).” Hay như trong Thái Thượng Thần Chú Diên Thọ Diệu Kinh (太上神呪延壽妙經) cũng có đoạn: “Tam Hà Tứ Hải, Cửu Giang Bát Cực, chư chân nhân đẳng, Tiên Đồng Ngọc Nữ, Tam Giới Địa Kỳ, Tam Quan Cửu Thự, nhất thiết thần minh, văn trì thử kinh, tức vi tiêu trừ nhất thiết khổ não (三河四海、九江八極、諸眞人等、仙童玉女、三界地祇、三官九署、一切神明、聞持此經、卽爲消除一切苦惱, Ba Sông Bốn Biển, Chín Sông Tám Hướng, các vị chân nhân, Tiên Đồng Ngọc Nữ, Thổ Thần Ba Cõi, Ba Quan Chín Sảnh, hết thảy thần minh, nghe trì kinh này, tức được tiêu trừ hết thảy khổ ách).”
Tam Hàn
(三韓): tên gọi chung của ba tiểu quốc Mã Hàn (馬韓), Thần Hàn (神韓) và Biện Hàn (辨韓), đã chiếm cứ phía Nam Triều Tiên cổ đại. Nó còn là tên gọi chung của Tân La (新羅), Bách Tế (百濟) và Cao Cú Lệ (高句麗).
tam hành
Three lines of action that affect karma: (A) Sự hành động dưới ba loại nghiệp—Actions under three kinds of karma: 1) Thập thiện nghiệp: Phước Hành—The ten good deeds that cause happy karma. 2) Thập ác nghiệp: The ten evil deeds that cause unhappy karma. 3) Vô ký nghiệp (Vô thiện vô ác): Bất động nghiệp—Neither good nor evil karma, that arise without activity. (C) Sự hành động dưới ba hình thức—Actions in three forms: 1) Thân hành: Kaya-sankhara (p)—Physical actions. 2) Ngôn hành: Vaci-sankhara (p)—Verbal actions. 3) Tâm hành: Citta-sankhara (p)—Mental actions.
tam hòa
The union of the three, i.e. căn indriya, cảnh àlambana, thức vijnàna, i.e. organ, object, cognition.
; (三和) Ba hòa hợp, tức chỉ cho căn, cảnh và thức hòa hợp mà sinh ra tâm sở Xúc. Luận Thành duy thức quyển 3 (Đại 31, 11 trung) nói: Căn, cảnh, thức, tùy thuận nhau gọi là Tam hòa, Xúc do đó mà sinh. Tuy nhiên, các sư khác đối với vấn đề này cũng có những quan điểm bất đồng. [X. luận Câu xá Q.10. luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Xúc).
tam hóa
Trini-nirmanani (S)Ba cách giáo hóa gồm: Nghiệp hóa, Tùy hóa, Thượng hóa.
; (三化) Ba phương pháp giáo hóa. I. Tam Hóa. Phạm:Trìịi nirmàịàni. Dựa theo sự lợi ích của chúng sinh mà chia ra 3 cách giáo hóa là Nghiệp hóa, Tùy hóa và Thượng hóa. 1. Nghiệp hóa (Phạm: Karmanirmàịa): Giáo hóa về công nghiệp một cách khéo léo tự tại. 2. Tùy hóa (Phạm: Upapattinirmàịa): Tùy điều người ta mong muốn mà giáo hóa 1 cách tự tại. 3. Thượng hóa (Phạm: Uttamanirmàịa): Trụ ở nơi thắng thượng như cõi trời Đâu suất mà giáo hóa 1 cách tự tại.[X. Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.2]II. Tam Hóa. Dựa theo 3 nghiệp thân ngữ ý mà chia làm Thân hóa, Ngữ hóa và Ý hóa đồng nghĩa với với Tam thị hiện, Tam luân. 1. Thân hóa: Nương vào Thần cảnh thông, biến hóa ra các cảnh thù thắng lạ kì để hướng dẫn chúng sinh phát tâm sau khi được giáo hóa. Thân hóa lại được chia làm 3 thứ là Hiện thần thông hóa, Hiện thụ hóa sinh, và Hiện nghiệp quả hóa.2. Ngữ Hóa(cũng gọi Khẩu hóa): Nương vào Tha tâm thông mà diễn nói giáo pháp, hướng dẫn chúng sinh phát tâm sau khi giáo hóa. Cũng chia làm 3 thứ là Kháng úy ngữ hóa, Phương tiện ngữ hóa và Biện dương ngữ hóa. 3. Ý hóa: Nương vào Lậu tận thông, giám sát căn cơ và ý muốn của chúng sinh để tùy nghi nói pháp, hướng dẫn chúng sinh phát tâm sau khi được giáo hóa. Ý hóa lại được chia làm 4 thứ là Quyết trạch ý hóa, Tạo tác ý hóa, Phát khởi ý hóa và Thụ lãnh ý hóa. Thân biến hóa của Thanh văn, Bồ tát, và Phật đều đủ đức Tam hóa, nhưng để hiển bày đức Tam hóa thù thắng của Phật nên gọi đó là Uy lực. Ngoài ra, các loài chúng sinh được thân Tha thụ dụng hóa độ tuy không có các ác kiến, nhưng khi họ được giáo hóađể vào địa vị trên thì cũng thị hiện Tam hóa. [X. Phật địa kinh luận Q.6; luận Thành duy thức Q.5; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6, phần cuối]. (xt. Tam Luân).
Tam hạnh
三行; C: sānxíng; J: sangyō;|1. Ba hạnh tạo nghiệp của thân, khẩu và ý; 2. Ba hạnh: thiện, ác và không thiện không ác; 3. Ba hạnh theo kinh Kim Cương: Hành động theo tình thế, hành động theo tâm thức và hành động tuỳ theo Chân như.
tam hạnh
Three lines of action that affect karma, i.e. phúc hạnh the ten good deeds thập thiện that cause happy karma; Tội hạnh the ten evil deeds thập ác that cause unhappy karma; bất động hạnh (nghiệp) or vô động hạnh karma arising without activity, e.g. meditation on error and its remedy.
; (三行) I. Tam Hành. Chỉ cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý. Trong luận Trung quán có câu Khởi tam hành, nghĩa là khởi động 3 nghiệp. (xt. Tam Nghiệp). II. Tam Hành. Chỉ cho Phúc hành, Tội hành, và Bất động hành. 1. Phúc hành: Làm các việc phúc như 10 điều thiện... có công năng mang lại quả báo cõi trời, cõi người... 2. Tội hành(cũng gọi Phi phúc hành): Tạo các tội như 10 điều ác: Giết hại, trộm cướp... có công năng mang lại khổ đau trong 3 đường ác. 3. Bất động hành(cũng gọi Vô động hành): Tu thiền định hữu lậu, có năng lực chiêu cảm quả báo cõi Sắc, cõi Vô sắc... Vì thiền định không thay đổi và biến động như phúc hành và tội hành nên gọi là Bất động. [X. luận đại trí độ Q.88].
tam hạnh nghiệp
Xem Tam nghiệp.
Tam học
三學; C: sānxué; J: sangaku;|Chỉ ba việc thực hành Phật pháp: Giới (戒; s: śīla), định (定; s: dhyāna) và Huệ (慧; s: prajñā). Ba môn học.
tam học
Tisrah-siksah (S), Tissosikkha (P), Tisso-sikkhā (P), Triśikṣa (S)Ba môn học: giới, định, huệ.
; The "three studies" or vehicles of learning - discipline giới, meditation định, wisdom tuệ. Threefold formation: moral formation, spiritual formation, formation of wisdom. Also the Tripitaka tam tạng; the giới being referred to the luật vinaya, the định to the sùtras, and the tuệ to the sàstras.
; Three studies—Three practices of precepts, meditation and wisdom: 1) Giới: Sila (skt & p)—Trì giới là để tránh những hậu quả xấu ác do thân khẩu ý gây nên. Theo Phật Giáo Nhìn Toàn Diện của Tỳ Kheo Piyadassi Mahathera, trước khi gia công thực hành những nhiệm vụ khó khăn hơn, như tu tập thiền định, điều chánh yếu là chúng ta phải tự khép mình vào khuôn khổ kỷ cương, đặt hành động và lời nói trong giới luật. Giới luật trong Phật Giáo nhằm điều ngự thân nghiệp và khẩu nghiệp, nói cách khác, giới luật nhằm giúp lời nói và hành động trong sạch. Trong Bát Chánh Đạo, ba chi liên hệ tới giới luật là chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng. Người muốn hành thiền có kết quả thì trước tiên phải trì giữ ngũ giới căn bản không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ và uống rượu cũng như những chất cay độc làm cho tâm thần buông lung phóng túng, không tỉnh giác—Discipline—Learning by the commandments or prohibitions, so as to guard against the evil consequences of error by mouth, body or mind. According to Bhikkhu Piyadassi Mahathera in The Spetrum of Buddhism, it is essential for us to discipline ourselves in speech and action before we undertake the arduous task of training our mind through meditation. The aim of Buddhism morality is the control of our verbal and physical action, in other words, purity of speech and action. This is called training in virtue. Three factors of the Noble Eightfold Path form the Buddhsit code of conduct. They are right speech, right action, and right livelihood. If you wish to be successful in meditation practice, you should try to observe at least the five basic precepts of morality, abstinence from killing, stealing, illicit sexual indulgence, speaking falsehood and from taking any liquor, including narcotic drugs that cause intoxication and heedlessness—See Giới (I). 2) Định: Dhyana (skt)—Thiền định. Theo Tỳ Kheo Piyadassi Mahathera trong Phật Giáo Nhìn Toàn Diện, giới đức trang nghiêm giúp phát triển định tâm. Ba chi cuối cùng của Bát Chánh Đạo là chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định, hợp thành nhóm định. Hành giả có thể ngồi lại trong một tịnh thất, dưới một cội cây hay ngoài trời, hoặc một nơi nào thích hợp khác để gom tâm chăm chú vào đề mục hành thiền, đồng thời không ngừng tinh tấn gội rữa những bợn nhơ trong tâm và dần dần triệt tiêu năm triền cái để định tâm vào một điểm—Meditation—By Dhyana or quiet meditation. According to Bhikkhu Piyadassi Mahathera in The Spectrum of Buddhism, virtue aids the cultivation of concentration. The first three factors of the Noble Eightfold Path, right effort, right mindfulness and right concentration, form the concentration group. This called training in concentration or samadhi-sikkha. Progressing in virtue the meditator practices mental culture, Seated in cloister cell, or at the foot of a tree, or in the open sky, or in some other suitable place, he fixes his mind on a subject of meditation and by unceasing effort washes out the impurities of his mind and gradually gains mental absorption by abandoning the five hindrances. 3) Huệ: Prajna (skt)—Cũng theo Tỳ Kheo Piyadassi Mahathera trong Phật Giáo Nhìn Toàn Diện thì tâm định ở mức độ cao là phương tiện để thành đạt trí tuệ hay tuệ minh sát. Tuệ bao gồm chánh kiến và chánh tư duy, tức là hai chi đầu trong Bát Chánh Đạo. Trí tuệ giúp chúng ta phá tan lớp mây mờ si mê bao phủ sự vật và thực chứng thực tướng của vạn pháp, thấy đời sống đúng như thật sự, nghĩa là thấy rõ sự sanh diệt của vạn hữu—Wisdom—By philosophy—Study of principles and solving of doubts. Also according to Bhikkhu Piyadassi Mahathera in The Spectrum of Buddhism, high concentration is the means to the acquisition of wisdom or insight. Wisdom consists of right understanding and right thought, the first two factors of the path. This is called the training in wisdom or panna-sikkha. Wisdom helps us get rid of the clouded view of things, and to see life as it really is, that is to see life and things pertaining to life as arising and passing. ** For more information, please see Tam Tu in Vietnamese-English Section.
; (三學) I. Tam Học. Phạm:Tisra# zikwà#. Pàli:Tisso sikkhà. Cũng gọi Tam thắng học. Gọi đủ: Giới định tuệ tam học. Ba môn giới, định, tuệ mà người học Phật phải tu. 1. Tăng giới học (Phạm: Adhizìla) cũng gọi Giới học, Tăng thượng giới học: Giới có năng lực tu thiện, đồng thời ngăn ngừa các nghiệp ác do thân, khẩu, ý tạo ra. 2. Tăng tâm học (Phạm: Addhicitta), cũng gọi Định học, Tăng ý học, Tăng thượng ý học, Tăng thượng tâm học: Định có năng lực nhiếp tâm tán loạn, diệt trừ các niệm tạp nhạp, thấy tính ngộ đạo. 3. Tăng tuệ học (Phạm:Adhiprajĩà), cũng gọi Tuệ học, Tăng thượng tuệ học: Tuệ có năng lực hiển phát bản tính, đoạn trừ phiền não, thấy thực tướng của chư Phật.Ba môn học này là giềng mối thực hành của Phật giáo, tức nhờ giới sinh định, do định phát ra tuệ. Vì thế, kinh Bồ tát địa trì quyển 10 đem Lục độ phối hợp với Tam học, tức 4 Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến là Giới học, Thiền ba la mật là Định học và Bát nhã ba la mật là Tuệ học. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.17, (bản Bắc); kinh Bản sự Q.6; Luật Tứ phần Q.58; luật Ma ha tăng kì Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Giới Định Tuệ). II. Tam Học. Chỉ cho Hữu học, Vô học và Phi hữu học phi vô học. Cứ theo sự giải thích trong luận Đại trí độ quyển 18 và luận Câu xá quyển 24 thì: 1. Hữu học (Phạm: Zaikwa): Chỉ cho Tứ hướng tam quả. Còn Hữu học trí thì chỉ cho Khổ pháp trí nhẫn, cho đến Kim cương tam muội tuệ trong Vô ngại đạo thứ 9 của A la hán hướng. Hữu học pháp chỉ cho Ngũ uẩn của Hữu học thuộc vô lậu hữu vi. 2. Vô học (Phạm: Asaikwa): Chỉ cho quả A la hán. Vô học trí thì chỉ cho giải thoát trí thứ 9 của A la hán. Còn Vô học pháp thì chỉ cho Ngũ uẩn của Vô học thuộc Vô lậu hữu vi. 3. Phi học phi vô học (Phạm: Naivazaikwa-nàzaikwa): Chỉ cho dị sinh (tức phàm phu). Phi học phi vô học trí thì chỉ cho pháp bất tịnh của Can tuệ địa, an na ban na, tứ niệm xứ thuộc Dục giới hệ, noãn pháp, đính pháp, nhẫn pháp, và thế đệ nhất pháp... Còn phi học phi vô học pháp thì chỉ cho Ngũ uẩn hữu lậu và pháp vô vi. [X. kinh Tạp a hàm Q.28; kinh Phúc điền trong kinhA hàm Q.30; luận Đại trí độ Q.22; luận Câu xá Q.4; Câu xá luận quang kí Q.4]. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả, Dị Sinh).
tam hỏa
The three fires - desire, hate, and stupidity. Xem tam độc.
; Three fires: 1) Lửa Tham dục: Fire of desire. 2) Lửa Sân hận: Fire of hatred. 3) Lửa Vô minh: Fire of stupidity or ignorance.
; (三火) I. Tam Hỏa. Cũng gọi Tam độc, Tam cấu. Ba thứ lửa. Chỉ cho tham, sân, si. 1. Tham hỏa: Khao khát nhận lấy tất cả cảnh thích ý. 2. Sân hỏa: Phẫn nộ trước mọi cảnh trái ý mà mình gặp. 3. Si hỏa: Tâm trí mù mờ, không rõ sự lí, điên đảo làm bậy. Kinh Đại bảo tích quyển 96 (Đại 11, 542 hạ) có câu: Ta thấy các chúng sinh bị tam hỏa nung đốt. Trong các thứ phiền não của phàm phu thì tham dục, sân khuể và ngu si là độc hại nhất nên cũng gọi là Tam độc. Sự nhỏ nhiệm của 3 thứ độc này rất khó quán xét, chúng tàn hại thân tâm, thường làm cho con người chìm đắm trong sinh tử luân hồi. Ba cái độc này là nguồn gốc của mọi tội ác, tàn phá xã hội loài người, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.29 (bản Bắc); Hữu bộ tì nại da Q.34; luận Đại trí độ Q.21]. II. Tam Hỏa. Chỉ cho Gia chủ hỏa, Cúng dường hỏa và Tiên tổ tế hỏa, là các vật thờ cúng được bài trí trong lễ đại tế của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo ở Ấn độ. 1. Gia chủ hỏa (Phạm: Garhapat= yagni): Lò lửa hình tròn, dùng để điều lí các vật cúng dường chư thần và Bà la môn. 2. Cúng dường hỏa (Phạm:Àhavanì= yàgni): Lò lửa hình vuông, đặt ở phía tây của Gia chủ hỏa, dùng để đốt những vật dâng cúng các thần. 3. Tổ tiên hỏa (Phạm: Anvàharya= pacana): Lò lửa hình bán nguyệt, là vật thờ cúng tổ tiên, được đặt ở phía nam của Gia chủ hỏa, vì thế cũng gọi là Nam hỏa (Phạm:Dakwinàgni).
tam hồn thất phách
(三魂七魄) Ba hồn 7 vía trong thân của chúng sinh.Tam hồn chỉ cho Thai quang nghiệp hồn thần thức, U tinh chuyển hồn thần thức và Tương linh hiện hồn thần thức; Thất phách chỉ cho Tước âm phách thần thức, Thiên tặc phách thần thức, Phi độc phách thần thức, Thi cấu phách thần thức, Xú phế phách thần thức, Trừ uế phách thần thức và Phục thi phách thần thức. Theo truyền thuyết, tất cả chúng sinh lúc hấp hối, Diêm ma pháp vương sai lính Diêm ma trói 3 hồn của người chết ở gốc cây trước cửa ngục; thuyết này có lẽ đã bắt nguồn từ thuyết Tam tinh (Đài quang, Sảng linh, U tinh) của Đạo giáo; hoặc là căn cứ vào luận Đại thừa khởi tín đem Tam tế do nghiệp chuyển hiện phối hợp với Tam hồn và 7 thức trước phối với Thất phách. [X. kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương; Trì bảo thông giám Q.trung].
tam hội
(三會) I. Tam Hội. Ba hội thuyết pháp của chư Phật. Trong các kinh điển đều có ghi chép về ba hội thuyết pháp và số chúng nghe pháp trong hội của các đức Phật quá khứ như Tì bà thi Như lai, Thi khí Như lai, Tì xá bà Như lai, Câu lâu tôn Như lai, Câu na hàm Như lai và Ca diếp Như lai... Đức Phật Di lặc giáng sinh trong vị lai cũng sẽ có Tam hội thuyết pháp, gọi là Di lặc tam hội, cũng gọi Long hoa tam hội, để giáo hóa những chúng sinh mà đức Thích ca chưa hóa độ. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Tăng nhất a hàm Q.44; kinh Di lặc há sinh; kinh Thất Phật; kinh Bồ tát xử thai Q.2]. (xt. Long Hoa Tam Hội). II. Tam Hội. Chỉ cho 3 hồi trống, chuông. Trong tùng lâm đánh chuông hoặc đánh trống đủ 36 tiếng, gọi là Nhất hội. Cứ như thế đánh 3 lần, cộng tất cả là 108 tiếng, gọi là Tam hội[X. điềuCảnh chúng trong Thiền uyển thanh qui Q.6]. III. Tam Hội. Chỉ cho 3 pháp hội lớn của Phật giáo Nhật bản được tổ chức tại Nam đô (Nara) và Bắc kinh (Kyoto). Nam đô tam hội: Hội Duy ma ở chùa Hưng phúc, hội Tối thắng ở chùa Dược sư và Hội Ngự trai ở điện Đại cực. Còn Bắc kinh tam hội là: Hội pháp hoa và hội Tối thắng ở chùa Viên tông, hội Đại thừa ở chừa Pháp thắng. Bắc kinh tam hội cũng gọi là Thiên thai tam hội.
Tam hữu
chỉ sự tồn tại trong Ba cõi, nên là tên khác của sanh tử luân hồi. Xem Ba cảnh giới.
; 三有; C: sānyǒu; J: san'u;|1. Ba cách tồn tại: Cách tồn tại trong Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới; 2. Đồng nghĩa với Tam giới (三界), Ba thế giới.
tam hữu
Xem tam giới.
; The three kinds of bhava, or existence; idem tam giới. The three states of mortal existence in the trailokya, i.e. in the realms of desire, of form, and beyond form. Another definition is hiện hữu present existence, or the present body and mind; đương hữu in a future state; trung hữu antarà-bhava in the intermediate state.
; Ba loại hiện hữu—Three kinds of existence—Three states of mortal existence in the trailikya: (A) 1) Tướng trì hữu: Qualities (good, bad, length, shortness). 2) Giả danh hữu: Phenomenal things—See Giả Danh Hữu. 3) Pháp hữu: The noumenal or imaginary, understood as facts and not as illusions—See Pháp Hữu. (E) Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại hữu—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of existence: 1) Dục Hữu: Hiện hữu dục giới—Existence in the realm of desire—Sense-sphere existence. 2) Sắc Hữu: Hiện hữu sắc giới—Existence in the realm of form—Form-sphere existence. 3) Vô Sắc Hữu: Hiện hữu hay quả báo thực tại của vô sắc giới—Existence in the realm of formlessness (immaterial realm)—Formless-sphere existence. (C) 1) Hiện hữu: Bổn Hữu—Present existence or the present body and mind. 2) Trung hữu: Antara-bhava (skt)—Thân tâm sau khi chết—The intermediate state of existence. 3) Đương hữu: Thân tâm đời sau—Existence in the future state. ** For more information, please see Tam Giới.
; (三友) Ba hạng bạn thân. Câu xá luận tụng sớ quyển 29, chia bạn thân ra làm 3 bậc: Bậc thượng sinh được pháp thân; bậc trung thì giao du bằng tài (của cải vật chất) và pháp; còn bậc hạ thì chỉ giao du bằng tài vật. Ma ha chỉ quán quyển 4, hạ, thì cho 3 hạng thiện tri thức: Ngoại hộ, đồng hành và giáo thụ là Tam hữu. [X. Tinh độ pháp sự tán Q.hạ; Pháp sự tán tư kí Q.hạ]. (xt. Thiện Tri Thức). I. Tam Hữu: Hữu, Phạm: Bhava. Tam hữu chỉ cho Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu, tức đồng nghĩa với Tam giới(3 cõi). Vì chúng sinh trong 3 cõi này có(hữu)tạo nghiệp dẫn đến quả báo dị thục nên gọi là Tam hữu.1. Dục hữu: Nơi cư trú của các loài trời, người, tu la, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, mỗi loài tùy theo nghiệp nhân mà chịu quả báo.2. Sắc hữu: Các trời Tứ thiền của cõi Sắc, tuy đã lìa thân thô nhiễm của cõi Dục nhưng còn sắc thanh tịnh. 3. Vô sắc hữu: Các trời Tứ không của cõi Vô sắc, tuy không còn sắc chất làm ngại, nhưng cũng vẫn tùy theo chỗ tạo nghiệp nhân mà chịu quả báo. [X. luận Đại trí độ Q.3; luận Tập dị môn túc Q.4; luận Đại tì bà sa Q.60]
; (三有) Chỉ cho Sinh hữu, Bản hữu và Tử hữu gồm trong 1 đời của loài hữu tình. 1. Sinh hữu: Chỉ cho sát na(tích tắc) đầu tiên gá vào thai mẹ. 2. Bản hữu: Chỉ khoảng thời gian từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. 3. Tử hữu: Chỉ cho giây lát trút hơi thở cuối cùng. Tông hữu bộ của Tiểu thừa thêm Trung hữu vào Tam hữu này mà chủ trương thuyết Tứ hữu. [X. luận Dị bộ tông luận]. (xt. Tứ Hữu). III. Tam Hữu. Tên gọi khác của Hữu lậu. Lậu là tên khác của phiền não. Phiền não từ trong 6 căn môn của chúng sinh hữu tình tuôn chảy ra vô cùng, khiến chúng sinh phải trôi lăn trong vòng sinh tử, vì thế nói hữu lậu là nhân, là chỗ nương, chỗ nhiếp thuộc của Tam hữu. (xt. Hữu Lậu). IV. Tam Hữu. Chỉ cho Thiện thành hữu, Tích đắc hữu và Biến dị hữu do ngoại đạo Số luận thành lập.1. Thiện thành hữu: Như Tổ của phái Số luận là tiên nhân Ca tì la, lúc mới sinh ra đã có đủ 4 đức: Pháp, trí, li dục và tự tại, 4 đức này là nhờ thiện mà được thành tựu, cho nên gọi là Thiện thành hữu. 2. Tích đắc hữu: Như Phạm vương thủa xưa sinh ra 4 người con là Sa na ca, Sa nan đà na, Sa na đa na, và Sa nan cưu ma la; 4 người con này lúc mới lên 16 tuổi thì tự nhiên thành tựu được 4 đức là pháp, trí, li dục và tự tại, chứ không do nhân duyên nào cả. Vì tự nhiên mà được nên gọi là Tích đắc hữu. 3. Biến dị hữu: Thân thầy gọi là Biến dị(đổi khác), nhờ cung kính gần gũi và lắng nghe thầy mà đệ tử có được trí tuệ, nhờ có trí tuệ mà được li dục, nhờ li dục mà được thiện pháp, nhờ thiện pháp mà được tự tại. Như vậy, 4 đức của đệ tử là nhờ thân thầy mà có được, cho nên gọi là Biến dị hữu.Tam hữu trên đây của ngoại đạo Số luận tương đương với Đẳng khởi thiện, Sinh đắc thiện và Gia hạnh thiện của Phật giáo.[X. luận Kim thất thập Q.trung].
tam hữu duy phân biệt
Ba cõi là sản phẩm của phân biệt, không có cái gì như là thế giới bên ngoài cả—The triple world is no more than the product of discrimination, there is no such thing as an external world.
tam hữu vi
(三有爲) Cũng gọi Tam hữu vi tướng, Tam tướng. Chỉ cho 3 loại pháp hữu vi: Sắc pháp, Tâm pháp và Phi sắc phi tâm pháp 1. Sắc pháp: Pháp chất ngại. Theo tông Câu xá của tiểu thừa chỉ cho 11 pháp: 5 căn, 5 cảnh và Vô biểu sắc; còn theo tông Pháp tướng của Đại thừa thì chỉ cho 11 pháp: 5 căn, 5 cảnh và Pháp xứ sở nhiếp sắc.2. Tâm pháp: Pháp suy biết. Theo Câu xá thì chỉ cho 1 tâm vương và 46 tâm sở; còn theo Đại thừa thì chỉ cho 8 tâm vương và 51 tâm sở. 3. Phi sắc phi tâm pháp: Pháp không thuộc sắc không thuộc tâm. Theo Câu xá thì chỉ cho 14 pháp Bất tương ứng; còn theo Đại thừa thì chỉ cho 24 pháp Bất tương ứng.Ba loại pháp trên đây đều do sự tạo tác của nhân duyên nên gọi là pháp Hữu vi. Trong hết thảy các pháp, trừ pháp vô vi, còn lại đều thuộc pháp hữu vi... [X. điều Tam hữu vi nghĩa trong Đại thừa nghĩa chương Q.2].
tam hữu vi pháp
The three active, or functioning dharmas: (1) pratigha, matter or form. i.e. that which has "substantial resistance"; (2) mind; and (3) phi sắc phi tâm entities neither of matter nor mind. Tam hữu vi tướng. The three forms of all phenomena, birth, stay (i.e. life), death; utpàda, sthiti, and nirvàna.
tam hữu đối
The three sets of limitation on freedom: (a) direct resistance or opposition; (b) environment or condition; (c) attachment.
; (三有對) Chỉ cho 3 thứ Hữu đối là Chướngngại hữu đối, Cảnh giới hữu đối và Sở duyên hữu đối. Đối có nghĩa là ngại, là ngăn trở. Tức các pháp 5 căn, 5 cảnh, tâm và tâm sở bị ngăn ngại không sinh ra được, hoặc cảnh sở thủ sở duyên bị câu thúc không thể chuyển được cảnh khác. Đó là: 1. Chướng ngại hữu đối: Các sắc pháp 5 căn, 5 cảnh... tự ngăn ngại và làm chướng ngại lẫn nhau, như tay này ngăn ngại tay kia, vật này làm trở ngại vật khác... 2. Cảnh giới hữu đối: Năm căn, 7 tâm giới và tâm sở tương ứng bị các sắc cảnh... câu thúc, chướng ngại nên thủ cảnh không được tự tại, như mắt của loài cá bị nước làm chướng ngại, mắt người bị đất ngăn ngại.3. Sở duyên hữu đối: Vì 6 thức và 1 phần pháp cảnh bị ngăn ngại nên tác dụng duyên lự không được tự tại. Cảnh giới hữu đối khác với Sở duyên hữu đối, tức Cảnh giới hữu đối là 5 căn và pháp tâm, tâm sở đối với cảnh giới của chúng có công năng thấy nghe và nắm bắt; còn Sở duyên hữu đối là các pháp tâm, tâm sở chấp chặt vào cảnh giới của chúng, nên mang theo hình tướng mà sinh khởi. Nếu lại so sánh giữa Chướng ngại hữu đối và Cảnh giới hữu đối thì cũng có sự khác nhau, tức 7 tâm giới và các pháp tương ứng thuộc 1 phần của pháp giới là cảnh giới chứ không phải chướng ngại; 5 cảnh như sắc... là chướng ngại chứ không phải cảnh giới; 5 căn như nhãn... vừa là chướng ngại và vừa là cảnh giới, pháp phi tương ứng thuộc 1 phần của pháp giới chẳng phải chướng ngại, cũng chẳng phải cảnh giới. Còn nếu so sánh giữa Cảnh giới hữu đối và Sở duyên hữu đối thì Sở duyên hẹp hơn Cảnh giới, tức Sở duyên phải là Cảnh giới, nhưng Cảnh giới chưa hẳn là sở duyên, như 5 căn nhãn... vậy. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.2].
tam hữu-vi pháp
Three active or functioning dharmas: 1) Sắc pháp: Pratigha—Matter or form which has substantial resistance—Material or things which have form. 2) Tâm Pháp: Phi sắc pháp—The mind (mental). 3) Phi sắc phi tâm pháp: Những pháp không phải sắc mà cũng không phải tâm—Entities neither of matter nor mind.
tam hữu-vi tướng
Ba tướng hữu vi—Three forms of all phenomena: 1) Sanh: Upada—Birth. 2) Trụ: Sthiti—Stay or life. 3) Chết: Nirvana—Death.
Tam khoa
三科; C: sān kē; J: sanka;|Cách phân chia tất cả các pháp thành ba loại: Ngũ uẩn (五蘊), Thập nhị xứ (十二處) và Thập bát giới (十八界).
tam khoa
The three categories of ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới.
; (三科) Tất cả các pháp được chia làm 3 loại: Uẩn, Xứ, Giới gọi là Tam khoa. Uẩn xứ giới cũng gọi là Ấm nhập giới, Ấm giới nhập. Tức là: 1. Ngũ uẩn(cũng gọi Ngũ ấm, Ngũ chúng, Ngũ tụ): Chỉ cho sắc, thụ, tưởng, hành, thức. 2. Thập nhị xứ (cũng gọi Thập nhị nhập): Chỉ cho 6 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và 6 trần(sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). 3. Thập bát giới: Gồm 6 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) và 6 thức(thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý). Theo luận Câu xá quyển 1 thì y cứ vào mức ngu muội khác nhau mà chia ra 3 khoa, như đối với người ngu về tâm sở thì chia nhỏ tâm sở mà nói Ngũ uẩn; với người ngu về sắc pháp thì chia nhỏ sắc pháp mà nói Thập nhị xứ; với người ngu cả về tâm pháp và sắc pháp thì chia nhỏ sắc pháp và tâm pháp mà nói Thập bát giới. Nếu y cứ vào căn cơ lợi(bén nhạy), độn,(cùn lụt), thì với người lợi căn, nói Ngũ uẩn, với người Trung căn, nói Thập nhị xứ, với người độn căn thì nói Thập bát giới. Tức dựa vào 3 khoa để quán xét con người và thế giới, rồi căn cứ vào tình huống khác nhau giữa mê và ngộ của phàm phu mà thiết lập lí vô ngã để phá trừ cái mê lầm chấp ngã. Các bộ phái Tiểu thừa đối với Tam khoa có đặt ra vấn đề giả và thật. Trong đó, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Tam khoa đều là thật, Kinh bộ thì chủ trương Uẩn, Xứ là giả, chỉ có Giới là thật. Còn luận Câu xá thì cho rằng Uẩn là giả, Xứ và Giới là thật. Theo luận Câu xá thì Uẩn có nghĩa tích tụ, tích tụ nhiều pháp là Uẩn, vì thế Uẩn là pháp giả; còn Xứ và Giới thì không phải vậy, nên là thật. Hữu bộ thì cho rằng một pháp trong uẩn có cái tướng của Uẩn, do đó gọi là Uẩn, chứ không phải tích tụ nhiều pháp mới gọi là Uẩn, vì thế uẩn là pháp thật. Kinh bộ thì chủ trương Xứ là sự tích tụ của cực vi, là cửa sinh ra thức, cho nên là giả. Thuyết giả bộ thì cho Uẩn là thật, Xứ và Giới là giả, vì Xứ là 6 căn, 6 cảnh đối nhau, Giới là căn, cảnh đối nhau, thức, cảnh đối nhau, căn, thức đối nhau mới thành lập được, Uẩn thì không phải thế, nên Uẩn là thật. [X. luận Đại tỳ bà sa Q.71, 72, 73, 74; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần đầu; Bách pháp vấn đáp sao Q.1]. (xt. Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Ngũ Uẩn).
tam khoa giản cảnh
(三科揀境) Lựa chọn cảnh trong 3 khoa (ấm nhập giới) để quán xét. Tông Thiên thai bàn về cảnh của pháp quán tâm, trong 10 cảnh Viên đốn chỉ quán, chọn lấy 3 khoa: 5 ấm, 12 nhập, 18 giới để chỉ bày quán cảnh. Thứ tự lựa chọn như sau: Trước hết, lựa bỏ 18 giới và 12 nhập, chỉ giữ lại năm ấm; kế đến, trong 5 ấm, lựa bỏ sắc, thụ, tưởng, hành, chỉ giữ lại thức. Rồi trong thức ấm, lựa bỏ 5 thức trước là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, chỉ giữ lại ý thức thứ 6; trong thức thứ 6, lựa bỏ thức thiện ác, giữ lại thức vô kí(không thiện không ác); sau cùng, trong tâm vương và tâm sở thì lựa bỏ tâm sở mà giữ lại tâm vương để làm cảnh quán xét. Đây là pháp quán cảnh trọng yếu và cũng chính là chứng cứ mạnh mẽ nhất của Vọng tâm quán mà ngài Tứ minh Tri lễ chủ trương. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].
tam khát ái
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại Khát Ái—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of craving: 1) Dục Khát Ái: Craving (thirst) for sensual pleasures. 2) Hữu Khát Ái: Craving (thirst) for existence. 3) Phi Hữu Khát Ái: Craving (thirst) for extermination.
Tam Không
(三空): Ba Không. Các nhà Duy Thức nương vào 3 tánh Biến (遍), Y (依), Viên (圓) để lập ra nghĩa của Ba Không; tức là: (1) Vô Tánh Không (無性空), còn gọi là Vô Thể Không (無體空), nghĩa là Tánh Biến Kế Sở Chấp (遍計所執性) trước khi vọng tình tuy là có nhưng thể tánh của nó thật sự là không. (2) Dị Tánh Không (異性空), nghĩa là thể tướng của Tánh Y Tha Khởi (依他起性) khác hẳn với Biến Kế Sở Chấp, tuy chẳng phải là không có, nhưng cũng như sở chấp vào vọng tình mà chẳng phải có. (3) Tự Tánh Không (自性空), có nghĩa Tánh Viên Thành Thật (圓成實性) là tự tánh của các pháp, thể hiện rõ hai tánh không của người và pháp. Trong Hiển Dương Thánh Giáo Luận (顯揚聖敎論, Taishō Vol. 31, No. 1602) quyển 15 có nêu ra Ba Không khác là Vô Thể Không (無體空), Viễn Ly Không (遠離空) và Trừ Di Không (除遺空). Hơn nữa, tùy theo sở chấp mà Không được chia thành 3 loại khác là: (1) Ngã Không (我空), còn gọi là Nhân Không (人空); vì cho rằng pháp Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊, Năm Uẩn) độc lập, chủ tể, nên sinh ra có ngã chấp, nhưng nếu biết rõ Năm Uẩn Sắc (s, p: rūpa, 色), Thọ (s, p: vedanā, 受), Tưởng (s: sañjā, p: saññā, 想), Hành (s: saṁkhāra, p: saṅkhāra, 行) và Thức (s: vijñāna, p: viññāṇa, 識) vốn không có tự tánh, do nhân duyên mà sanh, thì chẳng hiện hữu ngã thể; đó được gọi là Ngã Không. (2) Pháp Không (法空), nghĩa là đối với pháp Năm Uẩn cho là thật có, gọi là chấp vào pháp; nếu nhận thức rõ pháp Năm Uẩn ấy như huyễn hóa, từ duyên mà sanh khởi, vốn chẳng có tự tánh; đó được gọi là Pháp Không. (3) Câu Không (倶空), tức hai chấp trước về ngã và pháp đều đoạn tận, ngay cả pháp chấp vào Không cũng không có thực thể, như vậy mới khế hợp với chân tâm bản tánh. Bên cạnh đó, Tam Không còn chỉ cho Tam Giải Thoát (三解脫, Ba Pháp Giải Thoát) là Không (空), Vô Tướng (無相) và Vô Nguyện (無願); vì 3 pháp này đều làm sáng tỏ đạo lý Không, nên được gọi là Tam Không. Hay khi bố thí, nên quán 3 pháp người thọ nhận, người bố thí và vật bố thí đều là Không. Trong Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經略疏垂裕記, Taishō Vol. 38, No. 1779) quyển 2 có khẳng định rằng: “Tam Không giả, tức Không, Vô Tướng, Vô Nguyện (三空者、卽空、無相、無願, Ba Không là Không, Vô Tướng và Vô Nguyện).” Hay trong Kim Cang Tam Muội Kinh Luận (金剛三昧經論, Taishō Vol. 34, No. 1730) quyển Thượng có câu: “Phù nhất tâm chi nguyên ly hữu vô nhi độc tịnh, Tam Không chi hải dung chơn tục nhi trạm nhiên (夫一心之源離有無而獨淨、三空之海融眞俗而湛然, phàm nguồn nhất tâm lìa xa có không mà thanh tịnh, biển Ba Không dung nhiếp cả chơn tục mà sáng suốt).” Tác phẩm Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 29, phần Thái Bình Hưng Quốc Tam Niên (太平興國三年, năm thứ 3 [978] niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc) có đoạn: “Hữu Tây Vức Pháp Sư Thiên Tức Tai đẳng, thường trì Tứ Nhẫn, tảo ngộ Tam Không, phiên bối diệp chi chơn thuyên, tục nhân thiên chi thánh giáo (有西域法師天息災等、常持四忍、早悟三空、翻貝葉之眞詮、續人天之聖敎, có Pháp Sư Thiên Tức Tai người Tây Vức, v.v., thường hành trì Bốn Nhẫn, sớm giác ngộ Ba Không, phiên dịch kinh điển chân lý, kế tục Trời người Thánh giáo).”
; (三空): Ba Không. Các nhà Duy Thức nương vào 3 tánh Biến (遍), Y (依), Viên (圓) để lập ra nghĩa của Ba Không; tức là (1) Vô Tánh Không (無性空), còn gọi là Vô Thể Không (無體空), nghĩa là Tánh Biến Kế Sở Chấp (遍計所執性) trước khi vọng tình tuy là có nhưng thể tánh của nó thật sự là không. (2) Dị Tánh Không (異性空), nghĩa là thể tướng của Tánh Y Tha Khởi (依他起性) khác hẳn với Biến Kế Sở Chấp, tuy chẳng phải là không có, nhưng cũng như sở chấp vào vọng tình mà chẳng phải có. (3) Tự Tánh Không (自性空), có nghĩa Tánh Viên Thành Thật (圓成實性) là tự tánh của các pháp, thể hiện rõ hai tánh không của người và pháp. Trong Hiển Dương Thánh Giáo Luận (顯揚聖敎論) quyển 15 có nêu ra Ba Không khác là Vô Thể Không (無體空), Viễn Ly Không (遠離空) và Trừ Di Không (除遺空). Hơn nữa, tùy theo sở chấp mà Không được chia thành 3 loại khác là: (1) Ngã Không (我空), còn gọi là Nhân Không (人空); vì cho rằng pháp Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊, Năm Uẩn) độc lập, chủ tể, nên sinh ra có ngã chấp, nhưng nếu biết rõ Năm Uẩn Sắc (s, p: rūpa, 色), Thọ (s, p: vedanā, 受), Tưởng (s: sañjā, p: saññā, 想), Hành (s: saṁkhāra, p: saṅkhāra, 行) và Thức (s: vijñāna, p: viññāṇa, 識) vốn không có tự tánh, do nhân duyên mà sanh, thì chẳng hiện hữu ngã thể; đó được gọi là Ngã Không. (2) Pháp Không (法空), nghĩa là đối với pháp Năm Uẩn cho là thật có, gọi là chấp vào pháp; nếu nhận thức rõ pháp Năm Uẩn ấy như huyễn hóa, từ duyên mà sanh khởi, vốn chẳng có tự tánh; đó được gọi là Pháp Không. (3) Câu Không (倶空), tức hai chấp trước về ngã và pháp đều đoạn tận, ngay cả pháp chấp vào Không cũng không có thực thể, như vậy mới khế hợp với chân tâm bản tánh. Bên cạnh đó, Tam Không còn chỉ cho Tam Giải Thoát (三解脫, Ba Pháp Giải Thoát) là Không (空), Vô Tướng (無相) và Vô Nguyện (無願); vì 3 pháp này đều làm sáng tỏ đạo lý Không, nên được gọi là Tam Không. Hay khi bố thí, nên quán 3 pháp người thọ nhận, người bố thí và vật bố thí đều là Không. Trong Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經略疏垂裕記, Taishō Vol. 38, No. 1779) quyển 2 có khẳng định rằng: “Tam Không giả, tức Không, Vô Tướng, Vô Nguyện (三空者、卽空、無相、無願, Ba Không là Không, Vô Tướng và Vô Nguyện).” Hay trong Kim Cang Tam Muội Kinh Luận (金剛三昧經論, Taishō Vol. 34, No. 1730) quyển Thượng có câu: “Phù nhất tâm chi nguyên ly hữu vô nhi độc tịnh, Tam Không chi hải dung chơn tục nhi trạm nhiên (夫一心之源離有無而獨淨、三空之海融眞俗而湛然, phàm nguồn nhất tâm lìa xa có không mà thanh tịnh, biển Ba Không dung nhiếp cả chơn tục mà sáng suốt).” Tác phẩm Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 29, phần Thái Bình Hưng Quốc Tam Niên (太平興國三年, năm thứ 3 [978] niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc) có đoạn: “Hữu Tây Vức Pháp Sư Thiên Tức Tai đẳng, thường trì Tứ Nhẫn, tảo ngộ Tam Không, phiên bối diệp chi chơn thuyên, tục nhân thiên chi thánh giáo (有西域法師天息災等、常持四忍、早悟三空、翻貝葉之眞詮、續人天之聖敎, có Pháp Sư Thiên Tức Tai người Tây Vức, v.v., thường hành trì Bốn Nhẫn, sớm giác ngộ Ba Không, phiên dịch kinh điển chân lý, kế tục Trời người Thánh giáo).”
Tam không
xem ba pháp tam-muội.
; 三空; C: sānkōng; J: sankū;|1. Ba loại tính Không được mô tả trong Kim cương tam-muội kinh (金剛三昧經): Tướng không (相空), Không không (空空) và Sở không (所空); 2. Theo Kỉ Hoà trong tác phẩm Ngũ gia giải thoát nghị (五家解説誼; k: o ka hae sǒrǔi) thì Tam không bao gồm Ngã không (我空), Pháp không (法空) và Không không (空空); 3. Ngã không (我空), Pháp không (法空) và Ngã pháp không (我法空), tính không của cả hai, Ngã và Pháp; 4. Không (空), Vô tướng (無相) và Vô nguyện (無願); 5. Trong khi thực hiện hạnh bố thí thì Tam không gồm Tính không của người bố thi, của người nhận và Tính không của vật được bố thí; 6. Vô tính không (無性空), Dị tính không (異性空) và Tự tính không (自性空).
tam không
The three voids or immaterialities, or the threefold of svabhava: (A) 1) Không: Empty—Void. 2) Vô tướng: No-appearance. 3) Vô nguyện: No vow. (B) Svabhava (skt). 1) Ngã không: No-self. 2) Pháp không: All things are empty. 3) Câu không: Tất cả đều không—All phenomena are empty or immaterial. (C) Tam Không trong bố thí Ba La Mật—Three voids in Paramita charity: 1) Không thấy người nhận: No receiver. 2) Không thấy người cho: No giver. 3) Tất cả đều không: All are empty.
Tam khổ
三苦; C: sānkǔ; J: sanku;|Ba loại khổ: 1. Khổ khổ (苦苦): Khổ não khi phải chạm trán những sự việc không hay; 2. Hành khổ (行苦): Khổ não vì sự biến chuyển; 3. Hoại khổ (壞苦): Khổ não vì sự hoại diệt.
tam khổ
Tisro-dukkhatah (S)Khổ-khổ, hoại-khổ, hành-khổ. Khổ-khổ là lúc thân tâm đang chịu thống khổ. Hoại-khổ là cái khổ vì sự vật vui thú bị mất đi. Hành-khổ là cái khổ chuyển biến chẳng yên định. Dục giới có đủ ba khổ; Sắc-giới chỉ có hoại-khổ, hành-khổ; Vô-Sắc-Giới chỉ có hành-khổ Gồm: - khổ khổ: khổ là khổ - hoại khổ: khổ vì hư hoại - hành khổ: lòng khởi nỗi khổ. Khổ có 2 đường: thanh khổ ( hay hạnh khổ, chí nguyện thành đạo tu hành chẳng sá gian khổ) và trược khổ.
; The three kinds of dukkha, pain, or suffering: khổ khổ that produced by direct causes; hoại khổ by loss or deprivation; hành khổ by the passing or impermanency of all things.
; Khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Khổ khổ là lúc thân tâm đang chịu thống khổ; hoại khổ là cái khổ vì sự vật vui thú bị mất đi; hành khổ là cái khổ chuyển biến chẳng yên định. Dục giới có đủ ba khổ; Sắc giới chỉ có hoại khổ, hành khổ; Vô sắc giới chỉ có hành khổ.
; Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại khổ—Chúng sanh mọi loài đều kinh qua ba loại khổ—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three aspects of Dukkha—Three kinds of duhkha (Pain—Sufferings)—All sentient beings experience three types of sufferings: 1) Khổ Khổ Tánh: Dukkha-dukkha (skt)—Khổ gây ra bởi những nguyên nhân trực tiếp hay khổ khổ, gồm những nỗi khổ xác thân như đau đớn, già, chết; cũng như những lo âu tinh thần—Dukkha as ordinary suffering—Suffering due to pain—Suffering that produce by direct causes or suffering of misery, Including physical sufferings such as pain, old age, death; as well as mental anxieties. 2) Hoại Khổ Tánh: Viparinama-dukkha (skt)—Khổ gây ra bởi những thay đổi—Dukkha as produced by change—Suffering due to change—Suffering by loss or deprivation or change. 3) Hành Khổ Tánh: Samkhara-dukkha (skt)—Khổ vì chư pháp vô thường, thân tâm nầy vô thường—Dukkha as conditioned states—Suffering due to formations—Suffering by the passing or impermanency of all things, body and mind are impermanent.
; (三苦) Phạm: Tisro-du#khatà#. I. Tam Khổ. Căn cứ vào tánh chất của khổ mà chia làm 3 loại là Khổ khổ, Hoại khổ và Hành khổ.1. Khổ khổ (Phạm: Du#khadu#khatà): Nỗi khổ bức não thân tâm thuộc các pháp khổ thụ trái ý trong hành uẩn hữu lậu. 2. Hoại khổ (Phạm: Vipariịàmadu#khatà): Cái khổ do các pháp lạc thụ như ý gây ra, nghĩa là các pháp như ý khi sinh thì vui, khi hoại thì dày vò thân tâm làm cho khổ não. 3. Hành khổ (Phạm: Saôskàra- du#khatà): Ngoài các pháp như ý (vui) và trái ý (khổ), các pháp không vui không khổ (xả thụ) còn lại, vì do nhân duyên tạo ra nên khó tránh khỏi sinh diệt đổi dời, bậc Thánh quán thấy điều đó, thân tâm cảm thấy bức não, cho nên gọi Hành khổ.Tất cả các hành hữu lậu đều vô thường, sinh diệt, đổi dời, cho nên đều thuộc về Hành khổ. Do đó, các pháp trái ý có 2 thứ khổ là Khổ khổ và Hành khổ, còn các pháp như ý cũng có 2 thứ khổ là Hoại khổ và Hành khổ. [X. luận Câu xá Q.22; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13]. II. Tam khổ. Chỉ cho 3 loại khổ: Sở thủ khổ, Sự tướng khổ và Hòa hợp khổ trong 4 hành tướng của Khổ đế do tông Duy thức thành lập.1. Sở thủ khổ(cũng gọi Thủ khổ): Do tính Biến kế sở chấp nhận có thực ngã, thực pháp nên tâm năng thủ cảm thấy khổ não.2. Sự tướng khổ(cũng gọi Tướng khổ): Nương vào tính Y tha khởi mà thấy có 3 tướng khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. 3. Hòa hợp khổ: Đối với tính Viên thành thực chấp lấy nghĩa khổ, tức chân như và tất cả khổ của hữu lậu, hữu vi hòa hợp nhau, nên gọi là khổ, nhưng không có thực thể. [X. luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu]. III. Tam Khổ. Chỉ cho 3 cái khổ do 3 cách ăn gây ra, đó là: 1. Giới bất bình đẳng sở sinh bịnh khổ: Nỗi khổ do 4 đại đất, nước, lửa, gió không điều hòa nên sinh bệnh. Đây thuộc về đoạn thực. 2. Dục hi cầu khổ: Cái khổ vì mong cầu, khát vọng. Đây thuộc về Xúc thực. 3. Cầu bất doãn khổ: Cái khổ vì mong cầu không được. Đây thuộc về Ý tư thực. [X. luận Du già sư địa Q.94]. IV. Tam Khổ. Chỉ cho Y nội khổ, Y ngoại khổ và Y thiên khổ do học phái Số luận trong 6 phái triết học ở Ấn độ đời xưa thành lập. 1. Y nội khổ (Phạm: Àdhyàtmikadu#khatà): Chỉ cho các bệnh khổ của thân như cảm mạo, thương hàn và các bệnh khổ của tâm như oán ghét gặp gỡ, thương yêu chia lìa, cầu mong chẳng toại v.v...2. Y ngoại khổ (Phạm:Àdhibhautikadu#khatà): Chỉ cho các nỗi khổ do người đời gia hại, hoặc do thú dữ, rắn độc cắn, hoặc do núi lở, đất chuồi, lụt lội gây ra. 3. Y thiên khổ (Phạm: Adhidaivikadu#khatà): Chỉ cho các khổ do thiên nhiên gây ra như nóng rét, gió mưa, sấm sét...[X. luận Kim thất thập Q.thượng].
tam khổ tướng
xem ba tướng khổ.
tam khổ đối tam giới
(三苦對三界) Thiên thai tứ giáo nghi tập chú đem 3 khổ phối hợp với 3 cõi. 1. Khổ khổ đối Dục giới: Thụ sinh trong 3 cõi đều là khổ, các cảnh cõi Dục bức bách, nỗi khổ ở đây rất nhiều, nên cõi Dục được phối với khổ khổ. 2. Hoại khổ đối Sắc giới: Nỗi khổ phát sinh khi niềm vui tan hoại, gọi là Hoại khổ. Các người trời cõi Sắc tuy được cái vui thiền vị, nhưng khi quả báo đã hết lại phải chịu khổ sinh tử trong 5 đường, nên cõi Sắc được phối hợp với Hoại khổ. 3. Hành khổ đối Vô sắc giới: Trong cõi Vô sắc tuy không có sắc chất ngại, nhưng vì tâm thức hữu lậu sinh diệt biến hóa mà có hành khổ, cho nên cõi Vô sắc được phối với Hành khổ. TAM KHÔNG I. Tam Không. Chỉ cho 3 thứ không do tông Duy thức dựa theo nghĩa của 3 tính Biến kế, Y tha, Viên thành mà lập ra, đó là: 1. Vô tính không(cũng gọi Vô thể không): Tính Biến kế sở chấp đối trước vọng tình tuy có nhưng thực ra thể tính của nó thì không. 2. Dị tính không: Thể tướng của tính Y tha khởi khác với tính Biến kế sở chấp; tuy chẳng phải không vô, nhưng cũng giống như cái do vọng tình chấp trước nên chẳng phải có. 3. Tự tính không: Tính Viên thành thực chính là tự tính của các pháp, hiển bày lí Nhân không và Pháp không. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 15 cũng y cứ vào tự thể của 3 tính Biến kế, Y tha, Viên thành mà lập 3 không: Vô thể không, Viễn li không và Trừ khiển không. [X. luận Biện trung biên Q.trung; luận Trung biên phàn biẽt Q.thượng; Biện trung biên luận thuật kí Q.trung]. II. Tam Không. Căn cứ theo cái chúng sinh chấp trước mà chia Không làm 3 loại: 1. Ngã không (cũng gọi Nhân không): Đối với pháp 5 uẩn cưỡng lập chủ tể, gọi là Ngã chấp; nếu suy tìm trong sắc, thụ, tưởng, hành, thức thì đều không có tự tính, không thấy ngã thể, gọi là Ngã không. 2. Pháp không: Đối với pháp 5 uẩn chấp là có thật, gọi là Pháp chấp, nếu suy tìm trong pháp 5 uẩn thì như huyễn như hóa, đều do nhân duyên sinh, không có tự tính, gọi là pháp không. 3. Câu không: Ngã chấp và Pháp chấp đã trừ, cái không của năng không cũng diệt, Không và Chấp đều mất, khế hợp bản tính, gọi là Câu không. [X. Kim cương kinh sớ luận toản yếu Q.thượng; Kim cương kinh toản yếu san định kí Q.1].
Tam kinh
三經; C: sānjīng; J: sangyō;|Ba bộ kinh được xem là căn bản của mỗi truyền thống Phật giáo. Tam bộ kinh (三部經).
Tam Kinh Nghĩa Sớ
(三經義疏, Sangyōgisho): thư tịch chú thích kinh điển do Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) truyền lại, tên gọi chung của Pháp Hoa Kinh Nghĩa Sớ (法華經義疏) 4 quyển, Thắng Man Kinh Nghĩa Sớ (勝鬘經義疏) 1 quyển và Duy Ma Kinh Nghĩa Sớ (維摩經義疏) 2 quyển. Theo ký lục của thời đại Nại Lương về bộ sách này thì trong Pháp Long Tự Già Lam Duyên Khởi Tinh Lưu Ký Tư Tài Trương (法隆寺伽藍緣起并流記資材帳) có ghi là Thượng Cung Thánh Đức Thái Tử Vương Ngự Chế Giả (上宮聖德太子王御制者); còn trong Thượng Cung Thánh Đức Pháp Vương Đế Thuyết (上宮聖德法王帝說) cũng có ghi là ngự chế sớ kinh 7 quyển của Pháp Hoa, v.v.; và trong Tịnh Danh Huyền Luận Lược Thuật (淨名玄論略述) của Trí Quang (智光, Chikō) cũng như trong Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Chỉ Sự Ký (華嚴五敎章指事記) của Thọ Linh (壽靈, Jurei), v.v., cũng có dẫn dụng những ngôn từ trong bộ Tam Kinh Nghĩa Sớ này. Vào thời Bình An và Liêm Thương thì rất nhiều các học tăng của các tông phái như Tối Trừng (最澄, Saichō), Không Hải (空海, Kūkai), Viên Trân (圓珍, Enchin), Huyền Duệ (元叡, Genei), Trọng Toán (仲算, Chūsan), Trinh Khánh (貞慶, Jōkei), Trừng Thiền (澄禪, Chōzen), Tông Tánh (宗性, Sōshō), v.v., cũng đã có dẫn dụng về bộ luận này. Đặc biệt Ngưng Nhiên (凝然, Gyōnen) đã tiến hành chú thích toàn bộ thư tịch này. Vào năm 1274 thì cả ba bộ sớ này được khắc gỗ và xuất bản. Từ đó trở đi có rất nhiều bản in khắc khác ra đời.
tam kinh nghĩa sớ
(三經義疏) Cũng gọi Tam kinh sớ thích. Gọi chung 3 bộ Pháp hoa nghĩa sớ 4 quyển, Duy ma kinh sớ 3 quyển và Thắng man kinh nghĩa sớ 1 quyển, do Thái tử Thánh đức, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 56. Mục đích của việc tuyển chọn 3 bộ kinh này để giải thích là kinh Pháp hoa thuộc về lí luận Phật giáo, còn kinh Duy ma và Thắng man là sinh hoạt thực tiễn. Thái tử Thánh đức sống đúng vào thời kì sáng lập của Phật giáo Nhật bản; vào thời ấy mà đã có loại chú thích đặc biệt này thì thật rất có ý nghĩa, có thể nói đó là điểm xuất phát của Phật giáo Nhật bản. Cũng có thuyết cho rằng 3 bộ kinh sớ này chưa chắc đã là soạn phẩm của Thái tử.
tam kinh nhất luận
The three sùtras and one sàstra on which the Pure-land sect bases its teaching: Phật thuyết vô lượng thọ kinh, Phật thuyết quán vô lượng thọ kinh, Phật thuyết A di đà kinh; Thiên thân Tịnh độ luận.
; (三經一論) Ba kinh 1 luận. Tức 4 bộ kinh luận mà tông Tịnh độ y cứ. Tam kinh chỉ cho kinh Vô lượng thọ 2 quyển(do ngài Khang tăng khải dịch vào đời Tào Ngụy), kinh Quán vô lượng thọ 1 quyển(do ngài Cương lương da xá dịch vào đời Lưu Tống), và kinh A di đà 1 quyển(do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần). Còn nhất luận thì chỉ cho Vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá nguyện sinh kệ 1 quyển(do Bồ tát Thiên thân soạn, ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy). Ý chỉ trọng yếu của 4 bộ kinh luận này đều nhằm hiển bày giáo pháp vãng sinh Tịnh độ. Tam kinh còn được gọi là Tịnh độ tam bộ kinh.
Tam Kinh Nhất Luận Ngũ Bộ Cửu Quyển
(三經一論五部九巻): các kinh điển thuộc Tịnh Độ Tông. Tam Kinh gồm Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經). Nhất Luận là bộ Vãng Sanh Luận (徃生論) của Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親). Còn Ngũ Bộ Cửu Quyển là từ tổng xưng các trước tác của Thiện Đạo (善導, Zendō, 613-681), gồm: Quán Kinh Sớ (觀經疏) 4 quyển, Pháp Sự Tán (法事讚) 2 quyển, Quán Niệm Pháp Môn (觀念法門) 1 quyển, Vãng Sanh Lễ Tán (徃生禮讚) 1 quyển và Ban Chu Tán (般舟讚) 1 quyển.
tam kinh thông biệt
(三經通別) Chỉ cho nghĩa thông và biệt trong 3 phần Giáo, Hành, Lí, của các kinh. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1, hạ, các kinh do đức Phật nói đều có đủ 3 phần Giáo, Hành và Lí. Ba phần này mỗi phần đều có nghĩa thông và biệt, Biệt hợp với Thông, Thông ứng với Biệt. Cho nên Giáo có thông biệt, nương vào Giáo mà rõ Hành; Hành có thông biệt, từ Hành mà rõ Lí; Lí cũng có thông biệt. 1. Giáo kinh Thông biệt: Tất cả ngôn giáo, do bậc Thánh đối cơ mà giảng nói, vì cơ nghi bất đồng, bộ bộ khác nhau, nên gọi là Giáo biệt; các bộ tuy khác, nhưng nói chung (thông) đều do Phật thuyết, nên gọi là Giáo thông. 2. Hành kinh thông biệt: Hành nghĩa là nương theo giáo mà tu hành. Chúng sinh tu hành bằng nhiều pháp môn, gọi là Hành biệt; pháp môn tuy khác nhưng lí khế hợp thì giống nhau, gọi là Hành thông. 3. Lí kinh thông biệt: Nghĩa lí do tất cả ngôn giáo giải thích, danh tự chẳng phải 1, gọi là Lí biệt; còn lí thì không 2, gọi là Lí thông.
tam kinh tịnh độ
Three Pure Land Sutras: 1) Kinh A Di Đà: Amitabha Sutra. 2) Kinh Vô Lượng Thọ: Longer Amitabha Sutra. 3) Kinh Quán Vô Lượng Thọ: Meditation Sutra.
tam kiên
The three sure or certain things are thân, mệnh and tài. i.e. the reward of the true disciple is an infinite body or personality, an endless life, and boundless (spiritual) possessions, vô cực chi thân, vô cùng chi mệnh, vô tận chi tài.
; The three sure or certain things for the true disciple: 1) Thân sống vô cực: Infinite body or personality. 2) Mạng thọ vô cùng: Endless life. 3) Tài sản vô tận: Boundless sipritual possessions.
tam kiêu
Three intoxications—See Tam Pháp (xxxxxiii).
tam kiêu mạn
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại kiêu mạn—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (searches), there are three kinds of discrimination: 1) Kiêu mạn 'Tôi hơn': The discrimination 'I am superior.' 2) Kiêu mạn 'Tôi bằng': The discrimination 'I am equal.' 3) Kiêu mạn 'Tôi thua': The discrimination 'I am inferior.'
Tam kiến
三見; C: sānjiàn; J: sanken;|Ba kiến ở đây có nghĩa là ba kiến giải sai lầm sau hai tà kiến đầu là Thân kiến (身見) và Biên kiến (邊見), tất cả đều hệ thuộc vào hệ thống Thập hoặc (十惑). Chúng là: Tà kiến (邪見), Kiến thủ kiến (見取見) và Giới cấm thủ kiến (戒禁取見).
Tam kiếp
三劫; C: sānjié; J: sankō;|Ba kiếp, ba giai đoạn rất dài: 1. Là lối viết tắt của Tam a-tăng-kì kiếp (三阿僧祇劫); 2. Trong Chân Ngôn tông, thuật ngữ này chỉ những vướng mắc, trói buộc mù quáng; 3. Ba thời kiếp: Dĩ vãng, hiện tại và tương lai.
tam kiếp
The three asankheya kalpas, the three countless aeons, the period of a bodhisattva's development; also the past trang nghiêm, the present hiền, and the future tinh tú kiếp.
; The three asankhyeya kalpas—The three countless aeons—The periods of a bodhisattva's development: 1) Trang nghiêm kiếp: The past aeon. 2) Hiền kiếp: The present aeon. 3) Tinh túc kiếp: The future kalpa.
; (三劫) I. Tam Kiếp. Chỉ cho 3 đại kiếp: Quá khứ, Hiện tại và Vị lai. Trụ kiếp ở quá khứ gọi là Trang nghiêm kiếp (Phạm: Vỳuha-kalpa), Trụ kiếp ở hiện tại gọi là Hiền kiếp (Phạm: Bhadra-kalpa), Trụ kiếp ở vị lai gọi là Tinh tú kiếp (Phạm: Nakwatra-kalpa). Trong trụ kiếp của mỗi Đại kiếp đều có 1 nghìn đức Phật ra đời, gọi là Tam kiếp tam thiên Phật. Cứ theo kinh Quán dược vương dược thượng nhị bồ tát thì trong Hiền kiếp hiện tại có 1 nghìn đức Phật xuất hiện, từ Phật Câu lưu tôn, Câu na hàm, Ca diếp, Thích ca mâu ni, cho đến cuối cùng là đức Phật Lâu chí; trong kiếp Trang nghiêm ở quá khứ có 1 nghìn đức Phật, bắt đầu từ Phật Hoa quang, cho đến cuối cùng là Phật Tì xá phù; trong kiếp Tinh tú ở vị lai, có 1 nghìn đức Phật ra đời, bắt đầu từ Phật Nhật quang, cho đến sau cùng là đức Phật Tu di tướng... II. Tam Kiếp. Gọi đủ: Tam kiếp hoặc. Cũng gọi Tam vọng chấp. Chỉ cho Thô vọng chấp, Tế vọng chấp, Cực tế vọng chấp. (xt. Tam Vọng Chấp). III. Tam Kiếp. Gọi đủ: Tam a tăng kì kiếp. Khoảng thời gian mà Bồ tát phải trải qua để tu hành từ lúc phát tâm đến thành tựu quả Phật viên mãn. (xt. Tam A Tăng Kì Kiếp).
tam kiếp tam thiên phật
The thousand Buddhas in each of the three kalpas.
tam kiết
Trini-samyojanani (S).
Tam kết
xem Ba kết.
tam kết
Samyoga (skt)—Đức Phật đã nói trong Kinh Niết Bàn: “Này thiện nam tử, Tu Đà Hoàn tuy có thể cắt đứt vô lượng phiền não, nhưng vì ba kết rất nặng nên chúng cũng bao hàm tất cả kết mà Tu Đà Hoàn đã đoạn.”—In the Nirvana Sutra, the Buddha said: “Srota-apanna though has cut off inummerable illusions; however, the three ties are so serious that if he is able to cut off these three ties, he can cut off all other ties: 1) Kiến Kết: Ngã kiến—The tie of false views of permanent ego. 2) Giới Thủ Kết: Silavrataparamarsa (skt)—Giới Cấm Thủ Kết. • Hành tà giới: The tie of wrong discipline. • Chấp vào cái công hạnh phát sinh do sự tuân thủ giới luật đạo đức: Taking hold of the merit accruing from the observance of the rules of morality. 3) Nghi Kết: Nghi ngờ chánh lý—The tie of doubt.
; (三結) Phạm: Trìịi saôyojanàni. Pàli:Tìịi saôyojanàni. Cũng gọi Sơ quả tam kết. Kết chính là Kiến hoặc, chúng sinh do Kiến hoặc này trói buộc nên không thể thoát li sinh tử. Hàng Thanh văn dứt hết Hoặc này thì chứng được Sơ quả Tu đà hoàn, vì thế gọi là Sơ quả tam kết. Tam kết là. 1. Hữu thân kiến kết (Phạm: Satkàyadfwỉi-saôyojana): Đối với pháp năm ấm, chúng sinh chấp lầm làm thân, thường khởi ngã kiến, cưỡng lập chủ tể. Đây là Không cận chướng trong ba pháp Tam ma địa cận chướng, cũng là cội rễ của 62 kiến thú. Vì các kiến thú là căn bản của dư phiền não, dư phiền não là gốc của nghiệp, các nghiệp lại là gốc của quả Dị thục; nương vào quả Dị thục thì tất cả pháp thiện, bất thiện, vô kí đều được sinh trưởng, cho nên cần phải đoạn trừ. 2. Giới cấm thủ kết (Phạm:Zìlavra= taparàmarza-saôyojana): Chỉ cho việc thực hành các tà giới. Đây là Vô nguyện cận chướng trong ba pháp Tam ma địa cận chướng; chẳng hạn những người ngoại đạo đối với điều chẳng phải giới lại lầm tưởng là giới, như giữ giới bò(ăn cỏ), giới chó(ăn phân)... 3. Nghi kết (Phạm: Vicikitsàsaôyojana): Tức nghi ngờ chính lí, mê tâm trái lí, không tin sâu chính pháp. Đây là Vô tướng cận chướng trong 3 pháp Tam ma địa cận chướng. Tam kết trên đây là quan trọng nhất trong Kiến hoặc, cho nên được dùng làm tên chung cho Kiến hoặc, nếu đoạn được 3 kết này thì chứng quả Dự lưu, không còn trở lui, nhất định tiến tới Bồ đề. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.16; luận Đại tì bà sa Q.46; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần cuối].
Tam kết phược
xem Ba kết.
tam kết sử
ba sự trói buộc và sai sử nằm trong ngũ hạ kết, bao gồm sự trói buộc do quan điểm sai lầm, trói buộc vì sự nghi ngờ và trói buộc vì giữ theo tà giới.
Tam Kỳ
(三祇, Sangi): hay còn gọi là Tam A Tăng Kỳ Kiếp (三阿僧祇劫), Tam Đại A Tăng Kỳ Kiếp (三大阿僧祇劫), Tam Đại Tăng Kỳ (三大僧祇). A Tăng Kỳ Kiếp (s: asaṅkhyeya-kalpa, p: asaṅkheyya-kappa, 阿僧祇劫) có nghĩa là số lượng kiếp (thời gian vĩnh hằng) quá lớn đến nỗi không thể nào đếm được, và gấp lên ba lần như vậy được gọi là Tam A Tăng Kỳ Kiếp. Vị Bồ Tát từ khi bắt đầu phát tâm bồ đề cho đến khi thành Phật cần phải trải qua tu hành trong khoảng thời gian Tam A Tăng Kỳ Bách Đại Kiếp (三阿僧祇百大劫, tức ba kỳ và trăm kiếp lớn). Vị Bồ Tát đang tu hành 50 vị, trong A Tăng Kỳ Kiếp đầu tiên, cần phải tu tập 40 vị gồm Thập Tín (十信), Thập Hạnh (十行), Thập Trụ (十住), Thập Hồi Hướng (十回向); trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ hai thì cần tu từ Sơ Địa cho đến Địa Thứ Bảy trong Thập Địa (十地); trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ ba thì cần tu từ Địa Thứ Tám cho đến Địa Thứ Mười. Sau khi tu hạnh Ba La Mật trãi qua Ba A Tăng Kỳ Kiếp, trong thời gian trăm đại kiếp, vị Bồ Tát cần phải tu hành thêm nữa để đạt đến 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經, Taishō No. 366) có giải thích về vị giáo chủ cõi Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂) như sau: “Hựu Xá Lợi Phất ! Bỉ Phật thọ mạng cập kỳ nhân dân, vô lượng vô biên A Tăng Kỳ Kiếp, cố danh A Di Đà (又舍利弗、彼佛壽命及其人民、無量無邊阿僧祇劫、故名阿彌陀, Lại nữa Xá Lợi Phất ! Thọ mạng và nhân dân của đức Phật kia vô lượng vô biên không thể tính đếm được, nên được gọi là A Di Đà).” Hay như trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) có đoạn: “A Tăng Kỳ Kiếp giả, tức Tam Độc tâm dã, cố ngôn A Tăng Kỳ; Hán danh bất khả số; thử Tam Độc tâm, ư trung hữu Hằng sa ác niệm, ư nhất nhất niệm trung, giai vi nhất thiết, như thị Hằng sa bất khả số dã; cố ngôn Tam Đại A Tăng Kỳ; chơn như chi tánh, ký bị Tam Độc chi sở phú cái; nhược bất siêu bỉ tam đại Hằng sa độc ác chi tâm, vân hà danh vi giải thoát (阿僧祇劫者、卽三毒心也、胡言阿僧祇、漢名不可數、此三毒心、於中有恆沙惡念、於一一念中、皆爲一劫、如是恆沙不可數也、故言三大阿僧祇、眞如之性、旣被三毒之所覆蓋、若不超彼三大恆沙毒惡之心、云何名爲解脫, A Tăng Kỳ Kiếp tức là tâm có Ba Độc; nên gọi là A Tăng Kỳ; Tàu gọi là không thể tính đếm được; tâm có Ba Độc này, trong đó có niệm ác nhiều như sông Hằng; trong mỗi một niệm đều có tất cả, như vậy cát sông Hằng không thể nào tính đếm được; nên có tên là Ba A Tăng Kỳ Kiếp Lớn; tánh của chơn như, đã bị Ba Độc che lấp, nếu không vượt qua tâm ác độc lớn như cát sông Hằng, thế nào gọi là giải thoát đây).”
tam kỳ bách (đại) kiếp
The period necessary for a bodhisattva to become a Buddha, i.e. three asankhyeyas to attain the lục độ and 100 kalpas to acquire the thirty-two tướng or characteristic marks of a Buddha.
tam kỳ mạt kiếp
(三期末劫) Tiếng dùng trong tông giáo dân gian ở đời Minh, Thanh tại Trung quốc. Thế giới được chia làm 3 thời kì, các tông giáo dân gian chủ trương trải qua hết kiếp mạt ở cuối thời kì thứ 2 thì sẽ tiến vào thế giới lí tưởng của thời kì thứ 3. Hoằng dương giáo gọi 3 thời kì này là Thanh dương, Hồng dương, Bạch dương. Viên đốn giáo gọi là Long hoa tam hội, tức Long hoa sơ hội, Nhị hội, Tam hội, theo thứ tự đại biểu cho quá khứ, hiện tại và vị lai. (xt. Viên Đốn Giáo).
tam kỳ đặc
The three incomparable kinds of rareness. 1) Thần Thông Kỳ Đặc: Thần lực kỳ đặc hóa độ chúng sanh—Incomparable kinds of power to convert all beings. 2) Huệ Tâm Kỳ Đặc: Trí huệ Phật—Buddha wisdom. 3) Nhiếp Thọ Kỳ Đặc: Phật lực có khả năng lôi kéo và cứu độ chúng sanh—Buddha-power to attract and save all beings.
Tam li dục
三離欲; C: sānlíyù; J: sanriyoku;|Ba dạng li dục. Theo Du-già sư địa luận thì Tam li dục bao gồm: 1. Vị li dục (未離欲), chưa rời bỏ dục vọng; 2. Bội li dục (倍離欲), thoát khỏi khát vọng gấp đôi bình thường và 3. Dĩ li dục (已離欲), đã thoát khỏi dục vọng hoàn toàn.
tam liễu tri
Theo Thanh Tịnh Đạo, có ba loại Liễu Tri—According to The Path of Purification, there are three kinds of Full-Understanding. 1) Sở Tri Liễu Tri: Trí trong ý nghĩa hiểu biết—Full understanding as the known. Understanding that is direct-knowledge is knowledge in the sense of the known 2) Suy Đạt Liễu Tri: Tuệ với tư cách liễu tri gọi là trí trong ý nghĩa phê phán—Full understanding as investigating or judging. Whatever states are fully-understod are judged. 3) Đoạn Trừ Liễu Tri: Trí theo ý nghĩa từ bỏ—Full understanding as abandoning.
tam loại cường địch
(三類强敵) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho 3 loại người mang tâm thù địch hoặc bức hại những hành giả kinh Pháp hoa, đó là: 1. Người thế tục tà ác, cũng gọi những người tục tăng thượng mạn. 2. Những tì khưu tà trí, cũng gọi Đạo môn tăng thượng mạn. 3. Những tì khưu đội lốt, giả danh thánh nhân, cũng gọi Tiếm thánh tăng thượng mạn.Tổ khai sáng tông Nhật liên là ngài Nhật liên cho rằng chỉ có những người bị 3 loại cường địch bức hại nơi thân thì mới là chứng cứ biểu thị chính mình là hành giả Pháp hoa. Còn đối với các hành giả tông Nhật liên mà nói thì loại cường địch thứ nhất tương đương với các quan lại của Mạc phủ, loại thứ hai là các tăng lữ thuộc tông Chân ngôn, tông Tịnh độ; loại thứ 3 là chư tăng thuộc Thiền tông và Luật tông.
Tam loại cảnh
三類境; C: sān lèijìng; J: san ruikyō;|»Ba loại cảnh giới«. I. Theo thuyết Duy thức (唯識), các cảnh giới tâm thức được phân loại tuỳ theo bản chất của chúng. Bao gồm: 1. Tính cảnh (性境): Cảnh giới xuất phát từ những chủng tử trong A-lại-da thức; 2. Độc ảnh cảnh (獨影境): là những cảnh giới xuất phát một cách tạm thời từ một quan điểm chủ quan; và 3. Đái chất cảnh (帶質境): Cảnh giới hiển hiện tuỳ thuộc vào cả hai trường hợp vừa nêu trên.
tam loại cảnh
(三類境) I. Tam Loại Cảnh. Cũng gọi Tam loại, Tam cảnh. Chỉ cho 3 loại cảnh do tông Pháp tướng căn cứ vào tính chất của cảnh sở duyên mà thành lập, đó là: 1. Tính cảnh: Chỉ cho cảnh chân thực. Cảnh này tự giữ lấy tính chất của nó, không theo tâm. Tức chỉ cho cảnh có đầy đủ thể tính và tác dụng chân thực và do chủng tử thật sinh khởi. Nó bao gồm tướng phần(chủng tử, ngũ căn, khí thế gian) của thức thứ 8, tướng phần của 5 thức trước và Ngũ câu ý thức(đồng thời sinh khởi với bất cứ thức nào trong 5 thức trước). Cảnh này có 3 thứ Bất tùy tâm(chẳng theo tâm) a. Tính bất tùy: Kiến phần năng duyên chung cả 3 tính thiện, bất thiện và vô ký, tướng phần sở duyên chỉ có tính vô kí, tính Bất tùy năng duyên chung cả 3 tính. b. Chủng bất tùy: Kiến phần từ Tự kiến phần sinh ra, Tướng phần cũng từ Tự tướng phần sinh ra chứ không theo chủng tử năng duyên sinh ra. c. Hệ bất tùy: Hệ chỉ cho giới địa hệ (nơi chỗ trói buộc). Nghĩa là giới địa hệ của cảnh sở duyên không theo tâm năng duyên. Như 5 thức trước, thức thứ 8 và Ngũ câu ý thức, khi duyên theo 5 trần của tự giới, thì tướng phần và năng duyên tuy là Dục giới hệ, nhưng 5 trần sở duyên chẳng phải theo năng duyên để trở thành Dục giới hệ. 2. Độc ảnh cảnh: Độc là khác với bản chất; ảnh là bóng dáng, tức tướng phần. Nghĩa là cảnh do vọng phân biệt nương vào tâm năng duyên mà biến sinh ra, chỉ là bóng dáng chứ không có bản chất. Như lông rùa, sừng thỏ, hoa đốm... do thức thứ 6 vọng phân biệt mà biến ra, toàn thuộc ảo ảnh. Cảnh này có 3 thứ tùy tâm: a. Tính tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên cùng chung 1 tính. b. Chủng tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên từ cùng 1 chủng tử sinh ra. c. Hệ tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên cùng chung 1 giới hệ. 3. Đới chất cảnh: Đới chất là bản chất kiêm đới. Nghĩa là tâm năng duyên duyên theo cảnh sở duyên, tướng phần của nó có bản chất làm chỗ nương chứ không có tự tướng của cảnh. Cảnh này do năng lực của tâm và cảnh hợp thành, ở khoảng giữa Tính cảnh và Độc ảnh cảnh. Như tướng phần hiển hiện khi thức thứ 7 duyên theo kiến phần của thức thứ 8 và thức thứ 6 truy tưởng hình tượng của quá khứ. Cảnh này có 3 thứ Thông tình bản(Tình là kiến phần năng duyên; bản là bản chất). a. Tính thông tình bản: Như khi kiến phần của thức thứ 7 duyên theo kiến phần của thức thứ 8 thì tướng phần được biến hiện ra không khác loại, nhưng 1 nửa cùng loại với bản chất và một nửa cùng loại với kiến phần năng duyên, nếu từ bản chất sinh thì là tính vô phú vô kí, còn nếu từ kiến phần năng duyên sinh thì là tính hữu phú vô kí, tính ấy bất định. b. Giới thông tình bản(cũng gọi Hệ thông tình bản): Giới địa của tướng phần này chung với giới địa hệ của bản chất và kiến phần mà là bất định. c. Chủng thông tình bản: Chủng tử của tướng phần này cũng tùy theo bản chất và kiến phần mà bất định. Tên gọi của 3 loại cảnh tuy trong các kinh không thấy ghi chép, nhưng về vấn đề Tướng phần và Kiến phần là cùng loại hay khác loại thì ở Ấn độ đã có các thuyết khác nhau, đến thời Ngài Huyền trang thì thuyết của ngài Hộ pháp được dùng làm chính nghĩa, ngài làm ra bài tụng truyền cho đệ tử là sư Khuy cơ như sau (Đại 43, 633 trung): Tính cảnh bất tùy tâm Độc ảnh duy tòng kiến Đới chất thông tình bản Tính chủng đẳng tùy ứng. Sau, ngài Khuy cơ giải thích rằng: Tướng phần do khác loại sinh ra là Tính cảnh, Tướng phần do cùng loại sinh ra là Độc ảnh cảnh và Tướng phần do cả 2 cùng loại và khác loại sinh ra là Đới chất cảnh. [X.Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4, phần cuối; Bách pháp vấn đáp sao Q.2]. II. Tam Loại Cảnh. Chỉ cho 3 loại cảnh mà thức A lại da thứ 8 duyên theo, đó là: 1. Chủng tử cảnh: Thức thứ 8 có khả năng nắm giữ chủng tử của tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, nên gọi là Chủng tử cảnh. 2. Căn thân cảnh: Thức thứ 8 là tâm tròn sáng rõ suốt, phát khởi tướng trần lao trong, ngoài; từ 1 tâm tròn sáng lặng lẽ, chia ra căn trần, tụ tập 4 đại bên trong làm thân phần, cho nên gọi là Căn thân cảnh. 3. Khí thế gian cảnh: Từ thức thứ 8 chuyển tướng mà thành hiện tướng, tức các cảnh giới núi sông, đất đai..., vì vậy gọi là khí thế gian cảnh.
tam luân
The three wheels: (1) The Buddha's (a) body or deeds; (b) mouth or discourses; (c) mind or ideas. (2) (a) thần thông (or biến) his supernatural powers, or powers of self transformation, associated with thân body; (b) ký tâm luân his discriminating understanding of others, associated with ý mind; (c) giáo thành luân or chính giáo luân his (oral) powers of teaching, associated with khẩu mouth. (3) Similarly (a) thần túc luân; (b) thuyết pháp luân; (c) ức niệm luân. (4) hoặc, nghiệp and khổ. The wheel of illusion hoặc produces karma nghiệp, that of karma sets rolling that of suffering khổ, which in turn sets rolling the wheel of illusion. (5) (a) impermanence vô thường; (b) uncleanness bất tịnh; (c) suffering khổ.
; The three-wheel. (A) 1) Thân Phật: Buddha's body or deeds. 2) Khẩu Phật: Buddha's mouth or discourses. 3) Tâm Phật: Buddha's mind or ideas. (B) 1) Thần Thông Luân: Buddha's supernatural powers, or powers of bodily self-transformation, associated with his body. 2) Ký Tâm Luân: Buddha's discriminating understanding of others, asociated with his mind. 3) Giáo Giới Luân: Buddha's oral powers of teaching, associated with his discourses or speech. (C) Bánh xe phiền não sanh nghiệp, nghiệp sanh khổ đau, và khổ đau lại sanh phiền não. Ba bánh xe này luân chuyển không ngừng nghỉ—The wheel of illusion produces karma, that of karma sets rolling that of suffering, which in turn sets rolling the wheel of illusion. These three wheels are in constant revolution 1) Hoặc Luân: The wheel of Delusions. 2) Nghiệp Luân: The wheel of Karma. 3) Khổ Luân: The wheel of Suffering. (D) 1) Vô Thường Luân: The wheel of Impermanence. 2) Bất Tịnh Luân: The wheel of Impurity. 3) Khổ Luân: The wheel of Distress.
; (三輪) I. Tam luân. Chỉ cho 3 lớp vật chất cấu tạo thành khí thế giới. Đó là: 1. Phong luân (Phạm: Vàyumaịđala), cũng gọi phong giới: Lúc mới đầu thành lập khí thế giới, do nghiệp lực chung của loài hữu tình, nương tựa vào hư không mà sinh ra phong luân ở dưới cùng. 2. Thủy luân (Phạm: Jala-maịđala), cũng gọi Thủy giới: Do nghiệp lực tăng thượng của hữu tình mà nổi lên trận mây mưa lớn, trút xuống trên lớp phong luân, tích chứa nước thành lớp thủy luân. 3. Kim luân (Phạm: Kàĩcanamaịđala), cũng gọi Kim tính địa luân, Địa luân, Địa giới: Do sức nghiệp của hữu tình va đập vào thủy luân mà kết thành vàng (kim) trên thủy luân. Tam luân trên đây có thể được xem là Vũ trụ luân (cosmologie) của Phật giáo. Ngoài Tam luân cấu thành Khí thế giới, trên Kim luân lại hình thành thế giới hiện thực.[X. kinh Trường a hàm Q.18; kinh Tăng nhất a hàm Q.37; kinh Khởi thế Q.1; kinh Đại lâu thán Q.1; luận Câu xá Q.11; luận Lập thế a tì đàm Q.1]. (xt. Đại Địa Tứ Luân, Tu Di Sơn). II. Tam Luân. Dùng bánh xe báu của vua Chuyển luân thánh vương để ví dụ tác dụng thù thắng của 3 nghiệp thân, khẩu, ý của Như lai. Đó là: 1. Thần biến luân(cũng gọi Thần thông luân, Thân luân): Hiển hiện thần thông, biến hóa ra những cảnh thù thắng, khác lạ để khiến chúng sinh phát tín tâm. 2. Giáo giới luân(cũng gọi Thuyết pháp luân, Khẩu luân): Phật diễn nói giáo pháp khiến chúng sinh phát tín tâm bỏ tà về chính. 3. Kí tâm luân(cũng gọi Ức niệm luân, Ý luân): Khi đức Phật nói pháp, trước hết Ngài dùng ý luân để xét biết căn cơ lợi độn của chúng sinh hầu tùy nghi diễn giảng, không phạm sai lầm. Tam luân trên đây có ý nghĩa giống với Tam thị hiện, Tam chủng thị đạo. [X. kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.6; luận Du già sư địa Q.27, 37; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6, phần cuối]. (xt. Tam Chủng Thị Đạo). III. Tam Luân. Chỉ cho sự vô thường, bất tịnh và khổ nãotrong thế gian. Ba thứ này giống như bánh xe (luân) quay vòng không ngừng, không đầu không cuối, cho nên ví dụ như bánh xe mà gọi là Vô thường luân, Bất tịnh luân và Khổ luân. [X. lời tựa trong A di đà kinh thông tán sớ; Vãng sinh yếu tập Q.1, thượng]. IV. Tam Luân. Gọi đủ: Tam chuyển pháp luân. Ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận chia giáo pháp của đức Phật làm 3 pháp luân là: Căn bản pháp luân, Chi mạt pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp luân. (xt. Tam Chuyển Pháp Luân). V. Tam Luân. Gọi đủ: Tam pháp luân. Sự thuyết pháp của đức Phật có 3 ý nghĩa: Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì pháp luân, gọi là Tam pháp luân.(xt. Tam pháp luân). VI. Tam Luân. Chỉ Thí giả(người bố thí), Thụ giả(người nhận của bố thí) và Thí vật(vật dùng để bố thí)... Khi người thực hành pháp bố thí, nếu trụ nơi Không quán thì không chấp trước vào 3 thứ này, gọi là Tam luân thể không, Tam luân thanh tịnh, Tam sự giai không. (xt. Tam Luân Tướng). VII. Tam Luân. Theo thứ tự từ quả hướng tới nhân trong Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, thì có thể chia sự giáo hóa lợi sinh của đức Đại nhật Như lai làm 3 thứ là: Tự tính luân thân, Chính pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. (xt. Tam Luân Thân). TAM LUÂN GIÁO I. Tam Luân Giáo. Chỉ cho Tam luân giáo do ngài Chân đế căn cứ vào kinh Kim quang minh mà thành lập vào đời Lương. Đó là: 1. Chuyển pháp luân: Sau khi thành đạo, trong 7 năm đầu, đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế của Tiểu thừa. 2. Chiếu pháp luân: Sau 7 năm đó, đức Phật nói các bộ Bát nhã để hiển bày lí không, dùng Không chiếu rọi Hữu, nên gọi là Chiếu pháp luân. 3. Trì pháp luân: Sau 30 năm, đức Phật nói kinh Giải thâm mật... giảng về Không, Hữu để giữ gìn Chuyển pháp luân và Chiếu pháp luân nên gọi là Trì pháp luân.[X. Hoa nghiêm Huyền đàm Q.4]. II. Tam Luân Giáo. Chỉ cho 3 thứ pháp luân do Đại sư Gia tường Cát tạng y cứ vào phẩm Tín giải kinh Pháp hoa mà thành lập, đó là: 1. Căn bản pháp luân: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Kinh này chỉ vì hàng Bồ tát mà mở bày pháp môn 1 nhân 1 quả. 2. Chi mạt pháp luân: Chỉ cho các kinh Tiểu thừa như A hàm, cho đến các kinh Đại thừa như Phương đẳng, Bát nhã... Trong các kinh này, vì những người độn căn không kham nổi pháp môn 1 nhân 1 quả, nên đức Phật chia Nhất Phật thừa làm Tam thừa giáo. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân: Chỉ cho kinh Pháp hoa. Tức đưa Tam thừa về Nhất Phật thừa. [X. Pháp hoa du ý Q.thượng]. III. Tam Luân Giáo. Chỉ cho 3 pháp luân do ngài Huyền trang y cứ vào kinh Giải thâm mật và luận Du già mà thành lập. Đó là: 1. Chuyển pháp luân: Chỉ cho Hữu giáo của các kinh Tiểu thừa thời kì đầu. 2. Chiếu pháp luân: Chỉ cho Không giáo của kinh Bát nhã thới kì thứ hai. 3. Trí pháp luân: Chỉ cho Trung đạo giáo của kinh Giải thâm mật... ở thời kì thứ ba. Đây là Tam thời giáo của tông Pháp tướng. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4].
tam luân giáo
The three periods of the Buddha's teaching as defined by Paramàrtha chân đế: (a) chuyển pháp luân the first rolling onwards of the law-wheel, the first seven years teaching of Hìnayàna, i.e. tứ đế, and không; (b) chiếu pháp luân illuminating or explaining the law-wheel, the thirty years teaching of the bát nhã prajnà or wisdom sùtras, illuminating không, and by không illuminating hữu reality; (c) trì pháp luân maintaining the law-wheel, i.e. the remaining years of teaching of the deeper truths of không hữu both unreality and reality. Also the three-fold group of the Lotus schhol: (a) căn bản pháp luân radical or fundamental, as found in Hoa Nghiêm sùtra; (b) chi mạt pháp luân branch and leaf, i.e. all other teaching; until (c) nhiếp mạt qui bản pháp luân branches and leaves are reunited with the root in the Lotus sùtra Pháp hoa kinh.
; The three periods of the Buddha's teaching: 1) Chuyển Pháp Luân: The first rolling onwards of the Law-wheel, the first years teaching of Hinayana, four axioms (Tứ Đế) and unreality (Không). 2) Chiếu Pháp Luân: Illuminating or explaining the law-wheel, the thirty years teaching of the Prajna (Bát Nhã) or Wisdom Sutras. 3) Trì Pháp Luân: Maintaining the law-wheel, the remaining years of teaching of the deeper truths of both unreality (Không) and reality (Hữu).
tam luân hóa đạo
Three sovereign powers for converting others: 1) Thần biến: Do thân nghiệp của Đức Phật hiện đủ loại thần biến, khiến chúng sanh khởi chánh tín—Supernatural transformation (thân: physical). 2) Ký tâm: Dùng ý nghiệp của Đức Phật phân biệt được tâm hành sai biệt của kẻ khác (thức biệt tha tâm)—Memory or knowledge of all the thoughts of all beings (ý: mental). 3) Giáo giới: Dùng khẩu nghiệp của Đức Phật để răn dạy chúng sanh khiến họ tu hành—Teaching and warning.
tam luân thân
(三輪身) Cũng gọi Tam chủng luân thân, Tam luân.Chỉ cho 3 thứ luân thân: Tự tính luân thân, Chính pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo được chia làm 2 thứ lớp từ quả hướng đến nhân và từ nhân hướng đến quả. Về thứ lớp từ quả hướng đến nhân, sự giáo hóa làm lợi ích chúng sinh của đức Đại nhật Như lai, từ Bản địa đến Thùy tích có thể theo thuận tự chia làm 3 thứ, tức là vì cứu độ chúng sinh mà đức Đại nhật Như lai phương tiện hiện ra các hình tướng Bồ tát, Minh vương... theo thứ tự chia làm 3 loại:1. Tự tính luân thân: Tức Đại nhật Như lai dùng Phật thể của tự tính bản địa để giáo hóa làm lợi ích chúng sinh. 2. Chính pháp luân thân: Tức Đại nhật Như lai là hiển hiện thân Bồ tát tuyên giảng chính pháp để giáo hóa làm lợi ích chúng sinh.3. Giáo lệnh luân thân: Tức Đại nhật Như lai hiển hiện tướng phẫn nộ (tướng của Minh vương Bất động) để giáo hóa những chúng sinh ương ngạnh khó cứu độ.Tam luân thân trên đây còn gọi là Tam thân, Tam thân cũng có thể dùng cho Ngũ Phật, Ngũ Bồ tát, Ngũ đại Minh vương...
tam luân thế giới
The three wheel world, i.e. phong, thủy, kim luân. Every world is founded on a wheel or whirling wind; above this is one with water; above this is one with metal, on which its nine mountains and eight seas are formed.
; The Three-Wheel world.
tam luân thể không
Nói về việc bố thí: kẻ bố thí, kẻ nhận bố thí, tài vật để bố thí, gọi chung là Tam luân. Thí mà chẳng trụ nơi thí gọi là Tam luân thể không.
; (三輪體空) Thể của 3 luân là Không. Tức là khi thực hành pháp bố thí, Bồ tát phải thấu suốt thể của người bố thí, người nhận sự bố thí và vật dùng để bố thí đều là không để phá trừ tướng chấp trước. 1. Thí không: Người bố thí thấu rõ thân mình vốn không, đã biết thân ta là không thì không có tâm mong cầu phúc báo.2. Thụ không: Đã thấu suốt vốn không có người bố thí thì cũng chẳng có người nhận sự bố thí, vì thế không sinh ý tưởng kiêu mạn. 3. Thí vật không: Vật tức là tiền bạc, của cải, vật báu... đã thấu suốt tất cả đều không thì tài vật dùng để bố thí cũng là không, do đó không sinh tâm tham lam hối tiếc. [X. Năng đoạn kim cương bát nhã ba la mật đa kinh thích Q.thượng]. (xt. Tam Luân Tướng). TAM LUÂN TƯỚNG Ba tướng luân. Chỉ cho người bố thí, người nhận sự bố thí và vật để bố thí. Tướng Tam luân tồn tại trong ý tưởng gọi là Hữu tướng tam luân. Diệt Tam luân này, trụ nơi vô tâm mà thực hành pháp bố thí thì đó là Thí ba la mật tam luân thanh tịnh. Theo Kim cương bát nhã ba la mật kinh chú giải, người đời làm việc bố thí tâm mong cầu quả báo, đó là trước tướng; nhưng Bồ tát tu hành bố thí thì thấu suốt Tam luân thể không, nên không chấp tướng. Pháp giới thứ đệ quyển hạ (Đại 46, 686 trung) nói:Nếu khi thực hành bố thí mà thấy người thí, người nhận và vật thí đều là không, bất khả đắc, thì vào được Thực tướng chính quán. Cho nên Tam luân tướng có chia ra thô và tế. Tự thân người bố thí khởi tâm kiêu mạn, đối với người nhận sự bố thí thì có ý nghĩ yêu ghét, đối với vật bố thí thì sinh tâm hối tiếc, đó là Tam luân tướng thô, chưa đạt được lí vạn pháp như huyễn. Còn người chấp thực ngã, thực pháp mà bố thí thì là Tam luân tướng tế. [X. kinh Đại bát nhã ba la mật Q.192]. (xt. Tam Luân Thể Không).
tam luân tướng
The three-wheel condition -giver, receiver, gift.
Tam luận
三論; C: sānlùn; J: sanron;|Ba bộ luận. Chỉ ba bộ luận quan trọng, được xem là cơ sở của một tông phái Phật giáo Trung Quốc có cùng tên: Tam luận tông (三論宗). Ba bộ luận này là 1. Trung quán luận (中觀論), 2. Thập nhị môn luận (十二門論) với tác giả là Long Thụ (龍樹) và 3. Bách luận (百論) của Thánh Thiên (聖天). Cả ba bộ luận này được Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch sang Hán văn. Tông Tam luận góp phần quan trọng trong lĩnh vực luận lí Tính không. Trung quán luận dạy Tám phủ định (Bát bất 八不): Bất sinh bất diệt, bất thường bất đoạn, bất nhất bất nhị, bất lai bất xuất (不生不滅,不常不斷,不一不異,不來不出). Tám phủ định này được dùng để đả phá tất cả những khái niệm, tất cả những quan điểm về Hữu, Vô, và như vậy thì ý nghĩa của »Trung đạo« nằm ở chỗ: Tất cả các pháp đều được xem là tồn tại, nhưng lại không mang một bản chất, một tự ngã nào. Thập nhị môn luận giảng giải Tính không của tất cả các pháp trong mười hai chương, và Bách luận giảng giải Tính không để đả phá luận cứ của những triết gia ngoại đạo.|Cưu-ma-la-thập truyền ba bộ luận này đến ba đại đệ tử của mình là Đạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇) và Tăng Lãng (僧朗). Tăng Lãng là người nhấn mạnh sự khác biệt của tông Tam luận và tông Thành Thật và vì vậy, có thể được xem là người sáng lập tông môn Tam luận đích thật. Trong thế kỉ thứ 6, những đại biểu quan trọng nhất là Pháp Lãng (法朗), Cát Tạng (吉藏) và lúc này cũng là thời hoàng kim của giáo lí Tam luận. Trong thế kỉ thứ 7, giáo lí Tam luận được truyền sang Hàn Quốc bởi Huệ Quán (慧觀), một đệ tử của Cát Tạng. Sau khi tông Pháp Tướng xuất hiện, tông Tam luận ngày càng rơi vào quên lãng.
tam luận
(三論) Chỉ cho luận Trung quán 4 quyển, luận Thập nhị môn 1 quyển của ngài Long thụ và Bách luận 2 quyển của ngài Đề bà. Ba bộ luận này đều là điển tịch trọng yếu của tông Tam luận và đều do ngài Cưu ma la thập dịch. 1. Luận Trung quán: Trung quán là quán chiếu sự thực; Luận là tận cùng lời nói. Vì nội tâm người tu hành bị dính mắc mê hoặc mà sinh ra tà kiến điên đảo, hoặc chấp thiên ngộ, phải dùng lí trung đạo để chiết phục, khiến họ lìa bỏ tướng 2 bên, cho nên gọi là Trung quán. 2. Bách luận: Sau Phật nhập diệt hơn 800 năm, ngoại đạo rối ren, dị đoan tranh nhau nổi dậy, tà biện bức ngặt, làm loạn chính đạo, cho nên ngài Đề bà làm ra luận này, nêu rõ tông nghĩa để chặn đứng tà bậy. Bộ luận này có 100 bài kệ, vì thế gọi là Bách luận. 3. Thập nhị môn luận: Môn là mở rộng thông thoáng, Luận là cùng nguồn hết lí. Bắt đầu bằng Quán nhân duyên môn và kết thúc với Sinh môn, tất cả gồm 12 môn, nên gọi là Thập nhị môn luận. Về lí do tại sao gọi chung là Tam Luận thì trong Tam luận huyền nghĩa có nêu ra 8 nghĩa để nói rõ như sau: 1. Mỗi luận đều có 3 nghĩa: Phá tà, hiển chính và ngôn giáo. 2. Ba luận hợp chung lại mới đủ 3 nghĩa: Như Trung luận nói rõ về lí được hiển bày, Bách luận phá dẹp tà chấp, còn Thập nhị môn luận là ngôn giáo. Vì 3 nghĩa này bổ xung cho nhau mà được thành tựu nên gọi là Tam luận. 3. Ba bộ gồm đủ ba phẩm thượng, trung, hạ: Tức Trung luận là quảng luận, Bách luận là thứ luận và Thập nhị môn luận là lược luận. 4. Tất cả kinh luận có 3 hình thức: Một là luận chỉ có kệ tụng(văn vần), hai là luận chỉ có trường hàng(văn xuôi), ba là luận vừa có kệ tụng vừa có trường hàng. Trong ba loại này thì Trung luận thuộc loại thứ nhất, Bách luận thuộc loại thứ hai và Thập nhị môn luận thuộc loại thứ ba. Ba luận này tuy mỗi luận đều khai diễn thuyết của riêng mình, nhưng lại cũng hoàn thành lẫn nhau. 5. Cùng là Đại thừa thông luận: Ba luận đều phá sự mê chấp của các bộ phái Tiểu thừa, thuyết minh cả Đại thừa giáo và Tiểu thừa giáo. 6. Ba luận đều hiển bày thực tướng bất nhị để giải thích rõ diệu lí Trung đạo. 7. Đều là trứ tác của Bồ tát. 8. Đều được soạn thuật vào thời đại tượng, mạt nhằm duy trì đại pháp và diễn giải nghĩa của các kinh. Tông Tứ luận (chi phái của tông Tam luận) thêm luận Đại trí độ vào ba luận nói trên hợp chung làm 4 luận và lấy đó làm yếu điểm y cứ. Có rất nhiều sách chú thích các luận trên đây, nhưng chỉ có bộ Tam luận sớ (16 quyển) của ngài Cát tạng là nổi tiếng hơn cả. [X. Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Thập Nhị Môn Luận, Trung Luận, Tứ Luận Tông, Bách Luận).
Tam luận huyền nghĩa
三論玄義; C: sānlùn xuányì; J: sanron gen-gi;|»Ý nghĩa sâu sắc của Tam luận«, một tác phẩm của Cát Tạng (吉藏).
tam luận huyền nghĩa
(三論玄義) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này trình bày 1 cách khái quát về đại nghĩa của ba bộ Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận mà tông Tam luận y cứ, là sách cương yếu ngắn gọn, sáng sủa nhất của tông Tam luận, đồng thời, cũng là sách nhập môn để hiểu rõ tư tưởng Trung quán của ngài Long thụ. Sách này chia làm 2 môn: Thông tự đại qui và Biệt thích chúng phẩm. Môn Thông tự đại qui lại chia ra 2 chương Phá tà và Hiển chính. Trong chương Phá tà gồm có các mục: Tồi ngoại đạo, Chiết tì đàn, Bài Thành thực và Ha đại chấp, trong chương Hiển chính thì có các mục: Minh nhân chính và Hiển pháp chính. Môn Biệt thích chúng phẩm thì trước hết, nói rõ về lí do tạo luận, kế đến trình bày về những điểm chung và riêng giữa các bộ, đặt tên và ý chỉ qui kết của các luận, cuối cùng, y cứ vào Tam luận để phu diễn tông yếu. Toàn sách bài bác ngoại đạo, chê trách các mê chấp của Phật giáo Đại, Tiểu thừa mà nêu tỏ cái lí các pháp tính không và trung đạo phi hữu phi không của tông Tam luận. Ngoài ra, sách này còn liệt kê 8 điểm chung của Tam luận và đặc sắc riêng của mỗi luận, như Bách luận thì phá ngoại giáo là chính, Trung luận thì giảng Đại, Tiểu thừa, còn Thập nhị môn thì phá chỗ mêchấp của Đại thừa mà hiển bày chính giáo.[X. Phật điển sớ sao mục lục Q.thượng].
tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu
(三論玄疏文義要) Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trân hải, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 70. Tác giả căn cứ vào hơn 30 loại trứ tác của ngài Cát tạng, trích lấy nghĩa cương yếu của tông Tam luận, thêm phần giải thích chung mà biên tập thành sách này. Toàn sách chia làm 13 chương: Đại ý, Tạo luận duyên khởi, Nhị đế nghĩa, Bát bất nghĩa, Nhị trí nghĩa, Bát thức nghĩa, Phật tính nghĩa, Nhị thừa nghĩa, Bồ tát địa vị nghĩa, Tam Phật nghĩa, Tịnh độ nghĩa, Niết bàn nghĩa và Tạp vấn đáp. Mỗi chương lại chia ra mười mấy điều mục nhỏ, trưng dẫn rất nhiều kinh luận sớ. Đây là tác phẩm quan trọng về tông Tam luận.
tam luận phái
San-lun (C).
tam luận sự
Three topics of discussion—See Tam Pháp (xxxxxv).
Tam Luận Tông
(三論宗, Sanron-shū): tên gọi một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, học phái nghiên cứu dựa trên 3 bộ luận chính là Trung Luận (s: Mādhyamakakārikā, 中論) 4 quyển, Thập Nhị Môn Luận (s: Dvādaśa-dvāra-śāstra, 十二門論) 1 quyển của Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250), vị khaitổ của Phật Giáo Trung Quán, và Bách Luận (百論) củaThánh Đề Bàhay Thánh Thiên (s: Āryadeva, 聖提婆 hay 聖天, khoảng 170-270), đệ tử của Long Thọ. Cả 3 bộ luận này đều do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch. Đây là học phái không những dựa trên kinh điển mà còn y cứ vào các luận thư, trong đó lấy cả Bát Nhã Kinh (般若經) làm gốc căn bản cho tư tưởng Không, vì thế nó còn được gọi là Trung Quán Tông (中觀宗), Không Tông (空宗), Vô Tướng Tông (無相宗), Vô Tướng Đại Thừa Tông (無相大乘宗), Vô Đắc Chánh Quán Tông (無得正觀宗). Ở Nhật Bản, tông này được Huệ Quán (慧觀) của vương triều Cao Lệ (高麗) Triều Tiên, đệ tử của Cát Tạng (吉藏), truyền vào năm 625, và được xem như là đệ nhất truyền của dòng Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji). Ngoài ra, sau này Trí Tạng (智藏) thuộc pháp hệ này có sang nhà Đường cầu pháp, sau khi trở về nước ông đã nỗ lực hoằng dương tông phong ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), và vị này được xem như là đệ nhị truyền. Về sau, đệ tử của Trí Tạng là Đạo Từ (道慈) cũng sang nhà Đường cầu pháp trong vòng 18 năm, và truyền thừa nên dòng Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Cứ như vậy tông này đã nghiễm nhiên trở thành 1 trong 6 tông lớn vùng Nam Đô và tiến hành giảng dạy nghiên cứu rất thịnh hành, nhưng sau đó thì lại suy vong.
Tam luận tông
三論宗; C: sānlùn-zōng; J: sanron-shū; K: samnon chong. |Tông phái Ðại thừa của Phật giáo Trung Quốc. Danh xưng này xuất phát từ ba bộ luận căn bản của tông này: Trung quán luận tụng (中觀論頌; s: madhyamaka-kārikā), Thập nhị môn luận (十二門論; s: dvā-daṣadvāra-śāstra hoặc dvādaśanikāya-śās-tra) của Long Thụ (龍樹; s: nāgārjuna) và Bách tuận (百論; s: śata-śāstra) của Thánh Thiên (聖天; s: āryadeva). Các bộ luận này được Cưu-ma-la-thập dịch và chú giải trong thế kỉ thứ 5. Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) truyền cho đệ tử là Ðạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇), Tăng Duệ (僧叡) và Ðạo Dung (道融). Các vị này vạch rõ sự khác nhau giữa tông phái mình với Thành thật tông và có thể xem là những người sáng lập Tam luận tông.|Trong thế kỉ thứ 6, Tam luận tông rất thịnh hành và những Cao tăng thời này là Pháp Lãng (法朗) và đệ tử là Cát Tạng (吉藏). Trong thế kỉ thứ 7, Tam luận tông được Cao tăng Huệ Quán (慧灌; ekwan), đệ tử của Cát Tạng truyền qua Nhật. Tam luận tông dần dần mất ảnh hưởng sau khi Pháp tướng tông ra đời.|Tam luận tông bắt nguồn từ Trung quán tông của Ấn Ðộ nhưng cũng có những nét đặc thù của Trung Quốc: Tam luận tông cho rằng đức Phật đã chỉ dạy hai phép tu: Thanh văn thừa và Bồ Tát thừa, và Tam luận tông thuộc về Bồ Tát thừa. Tông này cho rằng có ba thời giáo: kinh Hoa nghiêm là thời giáo thứ nhất. Kinh này chứa những lời khai thị cho Bồ Tát nhưng các đệ tử Phật thời đó chưa đủ sức lĩnh hội. Vì vậy thời giáo thứ 2, kéo dài giữa thời kinh Hoa nghiêm và kinh Diệu pháp liên hoa, trong đó mọi giáo pháp của Phật bao gồm cả Tiểu thừa lẫn Ðại thừa, có giá trị cho Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa và Bồ Tát thừa. Thời kì thứ 3 là thời kì mà mọi đệ tử đã sẵn sàng để nghe kinh Diệu pháp liên hoa, đó là thời Phật thừa, chỉ một pháp duy nhất.|Tam luận tông Nhật Bản (j: sanron-shū) được đưa từ Trung Quốc qua năm 625 do Cao tăng Huệ Quán (慧灌; ekwan), người Triều Tiên truyền lại. Huệ Quán có hai đệ tử chính và Tam luận tông Nhật Bản cũng vì vậy mà có hai bộ phái (Thành thật tông). Tam luận tông không có mấy ảnh hưởng tại Nhật, mặc dù nhiều trường phái khác cũng tham khảo giáo pháp của tông này để hiểu thêm kinh điển Ðại thừa.|Tam luận tông tại Nhật có ảnh hưởng lớn lên hoàng thân Thánh Ðức (shotoku, 574-622), người đã thống nhất nước Nhật. Trong thiền viện của vị hoàng thân này thời đó có ba vị luận sư Triều Tiên của Tam luận tông giảng dạy. Trong »hiến pháp« của Nhật Bản mà Thánh Ðức soạn thảo, người ta thấy có vài yếu tố của Tam luận tông.
tam luận tông
San-lunn-tsoung (C), Sanron school, Sanron-shŪ (J)Tam bổn cănMột tông phái Đại thừa, tổ sư là ngài Long thọ, ngài Cưu ma la thập dịch sang chữ Hán vào thế kỷ 5, truyền sang Nhật vào thế kỷ 7. Tông này có 3 bộ luận: Trung luận, Thập nhị môn luận, Bá luận. Tông này chủ trương không nhận có là có, không nhận không là không, có và không không chi phối được mình. Thiền định thấu lý này thì thành Phật.
; Màdhyamika (S). The Middle School bases its doctrines on three sàstras: Trung quán luận Màdhyamika-sàstra Treatise on the Màdhyaka, Thập nhị môn luận Dvàdasanikàya-sàtra Treatise on the twelve gates, Bách luận Sata-sàstra Treatise on the hundred verses.
; (A) Cương yếu Tam Luận Tông—Preliminary of the Madhyamika School—Đây là tông phái chủ trương “Đại Thừa Phủ Định Luận.” Tiếng Phạn gọi là Madhyamika, chủ trương học thuyết Trung Đạo, Không Luận, hay Tương Đối Luận. Tam Luận Tông dựa vào ba bộ luận được Ngài Long Thọ và đệ tử của ngài là Đề Bà biên soạn. Ba bộ luận ấy là Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, và Bách Luận (see Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, and Bách Luận). Những cố gắng của Tam Luận Tông quy tụ vào sự bài bác tất cả các quan điểm tích cực và khẳng định của các tông không lấy phủ định biện chứng làm căn bản. Sự bài bác trước tiên nhắm thẳng vào những quan điểm sai lầm của Bà La Môn và tà giáo; kế đến nhắm vào những thiên kiến của phái Tiểu Thừa; và sau cùng nhắm vào những kiến giải độc đoán của đề ra bởi các tác giả của phái Đại Thừa không phải là Tam Luận. Lý tưởng của Tam Luận Tông hình như là tiêu diệt hý luận. Căn bản của mọi luận chứng của Tam Luận Tông là 'Tứ Cú.' (see Tứ Cú Tam Luận Tông (A))—Madhyamika school of Nagarjuna, or the Mahayanistic Negativism, called Madhyamika in Sanskrit. The doctrine of the Middle Path, or Sunyatavada, the “Theory of Negativity” or “Relativity.” The school was based on the three main sastras, Madhyamika-Sastra or Middle Path, Dvadasa-dvara-Sastra or the Twelve Gates, and the Sata-Sastra or the One Hundred Verse Treatise. The efforts of the Madhyamika School are centered on the refutation of all positive and affirmative views of other schools which have no foundation of dialectical negation. The refutation is directed first against the wrong views of Brahmanism and heretics, secondly against the one-sided views of Hinayana, and thirdly against the dogmatic views positively set forth by the Mahayanistic authors other than San-Lun School. The ideal of the Madhyamika School seems to have been eliminated the 'inexplicable in speech and unrealizable in thought.' The basis of all arguments is what we called the 'Four Points of Argumentation.” (B) Sơ Tổ Tam Luận Tông—The founder of the Madhyamika School: Long Thọ Bồ Tát—Nagarjuna Bodhisattva—See Long Thọ (2) in Vietnamese-English Section, and Nagarjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. (C) Lịch sử thành lập Tam Luận Tông ở Ấn Độ—History of the formation of the Madhyamika School in India—Theo Giáo Sư Stcherbatsky trong “Cương Yếu Triết Học Phật Giáo,” được soạn bởi Giáo Sư Takakusu, những giai đoạn phát triển của giáo lý Đại Thừa đặc biệt đề cập đến Trung Quán sau đây—According to Prof. Stcherbatsky in The Essentials of Buddhist Philosophy composed by Prof. Takakusu, the Mahayana philosophy has developed in the following periods with special reference to Madhyamika: 1) Thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch—First century A.D.: Sự hưng khởi của Đại Thừa A Lại Da Thức và Chân Như, cả hai đều do Ngài Mã Minh khởi xướng—The rise of Mahayana Alaya-vijnana or Store-Consciousness and Tathata or Thusness, both admitted by Asvaghosa. 2) Thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch—Second century A.D.: Tánh Không Duyên Khởi Luận, do Long Thọ và Đề Bà thành lập—The theory of universal relativity or Sunyata, formulated by Nagarjuna and Aryadeva. 3) Thế kỷ thứ ba và thứ tư sau Tây Lịch—Third and fourth centuries A.D.: Một khoảng trống. Tuy nhiên, trong thời gian nầy có hai ngài Kiên Huệ và Di Lặc. Di Lặc là vị thầy trực tiếp hay gián tiếp của ngài Vô Trước, và tính cách lịch sử của ông thì không thể nghi ngờ gì được, mặc dù có những huyền thuyết nên một số học giả xem ông như là nhân vật tưởng tượng—A gap; however, during this time two great monks Saramati and Maiteya appeared. Maitreya is a direct or indirect teacher of Asanga and his historicity cannot be doubted, although, because of mysterious legends surrounding him, some scholars are inclined to regard him as an imaginary person. 4) Thế kỷ thứ năm—Fifth century: Lập trường duy tâm của Vô Trước và Thế Thân—The idealistic interpretation of Asanga and Vasubandhu. 5) Thế kỷ thứ sáu—Sixth century: Phân tranh giữa các phái duy tâm và tánh không—A split between the idealistic and relativistic schools. a) An Huệ và Trần Na là những đại biểu cho phái Duy Tâm: Sthiramati and Dignaga are representatives for the idealistic school. b) Phật Hộ và Thanh Biện là những đại biểu cho phái Tánh Không—Buddhapalita and Bhavaviveka are representatives for the relativistic school. 6) Thế kỷ thứ bảy—Seventh century: Hệ thống Trung Quán hoàn thành triệt để dưới sự xiển dương của Nguyệt Xứng—Final establishment of Madhyamika system in its extreme form by Candrakirti. (D) Lịch sử thành lập Tam Luận Tông ở Trung Quốc—History of the formation of the Madhyamika School in China: Lịch sử của Tam Luận Tông bắt đầu ở Trung Hoa với sự xuất hiện của Cưu Ma La Thập như sau—The history of the Madhyamika School begins in China with the advent of the famous Kumarajiva, and the transmission is said to have been as follows: 1) Thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch—Fifth century A.D.: Trung Luận Quán của ngài Long Thọ được Cưu Ma La Thập phiên dịch và truyền cho các đồ đệ Đạo Sanh, Đàm Tế, và Tăng Lãng. Trong số đó Tăng Lãng là một truyền nhân xuất sắc, cuối cùng đã tách hẳn Tam Luận tông khỏi Thành Thật tông (Tiểu Thừa Không Luận tông). Tam Luận Tông Trung Quốc có nền tảng thực thụ là do công trình của Tăng Lãng—Nagarjuna's Madhyamika Sastra was translated and expounded by Kumarajiva and handed down to his pupil Tao-Sheng, T'an-Chi, and Seng-Lang. Seng-Land, a distinguished successor, finally separated the San-Lun School clearly from Satyasiddhi School, the Hinayanistic Nihilism. The Chinese San-Lun School owes its real foundation to Seng-Lang's work. 2) Thế kỷ thứ sáu sau Tây Lịch—Sixth century A.D.: Pháp Lãng là một đạo sư vĩ đại, có hai mươi lăm đệ tử dưới tay. Cát Tạng là một nhân vật lỗi lạc trong nhóm nầy. Thân phụ ông đã xuất gia và thường dẫn ông đi nghe ngài Chân Đế thuyết pháp. Rồi Cát Tạng xuất gia theo Pháp Lãng và được Pháp Lãng đặc biệt dạy dỗ. Khi được 19 tuổi đọc và trùng tuyên những bài giảng của Thầy không mảy may sai lạc, khiến thính chúng rất đỗi ngạc nhiên. Ông trụ tại chùa Gia Tường, do đó được gọi là Gia Tường Đại Sư—Fa-Lang was a great leader who had twenty-five pupils under him. Chi-Tsang was the outstanding member of this group. His father had entered the order and often took him to hear lectures by Paramartha, the then flourishing Indian teacher in China. Chi-Tsang himself joined the order under Fa-Lang and received a special training from him. When nineteen years of age, he lectured and recapitulated his teacher's lectures without any mistakes, to the great atonishment of the listeners. He lived in Chia-Hsiang monastery and is known by the name Chia-Hsiang Tashih, or the great master of Chia-Hsiang—See Cát Tạng Đại Sư. (E) Các bộ luận căn bản—Basic commentaries: 1) Trung Quán Luận: Trung Quán Luận được viết bởi Ngài Long Thọ. May mắn là bản Phạn ngữ vẫn còn tồn tại. Bản Hán văn do Cưu Ma La Thập dịch—Madhyamika Sastra written by Nagarjuna. Fortunately the Sanskrit text of it has been preserved. It was translated into Chinese by Kumarajiva—See Trung Quán Luận. 2) Thập Nhị Môn Luận: Thập Nhị Môn Luận cũng được viết bởi Ngài Long Thọ—The Twelve Gates, also written by Nagarjuna—See Thập Nhị Môn Luận. 3) Bách Luận: Bách Luận được viết bởi Đề Bà, đệ tử của Ngài Long Thọ—The One Hundred Verse Treatise, written by Aryadeva—See Bách Luận. 4) Đại Trí Độ Luận: Prajnaparamita sastra—See Đại Trí Độ Luận. (F) Lịch sử thành lập Tam Luận tông tại Nhật Bản—The history of the formation of the Madhyamika School in Japan: Ở Nhật Bản, Tam Luận tông không hề là một ngành học độc lập, nhưng học thuyết vẫn được tiếp nối học hỏi một cách nồng nhiệt đến cả ngày nay, vì nó thiết yếu cho người học Phật, là một khí giới sắc bén của luận chứng biện chứng, cũng như là căn bản lý thuyết làm nền tảng cho nhiều tông phái tích cực và hoạt động của Phật Giáo ngày nay—In Japan, the school was never an independent institution, but the study of its doctrine has been ardently continued even to the present time because it is indispensable for Buddhist students as one of the chief objects of Buddhist learning and a strong weapon of dialectic argument, as well as the theoretical basis underlying many of the more positive and active schools of Buddhism today. 1) Thế kỷ thứ bảy—Seventh century A.D.: Huệ Quán, người Cao Ly, đồ đệ của Cát Tạng, sang Nhật năm 625 và giảng giáo lý Tam Luận tại chùa Nguyên Hưng ở Nại Lương. Đây là sự truyền thừa Tam Luận tông đầu tiên tại Nhật Bản—Chi-Tsang's Korean pupil, Hui-Kuan from Kauli, a state in Korea, came to Japan in 625 and taught the Madhyamika doctrine at the monastery Gwangoji in Nara. This is the first transmission of Madhyamika to Japan. 2) Truyền thừa thứ hai do Trí tạng, một đồ đệ của Huệ Quán—The second transmission was by Chizo, a pupil of Hui-Kuan. 3) Truyền thừa thứ ba do Đạo Từ, đồ đệ của Nguyên Khang, tác giả bản Sớ Giải Tam Luận—The third transmission was by Doji, a pupil of Yuan-K'ang, the author of the commentary on the Three treatise. (G) Triết Lý Tam Luận Tông—Philosophy of the Madhyamika School: Triết lý Tam Luận Tông có ba phần—The teaching of the Madhyamika School has three aspects: 1) Phá tà hiển chánh: The refutation of erroneous views and elucidation of right views—See Phá Tà Hiển Chánh. 2) Phân biệt Chân Đế Tục Đế: The distinction between worldly truth and the higher truth—See Nhị Đế. 3) Bát Bất Trung Đạo: The Middle Path of the Eightfold Negation—See Bát Bất Trung Đạo.
; (三論宗) Cũng gọi Không tông, Vô tướng tông, Trung quán tông, Vô tướng đại thừa tông, Vô đắc chính quán tông, Gia tường tông, Đề bà tông, Bát nhã tông, Phá tướng tông. Tông phái lấy ba bộ Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận làm chỗ y cứ, tuyên dương các nghĩa Không, Vô tướng, Bát bất trung đạo... 1 trong 13 tông của Phật giáo Trung quốc, 1 trong 8 tông của Phật giáo Nhật bản. Tông này còn chú trọng xiển dương các pháp tính không, nên cũng gọi là Pháp tính tông.Hệ thống truyền thừa của tông Tam luận như sau: 1. Ấn độ. Theo Tam luận tổ sư truyện tập, đức Thích ca được tôn làm Tổ thứ nhất của tông này, các ngài Văn thù, Mã minh, Long thụ, Đề bà, La hầu la theo thứ tự là Tổ thứ hai đến Tổ thứ sáu. Tam luận tông huyết mạch và Bát tông cương yếu thì tôn ngài Văn thù là Cao tổ, ngài Mã minh là Tổ thứ hai, ngài Long thụ là Tổ thứ ba. Trong đó, ngài Long thụ ra đời vào đầu thế kỉ III tại Nam Ấn độ, soạn Trung luận tụng, Thập nhị môn luận, khởi xướng yếu chỉ Trung đạo chính quán vô y vô đắc mà đặt nền móng cho tông này. Ngài Đề bà là người Nam Ấn độ, nhận pháp nơi ngài Long thụ, từng luận phá ngoại đạo, Tiểu thừa, ngài La hầu la lễ tán Bát nhã không quán, Phạm chí Thanh mục soạn văn xuôi giải thích Trung luận tụng; ngoài ra, ngài Thế thân chú thích Bách luận của ngài Đề bà, ngài Phật hộ chú thích Trung luận, ngài Vô trước soạn luận Thuận trung, ngài An tuệ soạn Đại thừa trung quán thích luận, ngài Thanh biện soạn Bát nhã đăng luận thích, Đại thừa chưởng trân luận, ngài Hộ pháp soạn Quảng bách luận, ngài Nguyệt xứng soạn Trung luận sớ, Bách luận sớ. Ấn độ có hơn 70 nhà chú thích bộ Trung luận, căn cứ vào đó ta có thể biết sự lưu hành bộ luận này vào thời ấy hưng thịnh như thế nào.2. Trung Quốc. Tông Tam luận được truyền vào Trung quốc có 2 phái: Phái do ngài Cưu ma la thập truyền vào thời đại Diêu tần gọi là Cổ tam luận; còn hệ thống của 2 luận sư Thanh biện và Trí quang do Tam tạng Nhật chiếu truyền đến Trung quốc vào khoảng năm Nghi phụng (676-678) đời vua Cao tông nhà Đường thì gọi là Tân tam luận. Trong đó, ngài Cưu ma la thập dịch kinh Đại phẩm bát nhã 30 quyển, luận Đại trí độ 100 quyển, Trung luận 4 quyển, Thập nhị môn luận 1 quyển, đồng thời, dịch truyện kí của ngài Long thụ và Đề bà... đã đặt vững chắc nền tảng của tông Tam luận Trung quốc. Học trò ngài La thập có tới 3 nghìn người, nhưng chỉ có 10 người giỏi, đó là các ngài: Tăng triệu, Đạo sinh, Tăng duệ, Đàm ảnh, Tuệ nghiêm, Tuệ quán, Tăng khế, Đạo hằng, Đạo tiêu, Đạo dung... Trong đó, ngài Tăng triệu soạn Triệu luận, ngài Đạo sinh soạn Nhị đế, ngài Đàm ảnh soạn Trung luận sớ, ngài Đạo dung soạn Tam luận chú... Các ngài Tuệ quán, Đạo sinh, Tăng duệ... hoằng pháp ở Giang nam, các ngài Tăng triệu, Đàm ảnh, Đạo dung... thì truyền giáo ở Quan trung, do đó mà hình thành 2 học phái của tông Tam luận ở 2 miền Nam Bắc. Về sau, có ngài Đàm tế xuất hiện, soạn luận Thất tông. Từ khoảng năm 401 đến 480, phái ở miền Bắc vì không có nhân tài nên dần dần sa sút, còn phái ở miền Nam cũng bị luận Thành thực lấn át nên không phát triển được. Vào thế kỉ thứ VI, có ngài Tăng lãng(cũng gọi Đạo lãng), người Cao li, đến Trung quốc thờ ngài Đàm tế làm thầy, được Lương vũ đế kính tin, nên có thế chấn hưng Tam luận. Nhưng ngài tu tập Chỉ quán ở núi, vả lại, sự nghiên cứu luận Thành thực lúc đó đang thịnh hành nên ít ai chú ý đến ngài. Sau ngài Tăng lãng, có ngài Tăng thuyên nối tiếp, muốn chấn hưng học phong Tam luận, nhưng vì bấy giờ pháp môn Duyên khởi luận của Địa luận, Nhiếp luận đang lưu hành, nên Tam luận do ngài Tăng thuyên đề xướng cũng chịu ảnh hưởng mà khác với Tam luận cũ của ngài La thập. Học trò của ngài Tăng thuyên có các vị Pháp lãng,Biện công, Tuệ dũng, Tuệ bá(được gọi là Từ triết), trong đó, đặc biệt ngài Pháp lãng vượt trội hơn cả, được Vũ đế nhà Trần triệu về trụ trì chùa Hưng hoàng tại kinh đô, mở trường giảng pháp, học chúng thường trên nghìn người, môn hạ có 25 vị, trong đó, Đại sư Gia tường Cát tạng là bậc kiệt xuất. Ngài Cát tạng soạn thuật mấy mươi bộ như: Đại phẩm kinh nghĩa sớ, Trung quán luận sớ, Bách luận sớ, Thập nhị môn luận sớ, Đại thừa huyền luận, Nhị đế nghĩa, Tam luận huyền nghĩa, Pháp hoa huyền luận, Pháp hoa nghĩa sớ... tập đại thành tông Tam luận, đưa tông này vào thời đại vàng son (581- 623). Sau ngài Cát tạng, tuy có các vị cao túc như Trí khải, Tri mệnh, Trí thực, Tịch sư, Tuệ viễn... kế thừa, nhưng vì không vị nào vượt trội, lại thiếu hành chứng thiết thực và bị tông Pháp tướng bài xích; rồi do ảnh hưởng của những nhân tố như trào lưu tư tưởng biến thiên, học giả thích đổi mới tư tưởng và Thiền tông bành trướng... nên từ giữa đời Đường về sau, tông này không còn được ai nhắc đến nữa. Học trò ngài Pháp lãng còn có Tuệ quân (soạn Tứ luận huyền nghĩa) và Thạc pháp sư (soạn Tam luận sớ, Tam luận du ý), không rõ hệ thống, cũng là các bậc thạc học về Tam luận 1 thời.3. Triều Tiên: Ngài Tăng lãng phục hưng tông Tam luận của Trung quốc vào thời Nam Bắc triều vốn là người ở thành Liêu đông, nước Cao li, trước khi đến Trung quốc, ngài đã có kiến thức về Tam luận. Ngoài ra, cáccao tăng từ Cao li, Bách tế đến Nhật bản triều cống vào thời các Thiên hoàng Khâm minh, Suy cổ đều là các học giả thông suốt Tam luận và Thành thực, trong đó, ngài Tuệ quán của Cao li là đệ tử của Đại sư Cát tạng, sau trở thành Thủy tổ của tông Tam luận Nhật bản. Do đó, có thể biết thời đại truyền nhập nghĩa Không luận (thuộc Cổ tam luận)vào Cao li, Bách tế là rất sớm. Sự nghiên cứu Tam luận ở Tân la thuộc Tân tam luận do ngài Nhật chiếu truyền, phát khởi cùng lúc với sự truyền bá tông Hoa nghiêm. Ngài Nguyên hiểu và Pháp tạng cùng thụ học Tân tam luận nơi ngài Nhật chiếu. Ngài Nguyên hiểu có soạn Chưởng trân luận tông yếu, Tam luận tông yếu... Lại theo Tam quốc di sự quyển 4 thì ngài Nghĩa tương từng nhận được các trứ tác của ngài Pháp tạng ở nơi ngài Thắng thuyên, trao cho các môn đệ, vì thế mà biết được là pháp nghĩa Tân tam luận cũng còn do ngài Nghĩa tương truyền nữa. Ngoài ra, những tác phẩm của các học giả Cổ tam luận ở đương thời cũng đã được truyền đến Tân la. 4. Nhật Bản. Ngài Tuệ quán, người Cao li, đệ tử của Đại sư Cát tạng, truyền tông Tam luận đến Nhật bản (625), về sau, pháp tôn của ngài Tuệ quán là Trí tạng lại đến Trung quốc vào đời Đường để học giáo nghĩa tông Tam luận. Sau khi về nước, sư Trí tạng truyền bá Tam luận, hình thành 2 dòng phái Nguyên hưng tự và Đại an tự. Điều đáng tiếc là sau khi truyền bá vào Nhật bản, vì phải cạnh tranh với Duy thức nên Tam luận đã mất đi cái bản chất của mình, như các sư Cần tháo, Huyền duệ, Long hải đã dùng Tam luận để phá Duy thức, đó chính là noi theo thuyết quyền thực của Thiên thai vậy. Giáo nghĩa chủ yếu của tông Tam luận gồm 3 khoa: Phá tà hiển chính, Chân tục nhị đế và Bát bất trung đạo. Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận đều không ngoài2 mục đích phá tà và hiển chính. Theo Đại thừa huyền luận thì hữu đắc là tà, mà vô đắc là chính, phá tà là phá trừ cái kiến giải hữu sở đắc (có cái để được), còn hiển chính là nêu tỏ cái lí không vô sở đắc. Thông thường, phá tà hiển chính là chỉ cho phá bỏ tà kiến, hiển bày chính lí, nhưng tông Tam luận chủ trương ngoài phá tà không có hiển chính, bởi vì phá tà tức là hiển chính. Hiển chính là Trung đạo vô sở đắc, lìa tứ cú, dứt bách phi, lời mất, ý bặt. Vì muốn cho chúng sinh lãnh ngộ được cái lí thể vô sở đắc này mà trong chỗ vô danh tướng, cưỡng lập ra danh tướng, để nói Chân đế và Tục đế, 2 đế chính là ngôn giáo giải thích rõ lí vô sở đắc. Vì thế, Trung luận đặc biệt dùng Bát bất thuyết minh nghĩa của 2 đế. Bát bất là bất sinh, bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị, bất xuất, bất lai. Cái gọi là tà tuy có nhiều thứ khác nhau, nhưng có thể tóm lại mà gọi chung bằng kiến giải nhất thiết hữu sở đắc(tất cả đều có chỗ được); nói cách khác, không ngoài 4 đôi 8 chấp: Sinh-diệt, thườngđoạn; nhất-dị, xuất-lai. Phá trừ 8 cái chấp tà mê này để hiển bày chính quán vô sở đắc, tức là Bát bất trung đạo. Tông này phá trừ tất cả kiến giải hữu sở đắc, lấy vô sở đắc làm tông chỉ, bởi thế, đối với giáo pháp 1 đời của đức Phật không lập quyền thực chân giả, hoặc chia sâu, cạn, hơn, kém. Tuy nhiên, để thích ứng với căn cơ của chúng sinh, vẫn lập giáo phán Nhị tạng và Tam luân. Nhị tạng chỉ cho tạng Thanh văn, tạng Bồ tát, Tam luân chỉ cho căn bản pháp luân (tức kinh Hoa nghiêm), Chi mạt pháp luân (tất cả các kinh Đại, Tiểu thừa sau Hoa nghiêm, trước Pháp hoa), Nhiếp mạt qui bản pháp luân(tức kinh Pháp hoa). [X. Tam luận huyền nghĩa; Pháp hoa huyền luận Q.1,3; Pháp hoa du ý Q.thượng; Trung quán luận sớ Q.1, phần đầu và phần cuối; Thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí; Đại thừa tam luận đại nghĩa sao Q.1]. (xt. Nhị Đế, Tứ Luận Tông, Cát Tạng, Long Thụ).
tam luận tổ sư truyện tập
(三論祖師傳集) Tác phẩm, 3 quyển, thu chép truyện kí về các Tổ thuộc tông Tam luận của Ấn độ và Trung quốc. Quyển thượng: Gồm truyện Phật Thích ca và các chư Tổ Ấn độ như ngài Văn thù, Mã minh, Long thụ, La hầu la, Tu lợi da tô ma...Quyển trung: Nói về ngài Cưu ma la thập.Quyển hạ: Gồm truyện kí của các vị Tăng triệu, Đạo sinh, Đạo dung, Tăng duệ, Đàm ảnh, Tuệ nghiêm, Tuệ quán, Tăng khế, Đạo hằng, Đạo tiêu, Đàm tế, Đạo lãng, Tăng thuyên, Cát tạng...
tam lý tâm duyên quyết định
Theo Trí Giả và Thiên Như Đại Sư trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có ba lý do khiến vãng sanh Tịnh Độ không tùy thuộc vào ác nghiệp, hạnh tu và thời gian tu tập lâu mau—According to Masters Chih-I and T'ien-Ju in The Pure Land Buddhism, there are three reasons why rebirth in the Pure Land does not necessarily depend on the weight of bad karma, the amount of practice or the duration of cultivation. 1) Do bởi Tâm—Because of Mind: Là loài hữu tình khi tạo tội đều từ nơi vọng niệm điên đảo mà sanh, còn lúc niệm Phật lại từ nơi nghe danh hiệu công đức chân thật của Phật A Di Đà mà khởi; một bên hư một bên thật đâu thể sánh nhau! Ví như một gian thạch thất đóng kín để tối muôn năm, nếu được người mở ra cho ánh sáng mặt trời soi vào, sự tối ấy liền mất; đâu phải vì do tối tăm đã lâu mà không làm được sáng ư? Người tạo ra tội nhiều kiếp, khi lâm chung với tâm thành tựu mười niệm vãng sanh cũng lại như vậy—The transgressions committed by sentient beings spring from deluded, perverse thought. Recitation of the Buddha's name, on the other hand, arises from right thought, that is, hearing of Amitabha Buddha's name and true virtues. One is false and the other is true. There is no possible comparison between them! This is similar to a house which has been boarded up for ten thousand years. If the windows are suddenly opened to let the sunlight in, all darkness immediately dissipates. However, long the period of darkness may have been, how can it fail to disappear? It is likewise for sentient beings who have committed transgressions for many eons but achieve rebirth at the time of death through ten pure recitations. 2) Do bởi Duyên—Because of Conditions: Là loài hữu tình khi tạo tội đều từ nơi vọng niệm tối tăm điên đảo, duyên theo cảnh giới hư huyễn mà sanh; lúc niệm Phật từ nơi nghe danh hiệu công đức chân thật thanh tịnh của Phật A Di Đà duyên theo Bồ Đề tâm mà khởi. Như thế, một bên chân một bên ngụy, đâu thể sánh nhau! Ví như có người bị trúng tên độc, tên ghim sâu sức độc mạnh, xương thịt nhiễm trọng thương, nếu được nghe tiếng trống thần dược, thì tên tự bắn ra, độc tiêu tan hết; đâu phải vì do tên sâu độc nặng mà không được an lành ư? Người tạo tội nhiều kiếp, khi lâm chung có duyên thành tựu mười niệm mà được vãng sanh cũng lại như vậy—Transgressions grow out of dark, inverted thoughts, combined with illusory circumstances and environments. Buddha Recitation, on the contrary, arises from hearing of Amitabha Buddha's name and pure virtues, combined with the aspiration for enlightenment. One is false and the other is true. There is no possible comparison between them! This is analogous to a person struck by a poisoned arrow. The arrow has penetrated deep inside his body and the poison is strong, deeply wounding his flesh and bones. Still, if at that moment he hears the 'celestial drum,' the arrow will shoot out of his flesh by itself and the poison will be neutralized. The arrow has not penetrate so deep nor is the poison so strong that he cannot recover! It is likewise for sentient beings who have committed transgressions for many eons but achieve rebirth at the time of death through ten pure recitations. 3) Do Bởi Quyết Định—Because of Certainty of Salvation: Là loài hữu tình khi tạo tội đều từ nơi gián tâm hoặc hậu tâm; lúc lâm chung niệm Phật lại không có hai tâm đó, mà từ nơi một niệm mãnh liệt trì danh rồi xả mạng, nên được siêu thoát. Ví như sợi dây cực to, cả ngàn người bứt không đứt, nếu có đứa bé cầm gươm Thái A mà chém, dây liền đứt đoạn. Lại như đống củi rất lớn chứa góp từ cả ngàn năm, nếu có người dùng một đốm lửa mà đốt, củi liền cháy hết. Và như có người trong đời tu mười nghiệp lành, ưng được sanh về cõi trời, nhưng khi lâm chung kẻ ấy khởi một niệm tà kiến mạnh mẽ, liền bị đọa vào A Tỳ địa ngục. Nghiệp ác vẫn hư vọng, mà do bởi tâm niệm quyết liệt, còn có thể lấn lướt nghiệp lành một đời, khiến cho chúng sanh bị đọa vào ác đạo; huống chi sự niệm Phật là nghiệp lành chân thật, có người khi lâm chung, dùng tâm mãnh liệt trì danh, lại không thể lấn áp ác nghiệp từ vô thỉ ư? Cho nên người tạo tội nhiều kiếp, khi lâm chung tâm mãnh liệt thành tựu mười niệm mà không được vãng sanh, quyết không có lý do đó!—When sentient beings committed transgressions, they do so either from the 'intervening mental state' or the 'post mental state.' These two mental states do not apply, however, at the time of death: there is only one extremely powerful, utterly intense thought of recitation, letting go of everything before dying. Therefore, rebirth is achieved. This is analogous to a very large, strong cable which even thousands of people cannot break. Yet, a child wielding a 'celestial sword' can cut it in a several pieces without difficulty. It is also similar to a huge pile of wood, accumulated for thousands of years, which, when set on fire by a small flame, is completely consumed within a short time. The same is true of someone who has practiced the Ten Virtues throughout his life, seeking rebirth in the Heavens. If, at the time of death, he develops an intense perverse thought, he will immediately descend, instead, into the Avici or Never-Ending Hell. Although bad karma is intrinsically false and illusory, the overpowering strength of Mind and thought can still upset a lifetime of good karma and cause the individual to descend onto the evil paths. How, then, can Buddha Recitation, which is true, wholesome karma, generated intensely at the time of death, fail to upset his bad karma, even though that karma may have been accumulated from time immemorial? Therefore, someone who has committed transgressions for many eons, but, at the time of death accomplishes ten recitations with a totally earnest Mind, will certainly be reborn in the Pure Land. Not to achieve rebirth under such circumstances would indeed be inconceivable!
Tam lượng
三量; C: sānliáng; J: sanryō;|Ba cách suy lượng theo cựu phái của Nhân minh học: 1. Hiện lượng (現量; s: prayakṣa), thấy rõ trực tiếp bằng cặp mắt; 2. Tỉ lượng (比量; s: anumāna), biết bằng suy ngẫm; 3. Thánh giáo lượng (聖教量), biết được qua giáo lí của những bậc thánh hiền.
tam lượng
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu và Liên Tông Thập Tam Tổ, kinh điển dạy rằng người niệm Phật nên y theo ba lượng để củng cố lòng tin—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice and The Thirteen Patriarchs of Pure Land Buddhism, the Buddhist sutras and commentaries, the Pure Land practitioner should follow three guidelines to consolidate his faith. 1) Lý Trí Lượng: The Guideline of Reason—Lý trí lượng là sự suy lường tìm hiểu của lý trí, chẳng hạn như suy nghĩ, 'các thế giới đều do tâm tạo, đã có cõi người thuộc phân nửa thiện ác, tất có tam đồ thuộc nhiều nghiệp dữ, và các cõi trời thuộc nhiều nghiệp lành. Như thế tất cũng có cõi Cực Lạc do nguyện lực thuần thiện của Phật, và công đức lành của chư Bồ Tát cùng những bậc thượng thiện nhơn—This is the reasoning and understanding of human logic. For example, we may reflect, 'all realms are created from the mind. If there is a world such as ours, where god karma and bad karma are about equal, there must exist other worlds such as the three Evil Paths, with a preponderance of evil karma, as well as celestial realms, where good karma prevails. It therefore stands to reason that the Western Pure Land exists as a result of the pure, good Vows of Amitabha Buddha as well as the virtues of the Bodhisattvas and other morally superior beings. 2) Thánh Ngôn Lượng: The Guideline of the Teachings of the Sages—Thánh ngôn lượng là giá trị lời nói của chư Phật và chư Bồ Tát trong các kinh điển. Đức Thế Tôn đã dùng tịnh nhãn thấy rõ y báo và chánh báo nơi cõi Cực Lạc, và diễn tả cảnh giới ấy trong các kinh Tịnh Độ. Các bậc đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền đều ngợi khen cõi Cực Lạc và khuyên nên cầu vãng sanh. Người Phật tử nếu không lấy lời của Phật, Bồ Tát làm mực thước, thử hỏi còn phải tin ai hơn?—These are the words of the Buddhas and Bodhisattvas in sutras and commentaries. Buddha Sakyamuni, with his pure vision, clearly saw the auspicious environment and superior beings of the Western Pure Land and described them in the Pure Land sutras. The great Bodhisattvas, such as Manjusri and Samantabhadra, all extolled the Land of Ultimate Bliss and enjoined sentient beings to seek rebirth there. If Buddhists are not guided by the words of Buddhas and Bodhisattvas, whom then should they believe? 3) Hiện Chứng Lượng: The Guideline of Actual Seeing and Understanding—Hiện chứng lượng là lối tìm hiểu do sự thấy biết hoặc chứng nghiệm hiện thực để khởi lòng tin. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục đã chứng minh rất nhiều vị niệm Phật được vãng sanh, và ở Việt Nam cũng có nhiều Phật tử tu Tịnh Độ được về Cực Lạc. Chẳng những thế mà hiện tiền khi tịnh niệm, các vị ấy cũng thấy cảnh Tịnh Độ hiện bày. Nếu không có cõi Cực Lạc, và không có Phật A Di Đà tiếp dẫn, thì làm sao những vị ấy thấy rõ và được kết quả vãng sanh?—This is a method of reasoning based on actual occurences, verifiable through our eyes and understanding. The commentary, Biographies of Pure Land Sages and Saints, has amply documented the stories of individuals who have achieved rebirth in the Land of Ultimate Bliss through Buddha Recitation. Moreover, those who have practiced Buddha Recitation with a pure mind have been known to witness scenes of the Pure Land during their current lifetimes.
; (三量) I. Tam Lượng. Lượng nghĩa là đo lường, tiêu chuẩn. Chỉ cho nguồn gốc tri thức, hình thức nhận thức và tiêu chuẩn để lượng định về sự chân ngụy của tri thức. Giữa các tông phái triết học ở Ấn độ từ xưa đã thịnh hành về việc tìm hiểu về nguồn gốc, hình thức cũng như sự chân ngụy của tri thức, do đó đã sinh ra nhiều thuyết về Lượng Luận trong đó phổ biến nhất là Tam lượng. Nhưng về nội dung và tên gọi của Tam lượng thì các tông phái đều nói khác nhau. 1. Tam lượng được tông Duy thức và luận Nhân minh ứng dụng là: a) Hiện lượng (Phạm: Pratyakwapramàịa), cũng gọi Chân hiện lượng: Khi tâm đối trước cảnh không có bất cứ sự phân biệt, tính toán nào, chỉ hoàn toàn do tự thể hiện phân minh, nhận biết rõ ràng, cũng tức là các giác quan trực tiếp nhận biết những hiện tượng bên ngoài; sự nhận biết này là nguồn gốc, là cơ bản nhất của tri thức. Như thấy khói chỉ biết đó là khói. b) Tỉ lượng (Phạm: Anumànapramàịa): Dựa vào đối cảnh đã biết mà so sánh(tỉ), tính lường(lượng) để biết 1 cách chính xác đối cảnh chưa hiện trước và chưa biết. Như thấy khói thì suy tính mà biết có lửa.c) Phi lượng: Từ gọi chung Tự hiện lượng và Tự tỉ lượng. Tức sự suy tính không chính xác, hoặc sự tình không thể lường biết được. 2. Tam lượng của luận Du già sư địa quyển 15 và luận Hiển dương thánh giáo quyển 11 lập: a) Hiện lượng:(giống như trên). b) Tỉ lượng:(giống như trên). c) Thánh giáo lượng(cũng gọi Chí giáo lượng, Chính giáo lượng): Ngôn giáo của bậc Nhất thiềt trí nói ra, hoặc nghe Ngài nói, hoặc tu theo giáo pháp của Ngài. Trong đó lại chia làm 3 trường hợp: -Bất vi Thánh ngôn: Phật tự nói kinh giáo, đắp đổi lưu truyền, không trái với chánh pháp, chính nghĩa. -Năng trị tạp nhiễm: Nếu khéo tu pháp này thì dứt khoát điều phục được phiền não tham si... -Bất vi pháp tướng: Đối với tất cả pháp lìa nói năng, không đặt ra lời nói. 3. Tam lượng do ngoại đạo Số luận thành lập: a) Chứng lượng: Chỉ cho tác dụng nhận biết hiển hiện khi 5 tri căn duyên với 5 trần cảnh. Tương đương với Hiện lượng nói trên. b) Tỉ lượng: Chia làm 3 loại: Hữu tiền, Hữu dư và Bình đẳng. Hữu tiền là tác dụng suy biết vị lai, Hữu dư là tác dụng suy biết quá khứ, Bình đẳng là tác dụng suy biết hiện tại. c) Thánh ngôn lượng: Tương đương với Thánh giáo lượng nói trên. Tuy chẳng phải do 5 giác quan cảm biết, cũng không do so sánh tính lường mà có, nhưng vì dốc lòng tin tưởng nơi bậc Thánh, nên cũng tin lời dạy của Ngài, là chính xác là chân lí. Như sự tồn tại của châu Bắc câu lô, chúng ta không thể cảm biết được, cũng không thể so sánh, suy lường mà biết được, nhưng vì tin lời bậc Thánh nói, nên chúng ta tin là có châu Bắc câu lô. [X. kinh Giải thâm mật Q.5, luận A tì đạt ma tạp tập Q.16, luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1]. (xt. Tỉ Lượng; Chân Hiện Lượng, Lượng). II. Tam Lượng. Ba lượng của Thành duy thức quyển 2 thành lập: 1. Sở lượng: Chỉ cho đối tượng được suy tính, đo lường mà biết. 2. Năng lượng: Chỉ cho người tính toán, lường biết. 3. Lượng quả: Chỉ cho kết quả được lường biết. Chẳng hạn muốn lượng biết 1 tấm vải thì tấm vải là sở lượng, thước đo là nănglượng và độ dài của tấm vải là Lượng quả. Luận Thành duy thức lại căn cứ vào thuyết này mà chia tác dụng của tâm thức làm 4 phần, cho Tướng phần là Sở lượng, Kiến phần là Năng lượng và Tự chứng phần là Quả lượng. (xt. Tứ Phần).
tam lạc
The three joys - the joy of being born a deva, the joy of meditation, the joy of nirvàna.
; Three joys: 1) Vui được sanh Thiên: The joy of being born a deva. 2) Vui trong thiền định: The joy of meditation. 3) Vui nhập Niết bàn: The joy of nirvana.
; (三樂) I. Tam Lạc. Chỉ cho Ngoại lạc, Nội lạc và Pháp lạc nói trong Vãng sinh luận chú quyển hạ. 1. Ngoại lạc: Niềm vui do 5 thức(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) duyên với 5 cảnh(sắc, thanh, hương, vị, xúc) sinh ra. 2. Nội lạc: Niềm vui do ý thức ở Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền sinh ra. 3. Pháp lạc lạc: Niềm vui do trí tuệ sinh ra, từ sự yêu kính công đức của Phật mà khởi, đồng thời cũng xa lìa 3 thứ tâm là Ngã tâm, Vô an chúng sinh tâm và Tự cúng dường tâm mà sinh ra. [X. luận Đại trí độ Q.3, 8]. II. Tam Lạc. Chỉ cho Thiên lạc, Thiền lạc, Niết bàn lạc nói trong kinh Đại bảo tích quyển101. 1. Thiên lạc: Người tu Thập thiện, sau khi mạng chung, được sinh lên cõi trời hưởng các thú vui thù thắng vi diệu. 2. Thiền lạc: Người tu hành vào các thiền định, một lòng thanh tịnh, mọi tư lự đều lặng bặt, được niềm vui thiền định tự nhiên. 3. Niết bàn lạc: Dứt hết phiền não, chứng được Niết bàn, sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui. Đây là niềm vui cùng tột.
tam lạc xoa
The three laksa; a laksa is a mark, sign, token, aim, object; it is also 100,000, i.e. an ức. The three laksa of the esoteric sects are the tự or magic word, ấn symbol, and bản tôn object worshipped.
; (三落叉) Chỉ cho 3 ức, là số hạn thành tựu việc niệm tụng Đà la ni trong Mật giáo. Lạc xoa vốn là danh số của Ấn độ, 10 vạn là 1 lạc xoa, vì 10 vạn là 1 ức nên 3 lạc xoa dịch là 3 ức. Hoặc chỉ cho 3 thời sáng, trưa, chiều, và 3 mùa lạnh, nóng, mưa, đây đều là cách giải thích theo nghĩa nông cạn và sơ lược. Còn nếu giải thích theo nghĩa sâu xa và kín nhiệm thì Lạc xoa nghĩa là tứơng và kiến, 3 lạc xoa nghĩa là hành giả quán xét thực tướng của 3 bình đẳng: Tự bình đẳng, Ấn bình đẳng và Bản tôn bình đẳng, để đạt đến cảnh giới nhất thể viên dung vô ngại. Ngoài ra, 3 lạc xoa cũng có nghĩa là 3 nghiệp thân, khẩu, ý đều hiện 3 tướng lành: Hơi ấm(Tức tai), khói(Hàng phục) và ánh sáng(Tăng ích). [X. Đại nhật kinh sớ Q.17, 20; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.10].
Tam lậu
三漏; C: sānlòu; J: sanro; S: traya-āsravāh.|Ba loại ô nhiễm, rỉ chảy: I. 1. Dục lậu (欲漏), sự ô nhiễm của tham dục; 2. Hữu lậu (有漏), ô nhiễm của sự tồn tại và 3. Vô minh lậu (無明漏), ô nhiễm của vô minh (theo Du-già luận 瑜伽論). II. Sự nhiễm ô của ba giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
tam lậu
Tayo-asara (P), Traya-asravah (S), Tayo-asara (P)Gồm: Dục lậu, Hữu lậu, Vô minh lậu.
; The three affluents that feed the stream of mortality, or transmigration: dục desire; hữu (material, or phenomenal) existence; vô minh ignorance (of the way of escape).
; Three taints—See Tam Lậu Hoặc.
; (三漏) Cũng gọi Tam hữu lậu. Chỉ cho 3 thứ phiền não trói buộc hữu tình trong 3 cõi, khó thoát ra được. 1. Dục lậu (Phạm:Kàmàsrava), cũng gọi Dục hữu lậu: Trong 36 tùy miên phiền não căn bản trói buộc chúng sinh trong cõi Dục thì trừ 5 bộ vô minh ra, 31 thứ còn lại cộng thêm 10 triền thành 41 thứ Dục lậu. 2. Hữu lậu (Phạm:Bhavàsrava), cũng gọi Hữu hữu lậu: rong 31 tùy miên phiền não căn bản ràng buộc trong mỗi cõi sắc và Vô sắc, trừ 5 bộ Vô minh của mỗi cõi ra, còn lại 26 thứ, 2 cõi hợp thành 52 thứ Hữu lậu. Luận Nhập a tì đạt ma quyển thượng thì thêm Hôn trầm, Điệu cử thành 54 thứ. 3. Vô minh lậu (Phạm:Avidyàsrava): Năm bộ vô minh(tức phiền não Si)trong 3 cõi gọi là Vô minh lậu. Theo luận Đại tì bà sa quyển 47 thì Luận sư Thí dụ cho Vô minh, Hữu ái đều là cội rễ của Tiền tế duyên khởi và Hậu tế duyên khởi, nên chỉ lập thuyết Nhị lậu. Cùng luận này, quyển 48, thì cho rằng ngoài Tam lậu ra, các nhà Phân biệt luận lại thêm Kiến lậu mà lập thuyết Tứ lậu. [X. kinh Trường a hàm Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.22 (bản Bắc), luận Tập dị môn túc Q.4; luận Phẩm loại túc Q.5; luận Thuận chính lí Q.53].
tam lậu hoặc
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba lậu hoặc—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three affluences or taints that feed the stream of mortality or transmigration: 1) Dục Lậu Hoặc: Tất cả phiền não trong dục giới, ngoại trừ vô minh—Desire or the taint of sensuality. 2) Hữu Lậu Hoặc: Tất cả phiền não trong sắc giới và vô sắc giới ngoại trừ vô minh—Material or phenomenal existence—The taint of existence. 3) Vô Minh Lậu Hoặc: Vô minh trong tam giới—Ignorance of the way of escape—The taint of ignorance.
tam lễ
(三禮) Cũng gọi Tam bái. I. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam bảo lễ. Cũng gọi Tam kính lễ. Chấp tay lễ bái Tam bảo Phật Pháp Tăng. Trong phẩm Tịnh hạnh kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch cũ) và Vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi đều có chép văn xướng khi lễ bái Tam bảo. (xt. Tam Bảo Lễ). II. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam qui lễ. Kính lễ khi qui y Tam bảo Phật Pháp Tăng. Theo Vãng sinh lễ tán kệ của ngài Thiện đạo thì khi qui y Tam bảo nên xướng rằng (Đại 47, 440): Qui y Phật được bồ đề, đạo tâm thường chẳng lui, nguyện cùng các chúng sinh, hồi hướng nguyện sinh về cõi Vô lượng thọ, Qui y pháp Tát bà nhã, được môn Đại tổng trì, nguyện cùng các chúng sinh, hồi hướng nguyện sinh về cõi Vô lượng thọ; Qui y tăng dứt tranh luận, cùng vào biển hòa hợp, nguyện cùng với chúng sinh, hồi hướng nguyện sinh về cõi Vô lượng thọ. (xt. Tam Qui Y). III. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam tôn lễ. Tức kính lễ khi qui mệnh đức Phật A di đà, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí.IV. Tam Lễ. Tam lễ của Mật giáo, tức hành giả Chân ngôn 3 lần lễ bái Bản tôn thánh chúng. Khi vị đạo sư lễ Tam lễ trước đàn tu pháp thì phần nhiều cầm lư hương có cán; hành giả sơ tâm thì cầm tràng hạt hoặc chắp tay kim cương, miệng tụng chân ngôn Phổ lễ để lễ. Chân ngôn là Án tát phạ đát tha nghiệt đa bả na mãn na nâm ca lô di. Còn khi cử hành nghi thức Quán đính, Truyền thụ... thì đệ tử lãnh thụ phải hướng vào vị Đại a xà lê mà lễ 3 lễ. V. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam thân lễ. Tức kính lễ 3 thứ công đức của A di đà Như lai. Văn xướng khi lễ là: Nam mô Tây phương cực lạc thế giới, Bản nguyện thành tựu thân A di đà Phật. Nam mô Tây phương cực lạc thế giới, Quang minh nhiếp thủ thân A di đà Phật. Nam mô Tây phương cực lạc thế giới, Lai nghinh tiếp dẫn thân A di đà Phật. VI. Tam Lễ. Gọi đủ: Thích ca tam lễ. Tức kính lễ di thân xá lợi của đức Thích ca Như lai. Tịnh độ chư hồi hướng bảo giám quyển 2 có ghi văn lễ. VII. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam xướng lễ. Ba lần xướng 6 chữ hồng danh của đức Phật A di đà khi lễ bái Ngài. VIII. Tam Lễ. Gọi đủ: Vô ngôn tam lễ. Tức im lặng không nói mà lễ Phật, Bồ tát và Sư trưởng 3 lễ. [X. điều Sư tư chi đạo trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3]. IX. Tam Lễ. Ba kiểu lễ nói trong luận Đại trí độ quyển 10: Thượng lễ, trung lễ và hạ lễ. Thượng lễ là cúi đầu lễ, trung lễ là quì lễ, hạ lễ là chắp tay vái. X. Tam Lễ. Khi điêu khắc tượng Phật, mỗi nhát dao lễ bái 3 lần, gọi là Nhất đao tam lễ, lại khi viết chép văn kinh hoặc vẽ tranh tượng Phật, cũng có tác pháp Nhất bút tam lễ (đưa 1 nét bút lễ 3 lễ), Nhất tự tam lễ(viết 1 chữ lễ 3 lễ).
tam lục độc pháp
(三六獨法) Tam lục là 18 (3x6=18), Độc pháp chỉcho pháp riêng biệt. Tức là 18 pháp đặc biệt, chỉ riêng Phật mới có, gọi là Thập bát bất cộng pháp. Mười tám thứ công đức này, hàng Nhị thừa Thanh văn và Duyên giác không có được, nên gọi là Độc pháp, cũng gọi Bất cộng. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng (Đại 24, 1010 hạ) nói: Tam lục bất cộng, tất cả công đức. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.1]. (xt. Thập Bát Bất Cộng Pháp).
tam lực
The three powers, of which there are various groups: 1-a- personal power; b-Tathàgata-power; c-power of the Buddha within. 2-a- power of a wise eye to see the Buddha-medecine (for evil); b- of diagnosis of ailment; c- of suiting and applying the medecine to the disease. 3-a- the power of Buddha; b- of samàdhi; c- of personal achievement or merit.
; Three powers: 1) Ngã công đức lực: Năng lực tu hành của tự thân hay tự duyên—Personal power. 2) Như lai gia trì lực: Sự gia trì của Đức Như Lai hay tha duyên—Tathagata power. 3) Pháp giới lực: Phật tính sẳn có trong tự tâm hay nội nhân—Power of Buddha-nature within.
; (三力) I. Tam Lực. Ba thứ lực dụng gia trì tương ứng giữa Phật và chúng sinh của Mật giáo. 1. Ngã công đức lực: Sức công đức thiện căn của hành giả tu diệu hạnh tam mật thân, khẩu, ý; là duyên tăng thượng của Liễu nhân Phật tính. 2. Như lai gia trì lực: Sức đại bi gia trì hộ niệm của Như lai; là duyên tăng thượng của Duyên nhân Phật tính. 3. Pháp giới lực: Chỉ cho sức pháp giới thanh tịnh của pháp tính tâm, Phật, chúng sinh là bình đẳng bất nhị, là thân nhân duyên của Chính nhân Phật tính. Ba thứ lực dụng này gia trì lẫn nhau, dung nhập vào nhau không ngăn ngại, mở ra tính Phật sẵn có của hành giả để thành Phật, vì thế gọi là Tam lực hòa hợp, Tam lực gia trì. Đại nhật kinh sớ quyển 11 (Đại 39, 696 hạ) nói: Nhờ sức công đức của hành giả, nhờ sức gia trì của Như lai, nhờ sức pháp giới bình đẳng hợp lại, nên thành tựu được sự nghiệp bất khả tư nghì. [X.kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Đại nhật Q.3, 7; Đại nhật nghĩa thích Q.8]. II. Tam Lực. Ba năng lực thành tựu mọi hành pháp, đó là: 1. Pháp lực(cũng gọi kinh pháp lực): Tức năng lực của kinh Diệu pháp liên hoa. Kinh này nói về công đức tự lợi lợi tha của chư Phật trong 3 đời, 10 phương, là diệu pháp trọng yếu của 8 vạn pháp tạng, là hạnh nguyện tu hành của chư Phật quá khứ và chư Phật vị lai. Cho nên, nương vào 2 hạnh hữu tướng và vô tướng của Pháp hoa mà tu Tam muội thì thành tựu tất cả các hạnh. 2. Phật lực (cũng gọi Nguyện lực): Chỉ cho nguyện lực của Phật muốn làm cho người tu hành được giải thoát. Nguyện thứ 52 trong 500 đại nguyện của đức Thích tôn nói: Đối với các pháp vi diệu, nếu chúng sinh khởi 1 niệm tin tưởng và dốc lòng thụ trì thì Như lai và chư Phật 10 phương đều hiện thân, hoặc ẩn thân trước mặt người ấy, người ấy có nguyện điều gì thì chắc chắn được thành tựu, cho đến mau thành đạo Vô thượng. 3. Tín lực: Lòng tin được khởi dậy do tự lực của hành giả. Tức đối với Phật pháp sinh lòng tin tưởng không nghi ngại, đối với việc xuất li sinh tử, chứng đắc bồ đề không sinh tâm do dự. Nếu 3 năng lực này thầm hợp thì thành tựu diệu hạnh, gọi là Tam lực minh hợp. III. Tam Lực. Ba năng lực được lợi ích thấy Phật khi hành giả nhập vào định Tam muội: Uy thần lực,Tam muội lực vàBản công đức lực. Hai lực trước là Phật lực, lực thứ ba là thiện lực đời trước của chúng sinh. Có thuyết nói rằng lực trước thuộc về Phật lực, 2 lực còn lại là lực dụng của chúng sinh.Trong trường hợp nào cũng đều có ý là lực dụng của chúng sinh và lực dụng của Phật phải dựa vào nhau mới được lợi ích thấy Phật.[X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 1]. (xt. Tam Niệm Nguyện Lực).
tam lực kệ
The triple power verse: In the power of my virtue, And the aiding power of the Tathà gata, And the power of the spiritual realmi I can go anywhere in the land of the living.
tam ma
Sama (S). Level, equal, same etc; cf tam muội and bình đẳng.
tam ma ba đa pháp
(三摩波多法) Tam ma ba đa, Phạm: Samàpta. Cũng gọi Tam pha đa, Tam ba đa. Hán dịch: Cứu cánh. Gọi đủ: Tam ma ba đa hộ ma pháp; Thành tựu hộ ma pháp. Cũng gọi Chung pháp. Pháp cầu nguyện cho được thành tựu viên mãn lúc kết thúc 1 pháp Hộ ma, 1 trong các pháp tu Hộ ma của Mật giáo. Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ nói về pháp này như sau (Đại 18, 920 thượng): Đặt vật thành tựu ờ trước đồ đựng váng sữa (tô), nếu là vật lớn thì đặt ở bên phải hay bên trái. Tự thân hành giả, đồ đựng váng sữa, vật thành tựu, lò đốt và Thánh chúng, cứ như thế theo thứ tự lần lượt an lập. Lấy cái môi nhỏ múc đầy váng sữa để trên vật thành tựu vàtụng chân ngôn đến chữ tát phạ thì đưa cái môi vào lửa theo với chữ ha, kéo dài tiếng ha để chờ khi cái môi đến trên vật thành tựu thì tiếng ha mới dứt, lần khác cũng như thế. Nếu gia trì trên người thì đặt cái môi lên đầu. Nếu dùng chân ngôn của Bản tôn mà không có chữ tát phạ ha thì nên thêm vào mà tụng. [X. phẩm Bổ khuyết thiểu pháp trong kinh Tô tất địa yết la Q.trung; kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.4; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ].
tam ma bán da
Samàpanna (S). In the state of samàdhi.
tam ma bát để
Xem Chánh thọ. Xem Đẳng chí.
; (三摩鉢底) Phạm,Pàli:Samàpatti. Hán âm: Tam ma bạt đề, Tam ma nga. Hán dịch: Đẳng chí, Chính thụ, Chính định hiện tiền. Chỉ cho cảnh giới thiền định do xa lìa các phiền não hôn trầm, trạo cử... mà thân tâm hành giả đạt đến trạng thái bình đẳng, an hòa. Cứ theo luận Câu xá quyển 28 thì 4 Tĩnh lự và 4 định Vô sắc là 8 Đẳng chí căn bản, trong đó, 4 Tĩnh lự và 3 định Vô sắc sau, cả 7 loại đều có 3 thứ Vị đẳng chí, Tịnh đẳng chí và Vô lậu đẳng chí, còn Hữu đính địa thì chỉ có Vị đẳng chí và Tịnh đẳng chí mà thôi. Về sựsaikhác giữa Tam ma bát để và Tam ma địa (Đẳng trì) thì trong luận Đại tì bà sa quyển 162 có nêu ra mấy thuyết, trong đó, có thuyết cho rằng Đẳng trì lấy 1 vật làm thể, Đẳng chí lấy 5 uẩn làm thể. Có thuyết nói Đẳng trì là 1 sát na, Đẳng chí thì tương tục. Có thuyết cho rằng các Đẳng trì tức là Đẳng chí, còn Đẳng chí thì không phải Đẳng trì, như Vô tưởng đẳng chí, Diệt tận đẳng chí chẳng phải là Đẳng trì. Cũng có thuyết nói Đẳng trì chẳng phải là Đẳng chí, như Bất định tâm tương ứng đẳng trì chẳng phải là Đẳng chí. Theo Câu xá luận quang kí quyển 6 thì Tam ma địa thông cả định, tán và 3 tính thiện, ác, vô kí, chỉ có tâm bình đẳng, giữ tâm hướng tới cảnh, cho nên gọi là Đẳng trì. Còn Tam ma bát để thì thông cả định hữu tâm và định vô tâm, chỉ có ở định chứ không hiện diện ở tán. Ngoài ra cũng có thuyết cho rằng Tam ma bát để là tên khác của thiền định. Trong Nhiếp đại thừa luận thích quyển 11 (bản dịch đời Lương) có lược nêu 6 thể loại Tam ma bát để khác nhau là: Cảnh, chúng loại, đối trị, tùy dụng, tùy dẫn, do sự... [X. luận Du già sư địa Q.11; Thập địa kinh luận Q.5; luận Tạp a tì đàm tâm Q.7; luận Câu xá Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần đầu; Du già luận lược toản Q.1,5]. (xt. Tam Muội).
tam ma bì đà
Sama-veda (S). The third of the four Vedas.
tam ma bạt đề
Samàdhi (S). Mental concentration.
tam ma da
(三摩耶) Phạm: Samaya. Cũng gọi Tam muội da, Sai ma dã, Sa ma da. Hán dịch: Thời, Chúng hội, Nhất trí, Qui tắc, Giáo lý. I. Tam Ma Da. Có hàm nghĩa là thời như ở đầu các kinh có câu Như thị ngã văn, nhất thời... (Phạm: Evaô maỳa Zrutam ekamsmin samaye), cũng tức là thời thành tựu trong Lục sự thành tựu. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 1 thì Ấn độ đời xưa dùng 2 từ để chỉ nghĩa thời: Một là Ca la (Phạm:Kàla); hai là Tam ma da. Trong đó, từ Ca la thường được ngoại đạo Ấn độ sử dụng; ngoại đạo này chấp thời gian là có thật, hơn nữa, chủ trương thời gian là nhân sinh ra muôn vật, nhưng Phật giáo thì cho đó là tà kiến, bởi vậy, trong kinh thường dùng từ Tam ma da chứ không dùng từ Ca la. Ngoài ra có thuyết cho rằng Ca la biểu thị thời trong trường thời, như 1 năm chia làm 3 phần bằng nhau; còn Tam ma da thì biểu thị tiểu thời trong thời, như 1 ngày chia làm 6 thời ngày đêm, trong 6 thời lại chia ra tiểu phần. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.8; Đại nhật kinh sớ sao Q.2]. (xt. Nhất Thời). II. Tam Ma Da. Mật giáo cho Tam ma da là bản thệ (thệ nguyện ở nhân vị)của chư Phật hoặc chư tôn, có 4 nghĩa: Bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và kinh giác. Đứng về phương diện bản chất mà nhận xét, thì Phật và chúng sinh hoàn toàn bình đẳng, không có sai khác(bình đẳng), vì thế, Phật phát thệ làm cho tất cả chúng sinh được khai ngộ thành Phật(bản thệ), còn chúng sinh thì nhờ sức gia trì của Phật, cho nên có thể diệt trừ phiền não(trừ chướng), tâm mê do đó cũng được thức tỉnh(kinh giác). Trong 4 nghĩa này, bình đẳng là trung tâm. Cho nên kinh Đại nhật quyển 6 nói cả 3(bản thệ, trừ chướng, kinh giác) đều bình đẳng nhất trí, tức hàm ý cả 3 đều là Tam muội, gọi là Tam tam muội da. Ở đây có 4 thứ: Nhất tâm tam tam muội da, Tam bảo tam tam muội da, Nhất thân tam tam muội da và Tam thừa tam tam muội da. Cứ theo kinh Đại nhật quyển 2 và Đại nhật kinh sớ quyển 9, tu theo pháp Tam muội(Tam ma da) của chư tôn thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới thì khế hợp với bản thệ và cùng với chư tôn trở thành nhất thể, vì chư tôn thuộc Thai tạng giới chia làm 3 bộ là Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ, pháp quán tưởng cũng có 3 thứ, gọi là Tam tam muội da. Ba thứ Tam muội da này cũng gọi là Phật bộ tam muội da, Liên hoa bộ tam muội da và Kim cương bộ tam muội da, hoặc gọi chung là Tam bộ tam muội da. Khi có nghĩa bình đẳng, bản thệ, thì giới của Phật giáo gọi là Tam muội da giới, Tam ma da giới, gọi tắt là Tam giới. Còn tác pháp của giới này gọi là Tam muội da giới nghi, Tam muội da giới tác pháp; đạo tràng của giới này gọi là Tam muội da giới tràng, Tam muội da giới đàn.Giới này lấy tâm Bồ đề thanh tịnh sẵn có của chúng sinh làm giới thể và lấy công đức pháp giới làm hành tướng. Giới này được truyền trao khi hành giả thụ pháp Quán đính. Mật giáo cho rằng sau khi thụ pháp mà không tu hành thì bản thệ của mình sẽ bị lui mất và phạm tội, gọi là tội Thoái tam muội da. Người hoài nghi và chê bai giáo thuyết (Mật tạng) của Mật giáo thì gọi là tội Phá tam muội da. Nếu chưa được chấp nhận cho học pháp mà tự trao truyền, nhận lãnh với nhau thì phạm tội, gọi là tội Việt tam muội da(tội vượt pháp). Ba thứ tội nêu trên hợp lại gọi chung là Tam chủng trọng tội. Những vật như khí trượng, ấn khế... tượng trưng bản thệ Phật, Bồ tát, chư tôn... gọi là Tam muội da hình, Tam ma da hình(gọi tắt là Tam hình), hoặc Ba la mật hình, Mạn đồ la vẽ hình Tam muội da để tượng trưng cho tôn hình, gọi là Tam muội da mạn đồ la, 1 trong 4 loại Mạn đồ la. Quá trình tu hành trong Mật giáo có 5 giai đoạn gọi là Ngũ chủng tam muội da, Ngũ chủng quán đính. Đó là: 1. Sơ kiến tam muội da: Giai vị chưa được trao cho chân ngôn và ấn khế, mới chỉ thấy được Mạn đồ la từ đàng xa phía ngoài đàn. 2. Nhập đổ tam muội da: Giai vị được phép vào phía trong đàn để cúng dường, lễ bái, rải hoa và được nghe danh hiệu của Bản tôn. Giai đoạn này được thụ chân ngôn và ấn khế. 3. Cụ đàn tam muội da: Giai vị tu nghiệp vi diệu sau khi đã được thấy Mạn đồ la và ấn khế. 4. Truyền giáo tam muội da: Giai vị tu hành các phép tắc, hiểu biết các việc tất yếu mà được làm thầy các người khác. 5. Bí mật tam muội da: Giai vị cuối cùng phát sinh trí tuệ bí mật. Năm thứ Tam muội da trên tương đương với Mạn đồ la cúng, Kết duyên quán đính, Thụ minh quán đính, Truyền pháp quán đính và Dĩ tâm quán đính của đời sau.[X. phẩm Nhập bí mật mạn đồ la pháp trong kinh Đại nhật Q.5; Lí thú thích Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.16].
tam ma da đạo
(三摩耶道) Từ gọi chungphápcủa Mật giáo. Tam mada nghĩa là bình đẳng, Mật giáo lấy pháp Tam mật bình đẳng làm nghĩa lí căn bản, vì thế gọi chung pháp của Mật giáo là Tam ma da đạo. (xt. Tam Ma Da).
tam ma hý đa
Xem Đẳng dẫn.
tam ma hứ đa
(三摩呬多) Phạm,Pàli:Samàhita. Hán dịch: Đẳng dẫn, Thắng định. Chỉ cho thân tâm an hòa bình đẳng do định lực dẫn sinh. Phần vị định do gia hạnh trước dẫn phát, cũng gọi là Tam ma hi đa. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 6, phần đầu và Du già luận lược toản quyển 1 thì Tam ma hi đa chỉ có ở định chứ không có ở tán, nhưng thông cả hữu tâm, vô tâm và lấy công đức 5 uẩn hữu lậu, vô lậu làm thể tính. Lãnh vực của Đẳng dẫn bao gồm: Bốn tĩnh lự, 8 giải thoát, 3 đẳng trì và 5 hiện kiến tam ma bát để. Do đó mà biết rằng phạm vi của Đẳng dẫn (Tam ma hi đa) rộng hơn so với Đẳng chí (Tam ma bát để). Câu xá luận quang kí quyển 6 (Đại 41, 124 trung) nói: Tam ma hi đa, Hán dịch là Đẳng dẫn, thông cả định hữu tâm và vô tâm. Phần nhiều có trong định hữu tâm nhưng không có ở tán, nếu gọi định hữu tâm là Đẳng dẫn, thì tâm lìa hôn trầm, điệu cử, gọi là Đẳng, có năng lực dẫn khởi định này gọi là Dẫn, đây là theo gia hạnh mà đặt tên. Cũng giải thích là định lìa hôn trầm, điệu cử, gọi là Đẳng, thường dẫn khởi thân tâm bình đẳng, gọi là Dẫn. Nếu gọi định vô tâm là Đẳng dẫn thì lại có 2 cách giải thích, cứ theo như định hữu tâm mà giải thích, chỉ có khác chữ vô tâm. Căn cứ vào sự giải thích trên đây thì Đẳng dẫn có 3 nghĩa: 1. Xa lìa hôn trầm, điệu cử... 2. Thường dẫn khởi bình đẳng... 3. Dẫn phát ra phương tiện bình đẳng... [X. luận Du già sư địa Q.11; Du già luận kí Q.4, thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.21]. (xt. Tam Muội).
tam ma nhã
(三摩若) Dịch cũ: Tổng tướng. Dịch mới: Hữu. Chỉ cho Cú nghĩa (nguyên lí) thứ 4 trong 6 cú nghĩa do học phái Thắng luận lập ra. Bách luận sớ quyển thượng (Đại 42, 246 hạ) nói: Thứ tư là Tam ma nhã đế, Hán dịch là Tổng tướng đế, nghĩa là thu tóm muôn pháp thành một Đại hữu.
tam ma đát trá quốc
(三摩呾咤國) Tam ma đát tra, Phạm: Samataỉa. Tên một nước đời xưa ở miền Đông Ấn độ.Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 thì nước này chu vi hơn 2000 dặm, vùng gần bờ biển ẩm thấp, đô thành chu vi hơn 20 dặm, khí hậu ôn hòa, phong tục nhu thuận, tính người cứng cỏi, siêng năng hiếu học, tin cả tà lẫn chính, có hơn 2 nghìn vị tăng, đều tu học giáo pháp Thượng tọa bộ. Cách đô thành không xa, có ngôi tháp do vua A dục xây dựng. Về sau, khi ngài Nghĩa tịnh sang Tây trúc cầu pháp có đi qua nước này, quốc vương lúc ấy tên là Hạt la xã bạt tra, chư tăng trong nước đều tu học Đại thừa giáo. Nước này tương đương với vùng đất hiện nay cách Calcutta khoảng 99 km về phía đông bắc. [X. điều Tăng triết thiền sư trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.hạ; Ancient Geography of India by A. Cunmingham].
tam ma đế
Xem đại định.
tam ma đề
Là thiền quán tùy duyên biến hiện, quán các pháp đều giả như lúa mạ huyển hóa mà dần dần tăng trưởng.
; Samàdhi (S). Mental concentration.
; Là thiền quán tùy duyên biến hiện, quán các pháp đều giả, như lúa mạ huyễn hóa mà dần dần tăng trưởng.
Tam Ma Địa
(s, p: samādhi, 三摩地): còn gọi là Tam Muội (三昧), Tam Ma Đề (三摩提), Tam Ma Đế (三摩帝), Tam Ma Để (三摩底), Tam Muội Địa (三昧地), v.v.; ý dịch là Đẳng Trì (等持), Chánh Định (正定), Chánh Ý (定意), Điều Trực Định (調直定), Chánh Tâm Hành Xứ (正心行處), Định (定); nghĩa là xa lìa hôn trầm, trạo cử, là tác dụng của tinh thần, tâm chuyên trú vào một cảnh, không tán loạn. Tam Ma Địa là một trong 75 pháp, hay 100 pháp. Như trong Phật Thuyết Pháp Thân Kinh (佛說法身經, Taishō Vol. 17, No. 766) có câu: “Hữu tam chủng Tam Ma Địa vị Không Vô Tướng Vô Nguyện, phục danh Tam Giải Thoát Môn (有三種三摩地謂空無相無願、復名三解脫門, có ba loại Tam Ma Địa là Không, Vô Tướng, Vô Nguyện; lại có tên là Ba Cửa Giải Thoát).” Hay trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 6 có câu: “Bỉ Phật giáo ngã, tùng văn tư tu, nhập Tam Ma Địa (彼佛敎我、從聞思修、入三摩地, Phật kia dạy ta, từ lắng nghe, tư duy, tu tập, đi vào Tam Ma Địa [định]).”
tam ma địa
Samàdhi (S). Mental concentration.
; Tam Muội—Samadhi (skt)—Concentration—Contemplation on reality—Trạng thái tâm không loạn động, tập trung vào không định vì thế mà nội tâm đi vào trạng thái yên tĩnh hoàn toàn—A state of mind in which the mind is free from distraction (loạn động), is absorbed in intense, purposeless concentration, thereby entering a state of inner serenity—See Samatha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Samadhi in English-Vietnamese Section.
; (三摩地) Phạm,Pàli:Samàdhi. Cũng gọi Tam muội, Tam ma đề, Tam ma đế. Hán dịch: Đẳng chí, Chính định, Định ý, Điều trực định, Chính tâm hành xứ. Tâm chuyên chú vào 1 cảnh, xa lìa hôn trầm, trạo cử, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Từ ngữ Tam ma địa có nhiều nghĩa, theo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì Tam ma địa là 1 trong 10 Đại địa pháp, tương ứng với tất cả tâm, tâm sở pháp, thông cả định, tán, cũng thông cả 3 tính thiện, ác, vô kí, nhưng không có thể riêng biệt. Theo Kinh Lượng bộ, tâm ở 1 cảnh mà chuyển liên tục, gọi là Tam ma địa. Hành giả trụ trong Tam ma địa, lặng lẽ quán tưởng, trí tuệ sáng rỡ, chiếu soi, đoạn trừ tất cả phiền não mà chứng đắc chân lí. [X. luận Đại tì bà sa Q.104; phẩm Định tướng trong luận Thành thực Q.12; luận Thành duy thức Q.5; Đại thừa nghĩa chương Q.13]. (xt. Tam Muội).
tam ma địa bồ đề
Samadhi-bodhi (skt)—Trạng thái giác ngộ trong đó tâm hành giả thoát khỏi mọi loạn động, thoát mọi cấu chướng, tập trung vào “không định,” vì thế mà nội tâm đi vào một trạng thái yên tĩnh hoàn toàn—A state of enlightenment in which the mind is free from distraction, free from unclean hindrances, absorbed in intense, purposeless concentration, thereby entering a state of inner serenity. ** For more information, please see Samadhi in English-Vietnamese Section.
tam ma địa pháp
(三摩地法) Từ gọi chungphápcủa Mật giáo. Vì bản ý của Mật tông là tu Tam ma địa Tam mật bình đẳng, cho nên pháp của Mật giáo được gọi chung là Tam ma địa pháp. Pháp này cũng là pháp lắng tưởng 5 tướng thành thân, quán xét 3 mật sâu kín để thông suốt Tam ma địa bồ đề tâm. Vì thế, tâm bồ đề trong Mật giáo cũng được gọi là Tam ma địa bồ đề tâm. Theo luận Bồ đề tâm thì pháp Tam ma địa chỉ có trong nghĩa Tức thân thành Phật của pháp Chân ngôn, cho nên trong các giáo không nói đến pháp Tam ma địa này.
tam ma địa vương kinh
Samādhirāja sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
Tam minh
三明; C: sānmíng; J: sammyō; S: tisrovidyā;|I. Ba »Nhận thức«, »Hiểu biết«: 1. Nhận thức được nhân duyên, những nghiệp còn lại của những cuộc sống trước đây (để rồi qua đó đoạn diệt Thường kiến); 2. Nhận thức được những gì xảy ra trong tương lai (để rồi qua đó diệt trừ Đoạn kiến); 3. Một sự hiểu biết vô cấu (giúp diệt trừ những kiến hoặc trong thâm tâm). II. Ba trong sáu loại thần thông (Lục thần thông 六神通): 1. Thiên nhãn thông (天眼通; s: divyācakṣurjñānasākṣat-kriyāvidyā), có thể thấy được chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi; 2. Túc mệnh thông (宿命通; s: pūrvanivāsānusmṛtijñāna-sākṣatkriyāvidyā) hoặc Túc trú thông (宿住通), biết được những gì xảy ra trong những cuộc sống của chính mình trước đây, trong những kiếp trước đây cũng như cuộc sống của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi (Lục đạo 六道, Lục thú 六趣); 3. Lậu tận thông (漏盡通; s: āśravakṣayajñānasākṣatkriyāvi-dyā), biết được là mình đã đoạn diệt tất cả những ô nhiễm, lậu hoặc, sẽ không phải tái sinh trong Tam giới.
tam minh
Trividyā (S), Ti- vijjā (P)Gồm: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh.
; Te-vijja (P). Threefold knowledge. Tam minh kinh Tevijja-vacchagota-sutta.
; Three insights—Three kinds of clarity—Ba loại sáng suốt có thể đạt được bằng trì giới (theo Thanh Tịnh Đạo của Ngài Bhadantacariya Buddhaghosa)—Three kinds of knowledge which can be obtained by observing precepts (according to The Path of Purification by Bhadantacariya Buddhaghosa): 1) Túc mạng minh: Biết được các đời trước—Insight into the mortal conditions of self and others in previous life. 2) Thiên nhãn minh: Biết sự chết và tái sanh của các loài hữu tình—Supernatural insight into future mortal conditions (deaths and rebirths). 3) Lậu tận minh: Đoạn trừ tất cả các lậu hoặc (những dục vọng và quyến rủ)—Nirvana insight—Insight into present mortal sufferings so as to overcome all passions or temptations.
; (三明) Phạm:Tri-vidya. Pàli:Ti-vijjà. I. Tam Minh. Cũng gọi Tam đạt, Tam chứng pháp. Trí tuệ sáng tỏ, thông đạt vô ngại, trừ hết ngu muội, chứng được vị Vô học. Tam minh gồm có: 1. Túc mệnh trí chứng minh (Phạm: Pùrva-nivàsànusmfti-jĩàna-sàkwàtkriya-vidỳa); cũng gọi Túc trụ tùy niệm trí tác chứng minh, Túc trụ trí chứng minh, Túc trụ trí minh,Túc mệnh minh, Túc mệnh trí: Trí tuệ biết rõ tướng trạng của mình và chúng sinh từ một đời cho đến trăm nghìn vạn ức đời. 2. Sinh tử trí chứng minh (Phạm: Cyuty-upapattì-jĩàna-sàkwàt-kriyavidỳa), cũng gọi Sinh tử trí chứng minh, Thiên nhãn minh, Thiên nhãn trí: Trí tuệ biết rõ tướng trạng sống chết của chúng sinh lúc tử lúc sinh, sắc thiện sắc ác, hoặc do nhân duyên tà pháp thành tựu ác hạnh, khi mệnh chung sinh vào đường ác; hoặc do nhân duyên chính pháp thành tựu thiện hạnh, khi mệnh chung sinh vào đường thiện... 3. Lậu tận trí chứng minh (Phạm: Àsrava-kwaya-jĩàna-sàkwàt-kriyavidỳa), cũng gọi Lậu tận trí minh, Lậu tận minh, Lậu tận trí: Trí tuệ biết rõ như thực đã chứng được lí Tứ đế, giải thoát tâm hữu lậu, diệt trừ tất cả phiền não. Theo luận Đại tì bà sa quyển 102 thì Túc mệnh minh thấy được các việc quá khứ nên sinh tâm chán lìa, Thiên nhãn minh thì thấy được các việc vị lai mà sinh tâm chán lìa, còn Lậu tận minh thì đã chán lìa rồi bèn ưa thích Niết bàn. Ngoài ra, Túc mệnh minh có thể đoạn trừ thường kiến, Thiên nhãn minh thì dứt trừ được đoạn kiến; còn Lậu tận minh thì xa lìa cả hai bên thường, đoạn mà an trụ ở Trung đạo. Nếu phối với 6 thần thông thì Tam minh này theo thứ tự lấy thần thông thứ 5, thứ 2, thứ 6 trong 6 thần thông làm tự tính.[X. kinh Tạp a hàm Q.31; luận Đại trí độ Q.2; luận Tập dị môn túc Q.3,15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.6; luận Câu xá Q.27]. (xt. Lục Thần Thông]. II. Tam Minh. Chỉ cho Bồ tát minh, Chư Phật minh và Vô minh minh. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 18 (bản Bắc) thì Bồ tát minh tức Bát nhã ba la mật, Chư Phật minh tức Phật nhãn, Vô minh minh tức Tất cánh không. [X. Niết bàn kinh hội sớ Q.16; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15].
tam minh trí
Trividyà (S). The three clear conceptions that: a-All is impermanent vô thường anitya; b-all is sorrowful khổ dukkha; c-all is devoided of a self vô ngã anàtman.
; The three clear conceptions of all beings: 1) Vô thường: Anitya—All is impermanent. 2) Khổ: Duhkha—All is sorrowful. 3) Vô ngã: Anatman—All is devoid of a self.
tam miệu
Samyak (S). Chính đẳng, Perfect, right.
; Turn together or in one direction—Right and balanced. ** For more information, please see Đẳng Chánh Giác in Vietnamese-English Section, and Samyak-sambuddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tam miệu tam bồ đề
Samyak-saṃbodhi (S)quả vị Chánh đẳng chánh giác Samyak: chánh nhơn, hoàn toàn (Sam: biến, khắp cả); Bodhi: giác ngộ.
; Samyakcambodhi (S). Correct universal intelligence, Chính biến tri (đạo). Correct equal or universal enlightenment Chính đẳng giác. Correct universal perfect enlightenment Chính đẳng chính giác. An epithet ođ every Buddha. The full term is anuttara-samyak-sambodhi, perfect universal enlightenment, knowledge, or understanding; omniscience.
; Samyak-sambodhi—Correct universal intelligence—Perfect knowledge or wisdom—See Tam Miệu.
tam miệu tam phật đà
Samyak-saṃbuddha (S), Sammā-sambuddha (P)Chánh biến tri, Tam miệu Tam bồ đề, Tam da tam bồ, Tam da Tam Phật, Chánh biến tri, Chánh biến giác, Chánh đẳng Chánh giácBậc giác ngộ hoàn toàn, hiểu biết tất cả.
; Samyaksambuddha (S). The third of the ten titles of Buddha defined as Chính biến tri or Chính đẳng giác one who has perfect universal knowledge or understanding, omniscient
; Samyaksambuddha—One who has perfect universal knowledge or understanding.
; (三藐三佛陀) Phạm: Samyak-saôbuddha. Pàli: Sammà-sambuddha. Cũng gọi Tam miệu tam một đà, Tam da tam Phật, Tam da tam Phật đà. Hán dịch: Chính biến tri, Chính đẳng giác, Chính đẳng giác giả. Một trong mười danh hiệu của Như lai.Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2, trong Tam miệu tam Phật đà thì Tam miệu nghĩa là Chính, Tam nghĩa là Biến, Phật nghĩa là Tri, cho nên Tam miệu tam Phật đà nghĩa là Chính biến tri nhất thiết pháp. Như lai có năng lực biết rõ lí Tứ đế, biết tướng của tất cả các pháp thực không hoại, không tăng, không giảm, lại biết danh hiệu của các thế giới trong mười phương và danh hiệu của chúng sinh trong 6 đường... vì thế Như lai được gọi là Tam miệu tamphật đà. [X. kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.20, phần cuối].
tam muội
Samàdhi (S). Putting together, composing the mind, intent contemplation, perfect absorption, union of the meditator with the object of meditation. Also tam ma địa, tam ma đề, tam ma đế. Interpreted by định or chính định the mind fixed and undisturbed; by chính thụ correct sensation of the object contemplated; by chính tâm hành xứ the condition when the motions of the mind are steadied and harmonized with the object; by tức lự nghi tâm the cessation of distraction and the fixation of the mind; by đẳng trì the mind held in equilibrum; by sa ma tha i.e. chỉ tức to stay the breathing. It is described as concentration of the mind (upon an object). The aim is giải thoát, mukti, deliverance from all the trammels of life, the bondage of the passions and reincarnations. There are numerous kinds and degrees of samàdhi.
; Tự tánh như như bất động gọi là chánh định. Đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc đều trong định. Nếu tĩnh tọa mới nhập định, có xuất có nhập thì chẳng phải đại định.
; (三昧) I. Tam Muội. Phạm,Pàli:Samàdhi. Cũng gọi Tam ma địa, Tam ma đề, Tam ma đế. Hán dịch: Đẳng trì, Định, Chính định, Định ý, Điều trực định, Chính tâm hành xứ.Chỉ cho trạng thái thiền định, an trú tâm ở 1 chỗ, 1 cảnh. Trong kinh Phật, từ Samàdhi được dịch là Đẳng trì thời, đẳng là giữ cho tâm được bình đẳng an lành, không để cho lao xao, lay động; trì là chuyên tâm ở 1 cảnh, không tán loạn, gọi là Tâm nhất cảnh tính. Tông Câu xá coi Tam muội là 1 trong 10 Đại địa pháp, tông Duy thức thì cho là 1 trong 5 Biệt cảnh, cả 2 tông đều cho Tam muội thuộc 1 trong các tâm sở, nhưng kinh Lượng bộ và tông Thành thực đều cho tâm sở không có tính riêng biệt. Nói chung, việc tu hành cốt yếu là chuyên tâm chú ý ở 1 chỗ, không để tán loạn mà phải giữ cho tâm an tĩnh, trạng thái này gọi là Tam muội. Khi đạt đến trạng thái Tam muội thì liền phát khởi trí tuệ mà khai ngộ chân lí, vì thế khi dùng Tam muội này tu hành mà đạt được cảnh giới Phật thì gọi là Tam muội phát đắc hoặc phát định. Các nhà dịch cũ thường lầm 3 từ: Tam ma địa (Phạm: Samàdhi, Tam muội; Đẳng trì), Tam ma bát để (Phạm: Samàpatti, Đẳng chí, Chính thụ, Chính định, Hiện tiền) và Tam ma hi đa (Phạm: Samàhita, Đẳng dẫn, Thắng định) là giống nhau và đều dịch là Tam muội. Nhưng trên thực tế, Tam muội chỉ là Tam ma địa mà thôi.Hữu bộ cho rằng phàm là tác dụng tinh thần chung cho tất cả tâm (tức Đại địa pháp) thì đều có định, tán và 3 tính thiện, ác, vô kí, nhưng chỉ giới hạn ở tâm không tán loạn của tất cả định Hữu tâm (không có trong định Vô tâm) và có tác dụng tập trung trong 1 cảnh thì gọi là Tam ma địa. Ngược lại, Tam ma bát để và Tam ma hi đa thì thông cả Hữu tâm, Vô tâm, nhưng chỉ giới hạn ở định (bao gồm định Hữu tâm,định Vô tâm chứ không chung cho định, tán).Luận Câu xá quyển 28 cho rằng thiền định làm chỗ y chỉ có 4 loại khác nhau là 4 Tĩnh lự(Tứ thiền), 4 định Vô sắc, 8 Đẳng chí và 3 Đẳng trì. Bốn Tĩnh lự và 4 định Vô sắc lấy Thiện đẳng trì(Tam ma địa, Tam muội) làm thể. Đẳng chí(Tam ma bát để) căn bản của 4 Tĩnh lự và 4 định Vô sắc có 8 thứ, vì thế gọi là Bát đẳng chí; 3 Đảng trì có 3 loại là Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm duy tứ và Vô tầm vô tứ. Ngoài ra, 3 Đẳng trì (Tam tam muội) cũng chỉ cho 3 lớp Đẳng trì(Tam trùng tam muội) là: Không, Vô tướng, Vô nguyện hoặc Không không, Vô tướng vô tướng, Vô nguyện vô nguyện. Trong 2 loại Tam muội thì loại thứ nhất tùy theo có Tầm và Tứ hay không mà được chia làm 3 thứ Tĩnh lự. 1. Sơ tĩnh lự(Sơ thiền)và Vị chí định (cũng gọi Hữu giác hữu quán tam muội): Tĩnh lự này thuộc về Tam ma địa hữu tầm hữu tứ. 2. Trung gian tĩnh lự(cũng gọi Vô giác hữu quán tam muội, Trung gian định): Tĩnh lự này thuộc Tam ma địa vô tầm duy từ. 3. Cận phần của Đệ nhị tĩnh lự (Đệ nhị thiền) trở lên(cũng gọi Vô giác vô quán tam muội): Cận phần này thuộc Tam ma địa vô tầm vô tứ. Còn loại thứ 2 thì chỉ cho Tam muội quán xét nhân và pháp đều không, gọi là Không tam muội. Tam muội lìa bỏ tướng sai biệt, gọi là Vô tướng tam muội. Tam muội lìa bỏ ý nghĩa mong cầu, gọi là Vô nguyện tam muội. Kế đến, trong 3 lớp tam muội còn có Không không tam muội, Vô tướng vô tướng tam muội và Vô nguyện vô nguyện tam muội. Cứ theo luận Thập trụ tì bà sa quyển 11, chỉ trừ Tứ thiền (4 Tĩnh lự)và Bát giải thoát, còn tất cả định đều là Tam muội. Lại cho rằng chỉ có 3 môn Giải thoát(Không tam muội, Vô tướng tam muội, Vô nguyện tam muội vô lậu) và 3 Tam muội Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm duy tứ và Vô tầmvô tứ được gọi là Tam muội. Cũng luận đã dẫn còn chỉ ra rằng phạm vi của Định hẹp hơn phạm vi của Tam muội, theo đó thì Định mà chư Phật và Bồ tát chứng đắc có thể được xem là Tam muội. Đại thừa nghĩa chương quyển 13 có nêu các thuyết trong luận như Tạp a tì đàm tâm quyển 6, luận Thành thực quyển 12, Thập địa kinh luận quyển 5... rồi y cứ vào đó mà giải thích rõ sự khác nhau giữa: Thiền, Định, Tam muội, Chính thụ, Tam ma nga (Phạm, Pàli: Samàpatti: Đẳng chí), Giải thoát, Xa ma tha (Phạm: Samàtha, Pàli: Samatha: Chỉ)... Theo sự giải thích này thì Tam muội với nghĩa hẹp là chỉ cho 3 loại Tam muội Không, Vô tướng và Vô nguyện; còn Tam muội với nghĩa rộng thì chỉ cho 4 tâm Vô lượng và tất cả Định khác. Kinh A hàm cho rằng ngoài 4 thiền, 8 định ra, còn có 3 tam muội Không, Vô tướng, Vô nguyện(3 môn Giải thoát) và 3 tam muội Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm duy tứ và Vô tầm vô tứ. Nhưng trong các kinh Đại thừa thì có từ vài trăm trở lên đến cả nghìn loại Tam muội. Về càc kinh Đại thừa có mang tên Tam muội thì gồm: Kinh Bát chu tam muội, kinh Thủ lăng nghiêm tam muội, kinh Tuệ ấn tam muội, kinh Tự thệ tam muội, kinh Phật ấn tam muội, kinh Pháp hoa tam muội, kinh Niệm Phật tam muội, kinh Nguyệt đăng tam muội, kinh Kim cương tam muội... Tiêu đề Tam muội trong các kinh trên được giải thích rất tỉ mỉ, rõ ràng. Trong đó, Bát chu tam muội còn được gọi Chư Phật hiện tiền tam muội, Phật lập tam muội. Ngoài ra, kinh Pháp hoa quyển 1 có nêu tên Vô lượng nghĩa xứ tam muội; kinh Hoa nghiêm quyển 6 và 44 (bản dịch cũ) thì có: Hoa nghiêm tam muội, Hải ấn tam muội, Sư tử phấn tấn tam muội... kinh Đại phẩm Bát nhã quyển 3, quyển 5 cũng có thuyết 108 tam muội, như Thủ lăng nghiêm (Kiện hành) tam muội, Bảo ấn tam muội, Sư tử du hí tam muội... Trong tông Thiên thai thì Ma ha chỉ quán quyển 2 thượng có nêu 4 loại Tam muội: Thường tọa, Thường hành, Bán hành bán tọa và Phi hành phi tọa. Đạo tràng để tu 4 loại Tam muội này gọi là Tứ tam muội viện. Ngoài ra, luận Thành thực quyển 12 có nêu 3 thứ Tam muội là Nhất phần tu tam muội(chỉ tu 1 phần định hay huệ), Cộng phần tu tam muội(gồm tu cảđịnh và tuệ hữu lậu) và Thánh chính tam muội(gồm tu cả định và tuệ vô lậu). Kinh Niết bàn quyển 13 (bản Nam) liệt kê tên 25 loại Tam muội mà Bồ tát tu để phá trừ 25 Hữu, 16 Tam muội trong kinh Pháp hoa quyển 7, tức là tên gọi khác của Pháp hoa tam muội. Tam muội từ thân phát ra lửa, gọi là Hỏa giới tam muội, Hỏa định tam muội, Hỏa quang tam muội, hàm ý là hỏa táng thi hài. Tam muội tối thắng thì gọi là Vương tam muội hoặc Tam muội vương tam muội. Trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, ngài Pháp nhiên vị tăng người Nhật, gọi niệm Phật là Vương tam muội. Lại trong Tọa thiền dụng tâm kí, ngài Oánh sơn Thiệu cẩn, cũng gọi tọa thiền là Vương tam muội. Ngôi nhà để tu Tam muội, gọi là Tam muội đường. Nếu chia theo chủng loại Tam muội được tu thì có Pháp hoa tam muội đường, Thướng hành tam muội đường, Lí thú tam muội đường... [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Trường a hàm Q.9,10; kinh Đại bát niết bàn Q.25 (bản Bắc); kinh Đại phẩm Bát nhã Q.1,23; luận Đại trí độ Q.28; luận Du già sư địa Q.11; luận Tập dị môn túc Q.6; Phật địa kinh luận Q.1, luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.13; Viên giác kinh lược sớ chú Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4, thượng]. (xt. Bách Bát Tam Muội, Định). II. Tam Muội. Tại Nhật bản, nơi thiêu thi hài, nghĩa địa, cũng được gọi là Tam muội. Để cầu siêu cho người chết, phần nhiều nhà Pháp hoa tam muội được dựng bên cạnh mộ phần và thỉnh chư tăng tu tam muội Pháp hoa. Ngôi nhà Pháp hoa tam muội gọi tắt là Tam muội đường hoặc Tam muội.
tam muội (tam ma địa)
Chánh định—Samaya—Samadhi—Từ nầy có nhiều nghĩa khác nhau. Theo Phật giáo, Tam Muội có nghĩa là tâm định tĩnh, không bị quấy rối. Sự nối kết giữa người quán tưởng và đối tượng thiền. Trong nhà Thiền, Tam Muội chẳng những ám chỉ sự quân bình, tĩnh lặng hay nhất tâm bất loạn, mà nó còn ám chỉ trạng thái tập trung mãnh liệt nhưng không hề gắng sức, mà là sự thấm nhập trọn vẹn của tâm trong chính nó hay là sự trực quan cao rộng (nhập chánh định). Tam Muội và Bồ Đề đồng nhất với nhau theo cái nhìn của tâm Bồ Đề Giác Ngộ, tuy nhiên nhìn theo giai đoạn đang phát triển thì tam muội và ngộ khác nhau—This term has a variety of meanings. In Buddhism, it means the mind fixed and undisturbed—To assemble together—Putting together—Composing the mind, intent contemplation, perfect absorption, union of the meditator with the object of meditation. In Zen it implies not merely equilibrium, tranquility, and one-pointedness, but a state of intense yet effortless concentration, of complete absorption of the mind in itself, of heightened and expanded awareness. Samadhi and Bodhi are identical from the view of the enlightened Bodhi-mind. Seen from the developing stages leading to enlightenment-awakening; however, samadhi and enlightenment are different.
tam muội da
Samaya (S), dam sig (T)Cảnh trí nhà tu quyết đắc Phật huệ. Từ này gồm những nghĩa: - Tam bình đằng: thân - khẩu - ý như nhau. - Thệ nguyện: lập nguyện giữ giới. - Cảnh giác: làm thức tĩnh cái giác ngộ. - Trừ cấu chướng: diệt trừ phiền não chướng ngại đối với thân tâm.
; Samàya (S) is variously defined as hội coming together, meeting, convention; thời timely; tông in agreement, at the same class; bình đẳng equal, equalized; cảnh giác aroused, warned; trừ cấu chướng ridance of unclean hindrances. Especially it is used as indicating the vows made by Buddhas and bodhisattvas, hence as a tally symbol, or emblem of the spiritual quality of a Buddha or bodhisattva.
; Samaya (skt)—Coming together—Meeting—Convention—Riddance of unclean hindrances (trừ cấu chướng).
tam muội da giới
Samàya-commandments: the rules to be strictly observed before full ordination in the esoteric sects.
; Giới Tam Muội phải được nghiêm trì trước khi thọ giới đàn trong Mật Giáo—Samaya commandments to be strictly observed before full ordination in the esoteric sect.
; (三昧耶戒) Cũng gọi Tam ma da giới, Bí mật tam muội da giới, Phật tính tam muội da giới, Bí mật giới, Tam thế vô chướng ngại trí giới, Vô vi giới. Gọi tắt: Tam giới. Tức là giới Chân ngôn bí mật trụ nơi lí Tam tam bình đẳng, lấy tâm bồ đề thanh tịnh vốn có làm giới thể, lấy pháp giới vô lượng vạn đức làm hành tướng. Giới này có công năng thành tựu trí thanh tịnh của Như lai, chư Phật ba đời nhờ giới này mà chứng được Bồ đề, cho nên giới này còn gọi là Tam thế vô chướng ngại trí giới. Tướng giới của giới này là 4 trọng cấm: Không được bỏ chánh pháp, không được lìa bỏ tâm Bồ đề, không được sẻn tiếc tất cả pháp, không được làm điều gì bất lợi cho chúng sinh. Giới này là kim chỉ nam cho việc tu hành trong Mật giáo, hành giả chân ngôn đều phải thụ trì, trước khi vào đàn thực hành quán đính, phải thụ giới này trước rồi mới được vào. Tam muội da vốn đủ 4 nghĩa bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và kinh giác, bởi vậy giới này cũng có 4 nghĩa. 1. Bình đẳng: Khi hành giả mới phát tâm, biết rõ lí Tam tam bình đẳng, an trụ nơi Phật địa tam muội đạo, thấy suốt tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau. 2. Bản thệ: Lấy lí 3 bình đẳng làm duyên, phát khởi thệ nguyện rộng lớn, tu Đại bi, thực hành 4 vô lượng, 4 nhiếp pháp... làm lợi ích chúng sinh, không bao giờ dừng nghĩ. 3. Trừ chướng: Khi nhờ bản nguyện mà phát được giới thể Tam tam bình đẳng thì có năng lực trừ diệt các tội chướng nghiệp ác ở quá khứ, hiện tại và vị lai. 4. Kinh giác: Tự tỉnh thức và quán xét thân tâm, dứt bỏ tính buông thả, biếng nhác, tinh tiến tu hành, thành tựu giác ngộ, giải thoát. Tác pháp trao truyền giới này gọi là Tam muội da giới nghi, Tam muội da giới tác pháp; đạo tràng để truyền thụ thì gọi là Tam muội da giới tràng, Tam muội da giới đàn.[X. kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; Đại nhật kinh sớ Q.9,11,16].
tam muội da hình
The distinguising symbol of a Buddha or bodhisattva, e.g. the Lotus of Quán thế Âm.
; Một biểu tượng đặc biệt của Phật và Bồ Tát—The distinguishing symbol of a Buddha or Bodhisattva (The Lotus of Kuan Shi Yin).
; (三昧耶形) Cũng gọi Tam ma da hình. Gọi tắt: Tam hình. Chỉ cho các hình tướng như khí tượng, ấn khế... tiêu biểu cho bản thệ của các vị tôn.Cứ theo thuyết trong Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí quyển 5 thì Tam muội da hình cũng gọi Ba la mật hình, trụ trong hình Tam muội da của chư tôn tức là hình tướng nhập định, lặng lẽ an trụ trong bản thệ nguyện. Tam muội da có 4 nghĩa là bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và kinh giác.1. Bình đẳng: Hình Tam muội da và ấn khế, khí trượng... tượng trưng cho nội chứng của Phật, cùng với nội đức, ngoại tướng đều bình đẳng không sai khác. 2. Bản thệ: Như tháp Ngũ luân của đức Đại nhật. 3. Trừ chướng: Dùng hình tướng này biểu thị cho chúng sinh xa lìa 3 chướng phiền não, nghiệp và khổ. 4. Kinh giác: Dùng hình Tam muội da này đánh thức giấc ngủ dài của chúng sinh, khiến họ phát tâm tu hành. Như thanh kiếm sắc mà bồ tát Văn thù cầm tượng trưng cho nguyện xưa dùng đại trí để dứt trừ phiền não, hoa sen của bồ tát Quán âm, tượng trưng cho bản thệ đại bi đồng thể, không có nhiễm trước; bánh xe báu mà bồ tát Chuyển pháp luân cầm tượng trưng cho bản thệ thuyết pháp phá chấp. Khi cầm các hình Tam muội da như dao, bánh xe báu, chày kim cương... thì Thiên ma Ba tuần không dám trái vượt, tự thân chư tôn cũng không thể trái vượt. Nếu chúng sinh thấy các hình Tam muội da này mà tin tưởng nơi bản thệ rồi như pháp tu hành thì sẽ toại nguyện và được phúc đức. [X. Kim cương giới thất tập Q.thượng; Lưỡng bộ mạn đồ la tùy văn kí Q.3].
tam muội da hội
The Samàya assembly, i.e. the second of the nine mandalas, consisting of seventy-three saints represented by the symbols of their power.
tam muội da mạn đa la
Samaya-maṇdala (S).
tam muội da mạn đà la
Samàya-mandala (S). One of the four kinds of magic circles in which the saints are represented by the symbols of their power, e.g. pagoda, jewel, lotus, sword.
; Samaya-mandala (skt)—One of the four kinds of magic circles in which the saints are represented by the symbols of their powers.
tam muội da mạn đồ la
(三昧耶曼荼羅) Phạm: Samaya-maịđala. Cũng gọi Tam ma da mạn đồ la, Bình đẳng mạn đồ la, Tam muội da trí ấn. Gọi tắt: Tam mạn. Chỉ cho Mạn đồ la vẽ các khí trượng (như dao, kiếm, hoa sen...) mà các vị tôn cầm và ấn khế(thủ ấn)của các Ngài, 1 trong 4 loại Mạn đồ la của Mật giáo. Khi dùng 4 loại Mạn đồ la bao nhiếp vạn hữu trong toàn thể pháp giới thì Tam muội da mạn đồ la là chỗ nương của khí thế giới. Nếu phối hợp 4 loại Mạn đồ la với Tam bảo thì Tam muội da mạn đồ la tương đương với Tăng bảo; nếu phối hợp với Tam mật thì tương đương với Ý mật; nếu phối hợp với 4 loại pháp thân thì tương đương với Đẳng lưu pháp thân. [X. Lí thú thích Q.thượng; Tức thân thành Phật nghĩa]. (xt. Tứ Mạn Tướng Đại).
tam muội da thân
(三昧耶身) Chỉ cho thân Phật trong Mạn đồ la tam muội da, giống với hình Tam muội da. Các phù hiệu tượng trưng cho bản thệ, nội chứng... của chư tôn trong Mật giáo và tháp, bánh xe báu, hoa sen, quốc độ, khí thế giới... đều gọi là Tam muội da thân. Như lầu gác bảo vương tức là thân Tam muội da của Như lai; trong Hiển giáo, tứ đại được xem là phi tình nhưng trong Mật giáo thì chúng là thân Tam muội da của Như lai. (xt. Tam Muội Da Hình).
tam muội da thân (hình)
The embodiment of Samàya, a term of the esoteric sect; i.e. the symbol of a Buddha or bodhisattva which expresses his inner nature, e.g. the stùpa as one of the symbols of Vairocana Đại nhật; the lotus of Quán thế Âm etc. Thân is used for a Buddha, hình for a bodhisattva. The exoteric sects associate the term with the báo thân sambhogakàya.
tam muội da trí
Samaya wisdom (S). In esoteric teaching, the characteristics of a Buddha or bodhisattva's wisdom, as shown in the mandala.
; See Tam Muội Trí.
tam muội giới
1) Tam Muội Giới là một danh từ phổ thông trong Mật Giáo: Samaya world, a general name for esoteric sect. 2) Giới phải nghiêm giữ trước khi được thọ giới đàn Cụ Túc trong Mật Giáo: Samaya commandments (the rules to be strictly observed before full ordination in the esoteric sect.
tam muội hoả
(三昧火) Lửa Tam muội(Lửa định). Cứ theo Truyền pháp chính tông kí quyển 1, đức Thích ca tự biết mình sắp đến ngày nhập diệt, liền phó chúcpháp nhãn thanh tịnh và tấm áo Tăng già lê bằng kim lũ cho vị đệ tử hàng đầu là ngài Đại ca diếp, sau đó, đức Phật đi đến thành Câu thi na ca la, vào rừng cây Sa la song thụ, trải giường tòa, nằm nghiêng hông bên phải, trong lúc các vị tỉ khưu đệ tử đứng vây chung quanh, Phật an nhiên thị tịch. Ngài Đại ca diếp nghe tin vội đến thì thấy Tam muội chân hỏa trong kim quan cháy đỏ rực, ánh sáng xá lợi chiếu khắp đất trời.
tam muội hình
Tam muội thân, biểu tượng đặc sắc của Phật và Bồ Tát, dùng diễn tả nội tánh—The distinguishing symbol of a Buddha or a Bodhisattva which expresses his inner nature (the stupa as one of the symbol of Vairocana, the lotus for Kuan Shi Yin)—The embodiment of Samaya—Báo thân—Sambhogakaya.
tam muội hỏa
tummo (T), Subtle heat.
; Fire of samàdhi, the fire that consumed the body of Buddha when He entered nirvàna.
; Fire of samadhi (the fire that consumed the body of the Buddha when he entered nirvana).
tam muội lạc
Samadhisukha (skt)—Hạnh phúc khởi sinh từ trạng thái tập trung của tâm. Những vị chưa có thể lên đến hàng Bồ Tát thì quá mê đắm vào hạnh phúc của Tam Muội và quên mất thế giới bên ngoài mà tại đấy có rất nhiều chúng sanh chưa giác ngộ đang mong chờ sự giải thoát. Loại người theo Phật giáo tự mãn nầy thường bị Đức Phật lên án nghiêm khắc—The bliss arising from a concentrated state of mind. Those who have not yet been able to rise to the rank of Bodhisattvahood are too deeply drunk with the beatitude of a samadhi, forgetful of the outside world where so many unenlightened ones are waiting for emancipation. This class of self-complacent Buddhists is severely indicted by the Buddha.
tam muội lạc chánh thọ ý sanh thân
Samadhi-sukha-samapatti-manomayakaya (skt)—Một trong ba loại thân do ý sanh—One of the three will-bodies.
tam muội lạc chánh thọ ý sinh thân
Samādhi-sukhasamāpatti-manomayakāya (S).
tam muội lạc chính thọ ý sinh thân
Samàdhi-sukha-samàpatti-mano-mayakàya (S)
tam muội ma
Samàdhi-màra (S). One of the ten màras, who lurks in the heart and hinders progress in meditation, obstructs the truth and destroys wisdom.
; Một trong thập ma ẩn núp trong tâm làm chướng ngại tiến bộ trong thiền định, làm cản trở chân lý và phá nát trí tuệ—Samadhi mara, one of the ten maras who lurks in the heart and hinders progress in meditation, obstructs the truth and destroys wisdom.
tam muội môn
The different stages of a bodhisattva's samàdhi.
; (三昧門) Chỉ cho cánh cửa Tam muội, từ đó có thể tiến vào vô lượng Tam muội của Phật. Tam muội của Phật có vô lượng, vô số, hàng Bồ tát không thể nào thâm nhập được hết các Tam muội này, hoặc có vị nghe việc ấy sinh tâm trở lui, vì thế đức Phật giảng nói về Tam muội môn, hễ vào được 1 môn thì thu tóm vô lượng Tam muội, hệt như nắm 1 góc tấm áo thì có thể giơ toàn thể tấm áo lên. [X. luận Đại trí độ Q.28].
tam muội mạn đà la
Samaya-mandala—Một trong bốn vòng ảo thuật trong đó Thánh chúng dùng để làm biểu tượng cho sức mạnh—One of the four kinds of magic circles in which the saints are represented by the symbols of their power.
tam muội nguyệt luân tướng
The candra-mandala—The moon-wheel or disc samadhi (Nagarjuna is said to have entered it).
tam muội pháp giới
Ba phương pháp thiền quán về sự liên hệ giữa lý và sự trong Kinh Hoa Nghiêm—Three meditations, on the relationship of the noumenal and phenomenal in the Flower Ornament Scripture (Kinh Hoa Nghiêm): 1) Lý pháp giới: The universe as law or mind that things or phenomena are of the same Buddha-nature, or the Absolute. 2) Lý Sự pháp giới: The Buddha-nature and the thing, or the Absolute and phenomena are not mutually exclusive. 3) Sự sự vô ngại pháp giới: Phenomena are not mutually exclusive, but in a common harmony as pasrts of the whole.
tam muội phát đắc
(三昧發得) Cũng gọi Phát định. Phát được Tam muội. Nghĩa là nhờ pháp chuyên niệm mà tâm trụ ở 1 cảnh, liền được thắng cảnh hiện tiền. Cũng tức là ban đầu nhờ gia hành tư duy, nên tư tưởng dần dần nhỏ nhiệm, cho đến giác và tưởng đều mất, đạt đến cảnh giới Tam muội chính thụ, cuối cùng thầm hợp với thắng cảnh sở quán, thấy biết được rõ ràng, gọi là Tam muội phát đắc. Trong số các vị Tổ sư của tông Tịnh độ thì các ngài Thiện đạo, Hoài cảm... từng đã phát đắc Tam muội, thấy được tướng thù thắng của cõi Tịnh độ. [X. luận Thích tịnh độ quần nghi Q.7; Quán niệm pháp môn; Vãng sinh thụy ứng san truyện; Quảng hoằng minh tập Q.30].
tam muội phật
Samàdhi Buddha (S). One of the ten Buddhas mentioned in the HoaNghiêm Kinh.
tam muội trí
Samaya-wisdom—Buddhas' or bodhisattvas' wisdom.
tam muội trường
(三昧場) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cũng gọi Tam muội sở. Gọi tắt: Tam muội. Chỉ cho khu vực thiêu đốt và chôn cất người chết, ý nói là môi trường tiến vào Tam muội (vào an định). [X. Loại tụ danh vật khảo Q.322].
tam muội tương ưng
The symbols or offerings should tally with the object worshipped, e.g. a white flower with a merciful or a white image.
; The symbols or offerings should tally with the object worshipped.
Tam muội Vô nguyện
xem ba pháp tam-muội.
tam muội vương
See Vương Tam Muội.
tam muội vương an lập tam muội
Samādhirāja-supratisthita-samādhi (S)Thiện lập định vương Tam muội.
tam muội vương kinh
Samàdhiràja-sùtra (S). Sùtra of the King of Concentration.
Tam Muội Vương Tam Muội
(三昧王三昧, Zammaiōzammai): quyển thứ 72 trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏), là phần Thị Chúng (示眾) tại Cát Phong Tự (吉峰寺) vùng Việt Tiền (越前, Echizen), vào ngày 15 tháng 2 năm 1244. Đây là thiên dạy rõ rằng ngồi Thiền là vua của hết thảy các Tam Muội, hành Thiền là loại Tam Muội thâu nhiếp tất cả các Tam Muội khác.
tam muội vương tam muội
See Vương Tam Muội.
tam muội đường
(三昧堂) Cũng gọi Pháp hoa tam muội viện, Pháp hoa đường. Ngôi nhà được kiến trúc để giảng kinh Pháp hoa dài hạn của giới Phật giáo Nhật bản. Ngôi Tam muội đường đầu tiên là do ngài Tối trừng xây dựng ở Đông tháp thuộc núi Tỉ duệ, về sau, ở Tây tháp và Hoành xuyên cũng có các Tam muội đường được kiến tạo. Trong các chùa viện lớn thuộc tông Thiên thai đều có Tam muội đường. Đến đời sau, Tam muội đường không phải chỉ dành riêng cho việc giảng kinh Pháp hoa mà cũng là đạo tràng để giảng các kinh khác.
tam môn
(三門) I. Tam Môn. Cũng gọi Sơn môn. Cổng chính của các chùa Thiền tông. Tam môn nghĩa là 3 cửa giải thoát: Từ bi, Trí tuệ và Phương tiện, hoặc tượng trưng cho 3 môn Tín, Giải, Hành, chứ không hẳn là phải có 3 cánh cửa. Hoặc kiến trúc Tam môn đã được căn cứ vào đoạn văn sau đây trong luận Đại trí độ quyển 20 (Đại 25, 207 hạ): Ví như tòa Thành có 3 cửa, 1 thân người không thể cùng 1 lúc vào cả 3 cửa, mà chỉ có thể từ 1 cửa đi vào. Thực tướng các pháp là thành Niết bàn, thành có 3 cửa: Không, Vô tướng, Vô tác. [X. Phật địa kinh luận Q.1]. II. Tam Môn. Chỉ cho 3 loại pháp môn mà Bồ tát tu hành để hướng tới Bồ đề. Đó là: 1. Trí tuệ môn: Biết tiến, giữ thoái là trí, biết không, vô ngã là tuệ, y vào Trí nên không cầu sự an vui cho mình, y vào Tuệ nên xa lìa tham đắm. 2. Từ bi môn: Cứu khỏi khổ là Từ, ban cho vui là Bi; y vào Từ nên cứu tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ não, y vào ¨ Bi nên mang lại an vui cho tất cả chúng sinh.3. Phương tiện môn: Ngay thẳng là Phương, ngoài mình là Tiện; y vào ngay thẳng nên sinh tâm thương xót tất cả chúng sinh, y vào ngoài mình nên xa lìa tâm mong cầu sự cung kính cúng dường đối với chính mình. Như trên, Trí tuệ môn thuộc tự lợi, Từ bi môn thuộc lợi tha, Phương tiện môn thì thuộc cả tự lợi và lợi tha. Tuy chia làm 3 môn nhưng thực ra chẳng phải là hai, vì Trí tức Bi, Bi tức Trí, thực hành cả Trí lẫn Bi để nhiếp hóa chúng sinh mà thành Phương tiện môn. [X. luận Tịnh độ; Vãng sanh luận chú Q.hạ]. III. Tam Môn. Gọi đủ: Tam giải thoát môn. Chỉ cho 3 pháp môn đạt đến sự giải thoát của Niết bàn vô dư, đó là: Không, Vô tướng và Vô nguyện. (xt. Tam Giải Thoát Môn).
tam môn tam đại thị giả
(三門三大侍者) Cũng gọi Sơn môn tam thị giả. Ba vị đại thị giả trong tùng lâm. 1. Thiêu hương thị giả: Chức vụ trông coi các việc thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, khai thất, niệm tụng, thiêu hương, hành lễ và kiêm cả việc ghi chép các pháp ngữ của vị Trụ trì. 2. Thư trạng thị giả: Chức vụ phụ trách việc thảo các thư từ qua lại để trình lên vị Trụ trì và tất cả các văn thư trong sơn môn. 3. Thỉnh khách thị giả: Chức vụ trông coi việc tiếp khách, khoản đãi các bậc tôn túc, tiết lạp, cụ trạng, hành lễ... [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Thiền uyển thanh qui Q.thượng].
tam môn tịnh độ
Three Methods in the Pure Land Cultivation—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, pháp môn không cao không thấp, cao thấp do căn tánh mà phân. Vì chúng sanh căn cơ sai biệt nhau, nên pháp tu cũng có nhiều cách. Tuy nhiên, căn bản có ba môn tu trong Tịnh Độ—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism, the Dharma methods are not, in themselves, high or low. It is only because the different natures and capacities of individuals that they have been categorized as such. Sentient beings are at different levels of spiritual development, and therefore, various methods are required. There are numerous methods; however, we can summarize in the three basic ones. (I) Đệ Nhất Môn là pháp môn Quán Tưởng—First Method, Visualization Method—Quán tưởng là như trong Quán Kinh dạy: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh. Cho nên khi tâm các bạn tưởng Phật, thì tâm ấy chính là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp tùy hình, tâm ấy là tâm Phật, tâm ấy chính là Phật. Biển chánh biến tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sanh. Vì thế các bạn phải nhớ nghĩ và quán tưởng kỹ thân Đức Phật kia.”—Visualization Method, is explained as follows in the Meditation Sutra: “Every Buddha, Tathagata, is One who is a Dharma realm Body and enters into the Mind of all beings. For this reason when you perceive the Buddha-state in your Minds, this indeed is the Mind which possesses the thirty-two signs of perfection and the eighty minor marks of excellence. It is the Mind that becomes Buddha; indeed, it is the Mind that is Buddha. The ocean of true and universal knowledge of all the Buddhas is born of Mind and thought. For this reason, you ought to apply your Mind with one thought to the meditation on that Buddha. 1) Thiên Thai sớ nói mấy chữ “Chư Phật Như Lai” sắp xuống, là thuyết minh tất cả chư Phật; lại nói mấy chữ “Phải nhớ nghĩ” sắp xuống, là chỉ cho quán tưởng riêng Đức Phật A Di Đà, pháp giới thân là pháp thân của Báo Phật. Tâm chúng sanh tịnh, pháp thân tự hiện, nên gọi là “vào;” như khi vầng hồng nhật mọc lên tất bóng hiện xuống trăm sông. Đây là chỉ cho Phật thân tự tại, có thể tùy vật hiện hình vậy. Lại “pháp giới thân” là chỉ cho thân Phật, khắp tất cả chỗ, lấy pháp giới làm thể. Khi hành giả chứng được môn Quán Phật Tam Muội nầy, giải nhập tương ưng, nên nói “vào trong tâm tưởng.” “Tâm nầy là Phật” là Phật nguyên vẫn không, nhân chúng sanh tâm tịnh mới có, sợ e người hiểu lầm cho rằng bỗng nhiên mà có, nên mới nói “là Phật.” Mới khởi tu quán nên nói “làm,” sự tu đã thành nên gọi “là.”—According to the T'ien-T'ai Treatise, the passage beginning from 'Every Buddha, Tathagata' refers to all Buddhas. The passge beginning with 'You ought to apply your Minds,' etc., refers specifically to meditation on Buddha Amitabha. The Dharma Realm Body is the Dharma Body of the Reward Buddha. If the Minds of sentient beings are pure, the Dharma Body reveals itself. Thus, the word 'enter' is used. This is similar to the brilliant sun; when it rises, its image appears in a multitude of rivers. This is to indicate that the Buddha Body is free and unimpeded and can manifest itself according to the object. Moreover, the 'Dharma Realm Body' refers to the Buddha Body, appearing everywhere, taking the Dharma Realm as its nature. When the practitioner achieves this Buddha Visualization Samadhi, his understanding and actions (noumenon and phenomenon) interpenetrate and become one. This is expressed in the words 'enters into the Minds of all beings.' “It is the Mind that becomes Buddha” means that the Buddha has always been inherently empty and void. Because the Minds of sentient beings are pure, Buddha exists. Indeed, it is the Mind that is Buddha. Since people might misunderstand what was said previously and think that the Buddha has spontaneously come into existence, the words 'is Buddha' are used. The word 'become' indicates the beginning of visualization, while the word 'is' means that visualization has been accomplished. 2) Diệu Tông Thích nói: “Muốn tưởng thân Phật phải hiểu rõ quán thể. Thể đó là bản giác; từ nơi đây mà khởi thành pháp quán. Bản giác là thân pháp giới của chư Phật, vì chư Phật không sở chứng chi khác, toàn chứng bản tánh của chúng sanh. Nếu thỉ giác có công, bản giác mới hiển, nên nói “pháp thân từ nơi tâm tưởng mà sanh.” Lại Đức Di Đà cùng tất cả chư Phật đồng như một pháp thân, một trí huệ, sự ứng dụng cũng như vậy. Hiển được thân Đức Di Đà tức là hiển được thân chư Phật, tỏ được thân chư Phật tức là lộ được thể Di Đà. Cho nên trong văn kinh nói rộng qua chư Phật để kết về sự quán tưởng Đức A Di Đà. Từ mấy chữ “thân pháp giới” trở xuống là nói về sự giao cảm của đạo cảm ứng và ước về lý giải nhập tương ưng—Another commentary states: “To visualize the Buddha's body, you should clearly understand the nature of visualization. That nature is self-enlightenment. Visualization methods are developed from there. Self-enlightenment is the Dharma Realm Body of the Buddhas because what the Buddhas have completely attained is nothing other than the Self-Nature of sentient beings. Only when the 'initial enlightenment' is meritorious does 'self-enlightenment' appear. This is the meaning of the words 'the Dharma Realm Body is born of Mind and thought.' Moreover, Amitabha Buddha and all Buddhas possess the same Dharma Body, the same wisdom and the same capacities and functions. When the body of Amitabha Buddha is manifested, the bodies of all Buddhas are manifested; when the bodies of the Buddhas are understood, the nature of Amitabha Buddha is revealed. Therefore, the Meditation Sutra refers broadly to all Buddhas in order to end in the visualization of Amitabha Buddha. “From the words 'Dharma Realm Body' on, the Sutra refers to the mutual response between the Buddhas and the practitioner and the ''nterpenetration' between understanding and action (theory and practice). Đại Sư Dung Tâm đã phê bình về hai lời giải trên như sau: “Nếu không có lời giải trước, thì môn quán tưởng ấy không phải là quán Phật; như không có lời giải sau, e hành giả hiểu lầm rằng thể của chúng sanh và Phật khác nhau, nên hai lối giải đã tác thành cho nhau mà thuyết minh thuyết Quán Pháp vậy.”—Commenting on these two explanations, Elder Master Dung Tâm has written: “Without the first explanation, the above visualization would not be a meditation on the Buddha. Without the second explanation, the practitioner could misunderstand and think that the nature of sentient beings is different from that of the Buddhas. The two explanations are complementary in elucidating the Visualization method.” (II) Đệ Nhị Môn là pháp môn Ức Niệm—The Second Method, Recitation or Recollection Method—Nói ức niệm là hành giả hoặc duyên theo tướng tốt, hoặc trì danh hiệu của Phật, đều gọi là ức niệm. Môn nầy có cả lý lẫn sự—With recitation or recollection method, the cultivator either “recollects” the auspicious features of Amitabha Buddha or “recites” His name. This method has both noumenal and phenomenal aspects. 1) Lý Nhất Tâm—One-pontedness of Mind on noumenal level: Trong Kinh Hoa Nghiêm, Giải Thoát Trưởng Giả nói: “Nếu tôi muốn thấy Đức Vô Lượng Thọ Như Lai và thế giới an lạc, thì tùy ý liền được thấy. Tôi có thể biết rõ tất cả chư Phật, quốc độ tùy thuộc, cùng những việc thần thông của các ngài. Bao nhiêu cảnh tướng trên đây, không từ đâu mà đến, không đi về đâu, không có xứ sở và không chỗ trụ; cũng như thân tôi không thật có đi, đứng, tới lui. Các Đức Như Lai kia không đến chỗ tôi, tôi cũng không đi đến chỗ của các Ngài. Sở dĩ như thế, vì tôi hiểu rõ tất cả chư Phật cùng với tâm mình đều như mộng. Lại hiểu tự tâm như nước trong chum, các pháp như hình bóng hiện trong nước. Tôi đã ngộ tâm mình như nhà huyễn thuật, tất cả chư Phật như cảnh huyễn hóa. Lại biết chư Phật chư Bồ Tát trong tự tâm, đều như tiếng vang, như hang trống, tùy theo âm thanh mà phát ra tiếng dội lại. Ví tôi ngộ giải tâm mình như thế nên có thể tùy niệm thấy Phật.” Về đoạn kinh trên, ngài Trinh Nguyên giải rằng: “Từ đầu đến mấy chữ 'chỗ của các Ngài' chính là thuyết minh lý duy tâm, nếu ngộ tức tâm mà vô tâm liền vào chân như tam muội. Khi hành giả hiểu rõ các cảnh tướng đều như huyễn, duy tâm hiện ra, đã ngộ duy tâm và tức tâm tức Phật, thì tùy chỗ tưởng niệm, không đâu chẳng là Phật. Đoạn văn sau nêu ra bốn điều thí dụ với đều đủ bốn quán thông và biệt để hiển lý duy tâm, tất cả vẫn viên dung không ngại: In the Avatamsaka Sutra, the Elder Liberation said: “If I wish to see Amitabha Thus Come One in the World of Happiness, then as soon as I formulate the intention I see Him. I can clearly see all the various Buddhas, their lands and retinues as well as their spiritual powers. And yet, these Thus Come Ones do not come here, nor do I go to them. . This is so because I know that all Buddhas and my own Mind are completely like a dream. I know that all Buddhas are like an image or reflection in the water. I know that all thephysical characteristics of all Buddhas together with my own Mind, are both like an illusion, an echo. I realize this as such and recollect and consider this as such, that all Buddhas I see arise from my own Mind. Because I clearly understand my Mind as such, I can at will see the Buddhas. An Elder Master commented on the above quote as follows: “From the first sentence to the words 'Nor do I go to the Buddhas,' the sutra elucidates the truth of Mind-Only. If the practitioner is enlightened to the truth of 'Mind but not Mind,' he immediately enters the True Thusness Samadhi. When the practitioner truly understands that all realms and marks are illusory, created from the Mind, and awakens to the truth of 'Mind-Only and Mind is Buddha,' then, depending on the object of his thoughts and recollection, there is nothing which is not Buddha. The second part of this quote refers to four examples. These four examples encompass the Four Meditations and include the 'general' and the 'specific,' thus revealing the truth of Mind-Only, everything has always been perfect and unobstructed: a) Cảnh mộng là dụ cho lý không đến không đi, có nghĩa là toàn thể đều duy tâm: 'Like a dream' stands for the truth of 'neither coming nor going.' This means that everything is Mind-Only. b) Hình bóng trong nước là dụ cho lý không ra không vào, vì duy tâm nên tất cả đều “không”: 'Like a reflection in the water' represents the truth of 'neither leaving nor entering.' This shows that because it is Mind-Only, it is empty. c) Tướng huyễn hóa là dụ cho lý chẳng có chẳng không, vì duy tâm nên tất cả đều “giả”: 'Like an illusion' stands for the truth of 'neither existing nor non-existing.' This indicates that because it is Mind-Only, it is false. d) Tiếng vang là dụ cho lý chẳng tan chẳng hợp, vì duy tâm nên tất cả đều “trung”: 'Like an echo' means 'neither disintegrating nor amalgamating.' This shows that because it is Mind-Only, it is the Middle Way. ** Nếu hành giả hiểu rõ lý trên đây, rồi chấp trì bốn chữ A Di Đà Phật, sẽ không còn những thứ sau đây—If the practitioner clearly understands this truth and concentrates upon the Buddha's name, he or she will be free of the followings: e) Tâm có tâm không: The Mind of existence and non-existence. f) Tâm cũng có cũng không: The Mind of simultaneous existence and non-existence. g) Tâm chẳng phải có chẳng phải không: The Mind of simultaneous non-existence and non-non-existence. h) Dứt cả quá khứ hiện tại vị lai mà niệm, đó gọi là “lý ức niệm” hay lý nhất tâm: Serving all past, present and future, this is call “Noumenal recitation. i) Và ngày đêm sáu thời cứ như thế mà nhiếp tâm trì niệm, không cho gián đoạn, không sanh một niệm, thì chẳng cần vượt giai tầng mà đi thẳng vào cõi Phật. Đây cũng gọi là “lý nhất tâm.” Tóm lại, lý nhất tâm là người thông đạt bốn lý quán trên, dùng tâm ấy mà niệm Phật, tương ưng với không huệ, đi đến chỗ thuần chơn. Lý nhất tâm là hành môn của bậc thượng căn: If the practitioner can recite singlemindedly in this way throughout the six periods of day and night, i.e., all the time, without interruption and without developing a single thought , he need not pass through any stage of cultivation but can enter directly into the realm of the Buddhas. This is also called “One-pointedness of Mind” or noumenal level. One-pointedness of Mind on noumenal level is the practice of those of the highest capacities. 2) Sự Nhất Tâm—One-pointedness of Mind on phenomenal level: Về “sự ức niệm,” như trong Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhớ Phật niệm Phật, hiện đời hoặc đương lai nhất định sẽ thấy Phật, cách Phật không xa, không cần mượn phương tiện chi khác mà tâm tự được khai ngộ.” Hay như các kinh sách khác đã chỉ dạy, 'hoặc hệ niệm suốt một đời, hoặc trì niệm trong ba tháng, bốn mươi chín ngày, một ngày đêm, cho đến bảy ngày đêm, hoặc mỗi buổi sớm mai giữ mười niệm. Nếu hành giả dùng lòng tin sâu, nguyện thiết, chấp trì câu niệm Phật như rồng gặp nước, như cọp dựa non, thì được sức Phật gia bị đều vãng sanh về Cực Lạc. Theo trong Kinh cho đến hạng phàm phu tạo tội ngũ nghịch thập ác, nếu khi lâm chung chí tâm xưng danh hiệu Phật mười niệm, cũng được vãng sanh. Và đây gọi là “sự nhất tâm.” Tóm lại, sự nhất tâm là hành giả tâm còn giữ niệm, mỗi niệm không cho xen hở, đi đến chỗ không còn tạp niệm. Sự nhất tâm thông dụng cho hàng trung hạ: The Surangama Sutra states: “Moreover, whoever recites the name of Amitabha Buddha, whether in the present time, or in the future time, will surely see the Amitabha Buddha and never become separated from him. By reason of that association, just as one associating with the maker of perfumes becomes permeated with the same perfumes, so he will become enlightened without Amitabha's compassion, and will become enlightened without any other expedient means. Another sutra teaches that: “Whether he focusses on the Buddha constantly throughout his life, or recites assiduously for three months, or forty-nine days, or one to seven days and nights, or recites only ten times each morning, as long as the practitioner holds the Buddha's name with deep faith and fervent vows, like a dragon encountering water or a tiger hidden deep in the mountains, he will be assisted by the Buddha's power and achieve rebirth in the Pure Land. A dragon outside the ocean or a tiger without the protection of the forest has but one thought in mind: to return to its environment. One-pointedness of Mind on phenomenal level refers to the practitioner whose Mind is still attached to recitation, one recitation following another without pause, leading to he state of extinction of all sundry thought. (III) Đệ Tam Môn là pháp môn Chúng Hạnh—The Third Method, method of “Sundry Practices: 1) Nguyện Lực Vãng Sanh—Seeking rebirth through the power of vows: Pháp Môn Chúng Hạnh là môn nói về hành giả dùng nhiều hạnh để vãng sanh về Cực Lạc. Như trong Kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ Tát khuyến tấn Thiện Tài đồng tử và đại chúng nơi hải hội dùng mười đại nguyện cầu sanh Tịnh Độ (see Thập Hạnh Phổ Hiền). Trong mỗi nguyện ấy đều có nói khi nào cõi hư không, cõi chúng sanh, nghiệp chúng sanh, phiền não của chúng sanh hết, thì nguyện tôi mới hết. Và hành giả phải dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý, thực hành nguyện đó không gián đoạn, không chán mỏi. Đến khi lâm chung, tất cả mọi thứ tùy thân đều để lại, cho đến các căn đều tan rã, duy những đại nguyện ấy hằng theo bên mình trong khoảng sát na hành giả liền được sanh về Cực Lạc—The “Sundry Practices” is the method in which the cultivator engages in many practices seeking rebirth in the Pure Land. Thus, in the Avatamsaka Sutra, the Bodhisattva Samantabhadra advises and urges the youth Sudhana (Good Wealth) and the Ocean-Wide Great Assembly to seek rebirth throught the Ten Great Vows (see Thập Hạnh Phổ Hiền). Each Vow contains the clause: “When the realm of empty space is exhausted, my Vows will be exhausted. But because the realm of empty space is inexhaustible, my Vows will never end. In the same way, when the realm of living beings, the karma of living beings, and the afflictions of living beings are exhausted, my Vows will be exhausted. But the realms of living beings, the karma of living beings, and the afflictions of living beings are inexhaustible. Therefore, my Vows are inexhaustible. They continue in thought after thought without cease. My body, mouth and mind never tire of doing these deeds. At the time of death, when all family and possessions are left behind and all faculties disintegrate, only these great vows will follow close behind, and in an instant, the practitioner will be reborn in the Pure Land. 2) Tâm Lực Vãng Sanh—Achieving rebirth through Mind-power: Lại như trong Kinh Đại Bảo Tích, Đức Thế Tôn bảo Ngài Di Lặc về mười tâm như sau: “Mười thứ tâm nầy không phải hạng phàm phu, bất thiện hay kẻ có nhiều phiền não có thể phát được. Nếu có kẻ nào thành tựu một trong mười tâm trên, muốn sanh về thế giới Cực Lạc mà không được như nguyện, đó là điều không khi nào có.”—Moreover, in the Maharatnakuta Sutra, Sakyamuni Buddha told Maitreya Bodhisattva: “These Ten Minds cannot be developed by ordinary people, nor those who lack virtue and beset by afflictions (See Thập Tâm Tịnh Độ). For someone to attain one of these ten frames of Mind while seeking rebirth in the Pure Land and yet fail to be reborn is simply impossible.” 3) Thần Lực Vãng Sanh—Achieving rebirth through spiritual power: Trong Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu chúng sanh nào trì tụng thần chú Đại Bi, mà còn bị đọa vào ba đường ác, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, mà không được sanh về cõi Phật, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi nếu không được vô lượng tam muội biện tài, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại, nếu không được như nguyện, thì chú nầy không được gọi là chú Đại Bi Tâm Đà La Ni; duy trừ cầu những việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành.” Ngoài ra, những kẻ chí tâm trì tụng các chú như Bạch Tán Cái, Chuẩn Đề, Vãng Sanh, đều có thể sanh về Cực Lạc hoặc các Tịnh Độ khác—Moreover, in the Sutra of the Heart of Great Compassion Mantra, Avalokitesvara Bodhisattva (Kuan-Yin) said to the Buddha: “Great Honored Teacher! If any sentient being should assiduously recite the Great Compassion Mantra and still descend upon the Three Evil Paths, I vow not to attain Buddhahood. If any practitioner should assiduously recite the Great Compassion Mantra and fail to be reborn in the lands of the Buddhas, I vow not to attain Buddhahood. If any practitioner should assiduously recite the Great Compassion Mantra and not to achieve innumerable samadhis and great eloquence, I vow not to attain Buddhahood. If anyone should assiduously recite the Great Compassion Mantra and not have all wishes and hopes of his present life fulfilled, this dharani cannot be called the Great Compassion Mantra! The only exceptions are wishes which are unwholesome and those made when the Mind is not utterly sincere."”Moreover, practitioners who assiduously recite such dharani as the Thousand-Armed Avalokitesvara Mantra, the Rebirth Mantra, etc. with utmost sincerity, can all be reborn in the Western Pure Land or other pure lands. 4) Phước Lực Vãng Sanh—Achieving rebirth through the power of accumulated merits: Lại nữa, Kinh Quán Vô Lượng Thọ có nói: “Muốn sanh về Cực Lạc, phải tu ba thứ phước. Ba thứ phước nầy là chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai”—Moreover, the Meditation Sutra states: “Those who wish to be reborn in the land of Ultimate Bliss, must cultivate the three-fold goodness. These are the efficient causes for the pure actions of all the Buddhas of the three worlds, past, present and future. a) Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành: They should be filial toward their parents and support them; serve and respect their teachers and elders; be of compassionate heart and abstain from doing harm; and cultivate the ten virtuous actions. b) Thọ trì tam quy, giữ kỹ các giới, không phạm oai nghi: They should accept and hold on to their refuge in the Three Jewels; perfectly observe all moral precepts and not lower their dignity nor neglect ceremonial observances. c) Phát lòng Bồ Đề, tin lý nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại Thừa, khuyến tấn người tu hành. Ngoài ra, những kẻ cất chùa xây tháp, tạo tượng, lễ bái tán tụng, giữ gìn trai giới, đốt hương, rải hoa, cúng dường tràng phan bảo cái, trai Tăng bố thí, nếu hạnh lành thuần thục, dùng lòng tín nguyện hồi hướng, đều có thể vãng sanh: They should awaken in their Minds a longing for Bodhi, deeply believe in the principle of cause and effect, recite Mahayan sutras, persuade and encourage other practitioners. Furthermore, those who perform good deeds, carrying them out to perfection and transferring the merits with a Mind of faith and vows, can all achieve rebirth as well. These meritorious acts include erecting temples, stupas and statues of the Buddhas, worshipping the Buddhas, burning incense, offering flowers, donating pennants and other decorations to Buddhist temples, making offerings of food to the clergy, practicing charity, etc.
tam môn đồ phái
(三門徒派) Cũng gọi Việt tiền tam môn đồ bất bái chi chúng. Một trong các dòng phái của Tịnh độ chân tông ở Nhật bản. Khi ngài Giác như (1270-1351) thuộc đời thứ 3 của chùa Bản nguyện du hóa đến Việt tiền đã đề xướng cho 3 người là Như đạo ở Đại dã, Đạo tính ở Hoành việt và Như giác ở Chinh giang, vâng giữ Bất bái chi bí sự(Việc bí mật không lạy), gọi là Tam môn đồ phái(dòng phái của 3 vị nói trên). Phái này chủ trương tất cả chúng sinh và Phật vốn là đồng nhất, khi đức Phật A di đà khai ngộ, Ngài đã nhận định chúng sinh cũng có khả năng khai ngộ, cho nên hành giả chỉ cần tin tưởng vào bản nguyện của Ngài chứ không cần phải niệm Phật hay lễ bái. Về sau, chủ trương này được bãi bỏ và thay vào đó là chủ trương tín ngưỡng giống như chủ trương của phái Bản nguyện tự, rồi nhập chung với phái Chân tông, trở thành Nội tứ phái trong 10 phái: Tam môn đồ phái, Sơn nguyên phái, Xuất vân lộ phái và Thành chiếu tự phái.
tam mạn đa bạt đà la
Xem Phổ hiền Bồ tát.
; Samantabhadra (S). Fouguen (J). Phổ Hiền. Pervading goodness, or "all gracious'. Also Biến Cát universal fortune; also styled Visvàbhadra. The principal Bodhisattva of Nga Mi sơn. He is the special patron of followers of the Lotus Sùtra. He is usually seated on a white elephant, and his abode is said to be in the East. He is one of the four Bodhisattvas of the Yoga school.
tam mạn đà
Samanta (S) Tr. by đẳng, phổ, biến. Universal, everywhere. Samantagandha (S). Phổ huân, universal fragrant; a tree in paradise; a title of a Buddha.
tam mật
Trini-guhyani (S)Gồm: Thân mật, Khẩu mật, ý mật.
; The three mystic things: the body, mouth (i.e.voice), and mind of the Tathàgata Như Lai, which are universal, all things being this mystic body, all sounds this mystic voice, and all thoughts this mystic mind. All creatures in body, voice, and mind, are only individualized parts of the Tathàgata, but illusion hides their Tathàgata from them. The esoterics seek to realize their Tathàgata nature by physical signs and postures, by voicing of chân ngôn dhàranis and by meditations so that nhập ngã ngã nhập He may enter me and I Him, which is the perfection of siddhi tất địa.
; Thân Khẩu Ý—Thân khẩu ý của mọi sinh vật là những phần của Chân như, nhưng phiền não che lấp bản tánh chân như—The three mystic things (body, mouth and mind) of the Tathagata—All creatures in body, voice and mind are only individualized parts of the Tathagata, but illusion hides their Tathagata nature from them. Buddhist cultivators seek to realize their Tathagata nature by physical signs and postures, by voicing of dharani and by meditation: 1) Thân mật: All things being this mystic body. 2) Khẩu mật: All sound this mystic voice. 3) Ý mật: All thought this mystic mind.
; (三密) Phạm:Trìịi guhỳani. Chỉ cho 3 nghiệp bí mật, tức Thân mật (Phạm: Kàya-guhya), Khẩu mật (Phạm: Vàg-guhya)) và Ý mật (Phạm: Manoguhya). Khẩu mật cũng gọi là Ngữ mật và Ý mật cũng gọi là Tâm mật. Từ Tam mật chủ yếu do Mật giáo sử dụng. 1. Theo sự giải thích của Hiển giáo, không thể dùng sự suy tư của phàm phu mà lường biết được ba nghiệp của Phật, nên gọi là Tam mật. Thân mật: Đức Như lai ở giữa đại hội, đại chúng thấy sắc thân của Phật cao, thấp khác nhau, cho đến hiện đại thần biến đều không thể nghĩ bàn. Ngữ mật: Khi đức Phật nói pháp, người ở cách xa hoặc một dặm, hoặc mười dặm hoặc trăm ngàn dặm đều nghe được âm thanh của Phật. Hơn nữa, trong cùng một hội, người nghe bố thí, người nghe trì giới... mỗi người tùy theo chỗ mình nghe đều không thể nghĩ bàn. Ý mật: Phật thường ở trong thiền định vắng lặng, những chỗ ngài tư duy, quán xét đều không thể nghĩ bàn. 2. Theo sự giải thích của Mật giáo thì ba nghiệp của Phật thuộc về Dụng đại (tác dụng của Chân như) trong 3 đại Thể, Tướng, Dụng. Tác dụng ấy rất sâu xa nhỏ nhiệm, sự nghĩ lường của phàm phu không thể nào biết được, hàng Bồ tát Thập địa, Đẳng giác cũng không thể thấy nghe, cho nên gọi là Tam mật. Tam mật của Phật nếu ứng hợp với Tam nghiệp của chúng sinh thì thành tựu nghiệp dụng không thể nghĩ bàn. Tam nghiệp của chúng sinh chẳng những khế hợp với Tam mật của Phật mà còn hàm nhiếp trong đó. Lại nữa, bản tính ẩn kín trong tâm chúng sinh cũng giống với Tam mật của Phật, tức thực tướng tam nghiệp của chúng sinh đều là tác dụng của pháp tính Lục đại và tương đồng với Tam mật của Phật, vì thế ba nghiệp thân, khẩu, ý của chúng sinh cũng gọi là Tam mật. Trong Tam mật của chúng sinh, hành giả dùng tay kết ấn của Bản tôn, cho đến tất cả việc đi, đứng, ngồi, nằm của hành giả đều gọi là Thân mật. Miệng hành giả tụng chân ngôn, cho đến tất cả lời nói thuộc về khẩu nghiệp, đều gọi là Ngữ mật. Tâm của hành giả quán tưởng Bản tôn, cho đến khởi lên ý niệm về tất cả sự nghiệp... đều gọi là Ý mật. Tam nghiệp của chúng sinh tương ứng với Tam mật của Phật, gọi là Tam mật dụng đại, cùng với Lục đại thể đại và Tứ mạn tướng đại gọi chung là Tam đại. Tam mật của Phật trùm khắp vũ trụ. Nói một cách cụ thể thì có thân của bốn loại Mạn đồ la, trong đó, Đại mạn đồ la có đầy đủ mọi tướng tốt đẹp, chính là Thân mật của Như lai; Tam muội da mạn đồ la dùng mật ấn và các kí hiệu để biểu trưng bản thệ, là Ý mật của Như lai; Pháp mạn đồ la là biểu thị ngôn giáo, chủng tử, chân ngôn, đà la ni... là Ngữ mật của Như lai; còn Yết ma mạn đồ la thì chung cho cả ba loại Mạn đồ la nêu trên, nên cũng chung cho cả Tam mật. Phật bộ, Liên hoa bộ, Kim cương bộ theo thứ tự phối hợp với Thân mật, Ngữ mật và Ý mật. Tam mật có hai loại là Hữu tướng và Vô tướng. 1. Hữu tướng tam mật: Phật và chúng sinh dung hòa lẫn nhau, nhập vào cảnh giới Du già; chúng sinh thân kết ấn(Thân mật), miệng tụng chân ngôn(Khẩu mật) và ý quán tưởng Bản tôn(Ý mật). 2. Vô tướng tam muội: Tất cả việc làm, lời nói thuộc thân, khẩu và những ý nghĩ trong tâm của chúng sinh đều là Tam mật.Tam mật có bốn lớp gốc, ngọn: -Lớp thứ nhất: Đức của Ý mật hiển bày rõ, đó là gốc. Thân mật và Khẩu mật theo tâm quán tưởng, thành tựu những việc của Bản tôn, đó là ngọn. -Lớp thứ hai: Tam mật đều cùng đạt đến cảnh cực vi diệu Đệ nhất thực tế, cho nên bình đẳng, không chia gốc ngọn. -Lớp thứ ba: Từ nhân đến quả lấy ý làm gốc, chính vị quả Phật lấy thân tướng làm gốc, phương tiện sau khi chứng quả lấy lời nói làm gốc, bởi thế Tam mật đều có gốc ngọn lẫn nhau. -Lớp thứ tư: Thân là thể, thuộc Phật bộ nên là gốc, Ngữ và Ý là tướng và dụng thuộc Liên hoa bộ và Kim cương bộ nên là ngọn. Về sự quan hệ giữa Tam mật, Lục đại và Tứ mạn thì có 2 nghĩa ngang và dọc. Nói theo nghĩa dọc thì trong Lục đại, đất, nước và lửa là Thân mật, gió và hư không là Ngữ mật, thức là Ý mật; trong Tứ mạn thì chữ, ấn và hình theo thứ tự là Ngữ mật, Thân mật và Ý mật. Còn nói theo nghĩa ngang thì tất cả hiển sắc là Thân mật, tất cả âm thanh là Ngữ mật và tất cả ý thú là Ý mật. Theo đó thì trong Tam mật, 2 nghĩa ngang, dọc nhiếp thuộc thể và tướng, bởi vậy, pháp thể nhỏ nhiệm của Tứ mạn, Lục đại, cho đến 1 phần nhỏ như lân hư trần cũng đều là nghiệp dụng, 1 pháp trong Tam mật hàm nhiếp hết mọi đức, cho nên Tam mật tức là Đại nhật Như lai. [X. hội Mật tích kim cương lực sĩ trong kinh Đại bảo tích Q.10; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; luận Bồ đề tâm, Đại nhật kinh sớ Q.1; luận Thập trụ tâm Q.10; luận Biện hiển mật nhị giáo Q.10; Đại nhật kinh khai đề; Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích; Tức thân thành Phật nghĩa].
tam mật dụng đại
(三密用大) Tác dụng to lớn của Tam mật. Tam mật chỉ cho Thân mật, Ngữ mật và Ý mật. Tác dụng của Tam mật trùm khắp pháp giới, bao quát cả vũ trụ vạn hữu, cho nên gọi là Tam mật dụng đại. Tam nghiệp của chúng sinh tương ứng với Tam mật của Phật, không cách biệt, chẳng phải hai; lí này phàm phu không thể nào hiểu rõ được, cần phải tu trì mới thể ngộ được, vì thế gọi là Mật. Như lai nhờ Tam mật mà thành tựu các công đức thanh tịnh; tất cả núi sông đất đai, thể tướng pháp giới đều là pháp thân thanh tịnh của Như lai, vì chúng sinh không biết nên gọi là Thân mật. Tất cả âm thanh đều là tiếng nói pháp của Như lai, vì chúng sinh không biết nên gọi là Ngữ mật. Thức đại của Như lai trùm khắp pháp giới, không điều gì mà Như lai không biết, không việc gì mà Như lai không hiểu, nhưng vì chúng sinh không biết nên gọi là Ý mật. Người tu hành Mật tông nhờ sức công đức tay kết thủ ấn mà chuyển thân nghiệp của chính mình thành Thân mật của Như lai, nhờ sức công đức trì chú mà chuyển ngữ nghiệp của chính mình thành Ngữ mật của Như lai; nhờ sức công đức quán tưởng Bản tôn mà chuyển ý nghiệp của chính mình thành Ý mật của Như lai. Nhờ tác dụng gia trì của Tam mật, tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật, tất cả cõi nước đều trở thành Tịnh độ. Nhờ sức gia trì của Tam mật, chúng sinh đều có thể trở nên viên mãn đầy đủ đức tướng trí tuệ của Như lai, thành tựu diệu hạnh Tức thân thành Phật, hiển bày quả đức bản giác của chúng sinh. (xt. Tam Mật)
tam mật gia trì
Thân, ngữ, ý là tam mật. Đại Nhựt Như Lai bản thể khắp thời gian không gian là thân mật, tiếng nói khắp thời gian không gian là ngữ mật, thức đại khắp thời gian không gian là ý mật. Bàn tay kiến ấn là thân mật, miệng tụng chú là ngữ mật, tâm quán tưởng là ý mật. Thân, ngữ, ý đồng thời thực hành gọi là tam mật gia trì.
; Thân, ngữ, ý là tam mật. Đại Nhựt Như lai bản thể khắp thời gian không gian là Thân mật. Tiếng nói khắp thời gian không gian là Ngữ mật. Thức đại khắp thời gian không là Ý mật. Bàn tay kiết ấn là Thân mật, miệng tụng chú là Ngữ mật, tâm quán tưởng là Ý mật. Thân, ngữ, ý đồng thời thực hành gọi là Tam mật gia trì.
; (三密加持) Chỉ cho sự gia trì của Tam mật đức Phật. Khi chúng sinh tu hành Tam mật thì 3 nghiệp thân, khẩu, ý của mình được Tam mật của Phật gia trì, Phật và chúng sinh Tam mật tương ứng, dung hợp không cách ngăn (Tam mật du già) thì phát sinh công năng chẳng thể nghĩ bàn, thân này có khả năng thành Phật ngay. Lúc đó tựa hồ có 1 thứ năng lực siêu nhân hiển hiện. Việc tương ứng và được cảm ứng này gọi là Gia trì. Nếu nói theo Sai biệt môn thì Tam mật mà chúng sinh phát khởi vốn bắt nguồn từ vọng tưởng, lấy tam độc(tham, sân, si) làm thể, nên khác với Tam mật của Phật giới. Nhưng, nếu căn cứ vào Bình đẳng môn mà nói và nhìn bằng con mắt Phật, thì Tam mật của chúng sinh và Tam mật của chư Phật là bình đẳng, không khác nhau. Vì thế, nếu Tam mật của hành giả và Tam mật của Bản tôn gia trì cho nhau thì mau chóng thành tựu Đại tất địa. Quả tương ứng của Tam mật này gọi là Tam pháp đạo giới. [X. kinh Đại nhật Q.7; luận Bồ đề tâm; Đại nhật kinh sớ Q.1; Tức thân thành Phật nghĩa].
tam mật lục đại
The three mystic things associated with the six elements, i.e. the mystic body is associted with earth, water and fire; the mystic words with wind and space; the mystic mind with thức consciousness (or cognition).
tam mật quán
(三密觀) Cũng gọi Tam kim cương quán, Tam kim quán, Tam hồng quán. Pháp quán tưởng của Mật giáo tu để diệt trừ những tội cấu của 3 nghiệp thân khẩu ý, hiển hiện công đức của chư tôn. Thứ tự tu hành pháp này như sau: Trước hết trải tòa ngồi, xoa hương, trước khi thực hành pháp hộ thân thì thực hành Liên hoa hợp chưởng (chắp tay theo hình hoa sen chưa nở), quán tưởng nguyệt luân(vòng tròn như mặt trăng) ở bàn tay, lưỡi và tim, trên nguyệt luân có 8 cánh hoa sen; trên hoa sen quán tưởng chữ Hồng, lại quán tưởng chữ Hồng biến thành cây chày kim cương năm chĩa, tượng trưng năm trí, dùng để đoạn trừ các phiền não bất tịnh của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Kim cương đính du già tha hóa tự tại thiên lí thú hội Phổ hiền tu hành niệm tụng nghi quĩ; Thánh như ý luân Quán tự tại bồ tát niệm tụng thứ đệ].
tam mật tương ưng
The three mystic things, body, mouth, and mind of theTathàgata are identical with those of all the living, so that even the fleshly body born of parents is the dharmakàya, or body of Buddha.
tam mặc đường
(三默堂) Chỉ cho 3 nơi mà khi vào trong phải giữ im lặng, đó là nhà tắm, nhà tăng, và nhà xí. 1. Nhà tắm: Trong nhà tắm không được nói chuyện, cho nên Phật qui định 2 nghi thức tắm gội: Một là nói pháp, hai là im lặng.2. Nhà tăng (tức là nhà ngồi thiền): Ở đây không được chụm đầu nói cười, cũng không được đọc kinh xem sách. 3. Nhà xí (nhà vệ sinh): Khi vào nhà xí, thân và miệng nên giống như gỗ đá, tuyệt đối giữ im lặng. [X. Tì nại da tạp sự Q.3; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng; Sa di uy nghi; điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Điện đường Thiền lâm tượng khí tiên].
tam mục
The three-eyed, a term for Siva, i.e. Mahesvara; simili for the dharmakàya, or spiritual body, prajnà or wsdom, and nirvàna emancipation.
tam nan
See Tam Ác Đạo.
Tam nghi
三疑; C: sān yí; J: sangi;|Ba mối nghi ngờ cản trở việc tu hành nghiêm túc bất động: Nghi ngờ chính mình, nghi ngờ bậc thầy, nghi ngờ Phật pháp.
tam nghi
The three doubts - of self, of teacher, of the dharma-truth.
; (A) Three doubts: 1) Nghi mình: Doubts of self. 2) Nghi Thầy: Doubts of teachers. 3) Nghi Pháp: Doubts of Dharma. (B) Three ranks: 1) Trời: Heaven. 2) Đất: Earth. 3) Người: Man.
; (三疑) Ba mối ngờ vực phát sinh khi tu tập thiền định. Cứ theo Thích thiền Ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 2, khi hành giả tu thiền, nếu sinh khởi 3 mối ngờ sau đây thì không thể vào được thiền định. 1. Nghi tự: Ngờ chính mình, nếu người vì các căn ám độn, tội chướng sâu nặng, ngờ mình chẳng phải là pháp khí để được thầy truyền đạo cho, thì thiền định không thể phát khởi. 2. Nghi sư: Ngờ thầy, ngờ vị thầy dạy đạo uy nghi, tướng mạo đều không đầy đủ. Nếu người có tâm hoài nghi ngạo mạn như vậy thì thiền định không thể phát sinh.3. Nghi pháp: Ngờ pháp, ngờ rằng giáo pháp mà mình nhận lãnh chẳng phải là đạo chân chính nên không kính tin. Nếu người có tâm hoài nghi như vậy thì thiền định không sinh được. Từ các nhân duyên trên đây, nếu biết hoài nghi là lỗi thì phải xả bỏ ngay. Xả bỏ Nghi cái(phiền não ngờ) tức là bỏ được 1 trong 5 cái. (xt. Khí Ngũ Cái).
tam nghiệm
(三驗) Ba cách để nghiệm xem những cảnh tượng như Phật, Bồ tát hiện ra khi hành giả ở trong định là chính hay tà. 1. Dùng định để xét nghiệm: Khi ở trong định, các cảnh tướng hiện ra mà khó biết là tà hay chính thì phải đi sâu vào tâm định, đối với các cảnh ấy không nắm giữ không buông bỏ,chỉ bình đẳng trụ trong định, nếu do thiện căn hiện ra thì sức định càng sâu, thiện căn càng phát; còn nếu do ma biến ra thì chẳng bao lâu sẽ tự mất. 2. Cứ y theo pháp vốn tu mà đối trị: Nếu pháp vốn tu là Bất tịnh quán thì lúc này cũng vẫn theo đó mà tu, nếu cảnh giới sáng thêm thì biết cảnh ấy là chính, nếu cảnh ấy dần dần hoại diệt thì biết đó là cảnh tà. 3. Dùng trí tuệ quán xét: Quán sát tướng đã phát, xét nghiệm đến cội nguồn mà không thấy chỗ sinh của cảnh tướng thì biết là không tịch, tâm không dính mắc, tướng tà sẽ tự diệt, cảnh chính tự hiện.Ba phương pháp xét nghiệm trên đây nếu dùng việc luyện vàng để ví dụ thì: Dùng định để xét nghiệm ví như mài dũa vàng, y theo pháp vốn tu để đối trị ví như búa đập; dùng trí tuệ quán xét thì ví như nấu đúc. Dùng 3 cách nghiệm xét trên đây thì tà hay chính có thể tự biết.
Tam Nghiệp
(s: trīni-karmāṇi, 三業): ba nghiệp gồm thân, miệng và ý. (1) Thân nghiệp (s: kāya-karman, p: kāya-kamma, 身業) là việc làm do thân làm ra, có thiện và ác. Như sát sanh, trộm cắp, tà dâm là nghiệp xấu của thân. Còn nếu không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, v.v., là nghiệp tốt của thân. (2) Khẩu nghiệp (s: vāk-karman, p: vacī-kamma, 口業) là việc làm do miệng làm ra, có thiện có ác khác nhau. Tỷ dụ như nói dối, nói lời ly gián, nói lời thô ác, nói lời thêu dệt là nghiệp xấu của miệng. Và nếu không nói dối, không nói lời ly gián, không nói lời thô ác, không nói lời thêu dệt là nghiệp tốt của miệng. (3) Ý nghiệp (s: manas-karman, p: mano-kamma, 意業) là việc làm do ý tạo ra, cũng có thiện và ác. Như tham dục, sân hận, tà kiến là nghiệp không tốt của ý. Và không tham lam, không sân hận, không tà kiến là nghiệp tốt của ý. Ngoài ra, Tam Nghiệp còn có nghĩa là: (1) Thiện Nghiệp (善業, hành vi tạo tác mang tính tốt, lương thiện), (2) Ác Nghiệp (惡業, hành vi tạo tác mang tính xấu, thấp kém) và (3) Vô Ký Nghiệp (無記業, hành vi tạo tác không thể phân biệt, chẳng thuộc về thiện và ác). Hay Tam Nghiệp là: (1) Lậu Nghiệp (漏業, tác nghiệp có phiền não, có thể chiêu cảm quả báo Phần Đoạn Sanh Tử, thuộc về hành vi tạo tác của phàm phu), (2) Vô Lậu Nghiệp (無漏業, tác nghiệp không có phiền não, có thể chiêu cảm quả báo Phương Tiện Hữu Dư Độ, thuộc về tác nghiệp của hàng Nhị Thừa Thanh Văn và Duyên Giác) và (3) Phi Lậu Phi Vô Lậu Nghiệp (非漏非無漏業, tác nghiệp không thuộc về hữu lậu và vô lậu, có thể chiêu cảm quả báo Thật Báo Độ, là tác nghiệp của Bồ Tát). Như trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, CBETA No. 1085) có giải thích rằng: “Giới chi nhất tự thị danh, Phạn vân Thi La, diệc vân Tỳ Ni Ba La Đề Mộc Xoa đẳng, thử vân thanh lương, diệt Tam Nghiệp chi quá khiên, đắc giải thoát dã (戒之一字是名、梵云尸羅、亦云毗尼波羅提木叉等、此云清涼、滅三業之過愆、得解脫也, một chữ Giới là tên gọi, tiếng Phạn là Thi La, còn gọi là Tỳ Ni Ba La Đề Mộc Xoa, v.v.; Tàu gọi là trong mát, diệt các tội lỗi của Ba Nghiệp, được giải thoát).” Hay trong (憨山老人夢遊集, CBETA No. 1456) có câu: “Kim trì giới chi yếu, tiên tu Tam Nghiệp thanh tịnh, tắc tâm tự tịnh (今持戒之要、先須三業清淨、則心自淨, nay điều côt yếu của việc giữ giới là trước hết phải Ba Nghiệp trong sạch, tức tâm tự trong sạch).”
tam nghiệp
xem ba nghiệp.
; Trividha-dvara (S), Trini-karmani (S), Three karmas Ba Hạnh nghiệp, ba nghiệp báo, ba việc làm. 1- Tam nghiệp là: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Trong tam nghiệp, ý nghiệp là quan trọng hơn hết 2- Tam nghiệp là: phước nghiệp, phi phước nghiệp (tội nghiệp), bất động nghiệp (hạnh nghiệp không liên hệ dục giới, do thiền định mà thấu tới saq1c giới và vô sắc giới). 3- Tam nghiệp là: thiện nghiệp, ác nghiệp (bất thiện nghiệp), vô ký nghiệp (hạnh nghiệp không có phước hoặc tội). 4- Tam nghiệp là: lậu nghiệp (hữu lậu nghiệp), vô lậu nghiệp (hạnh nghiệp của hàng Thanh văn, Duyên giác, quyết dứt trừ phiền não luân hồi), phi lậu phi vô lậu nghiệp (hạnh nghiệp chơn thật của hàng Bồ tát).
; Trividhà-dvàra. The three conditions, inheritances, or karmas of which there are several groups. (1) Deed, word, thought thân, khẩu, ý. (2) (a) Present-life happy karma; (b) present-life unhappy karma; (c) bất định karma of an unperturbable nature. (3) (a) Good; (b) evil; (c) neutral karma. (4) (a) Lậu nghiệp karma of ordinary rebirth; (b) vô lậu nghiệp karma of Hìnayàna nirvàna; (c) phi lậu phi vô lậu karma of neither, independent of both, Mahàyàna nirvàna. (5) (a) Present deeds and their consequences in this life; (b) present deeds and their next life consequences; (c) present deeds and consequences after the next life.
; Ba nghiệp—The three conditions, inheritances, or three kinds of karma: (A) Three kinds of behavior: 1) Thân nghiệp: Behavior of body—Action—Deed—Doing. 2) Khẩu nghiệp: Behavior of speech—Speech—Word—Speaking. 3) Ý nghiệp: Behavior of mind—Thought—Thinking. (B) 1) Hiện Phước nghiệp: Present life happy karma. 2) Hiện Phi Phước nghiệp: Present life unhappy karma. 3) Hiện Bất Động nghiệp: Karma of an imperturbable nature. (C) 1) Hữu lậu nghiệp: Karma of ordinary rebirth. 2) Vô lâu nghiệp: Karma of Hinayan Nirvana. 3) Phi lậu phi vô lậu nghiệp: Karma of Mahayana Nirvana.
; (三業) Phạm: Trìịi-karmàịi. I. Tam Nghiệp. Ba nghiệp thân, khẩu, ý. 1. Thân nghiệp: Chỉ cho nghiệp tạo tác và không tạo tác của thân, có thiện có ác khác nhau; nếu làm các việc như giết hại, trộm cướp, tà dâm... là Thân ác nghiệp; nếu không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm... là Thân thiện nghiệp. 2. Khẩu nghiệp(cũng gọi Ngữ nghiệp): Chỉ cho nghiệp tạo tác và không tạo tác của miệng, có thiện, có ác, nếu nói dối, nói lời ly gián, nói ác, nói thêu dệt... là khẩu ác nghiệp; nếu không nói dối, không nói 2 lưỡi, không nói ác, không nói đơm đặt thì là Khẩu thiện nghiệp. 3. Ý nghiệp: Chỉ cho nghiệp do ý thức dấy lên, có thiện có ác, nếu tham muốn, sân hận, tà kiến là Ý ác nghiệp; nếu không tham, không sân, không tà kiến... thì là Ý thiện nghiệp. Ngoài ra còn có 3 nghiệp thân, khẩu, ý vô kí, tức là các nghiệp không phải thiện không phải ác, không có năng lực chiêu cảm quả báo. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.5; luận Đại tì bà sa Q.113; luận Tập dị môn túc Q.6; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần cuối]. (xt. Nghiệp Đạo). II. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 tính thiện, ác và vô kí: 1. Thiện nghiệp (Phạm: Kuzalakarma): Nghiệp lấy vô tham, vô sân, vô si làm nhân duyên. 2. Ác nghiệp(Phạm:Akuzala-karma), cũng gọi Bất thiện nghiệp: Chỉ cho nghiệp lấy tham, sân, si làm nhân duyên. 3. Vô kí nghiệp (Phạm: Avỳakftakarma): Nghiệp chẳng lấy vô tham, vô sân, vô si làm nhân duyên, cũng chẳng lấy tham, sân, si làm nhân duyên. [X. luận Câu xá Q.15; luận Du già sư địa Q.9; luận Phẩm loại túc Q.5; luận Phát trí Q.11]. (xt. Tam Tính). III. Tam Nghiệp. Cũng gọi Tam thụ nghiệp, Tam thụ báo nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 thứ cảm thụ khổ, lạc, xả, đó là: 1. Thuận lạc thụ nghiệp (Phạm: Sukha-vedanìya-karma), cũng gọi Lạc báo nghiệp: Chỉ cho phúc nghiệp và thiện nghiệp cảm nhận theo Đệ tam tĩnh lự. 2. Thuận khổ thụ nghiệp (Phạm: Du#kha-vedanìya-karma), cũng gọi Khổ báo nghiệp: Chỉ cho phi phúc nghiệp. 3. Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp (Phạm: Adu#khàsakha-vedanìyakarma), cũng gọi Bất khổ bất lạc báo nghiệp: Chỉ cho nghiệp Dị thục có năng lực chiêu cảm thức A lại da ở tất cả mọi nơi và nghiệp thiện của Đệ tứ tĩnh lự trở lên.[X. luận Câu xá Q.15, luận Du già sư địa Q.9; luận Phẩm loại túc Q.5]. IV. Tam Nghiệp. Cũng gọi Tam thời nghiệp, Tam báo nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo quả báo 3 đời hiện tại(hiện), đời kế(thứ) hoặc nhiều đời sau(hậu). 1. Thuận hiện pháp thụ nghiệp (Phạm: Dfwỉa-dharam-vedanìyakarma): Nghiệp được tạo ra ở đời này và thành thục ngay ở đời này. Tức gây nhân ở hiện tại và chịu quả báo ngay trong hiện tại.2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp (Phạm: Upapadya-vedanìya-karma): Nghiệp tạo ở đời này đến đời thứ 2 mới thành thục. Tức là đời này gieo nhân sang đời kế tiếp mới chịu quả báo. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp (Phạm: Apara-paryàya-vedanìya-karma): Nghiệp tạo ở đời này đến đời thứ 3 hoặc nhiều đời sau nữa mới thành thục. Tức gây nhân ở đời hiện tại đến đời thứ 3 hoặc nhiều đời sau mới chịu quả báo. V. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo cảnh giới trên dưới và cảm quả đáng ưa, không đáng ưa khác nhau. Đó là: 1. Phúc nghiệp (Phạm: Puịyakarma): Nghiệp chiêu cảm quả thiện cõi Dục; nghiệp này có công năng mang lại quả đáng ưa, có ích cho hữu tình. 2. Phi phúc nghiệp (Phạm: Apuịyakarma), cũng gọi Tội nghiệp: Nghiệp chiêu cảm quả ác ở cõi Dục; nghiệp này có công năng mang lại quả không đáng ưa, gây tổn hại cho hữu tình. 3. Bất động nghiệp (Phạm:Aniĩjyakarma): Nghiệp chiêu cảm quả thiện ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nghiệp ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, nhờ sức định nên nghiệp Sơ thiền chắc chắn cảm quả Sơ thiền, nghiệp Nhị thiền nhất định cảm quả Nhị thiền, nghiệp và quả này đều không biến động, vì thế gọi là Bất động; trái lại, nghiệp cõi Dục thì thường bị các duyên khác làm cho biến động, cho nên gọi là Động nghiệp. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.55; luận Câu xá Q.15; luận Thuận chính lí Q.40]. VI. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo Thí, Giới, Tu là: -Thí loại phúc nghiệp sự (Phạm:Dànamaya-puịya-kriỳa-vastùni). -Giới loại phúc nghiệp sự (Phạm:Zìlamaya-puịya-kriỳa-vastùni). -Tu loại phúc nghiệp sự (Phạm: Bhàvanà-maya-puịya-kriỳa-vastùni). Cũng gọi Tam phúc nghiệp sự (Phạm: Trìịi puịya-kriỳa-vastùni), Tam loại phúc nghiệp sự, Tam tính phúc nghiệp sự. Gọi tắt: Tam phúc nghiệp. Luận Du già sư địa quyển 9 (Đại 30, 319 hạ) nói: Thí tính nghiệp(Thí loại phúc nghiệp sự) có 4 nghĩa: Nhân duyên, Đẳng khởi, Y xứ và Tự tính. Nhân duyên nghĩa là vô tham, vô sân, vô si làm nhân duyên; Đẳng khởi nghĩa là cùng thực hành vô tham, vô sân, vô si, xả bỏ vật sở thí, khởi nghiệp thân ngữ ý. Y xứ nghĩa là lấy vật để bố thí và người nhận làm chỗ nương; Tự tính nghĩa là Tâm sở Tư khởi nghiệp thân và ngữ thường xả bỏ vật sở thí. Đó là nói về Thí là tính nghiệp. Còn về Giới tính nghiệp(Giới loại phúc nghiệp sự)và Tu tính nghiệp(Tu loại phúc nghiệp sự) thì cũng giống như thế, cứ suy nghĩa này thì biết. Trong đó, nghĩa nhân duyên và đẳng khời của Giới tính nghiệp giống như trên; còn Tự tính là thuộc về luật nghi của thân và ngữ nghiệp. Y xứ là số hữu tình và phi hữu tình. Nghĩa nhân duyên của Tu tình nghiệp là nhân duyên Tam ma địa, tức vô tham, vô sân, vô si. Đẳng khởi là định phát khởi cùng lúc với Tư; Tự tính là Tam ma địa; Y xứ là cõi hữu tình không có khổ, lạc trong khắp 10 phương. [X. kinh Ngưu phẩn dụ trong Trung a hàm Q.11; kinh Tăng nhất a hàm Q.12; kinh Đại bát nhã Ba la mật đa Q.3]. VII. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo luật nghi, bất luật nghi và phi luật nghi phi bất luật nghi là: Luật nghi sở nhiếp nghiệp, Bất luật nghi sở nhiếp nghiệp và Phi luật nghi phi bất luật nghi sở nhiếp nghiệp. 1. Luật nghi sở nhiếp nghiệp (cũng gọi Luật nghi nghiệp), có 3 thứ: Biệt giải thoát luật nghi sở nhiếp chi nghiệp, Tĩnh lự đẳng chí quả đoạn luật nghi sở nhiếp chi nghiệp và Vô lậu luật nghi sở nhiếp chi nghiệp. 2. Bất luật nghi sở nhiếp nghiệp(cũng gọi Bất luật nghi nghiệp). Luận Du già sư địa quyển 9 liệt kê 12 thứ Bất luật nghi sở nhiếp nghiệp là: Giết dê, bán gà, bán lợn, bắt chim, bẫy thỏ, trộm cắp, đồ tể, giữ ngục, dèm pha, cai ngục, bắt voi, dùng chú thuật hại rồng. 3. Phi luật nghi phi bất luật nghi sở nhiếp nghiệp(cũng gọi Phi luật nghi phi bất luật nghi nghiệp). Trừ Luật nghi nghiệp và Bất luật nghi nghiệp nói trên, tất cả thiện nghiệp, bất thiện nghiệp và vô kí nghiệp còn lại đều thuộc Phi luật nghi phi bất luật nghi sở nhiếp nghiệp.[X. luận Phát trí .12; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8]. (xt. Phi Luật Nghi Phi Bất Luật Nghi). VIII. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 đời: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai. 1. Quá khứ nghiệp: Nghiệp trụ ở vị tập khí, hoặc đã thành quả, hoặc chưa thành quả. 2. Vị lai nghiệp: Nghiệp chưa sinh chưa diệt.3. Hiện tại nghiệp: Nghiệp đã tạo tác đã tư duy nhưng chưa diệt. [X. luận Phát trí Q.11; luận Câu xá Q.17; luận Du già sư địa Q.9]. IX. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo sự trói buộc trong 3 cõi là: Dục giới hệ nghiệp, Sắc giới hệ nghiệp và Vô sắc giới hệ nghiệp. 1. Dục giới hệ nghiệp: Nghiệp có năng lực chiêu cảm Dị thục trong cõi Dục mà rơi vào cõi Dục. 2. Sắc giới hệ nghiệp: Nghiệp có năng lực chiêu cảm Dị thục ở cõi Sắc mà rơi vào Sắc giới. 3. Vô sắc giới hệ nghiệp: Nghiệp có năng lực chiêu cảm Dị thục ở cõi Vô sắc mà rơi vào Vô sắc giới. [X. luận Phát trí Q.11; luận Du già sư địa Q.9, luận Đại tì bà sa Q.115]. X. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 bậc Học, Vô học, Phi học phi vô học là: Học nghiệp, Vô học nghiệp và Phi học phi vô học nghiệp. 1. Học nghiệp (Phạm:Zaiksa-karma): Tất cả thiện nghiệp trong sự tương tục của bậc Hữu học thuộc hàng dị sinh và phi dị sinh.2. Vô học nghiệp (Phạm: Azaikwakarma): Tất cả thiện nghiệp trong sự tương tục thuộc bậc Vô học. 3. Phi học phi vô học nghiệp (Phạm: Naivazaikwa-nàzaikwa-karma): Trừ 2 thứ thiện nghiệp nói trên, tất cả thiện nghiệp, bất thiện nghiệp và vô kí nghiệp trong sự tương tục khác đều thuộc về Phi học phi vô học nghiệp. XI. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo đoạn và phi đoạn là: Kiến sở đoạn nghiệp, Tu sở đoạn nghiệp và Vô đoạn nghiệp. 1. Kiến sở đoạn nghiệp (Phạm: Darzana-heya-karma): Nghiệp bất thiện chiêu cảm ác thú. 2. Tu sở đoạn nghiệp (Phạm:Bhàvanàheya-karma): Các nghiệp thiện, bất thiện, vô kí... chiêu cảm thiện thú. 3. Vô đoạn nghiệp (Phạm: Aheyakarma): Các nghiệp vô lậu thế gian và xuất thế gian. [X. luận Du già sư địa Q.9; luận Phẩm loại túc Q.5; luận Đại tì bà sa Q.115]. XII. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia theo sự nhiễm ô của 3 nghiệp thân, khẩu, ý là: Khúc nghiệp, Uế nghiệp và Trược nghiệp. 1. Khúc nghiệp: Ba nghiệp thân, ngữ, ý nương vào sự dua nịnh mà sinh. 2. Uế nghiệp: Ba nghiệp thân, ngữ, ý nương vào sân hận mà sinh. 3. Trược nghiệp: Ba nghiệp thân, ngữ, ý nương vào tham lam mà sinh. [X. luận Câu xá Q.15; luận Phát trí Q.11; luận Đại tì bà sa Q.117; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. XIII. Tam Nghiệp. Dựa theo ba thứ Ưng tác, Bất ưng tác và Phi ưng tác phi bất ưng tác khác nhau mà chia nghiệp làm 3 loại là: -Ưng tác nghiệp (Phạm: Yoga-vihitakarma). -Bất ưng tác nghiệp (Phạm: Ayogavihita-karma). -Phi ưng tác phi bất ưng tác nghiệp (Phạm: Nayoga-vihita-nàyoga-vihitakarma). Luận Câu xá quyển 17 (Đại 29, 92 thượng) nói: Có thuyết cho rằng nghiệp ô nhiễm được gọi là Bất ưng tác, vì nó từ sự tác ý phi lí mà sinh ra. Có các Luận sư khác lại chủ trương các nghiệp thân ngữ ý làm bại hoại pháp tắc cũng là Bất ưng tác, nghĩa là tất cả càc việc nên đi như thế, nên đứng như thế, nên nói như thế, nên mặc áo như thế, nên ăn uống như thế..., nếu không như thế thì gọi là Bất ưng tác. Những việc không hợp với lễ nghi thế tục, trái với thế tục, gọi là Ưng tác nghiệp. Có thuyết cho rằng thiện nghiệp gọi là Ưng tác, vì nó từ sự tác ý hợp lí mà sinh ra. Các Luận sư khác cho rằng các nghiệp thân ngữ ý hợp với quĩ tắc cũng gọi là Ưng tác. Đây là thuyết thứ 3, đều trái với 2 chủ trương trước, tùy theo chỗ nên làm mà 2 thuyết khác nhau. [X. luận Thuận chính lí Q.43]. XIV. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp theo 3 cảm thụ hỉ(mừng), ưu (lo), xả(không mừng không lo) mà được phân loại là: -Thuận hỉ thụ nghiệp (Phạm: Saumanasya-vedanìya-karma). -Thuận ưu thụ nghiệp (Phạm: Daurmanasya-vedanìya-karma). -Thuận xả thụ nghiệp (Phạm:Upekwàvedanìya-karma). [X. luận Câu xá Q.3; Câu xá luận quang kí Q.3].
tam nghiệp cúng dường
To serve or worship with perfect sincerity of body, mouth and mind.
; Ba loại cúng dường—The three kinds of offerings or praises: 1) Thân nghiệp cúng dường: The offering or praise of the body. 2) Khẩu nghiệp cúng dường: The offering or praise of the lips. 3) Ý nghiệp cúng dường: The offering or praise of the mind.
Tam Nghiệp Hoặc Loạn
(三業惑亂, Sangōwakuran): cuộc pháp luận (luận tranh về giáo pháp) xảy ra trong nội bộ Phái Bổn Nguyện Tự (本願寺派, Honganji-ha, phía Tây Bổn Nguyện Tự) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông dưới thời Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867). Người đứng ra xét xử để dẹp yên vụ náo động này là Hiếp Phản An Đổng (脇坂安董, Wakizaka Yasutada), quan Tự Xã Phụng Hành (寺社奉行, Jishabugyō) và là Phiên chủ đời thứ 8 của Phiên Long Dã (龍野藩, Tatsuno-han). Trong phần An Đổng của cuốn Hiếp Phản Gia Phổ (脇坂家譜) có ghi rằng: “Ngày 11 tháng 7 năm Văn Hóa thứ 3 (1806), xét xử vụ náo động về Tông ý của Tây Bổn Nguyện Tự.” Tại Thiện Long Tự (善龍寺, Zenryū-ji, thuộc Tatsuno-shi [龍野市], Hyōgo-ken [兵庫縣]) vẫn còn thư tịch Chơn Tông Tân Nghĩa Cổ Nghĩa Tài Đoạn Thật Ký (眞宗新義古義裁斷實記), được xuất bản ở Long Dã. Sự kiện Tam Nghiệp Hoặc Loạn này là cuộc luận tranh về vấn đề gọi là Dị An Tâm (異安心, ianshin, an tâm theo nghĩa khác). Dị An Tâm ở đây có nghĩa là an tâm của Chơn Tông, khác với an tâm của cảnh giới cứu độ; cho nên đây là cuộc luận tranh để nêu rõ đâu là an tâm đúng nghĩa. An tâm và giáo tướng (giáo lý) có mối quan hệ mật thiết hỗ tương lẫn nhau, không thể phân ly; cho nên nếu giáo thuyết mà sai lạc thì có khả năng nảy sinh mê tín, tà tín. Sự kiện này phát sinh vào năm 1791 (Khoan Chính [寛政] 3) và chấm dứt vào năm 1806 (Văn Hóa [文化] 3). Thật ra, vụ này cần phải mất 10 năm mới giải quyết xong. Nguyên nhân xảy ra cuộc náo động này là sau lễ Húy Kỵ lần thứ 300 của Liên Như Thượng Nhân (蓮如上人) vào năm 1798 (Khoan Chính 10). Năm trước đó, 1797, Trí Động (智洞), người nhậm chức Năng Hóa (能化, Nōke) đời thứ 7 của Học Lâm, thay thế Văn Như Thượng Nhân (文如上人) giảng thuyết về Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經); trong đó, ông tuyên xướng thuyết gọi là Tam Nghiệp Quy Mạng (三業歸命), Dục Sanh Quy Mạng (欲生歸命). Nếu truy nguyên đầu nguồn của thuyết này, nó vốn phát xuất từ Tri Không (知空), vị Năng Hóa đời thứ 3, cho đến Tuấn Đế (峻諦), cho đến vị Năng Hóa đời thứ 7 là Công Tồn (功存). Vị này viết cuốn Nguyện Sanh Quy Mạng Biện (願生歸命辨) để đưa ra chủ thuyết mới là Tam Nghiệp Quy Mạng; và đến thời của Trí Động thì thuyết này đã trở thành tiêu chuẩn an tâm của Chơn Tông thuộc phái Bổn Nguyện Tự. Như có đề cập ở trên, vào ngày 11 tháng 7 năm 1806, An Đổng đứng ra xét xử vụ dao động này, phán quyết rằng thuyết Tam Nghiệp Quy Mạng là không đúng chánh nghĩa, tuyên phạt rất khoan dung phía Tông môn Phái Bổn Nguyện Tự phải bế môn trong vòng 100 ngày. Cũng nhân xảy ra vụ này, chức Năng Hóa bị phế bỏ hẳn luôn.
tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng phật vãng tây phương
By keeping the karma of body, speech and mind pure, we will be no different from Buddhas when reborn into the Pure Land.
tam nghiệp tương ưng
In worship all three (body, mouth, mind) correspond.
tam nghiệp tứ uy nghi
(三業四威儀) Ba nghiệp và 4 uy nghi. Ba nghiệp là những sự tạo tác của thân, khẩu, ý, 4 uy nghi là các nghi biểu đi, đứng, ngồi, nằm. Ba nghiệp và 4 uy nghi là chỉ chung cho tất cả mọi hành vi của người tu.
tam nghĩa hoan hỉ
(三義歡喜) Sau khi nghe đức Phật giảng nói kinh Quán Vô lượng thọ thì phu nhơn Vi đề hi, ngài A nan và vô lượng người, trời, rồng, thần, dạ xoa... đều vui mừng và làm lễ lui ra. Sự vui mừng này có 3 nghĩa sau đây:1. Gặp người vui mừng: Người chính là đức Phật. Phật có đầy đủ 4 trí vô ngại, diễn nói pháp môn quán tưởng Phật A di đà, lìa các sai lầm; nay được gặp người này lòng sinh vui mừng. 2. Nghe pháp vui mừng: Mười sáu môn quán tưởng do đức Phật nói là chỗ tận cùng của sự mầu nhiệm, có năng lực khiến cho tâm phàm phu tiến sâu vào Tam muội; được nghe pháp như thế tâm sinh vui mừng. 3. Được quả vui mừng: Phu nhân Vi đề hi nghe nói về pháp môn quán Phật, y theo đó tu hành, được Phần chân quả; thị nữ, chư thiên được Tương tự quả, được quả như thế, sinh tâm vui mừng. [X. Quán Vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao Q.6 phần cuối].
tam nghĩa quán
(三義觀) Theo thứ tự quán xét nghĩa chân thực của 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... Luận Đại tì bà sa quyển 183 có thuyết này, nhưng luận Câu xá chỉ nói sơ lược chứ không trình bày chi tiết. Câu xá luận quang kí quyển 33 (Đại 41, 344 trung): Hỏi: Luận Bà sa nói về Tam nghĩa quán, Thất xứ thiện, tại sao luận này không nói? Đáp: Tam nghĩa quán là theo thứ tự quán Uẩn, Xứ, Giới. (...) cho nên không nói 2 quán môn ấy.
tam nghịch
The three unpardonable sins of Devadatta which sent him to the Avici hell - schism, stening the Buddha to the shedding of his blood, killing a nun.
Tam Nguyên
(三元): (1) Trời, đất và người, đồng nghĩa với Tam Tài (三才). (2) Thượng Nguyên (上元, rằm tháng giêng), Trung Nguyên (中元, rằm tháng 7) và Hạ Nguyên (下元, rằm tháng 10). (3) Ngày đầu năm, ý muốn nói về ngày đầu tiên của một ngày, tháng và năm, đồng nghĩa với Tam Thỉ (三始), Tam Triêu (三朝). (4) Tên gọi 3 người thi đậu Tiến Sĩ hạng cao nhất dưới thời nhà Minh. (5) Giải Nguyên (解元), Hội Nguyên (會元) và Trạng Nguyên (狀元), ba người đứng đầu trong 3 cuộc thi Hương, Hội và Đình được tổ chức dưới thời nhà Thanh. (6) Trong Đạo Gia, nó có nghĩa là trời đất và nước.
tam nguyên
The three big days of the year in Buddhism tradition: 1) Thượng nguyên (ngươn): Ngày rằm tháng giêng—The fifteen of the first moon. 2) Trung nguyên (ngươn): Ngày rằm tháng bảy—The fifteen of the seventh moon. 3) Hạ nguyên (ngươn): Ngày rằm tháng mười—The fifteen of the tenth moon.
tam nguyện
(三願) I. Tam Nguyện. Ba thứ thệ nguyện Bốn mươi tám nguyện của đức Phật A di đà được chia làm 3 loại chung sau đây: 1. Nhiếp tịnh độ nguyện (cũng gọi Nhiếp độ nguyện, Cầu Phật độ nguyện): Chỉ cho các nguyện có liên quan đến việc trang nghiêm cõi Tịnh độ, nguyện thứ 31, nguyện thứ 32 trong 48 nguyện là thuộc Nhiếp tịnh độ nguyện. 2. Nhiếp pháp thân nguyện (cũng gọi Nhiếp Phật thân nguyện, Cầu Phật thân nguyện): Chỉ cho các nguyện liên quan đến việc thành tựu thân Phật; các nguyện thứ 12, thứ 13 và thứ 17 trong 48 nguyện thuộc về Nhiếp pháp thân nguyện. 3. Nhiếp chúng sinh nguyện (cũng gọi Lợi chúng sinh nguyện, Nhiếp sinh nguyện): Chỉ cho các nguyện liên quan đến việc làm lợi ích chúng sinh; 3 nguyện còn lại đều thuộc Nhiếp chúng sinh nguyện [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tịnh ảnh); Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng); Vô lượng thọ kinh sao Q.3].II. Tam Nguyện. Chỉ cho 3 nguyện thứ 18, 19, 20 nói về tu nhân vãng sinh trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Nhưng sự giải thích về 3 nguyện này có nhiều thuyết khác nhau. Ngài Nghĩa tịch lần lượt gọi 3 nguyện này là Nhiếp thủ chí tâm dục sinh nguyện, Nhiếp thủ tu đức dục sinh nguyện, Nhiếp thủ văn danh dục sinh nguyện và theo thứ tự qui thuộc vào Hạ hạ phẩm, Thượng phẩm và Trung phẩm của Quán kinh; còn các ngài Pháp vị, Huyền nhất, Cảnh hưng... thì theo thứ tự qui thuộc 3 nguyện này vào Thượng phẩm, Trung phẩm và Hạ phẩm của Quán kinh. Ngài Trí quang chùa Nguyên hưng thì lần lượt gọi 3 nguyện này là Chư duyên tín nhạo thập niệm vãng sinh nguyện, Hành giả mệnh chung hiện tiền đạo sinh nguyện và Văn danh hệ niệm tu phúc tức sinh nguyện; ngài Nguyên không của Nhật bản thì gọi là Niệm Phật vãng sinh nguyện, Lâm chung hiện tiền nguyện và Tam sinh qủa toại nguyện. III. Tam Nguyện. Chỉ cho nguyện thứ 18, 11, 22 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà, nói về việc nhờ có đầy đủ 5 nhân 5 quả mà mau chứng được Vô thượng bồ đề. Trong đó, 10 niệm của nguyện thứ 18 tương đương với nhân của 5 niệm, lời thệ của nguyện thứ 11 tương đương với Cận môn, Đại hội chúng môn, Trạch môn, Ốc môn trong Ngũ quả môn; nguyện thứ 22 tương đương với Viên lâm du hí địa môn. [X. Vãng sinh luận chú]. (xt. Tam Nguyện Đích Chứng). IV. Tam Nguyện. Chỉ cho 3 thứ nguyện do Bồ tát phát khởi, đó là: 1. Nguyện làm cho tất cảchúng sinh chứng biết Phật pháp. 2. Nguyện vì chúng sinh nói pháp mà tâm không chán nản, mỏi mệt. 3. Nguyện xả bỏ thân mệnh để bảo vệ chính pháp. Chư thừa pháp số quyển 1 thì nêu Tam nguyện là: Tự hành, Thần thông, Hóa tha. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.12].
tam nguyện chuyển nhập
(三願轉入) Chuyển dần đến 3 nguyện. Đây là giáo nghĩa của Tịnh độ chân tông ở Nhật bản. Tông này chủ trương từ giáo Phương tiện (phương tiện dẫn đến chân thực) đến giáo chân thực là quá trình tín ngưỡng từ nguyện thứ 19(yếu môn) trong 48 nguyện của đức Phật A di đà tiến đến nguyện thứ 20(chân môn), rồi sau lại chuyển tiến đến nguyện thứ 18(hoằng nguyện). Tức là: Trước hết, xả bỏ giáo thánh đạo, nguyện sinh Tịnh độ(nguyện thứ 19); kế đến, xả bỏ các hạnh để chuyên tu niệm Phật (nguyện thứ 20); cuối cùng, quyết lìa bỏ tâm tự lực mà nương tựa vào nguyện tâm tha lực(nguyện thứ 18). Tam nguyện chuyển nhập bắt nguồn từ thuyết Hóa thân độ trong Giáo hành tín chứng của ngài Thân loan. Ngài Thân loan trình bày quá trình nhập tín của chính mình là từ nguyện thứ 19 qua nguyện thứ 20 mà chuyển vào nguyện thứ 18. Nhưng đối với Chân tông, vấn đề tín ngưỡng giáo chân thực có cần phải trải qua tiến trình Tam nguyện chuyển nhập hay không thì có nhiều thuyết khác nhau.
tam nguyện đích chứng
(三願的證) Cũng gọi Đích thủ tam nguyện. Sự chứng minh của 3 nguyện. Nghĩa là dùng 3 nguyện thứ 18, 11, 22, trong 48 nguyện của đức Phật A di đà để nói rõ rằng nhân(Ngũ niệm môn) và quả(Ngũ công đức môn) của việc vãng sinh Tịnh độ đều là nhờ sức bản nguyện của Phật A di đà mà có, đồng thời, để chứng minh rằng sinh về Tịnh độ thì mau chóng được thành Phật. Cũng tức là dùng 3 nguyện này để chứng minh cái lực dụng của nguyện lực Phật A di đà. Thuyết này có xuất xứ từ Vãng sinh luận chú quyển hạ. Cũng sách này còn nói, nếu chúng sinh tu Ngũ niệm môn và lấy sức bản nguyện của Phật A di đà làm duyên tăng thượng thì sẽ được vãng sinh Tịnh độ. Tam nguyện đích chứng là: 1. Nguyện thứ 18: Nếu chúng sinh trong 10 phương dốc lòng tin ưa dù chỉ niệm Phật được 10 niệm mà muốn sinh về Tịnh độ thì cũng được vãng sinh. Nguyện này là nhân vãng sinh của chúng sinh, tương đương với nhân hạnh của Ngũ niệm môn (5 pháp môn tu hành mà chúng sinh nhớ nghĩ, quán tưởng đức Phật A di đà và cõi Tịnh độ của ngài để cầu vãng sinh), vì thế dùng nguyện này ấn chứng. 2. Nguyện thứ 11: Nguyện cho người, trời trong cõi Tịnh độ đều trụ trong Chính định tụ, cho đến diệt độ. Nguyện này là quả báo mà chúng sinh sẽ có được sau khi sinh về Tịnh độ, tương đương với 4 môn trước trong Ngũ công đức môn (là 5 thứ quả báo mà người tu hành Ngũ niệm môn có được sau khi sinh về Tịnh độ), cho nên dùng nguyện này để ấn chứng. 3. Nguyện thứ 22: Nguyện cho các chúng Bồ tát ở cõi Phật phương khác sinh về Tịnh độ, trừ những vị có bản nguyện tự tại hóa độ(tức du hóa các cõi nước của chư Phật để hóa độ tất cả chúng sinh)ra, những vị còn lại đều đạt đến Nhất sinh bổ xứ. Các Bồ tát Tịnh độ trong nguyện này dùng việc du hóa để độ sinh, tương đương với Viên lâm du hí địa môn (là địa vị giáo hóa chúng sinh bằng thần thông du hí sau khi tu hành thành tựu) trong Ngũ công đức môn, vì thế dùng nguyện này để ấn chứng. Qua sự trình bày trên đây, người ta có thể chứng biết nhân và quả vãng sinh Tịnh độ đều nhờ sức bản nguyện của Phật A di đà mà có, đồng thời, cũng chứng biết chúng sinh nhờ sức bản nguyện của Phật A di đà mà được sinh về Tịnh độ, an trụ trong Chính định tụ, cho đến mau chóng thành Phật.
tam ngôn thanh
(三言聲) Cũng gọi Tam số. Thuật ngữ đặc biệt trong văn pháp tiếng Phạm. Ngôn thanh, Phạm: Vacana. Về mặt văn pháp, các loại từ như danh từ, đại danh từ, hình dung từ, số từ... trong tiếng Phạm đều có 3 thứ khác nhau, cho nên để phân biệt, thuật ngữ Tam ngôn thanh được dùng làm pháp tính số. Số đơn gọi là Nhất ngôn thanh (Phạm: Eka-vacana), số kép gọi là Nhị ngôn thanh (Phạm: Dvivacana), số nhiều gọi là Đa ngôn thanh (Phạm:Bahu-vacana), các nhà văn pháp Tất đàm đời xưa gọi chung 3 số này là Tam ngôn thanh. Chẳng hạn như 1 con ngựa gọiazva, 2 con ngựa gọi làazvau, nhiều con ngựa gọi làazvàs.
tam ngại
Ba mối lo ngại về tự ngã, về tôn sư và về chư pháp—The three doubts of self, of teacher, and of the dharma-truth.
tam ngữ
Buddha's three modes of discourse, i.e. without reserve, or the whole truth; tactical, or partial, adapting truth to the capacity of his hearers; and a combination of both.
tam nhiễm
Three kasaya—Ba nhiễm trược—Three infections: 1) Dục nhiễm: The infection of the passions. 2) Nghiệp nhiễm: Karma infection. 3) Tái sanh nhiễm: The infection of reincarnation.
tam nhiệt
Ba nỗi khổ đau—The three heats—Three kinds of burning: 1) Khổ đau vì ngoại nhiệt làm nóng cháy da: The pain of hot wind and sand being blown against the skin. 2) Khổ đau vì tai ương làm tiêu tan trang sức áo quần: The pain of disasters (violent winds) which take away jeweled clothes and ornaments. 3) Khổ đau vì bị garuda (loài chim hay ăn thịt rồng) ăn thịt: Khổ đau vì bị ngũ dục giết chết huệ mạng—The pain of being eaten by a garuda, a dragon-eating bird—The pain of wisdom-life being killed by the five desires.
; (三熱) Cũng gọi Tam hoạn. Ba cái nóng. Tức là 3 nỗi khổ não mà loài rồng phải chịu đựng nói trong kinh Trường a hàm quyển 18. Đó là: 1. Nỗi khổ vì gió nóng, cát nóng làm cháy bỏng da thịt, xương tủy... 2. Nỗi khổ não vì bị gió dữ thổi bay mất chỗ cư trú và y phục. 3. Nỗi khổ não vì bị loài chim cánh vàng cướp mất rồng con trong cung điện. [X. điều Ca sa công đức trong Chính pháp nhãn tạng].
tam nhân
The six "causes" of the Abhidharma-Kosa Câu xá luận as reduced to three in the Satya siddi sàstra Thành thật luận, i.e. sinh nhân producing cause, tập nhân habit cause, y nhân dependent or hypostatic cause, e.g. the six organs lục căn and their objects lục cảnh causing the cognitions lục thức.
; Chánh nhân (bản nhân thành Phật), liễu nhân (liễu triệt lý thành Phật), duyên nhân (trợ duyên thành Phật).
; (三因) I. Tam Nhân. Chỉ cho tâm chí thành, tâm sâu xa, tâm hồi hướng phát nguyện. Ba tâm này là nhân chính yếu để được vãng sinh Tịnh độ, cho nên gọi là Tam nhân. [X. Vãng sinh lễ tán kệ]. (xt. Tam Tâm). II. Tam Nhân. Chỉ cho Ứng đắc nhân, Gia hành nhân, Viên mãn nhân do luận Phật tính y cứ theo thứ tự giác ngộ thành Phật mà lập ra. 1. Ứng đắc nhân: Nương vào lí không của chân như mà tu nhân hạnh, ứng được quả bồ đề nên gọi là Ứng đắc nhân. 2. Gia hành nhân: Nương vào tâm bồ đề mà thêm công dụng tu hành, lấy đó làm nhân mà có thể chứng được quả pháp thân, nên gọi là Gia hành nhân. 3. Viên mãn nhân: Nhờ gia hành mà nhân hạnh tròn đầy, vì thế gọi là Viên mãn nhân. Trong 3 nhân này, Ứng đắc nhân lấy vô vi như lí làm thể, còn Gia hành nhân và Viên mãn nhân thì lấy hữu vi nguyện hành làm thể. Lại trong Ứng đắc nhân có 3 thứ Phật tính là Trụ tự tính, Dẫn xuất tính và Chí đắc tính. Trụ tự tính chỉ cho vị phàm phu trước Tu đạo; Dẫn xuất tính chỉ cho vị Phát tâm trở lên đến tột cùng Thánh vị Hữu học; Chí đắc tính tức là Thánh vị vô học. III. Tam Nhân. Chỉ cho 3 thứ nhân quả trong quá trình tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Dị thục nhân: Do nghiệp thiện, ác chiêu cảm quả vui, quả khổ; vì 2 quả khổ, vui chẳng phải thiện chẳng phải ác mà là pháp vô kí, nên gọi nghiệp thiện, ác là Dị thục nhân. 2. Phúc nhân: Lấy 3 Ba la mật thí, giới, nhẫn làm nhân mà chiêu cảm quả báo phúc đức, cho nên gọi thí, giới, nhẫn là Phúc nhân. 3. Trí nhân: Lấy Tuệ ba la mật làm nhân mà chiêu cảm quả trí bồ đề, vì thế gọi Tuệ ba la mật là Trí nhân. Tinh tiến ba la mật và Thiền định ba la mật thì chung cho cả Phúc nhân và Trí nhân. (xt. Tam Nhân Tam Quả). IV. Tam Nhân. Chỉ cho 3 nhân do luận Thành thực căn cứ vào 6 nhân của luận Câu xá mà lập ra, đó là: 1. Sinh nhân: Chỉ cho pháp khi sinh ra có thể làm nhân, tức là Dị thục nhân. 2. Tập nhân: Như tập quen tham dục thì tham dục càng thêm lớn, tức Đồng loại nhân. 3. Y nhân: Như lấy 6 căn 6 cảnh làm chỗ nương mà sinh ra 6 thức, tức 3 nhân Câu dụng, Tương ứng và Biến hành. Còn Năng tác nhân trong 6 nhân là Tăng thượng duyên trong 4 duyên nên luận Thành thực không lập. V. Tam Nhân. Gọi đủ: Tam nhân Phật tính. Chỉ cho Chính nhân Phật tính, Liễu nhân Phật tính và Duyên nhân Phật tính. (xt. Tam Nhân Phật Tính).
tam nhân phật tánh
(三因佛性) I. Tam Nhân Phật Tính. Ba nhân Phật tính do Đại sư Trí khải tông Thiên thai căn cứ vào thuyết trong kinh Đại bát niết bàn quyển 28 (bản Bắc) mà lập ra. Nghĩa là tất cả chúng sinh đều có đủ 3 nhân Phật tính này, nếu được hiển bày thì liền thành diệu quả tam đức. 1. Chính nhân Phật tính: Chính tức là trung chính, trung ắt song chiếu, lìa thiên lìa tà, chiếu không chiếu giả, chẳng không chẳng giả, đầy đủ Tam đế, là chính nhân Phật tính. Cũng tức là lí thể của thực tướng các pháp, là nhân chính để thành Phật. 2. Liễu nhân Phật tính: Liễu tức là soi rõ, do Chính nhân ở trước mà phát ra trí soi rõ này, trí và lí ứng hợp nhau, đó là Liễu nhân Phật tính. 3. Duyên nhân Phật tính: Duyên tức là trợ duyên, tất cả công đức thiện căn đều giúp đở Liễu nhân để khai phát tính của Chính nhân, đó là Duyên nhân Phật tính.[X. Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng; Tứ giáo nghĩa Q.6]. II. Tam nhân Phật tính. Ba nhân Phật tính theo thuyết của luận Phật tính quyển 2. 1. Ứng đắc nhân: Chỉ cho Chân như do ngã không, pháp không hiển hiện. 2. Gia hành nhân: Chỉ cho tâm bồ đề.3. Viên mãn nhân: Chỉ cho gia hành. Trong 3 nhân trên, Ứng đắc nhân có 3 thứ Phật tính là: Trụ tự tính, Dẫn xuất tính và Chí đắc tính. (xt. Tam Nhân).
tam nhân quán thập nhị nhân duyên
(三人觀十二因緣) Ba bậc người cùng quán xét 12 nhân duyên. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 40 (bản Bắc) thì Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát của Thông giáo, tuy cùng quán xét 12 nhân duyên, nhưng tùy theo trí có cạn, sâu, pháp thành cao, thấp cho nên có 3 loại khác nhau. 1. Quán xét bằng hạ trí cho nên chứng được bồ đề của Thanh văn: Hàng Thanh văn dùng trí của thể không, trước hết quán 12 nhân duyên sinh, kế đến quán 12 nhân duyên diệt, quán sinh, diệt như thế liền ngộ được chẳng sinh chẳng diệt, phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc mà chứng lí Chân không. 2. Quán xét bằng trí bậc trung cho nên chứng được bồ đề của Duyên giác: Hàng Duyên giác cũng dùng trí của thể không, bắt đầu quán 12 nhân duyên sinh, sau đó quán 12 nhân duyên diệt, quán sinh quán diệt như thế liền ngộ được chẳng sinh chẳng diệt, phá trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, lại dần dần trừ được tập khí. Vì trí năng quán của Duyên giác thù thắng hơn trí năng quán của Thanh văn, nên lí chân không mà hàng Duyên giác chứng được cũng sâu hơn. 3. Quán xét bằng trí bậc thượng cho nên được bồ đề của Bồ tát: Bồ tát cũng dùng trí thể không mà quán xét sự sinh diệt của 12 nhân duyên, liễu ngộ phi sinh phi diệt, tức khắc đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc và tập khí của chúng. Vì trí năng quán của Bồ tát thù thắng hơn trí năng quán của Duyên giác, nên lí chân không mà Bồ tát chứng được là sâu xa nhất. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên).
tam nhân tam quả
The three causes produce their three effects: (1) Dị thục nhân dị thục quả differently ripening causes produce differently ripening effects, i.e. every developed cause produce its developed effect, especially the effect of the present causes in the next transmigration; (2) Phúc nhân phúc báo blessed deeds produce blessed rewards, now and hereafter; (3) Trí nhân trí quả wisdom (now) produces wisdom-fruit (hereafter).
; (三因三果) Ba thứ nhân quả trong quá trình tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Dị thục nhân dị thục quả: Đời này gieo nhân thiện, ác, đời sau được quả. 2. Phúc nhân phúc quả: Lấy bố thí, trì giới, nhẫn nhục làm nhân, đời này và đời sau được quả tự tại. 3. Trí nhân trí quả: Tiến tu tất cả trí tuệ làm nhân, chứng được Tam thừa và Phật quả. Về nhân quả Dị thục, như Bồ tát nhờ không làm hại tất cả chúng sinh nên được thọ lượng đầy đủ; nhờ cúng dường bậc tôn trưởng nên được thế lực đầy đủ; do huệ thí cứu giúp nên được tự tại đầy đủ. Về nhân quả của Phúc, Trí, lấy Thí, Giới, Nhẫn làm Phúc, Tuệ làm Trí; còn Tinh tiến, Tĩnh lự thì chung cho cả Phúc và Trí. Người tu phúc là nhân phúc, không bị trôi lăn trong sinh tử, không bị tổn não, lại có thể giúp ích chúng sinh, mang lại quả phúc. Người tu Trí là nhân Trí, quyết định tính chất phải quấy, chính tà của Phúc, phát khởi vô lượng sự nghiệp thiện xảo là quả trí. Nhờ phúc và trí này mà chứng được Vô thượng chính đẳng bồ đề, đó là quả nghiệp rốt ráo.
tam nhãn
(三眼) Chỉ cho nhục nhãn (mắt thịt), thiên nhãn (mắt trời) và tuệ nhãn(mắt tuệ). 1. Nhục nhãn (Phạm: Màôsacakwus): Loại mắt có khả năng soi thấy các sắc Hữu kiến hiển lộ không bị ngăn ngại.2. Thiên nhãn (Phạm: Dìvyacakwus): Loại mắt chiếu thấy các sắc Hữu kiến hiển lộ, không hiển lộ, hữu chướng, vô chướng. 3. Tuệ nhãn (Phạm:Prajĩà-cakwus): Loại mắt có khả năng chiếu soi tất cả các pháp, có sắc hay không sắc. [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Du già sư địa Q.14; luận Câu xá Q.1]. (xt. Ngũ Nhãn).
tam nhãn nhân
Trilochana (S), Three-eye person.
tam nhơn
Three causes: 1) Sanh nhơn: Producing cause, as good or evil deeds cause good or evil karma. 2) Tập nhơn: habit cause—Lust breeding lust. 3) Y nhơn: dependent or hypostatic cause (Lục căn Six organs and their lục trần or six objects causing the cognitions lục thức or six consciousnesses).
tam nhơn phật tánh
The first three characteristics of Buddha's nature—See Ngũ Phật Tánh (A).
tam nhơn tam quả
The three causes produce their three effects: 1) Dị thục nhơn dị thục quả: Mọi nhân trong kiếp hiện tại đều tạo thành quả trong kiếp tới—Differently ripening causes produce differently ripening effects (every developed cause produces its developed effect, especially the effect of the present causes in the next transmigration). 2) Phúc nhơn phúc báo: Phúc nhơn tạo phúc quả ở đời nầy và đời sau—Blessed deeds produce blessed rewards, now and hereafter. 3) Trí nhơn trí quả: Trí nhơn tạo trí quả sau nầy—Wisdom now produces wisdom-fruit hereafter.
tam như lai tạng
(三如來藏) Ba nghĩa của Như lai tạng. Như lai tạng chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh ẩn chứa trong thân tạp nhiễm của tất cả hữu tình.1. Theo thuyết trong Đại thừa chỉ quán pháp môn quyển 1, Như lai tạng có 3 nghĩa: a. Năng tàng: Pháp thân của quả đức và tịnh tâm của tính tịnh, bao gồm 2 tính nhiễm, tịnh và 2 sự nhiễm, tịnh nhưng không bị ngăn ngại. b. Sở tàng: Tâm tự tính thanh tịnh bị cái vỏ của vô minh bao phủ. c. Năng sinh:Tâm thể này có cái dụng của 2 tính nhiễm và tịnh, đồng thời có sức huân tập(xông ướp) của 2 thứ nhiễm và tịnh, có khả năng sinh ra các pháp thế gian và xuất thế gian. 2. Theo thuyết trong Viên giác kinh lược sớ quyển thượng, phần 1, Như lai tạng là chỉ cho pháp thân của Như lai, có 3 nghĩa sau đây: a. Ẩn phú: Pháp thân của Như lai bị phủ kín trong sinh tử phiền não, giống như thỏi vàng bị vùi trong đống rác nhơ nhớp. b. Hàm nhiếp: Pháp thân Như lai bao hàm vô lượng công đức như thân tướng, quốc độ, thần thông đại dụng, cũng bao hàm hết thảy chúng sinh, tất cả đều hàm nhiếp trong Như lai tạng. c. Xuất sinh: Đứng về phương diện giác ngộ mà nói thì pháp thân Như lai đã bao gồm mọi đức, được rõ suốt chứng nhập thì có năng lực xuất sinh. [X. kinh Chiêm sát Q.hạ; Thắng man bảo quật Q.hạ, phần đầu; Khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng].
tam nhất nhị thừa
Có ba hàng nhị thừa trước khi Phật thuyết Kinh Pháp Hoa là Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, khi tới hội Pháp Hoa thì tất cả đều đã được thành thục để đi vào Nhứt Thừa—The “Two Vehicles” of “Three” and “One,” the three being the pre-Lotus ideas of Sravaka, Pratyeka and Bodhisattva, the one being the doctrine of the Lotus Sutra which combined all three in one.
; (三一二乘) Chỉ cho Tam thừa và Nhất thừa. 1. Tam thừa: Tức 3 thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát nói trong kinh Pháp hoa, có sự khác nhau về chứng đạo. Trong 3 thừa này thì 2 thừa Thanh văn và Duyên giác nhiếp thuộc Ngu pháp (ngu mê về lí pháp không của Đại thừa). 2. Nhất thừa: Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, trong các cõi Phật ở 10 phương chỉ có pháp Nhất thừa, đây là hội Tam thừa qui về Nhất Phật thừa nói trong kinh Pháp hoa. Nếu phối hợp với 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên thai thì Tạng giáo và Thông giáo là Tam thừa, Biệt giáo và Viên giáo là Nhất thừa; nếu phối hợp với 5 giáo Tiểu, Thủy, Chung, Đốn, Viên của tông Hoa nghiêm thì Tiểu giáo và Thủy giáo là Tam thừa, còn Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo thì thuộc Nhất thừa. Nếu phối hợp với các tông thì 4 tông: Tam luận, Pháp tướng, Thành thực, Câu xá thuộc về Tam thừa, còn 2 tông Hoa nghiêm và Thiên thai thì thuộc Nhất thừa.
tam nhẫn
Three forms of ksànti, i.e. patience (or endurance, tolerance). One of the groups is patience under hatred Nại oán hại nhẫn, under physical hardship An thế khổ nhẫn, and in pursuit of the faith Đế sát pháp nhẫn or Vô sanh pháp nhẫn. Another is patience of the blessed in the Pure Land in understanding the truth they hear Âm hưởng nhẫn, patience in obeying the truth Nhu thuận nhẫn, patience in attaining absolute reality Vô sanh pháp nhẫn. Another is patience in the joy of remembering Amitàbha Hỷ nhẫn, patience in meditation on his truth Ngộ nhẫn, and patience in constant faith in him Tín nhẫn.Another is the patience of submission, of faith and of obedience.
; Ba loại nhẫn—Three forms of ksanti (Patience—Endurance—Tolerance): (A) 1) Âm hưởng nhẫn: Kham nhẫn chịu đựng những âm thanh mình nghe—Endure the sound we hear—Patience in hearing the sound—Understanding the truth we hear. 2) Nhu thuận nhẫn: Kham nhẫn khi lắng nghe chân lý—Patience in obeying the truth. 3) Vô sanh pháp nhẫn: Kham nhẫn khi đạt thành chân lý tuyệt đối—Patience in attaining absolute reality. (B) 1) Thân nhẫn: Nhẫn nhục nơi thân—Patience or forbearance of the body. 2) Khẩu nhẩn: Nhẫn nhục nơi khẩu—Patience or forbearance of the mouth. 3) Ý nhẫn: Nhẫn nhục nơi ý—Patience or forbearance of the mind.
tam nhật phần
Ba phần trong một ngày—The three divisions of the day. 1) Sơ Nhật Phần: The beginning of the day. 2) Trung Nhật Phần: The middle of the day. 3) Hậu Nhật Phần: The end of the day.
tam nhật trai
(三日齋) Cũng gọi Kiến vương trai. Sau khi người chết đến ngày thứ 3, thân nhân thỉnh tăng ni thiết trai cúng dường để cầu siêu độ cho người quá cố, gọi là Tam nhật trai. [X. Thích thị yếu lãm Q.hạ; môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tam nhứt nhị thừa
See Tam Nhất Nhị Thừa in Vietnamese-English Section.
Tam niên nhũ bộ
(三年乳哺): ba năm trường mẹ cho con bú và mớm cơm cho con ăn. Trong Địa Mẫu Kinh (地母經) của Đạo Giáo có câu: “Thùy phi phụ mẫu sanh, thập nguyệt hoài thai khổ, tam niên nhũ bộ tân (誰非父母生、十月懷胎苦、三年乳哺辛, ai là người không phải do cha mẹ sanh ra, mười tháng mang thai cực khổ, ba năm cho con bú mớm nhọc nhằn).” Hơn nữa, trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 78 cũng có đoạn: “Thiên vô nhị nhật, nhân vô nhị lý, dưỡng dục hài đồng, phụ tinh mẫu huyết, hoài thai thập nguyệt, đãi thời nhi sanh, sanh hạ nhũ bộ tam niên, tiệm thành thể tướng, khởi hữu bất tri chi lý (天無二日、人無二理、养育孩童,父精母血,怀胎十月,待时而生,生下乳哺三年,渐成体相,岂有不知之理!養育孩童、父精母血、懷胎十月、待時而生、生下乳哺三年、漸成體相、豈有不知之理, trời không có hai mặt trời, người không có hai lý, nuôi dưỡng con nhỏ, tinh cha huyết mẹ, mang thai mười tháng, đợi đến lúc sanh con, sanh xong cho bú mớm ba năm, dần dần thành hình tướng, liệu làm sao chẳng biết lý ấy).” Hay như trong Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn (勸發菩提心文) của Tỉnh Am Đại Sư (省庵大師, 1686-1734) có câu: “Vân hà niệm phụ mẫu ân ? Ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao, thập nguyệt tam niên, hoài thai nhũ bộ (云何念父母恩、哀哀父母、生我劬勞、十月三年、懷胎乳哺, Thế nào là nhớ đến công ơn cha mẹ ? Thương thay cha mẹ, sanh ta khó nhọc, mười tháng ba năm, mang thai bú mớm).”
tam niết bàn
(三涅槃) I. Tam Niết Bàn. Ba thứ Niết bàn do tông Thiên thai dựa theo 3 phương diện Thể, Tướng, Dụng mà lập ra để nêu tỏ nghĩa bất sinh bất diệt. Đó là: 1. Tính tịnh Niết bàn: Thực tướng các pháp không nhiễm không tịnh, không nhiễm tức không sinh, không tịnh tức không diệt, không sinh không diệt tức là Tính tịnh Niết bàn. 2. Viên tịnh Niết bàn: Trí đạt đến cùng cực là Viên, Hoặc bị trừ hết sạch là Tịnh; Trí mà khế hợp với Lí thì Hoặc rốt ráo chẳng sinh, Trí rốt ráo chẳng diệt, chẳng sinh chẳng diệt tức là Viên tịnh Niết bàn.3. Phương tiện tịnh Niết bàn: Trí thường khế lí thì chiếu rọi các cơ. Chiếu ắt ứng hiện, cơ cảm liền sinh, sinh này chẳng phải sinh, cơ duyên đã hết thì ứng than liền diệt. Diệt này chẳng phải diệt, chẳng sinh chẳng diệt tức là Phương tiện tịnh Niết bàn.Trên đây, theo thứ tự là Thể đại, Tướng đại và Dụng đại trong 3 đại, Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân trong 3 thân. [X. Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5 hạ; Thập địa kinh luận nghĩa kí Q.1 phần cuối; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 1]. II. Tam Niết Bàn. Ba loại Niết bàn của Tiểu thừa, Tam thừa và Nhất thừa. 1. Niết bàn của Tiểu thừa: Thân và trí đều còn, gọi là Hữu dư Niết bàn; thân và trí đều không còn, gọi là Vô dư Niết bàn. Cả hai đều lấy tịch diệt vô vi làm thể.2. Niết bàn của Tam thừa: Gồm có 5 thứ:a. Vô trụ niết bàn: Vận dụng cả bi và trí, không trụ trước. b. Tính tịnh niết bàn: Vì vốn có sẵn nên Niết bàn này thường vắng lặng, thanh tịnh.c. Phương tiện tịnh niết bàn: Vì Niết bàn này nhờ các duyên tu hành mà có được. d. Hữu dư niết bàn: Vì còn có thân ứng hóa, chưa cùng tận. e. Vô dư niết bàn: Pháp thân vắng bặt, vì thuận theo tịch diệt. 3. Niết bàn của Nhất thừa: Nói theo Biệt giáo thì có 10 thứ Niết bàn, như 10 thứ Niết bàn nói trong phẩm Li thế gian của kinh Hoa nghiêm. [X. Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4]. (xt. Niết Bàn).
tam niết bàn môn
The three gates to the city of nirvàna, i.e. Không the Void Vô tướng Formlessness, and Vô tác Inactivity; idem Tam giải thoát môn.
; See Tam Giải thoát môn—Three gates to the city of Nirvana: 1) Không: The void—Immaterial. 2) Vô tướng: Formlessness. 3) Vô tác: Inactivity.
tam niệm nguyện lực
(三念願力) Cũng gọi Tam niệm lực, Tam lực, Tam sự. Chỉ cho ba thứ lực dụng của đức Phật A di đà nhớ nghĩ và hộ trì chúng sinh để khiến cho họ được thấy Phật. Đó là: 1. Đại thệ nguyện lực: Tức nguyện lực ở nhân vị(lúc còn tu nhân) của Phật, sức uy thần của Phật, cũng tức là lực dụng khi đã đắc quả, Phật dùng 3 thứ lực dụng này gia hộ chúng sinh thì chúng sinh liền được thấy Phật.2. Tam muội định lực: Phật thường an trụ trong định, tâm ý không tán loạn, hiện đại lực dụng; Phật gia hộ chúng sinh bằng lực dụng này, chúng sinh liền được thấy Phật. 3. Bản công đức lực: Tức sức công đức sẵn có của hành giả, có 2 nghĩa: Tính bản và Túc bản. Tính bản chỉ cho Phật tính vốn có; Túc bản chỉ cho sức thiện căn của đời trước. Ngài Thiện đạo chủ trương 3 lực dụng trên đây đều là của đức Phật A di đà và gọi là Di đà tam niệm nguyện lực. Nhưng Ma ha chỉ quán quyển 2 thượng, thì cho rằng Đại thệ nguyện lực và Tam muội định lực là lực dụng của Phật, còn Bản công đức lực là lực dụng thuộc về hành giả.[X. kinh Bát chu tam muội Q.thượng; Hiền hộ phần trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.2; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyển Q.2, phần 1; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí Q.trung; Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần cuối].
tam niệm trụ
Trini-Smṛty-Upasṭhānani (S)Tam niệm xứBa niệm chư Phật thường an trụ.
; Whether all creatures believe, do not believe, or part believe and part do not believe, the Buddha never rejoices, nor grieves, but rests in his proper mind and wisdom, i.e. though full of pity, his far-seeing wisdom chính niệm chính trí keeps him above the disturbances of joy and sorrow.
; (三念住) Phạm: Trìịi smfty-upasthànàni. Cũng gọi Tam niệm xứ, Tam ý chỉ. I. Tam niệm trụ. Chỉ cho 3 ý niệm trong đó chư Phật thường an trụ. Phật dùng tâm đại bi độ hóa chúng sinh, thường an trụ trong 3 niệm, không có các cảm giác lo mừng, vui buồn. Đây là 1 trong 18 pháp riêng (bất cộng pháp) của đức Phật. Tam niệm trụ là: 1. Đệ nhất niệm trụ: Chúng sinh tin Phật, vâng theo lời Phật dạy mà tu hành, Phật cũng không vì thế mà sinh tâm vui mừng, nhưng thường an trụ trong chính niệm chính trí. 2. Đệ nhị niệm trụ: Chúng sinh không tin Phật, chẳng làm theo lời Phật dạy, Phật cũng không vì thế mà sinh tâm lo buồn, nhưng thường an trụ trong chính niệm chính trí. 3. Đệ tam niệm trụ: Trong chúng sinh có người tin, người không tin, Phật biết điều đó, nhưng không vì thế mà sinh tâm vui buồn, chỉ an trụ trong chính niệm chính trí. Ba niệm trên đây đều lấy niệm và tuệ làm thể, là các công đức chỉ một mình Phật có, chứ hàng nhị thừa không có được. II. Tam Niệm Trụ. Dựa theo thể của Tứ niệm trụ (thân, thụ, tâm, pháp) mà Niệm trụ được chia làm 3 loại sau đây: 1. Tự tính niệm trụ(cũng gọi Tính niệm xứ): Tứ niệm xứ đều lấy tuệ làm thể, có 3 thứ là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. 2. Tương tạp niệm trụ(cũng gọi Cộng niệm xứ, Tương ứng niệm xứ): Lấy tuệ và các pháp câu hữu khác làm thể. 3. Sở duyên niệm trụ(cũng gọi Duyên niệm xứ, Cảnh giới niệm xứ): Lấy các pháp sở duyên của tuệ làm thể. Theo luận Đại tì bà sa quyển 187 thì trong Tam niệm trụ trên, Tự tính niệm trụ và Sở duyên niệm trụ không đoạn trừ được phiền não, chỉ có Tương tạp niệm trụ là có khả năng ấy. Ngoài ra, Tứ giáo nghĩa quyển 2 cho rằng tu 3 niệmxứ có khả năng thành tựu 3 loại La hán, như tu Tính niệm xứ có thể thành Tuệ giải thoát la hán; tu Cộng niệm xứ có thể thành Câu giải thoát la hán, tu Duyên niệm xứ có thể thành tựu Vô ngại giải thoát la hán. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Câu xá Q.33; luận Du già sư địa Q.28; luận Đại trí độ Q.19].
tam niệm trụ (xứ)
Phật luôn luôn trụ trong chánh tâm và trí huệ. Phật không vui sướng cũng không khổ sầu, dù rằng chúng sanh có tin, không tin, hơi tin hay hơi không tin, Phật vẫn luôn giữ mình vượt trên những vui sướng khổ sầu—The Buddha always rests in his proper mind and wisdom. He neither rejoices, nor grieves whether all creatures believe, do not believe, part believe and part do not believe. The Buddha always keep himself above the disturbances of joy and sorrow.
Tam niệm xứ
xem Ba chỗ niệm.
tam niệm xứ
Xem Tam niệm trụ.
; Xem tam niệm trụ.
tam năng biến
Trividha-pariṇāma (S).
; 1. Trong thức tám, khi có một chủng tử nào chín muồi, gặp duyên biến hiện thuộc về dị thục năng biến. 2. Dù trong chủng tử đủ sức biến hiện, còn phải chờ thức bảy, ngày đêm suy lường chấp ngã, mới được biến hiện ra, thuộc về suy lường năng biến. 3. Hai thức thứ bảy và thức thứ tám, dù có tính năng biến, còn phải chờ thức thứ sáu liễu biệt lục trần (phân biệt rõ ràng) mới được sanh khởi hiện hành, thuộc liễu biệt năng biến; ba thức sáu, bảy, tám hợp tác biến hiện vũ trụ vạn vật, gọi là Tam năng biến.
; Duy Thức Luận chia tám thức ra làm ba loại năng biến—The “Only-Consciousness” Sastra divided the eight consciousnesses into three powers of change. 1) Sơ Năng Biến: The first power of change—See A Lại Da Thức. 2) Đệ Nhị Năng Biến: The second power of change—See Mạt Na Thức. 3) Đệ Tam Năng Biến: The third power of change—See Lục Thức.
; (三能變) Phạm: Trividha-pariịàma. Ba thứ chủ động sự biến hiện. Hành phái Du già và tông Duy thức chủ trương Thức có năng lực chuyển biến sinh khởi tất cả muôn pháp, hoặc biến hiện là chủ thể của tác dụng nhận thức chủ quan (Kiến phần) và khách quan(Tướng phần) trong nội tâm, vì thế gọi là Năng biến. Y cứ vào đặc tính của tác dụng, Năng biến được chia làm 3 loại là Dị thục, Tư lương và Liễu cảnh. 1. Dị thục (Phạm,Pàli:Vipàka)năng biến(cũng gọi Đệ nhất năng biến, Sơ năng biến): Tức thức A lại da thứ 8. Thức thứ 8 là quả báo chung của hữu tình từ cõi người cho đến các cõi trời, quả báo này do Dẫn nghiệp dắt dẫn mà trở thành thể tổng báo thường hằng tương tục, cho nên gọi là Dị thục, hoặc gọi là Dị thục năng biến, Di thục thức, Chân dị thục. Chẳng hạn như 6 thức trước(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và quả báo riêng biệt về giàu nghèo, sang hèn... là do thể biệt báo của Mãn nghiệp mà có; nhưng quả báo này có lúc dứt mất nên không gọi là Dị thục mà gọi là Di thục sinh. Nếu nói theo Lại da tam vị thì tên Dị thục thức tương đương với Thiện ác nghiệp quả vị. 2. Tư lương (Phạm: Manana) năng biến(cũng gọi Đệ nhị năng biến): Chỉ cho thức Mạt na thứ 7. Vì thức thứ 7 là thức thường so đo, nghĩ ngợi, tính lường nên gọi là Tư lương năng biến. Trong các thức thì thức thứ 6 và thức thứ 7 luôn luôn suy nghĩ, lo lường, nhưng vì thức thứ 6 có lúc gián đoạn chứ không thường hằng như thức thứ 7 nên không được gọi là Tư lương năng biến.3. Liễu cảnh năng biến(cũng gọi Đệ tam năng biến, gọi đủ: Liễu biệt cảnh năng biến): Tức chỉ cho 6 thức trước(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Sáu thức này có tác dụng phân biệt rõ ràng các đối tượng(như màu sắc, âm thanh...) khi chúng hiển hiện, cho nên gọi là Liễu biệt cảnh năng biến. Thức thứ 7 và thức thứ 8 thì không có tác dụng phân biệt rõ ràng các đối tượng. Chỉ có 6 thức trước của đức Phật đối với các cảnh nhỏ nhiệm như Chân như cũng có thể phân biệt rõ ràng. Trên đây, thức năng biến thứ nhất do nghiệp đời trước và chủng tử của Danh ngôn biến hiện ra cảnh thực, vì thế gọi là Biến. Trong đó, nếu nói theo chủng tử(hạt giống) được tích chứa thì gọi là Nhân năng biến, còn nói theo phần tự thể của thức thể có năng lực biến hiện mà sinh ra quả Kiến phần và Tướng phần thì gọi là Quả năng biến. [X. Duy thức tam thập luận tụng; luận Thành duy thức Q.4,7; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu, Q.2, phần đầu]. (xt. Nhân Năng Biến, Quả Năng Biến).
tam năng tam bất năng
The three things possible and impossible to a Buddha. He can (a) have perfect knowledge of all things; (b) know all the natures of all beings, and fathom the affairs of countless ages; (c) save countless beings. But he cannot (a) annihilate causality, i.e. karma; (b) save unconditionally; (c) end the realm of the living.
tam nội
(三內) Ba âm bên trong. Chỉ cho Hầu nội (cổ họng), Thiệt nội(lưỡi)và Thần nội(môi). Đây là tiếng dùng trong Tất đàm học của Nhật bản, tức là 3 cách phát âm tiếng Phạm. Phần đệ ngũ hạ tự liên thành thượng tự âm lệ trong Tất đàm thập nhị lệ của ngài An nhiên, cao tăng người Nhật bản, có ghi: Ngũ cú tự có 3 loại âm, thứ nhất là âm đầu của hầu nội; tức là chữ ka; thứ hai là âm đầu của thiệt nội, tức chữ ca, ỉa, ta; thứ ba là âm đầu của thần nội, tức chữ pa. Chín chữ sau đó cũng có 3 loại âm. Một là âm đầu của hầu nội, tức chữ ya, ha, kwa; hai là âm đầu của thiệt nội, tức các chữ ra, la, za, wa, sa; ba là âm đầu của thần nội, tức chữ va. Cũng tức là dùng âm đầu của các chữ thuộc 5 loại, 9 loại mà làm thành âm cuối của các chữ 3 loại âm. Chẳng hạn như âm đại không, âm niết bàn đều hàm chứa âm của hầu nội, thiệt nội và thần nội. Ba âm của đại không là Hạnh, Kiến, Khiếm; 3 âm của niết bàn là Cách, Yết, Kiếp. Cách dùng này rất giống với Song thanh, Điệp vận của Trung quốc. [X. Tất đàm lược kí; Tất đàm yếu quyết Q.1].
Tam phiền não
三煩惱; C: sānfánnăo; J: sanbonnō;|Trong luận Du-già sư địa (瑜伽師地論; s: yogācārabhūmi-śāstra), Vô minh (無明), Ái (愛) và Thủ (取) là ba nhánh nghiệp quan trọng trong Thập nhị chi (十二支).
tam phiền não
Three kinds of afflictions: 1) Kiến Tư Hoặc: The ilusion or misleading views and thoughts—See Kiến Hoặc Tư Hoặc. 2) Trần Sa Hoặc: Delusion of “Dust and sand.” 3) Vô Minh Hoặc: The illusion arising from primal ignorance—See Vô Minh and Vô Minh Hoặc.
tam phong phái
(三峰派) Chi phái thuộc tông Lâm tế, hưng thịnh vào thời Minh, Thanh, Tổ khai sáng là ngài Hán nguyệt Pháp tạng (1573-1635), người huyện Vô tích, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Cứ theo Ngũ đăng toàn thư quyển 65, ngài Pháp tạngnghetiếng chẻ tre mà khai ngộ ở Tam phong (nằm về phía tây nam huyện Ngô, tỉnh Giang tô) tại Hải ngu. Vào năm Thiên khải thứ 4 (1624), sư đến chùa Kim túc làm Thủ tọa của ngài Mật vân Viên ngộ, nhưng không đồng ý với thuyết Tự tính tự ngộ do ngài Viên ngộ đề xướng, mà chủ trương sự phân phái của Ngũ gia Thiền tông đều có lí do, dựa theo Nhất đại viên tướng mà suy tìm khảo xét về nguồn gốc của Phật tổ, rồi vào năm Thiên khải thứ 5 (1625), soạn Ngũ tông nguyên 1 quyển. Để đối lại, vào năm Sùng trinh thứ 7 (1634), ngài Viên ngộ soạn Thất tịch và 2 năm sau (1636) lại soạn Tam tịch để bác bỏ thuyết của ngài Pháp tạng, đệ tử ngài Pháp tạng là ngài Đàm cát Hoằng nhẫn soạn Ngũ tông cứu để ủng hộ ngài Pháp tạng. Vào năm ngài Hoằng nhẫn thị tịch (1638), ngài Viên ngộ lại bác bỏ chủ trương của các ngài Pháp tạng và Hoằng nhẫn. Nhưng học trò ngài Pháp tạng còn có nhiều người như: Cụ đức Hoằng lễ, Kế khởi Hoằng trừ..., lại có pháp tôn là Kỉ ấm (trụ trì chùa Tường phù tại Thường châu) soạn Tông thống biên niên 33 quyển, vì thế phái Tam phong rất hưng thịnh tại Giang nam. Nhưng vua Thế tông nhà Thanh tự soạn Giản ma biện dị lục 8 quyển để bác bỏ phái này, đồng thời, hủy hoại những bản khắc in Ngũ tông nguyên và Ngũ tông cứu; hơn nữa, vào năm Ung chính 11 (1733) cấm chỉ sự lưu truyền của phái này. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng nghiêm thống Q.24].
Tam pháp
三法; C: sānfǎ; J: sanhō;|Ba loại pháp: I. 1. Giáo (教), nghĩa là giảng dạy; 2. Hành (行) với ý nghĩa thực hành và 3. Chứng (證) với ý nghĩa chứng ngộ, trực chứng; II. Chỉ ba bộ phần trong tam tạng là Kinh (經), Luật (律) và Luận (論); III. Chỉ ba loại pháp: 1. Chân pháp (真法), giáo lí chan thật; 2. Giả pháp (假法), pháp giả tạo và 3. Mạt pháp (末法), pháp trong lúc suy tàn.
tam pháp
The three dharmas, i.e. giáo pháp the Buddha's teaching; hành pháp the practice of it; chứng pháp realization or experiential proof of it in bodhi and nirvàna.
; (A) Three dharma: 1) Phật pháp: The Buddha's teaching. 2) Hành pháp: The practice of Buddha dharma. 3) Chứng pháp: The realization of experiential proof of the dharma in bodhi or nirvana. (B) Tam Bất Thiện Căn—Three unwholesome roots: Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có một chuỗi ba pháp—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are sets of THREE THINGS: 1) Tham bất thiện căn: Lobho akusala mulam (p)—Unwholesome root of greed. 2) Sân bất thiện căn: Doso akusala mulam (p)—Unwholesome root of hatred. 3) Si bất thiện căn: Moho akusala mulam (p)—Unwholesome root of delusion. (D) Tam Thiện Căn—Three wholesome roots: 1) Vô tham thiện căn: alobho kusala (p)—Wholesome root of non-greed. 2) Vô sân thiện căn: Adoso kusala (p)—Wholesome root of non-hatred. 3) Vô si thiện căn: Amoho kusala (p)—Wholesome root of non-delusion. (E) Tam Ác Hạnh—Three kinds of wrong conduct: 1) Thân ác hạnh: Kaya-duccaritam (p)—Wrong conduct in body. 2) Khẩu ác hạnh: Vaci-duccaritam (p)—Wrong conduct in speech. 3) Ý ác hạnh: Mano-duccaritam (p)—Wrong conduct in thought. (F) Tam Thiện Hạnh—Three kinds of right conduct: 1) Thân thiện hạnh: Kaya-succaritam (p)—Roght conduct in body. 2) Khẩu thiện hạnh: Vaci-succaritam (p)—Right conduct in speech. 3) Ý thiện hạnh: Mano-succaritam (p)—Right conduct in thought. (G) Tam Bất Thiện Tầm: Akusala vitakka (p)—Three kinds of unwholesome thought: 1) Dục tầm: Kama-vitakko (p)—Unwholesome thought of sentuality. 2) Sân tầm: Vyapada-vitakko (p)—Unwholesome thought of enmity. 3) Hại tầm: Vihimsa-vitakko (p)—Unwholesome thought of cruelty. (H) Tam Thiện Tầm—Three kinds of wholesome thought: 1) Ly dục tầm: Nekkkama-vitakko (p)—Wholesome thought of renunciation. 2) Vô sân tầm: Wholesome thought of non-enmity. 3) Vô hại tầm: Wholesome thought of non-cruelty. (I) Tam Bất Thiện Tư Duy—Three kinds of unwholesome motivation: 1) Dục bất thiện tư duy: Unwholesome motivation through sensuality. 2) Sân bất thiện tư duy: Unwholesome motivation through enmity. 3) Hại bất thiện tư duy: Unwholesome motivation through cruelty. (J) Tam Bất Thiện Tưởng—Three kinds of unwholesome perception: 1) Dục bất thiện tưởng: Unwholesome perception of sensuality. 2) Sân bất thiện tưởng: Unwholesome perception of enmity. 3) Hại bất thiện tưởng: Unwholesome perception of cruelty. (K) Tam Thiện Tưởng—Three kinds of wholesome perception: 1) Ly dục tưởng: Wholesome perception of renunciation. 2) Vô sân tưởng: Wholesome perception of non-enmity. 3) Vô hại tưởng: Wholesome perception of non-cruelty. (L) Tam Bất Thiện Giới—Three unwholesome elements: 1) Dục giới: Sensuality. 2) Sân giới: Enmity. 3) Hại giới: Cruelty. (M) Tam Thiện Giới—Three wholesome elements: 1) Ly dục giới: Renunciation. 2) Vô sân giới: Non-enmity. 3) Vô hại giới: Non-cruelty. (N) Ba Giới Khác—Three more elements: (a) i) Dục giới: kama-dhatu (p)—The element of sense-desire. ii) Sắc giới: Rupa dhatu (p)—The element of form. iii) Vô sắc giới: Arupa-dhatu (p)—The formless element. (b) i) Sắc giới: Rupa-dhatu (p)—The element of form. ii) Vô sắc giới: Arupa-dhatu (p)—The formless element. iii) Diệt giới: Nirodha-dhatu (p)—The element of cessation. (c) i) Liệt giới: Hina-dhatu (p)—The low element. ii) Trung giới: Majjhima-dhatu (p)—The middling element. iii) Thắng giới: Patina-dhatu (p)—The sublime element. (O) Tam Ái—Three kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (p)—Sensual craving. 2) Hữu ái: Bhava-tanha (p)—Craving for becoming. 3) Vô hữu ái: Vibhava-tanha (p)—Craving for extinction. (P) Ba Ái Khác—Three more kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (p)—Craving for the world of sensual desire. 2) Sắc ái: Rupa-tanha (p)—Craving for the world of form. 3) Vô sắc ái: Arupa-tanha (p)—Craving for the formless world. (Q) Ba Ái Khác—Three more kinds of craving: 1) Sắc ái: Craving for the world of form. 2) Vô sắc ái: Craving for the formless world. 3) Diệt ái: Craving for cessation. (R) Tam Kiết Sử: Samyojanani (p)—Three fetters: 1) Thân kiến kiết sử: Sakkaya-ditthi (p)—The fetter of personality belief. 2) Nghi kiết sử: Vici-kiccha (p)—The fetter of doubt. 3) Giới cấm thủ: Silabhata-paramaso (p)—The fetter of attachment to rite and ritual. (S) Tam Lậu: Asava (p)—Three corruptions: 1) Dục lậu: kamasavo (p)—The corruption of desire. 2) Hữu lậu: Bhavasavo (p)—The corruption of becoming. 3) Vô minh lậu: Avijjasavo (p)—The corruption of ignorance. (T) Tam Hữu—Three kinds of becoming: 1) Dục hữu: Kama-bhavo (p)—Becoming in the world of sense-desire. 2) Sắc hữu: Rupa-bhavo (p)—Becoming in the world of form. 3) Vô sắc hữu: Arupa-bhavo (p)—Becoming in the formless world. (U) Tam Cầu—Three quests: 1) Dục cầu: Kamesana (p)—Quests for sense-desire. 2) Hữu cầu: Bhavesana (p)—Quests for becoming. 3) Phạm hạnh cầu: Brahmacariyesana (p)—Quests for the holy life. (V) Tam Mạn—Three forms of conceit: 1) Thắng mạn: Tôi tốt hơn—I am better than… 2) Đẳng mạn: Tôi bằng—I am equal to… 3) Ty liệt mạn: Tôi tệ hơn—I am worse than… (W) Tam Thời—Three times: 1) Quá khứ: Atito addha (p)—Past. 2) Vị lai: Anagato addha (p)—Future. 3) Hiện tại: Paccuppanno addha (p)—Present. (X) Tam Biên—Three ends: 1) Hữu thân biên: Sakkaya anto (p)—Personality. 2) Hữu thân tập biên: Sakkaya-samudayo anto (p)—Arising of personality. 3) Hữu thân diệt biên: Sakkaya-noridho anto (p)—Cessation of personality. (Y) Tam Thọ—Three feelings: 1) Lạc thọ: Sukha vedana (p)—The pleasant feeling. 2) Khổ thọ: Dukkha vedana (p)—The painful feeling. 3) Phi khổ phi lạc thọ: Adukkham-asukha vedana (p)—Neither pleasant nor painful feeling. (Z) Tam Khổ Tánh—Three kinds of suffering: 1) Khổ khổ: Dukkha-dukkhata (p)—Suffering as pain. 2) Hành khổ: sankhara-dukkhata (p)—Suffering as inherent in formations. 3) Hoại khổ: Viparinama-dukkhata (p)—Suffering as due to change. (AA) Tam Tụ—Three accumulations: 1) Tà định tụ: Micchatta-niyato rasi (p)—Evil accumulation with fixed result. 2) Chánh định tụ: Sammatta-niyato rasi (p)—Good accumulation with fixed result. 3) Bất định tụ: Aniyato rasi (p)—Indeterminate. (BB) Tam Nghi—Three obscurations: 1) Đối với vấn đề thuộc về quá khứ nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng: One hesitates, vacillates, is undecided, is unsettled about the past. 2) Đối với vấn đề thuộc về tương lai nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng: One hesitates, vacillates, is undecided, is unsettled about the future. 3) Đối với vấn đề thuộc về hiện tại nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng: One hesitates, vacillates, is undecided, is unsettled about the present. (CC) Ba điều Như Lai không cần gìn giữ—Three things a Tathagata has no need to guard against: 1) Như Lai thanh tịnh hiện hành về thân, Như Lai không có ác hạnh về thân mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in bodily conduct. There is no misdeed of the body which He must conceal lest anyone should get to hear about it. 2) Như Lai thanh tịnh hiện hành về miệng. Như Lai không có ác hạnh về miệng mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in speech. There is no misdeed of the speech. 3) Như Lai thanh tịnh hiện hành về ý. Như Lai không có ác hạnh về ý mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in thought. There is no misdeed of thought. (DD) Tam Chướng—Three obstacles: 1) Tham chướng: Rago-kincanam (p)—Obstacles of Lust. 2) Sân chướng: Dosa kincanam (p)—Obstacles of hatred. 3) Si chướng: Moho kincanam (p)—Obstacles of delusion. (EE) Tam Chủng Hỏa—Three fires: 1) Lửa tham: Ragaggi (p)—Fire of lust. 2) Lửa sân: Dosaggi (p)—Fire of hatred. 3) Lửa si: Mohaggi (p)—Fire of delusion. (FF) Ba Loại Lửa Khác—Three more fires: 1) Lửa của người hiếu kính: Ahuneyyaggi (p)—The fire of those to be revered. 2) Lửa của người gia chủ: Gahapataggi (p)—The fire of the householder. 3) Lửa của người đáng cúng dường (cha mẹ, vợ con, và các vị xuất gia): Dakkhineyyaggi (p)—The fire of those worthy of offerings (parents, husband, wife, children, monks and nuns). (GG) Tam Chủng Sắc Tụ—Threefold classification of matter: 1) Hữu kiến hữu đối sắc: Sanidas-sana-sappatigham rupam (p)—Visible and resisting matter. 2) Vô kiến hữu đối sắc: Anidassana-sappatigham rupam (p)—Invisible and resisting matter. 3) Vô kiến vô đối sắc: Anidas-sana-appatigham-rupam (p)—Invisible and unresisting matter. (HH) Tam Hành—Three kinds of karmic formation: 1) Phước hành: Punnabhisankharo (p)—Meritorious karmic formation. 2) Phi phước hành: Apunnabhisankharo (p)—Demeritorious karmic formation. 3) Bất động hành: Anenjabhisankharo (p)—Imperturbable karmic formation. (II) Tam Chủng Nhân—Three persons: 1) Hữu học nhân: Sekho puggalo (p)—The learner. 2) Vô học nhân: Asekho puggalo (p)—The non-learner. 3) Phi hữu học phi vô học nhân: N'eva sekho nasekho puggalo (p)—The one who is neither the learner nor the non-learner. (JJ) Tam Vị trưởng Lão—Three elders: 1) Sanh trưởng lão: Jati-thero (p)—An elder by birth. 2) Pháp trưởng lão: Dhamma thero (p)—An elder in Dhamma. 3) Nhập định trưởng lão: Sammuti-thero (p)—An elder by convention. (KK) Tam Phước Nghiệp Sự—Three grounds based on merit: 1) Thí hành phước nghiệp sự: Danamayam punna kiriya vatthu (p)—The merit of giving. 2) Giới hành phước nghiệp sự: Silamayam punna kiriya vatthu (p)—The merit of morality. 3) Tu hành phước nghiệp sự: Bhavanamaya punna kiriya vatthu (p)—The merit of meditation. (LL) Tam Cử Tội Sự—Three grounds for reproof: 1) Thấy: Ditthena (p)—Reproof based on what has been seen. 2) Nghe: Sutena (p)—Reproof based on what has been heard. 3) Nghi: Parisankaya (p)—Reproof based on what has been suspected. (MM) Tam Dục Sanh—Three kinds of rebirth in the realm of Sense-Desire: 1) Hữu tình do dục an trú, họ bị chi phối phụ thuộc, như loài người, một số chư Thiên, và một số tái sanh trong đọa xứ: Paccuppatthita-kama (p)—There are beings who desire what presents itself to them, and are in the grip of that desire, such as human beings, some devas, and some in states of woe. 2) Hữu tình có lòng dục đối với những sự vật do họ tạo ra, như chư Hóa Lạc Thiên: Nimmita-kama (p)—There are beings who desire what they have created, such as the devas who rejoice in the own creation (nimmanarati). 3) Hữu tình có lòng dục đối với sự vật do các loài khác tạo ra, như chư Thiên Tha Hóa Tự Tại: There are beings who rejoice in the creations of others, such as the devas Having Power over Others' Creation (Pranimmita-vasavati). (NN) Tam Chủng Lạc Sanh: Sukhupapattiyo (p)—Three happy rebirths: 1) Hữu tình luôn tạo ra thiền định lạc hay sống trong sự an lạc, như các vị Phạm Thiên: There are beings who, having continually produced happiness now dwell in happiness, such as the devas of the Brahma group. 2) Hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu cảm hứng: “Ôi an lạc thay! Ôi an lạc thay!” như chư Quang Âm Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, fuul of it, immersed in it, so that they occasionally exclaim: “Oh what bliss!” such as the Radiant devas (abhasara). 3) Hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Họ sống mãn túc với an lạc ấy, cảm thọ an lạc, như chư Biến Tịnh Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, full of it, immersed in it, who, supremely blissful, experience only perfect happiness, such as the lustrous devas (subhakina). (OO) Tam Tuệ—Three kinds of wisdom: 1) Hữu học tuệ: The wisdom of the learner. 2) Vô học tuệ: The wisdom of the non-learner. 3) Phi hữu học phi vô học tuệ: The wisdom of the one who is neither the learner nor the non-learner. (PP) Ba Loại Tuệ Khác—Three Three more kinds of wisdom: 1) Tư sanh tuệ: Cintamaya panna (p)—The wisdom based on thought. 2) Văn sanh tuệ: Sutamaya panna (p)—The wisdom based on learning. 3) Tu sanh tuệ: Bhavanamaya panna (p)—The wisdom based on mental development. (QQ) Tam Chủng Binh Khí—Three armaments; 1) Nghe: Sutavudham (p)—What one has learnt. 2) Xả ly: Pavivekavudham (p)—Detachment. 3) Tuệ: Pannavudham (p)—Wisdom. (RR) Tam Căn—Three faculties: 1) Vị tri đương tri căn: Anannatam-nassamitindriyam (p)—Trí căn dùng để biết những gì chưa được biết—The faculty of knowing that one will know the unknown. 2) Dĩ tri căn: Annindriyam (p)—Trí căn tối thượng—The faculty of highest knowledge. 3) Cụ tri căn: Annata-indriyam (p)—Trí căn của bậc thức giả—The faculty of the one who knows. (SS) Tam Nhãn—Three eyes: 1) Nhục nhãn: Mamsa-cakkhu (p)—The fleshly eye. 2) Thiên nhãn: Dibba-cakkhu (p)—The divine eye. 3) Tuệ nhãn: Panna-cakkhu (p)—The eye of wisdom. (TT) Tam Học—Three kinds of training: 1) Tăng thượng giới học: Adhisila-sikkha (p)—Training in higher morality. 2) Tăng thượng tâm học: Adhicitta-sikkha (p)—Training in higher thought. 3) Tăng thượng tuệ học: Adhipanna-sikkha (p)—Training in higher wisdom. (UU) Tam Sự Tu Tập—Three kinds of development: 1) Thân tu: Kaya-bhavana (p)—Development of the emotions. 2) Tâm tu: Citta-bhavana (p)—Development of mind. 3) Tuệ tu: Panna-bhavana (p)—Development of wisdom. (VV) Tam Vô Thượng—Three unsurpassables: 1) Kiến vô thượng: Dassananuttariyam (p)—The unsurpassable of vision. 2) Hành vô thượng: Patipadanuttariyam (p)—The unsurpassable of practice. 3) Giải thoát vô thượng: Vimuttanuttariyam (p)—The unsurpassable of liberation. (WW) Tam Định—Three kinds of concentration: 1) Hữu tầm hữu tứ định: Savotakko-savicaro samadhi (p)—The concentration of thinking and pondering. 2) Vô tầm hữu tứ định: Avitakko-vicara-matto samadhi (p)—The concentration with pondering without thinking. 3) Vô tầm vô tứ định: Avitakko-avicaro samadhi (p)—The concentration with neither thinking nor pondering. (XX) Ba Định Khác—Three more kinds of concentration: 1) Không định: Sunnato-samadhi (p)—The concentration on emptiness. 2) Vô tướng định: Animitto-samadhi (p)—The concentration on the signlessness. 3) Vô nguyện định: Appanihito samadhi (p)—The concentration on desirelessness. (YY) Tam Thanh Tịnh—Three purities: 1) Thân thanh tịnh: Kaya-socceyam (p)—Purity of body. 2) Ngữ thanh tịnh: Vaci-socceyam (p)—Purity of speech. 3) Ý thanh tịnh: Mano-socceyam (p)—Purity of mind. (ZZ) Tam Tịnh Mặc—Three qualities of the sage: 1) Thân tịnh mặc: Kaya-moneyyam (p)—Qualities of the sage as to the body. 2) Ngữ tịnh mặc: Vaci-moneyyam (p)—Qualities of the sage as to speech. 3) Ý tịnh mặc: Mano-moneyyam (p)—Qualities of the sage as to mind. (3A) Tam Thiện Xảo—Three skills: 1) Tăng ích thiện xảo: Aya-kosallam (p)—Skills in going forward. 2) Tổn ích thiện xảo: Apaya-kosallam (p)—Skills in going down. 3) Phương tiện thiện xảo: Upaya-kosallam (p)—Skills in means to progress. (3B) Tam Kiêu—Three intoxications: 1) Vô bệnh kiêu: Arogya-mado (p)—Kiêu mạn vì thân không bệnh—Intoxication with health. 2) Niên tráng kiêu: Yobbana-mado (p)—Kiêu mạn vì tuổi tráng niên—Intoxciation with youth. 3) Hoạt mạng kiêu: Jivita-mado (p)—Kiêu mạn vì có đời sống sung túc—Intoxication with one's prosperous life. (3C) Tam Tăng Thượng—Three Predominant influences: 1) Ngã tăng thượng: Attadhipateyyam (p)—The predominant influence on oneself. 2) Thế tăng thượng: Lokadhipateyyam (p)—The predominant influence on the world. 3) Pháp tăng thượng: Dhammadhipateyyam (p)—The predominant influence on the Dhamma. (3D) Tam Luận Sự—Three topics of discussion: 1) Bàn luận về vấn đề quá khứ (sự việc nầy xãy ra trong quá khứ): Talk may be of the past (that's how it used to be). 2) Bàn luận về vấn đề tương lai ((sự việc nầy xãy ra trong tương lai): Talk may be of the future (that's how it will be). 3) Bàn luận về vấn đề hiện tại (sự việc này xãy ra trong hiện tại): Talk may be of the present (that's how it is now). (3E) Tam Minh—Three knowledges: 1) Túc mạng minh: Pubbenivasanussati-nanam-vijja (p)—Knowledge of one's past lives. 2) Hữu tình sanh tử minh: Sattanam-cutupapate-nanam-vijja (p)—Knowledge of the decease and rebirth of beings. 3) Lậu tận trí minh: Asavanam-khaye-nanam-vijja (p)—Knowledge of the destruction of the corruption. ** For more information, please see Tam Minh. (3F) Tam Trú—Three abidings: 1) Thiên trú: Dibbo-viharo (p)—Deva-abiding. 2) Phạm trú: Brahma-viharo (p)—Brahma-abiding. 3) Thánh trú: Ariyo-viharo (p)—Ariyan-abiding. (3G) Tam Thần Thông—Three miracles: 1) Thần túc thần thông: Iddhi-patihariyam (p)—The miracle of psychic power. 2) Tha tâm thần thông: Adesana-patihariyam (p)—The miracle of telepathy. 3) Giáo giới thần thông: Anusasani-patihariyam (p)—The miracle of instruction.
; (三法) I. Tam Pháp. Chỉ cho Giáo pháp, Hành pháp và Chứng pháp. Gọi tắt: Giáo hành chứng.Giáo là lời đức Phật chỉ dạy; Hành là chúng sinh tu hành giáo pháp của Phật; Chứng là tu hành để chứng ngộ chân lí. Đầy đủ 3 pháp này được gọi là Giáo pháp hoàn bị. Thập địa kinh luận quyển 3 (Đại 26, 138 hạ) nói: Thụ trì tất cả pháp luân của chư Phật có nghĩa là biên chép, cúng dường, đọc tụng, giãng diễn cho mọi người nghe về giáo pháp, Tu đa la... do Phật nói; nhiếp thụ tất cảPhậtbồ đề có nghĩa là chứng pháp, chứng 3 pháp Phật bồ đề; nhiếp thụ sự chứng pháp này để giáo hóa, truyền trao. Còn giữ gìn bảo vệ tất cảgiáo pháp của Phật chính là sự tu hành giáo pháp ấy. Trong lúc tu hành nếu gặp các chướng nạn thì phải giữ gìn, cứu giúp. [X. Pháp hoa huyền nghĩa (hội bản) quyển 1 thượng, 3 hạ; Tứ giáo nghĩa Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. II. Tam Pháp. Chỉ choTâm, Phật và Chúng sinh cả 3 không sai khác, gọi là Tam phápvô sai. [X. kinh Hoa nghiêm Q.10 (bản dịch cũ)].
tam pháp diệu
The mystery of the three things—See Tâm, Phật, Cập Chúng Sanh Thị Tam Vô Sai Biệt.
tam pháp giới
Three realms—See Ngũ Pháp Giới, Lý Pháp Giới and Sự Sự Pháp Giới.
tam pháp luân
(三法輪) Gọi tắt: Tam luân. I. Tam Pháp Luân. Chỉ cho 3 pháp luân do ngài Chân đế và ngài Huyền trang thành lập. Đó là: 1. Chuyển pháp luân(cũng gọi Sơ chuyển pháp luân): Tức giáo pháp Tứ đế của Tiểu thừa do đức Phật nói lần đầu tiên ở vườn Lộc dã, thuộc Hữu giáo trong Tam thời giáo.2. Chiếu pháp luân: Chỉ cho giáo pháp kinh Bát nhã nói các pháp đều không, vì đây là lí Không chỉ có hàng Đại thừa thực hành, dùng Không chiếu phá Hữu, cho nên gọi là Chiếu pháp luân, thuộc về Không giáo trong Tam thời giáo. 3. Trì pháp luân: Để loại bỏ lí Không mà thời thứ 2 chấp trước, đức Phật lại nói về 3 tính và diệu lí chân như bất không khiến cho hàng Tam thừa đều tu trì được, cho nên gọi là Trì pháp luận. Đây là giáo pháp Duy thức trung đạo Bất không diệu hữu, tức là Trung đạo giáo trong Tam thời giáo.[X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1;Hoa nghiêm kinh huyền tán Q.1]. (xt. Tam Thời Giáo). II. Tam Pháp Luân. Chỉ cho Căn bản pháp luân, Chi mạc pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp luân do ngài Cát tạng thành lập. 1. Căn bản pháp luân: Trong hội Hoa nghiêm, khi đức Phật mới thành đạo. Ngài vì hàng Bồ tát mà nói pháp môn Nhất nhân nhất quả, gọi là Căn bản giáo. Đây tức là Nhất thừa giáo nói trong kinh Hoa nghiêm. 2. Chi mạt pháp luân: Hàng độn căn phúc mỏng không nghe nổi Nhất thừa giáo 1 nhân 1 quả, cho nên ngoài Nhất Phật thừa, đức Thế tôn còn chia ra nói Tam thừa giáo để thích ứng với mọi căn cơ, đó tức là Chi mạt pháp luân. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân: Đến hội Pháp hoa, lúc đó cơ duyên đã thuần thục, đức Phật lại qui nhiếp hàng Tam thừa trước kia trở về Nhất thừa, gọi là Nhiếp mạt qui bản pháp luân. Đây chính là giáo pháp Hội tam qui nhất của kinh Pháp hoa. Cứ theo giáo phán trên thì kinh Bát nhã... mà tông Tam luận y cứ đáng lẽ phải thuộc Chi mạt pháp luân, nhưng theo bản ý của ngài Cát tạng thì ở cả 3 thời đức Phật đều giảng nói Đại thừa, mà kinh Bát nhã là kinh Đại thừa nên tất nhiên là thuộc về Căn bản pháp luân.Tông Tam luận dùng giáo phán Nhị tạng làm chính, còn giáo phán Tam pháp luân này thì được xem là phụ.[X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm yếu quyết Q.10]. (xt. Hội Tam Qui Nhất).
tam pháp nhẫn
Tisrah-ksantayah (S).
; (三法忍) Phạm: Tisra# kwàntaya#. Cũng gọi Tam nhẫn. I. Tam Pháp Nhẫn:Ba loại nhẫn. Nhẫn nghĩa là thể ngộ, nhận thức sự lí mà tâm được an. 1. Âm hưởng nhẫn (Phạm: Ghowà= nugama-dharma-kwànyi), cũng gọi Tùy thuận âm thanh nhẫn, Sinh nhẫn: Lắng nghe giáo pháp mà tâm được an. Đây là giai vị Thập tín, nhờ nghe pháp âm mà liễu ngộ nên gọi là Âm hưởng nhẫn. 2. Nhu thuận nhẫn (Phạm: Anulo= mikì-dharma-kwànyi), cũng gọi Tư duy nhu thuận nhẫn, Nhu thuận pháp nhẫn: Nhờ sự tư duy của chính mình mà được liễu ngộ và tùy thuận chân lí. Đây là giai vị Tam hiền, hàng phục các hoặc nghiệp, khiến 6 trần vô tính không sinh ra được, cho nên gọi là Nhu thuận nhẫn. 3. Vô sinh pháp nhẫn (Phạm: Anutpattika-dharma-kwànyi), cũng gọi Tu tập vô sinh nhẫn, Vô sinh nhẫn. Nghĩa là khế hợp chân lí. Tức Thất địa trở lên, lìa tất cả tướng mà chứng ngộ thực tướng. Trong Vô lượng thọ kinh kí quyển thượng, ngài Huyền nhất đời Đường đem Tam nhẫn phối với Tam tuệ: Nhờ được nghe âm giáo mà có Âm hưởng nhẫn là Văn tuệ; nhờ tùy phần điều phục tâm mà có Nhu thuận nhẫn là Tư tuệ; nhờ quán xét chứng lí vô sinh mà có Vô sinh nhẫn là Tu tuệ. Lại trong Vô lượng thọ kinh sao quyển 5, vị tăng người Nhật bản là Liễu huệ, có dẫnlời giải thích của ngài Nghĩa tịch, người nước Tân la, về Tam nhẫn như sau: 1. Âm hưởng nhẫn: Nếu nghe pháp chân thực mà không kinh nghi sợ hãi, lại tin hiểu thụ trì, ưa thích thuận theo, tu tập an trụ, thì đó là Tùy thuận âm hưởng nhẫn bậc nhất. Đây là lời giải thích trong phẩm Thập nhẫn. 2. Tùy thuận nhẫn: Bồ tát tùy thuận tịch tĩnh quán xét tất cả pháp, bình đẳng chính niệm, không trái nghịch các pháp, dùng tùy thuận vào sâu tất cả các pháp, dùng trực tâm thanh tịnh phân biệt các pháp, tu bình đẳng quán và thâm nhập đầy đủ, đó là thuận nhẫn thứ 2, gọi là Tùy thuận nhẫn. 3. Vô sinh pháp nhẫn: Bồ tát không thấy có pháp sinh, không thấy có pháp diệt; nếu không sinh thì không diệt, không diệt thì không hết, không hết thì lìa cấu, lìa cấu thì không hoại, không hoại thì chẳng động, chẳng động thì vắng lặng, đó là Vô sinh pháp nhẫn. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; kinh Nguyệt đăng tam muộiQ.2; luận Du già sư địa Q.49; Vô lượng thọ kinh sao Q.4]. II. Tam Pháp Nhẫn. Ba pháp Vô sinh nhẫn theo quan điểm Tịnh độ giáo. Do thấy cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà mà lòng sinh vui mừng và được 3 Vô sinh nhẫn: Hỉ nhẫn, Ngộ nhẫn và Tín nhẫn. Sự phân chia 3 Vô sinh nhẫn này là dựa theo 3 trạng thái của tâm là hỉ(mừng), ngộ (hiểu rõ) và tín (tin), khi được Vô sinh nhẫn nhờ sự quán tưởng mạnh mẽ chuyên tinh, thấy cõi Tịnh độ trang nghiêm mà tâm sinh hoan hỉ. Nhưng vẫn còn nhiều thuyết phân vân, không biết rốt cuộc thì loại Vô sinh nhẫn này là do quán tưởng Phật mà được, hay do lòng tin mà được? [X. Quán kinh tự phần nghĩa]. III. Tam Pháp Nhẫn. Chỉ cho 3 thứ nhẫn: Nại oán hại nhẫn, An thụ khổ nhẫn và Đế sát pháp nhẫn thuộc Nhẫn nhục Ba la mật. 1. Nại oán hại nhẫn: Dù bị người ta oán ghét, hãm hại thì mình vẫn thản nhiên chịu đựng, không có tâm trả thù. 2. An thụ khổ nhẫn: Dù có bị các nỗi khổ não bức ngặt như tật bệnh, nước lửa, dao gậy thì vẫn yên lòng nhẫn nại, điềm nhiên bất động. 3. Đế sát pháp nhẫn: Xét kĩ thể tính các pháp hư dối, vốn không sinh diệt, tin hiểu chân thực, tâm không vọng động, an nhiên lãnh nhận. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.7 (Thế thân); Duy thức luận thuật kí Q.10, phần đầu; Hoa nghiêm đại sớ sao Q.5]. (xt. Nhẫn).
tam pháp thân
Ba Pháp Thân—Three kinds of dharmakaya: 1) Pháp Hóa Sinh Thân: Pháp thân Phật do pháp tính hóa hiện như Phật Thích Ca Mâu Ni—The manifested Buddha, i.e., Sakyamuni. 2) Ngũ Phần Pháp Thân: Năm phần công đức giới, định, tuệ hay lực thuyết giáo của Phật—The power of his teaching. 3) Thực Tướng Pháp Thân: Thực tướng không tính của chư pháp—The absolute or ultimate reality.
tam pháp triển chuyển nhân quả đồng thời
(三法展轉因果同時) Chỉ cho 3 pháp: Chủng tử năng sinh, Hiện hành năng huân và Chủng tử sở huân xoay vần, đắp đổi, đồng thời làm nhân làm quả lẫn nhau. Đây là tiếng dùng của tông Duy thức biểu thị sự quan hệ nhân quả giữa chủng tử và hiện hành. Tông Duy thức cho rằng những chủng tử trong thức thứ 8 phải đợi các duyên hòa hợp mới khởi lên hiện hành(tác dụng về mặt hiện thực), rằng chủng tử của pháp hiện hành và sát na(khoảng 1 nháy mắt), hiện hành cũng được huân tập(xông ướp) trong bản thức(thức thứ 8), tức cái được gọi là Chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử. Lúc này, chủng tử năng sinh, hiện hành sở sinh làm năng huân và chủng tử sở huân xoay vần đắp đổi làm tác dụng lẫn nhau, mà sự quan hệ nhân quả giữa chúng là cùng 1 sát na, chứ không phải khác thời, đó tức là Tam pháp triển chuyển, nhân quả đồng thời. Mối quan hệ nhân quả giữa chủng tử và hiện hành của các pháp quá khứ, vị lai đều là tương tục đồng thời, như đốt bấc thì có tia lửa, lửa cháy thì thành ngọn đèn. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu]. (xt. Thất Chuyển Đệ Bát Hỗ Vi Nhân Quả).
tam pháp tánh
Three tones of all dharmas: 1) Lạc: The tone of pleasure. 2) Khổ: The tone of displeasure. 3) Không khổ không lạc: The tone of indifference.
tam pháp y
xem ba tấm pháp y.
tam pháp độ luận
Tri-dharmika śāstra (S).
; (三法度論) Phạm: Tri-dharmika-zàstra. Cũng gọi Tam pháp độ kinh luận. Luận, 3 quyển, do ngài Tăng già đề bà dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 25. Nội dung luận này dựa theo các kinh A hàm mà nói về 3 pháp 9 chân độ là: Đức (3 chân độ: Thí, Giới, Tu); Ác (3 chân độ: Ác hạnh, Ái, Vô minh) và Y (3 chân độ: Ấm, Giới, Nhập), đồng thời, giải thích rộng về đạo giải thoát. Chân độ là dịch âm từ tiếng Phạmkhaịđa, cũng gọi Kiền độ.Tứ a hàm mộ sao giải 2 quyển (cũng được thu vào Đại chính tạng tập 25) là bản dịch khác của luận này. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
Tam pháp ấn
三法印; C: sānfǎyìn; J: sanbōin;|Ba dấu ấn của pháp, ba đặc tính của nguyên tắc. Chỉ ba khía cạnh đặc thù của Phật pháp, hoàn toàn khác biệt những giáo lí ngoại đạo: 1. Chư hành vô thường (諸行無常), tất cả đều vô thường; 2. Chư pháp vô ngã (諸法無我), tất cả đều không có một cơ sở tự tồn và 3. Niết-bàn tịch tĩnh (涅槃寂靜), tức là niết-bàn là sự an tĩnh tuyệt đối.
tam pháp ấn
Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tịnh, thuc pháp ấn chứng của tiểu thừa.
; Xem tam ấn.
; Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tịnh, thuộc pháp ấn chứng của Tiểu thừa.
; Trilaksana (skt)—Tilakkhana (p)—Three Dharma Seals—Three marks of existence, or three characteristics of all phenomenal existence: (A) 1) Vô thường: Anicca (p)—Impermanence. 2) Khổ: Dukkha (p)—Suffering or unsatisfaction. 3) Vô ngã: Anatta (p)—No-self—Egoless—Impersonality. (B) 1) Vô Thường: Impermanence. 2) Vô Ngã: Non-ego. 3) Niết Bàn: Niết Bàn Tịch Tĩnh Ấn—Nirvana.
; (三法印) Ba pháp môn tiêu biểu đặc biệt của Phật giáo. Tức là 3 pháp nghĩa căn bản của Phật giáo: Các hành vô thường, các pháp vô ngã và Niết bàn tịch tĩnh. Ba thứ nghĩa lí này được dùng để ấn chứng xem các pháp nghĩa giảng nói có chính xác hay không, nên gọi là Tam pháp ấn. Các kinh điển Tiểu thừa nếu được ấn định bởi Tam pháp ấn vô thường, vô ngã, niết bàn thì đó chính là do đức Phật nói, nếu không thì do ma nói. Từ ngữ Tam pháp ấn này không thấy trong kinh điển thuộc hệ thốngPàli, còn trong kinh Tạp a hàm Hán dịch quyển 10 thì có thuyết giống với Tam pháp ấn. Đó là: 1. Các hành vô thường (Phạm: Anitỳa# sarva-saôskàrà#), cũng gọi Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn, gọi tắt: Vô thường ấn: Tất cả các pháp hữu vi ở thế gian đều là vô thường, vì chúng sinh không rõ biết, cho nên đối với vô thường lại chấp thường, bởi vậy Phật nói vô thường để phá cái chấp thường của chúng sinh. 2. Các pháp vô ngã (Phạm: Niràtmàna# sarva-dharmà#), cũng gọi Nhất thiết pháp vô ngã ấn, gọi tắt: Vô ngã ấn: Tất cả các pháp hữu vi vô vi trong thế gian đều là vô ngã, vì chúng sinh không rõ biết, cho nên đối với hết thảy pháp cưỡng lập chủ tể, bởi vậy Phật nói vô ngã để phá cái chấp ngã của chúng sinh. 3. Niết bàn tịch tĩnh (Phạm:Zantaô nirvàịaô), cũng gọi Niết bàn tịch diệt ấn, Tịch diệt niết bàn ấn, gọi tắt: Niết bàn ấn: Hết thảy chúng sinh không biết cái khổ sinh tử, nên khởi hoặc tạo nghiệp, trôi lăn trong 3 cõi, bởi thế Phật nói pháp Niết bàn để ra khỏi khổ sinh tử, được Niết bàn tịch diệt. Trên đây các hành vô thường nói về hữu vi, Niết bàn tịch tĩnh nói về vô vi, còn các pháp vô ngã thì nói chung cả hữu vi và vô vi. Tam pháp ấnnếu thêm vào Nhất thiết hành khổ nữa thì gọi là Tứ pháp ấn, Tứ pháp bản mạt, Tứ ưu đàn na. Ngoài ra, nếu lại thêm Nhất thiết pháp không(tất cả mọi hiện tượng đều hư dối không thật) thì là Ngũ pháp ấn. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8; Hữu bộ mục đắc ca Q.6; luận Đại trí độ Q.32; luận Đại tì bà sa Q.9; Câu xá luận quang kí Q.1].
tam phát nguyện
(三發願) Chỉ cho 3 nguyện đã phát, đang phát và sẽ phát nói trong kinh A di đà. 1. Nguyện đã phát: Tâm nguyện vãng sinh Tịnh độ đã phát trong quá khứ. 2. Nguyện hiện phát: Nguyện hiện đang phát. 3. Nguyện sẽ phát: Nguyện sẽ phát trong tương lai. Vì nhân duyên đời trước khác nhau, nhiều căn cơ bất đồng, nên tâm phát nguyện có chia ra trước sau, mau chậm, vì thế nên vãng sinh Tịnh độ cũng có 3 thời khác nhau như trên. Kinh A di đà (Đại 12, 348 thượng) nói: Nếu những ai đã phát nguyện, đang phát nguyện và sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi nước của Phật A di đà thì các người ấy đều được bất thoái chuyển đối với quả vị Vô thượng chính đẳng chính giác.
tam phát tâm
The three resolves of the Khởi tín luận Awakening of Faith: (a) tín thành tựu phát tâm to perfect the bodhi of faith, i.e. in the stage of faith; (b) giải hành phát tâm to understand and carry in practice the wisdom; (c) chứng phát tâm the realization, or proof of, or union with bodhi.
; Three vows of the awakening of faith: 1) Tín thành tựu phát tâm: To perfect bodhi of faith. 2) Giải hành phát tâm: To understand and carry into practice this wisdom. 3) Chứng phát tâm: The realization or proof of or union with bodhi.
Tam phân biệt
三分別; C: sānfēnbié; J: sanfunbetsu;|Sự phân biệt với ba thành phần; xảy ra giữa giác quan, đối tượng, và nhận thức hệ thuộc phát sinh qua sự tiếp xúc (theo Biện trung biên luận 辯中邊論).
tam phân biệt
(三分別) Phân biệt, Phạm:Vikalpa. Chỉ cho 3 loại tác dụng suy tư, phân biệt, đó là:1. Tự tính phân biệt (Phạm: Svab= hàva-vikalpa), cũng gọi Nhậm vận phân biệt, Tự tính tư duy. Tức là tác dụng nhận biết của tâm thức, đối trước cảnh sở duyên hiện tại, nhận biết 1 cách tự nhiên, ít phải suy tư khảo xét; đây là 1 loại tác dụng tư khảo đơn thuần. 2. Tùy niệm phân biệt (Phạm:Anus= maraịa-vikalpa), cũng gọi Tùy ức tư duy. Tức 1 loại tác dụng tương ứng với ý thức, đối với các việc quá khứ nhớ nghĩ không quên, nhớ tưởng tùy theo việc hoặc truy niệm tùy theo cảnh. 3. Kế đạc phân biệt (Phạm: Abhin= ràpaịà-vikalpa), cũng gọi Suy đạc phân biệt, Phân biệt tư duy. Tác dụng tính toán suy lường đối với các sự tướng không hiện tiền.Theo thuyết của luận Bà sa thì Nhị thiền trở lên là các cõi không có Tầm và Tứ nên không có Tự tính phân biệt; từ Sơ thiền trở lên là cõi định nên không có Kế đạc phân biệt, chỉ có Tùy niệm phân biệt là 3 cõi đều có. [X. luận Đại tì bà sa Q.42; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2; luận Câu xá Q.2; Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.hạ]. (xt. Phân Biệt).
tam phân khoa kinh
The three divisions of a treatise on a sùtra, i.e. tự phần introduction, chính tông phần discussion of the subject, lưu thông phần application.
; Ba phần của kinh—The three divisions of a treatise on a sutra: 1) Tự phân: Giới thiệu Kinh—Introduction. 2) Chính tông phân: Thảo luận Kinh—Discussion of the subject. 3) Lưu thông phân: Áp dụng Kinh—Application.
tam phú bát hiệu
(三覆八校) Tam (3) chỉ cho ngày mùng 1 của các tháng 1, 5, 9; Bát (8) chỉ cho các ngày Bát vương: Lập xuân, Xuân phân, Lập hạ, Hạ chí, Lập thu, Thu phân, Lập đông, Đông chí. Vào 11 ngày này, các sứ giả của Chư thiên Đế thích và trăm vạn chúng thần, như Nhật nguyệt quỉ thần, địa ngục Diêm la... đều tâu lại(phúc tấu)các việc thiện ác của chúng sinh trong 3 cõi và so sánh (tỉ giảo)xem có giống như những điều mà thiện thần của Tứ thiên vương đã tâu lại vào 6 ngày trai mỗi tháng hay không, xem xét kĩ những việc tội phúc của chúng sinh để tránh sự sai lầm oan uổng, rồi căn cứ vào tội phúc nhiều hay ít mà quyết định sống chết, thêm bớt tuổi thọ và phúc đức. Cứ theo Vô lượng kinh sớ của ngài Gia tường thì tất cả chúng sinh đều có 2 vị thần theo giữ gìn bên mình, 1 là Đồng danh(thần nam) ở trên vai bên trái, ghi chép các việc thiện của chúng sinh ấy; vị thần thứ 2 là Đồng sinh(thần nữ) ở trên vai bên phải, ghi chép các việc ác của chúng sinh ấy. Thiện thần của Tứ thiên vương thì cứ vào 6 ngày trai hàng tháng xem xét sổ sách và tâu lên Thiên vương, rồi trong 1 năm lại có Tam phúc bát giảo, tra xét lại không để lầm lẫn. [X. kinh Ngũ giới, Pháp uyển châu lâm Q.88].
tam phúc
The three (sources of) felicity: (1) The Vô lượng thọ kinh has the felicity of (a) thế phúc filial piety, regard for elders, keeping the ten commandments; (b) giới phúc of keeping the other commandments; (c) hành phúc of resolve on complete bodhi and the pursuit of Buddha-way. (2) The Câu xá luận has the blessedness of: (a) thí loại phúc almsgiving, in evoking resulting wealth; (b) giới loại phúc observance of the tính giới (against killing, stealing, adultery, lying) and the già giới (against alcohol, etc.), in obtaining a happy lot in the heavens; (c) tu loại phúc observance of meditation in obtaining final escape from the mortal round.
; (三福) Chỉ cho 3 thứ tịnh nghiệp mà các hành giả Tịnh độ tu để cầu vãng sinh Cực lạc. Đây là chính nhân tịnh nghiệp của chư Phật 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. 1. Thế phúc(cũng gọi Thế thiện): Các pháp thiện hiếu đễ trung tín xưa nay vẫn tồn tại ở thế tục, như hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ sư trưởng, tâm từ không giết hại, tu 10 việc thiện... 2. Giới phúc(cũng gọi Giới thiện): Những giới pháp do đức Phật chế định như: Tam qui, Ngũ giới cho đến giới Cụ túc mà các hàng người, trời, Thanh văn, Bồ tát... vâng giữ, không phạm uy nghi... Trong đó, hoặc thụ đầy đủ hay không đầy đủ, hoặc giữ đầy đủ hay không đầy đủ, tất cả đều hồi hướng cho việc vãng sinh Tịnh độ.3. Hành phúc(cũng gọi Hành thiện): Thiện căn của hàng phàm phu phát tâm Đại thừa, đầy đủ tự hành hóa tha; tức phát tâm đại Bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa(khơi mở trí tuệ, chán khổ, ưa thích Niết bàn), khuyến tiến hành giả(khuyên mọi người xả bỏ việc ác, hướng tới đạo Niết bàn), phát nguyện vãng sinh Tịnh độ... [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ (Trí khải); Quán kinh tán thiện nghĩa; Quán kinh tự phần nghĩa; Quán vô lượng thọ Phật kinh nghĩa sớ Q.trung (Nguyên chiếu)].
tam phúc nghiệp
The three things that bring a happy lot - almsgiving, impartial kindness and love, pondering over the demands of the life beyond.
; (三福業) Cũng gọi Tam phúc nghiệp sự, Tam tính phúc nghiệp sự. I. Tam Phúc Nghiệp. Chỉ cho 3 thứ phúc nghiệp nói trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 12, đó là: 1. Thí phúc nghiệp: Người tu hành khi gặp người nghèo cùng đến xin, tùy theo nhu cầu, nếu cần thức ăn thì cho thức ăn, cần áo mặc thì cho áo mặc, cho đến họ cần mền, chiếu, thuốc thang thì đều cung cấp cho họ. Vì bố thí được phúc nên gọi là Thí phúc nghiệp. 2. Bình đẳng phúc nghiệp: Người tu hành thường giữ giới luật, không nghĩ việc ác, phạm hạnh đoan chính, nói năng hòa nhã, đem tâm từ bi bình đẳng thương xót, che chở tất cả chúng sinh, khiến họ được an ổn. Vì tâm bình đẳng mang lại phúc đức nên gọi là Bình đẳng phúc nghiệp. 3. Tư duy phúc nghiệp: Người tu hành dùng trí tuệ tư duy quán xét, rõ biết pháp yếu, xa lìa các trần duyên tạp nhiễm của thế gian. Vì sự tư duy này là nghiệp phúc thiện xuất thế, cho nên gọi là Tư duy phúc nghiệp. II. Tam Phúc Nghiệp. Chỉ cho 3 loại phúc nghiệp: Thí, Giới, Tu.1. Thí loại phúc nghiệp sự (Thí tính nghiệp): Đem những vật như: Thức ăn uống, y phục, mền chiếu, phòng xá, thuốc thang, đèn nến... bố thí cho các bậc sa môn, người tu khổ hạnh, những người xin ăn...; hoặc thực hành thân nghiệp thí, ngữ nghiệp thí, ý nghiệp thí, đó là Thí loại.2. Giới loại phúc nghiệp sự(Giới tính nghiệp): Hễ xa lìa các việc như: Giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, buông lung... đó là Giới loại. 3. Tu loại phúc nghiệp sự (Tu tính nghiệp): Bốn tâm vô lượng: Từ, bi, hỉ, xả, đó là Tu loại. [X. kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.3; luận Tập dị môn túc Q.5; luận Đại tì bà sa Q.82].
tam phương tiện
A term of the esoterics for body, mouth (or speech), and mind, their control and the entry into the tam mật three mysteries.
; Three means to cultivate or practice Buddha dharma: 1) Kềm thân: Kềm thân không cho làm điều ác—To control one's body for not doing bad deeds. 2) Kềm khẩu: Kềm khẩu không cho nói những điều vô ích hay tổn hại—To control one's mouth for not speaking vain talk or harsh speech. 3) Kềm tâm: Kềm tâm không cho dong ruổi tạo nghiệp bất thiện—To control one's mind for not wandering with unwholesome karma.
; (三方便) Khéo sử dụng các pháp, tùy theo căn cơ làm lợi ích chúng sinh, gọi là phương tiện.Cứ theo Tịnh danh kinh sớ thì Phương tiện có 3 loại: 1. Tự hành phương tiện: Phật và các Bồ tát thuộc 41 giai vị, trong tâm tự chứng lí chân đế và tục đế chẳng thể nghĩ bàn.2. Hóa tha phương tiện: Các vị Bồ tát thuộc Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, và Viên giáo hữu môn không đoạn phiền não, chiếu soi giới nội, giới ngoại và dùng nhiều pháp môn hóa độ chúng sinh. 3. Tự tha phương tiện: Hợp chung 2 loại phương tiện Tự hành và Hóa tha, gọi là Tự tha phương tiện.
tam phước
Tam Phúc—Three sources of felicity: (A) Theo Vô Lượng Thọ Kinh—According to The Infinite Life Sutra: 1) Ân phước hay Thế phước: Hiếu dưỡng cha mẹ và tu hành thập thiện, bao gồm cả việc phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, và tu thập thiện: Filial piety toward one's parents and support them, serve and respect one's teachers and the elderly, maintain a compassionate heart, abstain from doing harm, and keep the ten commandments. 2) Giới phước: Thọ tam quy, trì ngũ giới cho đến cụ túc giới, không phạm oai nghi—For those who take refuge in the Triratna, observe other complete commandments, and never lower their dignity as well as miantaining a dignified conduct. 3) Hành phước—Tu hành phát bồ đề tâm, tin sâu nhơn quả—Đọc tụng và khuyến tấn người cùng đọc tụng kinh điển Đại thừa—For those who pursue the Buddha way (Awaken their minds a longing for Bodhi), deeply believe in the principle of cause and effect, recite and encourage others to recite Mahayana Sutras. (B) Câu Xá Luận—According to The Abhidharma Kosa: 1) Ân phước hay thí loại phước (Quả phước bố thí): Almsgiving, in evoking resultant wealth. 2) Giới loại phước (Quả phước của trì giới): Obtaining a happy lot in the heaven for observing commandments (not killing, not stealing, not lying, not commiting adultery, etc). 3) Tu loại phước (Phước tu hành): Observance meditation in obtaining final escape from the mortal round.
tam phước nghiệp sự
Trini-puṇya-kriya-vastuni (S).
tam phước điền
Three fields for cultivating welfare—See Tam Phước.
tam phược
The three bonds - desire, anger, stupidity. Xem tam độc.
; Three fetters—See Tam Độc.
; (三縛) Chỉ cho 3 thứ trói buộc. Phược là tên khác của phiền não. Như 3 căn bất thiện tham sân si trói buộc chúng sinh khiến không được tự tại, cho nên gọi là Phược. 1. Tham phược (Phạm: Ràgabandhana): Tâm chấp thủ gọi là Tham. Đối với 5 trần cảnh vừa ý, chúng sinh khởi tâm tham đắm nhiễm trước, gây các hoặc nghiệp, do đó bị ràng buộc, không được tự tại.2. Sân phược (Phạm: Dvewabandhana): Tâm phẫn nộ gọi là Sân. Đối với 5 trần cảnh trái ý, chúng sinh sinh tâm phẫn nộ, khởi các hoặc nghiệp, do đó bị ràng buộc, không được tự tại. 3. Si phược (Phạm: Mohabandhana): Tâm mê hoặc, gọi là Si. Đối với sự lí của tất cả các pháp, chúng sinh không rõ biết, vọng sinh tà kiến, khởi các hạnh tà, trói buộc không ngừng, không được giải thoát. [X. luận Câu xá Q.21; luận Du già sư địa Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.6; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3].
tam phạm
The three Brahna heavens of the first dhyàna: that of Phạm chúng Brahma-pàrasidya, the assembly of Brahma; Phạm phụ Brahma-purohitas, his attendants; Đại Phạm Mahàbrahmà, Great Brahmà.
; (三梵) Trời Sơ thiền trong Tứ thiền thiên cõi Sắc có 3 tầng trời là Phạm chúng,Phạm phụ và Đại phạm, gọi chung là Tam phạm. Đại phạm là vua,Phạm phụ là quan, Phạm chúng là dân. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Chư tôn yếu sao Q.12]. (xt. Đại Phạm Thiên).
tam phạt nghiệp
Trini-daṇḍani (S)Ba thứ ác nghiệp: Thân phạt nghiệp, Khẩu phạt nghiệp, ý phạt nghiệp.
; (三罰業) Phạm: Trìịi daịđàni. Pàli:Tìịi daịđàni. Gọi tắt Tam phạt. Chỉ cho 3 loại ác nghiệp: Thân phạt nghiệp, khẩu phạt nghiệp và ý phạt nghiệp. 1. Thân phạt (Phạm: Kàya-daịđa): Chỉ cho các tội ác do thân nghiệp gây ra như sát sinh, trộm cướp, gian dâm...2. Khẩu phạt (Phạm:Vàg-daịđa): Chỉ cho các tội ác do khẩu nghiệp sinh ra như nói dối, nói thêu dệt, ác khẩu, 2 lưỡi và phỉ báng Tam bảo... 3. Ý phạt (Phạm: Mano-daịđa) Chỉ cho các tội ác từ ý nghiệp sinh ra như tham, sân, si... Duy thức nhị thập luận thuật kí quyển hạ (Đại 43, 1004 hạ) nói: Tội ác do 3 nghiệp gây nên, hiện tại bị trời, người quở trách, vị lai sẽ phải chịu quả báo thống khổ, xấu ác, đáng trị phạt, đáng quở trách, nên gọi là phạt. [X. kinh Trung a hàm Q.32; Duy thức nhị thập luận; luận Câu xá Q.18; Câu xá luận quang kí Q.18].
tam phần khoa kinh
(三分科經) Cũng gọi Nhất kinh tam đoạn. Chia một bộ kinh ra làm 3 phần để giải thích. Nói chung, y cứ vào nội dung của 1 bộ kinh luận nào đó để phân chia thích đáng, gọi là Khoa văn. Thông thường đều chia làm 3 phần: Phần tựa, phần chính tông, phần lưu thông, cho nên gọi là Tam phần khoa kinh. 1. Phần tựa(cũng gọi Tự thuyết, Giáo khởi nhân duyên phần): Tức phần trình bày nguyên do phát khởi ra giáo thuyết của 1 bộ kinh. 2. Phần chính tông(cũng gọi Chính tông thuyết, Thánh giáo chính thuyết phần): Tức phần trình bày tông chỉ của bộ kinh, chính thức bàn về pháp môn được nói trong Thánh giáo. 3. Phần lưu thông(cũng gọi Lưu thông thuyết): Tức phần nói về sự lợi ích của việc thụ trì bộ kinh, khuyến khích mọi người lưu truyền rộng rãi để bộ kinh được lưu hành lâu dài, giúp chúng sinh đời mạt pháp y theo lời dạy mà vâng làm. Thuyết Tam phần khoa kinh do ngài Đạo an sáng lập vào đời Đông Tấn và thịnh hành từ đời Lưu Tống về sau. [X. Phật địa kinh luận Q.1; Nhân vương Bát nhã kinh sớ Q.thượng, phần 1; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.4; Pháp hoa nghĩa kí Q.1]. (xt. Khoa Văn).
Tam Phẩm
(三品): (1) Vàng, bạc và đồng. (2) Ba loại tiền đồng có hình thái đặc thù được dùng dưới thời nhà Hán: tiền rồng (龍幣), tiền ngựa (馬幣) và tiền rùa (龜幣). (3) Ba giai cấp thượng trung hạ của tánh con người. (4) Chức vị Tam Phẩm thứ 3 tính từ Nhất Phẩm đến Cửu Phẩm (nghĩa trong bài). (5) Ba giai cấp vãng sanh Cực Lạc: thượng phẩm, trung phẩm và trung phẩm.
tam phẩm
The general meaning is thượng, trung, hạ superior, medium, ihferior.
tam phẩm sa di
The three grades of sràmanera, i.e. 7-13 years old styled khu ô sa di, 14-19 ứng pháp sa di, and 20 and upwards danh tự sa di.
; Ba phẩm Sa Di—The three grades of Sramanera: 1) Hạ phẩm Sa Di: Khu Ô Sa Di—Tuổi từ 7 đến 13—From 7 to 13 years old. 2) Trung phẩm Sa Di: Ứng Pháp Sa Di—Tuổi từ 14 đến 19—From 14 to 19 years old. 3) Thượng phẩm Sa Di: Danh Tự Sa Di—Tuổi từ 20 trở lên—20 years or older.
; (三品沙彌) Chỉ cho 3 loại Sa di, tức là: 1. Hạ phẩm sa di: Từ 7 tuổi đến 13 tuổi, gọi là Khu ô sa di(Sa di đuổi quạ). Trẻ nhỏ xuất gia, ngài A nan không dám độ, đức Phật dạy: Nếu đuổi được chim quạ không để chúng khuấy phá thì độ được. 2. Trung phẩm sa di: Từ 14 tuổi đến 19 tuổi, gọi là Ứng pháp sa di(Sa di đúng pháp). Đây đúng là địa vị sa di, nương thầy điều luyện thuần thục, có khả năng thụ giới Cụ túc của Tỉ khưu. 3. Thượng phẩm sa di: Hai mươi tuổi trở lên, gọi là Danh tự sa di, vốn là địa vị của tăng, nhưng vì chưa đủ duyên nên gọi là Danh tự sa di. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4]. (xt. Sa Di).
tam phẩm thính pháp
The three grades of hearers, i.e. thượng with the thần spirit, trung with the tâm mind, hạ with the nhĩ ears.
; Ba phẩm thính pháp—Three grades of hearers: 1) Thượng phẩm thính pháp: Nghe Pháp bằng cả tâm thức—Hearing Dharma with the spirit. 2) Trung phẩm thính pháp: Nghe Pháp bằng tâm—Hearing Dharma with the mind. 3) Hạ phẩm thính pháp: Nghe Pháp bằng lổ tai—Hearing Dharma with the ear.
; (三品聽法) Nghe kinh pháp có 3 phẩm thượng, trung, hạ khác nhau, tức là: Thượng phẩm dùng thần để nghe, Trung phẩm dùng tâm để nghe, còn Hạ phẩm thì dùng tai để nghe.
tam phẩm tất địa
The three esoteric kinds of siddhi, i.e. complete attainment, supreme felicity. They are thượng superior, to bo born in the Mật nghiêm quốc Vairocana Pure-land, trung medium in one of the other Pure-lands among which is the Western Paradise, hạ inferior in the Tu la cung Sun palaces among the devas. Also styled tam phẩm thành tựu,
; (三品悉地) Tất địa của người tu hành Mật giáo có 3 phẩm thượng, trung, hạ. Tất địa, tiếng Phạm làSiddhi, dịch ý là thành tựu, nghĩa là hành nghiệp của Tam mật ứng hợp nhau thì thành tựu diệu quả. Trong 3 phẩm Tất địa, Tất địa thượng phẩm vãng sinh về cõi nước Mật nghiêm của Phổ môn Đại nhật; Tất địa trung phẩm vãng sinh về các cõi Tịnh độ ở 10 phương, trong đó có cõi Cực lạc ở phương Tây; còn Tất địa hạ phẩm thì sinh về các cung trời và cõi Tu la.
tam phẩm tịnh độ
Ba phẩm Tịnh Độ—Three kinds of attainment in the Pure Land: 1) Thượng phẩm: Superior—To be born in the Vairocana Pure Land (Mật nghiêm quốc). 2) Trung phẩm: Medium—To be born in the Western Paradise of the Pure Land (Tây Phương Cực Lạc). 3) Hạ phẩm: Inferior—To be born in the Sun Palace (Tu La Cung) among the devas.
tam phật bồ đề
The bodhi, or wisdom, of each of the trikàyas tam thân, i.e that under the bodhi-tree, that of parinirvàna, that of tathàgata-garba in its eternal nirvàna aspect.
; Thân hay trí trong tam thân—The body or wisdom of each of the Trikaya (Trikaya Tam thân): 1) Ứng Hóa Phật Bồ Đề: Nơi nào nên hiện thì hiện, như Phật Thích Ca đã thành đạo dưới cội Bồ Đề để cứu độ chúng sanh—One under the bodhi-tree. 2) Báo Phật Bồ Đề: Thập địa viên mãn, chứng niết bàn chân thường—One of parinirvana. 3) Pháp Phật Bồ Đề: Như Lai tạng tính vốn thanh tịnh hay niết bàn miên viễn—One of Tathagatagarbha in its eternal nirvana aspect.
tam phật ngữ
The Buddha's three modes of discourse - unqualified, i.e. out of the fullness of his nature; qualified to suit the intelligence of his hearers; and both.
; The Buddha's three modes of discourse: 1) Tùy tự ý ngữ: Unqualified (out of the fullness of his nature). 2) Tùy tha ý ngữ: Qualified to suit the intelligence of his hearers. 3) Tùy tự tha ý ngữ: A combination of both of the above two methods.
; (三佛語) Cũng gọi Phật Tam ngữ, Tam Ý ngữ. Chỉ cho 3 thứ ý ngữ của Phật. 1. Tùy tự ý ngữ: Phật tùy thuận tự ý nói ra pháp nội chứng chân thực rõ ràng. 2. Tùy tha ý ngữ: Phật tùy thuận căn cơ chúng sinh mà nói các pháp phương tiện.3. Tùy tự tha ý ngữ: Lời vừa tùy thuận tự chứng, vừa tùy theo đối cơ mà nói. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam); Ma ha chỉ quán Q.3, phần 2].
tam phật thân
Xem tam thân.
tam phật tánh
Trikaya—Three kinds of Buddha-nature: 1) Tự tánh trụ Phật tánh: The Buddha-nature which is in all living beings, even those in the three evil paths (gati). 2) Dẫn xuất Phật tánh: The Buddha-nature developed by the right discipline. 3) Trí đắc quả Phật tánh: The final or perfected Buddha-nature resulting from the development of the original potentiality.
; (三佛性) I. Tam Phật Tính. Chỉ cho 3 nhân Phật tính: Chính nhân Phật tính, Liễu nhân Phật tính, và Duyên nhân Phật tính, do ngài Trí khải căn cứ vào kinh Đại bát niết bàn Q.28 (bản Bắc) mà lập ra. (xt. Tam Nhân Phật Tính, Phật Tính). II. Tam Phật Tính. Cũng gọi Tam vị Phật tính. 1. Tự tính trụ Phật tính(cũng gọi Trụ tự tình tính): Phật tính của Giai vị phàm phu trước Kiến đạo, là Phật tính vốn sẵn có của chúng sinh mặc dù chúng sinh chưa tu hành. Tự tính của Phật tính này là thường trụ. 2. Dẫn xuất Phật tính(cũng gọi Dẫn xuất tính): Phật tính của Thánh vị Hữu học từ Phát tâm trở lên, nhờ sức tu tập, trí tuệ, thiền định... mà dẫn phát Phật tính vốn có của mình. 3. Chí đắc quả Phật tính(cũng gọi Chí đắc Phật tính, Chí cứu cánh quả): Phật tính của Thánh vị Vô học, nhờ tu nhân đầy đủ mà hiển hiện quả tính, tức là Phật tính sẵn có được thể hiện rõ ràng, giác ngộ rốt ráo.[X. luận Phật tính Q.2; luận Thành duy thức Q.6; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7, 9 (bản dịch đời Lương); Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.4]. III. Tam Phật Tính. Chỉ cho 3 loại Phật tính: Lí Phật tính, Hành Phật tính, và Ẩn mật Phật tính được nói trong Duy thức nghĩa tư kí quyển 4, phần đầu. Đó là: 1. Lí Phật tính: Chân như còn bị trói buộc là nhân của quả Phật và 4 đức Niết bàn, gọi là Lí Phật tính. 2. Hành Phật tính: Lục độ vạn hạnh là nhân 4 trí để thành quả Phật bồ đề, gọi là Hành Phật tính. 3. Ẩn mật Phật tính: Tham, sân, si... là pháp sở đoạn, sinh ra trí năng đoạn, như cục phân là nhân của lửa, nên gọi là Ẩn mật Phật tính. [X. luận Năng hiển trung biên tuệ nhật Q.4; Duy thức nghĩa chương Q.4, phần đầu]. (xt.Nhị Phật Tính, Phật Tính).
tam phật tính
The three kinds of Buddha-nature: 1-Tự tính trụ Phật tính the Buddha-nature which is in all living beings, even those in the three evil paths; 2-Dẫn xuất Phật tính the Buddha-naure developed by the right discipline; 3-Chí đắc quả Phật tính the final or perfect Buddha-nature.
tam phật tử
All the living are Buddha-sons, but they are of three kinds - the commonalty are ngoại tử external sons; the followers of the two inferior Buddhist vehicles tiểu and trung thừa are thứ tử, secondary sons; the bodhisattvas (i.e. mahàyànists) are đạo tử true sons.
; (三佛子) Chỉ cho 3 loại Phật tử được nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7, đó là:1. Ngoại tử: Hàng phàm phu chưa hề vào đạo, không thể nối tiếp hạt giống Phật, gọi là Ngoại tử. 2. Thứ tử: Hàng Thanh văn, Duyên giác tu theo giáo pháp Tiểu thừa, không sinh ra từ giáo pháp Đại thừa của Như lai, cho nên gọi là Thứ tử. 3. Chân tử: Hàng Bồ tát Đại thừa vâng lãnh pháp Đại thừa của Như lai,sinh ra từ Pháp thân của Như lai, cho nên gọi là Chân tử.
tam phật đà
Sambuddha (S). The truly enlightened one, or correct enlightenment.
; Sambuddha—The truly enlightened one—Correct enlightenment.
tam phật đỉnh
(三佛頂) Chỉ cho 3 Phật đính trong viện Thích ca thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là đính biểu thị mọi đức của 3 bộ Như lai. Phật đính là Vô kiến đính tướng của Như lai, là tôn quí nhất trong các đức Phật. Tam Phật đính là: 1. Quảng đại Phật đính(cũng gọi Đại chuyển luân Phật đính, Quảng sinh Phật đính, Hội thông đại Phật đính, Hoàng sắc Phật đính). Hình tượng vị tôn này ngồi kết già trên hoa sen đỏ, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen dựng cây chày 1 chĩa, cánh tay đề ngang trước ngực; ngón cái và ngón giữa của tay trái bấm vào nhau, ngón trỏ dựng thẳng, bàn tay hướng ra ngoài, đặt ở trước ngực. Mật hiệu là Phá ma kim cương, hình Tam muội da là chày Kim cương 5 chĩa.2. Cực quảng đại Phật đính(cũng gọi Cao Phật đính, Quảng đại phát sinh Phật đính, Cực quảng sinh Phật đính). Hình tượng vị tôn này thân màu vàng, ngồi trên hoa sen đỏ, tay trái cầm hoa sen đặt ở cạnh sườn, trên hoa sen có hạt châu màu lục; mật hiệu là Nan đô kim cương, hình Tam muội da là hoa sen nở rộ. 3. Vô biên âm thanh Phật đính (cũng gọi Vô lượng thanh chuyển luân Phật đính). Phạm âm thuyết pháp của Như lai vô lượng vô biên, khế hợp với mọi căn cơ, nên gọi là Vô biên âm thanh Phật đính. Hình tượng vị tôn này thân màu vàng, bàn tay phải dựng đứng, co ngón trỏ, ngón giữa, để ở trước ngực; tay trái cầm hoa sen đặt ở cạnh sườn, trên hoa sen có vỏ ốc. Mật hiệu là Diệu hướng kim cương, hình Tam muội da là vỏ ốc trên hoa sen. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.9; Đại nhật kinh sớ Q.5].
tam phật độ
(三佛土) Chỉ cho 3 cõi Phật nói trong luận Thành duy thức; Pháp tính độ; Thụ dụng độ và Biến hóađộ. Phật có 3 thân nên cõi nước Ngài an trụ cũng có 3 loại, tức Pháp thân Phật an trụ ở cõi Pháp tính, Báo thân Phật an trụ ở cõi Thụ dụng và Ứng thân Phật cư trụ trong cõi Biến hóa. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần cuối]. (xt. Thụ DụngĐộ, Pháp Tính Độ, Biến Hóa Độ).
Tam quan
三關|Ba ải
tam quan
San-kuan (C)Trong Đạo gia, là Trời, Đất và Nước.
; (三關) Chỉ cho 3 câu hỏi hoặc 3 câu nói rất khó đáp như vượt qua cửa ải (quan) nên gọi là Tam quan. Có 2 thuyết: I. Lăng nghiêm tam quan: Ba câu hỏi của Đại sư Từ vân Tuân thức đời Tống. Khi ngài trụ tại chùa Thiên trúc ở Hàng châu, tỉnh Chiết giang, có 1 vị quan chú giải kinh Lăng nghiêm, mang bản thảo đến xin ngài ấn khả. Ngài đang nhóm lửa, bảo rằng (Đại 49, 208 hạ): Các hạ lưu tâm đến Phật pháp thật là điều hiếm có. Nhưng, trước hết tôi có 3 câu hỏi, nếu Các hạ đáp đúng thì sách này sẽ được lưu thông, còn nếu không đúng thì tôi sẽ cho nó vào đống lửa này!. Vị quan đồng ý. Ngài hỏi: 1. Chân tinh diệu nguyên tính tịnh minh tâm, chẳng hay Các hạ chú thích thế nào?2. Ba nhân bốn, bốn nhân ba, uyển chuyển thành 12, lưu biến 3 lớp một mười trăm nghìn, đó là nghĩa gì? 3. Viên thông mà 25 bậc Thánh chứng ngộ, đã nói là thực không hơn kém, thế tại sao ngài Văn thù lại chỉ chọn 1 mình Quan âm?Vị quan nghe xong, ngồi như phỗng đá, không biết trả lời ra sao, ngài Từ vân liền ném tập bản thảo vào lửa, từ ngữ Lăng nghiêm tam quan từ đó mà ra. [X. Từ vân truyện trong Phật tổ thống kỉ Q.10]. II. Hoàng long tam quan: Thiền sư Phổ giác ở núi Hoàng long vào đời Tống, thường dùng 3 câu nói để hỏi người học (Vạn tục 138, 326 thượng): 1. Mọi người đều có sinh duyên, vậy sinh duyên của Thượng tọa ở chỗ nào? 2. Tay tôi sao giống tay Phật? 3. Chân tôi sao giống chân lừa? Người học đương thời không ai khế hội được yếu chỉ của các câu hỏi ấy, tùng lâm trong thiên hạ bèn gọi đó là Tam quan. [X. Ngũ đăng hộinguyên Q.17]. TAM QUÁN I. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán: Không quán, Giả quán, Trung quán do tông Thiên thai thành lập.1. Không quán(cũng gọi Tòng Giả nhập Không quán, Nhị đế quán): Không nghĩa là lìa tính, lìa tướng. Tức quán tâm 1 niệm không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa, gọi đó là Không. Do quán 1 niệm không, cho nên 1 không thì tất cả không, Giả, Trung cũng đều là Không; 3 pháp quán Không, Giả, Trung này có công năng trừ sạch tướng Tam hoặc, dùng Không quán trừ sạch tướng Kiến hoặc, dùng Giả quán trừ sạch tướng Trần sa và dùng Trung quán trừ sạch tướng Vô minh. Ba tướng đều sạch, rốt ráo là không, đó là Không quán. Nói một cách đơn giản là từ lập trường thường thức của thế tục(Giả) tiến vào lập trường chân lí của tông giáo (Không), đó là Không quán. 2. Giả quán(cũng gọi Tòng không nhập giả quán, Bình đẳng quán): Giả nghĩa là tất cả các pháp đều đầy đủ. Tức quán tâm 1 niệm có đầy đủ tất cả pháp, gọi đó là Giả. Do quán 1 niệm giả nên 1 giả thì tất cả đều giả, Không, Trung cũng đều là Giả; vì 3 pháp quán Không, Giả, Trung, này đều có công năng lập pháp,nên dùng Không quán lập pháp Chân đế, dùng Giả quán lập pháp Tục đế và dùng Trung quán lập pháp Trung đế, 3 pháp đều lập, tức là diệu quả, đó là Giả quán. Nói cách đơn giản là chẳng bị dính mắc nơi Không mà tiến vào cảnh giới thế tục có trí Phật chiếu soi cùng khắp, đó là Giả quán. 3. Trung quán(cũng gọi Trung đạo đệ nhất nghĩa đế quán): Trung tức là ở chính giữa, dứt bặt 2 bên đối đãi. Nghĩa là quán tâm 1 niệm chẳng phải không chẳng phải giả, tức không tức giả, gọi đó là Trung. Do quán 1 niệm trung, nên 1 trung thì tất cả trung, Không, Giả đều là Trung. Vì 3 pháp quán Không, Giả, Trung này đều có công năng dứt bặt đối đãi, nên nói Không thì không có pháp nào ngoài Không, nói Giả thì không có pháp nào ngoài Giả, nói Trung thì không có pháp nào ngoài Trung, cả 3 đều tuyệt đãi, tức là Viên trung, đó là Trung quán. Nói cách đơn giản là chẳng chấp Không quán, chẳng chấp Giả quán, hạnh của Bồ tát đại bi là Không, Giả viên dung, đó là Trung đạo quán. Duy ma kinh văn sớ quyển 21, y cứ vào Biệt giáo và Viên giáo để phân biệt tướng Tam quán, có nêu ra 3 loại Tam quán khác nhau: Biệt tướng, Thông tướng và Nhất tâm, gọi là Tam chủng tam quán. 1. Biệt tướng tam quán: Tức lần lượt quán 3 đế 1 cách riêng rẽ. Nghĩa là nếu từ Giả vào Không(Không quán) thì chỉ được quán Chân đế; nếu từ Không vào Giả(Giả quán) thì chỉ được quán Tục đế; nếu vào Trung đạo chính quán thì mới chiếu rọi được cả Chân đế và Tục đế. Đây tức chỉ cho Tam quán của Biệt giáo, vì Biệt giáo cho rằng Tam quán không giống nhau, vả lại, phải lần lượt quán theo thứ tự nên còn gọi là Thứ đệ tam quán, Cách dịch tam quán, theo thứ tự đoạn trừ được 3 hoặc mà chứng được 3 trí. 2. Thông tướng tam quán: Tức trong 1 pháp quán mà hiểu suốt cả 3 đế. Nghĩa là nếu từ Giả vào Không thì biết Tục giả là Không, Chân đế trung đạo cũng đều là Không; nếu từ Không vào Giả thì biết Tục giả là Giả, Chân đế trung đạo cũng đều là Giả; nếu vào Trung đạo chính quán thì biết Trung đạo là trung, Tục giả, Chân không cũng đều là Trung. Tức dùng 1 pháp quán làm tên mà tâm thì hiểu suốt cả 3, đó là Thông tướng tam quán. 3. Nhất tâm tam quán: Tức trong 1 tâm niệm mà quán đủ cả 3 đế. Nghĩa là quán tâm 1 niệm rốt ráo không có, thanh tịnh như hư không, gọi là Không quán; tâm năng quán và cảnh sở quán đều rõ ràng sáng tỏ, gọi là Giả quán; tuy rõ ràng sáng tỏ nhưng tính thường tự không, không chẳng cố định là không, giả chẳng cố định là giả, gọi là Trung quán. Tức 3 mà 1, tức 1 mà 3, đó là Nhất tâm tam quán.Thông tướng tam quán và Nhất tâm tam quán nói trên là chỉ cho Tam quán của Viên giáo, vì Viên giáo cho rằng Tam quán là ở trong tâm 1 niệm chung hợp chân lí của cả 3 đế Không Giả Trung để quán xét, cho nên gọi là Viên dung tam quán, Bất thứ đệ tam quán. Lại vì đối tượng để quán xét là tâm 1 niệm nên nói 1 không tất cả không, 1 giả tất cả giả, 1 trung tất cả trung mà trở thành pháp quán tức không, tức giả, tức trung. Đây tức là ở trong 1 niệm quán phá tâm chấp (Không), cho tất cả hiện tượng dường như có(Giả) và thể đạt thế giới tuyệt đối(Trung). Về 1 niệm này có 2 cách nhìn khác nhau: Phái Sơn gia tông Thiên thai đời Tống bảo rằng 1 niệm này là chỉ cho vọng tâm, còn phái Sơn ngoại thì lại cho đó là chân tâm. Phái Sơn gia lấy vọng tâm làm đối tượng(cảnh) quán xét, đâylà 1 trong những lí do rất vững mạnh và chủ trương này được căn cứ vào thuyết Tam khoa giản cảnh (Khu biệt) trong Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng. Tức là khi quyết định đối tượng quán xét thì cần phải phân biệt cảnh giới của 3 khoa: 5 ấm, 12 nhập, 18 giới. Trước hết, trong 3 khoa chọn lấy 5 ấm, trong 5 ấm lấy Thức ấm, trong Thức ấm, lấy thức thứ 6, trong thức thứ 6 lấy vô kí, cuối cùng, trong tâm vương và tâm sở thì lấy tâm vương làm đối tượng quán xét. Đây là trực tiếp lấy vọng tâm vô kí của phàm phu làm đối tượng quán xét. Trong 4 giáo Hóa pháp, Tam quán là pháp quán của Biệt giáo và Viên giáo. Nếu phối hợp Tam quán với 4 giáo thì Không quán thuộc Tạng giáo và Thông giáo. Tạng giáo phân tíchsự tồn tại của tất cả tâm và vật đều không có thực thể và cuối cùng qui về lí không, đây chính là Tích không quán. Thông giáo thì lại tiến thêm bước nữa, trực tiếp thể đạt tất cả các pháp như huyễn tức không mà vào lí không, đây chính là Thể không quán; loại quán này có công năng đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc trong 3 cõi. Nhưng Không quán này chỉ thiên hẳn về 1 lí không, nên gọi là Đãn không quán, trái lại, Không quán của Biệt giáo và Viên giáo thì gọi là Bất đãn không quán. Nhưng đối với những người lợi căn, độn căn trong Thông giáo khi tu quán, cũng có trường hợp người lợi căn từ Đãn không quán tiến vào Bất đãn không quán, như Biệt tiếp Thông, Viên tiếp Thông chính đã căn cứ vào lí do này. Giả quán là pháp quán của Biệt giáo. Tông Thiên thai chia Giả quán làm 2 loại: 1. Sinh tử giả: Tức tình kiến si mê của chúng sinh. 2. Kiến lập giả: Tức tri kiến được trí nhãn xuất thế gian của bậc Thánh soi sáng. Cái giả khi từ Giả vào Không của Không quán thuộc Tạng giáo và Thông giáo nói trên là thuộc Sinh tử giả chứ chưa đạt đến Kiến lập giả. Còn Giả quán của Biệt giáo thì quán từ Không vào Giả, trên không có an lập giả sai biệt, cho nên thuộc Kiến lập giả. Đặc chất của Biệt giáo là quán vô lượng Tứ đế mà kiến lập hằng sa Phật pháp để ra khỏi cái giả nhằm làm lợi ích chúng sinh. Còn sự khác nhau giữa Giả quán của Viên giáo và Giả quán của Biệt giáo là ở chỗ Biệt giáo xem Không quán khác với Trung quán, không tương tức nhau, vả lại, chỉ lập riêng Giả quán làm đối tượng, có công năng đoạn trừ Trần sa hoặc; trái lại, Viên giáo thì xem Không quán và Trung quán là 1, tức không tức trung, lấy diệu giả làm đối tượng, có công năng cùng lúc đoạn trừ cả 3 hoặc. Trung quán thuộc Viên giáo, là pháp quán tối cao vô thượng, nó dung hợp cả Không quán và Giả quán, tức 3 mà 1, tức 1 mà 3, dùng quán lí Trung đạo mà hiểu cả 3 đế, gọi là Bất đãn trung quán; trái lại, Trung quán của Biệt giáo thì gọi là Đãn trung quán. Người tu Đãn trung quán của Biệt giáo, trước hết phải tu Không quán ở giai vị Thập trụ để phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, kế đến, tu Giả quán ở giai vị Thập hành để phá trừ Trần sa hoặc, sau cùng mới tu Trung quán (Đãn trung quán) để phá trừ Vô minh hoặc. Lúc này, Tam quán nhất tâm của Biệt giáo gần giống với Bất đãn trung quán của Viên giáo.[X. Duy ma kinh huyền sớ Q.2; Ma ha chỉ quán Q.5; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.hạ; Tứ giáo nghĩa Q.1; Tông kính lục Q.35]. II. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán tâm do ngài Trí khải lập riêng khi giảng kinh Pháp hoa. 1. Tòng hành quán(cũng gọi Ước hành quán): Nghĩa là chuyên y cứ vào pháp môn tu hành của các kinh mà tu quán, tức là chỉ đối với muôn cảnh mà quán 1 tâm, muôn cảnh tuy khác nhau, nhưng lí quán mầu nhiệm thì chỉ là 1, như quán xét ấm tức là nghĩa này. 2. Phụ pháp quán: Dựa vào các pháp tướng để tu Viên quán, tức căn cứ theo các pháp tướng như Tứ đế, Ngũ hạnh mà vào tâm 1 niệm để thành tựu pháp quán. 3. Thác sự quán(cũng gọi Lịch sự quán): Mượn nghĩa các việc để thành tựu tu quán, tùy theo mỗi việc đều dùng quán pháp biểu thị để trợ duyên giúp cho việc tu quán. Như mượn thành nhà vua để quán thì quán vua là 6 thức tâm vương, nhà là 5 ấm, thành nhà vua là thân của chúng ta, cho đến thành vua này tức Không, Giả, Trung, tâm vương làm ra nhà này, nếu tách rời 5 ấm thì nhà là Không, Không tức là thành Niết bàn. Theo Thập bất nhị môn xu yếu quyển thượng thì Thập thừa là thể chung của 3 loại quán pháp, còn Thác sự, Phụ pháp và Tòng hành là tướng riêng của 3 loại quán pháp. [X. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.thượng; Chỉ quán nghĩa lệ; Chỉ quán nghĩa lệ tùy thích Q.6]. III. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán do Luật sư Đạo tuyên ở núi Chung nam thành lập, gọi là Nam sơn tam quán. Ba pháp này theo thứ tự là pháp quán của Nhị thừa, Tiểu bồ tát và Đại bồ tát. Đó là: 1. Tính không quán: Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác quán xét tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh ra, vốn không có tự tính, là vô ngã; thường dùng lí này để soi rọi tâm mình, gọi là Tính không quán, tương đương với Tích không quán và Thể không quán của tông Thiên thai.2. Tướng không quán: Hàng Bồ tát thuộc Tạng giáo và Thông giáo quán xét tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh ra, vốn không có tướng, nhưng vì chúng sinh mê chấp nên lầm thấy các tướng sai khác. Bồ tát thường dùng lí này để soi rọi tâm mình, gọi là Tướng không quán. 3. Duy thức quán: Thức là tâm thức. Hàng Bồ tát Đại thừa thuộc Biệt giáo và Viên giáo rõ biết tất cả các pháp ngoại trần ở thế gian đều do thức biến hiện ra, ngoài tâm không có vật gì tồn tại, tự tính vốn tự thanh tịnh. Lí này rất sâu xa mầu nhiệm, chỉ có ý duyên biết được, gọi là Duy thức quán. Duy thức quán lại được chia ra 2 thứ: Trực nhĩ thông quán là pháp tu của hàng lợi căn và Lịch sự biệt quán là pháp tu của những người mới phát tâm. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5 phần 4]. (xt. Duy Thức) IV. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán về pháp giới do ngài Đỗ thuận, Tổ của tông Hoa nghiêm, y cứ vào kinh Hoa nghiêm mà thành lập. 1. Chân không quán: Tức là Lí pháp giới trong 4 pháp giới. Chân là ý niệm không hư dối; Không là sắc tướng không phải hình chất trở ngại. Nghĩa là lựa bỏ vọng tình để hiển bày chân tính mà qui về tính không bình đẳng, khiến thấy sắc chẳng phải thực sắc mà là chân không; thấy không chẳng phải đoạn không mà là chân tính; như vậy mới dứt bặt được những sự tướng của cái thấy do vọng tình mà hiển bày thể mầu nhiệm của chân không. 2. Lí sự vô ngại quán: Tức là Lí sự vô ngại pháp giới trong 4 pháp giới. Lí nghĩa là tính lặng thể sáng; Sự nghĩa là hình tướng phần hạn. Tức quán sự tướng sai biệt và lí tính bình đẳng không sai biệt của muôn tượng, dung thông hòa nhập lẫn nhau 1 cách tự tại vô ngại; đây là vì muôn tượng đều do chân như tùy duyên biến hiện ra, hệt như nước tức sóng, sóng tức nước, chẳng hể ngăn ngại lẫn nhau. Cũng tức là quán xét tính chân như sinh khởi muôn pháp và muôn pháp mỗi mỗi đều lấy chân như làm tính. 3. Chu biến hàm dung quán: Tức là Sự sự vô ngại pháp giới trong 4 pháp giới. Chu biến nghĩa là trùm khắp mọi nơi; Hàm dung nghĩa là ngậm chứa hết thảy. Tính của chân như 1 vị bình đẳng, không thể phân chia, mỗi mảy bụi đều hàm chứa toàn thể chân như, mỗi sự tướng bao trùm tất cả pháp giới, do đó, 1 tướng và nhiều tướng dung hòa nhau vô ngại, lớn nhỏ bao hàm lẫn nhau, dung nhiếp vào nhau, trùng trùng vô tận. Ba loại cảnh sở quán(3 pháp giới) trình bày ở trên tuy giống nhau ở nhất tâm pháp giới, nhưng do trí năng quán sâu, cạn khác nhau mà có 3 thứ sai biệt ấy, vì thế cũng gọi là Tam trùng quán môn. Trong Pháp giới quán môn, ngài Đỗ thuận lại chia Chân không quán làm Tứ cú: Hội sắc qui không quán, Minh không tức sắc quán, Không sắc vô ngại quán và Mẫn tuyệt vô kí quán; chia Lí sự vô ngại quán làm 10 môn: Lí biến ư sự môn, Sự biến ư lí môn, Y lí thành sự môn, Sự năng hiển lí môn, Dĩ lí đoạt sự môn, Sự năng ẩn lí môn, Chân lí tức sự môn, Sự pháp tức lí môn, Chân lí phi sự môn và Sự pháp phi lí môn; rồi lại chia Chu biến hàm dung quán làm 10 môn: Lí như sự môn, Sự như lí môn, Sự hàm lí sự môn, Thông cục vô ngại môn, Quảng hiệp vô ngại môn, Biến dung vô ngại môn, Nhiếp nhập vô ngại môn, Giao thiệp vô ngại môn, Tương tại vô ngại môn và Phổ dung vô ngại môn để giải thích thêm cho rõ ràng. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán; Hoa nghiêm kinh chỉ qui]. (xt. Tứ Pháp Giới, Tứ Pháp Giới Quán). V. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán nói trong kinh Viên giác. Đó là: 1. Xa ma tha (Phạm: Zamatha, Hán dịch: Chỉ): Chỉ nghĩa là dừng lặng. Người muốn cầu Viên giác, phải dùng tâm tỉnh biết thanh tịnh mà giữ lấy sự lặng lẽ làm hạnh, tâm không vọng động duyên theo các cảnh nhiễm tịnh, đó chính là thể chân chỉ, tương đương với Không quán của Thiên thai.2. Tam ma bát đề (Phạm: Samàpatti, Hán dịch: Đẳng chí): Đẳng nghĩa là xa lìa hôn trầm, điệu cử, Chí nghĩa là làm cho tâm bình đẳng an hòa. Người muốn cầu Viên giác, phải dùng tâm tịnh giác biết rõ tâm tính và căn trần đều do huyễn hóa mà có, rồi khởi huyễn quán mà tu để trừ các huyễn; đây chính là Phương tiện tùy duyên chỉ, thường tùy duyên theo cảnh mà an tâm chẳng động, tương đương với Giả quán của Thiên thai. 3. Thiền na (Phạm:Dhyàna, Hán dịch: Tĩnh lự): Tĩnh tức là định, lự tức là tuệ. Người muốn cầu Viên giác, phải dùng tâm tỉnh biết thanh tịnh không chấp lấy huyễn hóa và các tướng tĩnh lặng, mà thường thuận theo cảnh giới tịch diệt; đây chính là Tức nhị biên chỉ, không phân biệt tướng đối đãi 2 bên như: Sinh tử và niết bàn, chỉ tức và hữu vô..., tương đương với Trung quán của Thiên thai. Ngài Tông mật theo thứ tự gọi 3 pháp quán trên đây là: Mẫn tướng trừng thần quán(Tĩnh quán), Khởi huyễn tiêu trần quán(Huyễn quán) và Tuyệt đãi linh tâm quán(Tịch quán) Ngoài ra, về chỗ giống nhau và khác nhau giữa 3 pháp quán của kinh Viên giác và 3 pháp quán của tông Thiên thai thì trong Viên giác kinh lược sớ quyển hạ, ngài Tông mật có chỉ ra rằng nghĩa lí của 2 bên tuy giống nhau nhưng ý thú thì khác nhau. Chỗ giống nhau là Mẫn tướng tức Không quán, Khởi huyễn tức Giả quán và Tuyệt đãi tức Trung quán. Còn chỗ khác nhau là Tam quán của Viên giác chỉ rõ phương tiện dụng tâm của hành giả, thường dựa vào tâm mà thành hạnh, cho nên không lập cảnh sở quán; còn Tam quán của tông Thiên thai thì suy cứu đến tận cùng tính tướng các pháp, thường nhờ vào nghĩa lí mà sinh hiểu biết, cho nên kiến lập Tam đế sở quán. Cũng sách đã dẫn có nói Tam quán của kinh Viên giác có tất cả 25 thứ Định luân thanh tịnh. Luân nghĩa là xoaychuyển phá dẹp, có năng lực phá dẹp hoặc chướng mà chuyển thành chính trí, cho nên gọi là Luân. Trong 25 luân, trước hết theo thứ tự chỉ tu riêng Tam quán; Tĩnh quán, Huyễn quán, và Tịch quán, gọi là Đơn tu Tam quán, đó là Tam luân. Kế đến tu Giao lạc tam quán (kết hợp 3 pháp quán với nhau), tức ban đầu lấy Tĩnh quán làm chính và Kiêm tu Huyễn quán, Tịch quán, 3 thứ quán này kết hợp với nhau thành 7 luân, rồi sau lại theo thứ tự đều lấy Huyễn quán, Tịch quán làm chính và kiêm tu 2 thứ quán còn lại; như vậy 3 cái 7 luân cộng chung thành 21 luân. Sau đó, dùng Tuệ viên giác viên tu Tam quán, gọi là Như ý viên tu quán, đây chỉ là 1 luân, trở lên tổng cộng là 25 luân. [X. Ngự chú viên giác kinh Q.thượng; Viên giác kinh sớ Q.hạ, phần 1]. VI. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán tâm nói trong Quán kinh sớ truyền thống kí quyển 3: 1. Quán chúc quán: Năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân duyên theo 5 cảnh trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, hiển hiện rõ ràng, đối cảnh biết liền, không cần tính toán suy lường. 2. Quán tri quán: Sự hiểu biết tương ứng với trí thức,nhờ các tướng mà quán xét nghĩa. 3. Quán hành quán: Tức 13 quán. Nghĩa là nhờ vào sức chính định mà thực hành pháp quán suy lường cảnh giới. Nếu phối hợp 3 pháp quán này với 3 phân biệt thì Quán chúc quán là Tự tính phân biệt, Quán tri quán là Tùy niệm phân biệt và Quán hành quán là Kế đạc phân biệt.[X. Tịnh độ pháp môn nguyên lưu chương; Truyền thông kí nhu sao Q.16]. (xt. Tam Phân Biệt, Ngũ Tâm).
tam quang
Three lights (sun, moon, and star).
; (三光) Chỉ cho mặt trời, mặt trăng và sao. Cũng chỉ cho 3 tầng trời: Thiểu quang, Vô lượng quang, và Quang âm thuộc Đệ nhị thiền cõi Sắc.
tam quang thiên
Sun, moon, and stars. Also in the second dhyàna of the form-worrld there are the two deva regions thiểu quang thiên, vô lượng quang thiên, and quang âm thiên. Also Quán thế âm bồ tát is styled Nhậ thiên tử sun-prince, or divine son of the sun; Đại thế chí bồ tát is styled Nguyệt thiên tử, divine son of the moon; and Hư không tạng bồ tát, the bodhisattva of the empyrean is styled Minh tinh thiên tử, divine son of the bright stars.
; See Tam Quang Thiên Tử.
tam quang thiên tử
Devas from the Three lights: 1) Bảo Quang Thiên Tử: Nhựt Thiên Tử—Đức Quán Âm tên là Bảo Ý Thiên Tử—Avalokitesvara—Divine son of the Sun. 2) Minh Nguyệt Thiên Tử: Bảo Cát Tường Thiên Tử—Nguyên Thiên Tử—Đại Thế Chí Bồ Tát—Mahasthamaprpta—Divine son of the Moon. 3) Minh Tinh Thiên Tử: Phổ Quang Thiên Tử—The bodhisattva of the empyrean (Hư không tạng Bồ Tát)—Divine son of the bright stars.
; (三光天子) Chỉ cho 3 vị Thiên tử: Nhật thiên tử, Nguyệt thiên tử và Minh tinh thiên tử. Trong phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 thì có: Danh nguyệt thiên tử, Phổ hương thiên tử, Bảo quang thiên tử. Pháp hoa văn cú quyển 2 hạ cho rằng 3 vị Thiên tử Danh nguyệt... là nội thần của trời Đế thích, giống như các khanh tướng. Còn Pháp hoa kinh huyền tán quyển 2, phần đầu thì cho rằng Tam quang là chỉ cho 3 vị: Bảo quang, Danh nguyệt và Phổ hương. Quán thế âm tên là Bảo ý, là Nhật thiên tử, tức Bảo quang; Đại thế chí tên là Bảo cát tường, là Nguyệt thiên tử, tức Danh nguyệt; Hư không tạng tên là Bảo quang, là Tinh thiên tử, tức Phổ hương. Đây là phối hợp Nhật, Nguyệt, Tinh với 3 vị Thiên tử trong kinh Pháp hoa, nhưng kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm ở đoạn văn kinh tương ứng đồng thời nêu tên 5 vị Thiên tử, Nguyệt thiên tử (Candra devaputra), Nhật thiên tử (Sùrya deva-putra), Phổ hương thiên tử (Samantagandha deva-putra), Bảo quang thiên tử (Ratnapsabha deva-putra), và Quang minh thiên tử (Avabhàsaprabha devaputra). Ngoài ra, theo Học hải dư trích quyển 4, khi người thợ làm tượng Phật tạo tượng Tam quang thì tượng Đại minh tinh thiên tử có hình tướng Bồ tát, còn Nhật thiên tử và Nguyệt thiên tử thì theo hình tướng người trời. Nếu y theo Bản môn của Tam quang thì đều có hình tướng Bồ tát, còn theo Tích môn thì đều lấy hình người trời, tức dùng cả Bản và Tích để tạo thành hình tượng Tam quang. [X. kinh Hư không Bồ tát thần chú; kinhThất Phật bát bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú Q.1; Pháp hoa nghĩa sớ Q.1].
tam qui
Xem Qui y tam bảo.
; Trisarana, Sarana-gamana (S). The three surrenders to, "or formulas of refuge" in the Three Precious Ones Tam Bảo, i.e. to Buddha Phật, the Dharma Pháp, the Sangha Tăng. The three formulas are Qui y Phật Buddham saranam gacchàmi, Qui y Pháp Dharmam saranam gacchàmi, Qui y Tăng Sangham saranam gacchàmi. It is the most primitive formula of the early Buddhism. The surrender is to the Buddha as teacher Sư, the Law as medicine Dược, the Ecclesia as friens Hữu. These are known as the Tam Qui Y. Threefold refuge: I take my refuge in the Buddha, in the Dharma, in the Sangha.
tam qui thụ pháp
The receiving of the Law, or admission of a lay disciple, after recantation of his previous wrong belief and sincere repetition to the abbot or monk of the above three refuges.Tam qui ngũ giới. The ceremony which makes the recipient a ưu bà tắc upasaka, male disciple or ưu bà di upàsikà, female disciple, accepting the five precepts.
tam qui y
Triśaraṇa-gamāna (S), Ti- saranāgamāna (P), Tisaraṇa (P), Triśaraṇa (S),Three refuges Buddham Saranam Gacchami: Tôi xin qui y Phật Dhammam Saranam Gacchami: Tôi xin qui y Pháp, Shangam Saranam Gacchami: Tôi xin qui y TăngXem Tisarana
Tam Quy
(三皈): hay Tam Quy Y (s: tri-śaraṇa-gamana, p: ti-saraṇa-gamana, 三皈依、三歸依), Tam Quy (三歸), Tam Tự Quy (三自歸), Tam Quy Giới (三歸戒), Thú Tam Quy Y (趣三歸依). Riêng từ quy y hàm nghĩa cứu hộ, hướng về. Tam Quy Y tức là quay trở về và nương tựa vào Tam Bảo (三寶, Ba Ngôi Báu gồm Phật, Pháp và Tăng) và cầu xin quý Ngài cứu giúp để được vĩnh viễn thoát khỏi tất cả khổ. Đó là Quy Y Phật (s: Buddhaṃ śaraṇaṃ gacchāmi, 皈依佛, I take refuge in the Buddha), Quy Y Pháp (s: Dharmaṃ śaraṇaṃ gacchāmi, 皈依法, I take refuge in the Dharma) và Quy Y Tăng (s: Saṃghaṃ śaraṇaṃ gacchāmi, 皈依僧, I take refuge in the Sangha). Đây là nghi thức cần phải có để trở thành tín đồ Phật Giáo. Sau khi đức Phật Thích Ca thành đạo, khi chưa có Tăng Bảo thì chỉ truyền thọ hai phép quy y Phật và Pháp mà thôi. Theo Ngũ Phần Luật (五分律) quyển 15 cho biết rằng người thọ Tam Quy Y đầu tiên là thân phụ của Tỳ Kheo Da Xá (s: Yaśa, Yaśoda, 耶舍). Phép Tam Quy Y này có thể chia làm 2 loại: (1) Phiên Tà Tam Quy (翻邪三歸), nghĩa là Ba Phép Quy Y thọ nhận khi từ bên tà đạo quay về với chánh đạo; (2) Thọ Giới Tam Quy (受戒三歸), gồm có 4 loại như Ngũ Giới Tam Quy (五戒三歸, người Phật tử tại gia trước khi thọ Năm Giới thì phải thọ Ba Phép Quy Y); Bát Giới Tam Quy (八戒三歸, trước khi thọ Bát Quan Trai Giới thì phải thọ Ba Phép Quy Y); Thập Giới Tam Quy (十戒三歸, trước khi thọ Mười Giới để trở thành Sa Di [s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌], Sa Di Ni [s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼] thì phải thọ Ba Phép Quy Y); Cụ Túc giới Tam Quy (, trước khi thọ Cụ Túc giới để trở thành Tỳ Kheo [s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘], Tỳ Kheo Ni [s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼] thì phải thọ Ba Phép Quy Y). Về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc Quy Y Tam Bảo, Câu Xá Luận (倶舍論) quyển 14 có giải thích rằng người phát tâm Quy Y Tam Bảo thì sẽ vĩnh viễn giải thoát hết thảy các khổ. Trong khi đó, Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) quyển 10 có nêu ra 3 ý nghĩa khác về việc Quy Y Tam Bảo nhằm: (1) Vì để xa lìa các điều ác bất thiện của sanh tử; (2) Vì để cầu xuất thế Niết Bàn; (3) Vì để lợi ích chúng sanh. Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn (法界次第門) quyển Thượng cũng cho biết rằng công dụng của việc Quy Y Tam Bảo là để phá Ba Tà, cứu độ Ba Đường (Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh), v.v. Trước khi vào phần chính văn của Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 1, Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận (究竟一乘寶性論) quyển 1, Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論), Phật Địa Kinh Luận (佛地經論) quyển 1, A Tỳ Đàm Tâm Luận (阿毘曇心論), v.v., đều có nêu văn Quy Kính Tam Bảo. Trong Tỳ Ni Thảo Yếu (毘尼討要) quyển 5 có đoạn: “Ngã mỗ giáp tận hình thọ Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng [tam thuyết]; ngã mỗ giáp tận hình thọ Quy Y Phật cánh, Quy Y Pháp cánh, Quy Y Tăng cánh [tam thuyết] (我某甲盡形壽歸依佛、歸依法、歸依僧[三說]、我某甲盡形壽歸依佛竟、歸依法竟、歸依僧竟[三說], con … nguyện suốt đời Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng [ba lần]; con … nguyện suốt đời Quy Y Phật rồi, Quy Y Pháp rồi, Quy Y Tăng rồi [ba lần]).” Bên cạnh đó, trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (授菩薩戒儀) của Trạm Nhiên (湛然) lại có đoạn: “Đệ tử mỗ giáp nguyện tùng kim thân, tận vị lai tế, Quy Y Phật Lưỡng Túc Tôn, Quy Y Pháp Ly Dục Tôn, Quy Y Tăng Chúng Trung Tôn [tam thuyết]; đệ tử mỗ giáp nguyện tùng kim thân, tận vị lai tế, Quy Y Phật cánh, Quy Y Pháp cánh, Quy Y Tăng cánh [tam thuyết] (弟子某甲願從今身、盡未來際、歸依佛兩足尊、歸依法離欲尊、歸依僧眾中尊[三說]、弟子某甲願從今身、盡未來際、歸依佛竟、歸依法竟、歸依僧竟[三說], đệ tử … nguyện từ đời này cho đến cùng tận tương lai, Quy Y Phật Lưỡng Túc Tôn, Quy Y Pháp Ly Dục Tôn, Quy Y Tăng Chúng Trung Tôn [ba lần]; đệ tử … nguyện từ đời này cho đến cùng tận tương lai, Quy Y Phật rồi, Quy Y Pháp rồi, Quy Y Tăng rồi [ba lần]).” Nguyên Không (源空, Genkū), tức Pháp Nhiên (法然, Hōnen, 1133-1212), người khai sáng Tịnh Độ Tông Nhật Bản, có giải thích trong tác phẩm Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集, Senchakuhongannembutsushū) rằng “tận hình thọ (盡形壽, cho đến suốt đời này)” là Tam Quy của Tiểu Thừa; trong khi đó, “tận vị lai tế (盡未來際, cho đến tận cùng tương lai, tức đời sau và nhiều đời sau nữa)” là Tam Quy của Đại Thừa. Trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 87 còn cho biết rằng: “Vân hà danh vi Tam Quy ? Phật ngôn: 'Thiện nam tử vi phá chư khổ, đoạn trừ phiền não, thọ ư vô thượng tịch diệt chi lạc, dĩ thị nhân duyên thọ Tam Quy Y' (云何名爲三歸、佛言、善男子爲破諸苦、斷除煩惱、受於無上寂滅之樂、以是因緣受三歸依, Thế nào là Ba Phép Quy Y ? Phật dạy: 'Thiện nam tử vì phá các khổ, đoạn trừ phiền não, thọ niềm vui vắng lặng vô thượng, lấy nhân duyên này mà thọ Ba Phép Quy Y).” Riêng trong Thái Thượng Tam Nguyên Từ Bi Thủy Sám (太上三元慈悲水懺) có đề cập đến “Quy Thân, Quy Mạng, Quy Thần (歸身、歸命、歸神)” là Tam Quy Y của Đạo Giáo; và “Đạo, Kinh, Sư (道、經、師)” là Ba Ngôi Báu của họ.
tam quy
See Tam Quy-Y
tam quy ngũ giới
Nghi lễ thọ Ưu Bà Tắc hay Ưu Bà Di Giới, trong đó Phật tử tại gia nguyền thọ tam quy gìn ngũ giới—The ceremony which makes the recipient an upasaka or upasika—Laymen or laywomen taking refuge in the Triratna, receiving the Law and accepting the five commandments—See Tam Quy Y and Ngũ Giới in Vietnamese-English Section.
tam quy thọ pháp
Về nương nơi Tam Bảo, thọ pháp và được nhận làm Phật tử tại gia, sau nghi thức sám hối—Take refuge in the Triratna, receiving of the Law, or admission of a lay disciple, after recantation and repentance of his previous wrong belief and sincere repetition to the abbot or monk of the three surrenders (to Buddha, Dharma, Sangha).
Tam quy y
三歸依; S: triśaraṇa; P: tisaraṇa;|Ba quy y
tam quy y
Sarana-gamana (skt)—Take refuge in Triratna—Take refuge in the three Precious Ones—The Three Refuges: (A) 1) Quy y Phật vị đạo sư vô thượng: Take refuge in the Buddha as a supreme teacher. 2) Quy y Pháp thần y lương dược: Take refuge in the Dharma as the best medicine in life. 3) Quy y Tăng đệ tử tuyệt vời của Phật: Take refuge in the Sangha, wonderful Buddha's disciples. (B) 1) Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy): To the Buddha, I return to rely, vowing that all living beings understand the great way profoundly, and bring forth the bodhi mind (1 bow). 2) Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy): To the Dharma, I return and rely, vowing that all living beings deeply enter the sutra treasury, and have wisdom like the sea (1 bow). 3) Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại: To the Sangha, I return and rely, vowing that all living beings form together a great assembly, one and all in harmony without obstructions(1 bow). ** Trong lúc lắng nghe ba pháp quy-y thì lòng mình phải nhất tâm hướng về Tam Bảo và tha thiết phát nguyện giữ ba pháp ấy trọn đời, dù gặp hoàn cảnh nào cũng không biến đổi—When listening to the three refuges, Buddhists should have the full intention of keeping them for life; even when life is hardship, never change the mind. (C) Tam quy chính là ba trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà tam ác đạo được thanh tịnh—The three refuges are three of the most important entrances to the great enlightenment; for they purify the evil worlds. (D) Người Phật tử mà không quy y Tam Bảo sẽ có nhiều vấn đề trở ngại cho sự tiến bộ trong tu tập—There are several problems for a Buddhist who does not take refuge in the Three Gems. 1) Không có dịp thân cận chư Tăng (Tăng Bảo) để được chỉ dạy dẫn dắt. Kinh Phật thường dạy, “không quy y Tăng dễ đọa súc sanh.” Không quy-y Tăng chúng ta không có gương hạnh lành để bắt chước, cũng như không có ai đưa đường chỉ lối cho ta làm lành lánh ác, nên si mê phát khởi, mà si mê là một trong những nhân chính đưa ta tái sanh vào cõi súc sanh: There is no chance to meet the Sangha for guidance. Buddhist sutras always say, “If one does not take refuge in the Sangha, it's easier to be reborn into the animal kingdom.” Not taking refuge in the Sangha means that there is no good example for one to follow. If there is no one who can show us the right path to cultivate all good and eliminate all-evil, then ignorance arises, and ignorance is one of the main causes of rebirth in the animal realms. 2) Không có dịp thân cận Pháp để tìm hiểu và phân biệt chánh tà chân ngụy. Do đó tham dục dấy lên, mà tham dục là một trong những nhân chính để tái sanh vào cõi ngạ quỷ. Vì thế mà kinh Phật luôn dạy, “không quy y pháp dễ đọa ngạ quỷ”: There is no chance to study Dharma in order to distinguish right from wrong, good from bad. Thus desire appears, and desire is one of the main causes of rebirth in the hungry ghost. Therefore, Buddhist sutras always say, “if one does not take refuge in the Dharma, it's easier to be reborn in the hungry ghost realms.” 3) Không được dịp thân cận với chư Phật chẳng những không cảm được hồng ân của quý ngài, mà không có dịp bắt chước đức từ bi của các Ngài. Do đó sân hận ngày một tăng, mà sân hận là một trong những nguyên nhân chính của địa ngục. Vì thế mà kinh Phật luôn dạy, “không quy y Phật dễ bị đọa địa ngục”: There is not any chance to get blessings from Buddhas, nor chance to imitate the compassion of the Buddhas. Thus, anger increased, and anger is one of the main causes of the rebirth in hell. Therefore, Buddhist sutras always say, “if one does not take refuge in Buddha, it's easier to be reborn in hell. (E) Muốn quy y Tam Bảo, trước hết người Phật tử nên tìm đến một vị thầy tu hành giới đức trang nghiêm để xin làm lễ quy y thọ giới trước điện Phật: To take refuge in the Triratna, a Buddhist must first find a virtuous monk who has seriously observed precepts and has profound knowledge to represent the Sangha in performing an ordination ceremony.
; (三歸依) Phạm: Tri-zaraịa-gamana. Pàli: Tì-saraịa-gamana. Cũng gọi Tam qui, Tam tự qui, Tam qui giới, Thú tam qui y. Qui y Tam bảo, nghĩa là quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng và xin được cứu giúp, che chở để mãi mãi thoát khỏi tất cả khổ não của thân tâm. Tam qui y được chia làm 2 thứ: 1. Phiên tà tam qui: Tam qui được lãnh nhận khi bỏ tà đạo, trở về chính đạo. 2. Thụ giới tam qui: Có 4 loại là Ngũ giới tam qui(tín đồ tại gia khi thụ Ngũ giới thì phải thụ Tam qui trước), Bát giới tam qui(khi thụ 8 giới trai thì phải thụ Tam qui trước), Thập giới tam qui(khi thụ 10 giới Sa di, Sa di ni thì phải thụ Tam qui trước) và Cụ túc giới tam qui(khi thụ giới Cụ túc của tỉ khưu, tỉ khưu ni thì phải thụ Tam qui trước). Nếu thêm Phiên tà tam qui nữa thì thành5 loại, gọi chung là Ngũ chủng Tam qui.Về chỉ thú của sự qui y Tam bảo, luận Câu xá quyển 14 cho rằng qui y Tam bảo mãi mãi xa lìa được tất cả khổ não. Đại thừa nghĩa chương quyển 10 thì nêu ra 3 nghĩa: Vì xa lìa khổ sinh tử, vì cầu Niết bàn xuất thế và vì lợi ích chúng sinh. Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng, phần cuối, cho rằng công dụng của Tam qui chính là phá Tam tà, cứu Tam đồ, nối tiếp Tam thừa, ra khỏi Tam hữu, Phật pháp lấy Tam qui này làm gốc, chung cho tất cả giới phẩm và các pháp lành xuất thế.Trong các luận Đại trí độ quyển 1, Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 1, Đại thừa khởi tín, Phật địa kinh luận quyển 1, A tì đàm tâm... ngay ở trang đầu đều có nêu văn Qui kính Tam bảo, bày tỏ sự cúi đầu kính lễ Tam bảo. Ngoài ra, lúc thụ Tam qui, người thụ phải theo lời dạy của Giới sư, xướng văn Tam qui tam cánh. Tì ni thảo yếu quyển 5 ghi văn Tam qui tam cánh như sau (Vạn tục 70, 176 hạ): Con tên là... xin trọn đời qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng(nói 3 lần); Con tên là... trọn đời qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi(nói 3 lần). Thụ Bồ tát giới nghi của ngài Trạm nhiên thì ghi (Vạn tục 105, 5 hạ): Đệ tử tên là... nguyện từ đời này đến hết kiếp vị lai qui y Phật lưỡng túc tôn, qui y pháp li dục tôn, qui y tăng chúng trung tôn (nói 3 lần). Đệ tử tên là... nguyện từ đời này đến hết kiếp vị lai qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi(nói 3 lần). Trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, ngài Nguyên tín của Nhật bản cho rằng Tam qui y được chia làm Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau, trọn đời là Tam qui của Tiểu thừa, còn hết kiếp vị lai là Tam qui của Đại thừa. Lại theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 4, phần đầu, Qui y và Kính lễ có 7 nghĩa khác nhau: 1. Qui y chỉ hạn cuộc ở nghiệp thân và nghiệp khẩu, kính lễ thì chung cho cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 2. Qui y là qui y cả Tam bảo, phạm vi rộng hơn; còn kính lễ thì chỉ kính 1 vị tôn, phạm vi không rộng. 3. Qui y có giới hạn, cho nên phải nói hết kiếp vị lai; còn kính lễ chỉ cần nói lên lòng kính ngưỡng là được, cho nên hoặc lâu hoặc mau, không bị hạn định. 4. Qui y vì thành khẩn, thiết tha, nên phải có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp; còn kính lễ thì chỉ cần thiện biểu nghiệp là thành. 5. Qui y phải hợp cả thân nghiệp và khẩu nghiệp, ý nghĩa quan trọng hơn; còn kính lễ thì chỉ cần 1 nghiệp là thành. 6. Qui y thuộc về hình tướng nên chỉ có ở cõi Dục và cõi Sắc; còn kính lễ thì thông cả ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc. 7. Qui y do quán chân lí mà thành, ý nghĩa thù thắng hơn; còn kính lễ thì trọng hiền thiện là thành, ý nghĩa kém hơn. [X. kinh Trường a hàm Q.11; kinh Đại bát niết bàn Q.5 (bản Bắc); kinh Thắng man; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.32; luật Thập tụng Q.56;Hữu bộ tì nại da Q.44; luận Đại trí độ Q.13; luận Đại tì bà sa Q.34, 124; luận Thập trụ tì bà sa Q.7]. (xt. Tam Bảo).
tam quyết định nghiệp
(三决定業) Cũng gọi Tam thời nghiệp, Tam báo nghiệp. Chỉ cho 3 thứ nghiệp quyết định thời gian chịu quả báo dị thục. Đây là thuyết của luận Câu xá quyển 15, đó là: 1. Thuận hiện pháp thụ nghiệp (gọi tắt: Thuận hiện nghiệp): Nghiệp tạo tác tăng trưởng ở đời này thì ngay đời này phải chịu quả báo dị thục. 2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp (cũng gọi Thuận thứ nghiệp, Thuận sinh nghiệp): Nghiệp tạo tác tăng trưởng ở đời này, sang đời thứ 2 mới chịu quả báo dị thục. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp (cũng gọi Thuận hậu nghiệp): Nghiệp tạo tác tăng trưởng ở đời này đến đời thứ 3 hoặc lâu hơn nữa mới chịu quả báo dị thục. [X. luận Du già sư địa Q.9; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.40]. (xt. Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).
tam quyền nhất thật
The Thiên Thai division of the Schools of Buddhism into four, three termed quyền temporary, i.e. tạng, thông. biệt, the fourth is the thật or viên real or perfect School of Salvation by faith to Buddhahood, especially as reavealed in the Lotus Sùtra.
; (三權一實) Ba giả tạm, một chân thực. Chỉ cho 4 giáo Hóa pháp của tông Thiên thai. Trong 4 giáo thì 3 giáo Tạng, Thông, Biệt là giáo pháp phương tiện tạm thời lập ra chứ chưa phải là giáo pháp liễu nghĩa, cho nên gọi là Tam quyền; trái lại, Viên giáo là giáo pháp chân thật liễu nghĩa, nên gọi là Nhất thực.Pháp hoa văn cú quyển 3 thượng (Đại 34, 36 thượng) nói: Tam quyền là cái khuôn vuông, Nhất thực là cái khuôn tròn. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7]. (xt. Hóa Pháp Tứ Giáo).
tam quá
Three transgressions of the body, mouth and mind (deeds, words, thoughts).
Tam quán
三觀; C: sānguān; J: sangan;|I. Ba cách quán sát. Ba cách thiền quán được dạy đầu tiên trong Anh lạc bản nghiệp kinh, sau được chiếu rọi tường tận bởi Trí Khải (智顗). Chúng là: 1. Không quán (空觀), phủ nhận những cảm thụ, nhận thức hiện thật một cách sai lạc; 2. Nhân duyên quán (因緣觀), giúp diệt trừ kiến giải chấp không; 3. Trung quán (中觀), dung nhiếp cả hai lối quán trên nhưng không chấp trước, vướng mắc vào chúng. II. Ba phương pháp thiền định được dạy trong kinh Viên Giác: 1. Xa-ma-tha (奢摩他; s: śamatha), một dạng thiền định mà trong đó, tâm thức của hành giả được lắng đọng qua sự tập trung vào một đối tượng; 2. Tam-ma Bát-để (三摩鉢提; s: samāpatti), quán sát một chân lí Phật pháp, ví như nguyên lí Duyên khởi, và 3. Thiền-na (禪那; s: dhyāna), không dựa vào hai cách Thiền quán trên. Ba phương pháp thiền này gần giống như ba phương pháp nêu bên trên.
tam quán
The three studies, mediatations, or insights. The most general group is that of Thiên Thai: (a) không quán study of all as void, or immaterial; (b) giả quán of all as unreal, transient, or temporal; (c) trung quán as the via media inclusive of both. The Hoa Ngiêm group is chân không quán, lý sự vô ngại quán, chu biến hàm dung quán. The Nam Sơn group is tính không quán, tướng không quán, duy thức quán. The Từ Ân group is hữu quán, không quán, and trung quán.
; Không quán, giả quán, trung quán, do Thiên thai tông kiến lập.
; Theo tông Thiên Thai, có ba loại quán—According to the T'ien-T'ai sect, there are three contemplations (meditations). 1) Quán chân không lìa tướng: The meditation (contemplation) of true emptiness that cuts off marks. 2) Quán lý sự vô ngại: The meditation (contemplation) of the non-obstruction between noumena and phenomena. 3) Quán sự sự vô ngại: The meditation of pervasive inclusiveness—The meditation of non-obstruction between phenomena and phenomena.
tam quán đảnh
Three kinds of baptism—See Tam Chủng Quán Đảnh.
tam quí, ba mùa
The "three seasons" of an Indian year - spring, summer, and winter; a year.
tam quý
Three seasons in India (Spring, Summer and Winter).
tam quĩ
The three rules of the Thiên Thai Lotus school: (a) chân tính quĩ the absolute and real, the chân như or bhùtatathatà;(b) quán chiếu quĩ meditation upon and understanding of it; (c) tư thành quĩ the extension of this understanding to all its workings. In the tam quĩ hoằng kinh the three are traced to the Pháp sư phẩm of the Lotus Sùtra and are developed as: (a) từ bi thất (vào nhà từ bi) the abode of mercy, or to dwell in mercy; (b) nhẫn nhục y (mặc giáp nhẫn nhục) the garment of endurance, or patience under opposition; (c) pháp không tòa (ngồi tòa tánh không) the throne of immateriality (or spirituality), a state of nirvàna tranquility. Mercy to all is an extension of tư thành quĩ, patience of quán chiếu,and nirvàna tranquility of chân tính quĩ.
Tam quả
三果; C: sānguǒ; J: sanka;|1. Là quả vị thứ ba của bốn thánh quả (Tứ quả 四果) được dạy trong Tiểu thừa: quả vị Bất Hoàn (不還), hoặc ba quả vị đầu của Tứ quả; 2. Ba loại hậu quả hoặc ba loại (cách) tái sinh; 3. Trong Thiên Thai tông, đây là quả vị của Tạng (藏, với ý nghĩa Đại tạng), Thông (通) và Biệt (別).
tam quả
Ba quả báo và bốn nhân khiến cho đứa trẻ sanh vào một gia đình nào đó—Three consequences associated with the causes for a child to be born into a certain family: 1) Hiện báo: Current requital—Những tạo tác thiện ác sẽ có quả báo lành dữ ngay trong đời nầy—Transgressions and wholesome deeds we perform, we will receive misfortunes or blessings in this very life. 2) Sanh báo: Birth requital—Những tạo tác thiện ác của đời nầy sẽ có quả báo lành dữ của đời sau—Transgressions and wholesome deeds we perform in this life, we will receive the good or bad results in the next life. 3) Hậu báo: Future requital—Những tạo tác thiện ác đời nầy sẽ có quả báo lành dữ, không phải ngay đời sau, mà có thể là hai, ba, hoặc bốn, hoặc trăm ngàn hay vô lượng kiếp đời sau—Transgressions or wholesome deeds we perform in this life, we will not receive good or bad results in the next life; however, good or bad results can appear in the third, fourth or thousandth lifetime, or until untold eons in the future.
Tam Quốc
(三國): 3 nước phân chia thiên hạ làm ba phần và cạnh tranh lẫn nhau vào thế kỷ thứ 3, gồm nhà Ngụy (魏, 220-265) chiếm cứ lưu vực Hoàng Hà (黃河), nhà Ngô (呉, 222-280) hùng cứ hạ lưu Dương Tử Giang (揚子江) và nhà Thục (蜀, 221-263) chiếm lĩnh thượng lưu Dương Tử Giang. Nó còn là tên gọi thời đại Tam Quốc.
Tam quốc di sự
三國遺事; C: sānguó wèishì; J: sankoku yuiji;|Một tác phẩm bao gồm năm quyển của Cao tăng Hàn quốc Nhất Nhiên (一然; k: iryǒn, 1206-1289), với những mẩu chuyện nói về sự truyền bá và phát triển đạo Phật tại Hàn quốc, đặc biệt chú trọng đến thời kì Tam quốc và Tân La. Tác phẩm này là nền tảng của việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Hàn quốc, đã được dịch sang Anh ngữ năm 1972.
tam quốc di sự
(三國遺事) Tác phẩm, 5 quyển, do vị tăng người Cao li là Nhất thiên (1206-1289) soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Nội dung sách này ghi chép các truyền thuyết dân gian được truyền tụng ở 3 nước Triều tiên (Tân la, Cao cú li và Bách tế) mà trước đó chưa sách nào ghi chép. Trước tác phẩm này 150 năm đã có bộ Tam quốc sử kí lưu hành ở đời. Sách này do thu chép các kí sự và truyền thừa đời xưa còn thiếu trong Tam quốc sử kí mà thành. Trong sách này bao gồm nhiều tư liệu Phật giáo, ca dao đời cổ ở Tân la, những truyện về Đàn quân, truyền thuyết khai quốc của Giá lạc... tất cả 5 quyển gồm 9 môn. Đầu quyển có Tam quốc niên biểu, quyển 1 làKỉ dị(ghi chép các truyện khác lạ) quyển 2 là phần tiếp tục quyển 1, quyển 3 có các mục Hưng pháp, Tháp tượng, quyển 4 là phần Nghĩa giải, quyển 5 gồm các mục Thần chú, Cảm thông,Tị ẩn, Hiếu thiện... Sách này là 1 trong những sử liệu quan trọng của Triều tiên sử cổ đại và Phật giáo sử. Về cách chia khoa và thể lệ thì sách này chịu ảnh hưởng Lương cao tăng truyện của Trung quốc.
tam quốc phật pháp truyện thông duyên khởi
(三國佛法傳通緣起) Tác phẩm 3 quyển, do ngài Ngưng nhiên, người Nhật bản soạn vào năm 1311. Nội dung sách này lược thuật về thông sử Phật giáo do các tông truyền bá ở 3 nước Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Quyển thượng trình bày khái quát về tình hình truyền thông Phật pháp ở Ấn độ, kế đó nêu ra 13 tông như Tì đàm, Thành thực, Luật... ở Trung quốc; quyển trung và quyển hạ thì nói về sự lưu truyền của các tông Tam luận, Pháp tướng, Hoa nghiêm... ở Nhật bản. [X. Chư tông chương sớ lục Q.2].
tam quốc truyện ký
(三國傳記) Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Huyền đống, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 148.Nội dung sách này ghi chép rộng rãi về các nhân duyên tạp sự, sự thực lịch sử nổi tiếng, các truyền thuyết quí lạ... của Phật giáo tại 3 nước Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản, bắt đầu từ đức Thích ca Như lai xuất hiện, Khổng tử ra đời, Thái tử Thánh đức đản sinh... tất cả gồm 357 điều.
tam quỹ
Three sources of cultivation. 1) Từ Bi: Compassion and pity—See Từ Bi in Vietnamese-English Section. 2) Nhẫn Nhục: Patience—See Nhẫn Nhục, and Nhẫn Nhục Ba La Mật in Vietnamese-English Section. 3) Pháp Không: The emptiness or unreality of all things—See Pháp Không in Vietnamese-English Section.
; (三軌) I. Tam Quĩ. Ba thứ quĩ phạm(khuôn phép để noi theo). Khi giải thích chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, tông Thiên thai có nói về 10 Diệu, trong đó có Tam pháp diệu chính là Tam quĩ. Đó là: 1. Chân tính quĩ: Tính chân lí không hư dối, không thay đổi, tức là chân như thực tướng. 2. Quán chiếu quĩ: Tác dụng của trí tuệ có năng lực phá trừ mê tình, hiển bày chân lí. 3. Tư thành quĩ: Muôn hạnh giúp thành trí dụng(tác dụng của trí tuệ) quán chiếu. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, hạ; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.11]. II. Tam Quĩ. Chỉ cho 3 thứ quĩ phạm của người hoằng bá, lưu truyền kinh pháp, đó là nhà từ bi, áo nhẫn nhục và tòa pháp không, gọi chung là Y tòa thất tam quĩ. Vì lòng từ bi cứu khổ ban vui giống như mái nhà che chở chúng sinh, hạnh nhẫn nhục như chiếc áo ngăn ngừa phiền não ác chướng của chúng sinh, tất cả các pháp không như tòa ngồi để tự an ổn và làm cho chúng sinh an ổn. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.8, thượng]. (xt. Y Tòa Thất Tam Quĩ).
Tam sanh
(三生): ba đời, đời trước, đời này và đời sau. Trong dân gian Trung Quốc có câu ngạn ngữ “tam sanh hữu hạnh (三生有幸, ba đời gặp may)”, vốn xuất phát từ câu chuyện của vị cao tăng thời nhà Đường. Lúc bấy giờ, có một Hòa Thượng hiệu là Viên Trạch (圓澤), thông hiểu kinh luận, thâm giao với Lý Nguyên Thiện (李源善). Có hôm nọ, hai người cùng đi ngao du sơn thủy, đến địa phương nọ, chợt thấy một người phụ nữ đang múc nước bên bờ sông, bụng người đó rất lớn, đang mang thai. Viên Trạch đưa tay chỉ người phụ nữ ấy bảo với Lý Nguyên Thiện rằng: “Người ấy mang thai đã ba năm rồi, đang chờ ta chết đi đầu thai vào. Nay gặp bà ấy, ta chẳng biết dùng biện pháp nào để tránh được đây ? Ba ngày sau, khi người phụ nữ ấy sanh con xong, đúng lúc ấy mong người hãy đến nhà bà ta xem thử, như quả thật đứa hài nhi nhìn người mà nở nụ cười, đó chính là ta. Hãy lấy nụ cười đó làm bằng chứng nhé ! Đợi đến mười ba năm sau, vào đêm trăng Trung Thu, ta sẽ chờ người tại Thiên Trúc Tự (天竺寺), Hàng Châu (杭州). Lúc ấy chúng ta lại gặp nhau nhé !” Sau khi hai người chia tay, quả nhiên đêm ấy Viên Trạch viên tịch; đồng thời người phụ nữ kia cũng hạ sanh một hài nhi. Ba hôm sau, nhớ lời dặn của Viên Trạch, Lý Nguyên Thiện đến nhà người phụ nữ kia xem thử hư thực thế nào, và quả nhiên đứa bé nhìn ông nở nụ cười. Vào một đêm trăng sáng Trung Thu của mười ba năm sau, Lý Nguyên Thiện tìm đến Thiên Trúc Tự. Vừa đến cổng chùa, ông thấy có một chú mục đồng ngồi trên lưng trâu, nghêu ngao hát câu: “Tam sanh thạch thượng cựu tình hồn, thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân, tàm quý tình nhân viễn tương phỏng, thử thân tuy dị tánh thường tồn (三生石上舊情魂、賞月吟風不要論、慚愧情人遠相訪、此身雖異性常存, ba đời trên đá tình cũ hồn, trăng ngắm gió ngâm chẳng luận bàn, hổ thẹn người xưa xa đến viếng, thân này tuy khác tánh vẫn còn).” Vì vậy, hiện tại người ta thường dùng câu “tam sanh hữu hạnh” để tỷ dụ cho trường hợp có duyên phận rất đặc biệt; hay bạn bè do một cơ duyên ngẫu nhiên nào đó gặp nhau và trở thành tri kỷ. Câu “đản ước bách niên hảo hợp, tam sanh hương hỏa hữu dư duyên (但約百年好合、三生香火有餘緣)” có nghĩa là chỉ ước mong sao trăm năm hòa hợp chung sống với nhau, nay ba năm lo phụng thờ hương khói, dầu đã mãn tang nhưng vẫn còn duyên phận với nhau hoài.
tam sanh
(三生) I. Tam Sinh. Chỉ cho Tiền sinh, Kim sinh, Hậu sinh. 1. Tiền sinh(cũng gọi Tiền thế, Túc thế): Đời sống ở quá khứ. 2. Kim sinh(cũng gọi Hiện thế, Hiện sinh): Đời sống ở hiện tại. 3. Hậu sinh(cũng gọi Hậu thế, Lai thế, Lai sinh): Đời sống trong vị lai. II. Tam Sinh. Gọi đủ: Tam sinh thành Phật. Chúng sinh nhờ thấy và nghe, hiểu và làm, chứng và vào mà trong 3 đời được Viên thành Phật đạo. Đây là giáo nghĩa của tông Hoa nghiêm. (xt. Tam Sinh Thành Phật).
tam sanh lục thập kiếp
(三生六十劫) Ba đời sáu mươi kiếp. Đây là thời gian mà người tu Thanh văn thừa phải trải qua. Tức là tu quán 16 hành tướng của Tứ đế, dứt hết phiền não trong 3 cõi, chứng được quả A la hán thì nhanh nhất là 3 đời, mà chậm nhất là 60 kiếp. Trong 3 đời thì đời thứ nhất là tính tập tư lương Ngũ đình tâm và Tổng, Biệt niệm trụ... gieo trồng căn lành thuận với Giải thoát phần, đời thứ hai thì nương vào định Vị chí mà phát khởi trí tuệ thuận với Quyết trạch phần, đời thứ ba nương vào định Căn bản, một lần nữa, phát khởi trí tuệ thuận với Quyết trạch phần để vào Kiến đạo. Cũng có thuyết cho rằng đời thứ ba mới phát khởi trí tuệ thuận với Quyết trạch phần. Lí do của việc Thanh văn chứng quả nhập đạo có nhanh có chậm là vì căn cơ có lợi có độn khác nhau. Tuy nhiên, về vấn đề này, các luận thuyết nói không đồng nhất, như Ngũ giáo chương thông lộ kí quyển 41 và Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ quyển 4 đều chủ trương 3 đời là lợi căn, 60 kiếp là độn căn; còn Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 2, Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập quyển 21 và Câu xá luận quang kí quyển 23 thì, ngược lại, chủ trương chậm là lợi căn, nhanh là độn căn, lí do là vì người lợi căn mới kham nổi việc tu hành lâu dài, như đức Phật đã trải qua thời kỳ tu hành trong 3 tăng kì trăm đại kiếp! [X. luận Đại tì bà sa Q.7, 31; luận Du già sư địa Q.21, luận Hiển dương thánh giáo Q.7; Tam đại bộ bổ chú Q.8 (Tòng nghĩa)]. (xt. Tam Tăng Kì Bách Đại Kiếp).
tam sanh thành phật
(三生成佛) Gọi tắt: Tam sinh. Trải qua 3 đời tu hành có thể thành Phật. Thuyết này do Ngài Trí nghiễm, Tổ thứ 2 của tông Hoa nghiêm đề xướng, ngài Pháp tạng tập đại thành. 1. Kiến văn sinh(cũng gọi Kiến văn vị): Quán tưởng thấy cảnh giới Phật, Pháp, Tăng bảo, thiện hữu, kinh điển trong Biệt giáo Nhất thừa của Hoa nghiêm, nghe giáo pháp do Như lai nói và giáo môn do thiện hữu tăng bảo chỉ dạy, huân tập thành chủng tử vô tận vô ngại để thành tựu thiện pháp của Giải thoát phần. 2. Giải hành sinh(cũng gọi Giải hành vị): Trước được thấy nghe cảnh giới Nhất thừa, nhờ đó pháp lực được huân tập, xả bỏ thân trói buộc, cảm được sự thắng giải của Nhất thừa pháp giới, thành tựu viên mãn đại hạnh tự hành. 3. Chứng nhập sinh (cũng gọi Chứng quả sinh, Chứng nhập vị, Chứng quả hải vị): Hành giải đã trọn đủ, chứng được quả Phật bồ đề, tức thành tựu diệu quả viên mãn cùng tột. Trong Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 2, Tam sinh thành Phật được giải thích rộng như sau: 1. Kiến văn sinh: Chúng sinh trong 8 nạn ở đời trước, thấy nghe chính pháp kinh Hoa nghiêm, chẳng những không tin nhận mà còn hủy báng, vì thế bị quả báo 8 nạn, đọa trong địa ngục, chịu các khổ cực. Sau, được đức Như lai phóng ánh sáng công đức thanh tịnh từ luân tướng dưới lòng bàn chân chiếu rọi đến, nhờ hạt giống lành thấy nghe kinh Hoa nghiêm ở đời trước, liền được thoát khổ địa ngục, sinh lên cõi trời Đâu suất, được thành đạo, chỉ nội trong 1 đời vượt lên ngôi Thập địa. 2. Giải hành sinh: Đồng tử Thiện tài đầu tiên yết kiến bồ tát Văn thù ở Phúc thành, nhờ đó được khai phát và khởi tín giải, bồ tát Văn thù bảo Thiện tài đi tham vấn các vị thiện tri thức khác và đi tới đâu cũng được chỉ bày pháp môn tu hành. Cuối cùng, đồng tử Thiện tài tham kiến bồ tát Phổ hiền, ngài Phổ hiền chỉ bảo Thiện tài tu nhân đại nguyện rộng lớn của Bồ tát, viên mãn đạo quả vô thượng của chư Phật. 3. Chứng nhập sinh: Ngài Xá lợi phất bảo 6 nghìn vị tỉ khưu, đứng đầu là tỉ khưu Hải giác, quán tưởng vô lượng công đức của bồ tát Văn thù sư lợi, đầy đủ trang nghiêm, tin hiểu vững chắc, đính lễ ngài Văn thù, đồng thời cùng với ngài Xá lợi phất nói rằng nguyện được sắc thân tướng hảo như bồ tát Văn thù. Bấy giờ, bồ tát Văn thù khai thị diễn nói pháp Đại thừa cho các vị tỉ khưu nghe, khiến họ thành tựu niềm thâm tín, được đại trí tuệ, chỉ trong 1 đời, chứng nhập pháp giới. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Hoa nghiêm nhất thừa thành Phật diệu nghĩa; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.40].
Tam sinh
三生; C: sānshēng; J: sanshou;|Ba đời sống, ba kiếp sống. I. Kiếp sống trước, hiện tại và tương lai. II. Ba cấp bậc chính trong thời gian thực hiện Phật quả: 1. Phát nguyện, quyết định trở thành một Phật-đà; 2. Tu tập và tích luỹ công đức; 3. Chứng ngộ Phật quả, thành Phật. III. Ba cấp bậc (cuộc sống) được dạy trong tông Thiên Thai, cơ bản cũng như ba cấp bậc trước đây: 1. Chủng (種, cũng gọi là Phát tâm 發心); 2. Thục (熟, chín muồi, có thể gọi là Tu hành 修行) và 3. Giải thoát (解脱). VI. Ba cuộc sống theo Hoa Nghiêm tông: 1. Kiến văn sinh (見聞生), thấy và nghe Phật thuyết pháp trong kiếp sống trước đây; 2. Giải hành sinh (解行生), nghĩa là tu tập đạt giải thoát đời nay và 3. Chứng nhập sinh (證入生), tức là chứng ngộ và nhập đạo trong cuộc đời tương lai.
tam sinh
Trijāti (S), Tijāti (P).
; The three births, or reincarnations, past, present, future. Thiên Thai has: (a) Chủng planting the seed; (b) Thục ripening; (c) Giải thoát liberating, stripping, or harvesting, i.e. beginning, development and reward of bodhi, a process either gradual or instantaneous. Hoa nghiêm has: (a) Kiến văn sinh a past life of seeing and hearing Buddha-truth; (b) Giải hành sinh liberation in the present life; (c) Chứng nhập sinh realization of life in Buddhahood. This is also called Tam sinh thaành Phật Buddhahood in the course of three lives.
; Three generations (Past, present, and coming).
tam sinh thành phật
Three births to become a Buddha: 1) Kiến văn sinh: A past life of seeing and hearing Buddha-truth. 2) Giải hành sinh: Liberation in the present life. 3) Chứng nhập sinh: Realization of life in Buddhahood.
tam sám
(三懺) Chỉ cho 3 pháp sám hối. 1. Tác pháp sám: Thân lễ bái, miệng xưng niệm, ý tư duy, 3 nghiệp theo đúng pháp giãi bày tội lỗi, cầu xin sám hối. 2. Thủ tướng sám: Định tâm vận tưởng, ở trong đạo tràng, hoặc thấy Phật đến xoa đầu, hoặc thấy ánh sáng xuất hiện, hoặc thấy hoa bay, hoặc mộng thấy các tướng tốt lành, hoặc nghe tiếng trong hư không. Tùy theo các tướng ấy, hễ thấy được 1 tướng thì tội liền tiêu diệt. 3. Vô sinh sám: Tất cả tội nghiệp đều từ 1 niệm tâm tính không rõ mà sinh, nếu rõ tâm tính vốn không, tội phúc vô tướng thì hết thảy pháp đều rỗng lặng, tội cũng tiêu diệt. Ba pháp sám trên đây thì Tác pháp sám và Thủ tướng sám là Sự sám, còn Vô sinh sám thì là Lí sám. Lí sám là chính yếu, Sự sám là phụ trợ. Nếu chính trợ đều thực hành, Lí sự đều vận dụng thì không tội nào không diệt, không phúc nào không sinh.
tam sĩ giáo
(三士教) Tạng: Skyes-bu gsum. Cũng gọi Tam sĩ phu đạo, Tam trượng phu đạo luận. Chỉ cho Thượng sĩ giáo, Trung sĩ giáo và Hạ sĩ giáo, tức là giáo thuyết được chia theo 3 căn cơ thượng, trung, hạ của người (sĩ) tu hành. 1. Hạ sĩ giáo: Tức Nhân thiên thừa, tin thực có đời sau, quán xét sự vô thường của cái chết và nỗi khổ của ác thú, qui y Tam bảo, nói lí nghiệp quả, Thập thiện nghiệp đạo. 2. Trung sĩ giáo: Tức Nhị thừa giáo. Quán xét 4 đế khổ tập diệt đạo, lí pháp 12 nhân duyên, nói nghiệp và phiền não, luật nghi giới... 3. Thượng sĩ giáo: Tương đương với Đại thừa giáo, nói phát tâm Bồ đề, Lục độ, Tứ nhiếp sự... Giáo thuyết trên đây được nói trong luận Bồ đề đăng của ngài A đề sa, vị cao tăng người Ấn độ, được ngài Tông khách ba, nhà cải cách lớn của Phật giáo Tây tạng, tổ thuật trong tác phẩm Bồ đề đạo thứ đệ. Giáo thuyết này vốn do ngài A đề sa khởi xướng và ngài Tông khách ba kế thừa, nhưng quan điểm của 2 ngài có hơi khác nhau: Ngài A đề sa vì thích ứng với các căn cơ thượng, trung, hạ mà nói Tam sĩ giáo, còn ngài Tông khách ba thì nói Tam sĩ giáo làthứ tự tu hành mà 1 sĩ phu phải trải qua.Phái Cách lỗ cho rằng Tam sĩ giáo có 4 đặc sắc: 1. Có thể giải trừ các mâu thuẫn thấy trong giáo lí Phật giáo. 2. Tín thuận toàn bộ giáo pháp trong kinh Phật. 3. Dễ dàng hiểu rõ chính nghĩa của giáo pháp đức Phật. 4. Tránh được tội hủy báng chánh pháp. [X. Tây tạng Phật giáo nghiên cứu; Tây tạng (Đa điền Đẳng quán); A đề sa giáo học chi lịch sử đích vị trí (Phương thôn Tu cơ, Phật giáo sử học 2)].
Tam Sơn Đăng Lai
(三山燈來, Sanzan Tōrai, 1614-1685): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Vi Độ (葦度), hiệu Tam Sơn (三山), xuất thân Điếm Giang (墊江), Trùng Khánh (重慶, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Tằng (曾). Đi thi cử không đỗ, ông chuyên tâm nghiên cứu Thiền học, đọc say sưa bộ Cổ Âm Lục (古音錄) cũng như Bình Sơn Lục (平山錄) của Tụ Tuyết Xuy Phương Quảng Chơn (聚雪吹風廣眞) và muốn trở thành con cháu của Tụ Tuyết. Vào năm thứ 6 (1643) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), lúc 30 tuổi, ông theo xuất gia với Nam Triết Nhị (南浙二) ở Phí Nham Sơn (弔嵓山). Năm sau, ông đến trú tại Đông Minh Tự (東明寺) ở Trung Châu (忠州, Tỉnh Tứ Xuyên), rồi chuyển đến Thạch Phong (石峰), tham bái Khánh Trung Thiết Bích Huệ Cơ (慶忠鐵壁慧機), nhưng chẳng khế ngộ, nên ông quay về đất Thục. Đến năm thứ 5 (1648) niên hiệu Thuận Trị (順治), lúc 35 tuổi, ông trở về tham yết Huệ Cơ lần thứ hai. Vào năm thứ 11 (1654) cùng niên hiệu trên, ông viếng thăm Huệ Cơ ở Trung Nam Ngọc Ấn Sơn (忠南玉印山), kế thừa dòng pháp của vị này và đến trú tại Sùng Thánh Viện (崇聖院), Trung Châu. Sau đó, ông đã từng sống qua một số nơi khác như Hưng Long Viện (興龍院), Ngũ Vân Viện (五雲院) và Ngũ Vân Bổn Viện (五雲本院) ở Huyện Lương Sơn (梁山縣), Phủ Quỳ Châu (夔州府, Tỉnh Tứ Xuyên), Bàn Thạch Sơn Đàm Hoa Viện (磐石山曇華院) ở Huyện Vân Dương (雲陽縣), Phủ Quỳ Châu, Thiên Ninh Viện (天寧院) ở Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 18 tháng 7 năm thứ 24 (1685) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 43 hạ lạp. Tác phẩm của ông để lại có Tam Sơn Lai Thiền Sư Ngữ Lục (三山來禪師語錄) 16 quyển, Ngũ Gia Tông Chỉ Toản Yếu (五家宗旨纂要) 3 quyển, Cao Phong Tam Sơn Thiền Sư Sớ Ngữ (高峰三山禪師疏語) 3 quyển. Bên cạnh đó, ông có bản tự thuật về hành trạng và Tánh Thống (性統) soạn bản Niên Phổ.
tam sư
Ba loại thầy trong Phật giáo—Three kinds of teachers in Buddhism. 1) Luật Sư: Teacher of Vinaya. 2) Pháp Sư: Teacher of doctrine. 3) Thiền Sư: Teacher of the Intuitive school.
tam sư thất chúng
See Tam Sư Thất Chứng.
tam sư thất chứng
The three superior monks and a minimum of seven witnesses required for an ordination to full orders; except in outlandish places, when two witnesses are valid.
; Trong nghi thức truyền giới đầy đủ hay đại giới đàn phải có sự chứng minh của ba vị Tăng cao tuổi Hạ và bảy người chứng—For a full ordination or triple platform ordination, it is required three superior monks and a minimum of seven witnesses, except in outlandish places, two witnesses are valid. Witnesses are usually monks. (A) Tam sư gồm A xà lê, Giáo thọ và Hòa thượng trụ trì—Three superior monks include the Dharma master, the teaching spiritual advisor, and the most venerable (head of the ceremony). (B) Thất chứng gồm bảy vị sư: Seven witnesses include seven venerables
; (三師七證) Cũng gọi Thập sư, Thập tăng. Tam sư là 3 vị thầy, Thất chứng là 7 vị chứng minh. Chỉ cho số Giới sư phải có đủ trong giới tràng khi truyền giới Cụ túc cho tỉ khưu. Tam sư gồm: 1. Giới hòa thượng: Chỉ cho Hòa thượng chính trao truyền giới luật, vị này là gốc, là chỗ qui hướng để tỉ khưu được giới, cho nên phải chí thành cung thỉnh 3 lần. Người đảm nhiệm chức vị này phải có từ 10 hạ trở lên, là người nghiêm trì giới luật, đầy đủ trí tuệ, có khả năng dạy bảo đệ tử. 2. Yết ma sư: Vị A xà lê đọc văn Yết ma, chủ trì nghi thức bạch tứ Yết ma truyền giới. Yết ma sư là nhân duyên chính cho việc thụ giới của tỉ khưu; nếu không có Yết ma sư vâng theo thánh pháp thì pháp lành trong pháp giới không từ đâu sinh khởi. Người lãnh trách nhiệm này phải có từ 5 hạ trở lên. 3. Giáo thụ sư: Người dạy về uy nghi tác pháp, hương dẫn, mở đường hiểu biết cho các giới tử. Giáo thụ sư cũng phải có từ 5 hạ trở lên. Còn Thất chứng sư thì chỉ cho 7 vị tỉ khưu họp lại để chứng minh cho việc thụ giới. Tam sư thất chứng đều phải được cung thỉnh trước khi cử hành nghi thức thụ giới. Tại Ấn độ cũng như Trung quốc, ở những khu vực trung quốc (nơi trung tâm văn hóa), Phật giáo thịnh hành hơn, dân chúng cũng đông đúc, chư tăng cũng có nhiều nên mới qui định Thập sư; còn những nơi biên quốc hẻo lánh thì chỉ cần Ngũ sư, tức Tam sư nhị chứng là được, gọi là Trung thập biên ngũ. Nhưng khi thụ Ngũ giới thì chỉ cần 1 vị Hòa thượng, khi thụ Thập giới thì cần 1 vị Hòa thượng và 1 vị Yết ma sư là được. Ngoài ra, pháp Thỉnh sư thụ giới Bồ tát Đại thừa nói trong Thụ bồ tát giới nghi của ngài Trạm nhiên khác với phép Thỉnh sư nói trong luật Tứ phần trình bày ở trên. Tức thỉnh đức Thích ca Như lai làm Giới hòa thượng, bồ tát Văn thù làm Yết ma sư và bồ tát Di lặc làm Giáo thụ sư, hết thảy Như lai làm Tôn chứng sư, tất cả Bồ tát làm bạn đồng học; nhưng trên thực tế thì chỉ có 1 vị Truyền giới sư đảm nhiệm việc giáo thụ. [X. kinh Tì ni mẫu Q.1; luật Tứ phần Q.31; luật Ngũ phần Q.17; luật Ma ha tăng kì Q.24]. (xt. Trung Quốc).
tam sắc
The three kinds of rùpa, or form-realms: the five organs (of sense), their objects, and invisible perceptions, or ideas.
; Three kinds of rupa—See Sắc (B).
; (三色) I. Tam Sắc. Chỉ cho 3 loại sắc pháp. 1. Ngũ căn: Tức 5 sắc căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. 2. Ngũ cảnh(cũng gọi Ngũ trần). Tức là 5 cảnh giới: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. 3. Vô biểu sắc(cũng gọi Vô tác sắc). Chỉ cho thế dụng của các hành vi(nghiệp)huân tập nơi thân thể, là các thói quen vô thức, mặc dù không biểu hiện ra ngoài, nhưng là nhân chiêu cảm quả báo, nương vào thân thể mà tồn tại. [X. luận Đại tì bà sa Q.140; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Ngũ Căn, Ngũ Cảnh, Vô Biểu Sắc). II. Tam Sắc. Gọi đủ: Tam chủng sắc. 1. Hiển sắc: Sắc rõ ràng trông thấy được, như vàng xanh đỏ trắng, sáng tối, khói mây, bụi sương mù, hư không... 2. Hình sắc: Có các hình tướng trông thấy được, như dài ngắn, vuông tròn, to nhỏ, cao thấp... 3. Biểu sắc: Những việc sở hành có tướng tương đối biểu hiện ra ngoài có thể trông thấy, như đi đứng ngồi nằm, co duỗi, lấy bỏ... [X. luận Ngũ uẩn; Tam tạng pháp số Q.11]. III. Tam Sắc. Chỉ cho 3 loại sắc nói trong Tam tạng pháp số quyển 13, đó là: 1. Khả kiến hữu đối sắc: Tất cả các sắc trần, mắt thấy được(khả kiến), có đối ở trước. 2. Bất khả kiến hữu đối sắc: Chỉ cho 5 căn 4 trần. 3. Bất khả kiến vô đối sắc: Chỉ cho Vô biểu sắc. Ý thức duyên theo cảnh đã thấy trong quá khứ, gọi là Lạc tạ(tàn lụi).[X. kinh Tạp a hàm Q.13, luận Tập dị môn túc Q.3].
tam sở y
(三所依) Cũng gọi Tam chủng sở y. Ba chỗ nương, tức chỉ cho Nhân duyên, Tăng thượng duyên và Đẳng vô gián duyên. Ba loại duyên này là chỗ nương của tâm và tâm sở khi sinh khởi tác dụng. Đây là giáo nghĩa của tông Pháp tướng. 1. Nhân duyên y (Phạm: Hetupratyaya), cũng gọi Chủng tử y, Căn bản y. Chỉ cho chủng tử trong thức A lại da thứ 8 (Sở y) làm nhân duyên trực tiếp sinh ra tâm và tâm sở. Nhân duyên y là chỗ nương chung cho tất cả pháp hữu vi, còn Chủng tử y thì chỉ giới hạn cho chủng tử. 2. Tăng thượng duyên y (Phạm: Adhipati-pratyaya), cũng gọi Câu hữu y, Câu hữu sở y. Chỉ cho các duyên đồng thời tồn tại với tâm và tâm sở, vừa làm chỗ nương vừa cung cấp năng lực cho tâm, tâm sở để sinh khởi tác dụng. Như 5 căn mắt, tai... chính là Tăng thượng duyên y. Duyên này được chia làm 4 y: a. Đồng cảnh y: Năm thức trước lấy 5 căn làm Đồng cảnh y. b. Phân biệt y: Chỉ cho thức thứ 6, vì Ý thức thứ 6 có phân biệt nên gọi là Phân biệt y. c. Nhiễm tịnh y: Chỉ cho thức Mạt na thứ 7. Sự nhiễm ô và thanh tịnh của các thức đều lấy thức Mạt na làm chỗ nương. d. Căn bản y: Chỉ cho thức A lại da thứ 8. Thức này là gốc sinh khởi các thức. Trong đó, 5 thức trước có đủ cả 4 y, thức thứ 6 có Nhiễm tịnh y và Căn bản y, thức thứ 7 chỉ có Căn bản y, thức thứ 8 lấy Nhiễm tịnh y làm Câu hữu y. Nhưng, ngài Hộ pháp cho rằng sự khác nhau giữa Sở y và Y là ở chỗ Y là chung cho tất cả pháp hữu vi, còn Sở y thì chỉ hạn cuộc ở 6 căn. Từ đó về sau, các nhà phần nhiều cho đó là chính nghĩa. 3. Đẳng vô gián duyên y (Phạm: Samanantara-pratyaya), cũng gọi Khai đạo y. Chỉ cho ý căn của niệm trước diệt đi, nhường chỗ cho tâm và tâm sở của niệm sau sinh khởi, không gián đoạn. Đẳng vô gián duyên trong 4 duyên thì chung cho các tâm sở, còn Khai đạo y thì chỉ hạn cuộc ở tâm vương. [X. luận Du già sư địa Q.1; luận Thành duy thức Q.4; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4, phần cuối; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần cuối].(xt. Khai Đạo Y).
tam sứ
The three (divine) messengers - birth, sickness, death. Also thiên sứ.
Tam sự
三事; C: sānshì; J: sanji;|Có nhiều cách phân loại: 1. Giới, định và huệ; 2. Tham, sân, si; 3. Uống, ăn và quần áo (ẩm, thực, y phục 飲食衣服); 4. Kinh, luật, luận.
tam sự giới
The commands relating to body, speech andmind.
; Giới liên hệ tới thân, khẩu và ý—The commands relating to body, speech and mind (thân khẩu và ý).
; (三事戒) Chỉ cho 3 thứ tịnh giới: Thân giới, Ngôn giới và Ý giới nói trong kinh Đại bảo tích quyển 117. 1. Thân tịnh giới: Thân thụ các giới, không thiếu sót, hủy phạm. 2. Ngôn tịnh giới: Tất cả lời nói đều chân thật, không nịnh hót, lừa gạt. 3. Ý tịnh giới: Trừ bỏ ác ý, xa lìa tham dục.
tam sự nhân thắng chư thiên
(三事人勝諸天) Có 3 việc mà cõi người hơn cõi trời theo luận Đại tì bà sa quyển 172. Đó là: 1. Năng dũng mãnh: Các trời đam mê vui sướng, không chịu tiến tu nữa; còn loài người tuy không trông thấy quả ở đương lai, nhưng lại chịu khó tiến tu không biếng nhác, dũng mãnh hơn các trời.2. Năng ức niệm: Các trời mê đắm dục lạc, tuệ tính thường mờ tối, còn loài người có khả năng ghi nhớ những việc làm và lời nói rất lâu, phân biệt rõ ràng, thường không quên mất, nhớ dai hơn các trời. 3. Năng phạm hạnh: Các trời say đắm thú vui, không tu thiện nghiệp thêm nữa; con người khi mới phát tâm, thường vun trồng gốc lành thù thắng, thụ trì giới luật, hành nghiệp thanh tịnh, phạm hạnh hơn các trời.
tam sự nạp
A term for a monk's robe of five, seven, or nine patches.
tam sự tính tướng
Xem Tam tính.
tam sự vô tận
(三事無盡) 1. Bố thí vô tận: Bồ tát thích bố thí, cho đến bố thí cả thân mệnh mà tâm cũng không chán bỏ. 2. Trì giới vô tận: Bồ tát hộ trì giới cấm, chưa hề trái phạm, thấy người phạm giới thì thương tiếc xót xa, thấy người giữ giới thì tôn trọng quí kính, lại dùng giới pháp giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, tâm không chán mệt. 3. Bác văn vô tận: Bồ tát muốn giáo hóa chúng sinh, nghe nhiều học rộng tất cả kinh điển, thậm chí luyện tập các nghệ thuật thế gian mà tâm không bao giờ mỏi mệt chán nản.
Tam Tai
(三災): ba loại tai ách, gồm tiểu tam tai và đại tam tai, còn gọi là Tam Tai Kiếp (三災刼). Thế giới nương theo 4 thời kỳ: Thành Kiếp (成刼, thời kỳ thành lập), Trụ Kiếp (住刼, thời kỳ tồn tục), Hoại Kiếp (壞刼, thời kỳ hoại diệt) và Không Kiếp (空刼, thời kỳ trống không) mà tuần hoàn vô cùng tận, không ngừng nghỉ. Trong đó, chúng hữu tình xuất hiện ở thời kỳ nhất định của Trụ Kiếp; đến thời kỳ cuối cùng của Hoại Kiếp thì thế giới hoàn toàn bị hoại diệt. Trong hai thời kỳ Trụ và Hoại, có 3 loại tai ách xảy ra. Theo thuyết của Câu Xá Luận (倶舍論) quyển 12 có (1) Tiểu Tam Tai (小三災): Trụ Kiếp chia thành 20 thời kỳ, tuổi thọ của loài hữu tình từ 80.000 đến 10 tuổi, tăng giảm lui tới khoảng 20 lần, phát sanh 3 loại tai ách như nạn đao binh chém giết lẫn nhau, tai họa dịch bệnh, nạn đói kém, v.v. (2) Đại Tam Tai (大三災): Hoại Kiếp chia thành 20 thời kỳ, nơi kiếp cuối cùng thế giới bắt đầu hoại diệt và dẫn đến thiên tai như về lửa (phá hoại Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Nhất), nước (cho đến Cõi Thiền Thứ Hai) và gió (hoại diệt cho đến Cõi Thiền Thứ Ba). Như vậy 3 tai ách về lửa, nước và gió được gọi là Kiếp Hỏa (刼火), Kiếp Thủy (刼水) và Kiếp Phong (刼風). Sự phát sanh Tam Tai này theo thứ tự nhất định, nghĩa là trước hết tai ách về lửa hoại diệt 10 lần, sau đó đến tai ách về nước hoại diệt 1 lần, cứ tuần hoàn như vậy trải qua 7 lần, rồi lại bị tai ách về lửa hoại diệt 7 lần nữa và cuối cùng là sự hoại diệt của tai ách về gió. Theo Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 1 cho biết: (1) Tiểu Tam Tai có tai ách đói kém (tuổi thọ con người từ 84.000 tuổi, mỗi 100 năm giảm xuống 1 tuổi, cho đến khi còn 30 tuổi thì nảy sinh hạn hán lớn không có mưa, cỏ cây không mọc được, trên đời vô số người chết vì đói khát); tai ách dịch bệnh (tuổi thọ con người giảm xuống còn 20, các bệnh hoạn sinh khởi, trên đời vô số người chết vì dịch bệnh); và tai ách đao binh (khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10, mọi người bắt đầu đấu tranh lẫn nhau, tay cầm cỏ cây cũng thành đao gậy, tàn sát nhau và vô số người chết vì đao binh). (2) Đại Tam Tai có tai ách về lửa (vào thời Hoại Kiếp, đại địa và núi Tu Di dần dần băng hoại, nước của 4 biển lớn cũng từ từ cạn đi, Cõi Dục và Cõi Thiền Thứ Nhất đều bị cháy rụi, chẳng còn chút nào); tai ách về nước (từ Cõi Thiền Thứ Nhất trở xuống trải qua 7 lần bị hỏa tai, thế giới lại hình thành, đến thời Hoại Kiếp có trận mưa lớn, giọt mưa to như trục xe, nước từ trong lòng đất phun ra ồ ạt, từ Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Hai nước tràn đầy, tất cả đều bị hoại diệt); và tai ách về gió (từ Cõi Thiền Thứ Hai trở xuống trải qua 7 lần bị tai ách về nước, rồi thêm 7 lần bị tai ách về lửa, hoàn toàn tiêu diệt, cho đến khi thế giới được hình thành lại, đến thời Hoại Kiếp, có con gió mạnh dấy lên, và do nghiệp của chúng sanh đã hết, nên nơi nơi đều có gió, từ Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Ba đều bị thổi bay tung, quét sạch không còn gì cả).
tam tai
xem ba tai kiếp lớn.
; The three calamities; they are of two kinds minor tiểu tai and major đại tai. The minor appearing during a decadent world period, are sword đao binh tai, pestilence tật dịch tai, and famine cơ cẩn tai; the major, for world destruction, are fire hỏa tai, water thủy tai and wind phong tai.
; Three calamities or three final catastrophes: 1) Phong Tai: Storm—See Phong Tai. 2) Thủy Tai: Water—See Thủy Tai. 3) Hỏa Tai: Fire—See Hỏa Tai.
; (三灾) Cũng gọi Tam tai kiếp. Tam tai có 2 thứ là Tiểu tam tai và Đại tam tai. Thế giới tuần hoàn theo 4 chu kì là Thành kiếp(thời kì thành lập), Trụ kiếp(thời kì tồn tục), Hoại kiếp(thời kì phá hoại) và Không kiếp(thời kì rỗng không). Trong đó, loài hữu tình xuất hiện trong 1 thời kì nhất định ở Trụ kiếp, đến thời kì cuối cùng của Hoại kiếp thì thế giới hoàn toàn bị phá hoại. Trong Trụ kiếp và Hoại kiếp lần lượt xảy ra 3 tai ách. I. Theo thuyết của luận Câu xá quyển 12:1. Tiểu tam tai: Kiếp Trụ được chia làm 20 thời kì, tuổi thọ của loài hữu tình từ 8 vạn tuổi giảm dần xuống đến lúc còn 10 tuổi, lại tăng dần lên đến 8 vạn tuổi, cứ như thế tăng giảm lên xuống, lập đi lập lại khoảng 10 lần(đầu tiên là Kiếp giảm, cuối cùng là Kiếp tăng). Mỗi lần tuổi thọ con người giảm xuống đến còn 10 tuổi, thì xảy ra 1 tai ách, gồm có 3 thứ: Đao binh tai (dùng các thứ vũ khí giết hại lẫn nhau), Tật dịch tai(các loại bệnh dịch lưu hành) và Cơ cận tai(nạn hạn hán mất mùa đói kém)... gọi là Tiểu tam tai. 2. Đại tam tai: Hoại kiếp được chia làm 20 thời kì, vào thời kiếp cuối cùng thì thế giới bắt đầu hoại diệt và sinh ra thiên tai, gồm Hỏa tai(thiêu hủy từ cõi Dục đến các cõi trời Sơ thiền), Thủy tai(nước cuốn trôi và dâng lên đến các cõi trời Nhị thiền) và Phong tai(thổi bay tất cả cho đến các cõi trời Tam thiền). Sự phát sinh Đại tam tai theo 1 trình tự nhất định. Tức đầu tiên là Hỏa tai hủy diệt thế giới 7 lần, sau đó đến Thủy tai hủy diệt 1 lần; cứ như thế lập đi lập lại 7 lần, cuối cùng thì Phong tai thổi bay tất cả, thế giới không còn gì nữa, gọi là Đại tam tai. [X. kinh Chuyển luân vương tu hành trong Trường a hàm Q.6; phẩm Tam tai trong kinh Trường a hàm Q.21; kinh Khởi thế Q.9; kinh Đại lâu thán Q.5; kinh Ưu bà tắc giới Q.7; luận Đại tì bà sa Q.13; Câu xá luận quang kí Q.12]. (xt. Kiếp). II. Theo thuyết trong Pháp uyển châu lâm quyển 1. 1. Tiểu tam tai: a. Cơ cận tai: Nạn đói kém. Con người thọ 8 vạn 4 nghìn tuổi, cứ mỗi trăm năm giảm đi 1 tuổi, cho đến khi giảm xuống còn 30 tuổi thì hạn hán xảy ra, trời không mưa, cây cỏ không mọc, vô lượng nhân dân trong thế gian chết vì đói kém. b. Tật dịch tai: các loại bệnh dịch lưu hành. Khi tuổi thọ con người giảm xuống đến còn 20 tuổi thì các chứng bệnh dịch xảy ra, vô lượng nhân dân ở thế gian phải chết.c. Đao binh tai: Khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10 tuổi thì xảy ra chiến tranh, mọi người dùng dao gậy đánh chém, tàn sát lẫn nhau, vô lượng nhân dân ở thế gian chết vì chiến tranh. 2. Đại tam tai: a. Hỏa tai: Đến kiếp hoại, có 7 mặt trời xuất hiện, mặt đất và núi Tu di dần dần sụp đổ, nước 4 biển lớn cạn hết, cõi Dục và các cõi trời Sơ thiền đều bị cháy tiêu, không sót 1 vật. b. Thủy tai: Từ cõi trời Sơ thiền trở xuống bị lửa thiêu hủy 7 lần, thế giới lại thành, vào thời kiếp Hoại, dần dần có mưa lớn, hạt nước to bằng bánh xe, lại thêm thủy luân dưới đất phun vọt lên, từ cõi Dục đến các tầng trời Nhị thiền đều bị nước tràn ngập, tất cả đều hoại diệt, như hạt muối tan trong biển nước. c. Phong tai: Từ cõi trời Nhị thiền trở xuống trải qua 7 lần thủy tai, rồi lại trải qua 7 lần hỏa tai phá hủy cõi thế gian, đến khi thế giới hình thành trở lại, rồi vào thời kiếp Hoại, từ phía dưới phong luân có gió mạnh nổi lên, cộng thêm với nghiệp lực của chúng sinh đã hết nên mọi nơi đều nổi gió, từ cõi Dục cho đến các tầng trời Tam thiền thảy đều bị thổi bay, hết sạch không sót 1 vật gì. [X. luận Du già sư địa Q.2].
tam tam muội
Trayah-samadhayah (S).
; The three samadhis or the samadhi on the three subjects: 1) Không tam muội: Thẩm định về lẽ không—To empty the mind of the ideas of me and mine and suffering, which are unreal. 2) Vô tướng tam muội: Thẩm định về lẽ không có tướng—To get rid of the idea of form, or externals. 3) Nguyện tam muội: Thẩm định về lẽ không nguyện cầu—To get rid of all wish or desire.
; (三三昧) Phạm: Traya# samàdhaya#. Pàli:Tayo samàdhì. Cũng gọi Tam tam ma địa, Tam đẳng trì, Tam định. Chỉ cho 3 loại Tam muội. 1. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 16 thì 3 loại Tam muội là: a). Không tam muội (Phạm: Sùnyatàsamàdhi): Quán xét hết thảy các pháp đều rỗng không, là Tam muội tương ứng với 2 hành tướng Không và Vô ngã của Khổ đế, quán các pháp do nhân duyên sinh, ngã và ngã sở đều là không. b). Vô tướng tam muội (Phạm: Animitta-samàdhi): Tức tất cả các pháp đều không tưởng niệm, cũng không thể thấy, là Tam muội tương ứng với 4 hành tướng diệt, tĩnh, diệu, li của Diệt đế. Niết bàn lìa 5 pháp sắc thanh hương vị xúc, 2 tướng nam, nữ và 10 tướng của 3 tướng hữu vi, cho nên gọi là Vô tướng. c). Vô nguyện tam muội (Phạm: Apraịihita-samàdhi), cũng gọi Vô tác tam muội; Vô khởi tam muội. Nghĩa là đối với tất cả các pháp không có mong cầu gì, là Tam muội tương ứng với 2 hành tướng khổ và vô thường của Khổ đế, với 4 hành tướng nhân, tập, sinh, duyên của Tập đế. Các pháp vô thường, khổ, nhân... đều đáng chán xa, cho nên đạo như thuyền bè cần phải xả bỏ, vì thường xuyên theo định ấy nên có tên là Vô nguyện. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.25 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.104; luận Câu xá Q.28; luận Thành duy thức Q.8; Câu xá luận quang kí Q.28]. 2. Theo luận Câu xá quyển 28 thì 3 loại Tam muội là: a). Hữu tầm hữu tứ tam ma địa(cũng gọi Hữu giác hữu quán tam muội): Đẳng trì tương ứng với Tầm, Tứ, thuộc về Sơ tĩnh lự và Vị chí định. b). Vô tầm duy tứ tam ma địa (cũng gọi Vô giác hữu quán tam muội): Đẳng trì chỉ tương ứng với Tứ, thuộc về Tĩnh lự trung gian địa. c). Vô tầm vô tứ tam ma địa(cũng gọi Vô giác vô quán tam muội): Đẳng trì không tương ứng với Tầm và Tứ, thuộc về Cận phần của Đệ nhị tĩnh lự cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trên đây, tâm thô gọi là Tầm(tìm cầu), tâm tế gọi là Tứ(dò xét). [X. luận Đại trí độ Q.23, luận Du già sư địa Q.12; luận Thuận chính lí Q.79]. 3. Theo luận Thành thực quyển 12 thì 3 loại Tam muội là: a). Nhất phần tam muội: Tu định không tu tuệ, hoặc tu tuệ không tu định. b). Cộng phần tu tam muội: Vừa tu định vừa tu tuệ, là Tam muội thế gian, thuộc trong các pháp như Noãn (...). c.) Thánh chính tam muội: Tam muội nhập vào pháp vị và chứng được Diệt đế. Hành giả dùng định tu tâm, nhờ tuệ ngăn dứt phiền não; dùng tuệ tu tâm, nhờ định ngăn dứt phiền não. Dùng cả định lẫn tuệ tu tâm, nhờ tính mà được tính giải thoát; lại vì định tuệ cùng lúc đầy đủ, nên gọi là Thánh chính. 4. Theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 4 thì 3 loại Tam muội là: a). Chân đế tam muội: Phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc cấu uế. b). Tục đế tam muội: Phá trừ ác nghiệp cấu uế, Trần sa cấu uế. c). Trung đạo tam muội: Phá trừ vô minh cấu uế. [X. Phật địa kinh luận Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.7; Chú duy ma kinh Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.5, thượng; Ma ha chỉ quán Q.7, thượng].
tam tam muội (địa)
The three samàdhi, or the samàdhi on three subjects; also called tam định, tam đẳng trì, tam trị; tam giải thoát môn, tam chủng tam muội; tam chủng đẳng trì. There are two forms of such meditation, that of hữu lậu reincarnational, or temporal, called tam tam muội; and that of vô lậu liberation, or nirvàna called tam giải thoát. The three subjects and objects of the meditation are: (1) Không to empty the mind of the ideas of me and mine and suffering, which are unreal; (2) Vô tướng to get rid the idea of form, or externals, i.e. the thập tướng which are the five senses, male and female, and the three hữu; (3) Vô nguyện to get rid of all wish or desire, also termed vô tác, vô khởi.
tam tam muội da
(三三昧耶) Phạm: Tri-samaya#. I. Tam Tam Muội Da. Cả 3 pháp đều là Tam muội da. Tam muội da nghĩa là bình đẳng, như Tam mật thân, ngữ, ý cả 3 pháp đều bình đẳng và viên dung vô ngại, gọi là Tam tam muội da, cũng gọi là Tam bình đẳng. Ngoài ra, tâm trí bi, Phật pháp tăng, pháp báo ứng(3 thân)... cũng đều gọi là Tam tam muội da. [X. phẩm Tam tam muội da trong kinh Đại nhật Q.6; Đại nhật kinh sớ sao Q.4; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.10]. II. Tam Tam Muội Da. Chỉ cho 3 loại Tam muội da. Tức là ấn tướng và chân ngôn của 3 bộ Tam muội da: Nhập Phật tam muội da, Pháp giới sinh và Chuyển pháp luân khi tu pháp Thai tạng giới của Mật giáo. 1. Nhập Phật tam muội da: Biểu thị ý nghĩa gá vào thánh thai của Phật, trở thành Phật tử mà nhập vào bình đẳng giới của Như lai. 2. Pháp giới sinh: Biểu thị ý nghĩa thánh thai đã đầy đủ, sinh ra trong nhà Phật, hết thảy đều trang nghiêm và bình đẳng với Như lai. 3. Chuyển pháp luân: Biểu thị ý nghĩa con Phật lớn lên, thành Kim cương tát đỏa, đầy đủ sự nghiệp kim cương tự lợi, lợi tha hết thảy đều trang nghiêm và bình đẳng với Như lai. Ba loại ấn minh trên đều có nghĩa bình đẳng như thế, cho nên gọi là Tam tam muội da. Tam muội da cũng là Tam ma da, có đủ 4 nghĩa: Bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và tỉnh biết. [X. Phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.9; Thai tạng nhập lí sao Q.thượng]. (xt. Tam Ma Da). III. Tam Tam Ma Da. Gọi đủ: Tam bộ tam muội da. Chỉ cho 3 bộ Tam muội da: Liên hoa, Kim cương và Phật bộ thuộc Thai tạng giới của Mật giáo. 1. Liên hoa bộ tam muội da: Chỉ cho lí tâm bồ đề thanh tịnh vốn có trong thân mình, lí ấy tuy ở trong bùn sinh tử của 4 loài 6 đường nhưng vẫn không bị nhơ nhuốm, giống như hoa sen mọc lên từ vũng bùn mà vẫn thanh khiết, vì thế gọi là Liên hoa bộ tam muội da. 2. Kim cương bộ tam muội da:Chỉ cho trí của lí tâm vốn có, trí này chìm trong biển sinh tử, tuy trải qua vô số kiếp nhưng vẫn không mất, mà lại có năng lực diệt trừ các phiền não, giống như Kim cương có công năng phá tan các vật khác, vì thế gọi là Kim cương bộ tam muội da. 3. Phật bộ tam muội da: Hai bộ Liên hoa và Kim cương ở trên vẫn còn thuộc địa vị phàm phu, lí và trí chưa hiển bày; nếu lí trí đầy đủ, giác đạo viên mãn thì gọi là Phật bộ. Hai bộ trước thuộc nhân vị tại triền(còn trong giai đoạn tu nhân và bị trói buộc), còn Phật bộ thì thuộc quả vị xuất triền.
tam tam pháp môn
(三三法門) Cũng gọi Lục tam phân biệt, Lục chủng tam pháp. Chỉ cho 3 môn: Yếu môn, Chân môn, và Hoằng nguyện môn, là giáo lí do Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản dựa theo các danh số như Tam kinh, Tam nguyện, Tam sơ, Tam vãng sinh... mà tổ chức thành. Hai môn trước thuộc về môn Phương tiện, môn thứ 3 thuộc về môn Chân thực. 1. Yếu môn: Chỉ cho giáo pháp do chính mình tu các thiện hạnh để hồi hướng Tịnh độ, nghĩa là Giáo pháp nương vào chút ít thiện căn phúc đức nhân duyên, nên cũng gọi là Phúc đức tạng. Giáo pháp này xuất phát từ nguyện thứ 19 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà, nói trong kinh Quán vô lượng thọ; đối tượng thụ giáo phải là căn cơ Tà định tụ (căn cơ định thiện và tán thiện), vãng sinh về Hóa độ của Phật A di đà, gọi là Song thụ lâm hạ vãng sinh. Song thụ lâm hạ là biểu thị Hóa độ của Phật A di đà, lấy tên từ Sa la song thụ là nơi đức Phật Thích ca nhập diệt. 2. Chân môn: Chỉ cho giáo pháp nương vào tự lực niệm danh hiệu Phật để cầu vãng sinh, nghĩa là giáo pháp nương vào công đức chẳng thể nghĩ bàn (tức là danh hiệu) cho nên cũng gọi là Công đức tạng. Giáo pháp này phát xuất từ nguyện thứ 20 trong 48 nguyện của Phật A di đà, được nói trong kinh A di đà; đối tượng thụ giáo phải là căn cơ Bất định tụ(căn cơ tự lực niệm Phật) và vãng sinh về cõi Hóa độ của Phật A di đà, gọi là Nan tư vãng sinh. Nan tư nghĩa là không thể nghĩ lường, chỉ cho quả nương vào công đức của danh hiệu mà cảm được, khó mà suy lường được, vì sự vãng sinh này nông cạn hơn so với Nan tư nghị vãng sinh kế tiếp, nên bỏ bớt đi chữ Nghị. 3. Hoằng nguyện môn: Chỉ cho giáo pháp bỏ hết tâm tự lực vãng sinh Tịnh độ, mà hoàn toàn nương nhờ vào bản nguyện của Phật A di đà, nghĩa là giáo pháp đầy đủ 2 thứ trang nghiêm phúc đức và trí tuệ của Phật. Vì thế còn gọi là Phúc trí tạng. Giáo pháp này phát xuất từ nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của Phật A di đà, được nói trong kinh Vô lượng thọ; đối tượng thụ giáo phải là căn cơ Chính định tụ và vãng sinh về Báo độ của Phật A di đà, gọi là Nan tư nghị vãng sinh. Nan tư nghị có nghĩa là nhân và quả đều không phải cái mà trí lự của phàm phu có thể suy tư đo lường được.
Tam tam-muội
三三昧; C: sān sānmèi; J: sansanmai;|Ba loại tam-muội (Định): 1. Không tam-muội (空三昧); 2. Vô tướng tam-muội (無相三昧); 3. Vô tác tam-muội (無作三昧; theo Kim cương tam-muội kinh 金剛三昧經)
tam thanh
San-ch'ing (C), Three Pure Ones Sanqing (C)Gồm Tam thiên và Tam thánh.
tam thanh tịnh
Three purities of a Bodhisattva: 1) Thân thanh tịnh: A pure body. 2) Tướng thanh tịnh: Perfectly pure and adorned appearance. 3) Tâm thanh tịnh: A mind free from all impurity.
tam thanh tịnh tâm
(三清淨心) Cũng gọi Tam chủng tùy thuận bồ đề môn pháp. Chỉ cho 3 thứ tâm thanh tịnh nương vào 3 môn Trí tuệ, Từ bi và Phương tiện mà phát khởi. Đó là: 1. Vô nhiễm thanh tịnh tâm: Tâm nương theo môn Trí tuệ, không mong cầu sự an vui cho chính mình, xa lìa sự tham đắm tự thân. 2. An thanhtịnh tâm: Tâm nương theo môn Từ bi, dứt trừ các nỗi khổ của tất cả chúng sinh, tránh xa những việc không mang lại sự yên vui cho chúng sinh.3. Lạc thanh tịnh tâm: Tâm nương theo môn Phương tiện, thương xót tất cả chúng sinh, xa lìa sự cúng dường cung kính đối với tự thân mà phải làm cho chúng sinh được bồ đề thường lạc. [X. luận Vãng sinh; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần cuối].
tam thiên
Trisahasra (S). Three thousand; a term used by the Thiên Thai school for nhất thiết chư pháp, i.e. all things, everything in a chiliocosm or Buddha-world.
; (三千) Gọi đủ: Tam thiên pháp, Tam thiên pháp môn, Tam thiên thế gian, Tam thiên chư pháp. Ba nghìn. Tức là từ chỉ chung tất cả muôn pháp, là tiếng dùng của tông Thiên thai.Theo lí viên dung thì 10 giới từ địa ngục giới cho đến Phật giới, trong mỗi giới đều có bao hàm 9 giới kia, hợp làm 100 giới. Rồi mỗi giới trong 100 giới lại có 10 Như, từ Tướng như cho đến Bản mạt cứu cánh như, tổng cộng là 1000 như (thiên như); 1000 như này lại có chúng sinh, quốc độ, ngũ ấm(3 thế gian) khác nhau, thành 3 loại thiên như, cho nên tổng hợp là 3000 thế gian. Vì 3000 tóm thu hết thảy muôn vật (các pháp) trong vũ trụ, cho nên gọi Tam thiên chư pháp (ba nghìn các pháp). Tam thiên chư pháp này đều đầy đủ trong tâm sát na thường ngày của chúng sinh, do ý nghĩa ấy nên gọi là Tâm cụ tam thiên. Lại trong Tam thiên chư pháp này có bao hàm bản thể chân như, cho nên gọi là Lí cụ tam thiên(cũng gọi Bản cụ tam thiên, Tính cụ tam thiên, Tính đức tam thiên). Vì Lí cụ tam thiên theo nhân duyên mà hiển bày ra thế giới hiện tượng, cho nên gọi là Sự tạo tam thiên(cũng gọi Biến tạo tam thiên, Sự dụng tam thiên, Tu đức tam thiên, Tu khởi tam thiên). [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Pháp hoa văn cú Q.9; Quan âm huyền nghĩa Q.thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3].
tam thiên chư pháp
(三千諸法) Cũng gọi Tam thiên, Tam thiên thế gian.Ba nghìn các pháp. Tiếng dùng của tông Thiên thai, bao quát hết thảy muôn pháp. Tam thiên là con số mà Viên giáo Thiên thai dùng để diễn tả khái niệm các pháp xưa nay vốn Nhất đa tương tức, Viên dung hỗ cụ, Bất tăng bất giảm. Đây là pháp số do nhân 10 pháp giới của kinh Hoa nghiêm, 10 Như thị của kinh Pháp hoa và 3 thế giancủaluận Đại trí độ mà thành. Bởi vì trong 1 tâm có 10 pháp giới (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, tu la, nhân gian, thiên thượng, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật), trong 10 pháp giới mỗi giới lại có đủ 9 giới kia, nên thành là 100 giới; mỗi pháp giới có 10 Như thị (tướng, tính, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo, bản mạt cứu cánh đẳng) vì thế, 100 giới nhân với 10 Như thị thành là 1000 Như thị, rồi lại nhân với 3 thế gian(quốc độ, chúng sinh, ngũ ấm) thành là 3000 thế gian. Do đó mà thuyết Nhất niệm tam thiên (Một niệm ba nghìn), tức là trong 1 niệm tâm của sát na ấm vọng có đủ 3000 các pháp, cho nên cũng gọi là Tâm pháp tam thiên, Tâm tạo tam thiên. Nói tóm lại, tuy dùng con số 3000 nhưng thực ra các pháp là vô lượng, cho nên từ 100 giới suốt đến 1000 Như, cho đến 3000 thế gian, số lượng ấy cuối cùng ngôn ngữ không nói lên được, tư tưởng cũng không tới được, vì thế nên biết 3000 thực ra chỉ là số lượng bày tỏ vô số lượng. Ngoài ra còn có các từ ngữ biểu thị ý nghĩa tóm thu các pháp như: Nhất sắc tam thiên, Nhất hương tam thiên, Nhất thanh tam thiên, Tam thiên viên cụ... Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng (Đại 46, 54 thượng) nói: Một tâm có 10 pháp giới, 1 pháp giới có đủ 10 pháp giới thành là 100 pháp giới. Một pháp giới có 30 thế gian, 100 pháp giới tức có 3000 thế gian. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Ma ha chỉ quán Q.5, thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3; Chỉ quán nghĩa lệ tùy thích Q.2].(xt. Nhất Niệm Tam Thiên).
tam thiên oai nghi
A bhiksu's regulations amount to about 250, these are multiplied by four for the conditions of walking, standing, sitting, and sleeping and thus make 1,000; again multiplied by three for past, present, and future, they become 3,000 regulations.
tam thiên phật
(三千佛) Cũng gọi Tam kiếp tam thiên Phật, Tam thế tam thiên Phật. Chỉ cho ba nghìn đức Phật lần lượt ra đời trong 3 kiếp quá khứ, hiện tại và vị lai. Đây là con số gọi chung 1000 đức Phật kiếp Trang nghiêm (đời quá khứ), 1000 đức Phật kiếp Hiền (đời hiện tại) và 1000 đức Phật kiếp Tinh tú (đời vị lai). Danh hiệu của 3000 đức Phật được ghi chép đầy đủ trong kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh. Trung quốc đã sớm có tập tục tín ngưỡng Tam thiên Phật, như điều Tùy khai hoàng tam niên trong Phật tổ thống kỉ quyển 39 (Đại 49, 359 hạ) nói: Sa môn Huệ doanh ở Hải lăng mỗi ngày 6 thời lễ Tam thiên Phật danh để cầu cứu nạn đói cho dân. [X. kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị bồ tát; Phật tổ thống kỉ Q.30].
Tam Thiên Phật Danh Kinh
(三千佛名經), gọi đủ là Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh Kinh (三劫三千佛名經), thâu lục vào Taishō với 3 quyển riêng biệt là Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (過去莊嚴劫千佛名經, No. 446a, thất dịch) 1 quyển; Hiện Tại Hiền Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (現在賢劫千佛名經, No. 447a, thất dịch), 1 quyển; Vị Lai Tinh Tú Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (未來星宿劫千佛名經, No. 448a, thất dịch), 1 quyển.
tam thiên trần điểm kiếp
(三千塵點劫) Ba nghìn kiếp chấm mực. Đây là số kiếp ví dụ thời gian lâu xa kể từ khi đức Phật Đại thông trí thắng diệt độ đến nay trong phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa. Đức Phật Đại thông trí thắng diệt độ đến nay đã rất lâu xa, ví như đem tất cả địa chủng (Phạm: Pfthivì-dhàtu, cõi đất) trong thế giới Tam thiên đại thiên nghiền ra làm mực (Phạm:Mawi), cứ trải qua một thế giới đại thiên thì chấm một chấm, chấm đến khi hết số mực ấy; rồi lại nghiền tất cả cõi nước đã trải qua thành bụi nhỏ (Phạm: Paramàịu-rajas), mỗi hạt bụi(trần)tính là một kiếp. Dùng số kiếp chấm mực(điểm) và bụi nhỏ(trần)này để ví dụ thời gian lâu xa từ khi đức Phật Đại thông trí thắng diệt độ đến nay. Khái niệm thời gian này thật không thể tưởng tượng được. Tương tự như thế, phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa có lập thuyết Năm trăm trần điểm kiếp hoặc Năm trăm ức trần kiếp để nói rằng đức Phật Thích ca đã thành Phật từ lâu xa lắm rồi, chứ chẳng phải mới thành Phật dưới cội Bồ đề cách đây hơn 2500 năm![X. luận Đại trí độ Q.32; Pháp hoa kinh huyền tán Q.9].(xt. Trần Điểm Kiếp).
tam thiên tứ tiên
(三天四仙) Ba trời bốn tiên. Tức thuyết của ngoại đạo Ấn độ. Ba trời là: 1. Ma hê thủ la thiên: Tức trời Đại tự tại. Hình tượng vị trời này có 8 tay 3 mắt, cỡi trâu trắng. Những người tin thờ trời này cho rằng Ngài là nhân sinh ra muôn vật.2. Vi nữu thiên (cũng gọi Tì nữu thiên): Tức trời nghe khắp. Vị trời này có 4 tay, cầm vỏ ốc (tù và), bánh xe, cỡi chim cánh vàng. Những người tin thờ, cho vị trời này là nhân sinh ra muôn vật. 3. Cưu ma la thiên: Tức Đồng tử thiên. Vị trời này tay nâng con gà, cầm cái chuông nhỏ, lá phướn đỏ, cỡi chim công. Trong 3 vị trời trên đây, Ma hê thủ la thiên và Tì nữu thiên được gọi chung là Nhị thiên. Bốn vị tiên là: 1. Ca tì la tiên: Tức Số luận sư, chấp các pháp là một. 2. Ưu lâu tăng khư: Tức Thắng luận sư, chấp các pháp là khác. 3. Lặc sa bà tiên: Tức Ni kiền tử, ngoại đạo khổ hạnh, chấp các pháp cũng một cũng khác. 4. Nhã đề tử: Tức ngoại đạo lõa thể, chấp các pháp chẳng phải 1 chẳng phải khác. Trong 4 vị tiên trên, Ca tì la tiên, Ưu lâu tăng khư và Lặc sa bà được gọi chung là Tam tiên. [X. luận Đại trí độ Q.2; luận Nhập đại thừa Q.thượng; luận Thành duy thức Q.1].
tam thiên uy nghi bát vạn tế hạnh
(三千威儀八萬細行) Ba nghìn uy nghi tám vạn tế hạnh của tỉ khưu phải ứng xử hàng ngày. Vị tỉ khưu phải giữ 250 giới, đem phối hợp với 4 uy nghi: Đi, đứng, ngồi, nằm thì thành 1.000 giới, lưu chuyển theo 3 đời(có thuyết nói Tam tụ tịnh giới) thì thành 3.000 uy nghi. Lại phối với 7 chi thân khẩu (giết hại, trộm cắp, dâm dục, 2 lưỡi, nói ác, nói dối, nói thêu dệt), 3 độc tham, sân, si và 4 thứ phiền não(ngã si, ngã mạn, ngã kiến, ngã ái)cộng chung thành 84.000. Các kinh chỉ nêu số chẵn là 80.000 tế hạnh. Tịnh tâm giới quán pháp dựa vào cách nhận xét khác nhau giữa Tiểu thừa và Đại thừa mà cho rằng giới Bồ tát có 8 vạn uy nghi, giới Thanh văn có 3 nghìn uy nghi. Bát tông cương yếu quyển thượng thì cho rằng giới tăng và giới ni khác nhau, tăng có 250 giới, tức 3 nghìn uy nghi, 6 vạn tế hạnh. Ni có 340 giới, tức 8 vạn uy nghi, 12 vạn tế hạnh. Khảo sát các văn hiến, người ta thấy danh mục Ba nghìn uy nghi được sử dụng sớm nhất, có lẽ đã lấy từ câu thành ngữ cổ đại ở Trung quốc ghi trong sách Trung dung: Ưu ưu đại tai, lễ nghi tam bách, uy nghi tam thiên. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.5; Pháp hoa tam đại bộ bổ chú Q.11; Đại tạng pháp số Q.86].
tam thiên viện
(三千院) Môn tích của tông Thiên thai. Nhật bản, tọa lạc tại khu Tả kinh ở Kyoto. Khoảng năm 782-806, ngài Tối trừng xây dựng Tam thiên viện ở Đông tháp núi Tỉ duệ, sau dời đến làng Vĩ tỉnh ở phía đông Osaka, trở thành chùa Môn tích. Sau loạn Ứng nhân, chùa được dời về địa chỉ hiện nay. Viện Vãng sinhcực lạc của Bản đường là di tích kiến trúc do ngài Nguyên tín sáng lập vào thời bấygiờ, thiên tỉnh của kiến trúc A di đà đường mang hình đáy thuyền, hiện còn lưugiữ các bức vẽ rất đẹp, tượng Hiếp sĩ của Bản tôn A di đà là tượng Phật xưa nhất của thời Đằng nguyên.
tam thiên đại thiên (Phật chi) thế giới
Một cõi đại thiên thế giới do một vị Phật xuất thế giáo hóa. Cứ một ngàn cõi thế giới hợp thành một tiểu thiên thế giới, một ngàn tiểu thiên thế giới hợp thành một trung thiên thế giới, lại một ngàn trung thiên thế giới hợp thành một đại thiên thế giới. Vì tính lên đến ba lần một ngàn nên người ta quen gọi là tam thiên, nhưng thực ra về số lượng thì chỉ là một đại thiên thế giới, gồm 1.000.000.000 thế giới. Cách dịch cũ trước đây là “ba ngàn đại thiên thế giới” xem ra không được chính xác lắm.
Tam thiên đại thiên thế giới
三千大千世界; C: sānqiān dàqiān shìjiè; J: sanzen daisen sekai; S: trisāhasra-mahāsāha-sra-loka-dhātu.|Hàng tỉ thế giới, tạo thành một cõi Phật. Là thế giới bao gồm đục giới và tầng thứ nhất của cung trời thuộc Sắc giới. Một ngàn nhân một ngàn nhân một ngàn là một tỉ thê giới, thường được viết ngắn là Tam thiên thế giới (三千世界). Đây là một cách mô tả tính chất rộng mở mênh mông, xuyên suốt của toàn thể vũ trụ theo vũ trụ quan của người Ấn thời xưa.
tam thiên đại thiên thế giới
Tri-sahasra-mahà-sahasra-loka-dhàtu (S). A great chiliocosm. Mt Sumeru and its seven surrounding continents, eight seas and ring of iron mountains form one small world; 1,000 of these form a small chiliocosm tiểu thiên thế giới; 1,000 of these small chiliocosms form a medium chiliocosm trung thiên thế giới; a thousand of these form a great chiliocosm đại thiên thế giới, which thus consists of 1,000,000,000 small worlds. Tam thiên đại thiên thế giới is the same as Đại thiên thế giới which is one Buddha-world.
; (三千大千世界) Phạm: Tri-sàhasra-mahà-sàhasraloka-dhàtu. Pàli: Ti-sahassì-mahà-sahassìloka-dhàtavo. Cũng gọi Nhất đại tam thiên đại thiên thế giới, Nhất đại tam thiên thế giới, Tam thiên thế giới. Ba nghìn thế giới đại thiên. Tức vũ trụ quan của người Ấn độ đời xưa. Nghĩa là lấy núi Tu di làm trung tâm, chung quanh có 4 đại châu và 9 dãy núi, 8 lớp biển bao bọc, gọi là một Tiểu thế giới, tức phạm vi từ trời Sơ thiền của cõi Sắc đến lớp phong luân dưới đáy mặt đất, trong đó bao gồm mặt trời, mặt trăng, núi Tu di, 4 Thiên vương, trời Ba mươi ba, trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Lạc biến hóa, trời Tha hóa tự tại, trời Phạm thế... Một tiểu thế giới này lấy số 1000 làm đơn vị, hình thành một Tiểu thiên thế giới, một nghìn Tiểu thiên thế giới tập hợp thành một Trung thiên thế giới, một nghìn Trung thiên thế giới tập hợp thành một Đại thiên thế giới; Đại thiên thế giới này do Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới và Đại thiên thế giới tập hợp thành, cho nên gọi là Tam thiên đại thiên thế giới. Nhưng theo sự suy định chính xác thì Tam thiên thế giới thực ra là gồm 10 ức Tiểu thế giới, còn Tam thiên đại thiên thế giới thì gồm nghìn trăm ức thế giới, thực khác xa với các khái niệm mô hồ chung chung như vô hạn thế giới, toàn thể vũ trụ... Theo vũ trụ quan trong kinh điển Phật giáo thì Tam thiên thế giới là lãnh vực do một đức Phật giáo hóa, vì thế cũng gọi là Nhất Phật quốc. [X. kinh Quán vô lượng thọ Q.12; luận Câu xá Q.11; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.2; Vãng sinh yếu tập Q.84].
tam thiếp hoà tán
(三帖和贊) Từ ngữ gọi chung ba bộ hòa tán. Tịnh độ, Cao tăng và Chính tượng mạt, do ngài Thân loan người Nhật bản soạn. Lúc về già, vì muốn cho giáo nghĩa căn bản của Chân tông dễ hiểu hơn, nên ngài Thân loan đã soạn ra các hòa tán này và, cùng với Chính tín kệ, các hòa tán này đều được đọc tụng trong các khóa lễ sớm chiều tại các chùa viện Nhật bản. Tịnh độ hòa tán gồm 118 bài kệ, khen ngợi đức Phật A di đà, Tam kinh(kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô lượng thọ và kinh A di đà), lợi ích đời hiện tại...; Cao tăng hòa tán gồm 117 bài kệ, khen ngợi 7 vị cao tăng (Long thụ,Thiên thân, Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Nguyên tín và Nguyên không); Chính tượng mạt hòa tán gồm 108 bài kệ, nói về Chính tượng mạt Tịnh độ, Nghi hoặc, Thánh đức phụng tán, Thuật hoài... Ngoài ra còn có Thiếp ngoại hòa tán, có phụ thêm Tự nhiên pháp nhĩ chương bằng tiếng Nhật.
tam thiền
Trititya-dhyāna (S), Tṛtiya-dhyāna (S), Tatiya-jhāna (P), Tatiya-jhāna (P)Nền tảng là tâm lạc, gồm 4 đức: Hành xả, Chánh niệm, Chánh huệ, Thọ lạc và Tâm nhất cảnh tánh.
; The third dhyàna heaven of form, the highest paradise of form.
tam thiền thiên
(三禪天) Cũng gọi Đệ tam tĩnh lự, Đệ tam thiền. Chỉ cho cõi Thiền thứ 3 trong 4 cõi thiền của Sắc giới. Vìlìabỏ hỉ của thiền thứ 2 thì lại sinh lạc tĩnh diệu, nên cõi thiền này cũng gọi là Li hỉ diệu lạc địa. Cõi này chỉ có ý thức và có 2 cảm thụ lạc, xả tương ứng với ý thức. Tướng vui thích của ý thức ở cõi này cực kì tĩnh diệu nên gọi là Lạc thụ. Trong 18 tầng trời cõi Sắc thì 3 tầng trời Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Biến tịnh chính là Tam thiền thiên. Trong Tam địa thì Tam thiền thiên thuộc về Vô tầm vô tứ địa. [X. kinh Trường a hàm Q.20; luận Thuận chính lí Q.21; luận Câu xá Q.8]. (xt. Sắc Giới).
Tam thiện căn
三善根; C: sān shàngēn; J: san zenkon;|Có hai cách phân chia: 1. Ba thiện căn của Vô tham (無貪), vô sân (無瞋), và vô si (無癡). Chúng được gọi như vậy bởi gì được xem là những tâm trạng căn bản của thiện lành. Theo Du-già hành tông thì tất cả những nhân tố thiện lành đều xuất phát từ ba thiện căn này. 2. Thí (施), Từ (慈) và Huệ (慧). Chúng được xem là đối nghịch với Tam độc (三毒).
tam thiện căn
Three Wholesome RootsGồm: - Không tham - không sân - không si.
; The three good "roots", the foundation of all moral development, i.e. vô tham, vô sân, vô si no lust (or selfish desire), no ire, no stupidity (or unwillingness to learn). Also thí giving, từ kindness, tuệ moral wisdom.
; (三善根) Phạm: Trìịikuzala-mùlani. Pàli:Tìịi kusala-mùlàni. Chỉ cho 3 loại tâm sở đối trị 3 thứ bất thiện căn. Đó là: 1. Vô tham thiện căn (Phạm:A-lobhakuzala-mùla), cũng gọi Bất tham thiện căn. Nghĩa là đối với các cảnh 5 dục lạc không tham đắm, không ưa thích. Pháp vô tham này là chủng tính thiện, là cội gốc của vô lượng thiện pháp, vì thế gọi là Vô tham thiện căn. 2. Vô sân thiện căn (Phạm: A-dvewakuzala-mùla), cũng gọi Bất khuể thiện căn. Nghĩa là đối với tất cả chúng sinh không phẫn nộ, không muốn làm tổn não. Pháp vô sân này là chủng tính thiện, là cội gốc của vô lượng thiện pháp, cho nên gọi là Vô sân thiện căn. 3. Vô si thiện căn (Phạm: A-mohakuzala-mùla), cũng gọi Bất si thiện căn. Nghĩa là đối với tất cả các pháp đều hiểu biết thông suốt; có khả năng thấy rõ các pháp thiện, các pháp bất thiện, pháp có tội, pháp không tội, pháp nên tu, pháp không nên tu... Pháp vô si này là chủng tính thiện, là cội gốc của vô lượng thiện pháp, vì thế gọi là Vô si thiện căn. Ba thiện căn này có thể đầy đủ trong một tâm, hiện hữu trong 6 thức và tương ứng với tất cả tâm thiện hữu lậu, vô lậu để cùng khởi, là cội gốc của các điều thiện. Luận Đại tì bà sa quyển 112 giải nghĩa các pháp: Năng sinh thiện (hay sinh điều thiện), tăng thiện(thêm điều thiện), trưởng thiện(nuôi lớn điều thiện), ích thiện(làm cho điều thiện thêm nhiều lên), trì thiện(giữ gìn điều thiện), quảng bá thiện(mở rộng điều thiện)... là thiện căn. [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; Câu xá luận quang kí Q.16].
tam thiện tri thức
The three types of friends with whom to be intimate, i.e. a teacher (of the Way), a fellow-endeavourer and encourager, and a patron who supports by gifts (dànapati).
; (三善知識) Chỉ cho 3 bậc thiện tri thức chỉ dạy, khích lệ, giúp đỡ người tu hành. Đó là: 1. Giáo thụ thiện tri thức: Tức bậc thầy dạy bảo. Các phương pháp tu học bên ngoài cũng như những chướng ngại bítlấp bên trong... đều được bậc thầy chỉ dạy rõ ràng, dứt khoát, vì thế gọi là Giáo thụ thiện tri thức.2. Đồng hành thiện tri thức: Người tu hành khích lệ lẫn nhau, khuyên răn sách tiến lẫn nhau, đồng tâm nhất chí như đi chung một thuyền, nên gọi là Đồng hành thiện tri thức. 3. Ngoại hộ thiện tri thức: Những tín đồ có khả năng giúp đỡ người xuất gia tu hành về mọi phương diện cần thiết, nếu bị hiếp đáp họ cũng có thể can thiệp, che chở, cho nên gọi là Ngoại hộ thiện tri thức. [X. Ma ha chỉ quán Q.4, hạ].
tam thiện đạo
The three good or upward directions or states of existence:thiên the highest class of goodness rewarded with the deva life; nhân the middle class of goodness with a return to human life; a tu la the inferior class of goodness with the asùra state. Also tam thiện thú.
; (三善道) Cũng gọi Tam thiện thú Chỉ cho 3 đường thiện trời, người, a tu la do tu 3 phẩm thiện nghiệp mà hướng tới để sinh về. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2 hạ (Đại 33, 698 hạ) nói: Vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm hạ thì khởi nhân duyên Tu la, như bức tranh màu vàng; vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm trung thì khởi nhân duyên cõi người, như bức tranh màu trắng; vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm thượng thì khởi nhân duyên cõi trời, như bức tranh màu trắng toát. [X. luận Đại trí độ Q.30; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].
tam thoái
(三退) Ba thứ lui mất. Tức sự lui mất công đức của hàng Thanh văn, Duyên giác và Phật có 3 loại như sau: 1. Dĩ đắc thoái(cũng gọi Dĩ đắc pháp thoái). Nghĩa là bậc Thánh đã dứt trừ hoặc nghiệp rồi lại thoái hóa, khiến phiền não hiện khởi trở lại và làm mất công đức. 2. Vị đắc thoái(cũng gọi Vị đắc pháp thoái). Nghĩa là vẫn chưa chứng được công đức thù thắng. 3. Thụ dụng thoái(cũng gọi Tập hành pháp thoái). Nghĩa là công đức thù thắng đã đạt được, nhưng khi thụ dụng lại không hiện tiền. Trong 3 loại thoái trên đây, Phật chỉ có Thụ dụng thoái; Duyên giác và bậc La hán bất động có Vị đắc thoái và Thụ dụng thoái, nhờ có lợi căn nên không có Dĩ đắc thoái; còn 5 loại La hán: Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trụ pháp và Kham đạt pháp thì vì có độn căn nên có cả 3 loại thoái. [X. luận Câu xá Q.25; luận Du già sư địa Q.62; Câu xá luận tụng sớ Q.25; Du già luận kí Q.17; Câu xá luận quang kí Q.25].
tam thoái khuất
The three feelings of oppression that make for a bodhisattva's recreancy - the vastness of bodhi, the unlimited call to sacrifice, the uncertainty of final perseverance.
; (三退屈) Cũng gọi Tam chủng thoái khuất. Ba lui khuất. Tức chỉ cho ba thứ tâm thoái khuất sinh khởi khi Bồ tát ở vào giai vị Tư lương(giai vị thứ nhất trong 5 giai vị Bồ tát). Đó là: 1. Bồ đề quảng đại khuất: Vô thượng bồ đề rộng lớn sâu xa, Bồ tát nghe thế bèn sinh tâm thoái khuất; trong trường hợp này, Bồ tát phải nghĩ rằng người khác đã chứng được bồ đề để rèn luyện tâm mình. 2. Vạn hạnh nan tu khuất: Sáu hạnh Ba la mật nhưBố thí... rất khó tu, Bồ tát nghe vậy liền sinh tâm thoái khuất; trong trường hợp này, Bồ tát phải xét đến sơ tâm của mình để rèn luyện tự tâm. 3. Chuyển y nan chứng khuất: Việc chuyển phiền não thành bồ đề, chuyển sinh tử thành Niết bàn cực kì khó chứng, Bồ tát nghe thế liền sinh tâm thoái khuất; trong trường hợp này, Bồ tát phải nghĩ rằng nhân thiện yếu kém cũng có thể chứng được quả vi diệu để rèn luyện tâm mình. [X. luận Thành duy thức Q.9].
tam thuyết thanh
(三說聲) Cũng gọi Tam sĩ. Chỉ cho 3 ngôi trong văn pháp tiếng Phạm. 1. Tự thuyết thanh(cũng gọi Thuyết tự thanh, Thượng sĩ): Đại danh từ chỉ người ở ngôi thứ nhất. 2. Thuyết tha thanh(cũng gọi Tha thuyết thanh, Trung sĩ): Đại danh từ chỉ người ở ngôi thứ hai. 3. Phiếm thuyết thanh(cũng gọi Hạ sĩ): Đại danh từ chỉ người ở ngôi thứ ba. [X. Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.3].
tam thuật
Three devices in meditation for getting rid of Màra-hindrances ma chướng: within, to get rid of passions and delusion; without, to refuse or to withdraw from external temptation.
; (三術) Gọi đủ: Nội ngoại tam thuật. Chỉ cho 3 phương pháp trong, ngoài được tông Thiên thai sử dụng để trừ khử ma chướng trong lúc tu thiền quán. Nghĩa là hành giả khi tu xong pháp quán thứ 8 Tri thứ vị, thường dễ bị nhiễu loạn bởi nghịch duyên bên trong (giặc cứng mạnh) và thuận duyên bên ngoài(giặc dịu dàng), đến nỗi tổn hại nội đức, rước lấy danh lợi mà tự phá hoại mình. Vì mục đích ngăn chặn 2 chướng duyên thuận và nghịch này để đạt đến cảnh giới an nhẫn bất động, cho nên dùng Nội ngoại tam thuật lần lượt đối trị. 1. Nội tam thuật: Tức dùng 3 quán Không, Giả, Trung để đối trị các ma chướng như Mạn, Kiến, Phiền não... từ trong nội tâm nổi lên. 2. Ngoại tam thuật: Đối trị các chướng danh dự lợi dưỡng đến từbên ngoài cũng có 3 pháp, đó là: a. Không nhận lãnh, không tham đắm tất cả danh lợi. b. Giấu kín đức của mình và để lộ rõ những khuyết điểm của mình. c. Sống ẩn dật ở những nơi vắng vẻ. Những hành giả Viên đốn nếu ứng dụng Nội ngoại tam thuật này, an nhẫn không lay động trước thuận duyên và nghịch duyên thì sẽ thành tựu được Năng an nhẫn thứ 9 trong 10 thừa quán pháp, mau tiến lên Ngũ phẩm mà được 6 căn thanh tịnh. [X. Ma ha chỉ quán Q.7; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7, phần 4].
tam thuỷ
(三水) Chỉ cho 3 thứ nước: Thời, phi thời và xúc dụng. 1. Thời thủy: Nước dùng uống từ khi mặt trời mọc đến giờ Ngọ. 2. Phi thời thủy: Nước sạch dùng để uống từ sau giờ Ngọ. 3. Xúc dụng thủy: Nước để rửa sạch được sử dụng bất cứ vào lúc nào. [X. Thụ dụng tam thủy yếu hành pháp].
tam thánh
- Hoa Nghiêm Tam Thánh: Phật Thích Ca (Tỳ lô giá na) ở giữa, bên hữu là ngài Phổ Hiền, bên trái là ngài Văn Thù. - Di Đà Tam Thánh: Phật A di đà ở giữa, bên hữu là Đại thế Chí, bên tả là Quan Âm. - Thích Ca Tam Thánh: Phật Thích Ca ở giữa, ngài A Nan bên hữu, ngài Ca Diếp bên tả.
; The three sages, or holy ones, of whom there are several groups. The Hoa Nghiêm have Vairocana Tỳ lô xá na in the centre with Manjusri Văn thù sư lợi on his left and Samantabhadra Phổ Hiền on his right. TheTịnh Độ Pure land sect have Amitàbha in the centre, ăith Avalokitesvara Quán thế Âm on his left and Mahàsthàmapràpta on his right.
; The three sages or holy ones: (A) Tam Thánh Hoa Nghiêm: Ba vị Thánh trong thế giới Hoa Nghiêm—The three divinities in the Flower Ornament world: 1) Phật Tỳ Lô Giá Na ở giữa: Vairocana in the center. 2) Văn Thù bên trái: Manjusri on the left. 3) Phổ Hiền bên phải: Samantabhadra on the right. (B) Thích Ca Tam Thánh: Ba vị Thánh được nói đến trong kinh Hoa Nghiêm—The three divinities in the Flower Ornament Scriptures: 1) Phật Thích Ca Mâu Ni ở giữa: Sakyamuni Buddha in the center. 2) Same as in (A) (2). 3) Same as in (A) (3). (C) Tam Thánh Di Đà: Ba vị Thánh trong cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà. Người ta tin rằng ba vị Thánh nầy là những vị đạo sư tiếp dẫn linh hồn của người quá vãng. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, ta thấy ngài Địa Tạng được thay vào chỗ của ngài Đại Thế Chí Bồ Tát—The three Pure Land divinities in the Pure Land Sect. These three divinities are believed to welcome the departed into the Pure Land. In some rare instances, Ksitigarbha Bodhisattva takes the place of Mahasthamaprapta: 1) A Di Đà ở giữa: Amitabha in the center. 2) Quan Âm bên trái: Avalokitesvara (Kuan Yin) on the left. 3) Đại Thế Chí bên phải: Mahasthama-prapta on the right. (D) Tam Thánh Dược Sư—The three divinities, according to the Bhaisajya-guru-vaidurya-prabhasa sutra: 1) Phật Dược Sư ở giữa: Bhaisajya-guru-vaidyrya-Buddha in the centre—See Dược Sư Tam Tôn. 2) Nhật Quang Bồ Tát bên trái: Surya-prabhasana on the left. 3) Nguyệt Quang Bồ Tát bên phải: Candra-prabhasana on the right.
; (三聖) I. Tam Thánh. Ba bậc Thánh của kinh Hoa nghiêm, tức chỉ cho đức Bản sư Tì lô giá na và 2 vị Đại bồ tát Phổ hiền, Văn thù. (xt. Hoa Nghiêm Tam Thánh). II. Tam Thánh. Ba bậc Thánh của giới đàn Viên đốn. Chỉ cho 3 vị thầy: Hòa thượng, Yết ma và Giáo thụ khi truyền thụ giới Bồ tát Viên đốn. Tức tôn đức Thích ca mâu ni làm Hòa thượng, bồ tát Văn thù làm Yết ma A xà lê và bồ tát Di lặc làm Giáo thụ A xà lê. (xt. Tam Sư Thất Chứng). III. Tam Thánh. Chỉ cho 3 bậc Thánh ngoài đức Phật Thích ca. Cứ theo phẩm Quán bản tế trong Trung luận quyển 2 thì Tam thánh là Ngoại đạo có 5 thần thông, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác và Đại Bồ tát chứng đắc thần thông. IV. Tam Thánh. Chỉ cho Thiền sư Tuệ nhiên, đệ tử nối pháp của ngài Lâm tế Nghĩa huyền. Vì sư trụ ở viện Tam thánh tại Trấn châu thuộc Hà bắc rất lâu, cho nên người đời gọi sư là Tam thánh, hoặc Tam thánh Tuệ nhiên. (xt. Tuệ Nhiên) V. Tam Thánh. Chỉ cho 3 vị Đại sư thuộc tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản là các ngài: Truyền giáo, Tứ giác và Trí chứng. Ba vị Đại sư này cùng với 2 ngài An nhiên và Từ huệ gọi chung là Tam thánh nhị sư. Ngoài ra, thôngthường, đức Phật A di đà, bồ tát Quán thế âm, bồ tát Đại thế chí được gọi là Tây phương Tam thánh.
Tam Thánh Huệ Nhiên
(三聖慧然, Sanshō Enen, ?-?): nhân vật sống vào thời nhà Đường, vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, đã từng trú tại Tam Thánh Viện ở Trấn Châu (鎮州, thuộc Tỉnh Hà Bắc). Ông đắc được huyền chỉ của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨済義玄), sau đi du hóa các nơi, cũng đã từng đến tham yết Ngưỡng Sơn (仰山), Đức Sơn (德山) cũng như Tuyết Phong (雪峰).
; 三聖慧然; C: sānshèng huìràn; J: sanshō enen; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ thượng thủ nối pháp của Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư cũng là người biên soạn những pháp ngữ của Lâm Tế trong Lâm Tế ngữ lục.|Sau khi được Lâm Tế ấn khả, Sư chu du khắp nơi, tiếng tăm lừng lẫy. Sư thăm viếng nhiều tùng lâm và đến đâu cũng được tiếp đãi trọng hậu. Công án 49 trong Bích nham lục thuật lại cuộc gặp gỡ của Sư với Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư hỏi: »Cá vàng thoát lưới lấy gì làm thức ăn?« Tuyết Phong đáp: »Ðợi ông ra khỏi lưới rồi đến đây sẽ nói.« Sư bảo: »Là thiện tri thức của 1500 người mà thoại đầu cũng không biết.« Tuyết Phong bèn nói: »Lão tăng trụ trì nhiều việc.«|Ðến gặp Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn. Hương Nghiêm hỏi: »Từ đâu đến?« Sư đáp: »Từ Lâm Tế đến.« Hương Nghiêm hỏi: »Ðem được kiếm của Lâm Tế đến chăng?« Sư chẳng nói, lấy toạ cụ đánh Hương Nghiêm rồi đi. Hương Nghiêm im lặng mỉm cười.|Ðến viếng Thiền sư Ðức Sơn Tuyên Giám. Vừa thấy Sư trải toạ cụ ra, Ðức Sơn liền bảo: »Chớ có trải cái khăn phủi bụi, nơi đây không có canh cặn cơm thừa.« Sư đáp: »Dù có cũng không có chỗ đổ.« Ðức Sơn liền đánh, Sư chụp gậy và đẩy thẳng đến giường thiền. Ðức Sơn cười to. Sư nói: »Trời xanh!« rồi xuống nhà tham thiền.|Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch rất mến tài hùng biện của Sư. Lúc mới gặp, Ngưỡng Sơn hỏi: »Ông tên gì?« Sư thưa: »Huệ Tịch.« Ngưỡng Sơn ngạc nhiên bảo: »Huệ Tịch là tên của ta.« Sư liền nói: »Huệ Nhiên.« Ngưỡng Sơn cười lớn.|Một ông quan đến thăm, Ngưỡng Sơn hỏi: »Quan ở vị nào?« Quan thưa: »Dẹp quan.« Ngưỡng Sơn dựng phất tử hỏi: »Lại dẹp được cái này chăng?« Ông quan không đáp được và trong chúng cũng không ai trả lời vừa lòng Ngưỡng Sơn. Lúc đó Sư đang nằm tại Niết-bàn đường (nơi nuôi dưỡng bệnh nhân), Ngưỡng Sơn sai thị giả đến trình. Sư đáp: »Hoà thượng có việc.« Ngưỡng Sơn lại sai thị giả hỏi: »Chưa biết có việc gì?« Sư lại đáp: »Tái phạm chẳng tha.« Nghe vậy Ngưỡng Sơn thầm nhận và có ý định truyền Phất tử của Bách Trượng lại cho Sư (Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải trao cho Hoàng Bá Hi Vận thiền bản bồ đoàn, trao cho Quy Sơn Linh Hựu phất tử, Quy Sơn lại truyền cho Ngưỡng Sơn) nhưng Sư từ chối không nhận vì đã có thầy. Ngưỡng Sơn nhân đây mới biết Sư là môn đệ của Lâm Tế.|Sau, Sư trụ trì tại Viện Tam Thánh, học chúng đến rất đông. Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.
tam thánh huệ nhiên
San sheng Hui jen (C), Sansho Yenen (J), Sansho Enen (J), San-sheng Hui-jan (C), Sansheng Huiran (C), Sanshō Enen (J)Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Lâm Tế Nghĩa Huyền.
tam thánh kim lân
(三聖金鱗) Cũng gọi Tam thánh thấu võng kim ngư, Tam thánh dĩ hà vi thực. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này trình bày về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Tam thánh Tuệ nhiên và Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn.Bích nham lục tắc 49 (Đại 48, 184 hạ) ghi:Tam thánh hỏi Tuyết phong: Cá vàng thoát khỏi lưới, không biết lấy gì làm thức ăn?Tuyết phong đáp: Đợi ông ra khỏi lưới, tôi sẽ nói cho ông hay. Tam thánh nói: Là thiện tri thức của 1.500 người mà thoại đầu cũng không biết! Tuyết phong nói: Lão tăng trụ trì bận rộn.[X. Thiên đồng tụng cổ trực chú Q.thượng; Thung dung lục tắc 33; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.29].
tam thánh viên dung quán
(三聖圓融觀) Pháp quán của tông Hoa nghiêm, tức quán tưởng đức Phật Tì lô giá na và 2 vị bồ tát Phổ hiền và Văn thù dung hòa làm 1 thể không ngăn ngại. Trong đó, Phật Tì lô giá na là thể chung của tất cả mọi đức, tượng trưng cho quả phần bất khả thuyết, còn 2 vị bồ tát Phổ hiền và Văn thù là đức riêng của Phật Tì lô giá na, tượng trưng cho nhân phần khả thuyết. Trong 2 vị Bồ tát này, ngài Phổ hiền biểu trưng chân lí của pháp giới sở tín và pháp giới do tu hành chứng được; trái lại, ngài Văn thù thì biểu trưng cho tín tâm đối với chân lí của pháp giới năng tín, sự lí giải đối với chân lí của pháp giới và đại trí chứng chân lí của pháp giới ấy. Sở tín cũng như Hành, Lí của ngài Phổ hiền và Năng tín cũng như Giải, Trí của ngài Văn thù mỗi mỗi đều viên dung và năng, sở bất nhị. Như vậy, pháp mà 2 vị Bồ tát biểu hiện là tương tức hỗ dung, trùng trùng vô tận, đó là biểu thị Nhân dẫn đến quả Phật đã hoàn thành, cho nên lập trường của Nhân và lập trường của Quả là đồng nhất và qui thuộc về cảnh giới của quả Phật, do đó mà Tam thánh dung hòa làm 1 thể. Pháp môn Tam Thánh viên dung là nghĩa sâu xa nói trong kinh Hoa nghiêm, cho nên, nếu người muốn tu theo kinh Hoa nghiêm thì phải quán xét pháp môn này trong 1 niệm của chính mình. Đây chính là 3 pháp Tâm, Phật và Chúng sinh không sai khác, lí, chứng và trí sở chứng cũng không lìa tâm. Tâm niệm của chúng sinh chính là Như lai tạng, phương diện Không Như lai tạng là Phổ hiền, phương diện Bất không Như lai tạng là Văn thù. Lại lí chung của Như lai tạng là Phật Tì lô giá na, phải quán tưởng trong 1 niệm có đủ tướng Tam Thánh viên dung. Pháp quán viên dung này do ngài Trừng quán đề xướng vào đời Đường; nhưng thực ra, trước ngài Trừng quán, cư sĩ Lí thông huyền đã có thuyết này rồi. [X. Tam thánh viên dung quán môn (Trừng quán); Hoa nghiêm pháp giới nghĩa kính Q.thượng; Hoa nghiêm kinh quyết nghi luận Q.1, thượng; Hoa nghiêm kinh hợp luận Q.3].
Tam Thân
(s: tri-kāya, 三身): ba loại thân của Phật, gồm có Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身), Báo Thân (s: sambhoga-kāya, 報身) và Ứng Thân (s: nirmāṇa-kāya, 應身). Với ý nghĩa là thân thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình mà đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như. Báo Thân là thân Phật có tướng tốt hiển hiện tùy theo hạnh nguyện của nhân vị, tích chứa các hạnh làm nhân để thành Phật và đầy đủ công đức. Ứng Thân là thân Phật hóa hiện ứng theo căn cơ của chúng sanh. Theo Pháp Tướng Tông, Tam Thân là Tự Tánh Thân (自性身), Thọ Dụng Thân (受用身) và Biến Hóa Thân (變化身). Tự Tánh Thân tương đương với Pháp Thân, là thân nương tựa vào Thọ Dụng Thân và Biến Hóa Thân. Thọ Dụng Thân là thân để thọ dụng pháp lạc, gồm có 2 loại: Tự Thọ Dụng Thân (自受用身) và Tha Thọ Dụng Thân (他受用身). Tự Thọ Dụng Thân tương đương với Báo Thân và Tha Thọ Dụng Thân thì ứng với Ứng Thân. Còn Biến Hóa Thân là thân thị hiện đem lại lợi ích cho hàng Bồ Tát trước khi vào Thập Địa cũng như chúng sanh. Trong Thiếu Thất Lục Môn (少室六門, Taishō No. 2009) có giải thích về Tam Thân rằng: “Phật hữu Tam Thân giả, Hóa Thân Báo Thân Pháp Thân; nhược chúng sanh thường tác thiện căn, tức Hóa Thân hiện; tu trí tuệ tức Báo Thân hiện; giác Vô Vi tức Pháp Thân hiện; phi đằng thập phương tùy nghi cứu tế giả, Hóa Thân Phật dã; đoạn cảm tu thiện Tuyết Sơn thành đạo giả, Báo Thân Phật dã; vô ngôn vô thuyết trạm nhiên thường trú giả, Pháp Thân Phật dã (佛有三身者、化身報身法身、若眾生常作善根、卽化身現、修智慧卽報身現、覺無爲卽法身現、飛騰十方隨宜救濟者、化身佛也、斷惑修善雪山成道者、報身佛也、無言無說湛然常住者、法身佛也, Phật có ba thân là Hóa Thân, Báo Thân, và Pháp Thân; nếu chúng sanh thường tạo căn lành, tức Hóa Thân hiện; nếu tu trí tuệ tức Báo Thân hiện; hiểu rõ Vô Vi tức Pháp Thân hiện; thân bay cùng khắp mười phương, tùy nghi cứu độ là Hóa Thân Phật; thân đoạn trừ các hoặc, tu thiện và thành đạo ở Tuyết Sơn là Báo Thân Phật; thân không nói lời nào, không thuyết lời nào, vắng lặng thường trú là Pháp Thân Phật).” Tại Chánh Điện Chùa Trúc Lâm, thành phố Huế, có câu đối rằng: “Hương lí kết tường vân Tam Thân viên hiển, hoa khai trình diệu tướng Thập Hiệu hùng tôn (香裡結祥雲三身圓顯、花開呈妙相十號雄尊, trong hương kết mây lành Ba Thân lộ rõ, hoa nở trình tướng báu Mười Hiệu hùng tôn).”
Tam thân
三身; C: sānshēn; J: sanshin; S: trikāya; |Ba thân
tam thân
Pháp thân (bản thể Phật tánh), báo thân (thân tự thọ dụng và tha thọ dụng), ứng hóa thân (vì đ chúng sanh mà biến hiện những thân thích ứng với mọi chúng sanh).
; Trikàya (S). The threefold body or nature of a Buddha, i.e. the Dharmakàya pháp thân, Sambhogakàya báo thân, Nirmànakàya ứng thân.The three are defined as tự tính, thụ dụng, biến hóa, the Buddha body per se, or in its essential nature; his body ođ bliss which he "receives" for his own "use" and enjoyment; and his body of transformation, by which he can appear in any form; i.e. spiritual, or essential; glorified; revealed.
; Pháp thân (bản thể Phật tánh), Báo thân (thân Tự thọ dụng và Tha thọ dụng), Ứng hóa thân (vì độ chúng sanh mà biến hiện những thân thích ứng với chúng sanh).
; (三身) Phạm: Traya# kàyaø#. Cũng gọi Tam thân Phật, Tam Phật thân, Tam Phật. Chỉ cho Pháp thân, Báo thân và Ứng thân của chư Phật. Thân nghĩa là tụ tập, tụ tập các pháp mà thành thân, vì thế sự tụ tập về lí pháp gọi là Pháp thân (Phạm: Dharma-kàya), sự tụ tập về trí pháp gọi là Báo thân (Phạm: Saôbhoga-kàya), sự tụ tập của các pháp công đức gọi là Ứng thân (Phạm: Nirmàịa-kàya). Hoặc gọi là Pháp thân Phật Báo thân Phật Ứng thân Phật, Pháp Phật Báo Phật Ứng Phật, Pháp thân Ứng thân Hóa thân, Pháp thân Phật Báo Phật Hóa Phật, Pháp Phật Báo Phật Ứng hóa Phật, Chân thân Báo thân Ứng thân, Tự tính thân Mãn tư dụng thân Hóa thân, Tự tính thân Ứng thân Hóa thân, Pháp thân Ứng thân Hóa thân, Pháp tính thân Thụ dụng thân Biến hóa thân, Tự tính thân Thụ dụng thân Biến hóa thân, Tự tính thân Thực thân Biến hóa thân, Pháp thân Phật Thụ dụng thân Phật Hóa thân Phật, Chính pháp Phật Tu thành Phật Ứng hóa Phật, Phật sở kiến thân Bồ tát sở kiến thân Nhị thừa phàm phu sở kiến thân. Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 3 cho rằng Hóa thân Phật có 5 tên gọi: Hóa thân, Phụ mẫu sinh thân, Tùy thế gian thân, Sinh thân và Giả danh thân; Ứng thân Phật có 6 tên gọi: Ứng thân, Thụ dụng thân, Báo thân, Trí tuệ thân, Công đức thân và Pháp tính sinh thân; Pháp thân Phật có 5 tên gọi: Pháp thân, Tự tính thân, Chân thực thân, Như như Phật và Pháp Phật.Theo Kim quang minh tối thắng vương kinh huyền xu quyển 4, 5 tên gọi của Hóa thân nói trên, nếu thêm 4 tên nữa là Thích ca thân, Nhị thừa phàm phu sở kiến thân, Ứng thân và Biến hóa thân thì thành tất cả 9 tên; 6 tên gọi của Ứng thân nếu thêm 2 tên nữa là Xá na thân và Bồ tát sở kiến thân thì tất cả là 8 tên; Pháp thân có 5 tên, nếu thêm 2 tên nữa là Phật sở kiến thân và Tì lô giá na thì thành 7 tên. Các kinh luận nêu tên gọi của 3 thân và giải thích rất khác nhau. 1. Ba thân nói trong Phật địa kinh luận: a. Pháp thân: Chứng ngộ và hiển bày lí thể của chân như thực tướng, không 2 không khác, thường trụ vắng lặng, gọi là Pháp thân. b. Báo thân: Thân báo đáp lại những công đức tu hành ở nhân vị và hiển hiện tướng hảo trang nghiêm. c. Ứng thân: Thân ứng theo căn tính của chúng sinh mà hiển hiện để giáo hóa. 2. Ba thân nói trong phẩm Tam thân phân biệt kinh Hợp bộ Kim quang minh quyển 1: a. Hóa thân: Khi còn tu hành ở nhân địa trong quá khứ, đức Như lai đã tu nhiều pháp, đến khi tu hành thành tựu viên mãn, tế độ tất cả chúng sinh, nhờ năng lực tu hành mà được tự tại và tùy theo căn cơ chúng sinh, ứng hiện các loại thân tướng dưới nhiều hình thức để cứu độ, gọi là Hóa thân.b. Ứng thân: Để khiến các Bồ tát được thông suốt, đồng thời thể nhận được sinh tử và Niết bàn là nhất vị, lấy đó làm căn bản cho vô biên Phật pháp, nên chư Phật Như lai thị hiện thân này có đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, có vòng hào quang phía sau lưng, gọi là Ứng thân. c. Pháp thân: Để diệt trừ tất cả phiền não chướng mà đầy đủ hết thảy các thiện pháp, nên chỉ có Như như và Như như trí, gọi là Pháp thân. Hai loại thân trước(Hóa thân, Ứng thân) là Giả danh hữu, loại thân thứ ba(Pháp thân) là Chân hữu và là gốc của 2 loại thân trước. 3. Ba thân nói trong kinh Giải thâm mật quyển 5: Tức Pháp thân, Giải thoát thân và Hóa thân. Trong đó, Hóa thân là chỉ cho thân thị hiện 8 tướng; Giải thoát thân chỉ cho Ngũ phần pháp thân; Pháp thân chỉ cho Ba la mật đa ở các Địa, khéo tu diệu quả xuất li chuyển y thành tựu viên mãn. Vì Ngũ phần pháp thân hàng Thanh văn Độc giác cũng có thể chứng được, cho nên nếu chỉ nói theo phạm vi của thân này thôi thì Nhị thừa và Như lai không khác nhau. Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) quyển 13 (Đại 31, 249 trung) nói: Quả cùng tột củađạo Nhị thừa gọi là Giải thoát tri kiến. Trong Giải thoát tri kiến của Nhị thừa không có 3 thân. Trong Giải thoát tri kiến của Bồ tát có 3 thân khác nhau. Tại sao vậy? Vì Nhị thừa không diệt được trí chướng, không có Nhất thiết trí, không được Pháp thân thanh tịnh viên mãn, không có đại từ bi, không thực hành các việc lợi ích người khác, không có Ứng thân và Hóa thân. Vì thế mà biết Giải thoát thân của Nhị thừa không có Pháp thân, Ứng thân và Hóa thân. 4. Ba thân nói trong Tông kính lục quyển 89: a. Tự tính thân: Chư Phật Như lai có vô biên tế công đức chân thường, thực tính bình đẳng này của tất cả các pháp chính là Tự tính, cũng gọi Pháp thân. b. Thụ dụng thân: Được chia làm 2 thứ: -Tự thụ dụng thân: Các đức Như lai tu tập vô lượng phúc tuệ, tạo vô biên công đức chân thực, thường tự thụ dụng pháp lạc rộng lớn. -Tha thụ dụng thân: Các đức Như lai do trí bình đẳng thị hiện thân công đức thanh tịnh vi diệu, trụ ở cõi nước thuần tịnh, vì chúng Bồ tát Thập địa mà hiển hiện đại thần thông, quay bánh xe chánh pháp. c. Biến hóa thân: Các đức Như lai dùng thần lực bất tư nghị, biến hiện vô lượng, tùy theo các loài mà hóa thân, trụ ở các cõi tịnh uế, tùy theo cơ nghi của các Bồ tát Địa tiền và Nhị thừa mà hiện thần thông nói pháp. Cũng trong Tông kính lục quyển 89 còn nêu ra thuyết chuyển 3 tâm được 3 thân, tức là: Chuyển Căn bản tâm(thức thứ 8) thì được Pháp thân, chuyển Y bản tâm(thức thứ 7)thì được Báo thân và chuyển Khởi sự tâm (thức thứ 6)thì được Hóa thân. 5. Ba thân theo sự giải thích của Lục tổ Tuệ năng thuộc Thiền tông: a. Thanh tịnh pháp thân Phật: Thân của chúng ta chính là pháp thân Như lai, cho nên tự tính của chúng ta vốn thanh tịnh và có khả năng sinh ra tất cả các pháp. b. Viên mãn báo thân Phật: Ánh sáng Bát nhã do tự tính sinh ra có năng lực trừ sạch tất cả tình cảm dục vọng, giống như vầng mặt trời chói lọi trên cao, chiếu xa muôn dặm, tỏa ánh sáng khắp hư không, xua tan mây mù tăm tối. c. Tự tính hóa thân Phật: Nếu chúng ta tin chắc rằng năng lực của tự tính hơn tất cả hóa thân Phật thì khi tâm này hướng theo ác liền vào địa ngục, nếu khởi tâm độc hại liền biến làm rồng, rắn; nếu tâm này hướng theo thiện thì liền sinh trí tuệ, nếu khởi tâm từ bi thì liền biến làm Bồ tát.[X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.2; Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Lương); luận Du già sư địa Q.78; Phật địa kinh luận Q.7; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.6]. (xt. Phật Thân).
tam thân biến tướng
(三身遍相) Tướng bao trùm của 3 thân Phật. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 8 dùng ba thứ là hư không, ánh sáng mặt trời và bóng mặt trời để ví dụ 3 thân Phật là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. 1. Pháp thân như hư không biến: Bản thể của thân Pháp tính trùm khắp, giống như hư không, không có chướng ngại. 2. Trí thân như nhật quang biến: Trí thân tức là Báo thân. Trí thủy giác rốt ráo có năng lực phá tan vô minh tăm tối, hiển bày chân thân sẵn có, giống như ánh sáng mặt trời chiếu rọi khắp nơi, xua tan sự tối tăm.3. Sắc thân như nhật ảnh biến: Sắc thân tức là Ứng thân. Trí thủy giác rốt cùng khế hợp với lí bản giác pháp thân, nên có công năng từ thể khởi dụng, thích ứng với mọi căn cơ, giống như bóng mặt trời, lan tỏa khắp nơi, không phân biệt cao thấp.
tam thân hoa phạm
(三身華梵) Cũng gọi Tam Như lai. Tên gọi 3 thân Như lai được ghép chung giữa tiếng Hoa và tiếng Phạm. 1. Pháp thân Tì lô giá na Như lai: Tì lô giá na, Phạm:Vairocana, nghĩa là bao trùm mọi nơi. Tính tướng của Pháp thân là thường hằng tự nhiên, chân như bình đẳng, thân và cõi nước không ngăn ngại, trùm khắp mọi nơi. 2. Báo thân Lô xá na Như lai: Lô xá na, Phạm:Rocana, nghĩa là thanh tịnh viên mãn. Báo thân đã hết sạch các phiền não, mọi đức đều tròn đủ, bên trong dùng ánh sáng trí tuệ chiếu soi pháp giới chân thực, tức Tự báo thân; bên ngoài dùng ánh sáng trên thân chiếu soi ứng hợp đại cơ, tức Tha báo thân. 3. Ứng thân Thích ca Mâu ni Như lai: Thích ca mâu ni, Phạm: Zàkyamuni, nghĩa là Năng nhân(hay làm điều nhân từ), Tịch mặc(ưa thích sự vắng lặng). VìTịch mặc nên không trụ nơi sinh tử, vì Năng nhân nên không trụ nơi Niết bàn, tùy theo các loài mà hiện khắp, thuyết pháp lợi ích chúng sinh. [X. Diệu pháp lien hoa kinh văn cú Q.9, hạ].
tam thân nghiệp
The three physical wrong deeds - killing, robbing, adultery.
tam thân phật
Trikaya (skt)—Ba loại thân Phật. Một vị Phật có ba loại thân hay ba bình diện chơn như—Buddha has a three-fold body. A Buddha has three bodies or planes of reality. (A) Theo triết học Du Già, ba thân là Pháp thân, Báo thân, và Hóa thân—According to the Yogacara philosophy, the Triple Body is Dharmakaya, Sambhogakaya, and Nirmanakaya: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt). a) Pháp (dharma) ở đây có thể được hiểu như là “thực tính,” hoặc là “nguyên lý tạo luật” hay đơn giản hơn là “luật.”—Dharma here may be understood in either way as “reality,” or as “law giving principle,” or simply as “law.” b) Thân (kaya) nghĩa là “thân thể” hay “hệ thống.”—Kaya means “body” or “system.” c) Tập hợp Pháp Thân (Dharmakaya) có nghĩa đen là thân thể hay một người hiện hữu như là nguyên lý, và nay nó có nghĩa là là thực tính tối thượng mà từ đó các sự vật có được sự hiện hữu và luật tắc của chúng, nhưng thực tính nầy tự nó vốn vượt khỏi mọi điều kiện—The combination, dharmakaya, is then literally a body or person that exists as principle, and it has now come to mean the highest reality from which all things derive their being and lawfulness, but which in itself transcends all limiting conditions. d) Tuy nhiên Dharmakaya không phải là một từ triết học suông như khi nó được nêu định bằng từ “kaya” là từ gợi lên ý niệm về nhân tính, đặc biệt là khi nó liên hệ với Phật tính một cách nội tại và một cách thiết yếu, vì không có nó thì Đức Phật mất đi toàn bộ sự hiện hữu của Ngài—However, Dharmakaya is not a mere philosophical word, as is indicated by the term “kaya,” which suggests the idea of personality, especially as it relates to Buddhahood. It belongs to the Buddha, it is what inwardly and essentially constitutes Buddhahood, for without it a Buddha loses altogether his being. e) Pháp Thân cũng còn được gọi là Svabhavakaya, nghĩa là “cái thân thể tự tính” tự tính thân, vì nó trú trong chính nó, nó vẫn giữ như là giự tự tính của nó. Đây chính là ý nghĩa của khía cạnh tuyệt đối của Đức Phật mà trong Ngài sự tịch lặng toàn hảo là thù thắng—Dharmakay is also known as Svabhavakaya, meaning “self-nature-body”, for it abides in itself, it remains as such retaining its nature. It is this sense the absolute aspect of the Buddha, in whom perfect tranquility prevails. 2) Báo Thân: Sambhogakaya (skt)—Cái thân thứ hai là Báo Thân, thường được dịch là cái thân của sự đền bù hay sự vui hưởng—The second body is the Sambhogakaya, which is ordinarily translated as Body of Recompense, or Enjoyment. a) Theo nguyên nghĩa “sự vui hưởng: là tốt nhất để dịch “sambhoga” vì nó nó xuất phát từ ngữ căn “bhuj,” nghĩa là “ăn,” hay “vui hưởng,” tiền từ của nó là “sam,” nghĩa là “cùng với nhau” được thêm vào đó—Literally, “enjoyment” is a better word for sambhoga, for it comes originally from the root “bhuj,” which means “to eat” or “to enjoy,” to which the prefix “sam” meaning “together” is added. b) Sambhogakaya được dịch sang Hoa ngữ là “Cộng Dụng Thân” hay “Thọ Dụng Thân,” hay “Thực Thân.”—Thus “sambhogakaya” is often translated into the Chinese as “Kung-Yung-Shên,” or “Shou-Yung-Shen,” or “Chih-Shên.” c) Khi chúng ta có từ Báo Thân, cái thân của sự khen thưởng, đền đáp dành cho nó. Cái thân thọ dụng nầy đạt được như là kết quả hay sự đền đáp cho một chuỗi tu tập tâm linh đã thể hiện xuyên qua rất nhiều kiếp. Cái thân của sự đền đáp, tức là cái thân được an hưởng bởi một vị rất xứng đáng tức là vị Bồ Tát Ma Ha Tát—Since we have the term “sambhogakaya,” recompense or reward body for it. This body of Enjoyment is attained as the result of or as the reward for a series of spiritual discipline carried on through so many kalpas. The body thus realized is the sambhogakaya, body of recompense, which is enjoyed by the well-deserving one, i.e., Bodhisatva-Mahasattva. d) Đức Phật như là cái thân thọ dụng thường được biểu thị như là một hình ảnh bao gồm tất cả sự vinh quang của Phật tính; vì ở trong Ngài, với hình hài, có một thứ tốt đẹp thánh thiện do từ sự toàn hảo của đời sống tâm linh. Những nét đặc trưng của từng vị Phật như thế có thể thay đổi theo các bổn nguyện của Ngài, ví dụ, hoàn cảnh của Ngài, danh tánh, hình tướng, xứ sở và sinh hoạt của Ngài có thể không giống với các vị Phật khác; đức Phật A Di Đà có Tịnh Độ của Ngài ở phương Tây với tất cả mọi tiện nghi như Ngài mong muốn từ lúc khởi đầu sự nghiệp Bồ Tát của Ngài; và Đức Phật A Súc cũng thế, như được miêu tả trong bộ Kinh mang tên Ngài là A Súc Phật Kinh—The Buddha as the Body of Enjoyment is generally represented as a figure enveloped in all the glory of Buddhahood; for in Him incarnated there is everything good and beautiful and holy accruing from the perfection of the spiritual life. The particular features of each such Buddha may vary according to his original vows; for instance, his environment, his name, his form, his country, and his activity may not be the same; Amitabha Buddha has his Pure Land in the West with all the accommodations as he desired in the beginning of his career as Bodhisattva; and so with Akshobhya Buddha as described in the sutra bearing his name. e) Báo Thân thỉnh thoảng cũng được gọi là “Ứng Thân.”—The Body of Recompense is sometimes called “Ying-Shên” or the Responding Body. 3) Hóa Thân: Nirmanakaya (skt). a) Cái thân thứ ba là Hóa Thân, nghĩa là “thân biến hóa” hay đơn giản là cái thân được mang lấy. Trong khi Pháp Thân là cái thân quá cao vời đối với những chúng sanh bình thường, khiến những chúng sanh nầy khó có thể tiếp xúc tâm linh được với nó, vì nó vượt khỏi mọi hình thức giới hạn nên nó không thể trở thành một đối tượng của giác quan. Những phàm nhân phải chịu sinh tử như chúng ta đây chỉ có thể nhận thức và thông hội với cái thân tuyệt đối này nhờ vào những hình tướng biến hóa của nó mà thôi. Và chúng ta nhận thức những hình tướng nầy theo khả năng của chúng ta về tâm linh, trí tuệ. Những hình tướng nầy xuất hiện với chúng ta không theo cùng một hình thức như nhau. Do đó mà chúng ta thấy trong Kinh Pháp Hoa rằng Bồ Tát Quán Thế Âm hóa hiện thành rất nhiều hình tướng khác nhau tùy theo loại chúng sanh mà Ngài thấy cần cứu độ. Kinh Địa Tạng cũng ghi rằng Bồ Tát Địa Tạng mang nhiều hình tướng khác nhau để đáp ứng những nhu cầu của chúng sanh—The third Body is Nirmanakaya, usually translated as “Hua-Shên,” which means “Body of Transformation,” or simply “Assumed Body.” The Dharmakaya is too exalted a body for ordinary mortals to come to any conscious contact with. As it transcends all forms of limitation, it cannot become an object of sense or intellect. We ordinary mortals can perceive and have communion with this body only through its transformed forms. And we perceive them only according to our capacities, moral and spiritual. They do not appear to us in the same form. We thus read in the Saddharma-Pundarika Sutra that the Bodhisattva Avalokitesvara transforms himself into so many different forms according to the kind of beings whose salvation he has in view at the moment. The Kshitigarbha Sutra also mentions that Kshitigarbha Bodhisattva takes upon himself a variety of forms in order to respond to the requirements of different sentient beings. b) Quan niệm về Hóa Thân là quan trọng, vì cái thế giới tương đối nầy đối lập với giá trị tuyệt đối của Như Như là giá trị vốn chỉ đạt được tới bằng cái trí như như. Bản thể của Phật tính là Pháp Thân, nhưng hễ chừng nào Đức Phật vẫn ở trong bản thể của Ngài thì cái thế giới của những đặc thù vẫn không có hy vọng được cứu độ. Vì thế Đức Phật phải từ bỏ trú xứ nguyên bổn của Ngài và mang lấy hình tướng mà các cư dân của trái đất nầy có thể nhận thức và chấp nhận được—The conception of the Nirmanakaya is significant, seeing that this world of relativity stands contrasted with the absolute value of Suchness which can be reached only by means of the knowledge of Suchness or Tathatajnana. The essence of Buddhahood is the Dharmakaya, but as long as the Buddha remains such, there is no hope for the salvation of a world of particulars. Thus the Buddha has to abandon his original abode, and must take upon himself such forms as are conceivable and acceptable to the inhabitants of this world. (B) Theo Thiền Sư D.T. Suzki trong Thiền Luận, Tập III—According to Zen Master D.T. Suzuki in Essays in Zen Buddhism, Book III: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt)—Pháp thân là tự thể của hết thảy chư Phật và chúng sanh. Do Pháp thân mà chư pháp có thể xuất hiện. Không có Pháp thân sẽ không có thế giới. Nhưng đặc biệt, Pháp thân là bản thân yếu tính của hết thảy mọi loài, đã có sẵn từ trước. Theo nghĩa nầy, Pháp thân là Pháp tánh (Dharmata) hay Phật tánh (Buddhata), tức Phật tánh trong hết thảy mọi loài—The Dharmakaya is the essence-being of all the Buddhas and also of all beings. What makes at all possible the existence of anything is the Dharmakaya, without which the world itself is inconceivable. But, especially, the Dharmakaya is the essence-body of all beings which forever is. In this sense it is Dharmata or Buddhata, that is, the Buddha-nature within all beings. 2) Báo Thân: Sambhogakaya (skt)—Cũng gọi là Thọ Dụng Thân, là bản thân tâm linh của các Bồ Tát, được Bồ Tát thọ dụng như là kết quả do tu tập các Ba La Mật. Các ngài tự mình thành tựu điều nầy tùy theo định luật nhân quả trên phương diện đạo đức, và trong đây các ngài giải trừ trọn vẹn tất cả những sai lầm và ô nhiễm trong cảnh giới của năm uẩn—The Sambhogakaya is the spiritual body of the Bodhisattvas which is enjoyed by them as the fruit of their self-discipline in all the virtues of perfection. This they acquire for themselves according the law of moral causation, and in this they are delivered at last from all the defects and defilements inherent in the realm of the five Skandhas. 3) Hóa Thân: Nirmanakaya (skt)—Cũng gọi là Ứng Hóa Thân hay Biến Hóa Thân, phát sinh từ đại bi tâm (mahakaruna) của chư Phật và chư Bồ Tát. Bằng lý thể của đại bi mà các ngài hướng tới chúng sanh, các ngài không bao giờ thọ dụng những kết quả của các hành vi đạo đức của mình. Chí nguyện thiết tha của các ngài là chia xẻ những kết quả nầy cho tất cả chúng sanh. Nếu Bồ Tát có thể thay thế kẻ phàm phu chịu khổ não, Bồ Tát thực hiện ngay. Nếu kẻ phàm phu có thể được giác ngộ do Bồ Tát hồi hướng công đức cho mình, ngài sẽ thực hiện ngay. Bồ Tát hồi hướng công đức và chịu khổ thay cho chúng sanh nhờ Biến Hóa Thân của ngài. Hóa thân là hình tướng mà Đức Phật đã xử dụng khi muốn dùng thân hình của một con người để đi vào thế giới nầy. Do đó, trong tính cách không gian, Bồ Tát chia thân mình thành trăm nghìn koti vô số thân. Ngài có thể hóa thân làm những loài bò bay máy cựa, làm Thánh, làm Ma vương, nếu ngài thấy đó là cơ duyên thích hợp để cứu vớt thế gian ra khỏi sự kềm tỏa của vô minh, phiền não và đủ mọi thứ nhiễm ô bất tịnh—The Nirmanakaya is born of great loving heart (mahakaruna) of the Buddhas and Bodhisattvas. By reason of this love they have for all beings, they never remain in the self-enjoyment of the fruits of their moral deeds. Their intense desire is to share those fruits with their fellow-beings. If the ignorant could be saved by the Bodhisattva by his vicariously suffering for them, he would do so. If the ignorant could be enlightened by the Bodhisattva by turning his stock of merit over to them, he would do so. This turning over of merit and this vicarious suffering are accomplished by the Bodhisattva by means of his Nirmanakaya, transformation-body. Nirmanakaya is a body assumed by the Buddha in order to establish contact with the world in a human form. In this form, therefore, the Bodhisattva, spatially speaking, divides himself into hundreds of thousands of kotis of bodies. He can then be recognized in the form of a creeping caterpillar, in a sky-scraping mountain, in the saintly figure of Saints, and even in the shape of a world-devouring Evil One (Mara), if he thinks it necessary to take this form in order to save a world that has passed into the hands of ignorance, evil passions, and all kinds of defilements and corruptions. (C) Theo Nhiếp Luận Tông—According to Samparigraha School: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt)—Bản tánh là lý thể và trí tuệ—Ideal body whose nature is principle and wisdom. 2) Báo Thân: Sambhogakaya (skt)—Thọ dụng thân, chỉ thị hiện cho Bồ Tát—Enjoyment or Reward-body which appears only for the Bodhisattva. 3) Hóa Thân: Nirmanakaya (skt)—Biểu hiện cho thường nhân để họ tôn sùng. Hóa thân Phật là thân vật chất mà chư Phật thị hiện để cứu độ chúng sanh—Transformation-body which manifests itself for ordinary people for their worship. The transformation body of the Buddha, the body-of-form of all Buddhas which is manifested for the sake of men who cannot yet approach the Dharmakaya (the formless True Body of Buddhahood). (D) Theo Pháp Tướng Tông—According to Dharmalaksana School—See (C) (Vì Nhiếp Luận Tông là tiền thân của Pháp Tướng Tông—For Samparigraha School was a forerunner of the Dharmalaksana School). (E) 1) Sắc thân: The physical body of the Buddha. 2) Pháp môn thân: His psychological body with its vast variety. 3) Thực tướng thân: His real body—Dharmakaya. (F) (F1) Tam Thân Phật theo tông Thiên Thai. Ba thân Phật được coi như là Phật quả; đây là lý thuyết đặc trưng của tông Thiên Thai. Mỗi Đức Phật giác ngộ viên mãn đều được quan niệm là có ba thân—Trikaya. According to the T'ien-T'ai, the Threefold Body of the Buddha is mentioned as Buddhahood. Every Buddha of Perfect Enlightenment is supposed to possess three bodies: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt)—See Tam Thân Phật (D) (3). 2) Thọ Dụng Thân: Sambhogakaya (skt)—See Tam Thân Phật (D) (2) (a) and (b). 3) Ứng Hóa Thân: Nirmanakaya (skt)—See Tam Thân Phật (D) (1). (F2) Tam Thân Phật, trong đó Pháp Thân là lãnh vực chuyên môn, Báo Thân với sự luyện tập để thâu thập được lãnh vực chuyên môn nầy, và Hóa Thân với sự áp dụng lãnh vực chuyên môn trong cuộc sống hằng ngày: Trikaya (skt)—Dharmakaya or Dharma body (Law body) is likened to the field of a specific career; the Sambhogakaya or bliss-body is a person's training by which that person acquires the knowledge of that specific career; and the Nirmanakaya or the body of transformation is likened the application of this knowledge in daily life to earn a living. 1) Hóa thân (Ứng thân): Nirmana-kaya (skt)—Ứng thân—Từ ngữ “thân,” theo nghĩa thường rất dễ bị hiểu lầm vì nó gợi ra ý tưởng về một hiện hữu thể xác. Tuy nhiên, theo Thiên Thai tông thì Ứng Hóa Thân là thân thể xuất hiện qua nhiều hình thức hay thân chuyển hóa của chư Phật. Khi muốn cứu độ chúng sanh, một vị Phật có thể hóa thân vào một thân thể, như trường hợp Phật Thích Ca Mâu Ni là hóa thân của Phật Tỳ Lô Giá Na—The term “body” in the ordinary sense is rather misleading because it conveys the idea of a bodily existence. However, according to the T'ien-T'ai Sect, Nirmanakaya means body of manifestation, or the body of transformation (incarnation)—Transformation body or the incarnated body of the Buddha—The body in its various incarnation. In order to benefit certain sentient beings, a Buddha can incarnate himself into an appropriate visual body, such as that of Sakyamuni which is the transformation body of Vairocana Buddha. It is twofold: a) Thân thể chỉ riêng cho các vị Bồ Tát sơ cơ: The body exclusively for Bodhisattvas of primary stage, that is, a superior body of Transformation. b) Thân thể dành cho những chúng sanh dưới hàng Bồ Tát sơ cơ: The body for those who are prior to the primary stage. 2) Báo thân: Sambhogakaya (skt)—Báo thân Phật là báo thân của sự thọ hưởng. Đây là kinh nghiệm về sự cực lạc của giác ngộ, về pháp tâm của Phật và chư tổ, và về sự tu tập tâm linh được truyền từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. Phật A Di Đà trong cõi Tây Phương Cực Lạc tượng trưng cho báo thân nầy. Báo thân nầy luôn đang ngự trị trên cõi Tịnh Độ, chỉ hiển hiện trên cõi trời chứ chẳng bao giờ hiển hiện trong cõi trần, báo thân nầy thường được chư Bồ tát giác ngộ tháp tùng. Theo tông Thiên Thai, thọ dụng thân là hiện thân hữu ngã với chứng ngộ chân thật, nghĩa là tự thân đạt được do báo ứng của một tác nhân lâu dài. Thân nầy có hai loại—Potentiality—The reward body of bliss or enjoyment—Celestial body or bliss-body of the Buddha, personification of eternal perfection in its ultimate sense. The experience of the rapture of enlightenment, of the Dharma-mind of the Buddha and the patriarchs, and of the spiritual practices which they have transmitted from generation to generation. Amitabha Buddha in his Western Paradise symbolizes this "bliss-body." It always resides in the Pure Land and never manifests itself in the mundane world, but only in the celestial spheres, acompanied by Enlightened Bodhisattvas. According to the T'ien-T'ai Sect, the Enjoyment or Reward-body is the person embodied with real insight, i.e., the body attained as the value of a long causal action. There are two kinds of Sambhogakaya: a) Tự Thọ Dụng: Vô lượng công đức chân thực và viên tịnh thường biến sắc thân của các Đức Như Lai do ba a tăng kỳ kiếp tu tập vô lượng phước huệ tư lương mà khởi lên—Sambhogakaya for the Buddha's own use, or bliss. b) Tha Thọ Dụng: Vi diệu tịnh công đức thân của các Đức Như Lai do bình đẳng trí thị hiện ra, chư Bồ Tát trụ nơi Thập Địa hiện đại thần thông, chuyển chánh pháp luân, xé rách lưới nghi của chúng sanh khiến họ thọ dụng được pháp lạc Đại Thừa—Sambhogakaya for the spiritual benefit of others. 3) Pháp thân: Dharmakaya—Pháp thân Phật vô sắc, bất biến, siêu việt, không thể nghĩ bàn và đồng nghĩa với “Tánh không.” Đây là kinh nghiệm về tâm thức vũ trụ, về nhất thể ở bên kia mọi khái niệm. Pháp thân được thừa nhận vô điều kiện là bản thể của tánh viên dung và toàn hảo tự do phát sinh ra mọi hình thức hữu sinh hoặc vô sinh và trật tự luân lý. Phật Tỳ Lô Giá Na, tức Quang Minh Biến Chiếu Phật, là hiện thân hình thái nầy của tâm thức vũ trụ. Theo tông Thiên Thai, Pháp thân chính là lý niệm, lý tánh hay chân lý, không có một hiện hữu hữu ngã nào. Nó đồng nhất với “Trung Đạo Đế.”—Essence—Absolute or spiritual body or Law Body—Dharma body of reality which is formless, unchanging, transcendental and inconceivable and synonymous with “Emptiness.” The dharma body includes meditation, wisdom, and nirvana (Thể, trí, dụng). This is the experience of cosmic consciousness, of oneness that is beyond every conception. The unconditioned dharmakaya is the substratum of completeness and perfection out of which arise all animate and inanimate forms and moral order. Vairocana Buddha, the “All-Illuminating One” embodies this aspect of universal consciousness. According to the T'ien-T'ai, Dharmakaya is the idea or Principle or Truth itself without any personal existence.
tam thân tam đức
The tam thân are pháp, báo, ứng; the tam đức are pháp, bát, giải,i.e. the virtue or merit of the (a) pháp thân being absolute, independence, reality; (b) báo thân being bát nhã prajnà or wisdom; (c) ứng thân being giải thoát đức liberation or nirvàna.
; (三身三德) Tam thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân; Tam đức là Pháp thân đức, Bát nhã đức và Giải thoát đức. Nếu Tam thân và Tam đức được phối hợp với nhau, thì pháp thân là đức của Pháp thân, Báo thân là đức của Bát nhã, Ứng thân là đức của Giải thoát. (xt. Tam Thân, Tam Đức).
tam thân thanh tịnh
Three bodies of pure precepts—Three comprehensive precepts—Three kinds of pure precepts: 1) Không làm các điều ác: Do not do what is evil. 2) Làm các hạnh lành: Do what is good. 3) Luôn làm lợi lạc cho chúng sanh: Be of benefit to all sentient beings.
tam thân thế tục
Three worldly intimate relations: 1) Cha: father. 2) Mẹ: Mother. 3) Anh chị em: Brothers and sisters.
tam thân thọ lượng
(三身壽量) Chỉ cho tuổi thọ của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. 1. Pháp thân thọ lượng: Pháp thân chẳng thuộc về sắc chất, không phải tâm trí, cưỡng gọi Pháp tính là thân, cho nên tuổi thọ của Pháp thân chẳng phải mệnh sống do quả báo mà được, chẳng phải tuổi thọ kéo dài liên tục, mà cưỡng gọi cái không dời không đổi là thọ; thọ này chẳng phải trường thọ, chẳng phải đoản thọ, không ở đời và diệt độ, chẳng phải thực, chẳng phải hư. 2. Báo thân thọ lượng: Trí lực do tu lâu mà được, ánh sáng trí tuệ chiếu soi vô lượng, thọ mệnh vô số kiếp 3. Ứng thân thọ lượng: Trí và thể thầm hợp, phát khởi đại dụng, độ những ai có thể độ được, tự thuyết giảng ở khắp mọi nơi, tên gọi khác nhau, tuổi thọ lâu mau bất định. [X. Diệu pháp liên hoa kinh văn cú Q.9, hạ].
tam thí
The three forms of giving: (1) (a) Tài thí one's goods; (b) Pháp thí the Law or Truth; (c) Vô úy thí courage or confidence. (2) (a) Vật thí goods; (b) Cúng dường cung kính thí worship; (c) Pháp thí preaching. (3) (a) Ẩm thực thí food; (b) Trân bảo thí valuables; (c) Thân mạng thí life.
; (三施) Chỉ cho ba cách bố thí. Theo luận Đại trí độ quyển 11 thì 3 cách bố thí là: 1. Tài thí: Người giữ giới, không những chẳng xâm phạm tài vật của người khác mà còn đem tài vật của mình bố thí cho người khác. 2. Pháp thí: Nói pháp cho người khác nghe, khiến họ được khai ngộ. 3. Vô úy thí: Người trì giới, không có tâm giết hại, khiến người và vật không sợ hãi; hoặc khi người và vật gặp tai nạn, mình che chở cho họ khỏi sợ hãi. Theo luận Đại trí độ quyển 12 thì Tam thí là: 1. Vật thí: Tức tài thí. 2. Cúng dường cung kính thí: Tức lòng tin thanh tịnh, cung kính lễ bái. 3. Pháp thí: Tức nói pháp cho người nghe. Theo Hoa nghiêm kinh sớ sao quyển 2 thì Tam thí là: 1. Ẩm thực thí: Thấy người đói khát liền đem thức ăn uống cứu giúp họ qua cơn đói khổ, cũng gọi là Hạ phẩm thí. 2. Trân bảo thí: Thấy người nghèo cùng liền đem tài vật quí báu chu cấp cho họ qua cơn khốn quẫn, cũng gọi là Hạ phẩm thí.3. Thân mệnh thí, được chia làm 2: a. Chỉ cắt 1 ít thịt trên thân thể để cứu chúng sinh trong cơn đói, đó là Thân thí. b. Nếu bố thí toàn thân, sinh mệnh cũng hết thì đó là Mệnh thí. Cách bố thí này rất khó thực hiện nên cũng gọi là Thượng phẩm thí.
tam thô trọng
(三粗重) Ba to nặng. Tức chỉ cho 3 thứ tập khí thô to, nặng nề mà người tu hành phải lần lượt đoạn trừ trong 3 a tăng kì kiếp. Ba thứ tập khí này là hạt giống của Phiền não chướng và Sở tri chướng, cho nên cũng gọi là Tam chướng, Tam phiền não. 1. Bì thô trọng(cũng gọi Bì chướng, Bì quá, Bì phiền não chướng). Nghĩa là tập khí tuy thô trọng nhưng tương đối còn dễ đoạn trừ, ví như bệnh còn ở ngoài da (bì), vì thế gọi là Bì thô trọng. 2. Phu thô trọng(cũng gọi Phu chướng, Phu quá, Nhục phiền não chướng, Nhục thô trọng). Nghĩa là tập khí thô trọng tương đối đã trở nên khó đoạn trừ, ví như bệnh đã thấm vào lớp da mỏng (phu)và thịt (nhục) bên trong, cho nên gọi là Phu thô trọng. 3. Cốt thô trọng(cũng gọi Cốt chướng, Cốt quá, Tâm phiền não chướng, Thực thô trọng). Nghĩa là tập khí thô trọng được xông ướp trong nhiều đời, nhiều kiếp, nên việc đoạn trừ trở nên cực kì khó khăn, ví như bệnh đã thấm vào tận xương(cốt), vì thế gọi là Cốt thô trọng. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 48, nếu trải qua thời gian 3 vô số đại kiếp thì đoạn trừ được tất cả thô trọng của Phiền não chướng và Sở tri chướng; trong Tam trụ thì đoạn được tất cả thô trọng của Phiền não chướng, tức trong Cực hoan hỉ trụ thì tất cả thô trọng của các phiền não trong hết thảy ác thú đều dứt trừ hẳn, tất cả phiền não bậc thượng bậc trung đều không hiện hành; trong Vô gia hạnh, vô công dụng, vô tướng trụ thì thô trọng của tất cả phiền não gây chướng ngại cho Vô sinh pháp nhẫn thanh tịnh thảy đều dứt hẳn, hết thảy phiền não đều không hiện tiền; trong Tối thượng thành mãn bồ tát trụ thì tất cả tập khí phiền não tùy miên chướng ngại hết thảy đều dứt trừ vĩnh viễn mà vào Như lai trụ. Còn về tất cả thô trọng của Sở tri chướng thì có 3 loại: Bì, Phu, Cốt như đã nói trên, cũng được đoạn trừ trong Tam trụ, tức là trong Cực hoan hỉ trụ đoạn trừ Bì thô trọng, trong Vô gia hạnh, vô công dụng, vô tướng trụ đoạn trừ Phu thô trọng, trong Như lai địa(tức Tối thượng thành mãn bồ tát trụ)đoạn trừ Cốt thô trọng. Về thể tính của thô trọng thì có nhiều thuyết khác nhau. Luận Du già sư địa quyển 73 cho rằng Ác thú bất lạc phẩm là Bì thô trọng, tức do đoạn trừ Bì thô trọng mà không rơi váo ác thú, lúc tu gia hạnh không bị những cái không vui(bất lạc) xen lẫn. Phiền não chướng là Phu thô trọng, tức nhờ đoạn trừ Phu thô trọng nên tất cả hạt giống của những phiền não cực vi tế không hiện hành, nhưng chưa dứt hẳn tất cả tùy miên. Sở tri chướng là Tâm thô trọng, tức do đoạn trừ Tâm thô trọng nên vĩnh viễn đoạn trừ tất cả tùy miên, có mặt ở khắp tất cả cảnh giới sở tri mà không bị ngăn ngại, trí chuyển một cách tự tại. Cũng có nghĩa là Phu thô trọng thuộc về Phiền não chướng, Tâm thô trọng(tức Cốt thô trọng) thuộc Sở tri chướng, còn Bì thô trọng thì bao hàm cả 2 chướng. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 7 phần cuối thì cho rằng Phiền não chướng và Sở tri chướng, mỗi chướng đều có 3 loại thô trọng bì, phu, cốt và bàn chung về 3 loại thô trọng này. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; Giải thâm mật kinh sớ Q.9; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối, Q.10, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩalâm chương Q.1].
tam thông
Tevijjā (P).
tam thông lực
(三通力) Chỉ cho 3 thứ năng lực thần thông nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 20: 1. Báo đắc thông lực: Chư thiên trong 3 cõi đều có 5 thứ thần thông, cho đến quỉ thần cũng có tiểu thông lực, tuy hơn kém khác nhau nhưng đều biến hiện vô ngại. Loại thần thông này do quả báo tự nhiên cảm được, nên gọi Báo đắc thông lực. 2. Tu đắc thông lực: Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát do tu giới định tuệ, khi công hạnh thanh tịnh thì phát được 6 thứ thần thông, biến hiện tự tại, ẩn hiển khó lường. Loại thần thông này nhờ tu mà có được nên gọi Tu đắc thông lực. 3. Biến hóa thông lực: Chư Phật và Bồ tát dùng năng lực thần thông biến hiện ra các loại thân tướng, hoặc hơn hoặc kém, cho đến hiện ra các quốc độ hoặc sạch hoặc nhơ... cho nên gọi là Biến hóa thông lực.
tam thú
The three animals - hare, horse, elephant - crossing a stream. The sravaka is like the hare who crosses by swimming on the surface; the pratyeka is like the horse who crosses deeper than the hare; the bodhisattva is like the elephant who walks accross on the bottom.
tam thú độ hà
(三獸渡河) Ba con thú lội qua sông, ví dụ sự tu hành đoạn hoặc của Tam thừa có sâu cạn khác nhau. 1. Voi lội qua sông: Ví dụ hàng Bồ tát tu 6 độ muôn hạnh, lợi ích chúng sinh, đoạn trừ Kiến, Tư hoặc, tập khí sạch hết, chứng được bồ đề giống như voi lội qua sông, chân chạm đến tận đáy. 2. Ngựa lội qua sông: Ví dụ hàng Duyên giác tu 12 nhân duyên, đoạn trừ Kiến, Tư hoặc, tuy đoạn cả tập khí nhưng chưa hết sạch và chỉ chứng lí chân không, như ngựa lội qua sông, tuy chưa đến tận đáy, nhưng đã hơi sâu. 3. Thỏ lội qua sông: Ví dụ hàng Thanh văn tu pháp Tứ đế, đoạn trừ Kiến, Tư hoặc, chưa đoạn được tập khí, chỉ chứng lí chân không, như thỏ lội qua sông, chỉ nổi trên mặt nước mà qua chứ không lội sâu xuống được. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 8 hạ (Đại 33, 781 hạ) nói: Ba con thú lội qua sông, cùng ở trong nước, 3 con thú mạnh yếu, nước có đáy bờ, thỏ và ngựa sức yếu, tuy lội đến bờ bên kia nhưng nổi cạn không sâu, không chạm đến đáy. Voi lớn sức mạnh, đến được bờ kia, lại vừa chạm đáy. Ba con thú ví dụ Tam thừa, nước dụ tức không, đáy dụ bất không. Nhị thừa trí cạn không thể cầu sâu, ví như thỏ và ngựa. Bồ tát trí sâu, giống như voi lớn, sự êm đềm của nước ví dụ với Không, cùng thấy không, chẳng thấy Bất không. Đáy dụ cho thực tướng, chỉ một mình Bồ tát đến được đáy, bậc trí thấy Không và cả Bất không. Qua ví dụ trên cho thấy Thanh văn ngộ đạo cạn nhất, Duyên giác ngộ đạo hơi sâu, còn Bồ tát thì ngộ đạo sâu nhất. Lí không của pháp tính giống như nước sông. Hàng Tam thừa tuy chứng cùng một pháp tính, bơi lội trong cùng một dòng sinh tử, nhưng vì căn cơ có sâu cạn khác nhau mà nảy sinh bất đồng. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 8, hạ, còn chia voi 2 loại lớn nhỏ, voi nhỏ dụ cho Bồ tát Biệt tiếp Thông, voi lớn thí dụ cho Bồ tát Viên tiếp Thông. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.27 (bản Bắc); kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Đại tì bà sa Q.143; Ma ha chỉ quán Q.6 thượng].
tam thường
(三常) Chỉ cho 3 thứ thường trụ của thân Phật. Đó là: 1. Bản tính thường(cũng gọi Tự tính thường, Ngưng nhiên thường): Chỉ cho thân Tự tính của tất cả các pháp, thân này thường trụ, rốt ráo vô lậu. 2. Bất đoạn thường(cũng gọi Vô gián thường): Chỉ cho thân Thụ dụng của hết thảychưPhật; thân này thường trụ, hằng thụ pháp lạc, không lúc nào gián đoạn. 3. Tương tục thường: Chỉ cho thân Biến hóa của tất cả chư Phật, thân này thường trụ, nhập diệt ở nơi này lại thị hiện ở nơi khác, không bao giờ cùng tận. Phật địa kinh luận quyển 7 (Đại 26, 326 trung) nói: Có ba thứ thường, (...) pháp thân này tuy lìa tất cả sinh diệt hí luận mà không sinh diệt nên gọi là Thường, 2 thân tuy có niệm niệm sinh diệt, nhưng nương vào thường thân nên không có gián đoạn, vì hằng tương tục nên gọi là Thường. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Đường); Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2].
tam thảo nhị mộc
(三草二木) Dùng cây cỏ lớn, nhỏ để ví dụ các căn tính khác nhau. Tam thảo là cỏ thuốc nhỏ, cỏ thuốc vừa và cỏ thuốc lớn. Nhị mộc là cây nhỏ và cây to. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 20 thượng) nói: Hoặc ở cõi người, cõi trước, làm Chuyển luân thánh vương, Đế thích, Phạm vương, đó là loại cỏ thuốc nhỏ; rõ biết pháp vô lậu, chứng được Niết bàn, khởi 6 thần thông, có được Tam minh, ở một mình nơi núi rừng, thường tu thiền định chứng quả Duyên giác, đó là cỏ thuốc loại vừa; cầu địa vị Thế tôn, ta sẽ thành Phật, thực hành định tinh tiến, đó là cỏ thuốc loại lớn. Lại các Phật tử, chuyên tâm về Phật đạo, thường tu hạnh từ bi, tự biết mình là Phật, quyết định không nghi, đó là loại cây nhỏ; an trụ trong thần thông, chuyển pháp luân bất thoái, độ vô lượng ức trăm nghìn chúng sinh, Bồ tát như thế gọi là cây lớn. Bởi vì giáo thuyết của Phật tuy bình đẳng nhất vị, nhưng tùy theo căn cơ chúng sinh mà chỗ hấp thụ có khác, giống như cây cỏ thấm nhuần mưa móc khác nhau. Về việc giải thích và phối hợp 3 cỏ 2 cây có nhiều thuyết bất đồng. Ngài Trí khải phối hợp 3 cỏ 2 cây với 7 phương tiện, theo thứ tự ví dụ cho Nhân thiên thừa, Nhị thừa, Tạng giáo bồ tát, Thông giáo bồ tát và Biệt giáo bồ tát, 5 thừa này mỗi thừa tùy phần mà hấp thụ. Ngài Khuy cơ thì, trái lại, cho rằng 3 cỏ không có hạt giống thành Phật và, theo thứ tự, ví dụ cho Vô chủng tính, Thanh văn chủng tính và Duyên giác chủng tính; còn 2 cây thì được thành Phật và lần lượt dụ cho Bất định chủng tính và Bồ tát chủng tính. Tóm lại, ngài Trí khải dùng 3 cỏ 2 cây để biểu thị ý thú Mười cõi đều được thành Phật, còn ngài Khuy cơ thì dùng 3 cỏ 2 cây để hiển bày yếu chỉ Năm tính đều khác(Ngũ tính các biệt). [X. Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.6; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, hạ; Pháp hoa văn cú Q.7, thượng; Pháp hoa nghĩa sớ Q.8; Pháp hoa huyền tán Q.7].
Tam thất nhật
三七日; C: sānqī rì; J: sanshichinichi;|1. Một chu kì bao gồm 21 ngày; 2. Ngày thứ hai mươi mốt.
tam thất nhật tư duy
The twenty one days spent by the Buddha, after his enlightenment, in walking round the bodhi-tree and considering how to carry his way of salvation to the world.
tam thần lực
Three supernatural powers.
tam thần thông
Three miracles—See Tam Pháp (xxxxxviii).
tam thập bổng
(三十棒) Ba mươi gậy. Dùng gậy đánh là 1 trong những phương pháp mà các Thiền sư sử dụng để tiếp hóa và khai thị người học. Trong Thiền lâm có những từ ngữ như: Đức sơn bổng(gậy của Đức sơn), Lâm tế hát(tiếng hét của Lâm tế), nghĩa là Thiền sư Đức sơn thường dùng cơ pháp đánh và Thiền sư Lâm tế thường dùng cơ pháp hét để chỉ dẫn và khai ngộ người học. Mục Khám biện trong Lâm tế lục (Đại 47, 503 hạ) ghi: Sư nghe ngài Đức sơn đời thứ 2 chỉ dạy rằng: Nói được cũng lãnh 30 gậy, nói không được cũng lãnh 30 gậy!.
tam thập chủng bất tịnh bố thí
Theo Thương Tọa Thích Hải Quang trong Thơ Gửi Người Học Phật, có ba mươi loại bất tịnh bố thí, mà người thí chẳng được phước, cũng chẳng được gọi là “Hảo Tâm Bố Thí Nhân”—According to Venerable Thích Hải Quang in Letters To Buddhist Followers, there are thirty types of giving that are not pure that the givers will neither gain merits, nor will they be called “People who give out of the goodness of their hearts”. 1) Thấy biết điên đảo mà bố thí: Give while having delusional and chaotic views—Tức là bố thí theo kiểu thí cô hồn, mong người nhận rồi đi cho khuất mắt, chứ kỳ thật chẳng có lòng thương xót chi cả. Hoặc là bố thí tùy hứng, nghĩa là vui thì cho, buồn thì không cho, thậm chí còn đòi lại những gì đã cho, hoặc chưởi bới, vân vân—This is similar to giving to “ghosts,” so people will no longer bother them. Otherwise, there is not an ounce of compassion. This also indicates people who give depending on their moods, meaning if they are happy they will give, if they are sad they will not give, or they may ask for it back, or going as far as insulting people while in the process of giving. 2) Bố thí vì báo ân: Tức là trước kia đã lỡ mang ơn người đó rồi nên bây giờ bố thí lại như trừ nợ—Give to return a favor, or to even out a past favor. 3) Bố thí mà chẳng có lòng thương: Tức là bố thí theo kiểu ném liệng vào mặt người—Give without having any compassion. 4) Bố thí vì sắc dục: Give because of form desire—Tức là thấy người đàn bà hay đàn ông có sắc đẹp nên khởi tâm tà dục, muốn giả bộ bố thí để lấy lòng trước, để sau nầy có thể thỏa mãn được dục tâm của mình—This is seeing an individual who is beautiful, and so one pretends to give in hope of gaining sexual relations with that person or give in hope of winning that person as a spouse. 5) Hoặc mưu đồ đe dọa người mà bố thí: Give and then make threats—Tức là bố thí trước rồi hăm dọa sau với ý đồ gài bẫy để hối lộ, làm cho người nhận phải sợ mà làm thinh không dám tố cáo những điều sai quấy của mình trước pháp luật—Make bribes to a person or threaten the person with “blackmail,” so the individual will not dare go to the authorities. 6) Đem đồ ăn có độc ra mà bố thí với mục đích giết hại người: Use poisonous foods to give to someone with the purpose to murder that person. 7) Đem dao gậy, binh khí, súng ống, bom đạn ra mà bố thí, như viện trợ về quân sự: Use knives, daggers, weapons, guns, tanks, bombs, bullets, etc, i.e., military assistance. 8) Vì được khen ngợi mà bố thí, tức là bố thí để cầu danh và muốn được tiếng tăm khen tặng: Give because of praises. 9) Vì ca hát mà bố thí: Thấy ca sĩ đẹp, hát hay mà bố thí để cầu thân, chớ còn xấu xa và hát dở thì không thèm cho một xu—Give because someone has a marvelous voice. 10) Vì xem tướng mà bố thí: Give by basing on someone's physical characteristics—Tức là mình biết tướng, thấy kẻ đó bây giờ tuy còn nghèo, nhưng về sau nầy sẽ trở thành người giàu sang quyền quý, nên bây giờ làm bộ bố thí, trước để lấy lòng, hầu cầu lợi lộc cho mình về sau nầy—These are people who have the unique ability to foretell someone's future based on their physical characteristics. Thus, they may see someone as being poor now but that person's future is promising, so they give now in order to win that person over, hoping in the future that individual will remember them. 11) Vì muốn kết bạn mà bố thí: Give in hope of winning someone's friendship. 12) Vì học nghề mà bố thí: Give in hope to learn the tricks of the trade—Thấy người ấy tuy nghèo nhưng cò nghề hay trong tay, muốn cầu học nghề nên làm bộ bố thí để lấy thiện cảm—These are people who realize a person's talents despite the fact such a person is of “lower status,” so they pretend to give and befriend such an individual hoping to steal that person's ideas to benefit themselves. 13) Bố thí mà nghi ngờ là có quả báo hay không có quả báo: Give but doubt whether there will be retributions or not—Tức là bố thí mà trong lòng còn nghi ngờ, do dự là không biết bố thí như vậy thì sau nầy có được hưởng quả báo tốt đẹp hay không—These are people who give but are still skeptical whether their good deeds will bring them benefits in the future. This is a type of giving in hope of something in return. 14) Trước mắng chửi cho hả hê rồi sau đó mới chịu bố thí: Give but only after insulting someone until gaining contentment. 15) Bố thí rồi mà trong lòng bực bội, ghét tức và hối tiếc: Give but thereafter begin having regrets, resentments, and angers. 16) Bố thí rồi mà nói rằng các người thọ lãnh sau nầy sẽ phải làm thân trâu ngựa, súc vật, tôi tớ để đền trả lại cho mình: Give and then say to the receivers, “in the future you will become servants, slaves, or various animals such as buffaloes and horses to repay the debts you owe me.” 17) Bố thí rồi mà nói rằng sau nầy mình sẽ được thọ phước báo, giàu sang lớn: Give and then say in the future I will reap great meritorious retributions of wealth and luxury 18) Già yếu đau bệnh nên sợ chết mà bố thí: Give out of fear of old age, sickness, and death—Tức là khi còn trẻ đẹp mạnh khỏe thì không có tâm bố thí, đến chừng già yếu, bệnh hoạn mới chịu xuất tiền ra bố thí—Meaning when they are young and healthy, the tought of giving never crosses their minds, but when they are old, weak, bedridden, afaid they will be condemned to hell or hungry ghost, only then are they willing to dispense their fortunes to give, hoping to escape their potential fates. 19) Bố thí mà muốn được nổi danh khắp mọi nơi rằng ta đây là một người đại thí chủ: Tức là bố thí chỉ muốn được nổi danh để hân hạnh, khoe của mà thôi chớ không có tâm từ bi, thương xót ai—Give in hope of being known throughout the land as a “Great Benefactor.” 20) Hoặc ganh ghét ngạo nghễ mà bố thí: Give because of jealousy or to ridicule others—Tức là các người chỉ bố thí có một, chớ ta đây bố thí gấp hai, ba lần hơn cho biết mặt, kỳ thật không có tâm thanh tịnh thương xót chi cả. Đây là loại bố thí vì muốn cạnh tranh sự giàu sang thế lực và hơn thua lẫn nhau mà thôi—This is giving based on ulterior motives, such as 'you only gave one, but I gave tens and thousands more' in order to ridicule someone. Otherwise, there is not any purity or compassion in this charitable act. This type of giving is to show off how much power and wealth one has over another person. 21) Hoặc ham mộ giàu sang, danh vọng mà bố thí: Give because of fondness for wealth and notoriety—Tức là thấy gia đình người ta giàu có, danh vọng, quý phái nên làm bộ bố thí để cầu thân, cầu hôn, như tặng quà cáp, biếu xén, vân vân—This refers to people who notice a family is wealthy and influential, so they pretend to give hoping to get to know or marry into the family, such as buying gifts, doing favors, etc. 22) Vì cầu hôn nhân mà bố thí: Give in hope of marriage—Tức là thấy người ta có con gái hay con trai quý tướng, xinh đẹp, nhưng mà nghèo, muốn cưới về làm vợ làm chồng, nên làm bộ bố thí để lấy lòng—This refers to people who notice another family as having a boy or a girl who is precious, talented, but that family is poor; thus, in wishing to marry the child as a husband or wife, these people pretend to give to the family to win the family over. 23) Mong cầu được con trai, con gái mà bố thí: Give in hope of having a son or a daughter—Tức là người tuy giàu có nhưng không có tâm bố thí, đến chừng lớn tuổi bị hiếm con, hoặc có toàn con trai, nay muốn con gái; hay toàn con gái, nay muốn con trai, nên mới chịu xuất tiền của ra bố thí, mục đích chỉ để cầu được con mà thôi, chớ không có thật lòng từ bi thương xót—This refers to people who despite having wealth are not charitable people. As they get older but have no children or have all girls, but no boys, or all boys but no girls, only then are they willing to dispense their money to give. However, their giving is not genuine or arising from compassion because their only intention is to pray to have a child. 24) Hoặc muốn cầu giàu sang mà bố thí: Give in hope of being wealthy—Tức là đã giàu rồi, lại còn muốn được giàu hơn nữa nên bố thí—This refers to people who are already wealthy, so they give more in hope of being even richer. 25) Hoặc suy nghĩ rằng kiếp nầy ta bố thí để kiếp sau được giàu sang mà bố thí: Give in hope that if I give in this life, in the next life I will be rich—Tức là bố thí với ý định thủ lợi, có tính toán lời lỗ ở kiếp nầy, kiếp sau—This is giving for self-benefit, calculating the loss and gain of this life, the next life, and so forth. 26) Thấy kẻ nghèo không bố thí, mà cứ chăm chỉ bố thí cho người giàu: Do not give to the poor, but spend all of one's focus to give to the rich—Thấy kẻ nghèo đã không bố thì mà còn khi dễ, và chẳng có lòng thương xót—This refers to people who show disrespect and have not the slightest compassion for those less fortunate, yet when they see wealthy and influential people, they give readily in hope of befriending these people. 27) Vì bị cưỡng ép, hăm dọa mà bố thí: Give out of threats and coercion—Tức là người tuy giàu nhưng không chịu bố bố thí, bị kẻ “anh hùng nghĩa hiệp” nửa đêm phi thân đột nhập vào nhà hăm dọa: “Nếu không chịu bố thí thì ta sẽ giết chết,” hoặc là bị chúng nắm được chuyện bí mật riêng tư, dọa sẽ đăng báo, bêu xấu, vân vân, sợ quá nên bất đắc dĩ phải bố thí theo yêu sách của đối phương—This refers to people who are wealthy yet they refuse to give. Only when a more 'powerful' person makes threats 'if you do not give, I will take your life,' are they willing to give. Or if someone discovers 'hidden secrets' and forces them to give, or face the consequence of getting reported to the newspapers, magazines, etc. In fear of being exposed, these people then give as demanded by the opposition. 28) Vì giết hại mà bố thí: Give for killing and harming—Tức là bố thí cho kẻ ác nhân đặng lấy lòng mang ơn của nó, rồi sau đó sai nó đi giết hại kẻ thù của mình—This refers to people who give to wicked and evil beings to win these people over and then later ask them to kill or harm the enemy. 29) Bố thí trong lửa: Give while being under fire—Tức là ngoài mặt thì bố thí, chớ trong lòng thì đầy lửa giận. Ý nói chỉ bị bắt buộc, chớ không có lòng nhân từ, vừa cho vừa quăng ném vào mặt—On the outside, they appear to be giving, but in the inside the fire of anger rages on. Thus, this is referring to people who feel obligated or having no other choice but to give; otherwise there is not the slightest bit of compassion. Therefore as they give, they throw the gift in people's faces, insulting them, etc. 30) Bố thí vì ái dục: Give in water of desire—Bố thí để lấy lòng người đẹp, hy vọng sau nầy có dịp thỏa mãn được tâm ái dục, tà dâm của mình—This is giving in order to win the heart of someone beautiful hoping one day this act will lead to sexual gratification.
tam thập chủng ngoại đạo
(三十種外道) Ba mươi thứ ngoại đạo. Tức 30 loại ngoại đạo được liệt kê trong phẩm Nhập chân ngôn môn trụ tâm kinh Đại nhật quyển 1. Đó là: 1. Thời ngoại đạo: Vọng chấp Thời là nhân sinh ra tất cả muôn vật. 2. Địa đẳng biến hóa ngoại đạo(cũng gọi Ngũ đại ngoại đạo): Vọng chấp 5 đại:Đất, nước, lửa, gió và hư không là nhân sinh ra muôn vật. 3. Du già ngã ngoại đạo(cũng gọi Tương ứng ngoại đạo): Vọng chấp lí tương ứng với nội tâm người tu định là Ngã chân thực. 4. Kiến lập tịnh ngoại đạo: Vọng chấp kiến lập tất cả pháp và nương vào những pháp này mà tu hành thì được thanh tịnh. 5. Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo: Vọng chấp không cần kiến lập các pháp, mà lấy vô vi vô tu làm Ngã chân thực. 6. Tự tại thiên ngoại đạo: Vọng chấp trời Tự tại là thường, tự tại, là nhân sinh ra muôn vật. 7. Lưu xuất ngoại đạo: Vọng chấp từ tay sinh ra tất cả pháp. 8. Thời ngoại đạo: Ngoại đạo này và Thời ngoại đạo nói ở trên hơi khác nhau, tức ngoại đạo này vọng chấp Thời là do trời Tự tại tạo ra. 9. Tôn quí ngoại đạo: Vọng chấp trời Na la diên vắng lặng, thường trụ, là nhân sinh ra muôn vật. 10. Tự nhiên ngoại đạo: Vọng chấp tất cả pháp đều tự nhiên sinh ra, chẳng có người nào tạo tác cả. 11. Nội ngã ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có cái Ngã riêng, có năng lực vận chuyển thân này làm các việc. 12. Nhân lượng ngoại đạo: Vọng chấp lượng của Thần ngã bằng với lượng lớn, nhỏ của thân người. 13. Biến nghiêm ngoại đạo: Vọng chấp Thần ngã tuy có năng lực tạo tác các pháp, nhưng các việc tôn thắng trang nghiêm khắp thế gian đều do Ngã làm ra. 14. Thọ ngoại đạo(cũng gọi Thọ giả ngoại đạo): Vọng chấp tất cả pháp cho đến 4 đại, cỏ cây………... đều có thọ mệnh. 15. Bổ đặc già la ngoại đạo: Vọng chấp Bổ đặc già la(Ngã) từ đời nàyđitới đời sau. 16. Thức ngoại đạo: Vọng chấp thức có mặt ở khắp nơi, cho đến đất, nước, lửa, gió, hư không cũng bao trùm mọi chốn. 17. A lại da ngoại đạo: Vọng chấp thức A lại da có công năng giữ gìn thân này, chứa đựng muôn tượng. 18. Tri giả ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người biết, biết được các việc khổ, vui...19. Kiến giả ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người thấy, người thấy này chính là Chân ngã. 20. Năng chấp ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người năng chấp khác, đó tức là Chân ngã. 21. Sở chấp ngoại đạo: Vọng chấp cảnh giới sở chấp là Chân ngã, Chân ngã này có mặt ở khắp mọi nơi. 22. Nội tri ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người biết riêng ở bên trong là Chân ngã.23. Ngoại tri ngoại đạo: Vọng chấp bên ngoài có người rõ biết các cảnh giới ngoại trần là Chân ngã. 24. Xã đát phạm ngoại đạo: Ngoại đạo này đại khái giống với Tri giả ngoại đạo ở trên. 25. Ý sinh ngoại đạo(cũng gọi Ma nô xà ngoại đạo). Ý sinh (Phạm:Manuja, Hán âm: Ma nô xà) nghĩa là người, người sinh. Tức vọng chấp do người sinh ra. 26. Nho đồng ngoại đạo(cũng gọi Ma nạp bà ngoại đạo). Nho đồng (Phạm: Manava, Hán âm: Ma nạp bà) nghĩa là thắng ngã. Tức vọng chấp Ngã ở trong thân là vi diệu, thù thắng nhất. Ngoại đạo này thuộc về bộ loại Tì nữu thiên ngoại đạo. 27. Thường định sinh ngoại đạo: Vọng chấpNgã là thường trụ, không thể phá hoại, tự nhiên thường sinh chứ không sinh lại. 28. Thanh ngoại đạo: Được chia làm 2 loại: a. Thanh hiển ngoại đạo: Vọng chấp thể của âm thanh là vốn đã có sẵn, thường trụ, hễ đủ điều kiệnlàphát ra thành tiếng rõ ràng. b. Thanh sinh ngoại đạo: Vọng chấp thể của âm thanh vốn không có sẵn, nhờ duyên(phát âm) mới sinh, sinh rồi thì thường trụ. 29. Phi thanh ngoại đạo: Vọng chấp bác không có thể của âm thanh và chỗ của chữ âm thanh. Bản văn kinh Đại nhật vốn hợp Thanh hiển ngoại đạo và Thanh sinh ngoại đạo làm 1 là Thanh ngoại đạo, nên tổng cộng có 29 thứ ngoại đạo, nhưng Đại nhật kinh sớ quyển 1 lại chia ra làm 2 thứ nên tổng cộng có 30 loại ngoại đạo. Ngoài ra, Đại nhật kinh sớ thập nghĩa sao quyển 6 đem thêm Tổng ngã ngoại đạo vào 29 thứ ngoại đạo mà thành 30 thứ ngoại đạo. [X. luận Đại trí độ Q.12, 35; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn; luận Thành duy thức Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.2; Đại nhật kinh sớ sao Q.1, phần cuối; luận Thập trụ tâm Q.1]. (xt. Ngoại Đạo).
tam thập duy thức
Xem Duy thức Tam thập luận tụng.
tam thập giới xả đọa tỳ kheo ni
Nissaggiya-pacittiya (skt)—Từ Nissaggiya-pacittiya gốc Nam Phạn, có hai phần: phần thứ nhất là Nissaggiya có nghĩa là từ bỏ; phần thứ hai Pacittiya có nghĩa là điều giải trước giáo đoàn. Con người thường có khuynh hướng sa ngã; vì thế dù đã gia nhập vào cuộc sống tự viện, chư Ni vẫn thỉnh thoảng vi phạm luật sống trong tự viện, như chấp nhận quá số vật dụng hằng ngày được Đức Phật quy định cho Ni chúng. Chính vì thế mà Đức Phật đã đặt ra thanh quy tự viện, nhằm giúp chư Ni tránh phạm phải lỗi lầm. Theo Luật Nghi Khất Sĩ được Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang soạn từ Luật Tạng cho Tăng Ni hệ phái Khất Sĩ, ba mươi giới mà người phạm tội phải giải thích trước giáo đoàn và phải bị phạt cấm phòng sáu bữa—The Nissaggiya-pacittiya has two components: the word Nissaggiya means giving up; and the word Pacittiya means reconciliation or expiation. A person by his or her true nature is subject to lapses; therefore, even after joining the monastic life, the nun sometimes, makes transgression of the monastic rules, i.e., accepting things of daily use in excess of the number allowed by the Buddha is not proper for monks and nuns. Thus, the Buddha set forth rules that help making nuns free from transgressions. According to Rules for Mendicants composed by Most Honerable Master Minh Đăng Quang, thirty offences which require explanation and punishment for the offenders is six-day room retention. 1) Cấm cất giữ dư chăn áo quá mười ngày: A nun should not wear or keep an extra robe for more than ten days. 2) Cấm bỏ chăn áo ở một nơi khác, trong một đêm: a nun should not leave robes and sleeping material in another place, even for one night (nuns should not be away, separated from the three robes, even for one night). 3) Khi áo rách mất, có người cúng dường vải, dù không đúng thời (trai tăng tự tứ) vị Ni vẫn có thể nhận. Khi nhận là phải may cho nhanh; tuy nhiên, nếu không đủ vải may, có thể để dành chờ có thêm, nhưng cấm để dành vải quá một tháng: When robes worn out, and the robe-material is accrued to the nun, even not at the right time, it may be accepted by that nun if she so wish. Having accepted it, it should be made up quickly. But if it is not sufficient for her, that robe-material may be laid aside by that nun for a month at most. 4) Cấm hỏi xin áo với nam nữ thí chủ, trừ khi thắt ngặt (khi áo bị mất hay bị hư hại): A nun should not ask a man or woman householder for a robe, except at the right time (robe is stolen or destroyed). 5) Cấm nhận nhiều chăn áo quá bộ, trừ khi thắc ngặc: a nun should not accept more than an inner and upper robes (if a nun is offered robe-material for many robes, then at most she should accept enough for an inner and an upper robe. If she accepts more than that there is an offence of expiation involving forfeiture). 6) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có một thí chủ định sắm cho áo: When there is a householder plans to offer robe-material, or robe-fund, a nun should not design the robe as he wishes. 7) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có nhiều thí chủ định sắm cho: When there are two or more householders plan to offer robe-material or robe-fund, a nun should not design the robe as he wishes. 8) Cấm nhận tiền để may áo, và hối thúc Giáo Hội may liền: A nun should not obtain robe-fund and urge the Order to make the robe immediately. 9) Cấm nhận tiền bạc vàng, gởi hoặc bảo kẻ khác nhận thế: A nun should not take gold and silver, nor should she ask another person to take for her. 10) Cấm buôn bán đồ quý báu: A nun should not engage in various transactions in which gold and silver is used. 11) Cấm buôn bán bất luận vật gì: A nun should not engage in any kinds of bartering. 12) Cấm kiếm bát mới tốt, mặc dầu đúng năm mà cái cũ vẫn còn xài được: A nun should not get another new bowl in exchange for the old bowl, even though the old bowl is very old, but is still usable (If a nun should get another new bowl in exchange for a bowl mended in less than five places, there is an offence of expiation involving forfeiture. That bowl is to be forfeited by that nun to the company of nuns, and whatever the last bowl belonging to that company of nuns, that should be given to this nun with the words: “Nun, this is a bowl for you; it should be kept until it breaks.” That is the proper course in this case). 13) Cấm đem chỉ cho thợ dệt xa lạ dệt áo cho mình khi có người cúng: A nun should not ask a man or a woman householder who is not a relation to weave her robe (saying this robe-matrial is being especially woven for me, please make it long and wide, and make it evenly woven, well woven and well scraped, etc). 14) Cấm ra kiểu ni cho thợ dệt, khi thí chủ dệt áo cho mình: A nun should not ask for yarn, or should not have robe-material woven by weavers. 15) Cấm giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A nun should not give a robe to another monk and then take it back because she is angry or displeased of that nun. 16) Cấm để dành thuốc, đường, dầu, quá bảy ngày, trừ khi đau bệnh mà có người cúng dường: A nun should not store medicine, sugar, fresh butter, oil, honey, etc. for over seven days, except when she is ill. 17) Cấm đã lãnh áo trước kỳ, mà khi đến lệ lại còn hỏi nữa: A nun should not obtain the robe before the robe-season, lay it aside, and ask again during the robe-season. 18) Cấm lén lấy một món đồ gì của Giáo Hội: A nun should not take any things that belong to the Order. 19) Cấm mua sắm đồ cho một người đàn ông: A nun should not do any shopping for a man. 20) Cấm dùng làm của riêng mình món đồ người ta cúng cho Giáo Hội: a nun should not take away any thing that is offered to the Order. 21) Cấm dùng làm của riêng mình món đồ mà một cô khác trao ra để giao cho Giáo Hội: A nun should not take away anything that another nun offers to the Order. 22) Cấm dùng đồ của thí chủ cho về việc khác: A nun should not use the donations from lay Buddhists for personal purposes. 23) Cấm nhơn danh Giáo Hội mà sắm đồ riêng cho mình: A nun should not gain any personal gains on behalf of the Order. 24) Cấm có đến hai cái bát để thay đổi: A nun should not keep an extra bowl. 25) Cấm chứa nhiều đồ tốt đẹp: A nun should not store beautiful things, such as art crafts, pictures, etc. 26) Cấm hứa cho một cô khác vải bó rịt trong cơn đau mà không cho: A nun should not brak her promise to give cloth for bandage to another nun. 27) Cấm đổi lấy áo của thí chủ cho, chớ không lấy áo của Giáo Hội phát (vì áo của thí chủ tốt hơn): A nun should not exchange the robe which is given by the Order for another one from lay Buddhists. 28) Cấm bất bình, giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A nun should not give a robe to another nun and then take it back because he is angry or displeased of that nun. 29) Cấm may áo mùa đông đến bốn xấp vải: A nun should not use more than four batches of cloth for heavy (winter) clothes. It is advisable for a nun to bargain for a heavy cloth for four bronzes. If she bargains one worth more than that, she commits the offense of expiation. 30) Cấm may áo mùa hè trên hai xấp rưỡi vải: A nun should not use more than two and a half batches for light (summer) clothes. Bargaining for light clothes should be made for at most two and half bronzes. If she bargains a light cloth worth more than that, she commits an offense of expiation involving forteature.
Tam Thập Lục Bộ
(三十六部): 36 bộ quỷ thần, 36 loại thân hình Ngạ Quỷ. Trong Phật Thuyết Thí Ngạ Quỷ Cam Lồ Vị Đại Đà La Ni Kinh (佛說施餓鬼甘露味大陀羅尼經, Taishō No. 1321) có đề cập đến một số thân Ngạ Quỷ do ác nghiệp mà phải chịu quả báo thân hình như vậy: Bế Lệ Đa Quỷ (薜荔多鬼, Tàu gọi là Ngạ Quỷ [餓鬼, quỷ đói]), Xa Da Quỷ (車耶鬼, Tàu gọi là Ảnh Quỷ [影鬼, quỷ bóng]), Kiện Đà Quỷ (健駄鬼, Tàu gọi là Thực Hương Quỷ [食香鬼, quỷ ăn mùi hương]), Bố Sắt Ba Quỷ (布瑟波鬼, Tàu gọi là Thực Hoa Ngạ Quỷ [食花餓鬼, quỷ đói ăn hoa]), Kệ Bà Da Quỷ (偈婆耶鬼, Tàu gọi là Thai Tàng Quỷ [胎藏鬼, quỷ nằm trong bào thai]), A Thâu Già Quỷ (阿輸遮鬼, Tàu gọi là Bất Tịnh Quỷ [不淨鬼, quỷ bất tịnh]), Bà Đa Quỷ (婆哆鬼, Tàu gọi là Thực Phong Quỷ [食風鬼, quỷ ăn gió]), Ô Đà Ha La Quỷ (烏駄訶羅鬼, còn gọi là Thực Tinh Khí Quỷ [食精氣鬼, quỷ ăn tinh khí]), Đà La Chất Đa Quỷ (駄羅質多鬼, còn gọi là Sân Tất Tâm Quỷ [嗔悉心鬼, quỷ thường nỗi tâm giận dữ]), Chất Đa Quỷ (質多鬼, hay Ác Tâm Quỷ [惡心鬼, quỷ có tâm ác]), Bà Rô Da Quỷ (皤嚕耶鬼, hay Thực Tế Tự Quỷ [食祭祀鬼, quỷ ăn các đồ cúng tế]), Thị Vĩ Đa Quỷ (視尾哆鬼, hay Thực Nhân Thọ Mạng Quỷ [食人壽命鬼, quỷ ăn thịt người có tuổi thọ]), Tỳ Sa Kê Đà Quỷ (芑莎鷄駄鬼, hay Thực Nhục Thực Chỉ Đẳng Quỷ [食肉食脂等鬼, quỷ ăn thịt ăn mỡ, v.v.]), Xà Để Quỷ (蛇底鬼, hay Thực Sơ Sản Tử Quỷ [食初産子鬼, quỷ ăn thịt con nít sơ sinh]), Yết Tra Bố Đơn Na Quỷ (羯吒布單那鬼, hay Kì Xú Quỷ [希臭鬼, quỷ thân hình có mùi hôi thối như xương cháy]), Cưu Bàn Trà Quỷ (鳩盤茶鬼, hay Thủ Cung Quỷ [守宮鬼, quỷ bảo vệ cung điện]), Tất Xá Già Quỷ (畢舍遮鬼, hay Xí Thần [廁神, thần bảo vệ nhà xí, chuyên ăn những đồ bất tịnh]), v.v. Theo Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 6, phần Liệt Số Bộ (列數部) thứ 4 có liệt kê rất rõ 36 loại như sau: (1) Hoạch Thang Quỷ (鑊湯鬼, quỷ vạc nước sôi), loại này do được người khác mướn đi giết người nên phải chịu quả báo bị sắc nấu trong vạc nước sôi; hoặc được người khác gởi đồ, nhưng chống cự không hoàn trả, cũng chịu quả báo này. (2) Châm Khẩu Xú Quỷ (針口臭鬼, quỷ miệng nhỏ như cây kim), do vì lấy tiền mướn người khác thi hành sát hại, nên cổ họng nhỏ như cây kim, thậm chí một giọt nước cũng không lọt được. (3) Thực Thổ Quỷ (食吐鬼, quỷ ăn rồi mữa ra), do chồng khuyên vợ bố thí, nhưng vợ tiếc không thực hành, tích chứa tài của, bỏn xẻn; nên bị quả báo ăn vào thường nôn mữa ra. (4) Thực Phẩn Quỷ (食糞鬼, quỷ ăn phân), do vợ lừa dối chồng để tự ăn uống một mình, vì ghét bỏ chồng; nên thường bị quả báo ăn phân nhơ nhớp. (5) Thực Hỏa Quỷ (食火鬼, quỷ ăn lửa), do vì ngăn cấm lương thực của người, khiến họ phải tự tử; nên phải chịu quả báo khổ sở do lửa bốc cháy, kêu gào đói khát. (6) Thực Khí Quỷ (食氣鬼, quỷ ăn hơi), do tham lam ăn nhiều thức ăn ngon, chẳng chia cho vợ con; nên thường bị khốn khổ, đói khát, chỉ ngửi được hơi thôi. (7) Thực Pháp Quỷ (食法鬼, quỷ ăn pháp), vì cầu tài lợi mà thuyết pháp cho người, nên thân thường đói khát, thịt trong thân tiêu mòn hết do nhòi rút, chỉ mong nhờ nghe chư tăng thuyết pháp mà mạng được tồn tại. (8) Thực Thủy Quỷ (食水鬼, quỷ ăn nước), do vì bán rượu nhạt như nước để lừa người ngu, chẳng giữ gìn trai giới; nên thường bị quả báo bệnh khô nhát. (9) Hy Vọng Quỷ (希望鬼, quỷ hy vọng), do vì tranh đấu giá cả mua bán, lừa dối lấy vật của người khác; nên thường bị bệnh đói khát, luôn trông mong có cúng tế các vong linh đã khuất để được hưởng. (10) Thực Thóa Quỷ (食唾鬼, quỷ ăn đồ khạc nhổ), do vì lấy thức ăn không trong sạch lừa gạt người xuất gia; nên thân thường đói khát, hay bị nấu đốt, cầu mong người khác khạt nhổ ra và ăn những đồ bất tịnh. (11) Thực Man Quỷ (食鬘鬼, quỷ ăn tràng hoa), do vì đời trước trộm cắp tràng hoa của Phật để tự làm đẹp cho mình; nếu người gặp việc lấy tràng hoa cúng tế, nhờ vậy mà được hưởng. (12) Thực Huyết Quỷ (食血鬼, quỷ ăn máu), do vì sát sanh để ăn uống máu tanh mà không cho vợ con; nên bị thân quỷ này; nhờ có cúng tế thoa máu huyết mới được thọ hưởng. (13) Thực Nhục Quỷ (食肉鬼, quỷ ăn thịt), do vì lấy thịt thân thể chúng sanh, cắt từng miếng nhỏ đem cân, mua bán dối trá; nên phải chịu quả báo này, nhiều lần dối trá, xấu xa, người khác nhìn thấy ghê tởm. (14) Thực Hương Quỷ (食香鬼, quỷ ăn nhang), do vì bán loại nhang xấu, lại lấy giá mắc; nên chịu quả báo chỉ ăn khói nhang, sau cùng bị bần cùng, khốn khổ. (15) Tật Hành Quỷ (疾行鬼, quỷ chạy nhanh), nếu có người phá giới mà vẫn mặc tăng phục, lừa gạt lấy tài của người khác để hứa giúp bệnh nhân, cuối cùng chẳng làm, đem tự dùng cho mình; nên bị quả báo này, thường ăn đồ bất tịnh, tự đốt cháy thân mình. (16) Tứ Tiện Quỷ (伺便鬼, quỷ dòm rình đại tiểu tiện), do vì mưu mô, lường gạt lấy tài vật người khác mà không chịu tu tập phước nghiệp, mới chịu quả báo này; lông trên thân thường phát ra lửa, ăn khí lực bất tịnh của người để tồn tại. (17) Hắc Ám Quỷ (黑闇鬼, quỷ tối đen), do dùng phương pháp gian xảo để lấy tài của, làm cho người khác phải bị giam cầm trong ngục tù, mắt không trông thấy, thường cất tiếng đau thương; nên bị đọa vào chỗ tối tăm, có rắn độc cùng khắp. (18) Đại Lực Quỷ (大力鬼, quỷ có sức mạnh lớn), do trộm cắp vật của người khác, đem cho bạn ác mà không bố thí để tạo phước điền; nên chịu quả báo này, dù có sức mạnh thần thông, nhưng lại bị nhiều khổ não. (19) Xí Nhiên Quỷ (熾然鬼, quỷ bốc cháy), do vì phá thành, cướp giựt, giết hại bá tánh; nên chịu quả báo này, than khóc kêu gào, khắp thân lửa bốc cháy; sau được làm người thì thường bị cướp giựt. (20) Tứ Anh Nhi Tiện Quỷ (伺嬰兒便鬼, quỷ rình con nít đại tiểu tiện), do vì giết con nít, tâm sanh giận dữ; nên chịu quả báo này, thường rình dòm người đại tiểu tiện, có thể hại trẻ nít nhỏ. (21) Dục Sắc Quỷ (欲色鬼, quỷ ham sắc dục), do vì thích dâm dục, có được của cải mà không bố thí để tạo phước điền; nên chịu quả báo này, thường du hành trong cõi người, cùng người giao du, giả làm yêu quái để cầu cúng tế được hưởng. (22) Hải Chử Quỷ (海渚鬼, quỷ cồn biển), do khi đi ngoài đồng trống thấy người bịnh khổ, lường gạt lấy của người; nên sanh nơi cồn biển, chịu khổ nóng lạnh, gấp hơn mười lần người. (23) Diêm La Vương Chấp Trượng Quỷ (閻羅王執杖鬼, quỷ cầm gậy cho vua Diêm La), do vì đời trước gần gủi quốc vương, đại thần chuyên làm việc hung ác; nên bị quả báo này, bị vua Diêm La sai khiến, làm quỷ cầm gậy. (24) Thực Tiểu Nhi Quỷ (食小兒鬼, quỷ ăn thịt con nít), do vì dùng chú thuật để lường gạt, lấy tài sản của người, giết hại heo, dê, sau khi chết bị đọa vào địa ngục, thọ quả báo này, thường ăn thịt con nít. (25) Thực Nhân Tinh Khí Quỷ (食人精氣鬼, quỷ ăn tinh khí người), do vì dối trá bạn thân, bảo rằng ta vì bảo hộ cho ngươi, khiến người dũng mãnh xông trận mà chết, cuối cùng lại chẳng cứu hộ; nên chịu quả báo này. (26) La Sát Quỷ (羅剎鬼, quỷ la sát), do vì đời trước giết hại sinh mạng để làm tiệc đại hội; nên bị quả báo đói khát, lửa đốt cháy. (27) Hỏa Thiêu Thực Quỷ (火燒食鬼, quỷ ăn lửa cháy), do vì tâm keo kiệt, ganh tỵ, che giấu, ưa ăn vật thực của chúng tăng, trước đọa vào địa ngục, rồi từ địa ngục ra, chịu quả báo làm con quỷ thân hình đốt cháy trong lò lửa. (28) Bất Tịnh Hạng Mạch Quỷ (不淨巷陌鬼, quỷ ăn đồ bất tịnh nơi đường hẽm bờ ruộng), do vì đem đồ ăn bất tịnh cúng cho người tu hành Phạm hạnh, nên đọa làm quả báo như vậy, thường ăn đồ nhơ nhớp. (29) Thực Phong Quỷ (食風鬼, quỷ ăn gió), do vì thấy người xuất gia đến khất thực, hứa mà không bố thí thức ăn; nên chịu quả báo này, thường bị bịnh đói khát, như cái khổ trong địa ngục. (30) Thực Thán Quỷ (食炭鬼, quỷ ăn than), do làm chủ ngục hình, cấm không cho tội nhân ăn uống; nên chịu quả báo này, thường ăn than lửa. (31) Thực Độc Quỷ (食毒鬼, quỷ ăn chất độc), do vì lấy thức ăn độc làm cho người khác mất mạng, nên đọa xuống địa ngục, sau đó trở ra làm quỷ, thường chịu đói khát, ăn lửa độc, làm cho đốt cháy thân hình. (32) Khoáng Dã Quỷ (曠野鬼, quỷ đồng ruộng), do vì nơi đồng trống có ao hồ được đào lên để cấp nước cho người đi đường, có người thốt lời độc ác quyết phá, khiến cho mọi người chịu khát; nên bị quả báo như vậy, thường bị bịnh đói khát, lửa đốt cháy thân. (33) Trủng Gian Thực Hôi Thổ Quỷ (塚間食灰土鬼, quỷ ăn đất tro giữa gò mã), do vì trộm lấy bông hoa cúng Phật đem bán lấy tiền kiếm sống; nên chịu quả báo này, thường ăn tro nóng nơi chỗ thiêu thây người chết. (34) Thọ Hạ Trú Quỷ (樹下住鬼, quỷ sống dưới gốc cây), do vì thấy người trồng cây để đem bóng mát cho mọi người, nhưng lại ác tâm chặt gãy cây đó, lấy làm đồ dùng cho mình; nên đọa làm quỷ trong cây, thường phải chịu nóng lạnh bức bách. (35) Giao Đạo Quỷ (交道鬼, quỷ nơi đường giao thông), do trộm cắp lương thực của người đi đường, vì ác nghiệp đó, thường bị cưa sắt cắt thân; nhờ có cúng tế nơi đường giao nhau, lấy thức ăn đó mà tự nuôi sống. (36) Ma La Thân Quỷ (魔羅身鬼, quỷ thân Ma La), do vì làm việc tà đạo, không tin chánh pháp, nên đọa làm thân quỷ này, hay phá hoại thiện pháp của người.
Tam Thập Lục Bộ Quỷ Vương
(三十六部鬼王): 36 vị Quỷ Vương. Trong Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經, Taishō Vol. 17, No. 721) quyển 16, Phẩm Ngạ Quỷ (餓鬼品) cũng như Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 6, phần Liệt Số Bộ (列數部) thứ 4 có nêu rõ tên 36 loại Ngạ Quỷ, nhưng tên gọi có khác. Đặc biệt, Pháp Uyển Châu Lâm quyển 6 nêu rõ từng nguyên nhân vì sao bị đọa làm thân quỷ của từng loại như vậy. (1) Hoạch Thang Quỷ (鑊湯鬼, quỷ vạc nước sôi), do được người khác thuê sát sanh, nên bị bỏ vào vạc nước sôi nấu luộc; (2) Châm Khẩu Xú Quỷ (針口臭鬼, quỷ hôi thối có miệng nhỏ như cây kim), do vì lấy tiền tài mướn người giết hại, nên bị quả báo cổ họng nhỏ như cây kim, đến nỗi giọt nước cũng không chảy lọt; (3) Thực Thổ Quỷ (食吐鬼, quỷ ăn vào nôn mữa ra), chồng khuyên vợ bố thí, nhưng vợ tiếc của mà từ chối, tích trữ tài sản, keo kiệt, bỏn xẻn, nên thường ăn vào mà nôn mữa ra; (4) Thực Phẩn Quỷ (食糞鬼, Quỷ Ăn Phân), do vì người vợ lừa dối chồng, tự ăn các thức ăn uống, hiềm ghét chồng, nên ăn rồi mữa ra phân; (5) Thực Hỏa Quỷ (食火鬼, quỷ ăn lửa), do vì cấm người khác không cho lương thực, khiến họ tự chết, cho nên bị lửa thiêu đốt, kêu la thất thanh, đói khát khổ sở; (6) Thực Khí Quỷ (食氣鬼, quỷ ăn hơi), ăn nhiều đồ thức ăn ngon, không cho vợ con đang bị đói khát ăn, nên bị quả báo ngửi không khí mà thôi; (7) Thực Pháp Quỷ (食法鬼, quỷ ăn pháp), vì cầu tài lợi mà nói pháp cho người, nên thân thường đói khát, thịt nơi thân tiêu mất dần, chỉ mong chư tăng thuyết pháp thì mạng mới bảo tồn được; (8) Thực Thủy Quỷ (食水鬼, quỷ ăn nước), do bán rượu như nước để phỉnh gạt người ngu, không giữ trai giới, nên thường bị khát nước; (9) Hy Vọng Quỷ (希望鬼, quỷ hy vọng), do mua bán tranh giành giá cả, lừa gạt lấy đồ, nên thường bị đói khát, nhờ cúng tế cho các vong linh đời trước mà được ăn no đủ; (10) Thực Thùy Quỷ (食唾鬼, quỷ ăn đồ khạc nhổ), do vì lấy đồ không được trong sạch mà lừa dối người xuất gia, nên thân thường đói khát, luôn bị thiêu đốt, cầu mong người khạc nhổ ra để ăn đồ bất tịnh; (11) Thực Man Quỷ (食鬘鬼, quỷ ăn tràng hoa), do vì vào đời trước, trộm cắp tràng hoa của Phật để tự trang sức cho mình; nên nếu có người lấy tràng hoa cúng tế, nhờ vậy mà có tràng hoa để ăn; (12) Thực Huyết Quỷ (食血鬼, quỷ ăn máu), do giết hại sinh mạng, ăn máu huyết mà không chia cho vợ con, nên phải chịu làm thân quỷ này; chỉ nhờ cúng tế máu mơi được ăn; (13) Thực Nhục Quỷ (食肉鬼, quỷ ăn thịt), do vì lấy thịt thân chúng sanh, băm nhỏ từng miếng rồi đem cân, mua bán lừa đảo, vì vậy phải chịu quả báo này; nhờ cúng tế thịt đủ loại mới có thể ăn được; (14) Thực Hương Quỷ (食香鬼, quỷ ăn hương), do vì bán loại hương xấu mà lại được lợi nhiều, nên bị quả báo chỉ ăn hương khói mà thôi; (15) Tật Hành Quỷ (疾行鬼, quỷ đi nhanh), nếu có phá giới mà lại mang pháp phục tu sĩ, lường gạt, làm mê hoặc để lấy tài của; bảo cúng cho người bệnh, cuối cùng chẳng đưa cho người đó, lại lấy tự ăn một mình, nên bị quả báo thường ăn đồ nhơ nhớp, tự thiêu cháy thân mình; (16) Tứ Tiện Quỷ (伺便鬼, quỷ dòm rình đại tiểu tiện), do dùng mưu mô, lường gạt lấy tài của mà chẳng tu phước nghiệp, vì vậy mới thọ quả báo này, nơi lông của thân có lửa phát ra, thường ăn khí lực bất tịnh của người để tự tồn tại; (17) Hắc Ám Quỷ (黑闇鬼, quỷ đen tối), do vì làm trái pháp luật mà mong cầu tài của, làm cho người khác phải bị vào lao ngục, nên mắt chẳng thấy được, tiếng thường ai oán, bị ở trong chỗ tối tăm có nhiều rắn; (18) Đại Lực Quỷ (大力鬼, quỷ có sức mạnh lớn), do vì trộm cắp đồ của người, lại đem cho kẻ ác, nên chịu quả báo này, có sức thần thông lớn, chịu nhiều khổ não; (19) Xí Nhiên Quỷ (熾然鬼, quỷ bốc cháy), do phá thành, lục soát, cướp bóc, sát hại bá tánh, nên chịu quả báo này, thường la hét, khóc than, thân biến bốc lửa cháy; (20) Tứ Anh Nhi Tiện Quỷ (伺嬰兒便鬼, quỷ dòm rình con nít đại tiểu tiện), do giết hại con nít, tâm sanh giận dữ, nên chịu quả báo này, thường rình dòm người đại tiểu tiện, và có thể hại con nít; (21) Dục Sắc Quỷ (欲色鬼, quỷ ham sắc dục), do háo dâm, có tài của mà không bố thí để tạo ruộng phước, nên chịu quả báo này, du hành trong cõi người, cùng người giao tiếp, liều làm yêu quái để cầu mạng sống; (22) Hải Chử Quỷ (海渚鬼, quỷ sống ở cồn biển), do khi đi nơi đồng trống thấy người bệnh khổ, lừa dối người để lấy tài vật, nên bị sanh nơi cồn biển, chịu nỗi khổ nóng lạnh, gấp hơn con người 10 lần; (23) Diêm La Vương Chấp Trượng Quỷ (閻羅王執杖鬼, quỷ cầm gậy vua Diêm La), do đời trước, từng gần gũi quốc vương đại thần, chuyên làm việc bạo ác, nên chịu quả báo này, làm sứ giả cho nhà vua, làm con quỷ cầm gậy; (24) Thực Tiểu Nhi Quỷ (食小兒鬼, quỷ ăn con nít), do vì nói chú thuật làm mê hoặc, lừa dối lấy tài vật của người, giết hại heo dê, chết rồi đọa Địa Ngục, sau chịu quả báo này, thường ăn thịt con nít; (25) Thực Nhân Tinh Khí Quỷ (食人精氣鬼, quỷ ăn tinh khí người), do lừa dối là bạn thân, bảo rằng tôi sẽ cứu giúp bạn, khiến người ấy dung sức mạnh xông pha chết trong trận chiến, rốt cuộc không được cứu giúp, nên chịu quả báo này; (26) La Sát Quỷ (羅剎鬼, quỷ La Sát), do giết hại sinh mạng để làm đại hội, nên chịu quả báo đói khát, lửa thường bốc cháy; (27) Hỏa Thiêu Thực Quỷ (火燒食鬼, quỷ lửa cháy), do tâm keo kiệt, ganh tỵ, ăn đồ chúng tăng, nên trước đọa Địa Ngục, rồi từ Địa Ngục ra, làm thân con quỷ lửa thiêu đốt thân; (28) Bất Tịnh Hạng Mạch Quỷ (不淨巷陌鬼, quỷ ăn đồ bất tịnh nơi đường hẽm, bờ ruộng), do lấy đồ bất tịnh này mà cho người Phạm hạnh, nên chịu quả báo này, thường ăn đồ bất tịnh; (29) Thực Phong Quỷ (食風鬼, quỷ ăn gió), do thấy người xuất gia đến khất thực, hứa mà không bố thí cho họ thức ăn, nên thường bị đói khát, như cái khổ địa ngục; (30) Thực Thán Quỷ (食炭鬼, quỷ ăn than), do làm chủ hình ngục, cấm không cho ăn uống, nên chịu quả báo này, thường ăn than lửa; (31) Thực Độc Quỷ (食毒鬼, quỷ ăn chất độc), do vì lấy thức ăn độc làm cho người mất mạng, nên bị đọa Địa Ngục, sau làm thân quỷ, thường đói khát, ăn lửa độc, đốt cháy thân hình; (32) Khoáng Dã Quỷ (曠野鬼, quỷ nơi đồng trống), do các ao hồ nơi đồng trống tạo nên để bố thí nước cho người, nhưng vì ác khẩu, quyết phá khiến cho người đi đường phải chịu khát mệt, nên chịu quả báo này, thường bị đói khát, lửa đốt cháy thân hình; (33) Trũng Gian Thực Thán Thổ Quỷ (塚間食灰土鬼, quỷ sống nơi gò mã ăn tro đất), do lấy trộm hoa cúng Phật bán để nuôi sống, nên chịu quả báo này, thường ăn người chết, thây chết bốc cháy thành tro nóng; (34) Thọ Hạ Trú Quỷ (樹下住鬼, quỷ sống dưới gốc cây), do thấy người trồng cây để đem lại bóng mát cho người, lấy ác tâm mà chặt đi, lấy làm tài vật sử dụng, nên bị đọa vào trong thân cây, thường bị nóng lạnh bức thân; (35) Giao Đạo Quỷ (交道鬼, quỷ sống nơi đường giao thông), do cướp đoạt lương thực người đi đường, nên thường bị cưa sắt cắt thân, nhờ cúng tế nơi ngã tư đường, lấy thức ăn để nuôi sống bản thân; (36) Ma La Thân Quỷ (魔羅身鬼, quỷ thân Ma La), do làm việc tà đạo, không tin chân chánh, đọa làm ma quỷ, thường phá pháp lành của người.
tam thập lục bộ thần vương
(三十六部神王) Cũng gọi Tam thập lục thiện thần. Chỉ cho 36 vị thiện thần theo truyền thuyết do trời Đế thích sai xuống nhân gian để che chở cho loài người, đồng thời tiếp nhận Tam qui của thiện nam, tín nữ. Đó là: 1. Di lật đầu bất la bà(Hán dịch: Thiện quang), coi về tật bệnh. 2. Di lật đầu bà ha sa (Thiện minh), chủ việc đau đầu. 3. Di lật đầu bà la ba (Thiện phương), coi về việc lạnh nóng. 4. Di lật đầu chiên đà la (Thiện nguyệt), coi về việc đầy bụng. 5. Di lật đầu đà lợi xa (Thiện kiến), chủ về bệnh ung nhọt. 6. Di lật đầu a lâu ha (Thiện cung), coi về bệnh điên cuồng. 7. Di lật đầu bà già đế(Thiện xả), chủ việc ngu si. 8. Di lật đầu tất đế đá(Thiện tịch), chủ về việc sân khuể. 9. Di lật đầu bồ đề tát(Thiện giác), chủ việc dâm dục. 10. Di lật đầu đề bà la(Thiện thiên), coi về tà quỉ. 11. Di lật đầu ha ba đế(Thiện trụ), chủ về thương vong. 12. Di lật đầu bất nhược la (Thiện phúc), coi về việc mồ mả. 13. Di lật đầu bật xà già(Thiệt thuật), chủ việc4phương. 14. Di lật đầu già lệ bà(Thiện đế), chủ việc oán gia. 15. Di lật đầu la xà già(Thiện vương), coi việc trộm cắp. 16. Di lật đầu tu càn đà(Thiện hương), coi việc nợ nần. 17. Di lật đầu đàn na ba(Thiện thí), coi việc giặc cướp. 18. Di lật đầu chi đa na (Thiện ý), chủ về việc dịch độc. 19. Di lật đầu la ba na(Thiện cát), coi về việc ngũ ôn. 20. Di lật đầu bát bà đà(Thiện sơn), coi việc trùng độc. 21.Di lật đầu tam ma đà(Thiện điều), coi việc chú liên. 22. Di lật đầu lệ đế đà(Thiện bị), coi việc qua lại. 23. Di lật đầu ba lợi đà(Thiện kính), chủ việc dắt dẫn nhau. 24. Di lật đầu ba lợi na(Thiện tịnh), coi về việc các đảng xấu ác. 25. Di lật đầu kiền già địa (Thiện phẩm), coi việc dòi bọ độc hại. 26. Di lật đầu tì lê đà(Thiện kết), chủ việc khủng bố. 27. Di lật đầu chi đà na (Thiện thọ), chủ việc ách nạn. 28. Di lật đầu già lâm ma (Thiện du), chủ việc sinh nở. 29. Di lật đầu a lưu già (Thiện nguyện), chủ việc quan huyện. 30. Di lật đầu xà lợi đà(Thiện nhân), chủ việc miệng lưỡi. 31. Di lật đầu a già đà(Thiện chiếu), chủ việc lo buồn. 32. Di lật đầu a sa ha (Thiện sinh), chủ việc bất an. 33. Di lật đầu sa hòa la(Thiện chí), chủ việc quái gở. 34. Di lật đầu ba lợi na (Thiện tạng), chủ việc ghen ghét. 35. Di lật đầu chu đà na (Thiện âm), chủ việc nguyền rủa. 36. Di lật đầu vi đà la(Thiện diệu), chủ việc yếm đảo. Nguồn gốc thuyết Thiện thần thủ hộ này đã rất lâu xa, có lẽ chịu ảnh hưởng tư tưởng của Đạo giáo mà ra. [X. kinh Quán đính Q.3; Vãng sinh yếu tập Q.hạ phần đầu; Chỉ quất dịch thổ tập Q.25].
tam thập lục cú
(三十六句) Ba mươi sáu câu. Khi bàn về cảm ứng đạo giao, Pháp hoa kinh huyền nghĩa căn cứ vào sự tương xứng giữa Cơ và Ứng mà lập thành 36 câu. Cơ của chúng sinh tương ứng với Như lai, đó là Cơ ứng; lí tính của chúng sinh và lí tính của Phật không khác nhau, nhưng ở chúng sinh thì lí ấy ẩn kín, còn ở Phật thì hiển hiện rõ ràng. Cơ và Ứng được dựa vào tính chẳng 1 chẳng khác ấy mà lập ra. Cơ được chia làm 4 loại: Cơ thầm kín, Cơ hiển hiện, Cơ vừa thầm kín vừa hiển hiện, Cơ chẳng phải thầm kín chẳng phải hiển hiện. Ứng cũng được chia làm 4 loại là Ứng thầm, Ứng hiển, Ứng vừa thầm vừa hiển, Ứng chẳng phải thầm chẳng phải hiển. Bốn cơ trên được phối với 4 ứng: Cơ thầm ứng thầm, cơ thầm ứng hiển, cơ thầm ứng vừa thầm vừa hiển, cơ thầm ứng chẳng phải thầm chẳng phải hiển; ba cơ còn lại cũng giống như thế, cộng tất cả thành 16 câu. Cơ đã triệu Ứng thì ứng cũng thành 16 câu, như ứng thầm cơ thầm, ứng thầm cơ hiển, ứng thầm cơ vừa thầm vừa hiển, ứng thầm cơ chẳng phải thầm chẳng phải hiển; 3 ứng còn lại cũng giống như thế, Cơ và Ứng mỗi thứ đều 16 câu, hợp chung lại là 32 câu. Lại cộng thêm 4 câu gốc: Cơ thầm, Cơ hiển, Cơ vừa thầm vừa hiển, Cơ chẳng phải thầm chẳng phải hiển, thành 36 câu. Trong đó, thầm là quá khứ, hiển là hiện tại, vừa thầm vừa hiển là quá khứ và hiện tại, chẳng phải thầm chẳng phải hiển là vị lai. Cơ của thân nghiệp mỗi người có 36 cơ, 3 nghiệp có 108 cơ, 3 nghiệp trong 3 đời có 324 cơ. Trong 1 cõi(giới) có 324 cơ, tự hành hóa tha có 6480 cơ, bởi thế, trong cả 10 cõi có 64800 cơ. [X. Quán âm huyền nghĩa Q.hạ; Quán kinh sớ diệu tông sao Q.4; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.2]. (xt. Cảm Ứng Đạo Giao).
tam thập lục cầm
(三十六禽) Cũng gọi Tam thập lục thời thú, Tam thập lục thú. Chỉ cho 36 cầm thú thay nhau xuất hiện trong 12 thời của 1 ngày đêm để não loạn người tu thiền. Mỗi 1 thời(2 tiếng đồng hồ) đều có 3 con thú, giờ Dần có chồn, báo, hổ; giờ Mão là cáo, thỏ, cầy(lạc); giờ Thìn là rồng, thuồng luồng, cá; giờ Tị là ve sầu, cá chép, rắn; giờ Ngọ là nai, ngựa, hoẵng; giờ Mùi là dê, ngỗng trời, chim ưng; giờ Thân là dứu(1 giống khỉ), vượn, khỉ; giờ Dậu là quạ, gà, trĩ; giờ Tuất là chó, sói, sài; giờ Hợi là lợn, lợn lòi, lợn con; giờ Tí là mèo, chuột, dơi; giờ Sửu là bò, cua, ba ba. Chín con thú vào các giờ Dần, Mão, Thìn thuộc về Mộc ở phương đông; 9 con thú vào các giờ Tị, Ngọ, Mùi thuộc về Hỏa ở phương nam; 9 con thú vào các giờ Thân, Dậu, Tuất thuộc về Kim ở phương tây; 9 con thú vào các giờ Hợi, Tí, Sửu thuộc về Thủy ở phương bắc. Cứ theoThời mà gọi tên những con thú ấy thì tiêu trừ được quỉ mị.Ngoài ra, 36 con thú này được xếp vào Tinh mạn đồ la của Mật giáo. [X. Ma ha chỉ quán Q.8 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.8, phần3].
tam thập lục vật
xem ba mươi sáu thứ.
; The thirty-six physical parts and excretions of the human body, all being unclean, i.e. the vile body.
; (三十六物) Ba mươi sáu vật. Tức chỉ cho 36 yếu tố cấu tạo thành thân người. Tuy nhiên, về số mục thì có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 48 thì 36 vật được chia làm 3 loại là Ngoại tướng, Thân khí và Nội hàm. 1. Ngoại tướng, gồm 12 vật: Tóc, lông, móng, răng, nhử mắt, nước mắt, nước miếng, nước dãi, phân, nước tiểu, ghét gúa, mồ hôi. 2. Thân khí, gồm 12 vật: Da dày, da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ lá, mỡ nước, não, màng. 3. Nội hàm, gồm 12 vật: Gan, mật, ruột, dạ dày(bao tử), lá lách, thận, tim, phổi, sinh tạng, thục tạng, đàm đỏ, đàm trắng. Theo kinh Tạp a hàm quyển 43 thì 36 vật là: Tóc, lông, móng, răng, ghét, nước miếng, dạ dày, thịt, xương, gân, mạch, tim, gan, phổi, lá lách, thận, ruột, bao tử, sinh tạng, thục tạng, cái nhau, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước bọt, mỡ lá, mỡ nước, tủy, đàm, ấm, mủ, máu, não, chất nhờn, phân, nước tiểu. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 22 (Đại 12, 749 trung) nói: Thấy thân phàm phu đầy dẫy 36 vật nhơ nhớp. Cho nên Bất tịnh quán chính là quán xét 36 vật nhơ nhớp này(nhơ nhớp từ tự thể). [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.25; kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng].
tam thập lục đối
(三十六對) Cũng gọi Tam khoa tam thập lục đối pháp môn. Ba mươi sáu đối. Tức 36 khái niệm có tính chất tương đối do Lục tổ Tuệ năng của Thiền tông phó chúc cho đệ tử. Ba mươi sáu khái niệm này gồm trong 3 khoa: 1. Đối pháp ngoại cảnh: Có 5 cặp đối nhau: Trời đối với đất, mặt trời đối với mặt trăng, sáng đối với tối, âm đối với dương và nước đối với lửa. 2. Pháp tướng ngữ ngôn: Có 12 cặp đối nhau: Ngữ đối với pháp, hữu đối với vô, có sắc đối với không sắc, có tướng đối với không tướng, hữu lậu đối với vô lậu, sắc đối không, động đối với tĩnh, trong đối với đục, phàm đối với thánh, tăng đối với tục, già đối với trẻ và lớn đối với nhỏ. 3. Tự tính khởi dụng: Có 19 cặp đối nhau: Dài đối với ngắn, tà đối với chính, si đối với tuệ, ngu đối với trí, loạn đối với định, lành đối với độc, giới đối với lỗi, thẳng đối với cong, thực đối với hư, hiểm đối với bình, phiền não đối với bồ đề, thường đối với vô thường, bi đối với hại, mừng đối với giận, xả bỏ đối bỏn sẻn, tiến đối với lui, sinh đối với diệt, phápthân đối với sắc thân và hóa thân đối với báo thân... Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh (Đại 48, 360 trung) nói: Nếu hiểu và ứng dụng được 36 đối pháp này thì hiểu thấu tất cả kinh pháp, ra vào lìa được 2 bên; hoạt động theo tự tính, nói năng với mọi người. Bên ngoài đối với tướng lìa tướng, bên trong đối với không lìa không. Nếu chỉ chấp tướng thì mãi mãi ở trong tà kiến, nếu chỉ chấp không thì mãi mãi sống trong vô minh. Vậy làm thế nào mà ứng dụng đúng 36 đối pháp này để đạt được nghĩa Trung đạo? Đức Lục tổ dạy tiếp (Đại 48, 360 hạ): Nếu có người hỏi về nghĩa lí, hễ họ hỏi hữu thì đáp bằng vô, hỏi vô thì đáp bằng hữu, hỏi phàm thì đáp thánh, hỏi về thánh thì đáp bằng phàm. Hai bên (thiên lệch) làm nhân cho nhau mà phát sinh nghĩa Trung đạo. [X. Thiền học đích hoàng kim thời đại (Ngô kinh hùng)].
tam thập ngũ phật
(三十五佛) Ba mươi lăm đức Phật thường trụ trong tất cả thế giới ở 10 phương. Theo Tam thập ngũ Phật danh lễ sám văn thì 35 đức Phật gồm: 1. Phật Thích ca mâu ni. 2. Phật Kim cương kiên cố năng tồi, cũng gọi là Phật Kim cương bất hoại. 3. Phật Bảo diệm, cũng gọi là Phật Bảo quang. 4. Phật Long tự tại vương, cũng gọi là Phật Long tôn vương. 5. Phật Cần dũng quân, cũng gọi Phật Tinh tiến quân. 6. Phật Cần dũng hỉ, cũng gọi Phật Tinh tiến hỉ. 7. Phật Bảo hỏa. 8. Phật Bảo nguyệt quang. 9. Phật Bất không kiến, cũng gọi Phật hiện vô ngu. 10. Phật Bảo nguyệt. 11. Phật Vô cấu. 12. Phật Li cấu. 13. Phật Dũng thí. 14. Phật Tịnh hạnh, cũng gọi Phật Thanh tịnh. 15. Phật Phạm thí, cũng gọi Phật Thanh tịnh thí. 16. Phật Thủy vương, cũng gọi Phật Bà lưu na. 17. Phật Thủy thiên. 18. Phật Hiền cát tường, cũng gọi Phật Kiên đức. 19. Phật Vô lượng uy đức, cũng gọi Phật Chiên đàn công đức. 20. Phật Chiên đàn cát tường, cũng gọi Phật Vô lượng cúc quang. 21. Phật Quang cát tường, cũng gọi Phật Quang đức.22. Phật Vô ưu cát tường, cũng gọi Phật Vô ưu đức. 23. Phật Na la diên cát tường, cũng gọi Phật Na la diên. 24. Phật Hoa cát tường, cũng gọi Phật Công đức hoa. 25. Phật Liên hoa quang du hí thần thông. 26. Phật Tài cát tường, cũng gọi Phật Tài công đức. 27. Phật Niệm cát tường, cũng gọi Phật Đức niệm. 28. Phật Thiện xưng danh hiệu cát tường, cũng gọi Như Lai Thiện xưng danh công đức. 29. Phật Đế chàng phan vương, cũng gọi Như laiHồng viêm chàng vương. 30. PhậtĐấu chiến thắng, cũng gọi Như lai Thiện du bộ công đức. 31. PhậtDũng kiện cát tường, cũng gọi Như lai Đấu chiến thắng. 32.PhậtDũng kiệntiến, cũng gọi Như lai Thiện du bộ. 33.Phật Phổ biến chiếu diệu trang nghiêm cát tường, cũng gọi Như lai Chu táp trang nghiêm công đức. 34. Phật Bảo liên hoa du bộ, cũng gọi Như lai Bảo liên du bộ. 35. Phật Bảo liên hoa diệu trụ sơn vương, cũng gọi Như lai Bảo liên hoa thiện trụ Sa la thụ vương. Lời bạt trong Tam thập ngũ Phật danh lễ sám văn còn nói rằng những nhà tu hành Đại thừa ở Ngũ thiên trúc thường lễ sám 35 đức Phật này vào 6 thời trong ngày. Hiện nay, tín ngưỡng Tam thập ngũ Phật vẫn còn thịnh hành tại Tây tạng. [X. kinh Quyết định tì ni; hội Ưu ba li trong kinh Đại bảo tích Q.90; kinh Quán hư không tạngbồ tát; Pháp uyển châu lâm Q.86].
tam thập nhất sắc
(三十一色) Ba mươi mốt loại sắc. Tức cộng chung 13 loại hiển sắc, 10 loại hình sắc và 8 loại biểu sắc thành 31 loại sắc. Trong đó, 13 loại: Xanh, vàng, đỏ, trắng, ánh sáng, bóng, sáng, tối, khói, mây, bụi, móc và hư không là Hiển sắc, vì chúng lấy sự hiện rõ làm sắc; 10 loại: Dài, ngắn, vuông, tròn, to, nhỏ, cao, thấp, ngay ngắn và không ngay ngắn là Hình sắc, vì chúng lấy hình lượng làm sắc, còn 8 thứ là lấy, bỏ, co, duỗi, đi, đứng, ngồi và nằm là Biểu sắc, vì chúng lấy sựbiểu hiện rõ ràng làm sắc. (xt. Sắc).
tam thập nhật phật danh
(三十日佛名) Cũng gọi Tam thập Phật danh, Tam thập nhật bí Phật. Danh hiệu Phật và 30 ngày. Nghĩa là 30 vị Phật, Bồ tát được phối hợp với 30 ngày trong 1 tháng. Nghĩa này trong các kinh luận không thấy có, nhưng cứ theo Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 10 thì do Thiền sư Sư giới ở núi Ngũ tổ soạn vào khoảng đời Ngũ đại. Cách phối hợp ấy là: -Mồng 1 là PhậtĐịnh quang. -Mồng 2 là Phật Nhiên đăng. -Mồng 3 là Phật Đa bảo. -Mồng 4 là Phật A súc. -Mồng 5 là bồ tát Di lặc. -Mồng 6 là Phật Nhị vạn đăng. -Mồng 7 là Phật Tam vạn đăng. -Mồng 8 là Dược sư Như lai. -Mồng 9 là Phật Đại thông trí thắng. -Mồng 10 là Phật Nhật nguyệt đăng minh. -Ngày 11 là Phật Hoan hỉ. -Ngày 12 là Nan thắng Như lai. -Ngày 13 là bồ tát Hư không tạng. -Ngày 14 là bồ tát Phổ hiền. -Ngày 15 là Phật A di đà. -Ngày 16 là bồ tátĐà la ni. -Ngày 17 là bồ tát Long thụ. -Ngày 18 là bồ tát Quán thế âm. -Ngày 19 là bồ tát Nhật quang. -Ngày 20 là bồ tát Nguyệt quang. -Ngày 21 là bồ tát Vô tận ý. -Ngày 22 là bồ tát Thí vô úy. -Ngày 23 là bồ tát Đắc đại thế chí. -Ngày 24 là bồ tát Địa tạng. -Ngày 25 là bồ tát Văn thù sư lợi. -Ngày 26 là bồ tát Dược thượng. -Ngày 27 là Lô xá na Như lai. -Ngày 28 là Đại nhật Như lai. -Ngày 29 là bồ tát Dược vương. -Ngày 30 là Phật Thích ca mâu ni. [X. môn Xưng hô Thiền lâm tượng khí tiên].
tam thập nhị khí
(三十二器) Chỉ cho 32 pháp mà Bồ tát thành tựu. Vì 32 pháp này được sử dụng để thành biện sự và lí nên gọi làKhí. 1. Bồ đề tâm khí: Chỉ cho cái được Phật hộ trì. 2. Vô ngụy khí: Chuyên tâm chất phác chính trực. 3. Thiện căn khí: Tăng trưởng ý chí. 4. Bồ đề trụ khí(cũng gọiBồ đề căn khí): Tu tập hành đạo. 5. Đa văn khí: Chính ý tư duy. 6. Xuất đạo khí: Chỉ cho tuệ. 7. Tập nghĩa khí: Chỉ cho sự tiến thủ. 8. Đại phú khí: Chỉ cho sự bố thí. 9. Mãn nguyện khí: Chỉ cho sự giữ giới. 10. Tam thập nhị trượng phu tướng khí(gọi tắt: Đoan chính khí): Chỉ cho nhẫn nhục. 11. Nhất thiết Phật pháp khí: Chỉ cho tinh tiến. 12. Luyện tâm khí: Chỉ cho thiền định. 13. Độ chướng khí: Chỉ cho trí tuệ. 14. Đẳng chư chúng sinh khí: Chỉ cho đại từ. 15. Cứu bạt bần cùng khí: Chỉ cho đại bi. 16. Hỉ lạc Phật pháp khí: Chỉcho đại hỉ. 17. Xả li ái khuể khí: Chỉ cho đại xả. 18. Chư thiện căn khí: Chỉ cho thiện tri thức. 19. Bát nhã ba la mật khí: Chỉ cho tinh tiến đa văn. 20. Li phược ngại khí: Chỉ cho xuất gia.21. Thiểu sự vụ vô não loạn khí: Chỉ cho chỗ A lan nhã, tức nơi yên tĩnh. 22. Chư thiền định thần thông khí: ưa sự tĩnh lặng. 23. Hóa chúng sinh khí: Chỉ cho Tứ nhiếp pháp. 24. Tứ minh khí: Giữ gìn các pháp. 25. Văn nhất thiết vị văn pháp khí: Chỉ cho Đà la ni. 26. Đoạn nhất thiết nghi khí: Chỉ cho biện tài. 27. Kiến chư Phật khí(gọi tắt: Kiến Phật khí): Niệm Phật. 28. Hộ nhất thiết thiện căn khí: Không có tâm não hại. 29. Đoạn ngã kiến khí:Chỉ cho pháp không. 30. Xả chư sở trân khí: Chỉ cho nhân duyên. 31. Xả chư chướng ngại thụ kí khí: Chỉ cho vô sinh pháp nhẫn. 32. Vô úy khí: Địa vị Duyên bất thoái. [X. kinh Đại thụ khẩn na la vương sở vấn Q.4].
tam thập nhị thân
The thirty-two forms of Quán thế Âm and of Phổ Hiền, ranging from that of a Buddha to that of a man, a maid, a raksas; similar to the thirty-three forms named in the Lotus sùtra.
Tam Thập Nhị Tướng
(s: dvatriṃśan-mahāpurisa-lakṣaṇāni, p: dvattiṃsa-mahāpurisa-lakkhaṇāni, 三十二相): 32 loại hình tướng và dung mạo rất thù thắng của vị Chuyển Luân Thánh Vương cũng như Phật, còn gọi là 32 tướng của một bậc đại nhân, 32 tướng của bậc đại trượng phu, 32 tướng của bậc đại sĩ. Theotruyền thuyết của Ấn Độ ngày xưa, người nào có đầy đủ các tướng hảo như thế này sẽ trở thành Chuyển Luân Vương thống trị thiên hạ; nếu người ấy xuất gia thì sẽ khai ngộ vô thượng chánh giác. Về thứ tự tên gọi các tướng có nhiều thuyết khác nhau, nay y cứ theo quyển 4 của Đại Trí Độ Luận (大智度論), 32 tướng gồm: (1) Đứng an trụ dưới chân (s: su-pratiṣṭhita-pāda, 足下安平立): có nghĩa rằng lòng bàn chân của bằng phẳng, mềm mại, đứng trụ vững chắc trên mặt đất. Khi đức Phật còn đang hành đạo Bồ Tát, tu sáu ba la mật nên cảm được tướng mầu như vậy. Tướng này dẫn đến công đức có lợi ích. - (2) Dưới bàn chân có hai bánh xe (足下二輪): hay còn gọi là tướng nghìn bánh xe, tướng này có thể hàng phục được oán địch, ác ma, thể hiện công đức chiếu phá vô minh và ngu si. Khi nói chân có nghĩa là cả tay chân, nên gọi là tướng tay chân có vòng tròn (s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala). (3) Ngón tay dài (s: dīrghāṅguli, 長指): tức cả hai tay chân đều thon nhỏ, dài và thẳng, đó chính là do nhờ cung kính lễ bái các vị sư trưởng, phá trừ tâm kiêu căng ngã mạn nên cảm được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện tuổi thọ lâu dài, có công đức khiến cho chúng sanh vui thích quy y theo. - (4) Gót chân rộng và bằng phẳng (s: āyata-pāda-pārṣṇi, 足跟廣平): hay còn gọi là tướng gót chân tròn đầy, gót chân dài. Nhờ có giữ giới, nghe pháp, siêng năng tu tập mà có được tướng này. Nó thể hiện công đức hóa độ và làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh cho đến đời tương lai. (5) Ngón tay ngón chân có màng lưới (s: jālāvanaddha-hasta-pāda, 手足指縵綱): hay còn gọi là tướng của vua chim nhạn giữa các ngón tay, nghĩa là giữa mỗi ngón tay và chân đều có lớp màng lưới giao nhau hình hoa văn, giống như vua loài chim nhạn khi dang móng vuốt ra liền hiện tướng này. Nhờ có tu tứ nhiếp pháp mà có được tướng như vậy. Nó có hiện ra hay mất đi một cách tự do tự tại, thể hiện công đức xa lìa phiền não, nghiệp ác, đạt đến bờ vô vi bên kia. - (6) Tay chân mềm mại (s: mṛdu-taruṇa-hasta-pāda-tala, 手足柔軟): nghĩa là tay chân vô cùng mềm mại, như lông mịn. Nhờ có dùng các thức ăn uống cao quý, y cụ cúng dường cho thầy mình, hay khi cha mẹ và thầy bị bệnh hoạn, nhờ hết mình gần gủi chăm sóc, hầu hạ nên có được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện công đức mà đức Phật dùng bàn tay mềm mại từ bi để nhiếp độ những người thân hay xa lạ. (7) Mu bàn chân cao đầy (s: ucchaṅkha-pāda, 足趺高滿): hay còn gọi là mu bàn chân cao bằng, mu bàn chân thẳng dày. Nhờ tu phước, dũng mãnh tinh tấn nên có được tướng này, thể hiện công đức làm lợi ích cho chúng sanh và có tâm đại bi vô thượng. - (8) Bắp đùi tròn mềm như con nai chúa (s: aiṇeya-jaṅgha, 腨鹿王): có nghĩa là xương thịt bắp đùi tròn mềm như con sơn dương, do vì xưa kia chuyên tâm nghe pháp và diễn thuyết, nên có được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện công đức tiêu diệt hết tất cả tội chướng. (9) Đứng thẳng tay dài quá gối (s: sthitānavanata-pralamba-bāhutā, 正立手摩膝): hay còn gọi là tướng tay buông xuống quá gối, đứng thẳng tay quá gối. Tướng này có được là nhờ xa lìa ngã mạn, khéo bố thí, không tham lam. Nó thể hiện công đức hàng phục hết thảy ác ma, thương xót xoa đầu chúng sanh. - (10) Nam căn ẩn kín (s: kośopagata-vasti-guhya, 陰藏): có nghĩa là nam căn dấu kín trong cơ thể như âm vật của con ngựa hay con voi. Tướng này có được là nhờ đoạn trừ tà dâm, cứu giúp các chúng sanh sợ hãi, v.v. Nó thể hiện công đức tuổi thọ lâu dài và có nhiều đệ tử. (11) Thân thể dài rộng (s: nyagrodha-parimaṇḍala, 身廣長等): thân Phật ngang rộng, phải trái, trên dưới, tất cả đều nhau, xung quanh thân tròn đầy, như cây Ni Câu Luật (s: nyagrodha, p: nigrodha, 尼拘律, Ficus indica), do vì ngài thường khuyên chúng sanh hành trì tam muội, làm việc bố thí không sợ hãi nên có được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện công đức tự tại tôn quý của đấng pháp vương. (12) Lông hướng lên trên (s: ūrdhvaṃ-ga-roma, 毛上向): hay lông tóc của thân thể đều hướng về bên phải, có màu xanh nhạt, mềm mại. Tướng này có được do nhờ hành tất cả các pháp, có thể khiến cho chúng sanh chiêm ngưỡng, tâm sanh vui vẻ, có được lợi ích vô lượng. (13) Mỗi lỗ chân lông đều có lông mọc (s: ekaika-roma-pradakṣiṇāvarta, 一一孔一毛生): nghĩa là mỗi lỗ chân lông đều có lông mọc ra, lông ấy xanh như màu ngọc lưu ly, và nơi mỗi lỗ chân lông đều toát ra mùi thơm vi diệu. Tướng này có được là nhờ tôn trọng, cúng dường hết thảy chúng hữu tình, chỉ bày cho người không biết mệt mỏi, gần gủi người trí, dọn dẹp nhưng con đường gai góc. Người có được ánh sáng từ lỗ chân lông ấy có thể tiêu trừ 20 kiếp tội chướng. - (14) Thân thể vàng rực (s: suvarṇa-varṇa, 金色): hay gọi là có thân tướng vàng rực tuyệt diệu, da thân màu vàng rực, tức là thân Phật cũng như tay chân đều có màu vàng rực, giống như đài vàng tuyệt diệu làm trang nghiêm cho các báu vật. Tướng này có được nhờ xa lìa các sự tức giận, nhìn chúng sanh với con mắt hiền từ. Đức tướng này có thể khiến cho chúng sanh chiêm ngưỡng, chán bỏ vui thích, diệt tội, phát sanh điều thiện. (15) Thân phát ánh sáng lớn (大光): tức thân của Phật có ánh sáng chiếu khắp ba ngàn thế giới, bốn mặt xa đến 1 trượng. Tướng này có được nhờ phát tâm bồ đề lớn và tu tập vô lượng hạnh nguyện. Nó có thể trừ đi các hoặc, phá tan chướng ngại và thể hiện công đức có thể làm cho đầy đủ hết thảy các chí nguyện. (16) Da mềm mỏng (s: sūkṣma-suvarṇacchavi, 細薄皮): tức da mềm mỏng, trơn láng, không bị nhiễm bởi bụi nhơ. Do nhờ lấy các thứ y phục, phòng ốc, lầu gác sạch sẽ cho chúng sanh, xa rời người ác, gần gủi người trí mà có được tướng tốt này. Nó thể hiện sự bình đẳng, không nhơ nhớp của đức Phật, và công đức từ bi lớn hóa độ và làm lợi ích cho chúng sanh. (17) Bảy chỗ tròn đầy (s: saptotsada, 七處隆滿): có nghĩa là 7 chỗ gồm thịt ở hai tay, dưới hai chân, hai vai và cuống cổ đều tròn đầy, mềm mại. Tướng này có được nhờ không tham tiếc đồ vật mình yêu thích, đem cho chúng sanh. Nó thể hiện công đức làm cho hết thảy chúng sanh đạt được tướng này và tiêu diệt tội lỗi, sanh điều thiện. - (18) Dưới hai nách đầy đặn (s: citāntarāṃsa, 兩股下隆滿): hay dưới hai nách bằng phẳng và đầy đặn, có nghĩa rằng xương thịt dưới hai nách của đức Phật đầy đặn không khuyết. Tướng này có được nhờ đức Phật ban cho chúng sanh thuốc men, thức ăn uống và có thể tự khám bệnh cho mình. (19) Thân trên như sư tử (s: siṃha-pūrvārdha-kāya, 上身如師子): tức nữa phần trên của thân đức Phật rộng lớn, đi đứng nằm ngồi đều oai nghiêm, đoan chánh giống như con sư tử. Tướng này có được nhờ đức Phật trong vô lượng thế giới chưa bao giờ nới lời hai lưỡi, dạy người các pháp thiện, thực hành lòng nhân và sự hòa hợp, xa rời ngã mạn. Nó thể hiện công đức có dung mạo cao quý, đầy đủ lòng từ bi. - (20) Thân thẳng to lớn (s: ṛjugātratā, 大直身): có nghĩa rằng trong tất cả thân con người, thân Phật là to lớn nhất mà thẳng. Nhờ cho thuốc, khám bệnh, giữ gìn giới không sát sanh, không trộm cắp, xa rời sự kiêu căng ngã mạn, nên có được tướng tốt như vậy. Nó có thể khiến cho chúng sanh thấy nghe, chấm dứt khổ đau, đạt được chánh niệm, tu 10 điều thiện. (21) Vai tròn to (s: su-saṃvṛta-skandha, 肩圓好): tức hai vai tròn đầy, to lớn, ngay thẳng, thù thắng, tuyệt diệu. Tướng này có được nhờ thường hay làm tượng, tu bổ tháp, ban bố sự không sợ hãi. Nó thể hiện công đức vô lượng của sự diệt trừ các lậu hoặc và tiêu nghiệp chướng. - (22) Có bốn mươi răng (s: catvāriṃśad-danta, 四十齒): tướng này chỉ đức Phật có đầy đủ 40 cái răng, cái nào cũng ngay thẳng, trắng như tuyết. Nhờ xa rời nghiệp không nói lời hai lưỡi, nói lời xấu ác, tâm tức giận, tu tập sự bình đẳng và từ bi nên có được tướng tốt như vậy. Nó thường tỏa ra mùi thơm vi diệu. Tướng tốt này có thể ngăn chận nghiệp nói lời xấu ác của chúng sanh, diệt hết tội vô lượng và thọ nhận sự vui vẻ vô lượng. (23) Răng thẳng (s: sama-danta, 齒齊): nghĩa là răng đều, khít nhau, bằng phẳng, không to không nhỏ, giữa hai răng không có khoảng hở lọt qua một sợi lông. Tướng này có được nhờ lấy 10 điều thiện để hóa độ và làm lợi ích cho chúng sanh, cũng như thường hay tán dương công đức của người khác. Nó thể hiện công đức có thể làm cho được thanh tịnh, hòa thuận, tất cả quyến thuộc đều đồng tâm nhất trí. - (24) Răng trắng như ngà (s: suśukla-danta, 牙白): hay răng trắng như tuyết, ngài 40 cái răng ra, trên dưới đều có 2 răng khác, màu sắc của nó tươi trắng, sáng trong, nhọn sắc như đỉnh núi, cứng rắn như kim cương. Tướng này có được nhờ thường suy nghĩ đến các pháp thiện, tu tập lòng từ. Tướng tốt này có thể giúp phá tan ba thứ độc cứng chắc, ương ngạnh của chúng sanh. (25) Má như sư tử (s: siṃha-hanu, 獅子頰): tức hai má tròn đầy như má của con sư tử. Người thấy tướng này có thể trừ được tội sanh tử trong trăm kiếp và thấy được các đức Phật. - (26) Trong nước miếng có chất thơm ngon (s: rasa-rasāgratā, 味中得上味): ám chỉ trong miệng của đức Phật thường có mùi vị thơm ngon nhất trong các mùi vị. Tướng này có được nhờ thường xem chúng sanh như con mình, và lấy các pháp thiện hồi hướng để trọn thành chánh quả. Nó biểu hiện công đức của Phật mà có thể làm cho đầy đủ chí nguyện của chúng sanh. (27) Lưỡi dài rộng (s: prabhūta-tanu-jihva, 廣長舌): tức đầu lưỡi dài rộng, mềm mỏng, khi thè lưỡi ra có thể chạm đến tóc. Nhờ có tâm phát thệ nguyện rộng lớn, lấy hạnh đại bi mà hồi hướng khắp pháp giới, nên có được tướng tốt như vậy. Khi nhìn thấy được tướng này, người ta có thể diệt trừ được tội sanh tử của 24.000 kiếp, được gặp 80 ức các đức Phật và Bồ Tát thọ ký cho. - (28) Tiếng nói của Phạm Thiên (s: brahma-svara, 梵聲): tiếng nói tròn đầy như tiếng vang của trống trời, cũng giống như tiếng chim Ca Lăng Tần Già (s: karaviṅka, kalaviṅka; p: karavīka, 迦陵頻伽). Nhờ có nói lời chân thật, lời nói hay, chế ngự hết thảy những lời nói xấu ác mà có được tướng tốt như vậy. Người nghe được tiếng nói như vậy, tùy theo căn cơ của mình mà có được lợi ích, sanh khởi điều tốt, cảm nhận và đoạn trừ được quyền thật lớn nhỏ, tiêu trừ mọi nghi ngờ. (29) Mắt trong xanh (s: abhinīla-netta, 眞青眼): tức mắt Phật có màu trong xanh, như hoa sen xanh (s: utpala, p: uppala, âm dịch là Ưu Bát La [優鉢羅], 青 蓮). Nhờ đời đời kiếp kiếp lấy tâm từ bi, con mắt từ bi và tâm hoan hỷ ứng xử đối với người ăn xin, nên có được tướng tốt này. - (30) Lông mi như bò rừng (s: go-pakṣmā, 牛眼睫): tức lông mi ngay thẳng, không tạp loạn. Tướng này có được nhờ quán hết thảy chúng sanh như cha mẹ mình, lấy tâm của người con mà thương xót, yêu mến. (31) Có nhục kế trên đầu (s: uṣṇīṣa-śiraskatā, 頂髻): tức trên đỉnh đầu có nhục kế nhô lên. Tướng này có được nhờ dạy người thọ trì pháp 10 điều thiện và tự bản thân mình cũng thọ trì. - (32) Lông mi trắng (s: ūrṇā-keśa, 白毫): tức giữa hai khoảng cách của lông mày có lông mi trắng, mềm mại như bông Đâu La (s, p: tūla, 兜羅), dài 1 trượng 5 thước, xoắn lại về phía bên phải. Do vì nó thường phóng ra ánh sáng nên được gọi là hào quang. Do nhờ thấy chúng sanh tu pháp Tam Học mà xưng dương tán thán nên có được tướng tốt như vậy. Trên đây là 32 tướng tốt. Nếu như người nào làm 100 điều thiện mới có được 1 tướng tốt như vậy, cho nên được gọi là “bách phước trang nghiêm (百福莊嚴, trăm phước trang nghiêm”. Như trong Trung A Hàm Kinh (中阿含經), quyển 11, Tam Thập Nhị Tướng Kinh (三十二相經) thứ 2, có đoạn: “Nhược Thế Tôn vị chư Tỳ Kheo thuyết Tam Thập Nhị Tướng giả, chư Tỳ Kheo văn dĩ đương thiện thọ trì (若世尊爲諸比丘說三十二相者、諸比丘聞已當善受持, nếu Thế Tôn vì các Tỳ Kheo nói Ba Mươi Hai Tướng, các Tỳ Kheo nghe xong nên khéo thọ trì).” Hay trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經), Phẩm Đề Bà Đạt Đa (提婆達多品) thứ 12 cũng có đoạn: “Phật cáo chư Tỳ Kheo: 'Nhĩ thời vương giả, tắc ngã thân thị, thời tiên nhân giả, kim Đề Bà Đạt Đa thị; do Đề Bà Đạt Đa thiện tri thức cố, linh ngã cụ túc Lục Ba La Mật, từ bi hỷ xả, Tam Thập Nhị Tướng, Bát Thập Chủng Hảo, tử ma kim sắc, Thập Lực, Tứ Vô Sở Úy, Tứ Nhiếp Pháp, Thập Bát Bất Cọng, thần thông đạo lực, thành Đẳng Chánh Giác, quảng độ chúng sanh, giai nhân Đề Bà Đạt Đa thiện tri thức cố' (佛告諸比丘、爾時王者、則我身是、時仙人者、今提婆達多是、由提婆達多善知識故、令我具足六波羅蜜、慈悲喜捨、三十二相、八十種好、紫磨金色、十力、四無所畏、四攝法、十八不共、神通道力、成等正覺、廣度眾生、皆因提婆達多善知識故, Phật bảo các Tỳ Kheo: 'Vị vua lúc bấy giờ tức là thân ta, tiên nhân lúc ấy là Đề Bà Đạt Đa; do vì Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức, khiến cho ta đầy đủ Sáu Ba La Mật, từ bi hỷ xả, Ba Mươi Hai Tướng, Tam Mươi Loại Sắc Đẹp, sắc hình vàng tía, Mười Lực, Bốn Vô Úy, Bốn Nhiếp Pháp, Mười Tám Pháp Bất Cọng, đạo lực thần thông, thành Đẳng Chánh Giác, độ khắp chúng sanh, đều do Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức').”
Tam thập nhị tướng
三十二相; C: sānshíèr xiāng; J: sanjūni sō; S: dvātriṃśan mahā-puruṣa-lakṣaṇāni.|Ba mươi hai tướng đặc thù của một hóa thân Phật. Có nhiều kinh luận khác nhau miêu tả, trình bày ba mươi hai tướng này khác nhau, nhưng một trong những cách trình bày thường gặp nhất được tìm thấy trong Du-già sư địa luận (瑜伽師地論; s: yogācārabhū-mi-śāstra) bao gồm: |1. Lòng bàn chân phẳng (túc hạ an bình lập tướng 足下安平立相; s: supratiṣṭhita-pāda); 2. Bánh xe pháp dưới lòng bàn chân (túc hạ nhị luân tướng 足下二輪相; s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala); 3. Ngón tay thon dài (trường chỉ tướng 長指相; s: dīr-ghāṅguli); 4. Bàn chân thon (túc cân phu trường tướng 足跟趺長相; s: āyata-pāda-pārṣṇi); 5. Ngón tay ngón chân cong lại (thủ túc chỉ man võng tướng 手足指縵網相; s: jālāvanaddha-hasta-pāda); 6. Tay chân mềm mại (thủ túc nhu nhuyễn tướng 手足柔軟相; s: mṛdu-taruṇa-hasta-pāda-tala); 7. Sống (mu) chân cong lên (túc phu cao mãn tướng 足趺高滿相; s: ucchaṅkha-pāda); 8. Cặp chân dài thon như chân sơn dương (y-ni-diên-đoán tướng 伊泥延踹相; s: aiṇeya-jaṅgha); 9. Đứng thẳng tay dài quá đầu gối (正立手摩膝相; s: sthi-tānavanata-pralamba-bāhutā); 10. Nam căn ẩn kín (âm tàng tướng 陰藏相; s: kośopagata-vasti-guhya); 11. Dang tay ra rộng dài bằng thân mình (thân quảng trường đẳng tướng 身廣長等相; s: nyagrodha-parimaṇḍala); 12. Lông đứng thẳng (mao thượng hướng tướng 毛上向相; s: ūr-dhvaṃga-roma); 13. Mỗi lỗ chân lông có một cọng lông (nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng 一一孔一毛生相; s: ekaika-roma-pradakṣiṇāvarta); 14. Thân vàng rực (kim sắc tướng 金色相; s: suvarṇa-varṇa); 15. Thân phát sáng (đại quang tướng 大光相); 16. Da mềm mại (tế bạc bì tướng 細薄皮相; s: sūkṣma-suvarṇa-cchavi); 17. Tay, vai và đầu tròn tương xứng (thất xứ long mãn tướng 七處隆滿相; s: sapta-utsada); 18. Hai nách đầy đặn (lưỡng dịch hạ long mãn tướng 兩腋下隆滿相; s: citāntarāṃsa); 19. Thân người như sư tử (thượng thân như sư tử tướng 上身如獅子相; s: siṃha-pūrvārdha-kāya); 20. Thân thẳng đứng (đại trực thân tướng 大直身相; s: ṛjugātratā); 21. Hai vai đầy đặn mạnh mẽ (kiên viên hảo tướng 肩圓好相; susaṃvṛta-skandha); 22. Bốn mươi cái răng (tứ thập xỉ tướng 四十齒相; s: catvāriṃśad-danta); 23. Răng đều (xỉ tề tướng 齒齊相; s: sama-danta); 24. Răng trắng (nha bạch tướng 牙白相; s: suśukla-danta); 25. Hàm sư tử (sư tử giáp tướng 獅子頰相; s: siṃha-hanu); 26. Nước miếng có chất thơm (vị trung đắc thượng vị tướng 味中得上味相; s: rasa-rasāgratā); 27. Lưỡi to dài (đại thiệt tướng 大舌相; s: prabhūta-tanu-jihva); 28. Tiếng nói tao nhã (phạm thanh tướng 梵聲相; s: brahma-svara); 29. Mắt xanh trong (chân thanh nhãn tướng 眞青眼相; s: abhinīla-netra); 30. Mắt giống mắt bò (ngưu nhãn tiệp tướng 牛眼睫相; s: go-pakṣmā); 31. Lông trắng giữa cặp chân mày (bạch mao tướng 白毛相; s: ūrṇā-keśa); 32. Một khối u trên đỉnh đầu (đỉnh kế tướng 頂髻相; s: uṣṇīṣa-śiraskatā).
tam thập nhị tướng
xem ba mươi hai tướng tốt.
; Dvàtrimsadvaralaksana (S). The thirty two laksanas or physical marks of a cakravarti or wheel-king chuyển luân thánh vương, especially of the Buddha, i.e. level feet, thousand-spoke wheel-sign on feet, long slender fingers, pliant hands and feet, toes and fingers finely webbed, full-sized heels, arched insteps, thighs like a royal stag, hands reaching below the knees, well retracted male organ, height and stretch or arms equal, every hair-root dark coloured, body hair graceful and curly, golden-hued body, a 10 ft. halo around him, soft smooth skin, the thất xứ, i.e. two soles, two palms, two shoulders, and crown well rounded, below the armpits well-filled, lion-shaped body, erect, full shoulders, forty teeth, teeth white even and close, the four canine teeth pure white, lion-jawed, saliva improving the taste of all food, tongue long and broad, voice deep and resonant, eyes deep blue, eyelashes like a royal bull, a whit ùrnà or curl between the eyebrows emitting light, an usnisa or fleshy rotuberance on the crown.
; (三十二相) Phạm: Dvàtriôzan mahà-puruwalakwaịàni. Pàli: Dvattiôsa mahà-parisalakkhaịàni. Cũng gọi Tam thập nhị đại nhân tướng, Tam thập nhị đại trượng phu tướng, Tam thập nhị đại sĩ tướng, Đại nhân tam thập nhị tướng. Gọi tắt: Đại nhân tướng, Tứ bát tướng, Đại sĩ tướng, Đại trượng phu tướng. Chỉ cho 32 dung mạo thù thắng và hình tướng vi diệu của Chuyển luân thánh vương và thân Ứng hóa của Phật. Về thứ tự tên gọi 32 tướng thì có các thuyết khác nhau, ở đây ghi theo thứ tự trong luận Đại trí độ quyển 4 như sau: 1. Túc hạ an bình lập tướng (Phạm: Su-pratiwỉhita-pàda), cũng gọi Túc hạ bình mãn tướng, Lưỡng túc chưởng hạ giai tất bình mãn tướng. Tướng lòng bàn chân bằng phẳng mềm mại, đặt sát mặt đất khít khao, là tướng vi diệucảmđược nhờ Phật tu 6 Ba la mật khi hành đạo Bồ tát ở Nhân vị, tướng này biểu thị đức dắt dẫn, làm lợi ích. 2. Túc hạ nhị luân tướng, cũng gọi Thiên phúc luân tướng. Tướng bánh xe báu nghìn nan hoa bằng những vân thịt hiện ở giữa lòng bàn chân. Tướng này có công năng phá dẹp oán địch, ác ma, biểu trưng đức chiếu phá ngu si và vô minh. Có thuyết cho rằng Túc cũng chỉ cho cả chân lẫn tay, nên còn gọi Thủ túc luân tướng (Phạm: Cakràíkita-hasta-pàda-tala), Thủ chưởng luân tướng. 3. Trường chỉ tướng (Phạm: Dìrghàíguli), cũng gọi Chỉ tiêm trường tướng, Chỉ trường hảo tướng, Tiêm trường chỉ tướng. Chỉ cho tướng các ngón tay thon dài, ngay thẳng, là tướng do cung kính lễ bái Sư trưởng, diệt trừ tâm kiêu ngạo mà cảm được, biểu thị tướng sống lâu, khiến chúng sinh ưa thích qui y. 4. Túc cân quảng bình tướng (Phạm: Àgata-pàda-pafwni), cũng gọi Túc cân viên mãn tướng, Túc cân trường tướng, Cước cân trường tướng. Tướng gót chân đầy đặn tròn trịa, do trì giới, nghe pháp và siêng tu hạnh nghiệp mà được. Tướng này biểu thị cho đức giáo hóa làm lợi ích cho tất cả chúng sinh suốt đời vị lai. 5. Thủ túc chỉ man võng tướng (Phạm: Jàlàvanadha-hasta-pàda), cũng gọiChỉ gian nhạn vương tướng, Câu hữu võng man tướng, Chỉ võng man tướng. Tức giữa khoảng các ngón tay, ngón chân đều có màng nối dính với nhau, như chân ngỗng chúa, hễ xòe ngón tay, ngón chân ra thì thấy màng, không xòe thì không thấy. Tướng này là do tu Tứ nhiếp pháp, nhiếp trì chúng sinh mà cảm được, biểu thị đức lìa phiền não ác nghiệp, ẩn hiện tự tại vô ngại, đến bờ vô vi bên kia. 6. Thủ túc nhu nhuyến tướng (Phạm: Mfdu-taruịa-hasta-pàda-tala), cũng gọi Thủ túc như đâu la miên tướng, Thủ túc tế nhuyến tướng. Tức tướng tay chân rất mềm mại như lông tơ, là tướng có được do cúng dường bậc sư trưởng thức ăn uống thượng diệu, y phục, đồ dùng, hoặc đích thân hầu hạ và làm các việc như lau chùi, tẩy rửa... khi cha mẹ, sư trưởng lâm bệnh. Tướng này biểu thị cái đức dùng tay từ bi mềm mại của Phật nhiếp thủ chúng sinh thân cũng như sơ. 7. Túc phu cao mãn tướng (Phạm: Ucchaíkla-pàda), cũng gọi Túc phu long khởi tướng, Túc phu đoan hậu tướng, Túc phu cao bình tướng. Tức tướng mu bàn chân nổi lên cao tròn đầy đặn, là tướng cảm được nhờ Phật khi còn ở Nhân vị đã dũng mãnh tinh tiến tu phúc. Tướng này biểu thị cái nội đức đại bi vô thượng làm lợi ích cho chúng sinh. 8. Y nê diên thuyển tướng (Phạm: Aiịeya-jaígha), cũng gọi Thuyên như lộc vương tướng, Lộc vương thuyên tướng, Lưỡng thuyên lộc vương tướng. Tức tướng xương bắp đùi tròn nhỏ như xương đùi của nai chúa, là tướng cảm được do các kiếp quá khứ chuyên tâm nghe pháp và nói pháp. Tướng này biểu thị cái đức tất cả tội chướng đều đã tiêu diệt. 9. Chính lập thủ ma đằng tướng (Phạm: Sthitànavanata-pralamba-bàhutà), cũng gọi Thúy thủ quá tất tướng, Thủ quá tất tướng, Bình trụ thủ quá tất tướng. Tức khi đứng ngay ngắn, 2 tay rủ xuống, dài quá đầu gối. Tướng này do lìa ngã mạn, thích bố thí, không tham đắm mà cảm được, biểu thị các đức nhiếp phục tất cả ác ma, thương xót xoa đầu chúng sinh. 10. Âm tàng tướng (Phạm: Kozopagata-vasti-guhya), cũng gọi Mã âm tàng tướng, Âm mã tàng tướng, Tượng mã tàng tướng. Tức tướng nam căn ẩn kín trong mình, giống như sinh thực khí của loài ngựa (hoặc loài voi). Tướng này do đoạn trừ tà dâm và che chở cho chúng sinh trong lúc sợ hãi mà cảm được, biểu thị đức trường thọ và có nhiều đệ tử. 11. Thân quảng trường đẳng tướng (Phạm: Nyagradha-parimaịđala), cũng gọi Thân tung quảng đẳng như ni câu thụ tướng, Viên thân tướng, Ni câu lô đà thân tướng. Chỉ cho thân Phật ngang dọc, phải trái, trên dưới đều có hình lượng quân bình, chung quanh tròn trịa, đầy đặn như cây Ni câu luật. Tướng này do đức Phật thường khuyên chúng sinh tu hành Tam muội và thực hiện Vô úy thí mà cảm được, biểu thị cái đức vô thượng tôn quí tự tại. 12. Mao thượng hướng tướng (Phạm: Ùrdhvaô-ga-roma), cũng gọi Mao thượng toàn tướng, Thân mao hữu toàn tướng. Tất cả lông tóc của Phật từ đầu đến chân đều xoay về bên phải và có màu xanh biếc, rất mềm mại, óng mượt. Tướng này là do tu hành tất cả pháp lành mà cảm được, thường khiến cho chúng sinh chiêm ngưỡng đều sinh tâm hoan hỉ, được vô lượng lợi ích. 13. Nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng (Phạm: Ekaika-roma-pradakwiịàvarta), cũng gọi Mao khổng nhất mao tướng, Khổng sinh nhất mao tướng, Nhất nhất mao tướng, Nhất khổng nhất mao bất tương tạp loạn tướng. Tức tướng mỗi lỗ chân lông mọc 1 sợi lông có màu lưu li xanh, mỗi lỗ chân lông đều toát ra mùi thơm vi diệu. Tướng vi diệu này cảm được là nhờ tôn trọng, cúng dường tất cả hữu tình, giáo hóa người không biết mỏi mệt, gần gũi bậc trí, dọn dẹp sạch sẽ đường sá gai gốc; ánh sáng của tướng vi diệu này có năng lực tiêu trừ tội chướng của 20 kiếp. 14. Kim sắc tướng (Phạm: Suvarịa- Varịa), cũng gọi Chân diệu kim sắc tướng, Kim sắc thân tướng, Thân bì kim sắc tướng. Thân Phật và tay chân đều có màu vàng ròng, như đài vàng trang nghiêm bằng các thứ báu vi diệu. Tướng này là do lìa các phẫn nộ, nhìn chúng sinh bằng ánh mắt từ bi mà cảm được. Đức tướng này có năng lực khiến chúng sinh khi chiêm ngưỡng thì chán bỏ ái lạc, diệt tội sinh thiện. 15. Đại quang tướng,cũng gọi Thường quang nhất tầm tướng, Viên quang nhất tầm tướng, Thân quang diện các nhất trượng tướng. Ánh sáng trên thân Phật nhậm vận chiếu soi, 4 phía mỗi phía đều chiếu xa 1 trượng. Tướng này là nhờ phát tâm Đại bồ đề, tu vô lượng hạnh nguyện mà cảm được, có năng lực trừ hoặc phá chướng, biểu thị cái đức tất cả chí nguyện đều viên mãn. 16. Tế bạc bì trướng (Phạm:Sùkwmasuvarịa-echavi), cũng gọi Bì phu tế nhuẫn tướng, Thân bì tế hoạt trần cấu bất trước tướng. Tức da mỏng mịn, bóng láng, tất cả bụi bặm không dính. Tướng này có được là do bố thí y phục, đồ dùng thanh tịnh và phòng xá, lầu gác... cho chúng sinh, xa lìa kẻ ác, gần gũi bậc trí... Tướng này biểu thị cái đức bình đẳng thanh tịnh, dùng đại từ bi giáo hóa làm lợi ích chúng sinh. 17. Thất xứ long mãn tướng (Phạm: Saptotsada), cũng gọi Thất xứ mãn kiên tướng, Thất xứ long tướng. Tức thịt ở 7 chỗ: Hai tay, dưới lòng 2 bàn chân, 2 vai và ở cổ đều đầy đặn, mềm mại. Tướng này là do xả bỏ những thứ mình yêu quí một cách không nuối tiếc để bố thí cho chúng sinh mà cảm được, biểu thị cái đức làm cho tất cả chúng sinh đều được diệt tội sinh thiện. 18. Lưỡng dịch hạ long mãn tướng (Phạm:Citàntaràôsa), cũng gọi Dịch hạ bình mãn tướng, Kiên bác viên mãn tướng. Xương thịt dưới 2 nách của Phật đầy đặn không lõm. Diệu tướng này có được là do Phật đã cho thuốc thang, thức ăn uống và đích thân săn sóc bệnh cho chúng sinh. 19. Thượng thân như sư tử tướng (Phạm: Siôha-purvàrdha-kàya), cũng gọi Thượng thân tướng, Sư tử thân tướng, Thân như sư tử tướng. Nghĩa là nửa thân trên của Phật rộng lớn, uy dung đi đứng ngồi nằm trang nghiêm giống như sư tử chúa. Do đức Phật trong vô lượng thế giới chưa từng nói 2 lưỡi, dạy người các pháp lành, mang lại những điều nhân ái, hòa thuận, xa lìa ngã mạn... mà cảm được tướng này, biểu thị cái đức uy dung cao quí, từ bi quảng đại. 20. Đại trực thân tướng (Phạm: Fjugàtratà), cũng gọi Thân quảng hồng trực tướng, Quảng hồng trực tướng, Đại nhân trực thân tướng. Nghĩa là trong tất cả mọi người, Phật có thân cao lớn, ngay thẳng nhất. Tướng này do cho thuốc, chẩn bệnh, không giết hại, không trộm cắp, xa lìa kiêu mạn mà cảm được; có năng lực khiến cho chúng sinh khi chiêm ngưỡng thì dứt khổ, được chính niệm, tu 10 điều thiện. 21. Kiên viên hảo tướng (Phạm: Susaôvfta-skandha), cũng gọi Kiên viên đại tướng, Lưỡng kiên bình chỉnh tướng. Tức tướng 2 vai tròn trịa, đầy đặn, thù thắng vi diệu. Nhờ tạo tượng, xây tháp, bố thí sự không sợ hãi mà cảm được tướng này, biểu trưng vô lượng công đức diệt trừ phiền não nghiệp chướng. 22. Tứ thập xỉ tướng (Phạm: Cartvàriôzad-danta), cũng gọi Khẩu tứ thập xỉ tướng, Cụ tứ thập xỉ tướng. Nghĩa là Phật có 40 chiếc răng, mỗi mỗi đều bằng nhau, đầy đặn và trắng như tuyết. Tướng này là do không nói 2 lưỡi, không nói ác, không có tâm nóng giận, tu tập từ bi bình đẳng mà cảm được. Từ hàm răng thường thoảng ra mùi thơm thanh tịnh, vi diệu. Diệu tướng này có năng lực ngăn chặn nghiệp ác khẩu của chúng sinh, diệt vô lượng tội, được vô lượng an lạc. 23. Xỉ tề tướng (Phạm:Sama-danta), cũng gọi Xỉ mật tề bình tướng, Chư xỉ tề mật tướng. Nghĩa là các cái răng đều đặn, không to không nhỏ, liền khít khau, không hở 1 mảy may. Do dùng pháp Thập thiện giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, lại thường khen ngợi công đức của người khác mà cảm được tướng răng này; nó biểu thị cái đức có được quyến thuộc thanh tịnh, đồng tâm hòa thuận. 24. Nha bạch tướng (Phạm: Suzukladanta), cũng gọi Tứ nha bạch tịnh tướng, Xỉ bạch như tuyết tướng. Nghĩa là ngoài 40 răng, hàm trên và dưới mỗi hàm đều có 2 chiếc răng nanh màu sắc tươi trắng sáng sạch, sắc bén như mũi nhọn, cứng chắc như kim cương. Có được tướng này là nhờ thường tư duy về các pháp lành và tu các hạnh từ bi. Diệu tướng này có năng lực phá trừ tam độc mạnh mẽ bền chặt của tất cả chúng sinh. 25. Sư tử giáp tướng (Phạm:Siôhahanu), cũng gọi Giáp xa tướng, Giáp sa như sư tử tướng. Tức là 2 má đầy đặn như má sư tử. Người được thấy tướng này thì diệt trừ tội sinh tử trong 100 kiếp và được diện kiến chư Phật. 26. Vị trung đắc thượng vị tướng (Phạm:Rasa-rasàgratà), cũng gọi Đắc thượng vị tướng, Thường đắc thượng vị tướng, Tri vị vị tướng. Nghĩa là trong miệng đức Phật thường có mùi vị tối thượng trong các mùi vị. Tướng này là do coi tất cả chúng sinh như con một, lại đem các pháp lành hồi hướng bồ đề mà cảm được, nó biểu thị cái đức diệu pháp của Phật có năng lực thỏa mãn chí nguyện của tất cả chúng sinh. 27. Đại thiệt tướng (Phạm:Prabhùtatanu-jihva), cũng gọi Quảng trường thiệt tướng, Thiệt quảng bác tướng, Thiệt nhuyến bạc tướng. Tức là tướng đầu lưỡi rộng, dài, mỏng và mềm mại, khi thè ra thì che đến chân tóc. Tướng này là do phát tâm nguyện rộng lớn, đem hạnh đại bi hồi hướng pháp giới mà cảm được. Quán tưởng tướng này thì diệt được tội sinh tử trong trăm ức 8 vạn 4 nghìn kiếp sinh tử và được 80 ức chư Phật, Bồ tát thụ kí. 28. Phạm thanh tướng (Phạm: Brahma-svara), cũng gọi Phạm âm tướng, Thanh như phạm vương tướng. Tức tiếng Phạm âm viên mãn, thanhtịnhcủa Phật, vang dội như tiếng trống trời và êm hòa như tiếng chim Ca lăng tần già. Tướng này là do nói lời chân thật, lời đẹp đẽ, ngăn dứt tất cả lời nói xấu ác mà cảm được. Người nghe tùy theo căn khí đều được lợi ích sinh thiện, Đại thừa, Tiểu thừa, quyền pháp, thực pháp đều được dứt hoặc, trừ nghi.29. Chân thanh nhãn tướng (Phạm: Abhinìla-netra), cũng gọi Mục cám thanh sắc tướng, Cám nhãn tướng, Cám thanh nhãn tướng, Liên mục tướng. Tức mắt Phật có màu biếc như hoa sen xanh. Tướng này do đời đời kiếp kiếp khi bố thí, nhìn những người nhận của bố thí bằng ánh mắt từ bi và lòng hoan hỉ mà cảm được. 30. Ngưu nhãn tiệp tướng (Phạm:Gopakwmà), cũng gọi Nhãn tiệp như ngưu vương tướng, Nhãn như ngưu vương tướng, Ngưu vương tiệp tướng. Tướng lông mi tề chỉnh không tạp loạn. Tướng này do quán tưởng tất cả chúng sinh với tâm từ bi, thương xót che chở như cha mẹ thương nhớ đứa con một mà cảm được. 31. Đỉnh kế tướng (Phạm: Uwịìwaziraskatà), cũng gọi Đính thượng nhục kế tướng, Nhục kế tướng, Ô sắc nị sa tướng. Tướng đỉnh đầu có bướu thịt nổi lên như hình búi tóc. Tướng này do dạy người giữ gìn pháp Thập thiện và tự mình thụ trì mà cảm được. 32. Bạch mao tướng (Phạm: Ùrịàkeza), cũng gọi Bạch hào tướng, Mi gian hào tướng. Tức giữa 2 đầu chân mày có sợi lông trắng, mềm mại như đâu la miên (bông), dài 1 trượng 5 thước, cuộn tròn lại theo chiều bên phải. Vì sợi lông này thường phóng ra ánh sáng nên được gọi là Hào quang, Mi gian quang. Diệu tướng này do thấy chúng sinh tu giới, định, tuệ thì vui mừng, khen ngợi mà cảm được. Ba mươi hai tướng trên, làm 100 điều thiện thì được 1 diệu tướng gọi là Bách phúc trang nghiêm. [X. kinh Tam thập nhị tướng trong Trung a hàm Q.11; kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.381; kinh Bồ tát giới Q.9; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1; luận Du già sư địa Q.49].
tam thập nhị ứng
(三十二應) Gọi đủ: Diệu tịnh tam thập nhị ứng nhập quốc độ thân. Chỉ cho 32 thân tướng màbồ tát Quán thế âm tùy theo các loại căn cơ ứng hiện ra để tế độ chúng sinh. Cứ theo kinh Thủ lăng nghiêm quyển 6 thì tướng thị hiện và nhân duyên ứng hóa(chúng sinh cần loại thân hình nào để được cứu độ thì Bồ tát liền ứng hiện loại thân hình ấy để thuyết pháp, khiến họ giải thoát) của bồ tát Quán thế âm như sau: 1. Phật thân ứng: Nếu khi thấy các Bồ tát vào Tam ma địa, tiến tu vô lậu, thắng giải hiện tiền, thì bồ tát Quán thế âm liền ứng hiện thân Phật ở trước họ để nói pháp cho nghe. 2. Độc giác ứng: Nếu các bậc Hữu học được tịch tĩnh diệu minh, thắng diệu hiển hiện viên mãn thìbồ tát Quán thế âm ứng hiện thân Độc giác ở trước các vị ấy để nói pháp cho nghe. 3. Duyên giác ứng: Đối với những người đã dứt 12 nhân duyên, tính thắng diệu của việc đoạn duyên hiển hiện viên mãn, thìbồ tát Quán thế âm ứng hiện thân Duyên giác trước những người ấy nói pháp cho nghe. 4. Thanh văn ứng: Đối với những người được Tứ đế không, tu đạo nhập diệt, tính thắng diệu hiển hiện viên mãn, Bồ tát liền ứng hiện thân Thanh văn nói pháp cho nghe. 5. Phạm vương ứng: Nếu những chúng sinh muốn tâm được sáng tỏ, không phạm dục trần, muốn thân được thanh tịnh, thì Bồ tát ứng hiện thân Phạm vương để nói pháp. 6.Đế thích ứng: Nếu các chúng sinh muốn làm Thiên vương thống lãnh chư thiên, Bồ tát liền ứng hiện thân Đế thích để nói pháp, khiến họ thành tựu. 7. Tự tại thiên ứng: Tự tại thiên là vị trời ở tầng trời thứ 5 thuộc cõi Dục. Nếu các chúng sinh muốn thân được tự tại du hành 10 phương thì Bồ tát liền ứng hiện thân Tự tại thiên để nói pháp cho nghe. 8. Đại tự tại thiên ứng: Đại tự tại thiên là vị trời đứng đầu tầng trời thứ 6 thuộc cõi Dục. Nếu các chúng sinh muốn mình được tự tại bay đi trong hư không thì Bồ tát liền hiện thân Đại tự tại thiên để nói pháp, khiến họ thành tựu. 9. Thiên đại tướng quân ứng: Nếu các chúng sinh muốn thống lãnh quỉ thần cứu hộ đất nước thì Bồ tát liền ứng hiện thân Thiên đại tướng quân để nói pháp. 10. Tứ thiên vương ứng: Tứ thiên vương là Trì quốc thiên vương ở phương đông, Tăng trưởng thiên vương ở phương nam, Quảng mục thiên vương ở phương tây và Đa văn thiên vương ở phương bắc. Nếu có chúng sinh muốn thống lãnh thế giới để bảo vệ và cứu hộ các chúng sinh thì Bồ tát liền hiện thân Tứ thiên vương nói pháp. 11. Tứ thiên vương thái tử ứng: Nếu các chúng sinh muốn sinh lên cõi trời, sai khiến quỉ thần thì Bồ tát liền ứng hiện thân Tứ thiên vương thái tử để nói pháp. 12. Nhân vương ứng: Nếu các chúng sinh thích làm vua cõi người thì Bồ tát liền ứng hiện thân Nhân vương để nói pháp cho nghe, khiến họ thành tựu. 13. Trưởng giả ứng: Nếu các chúng sinh thích đứng đầu dòng họ, được thế gian suy tôn, thì Bồ tát ứng hiện thân Trưởng giả nói pháp cho nghe. 14. Cư sĩ ứng: Nếu các chúng sinh thích bàn về danh ngôn, sống đời thanh tịnh thì Bồ tát ứng hiện thân cư sĩ nói pháp cho nghe. 15. Tể quan ứng: Nếu các chúng sinh muốn sửa sang đất nước, chỉnh đốn làng ấp, thì Bồ tát ứng hiện thân Tể quan nói pháp cho nghe, khiến họ thành tựu. 16. Bà la môn ứng: Nếu các chúng sinh ưa thích số thuật, sinh hoạt an nhàn thì Bồ tát ứng hiện thân Bà la môn nói pháp cho nghe. 17. Tỉ khưu ứng: Nếu có các thiện nam tử muốn học xuất gia, giữ các giới luật, thì Bồ tát ứng hiện thân tỉ khưu nói phápcho nghe. 18. Tỉ khưu ni ứng: Nếu các người thiện nữ muốn học xuất gia, giữ gìn giới cấm, thì Bồ tát ứng hiện thân tỉ khưu ni nói pháp cho họ nghe. 19. Ưu bà tắc ứng: Nếu có người thiện nam muốn giữ 5 giới, thì Bồ tát ứng hiện thân ưu bà tắc nói pháp cho họ nghe. 20. Ưu bà di ứng: Nếu có người thiện nữ, muốn thụ trì 5 giới thì Bồ tát ứng hiện thân ưu bà di nói pháp cho nghe. 21. Nữ chủ ứng: Nữ chủ tức vợ của Thiên tử. Nếu có người nữ lập thân nội chính để sửa sang nước nhà thì Bồ tát hiện thân Nữ chủ để nói pháp cho họ nghe. 22. Đồng nam ứng: Nếu có chúng sinh không hoại nam căn thì Bồ tát ứng hiện thân đồng nam để nói pháp cho họ nghe. 23. Đồng nữ ứng: Nếu có người xử nữ thích sống độc thân, không muốn lập gia đình thì Bồ tát liền hiện thân đồng nữ để nói pháp cho họ nghe. 24. Thiên ứng: Nếu có chư thiên muốn ra khỏi thiên luân(luân thường thứ bậc của các trời) thì Bồ tát ứng hiện thântrờiđể nói pháp. 25. Long ứng: Nếu có các rồng muốn ra khỏi loài rồng thì Bồ tát thị hiện thân rồng để nói pháp. 26. Dược xoa ứng: Dược xoa cũng gọi Dạ xoa. Nếu có Dược xoa muốn thoát khỏi bản luân (loài giống của mình) thì Bồ tát hiện thân Dược xoa nói pháp. 27. Càn thát bà ứng: Càn thát bà là thần âm nhạc của trời Đế thích. Nếu có Càn thát bà muốn thoát khỏi loài của mình, thì Bồ tát thị hiện thân Càn thát bà nói pháp cho nghe, giúp họ thành tựu nguyện vọng. 28. A tu la ứng: Nếu A tu la muốn thoát khỏi loài của mình thì Bồ tát ứng hiện thân A tu la để nói pháp cho nghe. 29. Khẩn na la ứng: Khẩn na la cũng gọi Nhân phi nhân, trên đầu có sừng, giống như người nhưng không phải người. Nếu Khẩn na la muốn thoát khỏi loài của mình thì Bồ tát ứng hiện thân Khẩn na la để nói pháp cho nghe. 30. Ma hầu la già ứng: Ma hầu la già tứclàloài trăn lớn. Nếu Ma hầu la già muốn thoát khỏi loài của mình thì Bồ tát liền hiện thân Ma hầu la già để nói pháp cho nghe. 31. Nhân ứng: Nếu các chúng sinh muốn làm thân người, tu các hạnh người, thì Bồ tát ứng hiện thân người để nói pháp cho nghe. 32. Phi nhân ứng: Phi nhân tức là loài quỉ, súc sinh... Nếu các phi nhân có hình, không hình, có tưởng, không tưởng, muốn thoát khỏi loài của mình, thì Bồ tát liền ứng hiện thân phi nhân để nói pháp cho nghe, giúp họ giải thoát. Trong các ứng thân trên đây thì Độc giác ứng, Duyên giác ứng trùngphức, Tứ thiên vương ứng, Tứ thiên vương thái tử ứng, Nữ chủ ứng... đều là thân tập hợp chứ không phải là 1 thân. Ba mươi hai ứng này là do Bồ tát dùng diệu lực của Tam muội văn huân, văn tu và vô tác mà thành tựu được 1 cách tự tại. Ba mươi hai ứng này về đại thể thì giống nhưng về tiểu tiết thì khác với 33 thân nói trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa. [X. kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.10; Quan âm nghĩa sớ Q.hạ; Pháp hoa huyền luận Q.10]. (xt. Tam Thập Tam Thân).
tam thập sinh
In each of the thập địa ten states there are three conditions, nhập, trụ, xuất, entry, stay, exit, hence the "thirty lives".
tam thập tam gian đường
(三十三間堂) Ngôi nhà 33 gian, một danh thắng của Phật giáo Nhật bản tại Kyoto. Vốn có tên làViện Liên hoa vương thuộc tông Thiên thai Nhật bản. Vì trong viện được ngăn chia ra làm 33 gian nên gọi là Tam thập tam gian đường. Trong Đại đường khoảng 120m của viện này an trí 1001 pho tượng Quan âm. Vào năm Trường khoan thứ 2 (1164), Thượng hoàng Hậu bạch hà sắc lệnh cho Bình thanh thịnh xây dựng viện này, phòng xá theo thứ tự đều nhau, đến niên hiệu Kiến trường năm đầu (1249) thì bị thiêu hủy. Năm Kiến trường thứ 3 (1251) viện này được tạo dựng lại, đó chính là kiến trúc hiện nay. Tượng bản tôn Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm là pho tượng lớn cao 3,3m, còn 28 pho tượng bộ chúng quyến thuộc củabồ tát Quán thế âm thì có hình dáng rất lạ và quí, biểu hiện nét đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc thời Liêm thương.
tam thập tam quan âm
(三十三觀音) Ba mươi ba Quán âm. Tức chỉ cho 33 loại thân tướng màbồ tát Quán thế âm thị hiện để hóa độ chúng sinh. Đó là: 1. Dương liễu Quán âm: Ngồi trên sườn núi, tay phải cầm nhành dương liễu, biểu thị Tam muội dương liễu thủ của Thiên thủ Quán âm (Quán âm nghìn tay). 2. Long đầu Quán âm: Ngồi trên lưng con rồng ở trong đám mây, biểu thị thân Thiên long trong 33 thân tướng. 3. Trì kinh Quán âm: Ngồi trên sườn núi, tay phải cầm quyển kinh, biểu thị thân Thanh văn trong 33 thân tướng. 4. Viên quang Quán âm: Trên thân phóng ra ánh sáng, biểu thị ý Hoặc nạn khổ phép vua, khi hành hình sắp chết, nhờ sức niệm Quán âm, Đao liền gãy từng đoạn(văn phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa).5. Du hí Quán âm: Ngồi trong đám mây biểu thị ý Hoặc bị kẻ ác đuổi, rơi xuống núi Kim cương, nhờ sức niệm Quán âm, không tổn thương một mảy (văn trong Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 6. Bạch y Quán âm: Trải cỏ ngồi trên mỏm đá, tay kết định ấn, biểu thị thân tỉ khưu, tỉ khưu ni trong 33 thân tướng. 7. Liên ngọa Quán âm: Chắp tay, ngồi trên lá sen, xoay mặt về phía trái, biểu thị thân tiểu vương trong 33 thân tướng. 8. Lang kiến Quán âm: Dựa núi, nhìn về dòng thác ở bên phải, biểu thị ý Giả sử khởi ác tâm, xô xuống hố lửa lớn, nhờ sức niệm Quán âm, hố lửa biến thành ao (văn trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 9. Thí dược Quán âm: Ngồi bên bờ ao, chăm chú nhìn hoa sen, biểu thị ý Hoặc ở núi Tu di, bị người xô đẩy xuống; nhờ sức niệm Quán âm, như mặt trời trong không(văn trong phẩm Phổ môn). 10. Ngư lam Quán âm: Ngồi trên lưng con cá lớn, nổi trên mặt nước, biểu thị ý Hoặc gặp ác La sát, rồng độc và quỉ dữ, nhờ sức niệm Quán âm, đều không dám làm hại(văn trong phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa). 11. Đức vương Quán âm: Ngồi xếp bằng trên núi, tay phải cầm nhành liễu, biểu thị thân Phạm vương trong 33 thân tướng. 12. Thủy nguyệt Quán âm: Đứng trên cánh sen nổi trên mặt nước, chăm chú nhìn bóng trăng trong nước, biểu thị thân Bích chiphật trong 33 thân tướng. 13. Nhất diệp Quán âm: Ngồi trong một lá sen nổi trên mặt nước, biểu thị tướng tể quan trong 33 thân tướng. 14. Thanh cảnh Quán âm: Dựa vào núi, bên trái có chiếc bình, trong bình cắm cành dương liễu, biểu thị thân Phật trong 33 thân tướng. 15. Uy đức Quán âm: Ngồi xoạc chân, tay trái cầm hoa sen, biểu thị thân Thiên đại tướng quân trong 33 thân tướng. 16. Diên mệnh Quán âm: Dựa mỏm đá trên bờ nước, tay phải chống vào má, biểu thị ý Nếu người muốn hại mình, bằng thuốc độc, chú thuật, nhờ sức niệm Quán âm, trở lại hại người ấy(văn phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 17. Chúng bảo Quán âm: Ngồi bình thân hướng về bên trái, biểu thị thân trưởng giả trong 33 thân tướng. 18. Nham hộ Quán âm: Ngồi ngay thẳng trong hang núi, biểu thị ý rắn rết cùng bò cạp, phun khói độc và lửa, nhờ sức niệm Quán âm, đều tìm đường bỏ chạy (Văn phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 19. Năng tĩnh Quán âm: Ở khoảng giữa vách núi, 2 tay đặt trên 1 núi, biểu thị ý Nếu có những người rabiển cả để tìm các vật báu như vàng, bạc, lưu li (...), giả sử thuyền bè của họ bị gió bão thổi tấp vào nước quỉ La sát. Trong đó dù chỉ có 1 người xưng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm thì mọi người đều thoát khỏi được nạn La sát(văn phẩm Phổ minh kinh Pháp hoa). 20. A nậu Quán âm: Ngồi trên núi nhìn ra biển, biểu thị ý (Đại 9, 57 hạ) Hoặc trôi giữa biển lớn, gặp các nạn rồng cá, nhờ sức niệm Quán âm, sóng không nhận chìm được. 21. A ma đề Quán âm: Ngồi xoạc chân trên núi, biểu thị thân Tì sa môn trong 33 thân tướng. 22. Diệp y Quán âm: Trải cỏ ngồi trên núi, biểu thị thân Đế thích trong 33 thân tướng. 23. Lưu li Quán âm: Đứng trên cánh hoa sen nổi trên mặt nước, 2 tay cầm bát, biểu thị thân Tự tại thiên trong 33 thân tướng. 24. Đa la tôn Quán âm: Đứng trong đám mây, biểu thị ý (Đại 9, 57 hạ): Hoặc gặp oán giặc vây, cầm dao gậy muốn hại, nhờ sức niệm Quán âm, đều phát khởi lòng từ. 25. Cáp lợi Quán âm: Thị hiện trong con vọp, biểu thị thân Bồ tát trong 33 thân tướng. 26. Lục thời Quán âm: Tượng đứng, tay phải cầm kinh tiếng Phạm, biểu thị thân cư sĩ trong 33 thân tướng. 27. Phổ bi Quán âm: Tượng đứng, chéo áo bay phấp phới, biểu thị thân Đại tự tại thiên trong 33 thân tướng. 28. Mã lang phụ Quán âm: Tượng đứng, hình phụ nữ, biểu thị thân phụ nữ trong 33 thân tướng. 29. Hợp chưởng Quán âm: Tượng đứng, chắp tay, biểu thị thân Bà la môn trong 33 thân tướng. 30. Nhất như Quán âm: Ngồi trong đám mây, dáng đang bay đi, biểu thị ý (Đại 9, 58 thượng): Mây đen sấm sét vang, mưa đá lớn trút xuống, nhờ sức niệm Quán âm, tiêu tan trong chốc lát. 31. Bất nhị Quán âm: Đứng trên lá sen, 2 tay tréo nhau, biểu thị thân Chấp kim cương trong 33 thân tướng. 32. Trì liên Quán âm: Đứng trên lá sen, tay cầm 1 cọng hoa sen, biểu thị thân đồng nam đồng nữ trong 33 thân tướng. 33. Sái thủy Quán âm: Tượng đứng, tay trái cầm bát, tay phải cầm cành dương liễu, biểu thị ý (Đại 9, 56 hạ): Nếu bị nước lớn cuốn trôi mà niệm danh hiệu của Ngài thì liền được đến chỗ cạn. Trong 33 vị Quán âm, trừ 5 vị là: Bạch y, Thanh cảnh, Đa la tôn, Diệp y và A ma đề, còn lại đều là những hình tượng Quán âm được dân gian tin thờ và lưu truyền từ đời Đường về sau. [X. Phật tượng đồ vựng Q.2].
tam thập tam quá
(三十三過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 33 lỗi của 3 chi Tông (mệnh đề), Nhân(lí do) và Dụ(thí dụ)do Tân nhân minh thành lập. Trong đó, Tông gồm 9 lỗi, Nhân gồm 14 lỗi và Dụ gồm 10 lỗi. 1. Chín lỗi thuộc Tông: a. Năm lỗi tương vi: Hiện lượng tương vi, Tỉ lượng tương vi, Tự giáo tương vi, Thế gian tương vi và Tự ngữ tương vi. b. Bốn lỗi bất cực thành: Năng biệt bất cực thành, Sở biệt bất cực thành, Câu bất cực thành và Tương phù cực thành. 2. Mười bốn lỗi thuộc Nhân: a. Bốn lỗi bất thành: Lưỡng câu bất thành, Tùy nhất bất thành, Do dự bất thành và Sở y bất thành. b. Sáu lỗi bất định: Cộng bất định, Bất cộng bất định, Đồng phần dị toàn bất định, Dị phần đồng toàn bất định, Câu phần bất định và Tương vi quyết định bất định. c. Bốn lỗi tương vi: Pháp tự tướng tương vi, Pháp sai biệt tương vi, Hữu pháp tự tướng tương vi và Hữu pháp sai biệt tương vi. 3. Mười lỗi thuộc Dụ: a. Năm lỗi thuộc Đồng dụ: Năng lập pháp bất thành, Sở lập pháp bất thành, Câu bất thành, Vô hợp và Đảo hợp. b. Năm lỗi thuộc Dị dụ: Sở lập pháp bất khiển, Năng lập pháp bất khiển, Câu bất khiển, Bất li và Đảo li. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ sao Q.41; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8]. (xt. Nhân Thập Tứ Quá, Nhân Minh, Tông Cửu Quá, Dụ).
tam thập tam quán âm
The thirty three forms of Quán âm.
Tam thập tam thiên
xem cõi trời Ba mươi ba.
; 三十三天; C: sānshísān tiān; J: sanjūsan ten; S: trāyastriṃśa.|Ba mươi ba vị Thiên sống trên đỉnh của núi Tu-di, trong tầng trời thứ hai của sáu tầng trời cõi dục (Lục dục thiên 六欲天). Đế-thích thiên ngự tại trung tâm với tám vị Thiên khác ở mỗi hướng trong bốn hướng xung quanh.
tam thập tam thiên
Trāiyastrimśas (S), Tāvatiṁsa (P), Tridaśas (S),Heaven of Thirty-Three Gods, Thirty three realms of Gods 33 cảnh trời. Bốn phương, mỗi phương 8 cảnh, hiếp với phương trung ương một cảnh thành 33 cảnh trời Đao lợi. Tất cả đều dưới quyền tổng lãnh của đức Đế Thích. Các vị trong 33 cảnh trời này đều được hưởng đủ mọi sự khoái lạc về ngũ dục nhờ công tu phước lúc ở cõi ngườiXem Đao lợi thiên, Đao lợi thiên cõi.
; Tràiyastrimsas (S). The thirty three heavens, the realm of thirty three gods.
; (三十三天) Phạm: Tràyastriôzat-deva. Cũng gọi Đao lợi thiên. Cõi trời này có 33 tòa thành nên gọi là Tam thập tam thiên, là 1 trong 6 tầng trời thuộc cõi Dục. Theo vũ trụ quan của Phật giáo thì cõi trời này ở trên đỉnh núi Tu di, thuộc tầng trời thứ 2 của cõi Dục, 4 phía mỗi phía đều rộng 8 vạn do tuần, 4 góc trên đỉnh núi mỗi góc đều có 1 ngọn núi cao 500 do tuần; cõi trời này do thần Kim cương thủ dược xoa bảo vệ. Cung điện ở trung ương (thành Thiện kiến) là nơi ở của trời Đế thích, chung quanh phía ngoài thành, có 4 khu vườn là chỗ vui chơi của các người trời. Về mạn đông bắc thành có cây Viên sinh nở hoa rất thơm; phía tây nam thành có tòa nhà Thiện pháp, các chúng trời hội họp ở đây để bàn luận về pháp lí. Bốn phía mỗi phía đều có 8 thành, cộng chung với thành Trung ương là 33 thành, vì thế gọi là Tam thập tam thiên. Cứ theo kinh Chính pháp niệm quyển 25, sau khi mệnh chung, Phật mẫu Ma da phu nhân đã sinh lên cõi trời này, đức Phật đã lên đây nói pháp trong 3 tháng để độ cho mẫu thân. Tín ngưỡng Tam thập tam thiên và Diệm ma thiên đã thịnh hành rất sớm tại Ấn độ vào thời đại Phệ đà. [X. kinh Trường a hàm Q.18; Phật địa kinh luận Q.5; luận Đại trí độ Q.9; luận Câu xá Q.11]. (xt. Đao Lợi Thiên).
tam thập tam thân
(三十三身) Cũng gọi Tam thập tam ứng hóa thân. Chỉ cho 33 loại hóa thân mà bồ tát Quán thế âm thị hiện trong Tam muội để nhiếp thủ và làm lợi ích cho khắp cả chúng sinh. Ba mươi ba thân này được nói trong phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn kinh Pháp hoa, thứ tự như sau: 1. Thân Phật. 2. Thân Bích chiphật. 3. Thân Thanh văn. 4. Thân Phạm vương. 5. Thân Đế thích. 6. Thân Tự tại thiên. 7. Thân Đại tự tại thiên. 8. Thân Thiên đại tướng quân. 9. Thân Tì sa môn thiên. 10. Thân Tiểu vương. 11. Thân Trưởng giả. 12. Thân Cư sĩ. 13. Thân Tể quan. 14. Thân Bà la môn. 15. Thân Tỉ khưu. 16. Thân Tỉ khưu ni. 17. Thân Ưu bà tắc. 18. Thân Ưu bà di. 19. Thân Trưởng giả phụ nữ. 20. ThânCư sĩ phụ nữ. 21. Thân Tể quan phụ nữ. 22. Thân Bà la môn phụ nữ. 23. Thân Đồng nam. 24. Thân Đồng nữ. 25. Thân Trời. 26. Thân Rồng. 27. Thân Dạ xoa. 28. Thân Càn thát bà. 29. Thân A tu la. 30. Thân Ca lâu la. 31. Thân Khẩn na la. 32. Thân Ma hầu la già. 33. Thân Chấp Kim cương. Trong Bổ đà lạc hải hội vô thượng kí, 4 thân phụ nữ: Trưởng giả phụ nữ, Cư sĩ phụ nữ, Tể quan phụ nữ, Bà la môn phụ nữ được thay bằng 4 thân: Thân người, thân phi nhân, thân phụ nữ và thân đồng mục thiên nữ. Trong kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 6 thì không có 7 thân sau đây: Thân Tì sa môn thiên, thân Trưởng giả phụ nữ, thân Cư sĩ phụ nữ, thân Tể quan phụ nữ, thân Bà la môn phụ nữ, thân Ca lâu la và thân Chấp kim cương, nhưng lại thêm 5 thân: Thân Tứ thiên vương, thân Tứ thiên vương quốc thái tử, thân Nữ chủ, thân người và thân Phi nhân, rồi lại chia thân Bích chi phật làm 2 thân là thân Độc giác và thân Duyên giác. Còn trong kinh Pháp hoa tiếng Phạm và tiếng Tây tạng thì chỉ nêu có 16 thân. Lại nữa, phẩm Diệu âm bồ tát trong kinh Pháp hoa quyển 7 cũng nói bồ tát Diệu âm có 36 ứng thân, nhưng bản tiếng Phạm và tiếng Tây tạng đều chỉ nói có 33 thân. [X. kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.10; Quán âm nghĩa sớ Q.hạ; Pháp hoa huyền luận Q.10; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12]. (xt. Tam Thập Nhị Ứng).
Tam Thập Thiếp Sách Tử
(三十帖册子, Sanjūjōsakushi): còn gọi là Chơn Ngôn Pháp Văn Sách Tử Tam Thập Thiếp (眞言法文策子三十帖), Hoằng Pháp Đại Sư Thỉnh Lai Pháp Văn Sách Tử Tam Thập Thiếp (弘法大師請來法文册子三十帖). Đây là bộ thư tịch quan trọng và có giá trị rất lớn đối với Chơn Ngôn Tông. Khi Không Hải Đại Sư sang nhà Đường, được thầy là Huệ Quả (惠果) truyền trao cho các nghi quỹ, pháp văn, khoảng hơn 140 loại khác nhau. Nhờ nhiều người giúp sức, Đại Sư đã chép thành chữ nhỏ, thâu lại thành khoảng 30 bức thiếp (bề dọc 15.0~18.2, bề ngang khoảng 13.5cm). Trong bản Tam Thập Thiếp Sách Tử Khám Văn (三十帖册子勘文) của Quán Hiền (觀賢) có ghi rõ truyền thừa cũng như ý nghĩa của bộ này, được bảo quản tại Tàng Kinh của Đông Tự (東寺, Tō-ji). Sau đó Chơn Nhiên đưa bộ này nộp vào Tàng Kinh của Cao Dã Sơn. Sau khi ông qua đời, Vô Không (無空), người thay thế chức Tọa Chủ của Thọ Trường (壽長), lấy ra đem theo về Vi Đề Tự (圍堤寺) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) và viên tịch tại đây. Sau này đệ tử của ông cũng không hoàn trả bộ này lại cho Cao Dã Sơn, vì vậy tương truyền rằng Đằng Nguyên Trọng Bình (藤原仲平) đã dùng quyền lực của mình để lấy lại đem nộp vào Đông Tự. Trên nắp đậy cái thùng đựng các bức thiếp này do triều đình ban tặng, có dòng chữ ghi thành 2 hàng rằng: “Nạp Chơn Ngôn A Xà Lê Không Hải Nhập Đường Cầu Đắc Pháp Văn Sách Tử Chi Sương (納眞言阿闍梨空海入唐求得法文册子之箱).” Từ đó về sau, Đông Tự bảo quản bộ này rất nghiêm mật. Đến năm 1186 (niên hiệu Văn Trị [文治] thứ 2), thể theo lời thỉnh cầu của Thân Vương Thủ Giác (守覺) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), bộ Tam Thập Thiếp Sách Tử lại được cho mượn ra ngoài, cuối cùng không hoàn trả lại cho Đông Tự, và hiện tại trở thành Quốc Bảo của Nhân Hòa Tự. Vào năm 1341 (niên hiệu Lịch Ứng [曆應] thứ 4), Cảo Bảo (杲寶) của Đông Tự tiến hành sao chép lại bộ này; rồi đến năm 1678 (niên hiệu Diên Bảo [延寶] thứ 6), thể theo nguyện vọng của Thật Tú (實秀)—Môn Chủ của Vô Lượng Thọ Viện (無量壽院) trên Cao Dã Sơn—10 học sinh chép kinh tiến hành sao chép bộ này vào năm sau. Hiện tại bộ này đã được san hành dưới nhiều hình thức khác nhau.
tam thập thiếp sách tử
(三十帖策子) Cũng gọi Chân pháp văn sách tử tam thập thiếp, Tam thập thiếp sách tử, Tam thập thiếp thảo tử. Tập pháp ngữ gồm 30 thếp(giấy bản) theo hình thức nhỏ, là di vật quan trọng của tông Chân ngôn Nhật bản. Đây là tập sách viết bằng mực do Đại sư Hoằng pháp (774-835) chép các kinh quĩ và văn pháp trong thời gian ngài ở Trung quốc rồi mang về Nhật bản. Toàn bộ 30 thếp được viết bằng nhiều thể chữ: Khải thư(viết ngay ngắn, rõ ràng), Hành thư(viết hơi đá thảo), Thảo thư(lối viết nhanh)... Di phẩm này hiện được cất giữ ở chùa Nhân hòa tại Nhật bản.
tam thập thất bồ đề phần pháp
Satta-tiṃsa-bodhipakkhiyā-dhammā (P)Tam thập thất đạo phẩm, Tam thập thất phẩm, Tam thập thất Bồ đề phần pháp, Tam thập thất trợ Bồ đề pháp, Tam thập thất trợ Đạo chi pháp. Gồm: - từ niệm xứ - tứ chánh cần - tứ như ý túc - pháp ngũ căn - pháp ngũ lực - thất giác chi - bát chánh đạoXem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Tam thập thất Bồ-đề phần
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
tam thập thất giác chi
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Tam thập thất giác phần
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
tam thập thất phân pháp
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
tam thập thất phẩm
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
tam thập thất trợ bồ đề pháp
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Tam thập thất trợ đạo chi pháp
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
tam thập thất trợ đạo chi pháp.
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Tam thập thất đạo phẩm
xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.
; 三十七道品; C: sānshíqī dàopǐn; J: sanjū-nanadōhin;|Ba mươi bảy thành phần hỗ trợ con đường giác ngộ, là những cách tu tập giúp hành giả đạt bồ-đề. Chúng bao gồm: Tứ niệm xứ (四念處), Tứ chính cần (四正勤), Tứ thần túc (四神足), Ngũ căn (五根), Ngũ lực (五力), Thất giác chi (七覺支) và Bát thánh đạo (八聖道).
tam thập thất đạo phẩm
Xem Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
; Bodhipaksika (S).The thirty seven conditions leading to Bodhi. Tứ niệm xứ: four objects of mindfulness; Tứ chính cần: four proper lines of exertion; Tứ như ý túc: four steps towards supernatural powers; Ngũ căn: five spiritual faculties; Ngũ lực: their five powers; Thất giác chi: seven branches of enlightenment; Bát chính đạo: eightfold noble path.
; (三十七道品) Đạo phẩm, Phạm: Bodhi-pàkwika. Cũng gọi Tam thập thất giác chi, Tam thập thất bồ đề phần, Tam thập thất trợ đạo pháp, Tam thập thất phẩm đạo pháp. Chỉ cho 37 phương pháp tu hành tiến tới cảnh giới Niết bàn. 37 đạo phẩm được chia làm 7 khoa như sau: 1. Tứ niệm xứ(cũng gọi Tứ niệm trụ): a. Thân niệm xứ: Tức quán tưởng sắc thân này đều là chẳng sạch. b. Thụ niệm xứ: Quán xét các cảm nhận khổ, vui... đều là khổ. c. Tâm niệm xứ: Quán xét tâm thức này niệm niệm sinh diệt, không thường trụ. d. Pháp niệm xứ: Quán xét các pháp do nhân duyên sinh, không có tính cách tự chủ, tự tại, đó là các pháp vô ngã. 2. Tứ chính cần(cũng gọi Tứ chính đoạn): a. Điều ác đã sinh phải diệt trừ hẳn. b. Điều ác chưa sinh không cho sinh ra. c. Điều thiện chưa sinh phải làm cho phát sinh. d. Điều thiện đã sinh phải làm cho tăng trưởng. 3. Tứ như ý túc(cũng gọi Tứ thần túc): a. Dục như ý túc: Mong cầu pháp mình tu được đầy đủ như nguyện. b. Tinh tiến như ý túc: Đối với pháp mình tu 1 lòng chuyên chú, không có xen tạp, được đầy đủ như nguyện. c. Niệm như ý túc: Đối với pháp mình tu ghi nhớ không quên, đầy đủ như nguyện. d. Tư duy như ý túc: Tâm ghi nhớ pháp mình tu không để quên mất, được đầy đủ như nguyện. 4. Ngũ căn, Căn nghĩa là năng sinh; 5 căn này có khả năng sinh ra các thiện pháp. a. Tín căn: Tin sâu chính đạovà pháp trợ đạo thì có thể sinh ra tất cả pháp vô lậu thiền định giải thoát. b. Tinh tiến căn: Đối với chính pháp, tu tập không gián đoạn, không xen tạp. c. Niệm căn: Đối với chính pháp, ghi nhớ không quên. d. Định căn: Thu nhiếp tâm, không để tán loạn, 1 lòng tịch định, đó là định căn. 5. Tuệ căn (Phạm: Prajĩendriya): Ở trong định khởi trí quán, biết rõ chân lí như thực. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 16 thì 5 căn này theo thứ tự còn có tác dụng đối trị với bất tín, giải đãi (biếng nhác), phóng dật (buông thả), trạo cử (xao động) và phiền não vô minh. 5. Ngũ lực, lực tức lực dụng, có công năng phá ác thành thiện. a. Tín lực: Tín căn tăng trưởng, có năng lực phá các nghi hoặc. b. Tinh tiến lực: Tinh tiến căn tăng trưởng, có công năng phá sự biếng nhác của thân tâm. c. Niệm lực: Niệm căn tăng trưởng, có công năng phá các tà niệm, thành tựu công đức chính niệm xuất thế. d. Định lực: Định căn tăng trưởng, có công năng phá các loạn tưởng, phát khởi các thiền định. 6. Thất giác phần(cũng gọi Thất giác chi, Thất giác ý): a. Trạch pháp giác phần: Có khả năng lựa chọn các pháp chân ngụy. b. Tinh tiến giác phần: Tu các đạo pháp, không có gián tạp. c. Hỉ giác phần: Khế ngộ chân như, tâm được hoan hỉ. d. Trừ giác phần: Có khả năng đoạn trừ các phiền não kiến chấp. e. Xả giác phần: Có khả năng lìa bỏ cảnh giới kiến chấp đắm trước. f. Định giác phần: Có khả năng rõ biết thiền định phát được. g. Niệm giác phần: Có khả năng tư duy về đạo pháp mình tu tập. 7. Bát chính đạo(cũng gọi Bát thánh đạo, Bát đạo đế): a. Chính kiến: Có khả năng thấy chân lí. b. Chính tư duy: Tâm không nghĩ điều tà bậy. c.Chính ngữ: Lời nói chân thật không hư dối. d. Chính nghiệp: Trụ nơi thiện nghiệp thanh tịnh. e. Chính mệnh: Theo pháp xin ăn để nuôi thân mệnh. f. Chính tinh tiến: Tu các đạo hạnh không xen lẫn. g. Chính niệm: Chuyên tâm nhớ nghĩ thiện pháp. h. Chính định: Thân tâm vắng lặng trụ nơi lí chân không. [X. kinh Tạp a hàm Q.26, 27, 28; luận Câu xá Q.25; luận Đại tì bà sa Q.96; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung, hạ].
tam thập tứ tâm đoạn kết thành đạo
(三十四心斷結成道) Gọi tắt: Tam thập tứ tâm. Tức dùng 34 thứ tâm sát na dứt hếtphiền não để thành tựu Phật đạo. Bồ tát Tam tạng giáo khi Phù hoặc nhuận sinh(nghĩa là Bồ tát vì cứu độ chúng sinh nên không đoạn trừ phiền não mà, trái lại, nhờ sự giúp đỡ của phiền não để ở lại trong 3 cõi hầu làm lợi ích cho chúng sinh, nên gọi là Phù hoặc nhuận sinh. Đây là hạnh nguyện của Xiển đề đại bi), trải qua nhiều kiếp tu đủ 6 độ phạm hạnh, nhiêu ích hữu tình, cuối cùng, đến dưới gốc câyBồ đề, 1 niệm tương ứng, tuệ phát chân vô lậu trí thì dứt ngay tập khí Kiến, Tư bằng 8 nhẫn, 8 trí, 9 vô ngại, 9 giải thoát mà thành bậc Chính giác, cho nên gọi là Tam thập tứ tâm đoạn kết thành đạo. Theo luận Đại tì bà sa, trước khi Bồ tát đến ngồi dưới gốc cây bồ đề đã dùng trí Hữu lậu đoạn trừ Tu hoặc của 8 địa dưới, nhưng vì trí Hữu lậu không đoạn trừ được Kiến hoặc và Hoặc của Hữu đính địa, cho nên khi ngồi ở tòa Kim cương sắp thành đạo mới khởi trí vô lậu đoạn trừ Kiến hoặc và Hoặc của Hữu đính địa bằng 34 tâm. [X. luận Câu xá Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung, phần cuối].
Tam thập xả đọa
xem Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
tam thắng học
(三勝學) Những điều kiện giúp cho 3 môn học Giới, Định, Tuệ được thêm thù thắng hơn.1. Tăng thượng giới học: Thụ trì đầy đủ các giới Đại thừa, Tiểu thừa, khắc phục các lỗi lầm, thành tựu uy nghi, đối với các giới pháp, có năng lực làm cho tăng thắng. 2. Tăng thượng tâm học: Xả bỏ các pháp bất thiện của cõi Dục, tiến vào Sơ thiền cho đến Đệ tứ thiền. Đối với các tâm định, có năng lực làm cho tăng thắng. 3. Tăng thượng tuệ học: Đối với các pháp Tứ thánh đế rõ biết 1 cách như thực và đối với các Thánh tuệ thì có năng lực làm cho tăng thắng. [X. luận Du già sư địa Q.28].
tam thắng nghĩa
(三勝義) Ba thứ nghĩa thù thắng. Tông Pháp tướng chia Chân đế làm Nghĩa thắng nghĩa, Đắc thắng nghĩa, Chính hành thắng nghĩa. Vì 3 nghĩa này lìa lời nói, siêu việt cácpháptướng, cho nên gọi là Thắng nghĩa, cũng gọi Đệ nhất nghĩa, hoặc Chân đế, đối lại với Tục đế. 1. Nghĩa thắng nghĩa: Nghĩa là cảnh giới, thể của cảnh giới này là Chân như. Trong 4 loại thắng nghĩa, Nghĩa thắng nghĩa thuộc về Chân thắng nghĩa thứ 4. 2. Đắc thắng nghĩa: Đắc nghĩa là chứng được; thể của nó là Niết bàn đã diệt sạch phiền não. Trong 4 loại thắng nghĩa, Đắc thắng nghĩa thuộc về Chứng đắc thắng nghĩa thứ 3. 3. Chính hành thắng nghĩa: Hành nghĩa là hành tướng; thể của nó là hành thắng cảnh, thuộc trí vô lậu. Trong 4 loại thắng nghĩa, Chính hành thắng nghĩa thuộc về Đạo lý thắng nghĩa thứ 2. [X. luận Biện trung biên Q.trung; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu]. (xt. Tứ Chủng Thắng Nghĩa Đế).
Tam thế
xem ba đời.
; 三世; C: sānshì; J: sansei;|Ba thế giới; ba thời; ba thời dĩ vãng, hiện tại và vị lai (s: try-adhvan, try-adhvahak, loka-traya). Cũng gọi là Tam tế (三祭).
tam thế
Traidhātuka (S), Three worldsXem Ba cõi.
; Three periods: past, present, future.
; (三世) Phạm: Trayo-dhvana#. Pàli:Tayo-addhà. Cũng gọi Tam tế, Khứ lai kim, Khứ lai hiện, Dĩ kim đương. Chỉ chung cho 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Nói một cách tổng quát thì quan điểm về 3 đời của các tông phái có 4 Thuyết sau: 1. Hữu bộ cho rằng pháp thể của các pháp hữu vi như sắc, tâm... tràn khắp 3 đời và có thật, cho nên bộ này gọi là Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu. Nói theo quan điểm này thì pháp quá khứ và pháp hiện tại không cách nào an lập được. Về điểm này, phần nhiều do sự bất đồng về chủng loại, tướng trạng, vị trí, sự đối đãi mà có nhiều thuyết khác nhau. Trong đó, Hữu bộ lấy sự bất đồng về vị trí làm chính nghĩa và cho rằng pháp thể là thực tại có thật trùm khắp 3 đời, bản thân pháp thể tuy không có sự sai biệt về 3 đời, nhưng lấy tác dụng của nó làm tiêu chuẩn để lượng định thì pháp khi chưa khởi tác dụng gọi là Vị lai pháp, pháp hiện đang khởi tác dụng gọi là Hiện tại pháp và pháp đã khởi tác dụng thì gọi là Quá khứ pháp. Trên đây là nói theo thuyết Hiện tại tức là một sát na. 2. Đại chúng bộ và Kinh lượng bộ chủ trương chỉ có các pháp sinh khởi 1 sát na hiện tại là có thật, còn các pháp quá khứ và vị lai đều không có. Đó chính là chủ trương Quá khứ không, hiện tại có, có rồi lại không. Vì thế cho pháp quá khứ là đã có, pháp vị lai là sẽ có để thuyết minh 3 đời, đó gọi là Hiện tại có thực thể, quá khứ và vị lai không có thực thể. 3. Phái Duy thức dựa trên lập trường Quá khứ, vị lai không có thực thể mà chủ trương có 3 thứ tam thế: a. Đạo lí tam thế: Về pháp hiện tại, có nhân tướng đã có ở quá khứ và quả tướng sẽ có ở vị lai, cho nên đầy đủ quá khứ và hiện tại. b. Thần thông tam thế: Quá khứ, vị lai tuy chẳng phải có thật nhưng nương vào Túc mệnh trí(Túc mệnh thông)mà quán xét quá khứ, nương vào Tha tâm trí (Tha tâm thông) mà quán xét hiện tại, nương vào sinh tử trí(Thiên nhãn thông) mà quán xét vị lai, như vậy nương vào tam thế được hiển bày do sức thần thông để làm tướng phần của tâm thức ở sát na hiện tại. c. Duythức tam thế: Dựa theo sự hư vọng của tâm mê mà phân biệt tam thế, nhưng đây chỉ là tướng phần do tâm thức của hiện tại biến hiện. 4. Tông Hoa nghiêm lập thuyết Chín đời, Mười đời. Tức trong 3 đời, mỗi đời lại có 3 đời, tổng cộng là 9 đời, như quá khứ của quá khứ, cho đến vị lai của vị lai... đây kia giống nhau, đây kia hòa hợp(tương tức tương nhập) và qui nạp vào trong 1 niệm. Chín đời cộng thêm 1 niệm là 10 đời, cho nên trong 10 huyền môn có lập Thập thế cách pháp dị thành môn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.37 (bản 60 quyển); luận Đại tì bà sa Q.76, 77; luận Câu xá Q.20, 21; luận Dị bộ tông luân; luận Biện trung biên Q.1; Pháp hoa huyền luận Q.9; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần cuối]. (xt. Tam Thế Thực Hữu, Tam Sinh, Thời).
tam thế bất khả đắc
Everything past, present, future whether mental or material is intangible, fleeting, and can not be held.
; (三世不可得) Ba đời không có thực thể. Tức là các loại sự vật trong 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai, không có 1 sự tồn tại nào có thực thể, cho nên gọi là bất khả đắc. [X. phẩm Đệ tử kinh Duy ma cật; kinh Kim cương]. (xt. Tam Thế).
tam thế chư phật
(三世諸佛) Cũng gọi Nhất thiết chư Phật, Thập phương Phật, Tam thế Phật. Chư Phật 3 đời. Tức chỉ chung toàn thể chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai trong vũ trụ. Về tên gọi và số mục chư Phật được liệt kê trong kinh luận có khác nhau. Kinh A hàm quyển 1, kinh Tăng nhất a hàm quyển 45 và kinh Tạp a hàm quyển 34 nêu tên của 7 đức Phật đời quá khứ; kinh Di lặc đại thành Phật và kinh Di lặc há sinh nói về sự ra đời của đức Phật Di lặc ở vị lai; kinh Quyết định tì ni, văn Tam thập ngũ Phật danh lễ sám, kinh Đại bảo tích quyển 90... liệt kê tên của 35 đức Phật như Phật Thích ca...; kinh Quán Dược vương Dược thượng nhịbồ tát, kinh Quán Hư không tạng bồ tát... nêu tên 53 đức Phật đời quá khứ như Phật Phổ quang...; kinh Vô lượng thọ liệt kê 53 đức Phật đời quá khứ như Phật Đĩnh quang...; kinh Hiền kiếp quyển 6 thì liệt kê 1000 vị Phật xuất hiện trong Hiền kiếp; kinh Tam thiên Phật danh liệt kê 1000 vị Phật của kiếp Trang nghiêm ở quá khứ, 1000 vị Phật của Hiền kiếp ở hiện tại và 1000 vị Phật của kiếp Tinh tú trong vị lai; kinh Ngũ thiên ngũ bách Phật danh nêu tên của 5 nghìn 5 trăm vị Phật. Kinh Hiền kiếp quyển 8 nói rằng: Sau khi một nghìn đức Phật của Hiền kiếp xuất hiện thì có kiếp Đại danh xưng, trong kiếp ấy sẽ có 1000 vị Phật ra đời; sau kiếp Đại danh xưng, có kiếp Dụ tinh tú, trong kiếp ấy sẽ có 8 vạn vị Phật xuất hiện; sau kiếp Dụ tinh tú lại có kiếp Trùng thanh tịnh, trong kiếp ấy sẽ có 8 vạn 4 nghìn Phật ra đời. Cứ theo Quán vô lượng thọ kinh sớ của ngàiCát tạng, Đại thừa cho rằng: Nói về không gian thì có chư Phật tồn tại ở 10 phương, nói về thời gian thì có chư Phật xuất hiện khắp trong 3đời. Nhưng Tiểu thừa thì không chủ trương thuyết 10 phương, mà chỉ nói về Phật ở3 đời và chủ trương mỗi đời chỉ có 1 vị Phật. [X. Kinh Tín Phật công đức; kinh Quán vô lượng thọ; phẩm Phương tiện kinh pháp hoa]. (xt. Tam Thế).
tam thế gian
There are two definitions: (1) The realms of khí matter, chúng sinh life, and trí chính giác mind, especially the Buddha's mind. (2) The ngũ ấm psychological realm (mind), chúng sinh life, and quốc độ or khí material realm.
; (三世間) Gọi đủ: Tam chủng thế gian. Ba loại thế gian: có 5 thuyết về Tam thế gian như sau: 1.Theo luận Đại trí độ quyển 70 thì Tam thế gian là: a. Ngũ ấm thế gian(cũng gọi Ngũ chúng thế gian, Ngũ uẩn thế gian): chúng sinh của loại thế gian này được hình thành bởi 5 pháp khác nhau, đó là: sắc, thụ, tưởng, hành và thức. b. Chúng sinh thế gian(cũng gọi Giả danh thế gian): chỉ cho chúng sinh do 5 uẩn giả danh cấu thành mỗi mỗi đều khác nhau. c. Quốc độ thế gian(cũng gọi Trụ xứ thế gian): các cõi nước mà chúng sinh của loại thế gian này nương ở mỗi mỗi đều khác nhau. 2.Theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4, Tam thế gian là: a. Hành thế gian: Tất cả chúng sinh thuộc loại thế gian này đều nhờ ăn uống mà sống còn. b. Chúng sanh thế gian: Thế gian thường và vô thường. c. Xứ thế gian: Thế gian được chiếu soi bởi sự vận hành của mặt trời, mặt trăng. 3. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 17, Tam thế gian là: a. Khí thế gian: Chỉ cho khí thế giới là chỗ nương ở sống còn của hữu tình. b. Chúng sinh thế gian: Trong chính báo, chỉ trừ đức Phật, tất cả chúng sinh còn lại đều thuộc chúng sinh thế gian. Như đồng sinh chúng, dị sinh chúng... được Phật giáo hóa. c. Trí chính giác thế gian: Chỉ cho tam thân, thập Phật năng hóa. 4. Theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 15 (bản dịch đời Lương) Tam thế gian là: a. Thế gian: Chỉ cho Khổ, Tập trong 3 cõi.b. Xuất thế gian: Chỉ cho 3 cõi đã thoát khỏi Khổ, Tập. c. Xuất xuất thế gian: Chỉ cho Bát địa đến Phật địa, được thành Phật. 5. Theo luận Kim thất thập quyển thượng, Tam thế gian là: a. Thiên đạo: Chỉ cho chư thiên ở các cõi trời. b. Nhân đạo: Chỉ cho loài người sống trên mặt đất. c. Thú đạo: Chỉ cho loài cầm thú sống ở khoảng giữa trời và đất. Cứ theo luận Kim thất thập quyển thượng, trong Tự tính đế (Phạm: Prakfti) do sự hòa hợp nhiều hay ít của 3 đức: Tát đỏa (Phạm:Sattva), La xà (Phạm:Rajas) và Đa ma (Phạm: Tamas) mà có sự khác nhau về Tam thế gian: Nếu Tát đỏa nhiều thì là Thiên đạo; La xà nhiều thì là Nhân đạo; còn nếu Đa ma nhiều thì là Thú đạo. Thiên đạo chia ra 8 loại: Phạm thiên, Thế chủ, Thiên đế, Càn thát bà, A tu la, Dạ xoa, La sát và Quỉ thần; Thú đạo chia ra 5 loại: Bốn chân, bay, bò, đi, không chân... Nhân đạo thì chỉ có loài người. [X. luận Đại trí độ Q.47; Thập địa kinh luận Q.10; Hoa nghiêm kinh sớ Q.3; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.6].
tam thế gian chinh phục thế tự tại thành tựu pháp
Tralokya-vaśaṃkara-lokesvara-sadhana (S).
tam thế giác mẫu
A name for Mansjusri Văn thù; as guardian of the wisdom of Vairocana, he is the bodhi-mother of all Buddhas, past, present, and future.
; (三世覺母) Tên khác của bồ tát Văn thù. Văn thù đứng đầu về trí tuệ của các đức Như lai, trí tuệ lại là nguồn gốc giác ngộ của chư Phật 3 đời, vì vậy gọi là Tam thế giác mẫu(mẹ của sự giác ngộ trong 3 đời). (xt. Văn Thù Bồ Tát).
tam thế giả thật
The reality or otherwise of things or events past, present and future. Some Hìnayàna schools admit the reality of the present but dispute the reality of the past dĩ hữu and the future đương hữu.
tam thế nghiệp
(三世業) Nghiệp ba đời. Tức chỉ cho 3 loại nghiệp phân chia theo thời gian mà nghiệp nhân được tạo ra. Đó là: 1. Quá khứ thế nghiệp: Nghiệp thiện, ác tạo ra ở đời quá khứ, chịu quả báo ở đời quá khứ, hiện tại, vị lai. 2. Hiện tại thế nghiệp: Nghiệp tạo ra ở đời hiện tại, chịu quả báo ở đời hiện tại, vị lai. 3. Vị lai thế nghiệp: Nghiệp tạo ra ở đời vị lai, không phải tạo ra ở hiện tại, nhưng chúng sinh chưa dứt phiền não, nhìn về vị lai, từ thân khẩu ý chắc chắn sẽ tạo các nghiệp thiện, ác, đó là Vị lai thế nghiệp. [X. luận Đại trí độ Q.24; Đại minh tam tạng pháp số Q.12].
tam thế nhân quả
(三世因果) Nhân quả ba đời. Tức lí nhân quả nghiệp cảm được thành lập suốt trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Bởi vì nghiệp tạo ra ở đời quá khứ là nhân, chiêu cảm quả ở hiện tại; rồi lại do nghiệp được tạo ở hiện tại làm nhân, chiêu cảm quả ở vị lai. Cứ như thế nhân quả nối nhau, sinh tử vô cùng, đó chính là tướng trạng lưu chuyển trong thế giới mê vọng. Bởi vậy, Thuyết nhất thiết hữu bộ đã dùng thuyết Nhân quả tam thế lưỡng trùng để giải thích 12 nhân duyên, tức cho rằng Vô minh, hành là nhân quá khứ chiêu cảm 5 quả ở hiện tại là thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thụ, lại lấy ái, thủ, hữu làm 3 nhân ở hiện tại chiêu cảm 2 quả sinh, lão tử ở vị lai. Đối với các tông giáo khác vốn chỉ bàn về 1 đời hiện tại, hoặc 2 đời hiện tại và vị lai, thuyết Tam thế nhân quả này thực là 1 đặc sắc lớn của giáo lí Phật giáo. [X. kinh Niết bàn Q.33 (bản Nam); kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.20; luận Câu xá Q.6, 9; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Tam Thế, Nhân Quả, Báo Ứng).
tam thế như lai
(三世如來) Cũng gọi Tam thế Phật. Như lai trong 3 đời. Tức chỉ cho Phật Di đà, Phật Thích ca, Phật Di lặc được phối với 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Đức Thích ca là Phật về mặt lịch sử, cho nên gọi là Hiện tại Phật; đức Di đà là Phật của 10 kiếp đã qua, cho nên là Phật quá khứ; còn đức Di lặc thì trong 56 ức 7 nghìn vạn năm sau đây sẽ là Phật xuất hiện ở thế giới Sa bà này, cho nên gọi là Vị lai Phật. [X. Động thượng già lam tạp kí].
tam thế phái
San-chieh p'ai (C), San-chieh chiao Một học phái Phật giáo ở Trung quốc do Tín Hành khai sáng và phát triển ở đời Tùy và Đường.
tam thế pháp
Tilokiyadhamma (P).
Tam thế Phật
三世佛|Ba thời Phật
tam thế phật
The Buddhas of the past, present and future, i.e. Kàsyapa, Sàkyamuni, and Maitreya.
tam thế tam thiên phật
The thousand Buddhas of each of the three kalpas - of the past called trang nghiêm kiếp, the present hiền kiếp, and the future tinh tú kiếp.
; (三世三千佛) Ba đời ba nghìn Phật. Tức 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai, trong mỗi đời đều có 1000 vị Phật. Trong kiếp Trang nghiêm quá khứ, Hiền kiếp ở hiện tại và kiếp Tinh tú ở vị lai, mỗi kiếp đều có 1000 đức Phật, cộng lại thành 3 đời 3 nghìn Phật. [X. kinh Tam thiên Phật danh; kinh Quán Dược vương Dược thượng]. (xt. Tam Thiên Phật).
tam thế thật hữu
(三世實有) Ba đời thật có. Tức là 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai thực sự tồn tại. Đây là giáo nghĩa do Thuyết nhất thiết hữu bộ thành lập. Theo luận Đại tì ba sa quyển 77, 4 vị Đại luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ có 4 quan điểm về 4 vấn đế này như sau:1. Thuyết Loại hữu dị của ngài Pháp cứu cho rằng các pháp trong 3 đời chỉ khác nhau về hình loại chứ thực chất thì giống nhau. 2. Thuyết Tướng hữu dị của ngài Diệu âm, chủ trương khi các pháp chuyển biến thì mỗi pháp đều có tướng 3 đời, khi trụ ở đời quá khứ thì chính hợp với tướng quá khứ và lìa tướng của 2 đời kia. 3. Thuyết Vị hữu dị của ngài Thế hữu cho rằng các pháp trải qua 3 đời do vị(vị trí, tác dụng) mà có khác, chẳng phải thể có khác. Tức các pháp trải qua 3 đời tuy tên gọi có khác nhưng thể thì không khác. 4. Thuyết Đãi hữu dị của ngài Giác thiên chủ trương các pháp trước sau đối đãi nhau mà có tên gọi 3 đời. Sự luận chứng của 4 thuyết trên tuy có khác nhau nhưng đều chủ trương 3 đời là có thật, trong đó, thuyết Vị hữu dị của ngài Thế hữu là quan điểm chính thống của Thuyết nhất thiết hữu bộ. (xt. Tam Thế).
tam thế thật hữu pháp thể hằng hữu
The Sarvàstìvàdah school Nhất thiết hữu bộ maintains that the three states (past, present, future) are real, so the substance of all things is permanent, i.e. time is real, matter is eternal.
tam thế trí
One of a Tathàgata's Như Lai ten kinds of wisdom, i.e. knowledge of past, present, and future.
tam thế tâm
Mind, or thought, past, present, or future, is momentary, always moving, unreal and cannot be laid hold of.
; (三世心) Chỉ cho quá khứ tâm, hiện tại tâm và vị lai tâm. Tâm sinh diệt từng sát na, cho nên ở bất cứ 1 đời nào trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai đều không thể nắm bắt được tâm, gọi là Tam thế tâm bất khả đắc.Kinh Kim cương (Đại 8, 751 trung) nói: Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc.
tam thế tâm, tam thế liễu đạt
A Buddha's perfect knowledge of past, present and future.
tam thế tục
(三世俗) I. Tam Thế Tục. Ba pháp thế tục do tông Pháp tướng y cứ vào tính Biến kế, Y tha, Viên thành mà lập ra. Đó là: 1. Giả thế tục: Tính Biến kế sở chấp. Tức lấy thế tục làm tên và chỉ có cái tên suông chứ không có thể tính. Tương đương với Đệ nhất thế gian thế tục trong 4 tục. 2. Hành thế tục: Tính Y tha khởi. Hành là nghĩa trôi chảy, đổi dời, là hành hữu vi, thể tính là thế tục. Tương đương với Đệ nhị đạo lí thế tục, Đệ tam chứng đắc thế tục trong 4 tục. 3. Hiển liễu thế tục: Tính Viên thành thực. Tức đoạn trừ sự nhiễm ô của tính Y tha khởi và tính Biến kế sở chấp. Chỉ cho Chân như y cứ vào 2 Không môn này mà hiển bày, tương đương với Đệ tứ thắng nghĩa thế tục trong 4 tục. [X. luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2]. II. Tam Thế Tục. Ba thứ thế tục được thành lập trong luận Hiển dương thánh giáo quyển 6: 1. Thế gian tục: Cái không có thực thể, chỉ có giả danh mà an lập, như ruộng vườn, nhà cửa... 2. Đạo lí tục: Cái có thực thể và nương vào thực thể ấy mà an lập như uẩn, giới, xứ... 3. Chứng đắc tục: Phương pháp nhằm đạt đến cảnh giới giác ngộ mà an lập, như quả Dự lưu... Ba thế tục trên đây tương đương với 3 thế tục trước trong 4 thế tục đế. [X. luận Biện trung biên Q.trung].
tam thế vô chướng ngại trí giới
The wisdom-law or moral-law that frees from all impediments past, present and future. Also styled Tam muội da giới, Tự tính bản nguyên giới, Tam bình đẳng giới, Thiện đề tâm giới, Vô vi giới, and Chân pháp giới.
; (三世無障礙智戒) Cũng gọi Tam muội da giới, Tự tính bản nguyên giới. Gọi tắt: Tam giới. Chỉ cho giới Chân ngôn bí mật trụ nơi lí Tam tam bình đẳng, lấy tâm bồ đề thanh tịnhsẵn có làm giới thể và lấy pháp giới vô lượng vạn đức làm hành tướng. Giới này có công năng thành tựu trí thanh tịnh của Như lai, chư Phật 3 đời nhờ giới này mà chứng được bồ đề, cho nên gọi là Tam thế vô chướng ngại trí giới. Trước khi vào đàn, hành giả Chân ngôn thụ giới này để làm người dẫn đường, sau đó mới tiếp tục cử hành nghi thức quán đính. Người thụ trì giới này, trụ trong pháp môn thân, ngữ, ý tam mật bình đẳng thì vô lượng hí luận, tà kiến đều được trừ sạch. [X.kinhThủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5, 17]. (xt. Tam Muội Da Giới).
tam thể
Worship with thân body, khẩu mouth, ý mind.
tam thệ nguyện
Three vows.
Tam thỉnh
三請; C: sānqǐng; J: sanshō;|Ba lời thỉnh cầu. Hỏi ba lần. Trong những bài kinh, đức Phật thường được thỉnh cầu ba lần trước khi ngài thuyết pháp.
tam thỉnh
A request thrice repeated - implying earnest desire.
; (三請) Chỉ cho 3 lần xin đức Phật nói pháp. Phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 42 trung) nói: Lúc bấy giờ, đại chúng Bồ tát, đứng đầu là ngài Di lặc, chắp tay bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Kính xinNgài hãy nói pháp ấy, chúng con sẽ tin nhận lời Ngài.Bạch như thế 3 lần rồi lại nói: Kính xin Phật nói pháp ấy, chúng con sẽ tin nhận lời Ngài. Lúc bấy giờ đức Thế tôn biết các Bồ tát đã 3 lần thỉnh không thôi, Ngài liền bảo rằng: Các ông hãy lắng nghe! Theo luận Pháp hoa quyển hạ thì Tam thỉnh có 3 ý nghĩa: 1. Vì muốn khiến đại chúng tìm cầu cảnh giới Phật sâu xa. 2. Vì muốn khiến đại chúng khởi tâm tôn trọng, chân thật muốn nghe. 3. Vì muốn khiến những người tăng thượng mạn rời khỏi pháp hội. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.3, phần cuối].
tam thị kệ
(三是偈) Cũng gọi Tam đế kệ. Chỉ cho 1 bài kệ của phẩm Quán tứ đế trong Trung luận do ngài Long thụ soạn (Đại 30, 33 trung): Chúng nhân duyên sinh pháp Ngã thuyết tức thị vô Diệc vi thị giả danh Diệc thị Trung đạo nghĩa (Pháp do các duyên sinh Ta nói tức là không Đó chính là giả danh Cũng là nghĩa Trung đạo). Bài kệ này được xem là nghĩa chung của các kinh điển thuộc hệ Trung quán của họcpháiTrung quán. Nghĩa là tất cả các pháp thế gian đều do những thứ nhân duyên kết hợp sinh thành, hoàn toàn không có tự tính cố hữu; những sự vật thực tại mà con người nhận biết chỉ là các danh ngôn, khái niệm rỗng không được bày đặt ra, chứ chẳng có thực chất gì cả. Đối với các pháp do nhân duyên sinh, 1 mặt thừa nhận chúng chỉ là giả danh, mặt khác lại thấy suốt tính không của chúng, đó chính là Trung đạo. Các tông Tam luận, Thiên thai của Trung quốc ở thời đại Tùy, Đường đều đặc biệt phát huy bài kệ này mà hình thành hệ thống của mỗi tông.
Tam thời
三時; C: sānshí; J: sanji;|Ba thời; cách hệ thống hoá, phân chia giáo pháp của Phật Thích-ca Mâu-ni thành ba thời đoạn, ba chu kì: Chính pháp (正法); Tượng pháp (像法) và Mạt pháp (末法). Chính tượng mạt (正像末).
tam thời
The three periods, after his nirvàna, of every Buddha's teaching. Chính correct or the period of orthodoxy and vigour; Tượng semblance or the period of scholasticism; Mạt end, the period of decline and termination.
; (三時) I. Tam thời. Chỉ cho 3 thời kì chuyển biến, phát triển củagiáo pháp đức Phật, đó là: Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. (xt. Chính Tượng Mạt). II. Tam Thời. Chỉ cho 3 thời Hữu, Không, Trung. Tức chiếu theo nội dung mà chia giáo thuyết của đức Phật làm 3 loại là Hữu giáo, Không giáo, Trung đạo giáo và theo thứ tự gọi là Sơ thời thuyết pháp, Đệ nhị thời thuyết pháp, Đệ tam thời thuyết pháp. Đối với 3 thời này, tông Pháp tướng có 3 cách nhận xét khác nhau: 1. Chia theo thời gian thuyết pháp thực tế của đức Phật, gọi là Niên nguyệt tam thời.2. Chia theo nội dung và ý nghĩa của giáo pháp, gọi là Nghĩa loại tam thời: 3. Chia theo thời kỳ thuyết pháp khi đức Phật còn tại thế(Tại thế tam thời)và sự phát triển của Phật giáo sau khi đức Phật nhập diệt(Diệt hậu tam thời). (xt. Tam Thời Giáo). III. Tam Thời. Chỉ cho 3 thời: Chủng, Thục, Thoát. Đây là thuyết của tông Thiên thai Trung quốc và của tông Nhật liên, Nhật bản. Ba thời này chia theo sự giáo hóa của đức Phật và chúng sinh được lợi ích. (xt. Chủng Thục Thoát). IV. Tam Thời. Chỉ cho Tam tế thời. Ở Ấn độ, một năm được chia làm 3 mùa: Nhiệt tế thời (mùa nóng), Vũ tế thời(mùa mưa) và Hàn tế thời(mùa lạnh). (xt. Lịch). V. Tam Thời. Ấn độ chia một ngày đêm làm 6 thời, tức ngày 3 thời và đêm 3 thời. Ngày 3 thời là sáng sớm, giữa trưa và chiều hôm, đêm 3 thời là đầu đêm, nửa đêm và cuối đêm. Sáng sớm là khoảng 8 giờ trước ngọ, giữa trưa là 12 giờ đúng ngọ, chiều hôm là khoảng 4 giờ sau ngọ, đầu đêm là khoảng 8 giờ tối sau ngọ, nửa đêm là khoảng 12 giờ giữa đêm, cuối đêm là khoảng 4 giờ sáng. (xt. Lục Thời). VI. Tam Thời. Chỉ cho 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Cũng gọi Tam thế. (xt. Tam Thế).
tam thời chướng
(三時障) Nghiệp dị thục làm chướng ngại Tam thời. Tam thời chỉ cho lúc sắp được Nhẫn vị, quả Bất hoàn, quả Vô học. Tam thời chướng là: 1. Khi từ Đính vị của giai vị Tứ thiện căn sắp được Nhẫn vị thì chiêu cảm nghiệp 3 đường ác, trở thành cực chướng ngại. Bởi vì nếu đạt đến Nhẫn vị thì đã vượt qua được quả báo của 3 đường ác. 2. Khi sắp được quả Bất hoàn trong 4 quả thì nghiệp Dục giới hệ trở nên cực chướng ngại, chỉ trừ Tùy thuận hiện pháp thụ nghiệp(tạo nghiệp ở đời hiện tại, chịu quả báo ngay ở đời hiện tại). Đó là vì quả Bất hoàn là quả vị không còn trở lại trong cõi Dục nữa. 3. Khi sắp được quả A la hán thì nghiệp Sắc giới hệ và Vô sắc giới hệ trở nên cực kì chướng ngại, cũng trừ Tùy thuận hiện pháp thụ nghiệp. Đó là vì quả A la hán vĩnh viễn thoát li 3 cõi. Hệt như người sắp lìa bỏ nơi mình cư trú từ trước đến nay thì các chủ nợ trở thành cực chướng ngại, hiện muốn xa lìa 3 đường ác, cõi Dục và 3 cõi cho nên có các chướng ngại này. Nếu diệt trừ được chướng ngại này thì được tiến tới. [X. luận Câu xá Q.18; luận Đại tì bà sa Q.6; luận Thuận chính lí Q.61].
tam thời giáo
(三時教) Cũng gọi Tam thời giáo phán. Chỉ cho 3 thời kì của giáo pháp đức Phật được chia loại theo thời đại đức Phật thuyết pháp khác nhau và ý nghĩa cạn sâu của nội dung kinh điển. 1. Theo thuyết của tông Pháp tướng: Ngài Khuy cơ căn cứ vào phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật mà lập Tam thời giáo là: a. Đệ nhất thời giáo: Lúc đầu, vì những người phát tâm xu hướng Thanh văn thừa nên đức Thích tôn tuyên giảng lí Tứ đế, gọi là Đệ nhất thời Hữu giáo, chỉ cho lí Ngã không pháp hữu nói trong kinh A hàm. Nghĩa là các pháp tồn tại đều do nhân duyên sinh diệt, cho nên không có thực thể, nhưng những yếu tố cấu thành các pháp tồn tại thì có thật, vì thế gọi là Hữu giáo, chỉ cho Tiểu thừa giáo. b. Đệ nhị thời giáo: Vì những người phát tâm xu hướng Đại thừa nên đức Thích tôn tuyên giảng lí Các pháp đều không, như nói trong các kinh Bát nhã. Nghĩa là hết thảy các pháp xưa nay vốn là không, đó là giáo pháp phủ định, gọi là Không giáo, chỉ cho Đại thừa không tông. c. Đệ tam thừa giáo: Vì những người phát tâm xu hướng Nhất thiết thừa nên đức Thích tôn tuyên giảng nghĩa Trung đạo, như kinh Hoa nghiêm, kinh Giải thâm mật..., dùng thuyết Tam tính tam vô tính để bàn về chân ý của Không, khẳng định Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không, cho nên gọi là Trung đạo giáo, chỉ cho Duy thức tông. Giáo này là Đại thừa giáo từ Tiểu thừa giáo tiến vào Đại thừa nên cũng gọi là Chân đại thừa giáo. Đệ nhất thời Hữu giáo và Đệ nhị thời Không giáo trong Tam thời giáo này được gọi là Phương tiện vị liễu nghĩa giáo(giáo pháp phương tiện tạm thời chứ chưa viên mãn, về nhiếp cơ cũng như giáo lí đều có những khiếm khuyết); trái lại, Đệ tam thời Trung đạo giáo được gọi là Chân thực liễu nghĩa giáo(giáo thuyết hoàn toàn, chân thực, cả về nhiếp cơ và giáo lí đều viên mãn). Tam thời giáo phán vốn do Luận sư Giới hiền người Ấn độ thành lập, tông Pháp tướng đối với Tam thời cũng có cách giải thích khác: Có thuyết Niên nguyệt tam thời được chia theo thời kì thuyết pháp thực tế của đức Phật, có thuyết Nghĩa loại tam thời được phán theo nội dung ý nghĩa sâu cạn khác nhau và có thuyết Kiêm đới tam thời chiết trung 2 thuyết Niên nguyệt và Nghĩa loại ở trước. [X. luận Thành duy thức Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. 2. Theo thuyết của tông Tam luận: Luận sư Trí quang người Ấn độ lập Tam thời giáo là: a. Sơ thời giáo: Tâm(chủ quan), cảnh (khách quan) đều là thực tại, vì thế tâm và cảnh đều có, chỉ cho Tiểu thừa giáo. b. Đệ nhị thời giáo: Chỉ có tâm là thực tại, cho nên là cảnh không tâm có, chỉ cho Đại thừa Pháp tướng. c. Đệ tam thời giáo: Tâm và cảnh đều không, chỉ cho Đại thừa vô tướng. Trong Tam thời giáo trên, Đệ tam thời giáo là Chân thực liễu nghĩa giáo. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Tam Thời, Tam Giáo).
Tam thời giáo phán
三時教判; C: sānshí jiāopàn; J: sanji kyōhan;|Cách phân loại giáo lí thành ba thời. Chỉ cách phân loại giáo lí của đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành ba thời. Pháp tướng tông (法相宗) chủ trương ba thời giáo: Phật thuyết các pháp đều hiện hữu, đều trống không và Phật thuyết trung đạo. 1. Giáo lí của thời kì đầu (hữu) chủ trương tồn tại trên cơ sở nhân duyên, nhưng những thành phần (pháp) của sự tồn tại này thật sự tồn tại. Giáo lí này được giảng dạy trong những bộ kinh A-hàm và những bộ kinh Tiểu thừa khác; 2. Giáo lí thời kì thứ hai, chủ trương nguồn gốc của tất cả vạn vật đều là trống không. Thời kì này cũng được gọi là »thời kì phủ định«, là thời điểm bắt đầu của giáo lí Đại thừa, chuyển đổi dần từ giáo lí Tiểu thừa. Kinh điển hệ Bát-nhã Ba-la-mật-đa là những ví dụ tiêu biểu cho giáo lí thời kì này; 3. Giáo lí thời kì thứ ba được gọi là »Chân không«: Trung đạo được giải thích một cách xác định trong những bộ kinh như Hoa nghiêm và Giải thâm mật. Thời kì này cũng được gọi là »Chân Đại thừa«.
tam thời giáo phán
The three periods and characteristics of Buddha's teaching as defined by the Dharmalaksana school Pháp tướng tông. They are: (1) Hữu when he taught the thật hữu reality of the skandhas and elements, but denied the common belief in thật ngã real personality, or a permenent soul; this period is represented by the four A hàm kinh Agamas and other Hìnayàna sùtras; (2) Không Sùnya, when he negatived the idea of thật pháp reality of things and advocated that all was không unreal the period of the Bát nhã kinh prajnà sùtras; (3) Trung Madhyama, the mean, that mind or spirit is real, while things are unreal; the period of this school's specific sùtra Giải thâm mật scripture unlocking the mysteries also the Pháp Hoa Lotus sùtra and later sùtras.
tam thời hệ niệm
(三時繫念) Nhớ nghĩ 3 thời. Tức là một trong các pháp môn niệm Phật của tông Tịnh độ, do Quốc sư Trung phong đời Nguyên đề xướng, mục đích chủ yếu là cầu cho các vong linh được sinh về thế giới Cực lạc phương Tây, vĩnh viễn ra khỏi biển nghiệp mênh mông mờ mịt. Thời gần đây pháp môn này lưu hành rất rộng rãi, có xu hướng muốn thay thế nghi thức cúng thí ngã quỉ. Tam thời, một là chỉ cho buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều; hai là chỉ cho 3 thời: Thuyên nhất thiết hữu, Thuyên nhất thiết không và Thuyên nhất thiết trung. Nhưng người đời sau kết hợp 3 thời này làm một và phải thực hành xong trong khoảng thời gian một buổi chiều. Hệ niệm là 3 nghiệp thân, khẩu, ý quán tưởng văn kinh của kinh A di đà và luôn nhớ nghĩ đến việc sinh về Tịnh độ của Phật A di đà. Ngài Trung phong Minh bản có soạn 2 cuốn sách về Tam thời hệ niệm: Một là Tam thời hệ niệm nghi phạm, dùng cho việc kết hội tự tu; hai là Tam thời hệ niệm Phật sự, dùng cho việc tác pháp độ vong. Nội dungcủa 2 cuốn sách này đều gồm 7 phần: Tụng kinh, Trì danh, Giảng diễn, Hành đạo, Sám hối, Phát nguyện và Xướng tán, mỗi 1 thời cũng đều bao hàm 7 hạng mục này. Thời thứ nhất: Chỉ bảo cho hành giả (người sống cũng như người chết) biết rằng thế giới Cực lạc không có các nỗi khổ, người tu đạo nếu muốn tìm đường trở về thì chỉ cần nhìn vào cõi trần lao mà rõ tự tâm. Chúng sinh sở dĩ chịu khổ vô tận là từ tham dục mà ra, tham dục lại do quên mất tự tính, vọng tưởng lăng xăng mà có. Muốn lìa khổ được vui, sinh về Tịnh độ thì phải có đầy đủ 3 điều kiện là tín, nguyện và hành. Bởi vậy, hành giả phải có lòng tin sâu xa, nguyện vọng tha thiết và xưng niệm danh hiệu của đức Phật A di đà, tâm không tán loạn, lúc lâm chung tâm không điên đảo thì chắc chắn được vãng sinh Cực lạc Tịnh độ của Phật A di đà.Thời thứ hai: Chỉ bảo cho hành giả biết rằng tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau, hiển bày Tịnh độ duy tâm, Di đà tự tính. Tuy pháp tính lặng lẽ tự nhiên, nhưng vô sinh mà sinh, nghiệp quả rõ ràng, vì thế chúng sinh vòng quanh trong các nẻo, lăn lộn trong 4 loài, cho nên hành giả phải phát lộ sám hối, tẩy sạch nghiệp nhơ, tăng trưởng căn lành, xả bỏ các duyên nghiệp mà cầu sinh về cõi nước Cực lạc, vĩnh viễn chấm dứt mọi khổ đau.Thời thứ ba: Khai thị cho hành giả biết công đức của 6 chữ hồng danh Nam mô A di đà Phật. Một câu danh hiệu A di đà Phật có năng lực dứt hết 6 căn, diệt trừ trọng tội sinh tử của 8 muôn ức kiếp. Giống như hạt ngọc trong sáng bỏ vào nước đục thì nước đục trong ngay, bởi thế hành giả chỉ cần cất lên một tiếng niệm danh hiệu Phật, bổ thẳng xuống giống như thanh kiếm Thái a chặt đứt hết vô minh phiền não, thẳng đến một lòng không rối loạn, năng sở đều dứt bặt thì thôi. Cứ như trên, 3 thời hệ niệm danh hiệu muôn đức của Phật A di đà, hạnh nguyện đã sâu, công không luống bỏ, thì chắc chắn được thác chất trong thai sen, lìa hẳn biển nghiệp, chứng thẳng A bệ bạt trí(Bất thoái), viên mãn Vô thượng bồ đề. [X. Trung phong quốc sư tam thời hệ niệm Phật sự].
tam thời hệ niệm nghi phạm
(三時繫念儀範) Gọi đủ: Trung phong tam thời hệ niệm nghi phạm. Tác phẩm, một quyển, do ngài Trung phong Minh bản soạn vào đời Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 128. Nội dung sách này, trước hết là các mục: Cử chú, vân tập tán, Đăng tọa kệ, đề cương, duyên khởi... kế đến là trình bày về Tam thời Phật sự. Thời Phật sự thứ nhất tụng kinh Đại a di đà quyển thượng, thời Phật sự thứ hai tụng kinh Đại a di đà quyển hạ, thời Phật sự thứ ba tụng kinh Quán vô lượng thọ, hoặc cả ba thời Phật sự đều tụng kinh Di đà. Mỗi thời đều theo thứ tự: Đề cương, giảng diễn, cử niệm, sám hối, phát nguyện và Tây phương tán hòa niệm. Giữa thời Phật sự thứ nhất và thứ hai, có cử hành nghi thức cúng Phật; giữa thời Phật sự thứ hai và thứ ba thì tu sám nghi Di đà. Cuối sách có phụ thêm bài văn khuyên người niệm Phật và nói về chính nhân niệm Phật...
tam thời luận môn
(三時論門) Liên kết 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai để thảo luận và nghiên cứu tất cả sự pháp. Phẩm Luận môn trong luận Thành thực (Đại 12, 248 trung) nói: Tam thời luận môn nghĩa là nếu trong việc này mà nói về sắc, thì nếu sắc đã có, sẽ có, đang có cũng đều gọi là sắc. Thức cũng như thế, nếu thức đã biết, sẽ biết, đang biết, đều gọi là thức. Nói về các pháp như vậy gọi là Tam thời luận môn.
tam thời niên hạn
The three periods of Buddhism - 1,000 years of Chính pháp pure or orthodox doctrine, 1,000 years of Tượng pháp resemblance to purity, and 10,000 years of Mạt pháp decay. Other definitions are Chính and Tượng 500 years each, or Chính 1,000 and Tượng 500, or Chính 500 and Tượng 1,000.
tam thời toạ thiền
(三時坐禪) Ba thời ngồi thiền. Tức là Hoàng hôn tọa thiền, Tảo thần tọa thiền và Bô thời tọa thiền. 1. Hoàng hôn tọa thiền: Bắt đầu vào khoảng 8 giờ tối. 2. Tảo thần tọa thiền: Bắt đầu vào khoảng 10 giờ sáng. 3. Bô thời tọa thiền: Bắt đầu vào khoảng 4 giờ chiều. Vào thời đại Phật giáo nguyên thủy có Tứ thời tọa thiền, tức 3 thời trên và thêm thời thứ tư là Hậu dạ tọa thiền(vào khoảng 4 giờ sáng), nhưng đến đời sau chỉ thực hành 3 thời trên, gọi là Tam thời tọa thiền. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.9].
tam thời tọa thiền
The thrice a day meditation -about 10 am, and 4 and 8 pm.
tam thời vô hối
(三時無悔) Ba thời không ăn năn. Tức trong 3 giai đoạn khởi tâm làm ác mà không một giai đoạn nào sinh tâm hối cải. Cứ theo Thiên thai tứ giáo nghi tập chú, khi chúng sinh tạo tác các tội như ngũ nghịch... vào lúc định làm, đang làm, đã làm mà tâm không một mảy may hối hận thì đó là thượng phẩm cực ác, nhất định chiêu cảm quả báo địa ngục. Tam thời là: 1. Gia hành tâm thời: Muốn gây nghiệp ác thì trước hết khởi tâm tạo nghiệp, kế đến nghĩ phương cách thực hiện, tức chuẩn bị hành động, gọi là Gia hành tâmthời. 2. Căn bản tâm thời: Chính lúc đang gây nghiệp ác, tâm quyết định không lay chuyển, gọi là Căn bản tâm thời. 3. Hậu khởi tâm thời: Tức sau khi đã gây nghiệp ác rồi, lại khởi tâm nhớ lại các việc đã làm, gọi là Hậu khởi tâm thời.
tam thời điện
(三時殿) Cung điện được xây cất để thích ứng với 3 thời xuân, hạ và đông. Tại Ấn độ, một năm được chia làm 3 mùa, tức từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 5 là mùa nóng (xuân), từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9 là mùa mưa(hạ), từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 1 là mùa lạnh (đông). Theo truyền thuyết, khi đức Phật Thích ca còn là Thái tử, vì muốn cho Ngài vui sống trong cung đình mà bỏ chí xuất gia, nên vua cha cho xây dựng Tam thời điện.[X. kinh Đại phẩm nhu nhuyến trong Trung a hàm Q.29].
Tam thụ
三受; C: sānshòu; J: sanju;|Ba cảm thụ, cảm xúc: An vui, đau khổ, và chẳng vui chẳng khổ.
tam thụ
The three states of Vedanà, i.e. sensation, are divided into painful khổ, pleasurable lạc, and freedom from both xả.
; Khổ thụ, lạc thụ, bất khổ bất lạc thụ (cũng gọi là xả thụ).
; (三受) Phạm: Tisro-vedanà#. Pàli:Tisso-vedanà. Cũng gọi Tam thống. Chỉ cho ba thứ cảm nhận khi 6 căn tiếp xúc với 6 cảnh(đối tượng). Đó là: 1. Khổ thụ (Phạm: Du#kha-vedanà), cũng gọi Khổ thống. Nghĩa là lãnh nhận những cảnh tướng trái ý làm cho thân tâm bị bức bách. 2. Lạc thụ (Phạm: Sukha-vedanà), cũng gọi Lạc thống. Nghĩa là nhận lãnh những cảnh tướng như ý khiến cho thân tâm vui thích. 3. Xả thụ (Phạm: Upekwà-vedanà), cũng gọi Bất khổ bất lạc thụ, Bất khổ bất lạc thống. Nghĩa là nhận lãnh những cảnh tướng trung dung, thân tâm không bị bức bách, cũng không vui thích. Tam thụ này thông cả 6 căn mắt, tai... và chung cho hữu lậu, vô lậu. Hoặc mỗi thụ tự chia làm 2 thứ, thứ nào tươngứng với 5 thức thì gọi là Thân thụ, thứ nào tươngứng vớiý thức thì gọi là Tâm thụ. [X. kinh Tạp a hàm Q.8; luận Thành duy thức Q.5; luận A tì đạt ma phát trí Q.14; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Ngũ Thụ, Thụ).
tam thụ nghiệp
The karma, or results arising from the pursuit of courses that produce pain, pleasure, or freedom from both.
; (三受業) Cũng gọi Tam thụ báo nghiệp. Chỉ cho 3 thứ nghiệp được phân loại theo 3 cảm thụ: Khổ, lạc, xả. Đó là: 1. Thuận lạc thụ (Phạm: Sukhavedanìya-karma), cũng gọi Phúc nghiệp, Lạc báo nghiệp, Nghiệp chiêu cảm lạc thụ, bắt đầu từ cõi Dục đến Đệ tam tĩnh lự. Nếulạc thụ ở đây làlạc thụ trong Tam thụ môn thì bao gồm hỉ thụ, vì thế lạc thụ này tồn tại ở Đệ tam thiền thiên. 2. Thuận khổ thụ nghiệp (Phạm: Du#kha-vadanìya-karma), cũng gọi Phi phúc nghiệp, Khổ báo nghiệp. Nghiệp mang lại cảm giác khổ, tức là tất cả nghiệp ác ở cõi Dục. 3. Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp (Phạm: Adu#khàsukha-vedanìyakarma), cũng gọi Thuận phi nhị nghiệp, Bất khổ bất lạc báo nghiệp. Tức nghiệp chiêu cảm quả báo từ Đệ tứ thiền thiên trở lên, ở cõi này chỉ có Xả thụ. Tuy nhiên, từ Đệ tam thiền thiên trở xuống cũng có Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp, nếu cảm quả ở các cõi trời Trung gian thì gọi là Trung gian định nghiệp. Ở đây nói theo Thụ sở cảm thì ngoài sự chiêu cảm được Thụ ra, còn chiêu cảm được cả 4 uẩn là Sắc, Tưởng, Hành và Thức. [X. luận Phát trí Q.11; luận Thuận chính lí Q.40; luận Câu xá Q.15, luận Du già sư địa Q.9]. (xt. Tam Nghiệp).
tam thức
The three states of mind or consciousness: chân thức the original unsullied consciousness or Mind, the Tathàgata-garbh, the eighth or àlaya; hiện thức mind or consciousness diversified in contact with or producing phenomena, good and evil; phân biệt thức consciousness discriminating and evolving the objects of the five senses. Also Ý thức manas, Tâm thức àlaya, Vô cấu thức amala.
; (三識) I. Tam Thức. Tám thức được chia làm 3 loại, gọi là Tam thức. Đây là thuyết của kinh Lăng già (bản 4 quyển). Tức là: 1. Chân thức: Chỉ cho thức chân tịnh của tự tính thanh tịnh, tức là thức A lại da thứ 8 của tịnh phần; thức này có khả năng biết rõ tự thể chân thực. 2. Hiện thức: Chỉ cho thức chủng tử sở tàng(được cất chứa) biến hiện ra căn thân và thế giới, tức là thức A lại da thứ 8 của nhiễm phần; nhưng cũng có chỗ cho rằng thức Mạt na thứ 7 có khả năng biết rõ vọng tướng và được xem là một vọng thức khác. 3. Phân biệt sự thức: Chỉ cho thức dấy lên sự phân biệt các cảnh như 6 trần... tức là thức thứ 6 và thức thứ 7; nhưng cũng có chỗ cho 6 thức trước có khả năng rõ biết các sự tướng và xem là một Phân biệt sự thức khác. Ngoài ra, kinh Lăng già quyển 2 (bản 10 quyển) cũng nêu ra thuyết Tam thức: Chuyển tướng thức, Nghiệp tướng thức và Trí tướng thức. [X. Duy ma kinh huyền sớ Q.5; Trung quán luận sớ Q.7, phần đầu; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần cuối]. (xt. Bát Thức). II. Tam Thức. Chỉ cho thức A ma la(Thanh tịnh thức), thức A lại da(Vô một thức) và thức Mạt na (Phân biệt thức)trong 9 thức do tông Thiên thai thành lập. Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng (Đại 39, 4 thượng) ghi: Thế nào là Tam thức? Thức gọi là giác liễu, là tên khác của trí tuệ. Thức A ma la là Bất động thức thứ 9, nếu phân biệt thì đó chính là Phật thức; thức A lê da tức là Vô một thức thứ 8, vẫn còn tùy miên phiền não hợp với vô minh, nếu phân biệt thì đó là Bồ tát thức; (...) thức A đà na là Phân biệt thức thứ 7, chán ghét sinh tử, ưa thích Niết bàn, nếu phân biệt thì đó là Nhị thừa thức. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5, hạ cho Tam thức này là cùng loại với Tam quĩ: Chân tính, Quán chiếu và Tư thành, hơn nữa, thông cả 10 loại Tam pháp, cũng tức là Tam thức, Tam quĩ cho đến Tam đạo đều là cùng thể mà chỉ khác tên, đều là diệu pháp đầy đủ tam thiên tam đế, cho nên tất cả đều viên thông dung tức. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm hội bản Q.5, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 1; Pháp hoa huyền nghĩa tư kí Q.5, phần cuối]. (xt. Thập Chủng Tam Pháp, Tam Quĩ, A La Ma Thức).
tam thức duyên cảnh quảng hiệp
(三識緣境廣狹) Cảnh(đối tượng) mà 3 thức thứ 8, thứ 7 và thứ 6 duyên theo có rộng, hẹp khác nhau. Tức là: 1. Cảnh của thức thứ 8 duyên theo rộng nhất: Thức thứ 8 là thức căn bản, là chỗ nương của cả nhiễm lẫn tịnh, có năng lực biến hiện ra 3 cảnh là chủng tử, căn thân và khí thế gian, cho nên cảnh duyên là rộng nhất. 2. Cảnh của thức thứ 7 duyên theo hẹp nhất: Thức thứ 7 không có thể tướng riêng, chỉ nương vào thức thứ 8 làm nhân để sinh khởi, lại duyên theo Kiến phần của thức thứ 8 làm Tướng phần của mình, vì thế cảnh duyên của thức này là hẹp nhất. 3. Cảnh của thức thứ 6 duyên theo rộng vừa: Thức thứ 6 có khả năng duyên theo tất cả cảnh của 3 tính thiện, bất thiện, vô kí..., có năng lực phân biệt tất cả pháp trần như sắc, tâm..., vì thế nên cảnh duyên hơi rộng. [X. Tông kính lục Q.36; luận Du già sư địa Q.51].
Tam Thừa
(s: yāna-traya, tri-yāna, 三乘): ba cỗ xe. Cỗ xe là ví dụ cho giáo lý dẫn dắt chúng sanh đi đến giác ngộ; có Nhất Thừa (一乘) cho đến Ngũ Thừa (五乘); đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sanh là chậm chạp, trung bình, lanh lợi mà chế ra 3 loại pháp môn khác nhau gọi là Tam Thừa. (1) Thanh Văn Thừa (s: śrāvaka-yāna, 聲聞乘), còn gọi là Tiểu Thừa (小乘); nếu nhanh thì trong 3 đời, chậm thì trong vòng 60 kiếp, tu pháp Không, cuối cùng đến đời này nghe giáp pháp của đức Như Lai, ngộ lý Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), chứng quả A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢). (2) Duyên Giác Thừa (s: pratyeka-buddha-yāna, 緣覺乘), còn gọi là Trung Thừa (中乘), Bích Chi Phật Thừa (辟支佛乘), Độc Giác Thừa (獨覺乘); nếu nhanh thì trong 4 đời, chậm thì trong 100 kiếp tu pháp Không, vào đời cuối cùng thì không nương vào giáo pháp của Như Lai, mà cảm các ngoại duyên như hoa bay, lá rụng, suối reo, v.v., tự giác ngộ lý Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣), và chứng quả Bích Chi Phật (辟支佛). (3) Bồ Tát Thừa (s: bodhisattva-yāna, 菩薩乘), hay còn gọi là Phật Thừa (佛乘), Đại Thừa (s: mahāyāna, 大乘); trong khoảng thời gian vô số kiếp tu hành hạnh Lục Độ (六度), rồi trong 100 kiếp trồng nhân 32 phước tướng để chứng vô thượng Bồ Đề. Ba cỗ xe này được ví cho xe dê, hươu, xe trâu; hay ví cho ba loại thú là voi, ngựa và thỏ. Như trong Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký Chú (釋迦如來成道記註) quyển hạ do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường soạn, Huệ Ngộ Đại Sư (慧悟大師) ở Nguyệt Luân Sơn (月輪山), vùng Tiền Đường (錢唐) chú giải, có đoạn rằng: “Pháp Hoa Kinh Tam Xa dụ dã, Dương Xa dụ Thanh Văn Thừa, Lộc Xa dụ Duyên Giác Thừa, Ngưu Xa dụ Bồ Tát Thừa; Tam Thừa câu dĩ vận tải vi nghĩa (法華經三車喻也、羊車喻聲聞乘、鹿車喻緣覺乘、牛車喻菩薩乘、三乘俱以運載爲義, về thí dụ Ba Xe của Kinh Pháp Hoa, Xe Dê ví cho Thanh Văn Thừa, Xe Nai ví cho Duyên Giác Thừa, Xe Trâu ví cho Bồ Tát Thừa; cả Ba Thừa đều có nghĩa vận tải).” Hay như trong Phẩm Thí Dụ (譬喻品) của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) có giải thích rằng: “Nhược hữu chúng sanh, nội hữu trí tánh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, dục tốc xuất Tam Giới, tự cầu Niết Bàn, thị danh Thanh Văn Thừa. … Nhược hữu chúng sanh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, cầu tự nhiên tuệ, độc lạc thiện tịch, thâm tri chư pháp nhân duyên, thị danh Bích Chi Phật Thừa. … Nhược hữu chúng sanh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, cần tu tinh tấn, cầu nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, Như Lai tri kiến, lực, vô sở úy, mẫn niệm an lạc, vô lượng chúng sanh, lợi ích nhân thiên, độ thoát nhất thiết, thị danh Đại Thừa (若有眾生、內有智性、從佛世尊、聞法信受、慇懃精進、欲速出三界、自求涅槃、是名聲聞乘…若有眾生、從佛世尊、聞法信受、慇懃精進、求自然慧、獨樂善寂、深知諸法因緣、是名辟支佛乘…若有眾生、從佛世尊、聞法信受、勤修精進、求一切智、佛智、自然智、無師智、如來知見、力、無所畏、愍念安樂、無量眾生、利益天人、度脫一切、是名大乘, Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng năng tinh tấn, muốn mau ra Ba Cõi, tự cầu Niết Bàn, đó là Thanh Văn Thừa. … Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng năng tinh tấn, cầu trí tuệ tự nhiên, vui một mình, khéo vắng lặng, biết sâu nhân duyên các pháp, đó là Bích Chi Phật Thừa. … Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng tu tinh tấn, cầu tất cả trí tuệ, trí tuệ Phật, trí tuệ tự nhiên, trí tuệ không cần thầy chỉ dạy, tri kiến của Như Lai, năng lực, sự khoogn sợ hãi, niệm thương xót an lạc, vô lượng chúng sanh, làm lợi ích trời người, độ thoát hết thảy, đó là Đại Thừa).” Hoặc như trong Tứ Giáo Nghi Chú (四敎儀註) quyển Thượng cho biết rằng: “Tam Thừa, thừa dĩ vận tải vi nghĩa; Thanh Văn dĩ Tứ Đế vi thừa, Duyên Giác dĩ Thập Nhị Nhân Duyên vi thừa, Bồ Tát dĩ Lục Độ vi thừa, vận xuất Tam Giới quy ư Niết Bàn (三乘、乘以運載爲義、聲聞以四諦爲乘、緣覺以十二因緣爲乘、菩薩以六度爲乘、運出三界歸於涅槃, Ba Thừa, thừa có nghĩa là vận chuyển, Thanh Văn lấy Tứ Đế làm phương tiện vận chuyển, Duyên Giác lấy Thập Nhị Nhân Duyên làm phương tiện vận chuyển, Bồ Tát lấy Lục Độ làm phương tiện vận chuyển, chở cả Ba Cõi quay về Niết Bàn).” Hai Thừa đầu chỉ có tự lợi, không có lợi tha, nên được gọi là Tiểu Thừa (小乘, cỗ xe nhỏ). Riêng Bồ Tát Thừa thì có đầy đủ cả tự lợi và lợi tha, nên có tên là Đại Thừa (大乘, cỗ xe lớn). Một số kinh điển như Tịch Điều Âm Sở Vấn Kinh (寂調音所問經), Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論) quyển 127, Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 11 gọi Tam Thừa là Hạ Thừa (下乘), Trung Thừa (中乘) và Thượng Thừa (上乘). Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (大乘莊嚴經論) quyển 4, Lương Dịch Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (梁譯攝大乘論釋) quyển 1 gọi chung cả 2 thừa trước là Hạ Thừa, Bồ Tát Thừa là Thượng Thừa. Hoa Nghiêm Tông, Thiên Thai Tông lấy Tam Thừa làm pháp môn phương tiện, cứu cánh đều quy về Nhất Phật Thừa (一佛乘); cho nên hai tông phái này chủ xướng tư tưởng “Tam Thừa Phương Tiện Nhất Thừa Chân Thật (三乘方便一乘眞實, Ba Thừa Phương Tiện Một Thừa Chân Thật).” Trong khi đó, Pháp Tướng Tông lại chủ trương ngược lại là “Tam Thừa Chân Thật Nhất Thừa Phương Tiện (三乘眞實一乘方便, Ba Thừa Chân Thật Một Thừa Phương Tiện).” Bên cạnh đó, Tam Thừa còn có nghĩa là Ba Thừa tùy thời tu tập của vị Bồ Tát, gồm: (1) Thiên Thừa (天乘), tức Sơ Thiền (初禪), Nhị Thiền (二禪), Tam Thiền (三禪) và Tứ Thiền (四禪). (2) Phạm Thừa (梵乘), tức từ, bi, hỷ và xả. (3) Thánh Thừa (聖乘), tức là Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道), gồm Chánh Kiến (s: samyag-dṛṣṭi, p: sammā-diṭṭhi, 正見), Chánh Tư Duy (s: samyak-saṃkalpa, p: sammā-saṅkappa, 正思惟), Chánh Ngữ (s: samyag-vāc, p: sammā-vācā, 正語), Chánh Nghiệp (s: samyakkarmanta, p: sammā-kammanta, 正業), Chánh Mạng (s: samyag-ājīva, p: sammā-ājīva, 正命), Chánh Tinh Tấn (s: samyag-vyāyāma, p: sammā-vāyāma, 正精進), Chánh Niệm (s: samyak-smṛti, p: sammā-sati, 正念), và Chánh Định (s: samyak-samādhi, p: sammā-samādhi, 正定).
Tam thừa
xem Ba thừa.
; 三乘; C: sānshèng; J: sanjō; S: triyāna;|Ba thừa
tam thừa
Trini-yānani (S), Tṛyāna (S), Triyāna (S), Three vehicles Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thừa (tương đương Tiểu thừa, Trung luận thừa và Đại thừa)- Gồm: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát. - Tam thừa còn chỉ: Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa.
; Triyàna (S) The three vehicles, or conveyances which carry living beings across samsàra, or mortality (birth and death) to the shore of nirvàna. The three are styled: (1) Tiểu thừa Hìnayàna, lesser vehicle; (2) Trung thừa Madhyamayàna, medium vehicle; (3) Đại thừa Mahayàna, greater vehicle.
; (三乘) Phạm:Trìịi yànàni. Chỉ cho 3 loại xe, ví dụ 3 pháp môn vận chuyển chúng sinh vượt qua sinh tử đến bờ Niết bàn. I. Tam Thừa. Để thích ứng với 3 loại căn cơ của chúng sinh là độn căn, trung căn và lợi căn, đức Phật nói 3 thứ giáo pháp là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa, gọi là Tam thừa.1. Thanh văn thừa (Phạm: Zràvakayàna): Nhờ nghe tiếng nói pháp của đức Phật mà được ngộ đạo nên gọi là Thanh văn. Hàng Thanh văn biết khổ, đoạn tập, ưa diệt, tu đạo, dùng 4 đế ấy làm thừa. 2. Duyên giác thừa (Phạm:Pratyekabuddha-yàna), cũng gọi Bích chi phật thừa, Độc giác thừa. Nhờ quán xét 12 nhân duyên mà giác ngộ lí chân đế, cho nên gọi là Duyên giác. Bắt đầu quán xét vô minh cho đến lão tử, kế quán vô minh diệt cho đến lão tử diệt, do nhân duyên sinh diệt này mà ngộ chẳng sinh chẳng diệt, cho nên lấy 12 nhân duyên này làm thừa. 3. Bồ tát thừa (Phạm: Boddhisattvayàna), cũng gọi Đại thừa (Phạm: Mahàyàna), Phật thừa, Như lai thừa: Cầu bồ đề vô thượng, nguyện độ tất cả chúng sinh, tu 6 độ muôn hạnh, lấy 6 độ này làm thừa. Hai thừa trước chỉ tự lợi, không lợi tha nên gọi chung là Tiểuthừa, còn Bồ tát thừa thì đủ cả tự lợi và lợi tha, cho nên gọi Đại thừa. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 1 và luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính đều cho rằng chỗ chứng đắc của Tiểu thừa thì Tam thừa đều biết, chỗ chứng đắc của Trung thừa thì Nhị thừa đều biết và chỗ chứng đắc của Phật thì chỉ một mình Phật biết chứ Nhị thừa không biết, đó là lí do để gọi Tam thừa là Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa; kinh Tịch điều âm sở vấn, luận Đại tì bà sa quyển 127 và luận Đại trí độ quyển 11 thì lấy việc trong pháp nhất vị không phân biệt mà nói thượng trung hạ để hiển bày sự sai khác giữa Tam thừa làm lí do gọi Tam thừa là Hạ thừa, Trung thừa và Thượng thừa; Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 và Nhiếp đại thừa luận thích quyển 1 (bản dịch đời Lương) thì gọi chung Thanh văn thừa và Duyên giác thừa là Hạ thừa, còn gọi Bồ tát thừa là Thượng thừa. Tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai cho Tam thừa là pháp môn phương tiện, cuối cùng qui về Nhất Phật thừa, đó là Nhất thừa giáo, tức ngoài Tam thừa còn lập riêng Nhất Phật thừa; tông Pháp tướng thì cho rằng Nhất thừa chỉ vì một cơ mà tạm thời đặt ra, thuộc Quyền giáo, còn Tam thừa mới là Thực giáo. Tức tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai chủ trương Tam thừa phương tiện, Nhất thừa chân thực, còn tông Pháp tướng thì, trái lại, chủ trương Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện. [X. kinh Đại bảo tích Q.94; kinh Giải thâm mật Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.3; luận Phật tính Q.1; Phật địa kinh luận Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Pháp hoa huyền tán Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Nhất Thừa, Nhị Thừa, Tứ Thừa). II. Tam Thừa. Chỉ cho Thiên thừa, Phạm thừa và Thánh thừa mà Bồ tát tu tập. 1. Thiên thừa: Tức Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. 2. Phạm thừa: Tức từ, bi, hỉ, xả. 3. Thánh thừa: Tức chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến và chính định. [X. kinh Đại bảo tích Q.94].
tam thừa quán môn
(三乘觀門) Môn quán của Tam thừa. Tức chỉ cho Tam thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thuộc Tam tạng giáo trong 4 giáo Thiên thai, lần lượt lấy quán khổ đế, quán tập đế, quán đạo đế làm pháp môn tu hành bước đầu. 1. Thanh văn quán khổ đế: Hàng Thanh văn căn cơ chậm lụt nhất, trước hết quán xét thân sinh tử 5 ấm của quả khổ, lấy quán Khổ đế làm môn tu bước đầu.2. Duyên giác quán tập đế: Hàng Duyên giác căn cơ hơi bén nhạy, quán xét hoặc nghiệp là tập nhân của quả khổ, lấy quánTập đế làm môn tu bước đầu. 3. Bồ tát quán đạo đế: Hàng Bồ tát căn cơ nhạy bén nhất, quán thẳng đạo pháp của nhân xuất thế, lấy quán Đạo đế làm môn tu bước đầu. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1, phần 4 (Đại 46, 166 hạ) ghi: Nếu bàn về pháp môn tu hành bước đầu thì có khác nhau, cho nên ngài Chương an nói: Thanh văn lấy Khổ đế làm đầu, Duyên giác lấy Tập đế làm đầu, Bồ tát lấy Đạo đế làm đầu. Đây nói về Tứ đế sinh diệt của Tam thừa thuộc Tam tạng giáo, Bồ tát Thông giáo lấy Diệt đế của giới nội làm đầu, Bồ tát Biệt giáo lấy Đạo đế của giới ngoại làm đầu, Bồ tát Viên giáo lấy Diệt đế của giới ngoại làm đầu. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng].
Tam thừa thánh nhân
三乘聖人; C: sānshèngshèngrén; J: sanjō shōnin;|Chỉ ba hàng Thánh nhân của ba cỗ xe: Thanh Văn (聲聞; s: śrāvaka), Duyên Giác (縁覺; s: pratyekabuddha) và Bồ Tát (菩薩; s: bodhisattva).
Tam thừa thập nhị bộ phần giáo
三乘十二部分教|Ba thừa mười hai phần giáo
tam tiêu phục
(三消伏) Tiêu phục 3 thứ độc hại. Đó là: 1. Sự tiêu phục: Dùng tán tâm tiêu phục các thứ độc hại như hổ lang, dao kiếm... 2. Hạnh tiêu phục: Tiêu phục các hạnh độc của Ngũ trụ địa. Tức hàng Nhị thừa Tạng giáo, Thông giáo và hàng bồ tát Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo tuy có khả năng dùng Tam quán để áp phục các phiền não Ngũ trụ địa nhưng vẫn ngăn cách với pháp tính, còn cần phải tu riêng các hạnh hữu tác nên gọi là Hạnh tiêu phục. 3.Lí tính tiêu phục: Nương vào Nhất tâm tam quán để tiêu phục sự độc hại của lí tính không nhiễm mà nhiễm. Theo thuyết trong kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni, nếu dốc lòng xưng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm, tụng trì đà la ni Tiêu phục độc hại thì nhờ sự gia hộ của bồ tát Quán thế âm mà tiêu phục được 3 thứ độc hại. [X. Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.2; Thỉnh Quán âm kinh sớ xiển nghĩa sao Q.1]. (xt. Lí Độc Tính Độc).
tam tiệm
The three progressive developments of the Buddha's teaching according to Prajnà school: (a) the Lộc uyển initial stage in the Deer Park; (b) the Phương đẳng period of the eight succeeding years; (c) the Bát nhã Prajnà or wisdom period which succeeded.
tam tiệm thứ
(三漸次) Chỉ cho 3 pháp thứ bậc căn bản mà đức Phật nói trước khi giảng về các địa vị tu hành. 1. Trừ trợ nhân: Tức trừ bỏ nhân giúp cho điều ác của chúng sinh, như 5 thứ rau cay hành, hẹ, tỏi, củ kiệu, hưng cừ, hễ ăn chúng thì dễ phát dâm dục, nóng giận, bị tà mị bám sát, khiến trời, người xa lánh, cho nên người tu hành trước phải trừ bỏ những cái nhân giúp phát sinh điều ác này. 2. Phá chính tính: Tất cả việc ác như trộm cắp, nói dối... đều do dâm dục, sát sinh khởi lên, cho nên chúng sinh lấy các tính dâm, sát làm chính tính, nếu muốn tu đạo giác ngộ thì phải phá trừ các tính dâm, sát...3. Trái hiện nghiệp: Người tu đạo giác ngộ đã dứt bỏ 5 món rau cay, không phạm dâm dục, sát sinh thì không còn dính mắc vào cảnh lục trần hiện tiền nữa.
tam tiện
(三賤) Ba thứ tầm thường hèn mọn khi may áo ca sa giúp cho tỉ khưu đối trị được tâm tham nhiễm. Đó là: 1. Đạo tiện: Cắt may áo đơn giản, tầm thường, không kiểu cách. 2. Y tiện: Vải may áo cũng dùng loại thông thường, thô xấu. 3. Sắc tiện: Không dùng màu tươi, sáng mà dùng vỏ cây nấu lên để nhuộm thành hoại sắc. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.7].
tam toan đồ
(三酸圖) Bức tranh vẽ 3 nhân vật Nho, Thích, Đạo làm đề tài. Tương truyền, một hôm, Tô đông pha (Nho), Hoàn lỗ trực(Đạo), cùng đến chùa Kim sơn thăm Hòa thượng Phật ấn (Thích). Sau đó, khi ra về, cả 3 vị cùng nếm rượu hoa đào, tuy 3 người cùng uống một loại rượu nhưng mùi vị thì mỗi người đều cảm thấy khác nhau, nếm xong, 3 người đều chau mày, đó là nội dung vẽ trong bức tranh. Bức tranh này và Tam giáo đồ đều tượng trưng cho tinh thần Tam giáo dung hợp.Ngoài ra còn có các bức họa vẽ 3 vị Thánh nhân: Thích ca, Lão tử, Khổng tử, 3 vị cũng cùng nếm một vò rượu nhưng cảm nhận mùi vị khác nhau. Loại tranh này gọi chung là Tam thánh đồ và nổi tiếng hơn cả là tác phẩm của các họa sĩ Mã viễn, Trần thanh ba, Nhan huy người Trung quốc, đời Tống và Thú dã Nguyên tín, Hải bắc Hữu tùng người Nhật bản. (xt. Tam Giáo Đồ, Tam Giáo Luận Hành).
tam toà thuyết pháp
(三座說法) Tên công án trong Thiền tông. Tam tòa chỉ cho vị Thủ tọa thứ 3. Cứ theo Vô môn quan thì Tổ của tông Qui ngưỡng là ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch nằm mộng thấy mình lên đến chỗ ngài Di lặc trên cung trời Đâu suất, ngồi ở tòa thứ 3 (Đại 48, 296 thượng): Có một tôn giả đánh bạch chùy thưa: Hôm nay do vị Thủ tọa thứ ba thuyết pháp (Đệ tam tòa thuyết pháp). Ngài Ngưỡng sơn bèn đứng dậy, bạch chùy rằng: Pháp Ma ha diễn lìa tứ cú, dứt bách phi, lắng nghe! Lắng nghe! [X. Tam luận huyền nghĩa kiểm u tập Q.2; Khoa chú Tam luận huyền nghĩa Q.2].
tam trai
(三齋) I. Tam Trai. Chỉ cho 3 thứ trai là Mục ngưu trai, Ni kiền trai và Thánh bát chi trai. 1. Mục ngưu trai (Phạm: Gopàlakauposatha): Ví như người chăn bò tìm cỏ non nước sạch cho bò ăn uống, đến chiều đắt bò về nhà, lại chăm chăm nghĩ tới việc ngày mai sẽ đưa bò đến cánh đồngcỏtốt tươi cho bò ăn; nếu người đã thụ trì trai giới mà ở nhà thì tham lợi nuôi thân, suốt ngày đắm say dục lạc, ý nghĩa của người này cũng hệt như ý nghĩa của người chăn bò, trì trai như vậy sẽ chẳng được lợi ích gì, cũng không được quả thiện. 2. Ni kiền trai (Phạm: Nigaịỉhauposatha): Vào ngày 15 mỗi tháng nằm đất, thụ trai giới, lễ bái các vị thần trong vòng 10 do tuần, khấn rằng (Đại 1, 911 thượng): Hôm nay con trì trai, không dám làm điều ác (...), vợ con, tôi tớ chẳng phải là của con. Nói những lời hư dối sẽ không được quả báo lớn. 3. Thánh bát chi trai (Phạm:Ariyauposatha), hoặc gọi là Phật pháp trai, tức đệ tử nội đạo thụ trì 8 giới vào 6 ngày trai.[X. Trai kinh]. II. Tam Trai. Cũng gọi Tam thiện nguyệt, Tam trường nguyệt, Tam trai nguyệt. Chỉ cho 3 tháng trường trai. Tức mỗi năm thụ trì 8 trai giới trong 3 tháng là tháng giêng, tháng 5 và tháng 9. Trong thời gian 3 tháng này chiếc gương nghiệp ở cõi âm chiếu soi đến châu Nam, những điều thiện, ác sẽ hiện hết trong gương. Vào 3 tháng này là lúc thuận tiện cho các ác quỉ, cho nên phải tu thiện. Những người tu 3 tháng trường trai, ngày đêm chăm chỉ, một lòng khổ hạnh, sẽ được sinh về cõi nước Cực lạc của Phật A di đà ở phương Tây. [X. kinh Trung a hàm Q.55; kinh Quán đính Q.12; kinh Phạm võng Q.hạ; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.1, phần 3]. (xt. Tam Trường Trai Nguyệt). III. Tam Trai. Chỉ cho 3 ngày trai, tức giới thanh tịnh được thụ trì vào các ngày mồng 8, ngày 14 và ngày 15 mỗi tháng.
tam trang nghiêm
The three adornments, or glories, of a country: material attractions; religion and learning; men, i.e religious men and bodhisattvas.
; (三莊嚴) Chỉ choba thứ trang nghiêm. 1. Sự trang nghiêm: Chỉ cho các sự vật như sắc, thanh, hương, vị... 2. Pháp trang nghiêm: Chỉ cho các pháp âm thù thắng, vi diệu. 3. Nhân trang nghiêm: Chỉ cho các Bồ tát, Thanh văn... Đại thừa nghĩa chương quyển 19 (Đại 44, 835 hạ) nói: Thể của hai cõi này (Chân, Ứng) trang nghiêm thanh tịnh. Còn tướng của các cõi này nói chung có ba thứ: Một là Nhân trang nghiêm, những chúng sinh thắng thiện cư trú trong đó, tên cõi nước là Tịnh độ. Hai là Pháp trang nghiêm, có đủ các Phật pháp, cõi nước tên là Tịnh độ, cho nên Địa luận nói rằng: Nhân và các Pháp trang nghiêm. Ba là Sự trang nghiêm, ngũ dục thù thắng vi diệu. Trong 3 thứ này, Địa luận chỉ nói nhiều về Sự trang nghiêm, trong đó có 3 thứ: Một làThần thông trang nghiêm, tất cả cảnh giới biến hiện vô ngại. Hai là Quang minh trang nghiêm, thường có ánh sáng diệt trừ bóng tối. Ba là Tướng trang nghiêm, được trang sức toàn bằng các thứ báu. [X. kinh Đại ai Q.2; kinh Đại lâu thán Q.1; luận Đại trí độ Q.5; Đại đường tây vực kí Q.2; Pháp hoa kinh huyền tán Q.8].
Tam trí
三智; C: sānzhì; J: sanchi;|Ba loại trí huệ. Có nhiều cách phân loại trong nhiều kinh luận khác nhau nên mối liên hệ trong mỗi trường hợp phải được chú ý:|I. 1. Pháp trí (法智), trí huệ hiểu biết chư pháp; 2. Tỉ trí (比智), trí hiểu biết, phân biệt vạn vật sai biệt và 3. Đẳng trí (等智), trí thế tục (theo A-tì-đàm Tì-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論).|II. 1. Nhất thiết trí (一切智), trí huệ hiểu biết tất cả; 2. Đạo chủng trí (道種智), trí biết được những con đường tu tập khác nhau; 3. Nhất thiết trí trí (一切智智), trí thông đạt tất cả những loại trí huệ khác. Ba loại trí này tương quan đến ba Thánh quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát (theo Tứ giáo nghi chú 四教儀註).|III. 1. Văn huệ (trí); 2. Tư huệ và Tu huệ (theo Du-già luận 瑜伽論, Tam huệ).|VI. Ba loại trí được dạy trong Đại trí độ luận (大智度論): 1. Nhất thiết trí (一切智) của hàng Nhị thừa (Thanh Văn), là trí hiểu biết tất cả những khía cạnh khác biệt của chư pháp; 2. Đạo chủng trí (道種智) của hàng Bồ Tát, là trí hiểu biết khía cạnh toàn vẹn của chư pháp và 3. Nhất thiết chủng trí (一切種智) của chư Phật, trí huệ toàn hảo biết được tất cả khía cạnh của các pháp.
tam trí
The three kinds of wisdom: (1) (a) Nhất thiết trí sràvaka and pratyeka-buddha knowledge that all the dharmas or laws are void and unreal; (b) Đạo chủng trí bodhisattva-knowledge of all things in their proper discrimination; (c) Nhất thiết chủng trí Buddha-knowledge or perfect knowledge of all things in their every aspect and relationship past, present, and future. Thiên Thai associates the above with Không, Giả, Trung (2) (a) Thế gian trí earthly or ordinary wisdom; (b) Xuất thế gian trí supra-mundane, or spiritual (sràvaka and pratyeka-buddha) wisdom; (c) Xuất thế gian thượng thổ (độ) trí supreme wisdom of bodhisattvas and Buddhas.
; (三智) I. Tam Trí. Chỉ cho 3 thứ trí được nói ở phẩm Thích tam tuệ trong luận Đại trí độ quyển 84.1. Nhất thiết trí: Trí biết rõ cái tướng chung của tất cả các pháp. Cái tướng chung ấy chính là Không tướng. Trí này là trí của hàng Thanh văn, Duyên giác. 2. Đạo chủng trí(cũng gọi Đạo chủng tuệ, Đạo tướng trí): Trí biết rõ tướng riêng của tất cả các pháp. Cái tướng riêng ấy tức là các thứ đạo pháp sai biệt. Trí này là trí của hàng Bồ tát. 3. Nhất thiết chủng trí (cũng gọi Nhất thiết tướng trí): Tức trí biết rõ suốt tướng chung và tướng riêng, đó là Phật trí. Tông Thiên thai cho rằng 3 trí này là do 3 pháp quán Không, Giả, Trung cấu thành, tức Nhất thiết trí do Không quán mà thành, Đạo chủng trí do Giả quán mà thành và Nhất thiết chủng trí do Trung quán mà thành. Rồi các nhà Thiên thai lại dựa theo nghĩa Tam quán (Không, Giả, Trung) mà lập riêng 2 thứ Tam trí là: 1. Biệt tướng tam trí: Bồ tát Biệt giáo lần lượt tu tập Biệt tướng tam quán, thành tựu Nhất thiết trí, Đạo chủng trí, cho đến tu tập Trung đạo quán mà thấy rõ Phật tính, thành tựu Nhất thiết chủng trí, thường an trụ Niết bàn. 2. Nhất tâm tam trí: Không nương theo thứ tự tướng riêng mà dung hợp 3 đế trong một cảnh, tức tu 3 quán trong một tâm, cho nên khi phát khởi thì 3 trí cũng chứng được trong một tâm, không có trước, sau sai khác. Ngoài ra, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 4 cũng nêu ra 3 trí là Tục trí, Chân trí và Trung đạo trí, trong đó, Chân trí tức là trí quán chiếu lí không của Chân đế, tương đương với Nhất thiết trí; Tục trí tức là trí quán chiếu các pháp sai khác của Tục đế, tương đương với Đạo chủng trí; còn Trung đạo trí thì không nghiêng về 2 bên Chân, Tục mà là song già song chiếu, tương đương với Nhất thiết chủng trí. [X. kinh Đại phẩm Bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.27, Ma ha chỉ quán Q.3, thượng; Quán âm huyền nghĩa Q.hạ]. (xt. Nhất Thiết Trí, Nhất Thiết Chủng Trí, Đạo Chủng Trí). II. Tam Trí. Chỉ cho Thanh tịnh trí, Nhất thiết trí và Vô ngại trí được nói ở phẩm Phương tiện xứ vô thượng bồ đề trong kinh Bồ tát địa trì quyển 3. 1. Thanh tịnh trí (Phạm: Zuddhajĩàna): Trí quánĐệ nhất nghĩa, đoạn trừ tất cả tập khí phiền não, lìa chướng, vô nhiễm. Đây là trí Đệ nhất nghĩa của Như lai. 2. Nhất thiết trí(Phạm:Sarva-jĩàna): Trí biết rõ tất cả pháp tướng như tất cả thời, tất cả cõi, tất cả việc, tất cả giống loài... Đây là trí thế đế của Như lai. 3. Vô ngại trí(Phạm:Asaíga-jĩàna): cũng gọi Vô trệ trí. Tức trí đối với tất cả pháp tướng trong 4 loại nói trên, hễ phát tâm là biết liền, không nhờ phương tiện, không cần suy nghĩ, rõ suốt không ngại. Đây là trí thế đế của Như lai. Tam trí này thuộc về Quán chiếu bát nhã trong 3 loại Bát nhã, cũng thuộc về Nhất thiết chủng trí. [X. luận Du già sư địa Q.38; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. III. Tam Trí. Chỉ cho 3 loại trí nói trong Lăng già quyển 3, đó là: 1. Thế gian trí (Phạm: Laukikajĩàna): Tức trí của phàm phu, ngoại đạo. Phàm phu, ngoại đạo đối với tất cả pháp phân biệt theo các quan điểm, chấp trước hữu vô, nên không thể ra khỏi thế gian. 2. Xuất thế gian trí (Phạm:Lokottarajĩàna):Trí của hàng Thanh Văn, Duyên giác. Thanh văn, Duyên giác tu 4 đế, 12 nhân duyên, có khả năng ra khỏi thế gian, nhưng vẫn còn rơi vào cái thấy tự tướng, cộng tướng, cho rằng có sinh tử đáng chán, có Niết bàn để cầu. 3. Xuất thế gian thượng thượng trí (Phạm: Lokottaratama-jĩàna): Trí của chư Phật, Bồ tát. Trí của chư Phật, Bồ tát quán thấy tất cả pháp đều vắng lặng, chẳng sinh chẳng diệt, được địa vị Như lai, vượt trên Thanh văn, Duyên giác. IV. Tam Trí. Chỉ cho 3 thứ trí là Ngoại trí, Nội trí và Chân trí. 1. Ngoại trí: Trí khéo phân biệt rõ ràng các cảnh 6 căn 6 trần, biết suốt cổ, kim, thông hiểu mọi việc thế tục. 2. Nội trí: Trí khéo diệt trừ vô minh phiền não, tâm ý tịch tĩnh. 3. Chân trí: Trí khéo thông suốt tịnh và uế là cùng một thể, không có sai khác, muôn vật vốn tự vắng lặng. [X. phẩm Li vi thể tịnh trong luận Bảo tạng].
tam trùng niệm phật
(三重念佛) Ba thứ phân loại về sự niệm Phật do tông Tịnh độ ở Nhật bản đặt ra. I. Tam Trùng Niệm Phật. Dựa vào việc có phân biệt chính hạnh, tạp hạnh, trợ nghiệp, chính nghiệp hay không mà chia việc niệm Phật làm 3 thứ sau đây: 1. Niệm Phật do các Tổ sư đặt ra: Chỉ cho cách niệm Phật do ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh và ngài Trí khải ở núi Thiên thai lập ra. Phương pháp niệm Phật này chưa phân biệt chính-tạp, trợ-chính, tức muôn hạnh chỉ là một. 2. Bản nguyện niệm Phật: Hạnh niệm Phật do ngài Thiện đạo lập ra. Tức đã phân biệt chính-tạp, trợ-chính và lấy Chính nghiệp xưng danh niệm Phật làm bản nguyện. 3. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật: Do ngài Nguyên không – vị tăng Nhật bản – lập ra. Hai chữ Tuyển trạch(lựa chọn) được thêm vào trước Bản nguyện niệm Phật, lập niệm Phật làm bản nguyện, tức nói rõ kết quả của sự lựa chọn, lấy bỏ. [X. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.1]. II. Tam Trùng Niệm Phật. Y cứ vào sự khác nhau về Sự lí quán xưng mà chia niệm Phật thành 3 loại là: 1. Niệm Phật theo Ma ha chỉ quán. 2. Niệm Phật theo Vãng sinh yếu tập. 3. Niệm Phật theo sự khuyến hóa của Đại sư Thiện đạo. [X.Quyết đáp thụ thủ ấn nghi vấn sao Q.thượng; Quyết vấn nghi vấn minh tâm sao Q.thượng].
tam trùng pháp giới
(三重法界) Chỉ cho bản thể của thân tâm tất cả chúng sinh. Tông Hoa nghiêm vốn lập 4 thứ pháp giới, để đối ứng với trí năng quán nên lập riêng Tam trùng pháp giới. Tức là: 1.Lí pháp giới: Lí thể thống nhiếp sự hình thành của muôn vật. Trong thế giới vật chất có muôn tượng sum la nhưng lí thể của nó thì bất biến; nói cách khác, sự pháp giới là những hiện tượng sai khác do nhân duyên sinh khởi, sự sinh diệt biến đổi của nó đều qui về không. Đứng về phương diện bản thể của muôn vật mà nói thì đó là lí thể tuyệt đối, không sinh diệt, không thêm bớt, vĩnh viễn không thay đổi, tức là Lí pháp giới. Lí pháp giới này vượt ra ngoài tư tưởng và ngôn ngữ của con người, chỉ miễn cưỡng gọi là Không, nhưng cái không này cũng chẳng phải là cảnh địa tuyệt đối. 2. Lí sự vô ngại pháp giới: Chỉ cho pháp giới mà bản thể và hiện tượng tương tức tương nhập, cả 2 giao thoa dung hợp lẫn nhân, sự nếu chẳng có lí thì sự không thành, lí nếu chẳng có sự thì lí không hiển, có thể nói sự lí là tên khác của không hữu, tính tướng, do lí và sự dung thông nhiếp nhập mà thành là Lí sự vô ngại pháp giới. 3. Sự sự vô ngại pháp giới: Tất cả sự vật trong vũ trụ đều có tính thống nhất, liên tục và bao nhiếp, trong phạm trù này, không có giới hạn thời gian và không gian, pháp với pháp tương dung tương thành. Trong khoảng vũ trụ, mỗi mỗi hiện tượng đều là bản thể, bản thể lại có khả năng trở thành mỗi mỗi hiện tượng, cho nên toàn thể vũ trụ thu nhiếp vào trong một hiện tượng, một tức tất cả, tất cả tức một, tương tức tương nhập, trùng trùng vô tận, vượt ra ngoài quan niệm thị phi thiện ác, mà chỉ còn là cảnh giới viên mãn bình đẳng. (xt. Tứ Pháp Giới).
tam trùng quán môn
(三重觀門) Gọi đủ: Tam trùng pháp giới quán môn. Cũng gọi Tam trùng quán, Pháp giới tam quán. Chỉ cho 3 pháp quán do tông Hoa nghiêm thành lập. Sơ tổ của tông Hoa nghiêm là ngài Đỗ thuận mở ra quán môn tu hành thực tiễn, kiến lập 3 pháp quán để hiển bày quán hạnh, ngộ nhập Nhất chân pháp giới. Ba pháp quán là: 1. Chân không quán: Lí pháp giới trong 4 pháp giới. Chân lấy niệm lự không hư vọng làm chân; Không lấy sắc tướng không hình chất phòng ngại làm không. Vì phàm phu thấy sắc nhận lầm là thật, thấy không nhận lầm là đoạn không, cho nên bị sa vào đường mê, do đó không chứng ngộ được lí này. Nay mở ra pháp quán Chân không, khiến quán sắc chẳng phải thực sắc, toàn thể là chân không, quán không chẳng phải là đoạn không, toàn thể là huyễn sắc, có như thế mới thoát khỏi được sự trói buộc của tất cả tình trần mà đạt đến cảnh giới không sắc vô ngại. 2. Lí sự vô ngại quán: Tức lí sự vô ngại pháp giới. Trước hết đem lí dung hòa với sự, cuối cùng đem sự dung hòa vào lí, khiến cho lí và sự 2 mà chẳng 2, chẳng 2 mà 2, đó là vô ngại. Ta có thể thấy lí chân không, nhưng đối với sự lại chưa thể rõ hết, cho nên mở bày lí sự vô ngại, làm cho cái lí bất khả phân đều có thể viên dung hỗ nhiếp trong một mảy bụi và sự khả phân hạn cũng có thể thông suốt khắp trong pháp giới, mỗi sự lí đều có thể hiển hiện một cách rõ ràng vô ngại, hỗ dung tương tức. Lí sự vô ngại thuộc về phạm vi của cảnh sở quán, còn tâm là chủ thể năng quán. Nếu chỉ quán xét các sự tướng thì sẽ dẫn khởi tâm thế tục, bám dính vào cảnh hưởng lạc. Cũng thế, nếu chỉ quán về lí thì ắt dẫn khởi tâm xuất thế, và e chỉ hạn cuộc ở sự ưa thích cảnh vô lậu tiểu quả. Còn nếu quán cả lí và sự thì đạt đến cảnh giới dung thông vô ngại, khiến tâm không thiên chấp, tự vận dụng cả bi lẫn trí mà thành tựu hạnh vô trụ, chứng nhập Vô trụ xứ niết bàn. 3. Chu biến hàm dung quán: Tức sự sự vô ngại quán. Chu biến là trùm khắp tất cả cõi sắc và phi sắc, hàm dung là bao hàm tất cả, không một pháp nào có thể vượt ra ngoài cõi hư không này. Pháp quán này dùng sự trông sự, khiến quán lí của toàn sự đều có thể tùy pháp đồng sự mà thấy được mỗi mỗi pháp, sự của toàn lí cũng có thể tùy pháp đồng lí mà có thể bao dung tất cả. Nương vào sự sự trùm khắp thì có thể dung nhiếp, giao thoa nhau một cách tự tại, một nhiều không ngại, lớn nhỏ dung thông. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Pháp giới huyền kính Q.thượng; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Tứ Pháp Giới).
tam trùng thất cá pháp môn
(三重七個法門) Cũng gọi Giáo hành chứng tam phần. Bảy pháp môn được lí giải theo 3 lớp Giáo, Hành, Chứng, là giáo pháp khẩu truyền của tông Thiên thai Nhật bản. Thất cá pháp môn(7 cái pháp môn)gồm có 4 pháp khẩu truyền là: Nhất tâm tam quán, Nhất niệm tam thiên, Chỉ quán đại chỉ và Pháp hoa thâm nghĩa. Nội dung của Pháp hoa thâm nghĩa lại được chia làm 3 pháp lớn nữa là: Viên giáo tam thân, Liên hoa nhân quả và Thường tịch quang độ, cộng chung thành 7 pháp môn. Phương pháp để hiểu các pháp môn này gồm Tam trùng là: Giáo trùng(lời dạy của các Tổ sư lưu lại bằng văn tự), Hành trùng(Phương pháp thực hành của các Tổ sư) và Chứng trùng(sự thực hành và thể hội trong nội tâm của hành giả), vì thế nên gọi là Tam trùng thất cá pháp môn.
Tam trú (trụ)
三住; C: sānzhù; J: sanjū; S: trayo vihārāḥ; P: tayo vihārā.|Ba chỗ trú của tâm: Thiên trú, Phạm trú và Huệ trú. Nói một cách khác: Ba chỗ an trú thiện hảo của tâm (theo Du-già luận 瑜伽論).
tam trướng vật
(三長物) Chỉ cho vật dư thừa mà tỉ khưu không nên cất giữ. Đó là: 1. Y trướng vật: Áo dư. Phật qui định người xuất gia chỉ được phép có 3 áo, ngoài ra không được cất giữ. 2. Bát trướng vật: Bát dư. Phật chế định người xuất gia chỉ được phép có một cái bát, ngoài ra không được cất giữ. 3. Dược trướng vật: Thuốc dư. Phật qui định nếu tỉ khưu bị bệnh chỉ được phép cất giữ số thuốc đủ dùng trong 7 ngày, không được quá số đó. Sở dĩ đức Phật chế định điều giới này là vì Lục quần tỉ khưu tích trữ nhiều áo để làm đẹp, trái với phép tắc của người thiểu dục tri túc(ít muốn, biết đủ), đến nỗi khiến người đời chê cười. Bởi vậy, đức Phật qui định trong vòng 10 ngày phải đem các vật dư thừa ngoài 3 áo, 1 bát bố thí cho người khác. [X. luật Ma ha tăng kì Q.8; Tứ phần luậttỉ khưu hàm chú giới bảnQ.thượng; Tứ phần luật sớ hành tông kí Q.12; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 2].
tam trường trai nguyệt
(三長齋月) Cũng gọi Tam trường nguyệt, Tam trai nguyệt, Thiên nguyệt, Thần túc nguyệt, Thần thông nguyệt, Thần biến nguyệt. Ba tháng trường trai. Chỉ cho tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 âm lịch. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển hạ và kinh Tứ thiên vương... thì tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 là các tháng trai, vì vào các tháng này, trời Đế thích và Tứ thiên vương xuống nhân gian xem xét việc thiện ác của loài người, bởi thế, người ta nên ăn chay trì trai để tu phúc thiện, đây cũng là phương tiện khéo léo tùy cơ nhiếp hóa của Như lai. 1. Tháng giêng: Vào tháng này, trời Đế thích dùng gương báu lớn chiếu soi châu Nam thiệm bộ, xem xét các việc thiện ác của con người. Còn Tì sa môn thiên vương ở phương bắc thì đi tuần tra 4 châu, vào tháng giêng đến châu Nam, cũng dùng gương chiếu soi, vì vậy, vào tháng này, người châu Nam nên ăn chay trì trai tu phúc thiện. 2. Tháng 5: Từ tháng giêng, trời Đế thích dùng gương báu lớn chiếu soi châu Nam thiệm bộ, tháng 2 chiếu soi châu Tây cù da ni, tháng 3 chiếu soi châu Bắc uất đơn việt, tháng 4 chiếu soi châu Đông phất vu đãi, đến tháng 5 thì trở lại chiếu soi châu Nam thiệm bộ lần thứ hai. Tì sa môn thiên vương phươngbắc, tháng 5 cũng trở lại tuần tra châu Nam. 3. Tháng 9: Từ tháng 5, trời Đế thích chiếu soi châu Nam thiệm bộ, tháng 6, tháng 7 và tháng 8 lần lượt chiếu soi 3 châu kia, đến tháng 9 lại trở lại chiếu soi châu Nam, Tì sa môn thiên vương phương bắc cũng thế. Cứ theo Thích môn chính thống quyển 4 thì vào đời Đường pháp Tam trường trai nguyệt rất thịnh hành, vào3tháng này, trong nước không thi hành án tử hình, không giết súc vật, gọi là Đoạn đồ nguyệt, Đoạn nguyệt. [X. kinh Phạm võng Q.hạ; điều Thiện nguyệt chương Chúc li Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 3].
tam tu
The three ways of discipline, i.e. three sràvaka thanh văn and three bodhisattva ways. The three sràvaka ways are vô thường tu no realization of the eternal, seeing everywhere as transient; phi lạc tu joyless, through only contemplating misery and not realizing the ultimate nirvàna joy; vô ngã tu non ego discipline, seeing only the perishing self and not realizing the immortal self. The bodhisattva three are the opposite of these.
; (三修) Chỉ cho ba lối tu. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Bắc) thì Tam tu có 2 thứ: Liệt tam tu và Thắng tam tu. 1. Liệt tam tu: Ba lối tu của hàng Thanh văn yếu kém hơn so vớilối tu của Bồ tát nên gọi là Liệt tam tu. Đó là: a. Vô thường tu: Hàng Thanh văn không biết lí pháp thân thường trụ, cho nên quán hết thảy các pháp hữu vi trong 3 cõi đều là sinh diệt vô thường. b. Phi lạc tu: Hàng Thanh văn không biết rằng trong các pháp vốn có cái vui của Niết bàn tịch diệt, cho nên quán tất cả các pháp thảy đều là khổ. c. Vô ngã tu: Hàng Thanh văn không biết đến cái chân ngã tự tại vô ngại, cho nên quán pháp 5 ấm đều là không, không có ngã và ngã sở. 2. Thắng tam tu: Ba lối tu của hàng Bồ tát theo giáo pháp thù thắng của Phật để phá trừ lối liệt tu mà hàng Thanh văn chấp trước nên gọi Thắng tam tu. Đó là: a. Thường tu: Bồ tát rõ biết thể của pháp thân xưa nay vốn thường trụ bất biến, chẳng diệt chẳng sinh để phá trừ cái vô thường mà Thanh văn chấp trước. b. Lạc tu: Bồ tát rõ biết trong các pháp có niềm vui của Niết bàn vắng lặng, cho nên lạc tu để phá trừ cái thấy tất cả đều khổ mà hàng Thanh văn chấp trước. c. Ngã tu: Bồ tát rõ biết trong các pháp vô ngã có cái chân ngã, được đại tự tại, không có chướng ngại, cho nên ngã tu để phá trừ kiến giải vô ngã, vô ngã sở mà hàng Thanh văn cố chấp.
tam tuyên tam nhất
(三宣三一) Ba Tuyên ba Nhất. Chỉ cho 6 vị tông tượng của tông Tứ phần luật đời Đường, Trung quốc. Tam tuyên chi cho 3 vị: Nghĩa tuyên, Tuệ tuyên và Đức tuyên, gọi chung là Tấn dương tam tuyên. Còn tam nhất thì chỉ cho 3 vị: Linh nhất, Đàm nhất và Hoài nhất. Hệ thống truyền thừa như sau: Tổ của Tướng bộ tông là Đại sư Pháp lệ truyền cho ngài Đạo thành, Đạo thành truyền cho ngài Hoài tố, Hoài tố truyền cho ngài Pháp thận, Pháp thận truyền cho ngài Linh nhất và Nghĩa tuyên, Nghĩa tuyên truyền cho ngài Tuệ tuyên và Đức tuyên; còn Linh nhất thì ngang hàng với ngài Đàm nhất ở Cối kê và Hoài nhất ở Mân xuyên, cho nên đời sau mới gọi là Tam tuyên tam nhất.
tam tuệ
The three modes of attaining moral wisdom: Văn tuệ from reading, hearing, instruction; Tư tuệ from reflection, etc.; Tu tuệ from practice (of abstract meditation).
; (三慧) Phạm: Tisra# prajĩà#. Chỉ cho 3 thứ tuệ có khả năng phân biệtsựlí các pháp. Đó là: 1. Văn tuệ (Phạm:Zrutamayì prajĩà): Tuệ do nghe từ 3 tạng 12 phần giáo hoặc từ thiện tri thức mà biết; tuệ này có khả năng sinh ra Thánh tuệ vô lậu, vì thế gọi là Văn sở thành tuệ(tuệ do chỗ nghe mà thành). Đây là tuệ do Thanh văn thành tựu được. 2. Tư tuệ (Phạm:Cintàmayì prajĩà): Thánh tuệ vô lậu sinh ra từ sự tư duy về đạo lí đã nghe, đã thấy. Tuệ này do Duyên giác thành tựu. 3. Tu tuệ (Phạm: Bhàvanàmayì prajĩà): Thánh tuệ vô lậu nương vào sự tu tập mà phát sinh; tuệ này do Bồ tát thành tựu được. Trong Tam tuệ thì Văn tuệ là nhân, nếu chúng sinh thụ trì chuyển đọc, truyền bá rốt ráo các kinh tạng thì phát sinh Tuệ; nương theo Văn tuệ này thì phát sinh Tư tuệ; nương vào Tư tuệ mà có Tu tuệ. Đây là tiến trình đoạn trừ phiền não, chứng đắc Niết bàn, giống như nương vào hạt giống mà nảy mầm, từ mầm mà sinh ra thân, từ thân chuyển sinh ra cành lá, hoa quả. Cho nên 2 tuệ trước là tán trí, chỉ là trợ duyên để phát khởi Tu tuệ; Tu tuệ thì là định trí, có đủ tác dụng đoạn hoặc chứng lí. Nếu nói theo giai vị của Bồ tát Đại thừa thì Thập trụ được Văn tuệ, Thập hành được Tư tuệ và Thập hồi hướng được Tu tuệ. Còn nói theo giới hệ của Tì đàm thì Dục giới có Văn tuệ và Tư tuệ, vì Dục giới là cõi bất định, không phải nơi tu hành, cũng không phải nơi lìa nhiễm, nếu khi muốn tu thì rơi vào Tư tuệ, cho nên Dục giới không có tuệ do tu mà thành. Sắc giới có Văn tuệ và Tu tuệ, còn Vô sắc giới thì chỉ có tuệ do tu mà thành; vì Sắc giới và Vô sắc giới là các cõi định, là những nơi tu hành, cũng là những nơi lìa nhiễm, nếu khi muốn tư duy thì đã rơi vào trong tu rồi, cho nên ở Sắc giới và Vô sắc giới không có tuệ do Tư mà thành. Hơn nữa, ở cõi Vô sắc không dùng căn tai để lắng nghe Phật pháp, cho nên không có tuệ do Văn mà thành. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Du già sư địa Q.28; luận Thành thực Q.16; luận Tập dị môn túc Q.5; luận Đại tì bà sa Q.42; luận Câu xá Q.22; Phật địa kinh luận Q.1].
tam tuệ kinh
(三慧經) Kinh, 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này do thu chép các nhân duyên, pháp nghĩa trong các kinh luận mà thành, tất cả có hơn 60 điều, có thể làm kim chỉ nam cho sự tu dưỡng của tín đồ Phật giáo. Chính vua Lương vũ đế đã từng giảng kinh này ở chùa Đồng thái. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4].
tam tà hạnh
(三邪行) I. Tam Tà Hạnh. Chỉ cho 3 thứ tà hạnh mà luận Câu xá quyển 17 căn cứ vào Sắc nghiệp (tức thân nghiệp, ngữ nghiệp) để lập riêng ra như sau: 1. Tà ngữ: Ngữ nghiệp do sân, si sinh ra. 2. Tà nghiệp: Thân nghiệp do sân, si sinh ra. 3. Tà mệnh: Thân nghiệp, ngữ nghiệp do tham dục sinh ra. Luận Đại tì bà sa quyển 116 (Đại 27, 605 trung) nói: Tại sao tà mệnh khó trừ sạch? Vì có 2 pháp khó bỏ: Tức người tại gia tà kiến và người xuất gia tà mệnh.Người tại gia tuy rất khôn ngoan, thụ trì 5 giới, nhưng nếu bị khổ bức bách thì đem các thứ hương thơm, hoa tươi và thức ăn uống đến cúng tế, cầu đảo trời, thần. Những người xuất gia tuy rất thông minh, thụ trì giới Cụ túc, nhưng vì điều kiện sinh sống lệ thuộc người khác, cho nên khi thấy thí chủ thì uy nghi tề chỉnh, hiện tướng thân thiện, vì thế mà phân biệt tà mệnh và chính mệnh. II. Tam Tà Hạnh. Chỉ cho 3 thứ hành nghiệp trái với chính đạo nói trong luận Thành thực quyển 7. Tức là Thân tà hành, Khẩu tà hành và Ý tà hành. Phẩm Tà hành trong luận Thành thực quyển 7 (Đại 32, 295 hạ) nói: Các việc ác do thân tạo tác gọi là Thân tà hành. Tà hành này có 2 loại: Một là thuộc về 10 đạo bất thiện, như giết hại, trộm cắp, gian dâm... Hai là không thuộc về 10 đạo bất thiện, như roi gậy, trói buộc, làm dâm với vợ mình... và các nghiệp ác khác (...). Các nghiệp ác do miệng gây ra, gọi là Khẩu tà hành, trong đó cũng có 2 loại: Nếu khi người quyết định hỏi thì hiện tiền dối lừa người khác, đó thuộc về đạo bất thiện; còn tham, sân, tà kiến... thì là Ý tà hành. [X. Đại thừa nghĩa chương].
tam tài phối tam thế gian
(三才配三世間) Tam tài là trời, đất và người được phối hợp với 3 loại thế gian. 1. Trời phối với Chính giác thế gian: Đạo trời to lớn, bao quát muôn tượng không sót; trí Phật sâu rộng, chiếu rọi khắp 10 phương, vì thế trời được phối hợp với Chính giác thế gian. 2. Đất phối với khí thế gian: Đất có khả năng chứa đựng, chuyên chở, là chỗ nương của thế giới; thế giới vô biên trong 10 phương cũng là chỗ nương của tất cả hữu tình chúng sinh, vì thế đất được phối hợp với khí thế gian. 3. Người phối với chúng sinh thế gian: Người là 1 trong các loài chúng sinh thuộc 6 đường; người và chúng sinh đều có tính biết, vì thế người được phối hợp với Chúng sinh thế gian. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.1]. (xt. Tam Thế Gián).
tam tánh
Là thiện, ác, vô ký (phi thiện phi ác) gọi chung là tam tánh. Còn tam tánh của Duy-thức tông là biến-kế-chấp (chấp trước), y-tha-khởi (nhân duyên), viên-thành-thật (Phật tánh).
; Là thiện, ác, vô ký (phi thiện, phi ác), gọi chung là tam tánh. Còn tam tánh của Duy Thức tông làm Biến kế chấp (chấp trước), Y tha khởi (nhân duyên), Viên thành thật (Phật tánh).
; Three types of characters. (A) 1) Tốt: good. 2) Xấu: Bad. 3) Trung Tính: Không tốt không xấu—Undefinable (neutral). (B) See Biến Y Viên.
; (三性) Cũng gọi Tam tự tính, Tam tính tướng, Tam chủng tự tướng, Tam tướng. I. Tam Tính. Chỉ cho 3 tính tướng của hết thảy các pháp. Đây là chủ trương trọng yếu của học phái Duy thức tại Ấn độ, là giáo nghĩa căn bản của tông Pháp tướng ở Trung quốc. Nghĩa là đứng trên lập trường hữu vô hoặc giả thật mà chia bản tính và trạng thái(tính tướng) của tất cả sự tồn tại làm 3 loại, gọi là Tam tính. Học phái Duy thức ở Ấn độ căn cứ vào sự thuyết minh trong phẩm Nhất thiết pháp tướng của kinh Giải thâm mật quyển 2 mà chủ trương Tam tính không có tự tính và gọi là Tam vô tính. Chủ trương này về sau trở thành một trong các giáo nghĩa căn bản của tông Pháp tướng Trung quốc, đồng thời, cũng được tông Hoa nghiêm thu dụng. 1. Theo thuyết của tông Pháp tướng, Tam tính là: a. Biến kế sở chấp tính (Phạm: Parikalpita-svabhàva), cũng gọi Hư vọng phân biệt tướng, Phân biệt tính. Đối với các pháp vốn không có thực thể mà lại cho là thực ngã, thực pháp rồi khởi tâm vọng chấp, đó là Năng biến kế, còn cái đối cảnh bị thức chấp thì gọi là Sở biến kế. Nói cách khác, do thức (Năng biến kế) và cảnh(Sở biến kế) này mà nhận lầm sự tồn tại ngoài tâm có thực thể, sự nhận lầm ấy gọi là Biến kế sở chấp tính. Vì cái tướng trạng tồn tại ấy là do tâm mê mà hiện ra cho nên thuộc về pháp đương tình hiện tướng. Đứng về phương diện chân lí mà nhận xét thì tính này thuộc về pháp tình hữu lí vô chẳng phải có thật, là pháp thể tính đô vô, hoàn toàn không có thực thể. Về tính Biến kế sở chấp, các Luận sư Ấn độ có nhiều thuyết khác nhau, tông Pháp tướng theo quan điểm của ngài Hộ pháp. Về Năng biến kế thì ngài An tuệ cho rằng tất cả 8 thức hữu lậu đều thuộc Năng biến kế, còn ngài Hộ pháp thì chủ trương chỉ có thức thứ 6 và thức thứ 7 thuộc về Năng biến kế mà thôi. Còn về Sở biến kế thì ngài Nan đà cho đó là đương tình hiện tướng của thực ngã thực pháp, nhưng ngài Hộ pháp thì cho đó chỉ là tự ngã tự pháp (dường như ngã dường như pháp) của tính Y tha khởi; nếu nói theo quan điểm đối tượng từ chân như không thể trở thành là mê tình thì không thể coi đó là sở biến kế; nhưng nói theo quan điểm bản thể tồn tại từ Y tha khởi thì cũng có thể gọi là Sở biến kế. Ngoài ra, về Biến kế sở chấp thì ngài An tuệ chủ trương đó là Kiến phần và Tướng phần, còn ngài Hộ pháp thì cho rằng, trong Kiến phần và Tướng phần thì cái đương tình hiện tướng nương vào mê tình mà khởi mới là Biến kế sở chấp. b. Y tha khởi tính (Phạm: Paratantra-svabhàva), cũng gọi Nhân duyên tướng, Y tha tính. Tha tức chỉ cho pháp do các duyên sinh khởi. Vì là pháp duyên hợp thì sinh, duyên hết thì diệt, nên nó hư giả như huyễn, chứ chẳng phải thực tại cố định vĩnh viễn bất biến, bởi thế nói là như huyễn giả có giả có thật không, nhưng đây chẳng phải là mê tình do Biến kế sở chấp mà có, nhưng là nhờ các trợ duyên mà sinh, cũng tức là lí có tình không lìa vọng tình mà tự có. Tính này có 2 phần là Nhiễm phần y tha khởi và Tịnh phần y tha khởi khác nhau. Nhiễm phần chỉ cho tất cả pháp hữu lậu và Tịnh phần chỉ cho tất cả pháp vô lậu. Nhưng Tịnh phần y tha là nói theo ý nghĩa xa lìa phiền não, còn tính Tịnh phần y tha thì bao hàm trong tính Viên thành thực, cho nên Nhiễm phần y tha chính là tính Y tha khởi vậy. c. Viên thành thực tính (Phạm: Pariniwpanna-svabhàra), cũng gọi Đệ nhất nghĩa tướng, Chân thực tướng. Thể chân thực(chân như)của tính Y tha khởi trùm khắp tất cả pháp(viên mãn), chẳng sinh chẳng diệt(thành tựu), thể tính chân thật (chân thực), cho nên gọi là Viên thành thực. Chân như lìa tất cả tướng(vô tướng), bản thể của tất cả pháp thảy đều chân thực, vì thế nên thuộc về Chân không diệu hữu; lại vì tính này chỉ có thể nhờ trí tuệ giác ngộ chân lí mới biết được nên thuộc về lí hữu tình vô. Ba tính trên đây có mối quan hệ bất tức bất li(chẳng tức là nhau cũng chẳng lìa nhau). Nếu dùng 3 vật là con rắn, sợi dây và gai làm ví dụ thì như người ngu (Năng biến kế) trong đêm tối thấy sợi dây, tin đó là con rắn thật(tính Biến kế sở chấp đối với tướng ngã chân thật)nên sinh tâm sợ hãi; sau, được người hiểu biết(Phật, Bồ tát) chỉ bảo cho mới biết chẳng phải rắn(sinh không) mà chỉ là sợi dây giống như con rắn(tức sự có giả của tính Y tha). Lại tiến thêm bước nữa là hiểu rõ thực tế sợi dây mà mình chấp trước(tính Biến kế sở chấp đối với tướng pháp chân thật) cũng không có ý nghĩa thực thể(pháp không) mà bản chất của nó là gai (tính Viên thành thực); sợi dây(tính Y tha khởi) chỉ là hình thái nhân duyên giả hợp do gai bện thành mà thôi. 2. Theo thuyết của tông Hoa nghiêm: Tam tính cũng giống như Tam tính của tông Pháp tướng nhưng lập trường thì khác nhau. Tức tông Pháp tướng đứng trên lập trường Tính tướng cách biệt, nghĩa là căn cứ vào điểm khác nhau giữa tính chất và trạng thái của tất cả sự vật mà lập thuyết Tam tính. Trái lại, tông Hoa nghiêm thì đứng trên lập trường Tính tướng viên dung mà luận về Tam tính. Tức trên căn bản, tông Hoa nghiêm cho rằng hết thảy sự tồn tại(các pháp) đều từ chân như hiển hiện. Tức chân như của tính Viên thành thực có 2 nghĩa là bất biến và tùy duyên. Bất biến nghĩa là xa lìa sự sinh diệt biến hóa, tùy duyên là theo duyên nhiễm tịnh mà mỗi cái tồn tại. Tính Y tha khởi nói về mặt thể thì là chân như, vì nó siêu việt sinh diệt nên thuộc vô tính, nhưng lại do nhân duyên mà sinh, cho nên thuộc tự hữu (tựa như có). Còn tính Biến kế sở chấp là do phàm phu vọng tình chấp trước ngoài tâm có thực ngã thực pháp tồn tại, cho nên thuộc về tình hữu(do mê tình mà có); nhưng tướng ngã, pháp ấy đối với lí thì hoàn toàn không có, nên thuộc lí vô. Bất biến, Vô tính, Lí vô, gọi là Bản tam tính; còn Tùy duyên, Tự hữu, Tình vô gọi là Mạt tam tính. Về sự giống nhau và khác nhau giữa 3 tính, nói theo ý nghĩa Bản tam tính thì tất cả hiện tượng(các pháp) của Chân như tùy duyên tức là Chân như, vì thế Tam tính không khác nhau; còn nói theo ý nghĩa Mạt chân như thì vì chân như theo duyên mà thành các pháp, cho nên Tam tính cũng không khác nhau. Nhưng nếu nói theo ý nghĩa các pháp tức Chân như của Bản tam tính và Chân như tức các pháp của Mạt tam tính thì ý nghĩa tam tính Bản, Mạt có khác nhau. 3. Theo thuyết của luận Nhiếp đại thừa do ngài Chân đế dịch: Tính Phân biệt là chỉ cho cảnh Sở phân biệt, tính Y tha là chỉ cho thức Năng phân biệt, mà cảnh của tính Phân biệt này là Vô, vì thế tính Y tha cũng bất khả đắc, bất khả đắc là tính chân thực của Hữu. [X. kinh Giải thâm mật Q.2; luận Thành duy thức Q.8; Duy thức tam thập tụng; luận Du già sư địa Q.74; luận Hiển dương thánh giáo Q.6; luận Tam vô tính Q.thượng; Nhiếp đại thừa luận thích Q.5 (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.4 (bản dịch đời Đường); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Tam Vô Tính, Tứ Phần). II. Tam Tính. Về mặt tính chất, tất cả các pháp được chia làm 3 tính là thiện, bất thiện và vô kí. 1. Thiện(Phạm:Kuzala): Pháp có năng lực mang lại lợi ích cho đời này và đời sau. Theo luận Câu xá quyển 13, Thiện có 4 loại:a. Thắng nghĩa thiện: Tức chân giải thoát, trạch diệt niết bàn. Niết bàn an ổn, trong tất cả các pháp, thể của niết bàn là tôn quí nhất. b. Tự tính thiện: Tức hổ, thẹn và 3 căn lành không tham, không sân, không si. Không đợi tương ứng và các đẳng khởi khác mà thể tính vốn đã là thiện, giống như thuốc hay. c. Tương ứng thiện: Không tương ứng với hổ, thẹn... thì không trở thành tính thiện, như nước lẫn với thuốc. d. Đẳng khởi thiện: Pháp do tự tính thiện và tương ứng thiện cùng khởi lên một lượt, như bò uống nước cam thảo cho ra sữa ngon ngọt. Câu xá luận quang kí quyển 2 thì chia Thiện làm 3 loại: Đắc, Gia hành(nghe, suy nghĩ, tu hành) và Vô lậu(học, vô học và thắng nghĩa). 2. Bất thiện (Phạm:A-kuzala), cũng gọi Ác. Chỉ cho pháp có khả năng gây tổn hại cho đời này và đời sau. Theo luận Câu xá quyển 13, Bất thiện có 4 loại: a. Thắng nghĩa bất thiện: Tức pháp sinh tử. Các pháp trong sinh tử đều lấy khổ làm tự tính, rất không an ổn, giống như căn bệnh kinh niên. b. Tự tính bất thiện: Chỉ cho không hổ, không thẹn và 3 căn xấu xa tham, sân, si trong các pháp hữu lậu; thể tính của chúng là ác, giống như thuốc độc. c. Tương ứng bất thiện: Tâm, tâm sở ứng hợp với tự tính ác, giống như trong nước có lẫn chất độc. d. Đẳng khởi bất thiện: Pháp do tự tính bất thiện và tương ứng bất thiện cùng khởi lên một lượt, giống như sữa từ thuốc độc rót ra. 3. Vô kí (Phạm: A-vyàkfta): Chẳng phải thiện, chẳng phải ác, không thể ghi là thiện hay bất thiện, cho nên gọi là Vô kí. Có thuyết cho rằng không thể đưa đến quả dị thục(quả báo thiện, ác), không ghi nhớ quả dị thục, vì thế nên gọi là Vô kí. Nhưng thuyết này chỉ dùng cho pháp hữu lậu mà thôi.Câu xá luận quang kí quyển 2 chia Vô kí làm 2 thứ là Hữu phú và Vô phú, Vô phú lại được chia ra làm 6 loại: Dị thục, uy nghi, công xảo, thông quả, tự tính và thắng nghĩa, nên tổng cộng có 7 loại. Ngoài ra, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 3 chia Thiện làm 13 thứ: Tự tính, tương thuộc, tùy trục, phát khởi, đệ nhất nghĩa, sinh đắc, phương tiện, hiện tiền cúng dường, nhiêu ích, dẫn nhiếp, đối trị, tịch tĩnh và đẳng lưu. Cũng luận này quyển 4 chia Bất thiện làm 12 thứ: Tự tính, tương thuộc, tùy trục, phát khởi, đệ nhất nghĩa, sinh đắc, phương tiện, hiện tiền, cúng dường, tổn hại, dẫn nhiếp, sở trị và chướng ngại; chia Vô kí làm 14 thứ: Tự tính, tương thuộc, tùy trục, phát khởi, đệ nhất nghĩa, sinh đắc, phương tiện, hiện tiền cúng dường, nhiêu ích, thụ dụng, dẫn nhiếp, đối trị, tịch tĩnh và đẳng lưu. [X. luận Thuận chính lí Q.4; luận Đại tì bà sa Q.51, 144, 197; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5, phần đầu]. (xt. Thiện, Vô Kí). III. Tam Tính. Chỉ cho 3 tính của A la hán nói trong luận Thành thực quyển 14: 1. Đoạn tính: A la hán trụ ở Niết bàn hữu dư đoạn trừ tất cả phiền não. 2. Li dục tính: Xa lìa dục trong ba cõi.3. Diệt tính: Dứt hẳn sự nối tiếp của 5 ấm mà vào Niết bàn vô dư.
tam tánh nghiệp
(三性業) Chỉ cho 3 nghiệp: Thiện, Bất thiện và Vô kí. 1. Thiện nghiệp(cũng gọi An ổn nghiệp): Nghiệp có năng lực mang lại quả dị thục đáng ưa thích(tức quả tốt lành cõi người, cõi trời) và Niết bàn. 2. Bất thiện nghiệp(cũng gọi Bất an ổn nghiệp): Nghiệp có năng lực mang lại quả dị thục chẳng đáng ưa thích(tức quả báo xấu ác trong 3 đường). 3. Vô kí nghiệp: Nghiệp chẳng phải thiện, chẳng phải ác gọi là Vô kí, tức là nghiệp không mang lại kết quả. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; luận Câu xá quyển 15, luận Thành duy thức Q.5; luận Thành duy thức Q.5, Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Tam Tính).
tam tánh nhất tế
(三性一際) Ba tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực thông suốt lẫn nhau từ đầu đến cuối và không sai khác, nên gọi là Tam tính nhất tế. Đây là một trong các giáo nghĩa cơ bản của tông Hoa nghiêm ứng dụng vào việc thuyết minh lí pháp giới duyên khởi. Cứ theo Hoa nghiêm Nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương quyển 4, trong 3 tính mỗi tính đều có 2 nghĩa, 2 nghĩa của Chân (Viên thành thực) là nghĩa Bất biến và nghĩa Tùy duyên, 2 nghĩa của Y tha là nghĩa Tự hữu(tựa như có) và nghĩa Vô tính, 2 nghĩa của Biến kế sở chấp là nghĩa Tình hữu(về mặt tình thì có) và nghĩa Lí vô(về mặt lí thì không). Vì nghĩa bất biến của Viên thành thực, nghĩa vô tính của Y tha khởi và nghĩa lí vô của Biến kế sở chấp đều do không phá hoại Mạt hữu mà nói về Bản của Nhất tâm chân như, cho nên Tam tính nhất tế là giống nhau chứ không khác. Lại nữa, nghĩa tùy duyên của Viên thành thực, nghĩa tự hữu của Y tha khởi và nghĩa tình hữu của Biến kế sở chấp là do Bản của Bất động tâmchânnhư nói về Mạt hữu của thế giới, cho nên 3 nghĩa cũng giống nhau. Theo đó thì Tam tự tính do tông Duy thức đề xướng được giải thích là Tam tính nhất tế, nêu một thu hết, chân vọng dung nhau, tính không ngăn ngại nhằm nói rõ cái trạng huống của pháp giới duyên khởi. Phật giáo dùng lí Pháp giới duyên khởi để thuyết minh chân như và vạn hữu, thế giới bờ bên kia và thế giới bờ bên này đều dung thông hòa nhập lẫn nhau trên cơ sở nhất tâm, không thể tách rời.
tam tánh đối vọng trung đạo
(三性對望中道) Cũng gọi Tam tính tương đối trung đạo, Ngôn thuyên trung đạo. Đối lại: Nhất pháp trung đạo. Nghĩa trung lập được thành lập qua sự đối nhau của 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. Đây là nghĩa trung đạo căn bản của tông Pháp tướng. Tông Pháp tướng cho rằng tính Biến kế sở chấp là vọng tình cho nên phán định là không, rằng tính Y tha khởi là do các duyên hòa hợp nên phán định là có giả, rằng tính Viên thành thực là chân thực thường như nên phán định là chân không diệu hữu. Nếu 3 tính này là 3 tính trong một pháp thì pháp ấy tức là Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không; trái lại, nếu y cứ vào mỗi tính mà thiết lập nghĩa Trung đạo thì gọi là Nhất pháp trung đạo. Luận Thành duy thức quyển 7 nói rằng: Ngã, pháp chẳng phải có; không, thức chẳng phải không; lìa có, lìa không nên khế hợp với Trung đạo, đây là thuyết căn bản. Bởi vì ngã và pháp của tính Biến kế sở chấp là tình có lí không, cho nên chẳng phải có, tính Y tha khởi là lí có tình không, tức là cái có giả của các duyên hòa hợp, cho nên chẳng phải không; tính Viên thành thực là chân không diệu hữu, vì thế chẳng phải không. Chẳng phải có chẳng phải không nên khế hợp với Trung đạo.[X. Thành duy thức luận thuật kí Q.7, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Tam Tính).
tam táp
(三匝) Đi nhiễu 3 vòng theo chiều bên phải. Đây là 1 trong những hình thức kính lễ, bắt nguồn từ nghi thức của Ấn độ. Tức đi vòng quanh bậc tôn túc hoặc tháp Phật 3 vòng theo chiều tay phải để bày tỏ tâm thành ngưỡng vọng. Có khi đi quanh 1 vòng, có khi đi 3 vòng; hoặc do tâm nguyện, biệt thỉnh mà tùy ý người đính lễ đi quanh nhiều vòng. Đến đời sau, trong công án Thiền tông, thông thường sau khi vấn đáp, người tham vấn liền bái vị Tông sư, đi nhiễu 3 vòng rồi lui ra. Phẩm Cơ duyên trong Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 357 hạ) có câu: Đi quanh sư 3 vòng rồi đứng chống Tích trượng. (xt. Hữu Nhiễu).
Tam Tâm
(三心): ba loại tâm. (1) Ba tâm phát khởi để cầu vãng sanh Tịnh Độ, gồm: Chí Thành Tâm (至誠心, tâm chí thành), Thâm Tâm (深心, tâm sâu xa) và Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm (廻向發願心, tâm phát nguyện hồi hướng); tương đương với nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của Đức Phật Di Đà là Chí Tâm (至心, tâm chí thành), Tín Nhạo Tâm (信樂心, tâm tin tưởng vui mừng) và Dục Sanh Tâm (欲生心, tâm muốn sanh về cõi Cực Lạc). Có nhiều giải thích khác nhau về ba tâm này, như trong Vãng Sanh Lễ Tán Kệ (徃生禮讚偈), Thiện Đạo (善導, 613-681) cho rằng Chí Thành Tâm là thân nghiệp lễ bái đức Phật Di Đà, khẩu nghiệp tán thán Ngài, và ý nghiệp chuyên niệm quán sát Ngài; Ba Nghiệp này phải chân thật; Thâm Tâm tức là tâm tin tưởng một cách chân thật, tin và hiểu được tự thân mình có đầy đủ phiền não của kẻ phàm phu, nay tin hiểu rõ thệ nguyện rộng lớn của đức Phật Di Đà, rồi xưng danh hiệu Ngài, thậm chí ít nhất cho đến 10 tiếng, 1 tiếng, nhất định sẽ được vãng sanh, cho đến trong một niệm mà không có tâm nghi ngờ; Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm nghĩa là hết thảy các thiện căn mình đã tạo nên lâu nay, đầu xin hồi hướng và nguyện vãng sanh. (2) Ba tâm trong 10 Tín phát khởi để thành tựu Bồ Tát, gồm: Trực Tâm (直心), Thâm Tâm (深心), và Đại Bi Tâm (大悲心). Trực Tâm chỉ cho tâm chánh niệm chơn như. Thâm Tâm là tâm vui vẻ tập trung tất cả các hạnh lành. Đại Bi Tâm chỉ cho tâm muốn bạt trừ hết thảy khổ não của chúng sanh. Ba Tâm này tương đồng với Trực Tâm, Thâm Tâm, và Đại Thừa Tâm có đề cập trong Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論), Phẩm Phật Quốc (佛國品) của Duy Ma Kinh (維摩經) quyển Thượng. (3) Là ba tâm do vị Bồ Tát từ Sơ Địa (初地) trở lên phát khởi, gồm: Chân Tâm (眞心), Phương Tiện Tâm (方便心) và Nghiệp Thức Tâm (業識心). Chân Tâm, còn gọi là Siêu Việt Tâm (超越心), tức là tâm của trí căn bản, không phân biệt. Phương Tiện Tâm là tâm từ này về sau có được trí tuệ làm lợi ích chúng sanh. Nghiệp Thức Tâm là khi sanh khởi hai trí Căn Bản (根本) và Hậu Đắc (後得), vẫn còn lưu lại tâm sanh diệt vi tế. (4) Ba tâm của người phàm phu chưa nhiếp trừ, gồm: Khởi Sự Tâm (起事心), Y Căn Bản Tâm (依根本心), và Căn Bản Tâm (根本心). (5) Ba tâm của vị Thánh cần phải đoạn trừ, gồm: Giả Danh Tâm (假名心), Pháp Tâm (法心) và Không Tâm (空心). Giả Danh Tâm là tâm chấp trước thật ngã. Pháp Tâm là tâm chấp trước các pháp có thật. Không Tâm là tâm chấp trước ngã, pháp đều không. Khi ba tâm này được chuyển hóa, các nghiệp phiền não tức vĩnh viễn không còn dấy khởi và vào Niết Bàn. (6) Ba tâm có trong mỗi Địa của Thập Địa, gồm: Nhập Tâm (入心), Trú Tâm (住心) và Xuất Tâm (出心).
tam tâm
The three minds, or hearts; various groups are given: (1) Three assured ways of reaching the Pure Land, by a-Chí thành tâm perfect sincerity; b-Thâm tâm profound resolve for it; c-Hồi hướng phát nguyện tâm resolve on demitting one's merits to others. (2) a-Căn bản tâm the 8th or àlaya-vijnàna consciousness, the store-house, or source of all seeds of good or evil; b-Y bản tâm the 7th or mano-vijnàna consciousness, the mediating cause of all taint; c-Khởi sự tâm the sadàyatana-vijnàna consciousness, the immediate influence of the six senses. (3) a-Nhập tâm; b-Trụ tâm; c-Xuất tâm. The mind entering into a condition, staying there, departing. (4) A pure, a single, and an undistracted mind.
; The three minds or hearts—Three assured ways of reaching the Pure Land: (A) 1) Chí thành tâm: Perfect sinerity. 2) Thâm tâm: Profound resolve. 3) Hồi hướng phát nguyện: Resolve on demitting one's merits to others. (B) 1) Căn bổn tâm: The 8th Alaya vijnana—The store-house—Nguồn chứa mọi chủng tử thiện ác—Source of all seeds of good or evil. 2) Y bổn tâm: The 7th Mano-vijnana mind—Mạt na thức—The mediating cause of all taint. 3) Khởi sự tâm: The sadayatana mind—The immediate influence of the six senses. (C) 1) Nhập tâm: Entering into a condition. 2) Trụ tâm: Staying in a condition. 3) Xuất tâm: Departing the condition.
; (三心) Ba thứ tâm. I. Tam Tâm. Chỉ cho Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm mà hành giả Tịnh độ phát để cầu được vãng sinh. Tương đương với Chí tâm, Tín nhạo tâm, Dục sinh tâm của nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Về sự giải thích Tam tâm có nhiều thuyết khác nhau. Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển cuối của ngài Tịnh ảnh cho rằng: Chí thành tâm là khởi hành bất hư, thực tâm cầu đi đến; Thâm tâm là tin tưởng sâu xa tha thiết, muốn sinh về nước kia; Hồi hướng phát nguyện tâm, cầu thẳng tới gọi là nguyện; cầu tới kèm theo điều thiện là hồi hướng. Trong Vãng sinh lễ tán kệ, ngài Thiện đạo cho rằng: Chí thành tâm là thân nghiệp lễ bái đức Phật A di đà, khẩu nghiệp tán thán công đức của Phật, ý nghiệp chuyên quán niệm danh hiệu Phật, như thế 3 nghiệp đều phải chân thật chí thành; Thâm tâm tức là lòng tin chân thật, tự tin thân mình là thân phàm phu đủ thứ phiền não, thiện căn yếu kém, trôi giạt trong 3 cõi, khó ra khỏi nhà lửa; nay tin thệ nguyện rộng lớn của Phật A di đà và xưng niệm danh hiệu của Ngài, dù chỉ niệm 10 tiếng, 1 tiếng... cũng nhất định được vãng sinh, đó là niền tin sâu xa không 1 mảy ngờ vực; Hồi hướng phát nguyện tâm nghĩa là tất cả thiện căn tu được đều hồi hướng cho việc vãng sinh Tịnh độ. Ngoài ra, luận Tịnh độ quyển thượng của ngài Ca tài, Vãng sinh luận sớ của ngài Trí quang, Quán kinh sớ diệu tông sao quyển 6 của ngài Tri lễ... đều cho rằng 3 tâm này giống với Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm nói trong luận Đại thừa khởi tín, đều được phát khởi vào lúc đạt đến vị cuối cùng của giai vị Thập tín. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.11; Niệm Phật tam tâm yếu tập; Niệm Phật danh nghĩa tập Q.trung]. II. Tam Tâm. Chỉ cho Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm mà Bồ tát phát khởi khi thành tựu được giai vị Thập tín. 1. Trực tâm: Chỉ cho tâm chình hiệu chân như. 2. Thâm tâm: Chỉ cho tâm ưa thích tích tập tất cả các thiện hạnh. 3. Đại bi tâm: Chỉ cho tâm muốn cứu giúp tất cả các chúng sinh khổ nạn. Ba tâm này do luận Đại thừa khởi tín thành lập, giống với Trực tâm, Thâm tâm và Đại thừa tâm nói trong phẩm Phật quốc kinh Duy ma quyển thượng. [X. luận Tịnh độ Q.thượng (Ca tài); Hoa nghiêm kinh sớ Q.18]. III. Tam Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm do Bồ tát từ Sơ địa trở lên phát khởi, đó là: 1. Chân tâm(cũng gọi Siêu việt tâm): Tức là tâm của trí căn bản vô phân biệt. 2. Phương tiện tâm: Tức là tâm dùng trí hậu đắc làm lợiíchchúng sinh. 3. Nghiệp thức tâm: Tức là tâm còn lưu lại sự sinh diệt nhỏ nhiệm khi sinh khởi 2 trí căn bản và hậu đắc. [X. luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.hạ]. IV. Tam Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm mà người phàm phu chưa thể trừ bỏ được. Đó là: 1. Khởi sự tâm: Chỉ cho tâm do phiền não sinh khởi ở Tứ trụ địa thô trọng, mạnh mẽ, có khả năng phát khởi các nghiệp sự ngăn che hóa thân của Phật. Bồ tát tu tập đạo phục kết, đoạn trừ tâm này, cho nên được hóa thân. 2. Y căn bản tâm: Tâm nương vào vô minh căn bản mà sinh phiền não (hoặc) Tứ trụ địa. Tâm này ngăn che báo thân của Phật, Bồ tát tu tập đạo đoạn kết, dứt trừ tâm này, cho nên được báo thân. 3. Căn bản tâm: Tâm vô minh địa lấy phiền não Tứ trụ làm gốc. Tâm này ngăn che pháp thân Phật, Bồ tát tu tập đạo thắng bạt, diệt trừ tâm này cho nên được pháp thân.Tôngkính lục quyển 89, theo thứ tự, phối hợp 3 tâm này với 6 thức trước, thức thứ 7 và thức thứ 8. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2; Đại thừa nghĩa chương Q.19; Đại thừa pháp uyểnnghĩalâm chương Q.7, phần đầu]. V. Tam Tâm. Chỉ cho 3 loại tâm mà bậc Thánh phải diệt trừ. Đó là: 1. Giả danh tâm: Tâm chấp trước thực ngã, làkiến chấp của ngoại đạo. 2. Pháp tâm: Tâm chấp trước thực pháp, làkiến chấp của Hữu bộ Tiểu thừa. 3. Không tâm: Tâm chấp trước pháp không, ngã không, nghĩa là khi tâm này diệt thì các nghiệp phiền não không bao giờ sinh khởi trở lại nữa và được vào Niết bàn.[X. phẩm Giả danh luận Thành thực Q.11]. VI. Tam Tâm. Chỉ cho 3 loại tâm mà mỗi địa trong Thập địa bồ tát đều có, đó là: 1. Nhập tâm: Tâm khi nhập địa chưa trụ lâu. 2. Trụ tâm: Tâm trụ lâu khi trụ địa thịnh. 3. Xuất tâm: Tâm trụ lâu vào lúc cuối, dần dần gần với Hậu thắng vị. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần đầu].
tam tín
(三信) I. Tam Tín. Chỉ cho 3 thứ tín tâm cầu vãng sinh Tịnh độ: Thuần tâm, Nhất tâm và Tương tục tâm. (xt. Tam Tín Tam Bất). II. Tam Tín. Cũng gọi Tam tâm, Tam tín tâm. Chỉ cho Chí tâm, Tín nhạo tâm, Dục sinh tâm do đức Phật A di đà thệ nguyện trong điều nguyện thứ 18 của Ngài, được gọi là Đại kinh tam tâm. Tịnh độ chân tông của Nhật bản chủ trương bản nguyện của Phật là cứu độ những người tội ác sâu nặng, cho nên nếu chúng ta bỏ tâm tự lực mà tin sâu sức cứu độ của Phật thì chắc chắn sẽ được cứu. Nếu người nghe ý nghĩa của bản nguyện này(nguyện thứ 18) mà tâm không sinh một mảy may nghi hoặc thì gọi là Tín nhạo (tin ưa). Sự tín nhạo này là do Chí tâm của Phật ban cho, do đó bản chất của niềm tin ưa ấy là chân thực không hư dối. Lòng tin này chính là tâm Dục sinh của đức Phật A di đà muốn cho chúng ta sinh về cõi Tịnh độ của Ngài. Tổ của Tịnh độ chân tông Nhật bản là ngài Thân loan chủ trương Tam tín tức là Tín tâm, biểu thị đức tín mà Phật A di đà ban cho chúng ta, còn Nhất tâm thì biểu thị điều căn bản là chúng ta có thể được cứu độ. Nếu từ lập trường tự lực thì tín tâm này khó có thể vào được, nhưng một khi đã vào được rồi thì nó trở nên cứng chắc như kim cương, cho nên gọi là Nan tín kim cương tín nhạo. Lòng tin ưa này là do sức cứu độ sâu rộng của Phật A di đà ban cho chúng ta nên cũng gọi là Lợi tha thâm quảng tín nhạo.
tam tín tam bất
(三信三不) Cũng gọi Tam bất tam tín. Chỉ cho 3 thứ tâm tin và 3 thứ tâm không tin do ngài Đàm loan thuộc tông Tịnh độ của Phật giáo Trung quốc nêu ra. Tam tín tâm là: 1. Thuần tâm: Tâm có niềm tin bền vững. 2. Nhất tâm: Tâm chỉ tin không nghi. 3. Tương tục tâm: Tâm liên tục không gián đoạn. Trái lại, tín tâm không thuần, tín tâm bấtnhất, tín tâm không tương tục thì gọi là Tam bất tín. Nếu phối hợp Tam tín này với các Tam tâm thì Thuần tâm lìa hư giả không thật, hợp với Chí tâm; Nhất tâm thì chuyên nhất không hai, phối với Tín nhạo; còn Tương tục tâm thì không bị dị học dị kiến làm tổn hại, phối với Dục sinh tâm. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; An lạc tập Q.thượng; Vãng sinh luận chú kí Q.4]. (xt. Tam Tâm).
Tam tính
三性; hoặc Tam tướng; S: trilakṣaṇa; P: ti-lakkhaṇa;|Ba tính
tam tính
Trayaḥ svabhāvaḥ (S), Svabhāva-lakṣaṇa-traya (S)Tam sự tính tướng.
; Trayah-svabhàvah (S). Three forms of knowledge.
tam tính ngũ pháp
Xem Ngũ pháp.
tam tính phân biệt
The differentiation of the three conditions good, evil, and neutral.
tam tòng
(三從) Cũng gọi Tam chướng, Tam cách, Tam giam. Chỉ cho 3 đức mục mà người phụ nữ thời xưa phải suốt đời giữ gìn, tuân theo. Tức ở nhà thì theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết thì theo con. Người phụ nữ bị Tam tòng ràng buộc làm cho suốt đời không được tự do, cũng như Ngũ chướng khiến việc tu hành Phật đạo rất khó khăn, cho nên Tam tòng cùng với Ngũ chướng gọi chung là Ngũ chướng tam tòng, dùng để biểu thị căn cơ yếu kém của người phụ nữ. Kinh Siêu nhật minh quyển hạ (Đại 15, 541 trung) nói: Người nữ cóba việc ngăn cách, năm việc chướng ngại. Ba việc ngăn cách là những gì? Còn nhỏ bị cha mẹ chế ngự, khi xuất giá bị chồng ràng buộc mất tự do, khi về già bị con làm khó, đó là 3 việc ngăn cách. [X. kinh Ngọc da nữ; kinh Hiền ngu Q.4; Vô lượng thọ kinh thích; Đại tạng pháp số Q.16]. (xt. Ngũ Chướng).
Tam Tôn
(三尊): hay Tam Tôn Phật (三尊佛); tức lấy đấng Trung Tôn ở giữa làm chủ và có hai vị hầu hai bên. Hình thức này phát xuất từ dạng thức Nhất Quang Tam Tôn (一光三尊) của Ấn Độ. Thông thường, đấng Trung Tôn là Phật Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦), bên trái là Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師), bên phải là Phật Di Đà (s: Amitāyus, Amitābha; 彌陀). Ngoài ra, còn có hình thức một Phật hai Bồ Tát hay Minh Vương hầu hai bên. Xưa nay Tam Tôn vốn có hình thức nhất định, như Phật Thích Ca cùng với hai vị đệ tử Thanh Văn là Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 迦葉), A Nan (s: Ānanda, 阿難); hay Phật Thích Ca với hai Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) và Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊), được gọi là Thích Ca Tam Tôn (釋迦三尊). Phật Di Đà với hai Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) và Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至) được gọi là Di Đà Tam Tôn (彌陀三尊) hoặc Tây Phương Tam Thánh (西方三聖). Dược Sư Như Lai cùng với hai Bồ Tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) và Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光), được gọi là Dược Sư Tam Tôn (藥師三尊); hoặc Dược Sư Như Lai cùng với hai Bồ Tát Dược Vương (s: Bhaiṣajyarāja, 藥王) và Dược Thượng (s: Bhaiṣajyasamudgata, 藥上). Cũng có trường hợp Bát Nhã Bồ Tát (般若菩薩) với hai vị trời Phạm Thiên (s: Braḥma, 梵天) và Đế Thích (s: Indra, p: Inda, 帝釋). Bất Động Minh Vương (s: Acalanātha, 不動明王) với hai đồng tử Chế Tra Ca (s: Ceṭaka, 制吒迦) và Căng Yết La (s: Kiṅkara, 矜羯羅), v.v. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, CBETA No. 1646) quyển 22, phần Dương Thứ Công Vương Mẫn Trọng Truyện (楊次公王敏仲傳) có đoạn: “Quy mạng Chánh Biến Tri, Như Lai diệu pháp tạng, thập phương đại Bồ Tát, Tam Tôn chơn Thánh chúng, ngã kim ư pháp bảo, nguyện tác thắng diệu duyên (歸命正遍知、如來妙法藏、十方大菩薩、三尊真聖眾、我今於法寶、願作勝妙緣, quy kính Chánh Biến Tri, Như Lai pháp tạng mầu, mười phương đại Bồ Tát, Tam Tôn các bậc Thánh, con nay nơi pháp bảo, nguyện tạo nhân duyên lành).”
; Ba bậc đáng tôn kính, chỉ Phật, Pháp, Tăng, xem Tam bảo.
tam tôn
The three honoured ones: Buddha, The Law, The Order. Others are: Amitàbha A di đà, Avalokitesvara Quán thế Âm, and Mahàsthàmapràpta Đại thế Chí. Another group is: Bhaisajya Dược sư, Vairocana Tỳ lô xá na, Candraprabha; and another: Sàkyamuni Thích ca mâu ni, Manjusrì Văn thù sư lợi, and Samantabhadra Phổ Hiền.
; (三尊) Cũng gọi Tam tôn Phật. Cách bài trí 3 pho tượng Phật trong chùa. Trung tôn là chính, 2 bên Trung tôn có 2 vị hiếp thị khác. Cách sắp xếp này bắt nguồn từ Nhất quang tam tôn của Ấn độ, thường thì Trung tôn là Phật Thích ca, bên trái là Phật Dược sư, bên phải là Phật Di đà. Ngoài ra cũng có cách thờ một Phật hai Bồ tát, tức chính giữa là Phật, 2 bên là 2 vị Bồ tát hoặc 2 vị Minh vương. Từ xưa đến nay, Tam tôn có hình thức nhất định, tức Phật Thích ca, 2 vị đệ tử Thanh văn là Ca diếp, A nan; Phật Thích ca và 2 vị bồ tát Phổ hiền, Văn thù, gọi là Thích ca tam tôn; Phật Di đà và 2 bồ tát Quán thế âm, Đại thế chí, gọi là Di đà tam tôn; hoặc Tây phương tam thánh; Dược sư Như lai và 2 bồ tát Nhật quang, Nguyệt quang, gọi là Dược sư tam tôn; hoặc Phật Dược sư và 2 bồ tát Dược vương, Dược thượng; Bồ tát Bát nhã và 2 vị trời Phạm thiên, Đế thích; Minh vương Bất động và 2 đồng tử Chế tra ca, Căng yết la. Hiếp thị(cũng gọi là Hiếp sĩ, Giáp thị: Đứng hầu 2 bên) là biểu trưng cái đức của vị Trung tôn, như Quán thế âm biểu trưng từ bi, Đại thế chí biểu trưng trí tuệ; Văn thù biểu trưng sự hiểu biết, Phổ hiền biểu trưng sự thực hành. Tượng Tam tôn Phật nếu ở chính giữa an trí chung vầng ánh sáng phía sau lưng thì gọi là Nhất quang Tam tôn, vầng ánh sáng ấy thông thường được biểu hiện bằng hình chiếc thuyền(Thuyền hậu quang). [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị bồ tát; kinh Hoa nghiêm Q.60 (bản dịch cũ); kinh Nhất thiết công đức trang nghiêm; Đại đường tây vực kí Q.8]. (xt. Quang Bối, Hiếp Sĩ).
tam tôn lai nghênh
(三尊來迎) Ba vị Tôn đến đón. Chỉ cho lúc lâm chung, đức Như lai A di đà, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí đến đón. Tức ứng theo bản nguyện mà các Ngài hiện ở trước để tiếp dẫn hành giả về Tịnh độ Cực lạc. (xt. Lai Nghinh).
tam tôn phật
The three honoured Buddhas of the West: Amitàbha, Avalokitesvara, Mahàsthàmapràpta. Though bodhisattvas, the two latter are called Buddhas when thus associated with Amitàbha.
tam tông
The three schools of Pháp tướng tông, Phá tướng tông, Pháp tính tông, representing the ideas of không, giả, and bất không giả, i.e. unreality, temporary reality, and neither; or absolute, realtive, and neither.
; (三宗) I. Tam Tông. Ba tông. Tức ngài Tông mật thuộc tông Hoa nghiêm chia Phật giáo Đại thừa làm 3 tông là Pháp tướng, Phá tướng và Pháp tính.1. Pháp tướng tông: Chỉ cho các tông Du già, Duy thức. Tông này chủ trương 6tất cả vọng pháp hữu lậu và tịnh pháp vô lậu từ vô thủy đến nay đều có chủng tử ở trong thức A lại da, gặp duyên thì huân tập(xông ướp). Tức mỗi pháp đều từ tự tính sinh khởi, đều không quan hệ đến chân như, cho nên đối với các pháp sắc tâm kiến lập nhiều danh tướng, như các giáo nghĩa Ngũ vị bách pháp, Tam tính nhị vô ngã, Tứ trí tam thân... Trong Ngũ giáo phán của tông Hoa nghiêm, Pháp tướng tông tương đương với Tướng thủy giáo của Thủy giáo. 2. Phá tướng tông: Chỉ cho tông Tam luận. Tông này chủ trương tất cả pháp phàm thánh nhiễm tịnh đều vốn là không, dù thấy một pháp nào vượt hơn cả Niết bàn thì đó cũng như mộng như huyễn, bởi thế tông này dùng giáo nghĩa Tứ cú bách phi, Bát bất trung đạo, Vô sở đắc... để phá tất cả pháp tướng. Trong Ngũ giáo phán, tông này tương đương với Không thủy giáo của Thủy giáo. 3. Pháp tính tông: Chỉ cho các tông Hoa nghiêm, Thiên thai. Tông này chủ trương nương vào chân mà khởi lên vọng, chân như bất biến, vô ngại tùy duyên, như nói pháp thân lưu chuyển trong ngũ đạo, Như lai tạng cảm nhận khổ vui...; nếu tỏ ngộ vọng chính là chân thì chân vọng chẳng phải 2. Đồng thời cho rằng tâm của tất cả chúng sinh không phải do đoạn trừ hết phiền não mới được thanh tịnh, mà tâm ấy xưa nay vốn đã thanh tịnh rồi. Tâm ấy của chúng sinh tức là pháp tính. Trong Ngũ giáo phán, tông này tương đương với 3 giáo: Chung, Đốn, Viên của Đại thừa. Ngài Tông mật còn căn cứ vào tính chất bất đồng giữa 3 tông mà nêu ra 10 điểm khác nhau của pháp tính và pháp tướng, 5 điểm khác nhau giữa pháp tính và phá tướng, từ đó mà phán định rằng Pháp tính tông vượt hơn 2 tông trước. [X. Viên giác kinh lược sớ Q.thượng; Tông kính lục Q.5]. II. Tam Tông. Chỉ cho Thực pháp tông, Giả danh tông và Viên giáo tông do Luật tông thành lập. 1. Thực pháp tông: Tức Tát bà đa Hữu bộ tông, chủ trương tất cả các pháp đều có thật.2. Giả danh tông: Tức tông Thành thực, chủ trương các pháp chỉ có tên giả chứ không có thể thật. 3. Viên giáo tông: Chỉ cho Duy thức viên giáo. (xt. Hóa Giáo, Chế Giáo).
tam tông luận
(三宗論) Tác phẩm, do cư sĩ Chu ngung soạn vào đời Nam Tề. Nội dung sách này dùng nghĩa Chân đế và Tục đế để bàn thuật ý chỉ của 3 tông: Không giả danh, Bất không giả danh và Giả danh không. Không giả danh và Bất không giả danh là thuyết của các Luận sư Thành thực; còn Giả danh không là thuyết của Chu ngung. Sách này là tác phẩm đầu tiên phục hưng Tam luận học bát nhã ở Giang nam. [X. Trung quán luận sớ Q.2, phần cuối; Nhị đế chương Q.hạ; Quảng hoằng minh tập Q.24].
tam tông nhị đế
(三宗二諦) Chỉ cho thuyết Chân đế và Tục đế nói trong luận Tam tông của ẩn sĩ Chu ngung đờiNamTề. 1. Bất không giả danh: Như sắc, không nói trong kinh, thực tính của chúng là không, cho nên gọi là Không; còn giả sắc chẳng phải không, đây chính là thực tính. Không không có thực tính, nên là Chân đế, Bất không là giả danh, nên là Tục đế. 2. Không giả danh: Tất cả các pháp đều do nhân duyên mà thành, vì thế nên có cái thể giả danh. Nếu đem các duyên ấy mà phân tích thì đều bất khả đắc, bởi vậy, thể củagiả danh là Tục đế, bất khả đắc mới là Chân đế. 3. Giả danh không: Giả danh thì rõ ràng tức là không. Đại thừa huyền luận quyển 1 cho rằng 2 đế này tương đương với Nhị đế, lớp đầu trong 4 lớp Nhị đế. Còn Nhị đế chương quyển hạ thì cho Bất không giả danh là Thử lâu lật nhị đế, cònKhông giả danh là Án qua nhị đế. Giả danh không có nguồn gốc từ câu nói sau đây của ngài Tăng triệu (Đại 42, 29 hạ): Vì vật chẳng phải vật thật nên là giả vật; vì là giả vật nên tức là không. [X. Trung quán luận sớ Q.2, phần cuối]. (xt. Nhị Đế).
tam tùy miên
(三隨眠) Cũng gọi Tam sử. Tùy miên (Phạm:Anuzaya) là tên khác của phiền não mà Bồ tát ở giai vị Thập địa phải đoạn trừ. Dựa theo tính chất thô tế của chúng mà các Tùy miên được chia làm 3 loại là: 1. Hại bạn tùy miên(cũng gọi Hại bạn sử phiền não, Hại bạn, Hại bạn sử): Phiền não này là thứ thô nhất trong 3 phiền não, là phiền não mà Bồ tát 5 Địa trước trong 10 Địa phải đoạn trừ. Trong 5 Địa trước thì các phiền não hiện hành không cùng sinh một lượt là bạn giúp đỡ cho sự hiện hành của các phiền não sinh cùng một lượt, cho nên gọi là Hại bạn tùy miên. Cứ theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, phần cuối thì các phiền não tham, sân, si... cùng khởi một lượtvới thân kiến tương ứngvới thức thứ 6, gọi là Câu sinh (cùng sinh một lượt), các phiền não khác thì gọi là Bấtcâu sinh(không cùng sinh một lượt); thể của các phiền não Bất câu sinh hơi thô, là bạn giúp đỡ cho sự hiện hành của phiền não Câu sinh, cho nên gọi là Hại bạn. 2. Luy liệt tùy miên(cũng gọi Bạc sử phiền não, Luy sử): Sự hiện hành củaPhiền não chướng vàSở tri chướng cùng sinh một lượt tương ứng với thức thứ 6, cũng tức là các phiền não nhỏ nhiệm yếu kém hiện hành ở Đệ lục và Đệ thất địa. Nếu khi khởi Phục đạo thì phiền não này không hiện hành, nhưng lúc không khởi Phục đạo thì nó len lén hiện hành một cách tinh tế. Đối với Hại bạn tùy miên ở trên mà nói thì tướng của Luy liệt tùy miên hơi nhỏ nhiệm tinh tế, cho nên gọi là Luy liệt(yếu kém). 3. Vi tế tùy miên(cũng gọi Vi tế sử phiền não, Vi tế sử, Tế sử): Sự hiện hành của Sở tri chướng tương ứng với thức thứ 7, là tập khí còn sót lại sau khi đã đoạn trừ Hại bạn tùy miên và Luy liệt tùy miên, loại phiền não này là nhỏ nhiệm nhất trong 3 phiền não, là phiền não do Bát địa trởlên đoạn trừ. Nếu phiền não này cũng đã bị đoạn trừ thì tất cả phiền não không còn hiện hành trở lại nữa. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; kinh Thâm mật giải thoát Q.5, kinh Tương tục giải thoát địa ba la mật liễu nghĩa; luận Du già sư địa Q.78; Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng, phần đầu; Duy thức chương tư kí Q.6, phần cuối]. (xt. Tùy Miên).
tam tùy phiền não
(三隨煩惱) Chỉ cho 3 thứ Tùy phiền não nói trong Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 34. 1. Tiểu tùy phiền não: Chỉ cho 10 phiền não là Phẫn, Hận, Phú, Não, Tật, Khan, Cuống, Siểm, Kiêu và Hại. Mười phiền não này đều sinh khởi một cách riêng rẽ và vì chúng sinh khởi riêng rẽ, có tính cách cục bộ, cho nên gọi là Tiểu tùy phiền não.2. Trung tùy phiền não: Chỉ cho 2 thứ phiền não Vô tàm (không biết thẹn)và Vô quí(không biết hổ); hai thứ phiền não này cùng nhau sinh ra một lượt, chứ không sinh khởi riêng rẽ và khởi lên trong tất cả các pháp bất thiện, nên gọi là Trung tùy phiền não.3. Đại tùy phiền não: Chỉ cho 8 thứ phiền não là Điệu cử, Hôn trầm, Bất tín, Giải đãi, Phóng dật, Tán loạn, Bất chính và Thất niệm; 8 thứ phiền não này chẳng những chỉ cùng nhau sinh ra một lượt, mà còn có mặt khắp trong các pháp ô nhiễm, vì thế nên gọi là Đại phiền não.
tam tăng kỳ bách đại kiếp
(三僧祇百大劫) Cũng gọi Tam kì bách kiếp. Ba tăng kì trăm đại kiếp, từ gọi chung Tam a tăng kì kiếp và Bách đại kiếp, là thời gian vị Bồ tát tu hành từ lúc mới phát tâm đến khi thành quả Phật. Tam a tăng kì cũng gọi là Tam kiếp, a tăng kì dịch là vô số, hoặc chỉ cho sự tột cùng của số; Kiếp là tên gọi thời gian, dịch là lâu xa, lâu dài... trong đó có đại kiếp, trung kiếp, tiểu kiếp khác nhau. Ba cái A tăng kì đại kiếp gọi là Tam đại a tăng kì kiếp, là khoảng thời gian vị Bồ tát tích lũy tư lương bồ đề; còn 100 đại kiếp là thân của quả Phật được tướng hảo trang nghiêm, là thời gian tu phúc nghiệp. Bồ tát vì sự nghiệp độ tha mà tu hành trong 3 a tăng kì kiếp, lại vì chính thân mình thành Phật cảm được 32 tướng mà trong khoảng thời gian 100 đại kiếp vun trồng vô lượng phúc đức. Nhưng luận Du già sư địa quyển 48 và luận Nhiếp đại thừa quyển hạ chỉ nêu Tam kì, chứ không nói Bách kiếp, cho nên các ngài Trí khải, Pháp tạng... đều chủ trương thuyết Tam kì bách kiếp là do Tiểu thừa thành lập. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.178; luận Câu xá Q.18; luận Thuận chính lí Q.44; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. (xt. Tam A Tăng Kì Kiếp, Kiếp).
tam tăng thượng
Three predominant influences—See Tam Pháp (xxxxxiv).
tam tư
All action and speech have three mental conditions - reflection, judgement, decision.
; (三思) Chỉ cho 3 tác dụng tinh thần suy tư về đối cảnh(đối tượng). 1. Thẩm lự tư(cũng gọi Gia hành tư): Nghĩ xét kĩ về đối cảnh chấp lấy các tướng chính nhân tà nhân đều trái nhau... 2. Quyết định tư: Sau khi đã nghĩ xét kĩ thì ý quyết định. 3. Động phát thắng tư(cũng gọi Đẳng khởi tư): Sau khi đã quyết định, phát động thân nghiệp và ngữ nghiệp. Vì thế lực của Tư này mạnh mẽ hơn nên gọi là Thắng. Trong đó, 2 Tư trước thuộc về Ý nghiệp. Động phát thắng tư lại được chia làm Động thân tư và Phát ngữ tư; Động thân tư thuộc về Thân nghiệp, Phát ngữ tư thuộc về Ngữ nghiệp. Tam tư phối hợp với Nhân đẳng khởi, Sát na đẳng khởi thì có 2 thuyết như sau:1. Ý nghĩ ban đầu của Thẩm lự tư và Quyết định tư là Nhân đẳng khởi xa, ý nghĩ sau cùng của Quyết định tư là Nhân đẳng khởi gần, Phát động thắng tư là Sát na đẳng khởi.2. Hai tư trước là Nhân đẳng khởi xa, ý nghĩ ban đầu của Động phát thắng tư là Nhân đẳng khởi gần, từ ý nghĩ thứ 2 trở về sau là Sát na đẳng khởi. [X. luận Đại thừa thành nghiệp; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu]. (xt. Tư).
tam tương tục
(三相續) Ba thứ tiếp nối nhau, chỉ cho thế giới, chúng sinh và nghiệp quả, lần lượt đổi dời, nối tiếp nhau không dứt. 1. Thế giới tương tục: Chúng sinh gây nghiệp, dẫn đến phiền não trần lao, chiêu cảm phong luân, kim luân, thủy luân... làm nhân duyên lẫn nhau mà tạo thành quốc độ thế giới này, như rừng cây bị cháy thì thành đất, vắt đất thì ra nước; đá núi đập vào nhau thì bắn ra lửa, nung nấu thì tan thành nước. Cứ nhưthế sinh ra lẫn nhau, làm chủng tử cho nhau mà thành thế giới tương tục. 2. Chúng sinh tương tục: Chúng sinh vì có 6 thứ hư vọng như sắc, hương, vị, xúc..., nên hễ thấy khác nhau thì ghét nhau, thấy giống nhau thì yêu mến nhau, lấy yêu mến làm hạt giống nên phát sinh giao cấu, hấp dẫn đồng nghiệp, tùy theo cảm ứng mà vào 4 loài(đẻ bọc, đẻ trứng, đẻ ở chỗ ẩm ướt, tự nhiên hóa sinh), vì nguyên nhân ấy nên chúng sinh tương tục. 3. Nghiệp quả tương tục: Chúng sinh lấy tham ái làm gốc, ái kết không lìa, cho nên cha mẹ, con cháu ở thế gian sinh ra nhau không dứt; lấy tham sát làm gốc, rồi tùy theo sức vóc mạnh yếu mà ăn nuốt lẫn nhau, người ăn dê thì dê chết thành người, người chết làm dê, cứ như thế cho đến 10 loài sinh, chết chết sống sống, ăn thịt lẫn nhau; lấy tham trộm làm gốc nên người nợ mệnh ta, ta trả nợ người, trăm nghìn kiếp thường ở trong sự trói buộc, vì lí do ấy nên nghiệp quả tương tục. Ba thứ điên đảo trên đây đều do vọng kiến sinh ra, đến cuối cùng thì trở lại từ đầu, nối nhau không dứt, vì thế gọi là Tam tương tục. [X. kinh Lăng nghiêm Q.4].
tam tướng
Xem Ba tínhXem Ba tự tính.
; The three forms or positions: giải thoát tướng nirvàna; ly tướng no nirvàna; diệt tướng or phi hữu phi vô chi trung đạo absence of both, or the "middle way" of neither.
; (三相) I. Tam Tướng. Chỉ cho 3 tướng của hết thảy các pháp, đó là: 1. Giả danh tướng: Tức tướng chỉ có tên giả chứ không thể thật. 2. Pháp tướng: Chỉ cho các tướng của 5 uẩn, 12 xứ, 8 giới... 3. Vô tướng tướng: Chỉ cho tướng của vô tướng, là tướng lìa Giả danh tướng và Pháp tướng. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.13]. II. Tam Tướng. Chỉ cho 3 tướng của sự vật. 1. Tiêu tướng: Như khói là tướng chỉ bày cho biết sự tồn tại của lửa. 2. Hình tướng: Như tướng dài, ngắn, vuông, tròn... 3. Thể tướng: Tướng bản chất của tự thân vật thể, như lửa lấy nóng làm tướng. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.13]. III. Tam Tướng. Ba tướng trị tâm khi tu thiền định. 1. Phát tướng: Tướng phấn phát khởi lên khi đối trị sự trầm trệ của tâm. 2. Chế tướng: Tướng ngăn chặn tâm tán loạn. 3. Xả tướng: Tướng buông bỏ sự điều hòa tâm. [X. phẩm Định tướng trong luận Thành thực Q.12]. VI. Tam Tướng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong tác pháp 3 chi Nhân minh, chi Nhân phải có đủ 3 điều kiện gọi là Nhân tam tướng, đó là: Nhân phải hoàn toàn quan hệ với Tông, phải có tính cách của Đồng phẩm và tuyệt đối không được xen lẫn tính cách của Dị phẩm. (xt. Nhân Tam Tướng). V. Tam Tướng. Cũng gọi Tam hữu vi, Tam hữu vi tướng. Ba tướng của pháp hữu vi. 1. Sinh tướng: Có năng lực sinh khởi các pháp. 2. Trụ dị tướng: Có năng lực làm cho các pháp biến đổi, suy hoại. 3. Diệt tướng: Có nănglựclàm cho các pháp tan diệt. Luận Câu xá quyển 5 (Đại 29, 27 thượng) nói: Nếu pháp làm cho hành 3 đời trôi chảy đổi dời thì kinh này gọi đó là tướng hữu vi khiến cho các hữu tình sinh tâm chán sợ. Nghĩa là khi các hành đổi dời thì chúng sẽ từ vị lai trôi dời vào hiện tại, rồi bị năng lực của dị tướng và diệt tướng thôi thúc khiến cho từ hiện tại trôi dời vào quá khứ, cứ thế đổi khác và hoại diệt. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; luận Đại tì bà sa Q.39; luận Thuận chính lí Q.13; Câu xá luận quang kí Q.5]. (xt. Tứ Tướng). VI. Tam Tướng. Cũng gọi Tam tính. Tức ý cứ vào tính cách hữu vô giả thực mà chia tính tướng của tất cả pháp làm 3 thứ là Biến kế sở chấp tính(tướng hư vọng, phân biệt), Y tha khởi tính (tướng nhân duyên) và Viên thành thực tướng(tướng Đệ nhất nghĩa). (xt. Tam Tính). VII. Tam Tướng. Chỉ cho 3 tướng củathức A lại da: Tự tướng, Quả tướng và Nhân tướng. Tự tướng chỉ cho Sơ a lại da, Quả tướng chỉ cho Dị thục và Nhân tướng chỉ cho Nhất thiết chủng. (xt. Lại Da Tam Tướng).
tam tướng thần
(三相神) Phạm:Trimùrti. Chỉ cho 3 vị thần liên quan với nhau nhưng mỗi vị có một tướng. Chủ yếu chỉ cho 3 vị thần lớn mà Ấn độ giáo tin thờ là Phạm thiên, Tì thấp nô và Thấp bà. Người Ấn độ giáo tin rằng 3 vị thần này theo thứ tự đại biểu cho sự sáng tạo, sự duy trì và sự hủy diệt vũ trụ. Tín ngưỡng này bắt nguồn từ thời kì Phệ đà. Cứ theo Lê câu phệ đà thì Hỏa thần A kì ni có 3 chỗ, gọi là Tam tòa (Phạm: Triwadhasthà), chỗ trên mặt đất là 2 miếng gỗ chà xát vào nhau sinh ra lửa, gọi là con của Lực (Phạm: Sahasas-putra); chỗ trong hư không chỉ cho lửa chớp trong mây, gọi là con của nước (Phạm:Apputra); còn chỗ ở trên trời thì thái dương(mặt trời) là bản xứ của thần này, gọi là Thiên hỏa (Phạm:Divyàgni).
tam tướng tục
The three links, or consequences: (a) the worlds with their kingdoms, which arise from the karma of existence; (b) all beings who arise from the five skandhas; (c) rewards and punishments, which arise out of moral karma causes.
tam tưởng
The three evil thoughts are desire, hate, malevolence; the three good thoughts are Oán tưởng thoughts (of love) to enemies, Thân tưởng the same to family and friends, Trung nhân tưởng the same to those who are neither enemies nor friends, i.e. to all.
; (三想) I. Tam Tưởng. Cũng gọi Tam ác tưởng, Tam bất thiện tưởng. 1. Dục tưởng (Phạm:Kàma-saôjĩà): Ý tưởng nổi lên từ sự tham muốn. 2. Sân khuể tưởng (Phạm:Vyàpàdasaôjĩà): Ý tưởng nổi lên từ sự tức giận. 3. Sát hại tưởng (Phạm: Vihiôsàsaôjĩà), cũng gọi Não tưởng. Nghĩa là nổi lên ý tưởng hại người. Cứ theo Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán quyển trung, nếu không tham danh lợi thì không sinh dục giác, không não chúng sinh thì không sinh sân giác, không tổn sự sống của vật thì không sinh hại giác. Do đó, nếu Tam giác không sinh thì Tam tướng cũng diệt. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; luận Di thục bộ tông luận; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng]. II. Tam Tưởng. Cũng gọi Tam thiện tưởng. Chỉ cho 3 thứ thiện tưởng. 1. Xuất yếu tưởng (Phạm: Naiwkramya-saôjĩà): cũng gọi Xuất li tưởng. Nghĩa là ý tưởng thoát li. Người có ý tưởng này, sau khi chết sẽ sinh vào cõi người. 2. Bất hại tưởng (Phạm:Avihiôsàsaôjĩà): Ý tưởng không làm hại người. Người có ý tưởng này, khi mệnh chung tự nhiên sinh lên cõi trời. 3. Bất khuể tưởng (Phạm:Avỳapàdasaôjĩà): Ý tưởng không sân hận. Người có ý tưởng này, khi mệnh chung sẽ dứt trừ 5 kết sử sau mà nhập Niết bàn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; kinh Trường a hàm Q.8]. III. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm niệm mà Bồ tát tại gia phát khởi khi thấy người ăn xin. 1. Thiện tri thức tưởng: Ý tưởng được gặp bậc thiện tri thức. 2. Tha thế phú tưởng(cũng gọi Linh hậu thế đại phú tưởng): Ý tưởng nếu bố thí thì đời sau được giàu to. 3. Bồ đề cơ tưởng(cũng gọi Linh đắc Phật đạo tưởng): Khởiýtưởng bố thí là nền tảng để thành Bồ đề. [X. kinh Đại bảo tích Q.82; kinh Úcca la việt vấn Bồ tát hạnh]. IV. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm niệm khởi lên khi đoạn trừ các phiền não tham, sân... 1. Li tưởng(cũng gọi Li dục tưởng): Hành giả ở trong các pháp Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất... muốn dùng chính trí tuệ quán tưởng để xa lìa các phiền não. 2. Đoạn tưởng: Hành giả muốn được đạo vô lậu để đoạn trừ các kết sử. 3. Tận tưởng(cũng gọi Diệt tưởng): Khi vào Niết bàn, hành giả muốn diệt 5 thụ, không cho nối tiếp nữa. [X. luận Đại trí độ Q.33; luận Đại tì bà sa Q.29; luận Thành thực Q.14; Vô lượng thọ kinh tập giải Q.8]. V. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm niệm sinh khởi khi hành giả Tịnh độ niệm Phật. 1. Qui mệnh tưởng: Bản tôn quay về hướng Đông, hành giả hướng về Phật qui mệnh. 2. Dẫn nhiếp tưởng: Bản tôn quay về hướng Tây, hành giả khởi ý niệm theo sau Phật qua 10 vạn ức cõi nước. 3. Vãng sinh tưởng: Tâm niệm tưởng tượng hành giả đã sinh về cõi nước Cực lạc và được thấy Phật nghe pháp. [X. Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần đầu; Vãng sinh yếu tập nghĩa kí Q.trung, 5]. VI. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm tưởng bình đẳng của Bồ tát đối với tất cả chúng sinh, không phân biệt oán, thân. 1. Oán tưởng: Có người làm hại mình và hại cha mẹ anh em mình, cũng khởi ý tưởng thân ái. 2. Thân tưởng: Đối với cha mẹ, anh em, họ hàng, bạn bè đều khởi ý tưởng thân ái. 3. Trung nhân tưởng: Đối với những người chẳng phải oán chẳng phải thân, cũng sinh khởi ý tưởng thân ái. [X. kinh Bát nhã; luận Đại trí độ Q.72].
tam tại
(三在) Tại tâm, tại duyên và tại quyết định, được nói trong Vãng sinh luận chú quyển thượng của ngài Đàm loan. Nghĩa là nếu so sánh hiệu lực của việc suốt đời tạo các tội ác và việc niệm Phật 10 niệm lúc hấp hối thì hiệu lực của việc niệm Phật thù thắng hơn vì 3 lẽ: 1. Tại tâm: Nói theo tâm thì niệm Phật là căn cứ chân lí, tội ác là căn cứ hư vọng. 2. Tại duyên: Nói theo duyên thì niệm Phật là căn cứ danh hiệu Phật chân thực, còn tội ác thì do chúng sinh mà có. 3. Tại quyết định: Niệm Phật lúc hấp hối, vì thời cơ cấp bách, có tính cách quyết định, cho nên tâm định, còn tâm tạo tội ác thì lúc đó không khởi lên.
Tam tạng
三藏; S: tripiṭaka; P: tipiṭaka;|I. Là ba phần cốt tuỷ của kinh sách đạo Phật, gồm: Kinh tạng (經藏; s: sūtra-piṭaka; p: sutta-piṭaka), Luật tạng (律藏; s, p: vinaya-piṭaka), Luận tạng (論藏; s: abhi-dharma-piṭaka; p: abhidhamma-piṭaka).|Kinh tạng gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử, chia làm năm bộ: Trường bộ kinh (p: dīgha-nikāya), Trung bộ kinh (p: majjhima-nikāya), Tương ưng bộ kinh (p: saṃyutta-nikāya), Tăng-nhất bộ kinh (p: aṅguttara-nikāya) và Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya).|Luật tạng chứa đựng lịch sử phát triển của Tăng-già (s, p: saṅgha) cũng như các giới luật của người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi Phật nhập Niết-bàn.|Luận tạng – cũng được gọi là A-tì-đạt-ma – chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lí học. Luận tạng được hình thành tương đối trễ, có lẽ là sau khi các trường phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy, nó không còn giữ tính chất thống nhất, mặc dù sự khác biệt giữa các trường phái không đáng kể.|Tam tạng còn được truyền lại trọn vẹn nhất chính là Tam tạng Pā-li, có lẽ xuất phát từ một bản của Trưởng lão bộ (s: sthavira) ở Trung Ấn. Theo truyền thuyết, Kinh tạng và Luật tạng bằng tiếng Pā-li được viết lại trong lần kết tập thứ nhất (năm 480 trước Công nguyên), trong đó Ưu-bà-li nói về Luật và A-nan-đà trình bày giáo pháp. Những lời thuật lại của hai vị đại đệ tử này của Phật (Mười đại đệ tử) đã trở thành cơ sở của hai tạng đó. Theo một số tài liệu thì Luận tạng cũng hình thành ngay sau đó. Ngoài văn hệ Pā-li, ngày nay người ta cũng còn các tạng kinh, luật bằng Phạn ngữ (sanskrit), được Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) lưu truyền, nhất là ở những vùng Tây Bắc Ấn Ðộ.|Kinh sách của các tông phái khác như Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) và Pháp Tạng bộ (s: dhar-maguptaka) ngày nay chỉ còn trong bản chữ Hán. Các kinh sách quan trọng của Phật giáo Trung Quốc và Nhật Bản phần lớn đều xuất phát từ Pháp Tạng bộ. Các bộ này không xếp thành hệ thống nghiêm khắc như những tạng Pā-li và qua thời gian cũng có thay đổi. Danh mục cũ nhất về các Kinh tạng vào năm 518 (sau Công nguyên) ghi lại 2113 tác phẩm. Toàn bộ kinh sách đó được in lại lần đầu trong năm 972 (Ðại chính tân tu đại tạng kinh, Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ).|II. Một danh hiệu dành cho những Cao tăng, những vị Đại sư được xem là tinh thông Tam tạng, như vậy là thông suốt hết tất cả những thánh điển nhà Phật. |III. Một cách gọi kinh điển, giáo lí của hàng Nhị thừa. |VI. Chỉ ba loại hành giả: Hành giả Thanh Văn (聲聞), hành giả Duyên Giác (緣覺) và hành giả Bồ Tát (菩薩).
tam tạng
Tripiṭāka (S), Tipiṭaka (P), den sum (T)Nhứ thiết Kinh, Đại tạng KinhTạng Kinh: chỉ chung tất cả kinh điển Phật giáo; 3 tạng kinh: - Kinh tạng (Sutra-pitaka) - Luật tạng (Vinaya-pitaka) - Luận tạng (Sastra-pitaka) Kinh điển có 12 thể loại: khế kinh, trùng tụng, thọ ký, phúng tụng, vô vấn tự thuyết, nhơn duyên, ví dụ, bổn sự, bổn sanh, phương quảng, vị tằng hữu và luận nghị.
; Tripitaka (S). Three Collections of the Buddhist Canon. Three baskets: Basket of sutra, basket of discipline, basket of philosophical treatises
; Tripitakas—Tam Tạng Kinh điển gồm trọn vẹn giáo lý của Đức Phật (bằng 11 lần quyển Thánh Kinh), được viết bằng tiếng Pali trong trường phái Tiểu Thừa và tiếng Phạn trong trường phái Đại Thừa—The three store houses—Three Buddhist Canon Baskets—The three baskets (tripitaka) of Buddhist Teachings which contains the essence of the Buddha's teaching (is estimated to be about eleven times the size of the Bible)—The Theravada canon written in Pali and the Mahayana canon written in Sanskrit. (I) Luật Tạng: Vinaya (skt)—Precepts—Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, Luật Tạng được xem là cái neo vững chắc để bảo tồn con thuyền Giáo Hội trong những cơn phong ba bão táp của lịch sử. Phần lớn Luật Tạng đề cập đến giới luật và nghi lễ trong đời sống xuất gia của các vị Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni—According to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teaching, the Vinaya Pitaka, which is regarded as the sheet anchor of the Holy Order, deals mainly with the rules and regulations of the Order of Bhikkhus and Bhikkhunis. 1) Ngót hai mươi năm sau khi thành đạo, Đức Phật không có ban hành giới luật nhứt định để kiểm soát và khép chư Tăng vào kỷ cương. Về sau, mỗi khi có trường hợp xãy đến, Đức Phật đặt ra những điều răn thích hợp—For nearly twenty years after the enlightenment of the Buddha, no definite rules were laid down for the control and discipline of the Sangha. Subsequently as occasion arose, the Buddha promulgated rules for the future discipline of the Sangha. 2) Luật Tạng nêu rõ đầy đủ lý do tại sao và trường hợp nào mà Đức Phật đặc ra một giới, và mô tả rành mạch các nghi thức hành lễ sám hối của chư Tăng—Vinaya Pitaka mentions in details (fully describes) reasons for the promulgation of rules, their various implications, and specific Vinaya ceremonies of the Sangha. 3) Ngoài ra, lịch trình phát triển đạo giáo từ thuở ban sơ, sơ lược đời sống và chức nhiệm của Đức Phật, và những chi tiết về ba lần kết tập Tam Tạng Kinh Điển cũng được đề cập trong Luật Tạng—Besides the history of the gradual development of the Sasana from its very inception, a brief account of the life and ministry of the Buddha, and details of the thee councils are some other additional relevant contents of the Vinaya Pitaka. 4) Tóm lại, đây là những tài liệu hữu ích về lịch sử thời thượng cổ, về các cổ tục ở Ấn Độ, về kiến thức và trình độ thẩm mỹ thời bấy giờ—In summary, Vinaya Pitaka reveals useful information about ancient history, Indian customs, ancient arts and sciences. 5) Luật Tạng gồm năm quyển—The Vinaya Pitaka consists of five books: a) Tội Nặng: Parajika (skt)—Major offences. b) Tội Nhẹ: Pacittiya (skt)—Minor offences. c) Phần lớn: Mahavagga (skt)—Great Section. d) Phần nhỏ: Cullavagga (skt)—Lesser Section. e) Giới luật toát yếu: Parivara (skt)—Epitome of the Vinaya. 6) See Cụ Túc Giới Tỳ Kheo. (II) Kinh Tạng: Sutra (skt). 1) Kinh Tạng đại để gồm những bài pháp có tính cách khuyên dạy mà Đức Phật giảng cho cả hai, bậc xuất gia và hàng cư sĩ, trong nhiều cơ hội khác nhau. Một vài bài giảng của các vị đại đệ tử như các ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và A Na Đà cũng được ghép vào Tạng Kinh và cũng được tôn trọng như chính lời Đức Phật vì đã được Đức Phật chấp nhận—The Sutra Pitaka consists chiefly of instructive discourses delivered by the Buddha to both the Sangha and the laity on various occasions. A few discourses expounded by great disciples such as the Venerable Sariputra, Moggallana, and Ananda, are incorporated and are accorded as much veneration as the word of the Buddha himself, since they were approved by him. 2) Phần lớn các bài pháp nầy nhắm vào lợi ích của chư Tỳ Kheo và đề cập đến đời sống cao thượng của bậc xuất gia—Most of the sermons were intended mainly for the benefit of Bhikkhus, and they deal with the holy life and with the exposition of the doctrine. 3) Nhiều bài khác liên quan đến sự tiến bộ vật chất và tinh thần đạo đức của người cư sĩ. Kinh Thi Ca La Việt chẳng hạn, dạy về bổn phận của người tại gia. Ngoài ra, còn có những bài giảng lý thú dành cho trẻ em—There are several other discourses which deal with both the material and the moral progress of his lay-followers. The Sigalaka Sutra, for example, deals mainly with the duties of a layman. There are also a few interesting talks given to children. 4) Tạng Kinh giống như một bộ sách ghi lại nhiều quy tắc để theo đó mà thực hành, vì đó là các bài pháp do Đức Phật giảng ở nhiều trường hợp khác nhau cho nhiều người có căn cơ, trình độ và hoàn cảnh khác nhau. Ở mỗi trường hợp Đức Phật có một lối giải thích để người thính pháp được lãnh hội dễ dàng. Thoáng nghe qua hình như mâu thuẫn, nhưng chúng ta phải nhận định đúng Phật ngôn theo mỗi trường hợp riêng biệt mà Đức Phật dạy điều ấy. Tỷ như trả lời câu hỏi về cái “Ta,” có khi Đức Phật giữ im lặng, có khi Ngài giải thích dông dài. Nếu người vấn đạo chỉ muốn biết để thỏa mãn tánh tọc mạch thì Ngài chỉ lặng thinh không trả lời. Nhưng với người cố tâm tìm hiểu chơn lý thì Ngài giảng dạy rành mạch và đầy đủ—The Sutra Pitaka may be compared to books of prescriptions, since the discourses were expounded on diverse occasions to suit the temperaments of various persons. There may be seemingly contradictory statements, but they should not be misconstrued, as they were uttered by the Buddha to suit a particular purpose; for instance, to the self-same question he would maintain silence, when the inquirer was merely foolishly inquisitive, or give a detailed reply when he knew the inquirer to be an earnest seeker after the truth. 5) Tạng Kinh gồm năm bộ—The Sutra Pitaka consists of five volumes: a) Tên những kinh gọi theo Phật Giáo Nguyên Thủy—Names of the sutras called by the Theravada: i) Trường A Hàm: Digha-Nikaya (p)—Ghi chép những bài pháp dài—Collection of Long iscourses. ii) Trung A Hàm: Majjhima Nikaya (p)—Ghi chép những bài pháp dài bậc trung—Collection of Middle-Length Discourses. iii) Tạp A Hàm: Samyutta Nikaya (p)—Ghi chép những câu kinh tương tự nhau—Collection of Kindred Sayings. iv) Tăng Nhứt A Hàm: Anguttara Nikaya (p)—Ghi chép những bài pháp sắp xếp theo số—Collction of Gradual sayings. v) Tiểu A Hàm: Khuddaka Nikaya (p)—Ghi chép những bài kệ ngắn—Smaller Collection—See Tiểu A Hàm. b) Tên kinh gọi theo Phật Giáo Đại Thừa—Names of the sutras called by the Mahayana: i) Trường Bộ Kinh: See (A) (1). ii) Trung Bộ Kinh: See (A) (2). iii) Tương Ưng Bộ Kinh: See (A) (3). iv) Tăng Chi Bộ Kinh: See (A) (4). v) Tiểu Bộ Kinh: See (A) (5). (III) Luận Tạng: Abhidharma or sastra (skt)—Abhidhamma Pitaka (p)—Commentaries. (A) Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, Luận Tạng thâm diệu và quan trọng nhất trong toàn thể giáo pháp, vì đây là phần triết lý cao siêu, so với Kinh tạng giản dị hơn. Đây là tinh hoa của Phật giáo. Đối với một vài học giả, Luận Tạng không phải do Đức Phật mà do các nhà sư uyên bác khởi thảo về sau nầy. Tuy nhiên, đúng theo truyền thống thì chính Đức Phật đã dạy phần chánh yếu của Luận Tạng. Những đoạn gọi là Matika hay Nồng Cốt Nguyên Thủy của giáo lý cao thượng nầy như thiện pháp, bất thiện pháp, và bất định pháp, trong sáu tập của Luận Tạng (trừ tập nói về những điểm tranh luận) đều do Đức Phật dạy—The Abhidhamma Pitaka is the most important and most interesting of the three, containing as it does the profound philosophy of the Buddha's teaching in contrast to the simpler discourses in the Sutta Pitaka. Abhidhamma, the higher doctrine of the Buddha, expounds the quintessence of his profound teachings. According to some scholars, Abhidhamma is not a teaching of the Buddha, but is later elaboration of scholastic monks. Tradition, however, attributes the nucleus of the Abhidhamma to the Buddha himself. The Matika or Matrices of the Abhidhamma such as wholesome states (kusala dhamma), unwholesome states (akusala dhamma), and indeterminate states (abhyakata dhamma), etc., which have been elaborated in the six books, except the Kathavatthu, were expounded by the Buddha a) Ngài Xá Lợi Phất được danh dự lãnh trọng trách giảng rộng và giải thích sâu vào chi tiết—Venerable Sariputta was assigned the honour of having explained all these topics in detail. b) Dầu tác giả, hay các tác giả là ai, chắc chắn Luận Tạng là công trình sáng tác của một bộ óc kỳ tài chỉ có thể so sánh với một vị Phật. Và điểm nầy càng nổi bậc hiển nhiên trong tập Patthana Pakarana, vừa phức tạp vừa tế nhị, diễn tả mối tương quan của luật nhân quả với đầy đủ chi tiết—Whoever the great author or authors may have been, it has to be admitted that the Abhidhamma must be the product of an intellectual genius comparable only to the Buddha. This is evident from the intricate and subtle Patthana Pakarana which describes in detail the various causal relations. c) Đối với bậc thiện tri thức muốn tìm chân lý, Luận Tạng là bộ sách chỉ đạo khẩn yếu, vừa là một bộ khải luận vô giá. Ở đây có đủ thức ăn tinh thần cho học giả muốn mở mang trí tuệ và sống đời lý tưởng của người Phật tử. Luận Tạng không phải là loại sách để đọc qua cầu vui hay giải trí—To the wise truth-seekers, Abhidhamma is an indispensable gide and an intellectual treat. Here is found food for thought for original thinkers and for earnest students who wish to develop wisdom and lead an ideal Buddhist life. Abhidhamma is not a subject of fleeting interest designed for the superficial reader. d) Khoa tâm lý học hiện đại, còn hạn định, vẫn nằm trong phạm vi của Vi Diệu Pháp khi đề cập đến tâm, tư tưởng, tiến trình tư tưởng, các trạng thái tâm. Nhưng Luận Tạng không chấp nhận có một linh hồn, hiểu như một thực thể trường tồn bất biến. Như vậy Vi Diệu Pháp dạy một thứ tâm lý trong đó không có linh hồn—Modern psychology, limited as it is, comes within the scope of Abhidhamma inasmuch as it deals with mind, thoughts, thought-processes, and mental properties; but it does not admit of a psyche or a soul. It teaches a psychology without a psyche. (B) Trong Vi Diệu Pháp, tâm hay tâm vương được định nghĩa rõ ràng. Tư tưởng được phân tích và sắp xếp đại để thành từng loại về phương diện luân lý. Tất cả những trạng thái tâm hay tâm sở đều được lược kê cẩn thận. Thành phần cấu hợp của mỗi loại tâm được kể ra từng chi tiết. Tư tưởng phát sanh như thế nào cũng được mô tả tỉ mỉ. Riêng những chập tư tưởng bhavanga và javana, chỉ được đề cập và giải thích trong Vi Diệu Pháp—Consciousness (citta) is defined. Thoughts are analyzed and classified chiefly from an ethical standpoint. All mental properties (cetasika) are enumerated. The composition of each type of consciousness is set forth in detail. How thoughts arise is minutely described. Bhavanga and javana thought-moments. 1) Trong Vi Diệu Pháp, những vấn đề không liên quan đến giải thoát đều bị gác hẳn qua một bên—Irrelevent problems that interest students and scholars, but have no relation to one's deliverance, are deliberately set aside. 2) Vi Diệu Pháp không nhằm tạo lập một hệ thống tư tưởng về tâm và vật chất, mà chỉ quan sát hai yếu tố cấu tạo nên cái được gọi là chúng sanh để giúp hiểu biết sự vật đúng theo thực tướng—Abhidhamma does not attempt to give a systematized knowledge of mind and matter. It investigates these two composite factors of the so-called being, to help the understanding of things as they truly are. (C) Bà Rhys Davids đã viết: “Vi Diệu Pháp đề cập đến cái gì ở bên trong ta, cái gì ở chung quanh ta, và cái gì ta khao khát thành đạt.”—Mrs. Rhys Davids wrote about Abhidhamma as follows: “Abhidhamma deals with what we find within us, around us, and of what we aspire to find.” (D) Tạng Kinh chứa những giáo lý thông thường, còn Luận Tạng chứa đựng những giáo lý cùng tột—While the Sutta Pitaka contains the conventional teaching, the Abhidhamma Pitaka contains the ultimate teaching. (E) Hầu hết các học giả Phật giáo đều cho rằng muốn thông hiểu Giáo lý của Đức Phật phải có kiến thức về Luận Tạng vì đó là chìa khóa để mở cửa vào “thực tế.”—It is generally admitted by most exponents of the Dhamma that a knowledge of the Abhidhamma is essential to comprehend fully the teachings of the Buddha, as it represents the key that opens the door of reality. (F) Luận Tạng gồm bảy bộ— 1) Pháp Trụ hay Phân Loại Các Pháp: Dhammasanghani (p)—Classification od Dhamma. 3) Phân Biệt hay những tiết mục: Vibhanga (p)—Divisions. 4) Đại Thuyết hay luận giải về các nguyên tố: Dhatukatha (p)—Discourses of Elements. 5) Nhơn Thi Thuyết hay những danh tính cá nhơn: Puggala Pannatti (p)—The Book on Individuals. 6) Thuyết Sự hay những điểm tranh luận: Kathavathu (p)—Points of Controversy. 7) Song Đối hay quyển sách về cặp đôi: Yamaka (p)—The Bok of Pairs. 8) Phát Thú hay quyển sách đề cập đến nhân quả tương quan: Patthana (p)—The Bok of Causal Relations.
; (三藏) Phạm:Trìịi piỉakàni. Pàli:Tìịi piỉakàni. Cũng gọi Tam pháp tạng. Tạng (Phạm:Piỉaka) nghĩa là cái đồ chứa đựng, kho lẫm, hòm đan bằng tre. I. Tam Tạng. Chỉ cho Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng.Cứ theo phẩm Thuật cầu trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 thì Tạng nghĩa là nhiếp, tức là tổng nhiếp tất cả những điều nên biết. Nếu theo thuyết của ngài Giác âm thì tạng nghĩa là am kí(ghi nhớ thành thuộc), tức thầy trò dùng phương pháp tụng thuộc lòng mà truyền miệng cho nhau. Theo kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội quyển trung thì Tạng nghĩa là đồ chứa, hàm ý là chứa đựng tất cả các giáo pháp cần phải biết. Đại chúng bộ và các bộ phái khác, ngoài Tạp tạng còn thêm Tam tạng..., Độc tử bộ thêm Chú tạng mà thành lập Tứ tạng; Pháp tạng bộ thêm Chú tạng và Bồ tát tạng, Nhất thuyết bộ trong Đại chúng bộ thì thêm Tạp tập tạng và Cấm chú tạng, luận Thành thực thêm Tạp tạng và Bồ tát tạng, kinh Lục ba la mật thì thêm Bát nhã ba la mật đa tạng và Đà la ni tạng. Năm tạng này gọi chung là Ngũ tạng. Ngoài ra, Kinh tạng và Luật tạng, hoặc Thanh văn tạng và Bồ tát tạng, gọi chung là Nhị tạng. 1. Kinh tạng (Phạm: Sùtràntapiỉaka,Pàli: Sutta-piỉaka, Hán âm: Tố đát lãm tạng, Tu đa la tạng, Hán dịch: Khế kinh tạng): Kinh điển do đức Phật nói, trên thì khế hợp với lí nghĩa của chư Phật, dưới thì khế hợp với căn cơ của chúng sinh. Các nghĩa trọng yếu trong giáo thuyết của đức Phật đều thuộc về bộ loại Kinh.2. Luật tạng (Phạm, Pàli:Vinayapiỉaka, Hán âm: Tì nại da tạng, Tì ni tạng, Hán dịch: Điều phục tạng): Những luật nghi do đức Phật chế có công năng sửa trị những cái xấu ác của chúng sinh, điều phục tâm tính chúng sinh; những pháp tắc sinh hoạt của giáo đoàn mà đức Phật qui định đều thuộc về bộ loại Luật. 3. Luận tạng (Phạm: Abhidharmapiỉka, Pàli: Abhidhamma-piỉaka, Hán âm: A tì đạt ma tạng, A tì đàm tạng, Hán dịch: Đối pháp tạng): Luận bàn thêm về ý nghĩa kinh điển của Phật, làm sáng tỏ những điểm súc tích để quyết định tính tướng các pháp; phát triển giáo thuyết của đức Phật rộng hơn, đến người đời sau lại dùng trí tuệ thù thắng thảo luận, giải thích thêm nữa rồi hệ thống hóa, tổ chức hóa làm cho giáo pháp hoàn chỉnh. Luận tạng cũng gọi là Luận bộ, có quan hệ mật thiết với Ma đát lí ca (hoặc Ma đắc lặc già) (Phạm: Màtfkà,Pàli:Màtikà, Hán dịch: Bản mẫu, Luận mẫu), Ưu ba đề xá (Phạm: Upadeza,Pàli:Upadesa, Hán dịch: Luận nghị). Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 1 thì những điều mà Tam tạng hiển bày đều khác nhau: Những điều mà Kinh tạng hiển bày là thứ tự, những điều mà Luật tạng hiển bày là duyên khởi, những điều mà Luận tạng hiển bày là tính tướng; Kinh tạng nói về các thuyết khác nhau, Luật tạng giảng về các học xứ, Luận tạng thì phân biệt tự tướng và cộng tướng của các pháp. Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 cũng nêu ra 9 nguyên nhân thành lập Tam tạng, đó là: 1. Vì đối trị sự ngờ vực nên thiết lập Tu đa la. 2. Để đối trị sự thụ dụng nghiêng hẳn về 2 bên, khiến xa lìa lạc hạnh cũng như khổ hạnh, nên thiết lập Ti ni. 3. Vì đối trị kiến thủ của tự tâm nên thiết lập A tì đàm. 4. Để nói 3 học nên thiết lập Tu đa la. 5. Để thành tựu giới học, tâm học nên thiết lập Tì ni. 6. Vì thành tựu tuệ học nên thiết lập tì đàm. 7. Vì mục đích giảng nói pháp và nghĩa, nên thiết lập Tu đa la. 8. Để thành tựu pháp và nghĩa nên thiết lập Tì ni. 9. Vì mục đích thông suốt pháp và nghĩa nên thiết lập A tì đàm. Thích thị yếu lãm quyển trung cũng viện dẫn thuyết của A tì đạt ma tập, cho rằng dùng Kinh tạng để đối trị phiền não Nghi, dùng Luật tạng để đối trị Tùy phiền não thụ dụng hai bên thiên lệch, dùng Luận tạng để đối trị Tùy phiền não tự kiến thủ chấp. Ngoài ra, Lạt đạt ma giáo Tây tạng đem phối Tam tạng với Tam độc, cho rằng Luật tạng đoạn trừ tham dục, Kinh tạng đoạn trừ sân khuể và Luận tạng đoạn trừ ngu si. Về thứ tự của Tam tạng thì cho đến nay vẫn chưa có luận thuyết nhất định, có thuyết chủ trương nếu nói theo sự kết tập trước sau của Tam tạng, thì thứ tự là Kinh, Luật, Luận, còn nếu nói theo thứ tự tu hành thì là Luật, Kinh, Luận. Nếu phối hợp Tam tạng với Tam học thì Kinh tương đương với Định học, Luật tương đương với Giới học, còn Luận thì tương đương với Tuệ học. Đồng thời, Kinh bao hàm cả giới, định, và tuệ, Luật bao hàm giới và định, còn Luận thì chỉ bao hàm tuệ học mà thôi. Ngoài ra, còn có các phương diện khác nhau về việc thiết lập Tam tạng. Từ xưa đến nay, Tam tạng vốn chỉ cho Thánh điển của Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái, cũng tức là Tam tạng giáo(Tạng giáo) của Tiểu thừa, về sau, từ ngữ này được Đại thừa sử dụng, do đó, Tam tạng có Hạ thừa (Thanh văn thừa) và Thượng thừa(Bồ tát thừa) khác nhau, hợp chung lại thì thành Lục tạng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.2; luật Thập tụng Q.60; luận Phân biệt công đức Q.1, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.11; Nhiếp đại thừa luận thích Q.1 (bản dịch đời Đường), Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. II. Tam Tạng. Giáo pháp vì hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát mà lần lượt được nói ra, tức là Thanh văn tạng, Duyên giác tạng và Bồ tát tạng, hợp chung lại gọi là Tam tạng. 1. Thanh văn tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Thanh văn. 2. Duyên giác tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Duyên giác. 3. Bồ tát tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Bồ tát. [X. phẩm Tam tạng trong kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội Q.trung; kinh A xà thế vương Q.hạ; luận Nhập đại thừa Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. III. Tam Tạng. Tịnh độ chân tông ở Nhật bản gọi giáo pháp(pháp môn) được nói trong 3 bộ kinh của Tịnh độ là Tam tạng. Cứ theo sách Giáo hành tín chứng nói thì Tam tạng này là Phúc trí tạng, Phúc đức tạng và Công đức tạng. 1. Phúc trí tạng: Tức thành tựu viên mãn 2 thứ trang nghiêm là trí tuệ và phúc đức, là chỉ cho danh hiệu Nam mô a di đà Phật, từ đó mở ra giáo pháp của nguyện thứ 18 thuộc những hoằng nguyện chân thực nói trong kinh Đại vô lượng thọ.2. Phúc đức tạng: Tức các hạnh định thiện, tán thiện được nói trong kinh Quán vô lượng thọ, từ đó mở ra giáo pháp phương tiện của nguyện thứ 19 thuộc yếu môn. 3. Công đức tạng: Tức dùng danh hiệu tự lực hồi hướng được nói trong kinh A di đà, từ đó mở ra giáo pháp phương tiện của nguyện thứ 20 thuộc Chân môn.
tam tạng giáo
(三藏教) I. Tam Tạng Giáo. Từ ngữ gọi chung giáo pháp của đức Phật.II. Tam Tạng Giáo. Chỉ cho giáo pháp Tiểu thừa, cũng là 1 trong 4 giáo Hóa pháp thuộc phán giáo của tông Thiên thai. Năm đức Phật nhập diệt, ngài Đại ca diếp kết tập Tam tạng Kinh, Luật, Luận gồm thu tất cả giáo lí Tiểu thừa, vì thế nên gọi Tiểu thừa là Tam tạng giáo. Đại thừa cũng có Tam tạng riêng, nhưng không chia ra pho bộ rõ ràng như Tam tạng Tiểu thừa, nên lấy đó làm 1 tạng Ma ha diễn để đối lại với Tam tạng của Tiểu thừa.Tam tạng giáo tuy có 4 môn Có, Không, cũng Có cũng Không, chẳng phải Có chẳng phải Không, nhưng chủ yếu đều chấp lí không thiên lệch mà nói Ngã không, Pháp có. Người tu hành được chia làm 3 hạng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát; Thanh văn quán 4 đế, Duyên giác quán 12 nhân duyên, Bồ tát thì tu 6 độ. Pháp quán của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều là Tích không quán, tức phân tích sắc pháp đến cực vi, phân tích tâm pháp đến sát na, quán xét thể của chúng là Không, Vô ngã. Về quả vị thì Thanh văn có Thất hiền, Thất thánh, cuối cùng chứng quả A la hán, Duyên giác chứng được Bích chi phật, Bồ tát thì chứng được quả Phật của Ứng thân. Ba hạng người này tuy đã dứt hết các phiền não trong 3 cõi, nhưng vẫn còn thân tâm, là Niết bàn hữu dư, cuối cùng, thân diệt, trí bặt, trở về Niết bàn vô dư vắng lặng. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10, thượng; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Hoa nghiêm san định kí Q.1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4]. (xt. Tam Tạng, Ngũ Thời Bát Giáo, Tạng Giáo).
tam tạng học giả
A student of Tripitaka.
tam tạng kinh
Piṭakatraya (S), Piṭakattaya (P).
tam tạng kinh điển
Tipiṭāka (P), Tripiṭaka (S).
tam tạng pháp sư
Tipeṭaka (P), Master of Tipitaka, Tripiṭāka master, Tipeṭaki (P).
; Master of tripitaka.
; Tu sĩ thông suốt Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng, gọi là Tam tạng Pháp sư.
; Tripitaka Dharma Master—Vị Thầy làu thông Kinh Luật Luận—A teacher of the law or a master who is fluent in sutras, precepts and expounding of sutras.
; (三藏法師) Phạm: Tripiỉakàcàrya. Cũng gọi Tam tạng thánh sư, Tam tạng tỉ khưu. Gọi tắt: Tam Tạng. Chỉ cho vị pháp sư tinh thông Tam tạng Kinh, Luật, Luận. Tại Ấn độ, từ ngữ Tam tạng pháp sư đã được sử dụng rất sớm, như trong kinh Ma ha ma da quyển hạ có nói (Đại 12, 1013): Nước Câu thiểm di có vị Tam tạng tỉ khưu thuyết pháp rất hay, có năm trăm đồ chúng. Ở Trung quốc thì danh hiệu này chuyên chỉ cho vị cao tăng thông hiểu Tam tạng, đồng thời, làm việc phiên dịch Kinh, Luật, Luận. Trong số các vị Tam tạng thì ngài Huyền trang nổi tiếng nhất, thường được người đời tôn xưng là Huyền Trang Tam Tạng, hoặc Đường Tam Tạng. Ngoài ra, trong kinh Di lan đà vấn (Milinda-paĩha), bảnPàli thuộc hệ Nam truyền có nêu từ ngữ Tipeỉaka và Tepiỉaka, hàm ý là Người thông suốt Tam tạng. Trong tiếng Pàli, từEkapiỉakadhara là chỉ cho Người nhớ giữ một tạng, Dvipiỉaka-dhara chỉ cho Người nhớ giữ hai tạng, Tipiỉaka-dhara là chỉ cho Người nhớ giữ ba tạng, do đó mà người ta thấy danh từ Tam tạng đã được lưu hành rất sớm tại Ấn độ. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.6; Lương cao tăng truyện Q.2].
tam tạng pháp sư cương lương da xá
Xem Cương lương da xá.
tam tạng sư
Tipiṭākadhara (P)Nhà sư tinh thông Tam tạng kinh điển.
tam tạng thiện vô úy
Śubhākara-siṃha (P)Dù bà ca la, Tịnh Sư từMột nhà sư Thiên trúc, đến kinh đô Trường An năm 716, Ngài chuyên về Mật giáo với những môn pháp ấn và chú.
tam tạng thuyên tam học
(三藏詮三學) Tam tạng tức Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng; Tam học chỉ cho Giới học, Định học và Tuệ học. Tam tạng giải nói đầy đủ và rõ ràng về sự lí của Tam học, vì thế gọi là Tam tạng thuyên tam học. Luận Đại tì bà sa quyển 1 và Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng, cho rằng trong Tam tạng mỗi tạng giảng giải 1 ngành học. 1. Kinh tạng giảng giải Định học: Những điều được giảng nói trong kinh A hàm đều là pháp an tâm, nương vào đó mà thu nhiếp tâm thì tâm không tán loạn. Hơn nữa, trước khi nói Kinh, đức Phật thường nhập định, vì thế nên gọi Kinh giảng giải Định học (Kinh thuyên định học). 2. Luật tạng giảng giải Giới học: Luật tạng nhân sự việc xảy ra mà chế giới, ngăn ngừa việc xấu ác của thân, khẩu; Giới là hạnh sở thuyên, Luật là giáo năng thuyên, vì thế nên nói là Luật giảng giải Giới học (Luật thuyên giới học). 3. Luận tạng giảng giải Tuệ học: Các bộ luận A tì đàm đều biện giải và quyết trạch tất cả pháp nghĩa, dùng trí tuệ phân biệt, vì thế gọi là Luận giảng giải Tuệ học (Luận thuyên tuệ học). Nếu theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 11 và Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 thì Kinh tạng giảng giải cả Tam học, Luật tạng giảng giải Giới học và Định học, còn Luận tạng thì chỉ giảng giải Tuệ học mà thôi.
tam tạo tác pháp
Three active things: 1) Sắc: Material or things which have form. 2) Tâm: Mental. 3) Phi sắc phi tâm: Neith form nor mental.
tam tạp nhiễm
The three kasaya—Mixed dyes or infections: (A) 1) Dục vọng: Passion. 2) Nghiệp: Karma. 3) Luân hồi: Reincarnation. (B) 1) Ảo vọng: Illusion. 2) Nghiệp: Karma. 3) Khổ đau: Suffering.
; (三雜染) Chỉ cho 3 thứ tạp nhiễm làm nhơ nhớp chân tính. 1. Phiền não tạp nhiễm(cũng gọi Hoặc tạp nhiễm): Chỉ cho thân kiến, biên kiến và tất cả phiền não như tham sân si... làm ô nhiễm chân tính, khiến mất thanh tịnh. Bao gồm tất cả phiền não và tùy phiền não, được chia làm 2 loại lớn là Kiến sở đoạn và Tu sở đoạn; hoặc chia làm 3 loại lớn là Dục giới hệ, Sắc giới hệ và Vô sắc giới hệ; hoặc chia làm 10 loại là Tát ca da kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, Tham, Sân, Vô minh, Mạn và Nghi. 2. Nghiệp tạp nhiễm: Chỉ cho tất cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý do phiền não sinh ra, hoặc lấy phiền não làm trợ duyên sinh ra, tạo tác các việc xấu ác, làm nhớp nhúa chân tính. 3. Sinh tạp nhiễm(cũng gọi Khổ tạp nhiễm):Do phiền não và nghiệp mà có sinh, do có sinh nên có khổ, lại thêm các cái khổ như già, bệnh, chết, khổ vì yêu thương mà chia lìa, khổ vì mong cầu mà không được, khổ vì oán ghét nhau mà cứ phải gặp gỡ... tất cả đều làm cho chân tính ô nhiễm, mất hết sự thanh tịnh. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.1].
tam tập đế
(三集諦) Chỉ cho 3 thứ Tập đế do tông Pháp tướng thành lập, đó là: 1. Tập khí tập: Chỉ cho tập khí của tự tính Biến kế sở chấp, tức tập khí chấp trước ngã pháp; thể tính của tập khí này là y tha, cho nên thuộc Đế thực tính giả. 2. Đẳng khởi tập: Chỉ cho nghiệp phiền não, khởi lên 1 cách bình đẳng nên gọi là Đẳng khởi. Do phiền não khởi nghiệp, do nghiệp cảm quả; phiền não và nghiệp ấy là thể của Tập, lại vì là pháp Y tha nên thuộc về Đế tính đều thực. 3. Vị li hệ tập: Chỉ cho chân như chưa lìa chướng. Chân như viên thành này là thể tính của Tập, cho nên thuộc về tính thực Đế giả. [X. luận Thành duy thức Q.8, 9; Thành duy thực luận diễn bí Q.7].
Tam Tế
(三際): tức Tam Thế (三世), ba đời; gồm (1) Tiền Tế (s: pūrvānta, 前際), chỉ cho quá khứ; (2) Hậu Tế (s: aparānta, 後際), chỉ tương lai; (3) Trung Tế (s: madhyānta, 中際), chỉ hiện tại. Như trong Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (仁王護國般若波羅蜜多經, Taishō Vol. 8, No. 246) quyển Thượng, Phẩm Quán Như Lai (觀如來品) thứ 2 có đoạn: “Quán thân thật tướng, quán Phật diệc nhiên, vô tiền tế, vô hậu tế, vô trung tế, bất trú Tam Tế, bất ly Tam Tế (觀身實相、觀佛亦然、無前際、無後際、無中際、不住三際、不離三際, quán thật tướng của thân, quán Phật cũng như vậy, không quá khứ, không tương lai, không hiện tại, chẳng trú ba đời, chẳng lìa ba đời).” Hay trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 5 lại có đoạn: “Tam Tế cầu tâm tâm bất kiến, lưỡng nhãn y nhiên đối lưỡng nhãn, bất tu di kiếm khắc chu tầm, tuyết nguyệt phong hoa thường kiến diện (三際求心心不見、兩眼依然對兩眼、不須遺劍刻舟尋、雪月風華常見面, ba đời tìm tâm tâm chẳng thấy, hai mắt như xưa đối hai mắt, chẳng nên mất kiếm khắc thuyền tìm, trăng tuyết gió hoa thường thấy mặt).” Ngoài ra, tại Ấn Độ một năm chia ra ba kỳ, lấy tam tế phối với nhật nguyệt thì có các thuyết khác nhau, như thuyết của Thần Thái (神泰), Chơn Đế (眞諦), Phổ Quang (普光), Huyền Trang (玄奘), v.v.; trong đó, thuyết của Chơn Đế và Huyền Trang thì tương đồng. Tam Tế ở đây là (1) Nhiệt Tế (s: grīṣma-ṛtu, 熱際), từ ngày 16 tháng Giêng đến 15 tháng 5; (2) Vũ Tế (s: varṣa-ṛtu, 雨際), từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 9; (3) Hàn Tế (s: hemanta-ṛtu, 寒際), từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng Giêng. Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 2 lại lấy Tam Tế chia thành 6 thời, gồm: (1) Từ ngày 16 tháng Giêng đến 15 tháng 3, gọi là tạm nhiệt (漸熱, tạm nóng, nóng sơ); (2) Từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 5, gọi là thạnh nhiệt (盛熱, nóng gắt); (3) Từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 7, gọi là vũ thời (雨時, mùa mưa); (4) Từ ngày 16 tháng 7 đến 15 tháng 9, gọi là mậu thời (茂時, mùa tươi tốt); (5) Từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng 11, gọi là tạm hàn (漸寒, hơi lạnh); (6) Từ ngày 16 tháng 11 đến 15 tháng Giêng, gọi là thạnh hàn (盛寒, lạnh gắt).
Tam tế
三際; C: sānjì; J: sanzai;|»Ba thời kì«. 1. Trước, giữa, và sau hoặc là dĩ vãng, hiện tại và vị lai; 2. Ba thế giới, thời gian vô hạn lượng.
; 三細; C: sānxì; J: sansai;|»Ba tinh tế« hoặc »Ba tướng tinh tế«. Là cách phân chia Vô minh thành ba thành phần tinh tế, được tìm thấy trong luận Đại thừa khởi tín (大乘起信論): 1. Vô minh nghiệp tướng (無明業相), tướng vi tế của nghiệp, được thúc đẩy bởi vô minh; 2. Năng kiến tướng (能見相), là tướng vi tế của kẻ nhìn, tâm thức chủ quan; 3. Cảnh giới tướng (境界相), tướng vi tế của thế giới khách quan. Tuỳ người cảm nhận (năng kiến), cảnh giới trình hiện một cách sai lạc. Chức năng của những khía cạnh nêu trên rất vi tế, đối nghịch với Lục thô (六麁), sáu tướng thô trọng (theo Khởi tín luận 起信論).
tam tế
Past, present, future, idem tam thế.
; Ba thứ vi tế—Three refined, or subtle conceptions: 1) Vô minh nghiệp tướng: Vô minh hay tình trạng không giác ngộ—Ignorance or the unenlightened condition, considered as in primal action, the stirring of the perceptive faculty, associated with corpus or substance—The objective illusory world. 2) Năng kiến tướng: Có thể thấy được mọi hiện tượng—Ability to perceive phenomena—Perceptive faculties, associated with function—The subjective mind. 3) Cảnh giới tướng: Thế giới hiện tượng bên ngoài, còn gọi là Hiện Tướng hay Hiện Thức—The object perceived, or empirical world, associated with function—The external, or phenomenal world.
; (三際) I. Tam Tế. Tức Tam thế. 1. Tiền tế(Phạm:Pùrvànta): Chỉ cho quá khứ. 2. Hậu tế(Phạm:Aparànta): Chỉ cho vị lai. 3. Trung tế (Phạm: Madhyànta): Chỉ cho hiện tại. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 836 thượng) nói: Quán xét thực tướng của thân, quán Phật cũng thế. Không tiền tế, không hậu tế, không trung tế; chẳng trụ ở tam tế, cũng chẳng lìa tam tế. [X. luận Đại tì bà sa Q.24; luận Câu xá Q.9]. (xt. Tam Thế). II. Tam Tế. Phạm: Traya ftavà#. Cũng gọi Tam tế thời. Tại Ấn độ, 1 năm được chia làm 3 thời kì gọi là Tam tế. Nhưng xưa nay đem tam tế phối hợp với ngày tháng thì có nhiều thuyết khác nhau, đáng chú ý hơn cả thì có thuyết của các ngài Thần thái, Chân đế, Phổ quang, Huyền trang..., trong đó, thuyết của ngài Chân đế và Huyền trang giống nhau. Đó là: 1. Nhiệt tế(Phạm:Grìsma-rtu, mùa nóng): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 5 âm lịch. 2. Vũ tế(Phạm:Varwa-ftu, mùa mưa): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch. 3. Hàn tế (Phạm: Hemanta-rtu, mùa lạnh): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 1 âm lịch. Đại Đường tây vực kí quyển 2 lại chia Tam tế làm 6 thời: 1. Tiệm nhiệt(nóng dần): Từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch. 2. Thịnh nhiệt(rất nóng): Từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5 âm lịch. 3. Vũ thời(mùa mưa): Từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 7 âm lịch. 4. Mậu thời(mùa cây cối xanh tốt): Từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch.5. Tiệm hàn(lạnh dần): Từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 11 âm lịch. 6. Thịnh hàn(rất lạnh): Từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng 1 âm lịch. [X. Câu xá luận bảo sớ Q.11; Phạm võng kinh cổ tích kí Q.hạ, phần cuối;Đại tạng pháp số Q.12]. (xt. Lịch).
Tam tế lục thô
三細六麁; C: sānxì liùcū; J: sanzairokuso;|»Ba tướng vi tế và sáu tướng thô thiển« được giảng thuyết trong luận Đại thừa khởi tín (大乘起信論).
tam tế lục thô
(三細六粗) Chỉ cho 3 tướng nhỏ nhiệm, 6 tướng thô to. Đây là 9 tướng trạng của tất cả vọng pháp do vô minh căn bản dấy động chân như mà sinh khởi. Tam tế lục thô là dụng ngữ của luận Đại thừa khởi tín. Tế là giữa tâm vương và tâm sở không có sự phân biệt, tướng trạng của chúng tinh tế khó lường biết; còn Thô là tâm vương và tâm sở tương ứng, tướng tác dụng của chúng rõ rệt dễ thấy. Tam tế gồm: 1. Vô minh nghiệp tướng (gọi tắt: Nghiệp tướng): Chỉ cho tướng dấy động đầu tiên từ chân khởi vọng. Tức là trạng thái đầu tiên do vô minh căn bản khởi động chân như, là tướng thứ nhất trong vô minh chi mạt, tướng này còn chưa phân biệt được trạng thái chủ, khách. 2. Năng kiến tướng(cũng gọi Kiến tướng, Chuyển tướng): Chỉ cho tướng thấy khởi động đầu tiên, tức nương vào nghiệp thức dấy động đầu tiên mà chuyển thành tướng năng kiến. Đó là tâm (chủ quan) nhận thức đối tượng nương vào vô minh nghiệp tướng đã nói ở trên mà khởi lên. 3. Cảnh giới tướng(cũng gọi Hiện tướng, Cảnh tướng): Là tướng nương vào Chuyển tướng đã nói ở trước mà vọng hiện các cảnh giới. Bời vì tướng Năng kiến đã phát khởi thì đồng thời vọng hiện ra đối tượng (khách quan) nhận thức này. Lục thô gồm: 1. Trí tướng: Nương vào cảnh giới tướng mà vọng khởi phân biệt nhiễm tịnh đối với cảnh giới tịnh thì ưa thích, đối với cảnh giới nhiễm thì chán ghét. 2. Tương tục tướng: Nương vào trí tướng phân biệt, đối với cảnh ưa thích thì sinh vui, đối với cảnh chán ghét thì sinh khổ, giác tâm khởi niệm, tương tục không dứt.3. Chấp thủ tướng: Nương vào tướng tương tục ở trước, duyên theo các cảnh khổ vui, khởi tâm chấp trước. 4. Kế danh tự tướng: Nương vào tướng chấp thủ nói trên mà phân biệt tướng ngôn thuyết giả danh. 5. Khởi nghiệp tướng: Nương vào kế danh tự tướng nói trên mà sinh ra đắm trước chấp lấy, tạo tác các thứ nghiệp thiện ác...6. Nghiệp hệ khổ tướng: Vì các nghiệp thiện ác trói buộc nên bị khổ sinh tử bức ngặt, không được tự tại. Dựa vào những điểm trên đây, nếu từ tế tướng tiến vào thô tướng, tức là từ A lại da thức vị của tâm bất tương ứng tiến vào Lục thức vị của tâm tương ứng, thì thế giới mê cũng theo đó mà triển khai. Bởi vậy, nếu muốn đạt đến cảnh giới giác ngộ thì phải cố gắng tiến từ thô tướng vào tế tướng. Cảnh giới của phàm phu là thô trong thô (bốn tướng sau của Lục thô), cảnh giới của Bồ tát là tế trong thô(2 tướng trước của Lục thô) và thô trong tế(2 tướng sau của Tam tế), còn cảnh giới Phật thì là tế trong tế(Vô minh nghiệp tướng). Ngoài ra, nếu phối hợp Tam tế Lục thô với Ngũ ý thì Tam tế theo thứ tự phối với Nghiệp thức, Chuyển thức, Hiện thức, Trí tướng phối với Trí thức và Tương tục tướng phối với Tương tục thức. Nếu phối Tam tế Lục thô với Lục nhiễm tâm, thì Tam tế theo thứ tự phối với Căn bản nghiệp bất tương ứng nhiễm. Năng kiến tâm bất tương ứng nhiễm, Bất đoạn tương ứng nhiễm, Chấp thủ tướng và Kế danh tự tướng phối với Chấp tương ứng nhiễm. Nếu phối hợp Tam tế Lục thô với Tứ tướng, thì Nghiệp tướng phối với Sinh tướng, các tướng: Năng kiến, Cảnh giới, Trí và Tương tục phối với Trụ tướng, các tướng: Chấp thủ và Kế danh tự phối với Dị tướng, còn Khởi nghiệp tướng thì phối với Diệt tướng. [X. luận Thích ma ha diễn Q.4; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng; Khởi tín luận sớ Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu].
Tam tế tướng
三細相; C: sānxìxiāng; J: sansaisō;|Tam tế (三細).
tam tỉ lượng
(三比量) Cũng gọi Tam lượng, Tam chi tỉ lượng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Tự tỉ lượng, Tha tỉ lượng và Cộng tỉ lượng. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí Q.hạ, phần cuối]. (xt. Tha Tỉ Lượng, Cộng Tỉ Lượng, Tự Tỉ Lượng).
Tam Tỉnh Tự
(三井寺, Mii-dera) hay Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji): ngôi chùa trung tâm của Thiên Thai Tự Môn Tông (天台寺門宗), hiện tọa lạc tại số 246 Onjōji-chō (園城寺町), Ōtsu-shi (大津市), Shiga-ken (滋賀縣), nói cho đúng là Trường Đẳng Sơn Viên Thành Tự (長等山園城寺), nhưng thường được gọi là Tam Tỉnh Tự, hay Ngự Tỉnh Tự (御井寺), và rất nổi tiếng là ngôi chùa linh thiêng thứ 14 trong số 33 ngôi danh lam ở vùng Tây Quốc (西國) được mọi người thường đến tham bái. Tượng thờ chính là Di Lặc Bồ Tát. Suốt trong thời gian từ thời Bình An cho đến Liêm Thương, chùa đã từng đối kháng với Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), rồi cùng với Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở vùng Nam Đô, chùa còn nuôi dưỡng lớp Tăng Binh để tranh đấu với hàng võ môn, là một trong những ngôi tự viện có quyền lực mạnh nhất đương thời. Sau khi Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō) băng hà, chùa bắt đầu được dựng lên bởi vị Hoàng Tử của Hoằng Văn Thiên Hoàng (弘文, Kōbun Tennō) là Đại Hữu Dữ Đa Vương (大友與多王) cúng dường khu đất của ông. Đến năm 859 (Trinh Quán [貞觀] nguyên niên), Trí Chứng Đại Sư Viên Trân (圓珍, Enchin) tái kiến lại chùa. Có thuyết cho rằng tên gọi Tam Tỉnh Tự vốn phát xuất từ sự việc phía sau Kim Đường của chùa có một cái giếng, người ta thường dùng nước giếng này để hành lễ Tam Bộ Quán Đảnh (三部灌頂), cho nên chùa có tên như vậy. Cũng có thuyết cho rằng chính nước giếng này được dùng để tắm rửa cho ba vị Thiên Hoàng Thiên Trí (天智, Tenchi), Thiên Võ (天武, Temmu) và Trí Thống (持統, Jitō) khi vừa mới sinh ra. Chùa này ngày xưa là ngôi Biệt Viện của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), môn đồ của chùa đã từng tranh đấu với môn đồ của Viên Nhân (圓仁, Ennin) trên Tỷ Duệ Sơn; cuối cùng vào năm 993 (Chánh Lịch [正曆] 4), chùa tách riêng ra trở thành ngôi chùa tổ trung tâm. Đến cuối thời Bình An, chùa có khoảng 80 ngôi đường tháp, 600 tăng phòng; song chùa cũng đã gặp mấy lần hỏa hoạn, bị cháy tan tành. Ngôi già lam hiện tại có thể nói là kiến trúc tái kiến của mấy vị Tướng Quân nổi tiếng đời đầu của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa) là Gia Khang (家康, Ieyasu), Tú Trung (秀忠, Hidetada), v.v. Hiện tại chùa được liệt vào một trong 4 ngôi tự viện lớn nhất Nhật Bản. Một phần rất rộng lớn của chùa nằm trên núi, lấy Quan Âm Đường làm trung tâm; một phần thì nằm dưới chân núi, chủ yếu là phối trí các ngôi đường tháp. Nơi Quan Âm Đường có tôn thờ tượng Như Ý Luân Quan Âm bằng gỗ Chiên Đàn, là một trong 33 chốn linh trường của vùng Tây Quốc. Tương truyền tượng này là tác phẩm của vị Tổ khai sơn Trí Chứng Đại Sư (智証大師). Ngôi đường hiện tại là kiến trúc được xây dựng vào năm 1689. Trong núi có Kim Đường, là kiến trúc được xây dựng vào năm 1252 (Kiến Trường [建長] 4), được xếp vào hạng quốc bảo. Các ngôi Khách Đường ở Khuyến Học Viện cũng như ở Quang Tịnh Viện cũng đều là quốc bảo. Cách đó khoảng 3 cây số về phía Bắc có Tân La Thiên Thần Đường (新羅天神堂), trong đó Tu Di Đàn cũng được xếp hạng quốc bảo. ngoài ra trong khuôn viên chùa còn có Nhân Vương Môn, Tam Trùng Tháp, Lầu Chuông, Đường Viện, Kinh Đường, Nhà Ăn, Tỳ Sa Môn Đường, v.v., đều là những kiến trúc được xếp hạng tài sản văn hóa trong yếu của quốc gia, và quanh đó cũng có rất nhiều ngôi đường tháp lớn nhỏ. Nơi Kinh Tàng có lưu trữ những bản kinh tạng Cao Lệ (Triều Tiên). Bên cạnh đó, chùa còn lưu giữ vô số các bảo vật khác.
tam tịch mặc
(三寂默) Tịch mặc, Phạm: Mauneya, Mauna, Maunì. Hán âm: Mâu ni. Cũng gọi Tam tịch tĩnh. Ba vắng lặng. Tức thân vắng lặng, ngữ vắng lặng và ý vắng lặng, nghĩa là trạng thái 3 thứ phiền não của thân, ngữ, ý vắng lặng vĩnh viễn. Luận Câu xá quyển 16 nói rằng: Thân nghiệp của bậc Vô học(tức A la hán) gọi là Thân mâu ni, Ngữ nghiệp gọi là Ngữ mâu ni và Ý(tâm vương) của bậc Vô học gọi là Ý mâu ni, nhưng ý nghiệp của tâm sở Tư không được gọi là Ý mâu ni. [X. luận Tập dị môn túc Q.6; luận Đại tì bà sa Q.117; luận Thuận chính lí Q.41, Câu xá luận quang kí Q.16].
tam tịnh nhân
(三淨因) Cũng gọi Thân khí thanh tịnh tam nhân. Chỉ cho 3 nguyên nhân làm cho thân tâm thanh tịnh. Đó là: 1. Thân tâm viễn li (thân tâm xa lìa): Thân không gần bạn xấu, tâm không khởi niệm ác. 2. Hỉ túc thiểu dục(cũng gọi Thiểu dục tri túc): Ít ham muốn, biết đủ. Nghĩa là thỏa mãn với những cái mình hiện có (biết đủ), không tham cầu nhiều. 3. Tứ thánh chủng: Có tâm hỉ túc(biết đủ)đối với áo mặc, cơm ăn, chăn mền, nguyện tu Thánh đạo để đoạn trừ phiền não. Tức chỉ cho 4 Thánh chủng: Y phục hỉ túc thánh chủng, Ẩm thực hỉ túc thánh chủng, Ngọa cụ hỉ túc thánh chủng và Nhạo đoạn tu thánh chủng. Đây là 4 thứ nhân làm nảy sinh hạt giống Thánh, cho nên gọi là Thánh chủng. [X. kinh Trung a hàm Q.21; luận Câu xá Q. 22; luận Đại tì bà sa Q.181].
tam tịnh nhục
The three kinds ođ "clean" flesh - when a monk has not seen the creature killed, has not heard of its being killed for him, and has no doubt thereon.
; (三淨肉) Ba thứ thịt thanh tịnh mà người bệnh được phép ăn. Theo luận Thập tụng quyển 37, khi vị tỉ khưu bị bệnh, thầy thuốc bảo phải ăn thịt mới chữa được thì 3 trường hợp sau đây, thịt được xem là thanh tịnh và tỉ khưu được phép dùng: 1. Mắt không thấy giết: Chính mắt mình không thấy sinh vật ấy vì mình mà bị giết. 2. Tai không nghe giết: Đối với người đáng tin, không nghe nói sinh vật ấy vì mình mà bị giết. 3. Không nghi giết: Biết nơi đókhông có nhà đồ tể, hoặc sinh vật ấy đã tự chết, vì thế không còn ngờ là vì mình mà sinh vật ấy bị giết. (xt. Tam Bất Tịnh Nhục).
tam tịnh đầu
(三淨頭) Chỉ chỗ đầu giường trong Tăng đường. Chỗ này có 3 công dụng: Thứ nhất, dùng để cất ca sa, thứ hai, dùng để bình bát và thứ ba, dùng để làm gối khi ngủ(dùng đầu giường làm gối), cho nên gọi là Tam tịnh đầu.[X. điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.6; Thiền lâm tượng khí tiên Q.1 thượng].
tam tổ tự
(三祖寺) Cũng gọi Càn nguyên thiền tự, Sơn cốc tự. Chùa ở núi Thiên trụ, tỉnh An huy, Trung quốc, tương truyền do Thiền sư Bảo chí sáng lập vào thời Nam triều. Về sau, Tổ thứ 3 của Thiền tông là ngài Tăng xán đến đây, xây cất chùa viện rộng thêm, trở nên nổi tiếng cả vùng Giang nam, Giang bắc. Vào năm Đại nghiệp thứ 2 (606) đời Tùy, Tam tổ đứng mà tịch ở gốc cây trong chùa, người đời sau xây đình Lập hóa để kỉ niệm. Phía đông chùa có động Bảo công, giếng Tích trượng, suối Trác tích. Tương truyền, động Bảo công là chỗ ở của Thiền sư Bảo chí lúc sáng lập chùa, giếng và suối là do Thiền sư Bảo chí dùng tích trượng để đào. Phía tây chùa có động Thạch ngưu là nơi đọc sách của Hoàng đình kiên đời Tống. Trong chùa có tòa tháp tên là Giác tịch. Từ khi chùa được sáng lập đến nay, khách đến lễ bái không dứt, văn nhân thi sĩ thường đến thưởng ngoạn và ngâm vịnh. Trên vách chùa có ghi câu thơ của Trương đồng đời Tống: Thiền lâm thùy đệ nhất? Thử địa quán Nam châu. (Rừng thiền ai bậc nhất? Nơi này trùm châu Nam). Hiện nay chỉ còn lầu chứa kinh và vài gian phòng.
Tam Tụ
(三聚): có 4 nghĩa chính. (1) Còn gọi là Tam Định Tụ (三定聚); tức là (a) Chánh Định Tụ (正定聚), (b) Tà Định Tụ (邪定聚), (c) Bất Định Tụ (不定聚). Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 84 dạy rằng cái có thể phá được điên đảo là Chánh Định, cái không phá được điên đảo thì gọi là Tà Định; có được nhân duyên thì có thể phá được, không có nhân duyên thì không phá được, gọi là bất định. Lại theo thuyết của Thích Ma Ha Diễn Luận (釋摩訶衍論, Taishō Vol. 32, No. 1668) quyển 1 cho biết rằng 10 vị Thánh là Chánh Định Tụ, 3 vị Hiền là Bất Định Tụ, phàm phu là Tà Định Tụ. (2) Lấy ngã (我) và pháp (法) phân làm 3 loại lớn; gồm: (a) Lấy nhân duyên lìa hợp mà nói, phàm cái có đủ tánh chất của sanh diệt thì gọi là Hữu Vi Tụ (有爲聚); (b) Phàm cái không có đủ tánh chất của sanh diệt thì gọi là Vô Vi Tụ (無爲聚); (c) Quy nạp cả hai tụ này không theo nguyên tắc nào, gọi là Phi Nhị Tụ (非二聚). (3) Tất cả các pháp Hữu Vi được phân làm 3 loại: (a) Sắc Pháp (色法), chỉ cho Bốn Đại đất, nước, lửa, gió cấu thành nên vật chất; (b) Tâm Pháp (心法), tức các loại tác dụng tinh thần; (c) Không Sắc Không Tâm, đã không phải sắc pháp cũng chẳng phải tâm pháp, như trong 75 pháp do Pháp Tướng Tông lập ra, 14 pháp Bất Tương Ưng Hành (不相應行) đều thuộc về pháp của Không Sắc Không Tâm. (4) Từ gọi tắt của Tam Tụ Tịnh Giới (s: tri-vidhāni śīlāni, 三聚淨戒); chỉ cho giới pháp của Đại Thừa Bồ Tát; còn gọi là Bồ Tát Tam Tụ Giới (菩薩三聚戒), Tam Tụ Thanh Tịnh Giới (三聚清淨戒), Tam Tụ Viên Giới (三聚圓戒), Tam Tụ Giới (三聚戒). Tụ (聚) ở đây nghĩa là chủng loại. Vì ba loại giới pháp này vô cấu nhiễm, trong sạch, nhiếp hết các giới của Đại Thừa, viên dung vô ngại, nên gọi là Tam Tụ Tịnh Giới, Tam Tụ Viên Giới. Ba loại giới ấy gồm: (a) Nhiếp Luật Nghi Giới (s: saṃvara-śīla, 攝律儀戒), còn gọi là Tự Tánh Giới (自性戒), Nhất Thiết Bồ Tát Giới (一切菩薩戒), xả đoạn hết thảy các điều ác, nhiếp trọn các pháp môn dừng ác của luật nghi; là giới của 7 chúng thọ trì, tùy theo sự khác nhau về tại gia, xuất gia mà phân biệt thành 5 giới, 8 giới, 10 giới, cụ túc giới; cũng có thể tổng quy thành 3 loại là Biệt Giải Thoát Giới (別解脫戒), Định Cọng Giới (定共戒), Đạo Cọng Giới (道共戒). Hơn nữa, giới này là nhân của Pháp Thân, vì Pháp Thân vốn tự thanh tịnh; do đối với điều ác thì che giấu, nên không được lộ ra, nay lìa đoạn các điều ác, thì công thành đức hiện rõ. (2) Nhiếp Thiện Pháp Giới (s: kuśala-dharma-saṃgrāhaka-śīla, 攝善法戒), còn gọi là Thọ Thiện Pháp Giới (受善法戒), Nhiếp Trì Nhất Thiết Bồ Đề Đạo Giới (攝持一切菩提道戒), nghĩa là tu tập tất cả các pháp lành. Đây là pháp môn tu thiện, thuộc về giới luật nghi do vị Bồ Tát tu tập, lấy việc thiện của thân, miệng, ý để hối hướng vô thượng Bồ Đề, như thường siêng năng tinh tấn, cúng dường Tam Bảo, tâm không phóng dật, giữ gìn nhiếp hộ cửa các căn và thực hành Lục Độ Ba La Mật, v.v.; nếu phạm tội thì như pháp sám hối để nuôi dưỡng các pháp lành. Đây chính là nhân của Báo Thân, nhờ dừng điều ác và tu tập việc thiện, nên tạo duyên thành Báo Phật (報佛). (3) Nhiếp Chúng Sanh Giới (s: sattvārtha-kriyā-śīla, 攝眾生戒), còn gọi là Nhiêu Ích Hữu Tình Giới (饒益有情戒), Tác Chúng Sanh Ích Giới (作眾生益戒); nghĩa là lấy tâm từ bi để nhiếp thọ lợi ích chúng sanh; đây là pháp môn làm lợi lạc cho chúng sanh. Bồ Tát Địa Trì Kinh (菩薩地持經, Taishō Vol. 30, No. 1581) quyển 4 nêu ra 11 loại làm lợi lạc, gồm: (1) Các việc làm lợi ích do chúng sanh làm đều cùng làm bạn; (2) Các nỗi khổ do bệnh hoạn của chúng sanh chưa sinh khởi cũng như đã sinh khởi, và người khan bệnh, cùng làm bạn; (3) Vì chúng sanh nói các pháp thế gian, xuất thế gian, hay dùng phương tiện khiến cho họ có được trí tuệ; (4) Biết ơn và báo ơn; (5) Các loại sợ hãi của chúng sanh, thảy đều cứu giúp; (6) Thấy có chúng sanh bần cùng, khốn khổ, bèn cung cấp cho họ những thứ họ cần; (7) Đức hạnh đầy đủ, thọ trì nương tựa, như pháp mà dạy nuôi chúng; (8) Trước dùng lời an ủi, tùy thời mà đến thăm, ban cho thức ăn uống, nói những lời tốt lành của thế gian; (9) Đối với người có thật đức, thì ca tụng, vui mừng; (10) Đối với người tạo điều sai lầm, không tốt, lấy từ tâm mà trách la, phạt xử nghiêm minh, khiến họ hối lỗi, sửa đổi; (11) Lấy oai lực thần thông, thị hiện đường ác, khiến cho chúng sanh kia sợ hãi, xa lìa điều ác, vâng tu theo Phật pháp, hoan hỷ tin mừng, sanh tâm hy hữu. Ba Tu Tịnh Giới này là giới thông cả tăng lẫn tục của Đại Thừa. Tăng sĩ Đại Thừa ban đầu thọ Nhiếp Luật Nghi Giới, tức thọ 250 giới, đây gọi là biệt thọ (別受); sau lại thọ chung Ba Tu Tịnh Giới này, gọi là thông thọ (通受). Như trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1220) có đoạn: “Cầu giải thoát giả, năng chuyển Tam Độc, vi Tam Tụ Tịnh Giới, chuyển Lục Tặc vi Lục Ba La Mật, tự nhiên vĩnh ly nhất thiết chư khổ (求解脫者、能轉三毒、爲三聚淨戒、轉六賊為六波羅蜜、自然永離一切諸苦, người cầu giải thoát, có thể chuyển Ba Độc thành Ba Tụ Tịnh Giới, chuyển Sáu Tặc thành Sáu Ba La Mật, tự nhiên mãi lìa hết thảy các khổ).”
Tam tụ
三聚; C: sānjù; J: sanju;|Ba loại hội tụ, ba nhóm: 1. Chính tính định tụ (正性定聚): Nhóm sẽ theo con đường chân chính; 2. Tà tính định tụ (邪性定聚): Nhóm sẽ theo con đường tà và 3. Bất định tụ (不定聚): Nhóm sẽ theo con đường bất định.
tam tụ
The three groups, i.e. chính định tụ those decided for the truth; tà định tụ those who are decided for heresy; bất định tụ the undecided. Definitions vary in different schools.
; (三聚) I. Tam Tụ. Cũng gọi Tam định tụ. Ba tụ: Chỉ cho Chính định tụ, Tà định tụ và Bất định tụ. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 84 thì hễ phá trừ được điên đảo gọi là Chính định, không phá được điên đảo gọi là Tà định, còn gặp nhân duyên thì phá được, không gặp nhân duyên thì không phá được gọi là Bất định. Ngoài ra, theo Thích ma ha diễn luận quyển 1 thì Thập thánh là Chính định tụ, Tam hiền là Bất định tụ, Phàm phu là Tà định tụ. [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Tập dị môn túc Q.4 (xt. Tam Định Tụ). II. Tam Tụ. Ngã và Pháp được chia làm 3 loại lớn gọi là Tam tụ: 1. Hữu vi tụ: Pháp sinh diệt. 2. Vô vi tụ: Pháp không sinh không diệt.3. Phi nhị tu: Các pháp còn lại không thuộc 2 loại pháp trên. III. Tam Tụ. Ba loại pháp hữu vi. 1. Sắc pháp: Chỉ cho các vật chất được cấu tạo thành bởi 4 nguyên tố đất, nước, lửa và gió. 2. Tâm pháp: Chỉ cho các thứ tác dụng tinh thần. 3. Phi sắc phi tâm: Các pháp chẳng phải sắc chẳng phải tâm, như 14 pháp thuộc Bất tương ứng hành trong 75 pháp do tông Câu xá thành lập, đều là pháp phi sắc phi tâm. IV. Tam Tụ. Gọi đủ: Tam tụ tịnh giới. Tức là Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiếp chúng sinh giới. (xt. Tam Tụ Tịnh Giới).
tam tụ giới
Xem tam tụ tịnh giới.
tam tụ tịnh giới
Trividhani-śīlani (S).
; The three cumulative commandments: (a) nhiếp luật nghi giới the formal 5, 8, or 10, and the rest; (b) nhiếp thiện pháp giới whatever works for goodness; (c) nhiêu ích hữu tình giới whatever works for the welfare or salvation of living, sentient beings.
; (三聚淨戒) Phạm:Tri-vidhàni Zìlàni. Cũng gọi: Bồ tát tam tụ giới, Tam tụ thanh tịnh giới, Tam tụ viên giới. Gọi tắt: Tam tụ giới, Tam tụ. Chỉ cho giới pháp của Bồ tát Đại thừa. Tụ nghĩa là chủng loại. Vì 3 loại giới pháp này rất thanh tịnh, bao hàm các giới Đại thừa, viên dung vô ngại, cho nên gọi là Tam tụ tịnh giới, Tam tụ viên giới. Tức là: 1. Nhiếp luật nghi giới (Phạm: Saôvara-zìla), cũng gọi Tự tính giới, Nhất thiết bồ tát giới: Chỉ cho môn ngăn ác, bao hàm mọi luật nghi, dứt bỏ tất cả các điều ác; là giới của 7 chúng thụ trì, tùy theo tại gia, xuất gia khác nhau mà chia ra các giới điều như: 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới Cụ túc...; cũng có thể qui thành 3 loại chung là Biệt giải thoát giới, Định cộng giới và Đạo cộng giới. Lại nữa, giới này là nhân của Pháp thân, vì Pháp thân vốn tự thanh tịnh, nhưng bị điều ác che lấp nên không hiển lộ ra được; nay dứt lìa các điều ác thì thì công thành đức hiện. 2. Nhiếp thiện pháp giới (Phạm: Kuzala-dharma-saôgràhaka-zìla), cũng gọi Thụ thiện pháp giới, Nhiếp trì nhất thiết bồ tát đạo giới. Nghĩa là tu tập tất cả pháp lành. Đây là môn tu thiện, là luật nghi giới mà Bồ tát tu hành, đem các điều thiện do thân, khẩu, ý tu được hồi hướng về Vô thượng bồ đề, như thường siêng chăm tinh tiến, cúng dường Tam bảo, tâm không buông thả, giữ gìn các căn môn và thực hành 6 ba la mật..., nếu phạm lỗi thì như pháp sám trừ, nuôi lớn các thiện pháp. Đây là nhân của Báo thân, do tu thiện dứt ác nên trở thành duyên của Báo thân Phật.3. Nhiếp chúng sinh giới (Phạm: Sattvàrtha-kriyà-zìla), cũng gọi Nhiêu ích hữu tình giới, Tác chúng sinh ích giới. Nghĩa là vận dụng từ tâm nhiếp thụ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, đây là môn lợi sinh. Kinh Bồ tát địa trì nêu ra 11 thứ lợi ích như sau: -Cùng làm bạn với những việc lợi ích mà chúng sinh thực hiện. -Cùng làm bạn với các bệnh khổ của chúng sinh đã khởi hoặc chưa khởi và người khán bệnh. -Nói pháp thế gian, xuất thế gian cho các chúng sinh nghe, hoặc dùng phương tiện giúp họ đạt được trí tuệ. -Biết ân báo ân. -Chúng sinh gặp các thứ sợ hãi, đều ra tay cứuhộ. Nếu họ bị các tai nạn như mất người thân thích, tài vật thì làm cho họ hết lo buồn. -Thấy có chúng sinh nghèo cùng khốn khó thì chu cấp những vật cần dùng. -Đức hạnh đầy đủ, xứng đáng làm chỗ y chỉ, nuôi chúng đúng pháp. -Trước nói lời an úy, tùy thời qua lại, cấp cho thức ăn uống, nói các lời tốt lành, tới lui thăm viếng... -Đối với những người có thực đức, tâm vui vẻ khen ngợi. -Đối với người có lỗi xấu, dùng từ tâm quở trách, chiết phục xử phạt, khiến họ hối cải. -Dùng sức thần thông, thị hiện đường ác, khiến chúng sinh sợ hãi các điều ác, tu theo Phật pháp, vui mừng tin ưa, sinh tâm hiếm có. Tam tụ định giới này là giới chung của tăng, tục Đại thừa thực hành, nhưng chúng tăng Đại thừa trước hết thụ Nhiếp luật nghi giới, tức thụ 250 giới, đây gọi là Biệt thụ; sau đó lại thụ chung Tam tụ tịnh giới, gọi là Thông thụ. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.3; kinh Giải thâm mật Q.4; luận Du già sư địa Q.41; Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ Q.1 (Pháp tạng)].
tam tức nhất
The three vehicles (Hìnayàna, Madhyamayàna, Mahàyàna) are one, i.e. the three lead to bodhisattvaship and Buddhahood for all.
tam tử
The three sons, one filial, wise, and competent; one unfilial but clever and competent; one unfilial, stupid and incompetent; types respectively of bodhisattvas bồ tát, sràvakas thanh văn and icchantikas nhất xiển đề.
; (三子) Chỉ cho ba người con. Tức ví dụ cho 3 loại căn cơ: Bồ tát, Thanh văn và Nhất xiển đề giống như 3 người con có bản tính khác nhau. Điển tích này có xuất xứ từ kinh Đại bát niết bàn quyển 33 (bản Bắc) nói rằng: Trong 3 người con, người con thứ nhất có tâm tín thuận, cung kính cha mẹ, lợi căn trí tuệ, đối với các việc thế gian rõ biết nhanh chóng; người con thứ 2 không có tâm tín thuận, không cung kính cha mẹ, nhưng cũng lợi căn thông minh và đối với các việc thế gian cũng hiểu biết mau chóng; còn người thứ 3 thì đã không có tâm tín thuận, không kính cha mẹ lại ngu si vô trí. Ở đây, người con thứ nhất ví dụ cho Bồ tát, người con thứ 2 ví dụ cho Thanh văn và người con thứ 3 thí dụ cho Xiển đề. Trong Hóa giáo của tông Thiên thai thì vào thời Hoa nghiêm đầu tiên hóa đạo Bồ tát, kế đến là làm lợi ích cho hàng Thanh văn, cuối cùng đến thời Niết bàn mới mở đường tiếp hóa Xiển đề.Cũng kinh Đại bát niết bàn quyển 33 (bản Bắc) còn có các thí dụ như: Tam điền, Tam mã, Tam khí, Tam bệnh nhân... dùng để nói lên sự khác biệt giữa 3 căn cơ Bồ tát, Thanh văn và Nhất Xiển đề. [X. kinh Tạp a hàm Q.32, 33; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, thượng, Niết bàn kinh hội sớ Q.31].
tam tự
Three divisions of the eight-fold noble path, the first to the third tự điều self-control, the fourth and fifth tự tịnh self-purification, the last three tự độ self-development in the religious life and in wisdom. Also tự thể, tự tướng, tự dụng, substance, form and function.
; (三自) I. Tam Tự. Chỉ cho 3 tự là Tự điều, Tự tịnh và Tự độ.Luận Đại trí độ quyển 81 chia Bát chính đạo làm 3 loại là: 1. Tự điều: Chỉ cho Chính ngữ, Chính nghiệp và Chính mệnh thuộc về trì giới. 2. Tự tịnh: Chỉ cho Chính niệm và Chính định thuộc về tu thiền. 3.Tự độ: Chỉ cho Chính kiến, Chính tư và Chính tinh tiến thuộc về trí tuệ. II. Tam Tự. Gọi đủ: Tam tự nhất tâm ma ha diễn pháp. (xt. Tam Tự Nhất Tâm Ma Ha Diễn Pháp)
tam tự nhất tâm ma ha diễn pháp
(三自一心摩呵衍法) Gọi tắt: Tam tự. Chỉ cho tâm tuyệt đối duy nhất có đủ Thể, Tướng, Dụng, cũng tức là Nhất tâm nói trong luận Đại thừa khởi tín. [X. luận Biện Hiển Mật nhị giáo Q.thượng].
tam tự thiền
(三字禪) Cũng gọi Vân môn tam tự thiền. Tên công án trong Thiền tông. Thiền ba chữ, tức chỉ cho 3 chữ Cố, Giám, Di của Thiền sư Vân môn Văn yển thường dùng để tiếp hóa người học. Cố nghĩa là tự mình phàn tỉnh; Giám nghĩa là tự xem xét, răn giữ mình; còn Di nghĩa là lãnh hội được ý chỉ sâu xa, kín nhiệm mà ngôn ngữ, ý thức không thể đạt tới, tức chỉ cho cảnh giới an nhiên tự tại, siêu vượt tất cả các pháp tương đối. [X. Bích nham lục tắc 6, Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.32].
tam tự tính
Gồm: - biến kế sở chấp tự tính - y tha khởi tự tính - viên thành thực tự tính.
tam tự tính tướng
Pariniśpana (S), Svabhāva-lakṣaṇatraya (S), Pariniśpana (S)Gồm: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính, Viên thành thực tính.
; Svabhàva-laksana-traya (S). The three forms of knowledge biến y viên tam tính the three aspects of the nature of a thing -biến kế sở chấp tính parikalpita, partial, as when a rope is mistaken for a snake; y tha khởi tính paratantra, only partly reliable, i.e. incomplete inference, as when it is considered as mere hemp; viên thành thật tính parinispanna, all round, or perfect when content, form, etc., are all considered.
tam uẩn
The three kinds of skandhas, aggregations, or combinations, into which all life may be expressed according to the Hóa Địa Bộ or Mahìsàsakàh school: nhất niệm uẩn combintion for a moment, momentary existence; nhất kỳ uẩn combination for a period, e.g. a single human life ; cùng sinh tử uẩn the total existence of all beings.
; (三蘊) Ba uẩn. Hóa địa bộ của Tiểu thừa chia vạn pháp thành 3 loại, gọi là Tam uẩn: 1. Nhất niệm uẩn: Chỉ cho các pháp sinh diệt trong sát na. 2. Nhất kì uẩn: Chỉ cho các pháp nối tiếp nhau trong khoảng thời gian từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, như 5 căn... của con người. 3. Cùng sinh tử uẩn: Chỉ cho pháp tiếp tục trong thời gian từ khi hết sinh tử cho đến lúc được Kim cương dụ định.
tam viên mãn
(三圓滿) Chỉ cho 3 pháp tròn đầy nói trong luận Du già sư địa quyển 85, đó là:1. Hành viên mãn: Lắng nghe chính pháp rồi theo đúng chính pháp mà tu hành, lại vì người khác mà diễn nói chính pháp làm cho việc tự lợi lợi tha được viên mãn.2. Quả viên mãn: Do tu hành mà chứng được quả Niết bàn, thành tựu viên mãn. 3. Sư viên mãn: Tức bậc thầy dùng giáo pháp của Phật để dạy răn ta, làm cho tất cả phạm hạnh của ta được viên mãn.
tam vô gián nghiệp
(三無間業) Chỉ cho 3 thứ nghiệp cực ác chiêu cảm quả địa ngục Vô gián, đó là giết cha, giết mẹ và giết A la hán. [X. Chính pháp nhãn tạng biệt lập tam thời nghiệp].
Tam vô lậu căn
三無漏根; C: sān wúlòugēn; J: san murō-kon;|Ba căn cơ không bị ô nhiễm: 1. Hiểu được nguyên tắc của Tứ đế (四諦) mà trước đó chưa hề biết; 2. Nghiên cứu thực hiện Tứ đế để tiêu diệt phiền não; 3. Biết là mình đã chứng ngộ được tứ đế (theo Câu-xá luận 倶舎論).
tam vô lậu căn
(三無漏根) Phạm: Trìny anàsravendriyàịi. Gọi tắt: Tam căn. Chỉ cho 3 căn vô lậusau trong 22 căn. Ba căn vô lậu này do lấy 9 căn là ý, lạc, hỉ, xả, tín, cần, niệm, định và tuệ làm thể mà được lập ra, vì 3 căn vô lậu này có lực dụng tăng thượng, không nhiễm ô, không khởi phiền não, có công năng sinh ra Thánh pháp thanh tịnh vô lậu, nên gọi là Căn. Đó là: 1. Vị tri đương tri căn (Phạm: Anàjĩàtàjĩàsyàmìndriya), cũng gọi Vị tri dục tri căn. Căn cơ thuộc giai vị Kiến đạo. Người ở giai vị này từ vô thủy đến nay chưa từng nghe chân lí Tứ đế, vì muốn biết đế lí chân như ấy, liền tu tập giải hành của Địa tiền phương tiện, nên gọi là Vị tri dục tri căn(căn chưa biết muốn biết). 2. Dĩ tri căn(Phạm:Àjĩendriya), cũng gọi Tri căn. Căn cơ thuộc giai vị Tu đạo. Người ở giai vị này đã biết chân lí Tứ đế, đồng thời đã đoạn trừ các hoặc mê lí, nhưng vì muốn đoạn trừ cáchoặcmê sự, nên tiến tới quán lí Tứ đế, biết rõ cảnh Tứ đế, nên gọi là Dĩ tri căn (Căn đã biết). 3. Cụ tri căn (Phạm:Àjĩàtàvìndriya), cũng gọi Tri dĩ căn, Vô tri căn. Căn cơ thuộc địa vị Vô học. Người ở địa vị này đã biết suốt lí Tứ đế một cách đầy đủ, vì đã dứt hết các phiền não, tất cả việc cần làm đã làm xong, nên gọi là Cụ tri căn (Căn biết đầy đủ). Người ở địa vị Vô học này đã được Tận trí và Vô sinh trí. [X. luận Câu xá Q.3; luận Du già sư địa Q.57; luận Phát trí Q.14; luận Thuận chính lí Q.9; Du già luận kí Q.16, thượng].
tam vô lậu học
The three studies, or endeavours, after the passionless life and escape from transmigration: (a) Giới moral discipline; (b) Định meditation, or trance; (c) Tuệ the resulting wisdom.
; (三無漏學) Chỉ cho Giới, Định, Tuệ là Tam học vô lậu của bậc Thánh. Kinh Lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 131 hạ) nói: Nhiếp tâm là giới, nhân giới sinh định, do định phát tuệ, cho nên gọi là Tam vô lậu học.
tam vô minh
(三無明) Ba thứ vô minh của phàm phu nói trong kinh Phật thuyết quyết định nghĩa. 1. Si vô minh: Phàm phu ngu si ám độn, chẳng hiểu biết gì, đối với chính pháp không tin, chỉ theo tà sư tà giáo, vọng chấp điên đảo nên gọi Si vô minh. 2. Mê vô minh: Phàm phu hôn mê không rõ, bị quyến rũ bởi các cảnh như 5 trần, không xem xét cái hại của chúng, lại khởi tâm tham đắm, nhiễm trước. 3. Điên vô minh: Phàm phu không rõ biết, đối với chính pháp khởi lên cái thấy tà đảo, thường cho là vô thường, vui chấp là chẳng vui, nên gọi là Điên vô minh.
tam vô ngã
(三無我) Chỉ cho 3 thứ Vô ngã do tông Pháp tướng dựa theo 3 tính Biến kế, Y tha và Viên thành mà lập ra. Đó là: 1. Vô tướng vô ngã: Cái thực ngã, thực pháp của tính Biến kế sở chấp là tình có lí không; thể tướng của cái ngã ấy vốn không, cho nên gọi là Vô tướng. 2. Dị tướng vô ngã: Các pháp của tính Y tha khởi là do nhân duyên sinh ra, thể tướng là vô ngã; nhưng tướng này chẳng phải hoàn toàn là không, mà chỉ khác với ngã tướng của tính Biến kế sở chấp, cho nên gọi là Dị tướng. 3. Tự tướng vô ngã: Tính Viên thành thực lấy chân như do vô ngã hiện bày làm tướng, vì thế gọi là Tự tướng vô ngã. [X. luận Biện trung biên Q.trung; luận Thành duy thức Q.8].
tam vô ngại
(三無礙) Chỉ cho 3 thứ vô ngại của Bồ tát nói trong kinh Đại bảo tích quyển 14, đó là: 1. Tổng trì vô ngại: Bồ tát được đại tổng trì, đối với các thiện pháp giữ gìn không mất, đối với các pháp ác nắm giữ không để sinh ra, vì thế tất cả ngôn ngữ, các pháp phân biệt đều biết, đều không quên mất, không có điều gì trở ngại. 2. Biện tài vô ngại: Bồ tát được đại biện tài, đối với các pháp Đại, Tiểu thừa, có các khả năng tùy theo căn cơ chúng sinh mà tự tại tuyên giảng, thảy đều thông suốt, không bị ngăn ngại. 3. Đạo pháp vô ngại: Bồ tát được đại trí tuệ, đối với tất cả đạo pháp Đại thừa, Tiểu thừa và các loại ngôn ngữ văn tự của thế gian, thảy đều thông suốt, không hề bị trở ngại.
tam vô sai biệt
The three that are without (essential) difference, i.e. are of the same nature: (a) Tâm the nature of mind is the same in Buddhas and men, and all the living; (b) Phật the nature and enlightenment of all Buddhas is the same; (c) Chúng sinh the nature and enlightenment of all the living is the same.
; (三無差別) Cũng gọi Tam pháp vô sai, Tam tam bình đẳng quán. Chỉ cho 3 thứ tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau. 1. Tâm vô sai biệt: Tâm thể của một niệm phàm, thánh không hai, đầy đủ pháp 10 giới, 10 như thị, cùng với tính của chư Phật và chúng sinh không sai khác nhau. 2. Phật vô sai biệt: Chư Phật trong 10 phương do liễu ngộ pháp 10 giới, 10 như thị mà thành Chính giác, tức là ngộ cái sẵn có của bản tâm, ngộ chỗ mê của chúng sinh; mê ngộ tuy khác, nhưng thể thì không sai biệt.3. Chúng sinh vô sai biệt: Chúng sinh trong 9 cõi đều có đầy đủ pháp 10 giới, 10 như thị, chỗ ngộ của chư Phật và cái sẵn có của bản tâm thể không khác nhau. Mật giáo thì cho tam mật Ngã, Phật và Chúng sinh là trông nhau, nên quán Tam tam bình đẳng không sai khác, gọi là Tam tam bình đẳng quán. Ngoài ra, Phật pháp tăng, thân ngữ ý cũng là Tam pháp bình đẳng; 1mà vô lượng, vô lượng mà 1, rốt cuộc không tạp loạn và cũng là Tam pháp vô sai biệt. (xt. Tam Bình Đảng Quán).
tam vô sanh nhẫn
(三無生忍) Ba thứ Vô sinh nhẫn do tông Pháp tướng dựa theo 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực mà thành lập, đó là: 1. Bản tính vô sinh nhẫn(cũng gọi Bản lai vô sinh nhẫn): Bồ tát quán xét thể tính của Biến kế sở chấp đều là không. 2. Tự nhiên vô sinh nhẫn: Bồ tát quán xét các pháp của Y tha đều do nhân duyên sinh. 3. Hoặc khổ vô sinh nhẫn (cũng gọi Phiền não khổ cấu vô sinh nhẫn): Bồ tát chứng biết thực tính của các pháp là chân như pháp tính, an trụ trong vô vi, không tương ứng với tất cả tạp nhiễm mà vốn tự vắng lặng.Theo luận Hiển dương thánh giáo thì Tam vô sinh nhẫn này ở địa vị Bất thoái (tức Sơ địa trở lên), khi chứng Tam tính thì được Tam nhẫn này. [X. luận Du già sư địa Q.23; luận Thành duy thức Q.8, luận Hiển dương thánh giáo Q.6].
Tam vô số đại kiếp
三無數大劫; C: sānwúshǔdàjié; J: sanmushudaikō;|Ba kiếp lớn vô số kể, Tam a-tăng-kì kiếp (三阿僧祇劫).
tam vô thường
(三無常) Ba thứ vô thường. Vô thường nghĩa là các pháp sinh diệt đổi dời, không có thể tính cố định và có thể trình bày qua 3 phương diện. Theo luận Thuận trung quyển hạ của ngài Long thụ thì 3 thứ vô thường là: 1. Niệm niệm hoại diệt vô thường: Khi căn(chủ quan) và trần(khách quan) đối nhau thì tâm niệm dấy lên, niệm trước diệt niệm sau sinh, cứ thế niệm niệm nối nhau không dừng, đó đều là vô thường. 2. Hòa hợp li tán vô thường: Các pháp vốn không có thực thể nhất định, chỉ tùy thuộc nhân duyên (điều kiện): Nhân duyên hòa hợp thì sinh, nhân duyên lìa tan thì diệt.3. Tất cánh như thị vô thường: Các pháp do nhân duyên hòa hợp mà sinh, hư giả chẳng thật, rốt cuộc trở về hoại diệt.Ngoài ra, Đại thừa nghĩa chương quyển 2 và quyển 18 cũng nêu ra 3 thứ vô thường, tên gọi tuy khác nhưng ý nghĩa thì đại khái giống với 3 thứ vô thường trên, đó là: 1. Phần đoạn vô thường: Tương đương với Hòa hợp li tán vô thường. 2. Niệm vô thường: Tương đương với Niệm niệm hoại diệt vô thường. 3. Tự tính bất thành vô thường: Tương đương với Tất cánh như thị vô thường. Theo tông Pháp tướng, sự vô thường của Khổ đế có đủ 3 tính nên thành lập 3 thứ vô thường sau đây: 1. Vô tính vô thường(cũng gọi Vô vật vô thường): Biến kế sở chấp thường không có thể tính, cho nên là vô tính. 2. Khởi tận vô thường(cũng gọi Sinh diệt vô thường): Các pháp nương vào vật khác (y tha) mà khởi là do nhân duyên sinh ra, cho nên tùy theo nhân duyên mà khởi, sinh diệt không thôi. 3. Cấu tịnh vô thường(cũng gọi Hữu cấu vô cấu vô thường): Chân như của tính Viên thành thực không có cấu tịnh, nếu ở trong vị sinh tử thì là Hữu cấu chân như; dứt hết sinh tử thì gọi là Vô cấu chân như.[X. luận Biện trung biên Q.trung; luận Thành duy thức Q.8; luận Trung biên phân biệt Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu].
tam vô tánh
(三無性) Phạm:Trividhà ni#svabhàvatà. Cũng gọi Tam chủng vô tự tính, Tam vô tự tính, Tam chủng vô tính. Ba thứ Vô tính đối lại với 3 pháp hữu tính do tông Pháp tướng thành lập. Tức khi luận cứu về 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực thì thấy chúng đều không có tự tính, nên mới thành lập thuyết Tam vô tính. Đó là: 1. Tướng vô tính (Phạm: Lakwaịani#svabhàvatà), cũng gọi Tướng vô tự tính tính. Đối với tính Biến kế sở chấp mà lập ra tính này. Bởi vì tính Biến kế sở chấp vốn là cái tình có lí không, nghĩa là về mặt mê tình tuy có, nhưng chẳng qua chỉ là giả tướng hiện ra ngay lúc ấy, ví như hoa đốm trong hư không, đứng về phương diện lí mà nói thì thể và tướng đều không có, nên gọi là Tướng vô tính. 2. Sinh vô tính (Phạm: Utpattini#svabhàvatà), cũng gọi Sinh vô tự tính tính. Đối với tính Y tha khởi mà lập ra tính này. Bởi vì các pháp y tha là nhờ nhiều duyên mà sinh, không có thực tính nhất định, ví như việc ảo thuật, nên gọi là Sinh vô tính. 3. Thắng nghĩa vô tính (Phạm: Pramàrtha-ni#svabhàvatà), cũng gọi Thắng nghĩa vô tự tính tính, Vô chân tính, Đệ nhất nghĩa đế vô tự thể tướng. Đối lại với tính Viên thành thực mà lập ra tính này. Chân như là chân lí thù thắng, cũng là đối cảnh của trí căn bản vô phân biệt, vì thế gọi là Thắng nghĩa. Do xa lìa tính Ngã pháp của Biến kế sở chấp ở trước mà giả nói là vô tính chứ chẳng phải hoàn toàn vô tính. Đây chính là chân như, cũng chính là thực tính Duy thức. Nhưng Tam vô tính này được coi là mật ý thuyết chứ chẳng phải liễu nghĩa, vì tính của 2 tự tính sau trong 3 tự tính chẳng phải là không; ở đây tạm nói nó là vô tính để bác bỏ cái thực tính do người thế tục chấp trước. [X.phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật Q.2, luận Du già sư địa Q.73, 74; luận Hiển dương thánh giáo Q.16; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Tam vô tính]. (xt. Tam Tính).
tam vô tánh luận
(三無性論) Phạm: Try-asvabhàva-prakaraịa. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung sách này trước nói về lí do tạo luận, tức giải thuyết ý nghĩa Tam vô tính để nêu tỏ lí pháp không, kế đến trình bày sự khác nhau về công dụng của tính Biến kế sở chấp, cái lí thành lập tính Y tha khởi và thể tướng của nó, về 7 thứ chân như, 4 loại đạo, 2 loại chuyển y... Về tác giả của sách này thì có thuyết cho là ngài Thế thân, lại có thuyết cho là ngài Vô trước, đến nay chưa xác định được. [X. Giải thâm mật kinh sớ; Duyệt tạng tri tân Q.37; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
Tam vô tính
三無性; C: sān wúxìng; J: sanmushō;|Ba loại vô tính. Đối nghịch với Tam tính (Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thật tính), Ba loại vô tính này được kiến lập trên cơ sở các pháp đều không có một cơ sở tự tồn. 1. Tướng vô tính (相無性): Các tướng, các trình hiện, những gì thấy được đều không thật, ví như một sợi dây thừng trông giống như một con rắn; 2. Sinh vô tính (生無性): Sinh thành, tồn tại không có một cơ sở tự tồn nào. Sinh thành trình hiện tuỳ nhân duyên, và sự tồn tại của nó chỉ tạm thời; 3. Thắng nghĩa vô tính (勝義無性): Sự thật tối thượng cũng vô tính.
tam vô tính
The three things without a nature or separate existence of their own: (a) Tướng vô tính form, appearance or seeming, is unreal, i.e. a rope appearing like a snake; (b) Sinh vô tính life ditto, for it is like the rope, which is derived from constituent materials; (c) Thắng nghĩa vô tính the thắng nghĩa, concept of the chân như or bhùtatathatà is unreal, e.g. the hem of which the rope is made; the bhùtatathatà is perfect and eternal. Every representation of it is abstract and unreal.The three are also known as tướng vô tính, vô tự nhiên tính, pháp vô tính.
Tam vô tính luận
三無性論; C: sānwúxìng lùn; J: sanmushō ron;|Luận nói về thuyết Tam vô tính, được Chân Đế dịch sang Hán văn, gồm hai quyển. Tác phẩm này đặc biệt chú trọng đến thuyết Tam vô tính trong hệ thống Du-già hành. Tác giả được xem là Vô Trước (無著) hoặc Thế Thân (世親).
tam vô tận trang nghiêm tạng
The treasury of the three inexhaustible adornments or glories i.e. the thân, khẩu, ý deeds, words, and thoughts of a Buddha.
Tam vô vi
xem Ba pháp vô vi.
tam vô vi
(三無爲) Phạm: Tri-saôskfta. Chỉ cho 3 pháp vô vi: Hư không, Trạch diệt và Phi trạch diệt theo sự phân loại của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Pháp vô vi tức là lí chân không vắng lặng, vốn không tạo tác. Tam vô vi là: 1. Hư không vô vi (Phạm: Àkàzàsaôskfta): Hư không tức vô ngại, nghĩa là lí chân không không bị các hoặc nghiệp ô nhiễm làm chướng ngại, lấy vô ngại làm tính, dung nạp muôn vật và trùm khắp tất cả chỗ. 2. Trạch diệt vô vi (Phạm: Pratisaôkhyà-nirodhàsaôskfta): Hàng Thanh văn dùng trí để lựa chọn hầu xa lìa sự trói buộc của Kiến, Tư hoặc, chứng lí tịch diệt chân không. 3. Phi trạch diệt vô vi (Phạm: Apratisaôkhyà-nirodhàsaôskfta): Hàng Thanh văn sau khi chứng quả thì các hoặc chướng không còn tiếp tục sinh khởi nữa, nên tự nhiên khế ngộ lí tịch diệt chân không mà không cần đến sức lựa chọn. [X. luận Câu xá Q.1; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại tì bà sa Q.32; luận Di bộ tông luận; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ]. (xt. Phi Trạch Diệt Vô Vi, Hư Không Vô Vi, Trạch Diệt).
tam võ (vũ)
The three emperors Vũ who persecuted Buddhism Thái Vũ of Ngụy dynasty A.D. 424-452; Vũ đế of the Chu A.D. 561-578; Vũ tông of Đường A.D. 841-7.
tam vũ nhất tông pháp nan
(三武一宗法難) Chỉ cho 4 lần pháp nạn nghiêm trọng nhất trong lịch sử Phật giáo Trung quốc do các Hoàng đế gây ra. Đó là: 1. Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy: Vua nghe theo lời của quan Tư đồ Thôi hạo và Đạo sĩ Khấu khiêm chi mà áp bức Phật giáo. Năm Thái bình chân quân thứ 7 (446), các sa môn ở thành Trường an bị giết sạch, tất cả kinh sách và tranh tượng Phật đều bị phá hoại, Phật giáo ở Bắc Ngụy lúc đó bị hủy diệt hoàn toàn. Đến khi vua Văn thành đế phục hưng, Phật giáo mới khôi phục địa vị. 2. Vũ đế nhà Bắc Chu: Vua nghe lời của các đạo sĩ Trương tân và Vệ nguyên tung, có ý muốn phế bỏ Phật giáo. Bấy giờ có các ngài Chân loan, Đạo an, Tăng miến, Tĩnh ái... đứng ra bênh vực Phật giáo. Năm Kiến đức thứ 2 (573), vua ra lệnh phế bỏ Phật giáo và Đạo giáo, hủy hoại kinh điển và tượng Phật, đồng thời, bắt sa môn, đạo sĩ phải hoàn tục, chỉ chọn 120 vịdanh đức để lại ở Thông đạo quán. Năm Kiến đức thứ 6 (577), Bắc Chu diệt Bắc Tề, lúc ấy tuy cóngàiTuệ viễn nhiều lần biện hộ, nhưng Vũ đế vẫn thi hành chính sách bài Phật ở đất Bắc tề. Năm sau, vua băng, Phật giáo và Đạo giáo mới được phục hưng. 3. Vũ tông nhà Đường: Vua nghe theo lời nhóm người chủ trương chính sách bài Phật, đứng đầu là Tể tướng Lý đức dụ, vào năm Hội xương thứ 5(845), vua ban lệnh chỉ giữ lại một số chùa và 30 vị tăng, còn lại bao nhiêu chùa viện đều bị phá bỏ và tăng ni phải hoàn tục, các tượng Phật và chuông, khánh bằng đồng được dùng vào việc đúc thành tiền và các công cụ... lịch sử gọi biến cố này là Hội Xương Pháp Nạn. Năm sau, Vũ đế băng, Vũ tông lên ngôi, lại cho phục hưng Phật pháp. 4. Thế tông nhà Hậu Chu: Năm Hiển đức thứ 2 (955), vua thi hành chính sách bài Phật, hạ lệnh phá bỏ 3 vạn 336 ngôi chùa viện, (Phật tổ thống kỉ ghi là 3336 ngôi), tịch thu các tượng Phật, chuông, khánh và tất cả pháp khí bằng đồng để đúc tiền, còn bằng các chất liệu khác thì đập phá hết! Thời ấy, ở Trấn châu có pho tượng Quan âm bằng đồng rất linh ứng, cho nên dù có lệnh của vua cũng không ai dám đến gần. Vua nghe tin, đích thân đến chùa này, dùng búa chém vào mặt và ngực tượng đồng, những người đứng xem đều run sợ. Năm Hiển đức thứ 6 (959), trên đường đi chinh phạt miền Bắc, vua phát bệnh nhọt ở ngực và chết. Về sau, vua Thái tổ nhà Tống thống nhất đất nước, ban sắc xây dựng lại các chùa, đúc tạo các tượng, Phật giáo bắt đầu được khôi phục. Trong 4 lần pháp nạn nói trên, nguyên nhân của 2 lần trước chủ yếu là về tư tưởng, còn 2 lần sau là vì lý do kinh tế. Phật tổ thống kỉ quyển 42 của ngài Chí bàn đời Tống gọi đó là Tứ Đại Pháp Nạn, hoặc Tam Vũ Nhất Tông Chi Nạn; còn luận Hộ pháp của Thừa tướng Trương thương anh đời Tống thì nói (Đại 52, 640 trung): Đời trước tuy có 3 vua Vũ nghe lời tâu của các quan tà ác mà quyết chí diệt Phật pháp, nhưng sau khi phế bỏ lại càng hưng thịnh hơn, giống như vạn vật lại càng xanh tốt sau cơn mưa gió. [X. Tống cao tăng truyện Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.2, 3, 4; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3; Cổ kim Phật đạo luận hành Q.1; Ngụy thư thích lão chí 20; Bắc sử Q.2; Bắc chu thư Q.5; Cựu đường thư Q.18].
Tam vật
三物; J: sanmotsu;|Chỉ ba vật mà một vị Lão sư nhận được từ Bản sư của mình sau một thời gian hoằng hoá đạt kết quả tốt đẹp. Ai chính thức được công nhận là Chính sư (j: shōshi) và đã hướng dẫn những người khác trên thiền đạo với kết quả tốt đẹp, người ấy sẽ được trao tam vật trong một buổi lễ. Thời xưa, tiêu chuẩn để được trao tam vật được đặt rất cao, rất nghiêm ngặt.|Trong buổi lễ này, pháp danh của vị được trao tam vật được ghi bằng ba cách khác nhau trên ba tấm giấy (vì vậy mà có tên là tam vật, kích thước khoảng 30x100 cm) và trên ba tấm giấy này, hệ thống truyền thừa từ Phật Thích-ca đến người được truyền trao tam vật được ghi lại.
tam vị
The three flavours, or pleasant savours: the monastic life, reading the scriptures, meditation
tam vọng chấp
(三妄執) Cũng gọi Tam kiếp vọng chấp, Tam kiếp hoặc. Gọi tắt: Tam vọng, Tam chấp, Tam kiếp.Chỉ cho 3 thứ phiền não thô, tế và cực tế do Mật giáo thành lập mà người tu hành từ lúc phát tâm ra khỏi thế gian đến khi thành tựu quả vị Phật phải vượt qua. 1. Thô vọng chấp(cũng gọi Kiếp sơ chi hoặc): Vọng tâm chấp trước các pháp ngoài tâm là cóthật, rồi nương vào tâm này mà chấp thân người do 5 uẩn hòa hợp là có thật, do sinh ra cái thấy mình, người khác nhau. 2. Tế vọng chấp(cũng gọi Nhị kiếp chi hoặc): Vọng tâm chấp trước pháp 5 uẩn có thực tính, 2 pháp sinh tử và niết bàn là có thật.3. Cực tế vọng chấp(cũng gọi Tam kiếp chi hoặc): Tức vô minh hoặc, là vọng tâm chấp trước tất cả pháp có năng, có sở và trái với pháp giới bình đẳng. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 2, nếu lấy tâm bồ đề thanh tịnh làm tâm xuất li thế gian thì 3 vọng chấp vượt thế gian là chỉ cho sự tu hành trong 3 kiếp, tức từ lúc phát tâm bồ đề cho đến khi thành tựu Chính giác phải trải qua 3 a tăng kì kiếp: Kiếp thứ nhất vượt qua lớp Thô vọng chấp (160 tâm), kiếp thứ 2 vượt qua lớp Tế vọng chấp(cũng 160 tâm), kiếp thứ 3 vượt qua lớp Cực tế vọng chấp mới đạt được Phật tuệ. Tuy nhiên, nếu chỉ trong 1 đời vượt qua 3 vọng chấp, thì trong 1 đời được thành Phật.Bí tạng kí thì ngoài 3 vọng chấp nói trên, còn lập riêng Vi tế vọng chấp thì do Phật địa đoạn trừ, thuyết này khác với thuyết của Đại nhật kinh sớ. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ sao Q.1; Đại nhật kinh chỉ tâm sao Q.1; Đại kinh yếu nghĩa sao Q.3; Chân ngôn danh mục].
Tam xa
三車; C: sānchē; J: sansha;|»Ba cỗ xe«. Một ẩn dụ trong kinh Pháp Hoa, câu chuyện »căn nhà cháy«, cụ thể như sau: Một vài đứa trẻ đang chơi trong nhà, mà không ngờ nó căn nhà đang cháy. Bố của chúng dụ chúng ra khỏi nhà bằng cách nói bên ngoài có ba chiếc xe, một chiếc xe kéo bởi con dê, một chiếc thứ hai được kéo bởi con hưu và chiếc thứ ba được kéo bởi con bò. Và khi những đứa trẻ ra khỏi nhà, chúng chỉ thấy tất cả chỉ là một chiếc xe bò trắng. Ba cỗ xe này là ví dụ cho Tam thừa: Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát thừa. Câu chuyện này được đề ra để giảng giải rằng, mặc dù có Đại thừa Tiểu thừa trong giáo lí nhà Phật, nhưng chung quy thì tất cả những phương tiện đều dẫn đến giác ngộ như nhau. Căn nhà cháy tượng trưng cho biển sinh tử luân hồi, bị vây phủ bởi phiền não vô minh. Những đứa trẻ là hành giả của Tam thừa. Cỗ xe kéo bởi con dê tượng trưng cho Thanh văn thừa, xe với con hưu là Duyên Giác thừa và xe bò tượng trưng cho Bồ Tát thừa. Và khi bọn trẻ ra khỏi nhà thì những cỗ xe bò trắng giống nhau đã được chuẩn bị để trao cho chúng. Đây là những ẩn dụ chỉ lòng đại từ đại bi của đức Phật khi ngài gạt bỏ những phương tiện tam thời, dẫn dắt chúng sinh trở về một Phật thừa duy nhất. Các đại biểu Phật giáo Trung Quốc được chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất với quan điểm xe bò trước khi nhóm trẻ thơ ra khỏi nhà và xe bò trắng to (như vậy là xe thứ tư) là một (và như vậy thì chỉ có ba cỗ xe). Thuộc vào nhóm này là tông Pháp tướng và tông Tam luận. Nhóm thứ hai, với tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai là đại biểu, quan niệm rằng, cỗ xe trắng lớn sau này khác cỗ xe bò trước đây. Như vậy thì »Tam thừa gia« quan niệm Bồ Tát thừa và Phật thừa như nhau, trong khi »Tứ thừa gia« lại quan niệm chúng khác nhau.
tam xa
Triyàna (S). The three vehicles across samsàra into nirvàna, i.e. the cart offered by the father in the Lotus Sùtra to lure his children out of the burning house: (a) goat carts, representing srràvakas; (b) deer carts, pratyeka-buddha; (c) bullock carts, bodhisattvas.
tam xa tứ xa
(三車四車) Ba xe 4 xe. Xe có thể chuyên chở các vật, ví dụ Phật pháp hóa độ chúng sinh đưa đến Niết bàn. Ba xe chỉ cho xe dê, xe nai và xe bò, nếu thêm xe trâu trắng lớn nữathìlà 4 xe. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa có ví dụ Hỏa trạch tam xa (nhà lửa 3 xe): 1. Xe dê: Xe do dê kéo, ví dụ hàng Thanh văn tu hành Tứ đế, cầu ra khỏi 3 cõi (nhà lửa), nhưng chỉ muốn độ lấy mình chứ không nghĩ đến người khác, như con dê chạy không bao giờ ngoái cổ lại nhìn đàn dê ở phía sau 2. Xe nai: Xe do nai kéo, ví dụ hàng Duyên giác tu 12 nhân duyên cầu ra khỏi 3 cõi, hơi có lòng vị tha, như con nai khi chạy thỉnh thoảng ngó lại nhìn đàn phía sau.3. Xe bò: Xe do bò kéo, ví dụ hàng Bồ tát Tam tạng giáo tu hành Lục độ, nhưng muốn độ người ra khỏi 3 cõi chứ không muốn độ mình, như bò chở vật, chịu khó vận chuyển tất cả. Ngoài ra còn dùng xe trâu trắng lớn kéo ví dụ Nhất Phật thừa. Về sự giải thích Tam xa tứ xa thì xưa nay có 2 phái lớn: Phái thứ nhất coi xe bò biểu thị Bồ tát thừa và xe trâu trắng lớn biểu thị Phật thừa là một, phái này gồm tông Tam luận, tông Pháp tướng, gọi là Tam thừa gia, Tam xa gia. Phái thứ 2, ngoài xe bòcòn lập riêng xe trâu trắng lớn, phái này gồm tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm, gọi là Nhất thừa gia, hoặc Tứ xa gia. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.4, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.3, 4].
tam xứ a lan nhã
(三處阿蘭若) Ba loại A lan nhã. A lan nhã là nơi vắng vẻ, an nhàn, ở cách xa làng xóm 1 câu lô xá(tức nơi mà tiếng kêu của con bò lớn không vang tới), là nơi thích hợp nhất cho việc tu hành. Theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển thượng thì có 3 loại A lan nhã sau đây: 1. Đạt ma a lan nhã (Phạm: Dharmàraịya): Chỉ cho các pháp xưa nay vốn vắng lặng, không tạo tác, cho nên gọi chỗ vắng vẻ là Pháp a lan nhã xứ. 2. Ma đăng già a lan nhã (Phạm: Màtaígàraịya): Chỉ cho chỗ gò mả, nơi cách làng xóm 1 câu lô xá. 3. Đàn đà ca a lan nhã (Phạm: Daịđakàraịya): Chỉ cho vùng sa mạc. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.16; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần 3; Huyền ứng âm nghĩa Q.1]. (xt. A Lan Nhã).
tam xứ bất chuyển pháp luân
(三處不轉法輪) Không quay bánh xe pháp ở 3 nơi. Nghĩa là không diễn nói giáo pháp cho 3 hạng người: Ngã mạn, tà kiến và đam mê ngũ dục. Ba hạng người này tự buộc mình trong vòng ngã mạn, tà kiến, ngũ dục, giống như sống trong 3 nơi: Núi cao, rừng rậm và bùn lầy nên gọi là Tam xứ. 1. Ngã mạn cao sơn: Phàm phu và ngoại đạo kiêu căng cao ngạo, như ngọn núi chót vót, tuy nghe chính pháp chẳng những không tin mà còn phỉ báng, chiêu cảm ác báo, cho nên không thể vì họ mà chuyển pháp luân. 2. Tà kiến trù lâm: Phàm phu, ngoại đạo cố chấp các tà kiến, như rừng rậm um tùm, đối với chính pháp không thể tin nhận, nên không vì họ mà chuyển pháp luân.3. Ngũ dục ứ nê: Phàm phu tham đắm 5 cảnh dục: sắc, thanh, hương, vị, xúc, nhầy nhụa nhơ nhớp, như sống trong vũng bùn lầy, không thể nhận lãnh chính pháp nên không vì họ mà chuyển pháp luân.
tam xứ mộc xoa
(三處木叉) Chỉ cho giới pháp giữ gìn che chở 3 chỗ thân, khẩu, ý. Mộc xoa, gọi đủ là Ba la đề mộcxoa (Phạm:Pratimokwa), dịch ý là Biệt giải thoát, tức là giới pháp ngăn chặn những điều trái quấy, xấu ác. Tam xứ mộc xoa là: 1. Thân xứ mộc xoa: Như tiết chế tự thân, ăn đúng giờ, sống đơn giản thanh tịnh, không tham gia việc đời, không làm sứ giả cho ai. 2. Khẩu xứ mộc xoa: Như không nói chú thuật, thuốc tiên, không gần gũi giới quí tộc, kết bạn với người giàu sang, thân mật với kẻ kiêu hãnh. 3. Ý xứ mộc xoa: Như tự dốc lòng chính niệm cầu độ, nên tự lượng biết đủ đối với việc cúng dường, không được che giấu lỗi xấu, lập dị gạt người. [X. kinh Phật thùy bát niết bàn lược thuyết giáo giới; Di giáo kinh luận]. (xt. Ba La Đề Mộc Xoa).
tam xứ nhập pháp giới
(三處入法界) Chỉ cho 3 chỗ chứng nhập pháp giới của Bồ tát. Pháp giới là cảnh giới Thánh trí vắng lặng, thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như. Cũng chỉ cho tâm sẵn có của tất cả chúng sinh và lí bình đẳng mà chư Phật chứng được. Vì căn tính của Bồ tát có thượng, trung, hạ khác nhau nên chỗ chứng nhập pháp giới cũng có 3 loại bất đồng: 1. Trụ thập sơ tâm nhập pháp giới: Bồ tát thượng căn ở giai vị Sơ trụ phá trừ hoặc vô minh, chứng nhập lí pháp giới bình đẳng. 2. Hồi hướng chung tâm nhập pháp giới:Bồ tát trung căn ở giai vị Thập hồi hướng, các hạnh thuần thục viên mãn, chứng nhập lí pháp giới bình đẳng. 3. Sơ địa nhập pháp giới: Bồ tát hạ căn ở giai vị Sơ địa chứng nhập lí pháp giới. [X. Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sớ Q.7].
tam xứ truyện tâm
(三處傳心) Truyền tâm ở 3 nơi. Đây làtruyền thuyết của Thiền tông. Nghĩa là đức Phật Thích ca truyền tâm cho ngài Đại ca diếp ở 3 nơi: Một là trên núi Linh thứu, Phật cầm hoa sen đưa lên, ngài Ca diếp mỉm cười; hai là Phật chia nửa tòa ngồi cho ngài Ca diếp ở trong tháp Đa tử; ba là Phật ló 2 chân ra khỏi kim quan cho ngài Ca diếp thấy khi Ngài nhập diệt ở rừng Sa la song thụ.
Tam y
三衣; S: tricīvara; y phục ba phần, cũng được gọi là »Nạp y« (衲衣; s: kanthā) bộ áo vá chắp;|Y phục của một Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni. Phần trong (dưới) được gọi là An-đà-hội (安陀會; s: antaravāsaka) là một mảnh vải vá (năm mảnh vải vá lại) cuộn lại dùng làm đồ lót dưới. Phần ngoài là Uất-đa-la-tăng (鬱多羅僧; s: uttarāsaṅga) cũng là một tấm vải vá dùng để khoác ngoài để đi khất thực. Phần thứ ba là Tăng-già-lê (僧伽梨; s: saṅgāti), một tấm vải khoác ngoài, chỉ được dùng trong những ngày lễ và được vá từ 9-25 mảnh vải nhỏ. Màu của nạp y thường là màu vàng nhưng cũng thay đổi tuỳ theo tông phái, theo truyền thống. Tăng, ni tại Trung Quốc thường mang màu xanh, nâu. Tại Tây Tạng người ta chuộng màu đỏ, tại Nhật màu đen. Tất cả những y phục này đều phải được may từ nhiều mảnh vải để nhấn mạnh truyền thống sống cơ hàn, vô sản của một tỉ-khâu.
tam y
xem ba tấm pháp y.
; Tricīvara (S), Ticīvara (P), Ticīvara (P).
; Tricìvara (S). The three regulation garments of a monk, cà sa kàsàya, i.e.(1) tăng già lê sanghàtì, cửu điều đại y, ceremonial robe; (2) uất đa la tăng uttaràsanga, thất điều thượng y, upper garment worn over the (3) an đà hội antaravàsaka, ngũ điều nội y,inner garm
; Hạ y may năm điều là An đà hội, Trung y may bảy điều là Uất đa la tăng, Thượng y may chín điều đến hai mươi lăm điều là Tăng già lê.
; (三衣) Phạm:Trìịi cìvaràịi. Pàli:Tìịi cìvaràịi. Chỉ cho 3 thứ áo của tỉ khưu. Đó là: 1. Tăng già lê(Phạm,Pàli:Saôphàti), cũng gọi Cửu điều y, Đại y, Trọng y, Tạp toái y, Cao thắng y. Áo mặc chính, gồm 9 đến 25 nẹp vải khâu lạimàthành, mặc mỗi khi vào làng xóm, thành ấp khất thực, hoặc vâng chiếu chỉ vào cung vua. 2. Uất đa la tăng (Phạm, Pàli: Uttarasaíga), cũng gọi Thượng y, Trung giá y, Nhập chúng y, Thất điều y. Áo 7 nẹp, mặc khi lễ bái, nghe giảng, bố tát... 3. An đà hội(Phạm:Antarvàsa,Pàli: Antarvàsaka), cũng gọi Trung y, Trung túc y, Nội y, Ngũ điều y. Áo 5 nẹp, mặc khi làm công việc hoặc khi ngủ. Theo qui định, 3 áo trên đây đều được maybằng loại vải thô xấu và nhuộm bằng hoại sắc (Phạm:Kawàya) vì thế, 3 áo còn có tên là Ca sa. Mặc loại áo này khiến người ta xả bỏ được các dục vọng và không sợ bị lấy trộm, vì nó vô dụng đối với người thế gian, cho nên cũng được gọi là Phẩn tảo y (Phạm:Pàmwu-kula = Áo vá).[X. luật Ma ha tăng kì Q.23; Tát bà đa tì bà sa Q.4; luận Đại trí độ Q.68; luận Phân biệt công đức Q.4; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng]. (xt. Ca Sa).
tam y nhất bát
(三衣一鉢) Ba áo một bát. Trong 6 vật của tỉ khưu, đặc biệt quan trọng là 3 áo: An đà hội, Uất đa la tăng, Tăng già lê và 1 chiếc bát là những vật dụng mà vị tỉ khưu thường mang bên mình. Luật Ma ha tăng kì quyển 8 (Đại 22, 293 hạ) nói: Người xuất gia là vui bậc nhất, bất cứ ở nơi nào cũng thường mang theo 3 áo bên mình, cầm bát đi xin ăn, giống như 2 cánh của con chim, lúc nào cũng dính liền với thân chim. [X. kinh Đại kiên cố bà la môn duyên khởi Q.hạ; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; điều Thị kính hộ tam y bát cụ pháp trong Trung môn cảnh huấn Q.3]. (xt. Lục Vật, Tứ Hữu Tài Sản, Trướng Vật).
tam yết-ma
xem bạch tứ-yết-ma.
Tam Yếu
(三要): 3 yếu tố quan trọng, có 2 nghĩa. (1) Đạo gia cho Tam Yếu là tai, mắt và miệng. Như trong Âm Phù Kinh (陰符經) có đoạn: “Cửu Khiếu chi tà, tại hồ Tam Yếu, khả dĩ động tĩnh (九竅之邪、在乎三要、可以動靜, Chín Lỗ sai lầm, ở ba điểm chính, có thể động tĩnh).” Thái Công giải thích rằng: “Tam Yếu giả, nhĩ, mục, khẩu dã (三要者、耳、目、口也, ba nơi trọng yếu là tai, mắt, miệng).” (2) Chỉ cho 3 yếu tố quan trọng trong mỗi một huyền môn, do Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền cử xướng. Đó là: (a) Trong lời nói không có phân biệt tạo tác; (b) Chư vị thánh đều phải vào thẳng chỗ huyền áo; (c) Dứt bặt ngôn ngữ. Trong Thiền Gia Quy Giám (禪家龜鑑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1255) giải thích rằng: “Tham Thiền tu cụ tam yếu, nhất hữu đại tín căn, nhị hữu đại phẫn chí, tam hữu đại nghi tình (參禪須具三要、一有大信根、二有大憤志、三有大疑情, tham Thiền phải có đủ ba yếu tố chính, một là có tín căn lớn, hai là có chí giận dữ lớn, ba là có nghi tình lớn).” Hay trong Thiền Lâm Loại Tụ (禪林類聚, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1299) quyển 6, phần Thị Chúng (示眾), lại có đoạn: “Phù nhất cú ngữ tu cụ Tam Huyền môn, nhất huyền môn tu cụ Tam Yếu, hữu quyền hữu dụng (夫一句語須具三玄門、一玄門須具三要、有權有用, phàm một câu nói phải có Ba Huyền môn, một huyền môn phải có Ba Yếu, có quyền có dụng).”
tam ác
Three evil paths of transmigration; also tam ác đạo, tam ác thú, the hells, hungry ghosts, animals.
; (三惡) I. Tam Ác. Ba thứ tâm xấu ác của con người: 1. Tâm tính độc ác xấu xa, không thể tiếp nhận những lời nói lương thiện. 2. Khí lượng nhỏ hẹp, thường ôm lòng ghen ghét, chỉ sợ người khác hơn mình. 3. Nếu biết người khác hơn mình thì hổ thẹn, không chịu thưa hỏi. [X. kinh Đại pháp cự đà la ni Q.1]. II. Tam Ác. Gọi đủ: Tam ác thú. Chỉ cho địa ngục, ngã quỉ, súc sinh. [X. luận A tì đạt ma tạp tập Q.7]. (xt. Tam Ác Thú). Chỉ cho 3 thứ cảm giác xấu ác: Dục, giác, Khuể giác và Hại giác. Cứ theo Tông kính lục quyển 81, khi tu định, nếu chỉ tu tập thiền định thế gian thì tuy nói là tu hành, nhưng vẫn sinh 3 thứ ác giác như sau: 1. Dục giác: Phàm phu không rõ biết những cái hại của 5 trần, nên đối với cảnh thích ý thì tham cầu bằng mọi cách mà sinh ra ác giác. 2. Khuể giác: Phàm phu vì không rõ biết những mối họa của 5 trần, nên đối với cảnh trái ý thì nổi giận mà sinh ra các ác giác.3. Hại giác: Phàm phu thường khởi tri giác xâm hại người khác, làm cho sân giác tăng trưởng. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
tam ác giác
xem ba loại tư tưởng xấu ác.
; The three evil mental states: dục desire, sân hate, hại malevolance.
; The three evil mental states: 1) Tham: Desire. 2) Sân: Hate—Anger. 3) Hại: Malevolence.
tam ác hạnh
Tini-duccaritani (P), Trini-duscaritani (S), Tini-duccaritani (P)Gồm: Thân ác hạnh, Ngữ ác hạnh, ý ác hạnh.
; Theo Kinh Trường Bộ, Phúng Tụng Kinh, có ba ác hạnh—According to the Long Discourses of the Buddha, there are three kinds of wrong conduct. 1) Thân ác hạnh: Wrong conduct in body. 2) Khẩu ác hạnh: Wrong conduct in speech. 3) Ý ác hạnh: Wrong conduct in thought.
; (三惡行) Phạm:Trìni duzcaritàni. Pàli: Tìni duccaritàni. Đối lại: Tam diệu hạnh. Chỉ cho tất cả hành vi bất thiện của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 1. Thân ác hạnh: Chỉ cho gia hạnh, căn bản, hậu khởi và tất cả hành vi bất thiện khác của thân nghiệp. 2. Ngữ ác hạnh: Chỉ cho gia hạnh, căn bản, hậu khởi và tất cả lời nói bất thiện khác của ngữ nghiệp. 3. Ý ác hạnh: Chỉ cho tất cả ý nghĩ bất thiện như tham, sân, tà kiến... [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Tập dị môn túc Q.3; luận Thuận chính lí Q.40; luận Câu xá Q.16].
Tam ác thú
xem Ba đường ác.
tam ác thú
Three evil directions or destinies.
; (三惡趣) Cũng gọi Tam ác đạo, Tam đồ, Tam ác.Chỉ cho địa ngục, ngã quỉ, súc sinh.1. Địa ngục: Ở dưới đất, giữa núi Thiếtvi có 8 địa ngục lạnh, 8 địa ngục nóng; những người tạo nghiệp Thập ác thượng phẩm sẽ bị đọa vào đường này.2. Ngã quỉ: Những người tạo nghiệp .Thập ác trung phẩm sẽ bị đọa vào đường này. Trong đó, người tội nặng thì nhiều kiếp không nghe thấy tên nước uống; người tội vừa thì chỉ tìm kiếm được máu mủ, phẩn dơ của người thế gian; người tội nhẹ hơn nữa thì họa huần lắm mới được 1 bữa ăn no.3. Súc sinh: Những người tạo nghiệp Thập ác hạ phẩm thì rơi vào đường này. Có loài khoác lông, đội sừng, loài có vảy có cánh, 4 chân nhiều chân, có chân không chân, bơi dưới nước, đi trên đất, bay trên không... Theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 13, kinh Vô lượng thọ quyển thượng, kinh Phật địa... thứ tự 3 đường là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh; còn theo kinh Pháp hoa quyển 2, kinh Đại A di đà quyển thượng, kinh Đại bát niết bàn quyển 10 (bản Bắc)... thì thứ tự là địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Về nỗi khổ, Phật giáo Đại thừa cho rằng súc sinh đỡ khổ hơn ngã quỉ, là vì ngã quỉ lúc nào thân hình cũng bị lửa đốt, chịu khổ rất nặng nề, cổ thì nhỏ bụng lại to, thường bị đói khát, nếu gặp dòng nước trong thì bỗng biến thành lửa cháy dữ dội; còn trong đường súc sinh thì không có các nỗi khổ này, cho nên còn tốt hơn ngã quỉ. Theo luận Du già lược toản quyển 3 thì ngã quỉ có 2 loại: Loại quỉ có phúc là do ác nghiệp hạ phẩm chiêu cảm, còn loại quỉ bạc phúc thì do ác nghiệp trung phẩm chiêu cảm.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.5; kinh Chính pháp niệm xứ Q.5-21; luận Tùy tướng; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7, 13].
Tam ác đạo
xem Ba đường ác.
tam ác đạo
Aparāgati (S), Three evil paths Ba đường ác.
; The three evil ways.
; (A) Tam ác thú—Three evil gati, or paths of transmigration—Three hardships or sufferings in the three lower paths of transmigration: 1) Địa ngục: The hells. 2) Ngạ quỷ: The hungry ghosts. 3) Súc sanh: The animals. (B) Ấn Quang Đại Sư khuyên người chuyên nhất niệm Phật cho tâm mình không còn tham luyến chi đến việc trần lao bên ngoài. Đừng quên cái chết đang rình rập bên mình chẳng biết xãy ra lúc nào. Nếu như không chuyên nhất niệm Phật cầu sanh về Tây Phương, thì khi cái chết đến thình lình, chắc chắn là phải bị đọa vào trong tam đồ ác đạo. Nơi đó phải chịu khổ có khi đến vô lượng chư Phật ra đời hết rồi mà vẫn còn bị xoay lăn trong ác đạo, không được thoát ly. Vì thế, hành giả lúc nào cũng phải nghĩ đến thân người mong manh, cái chết thình lình. Đời trước và đời nầy đã tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp, và luôn nghĩ đến sự khổ nơi tam đồ ác đạo đang đợi chúng ta, để luôn tỉnh ngộ mà tâm không còn tham luyến chi đến các cảnh ngũ dục, lục trần ở bên ngoài nữa: Great Master Ying-Kuang reminded Buddhist followers to singlemindedly recite the Buddha's name if they wish for their mind not to be attaching and wandering to the external world. Do not forget that death is lurking and hovering over us, it can strike us at any moment. If we do not wholeheartedly concentrate to practice Buddha Recitation, praying to gain rebirth to the Western Pureland, then if death should come suddenly, we are certain to be condemned to the three unwholesome realms where we must endure innumerable sufferings and sometime infinite Buddhas have in turn appeared in the world, but we are still trapped in the evil paths and unable to find liberation. Thus, cultivators should always ponder the impermanence of a human life, while death could come at any moment without warning. We should always think that we have committed infinite and endles unwholesome karmas in our former life and this life, and the sufferings awaiting for us in the unwholesome realms. Upon thinking all these, we will be awakened in every moment, and we no longer have greed and lust for the pleasures of the five desires and six elements of the external world. 1) Nếu như bị đọa vào địa ngục thì bị cảnh non đao, rừng kiếm, lò lửa, vạc dầu; một ngày đêm sống chết đến vạn lần, sự đau khổ cùng cực không sao tả xiết: If condemned to hell, then we will experience the torturous and agonizing conditions of a moutain of swords, a forest of knives, stoves, frying pans; in each day and night living and dying ten thousand times, the agony of pain and suffering is inconceivable—See Núi Đạo, Rừng Kiếm, and Vạc Dầu. 2) Nếu như bị đọa vào ngạ quỷ thì thân mình xấu xa hôi hám. Bụng lớn như cái trống, còn cổ họng thì nhỏ như cây kim; đói khát mà không ăn uống được. Khi thấy thức ăn nước uống thì các vật ấy đều hóa thành ra than lửa, chịu đói khát khổ sở, lăn lộn, khóc la trong muôn vạn kiếp: If condemned to the path of hungry ghost, then the body is hideously ugly wreaking foul odors. Stomach is large as a drum but neck is as small as a needle; though starving and thirsty, the offenders cannot eat or drink. When seeing food and drinks, these items transform into coals and fires. Thus, they must endure the torture and suffering of famine and thirst, throwing, banging their bodies against everything, crying out in pain and agony for tens and thousands of kalpas. 3) Nếu như bị đọa vào súc sanh thì bị nghiệp chở, kéo, nặng nề, bị người giết mà ăn thịt, hoặc bị cảnh loài mạnh ăn loài yếu, hân tâm kinh sợ, khủng hoảng, không lúc nào yên: If condemned to the animal realm, then they must endure the karmic consequences of carrying and pulling heavy loads, get slaughtered for food, or the strong prey on the weak, mind and body always paranoid, frightened, and fearful of being eaten or killed, without having any moment of peace.
Tam ái
三愛; C: sānài; J: san'ai;|Ba loại luyến ái: 1. Dục ái (欲愛), Sắc ái (色愛, cũng gọi là Hữu ái 有愛) và Vô sắc ái (無色愛 hoặc Vô hữu ái 無有愛); 2. Ba loại ái, đặc biệt trở nên mạnh mẽ khi giờ phút lâm chung đến gần: a. Tự thể ái (自體愛), lưu luyến thân thể đang có, b. Cảnh giới ái (境界愛), lưu luyến gia quyến, vật sở hữu, c. Đương sinh ái (當生愛), lưu luyến những cảnh tượng đã trải qua trong cuộc sống.
tam ái
(I) Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại ái—According to The Long Discourses of the Buddha, there are three kinds of craving. (A) Tam ái—Three kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (skt)—Sensual craving. 2) Hữu ái: Bhava-tanha (skt)—Craving for becoming. 3) Vô hữu ái: Vibhava-tanha (skt)—Craving for extinction. (B) Tam ái khác—Three other kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (skt)—Craving for the world of Sense-Desire. 2) Sắc ái: Rupa-tanha (skt)—Craving for the world of form. 3) Vô sắc ái: Arupa-tanha (skt)—Craving for the formless world. (C) Ba ái khác nữa—Three other kinds of craving: 1) Sắc ái: Craving for the world of form. 2) Vô sắc ái: Craving for the formless world. 3) Diệt ái: Craving for cessation. (II) Three kinds of love—See Nhuận Sinh.
; (三愛) Chỉ cho 3 thứ yêu thương, luyến tiếc khởi lên lúc hấp hối sắp chết. 1. Cảnh giới ái: Yêu thương vợ con, quyến thuộc, gia tài rất sâu nặng và cố sức bám níu lấy. 2. Tự thể ái: Thương tiếc, quyến luyến thân thể của mình, cố sức bám níu lấy. 3. Đương sinh ái: Yêu mến nơi mình sẽ sinh đến. Ba thứ ái này là nguồn gốc thụ thân của tất cả hữu tình thiện cũng như ác; nếu ái dục chưa dứt thì khi mệnh sống sắp hết, tâm sẽ sinh sầu não, các khổ bức bách, bởi thế sinh ba thứ ái trên, đó chính là duyên tưới tẩm cho kiếp sau. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5, phần cuối (Đại 43, 759 hạ) nói: Khi hấp hối mà có tâm thì nhất định khởi lên yêu đắm (...) sự yêu đắm này tưới tẩm Trung hữu, khởi lên yêu đắm tự thể; tưới tẩm Sinh hữu, khởi lên yêu đắm cảnh giới. Vì ở tử hữu (lúc chết), không thấy trung hữu (thân sau khi chết), cho rằng không có ta, nên khởi lên yêu đắm tự thể; ở vị trung hữu, thấy nơi sinh đến, nên khởi lên yêu đắm cảnh giới. Vì thế nên biết yêu đắm cảnh giới và yêu đắm tự thể chỉ trợ giúp sự nhuận sinh (tẩm tưới cho sinh ra ở đời sau), còn yêu đắm chỗ sinh ra ở đời sau mới là sự nhuận sinh chính yếu. [X. Thích thị yếu lãm Q.hạ; Thành duy thức luận diễn bí Q.4].
tam ích
(三益) I. Tam Ích. Cũng gọi chủng thục thoát. Chỉ cho 3 thứ lợi ích: Hạ chủng ích, Điều thục ích và Giải thoát ích do tu hành mà có được. 1. Hạ chủng ích: Lợi ích của sự gieo giống. Tức đem việc người nông dân gieo hạt giống xuống ruộng để ví dụ cho việc đức Phật gieo hạt giống đắc đạo thành Phật vào trong ruộng tâm của chúng sinh; đây chính là sự kết duyên đầu tiên của chúng sinh với Phật pháp. 2. Điều phục ích: Lợi ích của hạt giống thành thục. Dùng việc hạt giống nảy mầm rồi dần dần lớn lên và thành thục để ví dụ cho hạt giống Phật trong ruộng tâm của chúng sinh dần dần tăng trưởng và thành tựu.3. Giải thoát ích: Lợi ích của sự giải thoát. Dùng việc hạt giống thành thục và được thu họach để ví dụ cho hạt giống Phật đã hoàn toàn điều thục, nhân viên quả mãn, được tự tại giải thoát. [X. luận Câu xá Q.23; luận Đại tì bà sa Q.178; Pháp hoa văn cú Q.1]. (xt. Chủng Thục Thoát). II. Tam Ích. Chỉ cho 3 thứ lợi ích ví như lá, hoa, quả của cây giác ngộ mà Bồ tát mang lại cho chúng sinh sau khi tu hành thành tựu 6 loại Ba la mật, được Nhất thiết chủng trí. Đó là: 1. Diệp ích: Sự lợi ích của lá. Tức chúng sinh nhờ Bồ tát mà được xa lìa 3 đường ác, đó là Diệp ích chúng sinh. 2. Hoa ích: Sự lợi ích của hoa. Tức chúng sinh nhờ Bồ tát mà được sinh vào các nhà dòng dõi lớn như Sát đế lợi, Bà la môn, Cư sĩ... các cõi trời như cõi Tứ thiên vương cho đến cõi Phi tưởng phi phi tưởng đó là Hoa ích chúng sinh. 3. Quả ích: Sự lợi ích của quả. Tức Bồ tát được Nhất thiết chủng trí, khiến chúng sinh được các quả như Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích chi phật, cho đến quả Phật. Nhờ pháp Tam thừa, chúng sinh dần dần tiến vào Niết bàn vô dư, đó là Quả ích chúng sinh. Tông Thiên thai đem Tam ích này theo thứ tự phối hợp với Viên giáo quán hành ích, Viên giáo tương tự ích và Viên giáo phần chân ích. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.22; luận Đại trí độ Q.85; Ma ha chỉ quán Q.7 thượng].
Tam Đa
(三多): nhiều ba điều, có những thuyết khác nhau như: (1) Ba điều điện để có văn chương giỏi là đọc sách nhiều, viết nhiều và tư duy nhiều. (2) Ba điều kiện của một học giả gồm đọc sách nhiều, tham luận nhiều và trước tác nhiều. (3) Phước nhiều, thọ nhiều và sanh con trai nhiều.
tam đa
Three More Dharmas. 1) Thêm bạn tốt: Making more friends with good people. 2) Nghe nhiều Phật pháp: Hearing more of Dharma law. 3) Quán chiếu nhiều hơn về sự bất tịnh: Meditation more on the impure.
; (三多) I. Tam Đa. Chỉ cho 3 việc mang lại nhiều công đức. Đó là gần gũi bạn tốt, lắng nghe pháp âm và tu Bất tịnh quán. [X. kinh Thập thượng trong Trường a hàm Q.9]. II. Tam Đa. Chỉ cho 3 việc: Thường cúng dường Phật, thường gần bạn lành, thường thưa hỏi về pháp yếu của Phật. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập giải Q.trung]. III. Tam Đa. Chỉ cho 3 pháp quán của tông Thiên thai. (xt. Tam Quán). IV. Tam Đa. Chỉ cho 3 việc: Làm phúc, cúng dường và cầu pháp. Làm tất cả các việc trên đây đều được nhiều công đức nên gọi là Đa.
tam điên đảo
xem ba sự điên đảo.
; The three subversions or subverters: tưởng đảo evil thoughts, kiến đảo false views, tâm đảo deluded mind.
; Ba điên đảo làm cho chúng sanh nghĩ tưởng điên đảo, vô thường cho là thường, khổ cho là lạc, vô ngã cho là ngã, bất tịnh cho là tịnh—The three subversions or subverters which make beings to apprehend objects that are impermanent, painful, not self, and foul, as permanent, pleasant, self, and beautiful: 1) Tưởng đảo: Evil thoughts. 2) Kiến đảo: False views. 3) Tâm đảo: A deluded mind. ** For more information, please see Tứ Điên Đảo, Thất Điên Đảo, and Bát Điên Đảo in Vietnamese-English Section.
tam điền
The three "fields" of varaying qualities of fertility, i.e. bodhisattvas, sràvakas, and icchantis, respectively producing a hundred fold, fifty fold, one-fold.
; (三田) Ba loại ruộng được dùng để ví dụ cho 3 hạng người là Bồ tát, Thanh văn và Xiển đề. 1. Loại ruộng thứ nhất: Ruộng này đường mương dẫn nước tiện lợi, không có các thứ cát sỏi, gạch đá, gai gốc gieo trồng một, thu họach trăm; ví dụ cho Bồ tát căn tinh sắc bén, trí tuệ sáng suốt, mang lại lợi ích cho chúng sinh không cùng tận. 2. Loại ruộng thứ hai: Ruộng này tuy không có cát sỏi, gạch đá, gai gốc, nhưng đường mương dẫn nước bị nghẽn lấp, thu họach giảm một nửa; ví dụ cho Thanh văn căn tính hơi chậm lụt, tuy được vô lậu nhưng chỉ có khả năng tự lợi, không thể độ sinh. 3. Loại ruộng thứ ba: Ruộng này không có đường mương dẫn nước, có nhiều sỏi cát, gạch đá, gai gốc, gieo trồng một thu họach một; ví dụ cho hạng người Xiển đề, đối với Phật pháp không có lòng tin, nay nói pháp cho họ nghe để gieo hạt giống lành cho đời sau. [X. kinh Đại bát niết bànQ.33 (bản Bắc)].
tam điều triện hạ thất xích đan tiền
(三條椽下七尺單前) Phạm:Trìịi sucaritàni. Pàli: Tìịi sucaritàni. Cũng gọi Tam thanh tịnh. Đối lại: Tam ác hạnh. Chỉ cho diệu hạnh của thân, ngữ và ý, đó là: 1. Thân diệu hạnh (Phạm: Kàyasucarita): Chỉ cho tất cả thân nghiệp thiện như gia hạnh, căn bản, hậu đắc... 2. Ngữ diệu hạnh (Phạm: Vàksucarita): Cũng là tất cả ngữ nghiệp thiện gia hạnh, căn bản, hậu đắc... 3. Ý diệu hạnh (Phạm: Mana#- sucarita): Chỉ cho tất cả sự suy nghĩ lương thiện, cũng tức là 3 ý nghiệp không tham, không sân và chính kiến... Giữa Tam diệu hạnh và Thiện nghiệp đạo có sự khác nhau, tức là Nghiệp đạo chỉ dùng căn bản của thô phẩm làm tính, không bao gồm các cái thiện khác; còn Diệu hạnh thì hàm nhiếp tất cả thiện. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Ý nghiệp lấy Tư (suy nghĩ) làm thể, chủ trương Tư và Vô tham đều có thể riêng biệt, vì thế lập vô tham, vô sân, chính kiến của Ý nghiệp và Phi nghiệp làm Ý diệu hạnh. Kinh lượng bộ cho rằng vô tham... lìa Tư ra thì không có thể riêng biệt, cho nên vô tham... chính là Ý nghiệp, vì thế, ngoài Ý nghiệp ra, Kinh lượng bộ không lập vô tham... làm Ý diệu hạnh. Ngoài ra, luận Đại tì bà sa quyển 17 cho rằng các thân diệu hạnh tức là thân thanh tịnh, các ngữ diệu hạnh tức là ngữ thanh tịnh, các ý diệu hạnh tức là ý thanh tịnh, cho nên gọi Tam diệu hạnh là Tam thanh tịnh. [X. kinh Tạp a hàm Q.11; luận Tập dị môn túc Q.3; luận Đại tì bà sa Q.112; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.41].
tam điểu xuất võng
(三鳥出網) Ba loại chim bay ra khỏi lưới, ví dụ cho căn khí của chúng sinh Tam thừa đều khác nhau. Các chúng sinh Tam thừa thoát khỏi sự ràng buộc của vọng chấp, giống như 3 loài chim bung ra khỏi lưới, đều bay vào thế giới tự do không phiền não, không chướng ngại; họ đều ở trong hoàn cảnh giống nhau, nhưng vì chủng tính bất đồng nên cảnh giới mà họ cảm được có khác nhau. Ba loại chúng sinh này (Tam thừa) đều đã thoát khỏi cảnh khổ phiền não, hướng tới cảnh giải thoát vô vi, nhưng do căn khí thượng,trung, hạ khác nhau, nên cảnh giới do tu mà chứng được cũng bất đồng. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.2; Pháp hoa nghĩa sớ Q.3,Triệu luận].
tam đoạn
The three cutting off or exisions (of hoặc beguiling delusions or perplexities. 1-a-Kiến sở đoạn to cut off delusions of view, of which Hìnayàna has eighty-eight kinds; b-Tu sở đoạn in practice, eighty-one kinds; c-Phi sở đoạn nothing left to cut off, perfect. 2-a-Tự tính đoạn to cut off the nature, or root (of delusion); b-Duyên phược đoạn to cut off the external bonds, or objective causes (of delusions); c-Bất sinh đoạn (delusion) no longer arising, therefore nothing produced to cut off. The third stage in both groups is that of an arhat.
; Ba diệt đoạn—Three cutting off or excisions of beguiling delusions or perplexities: (A) 1) Kiến sở đoạn: To cut off delusions of view. 2) Tu sở đoạn: Practice to cut off delusions. 3) Phi sở đoạn: Nothing left to cut off. (B) 1) Tự tính đoạn: To cut off the nature or roots of delusions. 2) Duyên phược đoạn: To cut off the external bonds, or objective cause of delusion. 3) Bất sinh đoạn: Delusions no longer arise, therfore, nothing produced to cut off. This is the stage of an Arhat. (C) Theo Thanh Tịnh Đạo—The Path of Purification: 1) Ức đoạn: Đoạn trừ bằng cách ức chế như đè cây lau bằng cách đặt trên ngọn cây một cái bình đầy nước có lỗ—Abandoning by supressing. This is like the pressing down of water-weed by placing a porous pot on weed-filled water. 2) Đoạn bằng cách thay vào một pháp ngược lại, giống như thay thế bóng tối bằng ánh sáng: Abandoning by substitution of opposite. It is like the abandning of darkness at night through the means of a light—Please see Thập Bát Tuệ Quán. 3) Đoạn trừ bằng cách cắt đứt: Abandoning by cutting off.
; (三斷) I. Tam Đoạn. Chỉ cho Kiến sở đoạn,Tu sở đoạn và Phi sở đoạn. Đoạn có nghĩa là cắt đứt tất cả sự trói buộc mà được giải thoát, tự do. 1. Kiến sở đoạn (Phạm: Darzanaheya), cũng gọi Kiến đạo sở đoạn chi pháp, Kiến đoạn: Pháp được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo. 2. Tu sở đoạn (Phạm: Bhàvanàheya), cũng gọi Tu đạo sở đoạn chi pháp, Tu đoạn: Pháp được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo.3. Phi sở đoạn (Phạm:A-heya), cũng gọi Phi sở đoạn chi pháp, Phi đoạn: Tức chẳng phải pháp đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo, Tu đạo. Sự giải thích về Tam đoạn giữa Đại thừa và Tiểu thừa có hơi khác nhau. Theo quan điểm của Tiểu thừa, như luận Câu xá quyển 2 và luận Phẩm loại túc quyển 2, thì Kiến sở đoạn là hàng Thanh văn quả đầu tiên dứt hoặc thấy lí, gọi là Kiến đạo, vì các bậc này đã đoạn trừ 88 Tùy miên (phiền não)và các pháp cùng sinh ra với Tùy miên, nên gọi là Kiến sở đoạn. Tu sở đoạn là hàng Thanh văn quả thứ 2 và quả thứ 3, tu chân đoạn hoặc, gọi là Tu đạo; vì các bậc này đã đoạn trừ 15 giới (10 sắc giới và 5 thức giới) và các phápHữu lậu khác(81 phẩm hoặc), cùng với các pháp do 81 phẩm hoặc sinh ra, cho nên gọi là Tu sở đoạn. Phi sở đoạn là hàng Thanh văn quả thứ 4 đã dứt hết phiền não trong 3 cõi mà chứng được quả vô lậu, không còn hoặc để đoạn, nên gọi là Phi sở đoạn. Ngoài ra, 3 giới là Ý căn giới; Pháp cảnh giới và Ý thức giới trong 18 giới là chung cho cả 3 đoạn, 15 giới còn lại chỉ thuộc Tu sở đoạn mà thôi. Về quan điểm của Đại thừa, như luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 4, luận Du già sư địa quyển 66..., thì cho rằng Kiến, Nghi, Kiến xứ, Nghi xứ... do phân biệt khởi; tà hành, phiền não, tùy phiền não... do Kiến sinh khởi, các nghiệp thuộc thân, ngữ, ý, do Kiến... phát động, cho đến uẩn, xứ, giới... là Kiến sở đoạn. Tu sở đoạn là sau khi đã được Kiến đạo, tiếp tục đoạn trừ tất cả các pháp hữu lậu, là Tu sở đoạn. Còn phi sở đoạn chính là các pháp vô lậu. Cũng tức là dùng pháp vô vi của Thánh đạo xuất thế mà chứng được Vô học vị, thân, ngữ, ý nghiệp đều thanh tịnh, là Phi sở đoạn. Ngoài ra, 7 tâm giới và 3 giới sắc, thanh, pháp trong 18 giới là chung cho cà 3 đoạn, 8 giới còn lại chỉ thuộc 2 đoạn Kiến, Tu mà thôi. [X. luận Đại tì bà sa Q.51, 52; luận Thuận chính lí Q.6; luận Thành duy thức Q.5; Câu xá luận quang kí Q.2]. II. Tam Đoạn. Căn cứ vào tính chất của các pháp bị đoạn trừ mà đoạn được chia làm 3 thứ là Tự tính đoạn, Bất sinh đoạn và Duyên phược đoạn. Tông kính lục quyển 76 giải thích như sau:1. Tự tính đoạn: Khi trí tuệ phát sinh thì tự tính của các phiền não ám chướng bị đoạn diệt. 2. Bất sinh đoạn: Khi đã chứng được pháp không ở Sơ địa thì khiến cho quả khổ của 3 đường ác không bao giờ sinh lại được nữa.3. Duyên phược đoạn: Đoạn trừ hoặc trong tâm, còn đối với các trần cảnh bên ngoài thì không khởi tâm tham, sân, tuy duyên theo cảnh nhưng không nhiễm trước, đó là Duyên phược đoạn. Trong 3 đoạn thì Tự tính đoạn và Bất sinh đoạn có năng lực đoạn trừ một cách nhậm vận tự nhiên, đó đều do Duyên phược đoạn làm cho nhân quả của 3 cõi không sinh lại nữa. Ngoài ra, Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5, phần cuối, ngoài Tam đoạn còn thêm Tương ứng đoạn, gọi là Tứ đoạn. [X. luận Thành duy thức Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.10]. (xt. Tứ Đoạn).
tam đoạn luận
Syllogism.
tam đà la ni
Ba pháp Đà La Ni hay là ba lực trì giữ trí huệ—Three kinds of Dharani or the power to maintain wisdom or knowledge: 1) Thính trì Đà La Ni: The power to retain all the teaching one hears. 2) Phân biệt Đà La Ni: Unerring powers of discrimination. 3) Nhập Âm thanh Đà La Ni: Power to rise superior to external praise or blame.
; (三陀羅尼) I. Tam Đà La Ni. Chỉ cho 3 Đà la ni đầu tiên của 500 Đà la ni nói trong luận Đại trí độ quyển 5. Đó là: 1. Văn trì đà la ni: Tai nghe và nhớ giữ không quên. 2. Phân biệt đà la ni: Phân biệt và biết rõ các đối tượng của thế giới khách quan. 3. Nhập âm thanh đà la ni: Đối với những lời chê bai hay khen ngợi của người khác không động tâm. II. Tam Đà La Ni. Chỉ cho 3 Đà la ni nói trong phẩm Khuyến phát kinh Pháp hoa. Ba Đà la ni này tương đương với 3 pháp quán Không, Giả, Trung của tông Thiên thai. Đó là: 1. Toàn đà la ni: Toàn nghĩa là xoay chuyển. Phàm phu chấp trước Hữu tướng, nên phải khiến họ xoay chuyển giả tướng sai biệt để thể nhập vào lí Không bình đẳng; đây là Không trì(nắm giữ cái Không) của từ Giả vào Không. 2. Bách thiên vạn ức đà la ni: Xoay chuyển cái Không bình đẳng mà nhập vào cái giả tướng(thế giới hiện tượng)của trăm nghìn muôn ức pháp sai biệt; đây chính là Giả trì của từ Không vào Giả. 3. Pháp âm phương tiện đà la ni: Dùng Không trì và Giả trì nói trên làm phương tiện mà nhập vào Trung đạo tuyệt đối; đây chính là Trung trì của Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. III. Tam Đà La Ni. Chỉ cho Đại bi tâm đà la ni, Phật đính tôn thắng đà la ni và Tiêu tai diệu cát tường đà la ni, được đọc tụng vào thời khóa buổi chiều hàng ngày. [X. điều Nhật trung hành sự trong Xương thụ lâm thanh qui Q.thượng].
Tam Đàn
(三壇): tức Tam Đàn Đại Giới (三壇大戒), là nghi thức thọ giới đặc biệt, phân thành 3 giai đoạn là Sơ Đàn Chánh Thọ (初壇正授), Nhị Đàn Chánh Thọ (二壇正授) và Tam Đàn Chánh Thọ (三壇正授). Đàn đầu tiên thọ giới Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼); đàn thứ hai thọ giới Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘) và Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼); đàn thứ ba thọ giới Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩). Như trong Truyền Giới Chánh Phạm (傳戒正範, CBETA No. 1128) có câu: “Tam Đàn quỹ tắc, cự tế hữu điều, thất chúng khoa nghi, tinh tường bất vặn (三壇軌則、巨細有條、七眾科儀、精詳不紊, Ba Đàn nguyên tắc, lớn nhỏ có điều, Bảy Chúng khoa nghi, rõ ràng không rối).”
tam đàn
The three kinds of dàna, i.e. charity; giving of goods, of the dharma, of abhaya or fearlessness. Idem tam thí.
; Tam bố thí—Three kinds of dana—See Tam Bố Thí.
; (三檀) Cũng gọi Tam thí. Đàn nói đủ là Đàn na, nghĩa là bố thí. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 14 thì Tam đàn là: 1. Tài thí(cũng gọi Tư sinh thí): Đem tài vật của mình bố thí cho người. 2. Pháp thí: Nói pháp cho người khác nghe, giúp họ khai ngộ đắc đạo. 3. Vô uý thí: Nói cho người nghe về sự lợi ích của lòng can đảm, khiến họ không sợ hãi. Ngoài ra, Đại minh tam tạng pháp số quyển 11, căn cứ vào công đức bố thí có hơn kém khác nhau mà lập thành Tam thí như sau: 1. Hạ phẩm thí: Thấy người đói khát, đem thức ăn uống đến cho, đó là Ẩm thực thí.2. Trung phẩm thí: Thấy người nghèo cùng, đem tài vật quí báu đến cho, đó là Trân bảo thí. 3. Thượng phẩm thí: Cắt thịt mình cho chúng sinh, bỏ thân mệnh để cứu người khác, đó là Thân mệnh thí. [X. Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.8; luận Kim cương bát nhã Q.3 (Vô trước); Duy ma kinh văn sớ Q.8; Chư kinh yếu tập Q.10; Hoa nghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao Q.22]. (xt. Bố Thí).
tam đàn đại giới
(三壇大戒) Nghi thức thụ giới được chia làm 3 giai đoạn gọi là Tam đàn đại giới. Tức là: 1. Sơ đàn chính thụ: Truyền giới Sa di và Sa di ni. 2. Nhị đàn chính thụ: Truyền giới Tỉ khưu và Tỉ khưu ni. 3. Tam đàn chính thụ: Truyền giới Bồ tát xuất gia. Về thời gian truyền giới thì từ khoảng 30 ngày đến 40 ngày. Chủ trì giới đàn gồm có 10 vị Hòa thượng, trong đó, 1 vị Đắc giới hòa thượng, 1 vị Yết ma a xà lê, 1 vị Giáo thụ a xà lê, gọi là Tam sư hòa thượng, cùng với 7 vị Tôn chứng a xà lê, gọi chung là Tam sư thất chứng. Khi truyền giới thì 2 đàn giới xuất gia chính thụ được truyền trước, sau đó, đến giới Bồ tát xuất gia. Cuối cùng đến giới tại gia thì chia làm 2 giai đoạn là Tam qui Ngũ giới và giới Bồ tát. [X. Truyền thụ tam đàn hoằng giới pháp nghi (Pháp tạng); Truyền giới chính phạm (Độc thể)]. (xt. Truyền Giới).
tam đĩnh viện
Three Pillars, The.
Tam đại
三大; C: sāndà; J: sandai;|Là ba sự huyền diệu to lớn đã có sẵn trong tâm bồ-đề của chúng sinh, được dạy trong luận Đại thừa khởi tín. Sự huyền diệu lớn đầu tiên là Thể đại (體大), có tương quan đến chất lượng căn bản của tâm thức là Chân như. Thứ hai là Tướng đại (相大), có liên hệ đến muôn vàn hiện tượng kì diệu xuất phát từ Như Lai tạng (如來藏; s: tathāgatagarbha), và thứ ba là Dụng đại (用大), liên hệ đến những chức năng có thể thấy được trong việc nỗ lực tu tập để trực chứng tâm bồ-đề. Đại thừa khởi tín luận viết như sau:|云何爲三一者體大謂一切法眞如平等不增減故二者相大謂如來藏具足無量性功徳故三者用大能生一切世間出世間善因果故|Vân hà vi tam? Nhất giả Thể đại vị nhất thiết pháp chân như bình đẳng bất tăng giảm cố. Nhị giả Tướng đại vị Như Lai tạng cụ túc vô lượng tính công đức cố. Tam giả Dụng đại năng sinh nhất thiết thế gian xuất thế gian thiện nhân quả cố.
tam đại
The three great characteristics of the chân như bhùtatathatà ìn the Khởi tín luận Awakening of Faith: (1) Thể đại the greatness of the bhùtatathatà in its essence or substance; it is chúng sinh tâm chi thể tính the embodied nature of the mind of all the living, universal, immortal, immutable, eternal; (2) Tướng đại the greatness of its attributes or manifestations, perfect in wisdom and mercy, and every achievement. (3) Dụng đại the greatness of its functions and operations within and without, perfectly transforming all the living to good works and good karma now and hereafter.
; Ba “Đại” được nói đến trong Khởi Tín Luận—The three great characteristics mentioned in the Awakening of Faith: (A) 1) Thể đại: Substance—The greatness of the bhutatathata in its essence or substance. 2) Tướng đại: Form—The greatness of its attributes or manifestations; perfect in wisdom and mercy and every achievement. 3) Dụng đại: Function—The greatness of its functions and operations within and without, perfectly transforming all the living to good works and good karma now and hereafter. (B) Three generations: 1) Ông: Grandfather. 2) Cha: Father, 3) Con: Son.
; (三大) I. Tam Đại. Chỉ cho bản thể, tướng trạng và tác dụng của Chân như theo thuyết trong luận Đại thừa khởi tín. Ba thứ này rất rộng lớn nên gọi là Đại. Đó là: 1. Thể đại: Bản thể của chân như thường hằng bất biến, không thêm không bớt, bao trùm khắp tất cả, nên gọi là Thể đại.2. Tướng đại: Tướng trạng của chân như đầy đủ vô lượng công đức trí tuệ... Theo nghĩa Như lai tạng thì tướng công đức vô lượng như cát sông Hằng nên gọi là Tướng đại.3. Dụng đại: Tác dụng củachân như có năng lực sinh ra hết thảy nhân quả thiện của thế gian và xuất thế gian, nên gọi là Dụng đại. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 579 thượng) nói: Tự thể của chân như trong tất cả phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và chư Phật, đều không có thêm bớt, chẳng phải trước sinh, sau diệt mà là rốt ráo thường hằng, từ xưa đến nay, vốn tự đầy đủ tất cả công đức. Tự thể ấy có đại trí tuệ quang minh, chiếu rọi khắp pháp giới; tự tính thanh tịnh tâm, thường lạc ngã tịnh, tự tại bất biến, đầy đủ Phật pháp không lìa, không đoạn, không khác, nhiều hơn số cát sông Hằng, không thể nghĩ bàn; do các nghĩa ấy mà tự thể chân như được gọi là Như lai tạng, cũng gọi là Như lai pháp thân. Đây là thuyết Chân như duyên khởi của luận Đại thừa khởi tín. Ngoài ra, các thuyết Duyên khởi như Lục nhân tứ duyên duyên khởi của Tiểu thừa, A lại da thức duyên khởi của tông Pháp tướng, Pháp giới duyên khởi của tông Hoa nghiêm... đều có lập Tam đại. X. Đại thừa khởi tín luận sớ Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận biệt kí]. II. Tam Đại. Chỉ cho bản thể, tướng trạng và tác dụng rộng lớn vô biên của vũ trụ pháp giới theo thuyết của Mật tông. Đó là: 1. Thể đại: Thể của 6 đại đất, nước, lửa, gió, hư không và thức đều hàm nhiếp trong hết thảy hữu tình và phi tình. 2. Tướng đại: Chỉ cho tướng trạng rõ ràng của 4 mạn đồ la là Đại mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la và Yết ma mạn đồ la. 3. Dụng đại: Chỉ cho tác dụng của Tam mật thân, ngữ, ý ứng hợp với nhau trong nghĩa sâu kín.
tam đại bí pháp
(三大秘法) Cũng gọi Tam bí. Chỉ cho 3 pháp môn đại bí mật của tông Nhật liên, Nhật bản. Đó là: 1. Bản môn bản tôn. 2. Bản môn đề mục. 3. Bản môn giới đàn. Ba pháp môn này rất sâu xa, mầu nhiệm, là pháp chứng ngộ giữa Phật với Phật.
tam đại bộ
(三大部) I. Tam Đại Bộ. Cũng gọi Thiên thai tam đại bộ, Pháp hoa tam đại bộ, Tam đại chương sớ. Chỉ cho 3 bộ sách căn bản của tông Thiên thai là Diệu pháp liên hoa kinh văn cú 10 quyển, Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa, 10 quyển và Ma ha chỉ quán, 10 quyển, do Đại sư Trí khải soạn, đệ tử của ngài là sư Quán đính ghi chép. Trong đó, bộ Diệu pháp liên hoa kinh văn cú được ngài Trí khải giảng ở chùa Ngõa quan tại Kim lăng vào năm Khai hoàng thứ 7 (587) đời Tùy, nội dung giải thích rõ câu văn của kinh Pháp hoa; Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa lúc đầu được ngài giảng ở chùa Ngõa quan, sau, vào năm Khai hoàng thứ 13 (593) lại giảng ở chùa Ngọc tuyền tại Kinh châu, nội dung giảng rõ về đề kinh và giáo tướng của Pháp hoa; còn Ma ha chỉ quán cũng do ngài Trí khải giảng cùng thời gian và cũng ở chùa Ngọc tuyền, nội dung giải thích về pháp quán tâm của kinh Pháp hoa. Về các sách chú sớ Tam đại bộ thì có: Tam đại bộ khoa văn 16 quyển (Trạm nhiên), Tam đại bộ bổ chú 14 quyển (Tòng nghĩa) và Tam đại bộ độc giáo kí 20 quyển (Pháp chiếu). [X. Pháp hoa văn cú kí Q.10, thượng; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Đệ tử chí trong Thích môn chính thống Q.3; Sơn gia chính thống học tắc Q.thượng]. . Tam Đại Bộ. Chỉ cho 3 bộ sách lớn của Luật tông do Luật sư Đạo tuyên soạn vào đời Đường, đó là: Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao 3 quyển, Tứ phần luật giới bản sớ 4 quyển và Tứ phần luật yết ma sớ 4 quyển. Ba bộ này là sách căn bản của Tứ phần luật tông Trung quốc. Ngoài ra, còn thêm Thập tì ni nghĩa sao 3 quyển và Tỉ khưu ni sao 3 quyển mà gọi là Ngũ đại bộ. (xt. Ngũ Đại Bộ).
tam đại kỳ kiếp
Kỳ kiếp quá khứ là Trang nghiêm kỳ kiếp. Hiện tại kiếp là Hiền kiếp. Vị lai kiếp là Tinh tú kiếp.
tam đại nguyện
(三大願) I. Tam Đại Nguyện. Cũng gọi Tam đại thệ nguyện, Tam hoằng nguyện. Chỉ cho 3 thệ nguyện lớn của phu nhân Thắng man. Cứ theo chương Tam nguyện trong kinh Thắng man, sau khi được đức Phật thụ kí, phu nhân Thắng man liền phát 3 đại nguyện: 1. Dùng thực nguyện này đem lại sự an ổn cho vô lượng vô biên chúng sinh; nhờ căn lành này, nguyện trong tất cả đời được trí chính pháp. 2. Sau khi được trí chính pháp sẽ hết lòng nói pháp chúng sinh nghe mà không bao giờ mỏi mệt, nhàm chán. 3. Đối với chính pháp mình nhiếp thụ sẽ bỏ cả thân mệnh, tài sản để hộ trì. Phu nhân Thắng man phát nguyện xong, đức Thế tôn liền ghi nhận 3 đại thệ nguyện của Bà. Vì 3 nguyện này là những lời thề nguyền chân thực rộng lớn nên đức Phật đem thu nhiếp tất cả các thệ nguyện của các Bồ tát nhiều như số cát sông Hằng vào trong 3 đại nguyện náy, giống như tất cả sắc đều vào cõi không. [X. kinh Đại bảo tích Q.119; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần cuối; Thắng man nghĩa sớ; Thắng man kinh sớ tường huyền kí Q.6]. II. Tam Đại Nguyện. Chỉ cho 3 thệ nguyện lớn của ngài Nhật liên, Tổ khai sáng của tông Nhật liên, Nhật bản, khi ngài bị lưu đày đến đảo Tá độ. Ba thệ nguyện ấy là: 1. Nguyện được làm cột trụ của Nhật bản.2. Nguyện được làm con mắt của Nhật bản.3. Nguyện được làm chiếc thuyền của Nhật bản. Tức nguyện hoằng dương kinh Pháp hoa để thực hiện 3 đại nguyện trên.
tam đại ngũ tiểu bộ
(三大五小部) Tam đại bộ chỉ cho Diệu pháp liên hoa kinh văn cú 10 quyển, Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa 10 quyển và Ma ha chỉ quán 10 quyển. Còn Ngũ tiểu bộ thì chỉ cho Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ 1 quyển, Kim quang minh kinh huyền nghĩa 2 quyển, Kim quang minh kinh văn cú 6 quyển, Quán âm huyền nghĩa 2 quyển và Quán âm nghĩa sớ 2 quyển. Tất cả những sách trên đây đều do Đại sư Trí khải thuộc tông Thiên thai soạn vào đời Tùy. (xt. Tam Đại Bộ, Ngũ Tiểu Bộ).
tam đại tai
Ba tai họa lớn—Three major calamities: 1) Thủy tai: Calamities of water. 2) Hỏa tai: Calamities of fires. 3) Phong tai: Calamities of wind.
tam đại tam thiên thế giới
Triple-thousand great-thousand worlds.
Tam Đại Thật Lục
(三代實錄, Sandaijitsuroku): một trong Lục Quốc Sử (六國史), 50 quyển, còn gọi là Nhật Bản Tam Đại Thật Lục (日本三代實錄, Nihonsandaijitsuroku). Đây là bộ sử thư kế thừa sau Văn Đức Thật Lục (文德實錄, Montokujitsuroku), được viết theo thể biên niên, ghi lại những sự kiện trong vòng 30 năm của thời đại của 3 vị Thiên Hoàng là Thanh Hòa (清和, Seiwa), Dương Thành (陽成, Yōsei) và Quang Hiếu (光孝, Kōkō). Công trình này mất trong vòng 30 năm, từ tháng 8 năm 858 (niên hiệu Thiên An [天安] thứ 2) cho đến tháng 8 năm 887 (niên hiệu Nhân Hòa [仁和] thứ 3), do nhóm Đằng Nguyên Thời Bình (藤原時平, Fujiwara-no-Tokihira), Đại Tạng Thiện Hành (大藏善行) phụng sắc chỉ soạn. Vào năm 901 (niên hiệu Diên Hỷ [延喜] thứ 1), bộ này được hoàn thành và trình lên triều đình.
tam đại thừa
(三大乘) Chỉ cho 3 nghĩa của Đại thừa nói trong Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng. Đó là: 1. Tính thừa(cũng gọi Lí thừa): Lí tính rỗng không thông suốt, tự nhiên vận chuyển các pháp. 2. Tùy thừa: Trí theo lí cảnh, như nắp theo hộp, tùy lí vận chuyển. 3. Đắc thừa: Đắc nghĩa là được quả, được cơ. Nhờ được quả nên có khả năng tự giải thoát. Tam Đại thừa này là thường, lạc, ngã tịnh nên cùng với 3 đức pháp thân, bát nhã và giải thoát là một, không khác. Lại nữa, Tam quĩ: Chân tính (tức Lí thừa), Quán chiếu(tức Tùy thừa) và Tư thành (tức Đắc thừa) được nói trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5 hạ, cũng tương tự với Tam đại thừa này. Tam đại thừa, Tam quĩ, cho đến Tam đạo rốt cuộc là cùng thể khác tên, đều là diệu pháp có đầy đủ tam thiên tam đế, mỗi mỗi pháp đều dung nhập với nhau một cách mầu nhiệm, tự tại. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Thập nhị môn luận sớ Q.1].
Tam đạo
三道; C: sāndào; J: sandō;|I. Ba thánh đạo (ba con đường lấy giác ngộ làm cơ sở) trong Du-già hành tông: Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道) và Vô học đạo (無學道). II. Ba ác đạo, Tam ác đạo (三惡道). III. Hoặc (惑), Nghiệp (業), Khổ (苦).
tam đạo
(1) The three paths all have to tread; luân hồi tam đạo, tam luân, i.e. (a) phiền não đạo, hoặc đạo the path of misery, illusion, mortality; (b) nghiệp đạo the path of works, action, or doing, productive of karma (c) khổ đạo the resultant path of suffering. As ever recurring they are called the three wheels. (2) Thanh, Duyên, Bồ, sràvakas, pratyeka-buddhas, bodhisattvas.
; (A) Ba con đường mà mọi người chúng ta đều phải đi qua—The three paths all have to tread: 1) Phiền não đạo: The path of misery, illusion, mortality. 2) Nghiệp đạo: The path of works, action or doing, productive of karma. 3) Khổ đạo: The resultant path of suffering. (B) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy: Phật giáo đặt nền tảng trên Tam Học (siksa): Giới, Định, Tuệ. Nghĩa là nếu không trì giới thì tâm không định, tâm không định thì không phát tuệ. Định ở đây bao gồm những kết quả vừa tư biện vừa trực quán. Tiếp đó Đạo Phật còn dạy hành giả phải đi vào Tam Đạo là Kiến đạo, Tu đạo, và Vô học đạo. Đây là ba giai đoạn mà hành giả phải trải qua khi tu tập Kiến Đạo với Tứ Diệu Đế bằng cách thực hành Bát Chánh Đạo; kế đến, hành giả tu tập Tu Đạo với Thất Giác Chi. Tu đạo ở đây lại có nghĩa là kết quả của suy tư chân chánh; và cuối cùng là thực hiện hoàn toàn bằng Vô Học Đạo. Nói cách khác, không thấy được đạo thì không tu được đạo và không thực hiện được đời sống lý tưởng—Buddhism lays stress on the Threefold Learning (siksa) of Higher Morality, Higher Thought, and Higher Insight. That is to say, without higher morals one cannot get higher thought and without higher thought one cannot attain higher insight. Higher thought here comprises the results of both analytical investigation and meditative intuition. Buddhism further instructs the aspirants, when they are qualified, in the Threefold Way (marga) of Life-View, Life-Culture and Realization of Life-Ideal or No-More Learning. These are three stages to be passed through in the study of the Fourfold Truth by the application of the Eightfold Noble Path; in the second stage it is investigated more fully and actualized by the practice of the Seven Branches of Enlightenment, life-culture here again means the results of right meditation; and in the last stage the Truth is fully realized in the Path of No-More-Learning. In other words, without a right view of life there will be no culture, and without proper culture there will be no realization of life. 1) Kiến Đạo—The Path of Life-View: Thấy được chân lý chấm dứt luân hồi sanh tử, như các bậc Thanh Văn và Sơ Địa Bồ Tát. Trong Tứ Diệu Đế, Đạo đế với Bát Thánh Đạo mà Đức Phật dạy hàng Thánh giả phải tu tập (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh mạng, chánh định)—The way or stage of beholding the truth of no reincarnation, i.e. that of the Sravakas and the first stage of the Bodhisattvas. In the Fourfold Noble Truth, the Path to Enlightenment with the Eightfold Noble Path which the Buddha taught to be pursued by the Ariya (right view, right thought, right speech, right action, right mindfulness, right endeavor, right livelihood, right concentration)—See Tứ Diệu Đế and Bát Chánh Đạo. 2) Tu Đạo—The Path of Life-Culture (Cultivating the truth): Giai đoạn thứ hai của con đường nầy là con đường tu tập hay Tu Đạo theo Thất Giác Chi (trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, và xả)—The next stage of the path is the Path of Practice and is described as the Seven Branches of Enlightenment (thorough investigation of the Principle, brave effort, joyous thought, peaceful thought, mindfulness, concentration, and equanimity)—See Thất Giác Chi. 3) Vô Học Đạo—The Path of No-More-Learning: Đã hoàn toàn thấu triệt chân lý mà không phải học nữa. Hành giả đi đến giai đoạn sau cùng, tức là con đường không còn gì để học nữa, Vô Học Đạo. Khi đó kết quả mà hành giả hướng đến khi tu tập tứ diệu đế sẽ tự đến. Khi hành giả đạt đến giai đoạn cuối cùng nầy thì trở thành một vị A La Hán. Theo Tiểu Thừa, đó là quả vị giác ngộ cao nhất. Nhưng theo Đại Thừa, A La Hán chỉ mới giác ngộ được một phần mà thôi. Lý tưởng của đạo Phật là hoàn tất đức tính của con người, hay là đưa con người đến Phật quả bằng căn bản trí tuệ giới hạnh, đó là nhân cách cao nhất. Đó là những đặc điểm của đạo Phật—Completely comprehending the truth without further study. Practitioners proceed to the last stage, i.e., the Path of No-More-Learning. Then the firm conviction that they have realized the Fourfold Truth will present itself. When the Ariya reaches this stage, he becomes an arhat. According to the Hinayanistic view this is the perfect state of enlightenment, but according to the Mahayanistic view an arhat is thought to be only partially enlightened. The purpose of Buddhism is to perfect a man's 'haracter, or to let him attain Buddhahood on the basis of wisdom and right cultivation, i.e., the highest personality. Such are the characteristics of Buddhism—See A La Hán. ** For more information, please see Nghiệp, Khổ, Hoặc nghiệp Khổ, and Phiền Não Nghiệp Khổ.
; (三道) I. Tam Đạo. Cũng gọi Tam tụ. Chỉ cho Hoặc đạo, Nghiệp đạo và Khổ đạo; ba đạo này là nhân quả của sự sinh tử lưu chuyển. 1. Hoặc đạo(cũng gọi phiền não đạo): Là vọng tâm mê hoặc não loạn sự lí các pháp. 2. Nghiệp đạo: Do vọng tâm phát khởi mà 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo tác. 3. Khổ đạo: Lấy hoặc nghiệp làm nhân, chiêu cảm quả của 6 đường trong 3 cõi.Đạo có nghĩa là thông suốt; 3 đức này là từ Hoặc Khởi Nghiệp, do nghiệp cảm khổ; rồi trong Khổ lại khởi Hoặc, cứ thế xoay vần lẫn nhau, sinh tử không dứt, vì thế gọi là Tam đạo. Cũng có chỗ giải thích Hoặc, Nghiệp, Khổ như cái bánh xe quay vòng không dứt nên gọi là Tam đạo. Kim quang minh huyền nghĩa quyển thượng đem 12 nhân duyên phối hợp với Tam đạo, cho rằng 3 chi Vô minh ở quá khứ, Ái và Thủ ở hiện tại là Phiền não đạo, 2 chi Hành ở quá khứ và Hữu ở hiện tại là Nghiệp đạo, 7 chi Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thụ ở hiện tại và Sinh, Lão tử ở vị lai là Khổ đạo. Tông Thiên thai thì y cứ vào Tam báo: Phần đoạn, Phương tiện, và Thực báo mà mỗi báo nói 3 đạo khác nhau, tức cho rằng Kiến hoặc và Tư hoặc là Phiền não đạo phiền não tẩm tưới nghiệp gọi là Nghiệp đạo, chiêu cảm sự sống trong 3 cõi là Khổ đạo, đây là Phần đoạn tam đạo. Trần sa hoặc là Phiền não đạo, nghiệp vô lậu gọi là Nghiệp đạo, biến dịch sinh tử gọi là Khổ đạo, đây là Phương tiện tam đạo. Vô minh là Phiền não đạo, nghiệp chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu là Nghiệp đạo, cõi kia biến hóa đổi dời gọi là Khổ đạo, đây là Thực báo tam đạo. Ngoài ra, theo thuyết Viên giáo của Thiên thai thì Tam đạo và 3 đức pháp thân, bát nhã, giải thoát, cùng với Tam quĩ: Chân tính, Quán chiếu và Tư thành, đều dung hợp lẫn nhau một cách tự tại mầu nhiệm mà cùng thành diệu pháp đầy đủ tam thiên tam đế. [X. luận Câu xá Q.9; luận A tì đàm tâm Q.8; luận Du già sư địa Q.93; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, hạ]. II. Tam Đạo. Chỉ cho 3 giai vị của hàng Thanh văn và Bồ tát là Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo. 1. Kiến đạo (Phạm:Drazana-màrga), cũng gọi Kiến địa: Tức giai vị bắt đầu thấy Tứ đế và đoạn trừ Kiến hoặc. 2. Tu đạo (Phạm: Bhàvanà-màrga), cũng gọi Tu địa, Phân biệt địa: Tức giai vị thường tu tập để đoạn trừ Tu hoặc. 3. Vô học đạo (Phạm: Azaikwamàrga), cũng gọi Vô học địa: Tức giai vị đoạn trừ hết sạch các hoặc, cởi bỏ mọi sự buộc. Trong đó, Kiến đạo và Tu đạo cũng gọi là Hữu học đạo; Kiến đạo chỉ có vô lậu, còn Tu đạo thì có cả hữu lậu và vô lậu. Nếu phối hợp cả 3 đạo này với 4 hướng 4 quả thì Kiến đạo là Dự lưu hướng, Tu đạo là 3 hướng sau và 3 quả Dự lưu, Nhất lai và Bất hoàn, còn Vô học đạo là quả A la hán. Nếu phối hợp 3 đạo với 5 vị của Duy thức thì theo thứ tự là Thông đạt vị, Tu tập vị, và Cứu cánh vị. Nếu phối hợp với Thập địa thì theo thứ tự là Sơ địa, Nhị địa cho đến Cửu địa, Thập địa và Phật địa. X. luận Câu xá Q.21, 25; luận Chương sở tri Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Ngũ Vị, Tứ Hướng Tứ Quả). III. Tam Đạo. Chỉ cho Chứng đạo, Trợ đạo, và Bất trụ đạo nói trong Thập địa kinh luận quyển 10. Đó là: 1. Chứng đạo: Chứng ngộ lí của thực tính. Chứng có nghĩa là biết được vàkhế hợp; tâm thầm hợp thực tính, không có phân biệt, khế hội bình đẳng, cho nên gọi là Chứng. 2. Trợ đạo: Hạnh giúp đở cho 6 độ. Trợ có nghĩa là nâng đở thuận giúp, hạnh nâng đỡ trợ giúp 6 độ để thành tựu bồ đề, nên gọi là Trợ. 3. Bất trụ đạo: Phương tiện và trí tuệ ngang nhau, không thiên không chếch. Bất trụ có nghĩa là lìa chấp trước; xảo (phương tiện) tuệ (trí tuệ) song tu, không bám dính vào bất cứ chỗ nào mà du hành khắp nơi, vì thế gọi là Bất trụ. X. Đại thừa nghĩa chương Q.10].
tam đạo bảo giai
(三道寶階) Cũng gọi Tam đạo bảo thê. Ba bậc thềm báu bằng vàng, bạc và lưu li, tức là 3 bậc thềm mà đức Phật bước xuống khi Ngài từ cung trời Đao lợi trở lại nhân gian. Tương truyền, đức Phật từng lên cung trời Đao lợi trong 3 tháng để nói pháp cho thân mẫu là phu nhân Ma da nghe. Sau đó, lúc Ngài từ cõi trời trở về nhân gian, trời Đế thích liền hóa hiện ra 3 bậc thềm bằng vàng, bạc, và lưu li để đức Phật bước xuống, gọi là Tam đạo bảo giai. Kinh A súc Phật quốc quyển thượng (Đại 11, 757 thượng) nói: Cõi Phật A súc dùng 3 thứ báu làm thềm thang, 1 là vàng, 2 là bạc, 3 là lưu li. Khi từ cõi trời Đao lợi xuống cõi Diêm phù hoặc từ cõi trời Đao lợi đến chỗ đức A súc Như lai thì bước từ thềm thang này mà xuống. Như vậy, việc Hải long vương hóa làm 3 bậc thềm báu bằng vàng, bạc, lưu li, để rước đức Phật, chúng tỉ khưu và các Bồ tát đến cung điện dưới đáy biển được ghi trong kinh Hải long vương quyển 3, thực ra đã lấy ý từ câu chuyện đức Phật lên cung trời Đao lợi thuyết pháp. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; phẩm Liên hoa sắc tỉ khưu ni trong kinh Nghĩa túc Q.hạ; phẩm Kiến a súc Phật trong kinh Duy ma Q.hạ; Cao tăng pháp hiển truyện].
Tam đạo quả
xem Ba quả đạo.
tam đạt
Xem tam minh.
; Ba siêu việt của Phật—The three aspects of the omniscience of Buddha: 1) Biết nghiệp tương lai: Knowledge of future karma. 2) Biết nghiệp quá khứ: Knowledge of past karma. 3) Biết phiền não và giải thoát trong hiện tại: Knowledge of present illusion and liberation.
tam đảnh lễ
Three prostrates or prostrating to the Triple Jewel. 1) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo—With one mind I now prostrate: Namo to the end of space of all the infinite dharma realms of the three lifespans of all the ten directions of Buddhas, Dharmas and virtuous Sangha of the Unchanging Triple Jewels. 2) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát—With one mind I now prostrate: Namo the ruler of the Saha World, Sakyamuni Buddha, future born Maitreya Buddha, Great Wisdom Manjusri Maha-Bodhisattva, Great Conduct Samantabhadra Maha-Bodhisattva, Dharma Protectors Maha-Bodhisattvas, Mount Gradhakuta Assembly of Buddha and Maha-Bodhisattvas. 3) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát—With one mind I now prostrate: Namo Western Ultimate Bliss World, the Greatly Compassionate Amitabha Buddha, Greatly Compassionate Avalokitesvara Bodhisattva, Great Strength Mahasthamaprapta, Bodhisattva, Great Vow Ksitigarbha King Bodhisattva, and the Ocean Assembly of Peaceful Bodhisattva.
tam đảo
xem ba sự điên đảo.
tam đắc
Ba loại thọ giới—Three kinds of obtaining the commandments. 1) Đắc Giới: Hiểu và hành trì được theo giới pháp—To attain to the understanding and performance of the moral law—See Đắc Giới. 2) Tác Pháp Đắc: Được truyền giới qua nghi thức—To obtain ordination in a ceremony—See Tác Pháp Đắc. 3) Tự Thệ Đắc: Self-ordination—See Tự Thệ Thọ Giới.
tam đẳng
The three equal and universal characteristics of the one Tathàgata, an esoteric definition: (1) (a) his body thân; (b) discourse ngữ ;(c) mind ý (2) (a) his life or works tu hành; (b) spiritual body pháp thân; (c) salvation độ sinh; in their equal values and universality.
; Ba bình đẳng tánh—Three equal and universal characteristics of the one Tathagata: (A) 1) Thân: Body. 2) Ngữ: Discourse. 3) Ý: Mind. (B) 1) Tu hành: Buddha's life or works. 2) Pháp thân: Spiritual body. 3) Độ sinh: Salvation.
; (三等) I. Tam Đẳng. Cũng gọi Tam bình đẳng, Tam tam muội da. Mật giáo lấy Tam mật(thân mật, ngữ mật, ý mật) bình đẳng làm Tam bình đẳng, đây là 1 trong những giáo nghĩa nền tảng của Mật giáo. Tất cả các hành pháp Chân ngôn đều lấy Tam đẳng này làm căn bản. Đại nhật kinh khai đề (Đại 58, 1 thượng) nói: Lí tam đẳng, kia đây không khác. [X. kinh Đại nhật Q.6]. II. Tam Đẳng. Chư Phật lấy 3 việc tu hành, pháp thân và độ sinh làm bình đẳng. Luận Câu xá quyển 27 (Đại 29, 141 trung) nói: Do 3 việc nên chư Phật đều bình đẳng như nhau, 1 là do Tư lương bình đẳng nên tất cả đều viên mãn; 2 là do pháp thân bình đẳng nên mọi việc đều thành tựu; 3 là do việc lợi tha bình đẳng nên đều được rốt ráo.
tam đẳng chí
(三等至) Cũng gọi Tam định. Chỉ cho 3 tính chất: Vị, tịnh và vô lậu của 8 thứ thiền định căn bản: 1. Vị đẳng chí (Phạm: Àsvàdanasamàpatti): Định tương ứng với phiền não tham mà đắm trước đối với cảnh địa mình đang trụ. Cũng tức là người độn căn tham nhiễm đối với mùi vị công đức của tĩnh lự. 2. Tịnh đẳng chí (Phạm: Zuddhasàmàpatti): Định tương ứng với các pháp thanh tịnh như vô tham... Cũng tức là những người trung căn hoặc lợi căn rõ biết cái tai hại của sự tham đắm mùi vị nên không tương ứng với ái. 3. Vô lậu đẳng chí (Phạm:Anàsravasamàpatti): Định không tương ứng với ái, cũng không đắm nhiễm mùi vị xuất thế. Cũng tức là những người Tùy tín hành, Tùy pháp hành hoặc Bạc trần hành Tam Đạo Bảo Giai quán xét 4 đế, lại tu hiện quán mà vào định vô lậu. Trong 8 thiền định căn bản thì 7 định trước có đủ tướng của Tam đẳng chí. [X. luận Đại trí độ Q.17; luận Đại tì bà sa Q.162; luận Câu xá Q.28; luận Du già sư địa Q.12; luận Hiển dương thánh giáo Q.2]. (xt. Định).
tam đẳng lưu
Three equal or universal currents or consequences, i.e. chân đẳng lưu the certain consequences that follow on a good, evil, or neutral kind of nature, respectively; giả đẳng lưu the temporal or particular fate derived from a previous life's ill deeds, e.g. shortened life from taking life; phân vị đẳng lưu each organ as reincarnated according to its previous deeds, hence the blind.
; Three equal or universal currents or consequences: 1) Chân đẳng lưu: Hậu quả theo sau hành động thiện, bất thiện hay trung tính—The certain consequences that follow on a good, evil or neutral kind of nature respectively. 2) Giả đẳng lưu: Hậu quả đặc biệt của tiền kiếp như giết người thì yểu mệnh—The temporal or particular fate derived from a previous life's ill deeds (shortened life from taking life). 3) Phân vị đẳng lưu: Từng bộ phận khi tái sanh theo hậu quả trước, chẳng hạn mình làm mù mắt ai trong kiếp trước thì kiếp nầy mình mù mắt—Each organ as reincarnated according to its previous deeds (if you had made someone blind in your previous life, you will be blind this or next life).
; (三等流) Chỉ cho 3 tính chất: Chân, Giả, và Phần vị của quả Đẳng lưu trong 5 quả do tông Duy thức thành lập. 1. Chân đẳng lưu: Do nhân thiện, ác, vô kí(không thiện không ác) mà dẫn sinh ra quả thiện ác, vô kí cùng loại. Vì tính chất của nhân và quả là chân thực và lưu loại giống nhau nên gọi là Chân đẳng lưu.2. Giả đẳng lưu: Như đời trước giết hại, rút ngắn mệnh sống của chúng sinh thì đời này mệnh sống của mình cũng ngắn. Quả và nhân này có ý nghĩa giống nhau, vì giả gọi là Đẳng lưu nên có tênGiả đẳng lưu. 3. Phần vị Đẳng lưu: Các thức mắt, tai... đều theo loại của mình mà chuyển biến, như thức mắt từ chủng tử của thức thứ 8 mà sinh, đối với sắc trần gọi là Đẳng lưu quả; nếu thức thứ 6 từ chủng tử thức mà sinh khởi các phân biệt thì cũng gọi là Đẳng lưu quả. Vì phần vị của thức và trần giống nhau nên gọi là Phần vị Đẳng lưu.[X. Tông kính lục Q.71].
Tam đẳng trì
xem ba pháp tam-muội.
tam đẳng trì
Samadhi-equilibrium.
Tam Đế
(三諦, Santai hay Sandai): gồm Không (空), Giả (假), và Trung (中) được Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, c: Zhì-yĭ, j: Chigi, 538-597) triển khai thuyết Chơn Tục Nhị Đế (眞俗二諦) từ tư tưởng Tam Quán (三觀). Có nghĩa rằng nếu đứng trên bình diện phủ định thì hết thảy các tồn tại đều không có thật thể nên được xem là không và gọi là Không Đế (空諦). Tuy thật thể không có, nhưng trên bình diện khẳng định thì hết thảy các pháp đều tồn tại nhờ nhân duyên, nên được xem như là giả và gọi là Giả Đế (假諦). Và nếu đứng về mặt bản thể siêu việt cả không và giả thì cả Không Đế cũng như Giả Đế đều mang tính hiện tượng cả, nên được gọi là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế (中道第一義諦). So với Tam Đế của Biệt Giáo, Tam Đế của Viên Giáo được gọi là Tam Đế Viên Dung (三諦圓融) của cái gọi là Tức Không Tức Giả Tức Trung mà dung nhiếp cả Tam Đế vào trong một đế. Như trong Thỉ Chung Tâm Yếu Chú (始終心要注) do Kinh Khê Đại Sư Trạm Nhiên (荊溪大師湛然, 711-782) thuật, có đoạn: “Tam Đế thị nhất pháp, Phật thuyết chủng chủng danh, Long Mãnh ngộ chi nhi tạo luận, Trí Giả đắc chi dĩ khai thác, Kinh Khê truyền chi vi tâm yếu (三諦是一法、佛說種種名、龍猛悟之而造論、智者得之以開拓、荊溪傳之爲心要, Tam Đế là một pháp, Phật thuyết đủ các tên, Long Thọ ngộ nó mà tạo ra luận, Trí Khải đạt được nó mà khai thác, Kinh Khê truyền nó làm tâm yếu).”
Tam đế
三諦; C: sāndì; J: sandai;|»Ba chân lí« hoặc »Chân lí ba phần«. Một thuật ngữ của tông Thiên Thai để giải thích hiện thật qua ba khía cạnh: 1. Không đế (空諦), sự thật của Tính không, nghĩa là tất cả những hiện hữu đều trống không, không có một bản chất nào; 2. Giả đế (假諦), tất cả đều là giả hợp tạm thời. Tất cả những hiện hữu đều do nhân duyên hợp lại mà thành; 3. Trung đế (中諦), sự thật không thể được diễn bày qua phủ định hoặc xác định, mà nằm ở khoảng giữa.
tam đế
(三諦) Chỉ cho Không đế, Giả đế và Trung đế là chân lí của thực tướng các pháp theo thuyết của tông Thiên thai. Cách chia Tam đế này có xuất xứ từ phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Anh lạc bản nghiêp quyển thượng và phẩm Nhị đế trong kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng. TrongPháp hoa huyền nghĩa quyển 1, thượng, 2 hạ và Ma ha chỉ quán quyển 1, hạ, 3 thượng, 5 thượng... ngài Trí khải nói về Tam đế như sau: 1. Không đế(cũng gọi Chân đế, Vô đế): Các pháp vốn không, chúng sinh không rõ, chấp đó là thực nên sinh ra vọng kiến. Nếu dùng Không quán để đối trị thì tính chấp tự diệt, liền lìa các tướng, tỏ ngộ lí chân không. 2. Giả đế(cũng gọi Tục đế, Hữu đế): Các pháp tuy vốn không nhưng khi nhân duyên hội tụ thì hiện ra có rõ ràng; ở trong chỗ không ấy mà giả lập tất cả pháp, cho nên gọi là Giả đế. 3. Trung đế(cũng gọi Trung đạo đệ nhất nghĩa đế): Dùng Trung quán mà quán xét thì các pháp xưa nay chẳng lìa 2 bên, chẳng là 2 bên, chẳng phải chân chẳng phải tục, là Chân là Tục, thanh tịnh rỗng suốt, viên dung vô ngại, cho nên gọi là Trung đế. Tam đế tuy là luận thuyết của Biệt giáo và Viên giáo trong 4 giáo Hóa pháp, nhưng Tam đế của Biệt giáo có nhiều cách gọi, như Cách lịch Tam đế, Lịch biệt tam đế, Thứ đệ tam đế, Bất dung tam đế, Biệt tướng tam đế, Lị dĩ tam đế... Tức Tam đế mỗi đế là 1 chân lí độc lập, trong đó, Không đế và Giả đế là nói về hiện tượng, còn Trung đế là bàn về bản thế, cho nên Không đế và Giả đế thì kém hơn, còn Trung đế là thù thắng nhất. Đối lại, Tam đế của Viên giáo cũng có nhiều tên gọi, như Viên dung tam đế (cũng gọi Tam đế viên dung), Nhất cảnh tam đế, Bất thứ đệ tam đế, Phi tung phi hoành tam đế, Bất tư nghị tam đế... Tuy nhiên, Tam đế này chẳng phải hoàn toàn cô lập mà là dung nhập lẫn nhau, hình thành Tam đế Tức không, Tức giả, Tức trung. Pháp tu quán xét về chân lí của Tam đế này gọi là Tam đế viên dung quán của Viên giáo, chủ trương trong 1 niệm của chúng sinh có đầy đủ Tam đế viên dung, gọi là Nhất tâm tam quán. Tông Thiên thai lại y cứ vào 5 giai đoạn tu hành khác nhau là Biệt nhập Thông, Viên nhập Thông, Biệt giáo, Viên nhập Biệt và Viên giáo mà cứu xét về sự sâu cạn của Tam đế, đó là: 1. Biệt nhập Thông(cũng gọi Biệt tiếp Thông): Chỉ cho hàng Thông giáo tiếp vào căn cơ của Biệt giáo. Những người này nghe nói chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, bèn cho hữulậu là Tục đế, vô lậu là Chân đế và chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu là Trung đạo. Cho nên biết rằng cái mà những người Thông giáo tiếp vào căn cơ Biệt giáo gọi là Trung đạo là do họ lãnh ngộ Trung đế từ Chân đế và Tục đế do Thông giáo chủ trương, đây chính là Đãn trung, chỉ có ý nghĩa Song phi chứ không có ý nghĩa Song chiếu. 2. Viên nhập Thông(cũng gọi Viên tiếp Thông): Tức hàng Thông giáo được tiếp vào căn cơ Viên giáo. Chân đế và Tục đế mà những người này hiểu cũng không khác với hàng Biệt nhập Thông, nhưng khi họ nghe nói chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, thì có đủ cả ý nghĩa Song phi và Song chiếu, cho nên biết Trung đạo mà những người này lãnh ngộ khác hẳn với Trung đạo do những người Biệt nhập Thông lãnh ngộ, đây là Trung đạo Bất đãn trung. 3. Biệt giáo: Những người này cho hữu là Giả đế, Không là Chân đế, Phi hữu phi không là Trung đạo, cho nên biết cái mà những người này gọi là Trung đạo cũng là Đãn trung. 4. Viên nhập Biệt(cũng gọi Viên tiếp Biệt): Tức hàng Biệt giáo được tiếp vào căn cơ Viên giáo. Chân đế và Tục đế mà những người này hiểu cũng không khác với 3 hạng người nói trước đó, nhưng Trung đạo mà họ lãnh ngộ là Bất đãn trung đầy đủ tất cả Phật pháp. 5. Viên giáo: Những người này không chỉ hiểu rõ Trung đạo đầy đủ tất cả Phật pháp, mà còn hiểu rõ Chân đế và Tục đế do họ lãnh ngộ cũng đều đầy đủ Phật pháp, 3 đế viên dung, 1 tức 3, 3 tức 1; họ là những người thù thắng nhất trong 5 hạng người nói trên. Ngoài ra, chân lí của Tam đế, nếu phải thích ứng với tâm(tình)của phàm phu mà đặt ra cách nói thì gọi là Tùy tình thuyết. Nếu đối với hàng Bồ tát từ Thập tín trở lên, nói Không đế, Giả đế là tình, nói Trung đế là ngộ trí thì gọi là Tùy tình trí thuyết. Nếu đối với hàng Bồ tát từ Thập trụ trở lên, nói Bất tư nghị tam đế do chân trí chiếu rọi thì gọi là Tùy trí thuyết. [X. Kim quang minh kinh văn cú Q.2, 4, 5; Quán âm huyền nghĩa Q.4; Ma ha chỉ quán Q.7, thượng]. (xt. Nhất Tâm Tam Quán).
tam đế thiên thai
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, nếu bạn giả thuyết thật thể là một bản thể trường tồn là bạn hoàn toàn mê hoặc, thế nên tông Thiên Thai đề ra ba chân lý hay tam đế. Theo tông nầy thì cả ba chân lý ấy là ba trong một, một trong ba. Nguyên lý thì là một, nhưng phương pháp diễn nhập lại là ba. Mỗi một trong ba đều có giá trị toàn diện—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, if you suppose noumenon to be such an abiding substance, you will be misled altogether; therefore, the T'ien-T'ai School sets forth the threefold truth. According to this school the three truths are three in one, one in three. The principle is one but the method of explanation is threefold. Each one of the three has the value of all: 1) Không Đế: Chân lý của của Không—The truth of void—Mọi sự thể đều không có hiện thực tính và do đó, tất cả đều không. Vì vậy, khi luận chứng của chúng ta y cứ trên “Không,” chúng ta coi “Không” như là siêu việt tất cả ba. Như vậy, cả thảy đều là “Không.” Và khi một là không thì cả thảy đều là “Không.” (Nhất không nhất thiết không, nhất giả nhất thiết giả, nhất trung nhất thiết trung). Chúng còn được gọi là “Tức không, tức giả, và tứ trung,” hay Viên Dung Tam Đế, ba chân lý đúng hợp tròn đầy, hay là tuyệt đối tam đế, ba chân lý tuyệt đối. Chúng ta không nên coi ba chân lý nầy như là cách biệt nhau, bởi vì cả ba thâm nhập lẫn nhau và cũng tìm thấy sự dung hòa và hợp nhất hoàn toàn. Một sự thể là không nhưng cũng là giả hữu. Nó là giả bởi vi nó không, và rồi, một sự là không, đồng thời là giả cho nên cũng là trung—All things have no reality and, therefore, are void. Therefore, when our argument is based on the void, we deny the existence of both the temporary and the middle, since we consider the void as transcending all. Thus, the three will all be void. And, when one is void, all will be void (When one is void, all will be void; when one is temporary, all is temporary; when one is middle, all will be middle). They are also called the identical void, identical temporary and identical middle. It is also said to be the perfectly harmonious triple truth or the absolute triple truth. We should not consider the three truths as separate because the three penetrate one another and are found perfectly harmonized and united together. A thing is void but is also temporarily existent. It is temporary because it is void, and the fact that everything is void and at the same time temporary is the middle truth. 2) Giả Đế: Chân lý của giả tạm—The truth of temporariness—Dù sự thể có hiện hữu thì cũng chỉ là giả tạm. Giống như khi biện luận về Không Đế, khi một là Giả thì tất cả là Giả—Although things are present at the moment, they have temporary existence. The same will be the case when we argue by means of the temporary truth. 3) Trung Đế: Chân lý của phương tiện—The truth of mean—Sự thể chỉ là phương tiện, hay quảng giữa. Giống như biện luận trên Không Đế, khi một là Trung thì tất cả là Trung. Trung không có nghĩa là ở giữa hai cái phi hữu và giả hữu, mà nó ở trên, nó vượt qua cả hai. Thực ra nó là cả hai bởi vì thực tướng có nghĩa Trung chính là không tướng và giả tướng—They are only mean or middle. The same will be the case when we argue by means of the middle truth. The middle does not mean that it is between the non-existence and temporary existence. In fact, it is over and above the two; nor it is identical with the two, because the true state means that the middle is the very state of being void and temporary.
tam đế tương tức
(三諦相即) Chỉ cho Tam đế Không, Giả, Trung viên dung bất nhị của Viên giáo Thiên thai, khác với Tam đế cách lịch của Biệt giáo.[X. Ma ha chỉ quánQ.3, thượng]. (xt. Tam Đế).
Tam đế viên dung quán
三諦圓融觀; C: sāndì yuánróng guān; J: sandaienyūkan;|Sự quán sát nguyên tắc hiện thật, giúp hành giả nhận thức được tính viên dung thông suốt của Tam đế: Không, Giả và Trung.
tam đề
The three dogmas. The "middle school" of Thiên Thai says tức không, tức giả, tức trung; (a) by không sùnya is meant that things causally produced are in their essential nature unreal (or immaterial); (b) giả though things are unreal in their essential nature their derived forms are real; (c) trung but both are one, being of the one như or reality. These three dogmas are founded on a verse of Nàgàrjuna: Nhân duyên sở sinh pháp, Ngã thuyết tức thị không, Diệc vi thị giả danh, Diệc thị trung đạo nghĩa. All causally produced phenoma, I say, are unreal, Are but a passing name, and indicate the "mean".
tam đề tương tức
The unity of không, giả, trung, three aspects of the same reality, taught by the viên giáo as distinguished from the biệt giáo which separates them.
Tam địa
三地; C: sāndì; J: sanchi;|Địa vị thứ ba trong Thập địa; được gọi là Phát quang địa (發光地; theo Nhị chướng nghĩa 二障義.)
tam địa
(三地) I. Tam Địa. Chỉ cho 3 chỗ nương ở trong 3 cõi được chia theo sự Hữu, Vô của 2 tâm sở Tầm và Tứ như sau: 1. Hữu tầm hữu tứ địa: Chỗ nương ở cõi Dục và Sơ tĩnh lự. 2. Vô tầm hữu tứ địa: Chỗ nương ở trong tĩnh lự trung gian. 3. Vô tầm vô tứ địa: Các chỗ nương ở từ Đệ nhị tĩnh lự trở lêncho đến Hữu đính địa. Sự phân biệt Tam địa là chung cho cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. Tầm và Tứ là tâm sở phân biệt thô và tâm sở phân biệt tế do đối cảnh sinh ra. [X. luận Câu xá Q.2]. (xt. Tứ, Tầm). II. Tam Địa. Chỉ cho Phát quang địa, là địa thứ 3 trong Thập địa bồ tát. Bồ tát ở địa vị này đã sạch hết tình kiến đồng dị, ánh sáng trí tuệ của bản giác đã khai phát.
tam định
xem ba pháp tam-muội.
; Three Samadhis—See Tam Giải Thoát.
tam định tụ
(三定聚) Phạm: Trayo-ràzaya#. Pàli:Tayo ràsì. Gọi tắt: Tam tụ,Tam đế. Chỉ cho 3 loại chúng sinh được chia theo lập trường tu hành cầu chính quả, đó là: Chính định tụ, Tà định tụ, Bất định tụ. Ba loại Định tụ này còn có nhiều tên khác như: Chính tính định tụ, Tà tính định tụ, Bất định tính tụ; hoặc Tất chính tụ, Tất tà tụ, Bất định tụ; hoặc Trực kiến tế, Tà kiến tế, Diệc bất tại tà diệc bất tại chính kiến tế(gọi tắt là Chính định, Tà định, Bất định). Tên gọi của 3 tụ nói trên được thấy trong kinh A hàm; tuy nhiên, kinh A hàm còn nói 3 tụ khác nữa là Đẳng tụ, Tà tụ, Bất định tụ; hoặc Thiện tụ, Đẳng tụ và Định tụ. Cứ theo luận Câu xá quyển 10, các bậc Thánh từ Kiến đạo trở lên dứt hết Kiến hoặc... thì tất định chứng vào Trạch diệt (tức Niết bàn, được gọi là Chính tính), đây là Chính tính định tụ; những người phạm 5 tội Vô gián thì chắc chắn phải đọa vào địa ngục, đây là Tà tính định tụ(ba đường ác gọi là Tà tính); còn các trường hợp khác thì tùy theo thứ tự bất định, đó là Bất định tính tụ. Luận Du già sư địa quyển 64 chia mỗi tụ trong 3 tụ làm 2 loại là Bản tính và Phương tiện mà thành là 6 tụ. Dựa theo đó, tông pháp tướng căn cứ vào giáo nghĩa Ngũ tính các biệt để giải thích. Còn tông Hoa nghiêm thì theo 5 phương diện đắc, thất như chủng tính, giải hoặc, hành nghiệp, tà chính vị và Đại thừa bồ tát để giải thích. Luận Thích ma ha diễn quyển 1, phối hợp 3 tụ với giai vị Bồ tát, cho rằng Thập tín trở xuống là Tà định, Thập tín là Bất định, Thập tín trở lên là Chính định. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì ở cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà không có Tà định tụ và Bất định tụ..., tất cả đều trụ trong Chính định tụ mà thường được gọi là Xứ bất thoái(không còn trở lui để bị rơi vào chỗ ác duyên). Căn cứ vào đây mà Tịnh độ Chân tông của Nhật bản cho rằng hành giả tin vào tha lực theo nguyện thứ 18 là Chính định tụ; hành giả tạp tu muôn điều thiện theo điều nguyện thứ 19 là Tà định tụ; còn những hành giả dùng tự lực niệm Phật theo nguyện thừ 20 là Bất định tụ. Chỉ có các hành giả Chính định tụ được Báo độ chân thực mới có khả năng thành Phật. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.12; luận Đại tì bà sa Q.186; Hoa nghiêm kinh thám huyền nghĩa Q.3; Viên giác kinh đại sớ sao Q.3, phần đầu].
Tam Đồ
(三途・三塗): ba đường gồm hỏa đồ, đao đồ và huyết đồ, đồng nghĩa với Địa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh của Ba Đường Ác, do vì các nghiệp ác của thân, miệng và ý gây ra nên dẫn đến kết quả sanh vào ba đường này. (1) Hỏa Đồ (tức đường Địa Ngục): do vì chúng sanh của cõi này thường chịu nỗi khổ bức bách, nóng bỏng của lò sôi, vạc cháy, hoặc do vì nơi ấy lửa tích tụ rất nhiều, nên có tên gọi là Hỏa Đồ. (2) Đao Đồ (tức đường Ngạ Quỷ): do chúng sanh ở cõi này thường chịu cái khổ bức bách của đao gậy nên có tên gọi như vậy. (3) Huyết Đồ (tức đường Súc Sanh): do chúng sanh ở cõi này tranh giành cấu xé lẫn nhau, người mạnh lấn áp kẻ yếu, uống máu ăn thịt nhau, nên có tên gọi như vậy.
Tam đồ
xem Ba đường ác.
tam đồ
The three unhappy gati or ways: (1) Hỏa đồ to the fire of hell; (2) Huyết đồ to the hell of blood, where as animals they devour each other; (3) Đao đồ the asipattra hell of swords, where the leaves and grasses are sharp-edged swords.
; Ba đường dữ—The three unhappy gati or ways: 1) Hỏa đồ: The hell of fires. 2) Huyết đồ: The hell of blood where animals devour each other. 3) Đao đồ: The hell of swords where the leaves and grasses are sharp-edged swords.
; (三塗) Ba đường. Chỉ cho Hỏa đồ(đường lửa), Đao đồ(đường dao), và Huyết đồ(đường máu), đồng nghĩa với Tam ác đạo là địa ngục, ngã quỉ, và súc sinh, là những nơi do các nghiệp ác của thân, khẩu, ý dẫn đến.1. Hỏa đồ: Tức địa ngục đạo. Chúng sinh ở đây chịu khổ nung nấu như bị bỏ vào vạc dầu sôi, lò than hồng; hoặc ở đây có rất nhiều đống lửa lớn thiêu đốt tội nhân, vì thế gọi là Hỏa đồ. 2. Đao đồ: Tức ngã quỉ đạo. Chúng sinh chịu tội ờ đây thường bị cái khổ đánh chém bằng dao gậy và bức bách xua đuổi, cho nên gọi là Đao đồ. 3. Huyết đồ: Tức súc sinh đạo. Vì chúng sinh chịu tội ở đây thường bị cái khổ kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, ăn nuốt lẫn nhau, uống máu của nhau nên gọi là Huyết đồ.Chữ Đồ ờ đây có 2 nghĩa: Một là tàn hại, như đồ thán, hai là nơi đến, tức A ba da già để (apaya-gati,Hán dịch: Ác thú, ác đạo) nói trong kinh Vô lượng thọ bản tiếng Phạm. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.11; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Tam Ác Thú).
tam đồ chi xuyên
(三途之川) Cũng gọi Tam đồ hà, Tam lại xuyên, Độ hà, Táng đầuhà. Chỉ cho bến Nại hà. Bến này nằm ở nửa đường đi đến cõi U minh. Tương truyền, sau khi chết được 7 ngày, vong linh người chết phải đi qua bến này. Ở đây có 3 dòng thác chảy êm đềm, và chảy cuồn cuộn khác nhau, tức thác Sơn thủy, thác Thâm uyên và thác có cầu bắc ngang. Người chết tùy theo nghiệp đã tạo lúc còn sống, phải đi qua 1 trong 3 dòng thác này. Ba dòng thác này gọi là Tam đồ. Trên bờ thác có 1 cái cây rất to gọi là Y lãnh thụ(cây lãnh áo), trên cây có 2 con quỉ cư trú, đó là Đoạt y bà(bà cướp áo) và Huyền y ông (ông treo áo). Khi vong linh người chết đi qua đây, 2 con quỉ này cướp lấy y phục của họ rồi đem treo lên cành cây Y lãnh, tùy theo tội lỗi tạo tác lúc sinh tiền nặng, nhẹ khác nhau mà cành cây rũ xuống cũng có cao, thấp khác nhau. Thuyết này nói trong kinh Thập vương. Nhưng kinh này bị giới nghiên cứu cho là kinh giả, nên thuyết này chẳng phải đã có từ Ấn độ.
tam đồ lục đạo
Ba nẻo sáu đường—Three miserable paths and six realms—See Tam Đồ, Tam đồ Ác đạo and Lục Đạo in Vietnamese-English Section.
tam đồ ác đạo
Ba đường dữ—Three realms (paths) of woe—Three lower paths of the six destinations—The paths of evil deeds—Three evil courses—Three miserable worlds: 1) Địa ngục: The hells. 2) Ngạ quỷ: The world of hungry ghosts. 3) Súc sanh: The world of animals.
tam đồ đối tam độc
(三途對三毒) Tam đồ được phối hợp với Tam độc. Đại minh Tam tạng pháp số quyển 12 đem Tam đồ phối hợp với Tam độc như sau:1. Hỏa đồ phối với sân hận: Nếu chúng sinh không có tâm từ bi, thường mang lòng sân hận thì sẽcảm sinh vào đường địa ngục, thường xuyên bị bức não bởi cái khổ nung nấu của vạc dầu, lò than. 2. Đao đồ phối với khan tham: Nếu chúng sinh không có tâm huệ thí, thường mang lòng tham lam, bỏn sẻn thì cảm sinh vào đường ngạ quỉ, thường xuyên bị bức não bởi cái khổ của dao gậy, đánh chém, lùa đuổi. 3. Huyết đồ phối với ngu si: Nếu chúng sinh không có trí tuệ, ngu ngơ ngây dại thì sẽ cảm sinh vào đường súc sinh, thường bị bức não bởi cái khổ kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, ăn thịt, uống máu, nhai nuốt lẫn nhau.
tam đỗng
Three penetrations.
Tam Độc
(三毒): còn gọi là Tam Hỏa (三火), Tam Cấu (三垢), Tam Bất Thiện Căn (三不善根); ba độc, ba loại phiền não, gồm Tham Dục (貪欲), Sân Nhuế (瞋恚) và Ngu Si (愚癡); hay Tham, Sân, Si; Dâm (淫), Nộ (怒), Si (癡); Dục (欲), Sân (瞋), Vô Minh (無明). Hết thảy phiền não đều được gọi là độc; ba loại phiền não này thông nhiếp cả Ba Cõi, làm độc hại thiện tâm của chúng sanh; có thể khiến cho chúng hữu tình vĩnh kiếp chịu khổ, không thể nào lìa ra khỏi được. Ba Độc này là căn nguyên các việc làm ác của thân, miệng và ý. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 34 phân ba độc thành Chánh Tam Độc (正三毒, tức Tham Dục, Sân Nhuế, Ngu Si) và Tà Tam Độc (邪三毒, tức Tà Tham Dục, Tà Sân Nhuế, Tà Kiến Ngu Si). Đối với Tà Tam Độc thì khó độ, Chánh Tam Độc thì dễ độ; cho nên cõi Tịnh Độ của chư Phật chỉ có Chánh Tam Độc mà thôi. Theo Đại Tạng Pháp Số (大藏法數) quyển 15, hàng Nhị Thừa, Bồ Tát đều có Ba Độc. Hàng Nhị Thừa vui mừng cầu Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃) là tham dục, chán ghét xa lìa sanh tử là sân nhuế, mê ở trong Trung Đạo (s: madhyamā-pratipad, p: majjhima-paṭipadā, 中道) là ngu si. Hàng Bồ Tát muốn rộng cầu Phật pháp là tham dục, trách la hàng Nhị Thừa là sân nhuế, và chưa liễu đạt Phật tánh là ngu si. Như trong Đại Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) có đoạn giải thích về Ba Độc rằng: “Vô Minh chi tâm, tuy hữu bát vạn tứ thiên phiền não tình dục, cập hằng hà sa chúng ác, giai nhân Tam Độc, dĩ vi căn bổn; kỳ Tam Độc giả, Tham Sân Si thị dã; thử Tam Độc tâm, tự năng cụ túc nhất thiết chư ác, do như đại thọ, căn tuy thị nhất, sở sanh chi diệp kỳ số vô biên (無明之心、雖有八萬四千煩惱情欲、及恆河沙眾惡、皆因三毒、以爲根本、其三毒者、貪嗔癡是也、此三毒心、自能具足一切諸惡、猶如大樹、根雖是一、所生枝葉其數無邊, tâm Vô Minh, tuy có tám vạn bốn ngàn phiền não tình dục, và hằng hà sa số các điều ác, đều do Ba Độc, lấy làm căn bản; Ba Độc này chính là Tham Sân Si; tâm Ba Độc này, tự có thể đầy đủ hết thảy các điều ác, giống như cây lớn, gốc tuy là một, các cành lá của nó số lượng vô biên).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 12 có câu: “Thập Ác Ngũ Nghịch tất băng tiêu, Tam Độc Thất Tình câu tuyết hóa, Ngũ Lậu hóa vi vô lậu, Lục Căn biến tác thiện căn, trượng Nhất Thừa tiến điệu chi công, chỉ Cửu Phẩm vãng sanh chi lộ (十惡五逆悉冰消、三毒七情俱雪懺、五漏化爲無漏、六根變作善根、仗一乘薦悼之功、指九品徃生之路, Mười Ác Năm Nghịch thảy băng tiêu, Ba Độc Bảy Tình đều hóa giải, Năm Lậu hóa thành vô lậu, Sáu Căn biến nên thiện căn, nương Một Thừa dâng cúng công phu, chỉ Chín Phẩm vãng sanh về nẻo).”
Tam độc
三毒; C: sāndú; J: sandoku;|Ba độc.
tam độc
xem ba mũi tên độc.
; duk sum (T) Three defilements, Three poisonsGồm: tham (desire), sân (anger), si (stupidity). Xem ba độc.
; The three poisons, also styled tam căn. They are Tham concupiscece or wrong desire; Sân anger, hate, or resentment; Si stupidity, ignorance, unintelligence, or unwillingness to accept Buddha-truth; these threes are the source of all the passions and delusions.
; Tức là tham, sân, si.
; Còn gọi là Tam Cấu hay Tam Chướng, là ba thứ độc hại hay ba món phiền não lớn. Đây là những thứ ác căn bản gắn liền trong đời sống khởi sanh đau khổ. Phiền não có rất nhiều, nói rộng thì đến 84 ngàn, nói hẹp thì có 10 loại phiền não gốc, trong có có tam độc tham sân si—Three Poisons—Three sources of all passions and delusions. The fundamental evils inherent in life which give rise to human suffering. The three poisons are regarded as the sources of all illusions and earthly desires. They pollute people's lives. Men worry about many things. Broadly speaking, there are 84,000 worries. But after analysis, we can say there are only 10 serious ones including the three evil roots of greed, hatred, and delusion. 1) Tham: Raga (skt)—Greed—Concupiscience—Lust—Wrong desire—Lòng ham muốn vị kỷ thúc đẩy chúng ta thỏa mãn những gì mình cần cũng như những gì mình không xứng đáng được như ăn uống, nhà cửa, xe cộ, tài sản và danh vọng, vân vân. Mắt thì ham nhìn nơi sắc đẹp không biết chán, tai ham nghe mọi thứ âm thanh du dương, mũi ham mong ngửi mùi hương các loại, lưỡi ham nếm các vị béo bổ ngọt ngon, thân ham những xúc chạm mịn màng, và ý ham các sự ghét thương bỉ thử, vân vân. Lòng tham của con người như thùng không đáy, như biển cả lấy nước liên tục từ trăm ngàn sông hồ to nhỏ, hết ngày nầy qua ngày khác. Trong thời mạt pháp nầy, chúng sanh nói chung và nhân loại nói riêng, đã và đang dùng đủ mọi phương cách, thủ đoạn, mưu chước để lường gạt và tàn hại lẫn nhau. Thế nên cuộc đời của chúng sanh, nhất là nhân loại, vốn dĩ đã đau khổ, lại càng đau khổ hơn. Tất cả đều do nơi tánh tham lam, lòng ích kỷ bỏn xẻn mà ra. Chính bằng mưu gian chước quỷ, dối gạt, phương tiện cũng như lật lọng bằng mọi thủ đoạn để đạt cho bằng được. Lòng tham là mãnh lực tinh thần mạnh mẽ khiến cho người ta đấu tranh giết chóc, lọc lừa dối trá lẫn nhau, ngay cả những hành động tàn độc cũng không chừa—It is a selfish desire for more than we need or deserve, such as food, house, car, wealth, honors, etc. Eyes are longing for viewing beautiful forms without any satisfaction, ears are longing for melodious sounds, nose is longing for fragrance, tongue is longing for delicate tastes, body is longing for soothing touches, and mind is longing for various emotions of love and hate from self and others. Human beings' greediness is like a barrel without bottom. It is just as the great ocean obtaining continuously the water from hundreds and thousands of large and small rivers and lakes everyday. In this Dharma Ending Age, sentient beings, especially human beings use every method to manipulate and harm one another. Sentient beings' lives, especially, those of human beings' are already filled with pain and sufferings, now there are even more pain and sufferings. Through tricks, expedients, and manipulations we try to reach our goal irrespective of whatever happens to others. Greed is a powerful mental force that drives people to fight, kill, cheat, lie and perform various forms of unwholesome deeds. 2) Sân: Pratigha (p)—Dosa or Dvesa (skt)—Anger—Aversion—Hate—Resentment—Sự sân hận đốt cháy trong lòng chúng sanh, gây nên biết bao cảnh trái ý và thù nghịch cho người khác. Người sân hận nói năng thô bỉ không có chút từ bi, tạo nên không biết bao nhiêu là khổ não. Trong Tam Độc, mỗi thứ có một ác tính độc đáo khác nhau; tuy nhiên, sân hận có một tướng trạng vô cùng thô bạo, nó là kẻ thù phá hoại đường tu cũng như công hạnh của người tu Phật mạnh mẽ nhất. Lý do là khi một niệm sân hận đã sanh khởi trong tâm thì liền theo đó có muôn ngàn thứ chướng ngại khác lập tức hiện ra, ngăn trở con đường tu đạo, công hạnh cũng như sự tiến tu của người học đạo. Chính vì thế mà cổ đức có dạy rằng: “Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai.” (có nghĩa là khi một niệm oán thù vừa chớm khởi, thì có ngàn muôn cửa chướng khai mở). Thí dụ như đang lúc ngồi thiền, bỗng chợt nhớ đến người kia bạc ác, xấu xa, gây cho ta nhiều điều cay đắng xưa nay. Do nghĩ nhớ như thế nên tâm ta chẳng những không yên, mà còn sanh ra các sự buồn giận, bức rức. Thân tuy ngồi yên đó mà lòng dẫy đầy phiền não sân hận. Thậm chí có người không thể tiếp tục tọa thiền được nữa, cũng như không thể tiếp tục làm những gì họ đang làm vì tâm họ bị tràn ngập bởi phiền não. Lại có người bực tức đến quên ăn bỏ ngủ, nhiều khi muốn làm gì cho kẻ kia phải chết liền tức khắc mới hả dạ. Qua đó mới biết cái tâm sân hận nó luôn dày xéo tâm can và phá hoại con đường tu tập của người tu như thế nào. Chính vì thấy như thế mà Đức Phật đã dạy cách đối trị sân hận trong Kinh Pháp Hoa như sau: “Lấy đại từ bi làm nhà, lấy nhẫn nhục làm áo giáp, lấy tất cả pháp không làm tòa ngồi.” Chúng ta phải nên nghĩ rằng khi ta khởi tâm giận hờn phiền não là trước tiên tự ta làm khổ ta. Chính ngọn lửa sân hận ấy bên trong thì thiêu đốt nội tâm, còn bên ngoài thì nó khiến thân ta ngồi đứng chẳng yên, than dài, thở vắn. Như thế ấy, chẳng những chúng ta không cải hóa được kẻ thù, mà còn không đem lại chút nào an vui lợi lạc cho chính mình—It is a fire that burns in all human beings, causing a feeling of displeasure or hostility toward others. Angry people speak and act coarsely or pitiless, creating all kinds of sufferings. Of the three great poisons of Greed, Hatred and Ignorance, each has its own unique evil characteristic. However, of these poisons, hatred is unimaginably destructive and is the most powerful enemy of one's cultivated path and wholesome conducts. The reason is that once hatred arises from within the mind, thousands of karmic obstructions will follow to appear immediately, impeding the practitioner from making progress on the cultivated path and learning of the philosophy of Buddhism. Therefore, the ancient virtuous beings taught: “One vindictive thought just barely surfaced, ten thousands doors of obstructions are all open.” Supposing while you were practicing meditation, and your mind suddenly drifted to a person who has often insulted and mistreated you with bitter words. Because of these thoughts, you begin to feel sad, angry, and unable to maintain peace of mind; thus, even though your body is sitting there quietly, your mind is filled with afflictions and hatred. Some may go so far as leaving their seat, stopping meditation, abandoning whatever they are doing, and getting completely caught up in their afflictions. Furthermore, there are those who get so angry and so depressed to the point where they can't eat and sleep; for their satisfaction, sometimes they wish their wicked friend to die right before their eyes. Through these, we know that hatred is capable of trampling the heart and mind, destroying people's cultivated path, and preventing everyone from practicing wholesome deeds. Thus the Buddha taught the way to tame hatred in the Lotus Sutra as follows: “Use great compassion as a home, use peace and tolerance as the armor, use all the Dharma of Emptiness as the sitting throne.” We should think that when we have hatred and afflictions, the first thing that we should be aware of is we are bringing miseries on ourselves. The fire of hatred and afflictions internally burns at our soul, and externally influences our bodies, standing and sitting restlessly, crying, moaning, screaming, etc. In this way, not only are we unable to change and tame the enemy, but also unable to gain any peace and happiness for ourselves. 3) Si: Mudhaya (p)—Moha (skt)—Folly or Ignorance—Stupidity—Delusion—Unwillingness to accept Buddha-truth—Unintelligence—Vì si mê mà người ta không thấy được cái nhìn như thị, không thể phân biệt đúng sai. Ngu si làm cho người ta mù quáng về chấp ngã, chấp pháp là những thứ vô thường, luôn thay đổi và hoại diệt—Due to ignorance, people do not see things as they really are, and cannot distinguish between right and wrong. They become blind under the delusion of self, clinging to things which are impermanent, changeable, and perishable.
; (三毒) Cũng gọi Tam hỏa, Tam cấu. Chỉ cho 3 thứ phiền não: Tham dục, sân khuể, ngu si(cũng gọi tham sân si, dâm nộ si, dục sân vô minh). Tất cả phiền não gọi chung là Độc, nhưng 3 thứ phiền não này có khắp 3 cõi, là thứ độc hại nhất trong thiện tâm xuất thế của chúng sinh, thường khiến loài hữu tình chịu khổ trong nhiều kiếp không thoát ra được, cho nên đặc biệt gọi là Tam độc. Ba thứ độc này là nguồn gốc của 3 hành vi ác thân, khầu, ý, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn, đứng đầu các phiền não căn bản. Luận Đại trí độ quyển 34, chia Tam độc thành Chính tam độc (tham dục, sân khuể, ngu si)và Tà tam độc(tà tham dục, tà sân khuể, tà kiến ngu si), cho tà tam độc khó cứu độ, còn chính tam độc thì dễ cứu độ, cho nên trong các cõi Tịnh độ của chư Phật có chính tam độc mà không có tà tam độc. Ma ha chỉ quán quyển 6 thượng cho tham, sân, si, về phương diện Tư hoặc là Chính tam độc, còn tham, sân, si, về phương diện Kiến hoặc là Tà tam độc. Còn theo Đại tạng pháp số quyển 15 thì Nhị thừa và Bồ tát đều có Tam độc: Hàng Nhị thừa ưa thích Niết bàn là tham dục, nhàm chán sinh tử là sân khuể, mê lí Trung đạo là ngu si. Hàng Bồ tát thì muốn rộng cầu Phật pháp là tham dục, quở trách Nhị thừa là sân khuể, chưa rõ Phật tính là ngu si. [X. kinh Tạp a hàm Q.23; kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. (xt. Tam Bất Thiện Căn).
tam độc lợi tiễn
xem ba mũi tên độc.
tam độc tham, sân, si chẳng những gây phiền chuốc não cho ta, mà còn ngăn chận không cho chúng ta hưởng được hương vị thanh lương giải thoát
Three poisons of greed, hatred and ignorance do not only cause our afflictions, but also prevent us from tasting the pure and cool flavor of emancipation (liberation).
tam độc tiễn
xem ba mũi tên độc.
Tam Đức
(三德): tức là Pháp Thân Đức (法身德), Bát Nhã Đức (般若德) và Giải Thoát Đức (解脫德). Căn cứ vào Phẩm Tựa của Kinh Đại Bát Niết Bàn, khi Phật sắp nhập diệt, các Phật tử đã chuẩn bị rất nhiều phẩm vật để dâng lên cúng dường đức Phật và chư Tăng một lần sau cuối. Những thực phẩm rất phong phú, đặc biệt có đầy đủ ba đức tính và sáu hương vị. Nghĩa là những thức ăn dâng cúng cho Phật và tăng thì phải đầy đủ 3 đức tính (yếu tố), gồm: (1) Trong sạch, không nhơ nhớp; (2) Mềm mại, ngon ngọt; (3) Như pháp, tùy thời mà chế biến, làm ra đúng pháp. Tam Đức này tượng trưng cho Ba Thân (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Hóa Thân) của Phật hoặc ba đức tướng (Trí Đức, Đoạn Đức, Ân Đức) của quả vị Phật. Từ sự kiện lịch sử này, đời sau, các chùa thường thiết lễ Cúng Ngọ và đọc câu “Tam Đức, Lục Vị, cúng Phật cập tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường (三德六味、供佛及僧、法界有情、普同供養, ba đức, sáu vị, cúng Phật cùng tăng, cùng khắp cúng dường).” Trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 90 có đoạn rằng: “Tại kính tắc Tam Đế viên dung, tại tâm tắc Tam Quán câu vận, tại nhân tắc Tam Đạo tương tục, tại quả tắc Tam Đức châu viên, như thị bản mạt tương thâu, phương nhập Đại Niết Bàn bí mật chi tạng (在境則三諦圓融、在心則三觀俱運、在因則三道相續、在果則三德周圓、如是本末相收、方入大涅槃祕密之藏, nơi kính thì Ba Đế viên dung, nơi tâm thì Ba Quán vận hành, nơi nhân thì Ba Đường liên tục, nơi quả thì Ba Đức tròn khắp, như vậy gốc ngọn cùng thâu, rồi nhập vào kho tàng bí mật của Đại Niết Bàn).” Hay như trong Thiền Môn Yếu Lược (禪門要略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 908) cũng có câu: “Hựu Tam Quán thành cố tức Tam Đức mãn, Trung Quán thành tức Pháp Thân mãn, Giả Quán thành tức Bát Nhã mãn, Không Quán thành tức giải thoát mãn, Tam Đức mãn cố danh Bí Mật Tạng (又三觀成故卽三德滿、中觀成卽法身滿、假觀成卽般若滿、空觀成卽解脫滿、三德滿故名秘密藏, lại Ba Quán thành nên Ba Đức tròn, Trung Quán thành tức Pháp Thân tròn, Giả Quán thành tức Bát Nhã tròn, Không Quán thành tức giải thoát tròn, vì Ba Đức tròn nên gọi là Kho Tàng Bí Mật).” Hoặc như trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung lại có câu: “Lịch Ngũ Vị Bồ Đề chi đạo, nhập Tam Đức Niết Bàn chi thành, luyện Tam Nghiệp nhi thành Tam Luân, ly Tam Thọ nhi viên Tam Niệm (歷五位菩提之道、入三德涅槃之城、練三業而成三輪、離三受而圓三念, trãi qua con đường Bồ Đề Năm Vị, vào thành trì Niết Bàn Ba Đức, luyện Ba Nghiệp trở thành Ba Luân, lìa Ba Thọ tròn thành Ba Niệm).”
Tam đức
三徳; C: sāndé; J: santoku;|Ba khía canh công đức của một vị Phật: 1. Công đức của lòng bi; 2. Công đức của sự đoạn diệt phiền não và 3. Công đức của trí huệ.
tam đức
The three virtues or powers of which three groups are given below: (1) a-Pháp thân đức, The virtue, or potency of the Buddha's eternal, spiritual body, the dharmakàya; b-Bát nhã đức, of his prajnà, or wisdom, knowing all things in their reality; c-Giải thoát đức, of his freedom from all bonds and his sovereign liberty. Each of these has the four qualities of thường, lạc, ngã, tịnh, eternity, joy, ersonality, and purity. (2) a-Trí đức, the potency of his perfect knowledge; b-Ly đức, of his cutting off all illusion and perfecting of supreme nirvàna; the above two are tự lợi for his own advantage; c-Ân đức, of his universal grace and salvation, which tha lợi bestows the benefits he has acquired on others. (3) a-Nhân viên đức, The perfection of his causative or karmaic works during his three great kalpas of preparation; b-Quả viên đức, the perfection of the fruit, or results in his own character and wisdom; c-Ân viên đức, the perfection of his grace in the salvation of others.
; Ba đức của Phật là thường hằng, hỷ lạc, và thanh tịnh (Thường, Lạc, Tịnh)—Three Buddha's virtues or powers which are eternal, joyful, and pure : (A) Theo Đại Thừa, có ba đức của Phật—According to the Mahayana, there are three Buddha's virtues: 1) Pháp thân đức: Pháp thân Phật là vĩnh hằng—Dharmakaya—The virtue or potency of the Buddha's eternal sipritual body. 2) Bát nhã đức: Trí huệ Phật biết được thực tính của chư pháp—Buddha's prjana or wisdom, knowing all things in their reality. 3) Giải thoát đức: Phật giải thoát, không còn vướng mắc nào—Buddha's freedom from all bonds and his sovereign liberty. (B) Theo Kinh Niết Bàn có ba đức của Phật—According to Nirvana Sutra, there are another three Buddha's virtues: 1) Trí đức: Đức toàn giác—The potency of Buddha perfect knowledge. 2) Đoạn đức: Đức đoạn diệt khổ đau và chứng nhập Niết bàn tối thượng—Buddha's ability to cut off all illusion and perfect of supreme nirvana—The power or virtue of bringing to an end all passion and illusion, and enter the perfect nirvana. 3) Ân đức: Đức phổ cứu chúng sanh—Buddha's universal grace and salvation which bestows the benefits he has acquired on others. (C) 1) Nhân viên đức: Qua ba a tăng kỳ kiếp, nhân duyên tròn đầy—The perfection of Buddha's causative or karmaic works during his three great kalpas of preparation. 2) Quả viên đức: Toàn thiện quả vị và trí huệ Phật—The perfection of the fruit or result of Buddha's own character and wisdom. 3) Ân viên đức: Toàn thiện ân cứu độ chúng sanh—The perfection of Buddha's grace in the salvation of others. (D) 1) Trí Đức: All-knowing virtues or qualities of a Buddha. 2) Bi Đức: All-pitying virtues of a Buddha. 3) Định Đức: Contemplative virtues of a Buddha.
; (三德) I. Tam Đức. Chỉ cho 3 đức tướng của Đại niết bàn: Pháp thân, Bát nhã, và Giải thoát Theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Nam) thì 3 đức giống như 3 cái chấm của chữ Y (chữ Y tất đàm là( ), hoặc 3 con mắt( )của trời Ma hê thủ la (trời Đại tự tại). Cứ theo Đại thừa nghĩa chương Q.18 thì:1. Pháp thân: Chỉ cho chân như vốn có sẵn của tất cả hiện tượng tồn tại, hoặc chỉ cho thân được hoàn thành bằng pháp công đức. 2. Giải thoát: Tức cởi bỏ tất cả sự trói buộc của phiền não. 3. Bát nhã: Chỉ cho trí tuệ giác ngộ. Sự quan hệ giữa 3 đức này là 3 tức 1, 1 tức 3. Khi còn ở Nhân vị thì gọi là Tam Phật tính; khi đến Quả vị thì gọi là Tam đức.Đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa quyển thượng, phiên dịch từ Ma ha bát niết bàn na là Đại diệt độ, cho rằng Đại là Pháp thân, Diệt là Giải thoát và Độ là Bát nhã. Ngoài ra, do nhân và quả đối nhau, nên Tam đức cũng có 2 thứ thuận và nghịch khác nhau. Tam đức thuận là: Quả của Chính nhân Phật tính thành tựu đức của Pháp thân, quả của Liễu nhân Phật tính thành tựu đức của Bát nhã, còn quả của Duyên nhân Phật tính thì thành tựu đức của Giải thoát. Trái lại, nếu do chuyển Khổ mà thành tựu đức Pháp thân, do chuyển Hoặc mà thành tựu đức Bát nhã và do chuyển Nghiệp mà hoàn thành đức Giải thoát thì gọi là Nghịch tam đức. Theo tông Thiên thai thì thuyết Tam đức đã xuất hiện trong các kinh trước kinh Pháp hoa, nhưng Tam đức của Pháp hoa Viên giáo là Phi tung phi hoành, Phi tam phi nhất, có thể nói khác hẳn với các thuyết trước. Đồng thời, Tam đức của Pháp hoa Viên giáo cũng có thể phối hợp với Tam bồ đề, Tam Phật tính, Tam bảo, Tam đạo, Tam thức, Tam bát nhã, Tam đại thừa, Tam thân, Tam niết bàn... Ngoài ra, theo luận Nhiếp đại thừa thì có thể chuyển 5 uẩn thành 3 đức, tức có thể chuyển Sắc uẩn thành đức Pháp thân, chuyển 3 uẩn Thụ, Tưởng, Hành, thành đức Giải thoát, và chuyển Thức uẩn thành đức Bát nhã. [X. Ma ha chỉ quán Q.3 thượng; Pháp hoa huyển nghĩa Q.5, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 1; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng]. II. Tam Đức. Chỉ cho 3 thứ đức tướng của quả vị Phật là Trí đức, Đoạn đức và Ân đức. Luận Phật tính quyển 2 giải thích Tam đức này như sau: 1. Trí đức: Chỉ cho trí tuệ của Phật quán xét tất cả các pháp. 2. Đoạn đức: Chỉ cho đức diệt trừ hết tất cả phiền não hoặc nghiệp. 3. Ân đức: Đức do nguyện lực cứu độ chúng sinh mà ban ân huệ cho tất cả chúng sinh.Ba đức trên đây phối với Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, đồng thời, Trí đức và Đoạn đức có nội dung tự lợi, tự hành, và tự giác, còn Ân đức thì mang nội dung lợi tha, hóa tha và giác tha. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 12 (Đại 35, 589 hạ) nói: Hạt giống Phật không dứt mất có tướng như thế nào? Là thành tựu Tam đức: Cứu độ chúng sinh, thành tựu Ân đức; đoạn hẳn phiền não, thành tựu Đoạn đức; rõ biết các hạnh, thành tựu Trí đức. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.8 (bản dịch đời Lương); Di lặc thướng sinh kinh sớ Q.hạ]. III. Tam Đức. Chỉ cho 3 tính chất của tất cả sự vật. Đó là: 1. Tát đóa(Phạm:Sattva): Biểu thị tính chất mạnh mẽ. 2. Lạt xà (Phạm:Rajas): Biểu thị tính chất bụi bặm. 3. Đáp ma (Phạm: Tamas): Biểu thị tính chất ám độn. Đây là chủ trương của học phái Số luận ở Ấn độ được thấy trong luận Kim thất thập quyển thượng. Ba đức này theo thứ tự được dịch là mừng, lo, mờ tối; hoặc mạnh, bụi, mờ; hoặc tham, sân, si; hoặc vui, khổ, không vui không khổ; hoặc vàng, đỏ, đen; hoặc nhuốm, thô, đen..., tức là đế thứ nhất(Tự tính minh đế) trong 25 đế. Đức này có đức của năng lực sinh ra các vật thiện ác, đẹp, xấu. Ngoài ra, chỉ trừ Thần ngã đế, còn 23 đế kia đều có đủ 3 đức này. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu]. IV. Tam Đức. Cũng gọiTamchủng viên đức, Tam viên đức. Chỉ cho đức tướng viên mãn của Như lai. Đó là: 1. Nhân viên đức: Nhân hạnh của Như lai hoàn toàn viên mãn. Nhân hạnh này có 4 phương pháp tu hành: a. Vô dư tu: Tu cả 2 thứ tư lương phúc đức và trí tuệ, không bỏ sót. b. Trường thời tu: Trải qua 3 đại a tăng kìkiếp tu hành mà vẫn không mỏi mệt. c. Vô gián tu: Tinh tiến dũng mãnh, tu liên tục, không một sát na gián đoạn. d. Tôn trọng tu: Cung kính những điều học được, không điều nào mà không tôn quí, tu mà không kiêu mạn. 2. Quả viên đức: Quả đức của Như lai viên mãn, đầy đủ. Có 4 đức: a. Trí viên đức: Có đủ 4 loại: Vô sư trí, Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí và Vô công dụng trí. b. Đoạn viên đức: Có 4 loại Nhất thiết phiền não đoạn, Nhất thiết định chướng đoạn, Tất kính đoạn và Tập đoạn. c. Uy thế viên đức: Uy thế được tự tại đối với sự biến hóa của ngoại cảnh; uy thế được tự tại đối với tuổi thọ dài hay ngắn; uy thế được tự tại đối với không, chướng, cực xa, tốc hành, lớn nhỏ, tương nhập...; uy thế hiếm lạ làm cho bản tính của các pháp thế gian chuyển hóa tự nhiên. Hoặc 4 thứ uy thế: Hóa độ được những chúng sinh ương ngạnh khó hóa độ; quyết nghi được những vấn nạn khó quyết nghi; đã lập giáo là chắc chắn xuất li; có khả năng hàng phục được các bè đảng xấu ác. d. Sắc thân viên đức: Đầy đủ các tướng tốt đẹp, có sức lực lớn và gân cốt trong thân cứng chắc hơn kim cương, bên ngoài phóng hào quang rực rỡ hơn trăm nghìn mặt trời. 3. Ân viên đức: Đức từ bi thương xót chúng sinh của Như lai trọn vẹn đầy đủ, vĩnh viễn thoát khỏi cái khổ sinh tử và 3 đường ác; Ngài cũng khiến chúng sinh an trụ trong đường lành trời người và trong Tam thừa. [X. luận Câu xá Q.27; Câu xá luận quang kí Q.27].
tam đức lục vị
(三德六味) Chỉ cho 3 đức, 6 vị. Ba đức là: Mềm mại, sạch sẽ, và đúng phép. Sáu vị là: Đắng cay, ngọt, chua, mặn và lạt. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Đại bát niết bàn quyển 1 (bản Nam), khi đức Phật sắp vào Niết bàn, các Phậttử ưu bà tắc sắm sửa thức ăn uống, dâng cúng Phật và chúng tăng. Thức ăn uống ngon ngọt, có đủ 3 đức, 6 vị. Đến đời sau, 3 đức, 6 vị trở thành những câu kệ được đọc tụng hàng ngày tại các chùa viện mỗi khi thụ trai: Tam đức lục vị, cúng Phật cập tăng. (xt. Thực Tam Đức).
tam ư
(三於) Chỉ cho 3 thứ Sở y(chỗ nương, điểm tựa). Ư nghĩa là chỗ nương. Đại sư Gia tường thuộc tông Tam luận dựa vào 3 thứ sở y mà thành lập 3 thứ Nhị đế: 1. Bản ư nhị đế: Tức Không, Hữu nhị đế, là Nhị đế vốn đã có trước khi đức Phật ra đời, là sở y của Nhị đế của Phật. 2. Giáo ư nhị đế: Tức ngôn giáo của Phật, là sở y của Không, Hữu nhị đế. 3. Mạt ư nhị đế: Chỉ cho Mê giáo nhị đế. Sau khi Phật nhập diệt, vì mê lầm về Giáo (lời dạy của Phật) nên chúng sinh khởi kiến chấp Không và Hữu. [X. Tam luận đại nghĩa sao Q.1].
tam ấn
Three signs or proofs of a Hìnayàna sùtra: 1-Vô thường non permanence; 2-Vô ngã non personality; 3-Niết bàn Nirvàna; without these the sùtra is spurious and the doctrine is of Màra.
; Three signs (usually in Hinayana sutras): 1) Vô thường: Non-permanence. 2) Vô ngã: Non-personality. 3) Niết bàn: Nirvana.
tam ấn nhứt
The three vehicles (Hinayana Tiểu thừa, Madhyamayana Trung Thừa, Mahayana Đại thừa) are one. The three lead to bodhisattvaship and Buddhahood for all.
tam ứng cung dưỡng
(三應供養) Chỉ cho 3 đối tượng mà chúng sinh nên cúng dường, đó là: 1. Như lai ưng cúng dường: Vì Như lai đã viên mãn việc tự lợi, lợi tha và là bậc tôn quí nhất trong thế gian. 2. A la hán ưng cúng dường: Vì A la hán đã ra khỏi vòng sinh tử và là bậc phúc điền cho thế gian. 3. Chuyển luân thánh vương ưng cúng dường: Vì Chuyển luân thánh vương dùng Chính pháp trị nước và là cha mẹ của thiên hạ.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12].
Tam-da-tam-phật
三耶三佛; C: sānyésānfó; J: sanyasanbut-su;|Tam-miệu Tam-phật-đà.
Tam-da-tam-phật-đà
三耶三佛陀; C: sānyésānfótuó; J: sanya-sanbudda;|Tam-miệu Tam-phật-đà.
Tam-ma-bát-đề
三摩鉢提; C: sānmóbōtí; J: sanmapattei;|Một cách dịch âm của chữ Phạn samāpatti. Tam-ma-bát-để (三摩鉢底).
Tam-ma-bát-để
三摩鉢底; C: sānmóbōdī; J: sanmapattei;|Cách dịch âm của chứ Phạn samāpatti. Một thuật ngữ thiền định. Một trạng thái định. Một tâm thức cân bằng, đạt được qua sự tập trung chuyên nhất, hội tụ những năng lực trong tâm. Được dịch ý là Đẳng chí (等至).
Tam-ma-bạt-đề
(samdhi), tức là Tam-muội, cũng đọc là Tam-ma-đề hay Tam-ma-địa, Hán dịch nghĩa là Thiền định hay Đại định, chỉ pháp tu đạt đến chỗ thân và tâm không còn xao động, dứt hết vọng tưởng, tà kiến, thể nhập Pháp thân của chư Phật.
Tam-ma-đề
xem Tam-ma-bạt-đề.
; 三摩提; C: sānmótí; J: sanmaji;|Một cách phiên âm của chữ Phạn và Pa-li samādhi, cũng được phiên âm là Tam-muội (三昧) và Tam-ma-địa (三摩地). Dịch ý là Định.
Tam-ma-địa
xem Tam-ma-bạt-đề.
Tam-miệu tam-bồ-đề
三藐三菩提; C: sānmiǎo sānpútí; J: sammyaku sambodai;|Cách dịch âm từ chữ Phạn saṃyak-saṃbodhi, có nghĩa là »giác ngộ một cách chân chính«, chỉ sự giác ngộ viên mãn của một vị Phật; được Hán dịch ý là Đẳng chính giác (等正覺) và Chính đẳng giác (正等覺). Thuật ngữ này thường được thấy trong biểu thị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (阿耨多羅三藐三菩提; s: anuttarā-saṃyak-saṃbodhi).
Tam-miệu-tam-một-đà
三藐三沒馱; C: sānmiǎosānmòtuó; J: san-myakusanbodda;|Tam-miệu Tam-phật-đà (三藐三佛陀).
Tam-miệu-tam-phật
三藐三佛; C: sānmiǎosānfó; J: sanmyaku-sanbutsu;|Tam-miệu Tam-phật-đà (三藐三佛陀).
Tam-miệu-tam-phật-đà
三藐三佛陀; C: sānmiǎosānfótuó; J: san-myaku sambutta; S: samyak-saṃbuddha; P: sammā-sambuddha;|»Một vị Phật giác ngộ viên mãn«. Một trong Mười danh hiệu của một vị Phật. Cũng được dịch âm là Tam-miệu Tam-một-đà (三藐三沒馱), Tam-da Tam-phật (三耶三佛), Tam-da Tam-phật-đà (三耶三佛陀), và dịch nghĩa là Chính Biến Tri (正遍知), Chính Đẳng Giác (正等覺), Chính Đẳng Giác giả (正等覺者).
Tam-muội
xem Tam-ma-bạt-đề.
; 三昧; C: sānmèi; J: sammai, zammai; S, P: samādhi; J: zan-mai; dịch âm, dịch nghĩa là Ðịnh;|Thuật ngữ dịch âm từ chữ Phạn samādhi, có nghĩa là »Gom lại«, »phối hợp tâm«, »Tĩnh lự một cách chuyên chú«, »Hấp thụ toàn hảo«. Một cấp bậc tập trung thiền định cao. Ðịnh.
Tam-muội chính thụ
三昧正取; C: sānmèi zhèngqǔ; J: sanmai-shōju;|1. Hoàn toàn tin tưởng không nghi ngờ giáo lí của một Thánh nhân đã đạt một cấp bậc thiền định thâm sâu; 2. Định, cấp bậc tập trung cao.
Tam-muội Không
xem ba pháp tam-muội.
Tam-muội Vô tác
xem ba pháp tam-muội.
Tam-muội Vô tướng
xem ba pháp tam-muội.
Tam-muội-da
三昧耶; C: sānmèiyé; J: sanmaiya;|Một cách phiên âm chữ Phạn »samaya«: 1. Thời gian, đặc biệt là một khoảng thời gian đặc thù; 2. Một cuộc hội họp, gặp gỡ; 3. Giáo lí cơ bản của một trường phái.
Tam-muội-da hình
三昧耶形; C: sānmèiyéxíng; J: sanmaiya-gyō;|Một hình ảnh với giá trị biểu tượng. Trong đạo Phật thì đây chính là những biểu tượng tỏ bày lời nguyện ước của chư Phật, chư Bồ Tát như cung, tên, gậy, bình hoặc những thủ Ấn.
Tan-ti-pa
S: tantipa; »Người thợ dệt«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong đầu thế kỉ thứ 9.|Ông là một thợ dệt, có nhiều con. Ðến lúc được 89 tuổi, ông bị con cái lại ruồng bỏ, cho vào ở một túp lều trong vườn. Ngày nọ, một vị Ma-ha Tất-đạt là Ja-lan-đa-ra (s: jālandhara) đến nhà ông khất thực, được con cái của ông bố thí thức ăn và mời ở lại nghỉ qua đêm. Ông gặp vị Du-già sư này và than: »Cuộc đời thật bạc bẽo, nuôi con cho lớn khôn rồi chúng nó hổ thẹn với người ngoài vì có ông cha già nua, đem dấu trong vườn để không ai phải nhìn.« Ja-lan-đa-ra khuyên ông: »Tất cả những gì chúng ta làm là một trò chơi, một trò chơi có ngày phải chấm dứt; ai bước vào cõi này đều cũng phải chịu đau khổ; tất cả, và thật là tất cả đều là Ảo ảnh, không có tự tính. Niết-bàn mới là tịch tịnh, là hạnh phúc«, rồi hỏi: »Ông có muốn tu tập chuẩn bị đón cái chết không?« Người thợ dệt nhận lời ngay và Ja-lan-đa-ra truyền cho ông bí mật của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và phép thiền quán. Sau mười hai năm tu tập, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahā-mudrāsiddhi). Về sau con cái tình cờ thấy ông được thiên nhân hầu hạ mới biết cha mình đắc đạo. Nhờ phép thần, ông trẻ lại và sống thêm 16 năm nữa. Trong thời gian này, ông giáo hoá rất nhiều người và sau đó được lên cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Thánh đạo ca của Tan-ti-pa như sau:|Căng ngang rồi căng dọc,|là cách dệt thế gian.|Còn ta, với Ðạo sư,|dệt tấm vải chứng thật,|bằng sợi chỉ Năm trí.|Lược là lời Khai thị,|Khung là chính tri kiến,|toàn hảo về tính Không|Dệt chiếc áo Pháp thân,|từ không gian vô tận,|và tri kiến thuần tịnh.
Tan-tra
S: tantra; cũng được gọi theo âm Hán Việt là Ðát-đặc-la (怛特羅), nguyên nghĩa »tấm lưới dệt«, »mối liên hệ«, »sự nối tiếp«, »liên tục thống nhất thể«, đôi lúc được dịch là Nghi quỹ;|Một danh từ trừu tượng, khó dịch nên phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới (Anh, Pháp, Ðức) đều không có từ tương ưng. Trong Phật giáo Tây Tạng, Tan-tra chỉ tất cả các kinh sách về nhiều ngành khác nhau (Tan-tra y học, Tan-tra thiên văn…), nhưng trong nghĩa hẹp Tan-tra chỉ tất cả các sách vở nói về phép tu thiền định của Kim cương thừa và cũng được dùng để chỉ những phép tu thiền định này. Phép tu luyện Tan-tra có tính chất kinh nghiệm cá nhân, và thường dựa trên ba khái niệm: Nhân, Ðạo, Quả. Nhân chính là hành giả, Ðạo là con đường, phương pháp tu luyện, nhằm thanh lọc con người và Quả là tình trạng mà hành giả chứng ngộ. Ba giai đoạn này được Tan-tra chỉ bày trong vô số phương tiện khác nhau. Người ta cho rằng khi Phật Thích-ca thể hiện Phật quả qua dạng Pháp thân (s: dharmakāya) thì Ngài đã hành trì Tan-tra. Vì vậy cũng có người xem đức Phật là người sáng lập Tan-tra.|Truyền thống Tây Tạng chia Tan-tra làm bốn loại để tương ưng với căn cơ của từng người:|1. Tác tan-tra (s: kriyā-tantra): Tan-tra hành động (tác), nghi lễ. Người tu tập Tan-tra này có kết đàn trường, cúng dường, đọc chú, bắt ấn nhưng chưa quán tưởng, tu tập thiền định;|2. Hành tan-tra (s: caryā-tantra): Tan-tra tu luyện qua hành động hằng ngày, dành cho những người tu tập nhưng không cần hiểu rõ lí tột cùng;|3. Du-già tan-tra (s: yoga-tantra): Tan-tra luyện tâm (thiền định);|4. Vô thượng du-già tan-tra (s: anuttarayoga-tantra): phương pháp tu luyện tột cùng, thành Phật trong kiếp này, với thân này.|Sự khác nhau giữa bốn cấp này xuất phát từ căn cơ của hành giả và tính hiệu quả của các phép tu. Các tác phẩm quan trọng của Vô thượng du-già tan-tra là Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra), Hô kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và Thời luân tan-tra (s: kālacakra-tantra). |Trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) lại chia Vô thượng du-già tan-tra làm ba loại: Ma-ha du-già (s: mahāyoga), A-nậu du-già (s: anuyoga) và A-tì du-già (s: atiyoga, xem Ðại cứu kính). Những phép Tan-tra này xem tâm thanh tịnh là gốc của mọi phép tu. Ngoài ra, Tan-tra xem việc vượt qua tính nhị nguyên để đạt nhất thể là một nguyên lí quan trọng. Tính nhị nguyên có khi được Tan-tra diễn tả bằng nguyên lí nam tính (s: upāya; khía cạnh Phương tiện) và nữ (s: prajñā; Trí huệ), vì vậy tại phương Tây không ít người hiểu lầm, cho rằng tu tập Tan-tra là thuần tuý liên hệ với tính dục nam nữ.
Tan-tê-pa
S: taṅtepa; »Người mê cờ bạc«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông ở xứ Câu-thướng-di (s: kauśāmbī), thuộc giai cấp thấp kém, ham đánh bạc. Khi thua hết gia sản, không còn ai cho mượn tiền đánh bạc, ông buồn rầu rút lui sống trên bãi đốt xác. Một vị Du-già sư đi ngang, khuyên ông tu tập, ông trả lời có phép nào tu tập mà vẫn đánh bạc được thì ông mới chịu tu. Vị này liền dạy ông phép quán tưởng, »xem thế giới trống rỗng như túi tiền của mình, nếu có thể phá tan gia sản bằng con súc sắc, thì cũng thể phá tan khái niệm bằng tri kiến. Sự mất mát chính là niềm vui!« |Như ngươi mất hết tiền,|lúc đánh trò súc sắc,|hãy đánh mất tư duy,|về cả ba cõi giới,|hãy chơi trò súc sắc,|của tâm thức vô niệm.|Như bị con nợ đánh,|hãy đánh hạ tư duy,|vào không gian trống rỗng.|Ngồi trên bãi đốt xác,|mà tự hoà tan mình|trong Ðại lạc mênh mông.||H 51: Tan-tê-pa (taṅtepa) đang trình bày tính Không (s: śūnyatā).|Tan-tê-pa nghe lời tu phép quán niệm và đạt tri kiến. Sau khi đạt Tất-địa, ông biến mất vào thế giới của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Mọi tư duy, tưởng tượng|đã biến mất tan vào,|trong thức vô biên xứ.|Mọi kinh nghiệm hiện tượng,|tan biến trong tính Không.|Trong 84 vị Tất-đạt, Tan-tê-pa (kẻ đánh bạc) làm ta nhớ đến Khát-ga-pa (khaḍgapa), người ăn trộm và Tha-ga-na-pa (thaganapa), người mang tật nói dối.
tang diên tự
(桑鳶寺) Tạng: Bsam-yas. Gọi đủ: Bsam-yas mi-#gyur Ihungyis grupa#i gsug-lag-khaí. Cũng gọi Tang y tự, Tang da tự. Chùa ở ngoại ô, phía đông nam thủ do Lạp tát (Tạng: Lhasa), mạn bắc sông Nhã lỗ tạng bố (Tạng:Tsaí-po), là ngôi chùa đầu tiên ở Tây tạng, do vua Khất lật song đề tán (Tạng:Khri-sroí-lde-btsan) xây dựng vào năm 766. Có thuyết nói chùa này được sáng lập vào năm 779, với sự giúp đỡ của ngài Tịnh hộ (Phạm: Zàntiraksita) và Liên hoa sinh (Phạm: Padmasambhava). Chùa này được xây cất phỏng theo chùa Âu đan đa phá lê (Phạm: Udaịđapura), một tổng hợp các phong cách kiến trúc Tây tạng, Trung quốc và Ấn độ, cho nên cũng gọi là Tam dạng tự. Cách bố cục, chính giữa là núi Tu di, phía ngoài có 4 đại châu, 8 tiểu châu và 2 vầng nhật nguyệt, ngoài cùng có tường bao chung quanh, 4 góc đều có xây 4 ngôi tháp Xá lợi, 4 cửa đều dựng 4 tấm bia. Chùa gồm một tòa Đại điện, 4 viện Đại học và các kiến trúc khác, chung quanh xây tường cao, dài khoảng 2,4km, trên tường có 1030 ngôi tháp gạch. Tượng Đại Phật thờ ở chính điện cao 16m, các tượng Phật được tôn trí trong chùa phần nhiều được đúc bằng vàng ròng và trang sức bằng châu báu, các đồ thờ trước Phật đa số cũng được làm bằng vàng bạc. Tấm bia đá hình trụ vuông trước chùa được dựng vào thời vua Ngật lật song đề tán (742-797), có khắc bài minh tiếng Tây tạng. Hiện nay chùa đã bị phá hủy, các di vật văn hóa đều bị mất. Chùa có thiết lập Viện Dịch kinh (Tạng: Sgra-bs-gyur lha-khaí), bên trong tàng trữ các nguyên điển Ấn độ, nhưng rất tiếc phần lớn đã bị thiêu hủy vào năm 1810. Các vị tăng học giả người Ấn độ như Tang đề ca nhĩ phạ (Phạm: Zàntigarbha), Duy hưu đạt hân ha (Phạm: Vizuddha= siôha)... và các vị tăng dịch kinh người Tây tạng như Khúc kì nam ba (Tạng: Choskyi naí-pa), Bàng đức nạp mục ca (Tạng: Bande nammkha#)... từng phiên dịch kinh điển Phật bằng tiếng Phạm sang tiếng Tây tạng tại chùa này dưới sự giúp đỡ của vua Khất lật song đề tán, đồng thời, vâng sắc biên tập bộ Kinh tạngmục lụcđược cất giữ trong cung Điền ca nhĩ (Tạng: Denkar).Vào thế kỉ IX, người Thổ phồn cấm truyền bá Phật giáo, chùa này từng bị đóng cửa. Đến nửa sau của thế kỉ X, Phật giáo mới được khôi phục. Hiện nay chùa này do các vị tăng Lạt ma thuộc phái Tát ca cai quản, nhưng phần lớn trong số 1000 vị tăng hiện tu học ở đây lại thuộc phái Ninh mã (Tạng: Rĩií-ma-pa). [X. The Buddhism of Tibet (L. A. Waddell); The Tibetan Book of the Great Liberation (Evans-Wentz); Tibet and the Tibetans (Tsung-Lien Slen and Shen Chi Liu); Pag Sam Jon Zang (S.Candra Das); Die Religionen Tibet (H.Hoffmann); Mk’ yen Brtse’s Guide to the Holy places of Central Tibet (A. Ferrari)].
tang phương sá mã cáp nhã ni khang
(桑芳卡馬哈雅尼康) Sang Hyang Kamahàyànikan. Hán dịch: Đại thừa Thánh giáo. Tác phẩm của Phật giáo Java (Indonesie) đời xưa. Nội dung sách này nói về việc tu đạo và chứng quả của hành giả Du già Mật giáo. Toàn sách gồm có phần kệ tựa bằng tiếng Phạm và phần chính văn bằng tiếng Java xưa. Phần kệ tựa gồm 42 bài tụng khuyên người tu hành trụ ở nơi líthú của hạnh Đại thừa diệu đạo chân ngôn của chư Phật 3 đời, giữ gìn Tam muội da, được sự gia bị của Kim cương tát đóa, biết rõ các pháp không tự tính, vốn trong sạch, mở bày lí thú của chân ngôn cho thế gian, tự trì Kim cương ấn khế..., tôn kính A xà lê cũng như tôn kính chư Phật, phải cầu đạt đến quả vị Phật... Phần chính văn sử dụng thể vấn đáp, vốn không chia chương tiết, nhưng người đời sau chia làm 4 chương: 1. Chương thứ nhất: Nói sơ qua các qui định về chỗ ở và các thứ cần dùng mà người tu hành phải chuẩn bị trước khi vào hạnh Ba la mật. 2. Chương thứ hai: Nói rõ về 10 Ba la mật, tức là 6 pháp Ba la mật và 4 pháp từ, bi, hỉ, xả. 3. Chương thứ ba: Nói tỉ mỉ về hạnh Du già mà hành giả phải luyện tập sau khi đã thành tựu đầy đủ các Ba la mật, đồng thời, dựa trên nền tảng của định Bất nhị để rèn luyện hơi thở, cho đến nêu ra các giải thuyết bí mật, giải thích về văn tự âm thanh, trong đó, thỉnh thoảng có trích dẫn thuyết của ngài Trần na. 4. Chương thứ tư: Cách sắp xếp rất lộn xộn, mục đích nhằm thuyết minh ý nghĩa bí mật của các Bồ tát và của chư Phật ở trong định mà hành giảDugià cần phải đạt đến. [X. Hinduism and Buddhism vol. III by Ch. Eliot; Buddhism in Java (Peace, 1934) by Arthur Fitz].
tang-môn
xem sa-môn.
tao khang
(糟糠) Tao là bã rượu; Khang là cám gạo. Vốn chỉ cho thức ăn hèn mọn, sau được dùng để ví dụ tỉ khưu kiêu mạn và pháp thô xấu.Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 7 hạ) nói: Hạng tao khang trong chúng vì sợ uy đức của Phật nên bỏ đi; những người ấy ít phúc đức không kham nổi pháp này.[X. kinh Đại pháp cổ Q.thượng].
tao tì la
(騷毘羅) Phạm: Parisràvaịa. Hán âm: Bát lí tát la phạt noa. Chỉ cho cái túi may bằng vải dùng để lọc bỏ những vi trùng trong nước trước khi sử dụng, 1 trong 6, hoặc 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu thường mang bên mình. Hi lân âm nghĩa quyển 7 nói: Tao tì la, Hán dịch là Lộc thủy nang. (xt. Lộc Thủy Nang).
tao đà kỳ lê
(臊陀祁梨) Phạm:Sodàgiri (?). Hán dịch: Dự sơn. Tên của một con chim Anh vũ ở thời quá khứ, là tiền thân của đức Thế tôn. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 31, vô lượng kiếp trước có 2 con chim Anh vũ, chim anh tên là Ma la kì lê, chim em tên là Tao đà kì lê. Bấy giờ, Tao đà kì lê bị chim cắt đánh bất ngờ, chim anh là Ma la kìlêbảo chim em gắng sức mổ vào chỗ hiểm yếu của chim cắt thì sẽ thoát nạn. Tao đà kì lê bèn mổ thật mạnh và chống trả liên tiếp, quyết liệt, cuối cùng chiến thắng chim cắt, tự cứu được mình. Chim Anh vũ kia là tiền thân của đức Phật, còn chim cắt là tiền thân của ma Ba tuần. [X. Huyền ứng am nghĩa Q.19].
Ter-ma
T: terma [gter-ma]; dịch nghĩa là »báu vật«;|Trong Phật giáo Tây Tạng, Ter-ma là kinh sách của thế kỉ thứ 8, trong thời gian mới đầu lúc truyền bá Phật pháp, phải được dấu kín để được khám phá ra lúc cơ duyên chín muồi. Người khám phá ra kinh sách đó được gọi là Ter-ton, và có trách nhiệm truyền bá và giải thích. Ðặc biệt trong giáo phái Ninh-mã (t: nyingmapa) người ta rất tin tưởng các Ter-ma. Việc cất giữ kinh sách trong một chỗ bí mật thật ra là truyền thống Ấn Ðộ. Người ta còn kể lại rằng, Long Thụ đã nhận được kinh điển từ Long vương (s: nāga) trao cho và có trách nhiệm truyền bá giáo pháp ấy.|Tông phái có nhiều Ter-ma nhất của Tây Tạng là Ninh-mã (nyingmapa), mà phần quan trọng nhất do Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và nữ đệ tử là Ye-she Tsog-yel (t: yeshe tsogyel) truyền lại. Các bí lục này không chỉ gồm giáo pháp từ Ấn Ðộ mà của cả xứ Ô-trượng-na (t: orgyen). Tương truyền Liên Hoa Sinh đã dấu các tác phẩm này trong 108 chỗ bí mật tại Tây Tạng, trong các hang hốc hay tranh tượng. Một trong những bí lục quan trọng đó là hồi kí cuộc đời của Liên Hoa Sinh cũng như bộ Tử thư (t: bardo thodol). Ngoài ra các tài liệu về thiên văn và y học cũng được xem là Ter-ma.|Khoảng giữa thế kỉ 10 và 14, nhiều vị nhận được khải thị tìm thấy Ter-ma, thường thường là khải thị trong giấc mộng hoặc linh ảnh. Các vị đó có trách nhiệm tìm kiếm, xếp đặt lại và luận giải thêm về các Ter-ma đó. Trong trường phái Ninh-mã, người ta rất trọng thị các vị Ter-ton (người tìm ra các Ter-ma), nhất năm vị »vua tìm thấy báu vật« mà một trong năm vị đó là Org-yan Pe-ma Ling-pa (1445-1521), được xem là hậu thân của Long-chen-pa. Có khi một Ter-ma vừa tìm ra được lại phải dấu kín lại vì chưa đến lúc công bố. Các Ter-ma đó được gọi là »của báu phải dấu hai lần.«
Tha
他; C: tā; J: ta;|Có các nghĩa sau: 1. Kia, cái khác (s: para); 2. (Một) người khác (s: para-puruṣa); 3. Trong ngôn ngữ Thiền, đó là nhân vật đang được đề cập đến trong cuộc nói chuyện, nhân vậy thứ 3 (ông ấy, cô ấy); 4. Tiếng dùng để chuyển âm tha trong tiếng Phạn (sanskrit).
tha
Xem Tối cao.
; Another, other, the other, his, her, its, etc.
; 1) Khác: Another—Other—The other. 2) Mài: To polish. 3) Tha tội: To pardon—To forgive—To condone—To excuse—To condole—To forgive someone. 4) Ông ấy, bà ấy, hay cái ấy: He, she, it.
; (他) I. Tha. Chỉ cho chữ (tha), 1 trong 50 chữ cái, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Chữ này có 3 cách giải thích: 1. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 hạ) nói: Chữ Tha nghĩa là trụ xứ của tất cả pháp bất khả đắc. Y cứ vào đây ta biết chữ Tha có nghĩa là trụ xứ là do nghĩa trụ xứ của tiếng Phạm Tát tha na (Phạm:Sthàna) mà ra. 2. Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù vấn (Đại 14, 509 hạ) nói: Khi đọc chữ Tha (đà) thì âm thanh ấy có thế lực tiến đến sự vô úy. Chữ Tha ở đây được giải thích theo chữ đầu của chữ thàma-balaô nghĩa là thế lực. 3. Phẩm Như lai tính trong kinh Niết bàn quyển 8 (Đại 12, 413 hạ) nói: Tha nghĩa là ngu si. Chúng sinh trôi lăn, sinh tử trói buộc, như tằm, bọ hung. Do đó mà biết chữ Tha cũng có nghĩa là ngu si, tức giải thích từ tục ngữ thì naô mà ra. [X. phẩm Nhập pháp giới tứ thập nhị tự quán môn trong kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm; kinh Đại bát nhã Q.490; phẩm Thị thư trong kinh Đại trang nghiêm; phẩm Quảng thừa trong luận Đại trí độ Q.48]. II. Tha. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, người lập luận dùng tác pháp 3 chi: Tông (mệnh đề), Nhân(lí do), Dụ(thí dụ) để kiến lập Tông của mình, gọi là Tự (người lập luận), còn những người ngoài người lập luận thì gọi là Tha (người khác). Tha bao gồm người vấn nạn và người chứng nghĩa. - Người vấn nạn: là người đối lập với người lập luận. Đối lập ở đây không phải chỉ riêng người có ý kiến tương phản để tranh luận với người lập luận mà phàm những ai còn có ý kiến chưa nhất trí với ý kiến của người lập luận thì đều được xếp vào phía đối lập, vì thế phạm vi của Tha rất rộng, chẳng những chỉ bao gồm người tranh luận với người lập luận mà còn bao gồm cả người chất nghi vấn nạn, lại cũng bao gồm cả người mà đối với lí chưa sáng tỏ, còn cần người lập luận phải giải thích. - Người chứng nghĩa: theo lệ thường của các cuộc biện luận ở Ấn độ thì khi người lập luận và người địch luận tranh biện với nhau, phải có người thứ 3 làm trọng tài để phán quyết phải, trái và thắng, thua; người thứ 3 ấy chính là người Chứng nghĩa.
; (他) Cũng gọi Xa, Xước, Sát, Sa, Ta, Trùng, Thả.Chỉ cho chữ ( ) (cha), 1 trong 50 chữ cái, 1 trong 42 tự môn Tất đàm. Có nhiều thuyết về ý nghĩa của chữ này. Nghĩa bóng dáng của tất cả pháp bất khả đắc. Thuyết này là do chữ Phạm Chàyà (Hán âm: Xa dã) có nghĩa là cái bóng mà ra. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 652 hạ) nói: Chữ Phạm Xa dã (Chàyà) nghĩa là cái bóng, như bóng của người ta đều nương vào thân mình, muôn pháp trong 3 cõi cũng như thế chỉ là do nhân duyên tâm thức biến hiện mà giống như có các cảnh (...), hoặc thấy được sắc thân của chư Phật hiển hiện trong 10 phương thì cũng đều là bóng dáng của tâm. Vì tâm vốn không sinh, nên biết bóng dáng cũng không có chỗ sinh; bởi không có chỗ sinh nên tâm chẳng dời đổi, bóng dáng cũng không dời đổi, sở dĩ như thế là vì bóng dáng không có tính chất nhất định, mọi cử chỉ hoàn toàn tùy thuộc nơi thân, bóng dáng của tâm cũng vậy. Vì tâm dong ruổi hí luận, không một niệm dừng nghỉ nên muôn vàn công dụng trong thế gian cũng theo đó mà trôi lăn. Nếu khi rõ được tướng như thực của tâm thì tướng của bóng dáng cũng như thực, cho nên là bất khả đắc. Nghĩa ham muốn thú vui che lấp chân tính. Thuyết này là do chữ Phạm Chattra (Hán âm: Sai đát la) có nghĩa là muốn và che đậy mà ra. Tứ thập nhị tự quán môn trong phẩm Nhập phápgiới, kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm (Đại 19, 708 trung) nói: Khi quán tưởng chữ Tha thì vào môn tu hành gia hạnh tàng cái sai biệt đạo tràng Bát nhã ba la mật, rõ biết tất cả pháp ham muốn các thú vui che lấp chân tính là bất khả đắc. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 8 (Đại 12, 413 hạ) nói: Chữ Xa có nghĩa Như lai che mát cho tất cả chúng sinh, giống như cây lọng lớn. Nghĩa đi. Thuyết này là do tiếng Phạm Gaccha (Hán âm: Già xa) có nghĩa là đi mà ra. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 hạ) nói: Nếu nghe chữ Xa thì biết tất cả pháp đều không có chỗ đi. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.8; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.10; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; phẩm Phổ hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.31; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; kinh Phổ diệu Q.3; kinh Bất không quyến sách thần biến chân ngôn Q.14].
tha bảo
Những thứ quý giá của người khác—The valuables of another person—Other valuables.
tha bổng
To discharge—To acquit.
tha cho
See Tha.
tha di phẩm
(他异品) Tiếng dùng trong Nhân minh. Dị phẩm chỉ cho phẩm loại khác với tông nghĩa (ý nghĩa của mệnh đề). Trong luận thức Nhân minh, Dị phẩm nếu chỉ được người lập luận(Tự) chấp nhận, còn người vấn nạn(Tha) không chấp nhận thì gọi là Tha dị phẩm. Tha dị phẩm chính là Tự đồng phẩm. (xt. Cộng Đồng Phẩm, Tự Đồng Phẩm).
tha duyên
(他緣) Chỉ cho các duyên chủ động (năng) trong thuyết Duyên khởi của Phật giáo. Tính không duyên khởi là 1 trong các lí luận cơ bản của Phật giáo, tất cả sự vật đều không có tự tính, đó là Tính không; tất cả sự vật được hình thành đều do các duyên hòa hợp mà sinh khởi, đó là Duyên khởi. Trong pháp duyên khởi, pháp sở khởi (được khởi lên = bị động) là Tự(mình), các duyên năng khởi(làm cho khởi lên = chủ động) là Tha(người, nó, khác), cho nên gọi là Tha duyên. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 856 thượng) nói: Thân ta thuộc về tha duyên, mờ mịt chẳng biết từ đâu đến.
tha duyên giác tâm
Xem Tha hoá Tự tại Thiên.
tha duyên đại thừa tâm
(他緣大乘心) Cũng gọi Tha duyên đại thừa trụ tâm, Vô duyên thừa tâm. Chỉ cho tâm Bồ tát đem lòng từ bi vô duyên (vô điều kiện) gia bị tất cả chúng sinh, là Trụ tâm thứ 6 trong 10 Trụ tâm do tông Chân ngôn Nhật bản thành lập. Luận Thập trụ tâm quyển 6 (Đại 77, 337 thượng) nói: Duyên các hữu tình trong pháp giới nên gọi là Tha duyên; phân biệt với xe dê, xe nai của Thanh văn, Độc giác nên gọi là Đại; vận chuyển mình và người về tính Viên giác nên gọi là Thừa. Đó là hành nghiệp của người quân tử, là dụng tâm của hàng Bồ tát. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 18, 3 trung) nói: Hạnh Đại thừa phát tâm vô duyên thừa, pháp vô tự tính. Tiếng Phạm của chữ Vô này là màpara (Hán âm: Mãng bát la) bao hàm 2 nghĩa vô và tha, cho nên có 2 cách giải thích là Tha duyên thừa và Vô duyên thừa. Ngài Không hải dựa theo Sở kí tề đem tâm Vô duyên thừa phối hợp với giáo ý của Pháp tướng Đại thừa. Nếu nói theo Năng kí tề của hành giả Chân ngôn thì tâm Vô duyên thừa tương đương với giai vị Pháp vô ngã vô úy, thứ 5 trong 6 Vô úy, tức dùng các pháp tu hành như huyễn mà đi sâu vào pháp không, trụ nơi tâm vô duyên để xa lìa sự trói buộc của các pháp. Nói theo 10 Trụ tâm thì trong Trụ tâm thứ 5 vừa nói trên đã xa lìa sự trói buộc của 5 uẩn, nhưng vẫn chưa phát khởi bi nguyện, đến Trụ tâm này mới vào Bồ tát phần, theo thứ tự biết rõ lí Tâm vốn không sinh mà dần dần tiến lên Trụ tâm thứ 7. Ở giai vị trung gian chính là Tha duyên đại thừa tâm của Trụ tâm thứ 6. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2, 3; Bí tạng bảo thược Q.hạ]. (xt. Thập Trụ Tâm).
tha giới
(他界) Phạm: Para-loka. Cũng gọi Tha thế, Tha độ. Chỉ cho các thế giới khác ngoài thế giới này.Theo thuyết luân hồi, khi chúng sinh hữu tình chưa được giải thoát thì phải thụ sinh trong các thế giới địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, Tu la, cõi người và cõi trời. Bởi vậy, đối với thế giới loài người mà nói, các thế giới khác đều gọi là Tha giới. Do những hành vi thiện ác ở đời này mà sau khi chết, con người sẽ thụ sinh trong các thế giới khác (Tha giới), nhưng người đã sinh về Tịnh độ thì sẽ không còn rơi trở lại vào thế giới luân hồi trừ nguyện độ sinh.Thông thường nói sinh về thế giới khác là chỉ cho sau khi chết. Chỉ có những người có đầy đủ năng lực thần thông mới có thể đến các thế giới khác lúc đang còn sống. Như kinh Tăng già la sát sở tập quyển hạ ghi đức Phật đã hiển hiện những việc lạ, Ngài lên cõi trời Đao lợi trải qua 2 mùa mưa; kinh Tạp a hàm quyển 40, phần 10, thuật lại việc ngài Mục liên lên cõi trời Ba mươi ba nói pháp cho trời Đế thích nghe. Ngoài ra còn có các vị Trưởng lão, tỉ khưu qua lại các cõi trời và địa ngục... một cách tự tại. [X. kinh Văn thù sư lợi bát niết bàn; kinh Đại bi Q.4; Ấn độ Phật giáo học nghiên (Tiền điền Huệ học)].
tha hoá thiên
Xem Tha hoá Tự tại Thiên.
Tha hoá tự tại thiên
他化自在天; C: tāhuà zìzài tiān; J: takejizai ten;|Cõi trời nơi mà chư thiên ở đó có thể hưởng được sự khoái lạc nhờ vào việc tạo khoái lạc từ các cõi trời khác, đó cũng là nơi Thiên ma Ba-tuần cư ngụ (s: para-nirmita-vaśa-vartino-devāḥ). Đó là cõi thứ 6 của Lục dục thiên (六欲天).
tha hoá tự tại thiên
Paramimmita-vaśavatti (P), Paramimmitavaśavartin (S), Heaven of Free Enjoyment of Others' Manifestations, Paranirmita-vasavattīdevaloka (P), Vaśavartin (S), Tha hoá thiên Một trong 6 cõi trời Dục giới, đứng đầu là vua trời Tự Tại: - Tứ thiên vương thiên - Đạo lý thiên - Dạ ma thiên - Đâu suất thiên - Hoá lạc thiên - Tha hoá tự tại thiên Tha Duyên giác tâm (1) Tên một cõi giới. (2) Tha Duyên giác tâm cùng Giác tâm bất sinh tâm là hai trong mười trụ tâm.
; (他化自在天) Tha hóa tự tại, Phạm: Para-nirmitavaza-vartin. Pàli: Para-nimmita-vasa-vattin. Hán âm: Ba la ni mật hòa da việt trí, Ba la ni mật, Ba la duy ma bà sa, Sa xá bạt đề. Cũng gọi Tha hóa lạc thiên, Tha hóa tự chuyển thiên, Hóa ứng thanh thiên. Gọi tắt: Tự tại thiên, Tha hóa thiên, Hóa tha thiên. Chỉ cho tầng trời thứ 6 trong 6 tầng trời của cõi Dục. Người cõi trời này lấy những việc vui thú do người khác hóa ra làm niềm vui của mình, cho nên gọi là Tha hóa tự tại thiên. Luận Đại trí độ quyển 9 (Đại 25, 122 thượng) nói: Cõi trời này lấy những việc do người khác hóa ra để tự vui, cho nên gọi là Tha hóa tự tại. Tức là được tự tại trong các việc do người khác hóa ra. Vị trời này đứng đầu cõi Dục, cũng như trời Ma hê thủ la đứng đầu cõi Sắc, đều là các ma vương nhiễu hại Chính pháp, là Thiên ma trong 4 loại ma, được gọi là Thiên ma vương thứ 6. Cứ theo phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm quyển 20, trên từng trời thứ 6, có riêng một cung điện Thiên ma, rộng 6 nghìn do tuần. Luận Đại trí độ quyển 5 (Đại 25, 99 trung) nói: Ma có 4 loại (...), loại thứ 4 là Tha hóa tự tại thiên tử ma..Cõi trời này là cõi cao nhất trong 6 tầng trời của cõi Dục, ở trên tầng mây dày đặc cách mặt biển 128 vạn do tuần, rộng 8 vạn do tuần, đồng với cõi trời Đao lợi. Ở cõi trời này có các loại hoa mọc dưới nước như hoa sen và các loại hoa mọc trên đất liền như hoa giải thoát... Cõi trời này có 3 việc hơn hẳn cõi Diêm phù đề, đó là: Sống lâu, xinh đẹp và nhiều thú vui. Chúng trời cõi này sống tới 16.000 tuổi, 1 ngày đêm ở đây bằng 1.600 năm ở nhân gian. Tuy nhiên, cũng có những người chết yểu nửa chừng. Người cõi trời này cao 16 do tuần, hoặc 1,5 Câu lô xá, áo dài 32 do tuần, rộng 16 do tuần, nhưng chỉ nặng nửa thù (bằng 100 gam). Ăn thức ăn tự nhiên, nam nử chỉ nhìn nhau mà thành dâm; khi muốn có con thì con liền hóa sinh ra trên đầu gối. Lúc mới sinh ra, đứa con này đã to bằng đứa trẻ 10 tuổi ở nhân gian, vóc dáng tròn đầy, y phục có đủ. Theo sự miêu tả trong các kinh thì cảnh tượng của cõi trời này rất trang nghiêm. Hơn nữa, trong 7 nơi 8 hội của kinh Hoa nghiêm thì hội Tha hóa tự tại thiên cung thứ 6 được nói ở cõi trời này; rồi hội Tha hóa tự tại thiên cung thuyết Bát nhã lí thú phần trong 4 nơi 16 hội của kinh Bát nhã cũng được tuyên thuyết ở cõi trời này. Ngoài ra, trong Mật giáo, trời Tha hóa tự tại được an vị ở phía tây bắc của viện Ngoại Kim cương bộ trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng là thân màu da người, ngồi xếp bằng, tay phải cầm mũi tên, tay trái co 3 ngón, cầm cung. Chủng tử là (paô), hình Tam muội da là cung tên trên lá sen. [X.phẩm Xuất gia trong kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; luận Câu xá Q.8, 11; luận Lập thế a tì đàm Q.6; Pháp uyển châu lâm Q.2, 3].
Tha hóa tự tại
xem cõi trời thứ sáu.
tha hóa tự tại thiên
Pranirmita-vasavarti (S). The sixth of the six heavens of of desire, or passion heavens, the last of the six devalokas, the abode of Mahesvara (i.e. Siva) and of Mara.
; Paranirmita-Vasavartin (skt)—Bà Xá Bạt Đề—Bà La Ni Mật Bà Xá Bạt Đề Thiên—Bà Na Hòa Đề—Cõi trời thứ sáu trong sáu cõi trời dục giới (đệ lục thiên), nơi trú ngụ của Ma Hê Thủ La Thiên và Ma vương—The sixth of the six heavens of desire, or passion-heavens, the last of the sixth devalokas, the abode of Mahesvara (Siva), and of Mara.
tha hóa tự tại thiên tử ma
Xem Thiên ma.
Tha hóa tự tại thiên 他化自在天
[ja] タケジザイテン takejizai ten ||| The heaven where one can partake of the pleasures of created in other heavens, and also where Pipanyan, the King of the Maras, resides (para-nirmita-vaśa-vartino-devāḥ). It is the sixth of the six heavens of the desire realm 六欲天. => (s: para-nirmita-vaśa-vartino-devāḥ). Cõi trời nơi mà chư thiên ở đó cò thể hưởng được sự khoái lạc nhờ vào việc tạo khoái lạc từ các cõi trời khác, đó cũng là nơi thiên ma Ba-tuần (c: Pipanyan) cư ngụ . Đó là cõi trời thứ sáu của Lục dục thiên 六欲天.
tha hồ
As one please—At will—Without control or limitation.
tha hứa
(他許) Tiếng dùng trong Nhân minh. Tha chỉ cho người vấn nạn, người chứng nghĩa. Hứa là chấp nhận. Tức những lời nói hoặc ý kiến do người lập luận đưa ra đều được người vấn nạn và người chứng nghĩa chấp nhận thì gọi là Tha hứa.
tha hữu tự vô thể
(他有自無體) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Thể (tiền trần, chủ từ) được người vấn nạn thừa nhận là có thật nhưng người lập luận không thừa nhận là có thật, thì gọi là Tha hữu tự vô thể.
tha kỷ
Người và ta—Another and oneself—Both he and I.
tha lợi lợi tha
(他利利他) Người lợi lợi người. Tức làm lợi cho người có 2 ý nghĩa sâu xa là người lợi và lợi người khác nhau. Luận Tịnh độ của ngài Thế thân (Đại 26, 233 thượng) nói: Bồ tát tu hạnh 5 môn như thực, lợi mình lợi người, mau được Vô thượng chính đẳng chính giác. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan (Đại 40, 843 hạ) giải thích: Tu hạnh 5 môn để thành tựu việc lợi mình lợi người, nhưng xét tìm đến gốc nguồn của việc này thì đức Phật A di đà là tăng thượng duyên. Bàn về tha lợi và lợi tha thì có 2 phương diện. Nếu đứng về phương diện Phật mà bàn thì nên nói là lợi tha; còn đứng về phía chúng sinh mà bàn thì nên nói là tha lợi. Bởi vì 4 môn trước của 5 môn công đức nói trong luận Tịnh độ mục đích là nêu bày pháp môn tự lợi của chúng sinh; thuộc về công đức Nhập; còn môn thứ 5 thì nêu bày pháp môn lợi tha, tức sau khi đã vãng sinh Tịnh độ thì nên trở lại thế giới Sa bà để cứu độ những chúng sinh khổ não, đây là thành tựu hạnh lợi tha, thuộc về công đức Xuất. Ngài Đàm loan căn cứ vào đây mà nói rằng sở dĩ chúng sinh thành tựu hạnh tự lợi, lợi tha đều là nhờ vào việc lấy bản nguyện của đức Phật A di đà làm tăng thượng duyên. Bởi thế biết sự lợi tha của chúng sinh và sự lợi tha rộng lớn của Phật A di đà có khác nhau. Do đó, để phân biệt mới gọi sự lợi tha của chúng sinh là Tha lợi, còn sự lợi tha của đức Phật A di đà thì gọi là Lợi tha. Văn trong luận Tịnh độ nêu trên, không nói Tự lợi, tha lợi mà nói Tự lợi lợi tha. Tha lợi lấy việc chúng sinh được lợi ích làm chính, sức của người thực thi khó hiển bày; còn nói Lợi tha thì nói rõ việc làm lợi ích chúng sinh mà hiển bày sức của người thực thi, trong đó cũng bao hàm sức từ bi của Phật. Tịnh độ chân tông của Nhật bản lấy đây làm 1 trong các luận đề tông thừa của mình. [X. Vãng sinh luận chú kí Q.5; Luận chú phục tông kí Q.6]. (xt. Ngũ Niệm Môn).
Tha lực
他力; C: tālì; J: tariki; là lực từ bên ngoài, lực của người khác;|Tha lực ở đây được hiểu là sức cứu độ của Phật A-di-đà, mà theo quan điểm của Tịnh độ tông là vị sẽ tiếp dẫn những ai cầu xin Ngài. Tha lực được dùng đối ngược lại từ Tự lực (自力). Thiền tông là một môn phái dựa trên tự lực.
tha lực
Tariki (S), External power, Other-power.
; Another's strength, especially that of a Buddha, or bodhisattva, obtained through faith in Màhayàna salvation.
; Sức mạnh của người khác, đặc biệt là của Phật và Bồ Tát mà hành giả đạt được bằng niềm tin cứu độ trong giáo lý Đại Thừa—Other power—The power or stregth of another, especially that of a Buddha or Bodhisattva, obtained through faith in Mahayana salvation.
; (他力) Đối lại: Tự lực. Sức giúp đỡ của người khác. Tức ngoài năng lực của chính mình, còn đặc biệt nhờ năng lực cứu giúp của Phật và Bồ tát mà được độ giải thoát. Tông Tịnh độ nói: Chỉ dùng sức mình để cầu Thánh đạo mà không nhờ năng lực của Phật thì không thể nào đạt được giải thoát. Ví như mong được cảm ứng đạo giao cũng là 1 trường hợp về tha lực. Giáo pháp chủ trương nương nhờ tha lực để thành Phật gọi là Tha lực giáo, Tha lực tông, như tông Tịnh độ, Tịnh độ chân tông và Thời tông của Nhật bản. Trái lại, giáo pháp chủ trương dùng tự lực để đạt giải thoát gọi là Tự lực giáo, Tự lực tông, như các tông Thiên thai, Hoa nghiêm, Mật, Thiền, Pháp tướng, Nhật liên Nhật bản... đều là Tự lực tông. Ngoài ra, sức bản nguyện và sức gia bị của Phật chính là Tha lực, trong đó, đặc biệt sức bản nguyện của đức Phật A di đà thường giúp chúng sinh thành Phật. Thệ nguyện của Ngài là: Chỉ nguyện tin ta sẽ được vãng sinh về cõi ta và khiến thành Phật đạo, cho nên người bỏ tự lực mà tin Di đà thì tương ứng với bản nguyện này. Tín tâm này chính là Tha lực. Tại Trung quốc, từ sau khi tư tưởng vãng sinh hưng khởi thì dần dần coi trọng việc giải thích về tha lực, như ngài Đàm loan đã y cứ vào Nan dị nhị đạo của bồ tát Long thụ mà phán lập thuyết Nan hành đạo và Dị hành đạo. Dị hành đạo là phương pháp tu hành nương vào nguyện lực của Phật hoặc tha lực gia trì của Phật lực để vãng sinh thành Phật. Về sau, các ngài Trí khải, Thiện đạo, Hoài cảm... cũng đều soạn sách lập thuyết để đề xướng giáo pháp Tha lực. Luận Tịnh độ quyển trung (Đại 47, 91 thượng) nói: Bản nguyện Di đà là duyên tăng thượng. [X. Đại bảo tích kinh luận Q.1; Thập địa kinh luận Q.1; luận Tịnh độ thập nghi; Vãng sinh luận chú Q.thượng (Đàm loan); An lạc tập Q.thượng].
tha lực bản nguyện
(他力本願) Tha lực hàm ý là bản nguyện. Nghĩa là tất cả chúng sinh nếu nương nhờ vào sức bản nguyện của Phật A di đà thì đều được cứu độ, sinh về Cực lạc phương Tây. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo (Đại 37, 271 trung) nói: Một lòng tin sâu 48 nguyện của đức Phật A di đà nhiếp thụ chúng sinh, quyết định không nghi, nương vào nguyện lực của Ngài, chắc chắn được vãng sinh. Đây nói 48 nguyện của Phật A di đà tức là tha lực. Cũng có khi Tha lực bản nguyện là chỉ riêng cho nguyện niệm Phật vãng sinhthứ 18. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].
tha lực niệm phật
Trusting to and calling on the Buddha, especially Amitàbha.
; Tin tưởng và niệm hồng danh Phật để vãng sanh, đặc biệt là Phật A Di Đà—Trusting to and calling on the Buddha, especially Amitabha.
; (他力念佛) Đối lại: Tự lực niệm Phật. Dốc toàn lực vào sức bản nguyện của Phật A di đà để xưng danh niệm Phật, xưng danh niệm Phật như vậy gọi là Tha lực niệm Phật. Trái lại, nếu dùng tự lực để cầu khơi mở trí tuệ, chứa góp công đức, thì xưng danh niệm Phật, hoặc quán niệm niệm Phật như thế đều gọi là Tự lực niệm Phật.
tha lực thất dụ
(他力七喻) Chỉ 7 thí dụ về tha lực. Tức dùng 7 thứ thí dụ để ví dụ việc nương nhờ vào tha lực bản nguyện của đức A di đà mà được vãng sinh Tịnh độ. Đại khái 7 thí dụ đều nói lên sức không thể nghĩ bàn của chư Phật, giống như 7 việc sau đây không thể dùng trí của thường tình mà suy lường tính toán được. Theo An lạc tập quyển thượng, 7 thí dụ ấy là: 1. Như trăm người xếp củi thành đống trong 100 năm, cao đến 1000 nhận, nhưng lửa chỉ đốt trong nửa ngày là hết sạch. 2. Như thuyền chở người, nhờ sức gió thổi vào cánh buồm mà 1 ngày có thể đi nghìn dặm. 3. Như người gặp vật quí, đem dâng vua mà được trọng thưởng, bỗng chốc trở nên giàu có. 4. Như người đau yếu, thậm chí không thể leo lên lưngconlừa, nhưng nếu đi tháp tùng Luân vương thì có thể bay lướt trong hư không. 5. Như sợi dây to lớn, cả nghìn người không bứt được, nhưng 1 đứa trẻ cầm kiếm, chặt 1 nhát liền đứt. 6. Như lông con chim trấm rơi xuống nước thì cá tôm đều chết, nhưng con tê ngưu xuống bùn thì cá tôm nào chết đều sống lại, do đó mà biết mệnh sống tuy đã dứt nhưng nếu nương nhờ vào sức bất khả tư nghị thì vẫn có thể sống lại. 7. Như Tử an chết nằm dưới mộ đã nghìn năm, vậy mà Thiên nga gọi thì liền sống lại. Bảy thí dụ nói trên đều hiển bày tất cả muôn pháp đều có tự lực tha lực, tự nhiếp tha nhiếp, nghìn mở muôn đóng, vô lượng vô biên, không thể dùng kiến thức hữu hạn của con người mà biết được các pháp vô ngại ấy. [X. Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa; Vãng sinh yếu tập Q.hạ].
tha lực tín
Faith of the other-power Tín tâm được tha lực khơi dậy; chúng ta được Phật A Di Đà truyền tâm cho.
tha lực tông
Those who trust to salvation by faith, contrasted with tự lực tông those who seek salvation by works, or by their own strength.
; Tông chỉ của những người tin vào tha lực mà vãng sanh, đối lại với những người tự cứu độ bằng sức của chính mình (Tự Lực Tông)—Those who trust to salvation by faith, contrasted with those who seek salvation by works, or by their own strength.
tha lực vãng sinh
(他力往生) Chỉ cho việc chúng sinh nương nhờ vào tha lực bản nguyện của đức Phật A di đà mà được vãng sinh Tịnh độ. Đây là giáo nghĩa tông Tịnh độ.
Tha lực 他力
[ja] タリキ tariki ||| other-power, referring to the reliance on the salvific powers of a great buddha or bodhisattva such as Amitābha 阿彌陀 rather than on the strength of one's own efforts. A Pure Land 淨土宗 concept, usually contrasted with "self-power" 自力. => Năng lực bên ngoài, nói đến sự nương tựa vào nguyện lực cứu độ của Đức Phật A Di Đà hơn là tự nỗ lực vào chính mình. Một ý niệm của Tịnh Độ tông, ngược với Tự lực自力.
tha mạng
To spare someone's life.
tha nga niệm phật
(嵯峨念佛) Cũng gọi Tha nga đại niệm Phật. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tại Nhật bản, hàng năm, trong khoảng thời gian 10 ngày từ ngày mùng 6 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch, chùa Thanh lương ở Tha nga, Nhật bản, có cử hành hội niệm Phật dung thông, được gọi là Tha nga niệm Phật, tương truyền do ngài Viên giác sáng lập vào năm 1279. Khi niệm Phật thì vừa niệm vừa đánh trống gõ chiêng. Sau khi niệm Phật thì mang mặt nạ để diễn kịch câm và đi diễu hành trên đường phố.
Tha Nga Thanh Lương Tự
(嵯峨清涼寺, Sagaseiryō-ji) hay Thanh Lương Tự (清涼寺, Seiryō-ji): ngôi chùa của Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại số 46 Sagashakadōfujinoki-chō (嵯峨釈迦堂藤ノ木町), Sakyō-ku (右京區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府); hiệu núi là Ngũ Đài Sơn (五台山), thường được gọi là Tha Nga Thích Ca Đường (嵯峨釋迦堂). Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai (quốc bảo). Ban đầu chùa thuộc về Hoa Nghiêm Tông, rồi sau đến Thiên Thai, Chơn Ngôn, Niệm Phật Tông, nhưng hiện tại thì thuộc về Tịnh Độ Tông. Ngôi chùa này nguyên sơ là sơn trang của Hoàng Tử Nguyên Dung (源融), con của Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823), sau đó được cải thành chùa với tên là Thê Hà Tự (棲霞寺). Đến năm 987 (niên hiệu Vĩnh Diên [永延] thứ nhất), vị Tăng Điều Nhiên (奝然) lấy bức tượng Thích Ca đem từ nhà Tống về tôn trí tại đây, sau đó vào năm 1016, khi Điều Nhiên qua đời, thì cao đệ là Thạnh Toán (盛算) mới theo di chí của sư huynh mà tiếp tục khai sáng chùa. Nguyên bản tên chùa Thê Hà Tự hiện vẫn còn lưu lại ở A Di Đà Đường. Tượng Thích Ca đứng bằng gỗ ở chùa này cao 6 mét, có hình tướng đặc dị nhất ở Nhật, tương đương với tượng Phật ở Mathura, Ấn Độ, là loại tượng gỗ bằng Chiêu Đàn. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Phật, một danh tác vào đầu thời đại Đằng Nguyên, được gọi là Tha Nga Quang Phật (嵯峨光佛). Chùa này cũng đã mấy lần bị hỏa tai cháy rụi, các đường vũ hiện tại là những kiến trúc do vị trú trì Nghiêu Trấn Hòa Thượng (堯鎭和上) tái tạo nên theo mệnh lệnh của Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát (德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi) vào khoảng niên hiệu Văn Lộc (文祿, 1592-1596). Quần thể kiến trúc hiện tại của chùa có Chánh Điện, Tàng Kinh Các, Dược Sư Đường, Linh Bảo Tháp, Sơn Môn, Cổ Tháp, v.v. Chùa còn lưu giữ nhiều bảo vật thuộc dạng quốc bảo hay tài sản văn hóa trọng yếu như tượng đứng Thích Ca Như Lai, bằng gỗ, do Điều Nhiên tạc nên vào năm 985 tại Khai Nguyên Tự (開元寺) ở Đài Châu (台州), khi đang còn ở bên nhà Tống cầu pháp; tượng ngồi A Di Đà Tam Tôn, bằng gỗ, nguyên lai là tượng thờ chính của Thê Hà Tự, được hoàn thành vào năm 896, nhân lễ Húy Kỵ của Hoàng Tử Nguyên Dung; 16 bức tranh màu trên lụa tượng Thập Lục La Hán, v.v.
Tha Nga Thiên Hoàng
(嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823): vị Thiên Hoàng sống đầu thời Bình An, hoàng tử của Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō), tục danh là Thần Dã (神野, Kamino). Ông đã từng biên tập bộ Hoằng Nhân Cách Thức (弘仁格式), Tân Soạn Tánh Thị Lục (新撰姓氏錄), rất sở trường về văn chương Hán Thi, và soạn nên bộ Văn Hoa Tú Lệ Tập (文華秀麗集), Lăng Vân Tập (菱雲集). Ngoài ra, ông lại rất giỏi về Thư Đạo.
Tha ngộ
他悟; C: tāwù; J: tago;|Được người khác đánh thức; giác ngộ qua sự giúp đỡ của người khác.
Tha ngộ 他悟
[ja] タゴ tago ||| To be awakened by someone else. => Được khai ngộ nhờ vào người khác. Tha sự 他事 [ja] タジ taji ||| (1) Other matters; other people's affairs. (2) The activities of other things. => Có các nghĩa: 1. Việc khác; chuyện của người khác. 2. Tính hoạt dụng của các yếu tố khác .
tha nhiếp
(他攝) Đối lại: Tự nhiếp. Tha lực thu nhiếp, giữ gìn, 1 trong 2 nhiếp. Nhiếp là nhiếp trì, nghĩa là nhờ tha lực của Phật và Bồ tát nhiếp trì mà thành tựu việc tu hành, chứng được đạo quả. Tha nhiếp đồng nghĩa với Tha lực, nhưng Tha lực là gọi theo thể, còn Tha nhiếp thì gọi theo dụng; tất cả pháp tu hành đều có tự lực tha lực, tự nhiếp tha nhiếp. (xt. Tha Lực).
tha nhân
other people.
tha phương bạch y bồ tát viện
(他方白衣菩薩院) Tòa viện ở trong tinh xá Kì viên, Ấn độ.Khi các Bồ tát tại gia ở thế giới phương khác từ xa đến lễ bái đức Thế tôn thì trước vào nghỉ ngơi ở viện này, sau đó mới đến bái kiến Thế tôn. [X. kinh Trung thiên trúc Xá vệ quốc Kì hoàn tự đồ].
tha ra
To let go—To set free—To free.
tha sinh
Tha Thế—Đời khác hay thế giới khác, hoặc đời trước hoặc đời sau—Another life or another world, either previous or after this.
; (他生) Đối lại: Kim sinh, Tự sinh. Đời khác. Chỉ cho đời quá khứ, vị lai. Không phải tự sinh mà nương vào nguyên nhân khác để tự sinh, cũng gọi là Tha sinh.
Tha sự
他事; C: tāshì; J: taji;|Có các nghĩa: 1. Việc khác, chuyện của người khác; 2. Hoạt động của các yếu tố khác.
tha thiết khuyên răn
To admonish earnestly.
tha thắng tội
Overcome by specific sin: i.e. any of the four parajikas, or sins of excommunication.
; Ba La Di—Tội nặng của Tỳ Kheo (thiện căn bị ác pháp lướt thắng)—Overcome by specific sin, any of the four parajikas, or sins of excommunication.
tha thế
(他世) Đối lại: Hiện thế, Kim thế. Đời khác. Tức chỉ cho đời quá khứ hoặc đời vị lai. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 thượng) nói: Bỏ mình, đời sau(tha thế) chắc chắn sẽ sinh cõi tịnh, tâm không còn ngờ. (xt. Tha Giới).
tha thọ dụng thân
Body for the sake of beings.
Tha thọ dụng thân 他受用身
[ja] タジュユウシン tajuyūshin ||| (1) The actual manifest body of the Buddha, for the enjoyment of the beings in the world. One of the four bodies of the Buddha. The complement of zi shouyongshen 自受用身.(2) The reward body of the Buddha that causes other beings to receive and enjoy the dharma. (3) The buddha-body that appears and expounds the dharma for bodhisattvas of the first level (bhūmi) and above. Also called the 'response body' 應身 (yingshen). Có các nghĩa sau: 1. Thân thị hiện của Đức Phật, thọ thân người ở thế gian. Một trong bốn thân cuae Đức Phật. Phần kia là Tự thọ dụng thân. 2. Báo thân Phật để khuyến khích chúng sinh hoan hỷ thọ nhận giáo pháp từ sơ địa trở lên.. 3.Thân thị hiện của Đức Phật để giảng pháp cho hàng Bồ-tát. Còn gọi là Ứng thân 應身.Tha 他 [ja] タ ta ||| (1) Other; the other (thing); (para). (2) (An) other person (para-puruṣa). (3) In Chan language, the person besides the one is talking to--the third person: he, she. (4) Used for transliterating the Sanskrit tha sound. => Có các nghĩa sau: 1.Kia, Cái khác (s: para). 2. (Một) người khác (s: para-puruṣa). 3. Trong ngôn ngữ Thiền, đó là nhân vật đang được đề cập đến trong cuộc nói chuyện– là nhân vật thứ ba: Ông ấy, cô ấy. 4. Tiếng dùng để ghi âm Tha trong tiếng Sanskrit.
tha thọ dụng độ
Báo Độ của Phật trong đó chúng sanh nhận và tuân giữ theo chân lý của Ngài—Reward land of a Buddha or Buddhaksetra, in which all beings receive and obey his truth. ** For more information, please see Báo Độ.
Tha thụ dụng thân
他受用身; C: tā shòuyòng shēn; J: taju-yūshin;|Có các nghĩa sau: 1. Thân hiện tại của đức Phật, xuất hiện vì lợi ích của chúng sinh. Một trong bốn thân của một vị Phật-đà. Là phần bổ sung của Tự thụ dụng thân (自受用身); 2. Thân hiện diện của một vị Phật, khiến chúng sinh nhận thức và an lạc nơi Phật pháp; 3. Thân Phật hiển hiện để thuyết pháp cho những vị Bồ Tát từ địa (Thập địa) thứ nhất trở lên. Cũng được gọi là Ứng thân (應身).
tha thụ dụng độ
That part of the Buddhaksetra, or a reward land of a Buddha in which all beings receive and obey his truth.
; (他受用土) Chỉ cho cõi nước của thân Tha thụ dụng cư trú, thuộc 1 trong 4 cõi nước an trụ của Phật do tông Duy thức thành lập. Khi còn ở địa vị tu nhân, theo hạnh nguyện lợi tha và thích ứng với căn cơ lớn nhỏ, hơn kém của các Bồ tát Thập địa, đức Phật đã kiến lập cõi Thụ dụng này để các vị Bồ tát được thụ dụng pháp lạc. Vì thế nên cõi Phật này cũng có sự lớn nhỏ, hơn kém khác nhau. (X. luận Thành duy thức Q.10]. (xt. Tứ Độ).
tha thứ
See Tha.
Tha tác
他作; C: tāzuò; J: tasa;|Sự tạo tác nhờ vào những yếu tố khác.
tha tác cung dưỡng
(他作供養) Đối lại: Tự tác cúng dường. Do người khác khuyến hóa mà cúng dường, 1 trong 10 thứ cúng dường. Nghĩa là nhờ sự giáo hóa, kêu gọi, khuyến khích của người khác mà phát tâm cúng dường Phật, tháp, chùa... Còn Tự tác cúng dường là chưa được người khácgiáo hóa, kêu gọi, khuyến khích mà tự mình phát tâm cúng dường Phật, tháp, chùa... Đại thừa nghĩa chương quyển 14 (Đại 44, 742 trung) nói: Tha tác cúng dường, có chút tài vật, không nên giải đãi, giáo hóa người làm.
Tha tác 他作
[ja] タサ tasa ||| Created based upon other things (para-krtā). => Sự tạo tác nhờ vào những yếu tố khác.
tha tâm luân
Xem Chiên niệm thị hiện.
Tha tâm thông
他心通; C: tāxīntōng; J: tashintsū; S: para-citta-jñāna.|Khả năng siêu nhiên đọc được ý nghĩ của người khác. Một tróng sáu loại thần thông (Lục thần thông 六神通).
tha tâm thông
Paracetah-paryayajāna-saksat-kriyabhijā (S) Biết được tâm của tất cả mọi chúng sanh. Trong lục thông gồm: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thông Trí tâm sai biệt trí tác chứng thông.
; Paracittàjnàna (S). Intuitive knowledge of the minds of all other beings.
; Divine mind—See Lục Thông (3), Ten Kinds of Wisdom, Tứ Thập Bát Nguyện, and Tha Tâm Trí.
; (他心通) Gọi Đủ: Tha tâm trí chứng thông (Phạm: Para-ceta#-paryàya-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà), Trí tâm sai biệt trí tác chứng thông. Cũng gọi: Quán tâm tâm số pháp trí chứng thông, Tri tha tâm thông, Tâm sai biệt thông. Chỉ cho năng lực thần thông chứng được trí tha tâm, biết rõ đúng như thực các ý nghĩ sai biệt trong tâm người khác. Tương đương với Tha tâm trí trong 10 trí, là 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Luận Tập dị môn túc quyển 15 (Đại 26, 432 trung) nói: Thế nào là Tha tâm trí chứng thông? Đáp: Đối với tâm tầm tứ (suy xét) của các hữu tình khác đều biết đúng như thực; nghĩa là có tâm tham thì biết đúng là có tâm tham, lìa tâm tham thì biết đúng là lìa tâm tham. (...) Tâm giải thoát, tâm không giải thoát đều biết đúng như thực, đó gọi là Tha tâm trí chứng thông. Theo luận Câu xá quyển 27, người muốn tu Tha tâm thông thì lấy 4 tĩnh lự căn bản của cõi Sắc làm chỗ nương, trước hết phải xét kĩ sự biến đổi trước sau xoay vần theo nhau của 2 tướng thân và tâm nơi chính mình, sau đó lại quán xét thân tâm của người khác, nếu gia hành ấy thành tựu thì biết được đúng như thực tướng tâm của người khác. [X. luận Đại tì bà sa Q.12; luận Đại trí độ Q.5, 28].
Tha tâm thông 他心通
[ja] タシンツウ tashintsū ||| The supernatural ability to read the minds of others (para-citta-jñāna). One of the six supernatural powers . => Một trong sáu thứ thần thông ( Lục thần thông 六神通)
tha tâm thị hiện
Xem Chiên niệm thị hiện.
Tha tâm trí
Trí tuệ sáng suốt thấy biết được tâm niệm của người khác, cũng gọi là Tha tâm thông, một trong Ngũ thông.
tha tâm trí
Paracittā-jāna (S), Knowing the other's mind, Cetopariyaāṇa (P) Tha tâm thông Xem Huệ trí.
; Xem tha tâm thông.
; Paracittajnana (skt)—Tên đủ là Trí Tha Tâm Thông hay là trí biết rõ tâm trạng của người khác —Intuitive knowledge or understanding the minds of others (all other beings). 1) Trí thứ tám trong thập trí: The eighth of the ten kinds of wisdom—See Ten Kinds of Wisdom. 2) Thần Thông thứ ba trong Lục Thông: The third of the six transcendental powers—See Lục Thông. 3) Lời nguyện thứ tám trong bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà; Ngài nguyện không thành Phật cho đến khi nào hết thảy chúng sanh đều có được Tha Tâm Trí nầy: The eighth of the Amitabha's forty-eight vows that men and devas in his paradise should all have the joy of this power—See Tứ Thập Bát Nguyện.
; (他心智) Phạm:Para-citta-jĩàna. Cũng gọi Tri tha nhân tâm trí, Tâm sai biệt trí. Trí biết những ý nghĩ trong tâm người khác, 1 trong 10 trí. Những người đã xa lìa dục hoặc và chứng nhập thiền định căn bản của cõi Sắc trở lên thì phát được trí này. Trong 6 thần thông, trí này được gọi là Tha tâm thông. Luận Đại tì bà sa quyển 99 cho rằng Tha tâm trí lấy tutuệ làm tự tính, lấy 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ nương, biết rõ được Dục giới hệ, Sắc giới hệ và tướng tâm vô lậu của người khác; nhờ gia hành mà chứng được trí này. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 (Đại 44, 757 thượng) nói: Tha tâm trí, sự suy nghĩ chẳng phải của mình gọi là Tha tâm, hiểu suốt sự suy nghĩ ấy, gọi là Tha tâm trí.Trí này do pháp trí, loại trí, đạo trí và thế tục trí cấu tạo thành, chung cho cả hữu lậu, vô lậu và đều lấy pháp đồng loại làm Sở duyên, nhưng không biết được tâm của bậc ở giai vị thù thắng và tâm quá khứ, vị lai. Chỉ dùng 1 niệm hiện tại duyên theo 1 việc có thật mà nắm giữ lấy tự tướng, chứ không thể nắm giữ tâm năng duyên và hành tướng sở duyên của người khác. Lại vì chỉ có Tứ thiền, cho nên chỉ biết Dục giới hệ, Sắc giới hệ và pháp vô lậu, chứ không duyên với Vô sắc giới hệ. [X. luận Câu xá Q.26; kinh Đại bát nhã Q.489; luận Tập dị môn túc Q.7; luận Đại tì bà sa Q.109]. (xt. Thập Trí).
tha tâm trí thông
See Tha Tâm Trí.
tha tâm trí thông nguyện
(他心智通願) Chỉ cho thệ nguyện làm cho tất cả người và trời trong nước Cực lạc đều có thần thông biết được tâm niệm của người khác, là nguyện thứ 8 trong 48 thệ nguyện của Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Nếu tôi thành Phật mà người và trời trong cõi nước của tôi không được trí biết tâm người khác, cho đến biết rõ ý niệm của các chúng sinh trong trăm nghìn ức na do tha cõi nước của chư Phật thì tôi không ở ngôi Chính giác.
Tha tâm trí thông 他心智通
[ja] タシンチツウ tashinchitsū ||| See 他心通. => Xem Tha tâm thông 他心通.
tha tì lị
Xem Trưởng lão.
tha tỉ lượng
(他比量) Phạm: Paràrthànumàna. Cũng gọi Tha tỷ, Vi tha tỷ lượng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tức là Lượng(luận thức) được thành lập theo pháp tha hứa(sự đồng ý của người vấn nạn), 1 trong 3 Tỷ lượng của Nhân minh. Y cứ vào Tự tỷ lượng mà biết 1 cách chính xác về nghĩa do chính mình (người lập luận) lập ra, lại nhằm phá đổ nghĩa do người khác thành lập mà dùng pháp được người vấn nạn đồng ý để lập Lượng thì gọi là Tha tỷ lượng. Khi lập Tha tỷ lượng thì trong Tông(mệnh đề) phải dùng từ ngữ phân biệt như Ông chấp rằng, ông cho rằng... . Tha tỷ lượng lại được chia nhỏ thành 3 loại khác nhau là Tha, Tự, Cộng. Trong đối luận, mỗi loại đều có qui định khác nhau: 1. Pháp Tha trong Tha tỷ lượng: Trong 3 chi Tông, Nhân (lí do), Dụ (thí dụ) đều dùng pháp tha hứa. 2. Pháp Tự trong Tha tỷ lượng: Trong 3 chi thì Tông dùng pháp tha hứa, còn Nhân và Dụ thì dùng pháp tự hứa (mình đồng ý). 3. Pháp Cộng trong Tha tỷ lượng: Tông và Dụ dùng pháp tha hứa, Dùng pháp Cộng hứa (cả đôi bên cùng thừa nhận). [X. Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu]. (xt. Tam Tỷ Lượng, Tự Tỷ Lượng).
tha tội
See Tha.
tha tỳ
Xem Tha tỷ lượng.
tha tỷ lượng
Pararthanumāna (S) Tha tỳ, Vi tha tỷ lượng Luận thức y cứ vào sự đồng ý của người vấn nạn.
tha đồng phẩm
(他同品) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, các phẩm loại có ý nghĩa giống nhau gọi là Đồng phẩm. Nếu Đồng phẩm không được người lập luận chấp nhận mà chỉ có người vấn nạn chấp nhận, thì gọi là Tha đồng phẩm. Tha đồng phẩm tức là Tự dị phẩm. (xt. Cộng Dị Phẩm, Tự Đồng Phẩm, Tự Dị Phẩm).
Tha-ga-na-pa
S: thaganapa; »Người bệnh nói dối«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là sống trong thế kỉ 11.|Tha-ga-na-pa là người mang bệnh nói dối, vì vậy mà mọi người đều tránh xa. Lần nọ, ông gặp một Du-già sư, vị này nghe biết ông nói dối liền khuyên: »Nếu ngươi nói dối thường xuyên và nghiệp báo đến lúc chín muồi, ngươi sẽ tái sinh trong Ðịa ngục. Nói dối nhiều lần sẽ thấy quen và hậu quả là lưỡi bị chẻ làm đôi, hơi thở hôi hám…«. Nghe như vậy ông sợ quá và cũng thú nhận muốn học hỏi nhưng sự dối trá đã trở thành thói quen. Vị Du-già sư dạy ông phép quán tưởng rằng mọi sự trên đời đều là hư dối:|Vì ngươi không hề biết,|hiện tượng là dối trá,|nên ngươi mới dối trá.|Nếu ngươi biết rõ rằng,|vật biết và người biết,|đều cùng giả dối cả,|và sáu căn sáu trần,|đều cũng đang lừa dối,|ngươi tìm đâu sự thật?|Tưởng mê vọng là chân,|nên còn dính sinh tử.|Trẻ không thấy tuồng giả,|tưởng cái giả là thật,|các ngươi quay không nghỉ,|trong bánh xe sinh tử,|chẳng khác bánh xe nước,|đi lên rồi đi xuống.|Hãy quán mọi hiện tượng,|là ảo ảnh, giả tạo.|Mọi sắc thể: giả tướng,|mọi âm thanh: tiếng vọng,|và cuối cùng hãy xem|lòng tin của chính ngươi,|rằng chúng là giả tạo,|lòng tin đó cũng giả!|Sau bảy năm thiền định, vị Du-già sư lại xuất hiện và khuyên ông quán tưởng tự tính mọi sự đều là tính Không (s: śūnyatā). Sau đó Tha-ga-na-pa đạt thánh quả, chứng ngộ được Không. Bài ca ngộ đạo sau của ông bày tỏ phép vận dụng đặc biệt của Kim cương thừa, dĩ độc trị độc:|Muốn nước chảy khỏi tai,|hãy xòt nước vào tai.|Muốn thấy rõ thật tại,|quán hiện tượng đều giả.
thai
Garbha (S). The womb, uterus.
; Garbha (skt)—Foetus—Embryo—The womb—Uterus.
thai cung
Thai Ngục—Thai Tạng hay tử cung được xem như là ngục thất—The womb prison, the womb regarded as a prison.
; (胎宮) Chỉ cho nơi vãng sinh của các hành giả Tịnh độ, tuy tu các công đức nhưng tâm còn ngờ vực. Thai là thai sinh, Cung là cung điện. Những hành giả tu các thiện căn mà tâm nghi hoặc thì tuy được sinh về Tịnh độ Di đà, nhưng phải ở trong hoa sen (thai hoa) chứ không được ra, trong 500 năm không được thấy Phật, nghe pháp, xa lìa tất cả thiện căn thù thắng, giống như người nằm trong thai mẹ tối tăm, nên gọi là Thai sinh; nhưng hành giảthìvẫn tự cho rằng mình đang ở trong cung điện, nên gọi là Thai cung. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì cung điện mà người thai sinh ở hoặc rộng 100 do tuần, hoặc rộng 500 do tuần. Còn hội Vô lượng thọ trong kinh Đại bảo tích quyển 18 thì cho rằng các chúng sinh ở trongthai hoa có cảm tưởng giống như đang ở trong cung điện vườn rừng, vì trong đó thanh tịnh không có các thứ ô uế.[X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ định thiện nghĩa (Thiện đạo)].
thai hoành
(台衡) Chỉ cho ngài Trí khải và Đại sư Tuệ tư. Vì ngài Trí khải trụ ở núi Thiên thai, còn Đại sư Tuệ tư thì trụ ở núi Hành sơn thuộc Nam nhạc. Đại sư Tuệ tư là thầy, ngài Trí khải là đệ tử. Vì mối liên hệ ấy, nên người đời sau thường thuận miệng gọi chung 2 ngài là Thai Hành, cũng như người ta quen gọi chung 2 vị Động sơn Lương giới và Tào sơn Bản tịch là Tào Động vậy. Tứ giáo nghi tập giải quyển hạ (Vạn tục 102, 57 thượng) ghi: Đại sư Thanh lương Trừng quán nói rằng: Nắm lấy ý Tam quán huyền diệu của Thai Hành để làm cho Giáo hợp với chỉ thú vong ngôn, tâm đồng với tâm chư Phật, không còn cần phải tìm kiếm bên ngoài. (xt. Trí Khải, Tuệ Tư).
thai hoá tạng
(胎化藏) Một trong 8 tạng nói trong phẩm Xuất kinh của kinh Bồ tát xử thai quyển 7. Tạng nghĩa là hàm chứa. Sau khi đức Phật diệt độ, ngài A nan kết tập kinh pháp do Phật thuyết giảng, thu tập vào 8 tạng, trong đó, tạng thứ nhất gọi là Thai hóa tạng, chỉ cho pháp tạng mà Phật đã giáo hóa bằng mọi cách khi Ngài còn ở trong thai mẹ, như kinh Bồ tát xử thai chính là thuộc loại này. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.31].
thai mật
(台密) Chỉ cho Mật giáo do tông Thiên thai của Nhật bản truyền, lấy chùa Diên lịch và chùa Viên thành tại núi Tỉ duệ làm trung tâm. Vì khác với Đông tự Mật giáo (Đông mật) do ngài Không hải truyền nên gọi là Thai mật. TôngThiên thai của Nhật bản được hình thành là do kế thừa tư tưởng của 4 tông: Thai, Mật, Thiền và Luật, trong đó, ngoài việc phát triển tông nghĩa của chính tông Thiên thai ra, thì việc phát triển Mật giáo là đáng chú ý nhất. Giữa Thai mật và Đông mật có 4 điểm khác biệt chủ yếu sau đây: 1. Thai mật cho Tam thừa giáo là Hiển giáo và Nhất thừa giáolà Mật giáo; Đông mật thì cho giáo pháp do Pháp thân Đại nhật Như lai tuyên thuyết là Mật giáo, còn giáo pháp do Ứng thân Thích ca Như lai tuyên thuyết là Hiển giáo. 2. Thai mật chủ trương Viên giáo và Mật giáo là một, còn Đông mật thì chủ trương Mật giáo hơn Hiển giáo kém. 3. Thai mật cho rằng Đại nhật Như lai và Thích ca Như lai là đồng thể, còn Đông mật thì cho 2 vị là khác thể. 4. Thai mật đối với 3 bộ đại pháp: Kim cương, Thai tạng và Tô tất địa đều coi trọng; nhưng Đông mật thì chỉ xem trọng 2 bộ Kim cương và Thai tạng. Những kinh điển mà Thai mật sử dụng làm y cứ gồm có: Kinh Đại nhật 7 quyển, kinh Kim cương đính 3 quyển, kinh Tô tất địa 3 quyển, Kinh Nhất tự đính luân vương 5 quyển, kinh Du kì 1 quyển, gọi chung là Ngũ bộ mật kinh (5 bộ kinh bí mật).Thai mật có 3 lưu phái chủ yếu là : - Căn bản đại sư lưu, đại biểu là ngài Tối trừng. - Từ giác đại sư lưu, đại biểu là ngài Viên nhân. - Trí chứng đại sư lưu, đại biểu là ngài Viên trân. 1. Ngài Tối trừng được tôn xưng là Truyền giáo đại sư, đến Trung quốc vào đời Đường, theo A xà lê Thuận hiểu nhận lãnh 2 bộ đại pháp Kim cương, Thai tạng và các học thuyết ở chùa Linh nham. Sau khi trở về nước, sư tổng hợp giáo nghĩa Thiên thai và Mật tông làm nền tảng mà sáng lập tông Thiên thai Nhật bản, đặc biệt lấy Chỉ quán(Viên giáo Thiên thai), Già na (Mật giáo) làm qui củ tu học, đề xướng thuyết Viên Mậtnhấttrí(Viên giáo Mật giáo một mối). 2. Tổ thứ 4 của Thai mật là ngài Tứ giác Viên nhân cũng đến Trung quốc, theo A xà lê Toàn nhã nhận lãnh pháp Quán đính của Kim cương giới và theo A xà lê Nguyên chính học tập pháp Kim cương giới. Ngoài ra, sư còn theo A xà lê Nghĩa chân ở chùa Thanh long thụ đại pháp Thai tạng và Tô tất địa, đồng thời, theo A xà lê Pháp toàn thụ đại pháp Thai tạng. Chủ trương của sư hơi khác với thuyết của ngài Tối trừng, tức là trong Viên Mật nhất trí có một phần sai khác, do đó, sư đề xướng thuyết Lí mật sự mật, Lí đồng sựbiệt. Nghĩa là đứng về mặtLí mà nói thì Thích ca Như lai và Đại nhật Như lai là tương đồng, nhưng nói theo phương diện Sự thì có sai khác. 3. Tổ thứ 6 của Thai mật là ngài Trí chứng Viên trân cũng từng đến Trung quốc, sư theo Tam tạng Bát nhã đát la học 2 bộ Mật ấn, rồi theo Tam tạng Trí tuệ luân tu tập 2 bộ bí pháp và theo A xà lê Pháp toàn nhận lãnh 3 bộ đại pháp Thai tạng, Kim cương, Tô tất địa. Chủ trương của sư khác nhiều với thuyết của các ngài Tối trừng và Viên nhân; sư nói rõ sự sai khác giữa Viên giáo và Mật giáo, lập thuyết Hiển liệt Mật thắng (Hiển giáo kém, Mật giáo hơn). Mật giáo do 3 vị Tối trừng, Viên nhân và Viên trân truyền thừa, được gọi là Căn bản tam lưu, Thai mật tam lưu. Trong đó, ngài An nhiên (đệ tử Đại sư Viên nhân) là người tập đại thành Thai mật, sư đề xướng thuyết Lí đồng sự thắng, chủ trương Đại nhật Như lai hơn Thích ca Như lai. Dưới cửa ngài Viên nhân lại có 2 dòng phái là Từ tuệ đại sư lưu (cũng gọi Xuyên lưu) và Hoành khánh lưu(cũng gọi Tục lưu). Hoành khánh lưu là người tập đại thành về sự tướng, dòng này lại tách ra làm 8 lưu phái là: Viện tôn, Tam muội, Phật đính, Liên hoa, Vị cương, Trí tuyền, Huyệt thái, Pháp mạn, Công đức và Lê bản, gọi chung là Thai mật thập tam lưu (13 dòng Thai mật). Ngoài ra còn có danh xưng Sơn tự lục lưu(6 dòng chùa núi), tức là 3 dòng Tam muội, Huyệt thái, Pháp mạn nói trên và 2 dòng Tây sơn, Diệp thượng từ dòng Huyệt thái tách ra cùng với dòng của Đại sư Trí chứng. [X. Thai mật cửu lưu tương thừa; Hợp quán kí trong A sa phược sao; Viên mật nhị giáo danh mục; Mật giáo phát đạt chí]. (xt. Đông Mật).
thai ngoại ngũ vị
Năm giai đoạn sau khi ra khỏi bào thai của một con người—The five periods of a person after birth: 1) Hài nhi: Infancy. 2) Trẻ thơ: Childhood. 3) Thiếu niên: Youth. 4) Trung niên: Middle age. 5) Già lão: Old age.
; (胎外五位) Đối lại: Thai nội ngũ vị. Năm giai đoạn ở ngoài thai. Luận Câu xá quyển 15 chia một đời người từ sau khi sinh ra làm 5 giai đoạn là: 1. Anh hài: Từ lúc sinh ra đến khoảng 6 tuổi. 2. Đồng tử: Từ 7 tuổi đến 15 tuổi. 3. Thiếu niên: Từ 16 tuổi đến 30 tuổi. 4. Trung niên: Từ 31 tuổi đến 40 tuổi. 5. Lão niên: Từ 41 tuổi trở về sau. Luận Đại tì bà sa quyển 114 thì cho rằng Ngũ vị là Sơ sinh, Anh hài, Đồng tử, Thiếu tráng và Suy lão, tức chia ra Sơ sinh và Anh hài, hợp thiếu niên và trung niên làm Thiếu tráng, gồm 5 giai đoạn. Còn ngoại đạo Số luận thì gộp chung 2 thời thiếu niên và thời trung niên làm thời thiếu tráng, cho nên chỉ có 4 giai đoạn. [X. kinh Niết bàn Q.34 (bản Nam); luận Thuận chính lí Q.40; luận Hiển tông Q.21].
thai ngục
The womb prison, the womb regarded as a prison. Also thai cung.
; (胎獄) I. Thai Ngục. Chỉ cho Thai sinh trong Tứ sinh. Ví dụ những nỗi khổ mà người còn nằm trong thai mẹ phải chịu cũng giống như các nỗi khổ ở trong ngục tối, cho nên gọi là Thai ngục. II. Thai Ngục. Chỉ cho Thai cung. Bài tựa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ (Đại 37, 186 trung) nói: Giống như vàng ngọc so với cát bùn, người ở trong thai ngục mà hướng nhìn về ao sen cũng như thế. (xt. Thai Cung).
thai nhi
See Thai.
thai noãn thấp hóa
The four yoni, or modes of birth: womb-born, egg-born, spawn-born, and born by transformation (e.g. moths, certain deities etc.)
; Bốn loại sanh—The four yoni or modes of birth (womb-born, egg-born, spawn-born, and born by transformation). ** For more information, please see Tứ Sanh.
thai nội ngũ vị
Năm giai đoạn trong thai mẹ của một con người—The five periods of the child in the uterus.
; (胎內五位) Cũng gọi Kết thai ngũ vị. Đối lại: Thai ngoại ngũ vị. Chỉ cho 5 giai đoạn ở trong thai. Trong truyền thống Phật giáo, khoảng thời gian 266 ngày kể từ khi thai nhi thụ thai trong bụng mẹ đến lúc sinh ra, được chia làm 5 giai đoạn theo thứ tự như sau: 1. Yết lạt lam (Phạm:Kalala), cũng gọi Ca la la, Yết la lam. Hán dịch: Ngưng hoạt (lùng nhùng, nhơ nhớp): Chỉ cho 7 ngày đầu tiên sau khi thụ thai. 2. Át bộ đàm (Phạm: Arbuda), cũng gọi A bộ đàm. Hán dịch: Pháo, kết pháo (nốt phỏng da mọng nước): Chỉ cho khoảng 7 ngày thứ hai (14 ngày). 3. Bế thi (Phạm:Pezì), cũng gọi Tế thi, Bề thi. Hán dịch: Ngưng kết, nhục đoàn (ngưng kết lại thành cục thịt mềm nhũn): Chỉ cho 7 ngày thứ ba (21 ngày). 4. Kiền nam (Phạm: Ghana), cũng gọi Kiện nam, Yết nam. Hán dịch: Ngưng hậu, Ngạnh nhục(ngưng kết lại thành cục thịt dày và cứng): Chỉ cho 7 ngày thứ tư (28 ngày). 5. Bát la xa khư (Phạm: Prazàkha). Hán dịch: Chi tiết, Chi chi(giai đoạn bắt đầu hình thành tay chân), tức thời gian từ 7 ngày thứ 5 (35 ngày) đến 7 ngày thứ 38 (266 ngày, lúc sinh ra) sau khi thụ thai. Ngoài ra, về sự khác nhau của phần vị trong thai thì ở Ấn độ xưa nay có nhiều thuyết: Luận Du già sư địa chia làm 8 vị, Hóa địa bộ và Chính lượng bộ thì chia làm 6 vị, còn ngoại đạo Số luận thì hợp vị thứ 5 vào với vị thứ 4 mà lập thuyết 4 vị. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.30; kinh Niết bàn Q.34 (bản Nam); luận Đại trí độ Q.4; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Tuệ lâm âm nghĩa Q.13].
thai sanh
Jarāyuva (S), Born from foetus Jalābuja (P).
; 1) Một trong tứ sanh, thai sanh là một hình thức sanh ra từ trong thai mẹ. Trước khi có sự phân chia trai gái, chúng sanh đều ở trong tình trạng hóa sanh (về sau nầy do có tình dâm dục mà chia thành trai gái và bắt đầu có thai sanh): Uterine birth or womb-born, one of the four modes of yoni. Uterine birth is a form of viviparous birth, as with mammalia. Before the differentiation of the sexes birth is supposed to have been transformation. 2) Từ ngữ nầy cũng dành cho những người vãng sanh Cực Lạc trong những búp sen vì không có lòng tin nơi Phật A Di Đà, mà chỉ tin vào tự lực niêm Phật. Họ phải ở tại đây trong một thời gian dài mà không thấy Phật, Bồ Tát, hay Thánh chúng; cũng không nghe được giáo thuyết của Phật (kông thấy Tam Bảo). Tình trạng nầy còn được gọi là “thai cung” vì chúng sanh ở trong bụng mẹ không thấy được ánh nhật nguyệt—The term is also applied to beings enclosed in unopened lotuses in paradise, who have not had faith in the Amitabha but trusted to their own strength to attain salvation; there they remain for proportionate periods, happy, but without the presence of the Buddha, or Bodhisattvas, or the sacred host, and do not hear their teaching. The condition is also known as the womb-place.
thai sinh
Uterine-birth, womb-born.
thai tông nhị bách đề
(台宗二百題) Tác phẩm, 15 quyển, do ngài Trí chu (1659-1743) thuộc tông Thiên thai Nhật bản soạn. Nội dung sách này thu chép tất cả 207 luận đề trọng yếu về giáo nghĩa của tông Thiên thai, bao quát: 1. Tông yếu, 94 luận đề: Gồm các luận đề như: Hai đức Phật cùng xuất hiện, 8 tướng ứng thân... 2. Nghĩa Khoa, 43 luận đề: Gồm các luận đề như: Ba thân thành đạo, tính niệm xứ đoạn hoặc... 3. Vấn yếu, 70 luận đề: Gồm các luận đề như: Giáo quán bàng hệ và chính thống, hình sắc tâm pháp... Sách này được viết theo thể vấn đáp, trình bày về các luận thuyết của các ngài Thiên thai, Kinh khê... người Trung quốc và các thuyết khác của các học giả người Nhật bản.
thai tướng
(胎相) Cũng gọi là Thai tạng. Chỉ cho các lí pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên. Dùng việc thai mẹ giữ gìn nuôi nấng thai nhi để ví dụ cho líthể chân thực có đầy đủ tất cả côngđức, có khả năng nuôi nấng, giữ gìn mọi người; lại dùng việc thai nhi nằm trong bụng mẹ để ví dụ cho lý thể ẩn trong phiền não của phàm phu mà không hiện. Vĩnh bình thanh qui (Đại 82, 333 trung) ghi: Đức Phật dạy: Vì cái vui cõi trời mà tu phạm hạnh nên mắc lỗi ấy. Phật cùng Nan đà trở về rừng Thệ đa, Ngài nói rộng về thai tướng cho Nan đà nghe, nhờ đó Nan đà mới phát tâm, vì cầu giải thoát nên giữ giới và sau được quả A la hán.
thai tạng giới
Gaibhakośa (S), Garbhadhātu (S), Gabbadhātu (P) Thai tạng giới mạn đà la Gồm 5 phương với 5 đức Phật: - trung ương: Phật Tỳ lô Giá na - Đông phương: đức Bửu Phan Như lai - Nam phương: đức Khai Phu hoa vương Như lai - Tây phương: đức A di đà Như lai - Bắc phương: đức Thiên cổ âm Như lai.
; Garbhàdhàtu (S). The womb-treasury, the universal source from which all things are produced; the matrix; the embryo.
; Garbhadhatu (skt)—Tích Phược Câu—Thai tạng là nguồn gốc của sự sản sanh mọi thứ, như đứa trẻ được nuôi dưỡng trong thai mẹ (cả thân tâm được chứa đựng và nuôi dưỡng)—The womb treasury, the universal source from which all things are produced—The womb of all things—The womb in which a child is conceived. Its body, mind, etc. It is container and content; it covers and nourishes; and is the source of all supply. 1) Các nhà triết học Chân Ngôn giáo miêu tả như sau—The Shingon philosophers describe as follows: a) Thai Tạng Giới là cấu trúc và sự phát triển của thế giới tâm linh. Thai Tạng Giới quan niệm thế giới như là một cảnh giới trên đó Đức Tỳ Lô Giá Na an trú trong cái tâm thâm sâu nhất của mỗi chúng sanh mà phát triển những khả năng vốn có của Ngài: Garbhadhatu is the constitution and development of the spiritual world. The Garbhakosa conceives the world as a stage on which Vairocana Buddha residing in the inmost heart of every being develops his inherent possibilities. b) Kim Cang Giới miêu tả Đức Phật trong những biến hóa riêng của Ngài. Trong Kim Cang Giới, những hình ảnh minh họa sơ đồ và quá trình của những phát triển này được gọi là Mạn Đà La: Vajragarbha depicts the Buddha in his own manifestations. In Vajragarbha, the pictures illustrating the scheme and process of these developments are called Madala. 2) Thai Tạng Giới tiêu biểu cho “Lý Tính” về cả hai phương diện yếu tố vật chất và bồ đề thanh tịnh—It represents the fundamental nature, both material elements and pure bodhi, or wisdom in essence or purity: a) Thai tạng là lý: The garbhadhatu as fundamental wisdom. b) Kim Cương tạng là trí: Acquired wisdom or knowledge, the vajradhatu. 3) Thai Tạng giới tiêu biểu cho tâm chúng sanh với tám múi thịt như hình sen tám cánh: The Garbhadhatu represents the eight parts of the human heart as the eight-petal lotus mandala. 4) Thai Tạng giới là cái “bổn giác” (vốn đã giác ngộ rồi), đối lại với Kim Cang giới tiêu biểu cho “thủy giác” (bắt đầu giác ngộ)—Garbhadhatu is the original intellect, or the static intellectuality, in contrast with intellection, the initial or dynamic intellectuality represented in the Vajradhatu. 5) Thai Tạng giới là cái từ quả đến nhân, trong khi Kim Cang giới là cái từ nhân đến quả: The Garbhadhatu is the cause and Vajradhatu is the effect. Though as both are a unity, the reverse may be the rule, the effect being also the cause. 6) Thai Tạng giới tiêu biểu cho sự “lợi tha,” trong khi Kim Cang giới lại tiêu biểu cho “tự lợi.”—The Garbhadhatu is likened to enrich others, as Vajradhatu is to enriching self.
; (胎藏界) Thai tạng, Phạm: Garbha, Hán âm: Nghiệt lạt bà. Giới, Phạm:Dhàtu, Hàn âm: Đà đô. Gọi đủ: Đại bi thai tạng sinh. Đối lại: Kim cương giới. Một trong 2 giới của Mật giáo. Thai tạng có nghĩa hàm chứa, che chở và giữ gìn. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 3 thì hành giả mới phát tâm Nhất thiết trí, giống như chủng tử của thức được thai mẹ cưu mang che chở, đến khi các căn đầy đủ thì sinh ra, rồi lớn lên, học tập các kĩ nghệ để thực hiện sự nghiệp trong đời; cũng như nương vào lí tính sẵn có của chúng sinh mà học tập muôn hạnh đại bi, hiển hiện tâm thanh tịnh, phát khởi các phương tiện, tu sửa tự thân, lợi mìnhlợi người, rốt ráo viên mãn, gọi là Đại bi thai tạng sinh. Vì thế nên biết Thai tạng là chỉ cho lí tính sẵn có của chúng sinh, còn pháp mônLí bình đẳng thì gọi là Thai tạng giới, đối lại với pháp môn Trí sai biệt của Kim cương giới. Thai tạng giới cũng là Hóa tha môn từ quả hướng tới nhân, bản giác chuyển trở xuống, gồm đủ 3 đức đại định, đại trí, đại bi mà lập ra pháp môn của 3 bộ là Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ.[X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí].
thai tạng giới mạn đà la
Xem Thai tạng giới.
thai tạng giới mạn đồ la
(胎藏界曼荼羅) Gọi đủ: Đại bi thai tạng sinh mạn đồ la. Gọi tắt: Thai tạng mạn đồ la, Đại bi mạn đồ la. Đối lại: Kim cương giới mạn đồ la. Cũng gọi: Nhân mạn đồ la, Đông mạn đồ la, Lí mạn đồ la. Mạn đồ la thuộc Thai tạng giới của Mật giáo.Thai tạng, Phạm: Garbha, hàm nghĩa đại bi. Mạn đồ la, Phạm: Maịđala, bao hàm các nghĩa: Sinh ra chư Phật, ý vị cùng tột không gì sánh bằng, tròn trịa đầy đủ. Mạn đồ laThai tạng giới chính là Đại mạn đồ la sinh ra từ trong tâm địa bình đẳng của Đại bi thai tạng của Tì lô giá na Như lai. Bởi vì Mạn đồ la Thai tạng giới vốn căn cứ vào ý nghĩa nói trong phẩm Cụ duyên, kinh Đại nhật mà được kiến lập, rồi Đại nhật kinh sớ lại bổ sung thêm, vì thế xưa nay thường gọi Mạn đồ la Thai tạng giới này là Kinh sớ mạn đồ la. Lấy phía trên của Mạn đồ la làm phương Đông mà chia ra như sau: 1. Viện Trung Đài Bát Diệp: Đại nhật Như lai trụ ở Trung đài. Bốn đức Phật Vô lượng thọ, Bảo chàng, Khai phu hoa, Thiên cổ và 4 vị Bồ tát Văn thù, Quán âm, Di lặc, Phổ hiền trụ ở Bát diệp (8 cánh sen), tất cả có 9 vị tôn. Hoa sen 8 cánh tượng trưng cho trái tim có 8 khía của chúng sinh, biểu thị ý nghĩa chữ A vốn không sinh, hiển bày lí thú tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Viện Trung đài bát diệp là tổng thể của Thai tạng Mạn đồ la, các viện khác là biệt đức của viện này.2. Viện Biến Tri(cũng gọi Viện Phật Mẫu): Nằm ở phía trên viện Trung Đài Bát Diệp, có 7 vị tôn gồm Phật nhãn, Phật mẫu... Viện này biểu thị cho đức biến tri(biết khắp) và đức năng sinh của chư Phật. 3. Viện Quán âm: Nằm về phía bắc viện Trung Đài Bát Diệp, có 37 vị tôn như bồ tát Đại thế chí... Viện này biểu thị cho đứcđại bi hạ hóa của Như lai. 4. Viện Kim Cương Thủ(cũng gọi Viện Tát Đóa), nằm về phía nam viện Trung Đài Bát Diệp, có 33 vị tôn như Hư không vô cấu luân trì kim cương... Viện này biểu thị cho đức đại trí thượng cầu. 5. Viện Trì Minh(cũng gọi Ngũ đại viện, Phẫn nộ viện): Nằm ở phía dưới viện Trung Đài Bát Diệp, có 5 vị tôn như bồ tát Bát nhã... Viện này biểu thị cho 2 đức chiết phục và nhiếp thụ. 6. Viện Thích ca: Nằm phía trên viện BiếnTri, có 39 vị tôn như đức Phật Thích ca mâu ni... Viện này biểu thị cho đức phương tiện nhiếp hóa. Dùng 2 đức trí và bi biến hiện thành Thích ca Như lai cứu độ chúng sinh. 7. Viện Trừ Cái Chướng: Nằm về phía nam viện Kim cương thủ, có 9 vị tôn, như bồ tát Bi mẫn... Viện này biểu thị cho việc dùng trí môn kim cương để diệt trừ phiền não chướng của chúng sinh. 8. Viện Địa Tạng: Nằm về phía bắc viện Quán Thế Âm, có 9 vị tôn, như bồ tát Địa tạng... Viện này biểu thị việc dùng bi môn của Quán âm để cứu mê tình trong chín cõi. 9. Viện Hư Không Tạng: Nằm ở phía dưới viện Trì minh, có 28 vị tôn, như bồ tát Hư không tạng... Viện này biểu thị cho bi và trí hợp nhất, bao hàm muôn đức, có năng lực tùy theo nguyện vọng của chúng sinh mà ban cho tất cả của báu, đầy đủ trí đức và lấy phúc đức làm gốc. 10. Viện Văn Thù: Nằm ở phía trên viện Thích ca, gồm có 25 vị tôn, như bồ tát Văn thù... Viện này biểu thị cho trí tuệ của đức đại lực, cócôngnăng dứt trừ tất cả hí luận, đầy đủ phúc đức và lấy trí tuệ làm gốc.11. Viện Tô Tất Địa: Nằm phía dưới viện Hư Không Tạng, gồm có 8 vị tôn, như bồ tát Thập nhất diện Quan âm... Viện này biểu thị cho đức thành tựu việc lợi mình lợi người. 12. Viện Ngoại Kim Cương Bộ: Lớp bên ngoài bao quanh 4 phía đông, tây, nam, bắc của Mạn đồ la Thai tạng giới, cộng chung 4 phía có tất cả 205 vị tôn. Viện này biểu thị đức tùy loại ứng hóa và lí phàm thánh bất nhị. 13. Viện Tứ ĐạiHộ: Trong Hiện đồ Mạn đồ la lược bỏ viện thứ 13 này. Còn lại 12 viện thì viện Trung Đài là Phật bộ, viện Quán Âm là Liên hoa bộ, viện Kim Cương Thủ là Kim cương bộ, 6 viện Biến Tri, Thích Ca, Văn Thù, Trì Minh, Hư Không Tạng và Tô Tất Địa thuộc Phật bộ, viện Địa tạng thuộc Liên hoa bộ, viện Trừ Cái Chướng thuộc Kim cương bộ, Ngoại Kim Cương thuộc cả 3 bộ. Nay đồ biểu Thai tạng Hiện đồ Mạn đồ la như sau: [X. kinh Đại nhật Q.1,2,4,5; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp nghi quĩ Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.1,3,4,5,6; Thai tạng đồ tượng; Hiện đồ mạn đồ la; Đà la ni môn chư bộ yếu mục]. (xt. Mạn Đồ La).
Thai tạng giới ngũ Phật 胎藏界五佛
[ja] タイゾウカイゴブツ taizōkai gobutsu ||| The five buddhas of the garbhadhātu. See . => Năm vị Phật trong Thai tạng giới. Xem Ngũ Phật五佛.
thai tạng giới pháp
(胎藏界法) Gọi đủ: Đại bi thai tạng sinh mạn đồ la pháp. Gọi tắt: Thai tạng pháp. Đối lại: Kim cương giới pháp. Chỉ cho pháp tu trong Mật giáo thờ đức Đại nhật Như lai của Thai tạng giới làm Bản tôn và cúng dường chư tôn trong Thai tạng mạn đồ la. Pháp này chủ yếu là tu Tam mật của chư tôn trong Mạn đồ la và pháp môn Tam cú Nhân, Căn, Cứu cánh.
Thai tạng giới 胎藏界
[ja] タイゾウカイ taizōkai ||| The womb-container world (garbha-dhātu). A term used in esoteric Buddhism to signify all-inclusiveness and fertility. See 胎藏界曼荼羅. t'aechangkye (k); taizōkai (j); womb-container world (e); garbha-dhātu (s) . => Thuật ngữ thường dùng trong Mật tông Phật giáo biểu hiện sự xuất sinh và hàm chứa rộng khắp mọi hiện tượng trong pháp giới. Xem Thai tạng giới Mạn-đà-la 胎藏界曼荼羅.
thai tạng tứ bộ nghi quỹ
(胎藏四部儀軌) Gọi tắt: Tứ bộ nghi quĩ. Nghi quĩ, 11 quyển, là 4 bộ Nghi quĩ bao gồm ý nghĩa các phẩm của kinh Đại nhật thuộc Bí mật bộ, đồng thời chỉ rõ pháp Cúng dường của Thai tạng giới và ấn khế, chân ngôn của chư tôn, được thu vào Đại chính tạngtập 18. Bốn bộ nghi quĩ này là: 1. Nhiếp đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh nhập liên hoa thai tạng hải hội bi sinh mạn đồ la quảng đại niệm tụng nghi quĩ cúng dường phương tiện hội, 3 quyển, do ngài Du bà ca la dịch vào đời Đường, gọi tắt làNhiếp đại nghi quĩ.2. Đại tì lô giá na kinh quảng đại nghi quĩ, 3 quyển, do ngài Thiện vô úy dịch vào đời Đường, gọi tắt làQuảng đại nghi quĩ. 3. Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa thai tạng bi sinh mạn đồ la quảng đại thành tựu nghi quĩ cúng dường phương tiện hội, 2 quyển, do ngài Pháp toàn soạn vào đời Đường, gọi tắt làHuyền pháp tự nghi quĩ. 4. Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa bồ đề chàng tiêu xí phổ thông chân ngôn tạng quảng đại thành tựu du già, 3 quyển, do ngài Pháp toàn biên tập vào đời Đường, gọi tắt là Thanh long tự nghi quĩ. Trong 4 bộ nghi quĩ trên, 2 nghi quĩ Nhiếp đại và Quảng đại là diệu hạnh của chư Phật 10 phương 3 đời lưu nhập vào Pháp giới mạn đồ la do đức Đại nhật Như lai hiển hiện ra; còn 2 nghi quĩ Huyền pháp và Thanh long thì là nghi tướng mở hội do đức Thích ca mâu ni Như lai hiển bày trong Pháp giới mạn đồ la của Đại nhật Như lai. [X. Chư A xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng; Bảo sách sao Q.2; Bí mật nghi quĩ tùy văn kí Q.18; Bí mật nghi quĩ truyền thụ khẩu quyết Q.6].
thai tạng đồ tượng
(胎藏圖像) Gọi đủ: Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh trung dịch xuất đại bi thai tạng sinh bí mật mạn đồ la chủ họa tượng đồ.Đồ tượng, 2 quyển, tương truyền do ngài Thiện vô úy sao chép vào đời Đường. Nội dung sách này sắp xếp tượng vẽ của các vị tôn thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới. Bề mặt của bản đồ tượng này được chia làm 2 đoạn trên, dưới, mỗi đoạn theo thứ tự vẽ hình chư tôn, ở góc phía trên bên trái viết tên và chân ngôn của chư tôn. Ở đầu quyển thượng vẽ 1 vị hành giả tu Du già, lư hương, bình hoa sen Nhất thiết không, kế đến vẽ 9 vị tôn gồm 5 đức Phật, 4 vị Bồ tát thuộc viện Trung đài bát diệp, kế nữa là vẽ 36 vị tôn từ Hư không nhãn cho đến Hàngtam thế; đây chính là bức vẽ chư tôn của 2 viện Biến tri và Trì minh thuộc Hiện đồ mạn đồ la, gọi là Như lai bộ(Phật bộ). Sau đó là 46 vị tôn từ bồ tát Quántự tại trở xuống đến Thủy phạ ma ca, đấy chính là chư tôn viện Quán âm của Hiện đồ mạn đồ la, đó là Liên hoa bộ. Sau nữa là 30 vị tôn từ bồ tát Chấp kim cương tạng trở xuống đến Nhất thiết thụ la thần, tương đương với chư tôn viện Kim cương thủ và viện Tứ đại bộ của Hiện đồ mạn đồ la, đó là Kim cưong bộ. Sau đó là 28 vị tôn từ Lục diện tôn trở xuống đến bồ tát Chấp liên hoa chử, tức là chư tôn thuộc các viện Văn thù, viện Trừ cái chướng, viện Địa tạng và viện Hư không tạng của Hiện đồ mạn đồ la, gọi chung là Mạn thù thất lợi chủng tộc, kế đến, vẽ người giữ cửa của viện thứ 2 và bồ tát Phổ hiền. Quyển hạ có 124 vị tôn, từ...(trong sách thiếu 2 chữ?) Ấn Bồ tát(trong bức vẽ Tam muội da mạn đồ la gọi là Phật nhãn) cho đến Nan đà long vương, tương đương với chư Thiên thuộc viện Ngoại kim cương bộcủa Hiện đồ mạn đồ la. Kế đến, vẽ cửa lớn của đàn căn bản bên ngoài Đại đàn, tượng Tam tạng Thiện vô úy, 10 vị Tam tôn Phật, cửa, sen, 3 chĩa...(từ tượng Tam tạng Thiện vô úy trở xuống là do người đời sau thêm vào); từ Tì lô giá na Như lai trở xuống đến Nan đà long vương có tất cả 300 vị tôn. Đồ tượng này là Chư tôn mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, nếu thêm vào 4 viện Đại hộ thì gọi là Tứ trùng. [X. Đại nhật kinh tự (Thôi mục); Đại chính tân tu Đại tạng kinh đồ tượng bộ Q.2].
thai tức pháp
(胎息法) Tác phẩm, do ngài Đàm loan thuộc tông Tịnh độ soạn vào đời Bắc Ngụy. Ngài Đàm loan do trông thấy những dấu tích thiêng liêng ở núi Ngũ đài mà phát tâm xuất gia, chuyên nghiên cứu 4 bộ luận của ngài Long thụ và Đề bà như Trung luận, Bách luận..., còn tiến xa hơn là lập chí chú thích kinh Đại tập. Trong lúc chú thích thì lâm bệnh nên sư phải dừng bút, đến đất Lương cầu được pháp sống lâu của thần tiên, lại được đạo sĩ Đào hoằng cảnh tặng 10 quyển kinh Tiên mang về Lạc dương. Sư lại theo ngài Bồ đề lưu chi học kinh Quán vô lượng thọ, chăm chú nghiên cứu giáo nghĩa Tịnh độ một cách thực tiễn. Theo truyền thuyết, sư đã dựa vào những kinh nghiệm này mà soạn thành Thai tức pháp(tức thuật điều hòa hơi thở để kéo dài sinh mệnh). Nhưng cứ theo sự khảo chứng của các học giả đời sau thì Thai tức pháp là sách ngụy tác. Căn cứ vào Hậu Hán thư... thì Thai tức (phương pháp điều hòa hơi thở) là do đạo sĩ Vương chân thực hành vào những năm cuối đời Đông Hán.
thai đại nhật
Vairocana in the Garbhadhàtu.
; Đức Đại Nhật Như Lai trong Thai Tạng giới—Vairocana in the Garbhadhatu.
Thai 胎
[ja] タイ tai ||| (1) Conceive, become pregnant. (2) Womb, uterus. (3) Fetus, embryo. (4) Stomach. (5) Beginning. => 1. Thụ thai, có mang. 2. Dạ con, tử cung. 3. Bào thai; phôi thai. 4. Dạ dày, bụng. 5. Khởi đầu.
tham
Lobha (S), Abhidyā (S), Abhidyālu (S), Kāma (S), Abhijjhālu (P), Abhijjhā (P), Kāmacchanda (P), Sensual enjoyment, Sensuous desire, Greed, Greediness Dục, ái thần Một trong 4 pháp trầm luân Xem tham.
; Ràga (S). Abhijjhà (P). Cupidity, greed, covetousness.
; Có tâm mong cầu sự thành công hay đắc vật và muốn thỏa mãn dục vọng của mình đều gọi là tham.
; 1) Chúng Tăng trong thiền môn tập trung lại ngồi thiền hay thuyết pháp tụng kinh. Có ba loại “Tham”—An assembly, or a gathering for the purpose of meditation, preaching, worship. There are three different classes: a) Tảo Tham: Tập họp lại vào buổi sáng sớm—Morning assembly. b) Vãn Tham: Tập họp lại vào buổi chiều—Evening assembly. c) Tiểu Tham: Tập họp tùy thời để bàn luận lý nghĩa sau buổi thuyết pháp—A special meeting; a discussion following an address. 2) Tham lam: Raga (skt)—Passion—Greed—Affection—Vehement longing or desire. Raga is also interpreted as tainted by and in bondage to the five desires—See Ngũ Độn Sử, and Tam Độc (1). 3) Tham quan: To visit superior. 4) Tham vấn: Counsel.
; (貪) Phạm: Abhhidhyà, Lobha, Ràga. Pàli:Abhijjhà,Ràga. Cũng gọi Tham dục, Tham ái, Tham trước. Gọi tắt: Dục, Ái. Sự tham muốn trong 5 món dục lạc, tiếng tăm, tiền của... không biết nhàm chán, không biết bao nhiêumớiđủ, là 1 trong 75 pháp củaCâu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Tức đối với những thứ mà mình yêu thích, thèm muốn, khởi tâm đắm trước ô nhiễm, dẫn đến Ngũ thủ uẩn và các khổ não.Luận Câu xá trích dẫn rộng các kinh cho rằng duyên theo cảnh 5 dục mà sinh ra tham muốn, trói buộc tâm mình, cho nên gọi là Dục ách(cái ách của sự tham muốn). Trong luận này còn nêu ra 12 tên gọi khác của Tham có chữ Dục ở đầu, đó là: Dục tham, dục dục, dục thân, dục ái, dục lạc, dục muộn, dục đam, dục thị, dục hỉ, dục tàng, dục tùy và dục trước. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 55 thì Tham nảy sinh là do 10 việc: Thủ uẩn, các kiến chấp, cảnh giới chưa được, cảnh giới đã được, cảnh giới quá khứ đã thụ dụng, ác hạnh, nam nữ, bạn thân, các thứ đồ dùng, hậu hữu và vô hữu. Tâm tham do 10 việc kể trên mà sinh khởi, theo thứ tự gọi là sự tham, kiến tham, tham tham, khan tham, cái tham, ác hạnh tham, tử tức tham, thân hữu tham, tư cụ tham, hữu vô hữu tham. Luận Câu xá quyển 22 chia tham làm 4 loại là Hiển sắc tham, Hình sắc tham, Diệu xúc tham và Cung phụng tham, có thể tu các pháp bất tịnh quán để đối trị. Tham hiện hữu ở cả 3 cõi, trong đó, tham ở cõi Dục gọi là Dục tham, tính chất của tham ở đây là bất thiện, là 1 trong 10 điều ác, 1 trong 5 phiền não, 1 trong 3 căn bất thiện. Tham ở cõi Sắc và cõi Vô sắc gọi là Hữu tham, tính chất của chúng là Hữu phú vô kí (tính nhiễm ô có công năng ngăn che Thánh đạo, nhưng vì lỗi của nó quá nhẹ và tác dụng rất yếu nên không đủ sức mang lại quả báo). Hữu tham và Dục tham đều là 1 trong 6 phiền não căn bản, 1 trong 10 Tùy miên và 1 trong 9 kết; lại vì tính của chúng không nhạy bén nên là 1 trong Ngũ độn sử. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Tham là 1 trong các Bất định địa pháp, vì không phải duyên theo pháp vô lậu mà sinh ra, chỉ tương ứng với 2 thứ cảm thụ là Hỉ và Lạc nên là Đẳng lưu của Tùy phiền não, củavô tàm, trạo cử, khan trong Bát triền và của cuống, kiêu trong Lục cấu. Nhưng các nhà Duy thức thì cho rằng Tham là 1 trong các pháp phiền não, ngoài 2 thứ cảm thụ Hỉ và Lạc, nếu trong nghịch cảnh thì cũng sẽ tương ứng với 2 thứ cảm thụ Ưu và Khổ, đồng thời, cùng với Kiến đều duyên theo pháp vô lậu mà sinh ra. Lại theo thuyết của luận Câu xá quyển 22 thì Kinh bộ lấy phẩm Phân biệt thánh đế trong kinh Trung a hàm quyển 7 làm căncứ, chủ trương trong Tứ đế chỉ có Tập đế lấy Ái làm thể, Ái và Tham là đồng thể mà khác tên. [X. luận Câu xáQ.16, 20; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.1]. (xt. Ái).
; (參) Có hàm ý là tham yết, tham tầm, tham vấn, tham học, tham cứu... Tức người học tham yết bậc thầy để hỏi đạo, như Tham sư vấn pháp, tu hành tọa thiền cũng gọi là Tham, như Tham thiền biện đạo. Ngoài ra, vị Trụ trì của Thiền lâm nhóm họp đại chúng toàn chùa để mở bày thuyết pháp, cũng gọi là Tham, tức tham kiến Trụ trì để cầu được khai thị. Tham có rất nhiều chủng loại như Thăng đường vào buổi sáng gọi là Tảo tham (Triêu tham), niệm tụng vào buổi chiều gọi là Vãn tham, ngồi thiền trước lúc vãn tham gọilàTọa tham, cách 5 ngày tham một lần gọi là Ngũ tham thướng đường, thướng đường theo địnhkìgọi là Đại tham, không định ngày giờ trước, vị Trụ trì bỗng nhiên họp chúng hỏi đáp qua lại, gọi là Tiểu tham, đại chúng cùng tham gọi là Quảng tham... [X. điều Trụ trì nhật dụng vãn tham trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; điều Tiểu tham trong Tổ đình sự uyển Q.8; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tham bão
(參飽) Cũng gọi Bão tham. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hàm ý là giác ngộ đến chỗ cùng tột. Chỉ có người tham học Phật pháp đạt đến triệt ngộ, như người đói được ăn uống no đủ(bão), gọi là Bão thamnhân, Bão tham khách, Bãi tham nhân. Thung dung lục quyển 1 (Đại 48, 235 thượng) nói: Nếu không phải là người bãotham thì không biết, còn bão tham thì biết rõ không có gì để mong cầu.
Tham bão 參飽
[ja] サンポウ sanpō ||| To have gotten one's fill. To fully experience enlightenment and abide in it. => Đã quá no đủ. Chứng ngộ viên mãn và an trú trong đó.
tham bảng
(參榜) Cũng gọi Tham trạng, Môn trạng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho tấm bái thiếp (tức danh thiếp hiện nay) được xuất trình khi tham kiến người khác. Tấm thiếp rộng khoảng 15 cm, bên trong không ghi chữ mà chỉ cuốn lại từ phía trái, dùng 1 sợi chỉ buộc ngang nó(hơi nhích lên phía trên), rồi đề tên họ lên đó. Môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Hàn mặc đại toàn nói: Nếu là bảng thì dùng giấy trắng, rộng khoảng 4 tấc (khoảng 15 cm), viết một hàng ngay chính giữa, rồi cuốn lại theo chiều ngang. Bình thường yết kiến người thì thêm 2 chữ Thủ phúc. Những việc còn lại như chúc mừng, tạ từ... thì tùy theo trường hợp mà sửa đổi, rồi viết ngay ở dưới tên cho hợp cách.
tham bệnh
(貪病) Chỉ cho bệnh tham ái. Tâm tham ái thường gây bệnh phiền não cho loài hữu tình, làm hại thiện tâm xuất thế. Phải tu bất tịnh quán để đối trị bệnh này. [X. kinh Niết bàn Q.39 (bản Bắc)]. (xt. Tam Bệnh).
tham chiếu
To refer.
tham của
Greedy for property.
tham cứu
(參究) Tham học, nghiên cứu. Trong Thiền tông, từ ngữ này chỉ cho việc tham vấn sư gia, tận lực thể ngộ Phật pháp. Thiền gia không đánh giá cao sự hiểu biết đơn phương, nhưng lấy việc tham học nơi sư phụ để cầu khai thị làm việc quan trọng của một đời, cũng tức là nhấn mạnh việc tham thiền học đạo nơi bậc thầy chính thức. Các từ ngữ như tham tầm, tham vấn, tham khấu, tham huyền, tham học, tham tường... được thấy rải rác trong Bích nham lục đều là đồng nghĩa với từTham cứu. [X. Bích nham lục tắc 7].
tham danh
Greedy for fame.
tham dục
Kàmaràga (S). Desire for and love of (the things of this life).
; (貪欲) Phạm: Lobha, Ràga, Abhidhyà. Cũng gọi: Tham độc. Gọi tắt: Tham. Đồng nghĩa: Khát ái (Phạm:Tfwịà). Đối với những đối tượng mình yêu thích sinh tâm tham đắm và ước ao muốn chiếm đoạt được, là 1 trong 3 độc, 1 trong 10 điều xấu ác, 1 trong 10 đại phiền não. Tham dục và vô minh đều là phiền não căn bản sinh ra các nỗi khổ luân hồi trong 3 cõi. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 15 thượng): Nguyên nhân của các khổ lấy tham dục làm gốc. (xt. Tham)
tham dục cái
Vaga-āvaraṇa (S), Rāga-āvaraṇa (S) Một trong ngũ cái.
; The cover of desire which overlays the mind and prevents the good from appearing.
; Một trong ngũ cái, những phiền não của lòng tham muốn che lấp tâm thức hữu tình thì không cho phép thiện pháp nẩy sinh—One of the five hindrances, the cover of desire which overlays the mind and prevents the good from appearing—See Ngũ Triền Cái.
; (貪欲蓋) Phạm:Ràga-àvaraịa. Phiền não tham dục có công năng ngăn ngại, che lấp tâm thức của chúng sinh làm cho các pháp lành không sinh ra được, 1 trong Ngũ cái(5 thứ che lấp). Theo sự giải thích trong luận Đại tì bà sa quyển 48 thì Cái có tác dụng chướng ngại Thánh đạo vàthiện căn gia hạnh của Thánh đạo, có công năng phá hoại cây thiện tâm của hữu tình trong cõi Dục, khiến không thể sinh ra hoa Thất giác chi, quả Tứ sa môn. Cũng sách đã dẫn quyển 48 còn nói: Tham dục cái và Sân khuể cái đều làm chướng ngại Giới uẩn trong 3 uẩn, nhưng vì Tham dục cái lấy tịnh diệu tướng làm thức ăn nên có thể tu bất tịnh quán để đối trị. (xt. Ngũ Cái).
tham dục sử
Những phiền não của lòng tham muốn xô đẩy sai khiến thân tâm hữu tình khiến cho đắm đuối mãi trong vòng luân hồi sanh tử—The messenger, or temptation of desire which causes clinging to earthly life and things, therefore reincarnation.
; (貪欲使) Cũng gọi Tham sử. Chỉ cho phiền não tham dục, 1 trong 10 Sử, 1 trong 10 phiền não Căn bản, 1 trong 10 Tùy miên. Sử nghĩa là sai khiến, tức phiền não tham dục thường sai khiến, xúi dục thân tâm chúng sinh, làm cho trôi lăn trong 3 cõi.(xt. Phiền Não).
tham dục tam chủng phát tướng
(貪欲三種發相) Chỉ cho 3 thứ tham dục phát ra tướng. Cứ theo Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4, khi hành giả tu thiền định thì có 3 thứ tham dục phát tướng như sau:1. Ngoại tham dục tướng: Khi hành giả tu thiền định nhớ đến dáng dấp của người nữ(hoặc người nam) mà nổi lòng dục, niệm niệm không dứt, làm chướng ngại các thiền định, đó là phiền não tham dâm phát tướng ra bên ngoài.2. Nội ngoại tham dục tướng: Khi hành giả tu thiền định, lòng dục chợt nổi lên, hoặc tưởng nhớ thân hình người khác, hoặc nghĩ về dung mạo của mình, niệm niệm đắm đuối, tham ái khơi dậy, làm chướng ngại các thiền định, đó là phiền não tham dục cả trong lẫn ngoài đều phát ra tướng. 3. Biếnnhất thiết xứ tham dục tướng: Khi hành giả tu thiền định, trừ cảnh tham đắm trong và ngoài nói trên, đối với tất cả 5 trần cảnh(sắc, thanh, hương, vị, xúc) và các vật dụng trong đời sống hàng ngày... đều khởi tâm tham muốn, làm chướng ngại các thiền định, đó là tham dục phát ra tướng ở khắp mọi nơi.
tham dục tức thị đạo
Desire is part of the universal law, and may be used for leading into the truth, a tenet of Thiên Thai.
; Pháp môn tính ác do tông Thiên Thai lập ra. Sự tham dục tuy xấu xa nhưng lại có lý pháp tính. Do vậy, người quen thói tham dục có thể dùng nó mà quán pháp tính—Desire is part of the universal law, and may be used for leading into the truth, a tenet of T'ien-T'ai.
; (貪欲即是道) Đồng nghĩa: Dâm dục tức thị đạo. Tham muốn chính là đạo. Việc tham muốn tuy là xấu ác nhưng vẫn có thực lí của pháp tính, cho nên người quen tham muốn có thể nương ngay vào tham muốn mà quán xét pháp tính. Đây là căn cứ vào pháp môn Tính ác do tông Thiên thai thành lập, tức chủ trương Ác là tính đức sẵn có của chúng sinh. Ma ha chỉ quán quyển 10 hạ (Đại 46, 136 trung) nói: Người làm ác chấp theo lập trường của Đại thừa cho rằng tham dục chính là đạo, trong 3 độc có đầy đủ tất cả Phật pháp, thực ngữ này vốn diệt phiền não, nhưng vì họ không thấu suốt, chỉ chấp chặt một chiều nên lại tạo ra kết nghiệp. [X. kinh Tạp a hàm Q.21]. (xt. Tính Thiện Tính Ác).
tham dụïc
Greed and Desire. (I) Nghĩa của Tham Dục—The meanings of Greed and desire: 1) Tham muốn của cải trần thế. Hầu hết người đời thường định nghĩa hạnh phúc trần tục như là sự thỏa mãn của mọi tham dục: Desire for and love of the things of this life—Craving (greed, affection, desire). Most people define happiness as the satisfaction of all desires. 2) Tham dục trần thế là vô hạn, nhưng chúng ta lại không có khả năng nhận ra chúng và tham dục không được thỏa mãn thường gây ra khổ đau phiền não cho mình và cho người. Khi chúng ta chỉ phần nào thỏa mãn tham dục, chúng ta luôn có khuynh hướng tiếp tục theo đuổi chúng cho đến khi được thỏa mãn, chính vì vậy mà chúng ta càng gây nên khổ đau cho mình và cho người. Ngay cả khi đã thỏa mãn tham dục, chúng ta cũng khổ đau. Chúng ta chỉ nghiệm được chân hạnh phúc và an nhin tự tại khi chúng ta có ít tham dục. Đây cũng là một trong những bước lớn đến bến bờ giải thoát của chúng ta—The desires are boundless, but our ability to realize them is not, and unfulfilled desires always create suffering. When desires are only partially fulfilled, we have a tendency to continue to pursue until a complete fulfillment is achieved. Thus, we create even more suffering for us and for others. We can only realize the true happiness and a peaceful state of mind when our desires are few. This is one of the great steps towards the shore of liberation. 3) Phật dạy: “Tham dục chính là nguồn gốc của khổ đau. Mọi vật rồi sẽ thay đổi, vì thế không nên luyến ái hay vướng víu vào một thứ gì. Nên nhiếp tâm thanh tịnh tìm chân lý và đạt đến hạnh phúc vĩnh hằng.” Biết tri túc thiểu dục là biết sẽ giúp chúng ta diệt trừ tham dục. Điều nầy có nghĩa là biết thỏa mãn với những điều kiện vật chất khả dĩ giúp cho chúng ta có đầy đủ sức khỏe để tu tập. Đây là phương cách hữu hiệu nhất để cắt đứt lưới tham dục, an ổn thân tâm và có nhiều thì giờ giúp đở tha nhân---Buddha taught: “Craving and desire are the cause of all unhappiness or suffering. Everything sooner or later must change, so do not become attached to anything. Instead devote yourself to clearing your mind and finding the truth, lasting hapiness.” Knowing how to feel satisfied with few possessions help us destroy greed and desire. This means being content with material conditions that allow us to be healthy and strong enough to cultivate. This is an effective way to cut through the net of passions and desires, attain a peaceful state of mind and have more time to help others. (II) Phân loại Tham Dục—Categories of Greed and Desire: Có năm loại Tham Dục—There are five types of Greed and Desire: 1) Tài Tham Dục: Greed and desire for Wealth. 2) Sắc Tham Dục: Greed and desire for Beauty. 3) Danh Tham Dục: Greed and Desire for ambitions. 4) Thực Tham Dục: Greed and desire for finding pleasure in eating. 5) Thùy Tham Dục: Greed and Desire for sleeping or laziness.
tham dự
To take part in—To participate.
tham gia
To join—To adhere to.
tham giàu
Greedy of wealth.
tham huyền nhân
(參玄人) Chỉ cho người tu hành Phật đạo. Tham huyền nghĩa là tham cứu tu học ý thú sâu xa huyền nhiệm của Phật pháp. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 (Đại 51, 459 trung) nói: Kính bạch tham huyền nhân, Thời gian chớ luống phí.
tham hà
(參暇) Cũng gọi Tham giả. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thiền tăng xin nghỉ ra khỏi Thiền viện trong vòng 15 ngày thì trở về chùa, gọi là Tham hạ. Người đời sau gọi việc tạm trú trong chùa viện là Tham hạ, đó là lầm lẫn với từ ngữ Quải đáp của người xưa thường gọi.Oánh sơn thanh qui quyển hạ (Đại 82, 447 hạ) nói: Người không xin nghỉ mà đi thì không được tái tham hạ. Trà lễ được tổ chức khi quải đáp, gọi là Tham hạ trà, Nhập liêu trà. Điều Xưng hô trong Tiểu tùng lâm lược thanh qui quyển thượng (Đại 81, 692 thượng) nói: Tham hạ phiến, Tham hạ trà của các liêu ở các nơi cũng nên gọi là Quải đáp phiến, Quải đáp trà. (xt. Quải Đáp, Thỉnh Giả).
tham hậu
Sau buổi Vãn Tham—After the evening assembly—See Tham (1) (b).
; (參後) Cũng gọi: Tham thoái. Đối lại: Tham tiền. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho thời gian sau khi vãn tham hoặc phóng tham, tức thời gian sau khi tham thiền niệm tụng lúc chiều tối, hoặc chỉ cho thời gian sau khi nghỉ ngồi thiền hay thôi làm việc... Điều Tọa thiền trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1142 hạ) nói: Tham hậu, tọa thiền như thường. Chân tịnh ngữ lục quyển 2 trong Cổ tôn túc ngữ lục quyển 43 (Vạn tục 118, 36 thượng) nói: Hôm nay Trang chủ thiết trai tăng, sau giờ tham thiền buổi chiều tối, thỉnh chư tăng đến Tăng đường uống trà.
tham học
(參學) Gọi đủ: Tham thiền học đạo. Chỉ cho việc vị Thiền sinh đi tham vấn các Thiền viện về tông phong và qui củ của những Thiền viện đó, rồi theo minh sư học tập. Thơ của Hoàng trấn thành tiễn chân Thượng nhân Giản tuyền du phương tham học có câu: Tham học Vô sinh khi đến nơi, Gặp người xin chớ nói luân hồi. Còn thơ của vị tăng tên là Phạm kì tiễn đưa Mật tạng chủ chùa Thiên ninh lên đường tham học cũng có câu: Tào khê hái củi mấy năm dư, Phật pháp đã từng tham học ư?. Ngoài ra, việc thực tham, thực cứu Chính pháp đích truyền của Phật tổ, cũng gọi là Tham học.
Tham học 參學
[ja] サンガク sangaku ||| (1) To be involved in study. (2) To get into the practice of Buddhism. => Có hai nghĩa: 1. Lưu tâm vào viẹc học. 2. Tu tập Phật đạo.
tham khảo
To refer—To consult.
tham kiến
The illusion, or false views caused by desire.
; The illusion or false views caused by desire.
tham kết
The bond of desire.
; The bond of desire (binding in the chain of transmigration).
; (貪結) Chỉ cho phiền não tham dục, 1 trong 5 kết. Kết, Phạm:Bandhana, nghĩa là phiền não trói buộc chúng sinh, làm cho không thoátkhỏisinh tử. Nói cách khác, phiền não tham dục thường sai khiến, trói buộc chúng sinh sống chết trong 3 cõi, không được giải thoát, nên gọi là Tham kết. (xt. Kết, Ngũ Kết).
tham lam
Abhijjha (p)—Greed—Miserly—Lust. (A) Theo Hoà Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có hai điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp tham lam—According to Most Venerable in The Buddha and His Teachings, there are two conditions that are necessary to complete the evil of covetousness: 1) Vật sở hữu của người khác: Another's possession. 2) Tâm thèm muốn, ước mong được làm chủ vật ấy: Adverting to it, thinking “would this be mine!” (B) Cũng theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, hậu quả tất yếu của tham lam là không bao giờ được mãn nguyện: Also according to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teaching, the inevitable consequence of covetousness is non-fulfillment of one's wishes.
tham lang
Greedy wolf, wolfish desire or cupidity.
; Tham dục được ví như lòng tham của bầy lang sói—Greedy wolf, wolfish desire or cupidity.
; (貪狼) Sói tham, ví dụ lòng tham không đáy của con người giống như chó sói. Vì loài thú này có bản tính rất tham lam, cho nên người có lòng tham quá độ được ví như chó sói mà gọi là Tham lang. Cũng tương tự như bản tính của loài cáo là đa nghi, bởi thế cũng có từ ngữ Hồ nghi(Hồ là con cáo).[X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
tham liêu tử tập
(參寥子集) Cũng gọi Tham liêu tử thi tập. Tập thơ, 12 quyển, do vị tăng là Đạo tiềm soạn vào đời Tống. Tham liêu tử là hiệu của ngài Đạo tiềm. Thơ của Đạo tiềm biểu hiện rõ cá tính của ngài, tuy không được hàm súc lắm nhưng cũng không rơi vào khuôn sáo thế tục. Tập thơ lưu truyền ở đời có 2 loại bản in, số quyển giống nhau, nhưng thứ tự hơi khác; một bản đề là Tam học pháp tự Quảng tân hiệu đính, còn bản kia thì đề là Pháp tự Pháp dĩnh biên tập. Trong tập thơ cũng có thơ xướng họa của ngài Pháp dĩnh. [X. Tứ khố đề yếu biệt tập loại].
tham luyến
Attached to and fond of.
tham luận
To discuss.
tham lợi
Eager for gain—Greedy for gain.
tham muốn
Rati (S), Lust.
tham muốn của cải vật chất
Greed for material wealth.
tham mê
Rāga (S), Greed, Lobha (S), Tanhā (S).
tham nghệ
Khi lễ bái, người ta tin rằng mình có thể đến học hỏi với chư Thiên hay chư Phật—To approach the gods or Buddhas in worship.
tham nghị
To participate in a discussion
tham nhiễm
The taint of desire or greed.
; Defiled grees---The taint of desire or greed.
; (貪染) Tham nhuốm, tức tham đắm, nhiễm trước các cảnh 5 dục, 6 trần. Năm dục là: Sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc giác trơn láng mịn màng; hoặc tiền của, sắc đẹp, thức ăn uống ngon ngọt, danh vọng và ngủ nghỉ. Còn 6 trần là: Sắc, Thanh, hương, vị, xúc, pháp. Ngoài ra, theo luận Đại tì bà sa quyển28, dùng thiện căn vô tham để đối trị tham nhiễm, gọi là Li tham (lìa tham). (xt. Li Tham).
tham nhuế si
Ràga, dvesa, moha (S). Desire, anger, ignorance.
tham phiền não
The klesa, temptation or passion of desire.
; The klesa, temptation or passion of desire.
; (貪煩惱) Chỉ cho tâm tham dục là gốc rễ của phiền não, 1 trong 6 đại phiền não. Phiền não, Phạm:Kleza. Tức là tác dụng tâm lí làm cho chúng sinh cảm thấy buồn bực, phiền muộn, mê loạn, nhơ nhớp... Nghĩa là lòng tham muốn thường khiến cho thân tâm chúng sinh não loạn, đắm chìm trong cảnh khổ, vui, có cảm giác bị ràng buộc, không được thanh thoát, tự tại, nên gọi là Tham phiền não. (xt. Phiền Não, Tùy Miên).
tham phược
Rāga-bandhana (S) Một trong tam phược.
; Sự trói buộc của lòng tham—The tie of desire.
tham phọc
The tie of desire.
; (貪縛) Phạm: Ràga-bandhana. Chỉ cho phiền não tham muốn, 1 trong 3 phược. Phược nghĩa là trói buộc, tức lòng tham muốn thường trói buộc chúng sinh khiến mất tự do, tự tại, không ra khỏi sinh tử. Trong 3 cảm thụ khổ, vui, không khổ không vui, thì Tham phược gia tăng đối với cảm thụ vui. (xt. Tam Phược).
tham quyền
Greed for power—To love power.
tham sanh
Upādhi (S), Clinging to rebirth.
; To cling to life.
tham sanh úy tử
To cling to life and to fear death—The desire to survive, coupled with fear of death.
tham sân si
(貪嗔痴) Cũng gọi Tham khuể si, Dâm nộ si. Chỉ cho 3 thứ phiền não căn bản là Tham dục, Sân khuể và Ngu si, 3 thứ này gọi chung là Tam hỏa (3 thứ lửa), Tam độc (3 cái độc hại), Tam cấu(3 cái nhớp nhúa), Tam bất thiện căn(3 cái gốc xấu ác). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 31, đối với những thứ có lợi ích cho mình thì sinh lòng ham muốn, còn đối với những cái trái với ý muốn của mình thì sinh tâm tức giận, 2 phiền não này không sinh ra từ trí sáng mà từ mê loạn sinh ra, vì thế nên gọi là Si. Ba phiền não này là gốc rễ của tất cả phiền não, đầu độc thân tâm chúng sinh rất nặng nề, có công năng phá hoại thiện tâm xuất thế, cho nên gọi là Tam độc. Tam độc có chính, tà khác nhau, như trong các cõi Tịnh độ của chư Phật chỉ có Chính tam độc chứ không có Tà tam độc. Đại tạng pháp số thì phân biệt Nhị thừa và Bồ tát đều có Tam độc: Nhị thừa ưa thích Niết bàn là Tham dục, nhàm chán sinh tử là Sân khuể, mê mờ đối với Trung đạo là Ngu si; còn Bồ tát thì rộng cầu Phật pháp là Tham dục, chê trách Nhị thừa là Sân khuể và chưa rõ tính Phật là Ngu si. (xt. Tam Hỏa, Tam Độc).
tham sống sợ chết
See Tham sanh úy tử.
tham sử
The messenger, or temptation of desire
Tham Sự
(參事, Sanji): hiện tại ở Nhật Bản, đây là một loại chức danh của viên chức thuộc các cơ quan pháp nhân như Quốc Hội, hành chính độc lập, đoàn thể công cọng địa phương, v.v. Về ngữ nghĩa, Tham Sự có nghĩa là “tham mưu sự việc”, là người tham dự, tham mưu vào sự vụ của các cơ quan pháp lý vốn dưới quyền của Tri Sự (知事), người đại diện và quyết định các cơ quan ấy.
tham sự
1) To take part in an affair—To participate in. 2) Chief clerk.
tham thiên thai ngũ đài sơn kí
(參天台五臺山記) Cũng gọi Thiện huệ đại sư Tứ tử thành tầm kí. Du kí, 8 quyển, do ngài Thành tầm (1011-1081), vị tăng người Nhật bản soạn. Năm Diên cửu thứ 4 (1072), ngài Thành tầm lúc ấy đã 62 tuổi, cùng với các vị Lại duyên, Khoái tông, Thánh tú, Duy quán, Tâm hiền, Thiện cửu, Trường minh... từ Phì tiền tùng phố đến Trung quốc (đời Tống). Tháng 6 năm sau, ngài đến chiêm bái các Thánh tích như núi Thiên thai, núi Ngũ đài... rất được triều đình nhà Tống đãi ngộ, nên dùng chữ Hán viết nhật kí mà soạn thành sách này. Đây là tư liệu quí giá giúp người đời sau hiểu rõ sự giao thông bằng đường biển giữa Nhật bản và Trung quốc, tình hình chung của Phật giáo đời Tống, cũng như văn vật, phong tục Trung quốc đương thời. Toàn sách bắt đầu được viết từ lúc phát xuất ở Phì tiền tùng phố vào năm Diên cửu thứ 4 (1072) của Nhật bản cho đến khi gửi tượng Phật và các kinh Phật mới dịch về Nhật bản vào tháng 6 năm Hi ninh thứ 6 (1073) đời Tống của Trung quốc thì dừng. Tác phẩm này được người đời sau là Thành đảo Nhượng kiệm khảo chứng và chú thích mà thành San bổ Thiên thai ngũ đài sơn kí 8 quyển và ông Cao nam Thuận thứ lang dùng nguyên bản được cất giữ ở chùa Đông phúc tại Kyoto làm bản gốc, đối chiếu và hiệu đính bản sao ở nhiều chỗ, rồi lại soạn Thành tầm sở kí nhập Tống chư sư truyện khảo 1 quyển. Sách này được thu vàoĐạinhật bản Phật giáo toàn thư quyển 115, Cải đính sử tịch tập lãm quyển 26.
Tham thiền
參禪; J: sanzen; nghĩa là »đến với Thiền«, »đi đến Thiền«, hoặc Toạ thiền;|Ðến tham vấn một vị Lão sư để nhận sự chỉ dạy. Trong tông Lâm tế tại Nhật Bản thì Tham thiền đồng nghĩa với Ðộc tham (j: dokusan), theo Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền thì Tham thiền chính là sự tu tập thiền đúng đắn (Tổng tham).
tham thiền
To inquire, discuss, seek religious instruction.
; Tham thiền chẳng phải ngồi thiền, ngồi thiền chẳng phải tham thiền. Tham thiền ở nơi tâm ngộ mà chẳng ở nơi ngồi. Trước đời nhà Tống Trung Quốc (cách đây 60 năm), các Tổ sư mỗi mỗi dùng cơ xảo khiến thiền giả tự khởi nghi tình mà chẳng biết mình đã tham thiền, nên kẻ ngộ nhiều, lại mau ngộ. Từ khi Truyền Đăng Lục (Lịch sử Thiền tông) ra đời, thiền giả đã biết cơ xảo của Tổ sư nên chẳng thể tự khởi nghi tình, Tổ sư bất đắc dĩ phải dạy tham thoại đầu, nên sau này kẻ ngộ ít mà lại chậm ngộ.
; Tham nhập vào đạo thiền, hay tham vấn về thiền tập—To wrap in deep meditation—To enter into meditation—To seek, inquire or discuss religious instruction.
; (參禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho sự tọa thiền tu hành dưới sự chỉ dạy của bậc thầy, sau chuyển sang chỉ cho sự tham cứu chân lí trong Thiền định. Vô môn quan tắc 1 (Đại 48, 292 hạ) nói: Tham thiền phải thấu cửa Tổ sư, Diệu ngộ đường tâm cần dứt bặt. Chính pháp nhãn tạng tam muội vương tam muội (Đại 82, 243 hạ) nói: Tham thiền là thân tâm rỗng rang, chuyên vào một việc ngồi thiền, không cần đốt hương, lễ bái, niệm Phật, tu sám, xem kinh... Ngoài ra, tham thiền nên chọn nơi yên tĩnh, tiết chế việc ăn uống, buông bỏ các duyên, dứt hẳn mọi việc, không nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, gác ngoài thị phi.
tham thoại đầu (công án)
Chữ tham tức là nghi. Đề câu thoại đầu hỏi thầm trong tâm, cảm thấy không hiểu nên sanh khởi nghi tình. Có nghi tình mới gọi là tham thiền. Tham thoại đầu cũng gọi là khán thoại đầu, tức là nhìn ngay chỗ một niệm chưa sanh khởi (là vô thủy vô minh) không biết đó là cái gì, phối hợp với câu thoại đầu để tăng thêm nghi tình.
tham thỉnh
Thỉnh ý—To request instruction or discussion.
; (參請) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho việc đệ tử thưa hỏi và nhận lãnh lời chỉ dạy của Thầy, cũng như nghĩa tham vấn thỉnh ích, tham thiền biện đạo. Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 504 trung) nói: Ngài Kính sơn có năm trăm chúng, nhưng ít có người tham thỉnh. Ngoài ra, đến chỗ của Thầy thưa hỏi về ý chỉ sâu xa của Phật pháp cũng gọi là Thỉnh vấn.
tham thủy
Desire is like water carrying things along.
; Tham dục ví như dòng nước chuyên chở hết thảy những điều ác—Desire is like water carrying things along.
; (貪水) Nước tham. Tình ái tham dục có sức hấp dẫn mọi vật và nuôi lớn các pháp ác, cho nên được ví dụ như nước mà gọi là Tham thủy.Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 143 hạ) nói: Hễ mắt nhìn thấy sắc thì sinh nhiều tham cầu, cho nên các đức Như lai trong mười phương đều gọi đó là Tham thủy. Bồ tát thấy tham thì tránh xa như tránh xa biển độc.
tham tiếc
To begrudge; be unwilling to give.
tham tiền
1) Tham lam tiền bạc: Greed for money. 2) Trước buổi Vãn Tham: Before the evening assembly—See Tham (1) (b).
; (參前) Đối lại: Tham hậu. Chỉ cho thời gian trước Vãn tham (tức là tham thiền niệm tụng vào lúc chiều tối). Nếu không có Vãn tham thì Tham tiền là chỉ cho thời gian phóng tham trở về trước. Điều Đạt ma kị trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1117, hạ) nói: Ngày hôm sau, sau ngọ trai, đại chúng phải đầy đủ uy nghi, tán kệ tụng kinh, trước vãn tham(tham tiền) thỉnh chuông ở nhà tăng.
Tham triệt 參徹
[ja] サンテツ santetsu ||| To awaken under the guidance of a Buddhist master. => Giác ngộ dưới sự hướng dẫn của một Tăng sĩ Phật giáo.
tham trước
The attachment of desire.
; Tham trước là người ta cứ bám vào lòng tham không biết chán—The attachment of desire.
; (貪著) Tham đắm. Mong cầu thật nhiều mà không chán là Tham; tâm tham bám chặt không chịu lìa bỏ là Trước. Tức chỉ cho tâm tham ái chấp trước trong các dục nhiễm. Tham trước là do tà niệm, các thứ phiền não đều do tham trước mà ra. Kinh Di giáo (Đại 12, 1112 thượng) nói: Người có trí tuệ thì không tham trước. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Nghĩa túc Q.thượng].
tham trọc
The contamination of desire.
; (貪濁) Tham đục. Chỉ cho phiền não tham dục. Tham dục thường vẩn đục, não loạn thân tâm chúng sinh, vì thế nên gọi Tham trược. Cứ theo kinh Tùy nguyện vãng sinh thì người ở thế giới Sa bà phần nhiều là tham trược, cho nên rất ít người tin vào việc vãng sinh.
tham tài
Greedy (eager) for wealth.
tham tàn
Greedy and harsh.
tham tâm
(貪心) Cũng gọi Hữu tham tâm. Tâm tham tức là tâm thuận theo các pháp nhơ nhớp, tham đắm các cảnh trước mắt mà làm cho tâm bị ô uế, là 1 trong 60 vọng tâm nói trong phẩm Trụ tâm của kinh Đại nhật quyển 1. Nếu quán xét thực tướng của tâm tham thì đối trị được tâm này. Đại nhật kinh sớ quyển 2 (Đại 39, 596 trung) ghi: Thế nào là Tham tâm? Là tâm thuận theo các pháp ô nhiễm; tham đắm các cảnh trước mắt, làm ô uế tịnh tâm. (xt. Lục Thập Tâm).
tham tích
(貪惜) Tham tiếc. Tức chúng sinh ngu si, không rõ nhân quả tội phúc nên tham lam sẻn tiếc tài vật, không có lòng thương bố thí cho người khác. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 533 thượng) nói: Người đời ngu si, chỉ biết tham tiếc, thà tự cắt thịt trên thân mình mà ăn còn hơn là đem tiền của bố thí cho người khác để cầu phúc ở đời sau.
tham tú
(參宿) Phạm:Àrdrà. Hán âm: Át đạt ra. Hán dịch: Thấp, Mễ thấp, Vị thấp. Cũng gọi Sinh sảnh tú, Sinh dưỡng tú. Chỉ cho sao Tham, 1 trong 28 vì sao, thuộc về Lỗ đạt la (Phạm:Rudra, Hán dịch: Âm hưởng, Bạo phong vũ). Trong Mạn đồ la Bắc đẩu của Mật giáo, vị tôn này được an trí ở cực nam phía tây Ngoại viện, còn trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới thì vị này được bày ở phía đông Ngoại viện. Hình tượng vị tôn này trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới ngồi tréo chân, bàn tay phải ngửa lên, để ở trước rốn, bàn tay trái dựng thẳng, ngón trỏ và ngón giữa co lại, cầm hoa sen, trên hoa sen có hạt châu. [X. kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Đại khổng tước chú vương Q.hạ].
tham tập
The habit of desire, desire become habitual.
; Thói quen của lòng tham (tham mãi thành thói quen)—The habit of desire, desire becomes habitual.
; (貪習) Chỉ cho tính quen tham muốn. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 143 hạ) nói: Tham tập với tính quen, phát ra sức hấp dẫn lẫn nhau, lôi quấn mãi không thôi.
tham tập nhân
Habitual cupidity leading to punishment in the cold hells.
; Một trong mười nhơn, thói quen của tham dục khiến người ta bị đọa vào địa ngục lạnh—Habitual cupidity leading to punishment in the cold hells, one of the ten causes—See Thập Nhân Thập Quả (2).
Tham tỉnh
(參省): Tham (參) ở đây nghĩa là xem xét, quan sát; tỉnh (省) là phản tỉnh, nhìn lại chính mình. Từ này vốn xuất xứ từ trong Thiên Khuyến Học (勸學篇) của Tuân Tử (荀子): “Quân tử bác học nhi nhật tham tỉnh hồ kỉ, tắc tri minh nhi hành vô quá hỉ (君子博學而日參省乎己、則知明而行無過矣, người quân tử học rộng mà mỗi ngày kiểm điểm lại mình thì trí tuệ mới sáng suốt và hành vi sẽ không có lỗi lầm).” Đối với Thiền Tông, tham tỉnh có nghĩa là đến tham học Thiền pháp với bậc cao đức nào đó và được vị ấy làm cho tỉnh ngộ; tương đương với nghĩa của tham học (參學), tham vấn (參問). Như trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1553) quyển 17, phần Tương Châu Cốc Ẩn Sơn Uẩn Thông Từ Chiếu Thiền Sư (襄州谷隱山蘊聰慈照禪師) có câu: “Sư ly Bách Trượng, chí Nhữ Châu tham tỉnh Niệm Thiền Sư (師離百丈、至汝州參省念禪師, sư rời Bách Trượng, đến Nhữ Châu tham học với Thiền Sư Niệm).” Hay như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 30, phần Nhữ Châu Nam Viện Huệ Ngung Thiền Sư (汝州南院慧顒禪師) có đoạn: “Hậu ư Vân Môn hội hạ, văn biệt tăng cử thử thoại, phương ngộ chỉ, khước hồi tham tỉnh, sư dĩ viên tịch, toại lễ Phong Huyệt Hòa Thượng (後於雲門會下、聞別僧舉此話、方悟旨、卻回參省、師已圓寂、遂禮風穴和尚, sau nhân trong hội chúng của Vân Môn, ông nghe có vị tăng nọ nêu ra câu chuyện này, mới ngộ được yếu chỉ; liền quay về tham học, nhưng thầy đã qua đời, ông bèn lạy Hòa Thượng Phong Huyệt làm thầy).”
tham từ tạ hạ
(參辭謝賀) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời cảm tạ và chúc mừng được bày tỏ đối với vị Giám viện từ nhiệm hay tựu chức. Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 445 hạ) nói: Chức Giám viện trông coi toàn bộ các công việc trong chùa viện, cũng như vị quan quản trị một vùng, cho nên phải bày tỏ lời tham từ tạ hạ.
tham vấn
To seek instruction - generally as a class.
; Hành giả đi các nơi tham học, hỏi đạo gọi là tham vấn.
; Xin lời hướng dẫn—To seek instruction, generally as a class.
tham vọng
Vedayita (S).
; Desire—Craving for—Ambition.
tham vọng muốn bất tử
The craving for immortality.
tham ái
Desire, cupidity.
; Passion—Desire—Cupidity—Tham ái, tham dục đòi hỏi những sự ham muốn về vật chất như thèm ăn, thèm ngủ, thèm ân ái, vân vân, là những khoái lạc về ngũ quan. Con người còn ham muốn để được thỏa mãn những nhu cầu về tinh thần như ham chiếm đoạt, ham phô trương, ham quyền lực, ham lợi lộc. Lòng ham muốn đắm mê không bao giờ biết ngừng, không bao giờ được thỏa mãn cả, như chiếc thùng không đáy. Để thỏa mãn dục vọng mà con người sanh ra vị kỷ, độc ác, làm hại, làm khổ người khác để mình được vui, được sung sướng. Vì lòng tham mà chúng ta không ngại xử dụng mọi thủ đoạn để đạt cho được mục đích, bất kể chuyện gì xãy đến cho người khác. Phật tử chúng ta nên thấy rõ vì không tu nên cõi đời trở thành một đấu trường mà nước mắt đổ như mưa rào, bể khổ dâng lên như nước thủy triều biển khơi—Greed and lust are unrestrained desires for material possessions such as food, sleeping, sexual intercourse, etc., all related to sensual pleasures. We also have a desire for appropriations, showing off, authority, and profits. Since they are like bottomless barrel, neither obsessive greed nor desire can be stopped or satisfied. Through tricks, expedients, and manipulations we try to reach our goal irrespective of whatever happens to others. We Buddhists must see that greedy people are generally selfish, wicked, and prone to cause sufferings to others. As a result, they transform this world into a battlefield where tears are shed like streams, and sufferings rise like an ocean tide.
; (貪愛) Tham đắm yếu thích Ngũ dục nên không thể ra khỏi sinh tử luân hồi. Tham vàái(yêu) là cùng thể khác tên. Tham là sự ham muốn, mong cầu những tài vật nhiễm ô mà không biết nhàm chán. Ái là yêu thích đắm đuối, là 1 trong 12 nhân duyên, hoặc là 1 trong 9 kết. Theo kinh Thắng thiên vương bát nhã quyển 1 thì sở dĩ chúng sinh bị trôi lăn trong 6 đường luân hồi mãi mãi không dứt là đều do Tham ái. Luận Đại tì bà sa quyển 50 cho rằng Ái kết là Tham trong 3 cõi; trong 9 kết, Tham trong 3 cõi được lập chung làm Ái kết, trong 7 Tùy miên lập làm 2 Tùy miên: 1. Tham ở cõi Dục gọi là Dục tham tùy miên. 2. Tham ở cõi sắc, cõi Vô sắc gọi là Hữu tham tùy miên. Trong các kinh luận khác thì có lập Tam ái: Dục ái, Sắc ái và Vô sắc ái. (xt. Tham, Ái).
tham ái mẫu
Tham ái là mẹ, vô minh là cha sản sanh ra cái “ngã”—Desire as mother and ignorance as father produce the ego.
tham đường
Bắt đầu những nghi thức hay công việc của một vị Tỳ Kheo vừa mới thọ cụ túc giới—The initiation to the services of one newly ordained.
; (參堂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, vị sa di mới gia nhập làm 1 thành viên của Tăng đường thì gọi là Tham đường, ý nói mới được vào nhà tăng. Điều Tân giới tham đường trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1138 trung) nói: Sau khi đã thụ giới, tân Sa di phải đến bạch vị Trụ trì xem ngày nào được tham đường?. [X. môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tham đầu
Vị khởi đầu để dẫn chúng trong các nghi lễ—One versed in the ceremonies and capable of leading others.
; (參頭) Cũng gọi Tham đầu hòa thượng. Một trong các chức vụ của Tăng trong Thiền lâm. Tham là Tham tăng, tức vị tăng này từ 4 phương đến tham thiền học đạo ở một nơi nào đó; Đầu là Đầu thủ, tức vị tăng đứng đầu, chỉ đạo, trông nom đại chúng. Tham đầu là người đứng đầu trong các vị tăng mới đến, thay cho các vị này để làm các thủ tục nhập chúng. Tham đầu lại được chia làm 2 thứ là Tứ lai tham đầu và Hành giả tham đầu. Tứ lai tham đầu gọi tắt là Tham đầu, tức người đã quen việc tham phỏng và am hiểu phép tắc lễ nhạc trong số các vị tăng mới đến, được tuyển chọn để hướng dẫn các vị ấy về hành nghi tiến thoái trong các nghi thức Cáo hương, Phổ thuyết... Điều Cáo hương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1119 hạ) nói: Trước mỗi hạ, trong số những vị tăng mới đến, phải cử một người Tham đầu hướng dẫn nghi thức Cáo hương (nghi thức người học thắp hương thỉnh sư gia thuyết pháp, khai thị). Nếu đại chúng đều dự Cáo hương thì vị Thủ tọa là Tham đầu. Dưới Tham đầu có Tiểu tham đầu, tức trong 3 vị tăng mới đến chọn lấy 1 người làm Tiểu tham đầu.Điều Tạ quảiđáptrong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1141 hạ) nói: Tham đầu phải có Tiểu đồ tập nghi, 3 người 1 dẫn, mỗi dẫn có 1 người làm Tiểu tham đầu. Ngoài ra, Tham đầu của các hành giả, gọi là Tham đầu hành giả, trong số các hành giả, chọn 1 người cựu tham lớn tuổi nhất làm chức này, nhiệm vụ của chức này được qui định trong điều Huấn đồng hành, Sắc tuBách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1122 thượng): Tham đầu hành giả bảo Hát thực hành giả trình bày mọi việc, trước hành đường treo bảng cáo thị cho đại chúng biết. Người phụ tá Tham đầu trong việc chỉ dẫn các vị tăng mới đến, gọi là Phó tham; người dự bị chức Phó tham, gọi là Vọng tham. [X. Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tham đắm danh lợi chẳng khác nào đang đi vào nẻo súc sanh hay ngạ quỷ
To be sunk (attached) to fame and fortune is to head for the realms of animals or hungry ghosts.
tham đồng khế
(參同契) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thạch đầu Hi thiên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Đây là một bài thơ cổ gồm 44 câu, mỗi câu 5 chữ, tất cả có 220 chữ, giải thích rõ ý nghĩa muôn pháp giao thoa xen lẫn nhau vô cùng, do sự khế hợp với nhau này mà hòa tan dung hợp lẫn nhau. Tập sách này cùng với tác phẩm Bảo kính của Thiền sư Động sơn Lương giới đều là Thánh điển được tông Tào động trân trọng và thường đọc tụng trước bàn Phật vào mỗi buổi sáng.Theo Bích nham lục tắc 4, động cơ sáng tác là lúc ngài Thạch đầu Hi thiên xem Triệu luận đến câu Muôn vật là chỗ của mình thì hoát nhiên đại ngộ, do đó mà soạn Tham đồng khế. Còn nguyên do đặt tên tác phẩm là Tham đồng khế thì có lẽ đã mượn tên sách Tham đồng khế do đạo sĩ Ngụy bá dương soạn để hiển bày lí sâu kín huyền diệu của Phật pháp, đồng thời có ý sửa chữa cái tệ bệnh chê bai lẫn nhau của Thiền Nam tông và Thiền Bắc tông lúc bấy giờ. Cũng có thuyết cho rằng tên Tham đồng khế là do người đời sau đặt. Tham là muôn tượng sum la xen lẫn nhau, dung hợp nhau; Đồng là bản thể bình đẳng của muôn tượng; Khế là khế hợp nhau, in hệt như nhau, hiển bày lí Sai biệt tức Bình đẳng, Bình đẳng tức Sai biệt.Toàn văn tập sách này cũng được thu vào Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30, Ngũ đăng hội nguyên quyển 5, Giáo ngoại biệt truyền quyển 14 và Phật tổ lịch đại thông tải quyển 19. Toàn văn ấy như sau (Đại 51, 459 trung): Trúc độ đại tiên tâm, Đông tây mật tương phó. Nhân căn hữu lợi độn, Đạo vô Nam Bắc tổ. Linh nguyên minh kiểu thiết, Chi phái ám lưu chú. Chấp sự nguyên thị mê, Khế lí diệc phi ngộ. Môn môn nhất thiết cảnh, Hồi hỗ bất hồi hỗ. Hồi nhi cánh tương thiệp, Bất nhĩ y vị trụ. Sắc bản thù chất tượng, Thanh nguyên dị lạc khổ. Ám hợp thượng trung ngôn, Minh minh thanh trược cú. Tứ đại tính tự phục, Như tử đắc kì mẫu. Hỏa nhiệt phong động dao, Thủy thấp địa kiên cố. Nhãn sắc nhĩ âm thanh, Tị hương thiệt hàm thố. Nhiên y nhất nhất pháp, Y căn diệp phân bố. Bản mạt tu qui tông, Tôn ti dụng kì ngữ. Đương minh trung hữu ám, Vật dĩ ám tương ngộ. Đương ám trung hữu minh, Vật dĩ minh tương đổ. Minh ám các tương đối, Tỉ như tiền hậu bộ. Vạn vật tự hữu công, Đương ngôn dụng cập xứ. Sự tồn hàm cái hợp, Lí ứng tiễn phong trụ. Thừa ngôn tu hội tông, Vật tự lập qui củ. Xúc mục bất hội đạo, Vận túc yên tri lộ? Tiến bộ phi cận viễn, Mê cách sơn hà cố. Cẩn bạch tham huyền nhân, Quang âm mạc hư độ. (Tâm Đại tiên đất Ấn, Đông, Tây thầm truyền nhau. Căn cơ có bén lụt, Tổ đạo không Bắc, Nam. Nguồn thiêng vốn trong sáng, Chia dòng chảy tối tăm. Chấp sự vốn là mê, Khế lí chưa hẳn ngộ. Hết thảy các môn, cảnh, Hòa nhau hay chẳng hòa? Hòa nhau thì dung hợp, Không thì đứng nguyên chỗ. Sắc vốn khác chất tượng, Thanh chẳng giống khổ vui. Lời nói về thầm hợp, Rõ ràng câu đục trong. Tính bốn đại tự về, Như con được gặp mẹ. Lửa nóng, gió lay động, Nước ướt, đất cứng chắc. Mắt sắc, tai âm thanh, Mũi hương, lưỡi nếm vị. Nhưng tùy mỗi mỗi pháp, Phân bố theo ngành ngọn. Ngành ngọn phải về gốc, Tôn ti chia rõ ràng. Ngay trong sáng có tối, Chớ tưởng tối ngoài sáng. Ngay trong tối có sáng, Chớ nghĩ sáng lìa tối. Sáng tối đều đối nhau, Như bước trước, bước sau. Muôn vật tự có công, Nên nói dụng và xứ, Sự tồn, nắp, hộp hợp, Lí ứng, tên, giáo hòa. Nương lời phải hiểu tông, Đừng tự lập qui củ. Trước mắt không thấy đạo, Biết trước đi đường nào? Tiến bước chẳng gần xa, Mê tức cách sông núi. Kính bạch người tham huyền, Chớ luống phí thời gian!) Về sách chú thích Tham đồng khế thì có rất nhiều như: Động thượng cổ triệt của ngài Vĩnh giác Nguyên hiền đời Minh, Báo ân biên của Thiên quế Truyền tôn người Nhật bản, Xuy xướng của Diện sơn Thụy phương... [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Thích thị kê cổ lược Q.3; Lâm gian lục Q.hạ].
tham độc
The poison of desire.
; Một trong tam độc—One of the three poisons. 1) Chất độc của tham dục: The poison of desire. 2) Sự nhiễm uế của tham dục: The contamination of desire.
; (貪毒) Cũng gọi Tham dục. Tâm tham dục làm cho thân tâm loài hữu tình chịu các khổ to lớn trong vòng sinh tử luân hồi, làm độc hại thiện tâm khiến không thể đạt đến cảnh giới giác ngộ thanh tịnh, cho nên gọi là Tham độc, 1 trong 3 độc. Ba độc chỉ cho 3 thứ phiền nãotham, sân, si, bao nhiếp tất cả phiền nãotrong 3 cõi. Gọi là độc, bởi vì chúng thường xuyên gây độc hại cho chúng sinh, như loài rắn độc, rồng độc... Cũng có nghĩa trầm độc, vì chúng rất não hại nên gọi là trầm độc. Vì chúng làm độc hại thiện tâm xuất thế nên gọi là Độc. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. (xt. Tam Hỏa).
Tham 參
[ja] サン, シン san, shin ||| (1) Three. (2) To mix, to blend, to collate. (3) To come, to reach to. (4) To visit a superior. (5) To convene, to line up. => Có các nghĩa sau: 1. Ba, số ba. 2. Pha trộn, hỗn hợp, đối chiếu. 3. Đến, đến nơi. 4. Tiếp kiến với người có đức hạnh cao. 5. Nhóm họp, sắp thành hàng.
tham, sân, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng đều do si mê ngu muội mà ra cả
Greed, anger, arrogance, doubt, wrong views, killing, stealing, lust, illusive (erroneous) thoughts all stem from ignorrance or delusion.
tham, sân, si
Desire, Anger, Ignorance.
; Greed, anger and ignorrance, binding in the chain of transmigration—See Nhiễm Khuể Si, and Tam Độc.
tham-sân-si-mạn-nghi-tà kiến-sát-đạo-dâm-vọng-thân kiến-biên kiến-giới kiến thủ-giới cấm thủ
Greed—Hatred—Ignorance—Haughtiness—Suspicion—Heretic views—Killing—Stealing—Lewd—Lying speech—Self- concept—One-sided standpoint—Coservative sptandpoint—Uphold forbidden religious practices. 1) Tham—Greed: See Tham Sân Si (1), and Ngũ Giới (2). 2) Sân—Hatred: See Tham Sân Si (2). 3) Si—Ignorance: See Tham Sân Si (3). 4) Mạn—Haughtiness: See Mạn. 5) Nghi—Doubt: See Nghi Cái, and Ngũ Triền Cái. 6) Tà Kiến—Heretic views: See Tà Kiến. 7) Sát—Killing: See Sát, and Ngũ Giới (1). 8) Đạo—Stealing: See Ngũ Giới (2). 9) Dâm—Lewd: See Ngũ Giới (3). 10) Vọng—Lying speech: See Ngũ Giới (4). 11) Thân Kiến—Illusion of the self: See Thân Kiến, Ngã Kiến, Ngũ Kiến Vi Tế, and Tam Kết. 12) Biên Kiến—One-sided standpoint: See Biên Kiến, and Ngũ Kiến Vi Tế. 13) Giới Kiến Thủ—Coservative standpoint: See Giới Kiến Thủ. 14) Giới Cấm Thủ—Upholding forbidden religious practices: See Giới Cấm Thủ Kiến.
than
To complain.
than phiền
See Than.
than thân
To complain about one's lot
than thở
To lament.
than tiếc
To regret.
than vãn
See Than thở.
than ôi!
Alas!
thang
1) Canh: Soup. 2) Nước nóng: Hot liquid—Hot water.
thang danh vọng
Ladder of fame.
thang dược thị giả
(湯藥侍者) Cũng gọi Thị dược. Thị giả coi việc thuốc thang, 1 trong 5 vị Thị giả trong Thiền lâm. Tức chỉ cho người Thị giả vị Trụ trì, chăm lo việc cơm nước, thuốc thang. Cứ theo điều Tây tự đầu thủ thị giả, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4, Thang dược thị giả có bổn phận sớm chiều lo việc cơm nước, thuốc thang (nếu đau ốm) cho vị Trụ trì, ứng tiếp mọi bề, giúp đỡ thị giả Y bát, an úy, nâng đỡ người cận sự giúp việc. Ngoài ra, khi thị giả tạm vắng mà có khách đến, thì mọi việc thông báo, phúc đáp, đốt hương...vịThang dược thị giả đều phải giúp đỡ làm thay. Thông thường, chọn người trẻ tuổi, cẩn thận,giàukinh nghiệm đảm nhiệm chức này. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thang dụng đồng
(湯用彤) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người tỉnh Cam túc(có thuyết nói là người huyện Hoàng mai, tỉnh Hồ bắc), tự là Tích dư. Ông rất nổi tiếng trong giới học thuật nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Trung quốc. Ông từng học tại Đại học Harvard của Hoa kì. Lần lượt làm Giáo sư các trường Đại học Bắc kinh, Trung ương, Tây nam liên đại... và giữ các chức vụ Viện trưởng việnVăn học Đại học Bắc kinh,Viện sĩviệnNghiên cứu Trung ương. Ông tinh thông các thứ tiếng Phạm, Pàli, Anh, Nhật, am hiểu triết học và văn học Đông Tây, từng gần gũi Đại sư Duy thức học Âu dương tiệm ở viện Nội học China tại Nam kinh. Trình độ Phật học của ông rất sâu sát, cả về nghĩa lí và sử học đều thông suốt. Các tác phẩm của ông như: Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử, Vãng nhật tạp cảo, Ngụy tấn huyền học luận cảo, Ấn độ triết học sử lược... đều là các tác phẩm thượng thừa trong giới học thuật. Trong đó, đặc biệt là bộ Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử, tài liệu phong phú, phương pháp chặt chẽ, về mặt khảo chứng và nghĩa lí có khá nhiều sáng kiến, rất được giới học giả quốc tế coi trọng.
Thang giới
(湯界): cõi nước nóng sôi sùng sục, tức chỉ cho Địa Ngục, như trong 18 cõi địa ngục có 18 Địa Ngục Vạc Nước Sôi (十八鑊湯地獄, Thập Bát Hoạch Thang Địa Ngục).
thang quán
(湯灌) Cũng gọi Dục vong. Tắm vong. Chỉ cho nghi thức tắm rửa cho người chết trước khi bỏ vào quan tài. Cứ theo điều Thiên hóa, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3, tiểu sư (vị tăng thụ giới Cụ túc chưa đầy 10 năm), thị giả, người theo hầu... sắp đặt việc tắm rửa, mặc áo, cạo tóc, sau đó nhập khám(đặt vào quan tài). Điều Vong tăng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 nói: Sai người khiêng khám và bồn tắm đến tắm cho người chết, tắm xong, lau khô, cạo tóc, xem xét lại y phục, trao khăn lau cho người cạo tóc, vị Duy na lo việc mặc áo, nhập quan. Truyện Đào hoằng cảnh trong Nam sử quyển 76 có câu: Theo lời trối lại không cần tắm rửa, căn cứ vào đó thì biết nghi thức tắm rửađãcó từ xưa. Về việc cạo tóc, vì người tại gia lúc còn sống muốn xuất gia, thụ giới, nhưng bị duyên trần trói buộc, chưa thực hiện được ý định, nên lúc lâm chung, cạo tóc, nhận lãnh pháp danh, biểu trưng cho uy nghi sa môn để được toại nguyện lúc bình sinh.
thang tuyền tam duyên
(湯泉三緣) Ba lí do khiến cho nước suối nóng như nước đun sôi. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 12 thì vua nước Ca thắng ở Trung thiên trúc hỏi tôn giả Bà xá tư đa về nguyên nhân tại sao nước suối lại nóng như nước đang sôi, tôn giả trả lời do 3 duyên sau đây:1. Thần nghiệp: Thần không giữ đạo của mình, tạo bừa họa phúc để hưởng sự cúng tế, nghiệp ác tràn lan, nên làm cho nước suối nóng lên để đền tội lạm dụng việc cúng tế. 2. Quỉ nghiệp: Nghĩa là quỉ ra khỏi nơi chịu tội, dạo chơi cõi nhân gian, dùng sức nghiệp còn sót lại làm cho nước suối nóng lên để trả nợ kiếp trước. 3. Nhiệt thạch(Đá nóng): Màu của đá nóng như vàng, tính nó thường nóng làm cho nước suối từ chỗ đá nóng ấy chảy ra nóng như nước sôi.
thang xã hội
Social ladder.
thang đầu
Vị sư lo việc nấu nước trong chùa—The monk in charge of the kettles in a monastery.
; (湯頭) Chỉ cho chức vụ coi việc trà nước, thuốc thang trong Thiền lâm. Điều Trấn thang đầu trong Thạch khê Tâm nguyệt thiền sư ngữ lục quyển hạ (Vạn tục 123, 64 thượng) nói: Ngọt tựa hoàng liên pha tí chát, Đắng như cam thảo lẫn hơi cay. Mỗi lần nếm thử mỗi lần khác, Chỉ sợ khó lừa kẻ lưỡi hư.[X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Thang-ton Gyel-po
T: thangtong gyelpo [thaṅ-ston rgyal-po]; »Vua của miền hoang dã«;|Tên của một vị Lạt-ma Tây Tạng, sống ở thế kỉ 15. Tương truyền Sư sống đến 125 tuổi. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Sư nói về phép Thiền quán về đức Quán Thế Âm (Nghi quỹ). Ngày nay, bộ luận đó vẫn còn được tu học trong phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) và được nhiều Ðạo sư đời sau luận giải thêm. Sư là người xây những chiếc cầu sắt tại Tây Tạng và tông phái của Sư được gọi là »Thiết kiều tông.« Trong tông Ninh-mã (t: nyingmapa), Sư được xem là người chuyên đi tìm các kinh sách được dấu kín (Ter-ma).
thanh
Śabda (S), Sound, Sadda (P) Âm thanh.
; Nila (S). Blue, dark color; also green, black, or grey; clear.
; 1) Âm thanh: Sabda (skt)—Một trong ngũ căn—Sound—Voice—Tone, one of the five physical senses or sensations. 2) Thanh sắt: A bar of metal. 3) Tiếng thanh: Clear voice. 4) Thanh sắc: Nila (skt)—Màu xanh nước biển—Dark blue coloured; also green, black. 5) Thanh tịnh: Amala (skt)—Pure—Clear—Tranquil—Serene.
; (聲) Phạm: Zabda. Pàli:Sadda. Hán âm: Nhiếp đà. Chỉ cho tiếng, là đối tượng mà tai nghe được, thức tai liễu biệt(nhận biết) được, mắt không thấy được, có tính chất ngăn ngại, tức là sắc pháp Vô kiến hữu đối là 1 trong 6 cảnh (6 trần), 1 trong 12 xứ (12 nhập), 1 trong 18 giới, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Y cứ vào Xứ, Giới mà gọi Thanh là Thanh cảnh, Thanh trần, Thanh xứ, Thanh nhập, Thanh giới. Về cách phân loại Thanh, có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Đại tì bà sa quyển 13 và luận Câu xá quyển 1 thì do Vật thể phát ra tiếng có cảm giác hay không mà chia Thanh làm 2 loại là Thanh hữu chấp thụ đại chủng nhân và Thanh vô chấp thụ đại chủng nhân. Chấp thụ là tên khác của tâm, tâm sở; Hữu chấp thụ, chỉ cho thân của hữu tình; Đại chủng chỉ 4 đại chủng đất, nước, lửa, gió. Tiếng phát ra từ 4 đại chủng của hữu tình, gọi là Thanh hữu chấp thụ đại chủng nhân, như tiếng nói tiếng vỗ tay của người ta; tiếng phát ra từ 4 đại chủng của loài vô tình, gọi là Thanh vô chấp thụ đại chủng nhân, như tiếng nói của người hóa, hoặc tiếng phát ra từ gỗ, đá. Kế đến lại xem tiếng ấy có ý nghĩa, ý chí hay không, mỗi thứ lại chia làm Thanh hữu tình danh và Thanh phi tình danh. Lại do tiếng có làm người khoái cảm hay không màchia làm Tiếng đáng ưa và Tiếng không đáng ưa. Đồ biểu như sau:(xemĐồ biểu cuối trang) Luận Tạp a tì đàm tâm quyển 1 chia Thanh làm 3 loại là: 1. Nhân thụ tứ đại thanh: Tiếng chấp nhận 4 đại chủng làm nhân. 2. Nhân bất thụ tứ đại thanh: Tiếng không chấp nhận 4 đại chủng làm nhân. 3. Nhân câu thanh: Có chấp nhận và không chấp nhận 4 đại chủng làm nhân và lấy tiếng phát ra từ việc đánh trống và thổi tù và làm Nhân câu thanh. Nhưng luận Câu xá không tán đồng thuyết này. Còn theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì Thanh có 11 thứ: 1. Khả ý thanh: Tiếng vừa ý. 2. Bất khả ý thanh: Tiếng không vừa ý. 3. Câu tương vi thanh: Tiếng chẳng vừa ý cũng chẳng phải không vừa ý, cho nên đặc biệt gọi là Tiếng ở chặng giữa (xử trung chi thanh). 4. Nhân thụ đại chủng thanh: Tiếng có chấp nhận đại chủng làm nhân. 5. Nhân bất thụ đại chủng thanh: Tiếng không chấp nhận đại chủng làm nhân. 6. Nhân câu đại chủng thanh: Tiếng vừa chấp nhận đại chủng vừa không chấp nhận đại chủng làm nhân. 7. Thế sở cộng thành thanh: Tiếng có tính chất thế tục. 8. Thành sở dẫn thanh: Chỉ cho lời nói của bậc Thánh. 9. Biến kế sở chấp thanh: Lời nói của ngoại đạo ngoài Phật giáo. 10. Thánh ngôn sở nhiếp thanh: Chỉ Cho những lời nói đúng như thực, tức đối với 4 thứ thấy, nghe, hay, biết, hễ thấy thì nói là thấy, không thấy nói không thấy... 11. Phi thánh ngôn sở nhiếp thanh: Không phải lời nói của bậc Thánh. Luận Du già sư địa quyển 1 thì liệt kê 18 thứ Thanh là: Tiếng tù và tiếng trống, Tiếng có chấp nhận đại chủng nhân Hữu tình danh Phi tình danh Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng nói đáng ưa Tiếng không vừa ý –––– Tiếng nói đáng ghét Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng vỗ tay đáng ưa Tiếng không vừa ý –––– Tiếng vỗ tay đáng ghét Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng nói đáng ưa của người hóa Tiếng không vừa ý –––– Tiếng nói đáng ghét Tiếng không chấp nhận của người hóa đại chủng nhân Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng đáng ưa của gỗ, đá Tiếng không vừa ý –––– Tiếng đáng ghét của gỗ, đá Tiếng lớn nhỏ, tiếng múa, tiếng hát, tiếng nhạc, tiếng tuồng, tiếng nữ, tiếng nam, tiếng gió thổi, tiếng rõ ràng, tiếng không rõ ràng, tiếng có nghĩa, tiếng vô nghĩa, tiếng hạ trung thượng, tiếng nước chảy, tiếng cãi cọ tạp nhạp, tiếng thụ trì giảng nói, tiếng luận nghĩa quyết trạch. Ngoài ra, Mật giáo thì nhân cách hóa các loại âm thanh, gọi là Kim cương ca bồ tát, cho rằng vị Bồ tát này có đến 64 thứ âm thanh. [X. luận Thuận chính lí Q.1; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Du già sư địa Q.3; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối].
Thanh Biện
清辯; ?-686|Thiền sư Việt Nam thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ tư, nối pháp Thiền sư Huệ Nghiêm.|Sư họ Ðỗ, quê ở Cổ Giao, xuất gia năm 12 tuổi với Thiền sư Pháp Ðăng. Khi Pháp Ðăng thị tịch, Sư chuyên trì tụng kinh Kim cương và lấy đó làm sự nghiệp. Một hôm, một vị thiền khách ghé chùa, hỏi Sư: »Kinh này là mẹ của Phật tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai), thầy hiểu ›mẹ Phật‹ thế nào?« Sư đáp: »Tôi từ trước trì tụng kinh này nhưng cũng chư hiểu ý ấy.« Khách hỏi: »Trì tụng đã bao lâu?« Sư thưa: »Tám năm.« Khách bảo: »Tám năm chỉ trì tụng một kinh mà chưa hiểu ý nghĩa thì dù trì tụng cả trăm năm cũng chẳng có công dụng gì.«|Nghe lời khuyên của thiền khách, Sư đến tham vấn Thiền sư Huệ Nghiêm tại chùa Sùng Nghiệp. Thấy Sư, Huệ Nghiêm hỏi: »Ngươi đến có việc chi?« Sư thưa: »Ðệ tử trong tâm chưa yên ổn.« Huệ Nghiêm hỏi: »Chưa ổn cái gì?« Sư thuật lại cuộc đàm thoại với thiền khách. Huệ Nghiêm bảo: »Ngươi quên hết rồi! Sao ngươi không nhớ câu kinh ›Các Phật tam thế cùng lối pháp Vô thượng chính đẳng chính giác đều xuất xứ ở kinh Kim cương‹, thế chẳng là ›Mẹ của Phật‹ hay sao?« Sư thưa: »Quả thật đệ tử còn mê muội.« Huệ Nghiêm lại hỏi: »Thế kinh ấy ai thuyết.« Sư hỏi: »Chẳng phải là lời thuyết pháp của Như Lai hay sao?« Huệ Nghiêm nói: »Trong kinh nói ›Nếu nói Như Lai có thuyết pháp gì thì phỉ báng Như Lai.‹ Câu ấy người ta không giải được. Cái nghĩa ta vừa nói, ngươi cứ thử nghĩ xem, nếu nói kinh ấy không phải là lời thuyết pháp của Phật thì thế là phỉ báng kinh; nếu lại nói đúng là những lời thuyết pháp của Phật lại là phỉ báng Phật. Sao ngươi lại cứ muốn ta trả lời ngay?« Sư suy nghĩ, muốn hỏi thêm, Huệ Nghiêm bèn cầm Phất tử đánh vào miệng. Sư ngay đây tỉnh ngộ, bèn sụp lạy.|Sau, Sư đến trụ trì chùa Kiến Dương giáo hoá tông đồ. Năm Bính Tuất, niên hiệu Ðường Thuỳ Cung thứ hai (686), Sư quy tịch.
; 清辯; S: bhāvaviveka, bhavya; C: qīngbiàn; J: shōben;|Một Luận sư quan trọng của tông Trung quán (s: mādhyamika), sống khoảng giữa 490 và 570. Sư sinh tại Nam Ấn Ðộ, theo học giáo lí của Long Thụ (nāgārjuna) tại Ma-kiệt-đà (magadha). Sau đó Sư trở về quê hương và trở thành một luận sư danh tiếng. Trong các tác phẩm được dịch ra chữ Hán và chữ Tây Tạng (phần lớn của nguyên bản Phạn ngữ đã thất truyền), Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra) là đối tượng bị Sư chỉ trích. Là người sáng lập hệ phái Trung quán-Y tự khởi (中觀依自起; mādhya-mika-svātantrika, cũng được gọi là Độc lập luận chứng phái 獨立論證派), một trong hai trường phái của Trung quán, Sư cũng đả kích Phật Hộ (s: buddhapālita), người sáng lập hệ phái Trung quán-Cụ duyên (中觀具緣; prāsaṅgika-mādhyamika) bằng một phương pháp suy luận biện chứng trên cơ sở nhân minh học (s: hetuvidyā), Nhận thức học (s: pramāṇavāda). Vào thế kỉ thứ 8, trường phái của Sư được Tịch Hộ (s: śānta-rakṣita) biến thành phái Trung quán-Duy thức (mādhyamika-yogācāra).|Các trứ tác của Sư (trích): 1. Ðại thừa chưởng trân luận (mahāyānatālaratnaśāstra), Huyền Trang dịch; 2. Bát-nhã đăng luận thích (prajñāpradīpa, cũng có tên prajñāpradīpa-mūlamadhyamaka-vṛtti), Ba-la-phả Mật-đa dịch; 3. Trung quán tâm luận tụng (madhyamakahṛdayakārikā), Tạng ngữ; 4. Trung quán tâm quang minh biện luận (madhyamaka-hṛdaya-vṛttitarkajvālā), chú giải Trung quán tâm luận tụng (madhyamakahṛdayakārikā), Tạng ngữ; 5. Trung quán nhân duyên luận (madhyamikapratītya-samutpāda-śāstra), Tạng ngữ; 6. Nhập trung quán đăng luận (madhyamakāvatārapradīpa), Tạng ngữ; 7. Nhiếp trung quán nghĩa luận (madhyamārtha-saṃgraha), còn bản Tạng ngữ và Phạn ngữ; 8. Dị bộ tông tinh thích (nikāyabheda-vibhaṅgavyākhyāna), chỉ còn lưu lại trong Tạng ngữ, nói về các tông phái phật giáo sau khi Phật diệt độ đến thời Thanh Biện, rất giống Dị bộ tông luân luận (samayabhedavyū-hacakraśāstra) của Thế Hữu (vasumitra).
thanh biện
Bhàvaviveka (S). A noted Buddhist philosopher circa AD 600, a follower of Nàgàrjuna.
; Bhavaviveka (skt)—Bà Tỳ Phệ Da, một luận sư nổi tiếng (đồng thời với Bồ Tát Hộ Pháp, nhưng bác bỏ thuyết hữu tông của Hộ Pháp), là đệ tử của ngài Long Thọ. Ngài là người cùng thời với Phật Hộ, nhưng trẻ tuổi hơn. Ngài cho rằng , chỉ nêu ra sự sai lầm không chưa đủ, mà còn phải đề ra tự y luận chứng, hoặc luận chứng độc lập hợp lý để khiến kẻ đó phải im tiếng. Ngài đã viết bộ Đại Thừa Chưởng Trân Luận, Trung Quán Tâm Luận, và Trung Luận Yếu Chỉ để chú giải Trung Luận của Ngài Long Thọ—A noted Buddhist philosopher, around 60 A.D., a follower of Nagarjuna. Bhavaviveka was a junior contemporary of Buddhapalita. He maintained that the opponent should not only be reduced to absurdity, but svatantra or independent logical arguments should also be advanced to silence him. He wrote Mahayana-Karatala-ratna sastra, Madhyamikahrdaya with an auto commentary called Tarkajvala, Madhyamartha-Samgraha and Prajna-pradipa, a commentary on the Madhyamaka Sastra of Nagarjuna.
; (清辨) Phạm: Bhàvaviveka, Bhavya. Hán âm: Bà tì phệ già, Bà tì bệ ca. Cũng gọi Minh biện, Phân biệt minh. Cao tăng Ấn độ sống vào thế kỉ VI, Luận sư của học phái Trung quán thuộc Phật giáo Đại thừa tại Nam Ấn độ. Có thuyết cho rằng sư thuộc Vương tộc nước Mạt lợi da na (Phạm: Malyara)ở Nam Ấn độ; lại có thuyết nói sư thuộc chủng tính Sát đế lợi ở nước Ma già đà. Sư từng đến Trung Ấn độ thờ ngài Tăng hộ (Phạm: Saôgharakwita) làm thầy, chuyền cần tu học kinh điển Đại thừa và giáo thuyết của bồ tát Long thụ (Phạm:Nàgàrjuna). Sau, sư trở về Nam Ấn độ tuyên dương nghĩa Không mở màn cho cuộc tranh luận về Không, Hữu với ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla) thuộc tông Du già ở nước Ma yết đà. Ngài Hộ pháp thừa kế học thuyết của các bồ tát Vô trước, Thế thân, chủ trương Hữu là tận cùng của không, ngài Thanh biện thì noi theo học thuyết của bồ tát Long thụ, chủ trương Không là tận cùng của Hữu, 2 bên bác bỏ nhau và thành tựu cho nhau. Hoặc truyền thuyết cho rằng sau khi trở về Nam Ấn độ, sư chủ trì hơn 50 ngôi già lam, tuyên thuyết giáo pháp, soạn Trung luận thích, bác bỏ thuyết của ngài Phật hộ (Phạm:Buddhapàlita), cũng là người thuộc học phái Trung quán, cứ xem Bát nhã đăng luận thích của sư thì thấy ý kiến của sư trái với quan điểm của ngài Phật hộ. Về già, sư ở ẩn trong núi phía nam nước Đà na yết trách ca, đọc tụng chân ngôn rồi thị tịch. Sư soạn các tác phẩm: Luận Đại thừa chưởng trân 2 quyển, Bát nhã đăng luận thích 15 quyển, Trung quán tâm luận tụng (đã được truyền đến Tây tạng). [X. luận Biện chính Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; điều Đà na yết trách ca quốc trong Đại đường tây vực kí Q.10; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập Q.5; Ấn độ triết học nghiên cứu 5; The Conception of BuddhistNirvàna by Th. Stcherbatsky].
thanh biện bồ tát
Bhāvaviveka (S) Phân biện minh Bồ tát, Bà tì phệ già Đệ tử Tăng Hộ Bồ tát.
Thanh Biện 清辯
[ja] ショウベン Shōben ||| Bhāvaviveka, also known as Bhavya, ca. 490-570. An influential Mādhyamika 中觀派 scholar. He was originally from South India, but came to Magadha to study the Middle Way teachings of Nāgārjuna 龍樹. He was known for his usage of positive dialectic to support the theory of emptiness. In this he was distinguished from philosophical opponents such as Buddhapālita 佛護 and Candrakīrti 月稱, both of whom denied the validity of the use of logical propositions which ended up affirming any sort of positive position. Bhāvaviveka's position would be form the basic theme for a branch of Mādhyamika which later developed in the eighth century, called Svātrantika (dulilunzhengpai 獨立論證派). Among his major works are the Zhongguan xinlun song 中觀心論頌, Zhonglunzhu panruodenglun 中論注般若燈論 and the Dasheng zhangzhenlun 大乘掌珍論 => (s: Bhāvaviveka, Bhavya; 490-570). Một cao tăng học giả có ảnh hưởng của Trung quán phái. Sư xuất thân từ miền Nam Ấn Độ, nhưng đến Ma-kiệt-đà để nghiên cứu giáo lý Trung quán của Long Thụ (龍樹s: Nāgārjuna). Sư nổi tiếng vì lối sử dụng pháp biện chứng khẳng định để chứng minh cho học thuyết Tính không. Trong lĩnh vực nầy, sư tỏ ra xuất sắc so với các triết gia đối thủ như Phật Hộ (s: Buddhapālita 佛護) và Nguyệt Xứng (s: Candrakīrti 月稱), cả hai đều phủ nhận giá trị trong việc sử dụng tiền đề luận lý học để kết thúc bất kỳ lập trường khẳng định nào. Quan điểm của Phật Hộ sẽ trở thành chủ đề căn bản của một chi nhánh Trung quán mà về sau được phát triển vào thế kỷ thứ 18, gọi là Độc lập luận chứng phái (獨立論證派s: Svātrantika; c: dulilunzhengpai). Trong các tác phẩm quan trọng của sư có Trung quán tâm luận tụng (c: Zhonglunzhu panruodenglun 中論注般若燈論), Trung quán chú Bát-nhã chứng luận (c: Zhonglunzhu panruodenglun 中論注般若燈論 ) và Đại thừa chưởng trân luận (c: Dasheng zhangzhenlun 大乘掌珍論).
thanh bình
Tranquil—Quiet—Calm—Peaceful.
thanh bình linh tuân
Ching ping Ling tsun (C).
thanh bạch
Pure and white, pure white, as Buddha-truth, or as pure goodness.
; Pure—Honest—Pháp do Đức Phật thuyết ra làm sáng tỏ mọi thiện pháp vô lậu, làm cho người nghe có khả năng rời bỏ phiền não ô trược—Pure and white, as the Buddha-truth, or as pure as goodness.
; (清白) Pháp thanh bạch, nghiệp thanh bạch. Chỉ cho giáo pháp do đức Phật hiển bày, cũng chỉ chung cho các thiện pháp vô lậu. Thanh bạch có nghĩa là xa lìa các phiền não cấu nhiễm. Trong phẩm Tựa của kinh Pháp hoa, Thanh bạch được xếp vào 1trong 7 thiện pháp. [X. kinh Như huyễn tam muội Q.hạ; kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
thanh bần
Poor but unsullied
thanh ca sa
(青袈裟) Chỉ cho áo ca sa mà vị tiểu sư nối pháp, thị giả... mặc khi cử hành Phật sự treo chân dung(ảnh) và nghi thức Cử ai(khóc) vào ngày thứ 3 sau khi vị Trụ trì thị tịch. Vì áo ca sa này màu xanh nên gọi là Thanh ca sa. [X. chương Thiên hóa trong Hoàng bá thanh qui].
Thanh Chuyết Chánh Trừng
(清拙正澄, Seisetsu Shōchō, 1274-1339): vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Phá Am (破庵), thuộc Lâm Tế Tông, vị Tổ khai sáng Phái Đại Giám (大鑑派), hiệu là Thanh Chuyết (清拙), ngoài ra còn có hiệu khác là Tất Cánh Diệt (畢竟滅), thụy hiệu là Đại Giám Thiền Sư (大鑑禪師); người vùng Phúc Châu (福州, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), họ là Lưu (劉). Năm 15 tuổi, ông theo xuất gia với người bác mình là Nguyệt Khê Viên (月溪圓) ở Báo Ân Tự (報恩寺), năm sau thì thọ Cụ Túc Giới ở Khai Nguyên Tự (開元寺). Ông đến tham vấn ở pháp tịch của Cổ Sơn Bình Sở Tủng (鼓山平楚聳), rồi đến Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở vùng Triết Giang bái yết Ngu Cực Trí Tuệ (愚極智慧), và sau khi Ngu Cực qua đời thì ông kế thừa dòng pháp của Phương Sơn Văn Bảo (方山文寶). Về sau, ông cũng đã từng đến tham học ở các nơi như Hổ Nham (虎巖) tại Linh Ấn Tự (靈隱寺), Đông Nham (東巖) tại Dục Vương Sơn (育王山), Nguyệt Đình (月庭) ở Tương Sơn (蔣山), cũng như Hư Cốc Hy Lăng (虛谷希陵) ở Ngưỡng Sơn (仰山). Sau đó, ông bắt đầu hóa đạo ở Kê Túc Sơn (雞足山), chuyên tâm báo đáp ơn pháp nhũ của Ngu Cực Trí Tuệ. Đến năm thứ 3 (1326) niên hiệu Thái Định (泰定), nhận lời mời của dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō), ông cùng với người đệ tử Vĩnh Kỳ (永錤) sang Nhật Bản. Thể theo lời thỉnh cầu của Tướng Quân Bắc Điều Cao Thời (北條高時, Hōjō Takatoki), ông đến sống tại Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji). Sau đó, ông đã từng sống qua ở hai chùa Tịnh Trí (淨智) và Viên Giác (圓覺), nhưng sau ông lại trở về dựng ngôi thảo am lấy tên Thiền Cư Am (禪居庵) ở trong khuôn viên Kiến Trường Tự mà sống. Vào năm thứ 3 (1333) niên hiệu Nguyên Hoằng (元弘), ông chuyển đến Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) ở vùng Kinh Đô Kyoto, rồi Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji). Sau đó, nhận lời thỉnh cầu của vị thí chủ Tiểu Lạp Nguyên Trinh Tông (小笠原貞宗), ông đến làm Tổ khai sơn Khai Thiện Tự (開善寺, Kaizen-ji) ở vùng Y Hạ Lương (伊賀良) thuộc Tín Nùng (信濃, Shinano, thuộc Nagano-ken [長野縣]). Nhưng sau ông lại rút lui khỏi đây mà trở về Thiền Am Cư. Tiếp theo sau đó, nhận sắc chỉ của triều đình, lần thứ hai ông trở về sống ở Kiến Nhân Tự, và đến ngày 17 tháng giêng năm thứ 2 niên hiệu Ứng Lịch (應曆), ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi đời và 53 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Giám Thiền Sư. Trước tác của ông để lại có Thanh Chuyết Hòa Thượng Ngữ Lục (清拙和尚語錄), Đại Giám Thanh Quy (大鑑清規), Đại Giám Tiểu Thanh Quy (大鑑小清規), Thanh Chuyết Hòa Thượng Thiền Cư Tập (清拙和尚前居集), Vô Môn Quan Chú (無門關註). Đông Lăng Vĩnh Dư (東陵永璵) soạn bài Thanh Chuyết Đại Giám Thiền Sư Tháp Minh (清拙大鑑禪師塔銘).
thanh chuyết hoà thượng thiền cư tập
(清拙和尚禪居集) Gọi tắt: Thiền cư tập. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thanh chuyết Chính trừng soạn vào cuối đời Tống, ngài Vĩnh kì biên tập. Thiền cư là tên ngôi am ở chùa Kiến nhân tại Nhật bản, nơi ngài Chính trừng ở ẩn. Sách này lấy các trứ tác của ngài Chính trừng khi còn ở Trung quốc làm thiên trước, sưu tập các trứ tác của ngài sau khi sang Nhật bản thành 1 thiên và gom các trứ tác lặt vặt khác vào cuối quyển. Nội dung gồm các phần: Chư thể hỗn, Phật tổ tán, Tự tán, Tiểu Phật sự, Đề bạt, Minh, Kí, Tự, Tự thuyết, Sớ, Tế văn...
thanh châu bách vấn
(青州百問) Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng tông Tào động đời Tống tên là Nhất biện (1081 -1149) hỏi, ngài Từ vân giác đáp, ngài Lâm tuyền Tòng luân phụ thêm kệ tụng, được thu vào Vạn tục tạng tập 119. Khi Hòa thượng Nhất biện chùa Phổ chiếu ở Thanh châu, trụ trì chùa Đại vạn thọ ở Yên kinh, khoảng năm Tuyên hòa (1119-1125), ngài nhóm họp tăng chúng khắp nơi, thử dùng sự khám nghiệm trong thất để nêu rõ tông cương, đặt ra 100 câu hỏi dạy chúng. Trong chúng có ngài Từ vân giác ở chùa Thập thân lần lượt trả lời từng câu hỏi một. Về sau, ngài Lâm tuyền Tòng luân làm thêm 1 bài tụng sau mỗi câu hỏi đáp. Sách này và bộ Thung dung lục có chung một hình thức, đều là tập Công án của tông Tào động. Người đời sau thường gọi chung tác phẩm này và bộ Thông huyền bách vấn của ngài Thông huyền Viên thông – học trò ngài Nhất biện – là Thông huyền Thanh châu nhị bách vấn và được lưu hành song song.
thanh chúng
(清衆) Cũng gọiThanh tịnh đại hải chúng, Thanh tịnh chúng. Chỉ cho giáo đoàn xuất gia, hoặc đại chúng tu hành trong tùng lâm. Cũng như 4con sông lớn ở Ấn độ, khi chảy ra biển cả thì mất tên sông cũ mà đều là nước biển; tỉ khưu xuất gia cũng bỏ tên hiệu và dòng họ trước kia, không phân biệt sang hèn, trên dưới, đều trở thành đại chúng thanh tịnh, một lòng cầu đạt giải thoát.
thanh chơn giáo
Mahometism Xem Islamism Xem Hồi giáo
thanh cánh quan âm
Xem Thanh Cảnh Quán Thế Âm.
thanh cư
Seikyo (J) Tên một vị sư.
thanh cảnh
Śabda-visaya (S) Thinh cảnh.
thanh cảnh quan âm
(青頸觀音) Thanh cảnh, Phạm: Nìlakaịỉha. Hán âm: Ni la kiện thác, Nễ la kiến chế. Cũng gọi Thanh cảnh Quán tự tại bồ tát. Một trong các hóa thân của bồ tát Quán âm, tức vị Quán âm thứ 14 trong 33 vị Quán âm. Nếu chúng sinh nào niệm danh hiệu của vị Quán âm này thì xa lìa sự sợ hãi ách nạn, thoát khỏi các khổ. Pháp tu thờ vị tôn này làm Bản tôn để cầu trừ bệnh, diệt tội, sống lâu... gọi là Thanh cảnh Quán âm pháp. Về hình tượng, cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 9, vị tôn này ngồi kiết già, tay trái cầm hoa sen, bàn tay phải đưa lên. Còn theo Thanh cảnh Quán âm niệm tụng nghi quĩ thì hình tượng tôn vị này có 3 hoặc 4 tay, cầm bốn vật là gậy, hoa sen, bánh xe và vỏ ốc, thân màu trắng hồng, cổ màu xanh (thanh cảnh), biểu trưng ý nghĩa phiền não chính là bồ đề. Hình Tam muội da là hoa sen, hoặc bánh xe báu, chủng tử là (sa). Theo kinh Bất không quyên sách quyển 4 thì ấn khế của vị tôn này là chấp tay để rỗng lòng bàn tay, 2 ngón cái co lại để trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ mỗi ngón úp lên lóng thứ nhất của ngón cái, các ngón giữa, ngón vô danh và ngón út của 2 tay đều hơi co và chấm đầu ngón vào nhau. Chân ngôn là: Án (oô) bát đầu mễ (padme, hoa sen), nễ la kiến chế (nìlakaịỉha, cổ xanh) thấp phạ ra (zvara, tự tại), bộ rô bô (bharu bharu) hồng (hùô). [X. kinh Thanh cảnh Quán tự tại bồ tát tâm đà la ni; Kim cương đính du già Thanh cảnh đại bi vương Quán tự tại niệm tụng nghi quĩ].
thanh cảnh quán âm bồ tát
Nīlakantha (S), Nīlakanthi (S) Tên một vị Bồ tát.
Thanh cảnh 聲境
[ja] ショウキョウ shōkyō ||| (śabda-visaya). 'Sound.' One of the five classes of sense objects. In consciousness-only, an aspect of the auditory consciousness 耳識. The object of the hearing faculty. => (s: śabda-visaya) Một trong 5 loại của trần cảnh (đối tượng của các giác quan). Trong giáo lý Duy thức, đó là một yếu tố của Nhĩ thức, đối tượng của Nhĩ căn.
thanh danh
Renown—Fame—Reputation.
thanh diện kim cang
Vị Thiên vương mặt xanh, làm hộ pháp cho Phật giáo, vua của các loài Dạ Xoa, miệng lúc nào cũng mở to, có móng chó, ba mắt, đeo sọ người trên đầu và đeo rắn trên chân—The blue-faced raja, protector of Buddhism, king of the yaksas, with open mouth, dog's fangs, three eyes, four arms, wearing skulls on his head, serpents on his legs.
thanh diện kim cương
(青面金剛) Cũng gọi Đại thanh diện kim cương, Thanh sắc đại kim cương dược xoa. Chỉ cho thần Dược xoa. Cứ theo Đại thanh diện kim cương chú pháp trong kinh Đà la ni tập quyển 9, vị tôn này thân màu xanh, có 4 tay, tay trên bên trái cầm cây xoa 3 chĩa, tay dưới bên trái cầm gậy; tay trên bên phải nâng 1 bánh xe, tay dưới bên phải cầm vòng dây lụa; há to miệng, nhe răng nanh trên, 3 mắt đỏ như máu, đội đầu lâu, tóc có màu đỏ rực như tia lửa, dựng lên tua tủa, trên đầu quấn 1 con rắn lớn, mỗi cổ tay có 1 con rồng, đầu rồng hướng vào nhau, quanh lưng quấn 2 con rắn to, màu đỏ, cây gậy cầm tay cũng quấn con rắn to; mặc quần đùi may bằng da hổ(cọp), mỗi chân đạp 1 con quỉ. Ở 2 bên tượng của vị tôn này đều có đồng tử mặc áo màu xanh, tóctết thành 2 búi trên chỏm đầu, tay bưng lò hương. Ấn tướng của vị tôn này có 14 loại như Lập thân ấn, Câu ấn..., trong đó Lập thân ấn, kết như sau: Dựng đứng 3 ngón tay trái, ngón cái bấm vào đầu móng của ngón út, dùng 4 ngón hướng về phía trước chống vào eo; 5 ngón tay phải ấn lên mặt và mặt lộ vẽ giận dữ. Về chân ngôn thì có Đại chú, Tâm chú, Lập thân chú... trong đó chú Lập thân thường được dùng nhiều hơn. Xưa nay, người ta thường lẫn lộn Thanh diện kim cương với thần Canh thân và cho rằng Thanh diện kim cương là bản địa của thần Canh thân, đồng thời, việc cúng tế vị tôn này rất thịnh hành. Điều Thủ canh thân thuyết trong Chư hồi hướng bảo giám quyển 3 tức là phê bình việc trà trộn sai lầm này. [X. Thanh sắc đại kim cương dược xoa tịch quỉ ma pháp; Khê lam thập diệp tập Q.35].
thanh dung phu nhân
Priyadarsika (S).
thanh duyên
See Thanh Văn, and Duyên Giác in Vietnamese-English Section.
; (聲緣) Cũng gọi Thanh độc. Từ gọi chung Thanh văn thừa và Duyên giác thừa. Thanh văn chỉ cho người lắng nghe tiếng thuyết giáo của đức Phật mà hiểu rõ lí 4 đế, đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, nhập Niết bàn. Duyên giác chỉ cho người quán xét lí 12 nhân duyên mà đoạn hoặc chứng lí, hoặc nhân cảnh duyên bên ngoài như hoa rơi, lá rụng mà tự thấy lẽ vô thường, nhờ đó mà đoạn hoặc chứng lí. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.17]. (xt. Duyên Giác, Thanh Văn).
thanh dương
Clear and resonant.
thanh dương giáo
(青陽教) Tông giáo dân gian xuất hiện vào khoảng năm Càn long (1736-1795) đời vua Cao tông nhà Thanh, Trung quốc. Vào ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, đốt hương và tụng niệm lời ca: Phụng mẫu thân mệnh tổ vạn thiên, An nhiên lập địa tổng thâu nguyên. Thế phụ hoàn kết lập hậu thế, Chân kinh nữ tử bảo đoàn viên. (Kính dâng lên mẹ muôn lời, Người đã sinh ra trời đất. Thay cha tạo dựng đời sau, Con cháu xum vầy hạnh phúc). Mỗi buổi sáng thành tâm lễ bái mặt trời (thanh dương), cầu tai qua nạn khỏi và các khổ luân hồi, đời sau được sinh làm người tốt đẹp.
Thanh Dục
(聲欲) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người ở Lâm hải, Thai châu (tỉnh Chiết giang), họ Chu, tự Liễu am, hiệu là Nam đường. Năm lên 9 tuổi, sư mồ côi cha, năm 16 tuổi, sư theo ngài Hổ nham Tịnh phục xuất gia, thi kinh được đậu. Nhờ sự khuyên bảo của Hi bạch Minh tạng chủ, sư đến chùa Khai nguyên tại Tô châu tham yết ngài Cổ lâm Thanh mậu, khế ngộ và được nối pháp ngài. Niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), ngài Thanh mậu cho sư làm Nhập viện thị giả. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), sau khi ngài Thanh mậu thị tịch, sư lui về chùa Khai phúc ở Phiêu thủy. Niên hiệu Nguyên thống năm đầu (1333), sư dời đến chùa Bản giác ở Gia hưng, trụ 10 năm, người đương thời tôn sư là Đông nam đại pháp chàng, các sĩ đại phu đến hỏi đạo rất đông và được vua ban cho áo Kim lan với danh hiệu Từ Vân Phổ Tế Thiền Sư. Tháng 8 năm Chí chính 23 (1363), sư thị tịch, thọ 76 tuổi. Sư có các tác phẩm: Liễu am Thanh dục thiền sư ngữ lục 9 quyển, Tập khánh lộ Trung sơn khai phúc tự ngữ lục, Gia hưng lộ Bản giác thiền tự ngữ lục, Bình giang lộ Linh nham thiền tự ngữ lục, Si tuyệt hòa thượng thư ứng am sư tổ pháp ngữ.[X. Tống học sĩ toàn tập bổ di Q.3; Tăng tập tục truyền đăng lục Q.6; Ngũ đăng nghiêm thống Q.11; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.2; Mặc tích tổ sư truyện Q.thượng; Thiền lâm mặc tích giải thuyết (Điền sơn Phương nam)].
thanh dục
(聲欲) Làm thỏa mãn lỗ tai bằng các âm thanh như những lời nỉ non, nũng nịu, dịu dàng dễ thương, những lời khiêu gợi lòng dục ô nhiễm, những tiếng đàn sáo trầm bổng du dương, những giọng hát ngọt ngào ấm áp... 1 trong 5 dục. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 hạ]. (xt. Ngũ Dục).
Thanh giá
(聲價): bên cạnh ý nghĩa thanh danh và giá trị, nó còn có nghĩa là sự bình phẩm, mến chuộng, yêu thích. Cho nên trong cuốn Thượng Hàn Kinh Châu Thư (上韓荊州書) của Lý Bạch (李白) có đoạn rằng: "Nhất đăng Long Môn, thanh giá thập bội" (一登龍門、聲價十倍, Một lần lên Long Môn thì yêu thích gấp mười lần).
thanh giá
Danh giá—Fame and dignity.
thanh giác
(清覺) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tống, người ở Đăng phong, Lạc dương, họ Khổng, hiệu là Bản nhiên. Thủa nhỏ, sư theo Nho học. Năm 27 tuổi, sư xem kinh Pháp hoa liền phát tâm cầu Phật đạo, sư lễ ngài Tuệ hải chùa Bảo ứng ở núi Long môn tại Nhữ châu xin xuất gia. Sau đó, sư xuống miền Nam tham yết Hòa thượng Thiên tuế ở núi Nga mi tại Gia châu, rồi đến núi Phù sơn ở Thư châu lập am tĩnh tu trong 20 năm. Năm Nguyên hựu thứ 7 (1092), sư đến tỉnh Chiết giang, năm sau, đến chùa Linh ẩn ở Hàng châu tham yết ngài Viên minh đồng, theo chúng tu học. Về sau, người đến theo học ngày càng đông nên sư ra trụ ở am Bạch vân sơn phía sau chùa và đề xướng nghĩa mới, phỏng theo kinh Phật lập Tứ quả, Thập địa, cũng chia Đại thừa, Tiểu thừa, lấy việc bài bác Thiền tông làm mục đích. Sớm chiều trì tụng, tự mình cày cấy, người theo ngày càng đông, họ gọi sư là Bạch vân hòa thượng, Bạch vân đại sư, đồ đệ của sư tự xưng là Bạch vân thái, đó chính là Bạch vân tông. Sau, sư lại dời đến núi Long môn tại Dư hàng, lập am Phúc địa, phát triển dần thành chùa Bảo ứng, dùng Tam qui ngũ giới để dẫn dắt học chúng khắp nơi. Sư lại nhận lời thỉnh của tăng tục giảng kinh Hoa nghiêm ở chùa Chính tế. Bấy giờ, rất nhiều người bắt bẻ nghĩa mới của sư, sư bèn soạn Chứng tông luận, Tam giáo biên, Thập địa ca... để biện giải. Niên hiệu Đại quan năm đầu (1107), sư cất am Thập địa ở phố Thiên kim tại Hồ châu, kế đó đến núi Ô trình thanh cất am Xuất trần và cư ngụ ở đó. Bấy giờ, có Giác hải ngu... cho rằng thuyết của sư làm loạn chính đạo, trái triều chính, nên tố cáo lên các quan địa phương. Do đó, năm Chính hòa thứ 6 (1116), sư đến ẩn náu ở Ân châu tại Quảng nam. Năm Tuyên hòa thứ 2 (1120), 10 người đệ tử của sư do Chính bố dẫn đầu về kinh đô trình bày sự việc và xin tạ lỗi, sư mới được bỏ qua. Năm sau, sư thị tịch, thọ 79 tuổi. Đệ tử là Tuệ năng tuân theo di chúc an táng ở núi Nam sơn thuộc huyện Dư hàng, tháp tên là Bạch vân, viện hiệu là Phổ an, sau đổi là Phổ ninh. Sư có các tác phẩm: Chứng tông luận, Tam giáo biên, Chính hành tập, Sơ học kí, Thập địa ca. [X. Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.46; Thích thị kê cổ lược Q.4].
thanh giáo
Giáo pháp dạy bằng cách nói thành tiếng—Vocal teaching.
; (聲教) Giáo pháp nhờ âm thanh mà được giảng nói, vì thế gọi là Thanh giáo. Phật có lục trần thuyết pháp, đây chính là Thanh trần thuyết pháp. Ma ha chỉ quán quyển 7 hạ (Đại 46, 97 hạ) nói: ... Tức là Tiệm, Đốn, Bất định, Bí mật, Tạng, Thông, Biệt, Viên, nếu biết được ý này thì biết được sự khai hợp, hóa đạo của Thanh giáo. [X. Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ hành tông kí Q.1, thượng]. (xt. Thanh Trần Đắc Đạo).
thanh giáp
(青甲) Cũng gọi Thanh hành. Một trong các loại áo 7 điều (ca sa 7 nẹp). Tức giáp ca sa được may bằng những nẹp(điều)vải màu xanh, thường được các phàm tăng mặc. Nhật bản chia áo 7 điều thành 3 loại ca sa là Nạp, Giáp, Bình, trong đó, Giáp ca sa vì các nẹp(điều)nổi rõ lên, giống như những đường vân trên mai (giáp)rùa nên gọi là Giáp ca sa. Đường viền chung quanh Giáp ca sa có màu đen và căn cứ vào màu sắc khác nhau mà chia làm thanh giáp(màu xanh), lô giáp(màu vàng), tử giáp(màu tía) và xích giáp(ca sa màu đỏ). [X. Sơn môn tăng phục khảo].
thanh hiển luận
Abhivyakti-vada (S) Một tông của Phệ đà giáo.
thanh hoát quy sơn
(清豁歸山) Tên công án trong Thiền tông. Thanh hoát về núi. Tức Thiền sư Thanh hoát (?-972) ở viện Bảo phúc tại Chương châu đời Tống tự biết giờ lâm chung, trước khi tịch, sư đi qua cái cầu gai, có để lại bài kệ như sau (Đại 51, 384 trung). Thế nhân hưu thuyết lộ hành nan, Điểu đạo dương trường chỉ xích gian. Trân trọng trữ khê khê bạn thủy, Nhữ qui thương hải, ngã qui san. (Chớ nói đường đi lắm gian nan, Thẳng tắp, quanh co chỉ tấc gang. Chia tay bờ cỏ bên giòng nước, Biển cả bạn về, tớ lên ngàn). Ngàn(núi) tượng trưng cho bản lai diện mục, biểu thị ý nghĩa Thực tướng. [X. chương Bảo phúc Thanh hoát trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.22].
thanh hà
Vanksu or Vaksu (skt). • Dòng sông có nước trong xanh: The blue or clear river. • Dòng Oxus: The Oxus.
Thanh Hòa Thiên Hoàng
(清和天皇, Seiwa Tennō, tại vị 858-876): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, Hoàng Tử thứ 4 của Văn Đức Thiên Hoàng (文德天皇, Montoku Tennō), mẹ là Đằng Nguyên Minh Tử (藤原明子), tên là Duy Nhân (惟仁, Korehito), còn gọi là Thủy Vĩ Đế (水尾帝). Khi ông lên ngôi còn nhỏ tuổi, nên ông ngoại là Đằng Nguyên Lương Phòng (藤原良房, Fujiwara-no-Yoshifusa) làm Nhiếp Chính. Ông quy y theo Phật Giáo và xuất gia năm 879 (niên hiệu Nguyên Khánh [元慶] thứ 3), với pháp húy là Tố Chơn (素眞).
Thanh Hư Đại Đế
(清虛大帝): một trong Tam Quan (三官), là Địa Quan Đại Đế (地官大帝), gọi đủ là Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế (中元赦罪地官二品清虛大帝), Trung Nguyên Nhị Phẩm Xá Tội Địa Quan Thanh Hư Đại Đế (中元二品赦罪地官清虛大帝); lệ thuộc Thượng Thanh Cảnh (上清境). Địa Quan do khí nguyên động hỗn linh hòa với tinh màu vàng kết thành, chủ quản tất cả các cõi thần tiên của Ngũ Đế, Ngũ Nhạc. Ngày đản sanh của vị này là Rằm tháng Bảy. Vào ngày này, Địa Quan xuống nhân gian, chỉnh đốn tội phước và ân xá tội cho người; nên được gọi là Địa Quan Xá Tội (地官赦罪).
thanh hải mạn đồ la
(清海曼荼羅) Cũng gọi Siêu thăng tự mạn đồ la. Một trong các Mạn đồ la Tịnh độ. Thanh hải là tên vị tăng người Nhật bản ở chùa Siêu thăng tại Đại hòa, sống vào giữa thời đại Bình an, Nhật bản. Theo truyền thuyết, Thanh hải mạn đồ la là Tịnh độ biến tướng do bồ tát Quan âm chùa Thanh thủy trao cho ngài Thanh hải, nhưng bản gốc đã bị thất lạc. Thanh hải mạn đồ la được cất giữ ở chùa Cực lạc tại Nại lương hiện nay là tác phẩm được vẽ lại vào đầu thời đại Liêm thương. Bức vẽ này giống như Trí quang mạn đồ la, nhưng phức tạp hơn. Ngoài ra cũng có rất nhiều bản mô tả theo Thanh hải mạn đồ la.
Thanh Học
清學; C: qīngxué; J: shōgaku; K: ch'ŏnghak, 1570-1654.|Thiền sư Triều Tiên. Tác giả của Vịnh nguyệt đường đại sư văn tập (詠月堂大師文集; k: yŏngwŏldang taesa munjip).
Thanh Học 清學
[ja] ショウガク Shōgaku ||| Ch'ŏnghak (1570-1654) Chosŏn Sŏn monk. Author of the Yŏngwŏldang Taesa munjip 詠月堂大師文集. => (k: Ch'ŏnghak; j: Shōgaku ; 1570-1654) Thiền sư Triều Tiên. Tác giả của Vịnh nguyệt đường Đại sư văn tập (Yŏngwŏldang Taesa munjip 詠月堂大師文集).
thanh khiết
Pure and clean.
thanh liêm
Upright—Honest.
Thanh Liên
(青蓮, Shōren, ?-?): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, húy là Thanh Liên (青蓮), thông xưng là A Ba Thượng Nhân (阿波上人), Bán Quyền Hiện (半權現); xuất thân vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣]). Ông xuất gia lúc 7 tuổi, học về Mật Giáo, thông đạt pháp môn Du Già, từng đến tham bái đền thờ Hùng Dã (熊野, Kumano) và đạt ngộ. Vào năm 1114, ông gặp được Giác Noan (覺鑁) tại Căn Bản Đại Tháp trên Cao Dã Sơn, và kết tình đạo lữ. Đến cuối đời, ông lập Thanh Liên Viện (青蓮院) và lui về ẩn cư, chuyên tâm tu niệm.
Thanh liên
(青蓮): hoa sen xanh, từ ý dịch của Ưu Bát La (s: utpala, p: uppala, 優鉢羅), hay Ô Bát La (烏鉢羅), Âu Bát La (漚鉢羅), Ưu Bát Lạt (優鉢剌), Ôn Bát La (殟鉢羅); tên khoa học là Nymphaca tetragona. Bên cạnh đó, nếu thêm tính từ nīla vào, ta có loại hoa sen xanh khác tên nīlotpala (Nê Lô Bát La [泥廬鉢羅], loại hoa của Bồ Tát Văn Thù [s: Mañjuśrī, 文殊) hay cầm). Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄贊) quyển 1 ghi rằng: “Ôn Bát La hoa vi thanh liên hoa (殟鉢羅華爲青蓮華, Ôn Bát La hoa là hoa sen xanh)”. Huyền Ứng Âm Nghĩa (玄應音義) quyển 3 gọi loại hoa này là Đại Hoa (黛花, hoa xanh đậm). Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) quyển 15 cho biết loài hoa này có hai màu: đỏ và trắng; bên cạnh đó còn có loại không đỏ không trắng, hình như hoa Nê Lô Bát La. Do đó, phần lớn hoa Ưu Bát La được xem là có màu xanh, hơn nữa màu này rất nổi bật và khác lạ. Lý Bạch (李白, 701-762), đại thi hào theo chủ nghĩa lãng mạn, sống dưới thời nhà Đường, cũng có hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ (青蓮居士). Trong bài Túc Long Hưng Tự (宿龍興寺) của Kì Vô Tiềm (綦毋潛, 691-756) nhà Đường có câu: “Hương sát dạ vong quy, tùng thanh cổ điện bài, đăng minh Phương Trượng thất, châu hệ Tỳ Kheo y, bạch nhật truyền tâm tĩnh, thanh liên dụ pháp vi, thiên hoa lạc bất tận, xứ cứ điểu hàm phi (香剎夜忘歸、松青古殿扉、燈明方丈室、珠繫比丘衣、白日傳心靜、青蓮喻法微、天花落不盡、處處鳥銜飛, hương ngát đêm quên về, tùng xanh cửa điện xưa, đèn sáng Phương Trượng thất, châu buộc Tỳ Kheo y, ban ngày truyền tâm lắng, sen xanh dụ pháp quy, hoa trời rơi bất tận, chốn chốn chim tha đi).”
thanh liên
Upala (S), Cyan lotus Uất ba la.
; Utpala (S). Blue lotus.
; Utpala (skt)—Ưu Bát La—Hoa sen xanh—Blue lotus.
thanh liên giáo
(青蓮教) Cũng gọi Ngũ hành thập địa Phật giáo. Tông giáo dân gian ở Trung quốc xuất hiện khoảng năm Gia khánh (1796-1820) đời vua Nhân tông nhà Thanh. Tông giáo này tôn thờ Tổ sư Đạt ma và Vô sinh lão mẫu, tụng niệm kinh Vô thượng phẩm, thực hành nghi thức tam qui, ngũ giới, tuyên truyền các đại kiếp thủy(nước dâng), binh(chiến tranh), đao(giết chóc lẫn nhau) và hỏa(nạn lửa đốt)... sẽ đến. Người trong tông giáo này được chia làm 3 hạng: 1. Thanh gia: Chỉ cho những người ăn chay.2. Hồng gia: Chỉ cho những người không ăn chay. 3. Lí gia: Chỉ cho những người theo việc vũ lực. Tông giáo này thịnh hành ở các vùng như Tứ xuyên, Thiểm tây, Hồ nam, Hồ bắc... Năm Đạo quang 25 (1845), các giáo đồ từng tổ chức cuộc nổi dậy ở tỉnh Tứ xuyên.
thanh liên long vương
Utpalaka (S) Ưu ba la Long vương Một trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương.
thanh liễu chơn yết thiền sư
Thiền sư Thanh Liễu Chơn Yết sanh năm 1089 tại tỉnh Tứ Xuyên. Sư xuất gia năm mười một tuổi, đến năm mười tám tuổi sư thi đậu Kinh Pháp Hoa. Sau đó sư tiếp tục đi đến Thành Đô tiếp tục học tập kinh điển—Xing-Liao-Zhen-Yieh was born in 1089 in Si-Chuan province. He left home at the age of eleven and passed his scriptural examinations on the Lotus Sutra at the age of eighteen. He then traveled to Cheng-Tu, where he continued his scriptural study. • Một lần trên đường vân du, sư gặp thiền sư Đơn Hà. Đơn Hà hỏi sư: “Thế nào là chính mình trước không kiếp?” Sư suy nghĩ để trả lời, thì Đơn Hà đã chận lại bảo: “Ngươi còn ồn ào thế sao, hãy đi đi!”—One time on the way of traveling, he met Tan-Xia. Tan-Xia asked him: “What is the self before the empty eon?” When Xing-Liao began to answer, Tan-Xia stopped him and said: “You are disturbed now. Go!” • Một hôm sư lên ngọn Bát-Vu, bỗng nhiên khế ngộ. Trên đường sư trở về gặp Đơn Hà, thì Đơn Hà đã biết, tát ông một cái và nói: “Đã nói là ông sẽ chạy về đây nói cho ta biết mà.” Sư lễ bái rồi lui ra. Hôm sau, Đơn Hà thượng đường nói kệ: “Nhật soi cô phong biếc, Nguyệt đến nước trong khe, Tổ sư huyền diệu quyết, Chớ hướng tất lòng an.” Nói xong Đơn Hà liền xuống tòa. Thanh Liễu bèn tiến đến trước tòa thưa: “Ngày nay đăng tòa lại chẳng lừa được con.” Đơn Hà hỏi: “Ngươi thử nhắc lại ngày nay ta đăng tòa xem?” Sư im lặng giây lâu. Đơn Hà bảo: “Sẽ nói ông khắp đất.” Sư liền đi ra. One day he went to nearby Bo-Yu Peak, he suddenly experienced enlightenment. Upon returning to see Tan-Xia, his teacher immediately knew what had transpired. Before Tan-Xia could speak, Tan-Xia slapped him saying: “You were going to tell me what you know!” He bowed and retreated. The next day, Tan-Xia entered the hall and said to the monks this verse: “The sun shines on a solitary green peak, The moon reflects in the cold creek water. The sublime mystery of the ancestors, Is not found in the small mind.” Tan-Xia then got down from the seat. Xing-Liao came forward and said: “A talk like the one you gave today won't deceive me again.” Tan-Xia said: “Then explain it to me and we will see if you understand.” Xing-Liao was silent. Tan-Xia said: “I will say you caught a glimpse of it.” Xing-Liao then went out. • Có vị Tăng hỏi: “Chư Phật ba đời nhằm trong đống lửa xoay bánh xe đại pháp, lại quả thực đấy chăng?”Thanh Liễu bảo: “Ta lại nghi đấy.” Vị Tăng bảo: “Hòa Thượng vì sao lại nghi?” Sư đáp: “Hoa đồng thơm đầy đất, chim rừng chẳng biết thơm.”—A monk asked Xing-Liao: “All the Buddhas in the three worlds have turned the great wheel of Dharma into the flames. Has this ceased or not?” Xing-Liao laughed out loud and said: “I have doubts about it.” The monk said: “Master, why do you have doubts about this?” Xing-Liao said: “The fragrance of wild flowers fills the road. The secluded bird does not know it's spring.” • Vị Tăng thưa: “Chẳng rơi phong thể lại nhận chuyên thân hay không?” Sư đáp: “Chỗ đi người đá chẳng đồng công.”—A monk asked: “Without letting go of wind and color, is it still possible to pivot oneself or not?” Xing-Liao said: “Whre the stone person walks, there is no other activity.” • Một hôm sư vào nhà trù xem làm bún, chợt thùng thông lủng đáy. Tăng chúng la hoảng: “Uổng lắm!” Sư bảo: “Thùng thông lủng đáy tự nên vui mừng, vì sao lại phiền não?” Tăng chúng thưa: “Hòa Thượng thì được.” Sư nói: “Quả thực đáng tiếc một thùng bún.”—One day Xing-Liao went into the kitchen and saw a pot of boiling noodles. Suddenly, the bottom fell out of the pot. The monks there were crestfallen, saying: “Oh, what a waste!” Xing-Liao said: “An overturned bucket is a joy. Why are you disturbed?” the monks said: “The master can take delight in it.” Xing-Liao said: “Really, it's a shame to waste a pot of noodles!” • Thiền sư Thanh Liễu thị tịch năm 1151, ngài được vua ban danh hiệu “Ngộ Không Thiền Sư.”—Xing-Liao died in 1151. He received the posthumous name “Zen Master Enlightened Emptiness.”
Thanh Long
(青龍): tên gọi của cây đao báu được Quan Công thường đeo bên mình, còn gọi là Thanh Long Yển Nguyệt Đao (青龍偃月刀). Nhờ cây đao này, Quan Công đã từng tạo những chiến công hiển hách như chém Hoa Hùng (華雄), Phách Nhan Lương (劈顏良), Tru Văn Xú (誅文醜), v.v.; cho nên người Trung Quốc cũng thần thánh hóa và xem nó như là Tướng Quân Võ Thánh. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義), hai người con của Quan Công là Quan Hưng (關興) và Quan Sách (關索) cũng cầm cây đao này. Như trong bài thơ Quá Ngũ Quan Trảm Lục Tướng (過五關斬六將) có câu: “Quải ấn phong kim từ Hán tướng, tầm huynh diêu vọng viễn đồ hoàn, mã kỵ Xích Thố hành thiên lý, đao yển Thanh Long xuất ngũ quan (掛印封金辭漢相、尋兄遙望遠途還、馬騎赤兔行千里、刀偃青龍出五關, treo ấn niêm phong thôi Hán tướng, tìm anh xa tít muôn dặm đàng, cỡi ngựa Xích Thố đi vạn nẻo, Thanh Long đao xếp ra cửa quan).” Sau này, khi điêu khắc hay tạc vẽ hình tượng của Quan Công đều có hình tay cầm cây Thanh Long Yển Nguyệt Đao này. Ngoài ra, Thanh Long còn gọi là Thương Long (蒼龍). Trong truyền thống văn hóa của Trung Quốc, Thanh Long là một trong Tứ Tượng (四象). Căn cứ học thuyết Ngũ Hành, Thanh Long đại biểu cho loại linh thú ở phương Đông, là con rồng có màu xanh. Phương vị của sao này nằm ở phương Đông, đại biểu cho mùa Xuân. Trong 28 chùm sao theo quan niệm của Trung Quốc, Thanh Long là tên gọi chung của 7 ngôi sao ở phương Đông, gồm: Giác (角), Cang (亢), Để (氐), Phòng (房), Tâm (心), Vĩ (尾) và Ky (箕). Hình trạng của 7 ngôi sao này rất giống một con rồng. Trong phần Tạp Ứng (雜應) của Bão Phác Tử (抱朴子) có đề cập đến Tiên Kinh (仙經) chỉ dẫn cho cách khi vẽ hình Thái Thượng Lão Quân thì bên trái phải có 12 con Thanh Long, bên phải có 26 con Bạch Hổ, phía trước 24 con Châu Tước và phía sau là 72 Huyền Võ. Sau này, Tứ Tượng được nhân cách hóa và phong hiệu như vậy. Theo Bắc Cực Thất Nguyên Tử Diên Bí Quyết (北極七元紫延秘訣) cho biết rằng Thanh Long hiệu là “Mạnh Chương Thần Quân (孟章神君)”, Bạch Hổ hiệu “Giám Binh Thần Quân (監兵神君)”, Châu Tước là “Lăng Quang Thần Quân (陵光神君)” và Huyền Võ là “Chấp Minh Thần Quân (執明神君).” Trong cuốn Nhạc Dương Phong Thổ Ký (岳陽風土記) của Phạm Trí Năng (範致能) nhà Tống có đoạn rằng: “Lão Tử từ hữu nhị thần tượng, vị Thanh Long, Bạch Hổ dã (老子祠有二神像、謂青龍、白虎也, tại đền thờ Lão Tử có hai tượng thần là Thanh Long và Bạch Hổ).” Bên cạnh đó, trong Thường Thục Tư Chí (常熟私志), Thiên Thư Tự Quan (舒寺觀篇) của Diêu Tông Nghi (姚宗儀) cũng có ghi rằng: “Trí Đạo Quán sơn môn nhị đại thần, tả vi Thanh Long Mạnh Chương Thần Quân, hữu vi Bạch Hổ Giám Binh Thần Quân (致道觀山門二大神、左爲青龍孟章神君、右爲白虎監兵神君, đặt tại sơn môn của Đạo Quán hai tượng thần lớn, bên trái là Thanh Long Mạnh Chương Thần Quân, bên phải là Bạch Hổ Giám Binh Thần Quân).” Thái Thượng Hoàng Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 44 nhà Minh gọi 7 ngôi sao Thanh Long ở phương Đông là “Giác Tú Thiên Môn Tinh Quân (角宿天門星君), Cang Tú Đình Đình Tinh Quân (亢宿庭庭星君), Đê Tú Thiên Phủ Tinh Quân (氐宿天府星君), Phòng Tú Thiên Tứ Tinh Quân (房宿天駟星君), Tâm Tú Thiên Vương Tinh Quân (心宿天王星君), Vĩ Tú Thiên Kê Tinh Quân (尾宿天雞星君), và Ky Tú Thiên Luật Tinh Quân (箕宿天律星君)”. Về hình tượng của Thanh Long, Đạo Môn Thông Giáo Tất Dụng Tập (道門通敎必用集) quyển 7 có giải thích rằng: “Rồng nhả mây nuốt khí, phun sấm sét phát ra tiếng, bay khắp Tám Cực, chu du Tứ Minh.” Lại nữa, bộ Linh Cấp Thất Thiêm (靈笈七籖) quyển 72 có dẫn rằng: “Thanh Long là Giáp, Ất, Mộc, Thủy, Ngân ở phương Đông, lắng trong mà không chút gợn, quậy lên mà không đục, đến gần không thể lấy được, cách xa chẳng thể bỏ qua, tiềm tàng biến hóa vô tận, nên gọi là rồng”. Tục ngữ có câu rằng: “Nam tánh sanh thực khí vô âm mao, tại quá khứ dã khiếu thanh long (男性生殖器無陰毛、在過去也叫青龍, người nam sanh ra dương vật không có lông, tại vì đời trước gào thét Thanh Long).” Ngoài ra, dân gian thường cho rằng rồng có tánh dâm, nên khi nó hòa hợp với bò thì sinh ra kỳ lân, với con heo thì sinh ra con voi.
thanh long
Rồng xanh—Blue or green dragon.
thanh long sớ
(青龍疏) I. Thanh Long Sớ. Chỉ cho Ngự chú Kim cương bát nhã ba la mật kinh tuyên diễn, 6 quyển, hiện nay còn 2 quyển. Sách này là bản chú sớ kinh Kim cương do sa môn Đạo nhân chùa Thanh long vâng sắc vua Huyền tông soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. II. Thanh Long Sớ. Chỉ cho Tân dịch Nhân vương kinh sớ, 3 quyển, nay còn 1 quyển, do sa môn Lương bôn ở chùa Thanh long vâng sắc vua Huyền tông soạn vào đời Đường,được thu vào Đại chính tạng tập 85.
thanh long tự
(青龍寺) Chùa nằm cách huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây khoảng 4km về phía tây nam. Chùa này là đạo tràng căn bản của Mật tông Trung quốc ở đời Đường và là nơi phát nguyên của tông Chân ngôn Nhật bản. Chùa được xây cất vào năm Khai hoàng thứ 2 (582) đời Tùy, ban đầu được đặt tên là Linh cảm tự. Năm Vũ đức thứ 4 (621) đời Đường, chùa bị hoang phế. Đến năm Long sóc thứ 2 (662), công chúa Thành dương tâu xin phục hưng, đổi tên là Quan âm tự. Năm Cảnh vân thứ 2 (711) lại đổi là Thanh long tự. Đến Pháp nạn Hội xương (845), chùa lại bị hoang phế. Năm Hội xương thứ 6, chùa lại được xây dựng lại, đổi tên là Hộ quốc tự.Năm Đại trung thứ 9 (855), tên cũ Thanh long lại được khôi phục. Sau niên hiệu Nguyên hựu năm đầu (1086), đời Bắc Tống, chùa bị phá hủy. Vào thời vua Đức tông đến vua Mục tông nhà Đường, các ngài Huệ quả, Nghĩa tháo, Pháp toàn... trụ ở chùa này tuyên dương Mật tông. Ngoài ra còn có các vị cao tăng đời Đường như các ngài Đạo thế, Đạo nhân, Pháp lãng, Quang nghi, Đàm bích... cũng từng trụ ở chùa này để soạn thuật, hoặc trì chú, hoặc tu thiền quán... đều đã lưu danh trong giáo sử. Các vị danh tăng Nhật bản như Không hải, Viên hạnh, Viên nhân, Viên trân, Tuệ viễn, Viên tải, Tông duệ... đều đã từng theo học ở đây. Riêng ngài Không hải, vào niên hiệu Vĩnh trinh năm đầu (805) đến chùa Thanh long theo Tổ Huệ quả học pháp của 2 bộ Thai tạng và Kim cương, đồng thời thụ Quán đính. Truyền pháp a xà lê vị ở viện Đông tháp; sau khi trở về Nhật bản, ngài Không hải đã sáng lập tông Chân ngôn.
thanh lung quyền hiện
(清瀧權現) Cũng gọi Thanh long quyền hiện, Thanh lương quyền hiện. Chỉ cho Long vương thiện nữ, con gái thứ 3 của Long vương Bà yết la. Mật giáo tôn thờ vị này làm Quan âm Như ý luân hóa hiện, là thần Thủ hộ của Mật giáo, trụ trong ao Vô nhiệt tại Ấn độ. Vào đời Đường, Trung quốc, vị tôn này là thần trấn giữ chùa Thanh long ở Trường an. Sau, được ngài Không hải thỉnh về Nhật bản, thờ ở núi Cao hùng, rồi lại được dời đến núi Đề hồ tại Tokyo. Theo truyền thuyết, vốn theo tên chùa mà gọi là Thanh long......, vì vượt biển đến Nhật bản nên có thêm bộ thủy bên cạnh mà thành Thanh lang ( ,nghĩa là nước trong chảy xiết). Tên Thanh lang trong các kinh quĩ không thấy ghi, mà sự thực của việc trấn giữ chùa Thanh long cũng không được rõ, cho nên ngờ là sự thờ phụng này mới bắt đầu ở Nhật bản. [X. Nhũ vị sao Q.1; Đề hồ tự duyên khởi].
thanh luận
(聲論) Cũng gọi Thanh thường trụ luận, Thanh luận sư. Chỉ cho chủ trương chấp trước âm thanh là thường còn, là 1 hệ phái triết học ở Ấn độ, chủ trương quan niệm là thường hằng và âm thanh là thường trụ. Nghĩa là chủ trương cho âm thanh là sự tồn tại thực tại (reality) của vũ trụ, còn tiếng nói của con người là từ âm thanh thực tại của vũ trụ mà phát rõ ra, chứ không phải con người là phù hiệu của tính âm thanh. Thuyết này bắt nguồn từ sự cầu đảo ở thời đại Phạm thư, tức sự cầu đảo có tác dụng của sức thần linh chi phối, do đó cấu thành ngôn ngữ cầu đảo, có sức thần bí vô hạn tuyệt đối. Trong tư tưởng Phệ đà của Ấn độ, Phệ đà được cho là tiên thiên thường trụ, là 1 thực tại chân thực tuyệt đối, cho nên âm thanh của Phệ đà cũng được giải thích là 1 thực thể tuyệt đối bất biến, là chuẩn tắc nhận thức các pháp, có năng lực quyết định sự đúng, sai của những điều được nói ra. Thuyết này từ xưa đã lưu hành trong giới Bà la môn, đặc biệt nó là chỗ y cứ quan trọng của phái văn điển Ba nhĩ ni (Phạm:Pàịini) về sau, cho đến khi các học phái như Di mạn sai (Phạm: Mìmàôsà), Phệ đàn đa (Phạm:Vedànta)... hưng khởi, lập ra Thanh thường trụ luận, rồi từ đó diễn sinh 2 phái là Thanh hiển luận và Thanh sinh luận, cho rằng tất cả âm thanh đều là thường trụ bất biến. Trong đó, Thanh sinh luận (Phạm: Janma-vàda, tức luận thuyết về sự sinh khởi của âm thanh), chủ trương âm thanh vốn không có, chỉ do sau khi phát âm mới có và từ đó cứ thường còn mãi. Thanh hiển luận (Phạm: Abhivyakti-vàda), cho rằng trước khi phát âm thì âm thanh đã có rồi, đến khi phát âm mới hiển rõ ra, tức âm thanh là thường trụ. Thanh hiển luận là chủ trương của phái Di mạn sai, là tông Tòng duyên hiển liễu trong 16 tông ngoại đạo. Còn về Thanh sinh luận thì có nhiều thuyết, hoặc cho là thuyết của phái Di mạn sai, hoặc cho rằng do 1 phái không rõ tên nào đó lập ra, hoặc cho là thuyết của phái Thắng luận... Hai phái trên đây thường tranh luận với phái Thắng luận, phái Số luận, phái Chính lí, và cả với Phật giáo vốn chủ trương âm thanh là vô thường, đặc biệt tranh luận với phái Thắng luận là nổi tiếng nhất. Các vị Đại luận sư của Phật giáo như Vô trước, Thế thân, Trần na, Hộ pháp... đều bác bỏ thuyết Âm thanh thường trụ. Như các nhà Nhân minh dùng Nhân được tạo tác ra để bác bỏ Thanh sinh luận và dùng Nhân do sự cần dũng không gián đoạn phát ra để bác bỏ Thanh hiển luận. [X. luận Thành duy thức Q.1; luận Phương tiện tâm; luận Du già sư địa Q.6; luận Hiển dương thánh giáo Q.9; luận Nhân minh nhập chính lí; luận Nhân minh chính lí môn; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần cuối; Ấn độ trung thế tinh thần sử thượng (Kim thương Viên chiếu); Triết học đích tư sách chi Ấn độ chi triển khai (Trung thôn nguyên)].
Thanh Lâm Sư Kiền
(青林師虔, Seirin Shiken, ?-904): họ Trần (陳), xuất thân Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), đã từng đắc pháp với Động Sơn Lương Giới (洞山良价). Ông trú tại Thanh Lâm (青林), Hán Đông (漢東), sau đó làm vị tổ đời thứ 3 của Động Sơn (洞山, Tỉnh Giang Tây). Vào năm đầu niên hiệu Thiên Hựu (天祐), ông thị tịch. Trước tác của ông có Huyền Cơ Thị Hối Tập (玄機示誨集).
thanh lãng
Sound wave.
thanh lưu
Clear current.
Thanh Lương
清涼; C: qīngliáng; J: shōryō;|Thiền sư Trung Hoa, thường gọi Quốc sư Thanh Lương. Xem Pháp Nhãn Văn Ích.
thanh lương
Clear and cool; clear, pure.
; Trong sạch và tươi mát, ý nói thanh tịnh—Clear and fresh (cool)—Clean and pure.
thanh lương nguyệt
The pure moon, i.e. the Buddha.
; Mặt trăng thanh tịnh, ý nói Đức Phật—The pure moon, i.e., the Buddha.
; (清凉月) Trăng trong mát, ví dụ đức từ bi của Bồ tát giống như vầng trăng trong sáng mát mẻ. Tức nội chứng của Bồ tát đã lìa chướng, đó là tịnh trí; thường dùng tịnh trí chiếu soi muôn vật, đó là ánh sáng, cho nên dùng ánh sáng của vầng trăng để ví dụ cho đức từ bi của Bồ tát. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) (Đại 9, 670 hạ) nói: Bồ tát thanh lương nguyệt, Du ư tất cánh không (Bồ tát như vầng trăng mát rượi, Thường dạo chơi trong rốt ráo không).
thanh lương quốc sư
Pure-minded preceptor of the state, tittle of the fourth patriarch of the Hoa Nghiêm school.
; Vị quốc sư giới luật thanh tịnh, danh hiệu của vị tổ thứ tư của tông Hoa Nghiêm (húy Trừng Quán, tự Đại Hưu, họ Hạ Hầu, người đất Sơn Âm, xuất gia năm 11 tuổi, trụ trì tại Ngũ Đài Sơn, được vua Đường Đức Tông tôn làm Thanh Lương Quốc Sư. Ngài thị tịch năm 120 tuổi)—Pure-minded preceptor of the State, title of the fourth patriarch of the Hua-Yen school.
thanh lương sơn
A name for Ngũ đài sơn in north Shansi Sơn Tây.
; • Tên của núi Ngũ Đài Sơn, nằm về phía bắc tỉnh Sơn Tây, nơi trú ngụ của các vị Bồ Tát—A name for Wu-T'ai-Shan in north Shan-Si, the abode of Bodhisattvas. • Nơi trú ngụ của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, về phía đông của vũ trụ: The abode of Manjusri Bodhisattva, in the north-east of the universe.
Thanh Lương Thái Khâm
(清涼泰欽, Shōryō Taikin, ?-974): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Ngụy Phủ (魏府, Tỉnh Hồ Bắc). Ông đến tham vấn Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó ông đến sống tại Song Lâm Viện (雙林院) ở vùng Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây), rồi chuyển đến Thanh Lương Tự (清涼寺) ở Kim Lăng (金陵, Nam Kinh). Pháp từ của ông có Vân Cư Đạo Tề (雲居道齊) là nhân vật kiệt xuất. Ông thị tịch vào ngày 24 tháng 6 năm thứ 7 niên hiệu Khai Bảo (開寳) và được ban cho thụy hiệu là Pháp Đăng Thiền Sư (法燈禪師).
thanh lương trì
Hồ thanh tịnh, dùng để ví với cảnh niết bàn, nơi không có sóng gió và nhiễm trược phiền não—The pure lake or pool, i.e., nirvana.
; (清凉池) Ao mát mẻ, ví dụ Niết bàn không có nhiệt não. Luận Đại trí độ quyển 22 (Đại 25, 221 hạ) nói: Người đang nóng bức phiền muộn mà được vào trong ao Thanh lương thì liền mát mẻ thanh tịnh, không còn nhiệt não. Thanh lương trì cũng chỉ cho ao A nậu đạt là nơi cư trú của Long vương A nậu đạt. Ở trong ao A nậu đạt thì không còn bị cái khổ nhiệt não như Long vương ở cõi Diêm phù đề thường phải chịu đựng. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7 (Đại 35, 550 trung) nói: Ao thanh lương này là nơi cư trú của rồng Vô nhiệt não, thường chảy ra nước thơm. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, 4].
Thanh Lương Trừng Quán
(清涼澄觀, Shōryō Chōkan, 738-839): vị tổ thứ 4 của Thiên Thai Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người Sơn Âm (山陰), Việt Châu (越州, Thiệu Hưng, Triết Giang), họ Hạ Hầu (夏候), tự Đại Hưu (大休), hiệu Thanh Lương Quốc Sư (清涼國師), Hoa Nghiêm Bồ Tát (華嚴菩薩), Hoa Nghiêm Sớ Chủ (華嚴疏主). Năm 11 tuổi, ông xuất gia với Bái Thiền Sư (霈禪師) ở Bảo Lâm Tự (寳林寺) và đến năm 14 tuổi thọ giới đắc độ. Từ năm đầu (758) niên hiệu Càn Nguyên (乾元) trở về sau, ông theo Lễ Luật Sư (醴律師) ở Thê Hà Tự (棲霞寺) vùng Nhuận Châu (潤州) học về Luật; rồi lại nương theo Huyền Bích (玄璧) ở Kim Lăng (金陵) học về Tam Luận. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông học Đại Thừa Khởi Tín Luận, Niết Bàn Kinh ở Ngõa Quan Tự (瓦官寺). Bên cạnh đó, ông còn theo Hoài Nam Pháp Tạng (淮南法藏) học Hoa Nghiêm Kinh. Năm thứ 7 (772) niên hiệu Đại Lịch, ông đến Diệm Khê (剡溪) theo Huệ Lượng (慧量) ở Thành Đô (城都) học Tam Luận lần nữa. Đến năm thứ 10 cùng niên hiệu trên, ông đến Giang Tô (江蘇), theo Trạm Nhiên (湛然) học Thiên Thai Chỉ Quán, Pháp Hoa Kinh, Duy Ma Kinh, v.v. Ông còn tham yết Duy Trung (惟忠) ở Ngưu Đầu Sơn (牛頭山), Đạo Khâm (道欽) ở Kính Sơn (徑山), v.v., để học về Thiền pháp của Nam Tông, rồi học Thiền pháp của Bắc Tông với Huệ Vân (慧雲). Ngoài ra, ông còn thông cả Phệ Đà, Ngũ Minh, nghi thức bí chú, v.v. Vào năm thứ 11 niên hiệu Đại Lịch, ông đi ngao du Ngũ Đài Sơn (五台山), Nga Mi Sơn (峨嵋山), sau trở về sống tại Đại Hoa Nghiêm Tự (大華嚴寺) trên Ngũ Đài Sơn, chuyên tu Phương Đẳng Sám Pháp. Ông thường giảng tông chỉ Hoa Nghiêm tại chùa này và Sùng Phước Tự (崇福寺), danh tiếng vang khắp kinh đô. Đến năm thứ 12 (796) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), thể theo lời mời của vua Đức Tông, ông vào Trường An (長安), cùng với Tam Tạng Bát Nhã (三藏般若) người Kế Tân (罽賓) dịch Tứ Thập Hoa Nghiêm Kinh (四十華嚴經) do quốc vương Ô Trà (烏茶) dâng cống, rồi đem dâng lên cho triều đình; nhân đó nhà vua rất vui mừng, ban cho Tử Y và hiệu Giáo Thọ Hòa Thượng (敎授和尚). Ngoài ra, ông còn phụng sắc chỉ triều đình chế 10 quyển kinh sớ tại Thảo Đường Tự (草堂寺) thuộc Chung Nam Sơn (終南山) và đây chính là bản Trinh Nguyên Tân Dịch Hoa Nghiêm Kinh Sớ (貞元新華嚴經疏). Vào năm thứ 15 (có thuyết cho là 11) niên hiệu Trinh Nguyên, nhân dịp sinh nhật, vua Đức Tông mời ông vào nội điện, diễn thuyết tông chỉ Hoa Nghiêm, nhờ vậy nhà vua mới giác ngộ, bảo rằng: “nhờ diệu pháp mà làm cho trong sạch, mát mẻ tâm của Trẫm”, cho nên ban cho ông hiệu là Thanh Lương Quốc Sư. Ông đã từng lập ra 10 thệ nguyện để tự khuyên răn mình, cho nên người ta gọi là Thanh Lương Thập Nguyện. Đến khi vua Thuận Tông lên ngôi, vua cũng lấy lễ bái ông làm Quốc Sư, trong triều đình ngoài dân dã đều mến mộ cao phong của ông. Vào năm thứ 5 (810) niên hiệu Nguyên Hòa (元和) đời vua Hiến Tông, ông trả lời các câu vấn đáp của nhà vua, giảng rõ về nghĩa của pháp giới Hoa Nghiêm, được vua hài lòng, bèn tặng cho ông hiệu là Tăng Thống Thanh Lương Quốc Sư (僧統清涼國師). Đến năm thứ 4 niên hiệu Khai Thành (開成), ông thị tịch, hưởng thọ 102 tuổi. Có thuyết cho là ông mất trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Hòa, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được táng trong thạch thất trên Chung Nam Sơn và Tướng Quốc Bùi Hưu (裴休) soạn bia văn. Ông đã trãi qua 9 triều đại, từng giảng kinh cho 7 đời vua, đệ tử có Tông Mật (宗密), Tăng Duệ (僧叡), Pháp Ấn (法印), Tịch Quang (寂光), và đệ tử đắc pháp có hơn 100 người. Trước tác của ông có rất nhiều như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ (大方廣佛華嚴經疏) 60 quyển, Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao (隨疏演義鈔) 90 quyển, Hoa Nghiêm Kinh Cương Yếu (華嚴經綱要) 3 quyển, Ngũ Uẩn Quán (五蘊觀), Tam Thánh Viên Dung Quán Môn (三聖圓融觀門), v.v.
Thanh Lương Tự
(清涼寺, Seiryō-ji): xem Tha Nga Thanh Lương Tự (嵯峨清涼寺, Sagaseiryō-ji) bên trên.
thanh lương tự
A monastery at Ngũ đài sơn.
; Tên của một tự viện trên núi Ngũ Đài Sơn, được ngài Thanh Lương Quốc Sư xây dựng vào thời nhà Đường—A monastery at Wu-T'ai-Shan, built by preceptor of the State Sin-Liang during the T'ang Dynasty.
thanh lịch
Refined—Fine—Elegant.
Thanh Minh
(s: śadha-vidhyā, j: shōmyō, 聲明): trong các kinh điển Hán dịch, nó là một trong Ngũ Minh, là hình thức văn pháp học. Nó còn được gọi là Phạn Bối (梵唄, bonbai), một hình thức âm nhạc cổ điển theo nghi thức Phật Giáo, có thêm âm tiết vào trong chơn ngôn (thần chú) cũng như kinh văn để xướng tụng. Hình thức này được truyền từ Trung Quốc vào Nhật Bản, sau này hình thức do Không Hải (空海, Kūkai) truyền vào là thuộc Dòng Nam Sơn Tấn (南山進流) của Chơn Ngôn Tông. Còn hình thức do Viên Nhân (圓仁, Ennin) truyền thừa là Đại Nguyên Ngư Sơn Thanh Minh (大原魚山聲明) của Thiên Thai Tông. Đa số các Thanh Minh Khúc do Viên Nhân truyền vào được phân chia ra các phái để lưu truyền, và đến thời Lương Nhẫn (良忍, Ryōnin) thì Thanh Minh Học đã hình thành hệ thống rõ rệt. Vào đầu thời Liêm Thương, Trạm Trí (湛智, Tanchi) thuộc Phái Cách Tân xác lập luận lý cùng với Tịnh Tâm (淨心, Jōshin) thuộc Phái Bảo Thủ trọng thị khẩu xướng, đã xuất hiện rồi tranh nhau về chủ trương của họ; thế nhưng không bao lâu thì Phái Bảo Thủ điêu tàn và Phái Cách Tân hưng thịnh. Thanh Minh được tổ chức từ 3 loại, 5 âm, 7 thanh và 12 luật. Năm âm là Cung (宮), Thương (商), Giác (角) Trưng (徴) và Vũ (羽), có cùng tính cách với Do, Re, Mi của âm nhạc phương Tây. Bảy thanh gồm 5 âm kể trên cọng thêm vào nữa âm trên dưới hai âm Anh (嬰) và Biến (變) để hình thành nên. Ba loại gồm Lữ (呂), Luật (律) và Trung (中); nếu thêm Biến Cung (變宮) và Biến Trưng (變徴) vào 5 âm thì hình thành Lữ Khúc (呂曲); chỉ riêng 5 âm được gọi là Luật Khúc (律曲); hơn nữa, nếu thêm Anh Thương (嬰商), Anh Vũ (嬰羽) vào thì gọi là Trung Khúc (中曲). Mười hai luật là 12 âm vị được gắn thêm vào giữa một quãng tám độ sai khoảng nữa âm, có tên gọi là Nhất Việt (一越), Đoạn Kim (斷金), Bình Điệu (平調), v.v. Thanh Minh có đặc chất của từng âm trong Ngũ Âm; hơn nữa, ngoài hai khúc Lữ Luật của Nhã Nhạc ra, nó còn phối thêm 3 loại Trung Khúc, v.v., và được xem như là nguyên lưu của âm nhạc Nhật Bản.
thanh minh
Śabdavidyā (S), Subdavidyā (S) Một trong Ngũ minh của Vệ đà kinh: Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh, Nội minh Đề cao về ngôn ngữ, văn tự. Một trong ngũ minh: - thinh minh - công xảo minh - y phương minh - nhân minh - nội minh.
; Clear and bright.
; 1) Trong sáng: Clear and bright. 2) Giải thích rõ ràng: To explain or to state clearly. 3) Ngày lễ Thanh Minh sau Tết, thường vào ngày rằm tháng ba Âm lịch, ngày lễ dành cho những vong linh. Các dân tộc Đông Á như Tàu, Nhựt, Đại Hàn và Việt Nam, thường cử hành lễ nầy bằng cách đi đến các nghĩa trang để vãy cỏ và làm sạch mộ tổ tiên, cũng như dâng cúng thực phẩm và hoa quả: The Chinese festival or a festival after Spring, usually on 15th of the third lunar month, when honour is paid to departed spirits. East Asian peoples such as Chinese, Japanese, Korean, Vietnamese, often celebrate this festival by going to the cemetery to cut grasses, clean and offer food and fruits on their ancestors' tombs. 4) Thanh Minh có nghĩa là truyền tin, một trong Ngũ Minh: The learning of communication, one of the five sciences—Đức Phật đã nhìn thấy sự quan trọng của truyền tin, vì vậy Ngài đã đặt nó lên hàng đầu. Vì nếu không có kỹ thuật truyền tin thì các môn học khác sẽ không phát huy được. Khoa truyền tin tự cổ chí kim chịu ảnh hưởng của chữ viết hay lời nói. Đức Phật khuyến khích con người hãy học cách diễn đạt và làm cho người khác hiểu rõ mình. Vì vậy, ngoài tiếng mẹ đẻ ra, chúng ta cần phải học thêm những sinh ngữ thông dụng để có thể truyền đạt và hiểu rõ tư tưởng của các dân tộc khác, từ đó cải thiện cuộc sống về cả vật chất lẫn tinh thần—The Buddha realized the importance of communication; therefore, he made it the first of the “Five Great Learning.” For without adequate means of communication, all other learning types cannot be carried out. From ancient time till now, communication can be effected by written languages or by speech. The Buddha encouraged people to learn how to express themselves and make themselves understood. Thus, we should learn not only our own languages, but also learn other living and popular languages to communicate with and understand other peoples' ideas and thoughts to improve our physical and spiritual life—See Ngũ Minh. a) Truyền đạt bằng lời nói—Communication by speech: Lời nói vừa là phương tiện truyền thông chính, vừa cũng là phương tiện phá tan những rào cản khác biệt về tư tưởng—Speech is not only a main means of communication, but it is also a means to destroy barriers of different ideas and thoughts. b) Truyền đạt bằng chữ viết—Communication by writing: Sự tiến triển của văn minh tùy thuộc vào sách vở của các bậc tiền bối để lại. Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ nên tất cả các kinh điển đều được viết bằng Phạn ngữ. Sau đó, kinh điển được dịch sang tiếng Hoa. Hiện tại tại Việt Nam kinh điển được dịch sang Việt ngữ từ Phạn hay Hoa ngữ—The advancement of civilization depends on the scriptures left to us by the ancient sages. Buddhism originated from India; therefore, all scriptures were written in either Sanskrit or Pali. Later, they were translated into Chinese. Nowadays, Vietnamese Buddhist monks and nuns are translating these scriptures into Vietnamese, either from Sanskrit, Pali, or Chinese. c) Truyền đạt bằng những phương cách khác—Communication by other media: Chắc chắn có người cho rằng chân lý tối thượng của Đức Phật không thể giải thích bằng ngôn ngữ, nhưng nếu không dùng ngôn ngữ thì không thể nào diễn đạt được Phật Pháp, tức là chân lý tối thượng của Đức Phật, nó siêu việt lên trên mọi hình thức, tuy nhiên phải dùng tới phương tiện của hình thức thì mới có thể thực hiện được bằng các môn nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, và hành động, như các tông phài Mật Tông đã ứng dụng. Trong Thiền Tông, sự truyền đạt trí huệ cao siêu được thực hiện bằng tâm truyền tâm. Tuy nhiên, với đa số đại chúng với căn cơ trình độ khác nhau, thì sự truyền đạt bằng ngôn ngữ và hình ảnh chân thật vẫn phổ thông và hữu hiệu hơn nhiều—Of course some may argue that the law has no speech; however, without speech it cannot be expressed. The ultimate truth of the Buddha transcends form, yet only by means of form can it be understood. Doctrinal transmission can also be accomplished by arts, such as painting, sculpture, music, and actions, as is the case with the esoteric sects of Buddhism. While in Zen the transmission of high wisdom is carried out from mind to mind. However, the masses with different levels of faculties, the transmission by way of speech and real pictures is much more popular and effective.
; (聲明) I. Thanh Minh. Phạm:Zabda-vidyà. Hán âm: Nhiếp đà bí đà. Chỉ cho môn học về văn tự, âm vận và ngữ pháp, 1 trong 5 minh của Ấn độ. Luận Du già sư địa quyển 15 chia Thanh minh làm 6 hạng mục chủ yếu như sau: 1. Pháp thi thiết kiến lập tướng: Thanh minh là danh (tên gọi), cú(câu), văn thân(văn chương)... và lấy những âm thanh tương ứng với 5 đức: Bất bỉ lậu (không thô bỉ), khinh dị(hờ hững xem là dễ dàng), hùng lãng(mạnh mẽ, sáng sủa), tương ứng(ứng hợp với nhau) và nghĩa thiện làm thể. 2. Nghĩa thi thiết kiến lập tướng: Tức nghĩa được bao hàm phải rõ ràng. Có 10 nghĩa: Sáu căn, 4 đại chủng, nghiệp, sự tìm cầu, trái pháp, pháp, hưng thịnh, suy tổn, thụ dụng và thủ hộ, cùng 6 nghĩa: Tự tính, nhân, quả, tác dụng, sai biệt tương ứng và chuyển. 3. Bổ đặc già la thi thiết kiến lập tướng: Tính khác nhau của ngôn ngữ. Tức tính nam, tính nữ(giống đực, giống cái), trung tính và sự biến hóa của chuyển thanh. 4. Thời thi thiết kiến lập tướng: Sự sai khác về thời gian. Tức sự biến hóa về quá khứ xa, quá khứ gần, cho đến vị lai xa, vị lai gần... 5. Số thi thiết kiến lập tướng: Sự sai khác về số lượng. Tức số đơn, số 2, số nhiều... 6. Xứ sở căn tài thi thiết kiến lập tướng: Pháp nói về cách soạn lời, soạn tụng. Khi giải thích về Xứ sở căn tài thi thiết kiến lập, Du già sư địa luận lược toản quyển 6 nói như sau: Xứ sở căn bản của Thanh minh gồm có 4 luận, đó là: Phạm vương bách vạn tụng, Đế thích thập vạn tụng, Ca đơn một la tiên nhất vạn nhị thiên tụng và Ba nị ni tiên bát thiên tụng và 5 luận chú thích là: Tự thể căn tài Thanh minh luận (300 bài tụng), Thanh minh lược bản tụng (1000 bài tụng), Bát giới luận (800 bài tụng), Văn Thích ca luận (1500 bài tụng) và Ôn na địa luận (2500 bài tụng). Vì Thanh minh là 1 trong 5 môn học (Ngũ minh) của Ấn độ nên nói chung người Ấn độ đều học tập nghiên cứu, còn ở Trung quốc thì vì kinh luận đều đã được phiên dịch ra chữ Hán mà văn pháp rất khác với văn pháp tiếng Phạm, cho nên phần nhiều Thanh minh không được giảng dạy học tập. Mãi đến đời Đường, ngài Huyền trang truyền tiếng Phạm, thêm vào đó Mật giáo cũng lưu truyền nên môn học Phạm tự Tất đàm bỗng rộ lên một thời, các trứ tác về Tất đàm học cũng xuất hiện vào thời ấy. Tại Nhật bản, các vị cao tăng như Tối trừng, Không hải... đến Trung quốc tham học, sau khi về nước cũng truyền pháp Tất đàm, do đó Tất đàm học cũng dần dần hưng thịnh. [X. luận Du già sư địa Q.38; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.5; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối; Tây phương học pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5]. (xt. Ngũ Minh). II. Thanh Minh. Đồng nghĩa: Phạm bái. Chỉ cho sự phúng tụng, ngâm vịnh các bài kệ, tức phương pháp có phụ thêm sự phổ âm để ca và ngâm kệ tụng, danh hiệu... Thanh minh trong 5 minh nghiên cứu tận cùng nghĩa Tam thanh bát chuyển (thuộc văn pháp tiếng Phạm), còn Thanh minh này thì chuyên nói về phương pháp hòa âm, phổ nhạc, ca hát, ngâm vịnh... Sự ngâm vịnh các bài tán ca, kệ tụng đã thịnh hành ở Ấn độ xưa ngay từ thời đại Phệ đà, về sau, Phật giáo cũng sử dụng phương pháp ấy, đức Phật cho phép các tỉ khưu được thanh bái(đọc canh, tán), nhưng không được theo cách ca vịnh của Bà la môn để hòa âm tụng kinh. Ở Trung quốc, phương pháp Phạm bái(đọc canh, tán tụng) đã được truyền vào từ sớm, trong Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12, có liệt kê các mục như: Trần tư vương cảm Ngư sơn Phạm thanh chế bái kí, Chi khiêm chế liên cú Phạm bái kí; Khang tăng hội truyền Nê hoàn bái kí...; còn Lương cao tăng truyện quyển 33 có trình bày sơ qua về sự thịnh hành Phạm bái. [X. kinh Tì ni mẫu Q.6; luật Thập tụng Q.37; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.6; Âm nghệ chí trong nguyên hanh thích thư Q.29; Thanh minh nguyên lưu kí]. (xt. Phạm Bái).
Thanh minh ký luận
xem Tỳ-già-la.
thanh minh luận
Śabdavidyā śāstra (S) Xem Thọ ký.
; Sabdavidya-sastra (skt)—Bộ luận về chữ và nghĩa—A treatise on the words and meanings.
thanh minh nguyên lưu kí
(聲明源流記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Ngưng nhiên thuộc tông Hoa nghiêm Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung sách này nói về nguyên do, nguồn gốc của Phạm bái và thứ tự truyền thừa giữa thầy và trò ở Nhật bản. Tác phẩm này được khắc in vào tháng 2 năm Hưởng bảo thứ 4 (1719), có lời bạt của ngài Quang huân ở viện Liên quang.
thanh miêu hội
(青苗會) Hội lúa xanh non. Tức pháp hội trong Thiền tông cầu cho lúa xanh được thành thục.Ở Trung quốc, từ đời Tống về sau, hằng năm vào mùa gieo mạ thì các tự viện Thiền tông cử hành Thanh miêu hội, tụng đọc kinh Hoa nghiêm. Điều nguyệt phần tu tri trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1155 thượng) nói: Vào lúc sáng sớm ngày Đoan ngọ tháng 5, vị Tri sự thắp hương trong Tăng đường, châm trà xương bồ, vị Trụ trì thướng đường lần lượt kiến lập Thanh miêu hội, vị Đường ti dự bị đưa ra danh sách xem kinh tụng kinh của các liêu, vị Trực tuế kiểm điểm các nơi có gọn gàng ngăn nắp không, nạo vét các cống rãnh, vị Trụ trì đến các liêu, các am tháp, mỗi nơi đều pha trà, tiếp đãi trong một ngày, treo màn trong Tăng đường. Qua đây ta có thể biết Thanh miêu hội được liên kết với các hoạt động trong ngày Đoan ngọ. [X. Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.10; Huyễn trụ am thanh qui; Tùng lâm hiệu định thanh qui tổng yếu Q.2; Cát tường sơn Vĩnh bình tự tiểu thanh qui Q.2; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Thanh Mậu
(清茂) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người ở Lạc thanh, Ôn châu (Chiết giang), họ Lâm, tự là Cổ lâm, hiệu là Kim cương chàng, Lâm cư tẩu, người ta thường gọi là Mậu cổ lâm, rất nổi tiếng về mặc tích(viết chữ đẹp). Năm 12 tuổi, sư theo ngài Cô nham khải, chùa Quốc thanh, núi Thiên thai xuất gia, thi kinh được đậu. Sau đó, bất chấp sự khó khăn trong lúc đầu nhà Nguyên, sư vân du khắp trong nước, lần lượt tham yết các ngài Giản ông kính ở núi Tuyết đậu tại Minh châu, Thạch lâm củng ở Nam bình, Giác an chân ở Thừa thiên... Cuối cùng, sư tham học ngài Hoành xuyên Như củng chùa Năng nhân tại Nhạn hoành, tinh tiến nghiên tu và được nối pháp lúc sư 19 tuổi. Sau, sư trở về chùa Quốc thanh. Năm Đại đức thứ 2 (1298) đời Nguyên, sư ẩn cư ở chùa Bạch vân, núi Thiên bình, phủ Bình giang, được 9 năm thì dời đến chùa Khai nguyên, không bao lâu sư lui về tháp viện Thiệu long ở núi Hổ khâu, niêm lại 100 tắc tụng cổ của ngài Tuyết đậu Trùng hiển. Niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), sư lại trụ chùa Khai nguyên lần thứ 2; bấy giờ, do lời tâu xin của Dương quốc công, sư được vua ban cho danh hiệu Phù Tông Phổ Giác Phật Tính Thiền Sư. Về già, vâng mệnh triều đình, sư đến tham dự Đại hội Kim sơn, được vua và các Đại thần tôn sùng, người đến cầu pháp ngữ tới số vài nghìn. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), sư thị tịch, thọ 68 tuổi. Đệ tử nối pháp có các vị: Liễu amThanh, Trọng mưu Lương du, Trúc tiên Phạm tiên... Sau, sư Trúc tiên sang Nhật bản, khai sáng phái Mặc tích của ngài Thanh Mậu Trúc tiên, là 1 trong 24 dòng của Thiền tông Nhật bản. Sư có các tác phẩm: Cổ lâm Thanh mậu thiền sư ngữ lục 5 quyển, Cổlâm Thanh mậu thiền sư thập di kệ tụng 2 quyển, Sơ trụ Bình giang phủ Thiên bình sơn Bạch vân thiền tự ngữ lục, Khai nguyên thiền tự ngữ lục. [X. Tăng tập tục truyền đăng lục Q.5; Tục đăng tồn cảo Q.6; Ngũ đăng nghiêm thống Q.21; Mặc tích tổ sư truyện Q.thượng; Thiền lâm mặc tích giải thuyết (Điềnsơn Phương nam)].
thanh mục
Piṅgalanetra (S) Tỳ kheo thế kỷ IV.
; Pingala (S).
; (青目) Phạm: Piígalanetra. Hán âm: Tân già la, Tần la già. Cao tăng Ấn độ, sống vào khoảng thế kỉ IV, chú thích bộ Trung luận của ngài Long thụ. Theo Đại thừa huyền luận quyển 2 thì sư ra đời vào khoảng 1000 năm sau khi đức Phật nhập diệt. Bài tựa Trung luận của ngài Tăng duệ (Đại 30, 1 thượng) nói: Những nhà chú thích Trung luận thật không ít. Bản chú thích được nêu ra ở đây là do Phạm chí người Thiên trúc tên là Tân già la, Hán dịch là Thanh mục, soạn. So với các bản chú thích khác thì bản chú thích này của Phạm chí rất đầy đủ. Theo sự khảo chứng của các học giả cận đại thì Thanh mục tức là tên khác của ngài Đề bà. [X. Trungquánluận sớ Q.1, phần đầu (Cát tạng); Tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.11; Notes on Chinese Buddhist Books (J.R.A.S.1903) by J.Tanakusu].
thanh nghiêm
(清嚴) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Dân quốc, người ở Tùy ấp, tỉnh Hồ bắc, họ Hoàng, tên Hưng hoa. Năm 12 tuổi, sư lễ ngài Thánh tường chùa Cổ đàm ở Hoàng pha xin xuất gia, được đặt pháp danh là Quả hoa. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Qui nguyên tại Hán dương. Năm Dân quốc 34 (1945), sư làm chức Tri khách chùa Cổ đức ở Hán khẩu. Năm Dân quốc 43 (1954), sư từ Hương cảng đến Đài loan, trụ ở chùa Thập phổ, làm các chức Tri khách, Duy na... Ba năm sau, sư sáng lập chùa Vĩnh minh ở Gia nghĩa, mở các khóa giảng kinh và tu trì. Sư từng giữ các chức Lí sự, Giám sự của hội Phật giáo Trung quốc, Cố vấn Chi hội Phật giáo Đài bắc. Sư thị tịch năm 1970, hưởng dương 47 tuổi, tăng lạp 35, giới lạp 27. lúc sinh tiền, sư từng dặn dò đệ tử sau khi sư thị tịch thì bỏ di hài vào cái chum, đậy lại và chôn trong đất chùa, 6 năm sau hãy mở ra xem. Theo di chúc, vào ngày 21 tháng giêng năm Dân quốc 65 (1970), đại chúng mở chum ra xem thì thấy sư nhắm mắt ngồi ngay thẳng như đang nhập thiền định, da dẻ tươi sáng, màu hổ phách, hệt như lúc sống, làm chấn động dư luận một thời và truyền thành giai thoại. Sư là 1 trong những vị có nhục thân bất hoại kế sau toàn thân xá lợi của Pháp sư Từ hàng ở Tịch chỉ tại Đài loan.
thanh nguyên duy tín
Seigen Ishin (J), Ching yuan Wei hsin (C) Seigen Ishin (J) Tên một vị sư.
Thanh Nguyên Hành Tư
(青原行思, Seigen Gyōshi, ?-740): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, người vùng An Thành (安城), Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây), họ là Lưu (劉). Ông xuất gia hồi còn nhỏ, sau đến tham học với Lục Tổ Huệ Năng và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông cùng với Nam Nhạc Hoài Nhượng (南岳懷讓) được gọi là hai vị đại đệ tử của Lục Tổ. Từ khi ông đến sống tại Tĩnh Cư Tự (靜居寺) thuộc Thanh Nguyên Sơn (青原山), chúng môn đồ vân tập đến tham học rất đông, và sau này ba pháp hệ thuộc đời cháu là Vân Môn Tông, Tào Động Tông và Pháp Nhãn Tông liên tục xuất hiện. Vào ngày 13 tháng 11 năm thứ 28 niên hiệu Khai Nguyên (開元), ông thị tịch, có thuyết cho là ông thọ 68 tuổi, và được vua Hy Tông ban cho thụy hiệu là Hoằng Tế Đại Sư (弘濟大師).
; 青原行思; C: qīngyuán xíngsī; J: seigen gyōshi; 660-740;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ hàng đầu của Lục tổ Huệ Năng. Từ dòng thiền của Sư xuất phát ra ba tông trong Ngũ gia thất tông mặc dù Sư chỉ có một đệ tử đắc pháp là Thạch Ðầu Hi Thiên.|Sư họ Lưu, quê ở Kiết Châu, An Thành, xuất gia từ nhỏ. Nhân nghe Lục tổ dạy chúng ở Tào Khê, Sư đến tham học. Sư được Lục tổ ấn khả và trở về trụ trì chùa Tịnh Cư trên núi Thanh Nguyên ở Kiết Châu.|Thiền sư Hà Trạch Thần Hội đến, Sư hỏi: »Ở đâu đến?« Thần Hội đáp: »Từ Tào Khê đến.« Sư hỏi: »Ý chỉ Tào Khê thế nào?« Thần Hội chỉnh thân rồi thôi. Sư bảo: »Vẫn còn đeo ngói gạch.« Thần Hội hỏi: »Ở đây Hoà thượng có vàng ròng chăng?« Sư đáp: »Giả sử có cho, ông để chỗ nào?«|Sau khi truyền pháp cho Hi Thiên xong, ngày 13 tháng 12 năm Canh Thìn, đời Ðường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 28, Sư từ biệt chúng lên pháp đường viên tịch. Vua Ðường Hiến Tông ban hiệu là Hoằng Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn.
thanh nguyên hành tư
Ching yuan Hsing szu (C) Seigen Gyoshi (J) Tên một vị sư.
thanh nguyên hành tư thiền sư
Zen master Xing-Si-Qing-Yuan—See Hành Tư Thanh Nguyên Thiền Sư.
thanh nguyên hạ
(青原下) Một trong các phái của Thiền tông Trung quốc. Thanh nguyên chỉ cho Thiền sư Thanh nguyên Hành tư đời Đường; Hạ hàm ý là phái dưới. Tức là pháp hệ của ngài Thanh nguyên Hành tư, đệ tử nối pháp của Lục tổ Tuệ năng, đối lại với Nam nhạc hạ là pháp hệ của ngài Nam nhạc Hoài nhượng, cũng là đệ tử của Lục tổ. Sau khi đắc pháp, ngài Hành tư trụ ở chùa Tĩnh cư, núi Thanh nguyên tại Cát châu thuộc tỉnh Giang tây, hoằng dương Thiền pháp. Pháp tự của ngài là Thạch đầu Hi thiên trụ ở núi Nam nhạc, tiếp hóa hậu học, soạn ra Tham đồng khế mở rộng tông phong, người đời tôn xưng là Thạch đầu đại sư; đệ tử ưu tú của sư có các vị Thiên hoàng Đạo ngộ, Đơn hà Thiên nhiên, Dược sơn Duy nghiễm... Hệ thống của ngài Thiên hoàng lần lượt có các vị: Long đàm Sùng tín, Đức sơn Tuyên giám, Tuyết phong Nghĩa tồn, Vân môn Văn yển... Trong đó, ngài Vân môn Văn yển trụ ở núi Vân môn tại Thiều châu (huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông) phát triển tông thú, môn hạ có tới 1000 người, pháp hệ của sư chính là tông Vân môn trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc. Còn ngài Tuyết phong Nghĩa tồn thì mở mang Thiền pháp ở núi Tuyết phong tại Phúc châu, có tới hơn 1500 người từ khắp nơi qui tụ về tham học. Môn hạ của sư lần lượt có các vị: Huyền sa Sư bị, La hán Quế sâm, Pháp nhãn Văn ích... Trong đó, ngài Pháp nhãn Văn ích ở chùa Thanh lương tại Kim lăng (nay là huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô), phát triển Thiền pháp một cách độc đáo. Pháp hệ của sư chính là tông Pháp nhãn trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc. Còn pháp hệ của ngài Dược sơn Duy nghiễm thì lần lượt có các vị: Vân nham Đàm thạnh, Động sơn Lương giới, Tào sơn Bản tịch, Vân cư Đạo ưng. Trong đó, pháp hệ của các ngài Lương giới và Bản tịch chính là tông Tào động trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc. Cho nên, hệ thống của 3 tông Vân môn, Pháp nhãn và Tào động đều được gọi là Thanh nguyên hạ. Trong 3 tông trên thì tông Vân môn từ đời Ngũ đại đến đời Tống, từ Quảng đông dần dần mở rộng phạm vi đến các tỉnh Giang tô, Chiết giang, Phúc kiến... và lấy đó làm trung tâm phát triển giáo pháp. Tông Pháp nhãn thì theo sự hưng thịnh của giáo đoàn ngài Tuyết phong Nghĩa tồn mà phát triển và được Mân vương họ Tiền qui y. Các vị Thiên thai Đức thiều, Vĩnh minh Diên thọ, Vĩnh an Đạo nguyên... của tông Pháp nhãn đều được các tông tôn là Cao tăng, ngài Đức thiều còn được khen là Trí khải tái thế. Ngoài ra, các tác phẩm quan trọng của Thiền như Tổ đường tập, Cảnh đức truyền đăng lục (do ngài Đạo nguyên soạn), Tông kính lục (do ngài Diên thọ biên tập)... cũng lần lượt được thành lập. Tông Tào động, sau ngài Động sơn Lương giới, vào các đời Nam Tống, Minh, Thanh thì có pháp hệ của ngài Vân cư Đạo ưng truyền nối, song song với tông Lâm tế thuộc pháp hệ Nam nhạc hạ đều nêu cao tông phong của mình, nhất là ngài Hoành trí Chính giác đề xướng Mặc chiếu thiền, đối lại với Khán thoại thiền do ngài Đại tuệ Tông cảo của tông Lâm tế chủ trương cùng nổi tiếng ở đời. (xt. Nam Nhạc Hạ).
thanh nguyên sơn
(青原山) Cũng gọi Thanh nguyên an ẩn sơn. Núi ở cách Lư lăng (nay là huyện Cát an) 15 km về phía đông nam thuộc tỉnh Giang tây. Trong núi có ngọn Lạc đà, dãy Chá cô cao đến tận mây, lại có các suối Lôi tuyền, Tích tuyền, Hổ bào tuyền, nổi tiếng xa gần. Thiền sư Hành tư (?-740), Tổ thứ 7 của Thiền tông Trung quốc từng khai sáng chùa Tĩnh cư ở núi này, năm Trị bình thứ 3 (1066) đời Bắc Tống được vua ban tấm biển hiệu là An Ẩn Tự, đến khoảng năm Sùng đức (1636-1643) đời vua Thái tông nhà Thanh, chùa được khôi phục lại tên cũ là Tĩnh cư. Cuối đời Nguyên, chùa bị thiêu hủy; cuối đời Minh được sửa lại làm tùng lâm, hiện nay vẫn còn, người đời gọi là Đại miếu. Trong chùa có điện Thiên vương, điện Đại hùng, gác Tì lô... thờ 4 vị Kim cương, 18 vị La hán, bồ tát Quán âm..., còn có các cổ vật như nồi đồng nghìn người ăn, lò hương nặng trăm cân, chuông lớn nặng nghìn cân, trên cửa chính của chùa có khắc chữ: Thanh Nguyên Sơn do Văn thiên tường viết. Ngoài ra, trong núi còn có các di tích cổ nổi tiếng như tháp Thất tổ, tháp Phi lai, thành Niết bàn, nhà tháp, am Thanh hựu, chùa Phương quảng ở núi Hoa cái, chùa Tư phúc... Kế tiếp sau ngài Hành tư, có các vị cao tăng lần lượt cư trụ núi này như ngài Thanh nguyên tề, Thanh nguyên Duy tín, Bản tịch Chân nguyên, Chuyên ngu Quán hành, Mi am Hành tú, Tiếu phong Đại nhiên... Ngài Tiếu phong Đại nhiên đời Thanh có biên tập Thanh nguyên sơn chí lược, sau do ngài Thi nhuận chương biên tập bổ sung, tất cả 13 quyển, được ấn hành vào năm Khang hi 41 (1702), nội dung ghi chép thơ văn, sớ, bia minh, du kí, kỉ sự... của các vị Thiền sư, cư sĩ, văn nhân, mặc khách cư trụ hoặc du ngoạn núi này để lại trong khoảng hơn 1000 năm từ khi ngài Thanh nguyên Hành tư vào núi khai sáng về sau. [X. Đại minh nhất thống chí Q.46; Đại thanh nhất thống chí Q.249; Thanh nguyên sơn chí lược].
thanh nhàn
Unoccupied.
thanh nhã
Grace—Refined—Elegant—Courteous.
thanh nhập
(聲入) Chỉ cho âm thanh, 1 trong 12 nhập. Nhập là vào. Sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và 6 trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nhập vào lẫn nhau, gọi là 12 nhập. Nghĩa là tất cả âm thanh nghe được, đối với lỗ tai gọi là Thanh nhập. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. (xt. Thập Nhị Xứ).
thanh niệm tụng
Tụng niệm ra tiếng—Vocal intonation.
; (聲念誦) Niệm tụng bằng cách phát ra âm thanh dài, ngắn rõ ràng, khiến cho mình và người khác đều nghe được, là 1 trong 6 phương pháp niệm tụng nói trong Kim cương giới đại pháp đối thụ kí quyển 6. (xt. Ngũ Chủng Niệm Tụng).
Thanh Phong Truyền Sở
(青峰傳楚, Seihō Denso, ?-?): vị Thiền tăng sống vào cuối đời nhà Đường, người vùng Kinh Châu (涇州, Tỉnh Cam Túc), người kế thừa dòng pháp của Lạc Phổ Nguyên An (樂普元安). Ông đã từng sống tại Thanh Phong Sơn (青峰山) thuộc Phủ Phong Tường (風翔府).
thanh phạm
Pure Sanskrit; Buddha's resonant voice, or pure enunciation.
thanh phạn
• Phạn ngữ là ngôn ngữ của thanh tịnh: Pure Sanskrit. • Tiếng Phật thanh tịnh: Buddha's resonant voice, or pure enunciation.
thanh phẩu hưng dương thiền sư
Zen master Qing-Pou-Xing-Yang—Thiền sư Thanh Phẩu Hưng Dương là đệ tử của Thiền sư Đại Dương. Tuy vậy ông không may chết trước Đại Dương và không có Pháp từ nào để nối dõi Tào Động—Zen master Qing-Pou-Xing-Yang was a disciple of Zen master T'a-Yang. Although he was a successor of T'a-Yang, he unfortunately did not outlive his teacher, nor did he have any Dharma heirs to carry on the Cao-T'ong line. • Sau khi trụ ở Hưng Dương, sư thượng đường dạy chúng: “Đại đạo từ Tây sang, lý bặt bách phi, trong câu hợp cơ toàn trái diệu chỉ, bất đắc dĩ mà có làm cong vạy tông Tổ Sư, huống là lăng xăng có lợi ích gì? Tuy nhiên như thế, việc không phải một chiều, hãy ở trong cửa xướng giáo mở một con đường cùng toàn thể thương lượng.”—After becoming the abbot of a temple, Xing-yang entered the hall and addressed the monks, saying: “The principle of the great way that came from the west cuts off the hundred negations. Words that accord with the essential teaching go on without end. But what benefit could there be in just arduously submitting to the teachings of our school? Although it's like this, there are many different affairs to deal with. But in the teaching of our school, there is only one path that passes through. Everyone discuss this!” • Có vị Tăng hỏi: “Rồng Ta Kiệt ra khỏi biển thì càn khôn chấn động, thấy mặt trình nhau việc thế nào?” Sư đáp: “Chim Đại bàng cánh vàng kình vũ trụ, trong ấy ai là người xuất đầu?” Vị Tăng hỏi: “Nếu khi gặp người xuất đầu thì làm sao?” Sư đáp: “Giống như chim cắt anh không tin, trước sọ khô nghiệm mới biết thật.” Vị Tăng hỏi: “Thế ấy thì khoanh tay bày ngực lui ba bước?” Sư đáp: “Dưới tòa Tu Di con rùa quạ, chớ đợi điểm trán lần thứ hai.”—A monk asked Xing-Yang-Qing-Pou: “When the Sagara Dragon emerges from the sea, the entire universe shudders. At just such a time, how is this expressed?” Qing-Pou said: “The Garuda King confronts the universe! Among you here, who can come forth?” The monk asked: “If suddenly someone comes forth, then what?” Qing-Pou said: “It's like a falcon striking a pigeon. You don't believe me. If you can experience it behind your skull, then you'll at last realize the truth.” The monk said: “In that case, I'll just fold my hands on my chest and retreat three steps.” Qing-Pou said: “The tortoise that upholds Mount Sumeru won't tolerate another one going back with a dot on its forehead!” • Sư bệnh, Đại Dương đến hỏi: “Thân nầy như bọt huyễn, trong bọt huyễn thành tựu. Nếu không có cái bọt huyễn thì đại sự không do đâu mà hiện. Nếu cần đại sự xong, biết cái bọt huyễn này làm gì?” Sư thưa: “Vẫn là việc bên này.” Đại Dương bảo: “Việc bên kia thế nào?” Sư thưa: “Khắp đất vầng hồng suốt, đáy biển chẳng trồng hoa.” Đại Dương cười: “Là người tỉnh chăng?” Sư hét: “Nói! Sẽ bảo tôi mất rồi.” Nói xong thầy thị tịch—When Qing-Pou was ill in bed, T'a-Yang said to him: “The body is an illusion, and within this illusion affairs are carried out. If not for this illusion, the great matter would have no place from which to be undertaken. If the great matter is undertaken, it is seen to be an illusion. What do you say?” Qing-Pou said: “There is still this matter here.” T'a-Yang said: “And what is that matter?” Qing-Pou said: “Encircling the earth, the lustrous crimson orb. At ocean bottom, not planting flowers.” Qing-Pou paused and closed his eyes. T'a-Yang smile and said: “Are you awake?” Qing-Pou said: “I've forgotten what I was about to say.” He then passed away.
thanh phật sự
(聲佛事) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Dùng âm thanh để làm các Phật sự, tức công đức của âm thanh có khả năng thành tựu các Phật sự. Duy ma kinh lược sớ quyển 10 (Đại 38, 699 hạ) nói: Trong lúc đó nhĩ căn là nhạy bén, cho nên dùng thanh trần để phát khởi. Không hẳn chỉ có thanh trần mà không có 5 trần, như trong đây dùng thanh làm Phật sự, cũng phóng ánh sáng, cũng mây thơm, lọng thơm, y phục... để làm Phật sự. Nhưng dùng thứ thù thắng là chính, ngoài ra là phụ, cho nên quyết định dùng âm thanh làm Phật sự. Lại theo bài tựa Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán thì dùng danh hiệu của 48 nguyện Di đà pháp vương làm Phật sự. Vì nhờ đọc tụng, xưng danh mà được lợi ích vãng sinh, lại nghe pháp âm thì tự nhiên không sinh khởi trần lao, cấu nhiễm, tất cả việc đó đều là thí dụ chứng minh cho Thanh Phật sự. Đến đời sau, thậm chídùng ca múa, kĩ nhạc để cúng dường, cũng là 1 trong các Thanh Phật sự. [X. phẩm Bồ tát hạnh trong kinh Duy ma Q.hạ].
thanh quan
Honest officials.
thanh quang
Pure and bright.
Thanh quy
清規; J: shingi; nghĩa là »Quy luật rõ ràng«;|Danh từ chỉ những quy luật cho tăng, ni và Cư sĩ trong cũng như ngoài những Thiền viện. Trong những tác phẩm nói về quy luật, người ta thường gắn hai chữ Thanh quy phía sau, ví dụ như Bách Trượng thanh quy của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, Vĩnh Bình thanh quy của chùa Vĩnh Bình tại Nhật Bản.
thanh quy
Luật thanh tịnh—Pure rules.
; (清規) Chỉ cho những qui tắc sinh hoạt hằng ngày của chúng tăng(thanh chúng) trong các chùa viện(tùng lâm) của Thiền tông. Tức là các phép tắc được đặt ra để qui định uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm của đại chúng trong tùng lâm mà chúng tăng phải tuân thủ. Thanh gọi đủ làThanh tịnh đại hải chúng. Qui nghĩa là khuôn phép mực thước. Khuôn phép mực thước được đặt ra này có năng lực làm cho đại chúng thanh tịnh, cho nên gọi là Thanh qui. Các Thiền tăng trong khoảng 300 năm từ sau khi Tổ Đạt ma đến Trung quốc, phần nhiều cư trú trong các luật viện, hoặc hang núi, gốc cây, chứ chưa xây dựng các Thiền viện. Đến đời Đường, vì muốn cho Thiền tăng có chỗ an trú để tu hành, thuyết giảng đúng pháp, nên Thiền sư Hoài hải ở núi Bách trượng tại Hồng châu mới thiết lập Thiền viện, đồng thời tham chiếu các kinh luật Đại, Tiểu thừa chế định các nghi tắc tùng lâm, soạn ra Thanh qui 2 quyển lưu hành rộng rãi, người đời gọi là Cổ qui, Cổ thanh qui, Bách trượng thanh qui. Đây là Thanh qui đầu tiên của Thiền tông. Bộ Bách trượng thanh qui bao gồm tất cả các việc trong tùng lâm và các thiết trí như Pháp đường, Tăng đường, Phương trượng, đồng thời từ trong tăng chúng chọn ra 10 Hiền chúng để đảm nhiệm 10 chức, được chia làm Tây tự và Đông tự. Tây tự gồm: Thủ tọa (Tiền đường, Hậu đường), Thư kí, Tri tạng, Tri khách, Tri dục; Đông tự gồm: Giám tự, Duy na, Phó tự, Điển tọa, Trực tuế. Ngoài ra còn đặt các chức vụ như Liêu nguyên, Đường chủ, Hóa chủ, Trang chủ, Tri điện..., tóm lại, tất cả mọi việc trong tùng lâm đều có người chuyên môn chịu trách nhiệm. Tất cả các việc triêu tham(tham thiền buổi sáng), tịch tụ(nhóm họp buổi tối), trai chúc(cơm cháo), phổ thỉnh(thỉnh toàn thể chư tăng)... của đại chúng đều có qui định. Học chúng nhóm họp ở Tăng đường, thứ tự chỗ ngồi được sắp xếp theo năm thụ giới; đồng thời đặt những chiếc giường dài liền nhau để ngồi thiền và nghỉ ngơi. Còn Trụ trì thì phải là người có đủ đạo nhãn và đức hạnh, cư trụ trong Phương trượng, thường lên Pháp đường nói pháp, hỏi đạo, chỉ dạy để nhắc nhở và điều phục đại chúng. Những việc như vậy đã trở thành nếp mới trong tùng lâm, nhưng khác với luật pháp. Người đời gọi nếp sinh hoạt mới này là Bách trượng thanh qui. Từ đó về sau, các tùng lâm trong nước đều y theo thanh qui này mà làm phép tắc sinh hoạt tự viện. Tuy nhiên, đời sau cũng có người cho rằng Thiền lâm thanh qui là trái với giới luật Phật chế, nên tỏ thái độ chê bai. Trải qua thời gian cuối đời Đường, sang đời Ngũ đại thì bộ Bách trượng thanh qui dần dần bị thất lạc, hiện nay chỉ còn thấy một phần trong 2 sách Thiền môn qui thức và Bách trượng qui thằng tụng của Dương ức. Sau Bách trượng thanh qui, ở Trung quốc có những thanh qui khác lần lượt được soạn ra như sau: 1. Thiền uyển thanh qui (Sùng ninh thanh qui), 10 quyển, do ngài Tông trách soạn vào đời Tống. 2. Nhật dụng tiểu thanh qui (Nhập chúng nhật dụng thanh qui; Nhập chúng thanh qui, Nhật dụng qui phạm), 1 quyển, do Thiền sư Vô lượng Tông thọ ở Thụy nghiêm soạn. 3. Tùng lâm giáo định thanh qui tổng yếu(Hàm thuần thanh qui, Giáo định thanh qui, Vụ châu thanh qui), 2 quyển, do Thiền sư Duy miễn ở Kim hoa, Vụ châu soạn. 4. Thiền lâm bị dụng thanh qui (Chí đại thanh qui, Trạch sơn thanh qui, Đông lâm thanh qui), 10 quyển, do Thiền sư Nhất hàm ở Trạch sơn thuộc Đông lâm soạn vào đời Nguyên. 5. Huyễn trụ am thanh qui, 1 quyển, do Thiền sư Trung phong Minh bản soạn. 6. Thiền uyển thanh qui tổng yếu, 2 quyển, do Thiền sư Đạo tề soạn. 7. Thôn tự thanh qui, 1 quyển, do Thiền sư Kế hồng soạn. 8. Thọ xương thanh qui, 1 quyển, do Thiền sư Đạo thịnh soạn vào đời Minh. Ngoài ra, Thiền sư Đức huy trụ trì núi Bách trượng, tỉnh Giang tây, vâng sắc vua, đem 4 bản Sùng ninh thanh qui, Hàm thuần thanh qui, Chí đại thanh qui và Huyễn trụ am thanh qui, lược bỏ bớt những chỗ rườm rà, bù thêm vào những chỗ thiếu sót mà biên soạn lại bộSắc tu Bách trượng thanh qui 2 quyển, chia ra làm 9 chương, sửa lại làm 2 quyển. Từ đời Minh đến nay, bản này rất thông dụng, tuy tên gọi vẫn là Bách trượng thanh qui nhưng tinh thần nội dung thì đã cách Cổ thanh qui xa lắm. Trong 9 chương, 4 chương đầu qui định về các nghi thức chúc thánh, quốc kị, kì đảo, Phật đản tiết, Niết bàn tiết, Đạt ma kị, Bách trượng kị và Kị chư Tổ nhiều đời của các chùa, đây đều là các nghi thức mà trong luật không qui định hoặc trong Cổ thanh qui còn thiếu. Từ chương 5 đến chương 9 là những qui chương chế độ của chính tùng lâm. Ngoài ra, các tông phái khác cũng phỏng theo qui chế trong thanh qui này mà soạn ra các thanh qui của tông phái mình, như ngài Tỉnh ngộ thuộc Luật tông soạn Luật uyển sự qui 3 quyển, ngài Tự khánh tông Thiên thai soạn Giáo uyển thanh qui 1 quyển... Từ sau đời Minh, qui chế của Giáo môn rơi vào tình trạng hỗn loạn, các hành pháp trong tùng lâm cũng lỏng lẻo theo. Ở Nhật bản, về việc soạn thuật thanh qui thì có Thiền sư Đạo nguyên soạn Vĩnh bình thanh qui, Thiền sư Thiệu cẩn soạn Oánh sơn thanh qui, ngài Tức trung Huyền thấu soạn Vĩnh bình tiểu thanh qui, ngài Thanh chuyết Chính trừng soạn Đạo giám thanh qui, ngài Đông tiệm Dị công soạn Tùng lâm thập di lược thanh qui, ngài Vô trước Đạo trung soạn Tiểu tùng lâm thanh qui... Đến thời đại Đức xuyên thì có ngài Ẩn nguyên Long kì soạn Hoàng bá thanh qui, Tiểu tùng lâm lược thanh qui của phái Diệu tâm, ngài Diện sơn thuộc tông Tào động soạn Tăng đường thanh qui... Ngoài ra còn có ngài Từ không thuộc tông Tịnh độ soạn Liên môn thanh qui, ngài Nhật đăng tông Nhật liên soạn Thảo sơn thanh qui... Về các điều mục chủ yếu được thực hành trong các tùng lâm hiện đại thì có: 1. Kết hạ và kết đông: Bốn lễ lớn được tùng lâm rất xem trọng là Kết hạ, Giải hạ, Đông chí và Niên triêu. Kết hạ tức kết hạ an cư, cũng gọi kết chế, vốn bắt đầu từ ngày 15 tháng 4 hoặc tháng 5 hằng năm theo âm lịch; Giải hạ thì vào ngày 15 tháng 7 hoặc tháng 8, nhưng từ đời Nguyên về sau thì trước 1 ngày có giảng tập lễ nghi để tiện cho việc chuyên tâm tu đạo trong 3 tháng; Kết đông thì trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 đến ngày 15 tháng giêng năm sau, kết chế an cư, chuyên tu Thiền pháp. Tức thường gọi là Đông tham hạ giảng. 2. An đơn: Tỉ khưu đã thụ giới Cụ túc, nếu y bát giới điệp đều đủ, khi hành cước(đi tham học) đến các chùa đều có thể quải đơn tạm trú. Nếu quải đơn (ở tạm) đã lâu, biết là người có hạnh kiểm tốt có thể sống chung thì cho vào Thiền đường, gọi là An đơn (được chính thức an trụ).3. Đại thỉnh chức: Tức việc sắp xếp nhân sự trong một chùa. Đây là sự kiện quan trọng vào mùa đông trong tùng lâm, thông thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 hằng năm. 4. Thiếp đơn: Chỉ cho việc công bố danh sách các chức sự và nhân viên thường trú của một chùa, thường thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 10 hằng năm. 5. Đả thất: Cầu hẹn ngày chứng ngộ, mỗi năm từ ngày 15 tháng 10 âm lịch đến ngày mồng 7 tháng giêng năm sau, Thiền chúng trong tùng lâm cử hành Thiền thất, cứ 7 (thất) ngày là 1 kì, hoặc đả thất (7 ngày), hoặc đả thập thất (70 ngày) không nhất định. Đây là việc làm quan trọng trong kì Kết đông. 6. Phổ thỉnh(cũng gọi Xuất pha): Thỉnh toàn thểđại chúng làm việc. 7. Tuế kế: Báo cáo tổng kết việc chi thu trong năm của tùng lâm. 8. Túc chúng: Phân xử những vị tăng vi phạm thanh qui. 9. Bảng trạng bài thị: Chỉ cho phương thức thông tri hành sự trong tùng lâm, tức thông báo cho đại chúng trong tùng lâm biết các việc bằng cách viết yết thị lên bảng gỗ treo ở các nơi như Pháp đường, Tăng đường, chúng liêu... 10. Chung cổ pháp khí: Chuông trống pháp khí dùng làm hiệu lệnh trong tùng lâm.[X.Thiền tịch chí Q.thượng; điều Truyền thiền qui pháp trong Đại tống tăng sử lược; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6, phần cuối; Thiền tông tùng lâm chế độ dã Trung quốc xã hội]. (xt. Nam Hoài Cẩn).
thanh quỷ
Loại quỷ xanh, luôn miệng trách mắng tội nhân trong địa ngục—Blue or green demons who abuse the sufferers in Hades.
thanh sinh niệm tụng
(聲生念誦) Cũng gọi Sinh niệm tụng. Một trong 5 cách niệm tụng nói trong Bí tạng kí. Nghĩa là trong tâm quán tưởng pháp loa, niệm tưởng từ pháp loa này phát ra âm thanh mầu nhiệm, rồi theo âm thanh ấy mà tụng. (xt. Ngũ Chủng Niệm Tụng).
thanh sách
(青册) Tạng (gọi đủ): Bod-kyi yul-du chos daí chos-smra-ba ji-ltar byuí-ba#i rim-pa deb-ther síon-po. Gọi tắt:Deb-ther síon-po. Cũng gọi: Thanh sử. Bộ sử nói về sự lưu thông giáo pháp ở Tây tạng và thứ tự xuất hiện của các giáo thuyết. Tác giả là Khuếch dịch sư hùng nỗ phẫu (Tạng: Fgos-lotsà-ba Gshon-nudpal, 1392-1481, cũng gọi Đồng tử Cát tường). Đây là bộ sử đáng tin cậy nhất trong các sách sử của Phật giáo Tây tạng. Nội dung nói về các sự kiện từ thời đại Tùng tán cương bạc đến năm hoàn thành sách này (1478) thì dừng, tức khoảng thời gian 848 năm. Bản hiện còn là bản Thanh sử của Công đức lâm (Tạng: Kun-bde-glií) gồm 485 trang, chia làm 15 chương. Nội dung bắt đầu từ lịch sử hoằng thông Phật giáo ở Ấn độ và Tây tạng thời xưa, đồng thời trình bày khái quát về giáo nghĩa và sự truyền thừa của các phái. Đặc sắc lớn nhất của sách này là sử dụng lịch Can chi (Tạng:Rab-#byuị) được truyền vào Tây tạng năm 1027. Ngoài ra, sách này cũng nhờ trình bày một cách khách quan và niên đại chính xác mà được nổi tiếng. Sách này không những chỉ là lịch sử Phật giáo mà còn ghi chép về các Vương triều cũng như lịch sử chính trị, xã hội một cách rất rõ ràng, xác thực, màu sắc huyền thoại rất mờ nhạt. Những văn hiến cổ đại được trưng dẫn trong sách phần lớn đã bị thất truyền, do đó, qua sách này, người ta có thể biết được một số ghi chép quan trọng của thời xưa. Về phần sử liệu thì tác giả cũng tham chiếu rất nhiều sử liệu Hán văn. Còn sự tính toán về niên đại của phần lịch sử cổ đại trong sách này thì sót mất một chu kì lịch Can chi. Sách này hiện có các bản dịch tiếng Anh và tiếng Nhật. [X. Tây tạng soạn thuật Phật điển mục lục; Lược thuật Tây tạng sử tịch – Thanh sử (Lâm truyền phương, Nội minh tạp chí số 11)].
thanh sơn thiền viện
(青山禪院) Tên ngôi chùa cổ ở núi Thanh sơn (xưa gọi là núi Đồn môn) tại Hương cảng. Chùa này đã có từ đời Đường, bấy giờ gọi là am Bôi độ, chùa Bôi độ, vốn được xây cất để kỉ niệm Thiền sư Bôi độ. Ở bên phải phía sau chính điện của chùa có động Thạch Phật gọi là động Bôi độ, phía trước động có tượng Thiền sư Bôi độ khắc bằng đá. Cảnh sắc nơi này rất đẹp, gió mát trăng thanh, là di tích xưa nhất của Phật giáo ở Hương cảng. (xt. Bôi Độ Sơn).
thanh sắc thanh quang
Green colored of green light.
thanh sử
History book.
thanh tao
Noble—Elevated.
thanh thanh
Greenish.
thanh thoát
Spontaneously.
thanh thái quốc
Xem Cực lạc quốc.
; (清泰國) Tên cõi nước Phật A di đà cư trụ. Chỉ cho cõi nước thanh tịnh thư thái. Kinh A di đà cổ âm thanh vương đà la ni ghi rằng: Cõi nước của Phật A di đà hiệu là Thanh thái, Ngài và cha mẹ cùng các Thánh chúng đều an trụ trong cõi nước ấy.Nhưng kinh Vô lượng thọ thì nói đức Phật A di đà là Giáo chủ của thế giới Cực lạc ở phương Tây, Ngài thường an trụ trong thế giới ấy, như vậy, thuyết này khác xa với thuyết trên cho rằng cõi nước đức Phật A di đà cư trụ tên là Thanh thái, có quyến thuộc như cha mẹ, Thánh chúng..., vì thế xưa nay đã có các luận thuyết khác nhau về 2 cõi nước này và về Báo thân, Hóa thân của Phật. Đối với vấn đề này, quan điểm của tác giả An lạc tập quyển thượng cho rằng Cực lạc là Tịnh độ, do Báo thân của Phật A di đà cư trụ; còn Thanh thái là Uế độ, do Hóa thân Phật A di đà cư trú. Còn Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7, phần cuối, thì cho rằng Thanh thái và Cực lạc là cùng một chỗ, nếu dựa theo sự phối hợp giữa Báo thân và Hóa thân thì có 2 thuyết: Thuyết thứ nhất cho rằng trong kinh nói có quyến thuộc như cha mẹ là để chứng minh Cực lạc ở phương Tây chung cho cả Hóa độ; thuyết thứ 2 thì cho rằng kinh nói có cha mẹ là sự thị hiện của Tha thụ dụng thân chứ thực tế thì không có việc này, cho nên cõi ấy chỉ có Báo thân, không có Hóa thân. Ngoài ra, luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 6 cũng nêu ra 3 thuyết: Hai thuyết trước chủ trương Thanh thái và Cực lạc là cùng một chỗ, còn thuyết thứ 3 thì cho rằng Thanh thái là Uế độ, đức Phật A di đà chịu thai sinh ở cõi Thanh thái và thành Chính giác ở Cực lạc. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.7; A di đà kinh sớ (Nguyên hiểu)].
thanh thường trú
Mimansaka (S) Một tôn phái ngoại đạo thời thế kỷ VII.
thanh thản
Serene.
thanh thế
Prestige—Fame and influence.
thanh thế tông
(清世宗) Vua Thế tông nhà Thanh, con thứ 4 của Thánh tổ, tên Dận chân. Ông làm vua trong 14 năm (từ năm 1722 đến năm 1735). Lúc còn trẻ, ông được Phật sống Chương gia (Chương gia hô đồ khắc đồ) giáo hóa, lại theo ngài Ca lăng Tính âm tu tập thiền định, tự lấy hiệu là Viên minh Cư sĩ. Sau khi lên ngôi, ông nghiêm cấm mọi hoạt động của Cơ đốc giáo. Ông đặt một vị Sứ thần ở Lha-sa, Tây tạng, cùng với các Vương công Đại thần đồng tham thiền. Ông rất coi trọng Tịnh độ giáo của ngài Vân thê Châu hoành (1535-1615). Nhà vua có các tác phẩm: Ngự soạn ngữ lục 19 quyển, Giản ma biện dị lục 8 quyển. Tác phẩm sau nhằm bác bỏ thuyết phái Tam phong(một phái thuộc tông Lâm tế) và đến năm Ung chính 11 (1733) thì cấm hẳn phái này không được sinh hoạt. (xt. Tam PhongPhái).
thanh thỏ
Quiet—Calm.
thanh thủy giáo
(清水教) Một trong các tông giáo dân gian Trung quốc ở đời Thanh, một chi phái của Bạch liên giáo, do Vương luân (?-1774) kế thừa Trương kí thành ở Duyện châu, tỉnh Sơn đông làmgiáothủ, lấy huyện Cốc dương làm căn cứ địa, tự xưng gặp được dị nhân truyền cho bùa phép, có thể triệu thỉnh quỉ thần, lại tung tin rằng kiếp Hắc phong sắp đến, nếu theo đạo thì tránh được tai họa. Vương luân lại kêu gọi đồ chúng thờ Phật Di lặc, Vô sinh thánh mẫu, phao tin Thánh mẫu giáng sinh, dao chém không đứt, giáo đâm không thủng. Trong đạo chia làm 2 ban văn, vũ; đồ chúng của ban văn gọi là Văn đệ tử, luyện tập khí công, không được bỏ đạo; đồ chúng ban vũ gọi là Vũ đệ tử, học tập võ thuật, được phép bỏ đạo nửa chừng, gọi là Thái bình khứ. Tông giáo này lưu hành ở các vùng Sơn đông, Hà bắc... Vào những năm đầu niên hiệu Càn long, phái này triệu tập tín đồ vùng nông thôn ở phía tây tỉnh Sơn đông, cử hành Đại hội tông giáo. Năm Càn long 39 (1774), Vương luân lãnh đạo đồ chúng nổi loạn, gọi là loạn Thanh thủy giáo, hoặc loạn Vương luân.[X. Tiễu bộ lâm thanh nghịch phỉ kỉ lược; Thanh vũ kí (Ngụy nguyên)].
Thanh Thủy Tự
(清水寺, Kiyomizu-dera hay Seisui-ji): ngôi chùa trung tâm của Bắc Pháp Tướng Tông, tọa lạc tại số 1-294 Kiyomizu (清水), Higashiyama-ku (東山區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府); hiệu núi là Âm Vũ Sơn (音羽山), nơi tham bái hành hương thứ 16 trong suốt 33 nơi tham bái chính ở vùng Tây Quốc (西國, Saikoku). Tượng thờ chính của chùa là Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音). Vào năm 796, ngôi Quan Âm Tự (觀音寺) được dời đến vùng đất này, rồi đệ tử của Báo Ân Đại Sư (報恩大師) là Diên Trấn (延鎭) mới làm Tổ khai sơn chùa, còn hào tộc Điền Thôn Ma Lữ (田村麻呂) thì có công khai sáng chùa. Mấy năm sau các đường vũ của chùa được dựng lên và chùa trở thành ngôi chùa sắc nguyện của Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō), với tên gọi là Thanh Thủy Tự. Vào năm 811, chùa trở thành đạo tràng trấn hộ quốc gia, triều đình và hoàng thất quy y theo rất nhiều, nên chùa rất hưng thạnh. Sau đó, chùa phụ thuộc vào Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở vùng Nam Đô, chuyên tu cả Chơn Ngôn và Pháp Tướng, nhưng do chùa bị lôi cuốn vào cuộc phân tranh với Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), nên cũng bao lần bị đốt cháy. Sau cuộc loạn Bình Nguyên (平源) thì chùa hoàn toàn suy thối, nhưng trong khoảng thời gian niên hiệu Kiến Cửu (建久, 1190-1198) thì chùa lại được tái kiến. Vào thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi) thì Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) cúng dường đất xây chùa nên các đường vũ mới được tạo dựng nên. Sau đó chùa lại trải qua đến ba lần bị cháy rụi, rồi đến năm 1633 thì được Tướng Quân Đức Xuyên Gia Quang (德川家光, Tokugawa Iemitsu) tái kiến lại. Hiện tại có Thành Tựu Viện (成就院), Thái Sản Tự (泰産寺), Từ Tâm Viện (慈心院), Lai Nghênh Viện (來迎院), v.v. Chánh điện của chùa được tái kiến lại do sự hỗ trợ của Đức Xuyên Gia Quang, vẫn còn bảo trì cho đến ngày nay. Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất ở kinh đô Kyoto.
thanh tiền nhất cú thiên thánh bất truyền
(聲前一句千聖不傳) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thanh tiền nhất cú(một câu trước tiếng nói) chỉ cho một câu nói khi chưa phát ra âm thanh, một câu nói khi cha mẹ chưa sinh, đây là Chính pháp nhãn tạng, Niết bản diệu tâm của Phật tổ. Thiên thánh (nghìn bậc Thánh) là chỉ cho chư Phật, chư Tổ trước đã ra đời. Nghĩa là một câu Chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm này chẳng phải lời, chẳng phải câu, cũng chẳng phải điều mà nghìn Phật muôn Tổ có thể truyền được. Nhóm từ này hiển bày ý nghĩa là đại sự tông thừa hướng thượng (chân lí thiền) chẳng phải cái mà người khác có thể trao truyền, mà phải do chính mình thực tế thể ngộ chứng đắc. Bích nham lục tắc 7 (Đại 48, 147 thượng) nói: Thanh tiền nhất cú, thiên thánh bất truyền, chính mình chưa từng thấy thì như cách muôn trùng. Cho dù có biện biệt được trước khi phát ra âm thanh, có cắt đứt đầu lưỡi của mọi người trong thiên hạ thì cũng chưa hẳn là kẻ đã thấy tính.
thanh toán
To liquidate.
thanh tra
To inspect.
thanh trai
Giữ trai giới thanh tịnh—Pure observance of monastic rules for food; to eat purely, i.e. vegetarian food; fasting.
; (清齋) Trì trai thanh tịnh. Trai nghĩa là trang nghiêm thanh khiết, nhất là chỉ cho thức uống ăn, động tác, tư duy, ý niệm... Trong Phật giáo, từ 12 giờ trưa đến sáng sớm hôm sau không ăn, gọi là Trai. Theo Thích thị yếu lãm quyển hạ thì dân gian có phong tục uống một chén nước vào giờ Thìn và suốt ngày không ăn, gọi là Thanh trai. Thanh trai cũng chỉ cho ăn chay, kiêng các loại rau cay nồng như hành, tỏi... hoặc chỉ căn tịnh thất.
thanh trà môn giáo
(清茶門教) Một trong các tông giáo dân gian lưu hành vào cuối đời Minh đến giữa đời Thanh, Trung quốc, do con cháu của Vương sâm(Giáo chủ Văn hương giáo cuối đời Minh)sáng lập. Giáo đồ tông giáo này ăn chay, thờ thần Phật như Di lặc, Quan âm, Vô sinh lão mẫu... Ngày mồng 1 dâng hương, cúng 3 tách trà xanh (Thanh trà) và tụng kinh. Lúc thu nhận tín đồ, ngoài việc truyền thụ Tam qui, Ngũ giới còn truyền các chú ngữ. Đối tượng đồ chúng được thu nhận phần nhiều là thành phần nông dân nghèo khổ, những người có cuộc sống thấp kém và dân lang thang vô nghề nghiệp là chính. Những giáo đồ bái kiến Giáo chủ và người mang họ Vương đều phải lạy sátđầu xuống đất và dâng hiến tiền bạc, gọi là Triều thướng (dâng Thiên tử). Hàng năm vào tháng giêng và tháng chạp theo định kì dâng hiến tiền bạc một lần, gọi là Căn cơ tiền hoặc Phúc quả tiền, hàm ý là gieo trồng hạt giống nền tảng và hạnh phúc vào thời ngài Di lặc giáng sinh. Kinh điển chủ yếu của phái này gồm có Cửu liên như ý hoàng cực bảo quyển chân kinh, Nguyên hanh lợi trinh thược thỉ kinh, Tam giáo ứng kiếp tổng quan thông thư... Trong đó, Tam giáo ứng kiếp tổng quan thông thư bên trong chứa đựng tư tưởng phản Thanh phục Minh rõ ràng, có ảnh hưởng rất lớn đối với các cuộc khởi nghĩa của nông dân đời Thanh, khoảng 200nămtrở lại đây vẫn ngấm ngầm truyền bá tại các vùng như Kí, Tấn, Dự, Ngạc, Hoàn, Tô..., từ sau năm Gia khánh 18 (1813), triều đình nhà Thanh ra sức trấn áp, gia tộc họ Vương bị giết hại và lưu đày, từ đó Thanh trà môn giáo mới suy tàn.
thanh trước
Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng tọa lạc tại ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công, Nam Việt Nam. Ban đầu chùa có tên là Phật Linh do các mục đồng dựng lên năm 1826. Đến năm 1851, Hòa Thượng Quý Chơn Hội đứng ra xây chùa và lấy tên là Thanh Trước Tự. Chùa đã trải qua bảy đời truyền thừa. Năm 1896, Hòa Thượng Hải Tràng cho trùng tu lần thứ nhất. Từ năm 1941, Hòa Thượng Hoằng Thông đã cho trùng tu các năm 1946 và 1958—Name of a famous ancient pagoda located in Gò Tre hamlet, Long Thuận village, Gò Công town, South Vietnam. The pagoda was built by some herdsmen in 1826 and called Phật Linh. Up to 1851, Most Venerable Quý Chơn Hội took responsibility of rebuilding the pagoda and remaned it Thanh Trước. It has been headed by seven successors. In 1896, Most Venerable Hải Tràng had it restored for the first time. Since 1941, Most Venerable Hoằng Thông, Head of the pagoda, had the pagoda rebuilt in 1946, 1958.
thanh trượng
Cây gậy đã được Đức Phật cho thọ giới, dùng để đuổi những loại côn trùng độc—The sounding or rattling staff, said to have been ordained by the Buddha to drive away crawling poisonoue insects.
; (聲杖) Chỉ cho tích trượng. Đầu trên của tích trượng được làm bằng kim loại, có treo những cái vòng, khi rung gậy thì phát ra âm thanh, các loài cầm thú nghe tiếng giật mình bỏ chạy, vì thế gọi là Thanh trượng (gậy phát ra tiếng). Cứ theo luật Thập tụng quyển 56 thì thủa xưa, lúc đức Phật trụ ở trong rừng Hàn viên(vườn lạnh) có rất nhiều trùng độc bò sát cắn các tỉ khưu, do đó Phật liền dạy nên làm gậy phát ra tiếng để xua đuổi trùng độc. (xt. Tích Trượng).
thanh trượng vương
Nīladaṇḍa (S) Nễ la nan noa vương Một trong Thập Phẫn nộ vương.
thanh trần
Saddarammana (skt)—The audible object.
thanh trần đắc đạo
(聲塵得道) Nương theo âm thanh mà được đạo. Thanh(tiếng nói)là đối tượng của nhĩ căn (lỗ tai), thuộc 1 trong 6 trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), cho nên cũng gọi là Thanh trần. Tức lắng nghe Phật, Bồ tát nói pháp, cho đến nghe các âm thanh tán tụng Phạm bái... nhờ đó mà chứng nhập Phật đạo. Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 6 nói về âm thanh viên thông của bồ tát Quán âm như sau (Đại 19, 130 hạ): Nay con bạch Thế tôn, Phật hiện cõi Sa bà. Chân giáo thể phương này, Thanh tịnh nhờ nghe tiếng. Muốn chứng tam ma đề, Thực phải từ tính nghe. Lìa khổ được giải thoát. Do đây mà biết bồ tát Quán âm cho rằng nhĩ căn của chúng sinh ở thế giới Sa bà đặc biệt nhạy bén, dùng âm thanh được đạo dễ nhất, cho nên Ngài lấy Thanh trần làm giáo thể để dìu dắt chúng sinh cõi Sa bà. Tông Thiên thai dùng từ ngữ Thanh trần đắc đạo làm luận đề, chủ trương người bắt đầu học Phật nên lấy nhân duyên Thanh trần làm giới hạn. Nhật bản gọi tán bái, niệm danh hiệu Phật và cúng dường ca múa, âm nhạc... là Thanh Phật sự, chính đã do ý nghĩa này mà ra. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 hạ; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.1; Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.3; Thủ lăng nghiêm kinh nghĩa hải Q.18; Tống cao tăng truyện Q.30]. (xt. Thanh Phật Sự).
thanh trừ
To eliminate.
Thanh Trừng Tự
(清澄寺, Seichō-ji): ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 322-1 Seichō (清澄), Kamogawa-shi (鴨川市), Chiba-ken (千葉縣); hiệu núi là Thiên Quang Sơn (千光山), người thế gian thường gọi là Thanh Trừng Sơn (清澄山, Kiyosumiyama). Tượng thờ chính của chùa là Pháp Hoa Mạn Trà La (法華曼荼羅). Đây được xem là ngôi chùa nơi Nhật Liên xuất gia thọ giới, nên hiện tại nó gắn liền rất mật thiết với Nhật Liên Tông; nhưng nguyên gốc chùa thì không phải như vậy. Theo truyền thuyết của chùa, vào năm 771 (Bảo Quy [寶龜] 2) dưới thời đại Nại Lương, có vị Pháp Sư tên Bất Tư Nghì (不思議) đến thăm địa phương này, rồi lấy cây bách mà khắc thành tượng Hư Không Tạng Bồ Tát, từ đó nó trở thành tượng thờ chính của chùa. Sau đó, Từ Giác Đại Sư (慈覺大師) cũng đến đây rồi khắc bức tượng Bất Động Minh Vương, và từ nhân duyên đó chùa trở thành nơi của Dòng Thiên Thai Từ Giác. Theo như bài minh nơi pho Đại Hồng Chung được đúc vào năm 1392 vốn hiện còn lưu giữ trong nhà kho, có dòng chữ “Thiên Quang Sơn Thanh Trừng Tự ở Phòng Châu do Từ Giác Đại Sư sáng lập”, ta có thể biết được rằng dưới thời Nam Bắc Triều thì Viên Nhân (圓仁, Ennin) là người khai cơ chùa này. Nhưng hiện tại Thanh Trừng Tự là linh địa của Nhật Liên Tông. Khi mới bước vào cửa Sơn Môn, trong khuôn viên chùa ta sẽ thấy có tượng Hư Không Tạng Bồ Tát đứng trên đài cao phía bên tay trái, và chung quanh với rất nhiều cây đại thụ. Lúc còn nhỏ, Nhật Liên thường đến trước tượng này cầu nguyện rằng: “xin cho con trở thành bậc trí giả số một của Nhật Bản” suốt trong 37 ngày liên tục, đến sáng hôm sau thì nằm mộng thấy có vị lão tăng hiện đến ban cho xâu chuỗi ngọc. Chính điều này, Nhật Liên có ghi lại trong di văn của ông, và ngay trước bức tượng Hư Không Tạng này, có những cây tre thấm máu, tương truyền rằng đây là dấu hiệu chứng tỏ ngày Nhật Liên được mãn nguyện, ông thổ máu và máu ấy thấm vào cây này. Khoảng cuối thời đại Thất Đinh, chùa thuộc về Phái Trí Sơn của Chơn Ngôn Tông, nhưng sau đó thì hoàn toàn quy về Nhật Liên Tông.
thanh tuyền
Limpid spring.
thanh tâm
An unperturbed mind.
; Không không uế nhiễm—An unperturbed mind—Pure heart.
; (青心) Từ rút gọn của 2 chữ Tĩnh Lự, nghĩa là lấy chữ Thanh (...) trong chữ Tĩnh ( ...)và lấy chữ Tâm ( )trong chữ Lự ( ...)gọi chung là Thanh tâm. Tĩnh lự nghĩa là lắng tâm yên lặng, chỉ chuyên chú vào một cảnh(đối tượng) duy nhất để quán xét tư duy, tức là trạng thái định và tuệ ngang bằng nhau. Luận Đại tì bà sa quyển 141 (Đại 27, 726 hạ) nói: Tĩnh nghĩa là vắng lặng, Lự nghĩa là tính liệu. Trong 4 địa này định tuệ ngang nhau, cho nên gọi là Tĩnh lự. Còn các địa khác thì có khuyết nên không được gọi là Tĩnh lự. Luận Du già sư địa quyển 33 (Đại 30, 467 hạ) nói: Tĩnh lự nghĩa là trước một đối tượng(sở duyên)nào đó, phải lắng tâm yên lặng để quán sát tư duy, cho nên gọi là Tĩnh lự.
thanh tân
Pure and fresh.
thanh tín nam
Upàsaka (S). Male lay devotee.
; Upasaka (skt)—Ưu Bà Tắc—Male lay devotees—See Upasaka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Ưu Bà Tắc in Vietnamese-English Section.
thanh tín nữ
Upàsikà (S). Female lay devotee.
; Upasika (skt)—Ưu Bà Di—Female lay devotees—See Upasika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Ưu Bà Di in Vietnamese-English Section.
thanh tú
Beautiful—Elegant.
thanh tạng
(清藏) Đại tạng kinh khắc bản vào đời Thanh, được chia làm 3 loại: 1. Long tạng: Do vua Thế tông nhà Thanh ban sắc khắc bản in tại Bắc kinh vào năm Ung chính 13 (1735), đến năm Càn long thứ 3 (1738) thì hoàn thành. Bản khắc này lấy Bắc tạng đời Minh làm bản gốc, có chỗ thêm bớt, gồm 1662 bộ, 7168 quyển, bắt đầu từ Bát nhã bộ thuộc kinh Đại thừa đến các soạn tập của các bậc Hiền Thánh ở Tây vực, hoàn toàn y theo thứ tự biên tập của Bắc tạng, ngoài ra có phụ thêm mục lục. Hình thức theo kiểu Chiết bản, mỗi dòng 17 chữ, mỗi mặt 5 dòng. Bản gỗ khắc kinh từ điện Vũ anh được dời về cất giữ ở chùa Bách lâm tại Bắc kinh. Long tạng do bà Thái hậu Từ hi tặng cho Nhật bản vào cuối đời Thanh được cất giữ ở thư viện của trường Đại học Đại cốc, Nhật bản. 2. Bách nạp tạng(cũng gọi Bách nạp bản): Do Dương nhân sơn phát khởi khắc kinh ở Kim lăng vào năm Đồng trị thứ 5 (1866) đời vua Mục tông nhà Thanh, chủ trương các chùa lớn trên toàn quốc chia nhau khắc trọn bộ Đại tạng. Tạng kinh này là do tập hợp các bản kinh khắc từ các nơi như Bắc bình, Thiên tân, Kim lăng, Giang bắc, Dương châu, Tì lăng, Tô châu và Hàng châu mà thành, vì thế nên gọi là Bách nạp bản. Các kinh luận được thu chép trong tạng này tương đối hơi ít hơn so với Long tạng; kiểu bản phần nhiều theo bản Kính sơn, nhưng khuôn khổ lớn nhỏ không giống nhau, cho đến nay vẫn chưa được sửa đổi. 3. Tần già tạng: Khoảng năm Tuyên thống đời Thanh, tinh xá Tần già ở Thượng hải, dùng tạng kinh rút gọn do thư viện Hoằng pháp của Nhật bản biên tập và ấn hành làm bản mẫu, thay đổi bằng cách in chữ rời cỡ 4, là bộ Đại tạng kinh đầu tiên của Trung quốc được ấn loát bằng hoạt bản, gồm 40 hòm, 414 tập, các hòm được đánh số theo thiên tự văn, có 1 tập Tổng mục lục. Tạng này tuy y cứ theo Hoằng giáo tạng, nhưng tinh hoa của Hoằng giáo tạng là phần Giáo Khám Kí thì lại bị cắt bỏ toàn bộ, đến nổi bị chê là bỏ tinh túy, giữ cặn bã. [X. Đại thanh trùng khắc Long tạng vậng kí; Phật điển phiếm luận (Lữ trừng); Trung quốc tạng kinh dịch ấn sử (Đạo an); Phật giáo thánh điển khái luận (Thâm phố Chính văn)]. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).
Thanh tịnh
清淨; C: qīngjìng; J: shōjō; S: pariśuddha|1. Trong sáng, tinh khiết, không bị ô uế. Không có tội lỗi (s: samśuddhi, śauca, viśodhita, viśuddha). Không động niệm; 2. Được làm trong sạch, làm an định; 3. Làm cho thanh khiết, làm cho sạch sẽ; sự lắng trong; 4. Một người thanh tịnh (s: tathāgata). Đối nghịch với nhiễm (染), ô (汚).
thanh tịnh
Viśuddhi (S), Purity, Subha (P), Śuddha (S) Tịnh Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili. Xem vô cấu.
; Parisuddhi, visuddhi (S). Pure and clean, free from evil and defilement, perfectly clean.
; Visuddhi (p)—Parisudhi or Visudhi (skt)—Purity—Purification. (I) Nghĩa của Thanh Tịnh—The meanings of Purity: 1) Dứt bỏ mọi sai phạm tà ác và nhiễm trược: Free from evil and defilement. 2) Hoàn toàn thanh tịnh: Pure—Chaste—Calm—Quiet—Purity—To purify (v)—To become purity—Serenity—Pure and clean—Perfectly clean. (II) Phân loại Thanh Tịnh—Categories of Purity: (A) Nhị chủng Thanh Tịnh—There are two kinds of purity: 1) Tự tánh thanh tịnh: Natural purity—Chân như. 2) Ly cấu thanh tịnh: Acquired purity through avoiding pollution. (B) Tam chủng Thanh Tịnh—Three kinds of purity: See Tam Thanh Tịnh in Vietnamese-English Section.
; (清淨) Phạm: Zuddha, Vizuddha, Parizu= ddha. Thanh Thế TôngPàli: Suddha, Visuddha, Parisuddha. Hán âm: Tì du đà, Du đà, Vĩ thú đà, Thú đà. Gọi tắt: Tịnh. Cũng gọi: Phạm ma (Phạm: Brahma). Trong sạch, tức đã xa lìa lỗi lầm phiền não do các việc làm xấu ác gây ra. Phổ thông thường dùng 3 thứ thanh tịnh là: Thân thanh tịnh, Khẩu thanh tịnh và Ý thanh tịnh, tức việc làm, lời nói và ý nghĩ đều trong sạch. Về chủng loại thanh tịnh, trong các kinh luận đều có nói rõ như sau: 1. Nhiếp đại thừa luận thích quyển 2 của ngài Vô tính nêu 2 loại thanh tịnh trong việc áp phục và đoạn trừ phiền não: a. Thế gian thanh tịnh: Nhờ tu hành đạo hữu lậu, có thể tạm thời đè nén sự hiện hành của phiền não, không cho trỗi dậy, gọi là Thế gian thanh tịnh. b. Xuất thế gian thanh tịnh: Nhờ tu hành đạo vô lậu, có năng lực diệt hết sạch phiền não, gọi là Xuất thế gian thanh tịnh. 2. Luận Tịnh độ của ngài Thế thân nêu ra 2 thứ thanh tịnh: a. Khí thế gian thanh tịnh: Làm cho hoàn cảnh trở nên thanh tịnh. b. Chúng sinh thế gian thanh tịnh: Một khi khí thế gian đã thanh tịnh, thì chúng sinh ở trong đó biến thành Thánh chúng. Hai thế gian trên đây hiển bày nghĩa Y báo và Chính báo đều thanh tịnh. 3. Luận Đại trí độ quyển 73 nêu 3 thứ thanh tịnh: a. Tâm thanh tịnh: Người tu học Bát nhã sẽ không dấy lên tâm ô nhiễm và tâm sân hận. b. Thân thanh tịnh: Tâm đã thanh tịnh thì thường được hóa sinh, cho nên thân thanh tịnh. c. Tướng thanh tịnh: Thân được đầy đủ các tướng tốt đẹp, trang nghiêm. 4. Luận Nhiếp đại thừa quyển trung (bản dịch đời Lương) nêu 4 thứ thanh tịnh: a. Bản lai tự tính thanh tịnh. b. Vô cấu thanh tịnh. c. Chí đắc đạo thanh tịnh. d. Đạo sinh cảnh giới thanh tịnh. 5. Luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 4 nêu 2 thứ thanh tịnh, tức Bản lai tự tính thanh tịnh được chia làm 2: a. Tự tính thanh tịnh: Muôn pháp đều không, xưa nay vốn tức thanh tịnh. b. Li cấu thanh tịnh: Tách khỏi phiền não mà thành thanh tịnh. 6. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 3 liệt kê 9 thứ thanh tịnh: Thi la(tức giới) thanh tịnh, Tâm thanh tịnh, Kiến thanh tịnh, Độ nghi thanh tịnh(hết ngờ vực), Đạo phi đạo trí kiến thanh tịnh, Hành trí kiến thanh tịnh, Hành đoạn trí kiến thanh tịnh, Vô duyên tịch diệt thanh tịnh và Quốc độ thanh tịnh. 7. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 7 liệt kê 8 thứ thanh tịnh: Tam muội thanh tịnh, Trí tuệ thanh tịnh, Thần thông thanh tịnh, Hiện thân thanh tịnh và Đa văn thanh tịnh... [X. phẩm Thán tịnh trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 12; kinh Đại bảo tích Q.14, 39; kinh Vô thượng y Q.thượng; luận Tập dị môn túc Q.6, luận Thích tịnh độ quần nghi Q.1].
thanh tịnh biện tài
Purity of intellectual powers.
thanh tịnh bản nhiên
Purely and naturally so, spontaneous.
; (清淨本然) Cũng gọi Lang gia thanh tịnh bản nhiên, Lang gia sơn hà. Tên công án trong Thiền tông. Công án này phát sinh từ câu Thanh tịnh bản nhiên(tự nhiên vốn thanh tịnh), thế tại sao bỗng sinh núi sông đất liền? do Thiền sư Trường thủy Tử tuyền đời Tống hỏi Thiền sư Lang gia Tuệ giác. Thung dung lục tắc 100 (Đại 48, 291 hạ) ghi: Vị tăng hỏi Hòa thượng Lang gia giác: Thanh tịnh bản nhiên, vì sao bỗng sinh ra núi sông đất liền? Hòa thượng đáp: Thanh tịnh bản nhiên, vì sao bỗng sinh ra núi sông đất liền? Công án này căn cứ vào kinh Thủ lăng nghiêm quyển 4 do ngài Bát lạt mật đế dịch vào đời Đường, trong đó, ngài Phú lâu na hỏi đức Phật (Đại 19, 119) hạ: Bạch Thế tôn! Nếu tất cả căn, trần, ấm, xứ, giới ở thế gian đều là Như lai tạng, thanh tịnh bản nhiên, vì sao bỗng sinh ra các tướng hữu vi núi sông, đất liền, lần lượt xoay vần dời đổi, cứ đến cuối thì trở lại đầu? [X. chương Trường thủy trong Ngũ đăng hội nguyên Q.14; Phổ đăng lục Q.3].
thanh tịnh bổn nhiên
Purely and naturally so—Spontaneous.
Thanh tịnh chân chư
清淨眞如; C: qīngjìng zhēnrú; J: shōjō shinnyo;|Chân như thanh tịnh, đề cập đến chân đế của sự diệt khổ. Là một trong 7 loại chân như (七種眞如).
thanh tịnh chân như
One of the seven chân như.
; The pure bhutatathata.
Thanh tịnh chân như 清淨眞如
[ja] ショウジョウシンニョ shōjō shinnyo ||| The suchness of purity, which is a reference to the noble truth of cessation of suffering. One of the seven kinds of suchness 七種眞如. 〔十八空論 T 1616.31〕 => Chân như thanh tịnh, đề cập đến chân đế của sự diệt khổ. Là một trong bảy loại chân như.
thanh tịnh công đức
(清淨功德) Công đức thanh tịnh, 1 trong 17 thứ công đức về đất nước trong 29 thứ trang nghiêm cõi Cực lạc tịnh độ. Nghĩa là cõi Cực lạc tịnh độ kia là nơi đại thanh tịnh, tuyệt đối yên vui, chứ không như 3 cõi là nơi điên đảo bất tịnh và bất an. Bởi vì Tịnh độ ấy được hình thành theo nghiệp trí tuệ thanh tịnh của bồ tát Pháp tạng, ứng hợp với pháp tính, thuận theo chân đế, tục đế, vĩnh viễn xa lìa tướng điên đảo bất tịnh, là nơi được đại thanh tịnh, rốt ráo yên vui, cũng thu nhiếp chúng sinh khiến vào nơi thanh tịnh cùng tột. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].
thanh tịnh giác hải
The pure ocean of enlightenment.
; Bản giác thanh tịnh rộng sâu như biển cả, không chứa đựng những phiền trược của cuộc đời (như biển cả không chứa rác rưởi, mà rác rưởi phải bị sóng tấp vào bờ)—The pure ocean of enlightenment, which underlies the disturbed life of all.
; (清淨覺海) Ví dụ bản giác thanh tịnh sâu rộng như biển. Kinh Viên giác (Đại 17, 920 thượng) nói: Cầu thiện tri thức không rơi vào tà kiến, nếu đối với sở cầu mà sinh tâm yêu ghét thì khôngvàođược biển giác thanh tịnh (thanh tịnh giác hải). Còn từ ngữ Thanh tịnh giác tướng là chỉ cho chân tướng(chính thể) của bản giác, xa lìa cáu bẩn, nhơ nhớp. (xt. Thanh Tịnh).
thanh tịnh giải thoát tam muội
A samàdhi free from all impurity and in which complete freedom is obtained.
; Tam muội sở không có ô nhiễm, thoát ly mọi hệ lụy ràng buộc, và hoàn toàn thanh thản tự tại—A samadhi free from all impurity and in which complete freedom is obtained.
; (清淨解脫三昧) Chỉ cho Thiền định xa lìa tất cả sự trói buộc. Tam muội này trong sạch không cáu bẩn, là cảnh giới xa lìa tất cả sự trói buộc mà được tự tại, cho nên gọi là Thanh tịnh giải thoát tam muội. Người trụ trong Tam muội này, chỉ trong khoảng một niệm cũng có thể cúng dường vô lượng chư Phật mà không mất định ý. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
thanh tịnh giới
Śīla-visuddhi (S).
Thanh Tịnh Hoa Viện
(清淨華院, Shōjōke-in): một trong 4 ngôi chùa bổn sơn trung tâm của Tịnh Độ Tông; hiện tọa lạc tại Teramachidōri (寺町通), Jōkyō-ku (上京區), Kyoto-shi (京都市), không có hiệu chùa cũng như hiệu núi. Tượng thờ chính là Pháp Nhiên Thượng Nhân. Tương truyền theo sắc nguyện của Thanh Hòa Thiên Hoàng (清和天皇, Seiwa Tennō, tại vị 858-876), ngôi viện vốn phát xuất từ đạo tràng nhỏ do Viên Nhân (圓仁, Ennin) sáng lập, rồi vị khai Tổ của Tịnh Độ Tông là Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên) mới khai sáng ra ngôi viện này; nhưng thật tế người khai sơn viện này chính là Hướng A Chứng Hiền (向阿証賢), vào khoảng đầu thế kỷ 14. Đầu tiên nó nằm ở vùng Cao Thương (高倉, Takakura), nhưng đến năm 1339 thì Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) mới dựng lên Đẳng Trì Tự (等持寺) và dời về chùa này. Hơn nữa, trong khoảng niên hiệu Thiên Chánh (天正, 1573-1592), do chính sách cải cách kinh đô của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), nên chùa được dời về vị trí hiện tại. Với tư cách là cứ điểm của Phái Nhất Điều (一條派) thuộc Tịnh Độ Tông, chùa đã hưng thạnh rực rỡ, rồi được hàng ngũ công khanh cũng như Hoàng Thất quy y theo rất nhiều; nhưng trong hai vụ Loạn Ứng Nhân (應仁) và Văn Minh (文明) thì vận chùa bị suy thối, nhưng đến khoảng đầu thế kỷ thứ 17 thì chùa lại được phục hưng. Nguyên lai chùa này vốn là đạo tràng trong cung cấm nên hiện tại trong khuôn viên chùa vẫn còn nhiều ngôi mộ của các Hoàng Tử, Hoàng Nữ, Công Chúa, v.v.
Thanh tịnh huệ
清淨慧; C: qīng jìng huì; J: shōjōe;|Tên của 1 trong 12 vị Bồ Tát xuất hiện như là 1 đương cơ trong phẩm thứ 6 trong kinh Viên Giác.
thanh tịnh huệ bồ tát
Viśuddha-mati (S) Tên một vị Bồ tát.
; (清淨慧菩薩) Phạm: Visuddha-mati. Hán âm: Vĩ thú đà ma đế. Chỉ cho bồ tát Thanh tịnh tuệ, tương đương với bồ tát Sinh niệm xứ nói trong phẩm Mật ấn kinh Đạinhật. Theo kinh Bất không quyên sách quyển 9 thì hình tượng vị tôn này ngồi bán già, tay trái cầm hoa sen, trên đài sen códựng cái vỏ óc(tù và), bàn tay phải giơ lên. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa bột đà nam (nama# samata buddànàm, Qui mệnh phổ biến chư Phật) đạt ma (dharma, pháp) tam bà phạ (sambhava, sinh) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu). Đại nhật kinh sớ quyển 13 giải thích chân ngôn trên là: Bồ tát này được tự tại, đồng cảnh giới với Phật, từ pháp sinh ra, cho nên gọi là Pháp sinh, ý nói từ pháp tự tính thanh tịnh mà sinh ra. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật].
Thanh tịnh huệ 清淨慧
[ja] ショウジョウエ shōjōe ||| 'Pure Wisdom.' The name of one of the twelve bodhisattvas who appears as an interlocutor in the sixth chapter of the Sutra of Perfect Enlightenment (圓覺經). => Tên của một trong 12 vị Bồ-tát xuất hiện như là một đương cơ trong phẩm thứ sáu trong kinh Viên Giác.
thanh tịnh nghiệp xứ
The state which one who has a pure karma reaches.
; Trạng thái thanh tịnh mà những người có thiện nghiệp đạt đến (đất Phật thanh tịnh kỳ diệu, nơi sanh của những người có nghiệp thuần lành)—The state which one who has a pure karma reaches.
thanh tịnh nhân
The pure and clean man, especially the Buddha.
; Bậc thanh tịnh, đặc biệt ám chỉ Đức Phật—The pure and clean man, especially the Buddha.
; (清淨人) I. Thanh Tịnh Nhân. Người trong sạch. Chỉ chung cho chư Phật. Chư Phật đã xa lìa các phiền não ô nhiễm, 3 nghiệp đều trong sạch, cho nên gọi là Thanh tịnh nhân. Luận Thành duy thức quyển 1 thì gọi là Mãn thanh tịnh giả (người thanh tịnh đầy đủ). [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.11; luận Hiển dương thánh giáo Q.13; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu].II. Thanh Tịnh Nhân. Chỉ cho đức hiệu của Phật A di đà. Phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 khen ngợi công đức của Phật A di đà như sau (Đại 26, 43 hạ). Chư Phật vô lượng kiếp, Tán dương công đức Ngài; Cũng vẫn chưa thể hết, Kính lễ Thanh tịnh nhân. Luận Tịnh độ của ngài Thế thân thì cho rằng vì đức Phật A di đà có đủ cả 2 thứ thanh tịnh của Khí thế gian và Chúng sinh thế gian, cho nên gọi là Thanh tịnh nhân.
thanh tịnh pháp
Dharma-viraja (S). Pure truth.
; Dharmaviraja (skt)—Chân lý thanh tịnh—Pure truth.
Thanh tịnh pháp giới
清淨法界; C: qīngjìng făjiè; J: shōjōhōkai;|Pháp giới thanh tịnh. Pháp giới trong trí huệ giác ngộ của chư Phật. Pháp giới bản thể thanh tịnh. Nền tảng của mọi công đức. Chân như.
thanh tịnh pháp giới
The pure Buddha-truth (realm).
; Pháp giới thanh tịnh hay chân thể mà Đức Phật đã chứng được—The pure Buddha-truth or realm.
; (清淨法界) Cũng gọi Tịnh pháp giới. Chỉ cho thể chân thực do đức Phật chứng được. Thanh tịnh là thể của chân như, lìa tất cả phiền não nhơ nhớp; Pháp giới là chỗ nương của tất cả công đức thế gian và xuất thế gian. Cứ theo Phật địa kinh luận quyển 3 thì thanh tịnh pháp giới tức là công đức chân như vô vi. Còn theo kinh Thất Phật thì đức Phật có thanh tịnh pháp giới, trí chứng chân giác, biết rõ tất cả. Ấn tướng của Tịnh pháp giới là: Hai tay nắm lại, để 2 ngón cái vào trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ duỗi thẳng. Chân ngôn là: Nam mô tam mạn đa Phật đà nam (Qui mệnh phổ biến chư Phật) đạt ma đà đô(pháp giới) tát phạ bà phạ(tự tính)câu hàm(ngã). Chân ngôn này cũng được gọi là Pháp giới sinh chân ngôn. Trong đó, pháp giới chính là thân Phật; ngã tức là pháp giới. Tuy hành giả chưathểnhập được chân tính, nhưng kết ấn và tụng chân ngôn này cũng đồng với thể nhập pháp giới. Một chân ngôn khác của Tịnh pháp giới là: (Án) (Lam). Trong đó, chữ Án là lời qui mệnh Kim cương giới, nghĩa của 3 thân như thường; còn chữ Lam, theo Du già liên hoa bộ niệm tụng pháp, nếu tiếp xúc với chỗ ô uế thì quán chữ Pháp giới sinh ở trên đỉnh đầu, phóng ra ánh sáng màu đỏ, đó là chữ Lam. Nếu gia trì chữ này vào các thức ăn thì không trở thành ô uế. Nếu gia trì chữ Lam vào tất cả vật cúng dường như hương, hoa... thì phóng ra ánh sáng màu trắng liền không còn ô uế, những vật cúng dường sẽ biến khắp pháp giới. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.13].
Thanh tịnh pháp giới thân Tỳ-lô-giá-na tâm địa pháp môn thành tựu nhất thiết đà-la-ni tam chủng tất địa 清淨法身毘盧遮那心地法門成就一切陀羅尼三種悉地
[ja] ショウジョウホウシンビルシャナシンジホウモンジョウジュウイッサイダラニサンシュシッチ Shōjō hosshin Birushana shinji hōmon jōju issai darani sanshu shicchi ||| The Qingjing fashen Piluzhena xindi famen chengjiu yiqie tuoluo ni sanzhong xidi (Accomplishing All Dhāraṇīs and the Three Siddhis through the Dharma-Gate of the Mental Ground of Vairocana, the Pure Dharma-Body). 1 fasc. (T 899.20.776-781), tr. unknown (Thought to be at least partially composed or translated by an Indian -- cf. IB 330). KI (mb) 3 => (Qingjing fashen Piluzhena xindi famen chengjiu yiqie tuoluo ni sanzhong xidi; e: Accomplishing All Dhāraṇīs and the Three Siddhis through the Dharma-Gate of the Mental Ground of Vairocana, the Pure Dharma-Body). Một quyển; Dịch giả vô danh (Có ý kiến cho là ít nhất kinh được biên soạn hay phiên dịch từng phần do một tăng sĩ Ấn Độ).
Thanh tịnh pháp giới 清淨法界
[ja] ショウジョウホッカイ shōjōhōkai ||| The pure dharma realm. The objective realm of the enlightened wisdom of the Buddha. The realm of pure noumenal principle. The basis of all merits. "Suchness." => Pháp giới thanh tịnh. Pháp giới trong trí huệ giác ngộ của chư Phật. Pháp giới bản thể thanh tịnh. Nền tảng của mọi công đức. “Chân như”.
thanh tịnh pháp hành kinh
(清淨法行經) Kinh, 1 quyển, nay đã thất truyền nên không rõđượcnội dung. Cứ theo truyền thuyết thì kinh này rất nổi tiếng vì cho rằng các ngài Lão tử, Khổng tử và Nhan hồi là thân Ứng hóa của ngài Đại ca diếp. Lại theo Quảng hoằng minh tập quyển 8 thì thuyết Phái khiển Tam thánh (sai phái 3 vị Thánh) trong luận Nhị giáo của ngài Đạo an đời Hậu Chu, luận Phá tà quyển thượng của ngài Pháp lâm, Duy ma kinh huyền sớ quyển 1 và Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 6 phần 3, đều cho thấy đã thừa kế từkinh này, do đó ta có thể xét biết thuyết này đã thịnh hành vào thời Nam Bắc triều ở Trung quốc. Có lẽ đã do sự thay đổi của thời đại hoặc văn kinh mà các nhân vật của Phật giáo được ghi trong kinh luận và các nhân vật của Nho gia, Đạo gia mà các vị ấy ứng hóa ra có hơi khác nhau. Như luận Nhị giáo cho rằng ngài Lão tử là sự ứng sinh của ngài Ma ha ca diếp, ngài Khổng tử là sự ứng sinh của bồ tát Nhođồng, ngài Nhan hồi là sự ứng sinh của bồ tát Quang tịnh. Còn Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết thì chủ trương Lão tử là sự ứng hóa của ngài Ca diếp, Khổng tử là sự ứng hóa của bồ tát Quang tịnh và Nhan hồi là sự ứng hóa của bồ tát Nguyệt quang. Theo sự khảo chứng của các học giả thì kinh này là ngụy tạo, được soạn ra nhằm đối lại với kinh Lão tử hóa Hồ do quan Tế tửu đời Tây Tấn là Vương phù soạn. Kinh Thanh tịnh pháp hành này có lẽ đã được soạn vào khoảng đời Lương trở về trước. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12, 13; luận Biện chính Q.5, 6; Xuất tam tạng kí tập Q.4].
thanh tịnh pháp nhãn
Pháp nhãn thanh tịnh (pháp nhãn là một trong năm nhãn). Ở bậc Thanh Văn Duyên Giác thấy được Tứ Thánh Đế; còn các bậc Bồ Tát Đại Thừa, có trí lực thấy được ngã không và lý không của vạn hữu—The pure dharma-eye (one of the five eyes) with which one discerns the four noble truths and the unreality of self or things (Hinayans disciple first discerns the four noble truths, and the Mahayana disciple discerns the unreality of self and things). **For more information, please see Ngũ Nhãn.
thanh tịnh pháp nhẫn
The pure dharma-eye.
thanh tịnh pháp thân phật
Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã dạy về Thanh Tịnh Pháp Thân Phật như sau: “Nầy thiện tri thức! Sao gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật? Người đời bản tánh là thanh tịnh, muôn pháp từ nơi tánh mà sanh, suy nghĩ tất cả việc ác tức sanh hạnh ác, suy nghĩ tất cả việc lành tức sanh hạnh lành. Như thế các pháp ở trong tự tánh như trời thường trong, mặt trời mặt trăng thường sáng, vì mây che phủ nên ở trên sáng, ở dưới tối, chợt gặp gió thổi mây tan, trên dưới đều sáng, vạn tượng đều hiện. Tánh của người đời thường phù du như là mây trên trời kia. Nầy thiện tri thức! Trí như mặt trời, huệ như mặt trăng, trí huệ thường sáng, do bên ngoài chấp cảnh nên bi mây nổi vọng niệm che phủ tự tánh không được sáng suốt. Nếu gặp thiện tri thức, nghe được pháp chơn chánh, tự trừ mê vọng, trong ngoài đều sáng suốt, nơi tự tánh muôn pháp đều hiện. Người thấy tánh cũng lại như thế, ấy gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật.”—According to The Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught: “Good Knowing Advisor! What is the clear, pure Dharma-body Buddha? The worldly person's nature is basically clear and pure, and the ten thousand dharmas are produced from it. The thought of evil produces evil actions and the thought of good produces good actions. Thus all dharmas exist within self-nature. This is like the sky which is always clear, and the sun and moon which are always bright, so that if they are obscured by floating clouds it is bright above the clouds and dark below them. But if the wind suddenly blows and scatters the clouds, there is brightness above and below, and the myriad forms appear. The worldly peson's nature constantly drifts like those clouds in the sky. Good Knowing Advisors, intelligence is like the sun and wisdom is like the moon. Intelligence and wisdom are constantly bright, but if you are attached to external states, the floating clouds of false thought cover the self-nature so that it cannot shine. If you meet a Good Knowing Advisor, if you listen to the true and right Dharma and destroy your own confusion and falseness, then inside and out there will be penetrating brightness, and within the self-nature all the ten thousand dharmas will appear. That is how it is with those who see their own nature. It is called the clear, pure Dharma-body of the Buddha.”
Thanh tịnh pháp thân Tì-lô-giá-na tâm địa pháp môn thành tựu nhất thiết đà-la-ni tam chủng tất địa
清淨法身毘盧遮那心地法門成就一切陀羅尼三種悉地; C: qīngjìng făshēn pílúzhēnă xīndì fămén chéngjiù yīqiè tuóluó ní sānzhŏng xīdì; J: shōjō hosshin birushana shinji hōmon jōju issai darani sanshu shicchi;|1 quyển; Dịch giả khuyết danh (có ý kiến cho là ít nhất kinh được biên soạn hay phiên dịch từng phần do một tăng sĩ Ấn Độ).
thanh tịnh pháp tràng cao phong quán tam muội
(清淨法幢高峰觀三昧) Gọi đủ: Mãn nhất thiết nguyện xuất quảng trường thiệt tướng biến phú nhất thiết Phật sát thanh tịnh pháp chàng cao phong quán tam muội. Cũng gọi: Cao phong pháp chàng quán tam muội, Pháp chàng cao phong quán gia trì tam muội. Tức Tam muội an trụ trong chữ (a) vốn chẳng sinh. Thanh tịnh pháp chàng chỉ cho tâm bồ đề thanh tịnh. Như dựng ngọn cờ quân đội trên ngọn núi cao để chỉ huy binh sĩ, dựng ngọn cờ pháp đứng đầu muôn hạnh(tâm bồ đề thanh tịnh) trên ngọn núi cao Đệ nhất nghĩa đế, quán khắp 10 phương, ủng hộ chúng sinh, giữ gìn chính pháp, gọi là Thanh tịnh pháp chàng cao phong quán tam muội. [X. phẩm Cụduyên kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.9; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.31].
Thanh tịnh phẩm
清淨品; C: qīngjìngpĭn; J: shōjōhon;|Phẩm chất thanh tịnh, khác biệt với phẩm chất ô nhiễm.
Thanh tịnh phẩm 清淨品
[ja] ショウジョウホン shōjōhon ||| The category of purity, as distinguished from the category of defilement 染品. 〔瑜伽論T 1579.30.657a〕 => Phẩm chất thanh tịnh, khác biệt với phẩm chất ô nhiễm.
thanh tịnh quang minh thân
The pure, shining body, or appearance (of the Buddha)
; Thân thanh tịnh chiếu sáng của Đức Phật—The pure, shining body or appearance of the Buddha.
Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền đà-la-ni kinh
清淨觀世音普賢陀羅尼經; C: qīngjìng guānshìyīn pŭxián tuóluóní jīng; J: shōjō kanzeion fugen darani kyō;|Xem Quán tự tại Bồ Tát thuyết Phổ Hiền đà-la-ni kinh (觀自在菩薩説普賢陀羅尼經)
Thanh tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền đà-la-ni kinh 清淨觀世音普賢陀羅尼經
[ja] ショウジョウカンセイオンフケンダラニキョウ Shōjō kanzeion fugen darani kyō ||| The Qingjing guanshiyin puxian tuoluoni jing (T 1038.20.21-23); see Guanzizai pusa shuo puxian tuoluoni jing 觀自在菩薩説普賢陀羅尼經 => (c: Qingjing guanshiyin puxian tuoluoni jing ). Xem Quán tự tại Bồ-tát thuyết Phổ Hiền đà-la-ni kinh (c: Guanzizai pusa shuo puxian tuoluoni jing 觀自在菩薩説普賢陀羅尼經).
thanh tịnh tam muội
Prāsādavati (S), Prāsādavati samādhi (S) Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
thanh tịnh tam nghiệp
(清淨三業) Chỉ cho 3 nghiệp trong sạch. Cứ theo kinh Bồ tát anh lạc quyển 11, ngài Tu bồ đề thưa hỏi thế nào là sắc thân Phật? Phật trả lời: Sắc thân Phật là 3 nghiệp thanh tịnh. 1. Thân nghiệp thanh tịnh: Những việc làm của thân đều có năng lực chặn đứng tất cả các pháp bất thiện. 2. Khẩu nghiệp thanh tịnh: Những lời nói từ miệng thốt ra đều là những lời chân thật thành tín, vĩnh viễn xa lìa tà vọng. 3. Ý nghiệp thanh tịnh: Thu nhiếp thân tâm, thường trụ trong thiền định vắng lặng, không có ý niệm nào khác.
thanh tịnh thành
Sobbavati (S) Vương thành nơi gia đình Phật Kim Tịch lúc chưa xuất gia đã từng lưu ngụ..
thanh tịnh thân
(清淨身) Chỉ cho thân Phật thanh tịnh, không có cấu nhiễm. Thân quang minh thanh tịnh nói trong phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa và Pháp thân thanh tịnh nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 42 (bản dịch mới) đều thuộc Thanh tịnh thân. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 8 (Đại 35, 275 hạ) nói: Bên sung mãn tịnh đức, gọi là Thanh tịnh thân [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.4].
thanh tịnh thân tâm
To purify the body and mind.
thanh tịnh thí
(清淨施) Bố thí với tâm thanh tịnh. Nghĩa là khi thực hành bố thí, đối với người thí, người nhận và vật thí đều không mảy may nghĩ đó là có thật, màđạtđến cảnh giới Không, gọi là Thanh tịnh thí.
thanh tịnh thế giới
Pure world; purity of world.
thanh tịnh thức
Xem Như lai tạng.
; Amalavijnàna (S). Pure, uncontaminated knowledge; earlier regarded as the ninth, later as the eighth or àlayavijnàna.
; Amalavijnana (skt)—Thức thanh tịnh, trước đây gọi là thức thứ chín, về sau nầy gọi là thức thứ tám hay A-Lại-Da thức—Pure and uncontaminated knowledge, earlier regarded as the ninth, later as the eighth or alaya-vijnana.
thanh tịnh trai
Pure observance of monastic rules for food, i.e. vegetarian food; fasting.
thanh tịnh trang nghiêm
Purely adorned.
thanh tịnh tri kiến
Purification of Knowledge.
thanh tịnh trí
Śuddha-jāna (S).
; Undefiled knowledge.
; Vô lậu trí hay trí không nhuốm phiền não—Undefiled knowledge.
thanh tịnh tâm
Purification of mind.
; Cittàdrisyadhàràvisuddhi (S). A pure mind free from doubt or defilement. Purity of mind.
; 1) Tâm địa trong sạch không nhuốm não phiền: A pure mind free from doubt or defilement. 2) Làm cho tâm địa trong sạch: To purify the mind.
; (清淨心) Chỉ cho tâm tin trong sạch, không mảy may nghi ngờ, tâm xa lìa phiền não ô nhiễm, tâm tự tính thanh tịnh. Kinh Kim cương (Đại 8, 749 hạ) nói: Các đại Bồ tát nên sinh tâm thanh tịnh như thế, không nên trụ vào sắc sinh tâm, không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm. Tức chỉ cho tâm không chấp trước, không để bị dính mắc vào bất cứ vật gì. [X. kinh Trung a hàm Q.141; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần đầu].
thanh tịnh tì ni phương quảng kinh
(清淨毗尼方廣經) Cũng gọi Thanh tịnh tỳ nại da phương quảng kinh, Thanh tịnh tỳ ni kinh, Tỳ ni phương quảng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập (hoặc Trúc pháp hộ) dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Kinh này nói về giới thanh tịnh của Đại thừa phương quảng, lấy cuộc vấn đáp giữa Tịch điều phục âm thiên tử và ngài Văn thù làm trung tâm, nêu ra 17 điểm so sánh đối chiếu sự khác nhau giữa luật hạnh Thanh văn và luật hạnh Bồ tát. Các bảndịch khác của kinh này gồm có: -Tịch điều âm sở vấn kinh, 1 quyển, do ngài Pháp hải dịch vào đời Tống. -Văn thù sư lợi tịnh luật kinh, 1 quyển (cũng gọi Tịnh luật kinh, Tịnh kinh, Văn thù tịnh luật kinh), do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Đại đường nội điển lục Q.6].
thanh tịnh tích
(清淨積) Chỉ cho sự chứa góp tất cả công đức thanh tịnh không nhiễm ô, là 1 trong Tứ thần tam muội thuộc diệu đức của Phật. Tứthần tam muội tức chỉ cho 4 đức vi diệu của Phật, đó là: Vô hình, vô lượng ý, thanh tịnh tích và bất thoái chuyển. [X. Pháp hoa văn cú Q.1, hạ]. (xt. Tứ Thần Tam Muội).
thanh tịnh tỉ khâu
(清淨比丘) Chỉ cho vị thứ 6 trong 8 vị đại Đồng tử sứ giả của Minh vương Bất động thuộc Mật giáo.Vị tôn này sinh ra từ chữ (va) trong câu Chân ngôn Qui mệnh Bất động, đứng đầu về tâm hạnh phúc đức Bảo ba la mật của Bất động tôn. Vì vị sứ giả này tượng trưng cho tỉ khưu giữ gìn pháp bảo, nên gọi là Thanh tịnh tỷ khưu. Hình tượng vị tôn này là cạo tóc, mặc ca sa, tay trái cầm quyển kinh tiếng Phạm, tay phải cầm chày 5 chĩa để ngay ngực, vai phải để trần, eo quấnxiêm màu đỏ, nét mặt không trẻ không già, mắt giống hoa sen xanh, khóe miệng có răng nanh chìa ra ngoài Chủng tử là . Ấn khế dùng ấn Phạm khiếp, tức bàn tay trái ngửa lên, các đầu ngón hướng về phía bên phải, bàn tay phải đầu ngón hướng về phía trái, úp lên trên bàn tay trái. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) ma ni (maịi, bảo châu) vĩ du đà đạt ma câu rô (vizuddha dharma guru, thanh tịnh pháp sư) la khất xoa đạt ma (raksa dharma, hộ pháp) phạ (va). [X. Thánh vô động tôn bát đại đồng tử bí yếu pháp].
thanh tịnh tối thắng
Perfect purity and peace.
thanh tịnh viên
Pure garden, or garden of purity, i.e. a monastery or convent.
; Vườn Thanh Tịnh, một trong mười tên dùng để gọi tự viện—Pure garden, or garden of purity, i.e. monastery or convent, one of the ten names for a monastery.
thanh tịnh đại nhiếp thụ
(清淨大攝受) Một trong 37 danh hiệu của đức Phật A di đà. Trong tán A di đà kệ của ngài Đàm loan có câu (Đại 47, 423 thượng): Khể thủ thanh tịnh đại nhiếp thụ(Cúi đầu đính lễ đức Đại nhiếp thụ thanh tịnh). Về danh hiệu này có nhiều cách giải thích: Thanh tịnh nghĩa là đức của Niết bàn rốt ráo thanh tịnh; Nhiếp thụ là 48 đức thu nhiếp chúng sinh; đức của Phật A di đà rộng lớn trùm khắp nên gọi là Đại. Hoặc giải thích rằng Tịnh độ tròn đầy 3 đức của Phật A di đà là Thanh tịnh, là thân độ nhiếp thụ tất cả phàm thánh không thể nghĩ bàn nên gọi là Thanh tịnh đại nhiếp thụ.[X. Tịnh độ hòa tán vọng minh kí (Pháp lâm); Tịnh độ hòa tán lược giải (Ngưỡng thệ)].
Thanh tịnh đạo
清淨道; P: visuddhi-magga; nghĩa là con »Ðường dẫn đến thanh tịnh«;|Tên của một bộ luận cơ bản của Thượng toạ bộ (p: theravāda), được Phật Âm (p: bud-dhaghosa) soạn trong khoảng thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên. Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí của Ðại Tự (p: mahāvihāra), một trong những trường phái Pā-li.|Bộ luận này gồm có 3 phần với 23 chương: chương 1-2 nói về Giới (p: sīla), chương 3-13 nói về Ðịnh (s, p: samādhi) và chương 14-23 nói về Trí huệ (p: pañña). Phần nói về Ðịnh trình bày rõ các phương pháp và đối tượng quán niệm của Thượng toạ bộ, khả năng phát triển và thánh quả của các phép thiền định. Trong phần Huệ, Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí cơ bản của đạo Phật như Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên, Bát chính đạo…|Thanh tịnh đạo là một bộ luận tuyệt hảo, gần như là một bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo và được rất nhiều Phật tử chú trọng đến, không phân biệt Tiểu hay Ðại thừa. Nhà Phật học danh tiếng của châu Âu, Ed-ward Con-ze có lần nói rằng, nếu ông chỉ được mang theo một quyển sách ra một hòn đảo hoang vắng thì đó là quyển Thanh tịnh đạo.
thanh tịnh đạo
Viśuddhi-magga (P), Way of Purity Thanh tịnh đạo luận Một trong những bộ chú giải kinh điển quan trọng bằng tiếng Pali.
; Visuddhi-màrga (S). The path of purity.
; The way of purification.
thanh tịnh đạo luận
Xem Thanh Tịnh đạo.
; (清淨道論) Pàli: Visuddhimagga. Luận, 3 quyển, do vị Cao tăng Ấn độ là Phật âm (Phạm:Buddhaghosa) soạn vào thế kỉ V, được thu vào Đại tạng kinh phương Nam tập 62 đến 64. Đây là bộ luận trọng yếu của Thượng tọa bộ thuộc Phật giáo Nam truyền. Thời gần đây, học giả Nhật bản là ông Thủy dã Hoằng nguyên đã dịch ra tiếng Nhật (1937-1940). Tháng 5 năm 1958, ông Diệp quân (Liễu tham) dịch ra tiếng Trung quốc và xuất bản. Toàn sách gồm 23 phẩm, giải thích một cách có hệ thống về giáo nghĩa của Thượng tọa bộ, thứ tự tổ chức và nộidung cũng giống như luận Giải thoát đạo, nhưng trong đó lại có xen lẫn quan điểm phản bác luận ấy. Tác phẩm này trình bày theo thứ tự Giới, Định, Tuệ. Phẩm 1,2 nói về Giới; phẩm 3 đến 13 nói về Định, đồng thời phân tích tỉ mỉ một loạt phương pháp tu tập; từ phẩm 14 đến phẩm 23 nói về Tuệ, trong đó, từ phẩm 14 đến phẩm 17 chủ yếu trình bày về 5 uẩn, 4 đế, 8 chính đạo, 12 nhân duyên..., đồng thời nói khái quát về 3 tướng Vô thường, khổ, vô ngã. Đầu sách cũng như cuối sách trình bày về lí do soạn thuật và kết luận rằng Giới, Định, Tuệ là con đường dẫn đến Niết bàn thanh tịnh. Đây là bộ luận có giá trị rất cao đối với Phật giáo Nam truyền, nội dung với hình thức một bộ Bách khoa toàn thư có thể sánh với luận Đại tì bà sa của Thượng tọa hữu bộ. Ngoài ra, sách chú thích bộ luận này có: Chấn đế khuông (Pàli:Paramatthamaĩjusà), cũng gọi Đại chú (Mahà-ỉìkà), do ngài Đạt ma ba la (Pàli:Dhammapàla) soạn. [X. ThePàli Literature of Ceylon, 1928, byMalalasekera; Vimutimagga and Visuddhimagga, Poona, 1937, by P.V.Bapat; Giải thoát đạo luận dữ Thanh tịnh đạo luận chi tỉ giảo nghiên cứu (Thủy dã Hoằng nguyên, Phật giáo nghiên cứu Q.3, số 2)]. (xt. Nam Truyền Phật Giáo).
Thanh tịnh 清淨
[ja] ショウジョウ shōjō ||| (pariśuddha). (1) Clear, pure, undefiled. Lacking evil (samśuddhi, śauca, viśodhita, viśuddha). Lacking an object or motive. (2) Clarified, settled. (3) To purify, to cleanse; purification. (4) A purified person (tathāgata). The opposite concept is "defilement" or "pollution" 染、 汚. => (s: pariśuddha) 1. Trong sáng, tinh khiết, không bị ô uế. Không có tội lỗi (s: samśuddhi, śauca, viśodhita, viśuddha). Không động niệm. 2. Làm cho trong sạch, làm cho an định. 3. Làm cho thanh khiết, làm cho sạch sẽ; sự lắng trong. 4 Một người thanh tịnh (s: tathāgata). Đối nghịch với 'nhiễm染', 'ô汚'.
thanh tủng
(清竦) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Ngũ đại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tần, Hậu Hán và Hậu Chu), người ở Thai châu (huyện Thiên thai, tỉnh Chiết giang), Tổ thứ 14 của tông Thiên thai. Sư theo ngài Nguyên tú xuất gia, chuyên tu Thập thừa quán pháp của tông Thiên thai, ngày đêm tinh tiến. Không bao lâu sau, sư kế thừa ngài Nguyên tú trụ trì chùa Quốc thanh. Bấy giờ, họ Tiền dựng nước Ngô việt, rất ngưỡng mộ đức hạnh của sư, tận lực hộ trì, nhờ đó tránh khỏi tai họa binh lửa, sư bèn gắng chí, suốt ngày lên tòa, giảng nói không ngừng, đại chúng không dám tỏ dấu hiệu mệt mỏi, vì thế sư có biệt hiệu là Cao Luận Tôn Giả. Đệ tử có các vị: Nghĩa tịch, Chí nhân, Giác trân... [X. Thích môn chính thống Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.8].
Thanh tự bảo tướng nghĩa 聲字實相義
[ja] ショウジジツソウギ Shōji jissō gi ||| Shoji jissō gi, Meaning and sound/word/reality; 1 fasc, T 2429.77.401-404 by Kūkai 空海 in 817 CE. An examination of esoteric discourse, which begins: "The teachings of the Tathāgata are propagated by means of text; and text is constituted from the six realms of the senses." 夫如來説法必藉文字。文字所在六塵其體。 Such discourse develops in terms of sound/word/reality, the distilled essence (maṇdā 曼荼) of all sentient beings. Sound is identified as the essential characteristic of resonance 響必申聲, which originates in contacts between the elements. Words depend on sounds; exhalation is the word a 阿字, the name of the Dharma Embodied 法身佛, which stands for non-creation. Then follows a definition of "true words" (mantra 眞言): "what do these mantras denote? They can denote even the reality of dharmas without error or falsehood. Thus, we call them 'true words'." 此眞言詮何物。能呼諸法實相不謬不妄。故名眞言。 The discussion concludes with a summary in verse: "The five states of matter resonate 五大皆有響 / The ten worlds speak their languages 十界具言語 / The six senses are identical with text 六塵悉文字 / The Dharma Embodied is reality 法身是實相 => Sŏngja silsang ŭi (k); Shoji jissō gi (j); Meaning and sound/word/reality (e); Một quyển; của Không Hải (Kūkai 空海 ) vào năm 817. Là chuyên luận giải thích về mật pháp. Mở đầu như sau: “Như Lai thuyết pháp tất phải nhờ vào văn tự; văn tự lại được cấu thành từ thể của sáu trần; 夫如來説法必藉文字。文字所在六塵其體 – Phù Như Lai thuyết pháp tất tạ văn tự, văn tự sở tại lục trần kỳ thể.” Thế nên giáo pháp phát triển trên nghĩa của âm thanh, là thể tính (mạn-trà, s: maṇdā 曼荼 ) của mọi chúng sinh. Âm thanh được đồng nhất với yếu tính của âm hưởng (hưởng tất thân thanh 響必申聲), khơỉ nguyên từ sự tiếp xúc nhau của các yếu tố vật chất (đại). Ngôn từ lại dựa vào âm thanh, hơi thở là chữ A 阿字, là tên của Pháp thân Phật (e: Dharma Embodied 法身佛), biểu tưởng cho ý nghĩa không tạo tác. Tiếp theo là định nghiã về 'chân ngôn' (mantra 眞言): "Những chân ngôn nầy chứng tỏ điều gì? Nó có khả năng chỉ bày rõ thực tại của các pháp không có chút sai lầm, hư vọng nào. Nên gọi là chân ngôn; 此眞言詮何物。能呼諸法實相不謬不妄。故名眞言– Thử chân ngôn thuyên hà vật? năng hồ chư pháp bảo tướng bất mậu bất vọng. Cố danh chân ngôn.” Cuốn luận nầy kết thúc với bài kệ tóm tắt: “Ngũ đại giai hữu hưởng, thập giới cụ ngôn ngữ, lục trần tất văn tự, pháp thân thị bảo tướng 五大皆有響;十界具言語;六塵悉文字;法身是實相 – Năm đại đều có âm hưởng, mười giới đều có đầy đủ ngôn ngữ, lục trần chính là văn tự, pháp thân là thực tại.” Thành tựu 成就 [ja] ジョウシュウ jōshū ||| (yukta, anvita, samanvāgama, samanvaya, siddhi, siddha). (1) Possessed in the body. (2) Achievement, accomplishment. (3) One type of benefit; acquisition, possession. (4) Completion, perfection. (5) Achievement of a wish or aim. => (s: yukta, anvita, samanvāgama, samanvaya, siddhi, siddha). 1. (Đức tính) vốn có trong thân. 2. Sự thành tựu, sự hoàn tất. 3. Một dạng phúc lợi; sự đạt được, sự có được. 4. Sự hoàn thành, sự hoàn thiện. 5. Đạt được ước nguyện hay mục đích. Thanh văn thừa 聲聞乘 [ja] ショウブンジョウ shōbunjō ||| The vehicle of the Buddhist disciples--śrāvaka-yāna. See sansheng 三乘. => śrāvaka-yāna. Xem Tam thừa (c: sansheng 三乘).
thanh tự kinh quán
(清字經館) Nơi phiên dịch Đại tạng kinh Phật giáo sang tiếng Mãn châu. Cứ theo Khiếu đình tục lục quyển 1, vào năm Càn long 37 (1772) đời Thanh, vua Nhân tông cho rằng Đại tạng kinh Phật giáo đã được phiên dịch thành tiếng Tây tạng, tiếng Hán, tiếng Mông cổ..., nhưng Thiền ngộ sâu thẳm, các kệ chú trong tạng kinh Hán dịch tuy có thay bằng phiên thiết, nhưng vẫn không thể hiện được ý chỉ kín nhiệm, còn tiếng Mãn châu thì văn ý rõ ràng, thông suốt, lại có thể chứng được Tam muội, vì thế thiết lập Thanh Tự Kinh Quán ở phía trong cửa Tây hoa, ban sắc giao cho Quốc sư Chương gia trông coi tổng quát công việc này với sự phụ tá của chư tăng như Đạt thiên, Liên phiệt... Ròng rã hơn 10 năm, Đại tạng kinh được hoàn thành, đầy đủ 4 thứ tiếng (Hán, Mãn, Mông, Tạng). Bản khắc gỗ lúc đầu được cất giữ trong quán. Về sau, Thanh tự kinh quán đổi làm Thực Lục Quán, cho nên các bản gỗ ấy mới được dời về lầuNgũ phượng. (xt. Tứ Thể Tự Kinh Điển).
thanh tự thật tướng
(聲字實相) Chỉ cho thực tướng của âm thanh, văn tự, 1 trong các giáo nghĩa của tông Chân ngôn Nhật bản. Tức âm thanh, văn tự chính là thể của thực tướng, cũng tức là tự thể của tất cả âm thanh, văn tự đều không ngoài thực tướng này. Đứng về phương diện Tam mật của Như lai mà nói thì 3 nghiệp thân, ngữ, ý vốn là bình đẳng, trùm khắp toàn thể vũ trụ, tức hết thảy sum la muôn tượng đều đầy đủ Tam mật của Như lai, đây là Phật sẵn có, chỉ vì chúng sinh không tự biết, cho nên đức Như lai mới phải dùng âm thanh nói pháp, dùng văn tự để chỉ dạy cho chúng sinh tỉnh ngộ mà tự nhận ra Phật sẵn có của mình. Vì thế biết âm thanh, văn tự là Ngữ mật của Như lai, hoàn toàn bình đẳng với Thân mật(thực tướng, tức bản lai diện mục của sự vật) của Như lai, cho nên âm thanh và văn tự chính là thực tướng sẵn có của Thân mật ấy. Lại 5 đại đầy đủ tất cả âm hưởng, 10 cõi đều đầy đủ ngôn ngữ, 6 trần có đầy đủ văn tự, Pháp thân chính là thực tướng, vì thế thực tướng âm thanh, văn tự là Tam mật biểu thị Phật pháp bình đẳng, cũng là Mạn đồ la sẵn có của chúng sinh. [X. Thanh tự thực tướng nghĩa (Không hải)].
thanh tự thật tướng nghĩa
(聲字實相義) Gọi tắt: Thanh tự nghĩa, Thanh tự thực nghĩa. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Không hải người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 77. Nội dung sách này nói rõ về ý nghĩa thực tướng của tất cả âm thanh và văn tự theo lập trường của Chân ngôn Mật giáo, y cứ vào bài tụng Đẳng chính giác chân ngôn trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật mà triển khai; cho rằng âm thanh, văn tự tức là thựctướng, là Ngữ mật trong Tam mật, cho nên lại tiến thêm bước nữa mà thuyết minh thực tướng của Ngữ mật, đồng thời căn cứ vào đó mà hiển bày ý chỉ tột cùng của Tam mật bình đẳng. Đây là tác phẩm trọng yếu về mặt giáo tướng.
thanh u
Calm—Silent—Quiet.
thanh uy
Fame and pretige.
thanh vi giáo thể
(聲爲教體) Âm thanh là thể của giáo pháp. Đây là giáo nghĩa của Thuyết nhất thiếthữu bộ thuộc Tiểu thừa. Nghĩa là giáo pháp của Phật lấy âm thanh làm thể, khiến người nghe được đạo. Cũng tức là lấy âm thanh làm kinh. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 8 thượng (Đại 33, 776 hạ) nói: Như lúc đức Phật còn tại thế, miệng vàng diễn nói, chỉ giải thích bằng âm thanh, người nghe được đạo, cho nên dùng âm thanh làm kinh. [X. luận Câu xá Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng].
thanh vi phật sự
(聲爲佛事) Âm thanh làm việc Phật. Phàm các việc phát huy công đức của Phật đều gọi là Phật sự. Thanh vi Phật sự nghĩa là dùng âm thanh giảng nói giáo pháp nhờ đó mà tế độ chúng sinh, mang lại lợi ích cho họ. Duy ma kinh lược sớ quyển 2 (Đại 38, 589 hạ) nói: Bồ tát quán tưởng 6 căn mắt, tai... của chúng sinh xem căn nào nhạy bén? Nếu căn tai nhạy bén thì dùng âm thanh làm Phật sự. (xt. Thanh Phật Sự).
thanh viên tự
(青園寺) Chùa nằm ở chân núi Phúc chu, gần thành phố Nam kinh, tỉnh Giang tô, do Hoàng hậu Chử cung tư sáng lập vào đời Đông Tấn. Ngài Trúc đạo sinh từng trụ ở chùa này giảng nói về nghĩa đốn ngộ thành Phật. Vào niên hiệu Cảnh bình năm đầu (423) đời Lưu Tống, điện Phật bị rúng động, tương truyền có con rồng bay lên trời, từ đó mới đổi tên là chùa Long quang. Các ngài Bảo lâm, Pháp bảo, Tuệ sinh... nối tiếp nhau đến trụ trì. Khoảng năm Hội xương (841-846) chùa rơi vào tình trạng hoang tàn. Không bao lâu, vào năm Hàm thông thứ 2 (861), chùa được xây dựng lại, vua ban biển hiệu là Long Quang Viện. Năm Thăng nguyên thứ 2 (938) đời Nam Đường, chùa được trùng tu, các ngài Trừng cải, Thái khâm... lần lượt trụ trì, hoằng dương Thiền pháp. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.12, 15; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Phật tổ thống kỉ Q.36; Kim lăng phạm sát chí Q.48].
Thanh Viễn Phật Nhãn
清遠佛眼; ?-1120|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì. Sư là bạn đồng học với hai vị »Phật« khác là Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả và Huệ Cần Phật Giám dưới trướng của Thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn.|Sư họ Lí, quê ở Lâm Ngang, phong cách nghiêm chỉnh, ít nói. Năm lên 14, Sư xuất gia học luật. Nhân lúc đọc kinh Pháp hoa đến câu »Pháp ấy không phải chỗ suy nghĩ phân biệt hay hiểu«, Sư hỏi giảng sư. Giảng sư không giải được, Sư thất vọng tự than: »Nghĩa học danh tướng không phải nguyên nhân liễu việc lớn sinh tử.« Sư bèn sửa soạn hành lí đến phương Nam tham vấn các thiền gia.|Ðến Pháp Diễn tại chùa Thái Bình, Thô Châu, Sư nhập hội. Nhân một hôm làm công tác, Sư có chút ngộ nhập bèn đến Pháp Diễn trình bày. Nói lời gì Pháp Diễn cũng bảo »Ta chẳng bằng ông, ông tự hội được thì tốt«, hoặc »Ta chẳng hội, ông hội được thì tốt.« Sư càng nghi ngờ liền đến Thủ toạ hỏi. Thủ toạ nắm lỗ tai Sư đi quanh lò mấy vòng, vừa đi vừa nói: »Ông tự hội được thì tốt.« Sư thưa: »Có lòng mong khai phát có phải đùa với nhau sao?« Thủ toạ bảo: »Ông về sau ngộ rồi mới rõ được việc khúc chiết ngày nay.« Nghe tin Pháp Diễn đến Hải Hội, Sư bèn từ giã ra đi.|Nhân gặp được Thiền sư Linh Nguyên, Linh Nguyên khuyên Sư trở về học với Pháp Diễn. Sư nghe lời trở về, được Pháp Diễn cử làm Ðiển toạ. Gặp lúc đêm lạnh, Sư vạch trong lò thấy một đóm lửa bằng hạt đậu bỗng nhiên mừng rỡ nói: »Vạch sâu thấy đóm lửa nhỏ xíu, việc bình sinh chỉ như đây.« Sư đứng dậy đến bàn mở bộ Cảnh Ðức truyền đăng lục, đọc đến nhân duyên của sư Phá Táo Ðọa bỗng nhiên triệt ngộ, liền làm kệ:|刀刀林鳥啼。披衣終夜坐|撥火悟平生。窮神歸破墮|事皎人自迷。曲淡誰能和|念之永不忘。門開少人過|Ðao đao lâm điểu đề|Phi y chung dạ toạ|Bát hoả ngộ bình sinh|Cùng thần quy Phá Ðọa|Sự hiểu nhân tự mê|Khúc đạm thuỳ năng hoà|Niệm chi vĩnh bất vong|Môn khai thiểu nhân quá|*Líu lo chim rừng hót|Khoác áo ngồi đêm thâu|Vạch lửa, bình sinh tỏ|Quẫn trí về Phá Ðọa|Việc rõ người tự mê|Nhạc khúc ai hoà được|Nghĩ đó khăng khăng nhớ|Cửa mở, ít người qua.|Sư trước trụ trì chùa Vạn Thọ, sau chùa Long Môn. Danh tiếng của sư vang khắp nơi.|Sư dạy chúng: »Nói ngàn nói muôn không bằng chính mặt thấy, dù chẳng nói cũng tự phân minh. Dụ đao báu vương tử, dụ đám mù sờ voi, trong thiền học việc cách sông đưa tay ngoắt, việc trông châu đình thấy nhau, việc xa bặt chỗ không người, việc chỗ núi sâu bờ cao, đây đều chính mặt thấy đó, chẳng ở nói suông vậy.«|Sắp tịch, Sư ngồi Kết già bảo đồ chúng: »Những bậc lão túc các nơi sắp tịch để kệ từ biệt thế gian, thế gian có thể từ biệt sao? Sắp đi an ổn!« Nói xong Sư vui vẻ chắp tay viên tịch.
Thanh Văn
(s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞): âm dịch là Xá La Bà Ca (舍羅婆迦), ý dịch là Tác Đệ Tử (作弟子); là một trong Nhị Thừa, Tam Thừa; chỉ cho hàng đệ tử xuất gia lắng nghe giáo pháp của đức Phật mà chứng ngộ. Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 17, giải thích danh nghĩa Thanh Văn có 3: (1) Theo nhân duyên đắc đạo mà giải thích, nghĩa là nghe lời dạy của đức Phật mà giải ngộ đắc đạo, nên được gọi là Thanh Văn; (2) Theo pháp môn quán sát mà giải thích, như Thập Địa Kinh Luận (十地經論, Taishō Vol. 26, No. 1522) quyển 4 dạy rằng ngã, chúng sanh, v.v., đều có tên, nên được gọi là thanh (âm thanh, tiếng); nhờ âm thanh mà giải ngộ, nên gọi là Thanh Văn; (3) Nhân sự lợi lạc hóa độ tha nhân mà giải thích, như trong Phẩm Tín Giải của Kinh Pháp Hoa dạy rằng nhờ Phật đạo nghe mà khiến cho tất cả được nghe, nên gọi là Thanh Văn. Trong 3 giải thích trên, hai giải thích đầu là thanh văn của Phật Giáo Nguyên Thủy; loại thứ ba là Bồ Tát, tùy nghi mà gọi là Thanh Văn. Nguyên lai, Thanh Văn chỉ cho các đệ tử của đức Phật khi còn tại thế, về sau đối với Duyên Giác, Bồ Tát mà thành ra Nhị Thừa, Tam Thừa. Thanh Văn là vị quán lý Tứ Đế, tu 37 phẩm trợ đạo, đoạn hai hoặc kiến và tu, rồi dần dần chứng được 4 quả Sa Môn, và nhập vào Vô Dư Niết Bàn (無餘涅槃). Thanh Văn Thừa (聲聞乘) là giáo pháp chuyên thuyết về Thanh Văn. Thanh Văn Tạng (聲聞藏) là kinh điển xiển dương giáo thuyết của Thanh Văn. Trong các kinh luận, Thanh Văn có hai loại, 3 loại, 4 loại, 5 loại. Theo Phẩm Vô Tự Tánh Tướng (無自性相品) của Giải Thâm Mật Kinh (解深密經, Taishō Vol. 16, No. 676) quyển 2, có 2 loại Thanh Văn là Nhất Hướng Thú Tịch Thanh Văn (一向趣寂聲聞) và Hồi Hướng Bồ Đề Thanh Văn (迴向菩提聲聞). Nhập Lăng Già Kinh (入楞伽經, Taishō Vol. 16, No. 671) quyển 4 lại nêu ra 3 loại Thanh Văn khác là Quyết Định Tịch Diệt Thanh Văn (決定寂滅聲聞), Phát Bồ Đề Nguyện Thiện Căn Danh Thiện Căn Thanh Văn (發菩提願善根名善根聲聞), Hóa Ứng Hóa Thanh Văn (化應化聲聞). Du Già Sư Địa Luận (Taishō Vol. 30, No. 1579 瑜伽師地論) quyển 73 lại nêu ra 3 loại khác: Biến Hóa Thanh Văn (變化聲聞), Thệ Nguyện Thanh Văn (誓願聲聞), Pháp Tánh Thanh Văn (法性聲聞). Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Ba Đề Xá (妙法蓮華經憂波提舍, Taishō Vol. 26, No. 1519) quyển Hạ, Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親) chia Thanh Văn làm 4 loại là Quyết Định Thanh Văn (決定聲聞), Tăng Thượng Mạn Thanh Văn (增上慢聲聞), Thối Bồ Đề Tâm Thanh Văn (退菩提心聲聞), Ứng Hóa Thanh Văn (應化聲聞). Bên cạnh đó, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú (妙法蓮華經文句, Taishō Vol. 34, No. 1718) quyển 4 chia Thanh Văn thành 5 loại, gồm: (1) Quyết Định Thanh Văn (決定聲聞), nghĩa là tu tập tiểu thừa đã lâu, muôn kiếp đạo chín muồi mà chứng đắc quả nhỏ; (2) Thối Bồ Đề Tâm Thanh Văn (退菩提心聲聞), vị này vốn tu tập Đại Thừa, muôn kiếp tu đạo, tuy nhiên giữa chừng vì chán ghét sanh tử mà thối đạo tâm lớn, chỉ chứng quả nhỏ thôi; (3) Ứng Hóa Thanh Văn (應化聲聞), nghĩa là các Bồ Tát vì hóa độ hai loại Thanh Văn vừa nêu, nên bên trong thì có đủ hạnh của chư Phật Bồ Tát, ngoại hình thì hiện thân Thanh Văn, để khuyến dụ hàng Tiểu Thừa, khiến cho nhập vào Đại Thừa; (4) Tăng Thượng Mạn Thanh Văn (增上慢聲聞), nghĩa là vì chán ghét sanh tử, vui mừng Niết Bàn, tu tập pháp Tiểu Thừa, chứng đắc pháp nhỏ mà đã thấy đầy đủ, chưa đạt mà cho đã đạt, chưa chứng mà bảo đã chứng; (5) Đại Thừa Thanh Văn (大乘聲聞), vị này lấy âm thanh của Phật đạo, khiến cho hết thảy người được nghe không trú vào thành hóa hiện (tỷ dụ cho cõi Niết Bàn của Tiểu Thừa), mà thảy đều quay về với lý của thật tướng Đại Thừa. Ngoài ra, trong các kinh điển của hệ A Hàm thuộc Phật Giáo Nguyên Thủy, từ Thanh Văn đều chỉ chung cho hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia. Về sau, khi giáo đoàn Phật Giáo được xác lập, từ này được dùng chủ yếu chỉ cho các tăng sĩ xuất gia tu hành. Trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung có đoạn: “Tu Phạm hạnh, đoạn trần tập chi căn nguyên; hiện bệnh hạnh, khế Thanh Văn chi hóa thành (修梵行、斷塵習之根源、現病行、憩聲聞之化城, tu Phạm hạnh, dứt tập khí ấy nguồn căn; hiện bệnh hạnh, nghỉ Thanh Văn ấy hóa thành).”
Thanh văn
聲聞; S: śrāvaka; nghĩa là »người nghe«;|Lúc đầu, Thanh văn có nghĩa là học trò của đức Phật. Dần dần, trong Ðại thừa, người ta cũng dùng từ Thanh văn để chỉ tất cả những ai nhờ nghe pháp và nhờ cố gắng cá nhân mà đạt đến giác ngộ, chứng tri kiến Tứ diệu đế và tính Không của thế giới hiện tượng. Mục đích cao nhất của Thanh văn là đạt Vô dư Niết-bàn (s: nirupadhiśeṣa-nirvāṇa), lúc đó Thanh văn trở thành A-la-hán.
thanh văn
Voice hearer, Nyan thos (T), rāvaka (S), Sāvaka (P), Nyan thos (T), Śrāvika (S), Sāvika (P) Đệ tử xuất gia nghe âm thanh Phật mà chứng ngộ. Xá la bà ca. Bậc nghe pháp. Những đễ tử theo Phật nghe pháp, tham thiền đoạn diệt phiền não đác các quả vị khác. Quả vị cao nhất của hàng Thanh văn là quả vị A la hán, thấp hơn quả vị Duyên giác, Độc giác Phật, Bồ tát và Phật. Có 4 bậc Thanh văn: -Thâu tịch Thanh văn: bậc nghe pháp rồi, tìm chỗ thanh văng tịch tu thành La hán, nhập Niết bàn. - Thối Bồ đề tâm Thanh văn: Ban đầu tu theo hạnh Bồ tát, trở lại tu Tứ diệu đế rồi nhập diệt. - Ứng hóa Thanh văn: Vốn là Bồ tát hay Phật thuở xưa, hớa thân thành Thanh văn hay Bồ tát để hỗ trợ Phật. - Tăng thượng mạn Thanh văn: Bậc tu hành tuy có thần thông nhưng chưa đắc quả La hán mà cũng tự xưng là Thanh văn La hán.
; Sràvaka (S). Hearer.
; Văn Phật thanh giáo, nghĩa là nghe Phật thuyết Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) mà giác ngộ đạo Tiểu thừa.
; Savaka (p)—Sravaka (skt)—Sound hearer. • Thanh Văn quán Tứ Đế mà tu hành và mức độ phát triển bị hạn hẹp. Mục tiêu chỉ là giác ngộ cá nhân mà thôi. Chính vì thế mà trong Pháp Hội Hoa Nghiêm trong rừng Thệ Đa, Hết thảy các đại Thanh Văn, kể cả các ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, vân vân, không có phước quả, không có tuệ nhãn, không có tam muội , không có giải thoát, không có thần lực biến hóa, không có uy lực, không có tự chủ, không có trụ xứ, không có cảnh giới để họ bước vào chúng hội của Bồ Tát và tham dự vào cuộc diễn xuất tâm linh diễn ra trong rừng Thệ Đa. Vì họ đã riêng tầm cầu giải thoát theo thừa và đạo của Thanh Văn; những gì họ thành tựu đã không vượt ngoài quả vị Thanh Văn. Quả thực, họ đã đạt được trí tuệ làm hiển lộ chân lý, an trụ trong biên tế của thực tại (bhutakoti), hưởng thụ tịch diệt cứu cánh, nhưng họ không có tâm đại bi rộng lớn đối với hết thảy chúng sanh, vì họ chỉ chuyên tâm vào những hành nghiệp của riêng mình, không có tâm chứa nhóm trí tuệ Bồ Tát và tự mình tu tập theo đó. Họ có riêng sự chứng ngộ và giải thoát, nhung họ không mong cầu, không phát nguyện làm cho kẻ khác cũng tìm thấy chỗ an trụ trong đó. Như thế họ không hiểu thế nào là thần lực bất khả tư nghì của Như Lai: Hearer of the four noble truths and limited to that degree of development. The objective is personal salvation. Therefore, in the assembly of the Gandavyuha in the Jetavana, all the great Sravakas, including Sariputra and Maudgalyayana, etc., have no stock of merit, no wisdom-eye, no samadhi, no emancipation, no power of transformation, no sovereignty, no energy, no mastery, no abode, no realm, which enable them to get into the assemblage of the Bodhisattvas and participate in the performance of the greatspiritual drama that is going on in Jetavana. As they have sought their deliverance according to the vehicle and way of Sravakahood, what they have accomplished does not go beyond Sravakahood. They have indeed gained the knowledge whereby the truth is made manifest, they are abiding in the limit of reality (bhutakoti), they are enjoying the serenity of the ultimate (atyantasanti); but they have no great compassionate all-embracing heart for all beings, for they are too intently occupied with their own doings (atmakarya) and have no mind to accumulate the Bodhisattva-knowledge and to discipline themselves in it. They have their own realization and emancipation, but they have no desire, make no vows to make others also find their resting abode in it. They do not thus understand what is really meant by the inconceivable power of the Tathagata. • Chữ Sravaka có nghĩa là kẻ nghe giảng, dùng để gọi những đệ tử Phật, có thể là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni hay cận sự nam nữ, văn kinh thính pháp và tu tập theo lời Phật dạy mà đạt được đạo quả Niết Bàn. Người ấy cũng có lúc độ tha, nhưng khả năng rất hạn hẹp. Hàng Thanh Văn còn chịu khuất phục dưới nghiệp chướng nặng nề; họ không thể hoài bảo những tâm nguyện lớn lao như các vị Bồ Tát để làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh; sở kiến của họ không đủ sáng và không đủ sâu nên họ không nhìn thấy tất cả những bí ẩn của sự sống, họ chưa hề khai mở con mắt trí tuệ (see Tuệ Nhãn)—Sound-hearer—The word 'Sravaka' literally means 'hearer.' This name was given to the disciple of the Buddha, may be a monk, a nun, a layman or a laywoman, bent on his or her liberation. A Sravaka hears and learns the truth from the Buddha, then follows and practices the teachings of the Buddha and finally attains Nirvana. He or she also serves others, but his or her capacity to do so is limited. Sravakas are yet under the covering of too great a karma-hindrance; they are unable to cherish such great vows are made by the Bodhisattvas for the spiritual welfare of all beings; their insight is not clear and penetrating deep enough to see all the secrets of life; they have not yet opened the wisdom-eye.
; (聲聞) Phạm:Zràvaka. Pàli:Sàvaka. Hán âm: Xá la bà ca. Hán dịch: Đệ tử. Chỉ cho các đệ tử xuất gia nghe âm thanh thuyết pháp của Phật mà chứng ngộ, là 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 17 phần đầu thì có 3 cách giải thích về ý nghĩa tên gọi Thanh văn, đó là: 1. Giải thích theo nhân duyên đắc đạo: Nghe âm thanh thuyết giáo của Phật mà tỏ ngộ được đạo, gọi là Thanh văn. 2. Giải thích theo pháp môn được quán xét: Như Thập địa kinh luận quyển 4 nói: Ngã, chúng sinh... chỉ có tên suông, gọi là Thanh(tiếng), nhờ Thanh mà được tỏ ngộ, gọi là Thanh văn. 3. Giải thích theo phương diện hóa tha: Như phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2 nói: Dùng âm thanh Phật đạo khiến tất cả đều nghe, nên gọi là Thanh văn. Trong 3 cách giải thích trên, 2 giải thích đầu là Thanh văn của Tiểu thừa, còn giải thích thứ 3 thì thuộc Bồ tát, theo nghĩa nên gọi là Thanh văn. Thanh văn vốn chỉ cho các đệ tử lúc đứcPhật còn tại thế, về sau, đối lại với Duyên giác, Bồ tát mà trở thành 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa. Thanh văn là những người quán xét lí của 4 đế, tu phẩm trợ đạo, dứt trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, lần lượt chứng được 4 quả sa môn, chờ mong vào Niết bàn vô dư khôi thân diệt trí. Thanh văn thừa là giáo pháp chỉ được nói cho hàng Thanh văn. Còn Thanh văn tạng là những kinh điển trình bày rõ về giáo pháp ấy. Về chủng loại của Thanh văn thì trong cáckinh luận có 2 loại, 3 loại, 4 loại, 5 loại khác nhau. Theo phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật quyển 2 thì có 2 loại Thanh văn là Hướng thú tịch thanh văn và Hồi hướng bồ đề thanh văn. Theo kinh Nhập lăng già quyển 4 thì có 3 loại Thanh văn là Quyết định tịch diệt thanh văn, Phát bồ đề nguyện thiện căn danh Thiện căn thanh văn và Hóa ứng hóa thanh văn. Theo luận Du già sư địa quyển 73 thì có 3 loại Thanh văn là Biến hóa thanh văn, Thệ nguyện thanh văn và Pháp tính thanh văn. Cứ theo luận Pháp hoa quyển hạ của ngài Thế thân thì có 4 loại Thanh văn là Quyết định thanh văn, Tăng thượng mạn thanh văn, Thoái bồ đề tâm thanh văn và Ứng hóa thanh văn. Còn Pháp hoa văn cú quyển 4thượng thì chia Thanh văn làm 5 loại, gọi là Ngũ chủng thanh văn như sau: 1. Quyết định thanh văn: Tu tập Tiểu thừa đã lâu, trải qua nhiều kiếp đạo lực thành thục, chứng được tiểu quả. 2. Thoái bồ đề thanh văn: Loại Thanh văn này vốn tu tập Đại thừa, trải qua nhiều kiếp tu đạo, nhưngnửa chừng vì nhàm chán sinh tử mà lùi bỏ tâm Đại đạo để chứng lấy tiểu quả. 3. Ứng hóa thanh văn: Vì hóa độ 2 loại Thanh văn trên nên chư Phật, Bồ tát, bên trong ẩn hạnh Phật, Bồ tát, bên ngoài hiện hình tướng Thanh văn để khuyên dụ Tiểu thừa nhập vào Đại thừa. 4. Tăng thượng mạn thanh văn: Loại Thanh văn ngạo mạn vì chán ghét sinh tử, ưa thích Niết bàn, tu tập Tiểu thừa chỉ mới được chút ít đã tự cho là đủ, chưa được nói là được, chưa chứng bảo đã chứng. 5. Đại thừa thanh văn: Dùng âm thanh Phật đạo, khiến tất cả người nghe không trụ ở hóa thành(ví dụ cho Niết bàn Tiểu thừa) mà cuối cùng trở về lí thực tướng của Đại thừa. Sự phân loại trên đây là căn cứ theo giáo nghĩa Đại thừa, nhưng các bộ kinh A hàm và các luận như luận Phát trí, luận Lục túc... thì không theo thuyết này; Thanh văn, theo các kinh luận này, chỉ có 1 loại là Thú tịch thanh văn nói trên mà thôi. Ngoài ra, trong Thánh điển nguyên thủy như kinh A hàm... từ ngữ Thanh văn là chỉ chung cho cả đệ tử xuất gia lẫn tại gia. Nhưng đến đời sau, khi giáo đoàn Phật giáo đã được xác lập, thì Thanh văn chuyên chỉ cho chư tăng xuất gia tu hành. [X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Trường a hàm Q.1; luận Du già sư địa Q.67, 80; Pháp hoa huyền luận Q.1, 4, 7; Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩalâmchương Q.2; Pháp hoa văn cú Q.1, thượng].
thanh văn (nữ)
Sāvika (P), Śrāvika (S).
thanh văn bồ đề
(聲聞菩提) Chỉ cho trí tuệ của quả Thanh văn, 1 trong 3 loại bồ đề. Trí tuệ của quả Thanh văn là kết quả của sự nghe pháp, khác với trí tuệ của hàng Duyên giác do tư duy quán xét mà được, cũng khác với trí tuệ của Phật là trí vô sư, không do thầy chỉ dạy mà do tự tu đạt được. Vì khác nhau như thế nên gọi là Thanh văn bồ đề để phân biệt. Phẩm Tam chủng bồ đề trong Ưu bà tắc giới quyển 1 (Đại 24, 1038 thượng) nói: Nếu người nào được bồ đề thì gọi là Phật. Vì sao Thanh văn và Bích chi Phật không được gọi là Phật? (...) Vì Thanh văn do nghe mà được, nên không gọi là Phật; Bích chi phật do tư duy mà được một phần giác, nên gọi là Bích chiphật; Như lai không có thầy, không do nghe, không do tư duy, nhưng do tu mà được, biết rõ tất cả, nên gọi là Phật. [X. kinh Xuất sinh bồ đề tâm]. (xt. Tam Bồ Đề).
thanh văn giác
Śrāvaka-bodhi (S).
thanh văn giới
(聲聞界) Cũng gọi Thanh văn pháp giới. Một trong 10 pháp giới. Chỉ cho cảnh giới của những người nghe âm thanh thuyết giáo của Phật, quán xét lí 4 đế mà chứng được quả A la hán, nhập vào Niết bàn vô dư khôi thân diệt trí, đó là cảnh giới của Thanh văn. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2, thượng; Ma ha chỉ quán Q.5, thượng]. (xt. Thập Giới).
thanh văn hình
(聲聞形) Cũng gọi Tỉ khưu hình, Tăng hình. Một trong các loạitạohình tượng Phật. Tức là tượng có hình tướng cạo tóc, khoác áo ca sa. Tượng của các đệ tử Phật và tượng bồ tát Địa tạng đều được tạo theo hình tướng Thanh văn.
thanh văn thuyết
(聲聞說) Chỉ cho sự thuyết pháp của Thanh văn, 1 trong 5 loại thuyết pháp. Cách phân loại này là y cứ vào những người có khả năng nói kinh Hoa nghiêm. Tức chỉ cho phần đầu của phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm là do hàng Thanh văn nhờ sức gia bị của Phật mà nói pháp. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. (xt.Ngũ Loại Thuyết Pháp).
thanh văn thân
(聲聞身) Phạm:Zràvaka-kàya. Chỉ cho quả vị Thanh văn. Tức là người quán xét 4 Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo để cầu Niết bàn giải thoát, 1 trong Giải cảnh thập Phật. [X. kinh Hoa nghiêm Q.26 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm huyền đàm Q.3]. (xt. Giải Cảnh Thập Phật).
thanh văn thập lục hành
(聲聞十六行) Cũng gọi Tứ đế thập lục hành tướng. Chỉ cho 16 hành tướng quán sát của Thanh văn. Ở giai vị Tứ thiện căn(tức Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp), trước khi tiến vào Thánh vị kiến đạo, hàng Thanh văn tiểu thừa quán xét lí 4 đế, vì mỗi đế đều có 4 thứ hành tướng, nên cộng lại thành 16 hànhtướng. Tức quán Khổ đế có 4 hành tướng: Phi thường, khổ, không, phi ngã; quán Tập đế có 4 hành tướng: Nhân, tập, sinh, duyên; quán Diệt đế có 4 hành tướng: Diệt, tĩnh, diệu, li; quán Đạo đế có 4 hành tướng: Đạo, như, hành, xuất. [X. kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.79]. (xt. Tứ Đế).
Thanh văn thừa
xem Ba thừa.
; 聲聞乘; S: śrāvakayāna;|Dùng chỉ »cỗ xe« đầu tiên của ba cỗ xe (Ba thừa; s: triyāna) có thể đưa đến Niết-bàn. Thanh văn thừa đưa đến thánh quả A-la-hán và được xem là Tiểu thừa.
thanh văn thừa
Sāvakayāna (P), Śrāvaka-yāna (S) Một trong Ngũ thừa. Giáo pháp dạy về Tứ đế, độ người tu học đắc quả La hán. Là một trong tam thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa la Tiểu thừa.
; See Sravakayana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (聲聞乘) Chỉ cho pháp môn Tứ đế đưa người đến quả Thanh văn, 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa, 1 trong 5 thừa. Thừa nghĩa là vận chuyển, chỉ cho sự chuyên chở chúng sinh đến bờ bên kia, tức chỉ cho giáo pháp của đức Phật. Hàng Thanh văn nhờ quán xét lí Tứ đế mà ra khỏi sinh tử, đạt đến Niết bàn, cho nên gọipháp môn Tứ đế là Thanh văn thừa. Thanh văn thừa cũng chỉ cho căn cơ chủng loại Thanh văn. [X. kinh Xưng tán đại thừa công đức; Pháp hoa huyền luận Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối]. (xt. Nhị Thừa).
thanh văn thừa (thặng)
Sràvakayàna (S). Vehicle ơođ Hearer.
thanh văn thừa giáo
(聲聞乘教) Một trong 4 thừa giáo do ngài Quang trạch phán thích. Quang trạch chỉ cho Pháp sư Pháp vân chùa Quang trạch, sống vào đời Lương thuộc Nam triều. Ngài Pháp vân căn cứ vào 4 xe: Dê, nai, bò, trâu trắng lớn nói trong phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa mà chia giáo pháp của đức Phật làm 4 thừa giáo, lấy xe do dê kéo để ví dụ cho Thanh văn thừa giáo. Nghĩa là hàng Thanh văn dùng Tích không quán để quán xét sinh diệt Tứ đế, phá trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, chứng lí Chân đế, lìa được sinh tử trong 3 cõi, như ngồi xe dê ra khỏi nhà lửa. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Pháp hoa nghĩa kí Q.4]. (xt. Quang Trạch Tứ Thừa).
thanh văn thừa thập địa
Xem thập địa.
thanh văn tăng
(聲聞僧) Chỉ cho những người cạo tóc, mặc áo ca sa, hiện hình tướng sa môn, tu học giới định, tuệ, 1 trong 2 loại tăng, 1 trong 3 loại tăng.Luận Đại trí độ quyển 34 nêu 2 loại tăng là Thanh văn tăng và Bồ tát tăng. Còn kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 thì nêu 3 loại tăng là Bồ tát tăng, Thanh văn tăng và Phàm phu tăng. Như các tôn giả Xá lợi phất, Mục kiền liên... chính là Thanh văn tăng. (xt. Tăng Già).
thanh văn tạng
The Sravaka—Hinayana Canon.
; (聲聞藏) Chỉ cho các giáo pháp 4 đế, 12 nhân duyên mà đức Thích tôn nói cho hàng Thanh văn nghe, là 1 trong 2 tạng, 1 trong 3 tạng. Còn giáo pháp 6 độ mà đức Thích tôn nói cho Bồ tát nghe thì gọi là Bồ tát tạng. Từ ngữ Thanh văn tạng có xuất xứ từ kinh Bồ tát địa trì quyển 12. Ngài Tuệ viễn đời Tùy và các ngài Cát tạng, Thiện đạo đời Đường đều chia loại kinh điển thành 2 tạng để nghiên cứu, phân tích. Kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội quyển trung thì nêu thuyết Ba tạng: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát. Nếu khi chỉ nói đến 2 tạng Thanh văn và Bồ tát thì trong tạng Thanh văn đã bao hàm cả tạng Duyên giác rồi. Cách phân loại 2 tạng này đồng nghĩa với Nhị thừa (Đại thừa, Tiểu thừa), Nhị giáo(Bán giáo, Mãn giáo). [X. luận Nhậpđại thừa Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.1]. (xt. Nhị Tạng).
thanh văn uý khổ chướng
(聲聞畏苦障) Hàng Thanh văn bị phiền não sợ khổ làm chướng ngại. Nghĩa là hàng Thanh văn sợ hãi nỗi khổ sinh tử luân hồi ở thế gian, ưa đắm Niết bàn, lại bị ngay nỗi sợ hãi và niềm ưa đắm ấy làm chướng ngại việc chứng đắc quả Phật. Niết bàn tông yếu (Đại 38, 246 thượng) nói: Thanh văn sợ khổ, chướng ngại đức vui, không biết khổ ấy chính là vui lớn.
thanh văn ứng
(聲聞應) Ứng thân thứ 4 trong 32 ứng thân của bồ tát Quán thế âm. Vì giáo hóa chúng sinh nên bồ tát Quán thế âm thị hiện 32 thân tướng để thích hợp với các căn cơ chủng loại. Thanh văn ứng tức là dùng thân Thanh văn ứng hiện trước chúng sinh.Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 6 ghi: Nếu các vị Hữu học chứng được lí không của Tứ đế, tu đạo nhập diệt, thắng tính hiện tròn đủ, thì Bồ tát liền hiện ra thân Thanh văn ở trước vị ấy, nói pháp cho nghe, khiến được giải thoát. (xt. Tam Thập Nhị Ứng).
Thanh văn 聲聞
[ja] ショウモン shōmon ||| śrāvaka. 'voice-hearer'; originally, a disciple of the Buddha (who heard his voice); later, a follower of Hīnayāna who contemplates the principle of the four noble truths to attain nirvāna. In Mahayana texts, the śrāvaka is considered along with the pratyekabuddha 辟支佛, to be a practitioner of the two lesser vehicles (二乘、小乘), inferior in insight and compassion to the bodhisattva 菩薩. (2) A monk. śrāvaka (s); voice-hearer (e); => 1. Ban đầu là chỉ cho đệ tử của Đức Phật (những ai nghe được giáo lý của Ngài); về sau, chỉ cho đệ tử của Tiểu thừa tu tập tứ diệu đế để đạt đến niết-bàn. Theo kinh điển Đại thừa, Thanh văn được xem như cùng với Bích chi Phật (s: pratyekabuddha 辟支佛) là những vị tu theo pháp Nhị thừa (二乘、小乘), ít phát triển trí huệ và lòng từ bi hơn là pháp tu của hàng Bồ-tát. 2. Tăng sĩ Phật giáo.
thanh vắng
Deserted and silent.
thanh đàm
(清談) Bàn luận về lí cao xa, trống không. Chỉ cho cái phong khí xã hội Trung quốc được hình thành vào cuối đời Đông Hán đến đầu đời Ngụy, trong đó, giai tầng trí thức muợn sự đàm luận biện biệt để cầu đạt chân lí. Phong khí này thịnh hành vào đời Ngụy và Tấn (202-419). Thanh đàm thuần túy thuộc phạm vi tư tưởng triết học, như Nhân sinh luận, Vũ trụ luận, Bản thể luận, Tri thức luận, Nhạc lí, Luân lí, Mĩ học, Ngữ ngôn ngữ ý học... chứ không dính dáng gì đến chính trị, công danh, lợi lộc hoặc thuật mưu sinh..., cho nên ý thức xã hội đương thời biểu hiện phong cách tìm cầu sự thanh khiết. Cũng thời kì này, còn có phong khí Huyền đàm (bàn về lí sâu xa, kín nhiệm)mà chủ đề chỉ giới hạn ở Vũ trụ luận và Bản thể luận thuần túy trong Thanh đàm và làm thế nào để phối hợp phần Vũ trụ luận này với Nhân sinh luận. Các danh sĩ đương thời như Vương bật, Hướng tú... phần nhiều chuộng Huyền đàm, đề cao học thuyết Lão Trang, do đó Huyền đàm rất thịnh. Các danh sĩ Huyền học tuy bị chê là những người theo lí suông, bàn suông nhưng lúc Phật giáo truyền vào thì chính cũng nhờ Huyền đàm, Thanh đàm mà truyền bá đến được các phần tử trí thức.
thanh đạm
Slight—Frugal.
thanh đầu quán âm
• Vị Quán Âm đầu xanh, ngồi trên vách đá dựng đứng: The blue-head Kuan-Yin, seated on a steep cliff. • Vị Quán Âm cổ xanh, có ba mặt: The blue-knech Kuan-Yin, with three faces.
thanh đề nữ
The mother of Maudgalyàyana, noted for her meanness.
; Mẹ của Mục Kiền Liên trong một tiền kiếp, nổi tiếng về sự bần tiện của bà—The mother of Maugalyaya na in a former incarnation, noted for her meanness.
Thanh 聲
[ja] ショウ shō ||| (1) Voice, words, speech, sound. A necessity for the auditory consciousness 耳識. (2) To listen. (3) Name, fame.(4) Teaching, education, instruction. => 1. Tiếng nói, lời nói, ngôn từ, âm thanh. Yếu tố cần thiết đối với nhĩ thức 耳識. 2. Lắng nghe. 3. Tiếng tăm, danh tiếng. 4. Giáo lý, sự giáo dục, lời chỉ dẫn.
thao dượt
To manoeuver—To exercise.
thao luyện
To drill—To exercise.
thao láo
To be wide-open (eyes).
thao thao bất tuyệt
Volubly and interminably (speaking).
thao túng
To do as one pleases, hold or release whenever one can benefit.
Thạch Sương Khánh Chư
(石霜慶諸, Sekisō Keisho, 807-888): xuất thân vùng Tân Cam (新淦), Cổ Châu (古州, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Năm lên 13 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Tây Sơn Thiệu Giám (西山紹鑑) ở Hồng Châu (洪州, thuộc Huyện Nam Xương, Tỉnh Triết Giang), rồi thọ cụ túc giới với Tung Nhạc (嵩岳) và học về giới luật. Sau đó, ông đến tham yết Đạo Ngô Viên Trí (道吾圓智) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Về sau, ông đến sống ở Thạch Sương Sơn (石霜山) trong vòng 10 năm, và chính trong khoảng thời gian nầy, ông đã cùng với môn đệ mình chuyên tâm ngồi Thiền mà không hề nằm nghỉ như cây khô, nên người đời thường gọi họ là Người Cây Khô. Vua Hy Tông (僖宗) nhà Đường nghe được đạo phong của ông nên ban cho Tử Y, nhưng ông cố từ không thọ nhận. Vào ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thân (888, năm đầu niên hiệu Văn Đức), ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi đời và 59 hạ lạp. Ông được sắc phong thụy hiệu là Phổ Hội Đại Sư (普會大師).
then chốt
1) Latch and bolt. 2) Essential—Important.
theo
1) According to—In accordance with. 2) To follow—To go (come) after—To accompany someone.
theo bén gót
To follow close behind.
theo bản năng
Instinctively.
theo dõi
To observe—To watch.
theo dấu
To track—To trail—To trace.
theo gót
To follow someone closely.
theo kinh pháp cú, câu 183, đức phật dạy
“Chớ làm các điều ác, gắng làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch. Ấy lời chư Phật dạy.”—According to the Dharmapada Sutra, verse 183, the Buddha taught: Not to do evil, to do good, to purify one's mind, this is the teaching of the Buddhas.”
theo kịp
To catch (come) up with.
theo như
In accordance with.
theo phe
To take sides with.
theo quan niệm
Conceptually
theo riết
See Theo gót.
theo sau
To go after—To follow.
theo sự sắp đặt
Structurally.
theo truyền thống thiền tông
To follow the Zen Practice—To be a follower of Zen.
theo đuổi
To pursue—Chase after.
theo đuổi dục vọng
Chase after pleasures.
theo đòi
To imitate.
theo đúng con đường giác ngộ
To follow the right way of Enlightenment.
thi
A corpse; to manage.
; 1) Bố thí (cho): To give—To offer—To donate. 2) Đi thi: To go in (sit) for an examination. 3) Tử thi: Dead body—Corpse (of a murder person). 4) Thơ: Poetry.
thi ba la mật
Sìlapàramità (S) Morality, the second of the pàramitàs.
Thi ba-la-mật
phiên âm từ Phạn ngữ là ỵla-pramit, hay Thi-la ba-la-mật, tức Giới ba-la-mật, hay Trì giới ba-la-mật, cũng gọi là Giới độ.
Thi ba-la-mật 尸波羅蜜
[ja] シハラミツ shiharamitsu ||| A transliteration of śīla-pāramitā--the bodhisattva's unattached practice of moral discipline. => Phiên âm chữ śīla-pāramitā—nghĩa là Bồ-tát không chấp trước vào việc hành trì giới luật.
thi bà đàn ni
Sītapāni (S)Một Đại luận sư phái Hữu bộ.
thi bán thi
Giết người bằng phương pháp Tỳ Đà La, nghĩa là lấy ma lực bằng cách luyện chú trên một thây ma. Nếu là thây không đầu hay từng phần của thây thì gọi là “Bán Thi.” Nếu là toàn thây thì gọi là “Thi.”—To kill a person by the Vetala Method of obtaining magic power by incantations on a dead body; when a headless corpse, or some part of the body is use, it is called “Half-Corpse Vetala.” When the corpse is used, it is called “Whole-Corpse Vetala.”
; (尸半尸) Chỉ cho Thi chú và Bán thi chú. Tức ở Ấn độ và miền Tây vực đời xưa, người ta dùng chú thuật sai khiến tử thi đi giết người. Nếu dùng toàn bộ tử thi để giết người thì gọi là Thi chú; nếu dùng tử thi không có đầu đi giết người thì gọi là Bán thi chú. Du già luận kí quyển 17, phần đầu (Đại 42, 688 hạ) ghi: Thái nói: Có kẻ muốn giết người, dùng chú thuật sai toàn thân xác chết đi giết oan gia, nên gọi là Thi chú; sai xác chết không có đầu, không nói được, đi giết người, nên gọi là Bán thi.Trắc nói: Có kẻ muốn giết người, dùng bùa chú sai quỉ giết người, hoặc sai tử thi giết hại chúng sinh, cho nên gọi là Thi. Hoặc dùng tay chân của tử thi giết hữu tình, cho nên gọi là Bán thi.
thi ca
(尸迦) Cũng gọiTắc ca, Sa ca, Ca. Tức chữ (ska) trong 42 chữ cái Tất đàm.Kinh Quang tán bát nhã quyển 7 và kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 đều theo chữ đầu trong tiếng Phạm Skandha (Hán dịch là Tụ, Uẩn) mà giải thích Skanghĩa là Tất cả các pháp không có 5 uẩn, Các pháp tụ bất khả đắc... Kinh Phóng quang bát nhã quyển 4 thì giải thích là pháp tính. Kinh Hoa nghiêm quyển 57 (bản 60 quyển) nói rằng: Khi xướng chữ Thi ca thì nhập vào môn Bát nhã ba la mật, gọi là Chư địa mãn túc vô trước vô ngại giải thoát quang minh biến chiếu (Phạm: Bhùmigarbhàsaôga-pratisamvit-prabhacakra-spharaịa).
thi ca cung đình
Kavya (S).
thi ca la việt
Xem Thiện Sanh.
; Sigàlovada (P).
; Tu Xà Đà, con trai của một vị trưởng giả trong thành Vương Xá—Sujata, son of an elder of Rajagrha.
thi ca la việt bồ tát
Sigalavada (S)Thiện Sanh Bồ tátMột vị Bồ tát tại gia.
thi ca la việt kinh
Sigalovāda-sŪtra (S), Sigalovāda-sutta (P)Bài Kinh Phật giảng về lễ lục phương tức là tôn trọng sáu cái bổn phận đối với: cha mẹ, thầy dạy học, vợ chồng, bằng hữu, tôi tớ, thầy dạy pháp cho hàng cư sĩ tại gia.
; Sigàlovada-sutta (P). Also Thiện sinh kinh.
thi hoa la sát nữ
Xem Hoa Sĩ La sát nữ.
thi hành
To carry out—To execute—To perform or fulfil (a promise)—To give effect to (decree)—To enforce (the law)—To achieve (work).
thi hào
Great poet.
thi họa
Poetry and painting.
thi hộ
Dānapāla (S)Tên một vị sư. Tỳ kheo thế kỷ X, đời Tống, sang Trung quốc dịch kinh.
Thi Hộ 施護
[ja] セゴ Sego ||| Dānapāla, an Indian scholar monk who was active as a translator in the Northern Song. => (s: Dānapāla). Tăng sĩ học giả Ấn Độ, là một dịch giả vào thời Bắc Tống.
thi khí
Sikhi (S)Là Đại Phạm Thiên vương, còn gọi là Phạm vương, hay Thế Chủ (Prajapati).
; Sikkhin (S). (1) The 999th Buddha of the last kalpa, whom Sàkyamuni is said to have met. (2) The second of the seven Buddhas of antiquity.
; Sikhin (skt)—Thức Khí—Thức Cật—Crested or flame, explained by fire. 1) Trong Câu Xá Luận bản cũ gọi là Lạt Na Thi Khí: Called Ratnasikhin in Abhidharma, Kosa sastra old version. 2) Trong Bản Hạnh Kinh gọi là Loa Kết: Called “A Shell-like tuft of hair” in the Orginal Practice Sutra. 3) Vị Phật thứ 999 của kiếp cuối cùng mà Đức Thích Ca Mâu Ni đã từng gặp, cũng là vị Phật thứ nhì trong bảy vị cổ Phật: The 999th Buddha of the last (preceeding) kalpa, whom Sakyamuni is said to have met, the second of the Sapta Buddha. 4) Vị Phật thứ hai trong bảy vị Phật quá khứ, sanh tại Quang Tướng Thành—The second of the seven Buddhas of antiquity, born in Prabhadvaja as a Ksatriya. 5) Thi Khí còn là tên gọi của Đại Phạm Thiên Vương, nghĩa là “Đỉnh Kết” hay “Hỏa Tai Đỉnh” (đại hỏa tai thời kiếp mạt). Vì nhập Hỏa Quang Định mà đoạn lìa dục hoặc mà trở về theo giới đức—A Mahabrahma, whose name Sikhin is defined as having a flame tuft on his head; connected with the world-destruction by fire. Sikhin is also described as a flame or a flaming head and as the god of fire, styled also “Suddha Pure.” He observed the Fire Dhyana, broke the lures of the ralm of desire, and followed virtue.
Thi Khí Phật
(s: Śikhin-buddha, p: Sikhin-buddha, 尸棄佛): ý dịch là Đảnh Kế (頂髻), Trì Kế (持髻), Hữu Đảnh (有髻), vị thứ 2 trong 7 vị phật thời quá khứ. Vào thời quá khứ 31 kiếp, khi con người có tuổi thọ 70.000, vị Phật này ra đoìư trong dòng dõi Sát Đế Lợi (刹帝利) của Thành Quang Tướng (光相城). Ngài có họ là Cù Đàm Câu Lân Nhã (瞿曇拘隣若), cha tên Minh Tướng (明相), mẹ là Quang Diệu (光妙). Ngài thành đạo dưới gốc cây Phân Đà Lợi (分陀利), thuyết pháp 3 hội và độ được hơn 200.000 người.
thi khí phật
Ṣikhin (S), Sikhi-buddha (S)Đức Phật thứ 999 thuộc Trang nghiêm Kiếp.
; See Thi Khí (3) and (4).
; (尸棄佛) Phạm: Zikhi-buddha. Pàli:Sikhi-buddha. Cũng gọi Thức Phật, Thức cật Phật, Thức khí Phật, Thức khí na Phật. Hán dịch: Đính kế, Hữu kế, Hỏa thủ, Tối thượng. Theo kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1, đức Phật Thi khí ra đời vào kiếp thứ 31 ở quá khứ, bấy giờ con người sống lâu 7 vạn tuổi, họ của ngài là Câu lợi nhã (Pàli: Koịđaĩĩa), cha là Minh tướng (Pàli:Aruịa) thuộc dòng Sátđếlợi, mẹ tên là Quang diệu (Pàli:Pathàvatì). Ngài thành Chính giác dưới gốc cây Phân đà lợi (Pàli:Puịđarìka). Hội thuyết pháp đầu tiên độ 18 vạn tỉ khưu, hội thứ hai thuyết pháp độ 8 vạn người, hội thứ 3 thuyết pháp độ 7 vạn người. Đệ tử thượng thủ là A tì phù (Pàli:Abhibhù), đệ tử thứ 2 là Tam bà bà (Pàli:Sambhava), đệ tử chấp sự là Nhẫn hành (Pàli: Khemankara). Ngoài ra, các kinh Tăng nhất a hàm quyển 45, kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự và kinh Phật danh quyển 19... đều có nói về đức Phật này, nhưng về tuổi thọ con người đương thời, tên họ cha mẹ, đệ tử, số người được độ... đều có khác nhau. Còn theo Tứ phần luật tỉ khưu giới bản thì đức Phật Thi khí từng nói Giới kinh (Đại 22, 1022 trung): Ví như người mắt sáng, tránh được đường nguy hiểm, đời có người thông minh, thường xa lìa điều ác.
Thi Khí Phật 尸棄佛
[ja] シキブツ Shiki butsu ||| Śikhin, the second of the seven buddhas of the past 過去七佛. The tradition says that he was born at a time when the normal life span was 70,000 years. He was born in the kṣatriya caste and attained enlightenment under a lotus plant. 〔華嚴經 T 278.9.717c9〕 => Đức Phật thứ hai trong bảy Đức Phật quá khứ. Theo truyền thuyết Đức Phật ra đời khi mạng sống của con người là 70.000 năm. Ngài sinh ra trong gia đình thuộc giai cấp Sát-đế-lợi (s: kṣatriya) và thành đạo trong một đài sen.
thi khí thiên
Xem Đại Phạm thiên.
thi khí tỳ
tên một vị trời phụ trách về âm nhạc ở Thiên Đường Đông Độ—A deva of music located in the Eastern Paradise.
thi khí đại phạm
Sikhi-brahman (S).
; (尸棄大梵) Phạm: Zikhi-brahman. Thi khí, Phạm: Zikhin. Hán dịch: Đính kế, Hỏa. Vị trời đứng đầu Sơ thiền thuộc cõi Sắc. Vị trời này tu định Hỏa quang phá trừ hoặc lậu cõi Dục, cho nên có tên là Hỏa. Phẩm Hiện tướng trong kinh Đại bát nhã quyển 570 cho rằng Trì kế Phạm vương đứng đầu thế giới Kham nhẫn; Pháp hoa huyền tán quyển 2, phần đầu, thì cho rằng Trì kế Phạm vương chính là Thi khí Đại phạm, đứng đầu cõi trời Tứ thiền thuộc thế giới Kham nhẫn(tức thế giới Sa bà).Các học giả cận đại cho rằng Thi khí Đại phạm là biểu thị sự hỗn hợp về tư tưởng giữa đức Phật Thi khí thứ 2 trong 7 đức Phật quá khứ và Phạm thiên. Thuyết của Đại thừa chủ trương Phật hiện tại xuất hiện cũng từ tư tưởng Phạm thiên mà ra.
Thi Khí 尸棄
[ja] シキ shiki ||| (1) The name of a brahman king in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.24b14〕 (2) Śikhin Buddha. See 尸棄佛. => 1. Tên một vị vua Bà-la-môn trong kinh Pháp Hoa. 2. Phật Thi Khí (s: Śikhin Buddha). Xem Thi Khí Phật尸棄佛.
thi la
Xem Giới.
; Sìla (S). Restraint, or keeping the commandments. The second pàramità, moral purity.
; Sila (skt)—Thi Đát La. 1) Thanh lương: Pure and cool. 2) Giới: Commandments—Restraint or keeping the commandments. 3) Ba La Mật thứ nhì trong Lục Ba La Mật, thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý: It is the second of the six paramitas, moral purity of thought, word, and deed. 4) Bốn nghĩa hay bốn điều kiện của giới—Four meanings or four conditions of sila: a) Thanh lương: Chaste (pure and cool). b) Yên ổn: Calm. c) Yên tĩnh: Quiet. d) Tịch Diệt: Extinguished (Nirvana). 5) Năm giới đầu trong thập giới là dành cho tất cả Phật tử: The first five or panca-sila, of the ten sila or commandments are for all Buddhists. ** For more information, please see Giới.
; (尸羅) Phạm:Zìla. Gốc của danh từ này là từ động tựzìl (thực hành) mà ra, bao gồm các nghĩa hành vi, tập quán, tính cách, đạo đức, cung kính..., cũng chỉ cho giới hạnh trong 6 .Ba la mật do đức Phật chế định để các đệ tử giữ gìn khiến ngăn ngừa điều lỗi. Về ngữ ý của danh từ này, ngoài các nghĩađãnêu trên, theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 10, còn có các nghĩa khác như tu tập, chính thuận, tam muội, thanh lương(mát mẻ), an miên(ngủ yên giấc)... Luận Đại tì bà sa quyển 44 thì nêu ra các nghĩa: Thanh lương, an miên, sác tập (tập luôn luôn), đắc định, nghiêm cụ(đồ dùng để trang nghiêm), minh kính(gương sáng), tăng thượng(thêm lên), đầu thủ... Tội lỗi do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra làm cho người tu hành bị thiêu đốt nóng bức; Giới có công năng chấm dứt nóng bức khiến được yên vui thoải mái, cho nên gọi là Thanh lương. Các kinh luận khác cũng có những giải thích khác nhưng đại khái đều lấy việc ngăn ngừa điều lỗi làm nghĩa gốc.Luận Đại trí độ quyển 13 (Đại 25, 53 trung) nói: Thích tu hành thiện đạo, không tự buông thả, gọi là Thi la. Hoặc thụ giới làm thiện, hoặc không thụ giới mà làm thiện đều gọi là Thi la. Luận A tì đạt ma câu xá quyển 14 (Đại 29, 73 thượng) nói: Có năng lực diệt trừ các nghiệp ác nên gọi là Thi la.
thi la a điệt đa
Siladitya (skt)—Giới Nhật—Son of Pratapaditya and brother of Rajyavardhana. Under the spiritual auspices of Avalokitesvara, he became king of Kanyakubja, 606 A.D. and conquered India and the Punjab. He was merciful to all creatures, strained drinking water for horses and elephants, he was most liberal patron of Buddhism, re-established the great quinquennial assembly, built many stupas, showed special favour to Silabhadra and Hsuan-Tsang, and composed the Astama-hasri-Caitya-Samskrta-Strota (Bát Đại Linh Tháp Phạm Tán). He reigned about 40 years.
thi la ba la mật
Xem Trì giới Ba la mật.
; Xem Thi ba la mật.
; Silaparamita (skt)—Hạnh trì một trong sáu hay mười giới Ba La Mật—Morality—The second of the six or ten paramitas. ** For more information, please see Giới.
thi la bát phả
Silaprabha (skt)—Giới Quang là tên Phạn của Pháp Sư Đạo Lâm ở Thiên Trúc—The Sanskrit name of a learned monk (T'ao-Lin) in India.
thi la bí đà la
Silabhadra (S). Also Giới Hiền luận sư.
thi la bạt đà la
Xem Giới Hiền Luận sư.
; Silabhadra (skt)—Một danh Tăng tại tu viện Na Lan Đà, thầy của Huyền Trang, vào khoảng năm 625 sau tây Lịch—A famously learned monk of Nalanda, teacher of Hsuan-Tsang, 625 A.D.
thi la bạt đà đề
Silabhadra (skt)—Tên của một vương tử trong Kinh Hiền Ngu quyển 6—Name of a prince.
thi la bất thanh tịnh
Impure commandments—Nếu giới bất tịnh, không ai vào được tam muội—If the sila, or moral state, is not pure, none can enter samadhi.
thi la thanh tịnh
Moral purity, essential to enter into samàdhi
; Thanh Tịnh Giới, cấp thiết cho việc nhập định—Moral purity, essential to enter into samadhi.
thi la tàng
Màn làm bằng đá quý thanh lương—A curtain made of chaste precious stones.
thi la tứ nghĩa
(尸羅四義) Chỉ cho 4 nghĩa chính của Thi la (giới), được giải thích theo công dụng. 1. Thanh lương: Xa lìa sự lo khổ nhiệt não trong lòng mà được mát mẻ, thoải mái.2. An ổn: Là nhân của sự an vui đời sau.3. An tỉnh: Kiến lập được chỉ quán. 4. Tịch diệt: Là nhân chứng đắc Niết bàn.
thi la đạt ma
Siladharma (skt)—Giới Pháp, tên một vị sa môn nước Vu Điền—Name of a sramana of Khotan.
; (尸羅達摩) Cũng gọi Giới pháp. Danh tăng nước Vu điền đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đường. Sư thông thạo tiếng Trung quốc, Ấn độ. Trong năm Trinh nguyên (785-?), sư nhận lời thỉnh cầu của quan Tiết độ sứ là Dương tập cổ, dịch kinh Thập địa 9 quyển ở chùa Long hưng tại Bắc đình (nay là huyện Phu viễn, tỉnh Tân cương), do sa môn Đại chấn ghi chép, ngài Ngộ không kiểm chứng tiếng Phạm. Sau đó, sư lại dịch kinh Hồi hướng luân 1quyển. Hai kinh này được nhập tạng vào năm Trinh nguyên 15 (799).
thi lại nã phạt để
Hiranyavati (skt)—Kim Hà hay sông Vàng, tên của con sông trong lãnh thổ Né-Pal, bây giờ là Gandaki, gần nơi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn—The gold river, a river of Nepal, now called Gandaki, near which Sakyamuni is said to have entered nirvana.
thi lợi
Sri (S). Also sư lợi, thất lợi, thất li, tu lợi; (1) Fortune, prosperity; high rank, success, good fortune, virtues. (2) The wife of Visnu. (3) An honorific prefix or affix to names of gods, great men, and books. (4) An exclamation at the head of liturgies. (5) An abbreviation for Manjusri.
; Cũng còn được gọi là (also called) Sư Lợi, Thất Lợi, Thất Ly, Thất Lý, Tu Lợi, Tất Lợi. 1) Danh từ Phạn ngữ có bốn nghĩa—A Sanskrit term with four meanings: • Thủ (đầu): High rank. • Thắng (trội hơn, tốt đẹp hơn): Success. • Cát Tường (tốt lành): Good—Good fortune—Prosperity. • Đức: Virtues. 2) Tên vắn tắt của Ngài Văn Thù Sư Lợi: An abbreviation for the name of Manjusri. 3) Một tiếp đầu ngữ hay tiếp vĩ ngữ có nghĩa là danh dự hay được tôn vinh trước tên các vị Thần, các bậc vĩ nhân, hay những quyển sách quý: An honorific prefix or affix to names of gods, great men, and books. 4) Tên của vợ của Thần Visnu: Name of the wife of Visnu.
thi lợi ca (già) na
Sriguna (skt)—Hậu Đức, một danh hiệu của Phật—Abundantly virtuous, a title of a Buddha.
thi lợi cúc đa
Srigupta (skt)—Thi Lợi Quật Đa—Thất Lợi Cúc Đa—Tên một vị trưởng giả ở thành Vương Xá, người đã dùng hầm lửa và cơm trộn thuốc độc định hại Phật, nhưng không thành. Ông bèn quy y theo Phật—An elder in Rajagrha, who tried to kill the Buddha with fire and poison, but he failed. He then took refuge in the Triratna.
thi lợi dạ
Sriyasas (skt)—Vị Thần mang đến sự kiết tường—A god who bestows good luck.
thi lợi mật đa la
Srimitra (skt)—Một hoàng thái tử Ấn Độ, người đã thoái vị nhường ngôi cho em mình, rồi xuất gia đi tu, sang Tàu, dịch bộ “Quán Đảnh” và các kinh khác—An Indian prince who resigned his throne to his younger brother, became a monk, came to China, translated the Summit of Contemplation and other books.
thi lợi phật thệ
Sribhuja (skt)—Tên nước Châu Mạt La Du tức nước Thi Lợi Phật Thệ ngày nay—Name of Malaya which is now Sribhuja.
thi lợi sa
Sirisa (P)Gốc cây nơi Phật Câu lưu tôn thành đạo.
; Sirisa—Acacia Sirissa (skt)—Also called Thi Lợi Sắc, Sá Lợi Sa, Dạ Hợp Thụ, Hợp Hôn Thụ—Sa La Thụ—Cây Hợp Hôn, có hai loại—The marriage tree. There are two kinds: 1) Thi Lợi Sa: Loại có lá và quả to—Described as with large leaves and fruit. 2) Thi Lợi Sử: Loại có lá và quả nhỏ—Described as with small leaves and fruit.
thi lợi sa ca
Sirisaka (skt)—Tên của một vị sư—Name of a monk.
thi lợi sa thụ
(尸利沙樹) Thi lợi sa, Phạm:Zirìwa,Pàli:Sirìsa. Cũng gọi Thi lợi sái thụ, Sư lợi sa thụ, Xá li sa thụ. Hán dịch: Hợp hoan thụ, Dạ hợp thụ, Hợp hôn thụ. Tên khoa học: Acacia sirissa. Loại cây mọc ở Ấn độ, có nghĩa là tốt lành, thường tiết ra chất nhựa dùng để chế thuốc thơm. Kinh Kim quang tối thắng vương quyển 7 cho rằng hương thơm của cây này đứng vào hàng thứ 6 trong 32 vị thuốc thơm. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 3 thì cây này có 2 chủng loại, đó là: 1. Thi lợi sa: Lá và quả tương đối lớn. 2. Thi lợi sử: Lá và quả nhỏ hơn loại trên.Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Nam) cho rằng khi sao Mão xuất hiện thì quả Thi lợi sa mới hình thành, dài 5 tấc. Tuệ lâm âm nghĩa nói rằng quả Thi lợi sa giống như ái đầu, vì thế Thi lợi sa còn có nghĩa là đầu. Cây này là cây đạo tràng của đức Phật Câu lâu tôn(đức Phật thứ 4 trong 7 đức Phật ở quá khứ).
thi ma xá na
Smasana (skt) or Asmasayana (skt)—Một nghĩa địa trong vùng Thi Đà Lâm—A cemetery in Sitavana.
thi phật
(詩佛) Từ ngữ tôn xưng thi hào Vương duy đời Đường. Ông rất kính tin Phật pháp, ăn hay trường. Kiến thức của ông về Phật học rất sâu sắc, mỗi khi làm thơ đều có ngụ Phật lí, thiền cơ, nên được người đời khen là Thi Phật. Về già, ông biết trước giờ lâm chung, bèn làm thơ gởi các bạn, viết xong, buông bút, ngồi yên lặng mà qua đời.
thi phệ đa ba nga phược để
Xem Bạch thân quán tự tại Bồ tát.
Thi quyền 施權
[ja] シゴン shigon ||| Provisionally established. An expedient. => Thiết lập tạm thời. Một phương tiện .
thi quỷ
Quỷ tử thi, được dựng dậy và sai đi giết hại kẻ thù (đây là một thứ chú thuật của ngoại đạo)—A corpse-ghost, called up to kill an enemy.
thi thiết luận
Prajāpti-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
thi thiết luận bộ
Xem Thuyết giả bộ.
Thi thiết 施設
[ja] セセツ sesetsu ||| (1) A provisionally established method or system. Synonymous with 安立 (anli). To set forth, produce. The various teaching methods, such as sutras, śāstras, meditation and kōan analysis. (2) Hypothesize, assume. (3) To establish something that is not truly existent (prajñapti, prajñapta, upacāra, vijñapti). => 1. Phương pháp hoặc hệ thống được lập tạm thời. Đồng nghĩa với An lập 安立. Trình bày, đưa ra. Các pháp môn khác nhau, như Kinh, Luận, Thiền và tham công án. 2. Giả định, giả lập. 3. Lập ra một điều gì đó không có thực trong thực tế (s: prajñapti, prajñapta, upacāra, vijñapti).
thi thiền nhất trí thuyết
(詩禪一致說) Thuyết cho rằng thi đạo và thiền đạo cùng tương quan nhau và qui về một mối. Cứ theo Thương Lãng thi thoại thì dòng phái nhà Thiền, thừa thì có Đại Tiểu, tông thì có Nam Bắc, đạo thì có chính tà, người học phải theo Tối thượng thừa, có chính pháp nhãn, ngộ Đệ nhất nghĩa; như Tiểu thừa thiền, Thanh văn, Bích chi quả... đều chẳng phải chính tông. Bàn về thơ như bàn về thiền, thơ đời Hán, Ngụy, Tấn vàthịnh Đường thì thuộc về Đệ nhất nghĩa; còn thơ Đại tông, Đại lịch về sau thì thuộc về Tiểu thừa thiền, đã rơi vào Đệ nhị nghĩa. Theo đây thì thơ vãn Đường thuộc loại Thanh văn, Bích chi quả. Nói một cách tổng quát thì mục đích của thiền đạo là diệu ngộ, thi đạo cũng có diệu ngộ. Chẳng hạn như học lực của Mạnh hạo nhiên kém Hàn dũ rất xa, nhưng thơ họ Mạnh lại vượt trội hơn họ Hàn rất nhiều, đó chỉ do một vịdiệu ngộ mà thôi. Văn nhân đời Minh là Đô mục cho bài thơ sau đây là cước chú đẹp nhất cho thuyết này: Học thi hồn tự học tham thiền, Bất ngộ chân thừa uổng bách niên; Công mạc ẩu tâm tinh dịch phế, Tu tri diệu ngộ xuất thiên nhiên. Tạm dịch: Học thơ cũng hệt học tham thiền, Chẳng ngộ chân thừa uổng bách niên; Đâu phải vò tim và xé phổi, Chỉ cần diệu ngộ vượt thiên nhiên.
thi thu ma la sơn thôn
Sisumāragira (S), Simsumaragira (P).
thi thành
Kusinagara or Kusigramaka (skt)—Tên tắt của thành Câu Thi Na, thuộc Vương Quốc cổ Ấn Độ, gần thành Kasiah, nơi Đức Phật nhập diệt, và cũng là nơi sanh của chín học giả nổi tiếng ở Ấn Độ—Belonged to an ancient Indian Kingdom, near Kasiah, the place where Sakyamuni died, also the birth place of nine famous scholars.
thi thâu ma la sơn thôn
(尸收摩羅山村) Phạm: Zizumàragira. Pàli:Siôsumàragira. Cũng gọi Thi thiết thủ bà la sơn, Thất thu ma la sơn. Hán dịch:Đà sơn, Giao ngư ơn. Tên vùng đất xưa ởẤn độ, thuộc nước Bà già. Hữu bộ tì nại da quyển 42 (Đại 23, 857 thượng) nói; Khi đức Phật trụ ở vườn Cấp cô độc, rừng Thệ đa, thành Thất la phạt, thì ở chân núi Thất thu ma la thuộc Kiêu thiểm tì (Pàli:Kosambì) có nhiều thôn làng. Ngoài ra, Tạp a hàm quyển 5, 19, 37, kinh Bồ đề vương tử trong Trường bộ 85, Tăng chi bộ 7, 57... đều nói thôn này là nơi mà đức Phật và các đệ tử từng nhiều lần nghỉ lại khi các Ngài du hóa nhân gian.
Thi thư
(詩書): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho Thi Kinh (詩經) và Thượng Thư (尚書). Như trong Tả Truyện (左傳), thiên Hi Công Nhị Thập Thất Niên (僖公二十七年), có đoạn: “Thi, Thư, nghĩa chi phủ dã; Lễ, Nhạc, đức chi tắc dã (詩、書、義之府也、禮、樂、德之則也, Thi và Thư là tủ sách chứa đựng nghĩa; Lễ và Nhạc là khuôn phép của đức).” (2) Chỉ chung cho các thư tịch, sách vở. Như trong bài thơ Văn Quan Quân Thu Hà Nam Hà Bắc (聞官軍收河南河北) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Khước khan thê tử sầu hà tại, mạn quyển thi thư hỷ dục cuồng (卻看妻子愁何在、漫卷詩書喜欲狂, nhìn lại vợ con buồn cớ lẽ, bao quyển văn thư vui muốn điên).” (3) Làm thơ và thư pháp. Như trong Tống Thư (宋書), Truyện Tạ Linh Vận (謝靈運傳), có đoạn nhận xét rằng: “Linh Vận thi thư giai kiêm độc tuyệt, mỗi văn cánh, thủ tự tả chi, Văn Đế xưng vi nhị bảo (靈運詩書皆兼獨絕、每文竟、手自寫之、文帝稱爲二寶, cả thơ và thư pháp của Tạ Linh Vận [385-433] đều độc đáo, có một không hai; mỗi cuối đoạn văn, tự tay ông viết, vua Văn Đế [tại vị 424-353] gọi đó là hai báu vật).”
thi thố
To perform—To realize.
thi tì vương
(尸毗王) Thi tỳ, Phạm:Zibi;Pàli:Sibi. Cũng gọi Thấp tì vương, Thi tì ca vương. Vị Thánh vương ở Ấn độ thời xưa cắt thịt trên thân mình cho chim ưng ăn để cứu mạng chim bồ câu, cũng là tiền thân của Phật Thích ca khi còn tu hạnh Bồ tát ở đời quá khứ. Cắt thịt trên thân mình cho chim ưng ăn là sự tích rất nổi tiếng trong các sự tích bản sinh của đức Phật. Truyền thuyết về vị vua này được lưu hành rất rộng, thấy rải rác trong văn học cổ đại của Ấn độ. Trong các kinh luận của Phật giáo thì như luận Bồ tát bản si nh m an quyển 1, kinh Hiền ngu quyển 1, luận Đại trang nghiêm quyển 12, luận Đại trí độ quyển 4... đều có ghi sự tích này. Truyền thuyết kể rằng: Thủa xưa, ở cõi Diêm phù đề có vị vua Thi tì ca, một hôm, có con chim ưng đuổi bắt con chim bồ câu, chim bồ câu bay vào núp trong lòng vua, vì tâm từ bi nên vua tự cắt thịt của mình cho chim ưng ăn để thế mạng cho chim bồ câu. Truyền thuyết cho rằng bồ câu là do thần Lửa biến ra, còn chim ưng là hóa thân của trời Đế thích, vì muốn thử lòng từ bi của nhà vua mà sắp đặt việc này. Nước Túc ha đa nói trong Phật quốc kí của ngài Pháp hiển chính là nơi diễn ra sự kiện này, ở đây có ngôi tháp kỉ niệm, là 1 trong 4 ngôi tháp lớn ở Ấn độ. Điều Ô trượng na quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 2 cũng có nói đến sự tích này và địa điểm cũng nhất trí với địa điểm ghi trong Phật quốc kí, nghĩa là ở phía Đông bắc nước Kiện đà la. Theo Lục độ tập kinh quyển 1 thì tên vị vua này là Tát bà đạt (Phạm: Sarvadatta), nghĩa là Nhất thiết thí(cho tất cả). Còn theo kinh Soạn tập bách duyên thì nhà vua khoét mắt cho chim ưng chứ không phải cắt thịt cho chim ưng. Từ xưa, sự tích bản sinh nổi tiếng này đã có rất nhiều biến tướng điêu khắc và hội họa miêu tả, như trên lan can của Đại tháp A ma la bà đề (Phạm:Amaràvatì), ở hang 17 tại A chiên đa (Phạm:Ajantà) tại Ấn độ, ở Bà la phù đồ tại Java, Indonesia, ở Đôn hoàng, Tân cương, Trung quốc...
thi tăng
(詩僧) Cũng gọi Văn tăng. Vị tăng thông hiểu văn nghệ, giỏi thi ca. Đặc biệt chỉ cho các vị thi tăng ở Giang tả sống vào đời Đường. Giang tả tức vùng Giang tô, Chiết giang. Từ giữa đời Đường về sau, vùng này trở thành nơi trung tâm văn nghệ, kế sau Trường an và Lạc dương. Các thi tăng đời Đường có tác phẩm được thu chép vào Phương ngoại bộ trong Đường âm quí tiêm quyển 30, gồm có: Huệ di(8 quyển), Huyền phạm(20 quyển), Pháp lâm(30 quyển), Linh triệt(10 quyển), Kiểu nhiên(10 quyển), Linh nhất(1 quyển), Hoài phố(1 quyển), Vô khả (1 quyển), Thê bạch(1 quyển), Thượng nhan (Kinh môn tập 5 quyển), Tử lan(1 quyển), Tề kỉ(Bạch liên tập 10 quyển, Ngoại biên tập 10 quyển), Quán hưu(30 quyển), Hư trung (Bích vân tập 1 quyển), Tu lục(Đông lâm tập 1 quyển), Xử mặc(Thơ, 1 quyển), Khả minh (10 quyển), Đàm vực(Long hoa tập 10 quyển), Tự mục(Quát nang tập 10 quyển), Sở loan (Thơ, 1 quyển), Vô nhan(1 quyển), Ứng chi (1 quyển), Trí tiên(1 quyển), Khang bạch (Thơ, 1 quyển), Hàn sơn tử(Thơ, 7 quyển), Trí nhàn(Kệ tụng 1 quyển, hơn 200 thiên). Còn trong Toàn đường thi thì thu chép tác phẩm của 115 vị, gồm 2913 bài. Trong các vị thi tăng đời Đường thì các ngài Kiểu nhiên, Linh triệt, Quán hưu... là những nhân vật đại biểu. Đến đời Tống, tuy có các vị thi tăng xuất chúng như Tham liêu tử Đạo tiềm, Giác phạm Tuệ hồng... nhưng tác phẩm của các vị này không giống tác phẩm của các sĩ đại phu, cho nên bị người đương thời chê bai. Đáng chú ý hơn là các vị thi tăng đời Minh. Trong Liệt triều thi tập của Tiền khiêm ích có thu chép tiểu truyện và tác phẩm của 107 vị thi tăng từ cuối đời Nguyên đến cuối đời Minh.
thi tỳ ca
Sivi (skt)—Thi Tỳ Già—Theo Đại Trí Độ Luận, Thi Tỳ Ca là một trong những tiền thân của Đức Phật, người đã từng cắt thịt mình bố thí cho chim bồ câu—According to the sastra on Prajna-Paramita Sutra, Sivi was one of Sakyamuni's former incarnations, when to save a life of a dove he cut off and gave his own flesh to an eagle which pursued it, which eagle was Siva transformed in order to test him.
thi tỳ vương
Sibi (S), Sivi (P).
thi ân
To grant (do) a favour.
thi ân bất cầu báo, còn cầu báo là thi ân có mưu đồ và sự thi ân như vậy sẽ đưa tới ham muốn danh lợi
One should not wish to be repaid for good deeds. Doing good deeds with an intention of getting repayment will lead to greed for fame and fortune.
thi đa bà na
Sitavana (skt)—Tên vùng Thi Đà Lâm ở Bắc Ấn Độ—A place named Sitavana in Northern India.
thi đà lâm
Sitavana (S)Khu rừng rậm bắc thành Vương Xá, nơi dân trong thành bỏ tử thi người chết.
; Sitavana (skt)—Còn gọi là Thi Đà Bà, Thi Đa Bà Na, An Đà Lâm, Trú Ám Lâm, Khủng Tỳ Lâm, Khủng Úy Lâm, Hàn Lâm—Rừng lạnh, nơi bỏ xác người chết hay là nghĩa địa (chính âm là Thi Đa Bà Na, có nghĩa là Hàn Lâm hay rừng lạnh. Rừng nầy nằm sâu trong rừng thẳm lạnh lẽo. Lúc Phật còn tại thế thì khu rừng nầy nằm cạnh thành Vương Xá, xác người chết được đem bỏ vào đó cho kên kên rỉa thịt)—Cold grove, a place for exposing corpses, a cemetery.
; (尸陀林) Phạm: Zìtavana. Pàli:Sìta-vana. Cũng gọi Hàn lâm, Thi đa bà na lâm, Thâm ma xá na lâm, Thi ma xa na lâm. Khu rừng rậm nằm về phía bắc thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Rừng này âm u lạnh lẽo, vốn là nơi dân chúng trong thành bỏ tử thi; về sau là nơi ở của tội nhân.
Thi 尸
[ja] シ shi ||| (1) Corpse, dead body. (2) A medium who receives the spirit of one's ancestors. (3) To group together, to arrange, connect. => 1. Thi hài, xác chết. 2. Xác đồng cốt nhận linh hồn của tổ tiên. 3. Họp lại thành nhóm, sắp đặt, nối lại.
Thi-khí-na 尸棄那
[ja] シキナ shikina ||| See 尸棄佛. => Xem Thi-khí Phật尸棄佛.
Thi-la ba-la-mật
xem Thi ba-la-mật.
Thi-la Đạt-ma 尸羅達摩
[ja] シラタツマ Shiradatsuma ||| Śīladharma, a scholar-monk from Khotan who stayed at Long-hsing-ssu 龍興寺 monastery from 785-804, where he translated the Shidijing 十地經 and the Huixianglun jing 廻向輪經. Later on, he returned to his homeland. His name is translated into Chinese according to its meaning as 戒法. => (s: Śīladharma), Một vị tăng học giả từ nước Kế Tân (Khotan) đến Trung Hoa ở tại chùa Long Hưng từ năm 785-804, dịch kinh Thập địa 十地經 và Hồi hướng luân kinh 廻向輪經. Sau đó, sư trở về nước. Tên Sư được dich sang tiếng Hán theo nghĩa tiếng Sanskrit là Giới Pháp戒法.
Thi-la 尸羅
[ja] シラ shira ||| A transliteration of the Sanskrit term śīla, which means moral discipline, usually translated into Chinese as 戒. The prohibitions against immoral behavior which are practiced by monks and nuns. One of the "three practices" 三學. => Phiên âm chữ śīla trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là giới luật, Hán văn thường dịch là giới. Là những điều ngăn cấm phòng ngừa những hành vi bất thiện mà hàng tăng ni phải giữ. Một trong Tam học 三學.
Thi-lạt-noa-phạt-để
xem A-lỵ-la-bạt-đề.
thi-lỵ-sa
tên một loại cây, phiên âm từ Phạn ngữ là Śiriṣa, dịch nghĩa là hợp hôn thọ (合昏樹), cũng dịch là hợp hoan thọ (合歡樹).
thin thít
To keep (hold) silent.
thinh
1) Sound—Voice. 2) To keep silent—To hold one's tongue.
thinh cảnh
Xem Thanh cảnh.
thinh danh
Thanh danh—Fame—Renown.
thinh danh bất chánh
Xem Da Xá trưởng lão.
thinh vận tinh nghĩa kinh
Saddaśaratthajalini (S)Tên một bộ kinh.
thiu thiu
To sleep lightly.
thiêm
Thêm vào—To add—To increase—Additional.
thiêm phẩm
Phẩm được thêm vào—Additional chapter or chapters.
thiêm phẩm diệu pháp liên hoa kinh
(添品妙法蓮華經) Cũng gọi Thiêm phẩm pháp hoa kinh. Kinh, 7 quyển, do 2 ngài Xà na quật đa và Cấp đa cùng dịch ở chùa Đại hưng thiện tại Trường an vào niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601) đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Cứ theo Kinh lục thì kinh Pháp hoa gồm 6 bản Hán dịch, nhưng hiện chỉ còn 3 bản là kinh này, kinh Diệu pháp hoa và kinh Chính pháp hoa.
thiêm thiếp
To be asleep.
Thiên
天; S, P: deva; nguyên nghĩa »người sáng rọi«; |Chỉ chư Thiên, chỉ chúng sinh sống trong thiện đạo (Lục đạo), trong một tình trạng hạnh phúc, tuy nhiên vẫn nằm trong Luân hồi (saṃsāra). Nhờ những nghiệp tốt đã tạo, chư thiên có thọ mệnh rất dài và rất sung sướng. Nhưng chính hạnh phúc này là chướng ngại trên đường giải thoát vì họ không hiểu được khổ đế trong Tứ diệu đế.|Theo Phật giáo, có 28 cõi thiên, gồm có 6 thuộc Dục giới (s, p: kāmaloka, kāmadhātu), 18 thuộc Sắc giới (s, p: rūpaloka, rūpadhātu) và 4 thuộc Vô sắc giới (s, p: arūpaloka, arūpadhātu, xem Ba thế giới; s: triloka).|Trong Dục giới có: 1. Tứ thiên vương (四天王; s: caturmahārājika-deva), sống gần núi Tu-di; 2. Tam thập tam thiên (三十三; s: trāyastriṃśa-deva), chư thiên sống trên đỉnh Tu-di; 3. Dạ-ma thiên (夜摩; s: yāma-, suyāma-deva), sống hạnh phúc trường cửu; 4. Ðâu-suất thiên (兜率天; s: tuṣita-deva), cõi của thiên nhân »có niềm vui thầm lặng«, chỗ Phật Di-lặc đang giáo hoá; 5. Hoá lạc thiên (化樂天; s: nirmāṇarati-deva), loài thiên nhân thấy niềm vui nơi sự biến hoá; 6. Tha hoá tự tại thiên (他化自在天; paranirmita-vaśavarti-deva), các chư thiên của dục giới còn tham ái xác thịt.|Sinh trong sắc giới là các vị đạt Tứ thiền, đã diệt tận tham ái xác thịt, nhưng vẫn còn sắc thân. Các vị Phạm thiên (brahma) sống trong cấp thấp của sắc giới. Các vị đạt Bốn xứ sẽ sinh trong vô sắc giới, các vị này đã giải thoát khỏi sắc uẩn nhưng vẫn còn có bốn uẩn thụ, tưởng, hành thức (Ngũ uẩn).
; 偏; C: piān; J: hen;|Có các nghĩa sau: 1. Nghiêng về một phía. Khuynh hướng, thiên vị, thành kiến. Quả quyết, trong ý không tốt; 2. Đôi lúc do những nét viết giống nhau, từ nầy cũng được dùng khác hẳn với nghĩa chính xác của nó là Biến (遍, 徧), có nghĩa là toàn thể, hoàn toàn, rộng khắp; 3. Biến đổi, đảo lộn, thay đổi.
thiên
Deva (S, P), T'ien (C).
; Heaven; the sky; a day. A deva or divine being, deity. Tam chủng thiên, the three classes of devas: (1) Danh thiên, famous rulers on earth styled thiên vương, thiên tử; (2) Sinh thiên, the highest incarnations of the six paths; (3) Tịnh thiên, the pure, or the saints, from sravakas to pratyekabuddhas. The four classes of devas include (1),(2),(3) above and (4) Nghĩa thiên, all bodhisattvas above the ten stages thập trụ. Đệ nhất nghĩa thiên: a supreme heaven with bodhisattvas and Buddhas in eternal immutability.
; I) Bài văn hay quyển sách: A Text or a book. II) Nghiêng về một bên hay thiên lệch: On one side—Biased—Partial—Prejudiced—Deflected—One-sided. III) See Deva. IV) Dọn đi: To move—To remove. V) Từ mà người Đông Á dùng để gọi Trời: A term which Eastern Asian peoples used to call “Heaven.” VI) The sky—The heavens of the gods—The Pure Buddha-Land—Sahasra (thousand). There are many different heavens: (A) Sơ Thiền Thiên (See Tứ Thiền thiên in Vietnamese-English Section): 1) Phạm Phụ thiên: Brahma-parisadya (p)—The realm of Brahma's retinue. 2) Phạm Chúng thiên: Brahma-purohita (p)—The realm of Brahma' ministers. 3) Đại Phạm thiên: Mahabrahma (p)—The realm of the great Brahmas. (B) Nhị Thiền Thiên (See Tứ Thiền Thiên): 4) Diệu Quang thiên hay Thiểu Quang Thiên: Parittabha (p)—Cõi trời có ít ánh sáng nhất trong cõi Nhị Thiền—Minor Light—The realm of minor lustre. 5) Vô Lượng Quang thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có ánh sáng vô cùng và vô hạn định—Apramanabha (p)—Infinite Light—The realm of infinite lustre. 6) Cực Quang Tịnh thiên: Quang Âm Thiên—Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có ánh sáng rực rỡ sáng lòa hơn hai cõi trời trên, chiếu khắp mọi nơi. Ở đấy không nghe thấy âm thanh nào; khi các cư dân muốn nói chuyện, một tia sáng thanh tịnh thoát ra khỏi miệng được dùng như ngôn ngữ—Abhasvara—Utmost Light-Purity—The realm of the radiant Brahmas. There are no sounds heard in this heaven; when the inhabitants wish to talk, a ray of pure light comes out of the mouth, which serves as speech. (C) Tam Thiền Thiên (See Tứ Thiền thiên): 7) Thiểu Tịnh thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có hào quang nhỏ—Parittasubha (p)—Minor Purity—The realm of the Brahmas of minor aura. 8) Vô Lượng Tịnh thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có hào quang vô cùng, vô hạn định—Apramanasubha (p)—Infinite Purity—The realm of the Brahmas of infinite aura. 9) Biến Tịnh thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có hào quang vững chắc không lay động—Subhakrusna (p)—Universal Purity—The realm of the Brahmas of steady aura. (D) Tứ Thiền Thiên (See Tứ Thiền thiên): 10) Phúc Sanh thiên: Punyaprasava—Felicitous birth. 11) Vô Vân thiên: Anabhraka—Cloudless. 12) Quảng Quả thiên: Cảnh trời của những vị Phạm Thiên hưởng quả rộng lớn—Brhatphala—Vehapphala (p)—Large fruitage—The realm of the Brahmas of great reward. 13) Vô Phiền thiên:Asanjnisattva—No vexations, or free of trouble. 14) Vô Nhiệt thiên: Avrha—No heat. 15) Thiện Kiến thiên: Atapa—Beautiful to see. 16) Thiện Hiện thiên: Sudrsa—Sudassa (p)—Beautiful appearing—The beautiful realm. 17) Sắc Cứu Cánh thiên: Sudarsana—The end of form. 18) Vô Tưởng thiên: Akanistha—The heaven above thought—The realm of mindless beings. (E) Chư thiên khác: Other devas: 19) Quang Âm thiên: Abhasvara—Light-sound heavens. 20) Cực Quang Tịnh thiên: The heavens of utmost light and purity (one of the second dhyana heavens). 21) Địa Cư Thiên: Indra's heaven on the top of Sumeru. 22) Không Cư Thiên: Heaven in space. 23) Tự Tại Thiên: Isvaradeva—King of the devas—God of Free Will—God of Free Movement. 24) Diệu Hỷ Túc thiên: The heaven full of wonderful joy. 25) Biện Tài Thiên Nữ: Goddess of eloquence. 26) Diệu Âm Nhạc Thiên: Sarasvati—The wife or female energy of Brahma—Biện Tài Thiên Nữ. 27) Đại Kiết Tường thiên: Mahasri. ** For more information, please see Tam Chủng Thiên.
; (天) Phạm: Deva-loka. Hán âm:Đề bà. Đồng nghĩa: Thiên thượng, Thiên hữu, Thiên thú, Thiên đạo, Thiên giới, Thiênthượng giới. Trời, chỉ cho loài hữu tình tối cao, tối thắng trong 5 đường, 6 đường của cõi mê, hoặc chỉ thế giới(cõi trời)mà loài hữu tình ấy cư trụ. Nếu khi chỉ cho tự thể hữu tình thì gọi là Thiên nhân(người trời),Thiên bộ (số nhiều), Thiên chúng(số đông), tương đương với danh từ Thần mà người thế tục thường gọi. Ngoài ra, giáo pháp nói về nguyên nhân(thập thiện, tứ thiền, bát định) sau khi chết được sinh lên cõi trời gọi là Thiên thừa. Giáo pháp của Phật giáo ở thời kì đầu lấy Niết bàn làm trung tâm, giáo thuyết đối với tín đồ tại gia thì lấy việc sinh lên cõi trời làm chính, nghĩa là y theo đạo đứcmà làm điều thiện thì được sinh lên cõi trời. Như Kinh tập (Pàli:Sutta-nipatà) là bộ kinh xưa nhất có nói: Nếu bố thí thức ăn cho Sa môn, Bà la môn, người xin ăn thì sau khi chết được sinh lên cõi trời. Về sau, Thí luận, Giới luận, và Sinh thiên luận trở thành 3 bộ luận lớn để giảng dạy cho tín đồ tại gia. Vềnguyên ngữ của Thiên, ngoài Devaloka còn có Devanagara, Sagga, Saggapatha Saggapada... đều thuộc về số ít, Thiên chỉ là một, chứ không qui định nội dung tỉ mỉ và sự sai khác về tầng bậc. Tư tưởng Thiên này chẳng phải chỉ Phật giáo mới có, mà là tín ngưỡng của dân chúng ởẤn độ đương thời, về sau Phật giáo cũng sử dụng. Cứ theo kinh Phật, thế giới của Thiên ở phương trên cách mặt đất rất xa; từ dưới lên trên theo thứ tự là: Tứ đại vương chúng thiên(cũng gọi Tứ thiên vương, là nơi ở của Trì quốc thiên, Tăng trưởng thiên, Quảng mục thiên, Đa văn thiên và quyến thuộc của các vị Thiên này), Tam thập tam thiên(cũng gọi Đao lợi thiên; đứng đầu cõi trời này là Thích đề hoàn nhân, tức Đế thích thiên); Dạ ma thiên(cũng gọi Diệm ma thiên, Đệ tam diệm thiên), Đổ sử đa thiên(cũng gọi Đâu suất thiên), Lạc biến hóa thiên(cũnggọi Hóa lạc thiên) và Tha hóa tự tại thiên(cũng gọi Đệ lục thiên, Ma thiên), gọi chung là Lục dục thiên, tức là 6 tầng trời cõi Dục. Kế đó, các Thiên thuộc cõi Sắc được chia làm Tứ thiền thiên, gồm có 17 tầng trời(hoặc 16 tầng trời, 18 tầng trời), đó là: -Sơ thiền thiên, có 3 tầng trời: Trời Phạm chúng, trời Phạm phụ và trời Đại phạm. -Đệ nhị thiền thiên, có 3 tầng trời, trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang và trời Cực quang. -Đệ tam thiền thiên, có 3 tầng trời: Trời Thiểu tịnh, trời Vô lượng tịnh và trời Biến tịnh.-Đệ tứ thiền thiên, có 8 tầng trời: Trời Vô vân, trời Phúc sinh, trời Quảng quả, trời Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện hiện và trời Sắc cứu cánh(trời A ca ni tra). Nếu gọi Thập lục thiên thì đem Đại phạm thiên xếp chung vào Phạm phụ thiên; nếu gọi Thập bát thiên thì trên Quảng quả thiên lập thêm Vô tưởng thiên. Chín tầng trời thuộc Sơ thiền, Đệ nhị thiền và Đệ tam thiền đều là các tầng trời sinh lạc thụ lạc, cho nên gọi là Lạc sinh thiên(tầng trời sinh ra và thụ hưởng sự vui thú). Đại Phạm thiên cũng gọi là Phạm thiên, Đại phạm thiên vương, cùng với trời Đế thích được gọi chung là Thích Phạm; nếu lại thêm Tứ thiên vương thì gọi là Thích Phạm tứ vương, đều là những vị Thiện thần giữ gìn Phật pháp. Trong các Thiên nói trên thì Tứ đại vương chúng thiên và Tam thập tam thiên ở tại phần trên núi Tu di, cho nên gọi là Địa cư thiên, từ Dạ ma thiên trở lên thì trụ ởhưkhông, nên gọi là Không cư thiên. Cung điện của các vị trời này gọi là Thiên cung, Thiên đường. Các trời càng ở cao thì thân thể càng lớn, tuổi thọ cũng theo thứ tự tăng lên, điều kiện nhục thể càng thêm thù thắng. Chư thiên thuộc cõi Vô sắc do Tứ vô sắc thiên hình thành, đó là: Không vô biên xứ thiên, Thức vô biên xứ thiên, Vô sở hữu xứ thiên và Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên (Hữu đính thiên). Vì là thuộc cõi Vô sắc cho nên chư thiên này không có trụ xứ.Trong Tứ đại vương chúng thiên hoặc trong Tam thập tam thiên, nếu các trời vì khởi sân tâm hoặc đam mê các thú vui mà mất chính niệm thì bị rơi xuống. Các trời khởi sân tâm gọi là Ýphẫn thiên(Ýphẫn khuể thiên), còn các trời đam mê thú vui thì gọi là Hí vong thiên(Hí vong niệm thiên). Kinh Niết bàn quyển 22 (bản Bắc) cũng nêu 4 loại thiên là: 1. Thế gian thiên(cũng gọi Danh thiên, Thế thiên): Tức các đại quốc vương trong tất cả đất nướcở10 phương thế giới, tuy ở thế gian nhưng lại hưởng phúc trời nên gọi là Thế gian thiên (trời ở thế gian). 2. Sinh thiên: Tất cả chúng sinh nhờ nhân tu hành giữ 5 giới cấm, làm 10 điều thiện nên được quả báo sinh lên các tầng trời thuộc cõi Dục, cõi Sắc hoặc cõi Vô sắc, cho nên gọi là Sinh thiên. 3. Tịnh thiên: Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác dứt trừ các phiền não, được đại thần thông, biến hóa tự tại, thanh tịnh vô nhiễm, gọi là Tịnh thiên. 4. Nghĩa thiên: Hàng Bồ tát Thập trụ khéo hiểu yếu nghĩa của các pháp, gọi là Nghĩa thiên. Trong 4 thứ Thiên trên đây, nếu thêm Đệ nhất nghĩa thiên(tức Phật) thì thành 5 thứThiên. Đức Phật là bậc tôn quí nhất trong Tịnh thiên, cho nên gọi là Thiên trung thiên, Thiên trung tối thắng tôn, Thiên nhân sư. Ngoài ra còn có 12 loại thiên(Thiên bộ giữ gìn thế giới, che chở thế gian), đó là: Địa thiên, Thủy thiên, Hỏa thiên, Phong thiên, Y xá na thiên, Đế thích thiên, Diệm ma thiên, Phạm thiên, Tì sa môn thiên, La sát thiên, Nhật thiên và Nguyệt thiên. Trong Mật giáo cũng có 20 vị trời như Kim cương diện thiên... Khi chư thiên sắp mệnh chung thì thân thể hiện ra 5 tướng suy, gọi là Ngũ suy (Thiên nhân ngũ suy). Về vấn đề này, xưa nay có nhiều thuyết khác nhau, ở đây chỉ nêu 1 thuyết về Ngũ suy: 1. Y phục cấu: Xiêm áo dơ bẩn. 2. Đầu đính hoa khô nuy: Chiếc mũ kết bằng hoa trên đầu khô héo. 3. Thân thể phát xú: Thân thể toát ra mùi hôi hám. 4. Dịch hạ lưu hãn: Đổ mồ hôi nách. 5. Bất nhạo kì vị: Không thích chỗ ngồi của mình. Ngoài ra, việc hành dâm của Lục dục thiên, Tứ đại vương chúng thiên và Tam thập tam thiên thì giống với loài người, nghĩa là nhục thể giao nhau, Dạ ma thiên thì nắm tay nhau, Đổ sử đa thiên thì nhớ nghĩ đến nhau, Lạc biến hóa thiên thì nhìn nhau, Tha hóa tự tại thiên thì nói với nhau là đã thành dâm, trên đây gọi là Dục thiên ngũ dâm(năm cách hành dâm của các trời cõi Dục).
Thiên biểu
(阡表): tấm bia dựng trước ngôi mộ.
thiên bách ức hóa thân phật
The hundred thousand myriad Transformation bodies of the Buddha—Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy về Thiên Bách Ức Hóa Thân Phật như sau: “Này thiện tri thức! Sao gọi là Thiên Bách Ức Hóa Thân? Nếu chẳng nghĩ muôn pháp thì tánh vốn như không, một niệm suy nghĩ gọi là biến hóa. Suy nghĩ việc ác là hóa làm địa ngục, suy nghĩ việc thiện thì hóa làm thiên đường, độc hại thì hóa làm rồng rắn, từ bi thì hóa làm Bồ Tát, trí huệ thì hóa làm thượng giới, ngu si thì hóa làm hạ giới. Tự tánh biến hóa rất là nhiều, người mê không hay tỉnh giác, mỗi niệm khởi ác thường đi trong con đường ác, xoay về một niệm thiện, trí huệ liền sanh, đây gọi là Tự Tánh Hóa Thân Phật.”—According to the Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught: “Good Knowing Advisors! What are the hundred thousand myriad Transformation bodies of the Buddha? If you are free of any thought of the ten thousand dharmas, then your nature is basically like emptiness, but in one thought of calculation, transformation occurs. Evil thoughts are being tranformed into hell-beings and good thoughts into heavenly beings. Viciousness is transformed into dragons and snakes, and compassion into Bodhisattvas. Wisdom is transformed into the upper realms, and delusion into the lower realms. The transformations of the self-nature are extremely many, and yet the confused person, unawakened to that truth, continually gives rise to evil and walks evil paths. Turn a single thought back to goodness, and wisdom is produced. That is the Transformation-body of the Buddha within your self-nature.”
Thiên bát kinh 千鉢經
[ja] センパツキョウ Senpatsu kyō ||| The Qianbo jing, 10 fasc. (T 1177A.20.724-776); an abbreviated title of the Dasheng yujia jingang xinghai manshushīi qianbi qianbo dajiaowangjing 大乘瑜伽金剛性海曼殊室利千臂千鉢大教王經 => Tên gọi tắt của Đại thừa Du già Kim Cương tính hải Mạn thù thất lợi thiên tý thiên bát đại giáo vương kinh. 大乘瑜伽金剛性海曼殊室利千臂千鉢大教王經. Gồm 10 quyển.
thiên bình
T'ien-P'ing (C), Tianping (C), Tempyo (J)(Vào thế kỷ 8 - 9) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Tuyết Phong Nghĩa Tồn.
Thiên Bình Tùng Y
(天平從漪, Tempei Shūi, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, pháp từ của Thanh Khê Hồng Tấn (清谿洪進). Ông đã từng sống tại Thiên Bình Sơn (天平山), Tương Châu (相州, Tỉnh Hà Nam).
thiên bình tả kinh
(天平寫經) Chỉ cho các bản kinh chép tay vào khoảng niên hiệu Thiên bình ở Nhật bản, cũng là từ gọi chung của các kinh chép tay của triều đại Nại lương. Kinh chép tay vào thời này phần lớn được hoàn thành trong sở Tả kinh. Tình hình sáng lập sở Tả kinh của nhà nước không được rõ, chỉ biết vào năm Thiên bình thứ 6 (734) đã có ti Tả kinh, đến khoảng năm Thiên bình 13 đổi làm sở Tả kinh; khoảng năm Thiên bình 16 thì thành lập sở Tả sớ để chuyên viết chép các tác phẩm chú sớ. Khoảng năm Thiên bình 18 (746) thì chuyên gọi nơi chép kinh Pháp hoa và kinh Tối thắng vương là sở Tả kinh, còn gọi nơi viết chép các kinh, luật, luận khác là sở Tả hậu kinh. Về sau, Tả sớ dần dần suy vi và các sở Tả kinh Đông đại tự, sở Phụng tả ngự chấp kinh của Nội đạo tràng hưng khởi, lại có các sở Tả kinh của các chùa, của các nhà quí tộc tiếp tục tồn tại cho đến cuối thời kì Nại lương. Trong sở Tả kinh đặt vị Giám đốc, vị Kiểm giáo, dưới 2 chức vụ này là Kinh sinh(người viết chữ), Giáo sinh(người sửa chữa), Trang hoàng (người trang hoàng bên ngoài), Đề sư(người viết tựa đề)... Những kinh được viết chép vào thời Thiên bình hiện nay vẫn còn, được chia ra cất giữ ở các địa phương tại Nhật bản. Trong đó, di bản Nhất thiết kinh có: Thiên bình lục niên Thánh vũ Thiên hoàng ngự nguyện kinh, Thiên bình thập nhị niên Đằng nguyên phu nhân phát nguyện kinh (trong đó, phần lớn hiện được cất giữ trong tạng Thánh ngữ ở viện Chính thương), Thiên bình thập nhị niên Quang minh hoàng hậu ngự nguyện kinh, Thiên bình thập ngũ niên Quang minh Hoàng hậu ngự nguyện kinh, Thiên bình thắng bảo thất niên (755) Lục nhân Bộ đông nhân phát nguyện kinh, Thiên bình thần hộ nhị niên (766) Cát bị Do lợi phát nguyện kinhvà Thần hộ cảnh vân nhị niên (768), Hiếu liêm Thiên hoàng ngự nguyện kinh...
thiên bẩm
Inborn—Innate.
thiên bệnh
(偏病) Chỉ cho các kiến giải thiên lệch, tà vạy của chúng sinh đối với sự lí, như hữu vô, đoạn thường... Vì các tà kiến này không thấy được thực tướng của các pháp, mà chỉ khởi nghiệp mê hoặc, điên đảo, luân hồi sinh tử, cho nên ví dụ là bệnh. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 7 trung) nói: Chính có 3 loại: Một là đối thiên bệnh mà gọi là Chính, đó là đôi Thiên chính (...) ba là Thiên bệnh đã trừ thì Chính cũng chẳng giữ.
thiên bộ
The classes of devas; the host of devas, the host of heaven.
; The classes of devas—The host of devas—The host of heaven.
; (天部) Cũng gọi Chư thiên bộ. Chỉ cho những hữu tình ở cõi trời. Một trong các phân loại về tranh tượng của Phật giáo. Các vị thần ngoài Phật giáo phần nhiều được thờ làm thần Hộ pháp, chẳng hạn như các vị tôn thuộc Ngoại kim cương bộ(ngoại chúng của Mạn đồ la Kim cương giới) của Mật giáo, vốn là chư Thiên ở cõi trời. Tứ thiên vương như Tì sa môn thiên (Đa văn thiên)... và những vị có hình tướng thần vương như Đế thích thiên, Thập nhị thần tướng, Kim cương lực sĩ... cũng mặc áo, đội mũ trụ theo kiểu Trung quốc. Lại có chư thiên do thần cách hóa tự nhiên mà hình thành, những vị này mình mặc áo trời, mang hình Thiên nữ, như Cát tường thiên, Biện tài thiên, Phạm thiên, Nhật thiên, Nguyệt thiên, Kĩ nghệ thiên... Lại tư thái thuộc các loại khác như Thiên long bát bộ, Ca lâu la thiên, Thâm sa đại tướng... cũng rất nhiều.
thiên bộ hội
(千部會) Cũng gọi Thiên tăng độc kinh, Thiên bộ kinh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp hội trong đó 1 bộ kinh được tụng 1000 biến để cầu vãng sinh cho vong linh tổ tiên. Nghĩa là thỉnh nhiều chúng tăng, mời mỗi vị tụng 1 biến, 10 biến, cho đến 50 biến, tụng đủ 1000 biến thì gọi là Thiên bộ hội. Cũng có trường hợp thỉnh 500 vị, 1000 vị. Phong tập này ở Nhật bản đã thịnh hành từ thời đại Bình an đến thời đại Giang hộ. Ngoài ra còn có Vạn bộ hội, Tam bách bộ hội...
thiên bộ luận sư
Ngài Long Thọ Bồ Tát viết 1000 (thiên) bộ luận. Thế Thân hay Thiên Thân Bồ Tát căn cứ vào Tiểu Thừa mà viết 500 bộ luận Tiểu Thừa, rồi sau đó lại viết thêm 500 bộ luận Đại Thừa—Master of a thousand sastras, a title for Nagarjuna (Long Thọ) and Vasubandhu (Thế Thân Bồ Tát).
thiên bộ thiện thần
Brahmà, Indra, the Four Devaloka-ràjas, and the other spirit guardians of Buddhism.
; Thiên bộ thiện thần gồm Phạm thiên, Trời Đế Thích, Tứ thiên vương và các vị long thần hộ pháp khác—Brahma, Indra, the four devaloka-rajas, and the other spirit guardians of Buddhism.
; (天部善神) Chỉ cho các vị thiện thần cõi trời thủ hộ Phật pháp, như Phạm thiên, Đế thích thiên, Tứ thiên vương (Trì quốc thiên vương, Tăng trưởng thiên vương, Quảng mục thiên vương, Đa văn văn thiên vương)...
Thiên Bức Luân Tướng
(p: heṭṭhā pāda-talesu cakkāni jātāni, 千輻輪相): chỉ cho tướng tốt vi diệu có đầy đủ ngàn bánh xe dưới chân, thuộc một trong 32 tướng tốt, còn gọi là Túc Hạ Thiên Bức Luân Tướng (足下千輻輪相), Thường Hiện Thiên Bức Luân Tướng (常現千輻輪相), Song Túc Hạ Hiện Thiên Bức Luân Triển Chuyển Chúng Tướng (雙足下現千輻輪輾轉眾相). Tướng này chỉ cho các hoa văn dưới lòng bàn chân Phật có hình dáng cả ngàn bánh xe rõ ràng. Tướng này do nghiệp nhân mà cảm được, do thời quá khứ đức Phật đã từng cúng dường, bố thí các thứ cho cha mẹ, sư trưởng, bạn tốt cho đến hết thảy chúng sanh. Tướng này không những chỉ thấy hiện nơi chân Phật, mà còn có cả nơi hai bàn tay Ngài. Tướng ngàn bánh xe còn thể hiện cho sự chuyển bánh xe giáo pháp của ngài; nếu hiện dưới chân là thể hiện cho việc du hóa khắp mọi nơi để chuyển pháp luân; khi thuyết pháp thì tướng này hiện ra nơi lòng bàn tay. Tướng này có thể hàng phục được oán địch, ác ma, thể hiện công đức chiếu phá vô minh và ngu si. Khi nói chân có nghĩa là cả tay chân, nên gọi là tướng tay chân có vòng tròn (s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala). Từ ngàn xưa đã có truyền thống lễ bái dưới lòng bàn chân Phật rồi. Trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 9, phần Xuất Thai Bộ (出胎部) có câu: “Thân biên tắc quang sắc nhất trượng, mi gian tắc bạch hào ngũ xích, khai Vạn tự ư hung tiền, nhiếp thiên luân ư túc hạ (身邊則光色一丈、眉间则白毫五尺。眉間則白毫五尺、开万字于胸前。開萬字於胸前、蹑千轮于足下。躡千輪於足下, bên thân sắc ánh sáng một trượng, giữa lông mi có lông mày trắng năm tấc, mở chữ Vạn nơi trước ngực, hiện ngàn bánh xe ở dưới chân).” Hay trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Hậu Phần (大般涅槃經後分, Taishō No. 377) quyển hạ có đoạn: “Thế Tôn đại bi tức hiện nhị túc thiên bức luân tướng, xuất ư quan ngoại hồi thị Ca Diếp, tùng thiên bức luân phóng thiên quang minh, biến chiếu thập phương nhất thiết thế giới (世尊大悲卽現二足千輻輪相、出於棺外迴示迦葉、從千輻輪放千光明、遍照十方一切世界, Thế Tôn có lòng thương xót lớn, tức hiện tướng hai bàn chân có ngàn bánh xe, ra bên ngoài quan tài cho Ca Diếp biết rõ, từ ngàn bánh xe ấy phong ra ngàn ánh sáng, chiếu khắp mười phương hết thảy các thế giới).” Hoặc như trong Biệt Thích Tạp A Hàm Kinh (別譯雜阿含經, Taishō No. 100) quyển 13 cũng có đoạn rằng: “Thời hữu nhất Bà La Môn tánh viết Yên thị, tại Phật hậu lai, kiến Phật tích trung thiên bức luân tướng quái vị tằng hữu, tức tự tư duy, ngã vị kiến nhân hữu như thọ tích (時有一婆羅門姓曰煙氏、在佛後來、見佛跡中千輻輪相怪未曾有、卽自思惟、我未見人有如是跡, lúc bấy giờ có một Bà La Môn họ Yên, từ phía sau Phật đến, thấy trong dấu chân Phật có hình tướng ngàn bánh xe, lấy làm lạ chưa từng có, bèn tự suy nghĩ rằng ta chưa hề thấy người nào có dấu chân như vậy).”
Thiên chuyển đà-la-ni Quán Thế Âm bồ-tát chú 千轉陀羅尼觀世音菩薩呪
[ja] センテンダラニカンセイオンボサツジュ Senten darani kanzeon bosatsu ju ||| The Qianzhuan tuoluoni guanshiyin pusa zhō; Skt. [ārya-]Sahasrāvarta[-nāma-]dhāraṇī; Tib. stong 'gur shes bya ba'i gzungs [To.710/930, P.216/555].; (Dhāraṇī of a Thousand Turns [A Spell of the Bodhisattva who Heeds the Sounds of the World]). Three Chinese versions are extant: (1) 1 fasc. (T 1034.20.17), Dhāraṇī of the Five-Headed One's Spell Which Can Destroy Crimes and a Thousand Turns 呪五首能滅衆罪千轉陀羅尼經 tr. Xuanzang, abbr. Spell of the Five-Headed One 呪五首. (2) from the Dhāraṇī Compendium (T 901). (3) 1 fasc. (T 1035.20.17-18), Dhāraṇī of a Thousand Turns, Spell of the Bodhisattva who Heeds the Sounds of the World 千轉陀羅尼觀世音菩薩呪, tr. Zhitong 智通. BGBT4/131-2. => s: [ārya-]Sahasrāvarta[-nāma-]dhāraṇī; t: stong 'gur shes bya ba'i gzungs. Có 3 bản dịch tiếng Hán hiện đang lưu hành: 1. Chú ngũ thủ năng diệt chúng tội thiên chuyển đà-la-ni kinh. Huyền Trang dịch. 1 quyển .Gọi tắt là Chú ngũ thủ. 2. Trích từ Tinh yếu đà-la-ni. 3. Thiên chuyển đà-la-ni Quán Thế Âm bồ-tát chú, 1 quyển. Trí Thông 智通 c: Zhitong dịch.
thiên chân
Bhùtatathatà (S). Permanent reality underlying all phenomena, pure and unchanging. e.g. the sea in contrast with the waves; nature, the natural.
; Bhutatathata (skt). 1) Chân lý tự nhiên, không phải do con người tạo ra; chân như hay bản tánh thật thường hằng nơi vạn hữu, thanh tịnh và không thay đổi, như biển đối nghịch lại với sóng (bản chất cố hữu của nước là phẳng lặng và thanh tịnh chứ không dập dồn như sóng)—Permanent reality underlying all phenomena, pure and unchanged, such as the sea in contrast with the waves. 2) Nghĩa lý về cái “không” của Tiểu Thừa chỉ thiên lệch về một bên chứ không siêu việt như cái “không” của Đại Thừa: The Hinayana doctrine of unreality, a one-sided dogma in contrast with transcendental reality of Mahayana.
; (天真) Chân lí tự nhiên không do tạo tác. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1 (Đại 46, 143 hạ) nói: Lí chẳng phải tạo tác cho nên gọi là Thiên chân.
thiên chân chi lí
(偏真之理) Chân lí thiên lệch. Tức chỉ cho líNhân không, Pháp không mà bậc Chứng tịch nhiên giới Bồ tát chứng được. Bồ tát này tuy đã ngộ 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... là vô tính không, lìa bỏ 1 phần pháp chấp, nhưng lại bỏ Hữu vào Không, chỉ quán Khôngmột cách thiên lệch, vẫn chưa rõ biết duy tâm sở quán, cho nên chân lí sở nhập vẫn chưa phải là thể của Hữu, Không chẳng hai. Vì đối lại với lí Trung đạo Hữu, Không chẳng hai nên gọi lí này là Thiên chân chi lí. Đại nhật kinh sớ quyển 2 (Đại 39, 602 thượng) nói: ... Nhưng đối tượng quán xét là nhân, pháp đều không chưa cách xa các tông Thành thực... vẫn y theo lí thiên chân mà thực hành pháp quán bình đẳng này.
thiên chân phật
The real or ultimate Buddha.
; 1) Chân Như: The Bhutatathata—The real or ultimate Buddha. 2) Tên khác của Pháp thân Phật: Another name for the Dharmakaya, the source of all life.
thiên chân viên chân
(偏真圓真) Chỉ cho líThiên chân và lí Viên chân (lí thiên lệch và lí tròn đủ). Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thái phán lập thì lí Không mà Tạng giáo và Thông giáo chứng nhập, gọi là lí Thiên chân; còn lí Trung đạo mà Biệt giáo và Viên giáo chứng nhập thì gọi là lí Viên chân. Tứ giáo nghĩa quyển 3 (Đại 46, 730 thượng) ghi: Một là nói rõ 4 môn của Tạng giáo và 4 môn của Thông giáo cùng vào lí thiên chân: Nghĩa là cả 2 giáo đều nhờ 4 môn mà cùng vào Thiên chân đệ nhất nghĩa, cùng được 2 thứ Niết bàn. Lí tuy là một nhưng môn thì có khéo, vụng khác nhau, cho nên mới có 2 loại 4 môn năng thông khác nhau. (...) Hai là nói rõ 4 môn của Biệt giáo và 4 môn của Viên giáo, cùng vào lí Trung đạo thực tướng: Nghĩa là cả 2 giáo đều nhờ 4 môn mà chứng thấy thực tướng Phật tính, cùng được Niết bàn thường lạc. Lí tuy đồng nhưng môn có khác, tức giáo môn đã có thiên, viên khác nhau cho nên có 2 loại 4 môn năng thông bất đồng.
thiên chân độc lãng
Chân như là sự chiếu sáng duy nhứt. Đây là lời tuyên bố quả quyết của Đạo Thúy thời nhà Đường với nhà sư Nhật Bản Truyền Giáo. Hiểu được cơ bản của chân như sẽ làm sáng tỏ mọi thứ, kể cả Phật quả—The fundamental reality, or the bhutatathata, is the only illumination. It is a dictum of Tao-Sui of the T'ang to the famous Japanese monk Dengyo. The apprehension of this fundamental reality makes all things clear, including the universality of Buddhahood.
; (天真獨朗) Chân lí tự nhiên sáng chói một mình. Nghĩa là bậc Đại giác đã tỏ ngộ bản thể chẳng sinh chẳng diệt, không tạo tác, vượt ra ngoài vòng sinh tử sai biệt mà thấu suốt tất cả. Tông Thiên thai rất coi trọng từ ngữ này, dùng nó để biểu thị Chỉ quán viên mãn. Hòa thượng Đạo thúy đời Đường, lúc truyền trao Quán tâm khẩu quyết cho ngài Tối trừng của Nhật bản cũng dùng từ ngữ này. Thiền tông cũng thường sử dụng. Ma ha chỉ quán quyển 1 (Đại 46, 1 thượng) nói: Pháp môn rộng lớn nhiệm mầu, là thiên chân độc lãng.
Thiên chân 天眞
[ja] テンシン tenshin ||| Something as it originally is, without artificiality. => Cái có từ căn nguyên, không phải do tạo ra.
Thiên chính
偏正; C: piānzhèng; J: henshō;|Thành kiến và công bằng. Sai và đúng.
Thiên chính 偏正
[ja]ヘンショウ henshō ||| Prejudiced and impartial. Incorrect and correct. => Thành kiến và công bằng. Sai và đúng.
thiên chúa giáo
Catholic or Christianity—Hai mươi thế kỷ trước, chúa Giê Su đã sáng lập ra Thiên Chúa giáo, và tín đồ Thiên Chúa xem chúa Giê Su như là con của Thượng đế. Đây là tôn giáo cải cách từ Do Thái giáo, theo đó họ xem Đức Chúa Trời là vị duy nhất sanh ra trời, đất, và vạn vật. Theo bộ Tân và Cựu Ước thì vũ trụ trước đây là một khoảng mênh mông mù mịt. Nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời mà trong bảy ngày đã tạo thành mặt trời, mặt trăng, tinh tú, đất, nước, sông, cây cối, người và vật. Vào ngày thứ bảy, Ngài lấy chút đất hà hơi thành ra ông A Đam, đồng thời lấy chút đất khác cùng một miếng xương sườn rồi hà hơi vào thành ra bà Ê Và. Hai người ấy lấy nhau và sống như vợ chồng trong Vườn Địa Đàng. Sau vì phạm tội ăn trái cấm trong vườn nên cả hai bị đày xuống cõi trần làm thủy tổ loài người. Từ đó con cháu loài người đều bị bó buộc trong tội tổ tông truyền. Theo giáo lý đạo Thiên Chúa thì ai biết tôn trọng, kính thờ, và vâng lời Chúa sẽ được lên Thiên Đàng đời đời sống hạnh phúc; trái lại sẽ bị đọa xuống địa ngục—Twenty centuries ago, Jesus Christ, the founder of Christianity and regarded by Christians as the son of God, reformed an old Hebrew religion according to which God is the only creator of the universe and sentient beings. From the Old and New Testaments, it is said that the universe at the start was a dark and immense expanse. God with His supernatural powers and magic created within seven days the sun, moon, stars, earth, water, mountains, vegetation, man, and animals. On the seventh day of creation, God breathed into the dust of the earth to create Adam. He also created Eve by breathing into some dust mixed with the rib of Adam. They were told to dwell in the Garden of Eden as husband and wife. But after they had eaten the forbidden fruit of the Tree of Knowledge of Good and Evil, they were evicted from the Garden and condemned to live on earth as originators of mankind. From that time, mankind had to suffer from the original sin. According to the Catholic doctrine, whoever knows how to respect, venerate and obey God will be saved to live happily in Heaven forever; those who do not will be banished into Hell.
thiên chúng
The host of heaven, Brahma, Indra, and all their host.
; The host of heaven, includes Brahma, Indra, and all their host.
thiên chúng ngũ tướng
Năm dấu hiệu tiến gần về sự chết của chư thiên—The five signs of approaching demise (death) among the devas—See Ngũ Suy.
Thiên chấp
偏執; C: piānzhí; J: henshu;|Khuynh hướng, sự thiên về, thành kiến. Không chịu thay đổi quan niệm của mình.
thiên chấp
Chấp về một phía—To hold firmly to a one-sided interpretation.
; (偏執) Cố chấp nghiêng về một mặt nào đó mà không thấy rõ được mặt khác. Lương cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 342 thượng) nói: Các luận tuy có nhiều thuyết khác nhau, nhưng lí tu hành thì chỉ là một; vì thiên chấp nên có phải, quấy; người thông đạt thì không tranh cãi. Quảng bách luận thích luận quyển 10 (Đại 30, 249 trung) ghi: Thiên chấp không giáo phá tướng, chẳng phải là hủy báng pháp môn hiển thực do đức Như lai nói ra.
Thiên chấp 偏執
[ja] ヘンシュ henshu ||| Bias. Refusing to change one's viewpoint. => Khuynh hướng, sự thiên về, thành kiến. Không chịu thay đổi quan niệm của mình.
thiên chủ
Xem Thiên vương Bồ tát.Xem Đại thánhXem Đế Thích thiên.
; Devapati (S). The Lord of devas, a tittle of Indra.
; Devapati (skt)—Thiên chủ của chư Thiên, danh hiệu của trời Đế Thích, thiên chủ của cõi trời dục thiên thứ sáu—The lord of devas, a title of Indra—Lord of the sixth heaven of desire. He is also opposing the Buddha-truth.
; (天主) I. Thiên Chủ. Là tên khác của trời Đại tự tại; là vị thần chính của ngoại đạo Đại tự tại thiên. II. Thiên Chủ. Cũng gọi Thiên đế. Chỉ cho trời Đế thích. Đế thích thiên đứng đầu cõi trời Đao lợi nên gọi là Thiên chủIII. Thiên Chủ. Phạm: Zaôkara-svàmin. Hán âm: Thương yết la chủ. Thương yết la là tên khác của trời Đại tự tại, vì cha mẹ ngài cầu xin trời Đại tự tại mà sinh được ngài, cho nên đặt tên là Thương yết la chủ. Sư là đệ tử của ngài Trần na, rất giỏi Nhân minh học, sư giải thích luận Nhân minh chính lí môn của ngài Trần na và soạn luận Nhân minh nhập chính lí, 1 quyển. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng]. (xt. Thương Yết La Chủ).
thiên chủ giáo pháp
Devendra-samaya (skt)—Giáo pháp của Thiên Chủ—Doctrinal method of the lord of devas—A work on royalty in the possession of a son of Rajabalendraketu.
thiên chủ tam mục
(天主三目) Ba con mắt trên mặt của trời Đại tự tại. Vị trí của ba con mắt này được sắp đặt không dọc không ngang, giống như 3 cái chấm của chữ (i) Tất đàm, 3 mắt này là 3 chấm của chữ i cùng đượcdùngđểví dụ Niết bàn có đầy đủ 3 đức là Pháp thân, Bát nhã và Giải thích. Phẩm Ai thán trong kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 2 (Đại 12, 616 trung) ghi: Thế nào gọi là những tạng bí mật? Giống như chữ (i), nếu3chấm xếp thành hàng ngang thì không thành chữ i, mà xếp dọc cũng không thành. Như 3 con mắt trên mặt của trời Ma hê thủ la mới thành chữ i, nếu 3 cái chấm được sắp xếp khác đi thì cũng không thành. Ta cũng như thế, pháp giải thoát cũng chẳng phải niết bàn, thân Như lai cũng chẳng phải niết bàn, Ma ha bát nhã cũng chẳng phải niết bàn, 3 pháp khác nhau cũng chẳng phải niết bàn. Nay ta an trụ 3 pháp như thế, vì chúng sinh mà gọi là Nhập niết bàn, như chữ i ở thế gian.
Thiên chủ 天主
[ja]テンシュ tenshu ||| A transcription of Śakra Devānām-indra. See . => Dịch chữ Śakra Devānām-indra trong tiếng Sanskrit. Xem Đế thích thiên帝釋天.
thiên chức
Natural duty.
Thiên Cung
(s: deva-pura, 天宮): âm dịch là Nê Phược Bổ La (泥縛補羅), là cung điện của trời cư trú, hay chỉ cung điện của Trời Đế Thích (帝釋天). Từ đó, nó có nghĩa là trời, trời xanh. Như trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō No. 842) có đoạn rằng: “Chúng sanh quốc độ, đồng nhất pháp tánh, Địa Ngục Thiên Cung, giai vi Tịnh Độ, hữu tánh vô tánh, tề thành Phật đạo (眾生國土、同一法性、地獄天宮、皆爲淨土、有性無性、齊成佛道, chúng sanh quốc độ, cùng một pháp tánh, Địa Ngục Thiên Cung, đều là Tịnh Độ, có tánh không tánh, đều thành Phật đạo).” Hay trong Phật Thuyết Thiện Sanh Tử Kinh (佛說善生子經, Taishō No. 17) cũng có câu: “Dữ thân chúng tòa an, như Thích xử Thiên Cung (與親眾座安、如釋處天宮, cùng chúng thân ngồi yên, như trời ngự Thiên Cung).”
thiên cung
Deva-pura (S).
; Devapura, devaloka (S). The palace of devas, the abode of the gods.
; 1) Cung của cõi trời: The deva bow—The rainbow. 2) Devapura—Devaloka—The palace of devas—The abode of the gods—Heavenly palace. 3) Cung trời thứ sáu nằm trên núi Tu Di, giữa thế giới và Phạm Thiên giới—The six celestial world situated above the Meru, between the earth and the Brahmalokas. 4) The deva-bow—The rainbow. ** For more information, please see Thiên—Tam Chủng Thiên—Tứ Chủng Thiên—Ngũ Chủng Thiên.
; (天宮) Phạm: Deva-pura. Hán âm: Ne phạ bổ la. Cung điện của chư Thiên, hoặc chỉ riêng cho cung điện của trời Đế thích.
; (天弓) Cũng gọi Đế cung, Thiên đế cung. Cầu vồng. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 53 hạ) nói: Đôi lông mày sáng óng thanh tịnh, giống như Thiên đế cung.
thiên cung bảo tạng
A library of the sùtras. The treasury of all the sùtras in the Tusita Heaven in Maitreya's palace. Another collection is said to be in the Long cung or Dragon's palace, but is associated with Nagàrjuna.
; Thư viện chứa kinh tạng—Tàng kinh các—Tàng kinh các nơi cung trời Đâu Suất trong cung của Đức Di Lặc—A library of the sutras—The treasury of all the sutras in the Tusita Heaven in Maitreya's palace.
; (天宮寶藏) Tên gọi khác của Kinh tạng. Theo truyền thuyết, sau khi đức Phật nhập diệt, Pháp tạng được cất giữ ở 2 nơi là Thiên cung và Long cung. Theo Thích môn chính thống quyển 3 thì Long cung hải tạng(tạng kinh được cất giữ ở cung điện của vua rồng dưới đáy biển) là nói theo việc ngài Long thụ xuống biển; còn Thiên cung bảo tạng(tạng kinh được cất giữ ở cung điện của trời) là nói theo nơi ở của Bồ tát Di lặc.
thiên cung sự
Vimāna (S)Gọi tắt của VimảnavatthuXem Chuyện thiên cung.
; (天宮事) Pàli:Vimàna-vatthu. Gọi tắt: Tì ma na (Pàli:Vimàna). Một phần trong Tiểu bộ kinh (Khuddaka-nikàya) tiếngPàli, nội dung thu tập các bài tụng ngắn nói về quả báo thù thắng của chư Thiên và nhân hạnh vãng sinh cõi trời. Toàn bộ chia làm 7 phẩm, 85 thiên cung.Ởđầu mỗi phần nói về Thiên cung đều có lời tán thán sự thù thắng về chính báo, y báo của Thiên tử hoặc Thiên nữ ở Thiên cung ấy của ngài Mục kiền liên (Pàli:Moggallàna)... đồng thời hỏi về nhân hạnh để đạt được quả báo ấy. Sau đó là lời trình bày của Thiên tử hoặc Thiên nữ về nhân sinh lên cõi trời mà mình đã gieo trong quá khứ khi còn sống ởnhângian. Các Thiên cung được nói trong kinh phần nhiều là Tam thập tam thiên, ít nói đến Hóa lạc thiên, Phạm thiên giới và Tứ thiên vương. Cuối mỗi phẩm đều có phụ thêm phần kệ tụng tóm tắt. Cứ theo Đại vương thống sử (Pàli:Mahàvaôsa, XIV) và Thiện kiến luậttì bà sa quyển 2 thì ngài Ma hi đà con vua A dục, lúc mở giáo tại Tích lan, trước tiên giảng nói về kinh Ngã quỉ bản sinh và Thiên cung sự cho Hoàng hậu A nâu la và 500 phu nhân trong cung nghe; căn cứ vào đó mà biết được niên đại thành lập kinh này là muộn nhất. Nguyên văn kinh này được P.T.S. (Pàli Text Society), xuất bản năm 1886, bản Anh dịch do SBBIZ, Minor Anthologies IV, Jean Kenenedy, 1942 và bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 24).
Thiên Cung Tự
(天宮寺): ngôi bảo sát được kiến lập dưới thời nhà Đường, hiện tọa lạc tại Phủ Lạc Dương (洛陽府), Hà Nam (河南). Nguyên lai chùa là tư gia của vua Thái Tông (太宗, tại vị 626~649); đến năm 632 (Trinh Quán [貞觀] 6), nhà vua hạ chiếu cải gia vi tự. Vào năm 638 (Trinh Quán 12), Pháp Hộ (法護, ?-?) được sắc chỉ trú trì chùa này. Từ đó trở đi, chư vị cao đức, tiếng tăm đến đây cư trú mỗi ngày một nhiều; chùa trở thành ngôi danh sát ở Đông Đô. Vua Cao Tông (高宗, tại vị 649-683) nhà Đường đã từng thân chinh đến đây thiết trai cúng dường. Vào năm 692 (Trường Thọ [長壽] 2) đời Võ Hậu, Tam Tạng Pháp Sư của nước Ca Thấp Di La (s: Kaśmīra, p: Kasmīra, 迦濕彌羅) là A Nhĩ Chơn Na (阿儞眞那, Bảo Tư Duy [寶思惟]) đến Lạc Dương, phụng sắc chỉ trú tại chùa này, dịch một số kinh điển như Cầu Tức Đắc Tự Tại Đà La Ni Kinh (求得自在陀羅尼經), Bất Không Quyên Sách Đà La Ni Tự Tại Vương Chú Kinh (不空羂索陀羅尼自在王咒經), v.v. Lúc bấy giờ, Huệ Tú (慧秀) cũng trú tại đây, chuyên trì giới kiên cố, thông đạt Thiền định. Mỗi khi Võ Hậu đến Đông Đô, đều mời ông đến để tham vấn pháp yếu. Đặc biệt, Thần Tú (神秀, 605-706) đã từng truyền bá Bắc Tông Thiền tại ngôi già lam này. Sau này có Quảng Tế (廣濟) đến trú, cùng với Bát Nhã Tam Tạng (s: Prajñā, 般若三藏, 734-?) tham gia công tác phiên dịch bộ Tứ Thập Hoa Nghiêm. Dưới thời Ngũ Đại, có Tùng Ẩn (從隱) trú trì tại đây, rất nổi tiếng với Tánh Tướng Học. Về sau, chùa hưng thịnh thế nào không rõ và cuối cùng phải chịu số phận phế tuyệt.
thiên cung tự
(天宮寺) Chùa ở phủ Hà nam (Lạc dương), tỉnh Hà nam, Trung quốc, vốn là nhà cũ của vua ĐườngThái tông, năm Trinh quán thứ 6 (632), vua ban chiếu chỉ đổi làm chùa, năm Trinh quán 12 (638) tôn ngài Pháp hộ làm Tự chủ. Các vị Đại đức đến chùa này rất đông, là ngôi chùa nổi tiếng tại Đông đô. Vua Đường cao tông từng thiết trai cúng dường ở đây. Năm Trường thọ thứ 2 (692), Tam tạng nước Ca thấp di la là ngài A nễ chân na (Bảo tư duy) đến Lạc dương, vâng sắc trụ chùa này dịch nhiều bộ kinh như: Kinh Tùy cầu tức đắc tự tại đà la ni, kinh Bất không quyên sách đà la ni tự tại vương chú... Bấy giờ ngài Tuệ tú cũng trụ ở chùa này, ngài kiên trì giới luật, thông suốt thiền định, mỗi lần Vũ hậu đến Đông đô đều triệu ngài vào cung để hỏi pháp yếu. Sau lại có ngài Thần tú xiển dương thiền Bắc tông ở chùa này. Rồi vào năm Trinh nguyên 14 (798), ngài Quảng tế đến đây tham dự dịch trường của Tam tạng bát nhã, đảm nhiệm phần dịch ngữ kinh Hoa nghiêm (bản 40 quyển). Khoảng thời Ngũ đại, ngài Tòng ẩn trụ ở đây, nhờ Tính tướng học mà nổi tiếng. Về sau,chùatrải qua nhiều thay đổi và cuối cùng bị hoang phế.
thiên cái
A Buddha's canopy, or umbrella; a nimbus of rays of light, a halo.
; A Buddha's canopy, or umbrella—A nimbus of rays of light—A halo.
; (天蓋) Cũng gọi Hoa cái, Huyền cái. Lọng trời. Tức cái lọng ở Ấn độ dùng để che nắng. Về sau trở thành pháp cụ để trang nghiêm tượng Phật. Trên lọng có trang sức bảo châu, lưới báu, chuỗi anh lạc, phan, phướn... Về hình dáng thì có vuông, lục giác, bát giác, tròn... Lúc chư tăng hành đạo(đi nhiễu) cũng sử dụng Thiên cái có cán dài để che, chẳng hạn như ngài Huyền trang khi đi Ấn độ cầu pháp cũng từng dùng. Ngoài ra, trong Mật giáo khi cử hành Quán đính, như Tam muội da giới đàn, Kim cương giới đại đàn, Thai tạng giới đại đàn... đều có dùng Thiên cái. Thiên cái được sử dụng ở Kim cương giới đại đàn, gọi là Kim thiên cái; được dùng ở Thai tạng giới đại đàn, gọi là Thai thiên cái. Còn Thiên cái dùng để che trên đầu vị A xà lê lúc hành pháp và che trên mâm lễ trong Phật đường, đều gọi là Nhân thiên cái; Thiên cái chuyên được dùng để che tượng Phật thì gọi là Phật thiên cái.
thiên cát tường
(天吉祥) Danh tăng Ấn độ ở chùa Na lan đà, người nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Vào khoảng năm Hoàng hựu thứ 3 (1051) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư đến chùa Thái bình hưng quốc tham dự dịch trường của Tam tạng Nhật xứng. Năm Hoàng hựu thứ 4 (1052) tại Tô châu, sư bổ xung những chỗ thiếu sót trong Lăng nghiêm kinh Bạch tản cái chân ngôn của ngài Miêu chấn. Tháng 4 năm sau, sư hợp chung bản Phạm và Hán rồi cho khắc in ở Hàng châu. Năm Thiệu thánh thứ 2 (1095) sư vẫn trụ ở viện Truyền pháp của chùa Thái bình hưng quốc chuyên việc dịch kinh. Sư được vua ban hiệu là Quảng Phạm Đại Sư.[X. San bổ tham thiên thai ngũ đài sơn kí Q.4].
thiên có kệ
Devatā-samyutta (P)Tên một bộ kinh.
thiên công
Eternalists believe that there exists a so-called Creator who created all creatures.
thiên căn
Tượng Dương Vật của Thần Siva, mà Huyền Trang đã tìm thấy trong các đình miếu ở Ấn Độ; ông nói rằng những người Ấn Giáo đã “sùng bái tượng nầy không biết ngượng”—The phallic emblem of Siva, which Hsuan-Tsang found in the emples of India; he says the Hindus “worship it without being ashamed.”
; (天根) Nam căn lớn của trời Đại tự tại, cũng là biểu trưng của vị trời này. Là thần thể của phái Thấp bà (Phạm:Ziva) thuộc Ấn độ giáo, vì 6 đường đều do thiên cănnàysinh ra nên phải tôn kính. [X.truyện ngài Huyền trang trong Tục cao tăng truyện].
thiên cơ
Natural capacity; the nature bestowed by Heaven.
; Natural capacity—The nature bestowed by Heaven.
; (天機) Cơ trời. Tức là sự cơ cảm mầu nhiệm, hoặc là sự cơ mật của trời. Cũng chỉ cho Thiên tính hoặc Thiên ý.
thiên cư
1) The abode of the gods. 2) To change one's residence.
thiên cẩu
Ulka (skt)—The heavenly dog—A meteor—A star in Argo.
; (天狗) Người Trung quốc gọi loại sao chổi, sao băng là Thiên cẩu(chó trời). Cứ theo kinh Sơn hải quyển 2 thì Thiên cẩu là tên một loài thú quáidị, hình dáng giống như con chồn, mà đầu trắng, tiếng sủa gâu! gâu!có thể ngăn được tai họa xấu ác. Ấn độ thì gọi sao chổi là Ưu lưu ca (Phạm:Ulka), vì thế phần chú thích trong phẩm Súc sinh kinh Chính pháp niệm xứ quyển 19, phối hợp chữ Phạm Ulka với Thiên cẩu. Còn ở Nhật bản thì từ đời Trung cổ trở về sau, dân gian coi Thiên cẩu là 1 loại Thiên ma, cho rằng Thiên cẩu trụ ở trong núi sâu, là hình người, mũi cao, có cánh, bay đi tự tại, mặc tăng phục hoặc phục trang của người Tu nghiệm. Lại có thuyết cho rằng Thiên cẩu là người xuất gia chấp ngã, kiêu mạn, bị rơi vào ma đạo. [X. Đạinhậtkinh sớ Q.5; Sử kí thiên quan thư Q.5; Cổ sự đàm Q.3; Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.2].
thiên cổ
The divine drum in the Thiện pháp đường Good Law Hall of the Trayas-trimsas heavens, which sounds of itself, warning the inhabitants of the thirty three heavens that even their life is impermanent and subject to karma; at the sound of the drum Indra preaches against excess.
; 1) Cổ xưa lâu đời: Antiquity. 2) Trống trời: Theo Phẩm 15 Kinh Hoa Nghiêm, ở Thiện Pháp Đường nơi cõi Trời Đao Lợi có một cái trống chẳng đánh mà tự nhiên phát diệu âm, cảnh báo chúng thiên trên cõi Trời nầy rằng đời vô thường và luôn bị nghiệp báo chi phối. Chư Thiên trên tầng trời nầy nghe tiếng trống bèn kéo nhau nghe Trời Đế Thích nói pháp vi diệu khiến họ đều phát tâm làm lành lánh dữ. Do vậy chư Phật còn có danh hiệu là Thiên Cổ hay Trống Trời. Lúc trống trời vang lên thì chúng ma đều sợ hãi bỏ chạy—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 15, in the Good Law Hall of Trayas-trimsas heavens, there is a deva-drum which sounds of itseft, warning the inhabitants of the thirty-three heavens that even their life is impermanent and subject to karma; at the sound of the drum Indra preaches against excess. Hence it is a title of Buddhas as the geat law-drum, who warns, exhorts, and encourages the good and freightens the evil and demons. .
; (天鼓) Trống trời.Tức chỉ cho quả trống lớn đặt ở Thiện pháp đường trên cõi trời Đao lợi. Trống này do nghiệp báo của chư thiên mà có, không cần đánh mà tự phát ra âm thanh vi diệu, cảnh tỉnh các thiên chúng biếng nhác, buông thả, các vị trời nghe đềusinh tâm thích thiện, ghét ác. Vì âm thanh của Thiên cổ không có chủ, không tạo tác, không khởi, không diệt, làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh, cho nên được dùng để ví dụ việc thuyết pháp của đức Phật. Cứ theo Pháp hoa nghĩa sớ quyển 1 thì lúc có giặc đến, giặc đi, Thiên cổ đều vang lên, làm cho tâm chư thiên mạnh mẽ, A tu la thì sợ hãi;chúngsinh phiền não đến hay đi, Phật đều thuyết pháp, khiến tâm đệ tử mạnh mẽ, các ma sợ hãi. Thiên cổ vô tâm mà có thể làmđược4 việc, Như laituynói nhưng cũng vô tâm, cho nênThiên cổ được dùng để ví dụ âm thanh thuyết pháp của đức Phật.
thiên cổ lôi âm phật
Divyadundubhi-meghanirghoṣa (S)Cổ Âm Như Lai, Cổ Âm PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
; Cổ Âm Như Lai—Divyadundubhimeghanirghosa (skt)—Một trong năm vị Phật trong Thai Tạng Giới Mạn Đà La, ở phía bắc của nhóm trung tâm. Người ta nói đây là pháp thân hay “Đẳng Lưu” thân của Phật Thích Ca. Vị Phật nầy cũng được biết đến như là Bất Động Tôn tương ứng với A Súc Bệ Phật—One of the five Buddhas in the Garbhadhatu mandala, on the north of the central group; said to be one of the dharmakaya of Sakyamuni or his universal emanation body; it is known as Immutably-Honoured One corresponding with Aksobhya.
; (天鼓雷音佛) Thiên cổ lôi âm, Phạm: Divyadundubhi meghanirghowa. Cũng gọi Cổ âm Như lai, Cổ âm Phật, Cổ âm vương. Chỉ cho đức Như lai ở phương bắc (1 trong 4 đức Phật ở 4 phương) ngồi trong viện Trung đài Bát diệp thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Theo phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì đức Phật này an trụ trong tướng tịch định, chủ về đức Đại niết bàn, cho nên căn cứ theo nghĩa mà gọi là Bất động. Nhưng Đại niết bàn này khác với niết bàn vĩnh tịch, không có diệu dụng của Nhị thừa, giống như Thiên cổ không có hình tướng mà thường diễn nói pháp âm của Như lai, thành tựu mọi sự nghiệp, cho nên gọi là Cổ âm Như lai. Về hình tượng thì toàn thân Ngài màu vàng ròng, tay trái nắm lại để ở dưới rốn, các đầu ngón tay phải chấm đất, kết ấn Xúc địa(chạm đất), ngồi kết già trên hoa sen báu, mật hiệu là Bất động kim cương, chủng tử là (a#) hoặc (haô), hình Tam muội da là Vạn đức trang nghiêm ấn hoặc Bảo loa(vỏ ốc báu). Có thuyết cho rằng đức Phật này và đức A súc Như lai ở phương đông thuộc Kim cương giới cùng là 1 vị tôn.[X. phẩm Bí mật bát ấn trong kinh Đại nhật Q.5; phẩm Nhập bí mật mạn đồ la vị trong kinh Đại nhật Q.5; Nhiếp đại nghi quĩ Q.2; Quảng đại nghi quĩ Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.17, 20; Bí tạng kí].
Thiên cổ lôi âm 天鼓雷音
[ja] テンクライオン Tenkuraion ||| See 天鼓雷音佛. => Xem Thiên cổ Lôi âm Phật 天鼓雷音佛.
thiên cổ âm
Vân Tự Tại Đăng Vương—Dundubhisvara-raja (skt)—Lord of the sound of celestial drums, such as thunder. Name of each of 2,000 kotis of Buddhas who attained Buddhahood.
Thiên cổ 天鼓
[ja] テンコ tenko ||| (1) A drum in the Hall of Good Dharma of Trāyastrimśa Heaven, which emits sublime sounds by itself without being struck. (2) An epithet of the Buddha. => 1. Trống của Thiện pháp đường trên cung trời Đao lợi, tự phát ra âm thanh vi diệu mà không cần phải đánh vào. 2. Một danh hiệu dành cho Đức Phật.
Thiên Diệp
(千葉, Chiba): tên gọi của một dòng họ, chi lưu của Lương Văn (良文, Yoshifumi) thuộc họ Hoàn Võ Bình (桓武平). Vào thời Trung Đại, dòng họ này vốn là hào tộc, đến sinh sống ở Quận Thiên Diệp (千葉郡, Chiba-gun), Hạ Tổng (下總, Shimōsa), rồi lấy tên vùng này làm họ của mình. Sau đó, dòng họ này đi theo dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō), và cuối cùng bị dòng họ Phong Thần (豐臣, Toyotomi) tuyệt diệt.
thiên diệp liên hoa
(千葉蓮華) I. Thiên Diệp Liên Hoa. Hoa sen nghìn cánh dùng để cúng dường Phật. Phẩm tựa trong Đại bát nhã quyển 1 (Đại 8, 218 trung) nói: Bấy giờ, đức Phật Bảo tích đưa đóa hoa sen nghìn cánh cho bồ tát Phổ minh và dạy rằng: Thiện nam tử !Ông hãy đem hoa này rải trên đức Phật Thích ca mâu ni. Theo luận Đại trí độ quyển 10 thì có 3 loại hoa sen: 1. Nhân hoa: Có hơn 10 cánh. 2. Thiên hoa: Có 100 cánh. 3. Bồ tát hoa: Có 1000 cánh. Thế giớiĐa bảo nơi Phật Bảo tích an trụ cũng có hoasennghìn cánh màu vàng ròngsángóng ánh. II. Thiên Diệp Liên Hoa. Đài hoa nghìn cánh dùng làm tòa ngồi của đức Phật. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 (Đại 3, 298) hạ) ghi: Thân Phật thứ nhất ngồi trên hoa sen trăm cánh giảng nói pháp minh môn cho Bồ tát Sơ địa nghe. (...) Thân Phật thứ hai ngồi trên hoa sen nghìn cánh giảng nói Thiên bách minh môn cho Bồ tát Nhị địa nghe. (...) Thân Phật thứ ba ngồi trên hoa sen vạn cánh giảng nói vạnpháp minh môn cho Bồ tát Tam địa nghe. Ngoài ra, cứ theo kinh Phạm võng thì đài sen trên đó đứcPhậtLô xá na ngồi chung quanh có 1000 cánh, thị hiện nghìn Phật Thích ca, mỗi một cánh hoa đều có trămức cõi nước, mỗi cõi nước thị hiện một Phật Thích ca đều ngồi dưới gốc cây Bồ đề, thành đạo cùng lúc. Tông Thiên thai cho rằng nghìn cánh hoa sen nói trong kinh Phạm võng là đài hoa sen mà đức Phật của Biệtgiáo trong 4 giáo ngồi, Pháp hoa huyền nghĩa (hội bản) quyển 7, phần đầu, gọi đó là Thất bảo hoa ở đạo tràng Tịch diệt; còn Thiên thai tứ giáo nghi của ngàiĐế quán thì gọi đó là Liên hoa tạng thế giới thất bảo Bồ đề thụ hạđại bảo hoa vương tọa (Tòa hoa báu lớn dưới gốc cây Bồ đề bảy báu ở thế giới Liên hoa tạng).
Thiên Diệp Thị Dận
(千葉氏胤, Chiba Ujitane, 1337-1365): vị Võ Tướng dưới thời đại Nam Bắc Triều; Đương Chủ đời thứ 13 của dòng họ Thiên Diệp; con trai thứ của Thiên Diệp Trinh Dận (千葉貞胤, Chiba Sadatane); thân mẫu là cháu của Tằng Cốc Giáo Tín (曾谷敎信, Soya Kyōshin). Ông kế thừa làm chức Thủ Hộ 3 tiểu quốc: Thượng Tổng (上總, Kazusa), Hạ Tổng (下總, Shimōsa) và Y Hạ (伊賀, Iga). Ông đã từng lập khá nhiều chiến công trong trận mạc. Vào năm 1365, ông nhuốm bệnh ở kinh đô Kyoto, và trên đường về cố hương, ông qua đời tại Mỹ Nùng (美濃, Mino), hưởng dương 29 tuổi. Con trai ông, Thánh Thông (聖聰, Shōsō), là vị Tăng của Tịnh Độ Tông và cũng là người có công trong việc sáng kiến Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji).
thiên dân
Chư Thiên cư ngụ trên các cõi trời—Heavenly beings or beings who live in the various Heavens—See Thiên.
thiên dữ
Xem Đề bà đạt đa.
Thiên gia
(天家): có hai nghĩa chính. (1) Từ xưng hô đối với thiên tử. Như trong tác phẩm Độc Đoán (獨斷) của Thái Ung (蔡邕, 133-192) nhà Hán có giải thích rằng: “Thiên gia, bách quan tiểu lại chi sở xưng, thiên tử vô ngoại, dĩ thiên hạ vi gia, cố xưng thiên gia (天家、百官小吏之所稱、天子無外、以天下爲家、故稱天家, thiên gia là từ xưng hô của trăm quan lại, thiên tử không ngoại lệ, lấy thiên hạ làm nhà, nên gọi là thiên gia [nhà trời]).” Hay trong bài thơ Tri Phủ Tôn Học Sĩ Kiến Thị Ngũ Thủ Nhân Dĩ Xuyết Thiên (知府孫學士見示五首因以綴篇) của Phạm Trọng Yêm (范仲淹, 989-1052) nhà Tống có câu: “Hồng hà lục trúc vong cơ địa, vị miễn thiên gia hạ chiếu cầu (紅霞綠竹忘機地、未免天家下詔求, ráng hồng trúc biếc quên vạn sự, chẳng khỏi vương gia hạ chiếu tìm).” (2) Chỉ nhà đế vương. Như trong Tấn Thư (晉書), Truyện Hồ Phấn (胡奮傳), có câu: “Lịch quán tiền đại, dữ thiên gia hôn (歷觀前代、與天家婚, xét khắp các đời trước, đều cùng với nhà đế vương kết hôn).”
thiên giáo
1) Quyền giáo: Partial or relative teaching. 2) Tông Thiên Thai cho rằng giáo thuyết Thiên Thai là “Viên Giáo,” bao gồm hết tất cả những lời Phật dạy, trong khi Pháp Tướng và Tam Luận chỉ là Quyền giáo. Tông nầy cũng xem ba giáo Tạng, Thông, Biệt là quyền giáo—Partial or relative teaching; T'ien-T'ai regarded its own teaching as the complete, or final and all-embracing teaching of the Buddha, while that of Madhyamika school of Nagarjuna and Dharmalaksana schools were partial and imperfect; in like manner, the three schools of Pitaka, Intermediate, and Separate were also partial and imperfect. ** For more information, please see Quyền Giáo in Vietnamese-English Section.
; (偏教) Đối lại: Viên giáo. Giáo pháp thiên về 1 bên, thông thường phần nhiều chỉ cho Tiểu thừa giáo, hoặc chỉ cho Quyền giáo trong Đại thừa. Chẳng hạn như tông Thiên thai chủ trương kinh Pháp hoa là giáo pháp chân thực bất diệt, còn tất cả các kinh khác đều là giáo pháp phương tiện quyền biến bày đặt tạm thời.
thiên giới
Heaven.
; See Thiên Đạo.
thiên giới lực sĩ
See Thiên Đạo.
Thiên Giới Tự
(天界寺, Tenkai-ji): hiện tọa lạc tại phía Nam Kim Lăng (金陵, Nam Kinh), Phủ Giang Ninh (江寧府, Tỉnh Giang Tô), trên núi Phụng Sơn (鳳山), tên cũ là Long Tường Tập Khánh Tự (龍翔集慶寺), còn gọi là Đại Long Tường (大龍翔), một trong những danh lam của Trung Quốc. Vào năm đầu (1328) niên hiệu Thiên Lịch (天曆), vua Văn Tông nhà Nguyên bỏ ly cung của mình ở phía bắc Cầu Đại Thị (大市橋) trong Thành Kim Lăng (金陵城) và biến nơi đây thành chùa; năm sau nhà vua cung thỉnh Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) ở Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺), Hàng Châu (杭州) đến làm tổ khai sơn chùa này. Đến năm thứ 9 (1349) niên hiệu Chí Chánh (至正), Phù Trung Hoài Tín (孚中懷信) đến trú tại đây và làm cho chùa hưng thịnh. Vào năm thứ 17 (1357) cùng niên hiệu trên, Giác Nguyên Huệ Đàm (覺源慧曇) đến trú trì và theo sắc chỉ chùa được đổi tên thành Đại Thiên Giới Tự (大天界寺). Đến tháng 3 năm đầu (1368) niên hiệu Hồng Võ (洪武) đời vua Thái Tổ nhà Minh, nhà vua cho kiến lập Thiện Thế Viện (善世院) trong khuôn viên chùa, cử Huệ Đàm trú trì nơi đây và quản lý toàn thể Phật Giáo. Cũng vào lúc này, chùa được đổi tên thành Thiên Giới Thiện Thế Thiền Tự (天界善世禪寺) và xếp lên trên cả hệ thống Ngũ Sơn. Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji) của Nhật Bản do Quy Sơn Pháp Hoàng (龜山法皇) kiến lập được liệt trên Ngũ Sơn cũng bắt chước theo trường hợp này. Vào năm thứ 21 (1388) cùng niên hiệu trên, chùa bị lửa thiêu cháy tan tành nên được dời về vị trí hiện tại; đến năm thứ 23 (1390), chùa được trùng tu lại và có tên là Thiên Giới Thiện Thế Thiền Viện (天界善世禪院). Sau đó, vào năm thứ 30 (1397) niên hiệu Hồng Võ, Thứu Phong Đạo Thành (鷲峰道成) đến trú trì chùa; ngoài ra, trong khoảng thời gian niên hiệu Sùng Trinh (崇禎, 1628-1644), Vô Dị Nguyên Lai (無異元來) cũng như Giác Lãng Đạo Thạnh (覺浪道盛) thay nhau làm trú trì và nỗ lực cử xướng tông phong của họ. Vào năm thứ 17 (1660) niên hiệu Thuận Trị (順治), chùa nhất thời bị hoang phế, nhưng sau đó thì được trùng tu lại.
Thiên giới 天界
[ja] テンカイ テンガイ tenkai tengai ||| Heavenly realm; the realm of spiritual, godly existence, experienced as the result of good practices. Same as 天上and 天上界. => Cõi trời, cõi giới chư thiên. Thiên hữu. Cuộc sống ở cõi giới nhờ kết quả tu thiện nghiệp. Đồng nghĩa với Thiên thượng天上, Thiên thượng giới天上界.
thiên hoa
Deva-puppha (P), Divya-puspa (S)Diệu hoaHoa cõi trời.
; Divine flowers, stated in the Lotus sùtra as of four kinds, mạn đà la mandàras, ma ha mạn đà la mahàmandàras, mạn thù sa manjùsakas, ma ha mạn thù sa mahàmanjùsakas, the first two white, the last two red.
; Thiên hoa được kể trong Kinh Pháp Hoa có bốn loại—Deva or divine flowers, stated in the Lotus Sutra as of four kinds: 1) Mạn Đà La (màu trắng): Mandaras (white in color). 2) Ma Ha Mạn Đà La (màu trắng): Mahamandaras (white in color). 3) Mạn Thù Sa (màu đỏ): Manjusakas (red in color). 4) Ma Ha Mạn Thù Sa (màu đỏ): Mahamanjusakas (red in color).
; (天華) Phạm: Divya-puwpa. Pàli: Deva-puppha. Hoa vi diệu trên cõi trời, hoặc chỉ cho những cánh hoa sen làm bằng giấy rải ở trước Phật trong pháp hội. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa quyển 1 thì lúc đức Phật giảng nói kinh Pháp hoa xong rồi, Ngài vào tam muội Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm bất động. Bấy giờ, từ trên trời mưa xuống 4 thứ hoa là hoa Mạn đà la, hoa Đại mạn đà la, hoa Mạn thù sa, hoa Đại mạn thù sa, rải ở trước Phật và trên thân đại chúng. Phẩm Tựa kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 1 thì nêu 12 thứ thiên hoa, ngoài 4 thứ nói trên còn thêm8 thứ nữa là: HoaƯu bát la (Phạm:Utpala), hoa Ba đầu ma (Phạm, Pàli: Padma), hoa Phân đà lợi (Phạm,Pàli:Puịđarìka), hoa Câu vật đầu (Phạm,Pàli:Kumuda), hoa Chiêm bặc ca (Phạm: Campaka), hoa A đề mục đa (Phạm:Atimuktaka), hoa Ba lợi thi ca (Phạm:Vàrwika) và hoa Tô ma na (Phạm: Sumanas). Ngoài ra, người Ấn độ đời xưa quen gọi các vật đẹp là Thiên vật, các loại hoa đẹp trong cõi người như thiên vật cũng gọi là Thiên hoa.
thiên hoa phái
(千華派) Một phái thuộc Nam sơn Luật tông của Trung quốc, lấy chùa Long xương, núi Bảo hoa, huyện Cú dung, tỉnh Giang tô làm trung tâm. Ngài Đạo tuyên đời Đường là Cao tổ của phái này, ngài Như hinh đời Minh là Thái tổ, ngài Tịch quang là tổ Trung hưng thứ nhất ở núi Bảo hoa. Danh từ Thiên hoa lấy từ tên của Liên xã do ngài Tịch quang sáng lập ở chùa Long xương. Sự truyền thừa của phái này như sau: Từ ngài Đạo tuyên đời thứ nhất truyền đến đời thứ 13 là ngài Tuệ vân Như hinh, ngài Như hinh lại truyền cho ngài Tam muội Tịch quang, là đời thứ nhất của Bảo hoa sơn. Thái tổ của phái này là ngài Như hinh, khi lên núi Ngũ đài lễ bái, quán thấy bồ tát Phổ hiền mà đốn ngộ ý chỉ của Luật, từ đó cho đến trọn đời tận lực hoằng dương giới luật, người đời gọi ngài là Trung Hưng Luật Tổ, có soạn Kinh Luật giới tướng Bồ tát quĩ nghi 1 quyển. Đệ tử ngài rất đông, trong đó, 2 vị Tính lí và Tính phúc kế thừa pháp thống chùa Cổ lâm(là nơi hoằng giới của ngài Như hinh) ở Nam kinh, gọi là Cổ lâm phái. Còn ngài Tam muội Tịch quang truyền thừa pháp của ngài Như hinh, có soạn Phạm võng kinh trực giải 4 quyển, giáo hóa rất rộng, trùng hưng chùa Long xương ở núi Bảo hoa thành đạo tràng của Luật tông và đặt Liên xã được sáng lập ở đây là Thiên hoa, đó chính là nguồn gốc của Thiên hoa phái. Ngài Tịch quang là đời thứ nhất của núi Bảo hoa, ngài Độc thể là người thứ 2, rồi theo thứ tự truyền đến các ngài Đức cơ, Chân nghĩa, Thường tùng, Thực vĩnh, Phúc tụ... lần lượt truyền thừa cho đến đời gần đây, giới luật được truyền nối khắp trong thiên hạ, khiến cho Bảo hoa sơn chẳng những là nơi qui tụ của những người cầu giới từ 4 phương mà còn là khuôn phép cho sự truyền giới ở các nơi. Phái này lấy 2 môn Chỉ trì và Tác trì làm tông. Chỉ trì nghĩa là không làm các điều ác; Tác trì nghĩa là làm tất cả việc thiện. Tông chỉ của phái này tương đồng với Tướng bộ tông, nhưng trong Nhị trì thì phái này nhấn mạnh việc tuyên dương nghĩa Tác trì. Ngoài ra, Tứ phần luật phần thông Đại thừa mà phái này chủ trương cũng gần giống với tông Nam sơn, tức cho rằng Tứ phần luật và Đại thừa là đồng chế, trên hình thức tuy thuộc Tiểu thừa, nhưng nội dung thì thuộc Đại thừa. Phái này rất coi trọng kinh Phạm võng. Học trò của ngài Độc thể là Thư ngọc có soạn Phạm võng Bồ tát giới sơ tân 8 quyển là thí dụ chứng minh. Lại tượng Bản tôn thờ trong điện Tì lô chùa Long xương ở Bảo hoa sơn cũng căn cứ vào tướng được nói trong kinh Phạm võng; viên quang phía sau tượng Bản tôn có nhiều tượng Phật Thích ca nhỏ.
thiên hoa trước xá lợi phất y
(天華著舍利弗衣) Hoa trời dính vào áo của ngài Xá lợi phất.Theo phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma, Trưởng giả Duy ma cật ở thành Tì xá li, Trung Ấn độ, nói pháp cho các Bồ tát, các vị đại đệ tử như Xá lợi phất... và chư thiên nghe, bấy giờ có vị thiên nữ rải hoa trời trên thân của hội chúng, vì Bồ tát đã dứt tất cả tưởng phân biệt nên thiên hoa không dính thân, riêng các vị đại đệ tử thì vì chưa dứt tưởng phân biệt, vẫn còn sợ sinh tử, 5 dục sắc, thanh, hương, vị, xúc được cơ hội quấy nhiễu, cho nên thiên hoa mới dính vào áo, dùng thần lực cũng không thể phủi đi được.
thiên hoàng
Deva-king.
thiên hoàng tự
Chùa Thiên Hoàng nơi trụ trì của Sư Đạo Ngộ dưới thời nhà Đường—T'ien-Huang monastery where Tao-Wu master resided during the T'ang dynasty.
Thiên Hoàng Ðạo Ngộ
天皇道悟; C: tiānhuáng dàowù; J: tennō dōgo; 738/748-807; |Thiền sư Trung Quốc thuộc dòng Thanh Nguyên Hành Tư, đắc pháp nơi Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên. Nối pháp của Sư là Long Ðàm Sùng Tín.|Sư họ Trương, quê ở Ðông Dương Vụ Châu, xuất gia với Ðại đức Minh Châu. Sư còn nhỏ mà đã nổi danh dũng mãnh phi phàm, mưa gió mà vẫn dám thiền nơi gò mã. Lúc đầu, Sư có tham vấn Quốc sư Nam Dương Huệ Trung và Mã Tổ, nhân đây có chút sở đắc.|Sau Sư đến yết kiến Thạch Ðầu, hỏi: »Lìa định, huệ, Hoà thượng lấy gì dạy người?« Thạch Ðầu đáp: »Ta trong ấy không tôi tớ, lìa cái gì?« Sư hỏi: »Làm sao rõ được?« Thạch Ðầu hỏi lại: »Ông bắt được hư không chăng?« Sư đáp: »Thế ấy ắt chẳng từ ngày nay đi.« Thạch Ðầu bảo: »Chưa biết ông bao giờ từ bên kia đến?« Sư thưa: »Ðạo Ngộ chẳng phải từ bên kia đến.« Thạch Ðầu: »Ta đã biết chỗ ông đến.« Sư hỏi: »Sao thầy lại lấy tang vật vu khống người?« Thạch Ðầu đáp: »Thân ông hiện tại.« Sư hỏi lại: »Tuy nhiên như thế, rốt ráo vì người sau thế nào?« Thạch Ðầu hỏi vặn lại: »Ông hãy nói, ai là người sau?« Sư nhân câu hỏi này triệt ngộ, mọi thắc mắc nghi ngờ đều tan biến.|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là nói huyền diệu?« Sư bảo: »Chớ bảo ta hiểu nhiều Phật pháp.« Tăng thưa: »Nỡ để học nhân nghi mãi sao?« Sư hỏi lại: »Sao chẳng hỏi Lão tăng?« Tăng đáp: »Tức nay hỏi rồi.« Sư quát: »Ði! Chẳng phải chỗ ông nương tựa.«
Thiên Hoàng Đạo Ngộ
(天皇道悟, Tennō Dōgo, 748-807): vị Thiền tăng xuất thân Huyện Kim Hoa (金華), Tỉnh Triết Giang (浙江, thuộc Vụ Châu), họ là Trương (張). Năm lên 14 tuổi, ông đã có chí xuất gia, rồi sau xuống tóc xuất gia với vị Đại Đức ở Minh Châu (明州, thuộc Tỉnh Triết Giang); đến năm 25 tuổi thì thọ Cụ Túc giới tại Trúc Lâm Tự (竹林寺) ở Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông chuyên tâm tu tập phạm hạnh. Có hôm nọ, ông ngao du Dư Hàng, tham yết Kính Sơn Pháp Khâm (徑山法欽) và theo hầu vị này trong vòng 5 năm. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Lịch (大歷, 766-779), ông vào tu trong Đại Mai Sơn (大梅山), rồi vào khoảng đầu niên hiệu Kiến Trung (建中, 780-783), ông đến vùng Chung Lăng (鍾陵, Tỉnh Giang Tây), tham bái Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), và lưu lại với vị này được 2 năm. Cuối cùng ông đến tham bái Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đến sống tại Sài Tử (柴紫) thuộc Đương Dương (當陽), Kinh Châu (荆州), học đồ theo ông rất đông. Sau đó, ông chuyển đến sống tại Thiên Hoàng Tự (天皇寺) ở Thành Đông, Kinh Châu. Vào ngày 30 tháng 4 năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi đời và 35 hạ lạp.
thiên hoàng đạo ngộ
Tien huang Tao wu (C), Tennō Dōgo (J), TianhuangDaowu (C)Tên một vị sư. (748-807) đệ tử của Thạch Đầu Hi- thiên.
Thiên hoá
遷化; J: senge; có thể dịch là »bước vào cõi biến hoá«;|Một danh từ chỉ cái chết của một người (Tử), đặc biệt là cái chết của một Cao tăng. Qua danh từ »Thiên hoá« này người ta có thể thấy rằng, Phật giáo không có quan niệm rằng, cái chết (Tử) không phải là sự chấm dứt, mà chỉ là một sự biến chuyển của chư Pháp, sắc tướng; Phật tính của mỗi người đều trường tồn, vượt thời gian và không gian.
thiên hoá
(遷化) Gọi tắt: Hóa. Đồng nghĩa: Niết bàn, Viên tịch, Diệt độ, Thuận thế, Qui chân. Thiên hóa là dời đổi, hóa diệt, tức chỉ cho sự thị tịch của chư tăng. Hoặc có thuyết giải thích rằng những vị có đức sau khi đã hết duyên giáo hóa chúng sinh ở cõi này thì dời(thiên)đến hóa độ(hóa)chúng sinh ở thế giới khác, gọi là Thiên hóa. Cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 14 thì ngài Tuệ trì đời Đường lúc lâm chung có nói (Đại 50, 538 thượng): Tôi muốn đi đến phương khác để giáo hóa. Truyện ngài Đàm giới trong Lương cao tăng truyện quyển 5 (Đại 50, 356 hạ) nói: Có ánh sáng chiếu nơi thân, dung mạo vui hòa, bỗng nhiên thiên hóa.. Ngoài ra, từ ngữ thiên hóa cũngđược dùng cho người tại gia, như sau khi Lí phu nhân qua đời, Hán vũ đế làm bài phú có câu Bỗng thiên hóa mà không trở lại, hồn phách nhẹ nhàng bay lên.
; (千化) Chỉ cho đức Hóa Phật Thích ca ngồi trên hoa sen 1000 cánh của Mật giáo. Cứ theo kinh Phạm võng quyển hạ thì đài hoa sen mà đức Phật Lô xá na ngồi, chung quanh có 1000 đóa hoa, trên mỗi đóa hoa lại hiện 1000 Phật Thích ca, mỗi đóa hoa là 100 ức cõi nước, mỗi cõi nước là một Phật Thích ca, tất cả đều ngồi ở gốc cây Bồ đề, cùng một lúc chứng thành Phật đạo. Những Phật Thích ca này đều là bản thân của nghìn trăm ức Lô xá na.
Thiên huống
(天貺): ân sủng trời ban. Như trong Thông Dịch Luận (通易論) của Nguyễn Tịch (阮籍, ?-?) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Chiêu minh kỳ đạo, dĩ đáp thiên huống (昭明其道、以答天貺, sáng tỏ đạo ấy, để đáp ơn trời).” Hay trong bài Thành Quân Phúng (成均諷) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường lại có câu: “Cố dĩ cảm động thiên huống, cương kỷ nhân luân (故以感動天貺、紀綱人倫, nên lấy sự cảm động ơn trời ban để làm kỷ cương luân lý con người).” Hiện tại dân gian Trung Quốc vẫn còn lưu hành Thiên Huống Tiết (天貺節) vào ngày mồng 6 tháng 6 Âm Lịch. Thời xưa, dân gian Hoài An (淮安) thuộc Tỉnh Giang Tô (江蘇省) có tập tục gọi là Sái Hồng Lục (曬紅綠) vào ngày mồng 6 tháng 6. Tương truyền tập tục này xuất phát từ thời nhà Đường (唐, 618-907). Huyền Trang (玄奘, 602-664), cao tăng nhà Đường, sang Tây Thiên thỉnh kinh, trên đường trở về nước, khi đi ngang qua biển, một số kinh điển bị rơi xuống biển, ẩm ướt, nên vào ngày mồng 6 tháng 6 này người ta lấy kinh văn ra để phơi khô. Từ đó, ngày này trở thành ngày tốt lành. Khởi đầu, vào ngày này trong hoàng cung tiến hành phơi Long Bào của nhà vua, sau đó tập tục này được lưu truyền ra dân gian. Vào đúng ngày này, nhà nào cũng đem áo quần ra phơi nơi cổng nhà. Vì vậy, ở Dương Châu (揚州) vẫn có câu ngạn ngữ rằng: “Lục nguyệt lục gia gia sái hồng lục (六月六家家曬紅綠, mồng sáu tháng sáu nhà nhà phơi áo quần).”
thiên hành
(天行) Thiên là Đệ nhất nghĩa thiên, chỉ cho lí thực tướng thiên nhiên. Bồ tát nhờ tu lí thiên nhiên mà thành tựu diệu hạnh nên gọi là Thiên hạnh, là 1 trong 5 hạnh tu của Bồ tát. Theo Biệt giáo của Thiên thai thì Thiên hạnh là nội chứng của Địa tiền; Viên giáo thì lấy Như lai tòa nói trong kinh Pháp hoa làm Viên thiên hạnh.
thiên hình vạn trạng
Multiform.
thiên hóa
Chết—To pass away—To be taken away—To die.
Thiên hư 天虚
[ja] テンコ tenko ||| (1) The Great Void; the universe; unlimited (realm). (2) Completely empty and void. => 1. Đại không; vũ trụ, vô giới hạn (cõi giới). 2. Hoàn toàn trống không.
thiên hưng
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chưa biết thời điểm xây dựng chùa, chỉ biết năm Minh Mạng thứ 6 (1825), chùa Thiên Hưng chỉ là một thảo am. Năm 1893, chùa được sư Thanh Chân, tức là đại sư Viên Giác sau nầy, phát nguyện trùng tu, với sự hỗ trợ của một mệnh phụ tên là Tôn Nữ Thanh Lương. Do đó chùa đã thay đổi cảnh sắc và qui mô, chuyển tranh thành ngói, và có pháp khí tốt đẹp, tượng đồng được đúc, tượng gỗ được thếp vàng lại, làm cho cảnh chùa sáng sủa hơn. Năm 1911, Hòa Thượng Thanh Tú cùng với đồ đệ và giáo hội đã trùng tu lại chùa, khiến cho cảnh chùa uy nghi tráng lệ hơn xưa. Vào năm 1927, Hòa Thượng Quảng Tu trùng tu chánh điện. Năm 1935, chùa được ban biển ngạch sắc tứ và Hòa Thượng được ban giới đạo độ điệp. Chùa Thiên Hưng hiện vẫn còn giữ được hệ thống tượng thờ từ cuối thế kỷ thứ 19—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The date of building of the temple is unknown. It is merely recorded that in the sixth year of king Minh Mạng's reign, Thiên Hưng temple was only a thatched house. In 1893, a monk named Thanh Chân, later he became great master Viên Giác, committed himself to rebuild the temple with the assistance of a noble lady named Tôn Nữ Thanh Lương. As a result, the appearance and structure of the temple were changed considerably. Thatch was changed to tiles, bronze statues were introduced and some wooden statues were gilded, giving the temple a brighter look. In 1911, Most Venerable Thanh Tú together with his disciples and the congregation, rebuilt the temple, giving it a more impressive and magnificent appearance. In 1927, Most Venerable Quảng Tu rebuilt the main hall. In 1935, Thiên Hưng temple was recognized as national temple by the throne and Most Venerable Quảng Tu was honoured by the king with “Giới Đạo Độ Điệp.” The temple still remains its system of statues from the late nineteenth century.
thiên hương
Deva incense, divine or excellent incense.
; Deva incense—Celestial perfume—Divine or excellent incense.
; (天香) Hương trên cõi trời, hoặc chỉ cho hương vi diệu của nhân gian. Phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 48 trung) nói: Người trì kinh này, tuy ở nơi đây nhưng cũng ngửi thấy mùi hương của chư thiên trên cõi trời.
thiên hướng
Tendency—Inclination.
thiên hạ
The world; here below; on earth.
; People—The whole world.
thiên hạnh
A bodhisattva's natural or spontaneous correspondence with fundamental law; one of the ngũ hạnh of the Niết Bàn kinh.
; A bodhisattva's natural or spontaneous correspondence with fundamental law. One of the five natures of Bodhisattvas in the Nirvana Sutra (Kinh Niết Bàn).
Thiên Hải
(天海, Tenkai, 1536-1643): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại An Thổ Đào Sơn (安土桃山) và đầu thời Giang Hộ, vị tổ thời Trung Hưng của Thiên Thai Tông, húy là Tùy Phong (隨風), Thiên Hải (天海), hiệu Nam Quang Phường (南光坊) và Trí Lạc Viện (智樂院), thụy hiệu là Từ Nhãn Đại Sư (慈眼大師), xuất thân vùng Fukushima-ken (福島縣). Ông xuất gia lúc 11 tuổi, đến năm 14 tuổi thì lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), theo học Thiên Thai với Thật Toàn (實全), Câu Xá với Tôn Thật (尊實), rồi Tam Luận và Pháp Tướng với Thật Không (實空). Sau khi Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) đốt cháy toàn bộ Tỷ Duệ Sơn, ông dẫn đồ chúng đến nương náu nơi Võ Điền Tín Huyền (武田信玄, Takeda Harunobu) ở vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai). Từ đó về sau, ông từng đến trú ở Bất Động Viện (不動院), rồi Hỷ Đa Viện (喜多院) vùng Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Saitama-ken [埼玉縣]). Đến năm 1607, ông trở về sống tại Nam Quang Phường trên Tỷ Duệ Sơn, rồi nỗ lực tập trung cho việc phục hưng Sơn Môn. Năm 1616, ông được cử làm Đại Tăng Chánh, rồi cùng năm đó, ông lấy nghi Nhất Thật Thần Đạo để làm lễ an táng cho Gia Khang (家康, Ieyasu). Vào năm 1624, ông kiến lập Khoan Vĩnh Tự (寬永寺) ở Đông Duệ Sơn (東叡山) và làm tổ khai sơn của chùa này. Ông được sự tín nhiệm của 3 đời Tướng Quân Gia Khang, Tú Trung và Gia Quang; nên thường tham gia bàn chính sự trong Mạc Phủ, và lần đầu tiên đã thống chế các phái của Thiên Thai Tông Nhật Bản. Trước tác của ông để lại có Nhất Thật Thần Đạo Bí Quyết (一實神道秘決) 1 quyển, Dị Bộ Kiến Văn Thuật Ký Định Thư (異部見聞述記掟書) 1 quyển, v.v.
thiên hậu
Queen of Heaven.
thiên họa
Deva lines or pictures.
thiên học sơ chinh
(天學初征) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí húc soạn.Cuối đời Minh, Thiên chúa giáo truyền vào Trung quốc. Năm Vạn lịch thứ 10 (1582), hội Da tô đếnÁo môn, lấy Lợi mã đậu (Matteo Ricci) làm trung tâm tiến hành tuyên giáo, xuất bản Thiên chúa thực nghĩa 2 quyển, chủ trương Thiên của Nho gia và Thiên của Thiên chúa giáo là đồng nhất và chê trách Phật giáo là trái với đạo Thánh hiền. Ngài Trí húc bèn soạn Thiên học sơ trưng(Chê trách Thiên chúa giáo lần đầu), chỉ rõ ra 22 điều mâu thuẫn của Thiên chúa giáo. Sau đó, ngài lại soạn Thiên học tái trưng(Chê trách Thiên chúa giáo lần thứ hai), liệt kê 28 điều phê phán, bác bỏ. Hai tác phẩm trên đây của ngài Trí húc gọi là Thiên học nhị trưng, được thu chép vào Tịch tà tập. Nội dung gồm các vấn đề: Chúa tể sáng tạo, giáng sinh chuộc tội, phụng thờ lễ bái, linh hồn bất diệt, thiên đường địa ngục, sắp chết hối hận...
thiên hỏa
Cosmic fire.
thiên hữu
Xem Bà tu mật.
; Existence and joy as a deva, derived from previous devotion, the fourth of the seven forms of existence.
; (天有) Nghĩa là nhờ vào nhân giới, định... quá khứ mà hiện tạicảmđược quả vui cõi trời. Quả báo tồn tại, có thật nên gọi là Hữu. Một trong Thất hữu.
thiên hữu chấp
Kiến giải thiên về một bên cho vạn hữu là có và chấp chặt vào đó—Strong attachment to the idea of a real existence of all things.
; (偏有執) Chấp trước vạn pháp là Hữu(có thật). Theo quan điểm của Phật giáo thì chủ trương Vạn pháp là Hữu có thể chia làm 3 bậc: 1. Người thế gian nói chung cho rằng hễ vật nào có hình thể, âm thanh, lạnh nóng... có thể nương gá được thì đều tồn tại chân thực. 2. Thuyết nhất thiết hữu bộ(tức Tát bà đa bộ) thuộc Tiểu thừa cho rằng các pháp do nhiều nhân duyên hòa hợp mà sinh, cho nên thuộc về Hữu, chủ trương Ba đời có thật, pháp thể hằng có. Về cách nhận xét đối với chúng sinh hữu tình thì bộ phái này cũng xem đó là sự giả hòa hợp của 5 uẩn và đề xướng thuyết Tứ hữu: Sinh hữu, Bản hữu, Tử hữu và Trung hữu. Thuyết này thuộc về Thực tại luận cơ giới. 3. TôngPháp tướng thuộc Đại thừa, đặt nền tảng trên Duyên khởi luận, cũng chủ trương tính của các pháp là thực Hữu, thể của nó cùng khắp và thường hằng không diệt. Tuy nhiên, chủ trương này hoàn toàn khác với quan điểm của Thuyết nhất thiết hữu bộ nói trên; bởi vì tính của các pháp mà tông Pháp tướng chủ trương là thuộc về tính Viên thành thực mà thông thường gọi là Chân như, cho nên tuy chủ trương Hữu nhưng thực ra là Hữu của Chân hữu, Diệu hữu, vốn là 1 trong các tư tưởng quan trọng của Phật giáo Đại thừa. Vì thế biết, chấp trước thiên về Hữu là chỉ cho cái thấy biết của người thế tục nói chung và chủ trương của Thuyết nhất thiết hữu bộ...
Thiên hữu 天有
[ja] テンウ tenu ||| Heavenly existence. Life in a heavenly realm as the result of one's good practices. See 天, 天上, etc. => Cõi trời. Cuộc sống ở cõi giới nhờ kết quả tu thiện nghiệp. Xem Thiên天, , Thiên thượng天上.
thiên không
(偏空) Cũng gọi Thiên chân, Đơn không, Thiên chân không lí. Chỉ cholíKhông của Tiểu thừa, vì lí Không thiên về bên Không nên gọi là Thiên không. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 778 thượng) nói:Ba thừa của giáo này nhân giống nhau nhưng quả thì khác, chứng quả tuy khác (...) nhưng cùng ngộ lí thiênchân. Còn trong Bồ tát thì có 2 loại lợi và độn, độn thì chỉ thấy thiên không, chứ chẳng thấy bất không.
thiên khải
(天啓) Phạm:Zruti. Trời mở bày. Tiếng dùng của Bà la môn ở Ấn độ, vốn có nghĩa là nghe, về sau triển khai thành nghĩa sự mở bày của thần. Bà la môn giáo cho rằng kinh Phệ đà là Thánh nhân được thần mở bày mà tụng ra, cho nên là tri thức của thần thánh. Do đó, từ xưa đến nay, 4 Phệ đà được xem là một bộ trứ tác thiên khải điển hình.
thiên khải kinh
Srauta sŪtra (S)Kinh Bà la môn giáo.
thiên khẩu
Miệng Trời—Phép của Bà La Môn coi lửa là miệng trời, hỏa thiêu vật cúng thì chư Thiên được ăn. Đây là nguồn gốc của Hộ Ma Cúng—The mouth of Brahma, or the gods, a synonym for fire, as that element devours the offerings; to this the homa, or fire altar cult is attributed, fire becoming the object of worship for good fortune. Fire is also said to speak for or tell the will of the gods.
; (天口) Miệng của trời. Chỉ cho lửa. Bà la môn ở Ấn độ đời xưa cho lửa là miệng của trời, lửa đốt các vật cúng tế, mùi thơm bay lên, do đó mà chư thiên được ăn. Đây chính là nguồn gốc của pháp tu Hộ ma cúng trong Mật giáo. Trong Bách luận sớ có dẫn thuyết của luận Câu xá cho rằng có vị trời từ trong lửa phát ra tiếng nói. Lại trong miệng chư thiên có ánh sáng, bèn cho là lửa, bởi vậy ngoại đạo cho lửa là Thiên khẩu.
thiên kiến
Partial idea.
thiên kiến luận chú
Samantapasadika (S)Nhất Thiết Thiện Kiến luật chú.
thiên kỳ thụy
Tien chi Shui (C).
thiên la quốc
Devala (S).
; The kingdom of the king with kalmasapada (with spotted or striped feet).
; (天羅國) Thiên la, Phạm: Devala. Hán âm: Đề bà la. Đất nước của vua Ban túc. Cứ theo phẩm Hộ quốc trong kinh Nhân vương do ngài Cưu ma la thập dịch thì chân (túc) của nhà vua Ban túc bị loang lổ(ban), cho nên khi ông còn là Thái tử nước Thiên la, ông được gọi là Thái tử Ban túc. Ông từng được tà sư giáo hóa, sau nghe Tứ vô thường kệ mà chứng được Không tam muội.
Thiên Long
(天龍, Tenryū, ?-?): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Ông kế thừa dòng pháp của Đại Mai Pháp Thường (大梅法常), môn hạ của Mã Tổ. Khi có ai hỏi điều gì ông thường hay đưa một ngón tay lên. Chính ông là người đã đả thông cho Câu Chi (倶胝) ở Kim Hoa Sơn (金華山). Phong cách Thiền gọi là một ngón tay (Nhất Chỉ Thiền, 一指禪) của ông rất nổi tiếng, nhưng truyền ký về những lần ông thăng đường thuyết pháp cũng như ngôn ngữ vấn đáp thì quá ít.
thiên long
Tien lung (C), Tenryu (J).
; Devas, including Brahmà, Indra, and the devas, together with the nàgas.
; Thiên Long bao gồm—Devas and nagas includes: 1) Chư Long Thiên: Nagas together with the Devas. 2) Phạm Thiên: Brahma. 3) Đế Thích: Indra.
; (天龍) I. Thiên Long. Núi ở huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Nhờ có các hang đá mà núi này nổi tiếng ở đời. II. Thiên Long. Chư thiên và long thần trong 8 bộ chúng. Phẩm Tựa kinh pháp hoa (Đại 9, 3 thượng) nói: Thiên long cung kính, không lấy làm vui
thiên long bát bộ
Thiên, Long, Dạ Xoa (quỷ dũng mãnh), Càn-Thác-Bà (hương thần), A-Tu-La (phi thiên), Ca-Lâu-La (Kiêm-Xí-Điểu), Khẩn-Na-La (phi nhơn), Ma-Hầu-La-già (Đại-mãng-Xà)Xem bát bộ.
; Devas, nàgas and others of the eight classes: thiên, devas; long, nàgas; dạ xoa, yaksas; càn thát bà, gandharas; a tu la, asuras; ca lâu la, garudas; khẩn na la, kinnaras; ma hầu la già, mahoragas.
; Thiên, long, dạ, xoa (Quỷ dũng mãnh), Càn thát bà (Hương thần), A tu la (Phi thiên), Câu lâu na (Kim xí điểu), Khẩn na la (Phi nhơn), Ma hầu la già (Đại mãng xà), gọi chung là Bát bộ chúng.
; (A) Thiên long và các chúng khác trong bát bộ, đã có trong truyền thuyết cổ Ấn Độ; tuy nhiên, thường được dùng trong Kinh điển Phật giáo—Devas, nagas and others of the eight classes—The eight groups of demon followers which existed in ancient Indian legends; however, they were often utilized in Buddhist sutras to suggest the diversity of the Buddha's audiences. (B) Bát bộ chúng hay tám loại chúng gồm chư thiên, hay phi nhân được xem như là những thiên long hộ pháp, hay những vị cùng đến tham dự những buổi pháp hội của Phật—Eight classes of divinities, or eight kinds of gods and demi-gods. These are various classes of non-human beings that are regarded as protectors of Buddhist Dharma and Buddhism as part of the audience attending the Buddha's sermons. (C) Phân loại—Categories: 1) Thiên chúng: Deva (skr)—Chư Thiên trong các cõi trời (sáu cõi trời Dục Giới, bốn trời Tứ Thiền Sắc Giới, Tứ Không Xứ)—Devas, gods, or angels in the Heavens. 2) Long chúng: Nagas (skt)—Rồng—Dragons—Heavenly dragons. 3) Dạ Xoa chúng: Yaksas (skt)—Quỷ bay cực nhanh, giữ các cửa trời, có liên hệ tới trời Đâu Suất, nhưng thường thấy nơi cõi người—Extremely fast demons that guard Heaven's Gates, sometimes associated with the Tusita Heaven, but usually located on the human plane (realm). 4) Càn Thát Bà chúng: Gandharvas (skt)—Thần âm nhạc nơi cõi trời Đế Thích—Musician Angels for the Cakra Heaven Kings. 5) A Tu La chúng: Asuras (skt)—Thần chiến đấu thường ở núi và đáy biển quanh những triền bọc quanh núi Tu Di, bên dưới cõi trời Tứ Thiên Vương—War gods, or evil spirits which live on the slopes of Mount Meru, below the lowest heavenly sphere, that of the four Guardian Kings. 6) Ca Lâu La chúng: Garudas (skt)—Thần chim đại bàng cánh vàng, dài đến 3.360.000 dặm—Heavenly (celestial) birds with golden wing spans of approximately 3,360,000 miles. 7) Khẩn Na La chúng: Kinnaras (skt)—Nửa giống người nửa giống thần, có tài trổi nhạc—Heavenly beings with human bodies and animal heads (half-horse, half-men). 8) Ma Hầu La Già chúng: Mahoragas (skt)—Thần mãng xà (rắn lớn) có thân dài trên 100 dậm—Serpent or Snake gods with body length over 100 miles.
; (天龍八部) Cũng gọi Bát bộ chúng. Chỉ cho 8 bộ trời, rồng. Đó là: Thiên (Phạm:Deva), Long (Phạm:Nàga), Dạ xoa (Phạm:Yakwa), A tu la (Phạm: Asura), Ca lâu la (Phạm:Garuđa), Càn thát bà (Phạm: Gandharva), Khẩn na la (Phạm: Kiônara), Ma hầu la ca (Phạm: Mahoraga). Trong 8 bộ chúng thì 2 chúng Thiên và Long là thượng thủ, cho nên nêu tên của 2 chúng này đại diện cho cả 8 bộ, vì thế mà gọi là Thiên long Bát bộ.
Thiên long bát bộ chúng 天龍八部衆
[ja] テンリュウハチブシュウ tenryū hachibushū ||| See 八部衆. => Xem Bát bộ chúng八部衆 .
Thiên long bát bộ 天龍八部
[ja] テンリュウハチブ tenryūhachibu ||| The eight groups of transmundane beings that are usually present at Mahāyāna sutra convocations: deva 天, nāga 龍, yakṣa 夜叉, gandharva 乾闥婆, asura 阿修羅, garuda 迦樓羅, kimnara 緊那羅 and mahoraga 摩睺羅伽. All of these are considered to be protectors of the buddhadharma. => Tám nhóm phi nhân thường xuất hiện trong kinh Đại thừa: Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già. Tất cả đều là hộ pháp.
thiên long dạ xoa
Devas, nagas, yaksas.
; (天龍夜叉) Chỉ cho chư thiên,long thần,dạ xoa, là 3 bộ trong 8 bộ chúng. Trong đó,dạ xoa là loài quỉ ở hư không, hoặc ở trên mặt đất, dùng uy thế não hại người, hoặc giữ gìn chính pháp.
Thiên long Dạ-xoa 天龍夜叉
[ja] テンリュウヤサ tenryūtasha ||| Three of the eight groups of beings than are usually present at Mahāyāna sutra convocations: devas 諸天, nāgas and yakṣas => Ba trong Tám bộ chúng thường xuật hiện trong các pháp hội giảng kinh Đại thừa. Gồm Chư thiên諸天, Rồng ( Long 龍), Dạ-xoa夜叉.
thiên long sơn
(天龍山) Núi ở phía tây huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Núi này và núi Hưởng đường đều là đại biểu cho văn hóa Phật giáo Bắc Tề, nổi tiếng về các chùa Hang đá. Từ các chùa do vua Văn tuyên và vua Toàn cảnh hang đá núi Thiên long Hiếu chiêu nhà Bắc Tề tạo mở, núi Thiên long trải qua các đời vẫn tiếp tục được đục mở các chùa Hang(Thạch quật tự). Núi này có tất cả 21 hang động, nổi tiếng nhất là gác Mạn sơn và động Cửu Liên. Trong 21 hang, nhà Bắc Tề mở 4 hang, nhà Tùy mở 3 hang, 14hangcòn lại được đục mở vào đầu đời Đường. Nghệ thuật tạo tượng ở đây kế thừa nghệ thuật đời Bắc Ngụy, phong cách cũng chịu ảnh hưởng phong cách Bắc Ngụy. Những hang động ở đây và các hang động ở Đôn hoàng, ở Vân cương Đại đồng, ở Long môn Lạc dương... đều là những hang động nổi tiếng của Phật giáo Trung quốc. Ở chân núi Thiên long có ngôi chùa gọi là Thiên long tự, cũng gọi là Thánh thọ tự.
Thiên Long Tự
(天龍寺, Tenryu-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Thiên Long Tự (天龍寺派) thuộc Lâm Tế Tông, ngôi Thiền Tự được xây dựng vào đời đại Nam Bắc Triều, tọa lạc tại số 68 Sagatennōjisusukinobabachō (嵯峨天龍寺芒ノ馬場町), Ukyō-ku (右京区), Kyoto-shi (京都市), Kyoto-fu (京都府); hiệu núi là Linh Quy Sơn (靈龜山), còn gọi là Thiên Long Tư Thánh Thiền Tự (天龍資聖禪寺); tên chính thức là Linh Quy Sơn Thiên Long Tư Thánh Thiền Tự (靈龜山天龍資聖禪寺). Lúc ban đầu mới thành lập thì chùa được gọi là Lịch Ứng Tự (曆應寺), nhưng không bao lâu thì tên này được sửa đổi. Đây là ngôi chùa đứng hàng đầu nổi tiếng trong năm ngôi bảo sát ở vùng kinh đô Kyoto. Nơi vùng đất chùa ngày xưa có Đàn Lâm Tự (檀林寺), rồi có Tiên Động Ngự Sở của Hậu Tha Nga Thượng Hoàng (後嵯峨上皇), và Ly Cung của Quy Sơn Thiên Hoàng (龜山天皇, Kameyama Tennō). Vào năm thứ 4 (1339) niên hiệu Diên Nguyên (延元), khi Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) băng hà ở vùng Cát Dã (吉野, Yoshino), theo lời khuyên của Mộng Song Sơ Thạch (夢窻疎石), Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) mới nhận chiếu chỉ và khai sáng chùa này. Chính bản thân Mộng Song và Túc Lợi đã tự mình bưng đất cát xây chùa, rồi cho đến năm thứ 6 (1345) niên hiệu Hưng Quốc (興國) thì chùa được hoàn thành, và Mộng Song trở thành vị Tổ khai sơn chùa này. Kế đến bảy ngôi đường vũ già lam cũng đều được hoàn bị. Về sau, chùa cũng đã nhiều lần bị nạn binh hỏa, các ngôi đường vũ dần dần bị cháy tan tành. Đến trong khoảng niên hiệu Ứng Vĩnh (應永, 1394-1427), khuôn viên chùa được nới rộng ra thêm, có đến khoảng 110 ngôi tháp. Kiến trúc hiện còn lại là Tổng Môn, Sắc Tứ Môn, Chánh Điện, Pháp Đường, Thư Viện, Đại Phương Trượng, Tuyển Phật Trường, Tàng Kinh, Sơn Môn, v.v. Phần lớn những kiến trúc này đều được xây dựng lại dưới thời Minh Trị trở về sau. Chánh Điện chùa được gọi là Đa Vũ Điện (多宇殿), nơi đây an trí tôn bia của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng. Còn ở trên trần nhà của Pháp Đường có vẽ hình rồng ẩn trong mây, là thư bút nổi tiếng của Linh Mộc Tùng Niên (鈴木松年). Trong khuôn viên chùa còn có rất nhiều tòa viện và chùa nhỏ như Kim Cang Viện (金剛院), Bảo Thọ Viện (寶壽院), Từ Tế Viện (慈濟院), Diệu Trí Viện (妙智院), Tùng Nham Tự (松岩院), Lộc Vương Viện (鹿王院), Tây Phương Tự (西芳寺), Địa Tạng Viện (地藏院), v.v. Đình viên Tào Nguyên Trì (曹源池) của chùa được công nhận là thắng cảnh nổi tiếng, tương truyền do tay Mộng Song Sơ Thạch làm ra.
Thiên Long tự
天龍寺; J: tenryū-ji;|Một trong những Thiền viện lớn của Kinh Ðô (kyōto), Nhật Bản. Thiền viện này được kiến lập với sự hỗ trợ của vị Tướng quân (j: shōgun) Túc Lợi Tôn Thị (ashikaga takauji) và sự chỉ đạo của Thiền sư Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki), được xếp vào Ngũ sơn của Kinh Ðô. Thiền viện này nổi danh với một vườn cảnh tuyệt đẹp do chính tay Quốc sư Mộng Song xếp đặt.
thiên long tự
(天龍寺) Cũng gọi Thánh thọ tự. Chùa ở chân núi Thiên long, huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được sáng lập vào đời Bắc Tề, về sau, qua nhiều đời bị hoang phế, đến đời Minh được kiến thiết lại. Trong chùa có mấy pho tượng được đắp vào đời Tùy và vô số phù điêu, tượng Phật, bích họa... Trong các điện đường, có điện Thiên vương thờ tượng Tứ thiên vương và tượng 2 vị vua. Trong Đại hùng bảo điện thờ tượng Phật Dược sư, tượng 2bồ tát Nhật quang, Nguyệt quang đứng hầu 2 bên, tượng 12 thần tướng và tượng cácbồ tát Quán âm, Văn thù, Phổ hiền..., điện Tì lô thì thờ tượng Phật Tì lô giá na, Phật Dược sư và Phật Di đà. Phía bắc và phía nam chùa đều có những ngôi tháp nổi tiếng như tháp thờ Triệt chứng Lão nhân, tháp Đại lạt ma, tháp Thiền sư Huyền ngộ Thê nham...
Thiên luân
(天倫): (1) Đạo lý tự nhiên. (2) Chỉ mối quan hệ thân thiết của cha con, anh em; cho nên có thuật ngữ “thiên luân chi lạc (天倫之樂)” được dùng để chỉ niềm lạc thú của gia đình, sự đoàn tụ của mọi người trong nhà. Như trong bài Xuân Dạ Yến Tùng Đệ Đào Hoa Viên Tự (春夜宴從弟桃花園序) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Hội đào hoa chi phương viên, tự thiên luân chi lạc sự (會桃花之芳園、序天倫之樂事, gặp chốn vườn thơm đào hoa, bày chuyện vui thú gia đình).” Hay như trong hồi thứ 17, 18 của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) có đoạn: “Điền xá chi gia, tuy tê diêm bố bạch, chung năng tụ thiên luân chi lạc (田舍之家、雖虀鹽布帛、終能聚天倫之樂, nhà nghèo nàn, tuy ăn dưa muối, mặc vải bố, nhưng cuối cùng vẫn có thể tập trung niềm vui thú gia đình).” Câu “sanh tắc đồng bào, thường đốc thiên luân chi ái (生則同胞、常篤天倫之愛)” có nghĩa là sanh cùng một bào thai, nên thường phải khuyến khích nhau tình thương yêu của anh em ruột thịt.
thiên lôi
God of thunder.
Thiên Lợi Hưu
(千利休, Sen-no-Rikyū, 1522-1591): vị tổ khai sáng ra Trà Đạo Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Chiến Quốc (戰國, Sengoku) và An Thổ Đào Sơn (安土桃山, Azuchimomoyama), húy là Tông Dị (宗易), hiệu Lợi Hưu (利休), Phao Thuyên Trai (抛筌齋), Bất Thẩm Am (不審庵), xuất thân vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka-fu [大阪府]). Ban đầu ông theo học với mấy nhân vật nỗi tiếng về trà như Đạo Trần (道陳) và Thiệu Âu (紹鷗) ở vùng Hòa Tuyền, kế đến tham vấn Thiền với Đại Lâm Tông Sáo (大林宗套), Tiếu Lãnh Tông Hân (笑嶺宗訢), và thành công trong việc sáng tạo ra loại hình thức uống trà trong tĩnh lặng gọi là Wabicha (侘茶) để thấu triệt tận cùng tinh thần của Thiền. Ông cũng đã từng phục vụ cho hai Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) và Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) với tư cách là Thiền tăng pha trà. Đến năm 1587, ông đã cùng với Kim Tỉnh Tông Cửu (今井宗久), Tân Điền Tông Cập (津田宗及) đóng vai trò người ngồi hầu sau lưng Tú Cát trong Đại Hội Trà Bắc Dã, và được xem như là bậc trà tượng số một trong thiên hạ. Vào năm 1589, theo lời khuyên của Cổ Khê Tông Trần (古溪宗陳), ông đem an trí tiêu tượng của mình ở Sơn Môn Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji). Tương truyền rằng cũng chính vì việc làm nầy mà ông tạo nên mối nghi ngờ cho Tú Cát, nên ông đã dùng đao tự vẫn.
thiên lệch
Partial.
thiên lực sĩ
See Thiên Đạo.
thiên ma
Deva-putra-māra (S)Thiên tử ma, Tha hóa Tự tại Thiên tử maMa vương và quyến thuộc ở tầng thứ 6 cõi Dục, chuyên làm chướng ngại thiện pháp, ghét than1h hiền, gây não loạn không cho thành tựu thiện căn xuất thế. Thiên ma là ngoại ma duy nhất trong Tứ maXem Ma ba tuần.
; Deva Màra (S). One of the four màras tứ ma who dwells in the sixth heaven, Paranirmita-vasa-vartin, at the top of the Kàmadhàtu, with his inumerable host , whence he constantly obstruct the Buddha truth and its followers. He is also styled Sát giả the slayer; also Ba tuần explained by ác ái sinful love or desire as he sends his daughters to seduce the saints.
; Deva Mara (skt). 1) Một trong tứ ma trên cõi trời thứ sáu, thường che lấp hay cản trở chơn lý Phật giáo—Celestial demons—Demons in heavens—One of the four maras who dwells in the sixth heaven (Paranirmita-vasavartin), at the top of the Kamadhatu, with his innumerable host, whence he constantly obstructs the Buddha-truth and followers. 2) Danh từ nầy tiêu biểu cho những người lý tưởng luôn tìm cách quấy phá Đạo Phật—This symbolizes idealistic people who disturb Buddhism. 3) Sát Giả: Thường làm những chuyện phóng dật hại thân—The slayer. 4) Ba Tuần: Còn gọi là Ác Ái (là loại ma vương xuất hiện trong thời Phật còn tại thế)—The mara who is sinful of love or desire, as he sends his daughters to seduce the saints. 5) Ba Ty Dạ: Papiyan (skt)—Một loại ma vương đặc biệt hồi Phật còn tại thế—The evil one. He is the special Mara of the Sakyamuni period.
thiên ma ba tuần
Sreshtha (S)Tên của chúa loài Thiên ma thường thử thách Phật và người tu Phật.
; (天魔波旬) Thiên ma chỉ choma vương ở tầng trời thứ 6(Tha hóa tự tại thiên) thuộc cõi Dục, tên là Ba tuần, thường nhiễu loạn việc tu hành của đức Thích tôn. Bởi vì chư Phật ra đời thường có ma chướng đồng thời gây khó khăn cho việc tu hành thành đạo và mỗi đức Phật đều có ma chướng khác nhau, Ba tuần là ma vương của thời đại Phật Thích ca xuất thế, có vô lượng quyến thuộc, thường chướng hại Phật đạo.
thiên ma ngoại đạo
Màras and heretics.
; Thiên ma và ngoại đạo đều là kẻ thù của chân lý—Maras and heretics are both enemies of Buddha-truth.
; (天魔外道) Chỉ chothiên ma và ngoại đạo, thường phá hại Phật đạo. Kinh Phạm võng quyển thượng (Đại 24, 1002 hạ) nói: Thiên ma ngoại đạo, xem nhau như cha mẹ.
thiên môn
Cửa hông, cửa mà tội nhân bị tống khứ (nói về cửa hông của địa ngục)—A side door, one through which offenders are expelled.
; (偏門) Cũng gọi: Bàng môn. Đối lại: Chính môn. Cửa nách. Trong Thiền lâm, hễ người phạm tội thì khi ra vào phải đi qua cửa nách chứ không được đi qua cửa chính. Điều Túc chúng trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1121 hạ) nói: Nếu có kẻ phạm tội thì dùng gậy đánh, rồi tập hợp chúng đốt áo bát, đạo cụ, đuổi ra khỏi cửa nách để cho thấy nỗi sỉ nhục.
thiên mệnh
Ngoại đạo tin rằng có cái gọi là “Thiên mệnh”—Externalists believe that there exists so called “Decree of God and destiny (fate).”
thiên mụ
Chùa Thiên Mụ ở Huế, Trung Việt, là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Việt Nam với hơn 500 năm lịch sử. Chùa được xây vào khoảng thế kỷ thứ 15, tọa lạc trên bờ bắc sông Hương, cách Huế khoảng 10 cây số về phía tây. Năm 1601, khi chúa Nguyễn Hoàng từ Quảng Trị vào tuần du Hóa Châu, thì chùa chỉ còn là phế tích. Chúa bèn cho trùng tu lại nhưng vẫn giữ tên là Thiên Mụ. Năm 1664, chúa Nguyễn Phước Tần cho trùng tu lần nữa. Năm 1695, Hòa Thượng Thạch Liêm đã ghé lại đây vài tháng trong khi chờ thuận gió để trở về Trung Quốc. Năm 1710, chúa Nguyễn Phước Châu cho đúc đại hồng chung nặng 3.284 cân và đích thân làm bài minh khắc trên chuông. Đây là một trong những đại hồng chung lớn nhất ở Việt Nam. Năm 1714, chúa cho trùng tu chùa lần nữa. Có lẽ vì quá hâm mộ thầy bổn sư là Hòa Thượng Thạch Liêm nên chúa cho khắc long vị và tôn là Hòa Thượng khai sơn của chùa dù chùa có đã lâu trước khi Hòa Thượng đến Việt Nam. Năm 1815, vua Gia Long cho trùng tu chùa lần nữa và cử Hòa Thượng Đạo Trung làm trụ trì. Năm 1831, vua Minh Mạng cho trùng tu chùa. Năm 1844, vua Thiệu Trị cho trùng tu chùa. Năm 1892, vua Thành Thái cho trùng tu chùa lần nữa. Sau năm 1945, Hòa Thượng Đôn Hậu được cử làm trụ trì chùa, ngài đã cho trùng tu lại chùa trên qui mô rộng lớn như chúng ta thấy ngày nay—A temple in Hue, Central Vietnam, one of the famous temples in Vietnam with more than 500 year-long- history. The temple was built in the fifteenth century, located at the north side of the Perfume River, about 10 kilometers west of Huế. In 1601, when Lord Nguyễn Hoàng from Quảng Trị came to Hóa Châu, now Hue, the temple had been ruined completely. The Lord had the temple rebuilt with its old name. In 1664, Lord Nguyễn Phước Tần had it rebuilt again. In 1695, Most Venerable Thạch Liêm stayed here for several months while awaiting the monsoon favorable for his return to China by sea. In 1710, Lord Nguyễn Phước Châu ordered to cast a great-size bell, about 3,285 pounds, and he himself composed the eulogy to be carved on the bell. This is one of the biggest bells in Vietnam. In 1714, Lord Nguyễn had it rebuilt again. It might be because of Lord Nguyễn Phước Châu's admiration for Most Venerable Thạch Liêm, his original master, so he recognized the monk as the founder of the temple, despite the fact that the temple had actually been built a long time before the arrival of Thạch Liêm. In 1815, king Gia Long had the temple rebuilt again and assigned Most Venerable Đạo Trung the head of the temple. In 1831, king Minh Mạng had it rebuilt. In 1844, king Thiệu Trị ordered to build a seven-storey stupa named Phước Duyên. In 1892, king Thành Thái had it rebuilt again. After 1945, Most Venerable Đôn Hậu was designated head monk of the temple. He carried out a large scale reconstruction giving the temple its vitality as we can see now.
Thiên Mục
(天目, Temmoku, 1245-1308 hay 1337 [?]): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, húy là Thiên Mục (天目), Nhật Thạnh (日盛); hiệu là Mỹ Nùng A Xà Lê (美濃阿闍梨), Thượng Pháp Phòng (上法房); xuất thân vùng Tĩnh Cương (靜岡, Shizuoka). Năm 1281, ông theo xuất gia với Nhật Liên, rồi sau khi thầy qua đời; ông chủ xướng về Nghĩa Bổn Tích Thắng Liệt, và luận nạn với 6 vị lão Tăng hàng đầu của Nhật Liên. Sau ông khai sáng ra Diệu Hiển Tự (妙顯寺) ở vùng Tá Dã (佐野, Sano), Hạ Dã (下野, Shimotsuke); Diệu Quốc Tự (妙國寺) ở Phẩm Xuyên (品川, Shinagawa), Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Tokyo), và Bổn Môn Tự (本門寺) ở Tiểu Thắng (小勝), Thường Lục (常陸, Hitachi). Đời sau mới lấy mấy chùa này làm cứ điểm cho Phái Nhất Mục mà hóa đạo. Trước tác của ông có Viên Cực Thật Nghĩa Sao (圓通極實義抄) 2 quyển, Bổn Tích Vấn Đáp Thất Trùng Nghĩa (本迹問答七重義).
thiên mục
Đề mục—A subject or text exposed on a slip.
thiên mục mãn
Tien mu Man (C)Tên một vị sư.
Thiên Mục Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục
(天目中峰和尚廣錄, Temmokuchūhōoshōkōroku): xem Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục (中峰和尚廣錄, Chūhōoshōkōroku) bên dưới.
thiên nga
Haṃsa (S), Mythical swan.
thiên nghiệp thí dụ
Divyavadāna (S)Tác phẩm được biên soạn vào thế kỷ III.
; (天業譬喻) Phạm:Dìvyàvadàna. Tác phẩm sưu tập các truyện cổ thí dụ bằng tiếng Phạm, mà theo sự suy đoán, đã được biên tập vào đầu thế kỉ III. Trong sách có dẫn dụng Trường bộ kinh (Dìghanikàya), Trưởng lão kệ (Theragàthà) trong Thánh điểnPàli và Đại trang nghiêm luận kinh của ngài Mã minh. Đây là 1 trong các bộ kinh điển quan trọng cho việc nghiên cứu quá trình thành lập Phật giáo Đại thừa. Hiện đã được các học giả Ấn độ, học giả người Anh là Cowell và Neil cùng chỉnh lí và xuất bản.
thiên ngục
The heavens and hells—Devalokas and purgatories.
thiên ngữ
The deva language, i.e. that of the Brahman, Sanskrit.
; Tiếng Trời chỉ tiếng Phạn, Bà La Môn tự cho tiếng Phạn là tiếng Trời—The deva language (the language of Brahma or Sanskrit).
; (天語) Ngôn ngữ của trời. Tức chỉ cho tiếng Phạm. Người Bà la môn ở Ấn độ đời xưa tự cho rằng tiếng Phạm mà họ sử dụng là tiếng nói của Phạm thiên, vì thế gọi là Thiên ngữ.
Thiên Nham Nguyên Trường
(千巖元長, Sengan Genchō, 1284-1357): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu Thiên Nham (千巖), tự là Vô Minh (無明), xuất thân Tiêu Sơn (蕭山), Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), họ Đổng (董). Năm lên 7 tuổi, ông cùng với Tỳ Kheo Đàm Phương (曇芳) nhập môn Pháp Môn Viện (法門院) ở Phú Dương (富陽, Tỉnh Triết Giang), rồi đến năm 19 tuổi thì xuất gia và thọ giới Cụ Túc. Sau đó, ông học về giới luật ở Linh Chi Tự (靈芝寺), Võ Lâm Sơn (武林山, Tỉnh Triết Giang) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本). Từ đó, ông bắt đầu giáo hóa ở Vô Minh Tự (無明寺) thuộc Phục Long Sơn (伏龍山), Ô Thương (烏傷). Vào tháng 10 năm thứ 4 (1327) niên hiệu Thái Định (泰定), ông tiến hành tu sửa Thánh Thọ Tự (聖壽寺) và làm trú trì chùa này. Ông được ban tặng cho một số danh hiệu như Phổ Ứng Diệu Trí Hoằng Biện (普應妙智弘辯), Phật Huệ Viên Giám Đại Nguyên Phổ Tế (佛慧圓鑑大元普濟), Phật Huệ Viên Minh Quảng Chiếu Vô Biên Phổ Lợi Đại Thiền Sư (佛慧圓明廣照無邊普利大禪師). Đến ngày 14 tháng 6 năm thứ 17 niên hiệu Chí Chánh (至正), ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi đời và 56 hạ lạp. Ông có để lại tác phẩm Thiên Nham Hòa Thượng Ngữ Lục (千巖和尚語錄) 1 quyển.
thiên nhiên
Natural.
thiên nhiên chân như-phi nhân tạo tác
Thiên nhiên chi chân như, phi nhân tạo tác giả—Nature—Natural reality, not of human creation.
thiên nhiệt
Xem Đề bà đạt đa.
Thiên Nhiệt 天熱
[ja] テンネツ Tennetsu ||| Chinese translation of the name Devadatta; see . => Hán dịch tên Devadatta; xem Đề-bà-đạt-đa提婆達多.
thiên nhân
Devas and men.
; Devas and men—Superior persons.
; (天人) Cũng gọi Thiên chúng. Người và Trời. Tức chỉ cho các hữu tình trụ ở 6 tầng trời cõi Dục và cõi Sắc, hoặc chỉ cho chúng sinh ở cõi Trời, cõi người. Cứ theo kinh điển thì Thiên nhân thường vui mừng khen ngợi Phật sự, tấu nhạc trời, rải hoa trời, xông hương trời, bay đi trong hư không. Vì phần nhiều chư thiên đeochuỗi anh lạc, bay trong hư không nên gọi là Phi thiên. Trong các kinh nói về thiên nhân cõi Sắc rất ít, mà nói về thiên nhân ở 6 tầng trời cõi Dục thì rất rõ ràng, đầy đủ. Sắc thân của chư thiên cõi Dục có 7 loại ánh sáng là: Màu lửa, màu vàng ròng, màu xanh, màu đỏ, màu trắng, màu vàng và màu đen, rất thanh tịnh vi diệu, không có da thịt gân mạch mỡ máu tủy xương... có năng lực biến hiện các loại hình tượng cao thấp lớn nhỏ thô tế... tùy theo ý muốn; tóc mềm mại bóng mượt, răng trắng sạch, vuông khít; đi đứng tới lui vô ngại, nhanh chậm tùy ý; hai mắt trong suốt, nhìn lâu không chớp. Chư thiên cõi Dục vẫn còn có dâm dục. Về cách hành dâm thì chư thiên cõi trời Dạ ma nắm tay nhau là thành dâm, cõi trời Đâu suất thì nhớ nghĩ đến nhau, chư thiên cõi trời Hóa lạc thì ngắm nhìn nhau, chư thiên cõi Tha hóa tự tại thì chỉ cần nói với nhau và chư thiên cõi trời Lạc biến hóa thì chỉ cần thoáng nhìn nhau là thành dâm. Khi tuổi thọ của chư thiên sắp hết thì thân sẽ hiện ra 5 tướng suy, gọi là Thiên nhân ngũ suy. Về hình tượng của Thiên nhân thì hiện nay còn hình 2 vị Phi thiên được khắc trên viên quang phía sau tượng đức Phật Thích ca thuyết pháp bằng đá, cất giữ ở viện bảo tàng Mạt thố la tại Ấn độ. Còn trong các bích họa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng, Trung quốc, cũng có bức vẽ Phi thiên rải hoa và tấu nhạc. Trong vòng hào quang phía sau của 3 tôn tượng ở điện Ngọc Phật của chùa Pháp vũ tại núi Phổ đà thuộc tỉnh Chiết giang, Trung quốc, cũng có khắc tượng Phi thiên(trời bay), áo của vị Phi thiên này giống như những ngọn lửa, trông như sống. Trong các chùa viện nổi tiếng ở Nhật như chùa Pháp long, chùa Dược sư, chùa Cương, chùa Pháp giới, viện Bình đẳng... cũng còn có những bích họa, bình phong... vẽ tượng Thiên nhân
thiên nhân bất động chúng
(天人不動衆) Chỉ cho đại chúng ở Tịnh độ cực lạc. Thực ra, ở Tịnh độ cực lạc không có Thiên nhân tồn tại, nhưng vì thuận theo thế giới ở các phương khác nên có tên gọi Thiên nhân. Đại chúng thiên nhân này đúng ra là các vị Bồ tát Nhất sinh bổ xứ (chờ thành Phật), đã chứng diệu lí Niết bàn, thành tựu căn tính Đại thừa, hoàn toàn không còn lay động, lui sụt, cho nên gọi là Bất động.
thiên nhân ngũ suy
(天人五衰) Năm tướng suy của người trời. Thiên nhân ở các cõi Dục, Sắc và Vô sắc, khi tuổi thọ sắp hết thì 5 tướng suy xuất hiện. Năm tướng này thông thường được chia làm 2 loại: Đại ngũ suy tướng và Tiểu ngũ suy tướng. I. Đại Ngũ Suy Tướng: 1. Y phục cấu uế:Áo xiêm dơ bẩn. Nghĩa là áo xiêm của chư thiên vốn nhẹ nhàng, tươi sáng, sạch sẽ, nhưng khi phúc báo và tuổi thọ sắp hết thì tự nhiên dơ bẩn.2. Đầu thượng hoa nuy: Hoa trên đầu héo úa. Nghĩa là hoa trang điểm trên mũ báu của thiên chúng vốn có màu sắc tươi sáng, nhưng khi hết phúc báo và tuổi thọ thì những hoa ấy tự nhiên phai nhạt và khô héo. 3. Dịch hạ hãn lưu: Nách chảy mồ hôi. Nghĩa là thân thể của thiên chúng vốn nhẹ nhàng, sáng sủa, sạch sẽ, nhưng khi phúc báo và tuổi thọ gần hết thì 2 nách tự nhiên đổ mồ hôi. 4. Thân thể xú uế: Thân thể dơ bẩn, hôi hám. Nghĩa là thân thể của thiên chúng thường sạch sẽ và tự nhiên thoảng ra mùi thơm, nhưng khi sắp hết phúc báo và tuổi thọ thì dơ bẩn, hôi hám. 5. Bất nhạo bản tọa: Không thích chỗ ngồi cũ. Nghĩa là chỗ ngồi của các người trời là đẹp nhất, sướng nhất, thế gian không thể sánh bằng; nhưng khi phúc báo và tuổi thọ gần hết thì thiên chúng thường chán cả chỗ ngồi của mình. Khi 5 tướng đại suy trên đây xuất hiện thì vị thiên nhân ấy sắp chết. II. Tiểu Ngũ Suy Tướng: 1. Nhạc thanh bất khởi: Tiếng nhạc không khởi. Nghĩa là âm nhạc của chư thiên không đánh tự kêu, nhưng khi tướng suy xuất hiện thì tự nhiên tiếng nhạc không khởi.2. Thân quang hốt diệt:Ánh sáng trên thân bỗng tắt. Nghĩa là ánh sáng trên thân vị trời bay (ở động Thiên Phật tại Khắc tư nhĩ)các thiên chúng vốn rực rỡ, ngày đêm soi chiếu, nhưng khi tướng suy xuất hiện thì ánh sáng ấy tự nhiên tan biến. 3. Dục thủy trước thân: Nước tắm dính thân. Nghĩa là các thiên chúng có làn da thơm ngát, tươi đẹp như hoa sen, không dính nước; nhưng khi tướng suy hiển hiện thì nước tắm đẵm thân, đọng mãi không khô.4. Trước cảnh bất xả: Đắm cảnh không bỏ. Nghĩa là dục cảnh các thiên chúng thù thắng, tự nhiên không đắm đuối, nhưng khi tướng suy xuất hiện, thì bám níu không buông bỏ. 5. Nhãn mục sác thuấn: Thường nháy mắt luôn. Nghĩa là mắt của các thiên chúng vô ngại, thấy khắp 3 nghìn thế giới, nhưng khi tướng suyhiểnhiện, thì con mắt chớp luôn.Khi 5 loại tướng tiểu suy trên đây đã hiển hiện, nhưng nếu gặp thiện căn thù thắng thì vẫn còn có khả năng xoay chuyển cơ duyên.
Thiên Nhân Sư
(s: śāstā deva-manuṣyāṇāṃ, p: satthā deva-manussānaṃ, 天人師): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Xá Đa Đề Bà Ma Nậu Xá Nam (舍多提婆魔㝹舍喃); còn gọi là Thiên Nhân Giáo Sư (天人敎師); nghĩa đức Phật là thầy dạy của chư thiên và loài người, dẫn dắt và chỉ cho biết hết thảy những điều gì nên làm và không nên làm, đâu là thiện và bất thiện; nếu có thể vâng theo lời dạy mà thực hành, không bỏ đạo pháp, có thể được báo ứng giải thoát phiền não; nên gọi là Thiên Nhân Sư. Như trong Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經, Taishō Vol. 3, No. 191) quyển 3 có đoạn rằng: “Kim thử phu nhân tất sanh Thái Tử, cụ chư tướng hảo, nhược tại vương cung tác Chuyển Luân Vương, nhược thị xuất gia tu chư Phạm hạnh, thành Chánh Đẳng Giác hiệu Thiên Nhân Sư (今此夫人必生太子、具諸相好、若在王宮作轉輪王、若是出家修諸梵行、成正等覺號天人師, nay phu nhân này sẽ sanh Thái Tử, đủ các tướng tốt, nếu ở vương cung thì làm Chuyển Luân Vương, nếu là xuất gia tu Phạm hạnh, thì thành Chánh Đẳng Giác hiệu là Thiên Nhân Sư [thầy trời người]).” Hay trong Phật Thuyết Vô Thường Kinh (佛說無常經, Taishō Vol. 17, No. 801) cũng có đoạn rằng: “Đại xả phòng phi nhẫn vô quyện, nhất tâm phương tiện chánh tuệ lực, tự lợi lợi tha tất viên mãn, cố hiệu Điều Ngự Thiên Nhân Sư (大捨防非忍無倦、一心方便正慧力、自利利他悉圓滿、故號調御天人師, xả bỏ ngừa sai nhẫn không mệt, nhất tâm phương tiện sức trí tuệ, tự lợi lợi tha đều viên mãn, nên hiệu Điều Ngự Thiên Nhân Sư).”
thiên nhân sư
Most Honoured One among human and heavenly beings, Śastā-deva-manusyānam (S), Teacher of devas and men Một trong 10 danh hiệu Phật.
; Sasta Devamanusyànàm (S). Teacher of devas and men, one of the ten epithet of a Buddha.
; Sasta Deva-manusyanam (skt)—Xá Đa Đề Bà Ma Thố Xá Nam—Xá Đa Đề Bà Ma Mâu Nam. 1) Vị giáo sư bậc thầy của trời và người: An Unequaled teacher of Humans and Heavenly beings. He reveals goodness and morality, and he is able to save. 2) Một trong các danh hiệu của Phật: One of the ten titles (epithets) of a Buddha.
; (天人師) Phạm: Zàstà deva-manuwyàịaô. Pàli: Satthà deva-manussanaô. Hán âm: Xáđa đề bà ma nâu xá nẫm. Cũng gọi Thiên nhân giáo sư. Là bậcThầy của các trời và loài người, 1 trong 10 hiệu của Như lai. Đức Phật chỉ dạy cho trời và người những việc nên làm, những việc không nên làm, điều gì là thiện, điều gì là bất thiện, nếu y theo lời chỉ dạy của Ngài mà làm thì sẽ không bỏ đạo pháp và được quả báo giải thoát khỏi các phiền não, nên gọi là Thiên nhân sư.
Thiên nhân sư 天人師
[ja] テンニンシ tenninshi ||| Teacher of gods and men; one the the ten epithets 十號 of the Buddha. => Bậc đạo sư của trời và người. Một trong 10 danh hiệu của Đức Phật.
thiên nhân trí kính nguyện
(天人致敬願) Cũng gọi Nhân thiên trí kính nguyện. Nguyện trời và người đều cung kính, là nguyện thứ 37 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Tức thệ nguyện nếu ai nghe được danh hiệu của Phật A di đà mà sinh tâm hoan hỉ thì sẽ được chư thiên và người đời tôn kính. Kinh Vô lượng thọ (bản dịch đời Ngụy) quyển thượng (Đại 12, 268 hạ) nói: Nếu tôi thành Phật mà nhân dân và chư thiên trong các thế giới của vô lượng bất khả tư nghị chư Phật ở 10 phương nghe danh hiệu của tôi, 5 thể gieo sát đất, cúi đầu lễ bái, vui mừng tin ưa, tu hạnh Bồ tát, được chư thiên và người đời thảy đều cung kính, nếu không như thế thì tôi không giữ ngôi Chính giác.
thiên nhân tán hoa thi thượng
(天人散花尸上) Người trời rải hoa lên thân cũ của mình. Cứ theo kinh Thiên tôn thuyết A dục vương thí dụ, có 1 vị người trời lúc sinh tiền là người hiếu thuận cha mẹ, trung tín thờ vua, kính phụng Tam tôn, lại thường vâng lời thầy dạy, nên sau khi chết thần thức được sinh lên cõi trời làm thiên nhân, chonên nay rải hoa để đền đáp ân đức thân cũ của mình.
thiên nhân tán hoa thân thượng
The story of a man who saw a disembodied ghost beating a corpse which he said was his body that had led him into all sins, and further on an angel stroking and scattering flowers on a corpse, which he said was the body he had just left, always his friend.
thiên nhân đạo sư
See Thiên Nhân Sư in Vietnamese-English Section.
thiên nhãn
Divine eye.
; Divyacaksus (S). The deva-eye; the first of abhijnà lục thông; one of the five classes of eyes; divine sight unlimited vision; all things are open to it, large and small, near and distant, the destiny of all beings in future rebirths.
; Divyacaksus (skt)— 1) Mắt trời hay là mắt của thiên thú, thần thông thứ nhứt. Thiên nhãn là mắt không bị giới hạn, thấy tất cả mọi thứ lớn nhỏ, xa gần, thấy tất cả chúng sanh trong tam đồ lục đạo. Thiên nhãn có thể đạt được bằng “tu đắc” qua thiền định hay “báo đắc” do tu phước mà được—Divine eyes, the first abhijna. Divine sight is unlimited vision which all things are open to it, large and small, near and distant, the destiny of all beings in future rebirths. It may be obtained among men by their human eyes through the practice of meditation, and as a reward or natural possession by those born in the deva heavens. 2) Một trong năm loại Nhãn: One of the five classes of eyes.
thiên nhãn a na luật
Divine sight of Aniruddha. • Thời Đức Phật còn tại thế, có vị Phạm Vương tên Nghiêm Tịnh, cùng với một muôn Phạm Vương khác, phóng ánh sáng trong sạch rực rỡ đến chỗ ngài A Na Luật cúi đầu lễ và hỏi, “Thưa ngài A Na Luật! Thiên nhãn của ngài thấy xa được bao nhiêu?”—At the time of the Buddha, a Brahma called 'The Gloriously Pure' together with an entourage of ten thousand devas sent off rays of light, came to Aniruddha's place, bowed their heads to salute him and asked: “How far does your deva eye see?” • A Na Luật liền đáp, 'Nhơn giả, tôi thấy cõi Tam thiên Đại thiên Thế giới của Phật Thích Ca Mâu Ni đây như thấy trái Am ma lặc trong bàn tay vậy.” Aniruddha replied: “Virtuous one, I see the land of Sakyamuni Buddha in the great chiliocosm like an amala fruit held in my hand.” • Lúc đó ông Duy Ma Cật đến nói với A Na Luật: “Thưa ngài A Na Luật! Thiên nhãn của ngài thấy đó làm ra tướng mà thấy hay là không làm ra tướng mà thấy? Nếu như làm ra tướng mà thấy thì khác gì ngũ thông của ngoại đạo? Nếu không làm ra tướng mà thấy thì là vô vi, lẽ ra không thấy chứ?”—Vimalakirti (suddenly) came and said: “Aniruddha, when your deva eye sees, does it see form or formlessness? If it sees form, you are no better than those heretics who have won five supernatural powers. If you see formlessness, your deva eye is non-active (we wei) and should be unseeing.' • Lúc ấy A Na Luật nín lặng—Aniruddha kept silent. • Các vị Phạm Thiên nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy rồi đặng chỗ chưa từng có, liền làm lễ hỏi ông rằng: “Bạch ngài ở trong đời ai là người có chơn thiên nhãn?”—And the devas praised Vimalakirti for what they had not heard before, They then paid reverence and asked him: “Is there anyone in this world who has realized the real deva eye?” • Trưởng giả Duy Ma Cật đáp: “Có Phật Thế Tôn được chơn Thiên nhãn, thường ở tam muội, thấy suốt các cõi Phật không có hai tướng.”—Vimalakirti replied: “There is the Buddha who has realized the real deva eye; He is always in the state of samadhi and sees all Buddha lands without (giving raise to) the duality (of subjective eye and objective form).”
thiên nhãn lực
The power of the celestial or deva eye, one of the ten powers of a Buddha.
; Một trong mười lực của Phật—The power of the celestial or deva eye, one of the ten powers of a Buddha.
thiên nhãn minh
Cyuty-upapada-jānasak-satkriya-vidyā (S), Cutupapataāṇa (P)Trí huệ biết các tướng trạng của sanh tửSự tri giác hiện tượng diệt sanh của chúng sinh. Đấy là tuệ giác thứ nhì mà đức Phật chứng đắắc vào canh giữa đêm thành đạo.
; One of the three enlightenments tam minh, or clear vision of the saints, which enables him to know the future rebirths of himselfand all beings.
; Thiên nhãn của một vị Thánh, khiến vị nầy có thể thấy được những kiếp tái sanh của chính mình và chúng sanh, đây là một trong tam minh—Clear vision of the saint, or supernatural insight which enables him to know the future rebirths of himself and all beings (future mortal conditions), one of the three enlightenments.
; (天眼明) Phạm:Cyuty-upapàda-jĩàna-sàkwàtkriya-vidya. Cũng gọi Sinh tử trí chứng minh, Tử sinh trí minh, Thiên nhãn trí. Chỉ cho trí tuệ sáng suốt, biết rõ tướng trạng của sự sống chết, là 1 trong 3 trí sáng của bậc A la hán chứng được. Tức đối với lúc tử lúc sinh, thiện sắc ác sắc, thượng sắc hạ sắc của tất cả chúng sinh đều rõ biết, đồng thời biết rõ chúng sinh do 3 nghiệp thân, khẩu, ý mà có hạnh thiện, hạnh ác, do nhân duyên chính pháp hoặc tà pháp mà sau khi chết sẽ sinh vào đường lành hay đường ác. Theo luận Đại tì bà sa quyển 102 thì Thiên nhãn minh thấy suốt các việc vị lai mà sinh tâm chán lìa, có năng lực dứt trừ đoạn kiến, đưa đến cửa Vô nguyện giải thoát.
thiên nhãn thiên
Deva who has thousand eyes
thiên nhãn thiên tí quán thế âm bồ tát đà la ni thần chú kinh
(千眼千臂觀世音菩薩陀羅尼神咒經) Kinh, 2 quyển, do ngài Trí thông dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung nói về pháp ấn chú của bồ tát Thiên thủ Quán âm và cách lập đàn. Trước hết nói về bồ tát Quán thế âm đem lòng đại bi vì các chúng sinh bạc phúc ở 500 năm sau, nói về pháp môn Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm đà la ni mà Ngài đã thụ trì trong vô lượng kiếp quá khứ; kế đến nêu 12 ấn như ấn Tổng nhiếp thân... và các pháp tu trì, 13 pháp ấn chú. Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát mỗ đà la ni thân, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch là bản dịch khác của kinh này.
thiên nhãn thông
Dibbacakkhu (P), Divyacakṣu (S), Devine hearing, Divya-cakṣus-jāna-saksatkriya-bhijā (S)Thấy mọi vật trong vũ trụ không kễ xa gần. Trong lục thông gồm: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thôngNăng lực thần thông thấy rõ các cõi Xem thần thông.
; Diviyacaksu (S)Divine eye.
; 1) Có khả năng thấy được những diễn biến từ xa, cũng như thấy được luân hồi sanh tử của chúng sanh—Celestial (Divine) Eye—Can see death and rebirth—Power to see anywhere any time—The eye with which we can see very distant things—Ability to see things and events at great distance—Ability to see the births and deaths of sentient beings everywhere. 2) Mắt của những người thực tập thôi miên: The vision of those who practice hypnotism.
; (天眼通) Phạm: Divya-cakwur-jĩànasàksàtkriyàbhijĩà. Cũng gọi Thiên nhãn trí thông, Thiên nhãn thông chứng, Thiên nhãn trí chứng thông. Năng lực thần thông dùng thiên nhãn (mắt trời)chiếu soi rõ sắc xứ của cõi Dục và cõi Sắc, 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 141 và luận Đại trí độ quyển 5 thì dùng 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ nương mà chứng được nhãn căn tịnh sắc do 4 đại chủng của cõi Sắc tạo ra, gọi là Thiên nhãn. Vì nhãn căn này có năng lực soi thấy các vật xa gần, thô tế... của tự địa và trong 6 đường của hạ địa, cho nên gọilàThiên nhãn thông, lấytuệ tương ứng với nhãn thức làm thể, tính nó vô kí, thuộc vềtríthế tục hữu lậu trong 10 trí. Thiên nhãn có 2 loại là Tu đắc và Báo đắc.Ởcõi người, nhờ tu 4 thiền định mà được tịnh nhãn, gọi là Tu đắc; còn chư thiên sinh về cõi sắc mà tự được tịnh nhãn thì gọi là Báo đắc. Thiên nhãn trong Ngũ thông chỉ do Tu đắc, còn Thiên nhãn trong Ngũ nhãn thì chung cho cả Tu đắc và Báo đắc. Ngoài ra, Thiên nhãn thông còn có năng lực dẫn phát sinh tử trí; Thiên nhãn thông và Sinh tử trí cùng biết rõ trạng huống chết đây sinh kia của hữu tình nên cũng gọi là Tử sinh trí chứng (Phạm: Cyuty-upapatti-jĩànàbhijĩà), gọi tắt là Tử sinh trí thông.
Thiên nhãn thông 天眼通
[ja] テンゲンツウ tengentsū ||| The supernatural power of divine vision (divyaṃ-cakṣus), with which the buddhas are able to hear all the words of suffering and joy experienced by living beings in the six destinies. See . => Năng lực thần thông của thiên nhãn (s: divyaṃ-cakṣus), qua đó, Đức Phật nghe được mọi âm thanh khổ vui của toàn thể chúng sinh trong lục đạo. Xem Lục thần thông六神通.
thiên nhãn trí
The wisdom obtained by the deava eye.
; The wisdom obtained by the deva eye.
thiên nhãn trí chứng thông
The complete universal knowledge and assurance of the deva eye.
; Theo Câu Xá Luận, lục thông đều lấy trí làm thể, làm lực dụng chứng tri sự phân biệt và thông đạt vô ngại. Thiên nhãn trí chứng thông là dựa vào trí tuệ được khởi lên bởi thiên nhãn—According to the Kosa sastra, the wisdom or knowledge that can see things as they really are is the complete universal knowledge and assurance of the deva eye.
thiên nhãn trí thông nguyện
The sixth of Amitàbha's forty eight vows, that he would not enter the final stage until all beings had obtained this divine vision.
; Lời nguyện thứ sáu trong 48 lời nguyện của Phật A Di Đà, ngài sẽ chẳng thành Phật cho đến khi nào pháp giới chúng sanh đều đạt được thiên nhãn—The sixth of Amitabha's forty-eight vows, that he would not enter the final stage until all beings had obtained this divine vision.
Thiên nhãn đệ nhất 天眼第一
[ja]テンゲンダイイチ tengendaiichi ||| Most eminent in terms of possession of the divine eye. A name given to Śākyamuni's disciple Aniruddha 阿那律. => Người lỗi lạc nhất có thiên nhãn. Danh hiệu để gọi A-na-luật (s: Aniruddha 阿那律), đệ tử của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni
Thiên nhãn 千眼
[ja]センゲン sengen ||| Thousand eyes. A name of Śakra Devānām-indra. See . => Ngàn mắt. Tên của Thích đề hoàn nhân; s: Śakra Devānām-indra. Xem Đế thích thiên帝釋天.
Thiên nhãn 天眼
[ja] テンゲン tengen ||| "Heavenly vision." or "spiritual eyes." Visual power that is unobstructed by physical matter. The second of the five levels of vision 五眼 (wuyuan) (divya-cakṣus). => Tầm nhìn không bị ngăn ngại bởi những yếu tố vật lý. Món thứ hai trong Ngũ nhãn (五眼c: wuyuan; s: divya-cakṣus). Thiện nhân 善人 [ja] ゼンジン zenjin ||| A good person. When the rebirth into a human body is noted as one of the "six (or five) destinies," it is usually meant as indicative of a predominance of good karma, and is thus, relative to the three lower rebirths, a positive reward. => Người tốt. Khi tái sinh làm thân người, được kể là sinh vào 1 trong “sáu (hoặc 5) đường”. thường có nghĩa ngụ ý biểu hiện thiện nghiệp, và như thế, có liên quan ớngự tái sinh trong ba đường thấp kém, biểu hiện cho nghiệp bất thiện.
thiên nhĩ
Divyasrotra (S). Deva ear, divine ear; celestial ear.
; (天耳) Tai trời. Tức các người trời ở cõi Sắc lấy 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ nương, được nhĩ căn tịnh sắc do 4 đại chủng cõi Sắc tạo thành, gọi là Thiên nhĩ. Thiên nhĩ có năng lực nghe được tất cả âm thanh của người, của phi nhân, xa gần, thô tế...
thiên nhĩ thông
Dibbasota (P), Dibbasotam (P), Divine ears, Divyaśrotra (S), Divya-śrotra-jāna-saksatkriyabhijā (S)Nghe mọi thứ tiếng trong vũ trụ bất kễ xa gần. Trong lục thông gồm: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thông.
; The second of the abhijnàs lục thông, by which devas in the form-world, certain arhats through the fourth dhyàna, and others can hear all sounds and understand all languages in the realm of form, with resulting wisdom.
; Divyasrotra (skt)—Một trong lục thông, nghe và hiểu mọi ngôn ngữ—The Divine (Celestial—Deva) Ear—Supernatural or transcendental hearing—Power to hear and understand all languages—One of the six miraculous powers—Ability to hear the sounds of human and nonhumans, distant and near sounds.
; (天耳通) Phạm: Divya-zrotra-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà. Cũng gọi Thiên nhĩ trí thông, Thiên nhĩ trí chứng thông, Thiên nhĩ thông chứng. Chỉ cho năng lực thần thông dùng Thiên nhĩ duyên theo thanh xứ của cõi Dục và cõi Sắc, 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Cứ theo luận Tập dị môn túc quyển 15 và luận Đại trí độ quyển 5 thì lấy 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ y cứ mà được nhĩ căn tịnh sắc do 4 đại chủng cõi Sắc tạo ra, gọi là Thiên nhĩ. Vì Thiên nhĩ này có năng lực nghe được tiếng trời, tiếng người, tiếng phi nhân và tất cả âm thanh xa gần... của tự địa và hạ địa, cho nên gọi là Thiên nhĩ thông, vốn lấy tuệ tương ứng với nhĩ thức làm thể, tính nó vô kí, thuộc về trí thế tục hữu lậu trong 10 trí. Thiên nhĩ thông có 2 loại là Tu đắc và Báo đắc, nếu ở cõi người tu 4 thiền định, nhờ định lực phát được 4 đại tạo sắc thanh tịnh của cõi Sắc mà có tác dụng Thiên nhĩ thì gọi là Tu đắc; còn quả báo nhờ sinh vào Tứ thiền thiên mà được thì gọi là Báo đắc.
thiên nhĩ trí
Divya-śrotra-bhijā (S)
; (天耳智) Phạm:Divya-zrotra-bhijĩà. Đồng nghĩa: Thiên nhĩ thông. Chỉ cho Thiên nhĩ vàtrí tuệ tương ứng với thức.
thiên nhĩ trí chứng thông
The complete universal knowledge and assurance of the deva ear.
; See Thiên Nhĩ Trí Thông.
thiên nhĩ trí thông
Thần thông thứ nhì trong lục thông, có khả năng nghe và hiểu tiếng nói trong sắc giới—The second of the six abhijnas (lục thông) by which devas in the form-world, certain arhats through the fourth dhyana, and others can hear all sounds and understand all languages in the realms of form, with resulting wisdom.
thiên nhĩ trí thông nguyện
The seventh of the forty eight vows of Amitàbha, not to become Buddha until all obtained the divine ear.
; Lời nguyện thứ bảy trong bốn mươi tám lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, nguyện chẳng thành Phật cho đến khi nào tất cả chúng sanh đều có được Thiên Nhĩ Thông—The seventh of the forty-eight vows of Amitabha, not to become Buddha until all obtain the divine ear.
thiên nhơn sư
Một trong 10 danh hiệu của đức Phật, nghĩa là Bậc thầy của cõi trời và người.
thiên nhơn viên
Ṛṣipatana (S), Isipatana (P)Lộc uyển, Lộc dã viên, Chư thiên đoạ xứ1- Vườn cây của các vị tiên. 2- Gần thành Ba la nại (Benares), nay là Sarnath, có một khu vườn gọi là Thiên nhơn viên vì có các vị tiên thường đến tu hành, trong vườn có nhiều hươu nên còn gọi là Lộc uyển hay Lộc dã viên, là nơi Đức Phật giảng kinh Chuyển pháp luân.
Thiên Như Duy Tắc
(天如惟則, Tenjo Isoku, ?-1354): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Thiên Như (天如), người vùng Vĩnh Tân (永新), Cát An (吉安, Tỉnh Giang Tây), họ Đàm (譚). Lúc nhỏ ông lên Hương Sơn (香山), xuống tóc xuất gia, rồi đến tham học với Trung Phong Minh Bổn (中峰明本) ở Thiên Mục Sơn (天目山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông dừng chân trú tại Sư Tử Lâm (師子林) ngoài Thành Cô Tô (姑蘇城), Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô) và cổ xướng Thiền phong của mình. Ông có bộ Sư Tử Lâm Thiên Như Hòa Thượng Ngữ Lục (師子林天如和尚語錄) 9 quyển, và được ban tặng hiệu là Phật Tâm Phổ Tế Văn Huệ Đại Biện Thiền Sư (佛心普濟文慧大辨禪師). Vào năm thứ 14 niên hiệu Chí Chánh (至正), ông thị tịch. Trong Tịnh Độ Đàm Chung (淨土曇鐘) 10 có thâu lục các tác phẩm của ông như Lăng Già Kinh Viên Thông Sớ (楞伽經圓通疏), Thiền Tông Ngữ Lục (禪宗語錄), Tịnh Độ Hoặc Vấn (淨土或問), Thập Pháp Giới Đồ Thuyết (十法界圖說), v.v.
thiên như duy tắc
Tien ju Wei tse (C)Tên một vị sư.
thiên như thị
(千如是) Nghìn như thế, là tiếngtôngThiên thai sử dụng để lập số mục 3000 dung nhiếp tất cả các pháp. Tông Thiên thai thu nhiếp tất cả các pháp, từ cõi Phật đến cõi địa ngục, cộng chung là 10 cõi, tính của mỗi cõi có đủ 10 cõi, nhân với nhau thành 100 cõi; mỗi một cõi trong 100 cõi đều có 10 như thị: Tướng, Tính, Thể, Lực, Tác, Nhân, Duyên, Quả, Báo và Cứu cánh bản mạt, cho nên gọi Thiên như thị. Lại nhân 1000 như thị này với 3 thế gian thì thành 3000, là con số thực tướng của các pháp do tông Thiên thai lập ra. Tuy nhiên, 100 cõi, 1000 như hoàn toàn không phải là số lượng cố định, bởi vì thực lí thì mỗi mỗi đều đầy đủ vô lượng các pháp, cho nên 100 hay 1000 chính là hiển bày rốt ráo vô số, vô lượng. Lại vì 10 như thị có thể dùng Tam chuyển độc để hiển bày sự chứng ngộ viên lí của Tam đế, còn 100 hay 1000 như thị chính là thực tướng tam đế, vì thế cũng có thể biểu thị lí Tam đế viên dung.
thiên nhạc
Heavenly music, the music of the inhabitants of the heavens.
; 1) Nhạc trời hay nhạc của chư Thiên—Heavenly (Celestial) music—The music of the inhabitants of the heavens. 2) Một trong ba thứ hỷ lạc của chư Thiên: One of the three “joys” of that of those in the heavens.
thiên nhật nghệ
(千日詣) Cũng gọi Thiên nhật tham. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tức trong khoảng 1000 ngày liên tục đến các thần xã, chùa viện tham bái cầu nguyện. Tương truyền, phong tục này thịnh hành từ cuối thời kì Bình an ở Nhật bản.Đến đời sau, nếu đối với những ngày qui định đặc biệt nào mà đi tham bái thì cũng có công đức của mộtnghìn ngày tham bái. Những ngày đặc định ấy tức cũng gọi là Thiên nhật nghệ. Như ngày mùng 10 tháng 7 là Thiên nhật nghệ của chùa Thanh thủy, ngày 24 tháng 6 là Thiên nhật nghệ của thần xãÁi đãng...
Thiên nhị bách ngũ thập nhân
(千二百五十人): tức là 1.250 người. Đây là số lượng chúng đệ tử thường đi theo đức Phật. Trong số đó, có các đệ tử của ba vị Ca Diếp: 500 người của Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (s: Uruvilvā-kāśyapa, p: Uruvela-kassapa, 優樓頻螺迦葉), 250 người của Ca Da Ca Diếp (s: Gayā-kāśyapa, 伽耶迦葉), 250 người của Na Đề Ca Diếp (s: Nadī-kāśyapa, p: Nadī-kassapa, 那提迦葉); cọng thêm 200 người đồ chúng đồng môn của Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連); và 50 người đệ tử của Da Xá (s: Yaśa, Yaśoda, 耶舍), tổng cọng là 1.250 người. Tất cả đều một dạ chí thành theo Phật hầu hạ, nghe pháp, tu tập, làm Phật sự, tận lực suốt đời, thường xuyên bên Ngài, cho đến khi Ngài nhập diệt mới phân tán.
thiên nhị bách ngũ thập nhân
(千二百五十人) Chỉ cho 1250 người, gồm 50 người đồng bạn của con Trưởng giả Da xá, 500 thầy Trò Ưu lâu tần loa ca diếp, 250 thầy trò Na đề ca diếp, 250 thầy trò Già da ca diếp, 100 thầy trò Xá lợi phất và 100 thầy trò Đại mục kiền liên, tổng cộng 1250 người. Một nghìn hai trăm năm mươi vị này trước thờ ngoại đạo, siêng năng khổ tu trong nhiều kiếp mà không chứng ngộ, sau được Phật hóa độ liền được chứng quả, do thâm cảm ân đức của Phật, nên trong pháp hội nào 1250 vị này cũng tham dự không bỏ, gọi là Thường tùy chúng, cho nên ở đầu các kinh liệt kê thính chúng đều nêu 1250 vị.
thiên ninh tự
Tien ning (C)Tên một ngôi chùa.
; (天寧寺) Chùa ở ngoài cửa Quảng an, ngoại thành Bắc Bình, được xây dựng vào thời Hiếu văn đế (ở ngôi 471-499) nhà Bắc Ngụy, bấy giờ gọi là chùa Quang lâm, sau mấy năm thì đổi tên. Đến đời vua Thành tổ nhà Minh, qui mô chùa được mở rộng và vào năm Tuyên đức thứ 10 (1435), chùa được đổi tên là chùa Thiên ninh. Năm Chính thống thứ 10 (1445), Giới đàn được thiết lập, gọi là Quảng thiện giới đàn, thỉnh 10 vịĐại đức làm Tông sư; hằng năm vào hạ tuần tháng 4, nhóm tập tăng đồ thụ giới thuyết pháp, gọi là Viên giới, theo truyền thuyết, đương thời tu tập tăng ni tới gần 1 vạn vị. Các điện đường ở chùa này lấy ngôi tháp gạch làm trung tâm, tháp hình bát giác, gồm 13 tầng, cao hơn 600 mét, thân tháp được xây trên 2 lớp nền, có điêu khắc tinh xảo, thân tháp từ lớp thứ 2 trở lên hơi thấp. Bên trong tháp có tôn trí hơn 2 nghìn pho tượng Phật. Ngoài ra, chùa này còn giữ được quả chuông đồng đúc vào năm Gia tĩnh thứ 4 (1525), xứng đáng được gọi là tác phẩm đại biểu của đời Minh.
thiên nữ
Devī (S), Goddess Nữ thiênNam gọi là Deva.
; Devakanyà, apsaras (S). Goddess in general.
; Devakanya or Apsaras (skt)—Goddess—Female deity—Attendants on the regents of the sun and the moon—Wives of Gandharvas.
; (天女) Phạm: Devakanyà. Hán âm: Nệ phạ ca nhĩ. Chỉ cho người nữ ở các tầng trời cõi Dục. Những người trời từ cõi Sắc trở lên không có dâm dục, cho nên cũng không có tướng nam nữ.
thiên nữ biện tài
Sarasvati (S).
thiên nữ hình
(天女形) Chỉ cho tượng Bồ tát và chư thiên có nét mặt từ bi, dáng dấp xinh đẹp của nữ tính(Như Biện tài thiên, Cát tường thiên).
thiên nữ tán hoa
(天女散華) Thiên nữ rải hoa. Cứ theo phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duyma thì Thiên nữ rải hoa lên thân các Bồ tát và ngài Xá lợi phất... nhưng vì ngài Xá lợi phất vẫn chưa dứt hết tưởng phân biệt nên hoa dính thân, còn các vị Bồ tát thì không bị dính.
thiên pháp minh môn
(千法明門) Minh môn là tên khác của trí tuệ, trí tuệ thông suốt nghìn pháp, gọi là Thiên pháp minh môn, là pháp tu của Bồ tát Đệ nhị địa. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 837 thượng) nói:Bồ tát ma ha tát trụ ở nghìn cõi Phật, làm vua cõi trờiĐao lợi, tu Thiên pháp minh môn, giảng nói 10 điều lành, giáo hóa tất cả chúng sinh.
thiên phú
Inborn—Innate—Connate.
thiên phúc luân tướng
(千輻輪相 ) Cũng gọi Túc hạ luân tướng (Pàli: Hetthà pàda-talesu cakkàni jàtàni), Túc hạ thiên bức luân tướng, Thường hiện thiên bức luân tướng, Song túc hạ hiện thiên bức luân võng cốc chúng tướng. Chỉ cho tướng quí có hình bánh xe nghìn nan hoa do các đường vân hiện thành dưới lòng bàn chân của Phật, là 1 trong 32 tướng của đức Phật. Tướng này rất vi diệu, nếu chẳng phải là bậc Thiên tử có phúc nghiệp thù thắng thì không thể có được. Nghiệp nhân cảm được tướng này là do thuở xưa đức Phật đã vì cha mẹ, sư trưởng, bạn lành cho đến tất cả chúng sinh bôn tẩu ngược xuôi mà làm các việc cúng dường, bố thí. Tướng này không những chỉ hiện ở dưới bàn chân mà còn thấy ở trong 2 bàn tay của Phật. Thiên bức luân tướng là tượng trưng cho việc đức Phật chuyển bánh xe pháp, hiện dưới lòng bàn chân là biểu thị việc đức Phật du hành các nơi thuyết pháp giáo hóa; lúc Phật quay bánh xe pháp thì ấn Chuyển pháp luân hiện trên bàn tay, dùng để chỉ rõ các sự vật; hiện ở răng thì biểu thị cho giáo lí đức Phật tuyên thuyết.
thiên phúc tự
Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong phường Khương Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Chùa còn có tên là Sùng Phúc Tự hay chùa Bộc. Chùa được xây dựng từ rất lâu, là nơi thanh vắng, giữa rừng tĩnh mịch. Đời vua Lê Hy Tông, năm 1676, có vị Tăng tên Trương Trung Bá cùng với nhân dân trong vùng đứng lên xây lại chùa sau khi bị chiến tranh tàn phá. Chùa lại được trùng tu vào năm 1792, năm Quang Trung năm thứ tư, và được đổi tên là Thiên Phúc. Trước năm 1945, Hòa Thượng Chính Công đã khai trường thuyết pháp, đa phần Tăng Ni tài giỏi đều xuất thân từ chùa nầy—Name of an ancient temple, located in Khương Thượng quarter, Đống Đa district, Hanoi City, North Vietnam. It is also called Sùng Phúc Tự, or Chùa Bộc. It was built a long time ago in a beautiful, deserted place in the middle of an iron-wood forest (exythrophloeum fordii). In the Lê Hy Tông dynasty, in 1676, Ch'an Master Trương Trung Bá and local people rebuilt the temple that was damaged by the war. It was rebuilt again in 1792, the fourth Quang Trung year and renamed Thiên Phúc Temple. Before 1945, Most Venerable Chính Công was Head of the temple. He organized a school to propagate the Buddha's Dharma in decades. Lots of monks and nuns were students of this school.
; (千福寺) Ngôi chùa cổ nằm ở phường An định, huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây. Năm Hàm hanh thứ 4 (673), Thái tử Chương hoài sửa dinh thự của mình thành chùa, thỉnh ngài Hoài cảm làm Trụ trì, người từ khắp nơi đến cầu học mỗi ngày một đông. Vào cuối năm Khai nguyên, ngài Sở kim trụ trì chùa này. Một hôm, ngài tụng kinh Pháp hoa, lúc đến phẩm Bảo tháp thì chợt thấy tháp báu hiển hiện, ngài bèn tọa thiền trong 6 năm phát nguyện xây tháp. Vua tự tay viết 3 chữ Đa Bảo Tháp trên tấm biển hiệu, đồng thời ban cho tơ lụa. Năm Thiên bảo thứ 3 (744) bắt đầu xây tháp, tập họp các vị Đại đức ở dưới tháp tu Tam muội Pháp hoa. Bấy giờ, ngài Phi tích vâng sắc từ thảo đường ở núi Chung nam dời đến trụ ở đạo tràng Pháp hoa của chùa này, trước sau 30 năm. Năm Thượng nguyên thứ 2 (761), vua Túc tông thỉnh ngài Tuệ trung đến cung đình, lễ tôn ngài làm thầy và thỉnh ngài trụ ở viện Tây thiền chùa này. Tháng 4 niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (766), các ngài Pháp tông, Phi tích ở chùa này cùng tham dự việc dịch kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã do Tam tạng Bất không chủ trì. Về sau, thời vua Hiến tông, ngài Vân thúy vâng sắc làm Thượng tọa, nhờ sự chấn chỉnh của ngài mà kỉ cương được trang nghiêm. Trong thời gian Pháp nạn Hội xương, chùa bị hủy hoại. Đến năm Đại trung thứ 6 (852) đời vua Tuyên tông, chùa được phục hưng và đổi tên là chùa Hưng nguyên. Về sau, lại dần dần suy vi và cuối cùng bị hoang phế hoàn toàn.
thiên phật
Buddha-sahasra (S).
; (千佛) Chỉ cho 1000 đức Phật cùng xuất hiện trong một thời kì. Phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 54 hạ) nói: Công đức của ông dù có nghìn Phật (thiên Phật (Phạm: Buddha-sahasra) cùng nói cũng không thể hết được. Một số bản chép tay bằng tiếng Phạm cho rằng Buddha-zata-sahasra là nguyên ngữ của Thiên Phật,nghĩa là trăm ghìn vị Phật. Trong bản dịch của Tây tạng có 2 chỗ đều ghi là Saís-rgyyas brgya-stoí, cũng chỉ cho trăm nghìn vị Phật. Tuy nhiên, theo nguyên ý trong kinh thì Thiên Phật là chỉ cho 1000 đức Phật kiếp Hiền. Về Thiên Phật thì có Thiên Phật kiếp Hiền như Phật Câu lưu tôn... nối tiếp nhau từ quá khứ, hiện tại cho đến vị lai; lại có Thiên Phật kiếp trang nghiêm thời quá khứ như Phật Hoa quang và Thiên Phật kiếp Tinh tú thời vị lai như Phật Nhật quang..., trong các kinh Phật danh đều có liệt kê danh hiệu của các Ngài.
thiên phật sơn
(千佛山) Núi nằm về phía nam thành Tế nam, tỉnh Sơn đông.Vì trên vách núi có tạc 1000 tượng Phật lớn nhỏ nên gọi là Thiên Phật sơn. Tên cũ vốn là Lịch sơn, tương truyền thủa xưa vua Ngu thuấn từng cày cấy ở đây, cho nên còn gọi là núi Thuấn canh. Ởlưng chừng núi có nhiều miếu, am, khoảng giữa có đình đài, từ đây, trông xa xa là dòng sông Hoàng, nhìn xuống là tỉnh thành, là một trong những thắng cảnh ở địa phương. Khoảng năm Khai hoàng, vua Văn đế nhà Tùy bắt đầu đục mở hang đá trên núi, khắc tạo hơn 1000 pho tượng Phật, trải hơn nghìn năm, các pho tượng Bức vẽ khung trang trí lọng tròn ở hang số 2 mới của động Thiên Phật ở Thố mộc khổ lạt Động Thiên Phật ở Khố tư ca cáp Quần thể tượng Phật trên Thiên Phật sơn phần nhiều đã bị nắng mưa, sương gió xói mòn, chỉ còn vài mươi pho trong chùa trên sườn núi cheo leo, bộ diện chỉ còn lờ mờ khó phân biệt được. Trên sườn Hoàng thạch của núi Thiên Phật, vài nơi còn những pho tượng đá khắc tạo vào thời Bắc Ngụy và 1 pho tượng Phật rất lớn được tạo lập vào đời Đường, rất cóýnghĩa lịch sử và giá trị nghệ thuật.
thiên phật động
(千佛洞) I. Thiên Phật Động. Ở chân núi Minh sa phía đông nam huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, có ngôi chùa Tam giới (gồm 3 chùa Thượng, Trung, Hạ); phía bên phải chùa có rất nhiều hang đá mà xưa gọi là hang Mạc cao, người đời thì gọi là Thiên Phật động. Tương truyền những hang động này được bắt đầu đục mở vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Phù Tần, là những hang động xưa nhất hiện còn. Nhưng niên đại đục mở những hang động này có lẽ là vào đời Bắc Lương (đầu thế kỉ V). Từ đó về sau, trải qua các đời Bắc Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu, Tùy, Đường, Ngũ đại, Tống, Tây hạ, cho đến đời Nguyên nối nhau khai tạc không dừng; số hang động được bảo tồn đến nay tổng cộng có 492 hang. Trong đó, những bích họa chiếm tổng diện tích hơn 45.000 m2, có hơn 2.400 pho tượng đắp, sơn màu. Đề tài toàn bộ bích họa chia làm 2 loại lớn là sự tích trong kinh Phật và tượng Phật, đồng thời miêu tả tình hình sinh hoạt như cày cấy, hôn lễ, tang lễ, thuốc thang, bói toán... phản ánh phần nào các sinh hoạt xã hội của Trung quốc từ các thế kỉ V, VI, cho đến thế kỉ XIV và tình hình phát triển nghệ thuật tạo hình qua các thời đại. Năm Quang tự 26 (1900) đời Thanh, ngườita dự định sửa chữa lại, nhưng khi quét dọn sỏi đá thì phát hiện1hang đá, bên trong cất chứa sách vở, bia đá và rất nhiều tác phẩm mĩ thuật khác, trong đó có khá nhiều kinh Phật và phần lớnlàcác bản chép tay của người đời Đường, là những thứ được cất giữ ở đây trong thời chiến tranh với quân Tây Hạ. Năm Quang tự 33 (1907), Sử thản nhân (M. Aurel Stein) người Anh đến nơi đây sưu tập hơn 30 hòm(rương), các bản chép tay, tranh vẽ, nghệ phẩm thêu... mang về trưng bày ở bảo tàng viện Luân đôn nước Anh.Sau đó, Bá hi hòa (P.Pelliot) người Pháp lại tiếp tục lấy lén hơn 1000 quyển kinh sách đem về trưng bày ở thư viện Quốc gia tại Paris nước Pháp. Mãi đến năm Dân quốc 19 (1930), chính phủ Trung quốc mới biết việc này, nên đến tìm kiếm, lượm lặt cácvật còn sót lại đem về lưu giữ tại thư viện ở Bắc kinh, nhưng những vật quí tốt thì đã bị mất gần hết. Trong các sách vở, kinh điển và bia đá tìm được, về phương diện tông giáo thì có Phật giáo, Đạo giáo, Ma ni giáo, Cảnh giáo...; về mặt văn tựthì có chữ Hán, chữ Pháp lô, chữ Hồi cốt, chữ Khang cư, chữ Hòa điền xưa, chữ Cưu tư, chữ Tây tạng... Còn về nội dung thì trên từ kinh sử chính điển, dưới đến tiểu thuyết bình dân, ca khúc, điệu nhạc dân gian... đủ các loại. Đây chẳng những là kho báu của nghệ thuật Phật giáo với qui mô lớn nhất trên thế giới hiện còn, mà cũng là kho tàng quí giá của văn hóa Trung quốc. (xt. ĐônHoàng ThạchQuật). II. Thiên Phật Động. Chỉ cho động Thạch kinh ở núi Thạch kinh tại huyện Phòng sơn thuộc tỉnh Hà bắc, Trung quốc, cũng gọi là Thiên Phật động. III. Thiên Phật Động. Cũng gọi Khắc tư nhĩ thiên Phật động. Chỉ cho động Thiên Phật ở nước Cưu tư, nằm về phía đông cách huyện Bái thành, tỉnh Tân cương 50km. Chiều dài của động này từ đông sang tây 2km, tất cả gồm có 3 quần thể hang đá với hơn 200 hang động, được đục mở từ thế kỉ IV đến thế kỉ VIII, IX. Trong các hang đá ở đây thì các hang hình chữ nhật chiếm đa số và được tạo lập .Một góc của hang đá Mạc cao tại Đôn hoàng Bích họa đời Đường ở Đôn hoàng vẽ cảnh xuống tóc xuất gia theo kiểu Chi đề (Phạm:Caitya) ở Ấn độ. Tượng Phật phần nhiều là tượng đắp, sắc thái của các bức bích họa rất tươi đẹp với các màu chính là hồng, vàng, trắng, xanh lục, lam tươi. Nội dung bích họa, ngoài chủ đề Phật giáo còn xen lẫn hình thái nhân vật, phong tục, trang sức, hoa văn... của thế tục, phần lớn chịu ảnh hưởng phong cách bích họa của Kiện đà la thuộc Ấn độ, của Hy lạp, Ba tư tát tang... Bích họa lấy Phật giáo làm chủ đề thì phần nhiều dùng truyện tích Phật và tranh bản sinh làm trọng điểm, như tranh thuyết pháp, tranh niết bàn, tranh trà tì, tranh chia xá lợi, tranh bản sinh Đăng minh vương và tranh xả thân cho cọp ăn... IV. Thiên Phật Động. Chỉ cho động Thiên Phật ở Bối sa khắc lỗ khắc tại Thổ lỗ phiên, được đục mở trên sườn núi bên bờ tây sông Mộc đầu câu chảy qua chân núi Hỏa diệm. Những hang động ở đây gồm có 57 hang, phần lớn được đục mở vào các thế kỉ IX, X; về hình thức thì phần nhiều mô phỏng kiểu hang động hình vuông và hình chữ nhật của Cưu Tư. Về bích họa thì quá nửa vẽ tranh thệ nguyện thụ kí và các loại tranh biến tướng. Ngoài ra còn có các bích họa của dòng quí tộc Duy ngô nhi sống với hạnh cúng dường, Thánh giả Ma ni giáo, tín đồ Cảnh giao. Nội dung rất giàu tính biến hóa, thường gọi chung là kiểu Hồi hột, rất có giá trị nghệ thuật. V. Thiên Phật Động. Chỉ cho động Thiên Phật ở Khố mộc thổ lạt gần Khố xa, nổi tiếng ngang với các hang động ở Cưu Tư, có khoảng 100 tự viện thạch quật, trong đó phần lớn là hang hình vuông được đục mở vào thế kỉ VII, Tranh Phi thiên tấu nhạc trong hang thứ 8 của động Thiên Phật tại Cưu tư Động Thiên Phật ở Bối sa khắc lỗ khắc Bích họa vẽ thệ nguyện thụ kí ở Bối sa khắc lỗ khắc trên trần nóc hang được trang sức bằng chiếc lọng tròn dáng lông cánh chim công đặc biệt ở Khố xa. Chung quanh có hàng tượng Bồ tát mô phỏng tượng đắp ở Ấn độ. Tượng Phật trong hang động phần nhiều theo kiểu tượng Trung quốc, xiêm y nhẹ nhàng phơi phới, tư thái tự nhiên, biểu hiện đầy đủ đường nét tinh vi của các bức họa đời Đường. Về chủ đề bích họa thì có tranh biến tướng của kinh, tranh sơn thủy kiểu Trung quốc, nhất là động Niết bàn, động Phi thiên và động chim cánh vàng, rất có tính đại biểu. Niên đại tạocác bích họa kiểu Trung quốc, theo thứ tự là năm Khai nguyên 15 (727) đời vua Huyền tông nhà Đường, năm Hội xương thứ 3 (843) đời vua Vũ tông và niên hiệuCàn ninh năm đầu (894) đời vua Chiêu tông. Ngoài ra còn có Tân tân Thiên Phật động ở phía đông Khố xa và Khố tư ca cáp Thiên Phật động(có khoảng 40 hang) ở phía bắc Khố xa. Các bích họa và tượng đắp ở đây phần nhiều có phong cách Tây vực và Trung quốc.
Thiên Quan
(天官): tên gọi của một trong ba vị Tam Quan Đại Đế (三官大帝), tức Thiên Quan Đại Đế (天官大帝), còn gọi là Thượng Nguyên Tứ Phước Thiên Quan Nhất Phẩm Tử Vi Đại Đế (上元賜福天官一品紫微大帝), và hai vị kia là Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế (中元赦罪地官二品清虛大帝), Hạ Nguyên Giải Ách Thủy Quan Tam Phẩm Động Âm Đại Đế (下元解厄水官三品洞陰大帝). Từ thời Thượng Cổ, tại Trung Quốc đã có nghi lễ tế trời, đất và nước rồi. Ba vị Đại Đế này được thần cách hóa chỉ dưới Ngọc Hoàng Thượng Đế (玉皇上帝) một bậc, chuyên chưởng quản việc phước lộc, tội ác và giải trừ tai ách của con người. Trong dân gian vẫn truyền tụng rằng: “Thiên Quan hảo lạc, Địa Quan hảo nhân, Thủy Quan hảo đăng (天官好樂、地官好人、水官好燈, Thiên Quan thích vui, Địa Quan thích người, Thủy Quan thích đèn).” Thượng Nguyên (上元, rằm tháng giêng), Trung Nguyên (中元, rằm tháng bảy) và Hạ Nguyên (下元, rằm tháng mười) là ba ngày tế hội của ba vị Đại Đế này. Thiên Quan Đại Đế lệ thuộc vào Ngọc Thanh Cảnh (玉清境), do 3 khí xanh, vàng, trắng mà kết hợp thành, tổng chủ quản các đế vương trên trời. Mỗi năm vào ngày rằm tháng giêng, vị này thường giáng phàm xem xét tội phước của con người, nên có tên là Thiên Quan Tứ Phước (天官賜福, Quan Trời Ban Phước). Có nhiều truyền thuyết khác nhau liên quan đến vị này. Có thuyết cho rằng ông là Nghiêu Đế (堯帝); do vì nhà vua có lòng nhân lớn nên được phong làm Thiên Quan, phụng mạng Ngọc Hoàng Thượng Đế, xem xét việc tốt xấu của con người. Nghiêu Đế họ là Y Kì (伊祁), tên Phóng Huân (放勳), con vua Khốc (嚳), em của vua Chí (摰). Khi Chí lên ngôi vua thì phong cho Nghiêu là (陶侯), rồi đổi tên là Đường (唐); nên được gọi là Đào Đường (陶唐). Tương truyền Đường Nghiêu (唐堯) có dung mạo rất quái dị, lông mày có 8 sắc màu, tai có 3 lỗ thông. Khi vua Chí nhường ngôi cho Nghiêu thì bốn phương xuất hiện hung thần, ác khí, làm nguy hại đến tánh mạng của bá tánh. Nhà vua bèn sai Hậu Nghệ (后羿) đến hàng phục hung thần kia. Ông tóm thâu gió lớn nơi sông hồ, chém chết mãnh thú ven hồ Động Đình (洞庭), thâu tóm độc xà và làm cho dân chúng được yên ổn. Vua Nghiêu lại vẽ ra bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, chế định một năm có 12 tháng. Sau khi tại vị được 98 năm, vua Nghiêu truyền ngôi vị lại cho Thuấn (舜), hưởng thọ 177 tuổi; được tôn xưng là Thiên Quan Tứ Phước Thần (天官大帝賜福神). Trong Đạo Giáo tôn sùng ông là Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tứ Phước Thiên Quan Đại Đế (上元一品賜福天官大帝). Thuyết khác cho rằng Thiên Quan là vị quan thường tâu những lời can gián lên nhà vua tên Đường Hoằng (唐宏) dưới thời Chu U Vương (周幽王, tại vị 781-771 tcn). Ông cùng với Cát Ung (葛雍), Chu Thật (周實) từ quan và sống cuộc đời vui thú điền viên. Đến thời Tống Chơn Tông (宋眞宗, tại vị 997-1022), cả ba được phong làm Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan và được tế tự hàng năm. Cũng có truyền thuyết giải thích rằng từ khi Trương Thiên Sư (張天師, 34-156, tức Trương Đạo Lục [張道陵], tự là Phụ Hán [輔漢], cháu đời thứ 8 của Trương Lương [張良], xuất thân Phong Huyện [豐縣], Tỉnh Giang Tô [江蘇省]) khai sáng Đạo Giáo về sau, dân gian mới bắt đầu biết cúng tế ba vị Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Ngoài ra, có thuyết lại cho rằng Ngôn Vương Gia (言王爺) có 3 người con gái, đem gả cho Trần Tử Thung (陳子摏) làm vợ; mỗi người lại hạ sinh một người con, có bẩm tính khác thường. Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) phong cho 3 người này làm Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan và ra lệnh cho họ cai quản ba cõi. Trong Thái Thượng Tam Nguyên Tứ Phước Xá Tội Giải Ách Tiêu Tai Diên Sanh Bảo Mạng Diệu Kinh (太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經), phần Thiên Quan Bảo Cáo (天官寶誥) của Đạo Giáo có đoạn: “Chí tâm quy mạng lễ: Huyền Đô Nguyên Dương, Tử Vi Cung trung, bộ Tam Thập Lục Tào, giai cửu thiên vạn chúng, khảo hiệu đại thiên thế giới chi nội, lục tịch thập phương quốc độ chi trung; phước bị vạn linh, chủ kiêm sanh thiện ác chi tịch; ân đàm Tam Giới, trí chư tiên thăng giáng chi ty, trừ vô vọng chi tai, giải thích túc ương, thoát sanh tử chi thú, cứu bạt u khổ, quần sanh thị lại, xuẩn động hàm khang, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Thượng Nguyên Cửu Khí, Tứ Phước Thiên Quan, Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế, Tử Vi Đế Quân (志心皈命禮、玄都元陽、紫微宮中、部三十六曹、偕九千萬眾、考較大千世界之內、錄籍十方國土之中、福被萬靈、主兼生善惡之籍、恩覃三界、致諸仙升降之司、除無妄之災、解釋宿殃、脫生死之趣、救拔幽苦、群生是賴、蠢動咸康、大悲大願、太聖大慈、上元九氣、賜福天官、曜靈元陽大帝、紫微帝君, Một lòng quy mạng lễ: Huyền Đô Nguyên Dương, trong Tử Vi Cung, cai quản 36 bộ quan, nhiếp chín ngàn vạn chúng, giám sát trong khắp thế giới đại thiên, xét hồ sơ mười phương quốc độ, chủ quản hồ sơ thiện ác con người, phước nhuần vạn sinh, chủ kiểm soát hồ sơ thiện ác; ơn ban Ba Cõi, quản lý chư tiên lên xuống, trừ các tai họa, giải trừ oan khiên đời trước, thoát khỏi đường sanh tử, cứu bạt khổ ách, chúng sanh nương tựa, động vật đều yên, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Thượng Nguyên Cửu Khí, Tứ Phước Thiên Quan, Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế, Tử Vi Đế Quân).”
thiên quan
A deva crown, surpassing human thought.
thiên quan quán tự tại
Xem Thiên thủ Thiên nhãn Quán Tự tại.
thiên quan tự
Makutabandhanacetiya (S)Tên ngôi chùa của dòng họ Mạt la (Malla) nơi di thể đức Phật được an trí để hỏa táng.
thiên quán
(天冠) Mũ đội đầu của chư thiên, hoặc chỉ cho chiếc mũ vi diệu như mũ của chư thiên mà ở nhân gian khôngthểcó.
Thiên Quế Truyền Tôn
(天桂傳尊, Tenkei Denson, 1648-1735): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, tự là Thiên Quế (天桂), thường gọi là Đồng Nhãn Lâu (瞳眼樓), Diệt Tông (滅宗), Lão Loa Cáp (老螺蛤), Lão Mễ Trùng (老米虫), họ là Đại Nguyên (大原), xuất thân vùng Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣] ngày nay). Năm lên 8 tuổi, ông theo xuất gia với Truyền Cung (傳弓) ở Song Dự Tự (窻譽寺) vùng Kỷ Y; đến năm 18 tuổi thì lên đường hành cước tu tập, đã từng đến tham vấn chư vị tôn túc như Tổ Hải (祖海) ở Vạn Tùng Tự (萬松寺), Xung Thiên (衝天) ở Khả Thùy Trai (可睡濟), Long Bàn (龍蟠) ở Hưng Thánh Tự (興聖寺). Đến năm thứ 5 (1677) niên hiệu Diên Bảo (延寳), ông đến tham yết Ngũ Phong Hải Âm (五峰海音) ở Tĩnh Cư Tự (静居寺) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông sống ở chùa này, rồi đến năm thứ 2 (1689) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), ông được Phùng Tu Hạ Hầu (蜂修賀候) quy y theo, và chuyển đến sống tại Đại Vân Tự (大雲寺) ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Thêm vào đó, ông còn di chuyển đến Tàng Lộ Am (藏鷺庵) ở vùng Lãng Hoa (浪華, thuộc Ōsaka ngày nay), Trượng Lục Tự (丈六寺) vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣] ngày nay); và cuối cùng vào năm thứ 6 (1721) niên hiệu Hưởng Bảo (享保), ông lui về sống tại Thối Tàng Phong (退藏峰, tức Dương Tùng Am) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Ōsaka ngày nay). Vào ngày mồng 10 tháng 12 năm thứ 20 niên hiệu Hưởng Bảo, ông thị tịch, hưởng thọ 88 tuổi.
thiên quỷ
1) Chư Thiên và ma quỷ: Devas and demons. 2) Tái sanh vào cõi chư Thiên và quỷ: Reincarnation among devas and demons.
; (天鬼) Chỉ cho cõi trời và cõi quỉ trong 6 đường. Cõi trời chỉ chochưthiên ở các tầng trời cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, là các cõi hơn hết, vui nhất, tốt lành nhất, vi diệu nhất, cao nhất trong tất cả các cõi. Còn cõi quỉ là chỉ cho thế giới các loàiquỉnhư quỉ đói, quỉ Dạ xoa, quỉ La sát...
Thiên sai 千差
[ja] センシャ sensa ||| Innumerable differences. => Sự khác biệt nhau nhiều không tính kể được.
thiên sam
Loại áo của chư Tăng mặc phủ qua một vai, có người nói phủ vai phải, lại có người nói phải phủ vai trái (tất cả chỉ là hình tướng bên ngoài, nội tâm mới là phần quan trọng)—The monk's toga, or robe, thrown over one shoulder, some say the right, others the left.
; (偏衫) Cũng gọi Biên sam, Biến sam, Thiên tụ. Pháp y của tăng ni, giống như áo tràng. Nghĩa là Tăng kì chi và Phú kiên y may chung lại với nhau, rồi thêm vạt nữa mà trở thành 1 loại áo có 2 tay, vạt trước vạt sau và phần trên thì giao nhau với mặt sau lưng, ở chỗ giao nhau cột lại bằng những cái nút. Cứ theo Phật chế tỉ khưu lục vật đồ thì chư tăng đời xưa ở Trung quốc đã có tập quán mặc Tăng kì chi, đến đời Hậu Ngụy mới có thêm tay áo bên phải, khâu dính 2 mép lại gọi là Thiên sam. Về cách may thì cổ áo mở theo hình tướng xưa, cho nên biết vai trái của thiên sam chính là Tăng kì chi cũ, còn vai phải chính là Phú kiên y. Lại cứ theo điều Phục chương pháp thức trong Đại tống tăng sử lược quyển thượng và điều Biện đạo cụ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5, vào thời Hậu Ngụy, chư tăng được thỉnh vào cung vua làm lễ tự tứ, những người trong cung thấy chư tăng mặc áo để lộ vai bên phải cho là không tốt, vì thế mới may Thiên đản kiên y chồng lên Tăng kì chi, gọi là Thiên sam. Theo phong tục người Ấn độ, khi lễ Phật, Sư tăng, hoặc làm các việc thì tỉ khưu đều được mặc áo để lộ vai bên phải. Trung quốc do khí hậu tương đối lạnh, vả lại, mặc áo để lộ vai và cánh tay thì không hợp lễ tục, cho nên phỏng theo hình thức trùm kín vai mà chế ra 1 loại tiểu sam đặc biệt là trên hẹp dưới rộng để vắt lên vai bên phải, đây chính là nguồn gốc của Thiên sam, được bắt đầu vào khoảng đời Hậu Ngụy, rồi thịnh hành vào đời Tùy, Đường. Tứ phần luật sưu huyền lục ghi: Thiên sam che vai bên phải là do Luật sư Tuệ quang đời Hậu Ngụy sáng chế. Nhưng 2 tay áo đều là thiên sam thì không rõ ai chế ra.
thiên sư
1) Thầy dạy của vua: Preceptor of the emperor. 2) Danh hiệu của Sư Nhất Hành: A title of the monk I-Hsing. 3) Danh hiệu của giáo chủ Lão Giáo: A title of Taoist Pope.
; (天師) I. Thiên Sư. Một trong 10 hiệu của đức Phật. II. Thiên Sư. Thầy của Thiên tử. Phật tổ thống kỉ quyển 51 (Đại 49, 454 thượng) nói: Sa mônNhất hạnh hiệu là Thiên sư.
thiên sư đạo
(天師道) Chỉ cho Ngũ đẩu mễ đạo, tổ khai sáng là Trương lăng, vì ông này tự xưng là Thiên sư nên gọi là Thiên sư đạo.
Thiên sứ
天使; S: devadūta; nghĩa là »Sứ giả của chư thiên«; |Danh từ này được dùng để chỉ Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Các Thiên sứ này có nhiệm vụ giúp đỡ, nhắc nhở loài người nhận thức được tính chất Vô thường và Khổ đau của cuộc sống, tìm con đường giải thoát.
thiên sứ
DŪta (S), Deva messenger.
; Divine messengers, especially those of Yama; also his tam thiên sứ old age, sickness and death.
; Deva-messegers—Divine (heaven) messengers, especially those of Yama—See Tam Thiên Sứ and Ngũ Đại Sứ Giả.
; (天使) Chỉ cho sứ giả của vua Diêm ma. Thiên nghĩa là tự nhiên, vì xuất phát từ nghiệp đạo tự nhiên để cảnh tỉnh người đời, cho nênđượcví dụ là Thiên sứ. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 19 nêu 3 Thiên sứ là: Lão, bệnh và tử. Kinh Phật thuyết Diêm ma vương ngũ thiên sứ giả thì nêu ra 5 Thiên sứ là: Sinh, lão, bệnh, tử và vương pháp lao ngục, cũng gọi là Ngũ đại sứ giả.
thiên tai
Calamity—Disaster.
thiên thai
The T'ien T'ai or Heavenly terrace mountain.
thiên thai bát giáo
See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo.
thiên thai bát giáo đại ý
(天臺八教大意) Cũng gọi Bát giáo đại ý. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Quán đính soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này trình bày đại cương về 8 giáo(4 giáo hóa nghi và 4 giáo hóa pháp), trong giáo phán của tông Thiên thai. Trước hết, phối hợp 4 giáo hóa nghi với 5 thời như Hoa nghiêm... và nói sơ qua về sự phối hợp ấy; sau đó là nói về danh nghĩa, căn cơ, hành vị, đắc quả của 4 giáo hóa pháp, nói về 4 môn quán hành và quán pháp 10 thừa, đồng thời, nói rõ về sự thông, biệt và quyền thực... của 5 thời.
Thiên Thai bát giáo đại ý 天台八教大意
[ja] テンダイハッキョウダイイ Tendai hakkyō daii ||| Tiantai bajiao dayi; 1 fasc., by Guanding 灌頂. T 1930.46.769a-773b. Giới (c: Tiantai bajiao dayi; 1 quyển, của Quán Đảnh (灌頂c: Guanding).
thiên thai cửu tổ
Chín vị Tổ liên tiếp của Tông Thiên Thai—The sucession of the nine founders of the T'ien-T'ai Sect—The nine patriarchs of the T'ien-T'ai Sect: 1) Long Thọ: Long Thọ được xem là Cao Tổ của tông Thiên Thai—Nagarjuna was considered as the founder of the T'ien-T'ai School—See Nagarjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Huệ Văn (505-577): Nhị Tổ—Hui-Wen—See Huệ Văn. 3) Huệ Tư: Tam Tổ Huệ Tư—Hui-Su—See Huệ Tư. 4) Trí Giả: Tứ Tổ Trí Khải—Chih-Chê (Chih-I)—See Trí Khải. 5) Quán Đảnh: Ngũ Tổ Quán Đảnh—Kuan-Ting—See Quán Đảnh (3). 6) Pháp Hoa: Lục Tổ Pháp Hoa—Fa-Hua. 7) Thiên Cung: Thất Tổ Thiên Cung—T'ien-Kung. 8) Tả Khê: Bát Tổ Tả Khê—Tso-Ch'i. 9) Trạm Nhiên: Cửu Tổ Trạm Nhiên—Chan-Jan—See Trạm Nhiên.
; (天臺九祖) Chỉ cho 9 vịTổ của tông Thiên thai, đó là: Tổ thứ nhất bồ tát Long thụ, tổ thứ 2 Bắc tề Tuệ văn, tổ thứ 3 Nam nhạc Tuệ tư, tổ thứ 4 Thiên thai Trí khải, tổ thứ 5 Chương an Quán đính, tổ thứ 6 Pháp hoa Trí uy, tổ thứ 7 Thiên cung Tuệ uy, tổ thứ 8 Tả khê Huyền lãng và tổ thứ 9 Kinh khê Trạm nhiên. Bồ tát Long thụ tuy sinh ở Ấn độ, nhưng ngài Tuệ văn đời Bắc Tề y cứ vào luận Trung quán của Bồ tát để chứng minh diệu chỉ Nhất tâm tam quán, cho nên thờ Bồ tát làm vị Tổ thứ nhất. Tuy nhiên, cũng có khi gọi ngài Tuệ văn đời Bắc Tề là Sơ tổ tông Thiên thai, lí do là vìbồ tát Long thụ là người Ấn độ cho nên không được liệt vào số các Tổ.
thiên thai cửu tổ truyện
(天臺九祖傳) Truyện kí, 1 quyển, do sa môn Sĩ hành biên soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này trình bày sơ lược truyện của 9 đời Tổ sư tông Thiên thai là Cao tổ Long thụ người Ấn độ, Nhị tổ Tuệ văn đời Bắc Tề, Tam tổ Tuệ tư ở Nam nhạc, Tứ tổ Thiên thai Trí khải, Ngũ tổ Chương an Quán đính, Lục tổ Pháp hoa Trí uy, Thất tổ Thiên cung Tuệ uy, Bát tổ Tả khê Huyền lãng và Cửu tổ là Kinh khê Trạm nhiên.
thiên thai hóa nghi tứ giáo
Bốn giáo pháp được định nghĩa bởi tông Thiên Thai—The four modes of teaching, defined by the T'ien-T'ai: 1) Đốn Giáo: Direct Teaching. 2) Tiệm Giáo: Gradual Teaching. 3) Mật Giáo: Esoteric Teaching. 4) Bất Định Giáo: Indefinite Teaching.
thiên thai hóa pháp tứ giáo
The four periods of teaching. 1) Tạng Giáo: Tạng Giáo Tiểu Thừa—The Tripitaka Teaching, or the Pitaka School was that of Hinayana. 2) Thông Giáo: Thông Giáo là giai đoạn phát triển đầu tiên của Phật Giáo Đại Thừa với đầy đủ Tam Thừa (Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát). Giáo thuyết triển khai của Thông giáo nối liền Thông Giáo với Biệt Giáo và Viên Giáo—Interrelated Teaching, or intermediate school, was the first stage of Mahayana, having in it elements of all the three vehicles (sravaka, pratyekabuddha, and bodhisattva). Its developing doctrine linked it with Hinayana on the one hand and on the other hand with the two further developments of the “separate” or “differentiated” Mahayana teaching, and perfect teaching. 3) Biệt Giáo: Differentiated Teaching. 4) Viên Giáo: Tên khác của Bí Mật giáo—Complete, Perfect, or Final Teaching; a name for the esoteric sect.
thiên thai luật
Luật của tông Thiên Thai hay còn gọi là Đại Thừa Viên Đốn Giới—The laws (which are ascribed as the Mahayana perfect and immediate moral precepts) of the T'ien-T'ai sect as given in: 1) Luật đã được Phật nói tới trong Kinh Pháp Hoa: The commandments which the Buddha mentioned in the Lotus Sutra. 2) Mười Giới trọng: The ten primary commandments in the Brahma's Net Sutra—See Mười Giới Trọng Của Chư Bồ Tát Trong Kinh Phạm Võng. 3) Bốn Mươi Tám Giới Khinh (Kinh Phạm Võng): Forty-eight secondary commandments of the Brahma's net Sutra (Brahmajala)—See Bốn Mươi Tám Giới Khinh.
thiên thai ngũ hối
(天臺五悔) Cũng gọi Lục thời ngũ hối. Chỉ cho 5 pháp môn mà hành giả tông Thiên thai ngày đêm 6 thời tu tập để sám hối cầu diệt tội sinh phúc. Pháp tu này do ngài Trí khải y cứ vào kinh Di lặc vấn, kinh Chiêm sát, kinh Phổ hiền quán... mà lập ra. Đó là: 1. Sám hối: Phát lộ và hối cải các tội lỗi mà 3 nghiệp thân, khẩu, ý đã tạo ra từ vô thủy đến nay. 2. Khuyến thỉnh: Khuyến thỉnh chư Phật trong 10 phương trụ lâu ở thế gian và thường chuyển bánh xe pháp để cứu độ chúng sinh. 3. Tùy hỉ: Trừ bỏ các ý niệm ganh ghét, khen ngợi tất cả các thiện căn của mình và người đã tu tập được. 4. Hồi hướng: Đem tất cả thiện căn của mình hồi hướng về Bồ đề. 5. Phát nguyện: Phát 4 thệ nguyện lớn để thể hiện 4 hạnh nói trên thành sự thật. Năm pháp trên đây đều là các pháp hối tội diệt ác, cho nên đều gọi là Hối pháp. Tông Thiên thai dùng Ngũ hối làm trợ duyên cho việc tu hành Pháp hoa. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 7, phần cuối thì ngày đêm 6 thời phải tu 5 pháp này. Sám hối có năng lực phá được tội nghiệp đại ác, Khuyến thỉnh phá được tội phỉ báng pháp, Tùy hỉ phá được tội ghen ghét, Hồi hướng thì phá được tội chấp các Hữu (sở hữu), công đức có được không thể hạn lượng. Phần nhiều đã bị nắng mưa, sương gióxói mòn, chỉ còn vài mươi pho trong chùa trên sườn núi cheo leo, bộ diện chỉ còn lờ mờ khó phân biệt được. Trên sườn Hoàng thạch của núi Thiên Phật, vài nơi còn những pho tượng đá khắc tạo vào thời Bắc Ngụy và 1 pho tượng Phật rất lớn được tạo lập vào đời Đường, rất có ý nghĩa lịch sử và giá trị nghệ thuật.
thiên thai ngũ thời
(天臺五時) Đại sư Trí Giả tông Thiên Thai dùng ví dụ Mặt trời chiếu soi muôn vật để chia thánh giáo trong 1 đời giáo hóa của Phật làm 5 thời, gọi là Thiên thai ngũ thời. Đó là: 1. Thời Hoa nghiêm: Theo tên kinh mà lập danh. Đầu tiên, đức Như lai nói Hoa nghiêm cho những người mà căn cơ Đại thừa đã thuần thục nghe, giống như mặt trời mới mọc chiếu trên núi cao. Thời này nói về pháp giới vô tận, tính hải viên dung, không hữu đều hiển, sắc-tâm đều nhập, lặng lẽ sâu thẳm trùm hải ấn(ví dụ Phật trí), hiện cõi nước trên đầu lông, dùng thời kinh này hóa độ hàng Bồ tát Đại thừa. 2. Thời Lộc uyển: Căn cứ vào địa điểm mà lập danh. Nghĩa là sau thời Hoa nghiêm, Như lai giảng nói kinh A hàm, như lúc mặt trời chiếu vào hang tối. Thời này, Như lai vì hàng Tiểu thừa đối với đại pháp Hoa nghiêm như điếc, như mù, không nghe, không thấy, cho nên ẩn đi đại hóa mà thi hành tiểu hóa, nói pháp Tứ đế, giảng nói kinh A hàm trong vườn Lộc uyển. 3. Thời Phương đẳng: Theo pháp được nói mà lập danh. Phương là rộng lớn bao trùm khắp hết các căn cơ; Đẳng là nói chung cả 4 giáo(Tạng, Thông, Biệt, Viên). Sau thời Lộc uyển, Như lai nói các kinh Phương đẳng, như lúc mặt trời chiếu trên đồng bằng. Ở vườn Lộc uyển, Như lai nói pháp Tiểu thừa, hàng Nhị thừa mới được chút ít đã cho là đủ, Như lai bèn giả ra cư sĩ Duy ma để quở trách, khiến cho họ hổ thẹn Tiểu thừa mà mến mộ Đại pháp, cho nên giảng nói kinh Duy ma, kinh Lăng già... 4. Thời Bát nhã: Căn cứ vào tên kinh mà lập danh. Sau thời Phương đẳng, Như lai nói kinh Bát nhã, như lúc mặt trời chiếu vào giờ Tị (9-11 giờ), Tiểu thừađã bị chê trách, hồi tâm hướng Đại, nhưng tình chấp vẫn chưa dứt liền, Như lai bèn nói pháp Bát nhã không tuệ để rửa sạch tình chấp ấy. 5. Thời Pháp hoa Niết bàn: Căn cứ vào kinh để lập danh. Nghĩa là sau thời Bát nhã, Như lai chính thức giảng nói kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn, như mặt trời chiếu đúng ngọ. Ở 4 thời giáo trước, Như lai đã điều phục các căn cơ thuần thục, cho nên trong hội Linh sơn, đức Như lai giảng thuyết xứng tính, khiến từ quyền (tạm thời) vào thực(chân thật), rõ vọng tức chân, nói về tuổi thọ lâu dài, hiển bày sự xa thẳm của Chí đạo, thượng trung hạ căn đều được thụ kí, đây chính là lí do đức Như lai tuyên thuyết kinh Pháp hoa. Tuy nhiên vẫn còn các căn cơ khác nên đức Phật lại nói kinh Niết bàn để thu nhặt hết, không bỏ sót. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
thiên thai ngũ thời bát giáo
(Five Periods and Eight Teachings of the T'ien T'ai school)—Đây là cách xếp loại những lời Phật dạy theo quan điểm của phái Thiên Thai, do Trí Giả Đại Sư người Trung Quốc thiết lập. Phái Thiên Thai, học thuyết dựa vào Kinh Diệu Pháp Liên Hoa và thừa nhận Ngài Long Thọ Bồ tát làm trưởng lão đầu tiên của mình. Trường phái nầy lợi dụng tất cả mọi phương tiện nhằm đạt tới đại giác. Qua việc phân loại tiến trình giảng kinh và học thuyết Phật thành năm thời kỳ và Tám Giáo Lý (bốn loại giáo lý cộng thêm bốn phương pháp giảng giải) chứng tỏ trường phái nầy hệ thống hóa sự thuyết giảng của Phật—A classification of the Buddha's teachings from the standpoint of the T'ien-T'ai sect, made by its Chinese founder Chih-I. The school of Celestial Platform of which doctrine is based on the Lotus Sutra and sees Nagarjuna as its first patriarch. This sect takes advantage of all expedients to practice to attain enlightenment. The classification of sutras and the teachings of Buddha into five periods (or five stages) and eight teachings (four doctrines plus four methods of expounding them) represents and attempt to systematize the teachings of Buddha: A) Năm Thời Kỳ, trong đó thời Hoa Nghiêm kéo dài 21 ngày, thời A Hàm kéo dài 12 năm, thời Phương Quảng kéo dài 8 năm, thời Bát Nhã kéo dài 22 năm, và thời Niết Bàn kéo dài 8 năm—Five Periods in which the Avatamsaka period lasted for twenty-one days, the Agama period for twelve years, the Vaipulya period for eight years, the Prajna period for twenty-two years, and the Nirvana period for eight years: 1) Thời kỳ Hoa Nghiêm: Thời Hoa Nghiêm không phải là thuần viên vì nó gồm cả biệt giáo. Thời kỳ nầy kéo dài ba tuần lễ và Phật đã thuyết giảng ngay sau khi Ngài đạt được đại giác. Với giáo thuyết nầy, Đức Phật muốn đánh thức các đệ tử của Ngài, nhưng vì giáo pháp quá thậm thâm nên đa phần các đệ tử của Ngài đã không hiểu được những lời thuyết giảng nầy, tức là ý tưởng cho rằng vũ trụ là biểu hiện của cái tuyệt đối. Nói chung, giáo lý được giảng dạy trong thời kỳ nầy là pháp tự chứng của Phật trong sự đại giác của Ngài, nghĩa là khai thị về sự giác ngộ của Ngài. Thính chúng không thể thấu triệt nổi nên họ như câm như điếc—The Time of the Wreath is not yet pure 'round' because it includes the Distinct Doctrine. The period of the Buddhavatamsaka-Sutra, which lasted for three weeks and the Buddha taught immediately after his enlightenment. With this teaching, the Buddha awoke his disciples to the greatness of Buddhism; however, it was too profound for them to grasp and most of his disciples did not understand the principal idea of the sutra, that the universe is the expression of the absolute. Generally speaking, the first period was was the Time of Wreath. The doctrine taught in this period was what the Buddha had conceived in his Great Enlightenment, i.e., the elucidation of his Enlightenment itself. His disciples could not understand him at all and they stood as if they were “deaf and dumb.” 2) Thời kỳ A Hàm: Thời kỳ thứ hai còn gọi là thời Lộc Uyển. Thời Lộc Uyển chỉ phiến diện vì chỉ giảng các kiến giải Tiểu Thừa. Sau khi Đức Phật thấy rằng không đệ tử nào của Ngài sẳn sàng tiếp nhận và hiểu nổi kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật bèn giảng các kinh A Hàm nguyên thủy để khế hợp với những kẻ căn tánh thấp kém. Chúng đệ tử của Ngài bây giờ có thể tuân theo lời dạy của Ngài và thực hành một cách xứng lý để đạt được quả vị A La Hán. Thời kỳ nầy còn được gọi là thời dụ dẫn, tức là thời kỳ mà mỗi người được dẫn dụ để đi đến giáo lý cao hơn. Trong giai đoạn nầy, Đức Phật không dạy toàn bộ giáo điển nữa, mà Ngài chỉ dạy những gì mà các môn đồ có thể hiểu được. Ngài trình bày về khổ, không, vô thường, vô ngã, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo và Thập nhị nhân duyên, vân vân, nhằm giúp chúng sanh giải thoát khỏi tam đồ lục đạo. Giai đoạn nầy kéo dài 12 năm. Giáo thuyết nầy tương xứng với giáo thuyết của Phật giáo Nguyên Thủy—The second period, also called the “Time of the Deer Park.” The Time of the Deer Park is only one-sided as it teaches only Hinayanistic views. Perceiving that his disciples were not yet ready for the teachings of the Avatamsaka Sutra, the Buddha next preached the early Agamas to suit the people of the inferior capacity. His disciples were now able to follow his teaching and practiced accordingly in order to attain the fruition of arhat or saintly position. This period is also called the Time of Inducement, or a period in which the people were attracted to the higher doctrine. In the period of the Agama-Sutra. In this period, the Buddha did not teach the complete truth, but only what his disciples could understand. He presented the truths of suffering, emptiness, impermanence, egolessness, the four noble truths, the eightfold noble path and conditioned arising, etc., which help free people from the three realms and six paths. This phase lasted twelve years. The teachings in this period correspond to the Theravada teachings. 3) Thời kỳ Phương Quảng hay thời kỳ phôi thai của Phật giáo Đại Thừa: Thời Phương Đẳng giảng cùng lúc cả bốn giáo thuyết nhưng vẫn còn tương đối. Trong giai đoạn kéo dài tám năm nầy, Đức Phật bác bỏ sự luyến chấp vào Tiểu Thừa và hướng dẫn đệ tử đi vào nẻo Đại Thừa. Đức Phật bắt đầu thuyết giảng về Đại thừa và tính ưu việt của Bồ tát, cũng như làm sáng tỏ sự thống nhất giữa Phật và người, giữa cái tuyệt đối và tương đối. Đây là thời kỳ mà những người Tiểu Thừa quy đầu sang giáo lý Đại Thừa và vì mục đích nầy mà Đức Phật đã giảng các kinh Phương Đẳng, tức triển khai, kinh Đại Nhật Như Lai và kinh Duy Ma Cật. Vì Phật thường hay khiển trách các vị La Hán do tà kiến hay thiên kiến của họ, nên thời kỳ nầy còn được gọi là thời “Đàn Ha.” Các vị Tiểu Thừa, theo giảng luận của Phật, thức tỉnh về những thiên kiến của mình và học hỏi để thấy giá trị Đại Thừa—The period of the Vaipulya-Sutra or the period of the introductory Mahayana. The Time of Development teaches all four doctrines together and therefore is still relative. In this eight-year period, the Buddha taught the first level of the Mahayana. During this phase the Buddha refuted his disciples' attachment to the Lesser Vehicle and directed them toward provisional Mahayana. He stressed the superiority of a bodhisattva. He clarified the unity of Buddha and sentient beings, of absolute and relative. This was the time when the Hinayanistic people were converted to the Mahayana doctrine and for that purpose the Buddha preached what we call “Vaipulya” or developed texts, Maha-Vairocana and Vimalakirti Sutras. As the Buddha often rebuked the arhats for their wrong or short-sighted views, this period is called the Time of Rebuke. The Hinayanists, after the Buddha's reasoning, became aware of the short-sightedness and learned to appreciate Mahayana. 4) Thời kỳ Bát Nhã hay Liên Hoa: Thời Bát Nhã chủ yếu giảng Viên giáo nhưng còn liên hệ Thông giáo và Biệt giáo. Do đó nó chưa hoàn toàn viên mãn. Trong 22 năm của thời kỳ nầy, Đức Phật thuyết giảng giáo pháp Đại Thừa ở cấp cao hơn và bác bỏ sự luyến chấp Tiểu Đại của các hàng đệ tử. Đức Phật đã giảng về tính hư không trong Kinh Bát Nhã. Trong thời kỳ nầy, Đức Phật giảng thuyết kinh Bát Nhã và mọi ý niệm biện biệt và chấp thủ đều bị quyết liệt loại bỏ. Bởi vậy, nó được gọi là thời “Đào Thải.” Suốt trong thời kỳ nầy, giáo lý về “không” được giảng dạy, nhưng chính “không” lại bị phủ nhận. Do đó, thời Bát Nhã cũng được gọi là thời “Hội Nhất Thiết Pháp,” nghĩa là bác bỏ mọi phân tích và thống nhất chúng lại—The period of Prajnaparamita-Sutra or Lotus-Sutra. The Time of Wisdom mainly teaches the Round Doctrine and yet is linked with the Common and Distinct Doctrines. Therefore, it is not quite perfect or complete. This phase lasted twenty-two years, in which the Buddha expounded a higher level of provisional Mahayana and refuted his disciples' attachment to the distinction between Theravada and Mahayana by teaching the doctrine non-substantiality or emptiness. He taught the teachings of shunyata in the Prajnaparamita-sutra, and all the ideas of distinction and acquisition were mercilessly rejected. It is therefore, called the Tome of Selection. During this period, the doctrine of “Void” was taught but the “Void” itself was again negated. In the end everything reverts to the ultimate Void. So the time of Priajna was also called the Time of Exploring and Uniting of the Dharmas, denying all analysis and unifying them all in one. 5) Thời kỳ Pháp Hoa và Niết Bàn: Trong tám năm cuối đời, Đức Phật thuyết giảng trực tiếp từ những kinh nghiệm mà Ngài đã giác ngộ. Ngài đã giảng về tính đồng nhứt tuyệt đối giữa các mặt đối lập và về sự hạn hẹp của Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) nên Ngài đã chỉ dạy cách hòa lẫn nhau thành Nhất thừa (một cỗ xe duy nhất): Phật thừa. Thời kỳ nầy còn gọi là thời Pháp Hoa. Trong thời kỳ nầy, sự truy cứu hay phân tích và dung hợp về các học thuyết được giảng dạy. Quan điểm về Tam thừa Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát có thể đạt được Thánh quả chỉ là một giáo thuyết “khai mở” tạm thời để cuối cùng cả ba đều được “hội” về Phật Thừa. Như thế thời thứ năm đặc biệt được gọi là thời “Khai Hội.” Nhân duyên xuất hiện ở thế gian của Phật là cứu độ tất cả chúng sanh và nhân duyên ấy chỉ có thể được hoàn thành bởi Kinh Pháp Hoa. Do đó Pháp Hoa là giáo lý rốt ráo trong tất cả những giáo lý của Phật, và là vua của tất cả các kinh. Thời kỳ Pháp Hoa là thời kỳ thuần “Viên” và tối thượng. Vì ở đây nhân duyên xuất hiện thế gian của Phật được biểu lộ đầy đủ. Kinh phụ thuộc, Niết Bàn, tóm tắt những gì Phật đã dạy trong suốt cả cuộc đời của Ngài, nghĩa là Tam thừa và Tứ giáo đều được xóa bỏ do hội tam thừa về nhất thừa và hợp tứ giáo thành viên giáo cứu cánh. Như vậy, tất cả giáo lý của Phật sau cùng đều quy tụ vào Pháp Hoa mà tông Thiên Thai coi như là giáo lý tối thượng của Phật giáo—The period of the Mahaparinirvana-Sutra, also called the period of the Lotus-Sutra. In the last eight years of his life, the Buddha taught directly from his own enlightenment, fully revealing the truth. He emphasized the absolute identity of all opposites and the temporary and provisional nature of the three vehicles of Sravakas, Pratyeka-buddhas and Bodhisattvas. Then he taught how to validify and merge them into a single vehicle or Ekayana or Buddhayana. This period was also called the Time of the Lotus. Here the exploring or analyzing and the uniting of the doctrines are taught. The view that the three Vehicles of Hearers, Self-Enlightened Ones and Would-Be Buddhas can obtain saintly fruition was only an exploring, a temporary teaching, but the three finally were united into one Vehicle, or “Uniting.” Thus the fifth period is especially called the Time of “Opening and Meeting.” The object of the appearance of the Buddha was to save all beings and that object can be accomplished only by the Lotus. Therefore, the Lotus is the ultimate doctrine among all the Buddha's teachings and is the king of all the sutras. The Time of the Lotus alone is purely 'round' and superlatively excellent, wherein the purpose of the Buddha's advent on earth is fully and completely expressed. The supplementary Nirvana Sutra summarizes that the Buddha had preached during his whole life, i.e., the three Vehicles and the four doctrines were dismissed by converting the three Vehicles to One Vehicle and combining the four doctrines with the one ultimate Round Doctrine. Thus, all teachings of the Buddha are absorbed finally into the Lotus which is considered by the T'ien-T'ai to be the Supreme Doctrine of all Buddhism. B) Bát giáo—Eight methods: Tám giáo còn gọi là Bát Giáo, tức là tám khoa hay tám phương thức giáo hóa của Phật dạy cho chúng sanh tu hành. Bát Giáo chia ra làm bốn về phương pháp và bốn về nội dung—Eight Doctrines are eight methods or means used by the Buddha to teach sentient beings to cultivate. Eight teachings, four of which are methods, and the rest four are contents: a) Bốn phương pháp—Four methods: 1) Đốn giáo—Instantaneous Doctrine: Ở đây Đức Phật tuyên thuyết về sở chứng của Ngài mà không cần đến phương tiện nào cả, đây là thời Hoa Nghiêm. Phương pháp đốn giáo nầy được những người thượng căn thượng trí áp dụng, vì những người nầy có khả năng hiểu được chân lý bằng trực giác. Đốn giáo là giáo pháp đốn ngộ hay ngộ cấp kỳ tức là pháp môn trực chỉ dành cho những hành giả thượng căn trong nhà Thiền—The Sudden (Abrupt) Doctrine, in which the Buddha preached what he had conceived without using any expediency, this is the time of the Wreath. This sudden method or the method of the Buddhavatamsaka-Sutra, which is to be used with the most talented students who understand the truth directly. Instantaneous or Sudden Doctrine is Dharma teachings which will lead to a fast awakening and enlightenment such as Zen Buddhism, reserved for those at the highest level of cultivators. 2) Tiệm giáo—Gradual or Deliberate Doctrine: Đức Phật dùng “Tiệm Giáo” dẫn dụ mọi người đi lần vào sự tư duy sâu thẳm, dùng tất cả mọi phương tiện, đây là thời Lộc Uyển, Phương Đẳng và Bát Nhã. Phương pháp “Tiệm Giáo” nầy được đại đa số áp dụng vì nó đi từ thấp đến cao, từ căn bản đến phức tạp như Pháp Môn Tịnh Độ. Phương pháp nầy bao hàm các thời kỳ A Hàm, Phương Quảng và Bát Nhã—The Buddha utilized the “Gradual Doctrine” to induce people gradually into deeper thinking, using all sorts of measures, this is the time of the Deer Park, of Development and of Wisdom. The Gradual Doctrine teaches cultivators to gain enlightenment gradually from lower to higher levels such as the Pureland Dharma Door. This gradual method or the method of Agama, Vaipulya and Parinirvana-sutras. This method is utilized by the majority of people because it progresses from the elementary to more complex teachings. 3) Mật giáo—Esoteric Doctrine: Trên thực tế, đây là giáo lý bí mật bất định, nó không nhất định và biến thiên vì thính giả khuất lấp nhau bởi sức thần thông của Phật và mỗi người nghĩ rằng Phật chỉ giảng cho riêng mình mà thôi. Phương pháp bí truyền chỉ được Phật dùng khi nói riêng với một người và chỉ có người đó hiểu được. Khác với Thông giáo, Mật giáo dạy về nghĩa thâm mật của Phật giáo. Phương pháp dạy hành giả về cách bắt ấn, trì chú, tam mật tương ưng, tức thân thành Phật. Thân khẩu ý của hành giả tương ưng với thân khẩu ý của Phật—The Secret Teaching. In fact, it is a mystical indeterminate doctrine. It is indeterminate and varied because many a listener is concealed from another by the Buddha's supernatural power and each thinks that the Buddha is teaching him alone. Thus all hear separately and variously. Such indeterminacy exists from the time of the Wreath to the time of Wisdom. The secret method, which was used by the Buddha only when addressing to one person, in which case the Buddha was understood by this only person. Opposite to the Common Doctrine, this Dharma is passed on at a hidden level and has the characteristics of the deepest and most profound meanings of Buddhism. This doctrine teaches cultivators to recite mantras, make Buddha seals with hands, etc. If the three karmas of the cultivators become one with the Buddha, then the cultivators will attain Buddhahood. Meaning if the cultivators' Mind, Spech and Body is similar to that of the Buddha, then Buddhahood is attained. 4) Bất Định giáo—Indefinite or Indeterminate Doctrine: Giáo lý bất định, không bí mật mà Phật dùng khi có mặt nhiều đệ tử khác trình độ nhau, nhưng đều hiểu lời Phật giảng. Giáo pháp mà Phật tùy theo căn cơ nghi thuyết dạy, chớ không nhứt định là phải thuộc riêng về một căn cơ nào cả—The Indeterminate Doctrine, non-mystical indeterminate doctrine, in which though the students have different levels, they still understood his words in different ways (all listeners know that all are hearing together and yet they hear differently and understand vaiously). The Buddha used Indefinte Doctrine to teach sentient beings with different levels of understanding. b) Bốn nội dung—Four contents: 5) Tiểu Thừa hay Tạng Giáo—Pitaka Doctrine: Tạng giáo là các pháp môn tu học có dạy chung trong Tam Tạng kinh luật và luận. A Hàm và tất cả giáo lý Tiểu Thừa, như được thấy trong văn học Tỳ Bà Sa, thích hợp với Thanh văn và Duyên giác—The Doctrine of Tripitaka teaching (Scriptures) or Pitaka (Storage) Doctrine includes various Dharma Doors of cultivation taught to all in the Tripitaka or 'Three Storages.' (Sutra, Precept Pitaka, and Upadesa Pitaka or commentary of Sutra). Agamas or traditions of discourses and all Hinayana doctrines, such as those found in the Vaibhasika literature, appropriate for Sravakas and Pratyeka-buddhas. 6) Thông Giáo—Common Doctrine: Chung cho tất cả ba thừa và là giáo lý sơ cơ của Đại Thừa. Trong khi một vị sơ tâm Bồ Tát theo những tu tập như các vị trong tam thừa, thì một đại Bồ Tát thâm nhập cảnh giới của Biệt Giáo và Viên Giáo. Đây là giáo thuyết tổng quát, dành cho cả Tiểu lẫn Đại thừa, nhằm chỉ dạy cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát trong giai đoạn phát triển đầu tiên. Giáo pháp nầy dạy chung cho tất cả ba căn cơ thượng trung hạ và cả ba thừa Tiểu Trung Đại: The Doctrine Common to All or the connecting teaching. It is common to the three Vehicles and is elementary doctrine of Mahayana. While an inferior Bodhisattva follows the same practices as the people of the three Vehicles, a superior Bodhisattva will penetrate into “Distinct Doctrine” and “Doctrine of Perfection.” This general teaching, which is for both Hinayana and Mahayana. And is meant for Sravakas, Pratyeka-buddhas and Bodhisattvas in their first level of progress. The Common Doctrine or Apparent Doctrine refers to the teachings used collectively to reach all three levels of sentient beings High, Intermediate, and Low. 7) Biệt Giáo—Specific Doctrine: Đây là học thuyết thuần nhất Đại Thừa và chỉ dành riêng cho Bồ Tát. Tạng giáo và Thông giáo chỉ giảng về cái “không” phiến diện hay “thiên không,” Biệt giáo giảng về Trung Đạo, và do đó nó riêng biệt. Có người nói Biệt Giáo là pháp dạy riêng cho mỗi căn cơ hoặc Thượng, hoặc Trung, hoặc Hạ, cùng ba thừa, hoặc riêng cho Tiểu Thừa Thanh Văn, hoặc riêng cho Trung Thừa Duyên Giác, hoặc riêng cho Đại Thừa Bồ Tát—The Distinct Doctrine or special teaching for Mahayana Bodhisattvas. The Doctrine of Pitakas and the Doctrine Common to all teach the simple one-sided “Void” while this doctrine teaches the Middle Path, and, therefore, is distinct and separate. Someone says that Specific Doctrine include teachings geared specifically to each level of High, Intermediate, or Low of the three vehicles which include Sravakas or Lesser Vehicle, or Pratyeka-Buddhas or Intermediate Vehicle, or Mahayana Bodhisattvas or Greater Vehicle. 8) Viên giáo—Perfect Doctrine: Học thuyết hoàn hảo hay tròn đầy, thuyết giảng con đường giữa. Viên có nghĩa là toàn thiện, biến mãn, viên mãn, viên thông. Biệt giáo giảng về một “trung đạo” độc lập và cách biệt, và chỉ một phương tiện riêng biệt, còn Viên giáo là giáo pháp tròn đầy, giảng vể Trung Đạo của viên thông và quán triệt. Do đó, nó không phải là một trung đạo cách biệt, phiến diện, mà là một trung đạo thực thể, hoàn toàn hòa hợp , trên lý thuyết cũng như thực tế. Như thế “Viên” có nghĩa là một pháp chứa đựng tất cả các pháp, nghĩa là “Nhất tức nhất thiết và nhất thiết tức nhất.” Viên giáo còn gọi là “Đại Thừa Giáo Pháp Tối Thượng Thừa” như giáo pháp trong Kinh Hoa Nghiêm chỉ chuyên dạy cho các hàng Bố Tát Đại Sĩ Pháp Thân, từ Thập Trụ đến Thập Địa Bồ Tát—The complete, round teaching, or perfect teaching that of the Middle-Way. “Round” means perfection, all pervading, all fulfilling, all permeating. The Distinct Doctrine teaches an independent and separate Middle Path and is simple-separate mean, while the Round Doctrine, the most complete and penetrating which teaches the Middle Path of perfect permeation and mutual identification. Therefore, it is not a separate, one-sided Middle Path, but the Middle Path as noumenon, perfectly harmonious, theoretically and practically. Thus “round” means that one element contains all elements, i.e., the principle of “One is all and all is one.” The Perfect Doctrine is also called the ultimate teaching of Mahayana Buddhism. It is the most complete and penetrating teaching used to teach the Maha-Bodhisattvas, or Enlightened Beings striving to attain the Ultimate Enlightenment of Buddhahood, such as the teachings in the Avatamsaka Sutra, which were taught specifically for the Great Strength Dharma Body Maha-Bodhisattvas from Ten-Entrances to Ten-Grounds Maha-Bodhisattvas.
thiên thai nhị ứng thân
Tông Thiên Thai lập ra hai loại thân—T'ien-T'ai sect has the distinction of two kinds of nirmanakaya. 1) Thắng Ứng Thân: Superior or supernatural Nirmanakaya. 2) Liệt Ứng Thân: Inferior or natural Nirmanakaya.
thiên thai sơn
Mt. T'ien-t'ai.
; Núi Thiên Thai, nơi xuất phát của tông phái Thiên Thai. Tên Thiên Thai dùng để chỉ chân núi Tiên Hà Lĩnh, Thai Châu, miền Nam Trung Hoa, nơi có “Tam Đài Lục Tinh,” nơi mà Chih-I (Trí Khải) hay Đại Sư Thiên Thai đã xây dựng những tự viện và sáng lập ra tông phái nầy—The T'ien-T'ai or Heavenly Terrace mountain, T'ai-Chou, South China, the location of the T'ien-T'ai sect; its name is attributed to the “Three Stairs Six Stars” at the foot of Ursa Major, under which it is supposed to be, but more likely because of its height and appearance. It gives its name to a hsien in the Chekiang T'aichow prefecture, southwest of Ningpo. The monastery, or group of monasteries was founded there by Chih-I, who is known as the T'ien-T'ai Great Master.
; (天臺山) Cũng gọi Thiên thê sơn, Thai nhạc. Núi ở phía đông bắc dãy Phật hà lãnh sơn, phủ Thai châu (nay là huyện Thiên thai) tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Hình thể núi như đóa sen 8 cánh úp xuống, có 8 nhánh, 8 khe, Thượng thai, Trung thai, Hạ thai, giống như chòm sao Thai có 3 sao, vì thế gọi là Thiên thai. Núi này do 8 ngọn hợp thành, tức các ngọn: Đồng bách, Xích thành, Bộc bố, Phật lũng, Hương lô, La hán, Đông thương và Hoa đính, trong đó, ngọn Hoa đính cao 1136 mét, là ngọn cao nhất. Theo truyền thuyết, núi này tên cũ là Nam nhạc, con vua Linh vương nhà Chu là Thái tử Tấn đến đây ở, sau khi chết, hồn ông trở thành thần núi, báo mộng cho các quan tả hữu bảo đổi tên núi là Thiên thai sơn. Núi rất quanh co nhiều lớp, có các núi Chiêu hiền, Kim đôn..., các ngọn Trích tinh, Ngọc nữ..., các hang Bách trượng, Sư tử..., các động Lưu nguyễn, Đơn hà... ; các khe Náo, Tú..., các đầm Huệ trạch, Linh trạch, Bách trượng, các hồ Tuyền, Mặc... Còn có suối nước ngọt, suối Trí giả, suối Tích trượng, ao mực, ao phóng sinh, đá 500 La hán... từ xưa đã rất nổi tiếng. Đây cũng là nơi ở ẩn của các Đạo sĩ, ẩn sĩ như Ba di, Thúc tề, Bành tông, Nguyễn triệu, Hứa mại, Cát huyền, Cố hoan, Diệp pháp thiện, Tư mã Thừa trinh, Lã đồng tân, Trương tử dương... Tương truyền, Phật giáo đến núi này khoảng năm Xích ô (238-251) đời Ngô thời Tam quốc, đầu tiên xây chùa Thanh hóa, am Thúy bình, không bao lâu, có các ngài Chi độn, Vu pháp lan, Đàm quang, Trúc đàmdu... lần lượt sáng lập các chùa như chùa Thê quang, chùa Ẩn nhạc, chùa Trung nham... Về sau, ngài Pháp thuận sáng lập chùa Bộc bố, ngài Tuệ minh sáng lập chùa Ngọa Phật. Ngài Tăng hộ ở Thạch thành phát nguyện tạo lập tượng Phật Di lặc bằng đá, các ngài Tăng thục, Tăng hựu nối tiếp sự nghiệp này và đến năm Thiên giám 15 (516) đời Lương thì tượng được hoàn thành. Ngoài ra, ngài Trí đạt sáng lập chùa Thêthiền, tôn giả Thiên hoa xây chùa Khai nghiêm, ngài Tăng hựu cũng cất chùa Bạch nham. Đến năm Thái kiến thứ 7 (575) đời Trần Tuyên đế thuộc Nam triều, ngài Trí khải dựng chùa Tu thiền (sau gọi là chùa Thiền lâm) ở ngọn Phật lũng, từ đó chùa Tu thiền trở thành đạo tràng căn bản của tông Thiên thai. Lúc về già, ngài Trí khải được Tấn vương (vua Dạng đế nhà Tùy sau này) xây dựng Thiên thai sơn tự để ngài an trụ và vào niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605), vua ban biển hiệu Quốc Thanh Tự, lịch đại Tổ sư tông Thiên thai đều trụ ở chùa này. Sau lại xây thêm chùa Bình điền. Năm Trinh quán thứ 6 (632) đời Đường, ngài Quán đính nhập tịch ở chùa Quốc thanh. Về sau, có các ngài Trí việt, Phổ minh, Trí uy... nối tiếp nhau trụ trì chùa này. Tương truyền, khi ngài Phong can trụ ở Quốc thanh thì ngài Thập đắc làm điển tọa, lúc đó thi sĩ Hàn sơn trụ ở hang Hàn nham thường đến chùa này xin ăn, giao du rất thân mật với ngài Thập đắc, làm hơn 300 bài thơ kệ. Sau, các ngài Huyền lãng, Trạm nhiên kế tiếp nhau đến trụ ở chùa này. Năm Kiến trung thứ 3 (782), ngài Trạm nhiên thị tịch ở đạo tràng Phật lũng, các đệ tử xây tháp thờ toàn thân xá lợi của ngài ở góc phía nam khu tháp của ngài Trí khải. Năm Trinh nguyên 20 (804) đời Đường, các vị tăng người Nhật bản là Tối trừng,Nghĩa chân... đến Thiền viện Trí giả (chùa Chân giác) theo học giáo pháp tông Thiên thai nơi các ngài Đạo thúy, Hành mãn... Sau khi về nước sáng lập tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản. Trong Pháp nạn Hội Xương (841-846), Vũ tông nhà Đường phá hoại Phật giáo, phần lớn chùa tháp ở núi Thiên thai bị hủy hoại. Thiền viện do sư Tối trừng của Nhật bản sáng lập trong chùa Thiền lâm nơi sư đã học Thiền với ngài Tiêu nhiên từ năm 804 cũng đã bị hoang phế. Sau, các ngài Viên trân, Viên giác đến Trung quốc lưu học xây dựng lại Thiền viện này và đặt tên là: Thiên thai sơn Quốc thanh tự Nhật bản quốc đại đức tăng viện(Tăng viện của các Đại đức Nhật bản ở chùa Quốc thanh tại núi Thiên thai). Các vị tăng Nhật bản đến Trung quốc du học phần nhiều thường lên chiêm bái núi Thiên thai. Trong các năm Long đức đời Hậu Lương, các ngài Đức thiều, Sư uẩn trụ ở Vân cư, nhận sự qui y của Ngô Việt vương và phục hưng lại các di tích cũ của ngài Trí khải. Từ cuối đời Đường về sau, Thiền tông hưng thịnh, cho nên các Thiền tự ở núi Thiên thai đặc biệt được xây cất rất nhiều. Vào thời Ngũ đại, các ngài Đức thiều, Nghĩa tịch phục hưng. Đến đời Tống, các ngài Tri lễ, Tuân thức dời trung tâm của giáo học Thiên thai đến núi Tứ minh, Tây hồ, về sau, núi Thiên thai dần dần suy vi. Đời Nguyên có ngài Vô kiến Tiên đổ trụ ở núi Thiên thai; đời Minh thì có các ngài Đàm ngạc, Tượng tiên Chân thỉnh, Dịch am Như thông, Nguyệt đình Minh đắc... trụ núi này. Nhưng đến khoảng các năm Hoằng trị, Chính đức đời Minh thì giáo tích của tông Thiên thai ở núi này hầu như đã suy diệt. Trong núi Thiên thai vốn có 72 ngôi chùa Phật, đến khoảng năm Vạn lịch đời Minh thì đã bị phá phân nửa, còn phân nửa. Hiện nay còn các chùa: Quốc thanh, Chân giác, Cao minh, Đại Phật, Hoa đính, Thượng phương quảng, Hạ phương quảng, Vạn niên, Bảo tướng... Trong đó, chùa Quốc thanh là đạo tràng căn bản, các điện đường còn nguyên vẹn, nổi tiếng nhất. Chùa Chân giác là nơi an táng ngài Tríkhải, trước tháp có 2 tòa tháp bằng đá, hiệu là Định tuệ chân thân tháp viện. Chùa Cao minh còn lưu giữ di tích ngài Trí khải giảng kinh Tịnh danh, hiệu là Trí giả U khê đạo tràng.Chùa Bảo tướng cũng gọi là chùa Xích thành, chùa Đại Phật là nơi ngài Trí khải thị tịch, thời Ngô Việt vương, ngài Đức thiều xây dựng điệnđường, hiệu là Bảo quốc Hoa nghiêm viện, đến đời Tống mới đổi tên như hiện nay. Trên đỉnh núi có ngôi tháp gạch gồm 7 tầng cao 20 trượng, do Vương phi Nhạc dương xây cất vào đời Lương, hiện nay chỉ còn 4 tầng. Ngoài ra, còn có 5 động là Phi hà, Ngọc kinh, Xan hà, Hoa dương và Tử dương. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập giải Q.thượng; Lương cao tăng truyện Q.11, 13, 14; Quốc thanh bách lục Q.2, 3, 4; Tùy Thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện, Thiên thai sơn phương ngoại chí; Pháp hoa trì nghiệm kí Q.thượng; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 121-126; Chức phương điển 995-1000, 1002; Thiên thai hà tiêu Q.5, phần 4; Chi na Phật giáo sử tích bình giải Q.4].
thiên thai tam giáo
Ba giáo của Thiên Thai tông. Theo tông Thiên Thai thì giáo thuyết của Phật Thích Ca được chia làm ba loại—Three modes of Sakyamuni's teaching, according to the T'ien T'ai: (A) Đại Cương Tam Giáo: 1) Đốn giáo: Tức thì khai ngộ—The sudden or immediate teaching, by which the learner is taught the whole truth at once. 2) Tiệm giáo: Từ từ khai ngộ—The gradual teaching. 3) Bất định giáo: The undetermined or variable method whereby he is taught what he is capable of receiving. (B) Quyền Môn Tam Giáo: 1) Tiệm Giáo: Gradual Teaching. 2) Đốn Giáo Immediate Teaching. 3) Viên Giáo: Perfect teaching—The last being found in the final or complete doctrine of the Lotus Sutra. (C) 1) Tam Tạng Giáo: The Tripitaka doctrine or orthodox Hinayana. 2) Thông Giáo: Intermediate, or interrelated doctrine, such as Hinayana-cum-Mahayana. 3) Biệt Giáo: Differentiated or separated doctrine, such as the early Mahayana as a cult or development, as distinct from Hinayana.
; (天臺三教) Chỉ cho 3 giáo trong phán giáo của tông Thiên thai. Gồm 3 loại: 1. Đại cương tam giáo: Đốn giáo, Tiệm giáo và Bất định giáo. Ngoài Bí mật giáo trong 4 giáo Hóa nghi của tông Thiên thai, 3 giáo này thu nhiếp các kinh trước khi kinh Pháp hoa xuất hiện. 2. Quyền môn tam giáo: Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo trong 4 giáo Hóa pháp. 3. Chỉ cho Tiệm giáo, Đốn giáo và Viên giáo: Tổng nhiếp giáo pháp 1 đời của đức Thích tôn. Viên giáo tức chỉ cho kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa kinh khoa chú Q.1, phần cuối].
thiên thai tam sinh
(天臺三生) Ba giai đoạn biểu thị tướng thành tựu Phật đạo do tông Thiên thai lập ra. Đó là: 1. Chủng: Gieo giống. Tức đầu tiên phải gieo giống thành Phật đắc đạo. 2. Thục: Chín mùi. Tức tu hành theo thứ tự cho đến thành thục. 3. Thoát: Giải thoát. Tức việc tu hành đã thành tựu, nhân viên quả mãn. Ba giai đoạn này hoặc phối hợpvớilâu xa, trung bình và đời này, hoặc lập trong1 đời, 1 niệm. Tam sinh chỉ hiển bày sự khác nhau giữa 3 giai đoạn mà thôi. [X. Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.1]. (xt. Chủng Thục Thoát).
thiên thai tam thời giáo
Theo tông Thiên Thai, giáo thuyết của Đức Phật có thể chia làm ba thời kỳ, thí, khai, và phế—According to the T'ien-T'ai sect, Buddha's teaching can be divided into three periods of bestowing, opening, and abrogating—See Thí Khai Phế.
thiên thai thiều quốc sư
Thiên Thai Thiều Quốc Sư là một Tăng sĩ đã phục hưng tông phái Thiên Thai bằng cách du hành sang Cao Ly để ghi chép lại Thiên Thai Tam Bộ còn giữ được nguyên bản của Ngài Trí Giả, rồi trở về xây dựng chùa chiền và chấn hưng tông phái. Ngài được Tiền Chu (960-997 sau Tây Lịch), lúc bấy giờ là vua của nước Ngô Việt mà kinh đô ở Hàng Châu phong cho ngài làm Quốc Sư—T'ien-T'ai Shao Kuo Shih, a Chekiang priest who revived the T'ien-T'ai sect by journeying to Korea, where the only copy of Chih-I's works existed, copied them, and returned to revive the T'ien-T'ai school. Ch'en-Shu (960-997 AD), ruler of Wu-Yueh, whose capital was at Hangchow, entitled him Imperial Teacher.
thiên thai thập tổ
Mười vị Tổ của tông phái Thiên Thai—The ten patriarchs of the T'ien-T'ai sect: 1) Từ tổ thứ nhất đến tổ thứ 9 đã nói trong Thiên Thai Cửu Tổ—From 1 to 9 already mentioned in the nine patriarchs of the T'ien-T'ai sect—See Thiên-Thai Cửu Tổ. 10) Tổ thứ mười của tông phái Thiên Thai là ngài Đạo Thúy. Ngài được xem là tổ thứ mười tại Nhật Bổn, vì ngài là người đã mang giáo pháp Thiên Thai truyền qua Nhật vào thế kỷ thứ chín và là thầy của Tuyền Giáo Đại Sư (sơ tổ tông Thiên Thai tại Nhật)—The ten patriarch was Tao-Sui. He was considered a patriarch in Japan, because he was the teacher of Dengyo Daishi who brought the Tendai system to that country in the ninth century.
thiên thai thập định
The T'ien-T'ai's ten fields of meditation or concentration—See Chỉ Quán Thập Định.
thiên thai tiểu chỉ quán
(天臺小止觀) Cũng gọi Đồng mông chỉ quán. Tác phẩm, 1 quyển, do Đại sư Thiên thai Trí khải soạn, có 2 loại bản, trong đó, bản Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu được thu vào Đại chính tạng tập 64. Tiểu chỉ quán là đối lại với Đại chỉ quán (tức bộ Ma ha chỉ quán 10 quyển). Sách này tuy nhỏ nhưng thuyết minh về yếu nghĩa của Chỉ quán, cho nên được gọi chung là Tiểu chỉ quán. Lạivìnhững điều đượcnói trong Ma ha chỉ quán phần nhiều sâu xa, kín nhiệm, còn Tiểu chỉ quán rất mộc mạc, bình dị nên gọi là Đồng mông (con trẻ cũng đọc được). Nội dung nói về tácphápvà dụng tâm tọa thiền, là cuốn sách chỉ nam về tọa thiền. Nội đề và soạn hiệu của Thiên thai chỉ quán có 2 loại: Một là Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu, do sa môn Trí khải chùa Tu thiền núi Thiên thai soạn; hai là Lược minh khai mông sơ học tọa thiền chỉ quán yếu môn, do Khải thiền sư núi Thiên thai giảng, sa môn nước Tề là Tịnh biện ghi lại. Hai sách trên tuy là cùng bản nhưng nội dungcó rất nhiều chỗ khác nhau và bản Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu được lưu hành rộng rãi hơn. [X. Tùy Thiên thaiTrí giả đại sư biệt truyện; Khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần cuối; Duyệt tạng tri tân Q.39].
thiên thai truyện phật tâm ấn kí
(天臺傳佛心印記) Cũng gọi Phật tâm ấn kí. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hoài tắc soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này thuyết minh về pháp Phật tâm ấn Tính cụ tính ác do tông Thiên thai truyền, đồng thời bài bác các nghĩa: Truyền riêng ngoài giáo, thấy tính thành Phật của Thiền tông; Định tính Nhị thừa của Tướng tông và Vô Phật tính của Tính tông. Sách chú thích có Thiên thai truyền Phật tâm ấn kí chú, 2 quyển, do ngài Truyền đăng soạn vào đời Minh. [X. Phật tổ thống kỉ Q.24; Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.42].
thiên thai trí giả
Trí Khải, his tự is Đức An and his surname is Trần, AD 538-597. Studying under Huệ Tư, he was greatly influenced by his teaching; and found in the Lotus sùtra, the real interpretation of Mahàyànism. In 575 he first came to Thiên Thai Sơn or Heavenly Terrace mountain and establish his school, which in turn was the foundation of important Buddhist shools in Korea and Japan.
Thiên Thai Tông
(天台宗, Tendai-shū): tên gọi của một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, học phái lấy Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Trí Khải (天台智者大師智顗, 538-597) của Trung Quốc làm vị Cao Tổ, lấy Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng (傳敎大師最澄, Saichō, 767-822) của Nhật làm Tông Tổ. Tông này còn được gọi là Pháp Hoa Viên Tông (法華圓宗) hay Thiên Thai Pháp Hoa Tông (天台法華宗). Chính vị tổ sư của tông này là Trí Khải đã từng sống ở núi Thiên Thai, nên lấy tên núi này đặt tên cho tông phái của mình. Tông này dựa trên tông chỉ của Pháp Hoa Kinh, lấy Ngũ Thời Bát Giáo (五時八敎) làm giáo tướng, rồi lấy Thập Thừa Quán Pháp (十乘觀法), Nhất Niệm Tam Thiên (一念三千), Thập Giới Hỗ Cụ (十界互具), Chư Pháp Thật Tướng (諸法實相) làm quán tâm mà tu tập. Ở Trung Quốc,trước thời Trí Khải có Huệ Văn (慧文) và Huệ Tư (慧思), sau này Trí Khải đã để lại rất nhiều trước tác như Tam Đại Bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa (三大部法華玄義), Pháp Hoa Văn Cú(法華文句), Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀),v.v. Tiếp theo đó trải qua các đời của Quán Đảnh (觀頂), Trí Uy (智威), Huệ Uy (慧 威), Huyền Lãng (玄朗), cho đến Lục Tổ Kinh Khê Trạm Nhiên (湛然) đã tiến hành chú thích rất nhiều kinh điển và làm cho tông này hưng thịnh tột độ. Đến dưới thời vị tổ thứ 12 là Thanh Tủng (清竦) có hai nhân vật Nghĩa Tịch (義寂) và Chí Nhân (志因); từ đó tông này chia thành 2 phái là Sơn Gia (山家) và Sơn Ngoại (山外). Phái Sơn Gia có Trí Lễ (智禮) xuất hiện và đã nỗ lực phục hưng tông phong. Đối với trường hợp Nhật Bản thì cả 3 bộ kinh luận của Thiên Thai Đại Sư đều được truyền vào nhưng không phát triển cho mấy; sau này Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng mới học giáo lý này, sang nhà Đường cầu pháp và trực tiếp được chân truyền, vì thế ông được xem như là vị tổ khai sáng ra Thiên Thai Tông Nhật Bản. Đối với Thiên Thai Tông của Nhật, ngoài Thiên Thai Viên Giáo ra còn có sự hợp nhất của Thiền pháp, Viên Đốn Giới, và Mật Giáo nữa. Đây chính là đặc thù nỗi bật nhất của Thiên Thai Tông Nhật Bản, khác với Thiên Thai Tông của Trung Quốc. Đặc biệt từ sau thời của Từ Giác Đại Sư Viên Nhân (慈覺大師圓仁) và Trí Chứng Đại Sư Viên Trân (智証大師圓珍) thì yếu tố mang tính Mật Giáolại càng mạnh thêm. Tuy nhiên, về sau Phái Sơn Môn (山門派) của Từ Giác (慈覺) lấy trung tâm là Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) trên Tỷ Duệ Sơn, còn Phái Tự Môn (寺門派) của Trí Chứng (智証) lấy Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) làm trung tâm, bắt đầu phân liệt và tranh giành nhau thế lực. Bên cạnh đó lại xuất hiện Thiên Thai Luật Tông (天台律宗) của Phái Chơn Thạnh (眞盛派), bắt đầu tách riêng ra khỏi sơn môn vào cuối thế kỷ thứ 15. Chính Đạo Nguyên (道元, Dōgen), Vinh Tây (榮西, Eisai), v.v., tổ sư khai sáng các tông phái Thiền của Nhật sau này, cũng đã từng xuất gia theo Thiên Thai Tông, và cũng từ đây mà chuyển hướng sang Thiền. Sau khi vị Tông Tổ qua đời, nội bộ mâu thuẩn nhau và các dòng phái phân chia rõ rệt. Trong đó, có ba dòng căn bản nhất của Thai Mật là Dòng Căn Bản Đại Sư (根本大師流), Dòng Từ Giác Đại Sư (慈覺大師流) và Dòng Trí Chứng Đại Sư (智証大師流). Trong ba dòng trên thì dòng của Từ Giác Đại Sư là dòng hưng thạnh nhất, rồi từ hai dòng nầy lại xuất hiện ra hai nhân vật nổi tiếng là Hoàng Khánh (皇慶) ở Đông Tháp Nam Cốc và Giác Siêu (覺超) ở Hoành Xuyên (横川). Sau nầy, hai vị nầy lại phân chia thành hai dòng khác gọi là Dòng Cốc (谷流) và Dòng Xuyên (川流). rồi từ hai dòng nầy, lại phân chia thành 13 chi nhánh nhỏ khác, gọi chung là 13 dòng Thai Mật. Đồng thời với sự phân phái mạnh mẽ của Thiên Thai Mật Giáo thì Thiên Thai Viên Giáo vốn lấy giáo học của vị Tông Tổ làm trung tâm đã phát triển rõ rệt. Khởi đầu là hai vị môn hạ tuyệt bích của Từ Huệ Đại Sư Lương Nguyên (良源) là Huệ Tâm Viện Nguyên Tín (慧心院源信) và Đàn Na Viện Giác Vận (檀那院覺運). Họ lấy tên mình đặt cho hai dòng phái là Dòng Huệ Tâm và Đàn Na. Hai dòng nầy lại phân chia thành 8 dòng khác, gọi là Huệ Đàn Bát Lưu (慧檀八流). Theo bản Tôn Giáo Niên Giám (宗敎年鑑, năm 1997) của Bộ Văn Hóa Nhật Bản, hiện tại trong hệ Thiên Thai có các tông phái như sau: (1) Thiên Thai Tông (天台宗, 3,349 ngôi chùa), (2) Thiên Thai Tự Môn Tông (天台寺門宗, 235 ngôi chùa), (3) Thiên Thai Chơn Thạnh Tông (天台眞盛宗, 426 ngôi chùa), (4) Bổn Sơn Tu Nghiệm Tông (本山修驗宗, 218 ngôi chùa), (5) Kim Phong Sơn Tu Nghiệm Bổn Tông (金峰山修驗本宗, 211 ngôi chùa), (6) Hòa Tông (和宗, 29 ngôi chùa), (7) Phấn Hà Quan Âm Tông (粉河觀音宗, 5 ngôi chùa), (8) Vũ Hắc Sơn Tu Nghiệm Bổn Tông (羽黑山修驗本宗, 23 ngôi chùa), (9) Thánh Quan Âm Tông (聖觀音宗, 26 ngôi chùa). Một số ngôi chùa trung tâm nổi tiếng của tông này là Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji, Shiga-ken), Trung Tôn Tự (中尊寺, Chūson-ji, Iwate-ken), Luân Vương Tự (輪王寺, Rinnō-ji, Tōchigi-ken), Khoan Vĩnh Tự (寛永寺, Kanei-ji, Tōkyō-to), Thiện Quang Tự (善光寺, Zenkō-ji, Nagano-ken), Tư Hạ Viện (滋賀院, Shiga-in), Diệu Pháp Viện (妙法院, Myōhō-in, Kyōto-shi), Tam Thiên Viện (三千院, Sanzen-in, Kyōto-shi), Thanh Liên Viện (青蓮院, Shōren-in, Kyōto-shi), Mạn Thù Viện (曼殊院, Manshu-in, Kyōto-shi), Tỳ Sa Môn Đường (毘沙門堂, Bishamon-dō, ), Mao Việt Tự (毛越寺, Mōtsū-ji, Iwate-ken), Thâm Đại Tự (深大寺, Jindai-ji, Tōkyō-to), Quang Tiền Tự (光前寺, Kōzen-ji, Nagano-ken), Thủy Gian Tự (水間寺, Mizuma-dera, Ōsaka-fu), (圓敎寺, Engyō-ji, Hyōgo-ken), v.v.
Thiên Thai tông
天台宗; C: tiāntāi-zōng; J: tendai-shū;|Một tông phái Phật giáo Trung Quốc do Trí Khải (538-597) sáng lập. Giáo pháp của tông phái này dựa trên kinh Diệu pháp liên hoa.|Thiên Thai tông xem Long Thụ (s: nāgār-juna) là Sơ tổ vì ba quan điểm chính (Ba chân lí) của tông phái này dựa trên giáo lí của Long Thụ – đó là: tất cả mọi hiện tượng dựa lên nhau mà có và thật chất của chúng là tính Không (s: śūnyatā). Mọi hiện tượng là biểu hiện của một thể tuyệt đối, đó là Chân như (s: tathatā). Tông phái này gọi ba chân lí đó là không (空), giả (假) và trung (中):|1. Chân lí thứ nhất cho rằng mọi Pháp (s: dharma) không có thật thể và vì vậy trống rỗng;|2. Chân lí thứ hai cho rằng, tuy thế, các pháp vẫn có một dạng tồn tại tạm thời với thời gian và giác quan con người có thể nắm bắt được;|3. Chân lí thứ ba tổng hợp hai chân lí đầu, cho rằng thể của sự vật lại không nằm ngoài tướng, không thể bỏ hiện tượng để tìm bản chất, thể và tướng là một.|Quan điểm này nhấn mạnh tính toàn thể và xuyên suốt của sự vật. Cái toàn thể và cái riêng lẻ là một. Toàn bộ các pháp có khác nhau nhưng chúng đan lồng vào nhau, cái này chứa đựng cái kia. Không, giả và trung chỉ là một và từ một mà ra.|Các Ðại sư của tông phái này hay nói »toàn thể vũ trụ nằm trên đầu một hạt cải« hay »một ý niệm là ba ngàn thế giới.« Tổ thứ hai của tông này là Huệ Văn, Tổ thứ ba là Huệ Tư và Tổ thứ tư là Trí Khải. Dưới sự lĩnh đạo của Ðại sư Trí Khải, giáo lí của tông Thiên Thai đã đạt đến tuyệt đỉnh.|Phép tu của Thiên Thai tông dựa trên phép thiền Chỉ-Quán, và chứa đựng các yếu tố mật tông như Man-tra (thần chú) và Man-đa-la (s: maṇḍala). Tông này sau được Truyền Giáo Ðại sư Tối Trừng (767-822), đệ tử của Tổ thứ 10 Thiên thai tông, truyền qua Nhật trong thế kỉ thứ 9. Tại đây, Thiên Thai tông đóng một vai trò quan trọng.|Thiên Thai tông được xem như một tông phái rộng rãi vì nó tổng hợp, chứa đựng nhiều quan điểm của các phái khác. Sự tổng hợp này phản ánh trong quan điểm »năm thời, tám giáo« (五時八教; Ngũ thời bát giáo), trong quan niệm mọi loài đều có Phật tính và vì vậy Thiên Thai tông có đầy đủ phương tiện đưa đến giác ngộ. Các bộ luận quan trọng của Thiên Thai tông là: Ma-ha Chỉ-Quán (s: mahā-śamatha-vipāśyanā), Lục diệu pháp môn và những bài luận của Trí Khải về kinh Diệu pháp liên hoa.|Phép Chỉ-Quán có hai mặt: Chỉ là chú tâm và qua đó thấy rằng mọi pháp đều không. Nhờ đó không còn ảo giác xuất hiện. Quán giúp hành giả thấy rằng, tuy mọi pháp đều không, nhưng chúng có một dạng tồn tại tạm thời, một sự xuất hiện giả tướng và lại có một chức năng nhất định. Trí Khải phân chia kinh sách thành »năm thời và tám giáo« với mục đích hệ thống hoá Phật giáo theo trình tự thời gian và theo nội dung giáo pháp. Sự phân chia đó cũng giúp giải thích các vấn đề siêu hình. Hơn các tông phái khác, Thiên Thai tông là phái tìm cách thống nhất mọi giáo pháp trong hệ thống của mình bằng cách dành cho mọi kinh sách một chỗ đứng và xem Tiểu thừa cũng như Ðại thừa đều là những lời dạy của chính đức Phật.|Sự phân chia làm năm thời dựa trên trình tự thời gian như sau: 1. Thời giáo Hoa nghiêm, 2. Thời giáo A-hàm, 3. Thời giáo Phương đẳng, 4. Thời giáo Bát-nhã ba-la-mật-đa và 5. Thời giáo Diệu pháp liên hoa và Ðại bát-niết-bàn.|Thời giáo thứ nhất chỉ kéo dài 3 tuần, theo Trí Khải, dựa trên Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) là giai đoạn giáo hoá của Phật ngay sau khi Ngài đắc đạo. Kinh Hoa nghiêm chỉ rõ, toàn thể vũ trụ chỉ là phát biểu của cái Tuyệt đối. Thời đó các vị đệ tử của Phật chưa lĩnh hội được điều này. Vì thế mà Phật bắt đầu giảng các kinh A-hàm (s: āgama), thời giáo thứ hai. Trong giai đoạn này, Phật chưa nói hết tất cả, chỉ thuyết những điều mà đệ tử có thể hiểu nổi. Ngài thuyết Tứ diệu đế, Bát chính đạo và thuyết Mười hai nhân duyên. Thời giáo này kéo dài 12 năm. Trong thời giáo thứ ba, Phật bắt đầu giảng giai đoạn sơ khởi của Ðại thừa. Ngài nhắc đến tính ưu việt của một vị Bồ Tát nếu so sánh với một vị A-la-hán và nhấn mạnh đến sự đồng nhất giữa Phật và chúng sinh, giữa Tương đối và Tuyệt đối. Thời giáo thứ tư, kéo dài 22 năm, chứa đựng giáo pháp của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, tức là nói đến tính Không của vạn sự và cái ảo tưởng giả tạo của mọi hiện tượng nhị nguyên. Thời giáo cuối cùng, thời giáo thứ năm, bao gồm 8 năm cuối đời đức Phật. Trong thời giáo này, Phật thuyết về thể tính duy nhất của mọi hiện tượng tưởng chừng rất khác biệt. Ba thừa là Thanh văn, Ðộc giác và Bồ Tát thừa chỉ có giá trị tạm thời và nằm chung trong một thừa duy nhất, đó là Nhất thừa (s: ekayāna) hay Phật thừa (s: buddhayāna). Trong thời giáo cuối cùng này, thời giáo của kinh Diệu pháp liên hoa và Ðại bát-niết-bàn, Phật đã nói rõ và trọn vẹn nhất giáo lí của mình. Ðó là năm thời giáo theo thứ tự thời gian.|Thiên Thai tông cũng chia giáo pháp đức Phật ra làm tám hệ thống, trong đó bốn hệ thống dựa trên phương pháp và bốn dựa trên tính chất. Bốn hệ thống có tính phương pháp luận là: 1. Phương pháp đốn ngộ, dành cho hạng đệ tử xuất sắc nhất có khả năng tiếp cận sự thật nhanh chóng. Ðó là phương pháp của kinh Hoa nghiêm; 2. Phương pháp tiệm ngộ, đi từ giản đơn đến phức tạp, là phương pháp của các kinh A-hàm, Phương đẳng, Bát-nhã ba-la-mật-đa. Còn kinh Diệu pháp liên hoa lại không thuộc »đốn« hay »tiệm« mà chứa đựng sự thật cuối cùng; 3. Phương pháp mật giáo, là cách Phật dạy cho một người nhất định và chỉ người đó được lĩnh hội. Phương pháp này có thể được Phật áp dụng trong chốn đông người, nhưng nhờ thần thông của Phật chỉ có người đó được hiểu; 4. Phương pháp bất định, là phương pháp Phật dùng dạy cho nhiều người, nhưng mỗi người nghe hiểu khác nhau. Hai phương pháp 3 và 4 được Phật áp dụng khi người nghe có trình độ không đồng đều.|Bốn hệ thống có tính chất luận là: 1. Giáo pháp Tiểu thừa, dành cho Thanh văn và Ðộc giác Phật, 2. Giáo pháp tổng quát, bao gồm Tiểu thừa và Ðại thừa, dành cho Thanh văn, Ðộc giác và Bồ Tát cấp thấp. 3. Giáo pháp đặc biệt dành cho Bồ Tát và 4. Giáo pháp viên mãn, tức là giáo pháp trung quán phá bỏ mọi chấp trước. Kinh Hoa nghiêm đại diện cho giáo pháp 3 và 4. Kinh A-hàm là kinh của Tiểu thừa. Các kinh Phương đẳng chứa đựng cả 4 giáo pháp. Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa chứa giáo pháp 2, 3, 4. Cuối cùng thì chỉ có kinh Diệu pháp liên hoa chứa giáo pháp viên mãn.
thiên thai tông
Tendai (J), T'ien-t'ai (C), T'ien-t'ai Tsoung (C), Tendai shŪ (J)Tên một tông phái.
; The T'ien T'ai or Tendai sect đounded by Trí Khải. It bases its tenets on the Lotus sùtra.
; T'ien-T'ai School. (I) Thiên Thai tông Trung Quốc—Chinese T'ien-T'ai: (A) Lịch sử tông Thiên Thai—The history of the T'ien-T'ai School: Tông Thiên Thai là tông phái Phật giáo duy nhất còn tồn tại ngày nay tại Trung Quốc. Thiên Thai là tên của một hòn núi ở Thai Châu, miền nam Trung Hoa. Tông Thiên Thai được Đại Sư Trí Giả đời Tùy sáng lập, lấy tên núi đặt tên cho tông phái. Trí Giả Đại Sư đã trú ngụ tại núi Thiên Thai và giảng dạy đồ chúng suốt thời nhà Trần và Tùy. Tông phái do ông thành lập thường được gọi là Thiên Thai theo tên núi, nhưng đúng tên của nó là Pháp Hoa vì tông nầy lấy Kinh Pháp Hoa làm bản kinh. Tông phái chủ trương khai mở chân lý vạn pháp bằng thiền quán. Tông cực thịnh vào đời nhà Đường. Dưới thời nhà Tống khi tông phái nầy suy vi, thì Sư Tứ Minh khởi lên trung hưng tông nầy và hiển dương chính tông của Sơn Gia, trong khi Sơn Ngoại thì có Sư Ngộ Ân, nhưng về sau nầy phái Sơn Ngoại bị mai một, còn phái Sơn Gia với giáo thuyết thâm sâu và sự trung hưng của Sư Tứ Minh, nên đã lan truyền qua đến Nhật Bản—T'ien-T'ai is the only living Buddhist school in China today. T'ien-T'ai is the name of a mountain in T'ai-Chou, South China. This school was founded by Great Master Chih-Chê (or Chih-I). The T'ien-T'ai or Tendai Sect was named after the name of the mountain. Chih-I lived on the mountain and taught his disciples during the Ch'ên and Sui Dynasties. The school founded by him was generally called the T'ien-T'ai (after the name of the mountain), but was properly named the Fa-Hua after the title of the text Saddharma-pundarika from which the doctrine of the school is derived. It maintains the identity of the Absolute and the world of phenomena, and attempts to unlock the secrets of all phenomena by means of meditation. It flourished during the T'ang dynasty. Under the Sung, when the school was decadent, arose Ssu-Ming, under whom there came the division of Hill or T'ien-T'ai School and the School outside, the later following Wu-ên and in time dying out; the former, a more profound school, adhered to Ssu-Ming; it was from this school that the T'ien-T'ai doctrine spread to Japan. Thiên Thai Tam Bộ (gồm Kinh Pháp Hoa với Luận Trí Độ, Kinh Niết bàn và Đại Phẩm Kinh). (B) Triết lý và kinh luận—Philosophy and chief works: a) Triết lý—Philosophy: Tuy là những bộ phái Phật giáo đều có nguồn gốc từ Ấn Độ, nhưng sự miệt mài nghiên cứu kinh điển Phật giáo của các học giả Trung Hoa đã làm xuất hiện những dạng thức tu hành hoàn toàn mới mẽ, dường như phát sanh ra từ bối cảnh Trung Hoa hơn là Ấn Độ. Ngài Trí Khải lập ra một hệ 'Tam Quán' có tên là Chí Quán hay sự quán triệt hoàn toàn. Hệ tam quán nầy gồm 'Không-Giả-Trung' (see Không Giả Trung): Although these Buddhist schools in China had their origin in Indian Buddhism, but the ceaseless study of the Buddhist texts by the Chinese schools resulted in completely new religious experiences which seem to have grown out of the historical background of China rather than of India. Chi-K'ai established a threefold system of comprehension which is called Chi-Kuan, or 'Perfect Comprehension.' This system consists of three comprehensions, namely, empty, hypothetical, and medial (see Không Giả Trung). b) Kinh luận—Main texts: các kinh sách chính của tông phái nầy gồm có kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đại Trí Độ Luận, kinh Niết Bàn, kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa: The main texts of the T'ien-T'ai sect include the The Wonderful Dharma of the Lotus Sutra (Saddharma-Pundarika-Sutra),the Mahaprajna-paramita-sastra, the Mahanirvana sutra, and the Mahaprajnaparamita sutra. c) Tác phẩm—Chief works: Ngài Trí Giả đã thuyết giảng Tam Bộ: Huyền Nghĩa (nói về giáo tướng), Văn Cú (nói về kinh văn), và Chỉ Quán (chỉ rõ nhất tâm quán hành): The three principal works of the T'ien-T'ai founder are called The Tri-Sutras of the T'ien-T'ai (Thiên Thai Tam Bộ), such as the exposition of the deeper meaning of the Lotus Sutra (Pháp Hoa Huyền Nghĩa), Exposition of its text (Văn Cú), and meditation which stressed on the “inner light” (Chỉ Quán). (II) Thiên Thai tông Nhật Bản—Japanese T'ien-T'ai: (A) Lịch sử tông Thiên Thai Nhật Bản—The history of the Japanese T'ien-T'ai: Tông Thiên Thai Nhật Bản được Đại sư Tối Trừng (Saicho) sáng lập tại Nhật vào năm 804. Ông thường được biết nhiều qua tên Dengyo-Daishi. Ông gia nhập Tăng đoàn khi còn trẻ và đi đến Trung Hoa để nghiên cứu thêm về đạo Phật. Tại đây ông được các luận sư của trường phái Thiên Thai nổi tiếng truyền dạy Chánh Pháp. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, thì Tối Trừng được Đạo Toại truyền cho học thuyết Thiên Thai và Bồ Tát giới, được Thuận Giáo truyền cho học thuyết Chân Ngôn tông, và Tu Nhiên truyền cho Thiền tông. Sau một năm lưu trú ở Trung Hoa, ông trở về Nhật Bản để truyền bá giáo lý mới nầy tại chùa Enryakuji trên núi Tỷ Duệ (Hiei). Ngôi chùa nầy chẳng bao lâu đã phát triển thành một trung tâm quan trọng cho tất cả mọi công cuộc nghiên cứu và tu tập Phật giáo tại Nhật—The T'ien-T'ai (Tendai) sect was founded in Japan in 804 A.D. by Saicho, who was better known as Dengyo-Daishi. He entered the Order young and went for further study to China, where he received instruction in the Dharma from teachers at the famous T'ien-T'ai school. According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, he received the T'ien-T'ai doctrine and the Bodhisattva ordination from Tao-Sui, the mystic doctrines (mantra) from Shun-Chiao, and the Zen meditation from Hsiu-Jan. On his return to Japan, he propagated the new doctrine in the temple called Enryakuji on Mount Hiei. This temple soon grew to be an important center of all Buddhist studies and practices in Japan. (B) Triết lý tông Thiên Thai—The philosophy of the Japanese T'ien-T'ai school: Dù rằng tông Thiên Thai Nhật Bản và Trung Quốc đều căn cứ chủ yếu vào kinh sách của Đại Thừa là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, và Ngũ thời Bát giáo, tông phái nầy khác với Thiên Thai Trung Hoa ở đường lối thực hành. Đại sư Tối Trừng đã đề ra phương pháp hành trì gọi là 'Trực giác của tâm.'—Even though both Chinese and Japanese T'ien-T'ai sects base themselves essentially on the Mahayana texts, i.e., the Saddharma-pundarika, and the T'ien-T'ai's Five Periods and Eight Doctrines, the Japanese T'ien-T'ai differs from the Chinese T'ien-T'ai in its practical approach. Dengyo Daishi also introduced a practical method called 'intuition of the mind' (kwanjin)—See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo. (C) Sự phát triển của tông Thiên Thai tại Nhật Bản—The development of the Tendai sect in Japan: Trung tâm giảng huấn trên núi Tỷ Duệ do đại sư Tối Trừng thành lập đã trở thành trung tâm lớn của nhành Phật học tại Nhật. Một thời đã có 3.000 tự viện làm túc xá cho học chúng, qui tụ tất cả mọi ngành Phật học hiển và mật. Hiện tại có ba chi phái của tông Thiên Thai, đó là Sơn Môn (Sammon), Tự Môn (Jinon), và Chân Thạnh (Shinsei). Chi phái sau nầy là Tịnh Độ. Những tự viện thuộc ba chi phái nầy hiện thời tính khoảng trên 4.000—The educational headquarters on Mount Hiei was established by Saicho and became the greatest center of Buddhist learning in Japan. Once there were some 3,000 monasteries to house the students thronging there from all branches of Buddhism, exoteric and esoteric. At present there are three branches of the Tendai in Japan; namely, Samon, Jimon, and Shinsei, the last being an Amita-pietism. The monasteries belonging to the three branches number more than 4,000 at the present time. *** For more information, please see Thiên Thai Sơn and Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo.
; (天臺宗) Cũng gọi Pháp hoa tông, Thiên thai pháp hoa tông, Thai tông, Viên tông, Thai gia.Tông phái lớn của Phật giáo Trung quốc, lấy giáo chỉ kinh Pháp hoa làm nền tảng, doĐại sư Trí khảitrụ ở núi Thiên thai sáng lập, là 1 trong 13 tông ở Trung quốc, 1 trong 8 tông ở Nhật bản. Ngài Trí khải vốn thờ Thiền sư Tuệ tư (511- 577) ở núi Nam nhạc làm thầy, tu tập 3 loại pháp Chỉ quán; Thiền sư Tuệ tư kế thừa yếu chỉ Nhất tâm tam trí nơi Thiền sư Tuệ văn đời Bắc Tề. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 1,phần đầu thì Thiền sư Tuệ văn nương vào luận Đại trí độ mà tu được pháp quán tâm, lại nêu bài kệ Trung luận làm nền tảng cho nhất tâm tam quán, sau khi ngài Tuệ tư học được pháp quán tâm ấy liền khai phát tam muội Pháp hoa, soạn ra Pháp hoa kinh an lạc hành nghi, Tùy tự ý tam muội, Chư pháp vô tránh tam pháp môn... Vào niên hiệu Thiên gia năm đầu (560) đời Trần, ngài Trí khải yết kiến Thiền sư Tuệ tư, thụ họctam muội Pháp hoa, 4 hạnh an lạc, đọc kinh Pháp hoa đến câu Thị chân tinh tiến, thị danh chân pháp cúng dường (là tinh tiến chân thực, đó gọi là pháp cúng dường chân thực), liền bừng tỉnh tỏ ngộ. Sau, sư đến chùa Ngõa quan ở Kim lăng dùng khai đề của kinh Pháp hoa để diễn giảng luận Đại trí độ, giải thích Thứ đệ thiền môn. Năm Thái kiến thứ 7 (575), ngài Trí khải đến núi Thiên thai, ở ẩn trong 10 năm. Sư soạn Pháp hoa huyền nghĩa, Ma ha chỉ quán và Pháp hoa văn cú, được gọi là Thiên thai tam đại bộ. Đầu đời Đường, sư đến chùa Ngọc tuyền ở Kinh châu giảng Pháp hoa huyền nghĩa, thuyết Ma ha chỉ quán, cho nên tông Thiên thai tuy tônồ tát Long thụ làm Sơ tổ, ngài Trí khải là tổ thứ 4, nhưng y cứ vào việc tập đại thành tư tưởng truyền thừa thì đúng ra ngài Trí khải mới là Tổ khai sáng của tông Thiên thai. Học trò của sư rất đông, đệ tử nối pháp thì có 32 vị, trong đó, ngài Quán đính (561- 632), thờ Đại sư Trí khải hơn 20 năm, có khả năng nhận lãnh và truyền trì di giáo của Đại sư. Ngài Quán đính soạn Đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa cập sớ, Quán tâm luận sớ... vài mươi quyển, là Tổ thứ 2. Rồi truyền thừa đến Tổ thứ 3 Trí uy, Tổ thứ 4 Tuệ uy, Tổ thứ 5 Huyền lãng, dưới ngài Huyền lãng có Tổ thứ 6 Trạm nhiên (711- 782) vốn tu tập Thai học hơn 20 năm. Sư mở rộng giáo pháp Thiên thai, từng được sắc triệu của 3 vị vua như Huyền tông... nhưng sư đều tạ từ. Sư chuyên việc soạn thuật và diễn giảng, được tôn xưng là Tổ trung hưng của tông Thiên thai. Soạn phẩm của sư gồm hơn 20 bộ như Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm, Pháp hoa văn cú kí, Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, Chỉ quán nghĩa lệ, Kim cương ti... Sư đề xướng các nghĩa Phi tình Phật tính, Vô tình hữu tính, chủ trương cây cỏ, gạch đá cũng có tính Phật. Ngoài ra, sư còn dung hợp tư tưởng của tông này với thuyết của luận Đại thừa khởi tín để xác lập nền tảng cho giáo học Thiên thai đời Tống. Đệ tử của sư có các vị Đạo thúy, Hành mãn, Nguyên hạo, Đạo xiêm, Minh khoáng... ngài Đạo thúy lại truyền cho các vị Tông dĩnh, Lương tư. Không bao lâu xảy ra pháp nạn Hội Xương và các cuộc chiến loạn ở cuối đời Đường, đầu thời Ngũ đại kéo dài, đã làm cho phần lớn sách vở chương sớ của tông Thiên thai bi thất lạc, do đó tông này dần dần rơi vào tình trạng suy vi. Sau, có vị tăng nước Cao li là ngài Đế quán, đáp lời thỉnh cầu của Trung ý vương nước Ngô Việt, mang 1 lượng lớn kinh sách Thiên thai đến Trung quốc, tông Thiên thai nhờ đó dần dần được phục hưng. Ngài Nghĩa thông từ nước Cao li đến thờ Tổ Nghĩa tịch thứ 12 của tông Thiên thai làm thầy, hoằng dương giáo quán, đó là Tổ thứ 13. Học trò của sư Nghĩa thông có các vị Tứ minh Tri lễ (960-1028), Từ vân Tuân thức..., ngài Tri lễ soạn Chi yếu sao, Diệu tông sao, cùng với hệ thống ngài Tuân thức đều cùng phái Thiên thai sơn gia. Một vị đệ tử khác của ngài Nghĩa tịch là Từ quang Chí nhân, truyền xuống cho các vị Ngô ân, Nguyên thanh, Hồng mẫn, Cô sơn Trí viên (976-1022), Phạm thiên Khánh chiêu (963-1017)... Hệ thống này gọi là phái Sơn ngoại. Cuộc tranh luận giữa 2 phái Sơn gia và Sơn ngoại bắt nguồn từ vấn đề chân, ngụy liên quan đến quảng bản Kim quang minh huyền nghĩa của Đại sư Trí khải, từ đó dần dần diễn biến thành cuộc tranh luận đối lập giữa Duy tâm luận và Thực tướng luận. Ngài Tri lễ thuộc phái Sơn gia từng đối lại với thuyết Chân tâm quán của ngài Ngô ân thuộc phái Sơn ngoại mà soạn Phù tông thích nạn đề xướng thuyết Vọng tâm quán đã làm cho cuộc luận chiến giữa 2 phái kéo dài đến 40 năm! Về phái Sơn ngoại, học trò ngài Khánh chiêu có các vị Hàm nhuận, Kế tề... tiếp nối. Học thuyết của phái Sơn ngoại thường bị chê trách là không thuần túy, cho nên chẳng bao lâu bị suy vi. Pháp hệ của ngài Tứ minh Tri lễ thuộc phái Sơn gia thì rất phồn thịnh, có 3 vị đệ tử là Quảng trí Thượng hiền, Thần chiếu Bản như và Nam bình Phạm trăn được gọi là Tứ minh tam gia. Đến đời Nguyên thì thế lực tông Thiên thai quá suy yếu, khó vực dậy được. Sang đời Minh, các ngài U khê, Truyền đăng, Chân giác... mở rộng Sơn gia chính tông. Đến ngài Ngẫu ích Trí húc (1599-1655) thì viện dẫn Duy thức, yếu chỉ Thiền tông để hỗ trợ cho việc phát huy giáo quán Thiên thai. Nhưng cũng vì đề xướng thuyết Tính, Tướng dung hợp, Thiền, Tịnh nhất trí mà tự rước lấy vận suy. Tông Thiên thai Nhật bản thì tôn Truyền giáo Đại sư Tối trừng làm Sơ tổ. Sư từng đến Trung quốc vào đời Đường thụ pháp nơi các vị đệ tử ngài Trạm nhiên như Đạo thúy, Hành mãn... Sau khi trở về Nhật bản, sư khai sáng yếu chỉ nhất trí giữa 4 tông: Viên giáo, Thiền, Viên giới và Mật giáo ở núi Tỉ duệ, khác với tông Thiên thai của Trung quốc. Rồi đệ tử của ngài Tối trừng là sư Viên nhân và đệ tử của ngài Nghĩa chân là sư Viên trân cũng lần lượt đến Trung quốc vào đời Đường thờ các ngài Tông dĩnh, Lương tư làm thầy, học giáo pháp Thiên thai, lại còn thụ học các pháp bí yếu của 3 bộ Kim, Thai, đại pháp Tô tất địa và các kinh quĩ tân dịch, làm cho giáo học Mật giáo Thiên thai được phát triển phổ biến. Đến thời ngài An nhiên thì tông Thiên thai của Nhật bản đã được Mật giáo hóa một cách cực đoan. Từ ngài Nghĩa chân về sau, vị Tọa chủ Thiên thai thống trị một tông, nhưng đến các ngài Viên nhân, Viên trân trở đi thì pháp hệ tách ra làm hai. Đồ chúng của ngài Viên trân đi ra khỏi núi Tỉ duệ, trụ ở chùa Viên thành(chùa Tam tỉnh) gọi là Tự môn; núi Tỉ duệ thì gọi là Sơn môn. Sơn môn đến thời ngài Lương nguyên, giáo học lấy Viên giáo sẵn có làm tông chỉ, các đệ tử ưu tú xuất hiện rất đông và thế lực tông này nổi lên khá mạnh. Đệ tử ngài Lương nguyên là Nguyên tín thì cổ xúy tư tưởng Tịnh độ, lập ra dòng Huệ tâm; một vị đệ tử khác là Giác vận thì lập dòng Đàn na, gọi chung là Huệ Đàn Nhị Lưu (Hai dòng Huệ-Đàn). Cộng chung, hệ thống Thai mật(Mật giáo thuộc tông Thiên thai) đến đời sau, có tất cả 13 dòng phái thuộc tông Thiên thai. Đến cuối thời kì Bình an về sau thì các dòng phái thuộc tông Thiên thai nói trên dần dần xem trọng khẩu truyền, do đó sinh ra chủ trương Khẩu truyền pháp môn. Trái lại, phương diện giáo học thì dần dần suy vi. Ngoài ra, sự vùng dậy của tăng binh, sự tranh cướp của chính quyền, cộng với việc đốt phá của Chức điền Tín trường... đều đã góp phần đưa núi Tỉ duệ đến thời sụp đổ. Cho mãi đến thời đại Giang hộ, núi Đông duệ, núi Nhật quang lần lượt được khai sáng mới phục hồi được sự hưng thịnh như xưa. Lại nhờ Mạc phủ đương thời khuyến khích việc học vấn nên giáohọc cũng dần dần phục hưng. Hiện nay có các tông phái như: Tông Thiên thai (chùa Diên lịch, núi Tỉ duệ), tông Thiên thai tự môn(chùa Viên thành), tông Thiên thai chân thịnh (chùa Tây giáo)... Giáo nghĩa của tông Thiên thai có thể lược chia ra các khoa: Tam đế viên dung, Nhất niệm tam thiên, Nhất tâm tam quán, Lục tức...Tông này lại dùng 5 thời 8 giáo để phán thích Thánh giáo một đời của đức Phật.Từ đời Dân quốc (1912) về sau, Thiên thai học được phục hưng nhờ sự nỗ lực của Đại sư Đế nhàn (1858-1932), ngài sáng lập Quán tông nghiên cứu xã, chuyên môn giáo dục người học Thiên Thai, nhân tài xuất hiện rất nhiều, như các vị tôn túc: Nhân sơn, Thường tỉnh, Bảo tĩnh, Tĩnh tu,Đàm hư, Thiên định, Khả đoan... [X. Phật tổ thống kỉ Q.5-22; Thiên thai cửu tổ truyện; Thiên thai sơn phương ngoại chí; Bát tông cương yếu Q.hạ; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.12]. (xt. Sơn Gia Sơn Ngoại; Ngũ Thời Bát Giáo, Thai Mật, Tam Đế, Nhất Niệm, Tam Thiên, Nhất Tâm Tam Quán, Lục Tức).
thiên thai tông toàn thư
(天臺宗全書) Tùng thư, 25 tập, do hội Thiên thai tông điển san hành của Nhật bản biên soạn, được ấn hành từ tháng 4 năm Chiêu hòa thứ 10 (1935) đến tháng 5 năm Chiêu hòa 12 (1937). Nội dung bộ tùng thư này sưu tập rất rộng, bao gồm các chú thích về văn hiến của tông Thiên thai Trung quốc, Nhật bản và các chương sớ của Hiển giáo, Mật giáo, do chùa Chân thịnh và hội xuất bản Đại tạng tại Tokyo phát hành.
Thiên Thai tông 天台宗
[ja] テンダイシュウ Tendaishū. ||| Tiantai zong; one of the thirteen schools of Buddhism in China 十三宗, and Japan. Also called the "Lotus Sutra School" 法華宗. (1) China: A Mahāyāna school established by Zhiyi 智顗 of Tiantai mountain. Zhiyi, taking the Lotus Sutra 法華經 as his basis, classified the other Buddhist sutras into five periods 五時 and eight types of teachings; he discussed the theory of perfect interpenetration of the triple truth 三諦 and taught the rapid attainment of Buddhahood through the practice of observing the mind. The Chinese line of transmission starts with Huiwen 慧文 of the Northern Chi and follows with Huisi 慧思. Next Zhiyi explained the three great scriptures of the school 法華三部 emphasizing both scriptural study and practice. The sixth patriarch, Jingqi 荊溪 also popularized the sect through his commentaries on these three scriptures. (2) Korea: Tiantai was introduced to Korea as Ch'ŏnt'ae a couple of times during earlier periods, but was not firmly established until the time of Ŭich'ŏn 義天 (1055-1101) who established Ch'ŏnt'ae in the Koryŏ as an independent sect. Due to Ŭich'ŏn's influence, it came to be a major force in the world of Koryŏ Buddhism. After he returned from Song China in 1086, Ŭich'ŏn sought to ease conflict between the doctrinal 教 schools and Sŏn 禪 schools, believing that the Ch'ŏnt'ae doctrine would be effective to this end. Ch'ŏnt'ae would eventually die out in Korea, its teachings being absorbed into the Chogye Sŏn 曹溪tradition. (3) Japan: The Tiantai teaching was brought to Japan by Jianshen 鑑眞 in the middle of the 8th century, but it was not widely accepted. In 805, Saichō 最澄 brought back the Tendai teachings from China and made the temple that he had built on Mt. Hiei 比叡山, the Enryakuji, a center for the study and practice of Tendai. However, what he had transmitted from China was not exclusively Tendai, but also included Zen 禪, Esoteric 密教 and Monastic Discipline 戒律 teachings. This tendency became more marked in the doctrines of his successors, such as Ennin 圓仁 and Enchin 圓珍. The Tendai sect flourished under the patronage of the imperial family and nobility in Japan. => (j: Tendaishū; c: Tiantai zong); một trong 13 tông phái Phật giáo ở Trung Hoa và Nhật Bản . Còn gọi là Pháp hoa tông. 1. Ở Trung Hoa: Đại thừa Phật giáo do Trí Khải ở núi Thiên Thai khai sáng, sư dùng kinh Pháp hoa làm tông chỉ, phân loại các kinh điỉen Phật giáo làm Ngũ thời Bát giáo; sư đề ra giáo lý viên dung về Tam đế, và dạy phương pháp đốn ngộ Phật tính thông qua pháp quán tâm. Sự truyền thừa dòng Thiên Thai ở Trung Hoa bắt đầu từ Huệ Văn (c: Huiwen 慧文), người Bắc Tề và được kế thừa bởi Huệ Tư (c: Huisi 慧思). Trí Khải còn giải thích Pháp hoa tam bộ, chú trọng cả nghiên cứu lẫn thực hành. Vị tổ thứ sáu của tông nầy, Hình Khê (c: Jingqi 荊溪) cũng truyền bá tông phong qua việc chú giải ba bộ kinh nầy. 2. Triều Tiên: Tông Thiên Thai được du nhập vào Triều Tiên với tên gọi Ch'ŏnt'ae một vài lần trong thời kỳ trước, nhưng không được củng cố vữmh chắc mãi cho đến khi Nghĩa Thiên (k: Ŭich'ŏn 義天 ; 1055-1101), người đã sáng lập tông Thiên Thai ở Cao Lệ (k: Koryŏ) như một tông pgái độc lập. Nhờ ảnh hưởng của Nghĩa Thiên, tông Thiên Thai trở thành một dòng chính trong thế giới quan Phật giáo Cao Lệ. Sau khi Sư từ Trung Hoa, thời nhà Tống, năm 1086, trở về Triều Tiên, Sư thấy không còn căng thẳng giữa giáo và thiền, tin rằng giáo lý tông Thiên Thai sẽ có ảnh hưởng đến thời mạt pháp nầy. Tông Thiên Thai cuối cùng lại suy tàn ở Triều Tiên, người ta chuyển sang ham thích giáo lý tông Tào Khê (k: Chogye Sŏn 曹溪). 3. Nhật Bản: Giáo lý tông Thiên Thai được truyền sang Nhật Bản do Giám Chân (j: Jianshen 鑑眞) vào giữa thế kỷ thứ tám, nhưng không được công nhận rộng rãi. Năm 805, Tối Trừng (j: Saichō 最澄) lại mang giáo lý tông Thiên Thai từ Trung Hoa trở về và biến ngôi chùa Enryakuji do Sư sáng lập trên núi Tỉ-duệ (j: Hiei 比叡山), làm trung tâm nghiên cứu và tu tập của tông Thiên Thai. Tuy nhiên, những điều sư được truyền thừa từ Trung Hoa không phải là giáo lý chính phẩm của tông Thiên Thai, mà bao gồm cả giáo lý Thiền, Mật, và Luật. Khuynh hướng nầy càng trở nên rõ nét hơn trong giáo lý của các môn đệ như Viên Nhân (j: Ennin 圓仁 ) và Viên Trân (j: Enchin 圓珍). Tông Thiên Thai phát triển dưới sự bảo trợ của những gia đình hoàng tộc và quý phái ở Nhật Bản.
thiên thai tứ giáo
The four types each of method and doctrine, as defined by T'ien-T'ai school—See Thiên Thai Hóa Nghi Tứ Giáo.
; (天臺四教) Bốn giáo Thiên thai. Tức chỉ cho 4 giáo hóa pháp và 4 giáo hóa nghi trong phán giáo của tông Thiên thai. Đó là: 1. Bốn giáo hóa pháp: Tức nội dung thuyết pháp của Phật chia làm 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên. 2. Bốn giáo hóa nghi: Tức hình thức thuyết pháp của Phật chia làm 4 giáo: Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
thiên thai tứ giáo nghi
(天臺四教儀) Cũng gọi Tứ giáo nghi, Đế quán Lục. Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng Cao li là ngài Đế quán soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Đây là bộ sách nhập môn nghiên cứu về đại cương giáo nghĩa Thiên thai và yếu lược của pháp quán tâm(tu hành thực tiễn). Nội dung do thêm bớt từ bộ Thiên thai bát giáo đại ý của ngài Quán đính mà thành, lấy các thí dụ như thí dụ trong phẩm Tín giải kinh Pháp hoa, thí dụ 5 vị trong kinh Niết bàn, thí dụ 3 chiếu soi trong kinh Hoa nghiêm... làm trung tâm mà chia ra 5 thời giáo và 4 giáo hóa nghi Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định, đồng thời trình bày sơ lược về danh nghĩa của 4 giáo hóa pháp Tạng, Thông, Biệt, Viên, về giáo thuyết, hành nhân, hành vị, chứng quả...; lại dùng 25 phương tiện của Ma ha chỉ quán để nói qua về Thập thừa quán pháp của Viên giáo. Về sau, ngài Trí húc cho rằng quan điểm của sách này quá sơ lược, cho nên mới nảy ra ý định soạn bộ Giáo quán cương tông. Tác phẩm này có rất nhiều sách chú thích, nhưng có 3 bộ quan trọng hơn cả là: -Tứ giáo nghi tập giải, 3 quyển, do ngài Tòng nghĩa soạn vào đời Tống. -Tứ giáo nghi bị thích, 2 quyển, do ngài Nguyên túy soạn vào đời Nam Tống. -Tứ giáo nghi tập chú, 3 quyển, do ngài Mông nhuận soạn vào đời Nguyên. [X. Phật tổ thống kỉ quyển 10; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.42].
thiên thai tứ giáo nghi tập chú
(天臺四教儀集注) Gọi tắt: Tứ giáo nghi tập chú. Tác phẩm, 3 quyển(hoặc 10 quyển), do ngài Mông nhuận soạn vào đời Nguyên, được thu vào Tạng đời Minh. Nội dung sách này căn cứ theo chính nghĩa của phái Sơn gia mà giải thích rõ về 4 giáo Hóa nghi của tông Thiên thai, là con đường tắt của người mới học. Sách này có rất nhiều sách chú thích như: Thiên thai tứ giáo nghi tập chú khoa văn 1 quyển của ngài Mông nhuận, Chú vậng bổ phụ hoành kí 20 quyển của ngài Tính quyền đời Thanh... [X. Đại minh tam tạngThánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Phật điển sớ sao mục lục Q.hạ].
thiên thai tứ giáo nghi tập giải
(天臺四教儀集解) Cũng gọi Tứ giáo nghi tập giải, Tứ giáo tập giải, Thiên thai tứ giáo nghi khoa giải. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tòng nghĩa tông Thiên thai soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 102. Nội dung sách này giải thích rõ bộ Thiên thai tứ giáo nghi của ngài Đế quán.
Thiên Thai tứ giáo nghi 天台 ... 教...
[ja] テンダイシキョウギ Tendai shikyōgi ||| Tiantai sijiao yi; 1 fasc., by Chegwan 諦觀; T 1931.46.774c-780c. => (c: Tiantai sijiao yi); 1quyển, của Đế Quán (c: Chegwan 諦觀).
thiên thai tứ thích
(天臺四釋) Cũng gọi Thiên thai tứ đại thích lệ, Tứ đại thích lệ, Tứ chủng tiêu thích, Tứ chủng tiêu văn. Chỉ cho 4 phương pháp mà Đại sư Trí khải tông Thiên thai sử dụng trong việc giải thích kinh Pháp hoa. Đó là: 1. Nhân duyên thích (cũng gọi Cảm ứng thích): Tức căn cứ vào quan hệ nhân duyên giữa Phật và chúng sinh mà giải thích. Giáo pháp là do cảm ứng đạo giao mà hưng khởi, dùng 4 tất đàn làm nhân duyên mà lập ra 4 cách thích nghĩa: a) Thế giới tất đàn: Khiến cho chúng sinh ưa muốn. b) Cáccácvị nhân tất đàn: Làm cho chúng sinh sinh lòng tin. c) Đối trị tất đàn: Phá trừ thói chấp ác. d) Đệ nhất nghĩa tất đàn: Đưa chúng sinh vào thực tướng. 2. Ước giáo thích: Căn cứ vào nghĩa của 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên, mà giải thích văn kinh từ cạn đến sâu. 3. Bản tích thích: Chỉbàyrõ sự khác nhau giữa Bản và Tích, căn cứ vào 2 môn Bản địa và Thùy tích mà giải thích pháp nghĩa. 4. Quán tâm thích: Hiểu rõ pháp nghĩa, nhưng nếu sự tu hành không ăn khớp với hiểu biết ấy thì chẳng lợi ích gì cho mình, bởi vậylạiphải dùng từng câu văn làmđối cảnhquántâm, quán xét sự cao rộng của tâm mình. Về 4 cách giải thích trên đây nếu liên quan đếnviệc làm củaPhật và cácvịđệ tử thì thường dùng Nhân duyên thích; đối với các giáo nghĩa như Như thị ngã văn... thì thường dùngƯớc giáo thích; về sự tích của đức Phật và bản thân của các đệ tử thì thường dùng Bản tích thích; còn về tên đất như thành Vương xá và các danh số thì thường dùng Quán tâm thích. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.1, phần đầu; Pháp hoa văn cú kí Q.1, phần đầu].
thiên thai tứ tương thừa
(天臺四相承) Chỉ cho 4 loại truyền thừa theo chủ trương của tông Thiên thai, đó là: 1. Viên đốn giới tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa giới Bồ tát Đại thừa. 2. Chỉ quán nghiệp tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa của tông Thiên thai. 3. Già na nghiệp tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa của Mật giáo. 4. Đạt ma thiền tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa của Thiền tông.
thiên thai tự
Tên của một ngôi tự viện tọa lạc trên đường lên núi Châu Tiên, cạnh Đình Bà Cố, trong xã Tam An, huyện Long Đất, Vũng Tàu Bà Rịa, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Thanh Kế Huệ Đăng xây năm 1909. Điện thờ Phật được xây như một trụ đá bốn mặt. Một mặt là chánh điện có tôn trí xá lợi Đức Phật. Hai mặt hai bên là điện thờ Bồ Tát Chuẩn Đề và Bồ Tát Quán Thế Âm. Năm 1931, Hòa Thượng Huệ Đăng thành lập Thiên Thai Thiền Giáo tông, Liên Hữu hội và cho xuất bản tạp chí Bát Nhã Âm, một cơ quan ngôn luận của Phật giáo thời bấy giờ—Name of a pagoda located on the way to Mount Châu Tiên by Bà Cố Palace, in Tam An village, Long Đất district, Bà Rịa Vũng Tàu, South Vietnam. It was built in 1909. The Buddha Shrine was built with four sides of square stone pillar. The Main Hall is on the front side. The Shrine of Cundi and Avalokitesvara Bodhisattvas are placed on both sides of the Buddha shrine. The former patriarchs are worshipped at the rear part. In 1931, Most Venerable Huệ Đăng established T'ien-T'ai Dhyana Sect, Liên Hữu Association and had Bát Nhã Âm Reviews, the Buddhism Press of that time, published. In the back yard, there stands Thiên Bảo Stupa of Patriarch Huệ Đăng.
Thiên Thai Ðức Thiều
天台得韶; C: tiāntāi déshōo; J: tendai tokushō; 881-972; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích. Người nối pháp của Sư là Vĩnh Minh Diên Thọ và Ðạo Nguyên, người đã soạn bộ sử kí danh tiếng nhất của Thiền tông là Cảnh Ðức truyền đăng lục.|Sư họ Trần quê ở Long Tuyền, Xử Châu. Năm Sư 15 tuổi, một vị tăng lạ đến vỗ vai Sư nói: »Ông nên xuất gia, trần tục không phải là chỗ của ông.« Sư xuất gia năm 17 tuổi, năm 18 tuổi đến chùa Khai Nguyên ở Tín Châu thụ giới.|Sau, Sư cất bước du phương, lúc đầu đến tham vấn Thiền sư Ðầu Tử Ðại Ðồng có chút tỉnh. Sau Sư đến Thiền sư Long Nha Cư Độn, hỏi: »Bậc tôn hùng hùng vĩ sao gần chẳng được?« Long Nha đáp: »Như lửa với lửa.« Sư lại hỏi: »Bỗng gặp nước đến thì sao?« Long Nha bảo: »Ði! Ông chẳng hội lời ta nói.« Sư hỏi tiếp: »Trời chẳng che, đất chẳng chở là lí gì?« Long Nha đáp: »Ðạo giả nên như thế.« Cứ hỏi như thế nhiều lần mà Sư vẫn không thông, Long Nha bèn nói: »Ðạo giả, ông về sau tự hội lấy.«|Sau khi rời Long Nha, Sư còn tham vấn rất nhiều vị Thiền sư khác nhưng vẫn chưa triệt ngộ, cuối cùng dừng chân tại hội của Pháp Nhãn. Sư vì mệt chán nên chẳng buồn thưa hỏi. Một hôm nghe vị tăng hỏi Pháp Nhãn: »Thế nào là một giọt nước nguồn Tào?« Pháp Nhãn trả lời: »Là một giọt nước nguồn Tào.« Tăng mờ mịt thối lui nhưng Sư nhân đây đại ngộ. Sư đem chỗ sở đắc trình Pháp Nhãn. Pháp Nhãn khen nói: »Ông sau làm thầy của vua, làm Tổ đạo sáng ngời, ta chẳng bằng.«|Sư đến núi Thiên Thai thăm những di tích của Ðại sư Trí Khải, có cảm giác là chỗ ở cũ. Vì họ của Sư (Trần) cũng như Trí Khải nên thời nhân nói Sư là hậu thân của Trí Khải Ðại sư.|Sư thượng đường dạy chúng: »Phật pháp hiện hành, tất cả đầy đủ. Người xưa nói ›viên đồng thái hư, vô khiếm vô dư.‹ Nếu như thế thì cái gì thiếu, cái gì dư, cái gì phải, cái gì quấy? Ai là người hội, ai là người chẳng hội? Do đó nói, đi Ðông cũng cũng là Thượng toạ, đi Tây cũng là thượng toạ, đi Nam cũng là Thượng toạ, đi Bắc cũng là Thượng toạ. Thượng toạ lại sao được thành Ðông, Tây, Nam, Bắc? Nếu hội được tự nhiên con đường thấy nghe hiểu biết bặt dứt, tất cả các pháp hiện tiền. Vì sao như thế? Vì Pháp thân không tướng, chạm mắt đều bày, Bát-nhã vô tri, đối duyên liền chiếu, một lúc hội triệt để là tốt. Chư thượng toạ! Kẻ xuất gia làm gì? Cái lí bản hữu này chưa phải là phần bên ngoài. ›Thức tâm đạt bản nguyên nên gọi là Sa-môn.‹ Nếu biết rõ ràng, không còn một mảy tơ làm chướng ngại. Thượng toạ đứng lâu, trân trọng.«|Niên hiệu Khai Bảo thứ tư, ngày 28 tháng sáu, Sư có chút bệnh, họp chúng từ giã rồi ngồi kết già viên tịch, thọ 82 tuổi, 65 tuổi hạ.
thiên thai đại sư
The actual founder of the Thiên Thai school, Trí Khải.
; T'ien-T'ai Great Master—Chih-I (Thạch Khải)—Vị sư đã sáng lập ra tông phái Thiên Thai, ngài tên Đức An, họ Trần (538-597 sau Tây Lịch). Ngài theo học tu và chịu ảnh hưởng rất lớn với Sư Huệ Tư ở Hồ Nam. Ngài thấy được trong Kinh Pháp Hoa một lối diễn giảng đúng nghĩa của Đại Thừa Giáo. Vào năm 575 sau Tây Lịch, lần đầu tiên ngài đến núi Thiên Thai và sáng lập tông phái nầy tại đó. Giáo thuyết của tông phái nầy trở thành căn bản cho các trường phái Phật giáo tại Đại Hàn và Nhật Bản sau nầy—The monk who founded T'ien-T'ai Sect—The actual founder of the T'ien-T'ai school, Chih-I, his name was Tê-An, and his surname Ch'ên (538-597 AD). He studied under Hui-Ssu of Hunan, he was greatly influenced by his teaching; and found in the Lotus Sutra the real interpretation of Mahayanism. In 575 AD, he first came to T'ien-T'ai and established his school, which in turn was the foundation of important Buddhist schools in Korea and Japan—See Thiên Thai Sơn.
; (天臺大師) Biệt hiệu của đại sư Trígiả, người Hoa dung, Kinh châu (nay là huyện Hoa dung, tỉnh Hồ nam), họ Trần, tự Đức an, tên là Trí khải. Năm 18 tuổi, sư xuất gia ở chùa Quả nguyện tại Tương châu. Sau, sư đến núi Đại tô ở Quang châu theo ngài Tuệ tư tu tập 4 hạnh an lạc.ỞKim lăng, sư lần lượt giảng kinh Pháp hoa, luận Đại trí độ và xiển dương Thiền pháp. Năm Thái kiến thứ 7 (575), sư đến núi Thiên thai, tăng tục theo về rất đông. Năm Khai hoàng 11 (591), sư truyền giới Bồ tát cho Tấn vương Quảng (tức vua Tùy Dạng đế sau này) ở Dươngchâu, vương ban cho sư hiệu Trí Giả. Tháng 11 năm Khai hoàng 17 (597), sư thị tịch, thọ 60 tuổi, người đời gọi sư là Thiên thai Đại sư. Một đời sư xây dựng 36 ngôi chùa, viết được 15 tạng kinh, tạo 10 vạn tôn tượng(có thuyết nói 80 vạn tôn), độ trên 1000 vị tăng, 32 vị học sĩ được truyền nghiệp. Trong số đệ tử của sư, các ngài Quán đính, Trí việt, Trí tảo... là nổi tiếng hơn cả. Sư để lại các tác phẩm: -Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa, 20 quyển. -Diệu pháp liên hoa kinh văn cú, 20 quyển. -Duy ma kinh lược sớ, 10 quyển. -Kim quang minh kinh văn cú, 6 quyển. -Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ, 5 quyển. -Bồ tát giới nghĩa sớ, 2 quyển. -Ma ha chỉ quán, 10 quyển.
Thiên Thai Đức Thiều
(天台德韶, Tendai Tokushō, 891-972): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, người vùng Long Tuyền (龍泉), Xử Châu (處州, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Năm lên 17 tuổi, ông đến xuất gia tại Long Quy Tự (龍歸寺) ở trong vùng, rồi trong khoảng niên hiệu Khai Bình (開平, 907-910), ông đi du hóa khắp nơi, tham bái Đầu Tử Đại Đồng (投子大同), Long Nha Cư Độn (龍牙居遁), nhưng sau đến tham yết Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) ở Lâm Xuyên (臨川, Tỉnh Giang Tây) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông lên Thiên Thai Sơn, chấn hưng lại di tích của Trí Khải Đại Sư, và vào năm đầu (948) niên hiệu Càn Hựu (乾祐), ông được vua Trung Ý Vương (忠懿王) của Ngô Việt (呉越) đãi ngộ như là Quốc Sư. Vào ngày 28 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Khai Bảo (開寳) nhà Bắc Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi.
thiên thai đức thiều
T'ien-T'ai Te-shao (C), Tendai Tokushō (J)(891-972) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Pháp Nhãn Văn ích.
thiên thai đức thiều thiền sư
Zen master T'ien-Te-Shao—See Đức Thiều Thiền Sư.
thiên thu
A thousand autumns—Eternity.
Thiên Thánh Quảng Đăng Lục
(天聖廣燈錄, Tenshōkōtōroku): gọi tắt là Quảng Đăng Lục (廣燈錄, Kōtōroku), 30 quyển, do Lý Tuân Úc (李遵勗) biên tập, san hành năm thứ 18 (1148) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興) nhà Tống. Lý Tuân Úc có tự là Công Võ (公武), là người đã từng đến tham vấn Cốc Ẩn Uẩn Thông (谷隱蘊聰) của Lâm Tế Tông và có chỗ sở ngộ. Vào năm thứ 7 (1029) niên hiệu Thiên Thánh (天聖) đời vua Tống Nhân Tông, khi bộ này được soạn ra và dâng trình lên nhà vua, nó được xem như là bản tục biên của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), được lấy niên hiệu lúc bấy giờ và đặt tên là Thiên Thánh Quảng Đăng Lục. Tác phẩm này nêu lên khoảng 370 truyền ký cũng như cơ duyên từ thời đức Phật Thích Ca trở đi cho đến 27 vị tổ Tây Thiên, 6 vị tổ Đông Độ, trải qua 9 đời của môn hạ Nam Nhạc (南岳), 12 đời của môn hạ Thanh Nguyên (青原). Đặc biệt điều quý nhất là thư tịch này đã tường thuật rõ chư vị Thiền sư thuộc môn hạ Nam Nhạc và hầu hết các Ngữ Lục của chư vị tổ sư từ thời Mã Tổ (馬祖) trở về sau đều được thâu lục vào đây.
thiên thánh quảng đăng lục
(天聖廣燈錄) Lục, 30 quyển, do quan Trấn quốc quân Tiết độ sứ đời Tống là Lí tuân úc (?-1038) biên tập, ấn hành vào năm Thiệu hưng 18 (1148) đời vua Cao tông, được thu vào Vạn tụctạngtập 135. Năm Thiên thánh thứ 7 (1029), quan Trấn quốc dâng Quảng đăng lục lên vua Nhân tông. Vua Nhân tông liền ban 2 chữ Thiên thánh và viết bài tựa. Sách này được soạn kế sau Cảnh đức truyền đăng lục, thu chép lược truyện và cơ duyên ngữ cú của hơn 370 vị từ đời đức Phật Thích tôn cho đến 27 vị Tổ Tây thiên (Ấn độ), 6 vị Tổ Đông độ(Trung quốc), 9 đời thuộc hệ thống Nam nhạc bắt đầu từ ngài Hoài nhượng và 12 đời thuộc hệ thống Thanh nguyên bắt đầu từ ngài Hành tư trở xuống. Phần trình bày về các Thiền sư thuộc hệ thống ngài Nam nhạc đặc biệt tỉ mỉ, rõ ràng và ngữ lục của các Thiền sư từ ngài Mã tổ về sau gần như được thu chép toàn bộ.
thiên thánh thích giáo tổng lục
(天聖釋教總錄) Lục, 3 tập, do ngài Duy tịnh biên tu vào đời Bắc Tống. Nội dung sách này thu chép những kinh điển Hán dịch từ đời Đông Hán đến năm Thiên thánh thứ 5 (1027) và các soạn phẩm Phật điển của Trung quốc được nhập tạng. Bản Kim tạng hiện còn có chỗ thiếu sót, khó thấy được toàn diện. Căn cứ theo nội dung thì bộ lục này ghi chép các kinh điển trong Khai nguyên thích giáo lục(nhập tạng lục) của ngài Trí thăng đời Đường, các kinh sách mới được đưa vào tạng, Đại đường trinh nguyên tục Khai nguyên thích giáo lục của ngài Viên chiếu đời Đường, Đại trung tường phù pháp bảo lục của ông Dương Úc đời Bắc Tống..., tổng cộng gồm 1496 bộ, 6208 quyển, 602 pho. Sách này bị thất truyền đã lâu, mãi đến thời gần đây người ta mới tìm thấy 1 bản không hoàn chỉnh gồm 2 tập trung và hạ ở chùa Quảng thắng tại Triệu thành, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, hiện nay được chụp in và thu chép vào Tống tạng di trân tập thứ 6. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45 (điều Thiên thánh ngũ niên)].
thiên thân
Vasubandhu, younger brother of Asanga, wrote Câu Xá Luận, Duy Thức Luận, etc. He was the twenty first Indian patriarch.
; Tên Bà Tẩu Bàn Đậu (Vasubandhu), người Peshawar, sanh 900 năm sau ngày Phật nhập Niết bàn. Sáng tác nổi tiếng của Ngài là Abhidharmakosa. Ông đã được người anh là Vô Trước (Asanga) giúp chuyển tu từ Tiểu Thừa sang Đại Thừa. Vào ngày lễ đổi tông phái ấy, ông muốn cắt bỏ cái lưỡi đã phỉ báng Đại Thừa, nhưng ngài Vô Trước đã can ngăn và khuyên ông nên dùng chính cái lưỡi ấy chuộc lỗi. Ông đã viết bộ Duy Thức Học và những tác phẩm Đại Thừa khác. Ông là tổ thứ 21 của dòng Thiền Ấn Độ—Vasubandhu (a native of Peshawar, born 900 years after the Buddha's nirvana). Vasubandhu's great work, Abhidharmakosa. He was converted from Hinayana to Mahayana by his brother, Asanga. On his conversion he would have cut out his tongue for its past heresy, but he was dissuaded by his brother, who bade him use the same tongue to correct his errors, whereupon he wrote “The Teaching of the Nature of the Eight Consciousnesses” (Duy Thức Học) and other Mahayanist works. He is called the twenty-first patriarch.
thiên thân bồ tát
Xem Thế Thân Bồ tát.
Thiên Thân 天親
[ja] テンジン Tenjin ||| An alternative Chinese rendering for Vasubandhu 世親, which is also transcribed as Transliterated as Popandou 婆槃豆. => Một tên gọi khác của Thế Thân (s: Vasubandhu 世親), còn được phiên âm cũng như chuyển tự là Bà-bàn-đậu (c: Popandou 婆槃豆).
thiên thê sơn
1) Núi Thang Lên Trời: The ladder-to-heaven hill or monastery. 2) Núi Thiên Thai: T'ien-T'ai mountain in Chekiang.
Thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên
(天垂寳蓋、地湧金蓮): trên trời rũ lọng báu xuống, dưới đất vọt lên hoa sen vàng ròng. Trong Độ Kiều Khoa Ngân Kiều Nghi (度橋科銀橋儀) của Đạo Giáo có đoạn: “Thiên thùy bảo cái trùng trùng hiện, địa dõng kim liên đóa đóa tiên, sám hối do như liên thủy xuất, siêu thăng hảo tợ nguyệt đương viên (天垂寳蓋重重現、地湧金蓮朵朵鮮、懺悔猶如蓮出水,超升好似月當圓, Trời buông lọng báu lớp lớp hiện, đất vọt sen vàng đóa đóa nguyên, sám hối giống như sen khỏi nước, siêu thăng nào khác nguyệt đang viên).” Hay trong Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Sở Thạch Thiền Sư Ngữ Lục (佛日普照慧辯楚石禪師語錄, Taishō No. 1420) quyển 1 cũng có câu: “Thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên, nhất cú vô tư, như hà chúc tán (天垂寶蓋、地湧金蓮、一句無私、如何祝贊, trời buông lọng báu, đất vọt sen vàng, một câu vô tư, làm sao chúc tán ?).” Trong văn cúng thỉnh Phật an vị cũng có đoạn rằng: “Nam mô nhất tâm phụng thỉnh: thiên hoa đài thượng, bách bảo quang trung, Tam Thập Nhị Tướng chi Năng Nhân, Bát Thập Chủng Hảo chi Đại Giác, quá hiện vị lai vô lượng Phật Đà Gia. Duy nguyện: thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên, quang giáng đạo tràng, chứng minh công đức (南無一心奉請、千花臺上、百寳光中、三十二相之能仁、八十種好之大覺、過現未來無量佛陀耶。惟願、天垂寶蓋、地湧金蓮、光降道塲、證明功德, Kính thành một lòng phụng thỉnh: trên đài ngàn hoa, trăm báu ánh sáng, Ba Hai Tướng Tốt đấng Năng Nhân, Tám Mươi Vẻ Đẹp bậc Đại Giác, quá khứ, hiện tại, tương lai vô lượng các đức Phật. Cúi mong: trời ban lọng báu, đất nỗi sen vàng, giáng xuống đạo tràng, chứng minh công đức).”
thiên thú
Xem Thiên đạo.
; See Thiên Đạo.
Thiên thú 天趣
[ja] テンシュ tenshu ||| Heavenly destiny; rebirth as a god as a result of good practices in a previous lifetime. Same as 天道, one of the six destinies => Cõi trời; nơi được tái sinh nhờ kết quả tu thiện nghiệp ở kiếp trước. Đồng nghĩa Thiên đạo, một trong Lục thú六趣.
thiên thượng
The heavens above.
; Những tầng trời bên trên, như lục dục Thiên, lục sắc Thiên và lục vô sắc Thiên—The heavens above, such as the six devalokas, six rupalokas and six arupalokas.
; (天上) Trên trời. Tức chỉ cho các người trời sống trong 3 cõi Dục, Sắc, và Vô sắc, là 1 trong 6 đường. Ngoài ra, Thiên thượng cũng chỉ cho thế giớicủacác thần.
Thiên thượng giới 天上界
[ja] テンジョウカイ tenjōkai ||| The heavenly realm, which is one of the ten realms 十界. Same as 天, 天上, 天界, etc. => Cõi trời, 1 trong Thập giới. Đồng nghĩa Thiên天 , Thiên thượng天上, Thiên giới天界.
thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn
The first words attributed to Sàkyamuni after his first seven steps when born from his mother's right side: "In the heavens above and (earth) beneath I alone is the honoured one." This announcement is ascribed to every Buddha.
; “Trên trời dưới trời, riêng ta cao nhất. Trên trời dưới trời riêng ta tôn quý nhất.” Đó là lời Đức Phật lúc Ngài mới giáng sanh từ bên sườn phải Hoàng Hậu Ma Da và bước bảy bước đầu tiên. Đây không phải là một câu nói cao ngạo mà là câu nói để chứng tỏ rồi đây Ngài sẽ hiểu được sự đồng nhứt của bản tánh thật của toàn vũ trụ, chứ không phải là bản ngã theo thế tục. Lời tuyên bố nầy cũng là thường pháp của chư Phật ba đời. Đối với Đại Thừa, Ngài là tiêu biểu cho vô lượng chư Phật trong vô lượng kiếp—The first words attributed to Sakyamuni after his first seven steps when born from his mother's right side: “In the heavens above and earth beneath I alone am the honoured one.” This is not an arrogant speaking, it bears witness to an awareness of the identity of I, the one's own true nature or Buddha-nature with the true nature of the universe, not the earthly ego. This announcement is ascribed to every Buddha, as are also the same special characteristics attributed to every Buddha, hence he is the Tathagata come in the manner of all Buddhas. In Mahayanism he is the type of countless other Buddhas in countless realms and periods.
Thiên thượng 天上
[ja] テンジョウ tenjō ||| (1) The 'heavenly realm' also expressed with the single character 天. The "heavens above," i.e., the six devalokas: 六欲天 of the region of the desire and the form and formless realms. dyaus, svarga (2) Where the gods live; above the sky. (3) The rebirth as a god in the five (or six) destinies 五趣, or as one of the ten realms 十界. => 1. Cõi trời, còn được gọi đơn giản là Thiên. Các cõi trời, nghĩa là Lục dục thiên (六欲天), gồm cõi Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. 2. Nơi chư Thiên sinh sống, ở trên cõi trời. 3. Được sinh làm chư Thiên trong Lục thú hoặc Ngũ thú五趣, hay 1 trong Thập giới 十界.
thiên thần
Deva, Devatà (S). (1) Brahmà and the gods in genaral, including the inhabitants of the devalokas, all sbject to metempsychosis; (2) The fifteenth patriarch, disciple of Nàgàrjuna, also styled Devabodhisattva Đề Bà Bồ tát, Aryadeva Thánh Thiên and Nilanetra Thanh Mục blue eyed.
; Deva (skt)—Đề Bà—Celestial (Heaven) spirit—God of heaven. 1) Tổ thứ 15 dòng Thiền Ấn Độ, gốc người Tích Lan, là đệ tử của Ngài Long Thọ Bồ Tát. Ông cũng được gọi là Đề Bà Bồ Tát, Thánh Thiên và Thanh Mục. Ông là tác giả của chín tác phẩm và là một người nổi tiếng về chống lại Bà La Môn—The fifteen patriarch, a native of South India, or ceylon, and disciple of Nagarjuna; he is also styled as Devabodhisattva, Aryadeva, and Nilanetra. He was the author of the nine works and a famous antagonist of Brahmanism. 2) Chư thiên, kể cả chư thiên cư ngụ trên cung trời dục giới: Deva and gods in general, including the inhabitants of the the devalokas, all subject to metempsychosis.
thiên thần địa kì
The spirits Thiên thần are Indra and his retenue; devas in general; and Địa kì are the earth spirits, nàgas, demons, ghosts, etc.
; (天神地祇) Thiên thân, Phạm: Devatà. Hán âm: Nê phạ đa.Chỉ cho các vị thần trên trời, tứctừchỉ chung Phạm thiên, Đế thích... Còn Địa kì thì chỉ cho các quỉ thần sống trên mặt đất, tức Kiên lao địa thần, Bát đại long vương... Ngoài ra, các Thiên chúng lệ thuộc từ cõi Sắc trở xuống và các Dạ xoa... của cõi Dục, cũng gọi chung là Thiên thần đia kì.
thiên thần địa kỳ
1) Thiên Thần: Devas. 2) Địa Kỳ: Earth spirits, nagas, demons, ghosts, etc.
thiên thể
Celestial body.
thiên thể sùng bái
(天體崇拜) Xem các thiên thể như mặt trời, mặt trăng, những ngôi sao như thần linh, hoặc chỗ ở của thần linh và dốc lòng kính tin, sùng bái, gọi là Thiên thể sùng bái. Thiên thể sùng bái đã lưu hành trong rất nhiều tông giáo đời xưa. Trong các tông giáo ở Mesopotamia, Ai cập và Trung quốc thời cổ đại đều có tín ngưỡng này. Thông thường cho rằng Thiên thể sùng bái bắt đầu ở thời kì du mục, do mối tương quan trọng đại giữa mặt trời và sự sinh trưởng của muôn vật cũng như mọi khí tượng trong vũ trụ, bởi thế lấy mặt trời hoặc thần mặt trời làm đối tượng sùng bái là điều tự nhiên, nhất là vào thời kì canh nông thì tín ngưỡng này càng phát triển mạnh và phổ biến.
Thiên thỉnh vấn kinh 天請問經
[ja] テンショウモンキョウ Ten shōmon kyō ||| The Tian qingwen jing; Devatā sūtra (Questioning Devas Sutra); one fascicle, T 593.15.125-127. Translated by Xuanzang 玄奘 in 647 at Hongfu Monastery. => (c: Tian qingwen jing; s: Devatā sūtra; e: Questioning Devas Sutra); 1 quyển. Huyền Trang dịch năm 647 tại Hoằng Phúc tự.
thiên thọ
Xem Đề bà đạt đa.
; Heaven-bestowed—A name of Devadatta.
thiên thọ quốc tú trướng
(天壽國綉帳) Cũng gọi Thiên thọ quốc mạn đồ la. Chỉ cho bức màn thêu nước Thiên thọ, một cổ vật của Nhật bản. Vào năm Suy cổ Thiên hoàng 30 (622), sau khi Thái tử Thánh đức qua đời, vợ Thái tử là Quất đại nữ lang muốn thấy quang cảnh vãng sinh về nước Thiên thọ của Thái tử, nên tâu xin Thiên hoàng ban sắc cho các thể nữ thêu 2 bức màn. Màn thêu dài hơn 5m, rộng hơn 1m, phía trên có bài minh 400 chữ, theo thứ lớp thêu trên mai 100 con rùa, toàn văn bài minh này do chính Thượng cung Thánh đức Pháp vương thuyết. Hiện còn 6 mảnh, màu sắc tươi sáng, mũi thêu tinh xảo, là di phẩm xưa nhất thuộc loại này của Nhật bản. Nước Thiên thọ có lẽ là cõi nước của đức Phật Vô lượng thọ, cũng có thuyết cho rằng nước Thiên thọ là cung trời Đâu suất. [X. Thánh dự sao Q.hạ; Thượng cung thái tử thập di kí Q.5; Thiên thọ quốc tân mạn đồ la lí thư; Quan cổ tạp thiếp].
thiên thọ vương
The parijata tree which grown in front of Indra's palace—The king among the heavenly trees.
Thiên Thọ 天授
[ja] テンジュ tenju ||| Chinese translation of the name of Devadatta; see => Hán dịch tên Devadatta; xem Đề-bà-đạt-đa提婆達多..
thiên thụ vương
The pàrijàta tree ba lợi chất đa, which grows in front of Indra's palace - the king among the heavenly tree.
thiên thủ kinh
(千手經) Chỉ cho những kinh điển ghi chép về bồ tát Thiên thủ Quan âm, gồm có 4 bàn, đó là: 1. Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni(gọi tắt: Kinh Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm, kinh Thiên thủ đà la ni, kinh Thiên thủ Quan âm đại bi tâm đà la ni, kinh Đại bi tổng trì, kinh Thiên thủ): Có 1 quyển, do ngài Già phạm đạt ma dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20.Nội dung kinh này nói về nguyên do, phát nguyện, 15 thứ thiện sinh, công đức không bị 15 thứ chết dữ, Đà la la ni nghìn tay, công đức thụ trì, pháp chú trớ, công đức của mỗi tay trong 42 tay, chú ủng hộ củabồ tát Nhật quang vàbồ tát Nguyệt quang... Ở đầu quyển có phụ thêm bài tựa do vua soạn. Thông thường, gọi kinh Thiên thủ chính là chỉ cho kinh này. 2. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni(gọi tắt: Thiên thủ Quán âm đại bi tâm đà la ni, Đại bi tâm đà la ni kinh): Có 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này trích lấy tinh túy kinh Thiên thủ do ngài Già phạm đạt ma dịch, Đà la ni từ phần phát nguyện trở xuống đến công đức mỗi tay trong 42 tay..., ngoài ra còn có thêm hình vẽ 42 tay và chân ngôn. Kinh này là bản dịch khác của kinh Thiên thủ ở trên. 3. Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đà la ni thân(gọi tắt: kinh Thiên thủ Quán âm mỗ đà la ni thân, kinh Thiên thủ): Có 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20.Nội dung kinh này trước hết nói về Mỗ đà la ni và công đức, kế đến nói về Tổng nhiếp thân, Tổng trì đà la ni, về 12 ấn minh tam muội của chư Phật, kế nữa, nói về cách vẽ đàn Thiên thủ Quán âm và pháp chú trớ, sau cùng, nói về 13 ấn minh(ấn khế và chân ngôn) như Biện tài, Thành đẳng chính giác, Thần biến tự tại, Thỉnh thiên nhãn Quán âm vương tâm ấn chú... 4. Kinh Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm bồ tát đa la ni thần chú(gọi tắt: kinh Thiên nhãn Quán thế âm đà la ni thần chú): Gồm 2 quyển, do ngài Trí thông dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về phép ấn chú và đàn pháp của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Kinh này là bản dịch khác của kinh Thiên thủ do ngài Bồ đề lưu chi dịch ở trên. Hai mươi lăm pháp ấn chú nói trong 2 bản dịch này về phần tổng quát thì giống nhau, nhưng về chi tiết Đại thân chú và Mạn đồ la đàn pháp thì có khác nhau. Bản tiếng Phạm của kinh này là do vị tăng người Bắc Ấn độ đem đến dâng cho vua nhà Đường trong niên hiệu Trinh quán.
thiên thủ quan âm
(千手觀音) Gọi đủ: Thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại (Phạm:Avalokitesvara-sahasrabhujalocana) Cũng gọi Thiên thủ thiên nhãn Quán âm, Thiên nhãn thiên tí Quán âm, Thiên thủ thánh Quán tự tại (Phạm: Sahasrabhujàryàvalokitesvara), Thiên tí Quán âm, Thiên quang Quán tự tại, Thiên nhãn thiên thủ thiên túc thiên thiệt thiên tí Quán tự tại. Một trong 6 loại Quan âm. Cứ theo Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm kinh thì bồ tát Quán tự tại ở quá khứ nghe Đà la ni Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm, vì muốn làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, nên phát nguyện có đủ nghìn tay nghìn mắt, liền tức khắc được thân này.Về hình tượng của vị Bồ tát này các kinh ghi chép có khác nhau. Có kinh nói vị Bồ tát này thân màu vàng Diêm phù đàn, một mặt, nghìn cánh tay; có kinh nói thân Ngài màu vàng ròng, ngồi bán già trên hoa sen đỏ, có 11 mặt 40 tay, 3 mặt trước hiện tướng Bồ tát, mặt chính có 3 mắt, 3 mặt bên phải có răng nanh chìa ra hướng lên trên, 3mặt bên trái hiện tướnggiận dữ, một mặt phía sau hiện vẻ cười dữ tợn, một mặt trên đỉnh đầu hiện tướng Như lai; có kinh thì nói rằng thân Ngài màu vàng, có nghìn tay nghìn mắt 500 mặt. Hình tượng vị Bồ tát này trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo thì có 27 mặt 1000 tay, ngồi kết già trên hoa sen báu; trong 1000 tay, có 40 (hoặc 42) tay cầm các khí trượng. Lại theo kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp thì 1000 tay là con số tượng trưng, vì dùng 40 tay, mỗi tay tế độ 25 Hữu, nhân lên thành con số 1000, vì thế không cần phải đủ 1000 tay, chỉ cần 40 tay cũng được, biểu thị cho hóa dụng từ bi rộng lớn của bồ tát Quán thế âm, cho nên thường gọi Ngài là Thiên tí (1000 tay); vả lại, pháp công đức thành tựu mà mỗi mặt, mỗi tay biểu thị và ấn ngôn cũng tùy theo bản thệ bất đồng cỉa mỗi vị tôn mà có khác nhau. Nghìn mắt là trong lòng tay của 1000 tay đều có 1 mắt, nhưng nếu là 40 tay thì chỉ có 40 mắt. Cứ theo kinh Đại bi tâm đà la ni thì các vật cầm ở 40 tay hoặc tướng tay biểu thị ở 40 tay là: Thí vô úy, nhật tinh ma ni, nguyệt tinh ma ni, cung(nỏ) báu, tên báu, bình báu, nhành dương liễu, phất trần trắng, bình nước, tấm khiên(lá chắn), rìu búa, gậy báu đầu lâu, xâu chuỗi, kiếm báu, chày kim cương, móc sắt câu thi, gậy tích, hoa sen trắng, hoa sen xanh, hoa sen tía, hoa sen đỏ, gương báu, ấn báu, hóa Phật trên đỉnh đầu, tay chắp, hộp báu, mây 5 sắc, kích báu, vỏ ốc báu, ngọc báu như ý, dây lụa, bát báu, xuyến báu, chuông báu, Kim cương, Hóa Phật, cung điện hóa, kinh báu, bất thoái chuyển Kim luân và chùm nho, lại thêm tay cam lộ cộng chung là 41 tay. Pháp thành tựu công đức của mỗi tay và ấn ngôn(ấn khế và chân ngôn) có nói đầy đủ trong kinh quĩ. Trong các tôn vị thuộc Liên hoa bộ thì vị tôn này là tối thắng, cho nên còn gọi là Liên hoa vương. Chủng tử là chữ (hrì#), là chữ do 4 chữ (ha ra ì a#) hợp thành, biểu thị cho nghĩa 3 độc tham (ra) sân (ì) si (ha) chuyển vào Niết bàn (a#). Theo Thiên thủ nghi quĩ thì ấn căn bản của vị tôn này là 2 tay chắp lại thành Kim cương hợp chưởng, lưng bàn tay hơi cong, 2 ngón giữa hợp vào nhau, 2 ngón cái, 2 ngón út cách ra và dựng thẳng. Ấn này cũng gọi là ấn hoa sen 5 chĩa, ấn 9 núi 8 biển, ấn 9 ngọn Bổ đà lạc. Các kinh quĩ khác còn có những thuyết 24 loại ấn, 25 loại ấn... Khi kết ấn căn bản thì tụng Đà là ni căn bản và được 4 thứ thành tựu như sau: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục và Kính ái câu triệu. Nhưng vì Đà la ni tương đối dài nên thông thường chỉ tụng niệm tiểu chú là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la (vajra, kim cương) đạt ma (dharma, pháp) hột lí (hrì#, chủng tử). Theo kinh Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm đà la ni thì tụng trì Đà la ni của vị tôn này có thể tránh khỏi 15 trường hợp chết thảm như chết đói, chết vì các loại thú cắn xé, chết vì ngã cây ngã núi... và được 15 điều sống an lành như họ hàng hòa thuận, ăn mặc đầy đủ, của cải dồi dào, đạo tâm thuần thục... hoặc chữa khỏi các chứng tật bệnh, trùng độc, chết vì khó sinh nở, vợ chồng hòa thuận, sống lâu, diệt tội... Về nghi quĩ và cách vẽ tượng của vị tôn này, đến đời Đường mới truyền đến Trung quốc. Cứ theo bài tựa trong kinh Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm bồ tát đà la ni thần chú thì trong năm Vũ đức (618- 626), vị tăng Trung thiên trúc là ngài Cù đa đề bà mang hình tượng vị tôn này và các bản kinh kết đàn thủ ấn đến Trung quốc. Trong năm Trinh quán (627-649), lại có vị tăng Bắc Thiên trúc mang bản tiếng Phạm của Đà la ni Thiên tí thiên nhãn đến dâng lên vua nhà Đường, sau được ngài Trí thông dịch ra chữ Hán. Do đó, tín ngưỡng về vị tôn này đến thế kỉ VII đã dần dần hình thành. Khi khảo sát vềviệchình thành tín ngưỡng vị tôn này ởẤn độ, các học giả cận đại đã phát hiện ra những thần cách trong thần thoạiẤn độ tương đương với vị tôn này thì có: Nhân đà la ni (Phạm: Indra), Nguyên nhân (Phạm: Pusawa), Thấp bà (Phạm:Ziva), Tì nữu noa (Phạm:Viwịu)... các vị thần này đều có thuyết nghìn mắt. Kinh Đại giáo vương quyển 9 cũng có ghi thuyết trời Đại tự tại có nghìn tay nghìn mặt. Khi thám hiểm vùng Tây vực, các học giảthờigần đây cũng đã tìm thấy nhiều mảnh tượng vẽ Quán âm nghìn mắt nghìn tay và Mạn đồ la... [X. kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp; kinh Thiên thủ Quán âm mỗ đà la ni thân; Bổ đà lạc hải hội quĩ; Mật giáo phát đạt chí Q.2; Die Buddhistische Sptantike in Mittelasien by Le cop; The Thousand Buddhas, by A. Stein].
thiên thủ thiên nhãn quán thế âm
SahasrabhŪjāry-Āvalokiteśvara (S), Sahasra-bhŪjāsahasraneta (S), SahasrabhŪjāsahas-raneta (S),One-thousand Arms and Eyes World Listerner Xem Thiên thủ Thiên nhãn Quán Tự tại.
; Sahasrabhùjàriy-Avalokitesvara (S). Avalokitesvara with a thousand hands and a thousand eyes.
thiên thủ thiên nhãn quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni kinh
Ch'ien-shou ch 'ien-yen kuan-shih-yin p'u-sa kuang-ta t 'u-man wu-ai ta-fei-hsin t'o-lo-ni ching (C), Mahā-karuṇā-dhāraṇī (S)Thiên Thủ kinh Xem Đại bi Tâm Đà la ni.
Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni chú bản. 千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼呪本
[ja] センシュセンゲンカンセイオンボサツコウダイエンマンムゲダイヒシンダラニジュホン Senju sengen kanjizai bosatsu kōdai emman muge daihi shin darani juhon ||| Skt. Avalokiteśvara[-nāma]-dhāraṇī; Tib. 'phags pa spyan ras gzigs dbang phyug thugs rje chen po'i gzungs phan yon mdor bsdus pa shes bya ba [To.723, P.380]; (Dhāraṇī Spellbook of the Thousand-Eyed, Thousand-Armed Bodhisattva Who Regards the World's Sounds with a Vast, Wholly Perfect, Unimpeded, Greatly Compassionate Heart) 1 fasc. (T 1061.20.112-113), tr. Vajrabodhi 金剛智. BGBT4/133-4. => s: Avalokiteśvara[-nāma]-dhāraṇī; t: 'phags pa spyan ras gzigs dbang phyug thugs rje chen po'i gzungs phan yon mdor bsdus pa shes bya ba. Một quyển. Kim Cương Trí 金剛智dịch.
thiên thủ thiên nhãn quán tự tại bồ tát
Avalokiteśvara-sahasrabhuja-locana (S)Thiên Thủ Thiên nhãn Quán âm, Thiên Quan Quán Tự TạiTên một vị Bồ tát.
thiên thủ thiên nhãn đại bi quán thế âm bồ tát
Thousand-Hand Thousand-Eye Great Mercy Avalokitesvara Bodhisattva.
Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm chú hành pháp 千手眼大悲心呪行法
[ja] センシュゲンダイヒシンジュコウホウ Senshugan daihishinju kouhou ||| The Qianshouyan dabeixinzhou xingfa; T 1950.46.973a-978a. => c: Qianshouyan dabeixinzhou xingfa; T 1950.46.973a-978a. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát đại bi tâm đà-la-ni. 千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼 [ja] センシュセンゲンカンセイオンボサツダイヒシンダラニ Senju sengen kanzeon bosatsu daihishin darani ||| (Nīlakaṇṭha-dhāraṇī). Dhāraṇī of the Bodhisattva With a Thousand Hands and Eyes Who Regards the World's Sounds with Great Compassion. A dhāraṇī devoted to Avalokiteśvara. It is still used among laymen and monks in Chinese Buddhism. Seven Chinese translations are extant: (1) 2 fasc. (T 1057.20.83-96), Dhāraṇī Incantation of the Thousand-Eyed, Thousand-Armed One Who Regards the World's Sounds 千眼千臂觀世音菩薩陀羅尼神呪經, tr. Zhitong 智通. (2) 1 fasc. (T 1058.20.96-103), Dhāraṇī Incantation of the Bodhisattva With a Thousand Hands and Eyes Who Regards the World's Sounds 千手千眼觀世音菩薩姥陀羅尼身經, tr. Bodhiruci 菩提流志. (3) 1 fasc. (T 1060.20.105-112), Dhāraṇī of the Bodhisattva With a Thousand Hands and Eyes Who Regards the World's Sounds and Feels Vast, Complete, Unimpeded Great Compassion 千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經, tr. Bhagavaddharma 伽梵達摩. Jpn. comm.: Shōjin's 定深 Explanation of the Twenty-Eight Chiefs of the Thousand Hands Sutra 千手經 二十八部衆釋 (T 2243). (4) 1 fasc. (T 1062a.20.113-114), Spell of the Bodhisattva with a Thousand Hands and Eyes Who Regards the World's Sounds 千手千眼觀世音菩薩大身呪本, tr. Vajrabodhi 金剛智 in 731 CE. (5) 1 fasc. (T 1062b.20.114-115) Saint Honoured in the Worlds, the Bodhisattva of Spontaneous Vision With a Thousand Eyes, Arms, Heads, Feet, Tongues and Arms 世尊聖者千眼千首千足千舌千臂觀自在菩提薩怛廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼, tr. unknown. (6) 1 fasc. (T 1063.20.114-115) Great Compassion Incantation 番大悲神呪, tr. unknown. (7) 1 fasc. (T 1064.20.115-119) Dhāraṇī of the Bodhisattva With a Thousand Hands and Eyes Who Regards the World's Sounds with Great Compassion 千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼, tr. Amoghavajra 不空. For an English translation of one version (T 1060), illustrated with an English commentary, see Hua (1976); for a study of the Chinese versions (T 1057, 1058, 1060, 1061), see Lèvi (1912).[To. 690, P.368; To. 691, P. 369]; BGBT4/133n.293 (s: Nīlakaṇṭha-dhāraṇī). => Đà-la-ni có nội dung cầu nguyện Bồ-tát Quán Thế Âm, được chư tăng cũng như cư sĩ Phật giáo Trung Hoa sử dụng. Hiện lưu hành bảy bản dịch tiếng Hán: 1. Thiên thủ thiên tý Quán thế âm Bồ-tát đà la ni thần chú kinh. 1 quyển , Trí Thông 智通c: Zhitong dịch. 2. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát mẫu đà la ni thân kinh. 1 quyển. Bồ đề Lưu chí dịch. 3. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni kinh. 1 quyển . Già-phạm Đạt-ma dịch. Chú giải bằng tiếng Nhật của Định Thâm 定深 j: Shōjin's nhan đề Thiên thủ kinh nhị thập bát bộ chúng thích. 4. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát đại thân chú bản, 1 quyển . Kim Cương Trí dịch năm 731. 5. Thế Tôn thánh giả thiên nhãn thiên thủ thiên túc thiên thiệt thiên tý Quán tự tại bồ đề tát đản quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni, 1 quyển. Dịch giả vô danh. 6. Phiên đại bi thần chú, 1 quyển. Dịch giả vô danh. 7.Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát đại bi tâm đà la ni, 1 quyển . Bất Không dịch. Về bản tiếng Anh của Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm Bồ-tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni cùng minh hoạ, xin xem bản dịch của Hoà Thượng Tuyên Hoá (Hua, 1976); muốn nghiên cứu bản tiếng Hán , xin xem bản của Lévi (1912)
thiên thủ thánh quán tự tại
Xem Thiên thủ Thiên nhãn Quán âm.
thiên thức
Chân Như—Natural perception or wisdom—The primal endowment in men—The Bhutatathata (chân như).
; (天識) Thức trời. Tức chỉ cho bản tính thiên chân của người ta. Lưu vũ Tích Tào khê Lục tổ Đại giám thiền sư đệ nhị bi ghi: ...Khiến cho học giả trở về với thiên thức của mình.
thiên thừa
Devayāna (S)Một trong Ngũ thừa.
; Devayana (skt)—Một trong ngũ thừa, có công năng đưa những người tu tập thiện nghiệp đến một trong sáu cõi trời dục giới, cũng như đưa những người tu tập thiền định đến những cảnh trời sắc giới hay vô sắc giới cao hơn—The deva vehicle—Divine Vehicle—One of the five vehicles—It transports observers of the ten good qualities (thập thiện) to one of the six deva realms of desire, and those who observe dhyana meditation to the higher heavens of form and non-form.
thiên thừa (thặng)
Devayàna (S). The deva vehicle, one of the five vehicles. It transports observers of the ten good qualities thập thiện to one ođ the six deva realms of desire.
thiên thực
Sudhà (S). Food of the gods, sweet dew, ambrosia, nectar.
; Sudha (skt)—Thực phẩm của chư Thiên gồm nước cam lộ, nước hồ đào và trường sanh bất tử—Food of the gods include sweet dew, nectar and ambrosia: (A) Thực phẩm cho chư Thiên cao cấp màu trắng: White-coloured Food for gods of higher ranks. (B) Thực phẩm cho chư Thiên cấp thấp hơn thì có nhiều màu (xanh, vàng, đỏ): Coloured Food for gods of lower ranks (blue—yellow—red).
; (天食) Chỉ cho thức ăn thơm ngon vi diệu của cõi trời màởnhân gian không có mùi vị nào sánh bằng. Kinh Khởi thế quyển 7 (Đại 1, 345 hạ) nói: Tứ thiên vương và các thiên chúng đều dùng vị thiên tu đà ấy. (...) khi khởi tâm muốn ăn thì ở ngay trước mặt đã có các đồ đựng quí báu, tự nhiên đựng đầy các vị thiên tu đà với nhiều màu sắc khác nhau. Trong các Thiên tử, ai có thắng nghiệp thì màu sắc vị tu đà của người ấy trắng sạch nhất. Nếu quả báo của Thiên tử ấy trung bình thì màu sắc vị tu đà của người ấy hơi đỏ. Còn nếu phúc đức củaThiên tử ấy ở mức thấp thì màu sắc của vị tu đà của người ấy hơi đen. Khi Thiên tử ấy dùng tay cầm vị tu đà bỏ vào trong miệng thì vị tu đà tự tan ra và biến hóa dần dần, giống như vị tô và sinh tô bỏ vào lửa vậy.
thiên tiên
Deva-ṛṣi (S).
; Deva-rsis (S). Immortals.
; Deva-Rsis (skt)—Deva and rsis—Heavenly fairies—Immortals—Deva genii—Thiên Tiên có nghĩa là những người tu tiên đắc đạo được lên cõi trời—Heavenly Fairies are people who cultivate and attain the Taoist path so that they are reborn in Heavens. 1) Ngài Long Thọ Bồ Tát đưa ra mười loại Tiên có đời sống đến 100.000 năm mới đi đầu thai—Nagarjuna gives ten classes of rsis whose lifetime is 100,000 years, the they reincarnated. 2) Năm loại Tiên khác—Another category is fivefold: • Thiên Tiên: Thiên Tiên ở quanh núi Tu Di—Deva-rsis in the mountain round Sumeru. • Thần Tiên: Những vị Tiên bay vút trên không trung—Spirit-rsis who roam the air. • Nhân Tiên: Những người đã đạt được năng lực trường sanh bất tử—Humans who have attained the powers of immortals. • Địa Tiên: Earth-rsis, subterranean. • Quỷ Tiên: Pretas, or malevolent rsis.
; (天仙) Phạm: Devafwi. Chỉ chung cho người trời và thần tiên. Cứ theo Lí thú phân thuật tán quyển trung thì loài hữu tình cao tột trong 5 đường gọi là Thiên; còn người có thần đức thì gọi là Tiên.
thiên tiểu
Nghiêng về cái nhỏ, chỉ sự thuyết pháp của Đức Phật trong 12 năm sau khi thành đạo (người ta cho rằng nghĩa lý mà Đức Phật thuyết giảng trong thời kỳ nầy chỉ mới là bước đầu hạn hẹp)—The partial and minor teaching of the Buddha during the first twelve years of his ministry.
; (偏小) Chỉ cho giáo lí của Tiểu thừa, nghĩa là giáo lí này nghiêng hẳn về bên không, thành là pháp môn nhỏ hẹp. Đứng trên lập trường của giáo nghĩa Đại thừa mà nói, thì giáo lí ấy gọi là Thiên tiểu. Chỉ quán đại ý (Đại 46, 460 trung) nói: Như thế mới có thể xa lìa thiên tiểu và tà ngoại, cho nên đứng đầu trong 10 pháp. Ngoài ra, Thiên tiểu cũng có khi chỉ cho người chuyên chấp trước Tiểu thừa.
thiên tiểu tình
Tư tưởng thiên lệch nhỏ hẹp, cho rằng dù ngã giả, nhưng chư pháp là thật—The partial or narrower idea that thought the ego is unreal, things are real.
; (偏小情) Chỉ cho sự thấy biết nông nổi, hẹp hòi, chỉ biết nhân không chứ chưa biết pháp không. Tức làkiến chấp Tiểu thừa. Tiểu thừa tuy nhận ra rằng thân chúng sinh là do 5 uẩn giả hòa hợp, nhưng lại cho pháp 5 uẩn sinh diệt là có thật, cho nên sợ sinh tử, vọng cầu Niết bàn. Chương Nhân pháp nhị không trong Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 nói rằng: Nhân không chung cho Tiểu thừa, nhưng chưa được thanh tịnh, đến Tam thừa mới thanh tịnh. Nhưng kinh Pháp hoa thì cho rằng Tam thừa vẫn chưa thanh tịnh, đến Nhất thừa mới được thanh tịnh rốt ráo.
thiên toạ
(偏坐) Ngồi lệnh, 1 trong các cách ngồi. Tức ngồi 1 chân xếp bằng, 1 chân đầu gối dựng đứng. Hoặc có thuyết cho rằng cách ngồi này giống với Thiên già(kết già một bên). Kinh A tra bạc câu nguyên súy nghi quĩ quyển hạ (Đại 21, 201 hạ) nói: Nếu sai khiến quỉ thần thì nênthiên tọa, tay trái để ở bẹn.
Thiên Trung Thiên
Một tôn hiệu của Phật, xưng tụng Phật là vị chẳng những được loài người lễ bái, lại được tất cả chư thiên trong Ba cõi đều tôn trọng hơn hết, là bậc cao trổi nhất trong hàng chư thiên.
thiên trung thiên
Devātideva (S).
; Devàtideva (S). Deva of devas, the name given to Siddhartha when, on his presentation in the temple of Thiên Vương Mahesvara (Siva), the statues of all the gods prostrated themselves before him.
; Tôn hiệu của Đức Phật (Thiên là đấng được người tôn kính, Phật là đấng được Thiên tôn kính, nên gọi là Thiên Trung Thiên). Phật được danh hiệu nầy khi Ngài thuyết pháp trên cung Thiên Vương. Ngày nay chúng ta còn thấy hình tượng chư Thiên quỳ mọp trước mặt Ngài—Devatideva (skt)—Deva of devas. The name given to Siddhartha (Sakyamuni) when, on his presentation in the temple of Mahesvara (Siva), the statues of all the gods prostrated themselves before him.
; (天中天) Phạm,Pàli:Devàtideva. Cũng gọi là Thiên nhân trung tôn, Thiên trung vương. Bậc tối thắng trong hàng chư thiên, 1 trong các tôn hiệu của Phật. Vì sau khi giáng sinh, đức Thích tôn từng được chư thiên lễ bái, cho nên có tôn hiệu này. [X. phẩm Bồ tát giáng sinh trong kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; phẩm Phạm chí chiêm tướng trong kinh Phật bản hạnh Q.1; kinh A súc Phật quốc Q.thượng; Thích thị yếu lãm Q.trung].
thiên trung vô nhất
(千中無一) Trong một nghìn người không được một người, đây là tiếng dùng chỉ cho lỗi của sự tu hành tạp nhạp. Ý nói những người tu hành tạp nhạp được vãng sinh Cực lạc rất ít, trong 1000 người không có được 1 người. Những người tạp tu, các duyên tạp nhạp loạn động, dễ mất chính niệm, không ứng hợp với bản nguyện của Phật, không có tâm sám hối, lại thường đi theo danh lợi, không gần gũi thiện hữu cùng chí hướng, gây chướng ngại cho chính hạnh vãng sinh của mình và người. Cho nên, trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập (Đại 83, 4 trung) mới nói: Người tạp tu không dốc lòng, trong nghìn người không được một (thiên trung vô nhất). Tư tưởng này có xuất xứ từ Vãng sinh lễ tán của Đại sư Thiện đạo đời Đường. [X. Lục yếu sao Q.6, phần cuối (Tồn giác)]. (xt. Chuyên Tạp Nhị Tu).
thiên trí
Devaprajā (S)Đề vân bát nhãTên một vị sư.
Thiên Trù
(天厨): Bếp Trời. Từ này có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi của một vì sao, như trong phần Thiên Văn Chí Thượng (天文志上) của Tấn Thư (晉書) có câu: “Tử Vi thản, đông bắc duy ngoại lục tinh viết Thiên Trù, chủ thịnh soạn (紫微垣、東北維外六星曰天廚、主盛饌, trong khu vực sao Tử Vi, sáu ngôi sao ngoài phương đông bắc gọi là Thiên Trù, chủ quản về cỗ ăn uống).” (2) Nhà Bếp của Thiên Đình, như trong bài thơ Đề Tuyên Luật Sư Họa Tượng (題宣律師畫像) của Lục Du (陸游, 1125-1210) nhà Tống có câu: “Bình sanh nhất ngõa bát, hà xứ hữu Thiên Trù (平生一瓦缽、何處有天廚, bình sanh một bình bát, nơi đâu có Bếp Trời).” Hay trong bài Mai Hoa Am Đồng Lâm Nhã Phủ Thoại Vũ Liên Cú (梅花庵同林若撫話雨聯句) của Ngô Vĩ Nghiệp (吳偉業, 1609-1672) nhà Thanh lại có câu: “Tiên lạc Thanh Thương thái, Thiên Trù pháp tửu triêm (仙樂清商奏、天廚法酒霑, tiên vui Thanh Thương rộn, Bếp Trời rượu thấm ngon).” (3) Nhà Bếp của Hoàng Đế, như trong bài Nguyên Hựu Bát Niên Sanh Nhật Tạ Biểu (元祐八年生日謝表) của Tô Triệt (蘇轍, 1039-1112) nhà Tống có đoạn: “Lão phùng đản nhật, khấp dưỡng thân chi vô tùng, tứ xuất Thiên Trù, quý quân tư chi mạc báo (老逢誕日、泣養親之無從、賜出天廚、愧君恩之莫報, già gặp ngày sinh nhật, khóc xót nuôi song thân không được toại nguyện, nhận ân sủng Nhà Bếp triều đình, thẹn ơn nhà vua chưa báo đáp).” Trong Phật Giáo, có những câu chuyện của các vị thần tăng đã từng được trời cúng dường cho thức ăn như trong Ngọc Thanh Vô Cực Tổng Chơn Văn Xương Đại Động Tiên Kinh (玉清無極總眞文昌大洞仙經) quyển 6 của Đạo Giáo có đoạn rằng: “Tích hữu tăng tọa Thiền, văn Hương Tích chi khí, tâm niệm viết tất thị trai cúng, hoặc kiến thiên tiên lai thỉnh phó Thiên Trù cúng, tăng ư định trung tiện khứ, nhật mỗi như thị; hoặc nhật minh, nhãn sư kiến chi, vị viết: 'Nhữ đọa nhất xí trung hỉ'. Tăng bất tín, toại linh tái phó cúng, hồi, sư thủ xí trung nhất trùng sát chi, tăng phương ngộ (昔有僧坐禪、聞香積之炁、心念曰必是齋供、或見天仙來請赴天厨供、僧於定中便去、日每如是、或日明、眼師見之、謂曰汝墮一廁中矣、僧不信、遂令再赴供、回、師取廁中一蟲殺之、僧方悟, xưa kia có vị tăng đang ngồi Thiền, chợt nghe mùi thơm xứ Hương Tích, tâm niệm cho rằng đó là đồ chay cúng dường, hoặc có khi thấy tiên trên trời đến mời dự cúng dường trên Thiên Trù, vị ấy trong định mà đi; mỗi ngày đều như vậy; có hôm nọ lúc trời sáng, thầy ông thấy vậy, bảo rằng: 'Ngươi đọa vào trong nhà xí rồi !' Vị tăng chẳng tin, lại tiếp tục đi tham dự lễ cúng dường; đến khi trở về, thầy ông lấy trong nhà xí ra một con trùng và giết đi; khi ấy vị tăng mới tỉnh ngộ).” Hay như trong Thần Tăng Truyện (神僧傳, Taishō No. 2064) quyển 6, truyện Khuy Cơ (窺基) có đoạn kể rằng: “Sơ Nam Sơn Tuyên Luật Sư, dĩ hoằng luật danh chấn Ngũ Đại, cảm thiên trù cúng soạn; Cơ thường phỏng Tuyên, kỳ nhật quá ngọ nhi thiên soạn bất chí, cập Cơ từ khứ Thiên Thần nãi giáng, Tuyên trách dĩ hậu thời, Thiên viết: 'Thích kiến Đại Thừa Bồ Tát tại thử dực vệ nghiêm thậm, cố vô tự nhi nhập.' Tuyên văn chi đại kinh (初南山宣律師、以弘律名震五天、感天廚供饌、基嘗訪宣、其日過午而天饌不至、及基辭去天神乃降、宣責以後時、天曰、適見大乘菩薩在此翊衛嚴甚、故無自而入、宣聞之大驚, lúc ban đầu Nam Sơn Đạo Tuyên Luật Sư truyền bá Luật Tông danh thanh vang khắp mọi nơi, cảm động khiến cho trời dâng cúng thức ăn; Khuy Cơ thường đến thăm Đạo Tuyên, có hôm nọ đến quá ngọ mà cơm trời vẫn chưa đến, khi Khuy Cơ chuẩn bị ra về thì Thiên Thần giáng xuống; Đạo Tuyên phiền trách vì sao đến trễ; Thiên Thần thưa rằng: 'Tôi thấy có các vị Bồ Tát Đại Thừa canh giữ nơi đây rất nghiêm mật, nên không tự tiện vào.' Đạo Tuyên nghe vậy rất kinh sợ).” Trong Thiền môn có các bài tán về Thiên Trù Cúng như “Thiên Trù cúng, Thuần Đà tối hậu lai, cơ xan ma mạch sung bì đại, tiên nhân hựu hiến trai thực tại, song song mục nữ hiến hương mi, Tứ Thiên Vương bổng bát, diêu vọng Linh Sơn bái. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát (天厨供、淳陀最後來、飢飡麻麥充皮袋、仙人又献齋食在、雙雙牧女献香糜、四天王捧鉢、遙望靈山拜、南無香供養菩薩, món trời cúng, Thuần Đà đến cuối cùng, đói khát mè thóc cũng no đủ, tiên nhân lại dâng thức chay đến, hai hàng mục nữ cúng cháo thơm, Tứ Thiên Vương nâng bát, xa hướng Linh Sơn vái. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát)”; hay “Thiền duyệt Tô Đà, tạo xuất Thiên Trù cúng, thành đạo đương sơ, mục nữ tiền lai tống Lão Mẫu, phó thác tại kim bàn, phụng hiến thượng Như Lai, hiền thánh vô biên chúng. Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát (禪悅酥酡、造出天厨供、成道當初、牧女前來送老母、付托在金盤、奉献上如來、賢聖無邊眾。南無禪悅藏菩薩, Thiền vui Tô Đà, tạo nên món trời cúng, thành đạo ban sơ, mục nữ đến trước dâng Lão Mẫu, phó thác tại bàn vàng, dâng cúng lên Như Lai, hiền thánh vô biên chúng. Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát)”, v.v. Từ đó, chúng ta thấy rằng Thiên Trù Cúng còn có nghĩa là món thức ăn trân quý do trời cúng, hay món thức ăn cao quý đem dâng cúng cho các bậc cao tăng, thạc đức.
thiên trù
Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong làng Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội chừng 38 dậm. Chùa Thiên Trù được xây dựng dưới triều vua Lê Hy Tông, nhưng bị sụp đổ năm 1947. Hiện chùa đang được xây lại. Chùa nằm trong một khu vực rộng lớn đẹp dẽ, có khe suối, có rừng và hang động. Trong sân chùa có tấm bia cổ được dựng lên từ năm 1686, nói về việc Sư Viên Quang có công sang sửa hang động Hương Tích và xây dựng ngôi chùa. Chùa Hương và động Hương Tích là một danh lam thắng cảnh của Việt Nam—Name of a temple which located in Hương Sơn village, Mỹ Đức district, Hà Tây province, about 38 miles from Hanoi. Thiên Trù temple was established under Emperor Lê Hy Tông; however, it was collapsed in 1947. It has been being rebuilt recently. The temple covers a large area with beautiful sceneries as streams, springs, mountains, forests, and caves, etc. In the yard, there is an ancient stele, set up in 1686, recording the event of restoration of Hương Tích by the monk named Vien Quang. Hương Sơn Temple and Hương Tích cave are most famous and beautiful sceneries in Vietnam.
Thiên Trúc
một tên gọi khác của nước Ấn Độ thời cổ.
thiên trúc
Sindhu (S), Tenjiku (J)Tín độ quốc, Tín độ hàNước Ấn độXem Ấn độ.
; India.
; Hiền Đậu—Ấn Độ—India—Hindu.
; (天竺) I.Thiên trúc Cũng gọi Thiên đốc, Thiên độc, Thân độc.Tên gọi xưa của nước Ấn độ. Tây vực truyện trong Hậu Hán thư ghi: Nước Thiên trúc còn có tên khác là Thân độc, ở cách nước Nguyệt thị vào nghìn dặm về phía đông nam, tục cho là đồng với nước Nguyệt thị. Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51, 875 trung) nói: Đối với tên gọi nước Thiên trúc có rất nhiều ý kiến khác nhau, xưa gọi là Thân độc, hoặc gọi là Hiền đậu, nay theo chính âm Indu thì nên đọc là Ấn độ, (...) Ấn độ đời Đường dịch là Nguyệt, Nguyệt có nhiều tên, ở đây là 1 tên trong đó, (...) Bởi vì ở nước này Thánh hiền kế tiếp nhau ra đời, dắt dẫn chúng sinh phàm phu, như mặt trăng(Nguyệt) soi đến, do nghĩa ấy nên gọi là Ấn độ. Quát địa chí ghi: Thiên trúc có 5 nước: Đông thiên trúc, Tây thiên trúc, Nam thiên trúc, Bắc thiên trúcvà Trung thiên trúc, tức là Ngũ Ấn độ hiện nay. (xt. Ấn Độ). II. Thiên Trúc. Gọi đủ: Thiên trúc tự. Chùa ở huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Có 3 ngôi: Ngôi ở phía bắc ngọn Bạch vân gọi là chùa Thượng thiên trúc; ngôi ở phía bắc ngọn Kê lưu gọi là chùa Trung thiên trúc và ngôi ở chân ngọn Phi lai gọi là chùa Hạ thiên trúc. Chùa Thượng thiên trúc được sáng lập vào đời Ngô Việt thuộc Ngũ đại, chùa Trung thiên trúc được sáng lập vàođời Tùy và chùa Hạ thiên trúc được sáng lập vào đời Đông Tấn. (xt. Thiên Trúc Tự).
thiên trúc cửu nghi
The nine forms of etiquette of India—See Cửu Nghi.
; (天竺九儀) Chín phép tắc của Thiên trúc. Tức chỉ cho 9 cách lễ bày tỏ lòng tôn kính của người Ấn độ đời xưa. Đó là: 1. Nói lời thăm hỏi ân cần. 2. Cúi đầu bày tỏ lòng tôn kính. 3. Giơ tay vái chào. 4. Chắp tay ngang ngực. 5. Co đầu gối. 6. Quì thẳng lưng. 7. Tay và đầu gối sát đất. 8. Năm ngón tay đều co lại. 9. Đầu, 2 khuỷu tay và 2 đầu gối đặt sát đất.[X. Đại đường tây vực kí Q.2]. THIÊN TRÚC DẠNG Cũng gọi Đại Phật dạng. Tiếng dùng trong kiến trúc của Nhật bản, là kiểu dáng kiến trúc được truyền đến Nhật bản vào thời đại Liêm thương. Vào thời chùa Đông đại được phục hưng, Tuấn thừa phường Trọng nguyên du nhập kiểu dáng kiến trúc mới của đời Nam Tống ở Trung quốc để xây dựng lại điện Đại Phật, đó là khởi nguồn cho Thiên trúc dạng ở Nhật bản. Thiên trúc vốn chỉ cho Ấn độ, ở đây, để phân biệt với Đường dạng(kiểu kiến trúc của Trung quốc vào đời Đường) vốn đã sớm được du nhập Nhật bản, cho nên gọi là Thiên trúc dạng, chứ thực tế thì chính là kiểu dáng kiến trúc đời Nam Tống.
thiên trúc lục thời
Sáu mùa trong năm ở Ấn Độ—Six seasons of a year in India: 1) Tiệm Nhiệt Thời: Vasanta (skt)—Mùa nóng dần từ 16 tháng giêng đến 15 tháng ba—Entering hot season, from the first month, sixteenth day, to the third month, fifteenth. 2) Nhiệt Thời: Grisma (skt)—Mùa nóng từ 16 tháng 3 đến 15 tháng 5—From the third month, sixteenth day, to the fifth month, fifteenth—See Thiên Trúc Tam Thời (1). 3) Vũ Thời: Varsakala (skt)—Mùa mưa từ 16 tháng 5 đến 15 tháng 7—From the fifth month, the sixteenth day, to the seventh month, fifteenth—See Thiên Trúc Tam Thời (2). 4) Mậu Thời: Sarada (skt)—Mùa tươi tốt từ 16 tháng bảy đến 15 tháng chín—Verdant season, from the seventh month, the sixteenth day, to the ninth month, fifteenth. 5) Tiệm Hàn Thời: Hemanta (skt)—Mùa lạnh dần từ 16 tháng chín đến 15 tháng mười một—From the ninth month, the sixteenth day, to the eleventh month, fifteenth—See Thiên Trúc Tam Thời (3). 6) Thịnh Hàn Thời: Sisira (skt)—Mùa cực lạnh từ 16 tháng mười một đến 15 tháng giêng—Very-cold season, from the eleventh month, the sixteenth day, to the first month, fifteenth.
thiên trúc ngũ sơn
Năm núi ở Ấn Độ, những nơi mà Phật hội họp chúng đệ tử của Ngài—The five mountains of India on which the Buddha assembled his disciples: 1) Bề Ba La Bạt Thứ: Vaibhara. 2) Tát Đa Bát Na Cầu Ha: Nam Sơn Thạch Thất—Saptaparnaguha. 3) Nhân Đà La Thế La Cầu Ha: Indrasailaguha. 4) Tát Pha Thứ Hồn trực Ca Bát Ba La: Sarpiskundika-pragbhara. 5) Kỳ Xà Quật: Grdhrakuta.
thiên trúc quốc
1) Ấn Độ: India. 2) Thân Độc: Sindhu. 3) Hiền Đậu: Hindu. 4) Ấn Trì Già La hay Ấn Đà La Bà Tha Na: Indravadana or Indrabhavana (skt)—Nơi cư ngụ của Trời Đế ThíchThe region where Indra dwells.
thiên trúc tam thời
Ba mùa trong một năm ở Ấn Độ—Three seasons of an Indian year: 1) Nhiệt Thì: Grisma (skt)—Mùa nóng từ 16 tháng giêng đến 15 tháng năm—The hot season, from first month sixteenth day, to fifth month, fifteenth. 2) Vũ Thì: Varsakala (skt)—Mùa mưa từ 16 tháng năm đến 15 tháng chín—The rainy season, from fifth month, sixteenth, to ninth month, fifteenth. 3) Hàn Thì: Hemanta (skt)—Mùa lạnh từ 16 tháng chín đến 15 tháng giêng—The cold season, from ninth month sixteenth, to first month fifteenth.
thiên trúc tam tế
(天竺三際) Cũng gọi Tam thời. Chỉ cho 3 mùa ở Ấn độ. Ấn độ chia 1 năm làm 3 mùa nóng, mưa, lạnh gọi là Tam tế (Phạm:Traya ftava#). Đó là: Nhiệt tế (Phạm:Grìwma-rtu), Vũ tế (Phạm:Varwartu) và Hàn tế (Phạm:Hemanta-rtu). Thời gian bắt đầu và kết thúc Tam tế, tùy theo phong tục bất đồng của mỗi địa phương tại Ấn độ mà có nhiều thuyết khác nhau. Theo Câu xá luận quang kí quyển 11, ngài Thần thái cho rằng từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 15 tháng 6 là Nhiệt tế; từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 15 tháng 10 là Vũ tế; từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 15 tháng 2 năm sau là Hàn tế. Còn ngài Chân đế thì cho rằng từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 5 là Nhiệt tế; từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9 là Vũ tế và từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng giêng năm sau là Hàn tế. Thuyết trong Đại đường tây vực kí quyển 2 cũng giống với thuyết của ngài Chân đế và lại chia Tam tế làm 6 thời, tức từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 3 là Tiệm nhiệt thời(thời gian nóng dần); từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5 là Thịnh nhiệt thời(thời gian nóng dữ); từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 7 là Vũ thời (thời gian mưa); từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9 là Mậu thời(thời gian cây cỏ tốt tươi); từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 11 là Tiệm hàn thời(thời gian lạnh dần) và từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng giêng năm sau là Thịnh hàn thời(thời gian lạnh dữ). Sáu thời này được phối hợp với 12 tháng: Tháng Chế đát la (Phạm: Caitra), tháng Phệ xá khư (Phạm:Vaizàkha), tháng Phệ sắt tra (Phạm:Jyaiwỉha), tháng Át sa đồ (Phạm:Àwàđha), tháng Thất la phạt noa (Phạm:Zràvaịa), tháng Bà đạt la bát đà (Phạm:Bhàdrapada), tháng Át thấp phạ dữu xà (Phạm: Azvayuja), tháng Ca lạt để ca (Phạm:Kàrttìka), tháng Mạt già thủy la (Phạm:Màrgasìrwa), tháng Báo sa (Phạm: Pauwa), tháng Ma già (Phạm: Màgha) và tháng Phả lặc lũ noa (Phạm: Phàlguna). [X.luận Câu xá Q.12; Câu xá luận bảo sớ Q.11; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5; Đại tạng pháp số Q.12; Phạm võng kinh cổ tích kí Q.hạ, phần cuối; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.6, hạ].
thiên trúc tam tự
(天竺三寺) Chỉ cho 3 loại chùa khác nhau ở Ấn độ đời xưa. Căn cứ vào sở học, các chùa ở Ấn độ thời xưa được chia làm 3 loại. Nếu chúng tăng chùa nào chuyên học Đại thừa thì chùa ấy được gọi là chùa Nhất hướng Đại thừa; hoặc chuyên học Tiểu thừa thì gọi là chùa Nhất hướng Tiểu thừa; hoặc học cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa thì gọi là chùa Đại tiểu kiêm hành. Các chùaĐạithừa tôn bồ tát Văn thù làmThượng tọa; các chùa Tiểu thừa tôn ngài Tân đầu lô làm Thượng tọa, còn các chùa Đại tiểu kiêm hành thì tôn cả 2 ngài Văn thù và Tân đầu lô làm Thượng tọa.[X.luận Hiển giới Q.thượng].
thiên trúc thập nhị nguyệt
Mười hai tháng trong năm ở Ấn Độ—The twelve months of a year in India: 1) Tháng Giêng: Caitra (skt)—January. 2) Tháng Hai: Vaisakha (skt)—February. 3) Tháng Ba: Jyaistha (skt)—March. 4) Tháng Tư: Asadha (skt)—April. 5) Tháng Năm: Sravana (skt)—May. 6) Tháng sáu: Bhadrapada (skt)—June. 7) Tháng Bảy: Asvayuja (skt)—July. 8) Tháng Tám: Karttika (skt)—August. 9) Tháng Chín: Margasirsa (skt)—September. 10) Tháng Mười: Pausa (skt)—October. 11) Tháng Mười Một: Magha (skt)—November. 12) Tháng Mười Hai: Phalguna (skt)—December.
thiên trúc tự
(天竺寺) Chùa ở huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, do 3 chùa Hạ thiên trúc, Trung thiên trúc và Thượng thiên trúc hợp thành. Hạ thiên trúc là ngôi chùa xưa nhất kế đó là Trung thiên trúc, Thượng thiên trúc. 1. Hạ thiên trúc tự: Hiện nay gọi là Pháp kính tự, ở chân núi Linh ẩn(ngọn Phi lai). Vào đầu năm Hàm hòa đời Đông Tấn, vị tăng người Tây Thiên trúc là ngài Tuệ lí xây 1 ngôi chùa ở đây, phỏng theo ngọn núi Linh thứu ở thành Vương xá mà đặt tên là chùa Linh thứu. Năm Khai hoàng 15 (595) đời Tùy, các ngài Chân quán, Đạo an cùng đến nơi này tu hạnh đầu đà, đồng thời xây chùa ở núi Hổ lâm gọi là chùa Nam Thiên trúc. Khoảng năm Đại lịch đời Đường, các ngài Pháp sân, Trừng quán và Đạo tiêu lần lượt đến trụ chùa này. Ngài Đạo tiêu giỏi về văn chương, thường đàm luận với Tướng quốc Lí cát phủ và thi nhân Bạch cư dị. Trong năm Trinh nguyên, ngài Đạo tiêu dựng một thảo am dưới Tây lãnh, lui về ở ẩn nơi rừng núi, người đời gọi ngài là Tây lãnh Hòa thượng. Năm Trinh nguyên 21 (805), chùa này có khai giảng kinh Hoa nghiêm, hiện ra nhiều điềm lành, được vua ban bảng hiệu là Hậu Thiên Trúc Linh Sơn Tự, hưng thịnh một thời. Đến cuối đời Đường, chùa bị tàn phá trong binh lửa, về sau, được Ngô Việt vương Tiền lưu xây dựng lại, đặt tên là Ngũ bách La hán viện. Khoảng năm Đại trung tường phù (1008-1016) đời vua Chân tông nhà Tống, ngài Từ vân Tuân thức thuộc phái Sơn gia tông Thiên thai, phát huy giáo cương tông Thiên thai ở chùa này, người đời gọi ngài là Thiên trúc sám chủ, Từ vân sám chủ. Thời vua Cao tông nhà Tống, chùa được đổi tên là Tư tiến phúc tự, đến năm Khánh nguyên thứ 3 (1197), lại khôi phục tên cũ là Hậu Thiên trúc Linh sơn tự. Vào đầu năm Gia định, vị tăng người Nhật bản là Tuấn nhưng từng ngụ chùa này, học tập giáo học Thiên thai. Chùa này vốn là đạo tràng của tông Thiên thai, sau thuộc về tông Lâm tế. 2. Trung thiên trúc tự: Cũng gọi Pháp tịnh tự, ở phía nam chùa Hạ thiên trúc và phía bắc ngọn Kê lưu. Chùa này do vị tăng người Thiên trúc xây dựng vào năm Khai hoàng 17 đời Tùy, có thuyết nói được xây cất vào năm Trinh quán 15 (641) đời Đường. Vào đầu đời Tống, chùa được gọi là Sùng thọ viện. Đến thời vua Huy tông, đổi là Thiên minh vĩnh tộ thiền tự; đến đời Nguyên lại được đổi là Thiên lịch vĩnh tộ thiền tự. Trong 400 ngôi chùa Phật ở Tiền đường, chùa này cùng với chùa Linh ẩn và chùa Tịnh từ đều là những Thiền viện nổi tiếng. 3. Thượng thiên trúc tự: Hiện nay gọi là chùa Pháp hỉ, ở phía nam chùa Trung thiên trúc, phía bắc ngọn Bạch vân. Khoảng năm Thiên phúc (936-941) đời Hậu Tấn, ngài Đạo dực kết am tranh ở đây, một hôm được khúc gỗ lạ, ngài khắc thành tượng Quán âm. Năm Càn hựu thứ 2 (949) đời Ẩn đế nhà Hậu Hán, có vị tăng tên là Sùng huân, từ Lạc dương mang xá lợi của Cổ Phật để trên đỉnh đầu, diệu tướng đầy đủ, ban ngày phóng ra ánh sáng trắng. Bấy giờ, Ngô Việt vương Tiên hoằng thúc cảm được sự mách bảo củabồ tát Quán âm nên xây một ngôi chùa, gọi là Thiên trúc khán kinh viện, đó là đầu mối việc sáng lập Thượng thiên trúc tự. Năm Gia hựu thứ 7 (1062), vua Nhân tông nhà Tống ban cho bộ Đại tạng gồm 5330 quyển, bèn xây kinh lâu để cất chứa. Năm Trị bình thứ 2 (1065), vua Anh tông ban biển hiệu Thiên trúc linh cảm Quán âm viện. Trải qua các đời vua: Thần tông, Triết tông, Cao tông...vận chùa thịnh lớn, vua ban ấn Bạch vân đường để thống lãnh các tông Thiền, Giáo, Luật trong nước. Cảba chùa Thiên trúc đều thờ bồ tát Quán âm làm Bản tôn, hằng năm vào tiết Dương xuân, có hàng trăm vạn nam, nữ ở 2 tỉnh Giang tô vàChiết giang về chùa này dâng hương. [X. Tục cao tăng truyện Q.30; Tống cao tăng truyện Q.5, 15, 29; Tục Phật tổ thống kỉ, Đại minh cao tăng truyện Q.1, 3, Tuyền dũng tự bất khả khí pháp sư truyện, Chiết giang thông chí; Cổ kim đồ thư lập thành thần dị điển thứ 110].
thiên trúc tự nguyên
(天竺字源) Cũng gọi Cảnh hựu thiên trúc tự nguyên. Tác phẩm, 7 quyển, do 2 ngài Duy tịnh và Pháp hộ soạn vào đời Bắc Tống. Nội dung sách này là chia loại các chữ Phạm, đồng thời giải thích rõ về âm và nghĩa của các chữ ấy. Trước hết giải thích sơ lược về 13 chuyển thanh, 34 chữ cái, 5 âm và sinh tự, kế đến lập 4 chương để phân biệt rộng. Những chữ Phạm được nêu ra trong sách này khác với các chữ Tất đàm phổ thông, gần với văn thể của Ni ba la Phạm giáp. Sách này được vua ban sắc khắc in vào tháng 9 năm Cảnh hựu thứ 2 (1035) đời Tống, sau đó có bản khắc lại, nhưng không rõ năm ấn hành. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45, 46; Quảng thanh lương truyện Q.trung].
Thiên Trúc tự 天竺寺
[ja] テンチクジ Tenjikuji ||| "India Temple." Located in the present-day Chekiang province in Hangzhou 杭州. Originally established in 595. => “Chùa Ấn Độ ”. Hiện nay toạ lạc ở tỉnh Triết Giang (c: Chekiang), Hàng Châu (c: Hangzhou 杭州).
thiên trúc y
(天竺衣) Chỉ cho 3 áo đúng như luật Phật chế định do Tam tạng Nghĩa tịnh đời Đường truyền về Trung quốc. Đây là loại áo ca sa không dùng vòng và móc. Ba áo của Nam sơn luật tông theo luật cũ thì gọi là Nam sơn y, phải dùng vòng và móc để phân biệt với Thiên trúc y. [X. Họa tượng tu tri]. (xt. Nam Sơn Y).
Thiên Trúc 天竺
[ja] テンジク tenjiku ||| A translation for sindhu, an ancient name for India. => Hán dịch chữ Sindhu, một tên gọi cổ xưa của Ấn Độ.
thiên trước
Xem Ấn độ.
thiên trụ sùng huệ
Tien chu Chung hui (C)Tên một vị sư.
thiên trụ tập
(天柱集) Cũng gọi Trúc tiên hòa thượng thiên trụ tập. Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng phái Dương kì thuộc tông Lâm tế là Trúc tiên Phạm tiên (1292-1348) soạn vào đời Nguyên, được thu vào Trúc tiên hòa thượng ngữ lục trong Đại chính tạng tập 80. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329 đời Văn tông, ngài Phạm tiên đến Nhật bản hoằng pháp. Nội dungtậpsách này là thu chép các bài kệ tụng, tựtán, tạp trứ...mà sư đã soạn và trứ tác tại Nhật bản. Phần kệ tụng bao gồm những bài kệ gửi cho các học trò của sư nhưXuân ốc, Biệt nguyên, Trung nham, Minh cực, Vật ngoại, Vô dụng... và các pháp ngữ gửi các bậc kì túc đương thời, Mạc phủ tướng quân Túc lợi tôn. Phần tạp trứ bao gồm thư gửi Quốc sư Mộng song, thư gửi vũ tướng đương thời, lời tựa, lời bạt, hóa sớ, bài minh trên tháp ngài Đông minh Tuệ nhật...
thiên tu bồ đề
Deva-Subhuti (skt)—Một trong ba vị đệ tử Phật có tên là Thiên Tu Bồ Đề, vị nầy thì thích ăn mặc áo quần tươm tất và sống đời tịnh hạnh—One of the three Subhutis, disciples of the Buddha; said to have been so called because of his love of fine clothing and purity of life.
; (天須菩提) Tu bồ đề, Phạm:Subhùti. Chỉ cho vịA la hán đệ tử đức Phật. Vì trong 500 đời, ngài Tu bồ đề thường sinh lên cõi trời, rồi lại sinh xuống nhân gian vào nhà vương giả, cho nên gọi là Thiên tu bồ đề. Lại vì phúc báo tự nhiên, việc uống ăn không thiếu thốn, thường mặc áo tốt đẹp, cho nên ngài được gọi là Trước hảo y đệ nhất(mặc áo tốt bậc nhất) trong hàng Thanh văn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; luận Phân biệt công đức Q.5].
thiên tà quỷ
(天邪鬼) Cũng gọi Hà bá diện, Hà bá, Hải nhược. Tên thần sông. Chỉ cho mặt quỉ ở phần bụng của trời Tì sa môn. Ngoài ra, người đời cũng gọi những kẻ ngỗ nghịch là Thiên tà quỉ.
thiên tài
Genius.
thiên tào
The court of Heaven.
thiên tâm
Partial mind (heart)—Partiality.
thiên tí quán thế âm
Sahasrabhujasa-harenetra (S)Tên một vị Bồ tát.
thiên tính
Nature.
Thiên Tôn
(天尊): có hai nghĩa chính: (1) Tôn xưng cao quý nhất trong chư vị thiên thần của Đạo Giáo; như Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊), Ngọc Hoàng Thiên Tôn (玉皇天尊), v.v. (2) Phật Giáo gọi đức Phật là Thiên Tôn. Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có đoạn: “Kim nhật Thế Tôn trú kỳ đặc pháp, kim nhật Thế Hùng trú Phật sở trú, kim nhật Thế Nhãn trú đạo sư hành, kim nhật Thế Anh trú tối thắng đạo, kim nhật Thiên Tôn hành Như Lai đức (今日世尊住奇特法、今日世雄住佛所住、今日世眼住導師行、今日世英住最勝道、今日天尊行如來德, hôm nay đức Thế Tôn trú nơi pháp đặc biệt, hôm nay đấng Thế Hùng trú nơi Phật thường trú, hôm nay đấng Thế Nhãn trú nơi hạnh của đạo sư, hôm nay đấng Thế Anh trú nơi đạo tối thắng, hôm nay đấng Thiên Tôn trú nơi đức của Như Lai).” Hay trong Nhất Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục Kinh (一切智光明仙人慈心因緣不食肉經, Taishō Vol. 3, No. 183) cũng có đoạn: “Thế Tôn ! Như thử đồng tử, uy nghi tường tự, quang minh vô lượng, dữ Phật vô dị, ư hà Phật sở, sơ phát đạo tâm, thọ trì thùy kinh; duy nguyện Thiên Tôn, vị ngã giải thuyết (世尊、如此童子、威儀庠序、光明無量、與佛無異、於何佛所、初發道心、受持誰經、唯願天尊、爲我解說, Thế Tôn ! Đồng tử như vậy, oai nghi rõ ràng, ánh sáng vô lượng, với Phật không khác, ở nơi Phật nào, mới phát đạo tâm, thọ trì kinh gì; cúi mong Thiên Tôn, vì con nói rõ).” Trong Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) còn giải thích rằng: “Thế hữu Tam Tôn đồng hưu thiên hạ, Phật viết Thế Tôn, Đạo viết Thiên Tôn, đế viết Chí Tôn (世有三尊同休天下、佛曰世尊、道曰天尊、帝曰至尊, trên đời có ba đấng tôn kính cùng làm yên thiên hạ, Phật gọi là Thế Tôn, Đạo gọi là Thiên Tôn, nhà vua gọi là Chí Tôn).”
thiên tôn
The most honoured among devas, a tittle of a Buddha, i.e. the highest of divine beings.
; 1) Bậc tôn quý nhứt của chư Thiên—The most honoured among devas—The highest of divine beings. 2) Thiên vương hộ pháp và những bậc tôn quý khác của chư Thiên—The Maharaja protectors of Buddhism and others in the sense of honoured devas. 3) Những bậc Thần Thánh của những người theo Lão Giáo: Title applied by the Taosits to their divinities. 4) Danh hiệu của Đức Phật: A title of the Buddha.
thiên tôn phật
(千尊佛) Một nghìn tôn Phật. Tức khi tạo tượng Phật cúng dường thì xếp đặt các tôn tượng Phật lớn nhỏ cùng kiểu ngang nhau để vẽ hoặc khắc. Trên mặt vách trong các chùa hang đá ở Ấn độ và vùng Tây vực có vô số tượng Phật cùng kiểu được xếp ngang nhau, thường được gọi là Thiên Phật Động(hang động nghìn Phật), Phật giáo Đài loan cũng có phong khí này, như các tượng Phật trong điện Đại bi, trong Đại hùng Bảo điện của Phật quang sơn tại Cao hùng, ở chùa Vạn Phật tại Vụ phong, Trung đài... Ngoài ra, vào thời khóa hàng ngày trong các chùa viện thường niệm cùng một danh hiệu Phật, ý nghĩa ấy giống với Thiên tôn Phật.
thiên tùng bút kí
(千松筆記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đại thiều soạn và ấn hành vào cuối đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Sách này gồmcó4 thiên: Thiên tùng bút kí, Thiền tông hợp luận, Lăng nghiêm kinh tiết và Tạp trứ, thu chép các kí thuật của ngài Đại thiều lúc trụ ở Thiền viện Thiên tùng tại núi Biện sơn. Nội dung nêu rõ sự tham thiền ngộ đạo có thể ở trong pháp thế gian mà tìm ra pháp xuất thế gian, ở trong pháp xuất thế gian mà tìm ra pháp xuất thế gian. Cóthuyết nói sách này vốn có 5 thiên, tức còn có 1 thiên Kim cương chính nhẫn, nhưng Vạn tục tạng không ghi chép.
thiên tý thành
Devadarsita or Devadista (skt)—Nơi cư ngụ của ngài Thiện Giác Trưởng Giả, là cha của Hoàng hậu Ma Da (mẹ của Đức Phật)—Deva-arm city, the residence of Suprabhuddha, father of Maya (who is the mother of the Buddha).
thiên tăng cung dưỡng
(千僧供養) Cũng gọi Thiên tăng trai, Thiên tăng hội.Pháp hội cúng dường cùng lúc một nghìn vị tăng. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2, 3, Thiên sam thời đức Thích tôn tại thế, vua Tần bà sa la từng cúng dường 1000 vị tăng một lượt. Sau khi đức Phật nhập diệt, ngài Ma ha ca diếp cũng từng triệu tập 1000 vị tỉ khưu để tổ chức đại hội kết tập tạng kinh. Ở Trung quốc, từ thời Nam Bắc triều, Thiên tăng cúng dường rất thịnh hành, hàng vương hầu quí tộc thường có tổ chức. Như vào năm Chí đức thứ 4 (586), Trần hậu chủ ban sắc thỉnh đại sư Trí khải truyền giới Bồ tát cho Hoàng thái tử, thiết Thiên tăng trai cúng dường. Năm Trinh quán thứ 8 (634) đời Đường, vua vì Thái hậu thiết Thiên tăng trai; năm Khai thành thứ 2 (837), vua Văn tông thiết trai ở chùa Khai nguyên cúng dường 500 vị tăng; năm Hàm thông 12 (871) vua Ý tông thiết Vạn tăng trai cúng dường 10.000 vị tăng trong cung. Niên hiệu Đồng quang năm đầu (923), vua Trang tông nhà Hậu Đường cũng từng thiết Thiên tăng trai trong nội điện. Những năm gần đây, từ năm 1969 về sau, Đài loan cũng cử hành Thiên tăng trai, thường là vào ngày 15 tháng 7 âm lịch. Số tăng dự trong pháp hội này không hạn định 1000 vị, mà cũng có khi 500 vị, hoặc 5.000 vị, hoặc 10.000 vị. Pháp hội này còn có các hạng mục khác như hội Vô già, Sám pháp, Giảng kinh, Niên kị pháp yếu...
thiên tư
Innate gift.
thiên tải
One thousand years.
Thiên Tải Tập
(千載集, Senzaishū): hay còn gọi là Thiên Tải Hòa Ca Tập (千載和歌集), một trong những bộ Sắc Soạn Hòa Ca Tập (勅撰和歌集), bộ thứ 7 trong Bát Đại Tập (八代集), gồm 20 quyển. Năm 1183, vâng sắc chỉ của Hậu Bạch Hà Pháp Hoàng (後白河法皇), Đằng Nguyên Tuấn Thành (藤原俊成, Fujiwara-no-Toshinari) soạn nên tập này. Đây là ca tập thể hiện cảnh giới u tịch trong sắc thái ôn nhã, diêm tuyệt.
thiên tắc
Natural principle.
thiên tịch
Xem Hiền Tịch.
thiên tịch vấn
(偏僻問) Nghĩa là người học nêu ra các vấn đề có tính chất thiên lệch, quanh co để hỏi thầy, nhằm mục đích thử thăm dò trình độ kiến thức của thầy. Là 1 trong Phần dương thập bát vấn. Nhân thiên nhãn mục quyển 2 (Đại 48, 307 hạ) ghi: Hỏi ngài Ba tiêu: Khắp đại địa là con mắt, xin thầy chỉ dạy. Ngài Ba tiêu nói:Đứa bé nghèo gặp cơm thiu.
Thiên Tịch 天寂
[ja] テンジャク Tenjaku ||| The Indian monk Devakṣema. See 提婆設摩. => Tên gọi một vị tăng sĩ Ấn Độ Devakṣema. Xem Đề-bà Thiết-ma 提婆設摩.
thiên tụ
(A) Nghĩa của Thiên Tụ—The meanings of “Thiên Tụ: 1) Làm sai: Wrong doing. (B) Phân loại Thiên Tụ—Categories of “Wrong-doing” 1) Ngũ Thiên Tụ: Năm loại làm sai—Five kinds of wrong doing—See Ngũ Thiên Tụ. 2) Lục Thiên Tụ: Six kinds of wrong doing-See Lục Thiên Tụ. 3) Thất Thiên Tụ: Seven kinds of wrong doing—See Thất Thiên Tụ.
; (篇聚) Chỉ cho giới luật. Vì giới luật mà các tỉ khưu, tỉ khưu ni tu học có chia ra từng thiên, từng tụ nên gọi chung là Thiên tụ. Giới Cụ túc được chia làm Thiên môn và Tụ môn; Thiên môn căn cứ vào tội quả kết thành và tính cách cấp yếu mà chia ra 5 thiên; còn Tụ môn thì gom tội tính và nhân nơi tội mà chia loại thành 6 tụ, 7 tụ, 8 tụ... (xt. Ngũ Thiên).
thiên từ
miếu, đền thờ các vị thiên thần trong đạo Bà-la-môn.
; Deva-kula (S)Đền thờ trời.
; Devàlaya, Devatàgàra (S). Brahminical temples.
; Devalaya—Devatagara—Devatagrha (skt)—Đình miếu Bà La Môn—Brahminical temples.
; (天祠) Phạm: Deva-kula. Đền thờ trời. Tức nơi thờ cúng các vị thần thuộc Thiên bộ như trời Đại tự tại... ở Ấn độ. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4].
thiên tử
tên gọi chung của chư thiên, khác với từ thiên tử dùng để chỉ vị vua ở cõi người.
; A son of Heavens, the Emperor-Princes.
; Son of heaven king—A son of heaven. 1) Vua hay Thái tử, những người đã từng tu tập thập thiện trong đời trước và kết quả là đời nầy sanh ra làm vua hay thái tử—Emperor or Princes, those who in previous incarnations have kept the middle and lower grades of the ten good qualities (thập thiện), and in consequence, are born here as princes or kings. 2) Thiên Tử Nghiệp Ma: Tên của một loài ma vương của cõi trời dục giới thứ sáu, chuyên chống lại chân lý nhà Phật—The title of one of the four maras, who is the lord of the sixth heaven of desire, who also opposes the Buddha-truth.
; (天子) I. Thiên Tử. Con trời. Tức ông vua trong cõi người được các trời hộ trì. Đây là quả báo do đời trước làm 10 điều thiện hạ phẩm mà được. Kinh Kim quang minh quyển 3 (16, 347 thượng) nói: Tuy sinh trong cõi người, làm vua thế gian, nhưng được trời hộ trì, nên gọi là Thiên tử. II. Thiên Tử. Chỉ cho Ma vương ở tầng trời thứ 6 của cõi Dục, tức là Tha hóa tự tại Thiên tử ma. III. Thiên Tử. Chỉ cho người trời ở các cõi trời. THIÊN TỬ MA Phạm: Deva-putra-màra. Gọi đủ: Tha hóa tự tại thiên tử ma. Cũng gọi: Thiên ma. Chỉ cho Ma vương và quyến thuộc trụ ở tầng trời thứ 6 cõi Dục, 1 trong 4 loại ma.Thiên tử ma này hay làm chướng ngại pháp lành của người, ghen ghét pháp của hiền thánh, đồng thời thường gây sự nhiễu loạn, cản trở thiện căn xuất thế không cho thành tựu. Loài ma này là do nghiệp đời trước mà cảm được quả báo này, cho nên cũng gọi là Thiên tử nghiệp ma, là ngoại ma duy nhất trong 4 ma. [X. Luận Đại trí độ Q.5, 56, 68]. (xt. Tha Hóa Tự Tại Thiên, Tứ Ma). THIÊN TỨC TAI (?-1000) Cao tăng nước Ca thấp di la thuộc Bắc Ấn độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời nhàTống. Sư vốn trụ ở chùa Mật lâm tại nước Nhạ lan đà, Trung Ấn độ. Vào năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980) đời Tống, sư cùng với ngài Thí hộ đến Biện kinh. Vua mời vào yết kiến, ban cho sư áo đỏ và ban sắc cùng xem kinh Phật bản tiếng Phạm. Bấy giờ vua mới quyết định cho phiên dịch và truyền bá kinh Phật và sai quan Trung sứ là Trịnh thủ quân xây viện Dịch kinh ở mé tây chùa Thái bình hưng quốc. Tháng 6 năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982), Viện Dịch kinh được hoàn thành, vua liền ban sắc thỉnh các ngài Thiên tức tai, Thí hộ và Pháp thiên cùng đến ở trong viện và chuyên việc dịch kinh, vua ban hiệu cho ngài Thiên tức tai là Minh Giáo Đại Sư. Tháng 7 cùng năm, sư dâng lên vua kinh Tân dịch Thánh Phật mẫu tiểu tự bát nhã ba la mật đa 1 quyển. Năm sau, sư dịch kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương 4 quyển, đồng thời, sư tâu xin vua lệnh cho Lưỡng nhai tuyển chọn 50 đồng tử để học tập tiếng Phạm. Từ đó, sư dịch kinh không nghỉ. Năm Ung hi thứ 2 (985), vua ban Triều tán Đại phu thí Hồng lô thiếu khanh cho sư, năm sau, vua soạn Ngự chế Tam tạng Thánh giáo tự. Cứ theo Đại trung tường phù pháp bảo lục quyển 6 thì vào năm Ung hi thứ 4 (987), sư vâng chiếu đổi tên là Pháp hiền. Từ tháng 7 năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982) đến tháng 10 năm Ung hi thứ 4 (985), ngài Thiên tức tai dịch tất cả 18 bộ 57 quyển kinh, nhập tạng khắc in lưu hành khắp trong nước. Sau đó, sư tiếp tục phiên dịch được các kinh quĩ như: Kinh Chúng hứa ma ha đế 13 quyển, kinh Diệu cát tường tối thắng căn bản đại giáo vương 3 quyển, kinh Diệu cát tường du già đại giáo kim cương bồi ra phạ luân quán tưởng thành tựu nghi quĩ, kinh Tần bà sa la vương 1 quyển... Tháng 8 năm Hàm bình thứ 3 (1000), sư thị tịch, thụy hiệu Tuệ biện. [X. Phật tổ thống kỉ Q.43, 44; Phật tổ lịch đại thông tải Q.26; Bổ tục cao tăng truyện Q.1]. THIÊN TÝ THIÊN BÁT MẠN THÙ THẤT LỢI BỒ TÁT Gọi đủ: Ngũ đính ngũ trí tôn thiên tý thiên thủ thiên bát thiên Phật Thích ca mạn thù thất lợi bồ tát. Gọi tắt: Thiên bát văn thù. Bồ tát Văn thù nghìn tay nghìn bát, là 1 trong Ngũ tựVăn thù. Trong động Thiên Phật ở Đôn hoàng có 2 loại bích họa về vị Bồ tát này. Theo sự biên chép của ông Bá hi hòa (P.Pelliot) thì ở động thứ 6 còn giữ được bức bích họa vẽ bồ tát Văn thù ngồi kết già trên hoa sen báu lớn ở núi Tu di, trên đầu có 5 búi tóc, chính giữa mũ báu có 1 đức Phật, trang sức bằng trăm thứ báu anh lạc, vòng xuyến, áo trời, tay phải tay tráí thứ nhất co lại để ở trước ngực, tay trái cầm bát, trong bát đặt Phật Thích ca, ngón thứ nhất, ngón thứ hai của tay phải ấn cạnh miệng bát; tay phải tay trái thứ 2 kết ấn pháp giới định đặt ở trước rốn, giữa lòng bàn tay để bát, trong bát cũng có Phật Thích ca; nghìn cánh tay còn lại chia làm 6 tầng vây quanh toàn thân, tạo thành 1 vòng tròn ánh sáng lớn, tất cả có 200 cánh tay, 200 chiếc bát. Còn bức họa ở động thứ 72 cũng giống như bức trước, đội mũ báu Ngũ Phật, có khoảng 350 cánh tay, tầng tầng vây quanh, tạo thành 1 vòng tròn lớn, cực kì hoành tráng, mĩ lệ. Hai bức bích họa này đều được vẽ vào cuối thời Ngũ đại đầu đời Tống và được liệt vào hàng đẹp nhất trong các bích họa ở động Thiên Phật.[X.kinh Đại thừa du già kim cương tính hải Mạn thù thất lợi thiên tí thiên bát đại giáo vương Q.1, 5; Les Grottes de Touen- Houang, I, II, by Pelliot].
thiên tử cù bà già
Gopaka (S).
thiên tử ma
Xem Thiên ma.
thiên tử nghiệp ma
See Thiên Chủ.
Thiên tử 天子
[ja] テンシ tenshi ||| (1) In classical literature, the emperor or "son of heaven." (2) In Buddhist sutras, the lowest level of gods (devatā). (3) Chīdren of gods (deva-pātra). => 1. Trong văn học cổ điển, vua được gọi là Thiên tử (con trời). 2. Trong kinh Phật, Thiên tử là hàng chư thiên thấp nhất (s: devatā). 3. Con của chư thiên (s: deva-pātra).
thiên tửu
xem cam lộ.
; Xem cam lộ.
thiên viên
Thiên là thiên hướng một bên, viên là đầy khắp không gian thời gian. Tương đối là thiên, tuyệt đối là viên. Thiên có giới hạn, viên chẳng có giới hạn.
; 1) Tương đối còn nghiêng lệch và viên mãn: Relative and complete. 2) Cái tương đối thiên lệch của Tiểu Thừa và cái viên mãn của Đại Thừa: Partial and all-embracing, i.e. Hinayana and Mahayana. 3) Thông giáo và Viên giáo của tông Thiên Thai: The intermediate schools and perfect schools (between Hinayana and Mahayana) of T'ien-T'ai sect.
; (偏圓) Từ ngữ được sử dụng để phân biệt sự hơn, kém của giáo lí. Thiên là lí thiên lệch, hẹp hòi, nghiêng hẳn về bên Không cho đến Trung; còn Viên là lí tròn đủ tất cả. Nói theo Đại thừa, Tiểu thừa thì Tiểu thừa là Thiên, Đại thừa là Viên. Tuy nhiên, trong Đại thừa cũng có Thiên, Viên khác nhau, như chỉ cho Viên giáo trong 5 giáo của Hoa nghiêm và Viên giáo trong 4 giáo hóa pháp của Thiên thai là Viên giáo, còn 3 giáo Tạng, Thông, Biệt(Thiên thai) và 2 giáo Chung, Đốn(Hoa nghiêm) thì đều là Thiên giáo.[X. Ma ha chỉ quán Q.3 hạ].
thiên vô nhất thất
(千無一失) Nghìn người không sót một. Theo tông Tịnh độ, người niệm Phật hoằng nguyện chuyên tu chính nghiệp vãng sinh Báo độ, giữ tâm bền chắc, nhất định sẽ được sinh về nước Cực lạc, một nghìn người không sót một. Còn những người tu tạp nhạp thì trong một nghìn người không có được một người vãng sinh Tịnh độ. [X.luận Thích tịnh độ quần nghi Q.4]. (xt. Thiên Trung Vô Nhất, Chuyên Tạp Nhị Tu).
Thiên Võ Thiên Hoàng
(天武天皇, Temmu Tennō, tại vị 672-686): vị Thiên Hoàng sống vào hậu bán thế kỷ thứ 7, tên là Thiên Đình Trung Nguyên Doanh Chân Nhân (天渟中原瀛眞人), hay còn gọi là Đại Hải Nhân (大海人), vị Hoàng Tử thứ 3 của Thư Minh Thiên Hoàng (舒明天皇, Jomei Tennō, tại vị 629-641). Năm 671, ông xuất gia, rồi ẩn cư tại vùng Cát Dã (吉野). Sau khi Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenji Tennō, tại vị 661-671) băng hà, ông giành được thắng lợi dẹp yên vụ loạn năm Nhâm Thân (672), đến năm sau thì lên ngôi ở Tịnh Ngự Nguyên Cung (淨御原宮). Chính nhà vua đã cải định lại giai phẩm trong triều, chế ra luật lịnh mới, và biên sửa lại Quốc Sử.
thiên võng
Heaven's net.
thiên văn
Astronomy.
Thiên vương
天王; S: devarāja; C: tiānwáng; J: tennō;|Ðược xem như là người canh giữ thế giới, thường được thờ trong các chùa. Truyền thuyết cho rằng các Thiên vương sống trên núi Tu-di (s: meru), canh giữ thế giới và Phật pháp. Các vị đó chiến đấu chống cái ác và bảo vệ những nơi Phật pháp được truyền bá. Thân thể các vị đó được áo giáp che chở, đầu mang giáp sắt.|Có bốn vị Thiên vương (Tứ Thiên vương; s: catur-mahārāja) ở bốn hướng: |1. Bắc Thiên vương với tên là Ða văn thiên (多聞天; s: vaiśravaṇa) có thân màu lục, tay trái cầm cờ chiến thắng, tay phải mang tượng chùa hoặc một bảo tháp (mà trong đó – theo truyền thuyết – Long Thụ đã tìm được những bộ kinh dưới Long cung), hoặc một con chuột mầu bạc phun ngọc. Vị Bắc Thiên vương là vị quan trọng nhất trong bốn vị Thiên vương;|2. Nam Thiên vương là Tăng trưởng thiên (增長天; virūḍhaka) có thân màu xanh, cầm gươm chém Vô minh. Vị này chuyên giữ gìn những chủng tử tốt đẹp trong con người; |3. Ðông Thiên vương là Trì quốc thiên (持國天; dhṛtarāṣṭra) có thân trắng, tay cầm đàn, tiếng đàn sẽ làm tâm thức con người trở nên thanh tịnh;|4. Tây Thiên vương tên Quảng mục thiên (廣目天; virūpākṣa) có thân màu đỏ, tay phải cầm rắn (s: nāga) nhưng không cho nó chiếm giữ Như ý châu (ngọc như ý). Ngọc như ý chỉ chuyên dành cho những bậc giác ngộ và rắn chỉ là người canh giữ viên ngọc đó.|Truyền thuyết Trung Quốc đã nhắc các vị này từ thế kỉ thứ 4, nhưng đến đời Ðường (thế kỉ thứ 7) người ta mới thật sự thờ cúng các vị Thiên vương. Mỗi vị này có 91 con trai và 8 tướng quân, giúp canh giữ mười phương thế giới. Tương truyền rằng, năm 742, Ðại sư Bất Không Kim Cương (s: amoghavajra, Mật tông) niệm chú Ðà-la-ni gọi các vị Thiên tướng xuống giúp chống ngoại xâm. Vị Bắc Thiên vương và Tây Thiên vương hiện xuống đẩy lùi giặc, nhà vua nhớ ơn cho xây tượng các vị trong chùa chiền.
thiên vương
Tennō (J), Devaloka-rāja (S), Deva King, King of the devas.Tứ thiên vương ở cõi trời dục giới.
; Maharàja devas (S). Tứ thiên vương, Catur-mahàràja, The four deva kings in the first or lowest devakoka, on its four sides. East Trì quốc Thiên vương Dhrtaràstra; South Tăng trưởng Thiên vương, Virùdhaka; West Quảng mục
; Bốn nhân vật có hình dáng như quỷ. Theo truyền thuyết thì họ sống bên trên núi Tu Di, họ là những thần hộ pháp, họ chiến đấu chống lại cái ác và bảo vệ cái thiện, mỗi thiên vương canh giữ một phương—Mahasvara—Maharaja-devas—There are four demonic-looking-figures deva kings in the first lowest devaloka (Tứ Thiên Vương). According to the myth, they dwell on the world mountain Meru and are guardians of the four quarters of the world and the Buddha teaching. They fight against evil and protect places where goodness is taught: 1) Trì Quốc Thiên Vương: Dhartarastra (skt)—Deva king in the East. 2) Tăng Trưởng Thiên Vương: Virudhaka (skt)—Deva king in the South. 3) Quảng Mục Thiên Vương: Virupaksa (skt)—Deva king in the West. 4) Đa Văn Thiên Vương: Dhanada or Vaisravana (skt)—Deva king in the North.
thiên vương bồ tát
Devarāja (S)Thiên chủ, Thiên đế, Thiên vương PhậtÔng Đề bà đạt đa dù đố kỵ và ác tâm nhưng nhở công đức vô lượng cũng được Phật thọ ký thành Phật vị lai có tên hiệu Thiên vương, cõi giới là Thiên đạo.
thiên vương như lai
Deva-ràja Tathàgata (S). The name by which Devadatta, the enemy of Sàkyamuni, will be known on his future appearance as a Buddha in the universe called Thiên Đạo Devasopàna.
; Devaraja-Tathagata (skt)—Tên của vị Phật mà tiền thân là Đề Bà Đạt Đa, kẻ đã nhiều lần hãm hại Phật—The name on which Devadatta, the enemy of Sakyamuni Buddha, will be known on his future appearance as a Buddha in the universe called Devasopana (Devadatta's present residence in hell being temporary for his karmaic expurgation).
; (天王如來) I. Thiên Vương Như Lai. Danh hiệu của tỉ khưu Đề bà đạt đa khi ông thành Phật ở đời vị lai. Cứ theo phẩmĐề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa thì Đề bà đạt đa phạm tội ngũ nghịch, đọa địa ngục Vô gián, đức Phật bảo các vị Bồ tát và 4 chúng người, trời rằng: Đề bà đạt đa thủa xưa từng đã là thầy của ta, vì phương tiện quyền biến mà tạo ra tội nghịch, đọa vào địa ngục để răn dạy người đời, chứ thực ra ông ấy không phải là người ác. Trong đời vị lai Đề bà đạt đa sẽ thành đạo hiệu là Thiên vương Như lai. II. Thiên Vương Như Lai. Tên của vị Phật quá khứ dùng thân hình thế tục mà thành Phật. Cứ theo kinh Tự tại vương bồ tát quyển hạ thì đây là vị Phật ở đời quá khứ trước các đức Phật Nhiên đăng, Uy đức, Đề sa, Quang minh. Vị Phật này và các quyến thuộc đều không mặc ca sa, mà mặc áo trời thanh tịnh, vi diệu tự sinh, cũng không có kết hoặc, là những trường hợp đặc biệt của việc thành Phật.
thiên vương phật
Xem Thiên vương Bồ tát.
thiên vương đường
The hall of the deva kings.
Thiên vương 天王
[ja] テンノウ tennō ||| (1) A king of heaven; a king of a spiritual realm. (2) A reference to the four heavenly kings of the six heavens of the desire realm 四天王. => 1. Vua cõi trời, vua của cõi giới chư thiên. 2.Thuật ngữ nói đến Tứ thiên vương trong Lục dục thiên.
thiên vận
Course of nature.
thiên vị
Partial.
thiên xứ hà
Mandākinī (S)Tên một con sông ở cõi trời.
thiên y
Deva garments of extreme lightness.
; Deva garment, of extreme lightness.
; (天衣) I. Thiên Y. Áo của người trời. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 20 thì áo của Tứ thiên vương nặng nửa lạng, áo của các người trời cõi Đao lợi nặng 6 thù (¼lạng). Nghĩa là áo của các người trời có trọng lượng rất nhẹ. II. Thiên Y. Chỉ cho vũ y, tức áo được may bằng lông cánh của loài chim. Vãng sinh yếu tập quyển trung dẫn lời trong kinh Chư Phật cảnh giới (Đại 84, 63 thượng) nói: Nếu bố thí trăm vị thức ăn uống, áo trời vi diệu cho chư Phật và chúng Thanh văn nhiều như bụi nhỏ của các thế giới trong 10 phương, ngày ngày không quên,trải qua số kiếp như cát sông Hằng (...). Áo trời nói ở đây tức chỉ cho vũ y.
thiên y huệ thông
Tien i Hui tsung (C)Tên một vị sư.
Thiên Y Nghĩa Hoài
(天衣義懷, Tenne Gie, 993-1064): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người Huyện Lạc Thanh (樂清縣), Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Hồi nhỏ ông đã theo cha làm nghề đánh cá, nhưng tương truyền bắt được bao nhiêu cá ông đều thả hết. Sau được cha mẹ cho phép, ông theo học với vị tăng trong quận và xuất gia trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Thánh (天聖, 1023-1031). Đầu tiên ông đến tham bái Pháp Hoa Chí Ngôn (法華志言), rồi Kim Loan Thiện (金鑾善) và Diệp Huyện Quy Tỉnh (葉縣歸省). Cuối cùng ông đến tham yết Tuyết Đậu Trùng Hiển (雪竇重顯) ở Thúy Phong Tự (翠峰寺) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên ông diễn xướng pháp môn của mình tại Thiên Y Sơn (天衣山) vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), rồi sau lui về ẩn cư tại Sam Sơn Am (杉山庵) vùng Trì Châu (池州, Tỉnh An Huy). Vào ngày 25 tháng 9 năm đầu niên hiệu Trị Bình (治平), ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 46 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Chấn Tông Đại Sư (振宗大師).
; 天衣義懷; C: tiānyī yìhuái; tk. 11;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Vân Môn. Sư là môn đệ đắc pháp của sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển và là thầy của hai vị Viên Chiếu Tông Bản và Viên Thông Pháp Tú.|Sư họ Trần, quê ở Lạc Thanh, Vĩnh Gia. Mẹ Sư nằm mộng thấy ngôi sao rơi vào nhà liền có thai Sư. Thuở bé, Sư theo cha đi đánh cá. Cha bắt được con cá nào thì Sư lén thả hết và an nhiên chịu đòn khi bị cha đánh. Lớn lên, Sư đến chùa Cảnh Ðức xuất gia.|Một hôm, đang lúc đi trong chợ có một vị tăng lạ vỗ vai Sư nói: »Vân Môn, Lâm Tế.« Sư nghe vậy liền đi đến yết kiến nhiều vị Thiền sư bấy giờ nhưng không khế hợp.|Sau, Sư đến Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển (lúc này còn đang hoằng hoá tại Thuý Phong, chưa dời sang Tuyết Ðậu). Tuyết Ðậu hỏi Sư: »Ngươi tên gì?« Sư thưa: »Nghĩa Hoài.« Tuyết Ðậu hỏi: »Sao chẳng đặt là Hoài Nghĩa?« Sư thưa: »Bây giờ sẽ được.« Tuyết Ðậu hỏi: »Ai vì ngươi đặt tên?« Sư thưa: »Thụ giới đến bây giờ đã mười lăm năm.« Tuyết Ðậu hỏi: »Ngươi hành cước đã rách bao nhiêu đôi giày?« Sư thưa: »Hoà thượng chớ có lừa người tốt.« Tuyết Ðậu bảo: »Ta không xét tội lỗi, ngươi cũng không xét tội lỗi, ấy là sao?« Sư không đáp được, Tuyết Ðậu bảo: »Kẻ rỗng nói suông đi đi!«|Sư vào thất, Tuyết Ðậu trông thấy bảo: »Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy cũng chẳng được.« Sư suy nghĩ, Tuyết Ðậu đánh đuổi ra. Cứ như thế Sư bị ăn gậy bốn lần. Một hôm, Sư đang gánh nước bỗng nhiên đòn gánh gẫy đánh rơi cặp thùng. Sư nhân đây đại ngộ, liền làm bài kệ:|一二三四五六七。萬仞峰頭獨足立|驪龍頷下奪明珠。一言勘破維摩詰|Nhất nhị tam tứ ngũ lục thất|Vạn nhẫn phong đầu độc túc lập|Li Long hạm hạ đoạt minh châu|Nhất ngôn khám phá Duy-ma-cật.|*Một hai ba bốn năm sáu bảy|Chót núi muôn nhẫn một chân đứng|Dưới hàm Li long đoạt minh châu|Một lời phá được Duy-ma-cật.|Tuyết Ðậu nghe kệ vỗ bàn khen hay.|Sư thượng đường: »Nạp tăng nói ngang nói dọc mà chưa biết có con mắt trên trán.« Một vị tăng bước ra hỏi: »Thế nào là con mắt trên trán?« Sư đáp: »Áo rách bày xương gầy, nhà lủng thấy trăng sao.«|Sư trụ trì tất cả bảy đạo trường, giáo hoá rất nhiều người và tông phong của Vân Môn rất thịnh. Lúc sắp tịch, Sư sai gọi đệ tử là Trí Tài về gấp. Vừa thấy Trí Tài về, Sư bảo: »Ðến giờ đi đây« và nói kệ:|紅日照扶桑,寒雲封華嶽|三更過鐵圍,拶折驪龍角|Hồng nhật chiếu phù tang|Hàng vân phong hoa nhạc|Tam canh quá thiết vi|Tạt chiết Li long giác.|*Ðất Nhật trời hồng soi|Ðảnh đỉnh hoa mây lạnh quấn|Canh ba vượt thiết vi|Sừng Li long bẻ gẫy.|Trí Tài hỏi: »Tháp trứng đã thành, thế nào là việc cứu kính?« Sư nắm tay chỉ đó và đến bên giường, xô gối rồi viên tịch.
thiên y nghĩa hoài
See Nghĩa Hoài Thiền Sư.
thiên y phái
Digambara (S)Loã Thể pháiThuộc Kỳ na giáo, Ấn độ.
; (天衣派) Phạm: Digambara. Cũng gọi Khỏa thể phái, Không y phái, Không y ngoại đạo, Lộ hình ngoại đạo. Ngoại đạo khỏa thân, 1 trong các phái của Kì na giáo ở Ấn độ, hình thành vào thế kỉ I Tây lịch. Phái này chủ trương giáo đồ Kì na giáo không nên có tài sản riêng, thậm chí không nên có cả quần áo, lấy trời làm áo, vì thế mới đặt tên là Thiên y phái(phái áo trời). Vì họ sống cuộc sống trần truồng mà không cảm thấy hỗ thẹn nên gọi là Vô tàm ngoại đạo (ngoại đạo không hổ thẹn). Hoặc có giáo đồ chỉ buộc 1 dây lưng dài không quá nửa mét. Giáo đồ phái này tay cầm cây phất trần làm bằng lông chim công, dùng để xua đuổi những côn trùng nhỏ trên đường đi để khỏi bị chúng làm thương tổn, họ ở trong các chùa miếu hoặc nơi cách xa làng xóm, xin ăn để sống, ngày ăn một bữa, coi thường phụ nữ.Giáo phái Thiên y lưu hành ở Bắc Ấn độ, sau lại chia ra các chi phái như: -Tì sa bát đề (Phạm:Bìsapanthì). -Đạt la na bát đề (Phạm:Tàraịapanthì). -Đức phạ bát đề (Phạm: Topapanthì). -Cưu ma na bát đề (Phạm: Gumanapanthì). Về sau, còn tiếp tục phân chia nhiều phái nữa.
thiên y phất thiên tuế
Áo trời ngàn năm—Thí dụ lấy một tảng đá một dặm, hai dặm, vẩn đến mười dặm vuông, rồi lấy áo trời chỉ nặng ba thù, cứ ba năm thì lấy áo quẹt đá một lần, quẹt mãi cho đến khi mòn hết đá. Số thời gian áo trời quẹt mòn hết tảng đá gọi là một tiểu kiếp—An illustration of the length of a small kalpa: if a great rock, let it be one, two, or even 40 li-square, be dusted with a deva garment once in a hundred years till the rock be worn away, the kalpa would still be unfinished.
; (天衣拂千歲) Dùng áo trời lau phủi nghìn năm, đây là thí dụ biểu thị thời gian lâu dài. Luận Đại trí độ quyển 5 nói rằng: Ví như có tòa ngồi bằng đá rộng 40 dặm, có người sống lâu thường ngồi trên đó, cứ mỗi nghìn năm, người ấy dùng áo trời mỏng nhẹ mềm mại lau tòa đámột lần, cho đến khi tòa đá bị mòn hết sạch, mà kiếp số vẫn chưa hết! [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ]. THIÊN Y VÔ PHÙNG Áo trời không cần cắt may, không khâu dính nên không có dấu vết chắp nối, nên gọi là Thiên y vô phùng(phùng nghĩa là may áo, vá áo). Áo của những người các cõi trời mặc trọng lượng rất nhẹ, các tầng trời càng cao thì áo càng nhẹ. Luận Đại trí độ quyển 34 (Đại 25, 310 hạ) nói: Thiên y cõi Sắc không có trọng lượng, thiên y ở cõi Dục từ bên cây sinh ra không đan không dệt. Theo đó có thể biết được thiên y rất thù thắng, không cần cắt may, thêu dệt, cũng không có dấu vết khâu ráp. Ngoài ra, nguyện thứ 38 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà (Đại 12, 269 thượng) nói: Nếu tôi thành Phật thì trời, người trong cõi nước của tôi, hễ muốn có áo mặc thì áo mặcliền hiện, đúng như Phật khen ngợi, áo mầu nhiệm ứng theo pháp, tự nhiên mặc ở thân; nếu phải cắt may, nhuộm giặt thì tôi không ở ngôi Chính giác. Trời, người đều có áo vi diệu, không cần cắt may, tự nhiên mà được là điểm trọng yếu của điều nguyện này. Đến đời sau, ví dụ việc này không để lại dấu vết, hoặc hình dung thi ca, văn chương lưu loát, hoặc việc làm tự nhiên trôi chảy... đều gọi là Thiên y vô phùng.
thiên y thiền sư
Zen Master Tian-Yi-Yi-Huai—See Nghĩa Hoài Thiền Sư.
Thiên Y Tông Bổn
(天衣宗本, Tenne Sōhon, ?-?): vị tăng của Thiên Thai Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Minh, hiệu là Nhất Nguyên (一元) hay Thiên Y (天衣), xuất thân Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), họ Trần (陳). Năm 15 tuổi, nhân gặp một vị tăng nơi quán trà, ông được phó chúc cho phép 10 Pháp Giới và chuyên tâm sống với pháp môn Niệm Phật. Ông có viết bộ Quy Nguyên Trực Chỉ Tập (歸元直指集) tại Diên Thọ Giảng Tự (延壽講寺), Tứ Minh vào năm thứ 32 (1553) niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖) với chủ trương tổng hợp Thiền và Niệm Phật.
thiên ái
Devanāṁpriya (S), Preferred by Devas Điều chư thiên ưa thích.
; Devanampriya—Beloved of the gods (natural fools, simpletons, or the ignorants).
; (天愛) Phạm: Devànàô-priya. Pàli: Devànaô piyo. Người được trời yêu thương. VàothờiVương triều Khổng tước ở Ấn độ, từ ngữ này biểu trưng cho sự uy nghiêm của nhà vua, tức kính xưng vua là Thiên ái, như vua A dục cũng được gọi là Thiên ái hỉ kiến vương(vị vua được trời thương yêu mà ai thấy cũng mừng). Về sau, từ Thiên ái được chuyển dụng với nghĩa chê mắng người ngu.
thiên ái đế tu vương
Devanāṁpriya-tissa (S)Vị vua Tích Lan đầu tiên tiếp nhận Phật giáo và tận lực hoằng truyền.
; (天愛帝須王) (247-207, hoặc 307-267 tr.Tây lịch) Thiên ái đế tu, Pàli:Devànaôpiyatissa. Vua nước Tích lan (nay là Sri Lanka), người đầu tiên tiếp nhận tín ngưỡng Phật giáo và tận lực hoằng truyền. Cứ theo Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa) 1, 7-20 và bài tựa trong Luật tạng chú nhất thiết thiện kiến của Luận sư Phật âm (Pàli:Buddha-ghosa) thì khi vua Thiên ái đế tu mới lên ngôi, vua A dục của Ấn độ sai con là Ma hi đà (Pàli:Mahinda) và Sa di Tu ma na (Pàli:Sumana)... đến Tích lan giảng kinh Chú la ha tượngthí (Pàli:Cùơahatthipadùpamà-suttanta) ở núi Mi sa già (Pàli:Missaka, nay làMihintale) cho vua nghe, đồng thời, trong 7 ngày hóa độ cho 8.500 người. Sau, nhà vua xây dựng Đại tự (Pàli:Mahà-Vihàra) ở rừng Đại mi già, rồi đục mở 68 hang động ở núi Chi đế da (Pàli:Cetiya-pabbata) và xây Tháp viên (Pàli:Thùpàsàma) để thờ xá lợi của đức Phật. Không bao lâu, em của vua là Vô úy (Pàli:Mattàbhaya) và 3 vạn người cùng xuất gia, vua bèn xây tinh xá ở Tháp viên để cúng dường. Về sau, vua Thiên ái đế tu được ngài Ma hi đà hướng dẫn qui y Tam bảo, vua thỉnh ngài Ma hi đà lập đàn giới (Sìmà) ở khắp nơi trong nước để truyền trao giáo pháp, độ cho đại chúng xuất gia.
thiên ân
Hòa Thượng Thích Thiên Ân, một trong những danh Tăng Việt Nam tại Hoa Kỳ trong thời cận đại. Ông thuộc dòng Thiền Lâm Tế. Vào năm 1966, ông sang Hoa Kỳ thuyết giảng tại Đại Học UCLA. Năm 1967, ông bắt đầu giảng dạy tại Trung Tâm Thiền Phật Giáo Thế Giới tại Hollywood. Năm 1973, trường nầy trở thành trường Đại Học Đông Phương. Sau cuộc thay đổi chính trị tại Việt Nam vào năm 1975, ông hoạt động rất tích cực giúp đở những người tỵ nạn trên đất Mỹ—Most Venerable Thích Thiên Ân, one of the most outstanding Vietnamese monks in the United States in the modern era. He was trained in the Lin-Chi Lineage. He came to the USA in 1966 to lecture at UCLA. In 1967, he began to teach at Hollywood Founded International Buddhist Meditation Center, later in 1973 it became a college and University of Oriental Studies in Los Angeles. After the political change over in Vietnam in 1975, he was active in helping Vietnamese refugees in the USA.
Thiên Ðồng Như Tịnh
天童如淨; C: tiāntóng rújìng; J: tendō nyojō; 1163-1228; |Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng, nối pháp Thiền sư Trúc Am Trí Giám. Pháp tự nổi danh của Sư là Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền, vị Tổ thứ nhất tông Tào Ðộng Nhật Bản.
thiên ý thụ
The tree in each devaloka (tầng trời) which produces whatever the devas desire—See Thiên Đức Bình (3).
; (天意樹) Chỉ cho cây như ý trên cõi trời. Cây này chuyển biến theo ý muốn của các người trời, hễ mong cầu điều gì thì đều được như ý cả.
thiên đao lợi
See Trời Đao Lợi.
thiên đài tông
Tien tai tsung (C), Tendai-shu (J)Một tông phái ở Nhật do ngài Truyền giáo Đại sư sáng lập hồi thế kỷ thứ 9, theo giáo lý Thiên thai tông ở Tàu. = Thiên thai tông ở Trung quốc.
; Tendai-shu (J). Xem Thiên Thai.
thiên đàng
Heaven.
thiên đô
To move the capital.
thiên đăng hội
(千燈會) Pháp hội thắp một nghìn ngọn đèn để cúng dường đức Phật. Mục đích của việc thắp một nghìn ngọn đèn cúng dường Phật hoặc Bồ tát là để sám hối diệt tội, cầu chứng Vô thượng chính đẳng chính giác. Giới Phật giáo Trung quốc và Nhật bản đều có phong tập này.
Thiên Đường
(天堂): hay Thiên Quốc (天國), chỉ cho trú xứ hay quốc độ trên trời, là cung điện của thiên chúng, đối lập với Địa Ngục. Theo đa số các tôn giáo cũng như triết học tâm linh đều công nhận đây là nơi tồn tại hình thức sinh mạng con người sau khi chết. Theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, Thiên Đường, Thiên Quốc, Thiên Giới (天界), Thần Giới (神界), v.v., đều cùng ngữ nghĩa với nhau, chỉ cho cảnh giới thần tiên do Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝) thống quản. Nhân gian tin rằng con người sau khi chết sẽ lên Trời, tổ tiên của mỗi cá nhân đều ở trên đó nhìn mình, và linh hồn tổ tiên luôn hộ trì, che chở cho con cháu mình dưới trần thế. Do đó, người Trung Quốc có truyền thống kính Trời và thờ cúng tổ tiên. Thần và người đều giữ đạo riêng của mình. Thần tiên có khả năng hạ phàm xuống cõi người. Theo Đạo Giáo, người nào đắc đạo, đều có thể thành thần tiên. Thái Bình Kinh (太平經), kinh thư trọng yếu của tôn giáo này, giải thích rằng: “Thượng thiện chi nhân, tử hậu Âm Tào Phán Quan trước thiện tịch chi văn, danh chi vi thiện nhân chi tịch, hành ngưỡng thiện, dữ thiên địa Tứ Thời Ngũ Hành hợp tín, chư thần tương ái … cọng tấn ư thiên thần (上善之人、死後陰曹判官著善籍之文、名之爲善人之籍、行仰善、與天地四時五行合信、諸神相愛…共進於天神, người mà lương thiện, sau khi chết Âm Tào Phán Quan viết văn sổ lương thiện, đó gọi là sổ người lương thiện; làm và kính trọng việc thiện, cùng hợp niềm tin với Bốn Thời, Ngũ Hành của trời đất, các thần đều thương … cùng phong làm thiên thần).” Thanh Thành (青城), nơi phát xuất Đạo Giáo Trung Quốc, được xem như là đô thành Thiên Quốc trên cõi thế. Cho nên tác phẩm Quảng Hoàng Đế Bản Hạnh Ký (廣黃帝本行記) có ghi rằng: “Thanh Thành, Thiên Quốc chi đô (青城、天國之都, Thanh Thành là kinh đô của Thiên Quốc).” Theo tín ngưỡng dân gian, Ngọc Hoàng Đại Đế là vua của các Thần; nhưng trong Đạo Giáo thì chức năng của Ngài là thừa mạng của Tam Thanh (三清), tức Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊), Đạo Đức Thiên Tôn (道德天尊, Thái Thượng Lão Quân [太上老君]) và Linh Bảo Thiên Tôn (靈寶天尊, Thượng Thanh Đại Đế [上清大帝]). Căn cứ vào tác phẩm Vân Cấp Thất Tiêm (雲笈七籤), phần Thiên Địa Bộ (天地部) cho biết rằng Trời có 36 tầng. Trong bài kệ thỉnh chuông chiều có câu: “Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm, thượng triệt Thiên Đường, hạ thông Địa Phủ (洪鐘初扣、寶偈高吟、上徹天堂、下通地府, chuông chùa mới đánh, kệ báu ngâm vang, trên thấu Thiên Đường, dưới thông Địa Phủ).” Cho nên, Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu Hương Nhũ Ký (毗尼日用切要香乳記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1116) quyển Thượng có giải thích rằng: “Kim minh chung thời, trượng Tam Bảo uy lực, nhi linh thử thanh, thượng triệt Thiên Đường, hạ thông Địa Phủ, giai đắc văn dã (今鳴鐘時、仗三寶威力、而令此聲、上徹天堂、下通地府、皆得聞也, nay khi đánh chuông, nương nhờ oai lực Tam Bảo, mà có âm thanh này, trên thấu Thiên Đường, dưới thông Địa Phủ, thảy đều được nghe).” Trong Đạt Ma Đại Sư Huyết Mạch Luận (達磨大師血脈論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1218) có cho biết rằng: “Thiện ác lịch nhiên, nhân quả phân minh, Thiên Đường Địa Ngục chỉ tại nhãn tiền (善惡歷然、因果分明、天堂地獄只在眼前, thiện ác sáng tỏ, nhân quả rõ ràng, Thiên Đường Địa Ngục chỉ tại trước mắt).”
thiên đường
Svarga (S), Svarga (S), Sagga (P), Devakhan (S), Paradise, Heaven.
; The mansions of the devas, located between the earth and the Brahmalokas; the heavenly halls; heaven.
; Chỗ ở của người cõi trời chỉ thọ vui chẳng thọ khổ, phước lớn chừng nào thì tuổi thọ cao chừng nấy.
; The mansions of the devas, located between the earth and the Brahmalokas—The heaven halls—Heaven.
thiên đường địa ngục
The heavens and the hells, places of reward or punishment for moral conduct.
; The heavens and the hells, places of reward or punishment for moral conduct.
Thiên đường 天堂
[ja] テンドウ tendō ||| Literally, "celestial palace." The heavenly realm 天上界, where one may be reborn as a result of good actions. One of the six destinies 六道, the various heavens of the form 色界 and formless realms 無色界. => Nói nôm na là “cõi thiên đàng”. Thiên thượng giới, nơi được tái sinh nhờ kết quả tu thiện nghiệp. Là một trong Lục đạo六道, là cõi trời khác với các cõi trời ở Sắc giới 色界và Vô sắc giới無色界.
thiên đại tướng quân
Deva-guardian.
thiên đạo
Deva-gati (S), Devasoppāna (S)Đường trời; cõi trời (1) Sáu cảnh tiên dục giới (2) Tên cõi giới của Phật Thiên vương, hậu thân Đề bà đạt đa (3) thiên lý, lẽ công bằng thiêng liêngTên cõi giới của Phật Thiên vương, hậu thân ngài Đề bà đạt đa.
; Devagati, devasopàna (S). The highest of the six paths lục đạo, the realm of devas, i.e. the eighteen heavens of form and four of formlessness. A place of enjoyment but not a place of progress toward bodhisattva perfection.
; Deva-gati—Devasopana (skt). 1) Cõi trời, cảnh giới cao nhất trong lục đạo, gồm 18 tầng trời sắc giới và bốn tầng trời vô sắc giới. Một nơi hưởng phước, nhưng không là nơi để tiến lên quả vị Bồ Tát—The highest of the six paths—The realm of devas includes the eighteen heavens of form and four of formlessness. A place of enjoyment, where the meritorious enjoy the fruits of good karma, but not a place of progress toward bodhisattva perfection. 2) Đạo Trời: Đạo tự nhiên, lý tự nhiên, hay qui luật tự nhiên—The Tao of Heaven—According to the Taoists, natural law or cosmic energy is the origin and law of all things.
; (天道) Chỉ cho chư thiên ở trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc, 1 trong 6 đạo, 1 trong 3 thiện đạo. Hoặc chỉ cho đạo tự nhiên, vị thần chúa tể trời đất, mặt trời, mặt trăng, các vì sao...
thiên đạo giới
Xem Thiên đạo, Xem Thiên vương Bồ tát.
Thiên đạo 天道
[ja] テンドウ tendō ||| (1) The path of the gods. (2) One of the six destinies 六道 (also written 天趣); one of the three good destinies. The gods who dwell in the realms of desire, form and formlessness. Divine existence. Also a reference to the heavenly bodies such as the sun, moon and stars. See also 天上. (3) As one of the six destinies, rebirth as a god is generally considered to be the result of the karma of positive acts in a previous lifetime (svarga). Thus it is, relatively speaking, a fortuitous rebirth. But it is nonetheless a karma-based rebirth, and falls far short of the existence of arhats, pratyekabuddhas and bodhisattvas. Some explanations also point out that while rebirth in a heavenly state is the result of a predominance of good karma, there is still a degree of causation by subtle evil. (4) The sun. => 1. Con đường tu tập của chư thiên. 2. Một trong Lục đạo (còn gọi là Lục thú); một trong 3 cõi giới lành. Chư thiên sống trong Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Cõi trời. Đề cập đến các thiên thể như mặt trời, mặt trăng và các vì sao. 3. Là một trong Lục đạo, được tái sinh làm chư thiên thường được xem là kết quả do tu tập các thiện nghiệp trong đời trước (s: svarga). Do vậy nói một cách tương đối, đó chỉ là sự tái sinh ngẫu nhiên mà thôi. Nhưng dù sao cũng là sự tái sinh do nghiệp, và còn xa cõi giới của A-la-hán, Bích-chi Phật và Bồ-tát. Có một số kinh luận giải thích rằng tái sinh vào cảnh giới chư thiên là do kết quả ưu việt của thiện nghiệp, nhưng vẫn còn do một mức độ vi tế của nghiệp bất thiện. 4. Mặt trời.
thiên đản
Hở một bên vai, như mặc áo cà sa choàng qua vai phải và để hở vai trái. Đây là dấu hiệu của sự tôn kính—Bare on one side, i.e. to wear the toga, or robe, over the right shoulder, baring the other as a mark of respect.
Thiên đản hữu kiên
偏袒右肩; C: piāntăn yòujiān; J: hendan'u-ken;|Vạch y bày vai bên phải (hướng về phía đức Phật). Nghi thức Ấn Độ biểu hiện lòng tôn kính bậc Đạo sư.
thiên đản hữu kiên
(偏袒右肩) Phạm: Ekàôsam uttaràsaígaô kftvà. Pàli: Ekaôsaô uttaràsôgaô korati. Cũng gọi Thiên lộ hữu kiên, Thiên đản nhất kiên, Thiên lộ nhất bác. Gọi tắt: Thiên đản. Đối lại: Thông kiên. Mặc áo ca sa đểlộvai bên phải. Đây vốn là lễ phép biểu thị sự tôn kính của ngườiẤn độ đời xưa, sau được Phật giáo dùng theo. Tức khi vị tỉ khưu lễ bái đức Phật hoặc thăm hỏi bậc thầy thì phải để lộ vai phải để làm các việc như phủi bụi giường chiếu, lau chùi, quét dọn... cho nên Thiên đản hữu kiên là để tiện cho việc phục vụ, sẵn sàng để được sai bảo làm việc, cũng tức là dùng Thiên đản để bày tỏ sự kính lễ. Trong các tượng Phật, có tượng thiên đản hữu kiên, có tượng thông kiên(che kín 2 vai), như Thiên cổ lôi âm Như lai, Bảo chàng Như lai trong viện Trung đài Bát diệp và Thích ca mâu ni Như lai, A nan, Ca chiên diên... trong viện Thích ca thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo đều là tượng Thiên đản hữu kiên.
Thiên đản hữu kiên 偏袒右肩
[ja] ヘンダンウゲン hendan'uken ||| To bare the right shoulder and turn it toward (the Buddha). An Indian ritual for showing respect to a sagely teacher. => Vạch y bày vai bên phải (hướng về phía Đức Phật). Nghi thức của ấn Độ biểu hiện lòng tôn kính bậc Đạo sư.
thiên đản phái
Ekamsikanikāya (S)Tên một chi phái Thượng tọa bộ ở Miến điện vào thế kỷ 18.
; Ekamsika (S)Tên một tông phái. Thế kỷ thứ 19.
; (偏袒派) Pàli: Ekaôsikanikàya. Một chi phái củaPhậtgiáo Thượng tọa bộ ở Miến điện hình thành vào đầu thế kỉ XVIII, do Thượng tọa Cù na tì lăng già la (Pàli:Guịàbhilaĩkàra) ở thôn Đăng na (Tunna) tại Đông Miến điện khởi xướng. Thượng tọa Cù na tì lăng giàlavốn theo học Trưởng lão Diệu pháp hành (Pàli: Saddhammacàra) tại Tích lan, khi trở về Miến điện, y cứ theo sự chỉ dạy của Trưởng lão Diệu pháp hành, Thượng tọa Cù na chủ trương khi ra khỏi chùa hoặc vào làng ấp,chư tăng nên mặc áo để lộ vai bên phải (thiên đản hữu kiên), không cần phải cầm lá đalache đầu, nhưng dùng quạt đa lađể che nắng, người đời gọi tăng đoàn này là Đăng na phái (Pàli:Tunna-guịa). Phái này xem trọng A tì đạt ma (luận), ít nghiên cứu kinh, luật và chú thích. Việc này làm cho các Thượng tọa khác ở trong vùng như Phật đà câu la (Pàli: Buddhaíkura), Chất đa (Pàli:Citta), Tu nan đa (Pàli:Sunanta), Ca da na (Pàli: Kalyàịa)... chê trách.Các vị này chủ trương việc mặc áođể lộ vai phải chỉ được thực hành khi lễ bái trước đức Phật hoặc tăng trưởng để tỏ lòng cung kính, còn ngoài ra phải che kín cả 2 vai, nhất là khi ra khỏi chùa. Từ đó hình thành 2 phái đối lập, tranh luận mãi mà không được giải quyết. Sau, đến đời vua Mạnh vân (Bodawpaya, ở ngôi 1782-1819) cuộc tranh luận về cách mặc áo lại bùng lên một cách sôi động, nhà vua bèn ra lệnh đôi bên tiến hành biện luận. Kết quả, luận điển mà phái Thiên đản y cứ là không đúng, cho nên bị vua cấm chỉ, phái này từ đó dần dầnsuy vong, kết thúc cuộc tranh luận kéo dài 75 năm (1708-1785).
thiên đế
King, or Emperor of Heaven, i.e. Nhân đà la Indra, Đế Thích Sakra king of the devaloka.
; 1) Vua của cõi Trời: King or emperor of Heaven—Heaven. 2) Nhân Đà La: Thích Ca—Thích Ca Bà—Indra. 3) Vua Trời Đế Thích, vua của cung trời Đao Lợi, một trong những vị trời của Ấn Độ thời cổ. Vua cõi trời chiến đấu chống lại ma quỷ bằng kim cang chùy. Phật giáo xem vị nầy như là vị trời hộ pháp, thấp hơn Phật và các vị đã chứng ngộ Bồ Đề: Sakra, king of the devaloka. One of the ancient gods of India, the god of the sky who fights the demons with his vajra or thunderbolt. He is inferior to the trimurti, Brahma, Visnu, and Siva, having taken the place of Varuna or sky. Buddhism adopted him as its defender, though, like all the gods, he is considered inferior to a Buddha or any who have attained bodhi.
thiên đế sinh lư thai
Thiên Đế thác sanh vào thai lừa—Theo Kinh Pháp Cú kể lại, thì có một truyện tích kể lại vụ trời Đế Thích biết mình sắp thác sanh vào thai lừa nên lòng buồn bã không nguôi. Người khác bảo rằng muốn thoát khỏi cảnh nầy chỉ có cách là tin Phật. Trước khi ông tới được Phật thì đã thác và thấy mình tái sanh vào bụng lừa. Tuy nhiên, lời nguyện của ông đã có hiệu quả vì chủ lừa đánh lừa mẹ quá mạnh đến sẩy thai và Thiên Đế được trở về kiếp cũ và lên gặp Phật—According to the Dharmapada Sutra, Lord of devas, born in the womb of an ass, a Buddhist fable, that Indra knowing he was to be reborn from the womb of an ass, in sorrow sought to escape his fate, and was told that trust in Buddha was the only way. Before he reached Buddha his life came to an end and he found himself in the ass. His resolve, however, had proved effective, for the master of the ass beat her so hard that she dropped her foal dead. Thus Indra returned to his former existence and began his ascent to Buddha.
; (天帝生驢胎) Thiên đếđầu thai vào con lừa. Kinh Pháp cú thí dụ quyển 1 nói rằng: Thuở xưa, có vị Thiên đế biết mình sau khi chết sẽ đọa vào thai con lừa của nhà thợ gốm, liền đến chỗ đức Phật quì sát đất đính lễ qui y, nhưng chưa kịp đứng lên thì đã mệnh chung, trong giây lát đọa vào thai con lừa. Khi sắp sinh, lừa mẹ chuyển dạ, vì đau đớn nênchạylồng lên, làm vỡ đồ gốm, người chủ tức giận đánh nó sẩy thai; thần thức trở lại trong thân Thiên đế và sau chứng được Sơ quả.
thiên đế thích
Xem Đế Thích thiên.
; Đế Thích Thiên—Trời Đế Thích, vị chúa tể của cung trời Đao Lợi cùng họ với Phật Thích Ca—Sakra, king of the devaloka.
thiên đế thích thành
Còn gọi là Hỷ Kiến Thành hay Thiên Kiến Thành, thành của Thiên Đế, vua của chư thiên. Thủ phủ của ba mươi ba tầng Trời Đế Thích. Cũng gọi là Thiện Kiến Thành hay Hỷ Kiến Thành—The city of beautiful, or the city of Sakra, the Lord of devas. The chief city or capital of the thirty-three Indra-heavens. Also called the Sudarsana city good to behold, or city a joy to behold.
Thiên Đế thích 天帝釋
[ja]テンタイシャク Ten taishaku ||| A transcription of Śakra Devānām-indra. See 帝釋天. => Hán dịch chữ Śakra Devānām-indra. Xem Đế thích thiên帝釋天.
thiên địa bát dương thần chú kinh
(天地八陽神咒經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung nói về danh nghĩa việc đức Phật nói kinh này và về phúc báo, công đức của việc thụ trì, đọc tụng, đồng thời bài bác việc xem ngày giờ tốt, xấu trong việc tang ma, cưới hỏi... Kinh này bị xem lànghi ngụy kinh.
thiên địa kính
The mirror of heaven and earth (The Prajna-paramita sutra).
; (天地鏡) Gương trời đất. Tức chỉ cho kinh Nhân vương bát nhã ba la mật, vì kinh này được ví dụ như chiếc gương sáng chiếu soi thực tướng của trời đất. Thiên địa kính và Hộ quốc châu(hạt châu che chở đất nước) đều là ví dụ cho kinh Nhân vương.
thiên địa tam dương hội
(天地三陽會) Tông giáo dân gian ở đời Minh, Trung quốc, do Vương đạc sáng lập vào khoảng năm Vạn lịch (1573-1619). Vương đạc tự xưng là Tam dương hội thủ, xây điệnTam dương, tạo Hỗn nguyên chủ Phật, tuyên cáo đại kiếp đã đến. Tín đồ có tới hơn 6.000 người. Năm Vạn lịch thứ 7 (1590) Vương đạc bị bắt rồi bị giết.
thiên định
Externalists believe in a so-called Determinism: everything is predetermined by God.
thiên đốc
Một hình thức viết sai của người Trung Hoa về chữ Ấn Độ—T'ien-Tu, an erroneous form of Yin-Tu or India.
thiên đồng
Thiên đồng hộ pháp, những thiên đồng sứ giả của chư Phật và chư Bồ Tát—Divine youths, such as deva guardians of the Buddha-law who appear as Mercuries, or youthful messengers of the Buddhas and Bodhisattvas.
; (天童) I. Thiên Đồng. Chư thiên hộ trì Phật pháp, thường dùng hình đồng tử xuất hiện ở nhân gian để phục vụ loài người, gọi là Thiên đồng (con thiên thần). II. Thiên Đồng. Chỉ cho chùa Thiên đồng nằm ở huyện Ngân, tỉnh Chiết giang.
thiên đồng chính giác
(天童正覺) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Tào động sống vào đời Tống, người ởThấp châu, tỉnh Sơn tây, họ Lí, là đệ tử nối pháp của Thiền sư Tử thuần ở núi Đan hà, tại Đặng châu, phủ Nam dương, tỉnh Hà nam. Sư từng trụ ở chùa Trường lư, sau trụ núi Thiên đồng trong 30 năm.Sư lấy Thung dung lụclàmcơ sở mà soạn 100 tắc tụng cổ. Thiền phong của sư gọi là Mặc chiếu thiền(thiền lặng soi), đối lại với Khán thoại thiền(thiền tham cứu công án), chủ trương ngồi thiền để đạt được tự tại trong nội tâm. Tháng 10 năm Thiệu hưng 27 (1157) đời Tống, sư nhập tịch, thọ 67 tuổi, thụy hiệu là Hoành Trí Thiền Sư, tên tháp là Diệu quang.
thiên đồng chính giác thiền sư quảng lục
(天童正覺禪師廣錄) Cũng gọi Hoành trí thiền sư quảng lục, Phổ chiếu giác hòa thượng ngữ lục, Hoành trí lục. Ngữ lục, 9 quyển, do Thiền sư Chính giác soạn vào đời Tống, các ngài Pháp tông, Tập thành... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này thu chép các ngữ lục thướng đường khi sư trụ ở Cảnh đức thiền tự tại núi Thiên đồng, Minh châu, tỉnh Chiết giang. Trong quyển 9 bao gồm: Thướng đường, tụng cổ, niêm cổ, tiểu tham, pháp ngữ, chân tán, kệ tụng... Quyển 1 và quyển 5 thu chép tông phong của Vân môn, Lâm tế, Tào động, Pháp nhãn và Qui ngưỡng. Phần Minh châu Thiên đồng sơn Giác hòa thượng tiểu tham cũng gọi là Thiên đồng tiểu tham lục, Hoành trí cổ Phật tiểu tham lục có bản lưu hành riêng.
Thiên Đồng Như Tịnh
(天童如淨, Tendō Nyojō, 1163-1228): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, vì tánh tình của ông hào sảng vui vẻ nên trong tùng lâm đương thời thường gọi ông là Tịnh Trưởng (淨長), sau này thì gọi là Trưởng Ông (長翁), sinh ngày mồng 7 tháng 7 năm đầu (1163) niên hiệu Long Hưng (隆興) ở vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), còn năm tháng ông xuất gia và thọ cụ túc thì không rõ. Sau khi xuất gia, ông chuyên tâm học giáo lý, đến năm 19 tuổi thì đến tham vấn Túc Am Trí Giám (足菴智鑑) ở Tuyết Đậu Sơn (雪竇山). Ông khai ngộ với câu chuyện cây bá trước sân của Trí Giám, và được chấp thuận cho tu tập tại đây. Sau đó, ông trãi qua hơn 20 năm du lãng giang hồ, đến năm thứ 3 (1210) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông đến trú tại Thanh Lương Tự (清涼寺) thuộc Phủ Kiến Giang (建江府, Tỉnh Giang Tô). Về sau, ông đã từng sống qua các chùa như Thoại Nham Tự (瑞巖寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), Nam Sơn Tịnh Từ Tự (南山淨慈寺) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), Thoại Nham Tự ở Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), rồi sau đó lại quay trở về Tịnh Từ Tự. Nhận được di thư của Phái Vô Tế Liễu (無濟了派) ở Thiên Đồng Sơn (天童山), vào năm thứ 17 niên hiệu Gia Định (嘉定), ông đến trú trì Thái Bạch Sơn Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự (太白山天童景德禪寺) vùng Minh Châu. Chính trong khoảng thời gian này thì Đạo Nguyên (道元) của Nhật sang tham vấn và được chân truyền pháp môn tu gọi là Thân Tâm Thoát Lạc (身心脫落), Chỉ Quản Đả Tọa (只管打坐). Trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō) do Đạo Nguyên sáng tác sau này đã thể hiện đầy đủ phong cách và dung mạo của Như Tịnh. Vào ngày 17 tháng 7 năm đầu niên hiệu Thiệu Định (紹定) nhà Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi. Ông có để lại bài kệ là “Lục thập lục niên, tội phạm di thiên, đả cá bột khiêu, hoạt hãm Huỳnh Tuyền. Di ! Tùng lai sanh tử bất tương cán (六十六年、罪犯彌天、打箇臉跳、活陷黃泉、咦、從來生死不相干, Sáu mươi sáu năm, phạm tội ngất trời, nhảy nhót lung tung, rơi xuống suối vàng. Ôi chà ! Xưa nay sống chết chẳng hề hấn gì !).” Trước tác của ông để lại có Như Tịnh Thiền Sư Ngữ Lục (如淨禪師語錄) 2 quyển, Như Tịnh Thiền Sư Tục Ngữ Lục (如淨禪師續語錄) 1 quyển.
thiên đồng như tịnh
Tendō Nyojō (J)Tên một vị sư.
; (天童如淨) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Tào động, sống vào đời Tống, người ở Vi giang, Minh châu(nay là huyện Ngân, tỉnh Chiết giang), họ Du, là đệ tử nối pháp của ngài Túc am Trí giám. Sư lần lượt trụ ở các chùa Hoa tạng Bao trung, chùa Thanh lương ở Kiến khang, chùa Thụy nham ở Minh châu, sau sư vâng sắc trụ trì chùa Cảnh đức ở núi Thiên đồng. Ngài Đạo nguyên người Nhật bản đã tham học sư và được nối pháp. Tháng 7 niên hiệu Thiệu định năm đầu (1228) sư thị tịch, thọ 66 tuổi. Đệ tử nối pháp: Đạo nguyên, Lộc môn giác, Tuyết amTòng cẩn, Thạch lâm tú, Cô thiềm oánh...
thiên đồng sơn
Tendō-zan (J).
; Một nhóm tự viện nổi tiếng gần núi Thiên Đồng, cũng được gọi là núi Thái Bạch; đây là một trong năm núi nổi tiếng của Trung Quốc—A famous group of monasteries in the mountain near Ningpo, also called Venus planet mountain; this is one of the five famous mountains of China.
; (天童山) Núi nằm cách huyện Ngân(xưa gọi là phủ Ninh ba), tỉnh Chiết giang khoảng 35 km về mạn đông, là 1 trong các ngọn của núi Thái bạch, cũng là 1 trong 5 ngọn núi của Thiềntông.
Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Thiền Tự
(天童山景德禪寺): hay Thiên Đồng Tự (天童寺), Thiên Đồng Thiền Tự (天童禪寺); hiệu là Đông Nam Phật Quốc (東南佛國); là ngôi tự viện Thiền Tông trứ danh, được xếp hạng thứ 2 trong 5 ngôi chùa nổi tiếng của Thiền Tông Trung Quốc; hiện tọa lạc tại sườn núi Thái Bạch Sơn (太白山), Ngân Huyện (鄞縣), Phố Ninh Ba (寧波市), Tỉnh Triết Giang Thánh địa này có liên quan mật thiết với Thiền Tông Nhật Bản, Tào Động Tông nước này xem nơi đây là Tổ Đình. Vào năm 1983, chùa được Quốc Vụ Viện công nhận là ngôi tự viện trọng yếu thuộc địa khu Hán tộc của Phật Giáo toàn quốc. Thiên Đồng Tự được sáng kiến dưới thời nhà Tấn, tương truyền do vị tăng vân du tên Nghĩa Hưng (義興) từng kết thảo am tu tập tại đây vào năm đầu (300) niên hiệu Vĩnh Khang (永康) nhà Tây Tấn. Vào năm đầu nhà Đường (唐, 618-907), chùa được dời về vị trí hiện tại. Đến năm thứ 2 (759) niên hiệu Càn Nguyên (乾元) nhà Đường, vua Túc Tông (肅宗, tại vị 756-762) ban cho tên chùa là Thiên Đồng Linh Lung Tự (天童玲瓏寺). Năm thứ 10 (869) niên hiệu Hàm Thông (咸通) nhà Đường, vua Ý Tông (懿宗, tại vị 859-873) sắc phong tên chùa là Thiên Thọ Tự (天壽寺). Đến năm thứ 4 (1007) niên hiệu Cảnh Đức (景德) nhà Tống, vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) ban cho chùa tên Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự (天童景德禪寺). Vào năm 1125, Thiền Sư Như Tịnh (如淨, 1163-1228), vị Tổ đời thứ 13 của Tào Động Tông Trung Quốc, đến trú trì chùa này. Lúc bấy giờ, có Đạo Nguyên (道元, Dōgen) của Nhật bản đến tham học và sau khi trở về nước thì sáng lập Tào Động Tông Nhật Bản. Vào năm thứ 5 (1178) niên hiệu Thuần Hy (淳熙) nhà Tống, vua Hiếu Tông (孝宗, tại vị 1162-1189) ban cho 4 chữ Thái Bạch Danh Sơn (太白名山). Năm thứ 4 (1134) niên hiệu Thiệu Quang (紹光) nhà Tống, ngôi Đại Điện ở phía Đông Nam được mở rộng thêm. Trong khoảng thời gian niên hiệu Gia Định (嘉定, 1208-1224) nhà Tống, chùa được liệt vào hàng thứ 3 trong Thiền Viện Ngũ Sơn Thập Sát. Sau đó, Chu Nguyên Chương (朱元璋, tức vua Thái Tổ [太祖, tại vị 1368-1398]) nhà Minh sắc phong chùa là Thiên Hạ Danh Tự (天下名寺), xếp chùa vào hàng thứ 2 trong Thiên Hạ Thiền Tông Ngũ Sơn (天下禪宗五山). Về sau, vua Ung Chính (雍正, tức vua Thế Tông [世宗, tại vị 1722-1735]) nhà Thanh ban cho chùa tấm biển Từ Vân Mật Bố (慈雲密布). Về xuất xứ tên chùa, tương truyền khi Nghĩa Hưng đến đây lập thảo am tu hành thì có sao Thái Bạch (太白) xuất hiện, biến thành đồng tử, hằng ngày hái củi, gánh nước cúng dường; nên cảm niệm ơn đó, Nghĩa Hưng đặt tên cho ngọn núi này là Thiên Đồng Sơn. Ngoài Đạo Nguyên ra, Minh Toàn (明全, Myōzen), Vinh Tây (榮西, Eisai) cũng đã từng đến đây tham bái.
Thiên Đồng Thiền Tự
(天童禪寺): xem Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Thiền Tự (天童山景德禪寺) bên trên.
Thiên Đồng Tự
(天童寺): xem Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Thiền Tự (天童山景德禪寺) bên trên.
thiên đồng tự
(天童寺) Chùa ở núi Thiên đồng, Tứ minh, Chiết giang, cách huyện Ngân(xưa gọi là phủ Ninh ba) 35 km về phía đông. Trong năm Vĩnh khang đời Tây Tấn, ngài Nghĩa hưng sáng lập 1 ngôi am trên sườn đá giữa khe núi cách huyện Mậu, quận Cối kê khoảng 17 km về phía đông nam để ở, nhân cảm được sao Thái bạch hóa làm đồng tử hàng ngày mang củi, nước đến dâng, cho nên đặt tênnúilà Thái bạch, đặt tên chùa là Thiên đồng. Năm Long an thứ 3 (399) đời Đông Tấn, chùa bị thiêu hủy trong hỏa hoạn. Khoảng năm Khai nguyên đời vua Huyền tông nhà Đường, ngài Pháp tuyền cất chùa trên nền cũ đặt tên là tinh xá Thái bạch và xây tháp Đa bảo ở góc tây nam chùa, hằng ngày đọc tụng kinh Pháp hoa. Năm Chí đức thứ 2 (757), ngài Tông bật... dời chùa về địa chỉ hiện nay. Trong khoảng vài trăm năm, trải qua các đời vua Đường vũ tông, Đường ý tông, Tống chân tông... chùa lần lượt được ban hiệu là Thiên đồng linh lung tự, Thiên thọ tự, Cảnh đức thiền tự... trở thành trọng tâm của các tùng lâm trong 10 phương, đồng thời có các bậc danh tăng như ngài Hoài thanh, Bảo kiên, Phổ giao... đến cư trụ, ngài Hoành trí Chính giác cũng trụ ở chùa này suốt 30 năm, đổi tam môn thành đại các, xây 7 ngôi tháp, sửa chữa tăng đường, các liêu, lại lập chế độ tự sản, cảnh quan chùa mỗi ngày một đổi mới, chư tăng từ khắp nơi tụ tập rất đông, có tới hơn 1000 vị. Lại có các vị tăng người Nhật như Minh am Vinh tây, Hi huyền Đạo nguyên, Hàn nham Nghĩa doãn, Triệt thông Nghĩa giới, Tây giản Tử đàm, Tuyết chu Đẳng dương..lần lượt đến đây tham học. Năm Sùng trinh thứ 4 (1631) đời vua Tư tông nhà Minh, Thiền sư Mật vân Viên ngộ trụ trì chùa này,mở rộng tông phong Lâm tế.Mỗi lần tổ chức pháp hội giảng kinh, tín đồ tham dự thường lên đến con số trên 3 vạn người, giới vương công, danh sĩ đến hỏi đạo cũng rất đông. Đến đời Thanh, vua Thế tông ban biển hiệu Từ Vân Mật Bố. Chùa có các kiến trúc như: Khánh điện, Già lam đường, Vân thủy đường, Thiền đường, Phương trượng, Thiên vương điện, Phật điện, Pháp đường... đáng gọi là Đại thiền sát của 1 dòng ở Trung quốc.
thiên đồng tự chí
(天童寺志) Cũng gọi Thiên cung. Đối lại: Địa ngục. Chỉ cho cung điện của các trời, là nơi hưởng phúc lạc mà những người tạo nghiệp thiện sau khi chết sẽ sinh về.
thiên đức bình
1) Bình chứa công đức của chư thiên: The vase of deva (divine) virtue, i.e. the bodhi heart, all that one desires comes from it. 2) Như Ý Châu: The talismanic pearl. 3) Thiên Ý Thụ: Mỗi cõi trời dục giới đều có một cây Thiên Ý, sanh ra tất cả những gì mà chư thiên mong muốn—The deva tree, the tree in each devaloka which produces whatever the devas desire.
thiên đức đại long vương
Great Dragon King Heavenly Virtue, The Tên một vị thiên.
thiên ương
See Tai Ương.
Thiên Ẩn Viên Tu
(天隱圓修, Tenin Enshū, 1575-1635): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Thiên Ẩn (天隱), xuất thân Nghi Hưng (宜興), Kinh Khê (荆溪, Tỉnh Giang Tô), họ Mẫn (閔). Năm 24 tuổi, ông xuất gia với Huyễn Hữu Chánh Truyền (幻有正傳) ở Long Trì Viện (龍池院), rồi được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 4 (1620) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông đến trú tại Khánh Sơn (磬山), Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), và sau đó sống qua một số nơi như Pháp Tế Thiền Viện (法濟禪院), Báo Ân Thiền Viện (報恩禪院) ở Võ Khang (武康, Tỉnh Triết Giang), v.v. Đến ngày 23 tháng 9 năm thứ 8 niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời và 37 hạ lạp. Ông có để lại bộ Thiên Ẩn Hòa Thượng Ngữ Lục (天隱和尚語錄) 15 quyển. Trương Ngọc (張玉) soạn bài minh tháp của ông.
Thiên 偏
[ja] ヘン hen ||| (1) Inclined to one side. Leaning, partial, prejudiced. Determined, in a bad sense. (2) Sometimes, due to graphical similarities, this word is also used for its exact opposite 遍 and 徧, meaning whole, perfect, universal. (3) To transform, overturn, change. => Có các nghĩa sau: 1. Nghiêng về một phía. Khuynh hướng, thiên vị, thành kiến. Quả quyết, trong ý không tốt. 2. Đôi lúc do những nét giống nhau, từ nầy cũng được dùng khác hẳn với nghĩa chính xác của nó là Biến (遍, 徧), có nghĩa là toàn thể, hoàn toàn, rộng khắp. 3. Biến đổi, đảo lộn, thay đổi.
; [ja] ヘン hen ||| (1) Inclined to one side. Leaning, partial, prejudiced. Determined, in a bad sense. (2) Sometimes, due to graphical similarities, this word is also used for its exact opposite 遍 and 徧, meaning whole, perfect, universal. (3) To transform, overturn, change. => Có các nghĩa sau: 1. Nghiêng về một phía. Khuynh hướng, thiên vị, thành kiến. Quả quyết, trong ý không tốt. 2. Đôi lúc do những nét giống nhau, từ nầy cũng được dùng khác hẳn với nghĩa chính xác của nó là Biến (遍, 徧), có nghĩa là toàn thể, hoàn toàn, rộng khắp. 3. Biến đổi, đảo lộn, thay đổi.
Thiên 天
[ja] テン ten ||| (1) Heaven (divya). Also expressed as 天上, 天有, 天界, 天上界. (2) A heavenly being--a god (deva); the highest of the six kinds of rebirth天趣, 天道. (3) The eight kinds of spirit beings . (4) A being who possesses superhuman powers. => 1. Trời (s: divya). Còn được gọi là Thiên thượng, Thiên hữu, Thiên giới , Thiên thượng giới. 2. Chúng sinh ở cõi trời—chư Thiên (s: deva); cảnh giới cao nhất trong 6 nẻo luân hồi (Thiên thú, Thiên đạo). 3. Tám loại thần. 4. Loài có được năng lực siêu phàm.
thiêng liêng
Sacred.
thiêu
1) Hỏa Thiêu: To cremate. 2) Thiêu Đốt: To burn.
thiêu chích địa ngục
Xem Viêm nhiệt địa ngục.
thiêu chỉ
(燒指) Cũng gọi Nhiên chỉ. Đốt ngón tay, bày tỏ lòng tín ngưỡng chân thành. Trong Phật giáo có việc dùng thân thể để phát đại nguyện cứu khổ cứu nạn cho dân hoặc để cúng dường Phật. Thiêu chỉ chính là thuộc loại này, gọi là Thiêu chỉ cúng dường hoặc là Nhiên chỉ cúng dường. Cứ theo phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa thì ở đời quá khi bồ tát Dược vương còn là bồ tát Nhất thiết chúng sinh hỉ kiến, ngài đã từng đốt thân để cúng dường Phật. Những trường hợp thiêu chỉ có thật như truyện kí về các ngài Tuệ bân đời Tùy trong Hoằng tán pháp hoa truyện quyển 7, ngài Tức trần đời Hậu Tấn trong Tống cao tăng truyện quyển 23, ngài Vô nhiễm đời Đường, ngài Tăng khánh đời Lưu Tống trong Lương cao tăng truyện quyển 12, ngài Pháp ngưng đời Nam Tề trong Tục cao tăng truyện quyển 27 và ngài Tăng thôi đời Bắc Chu đều có ghi hạnh thiêu chỉ cúng dường của các ngài.Về thiêu thân, thiêu chỉ đã gây ra nhiều tranh luận và có phái tán đồng, phái không tán đồng. Phái không tán đồng thì dẫn chứng phẩm Thích dược vương trong Pháp hoa văn cú quyển hạ nêu rõ qui định Người thiêu thân phạm tội Thâu lan giá, người thiêu chỉ phạm tội Đột cát la để chê trách việc thiêu thân. Còn phái tán đồng thì dẫn chứng kinh Phạm võng quyển hạ có nói người không thực hành thiêu thân không phải là Bồ tát xuất gia để bênh vực cho hạnh thiêu thân, thiêu chỉ.[X.Pháp hoa nghĩa sớ Q.11; Pháp hoa kinh tam đại bộ bổ chú Q.10; mục Thiêu thân bất hợp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; mục Xả thân trong Thích thị yếu lãm Q.trung].
thiêu cứu địa ngục
Địa ngục đốt nóng, một trong bát đại nhiệt địa ngục—The burning, blistering hell, one of the eight great hot hells. ** For more information, please see Bát Đại Nhiệt Địa Ngục.
thiêu hương
Đốt hương cúng Phật, một trong năm loại cúng dường—To burn incense, one of the five kinds of offering. ** For more information, please see Ngũ Cúng Dường.
; (燒香) Phạm,Pàli:Dhùpana. Cũng gọi Niệm hương, Niệp hương, Phần hương, Chú hương. Đốt hương. Tức là đốt các loại hương trước tượng chư Phật, Bồ tát, Tổ sư. Ban đầu, ở Ấn độ, vì khí hậu rất nóng bức nên dân chúng đều thoa hương để trừ khử mùi hôi trên thân thể. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 30 thì lúc trời lạnh người ta thường đốt hương, còn thoa hương thì làm cả lúc trời nóng và trời lạnh. Về sau, thiêu hương được dùng trong các việc rước mời và cúng dường Phật, Bồ tát. Trong các kinh phần nhiều có ghi chép việc thiêu hương cúng dường. Theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2 thì vì Như lai mà xây cất nhà lớn sửa sang chỗ ở, đồng thời lau rửa, quét dọn và thiêu hương cúng dường. Theo phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa quyển 4, nếu người thụ trì, đọc tụng, hoặc giảng nói, viết chép kinh Pháphoa thì nên nhận các thứ cúng dường như hoa, hương, anh lạc, hương bột, hương hoa, hương đốt, phan lọng, cờ phướn, y phục, kĩ nhạc (10 thứ cúng dường)... Theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ hành giả nên treo phan, đốt đèn, rải hoa,thiêu hương... hồi hướng các thứ cúng dường này để nguyện sinh về Tịnh độ cực lạc. Còn theo phẩm Phú na kì duyên trong kinh Hiền ngu quyển 6 (bản Tống, Nguyên, Minh) thì ông Phú na kì và người anh bưng lô hương cùng bước lên lầu cao, trông xa hướng về tinh xá Kì hoàn, thiêu hương cúng dường, nguyện cầu qui mệnh đức Phật và thánh tăng, kính xin đức Phật như mặt trời sáng chiếu soi đến đất nước của ông để khai ngộ cho chúng sinh ngu muội. Khói hương liền theo ý 2 người, nương hư không bay đến trên đỉnh đầu đức Thế tôn rồi kết tụ lại hợp thành 1 chiếc lọng khói. Theo kinh Đại nhật quyển 8 thì thiêu hương có ý nghĩa là đi đến khắp pháp giới, như khi hoa cây Thụ vương trên cõi trời nở thì mùi thơm tự nhiên bay khắp theo chiều gió xuôi cũng như ngược. Trong Mật giáo, hương được dùng cho 3 bộ Thai tạng giới có khác nhau. Theo phẩm Phân biệt thiêu hương trong kinh Tô tất địa yết ra quyển thượng thì Phật bộ đốt hương trầm thủy, Kim cương bộ đốt hương bạch đàn và Liên hoa bộ thì đốt hương uất kim. Hoặc trộnlẫn 3 thứ hương trên để dùng chung cho 3 bộ; hoặc chỉ dùng 1 thứ chung cho cả 3 bộ. Trong các loại hương thì loại được chế bằng nhựa của cây Thất lị phệ sắt tra ca, được dùng chung cho 3 bộ, cũng có thể dùng loại hương này cho chư Thiên; còn hương an tức thì dùng cho Dược xoa, hương huân lục dùng cho chư thiên và thiên nữ, hương chiết ra sa dùng cho Địa cư thiên, hương sa lạc sí dùng cho nữ sứ giả, hương càn đà ra sa dùng cho nam sứ giả... Bảy thứ hương như long não, càn đà ra sa, sa chiết ra sa, huân lục, an tức, sa lạc sí và thất lị phệ sắt tra ca được gọi chung là Thất giao hương(7 thứ hương chế bằng nhựa cây), là hương tốt hơn hết, trộn lẫn với nhau để đốt thì có thể dùng chung cho 9 loại (ba pháp: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục của 3 bộ). Còn theo phẩm Thỉnh cúng dường trong kinh Nhuy hi da quyển trung thì trong pháp cúng dường phổ thông, phải dùng hương bạch đàn trộn lẫn với hương trầm thủy để cúng dường Phật bộ, dùng hương chế bằng nhựa của các thứ cây như cây Thi lợi tì sắt đa ca(Thất lị phệ sắt tra ca)... để cúng dường Liên hoa bộ, dùng hương hắc trầm thủy và an tức để cúng dường Kim cương bộ. Còn dùng các loại hương như: Bạch đàn, trầm thủy, long não, tô hợp, huân lục, thi lợi tì sắt đa ca, tát xà la sa, an tức, sa la chỉ, ô thi la, ma lặc ca, hương phụ tử, cam tùng, át già đá lí, bách mộc, thiên mộc, bát địa dạ... trộn chung với đường cát, gọi là Phổ thông hòa hợp, có thể tùy ý sử dụng cúng dường chư tôn.Cứ theo phẩm Phân biệt thiêu hương trong kinh Tô tất địa yết ra quyển thượng, thì vì các loại pháp tu có khác nhau, cho nên những thứ hương được đốt cũng bất đồng, như tu pháp Phiến để ca (pháp Tức tai)thì đốt hương viên (hương liệu được nghiền ra bột rồi vo lại thành viên), tu pháp A tì gia rô ca(pháp Hàng phục), phải đốt hương bột, tu pháp Bổ sắt trưng ca (pháp Tăng ích) cũng đốt hương viên. Cứ theo Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng Nghi quĩ của ngài Tam tạng Bất không thì tu pháp Tức tai phải đốt hương trầm thủy, tu pháp Tăng ích phải đốt hương bạch đàn, tu pháp Hàng phục phải đốt hương an tức và tu pháp Kính ái thì phải đốt hương Tô hợp. Còn kinh Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ quyển hạ và Kim cương thọ mệnh đà la ni kinh pháp cũng có nói như trên. Ngoài ra, Mật giáo còn hợp chung 6 thứ: Hương đốt, nước trong(át già), hương thoa, tràng hoa, đèn sángvà thức uống ăn thành Lục chủng cúng dường. Trong Thiền lâm thiêu hương được gọi là niêm hương, hoặc chú hương. Trong pháp hội, người bưng hộp hương, gọi là Thiêu hương thị giả. Về cách thiêu hương thì điều Đường đầu tiễn điểm trong Thiền uyển thanh qui quyển 5 có nói rất rõ ràng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; kinh Đại bát niết bàn Q.trung (bản 3 quyển); kinh Quán Phật tam muội hải Q.10; phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.2; kinh Thập nhất diện Quán tự tại bồ tát tâm mật ngôn niệm tụng nghi quĩ Q.thượng; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ; Tam hành hương chú nguyện pháp trong Tứ phần luật hành sự sao Q.hạ; điều Tây tự đầu thủ trong Sắc tuBách trượng thanh qui Q.4; mục Thụ trai pháp tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Đại tống tăng sử lược Q.trung; Pháp uyên châu lâm Q.36]. (xt. Thướng Hương, Niêm Hương).
thiêu hương thị giả
(燒香侍者) Cũng gọi Thị hương. Thị giả phụ trách việc cầm hộp hương và thiêu hương, 1 trong 5 thị giả. Trong Thiền lâm, Thiêu hương thị giả có nhiệm vụ cầm hộp hương và đốt hương hành lễ trong pháp hội. Vị này còn kiêm cảviệc ghi chép pháp ngữ của vị Trụ trì trong các buổi thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, niệm tụng, tiết lạp, quải đáp... [X. Điều Tây tự đầu thủ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4, Thướng đường trong Thiền uyển thanh qui Q.2.
thiêu hủy
To destroy completely by fire—To burn down.
Thiệu Âu
(紹鷗, Jōō, 1504-1555): một trà nhân sống vào khoảng cuối thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi), xưa kia họ Võ Điền (武田, Takeda), sau đổi sang họ Võ Dã (武野, Takeno), hiệu Nhất Nhàn Cư Sĩ (一閑居士), Đại Hắc Am (大黒庵). Ông đã từng theo học Trà Đạo với môn nhân của Châu Quang (珠光) là Tông Trần (宗陳), Tông Ngộ (宗悟), rồi tạo nên cốt cách của Wabicha và truyền lại cho Lợi Hưu (利休).
thiến môn ngũ tông
Five Ch'an schools: Lâm tế, Qui ngưỡng, Vân môn, Pháp nhãn and Tào động.
Thiếp
(帖): một loại danh thiếp dùng để đáp lễ qua lại trong ứng xử hằng ngày, như Thỉnh Thiếp (請帖, thiệp mời), Tạ Thiếp (謝帖, thiệp cám ơn), v.v. Có một số loại Thiếp thông dụng như: (1) Báo Thiếp (報帖), là loại thiệp dùng để thông báo; như trong Kinh Bản Thông Tục Tiểu Thuyết (京本通俗小說), phần Bồ Tát Man (菩薩蠻) có câu: “Kính đáo Tây Sơn Linh Ẩn Tự, tiên hữu báo thiếp báo tri, Trưởng Lão dẫn chúng tăng minh chung lụy cổ, tiếp Quận Vương thượng điện thiêu hương (逕到西山靈隱寺、先有報帖報知、長老引眾僧鳴鐘擂鼓、接郡王上殿燒香, đến thẳng Tây Sơn Linh Ẩn Tự, có thiệp thông báo trước, nên Trưởng Lão dẫn chúng tăng đánh chuông gióng trống, tiếp đón Quận Vương lên Chánh Điện dâng hương).” (2) Thỉnh Thiếp (請帖), thiệp dùng để cung thỉnh hay mời ai đó đến tham dự buổi lễ hay yến tiệc, v.v. (3) Tạ Thiếp (謝帖), thiệp bày tỏ sự tri ân sau khi đã hoàn thành xong một việc nào đó. (4) Bát Tự Thiếp (八字帖), xưa kia khi bàn chuyện hôn nhân, cả hai nhà gái và trai đều dùng tấm thiệp viết 8 chữ ngày giờ sinh, trao đổi qua lại để xem thử có xung khắc thế nào không; còn gọi là Bát Tự Toàn Thiếp (八字全帖), Canh Thiếp (庚帖). (5) Bái Thiếp (拜帖), thời xưa, đây là một tấm thiếp dùng thông báo đến thăm ai đó. Như trong tác phẩm Nghi Diệu (疑耀) quyển 4 của Trương Huyên (張萱) nhà Minh, phần Bái Thiếp Bất Cổ (拜帖不古) có giải thích rằng: “Cổ nhân thư khải vãng lai, cập tánh danh tương thông, giai dĩ mộc trúc vi chi, sở vị thứ dã; chí Tống thời, Vương Kinh Công cư Bán Sơn Tự, mỗi dĩ kim tất mộc bản tả kinh thư danh mục, vãng tự tăng xứ tá kinh; thời nhân toại dĩ kim tất bản đại thư thiếp, dĩ nhi khủng hữu tuyên tiết, hựu tác lưỡng bản tương hợp, dĩ phiến chỉ phong kỳ tế; cửu chi, kỳ chế tiệm tinh; kim chi Bái Thiếp dụng chỉ, cái khởi vu Hy Ninh dã (古人書啟往來、及姓名相通、皆以木竹為之、所謂刺也、至宋時、王荊公居半山寺、每以金漆木版寫經書名目、往寺僧處借經、時人遂以金漆版代書帖、已而恐有宣洩、又作兩版相合、以片紙封其際、久之、其製漸精…今之拜帖用紙、蓋起于熙寧也, người xưa thư từ qua lại, đến nỗi tên họ biết rõ nhau, đều lấy thẻ tre để viết vào, gọi là thứ; cho đến thời nhà Tống, Vương Kinh Công [tức Vương An Thạch, 1021-1086] từng sống ở Bán Sơn Tự, cứ mỗi lần lấy bản gỗ bằng sơn mạ vàng chép danh mục kinh, đều qua chỗ chư tăng ở để mượn kinh; do đó người đương thời bèn lấy bản gỗ sơn mạ vàng thay thế để viết thiệp, xong rồi sợ bị truyền lan ra, lại làm thành hai bản giống nhau, lấy giấy phong kín ở đầu bìa; trãi qua thời gian lâu, sự chế tạo dần dần tinh xảo …, loại giấy dùng cho Bái Thiếp ngày nay, vốn xuất phát từ thời Hy Ninh [1068-1077]).” (6) Báo Tang Thiếp (報喪帖) là tấm thiệp dùng trong tang lễ ngày xưa để thông báo cho bà con, thân hữu biết có người đã từ trần; khác với bản Cáo Phó. (7) Bảng Thiếp (榜帖, 牓帖) là tấm cáo thị để chiêu dụ bá tánh, hay là bảng niêm yết danh tánh của các thí sinh thi đỗ. Như trong bài Từ Tương Châu Bi (徐襄州碑) của Lý Chất (李騭) nhà Đường có câu: “Tê Bảng Thiếp tiên chí Giang Tây, an tồn bá tánh (齎榜帖先至江西、安存百姓, trước hết mang tấm Bảng Thiếp đến Giang Tây để làm yên lòng bá tánh).” Trong Công Văn Đàn Tràng, một số Thiếp được dùng như Tịnh Trù Thiếp (淨廚帖), Cấp Thủy Thiếp (汲水帖), Tứ Sanh Lục Đạo Thiếp (四生六道帖), Tam Bảo Thiếp (三寶帖), v.v.
thiếp
Phụ thêm vào—To add—To attach to.
thiếp khố
(貼庫) Giữ kho. Chỉ cho chức vụ phụ trách việc xuất, nhập các phẩm vật trong Thiền viện.[X. chương Lễ pháp trong Hoàng bá thanh qui].
thiếp sân
Daksina (skt)—Bố thí cúng dường—Offerings—Donations.
thiếp đan
(貼單) Chỉ cho việc công bố các chức sự và nhân viên thường trụ trong 1 ngôi chùa, được cử hành vào ngày 15 tháng 10 hàng năm. Trước hết, vịKhách đường và Duy na ghi tên và tuổi hạ của chúng tăng trong toàn chùa, dù đã ở lâu hay mới đến, rồi đưa nạp cho vị Trụ trì. Sau khi phân phối các chức vụ thì viết các chức vụ và pháp danh của chúng tăng nhậm chức thành đơn phiếu. Ngày 14 tháng 10, vị Khách đường treo bảng Thiếp đơn. Hôm sau, vị Trụ trì vào tăng đường nói pháp, dán thiếp đơn của vị Thủ tọa, các chức vụ còn lại thì do vị Duy na dán, thứ tự trước sau xếp theo chức sự lớn nhỏ và tuổi hạ nhiều ít.
thiết
1) Cắt—To cut—To carve. 2) Giả thiết: Suppose—Assume. 3) Sắt: Iron. 4) Thiết lập: To set up—To establish—To institute—To arrage.
thiết bát
Bát bằng sắt—Iron patra, or almsbowl.
; (鐵鉢) Bát được làm bằng sắt, 1 trong 6 vật dụng của tỉ khưu. Bát gọi đủ là Bát ta la (Phạm: Pàtra, Hán dịch là Ứng lượng khí), tức khí vật tùy theo thực lượng của mỗi người mà nhận thức ăn. Theo Phật chế định, tỉ khưu được dùng 2 loại bátlà bát đất nung và bát sắt, chỉ có Phật mới được dùng bát đá. (xt. Bát).
thiết bích cơ thiền sư ngữ lục
(鐵壁機禪師語錄) Gọi đủ: Khánh trung Thiết bích cơ thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 20 quyển, do ngài Thiết bích Tuệ cơ (1603-1668) thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Minh,ngài Huyễn mẫnbiên tập lại và chùa Lăng nghiêm ở phủ Gia hưng, tỉnh Chiết giang tái bản vào đời Thanh. Nội dung bộ ngữ lục này gồm: Thướng đường, bỉnh phất, phổ thuyết, tiểu tham, thị chúng, trà thoại, pháp ngữ, cơ duyên, vấn đáp, tiên sách ngữ, Phật sự, tượng tán, tự tán, thi, tụng, kệ,liên phương, ca, minh, tụng cổ(niêm, biệt, bình, trưng, đại), tạp trứ, thư vấn, thỉnh khải, hành trạng,tháp minh, tế văn và phụ thêm Niên phổ 1 thiên. Đầu sách có bài tựa của Hùng nhữ học và lời dẫn của Hành hoằng ngộ soạn vào năm Sùng trinh 15 (1642) đời Minh. Bộ ngữ lục này có tính chất của 1 loại quảng lục, cho nên cũng thu chép tất cả bộ Thiết bích cơ thiền sư ngữ lực (bản 3 quyển) do Tam sơn Đăng lai biên tập và ấn hành vào nămSùng trinh 15 (1642).
thiết bích ngân sơn
(鐵壁銀山) Cũng gọi Ngân sơn thiết bích. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho vách sắt, núi bạc. Có 2 ý: Mô tả tính linh sẵn có của chúng sinh cao vòi vọi, giống như núi bạc, vách sắt khó có thể bám vào được. 2. Ví dụ hành giả tu thiền, khi đến 1 cảnh giới nào đó thì sinh khởi nỗi khổ không cách nào thấu thoát. Nghĩa là lúc hành giả đến trình độ này thì đã cảm nhận được chỗtận cùng của kĩ năng, nhưng không thể phá tan vách sắt, đạp lên núi bạc được. [X. Bích nham lục tắc 42; Thiên mục sơn Trung phong hòa thượng quảng lục Q.12].
Thiết Chi Đan
(切支丹): xem Cát Lợi Chi Đan (吉利支丹) bên trên.
thiết chuỷ trùng
(鐵嘴蟲) Trùng mồm sắt. Chỉ cho loại trùng độc trong địa ngục A tị. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 16 thì ở địa ngục A tị có loại trùng mồm sắt bò qua mũi của tội nhân mà vào, rồi ra ở chân; hoặc bò từ dưới chân vào rồi ra đàng mồm. [X.phẩm Bất thoái chuyển trong kinh Lục ba la mật đa].
thiết chủy giác
Tesshikaku (J), Tich tsui Chiao (C), Tesshikaku (J).
thiết cơ địa ngục
(鐵機地獄) Địa ngục máy sắt. Nghĩa là địa ngục trong đó tội nhân bị trừng trị bằng máy sắt. Những kẻ bất hiếu với cha mẹ, chẳng kính sư trưởng, không nghe theo lời dạy bảo, giết hại chúng sinh... thì sau khi chết bị đọa vào địa ngục này. Ở đây có 1 chiếc giường sắt lớn, rộng 400 do tuần, trên giường có để muôn ức cái nỏ sắt, đầu mỗi nỏ sắt có trăm ức mũi dao nhọn. Tội nhân sau khi chết sinh trên chiếc máy sắt lớn, làm lay động những cái nỏ và vô lượng nỏ sắt đều cùng lúc căng dây, trăm nghìn mũi tên sắt bắn vào tim của tội nhân, trong khoảng thời gian 1 ngày 1 đêm, chết đi sống lại 600 ức lần. Chịu tội xong, lại sinh làm loài súc sinh, trải qua 500 đời, mới được sinh làm người, nhưng nghèo cùng, hèn hạ, sau gặp thiện tri thức mới phát tâm bồ đề. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].
Thiết Cước Ứng Phu
(鐵脚應夫, Tekkyaku Ōfu, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, người vùng Thanh Lưu (清流), Trừ Châu (滁州, Tỉnh An Huy), họ là Tương (蔣). Ông nương theo Thừa Thái (承泰) ở Bảo Ninh Thiền Viện (保寧禪院) thuộc Phủ Giang Ninh (江寧府, Tỉnh Giang Tô) xuất gia và thọ Cụ Túc giới. Sau đến tham học với Thiên Y Nghĩa Hoài (天衣義懷) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ban đầu ông đến trú tại Cam Lồ (甘露) ở Nhuận Châu (潤州, Tỉnh Giang Tô), kế đến là Sùng Phước Thiền Viện (崇福禪院) ở Trường Lô Sơn (長蘆山), thuộc Chơn Châu (眞州, Tỉnh Giang Tô). Ông được ban cho hiệu là Quảng Chiếu Thiền Sư (廣照禪師).
thiết giáp địa ngục
(鐵鉀地獄) Chỉ cho địa ngục, trong đó, tội nhân mình mặc áo giáp bằng sắt, không cử động được, đau đớn vô cùng.
thiết hoàn địa ngục
(鐵丸地獄) Địa ngục mà tội nhân bị trừng trị bằng cách bắt nuốt các viên sắt nóng. Những người hủy nhục sự bố thí, cho rằng bố thí không có quả báo, sẽ bị đọavào địa ngục này. Chu vi địa ngục này rộng 80 do tuần, trong đó có 88 tòathành sắt, trong mỗi thành sắt có 5 núi dao che phủ ở trên, phía dưới thì có 18 con rắn sắt rất độc, lưỡi nó phun ra kiếm sắt, đầu kiếm lửa cháy đỏ rực, tội nhân chết rồi sinh vào thành sắt, rắn sắt quấn thân, trên đầu lửa đốt, lại mưa xuống những viên sắt nóng lớn; từ đỉnh đầu vào, từ dưới chân ra. Chịu tội xong, lại sinh làm người nghèo cùng trơ trọi câm ngọng, sau gặp được thiện tri thức mới phát tâmbồ đề. [X.kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].
thiết luân
Cakravala (skt). 1) Bánh xe bằng sắt: The iron wheel. 2) See Thiết Vi Sơn.
thiết luân vương
Người trị vì cõi Nam Diêm Phù Đề, một trong tứ Luân Vương—Iron-Wheel King, ruler of the South and of Jambudvipa, one of the four Cakravala kings. **For more information, please see Tứ Luân.
thiết lập
Samāropa (S).
; To found—To establish—To errect—To form—To constitute.
thiết lợi la
Sarira (skt)—Xá lợi—Relics or remains—See Xá Lợi.
thiết lợi phất đát la
Sariputra (skt)—See Xá Lợi Phất.
thiết lỵ la
Xem xá lợi.
thiết ma lão tự ngưu
(鐵磨老牸牛) Cũng gọi làLưu thiết ma lão tự ngưu, Thiết ma đáo qui sơn, Qui sơn Lưu thiết ma.Tên công án trong Thiền lâm. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Qui sơn Linh hựu và Lão ni Lưu thiết ma. Bích nham lục tắc 24 (Đại 48, 165 thượng) ghi: Lưu thiết ma đến chỗ Qui sơn, ngài Qui sơn nói: Lão tự ngưu (con trâu cái già)đến đấy à? Lưu thiết ma hỏi: Mai đây, Đài sơn có đại hội trai, Hoà thượng có đến dự không? Qui sơn ngã mình nằm xuống, Thiết ma liền bỏ đi. Ngài Qui sơn thường tự xưng là trâu đực(thủy cổ ngưu), ở đây, ngài gọi Lão ni Thiết ma là trâu cái già, là đối chọi với cái mình tự xưng để khen Thiết ma có cơ phong ngang với mình chứ không tầm thường. Đối với câu hỏi của Thiết ma, ngài Qui sơn ngả mình nằm xuống thay vì trả lời là biểu thị sống trong trạng thái vô tâm; còn Thiết ma bỏ đi là biểu thị trạng thái về nhà yên ổn ngồi định. Trong lúc hỏi đáp, 2 người đều tự giữ phận mình, qua lại không ngại. Bởi vậy, công án này là hiển bày ý vị 2 người là tri âm cùng đắc cùng chứng. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.15; Liên đăng hội yếu Q.7; Ngũ đăng hội nguyên Q.9].
thiết nghĩ
To think.
thiết ngưu
(鐵牛) Trâu sắt, tương truyền do vua Vũ đúc ở ngoài thành phủ Thiểm, tỉnh Hà nam, Trung quốc, để phòng nước sông Hoàng gây lũ lụt, là thần thủ hộ của Hoàng hà. Thiền tông có từ ngữ Thiết ngưu chi cơ(máy trâu sắt), tức đại cơ dụng tự tại, thể thì bất động, còn dụng thì không dấu vết; cũng được sử dụng để hình dung tâm ấn của Phật là vô tướng. Bích nham lục tắc 38 (Đại 48, 175 hạ) nói: Tâm ấn của Tổ sư, hình dáng giống như máy trâu sắt.
thiết ngưu đạo cơ
(鐵牛道機) Cao tăng Nhật bản, thuộc tông Hoàng bá, người ở Thạch kiến (huyện Đảo căn), họ Đằng nguyên, tự Thiết ngưu, hiệu Tự mục tử. Sư từng đến nhiều nơi tìm thầy học đạo, sau qui y ngài Ẩn nguyên Long kì, đồng thời được ngài Mộc am Tính thao ấn kí. Sau đó, sư hết sức giúp đỡ việc khai sáng tông Hoàng bá, lại đi các nơi hoằng hóa, xây hơn 60 chùa viện. Năm Nguyên lộc 13 (1700) sư thị tịch, thọ 73 tuổi, được vua ban thụy hiệu Đại Từ PhổỨng Quốc Sư. Sư có các tác phẩm: Thất hội ngữ lục, Tự mục trích cảo, Thiết ngưu thiền sư ngữ lục.
thiết nhãn tạng
(鐵眼藏) Đại tạng kinh do Nhật bản khắc in, tức bản Hoàng bá, do ngài Thiết nhãn Đạo quang, thuộc tông Hoàng bá Nhật bản khắc bản(1669-1681) ở chùa Vạn phúc tại Vũ trị. Toàn tạng gồm 1618 bộ, 7334 quyển. Bản gỗ của bản này hiện còn được cất giữ ởviện Tháp đầu bảo tạng của chùa Vạn phúc, núi Hoàng bátạiVũ trị. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).
thiết nhãn đạo quang
(鐵眼道光) Cao tăng Nhật bản, thuộc tông Hoàng bá, người ở Phì hậu (huyện Hùng bản) họ Tá bá, hiệu Thiết nhãn. Sư xuất gia năm 13 tuổi, 26 tuổi đến tham yết ngài Ẩn nguyên Long kì, thờ ngài Mộc am Tính thao làm thầy. Về sau, sư dốc sức vào việc phiên dịch và khắc bản Đại tạng kinh ở viện Bảo tạng tại chùa Vạn phúc, đồng thời, sư đi các nơi khuyến hóa và nhận được nhiều sự giúp đỡ, trải qua hơn 10 năm phiên dịch và ấn loát Đại tạng kinh mới được hoàn thành, người đời gọi làThiết nhãn tạng, Hoàng bá bản tạng kinh, cũng nhân đó mà sư nổi tiếng ở trong nước. Năm Thiên hòathứ 2 (1682) sư thị tịch, thọ 53 tuổi, vua ban thụy hiệu Bảo Tạng Quốc Sư.
thiết phược lý minh phi
Sobari (S)Một trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở đông bắc cung.
thiết quyết tử
(鐵橛子) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây cọc sắt. TrongThiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho việc không bám dính vào đâu được. Bích nham lục tắc 44 (Đại 48, 180 hạ) ghi: Ngài Hòasơn dạy rằng: Học tập gọi là Văn, tuyệt học gọi là Lân (Nạp tăng trong thiên hạ nhảy không ra khỏi, dùi sắt không có lỗ, một cây cọc sắt. [X.luận Vô tận đăng Q.thượng].
thiết quật địa ngục
(鐵窟地獄) Địa ngục hang sắt. Những kẻ tham lam keo kiệt, không bố thí cho cha mẹ, vợ con, người giúp việc trong nhà, bạn bè thân thuộc, coi sư trưởng như phân dơ... thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục này. Đây là 1 núi sắt lớn, chu vi rộng 25 do tuần; trên núi có năm trăm vạn ức viên sắt nóng lớn, giữa núi lại có một trăm nghìn vạn dao kiếm. Tội nhân chết rồi, sinh trên núi lửa, trong hang thì trùng kiếm, trùng dao cắn rỉa tội nhân, khói hun mắt tội nhân, không trông thấy gì, sợ hãi chạy tứ tung, chịu khổ những viên sắt nóng bắn vào thân, núi sắt va vào đầu. Sau, sinh trong loài quỉ đói, cổ nhỏ như kim, bụng to như núi, khổ đau vô hạn. Nếu được sinh làm người thì nghèo cùng hèn hạ, sau được gặp thiện trí thức mới phát tâm bồ đề. [X.kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].
thiết thành
Thành bằng sắt hay địa ngục—The iron city or the hell.
; (鐵城) Phạm:Aya#-pràkarà. Địa ngục thành sắt. Theo kinh luận chép thì nếu người không hiếu thuận với cha mẹ, không kính thờ sư trưởng, không sợ giới cấm, không sợ đời này, đời sau thì sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục Thiết thành. [X.kinh Thiết thành nê lê].
thiết tháp
Tháp bằng sắt—Iron-stupa.
; (鐵塔) Tháp sắt. Tức chỉ cho tòa tháp sắt ở Nam Ấn độ, trong đó có cất chứa kinh Kim cương đính... Cứ theo Kim cương đính kinh nghĩa quyết thì sau khi đức Phật nhập diệt khoảng vài trăm năm, không một ai đã mở được tháp này. Về sau, có vị Đại đức (bồ tát Long mãnh) tụng trì chân ngôn Đại tì lô giá na, đồng thời được Phật Tì lô giá na hiện thân giảng nói niệm tụng pháp yếu, trì tụng thành tựu, nguyện mở tháp này. Trong 7 ngày, Đại đức đi quanh tháp niệm tụng, dùng 7 hạt cải trắng rải ở cửa tháp này, cửa tháp liền mở ra và ngài được thấy bộ kinh Kim cương đính quảng bản. Thuyết này do Tam tạng Kim cương trí truyền miệng, đệ tử của ngài là Trí tạng ghi vào Kim cương đính nghĩa quyết. Lại theo Giáo vương kinh khai đề, do ngài Không hải người Nhật soạn, thì kinh Kim cương đính và kinh Đại nhật đều do bồ tát Long mãnhtụng ra trong tháp sắt ở Nam Thiên trúc. Thuyết Thiết tháp tương thừa của Mật giáo cho rằngbồ tát Long mãnh mở cửa tháp sắt này và được kế thừa Mật giáo từ ngài Kim cương tát đỏa. Đông mật ở Nhật bản(Mật giáo do tông Chân ngôn của Nhật bản truyền)căn cứ vào thuyết của ngài Không hải, cho rằng kinh Kim cương đính và kinh Đại nhật đều được truyền nối từ bên trong thápsắt; còn Thai mật (Mật giáo do tông Thiên thai của Nhật bản truyền) thì dựa theo thuyết trong Lưỡng bộ đại pháp tương thừa sư tư phó pháp kí của ngài Hải vân mà chủ trương 2 bộ đều được truyền nối bên ngoài tháp sắt.
thiết thích lâm địa ngục
(鐵刺林地獄) Địa ngục rừng gai sắt. Những người phạm tội tà dâm phải đọa địa ngục này. Trong ngục này có cây gai lớn, trên có rắn độc, hóa làm người nữ hiền lành, xinh đẹp, cám dỗ tội nhân. Khi tội nhân leo lên cây này, thì gai đều tủa xuống đâm vào tội nhân. Nhưng lúc leo lên đến nơi thì người nữ hóa kia lại biếnthành thân rắn độc rất lớn, cắn phá đầu, bụng tội nhân, toàn thân bị đâm nát. [X.luận Đại trí độ Q.17].
thiết thưởng ca
Sasanka (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thiết Thưởng Ca, quốc vương của xứ Karnasuvarna, người đã cố tình hủy hoại Bồ Đề Thọ thiêng liêng. Về sau ông bị Siladitya sát hại—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Sasanka, a king of Karnasuvarna, who tried to destroy the sacred Bodhidruma. Later he was destroyed by Siladitya.
thiết thắng
Một danh hiệu của Ngài Mã Minh Bồ Tát—A title of Asvaghosa Bodhisattva.
thiết thụ
Cây sắt—Không hy vọng nở hoa kết trái được—Iron tree.
; (鐵樹) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây sắt. Dùng cây sắt không hoa, không quả để ví dụ sự diệu dụng của vô tâm, vô tác, dứt hẳn tư duy, phân biệt. Thiền tông dùng câu Thiết thụ khai hoa thế giới hương(cây sắt nở hoa thế giới thơm)để ví dụ tất cả vạn vật trong tận cùng pháp giới đều do sự diệu dụng của vô tâm, vô tác biến hiện ra. Không yêu ghét, không lấy bỏ, không mình người, không năng sở mà cõi thiên chân cứ tự nhiên rộngmở, đó là bản lai diện mục của thiết thụ, dùng đó để nói về hành tung không nhiễm ô, không tăm hơi, dấu vết của nạp tăng. Câu Thiết thụ khai hoa(cây sắt nở hoa)được xem như lí cố định, bất biến, nhưng thực ra thì có biến hóa. Nếu được phối với thể dụng thì thiết thụ là thể, khai hoa là dụng, biểu thị công dụng vô vi, vô tác, từ cái chết mà hiển hiện sự sống, từ tĩnh mà phát động. [X. Bích nham lục tắc 40].
thiết thực
Realistic.
thiết toả kim toả
(鐵鎖金鎖) Khóa sắt, khóa vàng. Ví dụ thân bị trói buộc. Tỏa là dụng cụ để trói buộc. Vàng (kim) sắt(thiết) phẩm chất có cao, thấp khác nhau, nhưng ý nghĩa mất tự do thì như nhau. Tức dù trói buộc bằng khóa vàng hay khóa sắt thì cũng là mất tự do. Ở đây, Thiết tỏa là dụ cho phiền não chướng hữu lậu, còn Kim tỏa thì dụ cho sở tri chướng vô lậu.
thiết trát
Sổ sách bằng sắt ở dưới âm phủ, dùng để ghi tội và công của mỗi người—Iron tablets in hades, on which are recorded each person's crimes and merits.
thiết trụ
Trụ sắt—The iron-pilar.
thiết tát la
(鐵薩羅) Vị tỉ khưuniđời Lưu Tống, người nước Sư tử (Tích lan). Năm Nguyên gia thứ 10 (433), Ni sư hướng dẫn 10 vị tỉ khưu ni đến Kiến khang (nay là Nam kinh), sáng lập giới đàn ở chùa Nam lâm, thỉnh ngài Tăng già bạt ma người Ấn độ làm Truyền giới sư, thụ giới Cụ túc cho hơn 300 ni chúng, mở đầu việc truyền giới đúng như pháp cho Ni giới Trung quốc. Tương truyền, chùa Thiết tát la đã được xây dựng ở Kiến khang để ghi nhớ việc này. [X. Lương cao tăng truyện Q.3; Tỉ khưu ni truyện Q.2].
thiết tật lê
(鐵蒺藜) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Thiết Tật Lê. Tật lê làmộtloại cỏ thuốc, bò lan trên mặt đất, quả có 5 gai nhọn chìa ra. Thiết tật lê là một thứ vũ khí bằng sắt, hình dáng giống quả tật lê, dùng để chống kẻ địch. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được mượn dùng để chỉ cho sự dạy đạo nghiêm khắc của sư gia. Bích nham lục tắc 12 (Đại 48, 152 hạ) ghi: Vị tăng hỏi người Động sơn: Thế nào là Phật? Quả tật lê bằng sắt (thiết tật lê), nạp tăng trong thiên hạ nhảy không ra khỏi. II. Thiết tật lê. Gọi đủ: Lô sơn Biệt truyền thiền sư thiết tật lê. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Biệt truyền soạn vào đời Minh, các ngài Nguyên hiền và Nguyên hoảng biên tập. Nội dung sách này nêu rõ bản văn của 100 tắc trong bộ Bích nham lục, đồng thời có phụ thêm kệ tụng.
thiết tế
Biên tế của các vị Thiết Luân Vương—The boundary of the Cakravalas.
Thiết Tử Đan
(切死丹): xem Cát Lợi Chi Đan (吉利支丹) bên trên.
thiết vi
Vimalasvabhāva (S), Cakravāla (S), Sumeru (S), Cakravāḍa (S), Adamantine Mountains, Mount Sumeru, Iron Mountain Tu di sơn. Thiết vi sơn, Thước ca la, Chước ca bà laMột trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Vòng núi bằng sắt bên ngoài cùng bao bọc cõi giới chúng ta, núi này cao 600 do tuầnXem Thiết vi.
thiết vi kết tập
(鐵圍結集) Chỉ cho việc kết tập kinh Đại thừa ở núi Thiết vi. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 100 thì sau khi đức Phật nhập diệt, các vị Đại bồ tát như Văn thù, Di lặc... cùng ngài A nan vào núi Thiết vi kết tập các kinh Đại thừa, gọi là Bồ tát tạng. Nhưng đây có lẽ thuộc truyền thuyết từ khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi về sau. Về việc kết tập kinh Đại thừa còn có nhiều thuyết khác nhau. (xt. Kết Tập).
thiết vi sơn
The great circular iron enclosure.
; Cakravala (skt)—Cakravada (skt)—Núi Thiết Vi hay núi sắt bao quanh thế giới. Núi Tu Di là trung tâm, bên ngoài có tứ châu, bảy núi và tám biển—The Iron Ring Mountain, supposed to encircle the earth, forming the periphery of a world. Mount Meru is the centre and between it and the Iron Mountains are four continents, seven metal-mountains and the eight seas.
; (鐵圍山) Phạm: Cakravàđa-parvata. Pàli:Cakkavàơa-pabbata. Cũng gọi Thiết luân vi sơn, Luân vi sơn, Kim cương sơn, Kim cương vi sơn. Thế giới quan Phật giáo lấy núi Tu di làm trung tâm, chung quanh có 8 núi và 8 biển bao bọc, dãy núi bao bọc ngoài cùng được cấu tạo bằng sắt, cho nên gọi là Thiết vi sơn, tức dãy núi phía ngoài Hàm hải bao bọc núi Tu di và 4 châu. Có thuyết cho rằng Tam thiên thế giới Đại Trung Tiểu đều có núi Thiết vi Đại Trung Tiểu bao quanh. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 133 thì chính giữa thế giới này là núi Tu di, do 4 thứ báu cấu tạo thành, chung quanh núi Tu di có 7 núi vàng từ Kiện đạt la đến Ni dân đạt la bao bọc, khoảng giữa mỗi núi đều có 1 biển, biển thứ 8 bao quanh núi Ni dân đạt la chính là Hàm hải (biển nước mặn), 4 châu Diêm phù nằm trong biển này. Chung quanh Hàm hải có núi bao bọc, giống như bức tường, nên gọi là Luân vi; lại vì núi này được cấu tạo bằng sắt nên cũng gọi là Thiết vi. [X. phẩm Diêm phù châu trong kinh Khởi thế Q.1; phẩm Địa ngục trong kinh Khởi thế Q.2; phẩm Số lượng trong luận Lập thế a tì đàm Q.2; phẩm Khí thế giới trong luận Chương sở tri Q.thượng]. (xt. Cửu Sơn, Bát Hải, Đại Thiết Vi Sơn).
thiết võng địa ngục
(鐵網地獄) Địa ngục lưới sắt. Tức địa ngục trong đó tội nhân bị trừng phạt bằng cách bắt nằm trên lưới sắt nóng, là nơi mà những chúng sinh giả dối, tàtâm dua nịnh, dùng thuật yêu mị mê hoặc người đời thì sau khi chết phải đọa vào. Địa ngục này có giăng 89 lớp lưới sắt, giữa mỗi lớp có trăm ức cây kim sắt, mỗi kim sắt có 1 cái nảy. Khi tội nhân chết, sinh vào lưới sắt, động đến cái nảy, lập tức trăm nghìn cây kim bắn vào lỗ chân lông của tội nhân. Cứ như thế xoay chuyển giữa các lớp lưới sắt, thoắt chết thoắt sống, đau đớn vô cùng. Khi hết tội, được sinh làm người, nhưng ở nơi biên địa, không có Phật pháp, cũng như sinh trong ác đạo; trải qua vô lượng kiếp mới được gặp thiện tri thức, dẫu được nghe Phật pháp nhưng tâm không hiểu rõ. [X.kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].
thiết xí công đức
(設厠功德) Công đức làm nhà xí cho người ta dùng. Theo kinh Phân biệt nghiệp báo lược thì xây dựng nhà xí, quét dọn các thứ dơ bẩn khiến thân tâm thường thanh tịnh, nhờ đó xa lìa các cấu nhiễm, rốt ráo được an vui. Kinh Phúc điền nói rằng: Nhờ công đức thiết trí nhà xí thủa xa xưa mà nay đức Phật được đời đời thanh tịnh, các thứ nhơ nhớp không làm bẩn được, thức ăn tự tiêu hóa, không bị các bệnh về tiêu hóa. Còn Thích thị yếu lãm quyển hạ và kinh Hư không tạng thì nói rằng: Nếu người nào sám hối tội lỗi, dọn dẹp nhà xí 800 ngày thì trừ diệt sạch tội cấu. [X.kinh Tăng nhất a hàm Q.10].
thiết yếu nhứt
Most essentially.
thiết đa đồ lô
(設多圖盧) Phạm: Zatadru. Cũng gọi là Thiết đát đồ lô. Tên một đô thành ở phía đông nam nước Trách ca, BắcẤn độ. Theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì ở trong và ngoài vương thành này có 10 ngôi già lam, điện đường hoang vắng, rất ít chúng tăng, chỉ còn 1 tòa tháp cao hơn 200 thước (Tàu) do vua A dục xây dựng. Theo suy đoán thì nền thành xưa nằm về phía đông nam thành phố Lỗ đức hi nạp (Ludhiana) ở tỉnh Bàng già phổ (Punjab) hiện nay. Tên gọi thành phố này có lẽ đã y cứ vào tên cũ của sông Tát đặc nhật (Sutlej), 1 trong 5 con sông ở Bắc Ấn độ.
thiết đa đồ lư
Satadru (skt). 1) Sông Sutlej thuộc vùng bắc Ấn Độ: The River Sutlej in northern India. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thiết Đa Đồ Lư là một vương quốc cổ về phía bắc Ấn Độ, nổi tiếng giàu khoáng sản. Vị trí chính xác của vương quốc nầy cho tới hiện nay vẫn chưa ai biết—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Satadru is an ancient kingdom in northern India, noted for its mineral wealth. Exact position is unknown.
thiết đô lô
(設都嚧) Phạm:Zatru. Hán dịch: Oán gia. Cũng gọi Thiết đổ lô, Thiết đốt rô, Xả đổ lô, Thước đổ lô, Sa nột rô, Tốt đổ hoán. Chỉ cho người kết oán với mình, gây oan hại đối với tất cả thiện pháp. KinhVô lượng thọ nói rằng: Oan gia trái chủ, đốt phá cướp giật. Kinh Di giáo thì nói: Bọn giặc phiền não thường rình rập hại người, còn hơn cả oan gia. [X. Hi lân âm nghĩa Q.6].
thiết địch đảo xuy
(鐵笛倒吹) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Huyền lâu Áo long thuộc tông Tào động Nhật bản soạn vào năm Thiên minh thứ 3 (1783). Nội dung sách này phỏng theo Bích nham lục, tuyển tập 100 tắc công án, có phần bình xướng và thêm tụng cổ. Quyển thượng thu chép 50 tắc từ Văn thù nhập môn đến Nghĩa trung thăng tòa; quyển hạ thu chép 50 tắc từ Bảo phúc Phật điện đến Qui sơn phương trượng...
thiết đổ lỗ
Satru (skt)—Kẻ thù—An enemy—A destroyer.
thiếu
1) To want—To lack—To be short of something. 2) Deficiency—Want—Lack. 3) To owe. 4) Almost—Nearly (thiếu chút nữa).
thiếu hụt
Shortage—Deficiency.
thiếu khang
(少康) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Đường, Tổ thứ 5 tông Tịnh độ, người ở núi Tiên đô tại Tấn vân (Chiết Giang), họ Chu. Sư xuất gia năm 7 tuổi, 15 tuổi thụ giới ở chùa Gia tường tại Việt châu, đọc nhiều kinh luận. Sau, nhân đọc bài Tây phương hóa đạo văn của ngài Thiện đạo ở chùa Bạch mã tại Lạc dương mà sư quyết tâm chuyên tu niệm Phật. Khi đi khất thực, sư thường được tiền, sư bảo trẻ con niệm A di đà Phật, cứ niệm 1 tiếng thì sư cho 1 đồng tiền; 1 năm sau, hễ nam nữ thấy sư đều niệm A di đà Phật. Sau sư đến núi Ô long tại Lục châu mở đạo tràng Tịnh độ nhóm họp chúng niệm Phật, mỗi lần sư niệm Phật 1 tiếng thì từ miệng sư bay ra 1 đức Phật, niệm 10 tiếng ra 10 đức Phật, người đương thời gọi sư là Hậu Thiện đạo.Năm Trinh nguyên 20 (805) sư thị tịch. Sư có các tác phẩm: Nhị thập tứ tán 1 quyển, Thụy ứng san truyện 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.25, Phật tổ thống kỉ Q.26; Liên tông bảo giám Q.4]. Ngài Thiếu khang
thiếu khang đại sư
Shao-Kang—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Thiếu Khang Đại Sư là Liên Tông Ngũ Tổ. Ngài họ Châu, người đời nhà Đường, quê vùng Tiên Đô thuộc xứ Tấn Vân. Từ buổi sơ sinh, ngài lặng im không nói. Năm lên bảy tuổi, nhân lễ trai hội, ngài theo mẹ vào chùa lễ Phật. Bà chỉ Phật hỏi đùa cùng ngài rằng, “Con có biết đó là ai chăng?” Ngài bỗng nhiên ứng tiếng đáp rằng: “Đó là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.” Biết con có duyên lành đối với Phật pháp, song thân ngài liền cho phép ngài xuất gia. Ngài căn cơ và trí huệ rất linh mẫn, sau khi xuất gia đến năm 15 tuổi, ngài đã thông suốt năm bộ kinh điển. Niên hiệu Trinh Nguyên nguyên niên (năm đầu), đại sư đến viếng chùa Bạch Mã tại Lạc Dương. Thấy chỗ để kinh sách trong đại điện phóng ánh quang minh, ngài lại tìm xem thì thấy quang minh ấy phát xuất từ nơi tập văn Tây Phương Hóa Đạo của Hòa Thượng Thiện Đạo, ngài liền quỳ xuống khấn rằng: “Nếu tôi có nhân duyên với Tịnh Độ, xin nguyện cho tập văn nầy phóng quang minh thêm một lần nữa.” Ngài vừa dứt lời nguyện thì ánh sáng lại càng chiếu ra rực rỡ, trong ấy có ẩn hiện hình dạng các hóa Bồ Tát. Ngài chấp tay nói: “Kiếp đá có thể mòn, nguyện nầy thề không dời đổi.” Nhân đó đại sư đến Trường An, chiêm lễ di tượng của Hòa Thượng Thiện Đạo. Đang khi lễ, tượng của Nhị Tổ bỗng bay lên cao, bảo với ngài rằng: “Ông nên y theo lời dạy của ta mà phổ độ chúng sanh, ngày kia công quả đắc thành, sẽ được sanh về Cực Lạc.” Sau đó ngài đi ngang qua miền Giang Lăng, bỗng gặp một sư cụ bảo rằng: “Ông muốn hoằng hóa, nên sang qua xứ Tân Định, cơ duyên ở tại nơi đó.” Nói xong sư cụ biến mất. Sau thời gian ấy, đại sư đến Tân Định. Thấy người xứ nầy chưa biết niệm Phật là gì cả, ngài mới dùng phương tiện. Ban sơ ngài quyên tiền dẫn dụ trẻ con niệm Phật. Nếu đứa nào niệm được một câu thì ngài thưởng cho một đồng tiền. Như thế hơn một năm sau, không cần thưởng tiền nữa mà chúng cũng tự niệm. Về sau quen lần, lúc gặp đại sư, dù ở trong nhà hay ngoài đường, chúng cũng vẫn cứ niệm Phật. Từ đó nam, nữ, già, trẻ, bất cứ ai hễ gặp ngài đều niệm: “A Di Đà Phật.” Nhờ đó dân chúng trong vùng lần lượt phát tâm thờ cúng và niệm Phật rất nhiều. Thấy cơ duyên đã có phần thành thục, đại sư mới thành lập Tịnh Độ Đạo Tràng ở Ô Long, xây đàn tam cấp. Cứ đến ngày trai, vài ba ngàn thiện nam tín nữ đều họp lại đó để niệm Phật, nghe pháp. Mỗi khi thăng tòa, ngài chắp tay niệm Phật to tiếng thì đại chúng ở dưới đều xướng niệm hòa theo. Có lúc đại sư xưng một câu Phật hiệu, hội chúng thấy có một Đức Phật từ trong miệng ngài bay ra. Niệm đến mười câu, trăm câu, ngàn câu đều có mười, trăm, ngàn vị Phật bay ra, liên tiếp như xâu chuỗi. Đại sư bảo: “Quí vị đã được thấy Phật, chắc chắn đều sẽ được vãng sanh.” Mọi người nghe ngài nói như vậy đều có cảm niệm vui mừng, an ủi. Năm Trinh Nguyên thứ 21, vào tháng mười, đại sư họp chúng đệ tử Tăng Tục đến dặn bảo rằng: “Các vị nên phát tâm chán lìa cõi Ta Bà ác trược, khởi lòng ưa thích miền Tịnh Độ an vui mà cố gắng tu hành tinh tấn.” Giờ phút nầy ai thấy được quang minh của ta thì kẻ ấy mới thật là hàng đệ tử của ta. Nói xong, ngài phóng ra vài tia sáng lạ, đẹp, dài, rồi ngồi yên lặng mà thoát hóa. Đại chúng xây tháp thờ ngài ở Đài Nham, tôn hiệu của ngài là Đài Nham Pháp Sư—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Shao-Kang was the Fifth Patriarch of Pureland Buddhism. His family's name was Châu. He was from T'ien-Do Mountain of the Tan-Van region, lived during the T'ang Dynasty. He remained mute from birth until he turned seven. Then during the celebation of Buddhist Memorial Day, he followed his mother to the temple to prostrate to Buddha. His mother pointed at the Buddha's statue and playfully asked him: "Do you know who that is?" He unexpectedly spoke for the first time: “That is the statue of Sakyamuni Buddha.” Knowing their son had a great destined connection with the Buddha-Dharma, his parents immediately allowed him to leave home to join the order. His intelligence and wisdom were extraordinary. After becoming a Bhiksu at the age of fifteen, he had completely understood and deeply penetrated the hidden meanings of the five collections of sutras. In the first year of the Trinh Nguyên reign period, he visited White Horse Temple at Luo-Yang. Seeing lights radiating from the collection of sutras kept in the prayer hall, he investigated and saw the source of light came from the written text, “Propagation of the Western Pureland's Teachings” written by the Great Venerable Master Shen-T'ao; he immediately knelt down and prayed: “If I have a special destiny with Pureland Buddhism, I ask for this book to emit light once more.” As soon as he finished his prayer, the luminous light from within the book became even brighter, clearer, and shone further; within it were appearances of various transformation Bodhisattvas. He put his palms together and said: “A 'rock kalpa' will wear down and come to pass, but this vow is unchanging and unwavering.” For this reason, he came to the Imperial Capital Ch'ang-An to pay homage and to prostrate to the statue of the Great Venerable Master Shen-T'ao sculptured by those before him. As he was in the process of prostrating himself, the statue of the Second Patriarch suddenly flew straight into the air, and spoke: “You should follow according to what I taught to help and guide sentient beings everywhere; one day when the fruit of your accomplishments ripens, you shall gain rebirth to the Ultimate Bliss World.” Thereafter, when he passed by the Jiang-Lang region, he encountered unexpectedly an elderly woman; she told him: “If you want to prostrate Buddhism, go to Tsin-Ting region; you are destined for that area.” Finished speaking, the elderly woman disappeared. Following this advice, he came to Tsin-Ting region. When he saw the local residents did not know what it meant to practice Buddha Recitation, he began making applications of a skillful means. In the beginning, he would “bribe” the children to recite Buddha's name. Whoever recited the Buddha's name one time, he would give that child one coin. He continued this practice, and over a year later, even if he did not give them money, the children continued to practice Buddha Recitation on their own. This practice became a natural habit, and eventually whenever seeing him, whether they were inside their houses or out playing on the streets, they continued to practice Buddha Recitation. From that time on, men, women, children, young, and old, no matter who they were, as soon as they saw him, they would put their hands together to recite respectfully “Amitabha Buddha.” Through his skillful means of transformation, gradually, many residents from the area began worshiping and practicing Buddha Recitation. Seeing the time was right, he established a Pureland Congregation at Ou-Lung Mountain, which was built three steps above the ground. Each time a vegeterian day came, several thousand good men and faithful women assembled there to pratice Buddha Recitation and to listen to the Dharma. Each time getting on the throne to preach the Dharma, he would loudly recite Buddha's name and then the great assembly would harmoniously follow him. Sometimes when he recited Buddha' name, with each recitation, the assembly would witness a Buddha soaring out of his mouth. If he recited ten, hundred, or thousand recitations, there would be ten, hundred, or thousand Buddhas soaring out of his mouth, continuously like counting prayer beads. The Great Master then taught: "Now that all of you have witnessed Buddha, you are guaranteed to gain rebirth.” Upon hearing him say this, everyone felt contented and satisfied. In October of the twenty first year of Trinh Nguyên reign period, the Great Master gathered all his disciples, ordained and lay, and instructed them: “Everyone must develop the mind to be tired of this Saha World of evils and turbidities, begin yearning for the blissful existence of the Pureland in order to cultivate with vigor and diligence. At this moment, if anyone is able to see my aura then such an individual is truly a disciple of mine.” After he spoke, several long, unique and beautiful beams of light from the Great Master's body shone and then he sat there silently to gain rebirth. The great assembly built a pagoda to worship the Great Master at Dai-Nham. They honored him with the title: “Dai-Nham Dharma Master.”
thiếu lâm
Shao-lin (C), Shaolinsi (C), Shōrin-ji (J), Shao-lin ssu (C)Tu viện Phật do hoàng đế Hiếu Văn triều Bắc Ngụy xây trên núi Tung sơn vào năm 477, nơi Bồ Đề Lưu Chi đã ở để dịch kinh điển vào đầu thế kỷ thứ 6. Cũng nơi đây Bồ Đề Đạt Ma đã ẩn tu trong nửa đầu thế kỷ ấy.
Thiếu Lâm Tự
(少林寺): còn gọi là Trắc Hỗ Tự (陟岵寺), là ngôi cổ sát nổi tiếng của trung quốc, ngôi tổ đình tiếng tăm lừng lẫy của Thiền Tông, nơi phát xuất công phu Thiếu Lâm; hiện tọa lạc tại Huyện Đăng Phong (登封縣), sườn núi phía Tây Tung Sơn (嵩山), Tỉnh Hà Nam (河南省); thuộc một trong Ngũ Nhạc (五岳). Chùa được vua Hiếu Văn Đế (孝文帝, tại vị 471-499) kiến lập vào năm thứ 19 (495) niên hiệu Thái Hòa (太和) nhà Bắc Ngụy (北魏), cho vị cao tăng người Thiên Trúc là Phật Đà (佛陀). Vị này từng dịch kinh ở tại đây, rồi Đạo Phòng (道房), Đạo Bằng (道憑), hay Phật Quang (佛光), Tăng Trù (僧稠), Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支, 562-727), Lặc Na Ma Đề (s: Ratnamati, 勒那摩提, ?-?), Huệ Viễn (慧遠, 523-592) của Tịnh Ảnh Tự (淨影寺), Huyền Trang (玄奘, 602-664), v.v., cũng đã từng dừng chân tại chùa này. Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) đã từng quay mặt vào tường chùa 9 năm, và truyền thuyết Huệ Khả (慧可, 487-593) chặt tay dâng cho Đạt Ma để cầo đạo cũng phát xuất từ Thánh địa này. Sau đó, bốn phương tăng chúng quy tụ về đây để tu tập theo Thiền phong của Đạt Ma, nên chùa đã từng một thời cực thịnh. Tuy nhiên, chùa lại gặp phải tai ách Bài Phật Phế Thích của vua Võ Đế (武帝, tại vị 560-578) nhà Bắc Chu (北周), nên ngôi già lam dã bị phá hủy tan tành. Đến thời nhà Tùy, chùa được phục hưng lại, đổi tên thành Trắc Hỗ Tự; song đến thời vua Văn Đế (文帝, tại vị 581-604) nhà Tùy, chùa được đổi tên lại như xưa. Từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589) cho đến đầu thời nhà Đường (唐, 618~907), nơi đây đã từng là căn cứ địa của Đạo Giáo. Vào khoảng cuối niên hiệu Đại Nghiệp (大業, 605-616), chùa lại bị sơn tặc đốt cháy tan tành, may thay còn sót lại các ngôi linh tháp. Dưới thời nhà Đường, chùa được sự sùng kính của Cao Tông (高宗, tại vị 649-683) cũng như Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后, tại vị 684-705), nên ngôi già lam được trùng hưng, chỉnh đốn lại toàn bộ. Sau đó, đến cuối thời nhà Đường, do vì loạn Ngũ Đại mà chùa lại bị suy vong; nhưng vào năm 1245, vâng mệnh vua Thế Tổ (世祖, tại vị 1260-1294) nhà Nguyên; Tuyết Đình Phước Dụ (雪庭福裕, 1203-1275) đến trú trì nơi đây và phục hưng lại chùa rất nhiều. Đệ tử ông có có các vị đã từng trú trì tại đây như Linh Ẩn Văn Thái (靈隱文泰), Cổ Nham Phổ Tựu (古巖普就), Tức Am Nghĩa Nhượng (卽菴義讓), Thuần Chuyết Văn Tài (淳拙文才), Ngưng Nhiên Liễu Cải (凝然了改), Câu Không Khế Bân (倶空契斌), Huyễn Hưu Thường Nhuận (幻休常潤), Vô Ngôn Chánh Đạo (無言正道), Tâm Duyệt Tuệ Hỷ (心悅慧喜), v.v. Sau đó vào năm 1735, vua Thế Tông (世宗, tại vị 1722-1735) nhà Thanh lại cho trùng tu chùa. Hiện tại, quần thể kiến trúc chùa có Sơn Môn, Thiên Vương Điện, Đại Hùng Điện, Bạt Đà Điện, Diêm Vương Điện, v.v. Ở bên phải phía Tây chùa có tảng đá Diện Bích của Đại Sư Đạt Ma; tại địa điểm cách chùa 3 dặm có Am Diện Bích. Trong khuôn viên chùa có rất nhiều ngôi tháp, văn bia của các vị vua của nhiều triều đại, cũng như của bao nhân vật nổi tiếng ngày xưa.
Thiếu Lâm tự
少林寺; C: shàolín-sì; J: shōrin-ji;|Một ngôi chùa nổi danh nằm trên ngọn Thiếu Thất thuộc dãy Tung sơn. Chùa này do vua Hiếu Văn Ðế nhà Hậu Nguỵ xây dựng cho một vị sư là Phật-đà Thiền sư người Thiên Trúc (Ấn Ðộ). Ðầu thế kỉ thứ 6, Bồ-đề Lưu-chi có dừng chân tại đây và phiên dịch rất nhiều kinh sách. Sau, Bồ-đề Ðạt-ma cũng đến đây vì Ngài thấy thời hoằng hoá chưa đến. Tương truyền rằng, Bồ-đề Ðạt-ma lưu lại đây chín năm và trong thời gian này chỉ xoay mặt vào tường Toạ thiền.|Bây giờ khi nhắc đến Thiếu Lâm tự, người ta chỉ thường nghĩ đến những môn võ công của chùa này. Theo truyền thuyết thì võ công, một dạng của khí công được các vị Cao tăng tại đây sáng tạo và phát triển. Câu chuyện sau đây thường được nhắc lại khi nói đến võ công chùa Thiếu Lâm: »Một hôm, chùa bị giặc Hoàng Cân tấn công, tăng chúng sợ quá muốn tan. Chợt có một vị tăng cao tuổi làm đầu bếp múa gậy chạy ra bảo chúng ›Các vị chớ lo, Lão tăng chỉ một gậy là đuổi chúng chạy hết‹. Nghe như vậy ai cũng phì cười vì cho là nói khoát. Vị tăng đó liền múa gậy xông vào đám giặc, tên nào bị ăn gậy đều kinh khiếp chạy loạn. Cuối cùng giặc tan, vị tăng này truyền lại cho chúng võ nghệ rồi sau đó ẩn mất. Người sau cho rằng đó là hiện thân của Khẩn-na-la Phật.«
thiếu lâm tự
Shao lin (C). The monastery at Thiếu thất, where Bodhidharma sat with his face to a wall for nine years.
; Một trong những đại tự viện ở Trung Quốc, nơi Tổ Bồ Đề Đạt Ma ngồi diện bích trong 9 năm—One of the great monasteries in China, where Bodhidharma sat with his face to a wall for nine years.
; (少林寺) I. Thiếu Lâm Tự. Chùa nằm dưới ngọn Ngũ nhũ, chân núi phía bắc núi Thiếu thất, ở phía tây bắc huyện Đăng phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, do vua Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy xây dựng vào năm Thái hòa 20 (496, có thuyết nói năm Thái hòa 21) để cúng dường Thiền sư Phật đà người Thiên trúc. Thời Thiền sư Phật đà, ở phía tây chùa có xây tháp xá lợi, phía sau tháp, xây Phiên kinh đài. Không bao lâu, có ngài Lặc na ma đề đến chùa này phiên dịch kinh luận. Năm Hiếu xương thứ 3 (527), ngài Bồ đề đạt ma người Ấn độ đến chùa này, ngồi xoay mặt vào vách mà tu định 9 năm, truyền pháp cho ngài Tuệ khả, sáng lập Thiền tông, sử gọi ngài Đạt ma là Sơ tổ của Thiền tông Trung quốc, chùa Thiếu lâm là Tổ đình. Từ đó, tăng tục nhóm họp rất đông, thiền pháp hưng thịnh. Sau Thiền sư Phật đà, đệ tử ngài là Tăng trù trụ trì chùa này. Sau vì pháp nạn bài Phật của Vũ đế nhà Bắc Chu xảy ra trong năm Kiến đức nên chùa đã bị phá hủy. Trong năm Đại tượng, Tĩnh đế xây dựng lại chùa, đặt tên là Trắc hỗ tự(chùa nhớ đến cha, tức Vũ đế) và thờ 120 vị Bồ tát tăng. Đời Tùy, vua Văn đế ban sắc khôi phục tên cũ(nhưng có thuyết nói Văn đế đổi tên là Trắc hỗ, đời Đường mới lấy lại tên Thiếu lâm). Đến cuối năm Đại nghiệp đời Tùy, trừ ngôi Linh pháp, còn toàn chùa đều bị bọn giặc núi phá hủy. Đầu đời Đường, chúng tăng chùa Thiếu lâm có công giúp Thái tông dựng nước, từ đó, chúng tăng thường luyện tập quyền thuật, Thiền tông và quyền thuật Thiếu lâm trở nên nổi tiếng, được lưu truyền rất rộng. Vua Cao tông và Vũ hậu Tắc thiên đều rất sùng kính, sửa sang cảnh chùa Thiếu lâm trang nghiêm thanh tịnh. Về sau, trải qua các cuộc chiến loạn ở cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại, vận chùa dần dần sa sút. Năm Thuần hựu thứ 5 (1245) đời Nam Tống, ngài Tuyết đình Phúc dụ vâng mệnh vua Thế tổ đến trông nom chùa, xây dựng cổng chùa, các vị đệ tử của ngài là Linh ẩn Văn thái, Cổ nham Phổ tựu, Tức am Nghĩa nhượng, Thuần chuyết Văn tài... nối tiếp nhau trụ trì, mỗi vị đều chấn hưng Thiền phong, truyền thừa chính mạch Chùa Thiếu lâm Tháp lâm– mộ tháp ở bên ngoài cổng chùa Thiếu lâmĐộng thượng. Năm Ung chính 13 (1735) đời vua Thế tông nhà Thanh, chùa được trùng tu. Vào cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại, chùa Thiếu lâm thuộcvềtông Lâm tế, từ các đời Kim, Nguyên về sau lại trở thành đạo tràng của tông Tào động, đến nay vẫn thế. Năm Dân quốc 18 (1929), bọn quân phiệt Phùng ngọc tường, Phàn chung tú... xua quân lính đến cướp phá, chùa hầu như bị hủy hoàn toàn. Năm Dân quốc 21 (1932), các ông Lâm sâm, Đới truyền hiền, Đỗ nguyệt sênh... góp công của trùng tu. Hiện nay trong chùa còn các kiến trúc như: Cổng chùa (Tam quan), nhà khách, đình Đạt ma, điện Bạch y, điện Địa tạng, điện Thiên Phật... Điện Thiên Phậtcũng gọi gác Tì lô, trong có bức bích họa vẽ 500 vị La hán triều bái đức Phật Tì lô giá na, rộng khoảng hơn 300m2, là tác phẩm đời Minh. Trong điện Bạch y có bức vẽ quyền phổ chùa Thiếu lâm và 13 vị tăng cứu vua Đường, là tác phẩm đời Thanh. Đình Đạt ma là nơi ngài Tuệ khả chặt cánh tay đứng trên tuyết để chờ đợi Tổ Đạt ma truyền pháp, cho nên cũng gọi là Lập tuyết đình. Am Sơ tổ và am Nhị tổ đều ở gần đó. Trong chùa vẫn còn bảo tồn được nhiều thạch khắc, nổi tiếng thì có: Tần vương cáoThiếu lâm tự chủ giáo bi, Vũ hậu thi thư bi, Linh vận Thiền sư công đức tháp minh, Tức am thiền sư bi... [X. Tục cao tăng truyện Q.4, 16; Quảng hoằng minh tập Q.10; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.9; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3, 4; Thích thị kê cổ lược Q.2; Tục đăng tồn cảo Q.11; Thiếu lâm tự chí, Ngụy thư Q.114]. II. Thiếu Lâm Tự. Chùa ở dưới ngọn Tử cái thuộc dãy Bàn sơn, nằm về phía bắc huyện Kế, tỉnh Hà bắc, Trung quốc, được xây dựng trong năm Chí chính (1341-1367) đời Nguyên. Trên núi phía đông chùa có nhiều bảo tháp; trên núi phía tây chùa có động Hoa nghiêm rất nổi tiếng.
thiếu lâm vô khổng địch
(少林無孔笛) Gọi đủ:Đông dương Hòa thượng thiếu lâm vô khổng định. Cũng gọi Đông dương Hòa thượng ngữ lục.Ngữ lục, 6 quyển, do ngài Đông dương Anh triều (1428- 1540) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung sách này thu chép các pháp ngữ thướng đường, tiểu tham, thị chúng, Phật sự, kệ tụng, tượng tán, đạo hiệu, tạp trứ... do Hòa thượng Đông dương giảng tại các chùa: Long hưng, Đại đức, Diệu tâm, Thụy tuyền, Thiếu lâm, Định tuệ, Đại tiên... Vô khổng địch(ống sáo không có lỗ) chỉ cho cảnh giới giác ngộ của Thiền tông, không thể dùng văn tự hay ngôn ngữ để truyền đạt, giống như ống sáo không có lỗ thì không cách nào thổi được. Ngoài ra, còn có Thiếu lâm vô khổng địch khảo chứng 1 quyển, do ngài Vô trước Đạo trung soạn. Cổng chùa Thiếu lâm THIẾU THẤT LỤC MÔN TẬP Cũng gọi Tiểu thất lục môn. Tác phẩm,1 quyển, do ngài Bồ đề đạt ma soạn vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này nói về yếu chỉ của Thiền gia, chia làm 6 môn: Tâm kinh tụng, Phá tướng luận, Nhị chủng nhập, An tâm pháp môn, Ngộ tính luận và Huyết mạch luận. Ngoại trừ thiên thứ 3 (Nhị chủng nhập), 5 thiên còn lại có lẽ do người đời sau ngụy tạo. [X. Thiền tịch chí Q.thượng].
thiếu lâm võ (vũ) nghệ
Một vị Tăng từng là đầu bếp của chùa Thiếu Lâm, đã được coi như là người chỉ dùng gậy ba thước mà dẹp tan được loạn Hoàng Cân (Khăn Vàng); tên ngài được đặt cho trường phái võ Thiếu Lâm, mà về sau nầy có 13 vị có công giúp nhà Đường dẹp loạn Vương Thế Sung—Shao-Lin Wu-I, a cook of the Shao-Lin monastery, who is said single-handed to have driven off the Yellow Turban rebels with three-foot staff, and who was posthumously rewarded with the rank of “general”; a school of adepts of the quarter-staff was called after him, of whom thirteen were far-famed.
thiếu nhi
Young child.
thiếu niên
Young man.
thiếu năng lực
Unqualified.
thiếu nợ
To be in debt.
thiếu nữ
Young girl.
thiếu sót
Deficiency.
thiếu sống động
Lifeless
thiếu thất
Shao-shih (C). A hill on the Tung Sơn where Bodhidharma set up his Thiếu lâm tự.
thiếu thất lục môn
Six brief treatises attributed to Bodhidharma.
thiếu thất sơn
(少室山) Cũng gọi Quí thất sơn, Phụ thử sơn, Ngự trại sơn, Ngự tái sơn. Núi nằm về phía tây bắc huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc, là ngọn phía tây của Tung sơn, đối diện với núi Thái thất, nhưng nhỏ hơn. Núi cao 2752m, dưới chân núi có thạch thất, đồng thời có 36 ngọn như Triêu nhạc, Vọng lạc, Thái dương, Thiếu dương, Bạch lộc... Vua Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy từng xây chùa cúng dường Thiền sư Phật đà người Thiên trúc ở chân núi phía bắc Thiếu thất, tức chùa Thiếu lâm. Về sau, ngài Bồ đề đạt ma và Tuệ khả đều trụ ở chùa này, Thiền pháp rất thịnh, là ngôi chùa nổi tiếng nhất trong các chùa ở Tung sơn. [X. Tam tài đồ hội Tung nhạc đồ khảo; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 56-62].
thiếu thốn
Privation—Want—Lack.
thiếu thời
Early youth.
thiếu thực phẩm
Insufficient food.
thiếu từ bi
Lack of compassion.
thiếu độ lượng
Intolerance—Intolerance is the greatest enemy of any one.
Thiềm quang
(蟾光): tức chỉ cho ánh sáng mặt trăng, vì trong văn hóa cổ đại của Trung Quốc thường lấy con thiềm thừ (蟾蜍, con cóc) để thay thế cho mặt trăng. Cho nên cổ nhân thường dùng từ “ngân thiềm quang mãn (銀蟾光滿, trăng bạc sáng tròn).” Đạo Giáo Trung Quốc dùng chữ thiềm quang để chỉ cho huệ quang (慧光, ánh sáng trí tuệ); còn Khí Công thì chỉ cho ánh sáng vàng ròng. Trong bài thơ Khê Thượng Nguyệt (溪上月) của thi tăng Kiểu Nhiên (皎然, ?-?) nhà Đường có câu: “Thiềm quang tán phố tự, tố ảnh động luân liên (蟾光散浦溆、素影動淪漣, ánh trăng tan bến nước, bóng trắng động sóng chìm).” Hay như trong bài từ Tình Cửu Trường (情久長) của Lữ Vị Lão (呂渭老, ?-?) nhà Tống có đoạn: “Tuế hoa mộ, thiềm quang xạ tuyết, bích ngõa phiêu sương, trần bất động, hàn vô tế (歲華暮、蟾光射雪、碧瓦飄霜、塵不動、寒無際, dịp cuối năm, ánh trăng bắn tuyết, ngói biếc bay sương, bụi chẳng động, lạnh vô cùng).” Trong bài Túy Bồng Lai Cửu Nguyệt Thập Bát Nhật Tây Quắc Lưu Thị Tiếu (醉蓬萊九月十八日西虢劉氏醮) của Khưu Xứ Cơ (丘處機, 1148-1227) nhà Nguyên có câu: “Nhạn ảnh trầm sa, thiềm quang chiếu dạ, huân huân đồng túy (雁影沉沙、蟾光照夜、醺醺同醉, bóng nhạn chìm cát, ánh trăng chiếu đêm, vui vẻ say mèn).” Bản Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chí Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 7 cũng có đoạn: “Thanh sơn lục thủy, dữ ngã hà thù, kim sanh Lệ thủy, thiềm quang mãn thái hư (青山綠水、與我何殊、金生麗水、蟾光滿太虛, núi xanh nước biếc, cùng ta khác gì, vàng sanh sông Lệ, ánh trăng khắp hư không).” Hoặc như trong Chứng Đạo Ca Tụng (證道歌頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1291) lại có câu: “Lục Độ vạn hạnh thể trung viên, chân thể vô lao biện đồng biệt, vạn thủy thiềm quang nhậm khứ lưu, kiểu kiểu thiên tâm duy nhất nguyệt (六度萬行體中圓、眞體無勞辨同別、萬水蟾光任去留、皎皎天心唯一月, Sáu Độ muôn hạnh thể tròn đầy, thật thể chẳng cần phân khác giống, muôn dòng trăng sáng mặc cuốn trôi, vằng vặc giữa trời trăng một đóa).”
Thiền
禪; hoặc Thiền-na (禪那); S: dhyāna; P: jhāna; C: chánnà, chán; J: zenna, zen; Anh ngữ: medita-tion; cũng được dịch nghĩa là Tĩnh lự (靜慮);|Một danh từ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm »Tỉnh giác«, »Giải thoát«, »Giác ngộ.« Trong những trường phái tu tập mật giáo – »mật« (e: esoteric) ở đây có nghĩa là tu tập để tự đạt kinh nghiệm tỉnh giác, không để ý đến những cái rườm rà bên ngoài của tôn giáo, có thể gọi là »bí truyền« – các vị tiền nhân đã nghiên cứu và phát triển những con đường khác nhau thích hợp với cá tính, căn cơ của từng người để đạt đến kinh nghiệm quý báu nói trên. Nếu người ta hiểu »Tôn giáo« là câu trả lời, giải đáp cho những cái »không hoàn hảo«, »không trọn vẹn«, cái »bệnh« của con người thì Thiền chính là liều thuốc trị những bệnh đó.|Dấu hiệu chung của tất cả các dạng tu tập Thiền là sự hướng dẫn con người đạt một tâm trạng tập trung, lắng đọng, như là một hồ nước mà người ta chỉ có thể nhìn thấu đến đáy nếu mặt nước không bị xao động. Tâm trạng bình yên, lắng đọng này có thể đạt được qua nhiều cách khác nhau như luyện tập uốn nắn thân thể theo Ha-tha Du-già (s: haṭhayoga), sự tập trung vào một tấm tranh, một Thăng-ka hoặc âm thanh như Man-tra, một Công án…|Ý chí cương quyết tu tập Thiền sẽ dẫn hành giả đến một tâm trạng Bất nhị, nơi mà những ý nghĩ nhị nguyên như »ta đây vật đó« được chuyển hoá; hành giả đạt sự thống nhất với »Thượng đế«, với cái »Tuyệt đối«, những khái niệm về không gian và thời gian đều được chuyển biến thành cái »hiện tại trường hằng«, hành giả chứng ngộ được sự đồng nhất của thế giới hiện hữu và bản tính. Nếu kinh nghiệm này được trau dồi thâm sâu và hành giả áp dụng nó vào những hành động của cuộc sống hằng ngày thì đó chính là trạng thái mà tất cả những tôn giáo đều gọi chung là »Giải thoát«.|Tiến sĩ khoa tâm lí học kiêm Thiền sư người Anh David Fontana viết tóm tắt rất hay về Thiền và Phi thiền: »Thiền không có nghĩa là: ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu.«|Theo đạo Phật, hành giả nhờ Ðịnh (s: samā-dhi) mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ Năm chướng ngại (s: nīvaraṇa) thì đạt được bốn cõi thiền (Tứ thiền định) của sắc giới (s: rūpadhātu; xem Ba thế giới), đạt được Lục thông (s: abhijñā) và tri kiến vô thượng. Tri kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát mọi Ô nhiễm (s: āśrava). Hành giả đạt bốn cõi thiền cũng có thể chủ động tái sinh trong các cõi Thiên (deva) liên hệ.|Trong giai đoạn một của thiền định, hành giả từ bỏ lòng tham dục và các pháp bất thiện, nhờ chuyên tâm suy tưởng mà đạt đến. Trong cấp này, hành giả có một cảm giác hỉ lạc. Trong giai đoạn hai, tâm suy tưởng được thay thế bằng một nội tâm yên lặng và tâm thức trở nên sắc sảo bén nhọn, xuất phát từ sự chú tâm quán sát. Hành giả tiếp tục ở trong trạng thái hỉ lạc. Qua giai đoạn ba, tâm hỉ lạc giảm, tâm xả bỏ hiện đến, hành giả tỉnh giác, cảm nhận sự nhẹ nhàng khoan khoái. Trong giai đoạn bốn, hành giả an trú trong sự xả bỏ và tỉnh giác.|Tại Trung Quốc, Thiền có một ý nghĩa rộng hơn rất nhiều. Nó bao gồm tất cả phép tu như quán niệm hơi thở (p: ānāpānasati), Bốn niệm xứ (p: sa-tipaṭṭhāna)… với mục đích nhiếp tâm và làm tâm tỉnh giác. Từ phép Thiền do Bồ-đề Ðạt-ma truyền, Thiền Trung Quốc đã phát triển rất mạnh (Thiền tông).|Trong một ý nghĩa bao quát, Thiền cũng không phải là những phương pháp đã nêu trên. Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể mô tả và phải do mỗi người tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả – kể cả Phật giáo. Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau trực nhận và mô tả bằng nhiều cách. Ðó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại, nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền không phải là một phương pháp đưa con người đi từ vô minh đến giác ngộ, mà là giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện.
thiền
Son (K), Meditation, Ch'an (C), Zen (J), Dhyāna (S), Jhāna (P)Viết tắt của từ Zenna hay Zenno, lối phiên âm của người Nhật dùng cho từ Ch'anna (hay Ch'an) của Trung quốc. Từ Ch'an lại phiên âm từ tiếng Phạn là dhyana.
; To level a place for an altar, to sacrifice to the hills and mountains; to abdicate. Adopted by Buddhists for dhyàna thiền na, i.e. meditation, abstraction, trance. Dhyàna is "meditation, thought, reflection, especially profound and abstract religious contemplation". It was intp. as "getting rid of evil" , etc., later as tĩnh lự quiet meditation. It is a form of Định but that word is more closely allied with samàdhi.
; Jhana (p)—Dhyana (skt)—Tịnh lự hay đình chỉ các tư tưởng khác, chỉ chuyên chú suy nghĩ vào một cảnh)—To meditate—To enter into meditation. Những lời Phật dạy về “Thiền” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Dhyana” in the Dharmapada Sutra: 1) Tu Du-già thì trí phát, bỏ Du-già thì tuệ tiêu. Biết rõ hay lẽ này thế nào là đắc thất, rồi nỗ lực thực hành, sẽ tăng trưởng thêm trí tuệ—From meditation arises wisdom. Lack of meditation wisdom is gone. One who knows this twofold road of gain and loss, will conduct himself to increase his wisdom (Dharmapada 282). 2) Gìn giữ tay chân và ngôn ngữ, gìn giữ cái đầu cao, tâm mến thích thiền định, riêng ở một mình, thanh tịnh và tự biết đầy đủ, ấy là bậc Tỳ kheo—He who controls his hands and legs; he who controls his speech; and in the highest, he who delights in meditation; he who is alone, serene and contented with himself. He is truly called a Bhikhshu (Dharmapada 362). 3) Này các Tỳ Kheo, hãy mau tu thiền định! Chớ buông lung, chớ mê hoặc theo dục ái. Đừng đợi đến khi nuốt hườn sắt nóng, mới ăn năn than thở—Meditate monk! Meditate! Be not heedless. Do not let your mind whirl on sensual pleasures. Don't wait until you swallow a red-hot iron ball, then cry, “This is sorrow!” (Dharmapada 371). 4) Ai nhập vào thiền định, an trụ chỗ ly trần, sự tu hành viên mãn, phiền não lậu dứt sạch, chứng cảnh giới tối cao, Ta gọi họ là Bà-la-môn—He who is meditative, stainless and secluded; he who has done his duty and is free from afflictions; he who has attained the highest goal, I call him a Brahmana (Dharmapada 386). ** For more information, please see Thiền Định and Thiền Na.
; (禪) Phạm: Dhyàna. Pàli:Jhàna. Cũng gọi Thiền na, Đà diễn na, Trì a na.Hán dịch: Tĩnh lự, Tư duy tu tập, Khí ác, Công đức tùng lâm. Chỉ cho trạng thái định tuệ đồng đều, tâm chuyên chú vào 1 đối tượng nào đó, rất vắng lặng để tư duy một cách sâu sắc, rõ ràng. Thiền là pháp tu chung cho cả Đại thừa, Tiểu thừa, ngoại đạo, phàm phu... nhưng mục đích đạt đến và đối tượng tư duy thì đều khác nhau. Thiền và các thứ định khác gọi chung là Thiền định; cũng có thuyết cho Thiền là 1 loại định, cho nên gọi tu thiền trầm tư là Thiền tư. Cương yếu của việc tu hành Phật đạo là tam học giới, định, tuệ, giữ giới thanh tịnh mới có được sự vắng lặng của thiền định; có được sự vắng lặng của thiền định thì chân trí mới khai phát. Vì thiền định là phương pháp tu hành của Phật giáo, cho nên các kinh luận của Đại thừa cũng như của Tiểu thừa, đều có nói rõ và chủng loại Thiền cũng rất nhiều. Trong kinh A hàm căn cứ vào việc có hay không có Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc(tìm kiếm, dò xét, mừng rỡ, vui vẻ)mà chia Thiền làm 4 loại: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Tứ thiền thiên của cõi Sắc là nơi những người tu Tứ thiền sẽ sinh đến; Tứ thiền được tu để cầu sinh về Tứ thiền Thiên gọi là Định tĩnh lự; còn Tứ thiền khi sinh ra đã có, được một cách tự nhiên thì gọi là Sinh tĩnh lự. Lại nữa, Hữu lậu tĩnh lự và Vô lậu tĩnh lự cùng tu lẫn lộn thì gọi là Tạp tu tĩnh lự, luận Câu xá quyển 24 chủ trương đây là pháp tu của A la hán hoặc quả vị Bất hoàn. Trong Đạithừathì Thiền là 1 trong 6 Ba la mật, 1 trong 10 Ba la mật, tức Thiền ba la mật(Thiền định ba la mật, Tĩnh lự ba la mật). Thiền là pháp Bồ tát tu để chứng được thực trí Bát nhã hoặc thần thông. Về tướng tu Thiền ba la mật của Bồ tát và các loại tĩnh lự khác nhau, ta có thể thấy trong các kinh luận, như theo kinh Bồ tát địa trì quyển 6 và luận Du già sư địa quyển 43 thì Thiền ba la mật có 9 tướng sau đây: 1. Tự tính thiền(cũng gọi Tự tính tĩnh lự): Chỉ cho tự tính của tĩnh lự, tứcTâm nhất cảnh tính trong đó tâm hoàn toàn tập trung vào 1 đối tượng duy nhất; hoặc chỉ cho Thiền do quán xét tự tính của tâm mà đạt được. 2. Nhất thiết thiền(cũng gọi Nhất thiết tĩnh lự): Chỉ cho Thiền thu nhiếp hết thảy pháp tự hành hóa tha. 3. Nan thiền(cũng gọi Nan hành tĩnh lự): Loại Thiền khó tu.Vì muốn làm lợi ích cho vô lượng hữu tình mà bỏ niềm vui thiền định, sinh lại cõi Dục, cho đến y chỉ tĩnh lự để chứng ngộvô thượng. 4. Nhất thiết môn thiền(cũng gọi Nhất thiết môn tĩnh lự): Môn là cửa ra vào. Tất cả thiền định đều dùng 4 loạiThiền này làm cửa, từ đó ra và vào. 5. Thiệnnhân thiền(cũng gọi Thiện sĩ tĩnh lự): Thiền không đắm trước niềm vui thiền định, đi đôi với 4 tâm vô lượng. Loại thiền này do các chúng sinh có thiện căn thù thắng tu hành nên gọi là Thiện nhân thiền. 6. Nhất thiết hạnh thiền(cũng gọi Nhất thiết chủng tĩnh lự): Thiền thu nhiếp hết thảy hạnh Đại thừa, cho nên gọi là Nhất thiết hạnh thiền. Thiền này có 13 loại là Thiện thiền, Vô kí hóa hóa thiền, Chỉ phần thiền, Quán phần thiền, Tự tha lợi thiền, Chính niệm thiền, Xuất sinh thần thông lực công đức thiền, Danh duyên thiền, Nghĩa duyên thiền, Chỉ tướng duyên thiền, Cử tướng duyên thiền, Xả tướng duyên thiền và Hiện pháp lạc trụ đệ nhất nghĩa thiền. 7. Trừ phiền não thiền(cũng gọi Toại cầu tĩnh lự): Thiền diệt trừ các thứ khổ não của chúng sinh. 8. Thử thế tha thế lạc thiền(cũng gọi Thử thế tha thế lạc tĩnh lự): Thiền mang lại sự khoái lạc cho tất cả chúng sinh trong hiện tại và vị lai. 9. Thanh tịnh tịnh thiền (cũng gọi Thanh tịnh tĩnh lự): Đã dứt hết tất cả hoặc, nghiệp, được quả đại Bồ đề, cho nên gọi là thanh tịnh. Thiền này lại được chia ra làm10 loại như Thiền thế gian thanh tịnh tịnh bất vị bất nhiễm ô, cho đến Thiền phiền não trí chướng đoạn thanh tịnh tịnh... Chín loại thiền nói trên chỉ là Thiền thù thắng do các Bồ tát tu hành, nên gọi là Cửu chủng đại thiền. Theo phẩm Tối tịnh địa đà la ni trong kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 4 thì thành tựu tĩnh lự Ba la mật có 5 tướng, đó là: 1. Nhiếp các thiện pháp, không để cho tán thất. 2. Thường nguyện giải thoát, không chấp trước 2 bên. 3. Nguyện được thần thông, thành tựu các căn lành cho chúng sinh. 4. Vì làm cho pháp giới thanh tịnh nên diệt trừ tâm cấu. 5. Diệt trừ phiền não căn bản của chúng sinh.Trên đây là nói rõ các ý nguyện mong cầu của Bồ tát khi tu tĩnh lự Ba la mật. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 thượng có nói về 3 thứ Thiền là Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Xuất thế gian thượng thượng thiền, trong đó, Xuất thế gian thượng thượng thiền lại được chia làm 9 thứ, tức là Cửu chủng đại thiền. Đối lại, Xuất thế gian thiền có 4 thứ sau đây:1. Quán thiền: Như Cửu tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ... đều là Quán thiền. Tức làThiền quán chiếu các cảnh tướng bất tịnh. 2. Luyện thiền: Như Cửu thứ đệ định. Tức rèn luyện thiền Hữu lậu khiến trở thành thiền Vô lậu. 3. Huân thiền: Như tam muội Sư tử phấn tấn. Tức hun đúc cácThiền, khiến thông suốt vô ngại, chuyển biến tự tại. 4. Tu thiền(cũng gọi Đính thiền): Tức xuôi ngược tự tại, tam muội siêu việt vượt vào vượt ra. Bốn thứ Thiền trên đây gọi tắt là Quán luyện huân tu, trong đó Tu thiền là thù thắng nhất. Cũng trong Pháp hoa huyền nghĩa còn ví dụ Căn bản cựu thiền, Luyện thiền, Huân thiền, Tu thiền, Cửu đại thiền với 5 vị(từ sữa cho đến đề hồ) và gọi 3 loại thiền định là Tứ thiền, Tứ vô lượng và Tứ vô sắc là Thập nhị môn thiền (tông Thiên thai chỉ gọi Vị đẳng chí là Thập nhị môn thiền). Thập nhị môn thiền này là Căn bản vị thiền trong Thế gian thiền. Đối lại, tông Thiên thai lấy Lục diệu môn, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền(cũng gọi Thông minh quán, Thông minh quán thiền. Tức quán chung 3 thứ hơi thở, sắc, tâm làm cho chúng sáng suốt, thanh tịnh, lại được 9 thứ gồm 4Thiền, 4Vô sắc, Diệt tận định của Lục thông và Tam minh) làm Căn bản tịnh thiền của thế gian. Phẩm Tập nhất thiết pháp trong kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 3, chiaThiền làm 4 loại: 1. Ngu phu sở hành thiền: Thiền của hàng Thanh văn tu hành sau khi ngộ lí Nhân vô ngã. 2. Quán sát nghĩa thiền: Thiền của hàng Bồ tát tu hành sau khi ngộ lí Pháp vô ngã. 3. Phan duyên chân như thiền: Thiền siêu việt tư lự và phân biệt, tâm không khởi tác dụng, tức khắc ngộ chân như như thực.4. Chư Như lai thiền: Thiền ngộ nhập bồ đề của Như lai, vì chúng sinh mà hiển bày tác dụng không thể nghĩ bàn của loại Thiền này. Ngoài ra, Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng của ngài Khuê phong Tông mật chia Thiền làm 5 loại là Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền và Tối thượng thượng thiền. Chú Duy ma cật kinh quyển 9 thì nêu thuyết của ngài Cưu ma la thập, chia Thiền làm 3 loại là Đại thừa thiền, Tiểu thừa thiền và Ngoại đạo thiền. Ở Trung quốc, trong các tông phái, mỗi tông đều y cứ theo giáo lí của tông mình mà tu Thiền định, nhưng cũng có tông phái tu Thiền do Tổ Bồ đề đạt ma truyền. LoạiThiền này bắt nguồn từ tư tưởng kinh Lăng già, chủ trương truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự. Tông chỉ của Thiền này là dùng tâm truyền tâm từ đức Thích tôn đến nay, tức không y cứ vào chữ nghĩa trong kinh điển, chỉ chuyên dùng phương pháp ngồi thiền, đánh hét... làm cho chúng sinh tỏ ngộ bản lai diện mục của mình. Đó chính là Thiền tông được thành lập sau khi loại Thiền này được truyền đến Trung quốc. Ởđời Đường có các lưu phái thiền Ngưu đầu, thiền Bắc tông, thiền Nam tông...Về sau, thiền Nam tông từng cực thịnh một thời. Đến các tông Lâm tế, Tào động thì mỗi tông đều có tông phong đặc biệt riêng của mình. Ngài Tông mật căn cứ vào đó mà chia Thiền tông đời Đường làm 3 phái (Thiền tam tông), đó là: 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông này không quan tâm đến các cảnh tượng bên ngoài, mà chỉ chuyên quán xét nội tâm để diệt trừ các vọng niệm. 2. Mẫn tuyệt vô kí tông: Tông này chủ trương tất cả pháp phàm thánh đềunhư mộng như huyễn, đến cả trí Không cũng chẳng có, khiến cho tâm hoàn toàn dứt bặt (mẫn tuyệt), không một mảy may ý niệm gì (vô kí), vì xưa nay vốn không. Thấu suốt lí này liền được giải thoát. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông này trực ngộ được tính Không, Hữu của tất cả hiện tượng đều là bản tính chân như. Từ lập trường Giáo, Thiền nhất trí, ngài Tông mật chủ trương Thiền do Tổ Bồ đề đạt ma truyền là Tối thượng thượng thiền, hoặc gọi là Như lai thanhtịnhthiền. Nhưng các Tổ sư Thiền môn chủ trương truyền riêng ngoài giáo thì cho rằng gọi Thiền do Tổ Đạt ma truyền là Như lai thiền thì hoàn toàn không thích đáng. Bởi vì từ giữa đời Đường về sau, thiền Đạt ma là thiền Tổ sư truyền cho Tổ sư, y cứ vào đó thì có thể gọi là Tổ sư thiền, cũng gọi là Nhất vị thiền, ý nói là Thiền thuần túy, còn gọi chung Thiền do ngài Tông mật lập ra là Như lai thiền, Ngũ vị thiền. Ngoài ra, đồ chúng của Tổ sư thiền thường chê bai các hạnh thiện là hữu tướng, nhưng cũng do đó mà nảy sinh tư tưởng phản động, chủ trương sự lí song tu, Thiền tịnh cộng hành. Các phái Thiền tông có khi phê bình tông phong của nhau, như ngài Đại tuệ Tông cảo thuộc tông Lâm tế phê bình Thiền phong cố thủ mặc niệm bất động của ngài Hoành trí Chính giác thuộc tông Tào động là thiếu tác dụng hoạt bát bén nhạy chỉ là một loại Mặc chiếu thiền. Còn ngài Hoành trí thì phê bình Thiền phong của ngài Tông cảo là loại Khán thoại thiền, bị kẹt trong công phu tham cứu công án. Cuối đời Tống, Đãi ngộ thiền lấy việc ngồi thiền mong được khai ngộ rất thịnh hành và các ngài Hoành trí cùng ngài Vĩnh bình Đạo nguyên người Nhật bản đều dạy loại Thiền này, cho rằng ngồi thiền là hạnh của Phật, là Đệ nhất nghĩa. Ngoài ra, ngồi thiền một cách ngu si như khúc gỗ, chỉ biết ngồi yên lặng mà tâm địa không mở tỏ thì bị chê là Si thiền. [X.kinh Đạo hành bát nhã Q.2; kinh Lục độ tập Q.7; kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản 60 quyển); luận Đại trí độ Q.17; luận Du già sư địa Q.12, 63; luận Câu xá Q.28; Ma ha chỉ quán Q.9, thượng, Q.9 hạ, Q.10 thượng; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Tông kính lục Q.36; Vạn thiện đồng qui tập Q.1, 2; Vãng sinh tập Q.hạ]. (xt. Tứ Thiền, Như Lai Thiền, Định).
thiền ba
Những lượn sóng hay tư tưởng khuấy động trong lúc hành thiền—Disturbing waves, or thoughts during meditation.
; (禪波) Sóng thiền, chỉ cho vọng tưởng trong thiền định. Nếu ví dụ thiền định là mặt nước phẳng lặng bất động thì vọng tưởng là những gợn sóng lăn tăn. [X. Tính linh tập Q.9].
thiền ba la mật
Dhyàna-paramita (S). Perfection of the meditation.
; Dhyana-paramita (skt)—Thiền định là hành pháp giúp chúng sanh đạt hoàn toàn tịnh lự, vượt thoát sanh tử, đáo bỉ ngạn. Đây là Ba La Mật thứ năm trong Lục Độ Ba La Mật—The attainment of perfection in the mystic trance, crossing the shore of birth and death. This is the fifth of the six paramitas. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật.
Thiền ba-la-mật
phiên âm từ Phạn ngữ là Dhyna-pramit, gọi đủ là Thiền-na ba-la-mật, tức Thiền định ba-la-mật, một trong sáu pháp ba-la-mật. Cũng gọi là Thiền độ.
Thiền ba-la-mật 禪波羅蜜
[ja] ゼンハラミッタ zen haramitta ||| See 禪波羅蜜. => (s: dhyāna-pāramitā). Pháp thiền đưa đến sự an tĩnh rốt ráo của tâm. Còn gọi là Tĩnh lự ba-la-mật 靜慮波羅蜜. Là một trong Lục độ ba-la-mật và Thập ba-la-mật.
thiền bardo
Bardo meditation Intermediate State Meditation.
thiền buổi tối
Yaza (J), Evening meditation.
thiền bí yếu pháp kinh
(禪秘要法經) Cũng gọi Thiền kinh bí yếu pháp, Thiền bí yếu pháp. Kinh, 3 quyển, do ngài Cưu mala thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này nói về phương pháp trọng yếu được áp dụng trong lúc ngồi thiền như: Điều hòacác hoạt động tâm lí, điều hòahơi thở và cách quán xét...
Thiền bản
禪版; J: zemban;|Một tấm gỗ được các thiền sinh thời xưa sử dụng. Trong thời gian tu tập, Toạ thiền lâu dài, thiền sinh thường để thiền bản vào hai bàn tay và chống cằm lên để khỏi ngục đầu xuống ngủ.|Thiền bản cũng đóng một vai trò giáo hoá trong các Công án. Bích nham lục ghi lại trong công án 20 với tên »Thuý Vi thiền bản«:|Thiền sư Long Nha đến Thuý Vi Vô Học, hỏi: »Thế nào là Tây lai ý?« Thuý Vi bảo: »Ðưa thiền bản đây!« Long Nha đưa thiền bản, Thuý Vi cầm thiền bản đập Long Nha. Long Nha la lớn: »Ðánh thì cứ đánh, không có ý của Tổ sư sang.«
thiền bản
Kyosaku (J), Zemban (J), Meditation plank.
; (禪板) Cũng gọiỶbản. Tấm bảng chúng tăng dùng để gác tay hoặc dựa lưng cho đỡ mệt lúc ngồi thiền. Thông thường thiền bản dài 54cm, rộng 6cm và dày khoảng 1cm, phía trên có khoan một lỗ tròn nhỏ. Dùng dây xỏ qua lỗ tròn, buộc vào sợi dây nằm ngang ở sau lưng giường dây để mặt bảng hơi nghiêng, có thể dựa lưng; lúc gác tay thì đặt thiền bản nằm ngang trên 2 đầu gối. [X. Bích nham lục tắc 20;Động thượng già lam tạp kí thiền bản; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thiền bắc tông
Beizongchan (C), HokushŪ-zen (J), Pei-tsung ch'an (C), Beizongchan (C).
Thiền bệnh
禪病; J: zenbyō, zembyō;|Có hai nghĩa chính: 1. Chỉ những cảnh giới kinh dị, Ma cảnh xuất hiện trong lúc hành giả Toạ thiền; 2. Sự bám chặt vào kinh nghiệm Kiến tính cũng như tâm thức chấp Không, để tâm trạng rơi vào hư vô. Một dạng nặng của thiền bệnh chính là sự phô trương quá đáng kinh nghiệm đạt được trên con đường tu tập và cho đó là một cái gì »đặc biệt.« Người mang những dấu hiệu của sự ngộ nhập (Ngộ tích) cũng được gọi là »mắc thiền bệnh.«
thiền bệnh
The ills of meditation, i.e. wandewing thoughts, illusions. The illusions and nervous troubles of the mystic.
; Đứng về lập trường Tổ Sư Thiền, phàm có thể chướng ngại sự kiến tánh đều gọi là thiền bệnh. Nói tóm lại, phàm có sở trụ gọi là bệnh, như trụ nơi có, không, động, tịnh, nói, nín… nói cách khác lọt vào tương đối đều là bệnh.
; Các loại bệnh gây ra bởi người tham thiền mà không hiểu rõ về thiền như vọng tưởng hay vọng kiến—The illnesses of meditation, i.e. wandering thoughts, illusions, or the illusions and nervous troubles of the mystic.
; (禪病) Những người tu thiền vì chưa hiểu rõ bí quyết chân thực của việc tham thiền nên thường phát sinh các thứ bệnh khi tu thiền. Thiền bệnh có 2 loại thân và tâm mà phần nhiều là rơi vào vọng tưởng vọng kiến. Kinh Viên giác (Đại 17, 920 thượng) nói: Bạch đức Thế tôn đại bi! XinNgài hãy nói về Thiềnbệnh khiến cácđại chúng đượcđiều chưa từng có, tâm ý thanh tịnh, được sự an ổn hoàn toàn. Trong tạng kinh có bộ Trị thiền bệnh bí yếu pháp 2 quyển, nói rất rõ ràng về các triệu chứng của Thiền bệnh và những phương pháp chữa trị; kinh Thủ lăng nghiêm thì nêu ra cảnh ma 5 uẩn và trình bày rõ các chứng Thiền bệnh về mặt thân và tâm. [X. chương Thích pháp ứng trong Tục cao tăng truyện Q.19].
thiền chi
(禪枝) I. Thiền Chi. Cành thiền, ví dụ trí tuệ của thiền. II. Thiền Chi. Chi là chống đỡ, là phụ trợ. Chỉ cho sự giúp sức, tạo điều kiện cho việc tọa thiền. Phần Tứ thiền xứ trong luận Tì bà sa quyển 10 (Đại 28, 484 trung) nói: Vì sao nói Thiền chi ? Thiền chi cónghĩagì ? Đáp: Thuận theo nghĩa là Chi, giúp sức nghĩa là Chi, nhiếp thủ nghĩa là Chi. III. Thiền Chi. Chỉ cho các chi phần của thiền, như giác, quán... Luận Giải thoát đạo quyển 4 (Đại 32, 416 thượng) nói: Thành tựu hạnh ngoài vào Sơ thiền; Thiền chi là giác, quán, hỉ, lạc và nhất tâm. IV. Thiền Chi. Chỉ cho các nghành, dòng trong Thiền môn, tức ví dụ sự đông đúc, thịnh vượng trong sự phát triển của Thiền tông; hoặc chỉ cho sự phân phái trong Thiền môn. Chương Thích tuệ tịnh trong Tục cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 443 trung) nói: Đuốc tuệ vốn sáng soi, Thiền chi sớm xanh tốt.
; (禪支) Thiền làthiền định; Chi là chi phần. Bốn thiền định có tất cả là 18 chi; Sơ thiền gồm 5 chi: Giác, quán, hỉ, lạc và nhất tâm; Nhị thiền gồm 4 chi: Nội tịnh, hỉ, lạc, và nhất tâm; Tam thiền gồm 5 chi: Xả, niệm, tuệ(trí), lạc và nhất tâm; Tứ thiền gồm 4 chi: Bất khổ bất lạc, xả, niệm, và nhất tâm.[X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.7]. (xt. Tứ Thiền).
thiền chỉ
Serenity meditation.
thiền chứng
Xem Đẳng chí.
thiền cuồng
Mad Zen—See Cuồng Thiền.
thiền các
(禪閣) I. Thiền các. Gác thiền, tức chỉ cho chùa viện của Thiền tông. Chương Đàm ma mật đa trong Lương cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 342 hạ) nói: Vào niên hiệu Nguyên gianăm đầu đời Tống, sư (Đàm ma mật đa) đi dần đến đất Thục,không bao lâu ra khỏi khe núi, sư dừng lại ở Kinh châu, tạo lập Thiền các tại chùa Trường sa. II. Thiền Các. Cũng gọi Thiền cáp(cửa nách). Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tại Nhật bản, các vị quan Nhiếp chính hay Quan bạch vào chùa xuất gia thì được gọi là Thiền các, hoặc gọi là Thiền điện hạ. [X. Sơ tổ Đạo nguyên thiền sư hòa thượng hành lục].
thiền cân
(禪巾) Cũng gọiĐầu tụ. Chỉ cho chiếc khăn của các vị Thiền tăng dùng để chít đầu. Chiếc khăn mà Cư sĩ Duy ma đội trong bức tượng vẽ chính là Thiền cân. Môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Kệ rằng: Đầu đội khăn thiền ngồi phương trượng.Đương cơ im lặng khác nghìn trùng; Văn thù cử chúng cùng khen ngợi, Thiên nữ tung hoa giữa cõi không.
thiền cúc
(禪毱) Tức quả cầu lông. Nếu người tọa thiền mà ngủ gật thì bị némbằngquả cầu lông cho tỉnh ngủ. Theo luật Thập tụng quyển 40 thì có 15 trường hợp được ném cầu lông vào người khác: Một làvìthương xót, hai là không để người ấy làm não người khác, ba là ngủ gật, bốn là dựa đầu vào vách, năm là duỗi chân. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Cầu lông dùng để ném người ngũ gật khiến họ tỉnh ngủ. [X. luận Đại trí độ Q.91; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 2; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 2; Pháp uyển châu lâm Q.32].
thiền cư
A meditation abode; to dwell in meditation; a hermitage; a hermit monk.
; 1) Một nơi để tu tập thiền định: A meditation abode—See Thiền Đường. 2) Vào Thiền: To dwell in meditation. 3) Thiền Tăng: A hermit monk.
thiền cầu
Quả cầu lông dùng để ném đánh thức người tu thiền ngủ gật (trong Luật Thập Tụng, Đức Phật dạy: “Có thầy tu ngủ gật trong lúc tọa thiền, hãy lấy nước gội đầu. Nếu cứ ngủ gật nữa thì lấy quả cầu lông mà ném. Nếu vẫn cứ còn ngủ gật thì lấy Thiền trượng mà đánh)—A ball of hair or feather used to throw at and awaken those who fell asleep during meditation.
thiền duyệt
Joy of the mystic trance; joy derived from meditation.
; Tâm thần khoan khoái vui thích của người nhập vào thiền định—Joy of the mystic trance.
; (禪悅) Niềm vui trongthiền định. Người vào thiền định, tâm được tự tại, an vui. Phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm (Đại 9, 432 trung) nói: Nếu khi thụ trai, nên nguyện cho chúng sinh thiền duyệt là thức ăn, tràn đầy pháp hỉ. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma (Đại 14, 539 thượng) nói: Hiện có quyến thuộc, thường ưa xa lìa; tuy mặc đồ trang sức quí giá nhưng dùng tướng hảo nghiêm thân; tuy vẫn ăn uống nhưng lấy thiền duyệt làm vị.
thiền duyệt thực
Nourishing powers from meditation.
; Sức mạnh nuôi dưỡng tâm thức của Thiền, khi nhập vào thiền định thì thân tâm nhẹ nhàng khoan khoái giúp trưởng dưỡng thân thể và huệ mạng—The nourishing powers and the joy of the mystic trance of Zen.
; (禪悅食) Thức ăn bằng niềm vui thiền định, 1 trong 2 thứ thức ăn, 1 trong 9 thứ thức ăn.Người vào thiền định, thân tâm an vui tự tại, có công năng trưởng dưỡng nhục thể, giúp ích tuệ mệnh, giống như thực vật có công năng nuôi lớn thể xác, duy trì tinh thần, cho nên gọi là Thiền duyệt thực. Phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 27 hạ) nói: Chúng sinh ở cõi nước ấy thường dùng 2 thứ thức ăn: Một là pháp hỉ thực, hai là thiền duyệt thực. Tức ăn bằng niềm vui pháp và niềm vui thiền định. KinhTâm địaquánquyển 5 (Đại 3, 314 hạ) nói: Chỉ có pháp hỉ thiền duyệt thực là thức ăn của các bậc Thánh hiền. (xt. Cửu Thực, Nhị Thực).
Thiền duyệt 禪悦
[ja] ゼンエツ zen'etsu ||| The bliss one experiences in meditation. => Niềm vui và an lạc hưởng được khi tu tập thiền.
thiền gia
Thiền Tông—Thiền Môn. 1) Người tu thiền: Meditator. 2) Phật Tử: Buddhist. 3) Thiền Tông: The Ch'an Sect.
thiền gia qui giám
(禪家龜鑑) Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng người Triều tiên là ngài Thanh hư Hưu tĩnh soạn, được thu vào Vạn tụctạngtập 112. Sách này nói về yếu chỉ của công phu tham thiền và có phụ thêm phần lược giải. Nội dung trình bày về hơn 80 điều mục như: Nhất vật bất sinh bất diệt, Tâm Phật chúng sinh, Thiền giáo nhị đồ, Tổ sư công án, Thoại đầu công phu, Vô sinh không, Giới định tuệ, Bố thí trì giới nhẫn nhục tinh tiến, Trì chú lễ bái niệm Phật, Thính kinh khán kinh; Xuất gia tu đạo, Vô thường, Sám hối, Lâm chung, Tông sư, Ngũ gia gia phong, Lâm tế tông chỉ... Toàn sách có trưng dẫn các kinh và rất nhiều luận thuyết của các nhà; chẳng hạn như kinh Hư không tạng, kinh Tư ích, kinh Niết bàn, kinh Phạm võng, kinh Nhân quả, Truyền đăng lục, các sách của Trang tử và thuyết của các Thiền sư: Lục tổ, Thần hội, Vĩnh gia, Ngưỡng sơn, Vân môn, Bách trượng, Hoàng bá... Ở đầu quyển có lời tựa của soạn giả được viết vào năm Gia tĩnh 43 (1564) đời Minh, ở cuối quyển thì có lời bạt của đệ tử soạn giả là Tùng vân Duy chính được viết vào năm Vạn lịch thứ 7 (1579) đời Minh. Sách này được xem là tác phẩm tiêu biểu của ngài Hưu tĩnh, là sách nhập môn không thể thiếu đối với những người tu Thiền tạiTriều tiên. Ngoài ra, ngài Hưu tĩnh còn soạn Nho gia qui giám, Đạo gia qui giám, cùng với Thiền gia qui giám được gọi chung là Tam Gia Qui Giám. [X. Thiền tịch chí; Lí triều Phật giáo (Cao kiều hanh)].
Thiền Gia Quy Giám 禪家龜鑑
[ja] ゼンケキカン Zenke kikan ||| Sŏn'ga kwigam by Hyujŏng 休靜; HPC 7.634c-646a. A collection of teachings and aphorisms from classical Chan and pre-Chan literature offering instruction on Chan practice, along with commentary by Hyujŏng. An important practice manual in Korean Sŏn Buddhism. => Zenke kikan (j); Sŏn'ga kwigam (k); Của ngài Hưu Tịnh (k: Hyujŏng 休靜). Sưu tập những lời dạy và chỉ thị từ các kinh điển Thiền và các tác phẩm văn học trước Thiền tông Cao ly , kèm theo chú giải của ngài Hưu Tịnh nhằm đáp ứng cho việc tu thiền. Đây là cuốn cẩm nang thực hành rất quan trọng trong Phật giáo Thiền tông Cao Ly.
thiền gian
(禪間) Chỉ cho định Trung gian giữa định Căn bản của Sơ thiền thiên và định Cận phần của Nhị thiền thiên. Thiền định đạt được 4 chi quán, hỉ, lạc và nhất tâm của định Trung gian này thì được gọi là Định Thiền gian vô giác hữu quán; còn Thiền định đạt được 4 chi bất khổ bất lạc, xả, niệm và nhất tâm của Đệ tứ thiền thì gọi là Định Thiền gian vô giác vô quán. [X.luận Xá lợi phất a tì đàm Q.15, 16].
thiền giáo
The teaching of Thiền tông. Also thiền the esoteric tradition and giáo the teaching of the scriptures.
; 1) Giáo pháp nhà Thiền: Giáo thuyết xiển dương tông chỉ nhà Thiền (trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật)—The teaching of the Ch'an (Zen) sect. 2) Thiền và Giáo: Thiền Tông (bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền) và Giáo Tông (lấy học và hiểu làm chính yếu)—The esoteric tradition and the teaching of the scriptures.
; (禪教) I. Thiền Giáo. Giáo pháp của Thiền tông. Tức chỉ cho giáo thuyết phát huy yếu chỉ Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật của Thiền. [X. Tục cao tăng truyện Q.16] II. Thiền Giáo. Từ ngữ gọi chung Thiền và Giáo. Tức là Thiền tông và Giáo tông. Chỉ cho Thiền tông chủ trương bất lập văn tự và Giáo tông lấy học vấn làm cốt lõi. Hoặc chỉ cho pháp môn được thuyết minh trong 3 tạng là Giáo và tông chỉ được truyền riêng ngoài giáo là Thiền. [X. Tam quốc Phật pháp truyền thông duyên khởi Q.thượng].
thiền giới
(禪戒) Cũng gọi Đạt ma nhất tâm giới, Đạt ma nhất thừa giới, Thiền môn đại giới, Thiền môn giới, Phật tổ chính truyền bồ tát giới. Chỉ cho giới luật do Thiền môn truyền, tức là giới Bồ tát Đại thừado 28 vị Tổ ở Ấn độ theo thứ tự trao truyền cho nhau. Còn tông Tào động thì lấy 3 giới Qui y, 3 giới Tụ tịnh và 10 giới Trọng cấm gồm 16 điều làm nội dung Thiền giới, cho nên cũng gọi là Thập lục điều giới. Thiền giới bắt nguồn từ kinh Phạm võng, nội dung cụ thể thì lấy Nhất tâm giới văn của Tổ Đạt ma làm căn cứ. Theo điều Thụ giới trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 của ngài Tông trách đời Tống thì tham thiền hỏi đạo lấy giới luật làm đầu. Vào đời Đường, Trung quốc đã có thuyết Thiền giới, ngài Tông trách đời Tống lại đề xướng thuyết thụ giới; ngài Vĩnh minh Diên thọ cũng đề xướng giới hạnh, truyền giới Bồ tát cho 4 chúng, đây đều là những bằng chứng về việc hoằng truyền Thiền giới.Giới luật vốn là 1 loại qui luật đạo đức, nhưng đối với Thiền giới lại chủ trương Phật tâm tức giới, nên mới có Phật tâm giới, Phật tính giới... tức lấy tu tập tọa thiền làm việc trì giới; nếu nói theo nghĩa Thiền giới nhất trí thì Thiền giới hoàn toàn không mang ý vị giới pháp của Thiền tông. Ngoài ra, Thiền định và Giới luật, hoặc Thiền tông và Giới luật đều gọi chung là Thiền giới.[X. Vạn thiện đồng qui tập Q.6; Vĩnh minh tự giác thiền sư tự hành lục; Tống cao tăng truyện Q.8; Sa di luật nghi yếu lược].
thiền hoá
(禪化) Sự hóa đạo, giáo hóa trong Thiền môn. Chương Thích huyền cao trong Lương cao tăng truyện quyển 11 (Đại 50, 397 hạ) nói: Đảo cữu Dương bình vương xã thỉnh ngài Huyền cao cùng về kinh đô nước Ngụy, sau khi đến Bình thành thì mở rộng Thiền hóa; Thái tử nước Ngụy là Thác bạt thờ ngài Huyền cao làmthầy. [X. Lan khê Hòa thượng hành thực].
thiền huệ
Dhyāna-Prajā (S), Dhyana wisdom Thiền trí, Thiền định và trí huệ.
; Thiền dịnh và trí huệ (y vào hai món nầy thì có thể nhiếp hết thảy các hành chứng)—The mystic trance and wisdom.
; (禪慧) Thiền định và trí tuệ, nương nhờ 2 pháp này thì nhiếp được tất cả hành chứng. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung) nói: Dùng thiền tuệ sâu xa để mở đường cho mọi người. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1].
thiền hà
The dhyàna river.
; 1) Thiền định được ví như dòng sông Thiền dập tắt lửa tâm: The dhyana river, i.e. the mystic trance like a river extinguishes the fires of the mind. 2) Sông Ni Liên Thiền chảy ngang qua Bồ Đề Đạo Tràng: The river Nairanjana (Niladyan), which flows past Gaya.
; (禪河) I. Thiền Hà. Gọi đủ:Ấn độ ni liên thiền hà. (xt. Ni Liên Thiền Hà). II. Thiền Hà. Chỉ chothiền định. Vì nước thiền định có nănglựcdiệt tắt lửa lòng(tức phiền não), cho nên ví dụ với sông mà gọi là Thiền hà. Tích lũy Thiền hạnh, lắng tâm dần dần có thể tiêu diệt lửa tâm. Truyền thuật nhất tâm giới văn quyển hạ (Đại 74, 652 hạ) nói: Biển pháp chảy hoài, cuốn trôi lưới vô minh mà không cạn; sông Thiền(Thiền hà) chảy mãi, nhận chìm lòng phiền não màkhôngkhô.
thiền hành
Cankramāna (S), Cankamana (P)Đi quanh một nơi theo một chiều nhất định, đi một cách thong thả để giữ cho thân tâm an tĩnh.
; The methods employed in meditation; the practices or discipline of Thiền tông. Zen sect.Walking meditation.
; Hành pháp tọa thiền hay hành nghi của thiền gia—The methods employed in meditation; the practices, or disciplines, of the Ch'an school.
Thiền hòa
(禪和): còn gọi là Thiền hòa tử (禪和子), Thiền hòa giả (禪和者); tức chỉ cho người tham Thiền. Như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 20, phần Tổ Sư Cơ Duyên (祖師機緣), có đoạn: “Tằng đáo khiết trà khứ, vị đáo khiết trà khứ, Triệu Châu lão Thiền hòa, khẩu điềm tâm lí khổ (曾到喫茶去、未到喫茶去、趙州老禪和、口甜心裏苦, từng đến [bảo] uống trà đi, chưa đến [cũng bảo] uống trà đi, Triệu Châu lão Thiền sư, miệng ngọt trong tâm đắng).” Hay trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 8, bài Kết Hạ (結夏), lại có đoạn: “Nhất bách Thiền hòa tam thập châu, vô thằng tự phược vạn sơn đầu, thùy thị hộ thân thùy thị sát, bạch vân ảnh lí thiết thuyền phù (一百禪和三十州、無繩自縛萬山頭、誰是護身誰是殺、白雲影裏鐵船浮, một trăm Thiền tăng ba mươi châu, không thừng tự buộc vạn non đầu, ai kẻ hộ thân ai là giết, trắng mây trong bóng thuyền sắt trôi).”
thiền hòa
Thiền Hòa Giả—Thiền Hòa Tử—Bạn đồng tu thiền (lời xưng hô thân tình đạo vị)—Meditation-associates, or fellow monks.
thiền hòa giả
See Thiền Hòa.
thiền hòa tử
See Thiền Hòa.
thiền hóa
The transforming character of Thiền.
; Tánh chất chuyển hóa của Thiền—The transforming character of Ch'an.
Thiền Hải Thập Trân
(禪海十珍, Zenkaijicchin): 1 quyển, do Vi Lâm Đạo Bái (爲霖道霈) nhà Minh biên tập, san hành năm thứ 26 (1687) niên hiệu Khang Hy (康熙) nhà Thanh. Vi Lâm Đạo Bái—pháp từ của Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢)—đặc biệt soạn ra 10 thiên từ trong Thiền Hải Pháp Bảo (禪海法寶), ghi lời niêm vào trong cương tông và luận bình về yếu chỉ của chúng với mục đích làm sách gối đầu cho những người sơ tâm tham học. Mười thiên gồm: Thất Phật Truyền Pháp Kệ (七佛傳法偈), Nhập Đạo Tứ Hành (入道四行) của Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨), Tín Tâm Minh (信心銘) của Tam Tổ Tăng Xán (僧璨), Nhị Chủng Tam Muội (二種三昧) của Lục Tổ Huệ Năng (慧能), Chứng Đạo Ca (證道歌) của Vĩnh Gia (永嘉), Tham Đồng Khế (參同契) của Thạch Đầu (石頭), pháp ngữ của Lâm Tế (臨濟), Bảo Kính Tam Muội (寶鏡三昧) của Động Sơn (洞山), Thập Huyền Đàm (十玄談) của Đồng An (同安), và Cửu Đới (九帯) của Phù Sơn (浮山). Tác phẩm này được san hành tại Thánh Tiễn Đường (聖箭堂) ở Cổ Sơn (鼓山) và tại Nhật có bản san hành vào năm thứ 8 (1695) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿).
thiền hải thập trân
(禪海十珍) Gọi đủ: Vi lâm thiền sư thiền hải thập trân.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vi lâm Đạo bái biên tập vào đời Minh, được ấn hành vào năm Khang hi 26 (1687) đời Thanh và được thu vào Vạn tục tạng tập 126. Nội dung sách này trích lục cương tông chỉ yếu trong 10 loại pháp bảo của thiền lâm (Thiền hải thập trân): Thất Phật kệ, Nhập đạo tứ hành của Sơ tổ, Tín tâm minh của Tam tổ, Nhị chủng tam muội của Lục tổ, Chứng đạo ca của ngài Vĩnh gia, Tham đồng khế của ngài Thạch đầu, Pháp ngữ của ngài Lâm tế, Bảo kính tam muội của ngài Động sơn, Thập huyền đàm của ngài Đồng an và Cửu đới của ngài Phù sơn, mỗi loại đều có phụ thêm lời bàn để nêu rõ tiêu chuẩn cho người tham thiền học đạo. THIỀN HÒA Gọi đủ: Thiền hòa tử, Thiền hòa giả. Chỉ cho người tham thiền. Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1103 hạ) ghi: Anh em hễ mở miệng liền nói: Ta là Thiền hòa, nhưng nếubị người khác hỏi: Thế nào là Thiền? Thì trông đông, ngó tây, giống như kẻ vác biển, miệng chẳng biết nói gì.
thiền học
Zen study.
; (禪學) Chỉ cho sự học của Thiền gia, chính là pháp để thấy tính thành Phật. Tức những sách vở giảng về Thiền hoặc để giải thích thêm về mặt văn tự ngôn cú.
thiền học đại hệ
(禪學大系) Tác phẩm, 8 quyển, do Thiền học đại hệ biên soạn cục của Nhật bảnbiênsoạn, được ấn hành từ năm Minh trị 43 đến năm Đại chính thứ 4 (1910-1915). Nội dung sách này chia làm 7 bộ môn: Kinh luận, Giới nhập, Tổ lục, Thanh qui, Truyện kí, Phê phán và Tạp, thu chép các kinh lục có tính đại biểu cho Thiền.
thiền khách
Zen guest.
; (禪客) I. Thiền Khách. Chỉ cho người tham thiền, nhưng không phải chỉ giới hạn ở Thiền tăng, mà cũng bao gồm cả những người tại gia tu hành tham thiền. Lâm tế lục (Đại 47, 506 thượng) ghi: Sư hỏi: Lão hòa thượng ngủ đấy à? - Nghiêm đáp: Làm trang Thiền khách rõ ràng chẳng giống. II. Thiền Khách. Trong các chùa viện Thiền tông, khi vị Trụ trì lên tòa giảng pháp, thì trong chúng tăng chọn lấy 1 vị có tài biện luận hơn người để cùng hỏi đáp với vị Trụ trì, người được tuyển chọn này gọi là Thiền khách. Điều Thướng đườngtrong Sắc tuBách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1119 trung) nói: Những người học thời xưa, vì để giải quyết các nghi vấn nên có hỏi đáp, ban đầu không bị vướng mắc vào ngôn ngữ. Nhưng thời gian gần đây, những người gọi là Thiền khách phần nhiều không rõ nhân quả, tăng thêm thói xấu, lấy việc vấn đáp làm trò vui đùa. Từ đời Tống về sau, các chùa Thiền tông đều đặt ra chức Thiền khách, chùa lớn 2 người, chùa nhỏ 1 người. [X.môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thiền khâm
(禪襟) Từ tự xưng của thiền tăng, nghĩa là người mặc áo nhà Thiền. Ngoài ra, từ ngữ này cũng chỉ cho chúng tăng.
thiền kinh tu hành phương tiện
Xem Đạt Ma Đa la thiền kinh.
thiền kệ
(禪偈) Những câu kệ tụng do các thiện tri thức trong Thiền môn làm ra để chỉ bày phương pháp và cảnh giới tọa thiền. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, phần 1 (Đại 48, 399 hạ) nói: Giáo là do chư Phật và Bồ tát để lại; Thiền là những câu kệ do cácthiện tri thức soạn thuật. Nhưng kinh Phật thì mở rộng, bao trùm cả 8 bộ chúng trong cõi Đại thiên; còn Thiền kệ thì thu gọn, chỉ y cứ theo 1 loại căn cơ ở phương này(tức Trung quốc- ND). Bao trùm 8 chúng thì mông mênh khó dựa, còn thu gọn vào một căn cơ thì mục đích dễ đạt.
thiền luật
Thiền Tông và Luật Tông—The Ch'an and Vinaya sects, i.e. the Meditative and Disciplinary schools. ** For more information, please see Thiền Tông and Luật Tông.
Thiền lâm
(禪林): tên gọi khác của Thiền Viện (禪院), Thiền Tự (禪寺), Tùng Lâm (叢林); là đạo tràng chuyên tu tập Thiền pháp, là nơi học đồ, đồng đạo ở khắp nơi tập trung về, cùng nhau khích lệ, tinh tấn học đạo. Như trong bài Thiểm Châu Hoằng Nông Quận Ngũ Trương Tự Kinh Tạng Bi (陝州弘農郡五張寺經藏碑) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có đoạn: “Xuân viên liễu lộ, biến nhập Thiền lâm, tàm nguyệt tang tân, hồi thành Định thủy (春園柳路、變入禪林、蠶月桑津、迴成定水, vườn xuân đường liễu, nhập vào rừng Thiền, trăng tơ bến dâu, trở thành nước Định).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 12 lại có đoạn: “Bách Trượng Thanh Quy, thiên hạ Thiền lâm, tuân nhi hành chi (百丈清規、天下禪林、遵而行之, Bách Trượng Thanh Quy, các Thiền lâm trong thiên hạ, tuân theo mà thực hành).” Hoặc trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 1, phần Thích Ca Sinh Nhật (釋迦生日), cũng có đoạn: “Thích Viêm Đế thanh hòa chi hầu, nãi Như Lai giáng đản chi thời, tường quang xán xán ái Thiền lâm, thụy ái thông thông lung Phạm vũ, kiền sư thành khổn, đặc triển hạ nghi (適炎帝清和之候、乃如來降誕之時、祥光燦燦靄禪林、瑞靄蔥蔥籠梵宇、虔攄誠悃、特展賀儀, đúng Viêm Đế thanh hòa gặp lúc, là Như Lai khánh đản thời kỳ, hào quang rực rỡ ngút Thiền lâm, điềm lành lung linh bao Phạm vũ, cúi thỏa tấc thành, kính bày nghi cúng).” Một số thư tịch liên quan đến Thiền lâm như Thiền Lâm Loại Tụ (禪林類聚, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1299), 20 quyển, do Đạo Thái (道泰), Trí Cảnh (智境) nhà Nguyên biên tập; Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết (禪林寶訓筆說, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1266), 3 quyển, do Trí Tường (智祥) nhà Thanh soạn; Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寶訓音義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1262), 1 quyển, do Tỳ Kheo Đại Kiến (大建) nhà Minh soạn; Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (禪林僧寶傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1560), 30 quyển, do Huệ Hồng Giác Phạm (慧洪覺範, 1071-1128) nhà Tống soạn; Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252), 4 quyển, do Thạch Cổ Chủ Nhân Vĩnh Giác Nguyên Hiền (石鼓主人永覺元賢, 1578-1657) nhà Minh soạn; Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy (禪林僃用清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1250), 10 quyển, do Tỳ Kheo Nhất Hàm (壹咸) nhà Nguyên biên soạn; Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú (禪林寶訓合註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1263), 4 quyển, do Trương Văn Gia (張文嘉) hiệu đính, Trương Văn Hiến (張文憲) nhà Thanh tham duyệt; Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562), 15 quyển, do Sa Môn Tự Dung (自融) ở Tử Thác Sơn (紫籜山) nhà Thanh soạn; Thiền Lâm Tăng Bảo Thuận Chu (禪林寶訓順硃, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1265), 4 quyển, do Thánh Khả Đức Ngọc (聖可德玉) nhà Thanh soạn, v.v.
; 禪林; J: zenrin;|Một tên khác của Thiền viện, cũng được dùng chỉ giới thiền.
thiền lâm
Zenrin (J), A forest for meditation.
; Grove of meditation, i.e. a monastery. Monasteries are numerous as trees in a forest.
; 1) Rừng Thiền: Meditation forest or grove of meditation. 2) Tự viện hay Thiền viện: Pagoda or a monastery. 3) Tự viện hay Thiền viện nhiều như cây trên rừng: Monasteries as numerous as trees in a forest.
; (禪林) I. Thiền Lâm. Cũng gọi Tùng lâm. Tức làthiền viện, thiền tự, là đạo tràng tu hànhthiền pháp; là nơi mà người học từ khắp nơi tụhọpvề để khích lệ nhau tham thiền, học đạo. Ví dụ người về chùa viện tu hành, nhiều như cây trong rừng, nên gọi là Lâm. II. Thiền Lâm. Tức chỉ cho Thiền tông, Thiền môn. THIỀN LÂM BẢO HUẤN Cũng gọi Thiền môn bảo huấn, Thiền môn bảo huấn tập. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thiện tịnh biên soạn lại vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung thu chép các di ngữ giáo huấn của các Thiền sư đời Tống, từ ngài Hoàng long Huệ nam đời thứ 11 đến ngài Phật chiếu Chuyết am đời thứ 16, thuộc hệ thống Nam nhạc, gồm 300 thiên, cuối mỗi thiên đềucóghi rõ xuất xứ. Sách này đầu tiên do 2 Thiền sư Diệu hỉ Phổ giác và Trúc am Sĩ khuê thu chép ở chùa Vân môn tại tỉnh Giang tây, trải qua nhiều năm bị thất tán, đến khoảng năm Thuần hi (1174-1189) đời Nam Tống, ngài Tịnh thiện được 1 vị Lão tăng là Tổ an tặng cho bộ sách này. Nhưng rất tiếc vì quá lâu năm, đã bị mọt làm tổn hại, đầu đuôi thiếu sót, nên ngài Tịnh thiện phải sưu tầm trong các ngữ lục, truyện kí thêm vào để biên soạn lại, tức là bộ Thiền lâm bảo huấn hiện hành. Sách này có các bộ chú thích như Thiền lâm bảo huấn hợp chú 4 quyển, do Trương văn gia kiểm xét đính chính lại, Thiền lâm bảo huấn niêm tụng 1 quyển, do ngài Hành thịnh soạn, Thiền lâm bảo huấn bút thuyết 3 quyển, do ngài Trí tường soạn... Sách này xưa nay rất thịnh hành trong Thiền lâm, thường được xếp vào loại sách nhập môn cho các sa di mới học.[X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Thiền tịch chí Q.hạ]. THIỀN LÂM BỊ DỤNG THANH QUI Cũng gọi Bị dụng thanh qui, Trạch sơn thanh qui, Chí đại thanh qui, Bị qui.Thanh qui, 10 quyển, do ngài Trạch sơn Nhất hàm biên soạn, hoàn thành vào năm Chí đại thứ 4 (1311) đời vua Vũ tông nhà Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 112.Nội dung sách này gồm có 169 hạng mục nói về các nghi qui, lễ pháp... trong Thiền lâm xưa nay như: Thánh tiết thăng tòa phúng kinh, Tọa thiền, Lăng nghiêm hội, Chuyên sứ thỉnh Trụ trì, Bách trượng qui kính văn, Trì phạm quĩ nghi, Đương đại trụ trì niết bàn, Nhật dụng thanh qui... [X. Thiền tịch chí Q.thượng]. THIỀN LÂM CHỨC VỊ Chỉ cho ngôi thứ các chức vụ được thiết lập trong các chùa viện của Thiền tông, bất luận trên hay dưới đều theo pháp phổ thỉnh, đều tham gia lao động để tự cung, tự cấp, phân công chức vụ để cùng làm.Cứ theo Thiền lâm loại tụ quyển 9 thì các chức vị chấp sự được đặt ra trong thanh qui ngày xưa gồm có: Thủ tọa, điện chủ, Tạng chủ, Trang chủ, Điển tọa, Duy na, Giám viện, Thị giả... Nhưng sự tổ chức của các chùa viện đời sau mỗi ngày thêm to lớn hơn, gia phong mỗi chùa không giống nhau, vị Trụ trì của 1 chùa phần nhiều tùy thời mà đặt ra, tự lập các chấp sự, cho nên danh mục rất nhiều, có tới 23 cho đến 80 loại.Ở Trung quốc, từ đời Diêu Tần về sau, dần dần hình thành chế độ quản lí chùa viện, tùy theo công việc trong chùa mà đặt ra các chức vị như: Thượng tọa, Tự chủ và Duy na, gọi là Tam cương. Trong đó, Thượng tọa là vị Trưởng lão trongđại chúng tỉ khưu, Tự chủ phụ trách công việc xây dựng, quản lí điện đường, còn Duy na thì chiếu theo thanh qui của chùa, chỉ huy các việc hàng ngày. Từ đời Đường về sau, chức vị trong các chùa viện Thiền tông thêm nhiều, người chủ quản 1 chùa tức biểu thị ý nghĩa giữ cho chính pháp trụ lâu ở thế gian, gọi là Trụ trì, hoặc Phương trượng, Đường đầu hòa thượng... Dưới vị Trụ trì là các chấp sự; người làm các việc trong chùa và theo hầu bên cạnh vị Trụ trì, gọi là Thị giả. Theo chương Lưỡng tự trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 4 thìtrong các chùa viện lớn của Thiền tông có đặt ra 6 vị Tri sự Đông tự và 6 vị Đầu thủ Tây tự. Các chức vị được xếp bên đông Pháp đường, gọi chung là Tri sự; các chức vị được xếp bêntây Pháp đường, gọi chung là Đầu thủ. Tri sự có nghĩa là người làm các việc, cũng gọi là Chủ sự, Chấp sự. Sáutri sự tức chỉ cho 6 chức vị làĐô tự, Giám tự, Phó tự, Duy na,Điển tọa và Trực tuế. 1. Đô tự(cũng gọi Đô tổng, Đô giám tự, Đô quản, Khố tư): Tức là chức vị cao nhất trông coi tổng quát mọi việc trong chùa. 2. Giám tự(cũng gọi Giám viện, Viện chủ, Tự chủ, Viện tể, Chủ thủ, Quyền quản): Chức vị kế sauĐô tự, có nhiệm vụ giám sát các việc trong chùa. 3. Phó tự(cũng gọi là Khố đầu, Tri khố, Quĩ đầu, Tài bạch, Chưởng tài): Người trông coi, tính toán việc chi thu. Chức vị trên Duy na gọi là Thượng phó tự; chức vị dưới Duy na gọi là Hạ phó tự. 4. Duy na: Gọi tắt của 2 từ Cương duy và Yết ma đà na (Phạm:Karma-dàna, Hán dịch là Thụ sự, cũng gọi làĐô duy na, Hán dịch là Duyệt chúng). Tức là chức vị coi về uy nghi tiến thoáicủa chúng tăng. 5. Điển tọa: Người phụ trách các việc ăn uống,giường tòa... 6. Trực tuế: Người coi về các việc xây cất, cày cấy...; chức vị này tuy hàm ý nghĩa nhiệm kì 1 năm, nhưng cũng có khi nhiệm kì không nhất định là 1 năm. Ngoài ra, trong 6 Tri sự, trừ Đô tự, 5 chức vị còn lại gọi là Ngũ tri sự. Bốn chức: Giám tự, Duy na, Điển tọa và Trực tuế, gọi là Chủ sự tứ viên. Ở giữa Đô tự và Giám tự có đặt thêm 1 chức Đô văn. Người chuyên môn quản lí việc chi thu tiền bạc, thóc gạo... của thường trụ, gọi là Đề điểm. Đầu thủcó nghĩa là người đứng đầu lãnh đạo. SáuĐầu thủ tức là chỉ cho 6 chức vị: Thủ tọa, Thư kí, Tạng chủ, Tri khách, Tri dục và Tri điện. 1.Thủ tọa(cũng gọiĐệ nhất tòa, Tọa nguyên, Thiền đầu, Thủ chúng): Đồng nghĩa với Thượng tọa; chỉ cho người ở địa vị đầu trong đại chúng mà về mặt nghi biểu xứng đáng làm khuôn phép cho đại chúng. Trong đó, người lãnh chúng ở phía trước bản xuất nhập trong Tăng đường(bản này được đặt ở 2 bên khám thờ tượng Thánh tăng ở chính giữa Tăng đường), gọi là Tiền đường thủ tọa; còn người lãnh chúng ở phía sau bản xuất nhập thì gọi là Hậu đường thủ tọa. Trong 2 vị này, lấy Tiền đường thủ tọa làm địa vị cao nhất. Nhưng tại Nhật bản, từ thời đại Đức xuyên về sau, Tiền đường thủ tọa gọi là Tiền đường, Đơn liêu, hoặc Tọa nguyên, còn Hậu đường thủ tọa thì gọi tắt là Thủ tọa. Từ trong các vị Tiền đường thủ tọa chọn ra 1 vị có đức cao vọng trọng, gọi là Danh đức thủ tọa. Vị có đức ngoài các vị Thủ tọa đầu thủ được nghinh thỉnh làm người chỉ đạo đại chúng, gọi là Lập tăng thủ tọa. Các vị tôn túc như Trụ trì thuộc các sơn môn khác được đón mời đến để đảm nhiệm chức vị Thủ tọa, gọi là Khước lai thủ tọa. 2. Thư kí(cũng gọi Ngoại sử, Ngoại kí, Kí thất): Tức người phụ trách việc văn thư. Đối lại, Thư trạng thị giả cũng gọi Nội sử, Nội kí. 3. Tạng chủ(cũng gọi Tri tạng, Tạng ti, Kính tạng đường chủ): Chỉ cho người trông coi việc thu cất tạng kinh như tranh tượng, kinh sách... 4. Tri khách(cũng gọiĐiển khách,Điển tân, Khách ti): Tức người phụ trách việc tiếp đãi các tân khách từ các nơi đến. 5. Tri dục(cũng gọi Dục chủ): Người coi về nhà tắm và việc tắm gội, dưới quyền có chức Dục đầu phụ tá. 6. Tri điện(cũng gọi Điện chủ): Người chuyên trách việc đèn hương và quét tước trên điện Phật và Pháp đường. Trong 6 chức vị Đầu thủ, ngoài Tri điện ra, 6 chức còn lại gọi là Ngũ đầu thủ. Trong đó, 5 vị: Tiền đường thủ tọa, Hậu đường thủ tọa, Đông tạng chủ, Tây tạng chủ và Thư kí, được thay thế vị Trụ trì phụ trách việc Tiểu tham, vì vậy, 5 vị này cũng gọi là Bỉnh phất ngũ đầu thủ(Bình phất nghĩa là tay cầm cây phất trần, tượng trưng cho việc thuyết pháp khai thị). Khi thiền tăng cử hành pháp hội trên điện Phật, hoặc ở Pháp đường, thì vị Trụ trì đứng chính giữa, còn 6 vị Tri sự và 6 vị Đầu thủ chia ban đứng xếp hàng 2 bên. Sáu Tri sự là Đông tự, 6 Đầu thủ là Tây tự, gọi chung là Lưỡng tự, hoặc gọi là Lưỡng ban. Nhưng theo Hoàng bá thanh qui của Nhật bản thì Thủ tọa, Tây đường, Hậu đường, Đường chủ, Thư kí, Tri tạng, Tri khách, Tri dục, Trượng thị và Giám thu là Tây tự; còn Đô tự, Giám tự, Duy na, Phó tự, Điển tọa, Trực tuế, Duyệt chúng, Khách đường chủ, Kì cựu và Cư sĩ là Đông tự. Trong Thiền lâm, chức vi Thị giả tùy theo tính chất của công việc mà có các tên gọi khác nhau. Nếu theo hầu Thánh tăng thờ ở Tăng đường thì gọi là Thánh tăng thị giả; theo hầu bên cạnh vị Trụ trì thì gọi là Phương trượng thị giả. Trong các Phương trượng thị giả, người theo hầu vị Trụ trì để ghi chép pháp ngữ trong các buổi thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, khai thị, niệm tụng... thì gọi là Thiêu hương thị giả, cũng gọi Thị hương; người phụ trách việc thư tín, văn thư... của vị Trụ trì, gọi là Thư trạng thị giả; người tiếp đãi tân khách của vịTrụ trì, gọi là Thỉnh khách thị giả, hoặc gọi là Thị khách; người chuyên trách việc ăn uống của vị Trụ trì, gọi là Thang dược thị giả, hoặc gọi là Thị dược; người quản lí các tài vật của vị Trụ trì, gọi là Y bát thị giả, hoặc gọi là Thị y. Năm chức vụ nói trên, gọi là Ngũ thị giả. Trong đó, 3 vị thị giả: Thiêu hương, Thư trạng và Thỉnh khách, được gọi chung là Sơn môn tam đại thị giả. Ngoài ra, có thuyết cho rằng Cân bình, Ứng khách, Thư lục, Y bát, Trà phạn, Cán biện là 6 thị giả. Khi cử hành pháp hội, các vị thị giả: Thiêu hương, Thư trạng, Thỉnh khách và Thang dược, được xếp kế sau Tây tự đầu thủ, gọi là Lập ban tiểu đầu thủ; còn các vị: Đường đầu thị giả(Phương trượng thị giả), Thánh tăng thị giả, Diên thọ đường chủ, Lô đầu, Chúng liêu liêu chủ... thì gọi là Viện trung tiểu đầu thủ. Lại người ở trongliêu thị giả mà không đảm nhiệm 1 chức vụ nhất định nào, thì gọi là Bất li vụ thị giả. Ngoài ra còn có Bỉnh phất thị giả (do Thánh tăng thị giả kiêm nhiệm), Thị chân thị giả(hầu hạ vong linh các bậc cao đức)... Trong các chức nói trên, thì Đô tự, Duy na, Thiêu hương thị giả là các chức quan trọng, được gọi là Sơn môn tam đại thiền sư. Những vị nghỉ chức Tri sự và những vị thôi chức Thị giả, Tạng chủ và Thư trạng, được gọi là Cần cựu. Kế sau, là Liêu nguyên, người trông coi các liêu. Dưới Liêu nguyên, có Liêu trưởng, Liêu chủ(Tri liêu), Phó liêu, Vọng liêu... Đại chúng sở thuộc các Liêu chủ gọi là Động cước. Từ Liêu nguyên đến người phụ trách các việc lặt vặt, gọi chung là Biện sự. Y cứ vào chức vụ phụ trách, người Biện sự thông thường được gọi là Chủ, hoặc Đầu(tức đứng đầu một việc nào đó). Chẳng hạn như: Các chủ, Tháp chủ(Thị chân), Diên thọ đường chủ (Đường chủ, Niết bàn đường đầu), Phạn đầu, Chúc đầu, Thang đầu, Trà đầu, Thái đầu, Khương đầu, Tương đầu, Mễ đầu, Mạch đầu, Ma đầu, Cốc đầu, Viên đầu(hoặc gọi làViên chủ), Ma đầu(Ma chủ), Thủy đầu, Hỏa đầu, Sài đầu, Khôi đầu, Lô đầu, Oa đầu, Đăng đầu, Dũng đầu, Thụ đầu, Chung đầu, Tịnh đầu(hoặc gọilàTrì tịnh), Trang chủ(cũng gọi Đô trang), Giám thu, Giải viện chủ, Nhai phường hóa chủ... Nghĩa là: Các chủ là người phụ trách trông nom gác để kinh sách, Tháp chủ là người phụ trách việc đèn hương, quét tước tháp Phật và tháp các vị Tổ sư; Diên thọ đường chủ là người phụ trách trông coi nhà dưỡng bệnh, dưỡng lão; Phạn đầu là người phụ trách việc cơm nước; Chúc đầu phụ trách bữa ăn cháo sáng; Thang đầu phụ trách lấy nước nóng; Trà đầu phụ trách việc pha trà, Thái đầu phụ trách hái, nhặt rau; Khương đầu phụ trách việc lấy gừng; Tương đầu phụ trách việc cung cấp nước tương; Mễ đầu trông coi về gạo; Mạch đầu trông coi về lúa; Ma đầu trông coi về vừng (mè), Cốc đầu trông coi về ngũ cốc, Viên đầu phụ trách việc làm vườn, Ma đầu phụ trách việc xay thóc, giã gạo; Thủy đầu phụ trách việc gánh nước, Hỏa đầu phụ trách việc đun nấu, Sài đầu phụ trách việc củi đóm, Khôi đầu phụ trách việc lấy than, Lô đầu phụ trách việc đốt lò sưởi, Oa đầu phụ trách việc rửa cọ nồi niêu xoong chảo..., Đăng đầu phụ trách việc đốt đèn các liêu phòng; Dũng đầu phụ trách việc đóng và bảo quản các loại thùng để lấy và chứa nước, Thụ đầu phụ trách việc chăm sóc cây cảnh..., Chung đầu phụ trách thỉnh chuông, Tịnh đầu phụ trách việc dọn dẹp, quét tước nhà cầu xí; Viên chủ phụ trách việc làm vườn trồng rau; Trang chủ phụ trách việc cày cấy; Giải viện chủ phụ trách việc mua bán, tiếp đãi các quan chức... Nhai phương hóa chủ, tức người đi khuyến hóa trong phố phường, làng xóm để có được các vật dụng về cung cấp cho chúng tăng.Nơi quản lí các việc xây cất, tạo tác gọi là Tu tạo cục, dưới cục này có Giám tác (người giám sát công việc) và Tác đầu(người thực hiện công trình). Chức vị coi sóc giữ gìn giưòng chiếu, áo bát của chúng tăng trong Tăng đường, gọi là Trực đường. Trực ban vào tháng nào, ngày nào theo thứ tự gọi là Trực nguyệt, Trực nhật. Khi cáo hương phổ thuyết, người thuộc lòng các nghi lễ, lãnh đạo những người mới đến tham học, đứng đầu thay thế họ cử hành nghi thức, gọi là Tứ lai tham đầu, hoặc gọi tắt là Tham đầu. Nếu là nghi thức thuộc đại chúng cùng tham gia một lượt thì do vị Thủ tọa đảm nhiệm, người tham đầu phụ tá, gọi là Phó tham, người bổ sung sau, gọi là Vọng tham. Dưới vị Tham đầu, chức vị đứng đầu 1 tổ 3 người, gọi là Tiểu tham đầu. Tham đầu hành giả (Tham đầu của các hành giả) là tên gọi của người chỉ huy ở địa vị đầu trong các hành giả, nhưng khác với Tham đầu. Người đảm nhiệm việc tụng chú trong hội Lăng nghiêm, gọi là Lăng nghiêm đầu; cứ đó suy ra thì còn có Bát nhã đầu, Hoa nghiêm đầu, Di đà đầu... Ngoài ra, khi quan lại đến chùa thỉnh cầu vị Trụ trì thuyết pháp, thì chọn ra 1 người từ trong chúng, thay mặt đại chúng để hỏi đáp với vị Trụ trì, người ấy được gọi là Thiền khách; người tạm thời được bổ sung để hỏi đáp với vị Trụ trì, gọi là Phóng thiền khách. Người luân phiên chấp hành việc chùa gọi là Trực sảnh(sảnh là nơi làm việc chung trong chùa viện). Người đi tuần tra lúc nửa đêm, gọi là Tuần canh. Người được sai đi làm các việc ở ngoài, gọi là Chuyên sứ. Người coi về bếp núc gọi là Hỏa khách, Hỏa điền, Hỏa bạn. Người khiêng kiệu gọi là Kiệu phan. Ngoài ra, những chức phục vụ trong chùa viện, cũng được gọi là Hành giả. Nơi ở của các Hành giả gọi là Hành đường; người đứng đầu Hành đường, gọi là Hành đường chủ, hoặc gọi tắt là Đường chủ. Hành giả có những người đã cạo tóc, cũng có những người để tóc và mang theo gia quyến, rất nhiều chủng loại. Chẳng hạn như Tham đầu hành giả; Phó tham hành giả, Chấp cục hành giả(gọi chung Phương trượng hành giả, Lục cục hành giả...), Khố ti hành giả(phụ tá Đô tự), Đường ti hành giả(phụ tá Duy na), Khố tử(hành giả ở liêu Phó tự), Khách đầu hành giả, Trà đầu hành giả, Hát thực hành giả(tên gọi người xướng các thức ăn và nước uống trong bữa ăn. Hát nghĩa là xướng), Cung đầu hành giả(cũng gọi Cung quá hành giả) tức người phân phối các thức ăn uống), Trực điện hành giả, Chúng liêu hành giả, Môn đầu hành giả. Những hành giả trẻ tuổi gọi là Đồng hành, Đạo giả, Đồng thị, Tăng đồng, hoặc gọi là Khu ô sa di, Sa hát(người xướng các thức ăn uống, tương đương với vị sa di Hát thực), Thính khiếu. Cùng loại với Hành giả là những Tịnh nhân(cũng gọi Khổ hạnh), chỉ cho người tại gia chuyên phục vụ chúng tăng.Trong Thiền lâm có khá nhiều chức vị, giống như 2 ban Văn, Võ của triều đình, để cùng nhau gìn giữ pháp mệnh của chùa viện. Nhưng chế độ chức vị này, từ đời Tống về sau, các tông dung hợp, đối với các chùa viện tương đối lớn nói chung đều theo chế độ này, còn các chùa viện nhỏ thì không có được 1 phần nhỏ của chế độ này. [X.chương Đại chúng trong Sắc tuBách trượng thanh qui Q.4; Thiền uyển thanh qui Q.2, 3, 4, 8; Bách trượng thanh qui chứng nghĩa kí Q.6; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Phật Giáo Giáo Chế, Tùng Lâm).
Thiền Lâm Bảo Huấn
(禪林寳訓, Zenrinhōkun): 2 quyển, do Tịnh Thiện (淨善) nhà Tống thâu tập, san hành vào năm thứ 11 (1378) niên hiệu Hồng Võ (洪武). Ban đầu nó có tên gọi là Thiền Môn Bảo Huấn (禪門寳訓) và chẳng biết khi nào sau đó được đổi thành Thiền Lâm Bảo Huấn. Từ các truyền ký, Ngữ Lục chư vị thánh đức xưa kia, của Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) và Trúc Am Sĩ Khuê (竹菴士珪) đã biên soạn hơn 100 sự việc đáng làm mô phạm cho hàng học nhân, sau đó Tịnh Thiện bổ sung, biên tập lại làm thành hơn 300 thiên và chia bộ này thành 2 quyển thượng, hạ. Vốn xưa nay tác phẩm này được lưu hành rộng rãi trong Thiền lâm, trong phần cuối sách có Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寳訓音義, Tục Tạng 2, 18, 2) Đại Kiến (大建) nhà Minh hiệu đính, Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú (禪林寳訓合注, Tục Tạng 2, 18, 2) do Trương Văn Gia (張文嘉) nhà Thanh hiệu đính, Thiền Lâm Bảo Huấn Niêm Tụng (禪林寳訓拈頌, Tục Tạng 2, 18, 2) do Hành Thạnh (行盛) nhà Thanh soạn, Thiền Lâm Bảo Huấn Thuận Chu (禪林寳訓順硃, Tục Tạng 2, 18, 2) do Thánh Khả Đức Ngọc (聖德可玉) nhà Thanh soạn và Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết (禪林寳訓筆說, Tục Tạng 2, 18, 4) do Trí Tường (智祥) nhà Thanh soạn, v.v.
thiền lâm loại tụ
(禪林類聚) Ngữ lục, 20 quyển, do các ngài Đạo thái, Trí cảnh biên tập vào đời Nguyên được thu vàoVạn tụctạng tập 117. Sách này căn cứ vào các ngữ lục của chư Tổ, Truyền đăng lục... thu chép những cơ duyên ngữ yếu của các Thiền sư mà thành. Nội dung sách này gồm 102 loại như: Đế vương, Tế thần, Nho sĩ, Phật tổ, Pháp thân, Phật tượng, Già lam, Điện đường, Tháp miếu, Trượng thất, Môn hộ, Thiền định, Kinh giáo, Ni nữ, Giới luật, Lễ bái, Duyên hóa, Thần dị, Vấn tật, Phục sức, Pháp khí, Trai chúc, Hương đăng, Sư tử tượng, Qui ngư(rùa, cá)... Trong đó, phần lớn thu chép về sự thị chúng của Thiền gia, sự vấn đáp, thương lượng giữa sư gia và người học, vấn thoại tham cứu, hành thực của Thiền gia... Ngoài ra, trong sách cũng thấy rải rác hành tích của đức Thích tôn, sự hỏi pháp của đệ tử Phật, sự vấn đáp, nghị luận giữa các sư Ấn độ... [X.Thiền tịch chí Q.thượng].
thiền lâm tăng bảo truyện
(禪林僧寶傳) Gọi tắt: Tăng bảo truyện. Truyện kí, 30 quyển, do ngài Tuệ hồng Giác phạm (1071-1128) soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 137.Sách này ghi chép truyện kí của 81 vị Thiền tăng đờiĐường và Tống. Cứ theo bài tựa Tăng bảo truyện trong Thạch môn văn tự thiền quyển 23 thì sách này đã y cứ vào Ngũ gia truyện do Thiền sư Đạt quán Đàm dĩnh soạn mà bổ sung thêm, rồi lại thu chép truyện kí của các vị tăng kiệt xuất thuộc 2 tông Vân môn, Lâm tế mà thành. Cuối sách có phụ thêm Bổ thiền lâm tăng bảo truyện 1 quyển, do ngài Chu phong Am khánh lão soạn, nói về 3 vị: Pháp diễn, Ngộ tân và Hoài chí. Về những tác phẩm tiếp theo để bổ túc cho sách này thì có: Tăng bảo chính tục truyện, 7 quyển, do ngài Tổ tú soạn, Nam Tống Nguyên Minh Thiền lâm tăng bảo truyện, 15 quyển, do ngài Tự dung soạn vào đời Thanh, đều được thu vào Vạn tục tạng tập 137. [X. Phật tổ thống kỉ Q.46; Phật tổ lịch đại thông tải Q.29; Thích thị kê cổ lược Q.4; Thiền tịch chí Q.thượng].
thiền lâm tượng khí tiên
(禪林象器箋) Cũng gọi Thiền tông từ điển thiền lâm tượng khí tiên. Tác phẩm, 20 quyển, mục lục 1 quyển, do ngài Vô trước Đạo trung (1653-1744) người Nhật bản soạn, ấn hành vào năm 1741. Nội dung sách này sưu tập các dụng ngữ liên quan đến quicủ, hành sự, cơ cấu, khí vật... trong Thiền lâm, từ khởi nguồn, biến đổi cho đến ý nghĩa hiện hành của các danh mục trong Bách trượng Hoài hải cổ thanh qui cho đến các thanh qui sau này, mỗi danh mục đều có giải thích rõ ràng, tất cả có 29 loại, gồm 1724 điều. Sách này viện dẫn tất cả 484 bộ nội điển như kinh, luật, luận, sớ, tăng sử, thiềnđăng sử, thi kệ, thanh qui, Thiền gia ngữ lục... và 286 bộ ngoại điển như kinh, sử, tử, tập cùng với các tác phẩm của Trung quốc, Nhật bản về sự tướng Phật giáo, không thiên vị bất cứ tông giáo nào, Lâm tế hay Tào động. Hai mươi chín loại là: Khu giới, điện đường, tọa vị, tiết thời, linh tượng, xưng hô, chức vị, thân chi, tùng quĩ, lễ tắc, thùy thuyết, tham thỉnh, chức vụ, tạp hành, tội trách, báo đảo, phúng xướng, tế cúng, tang tiến, ngôn ngữ, kinh lục, văn sớ, bộ khoán, đồ bài, ẩm đạm, phục chương, bát khí, khí vật và tiền tài.
Thiền Lâm Tự
(禪林寺, Zenrin-ji): ngôi tự viện của Tào Động Tông; hiện tọa lạc tại Ichinomiya-shi (一宮市), Aichi-ken (愛知縣). Vào năm 970 (Thiên Lộc [天祿] nguyên niên), để hồi hướng công đức cầu nguyện siêu độ cho Đằng Nguyên Thật Lại (藤原實賴, Fujiwara-no-Saneyori), quan Chánh Nhất Vị của Tiểu Dã Cung (小野宮), Vĩ Trương (尾張, Owari), người ta đã cho tạc tượng Dược Sư Như Lai và kiến lập một ngôi chùa, lấy tên là Tiểu Dã Viện Cực Lạc Tự (小野院極樂寺). Đương thời chùa này thuộc về Thiên Thai Tông; người khai cơ là Hòa Thượng Hoa Quốc (花國). Vào năm 1019 (Khoan Nhân [寛仁] 3), nhà công khanh Đằng Nguyên Tư Bình (藤原資平, Fujiwara-no-Sukehira) mô phong theo Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), xây dựng ngay trước cổng chùa đền thờ Nhật Cát Thần Xã (日吉神社, Hiyoshi Jinja) để trấn hộ. Đến năm 1525 (Đại Vĩnh [大永] 5), Thiền Sư Tuyên Tẩu Đàm Châu (宣叟曇周) tái hưng chùa, chuyển sang Tào Động Tông và giữ mãi cho đến hôm nay. Tượng thờ chính của chùa là Dược Sư Như Lai, được an trí tại Dược Sư Đường, tương truyền do Tăng Đô Huệ Tín (惠信) tạc nên, là bảo vật vô giá của chùa.
; (禪林寺, Zenrin-ji): còn gọi là Thánh Chúng Lai Nghênh Sơn (聖眾來迎山), tục xưng là Vĩnh Quán Đường (永觀堂), là ngôi chùa trung tâm của Phái Tây Sơn (西山派) thuộc Tịnh Độ Tông; hiện tọa lạc tại Yōgandō-chō (永觀堂町), Sakyō-ku (左京區), Kyoto-shi (京都市). Vào năm 855 (niên hiệu Tề Hành [齊衡] thứ 2), Chơn Thiệu (眞紹) cải biến ngôi sơn trang của Đằng Nguyên Quan Hùng (藤原關雄) thành Vô Lượng Thọ Viện (無量壽院), làm đạo tràng cầu nguyện trấn hộ quốc gia. Sau đó, vào năm 863 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 5), chùa được ban sắc phong của triều đình với tên gọi là Thiền Lâm Tự; đến năm 877 (niên hiệu Nguyên Khánh [元慶] nguyên niên), Ngự Nguyện Đường (御願堂) được xây dựng, lãnh vức của chùa cũng được mở rộng thêm. Chư vị danh đức như Tông Duệ (宗叡), Thâm Giác (深覺), Tĩnh Biến (靜遍) thay nhau làm cho tông phong của chùa hưng thạnh; nhưng trong khoảng thời gian niên hiệu Thừa Lịch (承曆, 1077-1080), khi Luật Sư Vĩnh Quán (永觀) của Tam Luận Tông đến trú trì chùa, kiến lập Đông Nam Viện (東南院) để giảng thuyết về Tam Luận và tuyên dương pháp môn Niệm Phật. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Phật có câu chuyện liên quan đến Vĩnh Quán. Sau đó, Tịnh Âm (淨音) của Phái Tây Sơn thuộc Tịnh Độ Tông đến đây trú trì, cải đổi chùa thành đạo tràng Niệm Phật; và từ đó trở đi, chùa trở thành thánh địa của phái này. Trong vụ loạn Ứng Nhân (應仁), chùa cũng bị suy tàn, nhưng đến thời đại Giang Hộ thì phục hưng lại. Bảo vật của chùa liên quan đến Tịnh Độ Giáo có rất nhiều như Sơn Việt A Di Đà Đồ (山越阿彌陀圖), Lai Nghênh Đồ (來迎圖), Đương Ma Mạn Trà La Đồ (當麻曼荼羅圖), Dung Thông Niệm Phật Duyên Khởi (融通念佛緣起), Thích Ca Tam Tôn, 3 bức Thập Đại Đệ Tử, 16 bức Thập Lục La Hán, v.v.
thiền lâm tự
tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa là ngôi chùa cổ thứ hai thuộc hệ phái Tào Động, do Hòa Thượng Như Tư Khắc Huyền khai sơn vào cuối thế kỷ thứ 17. Duới thời chúa Nguyễn Phước Hoạt, chùa đã được trùng tu bằng vật liệu kiên cố và vị tổ thứ ba của chùa được ban sắc tứ danh hiệu Thanh Thận Chiêu Quả đại lão Hòa Thượng. Vào đầu thời vua Gia Long, Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ vua Gia Long) đã cúng dường ngân khoản để trùng tu chùa dưới sự trông nom của Hòa Thượng Mật Hoằng. Dưới triều vua Thành Thái, người Pháp mở đường Nam Giao Tân Lộ, chùa lại phải dời vào mé tây khuôn viên cũ. Cho đến hôm nay, trải qua hơn 50 năm, chùa trở thành chùa tư và theo kiểu truyền tử lưu tôn nên ngày càng trở nên hoang phế. Năm 1957, chùa được Giáo Hội Phật Giáo trùng tu lại—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. This is the second in age among the temples belonging to the T'ao-T'ung Zen Sect in Huế. It was first built by Most Venerable Như Tư Khắc Huyền in the late 17th century. During the reign of Lord Nguyễn Phước Hoạt, the temple was already enlarged with solid construction materials, and the third patriarch of the temple was recognized by the Lord with honourable name Thanh Thận Chiêu Quả Great Most Venerable. During the early years of king Gia Long's reign, Queen Thừa Thiên Cao dedicated fund for the reconstruction of the temple under the supervision of Most Venerable Mật Hoằng. During the reign of king Thành Thái, the French opened the Nam Giao New Highway, so the temple had to be moved to the western part of its ground. Up to the present time, for more than fifty years, Thiền Lâm has been a private temple, changing hands according to familial traditions. It was rebuilt by the Buddhist Congregation in 1957.
Thiền Lão
禪老; tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 6. Sư kế thừa Thiền sư Ða Bảo và truyền pháp cho đệ tử là Quảng Trí. Vua Lí Thái Tông cũng được xem là môn đệ đắc pháp của Sư.|Không biết tên họ và nơi sinh của Sư ở đâu, chỉ biết Sư đến chùa Kiến Sơ yết kiến Thiền sư Ða Bảo và được truyền tâm ấn. Sau đó, Sư đến Từ Sơn trụ trì chùa Trùng Minh trên núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du. Tông phong của thiền Vô Ngôn Thông nhờ đạo hạnh của Sư cao vút, học chúng quy tụ lại rất đông.|Vua Lí Thái Tông thường viếng chùa và vấn đạo. Ban đầu, vua hỏi: »Hoà thượng trụ núi này đã bao lâu?« Sư đáp: |但知今日月。誰識舊春秋|»Ðãn tri kim nhật nguyệt|Thuỳ thức cựu xuân thu«|*»Chỉ biết ngày tháng này|Ai rành xuân thu trước«.|Vua hỏi: »Hằng ngày Hoà thượng làm gì?« Sư đáp: |翠竹黃花非外境。白雲明月露全真|»Thuý trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh|Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân«.|*»Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác|Trăng trong mây bạc hiện toàn chân«.|Vua lại hỏi: »Có ý chỉ gì?« Sư đáp: »Lời nhiều sau vô ích.« Vua nhân đây lĩnh hội ý chỉ.|Sau khi về cung, vua sai sứ giả đến chùa rước Sư vào triều làm cố vấn. Khi đến nơi, Sư đã viên tịch. Vua mến tiếc sai trung sứ đến cúng và tặng lễ, sau đó thu cốt xây tháp cúng dường.
thiền lão
Zen Master Thiền Lão—Tên của một nhà sư Việt Nam, có lẽ quê ở miền Bắc Việt Nam; tuy nhiên, quê quán của ngài không ai biết ở đâu. Sư đến chùa Kiến Sơ gặp và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Thiền sư Đa Bảo. Thiền sư Thiền Lão là pháp tử đời thứ sáu của dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sau khi Thiền sư Đa Bảo thị tịch, ngài dời về núi Thiên Phúc tại quận Tiên Du và trụ tại chùa Trùng Minh. Lúc ấy tiếng tăm của ngài trải khắp tứ phương. Vua Lý Thái Tông chiếu sắc chỉ triệu ngài về kinh đô làm cố vấn, nhưng khi sắc chỉ vừa đến thì ngài đã thị tịch. Để tôn vinh ngài vua đã cho trùng tu lại ngôi chùa sư ở, xây tháp thờ sư tại phía trước chùa—Name of a Vietnamese monk, probably from North Vietnam; however, his origin was unknown. He went to Kiến Sơ Temple to meet and become one of the most outstanding disciples of Zen Master Đa Bảo. He was the dharma heir of the sixth lineage of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. After Zen master Đa Bảo passed away he moved to Mount Thiên Phúc in Tiên Du district to stay at Trung Minh Temple. His reputation spread all over the place. Later King Lý Thái Tổ sent an Imperial Order to recall him to the capital to be the king's advisor, but when the Imperial Order arrived he had already passed away. To honour him, the king ordered his local mandarin to build a stupa right at the foot of the mountain and to rebuild the temple where he used to stay.
Thiền lưu
(禪流): những người tu tập Thiền Tông, hay nói chung là tu sĩ Phật Giáo. Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 4, bài Tặng Hổ Kheo Hỷ Tạng Chủ (贈虎丘喜藏主), có đoạn: “Tỳ Lô các hạ quỷ tiên thi, tứ hải Thiền lưu thiết yếu tri, khán tận nguyên lai duy nhất cú, nhược ngôn nhất cú tảo thành nghi (毗盧閣下鬼仙詩、四海禪流切要知、看盡元來惟一句、若言一句早成疑, Tỳ Lô dưới điện linh quỷ thơ, bốn biển Thiền tăng rõ biết cho, xét kỹ xưa nay một câu chỉ, một câu nếu bảo thành nghi ngờ).” Hay trong bài Thích Ca Văn Phật Tán (釋迦文佛贊) của Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 13 có đoạn rằng: “Tam thế Như Lai cọng nhất tâm, nhất tâm bất cách khứ lai câm, Nhiên Đăng thọ ký duyên vô đắc, Bát Nhã đàm không thán thậm thâm, cùng tử nhiếp quy An Dưỡng sĩ, đạo tràng xướng xuất Niết Bàn âm, Vân Môn tối thị tri ân giả, giải hướng Thiền lưu thống xứ châm (三世如來共一心、一心不隔去來今、然燈授記緣無得、般若譚空嘆甚深、窮子攝歸安養士、道場唱出涅槃音、雲門最是知恩者、解向禪流痛處針, ba đời Như Lai cũng một tâm, một tâm chẳng cách xưa nay cùng, Nhiên Đăng thọ ký duyên chẳng có, luận bàn Bát Nhã thật thâm huyền, con khổ thảy về An Dưỡng kẻ, đạo tràng vang xướng Niết Bàn âm, Vân Môn quả đúng tri ân bạn, xoa dịu tu Thiền nhói kim đâm).” Hoặc như trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 2 có câu: “Trân trọng Thiền lưu thân thiết cú, hưu đắc vô thằng tự thảo phược (珍重禪流親切句、休得無繩自討縛, trân trọng tu hành lời thân thiết, chớ để không dây trói buộc mình).”
; (禪流): những người tu tập Thiền Tông, hay nói chung là tu sĩ Phật Giáo. Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 4, bài Tặng Hổ Kheo Hỷ Tạng Chủ (贈虎丘喜藏主), có đoạn: “Tỳ Lô các hạ quỷ tiên thi, tứ hải Thiền lưu thiết yếu tri, khán tận nguyên lai duy nhất cú, nhược ngôn nhất cú tảo thành nghi (毗盧閣下鬼仙詩、四海禪流切要知、看盡元來惟一句、若言一句早成疑, Tỳ Lô dưới điện linh quỷ thơ, bốn biển Thiền tăng rõ biết cho, xét kỹ xưa nay một câu chỉ, một câu nếu bảo thành nghi ngờ).” Hay trong bài Thích Ca Văn Phật Tán (釋迦文佛贊) của Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 13 có đoạn rằng: “Tam thế Như Lai cọng nhất tâm, nhất tâm bất cách khứ lai câm, Nhiên Đăng thọ ký duyên vô đắc, Bát Nhã đàm không thán thậm thâm, cùng tử nhiếp quy An Dưỡng sĩ, đạo tràng xướng xuất Niết Bàn âm, Vân Môn tối thị tri ân giả, giải hướng Thiền lưu thống xứ châm (三世如來共一心、一心不隔去來今、然燈授記緣無得、般若譚空嘆甚深、窮子攝歸安養士、道場唱出涅槃音、雲門最是知恩者、解向禪流痛處針, ba đời Như Lai cũng một tâm, một tâm chẳng cách xưa nay cùng, Nhiên Đăng thọ ký duyên chẳng có, luận bàn Bát Nhã thật thâm huyền, con khổ thảy về An Dưỡng kẻ, đạo tràng vang xướng Niết Bàn âm, Vân Môn quả đúng tri ân bạn, xoa dịu tu Thiền nhói kim đâm).” Hoặc như trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 2 có câu: “Trân trọng Thiền lưu thân thiết cú, hưu đắc vô thằng tự thảo phược (珍重禪流親切句、休得無繩自討縛, trân trọng tu hành lời thân thiết, chớ để không dây trói buộc mình).”
thiền lạc
Joy and peace of the abstract meditation.
; Sự hỷ lạc trong thiền định—The joy of abstract meditation.
thiền lễ
(禪禮) Từ gọi chung tọa thiền và lễ sám. Hành giả Thiền tông nương vào tọa thiền và lễ bái Tam bảo để sám hối tội chướng. Chương Thích chí siêu trong Tục cao tăng truyện quyển 20 (Đại 50, 592 thượng) ghi: Chúng tăng thâm cảm lời nói ấy, trong tâm sảng khoái, thực hành đúng theo thiền lễ, thời khóa không bỏ. [X. Duy thức xu yếu Q.thượng].
thiền lục
The records of Thiền tông.
; Ký lục của Thiền Tông—The records of the Ch'an sect.
thiền lữ
Fellow-meditators; fellow-monks.
; 1) Bạn đồng tu Thiền: Fellow-meditators. 2) Tăng lữ đồng tu: Fellow-monks.
thiền minh sát
Vipaśyana meditation Xem Minh sát tuệ.
Thiền môn
(禪門): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Pháp môn Thiền định. (2) Thuộc vào Định Học (定學) trong Tam Học (三學), cũng chỉ Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜) trong Lục Độ (s: ṣaḍ-pāramitā, ṣaṭ-pāramitā, 六度). Như trong Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序) quyển Thượng có đoạn: “Vạn hạnh bất xuất Lục Ba La Mật, Thiền môn đản thị lục trung chi nhất, đương kỳ đệ ngũ (, vạn hạnh không ra ngoài Sáu Ba La Mật, Thiền môn chỉ là một trong sáu pháp đó).” (3) Chỉ cho pháp môn của Thiền Tông, còn gọi là Thiền Tông Môn Lưu (禪宗門流), Thiền Tông (禪宗), Phật Tâm Tông (佛心宗), Thiền Gia (禪家). (4) Là từ gọi tắt của Thiền Định Môn (禪定門) trong Phật Giáo Nhật Bản, còn gọi là Thiền Thất (禪室).
thiền môn
The meditative method in general. The intuitional school established in China by Bodhidharma.
; 1) Pháp Môn Thiền Định nói chung: The meditative method in general. 2) Thiền Ba La Mật: Dhyana paramita—See Lục Độ Ba La Mật. 3) Thiền Tông được Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang Trung Quốc, tâm tâm tương truyền như một trường phái mật giáo: The intuitional school established in China according to tradition by Bodhidharma, personally propagated from mind to mind as an esoteric school.
; (禪門) I. Thiền Môn. Pháp môn thiền định. Chỉ cho 10 môn: Căn bản tứ thiền, Thập lục đặc thắng, thông minh, Cửu tưởng, Bát bối xả, Đại bất tịnh, Từ tâm, Nhân duyên, Niệm Phật và Thần thông. II. Thiền Môn. Một trong Tam học Giới, Định, Tuệ, Thiền môn thuộc về Định học, cũng chỉ cho Thiền ba la mật trong Lục độ. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng (Đại 48, 399 trung) nói: Muôn hạnh không ngoài 6 Ba la mật, Thiền môn chỉ là độ thứ 5 trong 6 độ ấy, há có thể coi chân tính chỉ là1 hạnh Thiền này thôi sao? (xt. Thiền). III. Thiền Môn. Cũng gọi Thiền tông môn lưu, Thiền tông, Phật tâm tông, Thiền gia. Chỉ cho pháp môn của Thiền tông. (xt. Thiền Tông). IV. Thiền Môn. Cũng gọi Thiền thất. Gọi đủ: Thiền định môn. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. (xt. Thiền Định Môn).
thiền môn bí yếu quyết
(禪門秘要訣) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vĩnh gia Huyền giác (?-713) soạn vào đời Đường. Nội dung giống với Chứng đạo ca cũng của ngài Huyền giác; như vậy; có lẽ Thiền môn bí yếu quyết là bản phác họacủa Chứng đạo ca? Thuyết Tây thiên tứ thất,Đông độ nhị tam(tức 28 Tổ sư Thiền tôngẤn độ và 6 Tổ sư Thiền tông Trung quốc) được nêu ra trong sách này có lẽ đã do người đời sau thêm thắt vào. Dưới tiêu đề có 7 chữ Chiêu giác Đại sư nhất túc giác là chỉ cho ngài Huyền giác, vì ngài Huyền giác được khai ngộ trong 1 đêm ở nơi Lục tổ Tuệ năng, cho nên được khen ngợi là Nhất túc giác(giác ngộ trong 1 đêm). Còn Chiêu giácĐại sư thì rõ ràng cũng chỉ cho ngài Huyền giác. Bản Đôn hoàng số 2165 và số 4037 của ông A. Stein chỉ sao chép 1 phần sách này; còn các bản số 2104 và 2105 của ông P. Pelliot thì sao chép toàn bộ. [X. Thiền tư tưởng sử nghiên cứu thứ 2 (Linh mộc Đại chuyết-D.T.Suzuki).
thiền môn bảo tạng lục
(禪門寶藏錄) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Thiên sách người Triều tiên soạn vào khoảng năm Chí nguyên 30 (1293) đời vua Thế tổ nhà Nguyên. Năm Gia tĩnh 11 (1532) đời vua Thế tông nhà Minh, sách này được ấn hành chung với Thiền môn cương yếu tập, được thu vào Vạn tục tạng tập 113 và Thiền môn toát yếu quyển hạ. Sách này trích lục các ngữ yếu vấn đáp chất nghi về tông thừa trong các bộ Đăng lục như: Cảnh đức truyền đăng lục, Gia thái phổ đăng lục,Truyền pháp chính tông kí... Nội dung bao gồm Thiền giáo đối biện môn 25 tắc, Chư giảng qui phục môn 25 tắc, Quân thần sùng tín môn 39 tắc... Cứ theoĐông sưliệt truyện quyển 1 do ngài Huyễn như Giác ngạn (1820-1894) người Triều tiên soạn, nếu theo phương diện niên đại và tư tưởng mà khảo chứng thì tác giả của sách này có lẽ là ngài Chân tĩnh Pháp am.[X. Thiền tịch mục lục].
thiền môn chư tổ sư kệ tụng
(禪門諸祖師偈頌) Tác phẩm, 4 quyển, do các vị Tử thăng và Như hựu biên soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 16. Nội dung sách này thu chép các bài kệ truyền pháp của chư Tổ như: Tín tâm minh, Huyền trung minh, Tuyết tử ngâm, Tọa thiền minh, Ngũ vị tụng, Thiền nguyệt qui giám, Chí công dược phương, Nhân tông hoàng đế tán tăng, Miễn Phật quả hành cước, Chântính tụng... tất cả hơn 80 hạng mục gồm lời răn dạy của các bậc cổ đức và những bài kệ tụng về tông thừa.
thiền môn cửu sơn
(禪門九山) Cũng gọi Thiền tông cửu sơn, Cửu sơn môn, Cửu sơn thiền môn. Chỉ cho 9 phái Thiền của nước Triều tiên. Vào cuối thời đại Tân la ở Triều tiên, có 9 vị tăng lần lượt đến Trung quốc học đạo, sau khi về nước, sáng lập 9 ngôi chùa Thiền, cũng tức là mở đầu cho 9 phái Thiền, gọi chung là Thiền môn cửu sơn. Tên tông mà 9 phái này qui thuộc trước gọi là Thiền tịch tông, sau gọi là Tào khê tông. Chín phái là: 1. Phái Ca trí sơn: Ngài Đạo nghĩa đến Trung quốc vào năm 784 đời Đường, ở lại đây 37 năm, theo ngài Tây đường Trí tạng –đệ tử Thiền sư Mã tổ Đạo nhất– học tập Thiền Nam tông. Sau khi về nước, sư hoằng dương yếu chỉ Nam đốn ở chùa Bảo lâm, núi Ca trí, quận Trường hưng, tỉnh Toàn la nam, có hơn 800 đệ tử như các vị Anh huệ, Thanh hoán... 2. Phái Thực tướng sơn: Ngài Hồng trắc đến Trung quốc vào khoảng 809-825 đời Đường, nối pháp ngài Tây đường Trí tạng. Sau khi trở về nước, sư khai sáng phái này vào năm 828. Bản sơn là chùa Thực tướng ở núi Trí dị, quận Nam nguyên, tỉnh Toàn la bắc. Đệ tử có các vị Tú triệt, Phiến vân... 3. Phái Xà quật sơn: Ngài Phạm nhật đến Trung quốc vào đời Đường, theo các ngài Diêm quan Tề an và Thương châu Thần giám –đệ tử Thiền sư Mã tổ Đạo nhất– tập thiền.Năm 846, sư trở về nước, sư sáng lập phái này ở chùa Quật sơn, núi Xà quật, quận Giang lăng, tỉnh Giang nguyên. Môn đình phái này thịnh nhất trong Thiền môn cửu sơn. Đệ tử có các vị Lãng viên, Lãng không... 4. Phái đồng lí sơn: Ngài Tuệ triết(cũng gọi Huệ triết) đến Trung quốc vào đời Đường, thờ ngài Tây đường Trí tạng làm thầy. Sư trở về nước năm 839, sáng lập chùa Thái an ở núi Đồng lí, quận Cốc thành, tỉnh Toàn la nam. Đệ tử có vài trăm vị như Đạo sân, Như đại sư... 5. Phái Thánh trụ sơn: Ngài Vô nhiễm đến Trung quốc vào đời Đường, học Hoa nghiêm ở chùa Chí tướng, núi Chung nam, sau được đệ tử Thiền sư Mã tổ là ngài Ma cốc Bảo triệt ấn khả. Sau khi trở về nước, sư ở chùa Thánh trụ, quận Bảo ninh, tỉnh Trung thanh nam, soạn Vô thuật độ luận để xiển dương tông phong. Sư có hơn 2000 đệ tử như các vị: Viên tạng, Linh nguyên, Huyền ảnh... 6.Phái sư tử sơn: Ngài Đạo doãn đến Trung quốc vào đời Đường, theo ngài Nam truyền Phổ nguyện tu tập thiền pháp. Sau khi trở về nước, sư trụ chùa Song phong, tỉnh Toàn la nam. Đệ tử sư là ngài Chiết trung sáng lập chùa Pháp hưng ở quận Nguyên châu, tỉnh Giang nguyên. 7. Phái Hi dương sơn: Ban đầu, ngài Trí sân theo Đại sư Phạm thể học tập Hoa nghiêm, sau lại theo ngài Huệ ẩn là huyền tôn của Tứ tổ Đạo tín học Thiền. Sư khai sáng phái này ở chùa Phụng nghiêm, núi Hi dương, quận Văn thánh, tỉnh Khánh thượng bắc. Có vài trăm đệ tử như các vị: Tính quyên, Mẫn hưu, Dương phu... 8. Phái Phụng lâm sơn: Ngài Huyền dực đến Trung quốc vào đời Đường, theo ngài Chương kính Hoài huy –đệ tử Thiền sư Mã tổ– họcThiền và được ấn khả. Sau khi trở về nước, sư sáng lập chùa Cao đạt ở núi Tuệ mục. Sau khi sư thị tịch vào năm 868, đệ tử của sư là ngài Thẩm hi (855- 923), khai sáng chùa Phụng lâm ở quận Xương nguyên, tỉnh Khánh thượng nam, lâu trở thành 1 phái. 9. Phái Tu di sơn: Ngài Lợi nghiêm đến Trung quốc vào năm 894 đời Đường, theo ngài Vân cư Đạo ưng –đệ tử Thiền sư Động sơn Lương giới– tập Thiền và được ấn khả. Sau khi sư trở về nước vào năm 911, vâng sắc vua Thái tổ nước Cao li, sáng lập chùa Quảng chiếu ở núi Tu di, quận Hải châu, tỉnh Hoàng hải. Có vài trăm đệ tử như các vị: Xử quang, Đạo nhẫn... [X. Thiền môn cửu sơn lai lịch; Triều tiên Phật giáo thông sử; Triều tiên thiền giáo sử; Triều tiên Phật giáo đích tự dữ lịch sử].
thiền môn ngũ tông
Năm tông phái Thiền (Từ Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ Năng, Thiền Tông Trung Quốc vẫn là một tông duy nhất, nhưng sau đó được chia làm năm tông)—The five Ch'an schools. 1) Lâm Tế Tông: Tông Lâm Tế vẫn còn tồn tại đến hôm nay và rất thành công. Dưới thời nhà Tống, tông nầy chia làm hai nhánh là Dương Kỳ và Hoàng Long—Lin-Ji Sect, which remains and is very successful until this day. During the Sung dynasty, it divided into two sects of Yang-Qi and Hung-Lung. 2) Quy Ngưỡng Tông (đã bị mai một): Kui-Yang Sect, disappeared. 3) Vân Môn Tông (vẫn còn tồn tại đến nay): Yun-Men Sect, remains until this day. 4) Pháp Nhãn Tông (đã du nhập Cao Ly): Fa-Yan Sect, which was removed to Korea. 5) Tào Động Tông (vẫn còn tồn tại đến nay): Tsao-Tung Sect, remains until this day. ** The second already disappeared; the fourth was removed to Koea; the other three remained, the first being the most successful.
thiền môn nhật tụng
(禪門日誦) Tác phẩm, 2 quyển, tác giả cũng như niên đại ấn hành lần đầu tiên đều không rõ. Chỉ được biết có các bản in vào năm Đạo quang 14 (1834) đời Thanh, bản của chùa Dũng tuyền, Cổ sơn, tỉnh Phúc kiến in vào năm Quang tự 12 (1886) đời Thanh, bản in vào năm Quang tự 26 (1900) có bài tựa và bản do Kim lăng khắc kinh xứ in lại nguyên bản của chùa Thiên đồng, tỉnh Chiết giang...nhưng nội dung các bản in trên đều hơi khác nhau. Nội dung sách này, ngoài việc thu chép các pháp yếu, pháp ngữ, cảnh sách, vấn đối, huấn hối văn...của cácĐại sư trong Thiền môn, còn thu chép 1 lượng lớn kinh, luật, kệ, nghi văn, chú...thường dùng trong các chùa việnnói chung, như thần chú Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, Bát nhã tâm kinh, Niệm Phật khởi chỉ nghi... Vì thời đại Minh, Thanh các tông phái có xu hướng dung hợp, nhất là 2 tông Thiền và Tịnh độ lại càng rõ ràng. Do đó, tác phẩm này tuy mệnh danh là Thiền môn nhật tụng (khóa tụng hàng ngày trong Thiền môn) nhưng thực thì không còn là Thiền môn thuần túy nữa.
thiền môn niêm tụng tập
(禪門拈頌集) Tác phẩm, 30 quyển, do 2 ngài Tuệ trạm và Chân huấn người Cao li biên tập, là sách tập đại thành các ngữ cú cơ duyên, niệm tụng của Thiền gia trong khoảng thời gian từ đức Thích tôn về sau cho đến các Đại sư đời Đường, Tống. Sách này lấy các thông tập như Cảnh đức truyền đăng lục... và các biệt tập như ngữ lục của các Thiền sư... làm nền tảng, chọn lựa ghi chép các cơ duyên ngữ cú của các bậc Thiền giả từ đức Thích tôn trở xuống đến ngài Dục vương Giới thầm, đệ tử nối pháp Thiền sư Trường linh Thủ trác thuộc đời thứ 21 của hệ thống Tổ Đạt ma, gồm 1125 tắc, đồng thời có phụ thêm niêm cổ, tụng cổ, phổ thuyết, tiểu tham... của các nhà. Tuy cùng một tính chất với Tông môn thống yếu 10 quyển của ngài Tuệ nghiêm Tông vĩnh đời Tống và Tông môn thống yếu tục tập 22 quyển của ngài Cổ lâm Thanh mậu đời Nguyên, nhưng chỉ sách này là còn truyền cơ duyên ngữ cú và niêm tụng, cho nên rất được trân trọng. [X. Thiền tịch mục lục; Triều tiên thiền giáo sử (Hốt hoạt cốc khoái thiên)].
Thiền môn niêm tụng tập 禪門拈頌集
[ja] ゼンモンネンショウシュウ Zenmon nenji shū ||| The Sŏnmun yŏmsongjip (Compilation of Examinations of and Verses on Ancient Precedents). By Hyesim 慧諶, who was the most prominent student of Chinul 知訥; HPC 5.1-925.A massive collection of edifying ancient precedents from Chan and pre-Ch'an Buddhist literature which comprises the entire fifth volume of the HPC. => Zenmon nenji shū (j); Sŏnmun yŏmsongjip (k); Compilation of Examinations of and Verses on Ancient Precedents (e); Của Huệ Kham (k: Hyesim 慧諶), là đệ tử xuất sắc của ngài Trí Nột (Chinul 知訥). Là một tập hợp đồ sộ những lời dạy của các bậc cổ đức trong Thiền tông và từ nền văn học Phật giáo trước thiền tông, được kết tập trọn vẹn vào cuốn thứ 5 của bộ HPC.
thiền môn qui củ
The monastic routine.
thiền môn sư tư thừa tập đồ
(禪門師資承襲圖) Cũng gọi Bùi hưu thập di vấn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Khuê phong Tông mật (780-841) soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 110. Trangtrongsách này đề là: Trung hoa truyền tâm địa Thiền môn sư tư thừa tập đồ, Nội cung phụng sa môn Tông mật đáp Bùi tướng quốc vấn. Tức sách này là ngài Tông mật trả lời những câu hỏi của quan Tể tướng nhà Đường là Bùi hưu (797-870) về sự truyền thừa và ngôn giáo cạn, sâu của các phái Thiền tông ở thời kì đầu tại Trung quốc. Nội dung sách này, trước nêu Tướng quốc Bùi hưu hỏi, kếnêuThiền sư Tông mật trả lời, sau cùng đến bản văn. Bản văn không chia ra chương tiết, nhưng nay có thể chia làm 3 đoạn để khảo sát như sau:1. Trình bày về nguồn gốc các tông. 2. Nói về giáo chỉ của các tông. 3. Phê bình giáo chỉ các tông. Trong đó, phần nguồn gốc các tông có nói sơ qua sự truyền thừa của các tông như: Tông Ngưu đầu của ngài Tuệ dung (Pháp dung), Bắc tông của ngài Thần tú, Nam tông của ngài Tuệ năng, tông Hà trạch của ngài Thần hội, tông Hồng châu của ngài Đạo nhất... và chủ trương tông Hà trạch là chính thống của Thiền tông. Để thấy rõ hơn về sự truyền thừa ấy nên sách này lại nêu ra hệ phổ như sau: Đạt ma, Tuệ khả, Tăng xán, Đạo tín, Hoằng nhẫn, Tuệ năng, Thần hội, Trí như, Nam ấn, đồng thời ghi thêm đệ tử nối pháp của các nhà. Ngoài ra, sách này lược ghi giáo chỉ của Bắc tông(phụ thêm tông Tịnh chúng của ngài Vô tướng, tông Bảo đường của ngài Vô trụ), tông Hồng châu, tông Ngưu đầu và tông Hà trạch, đối với 3 tông trước có lời bình luận ngắn. Đến việc phê phán giáo chỉ thì trước hết lấy tính chất bất biến và tùy duyên để bàn về các tông, rồi tổng kết (Vạn tục 110, 43 hạ): Nếu nhận ra được minh châu là thể năng hiện thì vĩnh viễn không thay đổi(Hà trạch). Nhưng nói tối là(minh) châu (tông Hồng châu), hoặc chủ trương lìa tối tìm châu (Bắc tông) hoặc nói châu(sáng) và tối đều là không(tông Ngưu đầu), thì đều là chưa thấy châu. Lại y cứ vào sự lập nghĩa của tông Hà trạch mà bàn về đốn ngộ và tiệm tu của các tông để hiển bày ý nghĩa đốn ngộ của tông Hà trạch. [X. Pháp tập biệt hành lục tiết yếu; Thiền sư tưởng sử nghiên cứu 2 (Linh mộc Đại chuyết) – D.T.Suzuki)].
thiền môn toát yếu
(禪門撮要) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thanh hư đường Hưu tĩnh người Triều tiên biên soạn, do chùa Vân môn, núi Hổ cứ, quận Thanh đạo, tỉnh Khánh thượng bắc khắc bản in vào năm 1907. Nội dung thu chép những Thiền lục của Trung quốc và Triều tiên.Quyển thượng gồm các trứ thuật của Trung quốc, tức luận Huyết mạch, luận Quán tâm, luận Tứ hành của Sơ tổ Đạt ma, luận Tối thượng thừa của Ngũ tổ Hoằng nhẫn, Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục, Hoàng bá sơn Đoạn tế thiền sư truyền tâm pháp yếu, Hoàn sơn Chính ngưng thiền sư thị mông sơn pháp ngữ, Bác sơn Vô dị thiền sư thiền cảnh ngữ. Quyển hạ là các soạn thuật của Triều tiên, tức Phổ chiếu thiền sư tu tâm quyết, Phổ chiếu thiền sư chân tâm trực thuyết, Phổ chiếu thiền sư cần tu định tuệ kết xã văn, Phổ chiếu thiền sư khán thoại quyết nghi luận, Chân tĩnh đại sư thiên sách biên tập thiền môn bảo tạng lục, Thanh phong Trưởng lão thiền môn cương yếu tập, Tây sơn thanh hư thiền giáo thích. Trong đó, phần soạn thuậtcủaTrung quốc ở quyển thượng cũng được thu chép vào Pháp hải bảo phiệt do cư sĩ Bảo quang Lưu vân thuộc Cam lộ xã biên tập và khắc in vào năm Quang tự thứ 9 (1883). Còn phần soạn thuật của Triều tiên ở quyển hạ thì có nhiều loại bản khắc in, trong đó 3 sách: Khuyến tu định tuệkếtxã văn, Khán thoại quyết nghi luận và Thiền môn cương yếu tập là những sách mà từ trước đến nay chưa bao giờ được khắc bản. [X. Tích thúyhiên văn khố thiện bản mục lục giải đề (Xuyên lại Nhất mã); Triều tiên cựu thư khảo (Hắc điền lượng)].
thiền môn đoán luyện thuyết
(禪門鍛煉說) Cũng gọi Thiền lâm đoán luyện thuyết, Đoán luyện thuyết thập tam thiên. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hối sơn Giới hiển soạn vào đời Minh, ấn hành vào năm Đồng trị 11 (1872) đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Ngài Giới hiển cho rằng rèn luyện Thiền chúng phải như Tôn vũ dụng binh, trong sách ngài liệt kê những phương pháp rèn luyện Thiền chúng gồm 13 hạng mục, theo thứ tự là: Kiên thệ nhẫn khổ, Biện khí thụ thoại, Nhập thất sưu quát, Lạc đường khai đạo, Thùy thủ đoán luyện, Cơ quyền sách phát, Kí xảo hồi hoán, Trảm quan khai nhãn, Nghiên cứu cương tông, Tinh nghiêm thao lí, Ma trị học nghiệp, Giản luyện tài năng và Cẩn nghiêm phó thụ.
Thiền Mông Cầu
(禪蒙求, Zenmōkyū): xem Thiền Uyển Mông Cầu (禪苑蒙求, Zennenmōkyū) bên dưới.
Thiền Mặc Chiếu
(黙照禪): đương thời có từ gọi là Mặc Chiếu Tà Sư (黙照邪師) hay Mặc Chiếu Tà Thiền (黙照邪禪) mà Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) dùng để phê phán khuynh hướng đang hiện hành trong Thiền Tông. Đây chính là ngôn từ nhằm phê phán những người không nhắm mục đích giác ngộ mà chỉ chuyên im lặng ngồi Thiền, và vì trước tác của Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺), tức cuốn Mặc Chiếu Minh (黙照銘), nên đối tượng phê phán của Đại Huệ hẳn nhiên là những người thuộc Phái Hoằng Trí. Tuy nhiên, giữa Đại Huệ và Hoằng Trí vốn có mối thâm giao, cho nên đối tượng phê phán không phải là trực tiếp Hoằng Trí mà là các huynh đệ đệ tử của ông như nhóm Chơn Hiết Thanh Liễu (眞歇清了). Có điều dầu sao đi nữa, sự phê phán này rõ ràng là tiền đề nói lên sự khác nhau giữa Thiền phong của Lâm Tế và Tào Động. Vẫn có ít nhiều dị luận, song chúng ta cũng khó phủ định được rằng chính Thiền của Đạo Nguyên (道元) bên Nhật Bản vốn chủ trương "chỉ quản đả tọa" (只管打坐, Shikantaza) đã nối tiếp hệ thống của Thiền Mặc Chiếu này. Nếu từ ý nghĩa ấy mà xét, chúng ta có thể nói rằng đó là nguyên nhân vì sao Đạo Nguyên đã phê phán kịch liệt Đại Huệ.
thiền na
Meditation, Zenjō (J), Zenna (J), Dhyāna (S), Jhāna (P), Ch'an na (C)Xem định.
; Dhyàna (S). Abstract contemplation.
; Là thiền quán tịch diệt, quán các pháp phi không phi giả mà vô trụ, như âm thanh ẩn trong chuông trống.
; Dhyana (skt). (A) Thiền Na là thuật ngữ Trung Hoa, do từ tiếng Phạn “Dhyana” mà ra. Thiền Na chỉ sự tập trung tinh thần và sự tĩnh tâm, trong đó mọi sự phân biệt nhị nguyên đều biến mất—Ch'an-na is a Chinese version from the Sanskrit word “Dhyana,” which refers to collectedness of mind or meditative absorption in which all dualistic distinctions disappear. (B) Tịnh lự—Làm vắng lặng dòng suy tưởng. Thiền Na là Ba La Mật thứ năm trong lục độ Ba La Mật (thực tập thiền na để được trí huệ Bát Nhã), trong đó tất cả mọi biện biệt giữa chủ thể và đối tượng, giữa thật và giả, đều bị xóa bỏ—Quiet thought—Quiet meditation—The fifth paramita (to practice dhyana to obtain real wisdom or prajna). In dhyana all dualistic distinctions like subject, object, true, false are eliminated. • Abstract. • Meditation. • Thought. • Reflection. • Profound and abstract religious contemplation. • Get rid of evil. • Quiet meditation. (C) Theo Bách Khoa Từ Điển Minh Triết Phương Đông, có hai định nghĩa về Thiền—According to The Encyclopedia of Eastern Philosophy and Religion, Zen can be defined as both exoterically and esoterically. 1) Theo quan điểm công truyền: Thiền là một phái của Phật giáo Đại Thừa, phát triển ở các thế kỷ thứ sáu và thứ bảy, nhờ sự hòa trộn Phật giáo Thiền do tổ Bồ Đề Đạt Ma du nhập vào Trung Quốc và Đạo giáo. Hiểu theo nghĩa nầy, Thiền là một tôn giáo mang học thuyết và các phương pháp nhằm mục đích đưa tới chỗ nhìn thấy được bản tính riêng của chúng ta, và tới giác ngộ hoàn toàn, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã trải qua dưới cội Bồ Đề sau một thời kỳ thiền định mãnh liệt. Hơn bất cứ một phái Phật giáo nào, Thiền đặt lên hàng đầu sự thể nghiệm đại giác và nhấn mạnh tới tính vô ích của các nghi lễ tôn giáo. Con đường ngắn hơn nhưng gay go trong tu hành là “tọa thiền.”—Exoterically regarded, Zen, or Ch'an as it is called when referring to its history in China, is a school of Mahayana Buddhism, which developed in China in the 6th and 7th centuries from the meeting of Dhyana Buddhism, which was brought to China by Bodhidharma, and Taoism. In this sense, Ch'an is a religion, the teachings, and practices of which are directed toward self-realization and lead finally to complete awakening or enlightenment as experienced by Sakyamuni Buddha after intensive meditative self-discipline under the Bodhi-tree. More than any other school, Ch'an stresses the prime importance of the enlightenment experience and the useless of ritual religious practices and intellectual analysis of doctrine for the attainment of liberation. Ch'an teaches the practice of sitting in meditative absorption as the shortest, but also steepest, way to awakening. ** Những đặc trưng của Thiền có thể tóm tắt bằng bốn nguyên lý sau đây—The essential nature of Ch'an can be summarized in four short statements: a) Giáo ngoại biệt truyền: Special transmission outside the orthodox teaching. b) Bất lập văn tự: Nondependence on sacred writings. c) Trực chỉ nhân tâm: Direct pointing to the human heart. d) Kiến tánh thành Phật: Leading to realization of one's own nature and becoming a Buddha. ** For more information, please see Thiền Định Ba La Mật, Dhyana, and Tứ Thiền. 2) Theo quan điểm bí truyền: Thiền không phải là một tôn giáo, mà là một nguồn gốc không thể xác định được và không thể truyền thụ được. Người ta chỉ có thể tự mình thể nghiệm. Thiền không mang một cái tên nào, không có một từ nào, không có một khái niệm nào, nó là nguồn của tất cả các tôn giáo, và các tôn giáo chỉ là những hình thức biểu hiện của cùng một sự thể nghiệm giống nhau. Theo nghĩa nầy, Thiền không liên hệ với một truyền thống tôn giáo riêng biệt nào, kể cả Phật giáo. Thiền là “sự hoàn thiện nguyên lai” của mọi sự vật và mọi thực thể, giống với sự thể nghiệm của tất cả các Đại Thánh, các nhà hiền triết và các nhà tiên tri thuộc tất cả mọi tôn giáo, dù có dùng những tên gọi khác nhau đến mấy để chỉ sự thể nghiệm ấy. Trong Phật giáo, người ta gọi nó là “sự đồng nhất của Sanh tử và Niết bàn.” Thiền không phải là một phương pháp cho phép đi đến sự giải thoát đối với một người sống trong vô minh, mà là biểu hiện trực tiếp, là sự cập nhật hóa sự hoàn thiện vốn có trong từng người ở bất cứ lúc nào—Esoterically regarded, Ch'an is not a religion, but rather an indefinable, incommunicable root, free from all names, descriptions, and concepts, that can only be experienced by each individual for him or herself. From expressed forms of this, all religions have sprung. In this sense, Ch'an is not bound to any religion, including Buddhism. It is the primor-dial perfection of everything existing, designated by the most various names, experienced by all great sages, and founders of religions of all cultures and times. Buddhism has referred to it as the “identity of Samsara and Nirvana.” From this point of view, Ch'an is not a method that brings people living in ignorance to the goal of liberation; rather it is the immediate expression and actualization of the perfection present in every person at every moment.
thiền na phật
Jina (S), Dhyāna Buddha (S), Conqueror Kỳ NaTên một vị Phật hay Như Lai. 1- Thiền na Phật. 2- bậc Đại hùngXem Ngũ Phật Tại Định.
thiền nam tông
See Southern school.
Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự
(禪源諸詮集都序, Zengenshosenshūtojo): 2 quyển, trước tác của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密) nhà Đường, được san hành vào năm thứ 7 (1062) niên hiệu Gia Hựu (嘉祐) nhà Tống, là tác phẩm thâu tập các yếu ngữ, kệ tụng có liên quan đến huyền nghĩa của Thiền môn từ các trước thuật của chư vị trong hệ thống Thiền Tông, lấy tên là Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập (禪源諸詮集), xem đây như là kho tàng của Thiền với ý nghĩa “Đô Tự (都序)”. Nó còn có tên gọi khác là Thiền Na Lý Hành Chư Thuyên Tập (禪那理行諸詮集), có nghĩa là tập giải thích kỹ lưỡng đạo lý căn nguyên của Thiền. Nói tóm lại, nó luận rõ bản nguyên của Thiền là bản giác chơn tánh của tất cả chúng sanh, chứng được bản nguyên ấy gọi là Tuệ, tu tập bản nguyên ấy gọi là Định và trải qua quá trình lý của Thiền, hành của Thiền và thể của Thiền. Hơn nữa, Thiền có 5 loại: Ngoại Đạo Thiền (外道禪), Phàm Phu Thiền (凡夫禪), Tiểu Thừa Thiền (小乘禪), Đại Thừa Thiền (大乘禪), và Tối Thượng Thừa Thiền (最上乘禪). Về Tối Thượng Thừa Thiền, tác phẩm này giải thích rằng: “Tối Thượng Thừa Thiền diệc danh Như Lai Thanh Tịnh Thiền, diệc danh Nhất Hành Tam Muội, diệc danh Chơn Như Tam Muội, thử thị nhất thiết tam muội căn bản, nhược năng niệm niệm tu tập, tự nhiên tiệm đắc bách thiên tam muội, Đạt Ma môn hạ triển chuyển tương truyền giả, thị thử Thiền dã (最上乘禪亦名如來清淨禪、亦名一行三昧、亦名眞如三昧、此是一切三昧根本、若能念念修習、自然漸得百千三昧、達磨門下展轉相傳者、是此禪也, Tối Thượng Thừa Thiền còn có tên gọi khác là Như Lai Thanh Tịnh Thiền, cũng có tên là Nhất Hành Tam Muội, lại có tên là Chơn Như Tam Muội; đây là căn bản của tất cả tam muội, nếu có thể mỗi niệm tu tập nó, tự nhiên dần dần đạt được trăm ngàn tam muội; pháp môn mà môn hạ của Đạt Ma thay nhau truyền thừa chính là Thiền này)”. Đối với Thiền, Khuê Phong thuộc môn hạ của Hà Trạch Tông (荷澤宗) và từng kế thừa dòng pháp của Toại Châu Đạo Viên (遂州道圓); nhưng đồng thời đối với Hoa Nghiêm Tông (華嚴宗), ông lại kế thừa Thanh Lương Trừng Quán (清涼澄觀) và trở thành vị tổ thứ 5; cho nên ông là nhân vật dung hợp cả Giáo và Thiền. Do đó, trong tác phẩm này ông đã tạo sự điều hòa cuộc đấu tranh giữa các nhà Giáo gia cũng như Thiền gia, làm sáng tỏ cả Giáo và Thiền đều có 2 phương diện đốn tiệm như nhau và phải nói rằng ông là luận giả hệ thống hóa nhất trí tư tưởng Thiền và Giáo. Theo bản Trùng Khắc Thiền Nguyên Thuyên Tự (重刻禪源詮序) của Cổ Nhữ Chu (賈汝舟) với tên gọi Minh Tàng Bản (明藏本), chúng ta biết có bản ấn tạo vào năm thứ 8 (tức năm thứ 7 [1062] niên hiệu Gia Hựu [嘉祐]) niên hiệu Thanh Ninh (清寧). Ngoài ra, còn có bản năm thứ 7 (1303) niên hiệu Đại Đức (大德), Phúc Tống Bản (覆宋版) do Triều Tiên khai bản vào năm thứ 4 (1576) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), v.v. Tại Nhật Bản, cũng có san hành bộ này vào năm thứ 3 (1358) niên hiệu Diên Văn (延文) và năm thứ 11 (1698) niên hiệu Nguyên Lộc (玄祿). Sách chú thích có Thiền Nguyên Tập Đô Tự Trước Bính (禪源集都序着柄) của Hối Am Đại Sư Định Tuệ (晦庵大師定慧) người Triều Tiên, Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự Khoa Mục Tinh Nhập Tư Ký (禪源諸詮集都序科目幷入私記) của Liên Đàm Hữu Nhất (蓮潭有一), v.v.
thiền nguyên chư thuyên tập đô tự
(禪源諸詮集都序) Tác phẩm, 2 quyển hoặc 4 quyển, do ngài Tông Mật (780-841) soạn vào đời Đường được thu vào Đại chính tạng tập 48.Ban đầu, ngài Tông mật có soạn 1 bộ Thiền nguyên chư thuyên tập (cũng gọi Thiền na lí hành chư thuyên tập) 100 quyển, thu chép những ngôn cú kệ tụng của các nhà Thiền tông, sau vì gặp pháp nạn Hội xương (845) và chiến loạn ở cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại nên đã bị thất lạc, nay chỉ còn sót lại phần Đô tự, tức là sách này. Ngài Tông mật vốn thuộc cả Thiền tông (Thiền Hà trạch) và Hoa nghiêm tông, cho nênchủ trương Giáo Thiền nhất trí, sách này chính là tác phẩm đại biểu đề xướng chủ trương ấy, là tác phẩm trọng yếu về mặt lịch sử tư tưởng Phật giáo. Sách này gọi nguồn gốc của hết thảy chúng sinh là Bản giác chân tính, Phật tính, Tâm địa và lấy đây làm chủ đề mà triển khai lí luận, tức là phần giáo nghĩa; nương vào giáo nghĩa này để tu chứng khai ngộ chính là Thiền; đây là cội nguồn của Thiền, vì thế gọi là Thiền nguyên.Ởnhiều chỗ, soạn giả lại trưng dẫn Tâm chân như, Tâm sinh diệt...trong luận Đại thừa khởi tín mà chia Thiền thực tiễn làm 5 loại làthiền Ngoại đạo, thiền Phàm phu, thiền Tiểu thừa, thiền Đại thừa và thiền Tối thượng thừa. Về chủ trương Giáo Thiền nhất trí thì soạn giả chia mỗi thứ Giáo và Thiền làm 3 loại, phát minh dung hợp lẫn nhau để chỉ rõ sự nhất trí ấy. Baloại Giáo là: 1. Mật ý y tính thuyết tướng giáo: Giáo y cứ vào tính để nói về tướng. 2. Mật ý phá tướng hiển tính giáo: Giáo phá tướng để hiển bày tính. 3. Hiển thị chân tâm tức tính giáo: Giáo nêu rõ chân tâm chính là tính. Ba tông của Thiền là: 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông diệt vọng niệm tu chân tâm. 2. Mẫn duyệt vô kí tông: Tông dứt bặt không dấu vết. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông chỉ thẳng chân tâm thấy tính thành thật.
Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự 禪源諸詮集都序
[ja] ゼンゲンショセンシュウトジョ Zengen shosenshū tojo ||| The Chanyuan zhujuan ji duxu (Preface to the Collection of Chan Sources). This preface is all that remains of the Chanyuan zhuquan ji 禪源諸詮集, which was an in-depth analysis by Zongmi 宗密 of the Chinese Chan schools of his time. Composed around 833. T 2015.48.399a-413c. => Zengen shosenshū tojo (j); Chanyuan zhujuan ji duxu (c); Preface to the Collection of Chan Sources (e). Bài tựa còn lưu lại với tên là Thiền nguyên chư thuyên tập (c: Chanyuan zhuquan ji 禪源諸詮集), là lời giải thích rất sâu sắc của ngài Tông Mật (c: Zongmi 宗密) về thiền tông Trung Hoa vào trong thời kỳ của ngài.
thiền nguyệt tập
(禪月集) Tác phẩm, 30 quyển, bổ di 1 quyển, do ngài Quán hưu thuật vào đời Đường, đệ tử ngài làĐàm vực biên tập thi văn của ngài mà thành. Trong nguyên bản 30 quyển thì Văn tập 5 quyển đã thất lạc, chỉ còn Thi tập 25 quyển. Ông Mao tấn đời Minh soạn Bổ di 1 quyển. Nội dung gồm: Nhạc phủ cổ đề tạp ngôn, 1 quyển, Cổ phong tạp ngôn cổ ý 5 quyển, Ngũ ngôn luật thi 12 quyển, Thất ngôn luật thi và Thất ngôn tuyệt cú 6 quyển, Thất ngôn luật thi 1 quyển. [X. Tứ khố đề yếu (tập, biệt tập loại)].
Thiền Nham
禪巖; 1093-1163|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13. Sư nối pháp Thiền sư Ðạo Pháp.|Sư tên Khương Thông, dáng vẻ quắc thước, tiếng nói trong thanh, gia thế vốn làm tăng quan.|Khi triều đình mở khoa thi về Kinh điển Ðại thừa, Sư dự thi và đỗ thủ khoa. Sư tìm đến chùa Ðắc Thành tham vấn Thiền sư Ðạo Pháp và chỉ qua một câu nói, Sư lĩnh hội ngay yếu chỉ. Sư nhân đây mới xuất gia.|Ban đầu, Sư trụ trì chùa Thiên Phúc trong núi Tiên Du, đói thì ăn lá cây, khát thì uống nước suối và cứ như thế sáu năm liên tục. Sau đó, Sư trở về quê trùng tu chùa Trí Quả làng Cổ Châu, Long Biên. Vì Sư cầu mưa linh nghiệm nên vua Lí Thần Tông rất tôn trọng.|Năm Chính Long Bảo Ứng thứ nhất, khoảng giữa xuân, Sư đốt hương từ biệt mọi người ngồi an nhiên thị tịch, tho 71 tuổi.
thiền nham
Thiền sư Thiền Nham (1093-1163)—Zen Master Thiền Nham—Thiền sư Việt Nam, quê ở Bắc Việt. Sau khi thi đỗ Giáp Khoa của triều đình, ngài đến chùa Thành Đạo để tham vấn với Thiền sư Pháp Y. Chỉ sau một câu của thầy, ngài liền lãnh hội, nên xin làm đệ tử. Ngài là Pháp tử đời thứ 13 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Ban đầu, ngài trụ tại chùa Thiên Phúc trên núi Tiên Du. Về sau ngài trở về quê trùng tu chùa Trí Quả ở Cổ Châu, Long Biên. Trong khoảng niên hiệu Thiên Thuận, triều đình gửi chiếu chỉ triệu hồi ngài về kinh đô cầu mưa. Ngài đã thành công trong việc cầu mưa và tiếng tăm vang vội. Một ngày năm 1163, ngài đốt nến, từ biệt đệ tử, rồi thị tịch, lúc ấy ngài 71 tuổi—A Vietnamese Zen master from North Vietnam. After passing the National First Laureate, he came to Thành Đạo Temple to discuss with Zen master Pháp Y. Only after one sentence from the master, he awakened and insisted to be his disciple. He was the Dharma heir of the thirteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. At first, he stayed at Thiên Phúc Temple on Mount Tiên Du. Later, he returned to his home town to rebuild Trí Quả Temple in Cổ Châu, Long Biên. During the reign of King Thiên Thuận, the Royal Court sent an Imperial Order to summon him to the capital for rain-making praying. He was successful and became famous after this event. One day in 1163, he lit an incense, said good-bye to his disciples, then passed away, at the age of 71.
thiền nhân
Một thành viên của Thiền phái—A member of the Ch'an (Zen) (Meditative or Intuitive) sect.
; (禪人) Cũng gọi Thiền giả. Chỉ cho người chuyên tu thiền định. Luận Hưng thiền hộ quốc quyển thượng (Đại 80, 7 thượng) nói: Tông này lấy giới làm đầu, lấy Thiền làm điểm rốt ráo, nếu người phá giới mà khởi tâm sám hối, dứt bỏ điều ác thì gọi là Thiền nhân. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].
thiền ni
Ni Cô—A nun.
thiền niệm
(禪念) I. Thiền Niệm. Tâm hướng về thiền định, vui thích với tâm niệm thiền định. Tức tâm niệm chán bỏ mọi phiền lụy ở cõi trần. Chương Thích tuệ hoan trong Tục cao tăng truyện quyển 18 (Đại 50, 577 trung) nói: Sư từng kinh hành trên đỉnh núi, lỡ rơi xuống từ sườn núi cao, liền ngồi ngay trên phiến đá, không quên Thiền niệm, sự linh cảm như thế. II. Thiền Niệm.Chỉ cho thiền định và trí tuệ. An lạc hành đạo chuyển kinh nguyện sinh tịnh độ pháp sự tán quyển hạ (Đại 48, 435 trung) nói: Hoặc dạy dùng phúc tuệ diệt chướng, Hoặc dạy Thiền niệm ngồi suy lường; Tất cả pháp môn đều giải thoát, Đặc biệt niệm Phật về Tây phương.
thiền nội quán
Vipassanā-bhāvana (S), Insight-meditation, Vipaśyana (S), lhak tong (T), Vipassana (P).
Thiền phong
(禪風): gia phong hay phương pháp đặc biệt để cử xướng Thiền, thường chỉ về người hay tông phái, còn gọi là gia phong, tông phong, môn phong.
thiền phái nhật bản
Japanese Zen sects: (A) Lịch sử Thiền phái Nhật Bản—The history of Japanese Zen sects: Theo Giáo sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Thiền du nhập vào Nhật Bản bằng nhiều đợt—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, Zen was introduced to Japan several times: 1) Đệ tử của Huyền Trang là Đạo Chiêu (Doshô 629-700), đến Trung Quốc vào năm 654, lần đầu tiên mang Thiền về truyền bá tại Thiền đường Gangôji ở Nara: Hsuan-Tsang's pupil, Dosho, who went to China in 654 A.D., introduced and taught Zen for the first time in the Zen Hall of Gangôji, Nara. 2) Kế đến là Đạo Tuấn (Dosen), một vị luật sư Trung Hoa, đến Nara năm 710 và truyền Bắc Tông. Ngài truyền pháp cho Hành Biểu (Giôhyô) năm 733 và Hành Biểu truyền cho Tối Trừng: Next, Tao-Hsuan, a Chinese Vinaya (discipline) master, came to Nara in 710 A.D. and taught the Zen of the Northern School. He transmitted it to Giôhyô in 733 A.D., who in turn taught it to Saicho (Dengyô Daishi). 3) Một vị Thiền sư Nam tông là Nghĩa Không (Giku), là đệ tử của Diêm Quan Tề An (Enkwan Saian) đến Kyoto và giảng Thiền từ năm 851 đến 858 tại chùa Đàn Lâm Tự (Danrinji) do hoàng hậu của Ta Nga Thiên Hoàng (Danrin) lập nên. Ông thành công mỹ mãn trong công cuộc truyền bá giáo pháp của ông: A special Zen instructor of the Southern School, Giku, a pupil of Ch'i-An, came to Kyoto and taught Zen from 851 to 858 A.D. in Danrinji Temple built by the Empress Danrin. He was successful in his teaching. ***Trong những trường hợp kể trên, sự truyền bá đều được triều đình ủng hộ nhưng không bền lâu. Vị thiền sư sau cùng phải thất vọng bỏ về Trung Quốc năm 858, để lại một thành tích là Lã Sanh Môn (Rashomon), Kyoto, ghi chứng một kỷ lục về sự truyền bá Thiền tại Nhật Bản: In all the above cases the propagation was assisted by the Court but did not continue long. The last-mentioned teacher went home disappointed in 858 A.D., leaving a monument at Rashomon, Kyoto, inscribed: “A record of the propagation of Zen in Japan.” (B) Triết lý Thiền—Zen philosophy: Cốt lõi của Thiền tông được tóm lược như sau: “Cứ nhìn vào trong tâm thì sẽ thấy được Phật quả.” Tông phái nầy nhấn mạnh vào sự thiền định hay thiền quán mà chỉ riêng một điều nầy đã có thể dẫn đến giác ngộ. Thiền sư Dogen, một trong những hình ảnh tiêu biểu của Thiền tông Nhật Bản. Ông đã bắt đầu cuộc sống tu sĩ với sự tìm lời giả đáp cho câu hỏi: “Vì sao có nhiều vị Phật phải hành trì con đường giác ngộ cho mình như thế, trong khi tất cả chúng sanh đều đã sẵn có Phật quả nơi họ?” Không tìm được người nào ở Nhật Bản có thể giải đáp thỏa đáng cho mình, ông đã đi đến Trung Quốc để tìm sự soi sáng. Tại đây, ông đã được giác ngộ bởi một tu sĩ Phật giáo Thiền tông. Khi trở về Nhật Bản, ông truyền bá chủ thuyết: “Tất cả mọi người đều đã được giác ngộ. Về bản chất, họ là những vị Phật. Hành Thiền chính là một hành động của Phật.”—The essence of Zen Buddhism is summed up as follows: “Look into the mind and you will find Buddhahood,” this sect lays great stress on meditation or contemplation which alone can lead one to enlightenment. Zen master Dogen, one of the most important and representative features of Zen Buddhism. Dogen started his monastic life as a monk seeking an answer to the question: “Why did so many Buddhas practise the way of self-enlightenment, although all living beings, by their very nature, already had Buddhahood in them." As nobody in Japan could satisfy him with a convincing answer, he went to China to seek light. There he attained enlightenment under the instruction of a Zen Buddhist monk. On his return to Japan he propagated the following doctrine: “All human beings have already been enlightened. They are Buddhas by nature. The practice of meditation is nothing but the Buddha's act itself.” (C) Các Thiền phái Nhật Bản—Japanese Zen sects: 1) Phái Chân Ngôn: Shingon Sect—Các giáo lý và phương pháp tu tập của phái nầy được đưa vào Nhật Bản từ Trung Quốc bởi Kukai (hay Hoằng Pháp Đại Sư vì ông được biết qua danh hiệu nầy nhiều hơn) vào thế kỷ thứ IX. Pháp môn tu hành của phái Chân Ngôn xoay quanh ba phương thức quán tưởng: mạn đà la, mật chú, và thủ ấn—The doctrines and practices of this sect were brought from China to Japan in the ninth century by Kukai (or Kobo-daishi, as he is more popularly known). Shingon discipline and practice revolve around three meditational devices: the mandala, the mantra, and the mudra. 2) Phái Lâm Tế: Lin-Chi sect—Giáo lý phái Lâm Tế được Vinh Tây Minh Am (1141-1215) thiết lập vững chắc ở Nhật. Phái Lâm Tế đặc biệt mạnh ở Kyoto, nơi có nhiều chùa và tự viện hàng đầu của phái nầy—The teachings of Lin-Chi sect were firmly established in Japan by Fisai Myoan (1141-1215). The Lin-Chi sect is particularly strong in Kyoto, where many of its head temples and monasteries are located. 3) Phái Hoàng Bá: Huang-Po Sect—Thiền phái nầy được Ấn Nguyên đại sư đưa vào Nhật Bản năm 1654. Tổ đình phái nầy xây theo kiểu Trung Quốc là chùa Mampuku gần Kyoto. Phái Hoàng Bá là thiền phái ít có ảnh hưởng nhất ngày nay tại Nhật Bản—This Zen sect was introduced into Japan from China in 1654 by Zen master Yin-Yuan. Its head temple built in the Chinese style, is Mampukuji, near Kyoto. Huang-Po sect is the least influential of the Zen sects in present-day Japan. 4) Phái Tào Động: Ts'ao-Tung sect—Một trong hai thiền phái có thế lực hơn cả ở Nhật Bản, phái kia là Lâm Tế. Có nhiều thuyết nói về nguồn gốc của cái tên “Tào Động.” Một cho rằng đây là chữ đầu của tên của hai vị thiền sư Động Sơn Lương Giới và Tào Sơn Bổn Tịch. Thuyết khác cho rằng chữ Tào chỉ Lục Tổ, vì ngài cũng được biết qua tên Tào Khê Huệ Năng—One of the two dominant Zen sects in Japan, the other being the Lin-Chi. There are several theories as to the origin of the names of Ts'ao-Tung. One is that it stems from the first character in the names of two masters in China, Tung-Shan-Liang-Chih and Ts'ao-Shan-Pen-Chi. Another theory is that the Ts'ao refers to the Sixth Patriarch, who was also known in Japan as Ts'ao-Tzi-Hui-Neng.
thiền pháp
Methods of meditation.
; Pháp môn hay tông chỉ nhà Thiền được tìm thấy trong Như Lai Thiền trong các kinh điển, và Tổ Sư Thiền hay Đạt Ma Thiền được Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang Trung Quốc (phép thiền mầu nhiệm được truyền cho nhau bằng tâm ý giữa các vị tổ sư)—Methods of mysticism as found in the dhyanas records in the sutras (Tathagata-dhyanas) and traditional dhyana, or the intuitional method brought to China by Bodhidharma.
; (禪法) Pháp môn Thiền na. Chỉ cho Thiền tông, hoặc chỉ cho tông chỉ của Thiền. Trong hội Linh sơn, đức Phật đưa cành hoa lên dạy đại chúng, trăm vạn ngườivàtrời chẳng ai hiểu được ý của Ngài, chỉ một mình tôn giả Ma haCa diếp mỉm cười, lãnh ngộ ý chỉ của Phật, Phật nói Ta trao cho ông diệu tâm Niết bàn, đây chính là nguồn gốc của Như lai thiền ở đời sau, vì thế gọi là Phật tâm tông. Cái thường được gọi là Thiền pháp chính là chỉ cho Thiền của Phật tâm tông này.
thiền pháp yếu giải
(禪法要解) Cũng gọi Thiền pháp yếu giải kinh, Thiền yếu kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào khoảng năm Hoằng thủy thứ 4 đến năm 14 (402-412) đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này giải thích yếu pháp tu thiền của Bồ tát, trước hết nói về Tịnh quán, Bất tịnh quán, kế đến nói về tướng trừ Ngũ cái, tu Tứ thiền, kế nữa nói rõ về 4 tâm vô lượng Từ, Bi, Hỉ, Xả và sự tu tập Tứ không định, Tứ đế quán; đồng thời nói về 10 việc như tâm chuyên chính, chất trực, tàm quí... và nói về pháp 4như ý túc, 5 thần thông. Cư sĩ Thư cừ Kinh thanh (?- 464) đời Bắc Lương cũng có dịch bộ Thiền pháp yếu giải 2 quyển, nhưng hiện nay không còn. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.4, 15; Pháp kinh lục Q.2].
Thiền pháp 禪法
[ja] ゼンホウ zenpō ||| The path of meditation of which there are generally two kinds. The first is called the 'bodhisattva meditation' as first transmitted by Kumārajīva 鳩摩羅什 and analyzed in detail by Zhiyi 智顗. This is the method as explained by the scriptures. The second is the meditation outside the scriptures that is transmitted from mind to mind as in the Chan tradition of Bodhidharma. => Phương pháp tu thiền, thông thường có 2 dạng. Loại đầu được gọi là 'Bồ-tát thiền' mà đầu tiên được truyền bá bởi ngài Cưu-ma-la-thập (s: Kumārajīva 鳩摩羅什 ) và được ngài Trí Khải (Zhiyi 智顗) phân tích chi tiết. Đây là phương pháp được giải thích qua kinh điển. Loại thứ nhì là phương pháp siêu việt kinh điển, dùng tâm truyền tâm, là Thiền tông mà Bồ-đề Đạt-ma truyền dạy.
thiền phòng
1) Nơi hành thiền: Meditation abode, a room for meditation, a cell, a hermitage—See Thiền Đường. 2) Tên thường dùng để gọi “Tự Viện”—A common name for a monastery.
; (禪房) Tĩnh thất của người tu Thiền ở. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 (Đại 24, 683 thượng) nói: Bấy giờ, Thái tử đi đến Thiền phòng, chỗ của tỉ khưu Đàm vô đức để cầu xin xuất gia.
thiền phạm thiên
The three Brahmaloka heavens of the first dhyàna.
; Ba cõi trời Phạm Thiên trong cõi Sơ Thiền sắc giới—The three Brahmaloka heavens of the first dhyana. ** For more information, please see Thiên (III) (A).
; (禪梵天) Chỉ cho 3 tầng trời Phạm (Đại phạm thiên, Phạm phụ thiên, Phạm chúng thiên) thuộc Sơ thiền thiên cõi Sắc. Cõi Sắc có 4 tầng trời đều là những nơi mà người tu Thiền định sẽ sinh về, nên gọi là Thiền thiên. Pháp uyển châu lâm quyển 3 (Đại 53, 288hạ) nói: CõiSơ thiền rộng bằng Tiểu thiên thế giới, đến cõi Thiền thứ 4 thì rộng lớn vô biên; nhưng chưa biết trênĐại thiên thế giới khác cũng có Phạm thiên cõi Sơ thiền, cho đến cũng có Sắc cứu cánh thiên hay không? (xt. Tứ Thiền Thiên).
thiền quan
(禪關) I. Thiền Quan. Ngưỡng cửa của Thiền. Thích môn chính thống quyển 3 (Vạn tục 130, 390 hạ) nói: Người mới bước vào ngưỡng cửa của Thiền, tuy thấy phân chia tông phái khác nhau, nhưng nếu theo dòng tìm về cội nguồn, thì thấy cũng không ngoài thiền định được nói trong các kinh luận, có khi cũng chỉ là một hạnh Thánh định như Thiền gia ngày nay mà thôi. II. Thiền Quan. Chỉ cho đạo tràng tọa thiền, tức là Thiền lâm.Cảnh đức truyền đăng lục quyển 18 (Đại 51, 351 thượng) nói: Sau khi bạch Tứ yết ma(tức sau khi thụ đại giới – ND),toàn thể giới định tuệ há bị câu thúc bởi những chuẩn mực? Bấy giờ, tích trượng gõ khắp Thiền quan.
thiền quan sách tiến
(禪關策進) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vân thê Châu hoành (1532-1615) soạn vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 48 và Vân thêphápvậng tập 14. Nội dung sách này phần trước thu chép những pháp ngữ cốt yếu của các vị Tổ sư gồm 39 chương, tóm lược sự khổ công của chư Tổ gồm 24 chương; phần sau thì thu chép sơ lược các dẫn chứng trong kinh. Phần pháp ngữ cốt yếu của các vị Tổ sư thì thu chép những lời dạy chúng, phổ thuyết của 29 vị Tổ sư như Hoàng bá Hi vận, Huyền sa Sư bị, Nga hồ Đại nghĩa, Vĩnh minhDiên thọ... Phần tóm lược sự khổ công của chư Tổ thì trình bày về sự khổ hạnh và quá trình khai ngộ của các vị Tổ sư, như ngồi trên cành cây là là ra sườn núi, cầm dùi tự đâm, thề không ngủ nghỉ, không theo các duyên, thân miệng đều quên, húc đầu vào cột...; còn phần thu chép sơ lược các dẫn chứng trong kinh thì dẫn dụng các việc nói trong kinh về những người gắng sức tinh tiến tu hành. Sách này lưu hành rất rộng, nói nhiều về hạnh tinh tiến mà người tu thiền nào cũng cần phải đọc.
thiền quyền
The meditation fist (musti), the sign of meditation shown by the left fist, the right indicating wisdom.
; Musti (skt)—Dấu hiệu của thiền định được tượng trưng bởi nắm tay trái, tay phải tượng trưng cho trí tuệ (Tượng Đức Phật Thích Ca có hai vị hộ pháp, bên trái là Bồ Tát Phổ Hiền tượng trưng cho thiền định, bên phải là Bồ Tát Văn Thù tượng trưng cho trí huệ)—The meditation fist, the sign of meditation shown by the left fist, the right indicating wisdom. ** For more information, please see Samantabhadra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Văn Thù Sư Lợi in Vietnamese-English Section.
; (禪拳) Nắm tay trái. Tượng đức Phật Thích ca có 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên, bên trái là bồ tát Phổ hiền, biểu trưng cho Thiền định; bên phải làbồ tát Văn thù, biểu trưng cho Trí tuệ. Bởi vì trí tuệ được phối hợp với bên phải, thiền định được phối hợp với bên trái, cho nên tả quyền tức gọi là Thiền quyền.
thiền quán
Dhyàna-contemplation.
; Dhyana-contemplation—Visualization—Calling to attention—Imagining in the mind.
; (禪觀) Pháp quán tọa thiền. Chỉ cho các pháp quán tu hành khi ngồi thiền. Chương Sư tử tôn giả trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 2 (Đại 51, 214 hạ) nói: Có ngài Ba lợi ca vốn tu Thiền quán.
thiền quán a di đà
Amitābha meditation.
thiền quán và niệm phật
Thiền quán là phương cách khó thực tập. Phật dạy người tu Thiền trước tiên phải tu phép “Tứ Niệm Xứ,” quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Khi đã biết thân, thọ, tâm, pháp đều không sạch, khổ, vô thường và vô ngã, đều giả dối như mộng huyễn, thì chơn tánh sẽ tự hiển bày. Vài người cố gắng thật nhiều để tập trung tư tưởng và loại bỏ những lôi cuốn bên ngoài, nhưng tâm họ vẫn bận bịu đủ thứ. Tuy nhiên, nếu họ cố gắng niệm Phật thì họ có thể dễ dàng đạt đến nhất tâm bất loạn. Hơn nữa, Kinh điển Tịnh Độ đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hành. Nếu có đầy đủ tín, hạnh nguyện và dụng công niệm Phật, thì Phật A Di Đà và Thánh chúng sẽ gia hộ tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc—Meditation is a difficult way to practise. The Buddha taught: “Zen practitioners who want to cultivate must, first of all, practice the Four Foundations of Mindfulness, to contemplate the body is impure, all feelings as suffering, the ordinary mind as impermanent and all phenomena as lacking self-nature. When we realize that body, feelings, mind and phenomena are impure, the source of suffering, impermanent, without self-nature, false, dream-like and illusory, the True Thusness Nature will manifest itself. Some people have tried very hard to concentrate and abandon all distractions, their mind is still preoccupied with all delusions. However, if they try to focus on recitation the Buddha's name, they can reach single-mindedness. Furthermore, the Pure Land Sutras are simple and easy to understand and practice. If you are utterly sincere in your faith, conducts and vows with all efforts, you will be welcome by Amitabha Buddha and other Saints in the Western Pure Land.
thiền quán về tâm
Meditation on the mind—Qua thiền tập liên tục chúng ta có thể thấy được tâm thanh tịnh. Chỉ có thiền tập liên tục, chúng ta có thể vượt qua trạng thái tâm dong ruổi và xả bỏ những loạn động. Cùng lúc chính nhờ thiền tập mà chúng ta có thể tập trung tư tưởng để quán sát những gì khởi lên trong tư tưởng, trong thân, trong cảm thọ, nghe, nếm, ngửi và tưởng tượng, vân vân. Qua thiền tập liên tục, chúng ta có thể quán sát rằng tất cả là vô thường, từ đó chúng ta có khả năng buông bỏ, và Niết bàn hiển hiện ngay lúc chúng ta buông bỏ tất cả—Through continuous meditation we can perceive our mind clearly and purely. Only through continuous meditation we can gradually overcome mental wandering and abandon conceptual distractions. At the same time we can focus our mind within and observe whatever arises (thoughts, sensations of body, hearing, smelling, tasting and images). Through continuous meditation we are able to contemplate that they all are impermanent, we then develop the ability to let go of everything. Nirvana appears right at the moment we let go of everything.
thiền quán về tâm xả
Meditation on equanimity—Chúng ta nên thực tập thiền quán về tâm xả để giảm thiểu sự phát triển của sân giận người nầy và luyến ái người kia—We should try to achieve equanimity through meditation to reduce developing of anger toward one person and attachment toward another person.
thiền quật
Hang động để hành thiền hay an cư—A cell, or cave, for meditation, or retirement from the world.
; (禪窟) Chỉ cho hang núi, nơi người tu Thiền ở. Tức là nơi cư trú của Thiền tăng. Về sau, từ ngữ Thiền quật được chuyển dụng để chỉ cho các chùa viện của Thiền tông. Phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 45 hạ) nói: Ở nơi vườn rừng, tắm chỗ ao hồ, đi dạo trong Thiền quật.
thiền sinh
Meditator or Zen student.
Thiền sàng
(禪床): giường ngồi của tu sĩ, giường để ngồi Thiền, như trong bài thơ Tống Thiên Thai Tăng (送天台僧) của Giả Đảo (賈島, 779-843) nhà Đường có câu: “Hàn sơ tu tịnh thực, dạ lãng động Thiền sàng (寒蔬修淨食、夜浪動禪床, rau lạnh ăn lót dạ, sóng đêm động giường Thiền).” Hay như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, CBETA No. 1295) quyển 20 có đoạn kể vị thị giả hỏi Hòa Thượng Triệu Châu rằng: “Hòa Thượng kiến Đại Vương lai bất hạ Thiền sàng, kim nhật Tướng Quân lai, vi thậm ma khước hạ Thiền sàng. Sư viết: 'Phi nhữ sở tri, đệ nhất đẳng nhân lai, Thiền sàng thượng tiếp, trung đẳng nhân lai, hạ Thiền sàng tiếp, mạt đẳng nhân lai, Tam Môn ngoại tiếp' (和尚見大王來不下禪床、今日將軍來、爲甚麼卻下禪床、師曰、非汝所知、第一等人來、禪床上接、中等人來、下禪床接、末等人來、三門外接, Hòa Thượng thấy Đại Vương đến mà chẳng bước xuống giường Thiền, hôm nay Tướng Quân đến, vì sao Ngài lại bước xuống giường Thiền mà tiếp. Hòa Thượng bảo: 'Ngươi không hiểu đâu, người hạng nhất thì ta tiếp trên giường Thiền; người hạng trung thì ta bước xuống giường Thiền tiếp; người thuộc hạng cùng mạt thì ta ra tận ngoài cửa Tam Quan tiếp').”
Thiền Sơ địa
cũng viết: Sơ thiền, Sơ thiền định, Đệ nhất thiền. Xem Bốn thiền.
Thiền sư
禪師; C: chánshī; J: zenji; |Danh hiệu dành cho những vị đã Giác ngộ và hoằng hoá trong Thiền tông. Thường thường các bậc tôn túc được ban danh hiệu này sau khi viên tịch nhưng cũng có nhiều người được mang danh hiệu trong lúc còn giáo hoá.
thiền sư
Dhyana master, Zen master, Dyayin (S), Jhayin (P), Butto Kokushi (J), Jakuhitsu Genko (J), Zenji (J), Son (K), Ch'an shi (C), Chanshī (C).
; A master, or teacher, of meditation, or of Thiền tông.
; Kammatthanacariya (p)—A Zen Master—A meditation teacher. 1) Một vị Thầy dạy Thiền nói chung: A master, or teacher, of meditation, or of the Ch'an school in general. 2) Một vị Thầy đã chứng ngộ và dạy thiền: A Zen master who has already attained self-realization or enlightenment. He was allowed to teach Zen to his disciples. 3) Bậc Thầy Thiền vĩ đại hay danh tiếng. Danh hiệu nầy thường được phong tặng sau khi vị thầy đã viên tịch, mặc dù một vài bậc thầy đã đạt được danh hiệu nầy ngay trong lúc còn sống: A great or renowned Zen master. The title is usually conferred posthumously, though some masters have achieved this distinction during their life time.
; (禪師) Phạm:Dhyàyin. Pàli:Jhàyin. Chỉ cho vị tỉ khưu thông suốt Thiền định. Ở thời đại Phật giáo nguyên thủy, các vị A la hán đều là những người thông hiểu tất cả pháp Thiền; về sau đến thời đại Phật giáo bộ phái, thì giữa các tỉ khưu sản sinh ra các loại nhân tài chuyên môn như: Kinh sư, Luận sư, Luật sư, Tam tạng sư, Pháp sư, Thiền sư... Trong đó, người chuyên tâm chú ý tọa thiền, thông hiểu thiền định, gọi là Thiền sư. Ở Trung quốc, danh hiệu Thiền sư, không phải chỉ chuyên dùng cho các bậc danh đức của Thiền tông, mà các sư thuộc tông Thiên thai, tông Tịnh độ, Tam giai giáo... chuyên tu tọa thiền cũng gọi là Thiền sư. Chẳng hạn như thiên Tập thiền trong Tục cao tăng truyện đã thu chép Đạt ma thiền sư, Tuệ văn thiền sư, Tuệ tư thiền sư, Bảo chí thiền sư, Đạo xước thiền sư, Tín hành thiền sư... Về sau, triều đình cũng ban danh hiệu Thiền sư cho các bậc cao tăng danh đức, như trường hợp Tổ Thần tú của Thiền Bắc tông là người đầu tiên đã được ban thụy hiệu Đại Thông Thiền Sư. Sau, Tổ Tuệ năng của Thiền Nam tông, sau khi thị tịch hơn 100 năm, được ban thụy hiệu Đại Giám Thiền Sư. Lúc còn sống mà được ban hiệu thì có ngài Tông cảo đời Tống là người đầu tiên được ban hiệu Đại Tuệ Thiền Sư.
thiền sư vạn hạnh
Ngày sanh của Thiền Sư không ai biết. Lúc thiếu thời ông đã tỏ ra thông minh đỉnh ngộ phi thường. Ông xuất gia năm 21 tuổi. Ông thị tịch vào đêm trăng tròn năm 1018—Zen Master Vạn Hạnh's date of birth was unknown. At the young age, he was extraordinarily intelligent. He left home at the age of 21. He died on the full moon night of 1018—The author of this poem: Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô! Our life is a simple lightning which comes and goes (appears then disappears). As springtime offers blossoms, only to fade (wither) in the fall. Earthly flourish and decline, O friends, do not fear at all. They are nothing but a drop of dew on the grass of morning!
thiền sắc giới
RŪpa-jhāna (P), RŪpa-dhyāna (S).
thiền tam muội
Dhyāna meditation, sam ten (T), Dhyana-Samadhi (S)Thiền na Tam muội, Thiền Tam muội, Thiền định: tham thiền và nhập định.
; Dhyàna and samàdhi, dhyàna considered as tư duy meditating, samàdhi as định abstraction.
; Thiền na và tam muội—Dhyana and samadhi (skt). 1) Thiền na dịch là “tư duy.” Tư duy trong cõi sắc giới thì gọi là thiền—Dhyana is considered meditating. Meditation in the visible or known is called Dhyana. 2) Tam muội dịch là “định.” Tư duy trong cõi vô sắc giới thì gọi là Tam Muội—Samadhi is considered as abstraction. Concentration on the invisible, or supermundane is called Samadhi.
; (禪三昧) Chỉ cho Thiền na và Tam muội. Thiền na, Phạm: Dhyàna, Hán dịch: Tư duy, Tu tập. Tam muội, Phạm: Samàdhi, Hán dịch: Định. Thiền na và Tam muội là cùng 1 thể mà khác tên. Pháp uyển châu lâm quyển 84 (Đại 53, 904 thượng) nói: Bồ tát tu định lại có 10 pháp, không giống với Nhị thừa. Những gì là 10? (...) thứ 8, tu định thì tâm vắng lặng, hơn hẳn các Thiền tam muội của Nhị thừa.
thiền tam tông
(禪三宗) Chỉ cho 3 tông Thiền theo cách tổng phân loại của ngài Khuê phong Tông mật. Trong các tác phẩm Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự và Trung hoatruyền tâm địa thiền môn sư tư thừa tập đồ, ngài Khuê phongTông Mật (780-841), Tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm, chia chung các phái Thiền tông làm 3 tông là: Tức vọng tu tâm tông, Mẫn tuyệt vô kí tông và Trực hiển tâm tính tông. 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông dứt vọng niệm tu chân tâm. Tông thiền này do đệ tử của các ngài Nam sân, Bắc tú, Bảo đường, Tuyên thập...và các vị Ngưu đầu, Thiên thai, Huệ trù, Cầu na...đề xướng. Tông này chủ trương ngoại cảnh và nội tâm đều có phần hạn, nếu bỏ quên cảnh mà quán xét tâm thì có thể diệt được các vọng niệm; hễ diệt được vọng niệm thì liền giác ngộ, rõ suốt tất cả. Đây là chỉ cho Thiền bắc tông. 2. Mẫn tuyệt vô kí tông: Tông dứt bặt không dấu vết. Chỉ cho tông phái của các ngài Thạch đầu, Ngưu đầu, Kính sơn... Tông này chủ trương các pháp phàm thánh đều như mộng huyễn, cho nên phải thoát li tất cả chấp trước, oán thân, vui khổ, tất cả vô ngại, rõ suốt xưa nay vốn vô sự, xa lìa điên đảo, chứng được giải thoát. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông chỉ thẳng chân tâm thấy tính thành Phật. Chỉ cho tông Hồng châu và tông Hà trạch. Các tông này chủ trương Hữu, Không đều là chân tính(tức qui tướng vào tính). Chủ trương này lại chia làm 2 loại: a. Cho rằng ngôn ngữ động tác, tham sân từ nhẫn, thiện ác khổ lạc... đều là Phật tính, ngoài những thứ này ra, không có Phật nào khác. Chủ trương không dứt (ác), không tu(thiện) chính là giải thoát. b. Cho rằng vọng niệm vốn vắng lặng, cảnh trần vốn không, tâm rỗng lặng này chính là cái Biết thiêng liêng, mầu nhiệm, sáng suốt vô cùng, đó là chân tính của ta; 1 chữ Biết này chính là cửa của các cái huyền diệu. Đốn ngộ được cái Biết rỗng lặng này thì biết rằng mọi ý niệm đều vô hình; tuy tu đủ muôn hạnh mà lấy vô niệm làm tông, thì tội nghiệp tự nhiên dứt trừ, công dụng tự nhiên tăng tiến.
thiền thiên
Dhyāna Heaven (S)Có bốn cõi trời thiền trong cõi trời sắc giới.
; Dhyàna heavens, four in numbers. where those who practise meditation may be reborn.
; Có bốn Thiền Thiên, nơi mà các bậc tu thiền có thể tái sanh về (cõi sắc giới có bốn tầng trời mà người tu thiền sẽ được sanh về đấy)—Dhyana heavens, four in number, where those who practice meditation may be reborn. ** For more information, please see Tứ Thiền.
thiền thiên ma
(禪天魔) Một trong 4 câu cách ngôn của tông Nhật liên, Nhật bản. Ngài Nhật liên chọn lấy 4 tông trái với tông chỉ của mình, nhưng có thế lực nhất trong các tông thịnh hành ở đương thời để phê bình mà lập ra 4 câu cách ngôn. Trong đó, Thiền thiên ma là câu thứ 2, tức chỉ trích chủ trương truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự của Thiền tông, cho rằng không nương theo kinh điển là phủ định giáo pháp do đức Phật nói, vì thế coi Thiền tông là pháp của Thiên ma ngoại đạo. (xt. Tứ Cách Ngôn).
thiền tháp
(禪榻) Cũng gọi Thiền sàng. Chỉ cho chỗ ngồi khi tọa thiền. Tháp là cái ghế hẹp và dài nhưng thấp hơn giường, dùng để ngồi hoặc ngủ. Vật dùng để ngồi ở Tăng đường trong Thiền lâm, gọi là Đơn, hoặc gọi là Đơn vị, hình dáng tuy khácThiền sàng, nhưng cả 2 đều là những vật dùng khi tọa thiền. Đơn vị nghĩa là các chỗ ngồi trong Tăng đường có viết tên mỗi người trên mảnh giấy rồi dán lên vách, lúc vào Tăng đường thì tìm chỗ có dán tên mình trên vách mà ngồi, cho nên họ gọi là Đơn vị. [X. Điều Tọa thiền trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5].
thiền thất
Meditation hall or room; other similar terms are thiền quán, thiền phòng, thiền viện, thiền đường, thiền cư.
; Thiền Cư—Thiền Đường—Thiền Phòng—Thiện Viện—Meditation hall or room. ** For more information, please see Thiền Đường.
; (禪室) I. Thiền Thất. Nhà Thiền. Tức chỉ cho nơi tu hành tọa thiền. [X. chương Cầu na bạt ma trong Lương cao tăng truyện Q.3]. II. Thiền Thất. Nơi ở của vị Trụ trì, tức phương trượng. Hoặc được chuyển dụng để gọi thay cho vị Trụ trì. [X. Pháp uyển châu lâm Q.18].
thiền thực
See Thiền Duyệt Thực.
thiền toản
(禪鑽) Toản là dùi, Thiền toản là dùi mài nghiên cứu lí thiền. Từ ngữ này được sử dụng để châm biếm người coi thiền lí như một món đồ để dùi mài hòng mưu việc tiến thân. Lang gia đại túy thiên quyển 31 nói: Lã thân công vốn ưa cái học của Thích, đến khi làm Tướng, thích sự vắng lặng, ít tiếp xúc vớicácsĩ đại phu, chỉ giao du với những người có khả năng đàm luận về Thiền, do đó, những kẻ muốn tiến thân, thường thường khăn đóng, áo đạo, lân la cửa Thiền, theo tăng thụ trai, luận bàn lí tính, mong được bán mình, người đời gọi họ là Thiền toản.
thiền trai
(禪齋) Chỉ cho Thiền thất. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 263 hạ) nói: Lại có cái gọi là Thiền trai. Trai nghĩa là trang nghiêm, yên tĩnh, như nhà Nho gọi là Tĩnh thất, hoặc gọi là Thư trai.
thiền trí
Xem Thiền huệ.
; Meditation and wisdom.
; Thiền định và trí huệ—Meditation and wisdom. ** For more information, please see Thiền Quyền, Samantabhadra, and Văn Thù Sư Lợi.
thiền trượng
A staff or pole for touching those who fall asleep while assembled in meditation. Bonze's crosier.
; Cây gậy dùng đánh thức người hôn trầm khi ngồi tọa thiền (được làm bằng trúc hoặc sậy)—A staff or pole for touching those who fall asleep while assembled in the meditation.
; (禪杖) Cây gậy được sử dụng để chống ngủ gật lúc tọa thiền. Gậy làm bằng tre hoặc lau, một đầu được bọc lại bằng vải. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Thiền trượng được làm bằng tre hay lau, dùng vật bọc một đầu, sai vị Hạ tọa cầm đi tuần tra, nếu người tọa thiền ngủ gật thì dùng đầu gậy có bao bọc đánh nhẹ vào lưng cho tỉnh ngủ. Ngày nay Thiền trượng là chỉ chung cho cây gậy của chúng tăng dùng. [X. luận Thập tụng Q.40; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 2; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thiền trấn
Một miếng gỗ dùng để gõ đầu vị sư ngủ gục trong lúc hành thiền—The meditation-warden, a piece of wood so hung as to strike the monk's head when he nodded in sleep. ** For more information, please see Thiền Cầu and Thiền Trượng.
; (禪鎮) Một thứ đạocụđược đặt ở trên đầu dùng để chống ngủ gật lúc tọa thiền. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Thiền trấn được làm bằng thanh gỗ, dùi một cái lỗ ở giữa, xỏ sợi dây nhỏ quàng vào tai, để ở trên đầu cách trán 4 đốt ngón tay. Nếu người tọa thiền ngủ gật thì đầu nghiêng, Thiền trấn sẽ rơi làm cho tỉnh ngủ. Đức Phật dạy: Nếu rơi1 lần cho duỗi 1chân, nếu rơi 2 lần cho duỗi 2 chân, nếu rơi 3 lần thì cho đứng dậy đi dạo. Tượng vẽ Đại sư Thiên thai Trí khải có đặt loại Thiền trấn này. [X.luật Thập tụng Q.40; luận Đại trí độ Q.41; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.2; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 2; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 2; Pháp uyển châu Q.32; Khí vật môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thiền tuệ
Dhyàna and Wisdom.
; See Thiền Huệ.
thiền tuỷ
(禪髓) I. Thiền Tủy. Chỉ cho cốt tủy của đạo Thiền. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 219 trung) nói: Sau 9 năm, muốn trở về Thiên trúc, sư(tức Tổ sư Đạt ma) mới bảo các đệ tử: Đã đến lúc, các ngươi mỗi người hãy nói sở đắc của mình. Bấy giờ, đệ tử là Đạo phó thưa rằng: Như chỗ thấy của con thì không chấp văn tự, cũng không lìa văn tự, đó là đạo dụng. Sư nói: Ông được phần da của ta. Ni Tổng trì thưa: Nay chỗ hiểu của con như ngài Khánh hỉ thấy cõi Phật A súc, một khi thấy rồi không còn thấy lại nữa. Sư nói: Ngươi được phần thịt của ta. Ngài Đạo dục thưa: Bốn đại vốn không, 5 ấm chẳng phải có, như chỗ thấy của con thì không có một pháp nào để được cả. Sư nói: Ông được phần xương của ta. Cuối cùng, ngài Tuệ khả sau khi lễ bái, đứng yên tại chỗ. Sư nói: Ông được phần tủy của ta. II. Thiền Tủy. Tên khác của kinh Lăng nghiêm. [X. Lăng nghiêm cú giảng lục Q.1].
thiền tâm
The mind in a state of abstraction.
; Zen mind—Empty mind is Zen mind: Vô tâm là thiền tâm.
; (禪心) Chỉ cho tất cả tâm, tâm sở thiện tương ứng với 2 pháp tàm, quí và 3 thiện căn vô tham, vô sân, vô si mà khởi lên. Kinh Na tiên tỉ khưu quyển thượng (Đại 32, 697 thượng) nói: Dùng thiện tâm nhớ nghĩ chính pháp. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.6]. THIÊN THẾ THIỀN SƯ Tên chức Tăng quan được đặt ra ở đời Minh. Niên hiệu Hồng vũ năm đầu (1368) đời vua Thái tổ nhà Minh, viện Thiện thế được thiết lập ở chùa Thiên giới tại Nam kinh để quản lí công việc Phật giáo. Ngài Tuệ đàm là Thiện thế thiền sư đời thứ nhất. Hai chức Tả thiện thế và Hữu thiện thế Chánh lục phẩm được đặt ra vào nămHồng vũ 14 (1381) để giám sát các vị tăng phạm giới pháp trong các chùa viện. Vào năm Hồng vũ 22 (1389), vua hạ chiếu ban cho Thiện thế thiền sư chức quyền trông coi các chùa trong nước với mục đích lớn nhất là giúp vua giữ gìn giềng mối và hộ trì đạo pháp. [X. Thích giám kê cổ lượctụctập Q.2].
Thiền Tông
(禪宗, Zen-shū): lược xưng của Tọa Thiền Tông (坐禪宗, Zazen-shū), đối ứng với Giáo Tông, có ý nghĩa là tông phái chuyên tu ngộ đạo theo Thiền pháp của Đạt Ma truyền thừa. Nó còn được gọi là Phật Tâm Tông (佛心宗, Busshin-shū) hay Đạt Ma Tông (達磨宗, Daruma-shū), thuộc một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc và ở Nhật cũng vậy. Từ ngày xưa ở Trung Quốc hệ thống của những người chuyên tu tọa Thiền được gọi chung là Thiền Tông; vì thế trong đó ngoài Đạt MaTông ra, còn có Thiên Thai Tông và Tam Luận Tông, nhưng từ giữa thời nhà Đường trở đithì chỉ có Đạt MaTông mới được gọi là Thiền Tông mà thôi. Theo truyền thuyết cho rằng ngày xưa khi đức Phật Thích Ca đang ở trên Hội Linh Sơn, lúc ấy ngài cầm cành hoa Kim Ba La Hoa (金波羅華) do chư thiên đem dâng cúng, mà đưa ra trước hội chúng hơn 80.000 người. Đại chúng hết thảy đều ngẩn ngơ im lặng mà không thể nào hiểu được thâm ý của đức Như Lai thế nào. Khi ấy chỉ có một mình Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, 摩訶迦葉) mĩm cười mà thôi. Thấy vậy đức Phật bèn dạy rằng: "Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp", và truyền trao chánh pháp cho vị này. Đây được xem như là khởi nguyên của Thiền Tông. Câu chuyện này được ghi lại trong Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 27) và không phải là sự thật mang tính lịch sử. Thế nhưng ở Trung Quốc, Thiền từ thời Lục Tổ trở đi thì chú trọng đến vấn đề gọi là “dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền (以心傳心、敎外別傳)”, nên câu chuyện phú pháp tương thừa của Ca Diếp cũng được xem trọng. Ca Diếp sau đó truyền pháp này lại cho A Nan (s: Ānanda, 阿難), từ A Nan đến Thương Na Hòa Tu (s: Śāṇakavāsa,商那和修), Ưu Bà Cúc Đa (s: Upagupta, 優婆毱多), Đề Đa Ca (s: Dhṛtaka, 提多迦), Di Giá Ca (s: Miccaka, 彌遮迦), Bà Tu Mật (s: Vasumitra, 婆須蜜), Phật Đà Nan Đề (s: Buddhanandi, 佛陀難提), Phục Đà Mật Đa (s: Buddhamitra, 伏駄蜜多), Ba Lật Thấp Bà (s: Pārśvika, 波栗濕婆), Phú Na Dạ Xà (s: Puṇyayaśas, 富那夜奢), A Na Bồ Đề (s: Aśvaghoṣa, 阿那菩提, tức Mã Minh [馬鳴]), Ca Tỳ Ma La (s: Kapiñdjala, 迦毘摩羅), Na Già Yên Thích Thọ Na (s: Nāgārjuna, 那伽閼刺樹那, tức Long Thọ [龍樹]), Ca Na Đề Bà (s: Kāṇadeva, 迦那提婆, tức Thánh Thiên [聖天]), La Hầu La Đa (s: Rāhulata, 羅詭羅多), Tăng Già Nan Đề (s: Sañghānandi, 僧伽難提), Ca Da Xá Đa (s: Gayāśata, 迦耶舍多), Cưu Ma La Đa (s: Kumāralabdha, 鳩摩羅多), Xà Dạ Đa (s: Gayata, 闍夜多), Bà Tu Bàn Đầu (s: Vasubandhu, 婆修盤頭, tức Thế Thân [世親]), Ma Nã La (s: Manorhita, 摩拏羅), Hạc Lặc Na (s: Haklenayaśas, 鶴勒那), Sư Tử Bồ Tát (s: Siṁhabhikśu, 師子菩薩), Bà Xá Tư Đa (s: Basiasita, 婆舍斯多), Bất Như Mật Đa (s: Purjamitra, 不如蜜 多), Bát Nhã Đa La (s: Prajñātara, 般若多羅), cho đến Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) như vậy là 28 vị tổ tương thừa, được gọi là Tây Thiên Nhị Thập Bát Tổ (西天二十八祖). Sau khi Bồ Đề Đạt Ma sang miền Đông Độ Trung Hoa thì truyền lại cho Huệ Khả (慧可), rồi Huệ Khả truyền thừa kế tiếp cho Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍) cho đến Huệ Năng (慧能). Đây được gọi là Đông Độ Lục Tổ (東土六祖).
; (禪宗): lược xưng của Tọa Thiền Tông (坐禪宗, Zazen-shū), còn gọi là Phật Tâm Tông (佛心宗), Đạt Ma Tông (達磨宗), Vô Môn Tông (無門宗); chỉ tông phái của Phật Giáo Đại Thừa, lấy Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨, ?-495, 346-495, ?-528, ?-536) làm sơ Tổ, tham cứu bản nguyên của tâm tánh với yếu chỉ “kiến tánh thành Phật (見性成佛, thấy tánh thành Phật)”, chuyên tu ngộ đạo theo Thiền pháp của Đạt Ma truyền thừa. Đây là một trong 13 tông phái của Phật Giáo Trung Quốc, và cũng là một trong 13 tông phái của Phật Giáo Nhật Bản. Từ ngày xưa ở Trung Quốc hệ thống của những người chuyên tu tọa Thiền được gọi chung là Thiền Tông; vì thế trong đó ngoài Đạt MaTông ra, còn có Thiên Thai Tông và Tam Luận Tông, nhưng từ giữa thời nhà Đường trở đithì chỉ có Đạt MaTông mới được gọi là Thiền Tông mà thôi. Theo truyền thuyết cho rằng ngày xưa khi đức Phật Thích Ca đang ở trên Hội Linh Sơn, lúc ấy ngài cầm cành hoa Kim Ba La Hoa (金波羅華) do chư thiên đem dâng cúng, đưa ra trước hội chúng hơn 80.000 người. Đại chúng hết thảy đều ngẩn ngơ im lặng mà không thể nào hiểu được thâm ý của đức Như Lai thế nào. Khi ấy chỉ có một mình tôn giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, 摩訶迦葉) mĩm cười mà thôi. Thấy vậy đức Phật bảo với tôn giả rằng: “Ngã hữu chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, phó chúc dữ nhữ (我有正法眼藏、涅槃妙心、實相無相、微妙法門、付囑與汝, ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng không tướng, phó chúc cho ngươi)”, và truyền trao chánh pháp cho vị này. Đây được xem như là khởi nguyên của Thiền Tông. Câu chuyện này được ghi lại trong Phẩm Niêm Hoa (拈華品) thứ 2 của Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 27) và không phải là sự thật mang tính lịch sử. Thế nhưng ở Trung Quốc, Thiền từ thời Lục Tổ trở đi thì chú trọng đến vấn đề gọi là “dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền (以心傳心、敎外別傳)”, nên câu chuyện phú pháp tương thừa của Ca Diếp cũng được xem trọng. Ca Diếp sau đó truyền pháp này lại cho A Nan (s: Ānanda, 阿難), từ A Nan đến Thương Na Hòa Tu (s: Śāṇakavāsa,商那和修), Ưu Bà Cúc Đa (s: Upagupta, 優婆毱多), Đề Đa Ca (s: Dhṛtaka, 提多迦), Di Giá Ca (s: Miccaka, 彌遮迦), Bà Tu Mật (s: Vasumitra, 婆須蜜), Phật Đà Nan Đề (s: Buddhanandi, 佛陀難提), Phục Đà Mật Đa (s: Buddhamitra, 伏駄蜜多), Ba Lật Thấp Bà (s: Pārśvika, 波栗濕婆), Phú Na Dạ Xà (s: Puṇyayaśas, 富那夜奢), A Na Bồ Đề (s: Aśvaghoṣa, 阿那菩提, tức Mã Minh [馬鳴]), Ca Tỳ Ma La (s: Kapiñdjala, 迦毘摩羅), Na Già Yên Thích Thọ Na (s: Nāgārjuna, 那伽閼刺樹那, tức Long Thọ [龍樹]), Ca Na Đề Bà (s: Kāṇadeva, 迦那提婆, tức Thánh Thiên [聖天]), La Hầu La Đa (s: Rāhulata, 羅詭羅多), Tăng Già Nan Đề (s: Sañghānandi, 僧伽難提), Ca Da Xá Đa (s: Gayāśata, 迦耶舍多), Cưu Ma La Đa (s: Kumāralabdha, 鳩摩羅多), Xà Dạ Đa (s: Gayata, 闍夜多), Bà Tu Bàn Đầu (s: Vasubandhu, 婆修盤頭, tức Thế Thân [世親]), Ma Nã La (s: Manorhita, 摩拏羅), Hạc Lặc Na (s: Haklenayaśas, 鶴勒那), Sư Tử Bồ Tát (s: Siṁhabhikśu, 師子菩薩), Bà Xá Tư Đa (s: Basiasita, 婆舍斯多), Bất Như Mật Đa (s: Purjamitra, 不如蜜多), Bát Nhã Đa La (s: Prajñātara, 般若多羅), cho đến Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) như vậy là 28 vị tổ tương thừa, được gọi là Tây Thiên Nhị Thập Bát Tổ (西天二十八祖, Hai Tám Vị Tổ Ấn Độ). Sau khi Bồ Đề Đạt Ma sang miền Đông Độ Trung Hoa thì truyền lại cho Huệ Khả (慧可), rồi Huệ Khả truyền thừa kế tiếp cho Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍) cho đến Huệ Năng (慧能). Đây được gọi là Đông Độ Lục Tổ (東土六祖, Sáu Vị Tổ Trung Hoa). Cụ thể, vào trong khoảng niên hiệu Phổ Thông (普通, 520-527) đời vua Võ Đế (武帝, tại vị 502-449) nhà Lương, Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Nam Thiên Trúc (南天竺) đến Kiến Nghiệp (建業, Nam Kinh [南京] ngày nay), truyền tông này vào Trung Hoa; nên được gọi là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa. Ban đầu, Đại Sư đến yết kiến vua Lương Võ Đế, nhưng không khế hợp cơ duyên, bèn vào Thiếu Lâm Tự (少林寺) ở Tung Sơn (嵩山) ngồi xoay mặt vào tường 9 năm; vì vậy người đời gọi Đại Sư là Bích Quán Bà La Môn (壁觀婆羅門). Kế đến, Thần Quang (神光, tức Huệ Khả [慧可]) đứng ngoài tuyết lạnh chặt cánh tay dâng lên để bày tỏ ý chí cầu đạo, cuối cùng được Tổ Sư Đạt Ma truyền tâm ấn cho, làm Tổ thứ 2 của Thiền Tông Trung Hoa. Huệ Khả truyền cho Tăng Xán (僧璨); Tăng Xán truyền cho Đạo Tín (道信) và làm cho tong này hưng thịnh. Môn hạ của Đạo Tín có hai nhân vật kiệt xuất là Hoằng Nhẫn (弘忍) và Pháp Dung (法融). Môn hạ của Pháp Dung thì có Trí Nghiễm (智儼), Huệ Phương (慧方), Pháp Trì (法持), v.v. Vì pháp hệ này trú tại Ngưu Đầu Sơn (牛頭山) ở Kim Lăng (金陵), thế gian gọi là Ngưu Đầu Thiền (牛頭禪) với yếu chỉ là “dục đắc tâm tịnh, vô tâm dụng công (欲得心淨、無心用功, muốn được tâm tịnh, dụng công với vô tâm).” Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trú tại Hoàng Mai Sơn (黃梅山), Kì Châu (蘄州, Hồ Bắc [湖北]), xiển dương áo chỉ của Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh (s: Vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra, 金剛般若波羅蜜經); có một số môn đệ xuất sắc như Ngọc Tuyền Thần Tú (玉泉神秀), Đại Giám Huệ Năng (大鑑慧能), Tung Sơn Huệ An (嵩山慧安), Mông Sơn Đạo Minh (蒙山道明), Tư Châu Trí Tiển (資州智侁), v.v. Trong số đồ chúng của Ngũ Tổ, Thần Tú được xem như là thượng thủ, nên gọi là Tú Thượng Tọa (秀上座). Sau khi Ngũ Tổ qua đời, Thần Tú chấn tích ở phương Bắc, vì vậy có tên là Bắc Tú (北秀); được tôn xưng là Tổ của Bắc Tông Thiền (北宗禪). Thiền phái này lấy Trường An (長安), Lạc Dương (洛陽) làm trung tâm, xiển dương đạo pháp và hưng thịnh trong vòng khoảng 100 năm. Môn hạ của Thần Tú có Tung Sơn Phổ Tịch (嵩山普寂), Kinh Triệu Nghĩa Phước (京兆義福), v.v., truyền thừa được 4, 5 đời thì tuyệt dứt. Ngoài ra, Tung Sơn Huệ An khai sáng Lão An Thiền (老安禪); còn Tư Châu Trí Tiển thì cổ xướng Nam Tiển Thiền (南侁禪). Về trường hợp Đại Giám Huệ Năng, nhân một bài kệ mà được Ngũ Tổ ấn khả, truyền cho ý bát, kế thừa làm Lục Tổ. Sau đó, sư đi lánh nạn ở phương Nam, trú tại Tào Khê (曹溪), Thiều Dương (韶陽, Quảng Đông [廣東]), cử xướng Thiền phong, được tôn sùng là Tổ của Nam Tông Thiền (南宗禪). Vì tông phong của Nam Tông và Bắc Tông có khác nhau, nên có thuyết Nam Đốn Bắc Tiệm (南頓北漸). Đệ tử nối dòng pháp của Huệ Năng có hơn 40 người; các nhân vật trứ danh phải kể đến là Nam Nhạc Hoài Nhượng (南嶽懷讓), Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思), Nam Dương Huệ Trung (南陽慧忠), Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺), Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會), v.v. Trong đó, Hà Trạch Thần Hội thì khai sáng Hà Trạch Tông (荷澤宗), tận lực đề xướng pháp môn Đốn Ngộ, lấy “nhất niệm bất khởi (一念不起, một niệm không dấy khởi)” để ngồi, và “liễu kiến bản tánh (了見本性, thấy rõ bản tánh)” để Thiền. Nam Nhạc Hoài Nhượng thọ tâm ấn từ Lục Tổ, đến trú tại Bát Nhã Tự (般若寺), tiếp hóa đồ chúng trong vòng 30 năm; kế thừa dòng pháp có 9 vị và Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) được xem như là bậc nhất. Về sau, Mã Tổ cử xướng Thiền pháp tại Cung Công Sơn (龔公山), Giang Tây (江西), cơ phong sắc bén, khai sáng Thiền phong đánh hét độc đáo, được thế gian gọi là Hồng Châu Tông (洪州宗). Mã Tổ chủ trương rằng những hoạt động thường ngày như khởi tâm động niệm, dương lông mày, chớp mắt, v.v., đều là Phật tánh; nên có thuyết gọi là “kiến tánh thị Phật (見性是佛, thấy tánh là Phật)” hay “tánh tại tác dụng (性在作用, tánh ở nơi tác dụng).” Môn hạ của Mã Tổ có hơn 100 người, có các Thiền kiệt xuất như Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), Tây Đường Trí Tàng (西堂智藏), Đại Mai Pháp Thường (大梅法常), Chương Kính Hoài Huy (章敬懷暉), Đại Châu Huệ Hải (大珠慧海), v.v. Kể từ khi Hoài Hải sáng kiến Thiền sát, lập ra Thanh Quy, Thiền Tông bắt đầu thoát ly khỏi chế độ các Thiền tăng phải nương náu vào chùa Luật Tông. Môn lưu của Bách Trượng có Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐), v.v. Đệ tử của Hy Vận thì có Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄). Sau này, Nghĩa Huyền chủ xướng ra Tam Huyền Tam Yếu (三玄三要), Tứ Liệu Giản (四料簡), v.v., để tiếp hóa đồ chúng, cơ phong nghiêm mật; môn đồ theo rất đông, hình thành Lâm Tế Tông (臨濟宗). Lúc bấy giờ thuộc cuối thời nhà Đường. Đến nhà Tống, từ Lâm Tế Nghĩa Huyền kinh qua Hưng Hóa Tồn Tương (興化存獎), Nam Viện Huệ Ngung (南院慧顒), Phong Huyệt Diên Chiểu (風穴延沼), Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念), Phần Dương Thiện Chiểu (汾陽善沼), truyền cho đến Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓). Trong khi đó, môn hạ Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南), Dương Kì Phương Hội (楊岐方會) lại hình thành hai phái Hoàng Long và Dương Kì, cùng tồn tại với Tào Động (曹洞), Vân Môn (雲門). Riêng Quy Sơn Linh Hựu thì trú tại Đàm Châu (潭州, Hồ Nam [湖南]), người đến tham học lên đến 1.500; trong đó, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂) là nổi tiếng nhất, được gọi là Quy Ngưỡng Tông (潙仰宗). Môn hạ của Thanh Nguyên Hành Tư có Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷), soạn bản Tham Đồng Khế (參同契); cùng với Mã Tổ được gọi là hai bậc long tượng vĩ đại. Đệ tử của Thạch Đầu lại có Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟儼), Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然), Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟). Hệ phái của Dược Sơn xuất hiện Vân Nham Đàm Thịnh (雲巖曇晟), Động Sơn Lương Giới (洞山良价), Vân Cư Đạo Ưng (雲居道膺), Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂), v.v., hình thành nên Tào Động Tông (曹洞宗). Thiên Hoàng Đạo Ngộ thì truyền xuống 3 đời đến Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), chấn tích ở Tuyết Phong Sơn (雪峰山), Phúc Châu (福州); từ pháp có hơn 50 vị; trong số đó có Vân Môn Văn Yển (雲門文偃) là người phát huy Thiền phong độc diệu, hình thành nên Vân Môn Tông (雲門宗). Bên cạnh đó, có Huyền Sa Sư Bị (玄沙師僃), truyền xuống cho La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛), Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益). Văn Ích trú tại Thanh Lương Tự (清涼寺), Kim Lăng (金陵), khai sáng Pháp Nhãn Tông (法眼宗). Hệ thống này có các cao tăng như Thiên Thai Đức Thiều (天台德韶), Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽), Vĩnh An Đạo Nguyên (永安道原), v.v. Trong đó, Đức Thiều được xem như là Trí Khải tái lai; Diên Thọ thì soạn bộ Tông Kính Lục (宗鏡錄), xem trọng giáo học; còn Đạo Nguyên thì viết bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), làm sáng tỏ hệ phổ của Đạt Ma Thiền. Trừ các tông phái đã nêu trên, theo Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序, Taishō Vol. 48, No. 2015) của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密) cho biết, các giáo phái Thiền Tông dưới thời nhà Đường có Hồng Châu (洪州), Hà Trạch (荷澤), Bắc Tú (北秀), Nam Tiển (南侁), Ngưu Đầu (牛頭), Thạch Đầu (石頭), Bảo Đường (保唐), Tuyên Thập (宣什, Thiền niệm Phật), Huệ Trù (惠稠), Cầu Na (求那), Thiên Thai (天台), v.v. Trong Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích Nghĩa Sao (圓覺經大疏釋義鈔, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 245) của Tông Mật có nêu ra 7 tông là Bắc Tông Thiền (北宗禪), Trí Tiển Thiền (智侁禪), Lão An Thiền (老安禪), Nam Nhạc Thiền (南嶽禪), Ngưu Đầu Thiền (牛頭禪), Nam Sơn Niệm Phật Môn Thiền (南山念佛門禪), Hà Trạch Thiền (荷澤禪), v.v. Chủ yếu, từ Đạt Ma cho đến Huệ Năng, trong vòng khoảng 250 năm, Thiền phong của được cử xướng chỉ mang một phong cách duy nhất; Ngữ Lục các Tổ sư thường dẫn cứ kinh điển, nêu rõ thể cách Phật pháp, không bị mắc kẹt vào những đối lập của tông phái; cho nên có thể nói rằng đây là thời kỳ thành lập Thiền Tông. Từ Nam Nhạc, Thanh Nguyên cho đến thời Ngũ Đại cuối nhà Đường, trong khoảng 250 năm, riêng một nhánh Nam Tông Thiền phát triển rực rỡ; nếu nói về mặt tư tưởng, họ đã kiến lập nên tinh thần gọi là “tức tâm thị Phật (卽心是佛, ngay tâm này là Phật)”, “bình thường tâm thị đạo (平常心是道, tâm bình thường là đạo).” Còn về mặt sinh hoạt thực tế, thiết lập quy tắc Thiền viện lấy Tăng Đường làm trung tâm; về phương diện hoằng truyền lưu bố Thiền pháp, họ lấy cách hoạt động linh hoạt để tiếp độ học đồ, lấy cơ dụng đánh hét để tuyên xướng Thiền phong. Dần dà, Ngũ Gia (五家) được thành lập. Thời kỳ này có thể nói là giai đoạn phát triển của Thiền Tông. Trong vòng 320 năm của hai triều đại nhà Tống, Lâm Tế Tông lại cho ra đời hai chi phái Hoàng Long và Dương Kì; hình thành nên hệ thống Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗). Trong đó, Phái Hoàng Long được Vinh Tây (榮西, Eisai) truyền vào Nhật Bản; còn về Phái Dương Kì, sau thời Dương Kì Phương Hội có Ngũ Tổ Pháp Diễn (五祖法演), Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤), Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), v.v., tận lực xiển dương Thiền chỉ, tạo thành chủ lưu của Thiền. Trong khi đó, Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺) của hệ thống Tào Động Tông cùng với Đại Huệ Tông Cảo của Lâm Tế Tông mỗi bên đều cử xướng Mặc Chiếu Thiền (默照禪) và Khán Thoại Thiền (看話禪). Chính trong thời kỳ này, các đạo giáo dung hợp, hình thành khuynh hướng Tam Giáo Nhất Trí (三敎一致), Giáo Thiền Điều Hợp (敎禪調合), Thiền Tịnh Song Tu (禪淨雙修). Vì vậy, Thiền Tông dần dần mất đi tính cách độc lập, trở thành thời kỳ thủ vệ. Từ thời nhà Nguyên, Minh cho đến triều vua Càn Long (乾隆, tại vị 1735-1796) nhà Thanh, trong khoảng 450 năm, là thời kỳ suy yếu của Thiền Tông. Trong thời gian này tuy có Hải Vân Ấn Giản (海雲印簡), Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀), Pháp Am Tổ Tiên (破菴祖先), Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), v.v., nhưng cũng chỉ thể hiện tư tưởng Nho Thích Điều Hợp, Giáo Thiền Nhất Trí mà thôi. Thiền Tông thời Cận Đại có Hòa Thượng Hư Vân (虛雲, 1839-1958), thọ đến 120 tuổi, một đời hoằng pháp không mệt mỏi, sáng lập tùng lâm rất nhiều, tận lực quảng bá tông phong, là cao tăng thuộc pháp phái của Lục Tổ Huệ Năng. Thiền Tông của Hàn Quốc thì có Cửu Sơn Thiền Môn (九山禪門). Phần lớn chư vị khai tong lập phái đều sang nhà Đường cầu pháp, rồi trở về nước tuyên xướng Thiền phong, tận lực giáo hóa, hình thành 9 tông phái chính. (1) Thời Thiện Đức Nữ Vương (善德女王, tại vị 632-647) của Tân La (新羅), có Pháp Lãng (法朗) sang nhà Đường, theo hầu Tứ Tổ Đạo Tín, sau truyền pháp ở Hải Đông (海東). Dưới thời Huệ Cung Vương (惠恭王, tại vị 765-780), có Thần Hành (神行) sang nhà Đường cầu pháp, tham yết Chí Không (志空), chứng đắc tâm ấn, sau trở về nước hoằng truyền Bắc Tông Thiền ở Đoạn Tục Tự (斷俗寺), vùng Đơn Thành (丹城). Môn hạ của Thần Hành, từ Tuân Phạm (遵範), Huệ Ẩn (惠隱) cho đến thời của Trí Tiển (智侁), được Cảnh Văn Vương (景文王, tại vị 861-875) quy y theo, khai sáng Hi Dương Sơn Phái (曦陽山派). (2) Vào năm thứ 5 (784) đời Tuyên Đức Vương (宣德王, tại vị 781-785), Kê Lâm Đạo Nghĩa (雞林道義) sang nhà Đường, thọ pháp với môn hạ của Mã Tổ là Tây Đường Trí Tàng và Bách Trượng Hoài Hải, thực hành yếu chỉ Nam Đốn, lưu lại bên đó 37 năm; sau đó trở về nước truyền pháp, hoằng hóa; môn hạ theo rất đông, lập ra Ca Trí Sơn Phái (迦智山派). (3) Dưới thời của Hiến Đức Vương (憲德王, tại vị 810-826), có Hồng Trắc (洪陟) sang nhà Đường tham học, nối tiếp dòng pháp của Tây Đường; sau khi về nước thì dừng chân trú tại Nam Nhạc (南岳). Vào năm thứ 3 (828) đời Hưng Đức Vương (興德王, tại vị 827-836), sư khai sáng Thật Tướng Tự (實相寺), cử xướng Thiền phong; môn hạ theo tham học lên đến hơn ngàn người, và hình thành nên Thật Tướng Sơn Phái (實相山派). (4) Nhân vật đồng thời với Đạo Nghĩa sang nhà Đường cầu pháp, có Chơn Giám Huệ Chiểu (眞鑒慧沼), sư được ấn khả của Thương Châu Thần Giám (滄州神鑑), môn hạ của Mã Tổ; sau khi về nước thì sáng lập Song Khê Tự (雙溪寺). Vào năm thứ 6 (814) đời Hiến Đức Vương, Tịch Nhẫn Huệ Triết (寂忍惠哲) cũng sang nhà Đường, thọ pháp của Tây Đường, rồi trở về nước và hoằng pháp, độ chúng ở Đại An Tự (大安寺) thuộc Đồng Lí Sơn (桐裏山), Võ Châu (武州). Pháp hệ do Huệ Chiểu và Huệ Triết truyền thừa được gọi là Đồng Lí Sơn Phái (桐裏山派). (5) Vô Nhiễm (無染) sang nhà Đường cầu pháp, được tâm ấn của Bảo Triệt (寶徹), rồi về nước vào năm thứ 7 (846) đời Văn Thánh Vương (文聖王, tại vị 840-858) và tận lực cổ xúy Thiền pháp. Nhờ đức độ của sư, Hiến An Vương (憲安王, tại vị 858-861), Cảnh Văn Vương đều quy y theo, nên sư sáng lập Thánh Trú Sơn Phái (聖住山派). (6) Vào năm thứ 6 (831) đời Hưng Đức Vương, có Thông Hiểu Phạn Nhật (通曉梵日) sang nhà Đường, theo học Thiền với Diêm Quan Tề An (鹽官齊安), pháp từ của Mã Tổ, được ấn khả của vị này; sau đó trở về nước và khai sáng Xà Quật Sơn Phái (闍崛山派) trên Thiên Thai Sơn (天台山). Về sau, môn nhân của Phạn Nhật là Lãng Không (朗空) cũng theo bước chân thầy sang nhà Đường, tham học với Thạch Sương Khánh Chư (石霜慶諸), pháp hệ của Thanh Nguyên Hành Tư; vị này trở về nước, trú tại Thật Tế Tự (實際寺) ở Nam Sơn (南山) và xiển dương Thiền chỉ. Đây được xem như là truyền thừa sớm nhất của hệ thống pháp phái Thanh Nguyên sang Hàn Quốc. (7) Song Phong Đạo Duẫn (雙峰道允) sang nhà Đường, thọ pháp với Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), môn nhân của Mã Tổ, được vị này ấn chứng cho, và trở về nước cùng năm với Phạn Nhật. Sau này, môn nhân của Đạo Duẫn là Trừng Quán Chiết Trung (澄觀折中) cũng có dịp sang nhà Đường, tham vấn Phổ Nguyện, rồi trở về nước và trú tại Hưng Ninh Thiền Viện (興寧禪院) thuộc Sư Tử Sơn (師子山). Pháp hệ của Đạo Duẫn và Chiết Trung được gọi là Sư Tử Sơn Phái (師子山派). (8) Dưới thời Cảnh Văn Vương, có Liễu Ngộ Thuận Chi (了悟順之) sang nhà Đường, tham học với Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, sau trở về nước, trú tại Thụy Vân Tự (瑞雲寺) hoằng bố Thiền pháp. Đến năm thứ 16 (824) đời Hiến Đức Vương, Viên Giám Huyền Dục (圓鑑玄昱) sang nhà Đường, học Thiền của Mã Tổ với Chương Kính Hoài Huy (章敬懷暉); sau khi trở về nước thì được 4 đời vua Mẫn Ai (閔哀, ?-839), Thần Võ (神武, ?-839), Văn Thánh (文聖, tại vị 840-858) và Hiến An (憲安) đãi ngộ. pháp từ của sư sáng lập ra Phụng Lâm Tự (鳳林寺) và hình thành Phụng Lâm Sơn Phái (鳳林山派). (9) Vào thời kỳ cuối của triều đình Tân La, có Khánh Du (慶猷), Quýnh Vi (迥微) liên tục sang nhà Đường cầu pháp, được yếu chỉ của Vân Cư Đạo Ưng; sau khi về nước thì tận lực cổ xướng Thiền phong, và đây chính là sơ truyền của Tào Động Tông vào đất nước này. Đến triều đình Cao Lệ (高麗), lại có các cao tăng như Lợi Nghiêm (利嚴), Lệ Nghiêm (麗嚴), Khánh Phủ (慶甫), Căng Nhượng (兢讓), Xán U (璨幽), v.v., kế tục hoằng truyền huyền chỉ tông môn. Trong số đó, Lợi Nghiêm đã từng sang nhà Đường, theo làm môn hạ của Đạo Ưng, được ấn khả tâm truyền; sau khi trở về nước, sư được vua Thái Tổ (太祖, tại vị 918-943) quy y theo, kiến lập Quảng Chiếu Tự (廣照寺) ở Tu Di Sơn (須彌山), Hải Châu (須彌山). Đây chính là khai thỉ của Tu Di Sơn Phái (須彌山派). Chín Thiền phái nêu trên được gọi chung là Tào Khê Tông (曹溪宗). Nhờ sự sùng kính Phật pháp của Thái Tổ, sau này các đời vua khác như Định Tông (定宗, tại vị 945-949), Quang Tông (光宗, tại vị 949-975), Văn Tông (文宗, tại vị 1046-1083), Tuyên Tông (宣宗, tại vị 1083-1094), Thần Tông (神宗, tại vị 1197-1204), v.v., liên tiếp hộ trì; nên Thiền Tông nhất thời hưng thịnh cao độ. Tuy nhiên, đến thời Trung Liệt Vương (忠烈王, tại vị 1274-1298, 1298-1308) trở về sau, quốc thế suy yếu, Thiền Tông cũng theo đó mà bị ảnh hưởng, dẫn đến trầm trệ. Về Thiền Tông của Nhật Bản, đầu tiên vào năm thứ 4 (653) niên hiệu Bạch Trĩ (白雉) đời Hiếu Đức Thiên Hoàng (孝德天皇, Kōtoku Tennō, tại vị 645-654), Đạo Chiêu (道昭, Dōshō) sang nhà Đường cầu pháp. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (天平), Đạo Tuyền (道璿) của Trung Hoa sang Nhật, hoằng truyền Bắc Tông Thiền. Trong thời gian Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823) ở ngôi, có đặc phái cung thỉnh Nghĩa Không (義空) sang Nhật truyền bá Nam Tông Thiền, và bắt đầu mở ra phong thái Thiền Tông Nhật Bản. Đến năm thứ 3 (1187), niên hiệu Văn Trị (文治), Minh Am Vinh Tây (明庵榮西, Myōan Eisai) sang nhà Tống cầu pháp, theo hầu Hư Am Hoài Sưởng (虛菴懷敞), lấy pháp của Phái Hoàng Long truyền vào và khai sáng Lâm Tế Tông Nhật Bản. Vào năm thứ 2 (1223) niên hiệu Trinh Ứng (貞應), Vĩnh Bình Đạo Nguyên (永平道元, Eisai Dōgen) sang nhà Tống, được ấn khả của Thiên Đồng Như Tịnh (天童如淨), rồi quay về nước và trở thành Tổ của Tào Động Tông Nhật Bản. Môn hạ của Đạo Nguyên có Triệt Thông Nghĩa Giới (徹通義介, Tettō Gikai), Hàn Nham Nghĩa Duẫn (寒巖義尹, Kangan Giin); cả hai cũng đã từng sang nhà Tống, sau đó về nước, tận lực cử xướng Thiền phong và lập ra Hàn Nham Phái (寒巖派, còn gọi là Pháp Hoàng Phái [法皇派]). Năm đầu (1235) niên hiệu Gia Trinh (嘉禎), Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓, Enni Benen) sang nhà Tống, đến Kính Sơn (徑山) tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), được tâm ấn của vị này; sau khi trở về nước thì sáng lập Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) ở kinh đô Kyoto và hoằng pháp bố giáo. Đến năm tứ 4 (1246), niên hiệu Khoan Nguyên (寬元), Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) của Trung Hoa sang Nhật, khai sáng Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji); nhờ vậy Thiền phong ở địa phương Quan Đông (關東, Kantō) nhất thời cực thịnh. Vào năm thứ 4 (1267) niên hiệu Văn Vĩnh (文永), Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明, Nampo Shōmyō) sang nhà Tống, được Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚) ấn chứng cho và trở về bổn quốc. Hai năm sau (1269), cao tăng Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念) của Trung Hoa sang Nhật, trú ở hai chùa Kiến Trường (建長, Enchō) và Viên Giác (圓覺, Enkaku), được triều đình cũng như dân chúng kính ngưỡng. Sau đó, một số cao tăng khác sang Nhật truyền đạo như Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧), Tây Giản Tử Đàm (西磵子曇), Đông Lí Hoằng Hội (東里弘會), Viễn Khê Tổ Hùng (遠谿祖雄), Linh Sơn Đạo Ẩn (靈山道隱), v.v. Cuối cùng 24 dòng phái của Thiền Tông Nhật Bản được hình thành; gồm (1) Phái Thiên Quang (千光派, Vinh Tây), (2) Phái Đạo Nguyên (道元派, Đạo Nguyên), (3) Phái Thánh Nhất (聖一派, Viên Nhĩ), (4) Phái Pháp Đăng (法燈派, Giác Tâm [覺心]), (5) Phái Đại Giác (大覺派, Đạo Long), (6) Phái Ngột Am (兀庵派, Phổ Ninh [普寧]), (7) Phái Đại Hưu (大休派, Chánh Niệm), (8) Phái Pháp Hải (法海派, Tĩnh Chiếu [靜照]), (9) Phái Vô Học (無學派, Tổ Nguyên [祖元]), (10) Phái Nhất Sơn (一山派, Nhất Sơn Nhất Ninh), (11) Phái Đại Ứng (大應派, Nam Phố Thiệu Minh), (12) Phái Tây Giản (西磵派, Tây Giản Tử Đàm), (13) Phái Kính Đường (鏡堂派, Kính Đường Giác Viên [鏡堂覺圓]), (14) Phái Phật Huệ (佛慧派, Linh Sơn Đạo Ẩn), (15) Phái Đông Minh (東明派, Đông Minh Huệ Nhật [東明慧日]), (16) Phái Thanh Chuyết (清拙派, Thanh Chuyết Chánh Trừng [清拙正澄]), (17) Phái Minh Cực (明極派, Minh Cực Sở Tuấn [明極楚俊]), (18) Phái Ngu Trung (愚中派, Ngu Trung Châu Cập [愚中周及]), (19) Phái Trúc Tiên (竺僊派, Trúc Tiên Phạn Tiên [竺僊梵仙]), (20) Phái Biệt Truyền (別傳派, Biệt Truyền Minh Dận [別傳明胤]), (21) Phái Cổ Tiên (古先派, Cổ Tiên Ấn Nguyên [古先印元]), (22) Phái Đại Chuyết (大拙派, Đại Chuyết Tổ Năng [大拙祖能]), (23) Phái Trung Nham (中巖派, Trung Nham Viên Nguyệt [中巖圓月]), (24) Phái Đông Lăng (東陵派, Đông Lăng Vĩnh Dư [東陵永璵]). Trong số đó, trừ 3 phái Đạo Nguyên, Đông Minh, Đông Lăng thuộc về Tào Động Tông, 21 phái khác thuộc Lâm Tế Tông. Ngoài ra, vào năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應), Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦) của Trung Hoa sang Nhật, khai sáng Hoàng Bá Tông (黃檗宗), cùng với Tào Động, Lâm Tế hình thành thế chân vạc của Thiền Nhật Bản. Trong bài tựa của Thiền Tông Chánh Mạch (禪宗正脈, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1593) quyển 1 có đoạn rằng: “Thiền Tông nhất tông, biến mãn hoàn vũ, Phật Tổ dĩ hạ, đắc kỳ truyền giả, tự nhất đăng dĩ chí vô tận đăng yên, ngật kim đãi nhị thiên tự (禪宗一宗、遍滿寰宇、佛祖以下、得其傳者、自一燈以至無盡燈焉、迄今逮二千祀, một tông phái Thiền Tông, đầy khắp hoàn vũ, từ Phật Tổ trở xuống, có người truyền thừa, từ một ngọn đèn đến vô tận ngọn đèn vậy, đến nay đã hai ngàn năm).”
Thiền tông
禪宗; C: chán-zōng; J: zen-shū;|Một tông phái của Phật giáo Ðại thừa tại Trung Quốc. Thiền tông sinh ra trong khoảng thế kỉ thứ 6, thứ 7, khi Bồ-đề Ðạt-ma đưa phép Thiền của đạo Phật vào Trung Quốc, hấp thụ một phần nào của đạo Lão. Tại đây, Thiền tông trở thành một tông phái lớn, với mục đích là hành giả trực nhận được bản thể của sự vật và đạt giác ngộ, như Thích-ca Mâu-ni đã đạt được dưới gốc cây Bồ-đề. Thiền tông là môn phái quan tâm đến kinh nghiệm chứng ngộ, đả phá mạnh nhất mọi nghi thức tôn giáo và mọi lí luận về giáo pháp. Thiền tông chỉ khuyên hành giả Toạ thiền (j: zazen), là con đường ngắn nhất, đồng thời cũng là con đường khó nhất. Những nét đặc trưng của Thiền tông có thể tóm tắt được như sau:|教外別傳。不立文字。直指人心。見性成佛|Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, Kiến tính thành Phật|1. Truyền giáo pháp ngoài kinh điển; 2. Không lập văn tự; 3. Chỉ thẳng tâm người; 4. Thấy tính thành Phật.||H 65: Ðức Phật cầm hoa (拈花; Niêm hoa), Ca-diếp mỉm cười (微笑; vi tiếu). Phật Thích-ca khai sáng một tông mới nằm ngoài giáo pháp, chỉ tâm truyền tâm. Vì vậy mà Thiền tông cũng có tên là Phật tâm tông (佛心宗) hay gọi tắt là Tâm tông.|Bốn tính chất rất rõ ràng dễ nhập tâm này được xem là do Bồ-đề Ðạt-ma nêu lên, nhưng cũng có người cho rằng chúng xuất phát từ Thiền sư đời sau là Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願; 749-835), một môn đệ của Mã Tổ. Truyền thuyết cho rằng quan điểm »Truyền pháp ngoài kinh điển« đã do đức Thích-ca áp dụng trên núi Linh Thứu (s: gṛdhrakūṭa). Trong pháp hội đó, Ngài im lặng đưa lên một cành hoa và chỉ có Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa), một Ðại đệ tử, mỉm cười lĩnh hội ý chỉ của cách »Dĩ tâm truyền tâm« (以心傳心; xem Niêm hoa vi tiếu). Ðức Thích-ca ấn chứng cho Ca-diếp là Sơ tổ của Thiền tông Ấn Ðộ. Từ đó, Thiền tông coi trọng tính chất Ðốn ngộ (頓悟; giác ngộ ngay tức khắc) trên con đường tu học.|Thiền tông Ấn Ðộ truyền đến đời thứ 28 là Bồ-đề Ðạt-ma. Ngày nay, người ta không còn tư liệu gì cụ thể về lịch sử các vị Tổ Thiền tông Ấn Ðộ, và thật sự thì điều đó không quan trọng trong giới Thiền. Ðiều hệ trọng nhất của Thiền tông là »tại đây« và »bây giờ.« Ðầu thế kỉ thứ 6, Bồ-đề Ðạt-ma sang Trung Quốc và được xem là Sơ tổ của Thiền tông tại đây. Trong suốt thời gian từ đó đến Lục tổ Huệ Năng (慧能; 638-713), Phật giáo và Lão giáo đã có nhiều trộn lẫn với nhau, nhất là trong phái Thiền đốn ngộ của Huệ Năng, phát triển miền Nam Trung Quốc. Một phái Thiền khác ở phía Bắc, do Thần Tú (神秀) chủ trương, chấp nhận »tiệm ngộ« (漸悟) – tức là ngộ theo cấp bậc – không kéo dài được lâu. Phái Thiền của Huệ Năng phát triển như một ngọn đuốc chói sáng, nhất là trong đời Ðường, đầu đời Tống và sản sinh vô số những vị Thiền sư danh tiếng như Mã Tổ Ðạo Nhất (馬祖道一), Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), Triệu Châu Tòng Thẩm (趙州從諗), Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄) … và truyền ra các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam (Phật giáo). Thiền phương Nam dần dần chia thành Ngũ gia thất tông (五家七宗; năm nhà, bảy tông), đó là những tông phái thường chỉ khác nhau về cách giáo hoá, không khác về nội dung đích thật của Thiền. Ngũ gia thất tông gồm Tào Ðộng (曹洞), Vân Môn (雲門), Pháp Nhãn (法眼), Quy Ngưỡng (潙仰), Lâm Tế và hai bộ phái của Lâm Tế là Dương Kì (楊岐) và Hoàng Long (黃龍; xem các biểu đồ cuối sách).|Trong các tông này thì có hai tông Lâm Tế và Tào Ðộng du nhập qua Nhật trong thế kỉ 12, đầu thế kỉ 13, đến nay vẫn sinh động và còn ảnh hưởng lớn cho Thiền thời nay. Khoảng đến đời nhà Tống thì Thiền tông Trung Quốc bắt đầu suy tàn và trộn lẫn với Tịnh độ tông trong thời nhà Minh (thế kỉ thứ 15). Trong thời gian đó, Thiền tông đúng nghĩa với tính chất »dĩ tâm truyền tâm« được xem như là chấm dứt. Lúc đó tại Nhật, Thiền tông lại sống dậy mạnh mẽ. Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền (道元希玄), người đã đưa tông Tào Ðộng qua Nhật, cũng như Thiền sư Minh Am Vinh Tây (明菴榮西), Tâm Ðịa Giác Tâm (心地覺心), Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明) và nhiều vị khác thuộc phái Lâm Tế đã có công thiết lập dòng Thiền Nhật Bản. Giữa thế kỉ 17, Thiền sư Trung Quốc là Ẩn Nguyên Long Kì (隱元隆琦) sang Nhật thành lập dòng Hoàng Bá, ngày nay không còn ảnh hưởng. Vị Thiền sư Nhật xuất chúng nhất phải kể là Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴), thuộc dòng Lâm Tế, là người đã phục hưng Thiền Nhật Bản trong thế kỉ 18.|Thiền tông Trung Quốc được sáng lập trong thời kì Phật pháp đang là đối tượng tranh cãi của các tông phái. Ðể đối lại khuynh hướng »triết lí hoá«, phân tích chi li Phật giáo của các tông khác, các vị Thiền sư bèn đặt tên cho tông mình là »Thiền« để nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp Toạ thiền để trực ngộ yếu chỉ.|Thiền bắt nguồn từ Ấn Ðộ nhưng đã trở thành một tông phái độc lập khi được truyền sang Trung Quốc, đặc biệt là sau thời của Lục tổ Huệ Năng. Nơi đây, Thiền tông đã hấp thụ cốt tuỷ của nền văn hoá, triết lí Trung Quốc. Nhà Ấn Ðộ học và Phật học danh tiếng của Ðức H. W. Schumann viết như sau trong tác phẩm Ðại thừa Phật giáo (Mahāyāna-Buddhismus): »Thiền tông có một người cha Ấn Ðộ nhưng đã chẳng trở nên trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc. Cái ›dễ thương‹, cái hấp dẫn của Thiền tông chính là những thành phần văn hoá nghệ thuật, những đặc điểm sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Ðộ. Những gì Phật giáo mang đến Trung Quốc – với tư tưởng giải thoát tuyệt đối, trình bày một cách nghiêm nghị khắc khe với một ngón tay trỏ chỉ thẳng – những điều đó được các vị Thiền sư thừa nhận, hấp thụ với một nụ cười thầm lặng đầy thi vị. Thành tựu lớn lao của các Ðại luận sư Ấn Ðộ là nhét ›con ngỗng triết lí‹ vào lọ, thì – chính nơi đây, tại Trung Quốc – con ngỗng này được thả về với thiên nhiên mà không hề mang thương tích.«|Thiền như các vị Thiền sư nhấn mạnh, là trở về với tự nhiên, không hẳn là sự phản đối truyền thống như những học giả sau này thường xác định. Thiền tông phản bác, vứt bỏ những nghi thức rườm rà, những bài luận khó hiểu, bất tận nhưng không phủ nhận nội dung, tinh hoa của chúng. Thiền tông chính là sự tổng hợp độc đáo của hai giáo lí, hai học thuyết nền tảng của Ðại thừa Ấn Ðộ, đó là Trung quán (中觀; s: madhyamaka) và Duy thức (唯識; s: vijñānavāda). Người ta có thể hiểu phần nào những hành động, lời nói, phương pháp hoằng hoá »mâu thuẫn«, »nghịch lí« của các vị Thiền sư nếu nắm được giáo lí của Trung quán và Duy thức. Trong các tập công án của Thiền tông, người ta có thể nhận ra hai loại: 1. Những công án xoay quanh thuyết Thật tướng (實相) của Trung quán tông (s: mādhyamika), tức là tất cả đều là Không (s: śūn-yatā) và 2. Những công án với khái niệm »Vạn pháp duy tâm« (萬法唯心; s: cittamātra) của Duy thức tông.|Công án danh tiếng nhất với thuyết tính Không là Con chó của Triệu Châu (Vô môn quan 1): Tăng hỏi Triệu Châu: »Con chó có Phật tính không?« Triệu Châu trả lời: »Không!« (無).|Một công án không kém danh tiếng theo thuyết Duy thức (Vô môn quan 29): Hai ông tăng cãi nhau về phướn (một loại cờ). Một ông nói: »Phướn động.« Ông khác nói: »Gió động«, và cứ thế tranh cãi. Lục tổ Huệ Năng liền nói: »Chẳng phải gió, chẳng phải phướn, tâm các ông động.« Nghe câu này, hai vị giật mình run sợ.|Tuy không bao giờ trở lại thời vàng son của thế kỉ thứ 7, thứ 8, Thiền tông vẫn luôn luôn gây được một sức thu hút mãnh liệt nơi tín đồ Phật giáo và đóng một vai trò quan trọng trong nghệ thuật Ðông Á. Khoảng vài mươi năm nay, Thiền tông bắt đầu có ảnh hưởng tại phương Tây và Mĩ.
thiền tông
ZenshŪ (J), Ch'an-tsung (C), Changzong (C), Chan School, Zen sect, Zen School.
; Zen Buddhism.
; Phật giáo Trung Quốc chia làm năm nhánh là: Thiền, Giáo, Tịnh, Mật, Luật. Tất cả đều có thiền riêng nhưng không xưng là Thiền tông, chỉ có Tổ Sư Thiền mới xưng là Thiền tông, cũng gọi là Tông Môn Thiền.
; The Zen Sect. (I) Thiền Tông Trung Hoa—The Zen Sect in China: (A) Thiền tông, Phật Tâm tông, hay Vô Môn tông, được Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Tổ thứ 28 ở Ấn Độ, mang vào Trung Quốc. Thiền được coi như là một trường phái quan trọng của Phật giáo. Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa vào khoảng năm 470 và trở thành người sáng lập ra phái Mật Tông và Thiền Tông ở đây. Người ta nói ngài đã hành thiền trước một bức tường của Thiếu Lâm tự trong chín năm. Những đệ tử của Bồ Đề Đạt Ma hoạt động mạnh mẽ ở mọi nơi và đã hoàn toàn chiến thắng các tôn giáo bản địa để rồi cuối cùng Thiền tông được đánh giá rất cao ở Trung Quốc—The Ch'an (Zen), meditative or intuitional, sect usually said to have been established in China by Bodhidharma, the twenty-eighth patriarch, who brought the tradition of the Buddha-mind from India. Ch'an is considered as an important school of Buddhism. Bodhidharma came to China about 470 A.D. and became the founder of esoteric and Zen schools there. It is said that he had practised meditation against the wall of the Shao-Lin-Tzu monastery for nine years. The followers of Bodhidharma were active everywhere, and were completely victorious over the native religions with the result that the teachings of Zen have come to be highly respected everywhere in China. • Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma: The first patriarch Bodhidharma. • Nhị Tổ Huệ Khả: The successor of Bodhidharma or the second patriarch was Hui-K'o. • Tam Tổ Tăng Sán: The third patriarch was Sêng-Ts'an. • Tứ Tổ Đạo Tín: The fourth patriarch was T'ao-Hsin. • Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn: The fifth patriarch was Hung-Jên. • Lục Tổ Huệ Năng: The sixth patriarch was Hui-Neng. (B) Triết lý Thiền—Philosophical Zen: a) Theo triết lý chính của Thiền tông, nhìn vào nội tâm, chứ không phải nhìn ra bên ngoài, là cách duy nhất để đạt đến sự giác ngộ mà trong tâm trí con người thì cũng giống như là Phật quả vậy. Hệ tư tưởng nầy chú trọng vào 'trực cảm,' với một đặc điểm là không có ngôn từ nào để tự diễn đạt, không có một phương thức nào để tự giải thích, không có sự chứng minh dài dòng nào về chân lý riêng của mình một cách thuyết phục. Nếu có sự diễn đạt thì chỉ diễn đạt bằng ký hiệu và hình ảnh. Qua một thời gian, hệ tư tưởng nầy đã phát triển triết lý trực cảm của nó đến một mức độ khiến nó vẫn còn là một triết lý độc đáo cho đến ngày nay: According to the Zen sect, the key theory of Zen, to look inwards and not to look outwards, is the only way to achieve enlightenment, which to the human mind is ultimately the same as Buddhahood. In this system, the emphasis is upon 'intuition,' its peculiarity being that it has no words in which to express itself, no method to reason itself out, no extended demonstration of its own truth in a logically convincing manner. If it expresses itself at all, it does so in symbols and images. In the course of time this system developed its philosophy of intuition to such a degree that it remains unique to this day. b) Theo Giáo sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy—Thiền tông nặng về triết lý nhưng không phải là một nền triết học theo nghĩa hạn hẹp của nó. Đây là một học phái có chất tôn giáo hơn tất cả mọi học phái Phật giáo, nhưng lại không phải là một tôn giáo theo nghĩa thông thường của danh từ nầy. Thiền tông không có kinh điển Phật nào, cũng không trì giữ một luật nghi nào do Phật đặc chế ra. Nếu như không kinh, không luật, thì không một học phái nào có thể ra vẻ Phật giáo. Tuy nhiên, theo ý nghĩa của Thiền, ai mà còn chấp trước vào danh ngôn hay luật lệ thì không bao giờ có thể thấu đáo hoàn toàn ý nghĩa chân thật của người nói. Lý tưởng hay chân lý mà Đức Phật chứng ngộ chắc chắn khác hẳn với những gì mà Ngài đã giảng dạy, bởi vì giáo thuyết nhất thiết bị ước định bởi ngôn từ mà Ngài dùng, bởi thính chúng mà Ngài giáo hóa, và bởi hoàn cảnh xãy ra cho người nói và người nghe. Cái mà Thiền nhắm đến là lý tưởng của Phật, minh nhiên và không bị ước định. Học phái nầy còn được gọi là “Phật Tâm Tông.” Phật tâm vốn cũng chỉ là tâm người thường. Chỉ cần nhìn thẳng vào tâm địa đó là có thể đưa hành giả đến giác ngộ viên mãn. Nhưng bằng cách nào? Chủ ý chung của Phật pháp là để hành giả tự thấy đúng và tự đi đúng—Zen has much philosophy, but is not a philosophy in the strict sense of the term. It is the most religious school of all and yet not a religion in the ordinary sense of the word. It has no scripture of the Buddha, nor does it hold any dicipline of the Buddha. Without a sutra (discourse) or a vinaya (Discipline) text, no school or sect would seem to be Buddhistic. However, according to the ideas of Zen, those who cling to words, letters or rules can never fully comprehend the speaker's true idea. The ideal or truth conceived by the Buddha should be different from those taught by him because the teaching was necessarily conditioned by the language he used, by the hearers whom he was addressing, and by the environment in which the speaker and hearers were placed. What Zen aims at is the Buddha's ideal, pure and unconditioned. The school is otherwise called 'the School of the Buddha's Mind.” The Buddha's mind is after all a human mind. An introspection of the human mind alone can bring aspirant to a perfect enlightenment. But how? The general purport of Buddhism is to let one see rightly and walk rightly. c) Thấy đúng hay kiến đạo: Darsana-marga (skt)—Thấy đúng khác biệt với đi đúng. Để phán đoán con đường sắp đi có đúng hay không, trước nhất học vấn hay khoa học là quan trọng—The way of viewing is different from the way of walking. To judge whether the path we are going to take is right or not, first of all, science is important. d) Đi đúng hay tu đạo: Bhavana-marga (skt)—Người ta thường đi mà không thấy. Tôn giáo chú trọng trên thực hành, tức là đi như thế nào, nhưng lại sao lãng việc giáo hóa những hoạt động trí thức để xác định con đường tu tập chân chính, tức là thấy như thế nào: The way of walking or the way of cultivation. People often walk without seeing the way. Religions generally lay importance on practice, that is, how to walk, but neglect teaching the intellectuall activity with which to determine the right way, that is, how to see. e) Với Thiền—With Zen: Càng đi chúng ta càng khám phá ra rằng triết lý quan trọng hơn tất cả những thứ khác. Trong trường hợp mà khoa học không cung ứng một giải đáp thỏa đáng, thì chúng ta phải trông cậy vào phương pháp tư duy của Thiền để soi tỏ vào bất cứ vấn đề nào được nêu ra: As we go on, we discover that philosophy is much more important than anything else. In case science and philosophy do not give a satisfactory result, we must resort to the meditative method of Zen in order to get insight into any given problem. • Trước tiên, hành giả phải tìm thấy con đường rồi bắt đầu đi trên đó. Mỗi bước tiến nhờ vào tư duy sẽ đưa người vượt qua lớp sóng của nhân sinh, tiến lần đến cõi hư không của thiên giới và cuối cùng đạt đến giác ngộ viên mãn như Đức Phật: First, find out your way and begin to walk on it. The foot acquired by meditation can carry you across the wave-flux of human life, and over and above the air region of the heavenly world and finally make you perfect and enlightened like the Buddha. • Quán là con mắt trực thị và đồng thời là bước chân trên con đường chân thực: Contemplation is the eye which gives insight, and, at the same time, the foot which procures a proper walk. • Thiền định và quán là thấu kính trong đó những đối tượng bên ngoài bị hội tụ để rồi phân tán và khắc ấn tượng lên mặt của những âm bản bên trong: Zen (meditation and concentration) is the lens on which diverse objects outside will be concentrated and again dispersed and impressed on the surface of the negative plates inside. • Sự tập trung vào thấu kính nầy chính là định (samadhi) và định càng sâu thì giác ngộ càng mau chóng: The concentration on the lens itself is concentration (samadhi) and the deeper the concentration is, the quicker the awakening of intuitive intellect. • Những gì khắc đậm hơn vào lớp phim âm bản là huệ (prajna) và là căn bản của những hoạt động trí thức. Qua ánh sáng trí huệ rọi ra bên ngoài, hành giả nhìn và thấy lại cái ngoại giới sai biệt lần nữa rồi theo đó mà hành sự thích nghi vào cuộc sống thực tế: The further impression on the negative film is wisdom (prajna) and this is the basis of intellectual activity. Through the light of reflection (prajna) outwardly, i.e., insight, we see and review the outer world of diversity once again so as to function or act appropriately toward actual life. (C) Cương yếu Thiền Tông—Preliminary of the Zen Sect: 1) Theo Kinh Lăng Già, Thiền tông tin vào đốn ngộ, chứ không qua nghi lễ hay kinh điển. Tu thiền trực ngộ bằng tuệ giác bên trong. Truyền thống truyền thừa Mật giáo lấy câu chuyện Đức Phật trong hội Linh Sơn giơ bông hoa, và ngài Ca Diếp trực ngộ bằng cái mỉm cười làm nguồn gốc (dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền)—According to the Lankavatara Sutra, the Zen sects believe in direct enlightenment, disregarded ritual and sutras and depended upon the inner light and personal influence for the propagation of its tenets, founding itself on the esoteric tradition supposed to have been imparted to Kasyapa by the Buddha, who indicated his meaning by plucking a flower without further explanation. Kasyapa smiled in apprehension and is supposed to have passed on this mystic method to the patriarchs. 2) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Ấn Độ có truyền thống tư duy thực hành trong tất cả các trường phái triết học cũng như tôn giáo do thừa kế giòng Aryan cổ đại. Trong số các trường phái nầy, Du Già là một phái đặc biệt chuyên về tư duy hay tập trung tư tưởng. Hệ thống Du Già là khía cạnh thực hành của triết lý Số Luận (Sankhya), vốn là Nhị Nguyên Luận. Theo Số Luận, thần ngã (atman) và Tự tánh (Prakriti), một đàng thì mù một đàng thì què, không thể hành sự nếu không được hợp nhất. Ngã có tác dụng tri thức, nhưng không thể hoạt động nếu không có tác dụng chất thể của Tự tánh. Khi cả hai hợp lại, mới thấy được con đường và hoạt động tùy ý. Ngã, như kẻ tổ chức một tuồng hát, chỉ chăm sóc diễn viên trình diễn và hoạt động trong vở kịch mà lại nghĩ rằng chính mình đang diễn vở kịch đó, dầu trên thực tế, chỉ có Tự tánh là vận hành và chu tất. Chỉ có tự tu tập mới mang lại tự do, nghĩa là, độc lập của ngã. Phương pháp tự tu tập thực ra là hệ thống Du Già của Patanjali vào thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch. Hệ thống Số Luận nguyên lai thuộc tà đạo vì Vô Thần, chỉ thừa nhận sự hiện hữu của Tự Ngã (Atman) mà không nhận có Đại Ngã (Mahatman). Nhưng khi thực hành về tư duy trừu tượng, đối tượng của sự tập trung tư tưởng rất cần thiết và do đó học thuyết này chấp nhận một hình thức của tự nhiên Thần giáo, nhưng không phải là Hữu Thần giáo. Đến giai đoạn sau cùng nầy của tư duy khi sự tách rời hoàn toàn giữa Ngã và Tự tánh đã có hiệu quả, thì đối tượng của tư duy, Brahman, Đại Ngã hay Thượng đế, bất cứ là gì, không còn cần thiết nữa—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, as an inheritance from the ancient Aryan race, India has had the habit of meditation practiced in all schools of philosophy as well as in religion. There are six systems of Indian philosophy, one of which called Yoga, is especially devoted to meditation or concentration. The Yoga system is the practical side of the Sankhya philosophy, which is dualistic. In Sankhya, Self (Atman) and Nature (Prakriti), one blind as it were, and the other lame, cannot function without being united. Self has the intellectual function, but cannot move without the physical function of Nature. When the two combine together, they see the way and move at will. Self, like the promoter of a theatrical play, simply looks on his mate's acting and moving vut curiously thinks that he himself is acting in the moving, though in reality only Nature is moving and achieving. Only self-culture brings about freedom, that is, dependence of Self. The method of self-culture is practically the Yoga system of Patanjali in the second century B.C. The Sankhya system, originally heterodox since it was atheistic, asserted only the existence of the individual Self (Atman) and not of Universal Self (Mahatman). But in the practice of abstract meditation an object of self-concentration was necessary and so the doctrine assumes the form of deism, but not theism. At the end of meditation, when the absolute separation of Self from Nature has been effected, the object of meditation, Brahman, Paramatman or God, whatever it is, is no longer used. 3) Tầm quan trọng của Thiền định trong hệ thống Du Già ở chỗ phát triển và phục hồi những nguyên lý nhị nguyên, và giải thoát trọn vẹn Thần Ngã khỏi Tự tánh, trong khi phái Du Già Duy Tâm Luận của Phật Giáo đặt trọng tâm nơi sự nhất thống của thế giới bên trong và bên ngoài, tổng hợp các hiện hữu nhân quả và giả tạm của chúng ta, và từ đó mà khám phá ra một cách tiêu cực trạng thái Chân Như (Tathata). Dĩ nhiên, Phật giáo có một học thuyết đặc biệt về Thiền. Mặc dù chiều sâu và chiều rộng của thiền quán tùy thuộc nơi căn tính cá nhân, nhưng phương pháp hay nội dung của thiền định do Đức Phật giảng thuyết ở Tiểu và Đại Thừa đều giống nhau. Loại Thiền đặc biệt nầy được gọi là Như Lai Thiền, vì nó là một phần của Thánh giáo. Phát triển cao độ nhất trong Thiền nầy tìm thấy trong chỉ quán (samathavipasyana) của tông Thiên Thai và trong bí mật Du Già của tông Chân Ngôn: The importance of the abstract meditation of the Yoga system is laid upon the evolution and reversion of the dual principles and upon the final liberation of Self from Nature, while that of the idealistic Yogacara School of Buddhism is centered on the unification of the world within and without, on the synthesizing of our causal and illusory existences, and thus negatively discovering the state of Thusness (Tathata). Buddhism, has, of course, a special doctrine of meditation. Although the depth and width of contemplation depend upon one's personal character, the methods or contents of meditation taught by the Buddha are similar in Hinayana and Mahayana. This special meditation is generally called 'Tathagata meditation,' as it forms one part of the sacred teaching. The highest development of it is seen in the perfect 'calmness and insight' (samathavipasyana) of the T'ien-T'ai School and in the mystical Yogacara of the Shingon School. (D) Tập trung tư tưởng—Concentration of thoughts: See Tám Yếu Tố Tập Trung Tư Tưởng. (II) Thiền tông Việt Nam—Vietnamese Zen: Chính ra Khương Tăng Hội là vị Thiền sư Việt Nam đầu tiên; tuy nhiên, thiền phái Việt Nam chỉ bắt đầu được thành lập từ thời Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi mà thôi. Phật giáo Thiền tông có nhiều nhánh tại Việt Nam, là phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, phái Vô Ngôn Thông, và phái Thảo Đường—Hjiang-Jing-Hui was the first Vietnamese Zen master; however, Vietnamese Zen sects only developed at the time of Zen master Vinitaruci. Zen Buddhism has several branches in Vietnam, namely, the Vinitaruci, the Wu-Yun-T'ung, and the Tsao-T'ang. 1) Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi—Vinitaruci Zen sect: Dòng thứ nhất là dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, được khai sáng bởi một vị Tăng Ấn Độ, đệ tử của Tam Tổ Tăng Xán—The first branch was founded in Vietnam by an Indian monk named Vinitaruci, who was one of the great disciples of the third patriarch, Seng-Ts'an—See Tỳ Ni Đa Lưu Chi and Tăng Xán. 2) Phái Vô Ngôn Thông—Wu-Yun-T'ung Zen sect: Dòng Thiền thứ nhì là dòng Vô Ngôn Thông, được khai sáng bởi Thiền sư Vô Ngôn Thông, một Thiền sư Trung Hoa, đệ tử của Tổ Bách Trượng Hoài Hải—The second branch was founded by a Chinese Zen master named Wu-Yun-T'ung, a great disciple of Pai-Ch'ang-Huai-Hai—See Vô Ngôn Thông, and Bách Trượng Hoài Hải. 3) Phái Thảo Đường—Tsao-T'ang Zen sect: Dòng Thiền thứ ba là dòng Thảo Đường, được khai sáng bởi Thiền sư Thảo Đường, đệ tử của Đức Sơn Tuyên Giám—The third branch was founded by Tsao-T'ang, a disciple of Te-Shan—See Thảo Đường Thiền Sư and Đức Sơn Tuyên Giám. 4) Phái Trúc Lâm—Trúc Lâm Zen sect: Dòng Thiền Trúc Lâm do sơ Tổ Trần Nhân Tông khai sáng—Trúc Lâm Zen sect was founded by the first patriarch Trần Nhân Tông—See Trần Nhân Tông. 5) Phái Lâm Tế—Lin-Chi Zen sect: Phái Lâm Tế được truyền thẳng từ Trung Hoa từ tổ Lâm Tế—The Lin Chi Zen sect was transmitted directly from China from Lin Chi Patriarch. 6) Phái Tào Động—T'ao-T'ung Zen sect: Phái Tào Động được truyền thẳng từ Thiền phái của Lục Tổ ở Tào Khê, Trung Quốc—T'ao-T'ung Zen sect was transmitted directly from T'ao-Tsi, China. (III) Thiền phái Nhật Bản—Japanese Zen sects: Phật giáo Thiền tông có ba nhánh tại Nhật Bản, gọi là Lâm Tế (Rinzai), Tào Động (Soto), và Hoàng Bá (Obaku)—Zen Buddhism has three branches in Japan, namely, the Rinzai, the Soto, and the Obaku—See Thiền Phái Nhật Bản.
; (禪宗) Cũng gọi Phật tâm tông, Đạt ma tông, Vô môn tông. Chỉ cho tông phái Đại thừa tôn ngài Bồ đề đạt ma làm Sơ tổ, tham cứu cội nguồn tâm tính để mong được thấy tính thành Phật, là 1 trong 13 tông của Trung quốc, 1 trong 13 tông của Nhật bản. Từ xưa, Trung quốc lấy hệ thống những người chuyên tâm tọa thiền làm Thiền tông, trong đó bao hàm cả 2 hệ thống Thiên thai và Tam luận, chứ không chỉ giới hạn ở Đạt ma tông; từ giữa đời Đường về sau, Đạt ma tông hưng thịnh, nên khi đề cập đến Thiền tông thì tức là chuyên chỉ cho Đạt ma tông. Về sự truyền thừa của tông này thì Trung quốc lấy việc đức Thích tôn trong hội Linh sơn đưa cành hoa sen lên để dạy chúng và ngài Ca diếp mỉm cười làm khởi nguồn. Thuyết này tuy không có căn cứ sử thực, nhưng Thiền từ Lục tổ Tuệ năng về sau nhấn mạnh việc dùng tâm truyền tâm, truyền riêng ngoài giáo, cho nên đặc biệt coi trọng thuyết Ca diếp phó pháp tương thừa này. Sau ngài Ca diếp, qua các ngài: A nan, Thương na hòa tu, Ưu bà cúc đa, Đề đa ca, Di già ca, Bà tu mật, Phật đà nan đề, Phục đà mật đa, Bà lật thấp bà, Phú na dạ xa, A na bồ đề, Ca tì ma la, Na già ứ lạt thụ na, Ca na đề bà, La hầu la đa, Tăng già nan đề, Già da xá đa, Cưu ma la đa, Xà dạ đa, Bà tu bàn đầu, Ma noa la, Hạc lặc, Sư tử bồ đề, Bà xá tư đa, Bất như mật đa, Bát nhã đa la và Bồ đề đạt ma, tất cả 28 vị, tức là 28 vị Tổ Tây thiên (Ấn độ) của tông này. Ngài Bồ đề đạt ma truyền Thiền pháp đến Trung quốc vào khoảng năm Phổ thông (520-527) đời Lương vũ đế và trở thành Sơ tổ của Thiền tông Trung quốc. Sau, ngài Đạt ma truyền pháp cho ngài Tuệ khả (Thần quang), Tuệ khả truyền cho Tăng xán, Tăng xán truyền cho Đạo tín. Dưới ngài Đạo tín có 2 vị tài trí hơn người là Hoằng nhẫn và Pháp dung. Dưới Pháp dung có Trí nghiễm, Tuệ phương và Pháp trì, vì Pháp hệ này trụ ở núi Ngưu đầu tại Kim lăng, nên người đời gọi là Ngưu đầu thiền, lấy ý muốn được tâm tịnh thì phải vô tâm dụng công làm yếu chỉ. Ngũ tổ Hoằng nhẫn ở núi Hoàng mai tại Kì châu (tỉnh Hồ bắc) xiển dương ý chỉ sâu xa của kinh Kim cương bát nhã, dưới cửa của sư xuất hiện rất nhiều bậc tài trí như: Ngọc tuyền Thần tú, Đại giám Tuệ năng, Tung sơn Tuệ an, Mông sơn Đạo minh, Tư châu Trí sân... Trong các đệ tử của Ngũ tổ thì ngài Thần tú là Đệ nhất thượng thủ, gọi là Tú thượng tọa. Sau khi Ngũ tổ thị tịch, ngài Thần tú truyền bá Thiền pháp ở phương Bắc, vì thế cũng gọi là Bắc Tú, sư có nhiều đệ tử tài giỏi và được tôn làm Tổ của Thiền Bắc tông. Bắc tông lấy Trường an và Lạc dương làm trung tâm, pháp vận hưng thịnh được chừng 100 năm, chủ trương tập trung tinh thần vào việc tu hành Thiền pháp một cách thực tiễn. Dưới ngài Thần tú có các vị Tung sơn Phổ tịch, Kinh triệu Nghĩa phúc... truyền được 4-5 đời thì đoạn tuyệt. Ngoài ra, ngài Tung sơn Tuệ an khai sáng Lão an thiền, còn ngài Tú châu Trí sân thì cũng mở ra Nam sân thiền. Ngài Đại giám Tuệ năng thì nhờ 1 bài kệ mà được Ngũ tổ ấn khả và truyền áo bát cho, kế thừa ngôi vị Đệ lục tổ. Về sau, sư lánh nạn xuống phương nam; trụ ở Tào khê tại Thiều dương (tỉnh Quảng đông), phát huy Thiền phong rất rực rỡ, đó chính là Tổ của Thiền Nam tông. Vì tông phong của 2 tông Nam, Bắc khác nhau, nên có thuyết Nam Đốn Bắc Tiệm. Đệ tử nối pháp của ngài Tuệ năng có hơn 40 vị, trong đó nổi tiếng hơn cả là các vị: Nam nhạc Hoài nhượng, Thanh nguyên Hành tư, Nam dương Tuệ trung, Vĩnh gia Huyền giác, Hà trạch Thần hội... Trong các vị này, ngài Hà trạch Thần hội mở ra Hà trạch tông, cực lực chủ trương pháp môn đốn ngộ, lấy một niệm không khởi làm tọa và thấy rõ bản tính làm Thiền. Ngài Nam nhạc Hoài nhượng được Lục tổ truyền tâm ấn, trụ ở chùa Bát nhã tiếp hóa người học suốt 30 năm, đệ tử nối pháp có 9 vị, đứng đầu là ngài Mã tổ Đạo nhất. Ngài Mã tổ Đạo nhất hoằng dương Thiền pháp ở núi Cung công, tỉnh Giang tây, cơ phong cao vút, mạnh mẽ, khai sáng thiền phong đánh hét, dựng phất trần, người đời gọi là Hồng châu tông. Tông này chủ trương những sinh hoạt hàng ngày của thân tâm như khởi tâm động niệm, nhướng mày, chớp mắt... đều là Phật tính, từ đó có thuyết Kiến tính thị Phật, Tính tại tác dụng. Đệ tử của ngài Mã tổ có hơn trăm vị, nổi tiếng thì có các vị: Bách trượng Hoài hải, Nam tuyền Phổ nguyện, Tây đường Trí tạng, Đại mai Pháp thường, Chương kính Hoài huy và Đại châu Tuệ hải.Từ sau khi ngài Hoài hải sáng lập Thiền viện, đặt ra thanh qui ở núi Bách trượng thì Thiền tông mới thóat li các chế độ Thiền tăng phải ở nhờ trong các chùa Luật. Dưới ngài Bách trượng có các vị Hoàng bá Hi vận, Qui sơn Linh hựu...; dưới ngài Hi vận có Lâm tế Nghĩa huyền. Ngài Nghĩa huyền lập ra Tam huyền tam yếu, Tứ liệu giản... để tiếp hóa đồ chúng, cơ phong nghiêm khắc, môn đồ đông đúc, tự phát triển thành tông Lâm tế, bấy giờ đã là cuối đời Đường. Sang đến đời Tống, lại từ ngài Lâm tế Nghĩa huyền, trải qua các vị: Hưng hóa Tồn tưởng, Nam viện Tuệ ngung, Phong huyệt Diên chiểu, Thủ sơn Tỉnh niệm, Phần dương Thiện chiêu, truyền đến đời thứ 7 là ngài Thạch sương Sở viên, đệ tử của ngài Sở viên là Hoàng long Tuệ nam và Dương kì Phương hội lại diễn sinh 2 phái Hoàng long và Dương kì, đứng ngang hàng với các tông Vân môn, Tào động. Một mình ngài Qui sơn Linh hựu trụ ở Đàm châu (tỉnh Hồ nam), người đến tham học có tới 1.500, đệ tử thì ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch là nổi tiếng hơn cả. Dưới Thiền sư Thanh nguyên Hành tư có ngài Thạch đầu Hi thiên soạn Tham đồng khế, sư và ngài Mã tổ được tôn xưng là Nhị đại Long Tượng (2 bậc Rồng Voi) ở đương thời. Đệ tử ngài Thạch đầu Hi thiên có các vị Dược sơn Duy nghiễm, Đơn hà Thiên nhiên và Thiền hoàng Đạo ngộ. Hệ thống ngài Dược sơn có các vị Vân nham Đàm thịnh, Động sơn Lương giới, Vân cư Đạo ưng, Tào sơn Bản tịch... phát triển thànhtông Tào động. Ngài Thiên hoàng Đạo ngộ truyền được 3 đời đến ngài Tuyết phong Nghĩa tồn, trụ ở núi Tuyết phong Phúc châu, đệ tử nối pháp có hơn 50 người, trong đó, ngài Vân môn Văn yển, phát huy tông trí hình thành tông Vân môn; một vị đệ tử khác của ngài Tuyết phong là Huyền sa Sư bị truyền xuốngđến các vị La hán Quế sâm và Pháp nhãn Văn ích. Ngài Văn ích trụ chùa Thanh lương ở Kim lăng, xiển dương Thiền chỉ, khai sáng ra tông Pháp nhãn, hệ thống này có các vị cao tăng xuất hiện như: Thiên thai Đức thiều, Vĩnh minh Diên thọ, Vĩnh an Đạo nguyên... Trong đó, ngài Đức thiều được gọi là Trí khải tái sinh; ngài Diên thọ soạn Tôngkính lục, xem trọng giáo học; ngài Đạo nguyên soạn Cảnh đức truyền đăng lục, cho biết rõ về hệ phổ của Đạt ma thiền. Trừ các tông phái nêu trên ra, theo Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự của ngài Khuê phong Tông mật thì các giáo phái Thiền tông ở đời Đường gồm có các phái: Hồng châu, Hà trạch, Bắc tú, Nam sân, Ngưu đầu, Thạch đầu, Bảo đường, Tuyên thập(Thiền môn niệm Phật), Huệ trù, Cầu na, Thiên thai... Trong Viên giác sớ sao, ngài Tông mật cũng nêu 7 tông là: Bắc tông thiền, Trí sân thiền, Lão an thiền, Nam nhạc thiền, Ngưu đầu thiền, Nam sơn niệm Phật môn thiền và Hà trạch thiền. Trong Thập di môn, ngài Tông mật lại phân loại làm 5 nhà: Ngưu đầu tông, Bắc tông, Nam tông, Hà trạch tông và Hồng châu tông. Cái mà ngài Tông mật gọi là Ngũ gia, Thất tông tự khác với Ngũ gia, Thất tông do Thiền tông đời sau phân loại, điều này là do thời đại ngài Tông mật sống và bản thân ngài thuộc về tông Hà trạch, cho nên các giáo phái Thiền tông mà ngài thấy lúc bấy giờ cũng khác với các sử liệu Thiền tông đời sau. Tóm lại, từ ngài Đạt ma đến ngài Tuệ năng, trong khoảng thời gian 250 năm, Thiền phong mà tông này nêu cao có 1 phongcách đặc biệt riêng, ngữ lục của các Tổ sư thường trích dẫn và y cứ vào kinh điển mà nêu rõ Phật pháp chỉnh thể, không rơi vào sự đối lập tông phái, có thể gọi đó là thời kì thành lập của Thiền tông. Từ các ngài Nam nhạc, Thanh nguyên cho đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, trong khoảng thời gian 250nămấy, chỉ có Thiền Nam tông độc tôn. Về mặt tư tưởng thì loại bỏ sắn bìm ngôn ngữ văn tự mà kiến lập tinh thần Tức tâm thị Phật, Bình thường tâm thị đạo; về mặt sinh hoạt thực tế thì kiến lập qui chế Thiền viện lấy Tăng đường làm trung tâm. Đối với việc hoằng truyền Thiền pháp, về mặt diễn thuyết thì dùng các cơ pháp linh hoạt sống động để tiếp dẫn người học, dùng các cơ dụng đánh, hét, dựng phất trần, để tuyên dương tông phong. Lâu ngày dần dần phân lập thành Ngũ gia (5 nhà), thời kì này có thể gọi là sự phát đạt của Thiền tông. Trong thời gian 320 năm của 2 đời Bắc Tống và Nam Tống, từtông Lâm tế lại diễn sinh ra 2 phái Hoàng long và Dương kì mà thành là Ngũ gia thất tông (5 nhà 7 tông) của Thiền tông Trung quốc. Trong đó, phái Hoàng long sau được ngài Vinh tây truyền đến Nhật bản; còn phái Dương kì thì sau ngài Dương kì Phương hội, có các cao tăng như Ngũ tổ Pháp diễn, Viên ngộ Khắc cần, Đại tuệ Tông cảo... mở mang Thiền chỉ, hình thành dòng chính của Thiền. Ngoài ra, ngài Hoành trí Chính giác thuộc hệ thống tông Tào động đề xướng Mặc chiếu thiền, còn ngài Đại tuệ Tông cảo thuộc hệ thống tông Lâm tế thì đề xướng Khán thoại thiền. Vào thời kì này, các giáo dung hợp, đưa đến khuynh hướng Tam giáo nhất trí, Giáo thiền điều hợp, Thiền tịnh song tu, tông này dần dần mất tính cách độc lập của mình, đó là thời kì giữ vững sự thành tựu của Thiền tông. Từ Nguyên, Minh cho đến đời vua Càn long nhà Thanh, trong khoảng thời gian 450 năm là thời kì suy đồi của Thiền tông. Trong thời kì này tuy có các vị tông sư 1 đời như Hải vânẤn giản, Vạn tùng Hành tú, Phá am Tố tiên, Vô chuẩn Sư phạm... nối tiếp nhau quật khởi, nhưng nói theo thế mạnh của 1 tông thì kết cục đã rõ là Nho Thích điều hợp, Giáo Thiền nhất trí. Trong các bậc Đại sư Thiền tông thời cận đại thì Hòa thượng Hư vân (1839-1958) là người được suy tôn đứng đầu, với 120 tuổi thọ, một đời hoằng pháp không mỏi mệt, xây dựng nhiều tùng lâm, tận lực chấn hưng Thiền tông, giữ gìn pháp mạch từ thời Lục tổ về sau; soạn các tác phẩm lưu truyền ở đời như: Hư vân hòa thượng pháp vậng, Hư vân hòa thượng thiền thất khai thị lục... Tại Nhật bản, sự lưu truyền Thiền tông bắt đầu với việc ngài Đạo chiêu đến Trung quốc vào đời Đường cầu pháp vào năm Bạch trĩ thứ 4 (653) đời Thiên hoàng Hiếu đức. Năm Thiên bình thứ 8 (732), ngài Đạo tuyền người Trung quốc đến Nhật bản hoằng truyền Thiền Bắc tông; thời Thiên hoàng Sa nga ở ngôi, có sai sứ đến Trung quốc thỉnh ngài Nghĩa không sang Nhật bản hoằng truyền Thiền Nam tông, mở ra tông phong của Thiền tông Nhật bản. Năm Văn trị thứ 3 (1187), ngài Minh am Vinh tây đến Trung quốc vào đời Tống, thờ ngài Hư am Hoài sưởng làm thầy, truyền phápThiền của phái Hoàng long về Nhật bản, mở đầu cho tông Lâm tế ở Nhật bản. Năm Trinh ứng thứ 2 (1223), ngài Vĩnh bình Đạo nguyên đến Trung quốc vào đời Tống, sau khi được ngài Thiên đồng Như tịnh ấn khả, ngài Đạo nguyên trở về Nhật bản, trở thành Tổ của tông Tào động Nhật bản. Đệ tử của sư là các vị Triệt thông Nghĩa giới và Hàm nham Nghĩa doãn, 2 lần đến Trung quốc, sau khi về nước, các ngài truyền pháp rất rộng, về sau, khai sáng riêng phái Hàn nham (cũng gọi phái Pháp hoàng). Niên hiệu Gia trinh năm đầu (1235), ngài Viên nhĩ Biện viên đến Trung quốc tới Kính sơn tham yết ngài Vô chuẩn Sư phạm, được ngài truyền tâm ấn, sau khi trở về Nhật bản, sư sáng lập chùa Đông phúc ở kinh đô (Kyoto), truyền bá Thiền pháp. Năm Khoan nguyên thứ 4 (1246), ngài Lan khê Đạo long người Trung quốc đến Nhật bản, làm Sơ tổ chùa Kiến trường, nhờ đó nên Thiền phong ở Quan đông hưng thịnh. Năm Văn vĩnh thứ 4 (1267), ngài Nam phố Thiệu minh đến Trung quốc, được ngài Hư đường Trí ngu ấn khả rồi trởvềnước hoằng pháp. Năm Văn vĩnh thứ 6 (1269), ngài Đại hưu Chính niệm người Trung quốc đến Nhật bản, trụ các chùa Kiến trường, Viên giác, được triều đình và dân chúng qui kính. Về sau lại có các Đại sư Trung quốc như: Nhất sơn Nhất ninh, Tây giản Tử đàm, Đông lí Hoằng hội, Viễn khê Tổ hùng, Linh sơn Đạo ẩn... nối tiếp nhau đến Nhật bản hoằng truyền đại pháp, nêu cao Thiền phong, mở rộng Thiền pháp, phát triển thành 24 dòng Thiền tông Nhật bản; bao gồm các dòng phái như: Thiên quang (Vinh tây), Đạo nguyên, Thánh nhất(Viên nhĩ), Pháp đăng (Giác tâm), Đại giác(Đạo long), Ngột am (Phổ ninh), Đại hưu(Chính niệm), Pháp hải (Tĩnh chiếu), Vô học(Tổ nguyên), Nhất sơn (Nhất sơn Nhất ninh), Đại ứng(Nam phố Thiệu minh), Tây giản(Tây giản Tử đàm), Kính đường(Kính đường Giác viên), Phật tuệ(Linh sơn Đạo ẩn), Đông minh (Đông minh Tuệ nhật), Thanh chuyết (Thanh chuyết Chính trừng), Minh cực(Minh cực Sở tuấn), Ngu trung(Ngu trung Chu cập), Trúc tiên(Trúc tiên Phạm tiên), Biệt truyền (Biệt truyền Minh dận), Cổ tiên(Cổ tiên Ấn nguyên), Đại chuyết(Đại chuyết Tổ năng), Trung nham (Trung nham Viên nguyệt) và phái Đông lăng (tức Đông lăng Vĩnh dư). Trong đó, trừ 3 dòng phái Đạo nguyên, Đông minh và Đông lăng thuộc Tào động thiền, 21 dòng phái còn lại đều thuộc Lâm tế thiền. Trong 21 dòng phái thì phái Vinh tây(phái Thiên quang) truyền thừa pháp mạch của ngài Hoàng long, còn các phái khác đều kế thừa pháp đăng của ngài Dương kì. Năm Thừa ứng thứ 3 (1654), ngài Ẩn nguyên Long kì cũng từ Trung quốc đến Nhật bản, sáng lập tông Hoàng bá, đến nay vẫn đứng ngang hàng với tông Lâm tế và Tào động thành thế chân vạc. Thiền khởi nguồn từ Ấn độ, nghĩa gốc của Thiền là ngồi nhiếp tâm tĩnh lặng, tư duy thẩm xét để đạt đến trạng thái định tuệ cân bằng. Trước đức Thích tôn, Ấn độ đã có tư tưởng lấy việc sinh lên cõi trời làm mục đích tọa thiền. Đến thời đức Thích tôn mới triển khai loại Thiền lấy việc xa lìa 2 bên khổ, vui để đạt đến niết bàn Trung đạo làm mục đích. Tư tưởng thiền quán của Phật giáo Ấn độ từ đó dần dần phát đạt, đồng thời xuất hiện vô số kinh Thiền. Theo với đà truyền dịch kinh điển, từ cuối đời Đông Hán, Thiền pháp đã truyền vào Trung quốc, nhưng lúc đầu đều là tư tưởng Thiền quán thuộc hệ thống Tiểu thừa. Từ thời ngài Cưu ma la thập đời Đông Tấn về sau, các loại Thiền pháp được truyền vào, đặc biệt lấy pháp môn niệm Phật làm chủ yếu. Đến đời Lưu Tống, ngài Cầu na bạt đà la dịch kinh Lăng già (bản 4 quyển), trong đó nêu ra thuyết 4 loại thiền: Ngu phu sở hành thiền, Quán sát nghĩa thiền, Phạm duyên như thiền và Như lai thiền, kích phát những người nghiên cứu, giảng thuyết Thiền pháp đương thời mở ra con đường khác như 5 loại thiền do người đời sau chủ trương, đó chính là thuyết đã dựa vào thuyết 4 loại thiền trong kinh Lăng già mà ra. Lại nữa, ngài Bồ đề Đạt ma là người khai sáng Thiền tông Trung quốc, tuy chủ yếu y cứ vào Thiền kinh (2 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn) nhưng Như lai tự tính thanh tịnh thiền mà ngài Đạt ma truyền, chính lại dựa vào thuyết nói trong kinh Lăng già. Ngoài ra, các ngài Tuệ khả, Tăng xán đều được gọi là Lăng già sư, còn các ngài Đạo tín, Hoằng nhẫn lại chịu ảnh hưởng của luận Đại thừa khởi tín, đề xướng thuyết Nhất hạnh tam muội, đến Lục tổ Tuệ năng mới lấy kinh Kim cương bát nhã làm chính tông, bởi vì vào thời ấy kinh Lăng già đã nghiêng nặng về mặt văn cú sớ giải, nên không tránh khỏi bị sa vào vòng danh tướng chi li. Từ giữa đời đường về sau, cơ pháp đánh, hét, dựng phất trần thịnh hành, phạm vi ý nghĩa Thiền được mở rộng, thì không hẳn cứ nhiếp tâm ngồi yên lặng mới là Thiền, mà những động tác bình thường hàng ngày như bổ củi, gánh nước, mặc áo, ăn cơm, uống trà... cũng có thể gọi là Thiền. Tóm lại, sự khácnhaugiữa Thiền tông và các tông khác là ở chỗ Thiền tông không lập kinh điển chính y, mà cho dù có dẫn dụ kinh điển đi nữa thì đó cũng chỉ là phương tiện nhất thời, còn điều chủ yếu nhất là y cứ vào tâm Phật, không lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo để mong chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật. Tuy vậy, các Thiền sinh vẫn phải trau dồi học vấn và sự tu chứng để sáng tỏ bản tâm. Và để tránh cho Thiền sinh khỏi bị vướng mắc vào vòng suy tư tính lường, nên trong các tùng lâm có đặt ra thanh qui. Theo 1 qui củ nhất định, các vị Tôn túc và đại chúng ấn định thời gian sinh hoạt tọa thiền; các vị Tôn túc mở bày cơ duyên của chư Phật liệt Tổ để dắt dẫn đại chúng. Đọc tụng kinh điển tuy không phải là việc chủ yếu, nhưng vẫn lấy các kinh Lăng già, Duy ma, Kim cương bát nhã, Thủ lăng nghiêm... làm các kinh quan trọng. Xưa nay các bậc Tôn túc phần nhiều cũng để lại ngữ lục mà đã trở thành các tư liệu tham khảo thiết yếu cho Thiền đồ tu thiền ngộ đạo ở đời sau. [X. Thiền môn sư tư thừa tập đồ; Tổ đường tập Q.17, 20; Cảnh đức truyền đăng lục; Truyền pháp chính tông kí; Ngũ đăng hội nguyên; Thiền môn bảo tạng lục Q.thượng, trung; Bát tông cương yếu Q.hạ; Nhật bản thiền tông sử yếu; Thiền học tư tưởng sử; Nhật bản Phật giáo yếu lãm]. (xt. Ngũ Gia Thất Tông).
thiền tông chính mạch
(禪宗正脉) Tác phẩm, 10 quyển, (hoặc 20 quyển), do ngài Như cẩn biên tập vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 146. Sách này do lược bớt bộ Ngũ đăng hội nguyên của ngài Phổ tế soạn vào đời Tống mà thành. VìNgũ đăng hội nguyên nhiều tập, đồ sộ khó đọc, cơ duyên lại chót vót hiểm hóc, như vách núi đứng cao vạn nhận, đến nổi bậc thượng căn phải chặc lưỡi, còn người hạ căn cũng chẳng biết bám vào đâu, cho nên ngài Như cẩn chỉ chọn lấy những chỗ ngắn gọn, sáng sủa mà biên soạn thành sách này, hầu giúp mọi người hiểu được một cách dễ dàng. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.42].
thiền tông nghệ thuật
(禪宗藝術) Nền nghệ thuật của Phật giáo Thiền tông.Phật giáo truyền sang phươngĐông, đối với các phương diện văn hóa, tư tưởng, văn nghệ... của Trung quốc và Nhật bản có ảnh hưởng rất lớn, trong đó, đặc sắc nổi bật nhất là ảnh hưởng của Thiền tông đối với nền nghệ thuật của 2 nước này. 1. Trung quốc: Tư tưởng hàm súc, ngắn gọn, sắc bén, siêu nhiên độc lập của Thiền tông, đã mở ra cho nền hội họa của Trung quốc 1 thứ họa phong Thiền với những nét chấm phá có khí vận đặc biệt. Trong khoảng thời gian 500 năm từ đời Đông Hán đến đời Lục triều, có các họa sĩ Trương tăng diêu, Cố khải chi, Lục thám vi, Tông thiếu văn... là những người mở đường cho Mặc hí, Họa thiền. Thiền họa chính thức bắt đầu vào đời Đường, có Nam tông và Bắc tông khác nhau. Bắc tông có cha con Lí tư huấn đứng đầu, nét vẽ tề chỉnh, tinh tế, màu sắc đậm đà, vừa trang nghiêm vừa diễm lệ. Còn Nam tông thì tôn Thi Phật Vương duy làm Thủy tổ, Vương duy là người đầu tiên khai sáng trường phái Bát mặc sơn thủy. Kế thừa trường phái này có các họa sĩ Trương tảo và Vương mặc. Người đời phê bình về sự khác nhau giữa 2 trường phái là: Phái Lí tư huấn thì nét vẽ mộc mạc, tinh tế; còn phái Vương duy thì nét vẽ tịch mịch, nửa hư nửa thực. Đến đời Tống thì Thiền họalại đạt đến cảnh giới hư linh rỗng rang, tâm vật hợp làm một, phong cách vẽ siêu nhiên tượng ngoại, vận dụng những khoảng trống, diễn đạt cảnh giới giác ngộ linh diệu, vắng lặng rỗng rang. Thời kì này có các họa sĩ tiêu biểu như: Kinh hạo, Quan đồng, Đổng nguyên, Cự nhiên, cha con Mễ phất... tất cả đều thừa kế họa phong của Nam tông. Ngoài ra còn có Phạm khoan, Giang tham, Quách trung thứ... cũng là những kiện tướng của Nam tông. Trong đó, cha con Mễ phất sáng tạo cách vẽ Vô căn thụ Mông hồng vân, là nổi bật nhất. Lại có Mã viễn với cách vẽ từ một góc cái cây, có ảnh hưởng sâu đậmđốivới nghệ thuật Nhật bản. Đến thời này thì Bắc tông dần dần suy vi. Sang đời Nguyên thì Thiền họa lấy nét tiêu sơ phóng khoáng làm thời thượng. Không nhữngtronglãnh vực hội họa và kĩ xảo hội họa đầy đủ hơn, mà còn kiến lập lí luận hội họa có tính cách hệ thống hơn. Đến đời Minh, Thanh thì Phật giáo suy đồi, họa đàn hứng khởi phong cách phỏng cổ, thiếu hẳn tinh thần sáng tạo, nhưng về mặt nghiên cứu lí luận thì có phần sâu xa bao quát hơn. Đại biểu cho thời kì này có Hòa thượng Thạch đào sống vào đầu đời Thanh. Thời gần đây Thiền tông không chấn hưng lên được, cho nên họa đàn cũng dần dần vắng vẻ. 2. Nhật Bản: Nói một cách đại khái, nghệ thuật Nhật bản chịu ảnh hưởng của Thiền tông sâu rộng hơn so với Trung quốc, tất cả mọi lãnh vực như hội họa, hát tuồng, nghề làm vườn, trà đạo, kiến trúc, kịch nghệ, kiếm đạo, nghề bắn tên... đều thấy ảnh hưởng của Thiền. Văn hóa Thiền tông theo các tác phẩm nghệ thuật Trung quốc được truyền đến Nhật bản vào giữa đời Liêm thương(ngang với thời Tống, Nguyên ở Trung quốc), đồng thời dung hợp với tư tưởng Vũ gia Nhật bản, được quảng đại quần chúng tiếp nhận. Nền mĩ thuật cuối thời Liêm thương đến đầu thời Thất đinh thì lấy hội họa làm chính. Mĩ thuật Thiền tông ở thời kì đầu, lấy chân dung các Tổ sư, những nhân vật tông giáo và Đính tướng họa(vẽ hình tượng các vị cao tăng Thiền tông) làm chủ yếu. Từ thời Liêm thương về sau, 1 loại Thiền cơ họa dần dần thịnh hành, tức đem cáiThiền cơ mà mình đã thể ngộ được vẽ lên bức tranh để tạo hình hóa và cụ thể hóa cái tinh thần của Thiền; đồng thời, từ trong tự nhiên quan và sinh hoạt của Thiền tông dần dần diễn dịch thành 1 loại tranh sơn thủy mới, tức sử dụng màu mực và đường nét đơn giản và dùng kĩ xảo không bạch(khoảng trống) để ngụ ý cảnh của Thiền trong bức tranh mộc mạc, đơn sơ. Lại vì chịu ảnh hưởng cách vẽ một góc của nhà hội họa Mã viễn đời Nam Tống, Trung quốc, nên đã hình thành đặc trưng của 1 loại hội họa so le không đều, không câu nê hình thức mà về sau cũngđãtrở thành dòng chính của nghệ thuật Thiền tông Nhật bản. Nhưng nếu nhìn vào lịch trình phát triển hệ thống hội họa của các danh gia như Như chuyết, Minh triệu, Chu văn, Tuyết chu... thì ta có thể hiểu rõ thời kì này đã do mô phỏng phong cách hội họa của Trung quốc mà dần dần diễn biến thành Thiền họa riêng của Nhật bản. Ngoài ra, trà đạo của Nhật bản đã được dung nhập với tinh thần Thiền mà trở thành đạo sinh hoạt tự nhiên. Trong nghệ thuật kịch nói truyền thống thì những lời đối thoại ngắn gọn, trong sáng, sân khấu và bối cảnh đơn thuần cũng đều ngầm bao hàm triết lí Thiền. Đối với văn học hát bộ nổi tiếng lại càng có ảnh hưởng sâu xa của Thiền, đại biểu là tác phẩm của Ba tiêu, một thi nhân vĩ đại sống vào thế kỉ XVII. Ngoài ra như kiếm đạo, kiến trúc, nghệ thuật bắn tên...cũng thế, hễ nghệ thuật nào được sự khơi mở của Thiền thì đều do đặc tính của chính nghệ thuật ấy mà biểu hiện sự sống động và hoạt bát.
thiền tông ngữ lục
Records of the Zen sect.
thiền tông quyết nghi tập
(禪宗决疑集) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đoạn vân Trí triệt soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Sách này do ngài Trí triệt(đệ tử nối pháp của Thiền sư Vân phong Diệu cao tông Lâm tế) ở phủ Quì, tỉnh Tứ xuyên, đem sự thể nghiệm của chính mình giảng nói cho những người học đạo nghe về công phu dụng tâm và thuyết minh phương pháp tu đạo thực tiễn, để thấu suốt ý chỉ sâu xa của đạo Phật, mong mở tỏ được bản lai diện mục. Toàn thiên chia làm 21 môn: Nguyên trạm lưu thanh môn, Li trần tinh tiến môn, Khước bộ phục thăng môn, Thoái đọa sách lệ môn, Giải đãi miễn cần môn, Chấp ngại quyết nghi môn, Thất chính cứu cánh môn, Triệt để cùng uyên môn, Chỉ bản hoàn chân môn, Thuận tức miễn hoạn môn, Thượng căn lợi khí môn, Thiền lâm tĩnh lự môn, U cư chính mạch môn, Kì viên thánh chúng môn, Giác ngộ huyền tông môn, Qui nguyên thực tế môn, Thể dụng song tu ấm dực vương hóa, Song lâm di giới chúng đẳng tuân y, Sám hối pháp môn Bồ-đề hành nguyện, Ức tích xuất trần thừa huynh cảnh giới và Phục trưng giải nọa chỉ cảnh tức mê. Trong sách bàn nhiều về việc của ngài Triệu châu Tùng thẩm. Sau này, Thiền quan sách tiến của ngài Châu hoành và Hổ giác tập quyển hạ của ngài Tế năng thường dẫn dụng ngữ yếu của ngài Trí triệt. Cứ theo truyền thì ngoài sách này, Tịnh độ cứ yếu trong Tịnh độ thần chung quyển 2 cũng là tác phẩm của ngài Trí triệt. Sách này từng được thu vào Bắc tạng tục nhập tạng chư tập đời Minh, ngoài ra cũng có các bản in vào các năm Khang hi thứ 6 (1667) Khang hi năm 39 (1700) đời Thanh, năm Diên bảo thứ 8 (1680) Nhật bản và Trung hoa Dân quốc năm thứ 9 (1920). [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Tạng bản kinh trực họa nhất mục lục; Thiền tịch chí Q.thượng;Tân soạn thiền tịch mục lục (Câu trạch Đại học đồ thư quán biên)].
thiền tông trứ thuật
Tch'an-tsoung Tchou-chou (C)Một trong hai bộ kinh căn bản của Thiền tông Trung hoa: Thiền tông trứ thuật và Thiền tông ngữ lục do chư tổ và đại đức Tàu biên tập do gom góp trong nhiều triều đại từ nhà Tống, Nguyên, Minh đến Thanh.
thiền tông trực chỉ
(禪宗直指) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Thạch thánh kim (tự Thiên cơ, hiệu Tỉnh trai) soạn vào đời Thanh, các con ông là Tân niên và Tung niên kiểm xét lại và khắc bản, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Sách này là 1 phần trong tác phẩm Truyền gia bảo 4 tập của Thạch thành kim, trang trong đề là Truyền gia bảo thiền tông trực chỉ, dưới đề mục này có ghi thêm 12 chữ Minh tâm kiến tính tu tri, thành Phật thành Tổ yếu pháp(Rõ tâm thấy tính cần biết, yếu pháp thành Phật tác Tổ). Cho nên biết mục đích sách này là nói rộng về pháp cốt yếu rõ tâm thấy tính, thành Phật tác Tổ. Nội dung trước hết là 46 mục yếu pháp nói về mật truyền tham thiền, trong đó trình bày tỉ mỉ rõ ràng về pháp môn dụng công ngộ đạo; kế đến là 10 mục thông chỉ mật truyền Phật pháp, giải thích rõ một số chất vấn của người đời đối với Phật pháp.
thiền tông tạp độc hải
(禪宗雜毒海) Cũng gọi Đại tuệ thiền sư thiền tông tạp độc hải, Phổ giác Tông Cảo thiền sư ngữ lục, Đại tuệ phổ giác thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do các ngài Pháp hoành và Đạo khiêm biên tập, ấn hành vào niên hiệu Thiệu hưng năm đầu (1131) đời vua Cao tôngnhàTống, được thu vào Vạn tục tạng tập 121. Tên của sách này là từ câu nói của ngài Đại tuệ Tham thiền chẳng được phần nhiều là do tạp độc nhập tâm mà ra. Nội dung sách này thu chép cơ duyên ngữ cú của các bậc tiên đức, Tham thiền cư sĩ truy ức kí, Phương ngoại đạo hữu tán, Phật tổ tán... Về sau, ngài Trọng du Tổ xiển đời Minh biên tập thêm sách này thành 10 quyển, sưu tập nhiều kệ tụng của các Thiền sư, bao gồm Phật đản, Thành đạo, Sơ tổ, Chúng tán... tất cả hơn 30 hạng mục, 732 bài, ấn hành vào năm Hồng vũ 17 (1384), đời Minh. Đến năm Thuận trị 11 (1654) đời Thanh, ngài Mai cốc Hành duyệt tiếp nối sau ngài Tổ xiển, lại biên tập thêm hơn 870 bài nữa. Khoảng năm Khang hi, ngài Ca lăng Tính âm thuộc tông Lâm tế, rút bớt 10 quyển biên tập lại thành 8 quyển và được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Nội dung theo thứ tự là: Phật tán, Tạp tán, Đầu cơ, Sao hóa, Tạp kệ, Đạo hiệu, Sơn cư... Quyển 8 có phụ lục 10 bài tụng Phổ minh chăn trâu và 10 bài tụng Lương sơn chăn trâu, ấn hành vào năm Khang hi 53 (1714), là sách tập đại thành các kệ tụng đời Tống, Nguyên.
thiền tông tụng cổ liên châu thông tập
(禪宗頌古聯珠通集) Tác phẩm, 40 quyển, do ngài Pháp ứng biên tập vào đời Nam Tống, ngài Phổ hội biên tập vào đời Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 115. Đây là tác phẩm biên tập các bài tụng cổ của các bậc Tổ sư trong Thiền gia xưa nay. Nội dung thu chép Thế tôn cơ duyên 24 tắc, Bồ tát cơ duyên 30 tắc, kệ trong các kinh Đại thừa 62 tắc và Tổ sư duyên 72 tắc. Tất cả các phần biên tập và thêm vào sau này đều có đề 2 chữ Tục thu trên đầu để phân biệt với nguyên bản. [X. Duyệt tạng tri tân Q.42; Thiền tịch chí Q.thượng].
Thiền Tông Vô Môn Quan
(禪宗無門關, Zenshūmumonkan): xem Vô Môn Quan (無門關, Mumonkan) bên dưới.
Thiền tông Vĩnh Gia tập khoa chú thuyết nghi 禪宗永嘉集科註説誼
[ja] ゼンシュウヨウカシュウカチュウセツギ Zenshū Youkashū kachūsetsugi ||| The Sŏnjong Yŏnggajip kwaju sŏrŭi. (Annotated Redaction of the Text and Commentaries to the Compilation of Yung-chia of the Chan school 禪宗永嘉集). by Kihwa 己和HPC 7.170-216. => (c); Zenshū Youkashū kachūsetsugi ||| Sŏnjong Yŏnggajip kwaju sŏrŭi (k); Annotated Redaction of the Text and Commentaries to the Compilation of Yung-chia of the Chan school (e); của Ngài Kỷ Hoà (k: Kihwa 己和). Thiền tông Vĩnh Gia tập 禪宗永嘉集 [ja] ゼンシュウヨウカシュウ Zenshūyōkashū ||| The Chanzong yongjia ji, one fascicle, T 2013.48.387b-395c, by Xuanjue 玄覺 of Yongjia 永嘉, a disciple of Huineng 慧能. The text discusses practice and enlightenment in ten gradually deepening stages. Its preface is by the Qing governor . It explains the positions of Southern Chan, mixed in with Tiantai and Huayan doctrine. This text was popular in Korean Sŏn, where it was commented on by Kihwa 己和 (HPC vol. 7, see below). The text is popularly known by the short title of Yongjia ji 永嘉集. => Zenshūyōkashū (j); Chanzong yongjia ji (c); Một quyển. Huyền Giác (Xuanjue 玄覺) ở Vĩnh Gia (c:Yongjia 永嘉), đệ tử của Lục tổ Huệ Năng (c: Huineng 慧能) soạn. Tập sách đề cập đến việc tu tập giác ngộ qua 10 giai đoạn từ cạn đến sâu. Lời tựa do Nguỵ Tĩnh (c:Weijing 魏静), một vị quan triều Thanh soạn. Sách giải thích vị trí của Thiền tông phương Nam, trong sự phối hợp với giáo lý tông Thiên Thai và tông Hoa Nghiêm. Tập sách nầy rất thông dụng trong Thiền tông Triều Tiên, đã được ngài Kỷ Hoà (k: Kihwa 己和 ) chú giải (HPC vol. 7, xem mục từ ở dưới). Tập sách nầy thường được quen gọi là Vĩnh Gia tập (Yongjia ji 永嘉集.)
Thiền tông 禪宗
[ja] ゼンシュウ Zenshū ||| The meditational school of East Asian Buddhism, a comprehensive rubric for a wide variety of sects which developed in China, Vietnam, Korean and Japan. Known in Chinese as Chan zong, in Korean as Sŏnjong and in Japanese as Zenshū. The Chinese Chan school's own historical accounts indicate that the school was founded with the arrival of a somewhat legendary Indian monk named Bodhidharma 達摩, ostensibly the twenty-eighth patriarch in a lineage that extended all the way back to Śākyamuni. Bodhidharma is recorded as having come to China to teach a "separate transmission outside of the texts" which "did not rely upon textuality." His special new form of religion was then transmitted to through a series of Chinese patriarchs, the most famous of whom was the Sixth Patriarch, Huineng 慧能. It is more likely however, in terms of history, that Chan began to develop gradually in different regions of China as a grass-roots movement which was reacting to what was perceived as an imbalance in Chinese Buddhism towards the blind pursuit of textual scholarship with a concomitant neglect of the original essence of Buddhist practice--meditation and the cultivation of the right view. After the time of Huineng, Chinese Chan began to branch off into numerous different schools, each with their own special emphasis, but all of which kept the same basic focus on meditational practice, personal instruction and grounded personal experience. During the late Tang and the Song periods, the tradition truly flowered, as a wide number of eminent teachers, such as Mazu 馬祖, Baijang 百丈, Yunmen 雲門 and Linji 臨濟 developed specialized teaching methods, which would become characteristic in each of the "five houses" 五家 of mature Chinese Chan. Later on, the teaching styles and words of these classical masters were recorded in such important Chan texts as the Biyan lu 碧巖録 (Blue Cliff Record) and the Wumen guan 無門關 (Gateless Barrier) which would be studied by later generations of students down to the present. Chan continued to be influential, along with Pure Land as a Buddhist religious force in China, although some energy was lost with the revival of Confucianism from the Song onward. Chan was mostly eliminated in China in the modern era with the appearance of the People's Republic, but still continues to hold a significant following in Taiwan. Chan was gradually transmitted into Korea during the late Silla period (8th and 9th) centuries) as Korean monks of predominantly Hwaŏm 華嚴 and Consciousness-only 唯識 background began to travel to China to learn the newly developing tradition. The first transmission of Chan into Korea is attributed to a monk named Pŏmnang 法朗, but he was soon followed by a throng of Sŏn students, who later returned to Korea to establish the "nine mountain" 九山 schools, with "nine mountains" becoming a nickname for Korean Sŏn which survives down to the present. Korean Sŏn received its most significant impetus and consolidation from the Koryŏ monk Chinul 知訥, who established the Songgwangsa 松廣寺 as a new center of pure practice. It is from the time of Chinul that the predominant single meditational sect in Korea becomes the Chogye 曹溪, which survives down to the present in basically the same status. Toward the end of the Koryŏ and during the Chosŏn period the Chogye school would first be combined with the scholarly 教 schools, and then suffer from persecution at the hands of a Confucian influenced polity. Nonetheless, there would be a series of important teachers during the next several centuries, such as Hyegŭn 慧勤, T'aego 太古, Kihwa 己和 and Hyujŏng 休靜, who continued to developed the basic mold of Korean meditational Buddhism established by Chinul. Sŏn continues to be practiced in Korea today at a number of major monastic centers. Despite the fact that Japanese Buddhists were aware of the development of the Chan school in China from a fairly early date, no formal schools were established until the 12-13th centuries, when Eisai 榮西 and Dōgen 道元 established the Rinzai 臨濟 and Sōtō 曹洞 schools, respectively. The Zen movement in Japan was fortunate to receive the patronage of the growing new force in Japanese politics, the military bakufu, and so both schools developed and throve for several centuries. But although the Shogunate of the Edo period supported Zen as an official religion, tight government control of the sect limited its creativity. Nonetheless, the Japanese schools of Zen produced a number of significant creative teachers, including such figures as Ikkyū 一休, Bankei and Hakuin 白隱. There are still a number of famous Zen monasteries preserved to the modern day in Japan, although the number of actual practicing Zen monks has declined sharply. => Tông phái Thiền Phật giáo ở Á đông, là một nét son toàn diện đối với các tông phái lớn và đa dạng đã phát triển ở Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản. ở Trung Hoa được gọi là Thiền tông (Chan zong), ở Triều Tiên là Sŏnjong và Nhật Bản gọi là Zenshū. Thiền tông Trung Hoa được thành lập bởi một nhân vật từ Ấn Độ đến, có mang chút huyền thoại, tên là Bồ-đề Đạt-ma (Bodhidharma 達摩), là vị tổ thứ 28 được truyền thừa từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Bồ-đề Đạt-ma được ghi lại là đến Trung Hoa để truyền dạy pháp môn “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền.” Giáo pháp mới đặc biệt của Ngài lúc ấy truyền được cho một loạt các vị tổ Trung Hoa, nổi bật nhất là Lục tổ Huệ Năng. Tuy vậy, về mặt lịch sử có thể ghi nhận rõ hơn, Thiền tông bắt đầu phát triển dần đến khắp mọi miền Trung Hoa như cuộc vận động của giới bình dân phản ứng lại khi nhận biết những sự mất quân bình trong Phật giáo Trung Hoa khi nhắm mắt theo đuổi cái học theo kinh điển đi kèm với sự quên lãng cốt tuỷ tu tập Phật pháp – thiền định và tu tập chánh kiến. Sau thời của Huệ Năng, Thiền tông Trung Hoa bắt đầu phân thành vô số trường phái khác nhau, mỗi nhánh đều có những điểm chính yếu khác nhau, nhưng tất cả đều duy trì nền tảng chung là tập trung vào toạ thiền, khai thị của bậc thầy đã chứng ngộ và y cứ vào kinh nghiệm cá nhân. Vào cuối đời Đường và Tống, Thiền tông thực sự trổ hoa, qua một loạt các Thiền sư nổi tiếng như Mã Tổ, Bách Trượng, Vân Môn, Lâm Tế, đã phát triển thích ứng phương pháp truyền dạy thiền, nên đã trở thành đặc điểm riêng biệt trong sự chín muồi của Ngũ gia tông phái trong Thiền tông Trung Hoa. Về sau, lối truyền dạy và ngữ lục của các bậc thầy ưu tú nầy được ghi lại qua các ngữ lục quan trọng của Thiền tông như Bích nham lục (碧巖録c: Biyan lu; e: Blue Cliff Record), Vô môn quan (無門關j: Wumen guan; c: Gateless Barrier), đã được các thế hệ sau nghiên cứu thực hành mãi cho đến ngày nay. Thiền tông vẫn tiếp tục có ảnh hưởng cùng với Tịnh độ tông, như là một sức mạnh của Phật giáo Trung Hoa, cho dù có vài sinh lực bị thất thoát do sự phục hồi của Khổng giáo từ thời Tống trở đi. Thiền tông hầu như bị loại trừ ra khỏi Trung Hoa trong thời hiện đại với sự xuất hiện của chế độ Cộng Hoà Nhân Dân, nhưng Thiền tông vẫn tiếp tục duy trì số tín đồ đáng kể ở Đài Loan. Thiền tông dần dần được truyền sang Triều Tiên và cuối thời kỳ Tân La (thế kỷ thứ 8-9) do phần lớn các vị tăng học giả người Cao ly thuộc các tông Hoa Nghiêm và Duy thức bắt đầu sang Trung Hoa để nghiên cứu về sự phát triển mới mẻ của tông phái nầy. Sự truyền bá Thiền tông ban đầu vào Triều Tiên được gán cho ngài Pháp Lãng (Pŏmnang 法朗), nhưng chẳng bao lâu sau, một số đông các Thiền sinh đã theo bước nầy, rồi họ trở về Cao Ly lập ra phong trào “Cửu sơn”. Từ đó “Cửu sơn” trở nên như một biệt danh để gọi Thiền tông Cao Ly mãi cho đến bây giờ. Thiền tông Cao Ly còn nhận được sự thúc đẩy và sự củng cố đáng kể của Thiền sư Trí Nột (Chinul 知訥), người đã sáng lập Tùng Quảng Tự (Songgwangsa 松廣寺) như là một trung tâm mới chỉ dành cho việc tu tập. Vào thời ngài Trí Nột, phái Thiền duy nhất chiếm ưu thế nầy trở thành Tào Khê tông (c: Chogye 曹溪), vẫn tồn tại nguyên trạng cho đến ngày nay. Từ cuối thời kỳ Koryŏ đến Chosŏn, Tào Khê tông trước tiên kết hợp với Giáo tông, rồi bị sự ngược đãi bởi chính quyền ảnh hưởng Nho giáo. Tuy nhiên, vẫn có một loạt các Thiền sư nổi bật trong suốt vài thế kỷ tiếp theo như Huệ Cần (Hyegŭn 慧勤), Thái Cổ (Hyegŭn 慧勤), Kỷ Hoà (Kihwa 己和), và Hưu Tịnh (Hyujŏng 休靜), là những vị vẫn tiếp tục phát huy bản sắc Thiền Phật giáo Cao Ly đã được Trí Nột Thiền sư sáng lập. Thiền tông ngày nay vẫn được tu tập ở Triều Tiên tại một số tu viện lớn trung tâm. Dù thực tế là Phật giáo Nhật Bản được biết đến rất sớm qua sự phát triển của Thiền tông Trung Hoa, nhưng không có một tông phái chính thức nào được lập ở Nhật Bản mãi cho đến thế kỷ thứ 12-13, Thiền sư Vinh Tây (Eisai 榮) Lâm Tế (Rinzai 臨濟) và Đạo Nguyên (Dōgen 道元) mới sáng lập tông Tào Động (Sōtō 曹洞). Thiền tông Nhật Bản may mắn nhận được sự ủng hộ của thế lực chính trị mới ở Nhật Bản, đó là quân đội Bafuku, thế nên cả 2 tông phái thiền đều phát triển mạnh mẽ suốt trong vài thế kỷ. Mặc dù giai đoạn Tướng quân nắm quyền vào thời Giang Hộ (Edo) đã ủng hộ Thiền như là quốc giáo, nhưng chính quyền hà khắc kiểm soát các tông phái đã hạn chế sức sáng tạo của Thiền tông. Tuy vậy, Thiền tông Nhật Bản đã xuất sinh nhiều vị Thiền sư lỗi lạc như Nhất Hưu (Ikkyū 一休), Bàn Khuê (Bankei), Bạch Ẩn (Hakuin 白隱). Hiện vẫn còn một số các Thiền viện nổi tiếng tồn tại đến ngày nay, dù cho số lượng tăng sĩ tu Thiền có giảm sút đáng kể.
thiền tăng
A monk of Thiền tông Ch'an sect; a monk in meditation.
; Một vị sư của Thiền Tông hay một vị sư tu Thiền—A monk of the Zen (Ch'an) sect, a monk in meditation.
thiền tĩnh
Meditation and quietness.
; (禪靜) Phạm: Dhyàna. Hán âm: Thiền na. Gọi tắt: Thiền. Hán dịch: Định, Tĩnh lự. Từ ngữ hợp chung cả âm(thiền na) và nghĩa(tĩnh) của tiếng PhạmDhyàna. Chỉ cho trạng thái vắng lặng khiến tâm chuyên chú vào 1 đối tượng để suy tư một cách sâu sắc. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 861 hạ) nói: Hoặc ưa thiền tĩnh thì cho việc lễ bái là thô sơ. Nơi yên lặng thích hợp cho việc tọa thiền, gọi là Thiền tĩnh tọa xứ, hoặc gọi là Thiền xứ, Thiền sở. [X. kinh Đính sinh vương cố sự; Pháp uyển châu lâm Q.71].
thiền tư
Những tư tưởng kỳ bí về thiền—Meditation thoughts; the mystic trance.
; (禪思) Chỉ cho Thiền định. Nghĩa là tư duy trong sự vắng lặng. Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn tục 111, 463 thượng) nói: Phi thời không ăn, phi pháp chẳng nói, siêng năng suy nghĩ về nghĩa lí, ôn cũ biết mới, ngồi thì thiền tư, dậy thì phúng tụng. [X.kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Thích môn qui kính nghi Q.trung].
thiền tư tưởng sử nghiên cứu
(禪思想史研究) Tác phẩm, 1 tập, do ông Linh mộc Đại chuyết (D.T. Suzuki) người Nhật bản soạn, được ấn hành vào năm Chiêu hòa 18 (1943). Nội dung tác phẩm này chia làm 7 thiên, chủ yếu nói rõ sự sai khác về ý nghĩa và tính chất trọng yếu giữa 2 dòng phái trong nội bộ tông Lâm tế Nhật bản, tức là Bất sinh thiền của ngài Bàn khuê Vĩnh trác (1622-1693) và Bạch ẩn thiền. Đồng thời cũng tìm hiểu quá trình phát triển tư tưởng của các phái Công án thiền, Đạo nguyện thiền... Ông Linh mộc Đại chuyết còn soạn bộ Thiền tư tưởng sử nghiên cứu 2 (1 tập) ấn hành vào năm Chiêu hòa 26 (1951) nội dung cũng chia làm 7 thiên, 6 thiên trước theo thứ tự các luận văn như: Nhị nhập tứ hành luận, Tuyệt quán luận, Vô tâm luận, Quán môn, Lăng già sư tư kí, Tu tâm yếu luận, Lục tổ đàn kinh... trình bày về phong cách đặc thù của các Tổ sư từ ngài Đạt ma đến các ngài Đạo tín, Hoằng nhẫn, Tuệ năng... của Thiền tông Trung quốc về bối cảnh tư tưởng của Thiền tông ở thời kì đầu. Còn thiên thứ 7 thì liệt kê 7 loại văn hiến có liên quan đến Thiền tông tìm thấy ở Đôn hoàng và hiện được cất giữ tại Bắc bình, London, Paris..., đồng thời kiểm xét lại rất kĩ lưỡng, nhờ đó mà người học giải tỏa được một số thắc mắc về lịch sử tư tưởng Thiền ở thời kì đầu. Bản sửa chữa thêm của sách này được thu vào Linh mộc Đại chuyết toàn tập quyển 2.
thiền tập
Xem Thành tựu pháp.
; The practice of meditation; the practice of religion through the mystic trance.
; Tu hành bằng cách thực tập thiền—The practice of religion through the mystic trance.
Thiền tịch
(禪席): chỗ ngồi để tham học Thiền, hành Thiền; từ đó chỉ chung cho nơi tham vấn Thiền, hay cũng là tên gọi khác của Thiền Viện (禪院). Như trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 73, phần Nam Nhạc Hạ Tam Thập Ngũ Thế Tùy Lục (南嶽下三十五世隨錄), Quảng Nhuận Cự Linh Tự Dung Thiền Sư (廣潤巨靈自融禪師), có câu: “Nãi biến lịch chư Thiền tịch, hậu yết Sơn Ông Mân đắc pháp (乃遍歷諸禪席、後謁山翁忞得法, Thiền Sư bèn đi khắp các Thiền đường, sau tham yết Sơn Ông Đạo Mân và đắc pháp [của vị này]).” Hay trong Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寶訓音義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1262) lại có đoạn: “Thị thời nội sứ Lý Doãn Ninh, tấu thí Biện trạch nhất khu, sáng lập Thiền tịch, tứ ngạch Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện (是時內使李允寧、奏施汴宅一區、創立禪席、賜額十方淨因禪院, lúc bấy giờ nội sứ Lý Doãn Ninh, tâu lên nhà vua xin cho một khu nhà ở đất Biện, sáng lập nơi tu Thiền, ban cho biển ngạch là Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện).” Hoặc trong Tân Tu Khoa Phần Lục Học Tăng Truyện (新修科分六學僧傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1522) quyển 20, phần Đường Kiểu Nhiên (唐皎然), cũng có đoạn: “Trung niên biến phỏng Thiền tịch, Nam Năng Bắc Tú chi chỉ, giai sở tham khấu (中年遍訪禪席、南能北秀之指、皆所參扣, tuổi trung niên sư đi khắp các Thiền viện, yếu chỉ của Huệ Năng ở phương Nam và Thần Tú ở phương Bắc, đều đã từng tham học qua).”
thiền tịch chí
(禪籍志) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Diệu đế thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư ấn hành vào tháng giêng năm Đại chính thứ 2 (1913). Nội dung liệt kê 244 bộ sách Thiền của Trung quốc và Nhật bản, đồng thời có giải thích sơ lược, gồm các loại: Đơn lục thiền yếu, Bả đoạn công án, Tông môn toàn sử, Tông môn lược sử, Tùng lâm lễ phạm, Thiền giáo tổng sử, Tông môn tùy bút, Thiền giáo tạp thuyết, Tông sư chú kinh và Thiền tịch chí thập di.
thiền tịnh
1) Thiền Tông và Tịnh Độ Tông: The Zen and the Pure Land sects. 2) Thiền tịnh dịch sang Hoa ngữ có nghĩa là thiền tịnh lự hay yên lặng, kiểm soát tư tưởng: Dhyana in Chinese means quiet or silent meditation, or quieting of thoughts (controlling of thoughts).
thiền tọa
To sit cross-legged in meditation.
; Tọa thiền (kiết già)—To sit (cross-legged) in meditation.
thiền tủy
The marrow of meditation - a term for the Lankavatara sùtra.
; Kinh Lăng Già dùng từ nầy với nghĩa là tinh túy hay cốt tủy của đạo Thiền, (sau 9 năm diện bích, Tổ Bồ Đề Đạt Ma muốn trở về Ấn Độ; trước lúc ra đi ngài kêu chúng đệ tử lại hỏi: “Về sau nầy nếu có ai hỏi về sở đắc của mình, các ngươi có thể nói được chăng?” Phó Đạo thưa: “Theo con là không chấp văn tự, mà chỉ vận dụng theo đạo.” Tổ nói: “Ngươi đã nắm được phần da của ta.” Ni Tổng Trì thưa: “Theo con hiểu như ngài Khánh Hỷ chỉ thấy Phật A Súc một lần rồi không thấy nữa.” Tổ nói: “Ngươi đã nắm được phần thịt của ta.” Đạo Dục thưa: “Tứ đại đất nước lửa gió vốn không, ngũ ấm chẳng có, nên con thấy không có một pháp nào khả đắc.” Tổ nói: “Ngươi đã được phần xương của ta.” Huệ Khả từ ngoài bước vào làm lễ, rồi đứng đó chớ không nói năng gì cả. Tổ nói: “Ngươi đã nắm được phần tủy của ta rồi vậy.”)—The Lankavara Sutra uses the term with the meaning of the marrow of meditation.
thiền tứ
(禪肆) Chỉ cho các chùa viện Thiền tông do quan phủ lập ra. Cứ theo truyện ngài Tăng trù trong Tục Cao tăng truyện quyển 16 thì vào năm Thiên bảo thứ 3 (552) đời Bắc Tề, vua ban sắclệnh xâytinh xá cho ngài Tăng trù ởtại phía nam Long sơn, cách Nghiệp thành 80 dặm vềphía tây nam, gọi là Vân môn tự, đồng thời hạ chiếu chỉ lập riêng Thiền tứ ở các châu trong khắp nước để tiện lợi cho việc hoằng pháp giảng kinh.
Thiền tử
(禪子): tên gọi khác của người tin Phật, tăng lữ, hay chỉ cho người hành Thiền. Như trong bài thơ Văn Chung (聞鐘) của tăng Kiểu Nhiên (皎然, ?-?) nhà Đường có câu: “Vĩnh dạ nhất Thiền tử, linh nhiên tâm cảnh trung (永夜一禪子、泠然心境中, suốt đêm một Thiền khách, an nhiên tâm cảnh trong).” Hay trong Ngốc Am Phổ Trang Thiền Sư Ngữ Lục (呆菴普莊禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1418) quyển 1, phần Vân Cư Ngữ Lục (雲居語錄), có đoạn: “Thiền tử lâm xuyên hóa đạo quy, nhập môn nhất tiếu triển song mi, phá vi trần xuất đại kinh quyển, đả cổ chùy chung báo chúng tri (禪子臨川化導歸、入門一笑展雙眉、破微塵出大經卷、打鼓椎鐘報眾知, Thiền giả đến sông hóa đạo về, mỉm cười vào cửa dương hàng mi, phá bụi trần tung bao kinh quyển, đánh trống rung chuông báo chúng hay).” Hoặc trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414) quyển 7, bài Thứ Vận Tống Mãn Trấn Thành Khang Tứ Thượng Nhân (次韻送滿鎭成康四上人), lại có đoạn: “Thiền tử tâm như mãn nguyệt minh, định càn khôn cú hợp tướng trình, tam thiên lí ngoại thân huề thủ, cửu khúc Hoàng Hà triệt để thanh (禪子心如滿月明、定乾坤句合相呈、三千里外親攜手、九曲黃河徹底清, Thiền tăng tâm như trăng sáng tinh, định càn khôn câu hợp tướng trình, ba ngàn dặm ngoài cùng tay nắm, chín khúc Hoàng Hà tận đáy trong).”
thiền tự
Xem Thiền viện.
Thiền Uyển Dao Lâm
(禪苑瑤林, Zennenyōrin): xem Thiền Uyển Mông Cầu (禪苑蒙求, Zennenmōkyū) bên dưới.
Thiền Uyển Mông Cầu
(禪苑蒙求, Zennenmōkyū): còn gọi là Thiền Uyển Dao Lâm (禪苑瑤林, Zennenyōrin), Thiền Mông Cầu (禪蒙求, Zenmōkyū), 3 quyển, do Thác Am Chí Minh (錯庵志明) nhà Tống soạn, Tuyết Đường Đức Gián (雪堂德諫) nhà Nguyên chú, Vương Khê (王溪) san hành vào năm thứ 3 (1255) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐) nhà Nam Tống. Thác Am Chí Minh, người xuất thân từ Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺) ở Hà Nam (河南), bắt chước bộ Mông Cầu (蒙求) của Lý Cán (李澣) nhà Đường, biên thuật thành tác phẩm này để cho hàng sơ tâm cầu học biết rõ hành trạng của chư Phật tổ trong vườn Thiền, làm tư lương để soi sáng tâm mình và tìm thấy đạo. Với hình thức đối ngẫu vận ngữ, hai câu 5-6, tổng số chữ là 2.248, từ đức Thế Tôn cho đến Thủ Sơn Tỉnh Niệm (守山省念), Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪), v.v., mỗi hành trạng của mỗi vị đều có 2 câu thêm vào, đây là sách giáo huấn hữu ích cho Thiền môn. Vào năm thứ 3 niên hiệu Bảo Hựu, khi Vương Khê có ý định san hành bộ này, Tuyết Đường Đức Gián (雪堂德諫)―đệ tử của Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀)―viết lời chú giải tường tận về tác phẩm này và giao cho Vương Khê; nhân đó, Vương Khê kết hợp luôn cả phần chú giải này và cho san hành. Tại Nhật Bản, cũng có san hành bộ này vào năm thứ 16 (1639) và 17 (1640) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永).
thiền uyển mông cầu dao lâm
(禪苑蒙求瑤林) Cũng gọi Thiền uyển dao lâm chú, Thiền uyển dao lâm, Thiền uyển mông cầu, Thiền lâm mông cầu, Thiền mông cầu.Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Chí minh soạn vào đời Kim, ngài Đức gián chú thích vào đời Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 148. Soạn giả Chí minh phỏng theo Mông cầu của Lí hàn đời Đường, dẫn dụng sử truyện, y theo Tổ lục, sưu tập hành nghiệp của các nhà Thiền tông để làm sách tham khảo cho những người mới phát tâm học đạo tu nghiệp, về sau được ngài Đức gián chú thích thêm. Sách này được biên soạn theo thể văn vần mỗi câu 4 chữ, thu chép từ đức Thích ca trở xuống đến các Thiền sư đời Tống như ngài Tuệ hồng Giác phạm, Thủ sơn Tỉnh niệm... tất cả gồm 562 tắc, phần chú thích của ngài Đức gián dẫn dụng các kinh sách như kinh Phổ diệu, Cảnh đức truyền đăng lục, Ngũ đăng hội nguyên, Nhân thiên nhãn mục... rất tường tận. Kế sau sách này, có Thiền uyển mông cầu thập di 1 quyển, thu chép từ Thiếu lâm xích tướng trở xuống đến Đại qui niệm tụng, cũng theo thể văn vần, mỗi câu 4 chữ, tất cả có 144 tắc, dẫn dụng Bích nham lục, Nhân thiên bảo giám, Lâm gian lục... và có chú thích thêm. Tên soạn giả không được rõ, nhưng căn cứ vào những sách được dẫn dụng thì có thể suy đoán đây là tác phẩm của người đời Tống, cũng được thu vào Vạn tục tạng tập 148.
Thiền Uyển Thanh Quy
(禪苑清規, Zennenshingi): 10 quyển, do Tông Trách (宗賾, ?-?) ở Trường Lô (長蘆) soạn, bản san hành đề năm thứ 2 (1103) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧). Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 749-814) lần đầu tiên chế ra quy cũ Thiền môn qua bộ Bách Trượng Thanh Quy (百丈清規), nhưng bộ này bị tán thất và đến thời Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống thì không còn thấy bóng dáng nó nữa. Thấy vậy, Tông Trách rất cảm hoài, nên mới đi tìm lại những dấu vết về cách thức hành pháp vốn hiện tại đang còn hành trì tại các ngôi chùa xưa lúc bấy giờ, rồi ông biên tập lại thành bản quy định về quy cũ Thiền môn. Vì bản này được hình thành vào năm thứ 2 niên hiệu Sùng Ninh nhà Tống, nên còn được gọi là Sùng Ninh Thanh Quy (崇寧清規). Trong các bản Thanh Quy hiện tồn thì đây được xem như là bản xưa nhất, có thể giúp chúng ta hồi tưởng lại những quy cũ ngày xưa thời Bách Trượng như thế nào, và trở thành bản chuẩn cứ cho các bản Thanh Quy sau này ra đời. Bản này giải thích rất rõ từng chi tiết về hành vi của vị Thiền tăng, các chức vụ, cũng như tác pháp oai nghi tế hạnh hằng ngày. Trong đó còn có những đoạn văn như Quy Kính Văn (龜敬文), Tọa Thiền Nghi (坐禪儀), Tự Cảnh Văn (自警文), v.v. Vào năm thứ 2 (1202) niên hiệu Gia Thái (嘉泰), Ngu Tường (虞翔) cho tái san hành; đến năm thứ 2 (1254) niên hiệu Bảo Hựu (寶祐), Bản Cao Lệ (高麗本, Triều Tiên) bắt đầu xuất hiện. Tại Nhật Bản, có Bản Ngũ Sơn (五山本) được san hành dưới thời Nam Bắc Triều (1336-1392), bản ghi năm thứ 6 (1709) niên hiệu Bảo Vĩnh (寶永), bản ghi năm thứ 8 (1796) niên hiệu Khoan Chính (寛政); và tả bản của Kim Trạch Văn Khố (金澤文庫, Kanazawa-bunko) thuộc giữa thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333).
thiền uyển thanh quy
(禪苑清規) Cũng gọi Sùng ninh thanh qui, Trùng khắc bổ chú thiền uyển thanh qui, Thiền qui.Thanh qui, 10 quyển, do ngài Trường lôTôngtrách biên tập vào đời Tống, hoàn thành năm Sùng ninh thứ 2 (1103), được thu vào Vạn tục tạng tập 111. Thanh qui có nghĩa là những qui định về qui trình tổ chức và các sinh hoạt hàng ngày của chúng tăng trong Thiền viện. Bộ Thanh qui đầu tiên là Bách trượng cổ thanh qui do Thiền sư Hoài hải (720-814) ở núi Bách trượng soạn vào đời Đường. Đến đời Bắc Tống, bộ Cổ thanh qui đã bị thất lạc, qui tắc Thiền lâm rối loạn, cho nên ngái Tông trách phục hưng tinh thần Bách trượng thanh qui bằng cách sưu tập hành pháp,kệ tụng của cáctùng lâm còn sót lại mà biên soạn lại thành bộThanh qui này. Về sau, các thanh qui do Trung quốc và Nhật bản chế định, đều lấy bộ thanh qui này làm mẫu mực.
Thiền uyển tập anh
禪苑集英|Tên của một quyển sách rất quan trọng của Thiền tông Việt Nam, nói về các »Anh tú vườn thiền«, các vị Thiền sư Việt Nam từ cuối thế kỉ thứ sáu đến đầu thế kỉ thứ 13. Ðây là tài liệu lịch sử Phật giáo cổ nhất hiện còn tại Việt Nam. Người ta không biết rõ tác giả của Thiền uyển tập anh là ai, nhưng có thể xác định được rằng, nó là một tác phẩm được hình thành qua nhiều giai đoạn và Thiền sư Thông Biện (?-1134) chính là người khởi thảo.|Theo dịch giả của Thiền uyển tập anh là Ngô Ðức Thọ và những manh mối được tìm thấy trong chính quyển sách này, người ta có thể xác định được Quốc sư Thông Biện chính là người khởi thảo bản đầu của quyển sách này, bởi vì Sư đã trình bày, chứng tỏ kiến thức quảng bác của mình trong một buổi đàm luận với Linh Nhân Hoàng thái hậu vào năm 1096. Ðoạn trả lời của Thông Biện được ghi lại trong Thiền uyển tập anh không dài lắm nhưng nó chính là một pho sử vô cùng quý báu về Phật giáo của Việt Nam được thâu gọn trong tầm kiến thức của vị Thiền sư lỗi lạc này và bản thảo của Thiền uyển tập anh – có thể mang tên Chiếu đối lục. Sau đó, Thông Biện giao phó công việc biên sửa Chiếu đối lục cho một đệ tử người gốc Trung Quốc là Biện Tài. Nơi truyện của Thiền sư Thần Nghi, người ta có thể biết được rằng, Thiền sư Thường Chiếu – thầy của Thần Nghi – sử dụng Chiếu đối lục để giảng nghĩa hệ thống truyền thừa của Thiền tông tại Việt Nam cho đệ tử trước khi viên tịch. Chiếu đối lục của Thông Biện đến tay Thường Chiếu như thế nào thì không rõ lắm nhưng sau đó, Thường Chiếu có soạn một quyển sách mang tên Nam tông tự pháp đồ – nay đã thất truyền nhưng được ghi lại trong các tác phẩm khác – có lẽ với nội dung tương tự như Thiền uyển tập anh và biểu đồ truyền thừa. Thiền sư Thần Nghi đã nhận hai bộ sách quý này từ chính vị thầy và truyền lại cho đệ tử mình là Thiền sư Ẩn Không. Với những tài liệu còn lại và sự đối chiếu mạch lạc, người ta có thể xác định được rằng, Thiền uyển tập anh được hoàn tất dưới tay Thiền sư Ẩn Không đầu đời Trần.
Thiền viện
禪院; J: zen'en;|Là nơi tu tập của những người theo Thiền tông. Thiền sư Bách Trượng là người đầu tiên sáng lập Thiền viện và những quy củ tổ chức ở đây.
thiền viện
Zenke (J), Zen-en (J), Zen monastery, Zen templeThiền tự.
; See Thiền Đường.
; (禪院) Cũng gọi: Thiền tự, Thiền sát. Đối lại: Giáo viện, Luật viện. Chỉ chochùa viện chuyên tu thiền quán. Gọi Thiền sát thì Sát nghĩa là Tháp. Các chùa viện đời xưa đều có xây tháp, cho nên chùa viện cũng gọi là Sát. Theo điều Bách trượng qui thằng tụng trong Thiền uyển thanh qui quyển 10, việc thiết lập Thiền viện bắt đầu từ Thiền sư Bách trượng Hoài hải đời Đường, đến đời Tống thì sự phân biệt Giáo và Thiền càng rõ, cho nên chế độ Thiền viện cũng dần dần hoàn bị. Trong Thiền lâm bảo huấn bút thuyết quyển thượng và điều Tống nguyên phong tam niên trong Phật tổ thống kỉ quyển 45, việc xây dựng Thiền viện đều được ghi chép rõ ràng. [X. Tống cao tăng truyện Q.10; Phật tổ thống kỉ Q.41; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Thiền lâm bảo huấn hợp chú Q.1].
thiền và tịnh độ
Zen and Pure Land—Thiền và Tịnh độ không hai. Nếu liễu ngộ thì liễu ngộ cả hai; ví bằng mê mờ thì mê mờ cả hai, vì dù thiền hay tịnh độ cũng đều quy tâm, ngoài tâm không pháp—Zen and Pure Land have always been non-dual. If we thoroughly understand one, we thoroughly understand both. If we fail to understand one, we will fail on both, Zen or Pure Land focus on “Mind.” There are no dharmas outside the mind.
thiền vô sắc
ArŪpa-jāna (S), Immaterial absorption.
thiền vị
Meditation flavour; the mysterious taste or sensation experienced by one who enters abstract mediatation.
; Mùi vị của Thiền khi nhập vào thiền định, thân tâm có cảm giác mùi vị tuyệt vời, nhẹ nhàng khoan khoái, tịch tĩnh—Meditation-flavour, the mysterious taste or sensation experienced by one who enter abstract meditation.
; (禪味) Cái diệu vi nhẹ nhàng, vắng lặng, thân tâm thanh thản mà Thiền giả cảm nhận khi nhập thiền định, tức niềm vui thiền, là pháp duyệt thiền định. Đại thừa vô sinh phương tiện môn (Đại 85, 1274 trung) nói: Tham đắm thiền vị, rơi vào Nhị thừa.
thiền xá
(禪舍) Chỉ cho sự xả bỏ Hỉ thụ(cảm giác mừng vui), của Đệ tam thiền. Đối với niềm vui mừng vi diệu của Đệ tam thiền, không sinh tâm thiên chấp, không khởi niệm ưa thích, gọi là Thiền xả. Vì trong Đệ nhị thiền, Tầm (tìm kiếm) và Tứ(dò xét), đã dứt bặt, nội tâm thuần tịnh và chuyên nhất, liền sinh ra cảm thụ Hỉ và Lạc. Khi đến Đệ tam thiền, do tiến thêm 1 bước mà xả bỏ cảm thụ Hỉ cho nên gọi là Thiền xả. Kinh Tạp a hàm quyển 14 (Đại 2, 97 thượng) nói: Lìa bỏ tâm Hỉ, trụ ở chính trí chính niệm, tiến lên xả li, đầy đủ Đệ tam thiền. [X. Thanh tịnh đạo luận 4 ; Giải thóat đạo luận Q.5].
Thiền Xương Tự
(禪昌寺, Zenshō-ji): ngôi chùa của Phái Diệu Tâm Tự (妙心寺派) thuộc Lâm Tế Tông; hiệu núi là Long Trạch Sơn (龍澤山); hiện tọa lạc tại Gero-shi (下呂市), Gifu-ken (岐阜縣). Tượng thờ chính là Thích Ca Như Lai, Dược Sư Như Lai, Quan Thế Âm Bồ Tát. Huệ Tâm Tăng Đô Nguyên Tín (惠心僧都源信) là người khai sáng ra chùa. Đến khoảng niên hiệu Vĩnh Hòa (永和, 1375-1379), Trúc Xử Sùng Viên (竹處崇圓) là người khai sơn, lấy tên là Đại Hùng Sơn Viên Thông Tự (大雄山圓通寺). Sau đó, do vì gặp hỏa tai nên chùa trở thành hoang phế; nhưng đến năm 1716 thì Tam Mộc Trực Lại (三木直賴, Mitsuki Naoyori) mới cung thỉnh Minh Thục Khánh Tuấn (明叔慶俊) đến tái kiến lại chùa này, rồi đổi tên hiệu chùa và lưu truyền cho đến nay.
thiền yếu kinh
(禪要經) I. Thiền Yếu Kinh. Cũng gọi Thiền yếu kinh ha dục phẩm, Thiền yếu ha dục kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Đông Hán(không rõ tên người dịch) thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này dạy hành giả lúc tu định nên thực hành Bất tịnh quán để mong lìa dục và được trí quán thanh tịnh; cũng chính là quán xét về 6 cái ham muốn của chúng sinh đối với người khác giới tính. Đó là: Ham muốn về nhan sắc, ham muốn về dáng dấp, ham muốn về cách đi đứng, và cử chỉ yểu điệu, ham muốn về giọng nói, ham muốn về làn da mịn màng trơn láng và ham muốn về hình tướng người. Đối với 5 cái ham muốn trước thì nên quán xét về tính chất dơ bẩn nhớp nhúa; còn đối với ham muốn về tướng người thì nên quán tưởng những đống xương trắng của người nằm vương vãi trên mặt đất. Kinh này tương đương với phần đầu của Thiền pháp yếu giải do Cưu ma la thập dịch.II. Thiền Yếu kinh. Cũng gọi Thiền pháp yếu giải, Thiền pháp yếu giải kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào khoảng năm Hoằng thủy thứ 4-14 (403-412) đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. (xt. Thiền Pháp Yếu Giải). III. Thiền Yếu Kinh. Kinh, 1 quyển, làngụy kinh ở giữa đời Đường. Sách tên là Thiền môn kinh, bài tựa của ngài Tuệ quang ở đầu quyển nói rằng sách này cũng gọi là Thiền yếu kinh. Vì những Thiền giả thuộc hệ thống ngài Đạt ma nhận thấy những khuyết điểm trong các kinh Thiền Tiểu thừa, nên mới soạn ra kinh này, muốn dùng kinh Thiền Đại thừa để bổ túc cho những khuyết điểm của kinh ThiềnTiểu thừa. Kinh này sử dụng hình thức kinh điển, nội dung nêu lên tư tưởng và lập trường của Thiền tông thời kì đầu. Khai nguyên thích giáo lục xếp kinh này vào loại ngụy kinh, tuy nhiên, các Thiền lục như Lịch đại pháp bảo kí, Đốn ngộ yếu môn...đều có trích dẫn kinh này, vì thế mà biết kinh này được lưu hành trong Thiền lâm từ đời Đường đến đời Ngũ đại. Còn trong các kinh sách đào được ở Đôn hoàng, người ta thấy có bản hoàn chỉnh của kinh này, mang số hiệu A.Stein 5532. Học giả Nhật bản là ông Liễu điền Thánh sơn căn cứ vào bản này mà sửa chữalạirồi xếp vào Trủng bản bác sĩ tụng thọ kí niệm Phật giáo sử luận tập.
Thiền Ông
禪翁; 902-979, cũng được gọi là Thiền Ông Ðạo giả|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 11. Sư xuất gia và đắc pháp nơi Thiền sư La Quý An. Hai đệ tử danh tiếng của Sư là Vạn Hạnh và Ðịnh Huệ.|Sư trụ trì chùa Song Lâm ở làng Phù Ninh, phủ Thiên Ðức và tịch năm Kỉ Mão, niên hiệu Thái Bình thứ 10, thọ 78 tuổi.
thiền ông đạo giả
Thiền Sư Thiền Ông (902-979)—Thiền Sư Thiền Ông quê làng Cổ Pháp, từ thuở còn rất nhỏ sư đã không thích cuộc đời trần tục. Sư xuất gia và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Đinh Trưởng Lão. Sư là Pháp tử đời thứ mười một dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư thị tịch năm 979, thọ 78 tuổi—Zen Master Thiền Ông (902-979)—A Vietnamese monk from Cổ Pháp. He did not like secular life since he was very young. He left home and became one of the most outstanding disciples of Đinh Trưởng Lão. He was the Dharma heir of the eleventh lineage of the Vinitaruci Zen Sect. He passed away in 979, at the age of 78.
thiền đà ca vương
Jātaka (S).
; (禪陀迦王) Thiền đà ca, Phạm:Jĩàtaka. Tên một vị quốc vương ở Nam Thiên Trúc. Bồ tát Long thụ từng dùng kệ tụng trình bày ý chỉ Thập thiện, Thất giác chi, Thập nhị nhân duyên để tặng vị vua này, gọi là Thiền đà ca vương kệ. Trong tạng kinh có Long thụ Bồ tát vị Thiền đà ca vương thuyết pháp yếu kệ. Vị vua này còn có các tên hiệu như: Sa đa bà ha,Ưu đà diên... (xt. Sa Đa Bà Ha Vương).
Thiền đáo bỉ ngạn 禪到彼岸
[ja] ゼントウヒガン zen tōhigan ||| The perfection of concentration. See 禪波羅蜜. => Thành tựu rốt ráo viên mãn của thiền định. Xem Thiền ba-la-mật, 禪波羅蜜.
thiền đăng thế phả
(禪燈世譜) Tác phẩm, 9 quyển, do ngài Sơn ông Đạo mân soạn vào đời Minh, ông Ngô đồng biên tập và ấn hành vào năm Sùng trinh thứ 5 (1632), được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Lúc đầu, ngài Đạo mân định sưu tầm các bộ Truyền đăng lục, các bài minh bia đứt đoạn, chắp vá để biên tập các thế hệ Tổ sư Thiền tông, thì tình cờ gặp ông Ngô đồng, người đất Mân (Phúc kiến) cũng đang soạn thuật tác phẩm tương tự như thế, ngài Đạo mân liền hợp tác với ông Ngô đồng rồi sửa chữa thành bộ sách này. Nội dung sách dùng đồ biểu trình bày từ đức Phật Thích ca Mâu ni trở xuống, cho đến các tông phái: Nam nhạc, Qui ngưỡng, Lâm tế, Hoàng long, Dương kì, Hổ khâu, Vân môn, Pháp nhãn, Thanh nguyên, Tào động tất cả các dòng phái nối pháp truyền thừa chính thống và không chính thống. Năm Thuận trị 11 (1654) đời Thanh, ngài Giới am Ngộ tiến (1612-1673) biên soạn và ấn hành bộ Phật tổ tông phái thế phổ 8 quyển mà nội dung phần nhiều rất giống với bộ Thiền đăng thế phổ này của ngài Đạo mân. Vì thế nên Vạn tục tạng chỉ thu chép 1 phần nhỏ những chỗ sai khác với Thiền đăng thế phổ như quyển 1, quyển 5, quyển 6... rồi để vào phần phụ ở sau Thiền đăng thế phổ này.
Thiền Đăng Thế Phổ
(禪燈世譜, Zentōsefu): 9 quyển, do Sơn Ông Đạo Mân (山翁道忞) nhà Minh biên tập, san hành vào năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應). Đây là bộ truyền đăng hệ phổ do Mộc Trần Đạo Mân (木陳道忞), pháp từ của Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟), biên tập vào năm thứ 4 (1631) niên hiệu Sùng Trinh (崇貞). Ban đầu, Đạo Mân có ý muốn biên tập lịch sử truyền đăng kể từ thời nhà Nguyên trở về sau, nhưng các bài minh văn bia bị khuyết mất khá nhiều, định làm thế phổ để thay thế, nhân thỉnh thoảng ông đến Huyện Mân (閩, Tỉnh Phúc Kiến), bắt gặp cuốn thế phổ do Ngô Đồng (呉侗) biên soạn, nương vào các Truyền Đăng Lục để hiệu đính những đúng sai trong đó và hình thành nên bộ sách này. Nó làm sáng tỏ hệ phổ truyền đăng từ thời đức Thích Tôn cho đến 5 tông phái ở Trung Quốc và rất tiện lợi về thông tin mối quan hệ truyền thừa trong Thiền Tông. Tuy nhiên, do vì người ta nhận lầm Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟) thành Thiên Vương Đạo Ngộ (天王道悟) là pháp từ của Mã Tổ (馬祖), cho nên đã phạm phải sai lầm liệt chung cả 2 tông Vân Môn và Pháp Nhãn đều thuộc môn hạ của Nam Nhạc (南岳).
Thiền đường
禪堂; J: zendō;|Là nơi các vị tăng Toạ thiền trong một Thiền viện. Cũng được dùng chỉ một Thiền viện.
thiền đường
Xem Viễn Công.
; Meditation hall of Thiền tông. A common name of the monastic hall.
; Thiền đường là một căn phòng căn nhà lớn trong tự viện hay thiền viện. Tại các chùa lớn, thường Thiền Đường là một kiến trúc biệt lập chỉ để thực hành tọa thiền, chứ không có các nghi lễ khác—Buddhist meditation hall (center)—Buddhist temple or Zen hall (room) or meditation hall of the Ch'an sect. In large temples, meditation hall is a separate structure, where only meditation is practiced without any other ceremonies.
; (禪堂) I. Thiền Đường. Gọi đủ: Tọa thiền đường. Cũng gọi Tăng đường. (xt. Tăng Đường). II. Thiền Đường. Để phân biệt với Tăng đường nên gọi là Thiền đường. Tăng đường là đạo tràng để ngồi thiền, ngủ nghỉ, ăn uống... còn Thiền đường là đạo tràng chỉ được sử dụng cho việc tọa thiền. III. Thiền Đường. Chỉ cho chùa viện không có Tăng đường, chư tăng tọa thiền ở Pháp đường; chỗ ở của chúng tăng từ vị Duy na trở xuống, gọi là Thiền đường.
thiền đại thừa
Mahayana Meditation—Đây là phương pháp tu thiền định dựa trên kinh điển Đại Thừa. Thiền Đại Thừa là loại thiền đốn ngộ hay thượng thừa thiền. Thiền Đại Thừa nhấn mạnh: “Ai cũng có thể thiền định, đi đến đại ngộ và đạt thành Phật Quả.”—This is the method of practicing meditation which is based on the Mahayana Sutras. Mahayana Meditation is considered as “Instant Awakening Meditation,” or “Supreme Meditation.” Mahayana Meditation emphasizes: “Everyone is able to meditate, is able to be awakened instantly and attain the Buddhahood.”
thiền đầu
Xem Thiền đậu.
; (禪頭) I. Thiền Đầu. Vị Thủ tọa của Thiền lâm. Đại quán thanh qui (Đại 81, 612 hạ) nói: Hiệu lệnh tọathiền của Tăng đường là do Thủ tọa đưa ra, chứ không phải do vị Trụ trì, cho nên vị Thủ tọa được gọi là Thiền đầu. II. Thiền Đầu. Phạm:Jantu. Cũng gọi Thiền đậu, Thiền đâu, Thiện đô.Từ dịch âm của tiếng Phạm Jantu, có nghĩa là chúng sinh. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, Huyền ứng âm nghĩa Q.1].
thiền đậu
Jantu (S)Thiền đầu, Thức thần- Thức thần: Loài có sinh mạng.
Thiền định
xem Tam-ma-bạt-đề.
thiền định
Absorption, Meditation, Dhyāna (S), Jhānna (P), Jhānaṃ (P)Thiền na, định, định tâm, tịnh lự, tĩnh lự1- Tâm quan sát chuyên chú về một cảnh (sự, hay ý) mà không lìa tán. Định là một sở tu học trong ba sở tu học là giới - định - huệ. 2- Định thông thường gọi là thiền na. Định cao hơn gọi là đại định. 3- Tĩnh lự: Sau khi định tâm (Dharana) thì tập trung quán niệm. Một trong 8 pháp thật tu có đề cập trong Du già kinh.
; One of the six pàramitàs. There are numerous methods and subjects of meditation. Thiền is dhyàna, Định is an interpretation of samàdhi. Thiền is one element of định, which covers the whole ground of meditation, concentration abstraction, reaching to the ultimate beyond emotion or thinking.
; Dhyana and Samadhi (skt). (I) Nghĩa của Thiền Định—The meanings of Samadhi: a) Thiền theo tiếng Phạn là Dhyana. Thiền là một yếu tố của Định; tuy nhiên, cả hai từ được dùng gần như lẫn lộn với nhau: Dhyana is Meditation (Zen), probably a transliteration. Meditation is an element of Concentration; however, the two words (dhyana and samadhi) are loosely used. b) Định theo tiếng Phạn là Samadhi. Định bao trùm toàn bộ bối cảnh của Thiền, để tâm chuyên chú vào một đối tượng mà đạt tới trạng thái tịch tĩnh không tán loạn—Concentration is an interpretation of Samadhi. Samadhi covers the whole ground of meditation, concentration or abstraction, reaching to the ultimate beyond emotion or thinking. ** Có nhiều định nghĩa về Thiền Định—There are several different definitions for Dhyana and Samadhi: 1) Thiền định hay sự phát triển tâm linh, hay quán chiếu về khổ, vô thường và vô ngã. Thiền định trong các trường phái Phật giáo tuy có khác nhau về hình thức và phương pháp, nhưng cùng có một mục tiêu chung là làm tinh thần tập trung, thanh thản và trong suốt như một dòng sông nước trong mà người ta có thể nhìn thấy tận đáy, từ đó ý thức biết được sự thể nghiệm về ngộ, giải thoát và đại giác. Ngoài ra, cố gắng thực tập thiền định thường xuyên nếu hành giả chưa nhập vào chân lý thì ít ra cũng sẽ giúp chúng ta xa rời nhị nguyên phân biệt—Meditation or Mental development, or to meditate upon the implications or disciplines of pain, unreality, impermanence, and the non-ego. Although different in forms and methods in different Buddhist schools, but has the same goal is to concentrate the mind of the cultivators, to calm and to clarify it as one would calm and clarify the surface of a turbulent body of water, so that the bottom of which can be seen. Once the surface of that turbulent water is pacified, one can see it's bottom as when the mind is pacified, one can come to an expierence or a state of awakening, liberation or enlightenment. In addition, diligent repetition of practice of meditation, if the cultivator has not yet become one with the “absolute truth,” dualistic state of mind and distinction between subject and object disappeared in that person. 2) Thiền cũng là quá trình tập trung và thấm nhập nhờ đó mà tâm được yên tĩnh và nhất tâm bất loạn (qui nhất), rồi đi đến giác ngộ: Zen is also a process of concentration and absorption by which the mind is first tranquilized and brought to one-pointedness, and then awakened. 3) Một trong lục Ba La Mật: “Dhyana” is one of the six paramitas—See Lục Độ Ba La Mật and Tứ Thiền. 4) Thiền định để chỉ những giáo lý thiền thuộc về Phật giáo, nhưng áp dụng đặc biệt vào Thiền Tông—The term “Dhyana” connotes Buddhism and Buddhist things in general, but has special application to the Zen (Ch'an) sects. 5) Là một tông phái Phật giáo Đại Thừa, Thiền là một tôn giáo thoát khỏi giáo điều mà chỉ hướng thẳng đến sự tự chứng ngộ. Tỷ như sự tự chứng ngộ của Đức Phật Thích Ca dưới cội cây Bồ Đề sau khi nỗ lực tu tập. Thiền tông Việt Nam bao gồm các phái Lâm Tế, Tào Động, và Trúc Lâm—As a Mahayana Buddhist sect, Zen is a religious free of dogmas or creeds whose teachings and disciplines are directed toward self-consummation. For example, the full awakening that Sakyamuni Buddha himself experienced under the Bodhi-tree after strenuous self-discipline. In Vietnam, Zen sects comprise of Lin-Chi, T'ao-Tung, and Ch'u-Lin. (II) Mục đích của việc hành Thiền—The purposes of Meditation Practices: 1) Thiền không phải là trầm tư mặc tưởng. Ngộ không cốt tạo ra một điều kiện nào đó theo chủ tâm đã định trước bằng cách tập trung tư tưởng mạnh vào đó. Trái lại, Thiền là sự nhận chân một năng lực tâm linh mới có thể phán đoán sự vật trên một quan điểm mới. Pháp tu Thiền với mục đích là dứt khoát lật đổ ngôi nhà giả tạo mà mình đang có để dựng lên cái khác trên một nền móng hoàn toàn mới. Cơ cấu cũ gọi là vô minh, và ngôi nhà mới gọi là giác ngộ. Do đó trong Thiền không hề có việc trầm tư về những câu nói tượng trưng hoặc siêu hình nào thuộc về sản phẩm của ý thức hay cơ trí: Meditation is not a state of self-suggestion. Enlightenment does not consist in producing a certain premeditated condition by intensely thinking of it. Meditation is the growing conscious of a new power in the mind, which enabled it to judge things from a new point of view. The cultivation of Zen consists in upsetting the existing artificially constructed framework once for all and in remodeling it on an entirely new basis. The older frame is call 'ignorance' and the new one 'enlightenment.' It is evident that no products of our relative consciousness or intelligent faculty can play any part in Zen. 2) Phật tử tu tập Thiền định để huấn luyện tâm và kỷ luật tự giác bằng cách nhìn vào chính mình: Buddhists practise meditation for mind-training and self-discipline by looking within ourselves. 3) Tu tập thiền định là tìm cách hiểu rõ bản chất của tâm và sử dụng nó một cách hữu hiệu trong cuộc sống hằng ngày, vì tâm là chìa khóa của hạnh phúc, mà cũng là chìa khóa của khổ đau phiền não: To meditate is to try to understand the nature of the mind and to use it effectively in daily life. The mind is the key to happiness, and also the key to sufferings. 4) Tu tập thiền định trong cuộc sống hằng ngày là giải thoát tinh thần ra khỏi những trói buộc của tư tưởng cũng như những nhiễm ô loạn động: To practice meditation daily will help free the mind from bondage to any thought-fetters, defilements, as well as distractions in daily life. 5) Tu tập thiền định là con đường trực tiếp nhất để đạt tới đại giác: Practicing meditation is the most direct way to reach enlightenment. (III) Những đặc điểm của Thiền—Some characteristics of Zen: 1) Ý niệm căn bản của Thiền tông là đồng nhất tính của hữu và vô. “Chân tướng vô tướng,” “Pháp môn vô môn,” “Thánh trí vô trí.” Sự hỗ tương đồng hóa giữa hai ý tưởng đối lập như đen và trắng, thiện và bất thiện, thanh tịnh và nhiễm ô, vân vân, là kết quả của thâm nhập thiền tư duy sâu thẳm. “Pháp thân không tướng, nhưng hóa hiện mọi hình tướng.” “Kim khẩu không lời, nhưng phát hiện mọi lời.” Những ý niệm cùng loại đó thường bắt gặp trong Thiền tông: The basic idea of Zen is the identity of becoming and non-becoming. “The true state is no special state;” “The gate of Dharma is no gate;” “Holy knowledge is no knowledge.” The mutual identification of two opposed ideas, such as black and white, good and evil, pure and impure, or the like, results from deep meditation. “The ideal body has no form, yet any form may come out of it.” “The golden mouth has no word, yet any word may come out of it.” Ideas of a similar nature are often encountered. 2) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có một quá trình riêng biệt nơi Thiền tông. Khi định tâm vào tư duy tịnh mặc, một 'công án' được đặt ra cho hành giả để trắc nghiệm khả năng tiến bộ đến tỏ ngộ. Khi nhận một công án, hành giả bắt đầu tĩnh tọa nơi thiền đường. Ngồi thoải mái, chân kiết già, thân ngay ngắn và thẳng lưng, tay kiết thiền ấn, mắt mở nửa chừng. Đây gọi là tọa thiền, có thể kéo dài trong nhiều ngày đêm. Những sinh hoạt hằng ngày như ở, ăn, ngủ, tăm, vân vân đều được giữ có chừng mực. Im lặng được tuyệt đối tuân giữ; tức là khi tọa thiền, thọ thực hay tẩy trần, không ai được nói lời nào cũng như không gây ra tiếng động nào. Thỉnh thoảng có xảy ra cuộc đối thoại gọi là 'vấn đáp' giữa hành giả và thiền sư được mệnh danh là tu học thiền hay 'vân thủy,' hành giả nêu những thắc mắc và vị thiền sư trả lời hoặc bằng ẩn dụ hay quát mắng. Khi hành giả đã sẵn sàng để giải quyết vấn đề, ông ta đến viếng sư phụ nơi phương trượng, trình bày những gì đã thấu hiểu và xin được giải quyết công án. Nếu thiền sư đắc ý, ngài sẽ nhận cho là đắc đạo; nếu không, hành giả lại tiếp tục thiền quán thêm nữa: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, there is a peculiar process in Zen. To concentrate one's mind in silent meditation, a koan (public theme) is given to an aspirant to test his qualification for progress towards enlightenment. On receiving a theme, one sits in silence in the Zen hall. One must sit at ease, cross-legged and well-posed with upright body, with his hands in the meditating sign, and with his eyes neither open nor quite closed. This is called sitting and meditating, which may go on for several days and nights. So the daily life, lodging, eating, sleeping, and bathing should be regulated properly. Silence is strictly required and kept; that is, while meditating, dining or bathing, no word should be uttered and no noise should be made. Sometimes a public dialogue called 'question and answer' takes place (also called 'the cloud and water,' the name used for traveling student). The aspirant will ask questions of the teacher who gives answers, hints or scoldings. When a student or any aspirant thinks that he is prepared on the problem, he pays a private visit to the teacher's retreat, explains what he understands and proposes to resolve the question. When the teacher is satisfied, he will give sanction; if not, the candidate must continue meditation. (IV) Lợi ích của Thiền Tập—Benefits of meditation practices—Theo Tỳ Kheo Piyananda trong Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, hành thiền có những lợi ích sau đây—According to Bhikkhu Piyananda in The Gems of Buddhism Wisdom, meditation practices have the folowing benefits: 1) Thiền tập diệt trừ được si mê và phát sanh trí tuệ. Ngoài ra, thiền tập còn giúp mang lại sức khỏe, hạnh phúc, và sự lạc quan: Practicing meditation can help practitioners eradicate dullness and bring about wisdom. Besides, meditation also brings about health, happiness, and optimism. 2) Nếu bạn là người bận bịu, thiền tập giúp bạn quét sạch căng thẳng và tìm thấy thư giãn: If you are a busy person, meditation practices can help you to get rid of tension and to find some relaxation. 3) Nếu bạn là người hay lo lắng, thiền tập giúp bạn bình tĩnh và thấy thanh bình dài lâu hay tạm thời: If you are a worried person, meditation practices can help to calm and help you to find either permanent or temporary peace. 4) Nếu bạn là người có quá nhiều vấn đề, thiền tập giúp bạn có can đảm và sức mạnh để đương đầu và khắc phục các vấn đề ấy: If you are a person who has endless problems, meditation practices can help you to develop courage and strength to face and overcome problems. 5) Nếu bạn thiếu tự tin, thiền tập sẽ giúp bạn lấy lại tự tin mà bạn cần. Lòng tự tin là bí quyết của thành công: If you lack self-confidence, meditation practices can help you gain the self-confidence you need. This self-confidence is the secret of success. 6) Nếu bạn sợ hãi trong lòng, thiền có thể giúp bạn hiểu rõ bản chất thực sự của đối tượng làm bạn sợ hãi, từ đó có thể khắc phục được sợ hãi trong lòng: If you have fear in your heart, meditation practices can help you understand the real nature of the objects that are making you afraid, then you can overcome the fear in your mind. 7) Nếu bạn lúc nào cũng bất mãn với mọi thứ, không có thứ gì trên đời nầy vừa ý bạn, thiền tập sẽ giúp bạn có cơ hội để phát triển và duy trì sự “tri túc” nội tâm: If you are always dissatisfied with everything; nothing in life seems to be satisfactory; meditation practices will give you the chance to develop and maintain some inner satisfaction. 8) Nếu bạn hoài nghi và không lưu tâm đến tôn giáo, thiền tập sẽ giúp bạn vượt qua tính hoài nghi và nhìn thấy giá trị thực tiễn trong giáo lý: If you are skeptical and disinterested in religion, meditation practices can help you go beyond your own skepticism and to see some practical value in religious guidance. 9) Nếu bạn thất vọng và thất tình do sự thiếu hiểu biết bản chất về đời sống và thế giới, thiền tập sẽ hướng dẫn và giúp bạn hiểu điều đã làm xáo trộn bạn bởi những thứ không cần thiết: If you are frustrated and heart-broken due to lack of understanding of the nature of life and the world, meditation practices will truly guide and help you understand that you are disturbed by unnecessary things. 10) Nếu bạn là một người giàu có, thiền tập sẽ giúp bạn nhận thức được bản chất thật sự của của cải cũng như cách sử dụng của cải cho hạnh phúc của chính bạn và những người chung quanh: If you are a rich man, meditation practices can help you realize the true nature of your wealth and how to make use of your wealth for your own happiness as well as for others. 11) Nếu bạn là người nghèo, thiền tập sẽ giúp bạn đạt sự mãn ý, không nuôi dưỡng ganh tỵ với những người giàu có: If you are a poor man, meditation practices can help you have some contentment and not to harbour jealousy towards those who have more than you. 12) Nếu bạn là người trẻ đang đứng trước những ngã rẽ cuộc đời, bạn không biết phải bước vào ngã nào, thiền tập sẽ giúp bạn hiểu biết con đường phải đi để tiến tới mục đích mà bạn nhắm tới: If you are a young man at the cross-roads of your life, and do not know which way to turn, meditation practices will help you understand which is the road for you to travel to reach your proper goal. 13) Nếu bạn là người già yếu chán chường cuộc sống, thiền tập sẽ mang lại cho bạn sự hiểu biết sâu xa hơn về cuộc đời; sự hiểu biết này sẽ giảm thiểu nỗi đau đớn của cuộc sống và làm tăng sự vui sống: If you are an elderly man who is fed-up with life, meditation practices will bring you to a deeper understanding of life; this understanding in turn will relieve you from the pains of life and will increase the joy of living. 14) Nếu bạn là người nóng nảy, thiền tập có thể giúp bạn phát triển sức mạnh để khắc phục những yếu điểm nóng giận, hận thù và bất mãn: If you are hot-tempered, meditation practices can help you develop the strength to overcome these weaknesses of anger, hatred and resentment. 15) Nếu bạn hay ganh ghét, thiền tập có thể giúp bạn hiểu được cái nguy hiểm của sự ganh ghét: If you are jealous, meditation practices can help you understand the danger of your jealousy. 16) Nếu bạn là người nô lệ cho năm giác quan, thiền tập có thể giúp bạn học hỏi cách trở nên chủ tể của những giác quan tham dục nầy: If you are a slave to your five senses, meditation practices can help you learn how to become the master of your sense-desires. 17) Nếu bạn nghiện rượu, thuốc lá hay ma túy, bạn có thể nhận thức được cách vượt qua được những thói xấu nguy hiểm nầy: If you are addicted to wine, tobacco, or drugs, meditation practices can help you realize how to overcome the dangerous habits which have enslaved you. 18) Nếu bạn là người ám muội, thiền tập sẽ cho bạn cơ hội trau dồi kiến thức hữu dụng và lợi ích cho cả bạn lẫn bạn bè và gia đình: If you are an ignorant person, meditation practices will give you a chance to cultivate some knowledge that will be useful and beneficial both to you and to your friends and family. 19) Nếu bạn là người tâm tư suy nhược, thiền tập sẽ giúp làm tăng sức mạnh cho tâm bạn để phát triển sức mạnh ý chí hầu khắc phục được những nhược điểm của bạn: If you are a weak-minded person, meditation practices can help strengthen your mind to develop your will-power in order to overcome your weaknesses. 20) Nếu bạn là người trí, thiền tập sẽ mang bạn tới giác ngộ tối thượng. Bạn sẽ nhìn thấy sự vật một cách như thị: If you are a wise person, meditation practices will take you to supreme enlightenment. Then you will see things as they are, and not as they appear to be. (V) Trước khi Thiền quán—Before Meditation: 1) Ăn uống—Foods and Drinks: Nên ăn đồ nhẹ hợp với cơ thể, tránh những chất có nhiều dầu mỡ, chất cay, kích thích thần kinh như cà phê, rượu, thuốc hút, vân vân—Just take light diet, avoid browned, fried, or hot foods, especially those stimulants such as coffee, alcohol or cigarettes, etc. 2) Y phục—Clothing: Y phục phải hợp với thời tiết, tránh đồ bít bùng, chật bó cứng làm máu huyết khó lưu thông điều hòa—Clothes must be fitting to the weather, avoid tight clothes that would make the circulatory system difficult. 3) Nơi chốn—Place: Nơi thiền tập phải an tịnh, không bị loạn động như trong góc phòng, vân vân. Ngày xưa, thường thường thiền đường được xây trong khu rừng xa vắng—Should be quiet, and without distraction such as a quiet corner of the house, etc. In the old days, generally Zen halls were built in a remote forest far away from the real world. 4) Giờ giấc thiền tập—Time for meditation: Buổi tối từ 9 đến 10 giờ hay buổi sáng sớm khoảng từ 5 đến 6 giờ. Đây chỉ là giờ giấc đề nghị, hành giả có thể tập thiền bất cứ lúc nào trong ngày—At night from 9 to 10 p.m., or early in the morning from 5 to 6 a.m. This schedule is only a recommended schedule, practitioners can practice meditation at any time during the day. 5) Thân thể—body: Thân thể phải sạch sẽ. Nếu có thể được nên tắm rữa 15 phút trước giờ thiền tập—Body must be clean. If possible, practitioners should have a bath 15 minutes before meditation. 6) Thế ngồi—Posture: Có hai cách ngồi—There are two types. a) Bán già—Half crossed-legged: • Hàng ma bán già: gác bàn chân mặt lên đùi bên trái như thế ngồi của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Half crossed-legged posture, put the right leg on the left thigh like the posture of Manjusri Bodhisattva. • Kiết tường bán già: gác bàn chân trái lên đùi mặt như thế ngồi của Ngài Phổ Hiền Bồ Tát—Half crossed-legged posture, put the left leg on the right thigh like the posture of Samantabhadra Bodhisattva. b) Kiết già hay Kim Cang tọa: Để bàn chân trái lên đùi phải, gác bàn chân phải lên đùi trái, gót hai bàn chân đều sát vào bụng. Ngồi kiết già khó tập, lúc mới bắt đầu dễ bị mệt mỏi, nhưng tập dần sẽ quen, và khi quen sẽ ngồi được nhiều giờ hơn—Crossed-legged posture, put the left foot on the right thigh, the right foot on the left thigh, both heels close to the abdomen. This posture is difficult to practice at the beginning, but with time it can be done and it would help us to continue sitting for many hours. 7) Vị trí của hai cánh tay—Position of the two arms: Hai cánh tay vòng xuôi, để bàn tay mặt trên bàn tay trái—Join both hands with the open palm of the right hand on that of the left one. 8) Thế lưng—The posture of the back: Luôn giữ cho lưng thẳng—Always keep the back straight. 9) Thế cổ—Neck posture: Cổ phải thẳng nhưng và đầu hơi nghiêng về phía trước—The neck must be straight, but the head slightly inclined forward. 10) Mắt—Eyes: Đôi mắt hơi hé mở, vì nếu mắt mở to thì chúng ta dễ bị ánh sáng và cảnh vật bên ngoài làm nhiễu loạn, còn nếu mắt nhắm thì chúng ta dễ bị hôn trầm—Both eyes slightly open; if widely open we would easily be disturbed; if closed, we could easily feel drowsy. 11) Miệng—Mouth: Miệng ngậm lại, chót lưỡi để trên chân răng hàm trên, răng để thong thả chứ không cắn vào nhau—Close the mouth with the tip of the tongue touching the palate; do not clench your teeth. 12) Điều hòa hơi thở—Normalizing the breathing: Hít không khí sâu vào bằng mũi, rồi thở từ từ ra bằng miệng, chỉ cần thở đều—Deeply inhale the air through the nose and exhale it slowly through the mouth. Just breath regularly. (VI) Xả Thiền—Releasing meditation: Khi xả thiền bạn phải làm ngược lại tất cả, nghĩa là trước hết phải xả tâm, xả tức, rồi xả thân. Sau mỗi lần thiền định mà thấy thân tâm nhẹ nhàng sáng suốt, tức là buổi thực tập đó có kết quả. Khi thực tập mà thấy thân tâm có gì khác thường nên hỏi chuyện với thầy hoặc thiện hữu tri thức để khỏi lạc vào tà pháp—You must reverse the whole process, that is, you must release your mind, then your breathing, and finally your body. Each time you perform the meditation session, you should feel at ease; this means that it has produced good effect. On the contrary, you must ask your master or good knowing advisors why you do not feel good after meditation. 1) Xả Tâm—Release the mind: Phải nhớ lại coi mình đang ngồi ở đâu? Thời gian qua mình làm gì? Mình có bị tán loạn hay hôn trầm hay không?—You should try to remember where you sat, what you did, were you disturbed or drowsy? 2) Xả Tức—Releasing the breathing: Mở miệng thở ra vài hơi thật dài cho khí nóng trong người giảm bớt và để phục hồi lại trạng thái bình thường—Open your mouth and exhale deeply to let out all the heat inside your body and to recover your normal state. 3) Xả Thân—Releasing the body: Từ từ duỗi hai tay, xoa nhẹ lên nhau, rồi áp lên mắt. Nhúc nhích nhẹ cổ và lưng. Uốn lưỡi một vài lần và nuốt chút nước miếng. Sau đó lấy tay xoa lên hai bắp đùi, rồi tháo lần hai chân ra, xoa hai bắp chuối, hai bàn chân. Khi xong nên nhè nhẹ đứng dậy, đi tới đi lui vài vòng sẽ cảm thấy thân khoan khoái, tâm nhẹ nhàng—Slowly stretch out both arms, slightly rub both hands and press them on your eyes. Stir a little bit your neck and back. Curve your tongue a few times and swallow the saliva. Then rub thighs, calves, and feet; extend both legs. After that, slowly stand up and walk a few rounds; you will feel at ease. (VII) Các loại Thiền—Categories of meditation: Có nhiều loại Thiền; tuy nhiên, căn bản có hai loại—There are many sorts of meditation; however, basically there are two kinds. 1) Như Lai Thiền: The Tathagata Zen—See Như Lai Thiền. 2) Tổ Sư Thiền: Patriarchal Zen—See Tổ Sư Thiền.
; (禪定) I. Thiền Định. Thiền (Phạm:Dhyàna) và Định (Phạm: Samàdhi) đều là trạng thái không tán loạn, để tâm chuyên chú vào 1 đối tượng. Hoặc có thuyết cho rằng Thiền là phiên âm tiếng Phạmdhyàna, còn Định là dịch ý của dhyàna, dùng chung cả Phạm và Hán mà gọi là Thiền định. Lại 4 thiền của cõi Sắc và 4 định của cõi Vô sắc hợp chung lại gọi là Tứ thiền bát định. [X. phẩm Đề bà đạt đa kinh Pháp hoa]. (xt. Định, Thiền). II. Thiền Định. Đồng nghĩa: Tọa thiền. Ngũ gia tham tường yếu lộ môn phụ lục (Đại 81, 615 thượng) nói: Nếu người tu thiền định thì trước phải trải bồ đoàn, ngồi kết già. (xt. Tọa Thiền).
thiền định ba la mật
Dhyāna-pāramitā (S), Dhyana Perfection Thiền độMột trong sáu ba la mật tức là sáu phương pháp đạt giác ngộ, gồm: - dana-paramita: bố thí ba la mật - sila-paramita: giới hạnh ba la mật - ksanti-paramita: nhẫn nhục ba la mật - virya-paramita: tinh tấn ba la mật - dhyana-paramita: thiền định ba la mật - praja-paramita: bát nhã ba la mật Ba hạnh của thiền định Ba la mật là: - an trụ tĩnh lự: các loạn tưởng chẳng khởi lên, vào sâu trong thiền định. - dẫn phát tĩnh lự: Nhờ tĩnh lự, trí huệ phát sinh, sanh ra công đức. - biện sự tĩnh lự: công hạnh thanh tựu tốt đẹp, dung thiền định mà làm lợi ích chúng.
; Dhyana-paramita (skt)—Thiền định Ba La Mật là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó mà chúng ta đạt đến định tỉnh cũng như những nội lực thâm diệu, và cũng nhờ đó mà chúng ta có thể dạy dỗ và hướng dẫn những chúng sanh có tâm trí tán loạn—Dhyana paramita is a gate of Dharma-illumination; for with it, we accomplish all balanced states of dhyana and wonderfully profound powers, and we teach and guide distracted living beings. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật.
Thiền định ba-la-mật
xem Thiền ba-la-mật.
thiền định kiên cố
(禪定堅固) Thiền định vững chắc, 1 trong 5 thứ kiên cố nói trong kinh Đại tập. Khoảng 500 năm thứ 2 sau đức Phật nhập diệt là thời kìThiền định kiên cố, ở thời kì này, các tỉ khưu tu hành trụ trong thiền định kiên cố. Kinh Đại tập quyển 55 (Đại 13, 363 thượng) nói: Trong khoảng 500 năm sau khi ta nhập diệt, các tỉ khưu vẫn được giải thoát kiên cố trong chính pháp của ta; đến 500 năm thứ 2 thì trụ trong thiền định kiên cố trong chính pháp của ta. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).
thiền định lực bất khả tư nghị
(禪定力不可思議) Năng lực củathiền định không thể nghĩ bàn, 1 trong 5 thứ bất khả tư nghị. Nghĩa là tu hành thiền định, phát được Thần cảnh thông, bay đi tự tại, du hành khắp các Tịnh độ của chư Phật, đó là việc bất khả tư nghị. Nếu vào định Bồ tát thì có thể phát khởi 1 loại thần thông bất khả tư nghị, chỉ trong 1 niệm, có năng lực đạt đến khắp các thế giới trong 10 phương. [X. kinh Hoa nghiêm Q.7 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.30; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Bất Khả Tư Nghị).
thiền định môn
(禪定門) Cũng gọi Thiền môn. I. Thiền Định Môn. Cửa củathiền định. II. Thiền Định Môn. Cũng gọi Thiền thất. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho người nhập Thiền định môn, nghĩa là chư tăng tu thiền định. Người nam cạo tóc, nhuộm áo xuất gia vào Phật môn, gọi là Thiền định môn, người nữ gọi là Thiền định ni. Về sau đượcchuyển dụng để gọi tên của tăng ni đã qua đời. Tại Nhật bản, các vị Thiên hoàng xuất gia vào cửa Phật, chuyên gọi là Thiền địnhPháp hoàng; còn các vị Nhiếp chính, Quan bạch cạo tóc xuất gia thì gọi là Thiền định điện hạ, hoặc gọi là Thiền các. (xt. Thiền Môn).
thiền định quật
(禪定窟) Chỉ cho hang động để tu thiền định của các tỉ khưu. Vì Phật và các đệ tử thường tọa thiền trong các hang động nơi núi rừng nên gọi là Thiền định quật. Chỗ ở của người tu thiền cũng được gọi là Thiền định quật. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 28 (Đại 12, 792 thượng) nói: Nay đức Như lai ở thành Câu thi na này vào Đại tam muội thiền định quật sâu xa, vì chúng tăng không thấy nên gọi là Đại Niết bàn. Ngài Sư tử hống thưa: Vì sao Như lai nhập Thiền định quật? Nàythiện nam tử! Vì muốn độ thoát các chúng sinh (...) vì khiến cho chúng sinh tôn trọng pháp thiền định đã được nghe, do nhân duyên ấy nên nhập Thiền định quật.
thiền định thập chủng lợi ích
(禪定十種利益) Mười thứ lợi ích của việc tu thiền định. Người tu hạnh Bồ tát, nếu khéo tu tập thiền định thì muôn duyên đều dứt, định tính hiện tiền, được 10 thứ lợi ích sau đây: 1. An trụ nghi thức: Bồ tát tập các thiền định cần phải chỉnh túc uy nghi, tu hành đúng theo pháp thức, lâu rồi thì các căn tịnh lặng, chính định hiện tiền, tự nhiên an trụ mà không cần gắng sức. 2. Hành từ cảnh giới: Bồ tát tập các thiền định, thường giữ tâm từ ái, không khởi niệm tưởng sát hại, đối với các chúng sinh đều giúp cho được an ổn. 3. Vô phiền não: Bồ tát tập các thiền định, các căn tịch tĩnh, thì tất cả phiền não như tham, sân, si... tự nhiên không sinh. 4. Thủ hộ chư căn: Bồ tát tập các thiền định, thường nên giữ gìn các căn như mắt, tai... không để bị các trần như sắc, thanh... lay động. 5. Vô thực hỉ lạc: Bồ tát tập các thiền định, đã được vị thiền duyệt để nuôi đạo thể, cho nên tuy không có việc ăn uống cũng vẫn tự nhiên an vui. 6. Viễn li ái dục: Bồ tát tu tập thiền định, một lòng tịch lặng thì đối với tất cả cảnh ái dục đều không nhiễm trước. 7. Tu thiền bất không: Bồ tát tu tập thiền định, tuy được công đức của các thiền, chứng lí chân không, nhưng không rơi vào cáikhông đoạn diệt. 8. Giải thoát ma quyên: Bồ tát tập các thiền định thì xa lìa được sinh tử, tất cả lưới ma đều không thể trói buộc. 9. An trụ Phật cảnh: Bồ tát tập các thiền định, khai phát vô lượng trí tuệ thông suốt pháp nghĩa rất sâu, đối với tri kiến của Phật tự nhiên sáng tỏ, cho nên tâm vắng lặng, an trụ bất động. 10. Giải thoát thành thục: Bồ tát tập các thiền định, tất cả hoặc nghiệp đều không thể làm cho Bồ tát mê loạn, thực hành đã lâu thì giải thoát vô ngại tự nhiên viên mãn, thành thục. [X.kinh Nguyệt đăng tam muội Q.6].
thiền định tinh tấn
Dhyana and Virya (skt)—Meditation balance and diligence—Hai trong sáu Ba la mật—Two of the six paramitas.
thiền định và trí huệ
Xem Thiền huệ.
Thiền định độ
xem bờ bên kia.
Thiền định 禪定
[ja] ゼンジョウ zenjō ||| (dhyāna, jana, śamatha, samādhi): 'meditation', 'concentration.' This word is a combination of two characters where the first is used for transliteration, and the second is used for its meaning. (1) The mind in silent meditation or introspection. A general term for meditative concentration practices, both Buddhist and non-Buddhist. (2) The fifth of the six perfections. => (s: dhyāna, jana, śamatha, samādhi): (e: meditation, concentration.) Từ nầy bao gồm hai chữ, mà chữ đầu là để phiên âm, chữ sau là ý nghĩa: 1. Tâm ở trong trạng thái trầm tư mặc tưởng hoặc an tịnh nội quán. Là thuật ngữ gọi chung sự tu tập thiền định, cả trong Phật giáo lẫn không phải Phật giáo. 2. Món thứ 5 trong Lục độ Ba-la-mật.
thiền đốn ngộ
Sudden-enlightened Zen. • Thiền phái được truyền từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, sự phân hóa dưới thời Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn thành hai tông phái của Huệ Năng và Thần Tú giúp cơ duyên cho Thiền phát triển thuần túy hơn bằng cách tước bỏ những yếu tố không cần thiết, hoặc nói đúng hơn, những yếu tố không tiêu hóa được. Rốt cùng phái Thiền Đốn ngộ của Huệ Năng tồn tại vượt qua Thần Tú, chứng tỏ Thiền Đốn Ngộ ứng hợp một cách tuyệt hảo nhất với nếp tâm lý và cảm nghĩ của người Trung Hoa—Zen sect transmitted from Bodhidharma. According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, the differentiation of two schools under the fifth patriarch, by Hui-Neng and Shen-Hsiu, helped the further progress of pure Zen by eliminating unessential or rather undigested elements. Eventually the school of Hui-Neng survived the other proves that his Zen was in perfect accord with Chinese psychology and modes of thinking. • Thiền đốn ngộ có bốn đặc tính đặc thù Sudden-enlightened Zen is distinguished by four characteristics: 1) Bất Lập Văn Tự: It is not established by words. 2) Giáo Ngoại Biệt Truyền: It is a special transmission outside the teachings. 3) Trực Chỉ Nhơn Tâm: It directly points to the human mind. 4) Kiến Tánh Thành Phật: Through it one sees one's own nature and becomes a Buddha.
Thiền đồ 禪圖
[ja]ゼンズ Zenzu ||| The Chantu (Chan Chart); Abbreviated title of the Zhonghua chuan xindi chanmen shizicheng xitu 中華傳心地禪門師資承襲圖. => k: Sŏnto j: Zenzu; e: Chantu (Chan Chart); Viết tắt của Trung Hoa truyền tâm địa Thiền môn sư tư thừa tập đồ 中華傳心地禪門師資承襲圖).
Thiền độ
xem Thiền ba-la-mật.
thiền độ
Xem Thiền định ba la mật.
; Dhyana-paramita (S). Xem thiền ba la mật.
thiền đới
(禪帶) Cũng gọi Thiện trợ. Sợi dây lưng dùng lúc tọa thiền, thắt ở ngangeo để đề phòng bụng bị lạnh. Cứ theo luật Tứ phần quyển 41 thì ngồi ở chỗ đất trống thường bị đau lưng cho nên may thiền đới phòng hộ. Pháp Xả đọa trong luật Ngũ phần quyển 41 (Đại 22, 29 thượng) nói: Bấy giờ, chúng tăng được nhiều vải bố thí, liền chia cho nhau; các tỉ khưu dùng may tăng già lê, ưu đa la tăng, an đà hội và các áo khác, cũng may thiền đới thắt lưng, cho đến tết các nút áo.Về cách may và sử dụng thiền đới, Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Thiền đới là vật dùng trong lúc ngồi thiền. Kinh chép: Thiền đới nên làm bằng da thuộc, rộng 1 thước, dài 8 thước, đầu có móc, từ sau lưng quấn vòng về phía trước và móc vào 2 đầu gối, để nó không động đậy; vì người mới tập ngồi thiền dễ bị mỏi mệt, cần dùng thiền đới giúp sức để kiểm xét thân, cho nên gọi là Thiện trợ. Dùng xong, phải cất vào chỗ khuất. Thích thị yếu lãm cho rằng thiền đới là vật giúp sức để kiểm xét thân, nhưng thuyết này không thấy nói trong các luật, bởi vậy, Thiền lâm tượng khí tiên y cứ theo đó mà cho rằng vật nói trong luật Ngũ phần là 1 vật khác và đem xếp vào môn Phục chương, còn vật nói trong Thích thị yếu lãm thì được xếp vào môn Khí vật. [X. Đại tỉ khưu uy nghi Q.thượng; luật Ngũ phần Q.20; luật Tứ phần Q.9; luật Thập tụng Q.8; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1].
Thiền 禪
[ja] ゼン zen ||| The pre-Buddhist Chinese meaning of this term was a royal ceremony for the consecration of the land. In Buddhism: (1) meditation, concentration, meditative concentration (dhyāna). (2) A reference to the Four Meditation Heavens within the world of form. (3) Seated meditation; zazen (坐禪). (4) A reference to the Chan (Sŏn, Zen) sect. (5) The teachings of the Chan school of Buddhism. => k: sŏn j: zen Trước thời kỳ Phật giáo Trung Hoa, từ nầy có nghĩa là sự ban tặng, chu cấp bổng lộc bằng đất đai của triều đình. Trong Phật giáo, từ nầy có nghĩa là: 1. Thiền, định, thiền-na (s: dhyāna). 2. Chỉ cho Tứ thiền thiên trong Sắc giới. 3. Ngồi thiền, toạ thiền (j: zazen 坐禪). 4. Chỉ cho Thiền tông (c: Chan; k: Sŏn; j: Zen). 5. Giáo pháp Thiền tông Phật giáo.
Thiền-na ba-la-mật
xem Thiền ba-la-mật.
Thiền-na 禪那
[ja] ゼンナ zen'na ||| A transliteration of the Sanskrit dhyāna. while having the general meaning of meditation or calm abiding (静慮, 定), can also have other specific connotations, depending on the context. For instance, in the Yuanjue jing 圓覺經, dhyāna meditation is clearly distinguished from the standard definitions of śamatha (止) and vipaśyanā (觀), being a third type of meditation which both combines and transcends the other two. => Phiên âm từ chữ dhyāna trong tiếng Sanskrit. Trong khi nó có nghĩa chung là trầm tư mặc tưởng hoặc tĩnh lự (静慮, 定), nó còn có ý nghĩa rộng hơn tuỳ theo trong từng ngữ cảnh. Chẳng hạn, trong kinh Viên Giác, Thiền-na được phân biệt rõ ràng với hai định nghĩa chuẩn mực về Chỉ (s: śamatha 止) và Quán (s: vipaśyanā觀), Thiền-na là loại thứ ba, phối hợp và siêu việt cả hai dạng trên.
thiều quang
Beautiful light of spring time.
thiểm
Syamaca (S)Thiểm Ma, Thiểm Ma Ca, Thương Mạc CaTên của đức Thế Tôn khi còn tu hạnh Bồ tát.
; 1) Ánh sáng lấp lóe: Flash. 2) Tránh hay lách sang một bên: To get out of the way.
thiểm di
(睒彌) Phạm: Zamì. Cũng gọi Thiêm nhị, Thế di. Hán dịch: Cẩukỉ. Loại cây lá có vị đắng, dùng làm thuốc. Kinh Đà la ni tập quyển 10 (Đại 18, 876) nói: Cây Thế di, Hán dịch là Cẩu kỉ.
thiểm ma
Xem Thiểm.
thiểm ma ca
Xem Thiểm.
thiểm đa
Quỷ—A demon, one of Yama's names.
; (閃多) Cũng gọi Tất lợi đa, Bệ lệ đa, Di lệ đa. Là từ dịch âm lầm của chữ Phạm Preta, tức ngã quỉ. Nếu dịch âm đúng thì phải là Bế đa. Là một trong Bát bộ quỉ chúng.
thiểm điện quang
Ánh chớp lóe lên, dùng để ví với sự mau lẹ mãnh liệt của sự việc—Lightening-flashing, therefore awe-inspiring.
; (閃電光) Ánh chớp lóe sáng rồi tắt liền, ví dụ tình hình mau lẹ, mãnh liệt. Ngũ đăng hội nguyên quyển 7 (Vạn tục tập 138, 127 hạ) nói: Việc này như đập đá xẹt lửa, như tia chớp lóe sáng(thiểm điện quang), hiểu được hay không hiểu được đều không khỏi táng thân mất mạng.
thiển
1) Cạn—Shallow—Superficial. 2) Đơn giản: Simple—Easy. 3) Màu lợt: Light in color.
thiển cận
See Thiển.
thiển học
Cái học nông cạn—Shallow (slight) knowledge.
thiển kiến
Ý kiến nông cạn—Shallow opinion.
thiển lược
Những vấn đề thô thiển và giản lược (ý nói những vấn đề mà Mật giáo ám chỉ Hiển giáo)—Superficial—Simple—Not profound.
thiển lược thâm bí
(淺略深秘) Gọi đủ: Thiển lược thích thâm bí thích. Nhóm từ gọi chung cho Thiển lược(cạn cợt, sơ lược) và Thâm bí(sâu xa, kín đáo) 1 trong 16 huyền môn. Mật giáo giải thích nghĩa của văn kinh chia làm 2 môn: 1. Thiển lược thích: Giải thích một cách nông cạn, sơ lược. Đây là cách giải thích theo lối thông thường ở thế gian. 2. Thâm bí thích: Giải thích một cách sâu xa, kín nhiệm. Đây là cách giải thích nghĩa lí sâu xa, huyền diệu đặc biệt của Mật giáo. Đại nhật kinh sớ quyển 3 (Đại 39, 611) nói: Vì hiểu 2 thứ nghĩa nên được gọi là A xà lê, nghĩa là người phân biệt được 2 thứ thiển lược và thâm bí. Nếu xét thấy người đối thoại chưa đủ trình độ hiểu được cách giải thích thâm bí, thì thuận theo văn mà giải thích theo lối thiển lược thông thường. Còn nếu người đã thành tựu lợi căn trí tuệ thì nên diễn bày lí sâu xa, kín nhiệm để truyền dạy họ. Theo sách đã dẫn quyển 7 thì Thiển lược thích là lời theo ý người khác, còn Thâm bí thích là lời theo ýcủamình. Trong Thâm bí thích lại chia ra 3 lớp cạn sâu, tức Bí mật thích, Bí mật trung bí thích, Bí bí trung bí thích, thêm Thiển lược thích chung ở trên thành 4 lớp. (xt. Thập Lục Huyền Môn).
thiển lạp
Kém tuổi đạo, chỉ các vị Tỳ Kheo tuổi hạ còn ít—Of few years, i.e. youthful in monastic years.
thiển nghĩ
Theo ý kiến thô thiển của tôi—In my humble opinion.
thiển thâm
Cạn và sâu—Shallow and deep.
thiển thảo tự
(淺草寺) Chùa Thiển thảo, vốn thuộc tông Thiên thai Nhật bản, sau độc lập và trở thành tông Quán thế âm. Vị trí chùa ở công viên Thiển thảo, khu Đài đông, Đông kinh, Nhật bản, hiệu sơn môn là Kim long sơn, tên gọi khác là Truyền pháp viện, quen gọi là Thiển thảo Quán âm. Tương truyền, vào năm Thiền hoàng Suy cổ 36 (628), gia thần của Thổ sư thần trung tri là Cối hùng tân thành và Cối hùng vũ thành cùng thả lưới trên sông Cung hộ(vùng hạ du sông Ngung điền), vớt được tượng Quán âm, bèn sửa nhà thành Hương đường để thờ, đây là việc xây chùa đầu tiên ở Nhật bản. Niên hiệu Thiên trường năm đầu (824), trên đường du hóa đến Đông quốc, ngài Viên nhân đã nghỉ đêm ở chùa này, được sự linh ứng chỉ dạy của Tam xã quyền hiện, liền xây dựng điện đường để thờ tượng Quán âm cao 1 thước 8 tấc (Tàu). Trong chùa có cất giữ Đại tạng kinh bản đời Nguyên gồm 5428 quyển. Hiện nay, chùa này có các kiến trúc như: Bản đường (Quán âm đường), Sơn môn, tháp 5 tầng, Luân tạng, Nhị thiên môn, Dược sư đường, Diêm la điện, Đạm đảo Bản đường của chùa Thiển thảo thần minh, Đại bảo điện, Niệm Phật tam muội đường, Tiền bình biện thiên từ, Tiền trủng địa, Truyền pháp viện...
Thiển trí
淺智; C: qiăn zhì; J: senchi; S: alpa-buddhi.|Dạng trí thức nông cạn, để đối chiếu với trí huệ sâu mầu của Đức Phật.
thiển trí
Trí mọn—Shallow (superficial) mind.
Thiển trí 淺智
[ja] センチ senchi ||| (alpa-buddhi). A shallow kind of wisdom, as compared with the profound wisdom of the Buddha. (s: alpa-buddhi). => Dạng trí thức nông cạn, để đối chiếu với trí huệ sâu mầu của Đức Phật.
thiển tài
Tài mọn—Slight (shallow) talent.
thiển văn
See Thiển học.
thiển ý
Shallow opinion—In my humble opinion.
thiểu
Few.
; 1) Một ít: Few. 2) Giảm thiểu: To decrease—To diminish—To lessen.
thiểu (thiếu) lâm tự
Ngôi tự viện tại Thiếu Thất, thuộc huyện Đăng Phong, tỉnh Hồ Nam, nơi Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã diện bích chín năm—The monastery at Shao-Shih in Têng-Fêng district, Hunan province, where Bodhidharma sat with his face to a wall for nine years.
thiểu (thiếu) thất lục môn tập
Six brief treatises attributed to Bodhidharma , but their authenticity is denied.
thiểu dục
Alpecha (S)Đối với vật chưa được thì khởi tâm tham dục quá phần.
thiểu dục tri túc
Content with few desires.
; Thiểu dục là có ít dục lạc; tri túc là biết đủ. Thiểu dục tri túc là ít ham muốn mà thường hay biết đủ. Tri túc là bằng lòng với những điều kiện sinh hoạt vật chất tạm đủ để sống mạnh khỏe tiến tu. Tri túc là một phương pháp hữu hiệu nhất để phá lưới tham dục, để đạt được sự thảnh thơi của thân tâm và hoàn thành mục tiêu tối hậu của sự nghiệp tu tập—Content with few desires. “Thiểu Dục” means having few desires; “tri túc” means being content. Knowing how to feel satisfied with few possessions means being content with material conditions that allow us to be healthy and strong enough to practice the Way. “Knowing how to feel satisfied and being content with material conditions” is an effective way to cut through the net of passions and desires, attain a peaceful state of body and mind and accomplish our supreme goal of cultivation.
; (少欲知足) Cũng gọi Hỉ túc thiểu dục, Vô dục tri túc.Ít muốn biết đủ. Chỉ cho sự tiết chế vật dục. Nghĩa là giảm thiểu dục vọng và biết thỏa mãn với những gì mình đã có. Nếu giải thích từng vế thì Thiểu dục (Phạm: Alpeccha) là đối với những vật chưa được không khởi tâm tham muốn quá phần; còn Tri túc (Phạm:Saôtuwỉa) là đối với những vật đã được thì không chê ít, không sinh tâm hối hận. Thiểu dục tri túc là điều kiện cốt yếu của việc tu đạo, luận Câu xá coi đó là 1 trong 3 cái nhân làm cho thân thanh tịnh(Tam tịnh nhân); kinh Bát nhã niệm trong Trung a hàm quyển 18 và kinh Bát đại nhân giác thì lấy đó làm 2 pháp đầu tiên trong 8 điều giác ngộ của bậc đại nhân. [X. Đại bát niết bàn Q.27 (bảnBắc); luận Đại tì bà sa Q.41].
thiểu khang
Một nhà sư nổi tiếng đời Đường, là đệ tử của Ngài Thiện Đạo—Shao-K'ang, a famous monk of the T'ang dynasty, known as Shan-Tao's disciple—See Thiếu Khang Đại Sư.
thiểu não
Sorrowful—Sad.
Thiểu phần phiền não 少分煩惱
[ja] ショウブンボンノウ shōbun bonnō ||| Secondary afflictions. Same as 〔攝大乘論 T 1593.31.116a7〕 => Phiền não thừ yếu. Đồng nghĩa với Tuỳ phiền não隨煩惱..
Thiểu phần 少分
[ja] ショウブン shōbun ||| (1) Partial; a part; a small amount. (2) Secondary. => 1. Một phần nhỏ, một phần; một số lượng nhỏ. 2. Thứ yếu, không quan trọng.
thiểu quang
Minor light.
thiểu quang thiên
Parinimmitavasavatti-deva (S), Parīttābha (S)hào quang hạn lượngMột trong 3 cõi trời Nhị thiền. Tầng này ánh sáng rất ít.
; Parittàbha (P). A heaven.
; Parittabhas (skt)—Trời Tứ Phạm hay đệ nhứt thiên trong nhị thiền thiên—The fourth Brahmaloka or the first region of the second dhyana heavens.
; (少光天) Thiểu quang, Phạm: Parìttàbha. Hán âm: Ba lật a bà, Ba lợi đáp, Ba lê đà. Cũng gọi Thiểu diệu thiên, Thiểu phạm thiên, Thủy hành thiên. Một trong 18 tầng trời thuộc cõi Sắc, tức chỉ cho tầng trời thứ nhất trong Nhị thiền thiên của cõi Sắc. Tầng trời này có ít ánh sáng nhất trong Nhị thiền thiên, cho nên gọi là Thiểu quang thiên. Trong Thất thức trụ (7 chỗ an trụ của tâm thức) thì Thiểu quang thiên thuộc về Đệ tam thân nhất tưởng dị thức trụ. Thiên chúng ở tầng trời này là do nghiệp tương ứng vớihạ phẩm của Nhị thiền mà sinh về đây, thân cao 2 do tuần, tuổi thọ 2 đại kiếp. [X. kinh Trường a hàm Q.20; luận Thuận chính lí Q.21, 22; Tứ a hàm mộ sao giải Q.hạ].
Thiểu quang thiên 少光天
[ja]ショウコウテン shōkō ten ||| The heaven of lesser light (Parītta-ābha). The first level of the three heavens in the second dhyāna heaven 二禪天, listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Cõi trời Thiểu quang (s: Parītta-ābha). Cõi đầu tiên trong 3 tầng trời thuộc Nhị thiền thiên, được xếp vào một trong 17 cõi trời thuộc Sắc giới.
thiểu số
Minority.
thiểu thiện căn
Avaramatraka-kuśalamŪla (S).
; (少善根) Phạm: Avaramàtraka-kuzalamùla. Cũng gọi Thiểu thiện. Nghĩa là căn lành ít ỏi, mỏnh manh. Tức chỉ cho các điều thiện khác ngoài việc niệm Phật. Theo kinh A di đà thì từ 1 ngày cho đến 7 ngày niệm danh hiệu của đức Phật A di đà, một lòng không tán loạn, gọi là Đa thiện căn, còn các điều thiện khác thì gọi Thiểu thiện căn, không thể nhờ vào chút ít thiện căn phúc đức nhân duyên mà được sinh về cõi nước Cực lạc của Phật A di đà. Nhưng theo A di đà kinh sớ của ngài Nguyên hiểu thì tâm bồ đề là chính nhân đa thiện căn, còn niệm danh hiệu chỉ là trợ nhân giúp thêm mà thôi. [X. Pháp sự tán Q.hạ; A di đà kinh nghĩa sớ Q.hạ].
thiểu thất
Trên núi Tung Sơn, nơi Tổ Bồ Đề Đạt Ma xây dựng ngôi Thiếu Lâm Tự—Shao-Shih, a hill on the Sung-Shan where Bodhidharma set up his monastery.
thiểu thủy ngư
(少水魚) Cũng gọi Tiểu thủy ngư. Cá ít nước. Nghĩa là con cá sống ở nơi chỉ còn chút ít nước, chưa biết chết lúc nào. Nhóm từ này được dùng để ví dụ sự vô thường nhanh chóng của kiếp người. Phẩm Vô thường trong kinh Pháp cú quyển thượng (Đại 4, 559 thượng) nói: Hôm nay qua rồi, mệnh sống giảm theo; như cá ít nước, làm sao vui được? [X.kinh Xuất diệu Q.3; chương Trụ trì trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.2].
thiểu tài quỷ
Quỷ đói thường ăn cắp vì thiếu thức ăn—Hungry ghosts who pilfer (ăn cắp vặt) because they are poor and get but little food.
; (少財鬼) Quỉ ít của. Tên của 1 trong 3 loại quỉ đói nói trong luận A tì đạt ma thuận chính lí. Vì loại quỉ này chỉ có được chút ít thức ăn, cho nên gọi là Thiểu tài quỉ; lại được chia làm 3 loại là Châm mao, Xú mao và Anh.1. Châm mao quỉ: Quỉ lông kim. Nghĩa là loải quỉ này trên thân có lông cứng nhọn như kim, bên trong thì đâm vào mình, bên ngoài bắn vào người khác, chỉ kiếm được chút ít thức ăn dơ bẩn. 2. Xú mao quỉ: Quỉ lông hôi. Nghĩa là loài quỉ trên thân có mùi hôi thối, da xương, ruột già, dạ dày...như nung nấu, mùi hôi hám xông ra khắp mình. 3. Anh quỉ: Quỉ bướu cổ. Nghĩa là loài quỉ này ở cổ mọc cái bướurất lớn, đau đớn khó chịu nổi, chỉ ăn máu mủ từ cái bứu ấy chảy ra. [X.luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.31]. (xt. Ngã Quỉ).
thiểu tại thuộc vô
(少在屬無) Cũng gọi Thiểu thị thuộc vô. Ít thuộc về không. Nghĩa là vì số lượng quá ít nên xem như không có. Tức đứng về phương diện phần nhiều mà bàn về đại thể. Như luận Câu xá quyển 22 nói: Đem một ít đậu xanh đổ vào trong đống đậu đen, vì íttùythuộc vào nhiều nên gọi là đống đậu đen.
thiểu tịnh thiên
Parīttaśubha (P), Parittaśubhadeva (P)Một trong 3 tầng trời cõi Tam thiền. Sự lạc thọ trong ý thức của chư thiên cõi này là thanh tịnhMột trong 3 cõi trời Tam thiền.
; Parittasubhas (S). The first and smallest heaven in the third dhyàna region of form.
; Parttasubhas—Đệ nhất thiên thuộc đệ tam thiền ở cõi sắc giới—The first and smallest heaven (brahmaloka) in the third dhyana region of form.
; (少淨天) Thiểu tịnh, Phạm:Parìttazubhadeva. Hán âm: Ba lật đa thủ bà, Ba lợi đa thủ, Ba lật tu ha. Cũng gọi Ước tịnh thiên. Một trong 18 tầng trời thuộccõi Sắc, chỉ cho tầng trời thứ nhất của Đệ tam thiền thiên. Trong tầng trời này, ý thức cảm nhận niềm vui vi diệu thanh tịnh, vì thế gọi là Tịnh; còn trong Đệ tam thiền thiên thì tầng trời này cảm nhận niềm vui thanh tịnh ít nhất, cho nên gọi là Thiểu tịnh. Trong thất thức trụ thì Thiểu tịnh thiên thuộc về Đệ tứ thân nhất tưởng nhất thức trụ. Thiên chúng ở tầng trời này là do nghiệp tương ứng vớihạ phẩm của Đệ tam thiền mà được sinh về đây, thân cao 16 do tuần, tuổi thọ 16 đại kiếp. [X.phẩm Đao lợi thiên trong Trường a hàm Q.20; luận Câu xá Q.8; luận Lập thế a tì đàm Q.6, 7; luận Thuận chính lí Q.21]. (xt. Thập Bát Sinh Xứ).
Thiểu tịnh thiên 少淨天
[ja]ショウジョウテン shōjō ten ||| The heaven of lesser purity (Parītta-śubhāḥ), which is the first of the three heavens included in the third meditation heaven . Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Cõi trời Thiểu tịnh (s: Parītta-śubhāḥ), Cõi đầu tiên trong 3 tầng trời thuộc Tam thiền thiên, được xếp vào một trong 17 cõi trời thuộc Sắc giới.
thiệm
Trợ cấp—To supply—Supplied.
thiệm ba
Sona (S)Một chi nhánh của sông Hằng vùng hạ lưu.
thiệm bộ
Xem Nam Thiệm Bộ Châu.
; Jambu (skt)—Một loại cây ăn trái ở Ấn Độ (hồng táo)—A fruit tree in India (a rose apple).
thiệm bộ châu
Xem Diêm phù đềXem Diêm phù châu.
; See Thiệm Bộ Đề.
thiệm bộ kim
Jambunada (skt)—Dòng sông Jambunadi sản sanh ra vàng—The produce of gold from the River Jambunadi.
thiệm bộ nại đà kim
Jambunada-suvarna (skt)—Diêm Phù Na Tha—Diêm Phù Tàn Kim—Vàng nơi sông Thiệm Bộ Nại Đà—The gold from the Jambunadi river.
; (贍部捺陀金) Phạm: Jambùnadasuvarịa. Cũng gọi Diêm phù đàn kim. Thiệm bộ là tên cây; Nại đà nghĩa là sông. Tức vàng được sản xuất từ con sông chảy ngang qua khu rừng cây Thiệm bộ.
thiệm bộ quang tượng
Tôn tượng rực rỡ, đặc biệt là tôn tượng của Phật Thích Ca được Ngài Cấp Cô Độc cho đúc—An image of gold glory, especially the image of Sakyamuni attributed to Anathapindaka.
thiệm bộ đề
See Nam Thiệm Bộ Châu in Vietnamese-English Section, and Jambudvipa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
thiệm bộ ảnh tượng
(贍部影像) Cũng gọi Thiệm bộ quang tượng. Chỉ cho tượng Phật đúc bằng vàng Thiệm bộ nại đà. Cứ theo Hữu bộ ni đà na quyển 5, khi đức Thích tôn chưa ở cùng đại chúng thì đại chúng không có uy đức trang nghiêm, cho nên Trưởng giả Cấp cô độc xin được đúc tượng đức Thích tôn, Ngài cho phép. Trưởng giả bèn dùng vàng Thiệm bộ đúc tượng Như lai.
Thiện
善; C: shàn; J: zen; S: kuśala; P: kusala; |Có các nghĩa sau: 1. Đức hạnh, đạo đức tốt, tính tốt, điều thiện, đức tính tốt (s: kusala, kuśala, kalyāna; t: dge ba); 2. Tài giỏi, thông thạo, từng trải, khéo léo; 3. Làm cho hoàn thiện.|[Phật học] 1. Có thể chấp nhận, chính đáng, đúng, chính xác, hài lòng; 2. Việc lành, việc làm tốt lành và quả báo của nó (thiện nghiệp 善業; s: śubham karma, śubha); 3. Như một trạng từ, có nghĩa là hay, giỏi, khéo léo, hoàn thiện; 4. Theo giáo lí của tông Duy thức, »thiện« lập thành 1 trong 5 nhóm thuộc phạm trù »Tâm sở pháp«, gồm 11 »thiện« pháp trong nhóm ấy. Đó là: 1. Tín (信; śraddhā), lòng tin tưởng chắc chắn; 2. Cần (勤) hoặc Tinh tiến (精進; vīrya), siêng năng tu tập; 3. Xả (捨; upekṣā); 4. Tàm (慚; hrī), cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh; 5. Quý (愧; apatrāpya, apatrapā), biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 6. Vô tham (無貪; alobha); 7. Vô sân (無瞋; adveśa); 8. Bất hại (不害; ahiṃsā); 9. Khinh an (輕安; praśrabdhi); 10. Bất phóng dật (不放逸; a-pramāda).
thiện
Kuśala (P), Wholesome.
; Su, sàdhu, bhadra, kusala (S). Good, virtuous, well; good at; skilful.
; Kusala, Su, Sadhu, or Bhadra (skt). (I) Nghĩa của “Thiện”—The meanings of “Kusala” 1) Thiện là trái với ác: Những hành pháp hữu lậu và vô lậu thuận ích cho đời nầy và đời khác (trên thông với Bồ Tát và Phật, dưới thấu trời và người)—Kusala (skt)—Good—Proper—Right—Wholesome. 2) Đức Hạnh: Virtuous. 3) Giỏi về cái gì: Well—Good at. 4) Sắp lại cho có thứ tự: To put in order. 5) Sửa chữa: To repair. 6) Thiện xảo: Skillful. (II) Những lời Phật dạy về “Thiện” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Kusala” in the Dharmapada Sutra: 1) Như thứ hoa tươi đẹp chỉ phô trương màu sắc mà chẳng có hương thơm, những người chỉ biết nói điều lành mà không làm điều lành chẳng đem lại ích lợi—As a flower that is colorful and beautiful, but without scent, even so fruitless is the well-spoken words of one who does not practice it (Dharmapada 51). 2) Như thứ hoa tươi đẹp, vừa có màu sắc, lại có hương thơm, những người nói điều lành và làm được điều lành sẽ đưa lại kết quả tốt—As the flower that is colorful, beautiful, and full of scent, even so fruitful is the well-spoken words of one who practices it (Dharmapada 52). 3) Như từ đống hoa có thể làm nên nhiều tràng hoa, từ nơi thân người có thể tạo nên nhiều việc thiện—As from a heap of flowers many a garland is made, even so many good deeds should be done by one born to the mortal lot (Dharmapada 53).
; (善) Phạm: Kuzala. Pàli:Kusala. Chỉ cho pháp bạch tịnh(thanh tịnh), có tính an ổn, có năng lực mang lại lợi ích cho mình và người trong đời hiện tại và đời vị lai. Thiện, bất thiện và vô kí(chẳng phải thiện cũng chẳng phải bất thiện)gọi chung là Tam tính. Trong đó, Thiện là bạch pháp (nghĩa là pháp thanh tịnh), Bất thiện là hắc pháp(nghĩa là pháp nhơ nhớp). Nói theo nghĩa rộng thì Thiện chỉ cho tất cả tư tưởng hành vi tương ứng với tâm thiện, hễ hợp với giáo lí Phật giáo thì đều được gọi là Thiện; còn nói theo nghĩa hẹp thì Thiện chỉ cho 1 trong các pháp Tâm sở của tông Pháp tướng, bao gồm: Tín (tin), tàm(thẹn), quí(hổ), vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến(gắng sức tiến lên), khinh an(nhẹ nhàng an ổn), bất phóng dật(không buông thả, lêu lổng), hành xả(xả bỏ tiền của giúp đỡ người khác) và bất hại(không làm hại người và sinh vật). Cứ theo các kinh luận thì Thiện có nhiều loại, sau đây sẽ nêu mấy thuyết: I. Nhị Thiện. 1.Chỉ cho hữu lậu thiện và vô lậu thiện. Hữu lậu thiện là bạch pháp, vô lậu thiện là tịnh pháp. Theo luận Câu xá quyển 4, Thành duy thức luận thuật kí quyển 10 và Đại thừa huyền luận quyển 2 thì hữu lậu thiện là thiện thế gian chưa đoạn trừ phiền não, bao gồm 5 giới cấm, 10 điều thiện... y theo các pháp thiện này mà tu thì có thể được quả báo vui ở vị lai. Hữu lậu thiện khác với lí pháp tính vô tướng. Hữu lậu thiện là Thiện tu theo tâm chấp tướng sai biệt giữa mình và người, cho nên cũng gọi là Tướng thiện. Vô lậu thiện thì là thiện xuất thế gian đoạn trừ phiền não, tu theo pháp thiện này thì không mang lại quả báo ở vị lai. Vô lậu thiện nàycũng làthiện đạt được Bồ đềniết bàn. 2. Chỉ cho Chỉ thiện và Hành thiện: Theo pháp giới thứ đệ sơ môn của ngài Trí khải thì chấm dứt hành vi xấu xa, tội ác gọi là Chỉ thiện, thuộc về thiện tiêu cực; trái lại, tích cực tu hành các thắng đức gọi là Hành thiện. Chỉ thiện như không giết hại, không trộm cướp, còn Hành thiện thìnhư phóng sinh, bố thí... 3. Chỉ cho Định thiện và Tán thiện: Theo Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển đầu và Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo...thì tập trung tâmchí để ngăn dứt vọng niệm, thiện căn nhờ tâm định này mà tu được gọi là Định thiện; trái lại, thiện căn do tâm bình thường tán loạn bỏ ác mà tu được thì gọi là Tán thiện. Ngài Thiện đạo cho 13 pháp quán là Định thiện, cho 3 phúc, 9 phẩm là Tán thiện. II. Tam Thiện. 1. Chỉ cho tam phúc: Thế phúc, Giới phúc và Hành phúc. Cũng gọi Thế thiện (Thế tục thiện), Giới thiện và Hành thiện. Theo Quán kinh sớ tự phần nghĩa của ngài Thiện đạo thì Thế phúc là chỉ cho đạo trung tín hiếu đễ, Giới phúc là chỉ cho giới pháp, còn Hành phúc là chỉ cho hạnh tự hành hóa tha của Đại thừa. 2. Chỉ cho Sơ thiện, Trung thiện và Hậu thiện. Có nhiều cách giải thích. Kinh Đại phương quảng bảo khiếp quyển trung nêu 3 loại thiện của Thanh văn, cho rằng Tam thiện hạnh thuộc thân, khẩu, ý là Sơ thiện, Tam học hạnh giới, định, tuệ là Trung thiện và Tam tam muội giải thoát pháp môn Không,Vô tướng,Vô nguyện là Hậu thiện. Lại như 3 phần(3 đoạn) là phần Tựa, phần Chính tông và phần Lưu thông của kinh Pháp hoa cũng là Tam thiện. III. Tứ Chủng Thiện. Theo luận Câu xá quyển 13 thì Tứ chủng thiện là: 1. Thắng nghĩa thiện: Chỉ cho Niết bàn. 2. Tự tính thiện: Tự thể của bản chất thiện, tức chỉ cho Tam thiện căn vô tham, vô sân, vô si và tàm quí. 3. Tương ứng thiện: Chỉ tâm, tâm sở thiện tương ứng với tự tính thiện. 4. Đẳng khởi thiện: Chỉ cho thiện tương ứng với tự tính thiện mà dẫn khởi thiện của thân nghiệp, ngữ nghiệp và 4 tướng, đắc và 2 định vô tâm. Trái với Tứ chủng thiện là Tứ chủng bất thiện, tức Thắng nghĩa bất thiện, Tự tính bất thiện, Tương ứng bất thiện và Đẳng khởi bất thiện. IV. Thất Chủng Thiện. A. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 2 thì Thất chủng thiện là: 1. Sinh đắc thiện: Chỉ cho cái thiện tiên thiên. 2. Văn thiện: Chỉ cho thiện do nghe pháp mà được. 3. Tư thiện: Chỉ cho thiện do suy tư mà được. 4. Tu thiện: Chỉ cho thiện nhờ tu hành mà được. 5. Học thiện: Chỉ cho thiện sinh khởi ở bậc Hữu học. 6. Vô học thiện: Chỉ cho thiện khởilên ở bậc Vô học. 7. Thắng nghĩa thiện: Chỉ cho Niết bàn. Trong 7 loại thiện trên đây, 4 loại đầu là các loại thiện sinh khởi ở địa vị phàm phu trước Kiến đạo(địa vị mới sinh trí vô lậu), tức Hữu lậu thiện; 3 loại sau cùng là các loại thiện sinh khởi ở địa vị Thánh nhân từ Kiến đạo trở lên, tức Vô lậu thiện. B. Pháp hoa văn cú quyển 7 (hội bản) nêu 7 thứ thiện của Đốn giáo: 1. Thời thiện(cũng gọi Thời tiết thiện): Chỉ cho thiện của Tự phần, Chính tông phần và Lưu thông phần thuộc Đốn giáo. 2. Nghĩa thiện: Chỉ cho lí liễu nghĩa của Đốn giáo, là cái thiện có đầy đủ ý nghĩa sâu xa. 3. Ngữ thiện: Chỉ cho sự thuyết pháp thuộc Đốn giáo, là cái thiện có đủ ngôn ngữ xảo diệu. 4. Độc nhất thiện: Chỉ cho Đốn giáo là giáo thuần nhất không pha trộn, là không chung cho Nhị thừa. 5. Viên mãn thiện: Chỉ cho Đốn giáo là pháp bao hàm cả giới nội, giới ngoại, là giáo viên mãn hoàn toàn. 6. Điều nhu thiện: Chỉ cho Đốn giáo không cực đoan, là cái thiện không thiên lệch về một phía. 7. Vô duyêntừthiện: Chỉ cho Đốn giáo có đầy đủ tướng từ bi, thanh tịnh, vô duyên. V. Thập Nhất Thiện. Tông Duy thức Đại thừa lập ra 11 thứ tâm sở thiện, đó là: Tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, hành xả và bất hại. VII. Thập Tam Thiện. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 3 thì Thập tam thiện là: 1. Tự tính thiện: Chỉ cho 11 thứ thiện như: Tín, tàm, quí...nói trên. 2. Tương thuộc thiện: Chỉ cho các pháp tâm sở khác tương ứng với tự tính thiện. 3. Tùy trục thiện: Chỉ cho tập khí của thiện pháp. 4. Phát khởi thiện: Chỉ cho cái thiện của thân nghiệp và ngữ nghiệp. 5. Đệ nhất nghĩa thiện: Chỉ cho chân như. 6. Sinh đắc thiện: Chỉ cho thứ thiện do tư duy gia hành mà sinh khởi. 7. Phương tiện thiện: Chỉ cho thứ thiện do nghe pháp mà sinh ra tác ý như lí. 8. Hiện tiền cúng dường thiện: Chỉ cho thứ thiện cúng dường Như lai. 9. Nhiêu ích thiện: Chỉ cho loại thiện dùng pháp Tứ nhiếp làm lợi ích cho hữu tình.10. Dẫn nhiếp thiện: Chỉ cho loại thiện dị thục dùng phúc nghiệp bố thí, trì giới... để nhiếp dẫn chúng sinh sinh lên cõi trời, hoặc dùng làm nhân để được Niết bàn. 11. Đối trị thiện: Chỉ cho các loại đối trị như yếm hoại đối trị, Đoạn đối trị, trì đối trị, viễn phần đối trị... 12. Tịnh tĩnh thiện: Chỉ cho vô lậu thiện đoạn hết tất cả phiền não, được Niết bàn vắng lặng. 13. Đẳng lưu thiện: Nhờ năng lực tăng thượng tịch tĩnh mà phát khởi các pháp công đức như thần thông... Ngoài ra, thiện căn mà hàng phàm phu tu được có lẫn lộn cái độc chất của phiền não tham, sân, si... cho nên gọi là Tạp độc thiện. Còn tông Tịnh độ thì ngoài loại thiện niệm Phật tha lực ra, tất cả thiện căn tự lực khác đều gọi là Tạp độc thiện. [X. kinh Tạp a hàm Q.29; phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.51, 44; luận Thành duy thức Q.5, 10; luận Phẩm loại túc Q.6; luận Đại trí độ Q.37; luận A tì đàm cam lộ vị Q.thượng; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.15; luận Thuận chính lí Q.36; luận Nhiếp đại thừa Q.13 (bản dịch đời Lương); Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.7].
thiện an trụ tháp
Xem Thiện Kiến Lập Chi đề.
thiện biến nhất xứ bồ tát
Xem Kim Cang Nghiệp Bồ tát.
thiện bình
Bhadra-kumbha (skt)—See Hiền Bình.
thiện bản
Good stock, or roots, planting good seed or roots; good in the root of enlightenment.
thiện bản đức bản
(善本德本) Từ ngữ gọi chung thiện bản và đức bản, Thông thường chỉ cho cái gốc của thiện căn,công đức. Ý nghĩa của 2 từ này có 2 thuyết đồng và bất đồng. Khi chữ Bản được hiểu là nghĩa, nguyên nhân, nhờ đó màcó đượccác thiện căn, công đức của thắng quả, nêngọi là Thiện bản, Đức bản; còn khi chữ Bảnđược hiểu là nghĩa căn bản thì vì nó là cộirễ của tất cả thiện pháp, công đức nên gọi làThiện bản, Đức bản. Kinh Trường a hàm quyển 9 và kinh Pháp hoa quyển 8 đều cho rằng sự chứa góp các công đức, thiện căn là thiện bản, đức bản, ý nói là căn bản của các điều thiện và muôn đức, tức chỉ rõ sự phân biệt 2 nghĩa thiện bản, đức bản. Tông Thiên thai thì lấy Bát nhã(trí năng chứng) chiếu sáng và Chân như thực tướng (lí sở chứng) làm thiện bản, đức bản. Còn Tịnh độchân tông ở Nhật bản thì cho rằng danh hiệu của Phật A di đà là gốc của tất cả thiện pháp, cho nên gọi là Thiện bản; lại vì đức tột bực được thành tựu viên mãn, mọi tai họa đều được chuyển hóa, cho nên cũng gọi là Đức bản. Tức về danh hiệu của Phật A di đà thì tuy có Tự lực Thánh đạo môn và Tha lực Tịnh độ môn khác nhau, nhưng về cội rễ của các thiện muôn đức thì hoàn toàn giống nhau. Tịnh độ chân tôngcủa Nhật bảncăn cứ vào Thiện bản đức bản nói trong kinh Vô lượng thọ, cho rằng đó là tên của điều nguyện Hệ niệm định sinh(nguyện thứ 20 trong 48 điều nguyện của đức Phật A di đà), mà hành giả Chân môn tu theo, chỉ nhờ vào năng lực của Thiện bản đức này để đạt được nguyện vãng sinh.[X. Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.12, 30; Hiển tịnh độ phương tiện hóa thân độ văn loại].
thiện bẩm
Thiện tánh bẩm sinh—Endowment—Innate prospensity.
thiện bổn
1) Thiện căn: Good stock, or roots. 2) Gieo trồng thiện căn: Planting good seed or roots. 3) Thiện căn giác ngộ: Good in the root of enlightenment.
thiện chi
Xem Đại Mãn.
thiện chiêu
(善昭) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, họ Du. Sư thông minh từ thuở nhỏ, đối với tất cả văn tự thường thông hiểu một cách tự nhiên. Lúc sư 14 tuổi, cha mẹ kế tiếp nhau qua đời, sư liền phát tâm xuất gia, thụ giới Cụ túc, tham học 71 vị thạc đức tôn túc ở khắp các nơi. Khi sư đến tham kiến Thiền sư Tỉnh niệm ở núi Thủ sơn tại Nhữ châu thì đại ngộ và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư tiếp tục du phương đến Hành tương, Tương miện, quan Quận thú hết sức thỉnh sư về trụ các chùa danh tiếng nhưng sư đều từ chối. Đến khi ngài Thủ sơn Tỉnh niệm thị tịch, sư mới thể theo lời thỉnh của tăng tục Tây hà về trụ ở viện Thái tử tại Phần dương, giảng rộng tông yếu, sử dụng các cơ pháp như Tam cú, tứ cú, Tam quyết, Thập bát xướng... để tiếp dẫn người học, nổi danh một thời. Suốt 30 năm sư không ra khỏi cửa, tăng tục rất tôn kính sư, không dám gọi thẳng tên mà dùng từ Phần dương để gọi thay.Năm Thiên thánh thứ 2 (1024) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư thị tịch, thọ 78 tuổi, thụy hiệu Vô Đức Thiền Sư. Sư có các tác phẩm: Phần dương Vô đức thiền sư ngữ lục, Phần dương Chiêu thiền sư ngữ lục, Phần dương Chiêu thiền sư ngữ yếu.[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Thiên thánh quảng đăng lục Q.16; Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.1; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.3; Liên đăng hội yếu Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.11; Phật tổ lịch đại thông tải Q.18].
thiện chung
Natural death—Death of old age.
Thiện Châu
善珠; C: shànzhū; J: zenjū, 727-797. |Tăng sĩ tông Pháp tướng Nhật bản, đệ tử của Huyền Phảng (玄昉; j: genbō), là học giả Du-già hành tông cũng như Nhân minh học (因明). Sau khi sư sáng lập chùa Akishino, sư trứ tác nhiều tác phẩm về cả Pháp tướng lẫn Nhân minh. Sư phần nào tin rằng mình là tái sinh của Khuy Cơ.
thiện châu phần dương thiền sư
Shan-Chou-Fen-Yang—See Phần Dương Thiện Châu.
Thiện Châu 善珠
[ja] ゼンジュ Zenjū|||Zenjū (727-797). A Japanese Hossō monk, disciple of Genbō 玄昉, who was a scholar of Yogācāra as well as . Afterwards he founded Akishino Temple. He wrote many works on both Hossō and hetu-vidyā. He was believed by some to have been a reincarnation of Kuiji. => j: Zenjū (727-797). Tăng sĩ tông Pháp tướng Nhật bản, đệ tử của Huyền Phảng (玄昉; j: Genbō), là học giả Du-già hành tông cũng như Nhân minh học (hetu-vidyā 因明). Sau khi sư sáng lập chùa Akishino, sư trứ tác nhiều tác phẩm về cả Pháp tướng lẫn Nhân minh. Sư phần nào tin rằng mình là tái sinh của Khuy Cơ.
thiện chí
Xem Cãp Cô Độc.
; Avyapada-samkappa (p)—Good will.
thiện chính
Good policy.
thiện cát
Xem Tu bồ đề.
Thiện căn
善根; C: shàngēn; J: zengon; |Căn lành, đức hạnh lành. Nghiệp nhân lành mang đến kết quả lành. Căn lành, như rễ cây được dùng làm ví dụ cho thiện nghiệp. Theo giáo lí của A-tì-đạt-ma Câu-xá, nền tảng cho người tu thể nhập địa vị Kiến đạo là phát khởi trí tuệ vô lậu (s: kuśala-mūla; p: kusala-mūla). Thông thường được xem là phát khởi ba món: vô tham, vô sân và vô si. Tam thiện căn (三善根).
thiện căn
Kuśala-mŪla (S), Good roots.
; Kusala-mùla (S). Good roots, good qualities, good seed sown by a good life to be reaped later.
; Là chủng tử Phật tánh.
; Kusala-mula (skt)—Cái thiện của ba nghiệp thân, khẩu, ý có thể sinh ra diệu quả về sau nầy—Good roots—Good qualities (of body, speech and mind), good seed sown by a good life to be reaped later.
; (善根) Phạm: Kuzala-mùla. Pàli:Kusala-mùla. Cũng gọi Thiện bản, Đức bản. Tức là cội rễ sinh ra các pháp lành. Cứ theo kinh Đại câu hi la trong Trung a hàm quyển 7 thì tỉ khưu biết thiện, biết thiện căn, đó gọi là thành tựu kiến, đối với phápđược bất hoại tịnh, được chính kiến, vào trong chính pháp. Ba tính vô tham, vô sân, vô si là thể của thiện căn, gọi chung là Tam thiện căn. Còn Bất thiện căn (Phạm: Akuzala-mùla) thì là tương phản với Thiện căn;tham, sân, si gọi là Tam bất thiện căn, hoặc gọi là Tam độc. Lại vì pháp lành là cội gốc để được quả lành, cho nên cũng có thể được gọi là Thiện căn. [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; phẩm Hàng tượng trong kinh Phật bản hạnh tập Q.5; kinh Bi hoa Q.8; phẩm Lô xá na Phật trong kinh Hoa nghiêm Q.4 (bản dịch cũ); phẩm Cụ thiện căn trong kinh Đại bảo tích Q.78; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7]. (xt. Tam Thiện Căn).
thiện căn ma
(善根魔) Tham đắm pháp lành mà mình đang tu hành, cứ muốn ở lại đó chứ không chịu tiến lên nữa, là 1 tong 10 loại ma. Loại ma này có năng lực làmchướng ngại chính đạo, làm cho người tu hành không còn conmắt trí tuệ, cho nên phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 42 (Đại 9, 663 thượng) nói: Mất ma thiện căn, tâm không hối tiếc. (xt. Thập Ma).
Thiện căn 善根
[ja] ゼンコン zengon ||| 'Good roots,' 'virtuous roots.' Good causal actions that bring good rewards. Good actions, with the roots of a tree used as a metaphor for goodness. In Abhidharma-kośa theory, the basis for the entrance into the "Path of Seeing" 見道 by the practitioner, where she/he arises undefiled wisdom (Skt. kuśala-mūla; Pali kusala-mūla). There are generally considered to be three of these: absence of covetousness 貪, absence of antipathy 瞋, and absence of ignorance 癡. See => Căn lành, đức hạnh lành. Nghiệp nhân lành mang đến kết quả lành. Căn lành, như rễ cây được dùng làm ví dụ cho thiện nghiệp. Theo giáo lý của A-tỳ-đat-ma Câu-xá, nền tảng cho người tu thể nhập địa vị Kiến đạo là phát khởi trí tuệ vô lậu (Skt. kuśala-mūla; Pali kusala-mūla). Thông thường được xem là phát khởi ba món: vô tham, vô sân và vô si. Xem Tam thiện căn三善根..
thiện cảm
Sympathy.
thiện cảm sâu xa
Profound sympathy.
thiện cử
Charitable work.
thiện dung
Xem Bạc câu la.
Thiện duyên
(善緣): duyên lành, duyên tốt. (1) Có duyên với Phật pháp. Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 35 có câu: “Túc tạo chư thiện duyên, bách kiếp nhi bất hủ (宿造諸善緣、百劫而不朽, xưa tạo các duyên lành, trăm kiếp vẫn bất hủ).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, phần Kết Chế (結制), lại có câu: “Nghiệp sơn phiên vi phước hải, ma chướng chuyển tác thiện duyên (業山翻爲福海、魔障轉作善緣, núi nghiệp biến thành biển phước, ma chướng chuyển làm duyên lành).” (2) Chỉ chung cho những nhân duyên tốt. Như trong tác phẩm Âu Bắc Thi Thoại (甌北詩話), phần Tra Sơ Bạch Thi (查初白詩), của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh, có câu: “Yếm phùng tục khách đàm thi sự, nhàn dữ hương nhân kết thiện duyên (厭逢俗客談時事、閒與鄉人結善緣, chán gặp khách tục bàn thơ chuyện, nhàn với dân làng kết duyên lành).”
Thiện dạ kinh
善夜經; C: shànyè jīng; J: zenya kyō; S: bhadrakalātrī; T: mtshan mo bzang po.|Nghĩa Tịnh dịch, 1 quyển.
thiện dạ kinh
(善夜經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này thuật lại việc Thiên tửChiên đàn ở cõi trời Tam thập tam, vì muốn làm lợi ích chúng sinh nên phái tỉ khưu đến chỗ Phật xin Ngài nói pháp, khiến người nghe đều đoạn trừ phiền não, mau chứngbồ đề. Do đó, đức Phật mới nói kinh này. Danh từ Thiện dạ(đêm tốt lành) nghĩa là công đứccủakinh này có năng lực làm cho những điều bất tường như ác mộng, hiểm nạn đều xa lìa.
Thiện dạ kinh 善夜經
[ja] ゼンヤキョウ Zenya kyō ||| The Shanye jing; Skt. Bhadrakalātrī; Tib. mtshan mo bzang po [To.313, 617, 974]; (Sutra of Fine Night). 1 fasc. (T 1362.21.881-882), trans. => Kinh Thiện dạ (S: Bhadrakalātrī; Tib. mtshan mo bzang po). Nghĩa Tịnh 義淨. dịch, 1 quyển.
thiện giác
See Suprabuddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
thiện giác vương
Supra-Buddha (S), Suppabuddha (S)Một vị vương họ Thích thành Ca tỳ la vệ, phụ thân công chúa Da du đà la.
; King Suppabuddha, father of the princess Yasodhara.
thiện giả thiện báo
A good turn deserves another.
thiện giới
Good realms.
thiện hiền
Śubhadrā (S), Subhadda (P)Tu bạt đà la, Tu bạt đà, Tô bạt đà la, Thiện HiềnVị đệ tử cuối cùng của đức Phật, người ngoại đạo, đã 120 tuổi, được qui y tam bảo ngày Phật nhập diệt. Ngay sau đó đắc A la hán, do không nỡ nhìn Phật nhập Niết bàn, được đức Phật đồng ý, ông dùng Tam muội chân hỏa nhập Niết bàn trước Phật.
; Subhadra (S). The last disciple of the Buddha. Also Tu bạt đà la.
thiện hiện
Xem Tu Bồ Đề.
; Well-appearing, name of Subhùti.
; Sudrsa (skt). 1) Vẻ đẹp đẽ mạnh khỏe hiện ra bên ngoài: Beautiful appearing—Well being—Welfare—Well Manifest—Good manifestation—Healthy in appearance. 2) Tên của Ngài Tu Bồ Đề: Name of Subhuti (Tu Bồ Đề). 3) Ái Thân Thiên: Vị Trời ở cõi dục giới có thân hình tuyệt diệu—The heaven of lovely form in the desire-realm, but said to be above the devalokas. 4) Sudrsa (skt)—Cõi trời thứ bảy trong Phạm giới Thiên—The seventh Brahmaloka, eighth of the Dhyana heavens.
thiện hiện dược vương
(善現藥王) Tên loại cây thuốc mọc ở Hi mã lạp sơn (núi Tuyết) có khả năng chữa trị tất cả các bệnh. Theo phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 37 (bản dịch cũ) thì cây thuốc Thiện hiện dược vương trên núi Tuyết, hễ người nào mắt trông thấy cây thuốc này thì mắt được thanh tịnh; tai nghe tên cây thuốc này thì tai được thanh tịnh; mũi ngửi mùi thơm cây thuốc này thì mũi được thanh tịnh; lưỡi nếm vị thuốc này thì lưỡi được thanh tịnh; thân chạm vào cây thuốc này thì thân được thanh tịnh; nếu lấy đất ở chỗ cây thuốc này mọc về chữa bệnh, thì bệnh gì cũng khỏi, được khỏe khoắn, khoái lạc.[X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng, phần cuối].
Thiện hiện hạnh
善現行; C: shànxiàn xíng; J: zengen gyō; |Theo kinh Hoa Nghiêm, là giai vị thứ 6 trong Thập hạnh của hàng Bồ Tát.
Thiện hiện hạnh 善現行
[ja] ゼンゲンギョウ zengen gyō ||| 'skillful appearance.' The sixth of the ten practices 十行 stages of bodhisattvahood, according to the Avataṃsaka-sūtra. => Theo kinh Hoa Nghiêm, là giai vị thứ sáu trong Thập hạnh của hàng Bồ-tát.
thiện hiện sắc
Sudrsa (skt)—See Thiện Hiện Thiên.
Thiện hiện thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
; 善現天; C: shànxiàn tiān; J: zengen ten; |Cõi trời Thiện hiện (s: sudṛśāḥ), cõi trời thứ 6 trong 8 cõi trời trong Tứ thiền thiên (四禪天) của Sắc giới. Cũng được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới.
thiện hiện thiên
Sudassadeva (P), Sudarśana (S), Sudassi (P), Sudassana (P), Sudassa (P), Sudṛsa (S)Thiện kiến thiên1- Tên một trong 9 tầng trời Tứ thiền thiên. Cõi này không có chướng ngại. 2- Thiện kiến sơn: Tên một trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Núi này cao 6.000 do tuần. (3) Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi IsigiliThiện kiến thiênChư thiên ở cõi Thiện Hiện thiên.
; Sudrsa (S). The seventh Brahmaloka; the eighth region of the fourth dhyàna.
; Sudrsa (skt)—Cõi Trời thứ ba trong Ngũ Tịnh Cư Thiên—Heaven of Beautiful Presentation, the third heaven in the five pure-dwelling heavens. ** For more information, please see Ngũ Tịnh Cư Thiên.
; (善現天) Thiện hiện, Phạm:Sudfza. Pàli:Sudassa. Hán âm: Tu đề xá, Tu vũ. Cũng gọi Thiện quan thiên, Thiện hảo kiến thiên, Diệu kiến thiên, Khoái kiến thiên, Vô tỉ thiên, Giả sử thiên. Một trong 18 tầng trời cõi Sắc, tầng trời thứ 3 trong 5 tầng trời Tịnh cư, tức là tầng trời thứ 3 trong Đệ tứ thiền cõi Sắc. Thiên chúngở cõi trời này đã được Tạp tu tĩnh lự thượng phẩm, quả đức dễ hiện bày, cho nên gọi là Thiện hiện. Luận Lập thế a tì đàm quyển 7 (Đại 32, 204 trung)nói: Do nghiệp tương ứng với Tứ thiền thượng phẩm, cung kính siêng tu, không trái với hạnh thường tu, huân tu bởi tạp giác phần, nhờ nghiệp này mà được sinh về Thiện hiện thiên. Cứ theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2 và luận Chương sở tri quyển thượng thì tuổi thọ của thiên chúng cõi trời này là 4 nghìn kiếp, thân cao 4 nghìn do tuần. Còn có các thuyết 3 nghìn kiếp, 2 nghìn đại kiếp... [X. phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại lâu thán Q.1; kinh Khởi thế nhân bản Q.1, 7; luận Lập thế a tì đàm Q.6; luận Thuận chính lí Q.21; luận Tập dị môn túc Q.14; luận Đại tì bà sa Q.136]. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên, Sắc Giới).
Thiện hiện thiên 善現天
[ja]ゼンゲンテン zengen ten ||| The heaven of skillful manifestation (sudṛśāḥ), which is the sixth of the eight heavens included in the fourth dhyāna of the form realm 四禪天. Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Cõi trời Thiện hiện (sudṛśāḥ), cõi trời thứ sáu trong tám cõi trời trong Tứ thiền thiên 四禪天.của Sắc giới. Cũng được xếp vào một trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới色界十七天.
thiện hiện tỉ khâu
(善現比丘) Phạm: Su-derzana. Cũng gọi Thiện kiến tỉ khưu. Vị tỉ khưu trụ ở nước Cứu độ, là 1 trong 55 thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham học. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.19].
thiện hoan hỷ
Xem Bạt nan đà.
thiện huệ bồ tát
Sujāna (J).
Thiện huệ địa
xem Mười địa vị.
; 善慧地; C: shànhuìdì; J: zeneji; S: sādhu-matī; T: legs paḥi blo gros.|Giai vị thứ 9 trong Thập địa của hàng Bồ Tát. Trong giai vị nầy, trí tuệ của Bồ Tát trở nên viên mãn khi chứng đạt được Tứ vô ngại giải (四無礙解), do vậy nên có khả năng giảng pháp khắp mọi nơi, bằng mọi ngôn ngữ mà không ngăn ngại.
thiện huệ địa
Sadhumati-bhŪmi (S), Good-Thought stage Địa thứ 9 trong 10 Bồ tát địa.
; Sadhumati (skt)—See Thập Địa Phật Thừa (9).
; (善慧地) Phạm: Sàdhummatì-bhùmi. Địa thứ 9 trong 10 địa vị Bồ tát. Địa này đã được 4Vô ngại giải: Pháp vô ngại giải, Nghĩa vô ngại giải, Từ vô ngại giải và Nhạo thuyết vô ngại giải,có năng lực ở khắp 10 phương dùng 1 âm thanh diễn nói tất cả thiện pháp, khiến người nghe đều sinh tâm vui mừng. Lại ở trong hạnh Lực ba la mật, dứt trừ chướng ngại không muốn thực hành việc mang lại lợi ích cho người khác, đồng thời chứng được Chân như là chỗ nương của trí tự tại. [X. kinh Nhân vương Q.hạ (bản dịch mới); luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Thập Địa).
Thiện huệ địa 善慧地
[ja] ゼンエジ zeneji ||| The stage of excellent wisdom (Skt. sādhu-matī; Tib. legs paḥi blo gros), which is the ninth of the ten stages of the bodhisattva path 十地. In this stage the bodhisattva's wisdom becomes complete in the attainment of the four kinds of unobstructed understanding 四無礙解, and is therefore able to articulate the dharma in all places and all languages without error. => (Skt. sādhu-matī; Tib. legs paḥi blo gros). Giai vị thứ chín trong Thập địa của hàng Bồ-tát. Trong giai vị nầy, trí tuệ của Bồ-tát trở nên viên mãn khi chứng đạt được Tứ vô ngại giải四無礙解, do vậy nên có khả năng giảng pháp khắp mọi nơi, bằng mọi ngôn ngữ mà không ngăn ngại. Thiện căn善根 [ja] ゼンコン zengon ||| 'Good roots,' 'virtuous roots.' Good causal actions that bring good rewards. Good actions, with the roots of a tree used as a metaphor for goodness. In Abhidharma-kośa theory, the basis for the entrance into the "Path of Seeing" 見道 by the practitioner, where she/he arises undefiled wisdom (Skt. kuśala-mūla; Pali kusala-mūla). There are generally considered to be three of these: absence of covetousness 貪, absence of antipathy 瞋, and absence of ignorance 癡. See 三善根. => Căn lành, đức hạnh lành. Nghiệp nhân lành mang đến kết quả lành. Căn lành, như rễ cây được dùng làm ví dụ cho thiện nghiệp. Theo giáo lý của A-tỳ-đat-ma Câu-xá, nền tảng cho người tu thể nhập địa vị Kiến đạo là phát khởi trí tuệ vô lậu (Skt. kuśala-mūla; Pali kusala-mūla). Thông thường được xem là phát khởi ba món: vô tham, vô sân và vô si. Xem Tam thiện căn三善根. .
thiện hành
Good deeds.
thiện hóa thiên vương
Sunirmita-devarāja (S)Vị vua trời cai quản cõi trời Hóa Lạc thiên.
thiện hạnh
Good deed, virtuous act.
thiện hỉ
Upananda (S). Name
Thiện Hội
善會|1. Thiền sư Trung Quốc, Giáp Sơn Thiện Hội|2. ?-900; Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ hai. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Cảm Thành và sau truyền lại cho đệ tử là Vân Phong.|Sư quê ở Dữ Lãnh, xuất gia từ nhỏ và có hiệu là Tổ Phong. Lớn lên, Sư vân du đây đó tham học, sau lại đến chùa Kiến Sơ thụ giáo nơi Thiền sư Cảm Thành. Ở đây, Sư hầu hạ thầy hết lòng suốt mười năm.|Một hôm, Sư vào thất hỏi: »Trong kinh có nói: Ðức Thích-ca Như Lai đã từng tu hành trải vô số kiếp mới được thành Phật. Nay Thầy dạy rằng: Tâm tức là Phật, con chưa hiểu lẽ đó, cúi xin thầy một phen khai ngộ cho.« Cảm Thành hỏi: »Trong kinh người nào thuyết pháp?« Sư thưa: »Ðâu không phải là Phật thuyết ư?« Cảm Thành bảo: »Nếu là Phật thuyết, tại sao kinh Văn-thù lại nói: ›Ta trụ ở đời 49 năm, chưa từng nói một chữ dạy người.‹ Cổ đức nói: ›Người tìm nơi văn, chấp nơi chứng càng thêm trệ; khổ hạnh cầu Phật là mê, lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo; chấp tâm cầu Phật là ma.‹« Sư hỏi: »Như thế, tâm ấy cái gì chẳng phải Phật, cái gì là Phật?« Cảm Thành bảo: »Xưa có người đến hỏi Mã Tổ: ›Tâm tức là Phật, tâm nào là Phật?‹ Tổ bảo: ›Ông nghi cái nào không phải là Phật chỉ xem?‹ Người kia không đáp được, Tổ dạy: ›Ðạt thì khắp tất cả cảnh đều là Phật, chẳng ngộ thì trái xa.‹ Chỉ câu nói nay, ngươi lại hội chăng?« Ngay đây, Sư thưa: »Nay con hội rồi.« Cảm Thành hỏi: »Ngươi hội thế nào?« Sư thưa: »Khắp mọi chỗ không đâu chẳng phải tâm Phật.« và quì xuống lễ bái. Cảm Thành bảo: »Thế là ngươi hiểu đúng rồi!« Nhân đây, Cảm Thành ban hiệu cho Sư là Thiện Hội.|Sau, Sư trụ trì hoằng hoá tại chùa Ðịnh Thiền ở làng Siêu Loại và tịch tại đây năm thứ 3 niên hiệu Quang Hoá đời Ðường.
thiện hội
(善會) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người ở Hiện đình, Quảng châu, họ Liêu. Năm 9 tuổi, sư cạo tóc ở núi Long nha tạiĐàm châu (huyện Trường sa, tỉnh Hồ nam), năm 20 tuổi thụ giới Cụ túc. Sau đó không lâu, sư đến Giang lăng chuyên tâm nghiên cứu kinh luận, lại đến các nơi Thiền hội tham học. Ban đầu, sư trụ ở chùa Hạc lâm tại Kinh khẩu thuộc Nhuận châu (huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô), lúc đó sưgặp ngài Đạo ngô từ Quan nam, Tương châu đến, cùng vấn đáp qua lại với nhau, có rất nhiều chỗ tâm đắc. Sau,theolời khuyên của ngài Đạo ngô, sư đến tham yết ngài Thuyền tử Đức thành ở huyện Hoa đình tại Chế trung (Giang tô), thầy trò khế hợp, sư được nối pháp. Năm Hàm thông 11 (870) đời vua Ý tôngnhà Đường, sư trụ ở Giáp sơn, Lễ châu, Hồ nam mở rộng Thiền phong. Niên hiệu Trung hòanăm đầu (881), sư thị tịch, thọ 77 tuổi, pháp lạp 57, vua ban thụy hiệu Truyền Minh Đại Sư. [X. Cảnh đức truyền đănglụcQ.15; Liên đăng hội yếu Q.21; Phật tổ lịchđạithông tải Q.17, 24; Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Thích thị kê cổ lược Q.3; Ngũ đăng nghiêm thống Q.5].
thiện hội thiền sư
Zen Master Shan-Hui—Thiền Sư Thiẹân Hội sanh năm 805, sư xuất gia lúc 9 tuổi và thọ cụ túc giới năm 20 tuồi. Sau khi Thiền sư Đạo Ngô Viên Trí đề nghị sư đến gặp Thuyền Tử, sư đến Hoa Đình làm đệ tử Thuyền Tử. Sư được công nhận là Pháp Tử của Hoa Đình Thuyền Tử—Zen master Shan-Hui was born in 805. He left home at the age of nine and received full ordain at the age of twenty. Following Zen Master T'ao-Wu Yuan-Zhi's recommendation, he came to Hua-Ting to become Chuan-Tzi's disciple. He was recognized as Chuan-Tzi's Dharma heir. • Một hôm sư thượng đường dạy chúng: “Từ có Tổ đến đây người ta hiểu lầm, nối nhau đến nay đều lấy lời Phật, Tổ làm mô phạm dạy người. Như thế, trở thành kẻ cuồng hay người vô trí rồi còn gì. Kia chỉ bày tỏ cho các ngươi 'Không pháp vốn là đạo, đạo không một pháp; không Phật có thể thành, không đạo có thể đắc, không pháp có thể xả.' Cho nên nói 'Trước mắt không pháp, ý tại trước mắt.' (mục tiền vô pháp, ý tại mục tiền). Kia chẳng phải là pháp trước mắt. Nếu nhằm bên Phật, Tổ mà học, người nầy chưa có mắt tự tại, vẫn là thức tánh sanh tử mênh mang không có phần tự do. Ngàn muôn dậm tìm thiện tri thức, cốt có cái thấy chơn chánh hằng thoát khỏi hư dối, định lấy cái sanh tử trước mắt xem là thật có hay thật không? Nếu có người định được lẽ này, hứa nhận ông sẽ giải thoát. Người thượng căn ngay lời nói liền rõ đạo; kẻ căn khí bậc trung, bậc hạ chạy lăng xăng như sóng bủa. Sao chẳng nhằm trong sanh tử mà an định? Sẽ nhận lấy chỗ nào? Lại nghi Phật nghi Tổ thế cái sanh tử cho ông được sao? Người trí sẽ cười ông. Nghe kệ đây: “Lao trì sanh tử pháp Duy hướng Phật biên cầu. Mục tiền mê chánh lý Bác hỏa mích phù âu.” (Nhọc gìn pháp sanh tử Chỉ nhằm bên Phật cầu. Trước mắt lầm lý chánh Trong lửa bọt có đâu). One day Shan-Hui entered the hall and addressed the monks, saying: “Since the time of the ancestors there have been those who misunderstand what has been passed down. Right up to now they have used the words of the Buddhas and ancestors and made them models for study. If people do this then they'll go crazy and have no wisdom at all. The Buddhas and ancestors have instructed you that the dharmaless root is the Way. The way is without even a single Dharma. There is no Buddha that you can become. There is no way that can be attained. Nor is there any Dharma that can be grasped or let go of. Therefore, the ancients said: 'Before the eyes there is no Dharma, but the meaning is before the eyes.' Those who want to study the Buddhas and ancestors haven't opened their eyes. Why do they want to submit to something else and not attain their own freedom? Basicaly it's because they are confused about life and death. They realize they don't have a bit of freedom, so they go thousands of miles to seek our some great teacher. Those people must attain the true eye, not spend their time grasping and discarding spurious views. But are there any here among you of definite attainment who can really hold forth about existence and nonexistence? If there's someone who's definite about this then I invite you to speak out.' 'When persons of high ability hear these words they are clear about what's being said. Those of middle or low ability continue rushing around. Why do't you just directly face life and death? Don't tell me you still want the Buddhas and ancestors to live and die in your place! People who understand will laugh at you. If you still don't get it, then listen to this verse: “Belaboring life and death, Just seeking Buddha's quarter. Confused about the truth before your eyes, Poking a fire to find a cool spot.” • Vị Tăng hỏi: “Từ trước lập ý Tổ và ý kinh, vì sao độ nầy Hòa Thượng nói không?” Sư đáp: “Ba năm chẳng ăn cơm, trước mắt không người đói, tại sao con chẳng ngộ?” Chỉ vì ngộ mê đuổi Xà Lê. Sư bèn nói kệ: “Minh minh vô ngộ pháp Ngộ pháp khước mê nhơn Trường thơ lưỡng cước thùy Vô ngụy diệt vô chơn.” (Rõ ràng không pháp ngộ Pháp ngộ đuổi người mê Duỗi thẳng hai chân ngủ Không ngụy cũng không chơn). • A monk asked: “There has always been meaning attributed to the teaching of the Buddhas and ancestors. Why does the master say there isn't any?” Shan-Hui said: “Don't eat for three years and you won't see anyone hungry.” The monk said: “If no one is hungry, why can't I gain awakening?” Shan-Hui said: “Because awakening has confused you.” Shan-Hui then recited this verse to make his point: “Clear and luminous, no Dharma of awakening, Awakening confuses people. In paradise with two feet and eyes, Nothing false, and nothing true.” • Vào ngày 7 tháng 11 năm 881, sư gọi Tăng chúng lại bảo: “Ta đã nói pháp trong nhiều năm. Mỗi người các ngươi phải nên tự biết mình. Bây giờ ta không còn gì nữa, đã đến lúc ta đi đây. Giữ lấy pháp như lúc ta còn vậy.” Nói xong sư thị tịch, thọ 77 tuổi, được vua phong hiệu “Truyền Minh Đại Sư.”—On the seventh day of eleventh month in the year 881, Shan-Hui called together his principal monks and said: “I've talked extensively for many years. Each of you should know for yourself. Now I'm just an empty form. My time is up and I must go. Take care of the teaching as if I were still here.” Upon saying these words, Shan-Hui suddenly passed away. He received posthumous name "Great Teacher Transmitting Clarity.”
thiện hội thiền sư (việt nam)
Shen-Hui (?-900)—Thiện Hội (?-900), đời thứ hai dòng Vô Ngôn Thông. Ông là một thiền sư nổi tiếng của Phật giáo Việt Nam vào thế kỷ thứ 10. Ông quê tại Điển Lãnh. Thuở nhỏ ông theo sư Tiệm Nguyên với Pháp hiệu là Tổ Phong. Lớn lên, sư vân du khắp nơi để tìm minh sư tham học. Khi đến chùa Kiến Sơ, sư gặp Thiền sư Cảm Thành và trở thành một trong những đệ tử nổi tiếng của sư Cảm Thành. Sư ở lại chùa Kiến Sơ phục vụ Thầy trên mười năm. Một hôm sư hỏi Thầy: “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng tu hành trải qua vô lượng kiếp mới thành Phật. Nay thầy dạy 'tức tâm tức Phật.' Con không hiểu lẽ đó. Xin thầy khai ngộ cho con.” Sư Cảm Thành hỏi: “Trong kinh người nào nói?” Thiện Hội thưa: “Nếu con không lầm thì tất cả kinh điển đều do Phật dạy.” Sư Cảm Thành nói: “Nếu vậy sao ngài Văn Thù Sư Lợi lại nói rằng Đức Phật trong suốt 49 năm hoằng hóa chưa nói một lời? Con phải luôn nhớ rằng nếu con chấp vào văn tự, con sẽ phải đi vòng vòng mãi chứ không bao giờ thấy Phật.” Qua đó Thiện Hội ngộ và sụp lạy Thầy. Sau khi Thầy Cảm Thành thị tịch, sư tiếp tục hoằng hóa đến khi viên tịch vào năm 900 sau Tây Lịch—Shen-Hui, seond lineage of the Wu-Yun-T'ung Sect. He was a famous Zen Master of the Vietnamese Buddhism in the tenth century. He was from Điển Lãnh. When he was young, he studied with Master Tiệm Nguyên at Đông Lâm Temple with his Dharma name Tổ Phong. When he grew up, he wandered all over the country to seek the right master. When he arrived at Kiến Sơ Temple, he met Zen Master Cảm Thành and became one of the latter's most outstanding disciples. He stayed to serve his master for over ten years. One day he asked his master: “Sakyamuni Buddha had cultivated innumerable aeons to become a Buddha. Now you say that 'Mind is Buddha.' I really don't understand. Please awaken me so that I can be clear.” Zen Master Cảm Thành said: “Who said so in the sutra?” Shen-Hui replied: “The Buddha teach in all the sutras, am I right?” Zen Master Cảm Thành said: “But why Manjusri declared that the Buddha never teachs a word during 49 years. You should always remember that if you attach to words, you will have to go around and around forever, you will never find the Buddha.” Shen Hui awakened right after this instruction. He bowed down to prostrate his Master. Zen Master Cảm Thành gave his name Shen-Hui since that time. After his Master passed away, Zen Master Shen-Hui continued to expand the Buddha dharma until he died in 900.
thiện hữu
dịch từ Phạn ngữ kalynamitra, không chỉ đơn giản là người bạn lành, bạn tốt, mà chỉ chung những người giúp chúng ta sanh khởi các hạnh lành. Sách Tham huyền ký, quyển 6 nói: “Khởi ngã hạnh cố danh thiện hữu.” (Làm sanh khởi công hạnh của ta nên gọi là thiện hữu.)
; Xem Đạo sư.
; Kalyànamitra (S). A friend of virtue, a religious counseller; a friend in the good life, or one who stimulates to goodness.
; Kalyanamitra (skt)—A friend of virtue—The good companion—A friend in good life or one who stimulates to goodness—A religious counselor. ** For more information, please see Thiện Hữu Tri Thức.
thiện hữu thất sự
(善友七事) Bảy việc của người bạn lành. Tức chỉ cho 7 việc mà các Bồ tát thực hành để làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh khi các ngài thị hiện ở thế gian. Thiện hữu là người bạn ngay thẳng, có đức hạnh. Luật Tứ phần quyển 41 có nêu ra 7 pháp của thiện hữu và đặc biệt gọi là Thân hữu lợi ích từ mẫn. Lăng nghiêm kinh sớ quyển 17 có giải thích rõ ràng tỉ mỉ 7 pháp ấy như sau: 1. Tao khổ bất xả:Gặp khổ không bỏ. Bồ tát vận dụng tâm Từ bi, thương xót chúng sinh chịu các khổ nãotrong 6 đường, cho nên tùy loại hiện thân để chỉ dạy họ, giúp chúng sinh thoát khỏi khổ não và khi thay thế chúng sinh để chịu khổ thì tâm Bồ tát cũng không xả bỏ. 2. Bần tiện bất khinh: Nghèo hèn không khinh rẻ. Bồ tát vận dụng tâm bình đẳng, thấy chúng sinh tuy không có công đức, không có pháp tài để tự trang nghiêm, nhưng biết họvốnsẵn có pháp thân, đầy đủ mọi công đức, cho nên tâm Bồ tát thường thương xót, nhớ nghĩ mà không sinh tâm khinh mạn. 3. Mật sự tương cáo: Việc kín nói cho nhau biết. Bồ tát thấy bản tính của các chúng sinh tròn sáng, nhưng vì tất cả khách trần phiền não che lấp nên không lộ rõ ra được, bởi thế Bồ tát dùng lời dịu dàng nói cho họ biết giúp họ nhận ra bản tính của chính họ. 4. Đệ tương phú tàng: Che giấu cho nhau. Bồ tát nhận thấy thiện căn của chúng sinh chưa thuần thục, chưa thể tin sâu đạo chân thực, cho nên Bồ tát dùng pháp phương tiện tạm thời chỉ dạy cho họ đợi đến khi thiện căn của họ thành thục, bấy giờ sẽ chỉ cho họ thấyrõlíChân như đích thực.5. Nan tác năng tác: Làm được việc khó làm. Vì dắt dẫnchúng sinh nên Bồ tát làm được những việc mà người khác khó làm, như thân mặc áo rách, tay cầm đồ hốt phân mà không xem đó là việc hèn hạ.6. Nan dữ năng dữ: Cho được những gì khó cho. Bồ tát đem chân lí mà mình đã thể ngộ, phương tiện giáo hóa tất cả chúng sinh mà tâm không sẻn tiếc. 7. Nan nhẫn năng nhẫn: Chịu đựng được những điều khó chịu đựng. Bồ tát thấy chúng sinh vì tạo nghiệp bất thiện nên phải đọa vào đường ác, liền khởi tâm thương xót, dùng phương tiện cứu thoát, dù trải qua thời gian nhiều kiếp đằng đẵng nhưng tâm không mảy may lui sụt.
thiện hữu tri thức
Kalyana-mitra (skt). (I) Nghĩa của Thiện Hữu Tri Thức—The meanings of Good-Knowing Friend (Advisor): • Thiện có nghĩa là hiền và đạo đức, Tri là sự hiểu biết chơn chánh, còn Thức là thức tỉnh, không mê muội và tham đắm nơi các duyên đời nữa. Thế nên, thiện tri thức là người hiền, hiểu đạo, và có khả năng làm lợi lạc cho mình và cho người: Good is kind and virtuous, Friend is a person who is worthy of giving others advice, Knowledgeable means having a broad and proper understanding of the truths, Awakened means no longer mesmerized by destinies of life. Thus, Good Knowledgeable (knowing) Friend or Advisor is a good person who has certain degree of knowledge of Buddhism and has the ability to benefit himself and others. • Người bạn đạo hạnh, người thầy gương mẫu, sống đời đạo hạnh, cũng như giúp đỡ khuyến tấn người khác sống đời đạo hạnh. Người bạn đạo tốt, thực thà, chân thật, có kiến thức thâm hậu về Phật pháp và đang tu tập Phật pháp—Good friend—A good knowing advisor—A friend in virtue, or a teacher who exemplifies the virtuous life and helps and inspires other to live a virtuous life too—Good-Knowing advisor (good and wise advisor—Enlightened teachers or advisors)—A good friend who has a good and deep knowledge of the Buddha's teaching and who is currently practicing the law. Someone with knowledge, wisdom and experience in Buddha's teaching and practicing. A wise counsel, spiritual guide, or honest and pure friend in cultivation. • Đức Phật đã nói về thiện hữu tri thức trong đạo Phật như sau: “Nói đến Thiện Hữu Tri Thức là nói đến Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác và Bích Chi Phật, cùng với những người kính tin giáo lý và kinh điển Phật giáo. Hàng thiện hữu tri thức là người có thể chỉ dạy cho chúng sanh xa lìa mười điều ác và tu tập mười điều lành (see Thập Thiện Nghiệp, and Thập Ác). Lại nữa, hàng thiện hữu tri thức có lời nói đúng như pháp, thực hành đúng như lời nói, chính là tự mình chẳng sát sanh cùng bảo người khác chẳng sát sanh, nhẫn đến tự mình có sự thấy biết chơn thật (chánh kiến) và đem sự thấy biết đó ra mà chỉ dạy cho người. Hàng thiện hữu tri thức luôn có thiện pháp, tức là những việc của mình thực hành ra chẳng mong cầu tự vui cho mình, mà thường vì cầu vui cho tất cả chúng sanh, chẳng nói ra lỗi của người, mà luôn nói các việc thuần thiện. Gần gũi các bậc thiện hữu tri thức có nhiều điều lợi ích, ví như mặt trăng từ đêm mồng một đến rằm, ngày càng lớn, sáng và đầy đủ. Cũng vậy, thiện hữu tri thức làm cho những người học đạo lần lần xa lìa ác pháp, và thêm lớn pháp lành: The Buddha talked about being a Good Knowing Advisor in Buddhism as follows: “When speaking of the good knowledgeable advisors, this is referring to the Buddhas, Bodhisattvas, Sound Hearers, Pratyeka-Buddhas, as well as those who have faith in the doctrine and sutras of Buddhism. The good knowledgeable advisors are those capable of teaching sentient beings to abandon the ten evils or ten unwholesome deeds, and to cultivate the ten wholesome deeds. Moreover, the good knowledgeable advisors' speech is true to the dharma and their actions are genuine and consistent with their speech. Thus, not only do they not kill living creatures, they also tell others not to kill living things; not only will hey have the proper view, they also will use that proper view to teach others. The good knowledgeable advisors always have the dharma of goodness, meaning whatever actions they may undertake, they do not seek for their own happiness, but for the happiness of all sentient beings. They do not speak of others' mistakes, but speak of virtues and goodness. There are many advantages and benefits to being close to the good knowledgeable advisors, just as from the first to the fifteenth lunar calendar, the moon will gradually become larger, brighter and more complete. Similarly, the good knowledgeable advisors are able to help and influence the learners of the Way to abandon gradually the various unwholesome dharma and to increase greatly wholesome dharma. (II) Cổ đức có dạy, “Thời nay muốn tìm minh sư, hay thiện hữu tri thức để gần gũi theo học, còn có chăng trong sách vở hay gương Thánh hiền, chứ còn trong vòng nhân tình đời nay, quả là hiếm có vô cùng.” Các ngài còn dạy thêm năm điều về thiện hữu tri thức như sau—Ancients taught, “Nowadays, if one wishes to find kind friends and virtuous teachers to learn and to be close to them, they may find these people in the shining examples in old books. Otherwise, if one searches among the living, it would be extraordinary hard to find a single person.” They also reminded us five things about good-knowing advisor as follows: 1) Đời nay trong 1.000 người mới tìm ra được một người lành: Nowadays, in 1,000 people, there is one good person. 2) Trong 1.000 người lành mới có một người biết đạo: In a thousand good people, there is one person who knows religion. 3) Trong 1.000 người biết đạo, mới có được một người tin chịu tu hành: In one thousand people who know religion, there is one person who has enough faith to practice religion. 4) Trong 1.000 người tu hành mới có được một người tu hành chân chánh: In one thousand people who practice religion, there is one person who cultivates in a genuine and honest manner. 5) Vậy thì trong 4.000 người mới tìm ra được bốn người tốt: Thus, out of four thousand people, we would find only four good people. (III) Phân loại Thiện Hữu Tri Thức—Categories of Good Knowing Advisors: Theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gởi Người Học Phật, có hai loại thiện hữu tri thức—According to Venerable Thích Hải Quang in the Leters to Buddhist Followers, there are two kinds of Good Knowing Advisors: 1) Nhơn gian thiện tri thức—Worldly good knowing advisors: a) Không tham, sân, xấu ác: There is no greed, hatred, evil, and wickedness. b) Giới hạnh tinh chuyên, đầy đủ oai nghi trong đi, đứng, ngồi, nằm: Maintain the precepts one vows to maintain; is always honorable and proper in every aspects of standing, walking, sitting, or lying down. c) Không tham lam tài, sắc, danh, thực, thùy, cũng như lợi lộc, tiền tài, của cải, và xa xỉ: Not to have greed for talent, form, fame, food, sleep, as well as profit, money, wealth, and luxury. d) Không tật đố ganh ghét: Not to have jealousy and envy. e) Không luyến ái xa hoa vật chất như chùa cao miễu rộng, xe cộ, ruộng vườn: Not to have attachment toward luxuries, such as great temples, fancy cars, large lands, etc. f) Tâm thường bình đẳng, nghĩa là xem người thân và kẻ oán như nhau: Mind is always fair and just. This is to say to look upon relatives and enemies as equal. g) Có pháp làm lợi cho mình, tức là hành đúng theo lời Phật dạy, ngôn hành tương ưng, hay nói và làm giống nhau: Having the proper dharma knowledge to benefit self. This is to say to be able to carry out conducts that are true to the Buddha's teachings, speech and action are consistent, or do what is said. h) Có pháp làm lợi cho người, nghĩa là đem chánh pháp của Phật giảng rộng ra và khuyến dắt người người tu niệm: Having proper dharma knowledge to benefit others. That is to say, capable of elaborating on the Buddha Dharma to guide and encourage others to practice and cultivate. i) Tùy theo căn tánh của mỗi người mà dùng pháp thích hợp để giáo hóa cho họ biết rõ phương tiện thiện xảo: Depending on each individual's level of cultivation, use the most appropriate and agreeable dharma to teach and guide that person to know how to apply the skillful means. j) Đủ pháp tổng trì, nghĩa là giữ điều thiện đừng để cho mất; và ngăn điều ác, không cho chúng sanh khởi: Have enough Dharma knowledge to have awareness and mindfulness. This means never lose sight of goodness and never allow evil to surface. k) Lòng luôn luôn nghĩ tưởng tốt hay tùy hỷ với mọi người: The mind always has good and kind thoughts toward others, or rejoices in others' wholesome accomplishments. l) Tu hành trong sạch, không phạm vào giới luật của Phật mà mình đã thọ: Cultivate with purity, do not violate the precepts established by the Buddha that we have vowed to maintain. m) Thân khẩu ý chẳng lầm lỗi: Mind, body and speech do not create transgressions. n) Thuyết pháp hay giảng luận nghĩa lý chi cũng đều khế hợp với ý kinh: Whether expounding the dharma, or explaining the meanings of anything, this should always be consistent and harmonious with the sutra teachings. o) Đặc biệt nhứt là khi thi ân cho người, chẳng cầu báo đáp, vì có cầu báo đáp thì chẳng phải là thi ân, mà là tính toán: Most importantly, when helping others never wish for that favor to be reciprocated, because to do so is not called helping, but is called planning for self-benefits. 2) Chân chánh đại thiện tri thức—Truly great knowing advisor: a) Có trí huệ hơn người: Have greater wisdom than anyone. b) Là người phước đức siêu quần: Are superior in virtues and merits. c) Tuyệt đối không một chỗ nào là không tốt lành cả: Absolutely nothing falls short of goodness and wholesomeness. This means everything they do is aimed toward goodness. d) Không một pháp nào là không biết hay không hiểu: There is no dharma that is not known and understood. e) Làm Thầy Tổ, và làm tai mắt cho cõi Trời Người: Is the Master and Patriarch, and is the eyes and ears for Gods and men. f) Là bậc trụ cột trong Phật pháp: Is the pillar in the Buddha Dharma. g) Cầm chân Đức Phật, là nhà lãnh đạo hay Tổ trong chốn tông môn: Holding on to the Buddha's feet, a leader or Patriarch in a particular dharma tradition. h) Mở cửa chánh đạo: Opens the door to the proper path. i) Trừ dẹp xấu ác: Eliminates evil and wickedness. j) Nối truyền cho Phật pháp ngày một thêm hưng thịnh: Continues the teachings of Buddha and makes the teachings more glorious with each day. k) Trí tuệ siêu quần hơn tất cả tam giới: Wisdom is greater than anyone in the three worlds. l) Giới đức thơm ngát tỏa khắp mọi nơi, người người đều kính ngưỡng: The incense fragrance of that person's virtues is everywhere, admired and respected by many. m) Lấy giáo pháp thậm thâm của Phật mà tuyên lưu đến tha nhân, khiến cho hạt giống Phật được trường tồn: Uses the Buddha's profound teachings to pass on to others; help maintain the Buddha's seeds eternally. n) Là một bậc đại căn, nghĩa là không ai hơn được về tài đức, công đức, và phước đức: At the Highest Cultivated Level. This means unrivaled in talents, virtues, and merits. o) Là một bậc đại hạnh: A great practitioner. p) Là một bậc đại nguyện: A great vow maker. q) Đầy đủ hai phần oai và đức khiến cho trời người trong ba cõi kính yêu: Has both the components of Majesty and Virtues, earning the love and respect of Gods and Men. (IV) Những lời Phật dạy về “Thiện Hữu Tri Thức” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Good Knowing Advisors” in the Dharmapada Sutra: 1) Nếu gặp được người hiền trí thường chỉ bày lầm lỗi và khiển trách mình những chỗ bất toàn, hãy nên kết thân cùng họ và xem như bậâc trí thức đã chỉ kho tàng bảo vật. Kết thân với người trí thì lành mà không dữ—Should you see an intelligent man who points out faults and blames what is blame-worthy, you should associate with such a wise person. It should be better, not worse for you to associate such a person (Dharmapada 76). 2) Những người hay khuyên răn dạy dỗ, cản ngăn tội lỗi kẻ khác, được người lành kính yêu bao nhiêu thì bị người dữ ghét bỏ bấy nhiêu—Those who advise, teach or dissuade one from evil-doing, will be beloved and admired by the good, but they will be hated by the bad (Dharmapada 77). 3) Chớ nên làm bạn với người ác, chớ nên làm bạn với người kém hèn, hãy nên làm bạn với người lành, với người chí khí cao thượng—Do not associate or make friends with evil friends; do not associate with mean men. Associate with good friends; associate with noble men (Dharmapada 78). 4) Được uống nước Chánh pháp thì tâm thanh tịnh an lạc, nên người trí thường vui mừng, ưa nghe Thánh nhơn thuyết pháp—Those who drink the Dharma, live in happiness with a pacified mind; the wise man ever rejoices in the Dharma expounded by the sages (Dharmapada 79). 5) Nếu gặp bạn đồng hành hiền lương cẩn trọng, giàu trí lự, hàng phục được gian nguy, thì hãy vui mừng mà đi cùng họ—If you get a prudent and good companion who is pure, wise and overcoming all dangers to walk with, let nothing hold you back. Let find delight and instruction in his companion (Dharmapada 328). 6) Nếu không gặp được bạn đồng hành hiền lương, giàu trí lự, thì hãy như vua tránh nước loạn như voi bỏ về rừng—If you do not get a prudent and good companion who is pure, wise and overcoming all dangers to walk with; then like a king who has renounced a conquered kingdom, you should walk alone as an elephant does in the elephant forest (Dharmapada 329). 7) Thà ở riêng một mình hơn cùng người ngu kết bạn. Ở một mình còn rảnh rang khỏi điều ác dục như voi một mình thênh thang giữa rừng sâu—It is better to live alone than to be fellowship with the ignorant (the fool). To live alone doing no evil, just like an elephant roaming in the elephant forest (Dharmapada (330).
thiện kiên
(善堅) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế sống vào đờiMinh, ngườiởCôn minh, tỉnh Vân nam, họ Đinh, tự là Cổ đình. Năm 11 tuổi, sư xuất gia ở chùa Ngũ hoa, pháp danh là Thiện hiền. Đầu tiên, sư đến Kim lăng tham yết ngài Vô tế Minh ngộ, được dạy câu Vạn pháp qui nhất; một hôm, sư xem kinh Viên giác, thoắt nhiên tỉnh ngộ. Năm 19 tuổi, sư tham lễ ngài Bá nham mới đổi tên là Thiện kiên. Năm Thiên đức thứ 10 (1435), sư đến núi Ung la ở Quí châu và từ đó đi vào Tứ xuyên. Khoảng năm Chính thống (1436-1449), sư lại đến chùa Long ân tham yết ngài Vô tế và được truyền tâm ấn. Sư từng trụ các chùa nổi tiếng như Đại dung sơn ở Hà bắc, chùa Thiên giới ở Kim lăng... sau, sư về Tứ xuyên sáng lập chùa Qui hóa.Năm Hoằng trị thứ 6 (1493), sư thị tịch, thọ hơn 80 tuổi, người đời gọi sư là Chiên đàn tôn giả. Sư để lại các tác phẩm: Vân thủy thạch tập, Cổ đình tổ sư ngữ lục tập lược 4 quyển. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].
thiện kiến
Xem A xà Thế.
; Sudarsana (S). Good to see, good for seeing, belle vue, etc. Another name of A xà thế Ajatasatru.
; Sudarsana (skt)—Beautiful to see—Good to see. ** For more information, please see Tô Đạt Lê Xá Na.
thiện kiến luật tì sa sa
(善見律毗娑沙) Pàli:Samantapàsàdikà. Cũng gọi Thiện kiến luận, Tì bà sa luật. Luật, 18 quyển, do ngài Tăng già bạt đà la dịch vào đời Nam Tề, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Sách này là 1 trong 5 bộ luận của luật bộ Tiểu thừa, nội dung chú thích tạng luật do Thượng tọa bộ Tích lan truyền. Quyển 1 đến quyển 4 nói về các cuộc kết tập kinh điển lần 1, lần 2, lần 3; về sự truyền trì tạng Luật và về việc ngài Ma hi đà –con vua A dục– đến Tích lan truyền đạo. Từ quyển 4 trở đi, chủ yếu là chú thích luật Tứ phần, chia làm 4 thiên: Tỉ khưu giới, Tỉ khưu ni giới, Khiên đà già và Đại đức Xá lợi phất vấn Ưu bali luật ô xuất phẩm. So sánh bộ luật này với bộ luật Nhất thiết thiện kiến (Samantapàsàdikà, tức sách chú thích tạng LuậtPàli, do Luận sư Phật âm soạn ở Tích lan vào đầu thế kỉ V, Tây lịch) bảnPàli Nam truyền thì thấy có rất nhiều chỗ không nhất trí với nhau, vì thế không nên trực tiếp coi Nhất thiết thiện kiến luật bảnPàli là nguyên bản của bộ luật này, chỉ có thể xác định bộ luật này đã căn cứ vào Nhất thiết thiện kiến luật bản Pàli mà có, đại khái là bản sao dịch từ bản Pàli. Lại nữa, pháp Ba dật đề được ghi trong bộ luật này gồm 90 điều và trong pháp Chúng học có phụ thêm những điều về tháp Phật, do đó mà thấy rõ bộ luật này đã chịu ảnh hưởng của luật Tứ phần. Cũng có thuyết cho rằng sách này chính là sách chú thích luật Tứ phần. Tuy nhiên, những câu văn chú thích trong sách này thường không ăn khớp với luật Tứ phần, cho nên giữa các học giả cũng có người không đồng ý. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 11 thì Tam tạng Pháp sư(có lẽ chỉ cho ngài Phật âm ?), từng mang tạng Luật đến Quảng châu giao cho đệ tử là Tăng già bạt đà la. Năm Vĩnh minh thứ 6 (488), ngài Tăng già bạt đà la và sa môn Tăng y cùng dịch ra chữ Hán ở chùa Trúc lâm. Đồng thời, sách này ghi rằng khi dịch xong, ngài Tăng già bạt đà la đem hoa thơm cúng dường tạng Luật, rồi chấm một chấm(biểu thị một năm), bấy giờ cộng tất cả đã được 975 chấm, đây chính là thuyết Chúngthánh điểm kí(các Thánh ghi chấm). Ngoài ra, từ năm 1924 về sau, Nhất thiết thiện kiến luật bảnPàli được 2 học giả người Nhật bản là Cao nam Thuận thứ lang và Trường tỉnh Chân cầm cùng chung sức kiểm xét, sửa chữa và xuất bản. Về chú sớ thì có bảnPàli:Sàratthadìpaniỉìkà.[X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 11; Pháp kinhlục Q.5, Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8; Luật tông cương yếu; Căn bản Phật điển nghiên cứu (Trường tỉnh Chân cầm).
thiện kiến lập chi đề
Suppatittha-cetiya (S)Thiện An trụ tháp, Thân sắt tri lâmRừng gậy, nơi có lần Phật thuyết pháp cho vua Tần bà sa la và quần thần.
Thiện kiến thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
; 善見天; C: shànjiàn tiān; J: zenken ten; S: sudarśanāḥ.|»Tầng trời của cái nhìn thiện«. Tầng trời thứ 7 trong 8 cõi trời thuộc Tứ thiền thiên của Sắc giới. Cũng được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới.
thiện kiến thiên
Sudṛsa (S), Sudassana (P), Sudassideva (P), Sudassi (P)Tên một trong 9 cõi trời Tứ thiền.Chư thiên thấy được thế giới trong 10 phương, không có bụi nhơThiện Hiện thiênChư thiên ở cõi Thiện HiệnXem Tu đới thiên.
; Sudarsana (S). A heaven of the fourth dhyàna in the Realm of Form.
; (善見天) Thiện kiến, Phạm: Sudarzana. Pàli:Sudassana. Hán âm: Tu đề xá na, Tu đà thi ni, Tu đạt lê xá na, Tu đà thi. Cũng gọi Đại thiện kiến thiên, Thiện hảo kiến thiên, Thiện quán thiên, Khoái kiến thiên, Diệu kiến thiên. Một trong 18 tầng trời cõi Sắc, chỉ cho tầng trời thứ 4 trong 5 tầng trời Tịnh cư, tức là tầng trời thứ 2 trong Đệ tứ thiền cõi Sắc. Chư thiên ở cõi trời này nhờ có định lực thù thắng mà cái thấy được rõ suốt, nên gọi là Thiện kiến. Cũng chỉ cho cung điện trong thành Thiện kiến, là nơi ở của trời Đế thích. Cứ theo luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì do nghiệp tương ứng với Tứ thiền tối thượng phẩm, cung kính siêng tu, được huân tập bởi tạp giác phần, nhờ nghiệp này mà được sinh về cõi trời Thiện hiện, nếu nhiều hơn gấp 10 lần thì sinh lên cõi trời Thiện kiến. Luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2 và luận Chương sở tri quyển thượng cho rằng thiên chúng ở cõi trời này sống tới 8 nghìn kiếp, thân cao 8 nghìn do tuần. Trong các kinh luận cũng có chỗ nói thọ 4 nghìn kiếp, 40 kiếp, 1500 đại kiếp... [X. phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại lâu thán Q.1, 4; kinh Khởi thế Q.1, 7; luận Lập thế a tì đàm Q.6; luận Thuận chính lí Q.21; luận Tập dị môn túc Q.14]. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên, Sắc Giới).
Thiện kiến thiên 善見天
[ja]ゼンケンテン zenken ten ||| The heaven of good sight (sudarśanāḥ), which is the seventh of the eight heavens included in the fourth dhyāna of the form realm 四禪天. Also listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => (s: sudarśanāḥ). Tầng trời thứ bảy trong tám cõi trời thuộc Tứ thiền thiên của Sắc giới. Cũng được xếp vào một trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên 色界十七天).
thiện kiến thành
Sudarsana (skt)—A Good-To-Behold City—See Thiên Đế Thích Thành.
; (善見城) Cũng gọi Hỉ kiến thành, Thiên đế thích thành. Chỉ chocungthành ở chính giữa cõi trời Đao lợi trên đỉnh núi Tu di, là nơi cư trú của trời Đế thích. Cứ theo luận Đại tì ba sa quyển 133 và luận Câu xá quyển 11 thì 4 mặt thành Thiện kiến mỗi bề rộng 2500 do tuần, cao 1,5 do tuần, đất đai bằng phẳng, được tạo thành bằng vàng ròng và trang nghiêm bằng các thứ báu; mặt đất mềm mại như bông đâu la, gió nhẹ thổi hoa héo đi, rồi rải hoa mới tươi tắn. Thành có nghìn cửa, do 500 vị thần Dược xoa mặc áo màu xanh canh giữ. Trong thành có điện Đại thù thắng, được trang trí bằng các thứ báu vi diệu. Ở 4 góc thành có 4 đài quán, do 4 thứ báu như vàng, bạc... tạo thành. Phía ngoài thành, có 4 khu vườn là: Chúng xa, Thô ác, Tạp lâm, Hỉ lâm, mỗi khu đều chu vi 1000 do tuần, là những nơi chư thiên vui chơi. Ở phía tây nam bên ngoài thành có Thiện pháp đường, là nơi các thiên chúng nhóm họp vào 3 ngày trai để bàn luận rõ việc thiện ác ở cõi người và cõi trời, đồng thời chế phục A tu la. [X.kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế Q.6; kinh Chính pháp niệm xứ Q.26, kinhƯu bà tắc giới Q.1; luận Du già sư địa Q.4].
thiện kiến vương
Piyadasi (P)Tức vua A dục.
thiện kiếp
Bhadrakalpa (S). A good kalpa, especially that in which we now live.
; Bhadrakalpa (skt)—Tên khác của Hiền Kiếp—A good kalpa, especially that in which we live—See Hiền Kiếp.
thiện lai
Susyagata (S), Svāgata (S), Sagata (P)Sa yết đà, Tô yết đà, Tu đà giàTên một vị sư.
; Svàgata, susvàgata (S). "Welcome"; well come, a title of Buddha.
; Svagata, or Suvagata (skt)—Welcome! 1) Từ mà các vị Tỳ Kheo Ấn Độ dùng để hoan nghênh những người đến chùa: The term which Indian Bhiksus used to welcome those who come to the monastery. 2) Trong kinh điển Pali có ghi lại, xưa khi muốn nhận ai vào Tăng đoàn, Phật chỉ nói “Thiện lai, Tỳ kheo!”—The Pali scriptures say that the Buddha once accepted his followers into the monkhood, simply by saying “Welcome, monk!” 3) Danh hiệu của Phật: A title of a Buddha—See Thiện Thệ.
; (善來) I. Thiên Lai. Phạm:Svàgata. Pàli:Sàgata. Hán âm: Sa kiệt đà, Sa yết đa, Sa bà yết đa. Lời khách sáo mà các vị tỉ khưu ở Ấn độ dùng để đón khách đến, có nghĩa là: Thật quí hóa ông đã đến!. ĐiềuKhách cựu tương ngộ trong Nam hải kí qui nội pháp truyện nói rằng: Theo lễ phép của chúng tăng trong các chùa ở Ấn độ, khi có khách đến thì đệ tử, học trò phải nói trước với khách là Sa yết đa, khách liền đáp Tốt sa yết đa (Phạm: Susvàgata, Hán dịch: Cực thiện lai). Khi đức Phật gọi tỉ khưu là Thiện lai tỉ khưu thì vị tỉ khưu ấy liền được giới Cụ túc, đó gọi là Thiện lai đắc, là 1 trong 10 thứ nhân duyên được giới; đây là tác pháp đặc biệt chỉ một mình đức Thích tôn truyền trao được mà thôi. Tức là do nguyện lực của người ấy và sức uy thần của Phật, Phật hướng về phía người muốn xuất gia gọi Thiện lai tỉ khưu thì người ấy liền là sa môn, đầy đủ tướng cạo tóc, mặc ca sa, được giới Cụ túc. Từ ngữ Thiện lai tỉ khưu được sử dụng lần đầu tiên khi 5 vị tỉ khưu đứng đầu là ngài Kiều trần như qui y đức Thích tôn. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 7 thì lúc đức Phật còn tại thế, những người đắc giới theo tác pháp này gồm 1341 người. Còn theo luật Tứ phần thì trong 8 loại tỉ khưu: Danh tự tỉ khưu, Tương tự tỉ khưu, Tự xưng tỉ khưu, Thiện lai tỉ khưu, Khất cầu tỉ khưu, Trước cát tiệt y tỉ khưu, Phá kết sử tỉ khưu và Thụ đại giới bạch tứ yết ma như pháp thành tựu đắc xứ sở tỉ khưu, loại Thiện lai tỉ khưu được xếp vào hàng thứ 4, là 1 trong các hình thức xuất gia khi chưa chế định tác pháp thụ giới Cụ túc. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 15 (Đại 2, 621 hạ) nói: Theo pháp thường của chư giờ, đức Thế tôn bảo ngài Ca diếp rằng: Thiện lai tỉ khưu! Pháp này vi diệu, khéo tu phạm hạnh. Lúc ấy, tất cả áo xiêm mà ngài Ca diếp và 500 đệ tử mặc trên mình đều biếnlàm ca sa, tóc trên đầu tự rụng, giống như mới cạo tóc được 7 ngày. [X. kinh Thủ trưởng giả trong Trung a hàm Q.9; kinh Phật bản hành tập Q.34; kinh Tì ni mẫu Q.1; luật Tứ phần Q.32; luật Ngũ phần Q.15; luật Ma ha tăng kì Q.23; luật Thập tụng Q.56; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.2; luận Câu xá Q.14]. II.Thiện Lai. Phạm:Svàgata. Pàli:Sàgata. Cũng gọi Sa bà yết đa, Sa già đà, Tu già đà. Tên vị tỉ khưu ở thời đức Phật, là con của Trưởng giả Phù đồ (Phạm: Bodha) ở núi Thất thu ma la (Phạm: Suôsumàragira) thuộc nước Kiêu thiểm tì (Pàli:Kosambì). Vì bẩm tính bạc phúc, phá tán hết gia sản, cuối cùng phải đixin ăn để sống còn, nên người đời gọi sư là Ác lai (Phạm:Duràgata). Về sau này, sư được gặp đức Thích tôn, Ngài bảo đem hoa sen xanh cúng dường chúng tăng, sư liền nhớ lại đời trước mình từng tu Thánh xứ quán. Sau, sư lại được nghe đức Thích tôn giảng nói diệu pháp, chứng được Sơ quả, bèn cạo tóc xuất gia, phát tâm mạnh mẽ, cuối cùng chứng được quả A la hán. Đức Thích tôn bảo sư đến núi Thất thu ma la hàng phục con rồng dữ, sư đến chỗ con rồng, nhập định Hỏa quang, dùng sức thần thông điều phục con rồng. Có lần, sư đến thành Thất la phiệt nhận sự cúng dường của 1 nhà Bà la môn, không biết trong nước có lẫn rượu, nên khi sư uống vào bị say nằm lăn ra đất; đức Phật liền giảng nói về lỗi uống rượu, đây chính là nguyên nhân đức Phật chế giới cấm uống rượu. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh A la hán cụ đức; kinh Sa hạt tỉ khưu công đức;Ẩm tửu học xứ trong Hữu bộ tì nại da Q.42; luật Tứ phần Q.16].
Thiện Loan
(善鸞, Zenran, ?-1286 [1296]): vị Tăng của Chơn Tông, sống vào khoảng giữa và cuối thời kỳ Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 2 của Hào Nhiếp Tự (毫攝寺) thuộc Phái Xuất Vân Tự (出雲寺派); húy là Thiện Loan (善鸞), thông xưng là Cung Nội Khanh (宮內卿); hiệu Từ Tín Phòng (慈信房), con của Thân Loan (親鸞, Shinran). Sau khi Thân Loan lên kinh đô, thì xảy ra cuộc dao động trong chúng môn đệ của ông ở vùng Quan Đông (關東, Kantō), nên ông mới cử Thiện Loan làm sứ xuống vùng này để trấn an, nhưng sau đó thì Thiện Loan đã trở thành nhân vật trung tâm của nhóm môn đệ ấy, tạo ra rất nhiều điều dị nghị, rồi tố cáo việc làm sai trái của môn đệ lên chính quyền Mạc Phủ ở Liêm Thương. Chính vì lẽ đó, vào năm 1256, Thân Loan đã đoạn tuyệt tình cha con với ông. Về sau, ông làm thủ lãnh của nhóm thầy cúng cầu đảo. Về năm mất của ông, có nhiều thuyết khác nhau, hiện vẫn chưa nhất trí.
thiện luật nghi
Xem Cấm giới.
; Good rules and customs.
; (善律儀) Cũng gọi Luật nghi (Phạm: Saôvara), Thiện giới. Đối lại:Ác luật nghi. Luật nghi thiện. Luật nghi, chỉ cho nghi thức giới luật. Thiện luật nghi chỉ cho Vô biểu sắc mà người thụ giới có được, có công năng ngăn dứt điều sai trái, xấu ác. Các Biệt giải thoát luật nghi như giới Tỉ khưu, giới Tỉ khưu ni, 6 pháp, giới Sa di, giới Sa di ni, giới Ưu bà tắc, giới Ưu bà di, giới Bát quan trai... đều có công năng ngăn ngừa các thứ bất luật nghi; hai loại Định cộng giới và Đạo cộng giới có công năng dứt ác giới dục triền và các phiền não có công năng sinh khởi ác giới; Biệt giải thoát luật nghi, Định cộng giới và Đạo cộng giới được gọi chung là Thiện luật nghi. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 96 thì Thiện luật nghi chỉ có ở cõi Dục và cõi Sắc, chứ khôngcóở cõi Vô sắc. Điều này là vì trong 3 cõi, chỉ ở cõi Dục và cõi Sắc là có đủ các loại pháp ác giới, còn cõi Vô sắc thì do đối lại với ác giới cõi Dục, có đủ tác dụng của Tứ viễn là sở y viễn, sở duyên viễn, hành tướng viễn và đối trị viễn, cho nên không có các pháp ác giới; vì không có ác giới nên cũng không có việc đối trị, do đó cũng không có thiện giới. [X. Luận Đại tì bà sa Q.117; luận Câu xá Q.14, 15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Thuận chính lí Q.36, 39; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết Q.trung, phần 1; Đại thừa nghĩa chương Q.12].
thiện lân quốc bảo kí
(善鄰國寶記) Tác phẩm, 3 quyển, do vị tăng tông Lâm tế Nhật bản là Thụy khê Chu phụng soạn. Nội dung sách này sưu tập các kí sự và văn thư qua lại giữa Trung quốc, Hàn quốc và Nhật bản từ khi 3 nước bắt đầu giao thông với nhau cho đến năm Minh đức thứ 3 (1392) đời Thiên hoàng Hậu tiểu tùng của Nhật bản. Phần ghi chép trong quyển trung là do người đời sau bổ sung thêm. Về những sách tiếp theo sách này thì có: Tục thiện lân quốc bảo kí 1 quyển, Tục thiện lân quốc bảo ngoại kí 1 quyển và Thiện lân quốc bảo biệt kí 1 quyển. Sách này và 2 tác phẩm Tục thiện lân quốc bảo kí, Tục thiện lân quốc bảo ngoại kí đều được thu vào Cải định sử tịch tập lãm tập thứ 21, Tục quần thư loại từ tập 30 trở lên. [X. Nuy bản thư tịch khảo 4; Quần thư bị khảo 17; Bản triều cao tăng truyện Q.42].
thiện lập định vương tam muội
Xem Tam muội vương an lập Tam muội.
thiện ma mạt lạt nam
Janma-marana (skt)—Sanh tử—Birth and death. ** For more information, please see Sanh Tử and Nhị Chủng Sanh Tử.
thiện mỹ
Beautiful.
thiện nam
Xem Ưu bà tắc.
; Xem Ưu bà tắc.
thiện nam thiện nữ
(善男善女) Gọi đủ: Thiện nam tử (Phạm: Kulaputra), thiện nữ nhân (Phạm: Kuladuhitri,Kula-duhìtà). Chỉ cho người nam, người nữ có tâm lương thiện. Trong kinh điển, tiếng xưng hô này thường được dùng đối với chúng tại gia. Thiện là từ khen ngợi những người do tin Phật nghe pháp mà tu các thiện nghiệp. Theo kinh Thắng man thì những điều kiện để trở thành thiện nam tử, thiện nữ nhân là xả bỏ ngã chấp, ngã ý, chí tâm qui y đức Phật. Trong A di đà kinh thông tán, ngài Khuy cơ nói rằng: Thiện nam tử,thiện nữ nhân là Ưu bà tắc, Ưu bà di trong tiếng Phạm, tức là những người nam, nữ tại gia giữ gìn 5 giới. Cũng có các thuyết khác, như trong kinh Tạp a hàm quyển 30, các tỉ khưu cũng được gọi là Thiện nam tử. Còn trong kinh điển Đại thừa thì đối với Bồ tát thì gọi là Thiện nam tử, đối với tỉ khưu thì phần nhiều gọi tên, nhưng cũng có khi gọi tỉ khưu là Thiện nam tử. Trong A di đà kinh sớ, ngài Chu hoành đời Minh nêu ra 2 nghĩa của chữ Thiện, một là thiện nhân đời trước, hai là thiện loại đời này, nam nữ chỉ chung cho tăng tục lợi độn và tất cả chúng sinh hữu tình trong 6 đường. Đó là vì hết thảy nam nữ, ngày nay được nghe pháp là nhờ đời trước đã tu nhiều thiện căn, nên gọi là thiện nam, thiện nữ. Các nhà chú thích đời sau phần nhiều y cứ theo 2 thuyết này. Thiện nam, thiện nữ thông thường cũng gọi là thiện nam, tín nữ nay là từ gọi chung các tín đồ.[X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Thập pháp; chương Chân tử trong kinh Thắng man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; phẩm Thụ học vô học trong kinh Pháp hoa (bản tiếng Phạm)].
thiện nam tín nữ
Good men and believing women.
; Good men and believing (good) women—Good son and good daughter—Believers in Buddhism.
Thiện nam tử
善男子; C: shàn nánzí; J: zennanshi; |Có các nghĩa sau: 1. Người con trai có căn lành, hoặc con trai của gia đình có thiện căn, một trong những danh xưng đức Phật thường gọi đệ tử, tương tự như »người cao quý«. Người có niềm tin chân chính (s: kula-putra); 2. Được dùng để gọi chúng sinh hữu tình hơn là gọi tăng sĩ Phật giáo; 3. Ông, anh.
thiện nam tử
Kulaputri (S).
; Good sons, or sons of good families. one of the Buddha's term of address to his disciples, somewhat resembling "gentlemen".
; Những đứa con của những gia đình tốt; từ Đức Phật dùng để gọi những người tại gia hay xuất gia mà tín tâm nghe và hành trì Phật pháp—Good sons—Sons of good families—Gentlemen—One of the Buddha's terms to address to his disciples.
thiện nam tử thiện nữõ nhân
Good men and believing women—See Thiện Nam Tử.
Thiện nam tử 善男子
[ja] ゼンナンシ zennanshi ||| (1) "Good sons," or "sons of good families;" one of the Buddha's terms of address to his disciples, similar to "gentlemen." One possessing correct faith (kula-putra). (2) Used in addressing bodhisattvas rather than Buddhist priests. (3) You. => Có các nghĩa sau: 1. Người con trai có căn lành, hoặc con trai của gia đình có thiện căn, một trong những danh xưng đức Phật thường gọi đệ tử, tương tự như “người cao quý”. Người có niềm tin chân chính (s: kula-putra). 2. Dùng để gọi chúng sinh hữu tình hơn là gọi tăng sĩ Phật giáo. 3. Ông, anh.
Thiện nghiệp
善業; C: shànyè; J: zengyō;|Việc làm tốt, hành động tốt lành, nghiệp lành. Hành xử theo cách để đêm lại kết quả tốt đẹp trong tương lai. Thực hành năm giới hay Mười việc thiện (s: sucarita, śubhaṃ-karma; t: dge baḥi las).
thiện nghiệp
Kuśala kamma (P), Kuśala-karma (S)Xem Tu bồ đề.
; Punyakarma (S). Meritorious action. Also Nghiệp lành.
; Wholesome karma—Good karma—Good deeds—Skillful action—Kusala karma.
; (善業) Đối lại:Ác nghiệp, Bất thiện nghiệp. Chỉ cho nghiệp thiện. Tức các nghiệp do thân, khẩu, ý tạo tác, có công năng manglại quả thiện. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 90 thì sự kiến tạo nghiệp thiệnlày theo như lí tác ý, như thực biết rõ cảnh sở duyên, đồng thời rõ biếtkết quả. Trái lại, nghiệp ác thì y theo tà tâm chấp trước, đối với cảnh sở duyên không rõ biết đúng như thực. Thông thường có các loại Thiện nghiệp khác nhau như 5 giới cấm, 10 việc thiện... [X. luận Đại tì bà sa Q.24, 29; luận Câu xá Q.15, 16; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Du già sư địa Q.89; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8; Câu xá luận quang kí Q.15]. (xt. Thập Thiện Thập ác, Thiện).
Thiện nghiệp 善業
[ja] ゼンギョウ zengyō ||| Good actions; wholesome activity; good karma. To act in such a way as to bring positive results in the future. To practice the five precepts 五戒, or ten wholesome actions 十善. (Skt. sucarita, śubhaṃ-karma; Tib. dge baḥi las. 〔華嚴經, T 278.9.395a-788b〕 => Việc làm tốt, hành động tốt lành, nghiệp lành. Hành xử theo cách để đêm lại kết quả tốt đẹp trong tương lai. Thực hành năm giới hay Mười việc thiện (Skt. sucarita, śubhaṃ-karma; Tib. dge baḥi las).
thiện nghệ
To have experience in one's profession—To be skilled in one's trade.
thiện nguyệt
Ba tháng tốt để ăn trường chay như tháng giêng, tháng năm và tháng chín; vì trong ba tháng nầy quỷ thần sẽ đi rảo để báo cáo về hành vi của thế nhân—Good months, i.e. the first, fifth and ninth; because they are the most important in which to do good works and thus obtain a good report in the spirit realm.
; (善月) I. Thiện Nguyệt. Tháng lành. Tức chỉ cho 3 tháng ăn chay trường trong 1 năm, đó là tháng 1, 5, 9. Trong khoảng thời gian 3 tháng này giữ trường trai, làm việc thiện, vì thế gọi là Thiện nguyệt. Theo điềuThiện nguyệt, chương Chúc li trong Sắc tuBách trượng thanh qui quyển thượng thì 1 ngày trước Thiện nguyệt, trong Thiền viện, vị Duy na phải bảo vị Đường tư hành giả đến thưa vị Trụ trì, Khố ti và treo bảng Thiện nguyệt trước cửa điện, đồng thời sắp đặtđầy đủkinh đơn, sổ ghi luân phiên của chư tăng...; mỗi ngày dóng chuông lớn, lên điện đọc kinh chúc tán, hết tháng mới xong. (xt. Tam Trai, Thần Thông Nguyệt). II. Thiện Nguyệt (1149-1241) Danh tăng Trung quốc thuộc tông Thiên thai sống vào đời Nam Tống, người ở Định hải, Tứ minh (Trấn hải, Chiết giang), họ Phương, tự Quang viễn, hiệu Bách đình. (xt. Bách Đình).
thiện ngôn
Good word.
; Good words.
thiện nha
Sudāna (S), (S, P).
; Sudàna (S). A former name of the Buddha. Also Tô đạt nã.
; Sudanta (skt)—Good teeth.
Thiện nhân
善人; C: shànrén; J: zenjin;|Người tốt. Khi tái sinh làm thân người, được kể là sinh vào 1 trong »sáu (hoặc 5) đường«. Thường có nghĩa ngụ ý biểu hiện thiện nghiệp, và như thế, có liên quan đến sự tái sinh trong ba đường thấp kém, biểu hiện cho nghiệp bất thiện.
thiện nhân
A good man, especially one who believes in Buddhist ideas of causality and lives a good life.
; 1) Nhân do thiện căn mà tạo ra thiện quả: A wholesome cause will produce a wholesome result (good fruit). 2) Một người tốt, tin theo thuyết nhân quả của Phật Giáo và sống một đời thiện lành: A good man—An honest man, especially one who believes in Buddhist ideas of causality and lives a good life.
thiện nhân thiền
(善人禪) Thiền của những người có thiện căn tu, là thứ 5 trong 9 thứ Thiền Đạithừa. Thiền định này bao nhiếp tất cả thiện pháp, được chia làm 5 thứ: 1. Bất vị trước: Không đắm vị. Nghĩa là loại thiền này không tham đắm vị của Thiền định. 2. Từ tâm câu: Từ tâm cùng lúc. Nghĩa là tâm thương nhớ chúng sinh đồng thời sinh khởi với Thiền định. 3. Bi tâm câu: Bi tâm cùng lúc. Nghĩa là tâm thương xót chúng sinh khởi lên đồng thời với Thiền định. 4. Hỉ tâm câu: Tâm mừng rỡ cùng lúc. Nghĩa là tâm mừng rỡ khi thấy chúng sinh lìa khổ được vui khởi lên đồng thời với Thiền định. 5. Xả tâm câu: Tâm không thương không ghét cùng lúc. Nghĩa là tâm bình đẳng sinh khởi đồng thời với Thiền định. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, thượng; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ]. (xt. Cửu Chủng Đại Thiền).
Thiện Như
(善如, Zennyo, 1333-1389): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Nam Bắc Triều, vị Tổ kế thế đời thứ 4 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Tuấn Huyền (俊玄), tục danh là Bá Kỳ Thủ Tông Khang (伯耆守宗康), tên lúc nhỏ là Quang Dưỡng Hoàn (光養丸), thông xưng là Đại Nạp Ngôn (大納言), hiệu là Thiện Như (善如); xuất thân từ vùng Kyoto, con trai đầu của Tùng Giác (從覺, người con thứ 2 của Giác Như). Năm1346, ông sao bổn lại bức tranh Thân Loan Truyện Hội (親鸞傳繪). Năm 1351 thì kế chức trú trì Bổn NguyệnTự. Đến năm 1360, ông sao chép cuốn Giáo Hành Tín Chứng Diên Thư (敎行信証延書). Cùng năm đó thì Tùng Giác qua đời, ông vẽ hình tượng cha mình, rồi nhờ Tồn Giác (存覺, Zonkaku) ghi bài tán vào. Năm1375, ông nhường chức lại cho Xước Như (綽如, Shakunyo), rồi năm 1381 thì viết sớ quyên tiền tu sửa miếu đường ở vùng Đại Cốc (大谷).
thiện nữ
Xem Ưu bà di.
thiện nữ nhân
Kuladuhitra (S), Kuladhita (S).
thiện nữ nhân truyện
(善女人傳) Truyện kí, 2 quyển, do ôngBành tế thanh soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này thu chép sự tích các phụ nữ xưa nay qui y Tam bảo, có để lại những việc tốt đẹp. Quyển thượng thu chép sự tích của 80 người như Dương thiều hoa, Kỉ thị... Quyển hạ thu chép sự tích của 50 người như Hoàng hậu Nhân hiếu Từ tinh, Hạ vân anh...
thiện pháp
Kuśala-dharma (S), Kusala-dhamma (P).
; Kusala-dharma (S). Meritorious action, good dharma.
; Good method—Good law—Good ways.
; (善法) Phạm: Kuzalà dharmà#. Đối lại:Ác pháp. Từ ngữ gọi chung tất cả đạo lí hợp với lẽ Thiện, tức chỉ cho Ngũ giới, Thập thiện, Tam học, Lục độ... Ngũ giới, Thập thiện là thiện pháp thế gian, Tam học, Lục độ là thiện pháp xuất thế gian. Hai loại thiện pháp này tuy có sâu, cạn khác nhau, nhưng đều là các pháp thuận với đạo, ích cho đời, vì thế gọi là Thiện pháp. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 35 (Đại 24, 382 hạ) nói: Nhân dân trong nước mỗi ngày thấy tăng lên, thiện pháp thì không tổn giảm. [X. Vãng sinh yếu tập Q.trung].
thiện pháp dục
Kuśalo-dharma-cchanda (S)Tham dục khởi lên do duyên theo pháp vô lậu.
; (善法欲) Phạm: Kuzalo dharma-cchanda#. Chỉ cho tham dục duyên theo pháp vô lậu mà khởi. Luận Câu xá quyển 19 (Đại 29, 102 trung) nói: Nếu duyên vô lậu thì chẳng phải là lỗi, như thiện pháp dục, không nên lìa bỏ (...) Trụ ở cõi dưới mà tâm cầu cõi trên, đó là thiện pháp dục, chứ không phải thụy miên. Nhưng, trong Thành dy thức luận thuật kí quyển 6 phần cuối, ngài Khuy cơ nói (Đại 43, 444 thượng): Các sư Tát ba đa cho rằng duyên Vô lậu tham là thiện pháp dục; nay Đại thừa chủ trương yêu thương Phật, tham tịch diệt đều thuộc nhiễm ô. Tức cho rằng thiện pháp dục là thiện của Tiểu thừa, còn Đại thừa thì cho đó là nhiễm ô. [X. luận Du già sư địa Q.21].
Thiện pháp hạnh
善法行; C: shànfăxíng; J: zenhōgyō;|Giai vị thứ 9 trong Thập hạnh (十行) của Bồ Tát đạo.
Thiện pháp hạnh 善法行
[ja] ゼンホウギョウ zenhōgyō ||| 'Skillfully teaching the dharma.' The ninth of the 'ten practices' 十行 stages in the path of bodhisattvahood. => Giai vị thứ chín trong Thập hạnh của Bồ-tát đạo.
thiện pháp hữu lậu
Good deeds done in a mortal body is rewarded accordingly in the character of another mortal body.
thiện pháp mạ
(善法駡) Giả mượn danh nghĩa việc thiện để hủy nhục người, hoặc để chê bai, châm biếm người, gọi là Thiện pháp mạ, như nói Ông thực là đại thiện nhân. Trái lại, dùng ác pháp để mắng nhiếc, sỉ vả người gọi là Ác pháp mạ, như nói Mi là đồ súc sinh! . [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 3].
thiện pháp phái
Saddhammaikāya (P)Một tông phái Phật giáo ở Miến điện từ giữa thế kỳ 18.
; (善法派) Pàli: Saddhammanikàya. Một phái khác của Phật giáo Thượng tọa bộ ở Miến điện, tiền thân là phái Toàn triền(phái mặc ca sa che kín cả 2 vai), tên gọi này có từ hội nghị Thiện pháp pháp sư do vua Mạnh vân (Bodawpaya, ở ngôi 1782-1819) triệu tập và khai mạc. Thời vua Mẫn đông (Mindon, ở ngôi 1853- 1878), phái này được gọi là Vĩnh phái, A vân phái, Đại chúng phái, Cam phái. Sau, vào thời vua Thi bạc (Thibaw, ở ngôi 1878- 1885) phái này cùng phái Thụy cầm chia ra và chínhthức thành lập, cho đến nay vẫn là 1 phái Phật giáo lớn nhất ở Miến điện. Giáo nghĩa của phái này đặc biệt xem trọng việc tích đức, làm thiện và nghiệp báo; giới luật tương đối rộng rãi, được phép mặc áo bằng tơ lụa, hoặc áo không phải đượcmay bằng những mảnh vải vụn, cũng được nhận tiền tài do tín đồ bố thí. Cơ quan cao nhất của phái này là Hội nghị Thiện pháp pháp sư.
Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh
善法方便陀羅尼經; C: shànfă fāngbiàn tuóluóníjīng; J: zembō hōben daranikyō; S: sumukha-dhāraṇī; T: sgo bzang po shes bya ba'i gzungs.|Hiện đang lưu hành 5 bản dịch tiếng Hán:|1. Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh (善法方便陀羅尼經), 1 quyển, dịch giả Vô danh.|2a. Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni kinh (金剛祕密善門陀羅尼經), 1 quyển, dịch giả Vô danh.|2b. Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni chú kinh (金剛祕密善門陀羅尼呪經); 1 quyển, dịch giả Vô danh.|3. Hộ mệnh pháp môn thần chú kinh (護命法門神呪經), 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chí (菩提流志) dịch.|4. Diên thọ diệu môn đà-la-ni kinh (延壽妙門陀羅尼經), 1 quyển, Pháp Hiền (法賢) dịch.
Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh 善法方便陀羅尼經
[ja] ゼンボウホウベンダラニキョウ Zembō hōben daranikyō ||| The Shanfa fangbian tuoluonijing; Skt. Sumukha-dhāraṇī; Tib. sgo bzang po shes bya ba'i gzungs [To.614/915, P.309/540]; (Dhāraṇī of the Fine Means of Access). Five Chinese translations are extant: (1) 1 fasc. (T 1137.20.580-581), Dhāraṇī of the Fine Means 善法方便陀羅尼經, trans. unknown. (2a) 1 fasc. (T 1138a.20.581-583), Dhāraṇī of the Adamantine Secret of the Fine Portal 金剛祕密善門陀羅尼經, trans. unknown. (2a) 1 fasc. (T 1138b.20.583-584), Dhāraṇī Spell of the Adamantine Secret of the Fine Portal 金剛祕密善門陀羅尼呪經, trans. unknown. (3) 1 fasc. (T 1139.20.584-587), Incantation of the Dharma-Door to Preserving One's Life 護命法門神呪經, trans. Bodhiruci 菩提流志. (4) 1 fasc. (T 1140.20.587-590), Dhāraṇī of the Superb Door to an Extended Lifespan 延壽妙門陀羅尼經, trans. Faxian 法賢. BGBT4/107-9. => Skt. Sumukha-dhāraṇī; Tib. sgo bzang po shes bya ba'i gzungs. Hiện đang lưu hành 5 bản dịch tiếng Hán: 1. Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh; 1 quyển, , dịch giả Vô danh. 2a). Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni kinh; 1quyển, dịch giả Vô danh. (2a). Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni chú kinh; 1quyển, dịch giả Vô danh. 3. Hộ mạng pháp môn thần chú kinh, 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chí dịch. Diên thọ diệu môn đà-la-ni kinh; 1quyển, Pháp Hiền dịch.
thiện pháp đường
(善法堂) Tòanhà nằm ở góctây nam ngoại thành Thiện kiến trên đỉnh núi Tu di, là nơi các Thiên chúng cõi trờiĐao lợi hội họp. Cứ vào 3 ngày trai thì chư thiên họp ở tòa nhà này để thảo luận về các việc thiện, ác ở cõi người và cõi trời, đồng thời chế phục A tu la. Theo kinh Khởithế quyển 6 thì tòa nhà này mỗi bề rộng 500 do tuần, có 7 lớp lan can, 7 lớp lưới giăng đều được cấu tạo bằng 7 thứ báu, các cửa ở 4 phía đều có lầu gác đài quán, cũng làm bằng 7 báu, mặt đất trong nhà là ngọc lưu li màu xanh, mềm mại mịn màng như áo Ca chiên lân đề. Chính giữa nhà có 1 cây trụ báu, cao 20 do tuần, dưới trụ đăt tòa ngồi của trời Đế thích, cao 1 do tuần, vuông vức mỗi bề 1,5 do tuần, 2 bên đều đặt tòa ngồi của 16 vị Tiểu thiên vương. Theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì thuở xưa đức Phật từng ở trong nhà này thuyết pháp cho mẫu hậu nghe. [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại bátniết bàn Q.12 (bản Bắc); luận Câu xá Q.11; Bích nham lục tắc Q.89].
Thiện Phục
(善伏, Zempuku, ?-660): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Nghĩa Hưng (義興), Giang Tô (江蘇), họ Tương (蔣), thường gọi là Đẳng Chiếu (等照). Năm lên 5 tuổi, ông xuất gia ở An Quốc Tự (安國寺), mặc áo vải thô sơ, ăn uống bần cùng, hằng ngày tụng kinh. Vào năm thứ 3 (629) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), ông đi du lịch khắp bốn phương, học pháp hành quán Tịnh Độ với Siêu Pháp Sư (超法師) của Thiên Thai Tông, đến các vùng Quế Châu (桂州), Quảng Châu (廣州), Tuần Châu (循州), v.v., sau cùng gặp Tứ Tổ Đạo Tín (道信), được vị này khai thị pháp môn phương tiện. Vào năm thứ 5 (660) niên hiệu Hiển Khánh (顯慶), ông trú ở Hành Nhạc (衡嶽), một hôm nọ bảo đại chúng rằng: “Nhất thiết vô thường, khí tức nan bảo, dạ thâm các tán, duyên tận thường ly (一切無常、氣息難保、夜深各散、緣盡常離, hết thảy vô thường, hơi thở khó toàn, đêm dày chia tan, duyên hết thường lìa)”. Ngay đêm ấy, ông ngồi xếp bằng ngay ngắn mà thị tịch.
thiện quán thiên
Xem Tu đới thiên.
thiện quả
Good fruit from thiện nhân; good fortune in life resulting from previous goodness.
; Kết quả thiện diệu nhờ nương vào thiện nghiệp—Good fruit from good cause; good fortune in life resulting from previous goodness. ** For more information, please see Thiện Nhân (1).
thiện quỷ
See Thiện Thần, and Thiên Long Bát Bộ.
thiện quỷ thần
(善鬼神) Đối lại:Ác quỉ thần. Chỉ cho các vịthiệnthần trong trời đất, giữ gìn Phật pháp, che chở đất nước, bao gồm Phạm thiên, Đế thích, Địa kì, Long vương, 16 thiện thần... Cứ theo phẩm Quỉ thần trong kinh Kim quang minh thì các vua quỉ thần Kim cương mật tích, Đại tướngTán chi,quỉThiềnna anh, Khẩn na la, Long vương A nậu đạt, Long vương Sa kiệt la, Vua A tu la, vua Ca lâu la, Thiên thần Đại biện, Thiên thần Công đức... đều là Thiện quỉ thần. Những Thiện quỉ thần này đều có năng lực biến hóa tự tại, có sức rất mạnh mẽ, thường giữ gìn, che chở cho thế gian, hằng đêm không xao lãng. [X.kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Kim quang minhkinh văn cú (hội bản) Q.7].
thiện sanh
Singalaka (S)Con một trưởng già thời Phật tại thếXem Tu xà đa.
; 1) Sujata (skt)—Sanh ra trong dòng hoàng tộc—Well-born, of high birth. 2) Susambhava (skt)—Tiền thân của Đức Phật Thích Ca—A former incarnation of Sakyamuni.
thiện sanh bồ tát
Xem Thi ca la việt Bồ tát.
thiện sanh kinh
Sujata sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; See Kinh Lễ Sáu Phương in Appendix A.
thiện sinh
Sujàta (S). Well born, of high birth. Also Susambhava, a former incarnation of Sàkyamuni.
; (善生) Phạm:Sìígàlaka. Hán âm: Thi ca la việt. Cũng gọi Thiện sinh đồng tử. Con của 1 Trưởng giả ở thành Vương xá,Ấn độ, vào thời đức Phật. Phật thấy cậu học pháp của Bà la môn, cứ mỗi buổi sáng, tắm rửa sạch sẽ rồi lễ bái 6 phương, Ngài bèn dạy cậu lễ 6 phương theo Phật pháp. [X. kinh Thiện sinh tử].
thiện sinh kinh
Sigàlovàda-sutta (P). Name of a sùtra. Also Thi ca la việt kinh.
thiện sự
Good act.
thiện tai
Sadhu (S)Lành thayQuí hóa thay! Lành thay!.
; Sàdhu (S). Good! Excellent!
; Sadhu (skt)—Lành Thay! Quý hóa thay! (từ dùng để tán thán hay khen ngợi)—Good—Excellent!—See Thiện Lai.
; (善哉) Phạm,Pàli:Sàdhu. Hán âm: Sa độ, Tát. Cũng gọi: Hảo, Thiện, Thiện thành, Thắng, Hoàn, Chính. Lành thay! Tức là lời khen khi hợpvới ý mình. Huyền ứng âm nghĩa quyển 17 cho rằng Tát là tiếng gọi tắt sai lầm của từ Sa độ. Ngày xưa, ở Ấn độ, trong hội nghị, khi biểu quyết1vấn đề gì, đều dùng từ ngữ này để bày tỏ sựtán thành. Đức Thích tôn, hoặc các đức Phật khác, khi tán đồng ý kiến của đệ tử, cũng nói Thiện tai! Như kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) ghi: Phật nói: Thiện tai! A nan, điều ông hỏi rất hay!. Ngoài ra, khi tác pháp trì giới cũng dùng Thiện tai. Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma quyển 1 (Đại 24, 456 thượng) nói: Sa độ (Hán dịch: Thiện), hễ khi tác pháp, hoặc tùy thời tác bạch việc gì, đều nói Thiện tai, nếu không, sẽ phạm tộiviệt pháp. [X. phẩm Diệu âm trong kinh Pháp hoa Q.7; phẩm Tam giả trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma Q.8; luận Đại trí độ Q.53; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.20; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].
thiện thanh tịnh bồ tát
Xem Kim Cang Pháp Bồ tát.
thiện thay! thiện thay!
Lành thay! Lành thay!—Sadhu (skt)—Good! Excellent!
thiện thiện quốc
(鄯善國) Cũng gọi Lâu lan, Thiền thiện, Nạp phược ba. Tên một nước thời xưa ở Tây vực, nằm về mạn tây La bố bạc (Lob-nor) thuộc Tân cương, tức phía cực đông của con đường NamThiên sơn đời cổ, là điểm xung yếu của trục giao thông Đông Tây. Nước này sản xuất nhiều đá ngọc, dân chúng thì sống bằng nghề chăn nuôi, tin theo Phật giáo. Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện thì vào đời Đông Tấn ngài Pháp hiển có đến nước này, Quốc vương tin thờ Phật pháp, có hơn 4 nghìn tăng đều tu học Tiểu thừa giáo. Còn theoLạcdươnggià lam kí quyển 5 thì vào thời Bắc Ngụy, các ngài Tống vân, Huệ sinh... từ Thổ cốc hồn đi về phía tây 3 nghìn 5 trăm dặm thì đến nước Thiện thiện. Lại tên gọi Nạp phược ba nói trên chỉ thấy ghi trong Đại đường tây vực kí quyển 12. Nước Thiện thiện từ thời Tiền Hán qua các đời Tào Ngụy, Tây Tấn, Phù Tần, cho đến Bắc Ngụy đều sai sứ đến triều cống Trung quốc. Sau, nước này bị Thổ cốc hồn thôn tính. Đời Tùy đặt trấn Thiện thiện ở thành Hãn nê, sau vì nhà Tùy rối ren nên thành Hãn nê cũng hoang phế. Đến đời Đường, trấn Thiện thiện được đổi thành trấn Thạch thành, lệ thuộc Sa châu. Theo sử chép thì nước Thiện thiện ngoài thành Hãn nê còn có thành Y tuần. Căn cứ theo sự điều tra vào năm 1806 Tây lịch của học giả người Anh tên là A. Stein (Sử thản nhân) và theo Thích thị Tây vực kí được trích dẫn trong Thủy kinh chú quyển 2 của Lịch đạo nguyên, đã suy đoán rằng Ca khắc lí khắc (charkhlik oasis) ở phía tây nam, chỗ giao lưu giữa sông Xa nhĩ thành (Charchan) và sông Tháp lí mộc (Tarim) hiện nay chính là thành Y tuần ngày xưa, còn gò hoang Di lãng (Miran) nằm cách thành này 48km về phía đông thì chính là thành Hãn nê. Nhưng cũng cóthuyết cho rằng Ca khắc lí khắc là thành Hãn nê, Di lãng là thành Y tuần; lại có thuyết chủ trương thành Hãn nê và thành Y tuần thực rachỉlà một. Ngoài ra, từ trong thành lũy của Di lãng và nền cũ của các chùa Phật, tháp Phật, có nhiều cổ vật như kinh điển, tượng đất, bích họa... được phát hiện. Trong cácbức bích họa, có nhiều bức được suy đoán là những tác phẩm của thế kỉ III Tây lịch. [X. hội Mật tích kim cương lực sĩ trong kinh Đại bảo tích Q.10; truyện ngài Trí mãnh trong Xuất tam tạng kí tập Q.15; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.5; Hán thư Tây vực truyện 66 thượng; Ngụy thư liệt truyện 90; Đường thư địa lí chí 33 hạ; Cổ kim đồ thư tập thành duệ điển 52; Tây vực khảo cổ đồ phổ Q.thượng; thiên Tây tạng trong Đông tây giao thiệp sử chi nghiên cứu; Thiện thiện quốc đô khảo (Đại cốc Thắng chân, Thị thôn bác sĩ cổ hi kỉ niệm đông dương sử luận tùng) On Yuan Chwang, vol. II, by T. Watters; Ruins of Desert Cathay Vol. I, by A. Stein; Serindia, Vol. I; Lâu lan thiện thiện vấn đề (Phùng thừa quân).
thiện thuyết nhất thiết giáo phái nguyên lưu cập giáo nghĩa tinh kính sử
(善說一切教派源流及教義晶鏡史) Tạng: Grub mthaḥ thams cad kyi khuṅs daṅ ḥdod tshul ston pa legs bśad śel gyi me loṅ. Cũng gọi Nhất thiết tông nghĩa cương yếu chính thuyết thủy tinh kính, Nhất thiết tông nghĩa minh kính, Tông giáo lưu phái kính sử, Độ quán tông phái nguyên lưu.Tác phẩm, tiếng Tây tạng, nói về lịch sử Phật giáo, do ngài Độ quán khước cát ni mã (Tạng: Thuḥu bkvan blobzaṅ chos kyi ñi ma, 1737-1802, dịch ý là Thiện tuệ Pháp nhật) soạn vào năm Gia khánh thứ 6 (1801) đời vua Nhân tông nhà Thanh. Nội dung sách này chia làm 12 chương, giới thiệu sơ lược các phái tông giáo, 12 chương gồm: 1. Ngoại đạo và các phái Phật giáo ở Ấn độ. Phật giáo Tây tạng thời kì hoằng truyền trước và thời kì hoằng truyền sau, Cổ phái Mật chú (Tạng: Gsaí síags rĩií ma). 3. Phái Ca đương (Tạng: Bka# gdams pa).4. Phái Ca nhĩ cư (Tạng: Bka# brgyud pa).5. Phái Hi giải (Tạng:Shi byed pa). 6. Phái Tát ca (Tạng: Sa skya pa). 7. Phái Tước nam (Tạng: Jo naí pa). 8. Phái Ngạch nhĩ đức (Tạng: Dge lugs pa).9. Bổng giáo (Tạng:Bon po). 10. Nho giáo, Đạo giáo Trung quốc. 11. Các phái Phật giáo Trung quốc. 12.Các phái Phật giáo ở Mông cổ, Hòa Điền và các địa khu trong truyền thuyết như Tiên ba lạp (Shambhala)... Trong đó, về phần Phật giáo Tây tạng, ngoài việc trình bày về nguồn gốc các phái, lịch sử phát triển, giáo nghĩa cương yếu... tác giả còn đứng trên quan điểm của phái Ngạch nhĩ đức mà tác giả tin theo để phê bình và so sánh các phái khác, đôi khi tác giả cũng nói đến lịch sử phát triển, giáo lí... của các phái khác có quan hệ với phái Ngạch nhĩ đức. Tác giả Ni mã nhận thấy nội dung 2 bộ Tông nghĩa giảng thuyết (Tạng: Grub mtha# rnam bzad) do ngài Giả dương hiết ba đa cát (Tạng: Fjam dbyaís bshad pa#i rdo rje, 1648-1721) soạn và Tông nghĩa giảng thuyết (Grab mtha# rnam bzad) do ngài Chương gia la ba đa cát (Tạng: Lcaí kya rol pahi rdo rje, 1717- 1786) đời thứ 15 soạn, đều giới hạn ở hệ thống Phật giáoẤn độ, phạm vi trình bày tương đối hẹp, lại nghĩ đến ưu thế chính trị tuyệt đối của phái Nghạch nhĩ đức lúc bấy giờ sẽ đưa dần giáo phái này đến tình trạng suy bại, mất năng lực tự giác tông giáo, đó là những lí do khiến tác giả soạn sách này. Hiện nay có bản Lạp tát (Lhasa), bản Cách đức khắc gỗbằngtiếng Tây tạng lưu hành ở đời.
thiện thí
Xem Tu đạt Đa.
; Sudatta (S). Name. Also Tô đạt đa.
Thiện thông
善通; C: shàntōng; J: zentsū; |Thông đạt, tương giao mật thiết với nhau không ngăn ngại.
Thiện Thông Tự
(善通寺, Zentsū-ji): ngôi chùa trung tâm Tổng Bản Sơn của Phái Thiện Thông Tự (善通寺派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại 615 Zentsūji-chō (善通寺町), Zentsūji-shi (善通寺市), Kagawa-ken (香川縣), hiệu núi là Bình Phong Phố Ngũ Nhạc Sơn (屏風浦五岳山); tên gọi chính thức là Bình Phong Phố Ngũ Nhạc Sơn Đản Sanh Viện Thiện Thông Tự (屏風浦五岳山誕生院善通寺). Vốn là nơi linh địa chốn đản sanh của Hoằng Pháp Đại Sư, nên danh hiệu viện được đặt như vậy; còn tên chùa là Thiện Thông Tự. Tên chùa này vốn xuất phát từ tên của người cha Đại Sư là Tá Bá Thiện Thông (佐伯善通). Trong thời kỳ chiến tranh, nơi vùng đất đản sanh của Hoằng Pháp Đại Sư này lại rất nổi tiếng với doanh đô của quân lính; cho nên khi nghe tên Thiện Thông Tự, có nhiều người lại nghĩ đến tên của quân đội hay tên của nơi đóng quân hơn là tên chùa. Vào năm thứ 16 niên hiệu Chiêu Hòa (昭和, Shōwa), theo mệnh lệnh của quân đội, khi toàn thể Chơn Ngôn Tông hợp nhất lại thành một khối, Thiện Thông Tự này cũng đã từng trở thành Tổng Bản Sơn của toàn bộ Tông phái. Điều này cũng có liên quan đến nguồn gốc ra đời của Đại Sư vậy. Vào ngày 15 tháng 6 năm thứ 5 (774) niên hiệu Bảo Quy (寶龜), Hoằng Pháp Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai) ra đời ở vùng đất này, là con của Tá Bá Thiện Thông. Sau đó, Đại Sư sang nhà đường cầu pháp, rồi sau khi trở về nước thì nhận được sắc chỉ của triều đình cho phép khai Tông lập giáo Chơn Ngôn Tông vào năm 807, lúc ấy phụ thân của Đại Sư mới lấy nhà của ông mà dâng cúng để làm nên ngôi chùa này. Đây là ngôi chùa tối cổ của Chơn Ngôn Tông và thậm chí còn xưa hơn cả Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan) nữa. Từ năm đầu (1229) niên hiệu Khoan Hỷ (寛喜) trở đi, chùa phụ thuộc vào Đông Tự (東寺, Tō-ji), có đầy đủ cả Kim Đường, Giảng Đường, Hộ Ma Đường và rất hưng thạnh; nhưng vào khoảng thời gian 1275-80 thì lại suy thối, và được Hậu Vũ Đa Thiên Hoàng (後宇多天皇, Gouda Tennō) phục hưng lại. Sau đó, vào năm 1340 thì chùa bị cháy rụi, và vị Tổ thời Trung Hưng của chùa là Hựu Phạm (宥範, Yūhan) đã bỏ hết 22 năm để trùng hưng lại ngôi chùa này. Việc này tương truyền là nhờ sự trợ lực của những nhân vật có quyền thế đương thời như Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏), Trực Nghĩa (直義) và Nghĩa Mãn (義滿), v.v. Tuy nhiên, các đường tháp cũng như già lam của chùa lại một lần nữa bị cháy tan tành do vụ binh loạn giữa hai dòng họ Tam Hảo (三好) và Hương Xuyên (香川) vào năm 1558. Các đường tháp hiện tại là do sự ngoại hộ của các vị lãnh chúa của vùng đất này qua nhiều đời. Ngoài các vị lãnh chúa ra thì lịch đại những vị Thiên Hoàng cũng rất sùng tín với chùa. Nơi Kim Đường của chùa tôn trí bức tượng Dược Sư Như Lai dạng ngồi. Nơi Ngự Ảnh Đường tương truyền là ngự điện của mẹ Đại Sư. Còn chánh điện của chùa thì cũng không lớn lắm, nhưng là kiến trúc điển hình của đầu thời kỳ Giang Hộ. Ngôi Ngũ Trùng Tháp tương truyền do Hoằng Pháp Đại Sư kiến lập nên, nhưng rồi lại bị hỏa tai nên cháy rụi và trải qua một thời gian khá lâu không phục hưng lại, mãi đến năm 1884, nhân lúc Húy Kỵ lần thứ 1050 năm của Đại Sư thì ngôi tháp này mới được làm lễ lạc thành.
Thiện thông 善通
[ja] ゼンツウ zentsū ||| To commune well; to communicate with each other without hindrance. 〔二障義HPC 1.793a〕 => Thông đạt, tương giao mật thiết với nhau không ngăn ngại.
Thiện thú
善趣; C: shànqù; J: zenshu; |Cõi giới lành. Tái sinh vào cảnh giới trong lành có được từ kết quả tích tập các thiện nghiệp trong đời trước (s: sugati-gati). Tái sinh làm người, hay chư thiên trong sáu đường (lục đạo 六道). Ngược lại là tái sinh trong các đường dữ (ác đạo 惡道). Một số truyền thống xem tái sinh làm a-tu-la là một trong các đường lành.
thiện thú
(善趣) Phạm: Svarga-gati. Cũng gọi Thiện xứ, Thiện đạo. Đối lại:Ác thú (Phạm:Dur-gati),Ác xứ,Ác ạo. Chỉ cho các cõi nước tốt lành mà những người tạo nghiệp nhân thiện sinh ới. Trung A hàm quyển 12 (Đại 1, 503 thượng) ghi: Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các tỉ khưu: Ta dùng thiên nhãn thanh tịnh trông xa hơn người, thấy chúng sinh ấy lúc chết có sắc tốt, sắc xấu, tinh diệu, không tinh diệu, đi đến chỗ thiện, chỗ bất thiện, tùy theo nghiệp nhân mà chúng sinh ấy đã tạo tác, ta thấy đúng như thực. Nếu chúng sinh ấy thành tựu thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, phỉ báng thánh nhân, tà kiến thành tựu nghiệp tà kiến, do nhân duyên này, những chúng sinh ấy, khi thân hoại mệnh chungthì chắc chắn sẽ đi tới ác xứ, sinh vào địa ngục. Trái lại, nếu chúng sinh ấy thành tựu thân diệu hạnh, khẩu diệu hạnh, không phỉ báng thánh nhân, chính kiến thành tựu nghiệp chính kiến, do nhân duyên này, những chúng sinh ấy, khi thân hoại mệnh chung, chắc chắn sẽ đến thiện xứ, sinh lên cõi trời. Vì thế nên biết sinh vào thiện thú hay ácthúđều lấy hành nghiệp thiện, ác làm nền tảng. Về phạm vi của Thiện thú vàÁc thú thì luận Đại trí độ quyển 30 cho rằng trong 6 đường, địa ngục, súc sinh, ngã quỉ thuộc về Ác thú; cõi trời, cõi người và A tu la thuộc về Thiện thú. Đây là thuyết phổ thông. Luận Câu xá quyển 18 cho 2 cõi trời và người là Thiện thú.. [X.kinh Tạp a hàm Q.42; hội Bồ tát tạng trong kinh Đại bảo tích Q.38; kinh Bồ tát hành phương tiện cảnh giới hần thông biến hóa Q.trung; phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa Q.3; hẩm Tựa kinh Bất thoái chuyển pháp luân Q.1; luận Đại tì bà sa Q.176].
Thiện thú 善趣
[ja] ゼンシュ zenshu ||| Good destiny. A rebirth into a positive situation that comes as the result of the accumulation of good karma from previous lifetimes (sugati-gati). The rebirths as human 人 or god 天 among the six destinies 六道. As contrasted with evil destiny 惡道. Some traditions also consider rebirth as an asura 修羅 to be one of the positive destinies. 〔瑜伽論T 1579.30.367b29〕 => Cõi giới lành. Tái sinh vào cảnh giới trong lành có được từ kết quả tích tập các thiện nghiệp trong đời trước (s: sugati-gati). Tái sinh làm người, hay chư thiên trong sáu đường (lục đạo). Ngược lại là tái sinh trong các đường dữ (ác đạo). Một số truyền thống xem tái sinh làm a-tu-la (s: asura 修羅) là một trong các các cõi giới lành.
thiện thư
(善書) Sách lành. Tức chỉ cho loại sách nói về luân lí, đạo đức để khuyên người làm việc thiện. Nội dung lấytư tưởngnhân quả báo ứng, khuyến thiện trừng ác của 3 giáo Phật, Nho, Đạo làm chính, xưa nay vốn đã lưu hành phổ cập khắp trong dân gian Trung quốc. Tính chất của loại sách này rất mộc mạc, bình dị, cho nên dễ được dân chúng tiếp nhận hơn so với kinh điển chính qui của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, đồng thời y cứ vào đóđểxác lập mục tiêu luân lí và qui phạm sinh hoạt. Công việc sửa văn, biên soạn, chú giải, ấn loát xuất bản... Thiện thư, phần nhiều do giai cấp trí thức hoặc thân sĩ địa phương thực hiện, cho nên thông thường họ được gọi là Thiện nhân. Trong Thiện thư, có truyện đề tên tác giả, cũng có truyện mượn danh thần tiên do cầu cơ giáng bút mà thành nên không có tên tác giả. Trong đó, 3 sách: Thái thượng cảm ứng thiên, Văn xương đế quân âm chất văn và Quan thánh đế quân giác thế chân kinh được lưu thông rộng nhất và được tôn xưng là Ba kinh Thánh của tông giáo dân gian. Trong 3 sách, Thái thượng cảm ứng thiên có tính cách đại biểu nhất. Sau các đời Minh, Thanh, 3 sách này dần dần trở thành trụ cột quan trọng đối với sự sinh hoạt tinh thần và tín ngưỡng tông giáo của người Trung quốc và các Thiện thư thực tiễn hóa các đức mục được nói trong 3 kinh Thánh kể trên chính là loại Công quá cách. Trong các Thiện thư thuộc loại Công quá cách thì Thái vi tiên quân công quá cách, là có tính cách truyền thống nhất. Ngoài ra, Âm chất lục (cũng gọi làLiễu phàm tứ huấn) của Viên liễu phàm (1535- 1608) thì ghi chép một cách cụ thể về sự thực hành Công quá cách, đã có ảnh hưởng rất sâu xa đối với tín ngưỡngtông giáo dân gian từ đời Minh, Thanh về sau. Nếu 1 bộ Thiện thư được ấn loát xuất bản chung mà có đủ 3 kinh Thánh nói trên cộng với Thái vi tiên quân công quá cách và Âm chất lục thì đáng gọi là bộ Thiện thư có đầy đủ tính cách đại biểu. Các Thiện thư được lưu truyền từ trước đến nay có rất nhiều loại. Năm Càn long 50 (1789), Thiện nhân Lưu sơn anh biên tập và phát hành Tín tâm ứng nghiệm lục, nội dung vậng tập các loại Thiện thư trọng yếu, chia làm 9 quyển, thu gom khoảng 150 loại Thiện thư. Loạitùng thư về Thiện thư này Rất được dân gian đón nhận. Còn các Thiện thư được ấn hành từ đời Minh về sau, phần nhiều là nhờ có hấp thu Biến văn thịnh hành trong dân gian đương thời mà được lưu thông rộng rãi.
Thiện thần
(善神): tên gọi chung những vị hộ trì chánh pháp trong Tám Bộ chúng. Như trong Phật Thuyết Tạo Tháp Diên Mạng Công Đức Kinh (佛說造塔延命功德經, Taishō Vol. 19, No. 1026) có câu: “Bi mẫn cứu hộ nhất thiết chúng sanh, chư thiên thiện thần thường lai thủ hộ (悲愍救護一切眾生、諸天善神常來守護, thương xót cứu giúp hết thảy chúng sanh, chư thiên thiện thần thường đến bảo vệ).” Hay trong Thiên Địa Bát Dương Thần Chú Kinh (天地八陽神咒經, Taishō Vol. 85, No. 2897) cũng có đoạn: “Nhược văn thử kinh, tín thọ bất nghịch, tức đắc giải thoát chư tội chi nạn, xuất ư khổ hải, thiện thần gia hộ, vô chư chướng ngại, diên niên ích thọ (若聞此經、信受不逆、卽得解脫諸罪之難、出於苦海、善神加護、無諸障礙、延年益壽, nếu nghe kinh này, tin nhận không trái, tức được giải thoát ách nạn các tội, ra khỏi biển khổ, thiện thần gia hộ, không có chướng ngại, sống lâu thêm thọ).”
thiện thần
The good devas, or spirits, who protect Buddhism.
; Các vị thần hộ trì Chánh Pháp—The good devas or spirits who protect Buddhism—Fortune saints. ** For more information, please see Thiên Long Bát Bộ.
thiện thế viện
(善世院) Cơ quan thống lãnh Phật giáo Trung quốc ở đầu đời Minh. Cứ theo Thái tổ thực lục quyển 25 thì vào tháng giêng niên hiệu Hồng vũ năm đầu (1368) thiết lập viện Thiện thế, ngài Tuệ đàm Giác nguyên, vị tăng phái Đại tuệ thuộc tông Lâm tế, thống lãnh các việc của Phật giáo, đồng thời lập viện Huyền giáo do đạo sĩ Kinh thiện duyệt thống lãnh công việc của Đạo giáo. Thiện thế viện được đặt ở chùa Đại long tường tập khánh tại Long hà, Nam kinh, cho nên chùa này cùng lúc được đổi tên là chùa Đại thiên giới (thường gọi là chùa Thiên giới) với bảng hiệu Thiên Hạ Đệ Nhất Thiền Lâm do vua Thái tổ viết. Ngài Tuệ đàm được ban cho hiệu Diễn Phạm Thiện Thế Lợi Quốc Sùng Giáo Đại Thiền Sư với chức quan Tòng nhị phẩm, đảm nhiệm chức Trụ trì chùa Thiên giới, mặc áo đỏ, thống lãnh mọi việc của Phật giáo và các chùa trong nước. Năm Hồng vũ thứ 4 (1371), chùa Thiên giới được đổi tên là Thiên giới thiện thế thiền viện, năm sau được đổi là Thiện thế pháp môn. Đến tháng 12 năm Hồng vũ 14 (1381), chùa lại được đổi là Thiện thế viện, năm sau sáp nhập với Tăng lục ti mới được thành lập và tên chùa cũng được đổi là Thiện thế viện cùng năm đó. Trong chùa đặt Ti tăng lục, ngài Giới tư giữ chức Tả thiện thế và ngài Tông lặc giữ chức Hữu thiện thế. Năm Hồng vũ 21 (1388), chùa Thiên giới bị nạn lửa thiêu hủy, nên Ti tăng lục phải dời đến chùa Thiên hi, địa chỉ chùa Thiên giới cũng được dời đến Thành nam, nhưng vẫn gọi là Thiên giới thiện thế thiền viện.[X. Kim lăng phạm sát chí Q.16, 39; Thích giám kê cổ lược tục tập Q.2; Minh cao tăng truyện; Cổ kim đồ thư tập thành bác vật vậng biên thần dị điển 64 Thích giáo bộ vậngkhảo 6; Minh đại tăng quan (Long trì thanh, Chi na Phật giáo sử học 4 phần 3)].
Thiện Thệ
(s, p: sugata, 善逝): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Tu Già Đà (修伽陀), Tô Yết Đa (蘇揭多), Tu Già Đa (修伽多); còn gọi là Thiện Khứ (善去), Thiện Giải (善解), Thiện Thuyết Vô Hoạn (善說無患), Hảo Thuyết (好說), Hảo Khứ (好去). Như Lai (s, p: tathāgata, 如來) nghĩa là cỡi đạo như thật mà khéo đến thế giới Ta Bà (s, p: sahā, j: saba, 娑婆) này; Thiện Thệ là như thật đi qua bờ bên kia, không còn trở lại biển sanh tử chìm đắm nữa. Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 giải thích rằng: “Phật nhất thiết trí vi đại xa, Bát Chánh Đạo hành nhập Niết Bàn, thị danh Hảo Khứ (佛一切智爲大車、八正道行入涅槃、是名好去, tất cả trí của đức Phật là xe lớn, Bát Chánh Đạo đi vào Niết Bàn, đó là Hảo Khứ [khéo đi vào]).” Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 50 có đoạn rằng: “Thập phương sở hữu chư thế giới, tất năng chấn động vô hữu dư, vị tằng khủng bố nhất chúng sanh, Thiện Thệ uy thần lực như thị (十方所有諸世界、悉能震動無有餘、未曾恐怖一眾生、善逝威神力如是, mười phương vốn có các thế giới, có thể chấn động không có dư, chưa từng khủng bố một chúng sanh, Thiện Thệ oai thần lực như vậy).”
Thiện thệ
danh hiệu tôn xưng đức Phật. Thiện thệ là một trong 10 danh hiệu tôn xưng đức Phật. Thiện nghĩa là tốt lành; thệ nghĩa là đi qua, không còn trở lại. Thiện thệ nghĩa là bậc đã viên mãn mọi điều tốt lành, mãi mãi không còn chịu nghiệp quả thọ sanh trong luân hồi.
; 善逝; C: shàn shì; J: zenzei; S: sugata.|Một trong 10 danh hiệu của chư Phật. Người hoàn tất việc của mình một cách thiện hảo (tự giác), người đã làm xong tất cả mọi việc (giác tha, giác hạnh viên mãn).
thiện thệ
Well-gone, Sugata (S)Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đứcPhật. Thệ: đi luôn không trở lại, đi tới nơi tới chốn. Nghĩa là bậc đã đi đến bờ bên kia, bậc đã làm xong những việc phải làm, không còn trở lại cõi thế, không còn vào vòng luân hồi sanh tử.
; Sugata (S). Well departed, gone as he should go; a tittle of Buddha.
; Sugata (skt)—Đấng Thiện Thệ, một danh hiệu của Phật—The Blessed One—Well departed—A title of a Buddha.
; (善逝) Phạm,Pàli:Sugata. Hán âm: Tu già đà, Tô yết đa, Tu già đa. Cũng gọi Thiện khứ, Thiện giải, Thiện thuyết vô hoạn, Hảo thuyết, Hảo khứ. Một trong 10 hiệu của Phật. Ý nói tiến vào các Tam ma đề (thiền định) rất sâu xa và vô lượng trí tuệ vi diệu. Hảo thuyết nghĩa là đức Phật nói đúng như thực tướng các pháp, đồng thời thường xem xét năng lực trí tuệ của các đệ tử, rồi tùy theo đó mà nóicác pháp thích hợp như: Bố thí, Niết bàn, cho đến 5 uẩn, 12 nhân duyên, 4 đế... để dắt dẫn họ vào Phật đạo. Trong 10 hiệu của Phật thì thứ nhất là Như lai, thứ 5 là Thiện thệ. Như lai nghĩa là nương theo đạo như thực, khéo đến thế giới Sa bà này; Thiện thệ nghĩa là thực sự đến bờ bến kia, không còn lui lại biển sinh tử nữa. Hai từ Như lai và Thiện thệ được sử dụng để nêu tỏ cái đức đi, đến tự tại của chư Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Toạ thiền tam muội Q.thượng; kinh Bồ tát địa trì Q.1; luận Đại trí độ Q.2; luận Du già sư địa Q.83; luận Thanh tịnh đạo Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.20].
thiện thệ tạng
Sugatagarbha (S), der sheg nying po (T), Tathāgatagarbha (S).
Thiện thệ 善逝
[ja] ゼンゼイ zenzei ||| (sugata). "Well done;" "well gone;" "well-finished." One of the ten epithets 十號 of the Buddha. A person who has skillfully finished the job; who has completed the work leaving nothing undone. 〔法華經 T 262.9.19b11〕 => Một trong 10 danh hiệu của chư Phật. Người khéo léo hoàn tất việc của mình (tự giác), người đã làm xong tất cả mọi việc (giác tha, giác hạnh viên mãn).
Thiện thủ
善取; C: shànqŭ; J: zenshu;| Khéo thông hiểu nghĩa lí.
thiện thủ
To be skilful with one's hands.
thiện thủ bồ tát
Xem Hiền Hộ Bồ tát.
Thiện thủ 善取
[ja] ゼンシュ zenshu ||| To grasp well. => Khéo thông hiểu nghĩa lý.
thiện tinh
Zensho (J), Shan hsing (J), PradhanaśŪra (S), Shan hsing (C), Zensho (J), Suna-kkhatta (P), Suna-ksatra (S)Tên một vị sư.
; (善星) Phạm: Sunakwatra. Pàli:Suna-kkhatta. Hán âm: Tu na ha đa, Tu na sát đa la. Cũng gọi Thiện tú. Con của đức Thích tôn khi ngài còn là Thái tử. Sau khi xuất gia, Thiện tinh đã đoạn trừ hết phiền não cõi Dục, phát được Thiền định thứ 4. Sau, vì gần gũi bạn xấu, sư bị trụy lạc, đánh mất giải thoát và cho rằng không có pháp Niết bàn; lại sinh khởi tà kiến phủ định nhân quả. Hơn nữa, đối với đức Phật sinh ác tâm, cho nên còn sống mà đã đọa vào địa ngục Vô gián, vì thế gọi là Xiển đề tỉ khưu(tức tỉ khưu không thể thành Phật), cũng gọi Tứ thiền tỉ khưu. Pháp hoa huyềntán quyển 1, phần cuối (Đại 34, 671 hạ) ghi: Kinh nói: Phật có3 người con, một là Thiện tinh, hai là Ưu bà ma da, ba là La hầu la. Cho nên kinh Niết bàn nói: Thiện tinh tỉ khưu là con của Bồ tát khi còn tại gia. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.33 (bản Bắc)].
thiện tinh ly-xa tử
Sunakkhatta Licchaviputta (P).
thiện tri
Vibhāvana (S, P).
; Vibhàvana (S). Clear and deep understanding.
; Vibhavana (skt)—Nhận biết rõ ràng—Clear perception.
Thiện tri thức
善知識; C: shàn zhīshì; J: zenchishiki; S: kalyā-ṇamitra; P: kalyānamitta; hoặc Thiện hữu (善友), Ðạo hữu (道友);|Danh từ chỉ một người bạn đạo. Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ, danh từ này được dùng để chỉ một vị tăng đầy đủ những đạo hạnh như nắm vững lí thuyết Phật pháp và tinh thông thiền định, có thể giúp đỡ những vị khác trên con đường tu học.|Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni rất quý trọng tình bạn trên con đường giải thoát. Ngài dạy như sau: »Cả một cuộc đời tầm đạo đều lấy tình bạn làm căn bản… Một Tỉ-khâu, một Thiện tri thức, một người bạn đồng hành – từ một vị này người ta có thể mong đợi rằng, ông ta sẽ tinh cần tu học Bát chính đạo để đạt giải thoát cho chính mình và những người bạn đồng hành.«|Dần dần, danh từ này cũng thường được sử dụng để chỉ những người tìm đạo, trong giới Cư sĩ và cả trong Tăng già. Trong những bài thuyết pháp, các vị Thiền sư thường dùng các biểu thị Thiện tri thức, Ðạo lưu… để chỉ những người hâm mộ Phật pháp đang chú tâm lắng nghe.|Người ta thường phân Thiện tri thức thành ba hạng: 1. Giáo thụ thiện tri thức (教授善知識), là những người có khả năng hướng dẫn, dạy dỗ trên con đường tu hành, là bậc thầy; 2. Ðồng hạnh thiện tri thức (同行善知識), là những người đồng chí, đồng hạnh, tức là người bạn tốt, trung thành; 3. Ngoại hộ thiện tri thức (外護善知識), là những người giúp cho những tiện nghi, tạo điều kiện tốt cho người tu hành.
thiện tri thức
Kalyāṇamitta (P), Maitrayani (S), Zen-chishiki (J), Good friend Kalyāṇamitta (P)Đạo hữu.Di đa la ni.
; A good friend or intimate, one well known and intimate.
; Tiếng xưng hô người đủ chánh tri chánh kiến.
; Kalyanamitta (p)—Kalyanamitra (skt)—Good-knowing advisor—A friend of vitue—A well wishing friend—A learned master—A good friend or intimate, one well known and intimate—See Thiện Hữu Tri Thức in Vietnamese-English Section.
; (善知識) Phạm: Kalyàịamitra. Pàli:Kalyàịa-mitta. Hán âm: Ca la mật, Ca lí dã nẵng mật đát la. Cũng gọi Tri thức, Thiện hữu, Thân hữu, Thắng hữu, Thiện thân hữu. Bạn lành, tức chỉ cho người chính trực, có đức hạnh, có năng lực dẫn dắt người khác hướng về chính đạo. Trái lại, người bạn dắt dẫn ta đi vào tà đạo thì gọi là Ác hữu.Cứ theo phẩm Thường đề trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27 thì người có khả năng nói các pháp không, vô tướng, vô tác, vô sinh, vô diệt và Nhất thiết chủng trí, khiến người nghe vui vẻ tin ưa, gọi là Thiện tri thức. Phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm ghi rằng trong quá trình cầu đạo, đồng tử Thiện tài đã tham phỏng 55 vị Thiện tri thức(thông thường nói chỉ có 53 vị Thiện tri thức), tức trên từ chư Phật, Bồ tát, dưới đến người, trời... bất luận xuất hiện dưới hình thức nào, hễ có năng lực dắt dẫn chúng sinh đi theo con đường bỏ ác, tu thiện để bước vào đạo Phật, thì đều có thể được gọi là Thiện tri thức. Còn Thích thị yếu lãm quyển thượng thì trích dẫn luận Du già sư địa nêu lên 10 thứ công đức của Thiện tri thức là: Điều phục, tịch tĩnh, trừ hoặc, tăng đức, dũng mãnh, kinh phú, giác chân, thiện thuyết, bi thâm và li thoái. Lại theo Luật Tứ phần quyển 41 thì Thiện thân hữu phải có đủ 7 điều kiện là: Cho được cái khó cho, làm được việc khó làm, nhẫn được điều khó nhẫn, đem việc kín bảo cho nhau biết, khuyên nhau không che giấu điều lỗi, gặp khổ nạn không bỏ nhau và nghèo hèn không khinh nhau, gọi là Thiện hữu thất sự(bảy việc của người bạn lành). Trong kinh luận có nêu các loại Thiện tri thức khác nhau, cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 4 hạ của ngài Trí khải thì có 3 loại Thiện tri thức dưới đây: 1. Ngoại hộ: Giúp đỡ ở bên ngoài để bạn được an ổn tu đạo. 2. Đồng hành: Cùng nhau hành động, khích lệ lẫn nhau. 3. Giáo thụ: Nói pháp khéo léo. Theo Câu xá luận tụng sớ quyển 29 của ngài Viên huy thì người bạn cho pháp là Thượng thân hữu, người cho của và pháp là Trung thân hữu, còn người chỉ cho của không thôi thì là Hạ thân hữu; trên đây gọi là Tam hữu. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 cũng nêu ra 3 loại Thiện tri thức là Nhận, Pháp và Nhân pháp hợp biện.Cứ theo phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 36 (bản dịch cũ) thì có 10 loại Thiện tri thức đó là: 1. Thiện tri thức thường giúp đỡ bạn an trụ nơi tâm bồ đề. 2. Thiện tri thức có năng lực khiến bạn tu tập các căn lành. 3. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu cácBa la mật một cách rốt ráo. 4. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn phân biệt giảng nói tất cả pháp. 5. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ và thành thục tất cả chúng sinh. 6. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn có đủ biện tài giải đáp được các nghi vấn. 7. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn không bám níu tất cả sinh tử. 8. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu hạnh Bồ tát trong tất cả kiếp mà tâm không chán mỏi. 9. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ nơi hạnh Phổ hiền. 10. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tiến sâu vào tất cả trí của Phật. [X.kinh Tạp a hàm Q.27, 36, 45; kinh Tức vị tỉ khưu thuyết trong Trung a hàm Q.10; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; phẩm Thiện tri thức trong kinh Tăng nhất a hàm Q.11; kinh Thi a la việt lục phương lễ; kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Nam); phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa Q.7; luận Đại trí độ Q.71, 96]. (xt. TriThức).
thiện tri thức ma
(善知識魔) Ma thiện tri thức, 1 trong 10 thứ ma. Nghĩa là đối với pháp tự mình đã chứng ngộ, khởi ý niệm đắm trước, bỏn sẻn, không chịu mở bày, chỉ dẫn người khác. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 42 (Đại 9, 663 thượng) nói: Thiện tri thức ma là đối với pháp chứng được sinh tâm đắm trước. (xt. Thập Ma).
Thiện tri thức 善知識
[ja] ゼンチシキ zenchishiki ||| (kalyāna-mitra). 'Good knowledge', or 'a good and virtuous friend'; a good friend or teacher who leads one to the Buddhist way. => (s: kalyāna-mitra). Người thầy hay bạn tốt hướng dẫn tu tập Phật đạo.
thiện trí
(善智) Cao tăng Trung quốc thuộc Tam giai giáo, sống vào đời Tùy, người ở Giới hưu (Sơn tây) Tây hà, họ Tống. Sư cùng với người anh là Bản tế cùng học ngài Tín hành–Tổ khai sáng của Tam giai giáo–sau, được nối pháp. Sư đặt ra các nghi thức và qui củ của Tam giai giáo, soạn bộ Đốn giáo Nhất thừa 20quyển. Sư tịch vào năm Đại nghiệp thứ 3 (607) đời Tùy Dạng đế, đệ tử antáng sư bên cạnh mộ ngài Tín hành.
thiện trụ
Supratisthita (S)An định, an trụ.
; (善住) I. Thiện Trụ. Phạm:Supratiwỉhita. An định, an trụ. Như người thường niệm Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni, nhờ Đà la ni này có sức đại uy thần nên thành tựu được các công đức thù thắng, đồng thời khiến chúng sinh nghe Đà la ni này, thường được an ổn, xa lìa các nẻo ác. [X.kinh Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni Q.thượng]. II. Thiện Trụ. Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nguyên, tự Vô trụ, biệt hiệu Vân ốc. Sư từng nhập thất niệm Phật, tu hạnh Tịnh độ ở chùa Báo ân tại quận Ngô. Sư lại giỏi làm thơ, thường qua lại xướng họa với các thi nhân như Cừu viễn, Bạch đĩnh, Ngu tập, Tống vô... Sư có các trứ tác: An lạc truyện, Cốc hưởng tập. [X. Tứ khố đề yếu Q.166].
Thiện trụ bí mật kinh
善住祕密經; C: shànzhù mìmì jīng; J: zenjū himitsu kyō;|Tên gọi tắt của Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà-la-ni kinh (大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經).
Thiện trụ bí mật kinh 善住祕密經
[ja] ゼンジュウヒミツキョウ Zenjū himitsu kyō ||| The Shanzhu mimi jing; see Dabao guangbo louge shanzhu mimi tuoluoni jing 大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經 => Tên gọi tắt của kinh Đại quảng bác lầu các thiện trụ bí mật kinh. 大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經.
thiện trụ thiên tử
(善住天子) Một trong các vị Thiên tử của cõi trời Đao lợi. Cứ theo kinh Phật đính tôn thắng đà la ni thì Thiện trụ thiên tử cùng với các đại thiên nhân, thiên nữ đang dạo chơi trong vườn, đêm ấy, trong hư không có tiếng nói, bảo rằng 7 ngày nữa Thiện trụ thiên tử sẽ chết, 7 lần thụ sinh làm súc sinh ở cõi Diêm phù đề, rồi lại phải chịukhổ trong địa ngục. Thiên tử nghe xong, cảm thấy rất kinh sợ và xin trời Đế thích chỉ bảo. Trời Đế thích bèn đem các vòng hoa to lớn, áo trời... đến tinh xá Kì viên cúng dường và cầu đức Phật cứu độ, Phật liền nói Phật đính tôn thắng đà la ni, bảo Thiên tử Thiện trụ đọc tụng để được thoát nạn và kéo dài tuổi thọ.
Thiện tu
善修; C: shànxiū; J: zenshu;|Tu hành chân chính.
Thiện tu 善修
[ja] ゼンシュ zenshu ||| Correct practice. => Tu hành đúng đắn.
thiện tuệ địa
Sàdhumati (S)
; Sadhumati (skt)—See Thập Địa Phật Thừa (9).
thiện tài
Skillful.
Thiện Tài Đồng Tử
(s: Sudhana-śreṣṭhi-dāraka, 善財童子): là vị Bồ Tát cầu đạo trong Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品) của Kinh Hoa Nghiêm, từng đi về phía Nam tham vấn 53 vị thiện tri thức, cho đến Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) thì thành tựu Phật đạo. Phật Giáo Đại Thừa lấy trường hợp này làm bằng chứng của Tức Thân Thành Phật (卽身成佛); quá trình cầu pháp của Đồng Tử thể hiện các giai đoạn nhập vào pháp giới Hoa Nghiêm. Căn cứ vào Phẩm Nhập Pháp Giới của Cựu Hoa Nghiêm Kinh (舊華嚴經) quyển 45, Thiện Tài Đồng Tử là con tai của trưởng giả Phước Thành (福城), lúc vào bào thai và hạ sanh, có các loại trân bảo tự nhiên hiện ra, nên có tên là Thiện Tài (善財). Về sau, Đồng Tử được Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利) dạy dỗ, rồi ngao du đến các nước phương Nam. Ban đầu, Đồng Tử đến Khả Lạc Quốc (可樂國), tham vấn Tỳ Kheo Công Đức Vân (功德雲), nhận pháp môn Niệm Phật Tam Muội (念佛三昧). Tiếp theo, Đồng Tử đã từng tham vấn qua đủ các hạng người như Bồ Tát, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, đồng tử, đồng nữ, Dạ Thiên, Thiên Nữ, Bà La Môn, Trưởng Giả, thầy thuốc, người lái thuyền, quốc vương, tiên nhân, Phật mẫu, vương phi, Thần Đất, Thần Cây, v.v.; lắng nghe và thọ nhận đủ loại pháp môn; cuối cùng đến đạo tràng của Bồ Tát Phổ Hiền thì chứng vào Pháp Giới Vô Sanh (無生法界). Theo Hoa Nghiêm Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記, Taishō Vol. 35, No. 1733) quyển 18 cho biết, hành chứng của Đồng Tử thông với Tam Sanh (三生, ba đời) là thấy nghe (đời trước), hành giải (đời này), chứng nhập (đời sau); tức biểu thị trong một đời này, Thiện Tài tu đủ những pháp hành của 5 vị là Thập Tín (十信), Thập Trụ (十住), Thập Hành (十行), Thập Hồi Hướng (十迴向), Thập Địa (十地). Đây chính là nghĩa “Tam Sanh Thành Phật (一生成佛, Thành Phật Ba Đời).” Tuy nhiên, Hoa Nghiêm Tông chỉ có thuyết Nhất Sanh Thành Phật (一生成佛, Thành Phật Một Đời); cho nên khi nói ba đời ở đây biểu thị sự phân vị của pháp môn, thật tế thì trong một đời một niệm đã có ba đời; vì vậy chủ trương ba đời thấy nghe, hành giải, chứng nhập có thể trong một đời mà thành Phật. Do đó, việc thành Phật của Thiện Tài Đồng Tử có hai thuyết là Tam Sanh Thành Phật và Nhất Sanh Thành Phật. Ngoài ra, việc Đồng Tử tham vấn các thiện tri thức biểu thị thứ tự trước sau của nhân quả tiệm chứng (因果漸證, chứng ngộ từ từ theo nhân quả). Có nhiều kệ tán cũng như hình tượng liên quan đến lịch trình cầu đạo của Thiện Tài Đồng Tử, như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm Tán (大方廣佛華嚴經入法界品讚) của Dương Kiệt (楊傑, hậu bán thế kỷ 11) nhà Bắc Tống, được tìm thấy trong Viên Tông Văn Loại (圓宗文類, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1015) quyển 22; tỷ dụ bài Diệu Đức Viên Mãn Chủ Dạ Thần Tán (妙德圓滿主夜神讚) rằng: “Lâu các trang nghiêm tiếp Thiện Tài, chư thiên vi nhiễu hóa môn khai, Tỳ Lô Hải Tạng ngô thân nhập, tằng kiến Thế Tôn Đâu Suất lai (樓閣莊嚴接善財、諸天圍遶化門開、毗盧海藏吾親入、曾見世尊兜率來, lầu gác trang nghiêm tiếp Thiện Tài, chư thiên quanh nhiễu hóa cửa khai, Tỳ Lô biển tánh ta vào thẳng, từng thấy Thế Tôn Đâu Suất [đến] đây).” Hay tác phẩm Ngũ Tướng Trí Thức Tụng (五相智識頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1022) của Trung Sư (忠師); như bài tụng rằng: “Kỳ tai bất động Ưu Bà Di, thần biến đa năng xuất định thì, cố vấn Thiện Tài hoàn kiến phủ, nhất luân minh nguyệt ấn thiên trì (奇哉不動優婆夷、神變多能出定時、顧問善財還見否、一輪明月印天池, lạ thay Ưu Bà Di, thần biến đa năng xuất định khi, muốn hỏi Thiện Tài thấy chăng nhỉ, một vầng trăng sáng giữa hồ trời).” Bên cạnh đó, Thiền Sư Phật Quốc Duy Bạch (佛國惟白, ?-?), tu sĩ của Vân Môn Tông sống dưới thời Bắc Tống, cũng có bản Phật Quốc Văn Thù Chỉ Nam Đồ Tán (佛國文殊指南圖讚, Taishō Vol. 45, No. 1891), v.v. Tại các tự viện Thiền Tông, thông thường bên tay trái của Bồ Tát Quán Thế Âm thường có an trí tượng Thiện Tài Đồng Tử. Trong Thiền môn có bài tán về Thiện Tài rằng: “Thiện Tài Đồng Tử, ngũ thập tam tham, siêu sanh tử độ cô hồn, tảo vãng Tây phương, nhược nhơn quy y, Phật Pháp Tăng Tam Bảo, bất đọa Tam Đồ (善財童子、五十三參、超生死度孤魂、早往西方、若人歸依、佛法僧三寶、不墮三途, Thiện Tài Đồng Tử, năm ba lần tham, vượt sanh tử độ cô hồn, sớm qua Tây phương, nếu người quy y, Phật Pháp Tăng Tam Bảo, không đọa Ba Đường).”
thiện tài đồng tử
Sudhana-sresthi-daraka (S), Sudhana (S), Good Wealth.
; Sudhana (S). A disciple mentioned in the Hoa Nghiêm Kinh.
; Sudhana (skt)—Thiện Tài Đồng Tử (trong các chùa , bên trái tượng Quan Âm Bồ Tát có đặt tượng Thiện Tài Đồng Tử), một Phật tử được nói đến trong Kinh Hoa Nghiêm. Tên ông là Sudhana có nghĩa là “Thiện Tài” và lý do ông có tên nầy là vì lúc ông vừa mới sanh ra thì đột nhiên châu báu xuất hiện trong nhà cha ông. Ông là nhân vật chính trong chương cuối cùng và cũng là chương dài nhất trong Kinh Hoa Nghiêm. Trong khi tìm cầu giác ngộ, ông đã viếng thăm và tòng học với 53 vị thiện hữu tri thức và đã trở thành ngang hàng hay bình đẳng với Phật trong một đời (Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới: “Ngài Văn Thù ở trong khu rừng trang nghiêm có 500 vị đồng tử, mà Thiện Tài là một người phát tâm trong số 500 vị ấy. Thiện Tài sau đó đi về phương nam tham học cùng 53 vị tri thức và chứng nhập pháp giới)—A disciple mentioned in the Avatamsaka Sutra (Kinh Hoa Nghiêm). His name means “Good Wealth” and the reason for him to obtain such name was that when he was born, myriad treasures suddenly appeared in his father's home. The main protagonist in the last and longest chapter of the Avatamsaka Sutra. In seeking enlightenment, he tried to visit and study with fifty-three spiritual advisors and became equal with the Buddha in just one lifetime.
; (善財童子) Phạm: Sudhana-Zrewỉhi-dàraka. Vị Bồ tát cầu đạo nói trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm, từng đi về phương nam tham vấn 55 vị thiện tri thức, gặp bồ tát Phổ hiền thì thành tựu Phật đạo. Phật giáo Đại thừa dùng trường hợp này làm ví dụ để chứng minh nghĩa Tức thân thành Phật, còn quá trình cầu đạo của đồng tử Thiện tài thì biểu trưng cho các giai đoạn đi vào pháp giới của Hoa nghiêm. Cứ theo phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch cũ), đồng tử Thiện tài là con của 1 vị trưởng giả ở Phúc thành, từ khi đầu thai đến lúc sinh ra, có rất nhiều thứ trân bảo tự nhiên xuất hiện, vì thế đặt tênlàThiện tài(của cải tốt lành). Về sau, được sự dạy bảo của bồ tát Văn thù, đồng tử Thiện tài đi khắp các nước ở phương nam. Đầu tiên, Thiện tài đến nước Khả lạc tham vấn tỉ khưu Công đức vân, học được môn tam muội Niệm Phật. Sau đó, lần lượt tham vấn các vị Bồ tát, Tỉ khưu, Tỉ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Đồng tử, Đồng nữ,Dạ thiên, Thiên nữ, Bà la môn, Trưởng giả, Y sư, Thuyền sư, Quốc vương, Tiên nhân, Phật mẫu, Vương phi, Địa thần, Thụ thần... lắng nghe và lãnh thụ các loại pháp môn, cuối cùng đến đạo tràng Bồ tát Phổ hiền thì Thiện tài chứng nhập pháp giới Vô sinh. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 thì việc đồngtửThiện tài tham vấn các thiện tri thức có 8 ý nghĩa, đó là: Thiện tri thức là khuôn phép, là duyên thắng hạnh, phá kiến chấp kiêu mạn, xa lìa ma vi tế, nương thành hạnh, nương hiển vị, hiển bày sự sâu rộng và nêu rõ duyên khởi. Sách đã dẫn cũng cho rằng hành chứng của đồng tử Thiện tài suốt cả 3 đời: Kiến văn(đời trước), Giải hành(đời này) và Chứng nhập(đời sau) và lấy đời này của đồng tử Thiện tài làm Giải hành sinh, biểu thị Thiện tài trong 1 đời này tu đủ hành pháp của 5 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng và Thập địa, đây chính là nghĩa Tam sinh thành Phật (ba đời thành Phật), là y cứ vào quả báo cách đời mà nói 3 đời. Nhưng tông Hoa nghiêm còn có thuyết Nhất sinh thành Phật (thành Phật trong 1 đời), cho rằng ba đời (tam sinh) chỉ là từ ngữ biểu thị phần vị pháp môn, chứ thực ra trong một đời 1 niệm cũng có 3 đời, cho nên tông Hoa nghiêm chủ trương 3 đời kiến văn, giải hành, chứng nhập có thể mỗi đời đều tự trong1đời ấy mà thành Phật. Theo đây, việc thành Phật của đồng tử Thiện tài có 2 thuyết: Ba đời thành Phật và một đời thành Phật.Ngoài ra, việc đồng tử Thiện tài tham vấn các thiện tri thức là biểu thị thứ tự trước sau về nhân quả chứng ngộ tiệm tiến. Trong đó, từ lần đầu tiên gặp ngài Văn thù về sau đến vị thiện tri thức thứ 41, là biểu thị nương vào tướng tu hành của các giai vị Tam hiền, Thập thánh. Mười một vị tiếp sau là biểu thị cho tướng hội duyên nhập thực, tức tổng hợp các duyên sai biệt của các giai vị nói ở trước mà cùng vào lí thực tướng, chỉ cho thân chứng Diệu giác. Kế đó, gặp vị thứ 53 là bồ tát Di lặc, là biểu thị tướng nhiếp đức thành nhân, tức là thu nhiếp đức hội duyên nhập thực này để làm chính nhân cho Nhất sinh bổ xứ. Kế nữa là gặp lại bồ tát Văn thù là biểu thị tướng trí chiếu vô nhị, tức gặp bồ tát Văn thù lần đầu là tượng trưng cho Tín trí, sau khi đã tham vấn lần thứ 54, lại gặp bồ tát Văn thù lần thứ 2 là tượng trưng cho Chứng trí. Đến đây, tức biểu thị kết quả sự tầm cầu khắp các pháp môn của đồng tử Thiện tài đã tương ứng với bản trí, thầm hợp không hai, đã lìa tướng phân biệt năng và sở, được chiếu thể và độc lập. Sau cùng, đồng tử Thiện tài gặp bồ tát Phổ hiền là biểu thị tướng hiển bày nhân rộng lớn, tức đã đạt đến Trí, Chứng không hai, cho nên dứt ý quên lời, tất cả đều là Đạo, pháp pháp toàn chân, y chính dung hợp, lớp lớp vô tận, nêu 1 pháp tức viên nhân, hết thảy các pháp đều như thế, đó chính là cảnh giới Phổ hiền rộng lớn. Có rất nhiều kệ tán tụng và tranh vẽ về lịch trình cầu đạo của đồng tử Thiện tài, như Đại phương quảng Hoa nghiêm nhập pháp giới phẩm tán của cư sĩ Dương kiệt đời Bắc Tống, Ngũ tướng tri thức tụng của ngài Trung sư, Văn thù chỉ nam đồ tán của ngài Duy bạch... Những tác phẩm này cũng thường được dùng làm đề tài văn học Phật giáo. Còn trong các chùa viện thuộc Thiền tông thì tượng của đồng tử Thiện tài thường được đặtởbên trái tượng bồ tát Quán thế âm, tức lấy đề tài từ việc đồng tử Thiện tài được bồ tát Quán thế âm giáo hóa khi đồng tử đến bái yết Ngài trong quá trình tham vấn các bậc danh sư. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.55; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.3, 85; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thiện tánh
Bản tánh thiện, một trong tam tánh—Good nature—Good in nature, or in fundamental quality, one of the three types of characters. **For more information, please see Tam Tánh.
Thiện tánh 善性
[ja] ゼンショウ zenshō ||| The quality of (moral) goodness. One of the three qualities 三性 of all activities (karma), the other two being unwholesomeness 不善性, and moral neutrality . 〔瑜伽論 T 1579.30.308c22〕 => Phẩm chất đạo đức tốt. Một trong 3 tánh của mọi hành nghiệp, hai tánh kia là Bất thiện tánh và Vô ký tánh無記性.
thiện tâm
Kuśala citta (P), Suhada (S), Good-hearted.
; A good heart, or mind.
; a) Tâm thiện lành với những tư tưởng thiện lành: Wholesome mind (good heart—Good mind) withgood thoughts. b) Tâm thiện lành bao gồm những việc làm thiện lành đối với tha nhân, từ bi, bố thí, nhẫn nhục, ái ngữ, yêu thương, tín tâm, luôn nguyện cứu độ tha nhân—Benevolence—Good mind includes beneficial intentions towards others, compassion, loving-kindness, generosity, patience, good speech, tolerance, love, faith, wishing to help others, etc. c) Thiện tâm giúp đẩy lùi những tâm tiêu cực: Wholesome mind can be used to dispel negative minds.
; (善心) Tâm thiền định không suy lường, tức chỉ cho trạng thái tâm chuyên chú vào 1 đối tượng. Ngoài ra, cũng chỉ cho tâm xưa nay vốn thanh tịnh nhờ vào thiền định mà có được. [X. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự].
thiện tâm quán
Contemplation on good heart. 1) Thiện Tâm Quán hay quán yêu thương có thể tẩy trừ sân hận: Contemplation on love can be used to dispel anger. 2) Ganh tỵ có thể vượt qua bằng cách quán sát lòng biết ơn và sự hoan hỷ của tha nhân: Jealousy can be overcome by contemplating on appreciation and rejoicing in the good qualities of others.
thiện tích
Xem Tu di.
Thiện tín
(善信): niềm tin chí thành vào Phật pháp, hay chỉ cho người có niềm tin như vậy. Như trong Kim Cang Kinh Thạch Chú (金剛經石注, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 497) có đoạn: “Đản hữu thiện tín chi nhân, giai tri độc tụng Kim Cang tôn kinh, cập khấu kỳ nghĩa lý vân hà (但有善信之人、皆知讀誦金剛尊經、及叩其義理云何, chỉ có người có niềm tin chí thành, đều biết đọc tụng Kim Cang tôn kinh, và hỏi nghĩa lý kinh như thế nào).” Hay trong Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Lược Sớ (梵網經菩薩戒略疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 695) quyển 6 lại có đoạn: “Cố tu thường sanh thiện tín, tín ngã cập chúng sanh, thị đương thành chi Phật, chư Phật thị dĩ thành chi Phật (故須常生善信、信我及眾生、是當成之佛、諸佛是已成之佛, vì vậy nên thường sanh niềm tin chí thành, tin ta và chúng sanh, là vị Phật sẽ thành, chư Phật là vị Phật đã thành).” Hoặc trong Thời Thời Háo Niệm Phật (時時好念佛, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1200) cũng có câu: “Thiện tín kiến văn tâm hoan hỷ, ác nhân đỗ lí khởi phong ba (善信見聞心歡喜、惡人肚裏起風波, khéo tin thấy nghe tâm hoan hỷ, người ác trong ruột nỗi phong ba).”
thiện tín
Good faith—Believers in Buddhism.
thiện tín ni
(善信尼) Vị tỉ khưu ni đầu tiên ở Nhật bản, con gái của Tư mã Đạt đẳng, người đứng đầu thônAn bộở Đại hòa, tên tục là Đảo. Năm Thiên hoàng Mẫn đạt 13 (584), Ni sư 11 tuổi, theo vị tăng người Cao Li tên là Huệ tiện xuất gia. Đại thần Tô ngã Mã tử từng kiến tạo tượng Phật, thỉnh một pho tượng Bồ tát Di lặc từ nước Tân la truyền đến về thờ trong chùa, rồi thỉnh Ni sư về làm Trụ trì. Sau, gặp nạn Vật bộ Thủ ốc, Trung thần Thắng hải... hủy diệt Phật pháp, Ni sư tận lực lấy lại 3 tấm ca sa, từng bị giam cầm đánh đập. Về sau, Ni sư đến nước Bách tế học tập giới luật. Sau khi trở về Nhật bản, Ni sư ở chùa Anh tỉnh hóa độ ni chúng. [X. Nhật bản thư kỉ 20, 21; Nguyên hanh thích thư Q.18].
Thiện tính
善性; C: shànxìng; J: zenshō;|Phẩm chất đạo đức tốt. Một trong ba tính của mọi hành nghiệp, hai tính kia là Bất thiện tính (不善性) và Vô kí tính (無記性).
thiện tính
Good nature, good in nature, or in fundamental quality.
; (善性) I. Thiện Tính. Cũng gọi Thiện. Chỉ cho pháp có tính chất thiện, 1 trong 3 tính. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 5 thì bất cứ pháp nào thuận theo lợi ích đời này và đời sau, đều gọi là Thiện, còn như quả vui cõi trời, cõi người tuy thuận theo lợi ích đời này nhưng không thuận theo lợi ích đời sau thì không được gọi là Thiện. Trong 6 chuyển thức(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)bất cứ thức nào, hễ tương ứng với tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại... đều thuộc tính thiện. Luận Câu xá quyển 13 cũng nhân ra 4 loại tính Thiện, trong đó, Thắng nghĩa thiện là chỉ cho Trạch diệt niết bàn, Tự tính thiện chỉ cho tàm, quí và 3 thiện căn vô tham, vô sân, vô si, Tương ứng thiện là chỉ tâm vương, tâm sở tương ứng với Tự tính thiện mà khởi lên và trở thành Thiện tính, còn Đẳng khởi Thiện thì chỉ cho Thiện tính khởi lên từ Tự tính thiện và Tương ứng thiện. [X. luận Đại tì bà sa Q.51, luận Thành duy thức Q.3; luậnThuận chính lí Q.4; Câu xá luận quang kí Q.13]. (xt. Tam Tính, Thiện). II. Thiện Tính. Đối lại: Ác tính. Một trong hai tính chất của phàm phu. Tức chỉ cho tính chất lương thiện có thể hòa nhập với đạo thế gian và xuất thế gian. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 88 thì quả báo sai khác giữa tính thiện và tính ác là: Quả báo của tính ác phải đọa vào 3 đường ác địa ngục, ngã quỉ và súc sinh, còn quả báo của tính thiện thì được sinh vào cõi người, cõi trời, A tu la và được đạo Niết bàn. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo chia người có tính thiện làm 5 loại, tức bỏ ác làm thiện, bỏtà làm chính, bỏ hư làm thật, bỏ trái làm phải và bỏ ngụy làmchân, đồng thời cho rằng 5 loại người này nếu qui y Phật pháp thì có năng lực làm lợi mình, lợi người.
thiện tú
Xem Thiện Tinh.
thiện tú (túc)
Abiding in goodness, disciples who keep eight commandments, upavasatha, posadha.
thiện túc
Upavasa (S)Cận trụ nam, Cận trụ nữ, Ưu ba bà sa, Ưu ba bà bà1- Xa lánh những nơi bất thiện. 2- Cư sĩ thọ trì bát trai giới.
; Upavasatha, or Posadha (skt). 1) Chỉ trú ngụ nơi điều thiện—Abiding in goodness. 2) Một vị Phật tử (tại gia) giữ được tám giới (bát quan trai giới): A disciple who keeps eight commandments.
thiện túc bồ tát
Madrajyotis (S).
thiện tư đồng tử kinh
(善思童子經) Kinh, 2 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật vào thành Tì da li khất thực, Ngài đến nhà Tì ma la cật li xa, có đồng tử Thiện tư, nhờ căn lực đời trước huân tập, nên dâng hoa lễ Phật, nguyện thành bồ đề. Đức Phật liền nói pháp cho đồng tử nghe, nói kệ đối đáp qua lại, đồng tử bèn chứng được vô sinh nhẫn. Ngoài ra, kinh Đại phương đẳng đính vương, do ngài Pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn và kinh Đại thừa đính vương, do ngài Nguyệt bà thủ na dịch vào đời Lương đều là các bản dịch khác của kinh này. THIÊN VÔ ÚY (637-735) Phạm: Zubhakara-siôha. Hán âm: Thú bà yết la tăng ha, Thâu bà ca la. Hán dịch: Tịnh sư tử. Cũng gọi Vô úy tam tạng. Một trong các vị Tổ sư của Mật giáo. Sư và 2 vị Kim cương trí, Bất không được gọi chung là Khai nguyên tam đại sĩ. Sư là người ở nước Ô đồ ở Đông Ấn độ, thuộc dòng Sát đế lợi, là hậu duệ của Cam lộ phạn vương(chú út của đức Thích tôn). Năm 13 tuổi sư lên nối ngôi vua cha, nhưng vì nội loạn nên nhường ngôi xuất gia, đến bờ biển phía nam, gặp ngài Thù thắng Chiêu đề, ngộ được Tam muội Pháp hoa. Sư lại đến chùa Na lan đà, Trung Ấn Độ, theo ngài Đạt ma cúc đa (Phạm: Dharmagupta) học pháp Tam mật du già, được nối pháp và thụ Quán đính làm Thiên nhân sư. Năm Khai nguyên thứ 4 (716) đời Đường, sư vâng mệnh thầy, đi qua Trung á đến Trường an, vua Huyền tông tôn làm Quốc sư, ban sắc cho sư trụ ở viện Nam tháp chùa Hưng phúc, sau, sư dời đến chùa Tây minh. Năm sau, sư vâng sắc dịch kinh ở chùa Bồ đề, dịch kinh Hư không tạng bồ tát năng mãn chư nguyện tối thắng tâm đà la ni cầu văn trì pháp 1 quyển, sa môn Tát đạt đảm nhiệm phần dịch ngữ, ngài Vô trước sửa văn và ghi chép. Sư là người đầu tiên truyền Mật giáo đến Trung quốc, cùng ngài Kim cương trí đặt nền tảng vững chắc cho Mật giáo. Kinh Đại nhật (kinhĐại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì), thánh điển căn bản của Mật giáo, chính đã do sư nói lại, ngài Nhất hạnh ghi chép mà thành. Về sau, ngài Nhất hạnh biên soạn và chú thích thêm, gọi là Đại nhật kinh sớ, 20 quyển. Ngoài ra, sư còn dịch các kinh quan trọng của Mật giáo như: Kinh Tô bà hô đồng tử (3 quyển), kinh Tô tất địa yết ra (3 quyển)... đồng thời sư giới thiệu phương pháp tu hành Quán đính. Các Mật chú trong kinh Đại nhật đều viết bằng tiếng Phạm, sư cũng dịch ra Hán âm. Vì Mật giáo xem trọng văn tự để tụng niệm, quán tưởng chính xác nên sư sáng chế ra cách dịch âm này. Do đó có thể biết lúc bấy giờ sư truyền thụ Mật giáo, nhưng cũng đồng thời dạy cách ghép tiếng Phạm, mở đầu cho việc học chữ Tất đàm, đây là sự kiệntronglịch sử Phật giáo Trung quốc đáng được xem trọng. Sư cũng giỏi về công xảo nghệ thuật, tương truyền sư tự chế ra mô hình, đúc tạo linh tháp bằng đồng pha vàng cực kì trang nghiêm, đặc biệt các Mạn đồ la do sư vẽ rất khéo và đẹp. Năm Khai nguyên20 (732), sư dâng biểu xin trở về Ấn độ, nhưng không được chấp thuận. Đến ngày mồng 7 tháng 11 năm Khai nguyên 23 (735), sư thị tịch tại Thiền thất, thọ 99 tuổi, pháp lạp 80. Vua Huyền tông rất thương tiếc, truy tặng sư chức Hồng lô khanh và ban sắc an táng sư ở chùa Quảng kỉ, núi Tây sơn, Long môn. Đệ tử nối pháp có các vị Bảo tư, Nhất hạnh, Huyền siêu, Nghĩa lâm, Trí nghiêm, Hỉ vô úy, Bất khả tư nghị (người Tân la, tức nay là Triều tiên), Đạo từ(người Nhật bản)... [X. Đại nhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.thượng; Đại đường đông đô Đại thánh thiện tự cố Trung thiên trúc quốc Thiện vô úy tam tạng hòa thượng bi minh tinh tự; Tục cổ kinh dịch kinh đồ kỉ; Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Phật tổ thống kỉ Q.29, 40; Tống cao tăng truyện Q.2].
thiện tịch phật
(善寂佛) Tên đức Phật ở đời quá khứ. Kinh Phật tạng quyển hạ (Đại 15, 797) nói: Trong kiếp A tăng kì thứ 700, được gặp 62 đức Phật đều có danh hiệu là Thiện tịch.
Thiện tịnh
善淨; C: shànjìng; J: zenjō;|Thanh tịnh (s: viśuddha).
thiện tịnh cõi giới
Suvisudda (S)Ngài Phú la nâu (Purna) được Phật Thích Ca thọ ký vể vị lai sẽ thành Phật có hiệu này, cõi thế giới của Ngài là Thiện Tịnh, kỳ kiếp là Bảo Minh.
Thiện tịnh 善淨
[ja] ゼンジョウ zenjō ||| Well-purified (viśuddha). => Thanh tịnh (s: viśuddha).
thiện vô lậu pháp
Kuśalanāsravāḥ (S).
; Kusalanàsravàh (S). Good things free from evil flowings
; Kusalanasrava (skt)—Các đức tính tốt thoát khỏi các lậu hoặc mà hành giả có trí tuệ hưởng được khi họ đắm mình sâu trong hạnh phúc của Thiền định và an trú trong sự hiện hữu như thị (đúng như sự hiện hữu)—Good virtues free from evil flowings by the wise cultivators when they are deeply drunk in the the bliss of the samadhi and abiding in the bliss of existence as it is.
Thiện Vô Uý
善無畏; C: shàn wúwèi; J: zemmui; S: śubhā-karasiṃha, 637-735. |Học giả Ấn Độ truyền bá Mật tông Phật giáo sang Trung Hoa. Được xem là một trong 8 vị tổ của giáo lí Phó thụ bát tổ (傅授八祖) của Chân ngôn tông. Sinh trong một hoàng tộc thuộc vùng Orissa, kế thừa ngôi vào năm 13 tuổi, nhưng sư từ bỏ khi các người anh khởi binh bạo loạn tranh quyền kế vị. Sư xuất gia làm Tăng tại Trúc lâm tinh xá (竹林精舎, s: veṇuvanavihāra) trong chùa Na-lan-đà (那爛陀寺). Theo chỉ đạy của thầy là Đạt-ma Cúc-đa (達磨掬多, s: dharma-gupta), sư dấn thân vào cuộc hành trình sang Trung Hoa qua đường Thổ Phồn (吐蕃, e: turfan), đến nơi vào năm 716. Sư được vua Huyền Tông (玄宗) tiếp kiến năm 717, và bắt đầu dịch kinh tại chùa Tây Minh (西明寺). Khi vua trùng tu lại chùa năm 724, sư dời đến chùa Đại Phúc Tiên (大福先寺) ở Lạc Dương, cộng tác với Nhất Hạnh (一行) dịch Đại Nhật kinh (大日經, s: vairoca-nābhisambodhi). Dù đã nổi tiếng với việc dịch kinh ấy, sư còn dịch những nhiều kinh văn Mật tông quan trọng khác như kinh Tô-tất-địa (蘇悉地經; s: susiddhi). Sư còn tổ chức những nghi lễ cho triều đình và giảng thuyết; một trong những pháp ngữ nầy là Vô Uý tam tạng thiền yếu (無畏三藏禪要). Một số kinh văn khác được soạn ở Trung Hoa dưới sự hướng dẫn của sư. Đồ hình »Ngũ bộ tâm quán« (五部心観) có kể đến hành trạng của Thiện Vô Uý. Cho đến cuối đời, sư thỉnh nguyện được trở về Ấn Độ, nhưng bị từ chối, và sư viên tịch ở Lạc Dương. Sau khi an táng sư trên đồi quanh Long môn vào năm 740, tín đồ Phật tử vẫn tiếp tục thờ phụng nhục thân của sư.
Thiện Vô Uý 善無畏
[ja] ゼンムイ Zemmui ||| Śubhākarasiṃha (637-735). Indian paṇḍit who propagated Buddhist esotericism in China, acknowledged as one of the eight patriarchs of the doctrine 傅授八祖 in Shingon lineages. Born into a royal family of Orissa, he inherited the throne at age thirteen, but renounced it when his brothers began a violent struggle over the succession. He became a Buddhist monk, settling in the Veṇuvanavihāra 竹林精舎 at Nālanda monastery 那爛陀寺. At the behest of his master Dharmagupta 達磨掬多, he embarked on a journey to China via Turfan 吐蕃, arriving in 716. He was met by the emperor Xuanzong 玄宗 in 717, and began translating texts at Siming temple. When the emperor relocated in 724, he moved to Tafusien temple at Loyang, working there with Yixing 一行 on the translation of the Vairocanābhisambodhi 大日經 [T 848]. Though best known for translating that work, he translated a number of important esoteric texts such as the Susiddhi 蘇悉地經 [T 894] as well. He also performed rituals for the state and gave lectures; some of these are recorded in 'Master Śubha's Guide to Meditation' 無畏三藏禪要 [T 917]. Another text drafted in China under his guidance, the iconographic 'Essential Meditations on the Five Families' 五部心観, carries a portrait of Śubhakarāsiṃḥa. Towards the end of his life, he requested permission to return to India, but was refused, and he passed away in Loyang. After his burial in the hils around Longmen 龍門 in 740, devotees continued to worship his corpse. => Śubhākarasiṃha (637-735). Học giả Ấn Độ truyền bá Mật tông Phật giáo sang Trung Hoa. Được xem là một trong tám vị tổ của giáo lý Truyền thụ bát tổ của Chân ngôn tông. Được sinh trong hoàng tộc thuộc vùng Orissa, kề thừa ngôi vào năm 13 tuổi, nhưng ông từ bỏ khi người anh khởi binh bạo loạn dành quyền kế vị. Ông xuất gia làm Tăng tại Trúc lâm tinh xá trong chùa Na-lan-đà. Theo chỉ đạy của thầy là Đạt-ma Cúc-đa, sư dấn thân vào cuộc hành trình sang Trung Hoa qua đường Thổ Phồn (Turfan 吐蕃), đến nơi vào năm 716. Sư được vua Huyền Tông tiếp kiến năm 717, và bắt đầu dịch kinh tại chùa Siming. Khi vua trùng tu lại chùa năm 724, sư dời đến chùa Tafusien ở Lạc Dương, cộng tác với ngài Nhất Hạnh dịch Đại nhật kinh (大日經, s: Vairocanābhisambodhi). Dù đã nổi tiếng với việc dịch kinh ấy, sư còn dịch những nhiều kinh văn Mật tông quan trọng khác như kinh Tô tất địa (蘇悉地經; s: Susiddhi). Sư còn tổ chức những nghi lễ cho triều đình và giảng thuyết; một trong những pháp ngữ nầy là Vô Uý Tam tạng thiền yếu. Một số kinh văn khác được soạn ở Trung Hoa dưới sự hướng dẫn của sư. Đồ hình 'Ngũ bộ tâm quán'có mang dáng dấp của Thiện Vô Uý. Cho đến cuối đời, sư thỉnh nguyện được trở về Ấn Độ, nhưng bị từ chối, và sư viên tịch ở Lạc Dương. Sau khi an táng sư trên đồi quanh Long môn vào năm 740, tín đồ Phật tử vẫn tiếp tục thờ phụng thi hài của sư.
Thiện Vô Úy
(s: Śubhakarasiṃha, j: Zemmui, 善無畏, 637-735): âm dịch là Thú Bà Yết La (戍婆掲羅), Thâu Bà Ca La (輸婆迦羅), ý dịch là Tịnh Sư Tử (淨師子), thường được gọi là Vô Úy Tam Tạng (無畏三藏), là sơ tổ của Mật Giáo; cùng với Kim Cang Trí (s: Vajrabodhi, 金剛智) và Bất Không (s: Amoghavajra, 不空) được gọi là Khai Nguyên Tam Đại Sĩ (開元大士). Tương truyền là vương tử của nước Ô Trà (s: Orissa, 烏茶) ở Đông Ấn hay vương tử của Trung Ấn. Ông từ bỏ vương vị, quy đầu về cửa Phật, học Đại Thừa Phật Giáo ở tu viện Nālandā (娜爛陀寺, Na Lan Đà Tự) và được Đạt Ma Cúc Đa (s: Dharmagupta, 達摩鞠多) truyền trao Mật Giáo cho. Thể theo lời khuyên của thầy, năm 80 tuổi, ông đến kinh đô Trường An (長安) của Trung Quốc; tại đây ông được triều đình rất tin tưởng và tận lực phiên dịch cũng như lưu bố Mật Giáo. Ông đã phiên dịch khá nhiều kinh điển Mật Giáo quan trọng sang Hán ngữ như Đại Nhật Kinh (大日經) 7 quyển, Tô Bà Hô Đồng Tử Kinh (蘇婆呼童子經) 3 quyển, Tô Tất Địa Yết Ra Kinh (蘇悉地羯囉經) 3 quyển, v.v. Ngoài ra, trước tác Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) 20 quyển của ông cũng rất nổi tiếng. Ông được xem như là vị tổ truyền trì thứ 6 của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản.
thiện vô úy
Subhàkarasimha (S). A famous Indian monk, came to China in 716 to propagate the Esoteric Buddhism.
; Vị đầu tiên là Thiện Vô Úy (Subhakarasimha 637-735)—Subhakarasimha (637-735). • Ông từng là một vị vua của xứ Orissa. Ông xuất gia làm Tăng và đến đại học Na Lan Đà nơi Pháp Mật trụ trì. Ông thâm hiểu Du Già, chân ngôn, và ấn quyết, ông khởi hành đi Kasmir và Tây Tạng, và cuối cùng đến Trường An vào năm 716, nơi đó ông được vua Huyền Tôn (685-762) tiếp đón nồng hậu. Ông là người sáng lập ra Mật Tông vào khoảng năm 720: The first arrival was Subhakararimha (637-735), who had been king of Orissa. He joined the Sangha and went to the Nalanda University over which Dharmagupta presided. Well versed in Buddhist concentration (yoga), mystical verses (dharani) and fingers at last came to Ch'ang-An in 716, where he was well received by the Emperor Hsuan-Tsung (685-762). He was the founder of the Tantra School (the secret teaching of Yoga) around 720 A.D.—See Mật Tông. • Vô Hành, một học giả Trung Hoa, du hành sang Ấn Độ, gặp Nghĩa Tịnh tại Na Lan Đà và thâu thập nhiều bản kinh Phạn văn. Ông mất trên đường hồi hương, nhưng những tài liệu thâu thập của ông vẫn được đưa đến chùa Hoa Nghiêm ở Trường An. Khi hay tin đó, Thiện Vô Úy bèn cùng Nghĩa Tịnh chọn lựa vài bản kinh quan trọng, và vào năm 725, khởi dịch kinh Đại Nhật và các kinh khác. Thiện Vô Úy muốn trở về Ấn Độ nhưng không đuợc phép khởi hành, và mất tại Trung Quốc vào năm 735: Wu-Hsing, a learned Chinese, who traveled in India, met I-Ching at Nalanda and collected various Sanskrit texts. He died on his way home, but his collection reached Hua-Yen Monastery in Ch'ang-An. On hearing this Subhakarasimha together with I-Ching selected some of the important texts and in 725 translated the “Great Sun” text (Mahavairocana) and others. He wanted to return to India, but was not allowed to depart and died in 735.
thiện vô úy sa môn
Śubhakara (S).
Thiện xảo
善巧; C: shàn qiăo; J: zengyō; S: upāya-(kauśalya).|»(Phương tiện) thiện xảo«. Hướng dẫn chúng sinh tuỳ theo căn tính của họ một cách khéo léo (phương tiện 方便).
thiện xảo
Clever, skilful, adroit, apt.
; 1) Xảo Diệu: Clever—Skillful. 2) Phương Tiện Thiện Xảo: Skillful means.
; (善巧) Cũng gọi Thiện quyền. Gọi đủ: Thiện xảo phương tiện (Phạm: Upàya-kausalya, Hán âm: Âu hòacâu xá la).Tốt lành, khéo léo. Tức chỉ cho phương pháp xảo diệu mà Phật và Bồ tát ứng dụng để giáo hóa chúng sinh. Phật và Bồ tát thuận theo năng lực và căn tính của chúng sinh mà vận dụng mọi phương tiện (phương pháp nói pháp giáo hóa người khác) khéo léo, nhiếp thủ giáo hóa chúng sinh, gọi là Thiện xảo nhiếp hóa. Vì thích ứng với căn cơ chúng sinh mà vận dụng một cách khéo léo các pháp để cứu độ, thì những phương pháp ấy gọi là Thiện xảo phương tiện. [X. kinh Đại bảo tích Q.51; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4 thượng]. (xt. Phương Tiện).
thiện xảo an tâm
(善巧安心) Gọi đủ: Thiện xảo an tâm chỉ quán. Pháp quán thứ 3 trong Thập thừa quán pháp của tông Thiên thai. Nghĩa là vận dụng chỉ quán một cách khéo léo khiến cho tâm an trụ trong pháp tính. Pháp quán này, ngoài bậc thượng căn ra, cũng còn là 1 trong các pháp quán mà hàng trung căn và hạ căn phải tu. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).
thiện xảo phương tiện
Upāya-kuśala (S), Upāya-kuśala (P), Skillful means.
Thiện xảo 善巧
[ja] ゼンギョウ zengyō ||| Skt. (upāya-)kauśalya. 'skillful (means).' Skillfully guiding sentient beings according to their capabilities (fangbian 方便). 〔對法論T 1606.31.764a4〕 => Skt. (upāya-)kauśalya. 'Phương tiện thiện xảo'. Phương tiện khéo léo để hướng dẫn chúng sinh tuỳ theo căn tính của họ. Còn gọi là phương tiện 方便.
thiện xứ
Good abode, realm.
thiện ác
Good and evil; good, inter alia, is defined as thuận lí to accord with the right, evil as nghịch lí to disobey the right.
; Kusala and akusala (skt)—Good and evil. (I) Nghĩa của “Thiện Ác”—The meanings of “Good and Evil” 1) Thiện là thuận lý: Good is defined as to accord with the right. 2) Ác là nghịch lý: Bad is defined as to disobey the right. (II) Những lời Phật dạy về “Thiện Ác”—The Buddha's teachings on “Good and Evil” 1) Ở chỗ nầy ăn năn, tiếp ở chỗ khác cũng ăn năn, kẻ làm điều ác nghiệp, cả hai nơi đều ăn năn; vì thấy ác nghiệp mình gây ra, kẻ kia sanh ra ăn năn và chết mòn—The evil-doer grieves in this world and in the next; he grieves in both. He grieves and suffers when he perceives the evil of his own deeds (Dharmapada 15). 2) Ở chỗ nầy vui, tiếp ở chỗ khác cũng vui; kẻ làm điều thiện nghiệp, cả hai nơi đều an vui; vì thấy thiện nghiệp mình gây ra, người kia sanh ra an lạc và cực lạc—The virtuous man rejoices in this world, and in the next. He is happy in both worlds. He rejoices and delights when he perceives the purity of his own deeds (Dharmapada 16). 3) Ở chỗ nầy than buồn, tiếp ở chỗ khác cũng than buồn, kẻ gây điều ác nghiệp, cả hai nơi đều than buồn: nghĩ rằng “tôi đã tạo ác” vì vậy nên nó than buồn. Hơn nữa còn than buồn vì phải đọa vào cõi khổ—The evil man suffers in this world and in the next. He suffers everywhere. He suffers whenever he thinks of the evil deeds he has done. Furthermore he suffers even more when he has gone to a woeful path (Dharmapada 17). 4) Ở chỗ nầy hoan hỷ, tiếp ở chỗ khác cũng hoan hỷ, kẻ tu hành phước nghiệp, cả hai nơi đều hoan hỷ: nghĩ rằng “tôi đã tạo phước” vì vậy nên nó hoan hỷ. Hơn nữa còn hoan hỷ vì được sanh vào cõi lành—The virtuous man is happy here in this world, and he is happy there in the next. He is happy everywhere. He is happy when he thinks of the good deeds he has done. Furthermore, he is even happier when he has gone to a blissful path (Dharmapada 18). 5) Hãy gấp rút làm lành, chế chỉ tâm tội ác. Hễ biếng nhác việc lành giờ phút nào thì tâm ưa chuyện ác giờ phút nấy—Let's hasten up to do good. Let's restrain our minds from evil thoughts, for the minds of those who are slow in doing good actions delight in evil (Dharmapada 116). 6) Nếu đã lỡ làm ác chớ nên thường làm hoài, chớ vui làm việc ác; hễ chứa ác nhứt định thọ khổ—If a person commits evil, let him not do it again and again; he should not rejoice therein, sorrow is the outcome of evil (Dharmapada 117). 7) Nếu đã làm việc lành hãy nên thường làm mãi, nên vui làm việc lành; hễ chứa lành nhứt định thọ lạc—If a person does a meritorious deed, he should do it habitually, he should find pleasures therein, happiness is the outcome of merit (Dharmapada 118). 8) Khi nghiệp ác chưa thành thục, kẻ ác cho là vui, đến khi nghiệp ác thành thục kẻ ác mới hay là ác—Even an evil-doer sees good as long as evil deed has not yet ripened; but when his evil deed has ripened, then he sees the evil results (Dharmapada 119). 9) Khi nghiệp lành chưa thành thục, người lành cho là khổ, đến khi nghiệp lành thành thục, người lành mới biết là lành—Even a good person sees evil as long as his good deed has not yet ripened; but when his good deed has ripened, then he sees the good results (Dharmapada 120). 10) Chớ khinh điều ác nhỏ, cho rằng “chẳng đưa lại quả báo cho ta.” Phải biết giọt nước nhểu lâu ngày cũng làm đầy bình. Kẻ ngu phu sở dĩ đầy tội ác bởi chứa dồn từng khi ít mà nên—Do not disregard (underestimate) small evil, saying, “it will not matter to me.” By the falling of drop by drop, a water-jar is filled; likewise, the fool becomes full of evil, even if he gathers it little by little (Dharmapada 121). 11) Chớ nên khinh điều lành nhỏ, cho rằng “chẳng đưa lại quả báo cho ta.” Phải biết giọt nước nhểu lâu ngày cũng làm đầy bình. Kẻ trí sở dĩ toàn thiện bởi chứa dồn từng khi ít mà nên—Do not disregard small good, saying, “it will not matter to me.” Even by the falling of drop by drop, a water-jar is filled; likewise, the wise man, gathers his merit little by little (Dharmapada 122). 12) Người đi buôn mang nhiều của báu mà thiếu bạn đồng hành, tránh xa con đường nguy hiểm làm sao, như kẻ tham sống tránh xa thuốc độc thế nào, thì các ngươi cũng phải tránh xa điều ác thế ấy—A merchant with great wealth but lacks of companions, avoids a dangerous route, just as one desiring to live avoids poison, one should shun evil things in the same manner (Dharmapada 123). 13) Với bàn tay không thương tích, có thể nắm thuốc độc mà không bị nhiễm độc, với người không làm ác thì không bao giờ bị ác—With a hand without wound, one can touch poison; the poison does not afftect one who has no wound; nor is there ill for him who does no wrong (Dharmapada 124). 14) Đem ác ý xâm phạm đến người không tà vạy, thanh tịnh và vô nhiễm, tội ác sẽ trở lại kẻ làm ác như ngược gió tung bụi—Whoever harms a harmless person who is pure and guiltless, the evil falls back upon that fool, like dust thrown against the wind (Dharmapada 125). 15) Một số sinh ra từ bào thai, kẻ ác thì đọa vào địa ngục, người chính trực thì sinh lên chư thiên, nhưng cõi Niết bàn chỉ dành riêng cho những ai đã diệt sạch nghiệp sanh tử—Some are born in a womb; evil-doers are reborn in hells; the righteous people go to blissful states; the undefiled ones pass away into Nirvana (Dharmapada 126). 16) Chẳng phải bay lên không trung, chẳng phải lặn xuống đáy bể, chẳng phải chui vào hang sâu núi thẳm, dù tìm khắp thế gian nầy, chẳng có nơi nào trốn khỏi ác nghiệp đã gây—Neither in the sky, nor in mid-ocean, nor in mountain cave, nowhere on earth where one can escape from the consequences of his evil deeds (Dharmapada 127). 17) Kẻ ngu phu tạo các ác nghiệp vẫn không tự biết có quả báo gì chăng ? Người ngu tự tạo ra nghiệp để chịu khổ, chẳng khác nào tự lấy lửa đốt mình—A fool does not realize when he commits wrong deeds; by his own deeds the stupid man is tormented, like one is lighting fires wherein he must be burnt one day (Dharmapada 136). 18) Việc hung ác thì dễ làm nhưng chẳng lợi gì cho ta, trái lại việc từ thiện có lợi cho ta thì lại rất khó làm—Bad deeds are easy to do, but they are harmful, not beneficial to oneself. On the contrary, it is very difficult to do that which is beneficial and good for oneself (Dharmapada 163). 19) Những người ác tuệ ngu si, vì tâm tà kiến mà vu miệt giáo pháp A-la-hán, vu miệt người lành Chánh đạo và giáo pháp đức Như Lai để tự mang lấy bại hoại, như giống cỏ cách-tha hễ sinh hoa quả xong liền tiêu diệt—The foolish man who slanders the teachings of the Arhats, of the righteous and the Noble Ones. He follows false doctrine, ripens like the kashta reed, only for its own destruction (Dharmapada 164). 20) Làm dữ bởi ta mà nhiễm ô cũng bởi ta, làm lành bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta. Tịnh hay bất tịnh đều bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được—By oneself the evil is done, by oneself one is defiled or purified. Purity or impurity depend on oneself. No one can purify another (Dharmapada 165).
; (善惡) Chỉ cho thiện và ác. Nếu thêm vô kí thì gọi chung là Tam tính. Nói cách thông thường thìThiện chỉ cho thuận lí,Ác chỉ cho trái lí. Nhưng, trong các kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Thành duy thức quyển 5 thì hành pháp hữu lậu và vô lậu có năng lực thuận ích cho đời này và đời sau thì là Thiện; trái lại, hành pháp trái nghịch gây tổn hại cho đời này, đời sau thì làÁc. Ranh giới phân chia giữa thiện và ác là ở chỗ thuận ích và trái tổn khác nhau. Hơn nữa, thiện và ác phải xuyên suốt đời này và đời sau, nếu không thì là vô kí(không phải thiện cũng chẳng phải ác). Như quả báo vui ở cõi người, cõi trời, đối với đời này tuy là thuận ích nhưng đối với đời sau lại không là thuận ích, vì thế chẳng phải là thiện, mà là tính vô kí. Lại như quả báo khổ ở ác thú, đối với đời này tuy là trái tổn nhưng đối với đời sau lại không là trái tổn, cho nên cũng chẳng phải ác, mà là tính vô kí. Trong Đại thừa nghĩa chương quyển 12, ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh đã y cứ vào 5 thừa Nhân, Thiên, Nhị thừa, Bồ tát và Phật để giải thích rõ về danh từ thiện, ác. Đó là: 1. Thuận ích là thiện, trái tổn là ác. Tức cho thiện pháp mà 5 thừa tu hành thuộc về thiện; còn cái nguyên nhân có năng lực dẫn đến quả báo trong 3 đường (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh)và chiêu cảm nghiệp báo riêng của quả khổ ở cõi trời, cõi người thì thuộc về ác. 2. Thuận lí là thiện, trái lí là ác. Lí chỉ cho tính không vô tướng. Thiện pháp mà Phật, Bồ tát và Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác)tu hành là thuộc về thiện; còn thiện pháp mà người và trời tu hành là Hữu tướng hành, cho nên thuộc về ác. 3. Thể thuận là thiện, thể trái là ác. Thể là tự thể của mình, tức chỉ cho chân tính của pháp giới. Theo nghĩa này thì tất cả thiện hạnh mà5 thừa duyên tu đều thuộc về ác. Tông Thiên thai lập6 loại thiện ác: 1. Thiện của người, trời: Chỉ cho các việc thiện như 5 giới cấm, 10 điều thiện. Nhưng vì khi quả báo cõi người, cõi trời hết rồi thì vẫn lại đọa vào 3 đường ác(địa ngục, ngã quỉ, súc sinh), cho nên cũng thuộc về ác. 2. Thiện của Nhị thừa: Hàng Nhị thừa có năng lực xa lìa cái khổ trong 3 cõi(Dục, Sắc và Vô sắc) cho nên thuộc về thiện; nhưng hàng Nhị thừa tuy có khả năng tự độ mà không thể độ tha, vì thế cũng là ác. 3. Thiện của Bồ tát Tiểu thừa: Hàng Bồ tát Tiểu thừa có tâm từ bi cứu giúp tất cả, cho nên thuộc về thiện; nhưng vì tự thân vẫn chưa dứt hết phiền não nên cũng thuộc về ác. 4. Thiện của Tam thừa Thông giáo: Tam thừa Thông giáo cùng đoạn phiền não kiến nhẫn nên thuộc về thiện; nhưng vì chưa thấy được lí Trung đạo của Biệt giáo, chưa diệt được một phần vô minh nào, vì thế cũng thuộc về ác. 5. Thiện của Bồ tát Biệt giáo: Bồ tát Biệt giáo có năng lực thấy lí Trung đạo, cho nên thuộc về thiện; nhưng vì Trung đạo mà hàng Bồ tát này thấy là Trung đạo cách lịch(Trung đạo cách lịch chứ không dung thông), chứ không phải Trung đạo viên dung của Viên giáo, cho nên hạnh tu của các vị Bồ tát này còn vướng phương tiện, không hợp với lí, đó cũng thuộc về ác. 6. Thiện của Bồ tát Viên giáo: Chân lí mà hàng Bồ tát Viên giáo thấy được là lí viên dung vi diệu, vốn là thiện tột bậc; nhưng nói theo 2 nghĩa thuận, bội và đạt, trước thì cũng thuộc về ác. Thuận, bội nghĩa là thuận theo viên lí thực tướng là thiện, còn trái ngược lại(bội) thì là ác; Đạt, trước nghĩa là đạt được viên lí này là thiện, còn sinh khởi chấp trước viên lí này thì là ác. Trong đó, dùng nghĩa thứ 2 là đạt, trước để phân biệt thiện ác là thuyết đặc biệt của tông Thiên thai. [X.kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.7; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng; Ma ha chỉ quán Q.2, phần 3]. (xt. Thiện,Ác).
thiện ác bất nhị
Good and evil are not dualism—See Bất Nhị.
; (善惡不二) Thiện vá ác chẳng phải hai. Nghĩa là thiện và ác(bất thiện)đều do nhân duyên mà sinh, trong đó đều không có thực thể, mà là tính không bình đẳng, không có sai khác, cũng tức là chẳng hai, là như nhau. Phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung (Đại 14, 550 hạ) nói: Thiện, Bất thiện là hai, nếu không khởi thiện, bất thiện mà vô tướng thông suốt thì đó là vào pháp môn Bất nhị. Thông thường, tuy chia thiện ác làm hai, cho thiện là thuận lí, ác là trái lí, hoặc cho rằng thiện có năng lực mang lại thuận ích cho hiện tại và vị lai, còn ác thì trái tổn, đưa đến quả khổ. Nhưng, đứng trên lập trường bát nhã(trí tuệ)mà nhận xét, thì tất cả các pháp đều không có thực thể, đều do nhân duyên sinh. Do đó mà biếtthiện, ác đều là tính không, đều chẳng phải đối lập, mà là bình đẳng như nhau. Nếu nhìn theo lập trường bất nhị của cảnh giới giác ngộ, thì sự đối lập giữa thiện và bất thiện trong thế giới tương đối hoàn toàn không có ý nghĩa thực chất nào, chỉ là sự phân biệt hư dối. Cho nên, nếu dùng trí tuệ diệt trừ sự chấp trước phân biệt tương đối giữa thiện và bất thiện thì thông suốt tất cả pháp đều vô tướng bình đẳng. Cái gọi là Thiện ác bất nhị chính là cảnh giới Bát nhã giác ngộ thông suốt vậy.
thiện ác tứ vị
(善惡四位) Bốn ngôi thứ khác nhau của người nghe pháp. Do tác dụng thiện ác ở đời quá khứ mà ngày nay nghe pháp có 4 ngôi thứ khác nhau: 1. Tác dụng ác thêm nhiều: Ngôi thứ này không được nghe pháp. Như kinh Pháp hoa quyển 7 nói rằng người tăng thượng mạn, trong 200 ức kiếp thường không được nghe pháp. 2. Tác dụng thiện thêm nhiều: Ngôi thứ này thường được nghe pháp. Như các vị Đạibồ tát từ hàng Thập trụ trở lên. 3. Thiện ác giao tế: Lúcbỏ phàm vào thánh, hạng người trong ngôi thứ này nghe pháp rất khó, tình cờ nghe liền ngộ, như bồ tát Thường đề, người tì nữgiàtrong nhà trưởng giả Tu đạt... dù bị ma chướng cản trở, hoặc do hoặc nghiệp của chính mình ngăn ngại sự thấy nghe, nhưng không bao lâu liền ngộ. 4. Thiện ác dung nhau: Thiện ác ở ngôi thứ này, cùng là pháp sinh tử lưu chuyển, cho nên phần nhiều khó được nghe pháp, nhưng nhờ tác dụng ác không tăng thêm, cho nên chẳng phải không nghe pháp, cũng chẳng phải thiện ác giao tế, vì thế tuy được nghe pháp mà không được lợi ích lớn. Sáu đường(địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người, và trời), 4 loài sinh(đẻ bọc, đẻ trứng, đẻ ở chỗ ẩm ướt, tự nhiên hóa sinh), chính là loại này. Căn cứ vào 4 ngôi thứ trên đây, ta có thể biết, trong hạng người thượng căn, có người khó được nghePhậtpháp; còn trong giới phàmphu cũng có người có khả năng nghePhậtpháp. [X. Vãng sinh yếu tập Q.hạ, phần cuối].
thiện ý
Good intention—Good will—Good faith.
thiện ý bồ tát
Dantamati (S)Tên một vị Bồ tát.
thiện đô
Jantu (skt)—Thiền Đầu—Thiền Đậu—Thiền Đâu—Chúng sanh—All living beings.
Thiện Đạo
(善導, Shàn-dào, Zendō, 613-681): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người hình thành nên Tịnh Độ Giáo Trung Quốc, vị tổ thứ 3 của Tịnh Độ Tông và được liệt vào hàng thứ 5 trong 7 vị cao tăng của Chơn Tông Nhật Bản. Ông xuất thân Lâm Truy (臨淄), Sơn Đông (山東), họ Chu (朱), hiệu Chung Nam Đại Sư (終南大師). Trước khi ông ra đời là thời đại của Văn Đế (文帝), vị vua rất sùng ngưỡng Phật Giáo; vị tổ khai sáng Thiên Thai là Trí Khải Đại Sư (智顗大師) thị tịch trước khi ông ra đời 16 năm; còn Đạo Xước (道綽) thì quy y với Tịnh Độ Giáo trước khi ông sinh ra 4 năm. Nhà dịch kinh nổi tiếng Huyền Trang (玄奘) thì hoạt động cùng thời đại với ông. Lúc nhỏ ông theo xuất gia với Minh Thắng Pháp Sư (明勝法師) ở Mật Châu (密州), tinh thông các kinh Pháp Hoa, Duy Ma, v.v. Vào năm thứ 15 (641) niên hiệu Trinh Quán (貞觀) đời vua Thái Tông nhà Đường, ông đến Huyền Trung Tự (玄中寺) ở Tây Hà (西河), yết kiến Đạo Xước (道綽), tu học sám pháp Phương Đẳng và nghe giảng Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經). Từ đó về sau, ông chuyên tâm niệm Phật, tinh tấn vượt qua mọi khổ nhọc, cuối cùng đạt được Niệm Phật Tam Muội và trong giấc mơ thấy được cảnh giới trang nghiêm của Tịnh Độ. Sau khi Đạo Xước qua đời, ông chuyển đến Ngộ Chơn Tự (悟眞寺) ở phía Nam Chung Nam Sơn (終南山) và nỗ lực tu tập Tịnh Độ. Về sau, ông đến Quang Minh Tự (光明寺) ở Trường An (長安), truyền bá pháp môn này. Ông thường hành trì nghiêm mật, hằng ngày ngồi xếp bằng chấp tay, nhất tâm niệm Phật cho đến khi nào hết sức mới thôi. Trong vòng hơn 30 năm trường, ông không hề nằm ngủ, chẳng mắt nhìn người nữ, không nhận lễ bái của Sa Di, xa lánh danh lợi, chẳng thọ nhận cúng dường, tất cả quần áo đẹp cũng như thức ăn ngon ông đều đem đưa nhà trù cúng cho chúng tăng. Đạo phong của ông vang khắp các châu, mọi người đều ngưỡng mộ, được gọi là Di Đà hóa thân. Ngoài ra, ông cũng đã từng luận tranh với Kim Cang Pháp Sư (金剛法師) về những ưu khuyết của pháp môn Niệm Phật. Dưới thời vua Cao Tông, ông làm chức kiểm tra trong công trình tạo lập tượng Đại Lô Xá Na Phật (大盧舍那佛) ở Long Môn (龍門), Lạc Dương (洛陽). Ông đã từng sống qua một số chùa ở Trường An như Quang Minh Tự (光明寺), Huệ Ân Tự (慈恩寺), Thật Tế Tự (實際寺), v.v. Vào ngày 14 (có thuyết cho là ngày 27) tháng 3 năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Long (永隆), ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi. Môn nhân của ông có Hoài Cảm (懷感), Hoài Uẩn (懷惲), Tịnh Nghiệp (淨業), v.v. Trước tác của ông để lại có 5 bộ 9 quyển gồm Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ (觀無量壽經疏) 4 quyển, Tịnh Độ Pháp Sự Tán (淨土法事讚) 2 quyển, và Quán Niệm Pháp Môn (觀念法門) 1 quyển, Vãng Sanh Lễ Tán Kệ (徃生禮讚偈) 1 quyển, Ban Chu Tán (般舟讚) 1 quyển, Ngũ Chủng Tăng Thượng Duyên Nghĩa (五種增上緣義), v.v., là những tác phẩm do ông trước tác trong thời gian ở Trường An.
; 善導; C: shàndăo; J: zendō; 613-681. |Vị thứ 3 trong 5 vị tổ Tịnh độ tông và là vị thứ 5 trong 7 vị tổ của Tịnh độ chân tông. Ngài xuất gia khi còn nhỏ tuổi và tu tập thiền quán tưởng A-di-đà và Tịnh độ. Khi nghe tiếng Đạo Xước (道綽), Thiện Đạo đến gặp và nhận giáo lí Tịnh độ từ vị này. Suốt đời Thiện Đạo hiến mình tu tập và hoằng truyền giáo lí nầy. Tương truyền sư đã chép kinh A-di-đà hơn 100.000 lần và vẽ hơn 300 bức tranh về Tịnh độ. Ngoài việc tụng kinh và niệm Phật thường xuyên, sư còn tiền hành các thời khoá thiền quán tưởng đức Phật A-di-đà và Cực lạc quốc của Ngài. Thiện Đạo còn trứ tác 5 tác phẩm trong 9 cuốn, gồm những luận giải khác nhau về kinh Quán vô lượng thọ. Ngài thường được gọi là Quang Minh tự Hoà thượng (光明寺和尚), Chung Nam Đại sư (終南大師)…
thiện đạo
Shan tao (C).
; Good way, good direction.
; 1) Con đường thiện lành: Fortunate realm—White path. 2) Sư Thiện Đạo, người đã giảng giải các bộ luận của Tịnh Độ Tông, ngài cũng giảng về phép tu “lục thời vãng sanh.” Ngài là một trong những cao Tăng vào khoảng năm 681 sau Tây Lịch vào thời nhà Đường. Trong niên hiệu Trinh Quán, nhân thấy bài văn Tịnh Độ Cửu Phẩm Đạo Tràng của ngài Đạo Xước Thiền Sư ở Tây Hà, ngài rất mừng, bảo rằng: “Đây mới chính thật là cửa mầu để đi vào cảnh Phật. Tu các hạnh nghiệp khác xa vời, quanh quất khó thành. Duy có pháp môn nầy mau thoát tử.” Từ đó ngài tinh cần sớm hôm lễ tụng. Ít lâu sau Đại sư đến kinh sư khuyến khích các hàng tứ chúng niệm Phật. Mỗi khi ngài vào thất quỳ niệm Phật, nếu chưa đến lúc kiệt sức, thời quyết không chịu nghỉ ngơi. Lúc ra thất, ngài vì đại chúng mà diễn nói pháp môn Tịnh Độ. Hơn 30 năm, ngài vừa hóa đạo, vừa chuyên tu chưa từng ngủ nghỉ. Hằng ngày đại sư nghiêm trì giới hạnh, không để sai phạm mảy may. Khi được cúng dường thức ăn ngon quý, ngài đem dâng hết cho đại chúng, còn ngài chỉ dùng các món ăn thô dở mà thôi. Tài vật của đàn na tín thí cúng dường, ngài dùng để viết hơn 100.000 ngàn quyển kinh A Di Đà; họa hơn 300 cảnh Tịnh Độ. Số tiền còn lại ngài dùng vào việc trùng tu chùa viện, mua đèn thắp sáng, chứ không để dư. Đệ tử Tăng Tục của ngài lên đến hàng vạn, trong đó có nhiều người hiện tiền chứng được “Niệm Phật Tam Muội,” lúc lâm chung được thoại ứng vãng sanh, số nhiều không kể xiết. Một hôm, ngài bỗng bảo với tứ chúng rằng: “Thân nầy đáng chán, ta sắp về Tây.” Nói xong ngài leo lên cây liễu trước chùa, chắp tay hướng về phương Tây mà chúc nguyện rằng: “Xin Phật và Bồ Tát tiếp dẫn con, khiến cho con không mất chánh niệm, để được sanh về Cực Lạc.” Nguyện xong, ngài gieo mình xuống đất, nhẹ nhàng như chiếc lá rơi, ngồi kiết già ngay thẳng trên mặt đất. Đại chúng vội đến xem, thì ngài đã viên tịch—A monk named Shan-T'ao, in about 681 A.D., during the T'ang Dynasty, a writer of commentaries on the sastras of the Pure Land sect, and one of its literary men. In the Trinh Quán reign period, reading the Pureland text “Nine Levels of Gaining Rebirth” written by Zen Master T'ao-Xuo of Tsi-He region brought him great joy, as he said: “This is truly the magnificent door to enter the Buddha's world. Cultivating other conducts and practices is long and convoluted making them much more difficult to achieve. Only this Dharma Door of Pureland Buddhism will lead to an expedient liberation from the cycle of rebirths.” From that time, the Great Master cultivated and practiced Pureland Buddhism vigorously and diligently. Not long thereafter, the Great Master came to the capital city to encourage all Buddhists to practice Buddha Recitation. Each time he entered his cottage to kneel and practice Buddha Recitation, if he had not exhausted his strength, he did not rest. After completing his practice, for the benefit of great following. He taught and explained the Dharma Door of Pureland Buddhism. For more than thirty years, he cultivated and propagated Pureland Teachings diligently without a day of rest or sleep. Each day he maintained his precepts purely without violating the smallest precept. When receiving offerings of goods and rare delicates, he would give them to his disciples. For himself, he ate only the less desirable foods. With the monetary wealth he received from offerings made by faithful followers. He had over one hundred thousand Amitabha Buddha Sutras hand-copies. He had over 300 pictures of the Pureland drawn. Additionally, with whatever was left of that money, he used for renovating the temple, pagoda, or buying candles to keep the shrine lighted continuously. Thus, he never saved anything he received. His disciples, those of religious ranks as well as lay Buddhists, who followed his virtuous ways were great in number, may be several hundred thousand. Among these people, many attained the “Buddha Recitation Samadhi” during their lifetime, and upon death countless others achieved observable signs and characteristis of them gaining rebirth to the Amitabha Buddha's Pureland. One day, all of a sudden, he said to his mass following: “This body is filled with sufferings, I will soon go West.” After speaking, he climbed on a willow tree in front of the temple. Facing the Western direction with his palms together and made this prayer: “I ask the Buddha and the Bodhisattvas to rescue and deliver me, to aid me so I will not lose my pure mind to gain rebirth to the Ultimate Bliss World.” Immediately following this prayer, light as a leaf falling from a tree, he threw his body to the ground, and sat in the lotus position. Everyone rushed over to see him and that was when he took his last breath.
; (善導) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Lâm chuy, tỉnh Sơn đông (có thuyết nói người ở Hu di, tỉnh An huy), họ Chu, hiệu Chung nam Đại sư. Sư là Tổ thứ 3 của tông Tịnh độ; cũng chính là người tập đại thành pháiĐàm loan, Đạo xước thuộc tông Tịnh độ. Lúc tuổi nhỏ, sư theo ngài Minh thắng ở Mật châu xuất gia, tụng các kinh Pháp hoa, Duy ma... Sau, sư được đọc kinh Quán vô lượng thọ, vui buồn lẫn lộn, sư liền tu tập 16 pháp quán nói trong kinh này. Năm Trinh quán 15 (641) đời vua Thái tông nhà Đường, sư đến chùa Huyền trung ở Hà tây, yết kiến ngài Đạo xước, tu học Phương đẳng sám pháp và nghe giảng kinh Quán vô lượng thọ. Từ đó về sau, sư chuyên việc niệm Phật, dốc lòng tinh tiến, khổ hạnh, chứng được Niệm Phật tam muội, ở trong định thấy được cảnh trang nghiêm của Tịnh độ. Về sau, sư vào Trường an trụ ở chùa Quang minh, truyền bá pháp môn Tịnh độ.Sư hành trì tinh nghiêm, hàng ngày chắp tay ngồi theo kiểu của người Hồ(người các nước Tây vực), nhất tâm niệm Phật, đến khi mỏi mệt mới thôi. Trong hơn 30 năm, sư không có chỗ ngủ nhất định nào khác, không nhận sự lễ bái của sa di. Sư dùng của cúng dường vào việc viết chép 10 vạn quyển kinh A di đà và vẽ 300 bức tranh Tịnh độ biến tướng; sửa chữa, làm lại các tháp miếu, già lam đã hư hoại. Sư đi hóa đạo ở các châu, mọi người đều ngưỡng mộ đức của sư; hoặc có người tụng kinh A di đà 10 vạn đến 30 vạn biến; hoặc có người trong thời khóa hàng ngày xưng danh hiệu Phật A di đà từ 1 vạn đến 10 vạn biến; hoặc có người chứng được Niệm Phật tam muội vàvãng sinh Tịnh độ. Ngày 14 tháng 3 năm Vĩnh long thứ 2 (681) sư thị tịch, thọ 69 tuổi, đệ tử có các vị Hoài cảm, Hoài huy, Tịnh nghiệp... Sư có các tác phẩm: Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ 4 quyển, Tịnh độ pháp sự tán 2 quyển, Quán niệm pháp môn 1 quyển, Vãng sinh lễ tán kệ 1 quyển, Bát chu tán 1 quyển, Ngũ chủng tăng thượng duyên nghĩa 1 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.27; Vãng sinh tịnh độ thụy ứng san truyện; Niệm Phật kính; Phật tổ thống kỉ Q.26, 27; Tịnh độ vãngsinhtruyện Q.trung; Long thư tăng quảng tịnh độ văn Q.5; Lạc bang văn loại Q.2; Thần tăng truyện Q.5; Vãng sinh tập Q.thượng; Thích thị kê cổ lược Q.3; Tịnh độ thánh hiền lục Q.2; Loại tụ tịnh độ ngũ tổ truyện; Kim thạch tụy biên 73, 86].
thiện đạo lưu
(善導流) Dòng Thiện đạo. Chỉ cho dòng phái Tịnh độ do ngài Thiện đạo lập ra vào đời Đường, 1 trong 3 dòng phái của Tịnh độ giáo. Y cứ theo chỗ ở của Sơ tổ Đàm loan (476-542), nên cũng gọi là Nhạn môn lưu. Ngài Đàmloantruyền cho ngài Đạo xước (562-645). Ngài Đàm loan học kinh Quán vô lượng thọ từ ngài Bồ đề lưu chi, đồng thời chú thích luận Tịnh độ do ngài Lưu chidịch thành Vãng sinh luận chú 2 quyển; Trong đó, bao gồm cả Thập niệm vãng sinh nói trong Quán kinh lại càng hiển bày rõ giáo nghĩa của ngài Đàm loan. Nhưng vì tông chỉ của Quán kinh rất gần gũi với tông nghĩa tân hưng lúc bấy giờ, cho nên các Đại sư như ngài Tuệ viễn tông Địa luận, ngài Trí khải tông Thiên thai, ngài Cát tạng tông Tam luận...đều dựa vào kiến giải của tông mình mà thừa nhận rằng Quán kinh lấy Quán Phật tam muội làm tông chỉ. Thêm nữa, ngài Chân đế đời Trần dịch luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước và Luận thích của ngài Thế thân, mở ra tông nhiếp luận, đề xướng Biệt thời ý thú, bài xích Thập niệm vãng sinh của Quán kinh là Phương tiện giáo chỉ có nguyện suông chứ không cóthực hành. Đến đây thì Tịnh độ giáo bỗng khựng lại. Các thuyết như căn cơ tu theo Quán kinh là những hành giả thượng căn, thân độ làỨng hóa thân vàỨng độ...giờ đây chỉ còn nhờ Sơ tổ Đàm loan mà tạm thời lóe ra chút ánh sáng. Về sau, ngài Đạo xước tình cờ đến chùa Huyền trung xem văn bia của ngài Đàm loan mà đi vào pháp mônNiệm Phật và y theo Quán kinh mà soạn bộ An lạc tập, phê bình và bác bỏ các kiến chấp sai lầm; đệ tử của sư là ngài Thiện đạo cũng vì các nhà chưa hiểu nghĩa kinh, xem Quán kinh là lấy quán niệm làm chính, lấy hồi hướng nguyện sinh làm tông chỉ, chứ không phải trực tiếp chỉ dạy hạng phàm phu vãng sinh, cho nên mới soạn Quán kinh tứ thiếp sớ, qui định khuôn phép xưa nay, Tịnh độ giáo nhờ đó được phục hưng. Cho nên, dòng phái này tuy bắt đầu là ngài Đàm loan, rồi ngài Đạo xước kế thừa, nhưng thực ra thì người hoằng dương là ngài Thiện đạo, vì thế gọi là Thiện đạo lưu. Các trứ tác khác của ngài Thiện đạo như Quán niệm pháp môn, Vãng sinh lễ tán, Pháp sự tán, Ban chu tán... đều nhằm mục đích phát huy ý nghĩa sâu xa trong Quán kinh sớ. Ngài Thiện đạo chủ trương Quán kinh đầu tiên nói về yếu môn để dắt dẫn những căn cơ Tịnh độ chưa thuần thục, về sau thì bỏ yếu môn mà hiển bày hoằng nguyện. Tức phán định tông chỉ Quán kinh yếu môn là phương tiện, hoằng nguyện là chân thực, nói rõ Quán kinh tuy lấyquán Phật, niệm Phật làm chính, nhưng mục đích là niệm Phật. Đồng thời, ngài Thiện đạo cho rằng hạnh xưng danh là chính định nghiệp, 1 trong 5 chính hạnh; 4 hạnh còn lại: Đọc tụng, quán sát, lễ bái, tán thán cúng dường thì là trợ nghiệp, tuy giúp thêm cho việc xưng danh nhưng không phải chính nhân của sự vãng sinh. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa].
thiện đạo niệm phật giáo chỉ
Theo Ngài Thiện Đạo, hành giả tu theo Pháp môn Tịnh Độ nên biết những điều quan trọng sau đây—According to the Great Master San-Tao, Pureland cultivators should always remember the followings 1) Ngay khi chúng ta đau yếu, dù nặng hay dù nhẹ đi nữa, cũng đều nên khởi tâm nghĩ đến sự vô thường, bởi vì cái chết là một điều tất nhiên, từ vô thỉ đến nay, hoặc trẻ, hoặc già, hoặc trời, người, ma, quỷ hay súc sanh, vân vân, không ai qua khỏi được. Đây là điều tiên quyết cần phải khởi tâm suy nghĩ trước hết: When first coming down with an illness, whether terminal or not, cultivators should immediately reflect upon the matter of impermanence. The reason is death is a natural part of life; from aeons ago untill now, whether young or old, Heavenly or human beings, ghosts, demons, or animals, etc., no one has been able to escape this fate. This is the most important point and should be thought of first. 2) Kế đến là phải một lòng niệm Phật chờ lâm chung: Next, the cultivator must recite the Buddha's name with one mind to wait to die. 3) Lại nữa cũng phải dặn người thân cận, khi có ai đến thăm bệnh thì khuyên họ nên ngồi kế bên niệm Phật, chớ đừng nên bàn nói các chuyện tạp nhạp của thế gian: Moreover, it is necessary to inform those closest to the cultivators if anyone comes to visit, tell him or her to sit by and to recite the Buddha's name; do not indulge in futile discussions of the world, i.e., gossips, politics, etc. 4) Nếu bệnh trở nặng sắp chết, thì phải dặn thân quyến cùng với các người chung quanh không ai được khóc lóc cả: If illness becomes terminal, remind family and relatives as well as those nearby not to cry. a) Ngược lại, phải đồng thanh niệm Phật để hộ niệm cho thần thức của kẻ lâm chung: On the contrary, they must all loudly and purely chant the Buddha's name to aid the recitation of the cultivator's soul. b) Khi nào người bệnh đã qua đời, gia đình phải đợi cho đến khi nào trong mình người lâm chung hoàn toàn dứt hết hơi nóng, cả mình lạnh hết, tức là thần thức đã lìa khỏi thân tứ đại, chừng đó ai muốn khóc thì cứ khóc. Khi người chết, thần thức hay a lại a thức có thể vẫn lẩn quẩn quanh thân xác chừng vài tiếng đồng hồ: After the cultivator has died, family members must wait until all body heat has dissipated completely, until the body has turned cold, then at that time it is alright to cry. If someone has died, the last of that person's consciousness (alaya consciousness) may linger on within the body for several hous or more before leaving. *** See Hộ Niệm.
thiện đạo tông
Shan-tao School.
Thiện Đạo 善導
[ja] ゼンドウ Zendō ||| Shandao (613-681). The third of the five Pure Land 淨土 masters and the fifth of the seven patriarchs in the tradition of the True Pure Land sect. He entered the priesthood when young, and practiced meditation on Amitābha and his Pure Land. When he heard of Daochuo 道綽, Shandao went to see him and received the Pure Land teaching from him. The rest of his life was dedicated to the practice and dissemination of this teaching. He is said to have copied the Amitābha-sūtra more than 100,000 times and made more than 300 paintings of the Pure Land. Besides chanting sutras and reciting the nianfo 念佛 constantly, he successfully performed meditation in which he visualized Amitābha and his land. He wrote five works in nine fascicles, including commentaries on different sections of the Guan wuliangshou jing 觀無量壽經 ('The Sutra of Meditation on the Buddha of Infinite Life '). He was popularly known as The 'master of the Kuang ming ssu' 光明寺和尚, The 'Great Master of Zhongnan' 終南大師, etc. => c: Shandao (613-681). Vị thứ ba trong năm vị tổ Tịnh độ và là vị thứ năm trong bảy vị tổ của Chân ngôn tông. Ngài xuất gia khi còn nhỏ tuổi và tu tập thiền quán tưởng A-di-đà và Tịnh độ. Khi Ngài nghe tiếng Đạo Xước (c: Daochuo 道綽), Thiện Đạo đến gặp và nhận giáo lý Tịnh độ từ Ngài. Suốt đời Thiện Đạo hiền mình tu tập và hoằng truyền giáo lý nầy. Tương truyền ngài đã chép kinh A-di-đà hơn 100.000 lần và vẽ hơn 300 bức tranh về cõi Tịnh độ. Ngoài việc tụng kinh và niệm Phật thường xuyên, ngài còn tu tập các thời khoá thiền quán tưởng đức Phật A-di-đà và cõi nước của Ngài. Thiện Đạo còn trứ tác năm tác phẩm, trong chín cuốn, gồm những luận giải khác nhau về kinh Quán vô lượng thọ. Ngài thường được gọi là Quang Minh tự Hoà thượng光明寺和尚, Chung Nam Đại sư終南大師...
thiện định
(善定) Chỉ cho những người tu hành từ khi xuất gia theo thứ tự tu học Phật đạo mà lần lượt chứng đượcthiền định của cõi Sắc vàthiền định của cõi Vô sắc. Trời cõi Sắc vàtrờicõi Vô sắc mỗi cõi đều có 4 cảnh giới thiền định, hợp lại gọi chung là Tứ thiền bát định(4 thiền 8 định). [X. Luận Giải thoát đạo Q.2]. (xt. Tứ Thiền Bát Định). THIÊN GIÁC VƯƠNG Thiện giác, Phạm: Suprabuddha. Pàli: Suppabudha. Hán âm: Tô bát ra một đà, Tu ba phật, Tu ba phất. Cũng gọi Thiện ngộ vương. Về vị vua này, các kinh ghi chép đều khác nhau, theo kinh Chúng hứa ma ha đế quyển 2 thì Thiện giác vương là chủ của thành Thiên tí, ở gần nước Ca tì la vệ thuộc Ấn độ xưa, phu nhân là Long nhĩ nễ (Phạm: Lumbinì), sinh được 2 người con gái, cô chị là Ma da (Phạm: Màyà), cô em là Ma ha ma da (Phạm: Mahàmàyà), về sau 2 chị em cùng là phu nhân của vua Tịnh phạn thành Ca tì la vệ, phu nhân Ma da sinh ra Thái tử Tất đạt đa. Còn theo tư liệu Nam truyền như Đại sử (Pàli:Mahà-vaôsa ii)...thì Thiện giác vương là con của vua An xà nan (Pàli: Aĩjana) thuộc chủng tộc Câu lợi (Pàli: Koơiya) ở thành Thiên tí, là anh của 2 bà Ma da và Ba xà ba đề (Pàli:Pajàpati), em của Vương tử Chấp trượng (Pàli: Daịđapànì) lấy con gái của vua Sư tử giáp tên là Cam lộ (Pàli:Amita) làm vợ; về sau, Cam lộ sinh ra Da duđà la (Pàli: Bhaddakaccànà) vàĐề bà đạt đa (Pàli: Devadatta), Da du đà la tức là phu nhân của Thái tử Tất đạt đa. [X. kinh Phật bản hành tập Q.5; phẩm Thí nghệ trong kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.3, 6; Thích ca phổ Q.2].
thiện đức
Morality, virtue.
Thiện 善
[ja] ゼン zen ||| (1) Good, virtuous, goodness, right, virtue. (2) Apt, familiar with, well-versed, skilled in. (3) To perfect, to make good. [Buddhism] (1) Allowable, justifiable, correct, right, satisfactory (Skt. kusala, kuśala, kalyāna; Tib. dge ba). (2) Good action, good deeds; morally good action and its rewards (善業 śubham karma, śubha). (3) As an adverb, well, skillfully, thoroughly. (4) In the doctrine of the Yogācāra school, 'goodness' constitutes one of the five groups of elements falling under the category of 'mental function' elements, containing eleven 'good' elements in its group. These are: faith, effort, conscience, shame, not coveting, non-anger, no delusion, pliancy, no laxity, equanimity, and non-injury. => Có các nghĩa sau: Đức hạnh, đạo đức tốt, tính tốt, điều thiện, đức tính tốt. Tài giỏi, thông thạo, từng trải, khéo léo. Làm cho hoàn thiện, [Phật học] 1. Có thể chấp nhận, chính đáng, đúng, chính xác, hài lòng 2. Việc lành, , việc làm tốt lành và quả báo của nó (thiện nghiệp 善業; śubham karma, śubha). Như một trang từ, có nghĩa là hay, giỏi, khéo léo, hoàn thiện. Theo giáo lý của tông Duy thức, “thiện” lập thành 1 trong 5 nhóm thuộc phạm trù 'Tâm sở pháp', gồm 11 'thiện' pháp trong nhóm ấy. Đó là: tín, tinh tấn, quý, tàm, vô tham, vô sân, vô si, khinh an , bất phóng dật, hành xả, bất hại.
Thiệp
渉; C: shè; J: shō;|Có sự liên quan với. Có sự quen thuộc với; thân tình với.
thiệp cảnh tâm
(涉境心) Cũng gọi Phân biệt tâm. Tâm phân biệt. Tức đối với sự vật hiện tiền khởi tâm phân biệt sai khác, như phải trái, thiện ác, mình người, lớn nhỏ, đẹp xấu...; tâm phân biệt, thủ xả này là những vọng tưởng tình chấp gây chướng ngạicho việc tu hành Phật đạo.
thiệp tật
Xem Dạ xoa.
Thiệp 渉
[ja] ショウ shō ||| To have a relationship with; to be related. To be aquainted with; to be familiar with. 〔二障義 HPC 1.813b〕 => Có sự liên quan với. Có sự quen thuộc với; thân tình với.
thiệt
Jihvà (S). The tongue.
; 1) Lưỡi: Jihva (skt)—Tongue. 2) Thật: Real—Genuine. 3) Thiệt mất: To lose—To suffer loss. 4) Thiệt hại: Damaged.
thiệt bất lạn
Lưỡi không cháy mất, một từ dùng cho ngài Cưu Ma La Thập. Người ta nói khi hỏa táng, cái lưỡi của ngài không bị cháy—Tongue unconsumed, a term for Kumarajiva, on his cremation his tongue is said to have remained unconsumed.
thiệt căn
Jihvendriya (S)Một trong ngũ căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn).
; The organ of taste.
; The organ of taste.
; (舌根) Phạm: Jihvendriya. Pàli:Jivhendriya. Chỉ cho chỗ nương của thức lưỡi, duyên theo vị cảnh, gọi là Thiệt căn, 1 trong 5 căn, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 22 căn. Nói nôm na là cái lưỡi dùng để nếm mùi vị. Nghĩa gốc của chữ Phạmjihvàlà ngọn lửa, tức hàm ý là hay nếm, nghĩa là lúc tế thần bỏ các vật dụng cúng vào trong lửa, ngọn lửa tức là sự nếm của thần.Ởcõi vô sắc không có thiệt căn, chỉ có ở cõi Dục và cõi Sắc. Trong 12 xứ, Thiệt căn gọi là Thiệt xứ (Phạm:Jihvàyatana); trong 18 giới thì gọi là Thiệt giới (Phạm:Jihvà-dhàtu). [X.luận Đại tì bà sa Q.90, 142, 145; luận Câu xá Q.1, 2; luận Du già sư địa Q.54; luận Hiển dương tánh giáo Q.1; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Nhị Thập Nhị Căn, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Ngũ Căn).
Thiệt căn 舌根
[ja] ゼツコン zetsukon ||| (jihvā-indriya). One of the five (or six) faculties. The basis of taste consciousness. That which by connection with objects of taste gives rise to perception of taste. => (s: jihvā-indriya). Một trong 6 giác quan. Căn cứ của thiệt thức. Là nơi khi tiếp xúc với mùi vị sẽ phát sinh ra sự nhận biết của vị giác.
thiệt hiền đại sư
Sua-Sen—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Thiệt Hiền Đại Sư tự là Tự Tế, hiệu là Tỉnh Am, con nhà họ Thời ở đất Thường Thục. Ngài sống vào đời nhà Thanh. Ngay từ khi còn bé, ngài đã không ăn cá thịt. Sau khi xuất gia, ngài tham cứu câu “Phật Là Ai?” Ngài được tỉnh ngộ và nói rằng: “Tôi đã tỉnh giấc mơ.” Kế tiếp, ngài đóng cửa thất ba năm ở chùa Chân Tịch. Ban ngày duyệt tam tạng kinh điển, ban đêm chuyên trì Phật hiệu. Sau khi ra thất, ngài đến Mậu Sơn lễ xá lợi tháp A Dục Vương. Nhằm ngày Phật nhập Niết Bàn, ngài họp chúng, sắm lễ cúng dường, rồi đốt ngón tay trước tượng Phật, phát bốn mươi tám lời nguyện. Lúc ấy cảm được xá lợi Phật phóng ánh quang minh rực rỡ. Trong phần giáo chúng, ngài thường dạy rằng: “Một chữ nguyện bao gồm cả Tín và Hạnh (see Tín Hạnh Nguyên, and Lục Tín). Lúc lớn tuổi, ngài về trụ trì tại chùa Phạm Thiên, còn gọi là chùa Tiên Lâm ở Hàng Châu. Năm Ung Chánh thứ bảy, ngài thành lập Liên Xả, làm văn phát thệ giữa đại chúng, lấy tôn chỉ “Trọn đời tinh tấn tu Tịnh nghiệp làm kỳ hạn.” Ngài chia khóa tu hằng ngày ra làm “Hai mươi phần trì danh,” “Chín phần quán tưởng,” và một phần lễ sám” cho đại chúng nương theo đó mà tu tập. Có nhà tu Thiền hỏi về đường lối quan yếu của pháp môn Niệm Phật, ngài liền dùng lời kệ khai thị rằng: “Một câu A Di Đà, Là việc đầu công án. Không thương lượng chi khác, Thẳng ngay liền quyết đoán. Ví như đống lửa lớn, Nhảy vào liền cháy tan. Lại như gươm Thái A (bảo kiếm) Xông vào liền đứt đoạn. Sáu chữ gồm nhiếp thâu, Tám muôn tư pháp tạng. Một câu giải quyết xong, Ngàn bảy trăm công án. Mặc ai không thích nghe, Ta tự tâm-tâm niệm. Xin chớ có nhiều lời, Giữ một lòng không loạn.” Niên hiệu Ung Chánh thứ 11, ngày mồng 8 tháng 12 âm lịch, ngài bảo đại chúng rằng: “Tháng tư sang năm ta sẽ đi xa.” Rồi ngài đóng cửa thất, mỗi ngày niệm 100.000 câu Phật hiệu. Sang năm, ngày 12 tháng 4, ngài bảo cùng với các môn đồ rằng: “Từ đầu tháng đến nay ta đã hai lần thấy “Tây Phương Tam Thánh,” chắc là đến lúc vãng sanh. Nói xong, liền làm bài kệ từ giã đại chúng. Qua hôm sau ngày 13 tháng 4, ngài không ăn uống, cứ nhắm mắt ngồi thẳng. Đến canh năm, ngài tắm rửa, thay y hậu. Bữa ấy, nhằm 14, gần giờ ngọ, ngài ngồi nhắm mắt, day mặt về phương Tây, yên lặng. Hàng đạo tục khắp nơi nghe tin, hội về đông như chợ. Đại sư bỗng mở mắt ra, nói: “Tôi về Cực Lạc, không bao lâu sẽ trở lại. Thoát ly sống chết là việc lớn, mỗi người nên cố gắng thanh tịnh niệm Phật.” Dặn dò xong, ngài chắp tay, xướng hồng danh A Di Đà Phật rồi thị tịch. Ngài hưởng dương 49 tuổi—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Great Master Sua-Sen, the Eleventh Patriarch of Chinese Pureland Buddhism. His self-given name was Tự-Tế and he was also known as Hsing-An. He was a son of the Thời Family of the Thường-Thục region. He lived during the Ch'ing Dynasty. Even as an infant, he never ate fish or meat. After taking the religious path, he examined the concept “Who is Buddha?” Once he became awakened, he said: “I have awakened from a dream.” Thereafter, he went into a three-year retreat at Chân Tịch Temple. During the day he studied and examined the Tripitaka, and at night he engaged in Buddha recitation. After coming out of his retreat, he went to Mậu Sơn to worship the Cari at a pagoda called Ajatasatrou. On the Memorial Day of the Buddha entering Maha-Nirvana, he had a great gathering of Buddhists to worship and to make offerings. Thereafter, he burned a finger before the Buddha' statue and made forty-eight great vows. At that moment his action led the Cari to emit bright lights. While guiding his disciples, he often taught: “The single word Vow encompasses both Faith and Practice.” (see Tín Hạnh Nguyện, and Lục Tín). On December 8th, lunar year, of the eleventh year of Ung-Chánh reign period, he told the great assembly: “In April of next year, I will go far away.” Thereafter, he went into retreat, daily reciting Buddha's name one hundred thousand times. On April 12th of the following year, he told his disciples: “From the beginning of the moth until now, on two separate occasions I have seen Three Saints of the Western Pureland, perhaps my time to gain rebirth is near.” After speaking, he composed a poem to bid farewell to the great assembly. Next day, April 13th, he did not eat or drink, but continued to sit straight with his eyes closed. Then at five in the morning, he bathed and cleaned himself and changed his robe. On that day, the 14th, nearing the noon hour, he sat with his eyes closed peacefully facing the Western direction. Hearing this news, religious rank and lay Buddhists from everywhere gathered in great numbers. The Great Master suddenly opened his eyes and said: “I'm going to the Ultimate Bliss World, it will not be long before I shall return. Finding liberation from life and death is a very important matter, everyone must be diligent in reciting Buddha peacefully and purely.” After giving this instruction, he put his palms together, chanted the virtuous name Amitabha Buddha and then took his last breath. He was only 49 years old.
thiệt hại
Damage—Loss—Harm.
thiệt mạng
To lose one's life—To die.
thiệt thân
To lose one's life.
thiệt thòi
To be detriment of oneself—To suffer loss.
thiệt thức
Jihvā-vijāna (S).
; Tongue-perception.
; Thiệt thức phát sinh liền khi thiệt căn tiếp xúc với một vị nào đó, lúc ấy chúng ta mới kinh qua phân biệt giữa vị nầy với vị khác, cũng từ đó dục vọng khởi sinh—Taste consciousness—Tongue consciousness or perception—Gustatory consciousness—The tongue consciousness develops immediately through the dominant condition of the tongue when the tongue faculty focuses on a certain taste. At that very moment, we experience and distinguish between tastes and desire arises.
; (舌識) Phạm:Jihvà-vijĩàna. Pàli:Jivhà-viĩĩàna. Lấy Thiệt căn(cái lưỡi)làm chỗ nương, duyên theo vị cảnh(mùi vị)mà sinh ra tác dụng phân biệt mùi vị, gọi là Thiệt thức (thức lưỡi). Một trong 5 thức, 1 trong 6 thức, 1 trong 8 thức. (xt. Bát Thức, Ngũ Thức, Lục Thức).
thiệt tình
Sincere.
thiệt tướng
PrabhŪtatanu-jihvata (S), Pahuta-jihva (S), PrabhŪta-jihvata (S), Prabhutatanu-jihvata (S), Pahuta-jihva (P)Tướng chân thật.
; The broad, long tongue of a Buddha, one of the thirty two physical signs.
; Tướng lưỡi rộng dài của Đức Phật, một trong ba mươi hai hảo tướng của Ngài (ý nói không nói dối)—The broad, long tongue of a Buddha, one of the thirty-two physical signs.
; (舌相) I. Thiệt Tướng. Tướng lưỡi, là tướng thứ 27 trong 32 tướng của chư Phật và Chuyển luân thánh vương, tức tướng lưỡi rộng dài (Phạm: Prabhùta-jihvatà). Lưỡi của chư Phật và Chuyển luân thánh vương rộng dài, mềm mại và mịn mỏng, khi thè ra thì che cả mặt và chạm đến chân tóc trên trán, là biểu tượng của sự Nói ắt chân thật và Biện thuyết vô cùng. [X.luận Đại trí độ Q.88]. (xt. Quảng Trường Thiệt Tướng). II. Thiệt Tướng. Tướng thuyết pháp. Tức khi thuyết pháp thì biện tài vô ngại, thao thao bất tuyệt.
thiệt uẩn
Jivha-viāṇa (P), Tasting-consciousness.
thiệu
1) Giới thiệu: To introduce—To present. 2) Tiếp nối: To continue. 3) Truyền trao: To hand down.
thiệu kỳ sở sơn
See Sở Sơn Thiệu Kỳ.
thiệu loan
Shao-luan (C)Tên một vị sư.
thiệu long
Nối pháp làm cho ngày thêm hưng thịnh—To continue or perpetuate and prosper Buddhist truth, or the Triratna.
; (紹隆) I. Thiệu Long. Thừa kế chính pháp và làm cho chính pháp phát huy rực rỡ. Như Thiệu long Tam bảo, nghĩa là kế thừa Tam bảo Phật, Pháp, Tăng và làm cho Tam bảo hưng thịnh. [X.phẩm Phật quốc kinh Duy ma]. II. Thiệu Long (1077 ?-1136). Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Hàm sơn, Hòa châu (tỉnh An huy), Trung quốc. Năm 9 tuổi, sư đã vào viện Phật tuệ chuyên nghiên cứu Luật tạng. Sư từng tham yết ngài Tịnh chiếu Sùng tín ở Trường lô, rồi lần lượt tham phỏng các ngài Trạm đường Văn chuẩn ở núi Bảo phong và Tử tâm Ngộ tân ở núi Hoàng long. Sau, sư đến Giáp sơn (tỉnh Hồ nam) theo hầu ngài Viên ngộ Khắc cần - vị cao tăng của phái Dương kì thuộc tông Lâm tế, trong 20 năm, đồng thời nối pháp của ngài. Năm Kiến viêm thứ 4 (1130), sư trụ Vân nham thiền tự ở núi Hổ khâu tại Bình giang, mở rộng Thiền phong của ngài Viên ngộ, người đương thời gọi sư là Hổ khâu Thiệu long, lâu ngày bèn trở thành một phái, tức phái Hổ khâu. Sau khi Thiền sư Viên ngộ Khắc cần thị tịch, sư cùng ngài Nhã bình biên tập ngữ lục của Thiền sư Viên ngộ. Năm Thiệu hưng thứ 6 (1136), sư thị tịch, thọ 60 tuổi(có thuyết nói 65 tuổi). Học trò là Tự thụy biên soạn Hổ khâu Long hòa thượng ngữ lục 1 quyển, ngài Từ lâm soạn bài minh tháp. Ở Nhật bản, pháp hệ của sư cũng rất hưng thịnh. Chân núi Thiếu thất THIÊU NGUYÊN (?-?) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Hoa nghiêm, sống vào đời Tống. Sách Pháp giới quán môn trí đăng sớ 1 quyển hiện còn là do sư soạn để chú thích bộ Pháp giới quán môn doHòa thượng Đỗ nhuận, Sơ tổ tông Hoa nghiêm soạn vào đời Đường.
thiệu minh
Shōmyō (J)Tên một vị sư.
thiệu tu long tế thiền sư
Zen master Shao-Xiu-Long-Ji—Thiền sư Thiệu Tu là đệ tử của Thiền sư Quế Sâm, và là sư đệ của thiền sư Văn Ích Pháp Nhãn—Zen master was a disciple of Zen master Kui-Chen, and a Dharma brother of Wen-Yi-Fa-Yan. • Ba vị từ Quế Sâm đi hành hương, trên đường cùng bàn chuyện. Pháp Nhãn chợt hỏi: “người xưa nói: 'Ở trong vạn tượng riêng bày thân' là vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?” Sư đáp: “Chẳng vạch vạn tượng.” Pháp Nhãn bảo: “Nói cái gì là vạch chẳng vạch?” Sư mờ mịt, trở lại Viện Địa Tạng. Quế Sâm thấy sư trở lại hỏi: “Ngươi đi chưa bao lâu tại sao trở lại?” Sư đáp: “Có việc chưa giải quyết đâu yên leo non vượt suối.” Quế Sâm bảo: “Ngươi leo vượt bao nhiêu non suối, lại chẳng ưa?” Sư chưa hiểu lời dạy bảo, liền hỏi: “Cổ nhơn nói: 'Ở trong vạn tượng riêng bày thân,' ý chỉ thế nào?” Quế Sâm đáp: “ngươi nói người xưa vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?” Sư thưa: “Chẳng vạch.” Quế Sâm bảo: “Hai cái.” Sư kinh hãi lặng thinh, lại hỏi: “Chưa biết cổ nhơn vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?” Quế Sâm bảo: “Ngươi nói cái gì là vạn tượng?” Sư liền tỉnh ngộ, lại từ biệt Quế Sâm đi đến chỗ Pháp Nhãn—While traveling with two other friends from Kui-Lin, Fa-Yan suddenly asked Shao-Xiu a question, saying: “The ancients said that the single body is revealed in the ten thousand forms. Did they thus dispel the ten thousand forms or not?” Shao-Xiu said: “They didn't dispel them.” Fa-Yan said: “What do you say dispels or doesn't dispel them?” Shao-Xiu was confused and returned to see Kui-Chen. Kui-Chen asked him: “You haven't been gone long, why have you come back?” Shao-Xiu said: “There's an unresolved matter, so I'm not willing to go traveling to mountains and rivers until it's resolved.” Kui-Chen said: “It's not bad that you travel to difficult mountains and rivers.” But Sha-Xiu did not understand Kui-Chen's meaning, so he asked: “The single body is revealed in the ten thousand forms. What does this mean?” Kui-Chen said: “Do you say the ancients dispelled the ten thousand forms or not?” Shao-Xiu said: “They didn't dispel them.” Kui-Chen said: “It's two.” For a time, Sha-Xiu was lost in thought, and then he said: “I don't know whether the ancients dispelled the ten thousand forms or not.” Kui-Chen said: “What is it you call the ten thousand forms?” Shao-Xiu thereupon attained enlightenment. • Sư thượng đường dạy chúng: “Pháp đầy đủ nơi phàm phu chẳng biết, pháp đầy đủ nơi Thánh nhơn mà Thánh nhơn chẳng biết. Thánh nhơn nếu biết tức là phàm phu, phàm phu nếu biết tức là Thánh nhơn. Hai câu nói nầy một lý mà hai nghĩa. Nếu người biện biệt được chẳng ngại ở trong Phật pháp có chỗ vào. Nếu người biện biệt chẳng, chớ nói không nghi—Zen master Shao-Xiu entered the hall and addressed the monks, saying: “Ordinary people possess it completely but they don't know it. The saints possess it completely but don't understand it. If the saint understands it, then he or she is an ordinary person. If ordinary people understand it, then they are saints. In these forms of speech there is one principle and two meanings. If a person can distinguish this principle, then he will have no hindrance to finding an entrance to the essential doctrine. If he can't distinguish it, then he can't say he has no doubt. Take care!” • Sư hỏi một vị Tăng mới đến: “Ở đâu đến?” Vị Tăng thưa: “Ở Thúy Nham.” Sư hỏi: “Thúy Nham có lời gì dạy đồ chúng?” Vị Tăng thưa: “Bình thường nói 'Ra cửa gặp Di Lặc, vào cửa thấy Thích Ca.'” Sư nói: “Nói thế ấy làm sao được?” Vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng nói thế nào?” Sư nói: “Ra cửa gặp ai? Vào cửa thấy ai?” Vị Tăng nghe xong liền tỉnh ngộ—Zen master Shao-Xiu asked a monk: “Where have you come from?” The monk said: “From Shui-Yan.” Shao-Xiu asked: “What does Shui-Yan say to provide instruction to his disciples?” The monk said: “He often say 'Going out—meeting Matreya Buddha. Going in—seeing Sakyamuni.'” Shao-Xiu said: “How can he talk like that?” The monk asked: “What do you say, Master?” Shao-Xiu said: “Going out—who do you meet? Going in—who do you see?” At these words the monk had an insight.
thoa
To rub.
thoai thoải
Gentle slope.
thoang thoáng
Vaguely.
thoang thoảng
Faint perfume.
thoi
1) Một miếng: A piece (of gold)—A bar—A stick. 2) Con thoi (chạy tới chạy lui): Shuttle. 3) Cú đấm bằng tay: To blow—To punch.
thoi thóp
To breath very lightly.
thon
Slim—Slender—Thin.
thong dong
To walk leisurely—Not in a hurry.
Thong dong lục
從容錄; C: cóngróng-lù; J: shōyō-roku;|Tên của một tập Công án, được hai vị Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác và Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀; c: wànsōng xíngxiù, 1166-1246) biên soạn trong thế kỉ 12.|Tập công án này được biên soạn vài thập niên sau Bích nham lục của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần. Thiền sư Hành Tú sử dụng 100 tắc công án và kệ tụng của sư Chính Giác dưới tên Tụng cổ bách tắc làm căn bản và thêm vào Trước ngữ, Bình xướng và vì vậy, mỗi tắc bao gồm 5 phần. Sư sử dụng tập này để dạy tăng chúng tại am Thung Dung (cũng đọc Thong Dong) và vì vậy tập công án này được truyền lại dưới tên này. Năm tắc được trích từ trong kinh sách, phần còn lại là những pháp thoại của các vị Thiền sư đời Ðường, thuộc về Ngũ gia thất tông. Tập này được xuất bản đầu tiên năm 1224, gần một thế kỉ sau Bích nham lục. Hơn hai phần ba của Thong dong lục trùng hợp với Bích nham lục và Vô môn quan và có lẽ vì vậy mà tập này ít được nhắc đến.
thong dong lục
Ts'ung-Jung-Lu—Tập sách 100 công án do Hoàng Trí Chánh Giác, một thiền sư danh tiếng phái Tào Động Trung Quốc biên tập. Nhan đề lấy theo tên của “Am Thong Dong”—Record of Great Serenity—A book of one hundred koans compiled by Hung-Chih-Chêng-Chueh, a reputed Chinese T'ao-Tung Zen master. The title is derived from the name of the Hermitage of Great Serenity.
thong thả
Leisurely.
thoái
Retire, withdraw, backslide, recede, yield.
; To retire—To backslide—To withdraw—To yield—To move (step) back—See Thối.
thoái bồ đề thanh văn
(退菩提聲聞) Một trong 4 loại Thanh văn. Trên đường cầu Phật đạo, giữa đường lui khỏi Đại thừa mà theo Tiểu thừa, nhưng vẫn phát tâm Đại bồ đề, như ngài Xá lợi phất... là hàng chủng tính bất định, tương đương với Thoái đại Thanh văn nói trong Pháp hoa văn cú quyển 4.Danh từ này có xuất xứ từ Pháp hoa quyển hạ của ngài Thiên thân. [X. Pháp hoa huyềntán Q.1,5].
thoái bộ
See Thoái.
thoái chuyển
To withdraw and turn back i.e. from any position attained.
; Thối lui làm mất cái mà mình đã tu chứng được—To withdraw and turn back from any position attained.
; (退轉) Gọi tắt: Thoái. Cũng gọi Thoái đọa, Thoái thất. Chỉ cho hạng người trên đường cầu Phật đạo, đến nửa đường thì tâm bồ đề lui sụt mà rơi vào hàng Nhị thừa phàm phu; hoặc chỉ cho hạng người lui mất giai vị tu hành mà mình đã chứng được. Về thuyết thoái vị, các kinh luận nói đều khác nhau, trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 4, ngài Hoài cảm đã thu tóm làm 4 thuyết: 1. Tín thoái: Chỉ cho giai vị của 5 tâm trước trong giai vị Thập tín. Vì giai vị 5 tâm này vẫn còn có tâm thoái chuyển, nên dễ sinh tà kiến, dứt mất thiện tâm. 2. Vị thoái: Chỉ cho giai vị của 6 tâm trước trong giai vị Thập trụ. Vì giai vị 6 tâm này vẫn còn có thể thoái chuyển thành Nhị thừa. 3. Chứng thoái: Chỉ cho cácgiai vị phàm phu dưới Thập địa. 4. Hành thoái: Chỉ cho các tâm vị dưới Thất địa, vì các tâm vị này đối với những pháp được nghe còn sinh khiếp nhược, không có năng lực tu học, không thể hằng tu thắng hạnh trong từng niệm, cho nên dễ bị lui sụt. Ngoài ra, về trường hợp thoái chuyển đối với 4 quả Thanh văn, giữa các bộ phái Tiểu thừa cũng có những thuyết khác nhau. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Sơ quả chắc chắn không trở lui, 3 quả sau thì có khả năng lui sụt. Kinh lượng bộ thì cho rằng Sơ quả và Tứ quả không thoái chuyển, 2 quả trung gian thì có thể thoái chuyển. Còn Đại chúng bộ và Hóa địa bộ thì đều chủ trương 3 quả đầu có lui sụt, chỉ có 1quả thứ 4 thì không. [X.kinh Đại bảo tích Q.3; phẩm Hiền thánh họcquán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; luận Câu xá Q.25; luận Dị bộ tông luân].
thoái chí
Thối chí—Broken-spirited—Discouraged.
thoái duyên
(退緣) Nhân duyên thoái chuyển. Tức chỉ cho những ác duyên gây chướng ngại cho việc tu hành Phật đạo, hoặc khiến phải lui khỏi giai vị tu hành. Câu xá luận quang kí quyển 3 và luận Đại tì bà sa quyển 60 nêu ra 5 thứ thoái duyên của bậc A la hán như sau: 1. Đa doanh sự nghiệp: Quá lo toan về sự nghiệp. 2. Nhạo chư hí luận: Ưa thích sự bàn luận chỉ bàn để mà chơi. 3. Hiếu hòa đấu tranh: Thích giảng hòa về việc đấu tranh. 4. Hỉ thiệp trường đồ: Thích đi xa 5. Thân hằng đa bệnh: Thân thường đau ốm. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 4 cũng nêu 5 thứ thoái duyên: Việc tăng,Giàn hòa việctranh cãi,Đi xa,Nhiều bệnh, Thích tụng kinh. Luận Tịnh độ của ngài Ca tài thì cho rằng, người phàm phu vì sống ở thế giới Sa bà, do có 5 thứ thoái duyên nên dễ bị thoái chuyển; còn nếu sinh về Tịnh độ phương Tây thì không có 5 thoái duyên nên không thoái chuyển. Năm thoái duyên là: 1. Sự sống ngắn ngủi, nhiều bệnh. 2. Có người nữ và tiêm nhiễm 6 trần. 3. Kết bạn với người xấu ác. 4. Tâm bất thiện và vô kí. 5. Thường không được gặp Phật.
thoái hóa
To retrogress—To retrograde—To degenerate.
thoái khuất
To recede or yield, as is possible to a Bodhisattva facing the hardships of further progress.
; (退屈) Chỉ cho tâm lùi bước, khuất phục. Bồ tát tu hành có 3 thứ cửa ải khó khăn khiến tâm thoái khuất.Đó là:Bồ đề quảng đại khuất, Chuyển y nan chứng khuất. Pháp đối trị 3 thứ thoái khuấtnày gọi là Tam luyện ma. [X.luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Tam Thoái Khuất).
thoái khước
To withdraw—To draw back.
thoái lui
To step (draw) back.
thoái một
To be reborn in a lower stage of existence.
; Tái sanh vào cảnh giới thấp—To be reborn in a lower stage of existence.
; (退沒) Lui mất. Tức từ cõi trên rơi xuống cõi dưới, hoặc từ chỗ vui rơi vào chỗ khổ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung (Đại 40, 46 hạ) nói: Thứ nhất là thoái một, vì phạm giới này mà không có phần đạo quả [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].
thoái nhượng
To give way—To yield.
thoái phàm hạ thừa
(退凡下乘) Phàm tục phải lui, ngồi xe thì xuống. Tức chỉ cho 2 ngôi tháp nhỏ có tên là Thoái phàm và Hạ thừa, do vua Tần bà sa la xây dựng ở chân núi Linh thứu. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9, lúc còn tại thế, phần nhiều đức Phật nói diệu pháp trên núi Linh thứu, vua Tần bà sa la thường lên nghe pháp. Vì đường lên núi khó đi nên vua cho mở 1con đường nhỏ rộng hơn 10 bước, dài khoảng 5, 6 dặm, xếp thành những bậc đá. Ở khoảng giữa con đường này có xây 2 cây tháp nhỏ, 1 gọi là Hạ thừa, nhà vua đến đây thì xuống xe để đi bộ; 1 gọi là Thoái phàm, người phàm tục đến đây thì phải lui lại, cấm không được đi cùng với vua.
thoái pháp
Parihana-dharman (P).
thoái pháp a la hán
(退法阿羅漢) Thoái pháp, Phạm: Parihàịadharma. Chỉ cho các vị độn căn nhất trong các vị đã chứng được quả A la hán; các vị này vì gặp ác duyên như tật bệnh...mà lui mất quả đã chứng được. Là 1 trong 6 loại A la hán, 1 trong 9 Vô học. [X. luận Câu xá Q.25]. (xt. Cửu Vô Học).
thoái quả
(退果) Lui mất quả vị đã chứng. Tức lui mất quả vị Vô học mà nhận lấy quả vị Hữu học, chỉ chung cho 5 pháp trước trong 9 Vô học. Đó là: Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trụ pháp và Kham đạt pháp. Theo luận Thành duy thức quyển 3 thì A la hán thoái quả vì có 5 nguyên nhân: 1. Thích bận bịu với công việc. 2. Ham đọc tụng kinh điển. 3. Thích phân tích, quyết đoán các luận thuyết của thế tục. 4. Thích đi xa. 5. Luôn đau ốm.
thoái sơ tâm
To recede the initial mind.
thoái tam muội da tội
(退三昧耶罪) Tội lui mất Tam muội da, 1 trong 3 trọng tội của Mật giáo. Tam muội da tức là bản thệ của chính mình, người thụ giới tu hành mà phạm tội Tam muội da thì tức đã lui mất bản thệ của chính mình. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 11 thì hành giả Chân ngôn phải siêng tu pháp môn của mình, không nên gián đoạn; nếu nửa chừng mà bỏ thì đó chẳng phải tướng tinh tiến, như vậy là cái đáng được sẽ không được, cái được rồi thì lui mất, đối với đạo có trở ngại. Bởi thế hành giả phải nhất tâm tinh tiến, như cứu lửa đang cháy trên đầu. Nhờ tinh tiến không phóng túng, buông thả thì có thể đạt được tri kiến Phật ngay ở đời nay. Trái lại, không siêng năng tiến tới mà nửa chừng bỏ dở thì phạm tội Thoái tam muội da. [X.kinh Đại nhật Q.7; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.1].
thoái thác
To find a pretext (way) to refuse.
thoái toà
(退座) Cũng gọi Thoái tịch. Lui khỏi tòa ngồi. Nghĩa là sau khi kết thúc các nghi thức như pháp hội, Phật sự... thì mỗi người đều trở về liêu phòng của mình, gọi là Thoái tọa.
thoái tọa
Rời chỗ ngồi—To withdraw from one' seat.
thoái viện
(退院) Cũng gọi Thoái cư. Vị Trụ trì thiền viện lui về ẩn tu. Theo chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3, nếu vị Trụ trì tuổi đã già yếu, tâm lực mỏi mệt, hoặc các duyên không thuận, thì nên tự biết thời rút lui, phải đem tiền của thường trụ, những đồ vật của Phương trượng bàn giao rõ ràng, phải ghi danh mục các vật vào 2 tờ giấy, đóng dấu, kí tên, rồi Trụ trì, Khố tư mỗi người giữ một bản để làm bằng. Đến ngày thoái viện, mời một người trông coi Phương trượng, vị Trụ trì lên Tăng đường từ tạ, từ giã đại chúng rồi xuống tòa, đợi đánh 3 tiếng trống thì lui về. Chế độ Trụ trì được khai sáng ở Trung quốc, luật lệ xuất thế, nhập viện, hoặc sự sinh hoạt trong sạch của Trụ trì cũng như nền kinh tế của Thiền viện đều có qui định rõ ràng bằng minh văn, cho nên việc thoái viện cũng phải được tuân hành theo qui định.
thoái vị
(退位) Đối lại: Bất thoái vị. Khi Bồ tát tu hành Phật đạo, đến lúc đã chứng và thấy được 1 phần chân lí thì đó là Bất thoái vị; trước giai đoạn này thì là Thoái vị. Vì không còn nỗi lo thoái chuyển, nên các Bồ tát từ Sơ địa trở lên đều thuộc về Bất thoái vị. Trái lại, hàng Bồ tát ở các giai vị dưới Thập địa như Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng...vẫn còn mối lo thoái vị. [X. An lạc tập Q.thượng].
thoái đại
To backslide from Mahàyàna (and revert to Hìnayàna)
; Lui bước trước Đại Thừa để chuyển bước sang Tiểu Thừa—To backside from Mahayana and revert to Hinayana.
thoái đại thanh văn
(退大聲聞) Một trong 5 loại Thanh văn. Người vốn đã nhiều kiếp tu tập Đại thừa, nhưng sau vì gặp ác duyên, nhàm chán sinh tử nên lui khỏi Đại thừa, tu theo Tiểu thừa, gọi là Thoái đại Thanh văn, tương đương với Thoái bồ đề Thanh văn nói trong luận Pháp hoa quyển hạ. Như trường hợp ngài Xá lợi phất phát tâm tu tập đạo Bồ tát, sau gặp người Bà la môn xin mắt, ngài than rằng đạo Bồ tát khó thực hành nên rút lui khỏi Đại thừa để nhận lấy quả vị Tiểu thừa. [X. Pháp hoa văn cú Q.4]. (xt. Thanh Văn).
thoái định
To backslide from meditation.
thoán
To usurp (a throne or high position).
thoán truyện
Tuan-chuan (C), Commentary on the Decision Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.
thoáng
1) Thoáng: Ventilated—Well-aired. 2) Thoáng qua: Vaguely.
thoáng thấy
To catch sight of.
thoát
1) Giải thoát: To avoid—To let go. 2) Lóc thịt: To take the flesh from the bones. 3) Thoát y: To strip—To undress. 4) Trốn thoát: To escape.
thoát chết
To escape from death.
thoát giam
To escape from prison.
thoát hiểm
Thoát khỏi nguy hiểm—To get out of danger.
thoát khỏi
Vivarjana (S). Abandoning, abstainimg from.
thoát khỏi phiền trược
To succeed in disentangling the tangle.
thoát ly
To separate.
Thoát lạc 脱落
[ja] ダツラク datsuraku ||| "To escape and let go of." To drop off. To be free from delusion. Liberation (解脱). => Buông bỏ sạch. Thoát khỏi mọi phiền não Tự tại, giải thoát (解脱).
thoát nạn
To escape from (get out of) danger.
thoát phàm
To disincarnate.
thoát thai
To be born.
thoát thân
To escape from danger—To run away.
thoát thể
Rũ bỏ nhục thân—To get rid of the body.
Thoát thể 脱體
[ja] ダッタイ dattai ||| (1) Actual, frank, candid, unexaggerated. (2) The whole, all, completely. (3) To raise one's entire mind and spirit. (4) Liberation. => 1. Thực tế, ngay thực, ngay thẳng, không nói quá. 2. Toàn thể, tất cả, hoàn toàn. 3. Khởi phát toàn tâm toàn ý. 4. Tự tại.
thoát trân trước tệ
Cởi bỏ mọi đồ trang sức thơm tho sạch sẽ, để khoác lấy cái áo dính nhiễm bụi dơ, dùng để ví việc Đức Thích Ca Như Lai ẩn tàng báo thân, hiển hiện ứng thân—To doff jewels and don rags, as did the Buddha on leaving home, or putting off of his celestial body for an incarnate, earthly body.
thoát trần
To enter into religion.
thoát tẩu
Tẩu thoát—To flee—To run away.
thoát xà
Dhvaja (skt)—Dịch là phướn—A banner—A flag.
thoát đào
To run away—To flee—To slip away.
Thoát 脱
[ja] ダツ datsu ||| (1) To become thin. (2) To remove, take off, to shed. (3) To untie, release, escape, separate from, be freed from. 解 [Buddhism] Emancipation, especially from suffering; to be free of anxiety. Liberation, nirvāna. (mukta, parimukta, vimocana, nirmokṣa). See jietuo 解脱. => 1. Trở nên mỏng ra, loãng đi. 2. Tháo ra, xoá bỏ đi, lột bỏ. 3. Cởi trói, giải thoát, thoát khỏi, tách rời ra, thoát ra. [Phật học] Ghép với chữ Giải 解, có nghĩa Giải thoát, đặc biệt thoát khỏi khổ đau, thoát khỏi lo âu phiền não. Tự tại, niết-bàn (nirvāna, mukta, parimukta, vimocana, nirmokṣa). Xem Giải thoát 解脱 .
thoï
(A) Nghĩa của “Thọ”—The meanings of “Feelings” 1) Cho hay bố thí: Vedana (p & skt)—To give—To confer—To deliver—To hand down. 2) Sống lâu: Jivita (skt)—To live long—Longevity—Long life—Age. 3) Feeling or sensation: Vedanta (p & skt)—To receive—To bear—Thọ là pháp tâm sở nhận lãnh dung nạp cái cảnh mà mình tiếp xúc. Thọ cũng là cái tâm nếm qua những vui, khổ hay dửng dưng (vừa ý, không vừa ý, không vừa ý mà cũng không không vừa ý). Khi chúng ta gặp những đối tượng hấp dẫn, chúng ta liền phát khởi những cảm giác vui sướng và luyến ái. Khi gặp phải những đối tượng không hấp dẫn, thì chúng ta sinh ra cảm giác khó chịu; nếu đối tượng không đẹp không xấu thì chúng ta cảm thấy dửng dưng. Tất cả mọi tạo tác của chúng ta từ thân, khẩu và ý cũng đều được kinh qua nhờ cảm giác, Phật giáo gọi đó là “thọ” và Phật khẳng định trong Thập Nhị nhân duyên rằng “thọ” tạo nghiệp luân hồi sanh tử—Feeling is knowledge obtained by the senses, feeling sensation. It is defined as mental reaction to the object, but in general it means receptivity, or sensation. Feeling is also a mind which experiences either pleasure, unpleasure or indifference (pleasant, unpleasant, neither pleasant nor unpleasant). When we meet attractive objects, we develop pleasurable feelings and attachment which create karma for us to be reborn in samsara. In the contrary, when we meet undesirable objects, we develop painful or unpleasurable feelings which also create karma for us to be reborn in samsara. When we meet objects that are neither attractive nor unattractive, we develop indifferent feelings which develop ignorant self-grasping, also create karma for us to be reborn in samsara. All actions performed by our body, speech and mind are felt and experienced, Buddhism calls this “Feeling” and the Buddha confirmed in the Twelve Nidanas that “Feeling” creates karma, either positive or negative, which causes rebirths in samsara. (B) “Thọ” như những đối tượng của thiền tập—“Feelings” as objects of meditation practices: • Quán chiếu những loại cảm thọ như lạc thọ, khổ thọ và trung tính thọ: To contemplate various kinds of feelings such as pleasant, unpleasant and neutral feelings. • Thấu hiểu những thọ nầy đến đi thế nào: To understand thoroughly how these feelings arise, develop after their arising, and pass away. • Quán chiếu thọ chỉ nẩy sanh khi nào có sự tiếp xúc giữa những giác quan mà thôi (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý): To contemplate that “feelings” only arise when there is contact between the senses. • Quán chiếu những điều trên để thấy rõ rằng dù thọ vui, thọ khổ hay thọ trung tính, hậu quả của chúng đều là “khổ”: To contemplate all of the above to have a better understanding of “feelings.” No matter what kinds of feelings, pleasant, unpleasant or iddiference, they all lead to sufferings. (C) Phân loại Thọ—Categories of Feeling: 1) Thân Thọ: Những thứ lãnh nạp nơi thân hay tam thọ (khổ, lạc, phi khổ phi lạc)—Sensation of physical objects, or three states of sensation (vedana)—Karma of pleasure and pain of the physical body—See Tam Thọ. 2) Tâm Thọ: Những thứ lãnh nạp nơi tâm như ưu và hỷ—Sensation of mental objects—Karma of the mental or the mind, i.e. anxiety, joy, etc.
thoăn thoắt
Very quickly.
Thọ Ông Tông Bật
(授翁宗弼, Juō Sōhitsu, 1296-1380): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào giữa hai thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và Nam Bắc Triều, húy Tông Bật (宗弼), tục danh Đằng Nguyên Đằng Phòng (藤原藤房), đạo hiệu Thọ Ông (授翁), thụy hiệu là Thần Quang Tịch Chiếu Thiền Sư (神光寂照禪師), Viên Giám Quốc Sư (圓鑑國師), Vi Diệu Đại Sư (微妙大師), xuất thân kinh đô Kyoto, con của vị Quyền Đại Nạp Ngôn Đằng Nguyên Tuyên Phòng (藤原宣房). Trước kia ông đã từng phục vụ cho Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō), làm đến chức Trung Nạp Ngôn (中納言), ngoài công vụ ra ông còn đến tham Thiền với Minh Cực Sở Tuấn (明極楚俊). Ông được Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超) truyền trao cho y bát và pháp hiệu, và đến năm 1334 thì xuất gia. Khi Huệ Huyền (慧玄) khai sáng Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), ông theo hầu và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Sau khi thầy mình qua đời, ông làm trú trì đời thứ hai chùa nầy.
thoại
1) Chữ: Words. 2) Cuộc đàm thoại: Conversation—Talking. 3) Kiết tường: Điềm lành—Auspicious. 4) Ngọc quý: A precious stone—A jade token. 5) Ngôn ngữ: Language.
Thoại Nham Sư Ngạn
(瑞巖師彦, Zuigan Shigen, ?-?): nhân vật sống vào cuối thời nhà Đường, người vùng Mân Việt (閩越, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Hứa (許). Lúc còn nhỏ ông có chí xuất gia, nên mặc áo ca sa và nghiêm trì giới luật. Ông đến tham vấn Nham Đầu Toàn Khoát (巖頭全奯) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến sống ở Thoại Nham Viện (瑞巖院) vùng Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang) và đã từng quy y cho cả dòng họ của Võ Túc Vương Tiền (武肅王錢).
Thoại Tuyền Tự
(瑞泉寺, Zuisen-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Đại Cốc (大谷派) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, hiện tọa lạc tại số 3050 Inami (井波), Nanto-shi (南砺市), Toyama-ken (富山縣); hiệu là Sam Cốc Sơn (杉谷山), hay còn gọi là Tỉnh Ba Đại Ngự Phường (井波大御坊), Tỉnh Ba Biệt Viện (井波別院). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1390 (Minh Đức [明德] nguyên niên), Xước Như (綽如, Shakunyo), vị Tổ đời thứ 5 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), khai sáng chùa này, sau chùa trở thành nơi cầu nguyện của Hậu Tiểu Tùng Thiên Hoàng (後小松天皇, Gokomatsu Tennō). Đến năm 1581 (Thiên Chánh [天正] 9), chùa gặp phải nạn binh hỏa, bị thiêu cháy tan tành; đến năm 1596 (Khánh Trường [慶長] nguyên niên), nhờ sự hỗ trợ của Tướng Quân Tú Cát (秀吉, Hideyoshi), ông cho dựng nên một ngôi chánh điện tạm thời; tuy nhiên, sau đó thì chùa lại gặp phải biết bao lần hỏa hoạn, song cũng được tái thiết rất nguy nga cho đến ngày nay. Trước ngôi nhà Thái Tử Đường có tấm bia Hậu Tiểu Tùng Đế Tụng Đức (後小松帝頌德), còn lưu lại nét bút của Xước Như. Trong vườn chùa có Đại Cốc Miếu Đường, nơi an trí di cốt của Xước Như. Tượng thờ chính của chùa, A Di Đà Như Lai, là tác phẩm của Thái Trừng (泰澄) dưới thời Bình An. Nơi Thái Tử Đường còn có an trí bức tượng tranh Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) năm lên 2 tuổi. Hằng năm người ta mở cửa ngôi nhà này và tổ chức thuyết giảng về nguồn gốc bức tranh.
thoại tướng
Dấu kiết tường—Auspicious—Auspicious sign, or aspect.
thoại tượng
Theo Tây Vực Ký của ngài Huyền Trang, thì đây là tượng kiết tường, đặc biệt là bức tượng đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm bằng gỗ đàn hương bởi vua Udayana của nước Câu Đàm Thi, một người sống cùng thời với Đức Phật—According to The Great T'ang Chronicles of the western World, composed by Hsuan-Tsang, this is an auspicious image, especially the first image of Sakyamuni made of sandalwood and attributed to Udayana, king of Kausambi, a contemporary of sakyamuni.
thoại tắc
Lời nói của Phật trở thành pháp tắc trong tự viện—Word-norm, the spoken words of the Buddha the norm of conduct.
; (話則) Cũng gọi Thoại đầu, Thoại bính, Thoại bộ, Thoại bá, Thoại đề, Thoại, Tắc. Pháp tắc nói chuyện, được chuyển dụng để chỉ cho Cổ tắc công án và nhân duyên ngộ đạo của người xưa. Tất cả lời nói cơ duyên của Phật tổ vànhân duyên ngộ đạo của cổ nhân đều là những pháp tắc tu hành tham thiền của người đời sau. Bởi thế, trong Thiền lâm, ở dưới tên công án thường thêm 1 chữ Thoại như Đạt ma khuếch nhiên thoại, Triệu châu bá thụ tử thoại, Nam tuyền trảm miêu thoại... Môn Kinh lục trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Lời nói của Phật tổ là phép tắc cho người học, vì thế gọi là Thoại tắc. Ngoài ra, công án được tạo thành bởi lời nói của các bậc tông tượng trong Thiền lâm, gọi là Thoại đầu công án. [X.phần Bình xướng, tắc 12, Bích nham lục; tắc 1 trong Tổ đình sự uyển Q.7; phần Bình xướng, tắc 21 trong Thung dung lục]. (xt. CôngÁn].
Thoại vân
(瑞雲): hiện tượng xảy ra khi đám mây đi ngang qua gần mặt trời, tạo thành 5 sắc màu trắng, đen, đỏ, vàng, xanh lục; còn gọi là thái vân (彩雲), khánh vân (慶雲), cảnh vân (景雲). Từ xa xưa, thoại vân được xem như là điềm lành, nhưng thực tế là hiện tượng khí tượng mà thôi. Trong Phật Giáo, thoại vân còn được gọi là nhật vựng (日暈, vừng sáng của mặt trời), là hiện tượng thường xảy ra trong những lúc đại lễ quan trọng như Lạc Thành, Khai Nhãn Tượng Phật, v.v.; và có tên gọi là Ngũ Sắc Thái Vân (五色彩雲), Ngũ Sắc Thoại Vân (五色瑞雲), v.v. Hơn nữa, trong các bức tranh Lai Nghênh Đồ (來迎圖), v.v., thường có vẽ hình đức Phật A Di Đà cùng với chư Bồ Tát từ Tây Phương Cực Lạc Tịnh Độ lướt trên đám mây lành năm sắc này đến tiếp rước. Trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Chú Giải (地藏本願經科註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 384) quyển 6 có đoạn rằng: “Tây Kinh Tạp Ký vân: 'Thoại vân viết khánh vân, viết cảnh vân; vân ngũ sắc viết khánh, hoặc viết khanh; thử biểu ly Ngũ Trú Phiền Não, hiển Ngũ Phần Pháp Thân chi tường chưng dã' (西京雜記云、瑞雲、曰慶雲、曰景雲、雲五色曰慶、或曰卿、此表離五住煩惱、顯五分法身之祥徵也, Tây Kinh Tạp Ký giải thích rằng: 'Thoại vân còn gọi là khánh vân, cảnh vân; mây năm sắc gọi là khánh, hay khanh; nó biểu hiện cho sự xa lìa Ngũ Trú Phiền Não và hiển lộ điềm lành Năm Phần Pháp Thân').” Trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 22, có đoạn: “Huyền Tông mộng không trung Sở Kim nhị tự, cật triều phỏng vấn, hàm dĩ sư đối, nãi thân chế Đa Bảo Tháp ngạch tứ kiêm mân vi trợ, công tất chi nhật ngũ sắc thoại vân ngưng ư tháp thượng (玄宗夢空中楚金二字、詰朝訪問、咸以師對、乃親製多寶塔額賜縑緡爲助、功畢之日五色瑞雲凝於塔上, vua Huyền Tông mơ thấy trên không có hai chữ 'Sở Kim', mới hỏi triều thần, tất cả đều nhờ sư trả lời; nhà vua bèn ngự chế ban sắc ngạch trợ giúp lụa tiền dựng Tháp Đa Bảo; ngày hoàn tất công trình có đám mây lành năm sắc đọng trên tháp).”
Thoại đầu
話頭; C: huàtóu; J: wato;|Chỉ cái trọng yếu, trung tâm, »chữ đầu« của một Công án. Một công án có thể có một hoặc nhiều thoại đầu và một thoại đầu có thể chỉ là một chữ duy nhất (xem Nhất tự quan).
thoại đầu
Hau tou (C), Watō (J).
; Xem công án.
; Trước khi chưa khởi niệm muốn nói câu thoại, tức là khi một niệm chưa sanh khởi, gọi là thoại đầu. Nếu có khởi niệm cho là nên, cho là không nên, cho là đúng, cho là không đúng, phàm có hai chữ cho là đều chẳng phải thoại đầu.
thoại ứng
Triệu chứng báo trước sự tốt đẹp và sau này sẽ ứng nghiệm đúng với triệu chứng đó, gọi là thoại ứng.
; 1) Đáp ứng điềm lành: Auspicious response. 2) Tên của loài hoa Ưu Đàm: Name of the Udumbara flower. 3) Triệu chứng tốt về vãng sanh, như thấy Phật, Bồ Tát, Thánh chúng hiện thân tiếp rước, hoặc nghe Thiên nhạc, hoặc thấy phướn, lọng, hay hương thơm tỏa khắp, vân vân—Signs and characteristics of gaining rebirth at the last moments, the cultivator is able to see Buddha, Bodhisattvas, and many other enlightened beings surround him or her, or hearing heavenly music playing, banners, or rare incense filling the air, etc.
thoạt
As soon as.
thoạt kỳ thủy
See Thoạt đầu.
thoạt tiên
See Thoạt đầu.
thoạt trông
At first sight.
thoạt đầu
At the commencement (beginning).
thoải
To be gentle (slope).
thoải mái
Ease
thoảng
1) Bay nhè nhẹ trong không khí: To move lightly in the air (perfume). 2) Có lúc: Now and then—From time to time.
thrisong deutsen
Thrisong Deutsen (T).
thu
1) Cò đầu trọc: A stork. 2) Mùa thu: Autumn—Fall. 3) Thu góp: To collect—To gather. 4) Trả nợ: To pay one's due.
thu ba
Clear and bright eyes of a girl.
thu ba ca la
Subhakarasimha (skt)—Thiện Vô Úy Tam Tạng là tên của một vị Tăng nổi tiếng người Ấn Độ—Name of a famous Indian monk.
thu bà ca la
See Thu Ba Ca La.
thu câu lư na
Suklodana (skt)—Một vị thái tử của thành Ca Tỳ La Vệ, em vua Tịnh Phạn, là cha của Tisya, Đề Bà Đạt Đa, và Nandika—A prince of Kapilavastu, younger brother of Suddhodana, and father of Tisya, Devadatta, and Nandika.
Thu duyên
(收緣): kết liễu các duyên trước, chấm dứt mọi duyên, cũng có nghĩa là chấm dứt mạng sống. Như trong hồi thứ 41 của Tái Sanh Duyên (再生緣) có câu: “Thượng Bản tằng ngôn Khuê Bích tử, Nam Lao tứ bạch dĩ thu duyên (上本曾言奎璧死、南牢賜帛已收緣, Thượng Bản từng bảo rằng Khuê Bích chết, Nam Lao ban cho lụa rồi kết liễu mọi duyên).” Hay trong Kim Cang Tân Nhãn Sớ Kinh Kệ Hợp Thích (金剛新眼疏經偈合釋, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 487) quyển 1 có đoạn: “Cự nhĩ thu duyên tẩy túc, phu tòa nhi tọa, nhất niệm bất sanh, vạn lự giai vong, ngũ uẩn ký không, tứ tướng hà hữu, thử hựu Như Lai mật thị hàng tâm pháp dã (遽爾收緣洗足、敷座而坐、一念不生、萬慮皆亡、五蘊旣空、四相何有、此又如來密示降心法也, gấp rút thu duyên rửa chân, trãi tòa mà ngồi, một niệm không sanh, vạn lo đều không, Năm Uẩn đã không, Bốn Tướng sao có, đây là pháp hàng phục tâm do đức Như Lai bí mật dạy cho).”
thu gọn
To put in order.
thu hồi
To take back—To revoke—To withdraw—To recall.
thu kim cang bồ tát
Sarada-vajrah (S)Tên một vị Bồ tát.
thu kim cương
(秋金剛) Phạm: Zarada-vajra#. Một trong các vị Bồtát thuộc Mạn đồ la Kim cương tát đỏa của Mật giáo. Vị tôn này thường dùng đèn trí tuệ phá tan bóng tối vô minh, cũng dùng phương tiện trao cho chúng sinh, phóng ra vô lượng ánh sáng, cúng dường rộng khắp; vì thân vị Bồ tát này trong sáng như bầu trời mùa thu, ở đây theo nghĩa ánh sáng trí tuệ, cho nên gọi là Thukimcương. [X. kinh Lí thú thích Q. thượng].
thu la
1) Sula (skt)—Thu Na—Mũi tên—A dart—A lance. 2) Sura (skt)—Anh hùng—Hero—Heroic.
thu lộ tử
Sariputra (skt)—See Xá Lợi Phất in Vietnamese-English Section.
thu nhận
See Thu Nạp.
thu nhặt
To gather—To collect.
thu nhỏ
To reduce (in size)—To make something smaller.
thu nạp
To accept—To admit—To receive.
thu phương
(秋方) Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông được phối hợp với bốn phương Đông Tây Nam Bắc, trong đó, mùa thu được phối với phương Tây, vì thế Thu phương tức chỉ cho phương Tây.
thu phục
To win the heart of the people.
thu thanh
To record.
thu vén
To put in order—To arrange.
thu xếp
To settle (a matter).
thu đoạt
To take hold of—To seize.
thua
To lose.
thua kiện
To lose a lawsuit.
thua kém
To be inferior.
thua thiệt
To suffer loss.
thua tài
Inferior in talent.
thui
Very black.
thui thủi
Lonely—Alone.
thum thủm
To smell bad.
thung dung
Easy—Free and easy.
thung dung lục
Shōyō roku (J)Tên một bộ sưu tập.
; (從容錄) Cũng gọi Vạn tùng lão nhân bình xướng Thiên đồng hòa thượng tụng cổ Thung dung am lục, Thiênđồng Giác hòa thượng tụng cổ thung dung am lục. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Vạn tùng Hànhtú soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này gồm 100 tắc tụng cổ của Thiền sư Hoành trí Chínhgiác núi Thiênđồng và thêm phần thị chúng, trứ ngữ, bình xướng... của ngài Vạntùng Hành tú mà thành. Thung dung là tên ngôi am mà ngài Hànhtú ở lúc về già. Ban đầu, học trò ngài Hànhtú là Da luật Sởtài –Quân sư của vua Thái Tổ nhà Nguyên là Thành cát Tưhãn– tùy tòng Tháitổ chinh phạt các nước phía tây, buồn vì phải xa cách thầy mình nên Sởtài thường gửi thư xin thầy bình xướng những bài tụng cổ của ngài Thiênđồng. Do đó, ngài Hành tú mới soạn sách này ở am Thung dung, chùa Báoân tại Yên kinh, bảo thị giả là Li tri ghi chép. Năm Nguyên thái tổ thứ 8 (1223), ngài Hànhtú gửi sách này cho Sở tài, năm sau, Sởtài soạn bài tựa. Đó là lí do hình thành tập sách này. Các tắc trong sách đều chia làm 4 phần: Thị chúng, Bản tắc (công án), Tụng cổ (trong văn phụ thêm lời bình ngắn và trứ ngữ) và Bình xướng. Phần thị chúng tương đương với Thùy thị trong Bích nham lục, là phần thuyết minh tông chỉ của mỗi tắc; Bản tắc là cổ tắc công án, trình bày về nhân duyên chứng ngộ của người xưa; Tụng cổ là phần ngài Hoành trí dùng kệ tụng niêm đề, nói rõ về tông chỉ của Bản tắc; Trứ ngữ là phần giải thích và có lời bình ngắn gọn về các ngữ cú của Bản tắc, Tụng cổ; còn phần Bình xướng là bộ phận trọng điểm của sách này. Sách này và Bích nham lục được xem là 2 viên ngọc quí trong Thiền môn, Bích nham lục thuộc hệ thống tông Lâmtế, còn sách này thì thuộc hệ thống tông Tàođộng. Về chú sớ của sách này thì có: - Thung dung lục tụng giải, 1 quyển, của ngài Mặcthiệu. - Thung dung lục sự lược, 17 quyển, của ngài Tùngvân. - Thung dung lục tiếp chủy lục, 2 quyển, của ngài Đỉnhtam. - Thung dung lục bút tước, 1 quyển của ngài Phạmđính.
Thung huyên
(椿萱): Thung hay xuân (椿) là loại cây cao lá rụng thuộc Khoa Chiên Đàn (栴檀), gỗ cứng, thường dùng làm khí cụ rất tốt. Trong Trang Tử (莊子), phần Tiêu Dao Du (逍遙遊) có đoạn rằng: “Thượng cổ hữu đại Thung giả, dĩ bát thiên tuế vi Xuân, bát thiên tuế vi Thu (上古有大椿者、以八千歳爲春、八千歳爲秋, thời xưa có cây thung lớn, lấy tám ngàn năm làm một mùa Xuân, tám ngàn năm làm một mùa Thu)”; vì vậy sau này cây Thung được dùng thể hiện sự trường thọ và mượn thay thế cho người cha. Nơi người cha ở được gọi là Thung Đình (椿庭), Thung Đường (椿堂) hay Thung Phủ (椿府); cho nên người ta hay dùng câu “Thung Đường Trường Thanh (椿堂長青, Cha Lành Sống Mãi [nhà có cây thung xanh mãi])” để chúc thọ cho phụ thân. Bên cạnh đó, Huyên (萱) là loại cây cỏ sống lâu năm, Huyên Thảo (萱草) là loại Kim Châm (金針), tương truyền khi ăn vào thì làm cho người ta quên đi ưu sầu, phiền muộn; nên được gọi là Vong Ưu Thảo (忘憂草, Cỏ Quên Buồn) và thường được dùng thay thế cho người mẹ. Nơi người mẹ cư ngụ được gọi là Huyên Đường (萱堂), tức là nơi có trồng nhiều loại cỏ huyên để giúp cho mẹ quên đi mọi ưu phiền. Nếu như cả cha lẫn mẹ đều song toàn, tức vẫn còn sống thọ, thế gian vẫn thường dùng câu chúc thọ là “Thung Huyên Tinh Mậu (椿萱並茂, Cha Mẹ Cùng Thọ [cây Thung và cây Huyên cùng tươi tốt])”. Trong bài thơ Tống Từ Hạo (送徐浩) của Mâu Dung (牟融) nhà Đường có câu: “Tri quân thử khứ tình thiên cấp, đường thượng thung huyên tuyết mãn đầu (知君此去情偏急、堂上椿萱雪滿頭, Biết người đi mãi tình ngăn cách, nhà vắng mẹ cha tóc bạc đầu)”. Hay trong Nhất Chi Hoa (一枝花), Tử Đệ Mỗi Tâm Kí Thanh Lâu Thọ Nhân Khúc (子弟毎寄青樓受人曲) của Thang Thức (湯式) nhà Minh có đoạn: “Thung huyên suy mại, tùng cúc tiêu điều (椿萱衰邁、松菊蕭條, Mẹ cha suy yếu, tùng cúc tiêu điều)”. Hoặc trong bài Mẫu Đơn Đình (牡丹亭) của Thang Hiển Tổ (湯顯祖) nhà Minh cũng có câu: “Đương kim sanh hoa khai nhất hồng, nguyện lai sanh bả huyên thung tái phụng (當今生花開一紅、願來生把萱椿再奉, Ngày nay đơm hoa nở nụ hồng, nguyện đời sau gặp mẹ cha cung phụng).”
thung huyên
Father and mother.
Thung Đình
(椿庭): chỉ cho người cha, hay nơi người cha ở; vì cây thung (椿, hay xuân) tượng trưng cho sự trường thọ. Như trong phần Hội Giảng (會講) thuộc Kinh Xoa Ký (荊釵記) của Chu Quyền (朱權, 1378-1448) nhà Minh có câu rằng: “Bất hạnh Thung Đình vẫn táng, thâm lại Huyên Đường huấn hối thành nhân (不幸椿庭殞喪、深賴萱堂訓誨成人, không may cha lành qua đời, thảy nhờ mẹ hiền dạy dỗ nên người).” Từ đó, có một số câu được dùng để chúc tụng người cha như: “Thung Đình nhật noãn (椿庭日暖, Thung Đình mỗi ngày một ấm áp, nghĩa là người cha mỗi ngày một mạnh khỏe)”, “Thung Đình trường thanh (椿庭長青, Thung Đình xanh tươi mãi, nghĩa là cha lành vẫn sống mãi)”, v.v.
thuyên
1) Cái nơm cá—A bamboo fishing-trap. 2) Phân giải: To expound—To explain—Discourse.
thuyên biện
1) Bình luận: To comment. 2) Giải thích: To explain.
thuyên chuyển
To transfer.
thuyên chỉ
Giải thích nghĩa lý—To explain the meaning.
; (詮旨) Dụng ngữ của tông Pháp tướng. Thuyên là nương theo lời giải thích mà bàn về ý chỉ sâu xa, tức thông qua cửa ngôn ngữ, văn tự, tư duy... mà nói rõ nghĩa Bảo châu có hình tia lửa lí của tông chỉ. Chẳng hạn Chân như là đế lí trọng yếu của Phật giáo, không thể giải thích bằng lời nói, không thể gọi bằng tên, nhưng vì muốn cho người ta hiểu rõ thể tính và nghĩa lí của nó nên mới cưỡng lập ra tên gọi Chân như, nhờ đó để nói rõ về ý chỉ chân thực thường như bất biến. Còn Chỉ là Phế thuyên đàm chỉ, nghĩa là dứt bỏ ngôn ngữ, văn tự, tư duy, dùng chính trí chứng ngộ ý chỉ chân lí trong nội tâm, tương đương với Li ngôn chân như(Chân như lìa lời nói)trong luận Đại thừa khởi tín. Chẳng hạn như Nhị đế trong 4 lớp chân tục do tông Pháp tướng lập ra, thì Chân đế của lớp thứ 4 chính là Nhất chân pháp giới là loại Chân đế không thể giải thích bằng lời nói, câu văn, mà phải trực chứng bằng Thánh trí nội chứng.
thuyên giảm
To lessen—To diminish—To recede.
Thuyên ngư
筌魚; J: sengyo; là cái nơm cá; |Một biểu thị thường được sử dụng trong Thiền tông, vốn xuất phát từ Trang Tử, một hiền triết của Ðạo giáo. Trang Tử viết như sau trong Trang Tử nam hoa chân kinh (Nguyễn Duy Cần dịch):|筌者所以在魚。得魚而忘筌。蹄者所以在兔。得兔而忘蹄。言者所以在意。得意而忘言。吾安得夫忘言之人而與之言哉|Thuyên giả sở dĩ tại ngư, đắc ngư nhi vong thuyên. Ðề giả sở dĩ tại thố, đắc thố nhi vong đề. Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi vong ngôn. Ngô an đắc phù vong ngôn chi nhân nhi dữ chi ngôn tai.|*Có nơm là vì cá, đặng cá hãy quên nơm. Có dò là vì thỏ, đặng thỏ hãy quên dò. Có lời là vì ý, đặng ý hãy quên lời. Ta sao tìm đặng người biết quên lời hầu cùng ta bàn luận!|Như vậy có nghĩa là: hành giả không nên bám chặt vào văn tự và phương pháp bởi vì mục đích không nằm trong đó. Chúng chỉ là những phương tiện nhất thời nhằm hướng dẫn hành giả vượt qua nó để đạt đến đích. Vì thế nên mọi người đều phải quên đi những phương tiện này để có thể trực chứng được đạo, để đạo có cơ hội tự hiển hiện. Chính đức Phật cũng khuyên các đệ tử không nên bám vào ngón tay chỉ trăng mà cho nó là sự thật. Cái nơm của Trang Tử và ngón tay chỉ trăng của đức Phật được nêu ra là cũng vì những lí do trên. Thuyết »Bất lập văn tự« của Thiền tông được lập ra chính là dựa trên cơ sở này.
thuyên ngư
Kinh văn năng thuyên ví như cái nơm, nghĩa lý sở thuyên ví như con cá—Trap and fish, a difficult passage in a book and its interpretation.
; (筌魚) Nơm cá. Nơm là công cụ để bắt cá, cũng chỉ chung cho các phương tiện để đạt đến cứu cánh; Cá tức cứu cánh mà phương tiện được dùng để hoàn thành. Trong kinh Phật, Thuyên thường được dùng để ví dụ kinh văn ngữ cú năng thuyên, còn Ngư được dùng để ví dụ nghĩa lí nội hàm sở thuyên. Tức dùng văn tự ngôn ngữ giải thích rõ ý chỉ để nêu bày đại nghĩa của Phật pháp, cho nên dùng thuyên đề để ví dụ. Nhưng văn tự ngôn ngữ chỉ là phương tiện, khi đã nắm bắt được ý chỉ rồi thì không nên chấp trước văn tự, cũng tức là khi đã đạt được cứu cánh thì cần buông bỏ phương tiện mới được giải thoát, giống như đã bắt được cá thì không cần nơm nữa.
thuyên đề
(筌蹄) Cũng gọi Thuyên đệ. Thuyên là cái nơm dùng để bắt cá; Đề là cái lưới để bắt thỏ. Tức ví dụ cho cái công cụ hoặc thủ đoạn được ứng dụng để đạt đến một mục đích nào đó. Trong Phật giáo, Thuyên đề được ví dụ cho kinh luận hoặc văn tự ngôn ngữ đều là những phương tiện dắt dẫn người tu hành đạt đến cảnh giới Phật, một khi đã đạt mục đích thì nên bỏ phương tiện. Pháp hoa văn cú quyển 1 thượng (Đại 34, 2 trung) nói: Hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc quyền hoặc thực, đều là thuyên đề để đạt Phật đạo. [X.bàiTựa Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí].
thuyết
To speak, say, talk, discourse, expound; speech, etc.
; 1) Học thuyết: Doctrine—Theory. 2) Thuyết giảng: To speak—To say—To tell. 3) Thuyết phục: To persuade—To convince.
thuyết biến hóa
Evolutionism
thuyết biến thập xứ
(說遍十處) Phật thuyết kinh Hoa nnghiêm ở 10 nơi, từ 10 nơi này vang khắp pháp giới trong 10 phương. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 3, đức Tì lô giá na Như lai thị hiện vô tận thân nhiều như mây trong pháp giới, trùm khắp các cõi nước nhiều như bụi nhỏ, thường nói Đại kinh Hoa nghiêm ở 10 nơi sau đây để khiến chúng sinh trở về biển tính. Đó là: 1. Thuyết biến Diêm phù đề: Nói khắp các cõi Diêm phù đề. Nghĩa là ở 7 nơi tại cõi Diêm phùđề, Như lai nói 9 hội kinh này cho đại chúng nghe và ở các cõi Diêm phùđề trong pháp giới khắp 10 phương, Như lai cũng cùng một lúc giảng nói kinh này.2. Thuyết biến bách ức đồng loại nhất giới: Nói khắp trăm ức cõi cùng một loại. Nghĩa là khi đức Như lai giảng nói kinh này trong 100 ức thế giới thì trong mỗi thế giới đều có 100 ức cõi Diêm phù đề, cho đến 10 ức cõi trời Sắc cứu cánh, lúc bấy giờ các chúng sinh đều thấy Như lai giảng nói kinh này. 3. Thuyết biến bị loại thụ hình đẳng sát: Nói khắp bằng các loại hình tướng khác nhau. Nghĩa là đức Như lai biến hiện khắp trong các thế giới bằng tất cả các loại hình tướng khác nhau, như hình cây, hình sông ngòi, hình hồi chuyển, để thuyết pháp. 4. Thuyết biến sát chủng: Nói khắp trong các chủng loại cõi nước. Nghĩa là đức Như lai nói pháp ở thế giới Phổchiếu thập phương xí nhiên bảo quang(Thế giới ánh sáng rực rỡ chiếu soi khắp 10 phương), thế giới này bao hàm 20 lớp thế giới cõi Phật nhiều như bụi nhỏ, cho đến thế giới cõi Phật nhiều như bụi nhỏ bất khả thuyết, là chủng loại của thế giới. 5. Thuyết biến hoa tạng: Nói khắp Hoa tạng. Nghĩa là thủa xưa khi đức Như lai còn ở nhân vị, tu hành nghiêm tịnh, nên thường nói kinh này ở thế giới Hoa tạng.6. Thuyết biến dư sát hải: Nói khắp trong các cõi khác nhiều như nước biển. Nghĩa là ngoài thế giới Hoa tạng ra, đức Như lai còn ở trong các cõi vô tận ở khắp pháp giới trong 10 phương nhiều như các giọt nước biển, thường giảng nói kinh này. 7. Thuyết biến tiền lục loại sát trần: Thuyền tử Hòa thượng Nói khắp trong các cõi nhiều như bụi nhỏ trong 6 loại cõi nước trên. Nghĩa là trong mỗi hạt bụi của 6 loại cõi nước nói trên đều có cõi Phật, Nhưlai diễn nói kinh này ở khắp các cõi Phật ấy. 8. Thuyết biến tận hư không giới: Nói khắp trong các pháp giới cùng tận cõi hư không. Nghĩa là đức Nhưlai thường chuyển pháp luân khắp trong các cõi nước vô biên nhiều như những giọt nước biển trong tận cùng cõi hư không. 9. Thuyết biến do đế võng: Nói khắp như ánh sáng lan tỏa của mành lưới Đế thích. Nghĩa là đức Nhưlai giảng nói kinh này trong các cõi nước nhiều bất tận như bụi nhỏ, giống như ánh sáng của mành lưới trên cung điện trời Đế thích tỏa ra và đan xen nhau lớp lớp vô tận. 10. Dư Phật đồng: Các Phật giống nhau. Nghĩa là đức Như lai thường giảng nói kinh này trong 9 loại cõi nước nhiều như bụi nhỏ, như những giọt nước biển nói trên để điều phục chúng sinh, khiến họ trở về biển tính; một đức Phật như thế, các đức Phật khác trong 10 phương cũng như thế, đều giảng nói kinh này trong vô lượng, vô số, vô biên bất khả thuyết cõi nước.
thuyết chuyên tu vô gián
The doctrine of “Exclusive and uninterrupted practice.”
thuyết chuyển bộ
Saṃkantikah (P), Saṃkrantivadah (S)Một trong 20 bộ phái Tiểu thừaXem Kinh lượng bộ.
; Samkràntivàdin (S). Name of a sect.
; See Kinh Lượng Bộ.
thuyết chân lý duy tâm
The doctrine of the truth of mind-only.
Thuyết chướng đạo vô sở úy
xem Bốn đức chẳng sợ.
thuyết dục
(說欲) Theo luật qui định, các việc tăng như thụ giới, thuyết giới... các tỉ khưu bắt buộc phải tham dự, nhưng vì bận việc khác cần thiết, không thể tham dự được thì phải nói ý mong muốn tán đồng của mình với 1 vị tỉ khưu khác, nhờ vị ấy đem ra trình bày trước chúng tăng, gọi là Thuyết dục. Vị tỉ khưu trao ý muốn tán đồng của mình cho 1 vị tỉ khưu khác để nhờ đưa ra nói trước đại chúng, gọi là Dữ dục, còn vị tỉ khưu nhận sự ủy thác ấy, gọi là Thụ dục. [X. Tát bà đa bộ tì ni ma đắc lặc già Q.6; luật Thập tụng Q.56].
thuyết giả bộ
Trajaptivadinah (S), Paṇṇat-tivāda (P), Paṇṇattivādin (P), Prajāptivada (S), Prajāptivadinah (S), Prajāptivadin (S)Đa văn Phân biệt bộ, Thi thiết Luận bộ, Giả Danh bộ, A tỳ đạt ma Thi thiết túc luận Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa hồi thế kỷ thứ II B.C.
; Prajnàptivàdinah (S). A branch of Màhàsanghikàh, which took the view of phenomenality and reality.
; (說假部) Phạm: Prajñāpti-vādin. Pàli: Paññatti-vādā. Hán âm: Bát lạp nhã đế bà da na, Bà la nhã để bà đà. Cũng gọi Thi thiết luận bộ, Giả thuyết bộ, Giả danh bộ, Phân biệt thuyết bộ. (Phạm: Vibhajya-vàdin), Đa văn phân biệt bộ. Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Cứ theo luận Dị bộ tông luân thì phái này chia ra từ Đại chúng bộ khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Phái này chủ trương pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều có 1 phần nhỏ là giả, 12 xứ, 18 giới là các pháp tích tụ, thì đều là giả, y cứ vào đó mà đặt tên, gọi là Thuyết giả bộ. Chủ trương của phái này khác với Thuyết xuất thế bộ chủ trương các pháp xuất thế gian đều là chân thực, đồng thời cũng khác với Nhất thuyết bộ vốn cho rằng các pháp thế gian và xuất thế gian chỉ là giả danh, không có thực thể. Cứ theo Bộ chấp dị luận sớ được dẫn trong Tam luận huyền nghĩa kiểm u tập quyển 6 thì ngài Đại ca chiên diên từng soạn luận vào thời đức Phật còn tại thế để phân biệt, giải thích giáo pháp của Phật, khoảng 200 năm sau khi đức Phật nhập diệt, ngài Đại Ca chiên diên từ ao A nậu đạt đến nước Ma ha đà, ra đời trong Đại chúng bộ, cho rằng 12 xứ, 18 giới là giả danh, 5 uẩn là thực nghĩa để phân biệt 3 tạng Thánh giáo, trong chúng có người tin nhận, có người không tin nhận, trong đó, những người tin nhận tự trở thành Phân biệt thuyết bộ. Theo đây thì Thuyết giả bộ là bộ phái do các vị đệ tử của ngài Đại ca chiên diên hoằng dương. Nhưng trong Luận sự của Nam truyền thì không thấy nói đến tên của Thuyết giả bộ, còn Đảo sử và thuyết thứ 3 của ngài Thanh Biện (Phạm: Bhavya) do Tây tạng lưu truyền thì cho rằng Thuyết giả bộ là từ Kê dận bộ tách ra. Pháp hoa kinh huyền tán quyển 1, phần đầu thì đem thuyết của phái này phối hợp với Hiện thông giả thực tông trong 6 tông Tiểu thừa. [X. kinh Xálợiphất vấn; phẩm Phân bộ trong kinh Vănthù sư lợi vấn Q. hạ; luận Thập bát bộ; Dị bộ tông luân luận thuật kí; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.3]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ). THUYẾT GIỚI Giảng nói giới luật cho người thụ giới nghe. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho sự giải thích giới pháp thông thường. 2. Cứ mỗi nửa tháng, vào ngày Bốtát, lúc vị tỉ khưu Thượng tọa tụng đọc giới bản, nếu trong chúng có tỉ khưu nào phạm tội thì phải ra trước chúng sám hối, cũng gọi là Thuyết giới, những người chưa thụ giới Cụ túc thì không được nghe. Trường hợp thứ 2 này, nếu nói theo phương diện Bố tát thì gọi là Thuyết giới, còn nói theo phương diện tỉ khưu phạm giới sám hối thì gọi là Thuyết tội. Trong 20 Kiền độ của luật Tứ phần, có thiết lập Kiền độ Thuyết giới. (xt. Bố Tát).
thuyết giảng
Desanà (S). To preach.
; To preach—Sermon
thuyết giới
The bi-monthly reading of the prohibitions for the order and of mutual confession.
; Tụng giới mỗi nửa tháng (ngày rằm và 30). Tăng chúng tập hợp lại đọc giới kinh, nói ra những tội lỗi phạm phải và phát lồ sám hối những tội lỗi nầy (tiếng Phạn là “Bố Tát,” làm như vậy sẽ giúp tăng trưởng điều thiện, trừ bỏ điều ác. Tuy nhiên, chỉ những chư Tăng đã thọ cụ túc giới rồi mới được tham dự, còn những vị chưa thọ cụ túc giới thì không)—The bi-monthly reading of the prohibitions for the order and of mutual confession.
thuyết giới kiền độ
Uposatha-khandaka (S)Bố tát kiền độ.
; (說戒犍度) Cũng gọi Bố tát pháp, Bố tát kiền độ (Phạm: Uposatha-khandaka). Một trong 20 kiền độ. Kiền độ nghĩa là thiên, chương. Pháp bố tát trong luật được thu gom vào 1 thiên, hoặc 1 chương, gọi là Bố tát kiền độ, luật Tứ phần gọi Bố tát kiền độ là Thuyết giới kiền độ. Thuyết giới là y cứ theo tác pháp mà đặt tên, còn Bố tát thì dựa vào công năng mà đặt tên. Trong Kiền độ này có qui định các việc như định ngày giờ thuyết giới bố tát, việc sắp đặt nơi chỗ thuyết giới, chủng loại khác nhau của việc thuyết giới, về sự dữ dục và dữ thanh tịnh của tỉ khưu bị bệnh, tư cách của người tụng giới, sự phạm tội và thuyết giới vào ngày thuyết giới, cho đến qui định về sự quan hệ giữa khách tỉ khưu và cựu tỉ khưu trong giới tràng. Cũng tức là phần nói rõ về các tác pháp trong tăng đoàn cứ nửa tháng 1 lần, tăng chúng nhóm họp nhau, tuyên đọc giới bản, phát lộ sám hối các tội mình đã phạm trong nửa tháng vừa qua... gọi là Thuyết giới kiền độ.[X. luật Tứ phần Q.35, 36; luật Ngũ phần Q.18]. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).
thuyết giới nhật
(說戒日) Ngày cử hành nghi thức thuyết giới, cũng tức là ngày Bố tát. Lịch pháp Ấn độ chia mỗi tháng ra làm 2 phần là Bạch nguyệt và Hắc nguyệt. Bạch nguyệt là khoảng thời gian từ khi trăng mới nhú đến khi trăng tròn(từ ngày mồng 1 đến ngày 15 âm lịch); Hắc nguyệt là khoảng thời gian từ khi trăng bắt đầu khuyết đến khi tối đen(tức từ ngày 16 đến ngày 29 hoặc 30 âm lịch). Nghi thức thuyết giới được cử hành vào ngày cuối cùng của Bạch nguyệt và Hắc nguyệt. Tương đương với ngày 15 và 30 mỗi tháng theo âm lịch của Trung quốc.
thuyết giới sư
(說戒師) Chỉ cho vị tỉ khưu đọc tụng giới bản vào ngày thuyết giới mỗi nửa tháng. Thông thường, một vị tỉ khưu Trưởng lão được thỉnh cử làm Thuyết giới sư.
thuyết hư vô
See Nihilism.
thuyết hội mạn đồ la
(說會曼荼羅) Cũng gọi Năng thuyết mạn đồ la. Chỉ cho sự nhóm họp người nói pháp và người nghe pháp(đối cáo chúng)trong hội thuyết pháp của Nhưlai, hoặc chỉ cho bức vẽ về cuộc nhóm hợp thuyết pháp này. Trong Mật giáo, Thuyết hội mạn đồ la phần nhiều chỉ cho hội thuyết pháp của kinh Đại nhật và bức tranh vẽ hội thuyết pháp ấy. Cứ theo kinh Lí thú thì trong hội thuyết pháp của đức Giáo chủ Đại nhật Như lai có 80 câu chi Bồtát chúng, trong đó có 8 vị Đại Bồtát như Kim Cương Thủ là bậc Thượng thủ vây bọc chung quanh, đó chính là Thuyết hội mạn đồ la.
thuyết kinh
To expound the sùtra.
; To expound the sutras.
; (說經) Giảng nói nghĩa lí kinh điển. Về sau chỉ cho việc giảng nói về các câu vè phổ thông trong nhân gian. Ở Trung quốc, từ đời Đường về sau thịnh hành việc dùng văn tự bình thường, dễ dãi để phối hợp giáo thuyết hoặc những truyện tích trong Phật giáo thành âm khúc mà trở thành văn vè, như các Biến văn thuộc về loại này. Ở Nhật bản thì vào thời Bình an đã có danh xưng Thuyết kinh sư, tức là người giảng giải văn kinh và giáo nghĩa để giáo hóa dân chúng. Từ đời Liêm thương về sau thì Thuyết kinh sư được chức nghiệp hóa. (xt. Thuyết Pháp).
thuyết luân hồi
Metempsychosis.
thuyết minh
To explain clearly.
thuyết minh lý duy tâm
The doctrine of Elucidates the truth of mind-only.
thuyết mạn đà la pháp kinh
Dharma-maṇdala sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
thuyết mặc
Speech and silence.
; Thuyết minh ra là thuyết pháp, mặc dù không nói ra (rời thuyết thì không có lý, rời lý thì không có thuyết. Phật tử chân thuần phải luôn đi trên đường “Trung Đạo.” Lúc nào cần thuyết thì thuyết, lúa nào cần mặc thì mặc)—Speech and silence.
; (說默) Nói pháp và im lặng. Nếu theo nhân duyên thì nên nói, còn nếu theo lí thể thì nên im lặng, 2 thái độ này là Thánh hạnh của Bồ tát. Kinh Tưích phạm thiên sở vấn quyển 3 (Đại 15, 50 hạ) nói: Các ông nhóm họp nên làm 2 việc: Hoặc là nói pháp, hoặc giữ im lặng như bậc Thánh. Ma ha chỉ quán quyển 1, thượng (Đại 46, 3 trung) nói: Nếu ganh nhau nói, nín mà không hiểu giáo ý thì càng cách xa với lí. Lìa nói thì không lí, lìa lí thì không nói. Ngay chỗ nói mà không nói, không nói tức nói. Không hai không khác, ngay nơi sự là chân.
thuyết nghiệp báo
Teaching on karma.
thuyết nhân bộ
Hetuvidyāh (S), Hetuvāda (S), HetuvādapŪrva, Sthavirāḥ (S)Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa hay 11 bộ phái của Thượng tọa bộ.
; Hetuvàdinah (S). Idem Sarvàstivàdàh.
; Hetu-vadinah (skt)—Tương tự như Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ—Similar to Sarvastivadah—See Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ.
thuyết nhất thiết hữu bộ
Saivastivāda (S)Một trong 11 bộ phái của Thượng tọa bộ, còn gọi là Thuyết nhân bộ (Hetuvada).
; Sarvàstivàdàh (S). The realistic school.
; (說一切有部) Phạm:Survàsti-vàdin. Pàli:Sabbattivàda. Hán âm: Tát bà a tư để bà địa. Gọi tắt: Tát bà đế ba, Tát bà đa, Tát vệ. Gọi đủ: A li da mộ la tát bà tất để bà đà (Phạm:Àrya-mùla-savarsti-vàda). Hán dịch: Thánh căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ. Gọi tắt: Hữu bộ, Hữu bộ tông, Hữu tông.Cũng gọi Thuyết nhân bộ (Phạm: Hetuvidyà#). Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Phái này từ Căn bản Thượng tọa bộ tách ra khoảng thời gian đầu của 100 năm thứ 3 sau khi đức Phật nhập diệt. Vì bộ phái này chủ trương tất cả các pháp trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) đều thật có nên gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ. Người sáng lập bộ phái này là ngài Ca đa diễn ni tử (Phạm: Kàtyàyanìputra, trước hoặc sau kỉ nguyên Tây lịch. Cũng gọi Ca chiên diên ni tử). Theo luận Dị bộ tông luân và Tam luận huyền nghĩa thì sau khi đức Phật nhập diệt, Thượng tọa bộ, từ các ngài Ca diếp, A nan đến ngài Ưu bà quật đa đều chỉ hoằng truyền kinh giáo, đến ngài Phú lâu na mới bắt đầu hơi nghiêng nặng về Tì đàm (luận), đến ngài Ca đa diễn ni tử thì cho Tì đàm là hơn hết và chuyên hoằng truyền A tì đàm, từ đó đối lập với các đệ tử của các bậc Thượng tọa và dẫn đến việc phân hóa. Bởi vì các phái Thượng tọa bộ nói chung đều lấy kinh, luật làm chỗ y cứ then chốt, còn phái này thì chủ yếu lấy các sách luận A tì đàm làm y cứ. Ngài Ca đa diễn ni tử có soạn bộ luận A tì đạt ma phát trí, lập ra 8 kiền độ, phân tích tính tướng các pháp một cách rõ ràng, là vị Luận sư nổi tiếng của phái này. Về sau, có 500 vị A la hán kết tập luận Đại tì bà sa 200 quyển để giải thích văn nghĩa của luận A tì đạt ma phát trí mà tập đại thành giáo nghĩa của phái này. Lại vì văn nghĩa luận Đại tì bà sa quá bao la, pho quyển thì đồ sộ, nên đời sau đã sáng tác các bản giản lược và sách cương mục, trong các sách cương mục bản Hán dịch hiện còn thì có: Luận A tì đàm tâm do ngài Pháp thắng soạn, A tì đàm tâm luận kinh do ngài Ưu ba phiến đa soạn, luận Tạp a tì đàm tâm 11 quyển do ngài Pháp cứu soạn, luận A tì đàm Câu xá 30 quyển do ngài Thế thân soạn, luận A tì đạt ma thuận chính lí 80 quyển và luận A tì đạt ma hiển tông 40 quyển do ngài Chúng hiền soạn. Trong đó, luận Câu xá y cứ vào nghĩa của Kinh bộ mà phê bình thuyết của luận Đại tì bà sa; luận Thuận chính lí và luận Hiển tông thì theo nghĩa cũ mà bài bác thuyết của ngài Thế thân. Ngoài ra, ngài Ngộ nhập soạn luận Nhập a tì đạt ma 1 quyển, các ngài Phật đà đà sa, Đức tuệ, An tuệ, Xứng hữu, Tăng mãn cũng đều soạn Câu xá thích luận để làm sáng tỏ giáo nghĩa của phái này. Bảy bộ luận A tì đạt ma căn bản của phái này là chỉ cho Tập dị môn túc luận củangàiXá lợi phất, Pháp uẩn túc luận của ngài Mục kiền liên, Thi thiết túc luận của ngài Ca chiên diên, Thức thân túc luận của ngài Đề bà thiết ma, Giới thân túc luận của ngài Thế hữu, Phẩm loại túc luận của ngài Thế hữu và Phát trí luận của ngài Ca đa diễn ni tử. Trong đó, 6 bộ luận trước được gọi là Lục túc luận (6 luận chân), còn luận Phát trí thì được gọi là Thân luận (luận mình). Trong 3 tạng, ngoài điểm đặc biệt nghiêng nặng về A tì đạt ma cũng còn truyền trì bộ luật Thập tụng; bộ luật này do 2 ngài Phấtnhã đa la và Cưu ma la thập cùng dịch vào đời Hậu Tần, gồm 61 quyển. Ngoài ra, các bộ luật Hán dịch khác như: Tát bà đa tì ni tì bà sa 9 quyển, Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già 10 quyển, Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da 50 quyển, Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bật sô ni tì nại da 20 quyển... cũng đều là các luật thuộc bộ phái này. Theo Tam luận huyền nghĩa thì sự truyền thừa của phái này là từ ngài Ưu bà quật đa trở xuống đến các ngài Phú lâu na, Mị giả ca, Ca đa diễn ni tử... lần lượt truyền nối nhau; còn Tát bà đa bộ Phật đại bạt đà la sư tông tương thừa lược truyện trong Xuất tam tạng kí tập quyển 20 thì liệt kê 54 vị từ các ngài A nan, Mạt điền địa, Xá na bà tư, Ưu ba quật đến Phật đà tất đạt... Những vị đựơc nêu trên đây tuy chưa hẳn đã được sắp xếp theo thứ tự niên đại ra đời, nhưng dựa vào đó ta cũng có thể thấy một cách đại khái về sự truyền thừa của bộ phái này. Giáo thuyết chủ yếu của bộ phái này là Ba đời có thật, pháp thể hằng có. Ba đời có thật nghĩa là quá khứ, vị lai và hiện tại giống nhau, đều có thực thể. Pháp thể hằng có nghĩa là tất cả các pháp sắc, tâm, tâm sở, hữu vi, vô vi... đều có thực thể. Phái này cũng chủ trương sinh thân của đức Phật là hữu lậu và Phật nói pháp có vô kí ngữ, chỉ lấy Bát chính đạo làm thể của chính pháp luân, phản đối thân Phật có 3 thứ vô biên(lượng, số và nhân), nghĩa là thân Phật xuất hiện ở Già da, khi hóa duyên đã hết thì vĩnh viễn vào Niết bàn tịch diệt. Phái này còn cho rằng Bồ tát phải tu đủ 3 kỳ 100 kiếp mới biết được 4 đế, nhưng chỉ biết tướng chung chứ khôngbiếttướng sai biệt của 4 đế. Ngoài ra, phái này lại chủ trương Sơ quả không thoái chuyển, còn 3 quả sau thì có thoái chuyển, nghĩa là A la hán cũng có thoái chuyển. Phái này cũng phản đối thuyết Tâm tính vốn trong sạch. Thuyết nhất thiết hữu bộ lấy nước Ca thấp di la làm trung tâm, tại Kiện đà la Trung Ấnđộ và các nước vùng Tâyvực, phái này từng đã cực thịnh một thời, là phái có ưu thế nhất trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Các bộ luận của phái này được truyền dịch ở Trung quốc rất sớm, vào thời đại Nam Bắc triều, phái này được gọi là Tì đàm tông. Tông này và tông Câu xá hưng khởi thay cho tông này đều được xem là đại biểu cho Phật giáo Tiểu thừa. [X. phẩm Phân bộ trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q. hạ; kinh Xálợiphất vấn; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.22; luận Thập bát bộ; luận Bộ chấp dị; luận Tứ đế Q.1; luận Phật tính Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Dị bộ tông luân luận thuật kí; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Luận sự tiếngPàli (Katthà vatthu)]. (xt. Thượng Tọa Bộ, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
thuyết nhất thiết hữu bộ giới thân tức luận
Xem A tỳ đạt ma Giới Thân Tức Luận.
Thuyết nhất thiết trí
(說一切智) [tạp]: trong 48 lời nguyện của Kinh Vô Lượng Thọ (無量壽經) có lời nguyện thứ 25 là nguyện nói về trí tuệ hiểu biết hết tất cả. Kinh dạy rằng: “Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát bất năng diễn thuyết nhất thiết trí giả, bất thủ chánh giác (設我得佛、國中菩薩不能演說一切智者、不取正覺, nếu như ta thành Phật mà các vị Bồ Tát trong nước của ta không thể nào diễn nói trí tuệ hiểu biết hết tất cả, ta sẽ không thành chánh giác).”
thuyết nhất thừa kinh
Ekayāna-nirdeśa (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
thuyết nhị nguyên
Theological Dualism.
thuyết nhứt thiết hữu bộ
Sarvastivadah (skt)—Gọi tắt là Hữu Bộ, một trong 20 bộ phái Tiểu Thừa, là trường phái dạy về sự hiện hữu hay thực hữu của chư pháp hữu vi và vô vi, trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Trường phái nầy đã phát triển bên Ấn Độ trong nhiều thế kỷ, sau lan truyền rộng rãi qua Trung Hoa và Nhật Bản—Realistic school, Prajnaptivadinah, a branch of the Mahasanghikah (Đại Chúng Bộ), one of the twenty Hinayana sects, the School which preaches the Existence of All Things which held that dharmas have a real existence in the past, present and future. This school took the view of phenomenality and reality, founded on the Prajnapti-sastra. This school flourished in India for many centuries and was widely studied in China and Japan.
thuyết pháp
Dharma-desanà (S). To tell or expound the law, or doctrine; to preach. Also Giảng đạo, Pháp thí.
; To teach—To preach—To sermon—To lecture on the Dharma—To tell or expound the law, or doctrine. a) Theo Kinh Duy Ma Cật, khi Mục Kiền Liên vào trong thành Tỳ Xá Lê, ở trong xóm làng nói Pháp cho các hàng cư sĩ nghe, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến bảo rằng—According to the Vimalakirti Sutra, one day when Maudgalyayana came to Vaisali to expound the Dharma to lay Buddhists in the street there, Vimalakirti came to him and said: • “Nầy ngài Đại Mục Kiền Liên, nói Pháp cho bạch y cư sĩ, không phải như ngài nói đó. Vả chăng nói Pháp phải đúng như pháp (xứng tánh) mà nói. Pháp không chúng sanh, lìa chúng sanh cấu; Pháp không có ngã, lìa ngã cấu; Pháp không có thọ mạng, lìa sanh tử; Pháp không có nhơn, làn trước làn sau đều dứt; Pháp thường vắng lặng, bặt hết các tướng; Pháp lìa các tướng, không phải cảnh bị duyên; Pháp không danh tự, dứt đường ngôn ngữ; Pháp không nói năng, lìa giác quán; Pháp không hình tướng, như hư không; Pháp không hý luận, rốt ráo là không; Pháp không ngã sở, lìa ngã sở; Pháp không phân biệt, lìa các thức; Pháp không chi so sánh, không có đối đãi; Pháp không thuộc nhân, không nhờ duyên; Pháp đồng pháp tánh, khắp vào các Pháp; Pháp tùy nơi như không có chỗ tùy; Pháp trụ thực tế, các bên hữu, vô thường, đoạn, không động được; Pháp không lay động, không nương sáu trần; Pháp không tới lui, thường không dừng trụ; Pháp thuận 'không,' tùy 'vô tướng,' ứng 'vô tác;' Pháp lìa tốt xấu; Pháp không thêm bớt; Pháp không sanh diệt; Pháp không chỗ về; Pháp ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; Pháp không cao thấp; Pháp thường trụ không động; Pháp lìa tất cả quán hạnh. Thưa ngài Đại Mục Kiền Liên! Pháp tướng như thế đâu có thể nói ư?—“Maudgalyayana! When expounding the Dharma to these upasakas, you should not preach like that for what you teach should agree with the absolute Dharma which is free from the (illusion of) living beings; is free from the self for it is beyond an ego; from life for it is beyond birth and death and from the concept of a man which lacks continuity (thought seemingly continuous, like a torch whirled around); is always still for it is beyond (stirring) phenomena; is above form for it is causeless; is inexpressible for it is beyond word and speech; is inexplainable for it is beyond intellection; is formless like empty space; is beyond sophistry for it is immaterial; is egoless for it is beyond (the duality of) subject and object; is free from discrimination for it is beyond consciousness; is without compare for it is beyond all relativities; is beyond cause for it is causeless; is identical with Dharmata (or Dharma-nature), the underlying nature (of all things); is in line with the absolute for it is independent; dwells in the region of absolute reality, being above and beyond all dualities; is unmovable for it does not rely on the six objects of sense; neither comes nor goes for it does not stay anywhere; is in line with voidness, formlessness and inactivity; is beyond beauty and ugliness; neither increases nor decreases; is beyond creation and destruction; does not return to anywhere; is above the six sense organs of eye, ear, nose, tongue, body and mind; is neither up nor down; is eternal and immutable; and is beyond contemplation and practice. “Maudgalyayana, such being the characteristics of the Dharma, how can it be expounded?” • Vả chăng người nói Pháp, không nói, không dạy; còn người nghe, cũng không nghe, không được. Ví như nhà huyễn thuật nói Pháp cho người huyễn hóa nghe, phải dụng tâm như thế mà nói Pháp. Phải biết căn cơ của chúng sanh có lợi có độn, khéo nơi tri kiến không bị ngăn ngại, lấy tâm đại bi khen ngợi Pháp Đại Thừa, nghĩ nhớ đền trả ơn Phật, chớ để ngôi Tam Bảo dứt mất, như vậy mới nên nói Pháp—For expounding it is beyond speech and indication, and listening to it is above hearing and grasping. This is like a conjurer expounding the Dharma to illusory men, and you should always bear all this in mind when expounding the Dharma. You should be clear about the sharp or dull roots of your audience and have a good knowledge of this to avoid all sorts of hindrance. Before expounding the Dharma you should use your great compassion (for all living beings) to extol Mahayana to them, and think of repaying your own debt of gratitude to the Buddha by striving to preserve the three treasures (of Buddha, Dharma and Sangha) for ever. b) Cũng theo Kinh Duy Ma Cật, ông Duy Ma Cật đã nhắc nhở Phú Lâu Na về nói pháp phải tùy căn cơ chúng sanh như sau—Also according to the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti reminded Purna that expounding Dharma should always be in accordance with sentient beings' faculties: • “Thưa Phú Lâu Na! Ngài nên nhập định trước để quan sát tâm địa của những người nầy, rồi sau mới nói đến nói Pháp. Ngài chớ đem món ăn dơ để trong bát báu, phải biết rõ tâm niệm của các vị Tỳ Kheo nầy, chớ cho ngọc lưu ly đồng với thủy tinh. Ngài không biết được căn nguyên của chúng sanh, chớ nên dùng Pháp Tiểu Thừa mà phát khởi cho họ, những người kia tự không có tì vết, chớ làm cho họ có tì vết, họ muốn đi đường lớn, chớ chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào dấu chơn trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa đom đóm—“Purnamaitraynaiputra, you should first enter the state of samadhi to examine the minds of your listeners before expounding the Dharma to them. Do not put rotten food in precious bowls. You should know their minds and do not take their (precious crystal for (ordinary) glass. If you do not know their propensities, do not teach them Hinayana. They have no wounds, so do not hurt them. To those who want to tread the wide path do not show narrow tracks. Do not enclose the great sea in the print of an ox's foot; do not liken sunlight to the dim glow of a firefly.” • “Ngài Phú Lâu Na! Những vị Tỳ Kheo nầy đã phát tâm Đại Thừa từ lâu, giữa chừng quên lãng, nay sao lại lấy Pháp Tiểu Thừa dẫn dạy họ? Tôi xem hàng Tiểu Thừa trí huệ cạn cợt cũng như người mù, không phân biệt được căn tánh lợi độn của chúng sanh.”—“Purnamaitryaniputra, these bhiksus have long ago developed the Mahayana mind but they now forget all about it; how can you teach them Hinayana? Wisdom as taught by Hinayana is shallow; it is like a blind man who cannot discern the sharp from the dull roots of living beings.” c) Theo Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết khi ông Ca Chiên Diên diễn nói lại lời Phật thuyết pháp về vô thường, khổ, không và vô ngã, Duy Ma Cật đã nhắc ông Ma Ha Ca Chiên Diên rằng chớ nên đem tâm sanh diệt ra mà nói Pháp thực tướng như sau—According to the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti reminded Mahakatyayana not to use mortal mind to preach immortal reality as follows: • “Thưa ngài Ca Chiên Diên! Ngài chớ nên đem tâm hạnh sanh diệt mà nói Pháp thực tướng. Ngài Ca Chiên Diên! Các Pháp rốt ráo không sanh, không diệt, là nghĩa vô thường, năm ấm rỗng không, không chỗ khởi là nghĩa khổ; các Pháp rốt ráo không có, là nghĩa không; ngã và vô ngã không hai, là nghĩa vô ngã; Pháp trước không sanh, nay cũng không diệt, là nghĩa tịch diệt.”—Mahakatyayana said: “Vimalakirti came and said: 'Mahakatyayana, do not use your mortal mind to preach immortal reality. Mahakatyayana, all things are fundamentally above creation and destruction; this is what impermanence means. The five aggregates are perceived as void and not arising; this is what suffering means. All things are basically non-existent; this is what voidness means. Ego and its absence are not a duality; this is what egolessness means. All things basically are not what they seem to be, they cannot be subject to extinction now; this is what nirvana means.”
; (說法) Phạm: Dharma-dezanà. Pàli: Dhamma-desanà. Đồng nghĩa: Thuyết giáo, Thuyết kinh, Diễn thuyết, Pháp thí, Pháp độc, Pháp đàm, Đàm nghĩa, Tán thán, Khuyến hóa, Xướng đạo.Giảng nói Phật pháp để giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh. Việc thuyết pháp của đức Phật là tùy theo năng lực, căn cơ... chúng sinh mà ban cho họ giáo pháp thích hợp để đạt đến hiệu quả trọn vẹn. Trong một hội thuyết pháp, Phật dùng một âm thanh diễn nói giáo pháp, người nghe tùy theo căn cơ mà hiểu sâu, cạn khác nhau. Cứ theo kinh Tư ích phạm thiên sở vấn quyển 2 thì Phật dùng 5 lực dụng mà nói pháp trong 5 trường hợp sau đây: 1. Ngôn thuyết: Lời nói. Nghĩa là Phật dùng lời nói khế hợp với chân lí để nói về các pháp 3 đời, pháp thế gian và xuất thế gian, pháp có tội không tội, pháp hữu lậu vô lậu... 2. Tùy nghi: Nghĩa là Phật tùy theo năng lực, căn tính... của chúng sinh mà nói các giáo pháp thiên, viên, tiệm, đốn... 3. Phương tiện: Nghĩa là Phật dùng phương tiện khéo léo như nói bố thí sẽ được phúc lớn, giữ giới sẽ được sinh lên cõi trời... để khuyến khích chúng sinh tu thiện mà ra khỏi biển khổ. 4. Pháp môn: Nghĩa là đức Phật nói pháp thù thắng để hiển bày đạoBồ đề. 5. Đại bi: Vì cứu độ chúng sinh nên Phật dùng tâm đại bi dắt dẫn họ, đối với người chấp không thì nói có, với người hay oán giận thì nói từ bi... Về tư cách thuyết pháp thì có 5 hạng người gọi là Ngũ thuyết, hoặc Ngũ chủng thuyết nhân. Theo luận Đại trí độ quyển 2, Ngũ chủng thuyết nhân là: Phật, đệ tử Phật, tiên nhân, chư thiên và hóa nhân (Phật, Bồ tát hoặc La hán... ẩn tướng chân thực mà hiển hiện dưới mọi hình tượng để thuyết pháp). Trong Quán kinh sớ huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo thì nêu Ngũ chủng nhân là: Phật, Thánh đệ tử, Thiên tiên, Quỉ thần và biến hóa. Ngoài ra, trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1 của ngài Trừng quán thì nêu: Phật, Bồ tát, Thanh văn, chúng sinh và khí giới(núi, sông, đất đai...) giảng nói giáo pháp trong kinh Hoa nghiêm, gọi là Ngũ loại thuyết hoặc Ngũ loại thuyết pháp. Còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 của ngài Nhất hạnh thì Ngũ chủng thuyết chân ngôn là: Như lai, Kim cương tát đỏa, Nhị thừa, chư thiên và Địa cư thiên. Thuyết pháp thuộc về pháp lí, là việc mà người xuất gia phải làm. Theo phẩm Phápsư trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì người thuyết pháp phải vào nhà Như lai (có nghĩa là đại từ bi), mặc áo Như lai(nhu hòa nhịn nhục), ngồi tòa Như lai(các pháp không). Kinh Ưu bà tắc giới quyển 2 cũng nêu 16 việc liên quan đến thuyết pháp như: Thời thuyết, Chí tâm thuyết, Thứ đệ thuyết, Hòa hợp thuyết, Tùy nghĩa thuyết... [X. phẩm Tứ nhiếp trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.24; phẩm Quán thếâm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa Q.7; luật Tứ phần Q.52; luật Ngũ phần Q.18; luận Thập trụ tì bà sa Q.7; luận Du già sư địa Q.45; luận Đại trí độ Q.1, 28; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 thượng; Pháp uyển châu lâm Q.23]. (xt. Xướng Đạo).
thuyết pháp diệu
(說法妙) Một trong 10 Diệu thuộc Tích môn Pháp hoa do tông Thiênthai lập ra. Chỉ cho các giáo pháp Đại, Tiểu, thiên, viên do đức Như lai diễn nói như: Thập nhị bộ pháp, Tiểu bộ pháp, Đại bộ pháp, Đậu duyên pháp, Sở thuyên pháp, Viên diệu pháp... đều làm cho chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật. Vì các giáo pháp cao siêu, vi diệu mà đức Phật nói một cách thung dung tự tại nên gọi là Thuyết pháp diệu. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2 thượng]. (xt. Thập Diệu).
thuyết pháp không hợp cơ, làm cho chúng sanh tiếp tục chìm sâu trong biển khổ là một đại tội
If we preach not in accordance with the times and the capacities of sentient beings, which cause them to continue to sink in the sea of sufferings, is a grave sin.
thuyết pháp minh nhãn luận
(說法明眼論) Luận, 1 quyển, do cư sĩ Viên thông người Nhật bản soạn. Mục đích của luận này là nói về tâm đắc của người thuyết pháp, về thứ tự pháp yếu và 3 thân của Phật. Nội dung luận này gồm có 15 phẩm: Trước y, Nhập đạo tràng, Lễ Tam bảo, Thiêu hương, Tọa cao tòa, Phạm bái, Tán hoa, Phạm âm, Tích trượng, Khai nhãn, Thần phân, Biểu bạch, Thích pháp thân, Báo thân và phẩm Ứng thân. Trong đó, phẩm Thích pháp thân là nói rõ pháp tà, pháp chính, sự khác nhau về thời giáo, duyên khởi các pháp, nghĩa 3 tính, lí vô tướng, tạng vô sinh, trí Văn thù, hạnh Phổ hiền, từ bi của bồ tát Quán âm, Tam thánh hòa hợp... là trung tâm của toàn sách. Về pháp hiệu Viên thông của soạn giả, cứ theo lời đầu sách trong Thuyết pháp minh nhãn luận do Lương định viết thì lúc còn sống, Thái tử Thánh đức (574-622) có trụ ở viện Viên thông tại Nam nhạc, vì thế cho rằng sách này là do Thái tử soạn. Nội dung sách này và ý nghĩa chú thích trong Tam kinh nghĩa sớ của Thái tử cũng giống nhau. Nhưng xét theo toàn diện thì sách này được cho là tác phẩm viết vào giữa thời Liêm thương (thế kỷ XII, XIII) về sau, xác lập thuyết Bản địa thùy tích, không phải tác phẩm của Thái tử Thánh đức mà là do người đời sau soạn. [X. Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.1].]
thuyết pháp ngũ đức
(說法五德) Chỉ cho 5 thứ phúc đức mà Hiền giả có được khi thuyết pháp. Đó là: 1. Trường thọ: Sống lâu. Nghĩa là Hiền giả giảng nói về nghĩa then chốt của các pháp lành, làm cho người thích sát sinh nghe pháp rồi, thôi không giết hại nữa, cho nên được sống lâu. 2. Đại phú:Giàu có. Nghĩa là Hiền giả nói về nghĩa quan trọng của các pháp lành, kẻ trộm nghe pháp không ăn trộm nữa mà làm việc bố thí, nên được giàu có. 3. Đoan chính vô tỉ: Xinh đẹp không ai sánh bằng. Nghĩa là Hiền giả nói các thiện pháp, khiến người nghe pháp được hòa khí an tâm, nhan sắc trở nên rạng rỡ, cho nên đẹp đẽ vô song. 4. Danh dựviễn văn: Tiếng tăm lừng lẫy. Nghĩa là Hiền giả nói yếu nghĩa của các pháp lành, khiến người nghe pháp khởi tâm cung kính Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng cho nên tiếng tăm vang xa. 5. Thông minh đại trí:Trí tuệ sáng suốt. Nghĩa là Hiền giả giảng nói các thiện pháp, khiến người nghe pháp, mở tỏ diệu tuệ, cho nên được trí tuệ sáng suốt. [X. kinh Hiền giả ngũ phúc đức].
thuyết pháp phẩm
(說法品) Vị thứ 3 trong Ngũ phẩm đệ tử vị do tông Thiênthai lập ra. Tức người tu hành pháp Viên đốn ở địa vị Quán hành tức(giai vị thứ 3 trong Lục tức vị), ngoài việc thụ trì đọc tụng kinh Pháphoa, còn thuyết pháp giáo hóa người khác, công đức hóa đạo ấy đều qui về chính mình, cho nên quán giải trở thành thù thắng bội phần hơn giai vị trước. [X. phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa Q.5]. (xt. Ngũ Phẩm Đệ Tử Vị, Lục Tức).
thuyết pháp thụy
(說法瑞) Điềm lành thuyết pháp, 1 trong các điềm tướng tốt lành xuất hiện trước khi đức Phật giảng nói kinh Pháphoa. Kinh Pháphoa là bộ Đại kinh mà đức Phật giảng nói về hoài bão ra đời của Ngài, cho nên trước khi nói hiện 6 tướng điềm lành, gọi là Pháp hoa lục thụy; trong đó, Thuyết pháp thụy là tướng điềm lành thứ nhất. Tức trước khi tuyên thuyết Đại kinh Pháp hoa, đức Phật nói kinhVô lượng nghĩa để làm duyên khởi cho kinh Pháp hoa. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa kinh văn cú Q.2, hạ]
thuyết pháp tứ báng
(說法四謗) Bốn thứ hủy báng vì không hiểu mà nói pháp. Cứ theo Hoanghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 50, nếu người nói pháp không biết rõ chân như, thì sẽ sinh ra 4 thứ hủy báng sau đây: 1. Tăng ích báng: Hủy báng do làm Cho thêm lên. Nghĩa là không biết lí chân như vắng lặng lìa tướng, tính vốn không có mà lại nói chân như nhất định có, do đó đã hủy báng làm cho chân như thêm lên, cho nên gọi là Tăng ích báng. 2. Tổn giảm báng: Hủy báng do làm cho bớt đi. Nghĩa là chẳng biết lí chân như không thể biến hoại, tính vốn chẳng không mà lại nói là chân như nhất định không, do đó đã hủy báng bằng cách làm cho chân như bớt đi, nên gọi là Tổn giảm báng. 3. Tương vi báng: Hủy báng trái ngược nhau. Nghĩa là chẳng biết lí chân như là cái không tức có, cái có tức không, mà lại nói là chân như cũng có cũng không, chấp cả hai bên trái ngược nhau, cho nên gọi là Tương vi báng. 4. Hí luận báng:Hủy báng bằng cách bàn chơi. Nghĩa là chẳng biết lí chân như đủ 2 đức tính có và không, mà lại nói chân như chẳng phải có chẳng phải không, hai bên đều bất định, cho nên gọi là Hí luận báng.
thuyết pháp vô tận
To be able to preach forever—To be able to explain virtues forever.
thuyết phục
To persuade—To convince.
thuyết quy củ
(說規矩) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nói về khuôn mẫu, phép tắc. Nghĩa là chỉ dạy cho vị tăng trẻ tuổi về các phép tắc, lễ độ trong nhà Thiền, như Huấn đồng hành ghi trong Sắc tu Bách trượng thanh qui, trong Thiền lâm bị dụng thanh qui... thuộc về loại này. [X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thuyết quái
Sho-kua (C), Discussion of the Trigrams Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.
thuyết sự luận
Kathàvatthu (P). Book of controversies.
thuyết thính phương quỹ
(說聽方軌) Những điều mà người nói pháp cũng như người nghe pháp cần lưu ý. Những pháp môn do đức Phật nói có năng lực làm cho chúng sinh chuyển mê khai ngộ, cho nên người nói pháp và người nghe pháp đều phải lưu tâm chú ý. Theo kinh Tư ích phạm thiên sở vấn quyển 2 thì đức Phật dạy có 2 hạng người có thể được phúc vô lượng, một là người chuyên một việc nói pháp, hai là người nhất tâm nghe nhận. Còn Thập địa kinh luận quyển 1 thì cho rằng người nói pháp dùng 2 thứ danh tự và âm thanh để nói, người nghe pháp cũng dùng 2 thứ ấy để nghe. Về hành nghi của sự nói pháp và sự nghe pháp, theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 2, nếu người có đủ 8 trí như Pháp trí, Nghĩa trí... thì sự nói pháp của họ có đủ 16 việc như sau: Tùy thời mà nói, hết lòng mà nói, nói pháp theo thứ tự, nói pháp một cách hòa hợp, theo nghĩa mà nói, nói pháp một cách hoan hỷ, theo ý mà nói, nói pháp không khinh thường thính chúng, nói pháp không la mắng thính chúng, nói đúng như pháp, nói pháp lợi mình lợi người, nói pháp không tán loạn, nói pháp hợp nghĩa, nói pháp chân chính, nói pháp rồi không sinh kiêu mạn và nói rồi không cầu quả báo đời sau. Còn người nghe pháp cũng đủ 16 việc: Nghe tùy thời, vui nghe, chí tâm nghe, cung kính nghe, không nghe để tìm lỗi, không nghe vì nghị luận, không vì hơn thua mà nghe, khi nghe không khinh thường người nói, khi nghe không khinh thường pháp, nghe xong không tự khinh mình, khi nghe phải xa lìa 5 loại phiền não, nghe vì thụ trì đọc tụng, nghe vì diệt trừ 5 dục, nghe vì bồi đắp tín tâm, nghe vì điều phục chúng sinh và nghe vì đoạn trừ các căn ám độn. Ngoài ra, theo kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 13, Thuyết pháp sư phải có tâm nín nhịn, thương xót, dịu dàng, nhún nhường..., nếu ôm lòng ganh ghét, hơn thua thì sẽ bị đại trọng tội. Nếu đem lòng từ bi nói pháp thì sẽ thành tựu đại công đức, làm cho Phật pháp tồn tại lâu ở đời. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ cũng nói sơ qua về tư cách người nghe pháp, cho rằng người không có căn lành thì không được nghe kinh này; chỉ có những người giữ giới thanh tịnh mới được nghe chính pháp. [X. kinh Đại pháp cự đà la ni Q.17; An lạc tập Q. thượng (Đạoxước); Pháp uyển châu lâm Q.23; Thích thị yếu lãm Q. hạ]. (xt. Thuyết Pháp).
thuyết thính tứ cú
(說聽四句) Chỉ cho 4 câu: Duy thuyết vô thính, Duy thính vô thuyết, Thuyết thính song tồn, Thuyết thính song tịch. Ý nghĩa của 4 câu này là phân biệt sự nói pháp của Phật và sự nghe pháp của chúng sinh. Dụng ngữ này được thấy trong Hoa nghiêm huyền đàm của ngài Trừng quán. Bốn câu này có 2 loại là Đồng giáo và Biệt giáo.A. Nói theo Đồng giáo: 1. Duy thuyết vô thính: Chỉ nói mà không có nghe. Nghĩa là ngoài chân tâm của Phật không có chúng sinh riêng khác, vì chân tâm của chúng sinh chính là chân tâm của Phật, cho nên giáo pháp được nói ra chỉ là sở hiện của Phật. 2. Duy thính vô thuyết: Chỉ có nghe mà không có nói. Nghĩa là ngoài tâm của chúng sinh, không có Phật nào khác, vì chân tâm của Phật chính là chân tâm của chúng sinh, cho nên giáo pháp được nói ra, chỉ là do chúng sinh tự hiện. 3. Thuyết thính song tồn: Có nói và có nghe. Nghĩa là khi chân tâm của Phật hiển hiện thì không cản trở việc hiển hiện của chân tâm chúng sinh, cho nên nói và nghe, cả 2 giáo đều lập. 4. Thuyết thính song tịch: Không có nói cũng chẳng có nghe. Nghĩa là Phật chính là chúng sinh, vì thế chẳng phải Phật; chúng sinh chính là Phật, vì thế chẳng phải chúng sinh; cả hai đều lặng bặt, cho nên người nói pháp không nói, không dạy, người nghe pháp cũng không nghe, không nhận. Trên đây là sự giải thích theo Đồng giáo, thuộc về thuyết Sự lí vô ngại. B. Nói theo Biệt giáo: 1. Duy thuyết vô thính: Chúng sinh hoàn toàn ở trong tâm chư Phật, Quả môn thu nhiếp tất cả pháp không sót, vì thế giáo pháp được nói chỉ là sở hiện của Phật. 2. Duy thính vô thuyết: Phật hoàn toàn ở trong tâm chúng sinh, Nhân môn thu nhiếp tất cả pháp không sót, cho nên giáo pháp được nói chính là do tâm của chúng sinh tự hiện. 3. Thuyết thính song tồn: Chúng sinh và Phật ở trong nhau, mỗi bên đều chân thực, không hư dối, nhân quả giao xen, tùy mỗi Thánh giáo đều ở trong 2 tâm, cho nên Phật trong tâm chúng sinh nói pháp cho chúng sinh trong tâm Phật nghe, còn chúng sinh trong tâm Phật thì nghe Phật nói pháp trong tâm chúng sinh. 4. Thuyết thính song tịch: Khi chúng sinh hoàn toàn ở trong Phật thì chúng sinh giống với Phật chứ chẳng phải chúng sinh; khi Phật hoàn toàn ở trong chúng sinh thì Phật giống với chúng sinh chứ chẳng phải Phật, 2 tướng đều mất, 2 vị đều dung nhau thì tùy mỗi Thánh giáo, đều chẳng phải 2 tâm, cho nên chúng sinh trong tâm Phật không nghe và Phật trong tâm chúng sinh cũng không nói. Trên đây là sự giải thích theo Biệt giáo, thuộc về thuyết Sự sự vô ngại. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.14].
thuyết thông
To expound thoroughly, penetrative exposition.
; Khả năng thuyết pháp không trở ngại gọi là “Thuyết Thông” (khả năng giác ngộ tông chỉ thì gọi là “Tông Thông”)—To expound thoroughly, penetrating exposition.
; (說通) Thuyết pháp cho đại chúng nghe một cách thông suốt vô ngại, cũng tức là môn Hóa tha, môn Hướng hạ, tận lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh. Thuyết thông và Tông thông đều là 2 thông tướng của tất cả Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Tông thông chỉ cho tự thân tỏ ngộ được tông chỉ. [X. kinh Lănggià Q.3]. (xt. Tông Thông Thuyết Tông).
thuyết thị
To tell and indicate.
; To tell and indicate.
; (說示) Giảng giải giáo pháp để chỉ dạy người. Cứ theo Duyma kinh sớ của ngài Tuệ viễn(chùa Tịnh ảnh) thì dùng lời giảng nói giáo pháp, gọi là Thuyết; dùng lời nói chỉ dạy người, gọi là Thị.
thuyết trình
briefing.
thuyết tâm thuyết tánh
Expounding the Mind and Expounding the Nature.
thuyết tương đối
The theory of relativity.
Thuyết tận khổ đạo vô sở úy
xem Bốn đức chẳng sợ.
thuyết tội
To confess sin or wrong doing.
; Nói ra những tội lỗi mình đã phạm trước chúng Tăng để phát lồ sám hối—To confess sins, or wrong-doing—See Thuyết Giới.
; (說罪) Phạm: Àpatti-pratidezana. Hán âm: A bát để bát lạt bát lạt để đề xá na. A bát để là tội lỗi; bát đạt để đề xá na là đối trước ngưới khác mà nói. Nghĩa là tự nói tội lỗi của mình trước đại chúng để cầu sám hối. Tức vào ngày thuyết giới hoặc ngày tự tứ, tỉ khưu trình bày tội lỗi mà mình đã phạm để cầu được thanh tịnh. Namhải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 217 hạ) nói: Tiếng Phạm là A bát để bát lạt để đề xá na. A bát để là tội lỗi; bát lạt để đề xá na là đối trước người khác mà nói. Nghĩa là nói tội lỗi của mình trước người khác để cầu được thanh tịnh. Tự mình phải nói ra từng tội một thì mới mong tội diệt; nếu nói chung chung thì luật không chấp nhận. Xưa dịch là sám hối thì không liên quan đến thuyết tội.
thuyết tứ chúng quá giới
(說四衆過戒) Cũng gọi Thuyết tứ chúng danh đức phạm quá giới, Thuyết tại gia xuất gia Bồ tát giới, Thuyết tha tội quá giới. Gọi tắt: Thuyết quá giới. Giới nói lỗi của 4 chúng. Tức giới thứ 6 trong 10 giới nặng cấm không được rêu rao, bàn tán về lỗi lầm của 4 chúng tỉ khưu, tỉ khưu ni, Ưu bà tắc và Ưu bà di. Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ quyển 2 có nói rõ lí do Phật chế giới này, cho rằng nói lỗi của 4 chúng có thể hư hoại lòng tin, gây ra hiềm khích, phản bội ân đức Tam bảo, vì thế Phật chế giới này để ngăn cấm việc đó. Phẩm Thụ giới trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 3 xếp giới này vào trọng pháp thứ 5 trong 6 trọng pháp của Ưu bà tắc, trọng pháp thứ 6 là giới bán rượu. Theo ý của ngài Nghĩatịch nói trong Bồ tát kinh bồ tát giới bản sớ quyển thượng thì giới này và giới bán rượu là các giới trọng của Bồ tát tại gia, còn đối với tỉ khưu xuất gia thì thuộc về tội khinh. [X. kinh Phạm võng Q. hạ; kinh Bồtát anh lạc bản nghiệp; Bồtát giới nghĩa sớ Q. hạ; Phạm võng kinh Bồtát giới bản thuật kí Q.2]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).
thuyết vãng sanh
The doctrine of rebirth.
thuyết vô cấu xưng kinh sớ
(說無垢稱經疏) Cũng gọi Thuyết vô cấu xưng kinh tán, Thuyết vô cấu xưng kinh tán sớ. Kinh sớ, 6 quyển (hoặc 12 quyển) do ngài Khuycơ (632-674) soạn vào khoảng từ năm Hàm hanh thứ 3 đến thứ 5 (672- 674) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 38. Đây là sách chú thích kinh Thuyết vô cấu xưng (bản dịch khác của kinh Duy ma cật sở thuyết do ngài Cưumalathập dịch) do ngài Huyềntrang dịch. Sách này y cứ vào giáo phán(Ba thời giáo, Tám tông)của tông Pháp tướng mà phối hợp kinh Vô cấu xưng với thời thứ 2(Không), thời thứ 3(Trung đạo) trong 3 thời và với tông thứ 7(Thắng nghĩa giai không tông), tông thứ 8(Ứng li viên thục tông) trong 8 tông; đồng thời dùng kinh này làm giáo thuyết cho thời kì quá độ giữa thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 của tông Thiênthai, bắt đầu mở rộng từ lí Không dần dần tiến đến Trung đạo. Sách này nổi tiếng nhờ chú thích trung thành với nguyên văn của kinh.
thuyết vô phân biệt pháp
To preach the Dharma which is without distinction.
thuyết vô thần
Atheism.
thuyết xuất thế bộ
Lokottaravāda (S), Lokottaravavadina (S), Lokottaravadinah (S)Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa hay 9 bộ phái của Đại chúng bộ.
; Lokottaravàdinah (S). A branch of the Màhàsanghikàh, which held the view that all in the world is merely phenomenal and that reality exists outside it. Also Xuất thế bộ, Lư câu đa bà thi bộ.
; Lokottaravadinah (skt)—Một trong 20 bộ phái Tiểu Thừa, tách ra từ Đại Chúng Bộ, bộ nầy cho rằng các pháp thế gian là kết quả sinh ra do điên đảo hoặc nghiệp, chúng là giả danh, không có thực thể. Chỉ có các pháp xuất thế là không do điên đảo mà khởi—One of the twenty Hinayana sects, a branch of Mahasanghikah, which held the view that all in the world is merely phenomenal and that reality exists outside it.
; (說出世部) Phạm: Lokottara-vàda. Hán âm: Lô câu đa la bà đà, Lô ca úy đa la, Lô câu ba la bà địa (Phạm: Lokottaravàdin). Cũng gọi Xuất thế thuyết bộ, Xuất thế gian ngữ ngôn bộ; Xuất thế gian thuyết bộ, Siêu xuất thế gian gia, Xuất thế bộ. Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa, tách ra từ Đại chúng bộ sau khi đứcPhật nhập diệt được 200 năm. Cứ theo Dị bộ tông luân luận thuật kí, trái với chủ trương Ba đời có thật của Thuyết nhất thiết hữu bộ, phái này cho rằng các pháp thế gian chỉ có tên giả chứ khôngcóthể thật, chỉ có pháp xuất thế gian(Niết bàn) mới là chân thực. Tức chủ trương pháp thế gian như Khổ đế và Tập đế là tên giả, pháp xuất thế gian như Đạo đế và Diệt đế là chân thực. Các ngài Khuy cơ và Pháptạng phối hợp phái này với Tục vọng chân thực tông trong 6 tông Tiểu thừa. Có thuyết cho rằng Thuyết xuất thế bộ vốn là cùng một bộ phái với Kê dận bộ, vì chủ trương thế gian hữu lậu là giả, còn xuất thế vô lậu làthật, cho nên cũng gọi là Xuất thế bộ. Sau, vì học thuyết của phái này biến hóa nên dần dần trở thành một bộ phái độc lập. Trong các sách vở Nam truyền cũng như trong Đại chúng bộ truyện, Kinh lượng bộ truyện trong Ấnđộ Phật giáo sử của Đa la na tha (Phạm:Tàranàtha) và trong thuyết thứ 3 của ngài Thanhbiện (Phạm:Bhavya) do Tâytạng truyền... đều không thấy nói đến tên của bộ phái này. [X. phẩm Phân bộ trong kinh Văn Thù sư lợi vấn Q. hạ; luận Dị bộ tông luân; luận Bộ chấp dị; luận Thập bát bộ; Tam luận huyền nghĩa; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Hoa Nghiêm ngũ giáo chương Q.1].
thuyết đoạn diệt
Annihilationism—See Đoạn Diệt.
thuyết đạo
(說道) Nghĩa là hiển bày, giảng nói chính đạo. Cứ theo phẩm Dược thảo dụ, kinh Pháp hoa quyển 3 thì 1 trong các danh hiệu của đức Như lai là Thuyết đạo giả (Phạm: Màrgadezika).
thuyết định mạng
Determinism—Fatalism
thuyết độ bộ
Xem Kinh lượng bộ.
; Xem Kinh lượng bộ.
thuyền
Boat, junk, ship, vessel. Buddha's Teaching.
; A boat—A ship.
thuyền bát nhã
Prajna boat—The boat of wisdom—Attaining nirvana.
thuyền phiệt
Ý nói Phật giáo như chiếc bè hay chiếc phao cho chúng sanh đang lặn hụp trong biển luân hồi sanh tử—A raft, or a boat, i.e. Buddhism.
thuyền sư
người có khả năng chỉ huy con tàu vượt biển, cũng như thuyền trưởng ngày nay. Xem Đại thuyền sư.
; Ship-master, skipper. Buddha.
; Thuyền trưởng, ý nói Đức Phật là vị thuyền trưởng cứu độ chúng sanh đáo bỉ ngạn—Captain, i.e. the Buddha as captain of salvation, ferrying across to the nirvana shore.
; (船師) Tên gọi khác của đức Phật. Đức Phật giáo hóa chúng sinh khiến họ vượt qua biển sinh tử mà đến bờ Niết bàn bên kia, giống như vị Thuyền sư (Thuyền trưởng) chuyên chở mọi người vượt biển, từ bờ này đến bờ kia, cho nên ví dụ Phật như Thuyền sư. Còn giáo pháp đức Phật dùng để giáo hóa chúng sinh thì được ví dụ như thuyền bè. [X. kinh Vô lượng thọ; kinh Hoa nghiêm Q.20 (bản dịch đời Tấn)].
thuyền tôn
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa tọa lạc tại ấp Ngũ Tây, làng An Cựu. Chùa Thuyền Tôn là ngôi Tổ Đình lớn, gắn liền với sự khai sáng của Tổ Liễu Quán. Vào năm 1708, chùa chỉ là một mái thảo am mà Tổ dựng lên để tu thiền. Sau khi Tổ viên tịch, ngôi thảo am được xây làm tháp mộ của Tổ, và vào năm 1746 chùa được dựng lên về bên trong khoảng 500 mét. Năm 1808, chùa được Hòa Thượng Đạo Tâm Trung Hậu trùng tu với sự trợ giúp tiền bạc của tín nữ Lê Thị Ta. Sau đó chùa lại bị đổ nát với thời gian. Mãi đến năm 1937, Hòa Thượng Trừng Thủy Giác Nhiên ra sức đại trùng tu toàn diện, gồm chánh điện, tiền đường, đông phòng, tây xá, tạo nên qui mô như ngày nay—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is located at Ngũ Tây hamlet, An Cựu village. This Patriarchal temple was opened by Patriarch Liễu Quán. In 1708, it was only a small thatched temple the patriarch temporarily built for his practice of meditation. After the Patriarch's death, his stupa was built right on the old site of the thatched temple, and in 1746 the temple was rebuilt at a new site, about 500 meters to the back. In 1808, the temple was rebuilt by Most Venerable Đạo Tâm Trung Hậu with the assistance of money from a lay woman named Lê Thị Ta. Later, the temple was ruined with time. Until 1937, Most Venerable Trừng Thủy Giác Nhiên tried his best to rebuild the temple with an overall reconstruction for the main hall, the antechamber, the east-side and west-side rooms, giving the temple the appearance it has today.
thuyền tử hoà thượng
(船子和尚) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, pháp danh là Đức thành. Sư theo hầu ngài Dược sơn Duy nghiễm 30 năm và được nối pháp của ngài. Sư thường đến Hoa đình thuộc tỉnh Chiết Giang, dong chiếc thuyền con tùy duyên tiếp hóa khách qua lại, người đời gọi sự là Thuyền tử Hòa thượng. Sau khi truyền pháp cho Thiền sư Giáp sơn Thiện hội, sư tự lật úp thuyền mà thị tịch. Về nhân duyên sư truyền pháp cho ngài Giáp sơn Thiện hội, giới Thiền lâm gọi là Thuyền tử đắc lân(Thuyền tử được cá). Lân ở đây chỉ cho con cá có vảy màu vàng, ví dụ người ưu việt trong chúng. Tuy được pháp nơi ngài Dược sơn nhưng tính ưa ngao du sơn thủy, nên đã lâu mà sư vẫn không có đệ tử nối pháp để đền đáp ơn thầy, sau nhân ngài Đạo ngô mà được Giáp sơn Thiện hội, ngài Thiện hội nhờ sự hỏi đáp, dạy bảo của sư mà được mở tỏ, sau được ấn khả, trở thành đệ tử nối pháp của sư. [X. Tổ đường tập Q.5; Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Thích thị kê cổ lược Q.3].
Thuyền Tử Ðức Thành
船字德誠; C: chuánzǐ déchéng; J: sensu tokujō; tk. 8-9;|Thiền sư Trung Quốc, đạt yếu chỉ nơi Dược Sơn Duy Nghiễm. Sư chỉ có một người đệ tử ngộ đạo là Giáp Sơn Thiện Hội.|Sư là người tiết tháo độ lượng, làm bạn cùng với Ðạo Ngô Viên Trí và Vân Nham Ðàm Thạnh. Sau khi từ giã thầy và hai bạn, Sư đến bến Hoa Ðình ở sông Ngô Tú Châu sắm thuyền đưa người qua sông. Người ở đó không biết tung tích Sư nên gọi là Hoà thượng Thuyền Tử. Thiền sư Thiện Hội nhân được Ðạo Ngô mách đến yết kiến Sư. Vừa thấy đến Sư liền hỏi: »Ðại đức trụ trì nơi nào?« Thiện Hội đáp: »Chùa tức chẳng trụ, trụ tức chẳng giống.« Sư hỏi: »Chẳng giống, giống cái gì?« Thiện Hội đáp: »Chẳng pháp trước mắt.« Sư hỏi: »Ở đâu học được nó?« Thiện Hội trả lời: »Chẳng phải chỗ tai mắt đến.« Sư cười bảo: »Một câu dù lĩnh hội, muôn kiếp cọc cột lừa. Thả ngàn thước tơ ý đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau!« Thiện Hội vừa mở miệng bị Sư đánh một chèo té xuống nước. Vừa mới leo lên thuyền Sư lại thúc: »Nói mau! Nói mau!« Thiện Hội vừa mở miệng lại bị Sư đánh. Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ.|Sư căn dặn Thiện Hội: »Ngươi ra đi phải tìm chỗ ẩn thân mất dấu vết, chỗ mất dấu vết chớ ẩn thân. Ta ba mươi năm ở Dược Sơn chỉ sáng tỏ việc này. Nay ngươi đã được nó, sau chớ ở chỗ xóm làng thành thị, nên vào trong núi sâu bên cạnh đồng để tìm lấy trọn một cái, nửa cái còn lại không thể đoạn đứt.«|Ngay sau khi Ấn khả cho Thiện Hội, Sư tự lật úp thuyền viên tịch.
thuyền tử đức thành
Sensu Tokujō (J)Tên một vị sư.
thuê
To lease—To rent—To hire.
thuê lại
To sub-lease.
thuï
1) Cây: Vrksa (skt)—Tree. 2) Chịu đựng: To endure—To suffer—To bear. 3) Nhận: To receive.
thuý nham
(翠岩) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Ngũ đại, pháp hiệu Linh tham, người Hồ châu (Ngôhưng, Chiếtgiang), là đệ tử nối pháp của Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn. Sư từng trụ núi Thúynham ở Minhchâu (phía đông huyện Ngân, tỉnh Chiết giang), phát huy Thiền pháp. Thúy nham hạ mạt thị chúng là công án thiền nổi tiếng của sư. Vua nước Ngô Việt họ Tiền rất kính ngưỡng sư, từng thỉnh sư đến chùa Long sách ở Hàng châu, ban hiệu Vĩnh Minh ĐạiSư. [X. Cảnh Đức truyền đăng lục Q.18; Ngũ đăng hội nguyên Q.7].
thuý nham hạ mạt thị chúng
(翠岩夏末示衆) Cũng gọi Thúy nham mi mao. Tên công án trong Thiền tông. Vào ngày cuối cùng của hạ an cư (hạ mạt), Thiền sư Thúynham thời Ngũ đại, nói pháp cho các đồng môn nghe về việc từ đầu hạ đến nay có lẽ đã vi phạm Phật pháp và hỏi các đồng môn Lông mày đã rụng hay chưa, do đó hiển bày cơ pháp của Thiền tông được vận dụng một cách linh hoạt. Bích nham lục tắc 8 (Đại 48, 148 trung) ghi: Vào cuối hạ, ngài Thúy nham dạy chúng rằng: Từ đầu hạ đến giờ, Thúynham đã nói chuyện cho các huynh đệ nghe, hãy xem lông mày Thúy nham còn không? Sư Bảophúc nói: Anh trộm nhẹ dạ! Sư Trường khánh nói: Mọc tốt. Sư Vânmôn nói: Đóng cửa!. Truyền thuyết trong Thiền lâm cho rằng nếu ai nói sai Phật pháp thì mắc tội đến rụng hết lông mày. Ngài Thúy nham nhìn lại thời gian 90 ngày hạ an cư vừa qua, sư thường nói pháp cho đại chúng nghe, e rằng có chỗ nói đã rơi vào Đệ nhị nghĩa môn, nên có thể bị tội rụng lông mày. Bởi vì Phật pháp Đệ nhất nghĩa môn là chân lí rốt ráo, cùng tột, không thể dùng lời nói mà diễn đạt được, cũng không chia chẻ, phân biệt bằng những khái niệm tư duy, do đó bất luận nói tâm, nói tính, nói đốn, nói tiệm... cũng chỉ vì muốn giúp người học mà giả đặt đó thôi, đều là Đệ nhị nghĩa môn cả. Nhưng vì hóa đạo đại chúng không thể không nói rộng ý chỉ sâu xa của giáo pháp, chỉ có điều không muốn người học chấp trước vào lời nói để bị kẹt trong đó, cho nên tự đặt câu hỏi lông mày rụng chưa để khéo léo hiển bày chỗ sâu xa của cơ thiền linh hoạt. Nhưng câu hỏi của sư Thúy nham lại dẫn đến những câu trả lời khác nhau giữa 3 vị đệ tử lớn của Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn. Sư Bảo phúc cho rằng Thúy nham tự biết tội lỗi, như 1 kẻ trộm nhẹ dạ, người ta chưa hỏi mà tự mình đã lựa lời nói trước để cầu thoát tội. Sư Trường khánh thì bảo nhờ câu hỏi đó mà sư Thúy nham đã xoay chuyển được tình thế hiểm nghèo, chẳng những đã không có mối lo rụng hết lông mày, trái lại, còn nhờ thế mà lông mày mọc tốt thêm! Đến câu Đóng cửa của sư Vân môn Văn yển đã khiến các nhà tham thiền xưa nay suy nghĩ nhiều nhất. Bởi vì đóng cửa ở đây có ý chê trách cả 3 vị trước, ý nói nếu không hoàn toàn biết rõ nghĩa chân thực của Phật pháp mà cứ bàn cãi lẽ sâu xa, chia chẻ việc phải trái, thì tốt hơn là cắt đứt mọi dòng, đóng chặt cửa lại! [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Ngũ đăng hội nguyên Q.7; Thung dung lục tắc 71].
Thuý Vi Vô Học
翠微無學; C: cuìwēi wúxué; J: suibi mugaku; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðan Hà Thiên Nhiên. Sử sách không ghi lại nhiều về Sư, chỉ kể lại là Sư hoằng hoá giống như thầy mình là Ðan Hà, chẳng để ý gì đến tục lệ, chẳng coi trọng hiểu biết sách vở, chỉ tuỳ cơ dạy chúng nên tự xưng mình là Vô Học. Sư có năm người nối pháp và một trong những người đó là Thiền sư Ðầu Tử Ðại Ðồng.
thuấn
Shun (S)Vua Thuấn (2255-2205/ 2233-2184 B.C.E.) Một trong năm vị vua huyền thoại (Ngũ đế) và là nối ngôi vua Nghiêu. Người nối ngôi ngài là vua Đại Vũ.
thuấn nhã
Sùnya (S). Emptiness. Also không.
thuấn nhã đa
Sùnyatà (S). State of Emptiness, state of being devoid. Không.
thuấn nhã đa thần
(舜若多神) Thuấn nhã đa, Phạm:Zùnyatà. Pàli:Suĩĩatà. Hán dịch: Không tính. Chỉ cho thần Hư không. Cũng chỉ cho trời cõi Vô sắc. Liên hoa phong lục trong Tổ đình sự uyển quyển 7 (Vạn tục 113, 97 thượng) nói: Thuấn nhã đa thần, Hán dịch là Không, tức vị thần chủ về hư không. Trời cõi Vô sắc cũng thuộc loại thần này; những gì thuộc về sở hữu của loại thần này cũng không có sắc chất; đã là chất gió thì thể cũng không thấy được, cho nên nói là vốn không, nhờ thần lực của Phật nên có thể tạm thấy. Như vậy rõ ràng cũng có thứ định Tự tại sắc và Vô nghiệp sắc. Nói chư thiên cõi Vô sắc rơi lệ như mưa thì cũng giống như thế.
thuần
One-coloured, unadulterated, pure, sincere.
; 1) Thuần hạnh: Không phạm tà dâm—Unadulterated. 2) Thuần nhất: Không pha tạp, chỉ có một chứ không có hai. Thuần nhứt có nghĩa là thuần một thứ chứ không pha tạp—Pure—Unmixed—Solely—Simply—Entirely. 3) Thuần sắc: Chỉ một màu—One-coloured. 4) Thuần tịnh: Pure—Sincere—Unmixed—Entirely.
thuần chân
1) Thành thật: Sincere—True. 2) Tên của một vị khi nghe pháp hỏi Phật những câu hỏi để Phật giải đáp trong kinh: Name of a man who asked the Buddha questions which are replied to in a sutra.
thuần chân thiền sư
Zen Master Thuần Chân (?-1101)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Cửu Ông, huyện Tế Giang, Bắc Việt. Ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Pháp Bảo tại chùa Quang Tịnh, và trở thành Pháp tử đời thứ 12 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Về sau, ngài trụ tại chùa Hoa Quang để chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo. Ngài thị tịch năm 1101—A Vietnamese Zen master from Cửu Ông, Tế Giang district, North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen master Pháp Bảo at Quang Tịnh Temple, and became the Dharma heir of the twelfth generation of the Vinitaruci Zen Sect. Later he stayed at Hoa Quang Temple to revive and expand Buddhism. He passed away in 1101.
thuần chính
Honest—Chaste—Pure.
Thuần Hòa Thiên Hoàng
(淳和天皇, Junna Tennō, tại vị 758-764): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, con thứ 7 của Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō), tên là Đại Bạn (大伴) hay còn gọi là Tây Viện Đế (西院帝, Saiin-no-mikado). Ông rất giỏi về Hán Thi, đã từng ra lệnh cho nhóm Lương Sầm An Thế (良岑安世) soạn ra Kinh Quốc Tập (經國集).
thuần hóa
To tame.
Thuần Hựu
(淳祐, Shunnyū, 890-953): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, húy là Thuần Hựu (淳祐), thông xưng là Thạch Sơn Nội Cúng (石山內供), Phổ Hiền Viện Nội Cúng (普賢院內供); xuất thân kinh đô Kyoto, con của quan Hữu Trung Biện Quản Nguyên Thuần Mậu (右中辯菅原淳茂). Ông theo xuất gia với Quán Hiền (觀賢) ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), thọ giới ở Giới Đàn của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), và đến năm 925 thì nhận Truyền Pháp Quán Đảnh của Quán Hiền. Ông được suy cử chức Tọa Chủ Đề Hồ Tự, nhưng vì biết thân mang nhiều bệnh tật, không thể làm việc được nhiều, nên khước từ và lui về ẩn cư ở Thạch Sơn Tự (石山寺), trú tại Phổ Hiền Viện. Tương truyền ông theo hầu Quán Hiền lên Cao Dã Sơn để thông báo cho đại chúng biết việc triều đình hứa khả ban thụy hiệu cho Không Hải Đại Sư vào năm 921, khi ấy ông chạm tay vào đùi gối của Không Hải, đến lúc thả tay ra thì mùi hương thơm vẫn tỏa ngát mãi cho đến suốt đời. Ông đã cho tiến hành nghiên cứu kinh điển và hoàn thành vai trò rất lớn trong việc làm cho Đông Mật phát triển. Đệ tử phú pháp của ông có Nguyên Cảo (元杲), Cứu Thế (救世), Khoan Trung (寬忠), v.v. Trước tác ông để lại có Thai Tạng Tập Ký (胎藏集記) 10 quyển, Thai Tạng Thất Tập (胎藏七集) 3 quyển, Kim Cang Giới Thất Tập (金剛界七集) 2 quyển, Kim Cang Giới Thứ Đệ Pháp (金剛界次第法) 4 quyển, v.v.
thuần khiết
Parisuddhi (S). Purity. Also trong sạch.
; Pure.
thuần kim
Pure gold.
thuần lý
Rational.
thuần lý chủ nghĩa
Rationalism.
thuần mật tạp mật
(純密雜密) Thuần túy bí mật và tạp nhạp bí mật. Chỉ cho các kinh của Mật giáo. Trong Mật giáo, các kinh quĩ được chia làm 2 thứ là Bản(gốc) và Chi(nhánh)khác nhau. Thuần mật thuộc về Bản là pháp môn bí mật do đức Đạinhật Nhưlai trụ Bản địa pháp thân giảng nói cho Nội quyến thuộc nghe trong cung điệnPháp giới, tức là kinh Đạinhật và kinh Kim cương đính; Thuần mật thuộc về Chi thì là các Mật quĩ của các vịtôn Dugià. Còn Tạp mật là các kinh lẫn lộn cả Hiển và Mật do đức Thích ca Nhưlai trong thân Thùy tích ứng hóa giảng nói ở thế giới trần tục. Thuần mật là pháp môn bí mật thuần nhất của Du già thừa được nói rộng ra; còn Tạp mật thì lấy Hiển giáo làm chính, Mật thừa chỉ là nói phụ thêm mà thôi, như phẩm Đà la ni trong kinh Pháp hoa... tức là Chân ngôn đà la ni thuộc phần phụ. Ngoài ra, Đại pháp của Kim cương giới và Thai tạng giới là Thuần mật, còn các tạp bộ Mật giáo là Tạp mật.
thuần nhất
Pure, unmixed, solely, simply, entirely.
; See Thuần (2).
thuần phong
Good morals.
thuần thành
Vatava (p)—Devout.
thuần thục
Used to—Accustomed to—Fruit—Fruition (chín mùi).
thuần túy
See Thuần.
thuần viên độc diệu
(純圓獨妙) Tông Thiên Thai cho cái tinh diệu của Pháphoa so với cái thô diệu của Nhĩ tiền(các kinh Phật nói trước kinh Pháphoa) là diệu vị đề hồ thuần nhất vô tạp, cho nên gọi là Thuần viên độc diệu. Nhĩ tiền nghĩa là trong phán giáo, tông Thiênthai gọi 4 thời trước trong 5 thời 8 giáo là Nhĩ tiền, tức chỉ cho 4 thời trước khi đức Phật nói kinh Pháp hoa. Tông Thiênthai chủ trương trong 4 thời giáo Nhĩ tiền thì thời Hoa nghiêm trong Viên gồm (kiêm) cả Biệt, thời Lộc uyển thì chỉ(đãn) nói Tiểu thừa, thời Phương đẳng thì nói rộng đối(đối) với 4 giáo, thời Bátnhã thì nói cả(đới) 2 giáo Biệt, Viên. Nếu dựa vào thuyết Kiêm, Đãn, Đối, Đới này mà phân biệt tính chất thô, diệu thì Hoa nghiêm 1 thô 1 diệu, Lộc uyển chỉ thô không diệu, Phương đẳng 3 thô 1 diệu, Bát nhã 2 thô 1 diệu, cho nên Viên giáo được nói ở Nhĩ tiền là cái diệu có lẫn thô, chứ không phải cái diệu thuần nhất vô tạp. Còn Viên giáo được nói ở thời thứ 5 là Pháphoa thì mở bày Viên, đó là Thuần diệu. Cho nên nói kinh Pháphoa xóa bỏ cái Thô của 4 vị trước là Kiêm, Đãn, Đối, Đới, mà hiển bày cái Diệu của Nhất Phật thừa thuần viên để thành tựu ý nghĩa Thuần viên độc diệu.
thuần đà
Cunda (S)Người thợ rèn xứ Pava cúng dường Phật và chư Tăng một bữa cơm. Đó là bữa cơm cuối cùng của đức Phật, nhờ đó mà được hưởng vô lượng công đức, trọn vẹn đạo Bồ tát. Thời Phật Ca Diếp, Thuần Đà là đệ tử Phật Ca Diếp, khi Phật Ca Diếp thọ ký người thành Phật kế tiếp là Thích Ca Mâu Ni, ngài Thuần Đà có phát nguyện 'phụng thí ẩm thực lần cuối cùng'.
; Cunda (S). Who is believed to have supplied Sàkyamuni with his last meal.
; Cunda or Chunda (skt)—Còn gọi là Chu Na, Chuẩn Đa, một người thợ rèn trong thành Câu Thi Na, người đã cúng dường bữa cơm cuối cùng cho Đức Phật. Theo Đức Phật thì những ai cúng dường Đức Phật bữa cơm đầu tiên ngay trước khi Ngài thành đạo, hay bữa cơm sau cùng trước khi Ngài nhập Niết Bàn, sẽ được vô lượng công đức—A metal worker (blacksmith) in Kusinagara, who offered the Buddha the last meal to the Buddha (or from whom the Buddha accepted his last meal). According to the Buddha, those who offered the first meal before He became a Buddha and the last meal before He passed away would have the most meritorious merit.
; (純陀) Phạm,Pàli:Cunda. Cũng gọi Chuẩnđà, Chuna. Tên người thợ rèn ở thành Ba bà (Phạm, Pàli:Pàva)thuộc Trung Ấnđộ vào thời đức Phật còn tại thế, ông là người cuối cùng cúng dường Phật. Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 3 thì Thuần đà dâng nấm cây chiên đàn cúng dường Phật. Nấm cây chiên đàn (Pàli: Sùkaramaddava) mà Thuần đà cúng dường Phật đại khái là một loại nấm ở Trung quốc gọi là Mộc nhĩ. Kinh Trường a hàm theo thuyết này, còn các bản dịch như kinh Niết bàn... thì cho là thức ăn thơm ngon. Các học giả phương Tây thời gần đây, căn cứ theo kinh Đại bát niết bàn tiếngPàli, cho rằng thức ăn mà Thuần đà cúng dường Phật thủa ấy là thịt lợn. [X. kinh Tạp a hàm Q.37; luận Đại tì bà sa Q.66; điều Câu thi na yết la quốc trong Đạiđườngtây vực kí Q.6].
Thuần-đà
phiên âm từ Phạn ngữ là Cunda, Hán dịch là “giải diệu nghĩa”, nghĩa là hiểu được nghĩa lý vi diệu.
thuẫn
1) Hậu thuẫn—Support. 2) Mâu thuẫn—To contradict.
thuận
Accord with, comply, yield, obey, agreeable.
; 1) Đồng ý, đối lại với “nghịch”: To agree—To consent—To accord with—To comply—To obey—To yield, in contrast with “to resist.”. 2) Tán thành: To be favourable.
thuận buồm xuôi gió
To sail before the wind.
thuận bà bà
(順婆婆) Chỉ cho thiền sư Cảnh đức thuận có tâm lão bà tha thiết. Thiền sư Thuận là đệ tử nối pháp của ngài Tuệnam, Tổ khai sáng phái Hoànglong thuộc tông Lâmtế đời Tống. Vì sư có tấm lòng từ ái, thương quí tất cả mọi người nên trong tùng lâm đều gọi sư là Thuận bà bà. [X. Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q. hạ].
thuận bất khổ bất lạc thọ nghiệp
Aduḥkha-sukha-vedaniya-karma (S)Bất khổ bất lạc báo nghiệp.
thuận bất định thụ nghiệp
(順不定受業) Cũng gọi Bất định thụ nghiệp, Bất định nghiệp. Nghiệp chưa được quyết định, 1 trong 4 nghiệp. Vì nghiệp thiện ác đã tạo thế lực quá yếu kém nên chưa quyết định sẽ phải chịu quả báo vào thời gian nào(hiện tại, quá khứ hay vị lai?).Loại nghiệp này được gọi là Thuận bất định thụ nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.124; luận Du già sư địa Q.60]. (xt. Tứ Nghiệp, Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).
thuận chu
(順朱) Cũng gọi Thuậtchu. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chu là mực đỏ(son); dùng mực đỏ ghi lại lời dạy, việc làm của bậc tiền bối vào sách vở. Thuận chu nghĩa là làm theo lời dạy của bậc tiên hiền. Cổ tôn túc ngữ lục quyển 39 (Vạn tục 118, 332 thượng) ghi: Hỏi: Nhưlai thiền là thế nào? Sư đáp: Vác ngang cây gậy, buộc chặt giày cỏ. Tăng lại hỏi: Tổ sư thiền là thế nào? Sư đáp: Thượng đại nhân! Rồi nói: Hiểu không? Tăng thưa: Không hiểu! Sư nói: Không hiểu thì hãy làm theo lời dạy của cổ đức (Thuận chu)!.
thuận chuyển
(順轉) Xoay về bên phải. Trong Thiền lâm, khi đại chúng sắp hàng trở về phòng liêu, hoặc đi nhiễu, kinh hành, nếu phải xoay mình thì xoay từ vai trái sang vai phải, gọi là Thuận chuyển. Nhập chúng nhật dụng (Vạn tục 111, 472 thượng) nói: Hoặc kinh hành trong trà đường theo thứ tự trở về chỗ để bát, thuận chuyển theo vai trên, không được xoay lưng mà vào(vai trên là vai trái). Nhưng vai trên trong câu văn trích dẫn trên đây, ngoài trường hợp thuận chuyển, không hẳn đều chỉ cho vai trái. (xt. Thượng Kiên).
thuận chánh luận
Xem A tỳ đạt ma Thuận chánh luận.
thuận chánh lý luận
Abhidharmanyā-yānusāra (S)Tên một bộ luận kinh.
thuận cảnh
Favourable circumstances.
; (順境) Đối lại: Nghịch cảnh. Chỉ cho hoàn cảnh thuận theo ý của mình, tức là cảnh giới mình cảm thấy vui sướng. Trái lại, hoàn cảnh trái với thân tâm mình, khiến sinh khởi những cảm giác khổ đau hoặc oán giận thì gọi là Nghịch cảnh, Vi cảnh. Cảnh vốn không có sai khác, nhưng vì tâm mê hoặc của chúng sinh, nên mới phân biệt thuận, nghịch; mà thuận cảnh thì dễ khiến con người sinh ra phiền não tham dục. Pháp giới thứ đệ quyển thượng, phần đầu (Đại 46, 667 hạ) nói: Nếu tâm mê, bám víu lấy tất cả cảnh thuận tình, không nhàm chán thì đó là tham độc.
thuận duyên
The accordant cause in contrast with the resisting accessory cause (nghịch duyên).
; (順緣) Đối lại: Nghịch duyên. Thông thường cho rằng lấy việc thiện tín thuận như cúng dường Phật, tán thán pháp... làm duyên để mong được lợi ích giáo hóa mà hướng thiện, thú nhập Phật pháp là Thuận duyên. Trái lại, lấy những việc ác như hủy báng Phật pháp để làm duyên vào đạo thì gọi là Nghịch duyên (Vi duyên). Bởi thế, thiện duyên là Thuận duyên, còn ác duyên là Nghịch duyên. Cứ theo luận Thích ma ha diễn quyển 7, hễ gặp thuận duyên thì tiến tới thiện thú; còn gặp nghịch duyên thì lui mất đạo tâm mà hướng tới ác thú, giống như mảy lông bị cuốn theo chiều gió mà bay sang đông hoặc sang tây. Ngoài ra, ở Nhậtbản, người trẻ tu các Phật sự để cầu phúc hồi hướng cho người già, gọi là Thuận duyên hoặc Thuận tu; trái lại thì là Nghịch duyên, Nghịch tu. [X. kinh Hoa nghiêm Q.75 (bản dịch mới); kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6; Khởi tín luận sơ bút trước kí Q.5].
thuận dụ
(順喻) Thuận là tùy thuận, Dụ là thí dụ. Tức tùy thuận thế đế, theo thứ tự mà dụ từ nhỏ đến lớn. Kinh Niết bàn quyển 29 (bản Bắc) liệt kê 8 pháp thí dụ, trong đó thí dụ thứ Nhất là Thuận dụ. Khi dẫn dụng dụ pháp này là lấy thứ tự sinh khởi của vật làm qui tắc tiêu chuẩn cho thí dụ. Như nói khi trời mưa to thì khe ngòi đầy; khe ngòi đã đầy thì ao nhỏ đầy theo; ao nhỏ đầy rồi thì đến sông nhỏ đầy, kế đến sông lớn đầy; các sông lớn đều đầy; các sông lớn đã đầy thì biển lớn dần dần cũng đầy. Tức dùng việc biến hóa theo thứ tự này để dụ cho mưa pháp của Như lai, đợi cho giới pháp của chúng sinh đầy đủ, cho đến giải thoát đầy đủ thì Niết bàn đầy đủ cũng viên thành theo.[X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; kinh Đạibát nhã Q.15, 25, 26; Pháp hoa kinh văn cú Q.5 thượng]. (xt. Thí Dụ).
thuận gió
Favourable wind.
Thuận Hiểu
(順曉, Junkyō, ?-?): vị tăng Mật Giáo Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, không rõ xuất thân quê quán, môn hạ của Thiện Vô Úy (s: Śubhakarasiṃha, 善無畏), theo Nghĩa Lâm (義林) của Tân La (新羅, Triều Tiên) học tập mật pháp của Chơn Ngôn. Ban đầu ông trú tại Linh Nham Tự (靈巖寺) vùng Thái Nhạc (泰嶽), sau chuyển đến Long Hưng Tự (龍興寺) ở Việt Châu (越州). Vào tháng 4 năm 805 (niên hiệu Vĩnh Trinh [永貞] nguyên niên), nhân hai vị tăng Nhật Bản là Tối Trừng (最澄, Saichō) và Nghĩa Chơn (義眞, Gishin) đến Long Hưng Tự tham bái, ông truyền thọ phép Quán Đảnh cho họ và trao các đồ hình Tam Muội Da (三昧耶), pháp môn niệm tụng, khế ấn, đạo cụ, v.v. Người đời thường gọi ông là Trấn Quốc Đạo Tràng Đại Đức A Xà Lê (鎭國道塲大德阿闍梨).
thuận hoá
(順化) I. Thuận Hóa. Đối lại: Nghịch hóa. Phật, Bồtát dùng phương pháp thuận hợp, thích đáng để giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, gọi là Thuận hóa; còn đối với các chúng sinh ương ngạnh, khó dạy thì dùng phương pháp cưỡng bức để giáo hóa thì gọi là Nghịch hóa. Như Phật, Bồ tát ứng theo cơ nghi mà giáo hóa, đều thuộc Thuận hóa. Lại như trong Mật giáo, đức Phật có 3 thứ luân thân, khi ngài dùng Chính pháp luân thân để giáo hóa chúng sinh, gọi là Thuận hóa; trái lại, Ngài dùng Giáo lệnh luân thân để giáo hóa thì gọi là Nghịch hóa. [X. kinh Pháp hoa Q.7; Pháp hoa văn cú kí Q. 10, trung]. (xt. Hóa). II. Thuận Hóa. Cũng gọi là Thuận thế, Thuận tịch, Thuận khứ. Chỉ cho sự qua đời của vị tăng. Đó là nói theo ý nghĩa của đạo lí thế gian mà tử hóa, thị hiện diệt độ. Thích thị yếu lãm quyển hạ nói: Phật giáo gọi chết là niết bàn, viên tịch, qui chân, qui tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế. [X. Phật tổ thống kỉ Q.28; điều Vong tăng trong Thiền uyển thanh qui Q.7]. (xt. ThiênHóa).
thuận hòa
Harmony—Concord.
thuận hóa
To accord with one's lessons; to follow the customs; to die.
; 1) Thuận theo đạo đời mà giáo hóa chúng sanh: To accord with one's lessons; to follow the custom. 2) Thị tịch (vị Tăng): To die.
thuận hạ phần kết
The five ties in the lower realm, which hold the individual in the realms of desire, i.e. desire, resentment, egoism, false tenets and doubt.
; Còn gọi là Ngũ Hạ Phần Kết—Also called the five ties in the lower realm—See Ngũ Thuận Hạ Phần Kết, and Ngũ Hạ Phần Kết.
thuận hậu thứ thụ nghiệp
(順後次受業) Phạm: Aparaparyàya-vedanìya- Karma. Kamma. Gọi tắt: Thuận hậu thụ nghiệp, Thuận hậu thứ thụ, Thuận hậu nghiệp. Nghiệp chịu quả báo từ đời thứ 3 về sau, 1 trong 3 thời nghiệp, 1 trong 4 nghiệp. Tức nghiệp thiện ác đã tạo ra ở đời hiện tại, đến đời thứ 3 trở đi mới chịu quả báo, gọi là Thuận hậu thứ thụ nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.114]. (xt. Tứ Nghiệp, Định Nghiệp Bất Định Nghiệp). THUẬN HIÊN PHÁP THỤ NGHIÊP Phạm: Dfwỉadharma-vedanìyakarma. Pàli: Dỉỉhadhamma-vedanìyakamma. Cũng gọi là Thuận hiện báo thụ nghiệp, Thuận hiện nghiệp, Thuận hiện báo thụ, Hiện tại thụ nghiệp, Hiện báo. Nghiệp thiện ác tạo tác ở đời hiện tại chịu quả báo ngay ở đời hiện tại, gọi là Thuận hiện pháp thụ nghiệp, là 1 trong 3 thời nghiệp, 1 trong 4 nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.114]. (xt. Tứ Nghiệp, Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).
thuận hỷ thọ nghiệp
Saunanasya-vedaniya-karma (S).
thuận khổ thọ nghiệp
Dukha-vedaniya-karma (S)Khổ báo nghiệp.
thuận liệt
(順列) Xếp hàng theo thứ tự. Khi có pháp hội truyền giới, các giới tử phải đứng xếp hàng theo thứ tự để ấn định thứ tự giới mạch, gọi là Thuận liệt. Quyển sổ ghi họ tên các giới tử dùng để điểm danh khi thụ trai, gọi là Thuận liệt trướng. [X. Thụ giới hội tác pháp trong Hành trì quĩ phạm Q.2].
thuận lòng
To agree—To consent.
thuận lưu
Anusrotogamin (S), Anusot-agamin (P)Tùy thuận theo dòng sanh tử trôi lăn trong cõi mê.
; Going with the stream, i.e. of transmigration, customs, etc.
; Xuôi theo dòng luân hồi không ngừng nghỉ—To flow with it in continual re-incarnation, or going with the stream of transmigration.
; (順流) Phạm: Anusroto-gàmin. Pàli:Anusota-gàmin. Cũng gọi: Tùy lưu. Đối lại: Nghịch lưu. Xuôi dòng. Nghĩa là chúng sinh thuận theo dòng sinh tử của 3 cõi, 6 đường, trôi lăn trong cõi mê. Nếu chúng sinh khởi phiền não, tạo các nghiệp, thuận theo dòng sinh tử, trái với đạo Niết bàn, thì gọi là Thuận lưu, tức là nhân quả sinh tử lưu chuyển. Trái lại, dứt hoặc chướng trong 3 cõi, ngược với dòng sinh tử, hướng tới đạo Niết bàn, thì gọi là Nghịch lưu, tức là nhân quả hoàn diệt. Theo Ma ha chỉ quán quyển 4 thì người tu hành vì Mười tâm thuận lưu nên điên đảo tạo ác, tích tập khổ lụy sâu nặng, lưu chuyển trong dòng sinh tử, phải dùng 10 tâm nghịch lưu để đối trị những lầm lỗi ấy. Mười tâm thuận lưu gồm: 1. Tâm vô minh tối tăm: Trong tâm chúng sinh bị vô minh làm mê hoặc, vọng chấp nhân ngã, khởi vọng tưởng điên đảo, tạo tác các nghiệp, trôi lăn trong dòng sinh tử. 2. Tâm thuận theo bạn ác bên ngoài: Chúng sinh bên trong có đủ các thứ phiền não, bên ngoài bị bạn ác mê hoặc làm cho mất tâm chính hạnh. 3. Tâm không tùy hỷ: Nghĩa là đối với việc thiện người khác làm, tâm không vui mừng làm theo. 4. Tâm phóng túng 3 nghiệp: Nghĩa là mặc ý tạo các tội ác của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 5. Tâm khởi ác trùm khắp mọi nơi: Những việc ác do chúng sinh tạo ra tuy không rộng, nhưng tâm ác thì bao trùm khắp nơi. 6. Tâm thường nghĩ việc ác: Chúng sinh chỉ khởi tâm ác, tăng trưởng việc ác, ngày đêm không dứt. 7. Tâm giấu kín tội lỗi: Che lấp lỗi của mình, không có tâm hối cải. 8. Tâm không sợ ác đạo: Chúng sinh ngu độn không biết, không sợ bị rơi vào đường ác. 9. Tâm không hổ thẹn: Tạo các nghiệp xấu ác mà tâm không biết hổ thẹn. 10. Tâm nhất xiển đề: Nghĩa là phủ định tất cả đạo lí nhân quả. [X. kinh Niếtbàn Q.36 (bảnBắc); luận Câuxá Q.12; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần 2]. (xt. Nghịch Lưu, Nghịch Lưu Thập Tâm).
thuận lạc thọ nghiệp
Sukha-vedaniya-karma (S)Lạc báo nghiệp.
thuận lợi
Favored.
thuận minh châu
(順明珠) Cũng gọi Đồng dị châu. Đối lại: Độc minh châu. Hạt minh châu tùy thuận màu sắc của các vật nó chiếu mà ánh hiện các màu sắc khác nhau. Luận Ma ha diễn quyển 2, khi giải thích về Chân như môn và Sinh diệt môn, có nêu ra 10 tên mà tên thứ 9 là Trung thực, chỉ cho Đệ nhất nghĩa đế. Trung thực lại được chia làm 2 thứ là Đẳng trụ trung thực và Biệt trụ trung thực, đồng thời, dùng Độc minh châu và Thuận minh châu để làm thí dụ. Trong đó, Biệt thụ trung thực là tên khác của Sinh diệt sở nhập. Bởi vì Thuận minh châu là hạt châu tùy thuận sự sai khác mà ánh hiện các màu sắc; nếu đem các vật khác nhau đặt trước hạt châu này thì nó liền thuận theo màu sắc của mỗi vật mà ánh hiện các màu sắc khác nhau; cho nên dùng nó để ví dụ Sinh diệt sở nhập của sự tùy thuận các pháp sai biệt. Cũng thế, Độc minh châu được dùng để dụ cho Chân như sở nhập của vạn pháp nhất như.(xt. Biệt Trụ Trung Thực, Độc Minh Châu).
thuận mệnh
To obey an order.
thuận nghịch
Xuôi theo hay ngược lại, như xuôi theo luân hồi sanh tử hay đi ngược lại để về cõi Niết Bàn—Favourable and contrary—To go with or to resist, e.g. the stream to reincarnation, or to nirvana.
; (順逆) Cũng gọi Nghịch thuận. Thuận theo và trái ngược. Tức những việc như nhân duyên giáo hóa, làm lợi ích... mỗi việc đều có 2 khía cạnh là thuận theo và trái ngược nhau. Chẳng hạn như phương tiện giáo hóa chúng sinh của Phật, Bồtát, có thuận hóa và nghịch hóa khác nhau; lập thứ tự các pháp thì có thuận thứ, nghịch thứ; phân biệt thứ tự các pháp quán thì có thuận quán, nghịch quán; về thuận nghịch của các cảnh ngộ thì có thuận cảnh, nghịch cảnh... Ngoài ra còn có thuận tu, nghịch tu, thuận lưu, nghịch lưu, thuận duyên, nghịch duyên... [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6; phẩm Nghịch thuận trong kinh Hoa thủ Q.8; luận Đại trí độ Q.47; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].
thuận nghịch tung hoành
(順逆縱橫) Cũng gọi Nghịch thuận tung hoành. Xuôi ngược dọc ngang. Nghĩa là dù trong cảnh ngộ nào, thuận hay nghịch, đều được tự do tự tại, thanh thản tự nhiên, tâm không dao động. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 140 thượng) nói: Dẫu cho cắt đứt các dòng, đông hiện tây ẩn, xuôi ngược dọc ngang, cho lấy tự tại.
thuận nhẫn
The third of the five bodhisattva stages of endurance, i.e. from the fourth to sixth stage.
; Endurance of obedient following—Giai đoạn thứ ba trong năm giai đoạn nhẫn nhục của Bồ Tát—Là cửa ngõ hào quang chư pháp, vì nhờ thuận nhẫn mà chúng ta chịu tuân thủ lời dạy của chư Phật—The third of the five Bodhisattva stages of endurance. Endurance is a gate of Dharma illumination; for with it we obey the Dharma of all the Buddhas.
thuận phận
To follow out one's duties; to accord with one's calling; to carry out the line of bodhisattva progress according to plan.
; Làm theo nhiệm vụ của một vị Bồ Tát—To follow out one's duty; to accord with one's calling; to carry out the line of Bodhisattva progress according to plan.
thuận quyền phương tiện kinh
Strivi-varta-vyākaraṅa sŪtra (S)Chuyển Nữ thân Bồ tát kinh, Chuyển nữ Bồ tát Sở vấn Thọ quyết kinhTên một bộ kinh.
; (順權方便經) Phạm:Strìvivarta-vyàkaraịa-sùtra. Cũng gọi Thuận quyền phương tiện phẩm kinh, Chuyển nữ thân bồ tát kinh, Chuyển nữbồ tát sở vấn thụ quyết kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Trúc pháphộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Tên kinh Thuận quyền phương tiện nghĩa là thuận theo ý ưa thích của chúng sinh mà làm cho đạo tâm của họ phát khởi. Trọng tâm của kinh này là những lời đối đáp giữa đệ tử của đức Phật là ngài Tu bồ đề và một vị nữ Bồ tát Đại thừa, nội dung nói rõ pháp màu nhiệm của Đại thừa. Toàn kinh mang đậm sắc thái tư tưởng kinh Duy ma. Bản dịch khác của kinh này là kinh Nhạo anh lạc trang nghiêm phương tiện phẩm, 1 quyển, do ngài Đàm ma da xá dịch.
thuận quán
(順觀) Tức theo thứ tự thuậnmàquán xét 12 nhân duyên, 4 thánh đế, 32 tướng của Phật... gọi là Thuận quán. Trái lại, nếu quán theo thứ tự ngược thì gọi là Nghịch quán. Đức Thích tôn nhờ thuận quán, nghịch quán 12 nhân duyên mà khai ngộ. Theo sự giải thích của luận Đại tì bà sa thì Thuận quán là từ Vô minh quán đến Lão tử, cững tức là từ nhân tới quả quán theo thứ tự thuận. Còn Nghịch quán thì từ Lão tử quán đến Vô minh, tức từ quả tới nhân quán theo thứ tự ngược. Ngoài ra, quán tưởng 32 tướng của đức Phật từ đầu đến chân, gọi là Thuận quán; trái lại, quán tưởng từ chân đến đầu thì gọi là Nghịch quán. Trong Mật giáo, từ chữ A vốn chẳng sinh quán đến các pháp không có nhân, gọi là Thuận quán toàn chuyển; từ các pháp không nhân quán đến vốn chẳng sinh, gọi là Nghịch quán toàn chuyển. [X. luận Đại tì bà sa Q.23; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.4; Ma ha chỉ quán Q.2, thượng].
thuận tam phần thiện
(順三分善) Chỉ cho Thuận phúc phần thiện, Thuận giải thoát phần thiện và Thuận quyết trạch phần thiện. Thuận là thuận ích; Phần là bộ phận. Thuận phần là thuận ích của bộ phận pháp mà người ta giữ gìn, noi theo. 1. Thuận phúc phần thiện (Phạm: Puịya-bhàgiya): Giữ gìn 5 giới, làm 10 việc thiện, cảm được quả báo tốt đẹp ở thế gian, hoặc thiện căn hữu lậu như các đường lành trời, người... Vì 5 giới, 10 việc thiện là những điều lành có năng lực thuận ích mang lại quả báo tốt đẹp này, cho nên gọi là Thuận phúc phần thiện. 2. Thuận giải thoát phần thiện (Phạm: Mokwa-bhàgìya): Vì nhàm chán sinh tử, ưa thích Niết bàn nên tu các căn lành mà cảm được quả thiện giải thoát. Nếu các chúng sinh muốn ra khỏi 3 cõi, đoạn trừ phiền não hoặc nghiệp, chứng lí Niết bàn chân không, thì phải tu bảy phương tiện. Mà Thuận giải thoát phần thiện chính là 3 phương tiện đầu trong 7 phương tiện, cũng là Thiện của 3 bậc hiền: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ và Tổng tướng niệm trụ. Vì Bồ tát ở địa vị này tuy chưa hàng phục, diệt trừ được phiền não chướng và sở tri chướng, nhưng đã sinh tâm tin hiểu sâu xa đối với tính Duy thức, đồng thời tu các hạnh thù thắng tự lợi, lợi tha, cho nên gọi là Thuận giải thoát phần thiện. 3. Thuận quyết trạch phần thiện (Phạm:Nirvedha-bhàgiya): Quyết trạch là trí tuệ vô lậu thù thắng thấy lí 4 đế; tức thuận với Thánh đạo vô lậu quyết trạch mà cảm được quả của trí Kiến đạo vô lậu. Như 4 Phương tiện sau trong 7 Phương tiện chính là 4 thiện căn Noãn, Đính, Nhẫn và Thế đệ nhất pháp. Dùng 4 thiện căn này tiếp cận Kiến đạo, có thể thuận với trí quyết trạch Kiến đạo của 1 phần thắng tuệ ấy, quán xét 4 thánh đế, tu 16 hành tướng, có khả năng duyên theo vô gián của Thế đệ nhất pháp, phát sinh trí vô lậu, đây gọi là Thuận quyết trạch phần thiện. Cho nên hàng Thanh văn tu mau nhất cũng phải 3 đời mới được giải thoát; cũng tức là đời thứ nhất sinh khởi Thuận giải thoát phần, đời thứ 2 sinh khởi Thuận quyết trạch phần và đời thứ 3 mới vào Kiến đạo, cho đến được giải thoát rốt ráo.Ngoài ra, theo Câu xá luận hiệu chú thì Phần có nghĩa là phần đoạn, tức 1 phần trong các phúc, hoặc 1 phần trong các quyết trạch... Còn luận Du già sư địa quyển 3 thì hợp 3 thiện này với thiện Vô lậu mà lập thành 4 thiện. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 13 lại chia Thuận giải thoát phần làm 4 thứ: Y bằng thuận giải thoát phần, Thắng giải thuận giải thoát phần, Ái nhạo thuận giải thoát phần và Thú chứng thuận giải thoát phần. Rồi lại chia Thuận quyết trạch phần làm 6 thứ: Tùy thuận thuận quyết trạch phần, Thắng tiến thuận quyết trạch phần, Thông đạt thuận quyết trạch phần,Dư chuyển thuận quyết trạch phần, Nhất sinh thuận quyết trạch phần và Nhất tòa thuận quyết trạch phần. [X. luận Câu xá Q.18, 22, 23; luận Đại tì bà sa Q.5-7; luận Thành duy thức Q.9; luận Thuận chính lí Q.61; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Câu xá luận quang kí Q.23; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.1, 6]. (xt. Thất Hiền, Kiến Đạo).
thuận theo
See Thuận lòng.
thuận thành
(順成) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Đồng dụ thể được dùng để hoàn thành tác dụngnêu chứng cứ cho luận chứng, gọi là Thuận thành. Nhiệm vụ của Đồng thể dụ là kiến lập 1 thứ quan hệ tương thuộc bất li giữa năng chứng và sở chứng. Như luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó được tạo tác mà có ra. Nếu nói cái được tạo tác ra là vô thường (Đồng dụ thể), ví như cái bình (Đồng dụ y) thì câu Âm thanh là vô thường là cái muốn được chứng minh(Sở chứng), câu Vì nó được tạo tác mà có ra là cái được dùng để chứng minh (Năng chứng). Sau câu Vì nó được tạo tác mà có ra phải có câu ...là vô thường tiếp theo sau để hoàn thành tác dụng nêu chứng cứ luận chứng, đó là thứ tự tất nhiên không thể đổi dời. Luận thức đầy đủ như sau: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó được tạo tác mà có ra. Dụ: Những gì do tạo tác mà có ra đều là vô thường,ví như cái bình. Như vậy, mối quan hệ giữa Những gì do tạo tác mà có ra đều là vô thường là mối quan hệ tự nhiên bất di bất dịch. Các học giả Nhân minh gọi đây là tác dụng Thuận thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
thuận thượng phần kết
The five ties in the higher realm which hold the individual in the realms of form and formless: desire for form, desire for formlessness, restlessness, pride and ignorance.
; Còn gọi là Ngũ Thượng Phần Kết—Also called the five ties in the higher realm—See Ngũ Thuận Thượng Phần Kết, and Ngũ Thượng Phần Kết.
thuận thảo
Concord.
thuận thế
To accord with the world, its way and customs; to die.
; 1) Thị tịch (vị Tăng): To die. 2) Xuôi theo dòng đời—To accord with the world, its ways and customs.
thuận thế ngoại đạo
(順世外道) Phạm: Lokàyata, Lokàyatika. Hán âm: Lộ già da phái, Lô ca da đà phái, Lộ ca dạ đa phái, Lộ ca dã để ca phái. Cũng gọi Thuận thế phái. Một chi phái thuộc Bà la môn giáo ở Ấn Độ thời xưa, chủ trương thuận theo thế tục, đề xướng chủ nghĩa khoái lạc theo Duy vật luận. Phái này và phái A kìtì già đều là các học phái đại biểu cho tư tưởng tự do ở Ấn độ cổ đại. Phái này theo lập trường Duy vật luận, cho rằng 4 nguyên tố đất, nước, lửa, gió hợp lại tạo thành thân tâm con người, sau khi người ta chết, 4 nguyên tố này cũng lìa tan, năng lực của các cảm quan cũng trở về hư không, cho nên con người sau khi chết, tất cả đều trở về hư vô, linh hồn cũng chẳng tồn tại. Cho nên phái này phủ nhận tất cả ý nghĩa về luân hồi, nghiệp báo, phủ nhận việc cúng tế, bố thí, cúng dường... Về phương diện nhận thức thì phái này chủ trương Cảm giác luận, về sinh hoạt thực tiễn thì theo chủ nghĩa khoái lạc, đồng thời, phản đối chủ nghĩa tế tự vạn năng của Bà la môn và có khuynh hướng tư tưởng quỉ biện. Ngoài chủ trương cho thân tâm con người do 4 nguyên tố tạo thành, phái này còn cho rằng tất cả sinh vật, vô sinh vật trong thế gian cũng đều do 4 nguyên tố này tạo thành; 4 nguyên tố có thể được phân tích đến cực vi (đơn vị nhỏ nhất của vật chất) và ngoài cực vi ra trên thế gian không còn bất cứ vật gì khác. Đồng thời lập luận: Con người tuy có tác dụng tinh thần, nhưng đó chẳng qua cũng chỉ là cái trạng thái do sự kết hợp của vật chất mà sinh ra, không hơn không kém, cho nên mục đích cao nhất của đời người là truy cầu khoái lạc. Trong 2 thứ tà kiến đoạn, thường nói trong Phật giáo thì kiến giải của phái này thuộc về Đoạn kiến ngoại đạo. Cứ theo Thành duy thức luận diễn bí quyển 1 phần cuối thìCực vi do ngoại đạo Thuận thế chủ trương có thể được chia làm 3 loại: 1. Cực tinh hư: Chỉ cho tâm và tâm sở. 2. Thanh tịnh: Chỉ cho các căn mắt, tai, mũi, lưỡi... 3. Phi hư tịnh: Chỉ cho các pháp bên ngoài như sắc, thanh, hương, vị... ThuyếtCực vi không phải chỉ ngoại đạo Thuận thế mới có mà học phái Thắng luận trong 6 pháiTriết học cũng có thuyết này, nhưng 2 phái nói đều khác nhau. Ngoại đạo Thuận thế cho rằng ngoài cực vi ra, trên thế gian không còn bất cứ vật gì khác; còn học phái Thắng luận thì ngoài cực vi của 4 đại chủng(4 nguyên tố) ra còn lập các đế Đức, Nghiệp...Lại trong các bộ phái như Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ... của Phật giáo Tiểu thừa cũng có thuyết Cực vi, nhưng rất khác với thuyếtCực vi của ngoại đạo Thuận thế, ngoài việc khẳng địnhcực vi ra, các bộ phái Phật giáo nói trên còn thừa nhận có tác dụng tinh thần tâm, tâm sở tồn tại. Loại chủ nghĩa khoái lạc Duy vật này đã manh nha ngay từ các thời đại Phệ đà, Phạm thư và Áo nghĩa thư ở Ấn độ thời xưa. Bấy giờ, những người tôn thờ chủ nghĩa này được gọi là tín đồ của Ca nhĩ ngoã ca (Phạm: Càrvàka). Đến nay vẫn chưa khảo chứng được vào thời gian nào ngoại đạo Thuận thế mới trở thành một dòng phái có tư tưởng lớn, chỉ biết một cách đại khái là đồng thời, hoặc trước đức Phật một chút. Có thuyết cho rằng tiếng PhạmLokàyata Càrvàka (Lộ già da ca nhĩ ngõa ca) là tên vị Giáo tổ của giáo phái này. Giáo phái này hoàn toàn không có kinh điển lưu truyền cho đời sau, ngày nay những điều có liên quan đến chủ trương tư tưởng của phái này mà ta được biết, phần lớn thấy rải rác trong kinh điển Phật giáo hoặc sách vở của các học phái khác ở đương thời. Như kinh Sa môn quả trong Trường a hàm quyển 17 có ghi A di đà sí xá khâm bà la hay như Bất lan ca diếp ghi trong luận Đại tì bà sa quyển200 đều là điển hình của ngoại đạo Thuận thế.Cứ theo Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4 thì khi ngài Huyền trang đến Thiên trúc, trụ ở chùa Na lan đà tại nước Ma yết đà từng có ngoại đạo Thuận thế đến tranh luận, do đó có thể biết vào thế kỷ VII phong trào tư tưởng của phái này vẫn còn thịnh. Ngoài ra, phẩm An lạc hạnh trong kinh Pháp hoa quyển 5, khi ghi chép về các loại ngoại đạo Phạm chí ni kiền tử, có nêu các tên Lộ già da đà, Nghịch lộ già da đà mà trong Pháp hoa văn cú quyển 8 hạ, ngài Trí khải có giải thích rất rõ. Nghịch lộ già da đà còn gọi là Tả thuận thế ngoại đạo, là một nhánh của ngoại đạo Thuận thế, nghĩa là từ ngoại đạo Thuận thế rơi vào Tả đạo. [X. phẩm Lô già da đà trong kinh Nhập lăng già Q.6; Đại thừa quảng bách luận thích luận Q.2, 3; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.15].
thuận thế phái
Lokayatika (S)Phái ngoại đạo tu hành theo thế tục, không có tính xuất thế và giải thoát.
thuận thời
Timely—At the right time—Opportune—Seasonable.
thuận thứ
According to order or rank, one after another, the next life in Paradise to follow immediately after this without intervening stages.
; 1) Theo thứ tự cấp trật hay tuổi hạ trong giáo đoàn—According to order or rank, one after the other. 2) Vãng sanh về cõi Cực Lạc ngay đời kế tiếp không gián đoạn: The next life in Paradise to follow immediately after this without intervening stages.
thuận thứ sinh thụ nghiệp
(順次生受業) Phạm: Upapadya-vedanìya-karma. Pàli: Upapajja-vedanìya-kamma. Gọi tắt: Thuận sinh thụ nghiệp, Thuận thứ nghiệp, Thuận sinh nghiệp, Thuận thứ sinh thụ. Các nghiệp thiện, ác tạo tác trong đời hiện tại sẽ chịu quả báo ở đời sau, 1 trong 2 thời nghiệp, 1 trong 4 nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.114]. (xt. Tứ Nghiệp, ĐịnhNghiệp, BấtĐịnhNghiệp).
thuận thứ vãng sinh
(順次往生) Vãng sinh vào đời kế tiếp đời này, tức là sau khi đời này mệnh chung thì vãng sinh ngay về Tịnh độ cực lạc. Trong 3 nghiệp quyết định(tức Thuận hiện pháp thụ nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp và Thuận hậu thứ thụ nghiệp)nói trong luận Câu xá quyển 15 thì Thuận thứ vãng sinh tức thuộc Thuận thứ sinh thụ nghiệp. Tức nghiệp tạo tác ở đời này thì vào đời kế tiếp chịu quả dị thục, chứ không phải đợi đến đời khác mới chịu quả báo. Tông Tịnh độ của Phật giáo Nhậtbản phần nhiều cho rằng nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà là nguyện thuộc Thuận thứ vãng sinh, còn nguyện thứ 20 là nguyện thuộc Thuận hậu vãng sinh. (xt. Tam Quyết Định Nghiệp).
thuận tiện
Suitable—Favourable—Convenient.
thuận toàn chuyển nghịch toàn chuyển
(順旋轉逆旋轉) Một trong 8 thứ Toàn chuyển thích của Mật giáo, 1 trong 16 huyền môn. Khi quán xét về tướng chữ và nghĩa chữ của 50 chữ cái Tất đàm, hoặc quán nghĩa các chữ chân ngôn thuộc Tự luân quán thì quán thuận theo nghĩa của các chữ, gọi là Thuận toàn chuyển, Thuận quán toàn chuyển; còn quán ngược thứ tự thì gọi là Nghịch toàn chuyển, Nghịch quán toàn chuyển. Như khi quán 5 chữ (a phạ ra ha khư) thuộc Ngũ tự luân quán thì quán vì chữ A vốn chẳng sinh nên chữ Phạ là ngôn thuyết bất khả đắc(không thể nói năng), vì chữ Phạ ngôn thuyết bất khả đắc nên chữ Ra là trần cấu bất khả đắc(không có bụi nhơ); vì chữ Ra trần cấu bất khả đắc nên chữ Ha là nhân nghiệp bất khả đắc(không có nghiệp nhân); vì chữ Ha nhân nghiệp bất khả đắc nên chữ Khư là đẳng không bất không bất khả đắc(giống như hư không). Cứ như thế quán xét thuận theo thứ tựcủa 5 chữ, gọi là Thuận toàn chuyển. Trái lại, Nghịch toàn chuyển là quán chữ Khư đẳng không bất khả đắc nên chữ Ha nhân nghiệp bất khả đắc, cũng thế quán theo thứ tự ngược lên đến chữ A. [X. Đại nhật kinh sớ Q.7; Phạm tự chân ngôn thập lục huyền môn nghĩa; Hồng tự nghĩa toàn đà la ni môn nghĩa].
thuận trung luận
(順中論) Gọi đủ: Thuận trung luận nghĩa nhập đại bát nhã ba la mật kinh sơ phẩm pháp môn. Luận, 2 quyển, do ngài Long thụ (Phạm: Nàgàrjana) soạn, ngài Vô trước giải thích, ngài Bát nhã lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Nội dung sách này giải thích ý nghĩa chủ yếu của Bát bất và Hí luận vốn là các vấn đề then chốt trong bộ Trung luận do Bồtát Longthụ soạn, đồng thời phá bỏ các thiên chấp Không, Hữu. [X. Trung quán luận sớ Q.1, phần đầu; Khai nguyên thích giáo lục Q.6, 12; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Pháp kinh lục Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9].
thuận tu nghịch tu
(順修逆修) Sự tu hành xa lìa mê chấp, hướng tới chân lí, gọi là Thuận tu; trái lại, sự tu hành hướng tới mê chấp mà lìa bỏ chân lí thì gọi là Nghịch tu. Từ ngữ Nghịch tu cũng chỉ cho những người lúc còn sống dự tu trước các Phật sự cho mình để cầu phúc thầm sau khi chết, cũng gọi là Dự tu. Phong tục này rất thịnh hành ở đời Tống, Trung quốc; tại Nhật bản đến nay vẫn còn lưu truyền phổ biến. Ngoài ra, ở Nhật bản còn có việc nhận pháp danh(nghịch danh) lúc còn sống, hoặc người trẻ chết trước, người già làm Phật sự để cầu phúc thầm cho, hoặc tu Phật sự cầu phúc thầm cho người chết nói chung... đều gọi là Nghịch tu.
thuận tâm
See Thuận lòng.
thuận tình
See Thuận lòng.
Thuận Tín
(順信, Junshin, ?-1250): vị Tăng của Chơn Tông sống vào giữa thời Liêm Thương, một trong 24 đệ tử xuất sắc của Thân Loan (親鸞), húy là Tín Hải (信海), hiệu là Thuận Tín Phòng (順信房), xuất thân vùng Ibaraki-ken (茨城縣). Tương truyền vì có điềm linh nghiệm rằng vị Minh Thần của Lộc Đảo (鹿島) quy y theo Thân Loan, nên Đại Cung Ty Tín Thân (信親) mới cho con mình là Tín Quảng (信廣) xuất gia theo Thân Loan. Rồi sau đó, ông đến làm trú trì Vô Lượng Thọ Tự (無量壽寺) ở Điểu Sài (鳥梄). Sau khi Thân Loan qua đời, ông truyền xướng cao phong của thầy mình ở các địa phương phía đông, và cùng với môn đồ Cao Điền (高田) duy trì giáo đoàn. Trước tác của ông có Hạ Dã Duyên Khởi (下野緣起) 2 quyển.
thuận xả thọ nghiệp
Upekśā-vedaniya-karma (S).
thuận đạo
To confirm the doctrine.
thuận ưu thọ nghiệp
Daurmanasya-vedaniya-karma (S).
thuật
1) Kỹ thuật: Way or method. 2) Nghệ thuật: Art. 3) Thuật lại: To relate—To tell—To recount—To narrate—Narration.
thuật bà ca
Subhakara (skt)—Một ngư dân đã bị lửa ái dục của chính mình đốt cháy rụi—A fisherman who was burnt up by his own sexual love.
thuật ngữ
Technical terms.
thuật sĩ
Magician, prestidigitator.
thuốc
Agadas (P).
; Bhaisajya (S). Medecine, medicament, remedy. Also dược.
thuốc giải độc
Antidote.
thuốc không quý tiện, lành bịnh là thuốc hay; pháp môn không cao thấp, an lạc là pháp môn đúng
A drug is not good or bad in itself, if it can cure a disease, it is a good medicine; there are no such low-high Dharma-doors, the one which makes your life happier and more peaceful, that's the right dharma-door for you.
thuốc mạnh
Strong medicine.
thuốc tiên
Efficacious medicine.
thuốc trường sanh
Pills of immortality.
thuộc
1) Thuộc lòng: To memorize—To know by heart—To know thoroughly. 2) Thuộc về: To belong to.
Thuộc nhĩ 屬耳
[ja] ゾクニ zokuni ||| To listen with full attention. 〔攝大乘論 T 1593.31.114b29〕 => Lắng nghe với sự chú tâm.
thuộc về nghiệp
Karmic.
thuở nay
Up to now.
thuở trước
Former times—Formerly.
thuở ấy
At that time.
thuợng phẩm hạ sanh
The lowest rank or quality of the highest stage in the Pure Land.
Thuỳ
垂; C: chuí; J: sui;|Có các nghĩa sau: 1. Treo lơ lững, rủ xuống, cúi xuống, hạ xuống, lòng thòng; 2. Chùng xuống, nhỏ từng giọt, chảy từng giọt; 3. Để lại, di tặng, ban cho; 4. Đến sát gần; kết thúc; 5. Chiếu cố; có thiện chí.
thuỳ miên
Xem Thụy miên.
Thuỳ miên 睡眠
[ja] スイミン suimin ||| (Skt. middha; Pali middha) 'drowsiness.' (1) The mental function of the mind to darken, or become drowsy. One of the 'undetermined (nature) elements' 不定地法 in the Abhidharma-kośa-bhāsya. (2) To sleep. (3) Delusion. (stīna-middha) => (s: middha; p: middha) 'uể oải, thờ thẩn'. 1. Tâm sở buồn phiền, hay trở nên đờ đẫn. Là một trong các bất định địa pháp theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận. 2. Ngủ. 3. Ảo giác (s: stīna-middha)
Thuỳ 垂
[ja] スイ sui ||| (1) To suspend, hang down, droop, lower, dangle. (2) Sag, drip, trickle. (3) Leave behind, give, confer. (4) Be on the verge of; be close to. (5) To condescend; be favorable to. => Có các nghĩa sau: 1. Treo lơ lững, rủ xuống, cúi xuống, hạ xuống, lòng thòng. 2. Chùng xuống, nhỏ từng giọt, chảy từng giọt. 3. Để lại, di tặng, ban cho 4. Đến sát gần; kết thúc. 5. Chiếu cố; có thiện chí.
Thuỳ 睡
[ja] スイ sui ||| To sleep, to doze.(śayita) => Ngủ, ngủ lơ mơ (s: śayita)
Thuỵ Châu Động Sơn Lương Giới Thiền sư ngữ lục 瑞州洞山良价禪師語録
[ja] ズイシュウドウサンリョウガイゼンシゴロク Zuishū tōzan ryōkai zenshi goroku ||| Ruizhou Zongshan Liangjie chanshi yulu; 1 fasc., T 1986b.47.519b-526b. Abbreviated as Zongshan Liangjie chanshi yulu 洞山良价禪師語録. => (c: Ruizhou Zongshan Liangjie chanshi yulu); 1 quyển. Viết tắt là Động Sơn Lương Giới Thiền sư ngữ lục洞山良价禪師語録.
thuỵ miên
Thīnamiddha (P), Dullness and drowsiness Hôn miên cái, Hôn trầm dã dượiBiếng nhác, mê ngủ, hôn trầm.
Thuỵ Nham Sư Ngạn
瑞巖師彥; C: ruìyán shīyàn; J: zuigan shigen; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát.|Sư họ Hứa, quê ở Mân Việt, xuất gia từ nhỏ. Sư đến tham vấn Nham Ðầu, hỏi: »Thế nào là lí bản thường?« Nham Ðầu đáp: »Ðộng.« Sư thưa: »Khi động thế nào?« Nham Ðầu đáp: »Chẳng phải lí bản thường.« Sư trầm ngâm dây lâu. Nham Ðầu bảo: »Chấp nhận tức chưa khỏi căn trần, chẳng chấp nhận tức hằng chìm sinh tử.« Nghe câu này, Sư lĩnh hội.|Sư đến Ðan Khưu, suốt ngày ngồi trên bàn đá làm như kẻ ngu, hàng ngày tự gọi: »Ông chủ!« Rồi tự đáp: »Dạ.« Lại nói: »Tỉnh táo nhé!« Tự đáp: »Dạ.« Lại nói: »Mai kia mốt nọ đừng để người gạt!« Rồi tự đáp: »Dạ, dạ« (Vô môn quan, công án 12).|Một hôm, có bà lão đến lễ Sư. Sư bảo: »Bà về mau cứu mấy ngàn sinh mệnh.« Bà lão về đến nhà, thấy con dâu xách một giỏ ốc từ ngoài đồng mang về. Bà liền đem xuống hồ thả hết.|Không biết Sư tịch ở đâu, lúc nào.
Thuỷ
水; C: shuĭ; J: sui;|Nước, sông, biển hay đại dương. Một trong Tứ đại (四大).
Thuỷ giác 始覺
[ja] シガク shigaku ||| "initial enlightenment." The first phenomenal actualization of enlightenment in this lifetime, as contrasted to pen-chiao 本覺 "original enlightenment" which is the basic Buddha-nature of sentient beings. The concepts of initial enlightenment and original enlightenment are elucidated at length in the Awakening of Mahāyāna Faith 大乘起信論. => Trạng thái giác ngộ đầu tiên đạt được trong đời nầy, ngược với bản giác (c: 本覺c: pen-chiao; e: original enlightenment), là Phật tính bản hữu của mọi chúng sinh. Khái niệm về Thuỷ giác và Bản giác được giải thích chi tiết trong luận Đại thừa khởi tín.
Thuỷ nga
水鵝; C: shuĭé; J: suiga; |Ngỗng chúa (s: haṃsa), có khả năng rút sữa từ trong nước ra để uống.
Thuỷ nga 水鵝
[ja] スイガ suiga ||| The haṃsa goose, who, when drinking, extracts milk from water. 〔攝大乘論 T 1593.31.117b02〕 => Ngỗng chúa, có khả năng rút sữa từ trong nước ra để uống.
Thuỷ thiên
水天; C: shuĭtiān; J: suiten;|Là Varuṇa trong thần thoại Ấn Độ. Là 1 vị thần lão luyện trong tín ngưỡng Vệ-đà, nhân cách hoá của Thượng đế, là đấng sáng tạo và giữ gìn vũ trụ. Sau trở thành chuá tể cuả các thần mặt trời, rồi thành thần của sông biển. Còn được dịch là Thuỷ thân (水神) và Thuỷ vương (水王). Phiên âm là Hoà luân (和輪) và Bà-lâu-na (婆樓那).
Thuỷ thiên 水天
[ja] スイオウ suiō ||| A translation of the Sanskrit Varuṇa; see 水天. [ja] スイジン suijin ||| A Chinese translation of the Sanskrit name of the god Varuṇa; see 水天[ja] スイテン suiten ||| The Chinese translation of "water god" which is Varuṇa in Indian mythology. One of the oldest Vedic gods, the personification of the heavens, who is the creator and preserver of the universe. He later became the lord of the sun gods, and still later became the god of the oceans and rivers. Also translated as 水紳 and 水王; transcribed as 和輪 and 婆樓那. (s: Varuṇa) Hán dịch chữ "water god", là thần Varuṇa trong thần thoại Ấn Độ. Là một vị thần lão luyện trong tín ngưỡng Vệ-đà, nhân cách hoá của Thượng đế, là đấng sáng tạo và giữ gìn vũ trụ. Sau trở thành chuá tể cuả các thần mặt trời, rồi thành thần của sông biển. Còn được dịch là Thuỷ thân 水紳 và Thuỷ vương 水王. Phiên âm là Hoà luân 和輪 và Bà-lâu-na 婆樓那.
Thuỷ thần
水神; C: shuĭshén; J: suijin; S: varuṇa. |Thuỷ thiên (水天).
thuỷ thần
Nāgavajra (S)Xem Bà lâu na Long vương. Ở phương Tây.
Thuỷ tinh
水晶(精); C: shuĭjīng; J: suishō; S: sphaṭika. |Pha lê, là một trong bảy thứ châu báu (Thất bảo 七寶).
thuỷ tinh
Xem Thủy diệu.
Thuỷ tinh 水晶
[ja]スイショウ suishō ||| Crystal, which is one of the seven jewels 七寶. => (s: sphaṭika). Pha lê, là một trong bảy thứ châu báu (Thất bảo 七寶).Còn viết 水精
thuỷ trung nguyệt dụ
Udaka-upama (S)Thí dụ chỉ các pháp như bóng trăng dưới nước.
Thuỷ vương
水王; C: shuĭwáng; J: suiō; S: varuṇa. |Thuỷ thiên (水天).
Thuỷ 水
[ja] スイ sui ||| Water, river(s), seas or oceans. One of the four gross elements 四大. => Nước, sông, biển hay đại dương. Một trong Tứ đại四大.
thà
Better—Rather.
Thành
城; C: chéng; J: jō;|Có 2 nghĩa: 1. Thành phố, thành trì, thành luỹ; 2. Ở Ấn Độ, là khu rừng nơi các vị tu khổ hạnh thực hành khất thực.
thành
Complete, finish, perfect, become.
; 1) Hoàn thành: Hoàn tất—To complete—To perfect—To finish. 2) Thành nội: Citadel—A walled town. 3) Thành thực: Sincere—Frank—Truthful—True—Real—Sincerity. 4) Thành trì: A defensive wall. 5) Trở thành: To become—To grow.
thành báu Chánh pháp
(Chánh pháp bảo thành): Chánh pháp do Phật thuyết dạy ví như thành quách xây dựng bằng các món báu.
thành bại
Win or lose—Success or failure.
thành bất nhị luận
Advayasiddhi (S) Tên một bộ luận kinh.
thành bồ đề bổ quyết
(成菩提補闕) Trong pháp tu của Mật giáo, trên 5 chữ: (ía), (ĩa), (ịa), (na), (ma) đều thêm (aô, chấm am), đồng thời quán tưởng phân bố 5 chữ ấy trong tâm hành giả. Chấm aô là chấm Đại không, biểu thị ý nghĩa chứng bồ đề. Khi quán tưởng phân bố 5 chữ trên thì dùng ấn Tự luân của 3 bộ để gia trì tâm, sau đó tụng chân ngôn. Chân ngôn là: Nẵng mạc (nama#, qui mệnh) tam mãn đa (samanta, phổ biến) một đà nẫm (buddhànà, chư Phật) tam mạo đà (saôboddhà, chính giác), ám (aô, thành bồ đề chủng tử) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu).[X. phẩm Tự luân trong kinh Đại nhật, Nhiếp đại nghi]. (xt. Không Điểm).
thành bồ đề tâm
(成菩提心) Gọi tắt: Thành bồ đề. Chỉ cho ấn minh(ấn khế và chân ngôn) mà Mật giáo sử dụng để hiển phát tâm đại bồ đề sẵn có của tất cả chúng sinh hầu giúp mình và người đều thành bồ đề. Trong Mật giáo, lúc tu pháp, hành giả kết tụng các loại ấn minh như Triệu tội, Tồi tội, Trừ nghiệp chướng... có năng lực diệt trừ các tội chướng, làm cho thân tâm thanh tịnh thì mới có thể thành tựu bồ đề. Lại vì kết tụng các loại ấn ngôn này là chỗ rốt ráo của việc tự chứng thành bồ đề nên gọi là Thành bồ đề tâm. Ấn minh này và Ngũ tướng thành thân quán có sự quan hệ hỗ tương, nương tựa lẫn nhau, thành tựu cho nhau. Nói theo không gian thì Thành bồ đề tâm là tự chứng quả vị viên cực (viên mãn cùng tột), công đức đầy đủ của quả vị này được chia làm 5 tướng; còn nói theo thời gian thì y cứ vào thứ tự tu hiển mà thành tựu Ngũ tướng thành thân (Thông đạt bồ đề tâm, Tu bồ đề tâm, Thành kim cương tâm, Chứng kim cương thân, Phật thân viên mãn). Ấn khế này là ấn Liên hoa tam muội da, tức chắp 2 tay để ở giữa rỗng(là một trong các ấn mẫu của Thủ ấn), 2 ngón cái, 2 ngón út chấm đầu vào nhau dựng đứng. Kinh Giáo vương (bản 30 quyển) gọi ấn này là Đại minh ấn, Nguyệt quang ấn. Ấn này cũng là ấn Bát diệp liên hoa, tức 2 ngón trỏ, 2 ngón giữa, 2 ngón vô danh mở ra thẳng đứng, giống như 6 cánh hoa, còn 2 ngón cái và 2 ngón út sáp đầu vào nhau dựng đứng, giống như 2 cánh hoa. Cả 8 cánh hoa này đều tượng trưng cho 8 cánh sen tâm nở rộ. Dùng ấn này đặt ở bên trái đỉnh đầu, vì phía trái tượng trưng cho trí kim cương nên dùng lí ấn hoa sen để gia trì, biểu thị hiển phát trí của tâm bồ đề sẵn có. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) chiến nại lô đa lê (candrottare, nguyệt thượng) tam mạn đa bà nại la (samantabhadra, Phổ hiền) chỉ la ni (kèsani, chư tác) ma ha phạ nhật lí ni (mahàvajriịi, như đại kim cương) hồng (hùô, ngã). Đại ý là Tôi nguyện cùng các hữu tình đồng thành Phổ hiền trên vầng trăng, như Đại kim cương. [X. kinh Giáo vương Q.thượng (bản2 quyển); Kim cương tam mật sao Q.1; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.6, 13].
thành ca tỳ la vệ
See Kapilavastu in Pali/Sanskrit Section.
thành chiêm-ba
Campā (P).
Thành Chiếu Tự
(誠照寺, Jōshō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Thành Chiếu Tự (誠照寺派) thuộc Chơn Tông, hiện tọa lạc tại số 3-2 Hon-chō (本町), Sabae-shi (鯖江市), Fukui-ken (福井縣), hiệu là Thượng Dã Sơn (上野山), thường được gọi là Chinh Giang Bản Sơn (鯖江本山), là một trong 4 ngôi chùa Tổ trung tâm ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen). Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Như Lai. Phái Thành Chiếu Tự là một trong 10 phái lớn của Chơn Tông. Khi Thân Loan bị lưu đày đến vùng Việt Tiền, thể theo lời thỉnh cầu của vị hào tộc vùng này, ông thăng tòa thuyết pháp, nên người ta dựng cho ông một ngôi nhà trú ngụ tại đây. Từ đó, Đạo Tánh (道性) cùng với con là Như Giác (如覺) mới thành lập Chơn Chiếu Tự (眞照寺), và đến năm 1438 (Vĩnh Hưởng [永享] 10) thì chùa nhận được sắc phong của Hậu Hoa Viên Thiên Hoàng (後花園天皇, Gohanazono Tennō) với tên gọi cũng như hiệu chùa như hiện tại. Cũng có thuyết cho rằng Như Giác thành lập chúng môn đồ Sabae, rồi dựng nên chùa này. Vào năm 1583 (Thiên Chánh [天正] 11), trong vụ binh hỏa do Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) gây ra, chùa bị thiêu cháy tan tành, nhưng sau đó vị Tổ thứ đời thứ 14 và 15 của chùa là Tú Sơn (秀山), Tú Thành (秀誠) đã phục hưng lại được. Quần thể kiến trúc hiện tại được tái kiến vào năm 1877 (Minh Trị [明治] 10). Đến thời đại Giang Hộ, chùa phụ thuộc vào sự quản lý của Nhật Quang Luân Vương Tự (日光輪王寺), rồi đến thời Minh Trị thì bị lệ thuộc Thiên Thai Tông; nhưng sau đó chùa tách riêng ra và thành lập Phái Thành Chiếu Tự cho đến ngày nay.
thành chánh giác
See Thành Chánh Quả.
thành chánh quả
Thành chánh giác—To attain to perfect enlightenment—To become Buddha.
Thành chương 成章
[ja] ジョウショウ jōshō ||| A complete affair. => Một công việc thành tựu.
thành cát tư hãn
(成吉思汗) Chinggi Khan (1167-1227). Thủy tổ của đế quốc Mông cổ, miếu hiệu là Thái tổ, vốn tên là Thiết mộc chân (Temümjin). Vào đầu thế kỉXIII, ông thống nhất các bộ lạc Mông cổ, rồi đem quân đi đánh các nước phía tây, bản đồ trải khắp vùng Trung á đến tận phía nam nước Nga. Theo suy đoán thì trước Thành cát tư hãn, người Mông cổ và các dân tộc chung quanh, phần lớn tôn thờ Tát mãn giáo, sùng bái quỉ linh. Lúc Thành cát tư hãn đang cầm quyền chính thì ngoài Tát mãn giáo, dường như còn có một số tín đồ Thiên chúa giáo và Hồi giáo. Về việc trước đời Nguyên, người Mông cổ đã tiếp nhận Lạt ma giáo hay chưa thì không có một luận thuyết nhất định nào, nhưng điều chắc chắn là sau khi chinh phục toàn cõi Tây tạng thì hẳn nhiên Thành cát tư hãn đã có tiếp xúc với Lạt ma giáo. Theo truyền thuyết, ông đặc biệt tôn sùng ngài Khổng ca ninh bảo (1092-1158) thuộc đời thứ 2 của phái Tát ca, Tây tạng, đồng thời cúng dường Tam bảo. Có thuyết cho rằng điều đó mang ý đồ chính trị, tuy nhiên, nó cũng cho thấy sự quan tâm mật thiết của ông đối với Lạt ma giáo. [X. Thái tổ kỉ trong Nguyên sử Q.1; Tự kỉ trong Tân nguyên sử Q.1; Thái tổ kỉ Q.2- 3; Turkestan down to the Mongol Invasion, 1928, by W.Barthold].
thành công
Success
thành công trong sự cám dỗ
To succeed in tempting.
thành danh
To become famous.
thành duy thức bảo sinh luận
(成唯識寶生論) Cũng gọi Nhị thập duy thức thuận thích luận, Nhị thập duy thức tụng thích luận, Duy thức đạo luận. Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Hộ pháp soạn, ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Đây là sách chú thích bộ luận Nhị thập duy thức của ngài Thế thân. Ở Ấn độ có rất nhiều sách chú thích bộ luận Nhị thập duy thức, nhưng ở Trung quốc thì chỉ có bản chú thích này của ngài Thành Cát Tư Hãn - Hộ pháp là được truyền dịch. Trong đó, phần kệ tụng Nhị thập duy thức phần nhiều ngài Nghĩa tịnh đã noi theo Duy thức nhị thập luận do ngài Huyền trang dịch. Trong Duy thức nhị thập luận thuật kí do ngài Khuy cơ soạn cũng có nhiều chỗ giống với sách này. [X. Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.thượng].
Thành duy thức luận
成唯識論; S: vijñāptimātratāsiddhi; |Huyền Trang
thành duy thức luận
Vijnāptimātrata-siddhi-śāstra (S), Vijāptimātra-siddhi-śāstra (S) Do ngài Pháp Hộ biên soạn Xem Duy thức Tam thập luận tụng.
; Vidyà-màtra-siddhi-sàstra (S).
; Vijnaptimatrata-siddhi-sastra (skt)—Pháp Tướng Tông mặc dù là Duy Thức, nhưng lại khác với Nhiếp Luận Tông vốn chỉ là Duy Thức tượng trưng, và sau đó được Pháp Tướng thay thế tại Trung Hoa. Các nhà Duy Thức của Pháp Tướng tông nhìn nhận là truyền thừa về hệ thống chánh thống của ngài Thế Thân, nhưng trên thực tế quả là khó cả quyết. Tam Thập Tụng Duy Thức, bản luận căn bản của tông Pháp Tướng, gồm 30 bài luận được ngài Thế Thân Bồ Tát biên soạn và ngài Huyền Trang đời Đường biên tập gộp lại còn 10 quyển—The Dharmalaksana school, though idealistic, is different from the Samparigraha school, which was representative idealism and was later replaced by the Dharmalaksana (Fa-Hsiang) School in China. The Dharmalaksana idealists profess to have transmitted the orthodox system of Vasubandhu, but in reality this is rather uncertain. Vasubandhu's Trimsika was annotated by ten authorities of whom Hsuan-Tsang and his pupil Ki followed chiefly the opinions of Dharmapala of Nalanda. The Vijnaptimatrata-siddhi-sastra, which is the fundamental treatise of the Dharmalaksana School, was composed by Vasubandhu in 30 books and Hsuan-Tsang during the T'ang dynasty reduced to 10 books.
; (成唯識論) Phạm:Vijĩaptimàtratàsidhi-zàstra. Cũng gọi Duy thức luận, Tịnh duy thức luận.Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Hộ pháp soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường được thu vào Đại chính tạng tập 31. Đây là sách chú thích bộ Duy thức tam thập luận tụng, là 1 trong các sách y cứ trọng yếu của tông Pháp tướng. Khoảng năm 450 Tây lịch, ngài Thế thân soạn Duy thức tam thập luận tụng. Đến khoảng năm 557, 10 vị Đại luận sư Duy thức trong đó ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla) là chính, mỗi vị đều chú thích Duy thức tam thập luận tụng thành 10 quyển, cộng chung là 100 quyển. Đến năm Hiển khánh thứ 4 (659), khi ngài Huyền trang phiên dịch Duy thức tam thập luận tụng, theo chủ trương của đệ tử là Khuy cơ, lấy quan điểm của ngài Hộ pháp làm chính, phiên dịch tổng hợp học thuyết của 10 vị Luận sư mà tập thành bộThành duy thức luận này. Nội dung luận này cho rằng thức A lại da là chỗ nương tựa căn bản của sự tồn tại của con người, trong thức A lại da có chứa đựng các chủng tử(hạt giống), do duyên khởi mà hình thành hiện tại, đồng thời lại tạo tác vị lai, do đó triển khai tất cả vũ trụ, chủ trương quán muôn pháp do tâm biến hiện để thể chứng chân lí của các pháp. Nay lược thuật về nội dung ấy như sau:1. Từ quyển 1 đến đoạn trước của quyển 2 là giải thích các bài tụng Do giả nói ngã pháp nhằm bác bỏ sự chấp trước của ngoại đạo và Tiểu thừa cho ngã và pháp là có thật. 2. Từ giữa quyển 2 đến giữa quyển 4 giải thích các bài tụng Sơ A lại gia thức, nói rõ về tướng của thức A lại da. 3. Từ giữa quyển 4 đến giữa quyển 5 giải thích các bài tụng Kế, năng biến thứ 2, nói rõ về tướng của thức Mạt na. 4. Từ giữa quyển 5 đến quyển 7 giải thích các bài tụng Kế, năng biến thứ 3, tâm sở biến hành này, nương nơi thức căn bản, lần lượt nói rõ về tướng năng biến của 6 thức, tâm sở tương ứng của 6 thức, phần vị hiện khởi của các thức... 5. Từ giữa quyển 7 đến giữa quyển 8 giải thích các bài tụng Các thức này chuyển biến, do thức Nhất thiết chủng, do tập khí các nghiệp, lần lượt nói rõ về ý nghĩa tất cả duy thức, về nhân quả của các thức chuyển biến, về lí sinh tử tương tục...6. Từ giữa đến cuối quyển 8 các bài tụng Do các biến kế ấy, nói rõ nghĩa của 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. 7. Quyển 9, giải thích các bài tụng Tức nương ba tính này, nói rõ về ý nghĩa của 3 vô tính. 8. Quyển 10, giải thích các bài tụng Cho đến chưa khởi thức, nói rõ về tướng của 5 vị. Năm vị tức là thứ tự ngộ nhập tính, tướng Duy thức. Trong nội dung luận này có nhiều chỗ dẫn dụng học thuyết của các vị Luận sư khác thuộc Du già hành phái như Nan đà, Trần na... Các học giả thời cận đại đem sách chú thích Duy thức tam thập luận tụng của ngài An tuệ, 1 trong 10 vị Đại luận sư, so sánh với luận Thành duy thức thì thấy ngoài một phần nhỏ khác nhau, còn chỉ thú thì phần lớn rất giống nhau. Ngoài ra, luận này thường nói đến thuyết Tứ phần (Tướng phần, Kiến phần, Tự chứng phần, Chứng tự chứng phần), nhưng trong các tác phẩm khác của ngài Hộ pháp lại không thấy đề cập đến. Do đó, các học giả cho rằng luận Thành duy thức chưa hẳn đã lấy học thuyết của ngài Hộ pháp làm tiêu chuẩn cơ bản. Hơn nữa, trong luận, chỗ nào cũng thấy phản ánh sự tâm đắc của ngài Huyền trang khi ngài du học Ấn độ, vì thế luận này không phải chỉ là sách dịch thuần túy, mà cũng có thể được xem là tác phẩm soạn thuật của ngài Huyền trang. Luận Thành duy thức không những chỉ là bộ luận y cứ của tông Pháp tướng, mà còn là sách cần thiết cho các nhà nghiên cứu Phật giáo. Luận này có rất nhiều sách chú thích như: Thành duy thức luận thuật kí 20 quyển, Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu 4 quyển và Thành duy thức luận biệt sao 10 quyển, do ngài Khuy cơ soạn; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng 13 quyển, do ngài Tuệ chiểu soạn; Thành duy thức luận diễn bí 14 quyển, do ngài Trí chu soạn... [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Duyệt trạng tri tân Q.39; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.5 (Vũ tỉnh Bá thọ); Duy thức học điển tịch (Kết thành Linh văn)].
thành duy thức luận chưởng trung xu yếu
(成唯識論掌中樞要) Gọi tắt: Thành duy thức luận xu yếu, Duy thức luận xu yếu, Duy thức xu yếu, Xu yếu. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Đây là 1 trong 3 bộ chú sớ về Duy thức. Bộ luận sớ này cùng với Thành duy thức luận diễn bí (Trí chu) và Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng (Tuệ chiểu) được gọi chung là Duy thức tam sớ, hoặcDuy thức tam cá sớ. Nội dung sách này, trước hết, trình bày về các nhân duyên như: Sự thành lập truyền nhập, phiên dịch... của luận Thành duy thức, kế đến, giải thích đề mục của luận này và căn cơ được giáo hóa, sau cùng là giải thích chính văn. Trong phần này, những chỗ nào chưa được Thành duy thức luận thuật kí giải thích tường tận thì sách này giải thích lạichorõ ràng hơn, đặc biệt đối với những vấn đề trọng yếu như khoa đoạn trong Duy thức tam thập tụng, nghĩa 5 chủng tính, 3 loại cảnh... đều được giải thích một cách rộng rãi. Trong sách nhiều chỗ có nêu các từ ngữ như như sớ hoặc như Duy thức chương thuyết..., dựa vào đó ta có thể biết sách này dường như hoàn thành sau Thành duy thức luận thuật kí và Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương. Tuy nhiên, trong Thuật kí lại cũng có các từ ngữ như như Xu yếu thuyết hoặc như Biệt chương... Như vậy, cứ đó mà suy thì biết sách này và Thuật kí phải là đồng thời hoàn thành. Về sách chú thích thì có: Thành duy thức luận xu yếu kí 2 quyển, do ngài Trí chu soạn vào đời Đường; Thành duy thức luận xu yếu kí 2 quyển, do ngài Cảnh hưng soạn vào đời Đường. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Chư tông chương sớ lục Q.1].
thành duy thức luận diễn bí
(成唯識論演秘) Gọi tắt: Duy thức diễn bí, Diễn bí. Tác phẩm, 7 quyển, hoặc 10 quyển, do ngài Trí chu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43. Đây là sách chú thích luận Thành duy thức và Thành duy thức luận thuật kí, là 1 trong 3 bộ sớ về Duy thức. Soạn giả là Tổ thứ 3 của tông Pháp tướng, Trung quốc. Trong sách xiển dương thâm nghĩa của pháp tướng, phát huy ý chỉ sâu xa của Luận, Thuật kí, lời văn dễ hiểu, là bộ sách cần thiết cho những người mới học.
Thành Duy thức luận diễn bí 成唯識論演秘
[ja] ジョウユイシキロンエンビ Jōyuishikiron enbi ||| The Cheng weishi lun yanmi; 14 fasc., by Zhizhou 智周. Commonly referred to by the abbreviated title of Yanmi 演秘. T 1833.43.811-978. => (c: Cheng weishi lun yanmi); 14 quyển; của Trí Châu (c: Zhizhou 智周). Thường được biết với tên gọi tắt là Diễn Bí (c: Yanmi 演秘).
thành duy thức luận học kí
(成唯識論學記) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Thái hiền, vị tăng nước Tân la sống vào đời Đường biên tập, được thu vào Vạn tục tạngtập 80. Đây là sách chú thích bộ luận Thành duy thức do ngài Huyền trang dịch. Nội dung chia làm 3 môn: 1. Hiển tông xuất thể môn: Tường thuật lại cuộc tranh luận về Không, Hữu giữa 2 Luận sư Hộ pháp và Thanh biện, lấy 3 thứ Cảnh, Hành, Quả của Duy thức trung đạo do ngài Hộ pháp trình bày làm tông chỉ của luận Thành duy thức, đồng thời bàn về Xuất thể. 2. Đề danh phân biệt môn: Nói rõ về tên sách, người tạo luận... 3. Giải thích văn nghĩa môn: Lần lượt chú thích các phần như: Giáo khởi nhân duyên phần, Thánh giáo chính thuyết phần, Kết danh hồi thí phần... Ở đầu quyển sách này có ghi hàng chữ Bồ tát tạng A tì đạt ma cổ tích kí quyển 3, phần đầu, do đó mà suy đoán có lẽ sách này là 1 phần của Cổ tích kí.
Thành Duy thức luận khu yếu 成唯識論樞要
[ja] ジョウユイシキロンスウヨウ jō yuishikiron sūyō ||| The Cheng weishi lun shouyao; 4 fasc., by Kuiji 窺基; T 1831.43.607-658. Commonly known by the shorted title Shouyao 樞要. => (c: Cheng weishi lun shouyao); 4 quyển; của Khuy Cơ (c: Kuiji 窺基). Thường được gọi tắt là Khu Yếu (c: Shouyao 樞要).
thành duy thức luận liễu nghĩa đăng
(成唯識論了義燈) Gọi tắt: Duy thức luận nghĩa đăng, Duy thức liễu nghĩa đăng, Liễu nghĩa đăng, Nghĩa đăng. Tác phẩm, 13 quyển, hoặc 7 quyển, do ngài Tuệchiểusoạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43, là 1 trong 3 bộ sớ của Duy thức. Sách này bác bỏ các dị thuyết khi giải thích luận Thành duy thức, đồng thời trình bày rõ nghĩa chân chính của nguyên tác. Soạn giả là Tổ thứ 2 của tông Pháp tướng, Trung quốc, trong sách phỏng theo học thuyết của ngài Khuy cơ mà chê trách dị nghĩa của các ngài Viên trắc, Viên nghĩa, Phổ quang, Tuệ quán..., phê bình phản bác từng dị thuyết của các nhà, bao gồm các danh mục: Tây minh vân, Yếu tập vân, Hữu thuyết, Hữu thích, Hữu nhân vân, Hữu giải, Hữu vân, Vị tường quyết... Trong đó, Hữu thuyết là chỉ cho thuyết của ngài Khuy cơ, Hữu thích chỉ cho thuyết của ngài Viên trắc, Hữu nhân vân chỉ cho thuyết của ngài Phổ quang, Hữu giải chỉ cho thuyết của ngài Tuệ quán, Hữu vân chỉ cho thuyết của ngài Huyền phạm và Vị tường quyết là chỉ cho thuyết của Nghĩa tịch. Từ xưa đến nay, sách này là sách khó hiểu nhất trong các bộ chú sớ luận Thành duy thức.
thành duy thức luận nghĩa uẩn
(成唯識論義蘊) Cũng gọi Thành duy thức luận uẩn, Thành duy thức luận thuật kí nghĩa uẩn kí, Thành duy thức luận thuật kí nghĩa uẩn, Thành duy thức luận sớ nghĩa uẩn, Duy thức nghĩa uẩn. Tác phẩm, 5 quyển, hoặc 10 quyển, do ngài Đạo ấp soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 78. Đây là sách chú sớ bộ Thành duy thức luận thuật kí do ngài Khuy cơ soạn, nội dung trích lấy những câu văn quan trọng trong thuật kí từ quyển 1 đến quyển 9 rồi chú thích.
Thành Duy thức luận nghĩa đăng 成唯識論了義燈
[ja] ジョウユイシキロンリョウギトウ Jouyuishikiron ryougitou ||| The Cheng weishi lun liaoyideng, 13 fasc., by Huizhao 慧沼. T 1832.43.659-811. => (j: Jouyuishikiron ryougitou ;c: Cheng weishi lun liaoyideng), 13 quyển; của Huệ Chiểu (c: Huizhao 慧沼).
thành duy thức luận quán tâm pháp yếu
(成唯識論觀心法要) Cũng gọi Duy thức tâm yếu. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trí húc (1599-1655) soạn vào đời Minh, thu vào Vạn tục tạng tập 82. Đây là sách chú thích rộng về luận Thành duy thứcVào giữa đời Đường, tông Pháp tướng đã dần dần suy, ngài Trí húc y cứ vào Duy thức khai mông vấn đáp 2 quyển của ngài Vân phong nghiên cứu một cách khái quát về nghĩa Duy thức, đồng thời viện dẫn Đại sớ sao, Tông kính lục..., lại tham khảo thêm các luận Du già, Hiển dương, rồi căn cứ vào các sách chú thích như Tập giải, Chứng nghĩa, Âm nghĩa, Hợp hưởng... được soạn vào đời Minh mà soạn thành sách này. Mục đích toàn sách là xác lập đạo lí Duy thức quán, vì thế mới lấy tên là Quán tâm pháp yếu. Nội dung sách này trước hết nói về duyên khởi và nêu phàm lệ, kế đến là trình bày về tên luận, người làm kệ tụng, người soạn luận, người phiên dịch, sau cùng là lần lượt giải thích bản tụng và trường hàng, cuối sách có lời bạt.
thành duy thức luận thuật kí
(成唯識論述記) Cũng gọi Thành duy thức luận sớ, Duy thức luận thuật kí, Duy thức thuật kí, Thuật kí. Tác phẩm, 10 quyển, hoặc 20 quyển, do ngài Khuy cơ (632-682) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43. Đây là sách chú thích luận Thành duy thức. Soạn giả là Sơ tổ của tông Pháp tướng, Trung quốc. Trong sách dùng Luận lí học (Nhân minh) của Phật giáo để phê bình, phản bác Tiểu thừa, ngoại đạo, đồng thời thuyết minh vạn pháp do thức A lại da hiển hiện, dùng thức này để tổ chức nền giáo học Phật giáo. Từ khi xuất hiện về sau, sách này đã trở thành Thánh điển căn bản của Duy thức học ở Trung quốc, đồng thời, tại Nhật bản sách này cũng rất được xem trọng và là yếu điển của tông Pháp tướng và các tông khác. Nội dung sách được chia làm 5 môn: 1. Giáo thời cơ: Chia làm 2 thứ là Thuyết giáo thời hội và Giáo sở bị cơ. 2. Luận tông thể: Lấy Duy thức làm tông và chủ trương thể của Duy thức có 4 lớp.3. Tạng thừa sở nhiếp: Luận Thành duy thức thuộc pháp Nhất thừa và trong 3 tạng thuộc tạng Bồ tát. 4. Thuyết giáo niên chủ: Dùng bài tựa luận Câu xá của ngài Tuệ khải để bàn về niên đại ngài Thế thân và 10 vị đại Luận sư. 5. Bản văn phán thích: Tức theo chính văn mà giải thích ý nghĩa. Về sách chú thích tác phẩm này thì có: Thành duy thức luận nghĩa uẩn 5 quyển của ngài Đạo ấp, Thành duy thức luận nghĩa sớ diễn 26 quyển của ngài Như lí, Thành duy thức luận nghĩa sớ sao 18 quyển của ngài Linh phong... Sách này còn có bản lưu hành đơn gồm 26 quyển. Vì từ đời Nguyên về sau, sách này bị thất truyền, nên sau khi ông Dương văn hội cuối đời Thanh tìm được sách này ở Nhật bản, liền kêu gọi tăng tục góp sức khắc bản in để lưu hành.
Thành Duy thức luận thuật ký 成唯識論述記
[ja] ジョウユイシキロンジュッキ Jō yuishikiron jukki ||| Cheng weishīun shouji A commentary on the Cheng weishīun 成唯識論, by Kuiji 窺基. 20 fasc., T 1830.43.229a-606c. Cf. T 1585, 1832, 1833, 2260, 2266. Often referred to by its abbreviated title of Shuji 述記. => (c: Cheng weishīun shouji). Chú giải của Khuy Cơ về Thành Duy thức luận. Gồm 20 quyển. Thường được biết với tên gọi tắt là Thuật Ký (c: Shuji 述記).
thành duy thức luận tuỳ chú
(成唯識論隨注) Cũng gọi Thành duy thức luận tùy sớ. Tác phẩm, 10 quyển, nguyên tác của Đại sư Cao nguyên đời Minh. Có tỉ khưu Minh thiện theo học ngài Cao nguyên, có lần trong pháp hội, Minh thiện xin phép được chú thích theo văn sớ, ngài Cao nguyên chấp thuận, nhưng khi ngài Minh thiện soạn đến quyển thứ 7 thì qua đời, đệ tử nối pháp là Tuệ thiện tiếp tục hoàn thành.Sau khi cha con ông Ngô thuần trai khắc bản lưu hành thì Cung định am cũng từngtu bổ ấn hành. Vu lâm Tiền y am nhân bộ sớ này mà soạn Duy thức tùy sớ dực 2 quyển.
Thành duy thức luận 成唯識論
[ja] ジョウユイシキロン Jō yuishiki ron ||| Cheng weishi lun; The "Discourse on the Theory of Consciousness-only." (Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra) 10 fasc., T 1585.31.1a-59a. This is mainly a translation by Xuanzang 玄奘 of Dharmapāla's 護法 commentary on the Thirty Verses on Consciousness-only, by Vasubandhu 世親, but it also includes edited translations of other master's works on the same verses. It is the primary text of the Faxiang 法相 school. Kuiji's 窺基 linkage of this text with Dharmapāla is problematic (see Chap. 15 in Lusthaus (2000). This is the only translation by Xuanzang that is not a direct translation of a text, but instead a selective, evaluative editorial drawing on several (traditionally ten) distinct texts. Since Kuiji aligned himself with this text while assuming the role of Xuanzang's successor, the East Asian tradition has treated the Cheng weishi lun as the pivotal exemplar of Xuanzang's teachings. Vall Poussin's French translation incorporates material from the Saeki edition and the commentaries by Kuiji while embedding his reading in a heavily idealistic interpretation. Wei Tat's English rendition of Vallée Poussin's translation omits most of Vallée Poussin's extensive explanatory notes. Ganguly offers an abridged version of the Cheng weishi lun. => (c: Cheng weishi lun; e: The "Discourse on the Theory of Consciousness-only." S: Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra); 10 quyển. Đây là dịch phẩm chính của Huyền Trang từ luận giải của Hộ Pháp (s: Dharmapāla's 護法) về Duy thức tam thập tụng của Thế Thân, nhưng nó cũng bao gồm nhiều ghi chú về bản dịch của nhiều bậc thầy khác về các bài tụng ấy. Đây là luận chính của Pháp tướng tông. Việc Khuy Cơ kết nối luận nầy với luận giải của Hộ Pháp là vấn đề cần phải bàn thêm (xem Chương 15 trong tác phẩm của Lusthaus (2000). Đây chỉ là bản dịch của Huyền Trang, không phải là dịch trực tiếp toàn bộ luận giải, mà thay vào đó là một sự tuyển chọn, biên tập rồi rút ra vài chương riêng biệt (theo truyền thống là 10 chương). Do Khuy Cơ tự ghép mình vào luận nầy trong khi khoác lấy vai trò môn đệ của Huyền Trang, nên truyền thống Đông Phương xem Thành duy thức luận (成唯識論 c: Cheng weishi lun) là mẫu mực chính yếu của giáo lý Huyền Trang. Bản dịch tiếng Pháp của Vall Poussin kết hợp chặt chẽ tái liệu từ ấn bản của Saeki và luận giải của Khuy Cơ trong khi đưa ra cách giải thích của ông theo quan điểm thiên về duy tâm. Bản tiếng Anh của Wei Tat dịch từ bản tiếng Pháp của Vallée Poussin thì bỏ qua phần nhiều chú giải mở rộng của Vallée Poussin. Ganguly thì đưa ra một bản tóm tắt về Thành duy thức luận.
thành gia thất
To get married—To marry.
Thành Hoàng
(城隍): có hai nghĩa khác nhau. (1) Đường hào bảo vệ chung quanh thành quách. Từ Thành Hoàng được tìm thấy đầu tiên trong thư tịch Dịch Kinh (易經), phần Thái Quái (泰卦): “Thành phục ư hoàng (城復於隍, thành lại ở trong hào).” Thuyết Văn Giải Tự (說文解字) giải thích rằng: “Thành, dĩ thạnh dân chi (城、以盛民也, thành trì để bảo vệ dân)” và “Hoàng, thành trì dã (隍、城池也, hoàng là cái hào bảo vệ thành)”, hay “vô thủy viết hoàng (無水曰隍, nơi không có nước gọi là hoàng).” Như vậy, theo nghĩa xa xưa, từ thành hoàng là con sông, cái hào bảo vệ thành quách. Nhân đó, Ban Cố có đoạn văn rằng: “Tu cung thất, tuấn thành hoàng (修宮室、浚城隍, sửa cung thất, đào hào thành).” (2) Tên gọi của vị thần bảo vệ thành trì hay quốc gia, hộ trì dân chúng. Với tư cách là vị thần, từ Thành Hoàng được tìm thấy đầu tiên trong Bắc Tề Thư (北齊書), Truyện Mộ Dung Nghiễm (慕容儼傳): “Thành trung tiên hữu thần từ nhất sở, tục hiệu Thành Hoàng Thần, công tư mỗi hữu kỳ đảo (城中先有神祠一所、俗號城隍神、公私每有祈禱, trong thành có một chỗ thờ thần, thế gian thường gọi là Thần Thành Hoàng, công tư mỗi người đều có cầu nguyện).” Sau thời Tùy Đường (隋唐, 581-907), việc sùng bái Thành Hoàng bắt đầu lưu hành rộng rãi. Trong điều Tuyên Châu Ty Hộ (宣州司戶) của Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) gọi Thành Hoàng là úy quỷ (畏鬼, quỷ sợ), cho nên nhận xét rằng: “Mỗi châu huyện tất hữu Thần Thành Hoàng (每州縣必有城隍神, mỗi châu huyện đều có Thần Thành Hoàng).” Đến thời Ngũ Đại (五代, 907-960), Thần Thành Hoàng đã được sắc phong. Tỷ dụ như Thần Thành Hoàng ở Hàng Châu (杭州) được phong là Thuận Nghĩa Bảo Ninh Vương (順義保寧王), ở Hồ Châu (湖州) là Phụ Tục An Thành Vương (阜俗安城王), ở Mông Châu (蒙州) là Linh Cảm Vương (靈感王), v.v. Dưới thời nhà Tống (宋, 960-1127), việc sùng bái Thành Hoàng trở thành tế điển quốc gia. Như trong Tân Thối Lục (賓退錄) của Triệu Dữ Thời (趙與時, ?-?) có đoạn rằng: “Kim kỳ tự cơ biến thiên hạ, triều gia hoặc tứ miếu ngạch, hoặc ban phong tước, vị danh giả hoặc tập lân quận chi xưng, hoặc thừa lưu tục sở truyền, quận dị nhi huyện bất đồng (今其祀幾遍天下、朝家或賜廟額、或頒封爵、未名者或襲鄰郡之稱、或承流俗所傳、郡異而縣不同, ngày nay việc cúng tế Thành Hoàng cùng khắp thiên hạ, triều đình hoặc ban ngạch cho miếu vũ, hay ban phong tước; nơi nào chưa có tên thì hoặc lấy theo tên gọi của quận lân bang, hay theo truyền thuyết lưu truyền ngoài đời, quận khác mà huyện chẳng giống).” Kế thừa nhà Tống đến thời nhà Nguyên (元, 1206-1368), khắp nơi từ trong triều nội cho đến ngoài dân dã đều có thiết lập miếu thời Thần Thành Hoàng; vị thần ở kinh đô được tôn xưng là Hựu Thánh Vương (佑聖王). Đến thời nhà Minh (明, 1368-1662), tín ngưỡng sùng bái Thành Hoàng trở nên cực thịnh. Vào năm thứ 2 (1369) niên hiệu Hồng Võ (洪武), vua Minh Thái Tổ (明太祖, tại vị 1368-1398), phong cho Thành Hoàng ở kinh đô là Thừa Thiên Giám Quốc Ty Dân Thăng Phước Minh Linh Vương (承天鑒國司民升福明靈王), phong cho Thành Hoàng ở Khai Phong (開封), Lâm Hào (臨濠), Thái Bình (太平), Hòa Châu (和州), Trừ Châu (滁州) là Chánh Nhất Phẩm (正一品); cho Thành Hoàng ở các phủ khác là Chánh Nhị Phẩm (正二品); cho Thành Hoàng ở các châu là Chánh Tam Phẩm (正三品); cho Thành Hoàng ở các huyện là Hiển Hựu Bá (顯佑伯), Tứ Phẩm (四品). Chức trách của Thần Thành Hoàng chủ yếu bảo hộ bá tánh trong thành được an toàn, sức khỏe, cũng như giám sát công lao các quan viên trên cõi thế, thay Trời trị ác trừ hung, hộ trì quốc gia, phán quyết việc sống chết, ban việc phước thọ cho con người. Trong phần Quần Tự Khảo (群祀考) của tác phẩm Tục Văn Hiến Thông Khảo (續文獻通考) có dẫn lời của Minh Thái Tổ rằng: “Trẫm thiết Kinh Sư Thành Hoàng, tỷ thống các Phủ Châu Huyện chi thần, dĩ giám sát dân chi thiện ác nhi họa phước chi (朕設京師城隍、俾統各府州縣之神、以鑒察民之善惡而禍福之, Trẫm thiết lập Thần Thành Hoàng ở kinh đô để thống lãnh chư vị thần ở các Phủ Châu Huyện, để giám sát việc tốt xấu của muôn dân mà ban cho họa phước).” Về việc cúng tế Thần Thành Hoàng, theo Chư Thần Thánh Đản Nhật Ngọc Hạp Ký (諸神聖誕日玉匣記), nhà Minh quy định ngày 11 tháng 5 Âm Lịch là ngày đản sinh của Thành Hoàng. Tuy nhiên, do vì Thành Hoàng ở các địa phương có công với người dân, nên ngày đản sinh cũng có khác nhau. Tại Việt Nam, tín ngưỡng Thành Hoàng cũng đã thịnh hành từ xa xưa. Giống như Táo Công và Thổ Công, Thành Hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng và thường được thờ ở đình làng. Sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam, tục thờ Thành Hoàng đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn.” Ngài là vị thần tối linh, có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Thành Hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tùy theo sự tích mỗi vùng. Ngài có thể là một vị thần như Phù Đổng Thiên Vương, thần núi như Tản Viên Sơn Thần, thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng, v.v. Hay có khi là các yêu thần, tà thần, v.v., với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý. Tuy nhiên, có khi Thành Hoàng chỉ là một người dân mà theo quan niệm, là người được các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi là Thành Hoàng sống. Truyền thống tín ngưỡng, cúng tế Thành Hoàng đã thật sự bám sâu vào gốc rễ tâm linh, văn hóa của người dân Việt, như trong tập truyện ngắn Cái Ve của Khái Hưng (1896-1947) có câu chuyện Tế Thành Hoàng: “Người ta đồn ông Thành Hoàng làng Tiền thiêng lắm. Mỗi lần rước Ngài là một lần vất vả khổ sở cho dân Ngài: nào Ngài bay, nào Ngài lùi, nào Ngài quay, có khi Ngài lại đứng ỳ ra nữa. Các quan viên tha hồ xuýt xoa van lạy, khấn khứa ngài đủ các câu, Ngài vẫn làm ngơ như không nghe thấy gì hết. Những lúc ấy nếu không đốt một tràng pháo thật dài để mừng Ngài, thì khó lòng Ngài chịu đi cho. Thế mà năm nào ra giêng vào đám, vẫn hai lượt dân làng Tiền phải rước Ngài, một lượt từ miếu ra đình để ngài chứng kiến việc hội họp ăn uống, và một lượt từ đình trở về miếu để Ngài an nghỉ. Khó khăn nhất, mệt nhọc nhất cho bọn khiêng kiệu là quãng đường qua đình Tràng. Ngài nô giỡn, Ngài chạy cuồng, Ngài nhảy cẫng như vui thích khoái trá về một điều gì. Người ta nói vì đức Thánh Đình Tràng là một vị nữ thần mà Ngài nghịch ngợm thích trêu ghẹo chơi. Dân làng Tiền cũng không ai phàn nàn về cái thiêng của Ngài. Trái lại, người ta còn lấy làm hãnh diện được thờ một vị thần mà khắp vùng đều kinh sợ. Không phải sợ bóng sợ vía, nhưng sợ những sự tác oai hiển hiện trước mắt. Một lần, một đứa trẻ chăn trâu trèo lên cây muỗm trước miếu, đã bị Ngài quật ngã chết tươi. Lại một lần một con bé bế em đi xem rước giơ tay chỉ trỏ kiệu Ngài, bị Ngài hành cho một trận ốm thập tử nhất sinh…”
thành hoàng
Ch'eng-Huang (C), Chenghuang (C) Một vị thần bảo hộ.
; (城隍) Chỉ cho vị quan Tư pháp địa phương trong cõi Thần linh theo truyền thuyết nhân gian, không phải loại thần kì được thờ phụng trong Phật giáo. Tục cho rằng người quân tử có lòng nhân từ sau khi chết thì có thể trở thành vị thần này. Vào các dịp cúng tế, vị thần này đi tuần tra toàn phạm vi dưới quyền quản trị của mình, phía trước có 2 vị tướng quân là Tạ tất an(Thất gia) và Phạm vô cứu(Bát gia) đi mở đường. Danh từ Thành hoàng này có xuất xứ từ câu Thành phục vuhoàng, vật dụng sư trong sách Chu dịch, lúc đầu chỉ cho công sự phòng ngự để bảo vệ thành thị. Đến đời Tam quốc, dân gian mới bắt đầu xây miếu, đắp tượng phụng thờ, đến đời Đường thì phong tục này khá phổ biến. Đến đời Minh, vua Thái tổ lại xét các Thành hoàng ở kinh đô, phủ, châu, huyện, rồi theo thứ tự tấn phong các tước vị: Vương, Công, Hầu, Bá... Đến đời Thanh thì việc cúng tế Thành hoàng được đưa vào Tế điển. Các quan mới đến nhậm chức đều được đưa đến làm lễ ra mắt Thành hoàng trước, sau đó mới bắt đầu thi hành nhiệm vụ. Cứ theo Đài loan tỉnh thông chí lễ tục thiên, triều đình nhà Thanh xem Đài loan như một khu khó cai trị, nên khi vừa đưa vào bản đồ liền xây miều thờ Thành hoàng ở các phủ trị, mượn Thần đạo để bổ túc cho việc cai trị giáo hóa.
thành hoàng thần
Vị Thần bảo vệ thành—The city god, protector of the wall and moat and all they contain.
thành hình
To take form—To make shape—To form.
thành khẩn
Sincere—Sincerely
Thành kinh
Tức là Bát thành kinh (八城經), nằm trong bộ Trung A hàm (60 quyển) thuộc Hán tạng, bản Đại Chánh tân tu, quyển 1, kinh số 26.
thành kiến
Prejudice—Biases.
thành kiếp
Vivarta-kalpa (S), Kṛta-yuga (P), Satya-yuga (S) Một trong 4 đại kiếp: thành, trụ, hoại, không.
; Vivarta-kalpa (S). One of the four kalpas, consisting of twenty small kalpas during which worlds and the beings on them are formed. Cosmic period of the creation of the world.
; Vivarta kalpa (skt)—Một trong tứ kiếp, gồm hai mươi tiểu kiếp, thời gian thành lập thế giới---One of the four kalpas, consisting of twenty small kalpas during which worlds and the beings on them are formed (other kalpas are Trụ: Vivarta-siddha kalpa, kalpa of abiding or existence; Hoại: Samvarta kalpa, kalpa of destruction, consisting of sixty four small kalpas when fire, water and wind destroyed everything except the fourth dhyana; Không: Samvarta-siddha kalpa, kalpa of annihilation). ** For more information, please see Tứ Kiếp.
; (成劫) Phạm: Vivarta-kalpa. Chỉ cho kiếp Thành, 1 trong 4 đại kiếp theo quan điểm của Phật giáo. Theo các kinh luận, cuối cùng, khi khí thếgian hoàn toàn hoại diệt, do sức nghiệp của loài hữu tình tăng lên mà sinh ra gió nhẹ, thành lập 3 luân: Phong luân, Thủy luân và Kim luân, trên lớp Kim luân sinh ra các biển, núi, châu(núi Tu di, 7 núi vàng, 4 đại châu...), là chỗ ở của Tứ vương thiên, Đao lợi thiên (2 tầng trời này gọi là Địa cư thiên), nhân loại, bàng sinh; kế đến, thành lập Dạ ma thiên, Đâusuất thiên, Lạc biến hóa thiên, Tha hóa tự tại thiên(4 tầng trời này gọi là Không cư thiên); từ Không cư thiên đếnđịa ngục Vô gián, các loài hữu tình tùy theo nghiệp đã tạo, sẽ lần lượt sinh đến các nơi đó. Thời kì hình thành khí thế gian và hữu tình thế gian này gọi làThành kiếp. [X. luận Đại tì bà sa Q.133, 134]. (xt. Tứ Kiếp).
thành kính
Sincere respect.
thành luận đại thừa sư
(成論大乘師) Chỉ cho các học giả chủ trương luận Thành thực do ngài Cưu ma la thập dịch là bộ luận Đại thừa, đặc biệt chỉ cho các học giả thuộc học phái Thành thực ở đời Lương (Nam triều). Vì ngài Gia tường Cát tạng, ngài Thiên thai Trí khải... cho rằng luận Thành thực thuộc Tiểu thừa, cho nên những vị chủ trương luận này là luận Đại thừa, được gọi là Thành luận Đại thừa sư, để bày tỏ ý phê phán.
thành lập
To establish—To form—To create.
Thành lập 成立 =>
[ja] ジョウリツ jōryū ||| (1) To consist of, be composed of; be formed with. (2) To materialize, be realized; be concluded, be effected. (3) To establish, develop, complete, accomplish. (siddhi) 〔瑜伽論T 1579.30.501a〕(4) To achieve one's goal. (5) To posit in discourse. (sādhana) => 1. Gồm có, được tạo thành bởi, được thành hình từ. 2. Cụ thể hoá, thực hiện, thu xếp 3. Thiết lập, phát triển, làm xong, hoàn thành (s: siddhi) 4. Đạt được mục đích. 5. Điều ấn định trong luận thuyết (s: sādhana) .
Thành mãn bồ-tát trú 成滿菩薩住
[ja] ジョウマンボサツジュウ jōman bosatsujū ||| See 最上成滿菩薩住中. => Xem Tối thượng Thành mãn Bồ-tát trú trung 最上成滿菩薩住中.
Thành nghiệp luận 成業論
[ja] ジョウゴウロン Jōgō ron ||| Shortened title of the 大乘成業論. => Tên gọi tắt của Đại thừa thành nghiệp luận大乘成業論.
Thành nghiệp 成業
[ja] ジョウゴウ jōgō ||| To create karma, develop karma. 〔二障義HPC 1.796c〕 => Tạo nghiệp, tác nghiệp.
thành ngữ
Idiom.
thành nhân
A grown up person—Adult.
thành nhất đạo
Cheng-i tao (C), Way of Right Unity.
thành niên
Of full age.
thành phần
Components
Thành Phật
成佛; J: jōbutsu;|Một cách trình bày sự chứng ngộ tự tính, Phật tính. Theo Thiền tông thì người ta không thể thành Phật được bởi vì người ta là Phật, nghĩa là chân tính của họ đồng với Phật tính, là Phật tính. Tuy nhiên, phàm phu không tự biết được sự việc tối trọng này và có cảm tưởng như là mình trở thành Phật khi nếm được kinh nghiệm Kiến tính lần đầu. Ðồng nghĩa với »Thành Phật« là »Thành Ðạo«, »Ðạt Ðạo.«
thành phật
Jōbutsu (J), Buddho-bavati (S) Bồ tát tu hành trong nhiều kiếp, đầy đủ nhân hạnh, hoàn thành công đức tự lợi, lợi tha, đạt đến cảnh giới cứu cánh.
; To become Buddha, as a Bodhisattva does on reaching supreme perfect bodhi.
; Bồ Tát ở ngôi nhân vị, tu hành vạn hạnh, cuối cùng chứng đắc A Nậu Đa La Ta Miệu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác) hay Phật giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử—To become Buddha and obtain deliverance from the round of mortality—To become Buddha, as a Bodhisattva does on reaching supreme perfect bodhi.
; (成佛) Phạm: Buddho bhavati. Tạng: Ftshaí-rgya-ba. Cũng gọi Tác Phật, Đắc Phật, Thành đạo, Đắc đạo, Thành chính giác, Thành bồ đề, Chứng bồ đề, Hiện đẳng giác, Đắc Phật quả. Chỉ cho Bồ tát tu hành trong nhiều kiếp, nhân hạnh tròn đầy, hoàn thành đức lợi mình, lợi người mà đạt đến ngôi vị cùng tột.Trong tiếng Phạm, Thành Phật có các từ khác nhau như: Bodhiô spfzate Miếu Thành Hoàng được vẽ trong Tục kỉ văn đời Thanh (nghĩa là chứng Bồ đề tối thượng), Abhisaôbudhyate (nghĩa là hiện Đẳng giác),Buddhatvam avàpnoti (nghĩa là được tính Phật), Bodhiôlabhate, Bodhiprapta(nghĩa là được Bồ đề tối thượng), Buddho vibudhyate(nghĩa là giác ngộvà trở thành Phật)... Tiểu thừa giáo, như luận Đại tì bà sa quyển 143 quyển 176... cho rằng trong 3 thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thì chỉ có Bồ tát là có khả năng thành Phật. Tam thừa giáo trong Đại thừa cũng lập thuyết Ngũ tính các biệt, chủ trương Thanh văn và Duyên giác không thể trở thành Phật. Nhưng Nhất thừa giáo như kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn thì cho rằng Nhị thừa đều thành Phật, hơn nữa, còn chủ trương ngay cả những người phỉ báng Phật pháp như Nhất xiển đề... cũng có thể thành Phật. Lại kinh Cù đàm di trong kinh Trung a hàm quyển 28 và luật Ngũ phần quyển 29, cho rằng người nữ có 5 chướng, không thành Phật được; trái lại, kinh Đạo hành bát nhã quyển 6, kinh Duy ma cật quyển hạ và kinh Pháp hoa quyển 4 thì có thuyết Chuyển nữ thành nam, nghĩa là người nữ cũng có khả năng thành Phật, đây là giáo chỉ đặc hữu của Đại thừa. Ngoài ra, Tiểu thừa giáo chỉ bàn vấn đề nhờ có tu hành mới thành Phật(tu đắc), nhưng Đại thừa giáo thì chủ trương chúng sinh vốn có sẵn nhân thành Phật(tính đắc), do đó cho rằng chúng sinh đều có khả năng thành Phật.Thành Phật phải trải qua thời gian rất lâu dài và qua nhiều thứ bậc khác nhau. Tiểu thừa chủ trương phải qua 3 a tăng kì kiếp và 100 đại kiếp. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 176 thì Bồ tát trong 3 vô số kiếp tu các pháp Bồ đề phần và các hạnh Ba la mật đa, rồi lại trong 100 đại kiếp tu nghiệp tướng hảo(tu phúc nghiệp 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp), vĩnh viễn đoạn trừ tất cả si mê nhiễrn ô và bất nhiễm ô, biết rõ tất cả hạnh tự lợi, lợi tha mới thành Phật. Còn Đại thừa thì cho rằng tu hành phải trải qua 3,7 hoặc 33 a tăng kì kiếp mới thành Phật. TheoNhiếp đại thừa luận thích quyển 9,11 (bản dịch đời Lương), Đại thừa lập các giai vị tu hành từ Thập địa cho đến 40 giai vị, trong 33 vô số đại kiếp chứa góp tư lương phúc đức, trí tuệ, tu 10 hạnh Ba la mật... thành tựu đại bồ đề, hết cõi vị lai lợi lạc vô cùng. Tông Thiên thai cho rằng Biệt giáo phải trải qua thời gian lâu dài mới tiến dần đến quả Phật; nhưng Viên giáo thì ở ngay Sơ trụ(Phát tín trụ)trong Thập trụ cũng có thể thành Phật tức khắc. Tông Hoa nghiêm thì y cứ vào Thắng thân, Kiến văn, Nhất thời, Nhất niệm và Vô niệm mà chủ trương 5 trường hợp thành Phật mau chóng. Đó là: 1. Y cứ vào thắng thân: Tức nhờ vào thân thù thắng của con Luân vương hoặc Đâu suất thiên tử mà thành Phật ngay nơi thân hiện tại. 2. Y cứ vào kiến văn: Tức thấy nghe diệu pháp, tin chắc quyết định, chứng đắc 10 lực của Phật mà được Bồ đề. 3. Y cứ vào nhất thời: Tức như đồng tử Thiện tài ở nơi thiện tri thức, chỉ trong nhất thời chứng được pháp Phổ hiền. 4. Y cứ vào nhất niệm: Tức y cứ vào niệm tục đế, chỉ trong một niệm khế hợp, chứng được pháp Phổ hiền. 5. Y cứ vào vô niệm: Tức hiểu rõ tất cả pháp chẳng sinh chẳng diệt và thấy được Phật chân thực. Ngoài ra, tông Hoa nghiêm còn có thuyết Tam chủng thành Phật. 1. Nói về vị: Vào giai vị Thập giải liền thành Phật. 2. Nói về hạnh: Không theo thứ tự giai vị mà đối với mỗi hạnh được hoàn thành thì liền thành Phật. 3. Nói về lí: Nói theo lí thì xưa nay chúng sinh vốn tức là Phật. Và thuyết Tam sinh thành Phật: 1. Kiến văn sinh: Giai vị Tín thấy nghe giáo pháp. 2. Giải hành sinh: Giai vị tu hành mà được trí tuệ. 3. Chứng nhập sinh: Giai vị được quả Phật tột cùng. Còn kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển hạ thì cho rằng mỗi một giai vị tu hành của Bồ tát đều là Phật, cho nên cảnh giới Thập tín mãn vị gọi là Tín mãn thành Phật; cảnh giới Thập trụ mãn vị gọi làGiải mãn thành Phật; Bồ tát tu hành hoàn thành Thập địa mãn vị gọi là Hành mãn thành Phật; hoàn toàn đạt đến cảnh giới của quả Phật thì gọi là Chứng mãn thành Phật. Bốn giai vị trên đây được gọi là Tứ mãn thành Phật. Trong Mật giáo thì có 3 thuyết Tức thân thành Phật là Lí cụ thành Phật, Gia trì thành Phật và Hiển đắc thành Phật. Thiền tông thì chủ trương Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, cũng tức là dùng việc tọa thiền thấy suốt tự tâm hiện thực, như vậy thì có thể mở ra manh mối thành Phật. Lại có thuyết Cây cỏ thành Phật. Các nhà Thiên thai y cứ vào nghĩa Nhất sắc nhất hương đều là Trung đạo và các nhàMật giáo thì y cứ vào thuyết Lục đại duyên khởi mà luận về Phi tình thành Phật. Tại Nhật bản thì Tịnh độ chân tông có thuyết Vãng sinh tức thành Phật, cho rằng cùng lúc sinh về Tịnh độ của Phật A di đà tức là thành Phật. Tông Nhật liên thì chủ trương xướng niệm đề mục (tên kinh Diệu pháp liên hoa) tức có thể thụ trì thành Phật. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.16; phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa Q.5; kinh Duy ma cật Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.177; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.7; luận Thành duy thức Q.7; luận Câu xá Q.12; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, hạ; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần đầu]. (xt. Tam Sinh Thành Phật, Tức Thân Thành Phật).
thành phật giải thoát
To become Buddha and obtain deliverance from the round of mortality.
thành phật ngoại tích kệ
(成佛外迹偈) Chỉ cho bài kệ tụng nói trong kinh Đại nhật quyển 2. Khi đức Đại nhật Như lai của Mật giáo vào tam muội Nhất thể tốc tật lực để nói rõ về nghĩa chân thực thành tựu bồ đề thì trước tiên Ngài tuyên thuyết bài kệ này. Văn kệ như sau (Đại 18, 9 trung): Ngã tích tọa đạo tràng, Hàng phục ư tứ ma; Dĩ đại cần dũng thanh, Trừ chúng sinh bố úy. Thị thời Phạm thiên đẳng, Tâm hỉ cộng xưng thuyết; Do thử chư thế gian, Hiệu danh Đại cần dũng. (Xưa ta ngồi đạo tràng, Hàng phục bốn loài ma; Dùng tiếng đại cần dũng, Khiến chúng sinh hết sợ. Bấy giờ các Phạm thiên, Mừng vui cùng khen ngợi. Do đó, người thế gian, Gọi ta Đại cần dũng). [X. Ngũ bộ bí kinh truyền thụ yếu lộ Q.2].
Thành Phật đạo 成佛道
[ja] ジョウフツドウ jōbutsudō ||| To perfect enlightenment (bodha). => Thành tựu giác ngộ giải thoát (s: bodha).
Thành Phật 成佛
[ja] ジョウブツ jōbutsu ||| "Becoming a buddha," "accomplishing buddhahood," i.e., the whole point of Buddhism, its teachings and practices. (1) The awakening of Śākyamuni at Buddhagayā (bodhir-prāpta-bodhimanda-niśidana). (2) Entering into enlightenment. The supreme enlightenment of every person--becoming a buddha (abhisaṃbuddha). => “Trở thành một đức Phật”, “thành tựu quả vị Phật” nghĩa là thành tựu hoàn toàn, thông đạt giáo lý và công hạnh tu đạo. 1. Sự giác ngộ của Đức Phật tại Bồ-đề đạo tràng (s: bodhir-prāpta-bodhimanda-niśidana). 2. Đạt được giải thoát. Sự giác ngộ tối thượng của mọi người – là thành Phật (abhisaṃbuddha).
thành phố trên núi
Giurinaraga (S), A mountain city.
thành phố trên trời
Gagananagara (S), Town in the ky.
thành quả
Fruit—Result.
Thành sở tác trí
成所作智; S: kṛtyānuṣṭhāna-jñāna;|Năm trí
thành sở tác trí
Kṛtyanuthana-jāna (S) Tác sự trí.
; (成所作智) Phạm:Kftyànuwỉhàna-jĩàna. Cũng gọi Tác sự trí. Chỉ cho trí tuệ do chuyển 5 thức trước (thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân)mà có được, là 1 trong 4 trí, là 1 trong 5 trí.Vì 2 cái lợi là tự chứng và hóa tha mà làm nên gọi là Sở tác; vì diệu nghiệp đại bi tùy loại ứng đồng đều được thành tựu nên gọi là Thành. Đức Như lai Bất không thành tựu trong 5 đức Phật của Mật giáo được phối hợp với trí này. (xt. Ngũ Trí, Tứ Trí).
thành sự
To accomplish—To succeed.
thành thánh
To sanctify.
thành thân
See Thành Gia Thất.
thành thân hội
Căn Bản Hội—Yết Ma Hội—Mạn Đà La thuộc hội thứ nhất trong chín hội Mạn Đà La Kim Cương Giới—The first group in the nine Vajradhatu groups. ** For more information, please see Yết Ma Hội.
; (成身會) I. Thành Thân Hội. Cũng gọi Kim cương giới đại mạn đồ la, Yết ma hội, Căn bản hội, Căn bản thành thân hội. Hội căn bản ở chính giữa Cửu giới mạn đồ la thuộc Kim cương giới của Mật giáo. Hội này vẽ uy nghi sự nghiệp và thân yết ma đầy đủ tướng tốt đẹp của các vị tôn, là Đại mạn đồ la trong 4 loại Mạn đồ la. Trong Mạn đồ la này gồm có 5 đức Phật, 4 bồ tát Ba la mật, 16 vị Đại bồ tát, 8 bồ tát Cúng dường, 4 Nhiếp bồ tát, 1.000 đức Phật kiếp Hiền, 20 vị trời thuộc Ngoại kim cương bộ và 4 vị thần lớn, tổng cộng có 1061 vị tôn. Mạn đồ la này nhìn về hướng Đông nam, chính giữa đàn vuông dùng chày Kim cương làm ranh giới, vẽ một vòng tròn lớn, trong vòng tròn có 5 nguyệt luân, nguyệt luân chính giữa có Đại nhật Như lai và 4 bồ tát Ba la mật Kim, Bảo, Pháp, Nghiệp, còn nguyệt luân ở 4 phía thì lần lượt là 4 đức Phật A súc, Bảo sinh, A di đà, Bất không thành tựu với 4 vị Bồ tát thân cận(tức 16 vị Đại bồ tát). Ở 4 góc của 5 nguyệt luân đều có bảo châu, biểu thị ý nghĩa cúng dường. Ở 4 góc của vòng tròn lớn có 4 vị bồ tát Nội cúng dường Hi, Man, Ca, Vũ; 4 góc bên ngoài vòng tròn lớn thì có 4 vị đại thần là thần Đất, thần Nước, thần Lửa và thần Gió, đều ở trong tư thế đang nâng giữ lấy vòng tròn. Ở 4 góc Ngoại viện của hội Thành thân, có 4 vị bồ tát Ngoại cúng dường Hương, Hoa, Đăng, Đồ; ở 4 phía có 4 Nhiếp bồ tát Câu, Sách, Tỏa, Linh. Một nghìn vị Phật của kiếp Hiền được bày xếp ở khoảng giữa 8 vị Bồ tát này. Sau cùng, ở phía ngoài của Ngoại viện đặt 20 vị trời. Trong các pháp tu của Mật giáo, khi vị A xà lê dẫn đệ tử vào đàn tràng hội Mạn đồ la để chuẩn bị truyền trao quán đính thì trước phải khai mở tâm nhãn của đệ tử. Mạn đồ la hội Thành thân này chính là Mạn đồ la được vị A xà lê đặc biệt sử dụng để khơi mở Mạn đồ la vốn có sẵn trong tâm của đệ tử.II. Thành Thân Hội. Một trong các tiết đoạn khi tu các hội Mạn đồ la khác nhau trong pháp tu Kim cương giới của Mật giáo. Tiết đoạn này bắt đầu từ Ngũ tướng thành thân của Kim cương giới pháp thứ đệ đến khi rung chuông thì dừng. Tiết đoạn này dùng bí quán Ngũ tướng tam mật để thành tựu Phật thân, nên cũng gọi là Thành thân hội.
thành thần
To become a spirit (genii).
thành thật
Completely true, or reliable, pefect truth. An abbreviation for thành thật tông, thành thật luận, thành thật sư.
; Candid—Frank—Sincere—Honest—Fair—Completely true—Perfect truth.
thành thật luận
Satyasiddhi-śāstra (S) Do ngài Ma lê Bạt ma biên soạn vào thế kỷ thứ 4 BC.
; (成實論) Phạm:Satyasiddhi-zàstra. Luận, 16 quyển hoặc 20 quyển, do ngài Ha lê bạt ma (Phạm: Harivarman) soạn, ngài Cưu ma la thập dịch vào khoảng năm Hoằng thủy 13 đến 14 (411-412), được thu vào Đại chính tạng tập 32, là kinh điển căn bản của tông Thành thực. Thành thực nghĩa là Thành sự thực Tứ đế. Luận này thuyết minh tất cả hiện tượng tồn tại trong vũ trụ đều chỉ là giả tượng chứ không có thực thể, cuối cùng đều qui về Không, quán xét như thế thì thể ngộ được lí Tứ đế, dùng 8 Thánh đạo diệt trừ tất cả phiền não mà đạt được Niết bàn.Nội dung luận này chia làm 5 tụ: Phát tụ(bài tựa luận) Khổ đế tụ, Tập đế tụ, Diệt đế tụ, Đạo đế tụ(4 tụ này là bản luận), gồm 202 phẩm. Phát tụ có 35 phẩm, trước nói về Tam bảo Phật, Pháp, Tăng, sau nói về lí do tạo luận và pháp nghĩa Tứ đế, đồng thời nêu ra 10 dị thuyết quan trọng về Hữu tướng, Vô tướng để chỉ rõ lập trường của luận này. Khổ đế tụ có 59 phẩm, nói rõ cái khổ của Ngũ thụ uẩn(Ngũ thủ uẩn) và thuyết minh về sắc, thức, tưởng, thụ, hành. Tập đế tụ có 46 phẩm, nói rõ cái nhân của khổ và nghiệp, phiền não. Diệt đế tụ có 14 phẩm, trình bày kiến giải đặc biệt của luận này, nghĩa là nếu diệt hết giả danh tâm, pháp tâm và không tâm thì đạt đến cảnh giới Niết bàn. Đạo đế tụ có 48 phẩm, thuyết minh phương pháp diệt khổ để thực hiện Niết bàn, đó là thiền định và trí tuệ. Trong đó, trí là chân trí không vô ngã, trí này có được sau khi đã diệt hết phiền não. Ngoài ra, còn nói đến thực tiễn không và vô ngã. Lập trường của luận này là chủ trương Nhị thế vô luận(quá khứ và vị lai không thực có), Tính bản bất tịnh luận(tính con người vốn bất tịnh), Vô ngã luận..., đồng thời cho rằng Nhân, Pháp đều không. Giáo thuyết trong toàn luận chẳng những bao trùm các giáo lí trọng yếu của Phật giáo bộ phái(Phật giáo Tiểu thừa) mà còn chứa đựng các kiến giải Đại thừa; phần nhiều đứng trên lập trường Kinh lượng bộ để bài xích sự giải thích của Thuyết nhất thiết hữu bộ về các vấn đề. Trên phương diện lịch sử tư tưởng Phật giáo, luận này được xem là tác phẩm trọng yếu của thời kì quá độ từ Tiểu thừa Không tông hướng tới Đại thừa Không tông. Về vấn đề luận này thực sự là thuộc Đại thừa hay Tiểu thừa thì xưa nay đã có nhiều tranh luận, như 3 vị Đại Pháp sư đời Lương thuộc Nam triều, đứng trên lập trường các kinh Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn... mà phán định luận này là luận Đại thừa; trái lại, phái của Đại sư Gia tường Cát tạng thì đoán địnhluận này thuộc về luận Tiểu thừa. Ở thời Nam Bắc triều đã có một độ xuất hiện học phái Thành thực chuyên giảng bộ luận này. Về số quyển của luận này có nhiều thuyết khác nhau, bản tạng Cao li là 16 quyển, các bản tạng Tống, Nguyên, Minh là 20 quyển. Còn trong các bộ Mục lục kinh thì có các thuyết 14 quyển, 16 quyển, 21 quyển, 24 quyển... Luận này có rất nhiều sách chú thích như: Thành thực luận nghĩa sớ của ngài Tăng đạo đời Tống thuộc Nam triều, Thành thực luận đại nghĩa sớ 8 quyển của ngài Đàm độ đời Bắc Ngụy, Thành thực luận 5 quyển của ngài Linh hựu đời Tùy, nhưng hiện nay phần nhiều đã bị thất lạc, chỉ còn một phần được bảo tồn trong các tác phẩm Đại thừa nghĩa chương của ngài Tuệ viễn đời Tùy. [X. Lương cao tăng truyện Q.7, 8; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Tục cao tăng truyện Q.5, 7-9].
Thành thật luận 成實論
[ja] ジョウジツロン Jōjitsuron ||| Chengshi lun The Satyasiddhi-śāstra; 16 fasc., T 1646.32.239-375; translated into Chinese by Kumārajīva 鳩摩羅什. A scholastic text that analyzes all existences into 84 elements. It also introduces conceptions of emptiness that are very Mahāyānistic. It teaches the attainment of nirvana through the destruction of attachment to names, elements, and emptiness, yet its understanding of emptiness is still analytical emptiness, rather than the "essential emptiness" of the later Mahāyāna schools. Attributed to Harivarman 訶梨跋摩. => (s: Satyasiddhi-śāstra ; j: Jōjitsuron;c: Chengshi lun) ; 16 quyển; Cưu-ma-la-thập dịch sang tiếng Hán. Một chuyên luận mang tính triết học, phân tích mọi sự hiện hữu thành 84 yếu tố. Luận cũng giới thiệu những ý niệm về tính không mang đậm tư tưởng Đại thừa. Chủ trương đạt đến niết-bàn thông qua diệt trừ các chấp trước vào danh tướng và vào trống không, thế nên kiến giải về Không của luận nầy vẫn còn dựa trên sự phân tích về Không, hơn là tư tưởng “tính không” của các tông phái Đại thừa về sau. Luận được xem là của Ha-lê Bạt-ma (Harivarman 訶梨跋摩).
Thành Thật Tông
(成實宗, Jōjitsu-shū): tên gọi của học phái nghiên cứu dựa trên bộ Thành Thật Luận (s: Satyasiddhi-śāstra, 成實論) của Ha Lợi Bạt Ma (s: Harivarman, 訶利跋摩, khoảng thế kỷ thứ 3-4), do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch vào khoảng năm 411-412. Ở Trung Hoa thì nó thuộc một chi nhánh của Tam Luận Tông. Trước tiên tông này được môn hạ của La Thập nghiên cứu, rồi Tăng Đạo (僧道) và Tăng Tung (僧嵩) đã thành lập nên 2 hệ thống tư tưởng lớn. Tăng Đạo thì trước tác bộ Thành Thật Luận Nghĩa Sớ (成實論義疏), đóng vai trò chỉ đạo trong việc nghiên cứu về Thành Thật Tông ở vùng phía Nam. Ông có một số đệ tử như Đàm Tế (曇濟), Đạo Lượng (道亮), Đạo Mãnh (道猛), v.v. Đệ tử của Đàm Tế và Đạo Mãnh thì có Pháp Sủng (法寵). Còn đối với Đạo Lượng, người soạn ra bộ Thành Thật Luận Nghĩa Sớ thì có Trí Lâm (智林). Tăng Tung thì quảng bố Thành Thật Luận ở Từ Châu; còn các môn hạ của đệ tử ông là Tăng Uyên (僧淵) như Đàm Độ (曇度), Đạo Đăng (道登), Huệ Cầu (慧球), v.v., thì được tín nhiệm thời Bắc Ngụy. Vào thời Nam Tề thì Tăng Nhu (僧柔), Huệ Thứ (慧次) vâng theo mệnh lệnh của vua Tuyên Văn Vương (宣文王) trước tác bộ Lược Thành Thật Luận (略成實論); sau này môn hạ của họ cũng xuất hiện ra 3 vị đại pháp sư của nhà Lương là Trí Tạng (智藏), Tăng Mân (僧旻) và Pháp Vân (法雲). Trong số 3 người này thì Trí Tạng là người đã đem hết sức mình xiển dương Thành Thật Luận. Vào đời nhà Tùy thì có Trí Thoát (智脫) rất nổi tiếng. Đối với Nhật Bản thì tông này cũng được vương triều Bách Tế (百濟) của Triều Tiên truyền vào, nhưng chỉ phụ thuộc vào Tam Luận Tông, chứ không tồn tại như một tông phái lớn như ở Trung Quốc.
Thành thật tông
成實宗; C: chéngshí-zōng; J: jōjitsu-shū;|Tông phái Phật giáo Trung Quốc, xuất phát từ giáo pháp của Kinh lượng bộ (s: sautrān-tika) Ấn Ðộ. Cơ bản của tông phái này là bộ Thành thật luận (s: satyasiddhiśāstra) của Ha-lê Bạt-ma (s: harivarman) trong thế kỉ thứ 4, được Cưu-ma-la-thập (kumārajīva) dịch ra chữ Hán trong thế kỉ thứ 5.|Ðại diện cho tông phái này là Tăng Ðạo (僧導) và Tăng Khải (僧楷), cả hai đều là đệ tử của Cưu-ma-la-thập, là hai vị đã truyền bá Thành thật tông khắp Trung Quốc và vì vậy, tông này trở thành một tông phái mạnh của Trung Quốc ở đầu thế kỉ thứ 6. Tông phái này khác với Tam luận tông vì các vị Tam luận tông cho rằng luận sư của Thành thật tông đã hiểu sai ý nghĩa của biểu đạt tính Không. Các vị Luận sư quan trọng của Tam luận tông như Pháp Lãng và Cát Tạng đã công kích Thành thật tông mạnh mẽ nên ảnh hưởng của phái này giảm dần.|Tông này được xem là Tiểu thừa vì họ chỉ chuyên tâm nghiên cứu những lời giảng của đức Phật. Quan điểm chính của tông phái này là phủ nhận mọi sự hiện hữu. Tâm thức hay vật chất đều không hiện hữu thật sự. Theo tông phái này, có hai loại chân lí: một loại chân lí »thế gian«, chân lí có tính chất quy ước và chân lí kia là chân lí tuyệt đối. Dựa trên chân lí thế gian, tông này chấp nhận sự hiện hữu của các pháp (s: dharma), các pháp này hiện hành tuỳ thuộc lẫn nhau, vô thường và sẽ bị hoại diệt. Trên phương diện tuyệt đối thì mọi pháp đều trống Không (s: śūnyatā). Như thế, Thành thật tông cũng cho rằng cả ngã lẫn pháp đều không (人法皆空; Nhân pháp giai không) nên cũng có khi tông này được xem là Ðại thừa. Tuy thế, khác với các trường phái Ðại thừa khác – vốn cho rằng có một cái Không làm nền tảng, biến hoá ra mọi hiện tượng (真空妙有; Chân không diệu hữu) – Thành thật tông nhìn nhận tính Không một cách tiêu cực hơn, đó chỉ là sự trống rỗng đằng sau các hiện tượng, thấy rõ được qua sự phân tích, phủ nhận, và vì thế tông này cũng có tên Nhất thiết không tông (一切空宗; sarvaśūnyavāda). Quan điểm về tính Không này còn vướng mắc trong trạng thái phủ định, phủ nhận thế gian, khác hẳn quan điểm tính Không của Tam luận tông Trung Quốc.|Thành thật tông Nhật Bản (jōjitsu-shū) được Cao tăng Triều Tiên là Huệ Quán (慧灌; ek-wan), người đã từng học tại Trung Quốc truyền qua Nhật năm 625. Kể từ đó Thành thật tông được nhiều người nghiên cứu, nhưng không trở thành tông phái hẳn hoi, chỉ được xem là một phần của Tam luận tông.
thành thật tông
Satyasiddhi School, Tch'eng-cheu Tsoung (C), Jōjitsu-shŪ (J) Tông phái tiểu thừa, truyền qua Nhật hồi thế kỷ 7, hiện không còn phổ biến nữa.
; Satyasiddi (S) Jòjitsu shù (J). Satyasiddi sect, based upon the Satyasiddi-sàstra Thành thật luận of Harivarman. In China it was a branch of Tam Luận tông.
; Satya-siddhi School of Harivarman—See Thành Thực Tông.
; (成實宗) Cũng gọi Thành luận gia, Thành thực học phái. Tông phái lấy luận Thành thực làm nền tảng, là 1 trong 13 tông ở Trung quốc, 1 trong 8 tông ở Nhật bản. Tông Tổ là ngài Ha lê bạt ma (Phạm: Harivarman), sinh ở Trung Ấn độ, vào khoảng từ 700 năm đến 900 năm sau đức Phật nhập diệt. Lúc đầu, sư tu học giáo nghĩa của Tất bà đa bộ ( Thuyết nhất thiết hữu bộ) thuộc Tiểu thừa nơi ngài Cứu ma la đà, sau đó, học tập, nghiên cứu các bộ phái Đại thừa, Tiểu thừa, rồi soạn luận Thành thực, phê phán lí luận Hữu bộ, chẳng bao lâu chấn động nước Ma yết đà, được nhà vua khen là Tượng Giáo Đại Tông. Về sau, tình hình hoằng pháp của sư tại Ấn độ không được rõ. Vào năm Hoằng thủy thứ 4 (412), luận này được ngài Cưu ma la thập, sống vào đời Diêu Tần, dịch ra chữ Hán, đồng thời giảng cho các học trò như Tăng duệ... nghe, ngài Đàm ảnh chỉnh lí các phẩm, chia làm 5 tụ, ngài Tăng đạo soạn Thành thực luận nghĩa sớ, ngài Đạo lượng soạnThành thực luận sớ 8 quyển. Ngài Tăng đạo xuống miền Nam, trụ ở chùa Sơn đông (chùa Đạo công)tại Thọ xuân, mở tòa giảng, thuyết giảng Tam luận, Thành thực; rồi lại đến Kiến khang giảng diễn, mở đầu phong trào học tập nghiên cứu luận Thành thực ở phương Nam. Học trò ngài Tăng đạo là các vị Tăng uy, Tăng chung, Tăng âm... cũng giỏi luận này. Đồng thời lại có ngài Đạo mãnh vâng sắc trụ chùa Hưng hoàng ở Kiến khang diễn giảng, có thuyết cho rằng ngài Đạo mãnh cũng thuộc hệ thống ngài Tăng đạo; đệ tử ngài Đạo mãnh là các vị Đạo tuệ,Trí hân... cũng lần lượt giảng luận này. Bấy giờ, ngài Tuệ long (429-490), nhận lời thỉnh của vua Minh đế nhà Lưu Tống vào Tương cung giảng Thành thực. Ngài Huyền sướng thì soạn Ha lê bạt ma truyện 1 thiên. Năm Vĩnh minh thứ 7 (489), Cánh lăng văn tuyên vương thỉnh các ngài Tăng nhu, Tuệ thứ giảng Thành thực ở chùa Phổ hoằng, đồng thời soạn Sao Thành thực luận 9 quyển. Đệ tử ngài Tăng nhu, Tuệ thứ là các vị Trí tạng, Tăng mân, Pháp vân là 3 vị Đại pháp sư đời Lương. Ngài Trí tạng soạn Thành thực luận đại nghĩa kí, Thành thực luận nghĩa sớ. Khoảng năm Thiên giám (502-511) đời Lương, Viên đàm doãn soạn Thành thực luận tụ sao 20 quyển, Tuệ diệm soạn Thành thực luận huyền nghĩa 17 quyển, Hồng yển soạn Thành thực luận sớ 10 quyển; ngài Bảo quỳnh soạn Thành thực luận huyền nghĩa 20 quyển, và Thành thực luận văn sớ sao 16 quyển... Tóm lại, phong trào học tập, nghiên cứu và hoằng dương luận Thành thực ở miền Nam đã rất hưng thịnh một thời. Còn ngài Tăng tung – cũng là học trò Đại sư Cưu ma la thập – thì hoằng dương luận Thành thực ở Bành thành, hình thành hệ thống phương Bắc. Học trò ngài Tăng tung có các vị Tăng uyên, Đàm độ, Đạo đăng, Tuệ cầu... đều soạn sớ và hoằng dương luận Thành thực, nhất là ngài Đàm độ giảng Thành thực ở kinh đô Đại đồng thời Bắc Ngụy, có tới hơn 1.000 đồ chúng tới dự, đồng thời soạn Thành thực đại nghĩa sớ 8 quyển. Sang các đời Tùy, Đường cũngcórất nhiềuCao tăng Đại đức tu học và hoằng dương luận Thành thực, như ngài Huyền trang trước khi du học Ấn độ, cũng đã từng tu học, nghiên cứu rất sâu luận này ở Triệu châu. Tại Cao li, Nhật bản, luận Thành thực cũng được các tông phái tu tập và hoằng dương rộng rãi. Tông Tì đàm cho các yếu tố cấu thành giả tướng như Sắc pháp, Tâm pháp... đều là thực thể, vì thế tông này được gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ;tông Câu xá thì chủ trương Vô biểu sắc, Bất tương ứng pháp và Vô vi pháp trong các pháp đều không có thực thể; còn tông Thành thực thì tiến thêm bước nữa cho rằng Sắc pháp, Tâm pháp rốt cuộc cũng là Không; tông này chiavạn hữu thành 5 vị 84 pháp, các pháp này đều là không, nếu thấu suốt thế giới khổ đau này là không thì hoàn toàn giải thoát khỏi sinh tử, gọi là đã đến chỗ cùng tột của việc tu đạo, đó là Diệt đế. Luận Thành thực gồm 202 phẩm có thể được qui nạp vào 5 nhóm: Phát, Khổ, Tập, Diệt, Đạo mà chỗ qui kết chính là Diệt đế. Diệt đế này mọi người đều sẵn có, cho nên gọi là Bản hữu niết bàn, khi tu mà chứng nghiệm được thì gọi là Thủy hữu niết bàn. Bản hữu, Thủy hữu nghĩa tuy khác nhau, nhưng thể thì là một. Vào thời đại Ha lê bạt ma, các luận thuyết về Ngũ tụ, Tứ đế rất là rối rắm, vì thế ngài mớilàmra luận Thành thực để phê bình, bác bỏ các luận thuyết khác. Đại khái các luận thuyết khác ấy gồm có 10 thứ là: 1. Nhị thế hữu vô luận: Quá khứ, vị lai có hay không? 2. Nhất thiết hữu vô luận: Tất cả có hay không? 3. Trung ấm hữu vô luận: Thân trước khi đầu thai có hay không? 4. Tứ đế thứ đệ đắc nhất thời đắc luận: Tứ đế thứ lớp được hay được cùng một lúc? 5. La hán hữu thoái vô thoái luận: La hán có lui sụt hay không lui sụt? 6. Tâm tâm sở tương ứng bất tương ứng luận: Tâm và tâm sở tương ứng hay không tương ứng? 7. Tâm tính tịnh bất tịnh luận: Tâm tính trong sạch hay không trong sạch? 8. Quá khứ nghiệp hữu vô luận: Nghiệp quá khứ có hay không? 9. Phật bảo tăng bảo đồng biệt luận: Phật bảo và tăng bảo là đồng hay khác? 10. Hữu ngã vô ngã luận: Có ngã hay không ngã? Trong các luận thuyết trên cũng sử dụng các danh số như Tứ đế, Tam giới, Ngũ ấm, Thập nhị nhập, Thập bát giới, Thập nhị nhân duyên, Nhị thập nhị căn, Thập thiện nghiệp đạo, cho đến phân biệt pháp tướng như 37 trợ bồ đề pháp, Tứ quả, 27 hiền thánh... nhưng đều chẳng phải lấy việc giải thuyết tính tướng của các danh tướng này làm chính, mà là đối với danh tướng này thêm vào các luận chứng trái ngược, rồi sau mới đưa ra phán đoán. Chẳng hạn như khi giải thích về Tứ đại thì trước hết nêu ra thuyết giả danh về Tứ đại, kế đến nêu thuyết thực hữu(có thật) về Tứ đại, cuối cùng mới chứng minh sự sai lầm của thuyết thực hữu, cứ như thế sau khi lập, phá đối nhau rồi mới đưa ra phán đoán. Phương pháp này có ý thú rất khác với sự tổ chức của luận Câu xá. Bây giờ, hãy so sánh một cách sơ lược chỗ khác nhau giữa Tì đàm và Thành thực về việc lập nghĩa để biết điểm lập nghĩa cốt yếu của tông này: 1. Tì đàm chủ trương 3 đời có thật; còn Thành thực thì cho rằng quá khứ, vị lai không có thực thể, chỉ có pháp sát na hiện tại là có thể dụng của nhân duyên sinh.2. Tì đàm chủ trương pháp thể là có thật; Thành thực thì cho rằng pháp thể trung đạo, nghĩa là pháp hiện tại do nhân duyên sinh ra, chẳng phải có chẳng phải không, không phải thường, không phải đoạn, lìa cả 2 bên, gọi là Thánh trung đạo. 3. Tì đàm chủ trương giữa khoảng Tử hữu và Sinh hữu có Trung ấm; Thành thực thì nói không có Trung ấm. 4. Tì đàm lập 2 loại A la hán là Thoái pháp a la hán và Bất thoái pháp a la hán; Thành thực thì chủ trương Thánh đạo bất thoái; A la hán đạo đã nhổ hết sạch gốc rễ ái dục, cho nên thuộc bất thoái(không lui sụt).5. Tì đàm chủ trương Tứ đại có thật; Thành thực thì cho rằng Tứ đại chỉ là giả danh, nếu lìa sắc... thì không có Tứ đại. 6. Tì đàm chủ trương các căn có thật; Thành thực thì cho rằng các căn là giả danh, nếu lìa Tứ đại thì không có các căn. 7. Tì đàm chủ trương các căn có khả năng chiếu kiến các cảnh; Thành thực thì cho rằng các căn là vô tri. 8. Tì đàm chủ trương Tâm sở có thể riêng; Thành thực thì cho rằng Tâm sở không có thể riêng, thụ, tưởng, hành... đều là tên khác của tâm. 9. Tì đàm chủ trương Tâm và Tâm sở có tương ứng; Thành thực thì cho rằng vì tâm và tâm sở không có thể riêng, cho nên tâm và tâm sở không có tương ứng. 10. Tì đàm chủ trương Tín và Cần chỉ có tính thiện; Thành thực thì cho rằng Tín và Cần thông cả 3 tính thiện, bất thiện, vô kí. 11. Tì đàm chủ trương Vô biểu sắc thuộc về Sắc uẩn; Thành thực thì cho rằng Vô tác (chỉ cho Vô biểusắc) thuộc về Hành uẩn, chứ không thuộc Sắc uẩn. 12. Tì đàm chủ trương Vô biểu nghiệp không bao gồm Ý nghiệp; Thành thực thì cho rằng Vô tác(chỉ cho Vô biểu nghiệp) bao gồm cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý, tức 3 nghiệp thân, khẩu, ý đều có khả năng khởi Vô tác.13. Tì đàm chủ trương Si là thể của Vô minh; Thành thực thì cho rằng tâm chấp ngã là thể của Vô minh, nghĩa là các pháp hòa hợp giả gọi là Nhân, Pháp, vì phàm phu không phân biệt được nên mới sinh tâm chấp ngã. 14. Tì đàm chủ trương Nhân không Pháp hữu; Thành thực thì cho rằng Nhân không Pháp không. 15. Tì đàm chia nhỏ 5 cảnh và đều có danh số nhất định, lại lập 46 tâm sở, 6 nhân, 4 duyên, 5 quả, nhiễm ô vô tri, bất nhiễm ô vô tri, thứ tự 5 uẩn là sắc thụ tưởng hành thức; còn Thành thực thì chưa định danh số 5 cảnh, số tâm sở cũng không nhất định, lập 4 duyên, 3 nhân, chia nghiệp chướng, phiền não chướng, báo chướng, còn thứ tự 5 uẩn thì là sắc thức tưởng thụ hành. Tổng hợp các thuyết trên đây ta có thể biết được yếu chỉ của tông Thành thực, khác với thuyết của Tì đàm như Câu xá... mà điểm đặc sắc nổi bật nhất thì không ngoài luận thuyết Tam tâm, Nhị đế, Nhị không, tức nêu ra 3 tâm là Giả danh tâm (tâm chấp trước thân người do 5 uẩn cấu thành là thật có, hoặc chiếc bình do 4 trần sắc hương vị xúc tạo thành là có thật), Pháp tâm(tâm chấp trước 5 uẩn là có thật), Không tâm(tâm duyên theo chỗ không có gì); đồng thời chủ trương nếu diệt trừ được 3 tâm này thì ra khỏi 3 cõi. Nhị đế là chỉ cho Thế đế(hữu ngã) và Đệ nhất nghĩa đế(vô ngã). Nhị không là Nhân không và Pháp không. Nhân không như trong bình không có nước, Nhân do 5 uẩn hòa hợp mà hình thành thuộc về giả nhân ngã; Pháp không như cái bình không có tực thể, 5 uẩn cũng chỉ có giả danh chứ không có thực thể. Tông này lập Pháp tướng phân biệt 5 vị 84 pháp khác với 5 vị 75 pháp của tông Câu xá và 5 vị 100 pháp của tông Duy thức. Năm vị 84 pháp là: 1. Sắc pháp: Có 14 pháp, gồm 5 căn, 5 cảnh và 4 đại. 2. Tâm pháp: Tức tâm vương. 3. Tâm sở pháp: Có 49 pháp, như yếm, hân, miên... 4. Phi sắc phi tâm pháp: Gồm 17 pháp, như lão, phàm phu, vô tác... 5. Vô vi pháp: Gồm 3 pháp, giống với 3 pháp vô vi của tông Câu xá. Tông này chia từ Ngũ thú đến quả vị A la hán thành 27 giai vị tu hành, gọi là Nhị thập thất Hiền Thánh, thứ tự như đồ biểu sau đây:(xem trang 5282) Y cứ vào giáo nghĩa của luận Thành thực như đã được trình bày ở trên mà nhận xét thì tư tưởng giáo lí Thành thực vượt lên trên Tì đàm và thường khi liên quan đến lãnh vực Đại thừa, nhưng đối với vấn đề nên phán định tông này thuộc Đại thừa hay Tiểu thừa thì xưa nay còn có nhiều thuyết khác nhau. Mới đầu, các học giả đều cho luận Thành thực là bộ luận Đại thừa, hoặc xem là sách cương yếu tổng quát về Đại thừa và Tiểu thừa, như các ngài Tăng nhu, Tuệ thứ, cho đến 3 vị đại Pháp sư đời Lương là Trí uy, Tăng mân và Pháp văn đều không phán định luận Thành thực thuộc Tiểu thừa, cho nên các học giả tông Tam luận phần nhiều coi các học giả Thành thực là Thành luận Đại thừa sư. Về sau, tại miền Bắc, ngài Pháp thượng là người đầu tiên phán định tông Thành thực thuộc Tiểu thừa, kế đến, trong Tam luận huyền nghĩa, ngài Cát tạng nêu ra 10 nghĩa chứng minh tông Thành thực thuộc Tiểu thừa, rồi đến các ngài Trí khải, Tuệ viễn cũng cho Thành thực là Tiểu thừa. Từ đó về sau, các học giả đều phán định Thành thực là Tiểu thừa. Việc nghiên cứu về tông Thành thực thịnh hành ở thời đại Nam Bắc triều, đặc biệt vào thời Lương thuộc Nam triều là thịnh hành nhất. Đến đời Đường, sau khi cácLuận sư phánđịnhThành thực là Tiểu thừa thì số người nghiên cứu luận này mỗi ngày một giảm thiểu. Thêm vào đó, xu thế của Phật giáo Đại thừa, sự lưu truyền rộng rãi của Thập địa kinh luận, Nhiếp đại thừa luận và Tam luận học dần dần hưng khởi cũng là những nguyên nhân làm cho tông này suy vi. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10 thượng; Tam luận du ý nghĩa; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Lương cao tăng truyện Q.6-8; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Tục cao tăng truyện Q.1, 5-15; Danh tăng truyện sao; Xuất tam tạng kí tập Q.5, 11; Khai nguyên thích giáo lục Q.8]. (xt. Thành Thực Luận).
Thành thật tông 成實宗
[ja] ジョウジツシュウ Jōjitsu shū ||| Chengshi zong. The Satyasiddhi school, a late Hīnayāna 小乘 school whose doctrines come very close to Mahāyāna 大乘 on certain points. This school was established primarily on the teachings of the Satyasiddhi-śāstra, among other works by Harivarman 訶梨跋摩. One of the thirteen Chinese schools 十三宗. => (j: Jōjitsu shū;c: Chengshi zong; e: Satyasiddhi school) Là một tông phái nguyên thuộc Tiểu thừa, có giáo lý rất giống Đại thừa trong một số điểm. Tông nầy chủ yếu lập thuyết căn cứ vào Thành thật luận (s: Satyasiddhi-śāstra) của Ha-lê Bạt-ma (Harivarman 訶梨跋摩). Là một trong 13 tông phái của Phật giáo Trung Hoa.
thành thời
(成時) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Minh, người ở huyện Hấp tại Huy châu, họ Ngô, hiệu là Kiên mật. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, năm 28 tuổi, sư nương vào Pháp sư Trí húc xuất gia. Lúc đầu, sư tu cả Thiền tông và Giáo tông. Sư trụ ở núi Ngưỡng sơn, mãnh thú trên núi đều được sư thuần phục. Sư tự soạn Trai thiên pháp nghi, nói rõ về ý chỉ thiên thần hiện thân. Sau sư đến Giang ninh, trụ ở chùa Thiên giới, hoằng dương kinh Pháp hoa, siêng tu tịnh nghiệp, hằng ngày tu theo thời khóa nhất định, dù thời tiết nóng hay lạnh đều không bỏ. Sư khắc in Tịnh độ thập yếu, tự soạn lời tựa, lưu thông rộng rãi, khuyến hóa mọi người tu hành đúng như thực. Sư tịch vào tháng 10 năm Khang hi thứ 17 (1678). Sư có các tác phẩm: Quán vô lượng thọ Phật kinh sơ tâm tam muội môn 1 quyển, Thụ trì Phật thuyết A di đà kinh hành nguyện nghi 1 quyển.
thành thục
To ripe—To mature.
thành thục giả
The ripe; those who attain; those in whom the good nature, immanent in all the living, complete their salvation.
; Bậc đã thành thục; bậc đã chứng đắc; bậc mà bản tánh thiện nổi bậc trên chúng sanh mọi loài—The ripe; those who atain; those in whom the good nature, immanent in all the living, complete their salvation.
Thành thục 成熟
[ja] セイジュク seijuku ||| (1) The full ripening of fruits and vegetables. (2) To become highly proficient in an art or scholarly field. (3) To master, to perfect. => 1. Rau quả chín muồi. 2. Trở nên thành thạo trong một ngành nghệ thuật hoặc học thuật. 3. Thông thạo, làm cho hoàn thiện.
thành thử
As a result—Consequently.
thành thực
Honesty—Completely true—Perfect truth—Satyasiddhi (Thành Thật Tông).
thành thực luận
Satyasaddhi śāstra (S) Tên một bộ luận kinh.
; Thành Thực Luận gồm 16 quyển do Ha Lê Bạt Ma biên soạn. Thành Thực có nghĩa là thành lập ra cái nghĩa chân thật trong các kinh. Bộ luận được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ. Cưu Ma La Thập từng dạy một số đệ tử phải giảng thuyết về luận nầy. Một trong những đồ đệ của Cưu Ma La Thập là Tăng Duệ, khi thảo luận về luận nầy, đã khám phá ra rằng, tác giả Ha Lê Bạt Man đã bác bỏ những chủ điểm của phái A Tỳ Đàm trong nhiều trường hợp, trên bảy lần như vậy. Từ đó, chúng ta có thể xác nhận rằng cả hai tông phái, Hữu Luận và Không Luận, thường giũ vị trí chông chọi nhau, vào trước hay ngay trong thời của tác giả. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, một số người có thẩm quyền cho rằng bộ luận nầy thuộc Đại Thừa, như ba nhà Phật học danh tiếng thời nhà Lương (502-557) là Pháp Vân, Trí Tạng, và Tăng Mẫn; những học giả khác lại cho rằng bộ luận thuộc Tiểu Thừa. Phải đợi đến thời Đạo Tuyên, một môn đệ nởi tiếng của Huyền Trang, cuối cùng đã giải quyết vấn đề, bằng cách tuyên bố rằng đây là tác phẩm thuộc Tiểu Thừa và Kinh Bộ, bởi vì Thành Thật tông không vượt ngoài trình độ và uy thế của học phái Tỳ Bà Sa. Tuy nhiên, Đạo Tuyên thừa nhận bộ luận nầy là một khuynh hướng nhắm đến giáo lý Đại Thừa—The Satyasiddhi sastra of Harivarman in 16 books. The Satyasiddhi is defined as perfectly establishing the real meaning of the sutra. The sastra was translated into Chinese by Kumarajiva. He often ordered some of his pupils to lecture on this sastra. One of his pupils, Sêng-Jui, while discoursing on it discovered that the author, Harivarman, had refuted the tenets of the Abhidharma School on several occasions, more than seven times. Hence we can assume that the two schools (Realistic and Nihilistic) used to hold antagonistic positions at or before the author's time. According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, the text was taken by some authorities to be Mahayanistic, as by the three noted savants of the Liang dynasty (502-557), namely Fa-Yun, Chih-Tsang, and Sêng-min. By other authorities such as Chih-I, Chi-Tsang and Ching-Ying it was taken to be Hinayanistic. It was Tao-Hsuan, a famous pupil of Hsuan-Tsang, who finally settled the question by pronouncing that it was Hinayanistic and Sautrantic, because the Satyasiddhi School had not gone beyond the level and influence of the Vaibhasika School. However, he recognized that it had a certain tendency toward the Mahayana doctrine.
thành thực tông
The Satyasiddhi School. (A) Cương Yếu—Preliminary: a) Phái Hoàn Thiện Chân Lý, dựa vào học thuyết của Sautrantika, văn bản chính của trường phái nầy là satyasiddhi của Ha Lê Bạt Ma (Harivarman) vào thế kỷ thứ tư, được dịch sang Hoa ngữ vào thế kỷ thứ năm. Trường phái nầy tin rằng tâm thức chỉ là người vác gánh luân hồi sinh tử. Phái nầy cũng cho rằng Niết bàn chỉ là một sự kiện tâm linh tiêu cực và giải thoát chỉ là hủy diệt—Satyasiddhi sect, based upon the Sautranika's satyasiddhi sastra of Harivarman. This school believes that the consciousness as no more than the bearer of the cycle of existence. This school also believes that Nirvana is a purely negative spiritual event; it is nonbeing. He who has attained liberation is annihilated. • Bên Trung Quốc Thành Thật Tông là một nhánh của Tam Luận Tông: In China it was a branch of the San-Lun Sect. • Không Tông hay tông phái Tiểu Thừa được thành lập sau cùng bên Ấn Độ: The Sunya Doctrine Sect or the last Hinayana Sect formed in India. b) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Thành Thật tông, đối lập với Câu Xá tông, chủ trương không có gì hiện hữu, kể cà tâm và vật. Đây là một Tiểu Thừa Không Luận hay hư vô luận, và được gọi tên theo một nhan sách của Ha Lê Bạt Man (Harivarman) sống ở Ấn Độ khoảng 250 đến 350 sau Tây Lịch, khoảng một thế kỷ trước Thế Thân. Trong bài tụng mở đầu, tác giả nói rằng ông muốn làm sáng tỏ ý nghĩa chân thật của kinh. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng, nhan sách “Thành Thật Luận” có nghĩa là sự thiết lập toàn vẹn chân lý được phát biểu qua những bài thuyết pháp của Phật: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Satyasiddhi School is opposed to the Kosa Schol in that it asserts that nothing, matter or mind, exists at all. It is a Hinayanistic Negativism or Nihilism and is called after the title of the work by Harivarman who lived in India (250-350 A.D.), about a century before Vasubandhu. The author says in his introductory note that he intended to elucidate the true purport of the sacred literature. From this we can infer that the title “Completion of Truth,” means the complete establishment of the truth propounded in the discourses of the Buddha himself. (B) Lịch sử của Thành Thực Tông—The history of the Satyasiddhi School: a) Trong 18 bộ phái ở Ấn Độ, Thành Thực tông thuộc Kinh Lượng Bộ (Sautrantika), bộ phái nầy theo Kinh Tạng nguyên thủy, chống lại chủ truơng thực hữu luận của Hữu Bộ (Sarvastivada) mà một vài chủ điểm của nó được Thế Thân cem như là những cải cách của các luận sư Tỳ Bà Sa hay của những vị chấp trước vào giáo lý A Tỳ Đàm. Nếu chủ trương thực hữu luận có thể được coi là một sự tách rời khỏi Phật Giáo Nguyên Thủy, thì chủ trương không luận nầy đáng được như là đối lập lại với nó. Thành Thật tông, trên môt phương diện, có thể coi như là một tông phái chính thống của Phật giáo, đặc biệt là vì nó gần gủi với giáo lý nguyên thủy của Phật hơn Hữu Bộ: Vô ngã, vô thường, khổ và Niết Bàn tịch diệt: Of the eighteen schools of Buddhism in India, the Satyasiddhi School belongs to the Sautrantika School which adheres to the originalsacred scripture against the realistic Sarvastivada School, some tenets of which are regarded by Vasubandhu as innocations of the Vaibhasikas or those who adhere to the Abhidharma doctrine. If the realistic doctrine can be called a deviation from original Buddhism, this Nihilistic doctrine should be considered as a reversion to it. This Satyasiddhi School, in a way, can be considered to be an orthodox school of Buddhism, especially because it is much nearer than the Realistic School to the original teaching of the Buddha: “No substance (anatma), no duration (anitya), and no bliss (dukkha) except Nirvana.” b) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, chúng ta biết rất ít, hay không biết gì cả về lịch sử của tông phái nầy ở Ấn Độ. Có lẽ chưa từng có một tông phái nào biệt lập mệnh danh là Satyasiddhi ở Ấn. Nếu có một tông phái mẹ dẻ của Satyasiddhi, thì đấy phải là một tông phái bám chặt vào giáo thuyết nguyên thủy của kinh tạng. Kinh Bộ (Sutravada) hay Kinh Lượng Bộ (Sautrantikavada) được đề cập như là hậu duệ cuối cùng trong 18 bộ phái của Phật giáo. Dù mối liên hệ của Ha Lê Bạt Man với tông phái nầy không được rõ ràng, rất nhiều điểm về giáo lý do Ha Lê Bạt Man đề ra đều mang dấu vết của bộ phái nầy. Hình như nó chiếm một địa vị có ảnh hưởng lớn ở Ấn Độ, bởi vì nó được Thế Thân nhắc đến một cách trực tiếp hay gián tiếp; thực sự Thế Thân chấp nhận chủ điểm của phái nầy trong một vài điểm quan trọng cốt yếu, thí dụ như vấn đề thời gian: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, we know little or nothing of the history of this school from the Indian side. Perhaps there never was a separate school called Satyasiddhi in India. If there was a mother school to which Satyasiddhi belonged it must have been one which adhered to the original discourse of the sutras. The Sutravadin, or Sautrantikavadin School, is mentioned as the latest offshot among the eighteen schools of Buddhism. Though Harivarman's connection with that school is not known, several points of the doctrine set forth by him can be traced to that school. It seems to have had an influential position in India, for it is referred to directly or indirectly by Vasubandhu, who adopted, in fact, the tenets of the school in some of the important points of contention, e.g., the problem of time. (C) Giáo thuyết—Philosophy: a) See Thành Thực Luận. b) Học thuyết của Thánh Thực Tông được hiểu như là chủ trương Nhân Không (Pudgala-sunyata) và Pháp Không (Sarva-dharma-sunyata). Do đó, nó là một chủ trương Nhị Không, trái ngược với thuyết của Hữu Bô chủ trương Ngã Không nhưng Pháp Hữu. Nhân cách được tạo thành do năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) không có bản thể và không có tự ngã, cũng như cái vại trống rỗng không có nước hay tinh thể nội tại. Thêm nữa, vũ trụ gốm có 84 pháp, nhưng tất cả hoàn toàn không có thực tại lưu tồn, cũng như cái vại tự nó khong có thực tại thường hằng. Mỗi một pháp trong ngũ uẩn hay tứ đại kết hợp lại thành vũ trụ, không có bản thể thường hằng và bất biến, chúng chỉ là giả danh: The doctrine of the Satyasiddhi School is generally understood to be the void of self (Pudgala-sunyata) and of elements (sarva-dharma-sunyata). It is, therefore, the twofold void in contrast to the doctrine of the Realistic School (Kosa) which is the void of self (pudgala-sunyata) but the reality of elements (dharma-ta). Personality which is made up of five groups (Form, Perception, Conception, Volition and Consciousness) has no substratum and no individual self, just as an empty jar has no water or inner essence. Again, the universe consists of eighty-four elements, but all of them have no abiding reality at all, just as a jar itself has no permanent reality. Each of the five groups or the four great elements (earth, water, fire and air) of which the universe is composed has no permanent, changeless substance. They are only temporary names. c) Theo Ha Lê Bạt Man, tất cả vạn hữu cuối cùng phải đi đến chân lý của sự tịch diệt tức diệt đế hay Niết Bàn (nirodha satya); do đó sự tịch diệt cứu cánh. Như thế chỉ có tánh không là chân lý cứu cánh. Điều nầy không có nghĩa là tông phái nầy phủ nhận ý thức hay hiện tượng giả hữu của vạn hữu, bởi vì nó thừa nhận 5 bộ loại chia thành 84 pháp, thay vì 75 pháp như Câu Xá Tông: According to Harivarman, all beings should ultimately come to the truth of extinction (nirodha-satya), i.e., Nirvana, which is the final extinction. Thus voidness alone is the ultimate truth. This does not mean that the school denies the common-sense or phenomenal temporary existence of all beings, for it admits the five categories of all elements which are subdivided into eighty-four dharmas, instead of the seventy-five dharmas of the Kosa School. d) Khi phân tách năm cảnh, Thành Thật Tông giản lược chúng vào vi trần, và rồi giản lược thêm nữa cho chúng vào cực vi, và bằng cách lập lại tiến trình như thế, sau cùng tông nầy đạt đến một yếu tố nhỏ nhiệm nhất có một bản chất hoàn toàn khác với những đối tượng ban đầu. Tiến thêm bước nữa, tông nầy đạt đến Không. Như thế Hư Vô Luận của tông nầy là “Chiết Pháp Không” hay cái không trừu tượng. Nói cách khác, bản tính phi hữu được thừa nhận theo tông phái nầy là một thứ phân tích về sự hữu, hay chỉ là một thứ thiên không hay không một chiều, đối nghịch với hiện hữu. Và đây không phải là cái Không siêu việt (bất đản không hay không phải chỉ có không) mà Tam Luận tông đã xiển dương. Chúng ta có thể nói đây là học thuyết về vô thể, hay vô ngã, bởi vì nó phủ nhận hiện hữu của tự ngã và của tất cả các pháp, tâm và sắc. Nói rõ hơn, tâm (citta) không thường tồn, và những tâm sở (caitasika) không tự hữu; tất cả các pháp tâm bất tương ưng (cittaviprayukta) thảy đều giả hữu; pháp vô vi (asamskrita) cũng phi thực. Học thuyết Không ở đây toàn triệt và có thể được coi như là Hư Vô toàn diện (sarva-sunyata), nếu chúng ta nói theo chân lý tuyệt đối. Chỉ ở quan điểm tục đế, chúng ta mới thừa nhận hiện hữu của vạn hữu: Analyzing those five objects the school reduces them to molecules, and further reduces them to even finer atoms, and by thus repeating the process the school finally attains the finest element which has an entirely different nature from the first objects. Going one step further, the school attains the Void. Thus the nihilism of this school is a 'destructed' or abstracted Void. In other words, the non-entity asserted in this school is simply and abstraction from entity, or merely an antithetic Void as against existence. And this is not the synthetic Void or transcendental Void advanced by the San-Lun School. We may call it the doctrine of nothingness or non-ens, for it denies the existence of individual self and of all elements, matter and mind. To speak more clearly, mind (citta) is not abiding, and mental functions (caitasika) have no independence; those dharmas or elements which are neither matter nor mind (citta-viprayukta) are all temporary; the uncreated elements (asamskrita) are also unreal. The doctrine of Void is here complete and it can be taken as total nihilism (sarva-sunyata) if we follow the supreme truth. It is only from the point of view of worldly truth that they admit the existence of all things.
thành trụ hoại không
(成住壞空) Chỉ cho 4 kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không. Đây là quan niệm cơ bản của Phật 19. Thoái tướng (Thoái pháp tướng) 20. Thủ tướng (Thủ hộ tướng) 21. Tử tướng 22. Trụ tướng 23. Khả tiến tướng 24. Bất hoại tướng 25. Tuệ giải thoát tướng (Tuệ giải thoát) 26. Câu giải thoát tướng (Câu giải thoát) 27. Bất thoái tướng Vô Học––– A la hán quả – Tu đà hoàn hướng (Dự lưu hướng) 1. Tùy tín hành 2. Tùy pháp hành 3. Tùy vô tướng hành (Vô tướng hành) –4. Tu đà hoàn quả (Dự lưu quả) –5. Tư đà hàm hướng (Nhất lai hướng) –6. Tư đà hàm quả (Nhất lai quả) –7. A na hàm hướng (Bất hoàn hướng) – A na hàm quả (Bất hoàn quả) – A la hán hướng Hữu Học 8. Trung ấm diệt (Trung ban) 9. Sinh diệt (Sinh ban) 10. Hành diệt (Hữu hành ban) 11. Bất hành diệt (Vô hành ban) 12. Thượng hành chí A ca ni tra diệt (Thượng hành diệt, Lạc tuệ) 13. Chí vô sắc xứ (Lạc định) 14. Chuyển thế 15. Hiện diệt (Hiện ban) 16. Tín giải thoát (Tín giải) 17. Kiến đắc 18. Thân chứng Đồ biểu hai mươi bảy giai vị Hiền Thánh:giáo đối với sự sinh diệt biến hóa của thế giới. Phẩm Tam tai trong kinh Trường a hàm quyển 21, kinh Đại lâu thán quyển 5, kinh Khởi thế quyển 9, kinh Khởi thế nhân bản quyển 9, luận Câu xá quyển 12... đều có ghi rõ về 4 kiếp này. Phần Thị chúng trong Lâm tế lục (Đại 47, 498 trung) nói: Bấy giờ, tất cả vào phàm vào thánh (...) mọi nơi đều hiện cõi nước, thành trụ hoại không. (xt. Tứ Kiếp, Trụ Kiếp, Thành Kiếp, Không Kiếp, Hoại Kiếp).
thành tâm
Frankness—Sincerity.
thành tích
Performance—Result.
thành tín
Śraddha (S), Conviction Saddha (P) 2- Lòng thành tín 2- Lễ cúng thực cho người chết.
; True and trustworthy—True and reliable.
Thành Tôn
(成尊, Seizon, 1012-1074): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Tự Trưởng đời thứ 30 của Đông Tự, húy là Thành Tôn (成尊), hiệu Tiểu Dã Tăng Đô (小野僧都). Sau khi xuất gia với Nhân Hải (仁海) ở Mạn Trà La Tự (曼荼羅寺, Mandara-ji, tức Tùy Tâm Viện [隨心院]) vùng Tiểu Dã (小野, Ono), ông được thọ phép Quán Đảnh và làm trú trì chùa này. Đến năm 1065, ông hành phép cầu mưa và có linh nghiệm, sau đó ông lại cầu nguyện cho Hậu Tam Điều Thiên Hoàng (後三條天皇, Gosanjō Tennō, tại vị 1068-1072) tức vị, nên rất được sủng kính. Năm 1069, ông làm Quyền Luật Sư, đến năm 1072 thì truyền trao phép Quán Đảnh cho Minh Toán (明算) ở Cao Dã Sơn. Năm sau ông làm Quyền Thiếu Tăng Đô, và năm sau nữa thì làm Tự Trưởng của Đông Tự. Đệ tử của ông có Nghĩa Phạm (義範), Phạm Tuấn (範俊), v.v. Trước tác ông để lại có Chơn Ngôn Phú Pháp Toản Yếu Sao (眞言付法纂要抄) 1 quyển, Tiểu Dã Lục Thiếp Khẩu Quyết (小野六帖口決) 5 quyển, Quán Tâm Nguyệt Luân Ký (觀心月輪記) 1 quyển, Đồ Sư Quán Đảnh Quyết Nghĩa Sao (徒師灌頂決義抄) 4 quyển, v.v.
thành tướng
(成相) Tướng thành, 1 trong 6 tướng. Theo sự giải thích trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 thì một pháp duyên khởi là các thứ duyên tạo thành, đó là Thành tướng; ví như tòa nhà là do rường cột, ngói gạch, nhân công... tạo thành. (xt. Lục Tướng, Lục Tướng Viên Dung).
Thành Tầm
(成尋, Shōjin, 1011-1081): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sang nhà Tống cầu pháp, cha là con của Đằng Nguyên Thật Phương (藤原實方), mẹ là con của Nguyên Tuấn Hiền (源俊賢); tuy nhiên cũng có nhiều thuyết khác nhau. Năm lên 7 tuổi, ông nhập môn xuất gia với Văn Khánh (文慶, Bunkei, sau này là Trưởng Lại của Viên Thành Tự [園城寺, Onjō-ji]) ở Đại Vân Tự (大雲寺, Daiun-ji) vùng Nham Thương (岩倉, Iwakura), kinh đô Kyōto và học giáo lý Hiển Mật. Sau đó, ông thọ pháp Thai Mật của Hành Viên (行圓, Gyōen) và Minh Tôn (明尊, Myōson); đến năm 1041 (niên hiệu Trường Cửu [長久] thứ 2) thì làm Biệt Đuơng (別當, Bettō) của Đại Vân Tự. Cùng lúc đó, ông còn làm vị tăng hộ trì cho vị Quan Bạch Đằng Nguyên Lại Thông (藤原賴通, Fujiwara-no-Yorimichi). Đến năm 62 tuổi (1072), ông mang bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集) cũng như Tuần Lễ Ký (巡禮記) của Viên Nhân (圓仁, Ennin) và Điều Nhiên (奝然, Chōnen) sang nhà Tống, đi tham bái khắp các nơi, rồi tham gia dịch kinh ở Biện Kinh (汴京, Khai Phong [開封]) và được ban cho hiệu là Thiện Huệ Đại Sư (善慧大師) nhờ ông cầu mưa có linh nghiệm. Vì không được phép trở về nước, ông ủy thác cho đệ tử 527 quyển kinh mang về và cuối cùng qua đời tại Khai Bảo Tự (開寳寺), Phủ Khai Phong. Ngoài tác phẩm Tham Thiên Thai Ngũ Đài Sơn Ký (參天台五台山記), ông còn để lại một số trước tác khác như Quán Tâm Luận Chú (觀心論註), Pháp Hoa Kinh Chú (法華經註), v.v.
thành tầm
(成尋) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai, người ở Kyoto, là con của ông Đằng nguyên Tá lí. Sư theo người anh họ là Văn khánh học nội điển, ngoại điển và giáo pháp Hiển, Mật, sau, sư chuyên trì tụng kinh Pháp hoa. Năm Diên cửu thứ 4 (1072), sư được 62 tuổi và đến Trung quốc (đời Tống). Sư đi chiêm bái các núi Thiên thai, Ngũ đài, rồi đến Biện kinh, được vua Thần tông nhà Tống ban sắc cho sư trụ ở viện Thái bình hưng quốc truyền pháp. Nhờ cầu mưa linh nghiệm nên được vua ban hiệu Thiện Tuệ Đại Sư, đồng thời giữ chức Giám sự trong Dịch kinh trường. Sư muốn về nước nhưng không được phép, sư bèn gửi 527 quyển kinh luận Đại thừa, Tiểu thừa về Nhật bản. Sau, sư trụ ở chùa Khai bảo. Năm Nguyên phong thứ 4 (1081) sư thị tịch, thọ 71 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Quán tâm luận chú, Pháp hoa kinh chú, Pháp hoa thực tướng quán chú, Quán kinh sao, Tham thiên thai ngũ đài sơn kí. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45; Nguyên hanh thích thư Q.16; Bản triều cao tăng truyện Q.67].
thành tự nhiên giác
To attain to natural enlightenment as all may do by beholding eternal truth thực tướng within their own hearts.
; Đạt được tự nhiên giác ngộ bằng cách giữ lấy chân lý ngay nơi tâm mình—To attain to natural enlightenment as all may do by beholding eternal truth within their own heart.
thành tựu
Samanvagama (S), Samannagama (P), Sampana (S) Đầy đủ, ngay đó được tự tại Sự tồn tại của một pháp Xem Thành tựu giả.
; Siddi (S). Accomplishment, fulfilment, completion, to bring to perfection.
; Siddhi (skt)—Aspire—To accomplish—To fulfill—To undertake—Accomplishment—Fulfilment—Completion—To bring to perfection.
; (成就) I. Thành Tựu. Phạm: Samanvàgana. Pàli: Samannàgama. Đã được một cái gì đó và hiện tại vẫn còn tiếp tục chưa mất, là 1 trong các loại Đắc(được). Đây là giáo nghĩa của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Nhưng các Luận sư trong Hữu bộ cũng có vị chủ trương thuyết khác. Theo luận Câu xá quyển 4 thì Thành tựu và Hoạch đều thuộc về một trong các thứ Đắc. Chưa được hoặc đã mất mà nay được, gọi là Hoạch; đã được mà đến nay vẫn còn tiếp tục không mất, gọi là Thành tựu. Nhưng luận Đại tì bà sa quyển 157 thì cho rằng đắc, hoạch và thành tựu chỉ là khác âm thôi, chứ nghĩa thì đồng. Lại theo luận Đại tì bà sa quyển 162 thì có 7 thuyết về sự khác nhau giữa Đắc và Thành tựu như Chưa được mà được gọi là Đắc, đã được mà được gọi là Thành tựu, Mới được mà được gọi là Đắc; được rồi vẫn tiếp tục gọi là Thành tựu. [X. luận Thuận chính lí Q.12; luận A tì đạt ma hiển tông Q.6; Câu xá luận quang kí Q.4]. (xt. Đắc). II. Thành Tựu. Phạm, Pàli: Saôpanna. Nghĩa là đầy đủ, sở hữu, chi phối. Tức đầy đủ 7 thứ quí báu hoặc giới, định, tuệ và được tự tại đối với các thứ đó, gọi là Thành tựu. Hoặc chỉ cho sự hoàn thành chí nguyện. Mật giáo cho rằng Thành tựu là do dịch ý của từ Tất địa (Phạm:Sidhi). [X. kinh Thành tựu giới trong kinh Trung a hàm Q.5; phẩm Chuyển luân Thánh vương trong kinh Trường a hàm Q.18; kinh A di đà; luận Câu xá Q.4]. III. Thành Tựu. TứcSàdhaịà, tên của một tác phẩm nổi tiếngcủa Ấn độ. Đề mục phụ của sách này là Realization of Life(Hiệnthực cuộc sống), do nhà Văn học, nhà Tư tưởng người Ấn độ thời cận đại là Thái qua nhĩ (Rabindranath, Tagore, 1861-1941) soạn. Sách này do thu góp các bản thảo diễn giảng nhiều lần tại trường đại học Harvard, Hoa kì, vào năm 1913 mà thành. Nội dung sách này bao gồm 8 thiên: Mối quan hệ giữa cá nhân và vũ trụ,Ýthức về linh hồn, Vấn đề cái ác,Vấn đề tự ngã, Sự thực hiện cái đẹp vàSự thực hiện cái vô hạn. Những điều chủ yếu mà tác phẩm nhấn mạnh là: 1. Nền văn hóa đô thị phương Tây đã tạo ra sự đối lập giữa người và ta, giữa người và thiên nhiên; còn văn hóa Ấn độ thì sản sinh ý thức nhất thể dung hợp giữa con người và thiên nhiên. Thế giới hiện tượng tuy thiên sai vạn biệt, nhưng chân lí thì chỉ có một; con người chỉ cần thể ngộ được cái một ấy thì liền hiểu rõ hết tất cả. 2. Bi kịch của kiếp sống con người là do những điều kiện hữu hạn mà lại mong muốn đạt đến kết quả của thế giới vô hạn, vì thế cần phải thể hiện chân lí xả bỏ tất cả để được tất cả trong Áo nghĩa thư. Sự xả bỏ tự ngã mà đức Phật nói giống như nhờ dầu cạn dần mà đèn được sáng. Giải thoátchínhlà từ trong xiềng xích ngu si và tham dục mà thoát ra. Trong tác phẩm tràn đầy nhiệt tình và líluậnphục hưng tinh thần Ấn độ. [X. A. Tagore Reader, 1961, by Maemillan].
thành tựu bảy diệu pháp
Theo Kinh Hữu Học trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã chỉ dạy về sự thành tựu bảy diệu pháp—According to the Sekha Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha mentioned about seven good qualities: 1) Vị Thánh đệ tử có lòng tin và đặt lòng tin nơi sự giác ngộ của Như Lai: “Ngài là Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”—Here a noble disciple has faith and he places his faith in the Tathagata's enlightenment thus: “The Blessed One is accomplished, fully enlightened, perfect in true knowledge and conduct, sublime, knower of words, incomparable leader of persons to be tamed, teacher of gods and humans, enlightened blessed.” 2) Vị nầy có lòng tàm, tự xấu hổ vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh; tự xấu hổ vì thành tựu ác, bất thiện pháp: He has shame; he is ashamed of misconduct in body, speech, and mind, ashamed of engaging in evil unwholesome deeds. 3) Vị nầy có lòng quý, tự sợ hãi vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh; tự sợ hãi vì thành tựu ác, bất thiện pháp: He has fear of wrong doing; he is afraid of misconduct in body, speech, and mind, afraid of engaging in evil unwholesome deeds. 4) Vị nầy là vị đa văn, nhớ nghĩ những điều đã nghe, tích tụ những điều đã nghe. Nghe những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, có nghĩa, có văn, nói lên phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì, đọc tụng bằng lời, được ý suy tư, được chánh kiến thể nhập: He has learned much, remembers what he learned, and consolidates what he has learned. Such teachings as are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing, and affirm a holy life that is utterly perfect and pure–such teachings as these he has learned much of, remembered, recited verbally, investigated with the mind and penetrated well by view. 5) Vị ấy sống tinh cần tinh tấn, trừ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp: He is energetic in abandoning unwholesome states and in undertaking wholesome states; he is steadfast, firm in striving, not remiss in developing wholesome states. 6) Vị ấy có niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, nhớ lại, nhớ lại nhiều lần những gì đã làm từ lâu, đã nói từ lâu: He has mindfulness; he possesses the highest mindfulness and skill; he recalls and recollects what was done long ago and spoken long ago. 7) Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập đưa đến chân chánh đoạn tận khổ đau: He is wise; he possesses wisdom regarding rise and disappearance that is noble and penetrative and leads to the complete destruction of suffering.
thành tựu chúng sanh
Chuyển hóa chúng sanh bằng cách phát triển Phật tánh nơi họ và khiến họ đạt được giác ngộ—To transform all beings by developing their Buddha-nature and causing them to obtain enlightenment.
thành tựu chúng sinh
To transform all beings by developing their Buddha-nature and causing them to obtain enlightenment.
thành tựu công đức
Achievement of merit.
thành tựu diệu pháp liên hoa kinh vương du già quán trí nghi quỹ
(成就妙法蓮華經王瑜伽觀智儀軌) Gọi tắt: Pháp hoa kinh quán trí nghi quĩ, Thành tựu pháp hoa nghi quĩ, Pháp hoa quán trí quĩ, Pháp hoa nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Sách này thuộc Bí mật bộ trong kinh điển Mật giáo, nội dung nói về cách thức cúng dường kinh Pháp hoa. Trước hết là kệ tán thán, qui mệnh 28 phẩm kinh Pháp hoa, rồi nêu ra 4 duyên cần phải có để thành tựu pháp này; 4 duyên ấy là: Gần gũi thiện tri thức chân chính, lắng nghe chính pháp, tác ý đúng như lí và theo pháp tu hành pháp; đồng thời nói về cách làm đàn và cách vào đàn, cách quán tưởng, cách cúng dường nghinh thỉnh... Kế đến nói về cách lập đàn tràng như việc chọn đất, làm sạch đất, tô đất, gia trì vật cúng, tắm gội... Sau cùng, nói rõ việc vào đàn tu pháp, vào pháp quán tưởng chân như pháp tính, cho đến 5 pháp cúng dường như tụng chân ngôn, xoa hương, nhập Thực tướng tam ma địa... Trong quá trình này, từ lúc bắt đầu đến 5 pháp cúng dường là y theo Thai tạng giới; còn từ Thực tướng tam ma địa trở xuống thì y theo Kim cương giới.[X. Tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Chư a xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng].
thành tựu giác huệ bồ tát
Dhimat (S) Tên một vị Bồ tát.
thành tựu giả
Siddhi (P), Accomplished One drup top (T), ngodrup (T) Tất địa, Thành tựu Người trì tụng chân ngôn để tâm mật tương ưng mà thành tựu các diệu quả thế gian và xuất thế gian.
thành tựu giới hạnh
Theo Kinh Hữu Học trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật dạy về Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh như sau—According th the Sekha Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha confirmed that in order to possess of virtue, a noble disciple should: 1) Hộ trì các căn: Guard the doors of his sense-faculties—See Hộ Trì Các Căn. 2) Tiết độ trong ăn uống: Be moderate in eating—See Tiết Độ Trong Ăn Uống. 3) Chú tâm cảnh giác: Be devoted to wakefulness—See Chú Tâm Cảnh Giác. 4) Thành tựu Bảy Diệu Pháp: Possess seven good qualities—See Thành Tựu Bảy Diệu Pháp. 5) Lạc trú bốn thiền: Pleasant abiding in the four jhanas—See Tứ Thiền. 6) Sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha: Dwell restrained with the restraint of the Patimokkha. 7) Đầy đủ oai nghi chánh hạnh: Be perfect in conduct and resort. 8) Thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt: See fear in the slightest faults. 9) Thọ lãnh và tu học các học pháp: Train by undertaking the training precepts.
thành tựu hạnh nguyện phổ hiền
To accomplish or undertake the acts and vows of Universally Good Enlightened Beings—See Phổ Hiền Thập Nguyện.
thành tựu nhiên giác
To attain to natural enlightenment as all may do by beholding eternal truth within their hearts.
thành tựu nhất thiết ấn
(成就一切印) Cũng gọi Thành tựu nhất thiết minh. Một trong 6 thứ ấn Phật nhãn ghi trong phẩm Kim cương cát tường đại Thành tựu kinh Dukì. Cách kết ấn khế này là : Hai tay đều kết ấn Bất động kiếm, tay trái ngửa lên, tay phải úp xuống, dùng kiếm (tức ngón trỏ, ngón giữa)cắm vào trong lòng bàn tay(khoảng giữa ngón út, ngón vô danh, ngón cái). Cắm vào trong lòng bàn tay biểu thị ý nghĩa sinh(chúng sinh), Phật(chư Phật) không hai, chúng sinh và chư Phật cùng trụ trong tâm nguyệt luân. Đây là ấn mà Mật giáo sử dụng để biểu thị ý nghĩa nhập ngã, ngã nhập của chư tôn. Ngón út trong ấn tướng là chữ (a), tượng trưng Thai tạng giới. Ngón vô danh là chữ (va) tượng trưng Kim cương giới. Dùng ngón cái(ngón không) đè lên móng ngón út và ngón vô danh là tượng trưng cho việc thêm chấm không lên trên 2 chữ và , tức (aô), (vaô). Trên 2 ngón mà thêm 1 cái chấm không (.), tức là biểu thị ý nghĩa không hai; tay trái là nghĩa không hai của Thai tạng giới, tay phải là nghĩa không hai của Kim cương giới; cả hai bên phải bên trái đặt vào trong lòng bàn tay là biểu thị nghĩa không hai trên không hai. Theo nghĩa thâm bí của Mật giáo, Bản tôn và hành giả vốn là thể không hai củaKim cương giới và Thai tạng giới, vì thế nhập ngã, ngã nhập cũng biểu thị không hai trên không hai. Ngoài ra, ấn này cũng là ấn bí mật được dùng lúc lâm chung. Chân ngôn là: Án (oô) tra tra (ỉa ỉa) tra ô tra ô (ỉu ỉu) trí trí trí trí (ỉitì ỉitì) tra ô tra ô tra ô tra ô (ỉu ỉù ỉu ỉù) phạ nhật la sa đát phạ (Vajrasatva) nhược hồng tông cốc (jja# hùô baô ho#) hiệt lí hác hồng bắc tra hồng (hrì# ha# hùô phaỉ hùô). Kinh Du kì cũng ghi rõ công đức của chân ngôn này là có năng lực thành tựu tất cả ấn, nhiếp phục tất cả các trời, thành tựu tất cả việc; nếu muốn biết trước các việc vị lai thì kết ấn đặt bên eo trái, tụng 108 lượt chân ngôn, xong rồi thì kết ấn mà ngủ, Bản tôn A vĩ xa liền thị hiện tất cả việc lành dữ trong mộng.
thành tựu pháp man
Sādhana-mala (S), Sadhana-samuccaya (P) Bộ biên soạn tổng hợp các luận về Thành tựu pháp, được biên soạn vào thế kỷ XI.
; (成就法鬘) Phạm:Sàdhana-màlà. Cũng gọi Thành tựu pháp tập (Phạm: Sàdhana-samuccaya). Tùng thư thu chép các thành tựu pháp, nghi quĩ... nói về việc sùng bái chư tôn của Kim cương thừa (Phạm: Vajra-yàna) trong Mật giáo vào thời kì cuối ở Ấn độ. Người thu tập và niên đại biên soạn đều không rõ. Nội dung tùng thư này gồm 312 loại kinh quĩ được sắp xếp theo thứ tự chư Phật, chư Bồ tát, chư tôn như: Tam muội da vương thành tựu pháp (Phạm:Tri-samaya-ràjasàdhana), Kim cương tòa chí tôn thành tựu pháp ưu ba đề xá nghi quĩ (Phạm: Vajràsana-bhaỉỉàraka-sàdhanopadezavidhi), Thánh lục tự mẫu đại minh thành tựu pháp (Phạm: Àrya-wađakwarìmahàvidyà-sàdhana)... Trong hơn 300 loại thành tựu pháp này, chỉ có 55 loại là còn tên tác giả, gồm 42 người. Theo sự khảo chứng của ông Benoytosh Bhattacharyya mà suy đoán thì tác giả có niên đại xưa nhất là ngài Vô trước (khoảng 300-390 Tây lịch) của phái Du già và người có niên đại gần nhất là ngài A ba ca lạp cấp đa (Phạm: Abhayàkaragupta, 1084-1130). Lại trong các bản chép tay của sách này thì bản viết trên lá bối được cất giữ tại thư viện của trường Đại học Cambridge tại Anh quốc có niên kỉ tương đương với năm 1165, vì thế có thể suy biết niên đại biên soạn sách này là giữa thế kỉ XII. Đến đời cận đại có bản tiếng Phạm do ông Benoytosh Bhattacharyya hiệu đính được xuất bản, đó là:Sàdhanamàlà (Gaekwad’s Oriental Series, No. 26, 41. Baroda, 1925- 1928). Ngoài ra, khoảng năm 1914, M. Henri Maspero tìm thấy ở chùa Phổ an tại huyện Ngân, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, các lá bối xưa tương đương với các pháp thứ 217, 252, 253 trong bộ tùng thư này.Trong Đại tạng kinh Tây tạng tuy không có các tác phẩm phiên dịch tương đương với sách này, nhưng trong Bí mật bộ của Đan châu nhĩ thì có rất nhiều tác phẩm tương đương với các Thành tựu pháp được thu gom trong sách này, nhất là các Thành tựu pháp thuộc 220 loại đầu trong sách này gần như giống với thứ tự từng phần được nêu trong Bí mật bộ ấy. [X. Đông bắc Đế quốc Đại học Tây tạng đại tạng kinh tổng mục lục; Catalogue of the Buddhist Sanskrit MSS in the University Library, Cambridge, by C. Bendall].
thành tựu pháp tập
Sādhana-samuccaya (P).
thành tựu quán đỉnh
(成就灌頂) Cũng gọi Tất địa quán đính, Trì minh tất địa quán đính. Một trong 4 loại quán đính nói trong phẩm Phân biệt hộ ma kinh Cù hê quyển hạ. Trong pháp tu của Mật giáo, khi hành giả kết thúc Tam muội da thứ 3 Thụ minh quán đính thì phải vào đàn tu pháp để tu pháp Hộ ma thành tựu các vị thuốc, Thành tựu mạn đồ la quán đính được truyền thụ lúc đó gọi là Thành tựu quán đính. Pháp Thành tựu quán đính này được nêu rõ trong các kinh quĩ như kinh Cù hê, phẩm Quán đính đàn trong kinh Tô tất địa quyển hạ, Bát tự văn thù nghi quĩ... nhưng trong phẩm Tất địa xuất hiện của kinh Đại nhật quyển 3 thì chỉ mới nêu ra Thành tựu mạn đồ la và Thành tựu pháp của Mạn đồ la này, chứ chưa nói gì đến pháp Thành tựu quán đính. Còn cứ theo phẩm Tứ đại trong hội đầu tiên của kinh Kim cương đính thì Tứ ấn mạn đồ la đều là đàn tràng của Thành tựu quán đính.
thành tựu sự mong cầu
Fullfil one's longings, to.
thành tựu thế gian
Worldly achievement.
thành vô úy luận
Abhayasiddhi-śāstra (S) Tên một bộ luận kinh.
thành ý
Frank idea.
thành đạo
Jōdō (J) Đắc đạo 1- Đắc đạo 2- Thượng đường.
; To attain the Way, or become enlightened, e.g. Buddha under the bodhi tree.
; Chứng đạo hay trở thành toàn giác như Phật Thích Ca—To attain the way, or to become enlightened, i.e. the Buddha under the bodhi tree.
; (成道) Gọi đủ: Thành Phật đắc đạo. Cũng gọi Thành Phật, Đắc Phật, Đắc đạo, Thành chính giác. Chỉ cho việc hoàn thành Phật đạo, 1 trong 8 tướng. Tức là Bồ tát hoàn thành việc tu hành, thành tựu quả Phật. Cứ theo truyền thuyết, sau khi qua 6 năm tu khổ hạnh, đức Thích ca ngồi trên tòa Kim cương có trải cỏ Cát tường dưới gốc cây Bồ đề mà thành đạo, nơi này sau được gọi là nơi thành đạo. Nhưng các kinh luận Đại thừa thì cho rằng thành đạo dưới gốc cây là thị hiện tướng Ứng thân thành Phật, chứ Báo thân của Phật thì thành đạo ở trí xứ Ma hê thủ la trên tầng trời Sắc cứu cánh. Về vấn đề đức Thích tôn thành đạo lúc bao nhiêu tuổi thì có nhiều thuyết khác nhau. Kinh Thập nhị du, phẩm Tướng sư chiêm khán trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 10, Đảo sử (Pàli:Dìpavaôsa, III), Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa, II)... đều cho rằng đức Thích tôn thành đạo lúc 35 tuổi. Cũng có các thuyết cho rằng lúc Ngài 30, 31 tuổi... Còn về ngày tháng thành đạo thì có các thuyết ngày mồng 8, 16 tháng 2, ngày mồng 8 tháng 4... Nếu cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8 thì ngày Phật thành đạo là ngày mồng 8 nửa sau tháng Phệ xá khư, tức ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch; cũng trong Đại đường tây vực kí còn ghi: Thượng tọa bộ cho là ngày 15 nửa sau tháng Phệ xá khư, tức ngày 15 tháng 3 âm lịch. Ở Trung quốc thịnh hành thuyết Lạp bát thành đạo (ngày mồng 8 tháng Chạp) và pháp hội được cử hành vào ngày này gọi là Thành đạo hội, Lạp bát hội, đặc biệt được Thiền tông xem trọng. Còn ở Nhật bản thì pháp hội được cử hành vào ngày đức Thích tôn thành đạo, Thiền tông gọi là Thành đạo kị. Tức từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 8 tháng Chạp âm lịch tu Lạp bát tiếp tâm, sáng sớm ngày mồng 8 thì cử hành Thành đạo kị. Theo tông Thiên thai thì Bồ tát Tam giáo phải trải qua 4 giai đoạn tu hành là kiếp a tăng kì thứ nhất, thứ hai, thứ ba và 100 đại kiếp mới thành đạo, gọi là Tứ giai thành đạo. Nhưng, theo Tiểu thừa giáo như Thuyết nhất thiết hữu bộ... thì cho rằng 4 giai đoạn tu hành phải là: 1. Ba a tăng kì kiếp. 2. Một trăm đại kiếp. 3. Ở thân sau cùng, Bồ tát phải đoạn trừ phiền não của 8 địa dưới trong 9 địa. 4. Đoạn trừ 34 tâm kết sử mà thành đạo.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.23; kinh Đạo hành bát nhã Q.10; kinh Đại bát nê hoàn Q.hạ; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.25; kinh Thái tử thụy ứng Q.hạ; Tát bà đa tì nitiba sa Q.2; Thập địa kinh luận Q.1; luận Nhập đại thừa Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.103; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Bát Tướng).
thành đạo hội
Ngày kỷ niệm Phật thành đạo là ngày 8 tháng chạp hàng năm (còn gọi là ngày Lạp Bát)—The annual commemoration of the Buddha's enlightenment on the 8th day of the 12th month.
Thành đạo 成道
[ja] ジョウドウ jōdō ||| (saṃbodhi). Enlightenment, awakening. To enter enlightenment. To become a Buddha--equivalent to 成佛道. (2) The subjugation of various demons by Śākyamuni under the bodhi tree and his perfected awakening. => (s: saṃbodhi). 1. Giải thoát, giác ngộ. Thành Phật – Đồng nghĩa với Thành Phật đạo. 2. Sự chinh phục đủ loại ma quân của Thích-ca Mâu-ni dưới cây bồ-đề và đạt được giác ngộ hoàn toàn.
thành đạt
To succeed—To reach (attain) one's end.
thành đẳng chánh giác
Bậc Bồ Tát tu hành ngôi nhân vị tròn đầy bậc toàn giác hay thành Phật—To attain to perfect enlightenment—To become Buddha.
thành đẳng chính giác
To attain to perfect enlightenment, become Buddha.
thành đế
Chân giáo Phật pháp—Truth—The true teaching of Buddhism.
Thành 城
[ja] ジョウ jō ||| (1) A (walled) city, castle, citadel. (2) In India, a forest where ascetics carry out mendicant practices. => Có 2 nghĩa: 1. Thành phố, thành trì, thành luỹ. 2. Ở Ấn Độ, là khu rừng nơi các vị tu khổ hạnh thực hành khất thực.
Thành 成
[ja] ジョウ jō ||| (1) To accomplish, to do, to bring about, to perfect, to finish, to complete, to succeed. (2) The whole, perfect. (3) One-tenth; tenths, ten. [Buddhism] (1) To consist of; materialize, be concluded, to form, be completed. Fulfillment, consummation (sidhyati, siddha, siddhi, prasiddhi). (2) To be clearly apparent. (3) Realization, fruition; to become a buddha; awakening, enlightenment. => 1. Hoàn thành, làm xong, làm xảy ra, làm cho hoàn thiện, thành tựu. 2. Toàn bộ, toàn thể. 3.Một phần mười, thứ mười, số 10. [Phật học] 1. Gồm có; cụ thể hoá, kết thúc, thành lập, hoàn thành. Sự thành tựu, sự hoàn tất (s: sidhyati, siddha, siddhi, prasiddhi). 2. Hiện bày một cách rõ ràng. 3. Chứng ngộ, chứng quả; thành Phật; giác ngộ; giải thoát.
thành, trụ, hoại, không
Formation, stability or development, dissolution or disintegration, and void.
thác
1) Chết: To die. 2) Thác nước: Waterfall (fall). 3) Ký thác: To entrust—To confide. 4) Mang nơi tay: To carry on the palm.
Thác Am Chí Minh
(錯庵志明, Sakuan Shimyō, khoảng thế kỷ 12-13): vị tăng sống dưới thời nhà Kim, xuất thân An Châu (安州, An Tân, Tỉnh Hà Bắc), họ Hác (郝), tự là Bá Hôn (伯昏), hiệu Thác Am (錯庵), Lạc Chơn Tử (樂眞子), không rõ ngày tháng năm sinh và mất, cũng như tông phái. Ông đã từng viết cuốn Hoa Tiêu Nguyệt Tập (花標月集), được vị Thủ Tòa Khiết khích lệ nên xuất gia, rồi nương theo Hương Lâm Tịnh (香林淨) thọ giới Cụ Túc. Sau đó, ông đến tham yết Thắng Tĩnh Phổ (勝靜普) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến trú tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺), người đời thường gọi ông là Thác Am Chí Minh. Vào năm thứ 2 (1125) niên hiệu Đại Chánh (大正) đời vua Thái Tông nhà Kim, ông thâu tập tất cả hành trạng của chư vị tôn túc trong Thiền lâm, soạn thành tác phẩm Thiền Uyển Mông Cầu (禪苑蒙求), hay còn gọi là Thiền Uyển Dao Lâm (禪苑瑤林) gồm 3 quyển cho những người sơ tâm học đạo.
thác bác
Piṇḍapata (P), Going for almsfood Khất thực.
thác bát
1) Các Tỳ Kheo đi khất thực: Monks and nuns go for alms (tay bưng bát mà xin ăn). 2) Bát khất thực: An almsbowl.
; (托鉢) Phạm, Pàli: Piịđapàta. Cũng gọi Khất thực, Phân vệ, Đoàn đọa (ý nói thức ăn rơi vào trong bát), Trì bát, Phủng bát. Cầm bát, bưng bát. Tức cầm bát đi trên đường phố để hóa duyên khất thực. Đây là hành nghi mà tăng nhân ở Ấn độ thực hiện hằng ngày để nuôi sắc thân. Tại Trung quốc thời xưa phần nhiều sử dụng từ ngữ Trì bát, Phủng bát, từ đời Tống về sau mới dùng tiếng Thác bát, như ngài Văn khang chùa Khai nguyên làm bài Thác bát ca, vua Thái tổ nhà Minh họa vần theo, còn ngài Vân thê Châu hoành thì soạn Sa di luật nghi yếu lược trình bày về phép thác bát. Trong Thiền lâm, thác bát còn được gọi là La trai. Khi đến giờ dùng cơm cháo, cầm bát đi đến Tăng đường cũng gọi là Thác bát. Trong Thiền lâm, hàng năm vào 2 mùa Đông và Hạ, hoặc khi mất mùa đều thực hiện hành nghi thác bát. Về uy nghi, phép tắc thác bát được qui định chặt chẽ và trong các kinh luận có giải thích tỉ mỉ, rõ ràng.Ngoài ra, trong 12 hạnh Đầu đà có 2 loại Thường hành khất thực và Thứ đệ khất thực. Đời sau gọi Thác bát là Khất thực chính do chuyển hóa từ đây mà ra. [X. kinh A nâu di trong Trường a hàm Q.11; điều Nham đầu toàn khoát trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.16; điều Tịnh độ duy chính trong Tục truyền đăng lục Q.10; Bích nham lục tắc 51; Tăng ni lệnh
Thác bát 托鉢
[ja] タクハツ takuhatsu ||| Religious mendicancy; a begging priest. => Tăng sĩ. Khất sĩ. Vị tăng sĩ khất thực.
Thác chất
(托質): đồng nghĩa với thác sanh (托生), thác thai (s: garbhāvakrānti, p: gabbhāvakkanti, 托胎), tức thác sanh vào trong bào thai mẹ, hoặc chỉ cho sự thác sanh vào trong hoa sen ở thế giới Cực Lạc. Như trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải (佛說阿彌陀經要解) của Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) có đoạn: “Di Đà thánh chúng, bất lai nhi lai, thân thùy tiếp dẫn, hành nhân tâm thức, bất vãng nhi vãng, thác chất bảo liên hoa dã (彌陀聖眾、不來而來、親垂接引、行人心識、不徃而徃、托質寶蓮也, đức Phật Di Đà và thánh chúng, không đến mà đến, gần gủi tiếp dẫn, tâm thức hành giả, không đi mà đi, thác sanh vào hoa sen báu).” Hay trong Ngẫu Ích Đại Sư Tịnh Độ Tuyển Tập (蕅益大師淨土選集), phần Truyện Ký, Tụng Chửu Sư Vãng Sanh Truyện (誦帚師徃生傳) có đoạn: “Sư toại thị tật, triệu dư trợ kỳ niệm Phật, mạng thị giả trừ phát dục thân; dục tất, đoan tọa, cử thủ nhi thệ, chánh niệm phân minh, thần thanh khí định; việt nhị thời, đảnh hiển thượng noãn, thác chất liên nhụy, vô nghi dã (師遂示疾、召予助其念佛,命侍者除发浴身;浴毕、端坐,举手而逝。召予助其念佛、命侍者除發浴身、浴畢、端坐、舉手而逝、正念分明,神清气定。正念分明、神清氣定、越二时,顶显尚暖。越二時、頂顯尚暖、托质莲蕊,无疑也。托質蓮蕊、無疑也, sư bèn cáo bệnh, mời tôi đến giúp sư niệm Phật, sai thị giả xuống tóc, tắm rửa thân thể; tắm xong, sư ngồi ngay ngắn, vẩy tay chào mà đi, chánh niệm rõ ràng, thần khí trong sáng, định tĩnh; trãi qua hai thời gian, trên đỉnh đầu sư vẫn còn ấm, quả là thác sanh vào nhụy hoa sen, chẳng còn nghi ngờ gì cả).” Cũng như trong Sanh Tử Quan Toàn Tập (生死關全集), Thiên Chuyển Nữ Thành Nam (轉女成男篇) do Cư Sĩ Trần Do Bân (陳由斌) biên soạn có câu: “Cánh hữu dị phương tiện, chuyên niệm A Di Đà, thác chất diệu Liên Hoa, tật đắc bất thối chuyển (更有異方便、專念阿彌陀、托質妙蓮華、疾得不退轉, lại có phương tiện khác, chuyên niệm A Di Đà, thác sanh hoa sen mầu, mau được không thối chuyển).”
Thác hành liệt 錯行列
[ja] サクコウレツ sakukōretsu ||| To go in circular rows, round and round. => Đi thành hàng theo vòng tròn, đi nhiễu quanh.
thác lâm la
Một trong mười hai đại tướng trong Kinh Dược Sư—One of the twelve generals in the Yao-Shih Sutra (Bhaisajya).
thác oan
To die innocently (injustly).
thác sanh
A womb or a Lotus in Paradise that to which birth is entrusted.
thác sự hiển pháp sinh giải môn
(托事顯法生解門) Môn mượn việc để hiển bày pháp nhờ đó mà sinh ra hiểu biết, là 1 trong 10 huyền môn do tông Hoa nghiêm lập ra. Môn này nói theo Trí, nghĩa là tất cả sự pháp đều làm duyên khởi lẫn nhau, tùy dựa vào 1 pháp mà quán xét thì rõ tất cả sự pháp, có năng lực sinh ra hiểu biết thù thắng Sự sự vô ngại. Lí Sự sự vô ngại chẳng phải là lí luận trừu tượng, mà là sự thực cụ thể, sự thực hiện tượng chính là pháp thể duyên khởi; sự thực chính là chân lí. Sự tướng được hiển bày chính là lí của sự tướng ấy được hiển bày, chứ không phải gá vào cái này mà lại có sự biểu hiện khác. Mục đích của môn này là phá kiến chấp cho rằng sự và lí khác nhau. [X. phẩm Thăng đâu suất thiên cung trong kinh Hoa nghiêm; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.trung; Hoa nghiêm thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).
thác sự quán
(托事觀) Cũng gọi Lịch sự quán. Nương nhờ vào sự để thành quán pháp, 1 trong 3 pháp quán tâm nói trong Chỉ quán nghĩa lệ của tông Thiên thai. Như quán tưởng vua thành Vương xá là tâm vương, nhà là 5 ấm, tâm vương làm ra nhà này, nếu tách 5 ấm ra thì nhà không, không tức là thành Niết bàn. Như thế, mỗi mỗi sự tướng nhập vào tâm mà ngộ giải thành chân lí, cho nên gọi là Thác sự quán. Pháp quán này chính là môn Thác sự hiển pháp sinh giải trong 10 huyền môn của tông Hoa nghiêm. (xt. Tam Quán).
thác thai
Garbhāvakranti (S), Gabbhāvakkanti (P) Thác sinh vào thai mẹ.
; Sự thụ thai trong bụng mẹ—A womb—Conception.
; (托胎) Phạm:Garbhàvakrànti. Pàli: Gabbhàvakkanti. Cũng gọi Thác sinh, Nhập thai. Thác sinh vào thai mẹ. Hữu tình thai sinh (từ trong thai mẹ sinh ra)gá vào thai mẹ là khởi đầu cho việc thụ sinh đời này. Thác thai cũng chỉ cho việc thác sinh trong hoa sen ở thế giới Cực lạc; hoặc chỉ riêng cho việc thác thai, 1 trong 8 tướng hóa nghi của 1 đời đức Thích tôn, tức việc đức Thích tôn cỡi voi trắng 6 ngà từ cung trời Đâu suất xuống đi vào sườn bên phải của Ma da phu nhân. Truyền thuyết này trong các kinh điển Đại thừa, Tiểu thừa đều có ghi chép, như phẩm Bồ tát giáng thần trong kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1... đều nói Bồ tát cỡi voi trắng vào thai mẹ; kinh Phổ diệu quyển 2 và luận Di bộ tông luân thì nói tất cả Bồ tát khi vào thai mẹ đều mang hình tướng voi. Hiện nay,Viện Bảo tàng Calcutta của Ấn độ có lưu giữ 3 bức vẽ đức Thích tôn thác thai, là các tác phẩm khoảng thế kỉ II Tây lịch. Trong các chùa viện ở Trung quốc cũng khắc tượng Thích tôn nhập thai, tương đối nổi tiếng thì có tượng khắc trên mặt phía nam của tháp xá lợi ở chùa Thê hà ở tỉnh Giang tô, miêu tả quá trình thác thai của đức Thích tôn được ghi trong kinh Quá khứ hiện tại nhân quả như sau: Trong cung điện, phu nhân nằm nghiêng một bên, ở đầu hiên có voi trắng cỡi mây bay đến, Bồ tát ngồi xếp bằng trên lưng voi, phóng ra 1 luồng ánh sáng tròn lớn. [X. kinh Phật bản hạnh Q.1; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.70]. (xt. Bát Tướng).
Thác thai 托胎
[ja] タクタイ takutai ||| The second of the eight stages 八相 of the life of Śākyamuni Buddha, when he descended from Tuṣita Heaven and entered the womb of his mother, Māya. Also called 入胎. => Tướng thứ hai của tám tướng trong cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi Ngài hạ sinh từ cung trời Đâu-suất (s: Tuṣita) nhập vào thai mẹ là Ma-gia. Còn gọi là Nhập thai入胎.
thác tháp thiên vương
Một trong Tứ Thiên Vương, Bắc Phương Đa Văn Thiên Vương hay Tỳ Sa Môn. Vị Thiên Vương đở nâng chùa tháp trên lòng bàn tay—One of the four deva-kings (maharajas), Northern deva-king who learns much or Vaisravana. He is the deva-king who bears a pagoda on his palm.
; (托塔天王) Phạm: Vaizravaịa. Hán âm: Tì sa môn. Chỉ cho Đa văn thiên vương ở phương bắc, 1 trong 4 vị Thiên vương nói trong kinh Phật. Vị Thiên vương này có uy đức lớn, thống lãnh các La sát, Dạ xoa..., được đức Phật phó chúc hộ trì chính pháp, giữ gìn quốc gia. Vì bàn tay vị Thiên vương này nâng ngôi tháp xá lợi của 1 vị cổ Phật nên thường gọi là Thác tháp thiên vương. Tại Trung quốc, vào các đời Đường, Tống vua từng ban sắc cho các quân khu các châu, phủ xây Thiên vương đường để thờ cúng vị thần này. Đời Nguyên thì hình tượng vị Thiên vương này được vẽ trên cờ rồi xếp vào trong lỗ bạ (cuốn sổ ghi các đồ nhà binh như áo giáp...). (xt. Tứ Thiên Vương, Đa Văn Thiên).
Thác tổng 錯綜
[ja] サクソウ sakusō ||| Complication, confusion. To mix up, to mix together. => Sự phức tạp, rắc rối. Lộn xộn.
thác tử
(托子) Cái khay trà. Tức cái khay để tách, chén uống trà. Trong Thiền lâm gọi cái khay có thành cao để tách, chén uống trà là Thác tử.
Thác ấm
(托蔭): được che chở, bảo hộ, nhờ ơn, thác sanh. Như trong tiểu thuyết Duyệt Vi Thảo Bút Ký (閱微草堂筆記), chương Hòe Tây Tạp Chí (槐西雜志) 1 của Kỷ Quân (紀昀, 1724-1805) nhà Thanh có câu: “Kim hạnh thác ấm đắc nhất quan, tương cát cư doanh truân tịch hỉ (今幸托蔭得一官、將拮据營窀穸矣, nay may được che chở làm chức quan, sau gặp lúc cùng đường thì đào huyệt mộ vậy).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 4, phần Ca Dương Tán Phật Môn (歌揚讚佛門), Kiều Cổ Xã (喬鼓社), có đoạn: “Thích Ca thị chơn từ phụ, hóa hiện thân hình ly bổ xứ, giá bạch tượng thừa vân khứ, hướng hoàng cung thác ấm Ma Da, cửu long thổ thủy kim bồn dục (釋迦是眞慈父、化現身形離補處、駕白象乘雲去、向皇宮托蔭摩耶、九龍吐水金盆浴, Thích Ca đúng là cha lành, hóa hiện thân hình rời bổ xứ, cỡi voi trắng nương mây đi, hướng hoàng cung gởi chất Ma Da, chín rồng phun nước bồn vàng tắm).”
thách
To dare—To defy--To challenge.
thái
1) Bóng hay sự phản chiếu: Chaya (skt)—A shadow or reflection. 2) Cắt ra từng miếng mỏng: To slice—To cut into slices—To mince. 3) Chọn lựa: To choose. 4) Ngắt: To pick—To gather. 5) Rau cải: Vegetables. 6) Thái Lan: Thailand. 7) Thái quá: Too—Very—Great. 8) Thái mỏng: See Thái (2).
thái bình
Peace.
Thái Bình Hưng Quốc Tự
(太平興國寺, Taiheikōkoku-ji): ngôi danh lam cổ sát hiện tọa lạc trong Ngưỡng Sơn (仰山), cách 80 dặm về phía Nam Huyện Nghi Xuân (宜春縣), Viên Châu (袁州, Tỉnh Giang Tây). Cùng với Quy Sơn (潙山), nơi đây là vùng đất phát xuất của Quy Ngưỡng Tông (潙仰宗). Huệ Tịch (慧寂) là người khai sơn ra chùa này. Nó được kiến lập trong khoảng niên hiệu Hội Xương (會昌, 841-846), ban đầu có tên là Thê Ẩn Tự (棲隱寺) và đến thời nhà Tống thì được đổi thành Thái Bình Hưng Quốc Tự.
thái bình quảng kí
(太平廣記) Tác phẩm, 500 quyển, do các ông Lí phưởng... vâng sắc soạn vào năm Thái bình hưng quốc thứ 2 (997) đời Bắc Tống. Nội dung sách này ghi chép các sự tích thần dị cổ truyền và những truyền thuyết lặt vặt từ xưa chưa được ghi chép. Những sách được trích dẫn có tới 345 loại. Trong tác phẩm này có 30 quyển nói về các truyện tích của Phật giáo.
thái bình đạo
T'ai-ping tao (C) Do Trương Giác sáng lập.
; (太平道) ĐạoThái bình, một phái trong Đạo giáo, do Trương giác, người ở Cự lộc (nay là tỉnh Hà Bắc) sáng lập vào khoảng năm Hi bình (127-178) đời Linh đế nhà Hậu Hán. Giáo phái này tin thờ kinh Thái bình, dẫn dụng tư tưởng ngũ hành, dùng bùa chú để chữa bệnh, tín đồ vài mươi vạn người, lấy tên là Thái bình đạo. Niên hiệu Trung bình năm đầu (184), Thái bình đạo khởi binh, chít khăn vàng làm dấu hiệu, vì thế được gọi là Hoàng cân quân, Hoàng cân tặc, sau bị đàn áp và thất bại. Nhưng vẫn lén lút lưu truyền trong dân gian.
thái bạch
Venus.
Thái Bạch Sơn
(太白山): tên gọi khác của Thiên Đồng Sơn (天童山), nơi Như Tịnh trú ngụ. Thái Bạch còn là tên gọi của vị trú trì ở Thiên Đồng Sơn, tức Như Tịnh.
thái bạch tinh
Xem Ô sá Xem Kim Tinh.
Thái Chính Quan
(太政官, Daijōkan, Ōimatsurigoto-no-Tsukasa): (1) Cơ quan hành chính tối cao trong Luật Lịnh Quan Chế (律令官制), quản chưởng 8 Bộ trở xuống, chuyên trách toàn thể chính vụ. Hàng ngũ quan công khanh được hình thành bởi Thái Chính Đại Thần (太政大臣), Tả Hữu Đại Thần (左右大臣), Đại Nạp Ngôn (大納言, sau này còn có Trung Nạp Ngôn [中納言], Tham Nghị [參議]). Cục Thiếu Nạp Ngôn (少納言局), Cục Tả Hữu Biện Quan (左右辨官局) xử lý về mặt sự vụ kết quả phiên nghị quốc chính của các quan công khanh ấy. Cục Thiếu Nạp Ngôn thì quản lý Cục Ngoại Ký (外記局), chuyên trách về việc tuyên hạ những sắc chiếu, đóng nội ấn, ngoại ấn. Trong khi đó, Cục Tả Hữu Biện Quan thì thống lãnh cả 8 Bộ và chấp hành sự vụ hành chính. Từ cuối thời Bình An trở đi, cơ quan này hữu danh mà vô thật và vẫn tồn tại cho đến cuối thời kỳ Mạc Phủ. (2) Thái Chính Quan (太政官, Dajōkan), cơ quan tối cao của chính phủ vào đầu thời Minh Trị. Nhân phong trào Vương Chính Phục Cổ (王政復古) vào tháng 12 năm 1867 (Khánh Ứng [慶應] 3), việc phục hưng Thái Chính Quan được tiến hành; cho nên vào tháng 1 năm sau, cơ quan đại diện Thái Chính Quan được thiết lập; rồi đến tháng 4 nhuận, trong Chính Thể Thư (政体書), chức chế của Thái Chính Quan được quy định rõ ràng. Về mặt hình thức thì có 3 chức quan gồm: Nghị Chính Quan (議政官, lập pháp), Hành Chính Quan (行政官, hành chính) và Hình Pháp Quan (刑法官, tư pháp); rồi bên dưới Thái Chính Quan còn có 4 chức quan khác như Thần Kỳ (神祇), v.v. Vào năm 1869 (Minh Trị [明治] 2), dưới Thái Chính Quan và Thần Kỳ Quan lại có thêm 6 Bộ. Trong Thái Chính Quan có Chính Viện (政院), Tả Viện (左院), Hữu Viện (右院). Về sau, hai viện tả hữu bị phế bỏ; thay vào đó là Nguyên Lão Viện (元老院) và Đại Thẩm Viện (大審院). Cuối cùng, vào năm 1885 (Minh Trị 18), cơ quan này bị phế bỏ hẳn và sát nhập vào chế độ Nội Các.
Thái Chính Quan Phù
(太政官符, Daijōkampu): trên cơ sở chế độ luật lịnh của nhật bản ngày xưa, đây là bức công văn do vị quan Thái Chính (太政) phát lệnh đến các công sở của những quan hạ cấp, hay công sở của các tiểu quốc vốn trực thuộc quyền quản hạt của vị này. Văn thư này được gởi đến các cơ quan chính vụ nói trên để phát huy hiệu lực công việc thực tế. Dưới thời đại Bình An (平安, Heian), để được thừa nhận các trang viên mới lập, cần phải có Thái Chính Quan Phù hay Dân Bộ Tỉnh Phù (民部省符, văn thư của Dân Bộ Tỉnh [tương đương với Bộ Ngân Khố ngày nay]); cho nên các trang viên như vậy được gọi là Quan Tỉnh Phù Trang (官省符莊, trang viên được cấp văn thư công nhận của quan phủ). Đến cuối thời Bình An, Quan Phù này bị phế bỏ và được thay thế bằng một hình thức đơn giản hơn là Quan Tuyên Chỉ (官宣旨), hay Tuyên Chỉ (宣旨, chiếu chỉ tuyên bố của Thiên Hoàng).
thái cô nguy sinh
(太孤危生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thái nghĩa là rất; Cô nguy nghĩa là ngọn núi đứng một mình, cao chót vót; Sinh là tiếp vĩ ngữ. Trong Thiền lâm, sự cao chót vót của cô phong không thể bám víu vào đâu mà leo lên ngọn, thường được dùng để ví dụ cho một con đường hướng thượng của cơ phong sắc bén, không thể nương vào ngôn ngữ, tư duy mà đạt đến. Bích nham lục tắc 3 (Đại 48, 142 hạ) nói: Bao trùm trời đất, dò tìm không nhằm, như vậy cũng được, chẳng như vậy cũng được, quá bé nhỏ thay! Như vậy cũng chẳng được, chẳng như vậy cũng chẳng được, Cô phong chót vót thay! Chẳng kẹt 2 đường, thế nào là đúng?
thái căn đàm
(菜根譚) Tác phẩm, 2 quyển, do ông Hồng tự thành soạn vào đời Minh. Hai chữ Thái căn(rễ rau)của tên sách có xuất xứ từ câu Nhai được rễ rau, làm được trăm việc. Sách này dùng hình thức ngữ lục, đứng trên phương diện tư tưởng Nho gia là chính yếu, rồi dựa vào thuyết của LãoTrang và Thiền học mà bàn về đạo làm quan, cách giữ mình, việc đãi nhân xử thế và niềm vui nhàn cư sau khi từ quan. Trong sách thường dùng các từ ngữ của Nho gia và Thiền tông làm thành thơ văn để hiển bày trạng thái tự do tự tại của thân tâm sau khi thấu suốt, thể ngộ cảnh giới của Thiền. Sách này cũng dung hòa tư tưởng của Nho, Phật và Đạo, rất phù hợp với trào lưu Tam giáo hợp nhất của tín ngưỡng dân gian đương thời, cho nên sách được lưu truyền rất rộng trong dân gian cũng như giai tầng trí thức. Cho đến nay, trong hình thức sinh hoạt tông giáo dân gian trong xã hội của người Hoa ở Trung quốc, Hương cảng và Đông nam á vẫn còn bao hàm tư tưởng Tam giáo hợp nhất được trình bày trong tác phẩm này.
thái cổ
Very ancient--Great antiquity.
Thái cổ 太古
[ja] タイコ Taiko ||| Taego; see 普愚. => Xem Phổ Ngu 普愚.
Thái Cực
(太極): có hai nghĩa chính. (1) Các triết học gia cổ đại gọi Thái Cực là khí hỗn độn lúc ban đầu. Khi Thái Cực vận động thì phân hóa thành âm dương; từ âm dương mà sinh ra 4 thời biến hóa (Xuân, Hạ, Thu, Đông), từ đó xuất hiện các loại hiện tượng tự nhiên, và đó là nguồn gốc của vạn vật vũ trụ. Như trong Dịch Kinh (易經), Hệ Từ Thượng (繫辭上), giải thích rằng: “Dịch hữu Thái Cực, thị sanh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh Bát Quái (易有太極、是生兩儀、兩儀生四象、四象生八卦, Dịch có Thái Cực, sanh ra Lưỡng Nghi [âm dương], Lưỡng Nghi sanh ra Tứ Tượng [Xuân, Hạ, Thu, Đông], Tứ Tượng sanh ra Bát Quái [Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Li, Khôn, Đoài]).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Thái Cực vị thiên địa vị phân chi tiền, nguyên khí hỗn nhi vi nhất, tức thị Thái Sơ, Thái Nhất dã (太極謂天地未分之前、元氣混而爲一、卽是太初、太一也, Thái Cực nghĩa là trời đất trước khi chưa phân chia, nguyên khí hỗn tạp mà thành một, tức là Thái Sơ, Thái Nhất vậy).” (2) Chỉ thiên cung, cõi tiên. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) quyển 8 có đoạn: “Thái Cực hữu Nguyên Cảnh chi vương, ty nhiếp tam thiên chi thần tiên giả dã (太極有元景之王、司攝三天之神仙者也, thiên cung có vua Nguyên Cảnh, là người cai quản thần tiên của ba cõi trời).”
thái cực
T'aichi (C), Supreme Ultimate Energy.
; Extreme.
thái cực đồ
T'ai-chi-t'u (C).
Thái Diễn
(泰演, Taien, ?-?): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời kỳ Bình An, húy Thái Diễn (泰演). Ông từng học cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, đặc biệt tinh thông về Pháp Tướng và Duy Thức. Trong thời gian niên hiệu Đại Đồng (大同, 806-810), ông trú tại Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) và tuyên dương Pháp Tướng Tông. Năm 840, ông làm giảng sư của Duy Ma Hội (維摩會). Cuộc luận tranh giữa ông với An Trừng (安澄, Anchō) về vấn đề có không đã trở thành nổi tiếng.
thái dương
Aditya—Sun.
Thái Dương Cảnh Huyền
太陽警玄; C: tàiyáng jǐngxuán; J: taiyō keigen; 943-1027;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng, đắc pháp nơi Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán. Môn đệ chính truyền của Sư là Thánh Nham Viên Giám, Hưng Dương Thanh Phẩu và đặc biệt là Phù Sơn Pháp Viễn, một vị Thiền sư thuộc tông Lâm Tế. Phù Sơn – vốn là đệ tử kế thừa Diệp Huyện Quy Tỉnh – được Sư truyền trao y bát, sau lại truyền cho Thiền sư Ðầu Tử Nghĩa Thanh. Trong hệ thống truyền thừa của tông Tào Ðộng tại Trung Quốc và Nhật Bản, Ðầu Tử được xem là người kế thừa trực tiếp của Sư.|Không biết Sư quê quán ở đâu, chỉ biết lúc du phương, Sư đến tham học với Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán. Gặp Lương Sơn, Sư hỏi: »Thế nào là đạo trường vô tướng?« Lương Sơn chỉ tượng Quán Thế Âm bảo: »Cái này là do Ngô Xử Sĩ vẽ.« Sư đang suy nghĩ để nói tiếp, Lương Sơn lại nói nhanh: »Cái này có tướng, cái kia không tướng.« Sư nhân đây tỉnh ngộ, liền lễ bái. Lương Sơn hỏi: »Sao không nói lấy một câu?« Sư thưa: »Nói thì chẳng từ, sợ sa vào dấy mực.« Lương Sơn cười bảo: »Lời này vẫn còn ghi trên bia.« Sư trình kệ: |我昔初機學道迷,萬水天山覓見知|明今辨古終難會,直說無心轉更疑|蒙師點出秦時鏡,照見父母未生時|如今覺了何所得,夜放烏雞帶雪飛.|Ngã tích sơ cơ học đạo mê|Vạn thuỷ thiên sơn mích kiến tri|Minh kim biện cổ chung nan hội|Trực tiếp vô tâm chuyển cánh nghi|Mông sư điểm xuất Tần thời cảnh|Chiếu kiến phụ mẫu vị sinh thì|Như kim giác liễu hà sở đắc|Dạ phóng ô kê đới tuyết phi.|*Con xưa học đạo cứ sai lầm|Muôn núi ngàn sông kiếm thấy nghe|Luận cổ bàn kim càng khó hội|Nói thẳng vô tâm lại sinh nghi|Nhờ thầy chỉ rõ thời Tần kính|Soi thấy cha mẹ lúc chưa sinh|Hiện nay giác ngộ đâu còn đắc|Ðêm thả gà đen trong tuyết bay.|Lương Sơn nghe kệ khen: »Có thể làm hưng thịnh tông Tào Ðộng.«|Sau khi rời Lương Sơn, Sư đến núi Thái Dương trụ trì, khai đường hoằng hoá. Sư có tinh thần rất kì lạ, từ nhỏ đến lớn chỉ ăn ngày một bữa và trụ trì tại Thái Dương 50 năm mà chưa bao giờ bước qua khỏi ranh giới.|Có một vị tăng hỏi: »Tùng lâm bát ngát, trống pháp ầm ầm, nhằm trên tông thừa nói bày thế nào?« Sư đáp: »Y không có tin tức, đâu cho phù hợp.« Tăng lại hỏi: »Hôm nay tông thừa đã nhờ thầy chỉ dạy, chưa biết pháp tự ai, nối pháp người nào?« Sư đáp: »Lương Sơn chỉ thẳng thời Tần kính, Trước ngọn Trường Khánh một ngôi ngời.« Tăng hỏi: »Thế nào là cảnh Thái Dương?« Sư đáp: »Hạc côi vượn lão kêu vang dội, tùng gầy trúc lạnh toả khói xanh.« Lại hỏi: »Thế nào là người trong cảnh?« Sư hỏi lại: »Cái gì? Cái gì?« Tăng hỏi: »Thế nào là gia phong Thái Dương?« Sư đáp: »Bình đầy nghiêng chẳng đổ, khắp nơi chẳng người đói.«|Ðời nhà Tống, niên hiệu Thiên Thánh năm thứ năm, ngày 16 tháng 7, Sư từ biệt chúng. Ba hôm sau, Sư viết kệ gửi Thị Lang Vương Thự:|Ngô niên bát thập ngũ|Tu nhân chí ư thử|Vấn ngã quy hà xứ|Ðỉnh tướng chung nan đổ|*Ta tuổi tám mươi lăm|Tu nhân đến thế ấy|Hỏi ta đi về đâu|Tướng đỉnh trọn khó thấy.|Sư viết xong liền tịch.|Thái Nguyên Tông Chân|太源宗真; J: taigen sáshin, ?-1370;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365).|Sư kế thừa Nga Sơn trụ trì Tổng Trì tự (sōji-ji) và cũng như thầy mình, Sư lấy thuyết Ðộng Sơn ngũ vị làm lí thuyết căn bản của tông phong. Dòng thiền của Sư được truyền bá rất rộng với hơn trăm lần khai sơn lập tự tại Trung và Ðông Nhật Bản. Về cuối đời, Sư trụ tại Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) và sáng lập Phật-đà tự (budda-ji) tại tỉnh Kaga.
thái dương cảnh huyền
Taiyō Keigen (J) Tên một vị sư.
thái dương tinh
Xem Mặt trời.
thái giám
Eunuch.
thái hiền
(太賢) Danh tăng kiêm học giả thuộc tông Pháp tướng, sống vào đời Đường, người Tân la, Triều tiên, hiệu là Thanh khưu sa môn, cũng gọi là Đại hiền. Lúc tuổi trẻ, sư đến Trung quốc theo ngài Đạo chứng chùa Tây minh học Duy thức. Sư trứ tác rất nhiều, soạn hơn 40 loại sách như Cổ tích kí... không câu chấp môn phái, cố giữ sự công bằng, rất được người đờikính trọng. Sau, sư về nước, truyền bá Duy thức học, người đương thời tôn sư là Hải đông Du già tổ. [X. Tam quốc di sự Q.4; Nghĩa thiên lục].
thái hoa
1) Hái hoa: To pick flowers. 2) Tên khác của hoa sen: Another name for lotus.
; (採華) Cũng gọi Bạch liên hoa. Tên gọi khác của hoa sen, Ấn độ gọi là Phân đà lợi hoa (Phạm: Puịđarìka). Có hai thuyết: 1. Dựa vào sự tích con rùa thiêng thọ 1.000 tuổi dạo chơi trên hoa sen, vì rùa thiêng có xuất xứ từ đất Thái nên gọi hoa sen là Thái hoa. Sử kí qui sách truyện nói: Rùa 1.000 tuổi dạo chơi trên hoa sen. Quán kinh tán thiện nghĩa khải định kí cũng từng nói: Minh vương sắp ra đời, lúc đó sẽ có rùa trắng cỡi hoa sen trắng nghìn cánh hiện ra. Do đó mà có tên gọi Thái hoa. Nhưng trong Giáo hành tín chứng lược tán của ngài Đạo ẩn thì thuyết này không được sử dụng mà cho rằng hoa này trực tiếp gọi là Thái hoa, vì hoa này rất hiếm có, giống như rùa thiêng cũng hiếm có nên gọi là Thái hoa. 2. Vì để nói lên sự thù thắng của hoa này khác hẳn với hoa sen thông thường, cho nên đặc biệt gọi là Phân đà lợi hoa. Quán kinh tán thiện nghĩa (Đại 37, 278 thượng) nói: Phân đà lợi được gọi là Nhân trung hảo hoa(hoa tốt đẹp trong cõi người), cũng gọi là Hi hữu hoa, cũng gọi là Nhân trung thượng thượng hoa, cũng gọi là Nhân trung diệu hảo hoa; hoa này tương truyền gọi là Thái hoa. (xt. Phân Đà Lợi Hoa).
thái huyền chân nhất bản tế kinh
(太玄真一本際經) Kinh, 10 quyển, là bộ kinh của Đạo giáo lưu hành vào khoảng Sơ Đường, Trung Đường. Cứ theo luận Chân chính quyển hạ thì đạo sĩ Lưu tiến hỉ đời Tùy sửa đổi kinh Phật mà soạn ra bản 5 quyển, về sau, đạo sĩ Lí trọng khanh lại soạn rộng thêm thành 10 quyển. Nội dung kinh này là giáo hóa Tam thừa để dắt dẫn vào Nhất thừa, đồng thời cho rằng căn bản của tất cả các pháp là đạo tính phi nhân phi quả. Xét chung toàn kinh chịu ảnh hưởng Phật giáo rất lớn, nhất là chịu ảnh hưởng của tông Tam luận. Tác phẩm này được tạo ra với mục đích chống đối giáo lí Phật giáo.
thái hư
T'ai-hsu (C), Taixu (C) (1889-1947) Ngài là một nhà sư Trung quốc đã giữ vai trò quan trọng trong việc phục hưng và cải cách Phật giáo Trung quốc. Ngài cũng là người khai sáng Hội Phật Học trung quốc mà vào năm 1947 có đến 4 triệu hội viên.
; (太虛) Cao tăng Trung quốc sống vào thời đại Dân quốc, người ở Sùng đức, tỉnh Chiết giang, họ Trương, vốn tên là Cam sâm, pháp danh Duy tâm, hiệu là Hoa tử, Bi hoa, Tuyết sơn lão tăng, Tấn vân lão nhân, là người khởi xướng cuộc vận động đổi mới Phật giáo ở thời Trung Hoa Dân Quốc. Năm 16 tuổi sư xuất gia, năm 18 tuổi sư y vào Hòa thượng Kí thiền ở chùa Thiên đồng tại Ninh ba (nay là huyện Ngân) thụ giới Cụ túc, thường qua lại rất thân mật với Pháp sư Viên anh. Năm 19 tuổi, sư đọc Đại tạng ở chùa Tây phương, nhân xem kinh Bát nhã mà tỉnh ngộ. Về sau, sư đến học tại tinh xá Kì hoàn của Dương nhân sơn, cùng học với Âu dương tiệm, Mai quang hi... Nhân ảnh hưởng của tư trào thời đại nên sư chủ trương tẩy trừ các tệ hại đã chất chứa trong Phật giáo từ lâu để hoằng pháp hộ quốc, tiến xa hơn là hưng quốc cứu đời. Năm 1912 (Dân quốc năm đầu), sư đến Quảng châu tuyên dương Phật pháp, được suy tôn làm Trụ trì chùa Song khê ở núi Bạch vân. Sư cùng với Pháp sư Nhân sơn bắt đầu tổ chức Phật giáo hiệp tiến hội, đến Kinh đô yết kiến Tổng thống lâm thời là Tôn trung sơn tiên sinh, trình bày kế hoạch đổi mới Phật giáo, Trung sơn tiên sinh rất khen ngợi và khuyến khích việc ấy. Sư liền đề nghị đổi chùa Kim sơn làm Đại học Phật giáo, nhưng chưa thành công. Năm sau, sư sáng lập Trung quốc Phật giáo hiệp tiến hội tại Nam kinh, sau sáp nhập vào Trung quốc Phật giáo tổng hội. Trong đại hội truy điệu Hòa thượng Kí thiền, sư chủ trương 3 cuộc đổi mới lớn về giáo lí, giáo chế và giáo sản, soạn lời hô hào vận động phục hưng Phật giáo, thiết lập chế độ Tân tăng đoàn. Năm 1914 (năm Dân quốc thứ 3), sư nhập thất ở núi Phổ đà. Một đêm kia, bỗng nghe tiếng chuông khai tĩnh (chuông báo thức buổi sáng sớm) từ ngôi chùa phía trước vọng tới, tâm niệm sư chợt dứt bặt, lại trải qua ngộ cảnh lần thứ 2. Năm 28 tuổi, sư lại trải qua ngộ cảnh lần thứ 3. Trong thời gian nhập thất, sư lần lượt soạn thảo 3 bộ luận: Phật pháp đạo luận, Chỉnh lí tăng già chế độ luận và Thủ lăng nghiêm kinh nhiếp luận. Năm 29 tuổi, sau khi ra thất, sư được đề cử đại diện Pháp sư Viên anh tham dự Đài loan pháp hội, sau đó, sư sang thăm Nhật bản. Khi trở về Trung quốc, sư sáng lập Giác xã tại Thượng hải, làmChủ biên Giác xã tùng thư, năm sau đổi thành nguyệt san Hải triều âm. Năm 32 tuổi, sư có tranh luận về pháp nghĩa với học giả Âu dương tiệm, người chủ trì China nội học viện. Sư vốn phản đối sự ứng dụng phương pháp khảo chứng lịch sử của Tiến hóa luận (Theory of evolution) trong việc nghiên cứu kinh điển Phật. Bởi thế, đối với sự khảo chứng của các học giả Nhật bản cho luận Đại thừa khởi tín, kinh Thủ lăng nghiêm... là ngụy thư, sư đã kịch liệt phản đối. Sư từng soạn Bình Đại thừa khởi tín luận khảo chứng, Phật pháp tổng quyết trạch đàm, cực lực chủ trương Pháp tướng phải y cứ vào Duy thức, đồng thời bênh vực luận Khởi tín. Sư cũng chủ trương 8 tông của Đại thừa là bình đẳng, dùng Thiền, Luật để chấn hưng Phật giáo và mở rộng Phật pháp Đại thừa trên trường quốc tế. Người đương thời coi sư là đại biểu cho phái cách tân và xem ngài Đế nhàn là đại biểu cho phái thủ cựu trong giới Phật giáo. Năm 1924 (Dân quốc năm 13), Liên hiệp hội Phật giáo thế giới được tổ chức tại Lô sơn. Năm sau, sư dẫn đầu phái đoàn đi dự Đại hội Phật giáo Đông nam á tổ chức tại Nhật bản, đồng thời khảo sát các hoạt động của Phật giáo Nhật bản, người Nhật tôn sư là Minh chủ của giới Phật giáo Dân quốc. Năm 1927 (Dân quốc năm thứ 16), sư làm Trụ trì chùa Nam phổ đà ở Hạ môn kiêm Viện trưởng Phật học viện Mân nam. Năm 1928 (Dân quốc năm thứ 17), sư sáng lập hội Phật học Trung quốc tại Nam kinh, đồng thời du hóa các nước như: Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hà lan, Hoa kì... thể theo kiến nghị của các học giả nước Pháp, sư trù hoạch thiết lập viện Phật học thế giới tại Paris. Sư là vị tăng Trung quốc đầu tiên đến Âu Mĩ truyền bá Phật giáo. Kể từ đó, tiếng tăm sư ngày càng trở nên lừng lẫy, trong nước có người coi sư là vị cứu tinh của Phật giáo. Năm 44 tuổi, sư trụ trì chùa Tuyết đậu ở Phụng hóa. Năm sau, sư lại biện luận về pháp nghĩa với học giả Hùng thập lực ở Chi na nội học viện. Năm 49 tuổi, sư viết Ngã đích Phật giáo cách mạng thất bại sử, trong đó, sư trình bày những nguyên nhân đã làm cho cuộc đổi mới Phật giáo bị thất bại. Về sau, sư tích cực trong việc thiết lập một tổ chức trung tâm của Phật giáo. Năm 1943 (Dân quốc năm 32), sư cùng với các cư sĩ Vu bân, Phùng ngọc tường, Bạch sùng hi... tổ chức Trung quốc tông giáo đồ liên nghị hội. Sau khi kháng chiến thành công, sư làm chủ nhiệm Trung quốc Phật giáo chỉnh lí ủy viên hội, ủy viên thiết kế của Quốc dân tinh thần tổng động viên hội. Năm 1946 (Dân quốc năm 35), sư được huân chương Lãnh tụ tông giáo thắng lợi. Ý sư muốn thành lập hội Phật giáo Trung quốc, nhưng tiếc thay chưa đạt thành thì sư đã thị tịch ở hiên Trực chỉ chùa Ngọc Phật tại Thượng hải vào năm 1947 (Dân quốc năm 36), thọ 59 tuổi. Sư một đời khởi xướng việc đổi mới Phật giáo, tận lực phụng sự Phật pháp, tuy sư chưa làm tròn ý nguyện nhưng ảnh hưởng của sư thì rất sâu xa. Sư từng tự nói: Chí nguyện là chỉnh lí chế độ tăng già, còn tu hành thì theo Bồ tát du già giới bản, cho nên trọn một đời sư đều gắng sức thực hiện chủ nghĩa Tam Phật: Phật tăng, Phật hóa, Phật quốc. Trước hết là đề xướng nền giáo dục chúng tăng, bồi dưỡng tăng tài, thiết lập viện Phật học Vũ xương (1922), viện Phật học Mân nam và viện Giáo lí Hán Tạng (1931, chùa Tấn vân ở tỉnh Trùng khánh). Kế đến là sáng lập các tạp chí: Hải triều âm, Phật hóa báo, Phật hóa tân thanh niên... để hoằng dương Phật pháp. Năm 1927 (Dân quốc năm 16), sư bắt tay vào việc tổ chức viện Phật học thế giới để kiến lập Phật giáo nhân sinh, xúc tiến việc Phật giáo hóa thế giới. Đồng thời, phái học tăng đến các nước Tây tạng, Ấn độ, Tích lan... du học để nghiên cứu tiếng Pàli, Phạm và Tây tạng. Sư đã gây dựng và bồi dưỡng rất nhiều tăng tài như các vị: Pháp phưởng, Pháp tôn, Chi phong, Ấn thuận, Đại tỉnh, Đại dũng... Sư có các phẩm: Chỉnh lí tăng già chế độ, Thích tân tăng, Tân đích duy thức quan, Chấn đán Phật giáo suy lạc nguyên nhân luận, Pháp tướng duy thức học, Chân hiện thực luận và rất nhiều loại tác phẩm khác mà sau do các ngài Ấn thuận... thu gom lại và biên thành Thái hư Đại sư toàn thư gồm 64 tập lưu hành ở đời. [X. Thái hư Đại sư niên phổ; Thái hư tự truyện].
thái hư không
Space, where nothing exists.
; (太虛空) Cũng gọi Ngoan không, Thiên không. Chỉ cho bầu hư không bao la, rộng lớn của vũ trụ. Hư không này thường vắng lặng, rốt ráo vô vi vô vật; trong kinh thường dùng hư không này để ví dụ với Niết bàn khôi thân diệt trí của Tiểu thừa, khác với diệu không, đệ nhất nghĩa không của Niết bàn Đại thừa. [X. luận Bồ đề tâm].
thái hư đại sư
Nhà sư Trung quốc nổi tiếng (1889-1947). Ngài đã làm sống lại Phật giáo Trung quốc bằng chủ trương khôi phục Tăng già. Vào năm ông thị tịch 1947, hội Phật giáo Trung quốc do ông lập ra đã có trên 4 triệu môn đồ. Một trong những thành công lớn của ông là hòa hợp được các triết học của các trường phái Pháp Tướng, Hoa Nghiêm và Thiên Thai—A famous Chinese monk (1889-1947). He reformed the Chinese Buddhism by revitalizing the Sangha. In 1947, the year he passed away, the Chinese Buddhist Society founded by him had over 4 million followers. One of his most important achievements was a harmonious blending of philosophies from Fa-Hsiang, Hua-Yen and T'ien-T'ai schools.
thái hư đại sư toàn thư
(太虛大師全書) Tác phẩm, gồm 64 tập, do ngài Ấn thuận chủ biên. Đây là toàn bộ trứ tác của Đại sư Thái hư, người vận động đổi mới Phật giáo chủ yếu của thời Dân quốc. Nội dung toàn tập chia làm 20 bộ môn: Phật pháp tổng học, Ngũ thừa cộng học, Tam thừa cộng học, Đại thừa thông học, Pháp tính không tuệ học, Pháp tướng duy thức học, Pháp giới viên giác học, Luật thích, Chế nghị, Học hạnh, Chân hiện thực luận tông y luận, Chân hiện thực luận tông thể luận, Chân hiện thực luận tông dụng luận, Chi luận, Thời luận, Thư bình, Thù đối, Giảng diễn, Văn tùng và Thi tồn. Tập phụ thêm là Thái hư đại sư niên phổ tập thượng, hạ, do ngài Ấn thuận chủ biên.
thái hậu
Queen mother.
Thái Kinh Nhập Đạo
(泰經入道, Taikyō Nyūdō, ?-1201): tức là Cao Giai Thái Kinh (高階泰經), con của Trưởng Quan Kami vùng Nhược Hiệp (若狹, Wakasa, nay là Fukui-ken [福井縣]), tên Thái Trọng (泰重), làm quan đến chức Chánh Tam Vị. Ông xuất gia vào ngày mồng 6 tháng 9 năm thứ 8 (1197) niên hiệu Kiến Cửu (建久), qua đời ngày 23 tháng 11 năm đầu (1201) niên hiệu Kiến Nhân (建仁).
thái liêm tiêm sinh
(太廉纖生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thái nghĩa là rất; Liêm tiêm nghĩa là khít khao nhỏ nhiệm; Sinh là tiếng tiếp vĩ ngữ. Ý nói phương pháp tiếp hóa người học của bậc thầy rất thân thiết, tế nhị. Bích nham lục tắc 3 (Đại 48, 142 hạ) nói: Như vậy cũng được, không như vậy cũng được, rất khít khao nhỏ nhiệm (thái liêm tiêm sinh.
thái miếu
Imperial (Royal) temples.
thái nguyên phu
Tai yuan Pu (C) Tên một vị sư.
Thái nhiên
泰然; C: tàirán; J: taizen;|Thanh thản, điềm tỉnh; ung dung, không lay động.
Thái nhiên 泰然
[ja] タイゼン taizen ||| Calm, composed; firm, imperturbable. => Thanh thản, điềm tĩnh; ung dung, không lay động.
thái nhỏ
To cut into small pieces.
Thái Năng 太能
[ja] タイノウ Tainō ||| T'aenŭng (1562-1649); later Chosŏn Sŏn master, one of the four leading disciples of Hyujŏng 休靜. Posthumously named Soyo 逍遥. Originally from Cholla Namdo. Ordained into the Buddhist order as a novice at age thirteen at 白羊山, and later on studied at Haein-sa 海印寺. He would eventually come under the tutelage of Hyujŏng; attaining such a deep grasp on the Buddhist teachings, that a separate "school" called the Soyop'a 逍遥派 would form around him. He authored the Soyodangjip 逍遥堂集. => (k: T'aenŭng ; 1562-1649); Thiền sư Triều Tiên, một trong 4 đệ tử thượng thủ của Hưu Tịnh (k: Hyujŏng 休靜). Thụy hiệu là Tiêu Diêu (k: Soyo 逍遥). Xuất thân từ Cholla Namdo. Xuất gia hành điệu lúc 13 tuổi tại Bạch Dương sơn, sau đó tu học tại chùa Hải ấn (k: at Haein-sa 海印寺). Cuối cùng sư được ngài Hưu Tịnh dạy dỗ và thông đạt sâu sắc giáo lý Phật pháp, đến mức làm phát xuất một chi phái mang tên Tiêu Diêu phái (k: Soyop'a 逍遥派). Sư là tác giả của Tiêu Diêu đường tập (k: Soyodangjip 逍遥堂集).
Thái Phạm
(泰範, Taihan, 778-?): một trong 10 vị đại đệ tử của Không Hải (空海, Kūkai). Ban đầu ông xuất gia ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), rồi sau đó theo hầu Tối Trừng (最澄, Saichō) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Năm 810, ông làm Tổng Biệt Đương (總別當) của Tỷ Duệ Sơn, cùng với Tối Trừng định ra quy chế Thiền môn. Vào năm 812, ông cùng với Tối Trừng và đồ chúng đến Cao Hùng Sơn Tự (高雄山寺) tự thọ lễ Quán Đảnh với Không Hải. Sau đó, ông không nghe lời khuyên của thầy để trở về núi mà theo hầu Không Hải để học về Mật Giáo, trở thành một trong mấy vị đại đệ tử của Không Hải và tận lực khai sáng Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan).
thái qua nhĩ
(泰戈爾) Tagore, Rabindranath, 1816-1941. Nhà thơ, nhà văn học, nhà tư tưởng Ấn độ. Gọi theo tiếng Bengali thì tên ông làỈhàkur. Ông xuất thân từ một gia đình danh giá ở Calcutta, sớm được giáo dục theo tư tưởng, học thuật truyền thống của Ấn độ. Năm 1877, ông đến nước Anh học tập pháp luật, chịu ảnh hưởng tư tưởng Tây âu thời cận đại. Sau khi về nước, ông thừa kế sản nghiệp to lớn của cha để lại, ngoài ra thì chuyên làm thơ. Ông đem nhiệt tình yêu dân tộc, yêu đất nước của ông và niềm mơ ước lớn lao gửi gấm vào cuộc vận động độc lập cho Ấn độ, người đương thời tôn ông là nhà thơ trữ tình. Về sau, ông có khuynh hướng về quan niệm tự nhiên của Đông phương, từ trạng thái vắng lặng tự nhiên đi vào tông giáo và cảnh giới thầm tưởng thần bí, do đó hình thành phong cách thi ca theo hình thức tùy tưởng và mở ra nền triết học sinh mệnh đặc thù của ông. Ông chủ trương lấy tình yêu thực tiễn làm đệ nhất nghĩa trong sự điều hòa sinh mệnh thần bí. Ông từng đến thăm Trung quốc và Nhật bản. Trong các buổi diễn giảng, ông thường bày tỏ tấm chân tình chan chứa đốivới các dân tộc Á châu, đồng thời nghiêm trọng cảnh báo mối nguy hiểm của sự bắt chước văn hóa Tây phương. Một đời ông viết rất nhiều về thơ, tiểu thuyết, hí khúc, tùy bút, bình luận, triết học luận tập, tông giáo luận tập... chủ yếu ông dùng tiếng Bengali để trứ tác, đa số các tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Anh. Ông là người châu Á đầu tiên được tặng giải thưởng Nobel văn chương (1913). Ông bình sinh tha thiết chú ý đến việc giáo dục và nghệ thuật của dân chúng Ấn độ. Ông cũng giỏi về hội họa và sáng tác ca khúc. Năm 1901, ông sáng lập trường học ở Shantiniketan, vùng phụ cận Calcutta, tại tiểu bang West Bengal để giáo dục con em. Năm 1921 xây dựng lại thành Đại học, tức Đại học Quốc tế Tagore (sau đổi thành Đại học Quốc lập). Sự ra đời của ngôi trường này đã trở thành một trong các nguyên động lực của cuộc vận động độc lập cho Ấn độ.
thái quá
Excessive—Exaggerated—Immoderate—Exhorbitant.
thái quốc phật giáo
(泰國佛教) Thái quốc (Thailand) nằm giữa bán đảo Trung nam, xưa gọi là Đọa Rabindranath Tagore la bát để (Phạm: Dvàrapati), cũng gọi Xã hòa bát để, Đọa hòa la. Cư dân là dân tộc Thái, vốn định cư ở vùng tây nam tỉnh Vân nam, Trung quốc, nhưng vì bị người Hán áp bức nên dần dần phải dời đến ven sông Mê nam, Mê kông, khoảng thế kỉ VII, chinh phục các vùng lân cận, xây dựng nền tảng vương quốc. Giữa thế kỉ XIII, ở miền thượng du và trung du của sông Mê nam (Menam), các Vương triều Lan na thái (Lanna-thái) và Vương triều Tố khả thái (Sukho-thai, 1257-1436) lần lượt được kiến lập. Đến giữa thế kỉ XIV, hai Vương triều sáp nhập lại lập ra quốc đô, chính thức thống nhất, thành lập Vương triều A du đà (Auodhyà, 1350-1766, cũng gọi Vương triều Đại thành), Trung quốc gọi là Xiêm la. Trước khi thống nhất, tín ngưỡng Phật giáo đã rất hưng thịnh, phong khí tạo tượng Phật, xây chùa viện cũng rất phổ biến. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 thì thời ngài Nghĩa tịnh Phật pháp ở xứ này đã rất thịnh hành. Phật giáo khoảng trước khi dân tộc Thái lập quốc có thể chia làm 4 thời kì: Thời kì truyền nhập của Phật giáo Thượng tọa bộ (thế kỉ III trước Tây lịch); thời kì truyền nhập của Phật giáo Đại thừa (thế kỉ VIII Tây lịch), thời kì truyền nhập của Phật giáo Bồ cam (thế kỉ XI) và thời kì truyền nhập của Phật giáo Tích lan (thế kỉ XIII), còn lịch sử xác thực thì bắt đầu từ Vương triều Tố khả thái (Sukhothai).Phật giáo ở thời kì đầu của Vương triều Tố khả thái hoằng dương cả Thượng tọa bộ và Đại thừa, vua Lập thái (Thammaraja Luthai, ở ngôi 1374-1370) đời thứ 5 thông hiểu cả nội ngoại điển, vua soạn luận Tam giới, trình bày về vũ trụ quan và nhân sinh quan của Phật giáo; vua còn chủ trì đúc tạo tượng Phật. Tượng Phật bằng đồng được thờ ở chùa Đại xá lợi tại phủ Bành thế lạc và tượng Phật lớn bằng đồng thờ ở chùa Thiện kiến tại Bangkok hiện nay chính là do nhà vua đúc tạo. Giữa thế kỉ XIV, Vương triều Đại thành (1350-1766) thay thế Vương triều Tố khả thái, từng xây dựng chùa Phật đà tối thắng, chùa Ba khảo; vua Đát lai lạc ca (Boroma Trailokanàtha, 1448-1488) lại đổi vương cung cũ thành chùa Phật, đặt tên là chùa Tối thắng biến tri; vua Lạp mã thiết ba để đời thứ 2 (Ramadhipati II, 1491-1529) thì ban sắc tạo tượng Đại Phật cao 16 mét; vua Tụng đàm (Songtham, 1610-1628), lúc còn trẻ đã từng xuất gia, pháp danh là Tịnh pháp, từng ban sắc xây chùa Phật trên núi Tô bàn na, đổi tên là núi Phật túc. Năm 1767, Hoàng gia khuynh đảo, nội loạn liên miên, Miến điện thừa cơ xâm lấn, sau nhờ người Hán là Trịnh chiêu khôi phục nghiệp cũ, kiến lập Vương triều Thôn vũ lí. Trịnh chiêu chính là Lạp mã đời thứ nhất (Rama I), tổ tiên của Vương triều Thái quốc hiện nay. Vua Lạp mã đời thứ nhất từng hiệu đính Tam tạng (1788), cải cách tăng đoàn; vua Lạp mã đời thứ 3 ban sắc phiên dịch Tam tạng (đặc biệt là tạngLuận) ra tiếng Thái; em vua, tức Lạp mã đời thứ 4, từng xuất gia, pháp hiệu là Kim cương trí, chủ trương giữ gìn giới luật một cách nghiêm khắc, sáng lập phái Pháp tông (Dhammayuttika-nikàya), vốn có rất đông chư tăng, vì thế nên gọi là phái Đại tông (Mahà-nikàya), từ đó, tăng đoàn Thái lan chia ra 2 phái, lưu truyền đến nay. Vua Chu lạp long công (Chulalongkorn, 1868-1901) đời thứ 5, dùng tiếng Thái ấn hành kinh điển Pàli, sáng lập học viện chùa Đại xá lợi làm trung tâm nghiên cứu Pàli cao cấp, học viện Hoàng miện là trung tâm nghiên cứu Phật học cao cấp, viện này đồng thời phát hành tạp chí Pháp nhãn cho mãi đến hiện nay; là tờ báo lâu đời nhất của Phật giáo Thái lan; vua Lạp mã đời thứ 6 (1910-1925) có soạn các sách Phật đà giác ngộ thập mạ, Đông phương Do thái...; vua Lạp mã đời thứ 7 (1925-1934), biên lại Tam tạngPàli; vua Lạp mã thứ 8 (1934-1946) từng tổ chức tăng già Phật giáo phỏng theo hình thức Quốc hội, ngoài Tăng vương(VuaSãi) là vị lãnh đạo tối cao ra còn lập Tăng già bộ trưởng, Tăng già nghị hội, Tăng già pháp đình. Trong thời gian từ Lạp mã thứ 4 đến Lạp mã thứ 6, ngôi Đại tháp Phật thống cao khoảng hơn 120 mét, chu vi 240 mét được xây dựng, đây là ngôi tháp Phật lớn nhất ở Thái lan. Hiện nay, Phật giáo làquốc giáo của Thái lan, chư tăng rất được tôn kính, nghi thức của Hoàng gia, nền giáo dục quốc dân và các hình thức sinh hoạt khác nói chung đều lấy Phật giáo làm khuôn mẫu. Hơn nữa còn qui định con trai đến 20 tuổi phải xuất gia một lần; tăng chúng có quyền phát ngôn rất lớn đối với các tầng lớp xã hội. Giống như Phật giáo Tích lan, Phật giáo Thái lan cũng sử dụng Tam tạng Pàli, thời gần đây cũng có ấn hành Tam tạng bằng tiếng Thái, về sau lại tiếp tục in Tam tạng chú thích và các kinh sách ngoài Đại tạng. [X. Đại đường tây vực kí Q.10; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển 101; Đông tây giao thiệp sử đích nghiên cứu Nam hải thiên; Thái quốc Phật giáo giản sử (Diễn bồi); Nam truyền Phật giáo sử thiên thứ 3 (Tịnh hải)].
Thái Sơn
(泰山): còn gọi là Đại Tông (岱宗), Đại Sơn (岱山), Đông Nhạc (東嶽), là ngọn núi đứng đầu Ngũ Nhạc (五嶽), tọa lạc tại miền Trung của Tỉnh Sơn Đông (山東省), giáp giới với các tỉnh như Tề Nam (濟南), Trường Thanh (長清), Lịch Thành (歷城), Thái An (泰安), v.v., rộng khoảng hơn 400 dặm vuông, phía Đông là biển lớn, phía Tây tựa vào Hoàng Hà (黃河). Theo Thuật Dị Ký (述異記) của Nhiệm Phưởng (任昉, 460-508) thời Lục Triều (六朝, 220-589), dưới thời Tần (秦, 221-207 ttl.), Hán (漢, 202ttl.-220), truyền thuyết dân gian cho rằng Bàn Cổ (盤古) sau khi chết, đầu là Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc (中岳), tay trái là Nam Nhạc (南岳), tay phải là Bắc Nhạc (北岳), chân là Tây Nhạc (西嶽). Đầu của Bàn Cổ hướng về phía Đông, nên hóa thành Đông Nhạc, vì vậy Thái Sơn trở thành đầu của Ngũ Nhạc. Trong 36 Động Thiên của Đạo Giáo, Thái Sơn được xếp vào hàng Động Thiên thứ hai. Đạo Giáo du nhập vào ngọn Thái Sơn này lúc nào, hiện tại vẫn chưa xác định rõ. Tuy nhiên, trong quyển 94 của Tấn Thư (晉書), Ẩn Dật Truyện (隱逸傳) có ghi rằng vào thời nhà Tấn (晉, 265-316) có Đạo Sĩ Trương Trung (張忠) vào ẩn cư trong Thái Sơn, vậy ta có thể biết được rằng ít nhất ông là vị Đạo Sĩ đầu tiên vào trong núi này. Về miếu vũ trên Thái Sơn, có Đại Nhạc Miếu (岱嶽廟) được kiến lập sớm nhất vào thời Bắc Ngụy (北魏, 386-543). Theo Thủy Kinh Chú (水經注) của Lịch Đạo Nguyên (酈道元, ?-527) nhà Bắc Ngụy cho biết rằng Đại Nhạc Miếu phân làm 3 miếu thượng, trung và hạ. Đến thời nhà Đường (唐, 618-907), cả ba ngôi đều được trùng tu, miếu trung được gọi là Đại Nhạc Quan (岱嶽觀), thế gian gọi là Lão Quân Đường (老君堂), là nơi được Hoàng Đế nhà Đường phái Đạo Sĩ đến thờ tự Thái Sơn Thần. Từ thời nhà Đường, Tống (宋, 960-1279) trở đi, trên Thái Sơn có nhiều công trình kiến trúc được tạo dựng như Thanh Đế Quan (青帝觀), Vương Mẫu Trì (王母池), Thăng Nguyên Quan (升元觀), Bích Hà Nguyên Quân Từ (碧霞元君祠), Ngọc Đế Quan (玉帝觀), Hội Chơn Cung (會眞宮), v.v. Đến thời nhà Minh (明, 1368-1644), Thanh (清, 1644-1912), Đạo Giáo trên Thái Sơn lại càng hưng thạnh hơn thêm và kéo dài cho đến hiện tại. Bên cạnh đó, các tự viện Phật Giáo cũng phát triển trên núi rất nhiều như Linh Nham Tự (靈岩寺), Phổ Chiếu Tự (普照寺), Hóa Quang Tự (光化寺), Tứ Thiền Tự (四禪寺), Song Tuyền Am (雙泉庵), Hàm Thảo Tự (銜草寺), v.v. Lịch đại chư vị đế vương đều tỏ vẻ vô cùng tôn sùng đối với Thái Sơn. Tương truyền xưa kia có xuất hiện 72 vị quân chủ, đều tập trung chư hầu trên núi này để tiến hành lễ tế trời đất gọi là Phong Thiền (封禪). Từ thời thượng cổ các đế vương như Vô Hoài Thị (無懷氏), Thần Nông Thị (神農氏), Viêm Đế (炎帝), Hoàng Đế (黃帝), Nghiêu (堯), Thuấn (舜), v.v., đều đã từng lên núi này hành lễ Phong Thiền, để tạ ơn chư vị thiên thần ủng hộ cho. Kể từ khi Tần Thỉ Hoàng (秦始皇, tại vị 246-210 ttl.) lên núi hành lễ này vào năm 219 trước Công Nguyên trở về sau, Tây Hán Võ Đế Lưu Triệt (西漢武帝劉徹, tại vị 141-87 ttl.), Đông Hán Quang Võ Đế Lưu Tú (東漢光武帝劉秀, tại vị 25-57), Chương Đế Lưu Đạt (章帝劉達, tại vị 75-88), An Đế Lưu Hộ (安帝劉戶, tại vị 106-125), Đường Cao Tông Lý Trị (唐高宗李治, tại vị 649-683), Đường Huyền Tông Lý Long Cơ (唐玄宗李隆基, tại vị 712-756), Tống Chơn Tông Triệu Hằng (宋眞宗趙恆, tại vị 997-1022), v.v., cũng đã từng thân hành lên Thái Sơn làm lễ Phong Thiền. Như trong Sử Ký (史記), Phong Thiền Thư (封禪書) có đoạn: “Thử Thái Sơn đảnh thượng trúc đàn tế Thiên, báo Thiên chi công, cố viết Phong (此泰山頂上築壇祭天、報天之功、故曰封, trên đỉnh Thái Sơn dựng đàn tế Trời để báo đáp công Trời, gọi là Phong),” và “Thử Thái Sơn hạ tiểu sơn thượng trừ địa, báo Địa chi công, cố viết Thiền (此泰山下小山上除地、報地之功、故曰禪, dưới chân Thái Sơn, dọn dẹp sạch trên núi nhỏ để báo đáp công Đất, gọi là Thiền).” Bên cạnh đó, các thi hào, văn nhân qua các thời đại cũng rất kính ngưỡng Thái Sơn, như Khổng Tử (孔子, 552/551-479 ttl.) nhà Chu (周), Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy (魏, 220-265), Tư Mã Thiên (司馬遷, 135-90 ttl.) nhà Hán, Lục Cơ (陸機, 261-303) nhà Tấn, Lý Bạch (李白, 701-762), Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường, Tô Triệt (蘇轍, 1039-1112) nhà Tống, v.v., đều có lưu lại những áng thi văn tuyệt hảo tán tụng về Thái Sơn. Trong Hàn Phi Tử (韓非子), chương Thập Quá (十過) có đoạn rằng: “Tích giả Hoàng Đế hợp quỷ thần ư Thái Sơn thượng, giá tượng xa nhi lục giao long, Tất Phương tinh hạt; Xí Vưu cư tiền, Phong Bá tấn tảo, Vũ Sư lệ đạo, hổ lang tại tiền, quỷ thần tại hậu, Đằng Xà phục địa, Phụng Hoàng phú thượng, đại hợp quỷ thần (昔者黃帝合鬼神於泰山之上、駕象車而六蛟龍、畢方並轄、蚩尤居前、風伯進掃、雨師灑道、虎狼在前、鬼神在後、騰蛇伏地、鳳皇覆上、大合鬼神, xưa kia Hoàng Đế tập hợp quỷ thần trên Thái Sơn, hộ vệ xe voi có sáu con thuồng luồng, quái điểu Tất Phương nâng trục xe, thú thần Xí Vưu ở phía trước, Thần Gió Phong Bá quét dọn đường, Thần Mưa Vũ Sư rưới sách đường, cọp sói ở trước, quỷ thần phía sau, Rắn Bay nép dưới đất, chim Phụng Hoàng núp trên không, các quỷ thần tập hợp rất đông).” Hay như trong Trang Tử (莊子), chương Tiêu Dao Du (逍遙遊) có câu: “Hữu điểu yên, kỳ danh vi bằng, bối nhược Thái Sơn, dực nhược thùy thiên chi vân (有鳥焉、其名爲鵬、背若泰山、翼若垂天之雲, có con chim, tên nó là bằng [đại bàng], lưng nó như núi Thái Sơn, cánh nó như đám mây che trời).” Như trong bài Phi Long Thiên (飛龍篇) của Tào Thực có đoạn miêu tả sự linh thiêng trên núi Thái Sơn rằng: “Thần du thái sơn, vân vụ yểu điệu, hốt phùng nhị đồng, nhan sắc tiên hảo, thừa bỉ bạch lộc, thủ y chi thảo, ngã tri chân nhân, trường quỳ vấn đạo (晨遊泰山、雲霧窈窕、忽逢二童、顏色鮮好、乘彼白鹿、手醫芝草、我知眞人、長跪問道, sớm dạo Thái Sơn, khói mây yểu điệu, chợt thấy hai trẻ, cỡi con hươu trắng, tay nắm cỏ chi, biết là chân nhân, quỳ xuống hỏi đường).” Trong ca dao Việt Nam thường có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.” Từ đó, núi Thái Sơn to lớn, vĩ đại kia được ví cho công ơn của người cha đối với con.
thái sơn
T'ai-shan (C), Mount T'ai.
; Đông Sơn trong tỉnh Sơn Đông thuộc Trung Quốc—The Eastern Sacred Mountain in Shan-Tung province, China.
; (泰山) Cũng gọi Đông nhạc, Đại sơn. Tên núi nằm ở huyện Thái an, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, 1 trong Ngũ nhạc. Theo truyền thuyết, núi này là chỗ cư trú của Thái sơn Phủ quân, vị thần chuyên coi việc chiêu hồn. Sau khi được dung hợp với Phậtgiáo, Thái sơn Phủ quân trở thành thư kí của vua Diêm ma, chuyên môn ghi chép những hành vi thiện ác của con người, do đó, núi này trở thành ngọn núi linh thiêng và là đối tượng tín ngưỡng của Đạo giáocũng như của Phật giáo. Trên núi có chùa Thần thông do ngài Tăng lãng sáng lập vào niên hiệu Hoằng thủy năm đầu (351) đời Tiền Tần, ban đầu gọi là Lãng công Cốc sơn tự, đến đời Tùy mới đổi tên là Thần thông tự. Theo truyền thuyết, ngài Nghĩa tịnh từng thụ học ở chùa này. Trên núi có ngôi tháp bằng đá một tầng 4 mặt và tháp Lãng công nhờ kiểu kiến trúc mà nổi tiếng ở đời. Thiên Phật nhai ở lưng chừng núi, có vài trăm pho tượng Phật bằng đá lớn nhỏ được tạo vào đầu đời Đường, nếu so với tượng Phật ở các nơi khác như Vân cương, Long môn thì tượng ở đây ít bị phá hoại nhất. Ngoài ra còn có kinh Kim cương Bát nhã ba la mật được khắc trên vách đá hoa cương, gọi là Thạch kinh dục. Khuôn khổ mỗi chữ khoảng 30cm đến 50cm, đến nay còn khoảng hơn 900 chữ, nét viết rất mạnh mẽ, là di tích của đời Đường. [X. Lương cao tăng truyện Q.5; Thủy kinh chú Q.8; Thái sơn chí].
thái sơn nham
(泰山岩) Tên chùa nằm ở làng Thái sơn, huyện Đài bắc, Đài loan, được sáng lập vào năm Càn long 19 (1754) đời Thanh, do 2 ông Lí tự ngạn và Lí tự nguyên sau khi thỉnh Mã tổ từ Tuyền châu, Phúc kiến về cung phụng ở đây. Ban đầu lấy tên là Phúc sơn nham. Năm Hàm phong thứ 3 (1853), chùa bị thiêu hủy trongmột trận hỏa hoạn, sau đó được xây dựng lại mới đổi tên là Thái sơn nham. Năm Dân quốc 24 (1935), chùa được kiến thiết lại lần thứ 2. Cùng năm ấy, cư sĩ Khưu sáng tiêu thỉnh tượng Phật Thích ca ma ni bằng ngọc trắng từ núi Phổ đà về thờ ở Đại điện, đồng thời đắp tạo tượng bồ tát Quan thế âm, từ đó chùa này trở thành một đạo tràng Phật giáo danh tiếng. Năm Dân quốc 61 (1972), chùa được sửa lại toàn diện.
thái sơn nương nương
T'ai-shan Niang-niang (C), Taishan Niangniang (C).
thái sơn phủ quân
(太山府君) I. Thái Sơn Phủ Quân. Phạm: Citragupta. Hán âm: Chất đa la cấp đa. Hán dịch: Phụng giáo quan. Chỉ cho vị quan trông coi sổ sách của vua Diêm ma ở cõi âm, là 1 trong 16 vị quyến thuộc của Diêm ma thiên chủ được an trí trong viện Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này thống lãnh chúng quỉ, hầu vua Diêm ma, tay trái cầm cờ có hình đầu người, tay phải cầm bút; thường sai loài quỉ xem xét các nghiệp thiện ác của con người, ghi chép vào sổ sách, khi người chết được đưa đến trước vua Diêm ma để đối chứng các việc thiện ác mình đã làm lúc còn sống mà Thái sơn Phủ quân đã ghi chép. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6; Diêm la vương cúng hành pháp thứ đệ; Pháp uyển châu lâm Q.62; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 13]. II. Thái Sơn Phủ Quân. Chỉ cho vị thần núi Thái sơn ở Trung quốc, chuyên trách các việc cõi âm.
thái sơn vương
(太山王) Vị vua thứ 7 trong 10 vị vua ở cõi âm. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương thì bản địa của vị vua này là Dược sư Như lai, là vị quan cõi âm có quyền quyết định nơi mà các người tội sẽ sinh đến. Phía trước tòa của vị vua này có cửa thông đến 6 đường: Địa ngục, ngã quỉ, sú sinh, Tu la, nhân gian và cõi trời. Khi người chết đủ 49 ngày của thân trung ấm thì đi qua chỗ tối tăm, đến điện vua Thái sơn để nghe quyết định nơi sinh đến trong đương lai. Nhưng, trong tín ngưỡng dân gian phổ thông thì cho rằng người chết còn phải chịu sự phán xét qua 3 Cảnh bên ngoài của Đại điện Thái sơn nham điện nữa là 8, 9, 10, rồi mới được đi đầu thai chuyển thế. [X. môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Thập Vương, Thái Sơn Phủ Quân, Diêm La Thập Điện).
thái thô sanh
Người thô thiển—A ruffian—A rough fellow.
thái thô sinh
(太粗生) Thái là rất, Thô là thô bạo, thô tháo; Sinh là tiếng tiếp vĩ ngữ. Trong Thiền lâm, từ ngữ này thường được sử dụng để tỏ ý chê trách những người tu hành chưa được thuần thục, cử chỉ còn thô tháo, lỗ mãng, thiếu thận trọng. Lâm tế lục (Đại 47, 503 trung) ghi: Một hôm, Sư cùng Phổ hóa đến nhà thí chủ, trong lúc thụ trai,Sư hỏi: Lỗ chân lông hút hết nước biển cả, hạt cải chứa trọn núi Tu di, đó là thần thông diệu dụng hay là bản thể như thế? Phổ hóa đạp đổ bàn cơm. Sư nói: Thô bạo quá! (Thái thô sinh).
thái thúc thị
1) Người hái đậu: Bean-picker. 2) Tên khác của Mục Kiền Liên: Name of Maudgalyayana.
thái thượng
1) The king. 2) The highest.
thái thượng linh bảo nguyên dương diệu kinh
(太上靈寶元陽妙經) Kinh, 10 quyển, do đạo sĩ Đạo giáo y cứ vào kinh điển của Phật giáo Đại thừa mà soạn thành. Cứ theo luận Nhị giáo do ngài Đạo an soạn vào đời Bắc Chu thì Nguyên dương diệu kinh là ngụy tác bằng cách trích lấy những phần cốt yếu trong kinh Pháp hoa mà soạn thành. Như Nguyên dương diệu kinh ở thời ngài Đạo an và Nguyên dương diệu kinh bản hiện còn không giống nhau lắm, bản hiện còn chủ yếu lấy kinh Niết bàn làm tư liệu, chỉ có phẩm Vấn hành trong quyển 4 là vẫn y cứ vào phẩm Tựa của kinh Pháp hoa mà sửa đổi soạn thành. Sửa đổi bằng cách cắt bỏ những nhân danh dụng ngữ của Phật giáo mà thay đổi bằng tên gọi của Đạo giáo.
thái thượng lão quân
T'ai-shang Lao-chun (C).
Thái Thốc
(太簇、太蔟、泰簇): còn gọi là Thái Tộc (太族、泰族), Đại Tộc (大族), Đại Thốc (大蔟), có hai nghĩa chính. (1) Tên gọi âm thứ 2 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Bình Điệu (平調, hyōjō) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong chương Thời Tắc Huấn (時則訓) của Hoài Nam Tử (淮南子) có giải thích rằng: “Luật trung Thái Thốc, kỳ số bát (律中太蔟、其數八, âm Thái Thốc trong các luật âm, số của nó là 8).” Trong tác phẩm Đáp Lưu Bá Thằng Vấn Luật Lữ (答劉伯繩問律呂) của Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695) nhà Thanh còn giải thích thêm: “Thái Thốc trường bát thốn, tích lục bách tứ thập bát phần (太簇長八寸、積六百四十八分, Thái Thốc dài tám tấc, chứa 648 phân).” (2) Người xưa lấy 12 âm luật phối hợp với 12 tháng trong năm; Thái Thốc được phối hợp với tháng Giêng; nên đây là tên gọi khác của tháng Giêng. Như trong Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋), chương Âm Luật (音律) có câu: “Thái Thốc chi nguyệt, dương khí thỉ sanh, thảo mộc phồn động (太蔟之月、陽氣始生、草木繁動, tháng Thái Thốc, khí dương bắt đầu sinh, cỏ cây nảy nở nhiều).” Cao Dụ (高誘, ?-?) nhà Đông Hán (東漢, 25-220) chú thích rằng: “Thái Thốc, chánh nguyệt (太蔟、正月, Thái Thốc là tháng Giêng).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 cũng cho biết rằng: “Chánh nguyệt kiến Dần, viết Nhiếp Đề Cách, hựu viết Thái Thốc, hựu viết Mạnh Tưu (正月建寅、曰攝提格、又曰太簇、又曰孟陬, tháng Giêng kiến Dần, gọi là Nhiếp Đề Cách, lại có tên là Thái Thốc, hay gọi là Mạnh Tưu).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích thêm về Thái Thốc rằng: “Dần vi Thái Thốc, Chánh nguyệt chi thần danh Dần; Dần giả, tân dã; Tân giả đồ chi nghĩa; Chánh nguyệt chi thời, sanh vạn vật chi tân đồ, cố vị chi Dần (寅爲太蔟、正月之辰名寅、寅者、津也、津者塗之義、正月之時、生萬物之津塗、故謂之寅, Dần là Thái Thốc, chi của tháng Giêng là Dần; Dần là tân; tân nghĩa là con đường; vào dịp tháng Giêng, mở ra con đường cho vạn vật, nên gọi đó là Dần).” Hay trong Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn Thích Yếu (大乘止觀法門釋要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 905) quyển 1 có câu: “Đạo Quang lục niên nguyệt tại Thái Thốc nhân nhật Bí Sô Ni Ngộ Đức Thông Viên thư ư Hiếu Viên Am chi Ma Ha Diễn Thất (道光六年月在太簇人日苾芻尼悟德通圓書於孝圓菴之摩訶衍室, ngày mồng 7 tháng Giêng năm thứ 6 [1826] niên hiệu Đạo Quang nhà Thanh, Tỳ Kheo Ni Ngộ Đức Thông Viên viết tại Ma Ha Diễn Thất của Hiếu Viên Am).”
Thái Tuế
(太歲): Mộc Tinh (木星, Jupiter), còn gọi là Tuế Tinh (歲星), Thái Âm (太陰), Tuế Âm (歲陰), Tuế Quân (歲君), Thái Tuế Tinh Quân (太歲星君), là tên gọi của vị thần trong Đạo Giáo Trung Quốc. Ngày xưa ngôi sao này được dùng để đếm tuổi nên có tên gọi như vậy, về sau biến thành một loại tín ngưỡng thần linh. Thái Tuế còn là tên của một trong Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, với câu kệ là: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa dương (太歲當頭坐、諸神不敢當、自身無剋害、須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao này có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao này nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện. Trong dân gian thường có từ “phạm Thái Tuế (犯太歲)”, “xung Thái Tuế (衝太歲)”, “hình Thái Tuế (刑太歲)” hay “thiên xung Thái Tuế (偏衝太歲)”. Tỷ dụ như năm nay là năm con Tỵ (巳, con rắn), người tuổi con rắn là phạm Thái Tuế, tuổi Hợi (亥, con heo) là xung Thái Tuế; tuổi Thân (申, con khỉ) và Dần (寅, con cọp) là thiên xung Thái Tuế. Vì vậy, có câu ngạn ngữ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, vô hỷ khủng hữu họa (太歲當頭坐、無喜恐有禍, Thái Tuế trên đầu ngự, chẳng vui e có họa).” Cho nên, người ta có tục lệ An Thái Tuế (安太歲), tức cúng sao giải hạn, cầu nguyện được vạn sự bình an, cát tường. Ngay từ buổi đầu, tục lệ An Thái Tuế rất giản dị. Tín đồ nào muốn cúng An Thái Tuế thì nên nhân dịp trước hay sau tiết Xuân, lấy giấy màu hồng hay vàng viết lên dòng chữ như “Bổn niên Thái Tuế Tinh Quân đáo thử (本年太歲星君到此, năm nay Thái Tuế Tinh Quân đến đây)”, “Bổn niên Thái Tuế Tinh Quân thần vị (本年太歲星君神位, thần vị của Thái Tuế Tinh Quân năm nay)”, “Nhất tâm kính phụng Thái Tuế Tinh Quân (一心敬奉太歲星君, một lòng kính thờ Thái Tuế Tinh Quân)”, đem dán trong nhà, hằng ngày dâng hương cầu khấn. Đến cuối năm, nên đem giấy đó ra đốt với ý nghĩa là “tiễn Thần lên Trời.” Tương truyền trong vòng 60 năm, mỗi năm Trời phái một vị thần phụ trách năm ấy, quản lý toàn bộ việc phước họa của con người. Cho nên, trong thời gian 60 năm ấy có 60 vị Thái Tuế. Tín ngưỡng này có từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 220-589), và đến đầu thời nhà Thanh (清, 1616-1911) thì có tên họ rõ ràng của 60 vị thần Thái Tuế Tinh Quân. Tên của mỗi vị ứng vào các năm như sau: (1) Thái Tuế năm Giáp Tý là Kim Biện Tổ Sư (金辦祖師), (2) Thái Tuế năm Ất Sửu là Trần Tài Tổ Sư (陳材祖師), (3) Thái Tuế năm Bính Dần là Đam Chương Tổ Sư (耿章祖師), (4) Thái Tuế năm Đinh Mão là Trầm Hưng Tổ Sư (沉興祖師), (5) Thái Tuế năm Mậu Thìn là Triệu Đạt Tổ Sư (趙達祖師), (6) Thái Tuế năm kỷ tỵ là Quách Xán Tổ Sư (郭燦祖師), (7) Thái Tuế năm Canh Ngọ là Vương Thanh Tổ Sư (王清祖師), (8) Thái Tuế năm Tân Mùi là Lý Tố Tổ Sư (李素祖師), (9) Thái Tuế năm Nhâm Thân là Lưu Vượng Tổ Sư (劉旺祖師), (10) Thái Tuế năm Quý Dậu là Khang Chí Tổ Sư (康志祖師), (11) Thái Tuế năm Giáp Tuất là Thí Quảng Tổ Sư (施廣祖師), (12) Thái Tuế năm Ất Hợi là Nhiệm Bảo Tổ Sư (任保祖師), (13) Thái Tuế năm Bính Tý là Quách Gia Tổ Sư (郭嘉祖師), (14) Thái Tuế năm Đinh Sửu là Uông Văn Tổ Sư (汪文祖師), (15) Thái Tuế năm Mậu Dần là Tằng Quang Tổ Sư (曾光祖師), (16) Thái Tuế năm Kỷ Mão là Long Trọng Tổ Sư (龍仲祖師), (17) Thái Tuế năm Canh Thìn là Đổng Đức Tổ Sư (董德祖師), (18) Thái Tuế năm Tân Tỵ là Trịnh Đán Tổ Sư (鄭但祖師), (19) Thái Tuế năm Nhâm Ngọ là Lục Minh Tổ Sư (陸明祖師), (20) Thái Tuế năm Quý Mùi là Ngụy Nhân Tổ Sư (魏仁祖師), (21) Thái Tuế năm Giáp Thân là Phương Kiệt Tổ Sư (方杰祖師), (22) Thái Tuế năm Ất Dậu là Tương Sùng Tổ Sư (蔣崇祖師), (23) Thái Tuế năm Bính Tuất là Bạch Mẫn Tổ Sư (白敏祖師), (24) Thái Tuế năm Đinh Hợi là Phong Tề Tổ Sư (封齊祖師), (25) Thái Tuế năm Mậu Tý là Trịnh Thang Tổ Sư (鄭鏜祖師), (26) Thái Tuế năm Kỷ Sửu là Phan Tá Tổ Sư (潘佐祖師), (27) Thái Tuế năm canh dần là Ổ Hoàn Tổ Sư (鄔桓祖師), (28) Thái Tuế năm Tân Mão là Phạm Ninh Tổ Sư (范寧祖師), (29) Thái Tuế năm Nhâm Thìn là Bành Thái Tổ Sư (彭泰祖師), (30) Thái Tuế năm Quý Tỵ là Từ Hoa Tổ Sư (徐華祖師), (31) Thái Tuế năm Giáp Ngọ là Chương Từ Tổ Sư (章詞祖師), (32) Thái Tuế năm Ất Mùi là Dương Tiên Tổ Sư (楊仙祖師), (33) Thái Tuế năm Bính Thân là Quản Trọng Tổ Sư (管仲祖師), (34) Thái Tuế năm Đinh Dậu là Đường Kiệt Tổ Sư (唐傑祖師), (35) Thái Tuế năm Mậu Tuất là Khương Võ Tổ Sư (姜武祖師), (36) Thái Tuế năm Kỷ Hợi là Tạ Đảo Tổ Sư (謝燾祖師), (37) Thái Tuế năm Canh Tý là Ngu Khởi Tổ Sư (虞起祖師), (38) Thái Tuế năm Tân Sửu là Dương Tín Tổ Sư (楊信祖師), (39) Thái Tuế năm Nhâm Dần là Hiền Ngạc Tổ Sư (賢諤祖師), (40) Thái Tuế năm Quý Mão là Bì Thời Tổ Sư (皮時祖師), (41) Thái Tuế năm Giáp Thìn là Lý Thành Tổ Sư (李誠祖師), (42) Thái Tuế năm Ất Tỵ là Ngô Toại Tổ Sư (吳遂祖師), (43) Thái Tuế năm Bính Ngọ là Văn Triết Tổ Sư (文哲祖師), (44) Thái Tuế năm Đinh Mùi là Mậu Bính Tổ Sư (繆丙祖師), (45) Thái Tuế năm Mậu Thân là Từ Hạo Tổ Sư (徐浩祖師), (46) Thái Tuế năm Kỷ Dậu là Trình Bảo Tổ Sư (程寶祖師), (47) Thái Tuế năm Canh Tuất là Nghê Bí Tổ Sư (倪秘祖師), (48) Thái Tuế năm Tân Hợi là Diệp Kiên Tổ Sư (葉堅祖師), (49) Thái Tuế năm Nhâm Tý là Kheo Đức Tổ Sư (丘德祖師), (50) Thái Tuế năm Quý Sửu là Chu Đắc Tổ Sư (朱得祖師), (51) Thái Tuế năm Giáp Dần là Trương Triều Tổ Sư (張朝祖師), (52) Thái Tuế năm Ất Mão là Vạn Thanh Tổ Sư (萬清祖師), (53) Thái Tuế năm Bính Thìn là Tân Á Tổ Sư (辛亞祖師), (54) Thái Tuế năm Đinh Tỵ là Dương Ngạn Tổ Sư (楊彥祖師), (55) Thái Tuế năm Mậu Ngọ là Lê Khanh Tổ Sư (黎卿祖師), (56) Thái Tuế năm Kỷ Mùi là Phó Đảng Tổ Sư (傅黨祖師), (57) Thái Tuế năm Canh Thân là Mao Tử Tổ Sư (毛梓祖師), (58) Thái Tuế năm Tân Dậu là Thạch Chính Tổ Sư (石政祖師), (59) Thái Tuế năm Nhâm Tuất là Hồng Sung Tổ Sư (洪充祖師), và (60) Thái Tuế năm Quý Hợi là Ngu Trình Tổ Sư (虞程祖師).
thái tuế
(太歲) I. Thái Tuế. Tên 1 vị hung thần trong quan niệm của người xưa, là tên khác của trị tuế can chi được dùng để ghi lịch cũ. Như gặp năm Giáp tí thì Giáp tí tức là Thái tuế. Về phương diện tập quán, chỉ có 12 chi được coi trọng, cho nên cứ 12 năm là 1 vòng tuần hoàn của Thái tuế.II. Thái Tuế. Tên vị thần trị tuế. Cứ theo Thông điển do ông Đỗ hựu soạn thì vua Đạo vũ đế (386-409) nhà Bắc Ngụy đã lập 12 vị thần năm (tức 12 vị thần Thái tuế) để thờ.
thái tông hoàng đế
Tai-tsung (C), Daizong (C) Một vị hoàng đế nhà Đường.
thái tổ
Founder of a dynasty.
thái tử
Kumararaja (skt). 1) Crown prince. 2) Danh hiệu của Đức Phật: An epithet of Buddha. 3) Danh hiệu của Văn Thù Sư Lợi: An epithet of Manjusri.
thái tử hòa hưu kinh
Thái Tử Loát Hộ Kinh—Một tên của bộ kinh Thái Tử A Xà Thế gặp Phật vấn kinh và được Phật thọ ký. Kinh được ngài Trúc Pháp Hộ dịch sang Hoa ngữ khoảng từ 265 đến 316 sau Tây Lịch—One name of the Subahu-pariprccha, translated into Chinese by Dharmaraksa between 265-316 A.D.
thái tử kỳ đà
Jita (S) Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili See Jeta.
thái tử Lưu-ly
hay Tỳ-lưu-ly, là con vua Ba-tư-nặc ở thành Xá-vệ, nước Kiều-tát-la, đồng thời với Phật. Thái tử phế vua cha, tự mình lên ngôi. Vua Ba-tư-nặc phải chạy sang thành Vương-xá nước Ma-kiệt-đà mà nương náu với vua A-xà-thế. Sau khi đuổi vua cha ra khỏi nước, thái tử Lưu-ly xưng vương. Kế đó, nhớ đến mối thù xưa giữa nước mình với nước Ca-tỳ-la-vệ, liền mang quân sang đánh, giết rất nhiều người trong họ Thích-ca.
thái tử tam phi
(太子三妃) Chỉ cho 3 người vợ của Thái tử Tất đạt đa. Theo thiên Hoàng hậu trong Phiên dịch danh nghĩa tập quyển3 thì năm Thái tử Tất đạt 17 tuổi có 3 người vợ là: 1. Cù di (Phạm: Gopì, Hán dịch: Minh nữ), cha của bà là Trưởng giả Thủy quang,bà sinh vào lúc hoàng hôn, ánh mặt trời còn rớt lại chiếu sáng vào trong nhà, vì thế đặt tên cho bà là Cù di, là người vợ đầu tiên của Thái tử. 2. Da du đà la (Phạm:Yazodharà, Hán dịch: Hoa sắc), cha của bà là Trưởng giả Di thí, bà là người vợ thứ 2 của Thái tử, tức là mẹ của La hầu la. 3. Lộc dã, cha của bà là Trưởng giả Thích, bà là người vợ thứ 3 của Thái tử. [X. Thái tử thụy ứng bản khởi Q.thượng].
thái tử thụy ứng bản khởi kinh
(太子瑞應本起經) Cũng gọi Thái tử bản khởi thụy ứng kinh, Thụy ứng bản khởi kinh, Thụy ứng kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Chi khiêm dịch ở nước Ngô, thời Tam quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Kinh này được soạn sớm nhất trong các Phật truyện, về cách sắp xếp nội dung hoặc hình thức trình bày đại khái đều giống với kinh Tu hành bản khởi, cả 2 kinh đều sử dụng thuyết Thái tử 17 tuổi lấy vợ, 19 tuổi xuất gia. Trong kinh nói về nhân địa quá khứ của đức Thích tôn đến việc tế độ 3 anh em Ca diếp sau khi Ngài thành đạo. Về việc miêu tả Thái tử ra chơi 4 cửa thành, tình hình trong cung điện lúc vượt thành, khi từ biệt Xa nặc, nhất là nói về việc hàng ma thành đạo thì khí thế văn chương rất là mạnh mẽ trôi chảy, là đoạn văn chương Phật truyện trọng yếu. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
Thái tử 太子
[ja] タイシ taishi ||| (kumārarāja) (1) "Crown prince"--an epithet of buddhas and Mañjuśrī. (2) The founder of a school. => 1. Danh hiệu của Chư Phật và Văn-thù-sư-lợi. 2. Người sáng lập tông phái.
thái âm
Moon.
thái âm tinh
Xem Tô ma.
thái đầu
Vị Tăng lo về việc cung cấp rau cải trong chùa—The monk who has charge of supplying of vegetables in a temple.
; (菜頭) Chức vụ của vị tăng trông coi việc rau quả trong Thiền lâm, gọi là Thái đầu. Chức này được đặt dưới quyền chức Điển tọa. Nhiệm vụ của chức này là lựa bỏ những lá rau héo úa, lá bị sâu ăn, vì nếu lỡ nấu rau có dính côn trùng thì tạo nghiệp sát sinh; nếu cúng dường Tam bảo thức ăn không đúng pháp, đại chúng không biết mà dùng thì có hại rất lớn, cho nên vị Thái đầu phải hết sức thận trọng khi lãnh trách nhiệm này.
thái độ
Attitude
thái độ bất tịnh
Impure attitude
thái độ khoan dung
Tolerance.
thái độ ích kỷ
Selfish attitude
thái ất
Name of a star.
thám
1) Gián điệp: To spy. 2) Mật thám: Secret services. 3) Thám hiểm: To explore—To feel for. 4) Thám sát: To investigate.
thám can ảnh thảo
(探竿影草) Gọi tắt: Thám thảo. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho 2 cách bắt cá. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được vận dụng để thăm dò trình độ của người học, là 1 trong 4 tiếng hét, 1 trong 7 việc tùy thân của tông Lâm tế. Tùy theo tác dụng và mục đích mà Thám can ảnh thảo có 2 cách giải thích như sau: 1. Thám can, ảnh thảo là công cụ của người bắt cá. Thám là thăm dò; Can là cây sào. Nghĩa là buộc lông cánh con chim bồ nông vào đầu cây sào rồi dìm xuống nước thăm dò, dụ cho đàn cá tụ lại một chỗ, sau đó dùng lưới để bắt. Ảnh là bóng; Thảo là cỏ. Nghĩa là cắt cỏ ngâm dưới nước, đàn cá sẽ đến núp dưới bóng đám cỏ ấy, sau đó dùng lưới bắt. Đây đều là pháp phương tiện của người bắt cá dùng để dụ cá tụ vào một chỗ để bắt. 2. Thám can, ảnh thảo là dụng cụ của kẻ ăn trộm. Thám can chỉ cho cái sào tre mà kẻ trộm dùng để luồn qua cửa sổ, hoặc lỗ hổng của tường vách để dò xét động tĩnh trong nhà. Còn ảnh thảo là chỉ cho cái áo tơi có thể ẩn mình, mặc vào rất tiện cho việc ăn trộm, ăn cắp. Trong Thiền gia, Thám can ảnh thảo được chuyển dụng để chỉ cho việc thầy dò xét trình độ của người học. [X. Lâm tế lục khám biện; Thung dung lục tắc 81]. (xt. Tế Tông Thất Sự Tùy Thân, Tế Tông Tứ Hát).
thám hiểm
(探險) Mạo hiểm đi thăm xét những nơi xa xôi.Những cuộc hành trình mà các nhà cầu pháp từng trải, trên thực chất là những cuộc thám hiểm. Như Phật quốc kí của ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang đời Đường... đều là những tư liệu ghi chép về địa lí, dân tộc, chính trị, học nghệ, ngôn ngữ, tông giáo, dân tục... của Ấn độ và các nước vùng Tây vực. Từ thế kỉ XIX đến nay, người Âu tây đối với việc nghiên cứu Á châu, về phương diện sưu tầm các tư liệu Phật giáo đã có những đóng góp rất lớn lao. Như các học giả Hodgson, Wright, Bendall, Lévi... đã sưu tập rộng rãi các văn hiến từ Népal, Burgess, Cunningham đã đào bới điều tra nhiều nơi ở Ấn độ; Huc, Csoma de Kôrôs, Sarat Chandra Das, Schlagintweit, Rockhill, Hà khẩu Tuệ hải, Tự bản Uyển nhã, Tuci... thì đến Tây tạng đào bới điều tra; Hackin, Foucher... thì điều tra ở Afghanistan. Ngoài ra, các cuộc thám hiểm của các ông Bower, Le coq, Grünwedel, A. Stein, P. Pelliot... ở vùng Trung á đều rất nổi tiếng ở đời, đồng thời đã phát hiện rất nhiều tư liệu và di tích. Trước cuộc đại chiến thế giới lần thứ 2, người Nhật bản từng đến vùng Hoa bắc như Mãn châu, Mông cổ... điều tra các di tích Phật giáo. Sau chiến tranh, ở các vùng Tây bắc Trung quốc, các nhà thám hiểm cũng đào tìm được nhiều di tích.
thám sát
To scout.
thám thủy
Đo chiều sâu bằng âm thanh, phần dưới gậy để đo chiều sâu—To sound the depth of water, the lower part of a staff, i.e. for sounding depth.
; (探水) Thăm dò mực nước. Tức chỉ cho nhánh cây nhỏ buộc váo đầu gậy để thăm dò mực nước nông hay sâu. Cứ theo môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên, ở đầu dưới cây gậy của Thiền tăng buộcmộtnhánh cây nhỏ dài khoảng 40 cm hướng xuống, khi lội qua dòng nước thì trước phải đặt đầu gậy trong nước để thăm dò xem mực nước cao hay thấp, nhờ đó mà biết dòng nước sâu hay nông, sau đó mới quyết định việc lội qua hay không, vì thế gọi là Thám thủy.
thám đầu
(探頭) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thám đầu vốn có nghĩa là thăm dò. Trong Thiền lâm nó được chuyển dụng để chỉ cho sự khảo xét của Sư gia. Lâm tế lục (Đại 47, 496 hạ) ghi: Sư thướng đường. Có vị tăng ra lễ bái, sư liền hét. Vị tăng nói: Xin Lão hòa thượng chớ dò xét(thám đầu)!.
thám đề
(探題) Cũng gọi Đề giả, Thám đề bác sĩ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho chức quan cao nhất trong trường nghị luận do vua ban sắc hội họp. Vị Thám đề có nhiệm vụ tuyển chọn luận đề, khiến cho việc hỏi đáp bàn luận tiến hành qua lại, đồng thời, cuối cùng phán định hơn thua, được mất. Khi hội Pháp hoa và hội Duy ma ở Nhật bản luận nghị thì vị Thám đề chọn lấy 10 luận đề để tiến hành bàn luận, đồng thời phán định các vị học tăng dự thi đậu hay rớt. Vì Thám đề là chức vụ quan trọng thống lãnh luận trường nên phải do triều đình ban sắc bổ nhiệm. Chức năng này bắt đầu được đặt ra trong cuộc họp tháng 6 năm Khang bảo thứ 5 (968) ở chùa Diên lịch và đương thời do Luật sư Thiền nghệ đảm nhiệm. Tông Thiên thai Nhật bản cho chức quan này là giai vị học vấn cao nhất. (xt. Thụ Nghĩa).
Thán
歎; C: tàn; J: tan;|1. Thán phục, tán thành, khen ngợi; 2. Thở dài, than van.
thán
1) Tán thán: Thán phục—To admire—To praise—To extol. 2) Ta thán: To sigh. 3) Than: Charcoal—Coal.
thán ba na
Tấm (loại gạo nát)—Broken rice.
thán chân
(嘆真) Cũng gọi Bạch chân. Có nghĩa là tán thán chân dung của Tổ sư. Sau chuyển sang gọi lời đầu tiên trong văn hồi hướng kị Tổ sư là thán chân. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2].
thán di sao
(嘆异抄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Duy viên thuộc Chân tông Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Sau khi thầy mình thị tịch (tức ngài Thân loan, Tổ khai sáng của Chân tông), ngài Duy viên cảm thương vì giáo nghĩa của Chân tông bị hiểu một cách sai lệch, cho nên trích dẫn lời thầy nói rõ về chân ý của bản nguyện tha lực và phê phán giới Phật giáo đương thời mà thành sách này. Trong lời bạt có phụ thêm phần ghi chú, chép về truyện kí của những người bị xử tội một cách sai lầm ở thời đại Hậu điểu Vũ viện. Sách này là Thánh điển quan trọng của Chân tông, có rất nhiều bản chú thích.
thán linh
Tán thán công đức của người quá vãng—To praise the spirit of the departed.
; (嘆靈) Đối trước hương linh người chết, khen ngợi những việc làm nhân đức của họ. Điều Phúng tụng, loại Thán linh trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Người xưa nói rằng hồi hướng cho vong linh, lời đầu tiên là thán linh. Ánh sáng thanh tịnh thông suốt, lặng lẽ chiếu soi, trùm khắp hư không.
thán phật
Tán thán công đức của Phật—To praise Buddha.
; (嘆佛) Cũng gọi Bạch Phật. Khen ngợi công đức của Phật. Trong Thiền môn, bài kệ khen ngợi công đức Phật được đặt ở đầu văn sớ và văn hồi hướng, gọi là Thán Phật, hoặc Thán Phật kệ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
thán phục
To admire.
thán đầu
Vị sư coi về củi lửa trong tự viện—The fire-tender in a monastery.
; (炭頭) Tên chức vụ coi về than củi vào mùa lạnh trong Thiền viện. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1233 thượng) nói: Chuẩn bị trước than củi để chống rét. Hoặc khuyến hóa thí chủ, hoặc xuất tiền của công quĩ ra mua, phải cho đủ dùng.
thán đức
Tán thán công đức của người khác—To praise the virtue of others.
; (嘆德) Tán thán công đức của Phật, Bồ tát, Tổ sư, các đệ tử Phật... Nếu viết thành văn để đọc tụng thì gọi là Thán đức văn. Ở đầu các kinh thường có đoạn văn khen ngợi công đức của Phật, Bồ tát, Thanh văn (đệ tử Phật)...
thán đức sư
(嘆德師) Trong Mật giáo, khi cử hành Quán đính, người tán tụng công đức của vị Tân a xà lê(Truyền pháp quán đính) và Đại a xà lê (Kết duyên quán đính), được gọi là Thán đức sư. Đây là chức vụ rất danh dự.
Thán 歎
[ja] タン tan ||| (1) Admiration, applause, praising. (2) To sigh, to lament. => 1. Thán phục, tán thành, khen ngợi. 2. Thở dài, than van.
tháng
Month.
Tháng Ba âm lịch
có tên gọi khác như Mộ Xuân (暮春), Mạt Xuân (末春), Quý Xuân (季春), Vãn Xuân (晚春), Diểu Xuân (杪春), Khiết Xuân (褉春), Tàm Nguyệt (蠶月), Hoa Nguyệt (花月), Đồng Nguyệt (桐月), Đào Nguyệt (桃月), Quái Nguyệt (夬月), Gia Nguyệt (嘉月), Thần Nguyệt (辰月), Đạo Nguyệt (稻月), Anh Duẩn Nguyệt (櫻筍月), Cô Tẩy (姑洗), Đào Lãng (桃浪), Vu Phong (雩風), Ngũ Dương Nguyệt (五陽月), Đào Quý Nguyệt (桃季月), Hoa Phi Nguyệt (花飛月), Tiểu Thanh Minh (小清明), Trúc Thu (竹秋), Phu Nguyệt (夫月), Mộ Nguyệt (暮月), Thần Nguyệt (辰月), Oa Nguyệt (窩月), Tú Nguyệt (宿月), Thương Nguyệt (商月), Anh Nguyệt (莫月), Linh Nguyệt (靈月), Vân Nguyệt (雲月). Một số câu hay cho tháng Ba như phụng tình hoa tín (鳳情花信, phụng quyến luyến tin tức hoa nở), vũ trạc xuân trần (雨濯春塵, mưa tẩy sạch bụi Xuân), bình tinh điểm lục (萍星點綠, bèo trôi điểm màu xanh), đào vũ phiên hồng (桃雨翻紅, mưa Đào phất phơ màu hồng), tuế hàn linh tiết (歲寒令節, năm rét tiết khó), cấm hỏa lương thần (禁火良辰, cấm lửa dịp tốt). Một số từ dùng cho Tiết Thanh Minh như liễu yên ngưng thoại (柳煙凝瑞, khói liễu đọng điềm lành), lan bội nghênh hy (蘭佩迎禧, ngọc đeo đón điều tốt), xuân thâm bích hải (春深碧海, Xuân sâu thẳm như biển xanh), hoa mãn thiên trì (花滿天池, hoa đầy khắp hồ Trời), phong hoa chánh tú (風花正秀, hoa gió rực rỡ), đồng quan du xuân (童冠遊春, trẻ đội mũ đi chơi Xuân), Lê hoa lạc viện (梨花落院, hoa Lê rơi rụng nơi tòa viện), liễu nhứ phi tường (柳絮飛牆, tơ liễu bay qua tường). Các từ dùng cho tháng Ba nhuận như Tam Xuân nghi cửu (三春宜久, ba tháng mùa Xuân vẫn còn lâu), nhuận quy trừ tận (潤歸除盡, ẩm ướt về dứt sạch). Từ ngữ dùng cho truy điệu vào tháng này là oanh đề hoa lão (鶯啼花老, oanh khóc hoa già cỗi), điệp trướng xuân tàn (蝶悵春殘, bướm buồn Xuân tàn tạ).
Tháng Bảy âm lịch
có tên gọi khác như Mạnh Thu (孟秋), Thủ Thu (首秋), Thượng Thu (上秋), Qua Thu (瓜秋), Tảo Thu (早秋), Tân Thu (新秋), Triệu Thu (肇秋), Lan Thu (蘭秋), Lan Nguyệt (蘭月), Thân Nguyệt (申月), Xảo Nguyệt (巧月), Qua Nguyệt (瓜月), Lương Nguyệt (涼月), Tương Nguyệt (相月), Văn Nguyệt (文月), Thất Tịch Nguyệt (七夕月), Nữ Lang Hoa Nguyệt (女郎花月), Văn Phi Nguyệt (文披月), Đại Khánh Nguyệt (大慶月), Tam Âm Nguyệt (三陰月), Di Tắc (夷則), Sơ Thương (初商), Mạnh Thương (孟商), Qua Thời (瓜時), Tố Thu (素秋), Sơ Thu (初秋), Sương Nguyệt (霜月), Trung Nguyệt (中月), Triệu Nguyệt (肇月). Một số câu hay cho tháng Bảy như vân thu Hạ sắc (雲收夏色, mây thâu sắc màu mùa Hè), nguyệt động Thu thanh (月動秋聲, trăng làm động tiếng Thu), kim phong đãng thử (金風蕩暑, gió Thu quét phăng đi hơi nóng), ngọc luật minh Thu (玉律鳴秋, nhạc ngọc vang vọng mùa Thu), kiểu nguyệt như sương (皎月如霜, trăng sáng như sương), Thu khai ngọc vũ (秋開玉宇, Thu mở nhà ngọc), luật ứng thanh cao (律應清高, nhạc vận thanh cao), thủy thiên nhất sắc (水天一色, nước và trời cùng một sắc màu), phong nguyệt song thanh (風月雙清, gió và trăng đều trong suốt), tam canh thử thối (三更暑退, ba canh oi bức thối lui), nhất chẩm lương sanh (一枕涼生, bên gối hưởng gió mát). Một số từ dùng cho Thất Tịch (七夕) như nhân gian khất xảo (人間乞巧, mọi người xin trí tuệ khôn ngoan), thiên thượng giai kỳ (天上佳期, thời kỳ tốt trên trời). Một số từ dùng cho tháng Bảy nhuận như song tinh nhất hội (雙星一會, hai sao cùng gặp nhau), nhất nhuận quy dư (一閏歸餘, một lần nhuận vẫn còn dư). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như thiền thanh đề mộ (蟬聲啼暮, tiếng ve khóc chiều), cùng vận bi Thu (蛩韻悲秋, tiếng dế buồn mùa Thu).
Tháng Chín âm lịch
có tên gọi khác như Cúc Nguyệt (菊月), Thọ Y Nguyệt (授衣月), Thanh Nữ Nguyệt (青女月), Tiểu Điền Nguyệt (小田月), Bác Nguyệt (剝月), Quán Nguyệt (貫月), Sương Nguyệt (霜月), Trưởng Nguyệt (長月), Tuất Nguyệt (戌月), Hủ Nguyệt (朽月), Vịnh Nguyệt (詠月), Huyền Nguyệt (玄月), Nỉ Giác Nguyệt (禰覺月), Cúc Khai Nguyệt (菊開月), Hồng Diệp Nguyệt (紅葉月), Quý Thu (季秋), Mộ Thu (暮秋), Vãn Thu (晚秋), Cúc Thu (菊秋), Thu Mạt (秋末), Tàn Thu (殘秋), Lương Thu (涼秋), Tố Thu (素秋), Ngũ Âm Nguyệt (五陰月), Cùng Thu (窮秋), Diểu Thu (杪秋), Thu Thương (秋商), Mộ Thương (暮商), Quý Bạch (季白), Vô Xạ (無射), Sương Tự (霜序), Lương Nguyệt (涼月), Tam Thu (三秋), Quý Thương (季商), Cúc Tự (菊序). Một số câu hay cho tháng Chín như hà bàn lạc thúy (荷盤落翠, gương sen không còn sắc xanh biếc), phong cảnh phiêu hồng (楓景飄紅, cảnh cây phong phất phơ màu hồng), giang phong huyến cẩm (江風絢錦, gió sông rực rỡ gấm), ly cúc thư kim (籬菊舒金, cúc bờ rào phô màu vàng óng). Một số từ dùng cho tiết Trùng Dương (重陽) như Tam Thu hầu túc (三秋候足, khí tiết Ba Thu vừa đủ), vạn bảo cáo thành (萬寶告成, muôn điều quý báu đã thành), hoàng hoa mãn kính (黃花滿徑, hoa vàng khắp lối), hồng diệp doanh câu (紅葉盈溝, lá đỏ đầy rãnh nước), thư truyền tặng cúc (書傳贈菊, thư truyền đi tặng hoa cúc), Mạnh Gia lạc mạo (孟嘉落帽, Mạnh Gia rơi mũ), Hoàn Cảnh đăng cao (桓景登高, Hoàn Cảnh lên núi cao), sương lăng cúc nhị (霜淩菊蕊, sương thấm nhụy hoa cúc), tửu túy Thù Du (酒醉茱萸, rượu say Thù Du). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như cùng thanh bi thiết (蛩聲悲切, tiếng dế buồn da diết), nhạn trận hoành không (雁陣橫空, nhạn dàn trận trên không).
Tháng Giêng Âm Lịch
có tên gọi khác như Nguyệt Chánh (月正), Tân Chánh (新正), Mạnh Xuân (孟春), Thủ Xuân (首春), Thượng Xuân (上春), Dần Mạnh Xuân (寅孟春), Thỉ Xuân (始春), Tảo Xuân (早春), Nguyên Xuân (元春), Tân Xuân (新春), Sơ Xuân (初春), Đoan Xuân (端春), Triệu Xuân (肇春), Hiến Xuân (獻春), Xuân Vương (春王), Hoa Tuế (華歲), Tuế Tuế (歲歲), Triệu Tuế (肇歲), Khai Tuế (開歲), Hiến Tuế (獻歲), Phương Tuế (芳歲), Sơ Tuế (初歲), Sơ Nguyệt (初月), Sơ Dương (初陽), Mạnh Dương (孟陽), Tân Dương (新陽), Xuân Dương (春陽), Xuân Vương (春王), Thái Thấu (太簇), Tuế Thỉ (歲始), Vương Chánh Nguyệt (王正月), Sơ Không Nguyệt (初空月), Hà Sơ Nguyệt (霞初月), Sơ Xuân Nguyệt (初春月), Tưu Nguyệt (陬月), Vương Nguyệt (王月), Đoan Nguyệt (端月), Mạnh Tưu (孟陬), Thái Nguyệt (泰月), Cẩn Nguyệt (謹月), Kiến Dần (建寅), Dần Nguyệt (寅月), Dương Nguyệt (楊月), Mạnh Xuân Nguyệt (孟春月), Tam Vi Nguyệt (三微月), Tam Chánh (三正), Mục Nguyệt (睦月), Thượng Nguyệt (上月), Tam Chi Nhật (三之日). Một số câu hay cho tháng Giêng như Tam Dương sơ trưởng (三陽初長, tháng Giêng mới lớn), Tứ Tự cánh đoan (四序更端, bốn mùa trở lại đầu), mai đôi bạch ngọc (梅堆白玉, mai chất đầy ngọc trắng [tuyết]), liễu đĩnh hoàng kim (柳錠黃金, liễu trĩu nặng vàng ròng), tiêu hoa tống lạp (椒花送臘, hoa tiêu tiễn năm cũ đi), canh điểu sơ minh (庚鳥初鳴, chim Vàng Anh bắt đầu hót), Ngọc Luật hồi phù (玉律回夫, nhạc khí Ngọc Luật trở về chăng), duệ Ki tiễn lạp (睿璣餞臘, sao Ki sáng tiễn năm cũ), tiêu chuyển Bắc Đẩu (杓轉北鬥, chuôi sao chuyển Bắc Đẩu), nhân tại Đông phong (人在東風, người nơi gió Đông), nhất thanh trừ cựu (一聲除舊, một tiếng vang trừ năm cũ), vạn hộ cánh tân (萬戶更新, ngàn nhà lại mới mẻ). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như mai tai lệ phấn (梅腮淚粉, mặt hoa mai đầy phấn lệ), liễu nhãn bi thanh (柳眼悲青, mắt liễu buồn trong xanh). Ngữ cú dành cho Thượng Nguyên như cửu thiên nguyệt lãng (九天月朗, chín tầng trời trăng sáng rực), vạn hộ đăng huy (萬戶燈輝, vạn nhà đèn tỏ rạng). Một số từ dùng cho Lập Xuân như Đông phong giải đống (東風解凍, gió Đông làm tan băng), Bắc Đẩu hồi chước (北斗回杓, chùm Bắc Đẩu trở về đuôi).
Tháng Hai âm lịch
có tên gọi khác như Như Nguyệt (如月), Mai Kiến Nguyệt (梅見月), Mai Nguyệt (梅月), Lệ Nguyệt (麗月), Mão Nguyệt (卯月), Hạnh Nguyệt (杏月), Hàm Nguyệt (酣月), Lệnh Nguyệt (令月), Khiêu Nguyệt (跳月), Tiểu Thảo Sanh Nguyệt (小草生月), Y Cánh Trước Giáp Chung (衣更著夾鐘), Trọng Chung (仲鐘), Trọng Xuân (仲春), Trọng Dương (仲陽), Trung Hòa Nguyệt (中和月), Tứ Dương Nguyệt (四陽月), Xuân Trung (春中), Hôn Nguyệt (婚月), Môi Nguyệt (媒月), Đại Tráng (大壯), Trúc Thu (竹秋), Hoa Triêu (花朝), Hoa Nguyệt (花月), Tứ Chi Nguyệt (四之月). Một số câu hay cho tháng Hai như Hải Đường tẩm nguyệt (海棠浸月, hoa Hải Đường ngấm trăng), Dương Liễu lung yên (楊柳籠煙, cây Dương Liễu nhốt khói), liễu khê tiếu bích (柳溪醮碧, khe liễu cúng màu xanh biếc), hoa ổ phi hồng (花塢飛紅, ụ hoa phất phơ màu hồng), oanh ca hoa tự (鶯歌花序, oanh ca đầu hoa), yến tiễn xuân phong (燕剪春風, chim Yến xé gió Xuân), hoa vũ lộng tình (花雨弄晴, mưa hoa đùa giỡn với trời tạnh), thời cánh thường hoa (時竟嚐花, đến lúc lại thưởng thức hoa), dã điểu hổ xuân (野鳥唬春, chim rừng dọa nạt mùa Xuân), ngạn hoa khấp hiểu (岸花泣曉, hoa bên bờ khóc lúc hừng sáng), Đỗ ông hành vũ (杜翁行雨, ông lão họ Đỗ đi trong mưa), hoa tín xuy phong (花信吹風, tin tức hoa nở thổi gió bay). Một số từ dùng cho gió Xuân như Tam Xuân tiền bán (三春前半, một nửa trước của ba tháng mùa Xuân), bách khắc bình phân (百刻平分, trăm khắc phân rõ). Các từ dùng cho tháng Hai nhuận như Trọng Xuân kỷ nhuận (仲春紀閏, Trọng Xuân gặp nhuận), tích vũ lưu hàn (積雨留寒, chứa mưa giữ lại cái lạnh), tự hoa thời lạc (序花時落, hoa tuần tự rơi rụng đúng lúc), dã điểu tranh minh (野鳥爭鳴, chim rừng tranh nhau hót).
Tháng Mười Hai âm lịch
có tên gọi khác như Lạp Nguyệt (臘月), Trừ Nguyệt (除月), Sửu Nguyệt (丑月), Nghiêm Nguyệt (嚴月), Băng Nguyệt (冰月), Dư Nguyệt (餘月), Cực Nguyệt (極月), Đồ Nguyệt (塗月), Địa Chánh Nguyệt (地正月), Nhị Dương Nguyệt (二陽月), Gia Bình Nguyệt (嘉平月), Tam Đông Nguyệt (三冬月), Mai Sơ Nguyệt (梅初月), Xuân Đãi Nguyệt (春待月), Quý Đông (季冬), Mộ Đông (暮冬), Vãn Đông (晚冬), Diểu Đông (杪冬), Cùng Đông (窮冬), Hoàng Đông (黃冬), Lạp Đông (臘冬), Tàn Đông (殘冬), Mạt Đông (末冬), Nghiêm Đông (嚴冬), Sư Tẩu (師走), Đại Lữ (大呂), Tinh Hồi Tiết (星回節), Ân Chánh (殷正), Thanh Tự (清祀), Đông Tố (冬素), Xú Nguyệt (醜月), Gia Bình (嘉平), Tuế Diểu (歲杪), Cửu Đông (九冬), Nghiêm Hàn (嚴寒), Tuế Nguyệt (歲月), Mạt Nguyệt (末月). Một số câu hay cho tháng Mười Hai như tiêu thương tiễn lạp (椒觴餞臘, chén rượu tiêu tiễn cuối năm), mai tín truyền Xuân (梅信傳春, tin cây Mai truyền mùa Xuân đến), cẩm diên thủ tuế (錦筵守歲, tiệc gấm đón năm mới), họa các nghênh Xuân (畫閣迎春, gác vẽ tranh hoa lệ đón Xuân), Mai truyền Xuân ý (梅傳春意, cành Mai truyền ý Xuân), tuyết triệu phong niên (雪兆豐年, tuyết có điềm cho biết năm mới phong phú), khúc tấu Lương Viên (曲奏梁園, tấu khúc Lương Viên), Tây sơn tuyết tễ (西山雪霽, núi Tây tuyết tan), Đông các Mai hương (東閣梅香, gác Đông thơm hoa Mai), hàn tùy lạp khứ (寒隨臘去, lạnh theo cuối năm đi), noãn trục Xuân lai (暖逐春來, hơi ấm cùng mùa Xuân đến), Mai ngạc truyền Xuân (梅萼傳春, đài hoa Mai truyền sắc Xuân), tuế trừ kim tịch (歲除今夕, năm hết đêm nay), Xuân nhập tân niên (春入新年, Xuân vào năm mới), pháo thôi tàn lạp (炮催殘臘, pháo thúc giục cuối năm còn sót), Mai báo tảo Xuân (梅報早春, Mai báo Xuân sớm), nhất niên tương tận (一年將盡, một năm sắp hết), tứ quý vân chung (四季雲終, bốn mùa chấm dứt). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như tinh hồi nguyệt triển (星回月展, sao lùi trăng hiện), phong thảm vân sầu (風慘雲愁, gió thảm mây buồn), diêm khuynh trường lệ (簷傾長淚, mái nghiêng ngấn lệ), thủy kết đôi băng (水結堆冰, nước kết băng trôi). Một số từ dùng cho tháng Mười Hai nhuận như nhuận dĩ thành tuế (潤以成歲, nhuận đã thành năm), hàn bách chu niên (寒迫周年, lạnh đuổi theo trọn năm).
Tháng Mười Một âm lịch
có tên gọi khác như Trọng Đông (仲冬), Trung Đông (中冬), Chánh Đông (正冬), Sướng Nguyệt (暢月), Sương Nguyệt (霜月), Sương Kiến Nguyệt (霜見月), Tý Nguyệt (子月), Cô Nguyệt (辜月), Gia Nguyệt (葭月), Chỉ Nguyệt (紙月), Phục Nguyệt (復月), Thiên Chánh Nguyệt (天正月), Nhất Dương Nguyệt (一陽月), Quảng Hàn Nguyệt (廣寒月), Long Tiềm Nguyệt (龍潛月), Tuyết Nguyệt (雪月), Hàn Nguyệt (寒月), Hoàng Chung (黃鐘, 黃鍾), Dương Phục (陽復), Dương Tế (陽祭), Băng Tráng (冰壯), Tam Chí (三至), Á Tuế (亞歲), Trung Hàn (中寒), Trọng Nguyệt (仲月), Phức Nguyệt (複月), Long Tiềm (龍潛), Long Đông (隆冬), Hỷ Nguyệt (喜月). Một số câu hay cho tháng Mười Một như nhật hành Bắc lục (日行北陸, mặt trời đi về đất Bắc), Xuân đáo Nam chi (春到南枝, Xuân đến trên cành Nam), thiên hàn dục tuyết (天寒欲雪, trời lạnh tuyết sắp rơi), Xuân ý tại Mai (春意在梅, ý Xuân ở cây Mai), hàn sương điểm tuyết (寒霜點雪, sương lạnh lấm chấm tuyết), đống nghiễn ha băng (凍硯呵冰, nghiên mực đóng băng phun tuyết), Mai thổ Nam chi (梅吐南枝, Mai nở cành Nam), ngân hà phiêu tuyết (銀河飄雪, sông ngân thổi tuyết), ngọc vũ phi sương (玉宇飛霜, nhà ngọc bay sương), Tam Dương trình thụy (三陽呈瑞, xuân đến bày điềm lành), Lục Bạch triệu phong (六白兆豐, Lục Bạch [tượng trưng cho Càn, tức là trời] thể hiện điềm phong phú), Nhất Dương lai phức (一陽來複, tháng 11 lại đến nữa), vạn gia chiêu hồi (萬家昭回, muôn nhà trở lại sáng sủa).
Tháng Mười âm lịch
có tên gọi khác như Dương Nguyệt (陽月), Hợi Nguyệt (亥月), Cát Nguyệt (吉月), Lương Nguyệt (良月), Khôn Nguyệt (坤月), Chánh Dương Nguyệt (正陽月), Tiểu Dương Xuân (小陽春), Thần Vô Nguyệt (神無月), Thập Nguyệt (拾月), Thời Vũ Nguyệt (時雨月), Sơ Sương Nguyệt (初霜月), Ứng Chung (應鐘, 應鍾), Sơ Đông (初冬), Mạnh Đông (孟冬), Thượng Đông (上冬), Khai Đông (開冬), Huyền Đông (玄冬), Huyền Anh (玄英), Tiểu Xuân (小春), Đại Chương (大章), Thỉ Băng (始冰), Cực Dương (極陽), Dương Chỉ (陽止), Mạnh Đông (孟冬), Nguyên Đông (元冬), Tiểu Lương (小良), Ứng Nguyệt (應月), Lập Nguyệt (立月), Tiểu Hòa Xuân (小和春), Âm Nguyệt (陰月), Lộ Nguyệt (露月), Phi Âm Nguyệt (飛陰月). Một số câu hay cho tháng Mười như Mai truyền Xuân ý (梅傳春意, Mai truyền ý Xuân), Cúc ngạo sương chi (菊傲霜枝, Cúc ngạo nghễ cành sương), hàn uy vị chấn (寒威未振, uy lực cái lạnh chưa đến nỗi), ái cảnh sơ khai (愛景初開, cảnh đẹp mới bày), đấu tiêu chỉ Bắc (鬥杓指北, chuôi sao về hướng Bắc), nhật ảnh hồi Nam (日影回南, bóng mặt trời trở về hướng Nam), nhật lâm chiết mộc (日臨折木, mặt trời đến bẻ cây), Nam chi nhật noãn (南枝日暖, cành Nam mặt trời ấm), Đông các hàn khinh (東閣寒輕, gác Đông se lạnh), hòa khí như Xuân (和氣如春, khí trời ôn hòa như mùa Xuân). Một số từ dùng cho Lập Đông (立冬) như nguyên anh khải tú (元英啟秀, hoa cỏ khởi sắc), thanh nữ ty hàn (青女司寒, cô gái tự nhiên màu xanh làm chủ cái lạnh), sương lăng Mai nhụy (霜淩梅蕊, sương thấm nhụy hoa Mai), tuyết ngạo sương chi (雪傲霜枝, tuyết cười ngạo cành sương), Dương Xuân tương Hạ (陽春將夏, tháng Mười như Hè), Xuân ý phương xa (春意方賒, ý Xuân còn xa). Một số từ dùng cho tháng Mười nhuận như Tiểu Dương dư nhuận (小陽餘閏, tháng Mười còn nhuận), Dương Nguyệt tăng trưởng (陽月增長, tháng Mười kéo dài). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như phong mộc thanh phân (風木聲分, tiếng gió cây rã rời), tuyết sơn dung lão (雪山容老, dáng núi tuyết già cỗi).
Tháng Năm âm lịch
có tên gọi khác như Trọng Hạ (仲夏), Siêu Hạ (超夏), Trung Hạ (中夏), Thỉ Nguyệt (始月), Tinh Nguyệt (星月), Hoàng Nguyệt (皇月), Nhất Dương Nguyệt (一陽月), Bồ Nguyệt (蒲月), Lan Nguyệt (蘭月), Mang Nguyệt (忙月), Ngọ Nguyệt (午月), Lựu Nguyệt (榴月), Độc Nguyệt (毒月), Ác Nguyệt (惡月), Quất Nguyệt (橘月), Nguyệt Bất Kiến Nguyệt (月不見月), Xuy Hỷ Nguyệt (吹喜月), Cao Nguyệt (皋月), Nhuy Tân (蕤賓), Đoan Dương Nguyệt (端陽月), Thử Nguyệt (暑月), Thuần Nguyệt (鶉月), Minh Điêu (鳴蜩), Hạ Ngũ (夏五), Tiện Nam Nhiễm Nguyệt (賤男染月), Tiểu Hình (小刑), Thiên Trung (天中), Mang Chủng (芒種), Khải Minh (啟明), Úc Chưng (郁蒸), Cấu Nguyệt (垢月), Nhuy Nguyệt (蕤月), Bạc Nguyệt (薄月), Đạm Nguyệt (炎月). Một số câu hay cho tháng Năm như hà kị nghênh phong (荷芰迎風, củ sen đón gió), hòe âm kết duyên (槐陰結緣, bóng hòe kết duyên), lựu hỏa thư hồng (榴火舒紅, hoa Thạch Lựu phô sắc màu hồng đỏ rực), nông tương đăng thử (農將登黍, nhà nông sắp cúng lúa mùa), nguyệt kỷ minh điêu (月紀鳴蜩, tháng ghi nhớ tiếng ve sầu rả rích), trì hà thổ lục (池荷吐綠, hoa sen dưới hồ nhả màu xanh non), liễu hỏa thư đan (柳火舒丹, hoa Liễu phô sắc màu đỏ rực), lan thang thức dục (蘭湯拭浴, Lan nóng phe phẩy tắm), bạc tửu phù thương (薄酒浮觴, rượu nhạt uống chén phạt). Một số từ dùng trong Tiết Đoan Dương (端陽節) như khiết lan tiết giới (潔蘭節屆, tiết Lan thanh khiết), huyền ngải thời tân (懸艾時新, ngải treo luôn mới). Từ dùng cho Hạ Chí như nhật thiên Đông thăng (日偏東升, mặt trời nghiêng lên từ phương Đông), nguyệt chánh Nam Khâu (月正南邱, mặt trăng chính hướng đất Nam Khâu). Một số từ dùng cho tháng Năm nhuận như nhuy tân kỷ nhuận (蕤賓紀閏, tháng Năm ghi nhuận), ngải hổ do huyền (艾虎猶懸, da lông chồn còn treo). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như trì hà lệ lộ (池荷淚露, sen nơi hồ giọt sương lệ), viện trúc bi phong (院竹悲風, hàng tre bên nhà thoảng gió buồn).
Tháng Sáu âm lịch
có tên gọi khác như Thả Nguyệt (且月), Hà Nguyệt (荷月), Thử Nguyệt (暑月), Tiêu Nguyệt (焦月), Phục Nguyệt (伏月), Quý Nguyệt (季月), Mùi Nguyệt (未月), Mộ Hạ (暮夏), Diểu Hạ (杪夏), Vãn Hạ (晚夏), Quý Hạ (季夏), Trường Hạ (長夏), Cực Thử (極暑), Tổ Thử (組暑), Nhục Thử (溽暑), Lâm Chung (林鐘), Tinh Dương (精陽), Độn Nguyệt (遁月), Lâm Chung (林鍾), Cam Chung (甘鍾), Tinh Nguyệt (精月), Đán Nguyệt (旦月), Cửu Hạ (九夏), Đản Thử (但暑), Lệ Nguyệt (荔月), Tổ Nguyệt (祖月). Một số câu hay cho tháng Năm như lục hà hương viễn (綠荷香遠, sen xanh hương ngát xa), liễu ám phong thanh (柳暗風清, liễu râm gió mát), tất suất cư bích (蟋蟀居壁, dế mèn sống nơi tường nhà), Xạ Thảo vi oánh (麝草爲瑩, cỏ Xạ Thảo trong suốt), băng bàn tiến quả (冰盤薦果, mâm băng cúng quả), hồng tảo phất hạm (紅藻拂檻, cỏ hồng phất qua song cửa), bích thọ lâm song (碧樹臨窗, cây xanh đến bên cửa sổ). Một số từ dùng cho Sơ Phục (初伏, chỉ 10 ngày đầu của mùa nóng) như huề cầm tải tửu (攜琴載酒, mang đàn cầm đi chở rượu), trầm lý phù qua (沉李浮瓜, mận chìm dưa nỗi). Một số từ dùng cho Trung Phục (中伏, chỉ 10 ngày giữa của mùa nóng) như viêm phong chánh tích (炎風正積, gió nóng tích tụ), Canh Phục phương trung (庚伏方中, ngay giữa Tam Phục). Một số từ dùng cho Mạt Phục (末伏, chỉ 10 ngày cuối của mùa nóng) như Tam Canh tại hậu (三庚在後, ngay sau Tam Phục), Mạt Phục dư viêm (末伏餘炎, hơi nóng còn lại kỳ Mạt Phục). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như thiền thanh hiệu nguyệt (蟬聲號月, tiếng ve sầu than thở với trăng), yến ngữ bi phong (燕語悲風, chim yến chuyện trò với gió buồn).
Tháng Tám âm lịch
có tên gọi khác như Trọng Thu (仲秋), Trung Thu (中秋), Thu Bán (秋半), Thu Cao (秋高), Quất Xuân (橘春), Thanh Thu (清秋), Chánh Thu (正秋), Quế Thu (桂秋), Hoạch Nguyệt (獲月), Tráng Nguyệt (壯月), Quế Nguyệt (桂月), Diệp Nguyệt (葉月), Thu Phong Nguyệt (秋風月), Dậu Nguyệt (酉月), Nguyệt Kiến Nguyệt (月見月), Hồng Nhiễm Nguyệt (紅染月), Nam Lữ (南呂), Trọng Thương (仲商), Chá Nguyệt (柘月), Nhạn Lai Nguyệt (雁來月), Trung Luật (中律), Tứ Âm Nguyệt (四陰月), Sảng Nguyệt (爽月), Đại Thanh Nguyệt (大清月), Trúc Tiểu Xuân (竹小春), Quán Nguyệt (觀月), Kết Xuân (桔春), Cử Nguyệt (舉月). Một số câu hay cho tháng Tám như châu lộ ngưng bạch (珠露凝白, sương châu đọng thành màu trắng), quế nhụy sanh hương (桂蕊生香, nhụy hoa quế ngát hương), lộ doanh tiên chưởng (露盈仙掌, sương đọng đầy bàn tay tiên), quế trán thiềm cung (桂綻蟾宮, quế khắp cung trăng), lộ châu trích lãnh (露珠滴冷, giọt sương ngọc lạnh băng), quế nguyệt phù hàn (桂月浮寒, trăng quế trôi nỗi lạnh ngắt), thiềm quang chánh mãn (蟾光正滿, ánh sáng trăng tròn đầy), nhạn hoành độ ảnh (雁橫度影, nhạn bay ngang qua còn lưu bóng), thiềm thố trừng quang (蟾兔澄光, ánh trăng sáng tỏ). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như thiền hiệu cổ mộc (蟬號古木, ve khóc cây cổ), yến biệt điêu lương (燕別雕梁, yến giã biệt xà nhà chạm trỗ).
Tháng Tư âm lịch
có tên gọi khác như Phạp Nguyệt (乏月), Hoang Nguyệt (荒月), Dương Nguyệt (陽月), Nông Nguyệt (農月), Càn Nguyệt (乾月), Tỵ Nguyệt (巳月), Úy Nguyệt (畏月), Vân Nguyệt (雲月), Hòe Nguyệt (槐月), Mạch Nguyệt (麥月), Chu Nguyệt (朱月), Dư Nguyệt (餘月), Thủ Hạ (首夏), Hạ Thủ (夏首), Mạnh Hạ (孟夏), Sơ Hạ (初夏), Duy Hạ (維夏), Thỉ Hạ (始夏), Hòe Hạ (槐夏), Đắc Điểu Vũ Nguyệt (得鳥羽月), Hoa Tàn Nguyệt (花殘月), Trọng Lữ (仲侶、仲呂), Thuần Dương (純陽), Thuần Càn (純乾), Chánh Dương Nguyệt (正陽月), Hòa Nguyệt (和月), Mạch Thu Nguyệt (麥秋月), Mạch Hầu (麥候), Mạch Tự (麥序), Lục Dương (六陽), Mai Nhục (梅溽), Mai Nguyệt (梅月), Thanh Hòa (清和), Chu Minh (朱明), Phạp Hạ (乏夏), Xuân Dư (春餘), Hòe Tự (槐序), Anh Tự (櫻序). Một số câu hay cho tháng Tư như Hòe phong mị Hạ (槐風媚夏, gió đưa cây Hòe nịnh hót mùa Hè), mạch Hạ phiên Thu (麥夏翻秋, mùa Hè lúa chuyển sang Thu), ngũ phong mạch thục (五風麥熟, năm gió làm lúa chín), tế vũ mai phì (細雨梅肥, mưa nhẹ làm cho Mai tươi tốt), Chu Minh bố lệnh (朱明布令, Chu Minh ban lệnh), Xích Đế ty quyền (赤帝司權, Xích Đế nắm quyền). Một số từ dùng cho tháng Tư nhuận như nguyệt tiêu kỷ nhuận (月蕭紀閏, trăng tiêu điều tháng năm nhuận), thử khí sơ lai (暑氣初來, khí nóng bắt đầu đến), vân đường nghênh Hạ (雲堂迎夏, nhà mây đón mùa Hè), tuyết sơn tống Xuân (雪山送春, núi tuyết tiễn Xuân đi). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như Mai hoàng sầu vũ (梅黃愁雨, Mai vàng buồn mưa), mạch thục bi phong (麥熟悲風, lúa chín sầu gió). Từ dùng cho Lập Hạ là Hạ hành triệu thỉ (夏衡肇始, mùa Hè thật sự bắt đầu), viêm đức phương tân (炎德方新, khí nóng càng mới), quỳ hoa hướng dương (葵花向陽, hoa Quỳ hướng về mặt trời), trúc diệp thùy âm (竹葉垂陰, lá tre tìm bóng râm), tân hà thiếp thủy (新荷貼水, sen mới bám vào nước), trĩ trúc thành âm (稚竹成陰, tre non thành bóng râm), lục long hành Hạ (六龍行夏, sáu rồng đi khắp mùa Hè), vạn tính thư Hạ (萬姓舒憂, muôn họ thư thả hưởng mùa Hè).
tháng vaisakha
Vaisākha (S), Vesākha (P) Tháng 4, 5 ở Ấn độ.
thánh
Ariyan (P), Asekha (P), Aśaikṣa (S), Aśaiksha (S), Saint Xem Tôn giả.
; Arya, sàdhu (S). A sage; wise and good; upright, or correct in all his character; sacred, holy, saintly. The thánh nhân is the opposite of the phàm nhân common or unlightened man.
; Arya (skt). 1) Thánh giả: Saint—Sage. 2) Thiêng liêng: Holy. 3) Thánh thần: Gods. 4) Chứng đắc Chính Đạo: One who is wise and good, and is correct in all his characters. 5) Thánh Nhân đối lại với Phàm Nhân: The saint is the opposite of the common or unenlightened man. 6) Tứ Thánh: See Tứ Thánh Quả.
; (聖) I. Thánh. Phạm:Àrya. Pàli:Ariya. Đối lại: Phàm, Tục. Đối với giá trị bình thường của thế tục thì tính chất của Thánh khác hẳn với tục. Nghĩa là những việc làm, lời nói và tư tưởng khác với người thường, người ta cũng cho là Thánh, như hàng tháng không ăn, hàng năm không ngủ nghỉ chẳng hạn. Vào cuối thế kỉ XIII, trước Tây lịch, giống người da trắng từ vùng Tây bắc Ấn độ xâm nhập, chiếm cứ khu vực Ngũ hà, tự xưng làÀrya (Nhã lợi an) và coi giống da đen bị chinh phục là Anàrya (Phi nhã lợi an). Khoảng 1.000 năm trước Tây lịch, ngườiÀrya từPaĩjàb (tức khu vực Ngũ hà) dần dần dời về phía đông, chiếm lãnh các vùng đất màu mỡ ở trung du sông Diêm mâu na và sông Hằng, gọi là Trung quốc (Phạm: Madhyadeza), hoặc Thánh địa (Phạm:Àryàvarta). Văn hóa của người Àrya dần dần hưng thịnh, sau khi chế độ xã hội được xác lập thì dân bản xứ bị chinh phục được xem là nô lệ (Zùdra, Thủ đà la), còn ngườiÀrya thì tự xưng là Bà la môn (Phạm: Brahmaịa), giai cấp trông coi việc cúng tế. Ngoài ra còn có các giai cấp Sát đế lợi (Phạm:Kwatriya, vương tộc, vũ sĩ), Phệ xá (Phạm: Vaizya, dân thường, làm các nghề nông, công, thương). Trong 4 giai cấp thì người Bà la môn coi việc cúng tế là giai cấp cao nhất, cho nên biết quan niệm về Thánh này được kết hợp với giai cấp đặc quyền. Nhưng thế kỉ thứ VI trước Tây lịch là thời kì biến chuyển lớn lao đối với văn hóa Ấn độ, quan niệm Thánh cũng nhân đó mà được khai phóng. Khi trung tâm văn hóa dần dần dời về phíađông thì nước Ma yết đà đã nổi lên là một nước phát triển mạnh ở vùng biên thùy phía đông. Tại các nước mới nổi lên này, quyền lực của các vương tộc rất lớn, công thương nghiệp phát đạt, giai cấp công thương trở nên giàu có, dần dần nắm thực quyền kinh tế trong xã hội. Bấy giờ, cũng xuất hiện các nhà tư tưởng mới không chấp nhận giai cấp Bà la môn, đó là các nhà Sa môn (Phạm:Zramaịa), trong đó người có tính đại biểu nhất là đứcThích tôn. Ngài chủ trương xóa bỏ 4 giai cấp, bất luận là giai cấp nào, hễ gia nhập giáo đoàn thì đều trở thành Thích tử bình đẳng, không căn cứ vào gia thế, thân phận, tài sản để gọi là Thánh, mà lấy Chính đạo là Thánh. Những người tìm cầu Chính đạo hoặc thực hành Chính đạo đều gọi là Thánh. Bởi thế, sự xuất gia cầu đạo của đức Thích tôn cũng gọi là Thánh cầu (Pàli:Ariya-pariyesa). Bát chính đạo cũng gọi là Bát Thánh đạo (Pàli:Ariya-magga); Tứ đế cũng gọi là Tứ Thánh đế (Pàli:Ariya-sacca, chân lí của bậc Thánh). Ngoài ra, cũng có các từ ngữ có chữ Thánh đứng đầu như Thánh trí (Pàli:Ariya-paĩĩa), Thánh giải thoát (Pàli: Ariya-vamutti), Thánh giới (Pàli:Ariyasìla), Thánh thanh văn (Pàli: Ariyasàvaka, Thánh đệ tử)... Chữ Thánh vốn có nghĩa là huyết thống cao quí của dân tộcÀrya, nhưng sau khi được Phật giáo sử dụng thì ý nghĩa thay đổi khác hẳn. II. Thánh. Từ tôn xưng người có học vấn và đức hạnh vượt trội. (xt. Thánh Nhân).
Thánh Bảo
(聖寳, Shōbō, 832-909): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời đại Bình An, Tự Trưởng đời thứ 8 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), vị tổ khai sáng Dòng Tiểu Dã (小野流), húy là Thánh Bảo (聖寳), tên tục là Hằng Ấm Vương (恒蔭王), thụy hiệu là Lý Nguyên Đại Sư (理源大師), xuất thân vùng Kyoto, con của Binh Bộ Đại Thừa Cát Thanh Vương (兵部大丞葛聲王). Năm 16 tuổi, ông theo xuất gia với Chơn Nhã (眞雅, Shinga), rồi học Tam Luận, Pháp Tướng và Hoa Nghiêm với Nguyên Hiểu (源曉, Gankyō), Viên Tông (圓宗, Enshū) và Bình Nhân (平仁, Heinin). Năm 869, ông làm việc cho Duy Ma Hội Thụ Nghĩa và luận phá các nghĩa học khác, sau đó đến năm 871 thì thọ nhận pháp Vô Lượng Thọ từ Chơn Nhã và chuyên tu về Mật Giáo. Đến năm 874, ông kiến lập nên Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), rồi đến năm 880 thì thọ nhận 2 bộ đại pháp từ Chơn Nhiên (眞然, Shinzen) ở Cao Dã Sơn và vào năm 884 thì thọ pháp Quán Đảnh ở Nguyên Nhân (源仁, Gennin) tại Đông Tự. Sau đó, vào năm 890, ông làm Tọa Chủ của Trinh Quán Tự (貞觀寺, Jōgan-ji), rồi năm 905 thì làm Viện Chủ Đông Nam Viện của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), và năm sau thì làm Tự Trưởng cũng như Tăng Chánh của Đông Tự. Các trước tác của ông để lại có Đại Nhật Kinh Sớ Sao (大日經疏鈔), Thai Tạng Giới Hành Pháp Thứ Đệ (胎藏界行法次第), Như Ý Luân Tu Cúng Quỹ (如意輪修軌), Ngũ Đại Hư Không Tạng Thức Pháp (五大虛空藏式法), Tu Nghiệm Tối Thắng Huệ Ấn Tam Muội Da Cực Ấn Quán Đảnh Pháp (修驗最勝惠印三昧耶極印灌頂法).
thánh bảo
Shobo (S) Sơ tổ phái Đề Hổ, Mật tông Nhật bản.
thánh bảo tạng thần
The deva, or devas, of the sacred treasury of precious things (who bestows them on the living).
; Một trong các vị chư Thiên, vị có nhiều của cải quý báu, được gọi là Tài Thần, đem của cải đến làm giàu cho chúng sanh—The deva, or devas of the sacred treasury of precious things, who bestows them on the living.
thánh ca
Samhita (P), Dohā (S), gur (T), Spiritual song Bài hát của những bậc Đại giác ở Tây tạng do các sư Kim cang thừa sáng tác, mỗi câu có 9 vần.
Thánh chúng
(聖眾): chủ yếu chỉ đức Phật, Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺), Thanh Văn (s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞), v.v. Tăng Nhất A Hàm (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 45 có nêu ra 6 hạng Thánh chúng, gồm: (1) Tu Đà Hoàn (s: srota-āpanna, p: sotāpanna, 須陀洹, hay Dự Lưu [預流]), (2) Tư Đà Hàm (s: sakṛd-āgāmin, p: sakad-āgāmin, 斯陀含, hay Nhất Lai [一來]), (3) A Na Hàm (s, p: anāgāmin, 阿那含, hay Bất Lai [不來]), (4) A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢), (5) Bích Chi Phật (s: pratyeka-buddha, 辟支佛), và (6) Phật. Trong Phật Thuyết Tôn Thắng Đại Minh Vương Kinh (佛說尊勝大明王經, Taishō Vol. 21, No. 1413) có đoạn rằng: “Quy mạng nhất thiết chư Phật, nhất thiết tôn pháp, nhất thiết Thánh chúng; hựu phục quy mạng đại bi Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát (歸命一切諸佛、一切尊法、一切聖眾、又復歸命大悲觀自在菩薩摩訶薩, kính lễ hết thảy chư Phật, hết thảy giáo pháp, hết thảy Thánh chúng; lại thêm kính lễ đại bi Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát).” Hay trong Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận (釋淨土群疑論, Taishō Vol. 47, No. 1960) cũng có đoạn: “Do Tịnh Độ nghiệp cảm sanh thời thục, Thánh chúng lai nghênh, quy thú Tịnh Độ, xả Ta Bà uế chất, thành Cực Lạc tịnh thân (由淨土業感生時熟、聖眾來迎、歸趣淨土、捨娑婆穢質、成極樂淨身, do đến lúc nghiệp cảm sanh về cõi Tịnh Độ đã chín, Thánh chúng đến nghinh đón, quay về Tịnh Độ, bỏ chất nhơ nhớp chốn Ta Bà, thành thân trong sạch cõi Cực Lạc).”
thánh chúng
The holy multitude, all the saints.
; • Tất cả các bậc Thánh—The holy multitude—All the saints, or sacred assembly. • Những vị Bồ Tát Thánh đã vượt thoát phiền não từ sơ địa trở lên—The Bodhisattva saints who have overcome illusion, from the first stage upwards. • Đối với Thánh chúng hay bậc trí, những gì thường phải được xem là một sự lầm lẫn, tức là cái thế giới của các đặc thù nầy, vẫn không biểu hiện là điên đảo hay phi điên đảo: To all the saints, or the wise, what is to be ordinarilyregarded as an error, that is, this world of particulars, appears neither perverted nor unperverted. • Đoàn thể do Đức Phật lập nên gọi là “Thánh Chúng” (Aryan sangha), đó là môi trường tu tập của những người cao quý. Vì truyền thống Bà La Môn đã được thiết lập kiên cố nên giai cấp bấy giờ đã được phân chia thậ là rõ rệt. Bởi lẽ đó, Đức Phật luôn xác nhận rằng trong hàng Tăng chúng của Ngài không có phân biệt giữa Bà La Môn và võ tướng, hay giữa chủ và tớ. Ai đã được nhìn nhận vào hàng Tăng chúng đều được quyền học tập như nhau. Đức Phật dạy rằng không thể gọi một giai cấp nào là cao quý hay không cao được bởi vì vẫn có những người đê tiện trong cái giai cấp gọi là cao quý và đồng thời cũng có những người cao quý trong giai cấp đê tiện. Khi chúng ta gọi cao quý hay đê tiện là chúng ta nói về một người nào đó chứ không thể cả toàn thể một giai cấp. Đây là vấn đề của tri thức hay trí tuệ chứ không phải là vấn đề sinh ra ở trong dòng họ hay giai cấp nào. Do đó, vấn đề của Đức Phật là tạo nên một người cao quý hay Thánh giả (Arya pudgala) trong ý nghĩa một cuộc sống cao quý. Thánh chúng đã được thiết lập theo nghĩa đó. Theo đó thì Thánh Pháp (Arya dharma) và Thánh luật (Arya vinaya) được hình thành để cho Thánh chúng tu tập. Con đường mà Thánh giả phải theo là con đường Bát Thánh Đạo (Arya-astangika-marga) và cái sự thật mà Thánh giả tin theo là Tứ Diệu Đế. Sự viên mãn mà Thánh giả phải đạt tới là Tứ Thánh quả (Arya-phala) và cái toàn bị mà Thánh giả phải có là Thất Thánh Giác Chi (sapta-arya-dharma). Đó là những đức tính tinh thần cả. Người học Phật không nên đánh mất ý nghĩa của từ ngữ “Thánh” nầy vốn được áp dụng cẩn thận vào mỗi điểm quan trọng trong giáo pháp của Đức Phật. Đức Phật, như vậy, đã cố gắng làm sống lại ý nghĩa nguyên thủy của chữ “Thánh” nơi cá tính con người trong cuọäc sống thường nhật: The special community established by the Buddha was called “The Assembly of the Noble” (Arya-sangha), intended to be the cradle of noble persons. Since the Brahmanical tradition had been firmly established, the race distinction was strictly felt. On that account the Buddha often asserted that in his own community there would be no distinction between Brahmans (priests) and warriors or between masters and slaves. Anyone who joined the Brotherhood would have an equal opportunity for leading and training. The Buddha often argued that the word Arya meant 'noble' and we ought not call a race noble or ignoble for there will be some ignoble persons among the so-called Aray and at the same time there will be some noble persons among the so-called Anarya. When we say noble or ignoble we should be speaking of an individual and not of a race as a whole. It is a question of knowledge or wisdom but not of birth or caste. Thus the object of the Buddha was to create a noble personage (arya-pudgala) in the sense of a noble life. The noble community (Arya-sangha) was founded for that very purpose. The noble ideal (Arya-dharma) and the noble discipline (Arya-vinaya) were set forth for the aspiring candidates. The path to be pursued by the noble aspirant is the Noble Eightfold Path (Arya-astangika-marga) and the truth to be believed by the noble is the Noble Fourfold Truth (Catvariarya-satyani). The perfections attained by the noble were the four noble fruitions (Arya-phala) and the wealth to be possessed by the noble was the noble sevenfold wealth (sapta-arya-dhana), all being spiritual qualifications. The careful application of the word Arya to each of the important points of his institution must not be overlooked by a student of Buddhism. The Buddha thus seemed to have endeavored to revive the original meaning of Arya in personality and the daily life of his religious community. ** For more information, please see Tứ Thánh Quả.
; (聖衆) Chỉ cho Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn.Kinh Tăng nhất a hàm quyển 45 nêu 5 bậc: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán và Bích chi phật, gọi là Thánh chúng. Tịnh độ giáo cho rằng lúc người ta lâm chung thì đức Phật A di đà và Thánh chúng từ Tịnh độ đến đón, gọi là Thánh chúng lai nghinh. Bức tranh vẽ tả cảnh Thánh chúng đến đón, gọi là Thánh chúng lainghinh đồ. [X. kinh Vô lượng thọ; Vãng sinh luận chú Q.hạ].
thánh chúng lai nghinh
Những ai tinh chuyên tu hành niệm Phật, lúc lâm chung sẽ được Đức Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng ở cõi Tịnh Độ đến đón về cõi Tịnh Độ—Amitabha's saintly host come to welcome at death those who call upon him.
thánh chúng lai nghênh
Amitàbha's saintly host come to welcome at death those who call upon him.
; (聖衆來迎) Cũng gọi Lai nghinh dẫn tiếp. Gọi tắt: Lai nghinh, nghinh tiếp. Các Thánh đến đón. Tức hành giả niệm Phật, lúc lâm chung, được đức Phật A di đà và Thánh chúng đến trước đón về Tịnh độ cực lạc. Kinh A di đà (Đại 12, 347 trung) nói: Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào nghe nói đến Phật A di đà mà chấp trì danh hiệu của Ngài trong 1 ngày, hoặc 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 6 ngày, 7 ngày, một lòng không rối loạn, thì khi người ấy sắp mệnh chung, Phật A di đà và các Thánh chúng sẽ hiện thân ở trước mặt người ấy, lúc người ấy hấp hối mà tâm không điên đảo thì liền được sinh về cõi nước Cực lạc của đức Phật A di đà. Ngoài ra, kinh Vô lượng thọ quyển thượng và phần Thượng phẩm thượng sinh trong kinh Quán vô lượng thọ cũng đều nói rõ rằng người sinh về Tịnh độ, nhờ nguyện lực của Phật A di đà, lúc mệnh chung được Phật và Thánh chúng đến đón. Lại theo kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị Bồ tát và kinh Quán Di lặc bồ tát thướng sinh Đâu suất thiên thì biết tình hình chư Phật và Thánh chúng đến đón này không phải chỉ giới hạn ở lãnh vực những người vãng sinh Di đà Tịnh độ, mà những người sinh lên cõi trời Đâu suất cũng có thể được chư Phật Thánh chúng cùng đến đón. Tuy nhiên, bất luận vãng sinh Tịnh độ nào, đều phải lấy lâm chung chính niệm làm điều kiện tiên quyết, đó chính là ý nghĩa câu văn Lúc người ấy mệnh chung, tâm không hề điên đảo trích dẫn ở trên.Về việc đức Phật A di đà đến đón thì kinh Quán vô lượng thọ nói tỉ mỉ rõ ràng về tướng 9 phẩm đến đón như sau: 1. Thượng phẩm thượng sinh: Đức Phật A di đà và các bồ tát Quán thế âm, Đại thế chí, cho đến vô số hóa Phật, trăm nghìn tỉ khưu và vô lượng chư thiên đến đón.2. Thượng phẩm trung sinh: Đức Phật A di đà có các bồ tát Quán âm, Thế chí, vô lượng, đại chúng quyến thuộc tùy tòng đến trước mặt hành giả, cùng với 1.000 hóa Phật đồng thời cầm tay tiếp dẫn. 3. Thượng phẩm hạ sinh: Đức Phật A di đà, bồ tát Quán âm, Thế chí, các quyến thuộc và 500 hóa Phật đến đón. 4. Trung phẩm thượng sinh: Đức Phật A di đà cùng các tỉ khưu, quyến thuộc tùy tòng đến đón. 5. Trung phẩm trung sinh: Đức Phật A di đà cùng với quyến thuộc đến đón. 6. Hạ phẩm thượng sinh: Hóa Phật, hóa Quán thế âm, hóa Đại thế chí đến đón.7. Hạ phẩm trung sinh: Hóa Phật, Bồ tát đến đón. 8. Hạ phẩm hạ sinh: Hoa sen vàng đến trước tiếp dẫn. Trên đây, trong kinh không thấy nói đến Trung phẩm hạ sinh, có thuyết cho rằng người dịch kinh đã bỏ sót. Còn trong Quán kinh sớ định thiện nghĩa của ngài Thiện đạo thì nêu ra 3 duyên và cho rằng Thánh chúng lai nghinh là Tăng thượng duyên, đồng thời cho rằng nhờ được Thánh chúng đến đón mà thoát khỏi mọi chướng ngại, rốt ráo vãng sinh Tịnh độ. Về ý nghĩa đến đón, trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 2 do ngài Hoài cảm soạn có nói rõ thêm như sau: 1. Đứng về phương diện Chân thân Như lai mà nói thì không có việc đi, đến; nhưng đứng về phương diện Tự chân thùy hóa mà nói thì có đi, về; cho nên việc Như lai đến đón thực ra là sự hóa dụng tùy cơ ứng vật. 2. Thực ra Phật không đến đón, mà tướng chư Phật Thánh chúng lai nghinh chỉ do tự tâm hành giả thấy Phật đến; cũng chính là sự đến đón của Phật là do sức công đức của tự thân hành giả lấy bản nguyện đại bi của Phật làm tăng thượng duyên mà biến hiện ra. [X. kinh Đại A di đà Q.thượng; kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ; kinh Quán Phật tam muội hải Q.10; Quán niệm pháp môn; Vãng sinh lễ tán; Hoài cảm truyện trong Phật tổ thống kỉ Q.27; 28].
thánh chúng lai nghênh đồ
(聖衆來迎圖) Gọi tắt: Lai nghinh đồ, Nghinh tiếp mạn đồ la, Nghinh tiếp biến tướng. Bức tranh vẽ cảnh Phật, Bồ tát đến đón rước hành giả lúc hành giả lâm chung. Bức Lai nghinh thường thấy nhất là đức Phật A di đà và 25 vị Bồ tát, vì thế nên còn gọi là Nhị thập ngũ Bồ tát nghinh tiếp đồ. Ở Ấn độ cũng như ở Trung quốc, từ xưa đến nay, tư tưởng cầu mong lúc lâm chung được thấy Phật rất thịnh và cũng rất nhiều trường hợp lúc lâm chung hành giả được Phật và Bồ tát đón tiếp. Như các Ngài Trúc tăng hiển, Tuệ vĩnh, Đàm loan, Đạo xước, Hoài cảm... đều cảm được Phật đến đón. Xưa nay cũng đã có Lai nghinh đồ được tạo lập, như Ngũ thông Mạn đồ la ở đời Tùy, chính là bức Lai nghinh đồ vẽ 1 đức Phật và 50 vị Bồ tát. Những năm gần đây, bức A di đà tam tôn lai nghinh đồ được tìm thấy ở thành Hắc thủy, ở tỉnh Cam Túc, Trung Quốc, là tác phẩm đẹp nhất trong các bức Lai nghinh đồ hiện còn.
thánh chủ
(聖主) Cũng gọi Thánh chúa sư tử. Chỉ cho tôn hiệu của đức Phật. Phật là bậc đứng đầu trong các Thánh nên gọi là Thánh chúa Sư tử, nghĩa là Phật có đức tự tại không sợ hãi, giống như sư tử. PhẩmTựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 2 hạ) nói: Thánh chúa Sư tử diễn nói kinh điển. Pháp hoa nghĩa sớ quyển 2 (Đại 34, 473 thượng) ghi: Trung luận nói có 3 loại Thánh: Một là ngoại đạo 5 thần thông, hai là Bích chi la hán, ba là pháp thân Bồ tát. Phật là bậc cao cả nhất trong 3 loại Thánh nên gọi là Thánh chúa.
thánh chủ sư tử
The holy lion lord, i.e. Buddha.
thánh chủ thiên trung thiên
The holy lord deva of devas, i.e. Buddha.
; The holy lord—Deva of devas.
Thánh chủ 聖主
[ja] ショウス ショウジュ shōsu shōju ||| Holy lord; sagely master (narendra-rāja, jina). A reference to the Buddha 佛. => (s: narendra-rāja, jina). Chỉ cho Đức Phật.
thánh chủng
(1) The holy seed, i.e. the community of monks; (2) that which produces the discipline of the saints, or monastic community.
; 1) Chủng tử của bậc Thánh Hiền: Tăng chúng (sau khi Đức Phật nhập diệt, các đệ tử lần lượt nối pháp, như hạt giống cây truyền đi mãi mãi)—The holy seed, i.e. the community of monks. 2) Một trong lục chủng tính: One of the six germ-natures or roots of Bodhisattva development—See Lục Chủng Tính.
; (聖種) I. Thánh Chủng. Chủng tử(hạt giống) Thánh Hiền. Sau khi đức Phật nhập diệt, các đệ tử lần lượt nối tiếp giáo pháp của Ngài, cũng như hạt giống của cây cỏ truyền nối nhau không dứt, cho nên dùng hạt giống (chủng tử) để ví dụ. Cũng tức là hạt giống Thánh nhân giữ cho mệnh mạch của Phật giáo được trường tồn. [X. luận Câu xá Q.22]. II.Thánh Chủng. Chi cho Bồ tát Thập địa. Bốn mươi hai giai vị tu hành của Bồ tát được chia làm 6 chủng tính, trong đó, chủng thứ 6 là Thánh chủng tính tức Bồ tát thập địa. [X. phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng;Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ, phần đầu]. (xt. Thập Địa, BồTát Giai Vị).
thánh cúng
Holy offerings, or those made to the saints, especially to the Triratna tam bảo.
; The holy offerings, or those made to the saints, especially to the Triratna.
thánh cảnh
Auspicious scenes.
thánh cầu
Ariya-pariyesa (P) Sự xuất gia cầu đạo.
thánh cứu độ phật mẫu
Xem Đa la Bồ tát.
Thánh cứu độ Phật mẫu nhị thập nhất chủng lễ tán kinh 聖救度佛母二十一種禮讃經
[ja] ショウキュウトブツモニジュウイチシュライサンキョウ Shō kudo butsumo nijūisshu raisan gyō ||| Skt. Bhagavatyāryatāra-devyā-namaskāre-ekaviṃśati-stotra; Tib. sGrol ma la phyag 'tshal nyi shu rtsa gcig gi bstod pa phan yon dang bcas pa [To.438, P.77]; (Twenty-One Hymns to the Rescuer Saint Tārā, Mother of Buddhas). 1 fasc. (T 1108a.20.478-479), abbr. Hymns to the Twenty-One Forms 二十一種禮讃經, tr. Anzang 安藏 (from a Tibetan version). A very brief series of homages to twenty-one manifestations of Tārās 多羅. These forms are illustrated alongside the Chinese translation in another document (救度佛母二十一種禮讃經 (T 1108b)). The phrase śiva-sakti 善靜威力 appears as an epithet of Paripūraṇa-tāra 具三眞實母, the twenty-first manifestation. One Sanskrit version of this text is extant as a dhāraṇī in another scripture, the Sarvatathāgatamātṛtārāviśvakarmabhava [To.326, P.390]. For a Sanskrit edition, Tibetan edition and English translation, see Willson (1985); for a Japanese translation and Tibetan edition of a related text (Jo bo lugs kyi sgrol ma nyer gcig gi sgrub thabs, rjes gnang dang bcas pa) see Tanaka (1990), pp. 220-224. A Chinese ritual manual was composed or translated from Tibetan by the Nuona Khutughtu 諾那呼圖克圖 (1934) . BGBT4/323. Shō kudo butsumo nijūisshu raisan gyō (j); Bhagavatyāryatāra-devyā-namaskāre-ekaviṃśati-stotra (s); sGrol ma la phyag 'tshal nyi shu rtsa gcig gi bstod pa phan yon dang bcas pa (t); Twenty-One Hymns to the Rescuer Saint Tārā, Mother of Buddhas (e); => Một quyển. Tên gọi tắt là Nhị thập nhất chủng lễ tán kinh (e: Hymns to the Twenty-One Forms 二十一種禮讃經). An Tạng (Anzang 安藏) dịch từ bản tiếng Tây Tạng. Là bộ kinh vắn gọn về sự lễ bái 21 biểu tượng của Đa-la (Tārās 多羅). Những hình ảnh nầy được minh hoạ theo nội dung bản dịch tiếng Hán trong một tài liệu khác Cứu độ Phật mẫu Nhị thập nhất chủng lễ tán kinh. Câu Thiện tịnh uy lực (s: śiva-sakti 善靜威力) được xem như một danh hiệu của Cụ tam chân thật mẫu (Paripūraṇa-tāra 具三眞實母), là 21 hình tượng. Có một bản tiếng Sanskrit của kinh nầy còn lưu hành như là một đà-la-ni nằm trong một bản kinh khác, đó là Sarvatathāgatamātṛtārāviśvakarmabhava [To.326, P.390]. Về ấn bản tiếng Sanskrit, ấn bản tiếng Tây Tạng, bản dịch tiếng Anh, xin xem Tác phẩm của Willson (1985); bản dịch tiếng Nhật và ấn bản tiếng Tây Tạng của kinh văn liên quan (Jo bo lugs kyi sgrol ma nyer gcig gi sgrub thabs, rjes gnang dang bcas pa), xin xem tác phẩm của Tanaka (1990), trang 220-224. Một cuốn nghi quỹ bằng tiếng Hán đã được soạn hay dịch từ tiếng Tây Tạng của Nặc na hồ đồ khắc đồ (Nuona Khutughtu 諾那呼圖克圖) năm 1934.
Thánh diệm mạn đức ca uy nộ vương lập thành đại thần nghiệm niệm tụng pháp 聖閻曼德迦威怒王立成大神驗念誦法
[ja] ショウエンマンタッカイヌオウリュウジョウダイジンケンネンジュホウ Shō Emmantokka inuō ryūjō daijin ken nenju hō ||| The Sheng Yanmandejia weinuwang licheng dashen yan niansong fa (Method for Recitation and Establishing Supernatural Effects through Sacred Yamāntaka, the Indignant King). 1 fasc. (T 1214.21.73-76), abbreviated as Recitation Protocols of the Indignant King 威怒王念誦法, trans. Amoghavajra 不空. => Sŏng yŏmman tŏkka winowang ipsŏng taesinhŏm yŏmsong pŏp (k); Sheng Yanmandejia weinuwang licheng dashen yan niansong fa (c); Method for Recitation and Establishing Supernatural Effects through Sacred Yamāntaka, the Indignant King (e); Một quyển; Gọi tắt là Uy nộ vương niệm tụng pháp ( e: Recitation Protocols of the Indignant King 威怒王念誦法), Bất Không (s: Amoghavajra 不空) dịch.
thánh diệu mẫu đà la ni
Ārya-grahamatṛkadhāranī (S).
thánh diệu mẫu đà la ni kinh
Grahāmātrikā (S) Một bộ kinh trong Mật bộ.
; Arya-grahamatrka-dhàrani (S).
Thánh diệu mẫu đà-la-ni kinh 聖曜母陀羅尼經
[ja] ショウヨウモダラニキョウ Shō yōmo darani kyō ||| The Sheng yaomu tuoluoni jing; Skt. [āryaśrī-nāva-]Grahamāṭrkā-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] gza' rnams kyi yum shes bya ba'i gzungs [To. 660/997, 661/998, P.339/622, 340/623]; (Dhāraṇī of the Sacred Planet Mothers). Seventh text of the Saptavāra corpus. Two Chinese translations: (1) 1 fasc. (T 1302.21.420-421), Dhāraṇī of the Planet Mothers 諸星母陀羅尼經 trans. Facheng 法成. (2) 1 fasc. (T 1303.21.421-422), Dhāraṇī of the Sacred Planet Mothers 聖曜母陀羅尼經 trans. Fatian 法天. BGBT4/116-7. => Shō yōmo darani kyō (j); Sheng yaomu tuoluoni jing (c); [āryaśrī-nāva-]Grahamāṭrkā-dhāraṇī (s); 'phags pa] gza' rnams kyi yum shes bya ba'i gzungs (t); Dhāraṇī of the Sacred Planet Mothers (e); Là bản kinh thứ 7 của tập sao lục Saptavāra. Có hai bản dịch tiếng Hán: 1. Một quyển; Chư tinh mẫu đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of the Planet Mothers 諸星母陀羅尼經). Pháp Thành (c: Facheng 法成) dịch. 2. Một quyển; Thánh diệu mẫu đà-la-ni kinh聖曜母陀羅尼經; Pháp Thiên (Fatian 法天) dịch.
thánh duyên
Holy conditions of, or aids to the holy life.
; Những điều kiện hay trợ lực giúp đưa đến cuộc sống Thánh Thiện—Holy conditions of or aids to the holy life.
thánh dũng
ĀryaśŪra (S) Tên một vị sư Ấn độ. Tỳ kheo, thế kỷ VI, biên soạn Phật giáo Cố sự tập (Jatakamala).
; (聖勇) Phạm:Àryazùra. Nhà văn học Phật giáo Ấn độ sống vào khoảng thế kỉ VI, là thi nhân Phật giáo kế sau ngài Mã minh. Ngài từng dùng Bản sinh đàm làm đề tài và sử dụng tiếng Phạm viết thành bộ Phật giáo cố sự tập (Phạm: Jàtakamàlà, tức luận Bồ tát bản sinh man, do các ngài Thiệu đức và Tuệ tuân cùng dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 3), dùng lời văn lưu loát, bóng bẩy (tương đương với văn vần của Trung Quốc) ca ngợi cuộc đời đức Phật, là 1 tác phẩm hay trong văn học cổ điển Ấn Độ.
thánh giáo
Sasanakaro (P) Xem A hàm.
; The teaching of the sage, or holy one; holy teaching.
; Những lời dạy của Thánh Nhân—The teaching of the sages, or holy one; holy teaching
; (聖教) Phạm;Pàli:Àgama. Hán âm: A cấp ma. Giáo pháp do bậc Thánh nói. Tức chỉ cho giáo lí do đức Phật nói và các sách vở do Thánh hiền soạn thuật. Tam tạng Kinh, Luật, Luận và các trứ tác khác của thánh hiền cũng được gọi chung là thánh giáo. Dị bộ tông luân luận thuật kí (Vạn tục 83, 212 thượng) nói: Thánh có nghĩa là chính, hợp với chính lí gọi là Thánh. Khế lí thông thần cũng gọi là Thánh. Điều mà những lời nói ở đây hiển bày tức là giáo. Thái tử Thánh đức pháp do đức Phật Thế tôn thuyết giảng có năng lực khiến người thực hành trở thành Hiền Thánh, vì thế gọi là Thánh giáo. Những kinh điển do ngài Huyền trang dịch thuật vào đời Đường được gọi chung là Tân dịch Thánh giáo. Ngoài ra, bài tựa Đại đường tam tạng Thánh giáo của vua Đường Thái Tông, bài tựa Đại đường trung hưng tam tạng Thánh giáo của vua Đường Trung Tông và bài tựa Đại tống tân dịch tam tạng Thánh giáo của vua Tống Thái Tông, đều gọi chung Tam tạng và Thánh hiền tập là Thánh giáo. Nhật Bản thì gọi chung các kinh luận nghi quĩ thỉnh từ Trung Quốc về và sách vở được truyền thụ là Thánh giáo. [X. luận Đại tì bà sa Q.71; luận Du già sư địa Q.4, 20, Phật tổ thống kỉ Q.44]
thánh giáo hội
Ārya-samaj (S).
thánh giáo lượng
The argument or evidence of authority in logic, i.e. that of the sacred books.
; Chính Giáo Lượng—Những lý luận và chứng cứ cụ thể trong Thánh điển—The argument or evidence of authority in logic, i.e. that of the sacred books.
; (聖教量) Phạm: Àgama hoặc Àgamapramaịa. Cũng gọi Chính giáo lượng, Phật ngôn lượng, Chí giáo lượng (Phạm:Àpt-àgama), Thanh lượng (Phạm: Zabda, cũng gọi là Thánh ngôn lượng). Hàm ý là lấy sách Thánh mà phái mình tôn thờ hoặc lời chỉ dạy của Thánh nhân làm cội nguồn, tiêu chuẩn cho tri thức chính xác. Phật giáo thông thường sử dụng từ ngữ Àgama, còn các phái triết học Bà la môn Phệ đà thì dùng từZabda, đều có nghĩa là lời chỉ dạy của người đáng tin cậy (Phạm:Àpta-nirdeza). Cái gọi là người đáng tin cậy thì trong Phật giáo là chỉ cho đức Phật, Bồ tát và các bậc Hiền Thánh, trong triết học Bà la môn thì chỉ cho các vị Thần tiên nói kinh Phệ đà, hoặc chỉ cho những người Hiện chứng pháp nói trong Phệ đà. Trong các phái triết học ở Ấn độ, trừ phái Thuận thế ngoại đạo, phái Thắng luận, phái luận lí học Phật giáo, còn các phái khác đều chủ trương Thánh giáo lượng là lượng độc lập. Ngoài Hiện lượng và Tỉ lượng ra, Cổ nhân minh trong Phật giáo còn thừa nhận Thánh giáo lượng đem đến sự bảo chứng cho tính xác thực của Hiện lượng và Tỉ lượng. Luận Du già sư địa quyển 15 cho rằng ngôn giáo do bậc Nhất thiết trí nói ra gọi là Thánh giáo lượng. Có 3 điều kiện để được gọi là Thánh giáo lượng,đó là: 1. Không trái với Thánh ngôn. 2. Có khả năng đối trị tạp nhiễm. 3. Không trái với pháp tướng. Nhưng phái luận lí học Phật giáo thuộc Tân nhân minh từ ngài Trần na về sau thì phủ nhận tính độc lập của Thánh giáo lượng, chỉ lập Hiện lượng và Tỉ lượng làm nguồn gốc hoặc tiêu chuẩn chính xác của tri thức. Trong Tập lượng luận, ngài Trần na cho rằng Thánh giáo lượng có thể so sánh biết được từ âm thanh (lời nói) của người đáng tin cậy, cho nên người đáng tin cậy là Tỉ lượng, còn nghe lời nói của người ấy thì là Hiện lượng. Cho nên biết mối quan hệ giữa Thánh giáo lượng và Hiện lượng, Tỉ lượng mà ngài Trần na chủ trương tương phản hẳn với chủ trương của Cổ nhân minh, cho rằng tính chất Thánh giáo của Thánh giáo là do Hiện lượng và Tỉ lượng mà được bảo chứng. Nói cách khác, Thánh giáo lượng đã bao hàm trong Hiện lượng và Tỉ lượng rồi, cho nên không cần phải lập riêng Thánh giáo lượng nữa. [X. luận A tì đạt ma tập Q.7; luận A tì đạt ma tạp tập Q.16; Quán li phẩm trong Tập lượng luận; luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.10; Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q.thượng; History of Indian Logic, 1921 by S.C. Vidyabhùsana; Indian Logic in the Early School, 1930, by H.N. Randle; Phật giáo luận lí học (Vũ tỉnh Bá thọ)].
thánh giáo tự
(聖教序) Bài tựa Thánh giáo, tức chỉ cho bài tựa do vua soạn. Khi một bộ kinh luận mới được dịch thành, để khen ngợi người dịch, hoàng đế đích thân viết một bài tựa, gọi là Thánh giáo tự. Nổi tiếng nhất là Đại đường tam tạng Thánh giáo tự do vua Đường Thái Tông viết cho ngài Huyền Trang vào năm Trinh Quán 22 (648). Những bài tựa này được viết bằng nhiều thể chữ, như bia Thánh giáo tự do Chử toại lương viết được bảo tồn trong tầng đầu tiên của tháp Nhạn ở chùa Đại từ ân tại Tây An, trở thành viên ngọc của thể chữ chân cho đời sau. Lại như Tập tự Thánh giáo tự của Vương hi chi được viết theo thể Hành thư (hơi đá thảo) do ngài Hoài nhân chùa Hoằng phúc ở Tây An thu tập, là di tích nổi tiếng của thể Hành thư.
Thánh giáo 聖教
[ja] ショウギョウ shōgyō ||| The sagely teaching. The instruction of the Buddha. That which is contained in the scriptures (āgama, śāsana). 〔二障義 HPC 1.802c〕 Giáo lý của bậc hiền thánh, Lời giáo huấn của chư Phật. Những điều chứa đựng trong kinh điển (s: āgama, śāsana).
thánh giả
Ariya-puggala (P), Ārya-pudgala (S), Sage, Enlightened one
; Arya (S). Holy or saintly one; one who has started on the path to nirvàna; holiness.
; Arya (skt)—Bậc Thánh đã bước vào con đường đi đến Niết Bàn—The saint—The holy or saintly one; one who has started on the path to nirvana—See Lục Phàm Tứ Thánh.
Thánh giả 聖者
[ja] ショウシャ shōsha ||| A sage (ārya, pandita). 'Buddha.' A person who has arisen undefiled wisdom and sees reality. The stage of darśana-mārga (見道) and above. => Bậc thánh (ārya, pandita). 'Đức Phật'. Người đã phát sinh trí huệ vô lậu và nhận ra được thực tại. Giai vị Kiến đạo (s: darśana-mārga 見道) hoặc cao hơn.
thánh giới
Ārya-śīla (S).
Thánh Hiến
(聖憲, Shōken, 1307-1392): vị học tăng của Phái Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, thông xưng là Căn Nham Tiên Đức (根巖先德), Gia Trì Môn Tiên Đức (加持門先德); tự là Định Lâm (定林), hiệu Hoa Hải (華海); xuất thân vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka [大阪]). Ông theo hầu Thật Tuấn (實俊) ở Di Lặc Viện (彌勒院) của Căn Lai Tự (根來寺, Negoro-ji), rồi được Tăng Hỷ (增喜) của Trung Tánh Viện (中性院) truyền trao cho Dòng Trung Tánh Viện (中性院流). Sau ông theo học Mật Giáo với Thuận Kế (順繼), Lại Hào (賴豪); rồi tiến hành chỉnh lý lại các giảng luận xưa nay của Phái Tân Nghĩa (新義派) và hình thành học thuyết Gia Trì Môn (加持門) của Lại Du (賴瑜). Ông kế thế làm Tổ đời thứ 4 của Trung Tánh Viện, rồi làm Học Đầu (學頭) của Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院), chuyên tâm giáo dưỡng chúng học đồ. Trước tác của ông có Đại Sớ Bách Điều Đệ Tam Trọng (大疏百條第三重) 10 quyển, Thích Luận Bách Điều Đệ Tam Trọng (釋論大疏百條第三重) 10 quyển, Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Thính Sao (華嚴五敎章聽鈔) 5 quyển, Tự Chứng Thuyết Pháp Thập Bát Đoạn (自証說法十八段), v.v.
thánh hiền
Great sage, saints and sages.
; Saints and sages.
; (聖賢) Từ gọi chung Thánh nhân và Hiền nhân. Người tu hành Phật đạo, khi đạt đến giai vị Kiến đạo trở lên, gọi là Thánh; còn người chưa đến Kiến đạo, chỉ mới bỏ các điều ác thì gọi là Hiền. Trong luận Câu xá có nêu thuyết Thất hiền, Thất thánh. Thất hiền cũng gọi là Thất gia hạnh, tức là: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ(trên đây là Tam hiền), Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp (trên 0939252565đây là Tứ thiện căn). Thất thánh là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. Còn Đại thừa thì có thuyết Tam hiền, Thập thánh. Tam hiền chỉ do Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng; Thập thánh thì chỉ cho Bồ tát từ Sơ địa đến Thập địa. Tập tự Thánh giáo tự của Vương hi chi. Ngoài ra, Thập bát hữu học và Cửu vô học, được gọi chung là Nhị thập thất hiền thánh, nhưng số này đều là các bậc Thánh, chứ không phân biệt Hiền và Thánh. (xt. Hữu Học, A La Hán, Hiền Thánh).
thánh hiệu
Buddha's name—Câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”—The recitation of “Namo Amitabha Buddha.”
Thánh Huệ
(聖惠, Shōkei, 1094-1137): vị Tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Tổ của Dòng Hoa Tạng Viện (華藏院流), húy là Thánh Huệ (聖惠), thông xưng là Hoa Tạng Viện Cung (華藏院宮), Trường Vĩ Cung (長尾宮); là Hoàng Tử thứ 5 của Bạch Hà Thiên Hoàng (白河天皇, Shirakawa Tennō, tại vị 1072-1086). Ông theo xuất gia với Khoan Trợ (寬助) ở Thành Tựu Viện (成就院); đến năm 1112 thì được thọ phép Quán Đảnh ở Quan Âm Viện (觀音院) và trở thành Nhất Thân A Xà Lê (一身阿闍梨). Ông khai sáng Hoa Tạng Viện (華藏院) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), truyền thừa dòng pháp của Khoan Trợ và sáng lập Dòng Hoa Tạng Viện. Vào năm 1130, ông viếng thăm anh Giác Pháp (覺法), lên Cao Dã Sơn, cùng với bàn luận với Giác Noan (覺鑁), dâng biểu xin triều đình cho xây dựng Truyền Pháp Viện (傳法院). Ông có tín ngưỡng sâu sắc về A Di Đà Phật, nên đã sáng lập Dẫn Nhiếp Viện (引攝院). Năm 1132, nhân lúc Điểu Vũ Thượng Hoàng (鳥羽上皇) lâm trọng bệnh, ông tiến hành tu Khổng Tước Kinh Pháp (孔雀經法) trong cung nội để cầu nguyện cho Thượng Hoàng lành bệnh. Đệ tử phú pháp của ông có Khoan Hiểu (寬曉).
thánh hành
Cuộc sống chân chính của một vị Bồ Tát là tu hành giới định tuệ—The holy bodhisttva life of the monastic commandments, meditation, and wisdom. ** For more information, please see Ngũ Hành (C).
; (聖行) Hạnh tu của Phật, Bồ tát, 1 trong 5 hạnh. Phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 11 (Đại 12, 433 hạ) nói: Thánh hạnh là những việc mà Phật và Bồ tát thực hành. Nói theo nghĩa rộng thì Thánh hạnh là kính tin kinh Đại bát niết bàn, bỏ tục xuất gia, giữ gìn Tính trọng giới, Tức thế cơ hiềm giới, trụ trong Bất động địa; lại quán thân vô ngã, được Tứ niệm xứ, trụ nơi Kham nhẫn địa; lại quán Tứ thánh đế, rõ suốt lí thường lạc ngã tịnh, trụ trong Vô sở úy địa, gọi là Thánh hạnh. Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 14 (Quán đính) chia Thánh hạnh làm 3 thứ Giới, Định, Tuệ: 1. Giới thánh hạnh: Giữ gìn giới luật, trụ trong Bất động địa. 2. Định thánh hạnh: Được Tứ niệm xứ, trụ trong Kham nhẫn địa. 3. Tuệ thánh hạnh: Quán Tứ thánh đế, trụ trong Vô sở úy địa. [X. luận Đại trí độ Q.18; Pháp hoa huyền nghĩa Q.3 hạ; Ma ha chỉ quán Q.9 thượng]. (xt. Ngũ Hạnh).
Thánh hư không tạng Bồ-tát đà-la-ni kinh 聖虚空藏菩薩陀羅尼經
[ja] ショウコクウゾウボサツダラニキョウ Shō kokūzō bosatsu darani kyō ||| The Sheng xukongzang pusa tuoluoni jing; an alternative translation of the Xukongzang pusa wen qifo tuoluonizhou jing 虚空藏菩薩問七佛陀羅尼呪經 => Shō kokūzō bosatsu darani kyō (j); Sheng xukongzang pusa tuoluoni jing (c); là bản dịch khác của Hư không tạng Bồ-tát vấn thất Phật đà-la-ni kinh (c: Xukongzang pusa wen qifo tuoluonizhou jing 虚空藏菩薩問七佛陀羅尼呪經).
thánh hạnh
The holy bodhisattva life of giới định tuệ the (monastic) commandments, meditation and wisdom.
thánh kinh
Bible; sacred canon; holy scripture.
thánh kinh học
Hermeneutics.
thánh kiên
(聖堅) Danh tăng Tây vực, đến Trung Quốc dịch kinh vào đời Đông Tấn. Sư cư trú lâu tại Lương châu, thông hiểu tiếng Hoa, tiếng Hồ. Xuất tam tạng kí tập quyển 2 chưa xếp sư vào hàng dịch giả, chỉ trong phần chú thích của kinh Phương đẳng vương hư không tạng do ngài Đàm vô sấm dịch là có ghi Biệt lục vân Hà nam quốc Khất Phật thời sa môn Thích thánh kiên dịch xuất. Còn Lịch đại tam bảo kỉ quyển 9 thì nói sư có dịch 14 bộ 21 quyển như kinh Phụ nhân ngộ cô... Các sự tích khác về sư thì không được rõ.
thánh linh
Linh hồn hay tâm thức của người quá cố—The saintly spirit of the dead
Thánh lục tự đại minh vương đà-la-ni kinh 聖六字大明王陀羅尼經
[ja] ショウロクジダイミョウオウダラニキョウ Shōrokujidaimyōōdarani kyō ||| The Shengliuzi damingwang tuoluoni jing (T 1047.20.44-48); alternative version of the Liuzi shenzhou wang jing 六字神呪王經 => Shōrokujidaimyōōdarani kyō (j); Shengliuzi damingwang tuoluoni jing (c); Tên gọi bản dịch khác của Lục tự thần chú vương kinh (c: Liuzi shenzhou wang jing 六字神呪王經). Thanh Lương 清涼 [ja] ショウリョウ Shōryō ||| The National Teacher Qingliang, Chinese Chan monk. See Fayan 法眼. => (c: Qingliang) Thiền sư Trung Hoa, thường gọi Quốc sư Thanh Lương. Xem Pháp Nhãn法眼.
thánh minh
Holy enlightenment; or the enlightenment of saints.
; Sự giác ngộ của bậc Thánh—The holy enlightenment; the enlightenment of saints.
thánh mẫu
Sheng-mu (C), Holy Mother Tên khác của Bích hà Nguyên Quân.
thánh nghi
The saintly appearance, i.e. an image of Buddhả.
; 1) Oai nghi của bậc Thánh: The saintly appearance. 2) Tượng Phật: An image of Buddha.
thánh nghiêm
(聖嚴) Danh tăng Trung Quốc, người ở Nam Thông, Giang Tô, họ Trương, hiệu Tuệ Không. Năm 13 tuổi, sư nương vào Hòa thượng Lãng tuệ ở chùa Quảng giáo xuất gia, 16 tuổi theo học ở viện Phật học chùa Tĩnh an tại Thượng hải, được gần gũi các Pháp sư Đạo nguyên, Bạch thánh, Nam đình... Năm 1949, sư ra Đài loan, dạy học tại các Đại học viện và giảng thuyết ở các chùa tại Cao hùng. Năm 1969, sư du học Nhật bản và đậu Tiến sĩ ở Đại học Lập chính tại Tokyo. Năm 1975, nhận lời thỉnh của Hội Phật giáo Mĩ quốc, sư đến Hoa kì giữ chức Phó hội trưởng của Hội này và trụ trì chùa Đại giác, đồng thời, nhận lời mời đến các trường Đại học và các đài truyền hình ở Mĩ và Canada giảng diễn các chuyên đề, rồi sư xuất bản quí san Thiền tạp chí (Chanmagazine) bằng tiếng Anh. Năm 1978, sư tiếp quản nhà Văn hóa Phật giáo Trung hoa ở Đài bắc, làm Giáo sư Sở nghiên cứu Triết học Đại học Văn hóa Trung Quốc và giữ chức Trưởng sở nghiên cứu Phật học thuộc viện Học thuật Trung Hoa, đồng thời sáng lập Trung tâm Thiền tại New York. Sư còn sáng lập chùa Nông Thiền ở Bắc Đầu, nhà xuất bản Đông Sơ. Những năm gần đây sư có xuất bản các tác phẩm về Thiền bằng tiếng Hoa, tiếng Anh như Thiền môn li châu tập, Thiền môn nghệ ngữ, Phật tâm (bản tiếng Anh)... và nhiều loại sách khác. Sư có các tác phẩm: Giới luật học cương yếu, Tỉ giảo tông giáo học, Cơ đốc giáo chi nghiên cứu, Thế giới Phật giáo thông sử tập.
thánh ngôn
Holy words; the words of a saint, or sage; the correct words of Buddhism.
; 1) Lời nói chính thực đúng đắn của bậc Hiền Thánh: Holy words—The words of a saint or sage. 2) Lời dạy của Phật: The correct words of Buddhism. ** For more information, please see Tứ Thánh Ngôn.
; (聖言) Lời nói ngay thẳng, chân thật. Luận A tì đạt ma tập dị môn túc quyển 10 có ghi 4 Thánh ngôn là: 1. Không thấy nói không thấy. 2. Không nghe nói không nghe. 3. Không hay nói không hay. 4. Không biết nói không biết. (xt. Tứ Thánh Ngôn).
thánh ngôn lượng
Ngôn giáo của Phật thuyết khiến chúng sanh trừ mê khởi tín, theo pháp tu hành được chứng quả, cũng gọi là Thánh giáo lượng.
; Tìm hiểu qua lời nói của Phật và Bồ Tát—Guideline to the teachings of the sages.
Thánh ngôn 聖言
[ja] ショウゴン shōgon ||| (1) The words of the buddha (avavāda). (2) True words that agree with the reality-principle. (3) The words in the sutras and śāstras, etc. In the case of Hinduism, the words of the Vedas. => 1. Lời của chư Phật (avavāda). 2. Lời nói chân thật phù hợp với nguyên lý thực tại. 3. Lời trong kinh luận v.v...Trong Ấn Độ giáo, đó là lời dạy trong kinh Phệ-đà (Vedas).
thánh ngữ
Ārya-bhāṣā (S).
; Aryabhàsà (S). Sacred speech, language, words or sayings; Sanscrit.
; Aryabhasa (skt). 1) Thánh ngôn hay những lời nói của các bậc Thánh: Sacred speech, language, words, or sayings. 2) Phạn ngữ: Sanskrit—Ngôn ngữ của Ấn Độ—Indian language.
; (聖語) Phạm: Àryabhasa. Cũng gọi Thánh ngôn. I. Thánh Ngữ. Tiếng nói của Ấn Độ đời xưa, là ngôn ngữ chính thức của Trung thiên trúc. Luận Đại tì bà sa quyển 79 (Đại 27, 410 thượng) nói: Có lần đức Thế tôn vì Tứ thiên vương trước dùng Thánh ngữ để giảng nói Tứ thánh đế. Trong 4 vị Thiên vương, có 2 vị nhận hiểu được, còn 2 vị kia không nhận hiểu được. Đức Thế Tôn thương xót muốn đem lại lợi ích cho 2 vị Thiên vương ấy, nên dùng tục ngữ (Cựu bà sa gọi là Tì đà la ngữ) của các nước thuộc biên thùy miền Nam Ấn độ để giảng nói Tứ thánh đế: Hề nê (Khổ đế), Mê nê (Tập đế), Đạp bộ đạt (Diệt đế) và Diệp bộ (Đạo đế). Trong 2 vị Thiên vương ấy, 1 vị lãnh giải được, còn 1 vị thì không. Đức Thế tôn thương xót muốn làm lợi ích cho vị Thiên vương ấy, nên đức Thế tôn lại dùng một thứ ngôn ngữ khác là Miệt lệ xa (Bà sa cũ gọi là Di li xa ngữ) để giảng nói Tứ thánh đế, đó là: Ma xa, Đổ xa, Tăng nhiếp và Ma tát phược đát tì lạt trì. Bấy giờ cả 4 Thiên vương đều hiểu được. Bởi thế nên biết đức Phật dùng Thánh ngữ giảng nói Tứ đế chỉ là trường hợp đặc biệt đối với Tứ thiên vương mà thôi chứ không phải là ngôn ngữ mà đức Phật thường dùng. Đức Phật dùng tục ngữ của nước Ma yết đà đương thời làm Phật ngữ, những kinh văn được ghi chép bằng thứ ngôn ngữ này hiện nay không còn. Loại kinh văn do đức Phật giảng nói bằng A lợi da ngữ (Aryan) ở miền Nam Ấn độ được lưu truyền tại đảo Tích lan chính là Pàli ngữ hiện nay. Bởi thế, tín đồ Phật giáo nước Xiêm la (Thái lan) gọi Phật ngữ Pàli là Ma hô. Trong các luật, Phật từng quở trách việc sử dụng Thánh ngữ, như luật Tứ phần quyển 52 (Đại 22, 955 thượng) nói: Bấy giờ, có tỉ khưu, tự là Dũng mãnh, thuộc dòng Bà la môn xuất gia, đến chỗ đức Thế tôn (...) bạch rằng: Bạch Đại đức! Các tỉ khưu này từ nhiều dòng họ xuất gia, tên gọi cũng khác, phá nghĩa kinh của Phật, xin đức Thế tôn cho phép chúng con dùng ngôn luận mà thế gian ưa thích để sửa chữa kinh Phật. Phật dạy: Các ông là người si mê! Đó chính là điều hủy tổn, dùng ngôn luận ngoại đạo muốnxen lẫn vào kinh Phật. [X. luật Ngũ phần Q.26; luận Thập tụng Q.38]. II. Thánh Ngữ. Chỉ cho ngôn ngữ do bậc Thánh nói ra.
Thánh nhân
聖人; S: ārya-pudgala; P: ariya-puggala;|Danh từ chỉ người đang đi trên Thánh đạo nhưng cũng thường được dùng cho những người có đạo hạnh xuất chúng.
thánh nhân
Ariyaka (S), Nobleman.
; Arya-pudgala (S). Noble one, saint, sage. Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, the race is not to the swift, nor the battle to the strong. Also tôn giả.
; Saint—Genuine sages.
; (聖人) I. Thánh Nhân. Phạm:Àrya. Cũng gọi Thánh giả, Thánh. Chỉ cho bậc đã chứng được Thánh trí và ở địa vị Kiến đạo trở lên. Vì người ở địa vị Kiến đạo trở lên cuối cùng sẽ hoàn thành Thánh trí vô lậu nên gọi là Thánh nhân. II. Thánh Nhân. Chỉ cho Phật, Bồ tát và những người quyền hóa(phương tiện thị hiện làm người nhưng có đức hạnh cao hơn người). III. Thánh Nhân. Từ tôn xưng các bậc cao tăng, thạc đức. Người Ấn Độ thường tôn xưng các bậc Luận sư là Thánh giả. Tại Nhật bản, các bậc cao tăng cũng được tôn xưng là Thánh nhân.
Thánh nhân 聖人
[ja] ショウニン shōnin ||| (1) A saint, holy man; an enlightened person--a buddha or bodhisattva 菩薩 (ārya, ārya-jana). (2) In Yogācāra technical usage, a practitioner who is at the level of the Path of Seeing 見道 or above. (3) A title given to a person of high rank. => 1. Hiền nhân, nhà hiền triết; người thánh thiện; người đã giác ngộ – Đức Phật hay Bồ-tát (s: ārya, ārya-jana). 2. Theo cách dùng riêng của Duy thức tông, là chỉ cho hành giả đến giai vị Kiến đạo 見道 hoặc hơn nữa. 3. Danh hiệu dành cho những người có phẩm trật cao.
thánh nhất ngữ lục
Shōichi goroku (J).
thánh nhất phái
Shōichi-ha (J).
thánh nhất quốc sư ngữ lục
(聖一國師語錄) Gọi đủ: Thánh nhất quốc sư trụ Đông Phúc Thiền tự ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Đông Phúc Viên nhĩ (1202-1280) thuộc tông Lâm tế Nhật Bản giảng, ngài Hổ quan Sư luyện biên chép, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này thu chép các pháp ngữ, kệ tụng, Phật tổ tán, tự tán... của ngài Viên nhĩ giảng nói khi ngài trụ trì chùa Đông Phúc, có phụ thêm phần thư tín gửi qua lại với các Thiền sư Vô chuẩn Sư phạm và Tây nham Liễu tuệ của Trung Quốc.
thánh pháp
The holy law of Buddha; the law or teaching of the saints, or sages.
; Những lời dạy của chư Hiền Thánh—Những lời Phật dạy—The holy law of Buddha—The law or teaching of the saints or sages.
thánh pháp ấn kinh
Acalā-dharma-mudrā (S) A già đàm ma văn đồ.
; Acalà-dharma-mudrà (S).
Thánh pháp 聖法
[ja] ショウホウ shōbō ||| (1) The correct teaching, true dharma. (2) Elements, or affairs associated with holiness, sageliness, etc. 〔二障義HPC 1.794c〕 => 1. Giáo lý đúng đắn, giáo pháp chân chính. 2. Những yếu tố hoặc việc làm liên quan đến bậc thánh v.v...
thánh phúc
Holy happiness, that of Buddhism, in contrast with Phạm phúc that of Brahma and Brahmanism.
; Một trong hai phước, thánh phước hay phước của Phật giáo để đối lại với Phạm phước hay phước của Phạm Thiên—One of the two kinds of happiness, holy happiness, that of Buddhism, in contrast with that of Brahma and Brahmanism—See Nhị Phước.
thánh phương
Aryadesa (S). The holy land, India; the land of the sage, Buddha.
; Aryadesa (skt)—A Ly Đà Tề Xá—Tiếng gọi tôn xưng của xứ Ấn Độ nơi Đức Phật đản sanh—The holy land (the land of the sage), India where the Buddha was born (India).
Thánh Phật mẫu Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh 聖佛母般若波羅蜜多經
[ja] ショウブツモハンニャハラミツタキョウ Shō butsumo hannya haramitta kyō ||| Tib. bcom ldan 'das ma nor rgyun ma'i gzungs kyi rtog pa; (Perfection of Wisdom of the Sacred Buddha-Mothers ) 1 fasc. [T 257.8.852], alt. 諸佛母經. tr. Dānapāla 施護. [To.664, P.165] => Shō butsumo hannya haramitta kyō (j); Tib. bcom ldan 'das ma nor rgyun ma'i gzungs kyi rtog pa; Perfection of Wisdom of the Sacred Buddha-Mothers (e); Một quyển. Tên gọi khác là Chư Phật mẫu kinh 諸佛母經. Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch . Thánh Phật mẫu tiểu tự Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh 聖佛母小字般若波羅蜜多經 [ja] ショウブツモショウジハンニャクヒラミツタキョウ Shō butsumo shōji hannya haramitsu kyō ||| The Sheng fomu xiaozi banruo boluomiduo jing; Skt Svalpākṣara-prajñāparamitā; Tib. bcom ldan 'das ma nor rgyun ma'i rtog pa [To.22/530, P.159] Perfection of Wisdom of the Little Mother Syllables; 1 fasc. [T 257.8.852-4], tr. Tianxizai 天息災. [IMK53] The Buddha teaches at Grdhrakūta in response to the questions by Avalokiteśvara. => Shō butsumo shōji hannya haramitsu kyō (j); Sheng fomu xiaozi banruo boluomiduo jing (c); Svalpākṣara-prajñāparamitā (s); Bcom ldan 'das ma nor rgyun ma'i rtog pa (t); Perfection of Wisdom of the Little Mother Syllables (e); Một quyển, Thiên Tức Tai (c: Tianxizai 天息災) dịch. kinh ghi lại lời Đức Phật giảng tại núi Linh Thứu (s: Grdhrakūta) đáp lại lời thưa hỏi của Bồ-tát Quán Thế Âm.
thánh quan âm
Ārya-valokiteśvara (S) Thánh Quán Thế Âm Tên một vị Bồ tát.
; (聖觀音) Phạm:Àryàvalokitezvara. Cũng gọi: Chính Quán thế âm bồ tát, Chính Quán âm. Đối lại: Thiên thủ Quán âm, Thập nhất diện Quán âm, Như ý luân Quán âm. Từ ngữ tôn xưng tổng thể bồ tát Quán thế âm. Chính Quán âm là tổng thể của đại bi, Thiên thủ là biệt dụng của đại bi, đây là y cứ vào bản thân của năng biến mà gọi là Chính Quán âm. Vị tôn này được an vị trong Liên hoa bộ của Mạn đồ la Thai tạng giới, thân có màu da người, đầu đội mũ báu, tay trái cầm hoa sen, tay phải hơi xòe ra làm thành hình hoa sen. Ngoài ra còn nhiều loại hình tượng khác. [X. Bổ đà lạc hải hội quĩ].
Thánh Quang
(聖光, Shōkō): tức Biện Trường (辨長, Benchō, 1162-1238), xem chú thích bên trên.
Thánh Quynh
(聖冏, Shogei, 1341-1420): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống khoảng vào giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, vị Tổ thời Trung Hưng của Dòng Trấn Tây (鎭西流); húy là Thánh Quynh (聖冏), thông xưng là Tam Nhật Nguyệt Thượng Nhân (三日月上人); hiệu là Tây Liên Xã (西蓮社), Liễu Dự (了譽); thụy hiệu là Thánh Quynh Thiền Sư (聖冏禪師); xuất thân vùng Thường Lục (常陸, Hitachi, thuộc Ibaraki-ken [茨城縣]); con của Bạch Cát Chí Ma Thủ Nghĩa Quang (白吉志摩守義光). Ông bắt đầu xuất gia theo Liễu Thật (了實) ở Thường Phước Tự (常福寺) thuộc vùng Thường Lục, rồi học Tịnh Độ Giáo của Dòng Trấn Tây với Liên Thắng (蓮勝) cũng như Đinh Huệ (定慧); và tu học hết giáo nghĩa của các Tông khác. Sau đó, ông kế thừa trú trì Thường Phước Tự, chỉ đạo dạy dỗ học đồ, viết ra bộ Nhị Tạng Tụng Nghĩa (二藏頌義) và hệ thống hóa Tông nghĩa Tịnh Độ. Hơn nữa, ông đã làm sáng tỏ dòng huyết mạch truyền thừa từ thời đức Thích Ca trở về sau, cũng như Viên Đốn Giới từ thời Viên Nhân (圓仁) trở đi; và nêu rõ tính độc lập của Tịnh Độ Tông. Ông còn chỉnh đốn lại chế độ truyền pháp của Ngũ Trùng Tương Truyền (五重傳承); rồi đến năm 1393, lần đầu tiên ông truyền áo nghĩa cho đệ tử là Thánh Thông (聖聰). Vào năm 1415, thể theo lời thỉnh cầu của Thánh Thông, ông chuyển đến ở tại thảo am ở Tiểu Thạch Xuyên (小石川, Koishikawa), Giang Hộ (江戸, Edo). Trước tác của ông có Thích Tịnh Độ Nhị Tạng Nghĩa (釋淨土二藏義) 30 quyển, Tịnh Độ Nhị Tạng Nhị Giáo Lược Tụng (淨土二藏二敎略頌) 1 quyển, Truyền Thông Ký Nhữu Sao (傳通記糅鈔) 48 quyển, Quyết Nghi Sao Trực Điệp (決疑鈔直牒) 10 quyển, Phá Tà Hiển Chánh Nghĩa (破邪顯正義) 1 quyển, Tịnh Độ Chơn Tông Phú Pháp Truyện (淨土眞宗付法傳) 1 quyển, Hiển Tịnh Độ Truyền Giới Luận (顯淨土傳戒論) 1 quyển, Giáo Tướng Thập Bát Thông (敎相十八通) 2 quyển, v.v.
thánh quán tự tại
Xem Thánh Quán âm Bồ tát.
Thánh Quán tự tại Bồ-tát nhất bách bát danh kinh 聖觀自在菩薩一百八名經
[ja] ショウカンジザイボサツイチヒャクハチミョウキョウ Shō kanjizai bosatsu ippyakuhachimyō kyō ||| The Sheng guanzizai pusa yibaibaming jing; Skt. Avalokiteśvarasyāṣṭottaraśatanāma-mahāyānasūtra; Tib. 'phags pa spyan ras gzigs dbang phyug gi mtshan brgya rtsa brgyad pa [To.705/900, P.381/525]; (Sutra of the One Hundred and Eight Names of the Sacred Bodhisattva who Contemplates Freely). 1 fasc. (T 1054.20.69-70), trans. Tianxizai 天息災. => Shō kanjizai bosatsu ippyakuhachimyō kyō (j); Sheng guanzizai pusa yibaibaming jing (c); Avalokiteśvarasyāṣṭottaraśatanāma-mahāyānasūtra (s); 'phags pa spyan ras gzigs dbang phyug gi mtshan brgya rtsa brgyad pa (t); Sutra of the One Hundred and Eight Names of the Sacred Bodhisattva who Contemplates Freely (e); Một quyển; Thiên Tức Tai (c: Tianxizai 天息災) dịch.
Thánh Quán tự tại Bồ-tát phạm tán 聖觀自在菩薩梵讃
[ja] ショウカンジザイボサツボンサン Shō kanjizai bosatsu bonsan ||| The Sheng guan zi zai pu sa fan zan; (Sanskrit Eulogy to the Sacred Bodhisattva of Spontaneous Contemplation). 1 fasc. (T 1055), tr. Faxian 法賢. See von Staëml-Holstein (1934) for a restored Sanskrit edition. IB325. Shō kanjizai bosatsu bonsan (j); Sheng guan zi zai pu sa fan zan (c); Sanskrit Eulogy to the Sacred Bodhisattva of Spontaneous Contemplation (e); => Một quyển; Pháp Hiền (c: Faxian 法賢) dịch. Xem bản của Von Staëml-Holstein (1934), phục hồi lại từ ấn bản tiếng Sanskrit. Thành sở tác trí 成所作智 [ja] ジョウショサチ jōshisachi ||| (anusthānam-nispatti, krtya-anusthāna-jñāna). One of the "four wisdoms" 四智 in Consciousness-only theory. The wisdom of achievement of the Buddha vow. This wisdom is attained through the transformation of the first five consciousnesses. Through this wisdom one brings to fulfillment the work of saving sentient beings. The "wisdom of unrestricted activity." (s: anusthānam-nispatti, krtya-anusthāna-jñāna). => Một trong Tứ trí theo giáo lý Duy thức. Là trí thành tựu bổn nguyện thành Phật. Trí nầy đạt được do chuyển hoá năm thức đầu. Thông qua tria nầy mà thành tựu ý nguyện độ sanh. 'Thành tựu trí'.
thánh quán âm bồ tát
Āryavalokiteśvara (S) Thánh Quán Tự Tại Xem Thánh Quan Âm.
thánh quân
Good king.
thánh quả
The holy fruit, or fruit of the saintly life, i.e. bodhi, nirvàna.
; Ariyaphalam (p)—Đạo quả của bậc Thánh, đạt được Bồ Đề hay Niết Bàn—The holy truth—Fruit of the saintly life (bodhi or nirvana)—Holy fruition—Fruit of Arhatship—The fruition of holiness—See Lục Tức Phật (6).
; (聖果) I. Thánh Quả. Quả báo nhờ tu Thánh đạo mà chứng được. Tức chỉ cho Bồ đề niết bàn. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung, phần đầu]. II. Thánh Quả. Chỉ cho quả A la hán trong 4 quả Sa môn. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2].
Thánh quả 聖果
[ja] ショウカ shōka ||| (1) The sagely fruit, sagehood. The end result of the course of Buddhist practice; nirvana. 〔二障義HPC 1.794a1〕(2) The stage of arhat 阿羅漢. => 1. Quả vị của bậc thánh. Kết quả sau cùng của sự tu tập Phật đạo; niết-bàn. 2. Quả vị A-la-hán (arhat 阿羅漢).
thánh sư
GurŪdeva (S), Sacred master Gurudeva (P).
; Gurùdeva (S). Highest teacher.
thánh sư tử
Tôn hiệu của Đức Phật. Đức Phật là vị vua trong cõi Thánh như sư tử là vua trong muôn thú—The holy lion, Buddha.
thánh sử
Sacred history.
thánh sự tự tánh
Āryāvastusvabhāva (S).
thánh thai
Sheng t'ai (C), Holy emryo.
; The womb of holiness which enfolds and develops the bodhisttva, i.e. the tam hiền vị three excellent positions attained in the thập trụ, thập hạnh, and thập hồi hướng.
; Thai tạng của những bậc Thánh, bọc quấn và trưởng dưỡng chư Bồ Tát, chỉ ba hiền vị Thập trụ, Thập Hạnh, và Thập Hồi Hướng—The womb of holiness which enfolds and develops the bodhisattvas, i.e. the three excellent positions attained in the ten grounds, ten kinds of dedication, and ten necessary activities of a bodhisattva. ** For more information, please see Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, and Thập Trụ.
; (聖胎) Chỉ cho giai vị Tam hiền: Thập trụ,Thánh Quán Âm. Thập hành, Thập hồi hướng trong các giai vị tu hành của Bồ tát. Vì hàng Bồ tát này lấy chủng tính của chính mình làm nhân, bạn tốt làm duyên, lắng nghe chính pháp, tu tập trưởng dưỡng, đến bậc Sơ địa thì thấy đạo mà sinh trong Phật gia, nên gọi là Thánh thai. [X. phẩm Bồ tát giáo hóa trong kinh Nhân vương Q.thượng; Nhân vương kinh sớ (Lương bôn)].
thánh thanh văn
Ariya-savaka (P) Đệ tử bậc Thánh.
Thánh Thiên
聖天; S: āryadeva; cũng được gọi là »Ðơn nhãn«; |Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 8, đệ tử của Ma-ha Tất-đạt Long Thụ (s: nāgārju-na). Trong thế kỉ thứ hai cũng có vị Long Thụ của Trung quán tông và vị này cũng có đệ tử tên Thánh Thiên.|Thánh Thiên là một Tỉ-khâu tu học tại Na-lan-đà. Một hôm Sư nghe có vị Tất-đạt nổi danh tên Long Thụ sống tại Nam Ấn Ðộ liền bỏ đi tìm, được Quán đỉnh vào Bí mật tập hội (s: guhyasamāja-tantra), và ở lại luyện Nghi quỹ (s: sādhana) chung với thầy. Sư đi khất thực luôn luôn được nhiều thức ăn ngon lạ hơn thầy. Long Thụ lấy làm lạ cho Sư ở nhà, tự mình đi. Khi về nhà thì Long Thụ thấy một thần nữ đã dâng cúng bánh trái cho Thánh Thiên và phê bình là mình chưa hết ô nhiễm hẳn như đệ tử. Long Thụ khâm phục môn đệ mình và đặt tên Thánh Thiên. Bài kệ chứng đạo của Thánh Thiên như sau:|Chư Phật cả ba đời,|duy nhất một Tự tính.|Chứng được tự tính này,|là chứng được tâm thức.|Ðể mọi sự diễn ra,|hoà vào với thật tại,|không hề có cơ cấu.|Chính trạng thái buông thỏng,|là đời sống Du-già.|Sau khi Long Thụ chế tạo được nước trường sinh, ông lè lưỡi liếm và đưa cho Sư làm theo. Sư liền cầm bát nước đổ hết vào một gốc cây, cây này bất chợt đâm tược. Long Thụ quát lớn: »Nếu ngươi phí phạm nước bất tử của ta thì phải hoàn lại!« Sư liền cầm một cái thùng, tiểu tiện vào rồi cầm một nhánh cây quậy đưa Long Thụ. »Nhiều quá« Long Thụ nói. Sư liền đổ nửa thùng vào gốc cây, cây này liền ra lá. Long Thụ nghiêm trang bảo: »Nay ngươi đã chứng Ðạo, đừng lưu lại lâu trong Luân hồi (saṃ-sāra)«. Nghe câu này, thân Sư bay vọt lên cao. Ngay lúc này, một người đàn bà đến gần xin Sư một con mắt. Không một chút chần chừ, Sư móc con mắt phải ra trao cho bà này và từ đây mang tên là »Ðơn nhãn« hay »Ðơn nhãn Ðề-bà«. Sau khi thuyết pháp từ trên không trung, Sư đứng ngược đầu xuống đất, chân đối trời rồi biến mất.
; 聖天; S: āryadeva; cũng được gọi là Ðề-bà, Ka-na Ðề-bà, Ðơn nhãn Ðề-bà (s: kāṇadeva); |Học trò của Long Thụ (nāgārjuna) và Ðại luận sư của Trung quán tông (s: mādhyami-ka), tác giả của nhiều bộ luận. Người ta cho rằng Thánh Thiên sinh trong thế kỉ thứ 3 tại Tích Lan và là Tổ thứ 15 của Thiền Ấn Ðộ dưới tên »Ðề-bà một mắt« (kāṇadeva). Tương truyền Sư bị ngoại đạo chống đạo Phật giết. Ngày nay, tác phẩm của Sư chỉ còn được giữ lại trong các bản dịch tiếng Hán và Tây Tạng, phần lớn là các luận đề về giáo pháp của Long Thụ. Truyền thống Tan-tra xem Sư là một trong 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).|Sư sinh ra trong một gia đình quý tộc tại Tích Lan. Thay vì nhận chức làm quan thì Sư lại gia nhập Tăng-già dưới sự hướng dẫn của Hermadeva. Sau khi học xong các thuyết luận, Sư đi hành hương, viếng thăm những thánh tích của Phật giáo tại Ấn Ðộ. Nhân dịp này, Sư gặp Long Thụ và theo hầu học nhiều năm và khi Long Thụ rời Na-lan-đà đi Trung Ấn, Sư cũng theo thầy. Dần dần, Sư được truyền trao trách nhiệm giảng pháp và được xem là người kế vị Long Thụ. Không rõ là Sư lưu lại Trung Ấn bao nhiêu lâu nhưng trong thời gian này, Sư có thành lập nhiều tu viện. Nghe tin một luận sư lừng danh thuộc dòng Bà-la-môn tung hoành tại viện Na-lan-đà và không một Tỉ-khâu nào đủ tài năng đối đầu tranh luận, Sư liền đến Na-lan-đà một lần nữa và chiến thắng vị Bà-la-môn trong ba vòng tranh luận. Sau nhiều năm trụ tại Na-lan-đà, Sư trở về miền Nam và mất tại Raṅganātha, Kiến-chí (kāñcī).|Tác phẩm Tứ bách luận (catuḥśataka) của Sư gồm 400 câu kệ, với suy luận biện chứng phủ định, giải thích giáo pháp Vô ngã và tính Không. Tập Bách luận (śataśāstra) được xem là bản thu gọn lại của Tứ bách luận, cũng gây ảnh hưởng lớn trong Phật giáo. Trong tập Bách luận Thánh Thiên đã đưa nhiều luận giải đối trị các quan điểm bài bác Phật giáo. Bách luận là một tác phẩm căn bản của Tam luận tông tại Trung Quốc.
thánh thiên
Deva-ārya (S) Xem Đại Thánh Hoan Hỷ Thiên Xem Ca na Đề bà. Xem Đề bà.
thánh thiện
Divine saintly, godly (person, life)
Thánh Thông
(聖聰, Shōsō, 1366-1440): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, Tổ khai sơn Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji); húy là Thánh Thông (聖聰), tục danh là Thiên Diệp Dận Minh (千葉胤明); hiệu Đại Liên Xã (大蓮社), Tây Dự (西譽); xuất thân vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), con của Thiên Diệp Thị Dận (千葉氏胤, Chiba Ujitane). Ban đầu, ông học Mật Giáo ở Minh Kiến Tự (明見寺, tức Thiên Diệp Tự [千葉寺]) thuộc vùng Hạ Tổng, nhưng đến năm 1385 thì được Thánh Quynh (聖冏) cảm hóa, rồi quy y theo Tịnh Độ Tông; từ đó trở đi trải qua trong vòng 9 năm, ông theo học Tông Nghĩa với Thánh Quynh ở Thường Phước Tự (常福寺). Vào năm 1393, ông khai sáng Tăng Thượng Tự ở vùng Bối Trũng (貝塚, Kaizuka), Võ Tàng (武藏, Musashi); được dòng họ Thiên Diệp cũng như tầng lớp hào tộc quy y theo rất đông, và nỗ lực bố giáo ở địa phương này. Chính ông đã phổ cập tư tưởng Ngũ Trùng Truyền Pháp của Thánh Quynh, và hết mình giáo dưỡng chúng đệ tử. Trước tác của ông có Tam Kinh Trực Đàm Yếu Chú Ký (三經直談要註記) 48 quyển, Đương Ma Mạn Đà La Sớ (當麻曼荼羅疏) 48 quyển, Triệt Tuyển Trạch Bản Mạt Khẩu Truyền Sao (徹選擇本末口傳鈔) 2 quyển, Vãng Sanh Luận Chú Ký Kiến Văn (徃生論註記見聞) 2 quyển, v.v.
thánh thần
Saint and gods.
thánh thủy
Xem Cam lồ.
thánh tiên
The holy rsi, Buddha.
thánh tiết
(聖節) Cũng gọi Thiên trường tiết. Chỉ cho ngày sinh của Hoàng đế. Cứ theo luận Hưng thiền hộ quốc quyển hạ thì khoảng 30 ngày trước sinh nhật của Hoàng đế, trong Thiền lâm có lập đạo tràng Thánh tiết, hàng ngày tụng đọc các kinh: Đại bát nhã, Nhân vương, Pháp hoa, Tối thắng để cầu Thánh thọ vô cương. Theo Đại Tống tăng sử lược quyển trung và sự vật kỉ nguyên thì việc chúc mừng sinh nhật Hoàng đế bắt đầu từ đời vua Thái Vũ Đế nhà Bắc Ngụy, còn lập tên tiết thì bắt đầu từ vua Huyền tông nhà Đường. [X. điều Thánh tiết chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Đường thư bản kỉ thứ 5]. (xt. Chúc Thánh).
thánh tiễn đường thuật cổ
(聖箭堂述古) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vi lâm Đạo bái (1615-1684) biên soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 127. Nội dung sách này thu chép sự tích của các bậc Thánh hiền quá khứ gồm 32 hạng mục như: Tăng đường kí, Đại bát nhã kinh, Hoành trí Chính giác, Vân môn Khuông chân, La hồ Dã lục, Bồ đề đạt ma, Tức tâm minh... mỗi hạng mục đều được bàn rõ và kèm theo lời phê bình.
Thánh trang nghiêm đà-la-ni kinh 聖莊嚴陀羅尼經
[ja] ショウショウゴンダラニキョウ Shō shōgon darani kyō ||| The Sheng zhuangyan tuoluoni jing; Skt. Mekhalā-dhāraṇī (Dhāraṇī of the Sacred Adornment). 2 fasc. (T 1376.21.895-898), trans. Dānapāla 施護. Alternate translation (T 1377): Dhāraṇī of the Precious Belt 寶帶陀羅尼經. => Sheng zhuangyan tuoluoni jing (c); Mekhalā-dhāraṇī (s); Dhāraṇī of the Sacred Adornment (e); Hai quyển; Thi Hộ (c: Dānapāla 施護) dịch. Bản dịch khác có tên là Bảo đái đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of the Precious Belt 寶帶陀羅尼經).
Thánh triết
(聖哲): chỉ đạo đức tài trí siêu nhân, cũng chỉ cho người có đạo đức tài trí; cũng dùng chỉ cho đế vương. Trong Tả Truyện (左傳), phần Văn Công Lục Niên (文公六年), có đoạn: “Cổ chi vương giả, tri mạng chi bất trường, thị dĩ tinh kiến Thánh triết (古之王者、知命之不長、是以幷建聖哲, vua ngày xưa, biết mạng không lâu dài, cho nên mới lập đạo đức tài trí).” Hay trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 3, phần Kiện Đà La Quốc Ca Nị Sắc Ca Vương (健馱邏國迦膩色迦王), lại có đoạn rằng: “Vương nãi tuyên lịnh viễn cận, chiêu tập Thánh triết, ư thị tứ phương bức thấu, vạn lí tinh trì, anh hiền tất tụy (王乃宣令遠近、召集聖哲、於是四方輻湊、萬里星馳、英賢畢萃, nhà vua bèn tuyên lệnh xa gần, chiêu tập tài đức, do đó bốn phương tập trung, vạn dặm bôn ba, hiền sĩ tụ họp).”
Thánh trì thế đà-la-ni kinh 聖持世陀羅尼經
[ja] ショウジセダラニキョウ Shō jise daranikyō ||| The Sheng chishi tuoluoni jing; Skt. Vasudhārā-sādhana; Tib. nor rgyun ma'i sgrub thabs [To.663]; 1 fasc. (T 1165.20.672-674), trans. Dānapāla 施護. Corresponds to sādhana nos. 213-216 in the Sādhanamāla (which are included as individual texts in Tibetan canons [To. 3237, 3603, 3238, 3349, 3604, 3239, 3605, 3240, 3606]). [BGBT4/116,461,462] => Shō jise daranikyō (j); Sheng chishi tuoluoni jing (c); Vasudhārā-sādhana (s); Nor rgyun ma'i sgrub thabs (t); Một quyển, Thi Hộ (c: Dānapāla 施護) dịch. Tương đương với sādhana nos. 213-216 trong kinh Sādhanamāla (được xem là bản kinh riêng biệt trong tạng kinh của Tây Tạng) .
thánh trí
Ariya-paa (P), Ariyaāṇa (P), Noble knowledge.
; Aryajnàna (S). The wisdom of Buddha, or the saints, or sages; the wisdom which is above all particularization, i.e. that of transcendental truth.
; Arya-jnana (skt)—Supreme knowledge. • Cái trí tuệ tối thượng hay trí huệ của bậc Thánh, nhờ đó người ta có thể nhìn vào những chỗ thâm sâu nhất của tâm thức để nắm lấy cái chân lý thâm mật bị che khuất mà cái trí tầm thường không thể thấy được: Supreme wisdom, or the wisdom of a saint, whereby one is enabled to look into the deepest recesses of consciousness in order to grasp the inmost truth hidden away from the sight of ordinary understanding. • Phật trí hay trí của các bậc Thánh, trí siêu việt và vượt ra ngoài mọi sự phân biệt—The wisdom of Buddha, or the saints or the sages; the wisdom which is above all particularization, i.e. the wisdom of transcendental truth—Sage-like or saint-like knowledge.
; (聖智) Chỉ cho trí tuệ soi đúng chân đế, xa lìa hư vọng, phân biệt, gọi là Thánh trí. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 843 hạ) nói: Pháp tính vô tướng, cho nên Thánh trí vô tri. Ngoài ra, giáo pháp của đức Phật còn được gọi là Thánh võng (lưới của bậc Thánh), vì nó bao trùm khắp cả chúng sinh, khiến trở về chính pháp nên dùng lưới để ví dụ mà gọi là Thánh võng. Lại nữa, vì pháp do đức Phật nói khế hợp với chính lí nên gọi là Thánh pháp. Còn sự cảm ứng của Phật thì gọi là Thánh ứng.
thánh trí bách tính sự
Aryajnanasvabhavavastu (skt)—Trí tuệ tối thượng như là tạo thành sự kiện tối hậu của hiện hữu—Supreme wisdom as constituting the ultimate fact of existence.
thánh trí nhãn
Aryajnanacakshus (skt)—Con mắt của trí tuệ tối thượng, cũng được gọi là tuệ nhãn—The eye of supreme wisdom, also called the wisdom eye or Prajnanacakshus.
thánh trí phi ngôn ngữ
Chân lý tối hậu chỉ vào sự thể chứng cái trí tuệ tối thượng trong tâm thức sâu thẳm nhất, và không thuộc phạm vi của ngôn từ và cái trí phân biệt; sự phân biệt như thế không thể phát hiện được chân lý tối hậu. Tuy nhiên ngọn đèn ngôn từ là có lợi ích cho việc soi sáng con đường đưa đến chứng ngộ tối hậu—The ultimate truth points to the realization of supreme wisdom in the inmost consciousness, and does not belong to the realm of words and discriminative intellect; thus discrimination fails to reveal the ultimate truth. However, the lamp of words is useful to illuminate the passage to final enlightenment.
thánh trí tự giác
Pratyātmāryajāna (S).
thánh trí tự tánh sự
Aryajāna-svabjava-vastu (S).
Thánh trí 聖智
[ja] ショウチ shōchi ||| Sagely wisdom. The correct wisdom of the buddha which correctly apprehends things as they are (ārya-jñāna, samyag-jñāna). As distinguished from worldly wisdom 世俗智.〔二障義HPC 1.813c〕 => Trí tuệ của bậc thánh. Trí huệ chân chính của chư Phật biết các pháp chính như chúng đang là (ārya-jñāna, samyag-jñāna). Để phân biệt với trí hiểu biết của hàng phàm phu (thế tục trí 世俗智).
Thánh trú sơn 聖住山
[ja] ショウジュウザン Shoujūzan ||| Sŏngju san; one of the early "nine mountain" 九山 schools of Korean Sŏn, founded by Muyŏm 無染. Sŏngju san (k); Shoujūzan (j); => Là một trong Cửu sơn, thuộc Thiền tông Triều Tiên thời trước do ngài Vô Nhiễm ( k: Muyŏm 無染) sáng lập .
thánh trụ chí
Shengg Chou Chi (C).
thánh trụ tập
(聖胄集) Cũng gọi Huyền môn thánh trụ tập. Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Hoa nhạc Huyền vĩ biên soạn vào năm Quang hóa thứ 2 (899) đời Đường. Sách này thu chép các cơ duyên, kệ truyền pháp của các bậc tông sư truyền phương pháp trong lịch sử truyền đăng của Thiền tông từ Bảo lâm truyện (được thành lập vào năm Trinh Nguyên 17 (801) đời Đường) về sau, chủ trương thuyết 28 vị Tổ Tây thiên thuộc hệ thống Bà tu mật. Sách này đã bị thất lạc, hiện nay chỉ còn các mảnh rời rạc. Chỉ biết Bảo lâm truyện quyển 2 tương đương với quyển 2 của sáchnày và căn cứ vào bản Đôn hoàng số 4478 của ông Sử thản nhân (A. Stein) mà có thể biết được đoạn văn bị lược bớt từ quyển 1 đến quyển 2 của sách này. Ngoài ra, căn cứ vào nội dung của Đàn pháp nghi tắc(là Nghi quĩ của Mật giáo do ngài Bất không dịch) bản Bắc kinh chữ Hàm số 29 và Bá hi hòa (P. Pelliot) số 3913, ta có thể biết Đàn pháp nghi tắc là do dẫn dụng quyển 1 của sách này, rồi Mật giáo hóa thêm mà thành Đàn pháp. Ngoài điểm này ra, các chi tiết khác về nội dung sách này thì không rõ. Từ Thánh trụ trong tên sách là chỉ cho Đại sư Thánh trụ, là tiếng kính xưng của vua Vũ Đế nhà Lương đối với Tổ Bồ đề đạt ma. Do đó ta cũng có thể suy đoán nội dung sách này có lẽ đã ghi chép truyện kí của 28 vị Tổ của Tây thiên. [X. Thích thị kê cổ lược Q.3; Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục Q.8].
thánh tuệ nhãn
Aryaprajnàcaksu (S). Noble eye of wisdom.
thánh tào
Aryavarman (S) Tên một vị sư.
thánh tánh tự tánh
Nispatti-svabhāva (S) Thánh tự tánh Thật tánh các pháp.
thánh tâm
The holy mind, that of Buddha.
; Tâm của bậc Thánh như tâm Phật—The holy mind, that of Buddha.
thánh tích
Relic of a saint.
thánh tích tự
(聖積寺) Chùa ở huyện Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Đây là ngôi chùa lớn nhất nằm dưới chân núi Nga Mi, xưa gọi là Từ Phúc Viện. Cứ theo truyền thuyết thì họ Hiên viên từng hỏi đạo ở đất này. Chùa này qua các đời đã nhiều lần bị hỏa hoạn, đến đời Dân quốc được sửa lại. Chính điện thờ tượng đồng Đại sĩ Phổ hiền cỡi voi, toàn thân cao 1 trượng 6 thước. Hậu điện có tháp đồng, cao khoảng 6,7m, gồm 4 tầng, có đúc hơn 4.700 pho tượng Phật, bên cạnh khắc toàn văn bộ kinh Hoa nghiêm, trong lầu chuông có quả chuông bát quái, cao khoảng 3m, đường kính khoảng 2,5m, nặng khoảng 15.000 cân, do Hòa thượng Biệt truyền quyên góp để đúc vào đời Minh. Thánh tích vãn chung(Tiếng chuông chiều chùa Thánh tích) là 1 trong 10 thắng cảnh ở núi Nga Mi, tương truyền vào những chiều mồng 1 hoặc rằm, tiếng chuông có thể ngân vang tới tận đỉnh vàng Nga Mi.
Thánh tích 聖迹
[ja] ショウシャク shōshaku ||| The footprints of the Buddha; that which the sages have left behind--the teachings. Writings, temples or any kind of traces left behind by an eminent monk.〔二障義HPC 1.797a9〕 => Dấu chân của Đức Phật, những gì của bậc thánh còn lưu lại– như giáo lý. Kinh sách, chùa chiền hoặc bất kỳ dấu tích nào mà một vị cao tăng lưu lại.
thánh tính
The holy nature, according to the Abhidharma kosa Câu xá luận, of the passionless life; according to the Vijnànamàtrasiddhi Duy thức luận, of enlightenment and wisdom.
; 1) Tánh của bậc Thánh: Saintivity. 2) Câu Xá Luận gọi Thánh Tính là Chính Tính hay một đời sống Thánh thiện không còn bị dục vọng lôi cuốn: The holy nature, according to the Abhidharma-kosa of the passionless life. 3) Duy Thức Luận gọi Thánh Tính là cái tính sanh ra trí vô lậu mà đoạn trừ phiền não: According to the Vijnanamatrasiddhi of enlightenment and wisdom, the holy nature is the nature that produces the passionless or pure wisdom.
; (聖性) Cũng gọi Chính tính. Nhà Duy thức gọi tính phát sinh ra trí vô lậu và đoạn trừ phiền não là Thánh tính, tức là Chính tính mà tông Câu xá thường gọi. Duy thức cho chủng tử của trí vô lậu là thể của Thánh tính, còn Câu xá thì cho tính lìa phiền não là chính tính. Luận Câu xá quyển 11 (Đại 29, 56 hạ) ghi: Chính tính là gì? Khế kinh nói: Đoạn hết tham, đoạn hết sân, đoạn hết si, đoạn hết tất cả phiền não, gọi là Chính tính.
thánh tính li sinh
The life of holiness apart or distinguished from the life of common unenlightened people.
; (聖性離生) Cũng gọi Chính tính li sinh. Phát sinh trí vô lậu, đoạn trừ hết phiền não, mãi mãi xa lìa cái sinh của dị tính (phàm phu). Các nhà Duy thức gọi là Thánh tính li sinh, còn các nhà Câu xá thì gọi là Chính tính li sinh. Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác vào giai vị Kiến đạo, phát sinh một phần trí vô lậu, đoạn trừ phiền não chướng phân biệt khởi; còn hàng Bồ tát thì phát sinh một phần trí vô lậu, đoạn trừ phiền não chướng và sở tri chướng, do đó được một phần Thánh tính, vĩnh viễn xa lìa cái sinh của phàm phu, vì thế gọi là Thánh tính li sinh. Luận Thành duy thức quyển 9 (Đại 31, 52 trung) nói: Hàng Nhị thừa khi Kiến đạo hiện tiền thì chỉ đoạn được một thứ, được gọi là Thánh tính; hàng Bồ tát khi Kiến đạo hiện tiền thì đoạn cả 2 thứ, được gọi là Thánh tính. Luận Câu xá quyển 23 (Đại 29, 120 hạ) nói: Chứng được Thế đệ nhất pháp, tuy trụ ở địa vị dị sinh nhưng có khả năng đi vào Chính tính li sinh. Tứ giáo nghĩa quyển 6 (Đại 46, 739 thượng) nói: Thánh lấy Chính làm nghĩa, (...), xả bỏ phàm phu tính, được vào Thánh nhân tính. (xt. Chính Tính Li Sinh).
thánh tính ly sinh
Theo Duy Thức Luận, Thánh Tính Ly Sinh là cuộc sống của sự Thánh thiện của các vị Thanh Văn, Duyên Giác, A La Hán hay Bồ Tát, những vị đã đạt được vô lậu trí và dứt bỏ phiền não do phân biệt khởi lên (đã dứt bỏ phiền não và sở tri chướng), đối lại với cuộc sống của phàm phu hay người chưa giác ngộ—According to the Vijnanamatrasiddhi, the life of holiness apart or distinguished from the life of common unenlightened people.
thánh tôn
The holy honored one, Buddha.
; Vị Thánh được tôn kính như Phật—The holy honored one—Buddha.
thánh tăng
The holy monk, the image in the monks' assembly room; in Mahàyàna that of Manjusri; in Hìnayàna that of Kasyapa, or Subhùti, etc.
; 1) Hàng Tăng chúng đức cao đạo trọng đã dứt bỏ mê hoặc, đã chứng đắc chân lý, đối lại với phàm Tăng—The holy monk who has achieved higher merit, in contrasted with the ordinary monk (phàm tăng). 2) Tượng vị Thánh Tăng ở giữa Tăng Đường: The image in the monk assembly room. 3) Trong Phật Giáo Đại Thừa thì coi Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát như là một Thánh Tăng, và tượng của ngài được đặt ở giữa Tăng Đường: In Mahayana Buddhism, Manjusri is considered as a holy monk, his image is placed in the center of the monks' assembly room. 4) Trong Phật Giáo Tiểu Thừa thì Ngài Ca Diếp hay Tu Bồ Đề được coi như là những Thánh Tăng, tượng của các ngài thường được đặt giữa Tăng Đường: In Hinayana Budhism, Kasyapa and Subhuti are considered holy monks, their images are usually placed in he centre of the monks' assembly room.
; (聖僧) Cũng gọi Thượng tăng. Vốn chỉ cho vị tăng đã khai ngộ và có đức hạnh cao quí, về sau chuyển sang chỉ cho tượng Thánh tăng an vị trên tòa trong Trai đường. Thông thường, các chùa viện Tiểu thừa an vị tượng ngài Tân đầu lô, còn các chùa viện Đại thừa thì an vị tượng ngài Văn thù. Khi thụ trai thì đặt 1 tòa trống Không (tức tòa ngồi dành cho Thánh tăng) để cúng dường thức ăn uống, đây là phong tục tập quán thịnh hành ở Ấn độ từ xưa, đời sau thì an trí 1 tượng vẽ hoặc tượng đắp để thay thế. Trong Thiền tông thì chính giữa Tăng đường an trí tượng bồ tát Văn thù, hoặc tượng bồ tát Quán âm, hay tượng các vị: Tân đầu lô, Kiều trần như, Không sinh, Đại ca diếp, hay Bố đại hòa thượng. Phổ biến hơn thì an vị tượng bồ tát Văn thù, gọi là Thánh tăng Văn thù. Còn cỗ khám an vị Thánh tăng trong Tăng đường thì gọi là Thánh tăng khám. Cơm cúng dường Thánh tăng, gọi là Thánh tăng phạn. Người hầu hạ phục vụ Thánh tăng, gọi là Thánh tăng thị giả(cũng gọi Thánh thị, Thị Thánh). Gian dưới ở phía trước Thánh tăng, tức bản đầu ở phía trái sau khi tiến vào Tăng đường, là bản đầu của Thánh tăng thị giả, gọi là Thánh tăng bản đầu, cũng gọi là Tây đường bản đầu. [X. Thụ trai nghi tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Thụ thỉnh thiên Thánh tăng bộ trong Pháp uyển châu lâm Q.42; điều Tây tự đầu thủ, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Điện đường môn, Linh tượng môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thánh tượng
Icon, ikon; iconic statue. Sự phá hủy thánh tượng iconoclasm.
; Chỉ tượng của Đức Phật—The statue of the Buddha. a) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, tất cả những điêu khắc đầu tiên tại Sanci và Barhut không trình bày Phật trong diện mạo con người. Điều đáng lưu ý chúng ta là, những biến cố chính trong đời sống của Đức Phật đã được đưa ra đầy đủ trong điêu khắc mà không mang diện mạo một anh hùng. Làm sao có thể được? Phật khi giáng sinh được tượng trưng bằng đóa hoa sen nở trọn; khi thành đạo tượng trưng bằng cây Bồ Đề có tường rào chung quanh; lúc Ngài thuyết pháp đầu tiên (chuyển Pháp Luân) tượng trưng bằng một bánh xe trên đó đôi khi có thêm dấu hiệu Tam Bảo (Tri-ratna); lúc khất thực tượng trưng bằng một cái bình bát, vân vân. Nếu sự gợi hứng là một phương tiện của nghệ thuật đích thực, các nghệ sĩ Phật tử đầu tiên đã hiểu điều đó khá trọn vẹn và đã dùng ý niệm đó một cách khéo léo cho những mục đích thực tiễn: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, none of the earlier sculptures of sanchi and Barhut represent the Buddha in huma figure. It is remarkable to us that the principle events of the Buddha's life have been fully given in sculture without a figure of the hero. How was that possible? The Buddha at birthis represented by a full blooming lotus; the Buddha in Enlightenment by the Bodhi tree with a rail around it; the Buddha in his first preaching by a wheel, above which a tri-ratna mark is sometimes added; the Buddha in his beggng round, or mendicancy, by a bowl; and the like. If suggestion be a means of true art, the early Buddhist artists understood it perfectly and utilized the idea skilfully for practical purposes. b) Tuy nhiên, tất cả những điều nầy không nhất thiết có nghĩa rằng các trưởng lão đã tuyệt nhiên không trình bày Đức Phật suốt thời gian Ngài còn tại thế, vì có truyện kể về việc họ đã tạo một bức tượng để cúng dường trong suốt thời gian Ngài vắng mặt. Họ là những người chủ trương hình thức và duy thực, và như thế nếu Phật đang ở ngay trước mặt, họ có quyền miêu tả Ngài bằng hội họa hay điêu khắc. Nhưng bây giờ Ngài đã đi vào Niết Bàn, mà trình bày một người không còn hiện hữu trong thực tại nữa, đó là điều bất xác. Chính do sau nầy, một phát triển khả quan của các nền nghệ thuật Gandhara mà Nam phương Phật giáo bắt đầu có những tượng Phật. Việc nầy có thể xãy ra cùng lúc với việc ghi chép các giáo thuyết của Phật thành văn tự, tức khoảng năm 80 trước Tây Lịch: However, all this does not necessarily mean that the elders did not represent the Buddha at all during his lifetime, for there is a legend which tells of their making an image for the purpose of offering veneration during the Buddha's absence. They were formalistic and realistic, and so if the Buddha was actually before them, they had a right to depict him in painting or sculture. Now that he had passed into Nirvana, however, it was improper to represent the one who no longer really lived. It was after a considerable development of the Gandhara art that the southern school of Buddhism began to have images of Buddha. This was believed at about the same time when the Buddha's teachings were committed to writing, i.e., 80 B.C. c) Các trưởng lão có khuynh hướng duy tâm và tự do tư tưởng, mà chúng ta có thể coi như là những nhà tiền phong của Đại Thừa, hình như không có cuộc hội họp để đọc lại các bài pháp của Phật, cũng không mở rộng các luật nghi của họ vượt ngoài những gì Phật đã thiết định. Họ thường ghi lại những Thánh ngôn bằng ký ức hay bằng văn tự tùy theo sở thích. Họ không ngần ngại xử dụng các tài năng của mình trong hội họa hay điêu khắc để miêu tả hình ảnh Phật theo lý tưởng riêng của mình về cái đẹp và cái toàn như họ đã làm ở nghệ thuật Gandhara: The elders of idealistic and free-thinking tendencies, whom we might regard as the foreunners of the Mahayana, would not hold any meetings for the rehearsal of the Buddha's sermons, nor would they enlarge upon their Vinaya rules beyond what was laid down by the Buddha himself. They would commit those sacred words to memory or to writing as they pleased. They did not hesitate in using their talents in painting or sculture to depict the Buddha's image according to their own ideal of beauty and perfection, as they did in the Gandhara art. d) Ngành tự do tư tưởng cũng có thể được thấy trong các luận giải siêu hình của các nhà Phân Biệt Thuyết (Vaibhasika) hay Tý Bà Sa, trong đó nhiều quan niệm về pháp (dharma) hay thắng pháp (abhidharma) được sưu tập và một số quan niệm tự do đã được tuyển và được khuyến cáo học tập. Mặc dù phái Tỳ Bà Sa thuộc hệ Tiểu Thừa, nhưng đã mở ra một khuynh hướng nhắm tới trường phái tự do tư tưởng. Hạng người tự do tư tưởng như thế cố nhiên can đảm trong việc thích nghĩa, bác học, chú giải, hay hình thành và diễn tả bất cứ quan niệm nào. Tuy nhiên, điều nầy không có nghĩa rằng họ đi xa ngoài các giáo pháp nguyên thủy của Phật: The trend of the free-thinking mind can also be seen in the metaphysical treatises of the Optionalists (Vaibhasikas), in which several opinions about dharmas or higher dharmas (abhidharmas) are gathered together and some optional ones have been selected and recommended for study. Though the Vaishasika School belonged to the Hinayana, it already betrayed a tendency toward the free-thinking school. Such free-thinking people would be bold in exegesis, erudition, annotation, or in forming and expressing opinion. This, however, does not mean that they departed from the original teachings of the Buddha.
thánh tịnh
The schools of Buddhism and the Pure Land School.
; Những trường phái Phật Giáo và Tịnh Độ—The schools of Buddhism and the Pure Land School.
thánh tịnh nhị môn
(聖淨二門) Chỉ cho Thánh đạo môn và Tịnh độ môn, là 2 pháp môn lớn do tông Tịnh độ y cứ vào giáo pháp của một đức Phật mà phân lập. Nhờ vào năng lực tu hành của chính mình mà đạt được khai ngộ ngay ở thế gian này gọi là Thánh đạo môn; còn tin vào thệ nguyện của Phật A di đà, đồng thời nương nhờ năng lực của thệ nguyện ấy, sau khi chết được Phật tiếp dẫn về Tịnh độ mà khai ngộ thì gọi là Tịnh độ môn, cũng gọi là Vãng sinh tịnh độ môn. Thánh tịnh nhị môn này là bắt nguồn từ Nan dị nhị đạo do bồ tát Long thụ chủ xướng. Về Thánh tịnh nhị môn, trong An lạc tập quyển thượng, ngài Đạo xước đời Đường nói rất rõ. Ngài chủ trương trong đời mạt pháp, lí của Thánh đạo rất sâu xa khó chứng, chỉ có Tịnh độ môn mới mong được tiếp dẫn, cho nên đời sau, Thánh đạo môn được gọi là Tự lực môn, Nan hành đạo; còn Tịnh độ môn thì được gọi là Tha lực môn, Dị hành đạo. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].
Thánh tối thượng đăng minh Như Lai đà-la-ni kinh 聖最上燈明如來陀羅尼經
[ja] ショウサイジョウトウミョウニョライダラニキョウ Shōsaijō tōmyō nyorai darani kyō ||| 1 fasc. (T 1355.21.872-874); see Dongfang zuisheng dengwang tuoluoni jing 東方最勝燈王陀羅尼經 => Shōsaijō tōmyō nyorai darani kyō (j); Một quyển; Xem Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh (c: Dongfang zuisheng dengwang tuoluoni jing 東方最勝燈王陀羅尼經).
Thánh tối thắng đà-la-ni kinh 聖最勝陀羅尼經
[ja] ショウサイショウダラニキョウ Shō saiShō daranikyō ||| The Sheng zuisheng tuoluonijing; Skt. Viśeṣavatī; Tib. khyad par can [To.570/991]; (Sutra of the Sagely and Most Excellent Dhāraṇī). 1 fasc. (T 1409.21.924-925), trans. Dānapāla 施護. => Shō saishō daranikyō (j); Sheng zuisheng tuoluonijing (c); Viśeṣavatī (s); ; Khyad par can (t); Sutra of the Sagely and Most Excellent Dhāraṇī (e); Một quyển; Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch.
thánh tụệ nhãn
Āryaprajācakṣu (S), Ariyapaācakkhu (P).
thánh tự tánh
Xem Thánh tánh tự tánh.
Thánh Võ Thiên Hoàng
(聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749): vị Thiên Hoàng sống giữa thời Nại Lương, hoàng tử của Văn Võ Thiên Hoàng (文武天皇, Monmu Tennō, tại vị 697-707), tên thật là Thủ (首, Obito). Ông cùng với Quang Minh Hoàng Hậu (光明皇后) rất tin tưởng Phật pháp, đã xây dựng một số ngôi chùa như Quốc Phận Tự (國分寺, Kokubun-ji), Quốc Phận Ni Tự (國分尼寺, Kokubunni-ji), thiết lập Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và an trí tượng Đại Phật tại ngôi chùa này.
thánh võng
The holy jàla, or net, of Buddha's teaching which gathers all into the truth.
; Lưới Phật Pháp co cụm tất cả chân lý—The holy jala, or net, of Buddha's teaching which gathers all into the truth.
thánh vũ thiên hoàng
(聖武天皇) Vị Thiên hoàng đời thứ 45 của Nhật bản, là Hoàng tử thứ nhất của Thiên hoàng Văn vũ. Vua và Hoàng hậu (Hoàng hậu Quang minh) đều kính tin Phật giáo. Vua xây dựng chùa Quốc phần và đúc tượng Phật Tì lô xá na ở chùa Đông đại để tượng trưng cho lí tưởng thống nhất quốc gia lấy giáo nghĩa kinh Hoa nghiêm làm nền tảng. Thời gian vua ở ngôi, trong triều ngoài nội đều xây chùa, tạo tượng Phật và phong khí viết kinh rất thịnh, nhờ đó mà hình thành nền mĩ thuật Thiên bình, là thời kì mà mĩ thuật Phật giáo Nhật Bản nói chung đạt đến điểm cao nhất. Các di vật, tác phẩm còn lại, đến nay vẫn được bảo tồn ở viện Chính thương trong chùa Đông đại tại Nại lương (Nara). [X. Đông đại tự đại Phật đường duyên khởi bi văn; Nguyên hanh thích thư Q.21; Nhật bản kỉ lược tiền thiên Q.10].
thánh vương
Holy King.
thánh vị
The holy position, the holy life of Buddhism.
; The holy position—The holy life of Buddhism.
; (聖位) I. Thánh Vi. Chỉ cho quả vị Bồ đề do hàng Tam thừa chứng được. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 26 (đại 10, 140 thượng) nói: Nguyện hết thảy chúng sinh, mau được vào Thánh vị. [X. luận Câu xá Q.24]. II. Thánh Vị. Chỉ cho địa vị của các bậc Thánh Sơ quả đã dứt sạch Kiến hoặc. (xt. Tu Đà Hoàn).
thánh y
(聖衣) Chỉ cho y phục của bậc Thánh, là y được may theo qui định do đức Phật đặt ra, gồm có 3 y: Tăng già lê (Đại y), Uất đa la tăng (thất điều y) và An đà hội (ngũ điều y).
Thánh ý 聖意
[ja] ショウイ shōi ||| Sagely intention; the mind of the Buddha. 〔二障義HPC 1.797a〕 => Mục đích của bậc thánh; tâm của chư Phật.
thánh đa la bồ tát
Xem Đa la Bồ tát.
Thánh đa la Bồ-tát nhất bách bát danh đà-la-ni kinh 聖多羅菩薩一百八名陀羅尼經
[ja] ショウタラボサイッピャクハチミョウダラニキョウ Shō Tara bosatsu ippyakuhachi myō daranikyō ||| Skt. Tārādevīnāmāsṭaśataka; Tib. rje btsun ma 'phags ma sgrol ma'i mtshan brgya rtsa brgyad pa [To.727, 728, 745, 1000]; (Dhāraṇī of the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā). (1) 1 fasc. (T 1105.20.472-474) Dhāraṇī of the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā 聖多羅菩薩一百八名陀羅尼經, trans. Fatian 法天. (2) 1 fasc. (T 1106.20.474-476) Dhāraṇī of Praises to the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā 讃揚聖德多羅菩薩一百八名陀羅尼經, tr. Tianxicai. Shō Tara bosatsu ippyakuhachi myō daranikyō (j); Tārādevīnāmāsṭaśataka (s); Rje btsun ma 'phags ma sgrol ma'i mtshan brgya rtsa brgyad pa (t); Dhāraṇī of the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā (e); => 1. Một quyển. Thánh đa la Bồ-tát nhất bách bát danh đà-la-ni kinh 聖多羅菩薩一百八名陀羅尼經; Dhāraṇī of the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā (e); Pháp Thiên (Fatian 法天) dịch. 2. Một quyển. Tán dương thánh đức Đa-la Bồ-tát bát danh đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of Praises to the One Hundred and Eight Names of Saint Tārā 讃揚聖德多羅菩薩一百八名陀羅尼經); Thiên Tức Tai (c: Tianxicai 天息災) dịch.
thánh đa la trì quan tán
Ārya-tārā-sragdhara-stotra (S) Tên một bộ luận kinh.
thánh điển
The sacred canon, or holy classics, the Tripitaka tam tạng.
; 1) Điển tịch của Thánh nhân: The sacred canon, or holy classics. 2) Thánh điển Phật Giáo hay Tam tạng Kinh Điển: The Tripitaka.
; (聖典) Sách Thánh. Danh từ Thánh điển, ở Trung Quốc, từ thời Tây Hán về sau, là chỉ cho những sách vở có liên quan đến những lời nói, việc làm của Thánh nhân. Đến nay, trong các tông giáo trên thế giới, từ ngữ Thánh điển là chỉ chung cho kinh điển của thần Thánh. Trong Phật giáo thì chỉ cho Thánh điển của Phật giáo. Trong các Pháp sắc của vua A dục ở Ấn độ, có 7 loại Luật đích tối thắng pháp thuyết là Thánh điển xưa nhất. Về sau, Thánh điển được phân loại làm 9 phần giáo, 12 bộ giáo, qui nạp chung thành 3 tạng (Phạm;Pàli:Piỉaka). Những tên gọi như Bộ, Tạng được thấy trong các văn Kim thạch ở thế kỉ I trước Tây lịch. Ở Ấn độ đời xưa, văn tự bị coi là vật thế tục, Thánh điển chỉ được khẩu truyền qua các thế hệ. Tương truyền, Tam tạng và chú sớ được viết thành sách đầu tiên là vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, tức vào thời đại vuaVaỉỉagàmani của nước Tích lan.Ở Trung Quốc thì vào thời đại Bắc Tống việc khắc bản in đã rất thịnh hành và việc chép Thánh điển được coi là một nghi lễ, còn lưu truyền mãi đến ngày nay. Ngoài việc đọc tụng, học hiểu để tăng tiến tín ngưỡng, Thánh điển còn là đối tượng lễ bái, việc nàyvốn đã được lưu truyền ở Ấn Độ. So với Thánh điển của các tông giáo khác thì Thánh điển của Phật giáo đồ sộ hơn, đây là 1 đặc sắc lớn của Phật giáo, vì thế nên đã có học giả gọi Phật giáo là Thư chi tông giáo (SchriftReligion, tông giáo của sách). (xt. Phật Giáo Giáo Điển).
thánh điển a hàm
Xem A hàm.
thánh điển không văn tự
The Unwritten Sacred Literature. a) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, toàn bộ kết tập của Thánh điển do đại hội san định chưa được viết trên giấy hay lá thốt nốt suốt thời gian gần 400 năm. Dĩ nhiên, ngay cho đến hôm nay Bà La Môn giáo cũng chưa viết ra văn học Vệ Đà, nhất là những sách mệnh danh là “khải thị lục.” Chúng ta có thể tưởng tượng, đạo Phật đã giản dị noi gương nền tôn giáo xưa hơn, nhưng cũng còn có những lý do khác nữa—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, the whole collection of the sacred literature authorized by the Council was not written on paper or palm leaf during a period of about four hundred years. It is well known that Brahmanism has never written down its Vedic literature even to this day, especially those revealed texts called “Hearing” (Sruti). We may imagine that Buddhism simply followed the example of the older religion, but there were other reasons as well. • Trước hết các ngài đã không dám tục hóa âm thanh dịu ngọt và những lời êm ái của Đức Thích Tôn bằng cách đặt chúng vào những văn tự mạo phạm có nguồn gốc ngoại lai. Phật đã có lần cấm dịch những lời của Ngài thành tiếng Sanskrit của Vệ Đà. Thế thì Ngài sẽ í hài lòng hơn nếu viết những lời của Ngài trong mẫu tự của học thuật thế gian, vốn chỉ được dùng cho mục đích thương mại và bình dân. First, they dare not desecrate the sweet voice and kindly words of the Blessed One by putting them down in the profane letters of a foreign origin. The Buddha had once forbidden the translation of his words into the Vedic sanskrit. How much less would it please him to write his words in the foreign Accadian alphabet, which was used only for commercial and popular purposes? • Thứ hai, ngôn ngữ mà các ngài chấp thuận trong đại hội rất có thể là một thứ tiếng hỗn chủng, gần giống tiếng Ba Li, đó là tiếng Hoa Thị (Pataliputra). Thật không thích hợp nếu ngôn ngữ và văn học linh thiêng của các Ngài phải mở ra cho quần chúng, nhất là khi có một số trưởng lão có dị kiến theo khuynh hướng tự do tư tưởng: Secondly, the language they adopted in the council was, in all probability, a commingled one, something like the Pali language, that is, the language of Pataliputra. It was not advisable that their sacred language and literature should be open to the public, especially when there were some dissenting elders of a free-thinking tendency. a) Thứ ba, đặt những Thánh ngôn của Phật vào văn tự có thể coi là mạo phạm cũng như miêu tả thánh tượng bằng hội họa hay điêu khắc. Dù sao, toàn bộ văn học được duy trì trong ký ức và không được phép viết trải qua khoảng bốn thế kỷ: Thirdly, to put the Buddha's holy words to letters might have seemed to them a sacrilege just as depicting his sacred image in painting or sculpture. At any rate, the whole literature was kept in memory and was not committed to writing until about four centuries later. b) Cộng đồng Phật tử, trái hẳn với cộgn đồng Bà La Môn, là một tập hợp của cả bốn giai cấp đến từ mọi phương hướng, và đã không thích hợp cho việc tụng đọc cẩn thận các Thánh ngôn. Kết quả là cuộc lưu truyền thiếu sót. Vì sợ thất lạcvà xuyên tạc từ những giáo thuyết nguyên thủy, nên vua Vattagamani của Tích Lan đã ban lệnh ghi chép toàn bộ văn học viết bằng chữ Tích Lan, khoảng năm 80 trước Tây Lịch: The Buddhist community, quite different from that of the Brahmans, was an assortment of all four castes coming from all quarters, and was not suitable for a serious recital of the holy words. The result was an imperfect transmission. Fearing the loss and distortion of the original teachings, King Vattagamani of Ceylon gave orders to commit the whole literature to writing in Sinhalese characters, about the year 80 B.C.
thánh điển ngũ bộ
Xem Thánh điển.
Thánh điện
聖殿; S: caitya; P: cetiya;|Nơi các vị Tỉ-khâu ngày xưa hội họp và ngồi thiền. Về sau, Thánh điện này không còn được chú trọng và hoà nhập lại thành Chính điện, nơi thờ tượng của đức Phật.
Thánh đại tổng trì vương kinh 聖大總持王經
[ja] ショウダイソウジオウキョウ Shō dai sōji ō kyō ||| The Sheng da zongchi wang jing; Skt. Āryamahā-dhāraṇī ; Tib. gzungs chen po [To.529/888]; (Great Holy Dhāraṇī). 1 fasc. (T 1371.21.888-889), trans. Dānapāla 施護. => Shō dai sōji ō kyō (j); Sheng da zongchi wang jing (c); Āryamahā-dhāraṇī (s); Gzungs chen po (t); Great Holy Dhāraṇī (e); Một quyển ; Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch.
Thánh đạo
聖道; S: ārya-mārga; P: ariya-magga;|Ðạo xuất thế, con đường xuất thế bao gồm bốn cấp bậc. Mỗi cấp lại được phân biệt là: Thánh nhân (s: ārya-pudgala) đi trên đạo và Thánh quả (s: phala) của đạo đó. Bốn cấp của đạo xuất thế là: 1. Dự lưu (s: śrotāpana), người mới nhập dòng; 2. Nhất lai (s: sakṛḍāgāmin), người tái sinh trở lại thế gian này một lần nữa; 3. Bất hoàn (s: anāgāmin), người không bao giờ trở lại thế gian này nữa; và 4. A-la-hán (s: arhat).
thánh đạo
Āryamārga (S), Ariya-magga (P), Path of Sages Nền đạo lý của chư thánh.
; Arya-màrga (S).The holy way, Buddhism; the way of the saints, or sages; also the noble eightfold path. Noble path, the path of holiness.
; 1) Con đường Thánh Thiện: The holy way. 2) Con đường của bậc Hiền Thánh: The way of the saints or sages. 3) Đạo Phật: See Buddhism in English-Vietnamese Section. 4) Bát Thánh Đạo: The Eightfold Noble Path—See Bát Thánh Đạo.
; (聖道) I. Thánh Đạo.Đối lại: Tục đạo. Đồng nghĩa: Xuất thế đạo. Chỉ cho chính đạo của bậc thánh. Tức chính đạo do trí vô lậu đạt được. Kinh Tạp a hàm quyển 22 (Đại 2, 160 trung) nói: Người siêng năng tu tập, mở tỏ được Thánh đạo. Mồng 1 tháng giêng Ngày 19 tháng 2 Ngày 21 tháng 2 Ngày 16 tháng 3 Ngày mồng 4 tháng 4 Ngày mồng 8 tháng 4 Ngày mồng 3 tháng 6 Ngày 13 tháng 7 Ngày 30 tháng 7 Ngày 30 tháng 9 Ngày 17 tháng 11 Bồ tát Di lặc Bồ tát Quán âm Bồ tát Phổ hiền Bồ tát Chuẩn đề Bồ tát Văn thù Đức Phật Thích ca Bồ tát Vi đà Bồ tát Đại thế chí Bồ tát Địa tạng Phật Dược sư Phật A di đà[X. kinh Phương đẳng đại tập Q.3; nhiếp đại thừa luận thích Q.15 (bản dịch đời Lương; luận Câu xá Q.22, 23; luận Thành duy thức Q.5]. II. Thánh Đạo. Cũng gọi Bát chính đạo. Chỉ cho 8 Thánh đạo, tức là: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm và Chính định. (xt. Bát Chính Đạo).
Thánh Đạo Môn
(聖道門, Shōdōmon): môn (門) có nghĩa là pháp môn hay lời dạy, giáo lý, Thánh Đạo Môn có nghĩa là giáo lý dạy người tu tập chứng quả trong hiện đời này nhờ tự lực của bản thân mình. Đặc biệt là từ này dùng để chỉ cho Thiên Thai Tông và Chơn Ngôn Tông. Thánh Độ Môn (聖土門) đối với Tịnh Độ Môn.
thánh đạo môn
The ordianary schools of the way of holiness by the processes of devotion, in contrast with immediate salvation by faith in Amitàbha.
; Con đường của bậc Hiền Thánh đạt đạo qua quá trình tu tập, đối lại với tịnh độ môn hay sự cứu độ qua niềm tin nơi Đức Phật A Di Đà—The ordinary schools of the way of holiness by the process of devotion, in contrast with immediate salvation by faith in Amitabha. **For more information, please see Nhị Môn (1).
; (聖道門) Tịnh độ giáo chia Phật đạo làm 2 môn là Thánh đạo môn và Tịnh độ môn. 1. Thánh đạo môn: Người ở thế giới này nhờ vào tự lực tu hành mà ngộ đạo thành Thánh, gọi là Thử độ thành Thánh, đó là Thánh đạo môn. 2. Tịnh độ môn: Người nương nhờ nguyện lực của đức Phật A di đà, sinh về Tịnh độ mà ngộ đạo, gọi là Bỉ độ nhập chứng, đó là Tịnh độ môn. Sự phân chia này là căn cứ vào thuyết của ngài Đạo xước đời Đường được nói trong An lạc tập. (xt. Thánh Tịnh Nhị Môn).
Thánh đạo 聖道
[ja] ショウドウ shōdō ||| (1) Enlightenment, awakening; the path of the sages. (2) Sagely knowledge; undefiled wisdom. (3) The 'sagely paths:' a reference to the Path of Seeing 見道, the path of cultivation 修道 and the Path of No More Learning 無學道. (4) The Correct Eightfold Path . => 1. Sự giác ngộ, sự tỉnh thức; đạo của bậc thánh. 2. Trí huệ của bậc thánh; trí huệ vô lậu. 3. Chỉ cho giai vị Kiến đạo, Tu đạo, và Vô học đạo. 4. Bát chánh đạo八正道.
Thánh Đạt
(聖達, Shōtatsu, ?-?): vị Tăng của Dòng Tây Sơn (西山流) thuộc Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Thánh Đạt (聖達). Ông theo hầu Chứng Không (証空), học về Tịnh Độ Giáo của Dòng Tây Sơn. Ông đã từng nỗ lực bố giáo ở Thái Tể Phủ thuộc vùng Trúc Tiền (筑前, Chikuzen), rồi khai sáng Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) ở vùng Phì Tiền (肥前, Hizen). Môn đệ của ông có Hiển Ý (顯意), Thánh Quán (聖觀); và ngay cả vị Tổ của Thời Tông là Nhất Biến (一遍, Ippen) cũng đã từng theo tu học với ông trong vòng 12 năm trường.
thánh đản
Birthday of a saint.
thánh đản nhật
(聖誕日) Ngày đản sinh của chư Phật, Bồ tát, là những ngày lễ quan trọng của giới Phật giáo. Thông thường, người Trung Quốc dùng âm lịch làm chuẩn. Sau đây là những ngày Thánh đản Phật và Bồ tát trong năm(tính theo Âm lịch):
Thánh đế
(聖諦): đế có nghĩa là chân lý, nguyên lý; Thánh đế có nghĩa là chân lý giác ngộ của bậc Thánh. Từ đó, theo nghĩa rộng, nó có nghĩa là Phật đạo, Phật pháp, chân tánh, chân đế.
thánh đế
Ārya-satya (S), Ariya saccani (P), Ariya-sacca (P), Noble truth Chân lý của bậc Thánh. Diệu đế Xem Đệ I nghĩa đế. Xem Diệu đế.
; The sacred principles, or those of the saints, or sages; especially the Four Noble Truths tứ thánh đế.
; Lý đạo chân chánh do bậc Thánh sở thuyết, gọi là Thánh đế.
; Đế lý mà các bậc Thánh thấy được; đặc biệt là Tứ Thánh Đế (Thánh đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo, chân thực không hư vọng, không điên đảo)—The sacred principles or dogmas, or those of the saints, or sages; especially the Four Noble Truths. ** For more information, please see Tứ Thánh Đế.
; (聖諦) Đế nghĩa là lí chân thực không hư dối; Thánh đế tức chỉ cho tất cả cảnh giới tĩnh lặng mà bậc Thánh thấy biết, đây là nghĩa căn bản của Phật giáo nên cũng gọi là Đệ nhất nghĩa, Chân đế, thuộc nghĩa sâu xa cùng tột trong pháp xuất li thế gian. (xt. Đệ Nhất Nghĩa Đế)
thánh đế hiện quán
(聖諦現觀) Gọi Tắt: Hiện Quán. Chỉ cho giai vị Kiến đạo dùng trí vô lậu quán xét 4 đế. Tức trong 16 tâm Kiến đạo khổ pháp trí nhẫn, hiện thấy cảnh giới đồng đẳng rõ ràng, gọi là Hiện quán, gọi đủ là Thánh đế hiện quán. Thánh đế hiện quán có Kiến hiện quán, Duyên hiện quán và Sự hiện quán. 1. Kiến hiện quán: Dùng trí vô lậu quán xét cảnh giới 4 đế hiện thấy rõ ràng, gọi là Kiến hiện quán. 2. Duyên hiện quán: Trí vô lậu này và tâm, tâm sở tương ứng với trí này cùng duyên theo cảnh giới 4 đế, gọi là Duyên hiện quán. 3. Sự hiện quán: Trí vô lậu và tâm, tâm sở tương ứng với trí này, đồng thời, các pháp Bất tương ứng như sinh, trụ, dị, diệt... cùng thực hiện các việc (sự) như biết, đoạn, chứng, tu đối với 4 đế, gọi là Sự hiện quán. [X. luận Thành duy thức Q.9; luận Du già sư địa Q.55; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Nhiếp đại thừa luận bản Q.trung; luận Đại tì bà sa Q.3, 4, 51, 78, 103]. (xt. Hiện Quán).
Thánh đế trí 聖諦智
[ja] ショウタイチ shōtaichi ||| The wisdom of the holy truths, which is necessary for the elimination of the static afflictions of ignorance 無明住地. 〔勝鬘經 T 353.12.221a25〕 => Trí huệ của bậc thánh, rất cần thiết để giải trừ cảnh giới vô minh phiền não (Vô minh trú địa 無明住地).
Thánh đế 聖諦
[ja] ショウタイ shōtai ||| The sagely truth(s); the holy truth(s). Reality as perceived by the buddhas (Skt. ārya-satyam; Pali ariyasacca). Also a reference to the Four Noble Truths 四諦. 〔雜阿含經、 T 99.2.103c〕 => Chân lý của bậc thánh, Thực tại được nhận biết bởi chư Phật (s: ārya-satyam; p: ariyasacca). Còn được chỉ cho Tứ đế 四諦.
thánh đề bà
Aryadeva (S). A native of Sri Lanka and disciple of Nàgàrjuna, famous for his writings and discussions. Also Thánh Thiên.
; Aryadeva or Devabodhisattva (skt)—Bồ Tát Đề Bà, người gốc Tích Lan, đệ tử của Ngài Long Thọ. Thánh Đề Bà là tác giả bộ Bách Luận nổi tiếng—A native of Ceylon and disciple of Nagarjuna, famous for his hundred writings and discussions.
Thánh Đề-bà 聖提婆
[ja] ショウダイバ Shōdaiba ||| Āryadeva, an important figure in the formation of the Mādhyamika 中觀派 school. He was the disciple of Nāgārjuna 龍樹 and author of such works as the Bailun 百論 and the Guangbai lun 廣百論. => Āryadeva (s); Nhân vật quan trọng trong sự hình thành Trung quán tông (Mādhyamika 中觀派). Sư là đệ tử của Ngài Long Thụ (Nāgārjuna 龍樹) và là tác giả của những Tác phẩm như Bách luận (Bailun 百論) và Quảng bách luận (Guangbai lun 廣百論)
thánh địa
Holy Land.
Thánh địa 聖地
[ja] ショウチ shōchi ||| The stage of enlightenment; stage of Buddhahood. => Cảnh giới giác ngộ giải thoát; quả vị Phật.
thánh đức
A saint's virtue.
; Virtue of a saint.
Thánh Đức Thái Tử
(聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622): vị Hoàng Tử của Dụng Minh Thiên Hoàng (用明天皇, Yōmei Tennō, tại vị 585-587), mẹ là Hoàng Hậu Huyệt Huệ Bộ Gian Nhân (穴穗部間人, Anahobe-no-Hashihito). Ông còn được gọi là Phong Thông Nhĩ Hoàng Tử (豐聰耳皇子), Pháp Đại Vương (法大王), Thượng Cung Thái Tử (上宮太子). Thái Tử thông hết thảy học vấn nội ngoại, thâm tín quy y Phật Giáo. Truyền thuyết cho rằng khi người cô là Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628) lên ngôi thì ông làm Hoàng Thái Tử, trở thành Nhiếp Chính, lãnh đạo chính trị, chế định ra quan vị 12 cấp và hiến pháp 17 điều, phái người đi sứ sang nhà Tùy Trung Hoa. Hơn thế nữa, Thái Tử còn có công rất lớn trong việc nỗ lực làm cho hưng thạnh Phật Giáo, xây dựng rất nhiều tự viện và trước tác bộ Tam Kinh Nghĩa Sớ (三經義疏).
thánh đức thái tử
Shotoku-taishi (J) Ngài có công dựng ngôi chùa vĩ đại ở Nhật năm 587.
; (聖德太子) Cũng gọi Cứu hộ hoàng tử, Phong thông nhĩ mệnh, Thượng cung thái tử, Thánh vương. Vị hoàng tử thứ 2 của Thiên hoàng Dụng minh, Nhật bản. Ông bẩm sinh thông minh, là Nhiếp chính của Thiên hoàng Suy cổ. Ngoài Nho học, Phật học, ông còn thông suốt cả lịch học, thiên văn, địa lí... Ông từng phái học sinh đến du học ở Trung Quốc vào đời Tùy, tận lực du nhập văn hóa Trung Quốc vào Nhật bản. Ông đặt ra 12 bậc quan (603) và 17 điều Hiến pháp (604) làm nồng cốt cho nền nhân chính ở Nhật bản, điều thứ 2 trong Hiến pháp này qui định lòng tin chân thành đối với Tam bảo. Bình sinh, ông tin thờ Phật pháp, tận lực phát huy tinh thần Đại thừa. Ông thường giảng 3 bộ kinh Pháp hoa, Duy ma và Thắng man, kiến lập các viện Bi điền, Kính điền, phát triển sự nghiệp cứu tế toàn dân. Ông xây dựng 4 ngôi chùa lớn là chùa Tứ thiên vương, chùa Pháp long, chùa Quảng Long và chùa Pháp Hưng, đặt vững nền tảng cho việc truyền bá Phật giáo tại Nhật bản để điều hòa văn hóa Trung Quốc và văn hóa Nhật bản. Ông mất năm 612 (có thuyết nói năm 622), hưởng dương 49 tuổi, được an táng tại Ki trường, Đại phản, Nhật bản. Truyện kí của ông được ghi trong Thượng cung Thánh đức Pháp vương đế thuyết và trong Nhật bản thư kỉ. Vào thời Bình An và Liêm Thương rất thịnh hành truyện tranh về Thái tử Thánh đức. Trong dân gian và các chùa miếu cũng phổ biến việc thờ chân dung hoặc tượng khắc của Thái tử. [X. Thánh đức thái tử truyện lịch Q.hạ; Nhật Bản thư kỉ Q.21; Nguyên hanh thích thư Q.20].
Thánh Đức Thái tử 聖徳太子
[ja] ショウトクタイシ Shōtoku Taishi ||| Shōtoku Taishi (574-622); prince Shōtoku, second son of the emperor Yōmei. Studied under Korean monks who had come to Japan to teach Buddhism, and was responsible for much of the early dissemination of knowledge of Buddhist doctrine in Japan. He wrote commentaries on the Śrīmālā-sūtra 勝鬘經, Lotus Sutra 法華經, and Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra 維摩經. He later sent missions to China for gathering more scriptural materials, and then subsequently established seven Buddhist temples: the Shitennō-ji 四天王寺, Hōryū-gakumon-ji , the Chūgū-ji 中宮寺, Tachibana-dera 橘寺, Hachioka-dera , Ikejiri-dera 池尻寺, and Katsuragi-dera 桂木寺. => Sŏngdŏk T'aecha (k); Shōtoku Taishi (j); Shōtoku Taishi (574-622); Thái Tử Thánh Đức, con trai thứ của Hoàng đế Yōmei. Học đạo với một vị tăng Cao Ly đến Nhật Bản để truyền bá Phật pháp, là người có trách nhiệm rất lớn trong việc truyền bá kiến thức Phật học đầu tiên ở Nhật Bản. Ông viết các luận giải về Kinh Thắng Man (Śrīmālā-sūtra 勝鬘經), kinh Pháp Hoa, kinh Duy-ma (Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra 維摩經). Sau đó ông gởi nhiều đoàn sứ giả sang Trung Hoa để thu thập kinh điển Phật giáo; rồi sau đó kiến lập bảy ngôi chùa Phật giáo: Tây thiên vương tự (Shitennō-ji 四天王寺), chùa Hōryū-gakumon, Trung cung tự (Chūgū-ji 中宮寺), chùa Hachioka-dera, Quất tự (Tachibana-dera 橘寺), Trì cừu tự (Ikejiri-dera 池尻寺) và Quế mộc tự (Katsuragi-dera 桂木寺).
thánh ứng
The influence of Buddha; the response of Buddha, or saints.
; Sự cảm ứng linh nghiệm của chư Phật và chư Thánh—The influence of Buddha—The response of the Buddha or saints.
Thánh 聖
[ja] ショウ shō ||| (1) A sage, a saint, a wise man (Skt. ārya, Pali ariya). (2) Pure, undefiled 無漏. (3) In Buddhism, the Buddha, or an arhat (Skt. bhagavat; Pali bhagavat). A person who is enlightened, as contrasted with unenlightened worldlings 凡夫. (4) Correct, right, true 正. => 1. Hiền nhân, nhà hiền triết; người thánh thiện; người thông thái (s: ārya; p: ariya). 2. Thanh tịnh, vô lậu 無漏. 3. Trong Phật pháp là để chỉ cho Đức Phật hoặc các vị A-la-hán (s: bhagavat; p: bhagavat). Là người đã giác ngộ, khác với kẻ phàm phu. 4. Đúng đắn, chân thực, chân chính.
tháo
To unbind—To untie—To undo.
tháo gỡ
To disentangle.
tháo lui
To draw back—To retreat—To withdraw.
tháo thân
To get away—To escape.
tháo đậu
(澡豆), tức nước tro, là loại nước làm sạch ngày xưa, có công dụng như xà-phòng ngày nay, được chế biến bằng cách ngâm tro bếp rồi gạn lấy nước trong, sử dụng khi tắm, giặt, rửa...
; (澡豆) Loại bột được dùng để tẩy sạch những vết dơ trên thân thể hoặc quần áo, 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu. Bột này là do nghiền nát các loại đậu như đậu nành, đậu nhỏ, đậu ma sa, hoặc cỏ ca đề bà la, hay hạt lê đầu đà... mà thành. Sau khi thụ trai, các tỉ khưu phải dùng bột này rửa tay cho sạch rồi mới được cầm kinh sách. Cứ theo kinh Đại uy đức thỉnh vấn nếu không dùng táo đậu rửa sạch tay mà cầm kinh, bưng lư hương... thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục Bất tịnh. Lại theo luật Thập tụng quyển 39 thì táo đậu được để trong thùng gỗ. [X. kinh Tố tất địa yết ra Q.hạ; luật Ngũ phần Q.26; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.10; luật Thập tụng Q.38; luật Tứ phần Q.33; luật Ma ha tăng kì Q.33].
Tháp
(s: stūpa, p: thūpa, 塔): âm dịch là Tốt Đổ Bà (窣睹婆、窣堵婆), Tốt Đổ Ba (窣堵波), Tốt Đô Bà (窣都婆), Tẩu Đẩu Bà (藪斗婆), Tẩu Đẩu Ba (數斗波), Tô Thâu Bà (蘇偷婆), Tố Đổ Ba (素睹波), Suất Đô Bà (率都婆), Tốt Đô Bà (卒都婆); dịch tắt là Tháp Bà (塔婆), Thâu Bà (偷婆), Đâu Bà (兜婆), Phật Đồ (佛圖), Phù Đồ (浮圖、浮屠), Phật Tháp (佛塔); ý dịch là cao hiển xứ (高顯處), công đức tụ (功德聚), phương phần (方墳), viên trũng (圓塚), đại trũng (大塚), trũng (塚), phần lăng (墳陵), tháp miếu (塔廟), miếu (廟), quy tông (歸宗), đại tụ (大聚), tụ tướng (聚相), linh miếu (靈廟). Nguyên lai chỉ cho nơi an trí vật Xá Lợi, v.v., của đức Phật, lấy gạch ngói, v.v., dựng thành vật kiến trúc; nhưng đời sau phần lớn hỗn đồng với nghĩa Chi Đề (s: caitya, 支提), mà chỉ chung cho nơi đức Phật Đản Sanh, Thành Đạo, Chuyển Pháp Luân, Nhập Niết Bàn, nơi các đức Phật quá khứ kinh hành, thánh địa liên quan đến tiền sanh của đức Phật, hang Bích Chi Phật (s: pratyeka-buddha, 辟支佛), cho đến những nơi an trí tượng chư Phật, Bồ Tát, hay di cốt của chư vị cao tăng, Tổ sư, v.v. người ta thường lấy đất, đá, gạch ngói, gỗ, v.v., xây dựng nên vật kiến trúc để lễ bái cúng dường. Tuy nhiên, Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律, Taishō Vol. 22, No. 1425) quyển 33, Pháp Hoa Nghĩa Sớ (法華義疏, Taishō Vol. 34, No. 1721) quyển 11, v.v., phân biệt rõ rằng nơi nào có Xá Lợi đức Phật thì gọi là Tháp, nơi nào không có là Chi Đề. Căn cứ vào đó, 8 ngôi tháp có an trí Xá Lợi đức Phật ở Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), v.v., là Tốt Đổ Ba; còn các ngôi tháp nơi đức Phật đản sanh ở Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), nơi Thành Đạo dưới cây Bồ Đề ở Phật Dà Già Da (s: Buddha-gayā, 佛陀伽耶), nơi Chuyển Pháp Luân ở Vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑), nơi đại thần thông của Tinh Xá Kỳ Viên (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇園精舍), nơi có ba đường bậc cấp báu (khi đức Phật từ trên cung trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利] xuống) ở gần khúc Nữ Thành (曲女城), nơi tuyên thuyết kinh điển Đại Thừa ở núi Kỳ Xà Quật (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山), nơi cư sĩ Duy Ma Cật (s: Vimalakīrti, 維摩詰) thị hiện tướng bệnh ở Am La Vệ Lâm (菴羅衛林), nơi đức Phật nhập Niết Bàn ở rừng Sa La (沙羅), v.v., được gọi là Bát Đại Linh Tháp (八大靈塔, tám ngôi tháp lớn linh thiêng), đều thuộc về Chi Đề. Về nguồn gốc tạo dựng tháp, có thể suy tận thời đại đức Phật, như Thập Tụng Luật (十誦律, Taishō Vol. 23, No. 1435) quyển 56 cho biết rằng trưởng giả Tu Đạt (p: Sudatta, 須達) đã từng cầu xin lấy tóc và móng tay của đức Phật, dựng tháp thờ cúng dường. Hay Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 33 có ghi rằng vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) cũng từng bắt chước đức Phật, kiến lập tháp Phật Ca Diếp (s: Kāśyapa Buddha, 迦葉佛) để lễ bái cúng dường. Sau khi đức Phật nhập diệt, có 8 quốc gia như Ba Bà (波婆), Nhân Già La (人遮羅), La Ma Già (羅摩伽), v.v., nhờ Bà La Môn Hương Tánh (香姓) phân chia Xá Lợi cho, các nước ấy đều tự đem trở về dựng tháp cúng dường; và đây được xem như là khởi điểm của việc kiến tạo Tốt Đổ Ba. Ngoài ra, theo A Dục Vương Truyện (阿育王傳, Taishō Vol. 50, No. 2042) quyển 1, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 1, v.v., cũng cho biết thêm rằng sau khi đức Phật diệt độ khoảng 200 năm, nhân dịp quân lâm đến vương quốc Ma Kiệt Đà, vua A Dục (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育) đã cho kiến lập 84.000 bảo tháp ở khắp các địa phương của lãnh thổ này. Theo khảo chứng của học giả Nhật Bản là Dật Kiến Mai Vinh (逸見梅榮, Henmi Baiei, 1891-1977), cổ tháp trong di tích Sanchi, ngói tạo tháp ở vị trí trung tâm được vua A Dục làm từ thời xưa. Nếu nói chung về nghĩa của Tháp (gồm Tháp Bà lẫn Chi Đề), có rất nhiều kiến trúc nổi tiếng trên khắp thế giới, tỷ dụ như: (1) Tháp của di tích Bharhut (巴赫特, Ba Hách Đặc) ở miền Trung Ấn, thân tháp đã bị đỗ nát hoàn toàn, chỉ còn lại lan can bằng đá, cổng đá; suy định thuộc loại cổ tháp, được dựng vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước CN, dưới thời vua Huân Ca (熏迦). (2) Lan can đá cổ ở vùng phụ cận Đại Tháp Phật Đà Già Da, được dựng vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước CN. (3) Các Chi Đề ở những di tích Phật Giáo trứ danh như hang động thứ 10 của Ajanta (阿旃多, A Chiên Đa), hang động thứ 17 của Nāsik (那西克, Na Tây Khắc), ở Kārlī (迦利, Ca Lợi), Bedsā (貝德沙, Bối Đức Sa), v.v., đều được tạo dựng vào khoảng từ thế kỷ thứ 2 đến thứ 1 trước CN; là các di sản tiểu biểu quan trọng của tháp Phật thời cổ đại. (4) Ca Nị Sắc Ca (s: Kaniṣka, p: Kanisika, 迦膩色迦) của nước Kiền Đà La (s, p: Gandhāra, 犍馱羅) thuộc Bắc Ấn, vị vua thống trị vào khoảng thế kỷ thứ 1 sau CN, đã từng kiến lập một ngôi tháp cao đến 32 thước dưới Tuyết Sơn thuộc nước Ca Tất Thí (s: Kapiśa, 迦畢試). Rồi nhà vua lại cho dựng ngôi Tước Ly Phù Đồ (雀離浮圖) ở nước Kiền Đà La, cao hơn 220 thước, gồm 13 cấp; cho nên Lạc Dương Già Lam Ký (洛陽伽藍記, Taishō Vol. 51, No. 2092) quyển 5 gọi đó là “Tây Vức Phù Đồ tối vi đệ nhất (西域浮圖最爲第一, ngôi tháp số một trong những ngôi tháp ở Tây Vức [Ấn Độ]).” (5) Tại địa phương Kiền Đà La còn có một số di tích tháp cổ, đều được kiến tạo vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước sau CN cho đến thế kỷ thứ 2, 3 sau CN; như tháp Đạt Nhĩ Mã Lạp Tư Sá (達爾瑪拉茲卡, Darmarajka), Mã Ni Kháp Lạp (瑪尼恰拉, Manikyala), Tháp Khố Đặc Y Ba Hy (塔庫特伊巴希, Takt-i-Bahi), Á Lực Mã Tư Cát Đức (亞力瑪斯吉德, Ali Masjid), v.v. (6) Tại địa phương A Nậu La Đà Bổ La (阿㝹羅陀補羅, Anuradhapura) của Tích Lan (錫蘭, Sri Lanka), vẫn còn mấy tòa cổ tháp, trong đó có Tháp Viên (p: Thūpārāma, 塔園) do vua Thiên Ái Đế Tu (p: Devānampiya-tissa, 天愛帝須) kiến lập, được xem như là ngôi tháp xưa nhất của đất nước này. Lại có Vô Úy Sơn Phật Tháp (p: Abhayagiri, 無畏山佛塔) được vua Bà Tha Già Mã Ni (p: Vaṭṭagāmaṇi, 婆他伽馬尼) kiến lập vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước CN, cao hơn 120 thước, đường kính đáy tháp khoảng 115 thước. Ngoài ra, ngôi Lỗ Uyển Duy Lợi Tháp (魯宛維利塔, Ruwanveli) vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước CN, được xem như tháp cổ nổi tiếng nhất. (7) Ngôi Thụy Đức Cung Phật Tháp (瑞德宮佛塔, Shwedagon) ở thủ đô Rangoon (蘭貢, Lan Cống), Miến Điện (緬甸, Myanmar), thân tháp cao đến 118 thước. Ngôi Tu Mã Đỗ Tháp (修瑪杜塔, Shwemaudau) ở cố đô Pegu (庇古, Tí Cổ), cao 102 thước; tầng bên ngoài tháp đều được trang sắc bằng vàng ròng, chung quanh có mấy mươi tòa tháp nhỏ. Bên cạnh đó, còn có Tô Lôi Tháp (蘇雷塔, Soolay) ở Rangoon; vùng phụ cận của Mandalay cũng có khoảng 450 ngôi tháp nổi tiếng khác. Tại Pagan có một số như Đạt Tân Vưu Tháp (達濱尤塔, Tapinyu), Cáo Đạt Ba Lâm Tháp (告達巴林塔, Gauda-palin), A Nan Đà Tháp (阿難陀塔, Ānanda), v.v. (8) Tại Thái Lan, có rất nhiều tháp Phật vẫn còn tại cố đô Ayuthia (猶地亞, Do Địa Á). Ngoài ra, ngôi Phỉ Lạp Thác Mỗ Ma Yết Đề Tháp (菲拉托姆麻歇提塔, Phra-Thomma chedi) tại thủ đô Bangkok (曼谷, Mạn Cốc), thân tháp cao đến 125 thước; ngôi Thanh Tự Tháp (青寺塔, Wat Ching), đều là những kiến trúc Phật Giáo trứ danh. (9) Các ngôi Duy Ân Thường Tháp (維恩常塔, Vienchang), Khoa Ma Nghênh Tháp (科摩迎塔, Chom-yong) của Lào, đều là những ngôi tháp cổ quan trọng. (10) Ngôi Bà La Phù Đồ (婆羅浮屠, Buro-Budur) ở xứ Java (爪哇, Trảo Oa) là ngôi tháp có quy mô rộng lớn, hình tứ giác, trên đỉnh có một tòa tháp lớn, chung quanh bao bọc bởi 72 tháp nhỏ với hình dáng tương đồng với tháp lớn kia; trong mỗi tháp có an trí tượng Phật, toàn bộ thể hiện hình dáng Kim Tự Tháp của Ai Cập; mỗi tháp dài rộng 123 thước, cao 42 thước, được xem như là Thánh địa vĩ đại nhất, hùng tráng nhất hiện tồn của Phật Giáo Đại Thừa trên toàn cầu. (11) Tại Nepal (尼泊爾, Ni Bạc Nhĩ), có ngôi Tư ổ Nhã Mỗ Bố Na Đức Tháp (斯塢雅姆布那德塔, Swuyambhūnāth) ở Katmandu (加德滿都, Gia Đức Mãn Đô) cũng rất to lớn, hình trạng giống như bình bát úp xuống; trên có mấy mươi tầng vòng tròn, trên đỉnh tháp có bảo cái. (12) Tháp tại Tây Tạng được gọi là Lạt Ma Tháp (喇嘛塔), nhưng trong nước này có khá nhiều tháp nhỏ. (13) Tại Trung Quốc, ở phương Bắc, Đông Bắc cũng như Mông Cổ, vẫn còn rất nhiều tháp lớn; như Lợi Tự (利寺, Leh) ở Ladakh (拉達克, Lạp Đạt Khắc); ngôi Bố Đạt Lạp Miếu (布達拉廟) ở Nhiệt Hà (熱河). Những ngôi tháp có quy mô hoành tráng tại 4 ngôi chùa ở Đông Tây Nam Bắc của Thẩm Dương (瀋陽), Liêu Ninh (遼寧); tại Đại Tháp Viện Tự (大塔院寺) trên Ngũ Đài Sơn (五臺山) vùng Sơn Tây (山西); Tịnh Minh Tự (淨明寺) ở Thái Nguyên (太原), Sơn Tây; Vĩnh An Tự (永安寺), Diệu Ứng Tự (妙應寺) ở Bắc Bình (北平), v.v. Trong số đó, ngôi tháp ở Đại Tháp Viện Tự cao 86 thước, thuộc loại lớn nhất. Việc kiến tạo tháp Phật tại Trung Quốc khởi đầu từ thời Tam Quốc (三國, nghĩa hẹp là 220-280), tức nhân sự kiện Ngô chúa Tôn Quyền (孫權, tại vị 229-252) cảm đắc Xá Lợi nơi cao tăng Khương Tăng Hội (康僧會, ?-280), vô cùng thán phục, bèn xây tháp cúng dường, lấy hiệu là Kiến Sơ Tự (建初寺). Lúc bấy giờ là năm thứ 3 (240) niên hiệu Xích Ô (赤烏). Tuy nhiên, nếu theo Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 54 ghi chép, ngôi tháp tại Bạch Mã Tự (白馬寺) được kiến lập vào năm thứ 10 (67) niên hiệu Vĩnh Bình (永平) đời vua Minh Đế (明帝, tại vị 57-75) nhà Đông Hán, là tháp xưa nhất của Trung Quốc. Sau đó, sự tích kiến lập tháp trãi qua các triều đại rất nổi tiếng. Như vào năm thứ 2 (281) niên hiệu Thái Khang (太康) đời vua Võ Đế Tư Mã Viêm (武帝司馬炎, tại vị 266-290) nhà Tây Tấn, tăng sĩ Huệ Đạt (慧達) cảm đắc một tòa bảo tháp cao khoảng 45 thước, rộng 22 thước ở Huyện Mậu (鄮縣), Triết Giang (浙江), bèn dựng tháp để an trí tháp ấy. Đến năm đầu (516) niên hiệu Hy Bình (熙平) đời vua Hiếu Minh Đế Nguyên Hủ (孝明帝元詡, tại vị 515-528) nhà Bắc Ngụy, Linh Thái Hậu họ Hồ sai thợ kiến lập một tòa tháp bằng gỗ cao 9 tầng tại Vĩnh Ninh Tự (永寧寺), Lạc Dương (洛陽); tháp này cao đến 320 thước, cả ngoài trăm dặm đều có thể nhìn thấy được; nơi mái tháp có treo phong linh, thường phát ra âm thanh du dương, thanh thoát khi gió thoảng qua; tiếc thay tháp này hiện không còn nữa. Trong khoảng niên hiệu Chánh Quang (正光, 520-524) đời vua Hiếu Minh Đế Nguyên Hủ, tại Tung Nhạc Tự (嵩嶽寺) ở Tung Sơn (嵩山), Hà Nam (河南), có tạo dựng một ngôi tháp bằng gạch nung, cao khoảng 64 thước, có 12 góc, 15 tầng, được xem như là ngôi tháp tối cổ của Trung Quốc. dưới thời vua Dương Đế (煬帝, tại vị 604-618) nhà Tùy, nhà vua đã từng vì Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397), kiến lập một ngôi tháp cũng bằng gạch tại Quốc Thanh Tự (國清寺) trên Thiên Thai Sơn (天台山), cao khoảng 74 thước. Chính vua Thái Tông (太宗, tại vị 626-649) nhà Đường cũng từng đáp ứng lời thỉnh cầu của Đại Sư Huyền Trang (玄奘, 602-664) cho dựng một tòa tháp bằng gạch nung cao 58 thước tại Đại Từ Ân Tự (大慈恩寺), Tây An (西安). Ngoài ra, số lượng tháp được tạo dựng ở các tự viện Trung Quốc qua các triều đại, nhiều không thể kể xiết; nhưng nếu nói về loại bằng gỗ hiện tồn thì rất ít. Sau thời nhà Nguyên (元, 1206-1368) trở đi, vì chịu ảnh hưởng của văn hóa Lạt Ma Giáo, dạng thức của tháp cũng biến thành gọi là “hình thức bạch tháp (白塔式).” Dạng thức này vốn xuất phát từ Bắc Ấn và Đại Nguyệt Thị (大月氏), như Bạch Tháp ở Bắc Hải (北海), Bắc Bình (北平); Xá Lợi Tháp (舍利塔) ở Pháp Hải Tự (法海寺) thuộc Giang Đô (江都), Giang Tô (江蘇); Bách Linh Miếu Tháp (百靈廟塔) ở Võ Châu (武川), v.v., đều có quy chế kiến tạo khác xa với truyền thống của Trung Quốc. Về phía Nhật Bản, vào tháng 2 năm thứ 14 (585) đời Mẫn Đạt Thiên Hoàng (敏達天皇, Bidatsu Tennō, tại vị 572-585), đại thần Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako, ?-626) kiến lập một ngôi tháp trên phía Bắc đồi Đại Đã (大野, Ōno); trên đầu trụ tháp có an trí Xá Lợi do nhóm Tư Mã Đạt (司馬達) dâng cúng. Đây được xem như là tháp đầu tiên tại đất nước Phù Tang này. Đến năm thứ 15 (606) đời Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628), Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622) tạo lập một ngôi Ngũ Trùng Tháp (五重塔, tháp năm tầng) tại Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), cho đến nay vẫn còn và được đánh giá như là tháp bằng gỗ tối cổ của thế giới. Theo Tục Nhật Bản Kỷ (續日本紀, Shokunihongi) quyển 30 cho biết, vào năm thứ 8 (764) niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự (天平寶字), Hiếu Khiêm Thiên Hoàng (孝謙天皇, Kōken Tennō, tại vị 749-758) phát nguyện tạo dựng 1.000.000 ngôi tháp 3 tầng bằng gỗ, cao 15 thước, mãi cho đến năm đầu (770) niên hiệu Bảo Quy (寶龜) mới hoàn thành; đem an trí tại các chùa trên toàn quốc. Về chủng loại của tháp thì có rất nhiều, lấy dạng thức mà phân biệt, có các loại như tháp hình thức như cái bát úp xuống, tháp như khám thờ, tháp hình trụ, tháp nhạn, tháp nhà, tháp không vách, tháp Lạt Ma, tháp 37 tầng, tháp 17 tầng, tháp 15 tầng, tháp 13 tầng, tháp 9 tầng, tháp 7 tầng, tháp 5 tầng, tháp 3 tầng, tháp vuông, tháp tròn, tháp hình lục giác, tháp hình bát giác, đại tháp, tháp Đa Bảo, tháp Du Kỳ (瑜祇), tháp Bảo Khiếp Ấn (寶篋印), tháp 5 vòng tròn, tháp quả trứng, tháp vô phùng, tháp kiểu lầu gác, tháp mái rèm kín, tháp Kim Cang Bảo Tòa (金剛寶座), mộ tháp, v.v. Nếu phân biệt theo vật cất giữ bên trong tháp thì có tháp Xá Lợi, tháp tóc, tháp móng tay, tháp răng, tháp y áo, tháp bình bát, tháp chơn thân, tháp thân bằng tro, tháp thân đã hủy hoại, tháp bình, tháp Hải Hội (海會), tháp Tam Giới Vạn Linh (三界萬靈), tháp một chữ một viên đá, v.v. Nếu lấy vật liệu dựng tháp mà phân biệt thì có tháp bằng gạch nung, tháp bằng gỗ, tháp bằng đá, tháp bằng ngọc, tháp bằng cát, tháp bằng bùn, tháp bằng đất, tháp bằng phân, tháp bằng sắt, tháp bằng đồng, tháp bằng vàng, tháp bằng bạc, tháp bằng thủy tinh, tháp bằng Pha Lê, tháp bằng Lưu Ly, tháp bằng ngà voi, tháp bằng bảo vật, tháp bằng hương, v.v. Nếu lấy ý nghĩa tính chất mà phân biệt thì có tháp cầu phước, tháp báo ân, tháp Pháp Thân, tháp trường thọ, v.v. Nếu theo dạng thái của vị trí bày biện tháp mà phân biệt thì có tháp dạng đứng một mình, tháp dạng đối lập, tháp theo dạng hàng dọc, tháp theo dạng đứng hình vuông, v.v. Trong các dạng thức vừa nêu trên, loại tháp như cái bát úp xuống là tối cổ. Trong Thí Dụ Kinh (譬喻經, Taishō Vol. 4, No. 217) có nêu ra 10 loại công đức thù thắng của việc tạo tháp: (1) Không sanh vào nước biên giới xa xôi; (2) Không chịu sự nghèo nàn khốn khổ; (3) Không có thân ngu si, tà kiến; (4) Có thể đạt được ngôi vị vua của 16 nước lớn; (5) Thọ mạng lâu dài; (6) Có thể đạt được sức mạnh Kim Cang Na La Diên (金剛那羅延); (7) Có thể đạt được phước đức to lớn không sánh bằng; (8) Nhận được từ bi của chư Phật Bồ Tát; (9) Đầy đủ Ba Minh, Sáu Thần Thông, Tám Giải Thoát; (10) Được vãng sanh về cõi Tịnh Độ ở mười phương. Ngoài ra, Phật Thuyết Tạo Tháp Công Đức Kinh (佛說造塔功德經, Taishō Vol. 16, No. 699), Phật Thuyết Tạo Tháp Diên Mạng Công Đức Kinh (佛說造塔延命功德經, Taishō Vol. 19, No. 1026), v.v., cũng nêu ra các công đức như được sống lâu, sanh lên cõi trời, diệt 5 tội Vô Gián, thành Phật, v.v. Riêng trong Hữu Nhiễu Phật Tháp Công Đức Kinh (右繞佛塔功德經, Taishō Vol. 16, No. 700) nhấn mạnh rằng nhiễu quanh tháp thì có thể xa lìa tám nạn, đầy đủ sắc tướng kỳ diệu, có được phước mạng, của báu, cho đến làm thầy của Trời và người, v.v. Đề Vị Kinh (提謂經) cũng nêu ra 5 loại công đức của việc nhiễu quanh tháp: (1) Đời sau có được tướng tốt đoan chánh; (2) Được âm thanh tốt; (3) Được sanh lên cõi Trời; (4) Được sanh vào nhà vương hầu; (5) Chứng quả Niết Bàn. Nhiễu quanh tháp có hình thức nhất định là thường đi nhiễu bên phải, đầu cúi thấp nhìn xuống đất, không được đạp nhầm lên côn trùng trên mặt đất, không được nhìn hai bên phải trái, không được khạc nhổ trước tháp, không được đứng trong tháp nói chuyện với người. Bên cạnh việc tạo tháp, nhiễu tháp như vừa nêu trên, việc tu sửa tháp, quét tháp, lễ bái tháp, v.v., cũng đều có công đức không phải nhỏ. Trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 7, chương Ni Ba La Quốc (尼波羅國), có đoạn: “Tinh Xá Tây Nam hữu thạch Tốt Đổ Ba, Vô Ưu vương kiến dã (精舍西南有石窣堵波、無憂王建也, phía Tây Nam Tinh Xá có tháp bằng đá, do vua Vô Ưu kiến lập).”
; 塔; C: tǎ; J: tō; S: stūpa; P: thūpa; dịch nguyên âm là Tháp-bà, dịch nghĩa là Cao hiển xứ, Miếu, Linh miếu, cũng được gọi là Bảo tháp; |Kiến trúc Phật giáo, một trong những đặc trưng của chùa chiền thánh tích đạo Phật.|Từ xưa, tháp trước hết là nơi chứa đựng Xá-lị (s: śarīra) các vị Phật hoặc các bậc Thánh. Tháp cũng được xây dựng tại các thánh tích quan trọng, kỉ niệm cuộc đời của đức Thích-ca Mâu-ni (Lam-tì-ni, Giác Thành, Câu-thi-na, Vương xá). Dưới thời vua A-dục, thế kỉ thứ 3, nhiều tháp được xây để thờ các vị thánh, ngày nay vẫn còn.||H 52: Ba dạng tháp khác nhau (từ trái sang phải): nghệ thuật Ấn Ðộ, nghệ thuật Càn-đa-la và Tây Tạng.|Tháp không nhất thiết là những nơi chứa đựng Xá-lị, đó cũng là nơi chứa đựng kinh điển, tranh tượng. Một trong những tháp lớn nhất còn tới ngày nay là Bô-rô-bu-đua (e: borobudur) tại Nam Dương (indonesia). Tháp cũng là một trong những đối tượng thiền quán, thường thường có nhiều ý nghĩa tượng trưng. Các bậc thang lên tháp đôi lúc biểu hiện cho các khái niệm Ðại thừa, như bốn bậc là từ, bi, hỉ, xả hay mười bậc là Thập địa. Tại Kiến-chí (sāñcī), Ấn Ðộ, người ta tìm thấy những tháp xưa nhất. Ðó là những kiến trúc hình bán cầu xây trên nền hình tròn. Trên bán cầu thường có những kiến trúc bằng đá. Trong tháp thường có những hộp đựng xá-lị, các hộp đó cũng có hình tháp, làm bằng vật liệu quý, đặt ngay tại giữa bán cầu hoặc trên đỉnh. Từ các tháp tại Kiến-chí, người ta xây các kiến trúc tương tự, kể từ đầu Công nguyên. Ngay cả kiến trúc các chùa tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam cũng có nguồn gốc từ các tháp này.|Một loại kiến trúc tháp khác, xuất phát từ Càn-đà-la (Tây bắc Ấn Ðộ), trong đó nền hình tròn bằng phẳng nói trên được thay thế bằng một nền hình ống, chia thành nhiều đoạn. Phần bán cầu cũng được kéo dài ra, nhưng so với nền hình ống thì nhỏ hơn trước. Phần nằm trên bán cầu cũng được kéo dài, chia nhiều tầng, biến thành hình nón. Khoảng giữa những năm 150 và 400 sau Công nguyên, phần gốc hình ống lại biến thành vuông và trở thành phổ biến tại vùng Nam Á.|Tại Tây Tạng, kiến trúc tháp có mối liên hệ trực tiếp với giáo pháp Ðại thừa. Bốn bậc thấp nhất của tháp tượng trưng cho bốn tâm từ, bi, hỉ, xả. Trên đó là mười bậc tượng trưng cho mười bậc tu học của Bồ Tát (Thập địa). Trung tâm của tháp gồm có một kiến trúc hay một linh ảnh, tượng trưng cho Bồ-đề tâm (s: bodhicitta). Trên đó là 13 tầng tháp, tượng trưng cho các phương tiện truyền pháp khác nhau, trên đó là một hoa sen năm cánh, tượng trưng cho Ngũ Phật và cao nhất là hình mặt trời tượng trưng cho Chân như.
tháp
ThŪpa (P), Chorten (J), StŪpa (S), ch ten (T), Pagoda Bảo tháp.
; Stùpa (S). A tumulus, or mound, for the bones, or remains of the dead, or for other sacred relics, especially of the Buddha. Tháp Cửu phẩm Liên hoa: Tower of the Nine Holy Grade of Lotus. Tháp tổ Minh Hải: Tower of Patriarch Minh Hải. Tháp Xá lợi: Relics stùpa. Tháp Xá lợi Phật: The stùpa of Buddha relics.
; (塔) Phạm: Stùpa. Pàli:Thùpa. Hán âm: Tốt đổ bà, Tốt đô bà, Tẩu đẩu bà, Tẩu đẩu ba, Tô thâu bà, Tố đổ ba, Tư thâu pha, Suất đô bà. Gọi tắt: Tháp bà, Thâu bà, Đâu bà, Phật đồ, Phù đồ, Phật tháp. Hán dịch: Cao hiển xứ, Công đức tụ, Phương phần, Viên trủng, Đại trủng trủng, Phần lăng, Tháp miếu, Miếu, Qui tông, Đại tụ, Tụ tướng, Linh miếu. Vốn chỉ cho tòa kiến trúc để an vị xá lợi của Phật, thường được xây bằng gạch, nhưng đến đời sau thì tháp phần nhiều bị lẫn lộn với Chi đề (Phạm:Caitya) mà chỉ chung cho nơi Phật đản sinh, nơi Phật thành đạo, nơi Phật chuyển pháp luân, nơi Phật nhập Niết bàn, nơi kinh hành của Phật quá khứ, thánh địa trong bản sinh đàm của Phật, hang Bích chi phật, cho đến các kiến trúc an vị tượng của chư Phật, Bồ tát, lốt chân Phật, di cốt các bậc Tổ sư cao tăng, được xây cất bằng đất, đá, gạch, gỗ... để làm nơi lễ bái, cúng dường... Nhưng, cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 33 và Pháp hoa nghĩa sớ quyển 11 thì tháp và chi đề khác nhau ở chỗ có xá lợi Phật và không có xá lợi Phật, hễ có xá lợi Phật thì gọi là Tháp, không có xá lợi Phật thì gọi là Chi đề. Theo đó thì 8 ngôi tháp ở Câu thi na, Ma yết đà... có an vị xá lợi Phật là Tốt đổ ba, còn 8 đại linh tháp như tháp ở nơi Phật đản sinh, trong thành Ca tì la, tháp nơi Phật thành đạo dưới gốc cây Bồ đề ở Phật đà già da, tháp nơi Phật chuyển pháp luân ở vườn Lộc dã, tháp nơi Phật hiện đại thần thông ở tinh xá Kì hoàn, tháp nơi Tam đạo bảo giai bên cạnh thành Khúc nữ, tháp nơi Phật thuyết giảng kinh Đại thừa ở núi Kì xà quật, tháp nơi Duy ma thị hiện có bệnh trong rừng Am ma vệ và tháp nơi Phật niết bàn trong rừng Sa la thì thuộc về Chi đề. Về nguồn gốc của việc xây tháp, ta có thể biết đã bắt đầu ngay từ lúc đức Phật còn tại thế, như luật Thập tụng quyển 56 đã ghi: Trưởng giả Tu đạt từng xin tóc và móng tay của đức Phật để xây tháp cúng dường; còn luật Ma ha tăng kì quyển 33 thì ghi: Vua Ba tư nặc vâng lời Phật dạy xây tháp Phật Ca diếp để lễ bái cúng dường. Sau khi đức Phật nhập diệt thì 8 nước như: Nước Ba bà, nước Già la, nước La ma già... giành nhau lấy xá lợi của Phật, do đó, Bà la môn Hương tính phải chia xá lợi Phật làm 8 phần đều nhau cho 8 nước, mỗi nước đều mang về xây tháp cúng dường, đây là những ngôi tháp xá lợi được xây dựng đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. Ngoài ra, theo A dục vương truyện quyển 1 và Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1, khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt, vua A dục nước Ma yết đà Từng xây 84.000 ngôi tháp báu tại các nơi trên khắp lãnh thổ. Cứ theo sự khảo chứng của học giả Nhật bản là Dật kiến Mai vinh thì ngôi tháp bằng gạch trong phần ruột ngôi tháp cổ(như hình vẽ) ở di tích Sơn kì (Sanchi) chính là do vua A dục thủa xưa xây dựng. Nếu nói theo danh nghĩa chung của Tháp(kể cả Tháp bà lẫn Chi đề) thì các nơi trên thế giới córấtnhiều kiến trúc nổi tiếng như:1. Tháp di tích ở Ba hách đặc (Bharhut) thuộc Trung Ấn độ, thân tháp đã hoàn toàn hoại diệt, chỉ còn lan can bằng đá, cửa đá, được suy đoán là ngôi tháp xây dựng vào thời Vương triều Huân ca thế kỉ II trước Tây lịch. 2. Lan can xưa bằng đá ở vùng phụ cận Đại tháp Phật đà già da được kiến tạo vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch. 3. Các di tích Chi đề nổi tiếng của Phật giáo như ở hang thứ 10 tại A chiên đa (Ajantà), hang 17 ở Na tây khắc (Nàsik), ở Ca lị (Kàrlì), ở Cụ đức sa (Bedsà)... đều được kiếntạovào khoảng thế kỉ II đến thế kỉ I trước Tây lịch, là những kiến trúc đại biểu quan trọng cho các tháp Phật kiểu cổ còn lại. 4. Vua Ca nị sắc ca thống lãnh nước Kiện đà la ở miền Bắc Ấn độ vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, có kiến tạo tòa tháp cao 32m dưới chân núi Tuyết sơn tại nước Ca tất thí. Vua còn xây tháp Tước li ở nước Kiện đà la, cao hơn 220m, gồm 13 tầng. Lạc dương già lam kí quyển 5 gọi ngôi tháp này làtòatháp bậc nhất trong các tòa tháp ở Tây vực. 5. Địa phương Kiện đà la còn có nhiều nơi di tích cổ tháp (xem hình ở dưới), đều được kiến tạo vào khoảng trước sau Tây lịch đến thế kỉ II, III, như các tòa tháp ở Đạt nhĩ mã lạp tư ca (Dharmarajka), Mã ni cáp lạp (Manikyala), Tháp khố đặc y ba hi (Takt-i-Bahi), Á lực mã tư cát đức (Ali Masjid)... 6. Ở A nâu đà bổ la tại Tích lan (nay là Sri Lanka), hiện còn vài ngôi tháp cổ, trong đó, Tháp viện (Pàli:Thùpàràma, cũng gọi Tháp tự) là do vua Thiên ái đế tu (Pàli:Devànampiya-tissa) kiến tạo, là ngôi tháp xưa nhất trên đảo Tích lan. Còn có Vô úy sơn Phật tháp (Pàli: Abhayagiri) được xây dựng vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch, cao hơn 120m, đường kính ở phần đáy của nền tháp khoảng 115m, đường kính của thân tháp khoảng 86m, do vua Bà tha già mã ni (Pàli:Vaỉỉagamani) là người hộ trì Vô úy sơn tự phái kiến tạo. Còn tháp Lỗ uyển duy lợi (Ruwanvelì) được xây dựng vào khoảng thế kỉ II trước Tây lịch cũng là tòa tháp cổ rất nổi tiếng. 7. Ngôi Phật tháp Thụy đức cung (Shwedagon) ở Ngưỡng quang (Rangoon), ngoại cảnh Đại tháp kiểu bát úp ở Sơn kì, Ấn độ.Tháp Phật xây theo kiểu Kiện đà la Miến điện, thân tháp cao tới 118m. Tháp Tu mã đỗ (Shwemaudau) ở Tì cổ (Pegu) cao 102m, toàn bộ mặt ngoài của tháp được trang sức bằng vàng ròng, chung quanh nền tháp có vài mươi ngôi tháp nhỏ. Ngoài ra, tháp Tô lôi (Soolay) ở Rangoon, 450 tòa tháp ở vùng phụ cận Ngõa thành (Mandalay, xưa gọi là Mạn đức lặc), tháp Đạt tân vưu (Tapinyu), tháp Cáo đạt ba lâm (Gauda-palin), tháp A nan đà (Ànanda)... ở Phạ căn đều là những tháp nổi tiếng của Miến điện. 8. Ở Thái lan, tại vùng Cố đô Ayuthia hiện còn nhiều tòa tháp Phật thời cổ (xem hình dưới). Ngoài ra, tháp Phra-Thomma chedi ở Bangkok, thân tháp cao tới 125m, tháp này và tháp Wat Ching đều là các tòa tháp Phật nổi tiếng trong nước. 9. Ở nước Lào, tháp Vienchang, tháp Chomyong đều là những ngôi tháp cổ quan trọng hiện còn. 10. Ở Java, Indonesia, tháp Buro-Budur là tòa tháp có qui mô to lớn, nền đàn phức tạp, hình 4 góc, trên đỉnh tháp có một tòa đại tháp và 72 ngôi tháp nhỏ có hình dáng giống nhau bao bọc chung quanh đại tháp, trong mỗi tháp đều có tượng Phật, toàn bộ kiến trúc có hình Kim tự tháp kiểu bậc thang, mỗi chiều rộng 123m, cao 42m (nay chỉ còn 31,5m), là Thánh địa hoành tráng nhất, hùng vĩ nhất hiện còn của Phật giáo Đại thừa trên toàn cầu. 11. Tại Nepal, tháp Swuyambhùnàth ở Katmandu là tòa tháp lớn nhất, hình dáng giống như ngôi tháp kiểu bát úp(xem hình dưới), phía trên có tướng luân (tướng bánh xe) mười mấy lớp, trên chóp tháp đặt thiên cái tự hình thành một phong cách riêng. 12. Ở Tây tạng, tháp quen gọi là Lạt ma tháp, nhưng trên đất Tây tạng phần nhiều là tháp nhỏ. 13. Ở phía bắc, đông bắc Trung quốc và ở Mông cổ còn lại nhiều ngôi tháp lớn, như tháp Lợi tự ở Lạp đạt khắc, miếu Bố đạt lạp ở Nhiệt hà, 4 chùa Đông, Tây, Nam, Bắc ở Thẩm dương, tỉnh Liêu ninh, chùa Đại tháp viện ở núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, chùa Tịnh minh ở huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn Tây, chùa Diệu ứng ở Bắc bình... những tòa tháp ở các chùa nêu trên đều có qui mô rộng lớn. Trong đó, ngôi tháp ở chùa Đại tháp viện cao tới 86m, là ngôi tháp lớn nhất. Tại Trung Quốc, tháp Phật được kiến tạo sớm nhất là vào thời Tam quốc. Bấy giờ, vua nước Ngô là Tôn quyền rất thán phục việc ngài Khang tăng hội cảm được xá lợi bèn xây tháp cúng dường vào năm Xích ô thứ 3 (240), gọi là Kiến sơ tự. Nhưng nếu theo Phật tổ thống kỉ quyển 54 thì vào năm Vĩnh bình thứ 10 (67), vua Minh đế nhà Đông Hán đã xây tháp ở chùa Bạch mã, như vậy, tháp chùa Bạch mã là ngôi tháp đầu tiên ở Trung quốc. Về sau, có các sự tích về việc kiến tạo tháp qua các đời tương đối nổi tiếng như: Vào năm Thái khang thứ 2 (281) đời Tây Tấn, ngài Tuệ đạt ở huyện Mậu, tỉnh Chiết giang, cảm được từ trong đất một ngôi tháp Tháp Phật ở Ayuthia tại Thái Lan Tháp Swuyambhùnàth ở Katmandu, Nepal.cao khoảng 45m, rộng khoảng 22m, liền xây tháp ở chỗ đó để ghi nhớ. Vào niên hiệu Hi bình năm đầu (516) đời Bắc Ngụy, LinhThái hậu sai thợ kiến tạo 1 tòa tháp gỗ 9 tầng ở chùa Vĩnh ninh tại Lạc dương, cao tới 320m, cách xa trăm dặm vẫn có thể thấy được, những cái chuông nhỏ treo trên mái kêu leng keng mỗi khi gió thổi, ở xa 10 dặm cũng có thể nghe được. Đây là kiến trúc bằng gỗ to lớn, rất quí, nhưng tiếc thay nay đã không còn. Khoảng năm Chính quang (520-524) đời vua Hiếu minh đế nhà Bắc Ngụy, chùa Tung nhạc ở núi Tung Sơn, tỉnh Hà Nam, xây một tòa tháp gạch cao khoảng 64m, 15 tầng, 12 cạnh, là tòa thápxưa nhất hiện còn tại Trung Quốc. Vua Dượng đế nhà Tùy xây một ngôi tháp gạch ở chùa Quốc thanh tại núi Thiên thai để cúng dường Đại sư Thiên thai. Đây là ngôi tháp hình lục giác, 9 tầng, cao 74m. Vua Thái tông nhà Đường xây một tòa tháp gạch ở chùa Đại từ ân tại Tây an, cao 58m để cúng dường Đại sư Huyền trang. Ngoài ra, những tháp được xây dựng trong các chùa viện qua nhiều triều đại tại Trung Quốc thực không thể kể hết, nhưng các tháp kiến trúc bằng gỗ thì còn lại rất ít. Từ đời Nguyên, Minh về sau, do chịu ảnh hưởng văn hóa Lạt ma, kiểu Bạch tháp trở nên phổ biến, đó là do kiểu tháp Bắc Ấn độ và Đại nguyệt chi diễn biến mà thành, như Bạch tháp ở Bắc hải, Bắc bình, tháp xá lợi ở chùa Pháp hải tại huyện Giang Đô, tỉnh Giang Tây, tháp Bạch linh miếu ở Vũ xuyên... đều khác xa với qui chế tháp Phật truyền thống của Trung quốc. Bởi vì qui chế kiến trúc tháp Phật ở Trung Quốc rất chú trọng sự phối trí nghiêm chỉnh, nền tháp chắc chắn, đẩu củng uyển chuyển, mĩ lệ... như tháp Lục hòa, tháp Hoa ở chùa Lục dung, tháp chùa Nghinh giang, tháp chùa Tam tháp ở Gia hưng... Tại Nhật bản, vào tháng 2 năm Mẫn đạt Thiên hoàng 14 (585) Đại thần Tô mã ngã tử kiến tạo 1 tòa tháp ở phía bắc gò Đại dã, trên đầu trụ tháp đặt xá lợi mà Tư mã đạt thỉnh được. Đây là sự mở đầu cho việc xây tháp ở Nhật bản. Vào năm Suy cổ Thiên hoàng 15 (606), Thái tử Thánhđức làm 1 tòa tháp 5 tầng bằng gỗ ở chùa Pháp long đến nay vẫn còn. Đâylà ngôi tháp gỗ xưa nhất trên thế giới. Lại theo Tục Nhật bản kỉ quyển 30, vào năm Thiên bình bảo tự thứ 8 (764), Thiên hoàng Hiếu khiêm phát nguyện tạo một trăm vạn ngôi tháp bằng gỗ 3 tầng cao 15cm, mãi đến niên hiệu Bảo qui năm đầu (770) mới hoàn thành, tôn trí ở khắp các chùa trên cả nước. Tháp có rất nhiều chủngloại, nếu phân biệt theo kiểu dáng thì cóthápkiểu bát úp, tháp khám, tháp trụ, tháp nhạn, tháp lộ, tháp nhà, tháp không vách, tháp Lạt ma, tháp 37 tầng, tháp 17 tầng, tháp 15 tầng, tháp 13 tầng, tháp 9 tầng, tháp 7 tầng, tháp 5 tầng, tháp 3 tầng, tháp vuông, tháp tròn, tháp hình 6 góc, tháp hình 8 góc, đại tháp, tháp Đa bảo, tháp Du kì, tháp Bảo khiếp ấn, tháp Ngũ luân, tháp hình trứng, tháp vô phùng, tháp kiểu lầu gác, tháp mái dày, tháp tòa Kim cương báu, tháp mộ, tháp gỗ, tháp có góc... Nếu phân biệt theo các vật được đặt trong tháp thì có tháp xá lợi, tháp tóc, tháp móng tay, tháp răng, tháp áo, tháp bát, tháp chân thân, tháp thân tro (đã thiêu), tháp thân vụn(những mẩu xương Tháp 5 tầng ở chùa Pháp long tại Nhật Bản còn lại sau khi thiêu), tháp bình, tháp hải hội, tháp tam giới vạn linh(vong linh chúng sinh trong 3 cõi)... Nếu phân biệt theo chất liệu kiến trúc thì có tháp gạch, tháp gỗ, tháp đá, tháp ngọc, tháp cát, tháp bùn, tháp đất, tháp sắt, tháp đồng, tháp vàng, tháp bạc, tháp thủy tinh, tháp pha lê, tháp lưu li, tháp báu, tháp hương... Nếu phân biệt theo ý nghĩa tính chất thì có tháp cầu phúc, tháp báo ân, tháp pháp thân, tháp thọ... Nếu phân biệt theo vị trí tháp được sắp bày theo các kiểu thì có tháp kiểu cô lập, tháp kiểu đối lập, tháp kiểu bài lập(đứng theo hàng lối), kiểu phương lập(đứng vuông vức theo 4 góc), kiểu củng lập(đứng vòng tròn)... Trong các kiểu tháp thì có tháp kiểu bát úp là xưa nhất. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 33 và Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 18, tháp kiểu bát úp được cấu tạo thành bởi các bộ phận: Lan can, nền đàn, thân tháp, bát úp đầu bằng, cột luân tướng, luân tướng, bình báu... Trong các di tích hiện còn thì Đại tháp ở Sơn kì (Sanchi) có cấu trúc điển hình nhất và phù hợp với qui định trong luật nhất(xem hình Đại tháp Sơn kì ở trên). Luật đã dẫn còn nói: Nếu xây tháp để cúng dường Như lai thìphải đầy đủ các bộ phận cấu trúc nói trên; nếu xây tháp cúng dường Độc giác thì không được đặtbình báu; nếu xây tháp cúng dường A la hán thì luân tướng không được làm quá 4 tầng; nếu là tháp của Bất hoàn quả thì luân tướng không được làm quá 3 tầng; nếu là tháp của Nhất lai quả thì luân tướng không được quá 2 tầng; nếu là tháp của ngườiDự lưu quả thì luân tướng không được quá một tầng; nếu là tháp của người lành trong phàm phu thì chỉ được làm đầu bằng chứ không được dùng luân cái. Lan can bao bọc 4 chung quanh tháp là kết giới phạm vi tháp, hồi lang(lối đi vòng quanh) của các Đại tự tháp đời sau chính đã bắt nguồn từ lan can này. Mặt bằng của nền đàn ở Ấn độ thường là hình tròn, nhưng ở Trung quốc và Nhật bản phần nhiều có cấu trúc hình 4 góc hoặc 8 góc. Thân tháp được xây trên nền đàn, như thápDhamekh ở vườn Lộc dã, tháp trong Quật viện A chiên đa, tháp ở vùng Kiện đà la... đều là những tháp cấu trúc theo kiểu cổrất nổi tiếng, nhất là mặt ngoài thân tháp của tháp Dhamekh có khắc các bức tranh và hoa sen rất tinh xảo, còn tháp ở Kiện đà la thì mặt ngoài làm Phật khám để trang nghiêm thân tháp. Đến đời sau, thân tháp dần dần biến thành cấu trúc nhiều tầng, vào khoảng thế kỉ III, IV thì kiểu thân tháp 3 tầng đã xuất hiện; về sau lại có các cấu trúc gồm 5 tầng, 7 tầng, 9 tầng, 13 tầng, 15 tầng, 17 tầng, cho đến 37 tầng. Vấn đề thân tháp diễn biến thành hình thức nhiều tầng có lẽ cũng liên quan và phù hợp với kinh luật. Chẳng hạn như Tì nại da tạp sự quyển 18 (Đại 24, 291 hạ) nói: Số tầng của tướng luân hoặc 1, 2, 3, 4, cho đến 13; tức là thân tháp nhiều tầng và tướng luân nhiều tầng thực ra có quan hệ mật thiết với nhau. Về những ngôi tháp nhiều tầng nổi tiếng hiện còn thì có: Tháp gạch gồm 15 tầng 12 cạnh ở chùa Tung nhạc tại Tung sơn, tháp Tiểu nhạn gồm 15 tầng ở chùa Đại tiến phúc tại Tây an, tháp gạch gồm 15 tầng ở chùa Hương Tích, Tây An, Trung Quốc; tháp đá gồm 13 tầng ở chùa Tịnh từ ở Thượng khánh bắc đạo, Hàn quốc; tháp đá gồm 13 tầng ở chùa Bát nhã tại chùa Đại hòa, Nhật bản... Các tháp cổ nổi tiếng từ 13 tầng trở xuống tại các nước Phật giáo còn rất nhiều không thể kể xiết... Kiểu bát úp là thể bán cầu úp xuống, giống như cái bát úp. Phần mộ ở Trung Quốc và các nước Đông phương nói chung từ xưa đã có hình dáng cái gò nhỏ, rất phù hợp với kiểu bát úp của tháp Phật. Nhưng đến đời sau thì hình bán cầu của bát úp dần dần cao thêm, như tháp Dhamekh ở vườn Lộc dã, các tháp ở Kiện đà la và Tích lan, hình bát úp đều rất cao. Còn như tháp Ổ đức khương ở Phra- Prang thì hình bát úp đã cao bằng quả đạn đại bác. Nhưng tháp ở Tây tạng thì ngược lại, phía trên phình rộng ra, phía dưới thì thu nhỏ lại, giống hình cầu. Ở Trung Quốc và Nhật bản thì hình dáng bát úp đã rút lại đến mức cực nhỏ, chỉ còn hình thức mà thôi. Tướng luân cũng gọi là Bàn cái, Thừa lộ bàn, Luân cái là kiến trúc hình chiếc mâm tròn, chồng thành nhiều lớp trên đầu bằng, ở giữa có cây cột xuyên qua, trên chóp có lọng che. Ở Ấn Độ cổ đại đã có tướng luân, số luân(vòng tròn) có nhiều lớp, như ngôi tháp Tước li ở Kiện đà la có 13 lớp tướng luân, ngôi tháp ở chùa Vĩnh ninh tại Lạc dương, Trung Quốc, có 30 lớp, còn Đại tháp ở Sơn kì (Ấn độ) thì chỉ có 3 luân. Các chùa viện ở Nhật Bản thường có tháp 9 tướng luân, cho nên cũng gọi là Cửu luân. Ngoài tháp hình bát úp ra còn có nhiều kiểu tháp như: 1. Tháp Đa bảo: Bắt nguồn từ tháp đức Phật Đa bảo nói trong phẩm Kiến bảo tháp kinh Pháp hoa, tức là ngôi tháp được phụ thêm trên bảo tháp 1 tầng nói chung. 2. Tháp Du kì: Tháp được kiến tạo căn cứ theo kiểu tháp được nói trong kinh Du kì, là biến dạng của bảo tháp phổ thông, tức ở chính giữa và 4 góc trên nóc tháp có lập 5 tướng luân, trên mỗi tướng luân đều có thêm 5 luân. 3. ThápBảo khiếp ấn: Nền đàn và thân tháp mang hình dạng núi Tu di, trên thân tháp có lọng che hình vuông, bên trong có cất giữ Đà la ni Bảo khiếp ấn. 4. Cột tướng luân: Kiểu tháp căn cứ theo kiểu tháp nói trong kinh Vô cấu tịnh quang đà la ni, tức chỉ tạo dựng phần tướng luân có hình dáng cột tháp và được coi đó là tháp. 5. Tháp có thân hình cái bình: Như tháp bảo bình, tháp uyển, tháp năng tác... 6. Tháp Ngũ luân(cũng gọi Ngũ luân tháp bà, Ngũ luân bình tháp bà): Phần nhiều là kiểu tháp được Mật giáo sử dụng. Tức chồng xếp 5 tảng đá có hình dángvuông, tròn, tam giác, bán nguyệt và bảo châu, trên đó lần lượt viết chữ chủng tử của Ngũ đại , theo thứ tự tượng trưng cho 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, không. 7. Tháp cái lọng:Tức tháp được tạo lập bằng cách dựng câytrụ vuông, trên đầu trụ làm lọng che và đặt bảo châu trên chóp cây trụ. 8. Tháp LụcĐịa tạng: Tháp được tạo lập bằng cách trên cây trụ vuông an vị Lục địa tạng. 9. Tháp vô phùng: Tức chỉ dùng 1 tảng đá bia làm bia mộ của vị tăng quá cố; hoặc dùng 1 khối đá có hình quả trứng làm bia mộ thì gọi là Noãn tháp. 10. Tháp gỗ: Trên tấm ván nhỏdài khắc hình dạng tháp Ngũ luân, thông thường dựngtrên đất mộ để cầu âm phúc cho người chết. 11. Tháp có góc cạnh: Cũng là biến dạng của tháp Ngũ luân, tức trên cây cột hình 4 góc nhỏ và dài ghi văn kinh tiếng Phạm, thông thường dùng trong hội cúng dường khi khánh thành nhà cửa, được dựng ở trước nhà. 12. Tháp kiểu lầu gác: Như tháp gỗ ở huyện Ứng, tỉnh Sơn tây, tháp gạch ở chùa Khai Nguyên, huyện Định, tỉnh Hà Bắc, tháp lưu li ở chùa Hựu quốc, phủ Khai phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc... là những di tích tháp kiểu lầu gác nổi tiếng còn lại. 13. Tháp mái dày: Như tháp chùa Tung nhạc tại Tung sơn, tỉnh Hà nam và tháp chùa Thiên ninh ở Bắc bình. 14. ThápLạt ma: Như tháp trắng ở chùa Diệu ứng tại Bắcbình. 15. Tháp Kim cương bảo tọa: Như tháp chùa Chân giác ở Bắc bình. Ngoài các kiểu tháp nói trên, còn có hình tháp cao chót vót đến tận mây, là tượng trưng cho Phật giáo của Nhật bản. Lại trong các loại kiểu tháp ghi trên, phần nhiều là các kiểu tạo tháp đặc thù chỉ Nhật Bản mới có. Ở Trung Quốc, dáng vẻ bề ngoài của tháp Phật thông thường được chia làm 2 loại là hình tháp tầng và hình tháp mái. Trong các di tích tháp đời Đường thì tháp Đại nhạn 7 tầng hình 4 góc ở chùa Từ ân tại huyện Tây An, tỉnh Thiểm Tây, là đại biểu cho hình tháp tầng; còn tháp Tiểu nhạn 13 mái hình 4 góc ở chùa Tiến phúc là đại biểu cho hình tháp mái. Nếu phân biệt theo những vật được đặt ở bên trong thì tháp có các loại như sau:1. Tháp xá lợi(cũng gọi tháp Phật): Tức nghĩa gốc của Tốt đổ ba (Phạm:Stùpa), là tháp thờ xá lợi được kết thành sau khi hỏa thiêu thân đức Phật. 2. Tháp thờ tóc: Tháp được kiến lập để cúng dường tóc của Phật. 3. Tháp thờ móng tay: Tức tháp được xây để cúng dường móng tay, móng chân của Phật. Loại tháp này bắt đầu từ Trưởng giả Tu đạt. 4. Tháp thờ răng: Tháp cúng dường răng của đức Phật. 5. Tháp chân thân: Tháp cúng dường chân thân(nhục thân)của các bậc cao tăng, như tháp chân thân của ngài Tịnh tạng ở núi Tung Sơn được xây dựng vào đời Đường, tháp chân thân của ngài Ma đằng được kiến tạo vào đời Hậu Tấn... đều là các di tích nổi tiếng. 6. Tháp khôi thân: Tức sau khi bậc cao tăng được hỏa thiêu, phần tro (khôi) còn lại được thu gom và xây tháp để thờ. 7. Tháp toái thân: Tức không đặt toàn thân hoặc toàn bộ tro than sau khi hỏa thiêu, mà chỉ đặt một phần vào trong tháp để thờ, như tháp Toái thân của ngài Huyền trang, tức tháp Từ ân, ở Nhật nguyệt đàm. 8. Tháp phổ thông(cũng gọi Phổ đồng, tháp Hải hội): Tức tháp thờ chung di cốt của chúng tăng. Tháp Đại Nhạn, Tháp Tiểu Nhạn Tháp TừÂn ở Nhật nguyệt đàm9. Tháp tam giới vạn linh: Tức tháp thờ chung di cốt của những người hữu duyên vô duyên. 10. Tháp một chữ một viên đá: Tức khắc hoặc viết một chữ của các kinh như kinh Pháp hoa... lên một hòn đá nhỏ, rồi chôn xuống đất, sau đó xây tháp lên trên để cúng dường. Ngoài ra, kinh Quán hư không tạng bồ tát cũng nói đến 4 tòa tháp của đức Phật là tháp tóc, tháp áo, tháp bát và tháp răng ở trên cõi trời Đao lợi, gọi là Đế thích tứ tháp. Bốn tháp này được ghi trong Thích ca Như lai thành đạo kí chú quyển hạ thì tháp áo được thay thế bằng tháp mũi tên.Còn phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa thì cho rằng kinh là Pháp thân của Như lai, vì thế cũng nên xây tháp cúng dường. Những tháp cất giữ tiêu biểu điển hình là tháp sắt ở Nam thiên trúc, trong đó kinh Kim cương đính được cất giữ; tháp Nam ở chùa Vân cư, núi Phòng sơn, Trung quốc, ở dưới chôn giấu 180 tấm bia kinh lớn và 4080 tấm bia kinh nhỏ. Ngoài ra, ở bên trong tháp hoặc ở thân tháp cũng khắc hoặc vẽ hình đồ 8 tướng thành đạo của đức Phật, như bức phù điêu Bát tướng thành đạo được khắc ở nền đàn của tháp xá lợi chùa Thê hà ở tỉnh Giang tô là di tích rất nổi tiếng. Nếu phân biệt theo nguyên liệu kiến trúc thì đại khái tháp có các chủng loại sau đây:1. Tháp gạch: Các di tích hiện còn ở Tích lan, Miến điện và các nước vùng Tây vực đại đa số là tháp gạch. Ở Trung quốc, di tích tháp nổi tiếng hiện còn, có giá trị về nghệ thuật kiến trúc rất cao là tòa tháp gạch gồm 15 tầng, có hình 12 cạnh ở chùa Tung nhạc, núi Tung sơn, phủ Đăng phong, tỉnh Hà nam, rất tráng lệ, hùng vĩ. Còn có tháp gạch gồm 13 tầng, 8 cạnh ở chùa Thiên ninh tại Bắc bình, tháp gạch 9 tầng ở chùa Trùng hưng, huyện Trâu, tỉnh Sơn Đông, tháp Lục hòa ở chùa Khai hóa tại Hàng châu... đều là những ngôi tháp gạch rất lớn, cao đến mấy mươi mét. 2. Tháp gỗ: Như ngôi tháp Tước li ở Ấn Độ do vua Ca nị sắc ca kiến tạo nói ở trên, ngôi tháp chùa Vĩnh ninh ở Lạc Dương, Trung Quốc... đều là những tháp được kiến trúc bằng gỗ rất lớn. Nhưng những ngôi tháp gỗ đời xưa hiện nay rất hiếm thấy, vì dễ bị gió mưa, binh lửa tàn phá nên ít còn tồn tại. Ngôi tháp bằng gỗ xưa nhất hiện còn tại Trung quốc là tháp Thích ca ở chùa Phật cung, huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây, được tạo lập vào năm Thanh ninh thứ 2 (1056) đời Liêu. Tháp gồm 5 tầng, hình 8 góc, cao tới 115m, cấu trúc rất chắc chắn. Thời Tháp gạch ở chùa Tung nhạc Tháp Thích ca làm bằng gỗ xưa nhất tại Trung Quốc vua Thuận đế nhà Nguyên, huyện Ứng bị động đất lớn suốt 7 ngày mà tòa tháp này vẫn sừng sững bất động. Còn ngôi tháp gồm 9 tầng, có hình 8 góc ở chùa Thiên ninh, huyện Chính định, tỉnh Hà bắc, cũng là tòa tháp cổ làm bằng gỗ rất nổi tiếng. Riêng Nhật bản, vì những trận động đất thường xảy ra nên phần nhiều tháp đều được kiến trúc bằng gỗ, trong đó, tòa tháp 5 tầng ở chùa Pháp long, do Thái tử Thánh đức tạo lập vào năm Suy cổ Thiên hoàng 15 (606) là nổi tiếng. 3. Tháp đá: Ở Ấn độ từ xưa phần nhiều tháp được cấu trúc bằng đá. Tại Trung Qquốc, như các ngôi tháp hiện còn ở quần thể hang đá Vân cương tại Đại đồng phần nhiều cũng được kiến tạo bằng đá. Tòa tháp đá 4 cửa ở chùa Thần thông, huyện Tế Nam, tỉnh Sơn đông, là tòa tháp cổ được kiến tạo vào năm Đại nghiệp thứ 7 (611) đời vua Dượng đế nhà Tùy; tháp Bắc ở chùa Vân cư, núi Phòng sơn, tỉnh Hà Bbắc, được xây dựng bằng đá hoa màu trắng và tháp Trấn Quốc bằng đá ở chùa Khai nguyên, Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến cũng là những tòa tháp đá tiêu biểu điển hình. Tại Hàn quốc, vào thời đại Tân la, cũng có nhiều ngôi tháp được tạo lập bằng đá, như tháp Thích ca ở chùa Phật quốc, tháp 13 tầng ở chùa Tịnh huệ, tháp Xá lợi ở chùa Hoa nghiêm... Tại Nhật bản, tháp được cấu trúc bằng đá sớm nhất là ngôi tháp đá 13 tầng. Những tháp đá hiện còn là ngôi tháp ở chùa Thạch tháp tại Cận Giang và ngôi tháp gồm 7 tầng ở chùa Oánh Sơn là nổi tiếng. 4. Tháp ngọc: Loại tháp này còn rất ít. Năm Khang Hi 19 (1709), vua Thánh tổ có sai thợ khắc 1 tòa tháp ngọc gồm 8 tầng, cao khoảng 3m, thếp thành 3 màu vàng, lục và trắng, gọt dũa tinh vi, trong mỗi tầng tháp có khắc vài pho tượng Phật, nét khắc kì diệu, đáng được gọi là Quốc bảo, rất tiếc sau vì thế cuộc biến thiên, tòa tháp bị lưu lạc, cuối cùng đã bị bán cho một người Mĩ chuyên sưu tầm đồ cổ. 5. Tháp bùn, tháp đất: Như phẩm Phương tiện, kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 hạ) nói: Hoặc dựng miếu bằng đá, chiên đàn và trầm thủy, cây có hương thơm và các vật liệu khác như gạch, gốm, bùn, đất... Năm Kiến bảo thứ 4 (1217) đời Thiên hoàng Thuận đức, Pháp thân vương Đạo trợ của Nhật bản từng tạo lập 84.000 ngôi tháp bằng đất. 6. Tháp sắt: Ngôi tháp bằng sắt nổi tiếng được nói trong kinh điển là ngôi tháp ở NamThiên trúc, tức Nam Thiên Thiết Tháp, ở bên trong có tàng trữ kinh Kim cương đính. Theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ kí quyển 3, tháng 9 năm Lân đức thứ 2 (665) đời Đường cao tông, chùa Pháp vân kiến tạo 1 tòa tháp bằng sắt gồm 7 tầng cao tới 1 trượng. Nhưng ngôi tháp bằng sắt nổi tiếng hiện còn thìcó ngôi tháp sắt ở chùa Thiết tháp, huyện Tế ninh, tỉnh Sơn Tháp Trấn quốc ở chùa Khai nguyên Tháp Thích ca, chùa Phật Quốc, Hàn Quốcđông, ngôi tháp sắt ở chùa Cam lộ, huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô... 7. Tháp bằng đồng: Vua nước Ngô việt là Tiền hoằng thúc, ngưỡng mộ di phong tạo tháp của vua A dục, bắt đầu từ năm Hiển đức thứ 2 (955) đời Hậu Chu, ròng rã 10 năm, đúc tạo 84000 tòa tháp bằng đồng cao khoảng 20 cm, bên trong để kinh Bảo khiếp ấn tâm chú rồi ban tặng các nước, xa gần đều khen là đẹp, người đời gọi là tháp Tiền hoằng thúc. 8. Tháp bằng vàng: Ở Ấn độ đời xưa đã có phương pháp tạo lập tháp Phật bằng vàng, nhưng loại tháp này rất ít, vì nguyên liệu quá quí hiếm. 9. Tháp bằng bạc: Giống như tháp bằng vàng, tháp bạc cũng thuộc loại quí hiếm. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 8, một người Bà la môn ở thành Hoa thị, nước Ma yết đà, Trung ấn độ, từng tạo lập 1 tòa tháp bằng bạc trong nhà mình, cao khoảng 3 trượng, rộng 8 thước, trong tháp đặt 4 khám thờ, mỗi khám một pho tượng bằng bạc cao hơn 3 thước. 10. Tháp bằng thủy tinh: Như tòa tháp xá lợi bằng thủy tinh ở phường Thực tạng, huyện Bản bản của Nhật bản là tòa tháp nổi tiếng và được xem là quốc bảo của Nhật bản.11. Tháp bằngpha lê, bằng xà cừ, mã não, lưu li và tháp Đa bảo được trang nghiêm bằng các thứ quí báu nói trong phẩm Phương tiện và phẩm Bảo tháp trong kinh Pháp hoa. 12. Tháp bằng hương: Tức dùng các loại hương liệu nghiền thành bột rồi nhào lẫn với bùn, sau đó nặn thành những ngôi tháp nhỏ, cao từ 1 đến 20cm trở lên, trong tháp đặt kinh văn chép tay để cúng dường lễ bái, gọi là Pháp xá lợi. Theo Đại đường tây vực kí quyển 9 thì phong tục này đã thịnh hành ở Ấn Độ từ xưa. Nếu nói theo tính chất của việc tạo lập tháp thì phổ biến nhất là: 1. Tháp cầu phúc: Vì Phật giáo thường nói việc tạo lập tháp Phật sẽ được công đức phúc báo rất thù thắng, cho nên tín chúng phần nhiều góp phần vào việc tạo tháp là để cầu phúc báo. Người cầu phúc thường tùy tài lực của mình mà xây tháp bao nhiêu tầng, tối thiểu là 3 tầng, tối đa là 13 tầng. Nổi tiếng là các tháp Bảo thúc, tháp Lục hòa ở Hàng Châu, tháp sắc chùa Hựu quốc và tháp Niết bàn chùa Tướng quốc ở phủ Khai phong... 2. Tháp báo ân: Tạo lập tháp để báo đáp ơn của Phật, nên gọi là tháp Báo ân. Tháp Báo ân nổi tiếng nhất là tòa tháp trong chùa Báo ân phía ngoài cửa Trung Hoa tại Nam kinh, bắt đầu xây dựng vào năm Vĩnh lạc 11 (1413) đời vua Thành tổ nhà Minh đến năm Tuyên đức thứ 7 (1432), ròng rã 19 năm mới hoàn thành. Thân tháp cao khoảng hơn 100m, hình 8 góc, gồm 9 tầng, mỗi tầng đều có hành lang. Trên mặt ngoài tháp gắn gạch men trắng rất mịn, mỗi viên gạch có 1 tượng Phật, mái che mỗi tầng tháp lợp bằng ngói lưu li 5 màu, trên chóp tháp của tầng trên cùng đặt mũ báu bằng vàng ròng, nặng 2000 lạng. Mỗi góc tháp treo 1 quả chuông nhỏ có lưỡi gà, mỗi khi gió thổi thì các chuông khua leng keng, tựa hồ như tiếng từ tầng mây phát ra. Tim tháp có hình ba la, ở trên đặt quả cầu bằng vàng. Tháp Báo ân ở chùa Báo ân qui mô cực kì hoành vĩ, tráng lệ, bộ Đại Anh bách khoa toàn thư cũng miêu tả rất rõ về tòa tháp này. 3. Tháp Pháp thân: Tháp được tạo dựng để thờ xá lợi của pháp thân. Như đã nói ở trên, Ấn độ từ xưa đã tạo lập tháp hương, bên trong để văn kinh chép tay hoặc kệ Pháp thân, vì thế nên gọi tháp Pháp thân. Chữ (vaô) của tiếng Phạm trong Mật giáo là chủng tử của pháp giới, hình ngoài củachữnày giống nhưngôi tháp tròn, cho nên cũng gọi là tháp Pháp thân. 4. Tháp thọ: Tức bia mộ được tạo dựng trước lúc còn sống. Ngoài ra, khu đất được chọn lựa để dự định xây tháp, gọi là Tháp sự.Nếu phân biệt về vị trí tháp được sắp xếp thì đại khái chia ra: 1. Tháp đứng một mình: Tức tháp đơn thuần độc lập, là kiểu thápphổ biến nhất. 2. Tháp đứng đối diện nhau: Như 2 tòa tháp Đại nhạn và Tiểu nhạn ở huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây đứng trông nhau. 3. Tháp đứng theo hàng thẳng: Như 3 tòa tháp ở chùa Trà thiền, huyện Gia hòa, tỉnh Chiết giang, được xây dựng vào cuối đời Đường, đã nhiều lần bị đổ nát, năm Quang tự thứ 2 (1876) được làm lại. 4. Tháp đứng theo hình vuông: Như 4 tòa tháp ở 4 cửa tại huyện Thẩm dương, tỉnh Liêu ninh, gọi là Thẩm Dương Tứ Tháp. Đó là: Tháp Bắc của chùa Pháp luân phía ngoài cửa Địa tạng, tháp Nam của chùa Quảng từ ở phía ngoài cửa Đức thịnh, tháp Tây của chùa Diên thọ ở phía ngoài cửa Ngoại nhương và tháp Đông của chùa Vĩnh quang ở phía ngoài cửa Phủ cận.5. Tháp đứng theo hình tròn: Như 5 ngôi tháp của chùa Ngũ tháp ở phía ngoài cửa Tây trực thành phố Bắc bình. Chùa Ngũ tháp vốn có tên là chùa Chân giác, phía sau chùa có 1 đài tòa Kim cương bảo bằng phẳng hình vuông, trên có 5 ngôi tháp nhỏ đứng theo hình vòng tròn, trong mỗi tháp an vị 1 tôn tượng Như lai bằng vàng. 6. Kiểu tháp đứng chia cách: Như 7 ngôi tháp của viện Kim cương bảo tháp ở núi Tây sơn, Bắc bình, đứng theo hàng lối của những quân cờ, 7 tháp đều do những tảng đá ngọc xếp lên mà thành. Ngôi tháp ở chính giữa hình vuông gồm 13 tầng là tháp lớn nhất; ở 4 góc mỗi góc dựng 1 tháp, lớn vừa; 2 ngôi tháp ở mặt trước là các tháp hình tròn, hơi nhỏ. Tháp là phần quan trọng nhất trong kiến trúc chùa viện, cho nên tại Ấn độ từ xưa, đối với việc phối trí tháp đã có qui chế nhất định. Như luật Ma ha tăng kì quyển 33 ghi rằng: Trong 1 già lam, tháp không được xây dựng ở phía nam hoặc phía tây, mà phải đặt ở phía đông hoặc phía bắc; nhưng phòng tăng thì ngược lại, phải cất ở phía nam hoặc phía tây. Trong các tượng chư tôn của Mật giáo, có nhiều vị dùng tháp làm hình Tam muội da (Gọi tắt: Tam hình) hoặc làm vật cầm tay, như Đại nhật Như lai và Đa văn thiên. Năm ngôi tháp của chùa Ngũ tháp của Kim cương giới lấy bảo tháp làm hình Tam muội da; còn Đại nhật Như lai của Thai tạng giới thì lấy tháp Ngũ luân làm hình Tam muội da. Lại vì Mật giáo cho rằng Đại nhật Như lai biểu thị cho pháp giới thể tính trí, cho nên Tam hình tháp của Ngài cũng gọi là Pháp giới pháp. Ngoài ra, vật cầm tay trong tay thứ 30 của bồ tát Di lặc và vật cầm tay của trời Đa văn đều là tháp báu; cũng có khi trên mũ báu của bồ tát Di lặc có đặt tháp Ngũ luân. Các kinh điển cũng như các giáo thuyết xưa nay đều cho rằng việc tạo lập tháp có công đức rất lớn, như kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói xây tháp tạo tượng là nhân hạnh vãng sinh Tịnh độ. Còn kinh Thí dụ thì nêu 10 quả báo thù thắng của việc lập tháp như sau: 1. Không sinh vào nơi biên quốc. 2. Không bị nghèo khó, khốn khổ. 3. Không bị thân phận ngu si, tà kiến. 4. Có thể làm vua 16 nước lớn. 5. Thọ mệnh lâu dài. 6. Có sức mạnh như Kim cương na la diên.7. Được phúc đức rộng lớn không ai sánh bằng. 8. Được chư Phật, Bồ tát rủ lòng thương xót.9. Có đầy đủ 3 minh, 6 thông và 8 Giải thoát. 10. Được sinh về Tịnh độ trong 10 phương. Ngoài ra, kinh Tạo tháp công đức và kinh Tạo thápdiên mệnhcũngnêu các công đức như: Sống lâu, sinh lên cõi trời, diệt trừ 5 tội Vô gián, thành Phật... Kinh Hữu nhiễu Phật tháp công đức thì cho rằng đi vòng quanh tháp xa lìa được 8 nạn, đầy đủ sắc tướng vi diệu, được của báu, phúc đức, cho đến được làm thầy trời, người... Kinh Đề vị cũng nêu rõ nhiễu tháp có 5 công đức như sau: 1. Đời sau được thân tướng đoan chính, đẹp đẽ. 2. Được tiếng nói dịu dàng, trong trẻo. 3. Được sinh lên cõi trời. 4. Được sinh vào nhà vương hầu. 5. Được đạo Nê hoàn. Nhưng đi vòng quanh tháp cũng có 1 hình thức nhất định, như phải đi theo chiều bên phải làm chuẩn, khi đi quanh tháp phải cúi đầu nhìn xuống để tránh dẵm lên các côn trùng bò trên mặt đất, không được liếc nhìn 2 bên, không được khạc nhổ trước tháp, không được dừng lại giữa đường nói chuyện với người khác. Ngoài ra, không chỉ giới hạn ở việc xây tháp, đi quanh tháp mà làm các việc như tu sửa tháp, quét tước tháp, lễ bái tháp... cũng đều được công đức rấtlớn. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; kinh Tăng nhất a hàm Q.19; kinh Khởi thế Q.2; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.1; Phật sở hành tán Q.5; kinh Bát đại linh tháp danh hiệu; luật Tứ phần Q.52; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.8; Du già luận kí Q.21; Đại đường tây vực kí Q.2; Lương cao tăng truyện Q.1; Thích ca phương chí; Quảng hoằng minh tập Q.15, 17; Lạc dương già lam kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.7; Nhật bản thư kỉ Q.20; Phù tang lược kí Q.30; History of Indian and Eastern Architecture, vol. I, II, by J. Fergusson; A History of Fine Art in India and Ceylon, by V.A. Smith]. (xt. Tháp Đầu).
tháp chuông
Bell tower.
tháp loan
(塔鑾) Dhàtu Luang. Tên tháp, nằm về phía Bắc thành phố Viên chăn, nước Lào, là ngôi Đại tháp xá lợi do vua Sethathirath xây dựng trên nền 1 ngôi tháp nhỏ cũ vào năm 1566. Tháp tọa lạc trên khu đấtrộngmấy trăm mẫu, có hình vuông, chia làm 3 tầng, trên 1 cái nền cũng hình vuông bằng phẳng, tầng đáy 4 mặt có lối đi vòng quanh, từ đông sang tây rộng 60m, từ nam đến bắc rộng 58m. Ở chính giữa của mỗi bên có cửa ra vào, phía ngoài cửa ra vào ở 4 mặt đều có xây Lễ đình, 4 chung quanh tầng thứ 2 có 30 ngôi tháp nhỏ hình vuông; chính giữa tầng thứ 3 là 1 ngôi tháp lớn cao nhọn hình vuông, phần dưới có hình cánh hoa sen, phần giữa có cây cột đàn hình vuông 3 bậc, phần trên giống như cái bình vuông nhô lên cao nhọn dần, tiếp giáp đỉnh tháp dài nhọn. Phần trên của tháp lớn được dát vàng thếp, trông xa như vàng ngọc sáng chói, hoa lệ trang nghiêm, là kiến trúc vĩ đại nhất qua các đời của nước Lào, có phong cách đặc biệt, khác với tháp Phật hình tròn truyền thống của vùng Đông nam á. Trong tháp lớn thờ xương xá lợi của Phật, có chỗ nói thờ tóc của Phật. Năm 1873, tháp bị tổn hại bởi bị bọn cướp Dung nô (Yunnan), trải qua mấy lần sửa chữa, đến năm 1930 mới phục hồi được cảnh quan cũ. Tín đồ Phật giáo nước Lào coi tòa tháp này là biểu tượng thanh khiết của Phật. Hằng năm vào trung tuần tháng 11, tín đồ Phật giáo trên toàn nước Lào vân tập về đây cử hành lễ hội rất long trọng. [X. Nam truyền Phật giáo sử (Tịnh hải)].
Tháp miếu
塔廟; C: tǎmiào; J: tōbyō; |Chùa và miếu, Tháp.
tháp miếu
Pagodas and temples.
Tháp miếu 塔廟
[ja] トウビョウ tōbyō ||| Pagodas and temples. => Chùa và miếu.
tháp nhĩ tự
(塔爾寺) Tạng: Sku#bum. Cũng gọi Kim ngõa tự, Tháp nhi tự. Chùa trên núi Tháp sơn, vùng ngoại ô ở Tây ninh, tỉnh Thanh hải. Đây là nơi giáng sinh của Đại sư Tông khách ba – Tổ sư khai sáng Hoàng giáo, cũng là trung tâm tông giáo của vùng Mông Tạng hiện nay. Chùa được bắt đầu xây dựng vào năm Gia tĩnh thứ 19 (1560) đời Minh, là 1 trong 6 ngôi tự viện lớn của Hoàng giáo (5 chùa kia là chùa Sắc lạp, chùa Triết bạng, chùa Trát thập luân bố, chùa Cam đan ở Tây tạng và chùa Lạp bốc lăng ở tỉnh Cam túc, Trung quốc). Phía trước chùa có 1 gốc cây chiên đàn, theo truyền thuyết, cây này mọc lên từ chỗ chôn cái nhau của ngài Tông khách ba sau khi ngài sinh ra, trên các lá của cây này hiện lên vô số tượng Phật. Từ Sku#bum (10 vạn thể, ý nói 10 vạn tượng Phật) chính là từ đây mà ra. Kiến trúc toàn chùa dựa theo thế núi, dần dần lên cao, có hơn 1000 viện lớn nhỏ, hơn 4500 tăng phòng, dung chứa được mấy nghìn người, giống như một đô thị tông giáo, trung tâm trong đó là Đại kinh đường, Đại kim ngõa tự và Tiểu kim ngõa tự. Đại kinh đường là cơ quan quyền lực cao nhất của tổ chức tông giáo mà chùa Tháp nhĩ, là kiến trúc nóc bằng theo kiểu Tây tạng, chiếm diện tích 1981m2, được xây dựng vào năm Vạn lịch 34 (1606) đời Minh, sau nhiều lần được mở rộng thêm, đến năm Dân quốc thứ 2 (1913), chùa bị phá hủy và năm Dân quốc thứ 6 (1917) được xây dựng lại. Trong Đại kinh đường có 108 cây cột lớn, phần đầu các cột có điêu khắc các hình vẽ rất đẹp, 4 vách có treo tượng Phật, các bức vẽ sự tích Phật giáo, các bức vẽ sinh hoạt tông giáo đều rất sinh động. Trong Kinh đường có thể dung chứa 3000 người tụng kinh, tại đây có 1 tòa tháp đúc bằng vàng ròng, cao khoảng 6, 7 mét, bên trong an trí tro xương của ngài Tông khách ba. Bốn vách có giá để kinh, khám thờ Phật... Dưới Đại kinh đường, thiết lập 4 Đại trát thương(học viện) là: 1. Tham ni trát thương(Học viện của Hiển tông): Thuộc bộ môn nghiên cứu giáo nghĩa của Hiển tông được thành lập sớm nhất và có qui mô lớn nhất, đồng thời nghiên cứu Nội minh. 2. Cư ba trát thương(Học viện của Mật tông): Thuộc bộ môn nghiên cứu giáo nghĩa của Mật tông, đồng thời nghiên cứu Nhân minh. 3. Đinh khoa trát thương(Học viện của Thời luân): Thuộc bộ môn nghiên cứu thiên văn, lịch pháp, bói toán... 4. Mạn ba trát thương (Viện Y học): Thuộc bộ môn nghiên cứu y dược trị bệnh. Đại kinh đường là Kinh đường của Tham ni trát thương, cũng là đại lễ đường để toàn thể Lạt ma của 4 Trát thương nhóm họp tụng kinh. Đại kim ngõa là phần tinh hoa của chùa Tháp nhĩ, chỗ tinh hoa nhất là chính điện, bên ngoài được gắn bằng gạch sứ màu xanh biếc rất mịn. Trên tường có nhấn vô số trân châu, mã não, vàng bạc, đá quí, ngọc biếc, ánh sáng tỏa ra 4 phía. Chính điện thờ tượng ngài Tông khách ba, trong điện treo vô số đèn dầu nhỏ, dây tơ rủ xuống, như những chùm sao lấp lánh; trước tượng treo 2 ngọn đèn lớn được xỏ toàn bằng trân châu, thắp bằng dầu tô, không bao giờ tắt, ánh vàng rực rỡ, làn khói hương uốn quanh, là nơi thiêng liêng nhất của chùa Tháp nhĩ. Phía sau Đại điện có tủ xếp kinh, bên trong tàng trữ Cam châu nhĩ và Đan châu nhĩ, là kinh điển chủ yếu của Hoàng giáo. Kinh điển vốn được cất giữ ở Tây tạng, sau mới được dời đến đây, là của báu của chùa này. Trên nóc Đại kim ngõa tự lợp toàn bằng ngói vàng, phía trên có mấy mươi cột kinh cao từ 1 đến 2m, được làm toàn bằng vàng, số lượng vàng tính chung có tới 100.000 lượng trở lên, có hình cái bình, hình tháp, hình lọng... đúc rất tinh khéo, đẹp đẽ, dưới những tia ánh sáng mặt trời, vàng ngọc ánh lên chiếu soi muôn trượng, thật đáng gọi là Thánh địa của Phật giáo, kho báu của Thanh hải. Tiểu kim ngõa tự cũng gọi là điện Đại hộ pháp, được xây dựng vào năm Sùng trinh thứ 4 (1631) đời Minh, là hình ảnh thu nhỏ của Đại kim ngõa tự, nhưng phong cách thì khác với Đại kim ngõa tự. Trước chùa có 8 tòa tháp đứng sừng sững. Vào thời Hoàng đế Ung chính nhà Thanh, Niên canh nghiêu dẹp yên được loạn La bốc tạng đan tân, vì chúng tăng trong chùa cũng tham gia cuộc phản loạn, cho nên Niên canh nghiêu định giết hết, nhưng nhờ có Trấn hải bảo thiên tổng cầu xin, nên Niên canh nghiêu chỉ giết 8 vị Lạt ma lớn chủ chốt trong việc này, sau chia ra chôn ở 8 chỗ trong nội tự của chùa, xây 8 tòa tháp trắng để an trí di hài của 8 vị. Sự cấu trúc của Tiểu kim ngõa giống như tòa tháp Lạt ma phóng lớn, ngói lợp cũng bằng đồng có mạ vàng, ánh sáng chói lọi, phản ánh lẫn với ánh sáng của Đại kim ngõa tự. Các tượng thần thờ trong chùa phần nhiều lộ vẻ phẫn nộ, biểu trưng dáng uy nghiêm của thần Hộ pháp, trên các cột đều được quấn bằng nguyên tấm da hổ, ở phía sau điện thì cất giữ những mặt nạ bằng gỗ đầy vẻ hung ác, là những vật dùng để diễn tuồng xua đuổi tà thần, ác quỉ. Do sự sùng kính của người Tây tạng đối với ngài Tông khách ba nên chùa này trở thành thánh địa bất khả xâm phạm trong ý nghĩ của các thiện nam tín nữ thuộc 2 dân tộc Tây tạng và Mông cổ, giống như Thánh địa Jerusalem của Gia tô giáo và Hồi giáo. Tín đồ Lạt ma giáo phần lớn đều phát nguyện trong một đời ít ra cũng phải đến chùa này chiêm ngưỡng lễ bái một lần. Ở bậc thềm trước chùa có lót những tấm gỗ thông dày dùng để quì lạy. Hằng năm vào ngày rằm tháng giêng theo lịch Tây tạng, chùa có tổ chức Đại hội thắp đèn, triển lãm hoa tô du, rất đông người tham dự. [X. The Buddhism of Tibet or Lamaism, 1895; Dao Kloster Kumbam in Tibet, 1906, by Filchner; Mông tạng Phật giáo sử của Diệu chu].
tháp sám pháp
(塔懺法) Pháp sám hốitháp được thực hành theo kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo. Vào đời Tùy, có 1 thời gian pháp sám này bị cấm không được cử hành. Tục cao tăng truyện quyển 2 (Đại 50, 435 hạ) nói: Vào đầu năm Khai hoàng 13, ở Quảng châu có vị tăng cử hành Tháp sám pháp, dùng 2 miếng da viết 2 chữ Thiện, Ác, rồi bảo người gieo quẻ, nếu được chữ Thiện thì tốt, còn thực hành Tự phác sám pháp(tự đánh mình) để diệt tội, nhưng nam nữ lộn xộn, nói càn là làm theo hạnh bí mật. Các cư sĩ ở Thanh châu hưởng ứng cùng nhau thực hành, bị quan ti kiểm tra, cho là yêu dị. Họ nói: Tháp sám pháp này y cứ vào kinh Chiêm sát; còn Tự phác sám pháp thì theo các kinh dạy 5 vóc gieo sát đất, như núi lớn sụp đổ. Bấy giờ, quan ti tâu lên vua, vua sai quan Nội sử thị lang là Lí nguyên tháo đến chùa Đại hưng thiện hỏi các vị Đại đức. Có các sa môn Pháp kinh, Ngạn tông... trả lời rằng: Kinh Chiêm sát thấy có 2 quyển, ở đầu quyển có ghi do ngài Bồ đề đăng dịch ở nước ngoài, lời văn giống như văn cận đại, trong các tạng cũng có chép và lưu truyền; tra xét trong các bộ mục lục kinh đều không thấy chính danh và tên người dịch, dịch vào lúc nào và dịch ở đâu... Tháp sám lại khác với các kinh, cho nên Chùa Tiểu Kim Ngõa nằm trong phạm vi chùa Tháp nhĩ.Một trong những tượng làm bằng tô du ở chùa Tháp nhĩkhông thể thực hành theo. Nghe vậy, vua vua liền ban lệnh cấm chỉ.[X. Tam quốc di sự Q.3, 4].
tháp sử
ThŪpavaṃsa (S) Do Tỳ kheo Vacissara người Tích Lan, thế kỳ 13, biên soạn.
; (塔史) Pàli: Thùpavaôsa. Tác phẩm ở ngoài các kinh điển của Phật giáo Thượng tọa bộ phương Nam, do vị tỉ khưu tên là Vàcissara người Tích lan soạn vào thế kỉ XIII. Nội dung sách này chủ yếu nói về cuộc đời đức Phật Thích ca mâu ni và về việc phân chia xá lợi sau khi Ngài nhập diệt; ngoài ra cũng thu chép lịch sử tòa đại tháp ở Anuràdhapura.
tháp thờ xá lợi
Cetiya (P), Caitya (S), Stupa Thánh điện.
tháp tự kiên cố
(塔寺堅固) Thời kì chùa tháp được xây dựng một cách kiên cố, 1 trong 5 lần 500 năm, 1 trong 5 cái kiên cố. Chỉ cho 500 năm lần thứ 4 sau khi đức Phật nhập diệt, là thời kì tạo lập chùa tháp kiên cố, tức thuộc thời kì mạt pháp. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 55. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).
tháp viên
ThŪparama (S).
tháp viện tự
(塔院寺) Cũng gọi Đại bảo tháp viện tự. Chùa nằm về phía nam chùa Hiển thông trên núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây. Núi Ngũ đài là Thánh địa của Phật giáo Trung quốc, chùa Phật và những di tích cổ ở núi này thực không thể kể hết, nhưng trong 5 ngọn (Ngũ đài) của toàn núi thì chỉ có chùa này là có tháp thờ xá lợi Phật và tháp thờ tóc bồ tát Văn thù do vua A dục thiết trí, do đó mà nổi tiếng. Vào năm Vĩnh lạc thứ 5 (1407) đời Minh, vua Thành tổ ban sắc sai quan Thái giám Dương thăng trùng tu đại tháp và bắt đầu làm chùa. Năm Vạn lịch thứ 6 (1578), Thái hậu hạ lệnh cho Trung tướng Phạm giang, Lí hữu xây dựng lại, cảnh chùa nguy nga tráng lệ, đứng đầu Ngũ đài. Xá lợi tháp cũng gọi là Bạch tháp, cao hơn 86m, hình thái kiến trúc đặc biệt khác lạ.
tháp đầu
(塔頭) Chỉ cho chỗ xây tháp của vị Tổ sư khai sơn trong Thiền tông. Khi vị cao tăng thị tịch, vì quí mến đức hạnh của thầy, không nỡ xa tháp, nên các đệ tử trụ trong một căn nhà nhỏ mới được dựng lên ở bên cạnh, gọi là Tháp đầu chi viện. Đến đời sau, nhất là ở Nhật Bản, những chùa viện chi nhánh trực thuộc chùa gốc hoặc chùa viện nằm trong khuôn viên của chùa gốc, cũng gọi là Tháp đầu. [X. điều Động sơn Lương giới trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; môn Khu giới trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tháp ấn
(塔印) Cũng gọi Suất đô ba ấn. Ấn biểu thị cho tháp là ấn khế của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương bộ, Thai tạng bộ trong Mật giáo và của Bản tôn Thích ca Như lai trong kinh Pháp hoa. Tháp ấn có 3 loại: Lí tháp, Trí tháp và Tâm tháp. Vô sở bất chí ấn là Phật bộ tháp ấn biểu thị cho Lí tháp được thành hình bằng một chữ của Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới. Ngoại ngũ cổ ấn là Kim cương bộ tháp ấn biểu thị cho Trí tháp được hình thành bằng 5 chữ của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới. Pháp hoa ấn thuộc Tâm tháp của đức Tì lô giá na là Liên hoa bộ tháp ấn, biểu thị cho hoa sen chưa nở của Bản tôn Thích ca mâu ni Như lai trong kinh Pháp hoa. Vì 3 ấn này được phối hợp với 3 bộ nên gọi là Tam bộ tháp ấn. Trong đó, Vô sở bất chí ấn là biểu thị cho các ấn khế lục đại, tứ mạn và tam mật, được chia làm 2 là Khai tháp ấn(ấn mở tháp) và Bế tháp ấn(ấn đóng tháp). Cách kết Khai tháp ấn là: Hai tay chắp, để rỗng ở giữa, đầu 2 ngón trỏ châu vào nhau, 2 ngón cái mở ra, bấm vào 2 đốt trên của 2 ngón trỏ; cách kết Bế tháp ấn thì cũng chắp 2 tay, để rỗng ở giữa, đầu 2 ngón trỏ châu vào nhau, đầu 2 ngón cái sáp vào nhau và đặt ở đầu của 2 ngón trỏ. Ngoại ngũ cổ ấn biểu thị cho ấn khế của Ngũ trí ngũ Phật, 2 ngón giữa dựng thẳng chấm đầu vào nhau, 2 ngón trỏ co lại như hình lưỡi câu, đặt bên cạnh 2 ngón giữa, 2 ngón út dính liền và dựng đứng, 2 ngón cái như chày kim cương 5 chĩa. Pháp hoa ấn là ấn khế biểu thị Kim, Thai bất nhị, có 2 loại ấn tướng. Ấn tướng thứ nhất là trước kết ấn Vô sở bất chí, sau là hơi đưa 2 ngón cái vào trong lòng 2 bàn tay. Ấn tướng thứ hai giống với Khai tháp ấn của Vô sở bất chí ấn, tức giống với Đại nhật Như lai kiếm nói trong Thánh Quán tự tại bồ tát tâm chân ngôn Du già quán hành nghi quĩ. [X. Ấn quyết sao Q.3 (Thuần du); Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì kinh tu hành pháp Q.2 (An nhiên); Tổng trì sao Q.7]. (xt. Ngũ Cổ Ấn, Vô Sở Bất Chí Ấn). THÁP CHỦ Chỉ cho chức vụ coi việc phụng thờ tượng gỗ, tượng vẽ, phần mộ các Tổ sư trong Thiền lâm. Tức là vị tăng giữ gìn tháp trong chùa viện Thiền tông, hoặc điều khiển nhữngngườicoi giữ tháp. (xt. Tháp Đầu).
Tháp 塔
[ja] トウ tō ||| (1) A stūpa, i.e., a mound where the remains of a great sage are buried. (2) A temple. => Ngôi tháp, là một gò đất nơi hài cốt của bậc đại hiền nhân được chôn cất.
Thát Đát
(韃靼, Dattan): tên của một bộ tộc ngày xưa, còn gọi là Tháp Tháp Nhĩ (塔塔爾), được tìm thấy sớm nhất trong các ký lục dưới thời nhà Đường. Sau khi Thành Cát Tư Hãn (成吉思汗) chinh phục bộ tộc Tháp Tháp Nhĩ, Thát Đát trở thành tên gọi của chung của các bộ tộc Mông Cổ. Dưới thời nhà Minh, Thát Đát là tên gọi các bộ tộc hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn ở miền Đông; phía Đông có bộ tộc Ngột Lương Cáp (兀良哈), phía Tây tiếp giáp với bộ tộc Ngõa Lạt (瓦剌). Đức vua lớn lên gọi là Khả Hãn (可汗); có các quan Tri Viện (知院), Thừa Tướng (丞相), v.v. Trung tâm hoạt động đầu tiên của bộ tộc Thát Đát là Hòa Lâm (和林, tức là Cáp Nhĩ Hòa Lâm [哈爾和林] của nước Mông Cổ ngày nay). Vào năm thứ 8 (1410) niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂), vua Thành Tổ (成祖, tại vị 1402~1424) thân chinh lên vùng sa mạc phía Bắc, quân thần của nhà vua bèn phân tán ra hoạt động ở các địa khu rộng lớn như Liêu Đông (遼東), Tuyên Phủ (宣府), Cam Túc (甘肅). Từ sau niên hiệu Thiên Thuận (天順, 1457-1464) nhà Minh, bộ tộc này dần dần vào địa khu Hà Sáo (河套). Dưới thời Gia Tĩnh (嘉靖, 1522-1566) nhà Minh, bộ tộc Yêm Đáp (俺答) cường thịnh, nên vào năm thứ 29 (1550) cùng niên hiệu trên, bộ tộc này đã từng vây khốn kinh đô. Tuy nhiên, thủ lãnh của họ là A Lỗ Đài (阿魯台), Yêm Đáp Hãn (俺答汗), v.v., đã từng được nhà Minh phong hiệu, và dâng cống phẩm. Ngoài ra, những người dân Thổ Nhĩ Kỳ cư trú ở một phần phía Nam nước Nga, nguyên xưa kia cũng có nguồn gốc quan hệ với người Mông Cổ; cho nên đây cũng là từ dùng để gọi dân Thổ Nhĩ Kỳ.
Thâm
深; C: shēn; J: shin;|Sâu sắc, uyên thâm, không dò được- đặc biệt đề cập đền giáo pháp.
thâm
1) Đen: Black. 2) Sâu: Deep—Profound.
thâm bát nhã
(深般若) Cũng gọi Thậm thâm bát nhã, Thực tướng bát nhã. Chỉ cho lí của chân như sâu xa, mầu nhiệm. Tức giáo pháp của chư Phật là pháp vi diệu tối tôn, tối thượng mà cả trong lẫn ngoài ba nghìn thế giới đều không có gì sánh được, cho nên gọi là Thâm bát nhã.
thâm bí
Sâu sắc, bí ẩn, huyền diệu, trái với nông cạn—Deep—Profound—Abstrue, in contrast with “shallow.”
thâm bí a xà lê
1) Tên gọi Đức Đại Nhật Như Lai: Name of the Vairocana. 2) Những vị sư đã được thụ pháp quán đỉnh ở Đức Đại Nhật Như Lai: Bhiksus who have already received the initiation ceremony from Vairocana (esoterics).
; (深秘阿闍梨) Đối lại: Hiển lược a xà lê. Cũng gọi Thâm bí sư. Chỉ cho đức Đại nhật Như lai, hoặc chỉ cho người được Đại nhật Như lai thụ quán đính cho. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 3, vì bản nguyện nên đức Phật Tì lô giá na trụ ở thế giới gia trì, phổ hiện Mạn đồ la bi sinh, gọi là Thâm bí a xà lê. Cũng Đại nhật kinh sớ quyển 15 thì cho rằng người được Phật quán đính cho thì gọi là Thâm bí a xà lê, còn người do bậc thầy thế gian trao cho quán đính thì gọi là Hiển lược a xà lê. Ngoài ra, theo Đại nhật kinh sớ diễn áo sao quyển 2, Hiển lược a xà lê và Thâm bí a xà lê có 3 nghĩa: 1. A xà lê của đàn truyền pháp quán đính sự nghiệp (Tam muội da thứ 4) là Hiển lược a xà lê; A xà lê của đàn tịch nhiên bí mật trở lên (Tam muội da thứ 5) là Thâm bí a xà lê. 2. A xà lê sự nghiệp đến A xà lê Tì lô giá na cứu cánh đều có đủ cả 2 nghĩa thâm bí và hiển lược. 3. A xà lê thấ đế lí từ Sơ địa trở lên là Thâm bí a xà lê; còn A xà lê Địa tiền lục vô úy chưa thấy đế lí là Hiển lược a xà lê.[X. phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5].
thâm canh
Late into the night.
thâm diệu
See Thâm Bí.
thâm huyền
1) Màu đen đậm: Deep black—Dark. 2) Sâu sắc: Deep—Abstrue.
thâm hành
Hành nghiệp thâm mật từ bậc sơ địa Bồ Tát trở lên—Deep or deepening progress, that above the initial bodhisattva stage.
thâm hành a xà lê
A xà lê từ bậc sơ địa Bồ Tát trở lên—Acarya who has attained stages above the initial bodhisattva stage.
; (深行阿闍梨) Đối lại: Thiển hành a xà lê. Thâm hành là sự nghiệp tu hành sâu xa, bí mật, tức sự nghiệp tu hành từ Sơ địa trở lên. Có 2 nghĩa rộng và hẹp: Nói theo nghĩa hẹp, A xà lê từ Sơ địa trở lên đã chứng ngộ chân lí 4 đế, đồng địa vị với Đại nhật Như lai, gọi là Thâm hành a xà lê; còn nói theo nghĩa rộng thì Thâm hành a xà lê từ Đệ nhị vô úy trở lên, cũng gọi Xuất thế gian thâm hành a xà lê. Cứ theo Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 5, nếu người có trí nghiệp viên mãn đồng với Tì lô giá na –trí tức là quán xét tự thân là thân nghiệp của Đại nhật, tức quán tự thân đồng với Tát đỏa – nếu người được như thế thì gọi là Thâm hành a xà lê. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.2]. (xt. Thập Trùng Thâm Hành).
thâm khang
Hố sâu—A deep or fathomless pit.
thâm khanh
(深坑) Vốn chỉchocái hố sâu tối tăm, kín mít. Trong Phật giáo, từ ngữ Thâm khanh được sử dụng để dụ cho hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác chứng niết bàn và những người đã hủy hoại căn lành, hệt như người rơi xuống hố sâu, mãi mãi không có cách nào thoát ra được. Theo kinh Hoa nghiêm quyển 50-52 (bản 80 quyển) thì trí tuệ của Như lai như một cây đại dược thụ vương (cây vua thuốc lớn), có khả năng mang lại lợi ích cho tất cả hữu tình, nhưng đối với hàng Nhị thừa và những chúng sinh đã hủy hoại thiện căn thì không giúp được gì.
Thâm khí
(深器): biết rõ là bậc pháp khí, hiểu rõ là người xuất chúng. Như trong Tục Đăng Tồn Cảo (續燈存稿, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1585) quyển 11 có đoạn rằng: “Tây Kinh Bảo Ứng Nguyệt Nham Vĩnh Đạt Thiền Sư, Phần Châu Lưu thị tử, thọ nghiệp ư lí chi Thiên Ninh, mỗi dĩ sanh tử vi khích lệ; vãng kiến Linh Nham, Nham thâm khí chi (西京寶應月岩永達禪師、汾州劉氏子、受業於里之天寧、每以生死爲激勵、往見靈巖、巖深器之, Thiền Sư Nguyệt Nham Vĩnh Đạt ở Bảo Ứng, Tây Kinh, là con nhà họ Lưu ở Phần Châu, thọ giáo với Thiên Ninh ở quê nhà, thường lấy việc sống chết để khích lệ mình; Thiền Sư đến gặp Linh Nham, Ngài biết đây là người xuất chúng).” Hay như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 5 có đoạn viết về Thiền Sư Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思, ?-740): “Tổ thâm khí chi, hội hạ học đồ tuy chúng, sư cư thủ yên (祖深器之、會下學徒雖眾、師居首焉, Tổ biết là bậc pháp khí, trong chúng đệ tử tuy đông, nhưng Thiền Sư vẫn là người đứng đầu).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 81, No. 1571) quyển 20 cũng có đoạn ghi lại hành trạng của Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽, 904-975) như sau: “Tầm trú Thiên Thai Sơn Thiên Trụ Phong, cửu tuần tập định, hữu ô loại xích yến, sào ư y triệp trung, kị yết Thiều Quốc Sư, nhất kiến nhi thâm khí chi, mật thọ nguyên chỉ (尋往天台山天柱峰、九旬習定、有烏類斥鷃、巢於衣襵中、暨謁韶國師、一見而深器之、密授元旨, Thiền Sư tìm đến trú tại đỉnh núi Thiên Trụ, Thiên Thai Sơn, tu Thiền định trong chin tuần; có loài chim sẻ đen như quạ, làm tổ trong chéo áo Thiền Sư; sau Thiền Sư đến tham yết Thiều Quốc Sư, chỉ mới gặp mà Quốc Sư đã biết là bậc xuất chúng, bèn bí mật truyền trao cho huyền chỉ).”
; (深器): biết rõ là bậc pháp khí, hiểu rõ là người xuất chúng. Như trong Tục Đăng Tồn Cảo (續燈存稿, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1585) quyển 11 có đoạn rằng: “Tây Kinh Bảo Ứng Nguyệt Nham Vĩnh Đạt Thiền Sư, Phần Châu Lưu thị tử, thọ nghiệp ư lí chi Thiên Ninh, mỗi dĩ sanh tử vi khích lệ; vãng kiến Linh Nham, Nham thâm khí chi (西京寶應月岩永達禪師、汾州劉氏子、受業於里之天寧、每以生死爲激勵、往見靈巖、巖深器之, Thiền Sư Nguyệt Nham Vĩnh Đạt ở Bảo Ứng, Tây Kinh, là con nhà họ Lưu ở Phần Châu, thọ giáo với Thiên Ninh ở quê nhà, thường lấy việc sống chết để khích lệ mình; Thiền Sư đến gặp Linh Nham, Ngài biết đây là người xuất chúng).” Hay như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 5 có đoạn viết về Thiền Sư Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思, ?-740): “Tổ thâm khí chi, hội hạ học đồ tuy chúng, sư cư thủ yên (祖深器之、會下學徒雖眾、師居首焉, Tổ biết là bậc pháp khí, trong chúng đệ tử tuy đông, nhưng Thiền Sư vẫn là người đứng đầu).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 81, No. 1571) quyển 20 cũng có đoạn ghi lại hành trạng của Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽, 904-975) như sau: “Tầm trú Thiên Thai Sơn Thiên Trụ Phong, cửu tuần tập định, hữu ô loại xích yến, sào ư y triệp trung, kị yết Thiều Quốc Sư, nhất kiến nhi thâm khí chi, mật thọ nguyên chỉ (尋往天台山天柱峰、九旬習定、有烏類斥鷃、巢於衣襵中、暨謁韶國師、一見而深器之、密授元旨, Thiền Sư tìm đến trú tại đỉnh núi Thiên Trụ, Thiên Thai Sơn, tu Thiền định trong chín tuần; có loài chim sẻ đen như quạ, làm tổ trong chéo áo Thiền Sư; sau Thiền Sư đến tham yết Thiều Quốc Sư, chỉ mới gặp mà Quốc Sư đã biết là bậc xuất chúng, bèn bí mật truyền trao cho huyền chỉ).”
thâm kinh
Thâm Tạng—Gọi chung các kinh điển Đại Thừa, thuyết giảng về sự thậm thâm của chánh pháp—Profound sutras, or texts, those of Mahayana.
; (深經) Đồng nghĩa: Thâm tạng. Từ ngữ gọi chung các kinh điển Đại thừa. Những kinh điển này giảng nói về lí sâu xa của thực tướng các pháp nên gọi là Thâm kinh. Phẩm Pháp cúng dường kinh Duy ma (Đại 14, 556 trung) nói: Những kinh sâu xa (Thâm kinh) do chư Phật nói. [X. An lạc tập Q.thượng].
thâm lý
Nguyên lý thậm thâm—Profound principle, law or truth.
thâm lệ
(深勵) Vị tăng thuộc Tịnh độ chân tông của Nhật bản, Giảng sư phái Đại cốc, tự là Tử úc, hiệu Qui châu, hiệu khác là Thùy thiên xã. Sư sinh ở chùa Đại hạnh tại Dưỡng phố thuộc quận Bản tỉnh, Việt tiền vào năm Khoan diên thứ 2 (1749). Sư bẩm tính thông minh, được ngài Thọ thiên trụ ở chùa Vĩnh lâm thuộc đinh Kim tân thu nhận làm đệ tử nối pháp. Sau, sư đến tham học các ngài Tuệ lâm, Tùy tuệ ở Kyoto, thờ ngài Tùytuệ làm thầy; đồng thời, theo ngài Tùy tuệ đến Bá ma tham cứu nghĩa sâu xa; lại theo các bậc long tượng của các tông như ngài Trí đạo, Long sơn... chuyên tâm nghiên cứu các học thuyết Tính Tướng và Hiển Mật. Năm Khoan chính thứ 3 (1791), sư giữ chức Nghĩ giảng; năm Khoan chính thứ 6 (1794), sư được thăng chức Giảng sư. Năm Văn hóa 14 (1817), sư thị tịch ở chùa Vĩnh lâm, thọ 69 tuổi, thụy hiệu là Hương Nguyệt Viện. Lúc sinh tiền, sư soạn thuật rất nhiều, có các tác phẩm lưu truyền ở đời như: Tịnh độ tam bộ kinh giảng nghĩa 20 quyển, Giáo hành tín chứng giảng nghĩa 20 quyển, Văn loại tụ sao giảng nghĩa 10 quyển, Tuyển trạch tập nhị thập ngũ cá dị đồng biện...
thâm ma xá na
Smasana (skt)—Nơi vứt xác người chết—Place for disposing of the dead.
Thâm mật
深密; C: shēnmì; J: shinmitsu;|Giáo pháp sâu sắc, thâm diệu.
thâm mật
See Thâm Bí.
Thâm mật giải thoát kinh
深密解脱經; C: shēnmì jiĕtuō jīng; J: shin-mitsu gedatsukyō; S: saṃdhinirmocana-sūtra|Tên bản dịch của Bồ-đề Lưu-chi dịch từ Saṃdhinirmocana-sūtra; gồm 5 quyển. Xem Giải thâm mật kinh (解深密經).
Thâm mật kinh
深密 (蜜) 經; C: shēnmì jīng; J: shinmikkyō;|Giải thâm mật kinh (解深密經; s: saṃ-dhinirmocana-sūtra).
Thâm mật kinh 深密經, 深蜜經
[ja] シンミツキョウ Shinmikkyō ||| Shenmi jing Saṃdhinirmocana-sūtra See Jieshenmi jing 解深密經. => (c: Shenmi jing; s: Saṃdhinirmocana-sūtra). Xem Giải thâm mật kinh (c: Jieshenmi jing 解深密經).
Thâm mật 深密
[ja] シンミツ shinmitsu ||| (saṃdhi). Deep or profound teaching. => Giáo pháp sâu sắc, thâm diệu.
thâm nhiễm
Imbued (a)—Impragnated.
thâm nhập
Nyanti (skt)—Ni Diên Để—Tên riêng của tham (lòng tham có khả năng đi sâu vào cái cảnh mà nó muốn, lại có thể đi sâu vào tự tâm nên gọi là thâm nhập)—Deep entering—To infiltrate—To penetrate into, or the deep sense, i.e. desire, covetousness, cupidity.
thâm nhập vào đại trí của ngài văn thù sư lợi bồ tát
To penetrate the great wisdom of Manjusri Bodhisattva.
thâm niên
Length of service—Seniority.
thâm pháp
See Thâm Pháp Môn.
thâm pháp môn
Pháp môn sâu sắc—Profound truth or method.
thâm pháp nhẫn
Pháp nhẫn sâu sắc (người nghe được pháp nầy thì trụ vững không thối chuyển)—Patience or perseverance in faith and practice.
thâm sa đại tướng
(深沙大將) Cũng gọi Thâm sa thần, Thâm sa thần vương, Thâm sa đại vương, Thâm sa đồng tử, Thâm sa bồ tát. Chỉ cho vị thần trừ diệt các tai nạn. Có thuyết cho rằng vị thần này là Đa văn thiên, cũng là hóa thân của bồ tát Quán thế âm. Về hình tướng của vị thần này, trong Mật giáo, thông thường có 2 thuyết: Một là hình tướng thần vương, tay trái cầm con rắn màu xanh, cánh tay phải co lại, bàn tay giơ lên để ở trước ngực phía bên phải. Hai là hình tướng thần vương, 2 tay bưng bát, trong bát đựng cơm trắng. Chủng tửlà (a) hoặc (hùô), ấn khế là Kim cương hợp chưởng, hình Tam muội da là 3 cái mâu, hoặc 3 con rắn. Có thuyết cho rằng Thâm sa đại tướng là thuộc hạ của trời Tì sa môn, đứng đầu 7000 Dược xoa, hình tướng thì đầu là những ngọn lửa, miệng phun ra máu, xâu những cái đầu lâu làm chuỗi anh lạc đeo ở cổ, dùng da thú làm áo, da voi làm quần cụt, dùng đứa trẻ con làm bụng và rốn, chân đạp lên hoa sen. Lại theo Thâm sa đại tướng nghi quĩ thì vị thần này có 3 sứ giả. Sứ giả trên trời là Tịnh mãn, sứ giả ở hư không là đại tiên Phược tư và sứ giả dưới đất là Thủy hỏa lôi tự tại vương. Thần này có năng lực diệt trừ 3 thứ tai nạn và 3 thứ chấp trước. Theo truyền thuyết, ngài Huyền trang đời Đường đi Ấn độ cầu pháp, lúc vượt sa mạc Gobi gặp rất nhiều nguy hiểm, nhưng nhờ Thâm sa đại tướng bảo vệ nên ngài đã qua sa mạc bình an. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.1; Đồ tượng sao Q.10].
thâm sa đại tướng nghi quỹ
(深沙大將儀軌) Cũng gọi Thâm sa đại tướng Bồ tát nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung nghi quĩnàynói về pháp tu Thâm sa đại tướng, cho rằng vị thần này là hóa thân của bồ tát Quán thế âm, nếu trì tụng chân ngôn của Ngài thì các ác nghiệp đều bị tiêu diệt.
thâm sâu
Profound.
thâm sơn cùng cốc
Remote area (place).
thâm thiền định lạc
(深禪定樂) Chỉ cho niềm tin sâu xa mầu nhiệm của Thiền định thứ 3, tương ứng với lạc thụ (cảm giác vui) của Thiền định là Sơ thiền, Nhị thiền và Tam thiền. Trong đó, Thiền thứ 3 là Li hỉ diệu lạc, tức lìa niềm vui mừng ở Thiền thứ nhất và Thiền thứ 2, là niềm vui mầu nhiệm chính niệm chính tri, trụ trong tự địa. Vì thâm tâm hành giả cùng là một niềm vui thuần nhất mầu nhiệm, là niềm vui bậc nhất của Thiền định, nên gọi lạc thụ của thiền định này là Thâm thiền định lạc. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa quyển 3 (Đại 9, 23 trung) nói: Chúng con từ năm trăm muôn ức cõi nước đến đây, xả bỏ niềm vui thiền định sâu xa (thâm thiền định lạc) là vì cúng dường Phật. Lại Thâm thiền định còn có nghĩa là trong các thứ thiền định có sâu, cạn khác nhau, thiền định cõi trên thù thắng hơn thiền định cõi dưới, vì thế đối lại với cõi dưới mà gọithiền định cõi trên là Thâm thiền định.
thâm thù
Deep hatred
thâm thúy
Deep—Profound.
Thâm triết kinh 深蟄經
[ja] シンチュウキョウ Shinchūkyō ||| Shen-che ching; a corrupted way of writing 深蜜經, which is in turn a shortened title of the 解深密經 (Saṃdhinirmocana-sūtra T 675-678). => (c: Shen-che ching); Một cách gọi khác của Thâm mật kinh 深蜜經, tên gọi tắt của kinh Giải thâm mật 解深密經 (s: Saṃdhinirmocana-sūtra).
thâm trí
Trí thâm sâu—Profound knowledge or wisdom.
thâm tuệ bồ tát
Ghambhiramati (S) Tên một vị Bồ tát.
thâm tâm
Ajjhāsaya (P), Adhyāśaya (S), Mental disposition, Adhyāśayati (S).
; 1) Tự đáy lòng: Bottom of one's heart. 2) Một trong tam tâm, cái tâm cầu Phật, cầu Pháp sâu nặng: One of the three minds, profound mind engrossed in Buddha-truth, or thought, or illusion, etc.
; (深心) Phạm: Adhyàzaya. Cũng gọi Thâm tín. Chỉ cho tâm sâu xa cầu Phật đạo, là 1 trong 3 tâm. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma quyển thượng (Đại 14, 538 trung) nói: Thâm tâm là tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh có đầy đủ công đức sẽ sinh đến cõi nước của Ngài (...) Theo trực tâm thì phát được hạnh, theo phát hạnh thì được thâm tâm, theo thâm tâm thì ý điều phục. Kinh Hoa nghiêm quyển 24 (bản 60 quyển) có liệt kê tên của 10 thứ Thâm tâm (Đại 9, 55 thượng): Mười thâm tâm là những gì? –Một là tâm thanh tịnh, hai là tâm mạnh mẽ nhạy bén, ba là tâm chán xa, bốn là tâm lìa dục, năm là tâm không lui sụt, sáu là tâm bền vững, bảy là tâm sáng suốt, tám là tâm tinh tiến, chín là tâm thù thắng và mười là tâm rộng lớn. Kinh Quán vô lượng thọ cho rằng nếu có chúng sinh muốn sinh về Tịnh độ mà phát ba tâm thì liền được vãng sinh, Thâm tâm là 1 trong 3 tâm đó. Ngài Thiện đạo giải thích Thâm tâm là tâm tin sâu. Ngoài ra, Thâm tâm cũng chỉ cho tâm mê chấp bền vững không lay chuyển của phàm phu, như phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa cho rằng chúng sinh có nhiều tham muốn mà tâm bám dính vào rất sâu chắc, khó gỡ ra được. [X. kinh Hoa nghiêm Q.35 (bản 80 quyển); kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.thượng; luận đại trí độ Q.71]. (xt. Tam Tâm).
thâm tín
Tin tưởng sâu xa—Deep faith.
thâm tạng
See Thâm Kinh.
thâm tịnh
Thanh tịnh sâu sắc—Profound pure.
; (深淨) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Vân môn, sống vào đời Nam Tống, người ở Ôn châu (nay là tỉnh Chiết giang). Sư đến chùa Trung thiên trúc tham yết ngài Si thiền Nguyên diệu và được nối pháp. Sau, sư nhận chức Trụ trì chùa Quang hiếu ở Ôn châu. Người đời gọi sư là Dĩ am Thâm tịnh. Sư có để lại các tác phẩm Dĩ am Thâm tịnh hòa thượng ngữ yếu 1 quyển, được thu vào Tục cổ tôn túc ngữ yếu quyển 2 (Vạn tục tạng tập 119). [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.16].
Thâm viễn
深遠; C: shēnyuăn; J: shin'on, jinnon;|1. Thâm diệu; thâm diệu và có ảnh hưởng sâu rộng; 2. Trí tuệ sâu mầu.
Thâm viễn 深遠
[ja] シンオン、ジンノン shin'on, jinnon ||| (1) Profound; profound and far-reaching. (2) Profound wisdom. => 1. Thâm diệu; thâm diệu và có ảnh hưởng sâu rộng. 2. Trí tuệ sâu mầu.
thâm áo
See Thâm Bí.
thâm ố
To hate deeply.
Thâm 深
[ja] シン shin ||| Profound, deep, unfathomable--especially in reference to a teaching. => Sâu sắc, uyên thâm, không dò được- đặc biệt đề cập đền giáo pháp.
Thâm-trập kinh
深蟄經; C: shēnzhé jīng; J: shinchūkyō;|Một cách gọi khác của Thâm mật kinh (深蜜經), tên gọi tắt của kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra).
thân
Kāya (S), Body Thân căn.
; Kàya, tanu, deha (S). The body, the self.
; Kaya or Tanu (skt). 1) Làm cho dài ra: To draw out—To stretch—To expand. 2) Thân ái: To love—Beloved. 3) Thân quyến: Family—Relatives. 4) Thân thích: Personally related—Intimate. 5) Thân hình: Kaya, or tanu, or deha (skt)—Physical existence—Body—The self—The sense or organ of touch. 6) Thân là một đối tượng của Thiền: Mục đích đầu tiên của thiền tập là để nhận thức bản chất thật của thân mà không chấp vào nó. Đa phần chúng ta nhận thân là mình hay mình là thân. Tuy nhiên sau một giai đoạn thiền tập, chúng ta sẽ không còn chú ý nghĩ rằng mình là một thân, chúng ta sẽ không còn đồng hóa mình với thân. Lúc đó chúng ta chỉ nhìn thân như một tập hợp của ngũ uẩn, tan hợp vô thường, chứ không phải là nhứt thể bất định; lúc đó chúng ta sẽ không còn lầm lẫn cái giả với cái thật nữa: The first goal of meditation practices is to realize the true nature of the body and to be non-attached to it. Most people identify themselves with their bodies. However, after a period of time of meditation practices, we will no longer care to think of yourself as a body, we will no longer identify with the body. At that time, we will begin to see the body as it is. It is only a series of physical and mental process, not a unity; and we no longer mistake the superficial for the real—See Ngũ Uẩn. • Tỉnh thức về hơi thở: Anapanasati (p)—Mindfulness of your breathing. • Tỉnh thức về thân trong những sinh hoạt hằng ngày, như đi, đứng, nằm, ngồi, nhìn ai, nhìn quang cảnh, cúi xuống, duỗi thân, mặc quần áo, tăm rữa, ăn uống, nhai, nói chuyện, vân vân. Mục đích là chú ý vào thái độ của mình chứ không chạy theo những biến chuyển: Mindfulness of your body in daily life activities, such as mindfulness of your body while walking, standing, lying, sitting, looking at someone, looking around the environments, bending, stretching, dressing, washing, eating, drinking, chewing, talking, etc. The purpose of mindfulness is to pay attention to your behavior, but not to run after any events. 7) Theo Kinh Duy Ma Cật, khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vâng mệnh của Đức Phật đi thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, nên mới có cuộc đối đáp về “thân” như sau—According to the Vimalakirti Sutra, Manjusri Bodhisattva obeyed the Buddha's command to call on Upasaka Vimalakirti to enquire after his health, there was a converssation about the “body” as follows: • Văn Thù hỏi cư sĩ Duy Ma Cật: “Phàm Bồ Tát an ủi Bồ Tát có bệnh như thế nào?”—Manjusri asked Vimalakirti: “What should a Bodhisattva say when comforting another Bodhisattva who falls ill?” • Duy Ma Cật đáp: “Nói thân vô thường, nhưng không bao giờ nhàm chán thân nầy. Nói thân có khổ, nhưng không bao giờ nói về sự vui ở Niết Bàn. Nói thân vô ngã mà khuyên dạy dắt dìu chúng sanh. Nói thân không tịch, chứ không nói là rốt ráo tịch diệt. Nói ăn năn tội trước, chứ không nói vào nơi quá khứ. Lấy bệnh mình mà thương bệnh người. Phải biết cái khổ vô số kiếp trước, phải nghĩ đến sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhớ đến việc làm phước, tưởng đến sự sống trong sạch, chớ nên sanh tâm buồn rầu, phải thường khởi lòng tinh tấn, nguyện sẽ làm vị y vương điều trị tất cả bệnh của chúng sanh. Bồ Tát phải an ủi Bồ Tát có bệnh như thế để cho được hoan hỷ.”—Vimalakirti replied: “He should speak of the impermanence of the body but never of the abhorrence and relinquishment of the body. He should speak of the suffering body but never of the joy in nirvana. He should speak of egolessness in the body while teaching and guiding all living beings (in spite of the fact that they are fundamentally non-existent in the absolute state). He should speak of the voidness of the body but should never cling to the ultimate nirvana. He should speak of repentance of past sins but should avoid slipping into the past. Because of his own illness he should take pity on all those who are sick. Knowing that he has suffered during countless past aeons he should think of the welfare of all living beings. He should think of his past practice of good virtues to uphold (his determination for) right livelihood. Instead of worrying about troubles (klesa) he should give rise to zeal and devotion (in his practice of the Dharma). He should act like a king physician to cure others' illnesses. Thus a Bodhisattva should comfort another sick Bodhisattva to make him happy.” • Ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ Tát có bệnh đấy phải quán sát được các pháp như thế. Lại nữa, quán thân vô thường, khổ, không, vô ngã, đó là huệ. Dù thân có bệnh vẫn ở trong sanh tử làm lợi ích cho chúng sanh không nhàm mỏi, đó là phương tiện.—Manjusri, a sick Bodhisattva should look into all things in this way. He should further meditate on his body which is impermanent, is subject to suffering and is non-existent and egoless; this is called wisdom. Although his body is sick he remains in (the realm of) birth and death for the benefit of all (living beings) without complaint; this is called expedient method (upaya). • Lại nữa, ngài Văn Thù Sư Lợi! Quán thân, thân không rời bệnh, bệnh chẳng rời thân, bệnh nầy, thân nầy, không phải mới, không phải cũ, đó là huệ. Dù thân có bệnh mà không nhàm chán trọn diệt độ, đó là phương tiện—Manjusri! He should further meditate on the body which is inseparable from illness and on illness which is inherent in the body because sickness and the body are neither new nor old; this is called wisdom. The body, though ill, is not to be annihilated; this is the expedient method (for remaining in the world to work for salvation).
; (身) I. Thân. Phạm:Kàya. Hán âm: Ca da. Căn thứ 5 trong 6 căn, tức là Thân căn. Chỉ cho làn da ngoàicủa khí quan xúc giác và cơ năng của nó. Nhưng Hữu bộ thì cho rằng Thân căn là vật chất nhỏ nhiệm(tịnh sắc) mà mắt không thể thấy được, cũng tức là chỉ cho thắng nghĩa căn. Tuy nhiên, thông thường chữ Thân trong thân và tâm gọi chung là thân tâm, thân và ngữ(hoặc khẩu), ý gọi chung là thân ngữ ý(thân khẩu ý) là chỉ cho thân thể, nhục thể. II. Thân. Nghĩa tập hợp. Tức chữ phụ thêm ở cuối câu, biểu thị số nhiều, như Lục thức thân.III. Thân. Phạm:Zarìra. Thân cốt, di cốt. (xt. Xá Lợi).
thân an tâm lạc
Ease of body and joy of heart.
thân bình đằng
Kayāsamatā (S).
thân bình đẳng
Kàyasamatà (S). Equal state ơođ body.
; Same in body—Đức Phật nói: “Ta và chư Như Lai đều cũng như nhau về thân thể.”—The Buddha said: “All Tathagatas and I are the same as regards the body.”
thân bịnh
Physical sickness.
thân chúng sanh thân phật
Sentient beings' bodies-Buddha's body—Theo Kinh Duy Ma Cật thì ông Duy Ma Cật đã dùng phương tiện hiện thân có bệnh để thuyết pháp hóa độ chúng sanh. Do ông (Duy Ma Cật) có bệnh nên các vị Quốc Vương, Đại thần, Cư sĩ, Bà la môn cả thảy cùng các vị Vương tử với bao nhiêu quan thuộc vô số ngàn người đều đến thăm bệnh. Ông nhơn dịp thân bệnh mới rộng nói Pháp—According to the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti used expedient means of appearing illness in his body to expound about sentient beings' bodies and the Buddha's body to save them. Because of his indisposition, kings, ministers, elders, upasakas, Brahmins, et., as well as princes and other officials numbering many thousands came to enquire after his health. So Vimalakirti appeared in his sick body to receive and expound the Dharma to them, saying: • “Nầy các nhân giả! Cái huyễn thân nầy thật là vô thường, nó không có sức, không mạnh, không bền chắc, là vật mau hư hoại, thật không thể tin cậy. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ não bệnh hoạn. Các nhân giả! Người có trí sáng suốt không bao giờ nương cậy nó. Nếu xét cho kỹ thì cái thân nầy như đống bọt không thể cầm nắm; thân nầy như bóng nổi không thể còn lâu; thân nầy như ánh nắng dợn giữa đồng, do lòng khát ái sanh; thân nầy như cây chuối không bền chắc; thân nầy như đồ huyễn thuật, do nơi điên đảo mà ra; thân nầy như cảnh chiêm bao, do hư vọng mà thấy có; hân nầy như bóng của hình, do nghiệp duyên hiện; thân nầy như vang của tiếng, do nhân duyên thành; thân nầy như mây nổi, trong giây phút tiêu tan; thân nầy như điện chớp sanh diệt rất mau lẹ, niệm niệm không dừng; thân nầy không chủ, như là đất; thân nầy không có ta, như là lửa; thân nầy không trường thọ, như là gió; thân nầy không có nhân, như là nước; thân nầy không thật, bởi tứ đại giả hợp mà thành; thân nầy vốn không, nếu lìa ngã và ngã sở; thân nầy là vô tri, như cây cỏ, ngói, đá; thân nầy vô tác (không có làm ra), do gió nghiệp chuyển lay; thân nầy là bất tịnh, chứa đầy những thứ dơ bẩn; thân nầy là giả dối, dầu có tắm rửa ăn mặc tử tế rốt cuộc nó cũng tan rã; thân nầy là tai họa, vì đủ các thứ bệnh hoạn khổ não; thân nầy như giếng khô trên gò, vì nó bị sự già yếu ép ngặt; thân nầy không chắc chắn, vì thế nào nó cũng phải chết; thân nầy như rắn độc, như kẻ cướp giặc, như chốn không tụ, vì do ấm, giới, nhập hợp thành—“Virtuous ones, the human body is impermanent; it is neither strong nor durable; it will decay and is, therefore, unreliable. It causes anxieties and sufferings, being subject to all kinds of ailments. Virtuous ones, all wise men do not rely on this body which is like a mass of foam, which is intangible. It is like a bubble and does not last for a long time. It is like a flame and is the product of the thirst of love. It is like a banana tree, the centre of which is hollow. It is like an illusion being produced by inverted thoughts. It is like a dream being formed by fasle views. It is like a shadow and is caused by karma. This body is like an echo for it results from causes and conditions. It is like a floating cloud which disperses any moment. It is like lightning for it does not stay for the time of a thought. It is ownerless for it is like the earth. It is egoless for it is like fire (that kills itself). It is transient like the wind. It is not human for it is like water. It is unreal and depends on the four elements for its existence. It is empty, being neither ego nor its object. It is without knowledge like grass, trees and potsherds. It is not the prime mover, but is moved by the wind (of passions). It is impure and full of filth. It is false, and though washed, bathed, clothed and fed, it will decay and die in the end. It is a calamity being subject to all kinds of illnesses and sufferings. It is like a dry well for it is prusued by death. It is unsettled and will pass away. It is like a poisonous snake, a deadly enemy, a temporary assemblage (without underlying reality), being made of the five aggregates, the twelve entrances (the six organs and their objects) and the eighteen realms of sense (the six organs, their objects and their perceptions). • Các nhân giả! Hãy nên nhàm chán cái thân nầy, chớ tham tiếc nó, phải nên ưa muốn thân Phật. Vì sao? Vì thân Phật là Pháp Thân, do vô lượng công đức trí tuệ sanh; do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến sanh; do từ bi hỷ xả sanh; do bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, và phương tiện sanh; do lục thông, tam minh sanh; do 37 phẩm trợ đạo sanh; do chỉ quán sanh; do thập lực, tứ vô úy, thập bát bất cộng sanh; do đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện, tu các pháp thiện sanh; do chân thật sanh; do không buông lung sanh; do vô lượng pháp thanh tịnh như thế sanh ra thân Như Lai—“Virtuous ones, the (human) body being so repulsive, you should seek the Buddha body. Why? Because the Buddha body is called Dharmakaya, the product of boundless merits and wisdom; the outcome of discipline, meditation, wisdom, liberation and perfect knowledge of liberation; the result of kindness, compassion, joy and indifference (to emotions); the consequence of (the six perfections or paramitas) charity, discipline, patience, zeal, meditation and wisdom, and the sequel of expedient teaching (upaya); the six supernatural powers; the three insights; the thirty-seven stages contributory to enlightenment; serenity and insight; the ten transcendental powers (dasabala); the four kinds of fearlessness; the eighteen unsurpassed characteristics of the Buddha; the wiping out of all evils and the performance of all good deeds; truthfulness, and freedom from looseness and unrestraint. So countless kinds of purity and cleanness produce the body of the Tathagata. • Nầy các nhân giả, muốn được thân Phật, đoạn tất cả bệnh chúng sanh thì phải phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác—Virtuous ones, if you want to realize the Buddha body in order to get rid of all the illnesses of a living being, you should set your minds on the quest of supreme enlightenment (anuttara-samyak-sambodhi).” • Như vậy, trưởng giả Duy Ma Cật vì những người đến thăm bệnh, mà nói pháp làm cho vô số ngàn người đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác—Thus the elder Vimalakirti expounded the Dharma to all those who came to enquire after his health, urging countless visitors to seek supreme enlightenment.
thân chứng
Kāya-saksin (S), Kaya-sakkhin (P), Kāya-sakkhin (P).
; (身證) Phạm:Kàya-sàkwin. Pàli:Kàya-sakkhin. Cũng gọi Thân chứng na hàm, Thân chứng bất hoàn. Chỉ cho bậc Thánh lợi căn trong quả Bất hoàn, nương vào Diệt tận định mà chứng pháp tương tự như Niết bàn, thân được niềm vui tịch lặng, là 1 trong 7 bậc Thánh, 1 trong 27 bậc Hiền Thánh. Luận Đại tì bà sa quyển 152 (Đại 27, 776 trung) nói: Đức Thế tôn an lập Thân tác chứng, gọi là Tưởng thụ diệt giải thoát. Vì vô tâm nên ở thân chẳng phải tâm, là cái do thân lực sinh khởi chứ không phải tâm sinh khởi, cho nên đức Thế tôn nói là Thân chứng. Về tên gọi Thân chứng có 2 thuyết: 1. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương định Diệt tận là định Vô tâm, nếu trong thân sinh được định Diệt tận thì thân được niềm vui vắng lặng, gọi là Thân chứng. 2. Kinh lượng bộ thì cho rằng sau khi xuất định, duyên theo sự tĩnh lặng của định Diệt tận, cho rằng sự tĩnh lặng này rất giống pháp Niết bàn, do đạt được trí hiện tiền mà chứng đắc sự tĩnh lặng của thân, gọi chung là Thân chứng. Đại thừa bèn căn cứ vào thí dụ để đặt tên gọi Thân chứng. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Câu xá Q.24, 25; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.13; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1 phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần đầu]. (xt. Bất Hoàn Quả).
thân có tám vạn loại trùng
chỉ thân xác thịt dễ hư hoại, thối rửa của chúng sanh, là chỗ nương náu, chui rúc của muôn loại vi trùng.
Thân Căn
(s, p: kāyendriya, 身根): một trong 5 căn, 6 căn, 12 xứ, 18 giới, 22 căn; gọi tắt là thân (身); tức chỉ cho tịnh sắc căn trong thân thể, chứ không phải căn phù trần của nhục thể. Về ngữ nghĩa của thân, theo Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm (大乘法苑義林章, Taishō Vol. 45, No. 1861) quyển 3 lấy Phạn ngữ kāya (âm dịch là Ca Da [迦耶]) với nghĩ là tích tập (積集, gom chứa, tập trung), y chỉ (依止, nương vào, dừng lại). Thân Căn là nơi nhiều pháp của các căn y chỉ, nhiều pháp đều tích tập nơi Thân Căn này, nên có tên là Ca Da. Trong 12 Xứ, Thân Căn này có tên là Thân Xứ (s: kāyāyatana, 身處); trong 18 Giới là Thân Giới (s: kāya-dhātu, 身界). Thông thường, cái gọi là thân, đều chỉ chung cả đống thịt, hoàn toàn khác với Thân Căn. Trong các luận thư, gân thịt, v.v., gọi là Phù Trần Căn (扶塵根); còn đối với Thân Căn vốn có thể xúc tác thì gọi là Thắng Nghĩa Căn (勝義根). Thân Căn chỉ tồn tại trong Dục Giới (s: kāma-dhātu, 欲界) và Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界), còn trong Vô Sắc Giới (s: ārūpa-dhātu, 無色界) thì không. A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 90 cho rằng Thân Căn của Địa Ngục không giống như của con người. Như trong Pháp Hoa Tam Muội Sám Nghi (法華三昧懺儀, Taishō Vol. 46, No. 1941), phần Sám Hối Thân Căn Pháp (懺悔身根法), có đoạn: “Quy hướng Phổ Hiền Bồ Tát cập nhất thiết Thế Tôn thiêu hương tán hoa, thuyết thân quá tội bất cảm phú tàng, dĩ thị nhân duyên linh ngã dữ pháp giới chúng sanh, Thân Căn nhất thiết trọng tội tất cánh thanh tịnh (歸向普賢菩薩及一切世尊燒香散華、說身過罪不敢覆藏、以是因緣令我與法界眾生、身根一切重罪畢竟清淨, quy hướng về Bồ Tát Phổ Hiền và hết thảy Thế Tôn đốt hương rãi hoa, bày rõ tội sai lầm của thân không dám che giấu, lấy nhân duyên này khiến con cùng với chúng sanh trong pháp giới, hết thảy tội nặng của Thân Căn cuối cùng được trong sạch).”
thân căn
Kāyendriya (S) Một trong ngũ căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn).
; Kàyendriya (S). The organ of touch.
; Kayendriya (skt)—Một trong ngũ căn—The organ of touch, one of the five organs of sense.
; (身根) Phạm,Pàli:Kàyendriya. Gọi tắt: Thân. Chỉ cho tịnh sắc(vật chất rất nhỏ nhiệm) tiếp thu lấy xúc cảnh vô kiến hữu đối, là chỗ nương gá của thức thân. Ở đây chỉ cho tịnh sắc căn trong thân thể chứ không phải nói về phù trần căn của nhục thể; là 1 trong 5 căn, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 22 căn. Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 3 thì nghĩa của chữ Thân là lấy theo nghĩa chứa nhóm, nghĩa nương tựa của tiếng Phạm Kàya (Hán âm: Ca da). Các đại chủng và tạo sắc khác như nhãn căn... tuy cũng đều chứa nhóm, nhưng Thân căn là chỗ nương tựa của các căn và nhiều pháp, tức nhiều pháp đều chứa nhóm trong thân căn, cho nên đặc biệt gọi Thân Là Kàya. Thân căn này, trong 12 xứ được gọi là Thân xứ (Phạm: Kàyàyatana), trong 18 giới, gọi là Thân giới (Phạm:Kàya-dhàtu). Thông thường gọi Thân là chỉ chung cho khối thịt, khác hẳn với Thân căn. Trong các luận Tì bà sa... gân, thịt... được gọi chung là Phù trần căn, đối với Thân căn có tác dụng năng xúc thì gọi là Thắng nghĩa căn. Thân căn chỉ tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, cõi Vô sắc thì không. Luận Đại tì bà sa quyển 90 cho rằng Thân căn ở địa ngục khác với Thân căn ở cõi người, nghĩa là trong địa ngục cho dù bị cắt đứt ra từng lóng đốt, cho đến rữa nát ra cũng vẫn có Thân căn. [X. luận Đại tì bà sa Q.144; luận Du già sư địa Q.3, 54; luận Thành duy thức Q.10; luận Câu xá Q.4; Câu xá luận quang kí Q.2, 4; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu, 10 phần cuối; Phật gia danh tướng thông thích Q.thượng (Hùng thập lực)].
thân danh
Body and fame.
thân diệu hạnh
Kāya-sucarita (S) Một trong Tam diệu hạnh.
thân duyên
(親緣) Duyên gần gũi. Chỉ cho mối quan hệ mật thiết giữa đức Phật A di đà và hành giả niệm Phật, là 1 trong 3 duyên. Hằng ngày nếu hành giả miệng thường niệm Phật thì Phật liền nghe; thân thường lễ kính Phật thì Phật liền thấy, tâm thường nghĩ đến Phật thì Phật liền biết, ý thường nhớ nghĩ đến Phật thì Phật cũng thường nhớ nghĩ đến hành giả. Như vậy thì 3 nghiệp của Phật và 3 nghiệp của hành giả không lìa bỏ nhau, mối quan hệ khắng khít này gọi là Thân duyên. (xt. Tam Duyên).
thân giáo sư
Còn gọi là Hòa thượng, nghĩa là bổn sư xuống tóc cho người xuất gia trong Phật Giáo gọi là hòa thượng Xem Hoà thượng.
; Upàdhyaya (S). One's own teacher.
; Thầy bổn sư—Upadhyaya (skt)—One's own teacher.
; (親教師) Phạm:Upàdhyàya. Pàli:Upajjhàya. Hán âm: U ba đà da. Gọi tắt: Thân giáo. Chỉ cho bậc thầy mà mình được gần gũi để thụ giáo. Chữ Upàdhyàya, Hán dịch là Hòa thượng, thông thường chỉ cho: 1. Vị thầy lúc truyền giới, cũng gọilà Giới hòa thượng. 2. Tại Ấn độ, chỉ chung cho bậc sư phụ. Ngoài ra, Lạt ma giáo Tây tạng, trong 4 giai vị, giai vị cao nhất, tức giai vị thứ 4, gọi là Thân giáo sư, quyền lực chỉ kém Đạt lai lạt ma và Ban thiền lạt ma mà thôi. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Bí tạngkí]. (xt. Hòa Thượng).
thân giới
Kāyadhātu (S).
thân giới tâm huệ
Thân mình giữ gìn giới hạn, tâm mình giữ cho trong sáng—Controlled in body and wise in mind.
thân gần cuối
(hậu biên thân): là thân gần kế với thân tối hậu, sau chót của một vị Bồ Tát. Bồ Tát sau khi thọ thân này rồi mới thọ thân tối hậu và thành Phật. Xem thân sau cùng.
Thân huyên
(親萱): từ chỉ cho người mẹ. Huyên (萱) là loại cây cỏ sống lâu năm, Huyên Thảo (萱草) là loại Kim Châm (金針), tương truyền khi ăn vào thì làm cho người ta quên đi ưu sầu, phiền muộn; nên được gọi là Vong Ưu Thảo (忘憂草, Cỏ Quên Buồn) và thường được dùng thay thế cho người mẹ. Nơi người mẹ cư ngụ được gọi là Huyên Đường (萱堂), tức là nơi có trồng nhiều loại cỏ Huyên để giúp cho mẹ quên đi mọi ưu phiền. Cho nên “thân huyên dĩ thệ (親萱已逝)” có nghĩa là mẹ hiền đã qua đời.
thân hà
Hiranyavati (skt)—Sông Ni Liên Thiền—Nairanjana River.
thân hành
Kāyasaṃskāra (S), Kāyasaṇkhāra (P) Tác động của thân thể.
; To come in person.
thân hành niệm
Kāyagatāsmṛti (S), Kāyagatāsati (P), Kāyagatāsati (P).
; Kàyagatàsmrti (S) Mindfulness with regard to the body. Also niệm thân.
thân hành niệm tu tập
Theo Kinh Thân Hành Niệm trong Trung Bộ Kinh, Tu tập thân hành niệm là khi đi biết rằng mình đang đi; khi đứng biết rằng mình đang đứng; khi nằm biết rằng mình đang nằm; khi ngồi biết rằng mình đang ngồi. Thân thể được xử dụng thế nào thì mình biết thân thể như thế ấy. Sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và các tư duy về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy mà nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất và định tĩnh. Như vậy là tu tập thân hành niệm—According to the Kayagatasati-Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, cultivation of mindfulness of the body means when walking, a person understands that he is walking; when standing, he understands that he is standing; when sitting, he understands that he is sitting; when lying, he understands that he is lying. He understands accordingly however his body is disposed. As he abides thus diligent, ardent, and resolute, his memories and intentions based on the household life are abandoned. That is how a person develops mindfulness of the body.
thân hình
Body.
thân hình quý báu
Precious body.
thân hình vô gián địa ngục
(身形無間地獄) Cũng gọi Hình vô gián địa ngục. Ngục Vô gián thứ 5 trong 5 loại địa ngục Vô gián. Ngục Vô gián thứ 5 là địa ngục A tì trong 8 địa ngục lớn. Vô gián là không xen hở, không lìa cách. Chiều rộng của địa ngục này là 84.000 do tuần, thân hình của các chúng sinh chịu khổ trong địa ngục này cũng cao 84.000 do tuần, bởi thế thân hình chúng sinh đầy ắp khoảng không gian của địa ngục, không xen kẽ, không cách hở, cho nên gọi là Thân hình vô gián địa ngục.
thân hữu
An intimate friend.
; Người bạn thân—An intimate friend.
; (親友) Cũng gọi Thiện tri thức. Đồng nghĩa: Thiện hữu, Thắng hữu. Chỉ cho người bạn thân thiện, chính trực và có đức. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ thì đức Thích ca Như lai gọi hành giả niệm Phật là hoa phân đà lợi(hoa sen trắng) trong loài người, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí là các Thắng hữu của người này.[X. kinh Niết bàn Q.25 (bản Bắc); luận Câu xá Q.10]. (xt. Thiện Trí Thức).
thân hữu lậu
Temporal (worldly) impure body.
thân hữu thất pháp
(親友七法) Cũng gọi Thiện hữu thất sự. Bảy pháp của người bạn thân. Tức chỉ cho 7 pháp lành của người muốn trở thành người chính trực, có đức. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển hạ thì 7 pháp lành ấy là: 1. Làm được những việc khó làm. 2. Cho được vật khó đem cho. 3. Nhịn được điều khó nhịn. 4. Nói cho bạn biết về những việc bí mật của mình. 5. Che giấu lẫn nhau. 6. Gặp khổ nạn không bỏ nhau. 7. Nghèo cùng không khinh nhau. [X. luật Tứ phần Q.41].
thân khí
The body as a utensil. i.e. containing all the twelve parts skin, flesh, blood, hair, etc.
; Thân thể người ta chứa đựng 12 phần như da, thịt, máu, tóc, vân vân—The body as a utensil, i.e. containing all the twelve parts, skin, flesh, blood, hair, etc.
; (身器) Thân như đồ dùng. Tức ví dụ thân thể của hữu tình chúng sinh giống như đồ vật, có khả năng dung chứa các pháp, cho nên gọi là Thân khí. Theo Câu xá luận tụng sớ sao quyển 22 thì Thân chỉ cho y thân(thân làm chỗ nương) của người tu hành; Khí là ví dụ Y thân. Giáo pháp nương vào thân mà vận chuyển, giống như nước tùy theo đồ vật chứa đựng mà có hình dạng khác nhau. Đại minh tam tạng pháp số quyển 48 liệt kê 36 vật cấu thành thân thể loài hữu tình, trong đó da dày, da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ lá, mỡ nước, não, màng mỏng... là 12 vật của Thân khí. Thân khí thanh tịnh có 3 nguyên nhân: 1. Thân tâm xa lìa: Thân xa lìa sự chung chạ của tướng, tâm xa lìa sự suy tìm (1 trong các pháp tâm sở)bất thiện, 2 điều này là do biết đủ, ít muốn mà được. 2. Biết đủ, ít muốn: Thường biết đủ, không tham muốn nhiều. 3. Trụ nơi 4 Thánh chủng: Chỉ cho áo mặc, cơm ăn, đồ nằm ngồi được bao nhiêu cũng tự biết đủ và thích dứt ác ưa tu thiện, 4 pháp này là nhân sinh ra các bậc Thánh, cho nên gọi là Thánh chủng. [X. luận Câu xá Q.22; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 3; Câu xá luận tụng sớ luận bản Q.22].
thân khẩu thất chi
(身口七支) Bảy chi của thân và miệng. Chỉ cho 7 ác nghiệp trong 10 ác nghiệp, tức 3 ác nghiệp giết hại, trộm cướp, gian dâm của nghiệp thân và 4 ác nghiệp 2 lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt của nghiệp khẩu, vì thân 3 miệng 4 nên gọi là Thân khẩu thất chi. Nếu lại thêm 3 ác nghiệp tham lam, giận dữ và ngu si của nghiệp ý thì thành 10 ác nghiệp, gọi là Thân tam khẩu tứ ý tam (Thân 3 miệng 4 ý 3).
thân khẩu ý
Kāya-vak-citta (S), Body, words and thoughts.
thân kim cang
(Kim cang thân): Thân bền chắc không gì có thể làm hư hoại được, cũng không tự hư hoại theo thời gian. Đây là cách nói để ví với thân Phật.
thân kiến
Xem Kiến kết.
; Satkàyadrsti (S). The illusion that the body, or self is real and not simply a compound of the five skandhas; one of the five wrong views ngũ kiến.
; Satkayadrshti (skt). • Ảo tưởng cho rằng thân mình là có thật, một trong ngũ kiến—The illusion of the body or self, one of the five wrong views. • Ý tưởng về một cái ngã, một trong tam kết. Có hai cách mà người ta có thể đi đến cái quan niệm cho rằng có sự hiện hữu thực sự của một cái ngã, một là sự tưởng tượng chủ quan, hai là quan niệm khách quan về thực tính—Thought of an ego, one of the three knots. There are two ways in which one comes to conceive the real existence of an ego, the one is subjective imagination and the other the objective conception of reality. • Tưởng rằng cái ngã cuả chính mình là lớn nhất và là tái sản quí báu nhất:Tin rằng cái ta là lớn nhât và vị đại nhất, nên mục hạ vô nhân. Chỉ có cái ta là quý báu nhứt mà thôi, người khác không đáng kể. Mình tìm fử để chà đạp hay mưu hai người khác—Believe that our self is our greatest and most precious possession in a nix in our eyes. We try by all means to satisfy to our self, irrespective of others' interest of rights. ** For more information, please see Ngã Kiến, Ngũ Kiến Vi Tế, and Tam Kết.
thân liên
The lotus in the body, i.e. the heart or eight-leaved lotus in all beings; it represents also the Garbhadhatù, which is the matrix of the material world out of which all beings come.
; 1) Hoa sen trong thân, như tâm hay tám cánh sen trong loài hữu tình—The lotus in the body, i.e. the heart, or eight-leaved lotus in all beings. 2) Thân liên cũng tiêu biểu cho Thai Tạng Pháp Giới—It also represents the Carbhadhatu, which is the matrix of the material world out of which all beings come.
Thân Loan
(親鸞, Shinran, 1173-1262): vị tăng sống vào đầu thời kỳ Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ sư khai sáng ra Tịnh Độ Chơn Tông Nhật Bản, con đầu của Hoàng Thái Hậu Cung Đại Tấn Nhật Dã Hữu Phạm (宮大進日野有範), thông xưng là Xước Không (綽空), Thiện Tín (善信). Ban đầu ông đầu sư với Từ Viên (慈圓), sau trở thành đệ tử của Pháp Nhiên (法然, Hōnen). Vào năm 1207 (năm đầu niên hiệu Thừa Nguyên [承元]), do vì pháp môn niệm Phật bị đàn áp nên ông bị lưu đày đến địa phương Việt Hậu (越後, Echigo), và trong khoảng thời gian này ông tự xưng là kẻ ngu ngốc và sống cuộc đời phi tăng phi tục. Cũng chính trong giai đoạn này, ông đã cưới vị Ni Huệ Tín (慧信) làm vợ. Đến năm 1211 (năm đầu niên hiệu Kiến Lịch [建曆]), ông được xá tội, và năm sau ông trở về kinh đô. Nơi đây ông gặp Thường Lục Quốc Đạo Điền Hương (常陸國稻田郷) ở vùng Quan Đông (關東, Kantō), lấy giáo nghĩa Tín Tâm Vi Bổn (信心爲本, tín tâm làm gốc) và tiến hành truyền đạo bố giáo. Các tác phẩm của ông để lại cho hậu thế có Giáo Hành Tín Chứng (敎行信証), Duy Tín Sao Văn Ý (唯信抄文意), Tịnh Độ Văn Loại Tụ Sao (淨土文類聚抄), Ngu Ngốc Sao (愚禿抄), v.v. Ôngđược ban cho thụy hiệu là Kiến Chơn Đại Sư (見眞大師).
; 親鸞; J: shinran; 1173-1262;|Cao tăng người Nhật, sáng lập Tịnh độ chân tông (j: jōdo-shin-shū) của Phật giáo Nhật Bản. |Ông là học trò của Pháp Nhiên (法燃; j: hōnen, Tịnh độ tông) nhưng có quan điểm khác thầy. Giáo pháp của tông này không còn giống Phật pháp nguyên thuỷ là bao nhiêu. Ba ngôi báu (Tam bảo; s: triratna) được đơn giản hoá thành lời thệ nguyện của đức Phật A-di-đà (s: amitābha, amitāyus) – nói chính xác hơn là lời nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của Ngài. Ngôi báu thứ ba của Tam bảo là Tăng-già bị bác bỏ, các đệ tử của ông hoàn toàn là những Cư sĩ, chính ông lập gia đình. Theo Thân Loan thì sự tu tập thuần tuý theo Tự lực vô bổ. Ông quan niệm rằng, mọi người đều cần sự giúp đỡ từ bên ngoài (Tha lực) của đức A-di-đà và giải thoát chỉ có thể đạt được với sự giúp đỡ của Ngài. Ông quy tất cả các phương pháp tu hành về một: là Niệm Phật, niệm danh hiệu của Phật A-di-đà và cho rằng, đó chính là sự báo ân đối với vị Phật này và ngay cả cách niệm Phật này cũng trở thành dư thừa nếu niềm tin của người niệm danh nơi Ngài đủ mạnh, vững chắc.|Thân Loan quan niệm rằng, người tu hành Phật đạo có thể sống tại gia. Ông bị Tăng-già tại Kinh Ðô (kyōto) trục xuất và bị đày đi đến một tỉnh miền Bắc bởi vì sống chung với một phụ nữ. Theo yêu cầu của thầy, ông cưới vợ để chứng minh rằng, Giới luật dành cho tăng chúng không phải là điều kiện chính yếu để đạt giải thoát. Việc này gây sự bất hoà và chia rẽ trong giới đệ tử của Pháp Nhiên vì đa số tăng sĩ muốn giữ giới độc thân.|Sau đó Thân Loan sống bên lề xã hội, cùng với những kẻ mà theo ông là không biết phân biệt thiện ác. Thân Loan cho rằng Phật A-di-đà là vị sẵn sàng hơn cả cứu độ những người »kém cỏi« vì những người này không có gì khác hơn là lòng tin nơi A-di-đà. Còn những người »giỏi giang« hơn thì hay bị rơi vào ý nghĩ – theo ông là mê lầm – là nhờ thiện nghiệp hay Công đức tự tạo mà có thể đạt giải thoát. Ông chỉ biết đến thệ nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà và vì vậy có nhiều khác biệt với Tịnh độ tông và Pháp Nhiên.
thân loan
Shinran (J) Chân Loan Tổ sư phái Chơn tông ở Nhật.
; (親鸞) Tổ khai sáng của Tịnh độ chân tông Nhật bản, người Kyoto, họ Đằng nguyên. Sư mồ côi cha mẹ từ nhỏ, theo ngài Từ viên ở viện Thanh liên cạo tóc xuất gia. Từ đó sư đổi tên nhiều lần như: Phạm yến, Xước không, Thiện tín, Ngu thốc Thân loan... Sau, sư đến núi Tỉ duệ và Nam đô học tập, nghiên cứu các tông, nhưng chưa được thỏa mãn. Niên hiệu Kiến nhân năm đầu (1208), bấy giờ đã 29 tuổi, sư đến tham vấn ngài Pháp nhiên ở Cát thủy mới đạt được túc chí và dốc toàn lực vào pháp môn Niệm Phật tha lực. Nhưng pháp môn niệm Phật của ngài Pháp nhiên bị chê bai nên thầy trò đều đắc tội. Sau, ngài Thân loan được phép trở về Kyoto, bèn đến các vùng Tín nùng (huyện Trường dã), Hạ dã (huyện Bản mộc), Thường lục (huyện Thứ thành)... thuyết pháp giáo hóa, tín đồ qui y rất đông. Niên hiệu Nguyên nhân năm đầu (1224), sư soạn Giáo hành tín chứng 6 quyển tại thảo am Đạo điền ở Thường lục, trở thành Thánh điển căn bản của Chân tông sau này. Sau, niên hiệu Nguyên nhân năm đầu được lấy làm kỉ nguyên khai tông lập phái. Năm 60 tuổi, trên đường trở về Kyoto, sư sáng lập chùa Cẩm chức ở Mộc bộ thuộc Cận giang(huyện Tư hạ). Sau khi đến Kyoto, sư ra sức giáo hóa và soạn thuật tại các chùa Cương kì, Cát thủy, Ngũ điều tây động viện... Năm Hoằng trường thứ 2 (1262), sư thị tịch, thọ 90 tuổi. Đệ tử an táng sư ở Đại cốc, thụy hiệulàKiến Chân Đại Sư. Sau khi làm đệ tử ngài Pháp nhiên, được thầy cho phép, sư lấy ni Huệ tín làm vợ, đó là khởi nguồn cho chế độ lấy vợ của Chân tông. Con trai của sư là Thiện loan (Nghĩa tuyệt) và con gái là ni Giác tín đều nổi tiếng ở đời. Đệ tử của sư có các vị: Chân Phật, Tính tín, Duy viên... Sư để lại các tác phẩm: Giáo hành tín chứng, Tịnh độ văn loại tụ sao, Ngu thốc sao, Nhập xuất nhị môn kệ tụng, Nhất niệm đa niệm văn ý, Duy tín sao văn ý... và rất nhiều loại tán khác. [X. Thiện tín thánh nhân Thân loan truyện hội; Thập di cổ đức truyện Q.7, 9; Tịnh độ chân tông thánh giáo mục lục].
thân lí giác
(親裏覺) Chỉ ý niệm thường nhớ nghĩ đến thân thích, làng xóm... là 1 trong 8 thứ ác giác. Theo phẩm Ác giác (Bất thiện giác) trong luận Thành thực quyển 14 nói, nếu người Xuất gia nhớ nghĩ đến họ hàng, làng xóm thì tâm sinh tham đắm, do tham đắm lại sinh tâm thủ hộ, bởi vậy không nên sinh Thân lí giác, mà phải nhớ nghĩ đến tất cả chúng sinh đang sống chết trong vòng luân hồi, tất cả đều là thân thích xóm làng, không nên thiên chấp. Vả lại, tất cả chúng sinh trong vòng sống chết đều là thân thích, xóm làng nên đau buồn khóc lóc lệ đã thành biển, nếu lại tham đắm thì khổ hoạn vô cùng. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.13]. (xt. Bát Giác).
thân mao thượng mi tướng
Lông trên thân Phật xoắn ngược lên trên, một trong ba mươi hai tướng hảo của Phật—The hairs on Buddha's body curled upwards, one of the thirty-two marks.
thân mê hoặc
(親迷惑) Sáu thứ Hoặc (phiền não) là Nghi và Năm kiến(Biên kiến, thân kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến) trong 10 thứ Hoặc do Kiến đạo đoạn trừ, gọi là Thân mê hoặc. Vì đều do thân mê đối với lí Tứ đế mà khởi các phiền não, cho nên gọi là Thân mê hoặc.
thân mình bất tịnh, thân người cũng bất tịnh, chỉ có thân phật là thanh tịnh
Our own bodies being impure and disgust, the bodies of others are likewise, only the Buddha-body is forever pure.
thân mạng
Jīvātman (S).
thân mẫu
Mother.
thân mật
Kāya-guhya (S) Một trong Tam mật.
; Intimate—Familiar.
; (身密) Phạm: Kàya-guhya. Một trong 3 mật(tức thân mật, khẩu mật, ý mật). Tam mật của Mật giáo có chia ra Pháp Phật tam mật và Chúng sinh tam mật. Trong Pháp Phật tam mật thì tất cả hình sắc là Thân mật; còn trong Chúng sinh tam mật thì người tu hành thân kết ấn khế để triệu thỉnh Thánh chúng, gọi là Thân mật. Trong Hiển giáo thì chúng sinh trong 1 hội hoặc thấy thân Phật màu vàng ròng, màu bạc trắng, màu các thứ báu, hoặc thấy thân Phật cao 1 trượng 6 thước, hoặc thấy thân Phật cao 1 dặm, 10 dặm, trăm nghìn muôn ức dặm, cho đến vô biên vô lượng trùm khắp hư không, điều này đại khái trời, người không thể biết được, không thể hiểu được, cũng gọi là Thân mật. (xt. Tam Mật).
thân mến
Beloved—Dear.
thân mệnh
Body and life.
; Body and life (bodily life).
thân mục
To see with one's eyes.
Thân Nghiêm
(親嚴, Shingon, 1151-1236): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, trú trì đời thứ 98 của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), Tự Trưởng đời thứ 55 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), húy là Thân Nghiêm (親嚴), thông xưng Đường Kiều Đại Tăng Chánh (唐橋大僧正), Tùy Tâm Viện Đại Tăng Chánh (隨心院大僧正), Việt Hậu Đại Tăng Chánh (越後大僧正), xuất thân vùng Kyoto, con của vị Trưởng Quan Kami vùng Phi Đạn (飛驒, Hida) là Trung Nguyên Thân Quang (中原親光). Ông theo hầu Chuyên Niệm (專念), học về Mật Giáo; đến năm 1181 thì thọ phép Quán Đảnh với Hiển Nghiêm (顯嚴) ở Pháp Trú Tự (法住寺). Ông đã từng tu phép cầu mưa ở Thần Tuyền Uyển (神泉苑) để cầu nguyện cho cung phi sinh sản an toàn. Vào năm 1228, ông làm Tự Trưởng, Pháp Vụ cũng như Hộ Trì Tăng của Đông Tự. Năm 1229, ông nhận tuyên chỉ của triều đình ban cho Tùy Tâm Viện (隨心院) ở vùng Tiểu Dã (小野, Ono) trở thành ngôi chùa Môn Tích. Đến năm 1235, ông làm Biệt Đương của Đông Đại Tự.
thân nghiệp
xem ba nghiệp.
; Kāya-karman (S), Kāya-kamma (P), Bodily action
; The karma operating in the body
; Kaya-sankhara (p)—Thân nghiệp tiêu biểu cho kết quả của những hành động của thân trong tiền kiếp. Tuy nhiên, thân nghiệp khó được thành lập hơn ý và khẩu nghiệp, vì như có lúc nào đó mình muốn dùng thân làm việc ác thì còn có thể bị luân lý, đạo đức hay cha mẹ, anh em, thầy bạn, luật pháp ngăn cản, nên không dám làm, hoặc không làm được. Vì thế nên cũng chưa kết thành thân nghiệp được. Hai nghiệp khác là khẩu và ý nghiệp—The karma operating in the body (the body as representing the fruit of action in previous existence. Body karma is difficult to form than thought and speech karma, for there are times when we wish to use our bodies to commit wickedness such as killing, stealing, and commiting sexual misconduct, but it is possible for theories, virtues as well as our parents, siblings, teachers, friends or the law to impede us. Thus we are not carry out the body's wicked karma—The other two karmas are the karma of the mouth and of the mind). ** For more information, please see Tam Nghiệp.
; (身業) Phạm: Kàya-karman. Pàli: Kàya-kamma. Một trong 3 nghiệp, chỉchocác nghiệp do thân tạo tác, được chia làm 3 loại là thiện, ác và vô kí. Thân ác nghiệp chỉ cho giết hại, trộm cướp, gian dâm; trái lại, không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm là Thân thiện nghiệp. Còn các nghiệp chẳng phải thiện, chẳng phải ác, không có năng lực cảm quả thì là Thân nghiệp vô kí. Thân nghiệp lại có Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp khác nhau. Biểu nghiệp chỉ cho tất cả động tác được bày tỏ ra, như huơ tay, giơ chân... đều thuộc Biểu nghiệp. Vô biểu nghiệp chỉ cho các nghiệp không bày tỏ ra, nhưng do năng lực của Biểu nghiệp mà tự sinh thế lực phòng ngừa điều sai trái, xấu ác. Thuyết nhất thiết bộ Tiểu thừa cho rằng Thân nghiệp và Ngữ nghiệp gọi chung là Tư dĩ nghiệp, chủ trương Biểu nghiệp lấy hình sắc làm thể, Vô biểu nghiệp lấy Vô biểu sắc làm thể. Kinh bộ thì chủ trương Biểu nghiệp lấy tâm sở Tư (chỉ cho Động thân tư) làm thể, còn Vô biểu nghiệp thì lấy chủng tử của tâm sở Tư làm thể. Các nhà Duy thức Đại thừa cũng lấy Động phát thắng tư (Động thân tư, Phát ngữ tư) là thể của nghiệp, chủ trương Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp đều là giả lập, chứ chẳng phải có thật; tức cho rằng Biểu nghiệp được giả lập dựa theo sự sinh diệt nối tiếp nhau của các sắc tướng như tay, chân tựa hồcóbày tỏ ra..., còn Vô biểu nghiệp thì được giả lập dựa theo phần vị của chủng tử thuộc tâm sở Tư. Tông Thành thực thì chủ trương thể của nghiệp là pháp chẳng phải sắc chẳng phải tâm. [X. luận Chúng sự phân A tì đạt ma Q.5; luận Câu xá Q.1, 13; luận Thành duy thức Q.1; luận Đại bà sa Q.113; luận Thành thực Q.7; Câu xá luận quang kí Q.13; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần cuối]. (xt. Nghiệp).
thân nghiệp công đức
(身業功德) Chỉ cho thân nghiệp của đức Phật A di đà có đầy đủ các công đức tướng hảo vi diệu, là 1 trong 8 thứ công đức của Phật thuộc 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc. Bài kệ trong luận Tịnh độ của ngài Thiên thân có câu (Đại 26, 231 thượng) : Ánh tướng hảo một tầm, sắc tượng vượt quần sinh, đó là ý nghĩa thành tựu công đức trang nghiêm thân nghiệp. Theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì 3 nghiệp thân, khẩu, ý trang nghiêm của Phật là đối trị 3 nghiệp hư vọng của chúng sinh; như chúng sinh do Thân kiến mà chịu thân thấp hèn, xấu xí, 8 nạn, trôi lăn trong 3 đường, nếu được thấy thân tướng sáng chói, tốt đẹp của Phật A di đà thì thoát khỏi sự trói buộc của thân nghiệp mà được thân nghiệp rốt ráo bình đẳng. Cứ theo luận chú lược sao của ngài Liễu huệ người Nhật thì công đức thân nghiệp rốt ráo bình đẳng này là nhờ vào các nguyện thứ 12 và 33 trong 48 nguyện của Phật A di đà mà thành tựu.
thân người khó được
It is difficult to be reborn as a human being—Trong các trân bảo, sinh mạng là hơn, nếu mạng mình còn là còn tất cả. Chỉ mong sao cho thân mạng nầy được sống còn, thì lo chi không có ngày gầy dựng nên cơ nghiệp. Tuy nhiên, vạn vật ở trên đời nếu đã có mang cái tướng hữu vi, tất phải có ngày bị hoại diệt. Đời người cũng thế, hễ có sanh là có tử; tuy nói trăm năm, nhưng mau như ánh chớp, thoáng qua tựa sương, như hoa hiện trong gương, như trăng lồng đáy nước, hơi thở mong manh, chứ nào có bền lâu? Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ rằng khi sanh ra đã không mang theo một đồng, nên khi chết rồi cũng không cầm theo một chữ, suốt đời làm lụng khổ thân tích chứa của cải, rốt cuộc vô ích cho bản thân mình trước cái sanh lão bệnh tử. Sau khi chết di, của cải ấy liền trở qua tay người khác một cách phủ phàng. Lúc ấy không có một chút phước lành nào để cho thần thức nương cậy về kiếp sau, cho nên phải đọa vào tam đồ ác đạo. Cổ đức có dạy: “Thiên niên thiết mộc khai hoa dị, nhất thất nhơn thân vạn kiếp nan.” Nghĩa là cây sắt ngàn năm mà nay nở hoa cũng chưa lấy làm kinh dị, chớ thân người một khi đã mất đi thì muôn kiếp cũng khó mà tái hồi. Vì thế, Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ những gì Phật dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó gặp. Được thân người, gặp Phật pháp, mà ta nở để cho thời gian luống qua vô ích, quả là uổng cho một kiếp người.”—Of all precious jewels, life is the greatest; if there is life, it is the priceless jewel. Thus, if you are able to maintain your livelihood, someday you will be able to rebuild your life. However, everything in life, if it has form characteristics, then, inevitably, one day it will be destroyed. A human life is the same way, if there is life, there must be death. Even though we say a hundred years, it passes by in a flash, like lightening streaking across the sky, like a flower's blossom, like the image of the moon at the bottom of a lake, like a short breath, what is really eternal? Sincere Buddhists should always remember when a person is born, not a single dime is brought along; therefore, when death arrives, not a word will be taken either. A lifetime of work, putting the body through pain and torture in order to accumulate wealth and possessions, in the end everything is worthless and futile in the midst of birth, old age, sickness, and death. After death, all possessions are given to others in a most senseless and pitiful manner. At such time, there are not even a few good merits for the soul to rely and lean on for the next life. Therefore, such an individual will be condemned into the three evil paths immediately. Ancient sages taught: “A steel tree of a thousand years once again blossom, such a thing is still not bewildering; but once a human body has been lost, ten thousand reincarnations may not return.” Sincere Buddhists should always remember what the Buddha taught: “It is difficult to be reborn as a human being, it is difficult to encounter (meet or learn) the Buddha-dharma; now we have been reborn as a human being and encountered the Buddha-dharma, if we let the time passes by in vain we waste our scarce lifespan.”
thân nhân
Relatives.
thân nhân duyên
(親因緣) Nhân duyên gần gũi, tức chỉ cho nhân duyên thứ nhất trong 4 nhân duyên, là nhân duyên trực tiếp, thân mật, có năng lực sinh ra các pháp hữu vi. Tông Duy thức gọi là Thân nhân duyên, ý nói có khả năng thân sinh ra tự quả, biện biệt tính chất sinh ra chủng tử nhân duyên của tự thể. Vì các pháp vốn không có tự tính, phải nương vào pháp thân nhân duyên khác mà sinh khởi, tức chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử, 3 pháp đồng thời và làm nhân quả lẫn nhau, đây là nghĩa chân thực về duyên khởi của Đại thừa. [X. luận Thành duy thức Q.7]. (xt. Tứ Duyên).
thân nhãn
See Thân Mục in Vietnamese-English Section.
thân nhĩ
To hear with one's own ears.
thân như ý thông
Rddhividhi-jnàna (S). The power to trasnfer oneself to various regions at will, also to change the body at will. Also thần thông, thần túc thông.
; Rddhividhi-jnana (skt)—See Thân Túc Thông.
thân nhẫn
Patience of the body—Endurance or forebearing of the body.
thân nhẫn ý nhẫn
To forebear in both the body and the mind—Nếu muốn thành tựu quả vị Bồ Tát, chúng ta phải thực hành thân nhẫn ý nhẫn—If we want to accomplish the Bodhisattvahood, we should always be forebearing in both the body and the mind.
thân nhập
The sense of touch, one of the six senses lục nhập.
; Một trong lục nhập. Cũng là một trong thập nhị nhơn duyên—The sense of touch, one of the six senses. Also one of the links in the chain of causation. ** For more information, please see Lục Nhập and Thập Nhị Nhơn Duyên.
thân nhật
Candra (skt). 1) Mặt Trăng: The moon. 2) Tên của một vị trưởng lão: Name of an elder.
; (申日) Hán dịch: Thủ tịch. Tên một vị Trưởng giả ở thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, con ông tức là đồng tử Nguyệt quang. Thân nhật từng cng với nhóm Lục sư ngoại đạo như Bất lan ca diếp... âm mưu hãm hại đức Phật bằng cách giả vờ thỉnh Phật đến nhà nhận sự cúng dường, lén đào hầm lửa trước và trộn thuốc độc vào cơm để hại Phật. Tuy biết quỉ kế của Thân nhật nhưng vì thương xót tính ngông cuồng ngu dại của ông ta nên đức Phật vẫn nhận lời. Bấy giờ, Thân nhật có 1 người con tên là Nguyệt quang, mới 16 tuổi nhưng kiến thức cao siêu lại thêm có đức, bèn khuyên can cha và ca ngợi công đức của Phật, cho rằng thân Phật là thân kim cương bất hoại, Thân nhật không nghe, cứ sai người đi đón rước Phật. Đức Phật vừa đến nơi liền dùng thần lực hóa hiện ra các thứ trang nghiêm, lúc đó hầm lửa bỗng biến thành ao tắm, Thân nhật kinh hãi, ăn năn tội lỗi, nhóm Lục sư ngoại đạo cũng đều hỗ thẹn và tìm đường rút lui. Đức Phật liền giảng Bát giải, Tứ đế, Lục độ, Tam thoát... cho Thân nhật nghe, Thân nhật khai ngộ, chứng được pháp nhẫn bất thoái chuyển. [X. kinh Thân nhật; kinh Nguyệt quang đồng tử; Thân nhật nhi bản kinh; Huyền ứng âm nghĩa Q.8].
Thân niệm xứ
một pháp trong Tứ niệm xứ (gồm có: thân, thọ, tâm và pháp). Thân niệm xứ dạy quán thân là bất tịnh, bằng cách quán tưởng các món tạo thành thân như: da, thịt, xương, gân, ruột, gan, tim, phổi... để thấy rằng hết thảy đều là bất tịnh, không thường còn. Cũng quán tưởng thân người sau khi chết tan rã, hôi thối, không thường còn.
thân niệm xứ
Kāyānapassana (S), Kāya-smṛsty-upasṭhāna (S).
; Mindfulness with regard to the body.
; (身念處) Phạm: Kàyasmfty-upasthàna. Pàli:Kàye kàyànupassi viharatì. Cũng gọi Thân niệm trụ, Thân quán. Quán xét tự tướng bất tịnh của thân, là 1 trong 4 niệm xứ. Cũng quán xét cộng tướng khổ, không, vô thường, vô ngã, để đối trị tịnh điên đảo trong 4 điên đảo. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 43 thì trong thân con người có 36 thứ vật bất tịnh như tóc, lông, răng, ghét gúa, nước dãi, da dày, da mỏng... nếu quán xét kĩ từng vật trong 36 vật dơ bẩn này thì xa lìa được sự đắm đuối về ái dục. (xt. Tứ Niệm Trụ).
thân nầy là một khối ung sang bất tịnh
This body is an impure mass of ulcers.
thân nầy là trung tâm bão của khổ đau phiền não
This body is the storm center of sufferings and afflictions.
thân nộ ba lâm
Yasti-vana (skt)—Trượng Lâm—Rừng Thân Nộ Ba nơi mà ngoại đạo đã dùng một trong những cây trong đó để đo Đức Phật và cuối cùng phải ném bỏ, vì càng đo Đức Phật càng cao thêm—Groves of staves, said to have grown from the staff (of 16 foot bamboo pole) with which the heretic measured the Buddha and which he threw away, because the more he measured the higher the Buddha grew. Another part of the legend is that the forest grew from the bamboo which heretics left behind in chagrin.
thân phạt nghiệp
Kāya-daṇḍa (S) Một trong Tam phạt nghiệp.
thân phần
Kāya dhātu (S).
; (身分) I. Thân Phần. Chỉ cho 1 bộ phận của thân thể hoặc toàn bộ thân thể. Kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ quyển 2 (Đại 18, 592 trung) nói: Người tu Du già phải khéo suy tính, cho đến thân phần ẩm thực không sinh ra tạp loạn, như Thân phần cúng dường nói trong Di giáo kinh luận là chỉ cho Thân nghiệp cúng dường như thức ăn uống, áo mặc, đồ nằm, thuốc thang... [X. luận Đại tì bà sa Q.177]. II. Thân Phần. Chuyên chỉ cho nam căn. Luật Thập tụng quyển 1 (Đại 23, 1 hạ) nói: Kẻ ngu si này mở các cửa hữu lậu, thà để thân phần (nam căn) vào miệng rắn độc chứ quyết không để nó vào nữ căn.
thân phận
Condition.
thân phụ
Father.
thân quang
Bandhu-prabhā (S), Prabhā-mitra (S).
; The body shining from the person of a Buddha, or a Bodhisattva; a halo, aura.
; Ánh sáng phát ra từ chính thân Phật hay thân các vị Bồ Tát—The glory or halo shining from the person of a Buddha or Bodhisattva.
; (親光) I. Thần Quang. Cũng gọi Uy thần quang. Ánh sáng của Phật linh diệu không thể nghĩ bàn. Quang minh tượng trưng cho trí tuệ, trí của Phật xa lìa tất cả tướng phân biệt hư vọng, không thể nghĩ bàn, vì thế quang minh của Phật cũng lìa hình tướng, cho nên gọi là Thần quang. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Tán A di đà Phật kệ (Đàm loan)]. II. Thần Quang. Thiền tông gọi ánh sáng xưa nay của chính mình là Thần quang. Thiền gia qui giám (Vạn tục 112, 463 hạ) nói: Thần quang chẳng mờ, xưa nay sáng rỡ, vào được cửa này, chẳng còn hiểu biết. III. Thần Quang. Tên của ngài Tuệ khả, Tổ thứ 2 của Thiền tông, lúc còn trẻ. (xt. Tuệ Khả).
thân quyến
See Thân (3).
thân sau cùng
(tối hậu thân): tức là lần thọ thân cuối cùng của một vị Bồ Tát trước khi thành tựu quả Phật. Vị Bồ Tát này cũng được gọi là Bồ Tát Nhất sanh bổ xứ.
thân sơ
Close and far.
thân sắc
Countenance.
thân sắt tri
Xem Trượng Lâm, Xem Thiện Kiến Lập Chi đề.
thân sắt tri lâm
Xem Thân sắt tri.
; (申瑟知林) Phạm: Yawỉi-vana. Pàli: Yaỉỉhi-vana, Laỉỉhi-vana. Cũng gọi: Thân nộ lâm, Thân nộ ba lâm, Già việt lâm, Từ tự lâm. Hán dịch: Trượng lâm. Rừng gậy, là khu vườn rừng ở phía ngoài thành Vương xá, nước Ma yết đà, thuộc Trung Ấn độ đời xưa. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 38 thì khi đến nước Ma yết đà giáo hóa, đức Phật đã từng trụ ở khu vườn rừng này, vua Tần bà sa la và các Tiểu vương, quần thần đều đến nghe đức Phật thuyết pháp. Về nguyên do tại sao khu vườn rừng này có tên là Trượng lâm thì Thích ca phương chí quyển hạ (Đại 51,963 hạ) ghi: Thân sắt tri lâm (Hán dịch là Trượng lâm – rừng gậy) có rất nhiều hang núi. Thủa xưa có người dùng chiếc gậy tre dài 1 trượng 6 thước để đo lường thân Phật, thân Phật luôn cao hơn đầu gậy; do đó, người ấy ném gậy rồi bỏ đi, gậy mọc rễ, lan ra khắp núi. Ngoài ra, về vị trí khu rừng này, theo kinh Trung a hàm quyển 11, Trượng lâm ở cách thành Vương xá 1 do diên; còn phẩm Độ bình sa vương trong kinh Trung bản khởi quyển thượng cũng ghi cách thành La duyệt kì 40 dặm(tức 1 do diên). Tuy nhiên, cũng còn nhiều ghi chép khác nữa.
thân sở duyên duyên
(親所緣緣) Đối lại: Sơ sở duyên duyên. Tông Duy thức chia Sở duyên duyên trong 4 duyên làm 2 loại là Thân sở duyên duyên và Sơ sở duyên duyên. Duyên không xa lìa thể năng duyên và là chỗ nưong gá của sự suy nghĩ trong Kiến phần(chủ thể có năng lực nhận thức đối tượng khách quan), gọi là Thân sở duyên duyên. [X. luận Thành duy thức Q.7]. (xt. Tứ Duyên, Sơ Sở Duyên Duyên).
thân tam khẩu tứ ý tam
(A) 1) Thân tam: Kaya-karmas (skt)—Ba giới về thân—The three commandments dealing with the body: a. Không sát sanh: Not to kill or prohibiting taking of life—Chúng ta chẳng những không phóng sanh cứu mạng, mà ngược lại còn tiếp tục sát sanh hại mạng nữa, chẳng hạn như đi câu hay săn bắn, vân vân—We do not free trapped animals; but, in contrast, we continue to kill and murder innocent creatures, such as fishing, hunting, etc. b. Không trộm cắp: Not to steal or prohibiting stealing—Chúng ta chẳng những không bố thí cúng dường, mà ngược lại còn lại tiếp tục ích kỷ, keo kiết, trộm cắp nữa—We do not give, donate, or make offerings; but, in contrast, we continue to be selfish, stingy, and stealing from others. c. Không tà dâm: Not to commit adultery or prohibiting commiting adultery—Chúng ta chẳng những không đoan trang, chánh hạnh, mà ngược lại còn tiếp tục tà dâm tà hạnh nữa—We do not behave properly and honorably; but, in contrast, we continue to commit sexual misconduct or sexual promiscuity. 2) Khẩu tứ: Vac-karmas (skt)—Bốn giới về—The four dealing with the mouth: a. Không nói dối: Not to lie—Chúng ta chẳng những không nói lời ngay thẳng chơn thật, mà ngược lại luôn nói lời dối láo—We do not speak the truth; but, in contrast, we continue to lie and speak falsely. b. Không nói lời đâm thọc: Not to exaggerate—Chúng ta không nói lời hòa giải êm ái, mà ngược lại luôn nói lưỡi hai chiều hay nói lời xấu ác làm tổn hại đến người khác—We do not speak soothingly and comfortably; but, in contrast, we continue to speak wickedly and use a double-tongue to cause other harm and disadvantages. c. Không chửi rũa: Not to abuse—Chúng ta chẳng những không nói lời ôn hòa hiền dịu, mà ngược lại luôn nói lời hung ác như chữi rũa hay sỉ vả—We do not speak kind and wholesome words; but, in contrast, we continue to speak wicked and unwholesome words, i.e., insulting or cursing others. d. Không nói lời vô tích sự: Not to have ambiguous talk—Chúng ta không nói lời chánh lý đúng đắn, mà ngược lại luôn nói lời vô tích sự—We do not speak words that are in accordance with the dharma; but, in contrast, we continue to speak ambiguous talks. 3) Ý tam: Moras-karmas (skt)—Ba giới về ý—The three dealing with the mind: a. Không ganh ghét: Not to be covetous—Chúng ta không chịu thiểu dục tri túc, mà ngược lại còn khởi tâm tham lam và ganh ghét—We do not know how to desire less and when is enough; but we continue to be greedy and covetous. b. Không xấu ác: Not to be malicious—Chúng ta chẳng những không chịu nhu hòa nhẫn nhục; mà lại còn luôn sanh khởi các niềm sân hận xấu ác—We do not have peace and tolerance toward others; but, in contrast, we continue to be malicious and to have hatred. c. Không bất tín: Not to be unbelief—Chúng ta chẳng những không tin luật luân hồi nhân quả; mà ngược lại còn bám víu vào sự ngu tối si mê, không chịu thân cận các bậc thiện hữu tri thức để học hỏi đạo pháp và tu hành—We do not believe in the Law of Causes and Effetcs, but in contrast we continue to attach to our ignorance, and refuse to be near good knowledgeable advisors in order to learn and cultivate the proper dharma. (B) 1) Thân tam: Kaya-karmas (skt)—Ba giới về thân—The three commandments dealing with the body: a. Không sát sanh: Not to kill. b. Không trộm cắp: Not to steal. c. Không tà dâm: Not to commit adultery. 2) Khẩu tứ: Vac-karmas (skt)—Bốn giới về ý—The four dealing with the mouth: a. Không nói dối: Not to lie. b. Không nói lời hung dữ: Not to insult. c. Không nói lời đâm thọc: Not to exaggerate. d. Không nói lưỡi hai chiều: Not to speak with a double-tongue. 3) Ý tam: Moras-karmas (skt)—Ba giới về ý—The three dealing with the mind: a. Không tham: Not to be greedy. b. Không sân: Not to be hatred. c. Không si: Not to be ignorant.
thân tam muội
The embodiment of samaya—The symbol of a Buddha or bodhisattva.
thân thanh tịnh
(身清淨) Chỉ cho thân nghiệp xa lìa các hành vi phiền não, ô nhiễm. Tức không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm, là 1 trong 3 thứ thanh tịnh. [X. luận Câu xá Q.16; luận Tập dịmôn túc Q.6]. (xt. Thanh Tịnh ).
thân thiết
Intimate—Familiar.
thân thiện
Friendly.
thân thuộc
Relatives.
thân thành
Thân như là thành trì của tâm—The body as the citadel of the mind.
Thân thích
(親戚): sự thân cận, gần gủi về mặt huyết thống. Theo Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648), học giả thời nhà Đường của Trung Quốc, thân thích được giải thích là “Thân chỉ tộc nội, thích ngôn tộc ngoại (親指族內、戚言族外, thân là chỉ cho những người trong gia tộc, thích là chỉ cho những người ngoài gia tộc).” Cho nên, thân thích gồm 2 loại: những người thân thuộc hệ huyết thống trực tiếp (直系血親, trực hệ huyết thân) và hệ huyết thống gián tiếp (旁系血親, bàng hệ huyết thân). Câu “luân trung thân thích (倫中親戚)” có nghĩa là sự gần gủi trong luân thường đạo lý.
thân thích
Relatives.
thân thông
See Thân Túc Thông.
thân thắng
Bandhuśrī (S) Một trong 10 đại luận sư của Tông Duy thức.
; Badhusrì (S).
; (親勝) Phạm: Bandhazri. Hán âm: Bạn độ thất lợi, Bạn đồ thất lợi.Một trong 10 vịđạiLuận sư Duy thức. Sự tích về sư không được rõ, tương truyền sư là người cùng thời đại với ngài Thế thân. Sư có soạn Lược thích về tác phẩm Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân, vì rất khế hợp với ý của tác giả nên các Luận sư đời sau đều y cứ vào bộ lược thích, nhưng đáng tiếc hiện nay sách này đã thất truyền.
thân thể
(身體) Phạm:Kàya. Hán âm: Ca da. Hán dịch: Tích tập, y chỉ. Chỉ cho chỗ nương gá(y chỉ) của thức thân, Phật giáo gọi là Thân căn, hoặc gọi tắt là Thân, 1 trong 5 căn, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Các căn như mắt, tai... tuy đều là chứa nhóm, nương gá, nhưng các căn đều phải nương vào Thân mới thành lập được, vì thế mới đặc biệt gọi Thân là Ca da. Trong 12 xứ gọi là Thân xứ (Phạm:Kàyàyatana) trong 18 giới gọi là Thân giới (Phạm:Kàyadhàtu). Trong các luận như luận Đại tì bà sa, để phân biệt Thân căn với thân gồm xương, thịt, gân, mạch... gọi thân xương, thịt... là Phù trần căn. Đối lại với Phù trần căn, Thân căn có tác dụng xúc giác, gọi là Thắng nghĩa căn. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần đầu]. (xt. Thân Căn).
thân thụ
(身受) Chỉ cho 3 cảm thụ khổ, vui, không khổ không vui(tức khổ, lạc, xả)của nhục thân hoặc cảm giác do 5 thức trước(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân)cảm nhận. Thụ là sự kết hợp của 3 thứ: Căn(cảm quan), Cảnh(đối tượng), Thức(cảm giác). Thụ (Phạm: Vedanà) của Phật giáo tương đương với cái mà người ta thường gọi cảm thụ. (xt. Thụ)
thân thức
Kāya-vijāna (S), Kaya-vināṇa (P), Body-consciousness.
; Kàya-vijnàna (S). Cognition of the objects of touch.
; Kaya-vijnana (skt)—Body consciousness—Tactile consciousness—Thân thức phát triển khi điều kiện nổi bậc trong đó thân tiếp xúc với đối tượng bên ngoài. Thân căn nằm khắp các nơi trong cơ thể—Tacticle sensation consciousness—Body consciousness develops when the dominant condition in which the body faculty meets an object of touch. The location of the body faculty is throughout the entire body. Cognition of the objects of touch, one of the five forms of cognition. ** For more information, please see Bát Thức.
; (身識) Phạm:Kàya-vijĩàna. Pàli:Kàya-viĩĩàna. Chỉ cho tâm thức nương gá vào thân căn để nhận biết đối tượng tiếp xúc, 1 trong 5 thức, 1 trong 6 thức, 1 trong 18 giới. Các đối tượng (cảnh)mà thân thức tiếp xúc gồm 11 thứ: Đất, nước, lửa, gió, tính trơn, tính ráp, tính nặng, tính nhẹ, lạnh, đói và khát. Lại nữa, về đại chủng mà 5 sắc căn(tức Thắng nghĩa căn)mắt, tai, mũi, lưỡi, thân nương gá có phải là chỗ mà thân thức duyên theo hay không thì luận Đại tì bà sa quyển 127 có nêu ra 2 thuyết: Thuyết thứ nhất cho rằng 5 sắc căn không thể va chạm, cho nên không phát ra thân thức, do đó mà đại chủng là chỗ nương gá trong hiện tại cũng không có nghĩa phát ra thân thức. Thuyết thứ hai cho rằng đại chủng mà thân căn nương gá rất gần, cho nên không thể phát ra thân thức, còn đại chủng của các sắc căn khác thì đều là sở thức của thân thức. Đại chủng của thân căn nương gá là cảnh sở duyên của thân thức khác, cho nên cũng được gọi là sở thức của thân thức. Ngoài ra, thân thức bị trói buộc ở cõi Dục có đủ 3 tính thiện, bất thiện và vô kí; ở Sơ thiền cõi Sắc thân thức tương ứng với các phiền não do Tu đạo đoạn trừ, thuộc về hữu phú vô kí; còn tại cõi Vô sắc thì vì không có thân căn làm chỗ nương gá nên không sinh thân thức. [X. luận Thức thân túc Q.3, 6; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.71, 73; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Câu xá Q.2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Đại Chủng, Ngũ Thức).
thân tiên nhãn
The eye that precedes the body—The ability to regulate our physical actions even before we are conscious of them.
thân tiền hữu
Antecendent Existence Body—Tiền có nghĩa là trước, khởi thủy hay đầu tiên. Hữu có nghĩa là đang có, đang mang, hay đang nhận lấy. Thân Tiền Hữu là cái thân xác tứ đại hiện tại, thể chất hay phi thể chất, do các nghiệp duyên tiền kiếp tạo thành mà chúng sanh chúng ta đang mang lấy hiện giờ. Thân tiền hữu nầy sẽ phải lần lượt trải qua bốn giai đoạn, sanh, lão, bệnh, và tử. Thân tiền hữu chỉ sống còn được trong một thời gian nào đó, chớ không được bền vững hay trường cửu. Bởi lẽ hễ có sanh tất có diệt. Không có bất cứ một loại chúng sanh nào trong tứ sanh có thể vượt qua định luật vô thường bất di bất dịch nầy, kể cà các bậc Thiên Tiên—Antecedent means before, the origin, or the beginning, etc. Existence means it is inhabited currently, and used presently, etc. The antecedent existence body is the present form body, physical or non-physical, created from various karmasand predestined affinities that each sentient being accumulated in the past. In turn, this antecedent existence body will pass through these four stages of impermanence: birth, old age, sickness, and death. The antecedent existence body will remain only for a definite period of time, but it will not be permanent or eternal because there is birth, then there must be death. There is absolutely no being of the four types of sentient beings, with an antecedent existence body, can overcome this inevitable fate of these four unchanging laws of impermanence including the Heavenly Fairies.
thân trung hữu
Antara-bhava (skt)—Intermediate Existence Body. (A) Nghĩa của Thân Trung Hữu—The meanings of the Intermediate Existence Body: Giai đoạn giữa lúc chết và lúc đi đầu thai. Đây là tiến trình chết và tái sanh trong vòng 49 ngày. Hễ có thân tiền hữu, thì đương nhiên là phải có thân trung hữu và thân hậu hữu. Trung có nghĩa là ở khoảng giữa, ở giữa của hai khoảng đời nầy và đời sau. Hữu là hiện có, hay đang mang lấy. Vì cái quả báo do nghiệp tội của thân tiền hữu đã gây tạo là có chứ không phải là Không. Chính thế nên mới được gọi là Hữu. Thân Trung Hữu là thân kế sau của thân tiền hữu. Nói cách khác, tất cả các loại chúng sanh hữu tình sau khi mạng chung tức là đã bỏ thân tiền hữu rồi. Khi đó thân xác hoàn toàn bị hư hoại, ngũ ấm chia lìa, tứ đại phân ly, thần thức liền thoát ngay ra khỏi xác thân tiền hữu, trước khi chưa thọ lấy thân hậu hữu tức là thân của đời sau, thì thần thức nầy ở vào trong giai đoạn thọ cảm lấy một cảnh giới khác. Trong lúc nầy, thần thức ở vào trong một giai đoạn chuyển tiếp ngắn và mang lấy một thân thể khác gọi là thân trung hữu—Bardo stage—The intermediate stage between death and rebirth. It's the 49-day-long process death and rebirth. If there is an antecedent existence body, then, naturally, there has to be an Intermediate Existence Body and an After Existence Body. Intermediate means middle, or in between two lives of the present and future. Existence means present, or currently inhabitating. Because the karmic retribution are concrete and not emptiness. Thus, because of the genuineness of karmic consequences, it is called Existence. The intermediate existence body means the body to be inhabited after the antecedent body. In other words,once a sentient being's dstiny ends, he or she must abandon the antecedent existence body. Once this happens, that body will decay, the five aggregates will separate, and that person's spirit will leave the antecedent existence body. And before inhabiting the after existence body or the body of the future life, the spirit of this individual will exist in a period where it will take on a new realm. During this time, the spirit will enter a transitional period as they immediately exist as another entity or inhabit a different body called intermediate existence body—For more information, please Antara-bhava in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. (B) Các giai đoạn thọ báo của Thân Trung Ấm—Various stages of retributions of the intermediate existence body: a) Giai đoạn 49 ngày đầu hay thời kỳ minh định nghiệp báo—The first 49 days or the period of determination of karmic retributions: Theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gởi Người Học Phật, thân trung hữu do năm ấm vi tế kết thành, cho nên nó còn có tên là Thân Trung Ấm. Thân trung ấm nầy có nhiều hình sắc khác nhau, nhưng đại khái có hai loại chánh: loại hình sắc xinh đẹp, và loại hình sắc xấu xí. Trước khi thân trung ấm thọ cảm lấy thân hậu ấm sẽ phải trải qua một thời gian dài 49 ngày để minh định nghiệp báo, tức là cảm thọ lấy các nghiệp nhân, hoặc thiện hoặc ác, mà kẻ ấy đã gây tạo trong lúc còn mang thân tiền hữu. Kinh Địa Tạng có dạy rằng: “Quỷ vô thường không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mù chưa rõ là tội hay là phước, trong 49 ngày như ngây như điếc, hoặc ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả, khi thẩm định xong, thời cứ y theo nghiệp mà thọ lấy quả báo.”—According to Venerable Thích Hải Quang in the Philosophical Conversations with Buddhist Followers, the intermediate existence body is formed by five infinitesimally small aggregates; therefore, it is also called the Intermediate Skandha Body. The intermediate skandha body has many different characteristics, but, in general, there are two types of form appearances: one is having a beautiful form appearance, the other is having a dreadful form appearance. Before the intermediate skandha body assumes the after existence body or the future body, it must pass through a period of forty-nine days in order to determine each individual's karmic retribution, i.e., judgment day. This is to assume responsibilities for the various karmic activities, whether wholesome or unwholesome, taken when the individual still had the antecedent existence body or when still alive. The Ksitigarbha Sutra taught: “The great demon of impermanence makes no appointments yet it comes, the spirits of the dead are confused and delirious not knowing whether meritorious or transgression. For forty-nine days, their existence is like darkness and deafness, not knowing what will happen, or they may be at various underworld courthouses to go on trials for their karma. Once decisions are made, they will follow their karma to reap the karmic retributions.” b) Giai đoạn thọ thân hậu hữu—The period of transition beyween life: Thân trung hữu hay thân trung ấm không liền được đi đầu thai chuyển kiếp sau khi thoát ra khỏi xác thân tiền hữu, mà bắt buộc phải trải qua 49 ngày để thẩm định nghiệp quả. Nói cách khác, ngay sau khi thần thức thoát ra khỏi xác thân tiền hữu và trở thành thân trung hữu, liền bị nghiệp nhân dẫn dắt tùy theo nghiệp báo mà đi đầu thai chuyển kiếp, tức là thọ lấy thân hậu hữu tương xứng với tội phước mà thân tiền hữu đã gây ra, để tiếp tục trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Chính vì thế mà Kinh Địa Tạng dạy: “Như sau khi người đã chết, lại có thể trong vòng 49 ngày thân quyến vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể làm cho người chết đó ra khỏi hẳn chốn ác đạo, được sanh lên cõi trời hoặc trong cõi người, hưởng lấy sự vui sướng mà thân quyến hiện tại cũng được rất nhiều lợi lạc.” Như vậy, nếu thân nhân người quá cố biết rằng lúc đương đời người nầy đã gây tạo nhiều ác nghiệp, tất phải thọ báo nơi địa ngục. Vì thương xót người quá vãng nên đứng ra làm các công đức, phước lành như bố thí, phóng sanh, và trì tụng kinh chú, rồi đem nhữõng công đức ấy mà hồi hướng cho hương linh người quá cố trong khi người ấy vẫn còn mang thân trung ấm chớ chưa đi đầu thai chuyển kiếp. Làm được như vậy, hương linh người quá cố sẽ được tội tiêu, chướng diệt, lìa hẳn chốn ác đạo mà sanh về cõi trời người, thọ lấy những điều an vui sung sướng—The antecedent existence body or the skandha existence body is not reborn (reincarnated) into another life, but must pass through a period of 49 days of determination of karmic retributions or transition between life. In other words, right after the spirit escapes from the antecedent existence body and becomes the intermediate existence body, it is led by that individual's karmic effect, depending on the karmic retributions (various merits and transgressions created when that being still had the antecedent existence body) to get reborn into the next life in the six realms of existence. Thus, the Ksitigarbha Sutra taught: “Supposing once a person dies, within the first forty-nine days, for that person's benefit, loved ones are willing to cultivate and form many meritorious and wholesome practices, then it is possible to free completely that spirit of the dead from the various evil paths to be reborn in Heaven or in the Human realm to reap the various luxuries and hapiness. Not only that, but the curently living loved ones will also benefit greatly. Family and friends know when alive, their loved one who died recently, had created many unwholesome karmic deeds, and will have to endure the karmic retributions of hell. Through love and compassion for their loved one, they follow the Buddha's 'eachings, take the person's place to practice various virtuous, meritorious, and wholesome deeds such as make donations, charity work, free trapped animals, chant sutras, recite Buddha's name and mantras, etc. Thereafter, use thse merits and virtues to dedicate and pray for the deceased spirit when that spirit still exists with the intermediate existence body and has not yet been reborn or reincarnated to another life. If family and friends are able to do all these, the deceased's intermediate skandha body will be able to eradicate and overcome his or her transgressions to varying degrees. That person will be able to abandon the evil paths and be reborn to Heaven or Human realms to enjoy the various happiness and luxuries. c) Trường hợp thọ báo đặc biệt của thân trung hữu—Special and unique karmic retribution conditions of the intermediate existence body: Thường thì thân trung hữu phải trải qua một thời gian chuyển tiếp là bốn mươi chín ngày, sau đó mới cảm thọ lấy thân hậu hữu. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp đặc biệt mà thân trung hữu không cần phải trải qua giai đoạn chuyển tiếp thông thường nầy. Những chúng sanh nầy sau khi đã bỏ thân tiền hữu rồi thì thần thức hoặc liền được siêu thoát về các cõi trời tương xứng như trời dục giới, sắc giới và vô sắc giới; hoặc bị đọa thẳng xuống địa ngục, chớ không phải trải qua giai đoạn 49 ngày thông thường của thân trung ấm—As usual, the intermediate existence body must go through seven cycles with seven days in each cycle. Only thereafter, the spirit is able to receive the future body. However, there are special situations where the intermediate body does not need to go through that ordinary transitional period. These sentient beings, after leaving their antecedent bodies, their spirits will immediately be liberated to the appropriate heavens accordingly to their merits and spiritual achievements, or be condemned to hell immediately without having to pass through the ordinary transitional period of forty-nine days of the intermediate skandha body: • Chúng sanh khi còn mang thân tiền hữu đã gây tạo những nghiệp nhân cực thiện, tức gieo nhân thập thiện bậc thượng thuộc các cõi trời dục giới, sắc giới và vô sắc giới: When the sentient beings were alive with antecedent body, they created an extraordinary amount of wholesome karma, planted the fruit of the ten wholesome deeds to the highest level with regard to the various Heavens of Desires, Form, and Formlessness. • Chúng sanh khi còn mang thân tiền hữu đã gây tạo những nghiệp nhân cực ác, như phạm tội tứ trọng hay ngũ nghịch, thập ác, thuộc đại địa ngục A Tỳ: When the sentient beings were alive with antecedent body, they created an extraordinary amount of unwholesome karma, the most evil and wicked deeds, such as guilty of violating the four offenses, five betrayals, ten evils, belonging to the great Avichi Hell—See Tứ Đọa, and Ngũ Nghịch. • Ngoài ra, còn có một loại chúng sanh ngoại hạng, không cần phải trải qua giai đoạn thân trung ấm và cũng không bị lệ thuộc vào trong ba cõi sáu đường, đó là những chúng sanh khi còn mang thân tiền hữu đã y theo pháp Phật tu hành, như niệm Phật và phát lòng Tín Nguyện cầu sanh Cực Lạc. Các chúng sanh ấy sau khi bỏ thân tiền hữu rồi thì thần thức liền siêu thoát ngang qua ba cõi, nương theo nguyện lực nhiếp thọ của chư Phật, Bồ Tát, trong khoảng sát na, lập tức được hóa sanh ngay về cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, ngự trên tòa sen báu, vĩnh viễn thoát khỏi các cảnh luân hồi sanh tử: Besides, there is one more type of sentient beings who are beyond limits; they also do not need to go through the transition period, do not experience having the intermediate body, nor are they a part of the three worlds and the six realms of existences. These sentient beings are those when alive with the antecedent body, followed the Buddha Dharma to cultivate and practice Buddha Recitation by developing Faith and Vow to gain rebirth to the Ultimate Bliss World. After abandoning the antecedent body, their spirits will transcend through the Three Worlds, relying on the rescuing vow powers of the Bodhisattvas and Buddhas. Within a split moment, they will transform to gain rebirth to the Ultimate Bliss Worldof the Amitabha Buddha and attain a place in the jeweled lotus throne and eternally escape from the conditions of the cycle of rebirths, life, death, etc. (C) Đặc điểm của Thân Trung Ấm—Special characteristics of the Intermediate skandha body: Thân trung ấm chỉ lưu trụ được bảy ngày. Như không tìm được chỗ thọ sanhtrong thời hạn ấy thì phải chết đi sống lại, nhưng đại khái không quá bảy lần tức 49 ngày thì phải thọ sanh lấy thân hậu hữu. Thân trung hữu khi chết đi, hoặc sanh trở lại y như thân trước, hoặc do nơi nghiệp nhân chiêu cảm có thể biến đổi thành ra thân trung hữu của loài khác trước khi thọ thân hậu hữu. Khi thân trung hữu sắp diệt để thọ lấy thân hậu hữu, bấy giờ tùy theo các hành nghiệp đã gây tạo mà cảm thấy có nhiều tướng trạng khác nhau. Những kẻ gây nghiệp sát, như lúc sanh tiền chuyên nghề giết heo, dê, vân vân thì lúc đó tự nhiên thấy toàn là những loài vật ấy. Hoặc mắt thấy có những kẻ hàng thịt tay còn cầm dao, búa làm thịt, hoặc tai nghe tiếng thú vật kêu la. Bởi do túc nghiệp chiêu cảm nên thân trung ấm tự nhiên sanh tâm yêu thích, muốn đến nơi ngắm nhìn. Khi đến nơi rồi liền bị các cảnh sắc đó làm cho trở ngại không thể nào thoát ly được. Trong chớp mắt, thân trung hữu liền bị diệt mà thọ lấy thân hậu hữu—Usually, the intermediate body will remain only for seven days. If it is unable to find a place to get reborn within that time, then it must die and come back to life again as an intermediate body. But, in general, this period will not last more than seven cycles of seve days each before it is able to be reborn and acquire an after existence body. When the intermediate body dies, it can return just as it was before or depending on the karmic reflection, it can transform and change into an intermediate body of another realm before it acquires an after existence body through reincarnation. When the intermediate body is nearing extinction and is about to be reincarnated, at that time, depending on the various karma created by the individual, each will see and perceive different realities, i.e., while living those who created many karma of killing various animals such as slaughtering pigs, goats, etc., then at this time, suddenly all they will see is those various animals they have killed in the past. They may see butchers slaughtering animals or the sounds of animals screaming in agony. Because this is a reflection of the karma they created. Suddenly, the intermediate body will give rise to the state of joy and yearning to be near what they are seeing and hearing. Upon reaching their destination, they will be impeded by their environment and will no longer be able to free themselves from it. In a split moment, their intermediate body is dead as they acquire the after existence body. (D) Thân Trung Ấm sanh về các đường ác—Intermediate Existence Body born to the evil paths: Trong Kinh Đại Bảo Tích, Đức Phật dạy: “Những chúng sanh nào tạo nên ác nghiệp, lúc sắp lâm chung sắp bị đọa vào ác đạo, tự nhiên có lòng buồn thảm, kinh sợ. Tùy theo nghiệp của mình chiêu cảm mà tự thấy tướng trạng của các đường ác hiện ra.”—In the Great Heap Sutra, the Buddha taught: “Those sentient beings who committed evil karma, when they are about to die, and are going to fall into evil paths. They will feel extremely sad and terrified. Depending on the reflection of their individual karma, they will see different images of the various evil paths appear.” a) Thân trung ấm sắp sửa chuyển sanh về cõi A Tu La, thì sẽ thấy những vườn cây khả ái, xinh đẹp, trong đó có những vòng lửa lẫn lộn chuyển xoay. Nếu thấy cảnh tượng đó mà đem lòng vui vẻ đi đến xem, tức là bị sanh về nẻo nầy. Thân trung ấm nào sắp sửa chuyển thân vào nẻo A Tu La, do sức nghiệp chiêu cảm tự nhiên trước mặt thấy một vùng ánh sáng lờ mờ, liền khởi lòng ưa thích, đi vào trong đó, liền bị thọ sanh: The intermediate body is about to be born in th Asura realm will see various beautiful and irresistible gardens. In these gardens, there are a variety of rings of flames rolling around everywhere. When seeing these images and they bring joy and elation to the spirit, this means that spirit will be born in this realm. The intermediate body about to enter the Asuras, through a recollections of the spirit karmic power, suddenly will see a large area of dim light, develop a yearning for it, go into that domain and reborn. b) Thân trung ấm sắp sanh vào loài chó heo thường thấy nhiều cô gái đẹp, liền sanh tâm ưa thích chạy theo. Do nhân duyên đó mà bị thác sanh vào cõi ấy: The intermediate body is about to be born as a dog or pig will often see amny beautiful young ladies; the spirit will give rise to attachment and yearning to chase after them. Consequently, this spirit will be born in that realm. c) Thân trung ấm sắp đọa vào các loài bàng sanh tự nhiên cảm thấy có luồng gió mãnh liệt cuốn xoay không sao cưỡng lại được. Hoặc thấy vô số quỷ thần đến gần, hoặc thấy sấm chớp phủ lên đầu ghê rợn, hoặc thấy sương giăng mù mịt, núi lở, nước cuốn ầm ầm, thần thức sợ hãi, chạy trốn vào trong rừng bụi, hang đá để ẩn thân, hoặc thấy những hố lớn màu trắng, đỏ, đen, liền nhào xuống ẩn núp. Ngay khi đó là thần thức đã bị lọt vào trong bào thai, vừa mở mắt đã thấy mình thọ thân dị loại như chồn, beo, rắn, vân vân: The intermediate body is about to be born as other types of animals will feel suddenly there is a gust of wind twisting so forcefully it is impossible to oppose it. Or it may see infinite demons spreading and coming closer, or terrifying thunders and lightening overhead, etc. Or it may see fog covering, mountain splitting, water crashing, and the spirit will be terrified as it runs away into trees, bushes, and caves, in order to hide or it may see three large holes with the colors of white, red, and black, and will jump to hide. At that very moment, the spirit has entered the womb, when eyes are open, it will realize it has acquired the body of various animals such as a fox, leopad, snake, etc. d) Thân trung ấm sắp sửa đọa vào đường ngạ quỷ, thình lình thấy trước mặt hiện ra một bãi sa mạc rộng lớn thênh thang, không cây cối, hoặc chỉ thấy toàn là những hang hố, cây cỏ khô héo. Lúc ấy tự thấy mình bị gió nghiệp thổi đến nơi đó, trong khi thảng thốt, liền bị thác sanh về đường ngạ quỷ, chịu nhiều nóng bức, đói khát vô cùng. Thân trung ấm nào thấy ánh sáng màu đỏ nhạt, khởi niệm ưa thích muốn vào dạo chơi trong đó. Ngay khi đi vào liền thọ thân loài ngạ quỷ: Those intermediate bodies about to be condemned to the path of hungry ghost suddenly will see before them appear a vast and endless desert, without any vegetation or see only holes, dead and dry weeds, etc. The intermediate body which sees a great area of faded red light, feels a yearning and a wish to go there to play. The moment of entry is when the spirit is at at the point of rebirth in the realm of Hungry Ghosts. e) Thân trung ấm sắp sanh về đường địa ngục, bên tai bỗng nhiên nghe có tiếng những bài ca hát hết sức buồn rầu, bi thảm, đó là những tiếng kêu la rên siết của tội nhân dưới địa ngục; kế đến lại thấy cảnh giới mù mịt, tối tăm hiện ra trước mặt, nhà cửa sắc đen hoặc trắng đượm đầy màu tang chế, âm u, hoặc thấy hang hố sâu thẳm, đường xá lờ mờ. Lúc ấy thấy chính mình bị các loài quỷ dữ tay cầm binh khí xua đuổi đi vào trong đó, khi vào rồi thì thân không được tự do, liền bị thác sanh vào trong địa ngục, tùy theo nghiệp báo, chịu vô lượng thống khổ. Thân trung ấm nào thấy ánh sáng mờ đục như khói đen, khởi niệm ưa thích muốn vào dạo chơi trong đó. Ngay khi bước vào liền bị thọ thân địa ngục, chịu vô lượng nỗi thống khổ: The intermediate body is about to be born in Hell suddenly will begin hearing sounds of very sad and melancholy songs, these are the sounds of prisoners aginizing and screaming in hell; next darkness will appear, houses made out of black and white iron, very melancholy looking, similar to being at a funeral. It may see deep holes and caves; the roads are unclear. At that time, it will see itself getting chased by ferocious demons with weapong in hand forcing it to enter these areas. Once it is in there, it will lose all freedom and will be reborn in the realm of hell. Depending on each spirits' karmic retribution, it must endure infinite pains and sufferings. The intermediate body which sees a great area of murky light similar to black smokes, feels a yearning and a wish to go there to play. The moment of entry is when the spirit is at the point of rebirth in Hell. • Thân trung ấm sắp sửa bị đọa vào địa ngục hàn băng, do nơi sức nghiệp chiêu cảm, thân thể bỗng nhiên sanh ra nóng bức không kham, gặp hơi lạnh ở nơi hàn ngục xông lên, tự cảm thấy mát mẻ dễ chịu, liền khởi lòng ưa thích vội bay tìm đến nơi đó để cho được mát mẻ, liền bị thác sanh vào đó: The intermediate body about to be condemned to glacial hell through the reflection of the spirit's karmic power, suddenly will feel like an intolerable inferno. It then encounters the cold air rising from the glacial hell and will feel cool and refreshed. Its thoughts give rise to yearning and immediately will fly in search of that place to be cool. Once reaching this place, it is reborn. • Thân trung ấm sắp sửa bị đọa vào viêm nhiệt địa ngục, do sức nghiệp chiêu cảm, bổng nhiên thân thể cảm thấy lạnh lẽo vô cùng, khó thể kham nổi. Gặp hơi nóng ở hỏa ngục xông lên, tự nhiên cảm thấy ấm áp dễ chịu, liền khởi lòng ưa thích, vội vã tìm bay xuống nơi đó để sưởi ấm, ngay khi ấy là lúc thọ sanh: Intermediate body is about to be condemned to the inferno hell, through the reflection of the spirit's karmic power, suddenly will feel an extreme and intolerable cold. It then encounters the hot air rising from the inferno hell and will feel warm and comfortable. Its thoughts give rise to yearming and immediately will fly in search for that warmth. Once reaching this place, it is reborn. • Thân trung ấm sắp sửa bị đọa vào địa ngục xú uế (hôi thúi), do nơi sức nghiệp chiêu cảm, bỗng cảm nhận được một mùi thơm ngào ngạt đến mức không kham. Bấy giờ trong tâm liền khởi niệm muốn tìm một mùi hôi thúi nào đó để lấn át mùi thơm kia. Gặp hơi thúi từ ngục phẩn uế xông lên, liền sanh tâm niệm ưa thích, liền bay đến nơi. Do nhân duyên đó, liền bị thác sanh trong ngục phẩn uế: The intermediate body about to be condemned to the odorous hell (foul smelling hell), through the reflection of the spirit's karmic power, suddenly will sense and intolerable and strong fragrance (perfume wishes to fine that it vecomes nauseous. At that time, its mind wishes to find other foul smelling odor to neutralize that good scent. It then encoulters the foul odor rising from odorour . As a result, it is reborn in the odorous hell.
thân trung ấm
Thần thức chúng sanh sau khi chết đi vào giai đoạn trung gian chuyển tiếp trước khi thọ sanh vào một đời sống mới. Trong giai đoạn này, chúng sanh mang thân trung ấm. Điều này có được nhắc đến trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 8.
; Ấm trước đã hết, ấm sau chưa sanh, có thân huyễn hóa nơi khoảng giữa gọi là thân trung ấm, vì thiện nghiệp ác nghiệp bằng nhau chưa rõ đầu thai sanh nơi nào, trung ấm này mỗi bảy ngày một sanh tử để đợi nghiệp duyên chuyển biến rồi đi đầu thai, có thể kéo dài 49 ngày.
; Intermediate Existence Body—See Thân Trung Hữu.
thân tu tâm chẳng tu
Body cultivates but the mind does not—Thân tu tâm chẳng tu nghĩa là có một số người muốn có hình tướng tu hành bằng cách cạo tóc nhuộm áo để trở thành Tăng hay Ni, nhưng tâm không tìm cầu giác ngộ, mà chỉ cầu danh, cầu lợi, cầu tài, vân vân như thường tình thế tục. Tu hành theo kiểu nầy là hoàn toàn trái ngược với những lời giáo huấn của Đức Phật, và tốt hơn hết là nên tiếp tục sống đời cư sĩ tại gia—Body cultivates but mind does not meaning, there are people who have the appearance of true cultivators by becoming a monk or nun, but their minds are not determined to find enlightenment but instead they yearn for fame, notoriety, wealth, etc just like everyone in the secular life. Thus, cultivating in this way is entirely contradictory to the Buddha's teachings and one is better off remaining in the secular life and be a genuine lay Buddhist.
thân tâm
Body and mind, the direct fruit of the previous life.
; Thân tâm là chánh báo của loài hữu tình—Body and mind, the direct fruit of the previous life. 1) Thân: Trong ngũ uẩn, sắc uẩn là thân—The body is rups, the first skandha. 2) Tâm: bao gồm bốn uẩn, thọ, tưởng, hành, thức—Mind embraces other four, consciousness, perception, action, and knowledge.
thân tâm bất tương ứng
Action non-interrelated with mind.
thân tâm giải thoát
Getting free of body and mind.
thân tâm nhất như
(身心一如) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đồng nghĩa: Sắc tâm bất nhị, Tính tướng bất nhị, Thân tâm như nhất. Thân và tâm là một. Thân chỉ cho sắc thân, thân thể; Tâm chỉ cho tâm linh, tinh thần. Thân tâm nhất như nghĩa là thân và tâm là cùng một thể như nhau, chứ không phải là hai thể khác nhau, tức là một thể hai mặt, thân là thân của tâm, tâm là tâm của thân. Ngoại đạo Tiên ni (Pàli: Senika) ở Ấn độ đời xưa cho rằng thân là vô thường và sinh diệt, chỉ có tâm là thường trụ bất biến, đây tức là đối với thân thì khởi đoạn kiến(thấy dứt hẳn), đối với tâm thì khởi thường kiến(thấy còn mãi). Thân và tâm, thiện ác và khổ vui đều liên quan mật thiết với nhau, không cái nào có thể tồn tại một cách độc lập, nếu thân là vô thường sinh diệt thì tâm cũng thế; nếu tâm là thường trụ bất diệt thì thân cũng vậy, cho nên Thân tâm nhất như là chân tướng của pháp giới.
thân tâm não
(身心惱) Cũng gọi Thân khổ tâm khổ. Thân thể thì đau đớn, khổ sở, tâm thần thì lo âu, buồn bực. Theo luận Đại trí độ quyển 22 thì Thân não nghĩa là thân bị trói buộc, giam cầm, tra tấn...; còn tâm não thì chỉ cho sự lo sầu, sợ hãi sinh ra do các nguyên nhân như dâm dục, sân hận, keo tham, ghen ghét... Cũng luận Đại trí độ quyển 19 lại cho rằng thân khổ là chỉ cho 404 thứ bệnh như thân đau, đầu nhức..., còn tâm khổ thì chỉ cho sự lo sầu, giận dữ, sợ hãi, buồn bực, ghen ghét, nghi kị... Luận Tịnh độ, khi nói về sự trang nghiêm ở Tịnh độ Cực lạc, cho rằng (Đại 26, 231 thượng): Vĩnh viễn xa lìa mọi khổ não của thân và tâm(thân tâm não), thường được an vui không gián đoạn. Còn trong Tịnh độ luận chú quyển thượng thì ngài Đàm loan giải thích là: Thân não chỉ cho đói khát, lạnh nóng, sát hại...; tâm não chỉ cho phải trái, được mất, ba độc(tham, sân, si...).
Thân tâm thoát lạc
(身心脫落, shinjindatsuraku): thoát lạc (脫落) nghĩa là cởi bỏ đi, nới lỏng, nghĩa là cả thân cũng như tâm đều thoát ly khỏi mọi ràng buộc, và đạt đến tận cùng cảnh giới của đại ngộ. Đạo Nguyên cho rằng pháp môn Chỉ Quản Đả Tọa (祗管打坐, shikantaza) là thân tâm thoát lạc, không phải thông qua môi giới của Tọa Thiền mà đạt đến cản giới giác ngộ, mà chính hình thức của Tọa Thiền là bóng dáng của thân tâm thoát lạc. Trong Bảo Khánh Ký (寶慶記) có đoạn rằng: “Tham Thiền giả, thân tâm thoát lạc dã; bất dụng thiêu hương lễ bái niệm Phật tu sám khán kinh, chỉ quản đả tọa nhi dĩ (參禪者、身心脫落也、不用燒香禮拜念佛修懺看經、祗管打坐而已, người tham Thiền thì [cần phải] thân tâm giải thoát, không cần phải đốt hương, lễ bái, niệm Phật, sám hối, hay đọc kinh làm gì; chỉ chuyên tâm ngồi Thiền mà thôi).”
thân tâm thoát lạc
(身心脫落) Cũng gọi Thoát lạc thân tâm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thân tâm trút bỏ. Nghĩa là thân tâm trút bỏ tất cả phiền não vọng tưởng mà hòa nhập với cảnh giới tự tại mầu nhiệm của chân không vô ngã. Đây cũng là lời mà Thiền sư Như tịnh ấn khả, chứng minh cho vị tăng người Nhật là Đạo nguyên. Lời bạt trong Thiên đồng Như tịnh thiền sư ngữ lục (Vạn tục 124, 495 thượng) ghi: Nhân lúc vào Thiền đường, sư quở trách vị tăng ngồi thiền ngủ gục rằng: Phàm người tham thiền, thân tâm thoát lạc, chỉ biết ngủ gục thế là sao? Ta nghe lời ấy, thình lình đại ngộ, liền đi thẳng đến phương trượng đốt hương lễ bái: Sư hỏi: Lễ bái việc gì vậy? Ta thưa: Thân tâm thoát lạc rồi! Sư nói: Thân tâm thoát lạc, thoát lạc thân tâm. Ta thưa: Việc này là tài khéo tạm thời, Hòa thượng chớ vội tin chắc! Sư nói: Ta không tin chắc ông. Ta thưa: Rốt cuộc không tin chắc là thế nào? Sư bảo: Thoát lạc! Thoát lạc! Ta bèn thôi. Có thuyết cho rằng Thân tâm thoátlạc là môn hướng thượng(cầu giác ngộ), còn Thoát lạc thân tâm là môn hướng hạ (độ chúng sinh).
thân tâm vô thường
Impermanence of the body and mind—Có người cho rằng luận thuyết “Thân Tâm Vô Thường” của đạo Phật phải chăng vô tình gieo vào lòng mọi người quan niệm chán đời, thối chí. Nếu thân và tâm cũng như sự vật đều vô thường như vậy thì chẳng nên làm gì cả, vì nếu có làm thành sự nghiệp lớn lao cũng không đi đến đâu. Mới nghe tưởng chừng như phần nào có lý, ký thật nó không có lý chút nào. Khi thuyết giảng về thuyết nầy, Đức Phật không muốn làm nản chí một ai, mà Ngài chỉ muốn cảnh tỉnh đệ tử của Ngài về một chân lý. Phật tử chơn thuần khi hiểu được lẽ vô thường sẽ giữ bình tĩnh, tâm không loạn động trước cảnh đổi thay đột ngột. Biết được lẽ vô thường mới giữ được tâm an, mới cố gắng làm những điều lành và mạnh bạo gạt bỏ những điều ác, cương quyết làm, dám hy sinh tài sản, dám tận tụy đóng góp vào việc công ích cho hạnh phúc của mình và của người—Some people wonder why Buddhism always emphasizes the theory of impermanence? Does it want to spread in the human mind the seed of disheartenment, and discourage? In their view, if things are changeable, we do not need to do anything, because if we attain a great achievement, we cannot keep it. This type of reasoning, a first, appears partly logical, but in reality, it is not at all. When the Buddha preached about impermanence, He did not want to discourage anyone, but warning his disciples about the truth. A true Buddhist has to work hard for his own well being and also for the society's. Although he knows that he is facong the changing reality, he always keeps himself calm. He must refrain from harming others, in contrast, strive to perform good deeds for the benefit and happiness of others. a) Thân Vô Thường—The human body is changeable: Vạn sự vạn vật không ngừng thay đổi, chứ không bao giờ chịu ở yên một chỗ. Cuộc đời nay còn mai mất, biến chuyển không ngừng nghỉ. Thân con người cũng vậy, nó cũng là vô thường, nó cũng nằm trong định luật “Thành Trụ Hoại Không.” Thân ta phút trước không phải là thân ta phút sau. Khoa học đã chứng minh rằng trong thân thể chúng ta, các tế bào luôn luôn thay đổi và cứ mỗi thời kỳ bảy năm là các tế bào cũ hoàn toàn đổi mới. Sự thay đổi làm cho chúng ta mau lớn, mau già và mau chết. Càng muốn sống bao nhiêu chúng ta lại càng sợ chết bấy nhiêu. Từ tóc xanh đến tóc bạc, đời người như một giấc mơ. Thế nhưng có nhiều người không chịu nhận biết ra điều nầy, nên họ cứ lao đầu vào cái thòng lọng tham ái; để rồi khổ vì tham dục, còn khổ hơn nữa vì tham lam ôm ấp bám víu mãi vào sự vật, đôi khi đến chết mà vẫn chưa chịu buông bỏ. Đến khi biết sắp trút hơi thở cuối cùng mà vẫn còn luyến tiếc tìm cách nắm lại một cách tuyệt vọng—All things have changed and will never cease to change. The himan body is changeable, thus governed by the law of impermanence. Our body is different from the minute before to that of the minute after. Biological researches have proved that the cells in our body are in constant change, and in every seven years all the old cells have been totally renewed. These changes help us quickly grow up, age and die. The longer we want to live, the more we fear death. From childhood to aging, human life is exactly like a dream, but there are many people who do not realize; therefore, they continue to launch into the noose of desire; as a result, they suffer from greed and will suffer more if they become attached to their possessions. Sometimes at time of death they still don't want to let go anything. There are some who know that they will die soon, but they still strive desperately to keep what they cherish most. b) Tâm Vô Thường—Impermanence of the mind: Thân ta vô thường, tâm ta cũng vô thường. Tâm vô thường còn mau lẹ hơn cả thân. Tâm chúng ta thay đổi từng giây, từng phút theo với ngoại cảnh, vui đó rồi buồn đó, cười đó rồi khóc đó, hạnh phúc đó rồi khổ đau đó—Not only our body is changeable, but also our mind. It changes more rapidly than the body, it changes every second, every minute according to the environment. We are cheerful a few minutes before and sad a few minutes later, laughing then crying, happiness then sorrow.
thân tín
Trustworthy.
thân tòa
The body as the throne oơđ Buddha.
thân túc thông
Thân như ý thông—The power to transfer onself to various regions at will, also to change the body at will—The power to transfer the body through space at will.
thân tướng
Bodily form; the body.
; Bodily form (the body).
thân tọa
Thân như Phật Tòa—The body as the throne of Buddha.
thân tộc
Relatives on the father's side.
thân tứ đại
The physical body—The physical body possessed the four elements of air, water, dirt, and fire.
thân vân
The numberless bodies of Buddhas, hovering like clouds over men; the nunberless forms which the Buddhas take to protect and save men, resembling clouds; the numberless saints compared to clouds.
; 1) Vô số thân Phật lơ lững như mây trên đầu chúng sanh: The numberless bodies of Buddhas, hovering like clouds over men. 2) Phật biến hóa vô số hình thức để cứu độ chúng sanh như mây tỏa khắp trên đầu chúng sanh: The numberless forms which the Buddhas take to protect and save men, resembling clouds. 3) Chư Thánh chúng nhiều vô số như mây: The numberless saints compared to clouds.
; (身雲) Mây thân, tức ví dụ thân Phật vô lượng vô số vô biên, hoặc ví dụ thị hiện các thứ thân che khắp chúng sinh như mây. Cũng ví dụ các vị tôn nhiều như mây. Hồng tự nghĩa (Đại 77, 406 hạ) nói: Già na Như lai tự thụ dụng, hóa ra các thứ thần biến, hiện vô lượng Thân vân.
thân vô hại lực tam muội
(身無害力三昧) Cũng gọi Vô hại lực thân tam muội. Tam muội làm cho hành giả có được thân vô ngại, năng lực tự tại, không gì có thể gây chướng nạn, gia hại. Đức Đại nhật Như lai an trụ trong Tam muội này, tuyên thuyết Tam minh chân ngôn, chân ngôn này cũng gọi là Vô ngại vô hại vô đẳng lực. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.13].
thân xa
Thân như một cỗ xe, trên đó chuyên chở tiền nghiệp đi vào con đường luân hồi sanh tử—The body as a vehicle, which with previous karma carries one into the path of transmigration.
thân xứ
Kāyayatana (S).
thân yêu
Dear.
thân ái
See Thân (2).
thân điền
The body regarded as a field which produces good or evil fruit in future existence.
; Trên thân chính là chỗ gieo trồng và sanh sản thiện hay ác nghiệp cho kiếp lai sinh—The body regarded as a field which produces good and evil fruit in the future existence.
thân đăng
The body as a lamp, burnt in offering to a Buddha, e.g. the Medicine King in the Lotus sùtra.
; Đốt thân mình làm đèn để cúng dường Phật, như việc làm của Đức Dược Vương Bồ Tát nói trong Kinh Pháp Hoa—The body as a lamp burnt in offering to a Buddha, i.e. the Medicine King in the Lotus Sutra.
thân đầu la
Sindura (skt)—Trò ảo thuật của ảo tưởng hiện ra và biến mất trong không trung—The trick of the illusionist who disappears in the air and repappears.
; (申頭羅) Phạm:Sindùra. Chỉ cho người huyễn bay đi trong hư không. Phần chú thích trong kinh Ương quật ma la quyển 2 (Đại 2, 522 trung) nói: Thân đầu la là người huyễn ở nước ngoài, làm người bay, đùa giỡn trong hư không, đi về qua lại rất nhanh chóng.
thân độ
Chánh Báo—Thân ta hôm nay chính là kết quả trực tiếp của tiền nghiệp; hoàn cảnh xung quanh chính là kết quả gián tiếp của tiền nghiệp—Body and environment (the body is the direct fruit of the previous life; the environment is the indirect fruit of the previous life). ** For more information, please see Chánh Báo and Nhị Báo.
; (身土) Chỉ cho thân thể và quốc độ mà phàm phu hoặc Phật, Bồ tát lãnh thụ. Tức chính báo và y báo. (xt. Y Chính Nhị Báo).
thân độ tứ y
(身土四依) Chỉ cho 4 cõi nương ở của thân Phật nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 10, đó là: 1. Sắc thân y sắc tướng độ: Sắc thân nương ở cõi sắc tướng. Như lai tùy loại ứng hóa, thị hiện sắc thân với tướng tốt đẹp, cao 1 trượng 6, nương ở các cõi sắc tướng phàm thánh ở chung như thế giới Sa bà, đó chính là thân độ có sắc tướng như núi sông, đất liền, cho nên gọi là Sắc thân y sắc tướng độ. 2. Sắc thân y pháp tính độ: Sắc thân nương ở cõi Pháp tính. Thân tướng tốt đẹp cao 1 trượng 6 của Như lai là thân mà đương thể tức là pháp tính, cho nên cõi nước mà Như lai nương ở cũng chính là cõi Thường tịch quang(chỉ cho Tịnh độ của chư Phật) vì thế gọi là Sắc thân y pháp tính độ.3. Pháp thân y pháp tính độ: Pháp thân nương ở cõi Pháp tính. Thân Pháp tính của Như lai, chẳng phải tâm chẳng phải sắc, giống như hư không, trùm khắp mọi nơi mọi chốn, cho nên cõi nước mà Như lai an trụ chính là cõi Thường tịch quang, vì thế gọi là Pháp thân y pháp tính độ.4. Pháp thân y sắc tướng độ: Pháp thân nương ở cõi sắc tướng. Thân Pháp tính của Như lai, trùm khắp hết thảy các cõi nước, thân và độ dung nhiếp nhau, sự và lí giao thoa nhau, sắc tức chẳng phải sắc, tướng tức chẳng phải tướng và chẳng lìa các cõi, vì thế gọi là Pháp thân y sắc tướng độ.
thân độc
Sindhu, Indus, Sindh (skt)—Hiền Thủ—Ấn Độ.
Thân, khẩu, ý
身口意; S: kāya-vāk-citta;|Ba khái niệm quan trọng (thân thể, lời nói, ý niệm) trong đạo Phật, có ý nghĩa rất sâu xa. Từ thời Phật giáo nguyên thuỷ, khi luận về Nghiệp (s: karma), người ta đã chia ra ba loại Nghiệp do thân, khẩu, ý sinh ra. Ðến Kim cương thừa, ba thành phần trên đây của con người trở thành ba phép tu luyện thiền định. Mục đích cuối cùng của hành giả qua phương pháp tu tập các Nghi quỹ là chứng được Ba thân Phật (s: trikāya). Hành giả bắt Ấn (s: mudrā) thuộc thân, thực hành Thiền định (s: samādhi) thuộc ý và tụng đọc Man-tra (Thần chú) thuộc khẩu để chứng được ba thân đó. Sau đây là mối liên hệ:|Phạm vi Phương pháp Chứng ngộ||Thân Bắt ấn Ứng hoá thân|Khẩu Man-tra Báo thân|Ý Thiền định Pháp thân||Phép chia ba thành phần này thường được biểu diễn bởi ba âm OṂ ĀḤ HŪṂ. Ba thành phần và ba âm đó đóng vai trò tuyệt đối quan trọng trong các phép hành trì Nghi quỹ (s: sādhana) và là bước đi cần thiết để tạo linh ảnh. OṂ được xem là có sắc trắng, đặt tại trán và đại diện cho Thân. ĀḤ có sắc đỏ, đặt tại cổ, đại diện cho Khẩu và HŪṂ sắc xanh, đặt tại tim, đại diện cho Ý. Ba khuynh hướng xấu ác của ba thành phần này chính là tham, sân và si, là ba nguyên nhân trói buộc trong Luân hồi. Sau khi được chuyển hoá, Thân khẩu ý được biểu diễn bằng ba Kim cương chử (s: vajra; t: dorje) tượng trưng cho thể tính đích thật của ba thành phần. Trong các tranh trình bày đức Phật (Thăng-ka), người ta hay thấy mặt sau bức tranh các âm OṂ ĀḤ HŪṂ đặt tại trán, cổ và tim.|Giáo pháp tu luyện biến Thân khẩu ý thành Ba thân được trình bày trong hệ thống Ðại thủ ấn (s: mahā-mudrā) và trong Ðại cứu kính (t: dzogchen) của Phật giáo Tây Tạng, gồm có bốn phép tu đặc biệt: 1. Quy y tam bảo (t: kyabdro) và phát Bồ-đề tâm (s: bodhicitta); 2. Quán tưởng đến Kim cương Tát-đoá (s: vajrasattva) để rửa sạch thân khẩu ý; 3. Tích tụ phúc đức (s: puṇya) bằng cách quán niệm Man-đa-la (s: maṇḍala); 4. Hoà nhập tự ngã vào một dòng tu dưới sự hướng dẫn của một Ðạo sư (s: guru).|Cần biết thêm rằng rất nhiều phép tu của Phật giáo Tây Tạng đều nằm trong mối liên hệ chung với ba thành phần Thân khẩu ý. Ðặc biệt trong ba thành phần này thì Khẩu đóng một vai trò trung gian giữa Thân và Ý.
thâu la ấn
(thâu la ấn) Thâu la, Phạm:Sùla. Chỉ cho ấn tướng hình cây kích. Thâu la nghĩa là cây kích, 1 trong các loại binh khí.
thâu lan già
(偷蘭遮) Pàli:Thullaccaya,Thùlaccaya. Cũng gọi Thâu lan giá da, Thâu la giá, Tát thâu la, Thổ la giá, Tốt thổ la. Gọi tắt: Thâu lan. Phạm:Sthùlàtyaya. Hán âm: Tốtthổ la để dã. Hán dịch: Đại tội, trọng tội, Thô tội, Thô ác, Thô quá, Đại chướng thiện đạo. Chỉ cho các tội nếu xúc phạm sẽ cấu thành Ba la di, Tăng tàn nhưng chưa thành Ba la di, Tăng tàn. Những tội không thuộc Ngũ thiên như Ba la di... ngoại trừ tội Đột cát la, tất cả nhân tội, quả tội còn lại hoặc nhẹ hoặc nặng đều gọi chung là Thâu lan giá, là 1 trong 6 tụ, 1 trong 7 tụ giới do đức Phậtchế định. Thâu lan giá được chialàm2 loại chính và phụ là Độc đầu, phương tiện. 1. Độc đầu thâu lan(cũng gọi Tự tính thâu lan, Căn bản thâu lan): Tức tội lỗi đã thành tựu, có công năng dứt mất gốc lành. 2. Phương tiện thâu lan(cũng gọi Tòng sinh thâu lan): Muốn phạm Ba la di hoặc Tăng tàn mà bày ra phương tiện, nhưng cuối cùng không thành tức là Nhân tội. Còn có 2 loại: Thâu lan giá đứng sau trọng tội Tăng tàn và Thâu lan giá đứng sau khinh tộiĐề xá ni. Về phép sám hối tội này, thì Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma quyển hạ, Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già quyển 3 và Tăng yết ma quyển trung chia làm 3 phẩm: Phá pháp luân tăng, lấy trộm 4 tiền, lấy trộm thức ăn của chúng tăng... là các tội thuộc Thượng phẩm; Phá yết ma tăng, lấy trộm 3 tiền trở xuống và xúc chạm lẫn nhau có cách y phục là các tội thuộc Trung phẩm; Ác tâm chửi mắng chúng tăng, lấy trộm 1 tiền, sử dụng tóc người, ăn máu thịt chúng sinh, khỏa thân mặc áo ngoại đạo, là các tội thuộc Hạ phẩm.Tội thượng phẩm phải ở trong phạm vi kết giới, đối trước tất cả đại chúng mà sám hối; tội trung phẩm phải ra ngoài phạm vi kết giới, đối trước 4 vị tỉ khưu mà sám hối; còn tội hạ phẩm thì chỉ đối trước 1 vị tỉ khưu mà sám hối cũng được. Về nghiệp báo phải chịu khi phạm tội này, thì phẩm Ngũ thiên sự trong Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự (Đại 24, 972 trung) nói: Phạm tội Thâu lan giá, như chư thiên ở cõi trời Đâu suất thọ 4.000 tuổi, đọa vào địa ngục Nê lê, bằng 50 ức, 60 nghìn năm ở nhân gian. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 9 cho rằng sau khi phạm tội này đọa vào ác đạo là đặc biệt nói về trọng tội của Thâu lan giá.
thâu lan giá
Xem Đại tội.
thâu lan giá da
Xem Đại tội.
thâu thạch
(thâu thạch) Loại hợp kim do đồng và đá lô cam luyện thành, có thể dùng để đúc tượng Phật và các đồ thờ Phật. Phạm ngữ tạp danh ghi tiếng Phạm của Thâu thạch làRìti, Hán âmLí để.Phiên dịch danh nghĩa đại tập thì ghi tiếng Phạm của Thâu thạch là Ràcaka#. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 81 cho rằng Thâu thạch là bạch kim, đứng thứ nhì sau vàng. ĐiềuYết nhã cúc xà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 5 ghi rằng ở nước Yết nhã cúc xà có tượng Phật được đúc bằngthâu thạch. Điều Bà la ni tư quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 7 cũng nói ở chùa Lộc dã tại nước Bà la ni tư có thờ tượng Phật bằng thâu thạch. Còn Xuất tam tạng kí tập quyển 12 (Đại 55, 92 trung) thì ghi: Nước Lâm ấp dâng tượng Phật Vô lượng thọ bằngthâu thạch.
thâu tâm
(偷心) Tiếng dùng trongThiền lâm. Tâm trộm cắp. Trong Thiền lâm, từ này được sử dụng để chuyên chỉ cho tâm hướng ngoại tìm cầu, phân biệt, cũng là lời chê trách tâm động niệm. Hư đường lục quyển 3 (Đại 47, 1011 thượng) ghi: Vị tăng nói: Đêm nay, học nhân nhờ uy quang của đại chúng, xin hỏi một câu có được không? Đáp rằng: Con quỉ thâu tâm bị người ghét. Đối với tâm hướng ngoại tìm cầu không dừng, gọi là Thâu tâm vị chỉ, Thâu tâm do vị chỉ.
Thâu đạo
偸盜; C: tōudào; J: tōtō;|Lấy những vật thuộc về người khác; lấy trộm (p: adinnādāna), dồng nghĩa với Bất dữ thủ (不與取). Trong Phật pháp, tội nầy được xếp là một trong Thập ác (十惡), và là giới cấm căn bản trong Ngũ giới (五戒).
thâu đạo
Adinnadanam (P), Theft du, trộm cắp Xem Trộm cắp (giới).
; (偷盜) Phạm:Adattàdàna. Pàli:Adinnàdàna. Dịch mới: Không cho mà lấy (Bất dữ thủ).Trộm cướp. Nghĩa là dùng sức mạnh cướp đoạt hoặc lén lấy tài vật của người khác. Trong 10 hành vi ác(Thập ác) của thân, khẩu, ý thì thâu đạo, sát sinh, tà dâm thuộc về thân. Thâu đạo là hành vi bị giới luật nghiêm cấm, nếu thâu đạo đến mức nghiêm trọng như lấy trộm từ 5 tiền trở lên thì phạm tội Ba la di(là tội nặng giống như chặt đầu), đâylà tội nặng chỉ đứng sau tội giết hại trong thập ác và ngũ giới. Theo phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm quyển 24 (bản dịch cũ) thì tội thâu đạo khiến chúng sinh phải đọa vào 3 đường ác, nếu được sinh trong loài người thì cũng phải chịu 2thứquả báo: Một lànghèo túng, cùng quẫn; hai là bị trộm mất tiền bạc, của cải.
Thâu đạo 偸盜
[ja] トウトウ tōtō ||| To take what belongs to someone else; stealing (Pali adinnādāna); equivalent to 不與取. This crime is considered to be one of the ten evil actions 十惡 in Buddhism, and is prohibited in the five basic precepts . => Lấy những vật thuộc về người khác; lấy trộm (p: adinnādāna), dồng nghĩa với Bất dữ thủ. Trong Phật pháp, tội nầy được xếp vào 1 trong Thập ác, và là giới cấm căn bản trong Ngũ giới五戒.
Thâu-lan-già
xem Du-lan-già.
thèm
To desire—To fust for—To covet.
thèm khát
Greed.
; Greedy.
thèm muốn
See Thèm.
thèm thuồng
Covetous.
thét
To shout—To scream—To roar.
thê
1) Cái thang: A ladder—Stairs. 2) Nghỉ ngơi: Rest.
thê chỉ
Tức là cư trú.
thê hiền trí nhu
Chi hsien Cinh jou (C)Tên một vị sư.
thê hà tự
(栖霞寺) Chùa nằm về phía tây dưới chân ngọn Trung phong thuộc Nhiếp sơn, cách huyện Nam kinh, tỉnh Giang tô 23 km về mạn đông bắc, là 1 trong các ngôi chùa cổ nổi tiếng ở vùng Giang nam. Chùa này cùng với chùa Ngọc tuyền ở Kinh châu, chùa Linh nham ở Tế nam và chùa Quốc thanh ở Thiên thai được gọi chung là Tứ đại tùng lâm.Cứ theo Pháp độ truyện trong Lương cao tăng truyện quyển 8 thì chùa vốn là ngôi am tranh của ẩn sĩ Minh tăng thiệu (tức Minh trưng quân). Sau khi Minh tăng thiệu qua đời, ngài Pháp độ sửa thành chùa, đặt tên là tinh xá Thê hà, đây chính là nguồn gốc chùa Thê hà. Mới đầu, Tăng thiệu mộng thấy trong hang núi có hào quang nhiều màu của đức Như lai, định tạo lập động thờ Phật, nhưng chưa thực hiện được thì ông qua đời. Người con thứ của Tăng thiệu là Trọng chương nối chí cha, bắt đầu đục vách đá của ngọn núi phía tây làm động thờ Phật, rồi cùng với ngài Pháp độ đúc tượng Phật Vô lượng thọ ngồi, cao 3 trượng, 1 thước, 5 tấc, kể cả tòa ngồi thì cao 4 trượng, đồng thời, đúc tượng 2 vị Bồ tát, cao 3 trượng, 3 tấc. Ngài Pháp độ tiếp tục đục mở hơn 10 hang khám và đúc tượng Phật Thích ca, Thái tử Văn huệ nhà Nam Tề và Văn hiến vương Dự chương cũng góp công hoàn thành phúc nghiệp. Rồi Thái tể Giang hạ là Vương hoắc cơ, Tuệ tĩnh vương Lâm xuyên... cũng tham gia và khắc ức vạn hóa thân Phật, đó chính là Thiên Phật Động lừng danh. Lúc ấy, có ngài Tăng lãng, người Liêu đông, Cao li, đến đây, thờ ngài Pháp độ làm thầy, sau kế thừa chùa Thê hà. Ngài tinh thông Hoa nghiêm, Tam luận, được tôn làm Sơ tổ tông Tam luận tại Giang nam, Lương vũ đế rất tôn kính ngài. Thời vua Cao tổ nhà Đường, chùa được xây dựng thêm 49 tòa đường vũ, đổi tên là chùa Công đức, thời vua Cao tông, chùa lại được đổi tên là chùa Ẩn quân thê hà. Trong pháp nạn Hội xương (848), chùa bị phá hủy, sau được làm lại và đổi tên là chùa Diệu nhân. Về sau, tên chùa được đổi đi đổi lại nhiều lần, đến năm Hồng vũ 25 (1392) đời Minh, chùa lại được gọi là Thê hà tự. Vào cuối đời Thanh bị quân Thái bình thiên quốc phá hủy. Đến đầu năm Dân quốc (1912), Thiền sư Trung ương xây dựng lại, qui mô hoành tráng, tuy không bằng thời xưa nhưng vẫn là ngôi chùa nổi tiếng ở Nam kinh. Trong chùa hiện có tòa tháp bằng đá cao 5 tầng, hình bát giác, Thiên Phật động, Thiên khai động... là những danh thắng. Tháp 5 tầng là 1 trong các tháp xá lợi do vua Văn đế nhà Tùy xây dựng đầu tiên vào niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601), sau được xây dựng lại vào đời Hậu Đường.Từ nền tháp đến thân tháp đều được chạm trổ rất tinh xảo đẹp đẽ, đặc biệt bứcphù điêu khắc Thích ca bát tướng thành đạo nét khắc cực kì mĩ lệ. Thiên Phật động nằm về phía sau chùa, khám thờ Đại Phật ở trong có pho tượng Phật bằng đá rất lớn, tức là tượng đức Phật Vô lượng thọ do ngài Pháp độ và cư sĩ Trọng chương cùng tạo lập. Tất cả có hơn 200 khám thờ Phật, La hán, Nhân vương, Thiên bộ... phần lớn được đục mở vào đời Đường. Về qui mô các hang động và khám thờ ở đây, so với các hang động ở Đại đồng và Long môn thì nhỏ hơn, nét tinh vi cũng không bằng, nhưng đây là những hang động duy nhất của thời Nam triều, cho nên rất quí giá về mặt lịch sử nghệ thuật của Phật giáo. Ngoài cửa chùa có tấm bia Minh trưng quân được tạo lập vào năm Thượng nguyên thứ 3 (676) đời Đường, bài minh do vua Cao tông ngự chế, văn bia do nhà thư pháp trứ danh đời Đường là Cao chính thần viết, là 1 trong các tấm bia xưa ở Giang nam.
thê lương
Lonely—Desolate.
thê quang
Ánh sáng của Đức Như Lai ngừng nghỉ hay Niết Bàn của Đức Phật (khi Như Lai diệt độ thì trường quang của ngài cũng tắt theo)—To bring his light to rest, the Buddha's nirvana.
thê thân
To take one's rest—To retire from the world.
thê thảm
Tragic.
thê thần
To rest the spirit, or mind, be unperturbed.
thê đăng
Bậc thang, ý nói tiệm giáo, đối lại với đốn giáo—Ladder rungs, or steps, used for the school of gradual revelation in contrast with the full and immediate revelation.
thêm
1) To augment—To increase—To add. 2) Further.
thêm bớt
To increase and to diminish.
thêm thắt
Thêu dệt—To embroider—To exaggerate (a story).
thêm thắt câu chuyện
To embroider the story.
thênh thang
Immense—Vast—Spacious.
thêu dệt
See Thêm Thắt.
thì giờ
Time.
thì thầm
To whisper—To murmur.
thìn
The fifth year in the Earth's stem—See Mười hai con giáp.
thình lình
All of a sudden—Unexpectedly—Suddenly—All at once.
thí
Xem Bố thí.
; Dàna (S). Alms; charity. To give, grant, bestow, to distribute. Also thi.
; 1) Bố thí: Dana (skt)—To give alms—To bestow—To give—Charity—See Bố Thí in Vietnamese-English Section, and Dana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Thí dụ: a) So sánh: To compare—To allegorize—Resembling—Parable—Metaphor—Simile. b) A-Ba-Đà-Na: Lấy pháp mình đã biết để làm sáng tỏ cái pháp chưa biết—The avadana section of the canon 3) Thí phát: Cạo tóc—To shave the hair.
thí ba la mật
Dàna-pàramità (S).
; (施波羅蜜) Phạm:Dàna-pàramità. Cũng gọi Bố thí ba la mật, Đàn ba la mật, Đàn na ba la mật. Bố thí tiền tài, giáo pháp và sự can đảm một cách viên mãn, rốt ráo, là 1 trong 6Ba la mật, 1 trong 10Ba la mật. Thí ba la mật của Bồ tát có 9 tưởng là: Tự tính thí, Nhất thiết thí, Nan hành thí, Nhất thiết môn thí, Thiện sĩ thí, Nhất thiết chủng thí, Toại cầu thí, Thử thế tha thế nhạo thí và Thanh tịnh thí.
Thí ba-la-mật 施波羅蜜
[ja] セハラミツ seharamitsu ||| The perfection of giving (dāna-pāramitā); the free giving of one's material assets to others without any thought of merit or recompense. One of the six pāramitās 六波羅蜜 and ten pāramitās 十波羅蜜. => Sự viên mãn của pháp bố thí (s: dāna-pāramitā); tự nguyện bố thí tài sản vật chất của mình cho người khác mà không mong cầu công đức. Một trong sáu ba-la-mật.
thí chẩn
See Thí.
thí chủ
Dānapati (S) Noble giver Đàn việt, Đàn chủ, Công đức chủNgười cho nhiều giữ ít, cho phần tốt giữ lại phần xấu.
; Dànapati (S). An almsgiver, a benefactor, a patron of Buddhism.
; Danapati (skt)—Tiếng Phạn gọi là Đàn Viêt Bát Để. 1) Người chủ làm việc bố thí, người tự mình bỏ ra của cải để cúng dường: An almsgiver. 2) Người hộ trì Phật pháp: A patron of Buddhism.
; (施主) Phạm:Dàna-pati. Hán âm: Đàn việt, Đàn na bát để, Đà na bà. Cũng gọi Bố thí gia. Còn cả Phạm và án ghép chung thì gọi là Đàn việt thí chủ, Đàn na chủ, Đàn chủ.Chỉ cho những tín đồ bố thí thức ăn, áo mặc cho chúng tăng hoặc xuất tiền của để cử hành pháp hội... Trong kinh Thiện sinh thuộc Trường a hàm quyển 11 (Đại 1, 72 thượng) nói: Đàn việt nên đem 5 việc cung phụng Sa môn, Bà la môn(...) một là thân làm từ thiện, hai là miệng nói từ thiện, ba là ý nghĩ từ thiện, bốn là bố thí đúng thời, năm là cửa luôn mở rộng. Này Thiện sinh! Nếu đàn vua Tỳ Thi (hang đá Đôn hoàng)việt đem 5 việc nàycung phụng Sa môn, Bà la môn thì Sa môn, Bà la môn phải đem 6 pháp dạy họ, (...) một là ngăn ngừa, giữ gìn không cho họ làm điều ác, hai là truyền dạy điều thiện, ba là dạy giữ tâm thiện, bốn là nói chohọnghe những điều họ chưa được nghe, năm là điều nghe rồi khiến cho họ khéo hiểu, sáu là chỉ bày con đường sinh thiên. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 24 thì nói thí chủ bố thí được 5 công đức: 1. Tiếng tăm lan khắp 4 phương, mọi người đều khen ngợi. 2. Nếu vào trong chúng hội, lòng không hổ thẹn, cũng không sợ hãi. 3. Được mọi người kính ngưỡng, ai thấy cũng vui mừng. 4. Sau khi mệnh chung, hoặc sinh cõi trời, được trời kính trọng, nếu sinh trong loài người sẽ là người tôn quí. 5. Trí tuệ hơn người, đời hiện tại hết phiền não, không còn thụ sinh đời sau.
thí dụ
Avadāna (S)A bà đa naDùng thí dụ để nói pháp nghĩaNhững thí dụ làm dẫn chứng hay hình ảnh tượng trưng trong kinh.
; See Thí (2).
; (譬喻) Gọi tắt: Thí, Dụ. Nêu ra 1 sự kiện hoặc 1 sự vật có thật, 1 câu chuyện ngụ ngôn, hoặc lập 1 giả thiết để so sánh thuyết minh ngõ hầu giúp người ta dễ dàng hiểu rõ ý nghĩa nội dung của giáo pháp, gọi là Thí dụ. Thí dụ trong tiếng Phạm có 4 từ: Upamà, Dfwỉànta, Udàharaịa và Avadàna. Giữa 4 từ này có điểm khác nhau.Upamà nghĩa là loại suy, tức biểu thị sự so sánh, tương tự, đồng nhất, như các thí dụ: Hỏa trạch dụ(dụ nhà lửa), Dược thảo dụ(dụ cỏ thuốc) trong kinh Pháp hoa. Dfwỉànta và Udàharaịa đều là những tiếng dùng trong Nhân minh, là thí dụ chứng minh thực tế sau khi đã trình bày 1 giáo thuyết nào đó. CònAvadàna thì là 1 trong 9 thể tàikinhhoặc 1 trong 12 thể tài kinh. Khi thuyết pháp, đức Phật dùng rất nhiều thí dụ một cách khéo léo để nói rõ yếu chỉ của giáo pháp. Nói cách tổng quát, phần nhiều các thí dụ nêu ra những sự thực hiện tại, nhưng đôi khi cũng nêu ra những ví dụ giả thiết. Như dùngvầngtrăng tròn đểthí dụ khuôn mặt rạng rỡ của người nào đó; dùng vật nhỏ trước mắt làm thí dụ để suy ra vật lớn hơn, hoặc sử dụng cảnh thô, pháp thô làm thí dụ để hiển bày cảnh tế, pháp tế, hoặc căn cứ vào điểm giống nhau của bộ phận(hay toàn thể)để loại suy, thí dụ. Cứ theo phẩm Sư tử hống bồ tát trong kinh Đại bát niết bàn quyển 29 (bản Bắc), dựa theo những phương thức thí dụ khác nhau có thể chia làm 8 loại: 1. Thuận dụ: Thí dụ được đặt ra thuận theo thứ tự sinh khởi của sự vật. 2. Nghịch dụ: Thí dụ được đặt ra ngược với thứ tự sinh khởi của sự vật. 3. Hiện dụ: Thí dụ được đặt ra theo sự thực trước mắt. 4. Phi dụ: Thí dụ được đặt ra theo sự kiện giả thiết. 5. Tiên dụ: Thí dụ được nêu ra trước khi trình bày sự kiện được ví dụ, tức trước nêu thí dụ, sau nói giáo pháp muốn hiển bày.6. Hậu dụ: Thí dụ được nêu ra sau khi đã trình bày sự kiện được thí dụ; tức trước nói giáo pháp, sau nêu thí dụ. 7. Tiên hậu dụ: Thí dụ được nêu ra trước và sau khi sự việc được trình bày; tức trước và sau khi nói rõ giáo pháp đều dùng thí dụ để hiển bày. 8. Biến dụ: Toàn bộ nội dung thí dụ khế hợp với toàn bộ nội dung sự kiện muốn ví dụ hiển bày; tức mỗi phần của toàn bộ nội dung thí dụ được sử dụng để thuyết minh 1 sự việc tương ứng của nội dung giáo pháp; nếu dùng thực vật làm thí dụ thì nói từng giai đoạn của cây ấy từ lúc nứt mầm cho đến khi trổ hoa, kết quả để ví dụ cho từng giai đoạn từ khi xuất gia đến lúc thành đạo của đệ tử Phật. Những thí dụ nổi tiếng thường thấy trong các kinh luận thì có: I. Thí dụ nêu rõ sự tồn tại của các hiện tượng đều không có thực thể, tất cả chỉ là không. Như kinh Đại phẩm bát nhã nêu ra 10 dụ là: 1. Dụ như huyễn(trò ảo thuật). 2. Dụ như dương diệm(sóng nắng). 3. Dụ như bóng trăng dưới đáy nước. 4. Dụ như hư không. 5. Dụ như tiếng vang trong hang núi. 6. Dụ như thành Kiện thát bà(thành quách thấy trên mặt biển lúc mặt trời mọc). 7. Dụ như mộng (chiêm bao). 8. Dụ như bóng(bóng không có thật). 9. Dụ như hình ảnh trong gương. 10. Dụ như biến hóa. Trong 10 thí dụ trên, 9 thí dụ trước là nói không để phá trừ kiến chấp cho các pháp là có, còn thí dụ sau cùng thì dùng không bất sinh bất diệt để nói về không, tức chân không. II. Những thí dụ nêu rõ thân thể của con người là không và vô thường. Phẩm Phương tiện trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển thượng nêu ra 10 dụ, gọi là Duy ma kinh thập dụ, Thập chủng dụ thân. Đó là: Đám bọt nước, bong bóng nước, ánh lửa, cây chuối, ảo thuật, chiêm bao, bóng dáng, tiếng vang, mây nổi và tia chớp. Trong 10 dụ trên, 5 dụ trước mỗi dụ tương ứng với 1 thành phần của 5 ấm, còn 5 dụ sau thì chung cho toàn bộ 5 ấm. III. Những thí dụ nói về thứ tự của sự giáo hóa trong một đời của đức Phật: 1. Phẩm Bảo vương Như lai tính khởi trong kinh Hoa nghiêm quyển 34 (bản dịch cũ) nói: Mặt trời mới mọc, trước hết chiếu trên các đỉnh núi lớn, kế đến chiếu các núi, sau cùng chiếu tất cả mặt đất. Việc này được dùng để ví dụ sự xuất hiện của Phật, theo thứ tự giáo hóa Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn và người có căn cơ thấp kém, gọi là Hoa nghiêm kinh tam chiếu, Hoa nghiêm tam chiếu. 2. Phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn quyển 14 (bản Bắc) nói: Từ bò có sữa, qua trình tự tinh chế, lần lượt được lạc(cao sữa), sinh tô(bơ), thục tô(kem) và đề hồ(phó mát). Việc này được dùng để ví dụ từ Phật có 12 thể tài kinh, lại từ 12 thể tài kinh có Tu đa la, từ Tu đa la có kinh Phương đẳng, từ kinh Phương đẳng có kinh Bát nhã ba la mật, lại từ kinh Bát nhã ba la mật có kinh Niết bàn. Tức chỉ cho 5 thời thuyết pháp, giáo hóa của đứcPhật: Thời Hoa nghiêm(nhũ), thời A hàm (lạc), thời Phưong đẳng(sinh tô), thời Bát nhã(thục tô) và thời Pháp hoa Niết bàn(đề hồ).3. Niết bàn kinh hội sớ quyển 13 của ngài Quán đính đời Tùy căn cứ vào kinh luận à các thuyết của các Luận sư xưa nay mà cho rằng bò là giáo chủ của kinh Niết bàn, sữa là giới thánh hạnh, lạc là định thánh hạnh, sinh tô là Tứ đế tuệ thánh hạnh, thục tô là Nhị đế tuệ thánh hạnh và đề hồ là Nhất thực đế tuệ thánh hạnh. IV. Thí dụ hiển bày sự đoạn hoặc tu hành khác nhau giữa Tam thừa. Kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 dùng việc 3 con thú là thỏ, ngựa và voi lội qua sông để ví dụ sự cạn sâu trong việc tu hành đoạn hoặc của hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Nghĩa là khi qua sông, thỏ và ngựa vì sức yếu nêntuy đến được bờ bên kia, nhưng lội nước không sâu, chỉ có voi là chân đến tận đáy sông. Cũng thế, Thanh văn, Duyên giác hiểu đạo còn nông cạn, chỉ có Bồ tát là hiểu sâu nhất. V. Thí dụ nêu rõ đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói các giáo pháp khác nhau, như 7 thí dụ trong kinh Pháp hoa: 1. Hỏa trạch dụ. 2. Cùng tử dụ. 3. Dược thảo dụ. 4. Hóa thành dụ. 5. Y châu dụ. 6. Kế châu dụ. 7. Y tử dụ(Y sư dụ). VI. Thí dụ hiển bày Như lai tạng. Kinh Như lai tạng, luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 1 và Đại minh tam tạng pháp số quyển 34 nêu ra 9 thí dụ là: Dụ hoa sen, dụ tổ ong, dụ lúa mì, dụ vàng ròng, dụ nhà nghèo có kho báu, dụ hạt của quả am ma la, dụ tượng bằng vàng bọc trong dẻ rách, dụ cô gái nghèo mang thai quí tử và dụ đúc tượng bằng vàng ròng. VII. Thí dụ nêu rõ sự thù thắng của tam muội Niệm Phật. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 10 nêu các thí dụ:Vàng diêm phù đàn của ông trưởng giả, ấn báu của vua, ngọc như ý của trưởng giả, tiên nhân tụng chú, hạt minh châu của lực sĩ và núi Kim cương lúc kiếptận... Ngoài ra còn rất nhiều thí dụ khác rải rác trong các kinh luận mà ởđây không thể thu chép hết được.
thí dụ bộ
(譬喻部) Chỉ cho Kinh lượng bộ trong 18 bộ phái Tiểu thừa ở Ấn độ. Vì Bản sư của bộ này là ngài Cưu ma la đa có soạn luận Dụ man nói rộng về các thí dụ nên người đời gọi các sư thuộc bộ này là Thí dụ sư, bộ phái truyền thừa thì gọi là Thí dụ bộ.
thí dụ kinh
(譬喻經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 4.Kinh này là đức Phật nói cho vua Thắng quang(vua Ba tư nặc) ở thành Xá vệ nghe. Nội dung kinh thuật rằng thủa xưa có người bị voi dữ rượt đuổi giữa nơi đồng không mông quạnh, đang lúc nguy cấp thì gặp được cái giếng khô, người ấy liền bám theo rễ cây lần xuống để tránh voi dữ. Bấy giờ có 2 con chuột, 1 con màu đen, 1 con màu trắng, thay nhau nhấmrễ cây, 4 bên giếng có 4 con rắn độc, còn dưới đáy giếng thì có rồng độc. Trong lòng người ấy rất lo sợ, vừa sợ rồng, rắn, lại thêm nỗi sợ rễ cây bị đứt. Lúc đó, có 5 giọt mật ong từ trên cành cây rơi vào trong miệng, đàn ong cũng bay đến đốt, lại có lửa ở đồng hoang đốt cháy cây đại thụ bên giếng, thật vô cùng nguy hiểm. Trong thí dụ trên, đồng trống dụ cho vô minh, người dụ cho dị sinh (phàm phu), voi dụ cho vô thường, giếng khô dụ cho sinh tử, rễ cây dụ cho mệnh sống, 2 con chuột dụ cho ngày và đêm,nhấmrễ cây dụ cho niệm niệm diệt, 4 rắn độc dụ cho 4 đại, 5 giọt mật dụ cho 5 dục, ong dụ cho nghĩ bậy, lửa dụ cho già bệnh, thật rất đáng sợ, nên lánh xa 5 dục để cầu giải thoát.
thí dụ luận sư
Nhật Xuất Luận Giả—Thí Dụ Sư—Vị tổ đầu tiên của Kinh Lượng Bộ (trong số 18 bộ Tiểu Thừa)—Reputed founder of the Sautrankita school.
thí dụ lượng
Những thí dụ trong kinh điển theo lý luận giúp người hiểu được giáo lý—The example in logic.
thí dụ sư
Distantika (S).
; See Thí Dụ Luận Sư.
; (譬喻師) Phạm:Dfwỉàntika. Cũng gọi Thí dụ luận sư, Thí dụ bộ sư, Thí dụ giả. Chỉ cho ngài Cưu ma la đa (Phạm: Kumàralàta) bản sư của kinh lượng bộ và những người thừa kế ngài. Theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 2, phần đầu, trong 100 năm sau khi đức Phật nhập diệt, ở nướcĐát xoa sí la thuộc Bắc thiên trúc có ngài Cưu ma la đa soạn 900 bộ luận. Bấy giờ có 5 vi Đại luận sư người đời ví như mặt trời mọc, dắt dẫn thế gian, nên gọi là Nhật xuất giả, cũng gọi là Thí dụ sư. Ngài Phật đà đề bà (Phạm: Buddhadeva, Giác thiên) cũng theo thuyết của ngài Cưu ma la đa, nên cũng được gọi là Thí dụ sư. Theo luận Dị bộ tông luân thì Kinh lượng bộ là từ Thuyết nhất thiết hữu bộ chia ra khoảng 400 năm sau khi đức Phật nhập diệt. Sự phân phái này xảy ra khoảng sau khi kết tập luận Đại tì bà sa, trước đó gọi là Thí dụ sư, là 1 phái riêng có thế lực, được xem là 1 thứ dị nghĩa tiến bộ trong Thuyết nhất thiết hữu bộ, về sau Kinh lượng bộ tập đại thành học thuyết của phái này, rồi các ngài Vô trước, Thế thân lại căn cứ vào luận thuyết của Kinh bộ mà tổ chức giáo học các phái Du già Pháp tướng.
thí dụ tập
Avadāna-kalpalata (S)Tên một bộ kinh.
thí huệ
To bestow kindness, or charity.
thí hành
Hành pháp bố thí (tài thí, pháp thí, và vô úy thí)—The practice of charity—See Tam Bố Thí, Tứ Bố Thí, Ngũ Bố Thí, Thất Bố Thí, and Bát Bố Thí.
; (施行) Thực hành bố thí tài vật cho người. Kinh Phạm chíÁt ba la diên vấn chủng tôn (Đại 1, 877 thượng) ghi: Đức Phật dạy: Trong kinh của ta lấythí hành làm gốc, bố thí cho những người làm điều lành là gieo hạt giống lớn nhất. Những người được thiên hạ tôn quí đều do bố thí cho người làm điều lành mà được, chứ không phải do dòng dõi mà có.
thí hóa
To bestow the transforming truth.
; Bố thí chân lý giáo hóa chúng sanh, hay bố thí và giáo hóa—To bestow the transforming truth.
Thí Hộ
(s: Dānapāla, j: Shigo, 施護, khoảng thế kỷ thứ 10): vị tăng dịch kinh dưới thời nhà Tống, xuất thân Ô Chấn Nẵng Quốc (s: Udyāna, 烏塡曩國) ở miền Bắc Ấn Độ, người đời thường gọi là Hiển Giáo Đại Sư (顯敎大師), năm sanh và mất không rõ. Vào năm thứ 5 (980) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) đời vua Thái Tông nhà Bắc Tống, ông cùng với Tam Tạng Thiên Tức Tai (天息災) nước Ca Thấp Di La (迦濕彌羅) thuộc miền Bắc Ấn Độ sang vùng Biện Kinh (汴京, Khai Phong), dừng chân trú tại Dịch Kinh Viện (譯經院, cơ quan dịch kinh do triều đình lập nên) của Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) và dốc hết toàn lực cho việc phiên dịch kinh điển. Tác phẩm cọng dịch có Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh (大乘莊嚴寳王經) 4 quyển, Cấp Cô Trưởng Giả Nữ Đắc Độ Nhân Duyên Kinh (給孤長者女得度因緣經) 3 quyển, Quảng Thích Bồ Đề Tâm Luận (廣釋菩提心論) 4 quyển, Đại Thừa Nhị Thập Tụng Luận (大乘二十頌論) 1 quyển, Lục Thập Tụng Như Lý Luận (六十頌如理論) 1 quyển, Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Đại Giáo Vương Kinh (一切如來眞實攝大乘現證三昧大敎王經) 30 quyển, Nhất Thiết Như Lai Kim Cang Tam Nghiệp Tối Thượng Bí Mật Đại Giáo Vương Kinh (一切如來金剛三業最上祕密大敎王經) 7 quyển, Thủ Hộ Đại Thiên Quốc Độ Kinh (守護大千國土經) 3 quyển, Biến Chiếu Bát Nhã Ba La Mật Kinh (遍照般若波羅蜜經) 1 quyển, v.v., gồm 115 bộ và 225 quyển.
thí hộ
Danapala (skt)—Vị Tăng xứ Udyana, người đã dịch 111 bộ kinh sang Hoa ngữ. Năm 982 sau Tây Lịch, ngài được ban tước hiệu Minh Tín Đại Sư—A native of Udyana who translated into Chinese some 111 works. In 982 A.D. he received the title of Great Master and brilliant expositor of the faith.
thí khai phế
Theo Kinh Pháp Hoa, đây là từ mà tông Thiên Thai dùng để chỉ ba thời giáo thuyết của Đức Phật—According to the Lotus Sutra, this is a term which the T'ien-T'ai sect used to indicate the three periods of Buddha's teaching. 1) Thí Thời: Trước thời kỳ Pháp Hoa, Đức Phật đã nói về Tam thừa giáo, đây Ngài chỉ dùng phương tiện thiện xảo để giúp người đi vào Chánh Đạo Nhất Thừa Giáo, nên gọi là “vị thực thí quyền”—Bestowing the truth in Hinayana and other partial forms. 2) Khai Thời: Thờ kỳ Đức Phật “khai quyền hiển thực” để giúp chúng sanh hiểu rõ Tam Thừa chỉ là phương tiện của Nhất Thừa—Opening of the perfect truth like the Lotus, as in the Lotus Sutra. 3) Phế Thời: Đức Phật chỉ dạy nên “phế quyền lập thực” một khi đã biết rõ Tam Thừa chỉ là phương tiện cho Nhất Thừa—Abrogating the earlier imperfect forms.
; (施開廢) Dụng ngữ gọi tắt của 3 từ: Thực thi quyền(Thi), Khai quyền hiển thực (Khai) và Phế quyền lập thực (Phế), do tông Thiên thai dùng để nói về sự hóa đạo trong một đời của đức Phật. Pháp hoa huyền nghĩa thích thêm quyển 1, phần đầu của ngài Trạm nhiên dựa theo 3 thí dụ hoa sen mà nói về 3 nghĩa Thi, Khai, Phế như sau (Đại 33, 816 hạ): Từ sự mà nói thí dụ liên hiện (sen hiện), vì thuận với thí dụ cho nên trước Thi, sau Khai, lại trước Khai sau Phế.
thí kinh
(試經) Thí kinh. Chỉ cho chế độ thi cử kinh điển được thiết lập vào đời Đường để ngăn ngừa việc tự ý xuất gia và khống chế số lượng tăng ni trong nước, tức lúc độ tăng thì người này phải đọc tụng kinh luận và trình bày nghĩa lí để thử nghiệm học lực. Điều Thí kinh độ tăng trong Phật tổ thống kỉ quyển 51 (Đại 49,452 hạ) nói: Đầu năm Cảnh long, vua Trung tông nhà Đường ban chiếu cho trong nước thi kinh độ tăng, vị tăng tên Đồng đại nghĩa ở chùa Linh ẩn, huyện Sơn âm, tụng kinh Pháp hoa đậu hạng nhất. Do đây mà được biết chế độ thi kinh bắt đầu vào thời vua Đường Trung tông tại vị (705-710). Về sau, vào năm Chí đức thứ 2 (757) đời vua Túc tông, nếu người bạch y, cư sĩ tụng được 500 tờ kinh thì cho phép xuất gia làm tăng. Thời vua Đại tông, đối với người trẻ tuổi phải thi cả 3 môn kinh, luật, luận. Thời vua Tuyên tông, vua ban sắc hằng năm độ tăng, y theo tam học giới, định, tuệ, người nào có đạo tính và thông hiểu pháp môn thì được chọn cấp độ điệp. Về sau, vào các đời Tống, Nguyên, Minh, triều đình cũng tiếp tục thi hành chế độ này.
thí lâm
Một trong bốn cách tống táng, lâm táng, hay tống táng bằng cách đem xác người chết bỏ vào trong rừng—One of the four kinds of burial, to give to the forest, i.e. burial by casting the corpse into the forest.
thí mạng
To risk (venture) one's life.
thí nghịch
To kill a superior.
thí nguyện ấn
Varada-mudrā (S).
; (施願印) Phạm: Varada-mudrà. Cũng gọi Dữ nguyện ấn, Mãn nguyện ấn.Ấn tướng mà Phật và Bồ tát dùng khi ban phát các vật cần thiết cho chúng sinh tùy theo ýmongmuốn của họ.Khi kết ấn này, tay trái nắm lại thành quyền, cầm lấy chéo áo,đặt ở trên rốn. Tay phải duỗi thẳng 5 ngón, lòng bàn tay hướng ra ngoài và chúi xuống. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì khi bắt ấn này, nhờ thần lực của Như lai mà tất cả Phật đều mãn nguyện. Bảo sinh Như lai thuộc Kim cương giới và Bảo chàng Như lai của Thai tạng giới đều kết ấn này.
thí ngạ quỷ hội
(施餓鬼會) Cũng gọi Thí ngã quỉ thực, Thí thực hội, Thủy lục hội, Khán sơn thủy lục, Minh dương hội. Gọi tắt: Thí ngã quỉ. Chỉ cho pháp hội cúng thí cho quỉ đói ăn.Kinh Cứu bạt diệm khẩu đà la ni do ngài Bất không dịch vào đời Đường nói: Một đêm, ngài A nan đang ngồi tư duy ở nơi vắng vẻ thì có ác quỉ Diệm khẩu(miệng bốc lửa) đến báo rằng 3 hôm nữaNgài sẽ mệnh chung và rơi vào đường quỉ đói. Ngài A nan rất kinh hãi, liền hỏi ngã quỉ làm cách nào để thoát khỏi khổ nạn, ngã quỉ bảo nếu ngày mai mà bố thí cho trăm nghìn quỉ đói, trăm nghìn vịBà la môn..., mỗi vị 1hộc thức ăn uống, đồng thời cúng dường Tam bảo thì được thêm tuổi thọ. Ngài A nan bạch đức Phật về việc này, Phật liền dạy 1 bàiĐà la ni và nói về pháp thí thực. Đây chính là nguồn gốc của pháp Thí ngã quỉ ở đời sau. Trước ngài Bất không, ngài Thực xoa nan đà có dịch kinh Cứu diện nhiên ngã quỉ thần chú 1 quyển và Cam lộ đà la ni 1 quyển. Kinh Cứu diện nhiên ngã quỉ thần chú là bản dịch khác của kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni do ngài Bất không dịch.Pháp hội Thủy lục (Pháp hội cúng thí thức ăn cho khắp các hữu tình ở dưới nước (thủy) và ở trên cạn(lục) để cứu các quỉ đói) đầu tiên ở Trung quốc là do vua Vũ đế nhà Lương tổ chức. Lợi sinh chí trong Thích môn chính thống quyển 4 (Vạn tục 130, 401 hạ) nói: Pháp thí thực tất cả trời, người đều không biết, chỉ có đức Như lai vì lòng đại bi bao trùm khắp cả, không nỡ thấy hết thảy hàm linh chịu khổ não đói khát, nên Ngài mượn nhân duyên quỉ vương Diện nhiên, sai tôn giả A nan trì chú vào 1 nắm thức ăn rồi bố thí cho quỉ này. Hiện nay nghi thức cúng thí lưu hành trong giới xuất gia, tại gia, gọi là Thí ngã quỉ thực(cho quỉ đói ăn). Về quỉ vương này, trong kinh, luật có 3 tên gọi khác nhau: 1. Kinh Niết bàn gọi là Khoáng dã quỉ (quỉ đồng hoang). 2. Kinh Diệm khẩu gọi là Diệm khẩu quỉ(quỉ miệng lửa). 3. Luật Tì nại da gọi là Ha lợi đế mẫu, đều do đức Như lai khéo dùng phương tiện quyền xảo biến hiện ra. Những ghi chép về Thí ngã quỉ đầu tiên được thấy trong Thích thị yếu lãm của ngài Đạo thành. Về sau, có Thí thực pháp do ngài Tuân thức soạn vào đời Tống và Thí thực tu tri do ngài Nhân nhạc soạn. Vào đời Nam Tống thì có cư sĩ Như như Nhan bính soạn Thí thực văn, Thạch chi Tông hiểu soạn Thí thực thông lãm. Đến đời Nguyên, ngài Trung phong Minh bản soạn Cam lộ môn... Điều Nguyệt phần tu tri thất nguyệt trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1155 thượng) nói: Ngày 15 giải chế(kết thúc an cư), buổi chiều, cử hành hội Vu lan bồn, phúng kinh thí thực.
Thí ngạ quỷ hội 施餓鬼會
[ja] セガキエ se gaki e ||| 'Feeding-hungry-ghosts meeting.' A dharma-assembly where food is thrown onto sacred earth or water for hungry beings (ghosts) who have fallen into an evil destiny. "Repose of Souls." It is said that Ānanda started the tradition when he was informed to by a 'burning mouth' hungry ghost to do so. => 'Lễ bố thí thức ăn cho quỷ đói'. Pháp hội mà thức ăn, nước uống được dặt trong một đàn tràng để cúng cho loài quỷ đói đã bị đoạ vào đường ác. “ Những chúng sinh trong vô gián địa ngục”. Tương truyền A-nan bắt đầu thực hiện nghi thức nầy khi được một loài Diệm khẩu ngạ quỷ báo cho biết.
Thí nhất thiết vô uý đà-la-ni kinh 施一切無畏陀羅尼經
[ja] セイッサイムイダラニキョウ Se issai mui daranikyō ||| The Shi yiqie wuwei tuoluonijing; Skt. Sarvābhāyapradāna-dhāraṇī; Tib. thams cad la mi 'jigs pa rab tu sbyin pa [To.609/925]; (Dhāraṇī of Bestowing Complete Fearlessness). 1 fasc. (T 1373.21.889-890), trans. Dānapāla 施護. => (c: Shi yiqie wuwei tuoluonijing; s: Sarvābhāyapradāna-dhāraṇī; t: thams cad la mi 'jigs pa rab tu sbyin pa ; e: Dhāraṇī of Bestowing Complete Fearlessness). 1 quyển; Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch.
thí nhất thiết vô úy bồ tát
Xem Thí Vô Úy Bồ tát.
thí pháp
To dispense the Buddha's teachings.
thí phát
Cạo tóc theo như Đức Phật Thích Ca, người đã dùng lưỡi gươm bén cắt bỏ tóc hàm ý cắt đứt mọi hệ lụy với trần thế—To shave the hair, following Sakyamuni, who cut off his locks with a sharp sword or knife to signify his cutting himself off from the world.
thí quả cảm ngũ bất tử
(施果感五不死) Bố thí quả được phúc báo 5 lần thoát chết.Kinh Phó pháp tạng quyển 3 ghi:Ở thời đức Phật Tì bà thi, có vị tỉ khưu bị đau đầu, tôn giả Bạt câu la bố thí cho vị ấy 1 quả Ha lê lặc, vị tỉ khưu liền hết bệnh. Nhờ công đức bố thí này mà ngài Bạc câu la được hưởng phúc lạc ở cõi trời, cõi người trong 91 kiếp và không hề bị đau ốm. Về sau, tôn giả Bạc câu la được sinh trong nhà 1 người Bà la môn, mẹ mất sớm, cha lấy vợ lẽ, tôn giả bị dì ghẻngượcđãi, ghét bỏ, 5 lần bà ta hãm hại mà tôn giả đều thoát chết. Lớn lên, tôn giả xuất gia học đạo và chứng quả A la hán. Năm lần bị hại và thoát chết là: 1. Đặt trên vỉnướng bánh không chết: Lúc tôn giả còn nhỏ, dì ghẻ làm bánh, tôn giả đòi ăn, dì ghẻ đặt tôn giả lên vỉ nướng bánh đang nóng đỏ, nhưng không thiêu hại được tôn giả. 2. Bỏ vào nồi nước nóng không chết: Dì ghẻ nấu thịt, tôn giả đòi ăn, bà ta tức giận, ném tôn giả vào nồi nước sôi, nhưng không giết hại được tôn giả. 3. Bỏ xuống sông không chết: Dì ghẻ đi chợ, tôn giả đòi đi theo, dìghẻrất ghét, liền ném tôn giả xuống sông nhưng không bị chết đuối. 4. Cá nuốt không chết: Trong dòng nước sâu, tôn giả bị con cá lớn nuốt vào trong bụng nhưng không chết. 5. Dao cắt không chết: Sau khi tôn giả bị cá nuốt vào bụng thì ông chài lưới được, đem ra chợ bán, gặp cha tôn giả mua đưa về và mổ bụng cá, cứu tôn giả thoát chết.
thí thiết
Thiết lập hay bắt đầu—To start, to establish, or to set up.
thí thiết luận
(施設論) Phạm:Prajĩapti-zàstra.Luận, 7 quyển, do ngài Pháp hộ và ngài Duy tịnh dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 26.Luận này tức là bản dịch của phần Nhân thi thiết môn trong Thi thiết túc luận, 1 trong 6 bộ Túc luận thuộc Luận bộ Tiểu thừa. Trong đó, 4 quyển đầu do ngài Hộ pháp dịch, 3 quyển sau do ngàiDuy tịnh dịch. Nội dung trình bày về Nhân sai biệt của nghiệp báo thế gian, gồm 14 chương. Trong đó, đầu quyển nêu lên môn thứ nhất là Thế gian thi thiết trong Đối pháp đại luận,tứcchương 1, văn chú thích nói (Đại 26, 514 thượng): Thấy trong Thích luận có môn này, còn nguyên bản tiếng Phạm thì thiếu; 13chươngcòn lại là Nhân thi thiết môn trong Đối pháp đại luận, giải thích về 7 thứ báu của Luân vương, tướng điềm lành lúc đức Phật mới sinh, nhân quả của hữu tình, sự khinh trọng của 3 độc, sự sai biệt của các pháp thế gian, núi sông, biến hóa, thần thông...
thí thiết luận bộ
Karmikah (skt)—Trường phái chủ trương trì giới vượt trên kiến thức—The school of Karma, which taugh the superiority of morality over knowledge.
thí thiết túc luận
(施設足論) Phạm:Prajĩàpti-pàda. Gọi đủ: A tì đạt ma thi thiết túc luận. Luận, là 1 trong 6 bộ Túc luận thuộc Luận tạng căn bản của Hữu bộ, Tiểu thừa; có thuyết cho rằng do ngài Đại ca đa diễn na, hoặc do ngài Đại mục kiền liên soạn. Luận Câu xá quyển 1 (bản dịch cũ) gọi luận này là luận Phân biệt giả danh. Luận Thi thiết 7 quyển do ngài Pháp hộ dịch vào đời Bắc Tống chính là bản dịch lược bớt của luận này. Bản dịch hoàn chỉnh của Thi thiết túc luận hiện nay chỉcóbản dịch Tây tạng được thu vào Đan châu nhĩ. Nội dung gồm: 1. Thế gian thi thiết. 2. Nhân thi thiết. 3. Nghiệp thi thiết. Luận Thi thiết bản Hán dịch chính là1 phần của chương thứ 2 Nhân thi thiết.
thí thân
To sacrifice one's life.
thí thực
To bestow food.
; 1) Cúng dường thức ăn cho chư Tăng: To bestow food on monks. 2) Bố thí thức ăn cho quỷ đói: To bestow food on hungry ghosts.
; (施食) I. Thí Thực. Đem bố thí thức ăn uống cho người khác. Kinh Phật vị Thủ catrưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt nói rằng bố thí thức ăn uống được 10 công đức như sau: Được sống lâu, thân xinh đẹp, được mạnh khoẻ, được yên vui và biện tài vô ngại, không sợ hãi, không biếng nhác, được mọi người kính ngưỡng, ai cũng thương mến, đầy đủ phước báo, chết được sinh cõi trời, mau chứng niết bàn.Các kinhluậnkhác như kinh Vị tằng hữu nhân duyên quyển thượng, kinh luật dị tướng quyển 11... đều cho rằng thí thực được rất nhiều công đức. Trong Chư hồi hướng thanh qui thức quyển 1, ngoài Thí ngã quỉ, còn có Vu lan bồn kết duyên thí thực, Vu lan bồn vong giả truy tiến thí thực, Thí thực, Thời chính thí thực, Lâm thời thí thực lược hồi hướng, Thí thực lược hồi hướng, Thí thực lược thông hồi hướng... II. ThíThực. Cũng gọi Xướng thực. Xướng kệ chú nguyện khi thụ thực trong Thiền lâm. Thiền uyển thanh qui quyển 1 ghi: Khi ăn cháo, xướng kệ thí chúc (Vạn tục 111, 441 hạ): Chúc hữu thập lợi, nhiêu ích hành nhân; quả báo sinh thiên, cứu cánh thường lạc(Kệ cho cháo:Cháo có 10 điều lợi, lợi ích cho người tu hành, quả báo được sinh cõi trời, rốt ráo thường yên vui). Sách này còn ghi: Cháo là phương thuốc hay, tiêu trừ bệnh đói khát; cho, nhận đều mát mẻ, cùng thành đạo vô thượng. Giờ thụ trai thì xướng: Tam đức lục vị, thí Phật cập tăng; pháp giới nhân thiên, phổ đồng cúng dường(Ba đức 6 vị, cúng Phật và tăng; pháp giới trời, người, cúng dường đều khắp). Đây là kệ thí trai, xướng xong thì hành giả thỉnh trai.
thí thực hoạch ngũ phúc báo
(施食獲五福報) Bố thí thứcăn được năm phúc báo. Cứ theo kinh Thí thực hoạch ngũ phúc báo thì bố thí thức ăn cho người sẽ được 5 phúc báo như sau: 1. Người trong 7 ngày không ăn thì chết, nếu bố thí thức ăn thì mệnh sống của họ được kéo dài, tức là thí mệnh. Người thí mệnh này sẽ được phúc báo đời đời sống lâu, giàu có vô lượng. 2. Người không có ăn thì thân thể tiều tụy, nếu bố thí thức ăn thì dung mạo của họsẽtươi tắn, tức là thí sắc. Người thí sắc này sẽ được phúc báo đời đời xinh đẹp, mọi người trông thấy đều ưa thích. 3. Người không được ăn thì thân gầy sức yếu, nếu bố thí thức ăn thì sẽ làm tăng thể lực của họ, tức là thí lực. Người thí lực này sẽ được phúc báo đời đời nhiều sức khoẻ, không tổn hao. 4. Người không được ăn thì lòng buồn rầu, thân bất an, nếu bố thí thức ăn thì giúp họ được an ổn, tức là thí an. Người thí an này sẽ được phúc báo đời đời yên vui, không gặp tai nạn. 5. Người không được ăn thì sức yếu ớt, không thể nói năng; nếu bố thí thức ăn thì giúp họ nói được, tức là thí biện. Người thí biện này sẽ được phúc báo đời đời trí biện thông suốt, người nghe vui vẻ.
thí tài
Tài thí—To give money to the poor.
; (施財) Đồng nghĩa: Tài thí, đạt thấn. Bố thí tài vật. Khi có người(thí chú, đàn việt) bố thí tài vật thì vị Duy na, sau khi tác bạch Thánh tăng, đến trước vị Thủ tọa vấn an và xin xướng kệ thí tài, rồi đến chỗ để kiền chùy, gõ 1 tiếng, vị Thủ tọa xướng kệ thí tài. ĐiềuPhó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 hạ) ghi: ... (Duy na) gõ 1 tiếng kiền chùy, vị Thủ tọa xướng kệ thí tài rằng: Tài pháp nhị thí, đẳng vô sai biệt, đàn ba la mật, cụ túc viên mãn(tài thí và pháp thí như nhau, không khác, bố thí ba la mật trọn vẹn, hoàn toàn). Xong rồi, vị Thủ kho hay vị Duy na theo thứ tự phân chia tài vật.
thí tăng
To give alms to monks.
; Cúng dường một vị Tăng—To give alms to a monk.
thí vô uý
Abhaya dāna (S), Abhayapradāna (S), Fearlessness giving Vô úy thíThí cho chúng sanh cái đức tánh chẳng sợ sệt. Một trong tam thí: tài thí, pháp thí, vô úy thí.
; (施無畏) Phạm: Abhaya-dàna. Cũng gọi Vô úy xả, Vô úy thí. Dứt trừ sự sợ hãi cho người, 1 trong 3 thí.Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 nói rằng Bồ tát Quán thế âm thường cứu độ chúng sinh trong những lúc họ gặp tai nạn nguy cấp, làm cho họ không sợ hãi, nênNgài có hiệu là Thí vô úy giả. Phật, Bồ tát dùng các phương tiện uy lực để trừ khử sự sợ hãi sư tử, hổ báo, chó sói, nước trôi, lửa cháy, giặc cướp... mang lại an ổn cho chúng sinh.
thí vô uý bồ tát
(施無畏菩薩) Thí vô úy, Phạm: Abhayaô-dada. Gọi đủ: Thí nhất thiết vô úy Bồ tát. Vị tôn thứ 3 của viện Trừ cái chướng trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này lấy việc diệt trừ sự lo âu sợ hãi cho tất cả chúng sinh làm bản thệ, mật hiệu là Tự tại kim cương. Về hình tượng, vị tôn này mình màu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, tay phải kết ấn Thí vô úy, tay trái nắm lại thành kim cương quyền đặt trên đầu gối. Chân ngôn là: Qui mệnh A bội diên (abhayaô, vô uý) na na (dada, thí) sa ha (svàhà).
thí vô uý ấn
(施無畏印) Phạm: Abhayaô-dada mudrà. Chỉ cho ấn khế biểu thị sự bố thí cho tất cả chúng sinh niềm an vui không sợ hãi.Khi kết ấn, tay phải giơ lên, 5 ngón duỗi thẳng, bàn tay hướng ra ngoài, tay trái nắm lại, cầm lấy 2 góc áo ca sa để ở trên rốn. Bất không thành tựu Như lai thuộc Kim cương giới và Khai phu hoa Như lai thuộc Thai tạng giới của Mật giáo cũng kết ấn này. Bài chân ngôn được tụng khi kết ấn này là: Na ma tam mạn đa bột đà nẫm (Nama# samanta buddhànàm, qui mệnh phổ biến chư Phật) tát bà tha (sarvathà, biến nhất thiết xứ) nhĩ na nhĩ na (jina, jina, thắng) bội dã na giả na (bhaya nazna, trừ khủng bố) sa ha (svàhà, thành tựu). Nghĩa là năng lực thù thắng của Như lai trùm khắp tất cả mọi nơi, diệt trừ hết thảy phiền não sợ hãi.
thí vô yếm tự
See Na Lan Đà Tự.
thí vô úy
Abhayandada (S). The bestower of fearlessness, a tittle of Quán Âm.
; Abhayandada or Abhayadana (skt)—Còn gọi là Thí Vô Úy Giả hay Thí Vô Úy Tát Đỏa. 1) Người bố thí sự vô úy: Làm cho người khác không còn lo âu sợ hãi—The bestower of fearlessness. 2) Một danh hiệu của Đức Quán Thế Âm (vì ngài là chỗ nương tựa của chúng sanh, khiến họ không còn sợ hãi nữa): A title of Kuan-Yin. 3) Một vị Bồ Tát trong Thai Tạng Giới: A bodhisattva in the Garbhadhatu.
thí vô úy bồ tát
Abhayaṃdāna (S), Abhayaṃdada (S), Fearlessness-Giving Bodhi-sattvaThí Nhất Thiết Vô Úy Bồ tátMột trong những danh hiệu của Quan Thế Âm Bồ tát vỉ Ngài ban phát cho những ai cầu nguyện Ngài 14 phép vô úy để người ta không bị lo sợ khổ - nạn.
thí vô úy ấn
Abhaya mudrā (S).
thí ân
To grant s.o. a favour; to do s.o. a kindness. Thi ân bất cầu báo to do good for its own sake.
; See Thi ân.
Thí đáo bỉ ngạn 施到彼岸
[ja] セトウヒガン setōhigan ||| The perfection of giving. See => Sự viên mãn của việc bố thí. Xe, Thí ba-la-mật施波羅蜜. .
Thí độ
xem Đàn Ba-la-mật.
Thí, thi 施
[ja] セ shi, se ||| (1) Give alms; conduct, carry out, administer, apply, perform. To bestow, to grant, to act, to do. Giving, 'charity.' (2) To extend to. (3) To relax, to do away with. (4) One of the Six Perfections (dāna). => 1. Bố thí, thi hành, thực hiện, ứng dụng, trình bày. Ban cho, tặng cho, hành động, làm. 2. Tặng phẩm 'từ thiện'. 3. Mở rộng đến. 4. Buông lỏng, gạt bỏ. 5. Một trong sáu ba-la-mật (s: dāna).
thích
~vṛtti (S)Tiếp vĩ ngữ: thích, như trong Thất thập không tính luận thích.
; To separate out, set free, unloose, explain; Buddhism, Buddhist.
; 1) Cắt: To cut. 2) Favored—To be fond of—To prefer—To like—To love. 3) To explain (giải thích). 4) To tattoo (xâm). 5) To assassinate (hành thích). 6) Đá: To kick. 7) Vừa Đến: To reach—To go to. 8) Thích Hợp Với: To accord with. 9) Thình lình: Suddenly. 10) Phóng thích: To set free—To unloose. 11) Thích Già: Sakyamuni (skt)—See Thích Ca. 12) Đạo Thích Ca: Buddhism. 13) Thích Tử: Buddhist.
; (釋) I. Thích. Gọi đủ: Thích ca. Thích ca là tên gọi dòng họ của đức Phật, cho nên các đệ tử xuất gia theo Phật được gọi là Thích tử, đồng thời bỏ họ thế tục lấy theo họ Thích ca, ọi là Thích thị, đây là chủ trương của ngài Đạo an đờiĐông Tấn. Ngoài ra, giáo pháp của đức Thích tôn(tức Phật giáo), gọi là Thích giáo; các dòng phái(tức Phật môn) vâng theo giáo pháp của Phật, gọi là Thích gia, Thích môn; Phật giáo và Đạo giáo gọi chung là Thích đạo.II. Thích. Đối với các kinh do đức Thích tôn nói và các luận do các Tổ sư Ấn độ soạn, tín đồ Phật giáo các nước đem ra chú thích, cũng gọi là Thích, người chú thích thì gọi là Thích gia.
thích ca
Sakiya (P), Śākya (S), Sakka (P), Sakiya (P)Thiên chủ, Thích Đề Hoàn.
; Sakya (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, bộ tộc hay gia đình Thích Ca, người ta nói từ Thích Ca lấy từ danh từ “Saka” có nghĩa là thực vật, nhưng theo Hoa ngữ có nghĩa là mạnh, có sức lực, và được giải thích bằng chữ “Năng.” Dòng họ Thích Ca đã rày đây mai đó (dân du mục) dọc theo thung lũng đồng bằng Ấn Hà,sau đó chiếm cứ một khu vực vài ngàn dặm vuông nằm theo triền đồi xứ Népal và những vùng thảo nguyên về phía nam. Kinh đô là thành Ca Tỳ La Vệ. Vào thời Đức Phật còn tại thế, bộ tộc được đặt dưới sự quyền cai trị của Kosala, một vương quốc lân cận. Về sau nầy, muốn cho vượt trội hơn Bà La Môn, những Phật tử đã dựng nên một dòng họ huyền thoại—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, the clan or family of the Buddha, said to be derived from Saka, vegetables, but interpreted in Chinese as powerful, strong, and explained by “Neng.” The clan, which is said to have wandered hither from the delta of the Indus, occupied a district of a few thousand square miles lying on the slopes of the Nepalese hills and on the plains to the south. Its capital was Kapilavastu. At the time of the Buddha, the clan was under the suzerainty of Kosala, an adjoining kingdom. Later Buddhists, in order to surpass Brahmans, invented a fabulous line of five kings: (I) Một dòng họ huyền thoại Vivartakalpa khởi đầu bởi Thiên Tam Muội Đa—A fabulous line of five kings of the Vivartaklapa headed by Mahasammata. (II) Theo sau đó là năm vị Luân Vương, và vị vua đầu tiên là Đảnh Sanh Vương: Followed by five Cakravarti, the first being Murdhaja. (III) Theo sau đó là mười chín (19) vua khác, bắt đầu với vua Xả Đế và cuối cùng là vua Đại Thiên—Then came nineteen kings, the first being Catiya, the last Mahadeva. (IV) Sau đó được kế vị bởi các triều đại của 5.000 vị vua—These were succeeded by dynasties of 5,000 kings. (V) 7.000 vị vua—7,000 kings. (VI) 8.000 vị vua—8,000 kings. (VII) 9.000 vị vua—9,000 kings. (VIII) 10.000 vị vua—10,000 kings. (IX) 15.000 vị vua—15,000 kings. (X) Sau đó vua Cồ Đàm mở đầu 1.100 vị vua, cuối cùng bởi vua Iksvaku, ngự trị vùng Potala—After which king Gautama opens a line of 1,100 kings, the last, Iksvaku, reigning at Potala. (XI) Với dòng vua cuối cùng Iksvaku, người ta nói dòng Thích Ca khởi đầu. Bốn người con của Iksvaku ngự trị vùng Ca Tỳ La Vệ. Thích Ca Mâu Ni là dòng dõi bảy đời của Iksvaku. Về sau thành Ca Tỳ La Vệ bị Trì Quốc tiêu diệt, bốn người sống sót của dòng họ lập nên những vương quốc Udyana, Bamyam, Himatala, và Sambi—With Iksvaku, the sakyas are said to have begun. His four sons reigned at Kapilavastu. Sakyamuni was one of his descendants in the seven generations. Later, after the destruction of Kapilavastu by Virudhaka, four survivors of the family founded the kingdoms of Udyana, Bamyam, Himatala, and Sambi.
; (釋迦) Phạm:Zàkya. Hán dịch: Năng nhân. Dòng họ của đức Phật, 1 trong 5 họ của Ngài. Tộc Thích ca là 1 trong các dân tộc ở Ấn độ đời xưa, thuộc giai cấp Vũ sĩ, là con cháu của vua Cam giá (Phạm: Jkwvàka) thuộc hệ thống Nhật chủng (Phạm:Sùryavaôsa). Đức Phật xuất thân từ chủng tộc này, cho nên gọi là Thích ca mâu ni (Phạm: Zàkya-muni, tức là bậc Thánh của chủng tộc Thích ca).
thích ca bà
Sakra (skt)—Thiên vương.
thích ca bát tướng nuy văn khố
(釋迦八相倭文庫) Truyện kí, 57 tập, do ông Vạn đình Ứng hạ (1818-1890) người Nhật bản soạn. Nội dung sách này lấy phụ nữ làm đối tượng để cải biên những truyện có liên quan đến cuộc đời của đức Thích tôn. Nhân danh, địa danh trong sách đều dùng theo tên cũ, nhưng ngôn hạnh của các nhân vật thì đều được Nhật bản hóa. Từ năm Hoằng hóa thứ 2 đến năm Khánh ứng thứ 4 (1845- 1868) liên tục ấn hành mỗi lần 1 tập. Ở đầu mỗi tập đều có lời tựa của chính tác giả. Những tranh minh họa trong 23 tập trước do Ca xuyên Phong quốc vẽ, từ tập 24 trở đi thì do Ca xuyên Quốc trinh vẽ. Tác giả Vạn đìnhỨng hạ vốn có tên là Phục bộ trường Tam lang, ngoài sách này, ông còn có các tác phẩm: Thần đại tảo diêm Thỉ Xuy Khánh Huythảo, Nhật liên kí húc y, Trung nghĩa giáo giới xích tùng đàm,Cát diệp cửu trùng cẩm, Giáo huấn vũ tạng đăng, Hiếu ác lưỡng diện kính, Anh hùng ngũ đại lực...
thích ca bồ tát
Sakya-bodhisattva (skt)—Một trong những tiền kiếp của Phật Thích Ca—One of the previous incarnation of the Buddha.
thích ca di danh
(釋迦异名) Các danh hiệu khác của đức Thích ca. Trong thế giới Sa bà, đức Như lai có vô số danh hiệu, như Nhất thiết nghĩa thành, Viên mãn nguyệt, Sư tử hống, Thích ca mâu ni, Đệ nhất tiên, Tì lô giá na, Cù đàm thị, Đại sa môn, Đạo sư...
thích ca giáp thị
(釋迦夾侍) Giáp thị, cũng gọi Hiếp sĩ, tức chỉ cho 2 vị Thánh đứng hầu 2 bên đức Thích ca Trung tôn. Đại thừa lấy 2 Bồ tát Văn thù, Phổ hiền làm giáp thị của Phật Thích ca, do thứ tự thắng, liệt nên ngài Văn thù ở bên trái(phép thế tục Ấn độ chuộng bên trái), ngài Phổ hiền ở bên phải. Nếu y theo pháp môn lí trí, định tuệ thì ngài Phổ hiền ở bên trái, ngài Văn thù ở bên phải. Tiểu thừa thì lấy 2 vị A la hán Ca diếp và A nan làm giáp thị của Phật Thích ca, theo giới lạp cao, thấp nên ngài Ca diếp ở bên trái, ngài A nan ở bên phải.
thích ca kinh
(釋迦經) Đối lại: Lô xá na kinh. Chỉ cho giáo pháp do đức Phật Thích ca nói ra, tức giáo pháp phương tiện thích ứng với căn cơ của chúng sinh mà thuyết giảng, như kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn... Đây là 1 trong 2 giáo do Pháp sư Mẫn đời Đường phán lập.
Thích Ca Mâu Ni
(s: Śākya-muni, p: Sakya-muni, 釋迦牟尼): ý là bậc Thánh nhân xuất thân từ dòng họ Thích Ca; còn gọi là Thích Ca Văn Ni (釋迦文尼), Xa Ca Dạ Mâu Ni (奢迦夜牟尼), Thích Ca Mâu Nẵng (釋迦牟曩), Thích Ca Văn (釋迦文); gọi tắt là Thích Ca (釋迦), Mâu Ni (牟尼), Văn Ni (文尼); ý dịch là Năng Nhân (能仁), Năng Nhẫn (能忍), Năng Tịch (能寂), Tịch Mặc (寂默), Năng Mãn (能滿), Độ Ốc Tiêu (度沃焦), hay Thích Ca Tịch Tĩnh (釋迦寂靜), Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn (釋迦牟尼世尊), Thích Tôn (釋尊); là đấng giáo tổ của Phật Giáo. Nguyên do xưng hiệu của Ngài có thể tìm thấy trong Quán Chư Dị Đạo Phẩm (觀諸異道品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 20, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (根本說一切有部毘奈耶雜事, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 20, A Tỳ Đàm Bát Kiền Độ Luận (阿毘曇八犍度論, Taishō Vol. 26, No. 1543) quyển 30, v.v. Đức Thích Tôn vốn là Thái Tử của vua Tịnh Phạn (s: Śuddhodana, p: Suddhodana, 淨飯) thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛) thuộc miền Bắc Ấn Độ. Thành này hiện tại ở vùng phụ cận Tilori-Kot (提羅里克, Đề La Lí Khắc) thuộc phía Nam Nepal (尼泊爾, Ni Bạc Nhĩ), phía Đông Bắc sông Rapti (拉布提, Lạp Bố Đề). Diện tích tiểu quốc này khoảng 320 m2, thuộc vào vương quốc Kiều Tát La (s: Kauśala, Kośalā, p: Kosala, 憍薩羅). Đương thời Bắc Ấn thực hành chế độ Cộng Hòa quý tộc, phân thành 10 bang thành nhỏ, trong đó chọn ra vị lãnh đạo có thế lực nhất, và lúc bấy giờ vua Tịnh Phạn là vị lãnh tụ tối cao. Hoàng hậu Ma Da (s: Māyā, 摩耶), mẫu thân của đức Phật, là con gái của chủ Thành Thiên Tý (s: Devadaha, 天臂) thuộc bộ tộc Cư Lợi (居利) lân quốc. Trước khi hạ sinh Thái Tử, theo tập tục đương thời, phu nhân phải quay trở về Thành Thiên Tý để chờ ngày lâm bồn, dọc đường khi đang dừng chân nghỉ tại vườn Lâm Tỳ Ni (s, p: Lumbinī, 藍毘尼), ngay dưới gốc cây Vô Ưu (s: aśoka, 無憂), nàng hạ sinh Thái Tử. Theo Tu Hành Bản Khởi Kinh (修行本起經, Taishō Vol. 3, No. 184) quyển Thượng, Phẩm Giáng Thân (降身品), khi đản sanh, đức Thích Tôn đi bảy bước, đưa tay lên nói rằng: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, Tam Giới giai khổ, ngô đương an chi (天上天下、唯我爲尊、三界皆苦、吾當安之, trên trời dưới đất, chỉ ta trên hết, Ba Cõi là khổ, ta sẽ làm yên).” Ngoài ra, các điển tịch như Vị Tằng Hữu Pháp Kinh (未曾有法經) của Trung A Hàm Kinh (中阿含經, Taishō Vol. 1, No. 26) quyển 8, dị xuất bồ tát bản khởi kinh (異出菩薩本起經, Taishō Vol. 3, No. 188), Phẩm Dục Sanh Thời Tam Thập Nhị Thụy (欲生時三十二瑞品) của Phổ Diệu Kinh (普曜經, Taishō Vol. 3, No. 186) quyển 2, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō Vol. 3, No. 189) quyển 1, Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經, Taishō Vol. 3, No. 191) quyển 3, Phẩm Thọ Hạ Đản Sanh (樹下誕生品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 8, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (根本說一切有部毘奈耶雜事, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 20, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 70, v.v., đều có ghi lại nhiều tướng lạ khác nhau khi đức Thích Tôn hạ sanh. Sau khi trở về cung, Thái Tử được đặt cho tên là Tất Đạt Đa (s: Siddhārtha, p: Siddhattha, 悉達多), hay Tát Bà Tất Đạt (s: Sarva-siddhārtha, p: Sabba-siddhattha, 薩婆悉達), Tát Bà Ngạch Tha Tất Đà (s: Sarvārtha-siddha, 薩婆額他悉陀), Tát Bà Hạt Thích Tha Tất Đà (薩婆曷刺他悉陀), Tất Đạt La Tha (悉達羅他), Tất Đạt (悉達); ý dịch là Nhất Thiết Nghĩa Thành (一切義成), Nhất Thiết Sự Thành (一切事成), Tài Cát (財吉), Cát Tài (吉財), Thành Lợi (成利), Nghiệm Sự (驗事), Nghiệm Nghĩa (驗義). Sau khi sanh con được 7 ngày, phu nhân qua đời, Thái Tử được dì Ma Ha Ba Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, 摩訶波闍波提) nuôi dưỡng cho đến khi khôn lớn. Theo Phẩm Tập Học Kỷ Nghệ (習學技藝品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh quyển 11, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự (根本說一切有部毘奈耶破僧事, Taishō Vol. 24, No. 1450) quyển 3, v.v., cho biết rằng thưở thiếu thời Thái Tử từng theo học tập văn chương với Bà La Môn Tỳ Xa Mật Đa (s: Viśvamitra, 毘奢蜜多), học võ nghệ với Sàn Đề Đề Bà (s: Kṣāntideva, 羼提提婆), hết thảy đều thông hiểu. Khi trưởng thành, Thái Tử kết hôn với Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅), con gái của Thiện Giác Vương (s: Suprabuddha, 善覺王)—thành chủ của Thiên Tý Thành, hạ sanh La Hầu La (s, p: Rāhula, 羅睺羅). Theo Phẩm Du Quán (遊觀品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ cho biết rằng Thái Tử từng ra bốn cửa thành dạo chơi, thấy các hình tượng già, bệnh, chết, vị Sa Môn (s: śramaṇa, p: samaṇa, 沙門), v.v., thâm cảm được nỗi thống khổ cũng như vô thường của kiếp người, bèn dấy khởi ý chí xuất gia tu đạo. Năm lên 29 tuổi (có thuyết cho là 19), nữa đêm Người rời khỏi vương cung, tự cởi bỏ áo mão để trở thành Sa Môn. Ban đầu, Thái Tử cầu đạo với tiên nhân Bạt Già Bà (s: Bhārgava, 跋伽婆) của nước Tỳ Xá Ly (s: Vaiśālī, p: Vesālī, 毘舍離), rồi đến thọ giáo với các hiền giả A La La Ca Lam (s: Ārāḍa-kālāma, 阿羅邏迦藍), Uất Đà Ca La Ma Tử (s: Udraka-rāmaputra, 鬱陀迦羅摩子) ở Thành Vương Xá (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城). Cuối cùng, Người đến Khổ Hạnh Lâm ở thôn Ưu Lâu Tần La (s: Uruvilvā, 優樓頻羅) thuộc phương Nam thành Già Da (s, p: Gayā, 伽耶) của vương quốc Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), bắt đầu cuộc sống khổ hạnh trong vòng 6 năm, và có 5 người thị giả do vua Tịnh Phạn phái đến cùng tu. Trong thời gian này, mỗi ngày Người chỉ ăn một hạt mè, một hột lúa mạch, đến nỗi thân hình khô gầy, tâm thể suy kiệt, nhưng cuối cùng vẫn không thành đạo; nên Người mới ngộ được rằng khổ hạnh không phải là nhân đạt đến đạo quả, bèn rời khỏi khu rừng này. Lúc bấy giờ, 5 người cùng tu ngộ nhận rằng Thái Tử thối thất đạo tâm, nên bỏ đi. Thái Tử đến tắm rửa bên dòng sông Ni Liên Thuyền (s: Nairañjanā, 尼連禪), thọ nhận bát sữa cúng dường của cô mục nữ. Sau khi phục hồi thể lực, Người đến dưới cây Tất Bát La (s: pippala, 畢鉢羅) ở thôn Già Da, lấy cỏ Cát Tường trãi thành tòa Kim Cang, ngồi Kiết Già xoay mặt về hướng Đông, thân ngay thẳng chánh niệm, tâm tĩnh lặng mặc chiếu, tư duy về đạo giải thoát. Sau 49 ngày, vào lúc trời hừng sáng ngày mồng 8 tháng 12, Người hoát nhiên đại ngộ, lúc đó là 35 tuổi (có thuyết cho là 32). Do nhân duyên này, cây Tất Bát La được gọi là Bồ Đề Thọ (s: bodhivṛkṣa, 菩提樹). Sự kiện đức Thích Tôn hàng phục ma quân, cho đến thành đạo được ghi lại trong các điển tịch như La Ma Kinh (羅摩經) của Trung A Hàm Kinh quyển 56, Lục Niên Cần Khổ Phẩm (六年勤苦品) và Hàng Ma Phẩm (降魔品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 3, phật bản hạnh tập kinh quyển 26~30, Ngũ Phần Luật (五分律, Taishō Vol. 22, No. 1421) quyển 15, v.v. Sau khi thành đạo, đức Phật đến vườn Lộc Dã (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿野, tức Lộc Uyển), Thành Ba La Nại (s: Vārāṇasī, p: Bārāṇasī, 波羅奈), độ cho 5 vị thị giả đã từng cùng tu với Ngài trước đây. Các vị này sau trở thành những Tỳ Kheo nổi tiếng là A Nhã Kiều Trần Như (p: Ājñāta-Kauṇḍinya, p: Aññā-Koṇḍañña, 阿若憍陳如), A Thấp Bà Thị (s: Aśvajit, Aśvaka; p: Assaji, 阿濕婆恃), Bạt Đề (s: Bhadrika, p: Bhaddiya, 跋提), Ma Ha Nam (s, p: Mahānāma, 摩訶男), Bà Sa Ba (s: Bāṣpa, p: Vappa, 婆沙波, tức Thập Lực Ca Diếp [s: Daśabala-kāśyapa, p: Dasabala-kassapa, 十力迦葉]). Liên quan đến sự tích đức Phật lần đầu tiên chuyển Pháp Luân, diễn thuyết Tứ Thánh Đế (s: catvāri-āryasatyāni, p: cattāri-ariyasaccāni, 四聖諦), Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道), v.v., Chuyển Pháp Luân Kinh (轉法輪經) của Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, Taishō Vol. 2, No. 99) quyển 15, Ngũ Phần Luật quyển 15, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự quyển 39, v.v., có ký lục đầy đủ. Như trong Pháp Hoa Kinh Thông Nghĩa (法華經通義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 611) quyển 4 có đoạn rằng: “Thích Tôn sơ ư Lộc Uyển, tam chuyển Tứ Đế pháp luân, độ tham thị ngũ nhân, nhi Kiều Trần tiên ngộ, dĩ tối sơ đắc độ (釋尊初於鹿苑、三轉四諦法輪、度參侍五人、而憍陳先悟、以最初得度, đức Thích Tôn ban đầu tại Lộc Uyển, ba lần chuyển bánh xe pháp thuyết Tứ Đế, độ năm người hầu cận tham học, mà Kiều Trần Như ngộ trước, là người đắc độ đầu tiên).” Sau này, đức Phật tự xưng là Như Lai (s, p: tathāgata, 如來). Có rất nhiều ngữ nghĩa của từ này, nhưng nghĩa chung nhất của nó là “thừa như thật chi đạo, nhi thiện lai thử Ta Bà thế giới (乘如實之道、而善來此娑婆世界, mang đạo như thật mà khéo đến thế giới Ta Bà này).” Sau khi chuyển Pháp Luân lần đâu tiên, đức Thích Tôn đến nước Ma Kiệt Đà, hóa độ 3 anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (s: Uruvilvā-kāśyapa, 優樓頻羅迦葉), Na Đề Ca Diếp (s: Nadi-kāśyapa, 那提迦葉), Già Da Ca Diếp (s: Gayā-kāśyapa, 伽耶迦葉) của phái Bái Hỏa Giáo (拜火敎) và cả ngàn đệ tử của họ. Tiếp theo, Ngài hóa độ Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連) thuộc Phái Ngụy Biện của Lục Sư Ngoại Đạo; về sau chính hai vị này trở thành đệ tử thượng túc của đức Phật. Sau đó, tại Thành Vương Xá, vua Tần Bà Ta La (s, p: Bimbisāra, 頻婆娑羅) quy y theo đức Phật; nhà vua cho xây dựng Tinh Xá trong vườn trúc do Trưởng giả Ca Lan Đà (s: Kalanda, 迦蘭陀) dâng cúng, lấy tên là Ca Lan Đà Trúc Lâm Tinh Xá (迦蘭陀竹林精舍). Đến đây, giáo đoàn Phật Giáo phát triển với thế lực mạnh. Về sau, đức Phật có trở về cố hương Ca Tỳ La Vệ một lần, số người quy y theo rất đông, trong đó có người em cùng cha khác mẹ Nan Đà (s, p: Nanda, 難陀), con trai La Hầu La, người em họ Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多), người thợ hớt tóc Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離), v.v., mọi người đều xuống tóc xuất gia. Ngài thuyết pháp cho trưởng giả Tu Đạt Đa (s, p: Sudatta, 須達多) ở Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), nhân đó trưởng giả kiến lập ngôi Đại Tinh Xá trong khu rừng do Thái Tử Kỳ Đà (s, p: Jeta, 祇陀) tặng, để dâng cúng đức Phật. Đây gọi là Kỳ Hoàn Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍) hay Kỳ Viên Tinh Xá (祇園精舍). Vào lúc này, vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) cũng phát tâm quy y với đức Phật. Sau khi vua Tịnh Phạn băng hà, đức Phật lại trở về cố hương lần nữa. Về sau, bà di mẫu Ma Ha Bà Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, p: Mahāpajāpatī, 摩訶波闍波提), công chúa Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅) cũng xuống tóc xuất gia, và đây được xem như là khởi đầu cho giáo đoàn Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼); trong đó Ma Ha Bà Xà Ba Đề là Tỳ Kheo Ni đầu tiên. Từ đó về sau, đức Thích Tôn đi khắp Ấn Độ thuyết pháp giáo hóa, bất luận giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, thảy đều được hưởng ân huệ giáo pháp của Ngài. Giáo pháp ấy ảnh hưởng rất lớn đối với văn hóa cũng như tôn giáo Ấn Độ. Sau khi Ngài thành đạo, những nơi Ngài đã từng trãi qua Kết Hạ An Cư, đều được ghi rõ trong Tăng Già La Sát Sở Tập Kinh (僧伽羅剎所集經, Taishō Vol. 4, No. 194) quyển Hạ. Theo đó, đức Phật đã từng trú qua các nơi như nước Ba La Nại, núi Linh Thứu (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 靈鷲山), núi Ma Câu La (s: Makula, 摩拘羅), cõi Trời Ba Mươi Ba, cõi quỷ thần, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc (祇樹給孤獨) ở Thành Xá Vệ, Chá Lê Sơn (柘梨山), v.v. Theo Phật Thuyết Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh (佛說八大靈塔名號經, Taishō Vol. 32, No. 1685), đức Phật từng tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn, sau từng sống tại rừng Tỳ Sa (毘沙), đỉnh núi Nhã Lí (惹里), các tụ lạc Đại Dã (s: Aḷāvī, 大野), Mao Nỗ (尾努), v.v. Hơn nữa, học giả Anh quốc T.W. Rhys Davids (1843-1922) căn cứ vào tích truyện Phật Giáo của Tích Lan, Miến Điện, bản pháp cú kinh chú (p: Dhammapada atthakathā, 法句經註) tiếng Pāli, v.v., cho rằng sau khi kiến lập vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, đức Phật đã từng trú tại Đại Lâm (p: Mahā-vana, 大林) của Thành Tỳ Xá Ly (s: Vaiśāli, 毘舍離), núi Ma Câu La, Tăng Ca Xá (p: Saṅkissa, 僧迦舍), Ba Lợi Lôi Nhã Tạp (s: Parileyyaka, 巴利雷雅卡), Mạn Đặc Lạt (p: Mantala, 曼特剌), v.v. Ngoài ra, Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 3, Phân Biệt Công Đức Luận (分別功德論, Taishō Vol. 25, No. 1507) quyển 2, Cao Tăng Pháp Hiển Truyện (高僧法顯傳, Taishō Vol. 51, No. 2085), v.v., cũng có ký lục như vậy. Tổng hợp các tư liệu trên, chúng ta có thể suy ra rằng địa phương hoằng pháp của đức Phật phần lớn tập trung tại hai thành Xá Vệ và Vương Xá. Về những sinh hoạt cuối đời của Ngài, Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 26, Phật Thuyết Nghĩa Túc Kinh (佛說義足經, Taishō Vol. 4, No. 198) quyển Hạ, Xuất Diệu Kinh (出曜經, Taishō Vol. 4, No. 212) quyển 16, Tỳ Ni Mẫu Kinh (毘尼母經, Taishō Vol. 24, No. 1463) quyển 4, Ngũ Phần Luật quyển 3, 21, 25, Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 46, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự quyển 13, 14, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 2, v.v., có ký lục rõ ràng. Lúc bấy giờ, Đề Bà Đạt Đa muốn bức bách đức Phật phải nhường lại giáo đoàn tăng chúng cho ông, nhưng ý đồ không thành, bèn phá tăng hoại Phật. Thêm vào đó, vua Lưu Ly (琉璃), con của vua Ba Tư Nặc, sau khi tức vị, tấn công Thành Ca Tỳ La Vệ, cố hương của đức Phật, diệt vong dòng họ Thích Ca. Vào năm cuối cùng khi đức Phật còn tại thế, Ngài rời nước Ma Kiệt Đà, đi về phía Bắc sông Hằng, kinh qua Tỳ Xá Ly, đến Thành Ba Bà (s: Pāvā, 波婆), thọ nhận bữa cơm cúng dường của người thợ vàng Thuần Đà (s, p: Cunda, 純陀), và nhân vì ăn loại nấm Tô Ca Lạp Ma Đạt Phạt (s: sūkaramaddava, 蘇迦拉摩達伐, tức nấm cây Chiên Đàn) mà mắc bệnh. Trước khi lâm chung, Ngài đến tắm lần cuối cùng tại dòng sông Câu Tôn (p: Kakuṭṭha, 拘孫河), rồi đến rừng Sa La Song Thọ (沙羅雙樹) ở Thành Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), đầu xoay về hướng Bắc, mặt hướng phía Tây, nằm thế cát tường. Vào nữa đêm, Ngài để lại lời giáo huấn cuối cùng cho chúng đệ tử, rồi sau đó thì an nhiên nhập diệt. Ban đầu, di cốt của đức Thích Tôn được an trí tại Thiên Quan Tự (s: Makuṭabandhana-cetiya, 天冠寺) của bộ tộc Mạt La (s, p: Malla, 末羅), sau đó hỏa táng. Khi tham gia lễ Trà Tỳ có sứ đoàn của 8 nước, gồm Câu Thi Na Yết La (拘尸那揭羅), Ba Bà (波婆), Giá La (遮羅), La Ma Già (羅摩伽), Tỳ Lưu Đề (毘留提), Ca Tỳ La (迦毘羅), Tỳ Xá Ly (毘舍離), Ma Kiệt Đà (摩揭陀), v.v., do vấn đề phân phối Xá Lợi (s: śarīra, p: sarīra, 舍利) mà nảy sinh đấu tranh lẫn nhau. Sau đó, nhờ sự điều đình của Bà La Môn Hương Tính (s: Doṇa, 香姓) mà được yên ổn, cho nên người này có được bình Xá Lợi. Từ đó, mỗi nước dựng tháp cúng dường, và đây là phát xuất của truyền thống thập tháp (10 ngôi tháp) ngày nay. Năm đức Phật nhập diệt, tại Hang Thất Diệp (s: Sapta-parṇa-guhā, 七葉窟) của Thành Vương Xá, cuộc kết tập kinh điển lần đầu tiên được tiến hành. Đương thời, Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) là người triệu tập chủ yếu; A Nan (s, p: Ānanda, 阿難) và Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離) thì tụng đọc các Kinh Luật của Phật thuyết trên cơ sở từng được nghe qua, rồi được đại chúng thảo luận, hiệu đính để trở thành tiêu chuẩn cho Kinh Luật đời sau. Về sau, trãi qua biết bao biến thiên, giáo pháp của đức Thích Tôn được phân thành hai hệ thống chính, truyền bá khắp nơi: Nam Truyền chủ yếu là tiếng Pāli và Bắc Truyền chủ yếu là kinh điển Hán dịch. Liên quan đến năm tháng xác thật đức Phật đản sanh, xuất gia, thành đạo, lần đầu chuyển Pháp Luân, tuổi thọ, nhập diệt, v.v., trong kinh điển có nhiều thuyết khác nhau. Về tuổi thọ, có 4 thuyết chính: (1) Tam Thế Đẳng Phẩm (三世等品) của Bồ Tát Tùng Đâu Thuật Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ Kinh (菩薩從兜術天降神母胎說廣普經, Taishō Vol. 12, No. 384, tức Bồ Tát Xử Thai Kinh [菩薩處胎經]) quyển 23 cho là thọ 84 tuổi. (2) Bát Nê Hoàn Kinh (般泥洹經, Taishō Vol. 1, No. 6) quyển Hạ cho là 79 tuổi. (3) Thọ Lượng Phẩm (壽量品) của Kim Quang Minh Kinh (金光明經, Taishō Vol. 16, No. 663) quyển 1, Phật Thuyết Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh (佛說八大靈塔名號經, Taishō Vol. 32, No. 1685), Đại Bát Niết Bàn Kinh (p: Mahāparinibbāna-sutta, 大般涅槃經) bản tiếng Pāli, truyền thống của Miến Điện, v.v., cho là 80. (4) A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 126 cho là hơn 80. Về niên đại đản sanh của Ngài, học giả hiện đại cũng có nhiều suy định khác nhau. Học giả Nhật Bản Vũ Tỉnh Bá Thọ (宇井伯壽, Ui Hakuju, 1882-1963) cho rằng năm Phật đản sanh là 466 trước CN. Trung Thôn Nguyên (中村元, Nakamura Hajime, 1912-1999) cũng ý cứ vào thuyết này, sau lấy sử liệu mới phát hiện của Hy Lạp, sau khi khảo chứng thì cho là năm 463 trước CN. Về ngày tháng đản sanh của đức Phật, có 5 thuyết khác nhau. (1) Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 4, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō Vol. 3, No. 189) quyển 1, Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 7, Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa (薩婆多毘尼毘婆沙, Taishō Vol. 23, No. 1440) quyển 2, v.v., cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Bồ Tát Giáng Than Phẩm (菩薩降身品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh (修行本起經, Taishō Vol. 3, No. 184) quyển Thượng cho là ngày mồng 7 hay 8 tháng 4. (3) Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh (太子瑞應本起經, Taishō Vol. 3, No. 185) quyển Thượng, Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi Kinh (異出菩薩本起經, Taishō Vol. 3, No. 188), Sanh Phẩm (生品) của Phật Sở Hành Tán (佛所行讚, Taishō Vol. 4, No. 192) quyển 1, Phật Thuyết Thập Nhị Du Kinh (佛說十二遊經, Taishō Vol. 4, No. 195), Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh (佛說灌洗佛形像經, Taishō Vol. 16, No. 695), v.v., thì cho là ngày mồng 8 tháng 4. (4) Điều Kiếp Tỷ La Phạt Tốt Đổ Quốc (劫比羅伐窣堵國條) của Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 6 thì cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Vesākhā. (5) Thượng Tọa Bộ (上座部) cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. Về ngày tháng xuất gia của đức Phật, có 5 thuyết. (1) Trường A Hàm Kinh cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 2 cho là ngày mồng 7 tháng 2. (3) Xuất Gia Phẩm (出家品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ cho là ngày mồng 7 tháng 4. (4) Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh quyển Thượng, Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh, v.v., cho là mồng 8 tháng 4. (5) Bản Sanh Kinh Phật Truyện (本生經佛傳) bản tiếng Pāli cho là ngày thứ 15 của tháng A Sa Trà (s: Āsāḷhā, 阿沙荼). Về ngày tháng thành đạo của Ngài, có 4 thuyết. (1) Trường A Hàm Kinh quyển 4, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 3, Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 2, v.v., cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Bản Đại Sử (p: Mahāvaṃsa, 大史) tiếng Pāli cho là ngày trăng tròn tháng Vesākhā. (3) Đại Đường Tây Vức Ký quyển 8 cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Vesākhā. (4) Thượng Tọa Bộ cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. Về ngày tháng lần đầu tiên chuyển Pháp Luân, có 2 thuyết. (1) Bồ Tát Xử Thai Kinh quyển 7 cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 182 cho là ngày mồng 8 của tháng Ca Lật Để Ca (s: Kārttika, 迦栗底迦, hay Ca Hi Na [迦絺那]). Về ngày tháng nhập diệt của Ngài, có 6 thuyết khác nhau. (1) Trường A Hàm Kinh quyển 4 cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 1, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa quyển 1, v.v., cho là ngày 15 tháng 2. (3) Bài tựa của Nhất Thiết Thiện Kiến Luật (p: Samantapāsādikā, 一切善見律) bản tiếng Pāli, Luật Tạng (p: Vinaya-piṭaka, 律藏) tiếng Pāli, chương thứ 3 của Đại Sử, Điều Câu Thi Na Yết La Quốc (拘尸那揭羅國條) của Đại Đường Tây Vức Ký quyển 6, v.v., cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. (4) Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 2 cho là ngày mồng 8 tháng 8. (5) Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 191, Đại Đường Tây Vức Ký quyển 6 viện dẫn truyện của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, p: Sabbatthivādin, 說一切有部), cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Ca Lật Để Ca. (6) Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh cho là ngày mồng 8 tháng 4. Bên cạnh đó, liên quan đến niên đại nhập diệt của đức Thích Tôn, cũng có nhiều thuyết bất đồng. Như học giả Vũ Tỉnh Bá Thọ của Nhật thì chủ trương là năm 386 trước CN. Tiến Sĩ Trung Thôn Nguyên cho là năm 383 trước CN. Pháp sư Ấn Thuận (印順, 1906-2005) của Trung Hoa thì chủ trương năm 390 trước CN. Tổng hợp tất cả những thông tin vừa nêu trên, ngày tháng đản sanh, xuất gia, thành đạo của đức Phật có thể phân thành 3 thuyết chính: (1) ngày 8 tháng 2, (2) ngày 8 tháng 4, (3) ngày 15 tháng 2. Ngày tháng nhập diệt cũng được chia thành 3 thuyết: (1) ngày 8 tháng 2, (2) ngày 15 tháng 2, (3) ngày 8 tháng 8. Ngoài ra, Nhị Giáo Luận (二敎論) của Đạo An (道安, 312[314]-385) nhà Bắc Chu, Câu Xá Luận Bảo Sớ (俱舍論寶疏) quyển 1, v.v., so sánh tháng của lịch Ấn Độ và lịch Trung Quốc, cho rằng tháng 2 của Ấn Độ tương đương với tháng 4 của Tàu. Thêm vào đó, vào ngày mồng 1 mỗi tháng của lịch Ấn Độ thì tương đương với ngày 16 âm lịch của Trung Quốc; ngày cuối tháng thì tương đương với ngày 15 của tháng kế tiếp theo lịch của Trung Quốc.
thích ca mâu ni
Shakya tubpa (T), Sakkamuni (P), Buddha Ṣākyamuni (S)Năng nhơn, Năng tịch, Năng mãng, đức Phật tổ, đức Như Lai, đức Thế tônSakya: tài năng, năng lực, anh hùng, một họ ở Ấn độ ngày xưa; Muni: nhơn từ. 1- Tên đức Phật trong hiện đại kỳ kiếp: Nguyên tên có nghĩa là Bậc Tịch tĩnh trong dòng họ Thích. Ngài hạ sanh ngày 8 tháng 4 năm 563 trước Tây lịch, đi tu năm 29 tuổi (ngày 8 tháng 2), năm 35 tuổi thành đạo (ngày 8 tháng 12), nhập diệt năm 84 tuổi (ngày 15 tháng 2 năm 479 trước Tây lịch), thuyết pháp 49 năm. Cha Ngài là vua Tịnh Phạn (Sudhodana), vương quốc Ca tỳ la vệ. Mẹ Ngài là Hoàng hậu Ma Da (Maya), sanh Ngài được 7 ngày thì qua đời, Ngài được người dì ruột cũng là kế mẫu tên Ba xà ba đề nuôi dưỡng đến trưởng thành. Vợ Ngài là Công chúa Da du đà la (Yasodhara) con gái vua Thiện giác vương (Suprabuddha). Ngài có một con trai tên La hầu La (Rahula). 2- Tên một cổ Phật thời quá khứ cách nay vô lượng kiếp, cũng tên Thích Ca Mâu Ni và cõi thế cũng tên là Ta bà. Theo kinh Niết bàn quyển 22, thuở ấy đức Như lai của chúng ta ngày nay là một người nghèo, vì muốn cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni nên bán mình lấy tiền, do không ai mua thân mạng nên cuối cùng phải bán cho một người mắc bệnh nan y cần mỗi ngày ăn 3 lượng thịt người. Do trí óc ám độn nên Ngài chỉ còn nhớ bài kệ 4 câu. Sau khi nghe pháp Ngài đến với người ấy, mỗi ngày lóc 3 lượng thịt như đã hứa. Nhờ oai lực bài kệ mà vết thương không còn, người bệnh cũng hết bệnh. Do đó Ngài nguyện cầu thành Phật: 'Ta nguyện rằng về sau, chừng thành Phật, ta cũng tên là Thích Ca Mâu Ni và cõi thế giới của ta cũng kêu là cõi Ta bà.".
; Sàkyamuni (S)
; Sakyamuni (skt)—See Thích Ca.
; (釋迦牟尼) Phạm: Zàkya-muni. Pàli: Sakya-muni. Cũng gọi Thích ca văn ni, Xa ca dạ mâu ni, Thích ca mâu nẵng, Thích ca văn. Gọi tắt: Thích ca, Mâu ni, Văn ni. Hán dịch: Năng nhân, Năng nhẫn, Năng tịch, Tịch mặc, Năng mãn, Độ ốc tiêu.Phạm Hán: Thích ca tịch tĩnh, cũng gọi Thích ca mâu ni thế tôn, Thích tôn. Đức Thích tôn ra đời khoảng thế kỉ V trước Tây lịch, sinh trong dòng họ Thích ca, là Thái tử con vua Tịnh phạn (Phạm: Zuddhodana) và Hoàng hậu Ma da (Phạm: Màyà), thành Ca tì la vệ (Phạm:Kapilavastu), thuộc Bắc Ấn độ, được đặt tên là Tất đạt đa (Phạm: Siddhàrtha,Pàli: Siddhattha), cũng gọi Tát bà tất đạt (Phạm: Sarva-siddhàrtha,Pàli:Sabbasiddhattha). Sau khi sinh được 7 ngày thì Hoàng hậu Ma da qua đời, Thái tử được di mẫu (em gáicủaHoàng hậu Ma da)là Ma ha ba xà ba đề (Phạm:Mahàprajàpatti) nuôi nấng nên người. Theo phẩm Tập học kĩ nghệtrong kinh Phật bản hạnh tập quyển 11 và Hữu bộ tì nại da phá tăng sự quyển 3, lúc còn nhỏ, Thái tử theo người Bà la môn tên Tì sa mật đa la (Phạm: Visvamitra,Thể quang giáp) học tập văn chương và theo ông Sằn đề đề bà (Phạm: Kwàntideva,Đồng thần) học tập vũ nghệ, mọi môn đều thông hiểu. Khi lớn lên, Thái tử cưới con gái vua Thiện giác (Phạm: Suprabuddha) ở thành Thiên tí (Phạm: Devadaha) tên là Da du đà la (Phạm: Yazodharà) làm vợ, sinh con là La hầu la (Phạm:Ràhula). Theo phẩm Du quan trong kinh Tu hành bản khởi quyển hạ, một hôm Thái tử đi dạo 4 cửa thành, thấy các người già, người bệnh, người chết và sa môn, Ngài cảm nhận sâu xa nổi thống khổ và vô thường của đời người, từ đó Thái tử đã lập chí xuất gia tu đạo. Năm 29 tuổi (có thuyết nói 19 tuổi), nữa đêm Thái tử ra khỏi cung vua tìm đường giải thoát như vị sa môn mà Thái tử đã thấy ngoài cửa thành. Trước hết, Thái tử đến hỏi đạo nơi đạo sĩ Bạt già đà (Phạm:Bhàrgava) ở nước Tì xá li (Phạm:Vaizàlì), sau đó, Thái tử đến thành Vương xá (Phạm: Rajagfha) thỉnh vấn các đạo sĩ: A la la ca lam (Phạm: Àràđa-kàlàma) và Uất đà ca la ma tử (Phạm: Udraka-ràmaputra). Vì những điều đã học được từ các đạo sĩ trên không thể đưa đến giải thoát nên Thái tử bèn đến rừng Khổ hạnh ở thôn Ưu lâu tần loa (Phạm:Uruvilvà), phía nam thôn Già da (Phạm:Gayà) thuộc nước Ma yết đà (Phạm:Magadha), mở đầu cuộc sống khổ hạnh trong 6 năm. Sau thời gian này, Thái tử nhận ra rằng khổ hạnh không phải là nhân đắc đạo nên từ bỏ, ra khỏi rừng khổ hạnh, đến sông Ni liên thiền (Phạm: Nairaĩjanà) tắm gội, đồng thời tiếp nhận bát cháo sữa do cô gái chăn bò cúng dường. Sau đó, Thái tử đến gốc cây Tất bát la (Phạm:Pippala) ở thôn Già da, trải cỏ cát tường làm tòa kim cương, ngồi kết già xoay mặt về hướng đông, đoan thân chính niệm, tĩnh tâm lặng soi, tư duy về đạo giải thoát. Sau 49 ngày, vào rạng sáng ngày mồng 8 tháng 12, Thái tử hoát nhiên đại ngộ, bấy giờ Thái tử đã 35 tuổi(có thuyết nói 30). Sau khi thành đạo, đức Thích tôn đến vườn Lộc dã (Phạm:Mfgadava) gần thành ba la nại (Phạm:Bàràịasì), nói pháp Tứ đế độ cho 5 vị thị giả cùng tu khổ hạnh với Ngài ở rừng khổ hạnh, nhưng khi thấy Ngài không tu khổ hạnh nữa thì 5 vị bỏ Ngài mà đến vườn Lộc dã này. Đây là lần thuyết pháp đầu tiên của đức Phật mà trong sử gọi là Sơ chuyển pháp luân. Năm vị thị giả này chính là 5 vị tỉ khưu nổi tiếng: A nhã kiều trần như (Phạm:Ajĩatakauịđinya), Bạt đề (Phạm:Bhadrika), Bà sa ba (Phạm: Bàwpa), Ma ha nam (Phạm: Mahànàma) và A thuyết thị (Phạm: Azvajit). Rời vườn Lộc dã, đức Thích tôn đến nước Ma yết đà hóa độ 3 anh em: Ưu lâu tần loa ca diếp (Phạm:Uruvilvà-kàzyapa), Na đề ca diếp (Phạm:Nadi-kàzyada), Già da ca diếp (Phạm:Gaỳa-kàzyada), thuộc giáo phái thờ lửa và 1000 đệ tử của họ. Rồi Ngài lại hóa độ Xá lợi phất (Phạm: Zàriputra) và Mục kiền liên (Pàli: Moggallàna), thuộc 1 trong 6 phái ngoại đạo. Quốc vương thành Vương xá là Tần ba sa la qui y đức Thích tôn. Vua kiến lập tinh xá trong vườn trúc do Trưởng giả Ca lan đà (Phạm:Kalanda) hiến tặng để cúng dường đức Thích tôn. Sau, đức Thích tôn trở về thành Ca tì la vệ, ở đây có nhiều người qui y xuất gia, như Nan đà, La hầu la, Đề bà đạt đa, người thợ hớt tócƯu ba li... Ngài lại độ cho Trưởng giả Tu đạt đa (Phạm: Sudatta) ở thành Xá vệ (Phạm: Zravastì), Trưởng giả tạo lập một đại tinh xá trong khu rừng cây do Thái tử Kì đà (Phạm:Jeta) ở thành Xá vệ tặng để cúng dường đức Thích tôn, làm nơi an trụ và hoằng pháp lâu dài. Vua nước Xá vệ là Ba tư nặc (Phạm: Prasenajit) cũng qui y đức Thích tôn vào thời gian này. Sau khi vua Tịnh phạn băng hà, đức Thích tôn lại trở về cố quốc. Lần này, di mẫu Ba xà ba đề, Da du đà la và một số phụ nữ dòng họ Thích trong hoàng tộc cũng thế phát xuất gia. Sau đó, đức Thích tôn lần lượt thuyết pháp giáo hóa ở nhiều nơi thuộc Ấn độ, bất luận giàu nghèo, sang hèn, nam nữ đều được giáo hóa. Trong khoảng thời gian 44 năm kể từ sau khi đức Thích tôn thành đạo, Ngài đã lần lượt an cư ở những nơi như: Nước Ba la nại, trên núi Linh thứu (Phạm: Gfdhrakùỉa), núi Ma câu la (Phạm: Makula), Trời 33,vườn Cấp cô độc, núi Chá lê... Còn theo kinh Bát đại linh tháp danh hiệu thì đức Thích tôn từng trụ ở rừng Tì sa, núi Nhạ lí, núi Đại dã (Phạm: Aơàvì), tụ lạc Vĩ nỗ... Lại học giả người Anh là T.W.Rhys Davids (1843-1922), căn cứ vào Phật truyện của Tích lan và Miến điện, Pháp cú kinh chú (Dhammapada atthakathà) bằng tiếngPàli..., cho rằng từ khi vườn Cấp cô độc được kiến lập trong rừng cây của Thái tử Kì đà về sau, đức Thích tôn từng trụ ở Đại lâm (Pàli:Mahà-vana) gần thành Tì xá li, núi Ma câu la, Tăng ca xá (Pàli:Saíkìssa), Ba lợi lôi tạp ca (Pàli: Prrileyyaka), Mạn đặc lạt (Pàli: Mantala)... Trong một năm cuối cùng còn tại thế của đức Thích tôn, Ngài rời nước Ma yết đà, vượt qua sông Hằng đi về phía bắc, qua Tì xá li, đến thành Ba bà (Phạm:Pàvà), nhận sự cúng dường lần cuối cùng của người thợ kim hoàn tên là Thuần đà (Phạm: Cunda). Sau đó, đức Thích tôn xuống sông Câu tôn (Pàli:Kakuỉỉhà) tắm gội lần sau cùng, rồi Ngài lại đi đến thành Câu thi na yết la (Phạm:Kuzinagara), tới rừng cây Sa la song thụ, nằm theo dáng cát tường, đầu hướng về phía bắc. Nửa đêm, đức Thích tôn răn dạy các đệ tử lần cuối cùng, sau đó Ngài an nhiên nhập tịch. Di thể đức Thích tôn ban đầu được đặt ở chùa Thiên quan (Phạm: Makuỉaban= dhana-cetiya) của dòng họ Mạt la (Phạm, Pàli:Malla) và được hỏa táng. Nhưng do vấn đề phân phối di cốt, 8 nước là Câu thi na yết la, Ba bà, Già la, La ma già, Tì lưu đề, Ca tì la, Tì xá li và Ma yết đà khởi tranh chấp. Sau nhờ Bà la môn Hương tính (Pàli:Doịa) đứng ra dàn xếp mới được ổn thỏa, theo đó 8 nước được chia di cốt đều nhau, còn Bà la môn Hương tính thì được chiếc bình dùng để chia xá lợi, còn những người ở thôn Tất bát (Phạm: Pipphalivana) vì đến chậm nên chỉ được phần tro. Các nước đều xây tháp cúng dường, đó là nguồn gốccủa10 ngôi tháp hiện nay. Ngay trong năm đức Thích tôn nhập diệt, cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất được cử hành ở hang Thất diệp gần thành Vương xá. Ngài Đại ca diếp (Phạm: Mahàkàzyapa) làm chủ tọa, ngài A nan (Phạm:Ànanda) tụng lại kinh, ngài Ưu ba li (Phạm:Upàli) tụng lại luật; sau đó, đại chúng thảo luận, kiểm xét, sửa chữa mà thành là chuẩn tắc cho kinh luật đời sau. Từ đó về sau, trải qua nhiều biến thiên, giáo pháp của đức Thích tôn bèn chia làm 2 hệ thống là hệ thống Nam truyền lấy tiếng Pàli làm chính và hệ thống Bắc truyền lấy kinh điển Hán dịch làm chính. Cả 2 hệ thống đều được truyền bá rộng rãi ở đời sau.Năm tháng xác thực về đản sinh, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân lần đầu, tuổi thọ, nhập diệt... của đức Thích tôn trong các kinh điển có nhiều thuyết khác nhau. Về tuổi thọ của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Phẩm Thế đẳng trong kinh Bồ tát xử thai cho rằng Ngài thọ 84 tuổi. 2. Kinh Bát nê hoàn quyển hạ nói Ngài thọ 79 tuổi. 3. Phẩm Thọ lượng trong kinh Kim quang minh quyển 1, kinh Bát đại linh tháp danh hiệu, kinh Đại bát niết bàn (Mahàparinibbàna-sutta) bằng tiếng Pàli và truyền thuyết của Miến điện cho rằng Ngài thọ 80 tuổi. 4. Luận Đại tì bà sa quyển 126 nói Ngài thọ hơn 80 tuổi. Về niên đại đản sinh của đức Thích tôn thì giữa các học giả hiện đại cũng có nhiều suy đoán. Học giả Phật giáo Nhật bản là ông Vũ tỉnh Bá thọ cho rằng năm 466 trước Tây lịch là năm Phật đản; ông Trung thôn nguyên y cứ vào thuyết này, sau dùng các sử liệu Hi lạp mới được phát hiện để khảo chứng rồi sửa lại là năm 463 trước Tây lịch. Về ngày tháng đản sinh của đức Thích tôn thìcó các thuyết sau đây: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4, kinh Quá khứ hiện tại quyển 1, kinh Phật bản hạnh tập quyển 7 và Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 2 cho rằng đức Thích tôn đản sinh vào ngày 8 tháng 2. . Phẩm Bồ tát giáng thân trong kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, cho là ngày mồng 7 tháng 4, hoặc ngày mồng 8 tháng 4. 3. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng, kinh Dị xuất bồ tát bản khởi, phẩm Sinh trong Phật sở hành tán quyển 1, kinh Thập nhị du và kinh Quán tẩy Phật hình tượng... đều cho là ngày mồng 8 tháng 4. 4. ĐiềuKiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6 cho là ngày mồng 8 của nửa sau tháng Vệ tắc (Pàli: Vesàkhà), tương đương với ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch Trung quốc. 5. Thượng tọa bộ cho rằng đức Thích tôn đản sinh vào ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc, tức ngày trăng tròn, tương đương với ngày 15 tháng 3 âm lịch Trung quốc. Về ngày tháng xuất gia của đức Thích tôn có các thuyết sau đây: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4 cho là ngày mồng 8 tháng 2. 2. Kinh Quá khứ hiện tại quyển 2 cho là ngày mồng 7 tháng 2. 3. Phẩm Xuất giakinhTu hành bản khởi quyển hạ cho là ngày mồng 7 tháng 4. 4. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng và kinh Quán tẩy Phật hình tượng cho là ngày mồng 8 tháng 4. 5. Kinh Phật truyện bản sinh tiếngPàli cho là ngày 15 A sa trà (Pàli:Asàơhà). Về ngày tháng thành đạo của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3 và Tát bàđa tì ni tì bà sa quyển 2 đều cho rằng đức Thích tôn thành đạo vào ngày mồng 8 tháng 2. 2. Đại sử (Mahàvaôsa) tiếngPàli cho là ngày trăng tròn tháng Vệ tắc. 3. Đại đường tây vực kí quyển 8 cho là ngày mồng 8 của nửa tháng sau tháng Vệ tắc.4. Thượng tọa bộ cho là ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc. Về ngày tháng chuyển pháp luân lần đầu của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4 cho rằng đức Thích tôn chuyển pháp luân lần đầu vào ngày mồng 8 tháng 2. 2. Kinh Đại bát niết bàn quyển 1 và Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1 đều cho là ngày 15 tháng 2. 3. Bài tựa trong Nhất thiết thiện kiến luật (Samantapàsàdikà) bằng tiếngPàli, Luật tạng (Vinaya-piỉaka) tiếngPàli, Đại sử chương 3, điều Câu thi na yết la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6, đều cho là ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc.4. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 2 cho là ngày mồng 8 tháng 8. 5. Luận Đại tì bà sa quyển 191 cho là ngày mồng 8 của nửa sau tháng Ca lạt để ca. 6. Kinh Quán tẩy Phật hình tượng cho là ngày mồng 8 tháng 4. Sau hết, về niên đại nhập diệt của đức Thích tôn cũng có nhiều thuyết khác nhau. Ông Vũ tỉnh bá thọ người Nhật chủ trương năm 386 trước Tây lịch, ông Trung thôn nguyên chủ trương 383 trước Tây lịch; còn ngàiẤn thuận của Trung quốc thì chủ trương năm 390 trước Tây lịch. Tóm lại, tổng hợp các điểm trình bày trên, về ngày tháng đức Thích tôn đản sinh, xuất gia, thành đạo có thể chia làm 3 thuyết: 1. Mồng 8 tháng 2. 2. Mồng 8 tháng 4. 3. Ngày 15 tháng 2. Về ngày tháng nhập diệt cũng chia làm 3 thuyết: 1. Mồng 8 tháng 2. 2. Ngày 15 tháng 2. 3. Mồng 8 tháng 8. Ngoài ra, luận Nhị giáo của ngài Đạo an đời Bắc Chu, Câu xá luận bảo sớ quyển 1...so sánh nguyệt phần giữa lịch Ấn độ và âm lịch Trung quốc cho rằng tháng 2 của Ấn độ tương đương với tháng 4 của Trung quốc; ngày mồng 1 mỗi tháng của lịch Ấn độ tương đương với ngày 16 của âm lịch Trung quốc, ngày cuối tháng tương đương với ngày 15 tháng kế của lịch Trung quốc, nửa tháng trước gọi là phần đen, nữa tháng sau gọi là phần trắng. (xt. Phật TruyệnĐiển Tịch, Phật Diệt Niên Đại, Lịch).
thích ca mâu ni như lai
Sakyamuni Thus Come One—Sakyamuni Tathagata—Vị Phật thứ bảy trong bảy vị cổ Phật—The seventh of the seven ancient Buddhas. ** For more information, please see Thích Ca Mâu Ni Phật in Vietnamese-English Section.
thích ca mâu ni như lai tượng pháp diệt tận chi kí
(釋迦牟尼如來像法滅盡之記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp thành dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung nói về lịch sử Phật giáo các nước như Vu điền..., tức vào thời vua đời thứ 7 của nước Vu điền là Tì tả da ngật đa, La hán Tăng già bà nhĩ đà na dùng phương thức tiên đoán để trình bày về sự hưng phế của Phật giáo nước Vu điền, cho đến việc tượng pháp diệt hết. Sách này chỉ là một phần Hán dịch trong nguyên bản tiếng Tây tạng, do học giả người Pháp là ông P.Pelliot tìm thấy ở Đôn hoàng, Trung quốc, là tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu về Phật giáo các nước vùng Tây vựcđờixưa và là sách tham khảo quan trọng để nghiên cứu nguyên bản tiếng Tây tạng.
thích ca mâu ni phật
1) Đức Phật lịch sử, người đã sanh ra trong dòng họ Thích Ca—Nhà Thông Thái của dòng họ Thích Ca—Phật Thích Ca Mâu Ni, vị Phật lịch sử đã sáng lập ra Phật giáo. Ngài tên là Cồ Đàm Sĩ Đạt Đa, đản sanh năm 581-501 trước Tây lịch, là con đầu lòng của vua Tịnh Phạn, trị vì một vương quốc nhỏ mà bây giờ là Nepal và kinh đô là Ca Tỳ La Vệ. Vào tuổi 29 Ngài lìa bỏ cung điện và vợ con, ra đi tìm đường giải thoát chúng sanh. Vào một buổi sáng lúc Ngài 35 tuổi, Ngài đã thực chứng giác ngộ trong khi đang thiền định dưới cội Bồ đề. Từ đó về sau, Ngài đã đi khắp các miền Ấn Độ giảng pháp giúp người giải thoát. Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi—Sakyamuni Buddha—The historical Buddha, who was born into the Sakya clan—The Sage of the Sakyas—A title applied to the Buddha—Historical founder of Buddhism, Gautama Siddhartha, the Buddha Sakyamuni, who was born in 581-501 BC as the first son of King Suddhdana, whose small kingdom with the capital city of Kapilavastu was located in what is now Nepal. At the age of twenty nine, he left his father's palace and his wife and child in search of the meaning of existence and way to liberate. One morning at the age of thirty five, he realized enlightenment while practicing meditation, seated beneath the Bodhi tree. Thereafter, he spent the rest 45 years to move slowly across India until his death at the age of 80, expounding his teachings to help others to realize the same enlightenment that he had. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thích Ca Mâu Ni là vị Thánh của dòng họ Thích Ca. Chữ Thích Ca có nghĩa là nhân từ hay tịnh mặc, là một vị sống độc cư, hay bậc tịch tĩnh trong dòng họ Thích Ca. Sau 500 hay 550 kiếp, cuối cùng Đức Thích Ca Mâu Ni đạt được quả vị Bồ tát, sanh vào cung trời Đâu Suất, và vào ngày 8 tháng tư giáng trần bằng bạch tượng, vào hông phải của Hoàng Hậu Ma Da vợ vua Tịnh Phạn. Năm sau vào ngày 8 tháng hai Hoàng Hậu hạ sanh ngài trong vườn Lâm Tỳ Ni, ở phía đông thành Ca Tỳ La Vệ, nay thuộc Népal. Ngài là con vua Tịnh Phạn, dòng dõi Sát Đế Lợi, cai trị thành Ca Tỳ La Vệ. Hạ sanh ngài được bảy ngày thì Hoàng Hậu Ma Da qua đời, ngài được bà dì tên Ba Xà Ba Đề nuôi nấng dạy dỗ. Ngài vâng lệnh vua cha kết hôn cùng công chúa Da Du Đà La, được một con trai tên La Hầu La. Sau đó Ngài lìa bỏ gia đình ra đi tìm chân lý, trở thành một nhà tu khổ hạnh, cuối cùng vào năm 35 tuổi Ngài chứng ngộ và nhận thức rằng giải thoát khỏi vòng sanh tử không phải do khổ hạnh, mà do nơi giới đức thanh tịnh; những điều nầy ngài giải thích trong Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Cộng đồng Tăng Sĩ của ngài dựa trên đức hạnh và trí tuệ, được biết đến như là Đạo Phật, và Ngài cũng được biết đến như là vị Phật. Ngài nhập diệt khoảng năm 487 trước Tây Lịch, khoảng 8 năm trước Khổng Tử. Tên tộc (gia đình) của ngài là Cồ Đàm, người ta nói Cồ Đàm là tên của toàn bộ tộc—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, Sakyamuni, the saint of the sakya tribe. Muni is saint, holy man, sage, ascetic, monk; it is interpreted as benevolent, charitable, kind, also as one who dwells in seclusion. After 500 or 550 previous incarnations, Sakyamuni finally attained to the state of Bodhisattva, was born in the Tusita heaven, and descended as a white elephant, through her right side, into the womb of the immaculate Maya, the purest woman on earth; this was on the 8th day of the 4th month; the following year on the 8th day of the 2nd month he was born from her right side painlessly as she stood under a tree in the Lumbini garden. He was born the son of King Suddhodana, of the Ksatriya caste, ruler of Kapilavastu, and Maya his wife; that Maya died seven days later, leaving him to be brought up by her sister Prajapati; that in due course he was married to Yasodhara who bore him a son, Rahula; that in search of truth he left home, became an ascetic, severely disciplined himself, and finally at 35 years of age, under a tree, realized that the way of release from the chain of rebirth and death lay not in asceticism but in moral purity; this he explained first in his four dogmas, and eightfold noble way. He founded his community on the basis of poverty, chastity, and insight or meditation, and it became known as Buddhism, as he became known as Buddha, The Enlightened. His death was probably in or near 487 B.C., a few years before that of Confucius in 479. The sacerdotal name of his family is Gautama, said to be the original name of the whole clan, Sakya being that of his branch; his personal name was Siddhartha, or Sarvarthasiddha.
thích ca mạn đồ la
(釋迦曼荼羅) Chỉ cho Mạn đồ la lấy đức Thích ca Như lai làm trung tâm mà kiến lập. Theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5 thì đàn Thích ca sư tử gọi là Đại nhân đà la, đàn màu vàng tươi, rất đẹp, 4 cạnh bằng nhau, chính giữa vẽ chày kim cương, trên chày đặt hoa sen, trên hoa sen đặt bình bát. Nếu là hình Phật thì vẽ Phật Thích ca cầm bát, có kim cương vây quanh, bên phải đặt ca sa, bên trái đặt tích trượng. Còn Thích ca văn ni Phật kim cương nhất thừa tu nghi quĩ pháp phẩm thì nói rằng: Nếu muốn báo đáp ân đức vô thượng của đức Thích tôn thì nên kiến lập Mạn đồ la, chính giữa vẽ tượng Phật Thích ca mâu ni, ngồi kết già trên đài sen trắng; ở 4 góc, vẽ 4 bồ tát: Văn thù, Phổ hiền, Quán âm và Di lặc, đều ngồi bán già trên hoa sen. Trước tượng Phật có bình bát của Như lai, bên phải Phật đặt hiền bình có cắm hoa, bên trái đặt bảo loa, phía sau Phật để tích trượng, 4 vật này đều được đặt trên hoa sen, có ngọn lửa bao quanh. Đây chính là Thích ca mạn đồ la. Ngoài ra, kinh nhất thiết công đức trang nghiêm vương, phẩm Mạn đồ la trong kinh Đại phương quảng Mạn thù thất lợi... đều có nói về cách vẽ Thích ca mạn đồ la.
thích ca như lai
Śākyamuni-Tathāgata (S).
thích ca như lai thành đạo kí
(釋迦如來成道記) Tác phẩm, 2 quyển, do Vương bột soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 130. Nội dung nói về sự tích giáo hóa trong một đời của đức Thích ca mâu ni và về việc hoằng dương giáo pháp sau khi Ngài nhập diệt. Năm Vạn lịch thứ 6 (1578) đời Minh, ngài Minh đắc viết bài tựa, đánh giá rất cao bằng những lời như sau: Sách này rút gọn mà không qua loa, bao quát mà không sót, thật là ngọc khiết vàng ròng, là ánh sao lung linh, là mặt trời rực sáng. Ngài Đạo thành đời Đường có soạn Thành đạo kí chú, 2 quyển.
thích ca niệm phật
(釋迦念佛) Cũng gọi Thích ca đại niệm Phật, Đại niệm Phật. Xướng niệm danh hiệu Phật Thích ca mâu ni, hồi hướng nguyện chứng Đại bồ đề, là 1 trong các pháp môn niệm Phật. Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa quyển 6 (Đại 9, 52 thượng) nói: Cũng nên lễ bái, cúng dường Phật Thích ca mâu ni, các chúng sinh cõi kia nghe âm thanh trong hư không, liền chắp tay hướng về thế giới Sa bà xướng niệm rằng: Na mô Thích ca mâu ni Phật! Na mô Thích ca mâu ni Phật! Rồi cùng nhau từ xa rải vào thế giới Sa bà các thứ hoa thơm, anh lạc, phướn lọng và các vật quí báu nghiêm thân. Ở đây, xưng niệm danh hiệu đức Phật Thích ca mâu ni là biểu trưng ý nghĩa qui mệnh.
thích ca pháp
(釋迦法) Chỉ cho pháp đàn cúng dường Phật Thích ca mâu ni, 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Tức bí pháp thờ đức Phật Thích ca mâu ni làm Bản tôn mà tu các pháp Tăng ích, Trừ chướng nạn và Trị bệnh. Kinh Đà la ni tập quyển 2 nói: Nếu các Chú sư muốn cúng dường chư Phật trong 10 phương, muốn tránh khỏi tất cả chướng nạn, quỉ nạn và trị tất cả bệnh tật đau đớn thì nên tu hành pháp này. Còn Thích ca văn ni Phật kim cương nhất thừa tu hành nghi quĩ pháp phẩm thì nói về tác pháp, cho rằng nghi thức cúng dường, khuyến thỉnh phụng tống của pháp tu này đều y cứ theo Như lai bộ; như kinh Tô tất địa... nói: Lấy Phật nhãn tôn làm bộ Mẫu, lấy Nan thắng phẫn nộ làm Minh vương Kết hộ. Ngoài ra, kinh Đại nhật, kinh quĩ của Thai tạng bộ và kinh Đà la ni tập quyển 1, tuy cũng có nói về ấn tướng và chân ngôn của Phật Thích ca nhưng điển cứ liên quan đến Thích ca pháp thì rất ít
thích ca phát khiển
(釋迦發遣) Phát khiển, đối lại: Chiêu hoán. Thích ca phát khiển. Nghĩa là đức Phật Thích ca ở uế độ Sa bà khuyên bảo chúng sinh cầu sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà. Phần Huyền nghĩa trong Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ (Đại 37, 246 trung) nói: Ngưỡng mong đức Thích ca ở phương này phát khiển, đức Di đà ở cõi kia đến đón. Cõi kia kêu gọi, nơi này khuyên bảo, lẽ nào không đi?.
thích ca phát tâm
(釋迦發心) Sự phát tâm của đức Phật Thích ca khi còn là Bồ tát ở địa vị tu nhân. Luận Đại trí độ quyển 4 và luận Câu xá quyển 18 nói: Cách nay 3 đại a tăng kì kiếp có đức Phật hiệu là Thích ca mâu ni, lúc bấy giờ đức Thích tôn vẫn còn là Bồ tát, lần đầu tiên Ngài phát tâm, nguyện cầu thành Phật và nay Ngài là Phật Thích ca mâu ni đúng như nguyện. Nhưng, theo phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa quyển 3 thì trong 1 kiếp quá khứ rất lâu xa, có đức Phật hiệu là Đại thông trí thắng Như lai, khi chưa xuất gia, Ngài có 16 vương tử, sau đều xuất gia làm sa di, được nghe kinh Pháp hoa và đều thành Phật; trong đó, vị vương tử thứ 10 chính là đức Thích ca Như lai sau này. Lại nữa, cũng phẩm Hóa thành dụ, kinh Pháp hoa (Đại 9, 25 thượng) nói: Đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức chư Phật, tịnh tu phạm hạnh, cầu Vô thượng chính đẳng chính giác. Như vậy, trường hợp trên không phải là lần phát tâm đầu tiên. Ngoài ra, theo kinh Bi hoa quyển 2, 3 thì thủa xưa vào thời vua Vô tránh niệm nước San đề lam, Phạm chí Bảo hải có người con xuất gia thành đạo hiệu là Bảo tạng Như lai. Bấy giờ, Phạm chí Bảo hải khuyên vua Tránh niệm và 1000 vương tử phát tâm, nhà vua làm theo lời khuyên và phát tâm nguyện cầu sinh cõi Phật thanh tịnh, còn 1000 vương tử thì nguyện cầu sinh vàothế giới trược ác. Cuối cùng, Phạm chí Bảo hải cũng phát 500 đại nguyện và cầu sinh vào thế giới trược ác, đó chính là đức Phật Thích ca sau này, là Phật thứ 4 trong 1000 Phật kiếpHiền.
thích ca phương chí
(釋迦方志) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào niên hiệu Vĩnh huy năm đầu (650) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Toàn sách chia làm 8 thiên: Phong cương, Thống nhiếp, Trung biên, Di tích, Du lí, Thông cục, Thời trụ và Giáo tướng. Nội dung trình bày về các khu vực và thời kì truyền bá Phật giáo, về tướng trạng 4 châu và núi Tu di trong truyền thuyết Phật giáo, về tuyến đường giao lưu của Phật giáo giữa Trung quốc và Ấn độ, về lược truyện 16 vị tăng, tục đến Ấn độ cầu pháp và về những truyện tích Ấn độ lưu truyền ở Trung quốc. Ngoài việc dẫn dụng các kinh truyện Phật giáo, sách này còn tham khảo 1 số sách sử, kinh thư Đạo giáo.
thích ca phả
(釋迦譜) Tác phẩm, 5 quyển (hoặc 10 quyển), do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung trích dẫn nhiều kinh luật Đại, Tiểu thừa, nói về các truyền thuyết liên quan đến các thế hệ của dòng họ Thích ca, sử tích một đời của đức Phật Thích ca mâu ni và sự truyền bá Phật pháp từ sau khi Phật nhập diệt cho đến thời đại vua A dục. Toàn sách được chia làm 34 điều, phụ thêm ý kiến ngắn gọn của soạn giả, mỗi điều đều có nêu điển cứ, văn trích dẫn. Đây là tác phẩm soạn thuật Phật truyện đầu tiên ở Trung quốc, nhưng đáng tiếc hơi dài dòng, luộm thuộm, vì thế, ngài Đạo tuyên đời Đường có soạn Thích ca thị phổ giản lược hơn. Sách này có 2 bản quảng và lược, bản Cao li là bản lược, gồm 5 quyển, còn 3 bản Tống, Nguyên, Minh là bản quảng, gồm 10 quyển.
thích ca phật đài
Thích Ca Phật Đài là một tượng đài đẹp nổi tiếng của thành phố Vũng Tàu, tọa lạc phía tây bắc sườn núi Lớn ở Vũng Tàu. Đây là công trình kiến trúc của hệ phái Phật Giáo Nguyên Thủy, được xây dựng vào năm 1961. Nơi đây gồm hai khu vực: Thiền Lâm Tự ở phía dưới và Thích Ca Phật Đài ở phía trên. Theo từng bậc đá men sườn núi có nhiều pho tượng về sự tích Đức Phật: Tượng Đức Phật Thích Ca Đản Sinh, Thích Ca xuất gia, Thích Ca Thành Đạo, và cây Bồ Đề được Đại Đức Narada cung thỉnh từ Tích Lan về trồng tại đây vào ngày 2 tháng 11 năm 1960. Ở trung tâm là tượng Phật Thích Ca ngồi kiết già trên một tòa sen, cao 10 mét 20, đường kính 6 mét, khánh thành ngày 10 tháng 3 năm 1963. Ở đây còn có tháp xá lợi bát giác, cao 19 mét, bốn phía đặt bốn đỉnh lớn, đất bên trong đỉnh được mang về từ Tứ động tâm (Ấn Độ): Nơi Phật Đản Sanh, Phật Thành Đạo, Phật Chuyển Pháp Luân, Phật Nhập Niết Bàn—Name of a famous statue of Sakyamuni Buddha, or Sakyamuni Buddha Monument, a famous beautiful scenery of Vũng Tàu City, located on the northwest slope of Mount Lớn in Vũng Tàu City. It is an architectural monument of the Theravada Sect, being built in 1961. There are two sections in the area: Thiền Lâm Pagoda is located at the foot of the mountain whereas the Sakyamuni Buddha Monument is on the slope. Along the stone stairs of the mountain slope, one can see many statues illustrating Lord Buddha's biography. That is, the statue of Sakyamuni Buddha at His Holy Birth, that of Sakyamuni entering the monkhood and one statue cast to memorize His Great Enlightenment. One can see also Bo-tree brought from Sri Lanka and planted in the area by Most Venerable Elder Narada on November 2nd, 1963. At the center of the area is placed a Sakyamuni Buddha statue sitting in meditation in cross-legged posture on the lotus pedestal, 10.20 meters high and 6 meters in diameter. The statue was inaugurated on March 10, 1963. Also in this area stands the octogonal stupa for Buddha's relics, 19 meters high, with four great cauldrons situated in four corners of the stupa. Inside the cauldrons is the soil brought from the four places where Lord Buddha was born, where he received is Great Enlightenment, where he set the Dharma wheel moving and where he reached Parinirvana.
thích ca sư tử
Śākyasiṃha (S).
; Sakyasimha (skt)—The lion of the Sakyas, i.e. the Buddha.
thích ca thi khí phật
Xem Kế Na Thi Khí Phật.
thích ca thị phả
(釋迦氏譜) Cũng gọi Thích thị lược phổ, Thích ca thị lược phổ. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung sách này được chia làm 5 khoa: Sở y hiền kiếp, Thị tộc căn nguyên, Sở thác phương thổ, Pháp vương hóa tướng và Thánh phàm hậu dận. Nội dung trên y cứ vào Tam tạng Đại, Tiểu thừa để trình bày về thời gian xuất thế của đức Thích ca, về truyền thuyết tộc phổ của Ngài, về những khu vực Ngài sáng lập giáo pháp, về quá trình truyền giáo và về sự hưng phế của Phật giáo sau khi Ngài viên tịch. Đại ý tuy giống với Thích ca phổ do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương thuộc Nam triều nhưng lời văn ngắn gọn hơn, kết cấu rõ ràng mạch lạc, giúp cho người sau dễ hiểu hơn. [X.Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
thích ca tì lăng già ma ni bảo
(釋迦毘楞伽摩尼寶) Phạm: Zakràbhi lagna-maịi-ratna. Cũng gọi Thích ca tì lăng già bảo, Thích ca tì lăng già thắng ma ni bảo, Tì lăng già ma ni bảo châu, Tì lăng già bảo. Chỉ cho vật báu trang sức đeo ở cổ của trời Đế thích thường phóng ra ánh sáng. Thích ca tì lăng già thông thường được dịch là Đế thích trì, nghĩa là sở hữu của trời Đế thích, cũng dịch là Năng thắng, Li cấu. Ma ni là từ gọi chung các châu báu. Trong kinh cũng cho đây là vật trang nghiêm của Phật và Bồ tát. Theo kinh Đại phương quảng bảo khiếp quyển thượng thì bảo châu Tì lăng già ma ni trên cổ trời Đế thích chiếu sáng khắp cung trời 33. Bảo châu thanh tịnh này được ví dụ cho trí tính của Bồ tát có năng lực hiển hiện tất cả mọi việc. Còn theo phẩm Nhẫn giảo lượng trong kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 5 thì trên đỉnh núi Tu di có 3 thứ báu là Uy hoa, Thích ca tì lăng già và Bảo tinh, trong đó, Tì lăng già bảo có màu vàng ròng, do thiện căn sinh ra, tự nhiên chiếu sáng vượt qua cõi trời Đao lợi, trời Dạ ma, trời Đâu suất, đỉnh núi Tu di và trụ lại ở Phạm cung. Bồ tát từ cõi Diêm phù đề sinh lên cung trời Đâu suất, nhờ năng lực thiện căn nên vật báu này tự nhiên sinh ra ở trong hộp, tất cả ma sự tự nhiên hoại diệt.
thích ca tôn
Bậc Chí Tôn của dòng họ Thích Ca, ý nói Phật Thích Ca—The honoured one of the Sakyas, i.e. Sakyamuni.
thích ca tượng
(釋迦像) Tượng đức Phật Thích ca mâu ni được điêu khắc hoặc vẽ tranh để lễ bái cúng dường. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 28 và kinh Quán Phật tam muội hải quyển 6 thì vào thời đức Phật còn tại thế, vuaƯu điền và vua Ba tư nặc đều đã đúc tượng Phật bằng vàng ròng. Nhưng việc này có lẽ là truyền thuyết của người đời sau. Trước khi có tượng Phật, người Ấn độ thường dùng bánh xe pháp, cây Bồ đề, tháp xá lợi... để tượng trưng cho đức Phật và các bức tranh bản sinh đàm, cho đến khoảng kỉ nguyên Tây lịch thì ở vùng Kiện đà la thuộc Bắc Ấn độ mới thấy xuất hiện tượng Phật Thích ca trong nhiều tư thái, tượng ngồi tư duy với 2 bàn tay chồng lên nhau, tượng ngồi hàng ma tay phải kết ấn Xúc địa(chạm đất), tượng ngồi thuyết pháp 2 tay kết ấn chuyển pháp luân đặt ở trước ngực... Trong Phật truyện thường thấy tượng Phật đản sinh, nhập Niết bàn và tượng Thích ca khổ hạnh, Thích ca xuất sơn... đề tài vẽ rất phong phú. Theo Lí hoặc luận của Mâu tử trong Hoằng minh tập quyển 1 và truyện Trúc pháp lan trong Lương cao tăng truyện quyển 1 thì vào thời vua Minh đế nhà Hậu Hán ở Trung quốc đã có vẽ tượng Phật. Lại theo truyện ngài Khang tăng hội trong Xuất tam tạng kí tập quyển 13, bài tán tượng Thích ca văn Phật của ngài Chi đạo lâm đời Đông Tấn chép trong Quảng hoằng minh tập quyển 10 thì người ta biết được là từ đời Tam quốc về sau, việc tạo lập tượng Phật đã dần dần thịnh hành. Vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Phù Tần, sa môn Lạc tôn đục hang đá tạo tượng Phật ở núi Minh sa tại Đôn hoàng, đây là sự nghiệp đục hang đá tạc tượng Phật đầu tiên ở Trung quốc. Kế đến, Thư cừ Mông tốn ở Bắc Lương mở đục điện hang tại núi Tam nguy nằm về phía đông núi Minh sa để tạo lập tượng Phật, dần dần hang đá đạt đến số nghìn, đó chính là Đôn hoàng thiên Phật động, cũng gọi là Mạc cao quật. Thời Bắc Ngụy, vua Văn thành đế sai ngài Đàm diệu đục mở 5 hang đá lớn (hang 16 đến hang 20) ở núi Vân cương nằm về phía tây bắc Bình thành. Đến đời các vua Hiến văn và Hiếu văn cũng tiếp tục đục mở, gồm 20 hang, phần lớn là thờ tượng Phật Thích ca. Vào năm Thái hòa 19 (495) đời Bắc Ngụy, sau khi dời đô đến Lạc dương, hang đá và tượng Phật bắt đầu được tạo lập ở Long môn, đến các đời Tùy, Đường tiếp nối, trong đó, phần lớn cũng tạo tượng Phật Thích ca. Đầu đời Đường về sau, Mật giáo truyền vào, đồng thời cũng truyền vào cách vẽ tượng Thích ca và Thích ca mạn đồ la. Trong mạn đồ la Thai tạng giới, Thiên cổ lôi âm Như lai ngồi ở phương bắc viện Trung đài bát diệp, là vị chủ tôn của viện Thích ca ở phương đông. Trong đó, hình tượng Ngài ở viện Trung đài bát diệp là màu vàng ròng, tay trái nắm lại và ngửa lên để ở dưới rốn, bàn tay phải úp xuống đặt trên đầu gối, ngồi trên hoa sen báu, tức là tướng của Pháp thân Tì lô giá na lìa nóng bức được mát mẻ, an trụ trong định tịch lặng; vì đặt ở Trung đài cho nên gọi là Đệ nhất trùng Thích ca. Còn hình tượng trong viện Thích ca cũng màu vàng ròng, đắp ca sa màu càn đà, tay trái cầm 1 góc áo ca sa, đầu ngón tay cái và ngón vô danh của tay phải bấm vào nhau làm thành hình tròn, 3 ngón còn lại dựng đứng, đây tức là tướng thuyết pháp của đức Tì lô giá na nói pháp môn tự chứng; vì đặt riêng ở lớp thứ 3 cho nên gọi là Đệ tam trùng Thích ca. Trong khoảng thời gian từ đời Bắc Ngụy đến các đời Đường, Tống, Thiên Phật động ở Đôn hoàng đã được đục mở thêm nhiều lần, trong đó, khám thờ Phật ở mặt chính của độngNthứ 120 (theo biên hiệu của Pelliot) có thờ tượng Phật Thích ca theo kiểu dáng Trung Ấn độ, động thứ 111 thờ tượng Phật Thích ca và Phật Đa bảo ngồi chung theo kiểu dáng dung hợp Trung Ấn và Bắc Ngụy. Ông A.Stein người Anh cũng từng tìm thấy ở đây bức tranh thêu Phật thuyết pháp trên núi Linh thứu và bức tranh thêu Phật Thích ca thuyết pháp bằng lụa có tô màu.
thích ca tỳ lăng già ma ni bảo
Sakrabhilagma-mani-ratna (S)Đế Thích Trì, Tỳ lăng già bảo, Tỳ lăng già ma ni bảoVật trang sức trên cổ của trời Đế Thích.
thích ca viện
(釋迦院) Một trong các viện thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, lấy đức Thích ca Như lai(đức Thích ca Như lai này không phải là sinh thân Phật, mà là Pháp thân Phật biến hóa ra) làm chủ tôn, cho nên gọi là Thích ca viện. Vị trí của viện này nằm ở lớp thứ 2 phía đông, tức phía trên viện Biến tri, tượng trưng cho đức thuyết pháp lợi sinh, phương tiện nhiếp hóa của Đại nhật Như lai. Viện này gồm có 39 vị tôn, trong đó, Thích ca Như lai là Phật bảo, Bồ tát Quán tự tại là Pháp bảo và Bồ tát Hư không tạng là Tăng bảo, biểu thị ý nghĩa Tam bảo cụ túc. Thích ca Như lai ngồi trên hoa sen trắng, tượng trưng ý nghĩa tuy Ngài xuất hiện giữa cõi đời 5 trọc ác, ứng hiện đồng với chúng sinh, nhưng tự thể thanh tịnh của Ngàithì không biến đổi. Về Mạn đồ la của viện Thích ca, các kinh quĩ nói khác nhau, Mạn đồ la hiện nay nêu như sau: Cúng dường vân hải, Như lai tiếu. Trí câu hi la, Như lai ngữ Ưu bà lê, Như lai thiệt Ca chiên diên, Trừ chướng Phật đính A nan, Cao Phật đính Câu hi la, Tối thắng Phật đính. Bảo phúc Bích chi Phật Luân phúc Bích chi Phật, Thắng Phật đínhNhư lai nha, Bạchtản cái Phật đính Quán tự tại, Thích ca vô năng thắng Hư không tạng, Thích ca vô năng thắng phi.Như lai thước khấtđể, Nhất thiết Như lai bảo Chiên đàn hương Bích chi Phật, Như lai hào tướng Đa ma la hương Bích chi Phật Đại mục kiền liên, Chuyển luân Phật đínhTu bồ đề, Quang tụ Phật đính Ca diếp, Vô lượng thanh Phật đính Xá lợi phất, Như lai bi Như lai hỉ, Như lai mẫn Như lai xả, Như lai từ Viện này bày xếp 8 vị Phật đính: Trừ chướng Phật đính, Cao Phật đính, Tối thắng Phật đính... Phật đính biểu thị ý nghĩa quả đức sâu kín. Vì Thích ca Như lai tuy là Phật hóa thân nhưng biểu thị nghĩa quả đức sâu xa cùng với Pháp thân bản địa không hai, cho nên được bày ở viện này. Còn Như lai Nha, Như lai Hào tướng cũng được xếp trong viện này là vì biểu thị nghĩa Tự tính pháp thân của Thích ca Như lai xưa nay vốn thường trụ. Hai tôn vị Vô năng thắng và Vô năng thắng phi biểu thị cho đức hàng phục 4 ma, thành đạo dưới gốc cây Bồ đề của Thích ca Như lai
thích ca vô sư
(釋迦無師) Đức Thích ca không có thầy mà tự ngộ. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 14 thì có lần Phạm chí hỏi đức Phật rằng: Thầy của Ngài là ai? Ngài nương vào ai để xuất gia học đạo?. Đức Phật đáp rằng (Đại 2, 618 hạ): Ta không có thầy dạy, cũng không ai bằng ta; độc tôn không ai hơn, đã lạnh không còn ấm.
thích ca văn
Thích Ca Văn Ni—Sakyamuni, the saint of the Sakya tribe—See Thích Ca Mâu Ni.
thích ca văn ni
See Thích Ca Mâu Ni.
thích ca vương
Xem Trì quốc thiên vương.
thích ca đa bảo
(釋迦多寶) Đức Thích ca Như lai và Đa bảo Như lai. Theo phẩm Bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì lúc đức Phật Thích ca đang giảng nói kinh Pháp hoa trên núi Linh thứu, từ dưới đất có tòa tháp báu nhô lên, đức Phật Đa bảo ngồi trong tháp phát ra âm thanh lớn, chứng minh những lời đức Thích ca nói là chân thực, không hư dối, đồng thời chia nửa tòa ngồi cho Phật Thích ca. Tại Trung quốc, theo đà thịnh hành của tín ngưỡng Pháp hoa, các chùa phần nhiều tạo lập tháp Đa bảo, trong đó an vị 2 đức Phật, Phật Thích ca ngồi bên phải, Phật Đabảongồi bên trái.
thích ca đại bát ấn
(釋迦大鉢印) Gọi tắt: Bát ấn, Như lai bát. Ấn tướng có hình bát báu của Phật Thích ca. Trong Thai tạng nghi quĩ thứ đệ, phần nói về viện Thích ca, chưa đề cập đến ấn minh(ấn tướng và chân ngôn) này, mà ấn minh này có xuất xứ từ hội Như lai thân, tượng trưng cho đức trì bát của Đại nhật Như lai. Theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật thì ấn tướng này là: Hai bàn tay ngửa ra đặt nơi rốn. Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì cho rằng tay trái cầm lấy 2 chéo áo ca sa, biểu thịýnghĩa đồng với Như lai, cũng có năng lực khiến tất cả chúng sinh chẳng phải là pháp khí đều trở thành pháp khí.
thích ca đề bà
Xem Đế Thích thiên.
thích ca đề bà nhơn đà la
Sakra-devendra or Sakro-devanamindra (skt)—Thích Đề Hoàn Nhơn—Thích Đế (Indra).
thích ca đề hoàn nhân
Xem Đế Thích thiên.
thích ca đề hoàn nhân đà la
Xem Đế Thích thiên. Xem Đế thích.
thích chí
Satisfied—Content—Pleased.
thích chúng
Buddhist.
thích chủng
Sàkya-seed; the Sàkya clan; the disciples of Sàkyamuni, especially monks and nuns.
; Chủng tử Thích Ca—Bộ tộc Thích Ca hay những đệ tử của Thích Ca, đặc biệt là chư Tăng Ni—The Sakya-seed—The Sakya clan—The disciples of Sakyamuni, especially monks and nuns.
; (釋種) Cũng gọi Cù đàm chủng, Cam giá chủng, Nhật chá chủng. Chủng tộc Thích ca thuộc giai cấp Sát đế lợi, một chủng tộc được tôn quí ở Ấn độ. Cứ theo kinhTrường a hàm quyển 13 và Hữu bộ tì nại da phá tăng sự quyển 2, phần cuối, thì vua Thanh ma (Phạm: Okkàka) của thành Sa chỉ đa, nước Kiêu tát la, sinh ra 4 vương tử có đại năng lực, từng trụ ở trong rừng Trực thụ tại phía nam Tuyết sơn, vì thế mà cho rằng Thanh ma là tổ tiên của Thích chủng. Lời chú thích trong kinh Trường a hàm quyển 13 (Đại 1, 83 thượng) ghi: Thích, Hán dịch là Năng, vì sống trong rừng Trực thụ nên gọi là Thích; Thích cũng dịch là Trực. Lại theo phẩm Hiền kiếp vương chủng trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 5 thì Thích ca tính còn gọi là Xa di kì da (Phạm:Zakiya). Vì y theo nghĩa Năng thì gọi là Thích ca, còn y theo nghĩa Trực thụ thì gọi là Xa di kì da. Vua Thanh ma thuộc vương tộc nổi tiếng trong các chủng tộc người Aryan, dòng họ Thích con cháu của ông cũng chính là dân tộc Aryan thuần túy. Có thuyết cho rằng chủng tộc Thích ca là Tái tộc trong các chủng tộc người Đột na ni nhĩ (Turanians). Nhưng Tái tộc xâm chiếm Ấn độ vào khoảng 250 năm trước Tây lịch, lúc đó Phật giáo đã hưng khởi rồi, cho nên thuyết này không thích đáng
thích cung
Cung điện Thích Ca, chính từ nơi đó Thái Tử Sĩ Đạt Đa đã ra đi tìm đạo và đã thành Phật—The Sakya palace, from which prince Siddhartha went forth to become Buddha.
; (釋宮) Chỉ cho cung điện của họ Thích ca. Phẩm Dũng xuất trong kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 41 hạ) nói: Khi đức Như lai là Thái tử, ra khỏi Thích cung, đi đến thành Già da cách đó không xa, ngồi ở đạo tràng, thành Vô thượng chính đẳngchính giác.
thích danh
(釋名) Giải thích ý nghĩa của danh mục. Xưa nay các nhà chú thích cho rằng Thích danh, Xuất thể, Nghĩa tướng... đều là các khoa mục về giải thích. Khi giải thích kinh điển, ngài Trí khải lập ra Ngũ trùng huyền nghĩa (5 lớp nghĩa sâu xa); huyền nghĩa thứ nhất là Thích danh, tức giải thích danh nghĩa của đề mục kinh điển. Theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 thì Thích danh của Ấn độ có 2 loại, đó là: 1. Hữu nghĩa danh: Y cứ theo nghĩa mà đặt tên, vìthếphải căn cứ vào nghĩa mà giải thích tên ấy. 2. Vô nghĩa danh: Không đặt nặng vấn đề ý nghĩa mà chỉ y cứ vào tập quán thông thường người đời đã quen gọi để đặt tên. Ngoài ra, lời văn giải thích chính văn trong kinh luận thì gọi là Thích văn.
thích danh tự tam muội
Adhivacana-pravesa-samādhi (S).
; (釋名字三昧) Phạm: Adhivacana-praveza. Cũng gọi Nhập danh tự tam muội,Đẳng nhập tăng ngữ tam muội. Chỉ cho Tam muội có năng lực giải thích tên gọi của các pháp, 1 trong 108 Tam muội. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 399) nói: Các pháp tuy không nhưng dùng danh tự(tên gọi) để giải thíchnghĩacác pháp khiến người hiểu được, đó gọi là Thích danh tự tam muội.
thích duyệt kim cang nữ
Xem Kế Lị Cát La Bồ tát.
thích dụng
Practical—Applicable.
thích gia
The Sàkya family, i.e. the expounders of Buddhist sùtras and scriptures.
; 1) Người thuộc gia đình Thích Ca—The Sakya family. 2) Người giảng kinh nói pháp: The expounders of Buddhist sutras or scriptures.
; (釋家) Đối lại: Kinh gia, Luận gia. Chỉ cho người chú thích văn nghĩa các kinh, luật, luận; hoặc chỉ cho người tu hành Phật đạo, cũng tức là Phật gia.
thích giám kê cổ lược tục tập
(釋鑒稽古略續集) Gọi tắt: Kê cổ lược tục tập. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Huyễn luân soạn vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Sách này biên soạn tiếp theo bộ Kê cổ lược, lấy sự tích của hơn 430 vị tăng làm trung tâm để ghi chép lịch sử Phật giáo trong khoảng thời gian 364 năm kể từ niên hiệu Chí nguyên năm đầu (1264) đời Nguyên đến năm Thiên khải thứ 7 (1627) đời Minh thì dừng, trong đó nói về sự hưng suy của Phật giáo, về chính sách đối với tông giáo và về mối quan hệ giữa Phật giáo và Đạo giáo qua các triều đại.
thích giáo
Buddhism.
; Phật Giáo—Buddhism—The teaching of the Buddha (Sakyamuni).
; (釋教) Đồng nghĩa: Phật giáo. Chỉ cho giáo pháp của đứcThích tôn. Danh từ này đặc biệt được sử dụng ở Trung quốc từ khi Phật giáo và Đạo giáo được gọi chung bằng tên vị Giáo tổ của mỗi giáo là ThíchLão nên gọi là Thích giáo. Như Khổng trĩ khuê thư tinh đáp (Đại 52, 73 trung) ghi: Đã để tâm nơi Thích Lão, chẳng dám nói đồng dị. Lại như Ngụy thư... đặt ra thiên ThíchLão chí, cũng thuộc trường hợp này.
thích giáo bộ vị khảo
(釋教部彙考) Gọi đủ: Cổ kim đồ thư tập thành Thích giáo bộ vậng khảo. Tác phẩm, 7 quyển, do Tưởng diên tích biên tập vào đời Thanh, được thu vào Vạn tụctạngtập 33. Đây là bộ lịch sử Phật giáo Trung quốc viết theo thể biên niên, bắt đầu từ khi đức Thích ca giáng sinh ở nước Ca tì la vệ thuộc Thiên trúc vào đời vua Trang vương nhà Chu năm thứ 9, trải qua các đời Tần, Hán cho đến đời Minh, Thanh, trong đó ghi chép các chính sách và đường lối của các triều đại đối với Phật giáo. Trong quyển 7 còn có Phật quốc kí nói về Phật giáo ở các nước Thiện thiện, Vu điền, Sư tử (Tích lan)... và 3 bài văn ngắn:Nguồn gốc họ Thích, Phật vào Trung quốc, Phật pháp vào Trung quốc... Nội dung bộ sách này rất phong phú, là tư liệu tham khảo tốt cho việc nghiên cứu Phật giáo Trung quốc.
thích giáo chính mậu
(釋教正謬) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Ngải ước sắt địch cẩn, nhà truyền giáo người Anh, cư sĩ Tam nhãn dịch. Soạn giả đứng trên lập trường Cơ đốc giáo để phê bình Phật giáo, cho rằng giáo pháp của Phật giáo có điều trái với chính lí, đặc biệt dùng thuyết Đại thừa chẳng phải Phật nói làm luận đề chủ yếu. Nội dung gồm 20 chương: Kinh điển, Giáo thừa, Thích ca mâu ni, Luân hồi, Tam bảo, Sa môn, Thập ác, Công đức, Ngẫu tượng, Tịnh độ, Quán âm, Thế giới, Chư thiên,Địa ngục, Du già, Trì chú, Tông môn, Chỉ quán, Niết bàn và Vô thường. Sách này do thư viện Anh Hoa ởHương cảng ấn hành vào năm Đồng trị thứ 7 (1868). Sau, giới Phật giáo Nhật bản có soạn Thích giáo chính mậu sơ phá 1 quyển, Thích giáo chínhmậu tái phá 1 quyển của ông Dưỡng đệ Triệt định, Thích giáo chính mậucược xích 2 quyển của ông Nam khê, Thích giáo chính mậu biện bác của ông Nam điều Thần hưng...
thích giáo tam tự kinh
(釋教三字經) Tác phẩm, 1 quyển, do Xuy vạn lão nhân soạn vào đời Minh, Mẫn tu chú thích. Sách này được soạn theo thể tài Tam tự kinh của Khu thích tử cuối đời Tống. Toàn sách gồm có 183 bài kệ, chia làm 10 đoạn lớn, trong đoạn lớn thứ 5 lại chia làm 10 đoạn nhỏ theo thứ tự trình bày 10 tông phái Đại và Tiểu thừa. Nội dung tác phẩm rất phong phú, trước hết giải thích nghĩa pháp giới, kế đến tường thuật các nhân duyên giáng sinh, xuất gia tu đạo và chứng đạo của đức Phật, thứ tự Phật giảng thuyết kinh Hoa nghiêm, A hàm...; tiếp theo, trình bày về lịch sử truyền thừa Phật pháp ở Ấn độ, Trung quốc, khái quát về 10 tông rồi giải thích nghĩa 5 uẩn, 6 căn, 12 xứ..., cuối cùng khuyên mọi người theo thứ tự tín, giải, hành, chứng mà tu học, đồng thời nói về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc cổ đức để khuyên dạy người tu học đời sau. Vào cuối đời Thanh, sách này từng được kiểm xét biên soạn lại, Cư sĩ Dương nhân sơn soạn bài tựa. Theo lời bài tựa này thì khi Đại sưẤn quang nhập thất tại núi Phổ đà, ngài có cải chính 3/10 văn trong sách này và chú giải 7/10.Về sau, cư sĩ Dương nhân sơn lại sửa chữa bản cải chính của Đại sưẤn quang, đồng thời đặt lại tên là Phật giáo sơhọc khóa bản. Hiện nay có bản chú giải bằng văn bạch thoại của Pháp sư Nam đình, tức là bộ Thích giáo tam tự kinh giảng thoại. Ngoài ra, Pháp sư Nam đình cũng giảng rộng sách này trong tiết mục Tiếng nói Phật giáo trên đài phát thanh Dân bản.
thích giáo vị môn tiêu mục
(釋教彙門標目) Gọi đủ: Đại minh Thích giáo vậng môn tiêu mục. Mục lục, 4 quyển, do ngài Tịch hiểu soạn vào đời Minh, là tổng mục của bộ Đại minh Thích giáo vậng mục nghĩa môn. Đại minh Thích giáo vậng mục nghĩa môn(cũng gọi Thích giáo vậng mục nghĩa môn, Pháp tạng tư nam), là sách giải nói về các tựa đề kinh luận trong Đại tạng kinh, toàn sách gồm 41 quyển, nội dung tuy hoàn bị nhưng tiếc là không được lưu hành rộng rãi. Nay y cứ vào mục lục này ta có thể thấy đại khái cách tổ chức của bộ Đại minh thích giáo vậng mục nghĩa môn là y cứ vào thứ tự 5 thời phán giáo của tông Thiên thai mà chia làm 8 bộ: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn, Đà la ni và Thánh hiền trứ thuật. Khi ngài Trí húc soạn bộ Duyệt tạng tri tân có tham khảo Thích giáo vậng mục nghĩa môn.
thích gây gỗ
To be quarrelsome.
thích hoan tuỳ phiền não
(戚歡隨煩惱) Tiểu thừa chia Tùy phiền não làm 2 loại là Thích tùy phiền não và Hoan tùy phiền não. Thích tùy phiền não cũng gọi là Thích hành chuyển tùy hoặc. Thích nghĩa là lo âu; tức khi tùy hoặc hiện hành thì tương ứng với Ưu thụ căn(giác quan lo âu) như ghen ghét, hối hận, bực tức... Hoan tùy phiền não, cũng gọi là Hoan hành chuyển tùy hoặc. Hoan nghĩa là vui mừng; tức khi tùy hoặc hiện hành thì tương ứng với Hỉ thụ căn(cảm giác vui) như bỏn sẻn, kiêu căng... Loại trước lấy ghen ghét làm đại biểu, loại sau lấy bỏn sẻn làm đại biểu. Câu xá luận kí quyển 21 (Đại 41, 319 hạ) nói: Trong Tùy phiền não gồm có 2 loại: Một là Thích, hai là Hoan. Ghen ghét thường biểu lộ Thích, còn bỏn sẻn thì biểu lộ Hoan.
thích hoá vô phương
(適化無方) Chỉ cho việc giáo hóa tùy theo căn cơ, trình độ của chúng sinh chứ không câu nệ vào một phương thức nhất định nào. Bồ tát ra vào đường sinh tử, giáo hóa chúng sinh, khiến tỏ ngộ tính Không, đó là trí phương tiện quyền biến khéo léo, cũng là pháp môn do đức Như lai thích ứng với cơ duyên của chúng sinh mà đặt ra. Chư Phật, Bồ tát xuất hiện ở đời là nhằm diệt trừ căn bệnh kiến chấp, ngu hoặc của chúng sinh, tuy giảng nói vô lượng kinh giáo nhưng ý của Phật chỉ là mở bày lí Trung đạo thực tướng tam đế. Nếu người nương vào pháp Khai mà được ngộ thì dùng pháp Khai để dắt dẫn; nếu người nương vào Hợp mà có thể đắc đạo thì dùng Hợp để thuyết giáo. Đó chính là thích nghi với căn cơ chúng sinh mà hóa độ, không thể chấp chặt một pháp nào, nếu không thì sẽ chướng ngại đạo và trở thành thuốc độc
thích huyết tế cơ
(刺血濟饑) Chích lấy máu để cứu đói, là sự tích nhân duyên từ đời quá khứ giữa đức Thế tôn và 5 vị tỉ khưu Kiều trần như... Thuở xưa, ở cõi Diêm phù đề có vị Quốc vương tên là Di khư la bạt la, từ bi nhân hậu, thường đem 10 điềuthiện dạybảo nhân dân, đến cả các loài dịch quỉ chuyên hút khí huyết của người cũng giữ gìn thân, khẩu, ý và làm theo 10 điều thiện, nhưng lâu ngày không tránh khỏi sự đói khát, khốn khó. Một hôm, 5 quỉ Dạ xoa đến chỗ vua xin được giải cứu, vì thương xót 5quỉ Dạ xoa nên nhà vua tự chích lấy máu ở 5 chỗ trên thân để cho 5 quỉ Dạ xoa uống. Nhà vua lại bảo 5 quỉ Dạ xoa rằng sau khi thành Phật sẽ dùng máu giới, định, tuệ của pháp thân để diệt trừ các dục tham, sân, si, của họ, khiến cho họ được cảnh giới Niết bàn an ổn. VuaDi khư la bạt la chính là tiền thân của đức Thế tôn, còn 5 Dạ xoatứclà 5 vị tỉ khưu. Cho nên lúc đức Thế tôn mới thành đạo, 5 vị tỉ khưu nhờ nhân duyên ấy mà được độ đầu tiên.
thích hóa
Thích ứng sự giáo hóa vào hoàn cảnh thật—To adapt teaching to circumstances
thích hùng
Buddha, the hero of the Sakyas.
thích hợp
Rational—Suitable—Appropriate—Fitting—To suite—To fit—To be consonant (agreeable) with.
thích khen ghét chê
Fond of praise, but loathing of criticism.
thích khí phật
Sikkin (S)Một vị Phật quá khứ thuộc Trang nghiêm kỳ kiếp.
thích khẩu
Pleasant to the taste.
thích luân
Một biểu hiện của đất hay địa luân—Sakra's wheel, the discuss of Indra, symbol of the earth.
; (釋輪) Cũng gọi Nhân đà la luân. Tức Kim cương luân (địa luân), màu vàng, hình vuông, chủng tử là (a), là 1 trong 5 trí luân của Mật giáo. Phần chú thích trong Du kì kinh sớ quyển 3 (Đại 61, 500 thượng) nói: Trời Đế thích tên là Nhân đà la, Hán dịch là Đế, cũng dịch là Chủ, ở trong Thiện pháp đường trên đỉnh núi Diệu cao, bên trong có 37 vị tôn thuộc Mạn đồ la Kim cương giới thường trụ. Mạn đồ la này gọi là Thích luân.
thích luận
Xem Đại Trí độ luận.
; The Pràjna-pàramità-sùtra; also explanatory discussions, or notes on foundation treatises.
; The Prajna-paramita-sutra; explanatory discussions, or notes on foundation treaties—See Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajan Paramita Sutra).
; (釋論) I. Thích Luận. Từ gọi tắt của luận Đại trí độ. Đây là chủ trương của Hiển giáo, vì Hiển giáo cho rằng luận Đại trí độ là tác phẩm giải thích kinh Đại phẩmBát nhã. Còn Mật giáo thì cho Thích luận là từ gọi tắt của luận Thích ma ha diễn, vì luận này là sách chú thích luận Đại thừa khởi tín. II. Thích Luận. Từ gọi chung các sách giải thích kinh điển.III. Thích Luận. Đối lại: Tông luận. Tóm tắt một cách khái quát tông chỉ của một bộ kinh để kiến lập pháp nghĩa, gọi là Tông luận; còn giải thích văn nghĩa của một bộ kinh thì gọi là Thích luận.
thích lâm địa ngục
(刺林地獄) Chỉ cho địa ngục mà tội nhân bị trừng trị giữa rừng gai nhọn, là nơi chịu khổ báo của những người phạm tội nói ác, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói lời bất nghĩa, nói lỗi kinh điển, hủy báng nghị luận sư... Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyền 5 thì địa ngục này rộng 8000 do tuần, đầy dẫy gai sắt nhọn, ở đầu mỗi cáigailại có 12 lưỡi kiếm, trên các cây thì có kìm sắt lớn rất nóng. Lúc sắp chết, tội nhân thấy cổ họng cháy bỏng, miệng lưỡi khô rát, nghĩ rằng nếu được gai nhọn đâm vào cổ họng khiến các mạch máu tuôn chảy như sông thì thật sung sướng. Khi ý niệm ấy vừa khởi lên thì ngục tốt La sát liền theo đó hóa thành cha mẹ của tội nhân, tay cầm hạt châu, trên hạt châu có gai, hình dáng như miệng người sắp nhỏ giọt nước xuống, tội nhân trông thấy rất mừng, tự nghĩ mình đã được toại nguyện thì liền tắt thở mệnh chung, rơi vào giữa rừng gai, ngục tốt La sát kéo lưỡi tội nhân ra, khiến 80 con bò sắt dùng lưỡi cày lớn bằng sắt cày nát lưỡi; các cây trong rừng gai bị gió thổi đánh vào thân tội nhân, trong khoảng 1 ngày 1 đêm, trải qua 600 lần chết đi sống lại. Chịu hết tội khổ, được sinh trong loài người, mặt mũi xấu xí, nói năng ngượng nghịu, thân thể ghẻ lở, máu mủ chảy ra lênh láng; trải qua 500 đời bị người kinh tởm. Về sau, những điều người ấy nói không được ai tin, sau được gặp thiện tri thức, mới biết phát tâm bồ đề.
thích lão chí
(釋老志) Gọi đủ: Ngụy thưThíchlãochí.Sử kí, 1 thiên, do Ngụythâusoạn vào đời Bắc Tề, được thu vào Ngụy thư quyển 114, là sách sử đầu tiên ghi chép về Thích và Lão. Toàn sách được chia làm 2 phần Phật và Đạo, trong đó Phật giáo chiếm phần lớn, lấy các đời Bắc Ngụy, Đông Ngụy và Bắc Tề làm chính thống, trình bày tỉ mỉ, rõ ràng, về quá trình Phật giáo truyền vào Trung quốc, tình hình phát triển, mối quan hệ giữa triều đình Bắc Ngụy với Phật giáo và chính sách đối với Phật giáo. Ngoài ra, những ghi chép nói về trạng huống kinh tế của các chùa viện thời Bắc Ngụy, nhất là về chế độ Tăng kì hộ và Phật đồ hộ... là các tư liệu quan trọng cho các việc nghiên cứu lịch sửPhật giáoTrung quốc. Còn phần Đạo giáo thì trình bày về quá trình phát triển và cuộc cải cách của Khấu khiêm.
thích lão truyện
(釋老傳) Gọi đủ: Nguyên sử Thích lão truyện. Sử truyện, do nhân sĩ Tống liêm soạn vào đời Minh, được thu vào Nguyên sử quyển 202. Nội dung nói về tình hình Phật giáo và Đạo giáo ở đời Nguyên. Nửa phần trước nói về sự sùng tín Lạt ma giáo của nhà vua, về chính sách của các Hoàng đế các đời đối với tông giáo, về cơ cấu và trạng huống của Phật giáo. Nửa phần sau nói về sự quan hệ giữa đạo sĩ Khâu xử cơ của Toàn chân giáo với nhà vua và tình hình truyền đạo. Đồng thời nêu ra sự chi phí hao tổn trong việc cúng Phật và thói tham lam cửa quyền của giới tăng quan đời Nguyên.
thích lượng luận
Pramāṇa-vaṛttika (S)Tên một bộ luận kinh do ngài Pháp Xưng (Dharmakirti) sáng lập.
; (釋量論) Phạm: Pramàịa-varttika. Tạng: Tshađ-marnam-#grel. Cũng gọi Quảng thích lượng luận bản tạng.Tác phẩm, do Đại luận sư Nhân minh học là ngài Pháp xứng củaẤn độ soạn. Luận này cùng với 6 trứ tác khác về Nhân minh của ngài Pháp xứng được gọi chung là Nhân minh thất luận(Bảy bộ luận về Nhân minh). Đây là sách chú thích bộ Tập lượng luận của ngài Trần na, người cải cách Cổ nhân minh thành Tân nhân minh. Toàn sách rút gọn 6 phẩm nói trong Tập lượng luận làm 4 phẩm, đó là: 1. Phẩm Vị tự tỉ lượng(cũng gọi phẩm Tự nghĩa tỉ lượng): Nói rõ về các điều kiện mà người lập luận phải có đủ để dẫn sinh ra trí Tỉ lượng, như Chính nhân. 2. Phẩm Thành lượng(cũng gọi phẩm Thành lập lượng sĩ phu): Trình bày rõ ý nghĩa của bài tụng Qui kinh trong Tập lượng luận, thành lập lí Như lai và lượng sĩ phu. 3. Phẩm Hiện lượng: Nói rõ về định nghĩa của Hiện lượng, sự sai khác giữa Hiện lượng và Tự hiện lượng... 4. Phẩm Vị tha tỉ lượng (cũng gọi phẩmTha nghĩa tỉ): Giải thích rộng và ưu khuyết điểm của nhân Năng lập và nói rõ vềcác phương tiện khiến người khác sinh ra trí Tỉ lượng. Đây là sách giáo khoa bắt buộc trong học trình của phái Cách lỗ (Hoàng giáo) Tây tạng.
thích lữ
Tín đồ Phật giáo—Tăng lữ—Follower or disciple of the Buddha—Buddhist comrade—Buddhists.
; (釋侶) Chỉ cho những người tu hành đạo Phật. Nếu theo nghĩa rộng thì chỉ chung cho tất cả tín đồ Phật giáo, còn theo nghĩa hẹp thì chỉriêngcho tăng lữ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hànhsự sao quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 141 hạ) nói: Sa môn thích lữ là khách của 3 cõi.
thích ma ha diễn luận
(釋摩呵衍論) Gọi tắt: Thích luận. Luận, 10 quyển, do bồ tát Long thụ của Ấn độ soạn, ngài Phiệt đề ma dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là sách chú thích bộ luận Đại thừa khởi tín. Nội dung gồm những điểm như: Nói về chỉ thú tạo luận, phân biệt các luận, chia các luận đã tạo trong một đời làm 10 loại, xếp luận Đại thừa khởi tín vào loại Nhiếp nghĩa, nói rõ sự sai khác về tạng: Chung thì luận Khởi tín thuộc các tạng, riêng thì thuộc tạng A tì đạt ma, phân biệt kinh, cho luận Khởi tín là chỗ nương của các kinh; nói về tác giả của luận Khởi tín, về bản thì ngài Mã minh là Phật đại quang minh, về nhân thì Ngài là bồ tát Địa thứ 8; sau hết, chia luận Khởi tín làm 5 phầnđể giải thích, đó là: Phần Nhân duyên, phần Lập nghĩa, phần Giải thích, phần Tu hành tín tâm và phần Khuyến tu lợi ích. Trong phần Lập nghĩa, lập 33 pháp môn, chia làm 2 mục là Tu hành chủng nhân hải và Tính đức viên mãn hải để bàn rõ về nghĩa cạn, sâu. Tư tưởng Tính đức viên mãn hải trong quyển 10 rất giống với Mật giáo. Đại sư Hoằng pháp người Nhật bản đã y cứ vào luận này để phát huy giáo nghĩa Chân ngôn. Luận Thích ma ha diễn tương truyền do ngài Long thụ soạn, nhưng vấn đề chân ngụy vẫn chưa ngã ngũ. Có thuyết cho rằng luận này do vị tăng người Nhật bản là Viên nhân căn cứ vào khẩu truyền của vị tăng người Tân la tên Trân thông mà thành lập; hoặc có thuyết cho rằng soạn giả luận này vốn là Sa môn Nguyệt trung trụ ở núi Đại không, nước Tân la; lại thuyết khác cho rằng trong các chữ đặc biệt kì lạ của các bài chú trong luận này có nhữngchữ giống với văn tự thời Vũ tắc thiên, cho nên suy đoán rằng sách này được thành lập vào thời đại Vũ chu. Luận này có rất nhiều sách chú thích, trong đó có các bộ quan trọng là: 1. Thích ma ha diễn luận kí, 1 quyển, do ngài Thánh pháp soạn vào đời Đường. 2. Thích ma ha diễn luận sớ, 3 quyển, do ngài Pháp mẫn soạn vào đời Đường. 3. Thích ma ha diễn luận tán huyền sớ, 5 quyển, do ngài Phápngộ soạn vào thời Tống. 4. Thích ma ha diễn luận kí, 6 quyển, do ngài Phổ quán soạn vào đời Tống. 5. Thích ma ha diễn luận thông huyền sao, 4 quyển, do ngài Chí phúc soạn vào đời Tống. Trên đây 1, 2, 3 được thu vào Vạn tục tạng tập 72; 4 và 5 được thu vào Vạn tục tạng tập 73.
thích ma nam
Sàkya-Mahanama-Kulika (S). One of the first five of the Buddha's disciples.
; Sakya-Mahanama Kulika (skt)—Thái tử Kulika, một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Phật—One of the first five of the Buddha's disciples, prince Kulika.
thích ma phạm
(釋魔梵) Chỉ cho Thích đề hoàn nhân, chủ của cõi trời Đao lợi; Thiên ma, chủ của 6 tầng trời cõi Dục và Phạm thiên vương, chủ của thế giới Sa bà, là 3 vị Đại chủ trong hàng ngũ trời. Cứ theo kinhTạp a hàm quyển 40 thì Nhân đà la trí tuệ thông minh, có khả năng quán thông nghìn thứ nghĩa, cho nên gọi là Thiên nhãn(nghìn mắt). Thiên ma, cũng gọi là Thiên tử ma, trụ ở cõi trời Tha hóa tự tại(là tầng trời thứ 6 cao nhất trong cõi Dục), có khả năng làm trở ngại những điều thiện của người, ghen ghét pháp hiền thánh, gây não loạn, làm cho người tu hành không thành tựu được thiện căn xuất thế. Phạm thiên vương trụ ở tầng thứ 3 của trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc, tự chủ độc lập, cho mình là cha của chúng sinh, do tự nhiên mà có chứ không ai tạo ra, tất cả chúng sinh đều do trời Phạm vương hóa sinh ra.
thích môn
The school of Sàkyamuni, Buddhism.
; Phật Giáo—Cửa dẫn vào Thích giáo—The School of Sakyamuni—Buddhism.
; (釋門) Cũng gọi Thích gia. Đồng nghĩa: Phật môn. Môn phái tu hành theo giáo pháp của đức Thích tôn. Tập cổ kim Phật đạo luận hành, quyển ất (Đại 52, 374 hạ) nói: Năm chúng của Thích môn giảm 300 vạn, hoàn tục làm quân dân.
thích môn chính thống
(釋門正統) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Tông giám biên tập vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 130. Sách này lúc đầu do ông Khải am Ngô khắc kỉ soạn, nhưng chưa xong thì ông qua đời; sau do ngài Tông giám tiếp tục hoàn thành. Nội dung biên tập truyện kí củacác tông sư tương thừa thuộc tông Thiên thai và chủ trương tông này là chính thống của Thích môn. Phỏng theo Sử kí, Hán thư, sách này chia làm 5 phần: Bản kỉ, Thế gia, Chư chí, Liệt truyện và Tải kí.
thích môn chương phục nghi
(釋門章服儀) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung nói về chất liệu, cách may vá và giặt giũ pháp phục. Toàn sách chia làm 10 thiên: Chế ý thích danh, Lập thể bạt tục, Thắng đức kinh viễn, Pháp sắc quang tục, Tài chế ứng pháp, Phương lượng chàng tướng, Đơn phức hữu cứ, Phùng chế tài thành, Bổ hoành thánh giáo và Gia pháp hành hộ. Chú sớ sách này cóỨng pháp kí, 1 quyển, do ngài Nguyên chiếu soạn.
thích môn hiếu truyện
(釋門孝傳) Truyện kí, 1 quyển, do ngài Cao tuyền Tính đôn tông Hoàng bá Nhật bản soạn. Nội dung trình bày vắn tắt về truyện kí của những người con có hiếu hạnh trong Phật môn tại 3 quốc gia: Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Toàn sách chia làm 51 mục: Lan bồn thắng hội, Khải Phật cung thân, Khải mẫu đoạn sát... nói về sự tích hiếu dưỡng cha mẹ; sau mỗi sự tích đều có thêm một bài tán. Thể tài sách này phỏng theo hình thức Truy môn sùng hành lục của ngài Vân thê Châu hoành.
thích môn quy kính nghi
(釋門歸敬儀) Gọi tắt: Qui kính nghi. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung nói về phép tắc lễ bái qui kính trong Phật giáo. Toàn sách chia làm 10 thiên: Kính bản giáo hưng, Tế thời hộ pháp, Nhân cơ lập nghi, Thừa tâm hành sự, Kí duyên chân tục, Dẫn giáo trưng tích, Ước thời khoa tiết, Uy nghi hữu tự, Công dụng cảm thông và Trình khí trần tích. Sách chú thích có: Hộ pháp kí, 2 quyển, do ngài Ngạn khởi soạn vào đời Tống (nay chỉ còn quyển thượng), Thông chân kí, 3 quyển, do ngài Liễu nhiên soạn.
thích môn sự thủy khảo
(釋門事始考) Tác phẩm, 1 quyển (không rõ soạn giả), được thu vào Tục sử tịch tập lãm quyển 47 của Nhật bản. Nội dung nói về nguồn gốccácsự vật trong Phật giáo, gồm 64 điều như: Giáo pháp lưu thông, Đông tây du hóa, Độ giả xuất gia, Hỏa táng phong pháp..., phần phụ lục có ghi tên các tăng quan.
thích môn tự kính lục
(釋門自鏡錄) Truyện kí, 2 quyển, do ngài Hoài tín soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sưu tập các sự tích về nhân quả báo ứng để khuyên răn người đời. Toàn sách chia làm 10 loại, gồm 73 điều, 2 chương Nhã, Cáo, sự tích 71 người (có thêm 14 người). Phần nhiều là các sự tích từthời Nam Bắc triều đến đời Đường, là tư liệu giá trị cho việc tìm hiểu tín ngưỡng Phật giáo ở thời kì này. Sách này còn giữ được các tư liệu mà các sách khác không ghi chép, như sự tích về tín đồ Tam giai giáo. Sau khi truyền đến Nhật bản, sách này được ngài Huyền trí chùa Khánh chứng soạn thêm tục bổ, phụ vào cuối quyển hạ.
thích mùi thơm
Gandhalubdha (S), Desirous of odours.
thích mạc
1) Bênh vực và chống đối: Pro and con. • Thích: Thích ý, vui thích, hay bênh vực—Pro. • Mạc: Không thích ý, không vui thích, hay chống đối—Con. 2) Thuận và nghịch: According and contrary (to wishes). • Thích: Thuận—According. • Mạc: Nghịch—Contrary.
; (適莫) Thích là vừa ý, mạc là không vừa ý. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 hạ) nói: Đi lại, tới lui không bị ràng buộc, tùy ý, tự tại, thích cũng không, mạc cũng không, không ta không người, chẳng tranh chẳng biện. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ (Đại 37, 110 thượng) nói: Đối với chúng sinh, không thân không sơ, gọi là Vô thích mạc.
thích mệnh
The sovereign commands of the Buddha.
thích na
Ratna (skt)—Bảo (vật quí)—Precious thing—Jewel.
thích na già la
Ratnakara (skt). 1) Kho báu vật: A jewel mine—The jewel heap. 2) Tên của một cư dân cùng thời với Đức Phật trong thành Tỳ Xá Lê: Name of a native of Vaisali, contemporary of Sakyamuni. 3) Tên của vị Phật hay Bồ Tát: Name of a Buddha or Bodhisattva. 4) Tên của vị Phật thứ 112 trong hiền kiếp: Name of the 112th Buddha of the present kalpa.
thích na thi khí
Ratnasikhin (skt)—See Thi Khí (3) and (4).
thích nghi
Explanation of doubtful points, solution of doubts.
; 1) Giải thích những nghi nan: Explanation of doubtfull points—Solution of doubts. 2) Thích hợp: Appropriate—Suitable.
thích nghi luận
(釋疑論) Luận, 1 quyển, do ông Đới an đạo (Đới quì 335?-396) soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Quảng hoằng minh tập quyển 16 trong Đại chính tạng tập 52. Thuở thiếu thời, An đạo đã xem trọng thiện hạnh, nhưng tự biết chưa thể từ trong biển khổ mà thoát ra được, do đó sinh ra hoài nghi về thuyết thiện ác báo ứng của Phật giáo. Khoảng năm Thái nguyên 19 (394) đời Hiếu vũ đế ông viết luận này, mượn lời hỏi đáp giữa An xử sĩ và Huyền minh tiên sinh để nói lên rằng thuyết làm thiện được phúc, tạo ác chịu họa chỉ là phương tiện quyền nghi của Thánh nhân khuyên bảo người đời làm thiện, lánh ác mà thôi, chứ thực thì họa phúc của con người đã do số mệnh định đoạt cả rồi, không thể nào thay đổi được. Ông An đạo gởi luận này đến ngài Tuệ viễn ở Lô sơn. Đệ tử ngài Tuệ viễn là Chu tục chi (Đạo tổ) bèn soạn bài Nạn thích nghi luận để bác bỏ thuyết của An đạo.
thích nghĩa
Arthavāda (S)Cội nguồn, công đức của tế lễ.
; (釋義) Giải thích ý nghĩa của các kinh luận. Các tông giải thích văn của kinh luận và chân ngôn bằng nhiều thể thức khác nhau. Như ngài Trí khải tông Thiên thai giải thích kinh Pháp hoa sử dụng 4 thích: Nhân duyên thích, Ước giáo thích, Bản tíchthích và Quán tâm thích. Còn tông Chân ngôn thì dùng 4 thích: Thiển lược thích, Bí mật thích, Bí mật trung bí thích và Bí bí trung bí thích.
thích nguy hiểm
To be fond of danger.
thích nhiên
Unexpectedly—Naturally—Suddenly.
thích nữ
The woman of the Sàkya clan.
; 1) Những người nữ trong dòng họ Thích Ca: The women of the Sakya clan. 2) Những vị nữ tu trong đạo Phật: Nuns in Buddhism.
; (釋女) Chỉ cho các cô gái dòng họ Thích. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 26: Thuở xưa, sau khi chinh phục dòng họ Thích, vua Lưu li hạ lệnh tuyển chọn 500 Thích nữsungvào cung, các Thích nữ tức giận, oán than, không chịu tuân lệnh; nhà vua nghe được việc ấyliền nổi nóng, sai quần thần chặt đứt chân tay các Thích nữ ném xuống hố sâu. Lúc các Thích nữ chịu hình phạt, bèn xưng niệm danh hiệu Phật trong nỗi đau đớn, đức Phật thương xót nổi khổ ấy liền cùng các tỉ khưu đến giảng nói pháp mầu nhiệm cho các Thích nữ nghe,các Thích nữ nghe đức Phật dạy bảo, tâm sáng ý tỏ, xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh, đồng thời mệnh chung, đều sinh lên cõi trời.
thích phong
Phong tục Phật Giáo—The custom of Buddhism.
thích phạm
Đế Thích và Phạm Thiên, cả hai đều là chư thiên hộ pháp—Indra and Brahma (both protectors of Buddhism).
; (釋梵) Cũng gọi Phạm thích. Chỉ cho Đế thích và Phạm thiên. Sau khi qui y đức Phật, 2 vị Thiên vương này trở thành thiện thần giữ gìn Phật pháp thường được nói đến trong các kinh luận. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 341 trung) nói: Mục liên đứng hầu bên trái, A nan đứng bên phải, các trời: Thích, Phạm, Hộ thế thì đứng giữa hư không, rải hoa trời xuống như mưa để cúng dường.
thích phạm hộ thế
Indra and Brahma, both protectors of Buddhism.
thích sư
Đạo Sư Thích Ca—Phật—The Sakya Teacher—Buddha.
thích sư tử
Sư tử Thích Ca, ý nói Đức Phật—The lion of the Sakyas, Buddha.
; (釋師子) Phạm: Zàkya-siôha. Đức hiệu của đức Thích tôn, vì Ngài là vua trong cõi người, được tự tại vô úy trong 3 cõi, giống như sư tử chúa giữa các loài thú, nên gọi là Thích sư tử. Kinh Lược xuất quyển 1 (Đại 18, 224 thượng) nói: Dưới cội Bồ đề, chứng được Nhất thiết chủng trí vô tướng tối thắng, dũng mãnh Thích sư tử.
thích tam báo luận
(釋三報論) Cũng gọi Tam báo luận. Luận, 1 quyển, do ngài Lô sơn Tuệ viễn (334-416) soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 5 trong Đại chính tạng tập 52. Khoảng năm Thái nguyên 19 (394) đời Đông Tấn, Đới quì soạn luận Thích nghi, ngờ vực về thuyếtnhân quả báo ứng của Phật giáo, do đó ngài Tuệ viễn mới soạn luận Tam báo để giải tỏa mối nghi ngờ của người đời. Ngài cho rằng nghiệp báotức là quả báocủa các hành vi thiện ác, căn cứ vào thời gian chịu báo có trước, sau mà chia quả báo làm 3 loại: 1. Hiện báo: Chịu quả báo ở đời này. 2. Sinh báo: Chịu quả báo ở đời sau. 3. Hậu báo: Chịu quả báo trong vô lượng đời ở vị lai. Ngài Tuệ viễn cho rằng nếu khôngcó thuyết Tam báo trên đây thì những hiện tượng trên thế gian như: Người làm lành chịu khổ, kẻ làm ác lại được vinh hoa phú quí... sẽ là lí thường nhiên không thể nào giải thích được.
thích tam phá luận
(釋三破論) Cũng gọi Đáp đạo sĩ giả xưng Trương dung tam phá luận. Luận, 1 quyển, do sa môn Tăng thuận soạn vào thời Nam Bắc triều, được thu vào Hoằng minh tập quyển 8 trong Đại chính tạng tập 52. Tam phá luận là do một nhân sĩ của Đạo giáo mượn tên của Trương dung người đời Lưu Tống chủ trương Tam giáo đồng nguyên mà soạn ra. Trong Thích tam phá luận, ngài Tăng thuận nêu ra 19 mục để phê bình và bác bỏ sự sai lầm của Tam phá luận, chi ra chủ trương sai trái của Đạo giáo.Nội dung sách này hơi phiền tỏa, giải thích cũng có nhiều chỗ miễn cưỡng, chẳng hạn như âm Hán của chữ Buddha là Phù đồ, ngài Tăng thuận cho rằng Phù đồ là tượng vẽ linh thiêng, mầu nhiệm nổi trên biển mà đến! Cuộc đời ngài Tăng thuận không được rõ, có thuyết cho rằng ngài sống đồng thời với Lưu hiệp (446?-520?), vì Lưu hiệp cũng soạn luậnDiệthoặc để phê bình và bác bỏ luận Tam phá.
thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn
(釋禪波羅蜜次第法門) Gọi tắt: Thiền ba la mật. Cũng gọi Tiệm thứ chỉ quán, Thứ đệ thiền môn. Tác phẩm, 10 quyển, do Đại sư Trí khải giảng vào đời Tùy, ngài Pháp thận ghi chép, về sau, ngài Quán đính biên soạn, chỉnh lí thêm, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung nói rõ về Tiệm thứ chỉ quán trong 3 loại Chỉ quán. Toàn sách chia làm 10 chương, đó là: 1. Tu thiền ba la mật đại ý: Nói đại ý toàn sách, bàn sơ lược về 10 phi tâm, đồng thời nêu rõ 4 thệ nguyện rộng lớn của Bồ tát.2. Thích thiền ba la mật danh: Giải thích, lựa chọn sự phiên dịch danh từ Thiền ba la mật. 3. Minh thiền ba la mật môn: Nói rõ về sự khác nhau của 2 môn thiền là Sắc môn, Tâm môn và sự khác nhau giữa 3 môn thiền là Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền, Xuất thế gian thượng thượng thiền. 4. Biện thiền ba la mật thuyên thứ: Nói về thứ tự các giai đoạn tu thiền từ lúc mới phát tâm đến khi thành quả Phật. 5. Giản thiền ba la mật pháp tâm: Nói rõ tâm pháp chia làm 4 thứ: Hữu lậu, vô lậu, cũng hữu lậu cũng vô lậu, chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu và nói Phật dùng nhân duyên của 4 tất đàn để nói pháp này. 6. Phân biệt thiền ba la mật tiền phương tiện: Chỉ dạy tiền phương tiện tu thiền cho người muốnkhaiphát nội tâm, an tâm tu tập. Trước hết nói pháp phương tiện bên ngoài dùng để định tâm bên ngoài (tức 25 phương tiện), kế đến nói pháp phương tiện bên trong để định tâm bên trong. 7. Thích thiền ba la mật tu chứng: Thiền có 4 thứ là Thế gian thiền, Cũng thế gian cũng xuất thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Chẳng phải thế gian chẳng phải xuất thế gian thiền, đồng thời nói rõ về 9 loại Thiền là: Cửu tưởng, Bát niệm, Thập tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ, Cửu thứ đệ định, Sư tử phấn tấn tam muội và Siêu việt tam muội. 8. Hiển thị thiền ba la mật quả báo. 9. Tòng thiền ba la mật khởi giáo. 10. Kết hội thiền ba la mật qui thú. Ba chương này và đoạn duyên lí vô lậu, tướng tu chứng phi thế gian, phi xuất thế gian thiền không thấy giải thích
thích thú
Pleasant—The tone of pleasure—Interesting.
thích thị
Họ của bộ tộc Thích Ca—The Sakya clan or family name.
; (釋氏) Dòng họ Thích ca, tức chỉ cho tăng ni xuất gia bỏ họ tên cũ của mình mà lấy họ Thích và được dùng để gọi chung tăng ni. Đây là chủ trương của ngài Đạo an đời Đông Tấn đề xướng. Vì vào các đời Ngụy, Tấn, sa môn xuất gia đều theo họ của thầy, cho nên đều khác nhau; ngài Đạo an cho rằng xuất gia làm tăng là kế thừa chủng tộc Thích ca, bởi vậyđềunên lấy Thích chủng làm họ. Nhưng bấy giờ không phải ai cũng chấp nhận chủ trương này. Đến khi kinh Tăng nhất a hàm được dịch ra, thấy trong quyển 21 có nói (Đại 2, 658 hạ): Bốn sông lớn chảy vào biển rồi thì không còn tên cũ mà chỉ gọi là biển. Ở đây cũng như thế, có bốn dòng họ. Những gì là bốn? Là Sát lợi, Bà la môn, Trưởng giả và Cư sĩ; nếu đã cạo bỏ râu tóc, mặc ba áo pháp, xuất gia học đạo trong chính pháp của Như lai thì không còn gọi theo họ cũ mà chỉ gọi là Sa môn Thích ca tử, thì chủ trương cũ của ngài Đạo an phù hợp với kinh, từ đó trở thành qui tắc nhất định. Từ Cao tăng truyện của các đời Lương, Đường, Tống của Trung quốc, cho đến Nguyên hanh thích thư, Bản triều cao tăng truyện... của Nhật bản, chư tăng được ghi chép đều đặt chữ Thích trước tên, từ đó Thích thị được dùng để gọi chung cho tăng ni. Còn Chân tông ở Nhật bản thì mỗi khi có người chết cũng đặt chữ Thích trên pháp danh.
Thích Thị Kê Cổ Lược
(釋氏稽古略, Shakushikeikoryaku): 4 quyển, do Giác Ngạn Bảo Châu (覺岸寳洲) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 23 (1544) niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖) nhà Minh. Là bộ sử truyền ký do vị Thiền tăng Giác Ngạn ở Ngô Hưng (呉興) thâu lục, đây cũng là sử thư biên niên giống như Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載). Với trung tâm là cương quy của các triều đại Trung Quốc, tác phẩm này thuật rõ sự tích của vườn Thiền, bao trùm các sự thật lịch sử trong ngoài Tam Giáo. Vào năm thứ 14 (1354) niên hiệu Chí Chánh (至正), nó được tái biên, và sau đó được san hành vào các năm thứ 11 (1638) niên hiệu Sùng Trinh (崇貞), thứ 12 (1886) niên hiệu Quang Tự (光緒), thứ 3 (1663) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), v.v.
thích thị kê cổ lược
(釋氏稽古略) Gọi tắt: Kê cổ lược. Sử truyện, 4 quyển, do ngài Bảo châu Giác ngạn soạn vào năm Chí chính 14 (1354) đời Nguyên, được thu vào đại chính tạng tập 49. Sách này được soạn theo thể biên niên, ghi chép việc Phật giáo truyền vào Trung quốc và lịch sử phát triển qua các thời đại cho đến đời Tống. Quyển 1 ghi chép Quốc triều đồ và Thích ca văn Phật tông phái Tổ sư thụ thụ đồ lược của Ngũ tổ Hoằng nhẫn(Sơ đồ nói về sự truyền thừa của các vị Tổ sư thuộc tông phái Thích ca văn Phật do Ngũ tổ Hoằng nhẫn soạn), nói về Tam hoàng (Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng), Ngũ đế(Thái hiệu, Hoàng đế, Thần nông, Thiếu hiệu và Chuyên húc hoặc Phục hi, Thần nông, Hoàng đế, Đường nghiêu và Ngu thuấn) cho đến đời Tây Tấn và trình bày sử tích của đức Phật Thích ca và 28 vị Tổ Tây thiên. Quyển 2 ghi chép lịch sử Phật giáo từ đời Đông Tấn đến đời Tùy, gồm truyện kí của các ngài Đạo an, Cưu ma la thập, Phó đại sĩ, Đạt ma... Quyển 3 ghi chép lịch sử Phật giáo từ đời vua Cao tổ nhà Đường cho đến thời Ngũ đại(Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), trình bày về Từ ân giáo, Hiền thủ giáo, Mật giáo... Quyển 4 ghi chép lịch sử Phật giáo từ đời Tống thái tổ đến Nam Tống. Năm Sùng trinh 11 (1638), ngài Huyễn luân biên tập Thích giám kê cổ lược tục tập, 3 quyển, ghi chép lịch sử Phật giáo từ niên hiệu Chí nguyên năm đầu (1264) đời Nguyên đến năm Thiên khải thứ 7 (1627) đời Minh.
thích thị lục thiếp
(釋氏六帖) Cũng gọi Nghĩa sở lục thiếp. Tác phẩm, 24 quyển, do ngài Nghĩa sở đời Ngũ đại, phỏng theo Lục thiếp của Bạch cư dị mà biên soạn trong khoảng thời gian 10 năm từ năm Khai vận thứ 2 (945) đời Hậu Tấn đến niên hiệu Hiển đức năm đầu (954) đời Hậu Chu. Nội dung sách này thu chép, biên soạn về các việc liên quan đến Phật giáo (Thích thị), như Tam bảo Phật, Pháp, Tăng, các thần hộ pháp, vua tôi, cho đến chùa viện, điện tháp, chim muông, cây cỏ... tất cả đều có nêu điển cứ. Toàn sách chia làm 50 bộ,tổng cộng gồm 440 môn. Sau khi hoàn thành, sách được dâng lên triều đình, vua Thế tông nhà Hậu Chu ban sắc cho sử quán ban hành, đồng thời, ban cho ngài Nghĩa sở hiệu Minh Giáo Đại Sư.
thích thị mông cầu
(釋氏蒙求) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Linh tháo soạn vào đời Tống, được thu vàoVạn tục tạngtập 148. Soạngiảphỏng theo sách Mông cầu của Lí hàn đời Hậu Tấn, dùng thể văn vần, mỗi câu 4 chữ để ghi chép sự tích các bậc Cao tăng Phật giáo từ đời Hán, Ngụy về sau đểdễghi nhớ. Quyển thượng gồm 118 câu, từ Ma đằng vào Hán, Tăng hội đến Ngô, Tuệ tắc hũ đá, Bảo ý bình đồng... trở xuống; quyển hạ gồm 96 câu, từ Lâm hựu hội giao, Khả dục nhìn vách, Pháp khai thuốc hay, Đàm thiên giỏi Dịch... về sau. Cuối quyển có phụ lời bạt nói về chỉ thú của sách, mục đích để khuyên nhủ hàng hậu tiến trẻ kế thừa hành tích của Thánh hiền.
thích thị nghi niên lục
(釋氏疑年錄) Niên phổ, 12 quyển, do ông Trần viên (Tân hội) soạn vào năm Dân quốc 27 (1938). Nội dung sách ghi chép năm sinh, năm mất hoặc niên đại gần đúng của 2800 vị tăng từ đời Lưỡng Tấn(Tây Tấn và Đông Tấn) cho đến đầu đời Thanh. Nếu có nhiều vị tăng cùng tên thì ở trước tên các vị ấy có thêm tên đất, tên chùa để phân biệt. Nếu vị tăng nào có biệt hiệu, hoặc đặt trước tên, hoặc đặt sau tên thì trong sách này đều được đặt ở trước tên để tiện việc tra cứu. Năm sinh thì dùng năm tháng Tây lịch; phần thông kiểm thì đều dùng chữ cuốicủatên vị tăng làm số nét để giảm thiểu phiền phức và mất thì giờ trong việc tra tìm, đó đều là những đặc sắc của sách này. Ngoài ra, sách này còn dẫn cứ có tới hơn 700 loại sách vở, trong đó bao gồm từ 2 đến 3 trăm tư liệu thuộc ngữ lục; sự sưu tập rất rộng rãi, phong phú, khảo đính thận trọng, nghiêm cẩn. Trong các loại Nghi niên lục từ Tiền đại hân đến nay, tương truyền đây là tác phẩm hay nhất. Năm Dân quốc 66 (1977), sách này được Đỉnh văn thư cục ảnh ấn ở Đài Bắc tái bản.
thích thị thông giám
(釋氏通鑒) Gọi đủ: Lịch đại biên niên thích thị thông giám. Sử truyện, 12 quyển, do ngài Bản giác soạn vào đời Tống, được thu vàoVạn tục tạng tập 131. Đây là bộ thông sử của Phật giáo được soạn theo thể biên niên, ghi chép các sự kiện lịch sử của Phật giáo trong khoảng thời gian từ năm 26 (1027 trước Tây lịch) đời vua Chiêu vương nhà Chu, đến niên hiệu Kiến long năm đầu (960) đời vua Thái tổ nhà Tống gồm hơn 1900 năm. Vào năm Hàm thuần thứ 6 (1270) đời Nam Tống, ông Tiến phúc Dụng thố có viết lời tựa và vào năm Thiên khải thứ 6 (1626) đời Minh, các ông Tất hi chí, Tất để khang cũng soạn bài tựa cho sách này.
thích thị yếu lãm
(釋氏要覽) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Đạo thành biên soạnvào năm Thiên hỉ thứ 3 (1019) đời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung sách này thu chép các từ ngữ về các khái niệm cơ bản của Phật giáo, về các nghi tắc, pháp qui tự viện, về chế độ tăng quan... rồi trích dẫn nội, ngoại điển để giải thích. Toàn sách gồm 27 thiên, chia làm 679 mục. Quyển thượng gồm 9 thiên: Tính thị(họ), Xưng vị(tên gọi), Cư xứ(chỗ ở), Xuất gia, Sư tư(thầy trò), Thế phát(cạo tóc), Pháp y(áo pháp), Giới pháp và Trung thực(ăn đúng giờ Ngọ). Quyển trung gồm 9 thiên: Lễ số, Đạo cụ, Chế thính (cấm chỉ và cho phép), Úy thận(sợ hãi và thận trọng), Cần giải(Siêng năng và biếng nhác), Tam bảo, Tư hiếu(nghĩ về đạo hiếu), Giới thú(đi tới các cõi) và học tập. Quyển hạ gồm 9 thiên: Thuyết thính(nói và nghe), Tháo tĩnh (động và tĩnh), Tránh nhẫn (tranh cãi và nín nhịn), Nhập chúng(hòa nhập chúng tăng), Trạch hữu(chọn bạn), Trụ trì, Tạp kí(ghi vặt), Chiêm bệnh(xem bệnh) và Tống chung(đưa ma). Sách này là tư liệu tham khảo rất quí cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo.
thích tàn bạo
To be fond of cruelty.
thích tâm
(刺心) Tâm gai nhọn. Chỉ cho tâm hối tiếc sau khi làm việc thiện và tâm sợ hãi sau khi phạm tội ác, là vọng tâm thứ 40 trong 60 vọng tâm nói trong kinh Đại nhật, giống như cảm giác ghê rợn khi đến gần đống gai ngọn nên gọi là Thích tâm. Cách đối trị tâm này là chân thành sám hối các tội ác đã tạo và tiếp tục làm các điều thiện để nuôi dưỡng tâm vui mừng.
thích tông
(釋宗) Tông chỉ được thành lập do y cứ vào văn giải thích của các bậc Thầy, như tông Thiên thai y cứ vào Tam đại bộ, Ngũ tiểu bộ của Đại sư Trí khải và những trứ tác của các ngài Kinh khê Trạm nhiên, Tứ minh Tri lễ... mà lập tông chỉ, gọi là Thích tông. Cũng giống như các tông Hoa nghiêm, Chân ngôn, Tịnh độ... y cứ vào các kinh mà lập tông chỉ, gọi là Kinh tông; còn các tông như Câu xá, Thành thực, Tam luận... y cứ vào luận mà lập tông chỉ thì gọi là Luận tông.
thích tú phật tượng
(剌綉佛像) Chỉ cho tượng Phật được thêu trên lụa. Giới Phật giáo Nhật bản gọi hình tượng Phật, Bồ tát thêu trên lụa là Tú Phật, hoặc Phùng Phật. Nghệ thuật thêu tượng đã phát triển từ đời xưa ở Ấn độ và Trung quốc, sau được truyền vào Nhật bản đồng thời với Phật giáo. Hiện nay, chùa Cựu khuyến tu ở Nhật bản có cất giữ bức tranh Thích Ca Như Lai Thuyết Pháp được tạo vào thời đại Bình an, có người ngờ rằng đây là bức tranh thêu có xuất xứ từ đời Đường, Trung quốc.
thích tạng
The tripitaka—The Buddhist scriptures—The Sakya thesaurus.
; (釋藏) Chỉ cho 3 tạng Kinh, Luật, Luận của Thích giáo.
Thích tử
(釋子): Thích (釋) là từ gọi tắt của Thích Ca (s: Śākya, 釋迦), đệ tử xuất gia của đức Phật được gọi là Thích tử. Từ này còn dùng để chỉ cho giáo đồ Phật Giáo sau khi đức Phật diệt độ; còn gọi là Thích chủng tử (釋種子), Thích Ca tử (釋迦子). Như trong Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 36 giải thích rằng: “Ư ngã pháp trung, tứ chủng tánh Sát Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, dĩ tín kiên cố, tùng gia xả gia học đạo, diệt bổn danh, giai xưng vi Sa Môn Thích tử (於我法中、四種姓剎利、婆羅門、毘舍、首陀、以信堅固、從家捨家學道、滅本名、皆稱爲沙門釋子, trong pháp của ta, bốn dòng họ là Sát Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, lấy niềm tin kiên cố, từ nhà bỏ nhà học đạo, bỏ hẳn tên mình, đều gọi là Sa Môn, đệ tử dòng họ Thích).” Cho nên, Thích tử và Phật tử đồng nghĩa với nhau. Trong Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, Taishō Vol. 2, No. 99) quyển 18 có đoạn: “Nhược dục vi phước giả, ưng ư Sa Môn Thích tử sở tác phước (若欲爲福者、應於沙門釋子所作福, nếu người nào muốn làm phước, nên làm phước nơi Sa Môn Thích tử).” Hay trong bài thơ Ký Kiểu Nhiên Thượng Nhân (寄皎然上人) của Vi Ứng Vật (韋應物, 737-792) nhà Đường lại có đoạn: “Ngô Hưng lão Thích tử, dã tuyết cái tinh lô, thi danh đồ tự chấn, đạo tâm trường yến như (吳興老釋子、野雪蓋精廬、詩名徒自振、道心長晏如, Ngô Hưng lão Thích tử, tuyết phủ mái chùa sơ, thơ hay tự chấn động, đạo tâm sáng như xưa).” Hoặc trong Phật Thuyết Mục Liên Ngũ Bách Vấn Kinh Lược Giải (佛說目連五百問經略解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 44, No. 750) quyển Hạ, Phẩm Tam Y Sự (三衣事品) thứ 11, cũng có đoạn: “Tất đương thế trừ tu phát, phi trước Ca Sa, viên đảnh phương bào, danh vi Thích tử Tỳ Kheo (必當剃除鬚髮、披著袈裟、圓頂方袍、名爲釋子比丘, tất phải cắt bỏ râu tóc, mang áo Cà Sa, đầu tròn áo vuông, gọi là Thích tử Tỳ Kheo).”
; Phật vốn dòng họ Thích-ca nên đệ tử Phật về sau đều lấy tên trong đạo theo họ Thích, gọi là Thích tử. Vì thế Thích tử có nghĩa là đệ tử Phật.
thích tử
Śākyaputta (S), Son of the Sakyan.
; Sàkyaputrìya (S). Sons of Sàkyamuni, i.e. his disciples in general.
; Sakyaputriya (skt)—Con Phật, chỉ một vị Tăng, học và thực hành giáo lý nhà Phật—Buddha's son—Monk—A person who understands and practice deeply the philosophy (teaching) of Buddhism.
; (釋子) Cũng gọi Thích chủng tử, Thích ca tử. Chỉ cho các đệ tử xuất gia của đức Thích tôn, hoặc chỉ chung cho tín đồ Phật giáo từ sau khi đức Thích tôn nhập diệt. Luật Tứ phần quyển 36 (Kiền độ Già thuyết giới thứ 9 trong Tiểu phẩm Luật tạng Pàli) (Đại 22, 824 hạ) nói: Ở trong giáo pháp của ta, có 4 chủng tính Sát lợi, Bà la môn, Tì xá, Thủ đà, nếu lòng tin vững chắc, xuất gia học đạo, từ bỏ tên cũ thì đều gọi là Sa môn Thích tử. Duy ma nghĩa kí quyển 2, phần cuối của ngài Tuệ viễn đời Tùy cũng nói (Đại 38, 465 hạ): Người nữ hoặc cấu, nên gọi là phi pháp khí; tỉ khưu dứt ác, nên gọiSa môn; từ Phật Thích tôn giáo hóa mà sinh ra, cho nên gọi là Thích tử
thích ý
Agreeable—Satisfied—Content—Pleased.
thích ý hoa
Xem Mạn đà la hoa.
thích ăn ngon
To be fond of good food.
thích điển
The scriptures of Buddhism.
; Kinh điển Thích Giáo—The scriptures of Buddhism.
; (釋典) Những lời thuyết pháp của đức Thích tôn được kết tập lại thành kinh, do đó, đời sau mới gọi chung các kinh sách của Phật giáo là Thích điển.
thích đáng
Appropriate—Suitable.
thích đạo thái
Tao T'ai (C)Tên một vị Sa môn Trung quốc hồi thế kỷ 5.
thích đảo
Đá lộn nhào—To kick over.
thích đầu nhập giao bồn
(刺頭入膠盆) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rơi vào bồn chứa keo toàn thân bị dính chặt, ví dụ người bị văn tự ngôn ngữ trói buộc(vì chấp trước) không thoát ra được. Nếu người học cho rằng văn tự mà mình thấy, ngôn giáo mà mình nghe chính là Phật pháp cùng tột, rồi miệt mài trong đó, tư duy, ngâm vịnh, đến nỗi bị trói buộc, rốt cuộc không thể buông bỏ để cầu chứng ngộ; giống như người bị vấp, ngã vào bồn đựng keo, chân tay bị dính chặt, không cách nào gỡ ra được.
thích đế
Sakra or Indra (skt)—Đế vương của ba mươi ba tầng trời—Lord of the thrity three Heavens.
thích đế hoàn nhơn
Xem Đế thích.
Thích Đề Hoàn Nhân
(s: Śakra Devānāmindra, 釋提桓因): Thích Đề Hoàn Nhân (釋提桓因), còn gọi là Đế Thích Thiên (s: Indra, p: Inda, 帝釋天, Trời Đế Thích), Năng Thiên Chủ (能天主), Thiên Chủ Đế Thích (天主帝釋), Thiên Đế Thích (天帝釋), Thiên Đế (天帝), Đao Lợi Thiên Vương (忉利天王); âm dịch là Thích Ca Đề Hoàn Nhân Đà La (釋迦提桓因陀羅); còn có các tên gọi khác như Nhân Đà La (因陀羅), Kiều Thi Ca (憍尸迦), Ta Bà Bà (娑婆婆), Thiên Nhãn (千眼), v.v. Nguyên lai, Ngài là vị thần của Ấn Độ Giáo, thời cổ đại Ấn Độ gọi là Nhân Đà La. Vì được thần cách hóa như là ánh sáng chớp của sấm sét, dưới thời đại Veda, vị này được xem như là có sức mạnh nhất trong các vị thần, thường hay đánh nhau với ác thần A Tu La. Người Trung Quốc thường gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝). Theo các kinh luận cho biết, xưa kia vị này là người dòng dõi Bà La Môn ở nước Ma Già Đà (摩伽陀), nhờ có phước đức tu tập hạnh Bố Thí, được sanh lên cung trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利), làm Thiên chủ của 33 cõi trời. Trời Đế Thích trú tại Thành Thiện Kiến (善見城), cung điện tối cao của cõi Trời Ba Mươi Ba, nơi có ngọn Tu Di Sơn (須彌山) cao nhất trên mặt đất, và cai trị địa giới. Cùng với Phạm Thiên, vị trời này được xem như là vị thần bảo vệ của Phật Giáo. Hai bên Trời Đế Thích có 10 vị Thiên tử hầu hạ thường xuyên. Về cõi Trời Ba Mươi Ba, do vì trước kia vị trời này đã cùng với 32 người khác tu tập thiện nghiệp tại nước Ma Kiệt Đà. Tương truyền xưa kia, sau khi đức Phật Ca Diếp qua đời, có một người nữ phát tâm tu sửa tháp của Ngài, rồi lại có thêm 32 người khác trợ lực. Tất cả sau khi qua xả bỏ báo thân này thì cùng được sanh cõi Trời Đao Lợi. Do đó, chung quanh cõi Trời này có 32 cung điện của 32 người kia; còn ở giữa là Đế Thích, tổng cọng là 33. Ngài có 3 vị phu nhân tên Viên Sanh (園生), Thiện Pháp (善法), Xá Chi (赦支). Tại phía Đông Bắc của cung điện Trời Đế Thích có cây Viên Sanh; phía Tây Nam có Thiện Pháp Đường (善法堂). Trời Đế Thích thường tập trung chư Thiên thuyết pháp tại đây. Nếu Trời Đế Thích đi nữa, chư Thiên vẫn cung kính chỗ ngồi của Ngài, xem như Ngài có mặt. Tuổi thọ của Ngài rất dài, một ngày một đêm trên cõi Trời ấy bằng 100 năm dưới cõi người, tính 36.000 năm của con người làm 1 tuổi của Ngài. Mỗi nữa tháng vào các ngày trai giới, Trời Đế Thích thường hạ lịnh Tứ Thiên Vương, Thái Tử, Thị Giả, v.v., thám sát thiên hạ vạn dân, xem thử thiện ác, tà chánh thế nào. Nếu nghe chúng sanh nhiều việc ác, không hiếu thuận cha mẹ, không kính trọng thầy tổ, không bố thí cho người nghèo khốn, tức làm cho chư Thiên buồn phiền, giảm tổn đi, và làm cho chúng A Tu La tăng trưởng. Và ngược lại, nếu nghe chúng sanh làm các việc thiện nhiều, hiếu thuận cha mẹ, tôn kính thầy tổ, siêng năng tu tập trai giới, bố thí cho người nghè khốn, nhờ vậy chư thiên vô cùng hoan hỷ, số lượng tăng thêm; và chúng A Tu La giảm xuống. Sau khi đức Phật thành đạo, Trời Đế Thích trở thành thần thủ hộ cho Ngài. Khi đức Phật lên cung Trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẫu thân, Trời Đế Thích tạo thành bậc cấp bằng 7 thứ báu, đích thân Ngài cầm lọng báu che đức Phật đi từ trên xuống. Sau đó, Trời Đế Thích cung thỉnh Phật thuyết pháp trong cung điện. Ngài từng hóa hiện ra nhiều thân hình để hóa độ, khuyên răn mọi người làm lành tránh dữ, bố thí, cúng dường. Ngài tuy là vua của tất cả chư Thiên, thống lãnh muôn loài, như từ tâm vô lượng. Tương truyền có một con quỷ Dạ Xoa thân hình rất nhỏ, nhan sắc đen thùi, xấu xí, hung ác, ngồi trên ngai của Trời Đế Thích. Thấy vậy chư Thiên tức giận, muốn đánh đuổi con quỷ ấy đi. Trời Đế Thích bảo rằng: “Vị này tên là Trợ Sân Quỷ (助瞋鬼, quỷ giúp cho sân hận).” Bèn trịch áo, bày vai bên phải, tay cầm lò hương thưa với quỷ Dạ Xoa rằng: “Thưa đại tiên, tôi là Trời Đế Thích đây.” Thưa như vậy ba lần. Nghe xong, thân hình quỷ Dạ Xoa biến nhỏ dần và tiêu mất. Cho nên, dù làm vua cõi Trời đi nữa, nhưng Trời Đế Thích cũng không bao giờ làm tổn thương muôn vật, lấy đức từ để hóa độ chúng sanh. Về hình tượng, vị này thường thể hiện hình trời người, cỡi voi trắng, tay phải cầm cây chày báu Tam Cô, hay cây Chày Kim Cang; tay trái đặt trên bắp vế.
thích đề hoàn nhân
Xem Đế Thích thiênXem Thích Ca Đề hoàn Nhân đà la.
; Sakro-devànàmindra (S). Sakra the Indra of the devas, the sky-god, the god of the nature-gods, ruler of the thirty tree heavens, a deva protector of Buddhism.
thích đề hoàn nhân vấn kinh
Xem Kinh Đế thích Sở vấn.
thích đề hoàn nhơn
Sakro-devanamindra or Indra (skt)—Trời Đế Thích, cai trị cõi trời ba mươi ba tầng, được Phật tử coi như thấp hơn Phật, nhưng lại là một vị thiên long hộ pháp—Sakra the Indra of the devas, the sky-god. The god of the nature-gods, ruler of the thirty-three heavens, considered by Buddhists as inferior to the Buddhist saint, but as a deva-protector of Buddhism.
thích địa thành trăn
(刺地成榛) Cắm gậy xuống đất thành rừng cây trăn. Theo Cao tăng Pháp hiển truyện thì vào khoảng thế kỉ IV, cách tinh xá Kì hoàn ở Thiên trúc về phía tây bắc khoảng 3 km có một khu rừng cây trăn gọi là Đắc nhãn mộc(cây được mắt sáng). Duyên khởi khu rừng này là: Lúc đức Phật còn tại thế, có 500 người mù ở nhờ trong tinh xá, đức Phật nói pháp cho họ nghe, nhờ đó mắt họ được sáng trở lại, tất cả đều vui mừng và đem những cây gậy mà họ vẫn thường dùng cắmxuống đất, rồi đính lễ đức Phật. Về sau, những cây gậy ấy dần dần mọc lan ra và trở thành khu rừng cây trăn cao lớn, um tùm, người đời không ai dám chặt. Chư tăng trong tinh xá Kì hoàn, sau khi thụ trai thường vào khu rừng này để tọa thiền.
thích ờ trên trời
Gaganapriya (S), Fond of the sky.
thích ứng
Adaptability—Appropriate—The adaptability of body, mental factors and consciousness.
thích ứng với mọi người
To get along with people.
Thích-ca
釋迦; S: śākya; P: sakka; |Dòng dõi quý tộc, gốc của vị Phật lịch sử Tất-đạt-đa. Dòng Thích-ca là dòng cai trị một trong 16 vương quốc của Ấn Ðộ thời bấy giờ, ngày nay thuộc miền Nam Nepāl. Kinh đô thời đó là Ca-tì-la-vệ (s: kapilavastu), là nơi đức Phật sinh ra và trưởng thành. Vua cha của Phật là Tịnh Phạn (s, p: sud-dhodana), trị vì tiểu vương Thích-ca.|Thời bấy giờ, tiểu vương dòng Thích-ca có một hội đồng trưởng lão tham gia quốc sự, nhưng tiểu vương này bị phụ thuộc vào nước Kiêu-tát-la (s: kośala). Ngay trong thời đức Phật còn tại thế, tiểu vương Thích-ca bị một quốc vương của Kiêu-tát-la đem quân xâm chiếm và tiêu diệt gần hết. Sau khi Phật thành đạo và trở lại Ca-tì-la-vệ giảng dạy, nhiều vị trong dòng dõi Thích-ca xin gia nhập Tăng-già. Tại đó, người thợ cạo Ưu-bà-li (upāli) xin gia nhập, trở thành tăng sĩ trước và vì vậy được xem cao quý hơn các vị lĩnh đạo trong hoàng gia gia nhập sau.
Thích-ca Mâu-ni
釋迦牟尼; S: śākyamuni; P: sakkamuni; dịch nghĩa là »Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca« (Mâu-ni);|Một tên khác của Tất-đạt-đa Cồ-đàm (s: siddhārtha gautama) là người sáng lập Phật giáo. Tất-đạt-đa mang tên này sau khi Ngài từ bỏ các vị thầy và tự mình tìm đường giải thoát. Danh hiệu »Thích-ca Mâu-ni« thường được dùng để chỉ vị Phật lịch sử đã từng sống trên trái đất này, nhằm phân biệt với các vị Phật khác.||H 64: Thích-ca Mâu-ni, Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca
Thích-ma-nam
Một trong năm vị tỳ-kheo thuộc nhóm ông Kiều-trần-như, quy y trước nhất với Phật tại Lộc Uyển, gần thành Ba-la-nại. Vị này trước vốn là vương tử dòng họ Thích, con người chú ruột của thái tử Tất-đạt-đa.
Thích-đề-hoàn-nhân
phiên âm từ Phạn ngữ là Śakrodevnm Indrah, gọi đủ là Thích-ca Đề-hoàn Nhân-đà-la, là tên gọi của vị Thiên Đế-thích, tức vị vua ở cõi trời Đao-lợi, còn gọi là cõi trời Ba mươi ba (Tam thập tam thiên), thuộc Dục giới.
thính
To hear, listen, hearken; listen to, obey.
; 1) Powdered grilled rice. 2) Keen—Sharp—Acute(of smelling or hearing). 3) Nghe: To hear—To listen.
thính chúng
(聽衆) Đại chúng nghe thuyết pháp. Theo Pháp hoa văn cú quyển 2 hạ thì trong hội thuyết pháp của đức Phật, thính chúng được chia làm 4 loại là Phát khởi chúng, Đương cơ chúng,Ảnh hưởng chúng và Kết duyên chúng. Còn về loại người nghe pháp, theo luận Trí độ quyển 100 thì chia làm 2 loại: 1. Chỉ nghe chứ không tin nhận làm theo.2. Nghe và tin nhận làm theo. Lại theo Thích thị yếu lãm quyển 1 thì Thính có thể phân biệt làm 3 phẩm: 1. Thần thính: Nghe bằngthần. 2. Tâm thính: Nghe bằng tâm. 3. Nhĩ thính: Nghe bằng tai. (xt. Tứ Chúng).
thính giác
Sāvaka-kicca (P), Function of hearing.
thính giáo
Those who hear the Buddha's doctrine; those who obey.
; Nghe và phụng hành Phật pháp—To hear the Buddha's doctrine—Those who hear and obey the Buddha's doctrine.
; (聽教) I. Thính Giáo. Nghe giáo pháp. II. Thính Giáo. Đối lại: Chế giáo. Luật sư Đạo tuyên y cứ vào tạng Luật mà lập ra thuyết Chế giáo và Thính giáo, cho rằng pháp do đức Phật theo lí mà chế định, gọi là Chế giáo; còn pháp tùy nhân duyên, phong tục mà cho phép thì gọi là Thính giáo. Như 4 giới trọng cấm là thuộc về Chế giáo, 12 pháp đầu đà thì thuộc về Thính giáo. Chỉ giữ 3 áo là Chế giáo, ngoài 3 áo được cất giữ áo khác là Thính giáo. (xt. Chế Thính Nhị Giáo). III. Thính Giáo. Trong Thiền tông Trung quốc, mỗi đêm, sau giờ tọa thiền, trước khi đi ngủ, chúng tăng được phép tùy ý đàm luận tại các liêu xá, gọi là Thính giáo. [X.môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thính giả
Listener—Auditor.
thính hơi
To have a good nose for smelling or finding things out.
thính khiếu
(聽叫) Cũng gọi Thính hô. Chỉ cho chức vị hầu cạnh vị Trụ trì, nghe lời gọi, làm theo sự sai bảo và truyền đạt mệnh lệnh của vị Trụ trì đến các liêu phòng. [X.điều Bản trướng thức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thính kinh
To hear the recitation of the scripture.
thính kinh lâu
(聽經樓) Lầu nghe kinh, do vua Thành tổ nhà Minh xây dựng. Sau cuộc biến loạn Tĩnh nan, vua Thành tổ dạy dân hướng thiện bằng cách xây dựng Thính kinh lâu ở các ngã tư đại lộ trong đô thành, hằng đêm, thỉnh các vị tăng lên lầu tụng kinh giảng nghĩa, dân chúng trải chiếu dưới đất ngồi nghe. Nhưng sau khi dời đô về Bắc kinh thì việc này dần dần bị phế bỏ, cáckinh lâu đổ nát, chỉ còn 1lầu ở Bắc môn kiều và 1 ở gần Thập miếu. Đầu năm Gia tĩnh đời vua Thế tông, chúng tăng trùng tu lại, nhưng người đương thời không biết đó là nền cũ của Thính kinh lâu.[X. Nhân hải kí; Bích lí tạp tồn Q.thượng (Đổng cốc).
thính pháp ngũ bất tác di ý
(聽法五不作异意) Khi nghe pháp không nên khởi 5 ý khác. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 44 thì các Bồ tát khi muốn nghe pháp, đối với vị pháp sư thuyết pháp, không nên sinh ra 5 thứ ý nghĩ khác, mà nên lắng tai nghe với tâm thuần tịnh. Còn nếu sinh tâm khinh thường đối với vị pháp sư, không muốn nghe chính pháp do vị ấy nói thì chắc chắn sẽ mất trí tuệ thù thắng. Năm thứ ý khác ấy là: 1. Ư hoại giới bất tác dị ý: Không được khởi ý niệm so lường sự phá giới phạm luật của vị pháp sư thuyết pháp. 2. Ư hoại tộc bất tác dị ý: Không được có ý niệm khác so lường đối với dòng họ thấp hèn của vị pháp sư thuyết pháp. 3. Ư hoại sắc bất tácdị ý: Không được khởi ý niệm so lường dung mạo xấu xí của vị pháp sư thuyết pháp. 4. Ư hoại văn bất tác dị ý: Không được khởi ý niệm so đo về văn từ thiếu trau chuốt của vị pháp sư nói pháp. 5. Ư hoại mĩ bất tác dị ý: Không được khởi ý niệm so đo về lời nói quê mùa, thô kệch của vị pháp sư, chê là lời thuyết pháp không bóng bảy, đẹp đẽ.
thính quan
Auditory organ—Organ of hearing.
thính tai
To have a keen sense of hearing—To be quick of hearing.
thính thị
Audio-visual.
Thính thọ 聽受
[ja] チョウジュ chōju ||| To listen and receive (the Buddha's teaching). To listen and believe (śraddhāsyanti); to listen well. => Lắng nghe và tiếp nhận (lời Phật dạy). Lắng nghe và tin tưởng (s: śraddhāsyanti); nghe rõ.
thính văn
Nghe và phụng hành—To hear and to obey.
Thính 聽
[ja] チョウ chō ||| (1) To listen very well; to listen intently or carefully. To hear, to listen; to understand. (2) To comply with, to allow, to let. (3) To acknowledge, to await. => 1. Lắng nghe kỹ lưỡng; lắng nghe chăm chú. Nghe, lắng nghe, hiểu. 2. Đồng ý làm theo; để cho; 3. Thừa nhận; dành cho.
thò
To put (stretch) out.
thòng
To drop a rope.
thòng lọng
Runing-knot—Slip-knot—Noose.
thóa mạ
To revile and to spit into someone's face
thóc
Maize—Millet.
thóc gạo
Paddy and rice.
thóc tán
Giống như hạt kê nát—Like scattered millet.
thóc tán vương
Vua cai trị xứ Tán Thóc—Scattered kings, or rulers who own allegiance to a supreme sovereign, as Scattered country means their territories.
thói
Manner—Habit.
thói quen
Habit.
thói xấu
Vice—Bad habit.
thói đời
Ways of the world.
thô
Sthàla (S). Coarse, rough, crude, unrefined, immature.
; Sthula (skt)—Coarse—Rude—Rough—Crude—Unrefined—Immature.
thô bạo
Unmannerly—Rude.
thô bỉ
Rustic—Boorish.
thô kệch
Rustic.
thô lỗ
Parusāvācā (S), Evil words Pharusāvācā (P)Cục cằn.
thô ngôn
Coarse, crude, rough, immature words or talk.
; 1) Lời nói thô ác—Coarse, rude, rough, immature words or talk—Evil words—Rough outline, preliminary words. 2) Thô Tế Nhị Thừa—Immature and Mature yanas: a) Immature Yana: Tiểu Thừa—Hinayana. b) Mature Yana: Đại Thừa—Mahayana.
; (粗言) Cũng gọi Thô ngữ. Lời nói thô ác, hoặc chỉ cho giáo thuyết thô thiển. Trong phán giáo xưa nay có 2 thuyết là Đại thừa giáo và Tiểu thừa giáo, trong đó, Tiểu thừa giáo được gọi là Thô ngôn. Hoặc chia làm hai môn là Khuyến (thiện) môn và Giới (ác) môn khác nhau. Trong đó, giáo pháp của Giới môn cũng gọi là Thô ngôn. Phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc)quyển 20 (Đại 12, 485 thượng) nói: Thô ngữ và nhuyến ngữ đều qui về đệ nhất nghĩa, vì thế con nay qui y đức Thế tôn. [X. phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc)]. (xt. Đầu Tử Nhất Thiết Phật Thanh).
thô ngữ
Coarse language.
; See Thô Ngôn.
thô nhân
The immature man of Hìnayàna, who has a rough foundation, in contrast with the mature or refined tế nhân man of Mahàyàna. Thiên Thai Tông applied thô to the Tạng, Thông, Biệt schools, reseving tế for the Viên school.
; 1) Hành nhân Tiểu thừa là thô nhân, hành giả Đại thừa là tế nhân—The immature man of Hinayana, who has a rough foundation, in contrast with the mature or refined man of the Mahayana. 2) Nhị Giáo Thiên Thai—Four schools of the T'ien-T'ai: a) Thô Giáo—Immature schools: • Tạng Giáo: Tripitaka Teaching. • Thông Giáo: Interrelated teaching. • Biệt Giáo: Differentiated Teaching. b) Tế Giáo—Mature schools: • Biệt Giáo: Complete or Final Teaching.
; (粗人) Chỉ cho hành giả Tiểu thừa; trái lại, hành giả Đại thừa gọi là Tế nhân. Luận Đại trí độ quyển 39 (Đại 25, 345 hạ)nói:Trong pháp Thanh văn, 10 điều bất thiện là tội nghiệp, trong Ma ha diễn thấy những việc do thân, khẩu, ý tạo tác là tội. Vì sao vậy? Vì có tạo tác, có trông thấy đều là hư dối. Thô nhân thì tội thô, Tế nhân thì tội tế. Giáo phán của tông Thiên thai dựa theo đây mà có thuyết Thô nhân. Tức 3 giáo Tạng, Thông, Biệt trong 4 giáo là Thô nhân, còn Viên giáo là Tế nhân. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 1 (Đại 33, 820 thượng) nói: Tế nhân, Thô nhân cả 2 đều phạm lỗi, nếu đứng về phương diện lỗimà nóithì cả 2 đều gọi là Thô nhân.
thô thiển
Gross—Awkwark and superficial.
thô tướng
The six grosser or cruder form of enlightenment or ignorance mentioned in the Khởi tín luận in contrast with its three finer forms.
; Theo khởi Tín Luận đây là sáu thô tướng vô minh (chưa giác ngộ)—The six grosser or cruder forms of unenlightenment or ignorance mentioned in the sastra on the Prajna Sutra.
thô tướng phật
Rudimentary aspect of the Buddha.
thô tục
Ill-mannered—Coarse.
thô xan dị bão tế tước nan cơ
(粗餐易飽細嚼難饑) Cũng gọi Thô thực dị bão tế tước nan cơ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nuốt trửng mau no, nhai kĩ lâu đói. Nghĩa là nuốt trửng thức ăn thì tuy chóng no bụng nhưng không dễ hấp thụ; còn từ từ nhai kĩ thì lâu mới đói, hơn nữa lại được thưởng thức được vị ngon của thức ăn và bổ dưỡng thân thể. Trong Thiền lâm nhóm từ này được sử dụng để chuyển sang chỉ cho việc tu hành nếu bền bỉ và liên tục thì có khả năng thể ngộ, cuối cùng, chắc chắn sẽ đắc đạo. ĐiềuĐâu suất tam quan tắc 48 trong Vô môn quan (Đại 48, 298 hạ) nói: Nếu hạ được 3 chuyển ngữ này thì đến đâu cũng làm chủ, gặp duyên liền ngộ; nếu chưa được như thế thì nuốt trửng mau no, nhai kĩ lâu đói (thô xan dị bão, tế tước nan cơ).
thô ác ngữ
Coarse, evil, slanderous language
; Lời nói thô bỉ xấu ác phỉ báng người khác—Coarse, evil and slanderous language.
thô ác uyển
The rough and evil park, one of Indra's four parks, that of armaments and war.
; Vườn thô ác là một trong bốn vườn của Trời Đế Thích, khi nào muốn đánh nhau thì vào trong vườn nầy, muốn thứ vũ khí nào thì lập tức vũ khí ấy hiện ra—The rough and evil park, one of Indra's four parks, that of armaments and war.
; (粗惡苑) Phạm: Pàruwyaka. Cũng gọi Thô sáp viên. Một trong 4 khu vườn (vườn Chúng xa, vườn Thô ác, vườn Tạp lâm, vườn Hỉ lâm) của trời Đế thích. Cứ theo phẩm Đao lợi thiên cung trong kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Chính pháp niệm xứ quyển 25 và luận Câu xá quyển 11 thì tầng trời thứ 2 trong 6 tầng trời cõi Dục là trời Đao lợi(cũng gọi Tam thập tam thiên) ở trên đỉnh núi Tu di, do trời Đế thích thống lãnh. Trên đỉnh núi Tu di có Thiện kiến đường, ở 4 phía của Thiện kiến đường đều có vườn rừng, là nơi du ngoạn, vui chơi của chư thiên; Thô ác uyển chính là khu vườn ở phía đông của Thiện kiến đường. Khi chư thiên muốn đánh nhau thì vào vườn này và tùy theo nhu cầu của họ mà hiện ra các thứ binh khí như áo giáp, mũ trụ, dao, gậy... Luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 31 (Đại 29, 519 thượng) nói: Vườn Thô ác, lúc các trời muốn đánh nhau thì theo nhu cầu của họ, giáp, gậy...hiện ra. [X.luận Đại trí độ Q.8]. (xt. Tứ Uyển)
thôi
1) Ngừng: To cease—To stop—To recede from—To decline—To resign. 2) Thôi thúc: To push away.
thôi công quy bổn
Bỏ những công đức nhỏ để trở về với những điều căn bản—To put off minor merit for the sake of fundamentals.
Thôi dĩ cập nhân 推以及人
[ja] スイイゴンイン sui-igon'in ||| To extend (compassion, enlightenment) to others after achieving a viable degree of enlightenment for oneself. => Trải rộng (lòng từ, trí giác ) đến cho mọi người sau khi tự mình đạt được sự giác ngộ khả dĩ.
Thôi Hạo
(崔浩) Tể tướng nhà Bắc Ngụy, người Thanh hà (Sơn đông), tự Bá uyên. Ông theo cha là Thôi hoành học kinh sử, bách gia, lập chí thực hiện lí tưởng chính trị, xã hội của Nho gia.Năm Thái thường thứ 8 (423), vì hộ giá vua Thái tông và vua băng trên đường đi nên ông bị bãi chức. Về sau, ông kết giao với Đạo sĩ Khấu khiêm và cả 2 người đều được Thái vũ đế trọng dụng. Họ cùng nhau ra sức thuyết phục Thái vũ đế qui y đạo Thiên sư. Thôi hạo lại đi xa hơn nữa là xúi dục nhà vua hủy diệt Phật giáo. Do đó, vào năm Thái bình chân quân thứ 7 (446), Thái vũ đế hạ chiếu chỉ phá Phật. Sau, Thôi hạo biên soạn quốc sử, trong đó dùng các từ tỏ vẻ xem khinh bộ tộc họ Hồ, vua nổi giận, ra lệnh chém đầu!
thôi miên
Hypnotize.
thôi thúc
To urge—To press.
thôn thượng chuyên tinh
(村上專精) Học giả Phật giáo sử thuộc phái Đại cốc Tịnh độ chân tông Nhật bản, người huyện Binh khố, hiệu Bất trụ đạo nhân. Ông tốt nghiệp trường đào tạo giáo sư thuộc chùa Bản nguyện, lần lượt giảng dạy Phật học ở Đại học tông Tào động, Triết học quán(Đại học Đông dương), đồng thời sáng lập Phật giáo giảng thoại sở, phát hành các tạp chí Giảng diễn hội, Phật giáo giảng diễn tập... Năm Minh trị 27 (1892), ông lại ấn hành Phật giáo sử lâm, mở đường cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo. Năm Minh trị 29 (1894), vì phát biểu ý kiến của mình về vấn đề cải cách phái Đại cốc thuộc Chân tông nên ông bị tước bỏ học vị và giáo chức. Năm Minh trị 34 (1899), ông soạn luận Phật giáo thống nhất, chủ trương Đại thừa chẳng phải Phật nói, xúc phạm điều cấm kị của Bản sơn, nên ông tự động bỏ tăng tịch, nhưng sau lại phục hồi. Năm Minh trị 38 (1903), ông mở trường Cao đẳng Đông dương dành cho nữ sinh. Năm Đại chính thứ 6 (1917), ông làm Giáo sư dạy môn Triết học Ấn độ tại Đại học Đông kinh; năm Đại chính 15 (1926), ông làm Hiệu trưởng Đại học Đại cốc. Năm Chiêu hòa thứ 4 (1929), ông qua đời thọ 79 tuổi. Ông có các tác phẩm: Nhật bản Phật giáo sử cương, Phật giáo luận lí học, Chân tông toàn sử, Hòa Hán Phật giáo niên khế, Nhân minh học toàn thư, Phật giáo thống nhất luận bao gồm 5 bộ: Đại cương luận, Nguyên lí luận, Phật đà luận, Giáo hệ luận và Thực tiễn luận
thôn thượng thiên hoàng
(村上天皇) Vị thiên hoàng đời thứ 62 của Nhật bản, lên ngôi năm Thiên khánh thứ 9 (946) do Thiên hoàng Chu tước nhường ngôi. Niên hiệu Thiên lịch năm đầu (947), ông lễ ngàiĐịnh trợ thụ pháp Thân tâm ấn, truyền Đại quánTì lô, đồng thời ban sắc xây tháp 5 tầng và cổng Tây đại ở chùa Đề hồ hạ. Ông làm vua 21 năm. Vào năm Khang bảo thứ 4,Ông nhường ngôi rồi xuất gia, pháphúy là Giác trinh. Không bao lâu ông mất, hưởng dương 42 tuổi.
thôn thổ bất đắc
(吞吐不得) Cũng gọi Thôn thổ bất hạ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nuốt vào chẳng được, nhả ra không xong. Nhóm từ này được sử dụng để ví dụ hoàn cảnh khó khăn, khó xử, tiến thoái lưỡng nan, giống như người ngậm một vật trong miệng, nuốt đã chẳng vào, mà nhả cũng không ra, cực kì khó chịu, cũng ví dụ trong hoàn cảnh không thể nào đáp ứng được. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ việc tuy cho diệu dược của Phật pháp, nhưng nếu thiếu đạo tâm thì cũng khó tiêu thụ, xử trí được. Tắc 83, Thung dung lục (Đại 48, 280 hạ) nói: Thuốc hay từng qua miệng ra sao? (Nuốt chẳng vào, nhả không ra, thôn bất nhập, thổ bất xuất).
Thôn Điền Châu Quang
(村田珠光, Murata Shukō, 1422-1502): một trà nhân nổi tiếng sống giữa hai thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi) và Chiến Quốc (戰國, Sengoku), húy là Châu Quang, xuất thân vùng Nại Lương (奈良, Nara). Ban đầu ông là vị tăng của Xưng Danh Tự (稱名寺) vùng Nại Lương, nhưng vì ông rất say mê trong việc uống trà, nên đã bỏ chùa đi ngao du. Sau ông lên kinh đô, đến tham Thiền với Tông Thuần (宗純), khai sáng ra hình thức Trà Lễ của Thiền Viện, và hiểu được áo nghĩa của Trà Thiền Nhất Vị (Trà và Thiền cũng một vị), và tương truyền ông là người khai sáng ra Wabicha (侘茶). Ông từng giao du với những bậc thầy liên ca như Tâm Kính (心敬), Tông Kỳ (宗祇), và hình thành nên lý luận độc đáo của Wabicha (侘茶). Đệ tử ông có Tông Châu (宗珠), Thiệu Trích (紹滴), Tông Lý (宗理), v.v.
thông
Permeate, pass through, pervade; perceive; know thoroughly; communicate; current; free; without hindrance, unimpeded, universal, e.g. thần thông supernatural, ubiquitous powers. There are categories of ngũ thông, lục thông and thập thông, all referring to supernatural powers.
; (A) Nghĩa của “Thông”—The meanings: 1) Đi qua: To pass through—To pervade. 2) Hiểu rõ: To know thoroughly—Quick at hearing—Clever—Sharp—Wise. 3) Phổ thông: General—Universal. 4) Rõ ràng: Clear. 5) Thông suốt: To understand—To comprehend—To perceive. 6) Thông tin: To communicate. 7) Current. 8) Free. 9) Without hindrance—Unimpeded. (B) Các loại “Thông”—Categories: 1) Ngũ Thông: The five supernatural powers—See Ngũ Thần Thông and Ngũ Thông. 2) Lục Thông: The six supernatural powers—See Lục Thông. 3) Thập Thông: The ten supernatural powers—See Thập Thông.
Thông Biện
通辯; ?-1134|Thiền sư Việt Nam đời thứ 8 dòng Vô Ngôn Thông, đắc pháp nơi Thiền sư Viên Chiếu. Môn đệ lừng danh của Sư là Ðạo Huệ.|Sư họ Ngô, quê ở Ðan Phượng (Hà Ðông). Sư học với Thiền sư Viên Chiếu, thầm nhận được ý chỉ, về sau đến trụ tại Quốc Tự trong kinh đô Thăng Long, lấy hiệu là Trí Không.|Ngày rằm tháng hai năm 1096, Hoàng Thái hậu Phù Thánh Cảm Linh Nhân đến chùa thiết lễ trai tăng và hỏi ý nghĩa Phật pháp, hỏi về các dòng thiền. Sư trả lời uyên thâm, thông suốt. Thái hậu hoan hỉ ban hiệu là Thông Biện Ðại sư và bái phong làm Quốc sư. Nội dung trả lời của Sư rất được các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo sau này quan tâm, xem là thông tin quan trọng của thế kỉ thứ 12 về việc truyền thừa của đạo Phật tại Việt Nam. Sư được xem là một trong những tác giả của Thiền uyển tập anh, một quyển sách rất quan trọng của Thiền tông Việt Nam.|Nhờ sự giáo hoá của Sư, về sau Thái hậu cũng là người ngộ đạo. Lúc tuổi cao, Sư về trụ trì chùa Phổ Minh, thường dạy người kinh Pháp hoa, nên có có hiệu là Ngô Pháp Hoa. Ngày rằm tháng hai năm Giáp Dần (1134), đời Lí Thần Tông, Sư lâm bệnh rồi tịch.
thông biện
Thiền sư Thông Biện (?-1134)—Zen master Thông Biện—Thiền sư Việt Nam, quê ở Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Viên Chiếu, và là Pháp tử đời thứ tám dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài tới Thăng Long và trụ tại chùa Quốc Tự với tên Trí Không. Lúc về già, ngài trở về Từ Liêm và trụ tại chùa Phổ Minh thuyết pháp. Ngài thường khuyến tấn đệ tử tụng kinh Pháp Hoa. Hầu hết cuộc đời, ngài chấn hưng và hoằng hóa tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1134—A Vietnamese Zen master from North Vietnam. He was a disciple of Zen master Viên Chiếu. He became the Dharma heir of the eighth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he went to Thăng Long and stayed at Quốc Tự Temple with the name Trí Không. When he was old, he returned to Từ Liêm to stay at Phổ Minh Temple to preach Buddha Dharma. He always encouraged his disciples to recite the Lotus Sutra. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1134.
thông biệt
(通別) Cũng gọi Thông cục. Thông là cùng chung một nghĩa tướng; Biệt là mỗi mỗi khác nhau; còn Cục thì có nghĩa hạn cục ở một bộ phận nào đó. Từ ngữ Thông Biệt trước nay thường được dùng trong các nghĩa môn. Trong 5 thời giáo của mình, ngài Tuệ quán đời Lưu Tống lập các danh mục Tam thừa biệt giáo, Tam thừa thông giáo; trong Tam luận huyền nghĩa, ngài Cát tạng chia ra Thông luận, Biệt luận để phá trừ sự mê lầm của Đại thừa và Tiểu thừa; trong Duy ma kinh sớ quyển 21, ngài Trí khải chia 3 quán Không, Giả, Trung làm Thông tướng và Biệt tướng; trong luận Tịnh độ quyển thượng, ngài Ca tài chia nhân của sự vãng sinh làm Thông nhân, Biệt nhân; trong Phạm võng bồ tát giới quyển thượng, ngài Nghĩa tịch cũng chia pháp thụ giới làm Thông thụ và Biệt thụ. Ngoài ra, xưa nay còn có Thông tự biệt tự, Thông giải biệt giải... những ví dụ chứng minh còn nhiều, không thể kể hết. [X.luận Thập bát không; phẩm Tự thể tướng trong luận Phật tính Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần đầu].
thông biệt nhị tự
The general and specific introduction to a sùtra; như thị ngã văn being the thông tự general introduction in every sùtra.
; The general and specific introductions to a sutra. 1) Thông Tự: Chứng tín tự nói rộng ra tới cả các kinh khác hay lời tựa chung—General introduction. • Như Thị Ngã Văn: Thus Have I heard, being the general introduction in every sutra. 2) Biệt Tự: Phát Khởi Tự hay lời giới thiệu hạn hẹp trong một bộ kinh—Specific introduction.
thông báo
To inform—To advise—To warn.
thông cảm
To comprehend—To understand.
thông dung
(通容) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Phúc châu (tỉnh Phúc kiến), họ Hà, hiệu Phí ẩn. Thủa nhỏ, sư đã thông minh khác thường, năm 14 tuổi, sư xuất gia học thông kinh luận. Sư lần lượt tham yết các ngài Vô minh Tuệ kinh và Viên trừng. Năm Thiên khải thứ 2 (1622) sư tham yết ngài Mật vân Viên ngộ được ấn chứng và nối pháp của ngài. Về sau, sư lần lượt trụ Vạn phúc Thiền tự ở núi Hoàng bá, Liên phong viện, chùa Thiên ninh ở Chiết giang, chùa Siêu quả ở Giang tô, Phúc nghiêm thiền tự, Vạn thọ thiền tự, chùa Duy ma, viện Hưng phúc ở núi Nghiêu phong... Ở đâu sư cũng khôi phục lại các cảnh chùa xưa và truyền bá Thiền pháp của ngài Viên ngộ. Đệ tử nối pháp của sư có 64 vị như Ẩn nguyên Long kì...Năm Thuận trị 18 (1661) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 69 tuổi. Sư có các tác phẩm: Ngũ đăng nghiêm thống 25 quyển, Ngũ đăng nghiêm thống giải hoặc biên 1 quyển, Tổ đình kiềm chủy lục 2 quyển. [X. Kính sơn Phí ẩn hòa thượng kỉ niên lục; Tổ đình chỉ nam Q.hạ; Cao tăng trích yếu Q.1].
thông dâm
To commit adultery.
thông dạ
Tụng niệm suốt đêm—The whole night, i.e. to recite or intone throughout the night.
; (通夜) Đồng nghĩa: Triệt dạ, Chung dạ. Suốt đêm, thâu canh. Suốt đêm (từ lúc mặt trời lặn đến lúc mặt trời mọc) không ngủ. Có hai trường hợp: 1. Các chùa viện tổ chức pháp hội cầu nguyện, thuyết pháp suốt đêm. 2. Đêm trước ngày tiễn đưa người chết, bạn bè, thân thuộc ngồi bên cạnh linh cữu suốt đêm để an úy. [X.kinh Trường a hàm Q.2; môn Tiết thời trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thông dụng
In common or general use.
thông dự
(通豫) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Côn sơn, tỉnh Giang tô, họ Trần, cũng gọi Bản dự, tự Lâm cao, người đời gọi sư là Lâm cao Thông dự thiền sư. Năm 20 tuổi, sư lễ ngài Nghiêu phong Trạm xuyên cầu xuất gia, sau khi thụ giới Cụ túc, sư đi các nơi tham học, đắc pháp nơi ngài Thiên ẩn Viên tu ở Khánh sơn. Sau, sư ra trụ trì chùa Thạch tưu ở núi Chung sơn tại Kim lăng, sau đó dời đến trụ ở núi Bảo nham tại Vũ lâm, núi Nghiêu phong tại Cô tô;năm Sùng trinh 11 (1638), sư lại dời đến chùa Trúc lâm ở Giáp sơn tại Trấn giang, trùng tu các điện đường, mở rộng tông phong, mọi việc làm đều chân thực, đủ làm khuôn phép cho đồ chúng noi theo. Năm Thuận trị thứ 3 (1646) đời Thanh, sư tịch, thọ 59 tuổi. Sư có tác phẩm: Tông môn thành phạm 4 quyển và Ngữ lục.
thông gian
Adulterous—Adultery (n)—Adulterer.
Thông Giác Thuỷ Nguyệt
通覺水月; 1637-1704|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Tào Ðộng truyền sang miền Bắc, pháp hệ thứ 36. Sư nối pháp Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo và truyền lại cho đệ tử là Chân Dung Tông Diễn.|Sư họ Ðặng, quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng. Sư trước học Nho giáo nhưng không hài lòng. Năm 20 tuổi, Sư xuất gia cầu đạo, vân du khắp nơi nhưng không tìm được nơi khế hợp. Sau, Sư quyết chí sang Trung Quốc tu học.|Chuyến du học này gặp đầy trở ngại, một trong hai đệ tử đi theo lâm bệnh, mất giữa đường và khi đến núi Phụng Hoàng, Sư phải ở ngoài chờ ba tháng mới vào được cổng chùa yết kiến Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo.|Nhất Cú gặp Sư hỏi: »Trước khi cha mẹ sinh, trong ấy thế nào là Bản lai diện mục của ngươi?« Sư thưa: »Mặt trời sáng giữa hư không.« Nhất Cú bảo: »Ba mươi gậy, một gậy không tha«, và cho phép Sư nhập chúng.|Sáu năm trôi qua, một hôm, Nhất Cú gọi Sư vào Phương trượng hỏi: »Ðã Kiến tính chưa?« Sư lễ bái và trình kệ:|Viên minh thường tại thái hư trung|Cương bị mê vân vọng khởi long|Nhất đắc phong xuy vân tứ tán|Hằng sa thế giới chiếu quang thông.|*Sáng tròn thường ở giữa hư không|Bởi bị mây mê vọng khởi lồng|Một phen gió thổi mây tứ tán|Thế giới hà sa sáng chiếu thông.|Nhất Cú đưa tay điểm vào đầu Sư, ban hiệu là Thông Giác Ðạo Nam Thiền sư và nói kệ sau để truyền tông Tào Ðộng tại Việt Nam:|Tịnh trí thông tông, từ tính hải khoan|Giác đạo sinh quang, chính tâm mật hạnh|Nhân đức vi lương, huệ đăng phổ chiếu|Hoằng pháp vĩnh trường.|Nhất Cú căn dặn: »Ngươi về nên tinh tiến làm Phật sự, giảng thuyết đề cao chính pháp, không nên chần chờ để tâm theo vọng trần, trái lời Phật, Tổ dặn dò. Ngươi thành tâm đi muôn dặm đến đây nay ta cho một bài kệ để gắng tiến:|Quế nham suy phức tục truyền đăng|Thu nhập trường không quế bích đằng|Trì nhĩ viên lai khai bảo kính|Từ dư quy khứ thị kim thằng|Thuỵ thâm Phượng lĩnh thiên trùng tuyết|Cáp thụ An Nam nhất cá tăng|Dạ bán cẩm hà sơn hậu khởi|Hạo tòng thiên tế thức tăng hằng.|*Rừng quế gương xưa đền nối sáng|Thu về đâu đấy ngát mùi hương|Vì người xa đến treo gương báu|Từ biệt ta về chỉ đạo Thiền|Ai vào núi Phụng nghìn trùng tuyết|Dường có An Nam một vị tăng|Nửa đêm áo gấm ra sau núi|Như ở chân trời thấy mặt trăng«.|Từ biệt thầy, Sư cùng với đệ tử trở về Việt Nam. Về đến Việt Nam, Sư đi khắp các thắng cảnh như Yên Tử, Quỳnh Lâm và sau, Sư dừng chân tại Ðông Sơn ở huyện Ðông Triều, trụ tại chùa Hạ Long. Dân chúng xa gần nghe danh Sư đều đến xin quy y, tăng chúng đua nhau đến tham học.|Sắp tịch, Sư gọi Tông Diễn đến nói kệ:|Thuỷ xuất đoan do tẩy thế trần|Trần thanh thuỷ phục nhập nguyên chân|Dữ quân nhất bát cam lộ thuỷ|Bái tác ân ba độ vạn dân.|*Nước cốt tuôn ra rửa bụi trần|Sạch rồi nước lại trở về chân|Cho ngươi bát nước cam lộ quý|Ân tưới chan hoà độ vạn dân.|Sau, Sư nói kệ truyền pháp:|山織錦水畫圖。玉泉涌出白酡酥|岸上黃花鶯弄語。波中碧水鰈群呼|月白堂堂魚父醉。日紅耿耿繭婆晡|Sơn chức cẩm thuỷ hoạ đồ|Ngọc tuyền dũng xuất bạch đà tô|Ngạn thượng hoàng hoa oanh lộng ngữ|Ba trung bích thuỷ điệp quần hô|Nguyệt bạch đường đường ngư phủ tuý|Nhật hồng cảnh cảnh kiển bà bô.|*Núi dệt gấm, nước vẽ hình|Suối ngọc chảy, tuôn rượi đà tô|Bờ cúc nở hoa hoàng oanh hót|Nước trong sóng biếc cá điệp nhào|Trăng sáng rỡ ràng ông chài ngủ|Trời soi rừng rực kén nằm nhơ.|Nói kệ xong, Sư bảo: »Nay ta lên chơi trên núi Nhẫm Dương. Nếu bảy ngày không trở về, các ngươi tìm thấy chỗ nào có mùi thơm là ta ở đấy.« Chúng bùi ngùi mà không dám theo. Sau đúng bảy ngày, chúng cùng nhau đi tìm thì nghe gió thổi mùi hương ngào ngạt, thấy Sư ngồi kết già trên một tảng đá trong hang. Bấy giờ là ngày 6 tháng 3 năm Giáp Thìn, niên hiệu Chính Hoà thứ 20 đời vua Lê Hi Tông.
Thông Giám
(通鑑, Tsugan): xem Tư Trị Thông Giám (資治通鑑, Shijitsugan) bên dưới.
thông giáo
Thiên Thai classified Buddhist schools into four periods tạng, thông, biệt, and viên. The tạng pitaka school was that of Hìnayàna. The thông interrelated or intermediate school, was the first stage of Mahàyàna, having in it elements of all the three vehicles. The biệt is separate, or differentiated Mahàyàna teaching. The viên is full-orbed, complete, or perfect Mahàyàna. The Thông Giáo held the doctrine of the Void, but had not arrived at the doctrine of the Mean.
; Giai đoạn thứ hai trong Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo, cho rằng vạn hữu là “Không,” nhưng chưa đạt được lý “Trung Đạo”—The second stage in the T'ien-T'ai four periods od teaching, which held the doctrine of “Void,” but had not arrived at the doctrine of the “Mean.” ** For more information, please see Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo.
; (通教) Một trong 4 giáo của tông Thiên thai, tức giáo thứ 2 của 4 giáo Hóa pháp trong 5 thời 8 giáo. Giáo này lấy nhân duyên tức không nói trong 2 thời Phương đẳng, Bát nhã và Tứ đế vô sinh làm giáo chỉ. Trong Tứ giáo nghĩa quyển 1, Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3 hạ và Tứ niệm xứ quyển 2 của ngài Trí khải, chữ Thông của Thông giáo có các giải thích khác nhau: Cứ theo Tứ giáo nghĩa quyển 1 thì Thông của Thông giáo có 8 nghĩa: 1. Giáo thông: Đây là giáo pháp 3 thừa cùng tu. 2. Lí thông: Ba thừa cùng thấy lí thiên chân(thiên về bên không). 3. Trí thông: Ba thừa cùng được Nhất thiết trí khéo độ. 4. Đoạn thông: Ba thừa cùng đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc trong 3 cõi. 5. Hạnh thông: Ba thừa cùng tu hạnh kiến, tư vô lậu. 6. Vị thông: Ba thừa cùng trải qua các giai vị Can tuệ cho đến Bích chi Phật. 7. Nhân thông:Ba thừa cùng lấy 9 vô ngại làm nhân. 8. Quả thông: Ba thừa cùng được 9 thứ giải thoát và 2 thứ Niết bàn. Sở dĩ giáo pháp này được gọi là Thông giáo chứ không gọi là Cộng giáo là vì giáo ý chẳng những gần thì chung cho Nhị thừa, mà xa còn thông với Biệt giáo, Viên giáo.Theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 3 hạ thì Thông của Thông giáo có 2 nghĩa: 1. Nghĩa ba thừa cùng học: Tức 3 thừa của Tạng giáo đều có sở học khác nhau là Tứ đế, Thập nhị nhân duyên và Lục độ; còn 3 thừa của Thông giáo cùng tu Đế, Duyên, Độ, đều thấy lí Đương thể tức không nên gọi là Thông. 2. Nghĩa riêng về Bồ tát có Thông tiền Thông hậu: Bồ tát của Thông giáo có 2 loại là Lợi và Độn, Bồ tát độn căn và Bồ tát của Tạng giáo nói trên, cùng chứng Niết bànđãn không, gọi là Thông tiền Tạng giáo, Độn đồng Nhị thừa(độn căn giống như Nhị thừa); còn các Bồ tát lợi căn khi nghe thuyết Đương thể tức không thì biết ngay nghĩa bất đãn không, thông với lí Trung đạo thực tướng nói trong Biệt giáo và Viên giáo sau đó, gọi là Thông hậu Biệt, Viên. Như vậy chỉ riêng với Bồ tát mới có nghĩa Thông tiền thông hậu, cho nên gọi là Thông giáo.Cứ theo Tứ niệm xứ quyển 2 thì Thông có 3 nghĩa, gọi là Tam thông. Đó là: 1. Nhân quả đều thông: Chỉ cho hàng Tam thừa cùng tu nhân và cùng được quả giống nhau. 2. Nhân thông quả không thông: Chỉ cho hàng Bồ tát lợi căn, ban đầu thì Tam thừa cùng học, về sau theo thứ tự được tiếp nhập vào Biệt giáo, Viên giáo. 3. Thông Biệt Thông Viên: Chỉ cho người mượn Thông giáo để mở đường, tuy vốn là căn cơ Biệt, Viên, nhưng dùng Đương thể tức không của Thông giáo làm phương tiện để mở đường cho trí hiểu biết về Trung đạo của Biệt giáo, Viên giáo. Trong 4 giáo Hóa pháp thì Tạng giáo và Thông giáo có khác nhau, vì Tạng giáo cho rằng giáo pháp của mỗi thừa trong 3 thừa đều khác nhau, quán pháp cũng bất đồng, như Thanh văn quán 4 đế, Duyên giác, quán 12 nhân duyên, Bồ tát tu hạnh 6 độ; giai vị tu hành cũng đều khác nhau, mục đích chính là giáo hóa Nhị thừa, mục đích phụ là giáo hóa Bồ tát; còn Thông giáo thì 3 thừa cùng tu Bát nhã, cũng quản lí nhân duyên tức không, đoạn hoặc, chứng trí và giai vị tu hành đều giống nhau, mục đích chính là giáo hóa Bồ tát, mục đích phụ là giáo hóa Nhị thừa, vì thế nên Tạng giáo và Thông giáo khác nhau. Nhưng tông Thiên thai cho rằng Tạng giáo và Thông giáo đều là giáo thuộc 3 cõi, đều đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, thấy Không lí thiên chân, chỉ ra khỏi Phần đoạn sinh tử trong 3 cõi; trong đó, căn cơ của Tạng giáo thuộc về độn căn, tức chia chẻ sắc mới biết không, nên gọi là Chuyết độ(vụng độ)trong 3 cõi; đối lại với hàng độn căn của Tạng giáo, căn cơ của Thông giáo thuộc về lợi căn, tức quán đương thể chính là không, chứ không cần chia chẻ sắc mới thấy không, cho nên được gọi là Xảođộ(khéo độ) trong 3 cõi. Hơn nữa, Thông giáo tuy nói Không nhưng trong đó tự bao hàm lí Trung đạo, cho nên Bồ tát thấy lí ấy mà được tiếp nhận vào Biệt giáo, Viên giáo ở sau, gọi là Biệt tiếp Thông, Viên tiếp Thông. Đây chính là lí do cắt nghĩa tại sao Thông giáo lại được xem là cánh cửa đầu tiên của Đại thừa. Ngoài ra, nếu phối hợp giai vị tu hành của các Bồ tát nói trên thì Thập địa là 10 địa của 3 thừa tu chung, Thanh văn và Bồ tát độn căn ở Địa thứ 7, Duyên giác ở Địa thứ 8 đều là khôi thân diệt trí. Trong hàng Bồ tát lợi căn thì các vị thuộc về Thượng căn ở Địa thứ 4, các vị thuộc trung căn ở Địa thứ 5 hoặc Địa thứ 6, các vị thuộc hạ căn ở Địa thứ 7, hoặc Địa thứ 8 được tiếp nhập vào Biệt giáo, Viên giáo sau Thông giáo, cho nên Bồ tát Địa thứ 9 và Phật Địa thứ 10 không có Phật và Bồ tát thực tại gọi là Hữu giáo vô nhân, Quả đầu vô nhân. [X. Tam luận huyền nghĩa; Pháp hoa huyền luận Q.3]. (xt. Thập Địa, Hóa Pháp Tứ Giáo].
thông giáo tứ môn
(通教四門) Bốn môn quán của Thông giáo. Sở học của hành giả thuộc Thông giáo, tuy cùnglà lí các pháp như huyễn; nhân duyên tức không, nhưng về pháp quán thì có 4 môn khác nhau.Đó là: 1. Hữu môn(cũng gọi Thực môn): Các pháp như huyễn tức không, vì thế Hữu chính là Không, Không cũng chính là Hữu. Tuy nhiên, Hữu môn dùng Hữu tức không làm con đường vào đạo. Nghĩa là tuy chủ trương các pháp nghiệp quả thiện ác đều như huyễn như hóa, như bóng trong gương không có thực tính, nhưng vẫn có nhận biết về các tướng hư dối. 2. Không môn(cũng gọi Bất thực môn): Dùng cái Không của Tức hữu làm con đường vào đạo; cũng chính là cái như huyễn như hóa vốn tự chẳng thực, vì chẳng thực nên là không, như tìm bắt bóng trong gương, chẳng thể nào được. 3.Diệc hữu diệc không môn(cũng gọi Diệc hữu diệc bất thực môn): Tức chiếu rọi suốt cả Không và Hữu mà vào đạo. Nghĩa là các pháp như huyễn nên gọi là Hữu, huyễn bất khả đắc nên gọi là Không; như bóng trong gương tuy thấy đấy nhưng thực thì không thấy được, tuy không thấy được nhưng mà có thấy. 4. Phi hữu phi không môn (cũng gọi Phi thực phi bất thực môn): Chẳng phải thật chẳng phải chẳng thật. Nghĩa là cái có giả không thể nắm bắt được, cái không giả cũng không thể có được, như vậy, ngăn cả Không, Hữu mà vào đạo; tức cả 2 bên đều bỏ. Theo Tứ giáo nghĩa quyển 3 thì 4 môn này của Thông giáo chính là 4 môn được nói trong luận Đại trí độ quyển 1. Đó là: Tất cả thật, Tất cả chẳng thật,Tất cả cũng thật cũng chẳng thật, Tất cả chẳng thật chẳng phải chẳng thật. [X.luận Đại trí độ Q.2; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8, hạ].
thông giải thập như thị
(通解十如是) Cũng gọi Tổng thích Thập như thị. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa quyển 1 nêu ra 10 từ ngữ Như thị,gọi là Thập như thị, nhưng không giải thích chi tiết, các vị Luận sư nhiều đời mới y cứ vào Thập như thị mà giải thích rõ hơn, trong đó, tương đối nổi tiếng thì có các vị như Pháp dao đời Lưu Tống, Huyền sướng đời Tiêu Tề, Pháp vân đời Lương... Đại sư Thiên thai Trí khải tổng hợp thuyết của các Luận sư và giải thích chung trong bộ Ma ha chỉ quán quyển 5 của ngài, gọi là Thông giải. Ngài Trí khải lại lập ra thuyết mới, rồi đứng về 4 phươngdiện: Pháp giới, Phật giới, Li hợp và Vị thứ mà lần lượt giải thích Thập như thị, gọi là Biệt giải tứ loại.Thập như thị thông giải là: 1. Tướng như thị (cũng gọi Như thị tướng): Chỉ cho các hình tướng được thấy từ bên ngoài, như những hành vi thiện ác hiển hiện rõ ràng. 2. Tính như thị(cũng gọi Như thị tính): Chỉ cho bản tính ở bên trong không thấy được, bản tính các pháp đều không giống nhau, không thay đổi được, như cây gỗ có tính lửa, gặp duyên liền phát; tính này cũng chỉ cho lí tính, Phật tính. 3. Thể như thị(cũng gọi Như thị thể): Chỉ cho thể chất của chúng sinh, như 5 uẩn, 12 xứ...đều lấy sắc và tâm làm thể. 4. Lực như thị(cũng gọi Như thị lực): Chỉ cho công năng của các pháp, như gạch, đất có thể dùng làm vật liệu xây đắp tường vách. 5. Tác như thị(cũng gọi Như thị tác): Chỉ cho sự tạo tác của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 6. Nhân như thị(cũng gọi Như thị nhân): Chỉ cho nghiệp nhân (dịch mới là Đẳng lưu nhân) đưa đến quả báo, tức các việc làm nhơ nhớp ở đời trước trở thành hạt giống nghiệp thiện ác ở đời sau. 7. Duyên như thị (cũng gọi Như thị duyên): Duyên chỉ cho cái nhân giúp đỡ thêm (nhân phụ), như dùng hạt ngũ cốc làm nhân, nắng mưa, đất nước làm duyên, nhân duyên hòa hợp, hạt giống nhờ đó nẩy mầm và trưởng thành tốt tươi. 8. Quả như thị(cũng gọi Như thị quả): Chỉ cho nhân nhơ nhớp ở quá khứ nay được quả tương ứng (dịch mới là Đẳng lưu quả). Thời gian cách nhau giữa nhân và quả này có 3: a. Nhân và quả cách nhau giữa 2 đời quá khứ và hiện tại. b. Nhân và quả cách nhau giữa 2 đời hiện tại và vị lai. c. Trong đời hiện tại nhân quả đều có. 9. Báo như thị(cũng gọi Như thị báo): Chỉ cho quả báo khổ, vui ở vị lai (dịch mới là Dị thục quả) do nghiệp nhân thiện ác mang lại. Giữa nhân báo và quả báo này phải cách nhau 1 đời trở lên. 10. Bản mạt cứu cánh đẳng như thị (cũng gọi Như thị bản mạt cứu cánh đẳng): Tức Tướng trong các Như thị nói trên là Bản, Báo là Mạt, Bản Mạt đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, vì thế Bản Mạt đều Không, Không là chỗ cực trí bình đẳng của các pháp. Chín loại Như thị trước đều thuộc về Sự, còn Bản mạt cứu cánh đẳng như thị thì thuộc về Lí. Nếu giải thích rõ theo 3 đế Không, Giả, Trung của tông Thiên thai, từ Không đế mà quán thì Bản Mạt đều là chân không; từ Giả đế mà quán thì Bản Mạt đều là diệu giả; từ Trung đế quán thì Bản Mạt đều là pháp giới Trung đạo. Cho nên biết 3 đế của Bản Mạt cứu cánh bình đẳng này tức là Thực tướng, còn 9 thứ Như thị trước thì là Các pháp; hợp chung Thực tướng và Các pháp lại thì chính là tông Thiên thai dùng Thập như thị để giải thích rõ yếu lí Chân như tính không của thực tướng các pháp vậy.[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2 thượng, 3 thượng; Pháp hoa văn cú Q.3 hạ; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4; Thụ quyết tập Q.hạ; Thập như thị nghĩa tư kí]. (xt. Thập Như Thị, Biệt Giải Tứ Loại Thập Như Thị).
thông giới
Universal precept.
thông hiền
(通賢) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Đương hồ, tỉnh Chiết giang, hiệu Phù thạch, họ Triệu. Năm 19 tuổi, sư xin phép cha mẹ đến núi Phổ đà, lễ yết ngài Thiệu tông cầu xuất gia, do ngài Vân thê Châu hoành truyền giới Sa di. Về sau, sư đi tham học các nơi, đến chùa Kim túc học ngài Mật vân Viên ngộ vài năm và theo ngài đến đất Mân. Sau, sư bái biệt ngài Viên ngộ, đến trụ ở am Phổ tịnh, ít lâu sau, sư lại dời đến ở chùa Đông tháp tại tỉnh Chiết giang 3 năm. Trong thời gian ấy thì ngài Viên ngộ dời chùa Kim túc đến trụ chùa Thiên đồng, sư cũng theo đến Thiên đồng yết kiến ngài Viên ngộ và ở lại đó 1 năm. Sau, sư đến Vũ nguyên nhập thất. Khi nghe tin ngài Viên ngộ lâm bệnh, sư lại về tham yết và làm đệ tử nối pháp của ngài. Sau đó, sư mở rộng Thiền phong của ngài Mật vân Viên ngộ ở nhiều nơi và trong nhiều năm,không biết mỏimệt. Năm Khang hi thứ 6 (1667), sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Thạch phù thiền sư ngữ lục 10 quyển. [X. Tục đăng chính thống Q.33; Ngũ đăng toàn thư Q.67; Thiên đồng tự chí].
thông hiểu
To understand thoroughly.
thông hoặc
The two all-pervading deluders kiến and tư, seeing and thinking wrongly, i.e. taking appearance for reality.
; Hai thứ kiến hoặc và tư hoặc, cho rằng hình tướng bên ngoài là thực—Two all pervading deluders (taking appearance for reality) due to seeing and thinking wrongly: 1) Kiến hoặc: Seeing wrongly—See Kiến Hoặc. 2) Tư hoặc: Thinking wrongly—See Tư Hoặc. ** For more information, please see Kiến Hoặc Tư Hoặc.
; (通惑) Đối lại: Biệt hoặc. Phiền não chung. Trong 3 thứ hoặc do tông Thiên thai lập ra thì Kiến tư hoặc là những phiền não chung của hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát cùng đoạn trừ, cho nên gọi là Thông hoặc. Còn Trần sa hoặc và Vô minh hoặc thì do Bồ tát Biệt giáo phải đoạn trừ, vì thế gọi là Biệt hoặc. (xt. Tam Hoặc).
thông huyền
To see through the mysteries (of nature, etc.)
thông huyền bách vấn
(通玄百問) Cũng gọi Thông huyền vấn đáp tập. Tác phẩm, 1 quyển, của ngài Thông huyền Viên thông đời Tống, ấn hành vào năm Thuần hựu thứ 4 (1244), được thu vào Vạn tục tạng tập 119. Nội dung sách này là 100 câu hỏi của ngài Viên thông ở am Thông huyền, phủ Quảng tín, tỉnh Giang tây và lời đáp của ngài Vạn tùng Hành tú. Sau mỗi lời đáp của ngài Hành tú, đệ tử ngài là sư Lâm tuyền Tòng luân lần lượt phụ thêm kệ tụng, do Sinh sinh đạo nhân là Từ lâm ấn hành. Người đời thường gọi chung Thông huyền bách vấn và Thanh châu bách vấn của ngài Thanh châu Nhất biện là Thông huyền Thanh châu nhị bách vấn và lưu hành song song.
Thông Huyễn Tịch Linh
通幻寂靈; J: tsūgen jakurei; 1322-1391; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365).|Trong năm vị đại đệ tử này thì Sư là thượng thủ. Lúc còn nhỏ Sư đã đọc Kinh và năm lên 17, Sư xuất gia cầu đạo. Ban đầu, Sư đến học với Thiền sư Minh Phong Tố Triết (1277-1350) tại chùa Ðại Thừa (daijō-ji). Nơi đây, Sư tu tập không kể ngày đêm và vì vậy được tăng chúng cũng như dân dã xung quanh tôn kính. Sau hơn mười năm tu tập với Minh Phong, Sư chuyển sang Tổng Trì tự (sōji-ji) tu học với Thiền sư Nga Sơn và ngay tại đây, Sư triệt ngộ và được Nga Sơn Ấn khả.|Song song với bạn đồng học Thái Nguyên Tông Chân (taigen sáshin, ?-1370), Sư rất thành công trong việc truyền bá dòng thiền Tào Ðộng. Sư khai sáng và trụ trì nhiều thiền viện lớn và nhiều thiền sinh đến tham học dưới sự hướng dẫn của Sư – khắc khe nhưng nhiệt tình. Trong số các vị đệ tử thì Liễu Am Huệ Minh (了菴慧明; j: ryōan emyō) trội hơn hết. Liễu Am lần lượt trụ trì Tổng Trì tự, Vĩnh Trác tự (yōtaku-ji) và sau khai sáng Tối Thừa tự (saijō-ji) tại Sagami.
thông huyễn tịch linh
TsŪgen Jakurei (J)Tên một vị sư.
thông huệ
Thần thông và trí tuệ, mọi phép thần thông đều dựa vào trí tuệ làm thể (thông cũng tức là tuệ)—Supernatural powers and wisdom, the former being based on the latter.
thông hành
The thoroughfare, or path which leads to nirvàna.
; Con đường dẫn tới Niết Bàn—The thoroughfare, or path which leads to nirvana.
thông hóa
Perpicacious, or influential teaching; universal powers of teaching.
; Phổ lực giáo hóa—Perspicacious, or influence teaching; universal powers of teaching.
thông hội
To harmonize differences of teaching.
thông kiên
(通肩) Gọi đủ: Thông lưỡng kiên. Cũng gọi Thông phi. Đắp ca sa phủ kín cả 2 vai.Khi đắp ca sa để lộ vai bên phải, gọi là Thiên đản hữu kiên; còn đắp ca sa mà trùm kín cả 2 vai thì gọi là Thông kiên. Khi tu cúng dường trước đức Phật và sư tăng thì đắp ca sa theo phép Thiên đản hữu kiên để làm việc được dễ dàng; còn khi đi khất thực, tọa thiền, tụng kinh, kinh hành...thì đắp ca sa theo phép Thông kiên để biểu thị tướng phúc điền. Lại khi đi khất thực, như vừa nói ở trên, thì đắp ca sa phủ kín 2 vai, nhưng nếu giữa đường gặp Tam sư như Hòa thượng...thì phải để lộ vai bên phải ra. Trong tượng Phật, có nhiều tượng đắp ca sa theo hình thức Thông kiên. [X.kinhXá lợi phất vấn; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ; phần 1]. (xt. Thiên Đản Hữu Kiên).
thông kiên phái
ParŪpana (S)Tên một tông phái. Thế kỷ thứ 19.
thông kì
(通奇) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Minh, người Hợp châu (Hợp xuyên, Tứ xuyên), họ Thái,tự Lâm dã, người đời gọi sư là Lâm dã Thông kỳ thiền sư. Thuở nhỏ, sư y vào người chú ở chùa Kim chung là Đạo nhiên làm đồng hành (chú tiểu), thường sống lặng lẽ. Năm 17 tuổi, sư lễ ngài Liên phong ở Kiềm châu cầu xuất gia; năm 19 tuổi, sư rời đất Thục đi về phía nam, ý muốn nghiên cứu giáo điển đến nơi đến chốn, nên trụ lại ở Đương hồ tại tỉnh Hồ bắc, định đóng cửa để xem kinh giáo, nhưng đột nhiên bị bệnh kiết lị gần chết, mới nhận ra rằng cái học kinh luận chẳng phải là pháp cứu cánh; tình cờ nghe bài kệ tham thiền của ngài Thiên đồng (Vạn tục 139, 517 thượng): Khi một niệm chưa sinh, hãy thử xem hình dạng thì tựa hồ có chỗ tỉnh. Một hôm, sư trượt chân ngã xuống lầu, bỗng tỉnh ngộ, liền đến tham yết ngài Thiên đồng Viên ngộ ở Ngô môn và được ngài truyền tâm ấn. Sau đó, sư lần lượt xiển dương Thiền pháp tại các chùa danh tiếng như Thông huyền, Đông tháp, Thê chân, Thiên đồng... Năm Thuận trị thứ 9 (1652) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 58 tuổi. Sư có tác phẩm: Lâm dã hòa thượng ngữ lục 8 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng nghiêm thống Q.24, Ngũ đăng toàn thư Q.67].
thông luận gia
(通論家) Tên khác của tông Nhiếp luận. Tức chỉ cho các Luận sư hoằng thông bộ luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước. An lạc tập quyển thượng của ngài Đạo xước và phần Huyền nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ của ngài Thiện đạo đời Đường, đều có đề cập đến Thông luận gia.
thông lãnh sơn
Hindukush (S), Tsung ling shan (C)
thông lí
(通理) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Thanh, người ở Tân hà, tỉnh Hà bắc, họ Triệu, tự Đạt nhiên. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, theo ngài Tòng hiển Như trân học tập kinh luận. Năm 20 tuổi, sư y vào ngài Đức chương ở chùa Tụ vân tại núi Đàm chá thụ giới Cụ túc, chuyên học Luật bộ. Sau, sư ẩn cư tại núi Diệu phong thuộc tỉnh Hồ bắc, chú thích các kinh như kinh Pháp hoa... khi đọc đoạn văn Thập như thị trong phẩm Phương tiện, sư hiểu rõ được ý nghĩa của 2 thứ trí Quyền và Thực, nhờ đó mà thông suốt các kinh. Sư lại theo Luật chủ Động ông chùa Tụ vân học luật Tứ phần, được chính truyền của Luật tông Nam sơn. Rồi sư vào kinh đô giảng rõ ý chỉ Ngũ giáo Thập tông của Hoa nghiêm, nên sư được tôn làm Tổ Trung hưng Hoa nghiêm ở đời Thanh. Sư từng xem Hoa nghiêm đại sớ của ngài Trừng quán, giảng kinh Báo ân ở am Vạn duyên trên núi Ngũ đài, cảm được bồ tát Văn thù hiện đến. Năm Càn Long 18 (1753), sư vâng mệnh vua trông coi việc ấn loát của Ti Tăng lục ở Phật lâu trong vườn Viên minh, được vua ban cho áo đỏ. Năm Càn long 44 (1779), lúc vua Cao tông được 70 tuổi, sư cùng Ban thiền lạt ma đời thứ 6 vào kinh để luận về đại nghĩa Phật pháp, Lạt ma tặng sư lụa thơm, mạn đáp... Sau, sư được sắc phong danh hiệu Xiển Giáo Thiền Sư. Năm Càn long 47 (1782), sư thị tịch, thọ 82 tuổi. Sư có các tác phẩm: Lăng nghiêm kinh chỉ chưởng sớ 10 quyển, Lăng nghiêm kinh huyền thị 1 quyển, Pháp hoa kinh chỉ chưởng sớ 7 quyển, Pháp hoa kinh khoa văn 1 quyển, Pháp hoa kinh huyền thị 1 quyển, Pháp hoa kinh sự nghĩa 1 quyển và Phổ môn phẩm biệt hành sớ 1 quyển.
thông lĩnh
(葱嶺 ) Tên dãy núi trên cao nguyên Pamir, phía tây nam tỉnh Tân cương, Trung quốc, là trục giao thông chủ yếu nằm giữa các rặng núi ở đại lục Á tế a, từ xưa đã được gọi là nóc nhà của thế giới. Phía nam giáp Bắc Ấn độ, phía đông giáp nước Ô sát (Usa, hoặc Osh), phía tây giáp nước Hoạt (Kunduz) thuộc Afghanistan, phía bắc giáp Thiên sơn mà chia Tây vực thành 2 phần. Điều Hoạt quốc trong Đại đường tây vực kí (Đại 51, 940 thượng) nói: Núi Thông lĩnh nằm ở giữa châu Nam thiệm bộ, phía nam giáp núi Đại tuyết, phía bắc giáp Nhiệt hải thiền tuyền, phía tây giáp Hoạt quốc, phía đông giáp nước Ô sát. Đông, tây, nam,bắc mỗi bề dài mấy nghìn dặm, ngọn núi chập chùng mấy trăm lớp, hang sâu hiểmhóc,ngọn cao chót vót, lúc nào cũng có băng tuyết, gió lạnh cắt da. Vì cây hành(chữ Hán gọi cây hành là Thông) xanh rờn trên các sườn núi, là sản vật chủ yếu ở đây, nên gọi là Thông lĩnh(núi trồng hành). Trong 4 con sông lớn thì 2 sông Phược sô và Đồ đa bắt nguồn từ núi Thông lĩnh. Sự giao thông giữa Trung quốc và Ấn độ có 2 đường Nam, Bắc, đường phía bắc phần nhiều phải đi qua giữa các núi non trùng điệp của rặng núi này.Con đường mà các vị cao tăng như ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, ngài Xà na quật đa, Đạt ma cấp đa đời Tùy, Huyền trang, Tuệ siêu, Ngộ không... đời Đường đi về phía tây đến Ấn độ, hoặc đi sang phía đông đến Trung quốc phải trải qua phần nhiều đều thuộc khu vực dãy núi này. [X. Thích ca phương chí Q.thượng; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Giải thuyết tây vực kí].
thông lĩnh sơn
Xem Thông lĩnh sơn.
thông lệ
General rule.
thông lợi
Intelligence keen as a blade, able to penetrate truth.
; Trí thông minh sắc bén như lưỡi dao, có thể xuyên qua chân lý—Intelligence keen as a blade, able to penetrate truth.
thông lực
The capacity to employ supernatural powers without hindrance. Buddhas, bodhisattvas, etc., have thần lực spiritual or transcendent power; demons have nghiệp lực power acquired through their karma.
; Tác dụng của sức mạnh thần thông không chướng ngại—The capacity to employ supernatural powers without hindrance. a) Thần Thông: Thông lực của chư Phật và chư Bồ Tát—Buddhas or Bodhisattvas, etc, have spiritual or transcendent power. b) Nghiệp Thông: Thông lực của quỷ thần đạt được bằng nghiệp lực—Demons have magical powers acquired through their karma.
; (通力) Lực dụng không thể nghĩ bàn của thần thông hay nghiệp thông. Thần thông mà Phật, Bồ tát và các tiên nhân ngoại đạo đạt được có 5 thông, 6 thông khác nhau; các thông lực này gọi là Thần thông. Còn thông lực mà các loại quỉ thần, hồ li... có được thì gọi là Nghiệp thông, do nghiệp lực sinh ra. Theo Hoa nghiêm đại sớ quyển 3 ghi thì Thông lực có 3 thứ: 1. Báo đắc thông lực: Chư thiên trong 3 cõi đều có 5 thứ thần thông, quỉ thần cũng có tiểu thông. Loại thần thông này do quả báo tự nhiên cảm được. 2. Tu đắc thông lực: Các bậc Thánh tam thừa nhờ tu Tam học mà cảm được 6 thông, các tiên nhân ngoại đạo tu thiền cũng cảm được 5 thông. 3. Biến hóa thông lực: Bậc Thánh Tam thừa có khả năng biến hiện các thứ thần thông lực. Luận Đại tì bà sa quyển 89 (Đại 27, 509 thượng) nói: Chúng ta đều do Phạm vương hóa ra, từ ngài mà sinh, ngài là cha chúng ta, cho nên do thông lực, ngài khởi lên niệm này. (xt. Ngũ Thông, Thần Thông, Nghiệp Thông).
thông minh
Intelligent.
thông minh hay ngu dốt
Intelligent or stupid—Intelligent or simple.
thông minh huệ
See Thông Minh Tuệ.
; (通明慧) Tức chỉ cho Lục thông, Tam minh và Tam tuệ. Lục thông(cũng gọi Lục thần thông): Tức thứ diệu dụng tự tại vô ngại do năng lực định tuệ của Phật, Bồ tát thị hiện ra. Đó là: Thần túc thông chứng (bay đi tự tại), Thiên nhĩ thông chứng (nghe rất xa), Tri tha tâm thông chứng (biết rõ tâm niệm người khác), Túc mệnh thông chứng (biết các việc ở đời trước), Thiên nhãn thông chứng (thấy rất xa) và Lậu tận thông chứng (Thần thông do dứt hết các phiền não mà có). Tam minh:Tức trí tuệ sáng suốt, nhờ đến địa vị Vô học, trừ hết ngu tối, đối với 3 việc(hơi thở, sắc, tâm) thông suốt vô ngại mà có được 3 loại trí này. Đó là: Túc mệnh trí chứng minh(trí biết rõ các việc đời trước), Sinh tử trí chứng minh(Trí biết rõ việc sống chết) và Lậu tận trí chứng minh(trí thấy rõ lí 4 đế như thực nhờ đã dứt hết phiền não). Tam tuệ: Chỉ cho Văn tuệ, Tư tuệ, Tu tuệ; là 3 thứ tác dụng tinh thần phân biệt sự và lí. Tức trí tuệ do nghe chính pháp, suy tư về chính pháp và tu hành chính pháp mà thành. (xt. Tam Minh, Tam Tuệ, Lục Thông).
thông minh thiền
(通明禪) Cũng gọi Thông minh quán thiền, Thông minh quán. Một trong các loại Thiền định. Chỉ cho pháp thiền quán xét hơi thở, sắc và tâm mà bậc Thánh A lahán thực hành khi tu 9 định thứ đệ: Bốn định cõi Sắc, 4 định cõi Vô sắc và định Diệt tận. Khi tu thiền định này, hành giả phải quán xét chung hơi thở, sắc, tâm và thấy rõ suốt một cách vô ngại, cho nên gọi là Thông minh; lại nữa, tu định này cũng được 6 thông, 3 minh, cho nên gọi Thông minh. Kinh Đại phương đẳng đại tập từ quyển 22 trở đi có luận về pháp thiền này, nhưng chưa có tên Thông minh thiền.Ở Trung quốc, các Thiền sư miền Bắc trước thời ngài Thiên thai Trí khải tu chứng được loạiThiền này, từ đó mới có tên Thông minh thiền. Ma ha chỉ quán quyển 9 thượng (Đại 46, 121 thượng) nói: Kế đến là Thông minh thiền phát tướng, khi tu đặc thắng quán tuệ thì hầu như thấy hết 36 vật và chứng tướng cũng gồm đủ. Khi tu Thông minh, khi chứng vi tế rõ ràng, Hoa nghiêm cũng có tên gọi này. Đà la ni Đại tập biện bảo cự chính là Thiền định này; thỉnh Quán âm cũng là ý này. Khi tu chung 3 việc thì có năng lực phát ra 3 thông, 6 thông. Tướng tu chứng loại thiền này như sau: 1. Lúc vào Sơ thiền: Dứt lìa 5 cái(5 phiền não tham dục, sân khuể, thụy miên, trạo hối, nghi), có đủ 5 chi: Giác, quán, hỉ, an, định, xem 3 việc: Hơi thở, sắc, tâm như đám bọt nước. 2. Lúc vào Nhị thiền: Dứt trừ 5 cái, có đủ 3 chi: Hỉ, an, định, xem 3 việc như mây nổi.3. Lúc vào Tam thiền: Dứt trừ 5 cái, có đủ 5 chi: Niệm, xả, tuệ, an, định,xem 3 việc như bóng. 4. Lúc vào Tứ thiền: Dứt lìa 5 cái, có đủ 4 chi: Niệm, xả, không khổ không vui, định, xem 3 việc như tượng như gương. 5. Lúc vào định không xứ: Diệt hết 3 việc, thấy tất cả đều không. 6. Vào định Thức xứ: Đoạn diệt cái Không ấy, duyên theo thức. 7. Vào định Vô sở hữu xứ: Đoạn diệt thức, duyên theo vô sở hữu. 8. Vào định Phi tưởng phi phi tưởng: Đoạn diệt vô sở hữu, duyên theo Phi tưởng phi phi tưởng. 9. Vào định Diệt tận: Đoạn trừ 3 thứ thụ tưởng như Phi tưởng phi phi tưởng... thân chứng pháp diệt thụ tưởng. [X. Pháp giới thứ đệ Q.thượng].
thông minh tuệ
The six thông, three minh and three tuệ.
; Trong Lục Thông, có ba loại “Minh” và ba loại “Tuệ”—In the six supernatural powers, there are three types of knowledge and three types of prajna. ** For more information, please see Lục Thông.
thông môn
(通門) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người Thường thục, tỉnh Giang tô, họ Trương, hiệu Mục vân, người đời gọi sư là Mục vân Thông môn thiền sư. Sư vốn là người thông minh, học rộng, giỏi văn chương, thư họa. Sư theo ngài Động Văn ở chùa Hưng Phúc tại Ngu Sơn. Ban đầu, sư tham yết ngài Vô dị Nguyên lai, sau, sư đến chùa Kim túc tham yết ngài Mật vân Viên ngộ và được truyền tâm ấn. Năm Vạn lịch thứ 8 (1580), sư ra trụ ở Cổ nam thiền viện, huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết giang, người đến theo học rất đông. Sư từng hoằng pháp ở các chùa danh tiếng như Thê chân, Mai khê, Hưng phúc, Cực lạc, Hạc lâm, Thiên đồng cảnh đức... Về sau, sư ẩn tu hơn 10 năm, chỗ ở không nhất định. Năm Khang Hi thứ 10 (1671), sư thị tịch ở tĩnh thất Thạchhồ, thọ 73 tuổi. Sư có các tác phẩm: Mục vân hòa thượng ngữ học 20 quyển, Mục vân hòa thượng thất hội dư lục 6 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng nghiêm thống Q.24; Ngũ đăng toàn thư Q.67].
thông mẫn
Wise—Clever.
Thông ngộ 聰悟
[ja] ソウゴ sōgo ||| Wise, sharp, quick. => Thông thái, thông minh, nhanh nhẹn.
thông nhẫn
(通忍) Cao tăng Trung Quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở Tì lăng, Thường châu (Giang tô), họ Trần, hiệu Triều tông, người đời gọi sư là Triều tông Thông nhẫn thiền sư. Năm 20 tuổi, sư theo ngài Độc Tri ở am Trường Sinh, huyện Tĩnh Giang, tỉnh Giang tô xuất gia, được nghe thuyết Vô sinh. Sau, sư đến chùa Kim túc tham yết ngài Mật vân Viên ngộ, làm thị giả hầu ngài. Năm Sùng trinh thứ 4 (1631), sư theo ngài Viên Ngộ đến núi A dục vương, ngài Viên ngộ nhìn vào lời dạy của Thiền sư Đại thiên được khắc trên tấm bia chùa mà bảo sư rằng (Vạn tục 139, 514 hạ): Hổ dữ trong núi ăn thịt để sống, tại sao không ăn thịt nó? Toàn thân sư đẫm mồ hôi như mưa, ngồi nằm không yên.Hai ngày sau, tình cờ từ bên ngoài bước vào liêu, bỗng có chỗ ngộ, liền thưa ngài Viên ngộ rằng: Chỉ người tự nhận ra mình mới là thân, lại trình kệ và được ấn khả. Về sau, sư lần lượt hoằng pháp ở các chùa danh tiếng như: Kỳ đà lâm ở Kim lăng, chùa Linh hựu ở Hải diêm, viện Linh thạch ở Phúc châu, chùa Thượng sinh ở núi Tào sơn tại Bồ điền, chùa Nam hoa ở Tào khê tại Quảng đông, chùa Bảo hoa, núi Cung công, tỉnh Giang tây... Năm Thuận trị thứ 5 (1648) đời Thanh, sư thị tịch, hưởng dương 45 tuổi.Sư có tác phẩm: Triềutông thiền sư ngữ lục 10 quyển. [X. Tục chỉ nguyệt lục Q.19; Hoằng Sơn chí Q.2].
thông niệm phật
Niệm chung danh hiệu chư Phật ba đời—To call on the Buddhas in general, not not limit to any specific Buddha.
; (通念佛) Đối lại: Biệt niệm Phật. Thông niệm Phật là niệm chung danh hiệu của chư Phật trong3đời, còn Biệt niệm Phật là chỉ niệm riêng danh hiệu của một đức Phật. (xt. Niệm Phật).
thông phật giáo
(通佛教) Phật giáo chung. Nghĩa là lí Phật giáo là thông suốt toàn bộ nền Phật giáo, chứ không thiên về một tông một phái nào.
thông suốt
To penetrate (understand) thoroughly.
Thông Thiền
通禪; ?-1228|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông pháp hệ thứ 13. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Thường Chiếu và truyền lại cho đệ tử là Tức Lự.|Sư họ Ðặng, quê ở làng Ốc, An La. Sư cùng Thiền sư Thần Nghi thờ Thường Chiếu làm thầy.|Một hôm, Sư vào thất hỏi: »Làm thế nào để biết rõ Phật pháp?« Thường Chiếu đáp: »Phật pháp không thể biết rõ, đây đâu có pháp để biết. Chư Phật như thế, tu tất cả pháp mà không thể được.« Sư nhân đây lĩnh ngộ ý chỉ.|Sau, Sư về cố hương trụ trì chùa Lưỡng Pháp, học chúng đến rất đông. Niên hiệu Kiến Trung thứ 4 đời Trần Thái Tông, Sư viên tịch.
thông thiền thiền sư
Zen Master Thông Thiền (?-1228)—Thiền sư Việt Nam, quê ở An La, Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Thường Chiếu tại chùa Lục Tổ. Sau khi trở thành pháp tử đời thứ 13 dòng Thiền Vô Ngôn Thông, ngài trở về làng cũ để chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1228—A Vietnamese Zen master from An La, North Vietnam. He was a disciple of Zen master Thường Chiếu at Lục Tổ Temple. After he became the dharma heir of the thirteenth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect, he returned to his home town to revive and expand Buddhism there. He passed away in 1228.
thông thuộc
To know perfectly.
thông thái
A learned man—Savant—A well-known scholar.
thông thân biệt thân
(通申別申) Trình bày toàn thể gọi là Thông thân, trình bày một sự kiện đặc biệt thì gọi là Biệt thân. Bộ luận hiển bày rõ ràng giáo nghĩa trong các kinh, gọi là Thông thân luận; trái lại, bộ luận chỉ trình bày rõ giáo nghĩa của một bộ kinh đặc biệt thì gọi là Biệt thân luận. Chẳng hạn như Trung luận và Nhiếp đại thừa luận là các luận thuyết minh chung về giáo nghĩa các kinh Đại thừa, cho nên thuộc Thông thân luận; còn luận Đại trí độ thì chỉ giải thích riêng bộ kinh Bát Nhã, cho nên thuộc Biệt thân luận.Trong Tam luận huyền nghĩa, ngài Cát tạng nói rằng: Luận có Thông luận và Biệt luận. Luận phá chung mê chấp của Đại thừa, Tiểu thừa và diễn bày giáo nghĩa Đại thừa, Tiểu thừa, gọi là Thông luận; nếu luận chỉ phá riêng mê chấp của Đại thừa, Tiểu thừa và trình bày giáo nghĩa của Đại thừa, Tiểu thừa thì gọi là Biệt luận. Trong Tứ giáo nghĩa, ngài Trí khải cũng liệt kê các luận Đại thừa thuộc Thông thân(như luận Nhiếp đại thừa, luận Thành duy thức, Trung luận...); các luận Tiểu thừa thuộc thông thân(như A tì đàm, Thành thực...); các luận Đại thừa thuộc Biệt thân (như luận Đại trí độ); các luậnTiểu thừa thuộc Biệt thân (như luận A tì đàm tì bà sa)khác nhau. Còn trong Tịnh độ giáo, đối với bộ luận Tịnh độ của ngài Thế thân thì rốt cuộc thuộc về Tam kinh thông thân (trình bày chung giáo nghĩa của cả 3 bộ kinh Tịnh độ là kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô lượng thọ và kinh A di đà) hay thuộc về Vô lượng thọ kinh biệt thân(chỉ trình bày giáo nghĩa riêng của kinh Vô lượng thọ)? Về vấn đề này, từ xưa đã có nhiều ý kiến khác nhau.
thông thân thị thủ nhãn
(通身是手眼) Tiếng dùng trong Thiền lâm.Vốn chỉ cho toàn thân đều là tay, toàn thân đều là mắt; trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để nêu rõ ý quên mất sự đối lập chủ khách mà đạt đến cảnh giới nhất như. Bích nham lục tắc 89 (Đại 48, 213 hạ) ghi: Ngài Vânnham hỏi ngài Đạo ngô: Bồ tát Đạibi dùng nhiều tay nhiều mắt để làm gì?.Ngài Đạo ngô đáp: Giống như người lúc nửa đêm vói tay về sau lưng mò chiếc gối.Ngài Vân nham nói: Tôi hiểu rồi. Ngài Đạo ngô hỏi: Ông hiểu cái gì? Ngài Vân nham đáp: Toàn thân là tay mắt. Ngài Đạo ngô bảo: Đã nói thì phải nói cho cùng tột, ông mới chỉ nói được 8 phần. Ngài Vân Nham hỏi lại: Vậy sư huynh hiểu thế nào?. Ngài Đạo Ngô nói: Toàn thân là tay mắt!. [X. Bích nham lục tắc 18; Thung dung lục tắc 54].
thông thạo
Expert.
thông thụ biệt thụ
(通受別受) Cũng gọi Tổng thụ biệt thụ. Khi thụ giới, thụ tổng quát gọi là Thông thụ; còn thụ riêng từng phần một thì gọi là Biệt thụ. Như lúc thụ Tam qui, trước hết qui y Phật, kế đến qui y Pháp, sau cùng qui y Tăng, tuần tự theo thứ lớp như thế, thụ riêng từng phần một, đó là Biệt thụ. Nếu cùng lúc, thụ tổng quát xướng đủ qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng thì là Thông thụ. Cũng như lúc thụ Thập giới, trước hết thụ giới không giết hại, kế đến thụ giới không trộm cắp, cho đến sau cùng thụ giới không cất giữ vàng bạc châu báu, theo thứ tự như thế, thụ riêng từng giới một thì là Biệt thụ; còn nếu xướng: Một không giết hại, hai không trộm cắp, cho đến mười không nắm giữ vàng bạc châu báu, cùng lúc thụ đủ 10 giới, gọi là Thông thụ. Khi thụ Bồ tát tam tụ tịnh giới cũng có chia ra Thông thụ và thụ, thụ tổng quát Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiếp chúng sinh giới, gọi là Thông thụ; còn nếu y cứ riêng vào Nhiếp luật nghi giới mà thụ các thứ giới khác nhau của 7 chúng như 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới Cụ túc thì gọi là Biệt thụ. Tức là Nhiếp thiện pháp giới, Nhiếp chúng sinh giới chỉ có Thông thụ, còn Nhiếp luật nghi giới thì có cả Thông thụ và Biệt thụ. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.16; Phạm Võng kinh Bồ Tát giới bản sớ Q. thượng (Nghĩa tịch); Luật tông cương yếu Q. thượng; luận Hiển giới Q. trung]. (xt. Tam TụTịnhGiới, ThụGiới).
thông tri
To notify—To advise—To announce.
thông tuý
(通醉) Thiền tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người ở Nộigiang, tỉnh Tứxuyên, họ Lí, tự Trượng tuyết. Sư lễ ngài Thanh nhiên ở núi Cổ tự cầu xuất gia và được độ. Một hôm, sư đọc kinh Pháp hoa đến câu (Đại 9, 9 thượng): Dù chỉ đưa một tay lên, hoặc lại hơi cúi đầu (...) cũng đều thành Phật đạo liền kỳ vọng đắc đạo, nên sư đến núi Nga mi tu niệm. Sau, sư nghe biết đạo phong ngài Mật vân Viên ngộ, bèn chuyển sang tu thiền, ở ẩn tại núi Cổ tự để đọc ngữ lục của các thiền sư, tham yết đệ tử nối pháp của ngài Viên ngộ ở Vạn phong là Thiền sư Phá sơn Hải minh. Mùa thu năm Sùng trinh thứ 9 (1636), sư đến chùa Thiên đồng tham yết ngài Viên ngộ được đại ngộ, sư trở về Vạn phong được thiền sư Hải minh ấn khả. Niên hiệu Vĩnh lịch năm đầu (1647), sư lánh nạn đến Tuân nghĩa; năm Vĩnh lịch thứ 3 (1649), sư đổi thiền viện Long hưng ở thượng lưu sông An lạc tại tỉnh Giang tây thành Vũ môn và lấy đó làm đạo tràng hoằng dương Thiền pháp, nhóm các Thiền sinh từ khắp nơi về giảng truyền suốt 12 năm, các học trò sư như Triệt cương... ghi chép hạnh nghiệp của sư trong thời gian này mà tập thành Kỉ niên lục 1 quyển. Sư từng gom chép các pháp ngữ và hành trạng của tăng tục xưa nay gồm 1010 vị, trải hơn 30 năm, tập thành bộ Cẩm giang thiền đăng 20 quyển và mục lục 1 quyển (1627). Năm Khang hi 34 (1695) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 86 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Ngữ lục 12 quyển, Lí trung hành 1 quyển, Thanh tùng thi tập 1 quyển, Tạp trứ văn 2 quyển. [X. Tân tục cao tăng truyện Q.24; Minh quí Điềnkiềm Phật giáo khảo Q.1, 2).
thông tuệ
Supernatural powers and wisdom, the former being based on the latter.
; See Thông Huệ.
Thông Tải
(通載, Tsūsai): xem Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載, Bussorekidaitsūsai) ở trên.
thông vi
(通微) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang, họ Trương, tự là Vạn Như, người đời gọi sư là Vạn Như Thông Vi thiền sư. Năm 19 tuổi, sư xuất gia và thụ giớiCụ túc ở chùa Hưng thiện. Ban đầu, sư tham yết ngài Văn cốc, lại lần lượt tham yết các bậc danh túc. Một hôm, sư tình cờ xem kinh Lăng nghiêm đến câu (Đại 19, 111 trung): Cái gì trả về được thì tự nhiên chẳng phải là ông, cái không trả về được chẳng phải ông thì là ai? tựa hồ có chỗ được. Sư bèn đến chùa Kim túc tham yết ngài Mật vân Viên ngộ, nhưng qua thời gian khá lâu mà không khế hợp. Một hôm, sư vào thành, thấy người nhà bên đường đánh mắng đứa ở (Vạn Tục 141, 202 thượng): Nào! Xem mày giấu ở đâu?, sư bỗng toàn thân hớn hở được ngộ,sau được nối pháp ngài Viên ngộ. Năm Sùng trinh 13 (1640), sư khai pháp ở viện Như như, sau dời đến ở Tào sơn tại Bồ châu, sau lại dời đến núi Longtrì hoằng hóa hơn 10 năm. Năm Thuận trị 14 (1657) đời Thanh, sư thị tịch,thọ64 tuổi. Sư có tác phẩm: Vạn như Vi thiền sư ngữ lục 10 quyển, hiện được thu vào Minh tục tạng tập 70. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng toàn thư Q.66; Tục chỉ nguyệt lục Q.19].
thông vinh
Thiền Sư Thông Vinh—Zen Master Thông Vinh—Thiền sư Việt Nam, quê ở Hải Dương. Thuở nhỏ ngài xuất gia tại chùa Hàm Long. Về sau, ngài theo làm đệ tử Hòa Thượng Phúc Điền và trở thành Pháp tử đời 44 dòng Lâm Tế. Phần lớn cuộc đời ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch hồi nào và ở đâu không ai biết—A Vietnamese Zen master from Hải Dương. He left home at his young age to go to Hàm Long Temple to become a monk. Later, he became a disciple of Most Venerable Phúc Điền. He was the Dharma heir of the 44th generation of the Linn-Chih Zen Sect. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. His whereabout and when he passed away were unknown.
thông vân
(通雲) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người tỉnh Giangtô, họ Từ, tự Thạch kì, người đời gọi sư là Thạch kì Thông vân thiền sư. Từ nhỏ, sư đã nhiều bệnh. Sau, sư cầu xuất gia ở chùa Nam quảng, học thông nội điển và ngoại điển. Một hôm, tình cờ sư xem bài kệ do ngài Trung phong Minh bản viết trên vách chùa Hộ quốc ở huyện Gia định, tỉnh Giang Tô mà có cảm ngộ, sư bèn đến tham yết ngài Trạm nhiên Viên trừng chùa Hiển thánh, rồi lại tham yết ngài Mật vân Viên ngộ, thường trình lên chỗ thấy biết của mình, nhưng lần nào cũng bị ngài Viên ngộ quát mắng. Một hôm, sư vừa bước vào thất chưa kịp mở miệng thì ngài Viên ngộ đã giơ gậy lên đánh, sư liền đại ngộ, những điều nghi ngờ trước nay bỗng tan biến hết. Năm Sùng trinh 14 (1641), sư trụ Linh thứu thiền tự ở tỉnh Chiết giang, mở rộng Thiền pháp. Sau, sư còn lần lượt hoằng pháp, giáo hóa ở các chùa như Tịnh cư thiền tự ở núi Cảnh tinh thuộc huyện Thiên Thai, chùa Tư Thánh, núi Tuyết Đậu, Phổ Nhuận thiền viện, Hương Sơn thiền tự, Mật ấn thiền tự, núi Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang... Năm Khang Hi thứ 2 (1663) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 70 tuổi. Sư có tác phẩm: Tuyết đậu Thạchkì thiền sư ngữ lục 15 quyển.
thông vấn
(通問) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở Ngôgiang, tỉnh Giangtô, họ Du, hiệu Nhượcam, người đời gọi sư là Nhược am Thôngvấn thiền sư. Thân phụ sư đã nhiều tuổi, lo không con nên đến chùa Thứu phong mở hội Vô già 100 ngày cầu tự, sau sinh ra sư đúng theo sở nguyện. Lúc ấu thơ sư đã mất nơi nương tựa, năm 16 tuổi mới lập chí học hành, đọc nhiều sách vở. Một hôm, tình cờ sư xem kinh Lăng nghiêm, tựa hồ như có chỗ ngộ, sư liền đến Khánh sơn tham yết ngài Tham ẩn Viên tu, đã lâu mà không khế hợp. Năm 24 tuổi sư bị ép buộc kết hôn, bèn nửa đêm đi đến chùa Lí An tại Nam Giản lễ ngài Pháp vũ Phật thạch cầu xuất gia, rồi đến chùa Kim túc thờ ngài Mật vân Viên ngộ làm thầy, không được khế hợp, sư lại trở về Khánh sơn. Một hôm, sư nghe tiếng gió thổi ngoài sườn núi mà có chỗ tỉnh ngộ. Sau, sư trụ chùa Lí an, lại dời đến Giáp sơn, qua lại các vùng thuộc Giang đông, lấy việc khôi phục những ngôi chùa đã hoang phế và tạo hoàn cảnh yên ổn cho tăng ni tu học làm nghĩa vụ chính. Năm Thuận Trị 12 (1655) đời Thanh, sư thị tịch ở chùa Ứngthiên tại Namtầm, tỉnh Giang Tô, hưởng thọ 52 tuổi. Sư để lại các trứ tác: Ngũ hội ngữ lục 12 quyển, Tục Đăng tồn cảo 20 quyển, Khánh thất hậu lục 1 quyển. [X. Chính nguyên lược tập Q.2; Ngũ đăng toàn thư Q.68; Tục chỉ nguyệt lục Q.19].
thông điệp
Message—Diplomatic note.
thông điệp bất tử
Immortal message—The Buddha's teaching is an immortal message to all of us.
thông điệp vượt thời gian
Timeless message.
thông đạo quán
(通道觀) Tháng 5 năm Kiến đức thứ 3 (574) đời Vũ đế nhà Bắc Chu phế bỏ Phật giáo và Đạo giáo, vì muốn bồi dưỡng và bảo tồn nghĩa lí căn bản của 2 tông giáo này nên các nhân sĩ thiết lập Thông đạo quán, chọn các nhân tài ưu tú trong giới tăng lữ, đạo sĩ đã bị bắt buộc hoàn tục trong pháp nạn để làm học sĩ ở Thông đạoquán, mặc áo, đội mũ, cầm hốt, đi giày, giảng Lão Trang, Chu dịch, kiêm nghiên cứu kinh Phật. Những học giả trong Thông đạo quán thuộc giới tăng lữ Phật giáo thì có Phổ khoáng, Nhậm đạo lâm, Ngạn tông...Khi Vũ đế mất vào năm Kiến đức thứ 7 (578) thì Thông đạo quánvẫn còn, về sau, nó bị bãi bỏ vào lúc nào thì không được biết. [X. Truyện ngài Đạo an trong Tục cao truyện Q.23; Đại đường nội điển lục Q.5; Vũ đế kỉ trong Chu thư Q.5; Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo chương 14].
thông đạt
To pervade, perceive; unimpeded, universal.
; Hiểu rõ—To pervade—To perceive—To understand thoroughly.
thông đạt bồ đề tâm
Đạt được Bồ Đề Tâm nhờ vào vị Thầy (A Xà Lê) dạy dỗ, một trong Ngũ Tướng Thành Thân—To attain to the enlightened mind; the stage where one understands the truth, one of the five stages in Vairocana Buddhahood. ** For more information, please see Ngũ Chuyển, and Ngũ Tướng Thành Thân.
thông đạt phật đạo
Entering the Buddha Path—Theo Kinh Duy Ma Cật, chương tám, phẩm Phật Đạo, cư sĩ Duy Ma cật đã nói về “Thông Đạt Phật Đạo” như sau—According to the Vimalalkirti Sutra, chapter eighth, the Buddha Path, Upasaka Vimalakirti explained to Manjusri Boshisattva about “Entering the Buddha Path” as follows: • Bấy giờ ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Bồ Tát thế nào là thông đạt Phật đạo?”—Manjusri asked Vimalakirti: “How does a Bodhisattva enter the Buddha path?” • Duy Ma Cật đáp: “Bồ Tát thực hành phi đạo (trái đạo) là thông đạt Phật đạo.”—Vimalakirti replied: “If a Bodhisattva treads the wrong ways (without discrimination) he enters the Buddha path.” • Văn Thù Sư Lợi hỏi: “Thế nào là Bồ Tát thực hành phi đạo?”—Manjusri asked: “What do you mean by a Bodhisattva treading the wrong ways?” • Duy Ma Cật đáp: “Nếu Bồ Tát gây năm tội vô gián mà không buồn giận, đến ở trong địa ngục mà không có tội cấu; đến trong loài súc sanh mà không có những lỗi vô minh kiêu mạn; đến trong ngạ quỷ mà vẫn đầy đủ công đức; đến cảnh sắc và vô sắc giới mà không cho là thù thắng; hiện làm tham dục mà không nhiễm đắm; hiện làm giận dữ mà đối với chúng sanh không có ngại gì; hiện cách ngu si mà dùng trí tuệ điều phục tâm mình; hiện làm hạnh tham lam bỏn xẻn mà bỏ tất cả của cải, không tiếc thân mạng; hiện pháp giới cấm mà ở trong tịnh giới, đến như tội bé nhỏ cũng hết lòng sợ sệt; hiện làm thù hận mà thường từ bi nhẫn nhục; hiện làm lười biếng mà siêng tu các công đức; hiện làm loạn ý mà thường niệm định; hiện làm ngu si mà thông đạt trí tuệ thế gian và xuất thế gian; hiện làm dua dối mà phương tiện thuận theo nghĩa các kinh; hiện làm kiêu mạn mà đối với chúng sanh mình cũng như cầu đó; hiện làm tất cả phiền não mà lòng thường thanh tịnh; hiện vào trong chúng ma mà thuận theo trí tuệ của Phật, không theo đạo giáo khác; hiện làm hàng Thanh Văn mà nói các pháp chưa từng nghe cho chúng sanh; hiện vào hàng Bích Chi Phật mà thành tựu lòng đại bi, giáo hóa chúng sanh; hiện vào hạng nghèo nàn mà có tay đầy đủ công đức; hiện vào hạng tàn tật mà đủ tướng tốt để trang nghiêm thân mình; hiện vào hạng hèn hạ mà sanh trong dòng giống Phật, đầy đủ các công đức; hiện vào hạng người ốm yếu xấu xa mà được thân Na la diên (kim cang), tất cả chúng sanh đều muốn xem; hiện vào hạng già bệnh mà đoạn hẳn gốc bệnh, không còn sợ chết; hiện làm hạng giàu có mà xem là vô thường, không có tham đắm; hiện có thê thiếp, thế nữ mà tránh xa bùn lầy ngũ dục; hiện nơi hạng đần độn mà thành tựu biện tài, vẫn giữ tổng trì; hiện vào tà tế mà dùng chánh tế độ chúng sanh; hiện vào khắp các đạo, để đoạn đứt nhơn duyên; hiện vào Niết Bàn mà không bỏ sanh tử. Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu Bồ Tát làm được những việc trái đạo như thế, đấy là thông suốt Phật đạo.”—Vimalakirti replied: “(In his work of salvation) if a Bodhisattva is free from irritation and anger while appearing in the fivefold uninterrupted hell; is free from the stain of sins while appearing in (other) hells; is free from ignorance, arrogance and pride while appearing in the world of animals; is adorned with full merits while appearing in the world of hungry ghosts; does not show his superiority while appearing in the (heavenly) worlds of form and beyond form; is immune from defilements while appearing in the world of desire; is free from anger while appearing as if he were resentful; uses wisdom to control his mind while appearing to be stupid; appears as if he were greedy but gives away all his outer (i.e. money and worldly) and inner (i.e. bodily) possessions without the least regret for his own life; appears as if he broke the prohibitions while delighting in pure living and being apprehensive of committing even a minor fault; appears as if he were filled with hatred while always abiding in compassionate patience; appears as if he were remiss while diligently practicing all meritorious virtues; appears as if he were disturbed while always remaining in the state of serenity; appears as if he were ignorant while possessing both mundane and supramundane wisdoms; appears as if he delighted in flattering and falsehood while he excels in expedient methods in conformity with straightforwardness as taught in the sutras; shows arrogance and pride while he is as humble as a bridge; appears as if he were tormented by troubles while his mind remains pure and clean; appears in the realm of demons while defeating heterodox doctrines to conform with the Buddha wisdom; appears in the realm of sravakas where he expounds the unheard of supreme Dharma; appears in the realm of pratyeka-buddhas where he converts living beings in fulfillment of great compassion; appears amongst the poor but extends to them his precious hand whose merits are inexhaustible; appears amongst the crippled and disabled with his own body adorned with the excellent physical marks (of the Buddha); appears amongst the lower classes but grows the seed of the Buddha nature with all relevant merits; appears amongst the emaciated and ugly showing his strong body to the admiration of them all; appears as an old and ill man but is actually free from all ailments with no fear of death; appears as having all the necessities of life but always sees into impermanence and is free from greed; appears to have wives, concubines and maids but always keeps away from the morass of the five desires; appears amongst the dull-witted and stammerers to help them win the power of speech derived from the perfect control of mind; appears amongst heretics to teach orthodoxy and deliver all living beings; enters all worlds of existence to help them uproot the causes leading thereto; and appears as if entering nirvana but without cutting off birth and death; Manjusri, this Bodhisattva can tread heterodox ways because he has access to the Buddha path.”
thông đạt tâm
To attain to the enlightened mind; the stage of one who has passed through the novitiate and understand the truth.
; See Thông đạt Bồ đề tâm.
; (通達心) Cũng gọi Thông đạt bản tâm. Gọi đủ: Thông đạt bồ đề tâm. Một trong Ngũ tướng thành thân quán. Chỉ cho hành giả đầu tiên nhờ sự khai thị của vị A xà lê mà quán xét thông suốt tâm bồ đề sẵn có đầy đủ tính đức của mình. Đây là giai vị tu pháp quán Tâm nguyệt luân. Tức quán tưởng tâm mình trụ trong Tam ma địa, miệng tụng chân ngôn Tự tính thành tựu; quán tưởng hình dáng tâm mình giống như vầng trăng, ẩn trong lớp sương mỏng. Sương mỏng tượng trưng cho vô minh, vầng trăng tượng trưng cho tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có; hành giả cứ theo đó mà quán thì dần dần sẽ gột sạch vọng tưởng vô minh. (xt. Ngũ Tướng Thành Thân Quán).
thông đạt vị
(通達位) Cũng gọi Kiến đạo vị, Kiến vị, Kiến địa.Chỉ cho giai vị thông đạt chân như, là 1 trong 5 giai vị tu hành(Duy thức ngũ vị) để ngộ nhập Chân như duy thức do tông Duy thức lập ra. Tức ở giai vị này, Bồ tát đã chứng được trí Vô phân biệt, dứt trừ tất cả tâm phân biệt về năng thủ, sở thủ, thể nhập pháp giới bình đẳng. Nghĩa là trongThế đệ nhất pháp(1 trong 4 giai vị Thiện căn), hành giả nương theo định Vô gián, sinh khởi trí như thực thượng phẩm, ấn chứng lí không của năng thủ, sở thủ, được trí vô phân biệt căn bản, xa lìa tâm sở đắc(tâm còn thấy có cái để được), chứng biết rõ ràng chân lí Nhân không, Pháp không, đoạn trừ tùy miên phân biệt về Phiền não chướng và Sở tri chướng, chân chính trụ trong thực tính Duy thức gọi là Thông đạt vị. Theo luận Thành duy thức quyển 9 thì giai vị này có Chân kiến đạo và Tướng kiến đạo khác nhau. Chân kiến đạo là trí vô phân biệt căn bản, thực chứng chân như của tính Duy thức, đoạn trừ Tùy miên phân biệt, tuy trải qua nhiều sát na mới được rốt ráo nhưng tướng của các sát na ấy bằng nhau, cho nên gọi chung là Nhất tâm chân kiến đạo. Còn Tướng kiến đạo thì thuộc về trí Hậu đắc, tức chứng được tướng Duy thức. Tướng kiến đạo lại còn có Hành tướng tướng kiến đạo và Cửu tâm tướng kiến đạo khác nhau. Hành tướng tướngkiến đạo lại chia làm 3 tâm tướng kiến đạo và 16 tâm tướng kiến đạo. Khi Bồ tát vào Chân kiến đạo và Tướng kiến đạo thì liền sinh trong nhà Như lai, trụ nơi Cực hỉ địa (Sơ địa). [X. phẩm Chân thực trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận]. (xt. Kiến Đạo).
thông đồ
Con đường rộng mở (đưa đến Niết Bàn)—Thoroughfare, an open way that leads to nirvana.
; (通途) Đối lại: Biệt đồ. Con đường chung. Nghĩa là phổ thông, cộng thông. Nói chung, nghĩa lí, giáo thuyết cộng thông của Phật giáo, gọi là Thông đồ giáo nghĩa; nếu giáo nghĩa chỉ hạn cuộc trong một tông phái đặc biệt, nhất định thì gọi là Biệt đồ giáo nghĩa. Biệt đồ giáo nghĩa là giáo thuyết riêng của một tông, cho nên đặc biệt chú trọng hơn về những điểm khác với diệu tâm của các tông khác. Như chủ trương phàm phu vãng sinh Báo độ chính là giáo thuyết biệt đồ của tông Tịnh độ.
thông đồng
To collute.
Thông 聰
[ja] ソウ sō ||| (1) Wise, sharp, quick. (2) Excellent hearing, quick understanding. => 1. Thông thái, thông minh, nhanh nhẹn. 2. Nghe rõ, hiểu nhanh.
thù
To kill, exterminate; different; very.
; 1) Đặc thù: Surpassing—Extraordinary—Special. 2) Đơn vị cân lượng tương đương với một phần hai mươi bốn (1/24) lượng: A weight equal to the tweny-fourth part of a tael. 3) Đồng tiền thời cổ: A small ancient coin. 4) Giết hại: To kill. 5) Hiếm hoi: Rare. 6) Khác biệt: Different. 7) Tàn sát: To exterminate. 8) Thù địch: To be hostile. 9) Thù Tạc: Đền đáp—To requite.
thù diệu thân
Surpassingly wonderful body, i.e. Padmottara, the 729th Buddha of the present kalpa.
; Sắc thân thù diệu, tên của Thù Thắng Diệu Thân Như Lai, vị Phật thứ 729 trong 1000 vị Phật trong Hiền kiếp—Surpassingly wonderful body, i.e. Padmottara, the 729th Buddha of 1000 Buddhas of the present kalpa.
Thù diệu 殊妙
[ja] シュミョウ shumyō ||| Extraordinarily wonderful; outstanding wonders; peculiarly fine. 〔法華經、T 262.9.3c1〕 => Kỳ diệu phi thường; kỳ diệu vô cùng; vi diệu khác thường.
thù hoàn
To pay a vow—To repay.
thù hằn
Revengeful—Vindictive—Hostile.
thù nghịch
Hostile—Unfriendly.
thù nhân cảm quả
(酬因感果) Đền đáp công đức của nhân hạnh mà cảm được quả báo. Báo thân trong ba thân tức là thân Thù nhân cảm quả. (xt. Tam Thân, Nhân Quả).
thù oán
Hatred.
Thù thường 殊常
[ja] シュジョウ shujō ||| Extraordinary. => Khác thường. .
thù thắng
Xem Tăng thượng.
; Rare, extraordinary, surpassing, as the thù thắng điện and trì surpassing palace and lake of Indra.
; Visesa (p & skt)—Lỗi lạc—Siêu việt nhất trên đời—Vượt trội—Xuất chúng—Distinction—Exalted—Excellence—Extraordinary—Rare—Superiority—Surpassing—Transcendent.
; (殊勝) Tính cách siêu tuyệt, hiếm có của một sự kiện gọi là Thù thắng. Như trong kinh thường tán thán Tịnh độ cực lạc, vì đức Phật A di đà đã phát 48 đại nguyện độ khắp các chúng sinh, bất cứ ai, hễ có một niệm thiện thì đều được vãng sanh, hóa sinh trong hoa sen, đó thật là một việc hiếm có.
thù thắng trì
Ao Thù Thắng hay ao báu ở ngay trước cung điện của vua Trời Đế Thích (theo Câu Xá Luận, trong tòa thành lớn nơi trời Đế Thích đóng đô, có điện Thù Thắng, trước điện có ao Thù Thắng, với vô số châu báu đầy đủ trang nghiêm, che khắp Thiên cung)—The surpassing lake of Indra.
; (殊勝池) Chỉ cho cái ao nằm ở phía trước điện Thùthắng của trời Đếthích. [X. kinh Lục ba la mật Q.3; luận Câu xá Q.11].
thù thắng điện
Cung điện của vua Trời Đế Thích—The surpassing palace of Indra.
; (殊勝殿) Cung điện của trời Đếthích. Trong điện có nhiều bảo vật vi diệu trang sức đầy đủ trang nghiêm, hơn hẳn các thiên cung khác, nên gọi là Thù thắng.
Thù thắng 殊勝
[ja] シュショウ shushō ||| (1) Especially excellent (viśesa, viśista, pranīta). (2) The most excellent among a group of things. (3) Enlightenment. => 1. Đặc biệt, ưu tú (s: viśesa, viśista, pranīta). 2. Tuyệt hảo nhất trong một nhóm vật. 3. Giác ngộ.
thù trí a la bà
Jyotirasa (skt)—Dịch là “quang vị” hay mùi vị của ánh sáng; người ta nói đây là tên riêng của Kharostha—Translated as the flavour of the light, said to be the proper name of Kharostha.
thù trưng già
Một trong những loại khổ hạnh, mặc rách rưới và ăn những thứ rác bỏ—One of several kinds of ascetics who dressed in rags and ate garbage.
thù tạc
To offer wine.
thù vặt
Thù ghét ai vì chuyện nhỏ nhặt—To bear a grudge against someone for a petty thing.
Thù xưng 殊稱
[ja] シュショウ shushō ||| Another name; a different name (for the same thing). => Tên gọi khác (của cùng một vật).
thù y
Chiếc áo rất nhẹ của chư Thiên—The gossamer clothing of the devas, or angels.
; (銖衣) Áo rất nhẹ. Thù là tên của một dụng cụ dùng để cân nặng, nhẹ ở Ấn độ thời xưa, chỉ cho đơn vị cực nhỏ, nhẹ. Cho nên Thù y được dùng để ví dụ cái áo rất nhẹ. Kinh Phật cho rằng áo của các người trời có trọng lượng từ vài thù đến nửa thù.
thù ân
Exceptional favour.
thù đặc
Particular, very special.
thù để sắc ca
Jyotiska (skt)—See Thụ Đề Ca.
thù địch
Adversary—Enemy—Foe.
Thù 殊
[ja] シュ shu ||| (1) To kill, to exterminate. (2) To distinguish, to define. (3) Different, unlike. Really, very, extremely. (4) Especially, exceptionally, very, extremely. => 1. Giết hại, tiêu diệt. 2. Phân biệt, định rõ. 3. Khác, không giống. Thực ra, rất, cực kỳ. 4. Đặc biệt , khác thường, tột cùng, cực độ.
thùng rác
Garbage box.
thùy
1) Rũ xuống—Droop—Let down—Pass down. 2) Ngủ: To sleep.
thùy dục
Desire for sleep.
thùy ngữ
Thùy Thị—Tuyên bố—To make an announcement.
thùy phát
(垂髮) Tóc xõa. Nghĩa là tóc rủ xuống 2 vai. Trong các bức vẽ hình tượng Phật, Bồtát, thông thường những vị có hình tướng Bồ tát thì ngoài búi tóc trên đỉnh đầu, thường có vị rủ tóc xuống 2 vai, như Minh vương bất động nói trong phẩm Cụ duyên, kinh Đại Nhật quyển 1. Hình tượng Minh vương này là: Tóc xõa xuống vai bên trái, 1 mắt nhìn trừng trừng, hiện tướng lẫm liệt, giận dữ, có lửa hừng bao quanh thân. Nhưng theo luật qui định thì Bồtát xuất gia và tỉ khưu đều phải cạo tóc chứ không được để tóc dài. (xt. Thế Phát).
Thùy Thu
(垂秋): đến gần mùa Thu, tức chỉ cho sự tàn lụi, băng hoại, suy tàn, thời mạt pháp. Phật pháp thùy Thu (佛法垂秋) nghĩa là đang thời kỳ mạt pháp. Như trong Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562) quyển 6 có câu: “Tượng Pháp thùy Thu, danh lợi căn thâm, như tượng một thâm nê, châu trầm cự hải (像法垂秋、名利根深、如象沒深泥、珠沉巨海, thời Tượng Pháp sắp tàn, gốc danh lợi sâu nặng, như voi lún bùn sâu, hạt châu chìm biển lớn).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 13 có đoạn: “Thiết niệm đạo pháp thùy Thu, chánh tông đạm bạc, lại ngô sư thừa đại bi nguyện luân, cao thụ pháp tràng, tông thuyết kiêm sướng, Chỉ Quán song vận, Tỳ Ni độc yết, Tịnh Độ chuyên môn, sử cuồng tử tri quy (切念道法垂秋、正宗澹薄、賴吾師乘大悲願輪、高豎法幢、宗說兼暢、止觀雙運、毗尼獨揭、淨土專門、使狂子知歸, thiết nghĩ đạo pháp lu mờ, chánh tông phai nhạt, nhờ Thầy ta nương bánh xe nguyện đại bi, dương cao cờ pháp, tông môn và giáo thuyết cùng tuyên xướng, Chỉ và Quán đều vận hành, Luật nghi xem trọng, Tịnh Độ chuyên môn, khiến cho người con điên biết quay về).” Hay như trong Sa Di Luật Nghi Tỳ Ni Nhật Dụng Hợp Tham (沙彌律儀毗尼日用合參, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1120) có câu: “Cao tăng dĩ Phật pháp vi kỷ nhiệm, cố văn ngọ hậu cử thoán, tri pháp vận thùy Thu, cố thế khấp nhi bi thán dã. Kim nhân thể nhược đa bệnh, dục số số thực giả, hoặc bất năng trì thử giới; cố cổ nhân xưng vãn thực vi dược thạch, thủ liệu bệnh chi ý dã (高僧以佛法爲己任、故聞午後舉爨、知法運垂秋、故涕泣而悲嘆也、今人體弱多病、欲數數食者、或不能持此戒、故古人稱晚食爲藥石、取療病之意也, vị cao tăng lấy pháp Phật làm trách nhiệm của mình, nên sau buổi trưa nghe nấu ăn, mới biết vận thế Phật pháp suy tàn, vì vậy rơi lệ mà buồn than vậy. Người đời nay thân thể suy yếu nhiều bệnh, muốn ăn nhiều lần, nên không thể giữ giới này được, vì vậy người xưa gọi buổi ăn chiều là Dược Thạch, với ý để trị bệnh vậy).”
thùy thị
See Thùy Ngữ.
; (垂示) Cũng gọi Thùy ngữ, Thùy thuyết, Thị chúng. Thùy thuyết thị chúng (dạy bảo đại chúng). Trong Thiền lâm, vị thầy giảng nói tông yếu cho đệ tử, đại chúng nghe là Thùythị. Khi giảng dạy pháp yếu, trước dùng các câu ngắn gọn, sáng sủa để nêu rõ những điểm then chốt muốn nói, cũng gọi là Thùy thị, như Bích nham lục, Thung dung lục... đều trước hết thùy thị, kế nêu bản tắc, rồi sau cùng mới bình xướng. Ngoài ra, sau khi thùy thị, vị thầy tiếp nhận những lời thưa hỏi của người học để giải đáp những nghi nan của họ, gọi là Sách ngữ, Sách thoại, Câu ngữ, Câu thoại. [X. phẩm Định tuệ trong Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh; Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục; Thiền lâm bảo huấn; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thùy thủ
(垂手) Đối lại: Bất thùy thủ. Rủ tay xuống. Trong Thiền lâm, khi tiếp dắt người học, bậc thầy dùng môn hướng hạ(tức Đệ nhị nghĩa môn), ân cần, tha thiết chỉ dạy với tất cả niềm thương mến, giống như cha mẹ rủ đôi tay vỗ về con trẻ, cho nên gọi là Thùy thủ. Cùng nghĩa với dụng ngữ này còn có Nhập triềnthùy thủ, Thùy thủ vị nhân, Bất thùy thủ(nghĩa là trong tâm chỉ có chí thượng cầu bồ đề chứ không có nguyện hạ hóa chúng sinh). Bởi vậy, nếu dùng cả 2 dụng ngữ Thùy thủ bất thùy thủ làm một thì tức dùng thay cho dụng ngữ Xuất thế bất xuất thế. Ngoài ra, Thùy thủ còn chỉ cho chức vị của 2 ban Đông, Tây, vì chức vị của 2 ban này đứng ở 2 bênTrụ trì, giống như 2 tay của vịTrụ trì rủ xuống. [X. Bích Nham lục tắc 2, tắc 4].
thùy tích
Từ bản địa của chư Phật và chư Bồ Tát mà thị hiện ra nhiều thân thể để tế độ chúng sanh (với dấu tích còn để lại)—Traces—Vestiges—Manifestations or incarnations of Buddhas abd Bodhisattvas in their work of saving the living.
; (垂迹) Từ bản thể(Bản địa), Phật, Bồ tát thị hiện ra các thứ thân hình để cứu độ chúng sinh. Tư tưởng này bắt nguồn từ thuyết Bản tích nhị môn của kinh Pháp hoa và thuyết Bản địa gia trì của kinh Đại nhật, như những điều được nói trong phẩm Thọ lượng của kinh Pháp hoa và trong Tứ trùng mạn đồ la Thai tạng giới của kinh Đại nhật chính là sự biểu hiện đầy đủ tư tưởng này. Pháp thân, Báo thân trong 3 thân Phật là Bản địa, còn Hóa thân là Thùy tích. Đứng về phương diện Thùy tích mà nói thì các trời, các thần ở viện Ngoại kim cương thuộc lớp thứ 4 của Thai tạng giới, kinh Đại nhật, trong tín ngưỡng của Ấn độ từ nghìn xưa, đều là Thùy tích của Đại nhật Như lai. Phật giáo Nhậtbản đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng Bản địa thùy tích này. Vì lúc Phật giáo mới truyền vào Nhậtbản, để dung hợp với tín ngưỡng Thần đạo cố hữu truyền thống của Nhậtbản, các vị cao tăng Nhật bản như Hànhcơ, Tốitrừng, Khônghải... mới đề xướng tư tưởng này, cho rằng Phật và Bồtát của Phật giáo là Phật Bản địa (Phật gốc), còn các thần của Thần đạo Nhật Bản là Phật Thùy tích(Phật ngọn – Phật hóa thân), đó là khởi đầu của tư tưởng Thần Phật tập hợp của Phật giáo Nhật bản. Trường hợp này cũng giống như lúc Phật giáo mới truyền vào Trung quốc. Bấy giờ, để tránh bị tư tưởng Nho gia truyền thống bài xích, nên 1số vị cao tăng đem dung nhiếp những tín điều cơ bản của Phật giáo với Nho gia, như đem Ngũ giới phối hợp với Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.Chú duy ma kinh tự (Đại 38, 327 thượng) nói; Nhưng cửa kín khó mở, Thánh ứng khác nhau, không có Bản địa thì không thể Thùy tích, chẳng nhờ Thùy tích thì không nương vào đâu để hiển Bản địa, Bản, Tích tuy khác, nhưng Bất tư nghị thì là một. (xt. Bản Địa Thùy Tích).
thú
1) Thú Vật: Animal—Beast. 2) Nơi Đi Đến (đặc biệt về tái sanh): Destination—Destiny especially on rebirth). ** For more information, please see Ngũ Thú.
; (趣) Phạm,Pàli:Gati. Hán dịch: Đạo. Chỉ cho sự sinh tồn hoặc thế giới sinh tồn mà chúng sinh sẽ sinh đến tùy theo những hành vi(nghiệp) do chính họ đã tạo tác. Đại khái, Thú được chia ra mấy loại sau đây: 1. Lục thú(cũng gọi Lục đạo): chỉ cho địa ngục, ngã quỉ, súc sinh (bàng sinh) A tu la, người và trời. 2. Ngũ thú(cũng gọi Ngũ đạo): Lục thú nếu bỏA tu la thì thành Ngũ thú. Đại thừa phần nhiều nói Lục thú, Thuyết nhất thiết hữu bộ thì nói Ngũ thú. Khi nói Ngũ thú thìA tu la được thu nhiếp vào các thú ngã quỉ, trời... Ngũ thú cũng gọi là Ngũ ác thú, đối lại với Tịnh độ vô lậu, tức uế độ hữu lậu, cũng chính là thế giới mê lầm. 3. Lục thú trên đây được chia làm hai loại Thiện thú và Ác thú: a. Thiệnthú:Chỉ cho3thú trời, người vàA tu la, đều do nghiệp thiện sinh ra, cho nên gọi là Tam thiện thú, cũng gọi là Tam thiện đạo. b. Ác thú: Chỉ cho 3 thú địa ngục, ngã quỉ và súc sinh, đều do nghiệp ác sinh ra, cho nên gọi là Tam ác thú, cũng gọi là Tam ác đạo. Tam ác thú cũng gọi là Tam đồ(Đồ nghĩa là đường, cũng có nghĩa là cực kì khổ sở, lầm than), chỉ cho hỏa đồ(con đường lửa đốt), đao đồ(con đường dao đâm) và huyết đồ(con đường uống máu), thông thường, theo thứ tự, tương đương với địa ngục, ngã quỉ và súc sinh. Tam ác thú nếu thêmA tu la thì thành Tứ ác thú. Ngoài ra, về nghĩa Thú, các sách vở đều giải thích khác nhau. Luận Câu xá quyển 8 giải nghĩa là nơi đi tới. Đại thừa nghĩa chương quyển 8, phần cuối giải thích Thú là do đối lại với Nhân mà nói, nhân thường hướng tới quả, mà quả thì do nhân thú mới có, vì thế gọi là Thú. Còn nhiếp đại thừa luận thích(Vô tính) quyển 4 thì giải thích chữ Thú trong 62 kiến thú là chỉ cho nghĩa phẩm loại. (xt. Lục Đạo).
thú bác ca
Svaka (S)Một trong 16 vị La hán được Phật phái đi hoằng pháp nước ngoài.
; (戍博迦) Phạm:Jìvaka. Cũng gọi Nhung bác ca, Cù ba ca, Oa ba kiết. Vị La hán thứ 9 trong 16 vị La hán. Vị Thánh này cùng với 900 vị A la hán quyến thuộc cùng ở trong núi Hương túy, giữ gìn chính pháp, làm lợi ích hữu tình. Theo bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu vẽ vào đời Đường thì Ngài ngồi nghiêng trên tảng đá, tay trái cầm quạt, tay phải co 3 ngón, ngửa bàn tayđặt trên đầu gối, ánh mắt rực sáng nhìn đăm đăm về phía trước. Thi hào Tô đông pha khen rằng: Bảy ngày một kiếp, Ba đời sát na; Chăm chỉ nghĩ gì, Co tay ngồi lặng; Ngài Thú Bác CaNgười co đã trụ, Người tin thì chưa. Ai hay trụ giữa co và tin này. Trong 16 vị La hán được truyền ở Tây tạng, ngài Thúbácca được xếp vào vị thứ 15.[X. phẩm Trìchính pháp trong kinh Đại bi Q.2; Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập].
thú chủ
Pasupati (skt)—Bát Du Bát Đa. 1) Chúa tể loài thú hay loài súc sanh: Lord of the animals, or herds. 2) Tên của một chi phái ngoại đạo: Name of a non-Buddhist sect.
thú chủ ngoại đạo
ParŪpata (S).
thú chủ ngoại đạo phái
(獸主外道派) Phạm:Pàzupata. Một trong các phái Thấp Bà thuộc Ấn độ giáo. Nói theo nghĩa rộng thì phái này khác với phái Thấp bà tất đàn (Phạm: Zaiva-siddhànta), riêng chỉ cho tông phái sùng bái Thấp bà (Phạm:Ziva) là Thú chủ. Còn nói theo nghĩa hẹp thì chỉ cho giáo phái được thành lập trước thế kỷ VIII, xưa gọi là ngoại đạo Đại tự tại thiên (Phạm: Màhezvara). Phái này chủ trương thần Chủ tể (Thấp bà) làĐộng lực nhân (Phạm:Kàraịa), còn ngã cá nhân của Thú và thế giới tự nhiên là kết quả (Phạm:Kàrya) của động lực nhân ấy. Muốn hiểu rõ lí này thì phải siêng tu Dugià, thực hành các nghĩa vụ, tuân thủ các qui định, nhờ đó mà thoát khỏi sự khổ của cuộc sống hiện tại, đó là tông chỉ căn bản của phái này.
Thú Dã Thám U
(狩野探幽, Kanō Tanyū, 1661-1674): nhà danh họa sống đầu thời Giang Hộ, con trai đầu của Thú Dã Hiếu Tín (狩野孝信), cháu của Vĩnh Đức (永德); tên húy là Thủ Tín (守信), sau lấy pháp hiệu là Thám U Trai (探幽齋). Ông có tài năng vẽ tranh rộng lớn, là nhà hội họa nổi tiếng của chính quyền Mạc Phủ, và đã làm cho môn phong phồn vinh nhờ tài năng của ông. Ông đã để lại khá nhiều bức tranh vẽ trên tường ở một số nơi như Thành Nhị Điều (二條城, Nijō-jō), Thành Danh Cổ Ốc (名古屋城, Nagoya-jō), phương trượng của Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), v.v.
thú dữ
Ferocious beast.
thú nhận
To avow—To admit—To confess (one's fault).
thú thật
To confess the truth.
thú tánh
Animal nature—Animality—Bestiality.
thú tịch
Cõi Niết bàn được hiểu theo trường phái Tiểu Thừa—The destiny of nirvana, as understood by the Hinayana.
thú tội
Confession—See Thú Nhận.
thú vật
See Thú.
thú vị
Pleasant—Agreable—Interesting.
thú đạo
Cảnh thú—Tirracchana (p)—Phật giáo đồ tin rằng cảnh thú là cảnh bất hạnh và chúng sanh bị sanh vào cảnh thú vì tạo nghiệp bất thiện trong quá khứ. Dù cảnh thú không khổ như địa ngục, nhưng nó cũng được xếp vào cảnh bất hạnh vì nơi nầy khổ đau nhiều hơn hạnh phúc, và nơi nầy chúng sanh không có điiều kiện thuận tiện để tạo tác công đức thiện nghiệp—Buddhists believe that animal realm is a woeful plane into which beings may be reborn as a result of their past evil kammas. Although the animal realm does not involve as much misery as the hells, it is included in the woeful planes because the suffering there greatly exceeds the amount of happiness, and it does not provide suitable conditions for the performance of meritorious deeds.
Thú-bác-ka 戍博迦
[ja] ジュハクカ Juhaka ||| Jīvaka, one of the sixteen arhats 十六羅漢 who vowed to stay in this world to ensure the transmission of the correct dharma. => s: Jīvaka, một trong 16 vị A-la-hán phát nguyện ở lại thế gian nầy để hộ trì việc truyền bá chính pháp.
thúc
1) Thúc cùi chỏ: To elbow. 2) Chú: Uncle—A father's younger brother.
thúc ca bà
Suka (skt)—Chim két—A parrot.
Thúc hốt
(倐忽): trong chớp nhoáng, trong thoáng chốt, chỉ thời gian biến chuyển nhanh đến nỗi không thể lường được. Như trong Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策) của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐, 771-853) có đoạn: “Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô, ngạn thọ, tỉnh đằng, khởi năng trường cửu (譬如春霜曉露、倐忽卽無、岸樹、井藤、豈能長久, ví như sương mùa xuân, móc buổi sáng, cây bên bờ, dây leo ở giếng, làm sao bền lâu ?).” Hay như trong Khổng Triều Bá Ca (孔廟柏歌) của Hồ Kỳ Nghị (胡其毅, ?-?) nhà Minh có câu: “Lễ nhạc sơ truyền tam bách tải, phong trần thúc hốt câu thiên cải (禮樂初傳三百載、風塵倐忽俱遷改, lễ nhạc mới truyền ba trăm năm, gió bụi thoáng chốt đều biến đổi).” Câu “lão niên thúc hốt (老年倐忽)” có nghĩa là trong thoáng chốc tuổi già lại đến.
thúc ly
Sukla or Sukra (skt). 1) Màu trắng bạc: Silvery white. 2) Nửa mảnh trăng tròn: The waxing half of the moon.
thúc lô nhị nghĩa
(束蘆二義) Hai nghĩa của bó lau. Tông kính lục quyển 47 dùng bó lau để ví dụ sự quan hệ giữa 6 căn và 6 trần. Có 2 nghĩa: 1. Hỗ tương y: Nương tựa lẫn nhau. Nghĩa là những cây lau trong bó lau nương tựa lẫn nhau, ví dụ 6 căn và 6 trần nhờ vào nhau mà cấu thành ô nhiễm, phiền não. Căn nương vào trần mà phát sinh cái biết hư dối, trần nương vào căn mà có các tướng giả, gọi là Hỗ tương y. 2. Thủ trung không: Đều là không. Nghĩa là những cây lau và bó lau vốn hư giả, chẳng thật, chúng không có tự tính, ví dụ căn và trần đều không có tự tính, tất cả đều không, gọi là Thủ trung không. [X. luận Thành duy thức Q.3].
thúc mẫu
Aunt (wife of one's father's younger's brother).
thúc phụ
Uncle.
thúc thúc ma la
Sisumara (skt)—Cá sấu—A crocodile.
thúc thủ
To be at the end of one's resources.
thúc đẩy
Motivation
thúi
Rotten—Stinking.
thúy nham
Ts'ui-yen (C)Một nhân vật trong thí dụ 8, Bích Nham Lục.
; Thiền sư Trung Hoa—Chinese Zen master—Nhân ngày hạ mạt, Thúy Nham nói với Tăng chúng: “Từ đầu mùa an cư đến nay, tôi vì chư huynh đệ nói khá nhiều. Coi thử lông mi của tôi còn không?” Sư muốn nhắc lại truyền thuyết cho rằng người nào giảng sai giáo pháp của Phật sẽ rụng hết lông mày. Trong suốt mùa an cư kiết hạ, tuy Thúy Nham giảng nói nhiều cho chư huynh đệ nhưng không một lời nói năng nào giải thích được đạo pháp là gì, vậy có lẽ lông mi của sư đã rụng hết rồi. Đây là một lối nhấn mạnh Thiền không ăn nhập gì với kinh điển vậy—At the end of one summer retreat, Ts'ui-Yen made the following remark: “Since the beginning of this summer retreat, I have talked much; see if my eyebrows are still there.” This refers to the tradition that when a man makes false statements concerning the Dharma of Buddhism he will lose all the hair on his face. As Ts'ui-Yen gave many sermons during the summer retreat for the edification of his pupils, while no amount of talk can ever explain what the truth is, his eyebrows and beard might perhaps by this time have disappeared altogether. This is a way of emphasis of no connection between Zen and Sutras.
thúy nham khả châu
Tsui yen Ke Chen (S)Tên một vị sư. (Khoảng giửa TK thứ 9 và 10) Xem Thúy Nham Linh Nham.
thúy nham linh nham
Ts'ui-yen Ling-ts'an (C), Suigan Reisan (J)(Thế kỳ 9 - 10) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Tuyết Phong Nghịa Tồn Xem Thúy Nham Khả Châu.
Thúy Nham Linh Tham
(翠巖令參, Suigan Reisan, ?-?): xuất thân vùng Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang), pháp từ của Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存). Ông sống tại Thúy Nham Sơn (翠巖山), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang) và cử xướng Thiền phong của mình rất mạnh mẽ. Ông được ban cho Tử Y và hiệu là Vĩnh Minh Đại Sư (永明大師).
Thúy Vi Vô Học
(翠微無學, Suibi Mugaku, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然). Ông đã từng sống ở Thúy Vi Tự (翠微寺), thuộc Chung Nam Sơn (終南山), Kinh Triệu (京兆, Tỉnh Thiểm Tây). Tuân chiếu của vua Hy Tông, ông vào cung nội thuyết pháp, được ban tặng Tử Y và hiệu là Ứng Chiếu Đại Sư (應照大師).
thúy vi vô học
Tsui wei Wu hsiao (C), Suibi Mugaku (J)(khoảng đầu thế kỷ thứ 9). Đệ tử của Đơn Hà Thiên Nhiên.
thúy vi vô học thiền sư
Zen Master Shui-Wei-Wu-Xue—See Vô Học Thúy Vi Thiền Sư.
thăm
To pay a visit—To visit—To call on.
thăm dò
To feel—To sound out.
thăm hỏi
To inquire—See Thăm.
thăm hỏi ai
To inquire after someone's well-being.
thăm thẳm
Very deep.
thăm viếng
See Thăm.
thăng
đơn vị đo lường ngày xưa, bằng một phần mười của đấu.
; Đi lên—To ascend—To rise—To raise.
Thăng giáng
昇降; C: shēngxiáng; J: shōkō; |Lên và xuống.
thăng giáng
To ascend and to descend.
Thăng giáng 昇降
[ja] ショウコウ shōkō ||| To rise and fall. => Lên và xuống.
thăng hà
To die (talk of king).
thăng thiên
Externalists believe that their founder ascended to heaven (not dying) in the Ascension Day.
thăng thưởng
To promote and to reward.
Thăng tiến đạo
xem Tứ đạo thánh nhân.
thăng toà
(升座) Tiếng dùngtrongThiền lâm. Nghĩa là lên tòa cao. Tức chỉ cho bậc thầy lên tòa cao thuyết pháp. Theo qui tắc xưa thì Thăng tòa đồng nghĩa với Thướng đường, nhưng đến đời sau thì có phân biệt khác nhau. [X. điều Thướng đường trong Lâm tế lục; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thăng trầm
To ascend and descend—Ups and downs—Vicissitudes—Rise and fall.
Thăng trầm 升沈
[ja] ショウジン shōchin ||| Rising and falling; flourishing and decaying, etc. => Sinh khởi và chìm đắm; thịnh vượng và suy tàn.
thăng trật
To be promoted.
thăng tọa
Đăng đàn thuyết pháp—To ascend the platform to expound the sutras—To ascend the seat (platform), or to go up to the Dharma Hall to preach or to expound the sutras.
thăng âm thành
Roruka (S).
thăng đường
See Thăng Tọa in Vietnamese-English Section.
Thăng-ka
T: thaṅ-ka;|Tranh vẽ trong Phật giáo Tây Tạng. Các Thăng-ka thường là vải lụa được cuốn tròn. Tranh này phần lớn lấy nội dung là giáo pháp, hay cuộc đời đức Phật. Vẽ tranh này, người ta phải chú ý đến ba nguyên tắc: sức truyền lên người xem, sự hài hoà và chi tiết bức tranh. Người ta cho rằng việc đặt vẽ Thăng-ka cũng như bản thân vẽ Thăng-ka mang lại rất nhiều phúc đức.|Thăng-ka được vẽ bằng màu lấy trong thiên nhiên và là đối tượng hay phương tiện để thiền định và tạo linh ảnh, như tranh vẽ Vòng sinh tử (s: bhavacakra), cuộc đời và tiền thân đức Phật (Bản sinh kinh). Ngoài ra, Thăng-ka cũng trình bày lại hình ảnh các vị giáo chủ các tông phái để các đệ tử chú tâm lúc quy y. Tuy nhiên, nội dung quan trọng nhất của Thăng-ka chính là phương tiện để thiết tưởng (e: visualize) linh ảnh lúc hành trì các giáo pháp Tan-tra, Nghi quỹ (s: sādhana). Ðến thế kỉ 16 tại Tây Tạng vẫn tiếp tục hình thành các trường phái vẽ Thăng-ka khác nhau, trong đó khuynh hướng vẽ của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) là nổi tiếng nhất.
thơ
Poetry.
thơ ca ngợi sông hằng
Gaṅgāmāhātmya (S), Poems in praise of the Ganges.
thơ dại
Childlike—Nạve—Innocent.
thơ ngây
See Thơ Dại.
thơ thẩn
To stroll.
thơ yếu
Young and weak.
thơ ấu
Young.
thơi
Thảnh thơi—Leisurely—Free.
thơû
To respire—To breath.
thư
Book.
thư cừ kinh thanh
Chu-sha-ching-sheng (C)Tên một vị sư.
; (沮渠京聲) Em họ của Thư cừ Mông tốn, vua nước Bắclương, người Hungnô, được phong tước An dương hầu. Ông là người thông minh, học rộng nhớ dai, đọc rất nhiều sách, giỏi đàm luận. Thuở thiếu thời, ông từng vượt sa mạc đến nước Vuđiền học tiếng Phạm, được gặp ngài Phậtđàtưna ở Cù ma đế Đại tự học kinh Thiền yếu bí mật trị bệnh (Trị thiền bệnhbí yếu pháp). Sau, ông trởvề Hà tây, gặp ngài Đàmvôsấm đến Hà tây, ông hết lòng lễ kính đón rước, thưa hỏi ngài nhiều điều. Vào năm Nguyêngia 16 (439), nhà Ngụy thôn tính Lương châu, ông chạy xuống miền Nam đến đất Tống; cảm thấy chán ngán việc đời, ông thường lui tới các chùa tháp, phiên dịch kinh điển. Các kinh điển do ông dịch hiện còn gồm 16 bộ 17 quyển như: Kinh Thiền yếu bí mật trị bệnh, kinh Bát quan trai, kinh Quán dilặcbồtát thướng sinh Đâu suất thiên... Năm Đại minh thứ 8 (439), ông lâm bệnh và qua đời. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.14; truyện ngài Đàm vô sấm trong Lương cao tăng truyện Q.2; Cư sĩ truyện Q.4].
thư cừ mông tốn
(沮渠蒙遜) Người sáng lập nước Bắc Lương trong 16 nước vùng Ngũhồ thuộc Nam Bắc triều thời Ngụy Tấn, Trung quốc, người Hung nô.Ban đầu, ông ủng hộ phản tướng của Lữquang là Đoàn nghiệp. Đến năm Long an thứ 5 (401) đời Đông Tấn, ông tự lập ở Trương dịch. Năm Nghĩa hi thứ 8 (412), ông chiếm cứ Cô tang, xưng là Hà tây vương. Năm Nguyên hi thứ 2 (420), ông diệt Tây lương, đánh chiếm Đôn hoàng, thiết lập và bảo vệ sự giao thông với các nước Tâyvực, làm cho dân trong nước đông đúc, giàu có. Thời gian ông ở ngôi, Phật giáo rất hưng thịnh, ông thỉnh ngài Đàm Vô sấm phiên dịch 20 bộ kinh như: Phương đẳng, Niếtbàn... do các ngài Tuệtrung và Đạolãng ghi chép.
thư hùng
Female and male.
thư kí
(書記) Cũng gọi Thư trạng, Ký thất, Ngoại sử, Ngoại ký. Một trong 6 vị Đầu thủ của Thiền lâm, là chức vụ coi về văn sớ, thư tín, các loại giấy tờ liên quan đến sơn môn. Thư kývốn là vịThư trạng trong Cổ thanh qui, tất cả giấy tờ, thư tín, văn sớ cầu đảo... đều thuộc trách nhiệm của vị này. Những tùng lâm danh tiếng thời xưa, khi lãnh sắc chỉ của vua, vị trụ trì phải dâng biểu tạ. Khi vị Trụ trì thị tịch cũng phải có biểu tâu trình. Hoặc khi vua ban vật gì, hoặc hỏi việc gì... đều phải dâng biểu. Mà vị trụ trì thì chuyên nắm giữ Đại pháp, việc văn tự ít có nghiên cứu, vì thế đặc biệt đặt ra chức Thư ký, chuyên trách việc giấy tờ, văn sớ trong tùng lâm. Nhưng thời xưa không có tên Thư ký mà chỉ có Thư trạng; danh từ Thư ký là lấy ý từ chức Mạc phủ thư kí thất tham quân của Nguyên nhung, trong Thiền lâm đặc biệt gọi là chức Thư ký, chứ không phải Thiền sư Bách trượng đặt ra. [X. điều Tây tự đầu thủ thư kí, chương Luỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. hạ; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thư ký
Vị Tăng thư ký phụ tá viện chủ—Clerk assisting the head monk.
thư mạt quốc
(沮末國) Cũng gọi Tả mạt quốc, Thả mạt quốc, Chiết ma đà na quốc (Calmadana). Tên một nước xưa ở Tâyvực tại Xa nhĩ thành (Chanchan) nằm về phía tây nam Labốmặcnhĩ (Lopnor) thuộc Tân cương hiện nay. Theo Tây vực liệt truyện thứ 66 trong Hán thư và Lạc dương già lam kí quyển 5 thì nước này vào đời Hán chỉ có 230 hộ gia đình với 1610 nhân khẩu, vào thời Bắc Ngụy thì dân cư cũng chỉ có 100 nhà mà thôi. Theo Đại Đường tây vực kí quyển 12, khi ngài Huyền trang đi Ấn độ, qua đây thì nước này thành quách vẫn y nguyên như xưa, nhưng người thì vắng tanh, không còn một ai. Và Đại đường tây vực kí gọi nước này là Niết Mạt (.......), cũng có chỗ gọi là Thấp mạt ( ), có lẽ đã viết lầm từ chữ Thư Mạt (.......). [X. luận Phá tà Q. hạ; Bắc sử tây vực liệt truyện thứ 85; Thông điển Q.191; Văn hiến thông khảo Q.336; Ruins of Desert Cathay, vol. I, by A.Stein].
thư ngọc
(書玉) VịLuật tăng Trung quốc sống vào đời Thanh, người Vũtiến, tỉnh Giangtô, họ Đường, tự Nghikhiết, hiệu Phậtam. Thuở nhỏ, sư thông hiểu Nho học. Một hôm, sư nghe vị tăng tụng phẩm Hành nguyện mà nảy chí xuất gia. Năm 22 tuổi, sư theo ngài Tự khiêm cạo tóc ở núi Gia sơn tại Kinh khẩu, siêng năng tu học, ít lâu sau, sư y vào ngài Kiến nguyệt Độc thể chùa Long xương, núi Bảo hoa ở Kim lăng thụ giới Cụ túc, đồng thời gần gũi ngài để nghiên cứu Luật bộ. Năm Khang hi 22 (1683), sư cùng với ngài Định am Đức cơ đến chùa Chiêu khánh ở Hàng châu giảng về giới, rồi từ đó sư trụ ở chùa này chủ trì việc giảng luận suốt 38 năm, mỗi năm hoằng giới 2 lần vào mùa Xuân và mùa Đông, tăng tục từ khắp nơi nhóm họp, có tới hơn vạn người thụ giới Cụ túc. Năm Khang hi 39 (1700), chùa bị hỏa hoạn, năm sau được xây dựng lại. Năm Khang hi 52 (1713), chùa được vua ban cho Long tạng. Năm Khang hi 60 (1721) sư thị hiện có bệnh, ngồi nói kệ rồi nhập định thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi. Sư có các tác phẩm: Phạm võng kinh Bồtát giới sơ tân 8 quyển, Tì ni nhật dụng thiết yếu hương nhũ kí 2 quyển, Sa di luật nghi yếu lược thuật nghĩa 2 quyển, Nhị bộ tăng thụ giới nghi thức 2 quyển, Yết ma nghi thức 2 quyển. [X. Đại chiêu khánh luật tự chí Q.1, 2, 8; Tân tục cao tăng truyện Q.29; Trung quốc Phật giáo sử Q.4].
thư nhàn
Unoccupied—Free.
thư thái
Xem Khinh an.
thư thả
To have leisure time—To have spare time.
thư trinh
(書禎) Vị Luật tăng Trung quốc sống vào cuối đời nhà Minh đầu đời Thanh, người ở Lộc phong, tỉnh Vân nam, họ Vương, tự Tĩnh quán. Sư tinh thông Nho học, nhưng có chí xuất trần, nên theo ngài Tâm điền chùa Tâylâm ở Thúyphong xuất gia. Học thông nội điển, vân du khắp nơi. Năm Sùng trinh 17 (1644), sư đến Kimlăng, gặp lúc chùa Báoân của ngài Tammuội Tịchquang mở đàn giới, nhân đó được giới, cảm thấy điềm lành trên đỉnh tháp có ngọn lửa màu tía bay lên, nên được gọi là Ngũ đạo sư tử nhi. Sư bèn dừng lại ở núi Bảohoa biên soạn Luật bộ, giúp sư Kiếnnguyệt Độcthể – học trò ngài Tịchquang– hoằng dương giới luật, hoặc làm Giáo thụ, hoặc làm Yết ma nên được phó chúc áo Tăng già lê. Trong năm Khang hi (1662-1722) đời Thanh, sư từng xây cất Luật đường, nhận lời thỉnh cầu của Tịnh độ thiền lâm ở quận Hoài, sư đến mở đàn giới, những người cầu giới nối nhau đến, các bậc vương công khanh tướng kính mộ đạo phong của sư cũng thường tùy tòng. Đến năm 70 tuổi sư chuyên việc trứ thuật. Sư không những chuyên tinh tạng Luật mà còn thông hiểu Thiền học, có lần ở trong định, sư đến núi Thiênthai thấy các vị A la hán hiện điềm lạ. Theo truyền thuyết, khi hoàn thành bộ Yết ma sớ sao, sư từng nằm mộng thấy mình lễ tháp ngài Đạotuyên nên được tôn xưng là Hậu thân ngài Trígiả, ngài Namsơn tái lai. Sư cócáctác phẩm: Tùy cơ Yết ma sớ sao 6 quyển, Tì ni cam lộ trạch yếu 10 quyển, Luật học nhật vân yếu bản. [X. Điền thích kỉ Q.3; Tân tục cao tăng truyện Q.29].
thư trạng thị giả
(書狀侍者) Cũng gọi Nội kí, nội sử, Thị trạng. Một trong 3 đại thị giả, 1 trong 5 vị thị giả, là chức Thị giả phụ trách công việc khởi thảo viết chép các văn thư đi và đến của vị Trụ trì, cùng tất cả giấy tờ sách vở có liên quan đến Thiền gia. Điều Thị giả trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1131 hạ) nói: Hễ vị Trụ trì cần viết thư thăm hỏi qua lại, hay những việc cần đến văn chữ, thì trước hết(Thư trạng thị giả) phải thảo trình đầy đủ; nếu thiếu chức Thư kí thì tất cả các loại văn kiện, sổ sách, giấy tờ trong sơn môn đều do Thư trạng thị giả đảm nhiệm. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thư tôm bùa ngải
Talisman.
thư tả
(書寫) I. Thư Tả. Phạm: Lekhana. Chỉ cho việc viết chép kinh điển, là pháp hạnh thứ nhất trong 10 pháp hạnh. Về phương pháp hành nghi thụ trì kinh điển thì phương pháp hành nghi thứ nhất chính là Thư tả kinh điển. II. Thư Tả. Chỉ cho người tinh thông kinh luận, viết chép hoằng thông Phật pháp và là bậc thầy của mọi người, 1 trong 5 loạiPháp sư.
Thư đạo
書道; J: shodō; cũng gọi là Thư pháp;|Nghệ thuật viết chữ; một trong những tu tập đạo của giới hâm mộ thiền Nhật Bản. Thư đạo được xem là nghệ thuật cốt tuỷ của tất cả các nghệ thuật bởi vì nơi đây, tâm trạng của nghệ sĩ được thể hiện một cách rõ ràng, hoàn thiện. Trong Thư đạo, người ta không chủ ý đến việc »viết đẹp« mà muốn gói gém vào tác phẩm một tâm trạng, một biểu tượng cô đọng của nghệ thuật, của cuộc sống. Những đặc điểm của Thư đạo nêu trên người ta có thể tìm thấy ở những Mặc tích, »dấu mực«, những tác phẩm được xem là tiêu biểu nhất của nghệ thuật này.
thư đạo
Shodō (C), Way of writing Một cách rèn luyện tâm linh ở Nhật.
thưa
To reply—To answer politely.
thưa gởi
To talk in a very respectful way.
thưa thớt
Scattered—Thin.
thưû
1) Chuột: Musa (skt)—A mouse—A rat. 2) Đây (đối lại với “bỉ” là kia): This—Here, in contrast with “that,” “there.” 3) Thử nghiệm: To test—To try—To attempt.
Thương
傷; C: shāng; J: shō;|Có hai nghĩa: 1. Vết thương, bị thương; 2. Đau khổ thể xác và tinh thần – đặc biệt là đau khổ về tinh thần hay sự xúc cảm.
thương
1) Bị thương: To injure—Wound. 2) Màu xanh biếc: Azure—Grey. 3) Tên của một loài quỷ Dạ Xoa: Name of a Yaksa. 4) Thương mại: Trade—Merchant. 5) Thương nghị: To trade. 6) Thương thảo: To consult. 7) Tổn thương: Hurt—Harm—Distress. 8) Trời: The heavens. 9) Yêu thương: To love.
thương ai sâu đậm
To love someone deeply.
thương chủ
người dẫn đầu một đoàn người đi buôn bán bằng đường bộ hoặc bằng đường thủy.
thương chủ thiên tử sở vấn kinh
(商主天子所問經) Cũng gọi Thương chủ thiên tử vấn kinh, Thương chủ thiên tử kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc khi đức Phật ở tại núi Kì xà quật gần thành Vương xá, ngài Vănthùsưlợi vâng lời Phật dạy đáp những câu hỏi về pháp yếu của chư thiên như Thươngchủ... và nói về các thành tựu như: Các Bồtát nhập Nhất thiết trí, đạt đến tất cả pháp rốt ráo, đầy đủ 6 độ... Thương chủ thiên tử còn thưa hỏi đức Phật về ý nghĩa vô sinh, sau đó được Phật thụ kí sẽ thành Phật trong vị lai.
thương di quốc
(商彌國) Cũng gọi Xa di quốc, Song mị thành, Xa ma yết la xà quốc, Chiết tiết mạc quốc, Câu vị quốc, Câu vĩ quốc, Câu vệ quốc. Tên một nước thời xưa ở Tây vực. Về nguyên âm Thương di có nhiều thuyết khác nhau, hoặc là Zàmbì, Zàmhì, Sambì, Zama... Theo Đại đường tây vực kí quyển 12 thì nước này có diện tích từ 2500-2600 dặm, núi sông xen kẽ nhau, gò đống cao thấp, trồng lúa và các loại hạt khác, sản xuất nhiều nho. Khí hậu lạnh lẽo, tính người chất phác, thường không có lễ nghĩa, mưu trí thấp kém, kĩ năng nông cạn, văn tự giống như văn tự củanước Đổ hóa la, nhưng tiếng nói thì khác, dân cư phần nhiều mặc áo dạ. Quốc vương thuộc dòng họ Thích nên sùng kính Phật pháp, dân chúng thuần tín và đều nghe lời dạy bảo của vua. Trong nước có 2 ngôi già lam, tăng đồ rất ít. Vị trí nước này ở khoảng vùng Chitra thuộc Pakistan hiện nay, tức phía bắc Peshawar, phía nam rặng núi Hindukush. [X. VãngNgũ thiên trúc quốc truyện (Tuệ siêu); Lạc dương già lam kí Q.5; Ngộ không nhập trúc kí; điều Kiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc trong Đạiđường tây vực kí Q.6; Hán thư tây vực truyện thứ 66 thượng; Bắc sử tây vực liệt truyện thứ 85; Đường thư tây vực liệt truyện thứ 146 hạ; Buddhist Records of the Western World, vol. II, by S.Beal; On Yuang Chwang, vol.II, by T.Watters].
thương gia
A merchant—A business-person.
thương hòa khí
Phá hoại sự hòa hợp—To disturb the harmony.
thương hại
Kṛpā (S), Pity Tội nghiệp.
; To have pity (mercy--compassion) on—To pity—To feel pity.
thương khư
(商佉) Phạm: Zaíkha. Phễu lớn và phễu nhỏPàli:Saíkha. I. Thương Khư. Cũng gọi Nhương khư, Hướng khư, Sương khư, Thắng khư, Thương ca, Thương xí la, Thưởng khởi la. Hán dịch: Loa, Bối, Kha. Chỉ cho loại động vật bò sát sống dưới đáy biển, là tên gọi chung loài động vật bề ngoài có vỏ cứng như con ốc, con sò, con hến... Trong đó, loài ốc(loa) có đuôi dài giống như cái thoi dệt vải, tục gọi là ốc tù và, vỏ của nó được dùng làm tù và, khi thổi thì phát ra tiếng vangđirất xa, cho nên nhà Phật dùng nó để ví dụ tiếng thuyết pháp mạnh mẽ của đức Phật, gọi là Pháp loa(tù và pháp). (xt. Pháp Loa). II. Thương Khư. Tên của vị Chuyển luân thánh vương sẽ thống trị thế giới khibồtát Di Lặc ra đời.Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 44 thì vị vua này ở tại cõi Diêm phù đề, có đầy đủ 7 thứ báu, dùng chính pháp giáo hóa nhân dân, đất nước giàu có yên vui, nhân dân đông đúc. Vua có vị Đại thần tên là Tu phạm ma (Phạm: Brahmàyu), Đại thần phu nhân tên là Phạm ma việt (Phạm:Brahmavatì). Bồtát Dilặc sẽ giáng sinh vào gia đình này, cuối cùng xuất gia thành đạo. Về sau, vua nghe Ngài Dilặc thuyết pháp, liền nhường ngôi cho Thái tử rồi xuất gia và được đạo quả. [X. kinh Chuyển luân thánh vương tu hành trong Trường a hàm Q.6; kinh Di lặc hạ sinh; kinh Di Lặc đại thành Phật; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
thương khư ấn
(商佉印) Ấn khế biểu thị cho pháp loa. Thương khư, Phạm:Zaíkha, nghĩa là cái tù và, là 1 trong 14 ấn căn bản Bất động. Ấn Thương khư của Nhưlai là biểu thị đức tuyên giảng đại pháp của Đại nhật Như Lai, trong pháp tu Thai tạng giới, ấn này là 1 trong các ấn minh (ấn khế và chân ngôn) của hội Như Lai thân, kết ấn và tụng chân ngôn này thì đầy đủ tất cả nguyện lành, nói đại pháp thì khắp 10 phương đều nghe được. Theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 thì ấn này được kết như sau: Hai tay chắp để rỗng ở lòng bàn tay, co 2 ngón cái, dùng 2 ngón trỏ giữ lấy.
thương long huyệt
Hang rồng xanh quấn lấy miếng ngọc bùa phép, mà chỉ có người gan dạ lắm mới đạt được—The cave of the azure or green dragon, where it lies curled over the talismanic pearl, which only a hero can obtain.
thương lượng
Thương thảo hay bàn luận với nhau, như học trò bàn đạo với thầy—To consult—To discuss together (between master and pupil)—To negotiate.
; (商量) Vốn chỉ cho việc bàn tính giữa các nhà buôn với nhau để trả giá khi mua bán sản phẩm. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng với nghĩa là hỏi đáp, bàn bạc khi người học tham thiền hành đạo. Như Tổ đình sự uyển quyển 1 cho rằng xem xét lường biết chân ý của Phật Tổ, cũng giống như các thương gia tính toán, cân nhắc, khiến cho không mất mức trung bình và đều thể hiện được ý của các Ngài. Phần Bình xướng trong Bích nham lục tắc 38 (Đại 48, 176 trung) ghi: Một hôm ngài Nam viện vào trong vườn hỏi ngài Phong Huyệt: - Một gậy của phương Nam phải thương lượng thế nào? Ngài Phong huyệt đáp: Phải thương lượng kì đặc. Rồi hỏi lại : - Về việc này, Hòa thượng thương lượng ra sao? Ngài Namviện cầm gậy lên, nói: - Ngay khi bị ăn gậy là vô sinh nhẫn, cơ hội đến không nhường thầy! Còn từ ngữ Thương lượng hạo hạo địa trong Thiền lâm là hình dung trạng huống hỏi đáp, bàn bạc sôi nổi, gay gắt. Cũng có khi được dùng với ý quở trách khẩu đầu thiền (thiền cửa miệng). Thung dung lục tắc 12 (Đại 48, 234 hạ) ghi: Ngài Địatạng hỏi ngài Tu sơn chủ: - Từ đâu đến? Ngài Tu Sơn đáp: - Từ phương nam đến. Ngài Địa Tạng lại hỏi: - Gần đây, Phật pháp ở phương nam thế nào? Ngài Tusơn đáp: - Thương lượng hạo hạo địa!. [X. Lâm tế lục thị chúng; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7].
thương mạc ca
Xem Thiểm.
; (商莫迦) Phạm: Zyàmaka. Pàli: Sàma, Suvaịịa-sàma. Cũng gọi Thiểm ma ca, Thiểm ma, Thiểm thi, Thiểm tử, Thiểm. Hán dịch: Kim. Tên của đức Thích tôn khi còn tu hạnh Bồ tát ở nhân vị ( ). Theo kinh Bồ tát thiểm tử thì ở đời quá khứ có vị Bồ tát tên là Nhất thiết diệu thấy nước Ca di có một trưởng giả, vợ chồng đều mù, cô đơn khổ sở, không con, nhưng lại nguyện vào núi tu vô thượng tuệ, nên Bồ tát giúp đỡ bằng cách sinh làm con trong gia đình này, tên là Thiểm. Thiểm hầu hạ cha mẹ rất hiếu thảo; có lần cha mẹ khát muốn uống nước, Thiểm bèn mặc da nai mang bình đến bờ suối, gặp lúc vua nước Ca Di vào núi săn bắn, lầm tưởng Thiểm là nai nên bắn mũi tên độc vào giữa ngực. Thiểm la lớn, vua kinh hãi chạy đến trước Thiểm tạ tội, Thiểm không than đau mà chỉ lo cho cha mẹ, nên nhờ vua nuôi dưỡng cha mẹ rồi tắt thở. Vua cho người dẫn cha mẹ Thiểm đến chỗ xác chết của Thiểm, cha ôm chân, mẹ ôm đầu, ngước mặt lên trời kêu gào. Trời Đế thích cảm động vì lòng hiếu thảo chí thành của Thiểm nên dùng thuốc thần rót vào miệng Thiểm, mũi tên liền tự bật ra và Thiểm sống lại, cha mẹ vừa kinh ngạc vừa vui mừng mở to 2 mắt. Xét trong chuyện này thì Thiểm chính là đức Thích Tôn, bà mẹ mù là Ma da phu nhân, người cha mù là phụ vương Duyệt đầu đàn, vua nước Ca di là A nan, trời Đế thích là Dilặc. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, từ Hóa quỉ tử mẫu đi về hướng bắc hơn 50 dặm, đến nơi có 1 ngôi tháp, đó chính là chỗ Thương mạcca gặp vua nước Ca Di. [X. kinh Lục độ tập Q.5; kinh Tạp bảo tạng Q.1].
thương mại
Người buôn bán, giai cấp thứ ba trong bốn gia cấp ở Ấn Độ thời Đức Phật còn tại thế—A trader, the third of the four castes in India at the time of the Buddha—See Tứ Giai Cấp Ấn Độ.
thương mến
To love—To cherish.
thương mệnh
Sự tổn thương đến sinh mệnh—Injury to life.
thương na
Sana (S)Xa naTên một loài cỏ.
thương na hoà tu
Śāṇavāsa (S), Śanaka-vāsa (S), Śānavāsin (S)Tổ thứ 3 trong 28 tổ Phật giáo Ấn độ.
; (商那和修) Phạm:Zàịa-vàsin. Pàli:Sàịa-vasì. Cũng gọi Xà na bà số, Xá na ba tư, Xá na hòa tu, Xá na bà tư, Du thế kì, Xa nặc ca (Phạm:Zàịaka), Thương nặc ca phụ sa (Phạm:Zàịaka-vàsa). Hán dịch: Thai y, Tự nhiên y, Ma y. Đệ tử ngài Anan,Tổ thứ 3 được phó pháp tạng. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 và Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 2, ngài Thương na hòa tu là người nước Ma đột la, họ Tì xá đa, ở trong thai mẹ đến 6 năm mới sinh ra. Sư được ngài A nan truyền cho 84.000 pháp tạng, đều nhớ giữ hết; sư đi du hóa các nơi, đến núi Mạn đà ở nước Ma đột la hóa độ 2 con rồng, rồi xây cất trụ xứ tăng ở chỗ này. Sau đó, sư đến nước Kế tân hiện 500 tam muội như định Phấn tấn... hóa độ ngài Ưu ba cúc đa và đệ tử, rồi bay lên hư không hiện Thập bát biến mà nhập Niết bàn.Do nguyện lực đời trước, trong thời gian từ khi còn ở trong thai mẹ đến khi vào Niết bàn, ngài Thương na hòa tu thường mặc áo thương na(áo thai, áo tự nhiên), không hề cởi ra, do đó mà đặt tên là Thương na hòa tu. Đó là căn cứ vào tiếng Phạm Zàịa, Hán âm là Thương na, Xa na, Thiết nhã ca, Xa nặc ca, Hán dịch là Đại ma (vải gai thô to);Vàsin, Hán âm là Hòa tu, Hán dịch là Y(áo). Theo Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa, IV) thì ngài Thương na hòa tu vốn có tên là Tam phù đà (Pàli:Sambhùta), Tam bồ già, Tham phục đa, dịch ý là đã sinh ra. Sư cùng với ngài Ưu bà đa đến thành Tì xá li ngăn cản việc đề xướng và áp dụng 10 điều phi pháp (Thập sự phi pháp) của các tỉ khưu Bạt Kì (Pàli: Vajji). [X. phẩm Ưu ba cúc đa trong kinh Hiền ngu Q.13; kinh Xálợiphất vấn; kinh Đạt ma đa la thiền Q. thượng; luật Ngũ phần Q.30; Đại đường tây vực kí Q.7]. (xt. Thập Sự Phi Pháp).
thương na hòa tu
Arya Sanavasa (S). The 3rd Indian Patriarch.
; Sanakavasa or Sanavasa (skt)—Còn gọi là Na Hòa Tu, Thương Nặc Ca, Thương Nặc Ca Phược Sa, Xá Na Ba Tư, người em trai và cũng là đệ tử của ngài A Nan. Một vị A La Hán, mà theo Eitel, trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, cho là vị tổ thứ ba ở Ấn Độ, gốc Ma Thâu Đà, người đã chủ trì cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai. Theo truyền thống Tây Tạng, ông được gọi là “Thiết Nặc Ca” vì khi sanh ra ông đã được trùm bởi áo Thiết nặc Ca (có thuyết nói Thương Nặc Ca là tên một loại áo. Khi ngài đổi đời mặc áo “thiết nặc ca” nên nhân đó mà gọi áo “thiết nặc ca” là áo gai. Theo Tây Vực Ký, Thương Na Hòa Tu khi còn ở kiếp trước đã lấy cỏ “thiết nặc ca” làm áo, và bố thí cho chúng Tăng vào ngày giải an cư kiết hạ. Ngài thường mặc chiếc áo nầy trong năm trăm thân. Ở đời hậu thân, ngài và chiếc áo cũng theo thai ra đời. Thân thể lớn dần, chiếc áo cũng rộng theo. Khi ngài được A Nan độ cho xuất gia, thì chiếc áo trở thành pháp phục. Khi ngài thọ cụ túc giới thì chiếc áo trở thành chiếc Cà sa 9 mảnh. Khi tịch diệt ngài phát nguyện sẽ để lại chiếc áo cho hết thảy di pháp của Đức Thích Ca, nguyện lưu cái áo lại cho đến khi đạo pháp của Đức Thích Ca truyền tận áo mới bị mục nát)—A younger brother and disciple of Ananda. An arhat, whom Eitel, in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, gives as the third patriarch, a native of Mathura, and says: “A Tibetan tradition identifies him with yasas, the leader of the II Synod. Because of his name he is associated with a hemp or linen garment, or a covering with which he was born.
thương nghị
To negotiate—To discuss.
thương nhân
(商人) Người buôn bán. Chỉ chung cho những người sống bằng nghề thương mãi. Phật giáo và giai cấp thương nhân(giai cấp thứ 3 trong 4 giai cấp của xã hội Ấnđộ đời xưa) vốn có quan hệ rất sâu xa. Những người đầu tiên cúng dường thức ăn cho đức Phật chính là 2 thương nhân tên là Đềvị (Pàli:Tapussa) và Bà lê ca (Pàli:Bhallika. Trong giáo đoàn của đức Phật có rất nhiều người xuất thân từ giai cấp thương nhân; chủ lực của tín đồ tại gia cũng là thương nhân ở các đô thị. Có thể nói thương nhân là nền tảng của Phật giáo nguyên thủy, còn nông dân thì ít người tin đạo, đây là 1 trong các nguyên nhân khiến Phật giáo diệt vong ở Ấn Độ. Đến các đoàn Bồtát của Phật giáo Đại thừa cũng lấy giai cấp thương nhân đô thị làm chính, cho nên lúc bấy giờ đã sản sinh ra các nền văn minh đô thị. Sau kỉ nguyên, đại khái tập đoàn thương nhân (Phạm:Gaịa) đã được hình thành. Cứ theo Thiên nghiệp thí dụ (Phạm:Dìvyàvadàna) thì do sự giao dịch giữa tập đoàn thương nhân cảng Sử lỗ ba lạp ca bờ biển phía tây và các thuyền buôn Hải dương nên đã lập ra pháp cấm chỉ độc quyền, độc chiếm. Những nhà đại tư sản trong giới thương nhân gọi là Tư sản giả (Phạm:Gfhapati). Trong giới tư sản giả thì bao gồm Mậu dịch thương (Phạm:Sàrthavàha), Đại hàng hải giả (Phạm: Mahà-navika), Hương liệu thương (Phạm:Gandhika)...Ngoài ra còn có Công tượng (Phạm: Àvesani), Nhiễm vật thương (Phạm:Rajaka)...
thương nhân tâm
(商人心) Tâm lái buôn, 1 trong 60 vọng tâm nói trong kinh Đại nhật quyển 1, là tâm muốn cho các học thuyết trong, ngoài đều đầy đủ để tùy nghi sử dụng và truyền dạy. Tâm này giống như người lái buôn trước đầu cơ tích trữ các loại hàng hóa, chờ khi vật giá leo thang thì bán ra để thu lời lớn, cho nên gọi là Thương nhân tâm. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 2 hạ) nói: Thế nào là thương nhân tâm? Nghĩa là trước thu góp các pháp, sau mới phân tích.
thương nhớ
To mourn over.
thương nặc ca phược sa
Sanakavasa or Sanavasa (skt)—See Thương Na Hòa Tu.
thương thuyết
To enter into (upon) negotiations—To negotiate.
thương tiếc
To lament—To regret—To mourn for.
thương triều
Shang Dynasty (C)Triều đại nhà Thương, do Thang đế lập ra.
thương tâm
Heart-rending (stricken—Gripping—piercing)—Pitiful.
thương tật
Thương tàn—Wounded and crippled.
thương tổn
To deteriorate—To wound someone's pride—Harmful.
thương xót
To commiserate—To have pity on—To pity—To feel pity for—To take pity for---To have mercy on someone.
thương yêu
Love—To be affectionate to.
thương yêu lẫn nhau
To love one another—Buddha spent all his life to teach all of us how to love one another.
thương yết la
Sankara (skt). 1) Kiết tường—Auspicious. 2) Tên của Thần Siva, dịch là Cốt Tỏa: Name for “Siva,” interpreted as “Bone-chains.” 3) Tên của vị ngoại đạo, một triết gia nổi tiếng vào thế kỷ thứ tám sau Tây Lịch, người nổi tiếng chống lại đạo Phật: Sankaracarya, the celebrated Indian philosopher of the eighth century A.D. who is known as a great opponent of Buddhism.
; (商羯羅) I. Thương Yết La. Phạm: Zaịkara. Cũng gọi: Thưởng ca la. Hán dịch: Cốt tỏa. Xâu chuỗi xương do ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa thờ phụng khi cúng tế. Ngoài ra cũng chỉ cho Thương yết la thiên, tức là Cốt tỏa thiên, là tên khác của trời Đại tự tại.Theo truyền thuyết, trời Đại tự tại từng xuống nhân gian giáo hóa, dắt dẫn người đời, sau khi trở về cõi trời, tín chúng tưởng nhớ nên tạo lập hình tượng khổ hạnh của ngài gầy gò, những đốt xương liền nhau như các vòng móc của chuỗi xích(tỏa) để thờ cúng, gọi là Cốt tỏa. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q. thượng]. (xt. Cốt Tỏa Thiên). II. Thương Yết La. Phạm: Zaịkara. Cũng gọi Thương yết la A xà lê (Phạm: Zaịkaràcàrya), Thương ca lạp. Nhà triết học thuộc phái Phệ đàn đa ở Ấnđộ, nhà cải cách Bà la môn giáo. Ông sinh ở Ma lạp ba nhĩ tại nam Ấn độ, sống và hoạt động vào khoảng thời gian từ năm 700 đến 750, hoặc có thuyết cho là từ năm 780 đến năm 820 Tây lịch. Ông thường đi khắp cõi Ấnđộ, thành lập giáo đoàn, tiến hành các hoạt động truyền giáo. Trực tiếp noi theo phương thức minh tưởng của Phệ đà và lí luận Vạn pháp nhất thể của Áo nghĩa thư, lại hấp thu tư tưởng Phật giáo Đại thừa và một phần giáo nghĩa của Kìna giáo mà cải cách Bà la môn giáo thành Ấn độ giáo; tạo thành lực xung kích rất lớn đối với Phật giáo và Kìna giáo, đồng thời thổi vào tư tưởng giới Ấnđộ một luồng gió mới, mà cho đến nay vẫn còn là dòng chính trong tư trào Ấnđộ. Hệ thống Nhất nguyên luận tuyệt đối(hoặc Thuần túy bất nhị luận) do ông kiến lập, cho rằng thế giới hiện tượng đều là huyễn tướng (Phạm: Màyà) chứ chẳng phải chân thực, chỉ có tinh thần cá nhân(Ngã) và nguyên tắc tối cao(Phạm) mới là sự tồn tại chân thực đồng nhất bất nhị.Những luận điểm chủ yếu của Thương yết la như sau: 1. Phạm luận: Thương yết la chủ trương Phạm tuy là chân thực và chỉ có một, nhưng vì trí tuệ của mỗi người có khác nhau, nên Phạm được thể hiện cũng chia ra Thượng phạm và Hạ phạm bất đồng. a. Thượng phạm: Phạm biểu hiện ở bậc Thượng trí là loại tinh thần tuyệt đối và có thật, đặc tính của Phạm này là: Vô đức, vô hình, vô sai biệt, vô thuộc tính. b. Hạ phạm: Phạm biểu hiện ở bậc Hạ trí vô minh, đặc tính của Phạm này là: Hữu đức, hữu ý chí, nhân cách tính, lúc này có vô số hữu tình tồn tại. 2. Thế giới quan: Có 2 cách nhìn. a. Nhìn từ môn Chân đế: Thế giới là sản phẩm của sự huyễn hóa mê vọng, cũng tức là tâm thức động thì sinh ra muôn vật, tâm thức lắng yên thì tất cả đều không. b. Nhìn từ môn tục đế: Thế giới lúc ban đầu chỉ có Phạm, bấy giờ tuy Phạm có vô lượng chủng tử lực nhưng vẫn chưa phát triển thành Danh sắc, trạng thái tối tăm tự nhiên này gọi là Phi biến dị(chẳng đổi khác). Sau khi tiếp tục kéo dài trong một thời kì, Phạm mới dùng ý chí của tự thân, phát huy năng lực của chủng tử mà biến thế giới phi biến dị thành thế giới hiện tượng thiên sai vạn biệt, gọi là Dĩ biến dị (đã đổi khác). Rồi trải qua một thời kì nữa, Phạm lại thu hồi trạng thái dĩ biến dị này và hồi phục thế giới Vị biến dị(chưa đổi khác), cứ như thế không ngừng lập đi lập lại nhiều lần, đó là Hạ phạm thế giới quan của Thương yết la. 3. Hữu tình quan: Nhìn từ lập trường Thượng trí thì hoàn toàn không có hữu tình, mà chỉ có một Tối thượng ngã (Phạm: Haramàtman) duy nhất thường trụ. Nhưng nhìn từ lập trường của Hạ trí thì vì Hạ phạm có nhân cách tính nên mới có thế giới Hạ phạm xuất hiện, đồng thời từ đó sinh ra vô số hữu tình, gọi là Cá nhân ngã (Phạm: Jivàtman). Những hữu tình này vì vô minh nên mang thêm các tính chất: Năm thứ gió, 11 căn, nhục thể... giống như bóng trăng trong nước ánh hiện ra các hiện tượng thiên sai vạn biệt. 4. Giải thoát quan: a. Nói theo Đệ nhất nghĩa đế thì bậc Thượng trí có chân ngã thường trụ, có ánh sáng, cho nên không cần phải tu hành mới chứng ngộ, đó là Thoát quan chân thực (tức vô thân giải thoát, Phạm: Videha mukti), nghĩa là đạt đến thế giới Phạm. b. Nói theo tín ngưỡng của Hạ phạm thì hàng Hạ trí phải tu tịch tĩnh, tiết chế, lìa dục, cúng tế, khổ hạnh... và sau khi thân diệt thì từ thiên đạo mà nhập vào thế giới Phạm. Ông có các trứ tác: Phạm kinh (Phạm: Brahma-sùtra) chú, Bạc già phạm ca (Phạm:Bhagavad-gìta) chú, Ngã chi giác tri (Phạm: Àtman-bodha) Vấn đáp man (Phạm: Upadeza-sahasrì), Ngũ phần pháp...
thương yết la chủ
Sankarasvàmin (S). Name.
; (商羯羅主) Phạm: Zaịkara-svàmin. Hán âm: Thương yết la tắc phạ di. Hán dịch: Cốt tỏa. Cũng gọi Thương yết la chủ bồ tát. Học giả Nhân inh người Ấn Độ, học trò ngài Trầnna, sống vào thế kỉ VI, ra đời kế sau ngài Thế Thân, Trần Na... Cái học của sư lấy Nhânminh làm tông chỉ, giải thích luận Nhân minh chính lí môn của thầy mình là bồ tát Trần Na, soạn luận Nhân Minh nhập chính lí 1 quyển để phá đổ tà thuyết của ngoại đạo, đồng thời phục hưng Nhân minh học. Thương yết la vốn là tên khác của trời Đại tự tại, cha mẹ sư nhờ cầu xin vị trời này mà sinh được sư nên đặt tên là Thương yết la chủ. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q. thượng; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1]. (x. Cốt Tỏa Thiên).
thương yết la chủ bồ tát
Śaṅkarasvāmin (S)Cốt tỏa chủ Bồ tátMôn đệ của ngài Trần Na.
Thương Yết La Chủ 商羯羅主
[ja] ショウカラシュ Shōkarashu ||| () An Indian logician of the end of the sixth century. He was a disciple of Dignāga and author of the Nyāyapraveśa-śāstra 因明入正理論, one of the most important works on logic in East Asia. => (s: Śaṃkarasvāmin). Nhà luận lý học Ấn Độ vào cuối thế kỷ thứ 6. Ngại là đệ tử của Trần Na (Dignāga) và là tác giả của Nhân minh nhập chính lý luận, một trong những tác phẩm chủ yếu về luận lý học ở Đông Á,
thương điếm
Trading place.
thương đàm
To negotiate.
Thương 傷
[ja] ショウ shō ||| (1) A wound, to receive a wound. (2) Pain, suffering--esp. mental or emotional suffering. => Có hai nghĩa : 1. Vết thương, bị thương. 2. Đau khổ thể xác và tinh thần--đặc biệt là đau khổ về tinh thần hay sự xúc cảm.
Thương-na Hoà-tu
商那和修; S: śānavāsin;|Tổ thứ 3 của Thiền tông Ấn Ðộ
Thương-yết-la-chủ
商羯羅主; C: shāngjiéluózhŭ; J: shōkarashu; S: śaṃkarasvāmin|Nhà luận lí học Ấn Độ vào cuối thế kỉ thứ 6. Sư là đệ tử của Trần-na (s: dignāga) và là tác giả của Nhân minh nhập chính lí luận (因明入正理論, s: nyāyapraveśa-śāstra), một trong những tác phẩm chủ yếu về luận lí học ở Đông á.
Thượng Tọa Định
(定上座, Jō Jōza, ?-?): nhân vật sống cuối thời nhà Đường, vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc. Cuối phần Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), theo ký lục của Lâm Tế Lục (臨濟錄) cho thấy, ông thuộc pháp từ của Lâm Tế. Còn trong Bích Nham Lục (碧巖錄) thì sau khi đắc pháp, ông có vấn đáp với ba nhân vật Nham Đầu Toàn Khoát (巖頭全奯), Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存) và Khâm Sơn Văn Thúy (欽山文邃).
thước
1) Chim ác là: Magpie—Jay—Daw. 2) Nấu chảy kim loại—To melt metal. 3) Sáng rực: Bright—Glistening—Flashing—Shining.
thước ca la
Xem Thiết vi.
; Sakraditya (skt)—Chước Ca Bà La—Chước Ca La—Chước Yết La. 1) Luân: Cakra (skt)—Vòng bánh xe—A wheel. 2) Núi Tu Di: See Meru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Sumeru Mountain in English-Vietnamese Section. 3) Một vị vua của xứ Ma Kiệt Đà sau thời Phật Thích Ca. Vị nầy đã xây một tháp thờ Phật tại đây—A king of Magadha, some time after Sakyamuni's death, to whom he built a temple.
; (爍迦羅) Phạm: Cakra. Pàli:Cakka. Cũng gọi Chước yết la, Chước ca la, Chước ca bà la. Nghĩa là kim cương, cứng chắc, bánh xe sắt... Chẳng hạn như từ ngữCakravàđa của tiếng Phạm là chỉ cho núi Thiết vi (núi sắt bao quanh). Lại như kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 119 trung) nói: Tâm thước ca la không chuyển động, thì thước ca là có nghĩa là tinh tiến, kiên cố. Lại thước ca la nhãn nghĩa là mắt kim cương, mắt sắc sảo, tức chỉ cho con mắt sáng suốt thấy rõ tà chính, phân biệt được hay dở... [X. Bích nham lục tắc 9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.42; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
thước ca la a dật đa
See Thước Ca La.
thước ca ra
Unfaltering will; steadiness; unswerving in one's intention; strong determination; fixed purpose.
thước cạt để
See Thước Ngật Để.
thước ngật để
Sakti (skt)—Tướng hay dấu hiệu—A tally or sign.
thước phong lâm
Xem Trúc lâm Tịnh xá.
thước sào
1) Tổ chim ác là: A magpie's net. 2) Nơi dùng cho thiền tập: Sometimes applied to a place of meditation.
thước sào hoà thượng
(鵲巢和尚) Thiền sư Trung quốc, tên là Đạo lâm, thuộc tông Ngưu đầu, sống vào đời Đường, người ở Phú dương, Hàng châu, họ Phan (có thuyết nói họ Ông). Sư từng thấy trên núi Tần vọng có cây tùng cao lớn, tàn tán uốn tròn như cái lọng, sư bèn trụ trên tàn cây ấy, cho nên người đương thời gọi sư là Điểu khòa thiền sư(Thiền sư ổ chim), bên cạnh sư có chim khách(thước) đến làm tổ, cho nên cũng gọi là Thước sào thiền sư (Thiền sư tổ chim khách). (xt. Điểu Khỏa Đạo Lâm).
thước viên
Veṇuvana-karandaka-nivapa (S)Vườn trúc Ca lan đà.
; Trúc Lâm—Vườn có nhiều chim ác là, ám chỉ vườn Trúc Lâm—Magpie garden, applied to Venuvana.
; (鵲園) Phạm: Veịuvana kàraịđaka nivàpa. Chỉ cho rừng trúc Ca lan đà. Tiếng Phạm: Kàraịđaka, Hán dịch là Thước (chim khách), là loài chim có giọng hót hay, vì thế rừng trúc Ca lan đà được dịch là Trúc lâm thước viên. Trong các kinh vốn không có từ ngữ Thước viên, nhưng vì chùa Kê tước của vua A dục cũng gọi là Tước viên, cho nên dựa theo đồng âm mà gọi là Thước viên. Chẳng hạn như bài tựa Nội điển bi minh tập trong Quảng hoằng minh tập quyển 20 (Đại 52, 244 hạ) nói: Thước viên khéo dụ, Mã uyển rộng tuyên, từ Mã uyển dẫn trên đây là chỉ cho chùa Bạch mã ở đời Hán.
thước yết la
Sakra (skt)—Thích Ca La—Thích Yết La—Xa Yết La. 1) Tên của Trời Đế Thích: Name of Indra. 2) Tên của một xứ vùng bắc Ấn: Name of a country north of India.
thước yết la giáo
Giáo pháp của Trời Đế Thích—Indra's dharma.
thước đổ lư
Satru (skt)—Tên của một loài quỷ (kẻ thù)—Name of a demon, enemy.
thướt tha
Slender.
thườn thượt
Very long.
thường
Nitya, sasvata (S). Prolonged, constant, always, unceasing, permanent, perpetual, ever, eternal; normal, regular, ordinary.
; 1) Thường hằng: Nitya (skt)—Eternity—Prolonged—Constant Permanent—Constant and eternal. 2) Bình thường: Normal—Ordinary—Regular—Often. 3) Bồi thường: To make amends—To compensate—To repay.
thường ba la mật
The first of the four pàramitàs, eternity.
; Thường là Ba La Mật đầu tiên trong Tứ Ba La Mật—Eternity—The first of the four paramitas, the others are Bliss (Lạc), Personality (Ngã), Purity (Tịnh)—See Thường Lạc Ngã Tịnh.
thường bi bồ tát
Xem Thường Đề Bồ tát.
thường bàn đại định
(常盤大定) Học giả nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc, người huyện Cung Thành, Nhật Bản, hiệu Lựu Khâu, thuộc phái Đại Cốc, Chân Tông.Năm 17 tuổi, ông vào chùa Đạo nhân ở phố Tiên đài, năm 29 tuổi tốt nghiệp môn triết học, khoa Văn thuộc trường Đại học Đông kinh. Ông lần lượt làm giáo sư các trường: Trung học Chân tông, Đại học Thiên thai tông, Đại học Nhật liên tông, Đại học Chân tông, Đại học Phong sơn, Đại học Đế quốc Đông kinh... Ông suốt đời nghiên cứu Phật giáo Trung quốc. Từ năm Đại chính thứ 9 (1920) trở đi, ông từng đến Trung quốc 5 lần, nghiên cứu sử tích Phật giáo. Năm Chiêu hòa thứ 6 (1931), ông nghỉ dạy ở Đại học Đế quốc Đông kinh. Sau, ông làm Bình nghị viên của học viện văn hóa Đông phương thuộc trường đại học Nghĩa thục Khánh ứng, đồng thời kiêm nhiệm giáo sư Đại học Đông dương. Năm Chiêu Hòa 14 (1939), ông sáng lập viện Phật học Nhật bản và tự làm Hiệu trưởng. Năm Chiêuhòa 20 (1945), ông qua đời, thọ 76 tuổi. Ông có các tác phẩm: Ấn độ văn minh sử, Thích ca mâu ni truyện, Chi na Phật giáo sử tích 6 tập; Chi na Phật giáo sử tích bình giải 6 tập; Chi na Phật giáo sử tích bình giải (Anh văn) 5 tập (soạn chung với Tiến sĩ Quan Dã), Chi na văn hóa sử tích 12 tập, Chi na văn hóa sử tích giải thuyết 12 (soạn chung với Tiến sĩ Quan dã). [X. Đạo nhân tự tàng bi văn; Đại nhân danh sự điển].
thường bất khinh bồ tát
SadaparibhŪta (S)Tiền thân Phật Thích Ca. Khi tại thế gặp ai trong tứ chúng Ngài đều bái mà nói: 'Tôi chẳng dám khinh Ngài vì Ngài sẽ thành Bồ tát', cho dù có người đánh chưởi Ngài cũng chỉ nói thế. Thường Bất Khinh Bồ Tát nhờ nghe kinh Pháp hoa nên đắc quả Phật.
; Sadàparibhùta (S). A monk who never slighted others, but assured all of Buddhahood, a former incarnation of Sàkyamuni.
; Sadaparibhuta (skt)—Theo Phẩm 20 Kinh Pháp Hoa, Thường Bất Khinh Bồ Tát là tiền thân Phật Thích Ca, Ngài luôn chào hỏi và tán thán những người Ngài gặp và nói “Tôi không dám khinh các Ngài vì các Ngài rồi đây sẽ thành Phật.” Thường Bất Khinh Bồ Tát là tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—According to the Lotus Sutra, Chapter 20, Never Despite (Never Slighted) Bodhisattva was the previous incarnation of the Buddha. Bodhisattva who constant greeted all beings he met and praised that they were destined for Buddhahood. Never Despite (slighted others) Bodhisattva, a former reincarnation of Sakyamuni Buddha.
; (常不輕菩薩) Thường bất khinh, Phạm: Sadàparibhùta. Cũng gọi: Thường bị khinh mạnbồtát. Gọi tắt: Bất khinhtồtát. Vị Bồ tát nói trong phẩm Thường bất khinh bồ tát kinh Pháp hoa, là vị Bồ Tát tỉ khưu ra đời vào thời Tượng pháp của đức Phật Uy âm vương ở quá khứ, chính là tiền thân của đức Thích tôn. Vị Bồ tát này mỗi khi thấy các tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di thì đều lễ bái, khen ngợi và nói rằng (Đại 9, 184 hạ): Tôi rất cung kính quí vị, không dám khinh nhờn, vì sao? Vì quí vị đều thực hành đạo Bồ tát và sẽ được thành Phật. Mọi người nghe rồi cũng có người tức giận, lấy gạch, ngói, gậy gộc đánh, ném, nhưng Bồ tát thường bất khinh vẫn cung kính, cho đến thấy 4 chúng từ xa cũng lại lễ bái khen ngợi như trước, vì thế nên 4 chúng tăng thượng mạn gọi Ngài là Thường bất khinh. Lúc vị Bồ tát này lâm chung, nghe đức Phật Uy âm vương giảng nói kinh Pháp hoa, được 6 căn thanh tịnh, thọ mệnh tăng thêm, lại giảng nói kinh Pháp hoa cho người khác nghe, hiển hiện thần thông, nên làm cho 4 chúng tăng thượng mạn qui phục, cuối cùng Bồ tát Thường bất khinh được thànhPhật. Bồ tát Thường bất khinh thời bấy giờ nay chính là đức Thích tôn, 4 chúng tăng thượng mạn là chỉ cho 500 Bồ tát như Bạt đà ba la..., 500 tỉ khưu ni như Sư tử nguyệt..., 500 ưu bà tắc như Tư Phật... trên hội Pháp hoa của đức Thích tôn. Sự thụ kí của vị Bồtát này là thị hiện chúng sinh đều có Phật tính, cũng tức là1 trong các vị Bồtát quan trọng biểu hiện tinh thần của Phật giáo Đại thừa. Hạnh thường bất khinh cũng là hạnh tu của các hành giả chí thành xưa nay. Như trong Lịch đại tam bảo kỉ quyển 12 có ghi, ngài Tín hành đời Tùy, gặp bất kì ai trên đường đều lễ bái. Trong luận Niệm Phật tam muội bảo vương quyển thượng, có lập một môn Niệm vị lai Phật cho thấy rõ rằng hạnh bất khinh trong kinh Pháp hoa và hạnh niệm Phật chỉ là một. [X. kinh Thiêm phẩm diệu pháp liên hoa Q.6; luận Pháp hoa Q. hạ; Pháp hoa kinh văn cú Q.10 thượng; Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập Q.34].
Thường Bất Khinh 常不輕
[ja] ジョウフギョウ jōfugyō ||| (1) To never despise; never look down upon; never take lightly. (2) Sadāparibhūta. The name of a bodhisattva in the Lotus Sutra; this was also a name of Śākyamuni in one of his previous lifetimes as a bodhisattva, when he saw the equality in all beings in their possession of the buddha-nature. 〔法華經 T 262.9.50c16〕 => 1. Không bao giờ xem thường ai; không bao giờ ra vẻ trịch thượng với ai, không bao giờ xem nhẹ ai. 2. Sadāparibhūta. Tên một vị Bồ-tát trong kinh Pháp Hoa; đây cũng là tên của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trong đời trước, khi đang tu hạnh Bồ-tát, thấy mọi chúng sinh đều bình đẳng trong Phật tính của họ.
thường bất tư nghì
Nityam-acintyam (S).
; Nityam-acintyam (S). Eternally unthinkable.
Thường Chiếu
常照; ?-1203|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 12. Sư kế thừa Thiền sư Quảng Nghiêm và truyền pháp lại cho Thông Thiền và Thần Nghi.|Sư họ Phạm, quê ở làng Phù Ninh. Ðời vua Lí Cao Tông, Sư có giữ một chức quan nhưng sau đó từ chức, xuất gia tu học với Thiền sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả. Trong hội Quảng Nghiêm, Sư là người đứng đầu chúng và ở lại hầu thầy nhiều năm.|Rời Quảng Nghiêm, Sư đến phường Ông Mạc trụ trì một ngôi chùa cổ nhưng sau lại dời về chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Học chúng quy tụ về ngày càng đông. Danh tiếng Sư vang khắp tùng lâm.|Ngày 24 tháng 9 niên hiệu Thiên Gia Bảo Hựu thứ hai, Sư có chút bệnh gọi chúng lại nói kệ phó chúc:|道本無顏色。新鮮日日誇|大天沙界外。何處不爲家|Ðạo bản vô nhan sắc|Tân tiên nhật nhật khoa|Ðại thiên sa giới ngoại|Hà xứ bất vi gia.|*Ðạo vốn không màu sắc|Ngày ngày lại mới tươi|Ngoài đại thiên sa giới|Chỗ nào chẳng là nhà.|Nói xong, Sư ngồi Kết già thị tịch.
thường chiếu
Tên của một thiền viện tân lập, tọa lạc tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa, Nam Việt Nam. Thiền viện được Thiền Sư Thích Thanh Từ sáng lập năm 1974, mang tên một danh sư Việt Nam thời Lý. Thiền viện hiện nay được mở rộng, là trung tâm của các thiền viện nổi tiếng trong vùng như Viên Chiếu (1974), Linh Chiếu (1974), Huệ Chiếu (1975), và Phổ Chiếu (1975)—Name of a newly built Ch'an Institute, located in Phước Thái village, Long Thành district, Biên Hòa province. The Ch'an Institute was built in 1972 by Most Venerable Thích Thanh Từ, and was named after a Vietnamese famous Master in the Lý dynasty. Nowadays, the enlarged Cha'n Institute is the center of other famous Ch'an Institutes, i.e. Viên Chiếu (1974), Linh Chiếu (1974), Huệ Chiếu (1975), and Phổ Chiếu (1975).
thường chiếu thiền sư
Zen Master Thường Chiếu (?-1203)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Phù Ninh, Bắc Việt. Ngài là một viên quan của triều đình, nhưng xuất gia và trở thành đệ tử của Thiền sư Quảng Nghiêm tại chùa Tịnh Quả. Ngài là pháp tử đời thứ 12 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài đến làng Ông Mạc và trụ tại một ngôi chùa cổ. Phần đời còn lại của ngài, ngài dời về chùa Lục Tổ trong vùng Thiên Đức để hoằng hóa Phật giáo cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1203—A Vietnamese Zen master from Phù Ninh, North Vietnam. He was a mandarin of the royal court before he left home and became a disicple of Zen master Quảng Nghiêm at Tịnh Quả Temple. He was the dharma heir of the twelfth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he went to Ông Mạc village and stayed at an old temple for some years. He spent the rest of his life to expand Buddhism at Lục Tổ Temple in Thiên Đức. He passed away in 1203.
thường chuyển như thị kinh
(常轉如是經) Lời ngài Bát nhã đa la, Tổ thứ 27 trong 28 vị Tổ phó pháp tương thừa của Thiền tông Ấn độ. Tức lời ngài Bát nhã đa la tự nói những hành vi hàng ngày chính là trạng thái hợp với chân như thực tướng và dùng kinh điển ví dụ cho chân như thực tướng, đồng thời cho rằng tự thân và các pháp dung hợp thành một thể. Thung dung lục tắc 3 (Đại 48, 229 thượng) ghi: Tổ nói: Bần đạo thở vào không trụ ấm giới, thở ra không dính mắc các duyên, thường chuyển như thị kinh trăm ngàn muôn ức quyển.
thường chân
(常真) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Liêu, từng ở chùa Khai nguyên tại Triệu châu, thuộc tỉnh Hàbắc. Sư có soạn bộ Câu xá luận tụng sớ sao 8 quyển, làsách chú thích Câu xá luận tụng sớ của ngài Viên Huy đời Đường. Sau, ngài Nghĩa thiên người Cao li mang bộ sớ sao này về nước rồi khắc in ở chùa Hải Ấn.
thường có
Frequent.
thường cảnh
Cảnh giới lìa bỏ tất cả mọi tướng sanh diệt—The eternal realm.
thường dân
Civilian.
thường dùng
In current (common) use.
thường dạ đăng
(常夜燈) Cũng gọi Thường minh đăng, Vô tận đăng, Thường đăng minh, Thường đăng. Chỉ cho ngọn đèn không phân ngày đêm, không ngừng thắp sáng cúng dường trước Phật. Thắp đèn vốn là để cúng Phật, mà Phật là bậc đã đạt được đại giác ngộ, đại giải thoát, bậc đã chứng được Niết bàn, bản tính thường trụ, vốn không có cái mà phàm phu gọi là ngày đêm sáng tối khác nhau. Nhưng vì muốn cho người bố thí được phúc, cho nên pháp thắp đèn cúng Phật cũng nên thắp ngày đêm không dứt, thường cháy không tắt. Sự tích người đàn bà nghèo cúng đèn ghi trong kinh Hiền Ngu quyển 3 có lẽ đã bắt nguồn từ Trường dạ đăng. [X. phẩm Vấn Phật sự trong kinh Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự Q. thượng; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q. hạ, phần 4]. (xt. Trường Minh Đăng).
thường hay
Consistently
Thường Hiểu
(常曉, Jōgyō, ?-866): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, húy là Thường Hiểu, thông xưng là Tiểu Lật Thê Luật Sư (小栗栖律師), Nhập Đường Căn Bản Đại Sư (入唐根本大師). Ban đầu ông theo Phong An (豐安) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) học về Tam Luận, đến năm 815 thì thọ giới, rồi sau đó thọ phép Quán Đảnh với Không Hải (空海, Kūkai). Vào năm 829, ông làm Đạo Sư cho Ngự Trai Hội, rồi năm 838 thì sang nhà Đường cầu pháp với tư cách là Lưu Học Tăng học về Tam Luận, rồi được Linh Tiên (靈仙), vị tăng sang nhà Đường trước ông, phó chúc lại các di phẩm tại Hoài Nam (淮南). Sau ông thọ phép Quán Đảnh với Văn Tế ở Thê Linh Tự (栖靈寺), Dương Châu (揚州), theo học Tam Luận với Nguyên Chiếu (元照) ở Hoa Lâm Tự (華林寺), và đến năm 839 thì trở về nước. Năm sau, ông cho an trí tượng Thái Nguyên Soái Minh Vương (太元帥明王) tại Pháp Lâm Tự (法琳寺), vùng Vũ Trị (宇治, Uji), rồi được sắc chỉ cho phép lập Tu Pháp Viện (修法院) để trấn hộ quốc gia, và cùng năm đó thì tiến hành pháp tu Thái Nguyên Soái tại Thường Ninh Điện (常寧殿) trong cung nội. Trước tác của ông để lại có Tôn Thắng Phật Đảnh Thứ Đệ (尊勝佛頂次第), Nhập Đường Căn Bổn Đại Sư Ký (入唐根本大師記), Tấn Quan Thỉnh Lai Lục (進官請來錄), A Tra Bà Câu Thứ Đệ (阿吒婆倶次第) 1 quyển.
thường hành
Constantly doing, or practising; ordinary procedure.
; 1) Những phương pháp bình thường: Ordinary procedures. 2) Thường xuyên tu hành—Constantly doing, or practising.
thường hành giả
Xem Trí Tràng Bồ tát.
thường hành tam muội
(常行三昧) Cũng gọi Bát chu tam muội. Một trong 4 loại Tam muội do tông Thiênthai lập ra, là phương pháp hành đạo dựa theo kinh Bát chu tam muội bằng cách đi nhiễu quanh đạo tràng từ 7 cho đến 90 ngày để mong được thấy Phật. Nhất hạnh tam muội nói trong kinh Văn thù bát nhã tức là Thường tọa tam muội, là pháp đặc biệt chỉ chuyên việc ngồi; còn Thường hành tam muội thì trái lại, là pháp đặc biệt chỉ chuyên việc đi nhiễu. Khi tu pháp này, một mình ở nơi vắng vẻ, thường đi khất thực, không nhận thỉnh riêng, trang nghiêm đạo tràng, sắm sửa các vật cúng như hương đèn, hoa thơm, quả ngọt..., tắm gội thân thể. Trong thời gian tu hành, đi bộ chung quanh tượng Phật A di đà, miệng xưng niệm danh hiệu Phật A di đà, tâm tưởng niệm Phật A di đà, tức mỗi bước đi, mỗi tiếng niệm đều tưởng nhớ Phật A di đà, gọi là Tam muội. Hoàn thành Tam muội này liền được thấy chư Phật, cho nên cũng gọi là Phật lập tam muội(tức trạng thái thiền định thấy Phật đứng trước mặt hành giả). Trong Bát chu tam muội hành đạo vãng sinh tán do ngài Thiện đạo soạn, Bát chu được dịch là Thường hành đạo, vì 3 nghiệp hành đạo không gián đoạn nên gọi là Thường hành đạo. Còn trong Quán niệm pháp môn thì có nói rõ về pháp Bát chu tam muội thấy Phật. Từ đời Tống trở về sau, Liên xã niệm Phật được thịnh hành chính đã kế thừa pháp này mà có. Tại Nhậtbản thì tu 4 thứ Tam muội là các pháp Tam muội đầu tiên do Tổ khai sáng tông Thiênthai là ngài Tối trừng lập ra ở núi Tỉ duệ. [X. Ma ha chỉ quán Q.2, thượng]. (xt. Bát Chu Tam Muội).
thường hành tam muội đường
(常行三昧堂) Gọi tắt: Thường hành đường. Cũng gọi: Thường hành Phật lập tam muội viện, Bát chu tam muội viện, A di đà tam muội đường. Chỉ cho ngôi nhà được thiết lập dành cho việc tu hành pháp Niệm Phật tam muội, pháp này dựa theo kinh Bát chu tam muội và thờ Phật A di đà làm Bản tôn. Pháp Bát chu tam muội bắt đầu được thực hành do ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn, tinh xá Bát nhã đài ở Lô sơn là nơi mở đầu cho các đạo tràng tu theo pháp này. Đến đời Đường, ngài Thừa viễn thiết lập đạo tràng Bát chu ở Hành sơn, học trò ngài Thừa viễn là sư Pháp chiếu thì lập đạo tràng ở chùa Trúc lâm trên núi Ngũ đài, cả hai đạo tràng đều tu Bát chu tam muội. Ngài Viên nhân người Nhật bản đến núi Ngũ đài tu tập pháp Niệm Phật tam muội; sau khi trở về Nhật bản, ngài kiến lập Thường hành tam muội đường ở núi Tỉ duệ, bắt đầu tu pháp Niệm Phật không gián đoạn. [X. Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí Q.3; luận Hiển giới Q. thượng].
thường hằng
Aksaya (S). Constantly, eternal; non decaying. Also trường tồn, vĩnh cửu.
; Permanent—Constantly.
thường kiến
quan điểm sai lầm cho rằng thân tâm này với các pháp thế gian là thường tồn, không dứt mất, chẳng hạn như cho rằng mỗi con người đều có một linh hồn bất diệt.
; Śāśvatadṛṣṭi (S), Sassata-diṭṭhi (P), Nityadṛṣṭi (S), Sasvatadṛṣṭi (S).
; The view that (personality) is permanent.
; Eternalism—Holding to the view of permanence or immortality—Permanence—The view that holds personality as permanent—See Nhị Kiến (B) (2).
; (常見) Phạm:Nityadfwỉi, Zàzvatadfwỉi. Pàli:Sassata-diỉỉhi. Cũng gọi: Thường tà kiến, Thường luận. Đối lại: Đoạn kiến. Một trong 2 thứ kiến chấp. Tức kiến chấp chủ trương thế giới là thường còn không biến đổi, cái Ta của con người là bất diệt, cái ta của con người sau khi chết cũng không tiêu mất, lại có khả năng tái sinh và diễn lại hiện trạng tương tục, tức nói Ta là thường còn; chấp trước kiến giải này gọi là Thường kiến. Đại tuệ thư (Đại 47, 923 trung) nói: Thường kiến có nghĩa là không hiểu tất cả pháp đều không, chấp trước các pháp hữu vi ở thế gian là rốt ráo. Ngoại đạo chủ trương Thường kiến này gọi là Thường kiến ngoại đạo. Kiến giải về Thường kiến có nhiều thứ khác nhau, tức trong kiến giải thừa nhận cái Ta quá khứ, vị lai và thế gian làthường, những người chấp cái Ta quá khứ và thế gian là thường, thì có một phần thường và hết thảy thường khác nhau.; còn những người chấp vị lai là thường thì có hữu tưởng và vô tưởng khác nhau. Trong 62 kiến chấp thì 18 kiến chấp là Quá khứ(tiền tế) phân biệt kiến, 44 kiến chấp còn lại là Vị lai (hậu tế) phân biệt kiến. Trong đó, 4 thứ Biến thường luận, 4 thứ Nhất phần thường luận (thuộc Quá khứ phân biệt kiến), 16 thứ Hữu tưởng luận, 8 thứ Vô tưởng luận, 8 thứ Phi tưởng phi phi tưởng luận(thuộc Vị lai phân biệt kiến) và Cực vi thường trụ luận chấp cực vi là thường trụ đều thuộc về Kế thường luận. Trong các kinh luận thường chỉ bày rõ việc dùng Không quán đối trị Thường kiến.Đức Thích tôn thì chẳng thiên về Thường kiến (Hữu kiến), mà cũng không thiên về Đoạn kiến(Vô kiến). Còn thuyết Linh hồn bất diệt thì thuộc về Thường kiến, Hư vô chủ nghĩa thì thuộc về Đoạn kiến; đức Thíchtôn thì xa lìa 2 bên Hữu, Vô mà chủ trương Trung đạo. Thường kiến và Đoạn kiến đều chẳng phải Trung đạo, đều là Biên kiến, Thiên kiến, là Ác kiến thứ 2 trong 5 Ác kiến. [X. kinh Tạp a hàm Q.34; kinh Niết bàn Q.27 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.49; luận Du già sư địa Q.6]. (xt. Đoạn Kiến).
Thường kiến 常見
[ja] ジョウケン jōken ||| The eternalistic view--the notion that the self and the objects of the world exist and persist. The opposite of the nihilistic view 斷見. => Quan niệm thường hằng--quan niệm cho rằng bãn ngã và các pháp tồn tại và mãi mãi thường còn. Ngược lại là Đoạn kiến (e: nihilistic view 斷見).
thường lưu
(常流) Cũng gọi Thường phàm. Chỉ cho nhân vật phàm tục. Thung dung lục tắc 47 (Đại 48, 256 hạ) ghi: Cây bách trước sân, phướn gió trên sào, như một đóa hoa nói lên ý xuân man mác, như một giọt nước nói lên biển cả mênh mông, thế gian sinh cổ Phật, khác xa thường lưu, không rơi vào nói năng, suy nghĩ.
thường lạc
Everlasting joy.
thường lạc ngã tịnh
Bốn phẩm chất của cuộc đời Đức Phật được giảng trong Kinh Niết Bàn—The four paramitas of knowledge—Four noble qualities of the Buddha's life expounded in the Nirvana Sutra—Four transcendental realities in nirvana (Eternity, Bliss, Personality or true self, Purity).
; (常樂我淨) I. Thường Lạc Ngã Tịnh. Cũng gọi Niết bàn tứ đức. Chỉ cho 4 đức của Niết bàn Đại thừa và pháp thân Như lai. Sự giác ngộ đạt đến cảnh giới Niết bàn là sự giác ngộ vĩnh viễn không biến đổi, được gọi là Thường; cảnh giới ấy không có các khổ não, chỉ có an vui, gọi là Lạc; được tự do tự tại, không một mảy may bó buộc, gọi là Ngã; không có phiền não nhiễm ô, gọi là Tịnh. [X. kinh Niết bàn Q.23 (bản Bắc); luận Phật tính Q.2]. (xt. Tứ Đức). II. Thường Lạc Ngã Tịnh. Chỉ cho 4 kiến giải sai lầm vì phàm phu không biết chân tướng của mình và thế giới vốn là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh mà sinh ra. Thường là hiểu lầm rằng con người sẽ tồn tại vĩnh viễn; Lạc là cho rằng đời người là khoái lạc; Ngã là tưởng lầm mình có tự do, tự chủ, là cái ta chủ thể có thể nắm bắt được; Tịnh là cho rằng thân tâm mình trong sạch. Đây cũng là 4 cái điên đảo. Cho nên Phật giáo thời kì đầu ở Ấn độ đã dạy tu tập 4 Niệm xứ để đối trị 4 cái điên đảo này, đó là: Quán thân là bất tịnh, Cảm thụ là khổ, tâm là vô thường, các pháp là vô ngã. (xt. Tứ Điên Đảo).
thường lập thắng phan
Anavanamita-vaidjayanta (S)Đức Thích Ca có thọ ký cho ngài A Nan vể vị lai sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, cõi của ngài là Thường lập Thắng Phan, kỳ kiếp là Diệu âm biến mãn.
; Avanamita-vaijayanta (skt)—Danh hiệu của Đức Phật mà ngài A Nan sẽ thành sau nầy—Ever errect victorious banner—Name of Ananda's future Buddha-realm.
Thường Lục
(常陸, Hitachi): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc đại bộ phận của Ibaraki-ken (茨城縣).
thường lục thiên đức tự ngữ lục
(常陸天德寺語錄) Gọi đủ: Nguyệt pha thiền sư trụ Thường lục châu Đại tông sơn Thiên đức tự ngữ lục. Ngữ lục, 4 quyển, do ngài Nguyệt pha Đạo ân (1637-1716) thuộc tông Tào động Nhật bản soạn, các vị Nguyên trạm... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung thu chép các pháp ngữ của ngài Đạo ấn khi trụ chùa Thiên đức gồm: Nhập môn, thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, trà thoại, cơ duyên, niêm cổ, tụng cổ, pháp ngữ, khai quang, niêm hương, Phật sự, thị kệ, ca, thư...
thường lực
Lực không bao giờ mất—Unfailing powers.
thường một
Ever drowning in the sea of mortality.
; Luôn luôn bị chìm đắm trong biển sanh tử—Ever drowning in the sea of mortality.
thường một chúng sinh
(常沒衆生) Cũng gọi Thường một phàm phu. Chỉ cho chúng sinh thường chìm đắm trong cõi mê không thoát ra được. Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Bắc) ví dụ sông như biển lớn sinh tử, tắm gội như việc xuất gia thụ giới có công năng thanh tịnh, giặc cướp như phiền não, ví dụ việc hái hoa như dùng hoa thất tịnh làm nhân để cầu quả Niết bàn. Từ các ví dụ trên mà nêu ra 7 hạng người bên sông Hằng: Xiển đề, người trời, nội phàm, 4 quả, Duyên giác, Bồ tát và Phật. Bảy hạng người này, có người xuống sông để tắm gội, có người xuống sông vì sợ giặc cướp, có người xuống sông để hái hoa. Trong đó, hạng người thứ nhất vì sức yếu đuối lại không biết bơi nên bị chìm trong sông; giống như hạng người Xiển đề gần gũi bạn ác, nghe theo tà pháp, vì nghiệp ác sâu nặng lại không có đức tin nên chìm đắm trong sông sinh tử. Hạng người thứ hai tuy có đủ sức khỏe, đã 1 lần ra khỏi, nhưng vì chưa tập bơi lội nên bị chìm lại, giống như người trời tuy tiến lại lui, đã từng gần gũi bạn lành, lại có tín tâm, nhưng lại gặp bạn ác, nghe theo tà pháp nên lại chìm trong sông sinh tử. Hai hạng người nói trên đều là phàm phu, thường chìm đắm trong sông sinh tử không thoát ra được.
thường nghiệp
Āciṇṇa-kamma (P), Bahula kamma (P), Habitual karma.
; Acinna-kamma (P). Habitual karma.
; Acinna (p)—Habitual karma—See Nghiệp Thường.
thường nhãn
Mắt thịt của phàm phu—The ordinary physical eye.
thường niên
Yearly—Annually.
thường niệm
Always remembering; always repeating.
; Luôn luôn ức niệm (theo Kinh Pháp Hoa, nếu có chúng sanh có nhiều dâm dục, mà biết thường xuyên niệm tụng Quán Thế Âm Bồ Tát, thì có thể lìa bỏ dâm dục)—Always remembering; Always repeating.
thường niệm phật
(常念佛) Cũng gọi Bất đoạn niệm Phật. Niệm Phật liên tục không ngừng trong thời gian dài. Tức trong số ngày cố định hoặc trong 12 thời hằng ngày, liên tiếp niệm danh hiệu Phật A di đà không gián đoạn. Đây là pháp tu tập của tông Tịnh độ, tương đương với Thường hành tam muội trong 4 loại tam muội. Pháp này y cứ theo lời dạy trong kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 346 thượng): Dốc lòng như thế, khiến cho tiếng niệm không dứt, đầy đủ 10 niệm, xưng Na mô A di đà Phật. Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển 4 (Đại 37, 272 trung) nói: Một lòng chuyên niệm danh hiệu Diđà, đi đứng ngồi nằm, bất luận thời gian lâu mau, niệm niệm không bỏ, đó gọi là Chính định nghiệp. (xt. Niệm Phật, Thường Hành Tam Muội).
thường niệm quan âm
(常念觀音) Nhớ nghĩ Quán âm tương tục không ngừng trong thời gian dài. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 57 thượng) nói: Nếu có chúng sinh nào đa dâm mà thường niệm cung kính bồ tát Quán thế âm thì lìa được dâm dục. Thường niệm là thường khởi tâm chính niệm. Chính niệm có 2 mặt là Sự và Lí. 1. Thường niệm về mặt Sự: Ngày đêm, đi đứng ngồi nằm đều niệm thần lực của Quán âm không lúc nào quên. 2. Thường niệm về mặt Lí:Y cứ vào 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên mà có khác nhau, nhưng đều lấy Quán âm làm thể của chính niệm. a. Nói theo Tạng giáo thì dùng Bất tịnh quán và Cửu tưởng quán để xa lìa tâm dâm.b. Nói theo Thông giáo thì xem các cảnh giới nam nữ đều do nhân duyên sinh ra, quán tự tính không để diệt tình dục. c. Nói theo Biệt giáo thì trước hết quán tức không để phá chấp có thật, kế đến quán có giả để phá chấp tướng không, sau cùng quán chẳng có chẳng không để lìa 2 bên không, giả mà thuận theo Trung đạo. d. Nói theo Viên giáo thì xem tất cả cảnh giới vốn dung thông nhất vị không có thể tính riêng, năng ái, sở ái đều là pháp tính, thực tướng, không có mình, người khác nhau, rốt ráo vô tướng, cho nên tâm ái trước liền diệt, đó là cách không đoạn mà tự trừ. [X. Ma ha chỉ quán Q.9 thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.9, phần 2].
Thường Phước Tự
(常福寺, Jōfoku-ji): ngôi tự viện của Tịnh Độ Tông, hiệu núi là Thảo Địa Sơn (草地山); tên chính thức là Thảo Địa Sơn Liên Hoa Viện Thường Phước Tự (草地山蓮華院常福寺); hiện tọa lạc tại số 1222 Urizura (瓜連), Naka-shi (那珂市), Ibaraki-ken (茨城縣). Chùa được Liễu Thật Thượng Nhân (了實上人), Tổ thứ 6 của Tịnh Độ Tông, sáng kiến trong khoảng thời gian niên hiệu Diên Nguyên (延元, 1336-1339). Sau đó, vào năm 1388 (Gia Khánh [嘉慶] 2), Tăng Phòng bị cháy rụi, vị Tổ đời thứ 2 của chùa là Liễu Dự Thượng Nhân (了譽上人) mới dời chùa về khu di tích Thành Qua Liên (瓜連城) và tái kiến lại như cũ. Từ đó về sau, chùa kết thâm giao với nhà Thiên Hoàng, chính quyền Mạc Phủ, nên đã phát triển rực rỡ. Chùa quản lý khoảng hơn 100 ngôi chùa con và hưng thịnh tột đỉnh. Tuy nhiên, vào năm 1871 (Minh Trị [明治] 4), chùa bị tước đi ấn tín cũng như khá nhiều đất đai sở hữu, cho nên phải chịu cảnh hoang phế. Về sau, các đời Trú Trì đã tận lực lập kế hoạch tái kiến chùa và kiến trúc hiện tại được xây dựng vào năm 1973 (Chiêu Hòa [昭和] 48).
thường quang
ánh hào quang thường tỏa chiếu ra từ nơi thân Phật, cũng gọi là Thân quang, khác với Phóng quang là ánh hào quang phóng ra khi có những nhân duyên nhất định.
; The unceasing radiance of the Buddha's body, represented as a halo.
; Ánh sáng không ngừng của hóa thân Phật—The constant or eternal light—The unceasing radiance (halo) of the Buddha's body.
; (常光) Cũng gọi Viên quang, Trượng quang, Thường quang nhất trượng, Thường quang nhất tầm. Vòng hào quang của Phật, 1 trong 32 tướng của Phật. Tức ánh sáng thường bao quanh bên thân Phật, Bồ tát, chiếu sáng suốt ngày đêm. Theo luận Đại tì bà sa quyển 177 thì ánh sáng chiếu ra xa mỗi phía 1 tầm (8 thước Tàu) bao quanh thân Phật, thường chiếu sáng ngày đêm, gọi là Thường quang. Kinh điển Đại thừa thì cho rằng Thường quang của chư Phật soi sáng khắp 10 phương, chứ không giới hạn ở 1 tầm. Luận Đại trí độ quyển 8 cho rằng Phật chỉ hiện ánh sáng 1tầm là vì chúng sinh độn căn bạc phúc ở cõi đời 5 trược ác, có đôi mắt bé nhỏ không thể thấy xa rộng hơn; nếu những chúng sinh lợi căn phúc lớn thì sẽ thấy được vô lượng ánh sáng của Như lai. Còn ánh sáng của đức Phật A di đà thì vì hành nguyện ở Nhân vị nên Thường quang của Ngài chiếu khắp các thế giới trong 10 phương. Nếu chúng sinh thấy được Thường quang của Phật thì chắc chắn sẽ chứng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Kinh Bình đẳng giác gọi Thường quang của Phật là Đầu quang (ánh sáng của đầu), kinh Quán vô lượng thọ quyển 1 thì gọi Thường quang của Phật là Thân quang (ánh sáng của thân). Thường quang và Thần thông quang có khác nhau. Thần thông quang là ánh sáng phát ra lúc lâm chung, như đức Thích ca Như lai khi muốn nói giảng kinh Pháp hoa thì ánh sáng do Ngài phóng ra chiếu sáng 18000 cõi nước ở phương Đông, đây tức là Thần thông quang. Lại kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 4 cho rằng Thường quang và Phóng quang có khác nhau, lúc bình thường chỉ có Thường quang, nếu khi có nhân duyên mới phóng quang khác. Vì nếu Phật thường phóng ra ánh sáng khác lạ thì thế gian sẽ không có mặt trời, mặt trăng, các vì sao, ngày đêm thời tiết, trăng tròn, trăng khuyết cho đến xuân, hạ, thu, đông khác nhau. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1; phẩm Phật bất tư nghì pháp trong kinh Hoa nghiêm Q.30 (bản dịch cũ)]. (xt. Tam Thập Nhị Tướng, Quang Minh).
thường số
(常數) I. Thường Số. Chỉ cho lí pháp thông thường. Triệu luận (Đại 45, 61 trung) nói: Đạo niết bàn mầu nhiệm tận cùng thường số, dung hợp hai nghi, rửa sạch muôn vật, trời người đồng đều, một khác như nhau. II. Thường Số. Chỉ cho vận mệnh nhất định. [X. Bản triều cao tăng truyện Q.31].
thường thân
Thân thường trụ của Phật—Permanent or eternal body of the Buddha—Eternal Buddha-body (Dharmakaya).
thường thường
Usually—Ordinarily—Always—Generally.
thường tinh
(常惺) Danh tăng Trung Quốc, sống vào thời Dân quốc, người ở huyện Như cao, tỉnh Giang Tô, họ Chu, tên Tịch tường, sau sư nối pháp giòng chùa Quang Hiếu mới đổi tên là Ưutường, thường tự kí tên là Trĩ thủy sa môn. Sư mồ côi từ thủa nhỏ, năm 12 tuổi, nương vào Trưởng lão Tự thành ở chùa Phúc thành xuất gia. Năm 20 tuổi, sư vào học tại Đại học Hoa nghiêm ở Thượng hải, ít lâu sau, đến núi Bảo hoa thụ giới Cụ túc. Sư từng theo ngài Nguyệt hà học Hoa nghiêm và theo ngài Đế nhàn học Thiên thai. Sau, sư quyết tâm cải cách chế độ tăng già, chấn hưng giáo dục tăng sĩ, liên kết chặt chẽ với Đại sư Thái hư. Năm 1925, chùa Nam Phổ đà thỉnh sư sáng lập viện Phật học Nam mân, đồng thời thỉnh sư giữ chức Trụ trì chùa này. Về sau, sư còn trụ trì các chùa danh tiếng khác như chùa Quang hiếu, chùa Vạn thọ... Năm 1939, sư thị tịch ở Thượng hải. Sư có các tác phẩm: Phật pháp khái luận, Viên giác kinh giảng nghĩa, Đại thừa khởi tín luận tâm văn kí; Nhân minh nhập chính lí luận yếu giải.
thường tinh tiến bồ tát
Eternal vigour Bodhisattva.
thường tinh tấn bồ tát
Nityodhyukta (S), Nityodhyukta-bodhisattva (S), Viriyarabdhika (S), Satasamitabhiyukta (S), Joshojin (J), Joshojin-Bosatsu (J), Bosatsu (J)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Nitya Bodhisatvas.
Thường tinh tấn 常精進
[ja] ジョウショウシン jōshōshin ||| (1) To make constant effort. (2) The name of a bodhisattva (Nityodyukta). 〔法華經 T 262.9.2a9〕 => 1. Nỗ lực thường xuyên. 2. Danh hiệu của một vị Bồ-tát (s: Nityodyukta).
thường toạ tam muội
(常坐三昧) Cũng gọi Nhất hạnh tam muội. Một trong 4 loại tam muội do tông Thiênthai lập ra, là pháp tu dựa theo kinh Vănthù sư lợi sở thuyết bát nhã ba la mật. Tức đặt 1 chiếc giường dây trong căn nhà yên tĩnh hoặc nơi vắng vẻ, bên cạnh không có tòa ngồi nào khác, trong thời gian 90 ngày ngồi kiết già, không cử động, chỉ ngồi thẳng không dựa vào cạnh giường, ngoài những lúc kinh hành, ăn uống, đại tiểu tiện ra, thường phải ngồi ngay thẳng, tập trung tâm ý vào một đức Phật, thời khắc nối nhau, không bỏ phế cho dù chốc lát; nếu các chướng trong ngoài nổi dậy như buồn ngủ, mệt mỏi, bệnh tật... làm mất chính niệm mà muốn tập trung trở lại thì phải thường xuyên xưng niệm danh hiệu của 1 đức Phật, hổ thẹn sám hối, chí tâm qui y. Nếu trong thời gian 90 ngày ấy chuyên cần không biếng nhác, không buông lơi, niệm niệm không gián đoạn thì phá trừ được nghiệp chướng, hiểnphátlí thực tướng, gọi là Thường tọa tam muội. (xt. Nhất Hạnh Tam Muội).
thường trí
Knowledge not conditioned by phenomena, abstract.
; Trí tuệ vĩnh hằng. Thực tướng của chư pháp là lìa bỏ sinh diệt mà thành vô tướng, cái trí chứng được thường cảnh vô tướng gọi là thường trí—Eternal knowledge, not conditioned by phenomena, abstract.
; (常智) Cũng gọi Thường trụ trí. Tức chứng được trí tuệ chân thực, không sinh diệt biến đổi. Thực tướng các pháp vốn vô tướng, lìa sinh diệt, trí chứng được thường cảnh vô tướng này, đã dứt bặt duyên lự, thì gọi là Thường trí vô duyên. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 779 thượng) nói: Thường cảnh vô tướng, thường trí vô duyên. Thường cảnh tức là đối tượng do Thường trí chiếu soi, là cảnh giới lìa tất cả tướng sinh diệt.
Thường trú 常住
[ja] ジョウジュウ jōjū ||| Eternal, eternally abiding, everlasting, permanent, unchanging (nitya, sthita). 〔法華經 T 262.9.b10〕 => Tồn tại, tồn tại mãi mãi, vĩnh viễn, thường hằng, bất biến (s: nitya, sthita).
thường trụ
Nitya-sthita (S)Xem Như Lai.
; Permanent, always abiding, eternal.
; 1. Chúng (Tăng, Ni) ở trong Tòng lâm đều là người thường trụ, nghĩa là chủ nhân của Tòng lâm, quyền lợi và nghĩa vụ của đại chúng đều bình đẳng. 2. Thường trụ Tam bảo thì cho tượng Phật là Phật bảo, kinh Phật là Pháp bảo, Tăng Ni hiện tiền là Tăng bảo. Thường trụ Tam bảo này cũng đại diện cho Phật giáo thọ nhận sự quy y của Phật tử.
; Pháp không sinh diệt không biến thiên gọi là thường trụ—Permanent—Eternal—Eternal existence—Nothing having been created nothing can be destroyed—Always abiding.
; (常住) I. Thường Trụ. Phạm:Nitya-sthita. Gọi tắt: Thường. Đối lại: Vô thường. Chỉ cho cái kéo dài suốt 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai thường hằng tồn tại, vĩnh viễn không sinh diệt biến đổi. Chương Tự tính thanh tịnh trong kinh Thắng man và kinh Niết bàn quyển 34 (bản Bắc) đều cho rằng Pháp thân Như lai là thường trụ bất biến. Còn phẩm Bồ đề trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 3 lại đi xa hơn nữa mà chủ trương chẳng những Pháp thân mà ngay cả Báo thân và Ứng thân của Như lai cũng là thường trụ bất biến, Pháp thân là bản tính thường (vĩnh viễn bất biến về mặt bản chất),Báo thân là Vô gián thường (thụ hưởng niềm vui không dứt) và Ứng thân là tương tục thường (vì giáo hóa chúng sinh mà biến hiện, sinh diệt liên tục không hạn định). Phẩm Vô biến dị trong luận Phật tính quyển 4 lại y cứ vào 3 thân thường trụ mà đề ra thuyết Thập chủng nhân duyên, nghĩa là 3 thân này thường sinh khởi các việc lợi ích ở thế gian, cho nên gọi là Thường trụ, đó là do dựa vào 10 loại nhân duyên sau đây:1. Nhân duyên vô biên: Trải qua vô lượng kiếp đến nay xả thân cầu Chính pháp, vì Chính pháp là vô cùng vô tận, cho nên nhờ nhân vô cùng mà chiêu cảm quả vô cùng, quả tức 3 thân, nên là Thường. 2. Chúng sinh giới vô biên: Lúc mới phát tâm đã phát 4 thệ nguyện rộng lớn, khởi 10 đại nguyện vô tận, nếu chúng sinh không bao giờ hết thì nguyện của Như Lai cũng không baogiờ hết; chúng sinh đã không bao giờ hết thì Hóa thân cũng thường ở thế gian để giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh, cho nên là Thường. 3. Đại bi vô biên: Nhưlai đầy đủ các công đức, tâm đại bi thường trụ, ơn cứu giúp chúng sinh không có bờ mé, cho nên là Thường. 4. Như ý túc vô biên: Người thế gian chứng được 4 Thần túc còn có khả năng sống lâu đến 40 tiểu kiếp, huống chi Như lai là bậc thầy có đại thần túc, có khả năng sống lâu tự tại, trải trăm nghìn ức kiếp, rộng độ chúng sinh, nên là Thường. 5. Vô phân biệt trí vô biên: Xa lìa 2 chấp sinh tử, Niết bàn, tương ứng với Đệ nhất nghĩa đế, chẳng lay động, không ra vào, nên là Thường. 6. Hằng tại Thiền định vô tán: Như lai thường hằng ở trong thiền định, không có gì phá hoại được, nên là Thường. 7. An lạc thanh lương: Yên vui mát mẻ, đó là đạo giải thoát, nên là Thường. 8. Hành ư thế gian bát pháp bất nhiễm: Sống giữa thế gian mà không nhiễm trước tám pháp. Nghĩa là trước khi thành đạo, Phật tuy sống trong thế gian, tương ứng với sinh tử, nhưng không bị phiền não làm cho nhơ nhuốm và không có các duyên vọng tưởng, cho nên là Thường. 9. Cam lộ tịch tĩnh viễn li tử ma: Cam lộ vắng lặng xa lìa ma chết. Nghĩa là quả Phật thường vui, cho nên vắng lặng, vì vắng lặng nên xa lìa ma chết, xa lìa ma chết nên là Thường. 10. Bản tính pháp nhiên vô sinh vô diệt: Bản tính tự nhiên, không sinh không diệt. Nghĩa là pháp thân chẳng phải xưa không mà nay có, xưa có mà nay không, mà là xưa nay vốn tự nhiên như thế, cho nên là Thường. [X. kinh Tạp a hàm Q.30; Nhiếp đại thừa luận thích Q.13 (bản dịch đời Lương); Phật địa kinh luận Q.7; luận Thành duy thức Q.10; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.8]. (xt. Tam Thường, Vô Thường). II. Thường Trụ. Trong các chức vụ của Tùng lâm, trụ chúng đảm trách việc điều hành tất cả sự vụ hàng ngày, được gọi chung là Thường trụ. Ngoài ra, những vật cúng dường chúng tăng thụ dụng hàng ngày gọi là Thường trụ (tức Thường trụ vật).
thường trụ giáo
(常住教) Cũng gọi Song lâm thường trụ giáo. Một trong 5 thời giáo. Ngài Tuệ quán đời Lưu Tống thuộc Nam triều và cư sĩ Lưu cầu đời Tiêu Tề chia sự giáo hóa một đời của đức Phật làm Tiệm giáo và Đốn giáo, trong Tiệm giáo lại y cứ vào thứ tự 5 thời mà lập thành 5 thời giáo. Thường trụ giáo tức là sự giáo hóa trong thời Niết bàn thứ 5 của đức Phật. Nghĩa là khi Phật sắp niết bàn, Ngài giảng nói kinh Đại niết bàn trong 1 ngày 1 đêm, dạy rõ rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Pháp thân thường trụ. Trong phán giáo, thường trụ là giáo nghĩa thuộc bậc tối cao. (xt. Ngũ Thời Giáo).
thường trụ nhất tướng
The eternal unity or reality behind all things.
thường trụ nhứt tướng
Chân lý phía sau vạn hữu là thường trụ nhứt tướng—The eternal unity or reality behind all things.
thường trụ niết bàn
Pratiṣṭhita-nirvāṇa (S).
thường trụ tam bảo
Eternally dwelling Triple Gems.
thường trụ tâm nguyệt luân
(常住心月輪) Chỉ cho tâm bồ đề thường trụ của chúng sinh vốn trong sáng như vầng trăng tròn. Pháp quán trong kinh Kim cương giới của Mật giáo, quán tưởng tâm người ta là vầng trăng thanh tịnh tròn sáng, lìa các phiềnnão năng chấp, sở chấp nhơ nhớp; y theo pháp quán này mà chiếu rọi tâm mình, mở bày trí tuệ, khiến cho tâm bồ đề bị khách trần che lấp được lắng trong thanh tịnh, giống như ánh sáng của vầng trăng tròn chiếu khắp hư không, không phân biệt chỗ nào. Đây là lấy vầng trăng làm thể của sự tròn sáng, giống như tâm bồ đề của mọi người vốn thường trụ tròn sáng, thanh tịnh, đồng thời nhờ sự quán tưởng này mà mở bày tâm mình. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q. trung].
thường trụ tương tự quá loại
(常住相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi thứ 14 trong 14 lỗi Tự năng phá do Tổ của Cổ nhân minh là ngài Túc mụ thành lập. Trong tiến trình biện luận của Nhân minh, người vấn nạn (địch giả)muốn bác bỏ Tông (mệnh đề) chính xác của người lập luận (lập giả)nên lập ra một luận thức (lượng) khác (có vẻ như đúng nhưng thực ra là sai) để chứng minh đối phương có lỗi, nhưng trái lại, lại tự chuốc lấy lỗi. Chẳng hạn như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì được tạo tác mà có. Dụ: Giống như cái bình. Tín đồ ngoại đạo muốn bác bỏ luận thức này bèn lập 1 luận thức khác như sau: Tông: Âm thanh là thường. Nhân: Vì hằngkhông bỏtự tính. Dụ: Giống như hư không. Ý của luận thức này đại khái cho rằng âm thanh vô thường là tính chất vô thường thường hợp với tự tính, đó là vì các pháp hằng không bỏ tự tính của chúng, cho nên âm thanh phải là thường trụ; theo đó, Tông do đối phương lập ra là trái với tỉ lượng, cho nên có lỗi Tự tông (Tông có vẻ như đúng nhưng thực ra là sai). Đệ tử Phật có thể bác lại rằng: Âm thanh xưa không mà nay có, tạm có rồi lại không, cho nên gọi là Vô thường, chứ chẳng phải có tự tính riêng hợp với vô thường, do đó Nhân dùng để chứng minh trong luận thức này không thành lập được, vì thế đối phương đã phạm lỗi tương tự như thường trụ chứ không phải thường trụ. Lỗi này tương đương với Thường mạn nói trong phẩm Đạo lí nạn thuộc luận Như thực của ngài Thế Thân. [X. luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy Hiền, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 21]. (xt. Thập Tứ Quá loại, Nhân Minh).
thường trụ vật
(常住物) Cũng gọi Thường trụ tăng vật, Thường trụ, Thường thập. Vật của thường trụ, tức chỉ cho những vật cung cấp cho chúng tăng thụ dụng. Các tư cụ như già lam, phòng xá... cung cấp cho chúng tăng các nơi thụ dụng chính là Thường trụ vật. Nếu ai chiếm Thường trụ vật làm của riêng, hoặc mua bán đổi chác thì phạm đại tội. Thường trụ tiền là tiền bạc chung của chùa viện. Theo Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, tăng vật được chia làm 4 loại: 1. Thường trụ thường trụ vật: Vật thường trụ do chúng tăng thường trụ sử dụng, như chùa viện, phòng xá, nhà kho, bếp núc... 2. Thập phương thường trụ vật: Vật thường trụ được dành cho chúng tăng 10 phương sử dụng. 3. Hiện tiền hiện tiền vật: Vật thường trụ mà chúng tăng hiện tiền được thụ dụng. 4. Thập phương hiện tiền vật: Những vật do chúng tăng 10 phương hiện tiền được thụ dụng, tức chỉ cho những vật do vị tăng qua đời để lại. Hai loại vật sau (3, 4) là những vật thuộc quyền sử dụng của chúng tăng hiện diện.[X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.44; luật Tứ phần Q.50]. (xt. Tăng Vật).
thường trực
Standing—Permanent.
thường tuý thiên
(常醉天) Phạm: Sadàmatta. Cũng gọi Thường túy thần, Thường phóng dật thiên, Hằng túy thiên, Hằng kiêu thiên, Hỉ lạc thiên. Trời thường say. Tức chỉ cho vị thần Dạ xoa ở tầng thứ 3 trên núi Tu di lúc nào cũng say sưa. Vị tôn này chủ về đức bản mê của trời Y xá na. Bản mê tức là say sưa rượu vô minh 3 độc(tham, sân, si), là cội nguồn của các phiền não sinh tử, cho nên gọi là Thường túy. Đây là quyến thuộc của trời Y xá na trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, được đặt ở phía đông bắc của viện Ngoại kim cương bộ. Chủng tử là (sa), hình Tam muội da làcây kích. Hình tượng vị tôn này là thân màu da người, ngồi trên cái chiếu tròn, tay trái cầm bát rượu, tay phải nắm lại để trên đầu gối. [X. luận Câu xá Q.11; luận Du già sư địa Q.2; Thai tạng giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư Q.6].
thường tùy học phật
To follow the teachings of the Buddha at all times—Đây là hạnh nguyện thứ tám trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Thường tùy học Phật là chúng ta sẽ giống như Phật Tỳ Lô Giá Na, phát tâm tu hành tinh tấn không trễ lui, đem thân khẩu ý thanh tịnh, tùy theo căn tánh của chúng sanh mà hóa độ cho họ được thành thục—This is the eighth of the ten conducts and vows of Samantabhadra bodhisattva. To follow teachings of the Buddha at all times means that we will be like Vairocana Thus Come One, vow never retreat from vigor. We should utilize our pure body, mouth and mind to learn and to preach Buddha-dharma, according to the living beings' levels.
thường tùy ma
Xem Chướng ngại thần.
thường túy thiên
Sadamatta (S)Hỷ Lạc thiênTên một vị thiên.
thường tại linh thứu sơn
(常在靈鷲山) Cũng gọi Thường tại Linhsơn. Thường ở trên núi Linhthứu. Tức nhục thân của đức Thíchtôn tuy 80 tuổi đã vào Niết bàn, nhưng pháp thân của Ngài vẫn thường thuyết pháp trên núi Linh thứu. Núi Linhthứu là nơi đức Thíchtôn thuyết pháp nên rất nổi tiếng. Từ ngữ trên đây được thấy trong phẩm Thọ lượng kinh Pháphoa quyển 5 (Đại 9, hạ 43): Vì tâm chúng sinh lưu luyến, ngưỡng mộ, nên Như lai thường hiện thân nói pháp cho họ nghe; năng lực thần thông như thế, trải a tăng kì kiếp, thường ở tại núi Linhthứu và ở các nơi khác.
thường tịch
Eternal, peace, nirvàna.
; Thân thể lìa bỏ tướng vô diệt và dứt hết mọi não phiền, hay sự tịch tịnh vĩnh hằng nơi Niết Bàn—Eternal peace—Nirvana.
Thường tịch quang
(常寂光): từ gọi tắt của Thường Tịch Quang Độ (常寂光土), là cõi Tịnh Độ nơi pháp thân của chư Phật Như Lai an trú, một trong 4 quốc độ của giáo thuyết Thiên Thai Tông, còn gọi là Tịch Quang Tịnh Độ (寂光淨土), Tịch Quang Quốc (寂光國), Tịch Quang Độ (寂光土), Tịch Quang (寂光). Thế giới an trú của chư Phật là bản tánh chân như, không biến hóa, sanh diệt (tức thường [常]), không bị phiền não nhiễu loạn (tức tịch [寂]) và có ánh sáng trí tuệ (tức quang [光]), cho nên có tên gọi là Thường Tịch Quang Độ. Đây là quốc độ chư Phật tự chứng bí tạng tối cùng cực, lấy pháp thân, giải thoát và bát nhã làm thể, đầy đủ 4 đức Thường (常), Lạc (樂), Ngã (我) và Tịnh (淨). Trong Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (觀普賢菩薩行法經, Taishō 9, 393) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật danh Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ, kỳ Phật trú xứ danh Thường Tịch Quang, Thường Ba La Mật sở nhiếp thành xứ, Ngã Ba La Mật sở an lập xứ, Tịch Ba La Mật diệt hữu tướng xứ, Lạc Ba La Mật bất trú thân tâm tướng xứ (釋迦牟尼佛名毘盧遮那遍一切處、其佛住處名常寂光、常波羅蜜所攝成處、我波羅蜜所安立處、淨波羅蜜滅有相處、樂波羅蜜不住身心相處, đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật có tên là Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ [Tỳ Lô Giá Na Biến Hết Thảy Các Nơi], trú xứ của Phật ấy tên là Thường Tịch Quang, nghĩa là nơi được nhiếp thành của Thường Ba La Mật, nơi được an lập của Ngã Ba La Mật, nơi diệt hết các tướng có của Tịch Ba La Mật và nơi không trú vào tướng thân tâm của Lạc Ba La Mật)”. Hơn nữa, quốc độ này được phân thành Phần Chứng (分證) và Cứu Cánh (究竟) với 3 phẩm thượng, trung, hạ. Theo lời dạy trong quyển 1 của Duy Ma Kinh Lược Sớ (維摩經略疏) cho biết rằng cõi của Diệu Giác Pháp Thân (妙覺法身) cư trú là Thượng Phẩm Tịch Quang Độ (上品寂光土), cõi của Nhất Sanh Đẳng Giác (一生等覺) là Trung Phẩm Tịch Quang Độ (寂光土), cõi của Viên Giáo (圓敎) từ sơ trú trở lên là Hạ Phẩm Tịch Quang Độ (寂光土). Ngoài ra, vị tăng nhà Bắc Tống là Tứ Minh Tri Lễ (四明知禮) lấy hai cõi Thật Báo (實報) và Tịch Quang (寂光) phối hợp thành Thỉ Giác (始覺) và Bản Giác (本覺), để xướng ra thuyết “Tịch Quang Hữu Tướng (寂光有相, Tịch Quang Có Tướng)”; ngược lại vị tăng Tịnh Giác (淨覺) lại tuyên xướng thuyết “Tịch Quang Vô Tướng (寂光無相, Tịch Quang Không Tướng).” Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải (佛說阿彌陀經要解) của Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) nhà Thanh có đoạn rằng: “Phục thứ, chỉ thử nguyện trang nghiêm nhất thanh A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược vi Thanh Tịnh Hải Hội, chuyển Kiến Trược vi Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược vi Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược vi Liên Hoa hóa sanh, chuyển Mạng Trược vi Vô Lượng Thọ; cố nhất thanh A Di Đà Phật, tức Thích Ca Bổn Sư ư Ngũ Trược ác thế, sở đắc chi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp (復次、只此信願莊嚴一聲阿彌陀佛、轉劫濁爲清淨海會、轉見濁爲無量光、轉煩惱濁爲常寂光、轉眾生濁爲蓮華化生、轉命濁爲無量壽、故一聲阿彌陀佛、卽釋迦本師於五濁惡世、所得之阿耨多羅三藐三菩提法, lại nữa, chỉ lấy nguyện này trang nghiêm một tiếng niệm A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược thành Hải Hội Thanh Tịnh, chuyển Kiến Trược thành Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược thành Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược thành hoa sen hóa sanh, chuyển Mạng Trược thành Vô Lượng Thọ; cho nên một tiếng niệm A Di Đà Phật là pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề do đức Bổn Sư Thích Ca chứng đắc ở đời ác có Năm Trược).” Hay như trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) quyển 6, phần Cảnh Tâm Cư Sĩ Trì Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Kiêm Khuyến Nhân Tự (警心居士持地藏本願經兼勸人序) có câu: “Nhất niệm mê Thường Tịch Quang Độ tiện thành A Tỳ Địa Ngục, nhất niệm ngộ A Tỳ Địa Ngục tiện thị Thường Tịch Quang Độ (一念迷常寂光土便成阿鼻地獄、一念悟阿鼻地獄便是常寂光土, một niệm mê bèn thành Địa Ngục A Tỳ, một niệm ngộ tức là Thường Tịch Quang Độ).”
Thường Tịch Quang Độ
(常寂光土): còn gọi là Tịch Quang Tịnh Độ (寂光淨土), Tịch Quang Quốc (寂光國), Tịch Quang Độ (寂光土), Tịch Quang (寂光); tức chỉ cho cõi Tịnh Độ nơi pháp thân của chư Phật Như Lai cư trú. Thế giới của chư Phật cư trú là chân như bản tánh, không sanh diệt, biến hóa (thường); không có sự nhiễu loạn của phiền não (tịch, vắng lặng); mà có ánh sáng trí tuệ (quang); nên gọi là Thường Tịch Quang Độ. Quốc độ này là cõi tự chứng của Phật, vô cùng bí tàng; lấy Pháp Thân, giải thoát, Bát Nhã làm thể; đầy đủ, trọn vẹn 4 đức là Thường (常), Lạc (樂), Ngã (我), Tịnh (淨). Như trong Phật Thuyết Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (佛說觀普賢菩薩行法經, Taishō Vol. 9, No. 277) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni danh Tỳ Lô Giá Na, biến nhất thiết xứ, kỳ Phật trú xứ danh Thường Tịch Quang, Thường Ba La Mật sở nhiếp thành xứ, Ngã Ba La Mật sở an lập xứ, Tịnh Ba La Mật diệt hữu tướng xứ, Lạc Ba La Mật bất trú thân tâm tướng xứ (釋迦牟尼名毘盧遮那、遍一切處、其佛住處名常寂光、常波羅蜜所攝成處、我波羅蜜所安立處、淨波羅蜜滅有相處、樂波羅蜜不住身心相處, Phật Thích Ca Mâu Ni tên là Tỳ Lô Giá Na, biến khắp tất cả nơi chốn, trú xứ của đức Phật đó tên là Thường Tịch Quang, là trú xứ được nhiếp thành bởi Thường Ba La Mật, trú xứ được an lập bởi Ngã Ba La Mật, trú xứ của Tịnh Ba La Mật diệt tướng có, trú xứ của Lạc Ba La Mật không trú vào tướng thân tâm).” Lại nữa, quốc độ này có khác nhau về phần chứng và cứu cánh, nên phân thành 3 phẩm Thượng, Trung và Hạ. Theo thuyết của Duy Ma Kinh Lược Sớ (維摩經略疏, Taishō Vol. 38, No. 1778) quyển 1 cho biết, cõi của Diệu Giác Pháp Thân (妙覺法身) cư trú là Thượng Phẩm Tịch Quang Độ (上品寂光土); cõi của Đẳng Giác Nhất Sanh (等覺一生) là Trung Phẩm Tịch Quang Độ (中品寂光土), cõi của Viên Giáo Sơ Trú (圓敎初住) trở lên là Hạ Phẩm Tịch Quang Độ (下品寂光土). Vị tăng Tứ Minh Tri Lễ (四明知禮, 960-1028) của Thiên Thai Tông, sống vào thời Bắc Tống, lại lấy hai cõi Thật Báo (實報) và Tịch Quang phối với Thỉ Giác (始覺) và Bản Giác (本覺), đề xướng thuyết Tịch Quang Hữu Tướng (寂光有相). Trong khi đó, tăng sĩ Tịnh Giác (淨覺) cùng thời đại này lại đưa ra thuyết Tịch Quang Vô Tướng (寂光無相). Trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 26 có đoạn rằng: “Pháp tánh hải trung, bổn vô xuất một, Thường Tịch Quang Độ, an hữu khứ lai, nhân thế biến thiên nhậm vận, Phật quốc tịnh uế tùy tâm (法性海中、本無出沒、常寂光土、安有去來、人世變遷任運、佛國淨穢隨心, biển pháp tánh trong, vốn không hiện mất, Thường Tịch Quang Độ, sao có đến đi, cõi đời đổi thay phó mặc, nước Phật sạch nhớp tùy tâm).”
thường tịch quang độ
The realm (of spirit) where all are in perpetual peace and glory; Thiên Thai's fourth Buddhaksetra
; Thường Tịch Quang Tịnh Độ, trú xứ của chư Phật (Theo Kinh A Di Đà, thì đây là cõi nước không phải ai cũng vãng sanh về được, cũng không thể bỗng nhiên niệm vài tiếng “namo” không chí thành mà được. Thân Như Lai không thể thân cận với những ai căn lành cạn cợt. Đây không phải là nơi của những hạng người phước đức mỏng manh có thể hưởng thọ được)—The realm where permanent tranquility and enlightenment reign—Buddha Parinirvana—The realm of spirit where all are in perpetual peace and glory. The realm of eternal rest and light, and of eternal spirit (dharmakaya), the abode of Buddhas. T'ien-T'ai fourth Buddhaksetra.
; (常寂光土) Cũng gọi Tịch quang tịnh độ, Tịch quang quốc, Tịch quang độ, Tịch quang. Chỉ cho cõi nước ánh sáng thường vắng lặng. Tức tịnh độ do pháp thân của chư Phật Như lai an trụ, 1 trong 4 độ theo thuyết của tông Thiên thai. Thế giới của Phật an trụ thuộc về bản tính của chân như, không sinh diệt biến hóa (Thường), vắng bặt sự nhiễu loạn của phiền não(Tịch) và có ánh sáng trí tuệ(Quang), cho nên gọi là Thường tịch quang độ. Đây là cõi nước tối cực bí tạng do Phật tự chứng, lấy pháp thân, giải thoát, bát nhã làm thể, đầy đủ 4 đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Kinh Quán Phổ hiềnbồ tát hành pháp (Đại 9, 392 hạ): Đức Phật Thích ca mâu ni được gọi là Tì lô giá na biến nhất thiết xứ, nơi Ngài an trụ gọi là Thường tịch quang, có đủ 4 đức Thường ba la mật, Lạc ba la mật, Ngã ba la mật và Tịnh ba la mật. Ngoài ra, cõi này có Phần chứng và Cứu cánh khác nhau, chia làm 3 phẩm thượng, trung, hạ. Theo Duy ma kinh lược sớ quyển 1, cõi do Diệu giác pháp thân an trụ là Thượng phẩm tịch quang độ, cõi do bậc 1 đời nữa bước lên địa vị Đẳng giác an trụ là Trung phẩm tịch quang độ, còn cõi do bồ tát Viên giáo từ Sơ trụ trở lên an trú là Hạ phẩm tịch quang độ. Ngài Tứ minh Tri lễ đời Bắc Tống lại phối hợp Thực báo độ và Tịch quang độ với Thủy giác và Bản giác mà đề xướng thuyết Tịch quang hữu tướng; còn ngài Tịnh giác đời Bắc Tống thì đề xướng thuyết Tịch quang vô tướng. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.15 (bản dịch đời Lương); Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q. thượng; Pháp hoa văn cú Q.9, thượng; Quán vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao Q.1]. (xt. Hóa Độ).
thường vô thường
(常無常) Thường và vô thường. Thường, Phạm: Nitya, cũng gọi Thường trụ (Phạm:Nityasthita), đối lại với Vô thường. Tức 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai thường hằng bất biến, không sinh không diệt, nối nhau chẳng dứt. Lí pháp tính duyên khởi và pháp thân Nhưlai đều là thường trụ bất biến. Thường cũng là một trong 4 điên đảo và 4 đức. Thông thường, phần nhiều Thường trụ được gọi là pháp Vô vi. Nhưng theo phẩm Bồ đề Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 3 và Phật địa kinh luận quyển 7 thì tuy Pháp thân, Báo thân và Ứng thân của Nhưlai đều là thường trụ, nhưng vì ý nghĩa khác nhau nên có thuyết Tam thường, đó là: 1. Tự tính thân(Pháp thân chân như): Tuyệt đối bình đẳng, về mặt bản chất là tự tính thường(bản tính thường, ngưng nhiên thường), vĩnh viễn không biến đổi. 2. Thụ dụng thân(Báo thân): Vô gián thường(Bất đoạn thường) thụ dụng niềm vui không gián đoạn. 3. Biến hóa thân(Hóa thân, Ứng thân): Thân biến hiện ra để giáo hóa chúng sinh, tuy có sinh diệt nhưng có năng lực biến hiện tương tục vô hạn, cho nên gọi là Tương tục thường. Tuy nhiên, 2 thân sau trong 3 thân được trình bày trên đây hoàn toàn không phải thuộc về Thường như nguyên ý của pháp vô vi. Lại cứ theo phẩm Vô biến dị trong luận Phật tính quyển 4, 3 thân của Như Lai thường sinh khởi các việc lợi ích cho thế gian nên gọi là Thường trụ. Thường trụ này nhờ 10 nhân duyên dưới đây mà được liên tục không dứt. Đó là: 1. Nhân duyên vô biên. 2. Chúng sinh vô biên. 3. Đại bi vô biên. 4. Như ý túc vô biên. 5. Vô phân biệt trí vô biên. 6. Thường hằng tại thiền định và không tán loạn. 7. An vui mát mẻ. 8. Thực hành 8 pháp thế gian mà không bị ô nhiễm. 9. Cam lộ vắng lặng, xa lìa ma chết. 10. Bản tính tự nhiên, không có sinh diệt.Mười loại nhân duyên này hiển bày rõ thể dụng của 3 thân Nhưlai là thường hằng không gián đoạn. Còn theo Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 8 thì trong các Thường, có cái ở thế gian tương tục không gián đoạn mà gọi là Thường và Tam vô vi thường. Tam vô vi thường là: Đoạn được phiền não gọi là Số duyên thường; Sự duyên sai biệt là Phi số duyên thường, không thuộc 2 loại trên thì gọi là Hư không thường. Bốn loại Thường này (Thường trụ và Tam vô vi thường) đều không bằng Như lai thường. Vì Như lai thường tức là diệu hữu, vốn tự có và không có đối đãi, Thường này chiếu thực, là chân thường chẳng phải thường chẳng phải vô thường, ngay nơi biên mà trung đầy đủ 3 chấm, không dọc không ngang, cho nên Như lai thường là bậc nhất trong các Thường. Ngoài ra, còn có các thuyết như: Thế gian tướng thường trụ, Phật tính thường trụ... Đối lại với Thường là Vô thường, Phạm: Anitya, cũng gọi là Phi thường. Tức sự sinh diệt biến hóa mà không có cách nào giữ cho nó ở nguyên trạng thái đồng nhất dù chỉ trong giây lát. Tất cả các pháp hữu vi đều có đủ 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, theo với dòng thời gian trôi chảy mà tồn tại, cho nên gọi là Vô thường. Tất cả pháp hữu vi đều thuộc vô thường, vì thế gọi là Chư hành vô thường, là 1 trong 3 pháp ấn (3 biểu trưng cơ bản của Phật giáo). Theo luận Đại trí độ quyển 43 thì có 2 thuyết Vô thường, đó là: 1. Pháp hữu vi dừng lại 1 sát na ở hiện tại, rồi tức khắc lại chìm vào quá khứ (sát na diệt), đây gọi là Niệm niệm vô thường (Sát na vô thường). 2. Pháp hoại diệt một cách liên tục, chẳng hạn như con người, khi thọ mệnh hết thì tử diệt, đây gọi là Tương tục vô thường(Nhất kì vô thường). Luận Kim thất thập quyển thượng có ghi thuyết của học phái Số luận, chủ trương 2 thứ vô thường là Tạm trụ vô thường và Niệm niệm vô thường. Thuyết này cho rằng chuyển biến là vô thường, tự tính là Thường trụ, thuyết này có khác với thuyết của Phật giáo.Luận Biện trung biên quyển trung y cứ vào 3 tính Biến kế, Y tha và Viên thành mà lập ra 3 loại vô thường như sau: 1. Biến kế sở chấp tính: Chỉ cho vô tính vô thường(vô vật vô thường), thể của nó hoàn toàn không có. 2. Y tha khởi tính: Vì do nhân duyên mà sinh ra nên có sinh có diệt, thuộc về Sinh diệt vô thường(Khởi tâm vô thường). 3. Viên thành thực tính: Thuộc về Chân như, là Cấu tịnh vô thường (Hữu cấu vô cấu vô thường). Để ví dụ tính chất hư dối, ngắn ngủi của vô thường thì nói: Như chiêm bao, như ảo thuật, như bọt nước, như cái bóng, như hạt móc(sương), như tia chớp...; để ví dụ sự đáng sợ đối với vô thường thì nói: Vô thường lang (chó sói vô thường), vô thường hổ(cọp vô thường)...Khi chết đến nơi thì ví dụ là vô thường sát quỉ, vô thường phong (gió vô thường), vô thường đao(dao vô thường), vô thường sứ... Ngoài rà còn có các dụng ngữ về vô thường như: Sinh giả tất diệt(có sinh ắt có diệt), thịnh giả tất suy(có thịnh thì có suy), hội giả định li(có hợp thì có tan)... Còn quán tưởng về vô thường thì gọi là Vô thường quán, Phi thường quán; bài kệ nói rõ về ý nghĩa vô thường, gọi là Vô thường kệ; nhà viện nuôi bệnh tăng, gọi là Vô thường viện, Vô thường đường, cái khánh được đánh lúc lâm chung, gọi là Vô thường khánh. [X.kinh Tạp a hàm Q.12, 30; kinh Niết bàn Q.34, 39 (bản Bắc), chương Tự tính thanh tịnh trong kinh Thắng man, phẩm Phương tiện kinh Pháphoa Q.1; Nhiếp đại thừa luận thích Q.13 (bản dịch đời Lương; luận Thành duy thức Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Tam Vô Vi, Vô Thường).
thường vô thường nhị thân
(常無常二身) Thường thân và Vô thường thân, là 2 loại thân của Nhưlai. Thường thân là Phật thân thường trụ; tức chỉ cho Chân thân, Pháp thân của Nhưlai. Vì thường thân là lí thể thường trụ của Niết bàn, không có các hiện tượng sinh diệt biến dịch như sinh lão bệnh tử... cho nên gọi là Thường thân. Vô thường thân là thân ứng hóa phương tiện; tức chỉ cho Ứng thân, Hóa thân, Sinh thân của Như Lai. Vô thường thân là thân phương tiện thị hiện để giáo hóa chúng sinh, có các hiện tượng sinh diệt biến dịch như sinh lão bệnh tử... cho nên gọi là Vô thường thân. [x. kinh Niết bàn Q.34 (bản Bắc)]. (xt. Nhị Thân).
thường xuyên
Unceasingly without a break.
thường đạo
1) Đạo lý bình thường: Regular way. 2) Đạo lỳ vĩnh cữu: Way of eternity—Enternal way.
thường đề bồ tát
Sadaprarudita (S)Thường Bi Bồ tát, Phổ Từ Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (常啼菩薩) Thường đề, Phạm: Sadàprarudita. Hán âm: Tát đà ba luânbồtát. Cũng gọi: Phổ từbồtát, Thường bibồ tát.Vị Bồtát được nói trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27. Lí do tại sao vị Bồtát này được gọi là Thường đề(thuờng kêu khóc) thì có nhiều thuyết khác nhau: Có thuyết cho rằng vì thấy con người sống trong đời ác trược phải chịu khổ não nên Bồtát xót thương mà khóc; có thuyết cho rằng vì sinh vào thời đại không có Phật, nhưng vì lợi ích chúng sinh mà tìm cầu Phật đạo nên Bồtát buồn rầu than khóc suốt 7 ngày đêm trong rừng vắng vẻ, thiên long quỉ thần bèn gọi Bồtát là Thường đề; có thuyết cho rằng thuở nhỏ Bồtát hay khóc nên đặt tên là Thường đề. Vị Bồtát này thường dùng tâm mạnh mẽ tu hạnh Bát nhã ba la mật. Cứ theo phẩm Tát đà ba luân bồ tát trong kinh Đạo hành bát nhã quyển 9, trong giấc mộng, Bồ tát Thường đề nghe ở phương đông có Đại pháp Bát nhã ba la mật, liền đi về hướng đông cầu pháp, trải qua 2 vạn dặm thì đến nước Kiện đà việt (Phạm:Gandhavati), gặp bồ tát Đàm vô kiệt (Phạm:Dharmodgata) và được pháp của Ngài. Kiện đà việt ở đây là chỉ cho Kiện đà la (Phạm: Gandhàra) ở Bắc Ấn độ. Còn trước khi luận Đại tì bà sa được biên soạn thì Bát nhã đã được lưu hành ở vùng Kiện đà la; y cứ vào sự thực này mà suy cứu thì bồ tát Tát đà ba luân có khả năng là một nhân vật có thật,và Bồ tát Thường đễ đãtừ phía tây Ấn độ xa xôi đến Kiện đà la cầu pháp Bát nhã ba la mật. Lại vị Bồ tát này vì lợi ích chúng sinh mà trải qua nhiều gian khổ để cầu Bát nhã ba la mật, cho nên được xếp vào 1 trong 16 vị thiện thần giữ gìn Bát nhã. [X. luận Đại trí độ Q.96].
thường đồ
Quy tắc thông thường—Regular ways or methods.
; (常途) Chỉ cho những qui tắc và đạo lí phải được tuân thủ trong các sinh hoạt bình thường, cũng tức là lí bất biến. Trong kinh Phật, thườngđồchỉ cho đạo mà chư Phật và lịch đại Tổ sư xưa nay đã thực hành. Thung dung lục tắc 24 (Đại 48, 242 hạ) ghi: Cá chép của Đônghải, ba ba của Nam Sơn, lừa của Phổ hóa kêu, chó của Tử hồ sủa, không rơi vào thường đồ, không thực hành dị loại, hãy thử nói xem là chỗ đi của hạng người nào?. Ngoài ra, theo lập trường của Mật giáo thì Hiển giáo là Thường đồ, nghĩa là giáo lí, giáo nghĩa của Hiển giáo nói chung thuộc về những qui tắc cố định thông thường và phổ thông hóa, không bằng giáo lí thù thắng của Mật giáo, bởi thế phương thức tu chứng tuân theo giáo thuyết, nghĩa lí của Hiển giáo được Mật giáo gọi là Thuận thường đồ.
Thường 嘗
[ja] ジョウ jō ||| (1) To taste, to prove, to experience. (2) Indication of the past tense; has, have. (3) Autumnal offering of first fruits to ancestors. => 1. Có các nghĩa sau: 2. Nếm (thức ăn), chứng tỏ, kinh nghiệm. 3. Biểu thị cho thời quá khứ; đã có, đã qua, đã từng. 4. Lễ tế Thu, dâng cúng hoa trái đầu mùa cho tổ tiên.
thường, lạc, ngã, tịnh
The four pàramitàs of knowledge: eternity, bliss, personality, purity, the four transcendental realities in nirvàna.
thường, vô thường
Phật tánh phi thường phi vô thường, chấp thường là thường kiến ngoại đạo, chấp vô thường là đoạn kiến ngoại đạo.
thưởng
1) Khen thưởng: To reward—To compensate. 2) Thưởng thức: To enjoy—To contemplate.
thưởng ca la
Xem Bát bộ lực sĩ.
thưởng công
To requite (compensate) someone's services.
thưởng hoa
To enjoy the flower.
thưởng ngoạn
To admire.
thưởng nguyệt
To admire the moon.
thưởng thức
To enjoy.
thược
(勺) Chỉ cho cái phễu, cái môi được sử dụng khi tu pháp Hộ ma trong Mật giáo. Có 2 loại phễu lớn và phễu nhỏ. -Loại phễu lớn(cũng gọi là Chú thược) dùng để rót vật cúng như tô du vào lò. - Loại phễu nhỏ(cũng gọi là Tả thược, Tế thược) thì dùng để rót vật cúng sang phễu lớn, hay rót trực tiếp vào trong lò.Cứ theo Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ thì phễu lớn có hình dáng giống như quả lựu, chiều dài kể cả phễu và cán là 1 thước 8 tấc (Tàu); phễu nhỏ hình tròn, chiều dài bằng với phễu lớn. Phễu nhỏ hình tròn biểu thị đức viên mãn của Phật, phía trong phễu có khắc hình hoa sen nở 8 cánh, hoặc khắc chày kim cương; hoa sen nở tượng trưng cho Đại nhật của Thai tạng, chày Kim cương, tức chày 5 chĩa, tượng trưng cho Đại nhật củakim cương. Cũng có khi vẽ bánh xe báu, tức là hình Tam muội da của đức Đại nhật, biểu trưng cho quả thể của Phổ môn, cho nên dùng hình tròn. Phễu lớn có hìnhquả lựu, lấy ý nghĩa bên trong quả lựu có rất nhiều hột, tượng trưng cho Kim cương tát đóa có đầy đủ muôn đức; phía trong phễu khắc chày 3 chĩa, là hình Tam muội da của Kim cương tát đóa, tức là tâm bồ đề thanh tịnh tiêu biểu cho tâm, Phật và chúng sinh cả 3 đều bình đẳng. Lại vì phễu nhỏ biểu thị cho quả của Đạinhật, còn phễu lớn thì biểu thị cho đức Nhân của Kim cương tát đóa, cho nên phễu lớn không được trực tiếp rót các vật cúng như tô du(dầu)... mà trước phải dùng phễu nhỏ rót vào phễu lớn, tức hàm ý là Kim cương tát đóa nhận lãnh giáo sách của đức Tì lô giá na mà thi hành sự nghiệp Hộ ma.[X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; phẩm Bổ khuyết thiểu pháp trong kinh Tô tất địa yết ra Q. hạ; Đại nhậtkinh sớ Q,20; Hộ ma bí yếu sao Q.6].
thược ca la a dật đa vương
(鑠迦羅阿逸多王) Thước ca la a dật đa, Phạm:Zakràditya. Hán dịch: Đế nhật. Cũng gọi Thước ca la điệt đa vương. Tên vị vua của vương triều Cấp đa ở Ấn độ. Vào đầu thế kỷ V Tây lịch, nhà Vua sáng lập chùa Na lan đà ở phía bắc thành Vương xá để cúng dường tỉ khưu Hạt la xã bàn xã (Phạm: Ràjavaôza) an trụ. Về sau, trải qua nhiều đời, các vua đều tiếp nối nhau xây dựng thêm, nên chùa này đã trở thành trung tâm của Phật giáo Ấn độ. Đại đường tây vực kí quyển 9 (Đại 51, 923 trung) nói: Sau khi đức Phật nhập Niết bàn khoảng hơn 800 năm, tiên vương nước này là Thước ca la a dật đa, kính trọng Nhất thừa, tôn sùng Tam bảo, chọn nơi phúc địa, xây dựng ngôi chùa này. Có thuyết cho rằng vị quốc vương này chính là vua Tân nhật; vua Tân nhật từng tặng cho ngài Thế thân 1 lạc xoa vàng khi ngài dùng luận Câu xá bác bỏ luận Tì già la của ngoại đạo. [X. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện].
thược khất để
(鑠乞底) Phạm:Zakti. Pàli:Satti. Cũng gọi Thước ngật để, Thước để. Chỉ cho cái giáo dài, hoặc chỉ cho cây kích. Mật giáo đặt thước khất để trong Mạn đồ la, hoặc dùng làm vật cầm của Minh vương Bất động. Ở Ấn độ, thước khất để tượng trưng cho ý nghĩa uy lực, tính lực, đầu tiên thấy trong các Áo nghĩa thư như Tư phệ đạt tu đạt la Áo nghĩa thư (Phạm: Zvetàzvataropaniwad). Trong Ấn độ giáo, vật này vốn được dùng để tượng trưng cho uy lực của thần Chúathượng, về sau cũng dùng vật này ngụ cho thần phối ngẫu sánh đôi với thần Chúa thượng, do đó bèn nhân cách hóa mà chuyển biến thành là sùng bái Tính lực nữ thần, trong Ấn độ giáo hiện nay có pháp Tính lực sùng bái nữ thần Đỗ nhĩ gia (Phạm:Durgà) là thần phối ngẫu của thần Thấp bà (Phạm:Ziva). Trong Mật giáo có thuyết nói về vị Bồ tát tên là Nhưlai thước khất để e có lẽ đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng này mà ra. [X. kinh Tô tất địa yết ra Q. hạ; kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q. hạ; Đại nhật kinh sớ Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.35]. (xt. Như Lai Thước Khất Để).
thược kê mô nễ
(鑠雞謨你) Dịch âm khác của Thích ca mâu ni. Kinh Đà la ni tập quyển 1 (Đại 18, 794 trung) nói: Trung tâm Đế thù la thi, Thước kê mô nễ là Đạo tràng chủ.
thượng
Uttarà (S). Above, upper, superior; on; former. To ascend, offer to a superior.
; 1) Uttara (skt)—Superior. 2) Above—Upper. 3) High. 4) To ascend.
thượng bối
Superior, or highest class.
; Superior or highest class.
thượng bối quán
The fourteenth of the sixteen contemplations of the Amitàbha school.
; Phép quán tưởng thứ 14 trong 16 phép quán của trường phái A Di Đà, cho những người thành tâm cầu về Tịnh Độ với lòng vị tha thâm sâu—The fourteen of the sixteen contemplations of the Amitabha school, with reference to those who seek the Pure Land with sincere, profound and altruistic hearts.
thượng chuyển
The upward turn: (1) progress upward, especially in transmifration; (2) increase in enlightenment for self, while hạ chuyển is for others.
; The upward turn in transmigration—Những hành động theo đúng chân lý đưa đến sự chuyển hóa theo chiều hướng đi lên—Acts in accordance with the primal true, or Buddha-nature (when the good prevails over the evil) cause upward turn in transmigration.
; (上轉) Cũng gọi Thượng chuyển môn. Đối lại: Hạ chuyển. Chuyển hướng lên. Thủy giác vì tự lợi mà hướng lên, gọi là Thượng chuyển; Bản giác vì lợi tha mà hướng xuống, gọi là Hạ chuyển. Tức hành giả chân ngôn phát tâm tu hành chuyển hướng đến quả Phật bồ đề, đó là nghĩa từ nhân đến quả. Luận Thích ma ha diễn quyển 2 (Đại 32, 610 thượng) nói: Các pháp thanh tịnh có năng lực, các pháp ô nhiễm không năng lực, hướng vốn chuyển lên trên, gọi là Thượng chuyển môn. [X. Đại nhật kinh sớ chỉ tâm sao Q.1]. THƯỢNG GIAN Gian trên. Chỉ cho chỗ ngồi phía trên trong Thiền viện. Khi nhìn vào Thiền đường thì phía bên phải mình là Thượng gian;Pháp đường,Phương trượng(hướng nam) thì phía đông mình là Thượng gian, Tăng đường(hướng đông) thì phía bắc mình là Thượng gian, Khố ti(hướng tây)thì phía nam mình là Thượng gian. [X. chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; Thiền lâm tượng khí tiên Q.2].
thượng chủ bồ tát
Sarthavaha (S)Tên một vị Bồ tát.
thượng cúng
To offer up an offering to Buddha, or to ancestors.
thượng căn
A man of superior character or capacity, e.g. with superior organs of sight, hearing, etc.
; Superior character or capacity.
; (上根) Chỉ cho căn khí thượng đẳng, tức người có các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân rất bén nhạy, hoặc chỉ cho người tu hành Phật đạo có năng lực đặc biệt hơn người. Cũng chỉ cho người tu đạocó5 căn: Tín, tiến, niệm, định và tuệ sắc bén.
thượng cầu bản lai
Similar to the first half of Thượng cầu Bồ đề, hạ hóa chúng sinh. Above to seek bodhi, below to save all. Bản lai means the original or Buddha-nature.
thượng cầu bồ đề, hạ hóa chúng sanh
Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, một trong những đại nguyện của một vị Bồ Tát—Above to seek bodhi, below to save (transform) beings, one of the great vow of a Bodhisattva.
thượng cầu bổn lai chân diện mục
Trên cầu Phật tánh nguyên thủy (to seek for the original or Buddha-nature)—See Thượng Cầu Bồ Đề, Hạ Hóa Chúng Sanh.
thượng cầu hạ hoá
(上求下化) Trên cầu bồ đề, dưới hóa độ chúng sinh, là nội dung của hạnh Bồtát. Thắng tư duy phạm thiên sở vấn kinh luận (Đại 26, 337 hạ) nói: Lợi mình lợi người, tu hành như thực, tự cầu bồ đề và hóa độ chúng sinh, giúp họ cùng chứng bồ đề. Thượng cầu bồ đề là lợi mình, hạ hóa chúng sinh là lợi người, muôn hạnh của Bồtát không ngoài2điều này. Bồtát Đại thừa lúc mới phát tâm lập thệ nguyện rộng lớn, tự cầu bồ đề làm cho cõi Phật thanh tịnh, dùng tâm đại bi đi đến những nơi khổ nạn để giáo hóa, dắt dẫn tất cả chúng sinh.[X. Tứ niệm xứ Q.4; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 2; Vãng sinh yếu tập Q. thượng, phần cuối; Chính tu quán kí Q. thượng]. (xt. Bồ Đề Tâm).
thượng cổ
Antiquity.
thượng du
High region.
Thượng giới
上界; C: shàngjiè; J: jōkai;|1. Sắc giới, Vô sắc giới, không kể Dục giới (theo Du-già luận 瑜伽論); 2. Viết tắt của Thiên thượng giới (天上界), cõi trời phía trên; 3. Cảnh giới của chư thiên ở các cõi trời như Nhân-đà-la (s: śakra) hay Đế-thích (s: indra).
thượng giới
Mahādevaloka (S).
; Heaven.
; (上界) I. Thượng Giới. Đối lại: Dục giới. Chỉ cho trời cõi Sắc và cõi Vô sắc, 1 trong 5 loại trời thuộc Ngoại kim cương bộ trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Các cõi trời này là chỗ ở của Vô lượng vua trời như Ma hê thủ la... và các Thiên hậu (vợ trời). [X. Kim cương đính kinh Du già thập bát hội chỉ qui]. II. Thượng Giới. Đối lại: Hạ giới. Cũng gọi Thiên thượng giới. Một trong 6 đường. Tức bao gồm các tầng trời cõi Vô sắc, cõi Sắc và cõi Dục. (xt. Thiên). III. Thượng Giới. Tức chỉ cho tầng trời phía trên trong các tầng trời. Như tầng trời Không cư là thượng giới của tầng trời Địa cư; trời cõi Sắc là thượng giới của trời cõi Dục...
thượng giới thiên
The devas of the regions of form and formlessness.
Thượng hành
上行; C: shàngxíng; J: jōgyō;|1. Đi về hướng trên. Đi ngược dòng về phía trên, có khuynh hướng ngược dòng để lên phía trên; 2. Công hạnh của một chúng sinh căn cơ bậc thượng. Công hạnh cao tột; 3. Tên của một vị Bồ Tát trong kinh Pháp Hoa.
thượng hành bồ tát
Visista-caritra (skt). • Tùng Địa Dõng Xuất Bồ Tát-Bodhisattva, who suddenly rose out of the earth as Buddha was concluding one of his Lotus sermons. He is supposed to have been a convert of the Buddha in long past ages and to come to the world in its days of evil. • Sau khi trải qua nhiều gian khổ và khó khăn trong việc truyền bá Nhật Liên tông, Nhật Liên cũng viết được nhiều tác phẩm. Trong “Khai Mục Sao,” ông có lời nguyện trứ danh của ông là “Ta sẽ là cột trụ của Nhật Bản, ta sẽ là con mắt của Nhật Bản, ta sẽ là huyết mạch của Nhật Bản.” Qua đây, ông tự nhận ông là Bồ Tát Thượng Hành là vị mà Đức Phật phó thác cho công việc bảo vệ chánh pháp: After undergoing so many hardships and troubles, Nichiren wrote several works. In the Eye-opener, his famous vows are found: “I will be the pillar of Japan; I will be the eyes of Japan; I will be the vessel of Japan.” Here he became conscious of himself being the Distinguished Action Bodhisattva (Visistacaritra) with whom the Buddha entrusted the work of protecting the Truth.
; (上行菩薩) Thượng hạnh, Phạm:Vizesta-càritra. Cũng gọi Chủng chủng hạnhbồtát. Chỉ cho vị Bồtát thứ nhất trong các vị Bồtát từ trong đất vọt lên. Cứ theo phẩm Tòng địa dũng xuất trong kinh Pháp hoa; đang lúc diễn ra hội Hư không của kinh Pháp hoa, thì từ trong lòng đất của thế giới Sa bà vọt lên vô lượng vô số Bồ tát. Chúng Bồ tát này từ vô số kiếp đến nay đã được đứcPhật giáo hóa, tu tập Phật tuệ, vì cầu Phật đạo nên trụ trong hư không dưới mặt đất. Nay từ trong đất hiện lên là để chứng minh thọ lượng của đức Phật lâu dài, lại được đức Thích tôn phó chúc việc truyền bá kinh Pháp hoa. Trong số các Bồ tát này có 4 vị Đạo sư mà vị thứ nhất chính là Thượng hạnh bồ tát. Vì công hạnh của Ngài thù thắng, là bậc tối thượng trong chúng nên gọi là Thượng hạnh bồ tát.[X. phẩm Nhưlai thần lực trong kinh Pháphoa; Pháphoa kinh cú giải Q.5; Pháp hoa nghĩa sớ Q.10].
thượng hóa
Uttama-nirmāna (S)Một trong Tam hóa.
thượng hương
(上香) Dâng hương vào lư trước Phật. Pháp dâng hương chia làm 2 thứ là tuyến hương và đàn hương. 1. Tuyến hương:Đặt cây hương ở giữa hai ngón trỏ và 2 ngón giữa, rồi dùng ngón cái đè lấy một đầu cây hương cho vững. Khi cầm hương thì để trước ngực, khi giơ hương lên thì phải ngang với chân mày. 2. Đàn hương:Dùng ngón cái và ngón trỏ của 2 tay cầm 2 đầu cây hương, 3 ngón còn lại xòe ra và giơ cao lên ngang chân mày, sau đó đặt hương vào lư. Cây đàn hương thứ nhất dùng tay trái cầm lên, tay phải đặt vào lư hương; cây thứ 2 dùng tay phải cầm lên, tay trái đặt vào lư hương; cây thứ 3 giống như cây thứ nhất.
Thượng hạ bát đế
上下八諦; C: shàngxiàbādì; J: jōgehachitai;|Tám chân lí (bát đế 八諦) trên và dưới. Bốn chân lí trên thuộc về Sắc giới (色界) và Vô sắc giới (無色界); bốn chân lí dưới thuộc về Dục giới (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
thượng hạ hoa nghiêm tự
(上下華嚴寺) Chỉ cho 2 ngôi chùa Hoa nghiêm thượng và Hoa nghiêm hạ trong khu vực Đạiđồng, tỉnh Sơntây, Trung quốc. Hai chùa này đều được xây dựng vào đời Liêu và là 2 chùa xưa nhất, lớn nhất trong nội thành, có phong cách rất đặc trưng của Trung quốc. Đại hùng bảo điện của chùa Hoa Nghiêm thượng cực kì hoành tráng được xây cất vào đời Kim (1115-1234). Trên đàn Tu di trong Nội điện, những pho tượng Phật tạo vào đời Minh được sắp xếp rất chỉnh tề; trên các vách chung quanh còn bảo tồm được các bức bích họa to lớn được vẽ vào đời Thanh, màu sắc rất tươi đẹp.Chùa Hoa nghiêm hạ thì còn giữ được 31 pho tượng Phật được đắp tạo vào thời kì đầu, nổi tiếng trong nước. Ngoài ra, năm Trùng hi thứ 7 (1038) đời vua Hưng Năm tượng Phật trong Đại hùng bảo điện chùa Hoa nghiêm thượng Điện Bạc già giáo tạng của chùa Hoa nghiêm hạ tông nhà Liêu, có xây điện Bạc già giáo tạng, sau được xây lại làm Đại hùng bảo điện.
thượng hạng
First class (rate).
thượng hạnh bồ tát
Vicishtachritra (S)Tên một vị Bồ tát.
; Vidista-càritra Bodhisattva who suddenly rose out of the earth as Buddha was concluding one of his Lotus sermons.
thượng hảo hạng
First rate quality.
thượng khách
Most honoured guest.
thượng khẩn
Extremely urgent—most immediate.
thượng kiên
(上肩) Vai trên. Chỉ cho chỗ ngồi trên trong nhà Thiền. Chẳng hạn như người thuộc Đông tự cho tòa Phật ở trên thì lấy vai bên phải của mình làm thượng kiên, còn người thuộc Tây tự thì lấy vai bên trái làm thượng kiên. Ở Trung quốc, từ đời Tần, Hán về trước cho bên phải là thượng, đời sau đã thay đổi, các tùng lâm phần nhiều lấy bên trái làm thượng, cho nên cũng gọi Thượng kiên là Tả kiên, như điều Trụ trì niệm tụng nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 ghi (Đại 48, 1121 thượng): Thuận theo tả kiên mà chuyển, đứng vào các vị trí đã định. [X. luật Ma ha tăng kì Q.35; Chiến quốc sách Triệu sách]. (xt. Kiên Thứ).
thượng kiên thuận chuyển
(上肩順轉) Thượng kiên, chỉ cho vai bên trái, tức di chuyển thuận theo vai bên trái. Điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh quyển 2 (Đại 48, 1144 hạ) ghi: Thuận theo vai bên trái mà di chuyển (thượng kiên thuận chuyển), nếu là cửa trước thì từ phía nam mà vào. Luật Ma ha tăng kì quyển 35 (Đại 22, 506 hạ) nói: Khi đi không được ngoái lại sau lưng, nếu cần phải nhìn lại thì nênxoay mặt về phía bên phải. Người xưa chuộng bên phải, người đời sau chuộng bên trái, Thiền lâm theo người đời sau nên di chuyển thuận theo vai trái. [X. điều Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Thượng Kiên).
thượng kiếp
The superior life.
thượng lí thiên
(尚理篇) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cảnh long soạn vào đời Minh. Vào năm Chính thống thứ 5 (1440), Đạo sĩ Mục thượng giới ở miếu Ngũ thánh, phủ Ứng thiên, có vẽ 1 bức tranh giảng lễ giữa Thiền sư Hoàng long và Lã động tân, gọi là Thần hóa đồ, đồng thời có phụ thêm phần giải thích về sự tưởng nhớ hư vọng, cho rằng Thiền sư Hoàng long rất hâm mộ đạopháp của Lã động tân. Những người kiến thức nông cạn thời đó phần nhiều bị mê hoặc, cho nên ngài Cảnh long mới soạn Thượng lí thiên để bác bỏ sự ngụy tạo của Đạo sĩ Mục thượng giới.
thượng lưu
Urdhvasrotas (S). The flow upwards, or to go upwards against the stream of transmigration to parinirvàna.
; 1) Đi ngược dòng sanh tử để đến Niết Bàn: Urdhvasrotas (skt)—The flow upwards—To go upwards against the stream of transmigration to parnirvana. 2) Thượng nguồn: Up-stream.
thượng lưu xã hội
High society.
thượng lạc kim cương
(上樂金剛) Cũng gọi Thắng lạc kim cương. Vị bản tôn được thờ phụng khi tu pháp Vô thượng du già mật ở Mật viện tại Lạp tát hạ, Tây tạng. Hình tượng là 2 vị tôn được đặt trên tòa sen 2 tầng. Minh vương Thượng lạc kim cương có 3 mặt, mỗi mặt đều có 3 mắt, tất cả có 12 tay, 2 tay chính ôm Minh phi Kim cương hợi mẫu, còn các tay khác thì cầm các vật, lõa thể, phần thân dưới đeo chuỗi anh lạc bằng những cái đầu lâu, 2 chân đạp trên thân người. Cũng có hình tượng của vị tôn này được tạo với 4 mặt 6 tay. Phái Ca nhĩ cư khi tu pháp phần nhiều thờ vị Bản tôn này.
thượng lộ
To set out (start) on one's way.
thượng mao thành
(上茅城) I. Thượng Mao Thành. Phạm: Kuzàgrapura. Hán âm: Củ xa yết la bổ la. Tên tòa thành nằm chính giữa nước Ma yết đà thuộc Trung Ấn độ, đây là tòa thành cũ của thành Vương xá nước Ma yết đà, vì thế cũng gọi là Cựu vương xá thành. Đất trong thành này mọc nhiều cỏ tranh có mùi thơm thượng hảo, cho nên được đặt tên là Thượng mao thành. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 thì 4 chung quanh thành này có núi cao bao bọc, chiều đông tây dài, chiều nam bắc hẹp, chu vi thành hơn 150 dặm, nền cũ trong nội thành chu vi hơn 30 dặm. Nói về mặt địa thế thì đây là chỗ rất hiểm yếu đối với kế hoạch quốc Thượng mao thành còn được gọi là Sơn thành (Phạm:Girivfja,Pàli:Giribbaja), hiện nay chỉcòn2 bức tường phía nam và phía bắc của nội thành. Thành này vốn là thủ đô của nước Ma yết đà, đến thời vua Tần bà sa la thì vì trong thành thường bị hỏa hoạn, hơn nữa, nước Phệ xá li thường bất chợt đến cướp phá, cho nên nhà vua phải dời đô đến thành Vương xá mới. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; luận Đại trí độ Q.3; Cao tăng Pháp hiển truyện]. (xt. Vương Xá Thành). II. Thượng Mao Thành. Phạm: Kuzi-nagara. Hán âm: Câu thi na yết la. Đây là nơi quê hương của chủng tộcLực sĩ Mạtla (Phạm,Pàli:Malla), một trong 16 nước lớn ở Ấnđộ vào thờiđức Phật. Phía bắc thành này là nơi đức Thích tôn nhập Niết bàn. (xt. Câu Thi Na Yết La).
thượng nghi châu
Uttaramantrina (S), Uhara-Mantrina (P)Một trong hai Trung châu của Tây Ngưu hoá châu.
thượng nguyên
The fifteen of the first moon.
thượng ngươn
The Superior world.
thượng nhân
Puruṣar-sabha (S).
; A man of superior wisdom, virtue and conduct, a term applied to monks during the Đường dynasty.
; Một người có thượng trí, thượng đức và thượng hạnh—A man of superior wisdom, virtue and conduct.
; (上人) Phạm: Puruwarwbha. Từ tôn xưng bậc cao tăng có đầy đủ trí tuệ và đức hạnh, xứng đáng làm thầy chúng tăng và mọi người. Thích thị yếu lãm quyển thượng cho rằng bậc bên trong có trí đức, ngoài có thắng hạnh, ở trên mọi người, gọi là Thượng nhân. Phẩm Kiên cố trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 17 thì cho rằng: Nếu bậc Đại Bồtát nhất tâm tu hành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, giữ gìn tâm không để tán loạn thì gọi là Thượng nhân. Ở Nhật bản, từ Thượng nhân đặc biệt được tông Tịnh độ và tông Nhật liên sử dụng, đồng thời cho rằng Thánh nhân quan trọng hơn so với Thượng nhân. Vì thế nên Chân tông Nhật bản gọi Tông tổ Thân loan là Thánh nhân, còn gọi các tổ kế tiếp là Thượng nhân. Từ thời Trung thế về sau, triều đình Nhật bản dùng từ Thượng nhân làm tăngvị để sắc ban cho các bậc cao tăng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.39; luận Thập trụ tì bà sa Q.15; luận Đại trí độ Q.73]. Một trong 3 phép thụ giới của Đại thừa giới. Chỉ cho giới được nhận lãnh trước chư Phật và Bồtát, là giới chân thực thượng phẩm. Kinh Bồtát anh lạc bản nghiệp quyển hạ (Đại 24, 1020 hạ) nói: Các Phật tử! Có 3 cách thụ giới: 1. Thụ giới trước chư Phật và Bồ tát hiện tại, được giới chân thực thượng phẩm. 2. Thụ giới khi chư Phật và Bồtát đã diệt độ (...) 3. Sau khi Phật diệt độ (...), tu học tất cả giới Bồ Tát, đó là hạ phẩm.
Thượng phiền não
上煩惱; C: shàngfánnăo; J: jōbonnō;|1. Trạng thái cường thịnh của căn bản phiền não; 2. Phiền não hiện hành (theo Khởi tín luận 起信論, Thắng-man kinh 勝鬘經).
thượng phiền não
The severe fundamental trials arising out of the ten great delusions; also the trials or distresses of present delusions.
; Distress of present delusions.
; (上煩惱) I. Thượng Phiền Não. Phiền não chi mạt(cành ngọn) do vô minh căn bản(gốc rễ) sinh ra. Cũng chỉ cho phiền não trong 10 hoặc lớn phát sinh mạnh mẽ. Thắng man bảo quật quyển trung, phần cuối (Đại 37, 52 trung) nói: Các phiền não từ Tứ trụ sinh khởi, vì chúng thô to, mạnh mẽ nên gọi là Thượng, bởi vậy, ở đây nói tất cả Thượng phiền não. Tứ trụ và Thượng phiền não làm chỗ nương, chỗ gieo trồng, phiền não đã sinh ra nương vào đó mà tồn tại, cho nên gọi là Y. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 23, 578 trung) nói: Thượng phiền não nhiều hơn số cát sông Hằng, nương nơi vô minh mà khởi sai biệt. II. Thượng Phiền Não. Phiền não sinh khởi ngay ở hiện tiền cũng gọi là Thượng phiền não.
thượng pháp ưng xả, hà huống phi pháp
Theo Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy—According to the Diamond Sutra, the Buddha taught: • Chúng sanh không nên chấp vào tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tướng vô pháp, và cũng không chấp vào tướng không phải là phi pháp—Sentient beings should not attached to the concept of self, others, affliations and incessantness, not to the concept of doctrines, nor no doctrines. • Tại vì sao? Nếu tâm còn chấp vào tướng, tức là chấp có ta, có người, có chúng sinh, có thọ giả. Nếu cố chấp vào pháp tướng, cũng tức là chấp có ta, chấp có người, chấp có chúng sinh, và chấp có thọ giả—Why? One who grasps a concept is attached to the self, others, affiliations and incessantness. One who grasps doctrine is attached to the self, others, affiliations and incessantness. • Bởi vậy không nên chấp là pháp, không nên chấp là phi pháp—One who grasps no-doctrines is attached to the self, others, affiliations and incessantness. Therefore, do not attach to the concept of doctrines or no-doctrine. • Vì lẽ đó, cho nên Như Lai thường nói: “Tỳ Kheo các ông nên hiểu rằng 'Pháp của ta nói ra, cũng ví như cái bè khi sang qua sông, thế nên Thượng Pháp ưng xả, hà huống phi pháp!' (chính pháp có khi còn nên bỏ, huống là phi pháp.)”—Thus, the Tathagata always says: “You, Bhikshus, should be aware that my teaching is a raft. It can be cast aside. How much more should you cast aside non-Buddhist teachings?”
thượng phương
Heaven—Also see Thượng thủ.
thượng phương kim cang võng bồ tát
Xem Kim Cang Võng Bồ tát.
thượng phương, thượng thủ
An abbot. Thượng phương originally meant a mountain monastery.
Thượng phẩm
上品; C: shàngpǐn; J: jōbon;|Tầng lớp trên, thứ bậc trên. Thường dùng để nói đến căn cơ của hành giả. Đối nghịch với Trung phẩm (中品) và Hạ phẩm (下品).
thượng phẩm
Superior order, grade or class. Thượng phẩm liên đài. The highest stages in the Pure Land.
; The high quality—High rank (class)—First quality.
thượng phẩm liên thai
(上品蓮台) Đài sen thượng phẩm. Chỉ cho đài sen trong đó những người vãng sinh Cực lạc thuộc bậc thượng phẩm được hóa sinh. Trong 3 phẩm vãng sinh Cực lạc thì những người thuộc Thượng phẩm sinh, được hóa sinh trong hoa sen lớn bằng bảy báu trong ao Bảy báu, cho nên gọi là Thượng phẩm liên đài.
thượng phẩm liên đài
Phẩm cao nhất trên cõi Tịnh Độ, nơi mà những vị vãng sanh hiện ra như những hoa sen trong ao thất bảo. Khi những hoa sen nầy nở thì các vị ấy sẽ chuyển hóa thành những chúng sanh trong cõi Tịnh Độ—The highest stages in the Pure Land where the best appear as the lotus flowers on the pool of the seven precious things. When the lotuses open they are transformed into beings of the Pure Land.
thượng phẩm thượng sanh
Reborn in the uppermost of the Lotus grade—Tái sanh vào cõi cao nhất trên Tịnh Độ (tùy theo nghiệp lực)—The highest quality of the incarnated beings with corresponding to karma—The highest grade in the Pure Land.
thượng phẩm thượng sinh, trung sinh, hạ sinh
The three highest of the nine stages of birth in the Pure Land.
thượng phẩm trung sanh
The middle rank or quality of the incarnated beings with corresponding to karma.
thượng quỹ bồ tát
Xem Tối Thánh Bồ tát.
Thượng Sam Cảnh Thắng
(上杉景勝, Uesugi Kagekatsu, 1555-1623): còn gọi là Trường Vĩ Cảnh Thắng (長尾景勝, Nagao Kagekatsu), vị Võ Tướng sống dưới thời đại An Thổ Đào Sơn (安土桃山), con của Trường Vĩ Chính Cảnh (長尾政景), con nuôi của Thượng Sam Khiêm Tín (上杉謙信). Sau khi Khiêm Tín qua đời, ông làm việc cho tướng quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi, 1537-1598), được liệt vào hàng ngũ của Ngũ Đại Lão (五大老).
Thượng sinh
上生; C: shàngshēng; J: jōshō;|Tái sinh ở trong cõi tốt lành hơn. Chẳng hạn tái sinh vào Sắc giới thay vì Dục giới.
Thượng sinh kinh
上生經; C: shàngshēng jīng; J: jōshō kyō;|Viết tắt của Di-lặc thượng sinh kinh (彌勒上生經).
thượng sĩ
The superior disciple, who becomes perfect in (spiritually) profiting himself and others. The trung sĩ profits self but not others; the hạ sĩ neither.
; The superior disciple who become spiritually perfect profiting himself and others.
; (上士) I. Thượng Sĩ. Cũng gọi là Đại sĩ. Tên khác của Bồtát – Bồ tát xa lìa mê chấp tà kiến, thấy pháp lí chân chính, là bậc tu hành viên mãn hạnh lợi mình lợi người, cho nên gọi là Thượng sĩ. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 261 thượng) ghi: Luận Du già nói; Người không tu hạnh lợi mình, lợi người gọi là Hạ sĩ; người có tu hạnh lợi mình mà không tu hạnh lợi người, gọi là Trung sĩ; còn người tu hành cả 2 hạnh lợi mình và lợi người thì gọi là Thượng sĩ. [X. Vĩnh gia chứng đạo ca]. II. Thượng Sĩ. Bậc thượng căn cũng gọi là Thượng sĩ.
thượng sư
(上師) Cũng gọi Kim cương thượng sư. Danh từ của Phật giáo Tâytạng dùng để tôn xưng người có trí đức cao sâu, giới hạnh thù thắng, xứng đáng làm khuôn mẫu cho mọi người. Người Tây Tạng gọi các bậc ấy là Lạt ma. Lạt ma là Hán âm của tiếng Tây Tạng Bla-ma, vốn là 1 danh từ ghép, gồm bla (thượng) và ma(nhân), tức chỉ cho người thượng đức, tương đương với tiếng Phạm Guru, nghĩa là Sư tượng, Sư phạm, là từ ngữ mà người Ấnđộ đời xưa hoặc người tu hành nói chung dùng để tôn xưng thầy của mình. Phật giáo Tây tạng đặc biệt sùng bái Lạt ma. Trong sinh hoạt thường ngày của người Tây tạng, hễ có các việc như cưới xin, mừng thọ, ma chay, đau ốm, tai nạn cho đến dời nhà đi xa... đều đặc biệt trước thỉnh Lạt ma cầu nguyện rồi sau mới thực hiện. Còn những người xuất gia tu hành thì ngoài việc qui y Tam bảo Phật, Pháp, Tăng ra, còn phải đặc biệt qui y Lạt ma, do đó mà có tác pháp Tứ qui y; đồng thời đem thân khẩu ý của chính mình cúng dường, qui y Thượng sư, cho rằng phụng sự Lạt ma cũng ngang với phụng thờ Tam bảo. Nói theo Pháp thống thì Mật giáo Tây tạng rất xem trọng mối quan hệ kế thừa sự nghiệp của thầy, cho rằng Kim cương thượng sư là đại biểu cho đức Đại nhật Như lai trong hệ thống Sư sư tương thừa, cho nên nếu truyền trao Mật pháp thì phải có Kim cương thượng sư quán đính, nghi quĩ tu trì Mật pháp cũng phải thỉnh Kim cương thượng sư gia trì trước. Lại vì Mật giáo coi trọng Tâm pháp tương truyền, cho nên sự truyền trao Mật pháp cũng do Thượng sư và đệ tử bí mật truyền trao.Theo sự qui định của Mật thừa, vị Thượng sư đảm nhiệm chức vị Quĩ phạm sư (A xà lê) phải có đủ các điều kiện sau đây:1. Phải có Mật pháp quán đính của Kim cương thượng sư căn bản trong hệ truyền thừa chính thống. 2. Từ Kim cương Phật đến vị Thượng sư căn bản của chính mình, sự truyền thừa quán đính Mật pháp suốt thời gian ấy, đều phải đầy đủ không thiếu, không được gián đoạn. 3. Phải thụ đại quán đính Bản tôn(quán đính A xà lê), tinh thông Phật pháp Hiển mật và Bồ đề tâm học, đồng thời có đủ các tài liệu về các pháp tu như Hỏa cúng, Đàn thành..., luyện tập thành thục các pháp tu nói trong các kinh quĩ. 4. Khi bản thân mình có năng lực truyền trao Mật pháp, phải có sự cho phép của vị Kim cương thượng sư căn bản mới được đảm nhiệm chức vị Thượng sư A xà lê, truyền pháp quán đính cho người. Có đủ các điều kiện như đã trình bày ở trên rồi, theo tập quán của Tâytạng, bấy giờ mới có thể được gọi là Nhân ba thiết, nghĩa là Đức Phật chuyển thế.
thượng thi la bộ
Xem Bắc sơn trụ bộ.
thượng thú
The higher gati—The higher directions of transmigration.
thượng thượng nhân
(上上人) Từ ngữ do tông Tịnh độ Nhậtbản dùng để khen ngợi người tu hạnh niệm Phật, là 1 trong 5 thứ danh dự. Vị tổ khai sáng tông Tịnh độ Nhật bản là ngài Nguyênkhông đã căn cứ vào kinh Quán vô lượng thọ mà gọi người niệm Phật là hoa phân đà lợi(hoa sen trắng) trong loài người, vì hoa phân đà lợi là loại tối thượng, tối thắng trong các loài hoa, cho nên dùng để ví dụ cho nguời tu hạnh niệm Phật, là hạnh tối thượng, tối thắng trong các hạnh tu mà gọi là Thượng thượng nhân. [X. kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc)].
Thượng thượng phẩm
上上品; C: shàngshàngpǐn; J: jōjōhon;|Thứ nhất (thượng 上) trong hàng cao cấp nhất (thượng phẩm 上品). Bậc cao nhất trong chín hạng thường được đề cập trong kinh văn Phật giáo để phân loại các giới bằng phẩm lượng. Thuật ngữ nầy thường được dùng để nói đển căn cơ của chúng sinh (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).
Thượng thủ
上首; C: shàngshǒu; J: jōshu;|1. Cao quý nhất, quan trọng nhất; 2. Giai vị cao nhất, hoặc người đang trên giai vị đó. Người đứng đầu, lĩnh đạo, thủ lĩnh.
thượng thủ
người đứng đầu, dẫn đầu hay giữ cương vị tôn quý nhất trong một tập thể.
; Pramukha (S), Most Seniority.
; President, or presiding elders.
; President—Presiding elders—An abbot.
; (上首) Phạm: Pramukha. Pàli: Pamukha. I. Thượng Thủ. Chỉ cho người ở địa vị cao nhất trong đại chúng. Lúc đức Phật còntạithế đã có tên gọi này rồi, từ Thượng thủ cũng thấy rải rác trong kinh điển Hán dịch. Sau, trong Thiền lâm, đôi khi từ ngữ Thủ tọa được dùng thay cho Thượng thủ, tuy nhiên, ý nghĩa tôn trọng không thay đổi. [X. phẩm Kim cương trong kinh Đại phẩm Bát nhã Q.4; kinh Quán vô lượng thọ; luận Pháp hoa Q. thượng]. II. Thượng Thủ. Chỉ cho pháp tối thượng trong các pháp môn. Chẳng hạn như kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 2 gọi 15 thứ Tam muội như Yếm li nhất thiết pháp tam muội, Siêu quá nhất thiết pháp tam muội... là thượng thủ trong tất cả Tam muội; lại gọi 53 Đà la ni môn như Quán chư pháp tính đà la ni môn, Phát bồ đề tâm đà la ni môn...là thượng thủ của tất cả Đà la ni môn.[X. kinh Pháp hoa Q.5; luận Đại trí độ Q.45; Đại nhật kinh sớ Q.12]. III. Thượng Thủ. Chỉ cho ngài Ưu ba li, đệ tử của đức Phật. Ưu ba li, Phạm:Upàli, Hán dịch là THƯỢNG THỦ. Hóa sinh, hoặc dịch là Thượng thủ. Vì ngài giữ luật vào bậc nhất, làm kỉ cương cho đại chúng nên gọi là Thượng thủ. Sau khi đức Phật nhập diệt, Ngài cùng với 500 vị Thánh tăng kết tập tạng Luật trong động Tát bát la. [X. kinh Phó pháp tạng nhân duyên Q.1].
thượng thủ bồ tát
Xem Kim Cang Tát Đỏa.
thượng thủ công đức
(上首功德) Chỉ cho công đức vi diệu, thù thắng không có công đức nào hơn, là 1 trong 8 thứ công đức của Phật trong 29 thứ trang nghiêm cõi Tịnh độ cực lạc. Bậc Thượng thủ ở Tịnh độ ấy là đức Phật A di đà mà sự tối tôn, tối thắng, vi diệu của Ngài hơn tất cả mọi người, không ai vượt qua được. Trong Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 832 trung), ngài Đàm loan nói: Như núi chúa Tu di, thù thắng vi diệu không núi nào hơn. Hai câu này gọi là Trang nghiêm thượng thủ công đức thành tựu. Vì sao Phật đã phát khởi nguyện này? Vì thấy có Như lai, trong chúng có kẻ ngang ngược như Đề bà đạt đa; hoặc có quốc vương không biết kính trọng đức Phật, hoặc có người thỉnh Phật, nhưng vì bận nhiều việc nên quên mất. Có những việc tựa như năng lực bậc thượng thủ không thành tựu như thế, cho nên nguyện rằng: Khi tôi thành Phật, nguyện tất cả mọi người không ai dám sinh tâm ngang hàng với tôi, chỉ có một đấng Pháp vương, không có vua thế tục. Vì thế nói rằng: Như núi chúa Tu di, thù thắng vi diệu không núi nào hơn. [X. kinh Vô lượng thọ Q. hạ].
thượng thừa
Mahàyàna (S). Also thượng thuật, đại thừa.
; Supreme Yana—Mahayana—See Đại thừa.
thượng thừa du già
Mahàyàna-yoga (S).
; Mahayana-Yoga.
thượng thừa mật tông
The Mahàyàna esoteric school, especially Chân ngôn tông Shingon.
; The Mahayana Esoteric school.
thượng thừa thiền
Mahàyàna Zen school, which considers that it alone attains the highest realization of Mahàyàna truth.
; The Mahayana meditation—Attainment of the highest realization of Mahayana truth—To realize the unreality of the ego and of all things.
; (上乘禪) Chỉ cho thứ thiền đốn ngộ tự tâm. Thiền tông tự cho mình vượt lên trên Đại thừa và Tiểu thừa, cho nên lập riêng Thượng thừa thiền. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục thì thiền có cấp bậc sâu cạn khác nhau, người ngộ lí Ngã không thiên chân mà tu thiền thì gọi là Tiểu thừa thiền; người ngộ chân lí Ngã pháp giai không mà tu thiền là Đại thừa thiền. Nếu ngộ ngay tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, vốn không phiền não, tâm này chính là Phật, theo đó mà tu thiền thì chính là Thượng thừa thiền.
thượng toà
(上座) Phạm: Sthavira. Pàli:Thera. Hán âm: Tất tha bệ la, Tát đề na. Cũng gọi: Trưởng lão, Thượng lạp, Thủ tọa, Thượng tọa, Trụ vị. Một trong Tam cương. Chỉ cho vị tăng hay vị ni có tuổi hạ cao, ở địa vị trên. Kinh Tì ni mẫu quyển 6 y cứ vào tuổi hạ cao hay thấp mà lập ra 4 bậc: Hạ tọa, Trung tọa, Thượng tọa và Kì cựu trưởng túc. Rồi qui định từ chưa có hạ lạp nào 19 hạ, gọi là Trung tọa; từ 20 hạ đến 49 hạ, gọi là Thượng tọa. Từ 50 hạ trở lên, được quốc vương, trưởng giả, người xuất gia kính trọng thì gọi là Kì cựu. Nhưng Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 thì cho rằng đủ 10 hạ là Tất tha bệ la, đó là vì từ bậc Trung tọa trở lên gọi chung là Thượng tọa.Theo Tập dị môn túc luận quyển 4 thì Thượng tọa có 3 loại như sau: 1. Sinh niên thượng tọa (Phạm:Jatisthavina): Chỉ cho Tôn trưởng, Kì cựu. 2. Thế tục thượng tọa (Phạm:Saôvftisthavira): Người có tài sản, địa vị, quyền hành thế tục. 3. Pháp tính thượng tọa (Phạm: Dharma-sthavira): Người có tuổi hạ khá cao, trí tuệ giải thoát, đã chứng quả A la hán.Còn Thích thị yếu lãm quyển thượng thì nêu thuyết Tứ chủng thượng tọa, đó là: 1. Tăng phòng thượng tọa: Tức chỉ cho Tam cương thượng tọa nói trong các luật.2. Tăng thượng tọa:Tức Thượng tọa ở trên đàn, hoặc chỉ cho vị Thủ tọa trong giới đàn khi truyền giới. 3. Biệt phòng thượng tọa: Tức chỉ cho vị Thủ tọa của các liêu trong Thiền lâm. 4. Trụ gia thượng tọa: Chỉ cho vị Thượng tọa coi về trai tịch. Ngoài ra, Thượng tọa cũng là từ gọi chung các tỉ khưu. [X. luật Tứ phần Q.54; luật Thập tụng Q.39; Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thượng toà bộ
(上座部) Phạm:Àrya-sthavira-nikàya. Pàli:Thera-vàda. Cũng gọi Đồng diệp bộ. Hán âm: Tha kệ la bộ, Thể tì lí, Tha tì lợi dữ. Một trong các phái của Phật giáo bộ phái. Theo kinh điển Bắc truyền thì sau khi đức Phật nhập diệt hơn 100 năm, các tỉ khưu thuộc phái tiến bộ như Đại thiên (Phạm,Pàli:Mahàdeva) đề xướng 5 điều giáo nghĩa và bị phái bảo thủ phản đối, do đó, giáo đoàn đã chia ra thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Khoảng các năm đầu thứ 300 sau Phật nhập diệt, từ Thượng tọa bộ bảo thủ lại chia ra Thuyết nhất thiết hữu bộ(gọi tắt là Hữu bộ),không bao lâu, Thượng tọa bộbảo thủbị thế lựcHữu bộ chèn ép nên phải dời đến Tuyết sơn (Phạm: Himàlaya), gọi là Tuyết sơn bộ. Về sau, từ Hữu bộ lại chia ra 8 bộ, Thượng tọa bộ trước sau gồm 11 bộ(Hữu bộ, Bản thượng tọa bộ, Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Hóa địa bộ, Pháp tạng bộ,Ẩm quang bộ và Kinh lượng bộ). Nhưng theo kinh điển Nam truyền thì nguyên nhân đưa đến sự chia rẽ đầu tiên là do ý kiến khác nhau về 10 điều liên quan đến giới luật, nên Thượng tọa bộ trước sau đã chia thành 12 bộ. Trong hệ thống Thượng tọa bộ thì Hữu bộ có thế lực lớn nhất và có thể nói là đại biểu cho lí luận của Thượng tọa bộ. Vào khoảng thế kỷ III trước Tây lịch, Thượng tọa bộ đã từ Ấn độ truyền đến các nước như Tíchlan... sau gọi là Nam truyền Thượng tọa bộ, đến nay vẫn thịnh hành. [X. luận Dị bộ tông luân; luận Đại tì bà sa Q.99; Tam luận huyền nghĩa; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Đại Thiên Ngũ Sự, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Ấn Độ Phật Giáo, Bộ Phái Phật Giáo).
thượng toà thập pháp
(上座十法) Chỉ cho 10 pháp của Thượng tọa, tức THƯỢNG TỌA THẬP PHÁP 10 điều kiện mà bậc Thượng tọa phải có. Cứ theo luật Thập tụng quyển 50 thì Thượng tọa thập pháp gồm: 1. Có chỗ cư trú. 2. Không sợ hãi, không có gì ngăn trở được. 3. Dứt trừ được phiền não. 4. Kiến thức sâu, uy tín cao, có năng lực làm cho người khác sinh tâm thanh tịnh.5. Có khả năng biện luận, không ai hơn được. 6. Không có trệ ngại, nghĩa lí rõ ràng. 7. Người nghe tin nhận. 8. Khéo léo, khoan thai khi vào nhà người. 9. Có khả năng giảng nói pháp sâu xa cho người tại gia nghe, phân biệt các đạo, khuyên họ thực hành bố thí, giữ gìn trai giới, khiến họ bỏ ác theo thiện. 10. Tự quán xét lí Tứ đế, được an vui trong hiện pháp, không có khuyết điểm. (xt. Tam Cương, Thượng Tọa).
Thượng toạ
上座; C: shàngzuò; J: jōza; S: sthavira; P: the-ra;|I. Chỉ một người cao tuổi đã đạt bốn tiêu chuẩn sau: 1. Ðức hạnh cao; 2. Nắm vững tất cả giáo lí căn bản của Phật pháp; 3. Nắm vững các phép Thiền định; 4. Người đã diệt Ô nhiễm (s: āśrava), Phiền não (s: kleśa) và đạt Giải thoát (s: vimokṣa).|Danh hiệu Thượng toạ được dùng sau này không hẳn là theo tất cả các tiêu chuẩn trên, thường chỉ để dùng cho các Tỉ-khâu có danh tiếng, cao tuổi hạ (Hoà thượng).|II. Trong Thiền tông, là danh hiệu kính cẩn để gọi thầy của mình; |III. Chỉ cho Thượng toạ bộ.
Thượng toạ bộ
上座部; C: shàngzuòbù; J: jōzabu; S: sthavira-vāda; P: theravāda;|Trường phái thuộc Trưởng lão bộ (s: sthavi-ravāda), xuất phát từ Phân biệt bộ (s: vibhajyavādin), do Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (p: moggaliputta tissa) thành lập (Kết tập). Phái này được Ma-hi-đà đưa về Tích Lan năm 250 trước Công nguyên và được các sư tại Ðại Tự (mahāvihāra) tu tập. Về giới luật cũng có nhiều bất đồng trong nội bộ phái Thượng toạ bộ. Ngày nay Thượng toạ bộ được lưu hành tại các nước Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Campuchia và Lào.|Thượng toạ bộ là trường phái Tiểu thừa duy nhất còn lưu lại đến ngày nay, tự xem là dạng Phật giáo nguyên thuỷ nhất. Thượng toạ bộ cho rằng các kinh điển viết bằng văn hệ Pā-li của mình là ngữ thuyết của chính đức Phật (Tam tạng). Giáo pháp của Thượng toạ bộ chủ yếu gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Mười hai nhân duyên và thuyết Vô ngã. Thượng toạ bộ nhấn mạnh khả năng từng người tự giải thoát bằng cách kiên trì giữ giới luật và sống một cuộc đời phạm hạnh. Hình ảnh cao quý của Thượng toạ bộ là A-la-hán. Giáo pháp của Thượng toạ bộ có khuynh hướng phân tích, trong đó A-tì-đạt-ma (s: abhidharma) đóng một vai trò quan trọng. Ngoài ra bộ Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga) và Di-lan-đà vấn đạo kinh (p: milinda-pañha) cũng rất được phổ biến. Luận sư xuất sắc của Thượng toạ bộ là Phật Âm (p: buddhagosa), Hộ Pháp (p: dhammapāla), A-na-luật (anuruddha) và Phật-đà Ðạt-đa (buddhadatta).
thượng trung hạ pháp
The three dharmas, systems or vehicles, bồ tát, duyên giác, and thanh văn, bodhisattva, pratyekabuddha, sràvaka.
; The three dharmas systems or vehicles of Bodhisattvas (Bồ tát), Prayetka-buddhas (Duyên giác) and Sravakas (Thanh văn).
thượng trung hạ phẩm
Superior, middle, and lower class, grade, or rank.
thượng truyện
Hsiang-chuan (C), Commentary on the Images Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.
Thượng Trực Biên
(尚直編, Shōjikiben): 2 quyển, trước tác của Không Cốc Cảnh Long (空谷景隆) nhà Minh, san hành vào năm thứ 5 (1440) niên hiệu Chánh Thống (正統). Không Cốc Cảnh Long―pháp từ của Sư Tử Lâm Thiên Như Duy Tắc (師子林天如惟則), pháp hệ của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本)―phản bác thuyết bài xích Phật Giáo của Nho Giáo nhà Tống và Chu Tử và khẳng định rõ rằng đạo của chư vị thánh nhân của 3 tôn giáo Nho, Phật, Đạo là kết hợp trời đất với đức, ánh sáng với trời trăng, tất cả đều là tư lương để chứng đạo nguyên sơ.
thượng tuần
The first ten days of the month.
Thượng tâm
上心; C: shàngxīn; J: jōshin;|1. Trong Bồ Tát trì địa kinh (菩薩地持經), đây là trạng thái tinh thần của thiền định trong cõi trời Vô sắc (無色界天); 2. Thượng tâm phiền não (上心煩惱).
Thượng tâm hoặc
上心惑; C: shàngxīnhuò; J: jōshinwaku;|Thượng tâm phiền não.
Thượng tâm phiền não
上心煩惱; C: shàngxīn fánnăo; J: jōshin bon-nō;|Cũng viết Thượng tâm hoặc: 1. Theo trong Tam vô tính luận, phiền não tái sinh khởi sau khi trực quán được diệu đế; 2. Thượng phiền não.
thượng túc
Xem Đâu suất thiên cung.
; A superior disciple or follower.
; (上足) Chỉ cho hàng đệ tử thượng thủ, tức hàng đệ tử ưu tú trong các môn phái, pháp hội.
thượng tế
To place offering on an altar.
thượng tọa
Thera (P), Sthavira (P)Trưởng lão.
; Sthavira or Mahàsthavira (S). Old man, or elder; head monk, president or abbot; the first Buddhist fathers; a tittle of Mahàkàsyapa; also a monk of twenty to forty nine years standing, as trung tọa are from ten to nineteen, and hạ tọa under ten.
; Venerable—A monk or a nun who has from twenty to forty nine years of renunciation—See Tam Cương (B) (2).
Thượng Tọa Bộ
(s: Sthaviravāda, p: Theravāda, j: Jōzabu, 上座部): nghĩa đen là “Con Đường Của Các Bậc Trưởng Lão”, là bộ phái Phật Giáo sống còn xưa nhất; trong nhiều thế kỷ qua nó là tôn giáo chiếm ưu thế của Sri Lanka (Tích Lan, khoảng 70% dân số) cũng như hầu hết lục địa Đông Nam Á (Cam Bốt, Lào, Miến Điện, Thái Lan). Bộ phái này cũng được thực hành với mức độ ít hơn ở Tây Nam Á như Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh, Phi Luật Tân, Mã Lai Á và Indonesia. Trong khi đó, gần đây nó cũng chiếm được đa số ở Singapore và Úc Châu. Ngày nay, tín đồ Phật Giáo Thượng Tọa Bộ trên khắp thế giới lên đến hơn 100 triệu và trong những thập niên gần đây, Thượng Tọa Bộ bắt đầu cắm gốc rễ ở phương Tây. Thượng Tọa Bộ chủ yếu phát xuất từ trường phái Vibhajjavāda (分別說部, Phân Biệt Thuyết Bộ) vốn xuất hiện giữa nhóm Trưởng Lão (s: sthavira, p: thera, 長老) tại Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ 3 (250 sau công nguyên) trong suốt thời gian trị vì của A Dục Vương. Sau Đại Hội Kết Tập này, tín đồ của Phân Biệt Thuyết Bộ dần dần tách thành 4 nhóm: Mahīśāsaka (化地部, Hóa Địa Bộ), Kāśyapīya (飲光部, Ẩm Quang Bộ), Dharmaguptaka (法藏部, Pháp Tạng Bộ) và Tāmraparnīya (銅鍱部, Đồng Diệp Bộ). Thượng Tọa Bộ xuất thân từ Đồng Diệp Bộ, có nghĩa là “dòng truyền thừa Tích Lan”. Những ký sự về nguồn gốc của Thượng Tọa Bộ cho biết rằng bộ phái này nhận giáo lý vốn được đồng ý trong Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ 3 và giáo lý này của trường phái Phân Biệt Thuyết Bộ. Bản thân tín đồ Phân Biệt Thuyết Bộ xem họ là sự tương tục của các Trưởng Lão chính thống và sau đó đại hội tiếp tục đề cập đến họ là “Chư Trưởng Lão (The Elders)”, mặc dầu giáo điển của họ có lẽ tương tự với các vị Trưởng Lão xưa, nhưng có thể không đồng nhất. Vào thế kỷ thứ 7, hai nhà chiêm bái Trung Hoa là Huyền Trang (玄奘, 602-664) và Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) có đề cập đến trường phái Phật Giáo ở Tích Lan là “Sthaviravāda”. Khi tiếng Pāli được dùng rộng rãi và chiếm ưu thế, khoảng thế kỷ 11, tên Pāli “Theravāda” của bộ phái này được sử dụng thay thế cho tên Sanskrit. Theo truyền thống Tích Lan, Phật Giáo được Ma Sẩn Đà (p: Mahinda, 摩哂陀)—con của A Dục Vương thuộc vương triều Khổng Tước (s: Maurya, 孔雀)—truyền vào Tích Lan đầu tiên như là một phần của hoạt động truyền giáo dưới kỷ nguyên A Dục Vương. Ma Sấn Đà thiết lập tu viện Mahavihara ở Anuradhapura. Sau này tu viện này phân chia thành 3 nhóm phụ dưới tên gọi của các trung tâm tu tập như Mahavihara, Abhayagirivihara và Jetavanavihara. Vào năm 1164, dưới sự hướng dẫn của 2 vị tu sĩ thuộc nhóm tu tập trong rừng của Mahavihara, vua Tích Lan đã hợp nhất tất cả tỳ kheo khắp Tích Lan lại thành phái Mahavihara. Vài năm sau khi Ma Sấn Đà đặt chân lên xứ sở này, Tăng Già Mật Đa (p: Saṅghamittā, 僧伽蜜多)—con gái của A Dục Vương và cũng là em gái của Ma Sấn Đà—đến Tích Lan. Cô hình thành giáo đoàn Ni đầu tiên tại đây, nhưng giáo đoàn này tuyệt diệt vào khoảng giữa thế kỷ thứ 10. Vào năm 429, thể theo yêu cầu của vua nhà Hán Trung Quốc, vị ni từ Anuradhapura được phái đến Trung Quốc để thiết lập giáo đoàn Ni. Sau đo, giáo đoàn này lan rộng sang Triều Tiên. Vào năm 1996, 11 vị Ni Tích Lan có chọn lọc kết hợp với một số Ni Hán Quốc, được một nhóm tăng sĩ Theravāda truyền thọ Tỳ Kheo Ni giới tại Ấn Độ. Việc này nảy sinh sự bất đồng giữa những người có quyền uy về Luật Tạng Thượng Tọa Bộ về vấn đề thọ giới này có đúng pháp hay không. Dưới thời A Dục Vương trị vì, một đoàn truyền giáo được phái đến Kim Địa Quốc (s: Suvarṇa-bhūmi, p: Suvaṇṇa-bhūmi, 金地國), tương truyền nơi đó đã có sự hiện diện truyền giáo của Soṇa và Uttara. Tuy nhiên, kiến giải của các học giả thì hoàn toàn khác nhau về vị trí vùng đất này. Người ta tin rằng Kim Địa Quốc có thể thuộc một nơi nào đó trong khu vực bao gồm Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và bán đảo Mã Lai. Dân tộc thiếu số Mon là một trong những nhóm người sớm nhất trú ngụ ở Miến Điện và đã từng là tín đồ của Theravāda từ thế kỷ thứ 3. Những phát hiện về khảo cổ cho biết rằng dân tộc này có quan hệ mật thiết với Nam Ấn và Tích Lan. Người Miến Điện chọn tôn giáo và văn bản viết của dân tộc Mon khi họ chinh phục Thaton, vương quốc người Mon, vào năm 1057. Theo truyền thống địa phương, đây là địa vức của Kim Địa Quốc được giáo đoàn của triều đình A Dục Vương viếng thăm. Dân tộc Mon cũng là một trong những sắc tộc định cư tại Thái Lan. Người Thái lấy tôn giáo Mon để chinh phục Haripunjaya, vương quốc người Mon, vào năm 1292. Một số giáo phái chính ở các nước Phật Giáo Thượng Tọa Bộ ngày nay như Tích Lan có Siam Nikaya, Amarapura Nikaya, Ramañña Nikaya; Miến Điện có Thudhamma Nikaya, Shwekyin Nikaya, Dvara Nikaya; Thái Lan có Maha Nikaya, Thammayut Nikaya; Bangladesh có Sangharaj Nikaya, Mahasthabir Nikaya, v.v.
thượng tọa bộ
Sthāvirānikāya (P), Sthvira (P), Sthāvirāvāda (S), Sthāvirā (S), Ārya-sthāvirā (S), Theravāda (P), neten depa (T), Sthāvathah (S),Supreme Vehicle.The school of the elders Phật Giáo nguyên thủyNghĩa gốc là "đạo của người xưa". Danh hiệu của trường phái tiểu thừa duy nhất còn tồn tại. Còn gọi là Phật giáo Nam tông.
; Sthaviràh (S) The shool of the presiding elder, or elders.
; Sthaviravadin or Theravada—Phật Giáo Nguyên Thủy— Thượng Tọa Bộ: Mahasthavirah or Sthavirah—The elders—Một trăm năm sau ngày Phật nhập diệt, những bậc kỳ lão trong Tăng đoàn đã họp nhau trong hang núi để cùng kết tập luật bộ. Tại cuộc hội nghị ở Tỳ Xá Lê, đã có một số Tăng lữ bất đồng ý kiến trầm trọng với một số Tăng lữ khác những điểm quan trọng liên quan tới giáo pháp. Số Tăng lữ có những ý kiến khác biệt tuy chiếm đa số nhưng họ lại bị một số Tăng lữ khác lên án và gọi là Ác Tỳ Kheo và kẻ thuyết phi pháp đồng thời đã trục xuất họ. Trong lịch sử Phật giáo, số Tỳ Kheo nầy được gọi là Đại Chúng Bộ vì trong cuộc hội tập họ đã chiếm đa số và phản ảnh được ý kiến của đại đa số tục chúng. Những Tăng lữ đã xua đuổi những vị nầy đã tự xưng là Thượng Tọa Bộ hoặc Trưởng Lão vì họ tự cho là đại biểu chính thống giáo nghĩa Phật Giáo Nguyên Thủy. Giáo lý của Đức Phật theo trường phái nầy rất đơn giản. Ngài dạy chúng ta 'tránh mọi điều ác, làm các điều lành và giữ cho tâm ý thanh sạch.' Có thể đạt được những điều nầy bằng sự hành trì giới, định, tuệ. Giới hay giữ hạnh kiểm tốt là nền tảng chủ yếu của sự tiến bộ trong đời sống con người. Một người tại gia bình thường phải tránh sát sanh, trộm cắp, tà dâm và uống các chất cay độc. Nếu trở thành tu sĩ thì phải sống đời độc thân, tuân thủ cụ tục giới, tu tập thiền định để trau dồi tuệ giác—Elder disciples who assembled in the cave after the Buddha's death. The elder monks or intimate disciples. At the council held at Vaisali, certain monks differed widely from the opinions of other monks on certain important points of the dharma. Though the monks that differed formed the majority, they were excommunicated by the others who called them Papa-Bhikkhus and Adhamma-vadins. In Buddhist history, these Bhikkhus were known as Mahasanghikas because they formed the majority at the council or probably because they reflected the opinions of the larger section of the laity. The Bhikkhus who excommunicated them styled themselves Sthaviras or the Elders, because they believed that they represented the original, orthodox doctrine of the Buddha. We have seen that Mahasanghikas coined the term Mahayana to represent their system of belief and practice, and called the Sthaviras Hinayana. The teaching of the Buddha according to this school is very simple. He asks us to 'abstain from all kinds of evil, to accumulate all that is good and to purify our mind.' These things can be accomplished by the practice of what are called sila, samadhi, and prajna. Sila or good conduct is the very basis of all progress in human life. An ordinary householder must abstain from murder, theft, falsehood, wrong sexual behavior and all intoxicating drinks. To become a monk, one must live a life of celibacy, observe complete silas, practise meditation, and cultivate prajna—Nam Tông từ Ấn Độ truyền về phương Nam (Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt)—See Nhị bộ.
Thượng Tộ
(尚祚, Shōso, ?-1245): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Thượng Tộ (尚祚), tự là Giác Thể (覺体), Giác Thiền (覺禪). Ông vào nhập môn tu học với Giác Hải (覺海) trên Cao Dã Sơn, chuyên tâm nghiên tầm cực ý của Mật Giáo, cùng với Đạo Phạm (道範) ở Chánh Trí Viện (正智院) tiến hành nghiên cứu. Về sau, ông khai sáng Tâm Nam Viện (心南院) để dẫn dắt đàn hậu tấn. Ông không những chỉ nghiên cứu về Mật Giáo, mà còn an trí tượng A Di Đà Phật, và tìm hiểu về Tịnh Độ Giáo. Ông được xem là một trong 8 nhân vật kiệt xuất của Cao Dã Sơn.
thượng vị
(上味) Chỉ cho vị ngon nhất. Vãng sinh yếu tập quyển trung nói rằng: Do bố thí thức ăn uống cho chúng sinh nên đức Phật A di đà cảm được tướng thượng vị; dưới lưỡi của Ngài có 2 hạt bảo châu tiết ra nước cam lộ, thấm trên lưỡi, chư thiên, loài người và hàng Bồtát Thập địa đều không có lưỡi này, cũng không có vị này. Còn kinh Lăng nghiêm thì cho tô lạc đề hồ là vị tối thượng trong các vị của thế gian.
thượng y
xem ba tấm pháp y.
; Xem Uất đà la tăng.
; A monk's outer robe.
; Uttara-samghati (skt)—Y ngoài có 25 mảnh—The superior or outer robe described as of twenty-five patches.
thượng yết na
Xem Cốt tỏa Thiên.
Thượng Đường
(上堂, Jōdō): đến Tăng Đường (僧堂) để ăn cơm cháo. Trong Chương Thạch Thê Hòa Thượng (石梯和尚章) của Hội Yếu (會要) 5 có đoạn rằng: “Sư kiến thị giả thác bát thượng đường, nãi hô vân: 'thị giả', giả ứng 'nặc'; sư vân: 'thậm xứ khứ ?', vân: 'thượng đường trai khứ' (師見侍者托鉢上堂、乃呼云、侍者、者應諾、師云、甚處去、云上堂齋去, Thầy thấy vị thị giả mang bình bát lên nhà ăn, bèn gọi rằng: 'này thị giả !' Người thị giả đáp: 'dạ'; thầy hỏi: 'đi đâu vậy ?' Đáp: 'lên nhà ăn cơm')”. Bên cạnh đó, từ này còn có nghĩa là lên Pháp Đường (法堂) để thuyết pháp. Ngày xưa, nghi thức này được tiến hành hằng ngày hai thời sáng và tối; nhưng sau này nó được tiến hành vào buổi sáng với thời gian quy định với các tên gọi như Tứ Tiết Thượng Đường (四節上堂), Ngũ Tham Thượng Đường (五參上堂), v.v. Từ này còn được gọi là Triêu Tham (朝參), Đại Tham (大參), Phổ Thuyết (普說) và Thăng Tòa (陞座). Trong phần Bách Trượng Quy Thằng Tụng (百丈規繩頌) của Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) 10 có đoạn rằng: “Kỳ hạp viện đại chúng, triêu tham tịch tụ, trưởng lão thượng đường thăng tòa, chủ sự đồ chúng nhạn lập trắc linh (其闔院大眾、朝參夕聚、長老上堂陞座、主事徒眾鴈立側聆, đại chúng trong toàn viện ấy đều buổi sáng tham vấn, buổi tối tập trung, vị trưởng lão lên tòa thuyết pháp, tất cả đồ chúng đứng ngay ngắn một bên lắng nghe).”
thượng đường
To go into the hall to expound the doctrine; to go to a temple for the purpose of worship or bearing presents to the monks; to go to the refectory for meals.
; Vị trụ trì Tòng lâm mỗi ngày hai lần sớm chiều lên pháp đường giải đáp sự tham vấn của Tăng chúng, gọi là thượng đường.
; Đi đến sảnh đường thuyết pháp—To go to the hall to expound the Buddha's teaching (the doctrine)—To go to a temple for the purpose of worship or bearing presents to the monks.
; (上堂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Thướng Đường. Lên Pháp đường thuyết pháp. Thời xưa, vị Trưởng lão trụ trì có thể thướng đường bất cứ lúc nào, nhưng từ thời Trung thế về sau thì có Định kì thướng đường và Lâm thời thướng đường khác nhau: 1. Đán vọng thướng đường: Thướng đường vào các ngày mồng 1, 15 mỗi tháng. 2. Ngũ tham thướng đường: Thướng đường vào các ngày mồng 5, 10, 20, 25 mỗi tháng, lại thêm Thướng vọng thướng đường nữa, cứ cách khoảng 5 ngày thướng đường một lần, cho nên gọi là Ngũ tham thướng đường. 3. Cửu tham thướng đường: Mỗi 3 ngày thướng đường một lần, thì mỗi tháng có khoảng 9 lần thướng đường, vì thế gọi là Cửu tham thướng đường. 4. Thánh tiết thướng đường: Thướng đường vào ngày sinh của Hoàng đế. 5. Xuất đội thướng đường:Vị trụ trì đi khuyến hóa, sau khi trở về chùa thì thướng đường. 6. Nhân sự thướng đường: Trong chùa phát sinh các việc đặc biệt khó khăn thì vị trụ trì thướng đường thuyết pháp.7. Tạ Bỉnh phất thướng đường:VịTrụ trì thướng đường để cảm tạ công lao của vị Đầu thủ bỉnh phất đã thuyết pháp thay cho mình. 8. Tạ Đô tự trai thướng đường:Để cảm tạ công lao thiết trai của vị Đô tự, vị trụ trì đặc biệt thướng đường thuyết pháp. 9. Đại hành trang nghiêm thướng đường: Thướng đường thuyết pháp để truy tiến cho thân trung ấm của Hoàng đế. Trong các Thướng đường trên đây thì ngày Ngũ tham thướng đường (Ngũ thướng đường) được gọi là Ngũ tham nhật (tham nghĩa là tham gia), hợp chung với Đán vọng gọi là Ngũ đán vọng. Khi vị trụ trì thăng tòa thướng đường, đại chúng nên đứng dậy nghe pháp. Sau khi thướng đường thuyết pháp, đại chúng đến Trai đường thụ cúng, gọi là Thướng đường trai. [X. Tổđình sự uyển Q.8; chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng; môn Tọa vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. II. Thướng Đường. Chỉ cho Chúc quốc thướng đường, Tấn sơn thướng đường(nghi thức thuyết pháp cầu nguyện cho đất nước thanh bình, yên vui, ngày vị trụ trì nhậm chức).
thượng đường bài
(上堂牌) Bảng yết thị báo trước việc thướng đường. Tức chỉ cho tấm bảng yết thị chiều dài 2 thước 3 tấc, chiều ngang 1 thước 3 tấc treo ở cửa trước của Pháp đường để thông báo cho đại chúng biết về ngày giờ thướng đường. Mỗi khi đến ngày mồng 1, 15 thì vị Thị giả dặn vị hành giả khách đầu nhớ treo Thướng đường bài để báo cho chúng tăng biết. [X. Chư bài pháp trong Tăng đường thanh qui].
thượng đẳng
Superior—Supreme.
thượng đẳng thần
Supreme Deities.
thượng đế
God or Creator—Ngoại đạo tin rằng có cái gọi là “Thượng Đế” sáng tạo mọi thứ, có quyền năng thưởng phạt. Nói cách khác, mọi sự vật, họa phúc, xấu tốt, vui khổ trên thế gian đều do quyền năng của một đấng tạo hóa tối cao, một vị chúa tể duy nhất sáng tạo có quyền thưởng phạt—Externalists believe that there exists a so-called “God” who creates all creatures and has the almighty power to punish and reward them. In other words, everything in this world whether good or bad, lucky or unlucky, happy or sad, all come from the power of a supreme Creator, the only Ruler to have the power of reward and punishment.
Thượng địa
上地; C: shàngdì; J: jōchi, jōji; S: upari-bhūmi.|Cảnh giới cao trong công phu tu tập, cảnh giới cao của tâm thức Hạ địa (下地; theo Du-già luận 瑜伽論)
Thượng 尚
[ja] ショウ shō ||| (1) Beg, request, entreat, beseech. (2) Still, after all, as expected. Further, furthermore, yet, even. (3) Accumulate, stack up, pile up, increase. (4) To value, prize, esteem, honor, respect, regard. (5) High; to raise up. (6) Besides, in addition to. => 1. Cầu xin, thỉnh cầu, nài xin, cầu khẩn. 2. Vẫn còn, xét cho cùng, như mông chờ. Lại nữa, Hơn nữa, ngay cả. 3. Tích luỹ, so sánh, đo lường; chất đống, gia tăng. 4. Đánh giá, định giá, quý trọng. 5. Cao cấp; nâng cao. 6. Ngoài ra, thêm vào.
thượt
Thườn thượt—Very long.
thạc học
Man of great learning.
thạc pháp sư
(碩法師) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư tinh thông Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận. Sư từng soạn Trung luận sớ 12 quyển. Trong Trung luận sớ kí của mình, ngài An trừng (763-814) người Nhật bản, 1 học giả Tam luận, sống vào thời Bình an, đã trích dẫn kiến giải của sư ở nhiều chỗ. Cứ theo các sách vở của Nhật bản thì sư là đệ tử ngài Cát tạng, nhưng không thấy được nói đến trong các bộ Cao tăng truyện. Ở đây, căn cứ vào các tư liệu trên, đồng thời khảo chứng chung về tư tưởng, học thuyết của sư thì có lẽ sư là Tuệ trách Pháp sư (580-636) trụ trì chùa Thanh thiền đời Đường. Cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 3 thì ngài Tuệ trách là người ở Giang lăng thuộc Kinh châu, họ Lí. Từ nhỏ sư đã thông minh khác thường, lúc 12 tuổi đã làm chủ tọa các hội giảng pháp. Trong năm Khai hoàng (581-600) sư trụ ở chùa Giang lăng, sang đời Đường thì dời đến trụ chùa Thanh thiền. Năm Trinh quán thứ 10 sư thị tịch, hưởng thọ 57 tuổi. Sư có các tác phẩm: Trung luận sớ 12 quyển, Tam luận du ý nghĩa, Bát nhã đăng luận.
thạc sĩ
Doctor—One who has passed the Doctorate Degree.
thạc đức
High virtue.
thạch
Stone—Rock. 1) Họa Thạch: A painting of a rock (though the water of the water-colour rapidly disappears, the painting remains). 2) Nan Thạch Thạch Liệt: Ngay cả đá mà chạm mạnh hay bị vặn vẫn phải bể—Even a rock meeting hard treatment will split.
thạch bát
Bốn bát bằng đá rất nặng mà tứ thiên vương dâng lên cho Đức Phật nhân ngày Phật thành đạo. Phật lấy xong bèn chồng bốn cái lên nhau, rồi ấn xuống thành một cái (có thể vì vậy mà từ đó về sau chỉ có Đức Phật mới có thể dùng bát đá chứ các đệ tử không được phép dùng)—The four heavy stone begging-bowls handed by the four devas to the Buddha on his enlightenment, which he miraculously received one piled on the other.
; (石鉢) Bát bằng đá. Tức chỉ cho bát của Phật. Lúc đức Phật mới thành đạo, có 4 vị Thiên vương đến, mỗi vị dâng cúng Phật 1 chiếc bát bằng đá màu xanh, sau khi tiếp nhận, Phật dùng thần lực hợp thành một bát, đó là chiếc bát đá có 4 vành rõ ràng. Đệ tử Phật thì phần nhiều dùng bát sắt, bát sành, chứ không được sử dụng bát đá. Đến khi đức Phật sắp nhập diệt, Ngài phó chúc bát này cho tôn giả A nan. [X. kinh Phổ diệu Q.7; kinh Phóng bát; luật Ngũ phần Q.15; luận Đại trí độ Q.26, 35; điều Sư tử quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện; Pháp uyển châu lâm Q.98]. (xt. Phật Bát, Bát).
thạch bích kinh
Kinh khắc trên vách đá vào khoảng năm 829 sau Tây Lịch, đời nhà Đường, tại Trùng Huyền Tự, ở Tô Châu do Bạch Cư Dị làm bia. Kinh Thạch Bích gồm Kinh Pháp Hoa 69.550 chữ, Kinh Duy Ma 27.092 chữ, Kinh Kim Cang 5.287 chữ, Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni 3.020 chữ, Kinh A Di Đà 1.800 chữ, Kinh Phổ Hiền Hạnh Pháp 6.990 chữ, Kinh Thực Tướng Pháp Mật 3.150 chữ, và Kinh Bát Nhã Tâm Kinh 258 chữ—Sutras cut in stone in 829 A.D. during the T'ang dynasty in the Ch'ung Hsuan temple, Soo-Chow, where Po-Chu-I put up a tablet. They consist of 69,550 words of the Lotus Sutra, 27,092 of the Vimalakirti Sutra, 5,287 of the Diamond Sutra, 3,020 of the Unisha-Vijaja-Dharani-Sutra, 1,800 of Amitabha Sutra, 6,990 of the Samantabhadra's practices, 3,150 of the Esoteric Reality Dharma (???), and 258 of the Prajna Heart Sutra.
; (石壁經) Kinh được khắc trên vách đá. Cứ theo Long hưng Phật giáo biên niên thông luận quyển 24, vào năm Trường khánh thứ 4 (824) đời Đường, khi làm quan Thứ sử Hàng châu, Bạch cư dị từng khắc kinh Pháp hoa lên vách đá chùa Vĩnh phúc ở địa phương, dài khoảng 19m, từ trên xuống dưới khoảng 2m. Từ năm Trường khánh thứ 2 (822) đến năm Thái hòa thứ 3 (829), các ngài Thanh hoảng, Thanh hải... khắc xong Thạch bích kinh ở viện Pháp hoa chùa Trùng huyền tại Tô châu, do vị tăng trong chùa là Khế nguyên viết chữ, Bạch cư dị làm bia tán thán. Tính ra khắc được các kinh như kinh Pháp hoa, kinh Duy ma cật, kinh Kim cương bát nhã, kinh Phật đính tôn thắng đà la ni, kinh A di đà, kinh Quán phổ hiền bồ tát hành pháp, kinh Thực tướng pháp mật và Bát nhã tâm kinh, tổng cộng trên 10 vạn lời. Ngoài ra, theo A di đà kinh nghĩa sớ văn trì kí quyển hạ, Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 1..., chùa Long hưng ở huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc có bia khắc kinh A di đà do Trần nhân lăng đời Tùy viết chữ, đến đời Tống, ngài Linh chi Nguyên chiếu cũng bắt chước khắc bia kinh A di đà và dựng ở phía sau Đại điện chùa Sùng phúc ở Tây hồ. Lại nữa, trong khuôn viên Tông tượng thần xã ở huyện Phúc cương tại Nhật bản cũng có bia kinh A di đà được khắc phỏng theo bia kinh ở chùa Long hưng tại Tương dương, Trung quốc. [X. Phật tổ thông tải Q.2; Kê cổ sử lược Q.3].
thạch bích vô ngại
(石壁無礙) Vách đá không ngăn ngại. Nghĩa là sức thần thông của Phật, Bồ tát có năng lực đi xuyên qua vách đá một cách tự tại không chướng ngại. Kinh Lăng gìà quyển 2 (Đại 16, 489 hạ) nói: Thân ý sinh ví như ý thức đi lại, nhanh chóng không ngại, vì thế gọi là Ý sinh. Giống như ý thức đi lại, vách đá cũng không ngăn ngại.
thạch chung sơn thạch quật
(石鍾山石窟) Cũng gọi Kiếm xuyên thạch quật. Tên hang đá ở núi Thạch chung, nằm về phía tây nam huyện Kiếm xuyên, tỉnh Vân nam, Trung quốc. Dọc theo sườn núi, một số khám thờ và tượng Phật được xoi đục, chia làm 3 khu: Chùa Thạch chung (8 hang động), Sư tử quan (3 chỗ) và thôn Sa đăng(4 chỗ). Tương truyền ở đây có tượng của các vua nước Nam chiếu là Các la phượng (ở ngôi 748-779) và Dị mâu tầm (ở ngôi 779-808) được khắc trên vách đá. Hiện còn các đề kí của vua nước Nam chiếu là Phong hựu được khắc vào năm Thiên khải thứ 11, của vua nước Đại lí là Đoàn trí hưng được khắc vào năm Thịnh đức thứ 4 (1179) và của các đời Nguyên, Minh ở Trung quốc. Các tượng được khắc trong quần thể hang động này chủ yếu là tượng Phật, Bồ tát, Vương giả, Hậu phi, Văn lại, thị tòng... Đây là 1 trong những di sản nghệ thuật của người dân Bạch tộc ở vùng Đại lí đời xưa của Trung quốc, cũng là tư liệu trọng yếu để nghiên cứu về tôn giáo, văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Vân nam. (xt. Thạch Quật).
thạch cung
Shih kung (C).
Thạch Củng Huệ Tạng
石鞏慧藏; C: shígòng huìcáng; J: shakkyō ezō; tk. 8/9; |Thiền sư Trung Quốc, truyền nhân của Mã Tổ.|Trước khi xuất gia, Sư làm nghề thợ săn. Một hôm nhân đuổi bầy nai qua am Mã Tổ, gặp Tổ đứng trước, Sư hỏi: »Hoà thượng có thấy bầy nai chạy qua đây không.« Tổ không đáp hỏi: »Ông là người gì?« Sư đáp: »Thợ săn.« Tổ hỏi: »Ông bắn giỏi không?« Sư đáp: »Bắn giỏi.« Tổ hỏi bắn một lần được mấy con, Sư giật mình nói mỗi mũi chỉ bắn được một con. Nghe Mã Tổ nói mỗi mũi bắn được một bầy, Sư nói: »Sinh mệnh của chúng, đâu nên bắn một bầy?« Tổ hỏi: »Ông đã biết như thế sao không tự bắn?« Sư thưa: »Nếu dạy tôi bắn tức không chỗ hạ thủ.« Mã Tổ nói: »Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay đã đoạn.« Ngay lúc đó, Sư ném cung bẻ tên, tự cạo đầu quy y (xem thêm câu chuyện của Sa-va-ri-pa).|Sư cùng Thiền sư Tây Ðường Trí Tạng đi dạo, Sư hỏi: »Sư đệ biết bắt hư không chăng?« Tạng đáp: »Biết.« Tạng liền lấy tay chụp hư không. Sư thấy thế bảo: »Làm như thế sao bắt được hư không!« Tạng hỏi: »Sư huynh làm sao bắt được?« Sư liền nhéo mũi Trí Tạng một cái mạnh. Tạng đau quá la: »Giết chết lỗ mũi người ta! Buông ngay!« Sư bảo: »Phải như thế mới bắt được hư không.« Trí Tạng về phòng và đến khuya rõ chuyện.|Không biết Sư tịch ở đâu, lúc nào.
thạch củng huệ tạng
Sakkyō ezō (J) Tên một vị sư.
thạch cựu thiền sư
Zen master Shih-Chiu—Thiền sư Thạch Cựu, một trong những đệ tử nổi bậc của Mã Tổ vào thời nhà Đường—Zen master Shih-Chiu was one of the most outstanding disciples of Ma-Tsu during the T'ang dynasty. • Một hôm có một vị Tăng đến hỏi Thạch Cựu: “Trong tay Bồ Tát Địa Tạng có hạt minh châu, là ý nghĩa gì?” Thạch Cựu hỏi lại: “Trong tay ông có hạt minh châu không?” Vị Tăng đáp: “Con không biết.” Thạch Cựu bèn nói kệ—One day a monk asked him: “There is a jewel in the palm of Ksitigarbha Bodhisattva. What does it mean?” He asked the monk: “Do you have a jewel in your hand?” The monk replied: “I don't know.” He then composed the following verse: “Bất thức tự gia bảo Tùy tha nhận ngoại trần Nhật trung đào ảnh chất Cảnh lý thất đầu nhân.” (Báu nhà mình chẳng biết Theo người nhận ngoại trần Giữa trưa chạy trốn bóng Kẻ nhìn gương mất đầu). “Don't you know you have a treasure at home? Why are you running after the externals? It is just like running away from your own shadow at noon time. Or the man is frightened when not seeing his head in the mirror, after putting the mirror down.”
thạch hoả
(石火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho tia lửa bắn ra khi cọ vào hòn đá, ví dụ sự sinh diệt nhanh chóng. Vạn thiện đồng qui tập quyển hạ (Đại 48, 986 trung) nói: Vô thường nhanh chóng, niệm niệm đổi dời, tia lửa đá (thạch hỏa), đèn trướcgió, nước chảy, bóng xế, giọt sương, ánh chớp, không đủ để ví dụ.[X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.13, 31; Bích nham lục tắc 7, 95].
thạch hỏa
Ánh lửa do đá tóe ra, ví với sự khởi diệt nhanh chóng của vô thường—Tinder or lighted tinder, i.e. of but momentary existence.
thạch khanh
Shih fan (C).
thạch khê
(石溪) Danh tăng Trung quốc sống vào cuối đời Minh, người ở Vũ lăng tỉnh Hồ nam, họ Lưu. Sư nổi tiếng về thư họa, là 1 trong 4 vị tăng trứ danh ở cuối đời Minh (Minh mạt tứ tăng) trong lịch sử hội họa Trung quốc. Thủa nhỏ, sư thích thư họa, Phật học. Lúc quân Thanh tiến vào cửa ải, sư đã hơn 30 tuổi, bỏ việc thi cử, tham gia phong trào chống Thanh. Năm 40 tuổi, sư xuất gia làm tăng, lấy Pháp danh là Khôn tàn, tự Thạch khê, Giới khưu, hiệu là Bạch thốc, tự xưng là Tàn đạo nhân. Điện trụ đạo nhân. Thạch đạo nhân... Sư trụ ở núi Ngưu thủ, thụ y bát nơi Lãng trượng nhân ở Kim lăng. Về sau, sư tham cứu Thiền học và riêng thờ ngài Vân thê làm thầy. Sư từng đến Nam kinh, rất siêng sáng tác, từng nhiều lần nhập thất tham thiền, rất được giới tăng sĩ đương thời kính trọng. Sư có nhiều họa phẩm lớn, nét vẽ sơn thủy của sư chủ yếu bắt nguồn từ Hoàng công vọng và Vương mông, tạo cảnh kì đặc, khí vận bao la, nhất là về nhân vật, hoa cỏ. Năm 40 tuổi, sư trở thành 1 họa sĩ tài ba, khai sáng ra phái Kim lăng. Về già, sư nhiều bệnh, thị tịch tại Tổ đường chùa U thê núi Ngưu thủ, không rõ tuổi thọ. Có thuyết cho rằng sư tịch vào năm Khang hi 31 (1692) về sau, hưởng thọ hơn 80 tuổi.
Thạch Khê Tâm Nguyệt
(石溪心月, Shitsukei Shingetsu, ?-1254): vị tăng của Phái Dương Kì và Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Thạch Khê (石溪), xuất thân Mi Sơn (眉山, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Vương (王). Ông xuất gia và kế thừa dòng pháp của Yểm Thất Thiện Khai (掩室善開). Sau đó, ông khai đường thuyết pháp tại Báo Ân Thiền Tự (報恩禪寺), Phủ Kiến Khang (建康府, Tỉnh Giang Tô). Ông đã sống qua một số nơi như Năng Nhân Thiền Tự (能仁禪寺) ở Phủ Kiến Khang, Thái Bình Hưng Quốc Thiền Tự (太平興國禪寺) ở Tương Sơn (蔣山), Vân Nham Thiền Tự (雲巖禪寺) ở Hổ Kheo Sơn (虎丘山) thuộc Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô), Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), Vạn Thọ Tự (萬壽寺) ở Kính Sơn (徑山). Trong khoảng thời gian này, ông viết lời trước ngữ cho Bát Phương Châu Ngọc Tập (八方珠玉集). Ông được gọi là Phật Mẫu Thiền Sư (佛母禪師). Vị thị giả của ông là Trú Hiển (住顯) biên tập bộ Thạch Khê Hòa Thượng Ngữ Lục (石溪和尚語錄) 3 quyển. Ông thị tịch vào năm thứ 2 (1254) niên hiệu Bảo Hựu (寶祐).
thạch khí thời đại tông giáo
(石器時代宗教) Tông giáo ở thời đại Đồ đá, là chủ thể của tông giáo thời Tiền sử. Những di tích tông giáo của thời đại Bảndập kinh A di đà khắc trên đá.Một phần trong bức tranh chùa Báo ân do Thạch khuê vẽ T 5171 Đồ đá được phát hiện ước tính đã có từ 32.000 năm đến 17.000 năm trước kỉ nguyên Tây lịch ở chỗ sâu trong động đá, nơi có các di chỉ(nền cũ) của các xã hội nguyên thủy như miền tây nam nước Pháp, miền tây bắc Tây ban nha, đảo Sicile và đoạn phía nam dãy núi Ural... Trong đó có vẽ và khắc hình các động vật và người đi săn; hình người phần nhiều là phụ nữ, vóc dáng đơn giản đường nét nổi bật. Tượng thạch khắc thuộc thời đại Đồ đá tìm thấy trong động Frois Frènes ở vùng Ariege nước Pháp, có phụ thêm mặt nạ hình thú trong tư thế đang múa, có người cho đó là hình tượng thầy mo đang làm phép và gọi là Điệu múa thần đuổi tà; cũng có người cho rằng đó là vị thần chúa tể của các loài thú và gọi là Thú chủ; cũng có người cho đó là vị thần chủ trì việc thụ thai. Những điều trên đây đều cho thấy quan niệm về tông giáo ở thời kì đầu có liên quan trực tiếp với nền kinh tế săn bắn lúc bấy giờ, phản ảnh việc kiếm sống và sinh hoạt của con người hoàn toàn kì vọng vào pháp thuật và tông giáo. Trong các di chỉ thuộc thời đại Đồ đá mới (7.000 năm trước Tây lịch) ở Catal Hüyük tại vùng Anatolia của Tiểu á, người ta đã phát hiện 40 thần đàn, điều đó cho thấy thời kì này đã xuất hiện nghi thức sùng bái xếp thành hàng lối có thứ tự, tầng lớp, chủ thần đều là thần nữ, giữa các thần đàn được trang sức bằng vòng tròn có hình bò mộng và vú người nữ vây chung quanh, trong vòng tròn có đặt xương đầu của chim ưng, của con chồn và xương hàm dưới của lợn rừng. Theo sự giám định của các nhà chuyên môn thì đó là đại biểu tượng trưng cho mối liên quan giữa sự sinh sản và tử vong, biểu hiện đầy đủ quan niệm về tông giáo ở thời kì này đã phản ảnh hình thái ý thức của nền kinh tế chăn nuôi; động vật không còn là đối tượng để săn bắn mà thậm chí trở thành đối tượng của sự sùng bái. Ngoài nhu cầu kiếm ăn và sinh sản, con người đã bắt đầu coi trọng vấn đề tử vong; quan niệm Thần nhân đồng hình (Anthropomorphisme) dần dần đã hình thành, những nghi thức tông giáo tương đối đã phức tạp hơn, không còn lấy hiện tượng pháp thuật của tông giáo làm chính. Những người ở hang động trên đỉnh núi thuộc thời đại Đồ đá cũ và các ngôi mộ ở thôn Bán pha, huyện Tây an thuộc thời đại Đồ đá mới tại Trung quốc, cũng cho thấy đương thời đã có quan niệm rõ ràng về linh hồn và nghi thức chôn cất có tính cách tông giáo với 1 hình thức nhất định, chẳng hạn như đầu của các thi hài đều xoay về 1 hướng cố định. Trường hợp trước(tức người ở hang động trên đỉnh núi) thì trên các thi hài có rải bột sắt màu đỏ, còn trường hợp sau(tức những ngôi mộ ở thôn Bán pha) thì trong mộ còn có những phẩm vật được chôn theo ở thời kì đầu rất phong phú.
thạch không tự thạch quật
(石空寺石窟) Những hang đá nằm trên núi Song long phía tây bắc huyện Trung ninh, tỉnh Ninh hạ, Trung quốc, là một quần thể hang động gồm 4 thạch quật: Thạch không tự quật(cũng gọi Vạn Phật tự), Thụy Phật động, Bách tử Quan âm động và Linh quang động. Về thời gian bắt đầu đục mở các hang động thì có 3 thuyết là vào đời Đường, đời Tây hạ và đời Nguyên, nhưng nhận xét theo phong cách đắp tượng và hình thức hang động thì có khả năng nhất là chúng đã bắt đầu khai tạc vào đời Đường. Những hang động được đục mở trong ngọn núi nham thạch, cửa động xoay hướng Nam, cao khoảng 25 mét, sâu khoảng 7,24 mét, rộng 12 mét. Người đời gọi là Cửu gian vô lương điện(Ngôi điện chín gian không córường). Trên vách chính đục 3 chiếc khám thờ Phật, khám chính giữa thờ 5 tượng Phật, Bản tôn là tượng Phật Thích ca ngồi đắp bằng đất. Khám Phật ở 2 bên cũng thờ 5 tượng Phật, nhưng có lẽ đã do người đời sau đắp thêm. Trên nền đài ở phía trước 2 vách đông và tây mỗi bên đều có 3 hàng tượng Phật bằng đất, mỗi hàng có 8, 9 pho, cũng ngờ là do người đời sau đắp thêm. Vách chính có vẽ 2 lớp bích họa trong và ngoài, bích họa lớp ngoài vẽ các sự tích Phật giáo, nét bút rất tế nhị. Trên vòm nóc hang đá có vẽ đồ án sen Tây vực. Hiện nay, phần lớn quần thể hang động này đã bị sa mạc lấp vùi.
thạch khắc a di đà kinh
(石刻阿彌陀經) Kinh A di đà được khắc trên đá. Tức chỉ cho tấm bia trên đó có khắc kinh A di đà. Nổi tiếng nhất là tấm bia khắc kinh A di đà dựng ở chùa Long hưng, huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc, Trung quốc, người đời gọi là Tương dươngthạch kinh. Cứ theo điều A di đà kinh thoát văn trong Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 1 (Vạn tục 107, 371 hạ) thì Thạch khắc A di đà kinh ở Tương dương, do Trần nhân lăng ở đời Tùy viết chữ, nét chữ thanh thoát, mềm mại ai cũng ngắm nhìn. Từ nhất tâm bất loạn trở xuống có câu Chuyên trì danh hiệu, dĩ xưng danh cố, chư tội tiêu diệt, tức thị đa thiện căn phúc đức nhân duyên. Bản lưu truyền đời nay bỏ mất 21 chữ này. A di đà kinh nghĩa sớ văn trì kí quyển hạ (Vạn tục 33, 135 hạ) cũng nói: Triều tán lang Trần nhân lăng viết bia ở chùa Long hưng tại Tương châu, đem kinh Thạch khắc A di đà về Tiền đường. Người soạn sớ (Nguyên chiếu) được bản kinh ấy vui mừng khôn xiết, liền khắc vào đá dựng ở phía sau Linh chi đại điện, về sau bị thiêu hủy trong binh lửa, đáng buồn thay! Suy lại đời Lương Trần cách đời Tấn chưa xa, có thể nghiệm biết được sự thật. Căn cứ vào đây thì biết đời Tùy có Trần nhân lăng khắc kinh A di đà trên mặt bia, dựng ở chùa Long hưng tại Tương dương tỉnh Hồ bắc; ngài Nguyên chiếu đời Tống phỏng theo đó mà khắc lại, dựng ở phía sau điện Phật của chùa Sùng phúc tại Linh chi. Hiện nay, trong khuôn viên của Tôn tượng thần xã ở nước Trúc tiền, Nhật bản, cũng còn có bia kinh giống như vậy. [X. A di đà kinh nghĩa sớ quyển hạ].
thạch kinh
(石經) Cũng gọi Thạch khắc kinh, Thạch khắc, Thạch tạng. Chỉ cho kinh văn được khắc trên mặt đá. Kinh Đại bảo tích quyển 78 và kinh Chính pháp niệm xứ quyển 48 đều có ghi chép việc khắc kinh kệ trên vách đá. Tại Trung quốc, thạch kinh có quan hệ với Nho gia rất sớm, nổi tiếng hơn cả là thạch kinh Hi bình đời Hán và thạch kinh Khai thành được khắc vào năm Khai thành thứ 2 (837) đời vua Văn tông nhà Đường tại Trường an. Còn về kinh Phật thì 1 mặt chịu ảnh hưởng phong khí mở đục hang đá đời Bắc Ngụy, mặt khác, vì muốn cho Chính pháp trụ ở đời lâu dài nên đã phỏng theo Nho gia mà thực hiện việc khắc thạch kinh. Trong các thạch kinh của Phật giáo hiện còn, về niên đại thì thạch kinh đời Bắc Tề là xưa nhất, còn về qui mô thì thạch kinh Phòng sơn, Hà bắc (Thạch kinh sơn tạng kinh) là lớn nhất, hiện còn hơn 4000 bản thạch kinh, khắc tổng cộng vài nghìn quyển kinh Phật. Thạch kinh có các hình thức khác nhau, như khắc trên mặtvách đá, khắc trên sườn núi, khắc trên những tấm bia, hoặc trên các cột đá... Thạch kinh trên mặt vách, gọi là Bích diện khắc, như trên mặt vách của hang đá ở núi Bắc hưởng đường(cũng gọi Cổ sơn), tỉnh Hà nam, có khắc kinh Duy ma cật, kinh Thắng man, Một phần thạch kinh bằng 6 thứ tiếng ở cửa ải Cư Dungkinh Bột, kinh Di lặc thành Phật..., vách phía ngoài có khắc văn phát nguyện của Khai quốc công tên là Đường ung, là những thạch kinh được khắc từ năm Thiên thống thứ 4 (568) đến năm Vũ bình thứ 3 (572) đời Bắc Tề. Lại trên vách tháp Quá nhai ở cửa ải Cư dung, tỉnh Hà bắc, có các thạch kinh như kinh Phật đính tôn thắng đà la ni, kinh Phật đính phóng vô cấu quang minh nhập Phổ môn quan sát nhất thiết Như lai tâm đà la ni... được khắc vào năm Chí chính thứ 5 (1345) đời Nguyên. Những thạch kinh này được khắc theo 2 thể chữ lớn và nhỏ bằng 6 thứ tiếng: Phạm, Hán, Mông cổ, Hồi hột, Tây tạng và Tây hạ, có thể đối chiếu để xem, đây là tư liệu về ngữ văn vô cùng quí giá và rất được coi trọng. Ngoài ra, phẩm Pháp diệt tận trong phần Nguyệt tạng kinh Đại tập, kinh Thắng man, kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn được khắc trong động Đại trụ, núi Bảo sơn ở tỉnh Hà nam vào năm Khai hoàng thứ 9 (589) đời Tùy; Thập thiện nghiệp đạo kinh yếu lược, khắc trong tháp Phồn ở phủ Khai phong, tỉnh Hà nam vào năm Thái bình hưng quốc thứ 2 (977) đời Tống; phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa được khắc ởchùa Vân nham tại Tô châu, tỉnh Giang tô vào khoảng năm Hi ninh (1068-1077) đời Tống; kinh Tứ thập nhị chương được khắc trong tháp Lục hòa ở Hàng châu, tỉnh Chiết giang vào năm Thiệu hưng thứ 5 (1135) đời Nam Tống, kinh Niết bàn được khắc trong động Hương sơn tại Long môn, tỉnh Hà nam vào đời Đường..., tất cả những thạch kinh này cũng đều thuộc về Bích diện khắc. Thạch kinh được khắc trên sườn núi gọi là Ma nhai khắc, như kinh Đại tự Kim cương bát nhã khắc tại Thạch kinh dục ở chân núi Thái sơn, tỉnh Sơn đông... đều thuộc Ma nhai khắc, niên đại và người khắc đều không rõ, có thuyết cho là do ông Đường ung, có thuyết nói do ông Vi tử thâm khắc, gồm hơn 900 chữ theo thể đại tự, nét chữ mạnh mẽ, nổi tiếng nhất trong loại thạch kinh. Một bộ của kinh Đại bát nhã khắc ở động Ánh Phật thuộc núi Tồ Thạch kinh ở núi Thái sơn Kinh Kim cương khắc ở núi Thái sơn lai, tỉnh Sơn đông vào niên hiệu Vũ bình năm đầu (570) đời Bắc Tề và phẩm Thành tựu, kinh Hoa nghiêm khắc ở núi Ốc lai, Liêu châu, tỉnh Sơn tây đều thuộc về Ma nhai khắc. Thạch kinh được khắc trên tấm bia, gọi là Bi bản khắc, Thạch bản khắc, thường được khắc trên 2 mặt tấm đá và cất giữ trong thạch thất. Như ở núi Phòng sơn tại tỉnh Hà bắc có tàng trữ 85 bộ thạch kinh là kinh Chính pháp niệm xứ, kinh Đại bát nhã, kinh Đại niết bàn, kinh Đại bảo tích, luận Thành duy thức, luận A tì đạt ma tạp tập... được khắc trong thời gian 480 năm, từ khoảng năm Đại nghiệp (605- 616) đời Tùy đến năm Đại an thứ 10 (1094) đời Liêu, đều rất nổi tiếng. Hiệp hội Phật giáo Trung quốc ở đại lục, từng tiến hành cuộc điều tra, đào bới, in thác bản(bản dập lại) các thạch kinh ở Phòng sơn trong 3 năm, vào năm Dân quốc 47 (1958) thì hoàn thành công việc, tính ra in thác bản hoàn chỉnh được 15.000 trang thạch kinh, in không hoàn chỉnh 780 trang thạch kinh; bia kinh, cột kinh, đề danh, đề kí... hơn 70 trang. Loại bản đá của thạch kinh chủ yếu phân bố ở vùng Hoa bắc như núi Bảo sơn, núi Thái sơn, núi Hưởng đường... Kinh Hoa nghiêm (60 quyển) được khắc ở núi Phong dục, tỉnh Sơn tây vào khoảng năm Thiên bảo (550- 559) đời Bắc Tề, khắc trên hơn 120 mặt tấm bia, mỗi tấm bia cao khoảng 1,3 mét, rộng 0,6 mét, được chôn dưới lòng đất của dãy hồi lang. Ở Triều tiên, Nhật bản cũng có thạch khắc nhưng không thịnh hành bằng Trung quốc. Triều tiên từ xưa đã lưu hành thạch kinh, nay còn kinh Hoa nghiêm ở chùa Hoa nghiêm, núi Trí dị, quận Cầu lễ, tỉnh Toàn la nam, được khắc vào thời Tân la Văn vũ vương (661-680), nhưng nay chỉ còn sót lại 11 mảnh mà thôi. Ngoài ra, chùa Thạch quật ở Khánh châu, tỉnh Khánh thượng bắc còn cất giữ di phẩm thạch kinh, nhưng không rõ tên kinh. Ở Nhật bản, thạch kinh xưa nhất là bia khắc kinh Niết bàn ở sườn núi Trí xuyên do ông Đại hòa vũ khắc vào năm Bảo qui thứ 9 (778), trên có bài kệ Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc và hơn 80 chữ văn kinh. Thạch kinh A di đà khắc ở Tông tượng thần xã tại huyện Phúc cương là khắc phỏng theo bia kinh A di đà ở chùa Long hưng, huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc, Trung quốc, vì so với kinh A di đà phổ thông thì nhiều hơn 21 chữ nên nổi tiếng ở đời. Theo truyền thuyết, thạch khắc này được truyền đến Nhật bản vào năm Kiến cửu (1190-1198) từ triều Tống của Trung quốc, hiện là quốc bảo của Nhật bản. Lại nữa, tại nghĩa trang Thượng vĩ, thôn Thượng tỉnh điền, quận Phong hậu đại dã có chôn giấu 3 bộ kinh Tịnh độ, được khắc vào năm Lịch ứng thứ 2 (1339). Còn chùa Đại kính ở Đại phản (Osaka) cũng có cất giữ một phần của kinh Quán vô lượng thọ tam bối vãng sinh, được khắc vào niên hiệu Khánh an năm đầu (1648). [X. Hán ngụy thạch kinh khảo; Thạch khắc Phật kinh kí; Đường Tống thạch kinh khảo; Bắc Tống thạch kinh khảo dị; Phật tổ thống kỉ Q.42; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 11; Hải đông kim thạch uyển 2; China Phật giáo sử tích bình giải Q.1, 3]. (xt. Thạnh Kinh Sơn Tạng Kinh, Thạch Bích Kinh).
thạch kinh sơn
Kinh được khắc trong núi đá Bạch Đái Sơn, vào đời nhà Tùy ở Trụy Châu bên Tàu—The hill with the stone sutras, which are said to have been carved in the Sui dynasty in Pai-Tai-Shan, west of Cho-Chou, China.
Thạch kinh sơn tạng kinh
(石經山藏經) Tạng kinh ở núi Thạch kinh. Đây là thạch kinh có qui mô lớn nhất trong các di vật hiện còn tại Trung quốc, thuộc loại Bi bản khắc(khắc trên mặt bia). Thạch kinh sơn, tên cũ là Bạch đới sơn, Vân cư sơn, tọa lạc ở huyện Phòng sơn, tỉnh Hà bắc. Vì ngài Tĩnh uyển (Minh báo kí ghi là Trí uyển) đời Tùy là người đầu tiên khởi xướng sự nghiệp khắc Thạch kinh tạng ở trong động núi này, cho nên mới đổi tên là Thạch kinh sơn. Lại vì dãy núi quanh co liền nhau, những ngọn núi thì cao đẹp, nên cũng được gọi là Tiểu tây thiên. Ở ngọn núi phía đông có chùa tên là chùa Vân cư, thông thường gọi là chùa Thạch kinh. Khoảng năm Đại nghiệp (605-616), sa môn Tĩnh uyển chùa Trí tuyền tại U châu, sợ tam tai kiếp Hoại ập đến làm cho Đại pháp tiêu mất như nạn diệt Phật đời Bắc Chu, Bắc Tề, nên ngài phát nguyện tạo Thạch khắc Đại tạng kinh, cất giữ ở trong núi để truyền lại cho đời sau. Bấy giờ, ngài từng được Hoàng hậu của vua Tùy Dạng đế giúp đỡ. Sang đời Đường, vào năm Trinh quán 13 (639), chí nguyện chưa hoàn thành mà ngài đã viên tịch, các đệ tử nối tiếp sự nghiệp của ngài, trải qua 4 đời: Huyền đạo, Nghi công, Huệ xiêm (có chỗ ghi là Huệ ngộ) và Huyền pháp khắc xong 4 bộ kinh lớn: Kinh Chính pháp niệm xứ 70 quyển, kinh Đại bát Niết bàn 40 quyển, kinh Đại hoa nghiêm 80 quyển và kinh Đại bát nhã 520 quyển, gọi là Tứ đại bộ kinh. Sự kiện lớn lao này được ghi trong Tứ đại bộ kinh thành tựu bi kí do cư sĩ Triệu tuân nhân soạn vào năm Thanh ninh thứ 4 (1058) đời Liêu và trong Tục bí tạng thạch kinh tháp kí, do cư sĩ Phương chí soạn vào năm Thiên khánh thứ 7 (1117), trong đó cóghi rõ ràng lời phát nguyện, ngày khởi công, quá trình thực hiện và họ tên của những người tham gia công cuộc khắc kinh. Về sau, lại có các vị Khả nguyên, Hưng tông, Triệu tuân nhân, Đạo tông, Thông lí... nối tiếp nhau san khắc, mãi đến năm Đại an thứ 10 (1094) đời Liêu, trải qua thời gian 480 năm mới hoàn thành, tính ra khắc được 80 quyển kinh Đại bát nhã còn lại (trước đó, các ngài Huyền đạo... mới khắc được 520 quyển), kinh Đại bảo tích 120 quyển, kinh Hoa thủ, kinh Phật danh, kinh Tâm địa quán, luận Đại trí độ, luận Thành duy thức, luận A tì đạt ma tạp tập... tất cả gồm 85 bộ kinh luận kể từ ngài Tĩnh uyển, là sự nghiệp khắc kinh chưa từng có trong lịch sử, người đời gọi là Phòng sơn thạch kinh. Sự nghiệp khắc kinh này đến năm Khang hi 30 (1691) đời Thanh mới đình chỉ. Trong đó, những kinh được khắc vào đời thịnh Đường, Liêu, Kim... có số lượng nhiều nhất. Trải qua thời gian gần 1000 năm, khắc hơn 1000 bộ kinh, hơn 3400 quyển, bản khắc đá lớn nhỏ tất cả gồm hơn 1 vạn 5 nghìn tấm. Đây là thạch khắc tạng kinh qui mô nhất hiện còn tại Trung quốc. Số kinh thạch khắc này được chia ra cất giữ ở trong 9 động đá tại núi Thạch kinh (Phòng sơn) và trong địa huyệt (được chôn dưới đất) phía tây nam chùa Vân cư. Ngoài 1 số ít bị gió mưa làm tổn hại, phần lớn vẫn còn đầy đủ, là những vật thực rất tốt để y cứ trong việc nghiên cứu xã hội, kinh tế, lịch sử Phật giáo, diễn biến thư pháp, nghệ thuật thạch khắc ở vùng đất này vào thời cổ đại, đồng thời cũng là chỗ dựa quí báu để khảo đính tạng kinh bản gỗ. Ngoài ra, ở chùa Vân cư và trên núi Thạch kinh còn giữ được 8 ngôi tháp đá hình vuông được kiến tạo vào đời Đường và 1 tòa tháp gạch 8 góc kiểu mái kín đời Liêu, cho thấy sự thành tựu của nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc trong thời kì này. Nhân hải kí quyển thượng nói: Thạch kinh được cất giữ trong 7 nham động và 3 địa huyệt. Ở động thì chốt bằng cửa đá, ở huyệt thì trấn bằng phù đồ(tháp), xưa nay binh lửa không xâm nhập được. Tử bá lão nhân tập quyển 15 nói: Dưới đèn đọc bia kinh khắc trên vách đá ở chùa Trùng huyền của quan Thứ sử Tô châu là Bạch cư dị đời Đường, bỗng nhớ về tôn giả Tĩnh uyển đời Tùy, khắc kinh trên đá thành Đại tạng, trộm so sánh hơn kém, khôn xiết buồn thương. [X. Hàm sơn lão nhân mộng du tập Q.22; điều Trí uyển trong Minh báo kí Q.thượng].
Thạch Liêm
石溓; 1633-1704|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông →Tào Ðộng đời thứ 29. Sư là người đầu tiên truyền tông Tào Ðộng sang miền Trung Việt Nam.|Sư quê ở Giang Tây, học vấn uyên bác, rành thiên văn địa lí, thư, thi pháp và cả hội hoạ. Sư sớm xuất gia tu hành và là môn đệ của Thiền sư Giác Lãng thuộc tông Tào Ðộng.|Ðược lời mời của Thiền sư →Nguyên Thiều, Sư sang Việt Nam ngày 15 tháng giêng năm Ất Hợi, niên hiệu Khang Hi thứ 34 (1695). Ngày 28 tháng giêng, Sư đến Thuận Hoá và mồng 1 tháng 2, Sư gặp chúa Nguyễn Phúc Chu.|Chúa Nguyễn thỉnh Sư ở chùa Thiên Mụ để dạy đệ tử và thường đến thưa hỏi đạo lí. Ngoài ra, các Thiện tri thức tham vấn Sư rất nhiều, hoặc trực tiếp thưa hỏi, hoặc gián tiếp qua thư từ. Sư cũng không ngần ngại trả lời những bức thư này với tất cả tấm lòng và nhiều bức thư trả lời của Sư vẫn được lưu truyền đến ngày nay.|Nhưng đáng tiếc là Sư hoằng hoá hai năm ở Việt Nam và sau đó trở về Trung Quốc và viên tịch tại đây. Tông Tào Ðộng do Sư truyền sang không rõ người Việt Nam thừa kế trong phái xuất gia, còn trong giới Cư sĩ thì có chúa Nguyễn Phúc Chu, hiệu Hưng Long và Thiều Dương Hầu, anh thứ ba của chúa. Ðệ tử nối pháp người Trung Quốc thì có ba vị được nhắc đến là Hưng Liên Quả Hoằng (sang Việt Nam trước thầy), Hưng Triệt và Hoàng Thần.
thạch lưu
Một biểu hiện của nhiều trẻ nít qua quả lựu vì nó có nhiều hột; đây cũng là dấu hiệu trên tay của Quỷ Tử Mẫu Thần, vị được Phật chuyển hóa—The pomegranate, symbol of many children because of its seeds; a symbol held in the hand of Hariti, the deva-mother of demons, converted by the Buddha.
thạch lặc
(石勒) Tên vị Hoàng đế đời thứ nhất của nhà Hậu Triệu trong 16 nước Ngũ hồ, Trung quốc, người ở Thượng đảng, Yết tộc (nay là tỉnh Sơn tây), tự là Thế long. Năm 14 tuổi, ông đi buôn bán ở Lạc dương. Lớn lên, làm nghề ăn trộm, theo quân Hung nô Lưu uyên, Uyên cho làm Lãnh binh, thường đánh phá quân nhà Tấn, chiếm cứ nước Tương (nay là huyện Hình thai, tỉnh Hà bắc) làm căn bản. Năm Thái hưng thứ 3 (319), Lặc phản bội Lưu uyên, tự xưng là Triệu vương. Không bao lâu, ông diệt Lưu diệu tự lên làm vua, thống lãnh 10 châu như Kí, Tần, Tính, Dự..., là nước cườngthịnhnhất trong 16 nước. Bản tính Thạch lặc hung hãn, thích giết chóc, dân đều ghê sợ, ngài Phật đồ trừng dùng Phật pháp giáo hóa ông, tính nóng dần giảm bớt.Năm Hàm hòa thứ 5 (330), ông xưng đế, 3 năm sau thì qua đời, thụy hiệu là Minh đế, miếu hiệu là Cao tổ, niên hiệu Thái hòa, Kiến bình. [X. Tấn thư Q.104, 105; Ngụy thư Q.95].
thạch lựu
(石榴) Tên loại trái cây mà thần Quỉ tử mẫu cầm ở tay. Trong tất cả các loại trái cây làm vật cúng thì thạch lựu là quí nhất. Phẩm Phụng thỉnh cúng dường trong kinh Cù hê (Đại 18, 768 hạ) nói: Trong các loại quả, thạch lựu là trên hết; trong các căn, Tì đa la căn là nhất. Có thuyết cho rằng thạch lựu là quả cát tường; vì thạch lựu 1 hoa mà nhiều quả, 1 quả có 1000 hạt, bởi vậy mà gọi Quỉ tử mẫu là mẹ của 1000 đứa con (có thuyết nói 500 con, hoặc 10.000 con), cho nên thạch lựu được gọi là quả cát tường. (xt. Cát Tường Quả).
Thạch Môn Hiến Uẩn
(石門献蘊, Sekimon Kenon, ?-?): nhân vật sống dưới thời Ngũ Đại, vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, pháp từ của Thanh Lâm Sư Kiền (青林師虔), người Kinh Triệu (京兆, thuộc Tỉnh Thiểm Tây), được gọi là Đại Ca Hòa Thượng (大哥和尚). Ban đầu ông sống ở Lan Nhã (蘭若) thuộc Nam Nhạc (南岳), sau chuyển đến Đàm Châu (潭州), Tỉnh Hồ Nam (湖南省). Ông được vua nước Sở tiếp đãi rất trọng hậu, khai sáng Thạch Môn Tự (石門寺) ở Nhượng Châu (襄州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc).
thạch môn thông
Shih men Tsung (C) Tên một vị sư.
Thạch Môn Uẩn Thông
(石門蘊聰, Sekimon Unsō, 965-1032): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Nam Hải (南海, Tỉnh Quảng Đông), họ là Trương (張). Sau khi xuất gia, ông đến tham yết Bách Trượng Đạo Thường (百丈道常), và cuối cùng được đại ngộ dưới trướng của Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念). Ngoài ra ông còn đến tham vấn Động Sơn Thủ Sơ (洞山守初) ở Nhượng Châu (襄州, Tỉnh Hồ Bắc), Đại Dương Sơn Cảnh Diên (大陽山警延) ở Dĩnh Châu (郢州, Tỉnh Hồ Bắc), cũng như Trí Môn Sư Giới (智門師戒) ở Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc), và vào năm thứ 3 (1006) niên hiệu Cảnh Đức (景德), ông đến trú tại Thạch Môn Sơn (石門山) vùng Nhượng Châu. Đến năm thứ 4 (1020) niên hiệu Thiên Hy (天禧), ông chuyển đến Thái Bình Hưng Quốc Thiền Tự (太平興國禪寺) ở Cốc Ẩn Sơn (谷隱山). Đồ chúng tập trung đến tham học với ông lên đến cả ngàn người. Ông đã từng kết thâm giao với Hàn Lâm Dương Văn Ức (翰林楊文億), Trung Sơn Lưu Quân (中山劉筠), v.v. Vào ngày mồng 8 tháng 3 năm thứ 10 niên hiệu Thiên Thánh (天聖), ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi và được ban cho thụy hiệu là Từ Chiếu Thiền Sư (慈照禪師). Ngữ lục của ông có Thạch Môn Sơn Từ Chiếu Thiền Sư Phụng Nham Tập (石門山慈照禪師鳳巖集), 1 quyển.
Thạch Môn Văn Tự Thiền
(石門文字禪, Sekimonmojizen): 30 quyển, trước tác của Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪) nhà Tống, Giác Từ (覺慈) biên tập, san hành vào năm thứ 25 (1597) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Là tập thơ văn của Huệ Hồng―người có thiên tài về văn chương, tác phẩm này rất phong phú với các loại cổ thi, hài luật, ngũ ngôn luật thi, thất ngôn luật thi, ngũ ngôn tuyệt cú, lục ngôn tuyệt cú, thất ngôn tuyệt cú, kệ, tán, từ, phú, đề, bạt, sớ, thư, văn bia tháp, hành trạng, truyền ký, văn tế, v.v. Sau khi san hành với lời tựa của Đạt Quán (達觀), bộ này được nhập vào trong Minh Bản Tục Tạng Kinh (明本續藏經) và trùng san vào năm thứ 20 (1681) niên hiệu Khang Hy (康熙).
thạch môn văn tự thiền
(石門文字禪) Gọi tắt: Văn tự thiền. Cũng gọi: Quân khê tập. Tác phẩm, 30 quyển, do ngài Tuệ hồng (1071-1128) soạn vào đời Tống, ngài Giác từ biên tập, được thu vào Tống thi sao quyển 4, Tứ bộ tùng san 108. Nội dung sách này thu chép những thơ văn, từ, sớ, minh... của ngài Tuệ hồng Giác phạm chùa Thạch môn ở Quân khê, tỉnh Giang tây. Bài tựa do ngài Đạt quán soạn vào tháng 8 năm Vạn lịch 25 (1597) đời Minh, nói: Thiền như mùa Xuân, văn tự như hoa; Xuân nhờ có hoa, tất cả hoa là Xuân; hoa nhờ có Xuân, tất cả Xuân là hoa. Lại nói: Thiền và văn tự có 2, nên Đức sơn, Lâm tế đánh hét xen lẫn nhau, chưa bao giờ chẳng phải là văn tự; Thanh lương, Thiên thai sớ kinh, soạn luận, chưa bao giờ không phải là Thiền. Sách này dùng cái học của vô học, văn tự của bất lập văn tự để phát huy yếu chỉ của thiền. Trong sách dạt dào thiền vị, rất là đáng đọc.
thạch mật
Phāṇita (S) Đường phèn.
; (石蜜) Phạm:Phàịita. Tên khác của đường phèn. Luật Ngũ phần quyển 5 cho là 1 trong 5 thứ thuốc. Phẩm Phân biệt thiêu hương trong kinh Tô tất địa yết ra quyển thượng thì cho là 1 trong 5 thứ hương. Thiện kiến luật quyển 17 (Đại 24, 795 trung) nói: Đất Quảng châu có loại thạch mật đen (đường phèn đen) là đường mía, cứng như đá nên gọi là Thạch mật... Già ni Trung quốc gọi là Mật. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 3 (Đại 17, 17 thượng) nói: Như nước cho vào nồi nấu, lần đầu gạn chất dơ ra, gọi là Phả ni sa. Nấu lần thứ 2 thì đường từ từ đặc lại, gọi là Cự lữ. Lại nấu lần thứ 3 thì đường đặc hẳn, trở thành màu trắng, gọi là Thạch mật. Bản thảo cương mục kí nói: Thạch mật cũng gọi là đường sữa, đường tuyết trắng, tức là đường trắng, sản xuất ở Ích châu (tỉnh Tứ xuyên) và Tây nhung. Dùng nước, sữa bò, bột gạo hòa với đường cát nấu thành bánh, có màu vàng lợt, cứng và nặng, chủ trị bệnh nóng trong người, làm tươi mát buồng phổi, giúp ích tân dịch của ngũ tạng.
thạch mật tương
(石蜜漿) Tức là nước đường phèn. Đường phèn (thạch mật)hòa với nước thì thành Thạch mật tương. Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 83 trung) nói: Người thợ gốm bố thí 3 thứ là nệm để ngồi, đèn sáng và nước thạch mật (thạnh mật tương) để cúng dường Phật và tỉ khưu tăng. (xt. Thạch Mật).
thạch ngư
(石魚) Cá đá, tức là quả trống bằng đá có hình con cá. Trong tùng lâm, đánh thạch ngư để báo về giờ giấc cho đại chúng biết. [X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thạch nữ
Vanjha (P).
; Người nữ đá, chỉ người phụ nữ không còn khả năng giao hợp và sanh con nữa—A barren woman—A woman who is incompetent for sexual intercourse.
; (石女) Phạm: Vandhyà, Bandhyà. Pàli:Vaĩjhà. Dịch mới: Hư nữ. Con gái đá, tức chỉ cho đàn bà không có con, không thể hành dâm. Kinh Đại niết bàn (bản Bắc) quyển 25 (Đại 12, 515 trung) nói: Ví như thạch nữ vốn không thể có con, dù có gắng bao nhiêu công đức, vô lượng nhân duyên đi nữa, cũng không thể có con. Tâm cũng như thế, vốn không có tướng tham, dù tạo tác các duyên, tham cũng không do đâu mà sinh ra được. Luận Nhân minh nhập chính lí (Đại 32, 11 hạ) nói: Tự ngữ tương vi(mình tự mâu thuẫn với lời nói của mình), chẳng hạn như nói mẹ tôi là thạch nữ. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển trung, phần 1, tiết 2 (Đại 40, 287 hạ) nói: Thạch nữ, căn không thể hành dâm. Ngoài ra, Thiền môn cơ ngữ, tức các câu nói có tính cách cơ thiền, thường dùng thạch nữ đối lại với mộc nhân(người gỗ) để dụ chỉ cho việc xa lìa tình thức và diệu dụng thiên chân vô tác. Như Phổ đăng lục quyển 5 (Vạn tục 137, 52 thượng) nói: Thạch nữ múa khúc trường thọ, mộc nhân hát bài ca thái bình. Lại từ ngữ thạch nữ nhi được sử dụng để ví dụ những sự vật không bao giờ tồn tại, như lông con rùa, sừng con thỏ. Phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung (Đại 14, 547 trung) nói: Như lốt chân chim trong hư không, như con của thạch nữ (thạch nữ nhi). [X. luận Đại tì bà sa Q.16; luận Du già sư địa Q.6; Câu xá luận quang kí Q.19; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].
thạch nữ nhi
Xem Bàn đại tử.
; Con của Thạch Nữ, danh từ dùng để chỉ một việc không thể xãy ra được—Son of a barren woman, an impossibility.
thạch phật
(石佛) I. Thạch Phật. Cũng gọi Thạch Phật tượng, Thạch tượng. Chỉ cho tượng Phật được khắc bằng đá. Trong các hang đá, trên vách núi ở Trung quốc, Ấn độ, Tây vực... đều có thể thấy những thạch Phật với qui mô rất lớn, có tượng cao tới 17m, cũng có tượng nhỏ đến 2cm. Còn ở Nhật bản, Triều tiên thì vì hoàn cảnh địa lí bị giới hạn, thiếu Tượng Phật Thích ca bằng đá đào được ở Mạt thố la Tượng Phật bằng đá đào được ở Kiện đà la nguyên liệu về đá, nên có rất ít các di phẩm và kĩ thuật điêu khắc cũng không được tinh xảo bằng Trung quốc, Ấn độ. Về nguyên liệu đá dùng để tạo lập tượng Phật cũng tùy theo chất lượng sản xuất ở mỗi nơi mà có khác nhau, như ở vùng Kiện đà la thuộc miền Bắc Ấn độ phần nhiều dùng những phiến đá có màu xanh lục, Trung Ấn độ thì dùng nham thạch màu trắng; Tích lan, Miến điện thì dùng đá Đại lí, các tượng Thạch Phật màu trắng được truyền lại từ thời Lục triều của Trung quốc chính là thuộc loại đá này. Thạch Phật được chia làm 3 loại là Viên điêu, Phù điêu và Tuyến điêu. Phong khí tạc thạch Phật thịnh hành ở thời Bắc Ngụy, các thời Bắc Tề, Bắc Chu nối tiếp. Đặc sắc nghệ thuật điêu khắc ở các thời kì này là nét mạnh mẽ, cứng cáp, còn thạch Phật khắc vào thời Đường thì vốn nổi tiếng về nét đầy đặn, phúc hậu. Ở Ấn độ, các di phẩm về thạch Phật hiện còn có nhiều, trong đó, tượng Phật Thích ca ngồi, tượng Bồ tát đứng được cất giữ trong viện bảo tàng ở Mathurà (Mạt thố la) thuộc châu Liên hợp và tượng Bồ tát đứng (chung quanh tòa ngồi có bài minh cho biết tượng được tạo lập vào thời Đại vương Ca nị sắc ca năm thứ 3) hiện được cất giữ trong viện bảo tàng ở vườn Lộc dã (Phạm: Mfgadàva) cũng thuộc châu Liên hợp là xưa nhất. Theo sự khảo chứng thì đây là những thạch Phật được tạo lập vào thời kì đầu của thế kỉ II Tây lịch.Tại Tích lan, xưa nay cũng thịnh hành việc tạo lập thạch Phật, ở Polonnaruwa còn có tượng ngài A nan đà đứng cao khoảng 6m và ở Awkana còn tượng Phật Thích ca đứng cao khoảng 15m. Còn ở Bà la phù đồ (Bara-budur) tại đảo Java, Indonesia, có khắc 504 pho tượng Phật bằng đá. Tại Trung quốc, theo Lương cao tăng truyện quyển 13 và Pháp uyển châu lâm quyển 12, vào niên hiệu Kiến hưng năm đầu (313) đời vua Mẫn đế nhà Tây Tấn, 2 tượng Thạch Phật đầu tiên là tượng Phật Duy vệ, Phật Ca diếp nổi lên ở cửa sông Hỗ độc tại Tùng giang, quận Ngô, do mấy mươi vị như Chu ưng, Bạch ni... rước về thờ ở chùa Thông huyền, tượng cao 7 thước (Tàu). Thư cừ Mông tốn ở Bắc Lương đục mở núi Tam nguy tại Sa châu để tạo tượng Phật là 1 sự kiện nổi tiếng. Thời vua Văn thành đế nhà Bắc Ngụy, ngài Đàm diệu đục mở 5 khám thờ trên vách đá của động Vân cương ở Đại đồng, tỉnh Sơn tây, gọi là chùa Linh nham, trong mỗi khám thờ tạc một pho tượng Phật, đó là những khám thờ đầu tiên ở Vân cương. Tượng thạch Phật lớn nhất ở Vân cương là tượng Bản tôn Thích ca ngồi khắc ở mặt chính của động Đại Phật thứ 5 ở chính giữa, cao khoảng 17m, đoan nghiêm hùng vĩ. Bởi vì tầng nham thạch ở Vân cương thuộc tầng lớp sa nham, rất thích hợp cho việc khắc tạo đại khám, đại Phật, thêm vào đó là chí hướng vĩ đại của vua Thác bạt nhà Bắc Ngụy mà qui mô hoành tráng của hang động đã khiến cho những tác phẩm thạch khắc ở Vân cương trở thành bậc nhất thế giới. Ngoài ra, như động đá Long môn ở tỉnh Hà nam, núi Ngọc hà ở tỉnh Sơn đông, núi Thiên long ở tỉnh Sơn tây, núi Nam hưởng đường ở tỉnh Hà bắc... cũng đều có khắc tạo tượng thạch Phật. Những tượng thạch Phật nói trên đều được khắc tạo ở miền Bắc Trung quốc, trái lại, ở miền Nam tương đối ít hơn, có lẽ miền nam ít sườn núi thích hợp cho việc khắc tạo những tượng thạch Phật to lớn. Tuy nhiên, cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 40 thì vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, sa môn Hải thông đục đá ở bãi Đại giang thuộc Gia châu, tạo lập tượng Di lặc, làm gác 9 tầng để che phủ, đây chính là chùa Lăng vân. Tượng Đại Phật này hiện còn ở núi Lạc sơn tỉnh Tứ xuyên, gần sông Dâu, 1 chi nhánh sông Dương tử, cao 71m, được khắc tạo trên 1 vách núi lớn, hiện nay cây cối mọc um tùm, rêu phong kín mít, trông giống như 1 ngọn đồi đứng chênh vênh, là tượng thạch Phật lớn nhất thế giới. [X. Hữubộtì nại da tạp sự Q.3; điều Phạm diễn na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.1; Tục cao tăng truyện Q.1, 25; Quảng hoằng minh tập Q.2, 15; Ngụy thư Q.114; A History of Fine Art in India and Ceylon by V. Simth; Barabudur by N. J. Krom]. (xt. Thạch Quật). II. Thạch Phật. Cũng gọi Lão tăng nham, Tiếp khách tăng.Tên 1 ngọn núi trong dãy núi Nhạn đãng, huyện Lạc thanh, tỉnh Chiết giang, dưới chân núi có chùa Thạch Phật.
thạch quật
(石窟) Cũng gọi Thạch quật tự viện, Thạch thất, Quật tự, Quật viện, Quật điện. Hang đá, Động đá. Tức đục mở các sườn núi, vách đá thành hang động, đồng thời tạc tượng Phật để thờ làm các chùa viện. Nguồn gốc các thạch quật này rất sớm, ngay từ thế kỉ I, II trước Tây lịchở Ấn độ đã có rồi. Trong các tậpdu kí của các ngài Pháp hiển, Tống vân, Huyền trang... khi đến Ấn độ cũng có ghi chép về việc đục mở các thạch quật tự viện, trong đó có những thạch quật tự viện vẫn còn được bảo tồn cho đến ngày nay. Ở Trung quốc, việc đục mở các thạch quật, dựa vào những gì đã được tìm thấy hiện nay mà suy đoán, thì vào khoảng năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Tiền Tần, sa môn Lạc tôn đã bắt đầu đục mở thạch quật ở núi Minh sa tại huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc; từ khởi điểm đó, đã bao nhiêuthế hệ sau nối tiếp, cho mãi đến thế kỉ XV, trải hơn một nghìn năm mà việc đục mở thạch quật vẫn không suy giảm, rải rác khắp miền Tây, miền Bắc Trung quốc, từ Cao xương, Khố xa ở Tân cương, Đôn hoàng, Thiên thủy ở Cam túc, Vân cương ở Đại đồng, Long môn ở Lạc dương, núi Thiên long ở Thái nguyên, núi Hưởng đường ở Hà nam, Thiên Phật nhai ở Tế nam, núi Thê hà ở Nam kinh, động Phi lai ở Hàng châu, cho đến động Vạn Phật ở Liêuninh... qui mô đều rất hoành tráng. Trong đó, thạch quật Đôn hoàng nhờ bích họa mà nổi tiếng khắp thế giới, còn Vân cương, Long môn thì nhờ thạch khắc mà trứ danh ở đời. Ngoài ra, ở vùng Giang tô, Chiết giang... cũng có các thạch quật với qui mô tương đối nhỏ hơn. Ở Tây vực và vùng Bamian ở Afghanistan cũng có nhiều thạch quật được đục mở vào thế kỉ V đến thế kỉ VIII Tây lịch, trong đó có những pho tượng Phật cao 53m và 35m là chủ yếu; phần lớn các thạch quật đều có bích họa, nhưng hiện nay còn sót lại rất ít. Tại Tích lan thì trên núi Sư tử (Sìgiriya) có thạch quật được đục mở vào thế kỉ V, trong đó có bích họa. Triều tiên thì có Thạch quật am ở Khánh châu được kiến trúc vào thời đại Tân la, do xếp những tảng đá mà thành, bên trên phủ đất, chứ không phải do đục mở sườn núi, nên tính chất khác với các thạch quật nói trên. Còn Nhật bản thì không tạo lập thạch quật tự viện. Sau đây chỉ giới thiệu sơ lược những thạch quật ở Ấn độ và Trung quốc hiện còn.Ở Ấn độ, có nơi dùng thạch quật làm Lễ bái đường (Phạm:Caitya, Chi đề) hoặc được xem là Tăng viện (Phạm: Vihàra, tinh xá), nhưng phần nhiều thì được sử dụng làm Lễ bái đường, đồng thời ở phía trước thạch quật kiến tạo một phòng ốc thông thường dùng làm tăng phòng. Tương truyền, đức Thích tôn từng thuyết pháp trong động Đế thích (thạch thất tinh xá) ở phía đông thành Vương xá. Theo Đại đường tây vực kí quyển 10, già lam Hắc phong do vua Dẫn chính nước Kiêu tát la xây dựng cúng dường bồ tát Long mãnh chính là tự viện dưới hình thức thạch quật. Những thạch quật hiện còn ở Ấn độ phần nhiều nằm rải rác ở miền Tây Ấn độ, trong đó, thạch quật Bà ha da (Bhàjà) nằm về phía đông cách thành phố Bombay hiện nay khoảng 80 km và thạch quật Bối đắc tát (Bedsà) cách thạch quật Bhàjà về phía nam khoảng 8km, đều được đục mở vào khoảng năm 175 trước Tây lịch, là những thạch quật xưa nhất trong những thạch quật hiện còn cho đến ngày nay. Hai thạch quật Na tây khắc (Nàsik) nằm cách thành phố Bombay hiện nay khoảng 193km và thạch quật Ca lợi (Kàrle) nằm cáchBhàjà về phía đông khoảng 6km, đều được đục mở vào khoảng kỉ nguyên Tây lịch. Các điêu khắc được bảo tồn trong 4 thạch quật nói trên đều rất đơn giản, nhưng không có tượng Phật. Còn các thạch quật được đục mở từ Vương triều Cấp đa (Phạm: Gupta) về sau thì có: A chiên đa (Phạm:Ajantà), Y la lạp (Ellora, nằm cách thành phố Bombay về mạn đông bắc khoảng hơn 400km), Ba cách hách (Phạm: Bàgh), Cam hách thụy (Phạm: Kànheri, trên đảo Salsette, cách Bombay về phía đông bắc khoảng 32km...), trong các thạch quật này có rất nhiều tượng A di đà, Quan âm, Đa la..., A chiên đa và Ba cách hách còn có bích họa. Trong đó, A chiên đa có qui mô rất lớn, gồm có 29 hang động lớn nhỏ, được đục mở trong khoảng mấy trăm năm, từ thế kỉ II trước Tây lịch đến thế kỉ VII sau Tây lịch, nhờ các bức bích họa mà nổi tiếng ở đời, là tinh hoa của nền mĩ thuật Ấn độ. Quần thể Y la lạp thì hiện còn 32 hang động lớn nhỏ, từ hang thứ 1 đến hang 12 thuộc các vật của Phật giáo, được đục mở từ thế kỉ VI đến thế kỉ VIII Tây lịch (có thuyết nói thế kỉ IV đến thế kỉ VII). Ngoài ra còn có các hang động lớn nhỏ như Udayagiri, Khandagiri... đều có thờ hình tháp hoặc tượng Phật và trang nghiêm bằng các bức bích họa. Tại Trung quốc thời gần đây, một chuỗi các hang độngđãđược phát hiện, nhất là động Thiên Phật ở Đôn hoàng được người đời chú ý và rất được các học giả Đông, Tây coi trọng, liên tục đến nghiên cứu, đến nay đã có Đôn Hoàng Học được thành lập. Do đó, nghệ thuật thạch quật cũng đã trở thành một khâu không thể thiếu trong lịch sử nghệ thuật của Trung quốc, trong đó cất chứa các sử liệu vănhiến quí giá về Phật giáo, văn học và lịch sử, chiếm1 địa vị rất quan trọng trong lịch sử văn hóa và học thuật Trung quốc, không những nó có thể bổ khuyết cho các phần trống thiếu về văn hóa, lịch sử trong khoảng 600 năm từ thời Bắc Ngụy đến thời Bắc Tống, mà còn giúp sửa chữa những chỗ sai lầm trong nhiều kinh điển. I. Động Thiên Phật ở Đôn hoàng: Năm Quang tự thứ 5 (1879), sở Điều tra địa chất của Hung gia lợi (Hungary) do ông I. de Lóczy dẫn đầu đến thăm dò Đôn hoàng, đã phát hiện những bích họa ở động Thiên Phật, đoàn người đã hết sức kinh ngạc và cho là mình đã tìm ra của báu. Sau khi trở về Âu châu, đoàn Điều tra công bố tin này cho thế giới, đó là lần đầu tiên các học giả thế giới biết có bích họa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng. Năm Quang tự 26 (có thuyết nói năm 25– 1900, 1899), đạo sĩ Vương viên lục tìm thấy thạch thất cất chứa kinh sách được đóng kín, lúc đầu, đạo sĩ họ Vương không dám mở. Năm Quang tự 33 (1907), ông Sử thản nhân (A. Stein), người Hung gia lợi gốc Anh nghe tin tìm đến, trả tiền cho đạo sĩ Vương viên lục rồi lén mở thạch thất, chọn lấy những cuốn kinh quan trọng chép tay khoảng 3.000 quyển và 3.000 quyển thuộc các loại sách khác lấy mang đi. Năm sau, ông Bá hi hòa (P. Pelliot) người Pháp, lại đến lấy đi hơn3.000 bản sách viết tay nữa, rồi lục soát các hang động, những bức Đức Phật và vị tăng một mắt trong hang động thứ 17 họa trên vách ở Ajantà Không có cách nào lấy đem đi thì chụp ảnh đánh số. Khi triều đình nhà Thanh biết, đến thu nhặt những sách còn sót lại thì chỉ còn khoảng 8 hoặc 9 nghìn quyển đưa về cất giữ ở thư viện Bắc kinh. Trong thời gian ấy, còn có người Hoa kì, người Nhật bản đến, hoặc niêm yết các bích họa, hoặc tìm mua lại những tác phẩm lưu lạc trong dân gian. Đến nay những kinh điển và bích họa được cất giấu trong thạch thất tại Đôn hoàng phần lớn đã có mặt ở các thư viện, bảo tàng viện của các nước Pháp, Anh, Mĩ, Đức, Nhật... Thiên Phật động, cũng gọi là Mạc cao quật (Dmag-mgo), Thiên Phật nham, Lôi âm tự, tọa lạc ở chân núi Minh sa, thuộc huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, bắt đầu được đục mở từ thế kỉ IV đến thế kỉ XIV thì ngưng. Quần thể hang động này được chia làm 2 hàng cho đến 4 hàng trên dưới men theo sườn núi, tính ra có tới hơn 400 hang động lớn nhỏ, chạy dài 1,6 km, được chia làm 3 bộ phận lớn: Chính giữa, Nam, Bắc. Trong đó, số hang động ở bộ phận chính giữa tương đối ít và qui mô nhỏ hơn, không có dấu vết trang sức, nay đã hoang phế. Những hang động thuộc bộ phận phía Bắc thì có chứng tích cho thấy đã được sử dụng làm phòng tăng. Còn bộ phận phía Nam thì chạy dài suốt 930m, ở hai đầu, mỗi đầu có một động lớn, trước động xây điện, trong đó tôn trí tượng Phật ngồi cao trên 24m. Thiên Phật động vốn do sa môn Lạc tôn khai sáng vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Tiền Tần, ngài Pháp lãng và Đông dương vương tiếp nối, Lí quảng trùng tu. Về sau, trong khoảng mấy trăm năm, từ các đời Bắc Ngụy, Tùy, Đường, Ngũ đại, cho đến đời Tống... lần lượt sửa sang mở rộng thêm. Đến đời Tống Nhân tông thì người Tây hạ xâm nhập, binh lửa liên miên; đời Minh lại bị nạn Hồi giáo đánh phá, hủy hoại tượng Phật, khám thờ Phật bị sỏi cát lấp vùi; đến giữa đời Thanh, đạo sĩ trụ trì, cho mãi đến khi nhóm người Âu châu như A.Stein, P.Pelliot đến cướp đi những bảo vật như đã nói ở trên thì người đời mới biết đến Thiên Phật động. Phần chủ yếu trong thạch quật là bích họa, tượng đắp và thạch thất cất giữ kinh sách đủ loại và được viết bằng các thứ tiếng: Hán, Khư lô, Hồi cốt, Khang cư, Cổ hòa điền, Cưu tư, Tây tạng... Kinh thì gồm phần lớn là kinh Phật, nhưng cũng có kinh của Đạo giáo, Ma ni giáo, Cảnh giáo và các bản bia kinh. Bích họa thì được chia làm các thể loại: 1. Kinh biến đồ: Chỉ cho những sự tích kinh Phật. 2. Bản sinh cố sự: Nói về các sự tích tiền thân của Phật. 3. Tôn tượng: Chỉ cho những tượng Phật, Bồ tát và thị giả... 4. Cúng dường nhân: Chỉ cho thí chủ, tức những người cúng dường đi từng hàng và cảnh xe, ngựa... 5. Trang sức đồ án: Bao gồm hoa trời, giếng trời, sông núi, hoa văn... 6. Phi thiên: Chỉ cho các người trời đang bay trong hư không. 7. Kĩ nhạc vũ dũng: Tức các nghệ nhân biểu diễn âm nhạc và các điệu múa... II. Những Hang Động Ở Núi Mạch Tích: Được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ XI Tây lịch. Đây là kho báu của nghệ thuật Phật giáo được kiến tạo sau khi Trung quốc đã hấp thụ tinh hoa văn hóa Ấn độ. Quần thể hang động này nằm cách huyện Thiên thủy, tỉnh Cam túc 45 km về phía đông, ở đầu cực tây của dãy núi Tần lãnh, người địa phương gọi là Mạch tích nhai kì phong (núi Mạch tích kì lạ). Đỉnh núi nhọn như hình cái dùi, thân núi thẳng tắp, trông giống như một đống lúa trong làng xóm, vì thế gọi là Mạch tích sơn(núi chứa lúa mạch). Núi cao 142 mét, trên đỉnh có tháp, dưới chân núi có chùa, 4 chung quanh thân núi thì toàn là thạch khắc như khám thờ và hang động, tất cả có 194 chỗ, gồm trên 1000 pho tượng Đại Phật, được bảo tồn từ các đời Bắc Ngụy, Tùy, Đường, Ngũ đại cho đến đời Tống trở lại đây. Nhưng vì bị các trận động đất hủy hoại và mưa gió xâm lấn nên phần ở chính giữa đã đứt nát, chỉ còn lại 2 sườn Đông và Tây. Sườn phía đông, tiêu biểu là động Niết bàn (đục mở vào cuối đời Bắc Ngụy), hiên Nghìn Phật (đầu đời Bắc Ngụy), Thượng thất Phật các(gác 7 Phật trên), Trung thất Phật các(gác 7 Phật ở giữa)và Ngưu nhi đường. Các hang động này vẫn còn giữ gìn được nguyên trạng. Trong đó, Thượng thất Phật các là 1 hang động đục cheo leo trên sườn núi, cách đất hơn 50m, mặt chính rộng 30m, cao 16m, sâu 7m, là hang động có qui mô lớn nhất trong các thạch quật thuộc sườn phía đông. Các bích họa trong động này mang đầy đủ phong cách các đời Tùy, Đường. Sườn phía tây có 3 hang động lớn, trong đó, động Vạn Phật có qui mô lớn nhất (được đục mở vào cuối đời Bắc Ngụy), động Thiên đường thì cao nhất (cũng đục vào cuối đời Bắc Ngụy), động này rất hiểm trở, không ai dám lên. Trong thạch quật này có văn kì nguyện của ông Trương nguyên bá, được khắc vào năm Cảnh minh thứ 3 (502) đời Bắc Ngụy, là dấu tích mực xưa nhất hiện còn. [X. truyện Huyền cao trong Lương cao tăng truyện Q.11; Thái bình quảng kí Q.397 (Ngọc đường nhàn thoại)]. (xt. Mạch Tích Sơn).III. Những Hang Động Chùa Bính Linh: Cũng gọi chùa Du lâm. Quần thể hang động nằm trong núi Tiểu tích thạch bên Bắc ngạn sông Đổng ở huyện Vĩnh tĩnh, tỉnh Cam túc, được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ IX. Có 2 chùa Thượng và Hạ. Chùa Thượng được xây cất vào đời Đường, vốn có tên là chùa Long hưng, đời Bắc Tống gọi là chùa Linh nham. Chùa Bính linh là dịch âm theo tiếng Tây tạng, có nghĩa là Mười vạn Phật, đồng nghĩa với ĐộngNghìn Phật, Núi Vạn Phật. Vào đời Nguyên, chùa Bính linh là tự viện Lạt ma của Mật giáo Tây tạng. Từ chùa Thượng đi bộ dọc theo hang núi khoảng 2km mới đến chùa Hạ; chùa Hạ được sáng lập vào năm Diên xương thứ 2 (513) đời Bắc Ngụy, là Thánh địa của Thiền lâm từ khoảng Bắc Ngụy đến Tùy, Đường. Nay chỉ còn lại điện Phật không nguyên vẹn và những thạch khắc trên sườn núi. Những hang động vốn được nối liên nhau bằng đường đi qua những tấm ván gỗ bắc ngang như cầu treo, nhưng nay đã mục nát. Sử liệu sớm nhất nói về quần thể thạch quật này là Thủy kinh chú quyển 2 của Lịch đạo nguyên (469?-527) đời Bắc Ngụy; ngoài ra, như Pháp uyển châu lâm quyển 53 cũng có ghi chép. Nếu thuyết chủ trương những hang động này được đục mở vào thời đại Tư mã viêm đời Tây Tấn là đúng thì đây là di tích thạch quật có niên kỉ xưa nhất trong những di tích hang động ở các nơi hiện còn. Thông thường cho rằng công cuộc đục các hang động này được bắt đầu từ đời Bắc Ngụy, đến đời Đường thì cực thịnh, qua các đời Tống, Nguyên, Minh đến giữa đời Thanh thì bắt đầu suy vidần và cuối cùng bị quên lãng. Tính ra, quần thể thạch quật chùa Bính linh có 36 hang động, 88 tòa khám thờ Phật, phong cách đại khái cũng giống như các hang động ở Đôn hoàng, Vân cương, Long môn, nhưng các khám thờ Phật đục trên vách đá thì nhiều hơn và đặc sắc là phần lớn theo kiểu hình tháp của Ấn độ. Người đứng ra đục mở là chủ công đức cầu phúc, vì đất Vĩnh tĩnh từ xưa là vùng quân sự quan trọng, cũng như đất Hà tây vào đời Tống, là cứ điểm đề phòng sự xâm nhập của người Tây hạ, Thổ phồn, cho nên các chủ công đức hộ trì thạch quật phần nhiều là các tướng lãnh quân đội. Trong các thạch quật này, tượng đắp bằng đất là chính, cũng có nhiều bích họa đời Tống, Minh, nhất là bích họa đời Minh, có thể bổ sung cho những bích họa ở Đôn hoàng đã bị mất mát; màu sắc đậm đà, nét bút mạnh mẽ, khác xa với phong cách bích họa Đôn hoàng. Ngoài ra, thạch quật này thuộc loại nham hồng sa, không thích hợp cho việc điêu khắc, vả lại, đã trải qua nhiều sương nắng, gió mưa thiên nhiên và binh lửa do con người gây ra, nên nhiều tượng Phật đã bị tổn hại. So với các thạch quật ở các nơi khác thì thạch quật ở đây được phát hiện muộn hơn. Do đó, cũng được bảo trì hoàn chỉnh hơn. Bính linh tự thạch quật cùng với Mạch tích sơn thạch quật và Đôn hoàng thiên Phật động đều là những di sản văn hóa quan trọng của vùng Tây bắc Trung quốc. (xt. Bính Linh Tự Thạch Quật). IV. Hai Thạch Quật Nam và Bắc: Hai hang động tuy cách xa nhau vài trăm km nhưng đều do quan Thứ sử Kinh xuyên là Hề sĩ (tự là Khang sinh) lần lượt đục mở vào các năm Vĩnh bình thứ 2 (509) và thứ 3 (510) vào những năm cuối đời Bắc Ngụy. Thạch quật Bắc nằm về phía tây bắc cách trấn Tây phong, huyện Khánh dương, tỉnh Cam túc 40km, ở chỗ 2 con sông Bồ và Như, chi nhánh của sông Kinh, gặp nhau. Sườn đá cao 14m, dài 110m, tính tất cả có 281 hang khám, trong đó có 34 khám được kiến tạo vào đời Bắc Ngụy, 38 cái kiến tạo vào đời Tùy và 131 cái kiến tạo vào đời Đường; từ đời Tống về sau có hơn 20 hang động được đục mở và hơn 50 hang không rõ niên đại. Hiện còn các bài minh nói về việc tạo tượng và những đề kí của khách tham quan, từ đời Tùy đến đời Thanh, có tất cả hơn 140 văn kiện, thư pháp của các thời đại đều có đặc điểm riêng; đây là các tư liệu có thể giúp cho việc nghiên cứu lịch sử thạch quật. Thạch quật Nam nằm ở trên vách núi, cách huyện lị Kinh xuyên, tỉnh Cam túc khoảng 6 km về phía nam, được đục mở vào đầu đời Bắc Ngụy, ở trong thạch quật đều có khắc tượng Phật nổi hoặc tượng đắp, nhưng tượng Phật phần nhiều đã bị người ngoài lấy trộm, còn lại không bằng 1 phần 10 tượng vốn có trước đó. (xt. Bắc Thạch Quật Tự, Nam Thạch Quật Tự). V. Những Hang Động ở Long Môn: Quần thể thạch quật này nằm cách thành Lạc dương, tỉnh Hà nam khoảng 14km, được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ VIII, xưa gọi là Y khuyết, vì núi Hương sơn ở phía đông và núi Long môn ở phía tây đứng đối nhau, trông xa giống cái lầu canh, sông Y lại chảy qua theo hướng tây nam, vì thế nên có tên là Y khuyết. Trên vách đá của 2 sườn núi dọc theo sông Y có đục mở hơn 13 vạn Phật động, có hình dáng trông giống như cái tổ ong, tượng Phật bằng đá tổng cộng có 142289 pho, qui mô rất lớn, pho tượng lớn nhất cao 17,14m, pho nhỏ nhất thì chỉ có 2cm. Những hang động chủ yếu thì ở sườn núi phía tây có 28 chỗ, sườn núi phía đông có 7 chỗ. Trong đó, tượng được tạo lập vào đời Đường chiếm 60% và đời Bắc Ngụy chiếm 30%. Thạch quật Long môn bắt đầu được đục mở vào năm Thái hòa 18 (494) đời Bắc Ngụy, trải qua các đời Bắc Tề, Bắc Chu, Tùy, Đường nối tiếp nhau đục mở trên 400 năm. Những hang động này cùng với các hang động Vân cương và hang động ở huyện Củng đều do 1 đời Bắc Ngụy dùng sức nhà nước để tạo lập. Trong đó, động Cổ dương, động Tân dương, động Liên hoa, động Ngụy tự, chùa Thạch quật... là những hang động lớn có tính cách tiêu biểu cho đời Bắc Ngụy, trước sau hết 24 năm, sử dụng hơn 80 vạn công nhân, đủ thấy công trình lớn lao khó tưởng tượng. Về sau, các đời Đông Ngụy, Bắc Tề, Tùy, Đường đều nối tiếp nhau đục mở, đặc biệt vua Cao tông và Vũ hậu nhà Đường dụng công nhiều nhất. Trong động Tân dương có tượng Phật Thích ca mâu ni ngồi cao 8,4m, chất phác hồn hậu, trên vòng hào quang sau lưng có khắc hoa sen, ánh lửa, hoa văn khắc nổi, khí tượng trang nghiêm; hai bên khắc tạo 11 pho tượng Bồ tát, Thiên vương, lực sĩ, người cúng dường... Về phong cách thì từ vẻ mộc mạc, mạnh mẽ của nét tạo tượng Vân cương đã dầndầnthay đổi và nhường chỗ cho vẻ thanh tú mĩ lệ, bộ diện thì từ tinh thần nghiêm khắc đến ôn hòa; về phục sức thì quần dài, ống tay áo rộng, kĩ xảo điêu khắc này về sau đã ảnh hưởng đến nghệ thuật điêu khắc tượng Phật ở thời đại Phi điểu của Nhật bản. Kế đến là động Cổ dương (cũng gọi động Lão quân), với qui mô to lớn, tạo tượng tinh xảo, cho nên được gọi là bậc nhất Long môn; trên 4 vách có khám Phật kiểu khắc nổi; trên vách động cũng có các bài minh kí, thi văn... Còn các thạch quật chùa Phụng tiên thì có tính cách tiêu biểu nhất trong các hang động đời Đường ở Long môn, tượng Đại Phật Lô xá na trong chùa này chính là tượng Phật lớn nhất trong quần thể hang động Long môn, qui mô khắc tạo hiếm thấy ở đời, nhất là nét khắc vẻ trang nghiêm, hiền từ và tính duệ trí của tượng Phật thì nổi bật, xứng đáng đại biểu cho nền điêu khắc đời Đường. (xt. Long Môn Thạch Quật). VI. Những Hang Động Ở Núi Thiên Long: Quần thể thạch quật nằm cách huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây khoảng 40 km về phía tây, được đục mở từ thế kỉ VI đến thế kỉ VIII. Núi Thiên long vốn có tên là núi Phương sơn, nhưng khi nhà Bắc Tề xây chùa Thiên long trên núi này nên mới đổi tên là Thiên long sơn. Núi này thuộc tầng sa nham Thủy bình, nên thích hợp cho việc đục mở hang động, tuy qui mô không lớn bằng Vân cương, Long môn, nhưng cùng với thạch quật ở núi Hưởng đường đều là tiêu biểu cho nền văn hóa Phật giáo Bắc Tề. Những thạch quật này được đục mở trên đất Bắc Tề, vào khoảng Tùy, Đường có gác Mạn sơn và động Cửu liên là nổi tiếng. Động Cửu liên do 9 hang động nối liền nhau mà thành, phía trong, phía ngoài động có tượng Phật và phù điêu, tất cả đều dựa vào thế núi mà được kiến tạo thành. Gác Mạn sơn có 3 tầng trong đó có cất giữ 2 pho tượng Phật bằng đá, là những tác phẩm đời Bắc Ngụy; giữa khoảng vách đá 2 bên, có khắc vô số khám thờ Phật, nhưng tiếc thay, phần nhiều đã bị người ngoài lén vào đục lấy đem đi, rất đáng tiếc! [X. China Phật giáo sử tích bình giải Q.3].VII. Những Hang Động Ở Vân Cương: Quần thể thạch quật nằm ở núi Vũ chu, bờ lũy Vân cương, cách huyện Đại đồng, tỉnh Sơn tây khoảng 17km về mạn bắc, được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ VI. Bắt đầu vào niên hiệu Hòa bình năm đầu (460), sa môn Đàm diệu vâng sắc của vua Văn thành đế nhà Bắc Ngụy đục mở 5 hang động lớn, suốt 34 năm, tức đến năm Thái hòa 18 (494) đời vua Hiếu văn đế mới hoàn thành, về sau, mãi đến cuối đời Tùy, các hang động vẫn tiếp tục được đục mở, tất cả được hơn 20 chỗ và hàng trăm khám Phật lớn nhỏ. Vì khoảng giữa các thạch quật có 2 hang núi ngăn đôi, nên các học giả Nhật bản như Thường bàn Đại định và Quan dã trinh mới đánh số động và chia làm 3 khu: Khu Đông gồm 4 hang động từ 1 đến 4; khu Giữa gồm 9 hang động từ số 5 đến số 13 và khuTây gồm 7 hang động, từ số 14 đến số 20. Trong đó, kế hoạch ở động thứ 3 rất là hoành tráng, 1 sân phía trước khoảng 48m, cao khoảng 13m; mặt tiền của động thứ 5 có lầu gác 5 gian 4 tầng, chiều đông tây khoảng 23m, chiều nam bắc khoảng 19m. Tượng đức Bản tôn Thích ca ngồi ở chính giữa, cao 18m, đường kính của 2 đầu gối khoảng 17m, khí thế trang nghiêm hùng vĩ, là tượng Phật bằng đá to nhất ở Vân cương. Mặt tiền động thứ 6 cũng tạo lập lầu 5 gian 4 tầng, mỗi gian đều rộng 15m, ở vách sau có đặt khám thờ Phật lớn, ở chính giữa chia làm 2 lớp, đều có khắc tượng Phật ngồi, mạnh mẽ cứng cáp; trên mặt các vách đều có khắc điện đường, tượng Phật, Bồ tát, tranh truyện Phật, phi thiên, hóa Phật, tháp 5 tầng... không có chỗ nào để trống. Kĩ xảo điêu khắc tinh luyện, đáng gọi là bậc nhất ở Đại đồng. Trong động thứ 11 có khắc 7 pho tượng đứng của 7 đức Phật quá khứ, tư thái dung mạo rất đẹp. Tạo tượng ở động thứ 18 hùng vĩ, có thể gọi là đứng đầu thạch quật Vân cương. Nhìn chung 20 hang động thì 5 hang động đầu tiên do sa môn Đàm diệu vâng sắc đục mở (tức từ động 16 đến 20) có qui mô lớn nhất, khí tượng rất hùng vĩ. Trong mỗi động đều có khắc tượng Phật bằng đá cao từ 16m trở lên, rất trang nghiêm vĩ đại, cũng cho thấy phong cách tạo tượng hào phóng và thuần phác ở thời kì đầu, cấu tưởng phong phú, điêu khắc mĩ lệ, phát huy nét nghệ thuật đang hưng thịnh của thời Bắc Ngụy. Về phần tế nhị, tuợng Phật tuy có nét giống với kiểu Trung Ấn độ, hoặc kiểu Tát san Ba tư, nhưng diện mạo đại trượng phu môi dày, mũi cao, mắt dài, hàm bạnh... thì rõ ràng đã chịu ảnh hưởng Thác bạt của Bắc Lương. Nhờ tầng nham ở Đại đồng thuộc đá sa nham của tầng mặt nước bằng, rất thích hợp cho việc đục hang động và tạo tượng với qui mô lớn, thêm vào đó là khí tượng hùng tráng và niềm tin sắt đá của dòng họ Thác bạt, nên đã thành tựuđược1 trong 3 kho báu lớn của nghệ thuật Phật giáo Trung quốc cổ đại. (xt. Đại Đồng). VIII. Những Hang Động Ở Huyện Củng: Quần thể thạch quật nằm cách huyện Củng, tỉnh Hà nam khoảng 1km về phía tây bắc, được đục mở từ thế kỉ thứ VI. Hang động được đục mở trên sườn núi Mang, nhìn ra sông Lạc. Vào thời Bắc Ngụy, ở núi này có chùa Hi huyền, về sau vì rất nhiều hang động được đục mở nên đổi tên là Thạch quật tự. Những động đá này bắt đầu được khai tạc vào khoảng năm Cảnh minh (500-503) đời Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy, về sau, qua các đời Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề... kế tiếp nhau đục mở; đến Cao tông nhà Đường lại đục mở rất nhiều khám thờ Phật, gọi là chùa Tịnh độ. Qua các đời Tống, Minh, Thanh thì có lúc tiếp tục khai tạc, có lúc lại bỏ. Hiện nay, trên sườn núi phía sauđiệnPhật có 5 hang động và 3 tượng Phật lớn khắc ngay vào sườn núi, 1.000 khám thờ Phật lớn và 238 khám nhỏ. Trong 5 hang động thì động thứ 5 là lớn nhất. Trong đó, trừ các khám Phật lớn nhỏ, còn có các tượng Phật, Bồ tát, La hán, các bài minh đời Đường, tranh ngàn Phật và những nhân vật cúng dường đứng xếp hàng, tranh của vua và Hoàng hậu lễ Phật, tranh các người trời tấu nhạc... tất cả đều được khắc nổi, nét khắc tinh xảo, thanh tú, nội dung phong phú, bảo tồn hoàn chỉnh, rất hiếm thấy trong các hang động hiện còn trên toàn cõi Trung quốc. Trong mỗi hang động đều có kiến trúc các cột hình vuông lớn, đây là thủ pháp Bắc Ngụy kế thừa các động Vân cương, Long môn. Trên vách núi có khắc Hậu Ngụy Hiếu văn đế cố Hi huyền tự bi (Bia ghi về chùa Hi huyền cũ của vua Hiếu văn nhà Hậu Ngụy), vì thế biết chùa này do Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy sáng lập, lại do tấm phù điêu khắc vua và Hoàng hậu lễ Phật mà biết chắc rằng quần thể thạch quật ở huyện Củng này có quan hệ mật thiết với hoàng thất Bắc Ngụy. Ngoài ra, 3 pho tượng lớn khắc trên sườn núi ở khoảng giữa 2 động 4 và 5 và các khám Phật lớn đã bị hủy hoại đến quá phân nửa. Còn tượng đức Bản tôn Thích ca đứng thì từ đầu gối trở xuống đã bị chôn trong đất, tượng Bồ tát đứng hầu bên trái đã bị mất, còn vị Bồ tát đứng hầu bên phải thì phần trên đã bị hủy hoại, nhưng đều mang nét đặc sắc của nghệ thuật đắp tượng thời Bắc Ngụy. IX. Những Hang Động Ở Núi Nam Hưởng Đường, Tỉnh Hà Bắc Và Ở Núi Bắc Hưởng Đường, Tỉnh Hà Nam. Quần thể thạch quật của núi Bắc Hưởng đường nằm ở huyện Vũ an, tỉnh Hà nam và quần thể thạch quật của núi Nam Hưởng đường nằm ở trấn Bành thành, phía tây nam huyện Từ, tỉnh Hà bắc, cách núi Bắc Hưởng đường khoảng 15km về phía đông nam. Hai quần thể thạch quật này còn được gọi là Bắc Hưởng đường tự và Nam Hưởng đường tự, đều được đục mở vào thời đại Bắc Tề (thế kỉ VI), có khả năng vào đời Văn tuyên đế nhà Bắc Tề. Núi Hưởng đường cũng gọi là Cổ sơn, Thạch cổ sơn, Phủ sơn. Quần thể thạch quật của núi Bắc Hưởng đường có 3 hang động lớn nằm ở phía nam, giữa và phía bắc núi cùng với 4 hang động nhỏ và 4 cái khám nhỏ. Hang động lớn ở phía nam (động khắc kinh) rộng 4m, sâu 3,3m, 3 mặt mỗi mặt đều có 1 khám thờ, trong mỗi khám thờ đều an vị 7 pho tượng Phật(tượngThất Phật), trong đó, pho tượng ngồi kết ấn Thí vô úy và ấn Dữ nguyện, đứng hầu bên cạnh là các tượng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Mặt vách bên trong khắc toàn bộ kinh Duy ma cật sở thuyết do ngài Cưu ma la thập dịch và kinh Vô lượng nghĩa. Trên sườn núi bên ngoài động thì khắc các kinh Thắng man, kinh Bột, kinh Di lặc thành Phật, đặc biệt có bài kí khắc kinh của Đại tướng quân Phiêu kị là Đường ung. Theo bài kí này thì biết rằng các kinh được khắc từ năm Thiên thống thứ 4 (568) đến năm Vũ bình thứ 3 (572) đời Bắc Tề, so với Thạch kinh Phòng sơn thì sớm hơn khoảng 40 năm. Các kinh được khắc theo thể đại tự, nét bút rất sắc sảo, cứng cáp. Động lớn khoảng giữa(động Thích ca) thì rộng 7,8m, sâu 7m, trên vách chung quanh có nhiều tượng Phật, khám thờ Phật, bài kí tạo tượng được khắc vào đời Minh, cùng với các bức phù điêu hoa cỏ, các loài cầm thú quí lạ... hình thức chất phác. Còn hang động lớn phía bắc(động Đại Phật) rộng 13,3m, sâu 12,5m, chính giữa có 1 cây cột hình vuông lớn, mặt chính và bên phải, bên trái đều có an vị 1 tượng Phật và 2 vị Bồ tát; trong bảo đàn có đặt lư hương, sư tử. Mặt chính trên đàn có tượng Phật ngồi, cao gần 4m, đoan nghiêm hồn hậu, thần khí siêu thoát, bộ diện bình dị không trang sức đã trải qua hơn 1000 năm, mưa nắng dãi dầu mà vẫn y nhiên sáng sạch như mới. Ba hang động nói trên đều được mở vào đời Bắc Tề. Qua các đời Tùy, Đường cho đến đời Minh... tiếp tục được mở đục thêm, hoặc hang động, hoặc khám Phật, hoặc kinh văn... Quần thể thạch quật ở núi Nam Hưởng đường được chia làm 2 lớp trên và dưới, lớp dưới có 2 động lớn là động Hoa nghiêm và động Bát nhã; lớp trên có 5 động nhỏ là động Không, động Củng môn, động Thích ca, động Lực sĩ và động Thiên Phật. Trong đó, động Hoa nghiêm nằm về phía đông bắc của lớp dưới, mỗi bề rộng 6,35m, cao 4,7m có diện tích lớn nhất. Trong động có tượng Phật thuyết pháp dưới gốc cây, những người cúng dường Phật và Bồ tát, tượng Thái tử Tất đạt đa và ngựa Kiền trắc, khám thờ Phật và khắc kinh Hoa nghiêm... tất cả đều là khắc nổi. Tượng Phật trăm dáng nghìn vẻ tạo hình rất đẹp; bức phù điêu ở phần trên của cửa vào được xem là mở đầu cho tranh vẽ Tịnh độ A di đà. Động Bát nhã nằm ở phía tây nam của lớp dưới, rộng 6,2m, sâu 6,55m, cao 4,6m, cấu tạo giống như động Hoa nghiêm, cũng có khám thờ Phật, tranh khắc nổi Phật Thích ca thuyết pháp dưới gốc cây và Tịnh độ A di đà, khắc kinh Bát nhã, kinh Văn thùbát nhã... Còn 5 động nhỏ thì động Không vuông khoảng 3m, chia làm 2 căn trước và sau; động Củng môn rộng 2,2m, sâu 2,35m, cao 2m; động Thích ca rộng 2,1m, sâu 2,3m, cao 2,5m; động Lực sĩ, đại khái cũng to bằng động Thích ca, cấu tạo cũng giống nhau; động Thiên Phật rộng 3,6m, sâu 3,4m, trên vách động có khắc tượng Phật, phi thiên, tay cầm đàn tì bà, hoặc đang thổi sáo... [X. China văn hóa sử tích giải thuyết 5; China Phật giáo sử tích đạp tra kí (Thường bàn Đại định)]. X. Những Hang Động Ở Núi Thạch Chung Tỉnh Vân Nam: Cũng gọi Kiếm xuyên thạch quật. Quần thể hang động nằm trong núi Thạch chung, gần Sa khê thuộc vùng thượng lưu sông Kim sa, phía tây nam huyện Kiếm xuyên, tỉnh Vân nam, do người nước Nam chiếu thuộc Bạch tộc, sống ở vùng biên giới tỉnh Vân nam đục mở từ đời Đường đến đời Tống. Quần thể thạch quật này được chia làm 3 khu: Khu chùa Thạch chung(8 động), khu cửa ải Sư tử(3 động) và khu thôn Sa đăng(4 động). Trong các động ở khu chùa Thạch chung thì động thứ 1, thứ 2 có khắc tượng người chủ cúng dường hoặc tượng vương giả, rồi động chư Phật, động Thích ca, động Bồ tát, nét khắc tuy chưa đạt nhưng là di phẩm quí trọng của nghệ thuật khắc đá đời Tống, Nguyên. Trong động thứ 8 có tấm biển hiệu hình chữ nhật đề là Nam chiếu Thịnh đức năm thứ 4 (1179), có lẽ là văn phát nguyện đục mởcáchang động này. Trong các hang động ở khu cửa ải Sư tử,có khắc tên Đại thánh Thánh trục; Đại thánh Thánh trục có thể là 1 loại tín ngưỡng dân gian ở địa phương. Trong động Phật thứ 2 của khu thôn Sa đăng có đề khắc Nam chiếu thiên khải năm 11; năm Thiên khải 11 tươngđươngkhoảng niên hiệu Hội xương năm đầu (841) đời vua Vũ tông nhà Đường. Như vậy có lẽ hang động này là tác phẩm thạch khắc thuộc thời kì đầu tiên ở Kiếm xuyên. Lại nữa, nhờ thạch quật Kiếm xuyênmà có thể hiểu rõ thực trạng của Phật giáo Nam chiếu. Phật giáo được truyền vào Nam chiếu từ đời Đường, lấy tín ngưỡng Quan âm làm trung tâm, là Phật giáo Đại thừa chịu ảnh hưởng văn hóa của dân tộc Hán. Ngoài ra, cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo Tây tạng, Ấn độ, và Thái lan mà hiển hiện 1 phong cách đặc biệt khác. [X. Khang hi kiếm xuyên châu chí Q.2, 17].XI. Sườn Núi Nghìn Phật Ở Quảng Nguyên Thuộc Tỉnh Tứ Xuyên. Sườn núi nằm về bờ tây sông Gia lăng, cách huyện lị Quảng nguyên, tỉnh Tứ xuyên về phía bắc 4km. Tương truỵền, vào năm Hàm phong thứ 4 (1854) đời Thanh, ở đây có 1 vạn 7 nghìn pho tượng khắc bằng đá, nay chỉ còn hơn 400 khám thờ và khoảng 7 nghìn pho tượng, như vậy, trong khoảng hơn 100 mấy mươi năm mà số tượng đá ở đây đã bị hủy hoại quá phân nửa. Quần thể hang động nơi đây được đục mở vào đời Đường, qua các đời Ngũ đại, Tống, Nguyên, Minh tiếp tục đục mở dần mà thành. Qui mô to lớn của các thạch quật ở đây có thể sánh ngang với những thạch quật ở Long môn tại Lạc dương. [X. Tứ xuyên Phật giáo ma nhai tạo tượng đích nghệ thuật giá trị cập kì hiện huống (Ôn đình khoan, Hiện đại Phật giáo tùng san 20)]. (xt. Quảng Nguyên Thiên Phật Nhai Ma Nhai Tạo Tượng). XII. Những Hang Động Ở Tây Hồ Thuộc Hàng Châu: Quần thể thạch quật nằm rải rác khắp các vùng chung quanh Tây hồ như núi Tướng đài, động Thạch ốc, động Yên hà, núi Phi lai, núi Ngọc hoàng, núi Từ vân, núiBảo thạch... Những tượng Phật được khắc tạo trong những thạch quật có khoảng 1 nghìn pho, về qui mô cũng như số lượng tuy không sánh được với các thạch quật Mạc cao ở Đôn hoàng, thạch quật núi Mạch tích, thạch quật Vân cương ở Đại đồng, thạch quật Long môn ở Lạc dương... nhưng đứng về phương diện nghệ thuật tạo tượng của các đời Ngũ đại, Tống, Nguyên mà nói thì thạch quật Tây hồ cũng chiếm 1 địa vị quan trọng, hơn nữa, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với nền điêu khắc, hội họa của miền Nam Trung quốc. Tượng và khám ở sườn núi Tướng đài được khắc vào năm Thiên phúc thứ 7 (942), nhà Hậu Tấn đời Ngũ đại, đây là khu thạch quật đượcđụcmở sớm nhất và cũng được bảo tồn 1 cách tương đối hoàn chỉnh. Trong động Thạch ốc có 3 khám thờ, theo Lưỡng chiết kim thạch chí thì hang động này do những người cúng dường khác nhau, tiếp nối mở đục mà thành, là những tác phẩm vào khoảng đầu đời Ngũ đại đến đời Tống. Trong đó, 500 pho tượng La hán và tượng Bồ tát Quan âm Thủy nguyệt, trên phương diện đề tài, đều là tiền lệ của nghệ thuật điêu khắc. Số lượng tạo tượng ở động Yên hà rất nhiều, đề tài cũng bề bộn, thời đại thì dài dặc. Trong đó, tượng 500 vị La hán rất đặc sắc, mỗi vị biểu lộ 1 tư thái khác nhau: Vị thì trầm tư, vị nhập định, có vị trông lên, có vị nhìn xuống... không vị nào giống vị nào, đây là trường hợp mở đầu cho hình thức 16 vị La hán lưu hành ở đời Tống, Minh... Ngọn Phi lai là nơi qui mô lớn nhất, khắp núi, chỗ nào cũng có tượng Phật khắc bằng đá, những tượng tương đối còn hoàn chỉnh thì có khoảng 280 pho, rất quí giá. Ngoài ra, những quần thể thạch quật khác như Thiên Phật nhai ở Tế nam, tỉnh Sơn đông, núi Vân môn ở Thanh châu, núi Đà sơn, động Vạn Phật ở huyện Nghĩa tại Liêu ninh, Đoạn nhai ở Quế lâm, tỉnh Quảng tây, chùa Bảo nham ở chân núi Lâm lư, huyện Bình thuận, tỉnh Sơn tây (69 bức phù điêu Thủy lục trong động thứ 5 có thể cho thấy rõ thực trạng Phật giáo đời Minh), thạch quật Đại túc ở Tứ xuyên (có 10 chỗ quan trọng: Bắc sơn, Bảo đính, Nam sơn, Thạch môn thôn, Thạch triệu sơn, Diệu cao tự, Thư thành nham, Thất củng kiều, Phật an kiều, Triều dương động, Ngọc than...) đều rất nổi tiếng và giá trị nghiên cứu cũng rất cao. Rồi đến các di tích Phật giáo ở chân núi phía nam dọc theo dãy núi Thiên sơn, phần lớn đều là các chùa viện thạch quật, như động Thiên Phật Khố mộc thổ lạt ở Khố xa (Kucha) tại Tân cương, Tân tân Thiên Phật động, Khố tư ca hạp Thiên Phật động, Mê ngụy Thiên Phật động và Cưu tư (Kizil) Thiên Phật động... được đục mở từ thế kỉ IV, V đến thế kỉ VIII, IX. Trong đó, Cưu tư Thiên Phật động có tính tiêu biểu hơn cả, là chùa viện thạch quật lớn nhất ở vùng Tây vực, tọa lạc bên Bắc ngạn sông Mộc trát đặc, chiều đôngtâychạy dài 2km, gồm 3 quần thể thạch quật (Khắc đôn nhĩ, Đài đài nhĩ, Ôn ba thập) với hơn 200 hang động, trong đó chứa đựng các bích họa về truyện tiền thân của đức Phật, rất đậm sắc thái Iran. Còn Bối sa khắc lỗ khắc
thạch quật am
(石窟庵) Một trong các kiến trúc thạch quật nổi tiếng của Hàn quốc, là kiệt tác cao nhất về nghệ thuậtthạchkhắc ở Tân la. Am nằm ở sườn phía đông đỉnh núi Thổ hàm trên mặt nước biển 600m, cách thành phố Khánh châu thuộc tỉnh (đạo) Khánh thượng bắc 16km, phía tây nam am có chùa Phật quốc nổi tiếng. Am này do ngài Kim đại thành sáng lập vào năm Tân la Cảnh đức vương thứ 10 (751), phỏng theo hình thức thạch quật Vân cương và Long môn của Trung quốc, được đục mở dựa theo vách núi, nhưng các khối đá hoa cương sử dụng trong am lại được đưa từ nơi khác đến. Thạch quật theo thứ tự được chia ra 3 khu: Tiền thất, Phi đạo và Viên thất. Tiền thất là các tượng điêu khắc Thiên long bát bộ chúng, 2 bên Phi đạo là Kim cương lực sĩ và Tứ đại thiên vương. Ngay phía sau chính giữa Viên thất có một đài sen thạch khắc, trên đài sen là tượng điêu khắc Phật Thích ca. Ngay chính giữa phía sau Bản tôn, có khắc tượng Quan thế âm 11 mặt đứng, 2 bên Quán âm là tượng đứng của 10 vị đệ tử lớn như A nan..., ở gần cửavàocủa Viên thất có 4 tượng điêu khắc là Văn thù, Phổ hiền, Đế thích thiên và Phạm thiên. Giếng trời (một loại khung trang trí)trên vòm nóc thất cũng bằng đá, có khắc hoa sen rất trang nghiêm. Ở phía trước tượng Quan âm vốn có một tòa tháp 5 tầng, nhưng hiện nay không còn. Nhờ cách xa làng xóm nên thạch quật này đã tránh được nạn binh lửa qua nhiều thời đại. Vào thời kì người Nhật chiếm cứ, thạch quật này được sửa chữa 3 lần, nhưng vì tu bổ tùy tiện nên đã làm cho phần tạo hình nguyên thủy bị phá hoại. Đến năm 1962, chính phủ Hàn quốc đã xếp thạch quật này vào hàng những di sản văn hóa quí trọng của quốc gia, đồng thời cho trùng tu toàn diện. Có thuyết cho rằng phía trước thạch quật này vốn có một ngôi chùa Thạch Phật, nhưng rất tiếc đã bị đổ nát, Thạch quật am này chính là phần phụ thuộc của ngôi chùa ấy. Lại có chỗ nói thạch quật này cũng có tên là Thạch Phật tự. [X. Triều tiên Phật giáo chi tự dữ lịch sử].
thạch quật tự
(石窟寺) Chùa nằm cách huyện lị huyện Củng tỉnh Hà nam về phía tây bắc 1km. Sau lưng chùa là núi Mang, trước mặt chùa là sông Lạc. Vì ở trên sườn núi sa nham có đục rất nhiều hang đá nên gọi là Thạch quật tự. Chùa được sáng lập vào năm Hi bình thứ 2 (517) đời Bắc Ngụy, có thuyết nói chùa được xây cất vào khoảng năm Cảnh minh (500-503), vốn có tên là Hi huyền tự, đời Tống đổi là Thập phương Tịnh độ tự, đời Thanh mới đổi tên như hiện nay. Các đời Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Tùy, Đường, Bắc Tống... tiếp nối nhau mở hang động, tạo tượng. Hiện nay còn 5 hang động với 7743 pho tượng Phật và mấy mươi thiên đề kí. Hang động thứ nhất nhỏ hơn cả, chỉ rộng khoảng 4m2, 2 bên phía trong cửa có khắc bức tranh Vua và Hoàng hậu lễ Phật, 3 vách còn lại khắc tượng Phật và các sự tích tiền thân của Phật. Ở góc vách khắc hình thần vương, quái vật, kĩ nhạc. Tranh Vua và Hoàng hậu lễ Phật được chia làm 3 lớp 6 nhóm, mỗi lớp có các vị tỉ khưu và tỉ khưu ni đi trước dẫn đường, vua, hoàng hậu và những người tùy tùng tiền hô hậu ủng, phản ảnh tín ngưỡng tông giáo của nhà vua. Các tượng điêu khắc này phần nhiều đã bị phá hư, rồi người sau tu bổ lại và chính vì thế mà làm mất đi cái vẻ mặt nguyên bản, nhưng hình ảnh thì đơn giản, sinh động, là các tượng khắc tương đối vẫn hoàn chỉnh trong các phù điêu hiện còn ở Trung quốc. Hang động thứ 2, thứ 3, dựa vào sự cấu tạo của chúng mà suy đoán thì gần như là các tác phẩm của cùng một người. Mỗi mặt của cây cột vuông ở chính giữa có khám thờ Tam tôn Phật và 2 vị La hán. Trên 4 mặt vách đều khắc tượng Phật thiên thể, chư thiên tấu nhạc và đoàn người cúng dường xếp thành hàng. Hang động thứ 4 gồm hai hang Đông và Tây. Hang Đông có Tam tôn Phật được khắc tạo vào đời Bắc Ngụy, phía trên có bài minh khắc vào tháng 10 niên hiệu Hàm hanh năm đầu (670) đời Đường, ở 2 bên đều có khám thờ Phật. Trên vách mé tây mặt trước của hang Tây cũng có 3 khám lớn nhỏ thờ Phật, một trong 3 cỗ khám ấy có bài minh được khắc vào tháng 8 năm Càn phong thứ 2 (667) đời Đường. Trên vách ngăn đôi 2 hang Đông và Tây còn có khám thờ Phật 3 tầng, trong có bài minh cho biết các tượng Phật trong khám 3 tầng này đều được khắc tạo vào các năm Long sóc thứ 2 (662) và Long sóc thứ 3 (663) đời Đường. Bởi vì lúc đầu, trong các thạch quật này chỉ khắc có Tam tôn Phật mà thôi, đến đời Đường mới đục mở thêm nhiều Phật khám. Hang động thứ 5 có hình vuông, diện tích lớn nhất, rộng khoảng 7m, thiên tỉnh (khung trang trí trên vòm nóc động) cũng cao khoảng 7m. Trên mặt vách ở 2 bên phía ngoài của cửa vào có khắc tượng Kim cương lực sĩ, vách phía đông đã đổ nát, vách phía tây thì có khám thờ Phật cỡ nhỏ, trong đó có các bài minh được khắc vào các năm Diên tải năm đầu (694), Cửu thị năm đầu (700) và Hàm thông thứ 8 (867). Ở chính giữa có cây cột vuông khoảng 3m, ở4mặt đều có khắc khám thờ Phật cỡ lớn. Trên vách 3 phía đông tây bắc ở trong hang động, mỗi vách đều đục mở 4 khám thờ Phật, an trí Tam tôn Phật, phần trên đều tạo tượng Phật thiên thể. Trên vách ở 2 bên cửa vào phía trước cũng giống như hang thứ 2 và thứ 3, trên đó có 3 lớp phù điêu, khắc tranh nhân vật cúng dường xếp thành hàng, trên mặt vách cũng khắc tượng Phật thiên thể và tranh chư thiên tấu nhạc... Tóm lại, đặc sắc chung của 5 thạch quật trên đây là trong mỗi thạch quật có làm cột hình vuông, nhìn vào thủ pháp thì đây là thừa kế nghệ thuật thạch khắc Vân cương, Long môn, được đục mở, kiến tạo vào thời Bắc Ngụy mà thành. Nhưng không rõ hoặc vì đã lâu đời mà bị phá hủy, hay vì đã qua nhiều lần tô đắp mà hiện tại chỉ có bài minh tạo tượng ở thạchquật thứ nhất được khắc vào năm Thiên bình thứ 3 (536) đời Đông Ngụy là còn, ngoài ra các bài minh khác khắc vào đời Bắc Ngụy thì không thấy nữa. Giữa các vách đá của động thứ 4, thứ 5 có khám thờ Phật, bên trong thờ 3 tượng Phật ma nhai(tức tượng được khắc vào sườn núi) lớn, hơn phân nửa các Phật khám to lớn đã bị phá hoại, tượng Bồ tát đứng hầu bên trái đã mất; còn phần trên của tượng Bồ tát đứng hầu bên phải cũng bị hư hại, tuy nhiên vẫn còn biểu hiện rất rõ cái đặc chất của nghệ thuật điêu khắc thời Bắc Ngụy. Bản tôn là tượng Phật Thích ca đứng, hiển thị phong cách Bắc Ngụy, nhưng từ đầu gối trở xuống đã bị chôn vùi trong đất. Ngoài ra, trong tấm bia được khảm vào vách bên ngoài đạiđiện của chùa này còn giữ được bài tháp minh và lời tựa của ngài Diễn công (Minh diễn), 1 bậc Đại đức của Thiền tông đời Đường, đồng thời, sân trước của chùa cũng còn giữ được tấm bia của Đại sư Bảo nguyệt chùa Tịnh độ được dựng vào tháng 12 năm Thiệu thánh thứ 3 (1096) đời Tống. [X. Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển 434]. (xt. Thạch Quật, Củng Huyện Thạch Quật).
thạch sương
(石霜) I. Thạch Sương (807-888). Chỉ cho Đại sư Phổ hội Khánh chư sống vào đời Đường. Ngài trụ ở núi Thạch sương 20 năm, mở mang Thiền phong, trong số đại chúng tham học, có nhiều vị tăng ngồi mãi không nằm, sừng sững như những gốc cây, người đời gọi là Thạch sương khô mộc chúng (Chúng cây khô ở Thạch sương). (xt. Khánh Chư). II. Thạch Sương (986-1039). Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, là pháp tôn đời thứ 6 của ngài Lâm tế Nghĩa huyền, người Toàn châu, tỉnh Quảng tây, họ Lí, tên là Sở viên, tự Từ minh, trụ ở núi Thạch sương, thuộc Đàm châu, tỉnh Hồ nam.Thủa nhỏ, sư là một Nho sinh, năm 22 tuổi xuất gia ở chùa Ẩn tĩnh tại Tương sơn, nối pháp ngài Phần dương Thiện chiêu. Sau đó, sư đi tham họccác nơi như Sơn tây, Giang tây, Hồ nam... giao du rất rộng. Dưới sư, mở ra 2 phái Dương kì và Hoàng long. Năm Bảo nguyên thứ 2 (1039) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư tịch, thọ 54 tuổi. Đệ tử xây tháp thờ sư ở núi Thạch sương. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.12; Tục truyền đăng lục Q.3]. (xt. Sở Viên).
Thạch Sương Khánh Chư
石霜慶諸; C: shíshuāng qìngzhū; J: sekisō kei-sho; 807-888/889;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðạo Ngô Viên Trí.|Sư con nhà họ Trần, quê ở Tân Cang, Lô Lăng. Ban đầu Sư theo học Luật nhưng cho đây không phải là pháp môn đốn ngộ, bèn đến Quy Sơn Linh Hựu và làm chức giữ kho (tri khố). Một hôm Sư sàng gạo, Quy Sơn đến bảo: »Vật của thí chủ chớ để rơi rớt.« Sư thưa: »Chẳng dám rơi rớt.« Quy Sơn lượm từ dưới đất một hạt gạo lên hỏi: »Chẳng rơi rớt, đây là cái gì?« Sư không đáp được, Quy Sơn lại nói: »Chớ xem thường một hạt này, trăm ngàn hạt đều từ một hạt này sinh.« Sư thưa: »Trăm ngàn hạt từ một hạt này sinh, chẳng biết hạt này từ đâu sinh?« Quy Sơn cười ha hả rồi trở về phương trượng. Buổi chiều, Quy Sơn thượng đường bảo: »Ðại chúng! Trong gạo có sâu, các ngươi hãy khéo xem!«|Sau, Sư đến Ðạo Ngô. Sư hỏi: »Thế nào chạm mắt là Bồ-đề?« Ðạo Ngô gọi: »Sa-di!« Sư ứng: »Dạ!« Ðạo Ngô bảo: »Thêm nước trong tịnh bình«. Im lặng giây lâu Ðạo Ngô lại hỏi Sư: »Vừa rồi hỏi cái gì?« Sư toan thuật lại, Ðạo Ngô liền đứng dậy đi. Sư nhân đây có tỉnh.|Một hôm, Ðạo Ngô nói với chúng: »Ta trong tâm có một vật để lâu thành bệnh, có người nào hay vì ta dẹp?« Sư thưa: »Tâm vật đều không, trừ đó càng thêm bệnh.« Ðạo Ngô nói: »Lành thay! Lành thay!«|Sau đó khoảng hai năm, Sư rời Ðạo Ngô, đến Lưu Dương ở ẩn, sáng đi tối về không ai hay. Sau, Ðộng Sơn Lương Giới nhân lời nói của một thiền khách biết được Sư tại đây và từ đây chúng quanh lại thỉnh Sư trụ trì núi Thạch Sương. Sư trụ ở Thạch Sương 20 năm, dạy môn đệ rất kỉ luật, học chúng thường ngồi chẳng nằm vì vậy người ta thường gọi là »Chúng cây khô« (石霜枯木眾; Thạch Sương khô mộc chúng). Vua Ðường Hiến Tông quý trọng đạo hạnh của Sư, ban cho tử y (ca-sa tía), nhưng Sư từ chối không nhận.|Niên hiệu Quang Khải năm thứ tư (889), ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thân, Sư có chút bệnh rồi tịch, thọ 82 tuổi, 59 tuổi hạ. Vua sắc phong là Phổ Hội Ðại sư, tháp hiệu Kiến Tướng.
thạch sương khánh chư
Shih-shuang Ch'ing-chu (C), Sekisō-keishō (J) (807-888/889) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Đạo Ngô Viên Trí.
Thạch Sương Khánh Chư 石霜慶諸
[ja]セキソウキョウショ Sekisō kyōsho ||| Shíshuāng qìngzhū the fourth in the line of Chan tradition after Qīngyuán 青原. => (c: Shíshuāng qìngzhū; 807-888); Tổ thứ tư trong dòng thiền của Ngài Thanh Nguyên (c: Qīngyuán 青原).
thạch sương sơn
(石霜山) Cũng gọi Sương hoa sơn. Tên núi, nằm cách huyện Lựu dương, tỉnh Hồ nam 46km về phía tây nam. Phía nam giáp Lễ lăng, phía bắc giáp núi Động dương. Trên núi có chùa Sùng thắng, là nơi Thiền sư Phổ hội Khánh chư đời Đường đã cư trụ trong 20 năm. Vào năm Bảo nguyên thứ 2 (1039) đời vua Nhân tông nhà Bắc Tống, khi Thiền sư Sở viên thị tịch cũng được an táng ở núi này. Ngài Sở viên lúc cuối đời tuy có dời đến chùa Hưng hóa ở Đàm châu, nhưng thời kì sư mở mang tông phong Lâm tế đến độ toàn thịnh lại diễn ra ở Thạch sương, vì vậy nên an táng sư ở núi này. Trong các tùng lâm đương thời, tông Lâm tế là hưng thịnh nhất; dưới cửa ngài Sở viên lại mở ra 2 phái Hoàng long và Dương kì, vì thế ngài Thạch sương Sở viên rất nổi tiếng. [X. Đại minh nhất thống chí Q.63; Đại thanh nhất thống chí Q.276].
thạch sương sở duyên
Shih-shuang Ch'u-yuan (C), Shishuang Chuyuan (C), Sekiso Soen (J), Ch'i-ming (C) (986-1039) Còn gọi là Từ Minh. Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Phần Dương Triệu Châu.
Thạch Sương Sở Viên
(石霜楚圓, Sekisō Soen, 986-1039): tức Từ Minh Sở Viên (慈明楚圓), vị tổ đời thứ bảy của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Toàn Châu (全州, thuộc Tỉnh Quảng Tây), họ là Lý (李). Hồi nhỏ ông là thư sinh, đến năm lên 22 tuổi ông xuất gia tại Ẩn Tỉnh Tự (隱靜寺), Tương Sơn (湘山, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), rồi đến tham vấn với Thiện Chiêu (善昭) ở Phần Dương (汾陽) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Ngoài ra, ông còn đến tham yết với Đường Minh Tung (唐明嵩) nữa. Lần đầu tiên ông hóa đạo tại Nam Nguyên Sơn Quảng Lợi Thiền Viện (南源山廣利禪院), ở Viên Châu (袁州, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), rồi chuyển đến trú tại các chùa thuộc vùng Đàm Châu (潭州) như Thạch Sương Sơn Sùng Thắng Thiền Viện (石霜山崇勝禪院), Nam Nhạc Sơn Phước Nghiêm Thiền Viện (南岳山福嚴禪院), Hưng Hóa Thiền Viện (興化禪院). Đến năm thứ hai (1039) niên hiệu Bảo Nguyên (寳元), ông viên tịch, hưởng thọ 54 tuổi. Môn nhân của ông là Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) biên tập cuốn Từ Minh Thiền Sư Ngữ Lục (慈明禪師語錄) 1 quyển, ngoài ra còn có Từ Minh Thiền Sư Ngữ Yếu (慈明禪師語要) 1 quyển. Dòng pháp từ của ông có Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) và Dương Kì Phương Hội (楊岐方會) là hai nhân vật kiệt xuất nhất; sau nầy hai người đã phân thành 2 dòng phái khác là Dương Kì (楊岐) và Hoàng Long (黃龍).
; 石霜楚圓; C: shíshuāng chǔyuán; J: sekisō soen; 986-1039, còn được gọi là Từ Minh (慈明);|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, nối pháp của Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu. Sư có nhiều đệ tử đắc pháp nhưng có hai vị trội hơn hết, sáng lập ra hai hệ phái trong tông Lâm Tế là Hoàng Long Huệ Nam và Dương Kì Phương Hội.|Sư họ Lí quê ở Toàn Châu, xuất gia năm 22 tuổi. Mẹ Sư khuyến khích Sư đi du phương. Nghe danh Phần Dương là thiện tri thức bậc nhất, Sư tìm đến bất chấp mọi khó khăn. Phần Dương thấy Sư liền thầm nhận cho nhập hội.|Sư ở hai năm mà chưa được riêng dạy, mỗi lần vào thưa hỏi chỉ bị mắng chửi, nghe Phần Dương chê bai những vị Tôn túc khác, hoặc dùng những lời thô kệch. Một hôm Sư trách: »Từ ngày đến bây giờ đã hai năm mà chẳng được dạy bảo, chỉ làm tăng trưởng niệm thế tục trần lao, năm tháng qua nhanh việc mình chẳng sáng, mất cái lợi của kẻ xuất gia.« Phần Dương nhìn thẳng vào mặt Sư mắng: »Ðây là ác tri thức dám chê trách ta« và cầm gậy đánh. Sư toan la cầu cứu, Phần Dương liền bụm miệng Sư. Sư bỗng nhiên đại ngộ, nói: »Mới biết đạo Lâm Tế vượt ngoài thường tình.« Sư ở lại hầu hạ thầy bảy năm.|Sau, Sư trụ ở Thạch Sương. Nhân ngài giải hạ, Sư dạy chúng:|Ngày xưa làm trẻ con, hôm nay tuổi đã già, chưa rõ ba tám chín, khó đạp đường ngôn ngữ khéo léo. Tay quét Hoàng hà khô, chân đạp Tu-di ngã, phù sinh thân mộng huyễn, mệnh người đêm khó giữ. Thiên đường địa ngục đều do tâm tạo ra, núi Nam tùng ngọn Bắc, ngọn Bắc cỏ núi Nam. Một giọt thấm vô biên, gốc mầm mạnh khô kháo, tham học vào năm hồ, chỉ hỏi hư không thảo. Chết cởi áo trời hạ, sinh đắp mền trăng đông, rõ ràng người vô sự, đầy đất sinh phiền não.|Sư nói xong hét một tiếng rồi xuống toà.|Sư hoằng hoá tại Thạch Sương, môn phong Lâm Tế rất thịnh hành. Một hôm, sau khi thăm người bạn đạo Lí Công xong, Sư cùng thị giả trở về. Giữa đường, Sư bảo thị giả: »Ta vừa bị bệnh phong.« Nhìn thấy Sư bị bệnh phong giật méo qua một bên, thị giả dậm chân nói: »Tại làm sao lúc bình thường quở Phật mắng Tổ, hôm nay lại như vậy?« Sư bảo: »Ðừng lo, ta sẽ vì ngươi sửa lại ngay«. Nói xong, Sư lấy tay sửa miệng lại ngay như cũ và nói: »Từ nay về sau chẳng nhọc đến ngươi.«|Năm 1041, Sư đến Hưng Hoá. Ngày mùng năm tháng giêng, Sư tắm gội xong từ biệt chúng rồi ngồi kết già an nhiên thị tịch, thọ 54 tuổi, 32 tuổi hạ.
thạch sương sở viên
Shih-huang Ch'u-yuan (C), Sekisō Soen (J) Tên một vị sư.
thạch sương sở viên thiền sư ngữ lục
(石霜楚圓禪師語錄) Gọi đủ: Từ minh thiền sư ngũ hội trụ trì ngữ lục. Cũng gọi: Từ minh hòa thượng ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Thạch sương Sở viên soạn vào đời Tống, ngài Hoàng long Tuệ nam biên lại, được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung biên tập các pháp ngữ thị chúng, thướng đường của ngài Sở viên nói ở chùa Quảng lợi tại Viên châu, ở núi Đạo ngô tại Đàm châu, ở viện Sùng thắng tại núi Thạch sương thuộc Đàm châu, ở chùa Phúc nghiêm tại núi Nam nhạc và các phần cơ duyên, khám biện, kệ tụng... Trong phần kệ tụng, ngoài Tam quyết tam cú, Tam huyền tam yếu của tông Lâm tế ra, còn có Ngũ vị tụng của tông Tào động. Ngoài ra, Cổ tôn túc ngữlụcquyển 11 trong Vạn tục tạng tập 118 có trích in các ngữ yếu của ngài Sở viên, lấy tên là Từ minh thiền sư ngữ lục.
Thạch Sương Sở Viên 石霜楚圓
[ja]セキソウソエン Sekisō soen ||| Shíshuāng chŭyuán (986-1039) ; the sixth in the line of the Chan tradition after Linji 臨濟. He is referred to in the Wumenguan 無門關, probably refers to the latter. => (c: Shíshuāng chŭyuán; 986-1039). Tổ thứ sáu trong dòng thiền Lâm Tế. Được đề cập trong Vô môn quan (c: Wumenguan 無門關).
thạch sương thiền sư
Zen master Shi-Shuang—See Khánh Chư Thiền Sư.
thạch sương thất khứ
(石霜七去) Bảy chữ khứ(đi, bỏ qua)của ngài Thạch sương. Đệ tử nối pháp của Thiền sư Thạch sương Khánh chư (807-888) đời Đường là ngài Cửu phong Đạo kiền dùng 7 ngữ cú mà Thiền sư Thạch sương lúc sinh tiền thường nói khi khai thị người học để xét nghiệm Thủ tọa, đồng thời cho rằng 7 câu này là thái độ tu hành mà người học cần phải có. Trong 7 ngữ cú này, chữ cuối của mỗi ngữ cú đều là chữ Khứ, vì thế gọi chung là thất khứ. Đó là: 1. Hưu khứ (thôi đi): Đình chỉ tất cả mọi hành vi động tác. 2. Hiết khứ (nghỉ đi, dứt đi): Dứt bặt tất cả kiến giải phân biệt, đối lập như thân với tâm, năng với sở... 3.Lãnh tưu tưu địa khứ (lạnh mát rời rợi đi): Dập tắt tất cả sự nhiệt não về mêngộ, phàm thánh để đạt đến cảnh giới mát rợi.4. Nhất niệm vạn niên khứ (hãy như một niệm vạn năm đi): Giữ gìn một niệm như như bất động. 5. Hàn khôi khô mộc khứ(tro lạnh cây khô đi): Không còn mảy may hình thức phân biệt.6. Cổ miếu hương lư khứ (lò hương miếu cũ đi): Hãy trừ bỏ hết chấp trước, giống như tàn nhang trong miếu xưa bay hết. 7. Nhất điều bạch luyện khứ (một loạt trắng tinh đi): Trong quá trình lãnh ngộ Phật pháp, bất luận đối với Chính vị (tiêu biểu chokhông giới chân như) hay Thiên vị (tiêu biểu cho sắc giới hiện tượng) đều phân minh rõ ràng, không có bất cứ một vết nhơ nghi ngại nào, giống như tấm lụa trắng phau thuần khiết không nhuộm màu vậy.[X. Hư đường tập, tắc 38; Thiết văn thụ hòa thượng bách tắc bình tụng].
thạch sương tánh không
Shih shuang Hsing k'ung (C) Tên một vị sư.
Thạch Sương 石霜
[ja]セキソウ sekisō ||| A reference to either Shíshuāng qìngzhū 石霜慶諸 or Shíshuāng chŭyuán 石霜楚圓. => Chỉ cho Thạch Sương Khánh Chư (c: Shíshuāng qìngzhū 石霜慶諸 ) hoặc Thạch Sương Sở Viên (c: Shíshuāng chŭyuán 石霜楚圓).
thạch tháp
(石塔) Cũng gọi Thạch tốt đổ ba, Thạch tháp bà, Suất tháp bà, Thạch phù đồ, Thạch phật đồ.Một trong các loại tháp bà (Phạm: Stùpa). Vốn là vật kiến trúc được tạo lập để thờ xá lợi Phật, về sau thường được dùng làm bia mộ, như tháp mộ, đá mộ, bia mộ, nên cũng gọi là Thạch bi, được xây dựng để kỉ niệm người chết và tiêu biểu cho đức của họ. Theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 3, đức Phật dạy trong thế gian có 4 hạng người nên xây tháp để ghi nhớ, đó là Như lai, Bích chi phật, Thanh văn, và Chuyển luân vương. Và để nêu rõ sự sai biệt giữa Như lai và phàm phu, sự cấu tạo tháp cũng có tầng bậc khác nhau. Như tháp Ngũ luân trong Thai tạng giới của Mật giáo là hình Tam muội da tượng trưng đức Đại nhật Như lai. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 thì biết Ấn độ đã có chế độ tháp mộ rất sớm. Ở Trung quốc xưa nay vốn có chế độ bia mộ được dựng theo lăng mộ, bậc vua chúa và người giàu có còn tạc người bằng đá, thú vật bằng đá, cửa khuyết bằng đá..., sau khi Phật giáo truyền đến thì lại dựng thêm bia tháp. Từ thời Lục triều về sau sự tạo lập tháp mộ đã lưu hành rộng rãi, những tháp hiện còn phầnnhiều được tạo lập từ các đời Tùy, Đường về sau. Thạch tháp có rất nhiều chủng loại, như tháp 4 góc 7 tầng, 6 góc 5 tầng, 13 tầng, 9 tầng..., hình dáng và số tầng đều có khác nhau; lại có loại tháp vô phùng, 1 trong đó mang hình quả trứng, gọi là Noãn tháp. [X. phẩm Tứ ý đoạn trong kinh Tăng nhất a hàm Q.19; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.18; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Bạch mã tự trong Lạc dương già lam kí Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.29; Lâm gian lục Q.thượng; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tháp).
thạch thất hành giả
(石室行者) Chỉ cho Thiền sư Thạch thất Thiện đạo thuộc hệ thống ngài Thanh nguyên Hành tư đời Đường. Thạch thất nghĩa là nhà giã gạo. Ngài Thiện đạo nối pháp Thiền sư Trường tề khoáng ở Đàm châu, sau khi thụ giới, sư tham yết ngài Thạch đầu Hi thiên được đại ngộ. Sau khi đắc pháp thì gặp đúng lúc pháp nạn, sư liền bỏ hình thức tăng mà làm hành giả (người chưa xuất gia) và ở trong nhà giã gạo. Tuy sư ở trong nhà giã gạo mà vẫn không quên việc xiển dương Phật pháp, vì thế trong Thiền lâm gọi sư là Thạch thất hành giả. [X. Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q.thượng].
thạch thất quốc
(石室國) Chỉ cho nước Đát xoa thủy la (Phạm: Takwazila, Hán dịch là Tiệt đầu quốc) nằm về phía đông nam nước Kiện đà la, Bắc Ấn độ. Thời quá khứ xa xưa, đức Thích tôn còn là Bồ tát từng ở nước này đem đầu của mình bố thí cho người. Vì ứng hợp với truyền thuyết bố thí đầu, cho nên từ chữ Thủy la (Phạm:Zilà) có nghĩa là Thạch biến thành chữ Thi la (Phạm: Ziras) có nghĩa là Đầu. (xt. Đát Xoa Thủy La Quốc).
thạch trụ
Stone pillar.
thạch tượng
(石象) Chỉ cho con voi khắc bằng đá hoặc voi đã hóa thành đá. Cứ theo Đại minh nhất thống chí thì trong trang trại voi ở phủ Hà nam có thạch tượng, đó là do thời Đông Hán các vị tăng từ Tây trúc dùng voi chở kinh Phật đến Lạc dương, sau hóa thành đá.
Thạch Vũ Minh Phương
(石雨明方, Sekiu Myōhō, 1593-1648): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Thạch Vũ (石雨), sinh ngày 29 tháng giêng năm thứ 21 (1593) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆) nhà Minh, xuất thân Võ Đường (武塘), Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Ông đến tham học và xuất gia với Tây Trúc Tông (西築宗). Vào năm thứ 43 (1615) niên hiệu Vạn Lịch, ông đến tham yết Trạm Nhiên Viên Trừng (湛然圓澄) ở Thạch Phật Tự (石佛寺), Gia Hưng (嘉興). Tu hành khắc khổ trong vòng 7 năm, cuối cùng ông kế thừa dòng pháp của vị này. Đến năm thứ 5 (1632) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông làm trú trì Thiên Hoa Tự (天華寺) ở Phủ Thiệu Hưng (紹興府, Tỉnh Triết Giang) và sau đó từng sống qua các chùa khác như Vân Môn Thánh Hiển Tự (雲門聖顯寺), Bảo Thọ Sơn Quang Hiếu Tự (寶壽山光孝寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), Di Sơn Tây Thiền Tự (怡山西禪寺), Tuyết Phong Tự (雪峰寺) ở Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), Linh Sơn Tự (靈山寺) ở Đinh Châu (汀州, Tỉnh Phúc Kiến), Phổ Minh Tự (普明寺) ở Phủ Kiến Ninh (建寧府, Tỉnh Phúc Kiến), Linh Phong Tự (靈峰寺) ở Khảo Đình (考亭), Long Môn Sơn Ngộ Không Tự (龍門山悟空寺) ở Hàng Châu, Đông Tháp Quảng Phước Tự (東塔廣福寺) ở Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang), Cao Đình Sơn Phật Nhật Tự (皐亭山佛日寺) ở Hàng Châu, Tượng Điền Tự (象田寺) và Lan Ngạc Sơn Tự (蘭萼山寺) ở Phủ Thiệu Hưng (紹興府). Vào ngày mồng 8 tháng giêng năm thứ 5 (1648) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông thị tịch, hưởng thọ 56 tuổi đời và 35 hạ lạp. Môn nhân là Viễn Môn Tịnh Trú (遠門淨住) biên tập bộ Thạch Vũ Thiền Sư Pháp Đàn (石雨禪師法檀) 20 quyển và soạn bản Hành Trạng (行狀).
thạch vũ thiền sư pháp đàn
(石雨禪師法檀) Cũng gọi Thạch vũ pháp đàn. Tác phẩm, 20 quyển, do ngài Thạch vũ Minh phương soạn vào đời Minh, ngài Viễn môn Tịnh trụ biên tập, ấn hành vào năm Thuận trị thứ 6 (1649) đời Thanh. Nội dung sách này biên tập các ngữ lục, phổ thuyết, thị chúng, cơ duyên, cho đến các bài tụng cổ, tán, pháp ngữ, thi kệ, tự, kí, minh, bạt, sớ, thư vấn, Phật sự, tế văn, tạp trứ, hành trạng của ngài Minh phương đã giảng dạy hoặc biên soạn, bắt đầu từ chùa Phật nhật ở phủ Hàng châu, qua đến 13 đạo tràng tại 6 phủ, tất cả gồm 15 hội.
Thạch Ðầu Hi Thiên
石頭希遷; C: shítóu xīqiān; J: sekitō kisen; 700-790; |Thiền sư Trung Quốc, đắc đạo nơi Thanh Nguyên Hành Tư. Môn đệ của Sư có ba vị danh tiếng là Dược Sơn Duy Nghiễm, Ðan Hà Thiên Nhiên và Thiên hoàng Ðạo Ngộ.|Sư ở Hồ Nam và Mã Tổ ở Giang Tây là hai vị thầy danh tiếng nhất đương thời. Sử sách ghi lại rằng »Mã Ðại sư hoằng hoá tại Giang Tây, Thạch Ðầu Hoà thượng tại Hồ Nam và Thiện tri thức đều đến hai nơi này. Ai không yết kiến hai vị này là uổng công tu hành«.|Sư họ Trần, quê ở Cao Yếu, Ðoan Châu. Sư mộ đạo từ nhỏ, nhân nghe Lục tổ Huệ Năng giáo hoá tại Tào Khê Sư liền đến. Ðến chưa bao lâu thì Tổ báo tin sắp tịch, khuyên Sư đến Thanh Nguyên Hành Tư tham vấn. Sư đến Thiền sư Hành Tư và nhân đây ngộ đạo. Sau, Sư đến Hoành Nhạc tại Nam Tự cất am tranh ở. Cạnh chùa có đồi đá cao nên thời nhân kính trọng gọi Sư là Hoà thượng Thạch Ðầu.|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là giải thoát?« Sư đáp: »Ai trói ngươi?« Tăng hỏi: »Thế nào là →Tịnh độ?« Sư đáp: »Cái gì làm nhơ ngươi?« Tăng hỏi: »Thế nào là →Niết-bàn?« Sư đáp: »Ai đem sinh tử cho ngươi?«|Ðời Ðường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ sáu, ngày rằm tháng chạp Sư viên tịch, thọ 91 tuổi, được 63 tuổi hạ. Vua sắc phong là Vô Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn.
thạch điền pháp huân
Shih tien Fa hsun (C) Tên một vị sư.
thạch đào
(石濤) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người ở Thanh tương, tỉnh Quảng tây, có thuyết nói người ở Quế lâm. Sư nổi tiếng về thư họa, là 1 trong 4 vị tăng trứ danh cuối đời Minh (Minh mạt tứ tăng) trong lịch sử hội họa Trung quốc. Sư vốn là Chu nhược cực, tôn thất (họ vua) của triều Minh. Từ nhỏ, thấy mầm mống nội loạn của nhà Minh, sư đã gửi mình nơi cửa Phật. Sư từng theo học ngài Bản nguyệt. Ngoài Phật học, sư còn theo học cả thư họa, thi văn(viết các kiểu chữ, vẽ tranh, làm thơ, soạn văn). Sau khi nhà Minh diệt vong, sư xuất gia làm tăng, lấy pháp danh là Nguyên tế, sau đổi thành Đạo tế, hiệu Đại địch tử, Thanh tương lão nhân. Về già, sư lấy các biệt hiệu là Hạt tôn giả, Lão đào, Chi hạ tẩu và tự xưng là Khổ qua hòa thượng. Sư bẩm tính ngay thẳng, không ưa bợ đỡ người khác, từng nuôi chí phản Thanh phục Minh(đánh đổ nhà Thanh, khôi phục nhà Minh). Sau thấy vận thế nhà Minh đã hết, sư bèn vân du các nơi Tiêu tương, Động đình, Lô sơn... Lúc trung niên, sư thường ở Tuyên thành thuộc tỉnh An huy và thường du ngoạn Hoàng sơn, tự cho rằng mình đã lãnh hội được tính Hoàng sơn, tranh sơn thủy của sư lấy Hoàng sơn làm cốt mạch, từ đó mở ra phái Hoàng sơn.Về già, sư định cư ở Dương châu, giao du rất rộng, tiếng tăm ngang với Thạch khê Khôn tàn, được gọi chung là Nhị thạch. Bình sinh, sư giỏi về hội họa, nhất là tranh sơn thủy, lan, trúc, hình thức trang nhã, cổ kính, người đương thời suy tôn sư là Giang Nam Đệ Nhất. Sư cũng giỏi về thư pháp, khắc ấn, nhất là kiểu chữ Lệ, thơ văn cũng hay. Những họa phẩm của sư phần nhiều mang đậm ý Thiền, ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau. Sau có các tác phẩm: Đại địch tử đề
thạch đầu
Shih-t'ou (C).
thạch đầu hi thiên
Shih-t'ou Hsi hsien (C), Sekitō Kisen (J) (700 - 790). Một vị thầy nổi tiếng cùng thời ngài Mã Tổ (thế kỷ thứ 8) ở Trung quốc, người thừa kế của ngài Thanh Nguyên Hành Tự Tên một vị sư. (700-790).
; (石頭希遷) Cũng gọi Vô tế đại sư. Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người ở Cao yếu, Đoan châu (Cao yếu, Quảng đông), họ Trần. Sư thông minh lanh lợi từ thủa nhỏ. Vì dân làng sợ hãi quỉ thần nên thường giết trâu, nấu rượu để cúng tế, gây rất nhiều tệ hại. Sư liền phá bỏ miếu thờ thần, dắt trâu đem về. Sư từng lễ các ngài Lục tổ Tuệ năng và Thanh nguyên Hành tư làm thầy, được Thanh nguyên Hành tư ấn khả. Khoảng đầu năm Thiên bảo (742-755), sư trụ ở chùa Hành sơn nam, kết am tọa thiền trên tảng đá phía đông chùa, do đó, người đời gọi sư là Thạch đầu hòa thượng. Sư tự cho rằng pháp môn của mình không bàn thiền định có tinh tiếnhay không, mà chỉ cần rõ suốt tri kiến của Phật, chính là Tức tâm tức Phật; tâm, Phật, chúng sinh, bồ đề, phiền não, tên tuy khác nhưng thể thì là một. Các Thiền sư Hoài nhượng... đều kính trọng sư. Bấy giờ, ở tỉnh Giang tây, đứng đầu là ngài Mã tổ; ở tỉnh Hồ nam, đứng đầu là ngàiThạch đầu, người học từ 4 phương phần nhiều đều qui tụ dưới tòa của 2 ngài. Tháng 12 năm Trinh nguyên thứ 6 (790), sư thị tịch, thọ 91 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tham đồng khế 1 thiên, Thảo am ca 1 thiên.
Thạch Đầu Hy Thiên
(石頭希遷, Sekitō Kisen, 700-790): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, còn được gọi là Vô Tế Đại Sư (無際大師), người vùng Cao Yếu (高要), Đoan Châu (端州, Cao Yếu, Quảng Đông), họ Trần (陳). Ông bản tánh rất thông minh, lanh lợi, nhân thấy người dân trong làng thường giết bò tế quỷ thần, nhiều lần như vậy, ông bèn phá đền thờ thần rồi dẫn bò về nhà. Ban đầu ông theo hầu hạ Huệ Năng (慧能), rồi sau khi thầy mình qua đời, ông chuyển sang làm đệ tử của Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思) ở Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm đầu niên hiệu Thiên Bảo (天寳, 742-755), ông sống tại Nam Tự (南寺), Hành Sơn, làm am tranh trên tảng đá ở phía Đông chùa mà ngồi Thiền, nên được người đời gọi là Hòa Thượng Thạch Đầu (石頭). Đương thời ở Giang Tây (江西), Mã Tổ là chủ, còn ở Hồ Nam (湖南) Thạch Đầu là chủ, học đồ ở bốn phương đều tập trung về pháp tịch của 2 vị này. Tuy nhiên, giống như Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟), Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然) cũng đã từng tu hành dưới trướng của Mã Tổ, rồi Ngũ Duệ Linh Mặc (五洩靈黙) mà sau này được xem như là đệ tử của Mã Tổ, cũng có đến tham yết Thạch Đầu, sự qua lại giữa môn hạ của hai nhân vật này rất thường xuyên, và ta cũng thấy rằng họ có cùng một tư tưởng như nhau. Vào tháng 12 năm thứ 6 niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) nhà Đường, ông thị tịch, hưởng thọ 91 tuổi. Trước tác của ông có Tham Đồng Khế (參同契), Thảo Am Ca (草庵歌).
thạch đầu hy thiên thiền sư
Ông sanh vào khoảng năm 700 sau Tây Lịch, quê ở làng Cao Yếu, quận Đoan Châu (bây giờ là phía Tây của Quảng Châu). Ông họ Trần. Người ta kể lại khi thọ thai ông, mẹ ông tránh ăn thịt. Khi còn rất nhỏ mà sư đã không bao giờ làm phiền ai. Đến lúc lớn khôn, lúc nào sư cũng tự an ổn vui tươi, không khi nào tỏ vẻ không bằng lòng. Nơi ông ở dân chúng kinh sợ quỷ thần nên giết bò mua rượu tế lễ. Sư một mình đi vào rừng sâu, phá đàn và thả bò đi. Khi xuất gia, sư đến Tào Khê thọ giáo với Lục Tổ Huệ Năng, nhưng chưa thọ cụ túc giới. Khi Lục Tổ tịch, ông về thọ giáo với sư huynh Hành Tư (cũng là một đại đệ tử của Lục Tổ). Ông trở thành đại đệ tử của Thiền Sư Hành Tư, và từ đó ông cũng trở thànhø một trong những thiền sư hàng đầu của Trung Quốc vào thời đại nhà Đường. Ông có tên Thạch Đầu (đầu hòn đá) do sự kiện ông sống trong một cái am mà ông tự xây trên một tảng đá lớn và phẳng. Ba trong số năm Thiền phái Trung Hoa ngày nay có nguồn gốc từ Thạch Đầu và những người kế tục ông. Ông tịch vào năm 790 sau Tây Lịch—Shih-T'ou-Hsi-T'ien was born in 700 A.D. in Cao-Yao hamlet, Duan-Chou district (west of present-day Kuang-Chou). His last name was Chen. It is said that when Shi-Tou's mother became pregnant she avoided eating meat. When he was a small child he was untroublesome. As a young man he was magnanimous. The people where he grew up feared demons and performed debased sacrifices of oxen and wine. He would go alone into the deep woods and destroy the ceremonial altars, seize the oxen, and drive them away. Later, Shi-Tou went to Tao-Xi to become a disciple of the Sixth Patriarch Hui-Neng, but did not undergo full ordination as a monk. When the Sixth Patriarch died, Shi-Tou obeyed Hui-Neng's request to go to study with Xing-Si (also one of the great disciples of the Sixth Patriarch). He later became one of the great disciples of Xing-Si Zen Master, and since then he also became one of the leading Chinese Zen masters during the T''ang dynasty. He acquired the name Shih-T'ou or rock-top from the fact that he lived in a hut he had built for himself on a large flat rock. Three of the five traditional schools of Chinese Zen traced their origins through Shi-Tou and his heirs. He died in 790 A.D.
thạch địa tạng
(石地藏) Chỉ cho tượng củabồ tát Địa tạng được tạc bằng đá. Tại Nhật bản, tượngbồ tát Địa tạng bằng đá thường được an trí bên lề đường, gọi là Nhu Phật.
thạch ốc thanh hòng
Shih wu Ching hung (C) Tên một vị sư.
thạnh
Upadana (p)—Growing.
Thạnh, Thịnh 盛
[ja] ジョウ jō ||| (1) Serve, fill, help up, hold, contain. (2) To prosper, flourish; abundant. Plentiful, prosperous, successful, energetic. (3) Quantity; good measure. (4) Height, peak, prime, bloom. => 1. Chứa, làm đầy, giúp đỡ, dung nạp, chứa đựng. 2. Thịnh vượng, phồn thịnh; phong phú. Sung túc, phát đạt, thành công, đầy nghị lực. 3. Số lượng lớn; biện pháp đúng đắn. 4. Chiều cao, đỉnh, chóp, chủ yếu, thời kỳ rực rỡ.
thả
1) Trả tự do: To let go—To set free—To free—To release—To discharge. 2) Giải phóng: To liberate. 3) Hơn nữa: Moreover—yet—Meanwhile.
; (且) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thả bao hàm các ý nghĩa: Vả lại, vả chưng,hãy thế, tạm hãy thế, hãy còn, vẫn còn... Trong các sách vỡ Thiền tông như Ngữ lục hoặc Truyền đăng lục... thường có dụng ngữ thả như thả trụ (hãy tạm dừng), thả mạc (tạm thời không cần đến, hoặc hãy bỏ), thả đạo(hãy nói thử xem), thả hỉ (tất cả đều đáng mừng, hoặc dù sao cũng đáng mừng), thả như(ví dụ như, chẳng hạn như), thả thuyết(lời nói chuyển sang câu khác), thả trí(hãy tạm gác qua 1 bên)... cách dùng cũngnhư ý nghĩa của các từ này không nhất định.
thả chim
To release or let a bird go.
thả cửa
As one pleases.
thả hỉ một giao thiệp
(且喜沒交涉) Thả hỷ là vẫn đáng mừng; Một giao thiệp là chẳng liên quan gì. Tức điều đó cũng tốt, nhưng chẳng liên quan gì cả. Thiền tông thường dùng nhóm từ này để phủ định những câu nói mới nghe tựa hồ rất hay, rất đúng, nhưng thực chất thì chẳng liên quan gì cả. [X. Bích nham lục tắc 5; Thung dung lục tắc 49].
thả hỷ
So be it—Granted.
Thả như
且如; C: qiěrú; J: shonyo;|Giống như, như là.
thả trôi
Moving about without being guided—Driven by wind or water—To adrift at the mercy of the waves.
Thả ước
且約; C: qiěyuē; J: shaaku;|Theo quan điểm nầy, từ phương diện nầy.
thải
To discharge—To eliminate—To fire—To dismiss.
thải hồi
See Thải.
thảm
1) Carpet. 2) Tragic.
thảm khốc
Tragic—Cruel—Terrible.
thảm sầu
Grievous—Sad—Sorrowful.
thảm thiết
Tragic.
thảm thê
Thê thảm—Painful—Piteous.
thảm thương
Pitiful.
thảm trạng
Tragic (painful) situation.
thảm đạm
Ảm đạm—Sad—Gloomy.
thản
Bình thản—Unevenful—Even.
thản nhiên
Tan jan (C) Xem Xả.
; Unimpressionable—Unmoved—Emotionless—Even-mindedness.
thản nhiên không chút động tâm trước những đau thương hay cái chết của người khác
To remain emotionless before the suffering or the death of others.
Thản phục
(坦腹): để lộ bụng ra thấy rốn, nằm phơi bụng. Trong Thế Thuyết Tân Ngữ (世說新語), phần Nhã Lượng (雅量) của Lưu Nghĩa Khánh (劉義慶, 403-444) nhà Tống thời Nam Triều có đoạn: “Khích Thái Phó tại kinh khẩu, khiển môn sinh dữ Vương Thừa Tướng thư, cầu nữ tế. Thừa Tướng ngữ Khích Tín: 'Quân vãng đông sương, nhậm ý tuyển chi.' Môn sinh quy bạch Khích viết: 'Vương gia chư lang giai khả hỷ.' Văn lai mích tế, hàm tự căng trì, duy hữu nhất lang tại đông sàng thượng thản phục ngọa, như bất văn. Khích công vân: 'Chánh thử hảo.' Phỏng chi, nãi thị dật thiểu, nhân giá nữ dữ yên (郄太傅在京口、遣門生與王丞相書、求女壻。丞相語郄信:君徃東廂、任意選之。門生歸白郄曰:王家諸郎亦皆可嘉。聞來覓壻、咸自矜持、唯有一郎在東牀上坦腹臥、如不聞。郄公雲:正此好、訪之、乃是逸少、因嫁女與焉, khi Khích Thái Phó đang ở kinh đô, sai môn sinh đem thư đến cho Vương Thừa Tướng cầu kén rễ. Thừa Tướng bảo Khích Tín rằng: 'Ngươi cứ qua bên nhà đông, tùy ý chọn lựa.' Môn sinh trở về thưa lại với Khích Thái Phó rằng: 'Các chàng trai của vương gia đều có thể vui mừng thuận theo.' Nghe vậy, ông bèn đến xem mặt chàng rễ, ai ai cũng háo hức chờ đợi, duy chỉ có một chàng nằm phơi bụng thản nhiên trên giường phía đông, như thể chẳng nghe thấy gì cả. Khích Thái Phó bảo: 'Quả đúng người này rồi !' Hỏi ra mới biết chàng ta là người sống ít ham muốn, do đó ông gả con gái cho anh ta).” Từ đó, xuất hiện từ “đông sàng thản phục (東牀坦腹)” hay “thản phục đông sàng (坦腹東牀)”, được dùng dể chỉ cho người chồng của con gái mình, tức chú rễ. Như trong Tùy Đường Diễn Nghĩa (隋唐演義) hồi thứ 6 của Trử Nhân Hoạch (褚人獲, ?-?) nhà Thanh, có đoạn rằng: “Ngã thị Lý phủ trung tiểu thư đích bảo mẫu, nhân lão da, phu nhân yếu sính công tử đông sàng thản phục, đản ngã gia tiểu thư … thệ nguyện giá nhất cá thiện võ năng văn, túc trí đa mưu đích kỳ nam tử (我是李府中小姐的保母、因老爺、夫人要聘公子東牀坦腹、但我家小姐…誓願嫁一個善武能文、足智多謀的奇男子, tôi là bảo mẫu của tiểu thư trong phủ họ Lý; nhân lão gia và phu nhân cần kén chàng rễ công tử, nhưng tiểu thư nhà tôi … lại thề nguyện lấy một chàng trai đặc biệt khéo võ nghệ, giỏi văn chương, túc trí đa mưu).”
thản sơn
(坦山) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Tào động, người ở Bàn thành (huyện Phú đảo), họ Nguyên, hiệu Hạc sào, Giác tiên. Sư kiêm học tập Nho học, Phật học và Y học. Năm Minh trị thứ 5 (1872), sau khi vào cửa Phật, sư làm chức Giáo đạo. Sau vì vi phạm luật xuất bản nên bị tước bỏ tăng tịch. Không bao lâu, theo lời thỉnh của Bản nguyện ở Trúc địa, sư khai giảng kinh Phật. Năm Minh trị 11 (1878), sư sáng lập Phật tiên xã tại Tokyo để chỉ dạy người học. Năm sau, sư làm Giảng sư môn Triết học Ấn độ ở trường Đại học Tokyo, dạy chương trình Phật giáo. Năm Minh trị 13 (1880), sau khi được khôi phục tăng tịch, sư trụ ở chùa Tối thừa. Sư từng giữ các chức Tổng giám và Quản trưởng Đại lí Đại học lâm của tông Tào động. Năm Minh trị 25 (1892) sư tịch, thọ 74 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Thủ lăng nghiêm kinh giảng nghĩa, Tâm thức luận, Thời đắc sao, Hoặc bệnh đồng nguyên luận, Hạc sào tập... tất cả được thu vào Thản sơn Hòa thượng toàn tập.
Thản Văn
坦文; C: tănwén; J: tanbun; K: tanmun, 900-975;|Học giả chính của Hoa Nghiêm tông trong thời Cao Li (k: koryŏ).
Thản Văn 坦文
[ja] タンブン Tanbun ||| (900-975) Tanmun; a major Hwaŏm scholar of the Koryŏ period. => k: Tanmun(900-975); học giả chính của Hoa Nghiêm tông trong thời kỳ Cao Lệ (k: Koryŏ).
thảng hoặc
By chance---Occasionally.
thảnh nữ li hồn
(倩女離魂) Tên công án trong Thiền lâm. Cô gái xinh đẹp hồn lìa khỏi xác. Đây là một câu chuyện quái đản được ghi trong Tiễn đăng tân thoại quyển thượng như sau: Thảnh nương đã hứa hôn với một người tên là Vương trụ, nhưng sau cha nàng cự tuyệt, Thảnh nương vì uất ức mà thành bệnh. Vương trụ cũng rất oán hận mà bỏ nhà đi đến kinh đô; giữa đường bỗng gặp Thảnh nương, 2 người bèn đưa nhau đến đất Thục. Sau khi sống với nhau trong 5 năm, Thảnh nương sinh được 2 con, 2 vợ chồng lại dắt 2 con trở về nhà nhạc gia tạ lỗi.Nhưng thực ra từ khi Vương trụ bỏ nhà ra đi, Thảnh nương vẫn còn bị bệnh nằm trong khuê phòng, chỉ còn hơi thở thoi thóp. Bởi vậy, khi thấy Vương trụ và Thảnh nương dắt 2 con trở về, mọi người đều kinh ngạc. Bấy giờ, cô gái nằm liệt trên giường bệnh trong phòng nghe tin cũng rất vui mừng và đi ra đón họ. Hai vị Thảnh nương mới nhập lại làm một. Thảnh nương đi với Vương trụ thực ra chỉ là hồn của cô gái đang bệnh nằm liệt giường đã lìa khỏi xác mà thôi. Vô môn quan tắc 35 (Đại 48, 297 trung) nói: Ngũ tổ hỏi vị tăng: Thảnh nữ li hồn, cô nào là thật? Thiền tông mượn câu chuyện li kì trên đây làm công án, mục đích khiến người học tham cứu bản tính của tự tâm con người rốt cuộc là chân hay vọng, thiện hay ác, hoặc thân, tâm là một hay khác. [X. chương Ngũ tổ trong Chính thống lục Q.6; Chiết trung lục Q.15; Đạo thụ lục Q.86].
thảnh thơi
Disengaged—Free.
thảo
1) Cỏ: Grass—Herbs—Plants. 2) Hiếu thảo: Filial.
thảo am
Ngôi nhà tranh dùng làm tự viện hay chỗ an cư kiết hạ—A thatched hut as a monastery or retreat—A thatched hut for meditation.
thảo diệu pháp hành
Saddhammacara (P) Tỳ kheo Tích Lan.
Thảo dã
(草野): có ba nghĩa. (1) Cánh đồng cỏ dại mọc um tùm, thảo nguyên hoang sơ. Như trong bài Thái Sơn Lương Phủ Hành (泰山梁甫行) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc có đoạn: “Bát phương các dị khí, thiên lí thù phong vũ, kịch tai biên hải dân, ký thân ư thảo dã (八方各異氣、千里殊風雨、劇哉邊海民、寄身於草野, tám phương đều khác khí, ngàn dặm lạ gió mưa, tội thay dân ven biển, gởi thân chốn đồng hoang).” (2) Miền quê, dân gian, dân dã, đối nghĩa với triều đình. Như trong tác phẩm Luận Hành (論衡), phần Thư Giải (書解) của Vương Sung (王充, 27-97) nhà Hán có đoạn: “Tri ốc mãn giả tại vũ hạ, tri thất chính giả tại thảo dã, tri kinh khóa giả tại Chư Tử (知屋滿者在宇下、知失政者在草野、知經課者在諸子, người biết được nhà đầy khi ở dưới mái nhà, người biết được mất việc quan khi ở chốn dân dã, người biết được kinh điển nhờ các hiền triết).” (3) Chỉ bá tánh bình dân, thảo dân. Như trong Minh Sử (明史), Điền Thọ Dân Truyện (田壽民傳), có đoạn: “Thử hà đẳng sự, tại triều giả bất ngôn nhi thảo dã ngôn chi, ngô bối quý tử hĩ (此何等事、在朝者不言而草野言之、吾輩愧死矣, đây là chuyện gì, nơi triều đình thì không nói mà hạng thảo dân lại nói, bọn ta xấu hổ chết đi được).”
thảo hoàn
Còn gọi là Mao Hoàn, chiếc nhẫn làm bằng cỏ. Mật giáo dùng trong các nghi lễ—A grass finger-ring used by the esoteric sect.
; (草環) Cũng gọi Mao hoàn, Chỉ xuyến. Chỉ cho chiếc nhẫn được làm bằng cỏ tranh sử dụng khi tu pháp trong Mật giáo.Cứ theo kinh Tô tất địa quyển 1, nếu khi hành giả cúng dường, trì tụng hộ ma mà đeo thảo hoàn vào ngón vô danh bên tay phải thì chẳng những trừ diệt được các tội chướng mà làm việc gì cũng thành tựu.Tại Nhật Bản, 3 dòng Tiểu dã, các dòng Thai mật(Mật giáo do tông Thiên thai Nhật bản truyền)đến nay vẫn còn sử dụng thảo hoàn.
thảo hài
(草鞋) Cũng gọi Mang hài. Giày cỏ, là loại giày mà chư tăng ngày xưa mang khi đi hành cước (du phương tham học). Do đó, tiền lộ phí mà các vị tăng cần dùng khi đi hành cước cũng được gọi là Thảo hài tiền. Chương Nam tuyền Phổ nguyện trong cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 257 hạ) ghi: Sư nói: Tiền uống nước đã tạm xong, thế còn thảo hài tiền thì bảo ai trả.
thảo hạ
(草賀) Chúc mừng đơn giản. Trong Thiền Tông, khi vị Trụ trì làm lễ nhập viện thì vị tri sự thượng thủ trước nói sơ qua vài lời chúc mừng, gọi là Thảo hạ. Sau khi vị Trụ trì khai đường xuống tòa thì đại chúng trong toàn chùa lại chúc mừng, gọi triển hạ.[X. điều Nhập viện trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3].
thảo hệ tỉ khâu
(草系比丘) Thảo hệ, Phạm: Kuza-vandhana. Vị tỉ khưu bị trói bằng cỏ. Thí dụ chỉ cho tỉ khưu nghiêm giữ giới cấm. Đại trang nghiêm kinh luận quyển 3 nói: Có nhiều tỉ khưu đi giữa đường gặp giặc cướp, chúng liền dùng cỏ tươi trói họ lại;tháp xá lợi của ngài Cưu ma la thập ở chùa Thảo đườngvì sợ làm đứt sự sống của cỏ nên các tỉ khưu không dám cởi trói. Câu chuyện này được dùng để ví dụ việc giữ gìn giới cấm một cách nghiêm chính. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1007 trung) nói: Nếu các Phật tử giữ gìn giới cấm thì đi đứng nằm ngồi, ngày đêm 6 thời đọc tụng giới này, giống như kim cương, như mang phao nổi vượt qua biển cả, như tỉ khưu bị trói bằng cỏ tươi(Thảo hệ tỉ khưu). [X. phẩm Sa di thủ giới tự sát trong kinh Hiền ngu Q.5; Pháp uyển châu lâm Q.9].
Thảo hệ tỷ-khưu 草繋比丘
[ja] ソウケビク soukebiku ||| "A monk tangled up in the grass." In ancient India, a monk was mugged by a thief, who restrained him by tying him up in the live grasses. The monk, not wanting to break the precept of "not killing" remained lying tied up in the grass, rather than ripping out. A king who passed by and found the monk was so moved by this scene that he converted to Buddhism. => “Vị tỷ-khưu bị trói bằng cỏ”. Vào thời cổ Ấn Độ, có vị tỷ-khưu bị kẻ cướp bắt và trói bằng cỏ tươi. Vị tỷ-khưu không muốn mình bị phạm vào giới sát nên chịu nằm vậy hơn là bức ra. Có vị vua đi ngang qua thấy vậy rất xúc động nên đã quy y Phật pháp.
thảo khấu
Bandit—Pirate.
thảo luận
To dispute—To debate—To discuss.
thảo lí hán
(草裏漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người trong cỏ, nghĩa là vì đi trong lùm cỏ um tùm rậm rạp mà bị lạc đường. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho người bị rơi vào đệ nhị nghĩa môn. Phần chú thích trong Bích nham lục tắc 36 (Đại 48, 174 trung) nói: Vì không thể hạ mình nên phạm nhiều khiếm khuyết, thảo lí hán!.
thảo mộc
Cây cỏ đều nhận nước mưa như nhau, ý nói tất cả chúng sanh đều bình đẳng thọ nhận Phật pháp (nhận nhiều hay ít còn tùy ở căn cơ của mỗi người)—Herbs and trees, equally recipients of rain, as all humanity is of the Buddha's truth. .
; (草木) Cỏ cây. Ví dụ tất cả chúng sinh lãnh nhận giáo pháp của Phật giống như cỏ cây được mưa móc thấm nhuần. (xt. Tam Thảo Nhị Mộc).
thảo mộc quốc độ tất giai thành phật
(草木國土悉皆成佛) Cũng gọi Thảo mộc thành Phật, Phi tình thành Phật, Vô tình thành Phật, Vô tình hữu tính. Các loài phi tình, vô tình như cỏ, cây, ngói, đá, đất, nước... đều thành Phật. Trong các tông Phật giáo, Tiểu thừa giáo không nói về vô tình hữu tính, thảo mộc thành Phật. Trong Đại thừa giáo thì các Nhất thừa giáo như Hoa nghiêm, Thiên thai, Mật tông... đều chủ trương thảo mộc thành Phật. Tông Hoa nghiêm cho rằng Phật Tì lô giá na có đủ 10 thân, Phật và định dung hợp 3 thế gian, cho nên khí thế giancũng có nghĩa thành Phật. Tính của chân như thông cả tình, phi tình, thảo mộc thuộc về y báo cũng có Phật tính. Lại như trong Hoa nghiêm, đồng tử Thiện tài lễ lầu quán của ngài Di lặc liền được pháp môn Tam muội; kinh Vô lượng thọ có cây báu nói pháp, nước biển, cây báu của thế giới Liên hoa đều có thể nói pháp, vì thế cũng có Phật tính. Giáo thuyết Thảo mộc thành Phật của tông Thiên thai y cứ vào kinh Pháp hoa Niết bàn mà được thành lập, vì thế mà có thuyết Nhất sắc nhất hương, vô phi trung đạo, chủ trương tất cả mọi việc đều có lí trung đạo. Mật tông cho rằng cỏ cây đất nước đều là Pháp thân của Đại nhật Như lai, lấy lục đại làm Phật tính, chủ trương nghĩa phi tình thành Phật. Bởi vì Mật giáo cho rằng y báo, chính báo của 10 giới đều do 6 đại(đất, nước, lửa, gió, không, thức) mà thành, cho nên nếu nói về 5 đại Thì đó là Phật thể bản sơ; còn nếu nói về thức đại thì cũng là 5 trí của tính đức. Cây cỏ tuy không có thức đại nhưng tự thể của chúng chính là Phật vốn có từ xưa đến nay, hơn nữa còn có công đức giác tri, cho nên cũng có đủ nghĩa phát tâm thành Phật. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.16; Hoa nghiêm đại sớ sao Q.30; Thai tông nhị bách đề Q.7].
thảo mộc thành phật
Hai tông Thiên Thai và Chân Ngôn lập ra lý “Ngay cả chúng vô tình như cỏ cây thảo mộc cũng có thể thành Phật” (tuy nhiên, theo Kinh Hoa Nghiêm thì chân như tùy duyên ở loài hữu tình gọi là Phật tánh, ở loài vô tình gọi là Pháp tánh. Phật tánh và pháp tánh sai biệt nên không có cái lý loài vô tình thành Phật)—Even herbs and trees (inanimate things—chúng vô tình) have Buddha-nature and can become Buddha, a T'ien-T'ai and Chên-Yen (Shingon) doctrine.
thảo phạn
(草飯) Chỉ cho cơm thô sơ. Điều Thỉnh lập tăng thủ tọa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1133 hạ) nói: Vẫn đến các liêu xá của Khố ti thăm hỏi, Phương trượng chuẩn bị thảo phạn, xin xem đó là dược thạch.
thảo sáng
(草創) Bắt đầu sáng lập. Lúc mới bắt đầu tạo tác sự vật, gọi là Thảo sáng, như Thảo sáng khai sơn, nghĩa là chùa viện nhà tháp mới được xây dựng. Ngoài ra, Thảo sáng còn chỉ cho nghĩa soạn bản thảo, mới soạn bản thảo còn phải sửa chữa, cho hoàn chỉnh mới thành văn.
thảo sớ
(草疏) Văn sớ dùng trong Thiền lâm, phần nhiều được viết theo thể văn biền ngẫu, câu 4 chữ câu 6 chữ đối nhau, nhưng đôi khi cũng dùng văn xuôi. Thảo được hiểu là bản thảo; Thảo sớ chỉ cho văn sớ do mình tự soạn. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thảo thư kinh
(草書經) Chỉ cho kinh điển viết bằng lối chữ thảo. Đan duyên tổng lục quyển 15 và Quan trung kim thạch kí quyển 1 của Tất nguyên đều có nói về thảo thư Tâm kinh được khắc trên đá, thạch khắc này hiện còn trong Bi lâm(rừng bia)ở Trường an, tương truyền do Phò mã Trịnh vạn quân đời Đường viết. Thông thường, các bia đá khắc văn kinh Phật giáo rất ít khi được viết bằng lối chữ thảo, chẳng hạn trong các kinh Phật chép tay xưa đào được ở Đôn hoàng thì phần nhiều được viết bằng thể chữ khải(chữ viết ngay ngắn, rõ ràng), chỉ có loại sách chú thích như Đại thừakhởi tín luận lược thuật (được viết vào năm Bảo ứng thứ 2 –763– đời Đường), Đại thừa khởi tín luận quảng thích, Pháp hoa huyền tán... là được viết bằng lối chữ thảo.
thảo toà
(草座) Cũng gọi Mao tọa. Nệm để ngồi được tết bằng cỏ, 1 trong các loại tọa cụ mà vị Trưởng lão sử dụng khi ngồi trước Phật. Thảo tọa có nguồn gốc từ sự tích Phật trải cỏ cát tường để ngồi khiNgài thành đạo. Thảo tọa mà đời sau sử dụng bắt chước hình dáng cỏ cát tường có những tua rủ xuống 4 chung quanh, chiều dài khoảng 40cm, chiều ngang Thảo thư kinhkhoảng 20cm, 2 tấm đặt liền nhau, khi thu lại thì chồng lên, 2 đầu có những tua rủ xuống, giống như cỏ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Chư Phật yếu tập Q.thượng; Tăng cương thức Q.hạ].
thảo y văn thù
(草衣文殊) Chỉ cho tượng bồ tát Văn thù mặc áo bằng cỏ. Khác với tượng bồ tát Văn thù của Hiển giáo và Mật giáo, tượngbồ tát Văn thù trong Thiền tông thân màu đen,tóc dài, mặc áo bằng cỏ bồ, để trần vai bên phải, tay phải cầm quyển kinh tiếng Phạm, tượng này gọi là Thảo y Văn thù. Có lẽ tượng này đã do quan Thái úy Lã huệ khanh sai họa sĩ vẽ vào khoảng năm Nguyên phong (1078- 1084) đời Tống khi ông du ngoạn núi Ngũ đài.
Thảo Ðường
草堂; tk. 11|Thiền sư Trung Quốc thuộc Vân Môn tông người đã đem dòng thiền này đến Việt Nam. Sư là môn đệ của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển, không biết vì lí do gì sang ở Chiêm Thành và bị vua Lí Thánh Tông bắt làm tù binh năm 1069 trong cuộc chiến tranh với Chiêm Thành. Khám phá ra Thảo Ðường là một Cao tăng, bị bắt trong lúc đi truyền giáo pháp, Lí Thánh Tông phong làm Quốc sư. Ðến 50 tuổi, Sư có chút bệnh, ngồi kết già viên tịch.|Thảo Ðường lập ra một dòng Thiền, đó là dòng thiền thứ ba của Việt Nam, bên cạnh Tì-ni-đa Lưu-chi và Vô Ngôn Thông. Thiền sư Tuyết Ðậu có đặc điểm là dung hợp Phật giáo và Nho giáo và cũng như thầy mình, Thảo Ðường và các môn đệ sau này thiên về văn chương và trí thức. Dòng Thảo Ðường truyền được sáu thế hệ, trong đó thế hệ thứ hai phải kể Lí Thánh Tông, một nhà vua kiệt xuất. Trong phái này có cả hai Thiền sư Minh Không và Giác Hải, vốn thuộc dòng Vô Ngôn Thông nhưng lại theo học với phái Thảo Ðường, đồng thời lại có khuynh hướng Mật tông kì bí. Hai nhà vua Lí Anh Tông và Lí Cao Tông cũng được xem là thuộc phái Thảo Ðường.
thảo ăn
Generous with food.
thảo đan
(草單) Gọi tắt: Đơn. Chỉ cho tờ giấy ghi chép văn thư, tức các thư từ được sử dụng trong Thiền lâm, cũng chỉ cho quyển sổ ghi giới lạp khi an cư.
thảo đường
1) Căn nhà lợp bằng tranh—The thatched hall (building). 2) Chánh điện trong ngôi Thảo Đường Tự, tại Trường An nơi ngài Cưu Ma La Thập dịch kinh sách: The building in the Thatched Hall monastery at Ch'ang-An where Kumarajiva translated sutras.
; (草堂) I. Thảo Đường (?-?) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Vân môn sống vào đời Tống, là Sơ tổ của phái Thảo đường thuộc Thiền tông Việt nam, tương truyền sư là đệ tử ngài Tuyết đậu Trùng hiển. Vào khoảng giữa thế kỉ XI, sư đến nước Chiêm thành hoằng pháp, bị người Chiêm bắt nhập ngũ làm lính. Khi vua Lí thánh tông (ở ngôi 1054-1072) của Việt nam đem quân đánh Chiêm thành, nhiều lính Chiêm bị bắt làm tù binh đưa về Việt nam, trong đó có sư. Về sau, vua Thánh tông phát hiện bèn thả sư ra và thỉnh về trụ trì chùa khai quốc tại Thăng Long(nay là Hà Nội). Sư bắt đầu khai giảng kinh điển, mở rộng tông phong, chủ yếu truyền Tuyết đậu bách tắc và đề xướng giáo nghĩa Thiền Tịnh Nhất Trí. Sau, sư truyền giới cho vua Thánh Tông, đồng thời truyền thụ Thiền tông tâm pháp, nhờ đó mà vua Thánh tông ngộ đạo và phong cho sư làm Quốc sư. Bấy giờ, đệ tử qui y sư rất đông, từ đó mở ra phái Thảo đường, chia làm 3 chi hệ là Lí triều thánh tông, Bát nhã và Ngô xá, trở thành phái thứ 3 của Thiền tông Việt nam(hai phái kia là phái Tì ni đa lưu chi và phái Vô ngôn thông). Chi hệ Lí triều Thánh tông chỉ lưu truyền trong nội bộ triều đình, đến Tổ thứ 3 là ngài Đỗ vũ thì pháp hệ chấm dứt. Chi hệ Bát nhã do Thiền sư Bát nhã sáng lập, đến đầu thế kỉ XIII thì pháp hệ cũng chấm dứt. Chi hệ Ngô xá do Thiền sư Ngô xá kiến lập, truyền được 5 đời thì cáo chung. Phái ThiềnThảo đường được 3 vị vua triều Lí là Thánh tông, Anh tông (ở ngôi 1138-1175) và Cao tông (ở ngôi 1176-1210) kính ngưỡng, theo thứ tự là đệ tử đời thứ nhất, đời thứ ba và đời thứ năm của Thiền sư Thảo đường. Sau, triều Lí bị diệt (1225) thì phái Thiền này cũng dần dần suy vong theo.II. Thảo Đường (1057-1142). Thiền sư Trung quốc thuộc phái Hoàng long, tông Lâm tế, sống vào đời Tống; người ở Bảo Xương, Nam Hùng thuộc tỉnh Quảng Đông, họ Hà, người đời gọi sư là Thảo đường Thiện thanh. Từ nhỏ, sư đã tham yết Thiền sư Pháp tư ở chùa Hương vân. Năm Nguyên phong thứ 4 (1081), sư thi kinh được độ, lễ yết ngài Đại qui Mộ triết, sau sư đến tham học ngài Hối đường Tổ tâm và được nối pháp. Năm Chính hòa thứ 5 (1115), sư xiển dương Thiền pháp ở núi Hoàng long, tỉnh Giang Tây. Sư lần lượt trụ ở Tào sơn, Sơ sơn và chùa Lặc đàm ở Long Hưng (Giang Tây).Năm Thiệu Hưng 12 (1142), sư thị tịch ở chùa Lặc đàm, thọ 86 tuổi, pháp lạp 62. Có thuyết cho rằng sư chính là Sơ tổ Thiền phái Thảo đường của Thiền tông Việt nam.Sư để lại tác phẩm: Thảo đường Thanh hòa thượng ngữ yếu 1 quyển. [X. Liên đăng hội yếu Q.15; Gia thái phổ đăng lục Q.6; Ngũ đăng hội nguyên Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.4].
thảo đường thiền phái
(草堂禪派) Cũng gọi Tuyết đậu minh giác phái. Một trong các phái Thiền tông của Phật giáo Việt nam ở thời kì đầu. Theo truyền thuyết, đệ tử của Thiền sư Tuyết đậu Trùng hiển (980-1052) là ngài Thảo đường đem hệ thống Thiền của Thiền sư Tuyết đậu thuộc tông Vân môn Trung Quốc truyền vào Việt nam, được vua Thánh tông triều Lí (ở ngôi 1054-1072), phong làm quốc sư, trụ ở chùa Khai quốc tại Thăng Long (Hà Nội), sáng lập phái Thảo đường, chủ yếu truyền Tuyết đậu bách tắc và đề xướng giáo nghĩa Thiền Tịnh Nhất Trí. Lại có thuyết cho rằng người sáng lập phái này là ngài Thảo đường Thiện thanh (1057- 1142), đệ tử của Thiền sư Hối đường Tổ tâm đời thứ 12 thuộc hệ thống Nam nhạc Hoài nhượng. Chi hệ của phái này chia làm 3 chi: Lí triều Thánh Tông, Bát nhã và Ngô xá (có thuyết cho là Ngộ xá). Chi hệ Thánh tông do vua Thánh tông triều Lí sáng lập, chỉ lưu truyền trong nội bộ triều đình Việt nam, truyền đến vị tổ thứ 3 là ngài Đỗ vũ thì pháp hệ dứt. Chi hệ Bát nhã do Thiền sư Bát nhã sáng lập, truyền được 3 thế hệ: Thế hệ thứ nhất là Thiền sư Bát nhã; thế hệ thứ 2 gồm 2 vị là Thiệu minh và Phạm âm; thế hệ thứ 3 gồm 4 vị là Trương tam tạng, Hải thường, Nguyễn thức và Hoàng đế Cao tông triều Lí. Đến đầu thế kỉ13 thì pháp hệ chấm dứt. Chi hệ Ngô xá do Thiền sư Ngô xá sáng lập, truyền đến Nhị tổ Không lộ và Định giác, vua Anh tông (đệ tử ngài Định giác), đến Tứ tổ Chân huyền và Đỗ thường thì pháp hệ chấm dứt. Phái Thảo đường được các vị Hoàng đế Thánh tông, Anh tông (ở ngôi 1138- 1175) và Cao tông (ở ngôi 1176-1210) triều Lí kính ngưỡng, theo thứ tự là đệ tử đời thứ 1, đời thứ 3 và đời thứ 5 của Thiền sư Thảo đường. Đến năm 1225, nhà Lí bị lật đổ thì phái này cũng dần dần suy vong theo.[X. thiên Nhân vật trong An mam chí lược Q.15].
thảo đường tự
See Thảo Đường (2).
; (草堂寺) Cũng gọi Khuê phong tự. Chùa ở chân núi phía bắc núi Khuê Phong, phía đông nam huyện Hộ, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Cứ theo mục Du hành nam kí trong Thạch mặc tuyên hoa quyển 7 của Triệu hàm đời Minh thì ở phía tây hang Cao quan là chùa Thảo đường, vua Diêu hưng nhà Hậu Tần rước ngài Cưu ma la thập đến chùa này dịch kinh, bấy giờ gọi là vườn Tiêu dao. Đầu năm Thiên bảo đời Đường, Thiền sư Phi tích trụ ở chùa này để hoằng pháp và soạn thuật. Về sau, Ngũ tổ tông Hoa nghiêm là ngài Khuê phong Tông mật trụ trì, gọi là chùa Thảo đường, sau lạiđổi tên là Thê thiền tự. Phía tây chùa có tháp xá lợi của ngài Cưu ma la thập được xây bằng đá, thân tháp cao 2,32m, hình bát giác cao 12 tầng, được khắc và nạm bằng loại đá ngọc 8 màu, thường gọi là Bát bảo ngọc thạch tháp. Tầng dưới của tháp là tòa núi Tu di, đài mây ở tầng 3 có khắc hoa văn mạn thảo (cỏ bò lan trên mặt đất), rất tinh khéo đẹp đẽ, nên người đời Tống làm đình để che cho tháp, nay vẫn còn. Nếu nhìn vào y phục của tượng Phật và tác phong khắc tạo mà nhận xét thì có vẻ như đây là tác phẩm đời Đường. Vào những năm đầu đời Bắc Chu, chùa được chia làm 4 chùa, về sau bị phá hủy và được xây dựng lại vào thời vua Chiêu tông nhà Đường, từ đời Tống về sau cũng được trùng tu nhiều lần. Hiện nay chỉ còn 3 gian đại điện, phía đông tây mỗi bên 2 gian, ở phía trước điện có 1 tấm bia được dựng vào đời Thanh, 2 tấm bia đời Minh, 1 quả chuông đời Nguyên, Sơn môn, ở phía sau điện xếp đống những mảnh vỡ của gạch ngói và bia đá, cột kinh Tôn thắng đà la ni đời Đường và những mảnh vụn bia Thiền sư Khuêphong Tông mật nằm lẫn trong đó; giữa các vách bên trong và bên ngoài điện có rất nhiều bia đá của nhữngngườiđời Tống, đời Nguyên. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 8, 10, 14; Tây an thắng tích sử lược; Đại minh nhất thống chí Q.32].
thấm
To blot—To permeate—To absorb—To soak up.
thấm nhuần
To impregnate.
thấm qua
To go through.
thấm thoát
Time flies.
Thấp
濕; C: shī; J: shitsu;|1. Sự ẩm ướt, hơi ẩm; bị ẩm ướt; sự ẩm ướt, không khí ẩm thấp; 2. Vật có tính lỏng, hay thay đổi; điểm đặc thù của nước; 3. Tính bầy nhầy, kết dính; 4. Tính lỏng, độ chảy loãng (s: drava, dravatva).
thấp
1) Nơi thấp: Low. 2) Ướt: Wet—Humid—Moist. 3) Thấp sanh hay loài sanh ra bởi sự ẩm thấp như sâu bọ và cá, vân vân: The class of beings produced by moisture, such as fish and worm, etc—See Tứ Sanh.
thấp bà phái
Saiva (S).
; (濕婆派) Phạm:Zaiva. Phái thờ thần Thấp bà (Phạm: Ziva) làm chủ thần, có lẽ đã hình thành ào thế kỉ II, 1 trong các hệ phái của Ấn độ giáo, cùng với phái Tì thấp nô và phái La ma đều là các tông phái được sùng tín rộng rãi nhất ở Ấn độ hiện nay. Phái Thấp bà lại chia làm 2 biệt phái lớn là Thú chủ ngoại đạo (Phạm:Pàzupata) và Thấp bà tất đàm (Phạm:Zaiva-siddhànta). Từ 2 phái lớn này còn chia ra rất nhiều chi phái nhỏ.
thấp bà thiên
Xem Hạnh phúc.
; (濕婆天) Thấp bà, Phạm:Ziva. Cũng gọi Lỗ đạt la (Phạm:Rudra). Hán dịch: Hoang thần. Thần hủy diệt, thần khổ hạnh, thần nhảy múa, là 1 trong 3 vị chủ thần của Ấn độ giáo. Vị thần này được ghi chép trong quyển đầu của Lê câu phệ đà thuộc các Thánh điển của Bà la môn giáo ở Ấn độ xưa. Thấp bà thiên là thần cách lưỡng cực, có đủ 2 mặt là phá hoại khủng bố và ban ân cứu tế vạn bệnh, tượng trưng cho cảnh bão táp mưa sa thê thảm do gió mùa gây ra ở Ấn độ và cảnh xanh tươi khi vạn vật sống lại sau gió mưa. Vị thần này có rất nhiều tên khác nhau, nhưng từ thời đại Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) về sau, đều gọi là Thấp bà thiên, thường thấy nhất là trong Thánh điển Phú lan na (Phạm: Puràịa). Theo truyền thuyết, vị thần này có năng lực hàng ma rất lớn, lửa thần của con mắt thứ 3 ở trên trán có năng lực thiêu hủy tất cả, thần từng đốt 3 tòa thành của yêu ma và của Ái thần thành tro bụi. Lại nghe nói Thần này quanh năm tu khổ hạnh trên núi Hi mã lạp sơn, cũng giỏi khiêu vũ, được gọi là Vũ vương(vua nhảy múa). Thấp bà thiên chuyên về việc phá hoại, đối lập với Phạm thiên sáng tạo và thần Tì thấp nô (Phạm: Viwịu) thần trông coi gìn giữ vũ trụ, do đó trong Ấn độ giáo có thuyết Tam thần nhất thể (Phạm: Trimùrti = 3 thần cùng một thể). Thấp bà thiên là thần chính của phái Thấp bà và tượng trưng bằng sinh thực khí nam tính, vì Ấn độ giáo cho rằng hủy diệt chính là nghĩa tái sinh, cho nên mới tượng trưng Thần Thấp bà trong tư thế đang khiêu vũ bằng sinh thực khí nam tính để biểu thị ý nghĩa năng lực sinh sản và rất được giáo đồ sùng bái. Trong Phật giáo, Thấp bà thiên thường được thấy xuất hiện trong tư thế của Đại tự tại thiên và Ma hê thủ la thiên, có quan hệ mật thiết với Mật giáo tả đạo ở đời sau. (xt. Đại Tự Tại Thiên).
thấp bà tất đàn phái
(濕婆悉檀派) Phạm: Zaiva-siddhànta. Chi phái của phái Thấp bà trong Ấn độ giáo. Nói theo nghĩa rộng thì phái Thấp bà tất đàn là chỉ chung cho các tông phái tôn thờ A cấp ma (Phạm: Àgama) làm Thánh điển y cứ, tức gồm các phái: 1. Phái Thấp bà tất đàn(theo nghĩa hẹp).2. Phái Thấp bà ở Tháp mễ nhĩ (Phạm: Tamil). 3. Phái Thấp bà ở Ca thấp di la (Phạm: Casmìra). 4. Phái Phệ lạp thấp bà (Phạm: Vira Zaiva). 5. Phái Tất thát nhĩ (Phạm:Sittar). Phái Thấp bà tất đàn theo nghĩa hẹp được coi là Thấp bà điển hình, cho nên cũng gọi tắt là Thấp bà phái. Giáo lí của phái này lấy Thú chủ (Phạm: Pazupati, tức Thấp bà), Thú (Phạm:Pazu, tức ngã cá nhân) và Thằng sách (Phạm:Paza, tức sự trói buộc của đời hiện tại) làm 3 nguyên lí. Nghĩa là những sợi dây Vô tri (Phạm: Ànava), Nghiệp (Phạm: Karman) và Huyễn (Phạm:Màyà) trói buộc năng lực tinh thần(tức Thú, ngã cá nhân) tiềm tàng xưa nay vốn thường trụ, trùm khắp; Tính lực (Phạm:Sakti) trở thành ân sủng của Thấp bà, dần dần cắt đứt sự trói buộc của những sợi dây kia(thằng sách) làm cho ngã cá nhân được giải thoát. Vì cầu cởi bỏ được sự trói buộc, con người phải gắng sức thực hành minh tri(trừ diệt vô tri), thực tu Du già (Phạm:Yoga). Ngoài ra, điều đặc biệt đáng được lưu ý là trong Thánh điển A cấp ma có bao hàm tư tưởng sùng bái Tính lực của phái Thấp bà.
thấp cao
Low and high.
thấp hèn
Base—Low.
thấp kém
low.
thấp ma
(濕麽) Cũng gọi Sa ma, Sa mãng, Táp ma, Ma. Chỉ cho chữ (sma) trong 42 chữ cái Tất đàm. Chữ Thấp ma có nghĩa là nhớ nghĩ. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 145 (Đại 7, 82 thượng) nói: Vào môn chữ Táp ma ngộ tất cả pháp, tính nhớ nghĩ của chữ này không thể tưởngtượng được. Kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 3 (Đại 19, 535 thượng) nói: Kế ấn chữ Sa mãng thì nhớ nghĩ không tán loạn, không quên mất. Vì ở đầu chữ Smfti tiếng Phạm là chữSma nên mới có thuyết trên đây. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 hạ) nói: Nếu nghe chữ Thấp ma thì biết các pháp cứng chắc như kim cương. Nghĩa cứng chắc này là vì trong tự mẫu của chữAsman (nghĩa là đá) tiếng Phạm cũng có chữSma. Khi đọc chữ Thấp ma thì có năng lực đi sâu vào môn Bát nhã ba la mật. [X. kinh Hoa nghiêm Q.76 (bản 80 quyển); kinh Hoa nghiêm Q.31 (bản 40 quyển); kinh Hải ý bồ tát sở vấn tịnh ấn pháp môn Q.12].
thấp sanh
Saṅsedaja (P), Saṃsvedaja (S), Saṅsedaja (P), Jalaja (S), Birth from moisture, Moisture- or water-born.
; Nhờ vào khí ẩm thấp mà sanh ra, một trong tứ sanh—Form of moisture or water-born, born in damp or wet place, as worms and fishes, one of the four forms of birth. **For more information, please see Tứ Sanh.
Thấp sinh
濕生; C: shīshēng; J: shitsushō;|(Các loài) sinh nơi ẩm thấp; như muỗi và các côn trùng khác. Một trong Tứ sinh (四生).
thấp sinh hoá sinh
(濕生化生) Từ nơi ẩm ướt sinh ra và hóa hiện sinh ra, là 2 trong 4 phương thức xuất sinh của loài hữu tình. Thấp sinh cũng gọi Nhân duyên sinh, nghĩa là từ nơi ẩm thấp sinh ra, như các loài mèn dế, thiêu thân, muỗi mòng, mối đất, sâu mè... sinh ra từ những chỗ ẩm ướt, hôi thối như đống phân, cống rãnh, nhà cầu, thịt rữa, cháo thiu, cỏ rậm, mương ao, sông ngòi... Hóa sinh là do nghiệp lực tự nhiên sinh chứ không cần nương gá vào đâu, như các Thiên chúng và hữu tình trong địa ngục, hữu tình trung ấm(thân sau khi chết và trước khi sinh) cũng như một số trong loài người. (xt. Tứ Sinh).
Thấp sinh 濕生
[ja] シツショウ shitsushō ||| (That which is) born from moisture, for example, mosquitoes and other bugs. One of the four types of birth (四生). => (Các loài) sinh nơi ẩm thấp; như muỗi và các côn trùng khác. Một trong Tứ sinh (四生).
thấp thoáng
appear and disappear—To appear vaguely.
thấp thỏm
Restless—Anxious.
Thấp 濕
[ja] シツ shitsu ||| (1) Dampness, moisture; to get damp or wet; damp, moist, humid. (2) That which has a fluid nature; the special characteristic of the element water. (3) Stickiness, adhesion. (4) Fluidity (drava, dravatva). => 1. Sự ẩm ướt, hơi ẩm; bị ẩm ướt; sự ẩm ướt, không khí ẩm thấp. 2. Vật có tính lỏng, hay thay đổi; điểm đặc thù của nước. 3. Tính bầy nhầy, kết dính. 4. Tính lỏng, độ chảy loãng (s: drava, dravatva).
; [ja] シツ shitsu ||| (1) Dampness, moisture; to get damp or wet; damp, moist, humid. (2) That which has a fluid nature; the special characteristic of the element water. (3) Stickiness, adhesion. (4) Fluidity (drava, dravatva). => 1. Sự ẩm ướt, hơi ẩm; bị ẩm ướt; sự ẩm ướt, không khí ẩm thấp. 2. Vật có tính lỏng, hay thay đổi; điểm đặc thù của nước. 3. Tính bầy nhầy, kết dính. 4. Tính lỏng, độ chảy loãng (s: drava, dravatva).
thất
Sapta (S). Seven.
Thất bách kết tập
七百結集; C: qībăi jiéjí; J: shichihyaku keketsujū;|Lần kết tập thứ hai của Phật giáo (với sự tham dự của bảy trăm vị A-la-hán) tại Tì-xá-li (s: vaiśālī). Đệ nhị kết tập (第二結集).
Thất bách tập pháp
七百集法; C: qībăi jífǎ; J: shichihyaku shūhō;|Lần kết tập thứ hai của Phật giáo (với sự tham dự của bảy trăm vị A-la-hán) tại Tì-xá-li (s: vaiśālī). Đệ nhị kết tập (第二結集).
thất bát hành
(七八行) Chỉ cho phương pháp tu hành Thất giác chi và Bát thánh đạo. Thất giác chi là: Niệm, trạch pháp, tinh tiến, hỉ, khinh an, định và xả. Bát chính đạo là: Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm và chính định. (xt. Thất Giác Chi, Bát Chính Đạo).
thất báu
Gồm: kim, ngân, lưu ly, pha lê, xà cừ, mã não, san hô.
Thất Bảo
(七寶): xem Thất Trân (七珍) bên dưới.
Thất bảo
七寶; C: qībăo; J: shichihō;|Bảy loại châu báu. Nhiều kinh luận Phật học đề cập đến bảy loại châu báu khác nhau. Thông dụng nhất là: 1. Vàng (金), bạc (銀), lưu li (琉璃), pha lê (頗胝迦), xa cừ (硨磲), xích châu (赤珠), mã não (碼瑙); 2. San hô, hổ phách, như ý châu (s: cintāmaṇi), kiṃśuka, śakrābhilagna, ngọc lục bảo, kim cương; 3. Vàng, bạc, lưu li, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não….
thất bảo
xem bảy báu.
; Sapta-ratnani (S), Sapta-ratna (S) Seven treasures. Bảy món báu: kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.
; Sapta ratna (S). The seven treasures, or precious things, of which there are various descriptions, e.g. kim suvarna, gold; ngân rùpya, silver; lưu li vaidùrya, lapis lazuli; pha lê sphatika, crystal; xa cừ musàragalva, agate, mother pearl; xích châu rohita mukta, rubies or red pearls; mã não asmagarbha, cornelian. Also the seven royal treasures: the golden wheel; elephants; dark swift horses; the divine pearl; able minister of the treasury; jewels of women; and loyal generals.
; (七寶) Phạm:Saptaratnàni. Bảy thứ quí báu. I. Thất Bảo. Cũng gọi Thất trân. Chỉ cho 7 thứ ngọc báu quí giá ở thế Tranh Thập Vương gian. Các kinh nói về 7 thứ báu có khác nhau. Theo kinh A di đà và luận Đại trí độ quyển 10 thì 7 báu là: 1. Vàng. 2. Bạc. 3. Lưu li, cũng gọi là Tì lưu li, Phệ lưu li, thuộc loại ngọc xanh. 4. Pha lê, cũng gọi Phả chi ca, Hán dịch là thủy tinh. Chỉ cho thủy tinh màu đỏ, thủy tinh màu trắng. 5. Xà cừ, thường được coi là mã não. Chỉ chung cho loại ngọc trai, hoặc san hô trắng. 6. Xích châu, cũng gọi Xích chân châu. 7. Mã não, chỉ cho loại ngọc có màu xanh thẫm, nhưng khác với mã não mà đời sau thường gọi. Kinh Pháp hoa quyển 4 thì cho rằng 7 thứ báu là vàng, bạc, lưu li, xa cừ, mã não, chân châu và mai khôi. [X. kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ; kinh Vô lượng thọ Q. thượng]. (xt. Bảo).II. Thất Bảo. Từ gọi chung 7 thứ báu của Chuyển luân Thánh vương. Đó là luân bảo(bánh xe), thượng bảo(voi), mãbảo(ngựa), châu bảo(ngọc), nữ bảo(con gái), cư sĩ bảo, cũng gọichủ tạng bảo(chủ kho) vàchủ binh thần bảo(tướng quân). [X. kinh Trường a hàm Q.3; kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản dịch cũ)]. (xt. Chuyển Luân Thánh Vương).
thất bảo chúc
(七寶粥) Cũng gọi Phật chúc. Cháo bảy báu dâng cúng Phật. Hằng năm, vào ngày mồng 8 tháng 12 âm lịch, các chùa Phật thường dùng những vật như đậu, hồ đào... nấu cháo cúng Phật và mọi người để kết duyên, gọi là Thất bảo chúc, tức Lạp bát chúc(cháo ngày mồng 8 tháng chạp). Hiện nay, Thất bảo chúc đã phổ biến trong dân gian.Bài tiểu tựa trong tập thơ Giang hương tiết vật của Ngô tôn khải nói: Lạp bát chúc, cũng gọi là Thất bảo chúc, vốn là vật cúng trong nhà tăng, nhưng nay thì ở nhà các cư sĩ cũng nấu loại cháo này.
thất bảo hoa
(七寶華) Chỉ cho hoa sen bằng bảy thứ báu. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 278 trung) nói: Được sinh về cõi nước của Phật Vô lượng thọ, ở trong hoathất bảo tự nhiên hóa sinh.
thất bảo ngục
(七寶獄) Chỉ cho lao ngục có 7 thứ báu trang nghiêm. Nếu có người ngờ vực trí Phật,nhưng nhờ gốc lành của tự lực mà được sinh về cõi Giải mạn ở biên địa của thế giới Cực lạc phương tây trong hình thức thai sinh, thì trong khoảng thời gian 500 năm không được thấy Tam bảo, không được thụ pháp lạc, giống như ở trong lao ngục được làm bằng 7 thứ báu. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 278 trung) nói: Ví như Chuyển luân Thánh vương, có cung thất riêng, tranghoàng bằng 7 thứ báu, kê giường, giăng màn, treo các phướn lụa. Nếu có tiểu vương tử nào đắc tội với vua thì bị giam vào cungthất ấy, khóa bằng khóa vàng, cung cấp đầy đủ thức ăn uống, quần áo, giường chiếu, chăn gối, hoa thơm, kĩ nhạc, hệt như vua Chuyển luân, không thiếu thốn một thứ gì.
thất bảo tháp
(七寶塔) Tháp bảy báu, cũng chính là tháp Đa bảo. Lúc đức Phật Thích ca đang nói kinh Pháp hoa trên núi Linh thứu, bỗng từ trong đất nhô lên một ngôi tháp Thất bảo, cao 500 do tuần, toàn thân xá lợi của đức Đa bảo Như lai ngồi ở trong tháp. [X. phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa].
thất bảo thụ lâm
The grove of jewel trees, or trees of the seven precious things - a part of the Pure Land.
; (七寶樹林) Cũng gọi Thất bảo hàng thụ. Chỉ cho khu rừng cây ở Tịnh độ Cực lạc do 7 thứ báu tạo thành. [X. phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa Q.2; Pháp hoa kinh huyền tán Q.5, phần đầu; A di đà kinh yếu giải (Trí húc)]. (xt. Thất Trùng Hàng Thụ).
thất bất khả tị
The seven unavoidables: (1) Sinh chẳng tránh được, rebirth;(2) Già chẳng tránh được, old age; (3) Bệnh chẳng tránh được, sickness; (4) Chết chẳng tránh được, death; (5) Tội chẳng tránh được, punishment (for sin); (6) Phúc chẳng tránh được, happiness (for goodness); (7) Nhân duyên chẳng tránh được,consequences (cause and effect).
; (七不可避) Chỉ cho 7 sự kiện mà chúng sinh không thể nào tránh khỏi, đó là sinh, lão, bệnh, tử, tội báo, phúc báo(đã có nghiệp thiện thì không thể tránh khỏi quả vui sinh vào đường lành), nhân duyên(tức nhân thế nào thì sẽ cảm quả thế ấy, đó là lí tự nhiên không thể tránh khỏi). [X. phẩmÁc hạnh trong kinh Pháp cú thí dụ Q.2;Kinhluật dị tướng Q.7; Pháp uyển châu lâm Q.69].
thất bất thiện luật nghi
(七不善律儀) Đối lại: Thất thiện luật nghi. Chỉ cho 7 giới ác bất luật nghi là giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối, hai lưỡi, nói ác, nói thêu dệt. Trong 7Bất thiện luật nghi này, mỗiBấtthiệnluật nghi đều được phối hợp với 3 phẩm tâm thượng, trung, hạ thì có 21 thứ, lại phối hợp với 3 phiền não tham, sân, si thì thành 36 thứ, rồi lại phối hợp với 3 phẩm tâm thì thành vô lượng sai biệt. [X. luận Thành thực Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Thất Thiện Luật Nghi).
thất bệnh
(七病) Bảy thứ bệnh do tắm rửa mà tránh khỏi. Cứ theoĐộng thượng già lam tạp kí thì tắm rửa có các lợi ích như sau: 1. Bốn đại an ổn. 2. Trừ được bệnh gió. 3. Trừ bệnh tê thấp. 4. Trừ được lạnh giá. 5. Giải được khí nóng. 6. Trừ cáu ghét nhơ nhớp. 7. Thân thể khoan khoái, cặp mắt sáng trong.
thất bồ đề phần
Sapta-bodhyaṅgani (S), Seven factors of enlightenment, Sattabojjhaṅga (P), Saptabuddhividhya (S) Thất giác chi, Thất giác phần, giác chi, giác ý, Bồ đề phần Bảy phần để hiệp thành quả bồ đề. Gồm: niệm xứ, chánh cần, như ý, căn, lực, giác chi, chánh đạo. Thất giác chi, là bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ. Gồm: - niệm (recollection): trí thường niệm định và huệ - trạch pháp (distinguishment): trí lựa chọn chánh pháp, phân biệt chánh tà - tinh tấn (effort): trí tinh tấn mạnh mẽ mà tu hành chánh pháp - hỷ (delight): trí hoan hỷ tiếp nhận chánh pháp - khinh an (calmness): trí nhẹ nhàng trừ bỏ các chướng ngại - định (contemplation): trí thường đại định không tán loạn - xả (equanimity): trí xả bỏ không bám víu.
; Saptabodhyanga (S). Seven characteristics of bodhi. It represents seven grades in bodhi: (1) Trạch pháp, dharma-pravicaya-sambhodyanga, discrimination of the true and false; (2) Tinh tiến, vìrya-sam., zeal or undeflected progress; (3) Hỉ, prìti-s., joy, delight; (4) Khinh an, prasrabidhi-s., riddance of all grossness or weight of body or mind, so that they may be light, free and at ease; (5) Niệm, smrti-s., power of remembering the various stages passed through in contemplation; (6) Định, samàdhi-s., power to keep the mind in a given realm undiverted; (7) Hành xả, upeksà-s., complete abandonment, or indifference to all disturbances of the subconscious or ecstatic mind.
Thất Bồ-đề phần
xem Bảy giác chi.
thất chi
(七支) I. Thất Chi. Bảy chi phần, tức 3 nghiệp ác của thân và4 nghiệp ác của khẩu. Ba nghiệp ác của thân là giết hại, trộm cướp, tà dâm; 4 nghiệp ác của khẩu là nói dối, nói thêu dệt, nói ác, nói 2 lưỡi. Vì có 7 chi phần ác nên gọi là Chi, là 7 điều ác trước trong 10 điều ác. II. Thất Chi. Chỉ cho 7 chi phần thuộc voi báu của Chuyển luân Thánh vương, tức 4 chân, đầu, dương vật và đuôi. [X. kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.3].
thất chi luận pháp
Sapta-bhangi-naya (S) Bảy hình thức phán đoán của chủ nghĩa bất định trong triết học Kỳ na giáo Ấn độ.
; (七支論法) Phạm: Saptabhaígì-naya. Bảy hình thức phán đoán của chủ nghĩa bất định trong triết học Kì na giáo, Ấn độ. 1. Hữu(có): Phán đoán khẳng định. 2. Vô(không): Phán đoán phủ định. 3. Hữu, Vô(cũng có, cũng không): Kết hợp cả phán đoán khẳng định và phán đoán phủ định. 4. Phi hữu phi vô(chẳng phải có chẳng phải không), không thể nói. 5. Hữu, không thể nói: Kết hợp giữa hình thức phán đoán thứ 1 và thứ 4. 6. Vô, không thể nói: Kết hợp giữa hình thức phán đoán thứ 2 và thứ 4. 7. Hữu, Vô, không thể nói (cũng có, cũng không, cũng không thể nói): Kết hợp giữa các hình thức phán đoán thứ 3 và thứ 4. Bảy hình thức phán đoán nói trên chỉ có thể thành lập trong điều kiện đặc biệt nhất định, cho nên ở đầu mỗi hình thức phán đoán đều phải đặt thêm 2 chữ hoặc hứa(có lẽ, chắc là).
thất chu hành từ
(七周行慈) Chỉ cho 7 cảnh tu Từ bi quán. Pháp quán thứ 2 trong Ngũ đình tâm quán là Từ bi quán, mục đích khuyến khích những người đa sân tu từ bi để đối trị sân độc. Có 7 cảnh thực hành, tức ban phát tam lạc (thượng lạc, trung lạc, hạ lạc) cho mọi người, đó là Thất chu hành từ. Chu nghĩa là cùng khắp, nghĩa là oán thân bình đẳng, hoặc là thực hành việc ban cho cùng khắp. Bảy cảnh là: Thân thượng phẩm, thân trung phẩm, thân hạ phẩm, người không oán thân, oán hạ phẩm, oán trung phẩm và oán thượng phẩm.
thất chuyển cửu lệ
(七轉九例) Thất chuyển cũng gọi Thất thanh, Thất lệ, hoặc Tô mạn đa thanh (Subanta), chỉ cho sự biến hóa của các tiếp vĩ ngữ về mặt văn pháp trong những danh từ tiếng Phạm. Cửu lệ cũng gọi Nhị cửu vận, Đinh ngạn đa thanh (Tií-anta), chỉ cho sự biến hóa của các động từ trong tiếng Phạm, tất cả có 18 thứ biến hóa. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng phần đầu]. (xt. Bát Chuyển Thanh).
thất chuyển thức
(七轉識) Gọi tắt: Thất chuyển, Chuyển thức, Chuyển tâm. Bảy chuyển thức, tức chỉ cho 7 thức trước trong 8 thức. Du già hành phái và tông Duy thức chủ trương thuyết 8 thức, gọi 5 thức trước, ýthức và mạt na thức nương vào thức A lại da mà sinh diệt chuyển biến là Thất chuyển thức. Năm thức trước cũng gọi là Ngũ chuyển thức, duyên theo 5 cảnh sắc, thanh... do thức A lại da biến ra, hành tướng thô động, chuyển ở bên ngoài, phân biệt rõ các cảnh hiện tại. Ý thức thứ 6 duyên theo tất cả cảnh ở quá khứ, vị lai, chuyển ở bên trong lẫn bên ngoài, phân biệt kĩ các cảnh tướng, chung cả 3 tính thiện, ác, vô kí, tương ứng với 6 nhóm tâm sở. Thức mạt na thứ 7, duyên theo Kiến phần của thức A lại da, là tính hữu phú vô kí, tương ứng với Xả thụ, đồng thời cũng tương ứng với 4 phiền não căn bản, hằng tính lường so đo với ngã tướng, liên tục không gián đoạn. Tóm lại, Thất chuyển thức có đủ 4 nghĩa năng huân và đủ các điều kiện huân thành chủng tử của A lại da thức(hiện hành huân chủng tử).[X. luận Du già sư địa Q.63; luận Thành duy thức Q.2].
thất chuyển đệ bát hỗ vi nhân quả
(七轉第八互爲因果) Bảy chuyển thức và thức thứ 8 làm nhân quả lẫn nhau. Tức 7 chuyển thức(từ nhãn thức đến mạt na thức) và thức thứ 8(A lại da thức) trong quá trình năng sinh, sở sinh, năng huân và sở huân làm nhân quả lẫn cho nhau. Khi mối quan hệ giữa năng sinh và sở sinh là chủng tử sinh hiện hành, thì thức thứ 8 là nhân của năng sinh và 7 chuyển thức là quả của sở sinh; còn khi mối quan hệ giữa năng huân và sở huân là hiện hành huân chủng tử, thì 7 chuyển thức là nhân của năng huân và thức thứ 8 là quả của sở huân. Mối quan hệ nhân quả này là đồng thời chứ không phải khác thời.[X.luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. Tam Pháp Triển Chuyển Nhân Quả Đồng Thời).
thất chân như
Sapta-vidhah-tathatāh (S).
; The seven aspects of the bhùtatathatà: (1) Lưu chuyển chân như; (2) Thật tướng chân như; (3) Duy thức chân như; (4) An lập chân như; (5) Tà hạnh chân như; (6) Thanh tịnh chân như; (7) Chính hạnh chân như.
; (七真如) Phạm: Sapta vidhà# tathatà#. Cũng gọi Thất chủng như như, Thất như.Bảy loại chân như khác nhau được thành lập theo nghĩa năng thuyên. Đó là: 1. Lưu chuyển chân như (Phạm: Pravftti-tathatà), cũng gọi Sinh chân như, Sinh như như, Luân chuyển như như, Sinh khởi chân thực. Nếu nói theo tướng thì sinh tử lưu chuyển chẳng phải lấy tự tại... làm nhân, tức do các nhân duyên phân biệt, y tha mà khởi, đây là chân thực không hư dối. 2. Thực tướng chân như (Phạm: Lakwana-tathatà), cũng gọi Tướng chân như, Tướng như như, Không như như. Nghĩa là thực tướng do chân lí nhân vô ngã, pháp vô ngã của tất cả các pháp hiển bày.3. Duy thức chân như (Phạm:Vijĩaptitathatà), cũng gọi Liễu biệt chân như, Thức chân như, Thức như như, Duy thức như. Nghĩa là nếu nói theo tướng thì Duy thức chân như chỉ cho trí quán duy thức vô lậu. 4. An lập chân như (Phạm:Saônivezatathatà), cũng gọi Y chỉ chân như, Y chỉ như, An lập chân thực. Tức là Khổ thánh đế. Nếu nói theo tướng thì chỗ mà ngã và ngã sở chấp trước là chỉ cho khí thế gian, chúng sinh thế gian. 5. Tà hành chân như (Phạm:Mithyàpratipatti-tathatà), cũng gọi Tà hành như, Tà hành như như, Tà hành chân thực. Tức là Tập thánh đế. Nếu nói theo tướng thì khát ái là nhân của mọi khổ não. 6. Thanh tịnh chân như(cũng gọi Thanh tịnh như, Thanh tịnh như như, Thanh tịnh chân thực). Tức là Diệt thánh đế. Nghĩa là sự thanh tịnh rốt ráo dứt hẳn phiền não chướng và sở tri chướng. 7. Chính hành chân như (Phạm: Samyak-pratipatti-tathatà), cũng gọi Chính hành như, Chính hành như như, Chính hành chân thực. Tức Đạo thánh đế. Nghĩa là con đường diệt khổ, như Bát chính đạo... [X. kinh Giải thâm mật Q.3, 6]. (xt. Chân Như).
Thất chúng
(七眾): 7 hạng đệ tử hình thành nên giáo đoàn xuất gia và tại gia của đức Phật, gồm: (1) Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘); (2) Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼); (3) Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌); (4) Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼); (5) Thức Xoa Ma Na (s: śikṣamāṇa, p: sikkhamānā, 式叉摩那); (6) Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞); và (7) Ưu Bà Di (s, p: upāsikā, 優婆夷). Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 10 có giải thích rằng: “Phật đệ tử thất chúng, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Học Giới Ni, Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di; Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di thị cư gia, dư ngũ chúng thị xuất gia (佛弟子七眾、比丘、比丘尼、學戒尼、沙彌、沙彌尼、優婆塞、優婆夷、優婆塞、優婆夷是居家、餘五眾是出家, bảy chúng đệ tử của Phật là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Học Giới Ni [tức Thức Xoa Ma Na], Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di; Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di là cư sĩ tại gia, còn năm chúng kia là xuất gia).” Trong bài văn Đông Dương Song Lâm Tự Phó Đại Sĩ Bi (東陽雙林寺傅大士碑) của Từ Lăng (徐陵, 507-583) nhà Trần (陳, 557-589) thời Nam Triều (南朝, 420-589) có câu: “Thất chúng phàn hiệu, ai du thanh thọ (七眾攀號、哀踰青樹, bảy chúng khóc thảm thiết, buồn ngút cây xanh).” Hay như trong bài Thống Lược Tịnh Trú Tử Tịnh Hạnh Pháp Môn Tự (統略淨住子淨行法門序) của Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường cũng có khẳng định rằng: “Dĩ Tam Quy thất chúng, chế ngự tình trần (以三歸七眾,制御情塵, lấy ba phép Quy Y bảy chúng để chế ngự ô nhiễm bụi trần).”
; 七衆; C: qīzhòng; J: shichishu;|Bảy chúng đệ tử Phật. Gồm: 1. Tỉ-khâu, 2. Tỉ-khâu-ni, 3. Ưu-bà-tắc (cư sĩ nam), 4. Ưu-bà-di (cư sĩ nữ), 5. Sa-di (沙彌): Tăng trẻ chưa đủ tuổi thụ giới Tỉ-khâu, 6. Sa-di ni (沙彌尼): Ni chưa đủ tuổi thụ giới Tỉ-khâu-ni. Trong ni giới, đặc biệt có số người trong dạng chuyển tiếp, là sa-di-ni đã lớn tuổi, chuẩn bị thụ giới Tỉ-khâu-ni, được gọi là Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā, p: sikkhamānā). Hai nhóm đầu tiên thực hành toàn bộ giới luật đức Phật đã chế. Hai nhóm cư sĩ chỉ giữ năm giới (五戒). Thức-xoa-ma-na ngoài giới sa-di còn phải thực hành thêm Sáu học pháp (六法); Sa-di và sa-di-ni giữ Mười giới (十戒).
thất chúng
The seven classes of disciples: (1) Tỉ khưu, bhiksu, monk; (2) Tỉ khưu ni, bhiksuni, nun; (3) Thức xoa ma na, siksamàna, a novice-nun; (4) Sa di, sràmanera, novice-monk; (5) Sa di ni, sràmanerika, novice-nun; (6) Ưu bà tắc, upàsaka, lay-man; (7) Ưu bà di, upàsikà, lay-woman.
; (七衆) Cũng gọi Đạo tục thất chúng. Chỉ cho 7 loại đệ tử(gồm xuất gia và tại gia) tạothành giáo đoàn của đức Thích tôn. Đó là: 1. Tỉ khưu (Phạm: Bhikwu, Pàli: Bhikkhu), cũng gọi Bật sô, Khất sĩ. Chỉ cho người nam xuất gia đủ 20 tuổi. 2. Tỉ khưu ni (Phạm: Bhikwunì,Pàli: Bhikkhunì), cũng gọi Bật sô ni, Khất sĩ nữ. Chỉ cho người nữ xuất gia đủ 20 tuổi. 3. Sa di (Phạm: Zràmaịera, Pàli: Sàmaịera), cũng gọi Cần sách nam. Chỉ cho người nam xuất gia chưa đủ 20 tuổi. 4. Sa di ni (Phạm:Zràmaịerikà,Pàli: Sàmịerì), cũng gọi Cần sách nữ. Chỉ cho người nữ xuất gia chưa đủ 20 tuổi. 5. Thức xoa ma na (Phạm: Zikwamàịa, Pàli:Sikkhamàna), Hán dịch là Học pháp nữ. Từ ngữ này được dùng để gọi các Sa di ni học giới trong 2 năm trước khi chính thức trở thành các Tỉ khưu ni. 6. Ưu bà tắc (Phạm,Pàli:Upàsaka), Hán dịch là Cận sự nam. Chỉ cho nam tín đồ tại gia. 7. Ưu bà di (Phạm, Pàli:Upàsikà), Hán dịch là Cận sự nữ. Chỉ cho nữ tín đồ tại gia. Bảy chúng nói trên, thêmCận trụ(người thụ Tam qui, thụ trì giới một ngày một đêm), gọi là Bát chúng; hoặc thêmCận trụ nam, Cận trụ nữ, gọi là Cửu chúng. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ; luật Ma ha tăng kì Q.2, 24; luận Đại tì bà sa Q.123].
thất chúng nịch thủy
(七衆溺水) Bảy chúng đắm chìm. Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Bắc) có nêu 7 ví dụ về 7 loại chúng sinh như sau: 1. Hạng người thứ nhất xuống nước, vì không biết bơi nên liền bị chìm; ví dụ cho Nhất xiển đề vào sông sinh tử liền bị chìm ngay. 2. Hạng người thứ 2 xuống nước, tuy bị chìm nhưng lại ngoi lên, ngoi lên rồi lại chìm; ví dụ cho hạng trời và người có lúc tiến lên, nhưng lại trở lui. 3. Hạng người thứ 3chìm rồi liền ngoi lên, ngoi lên rồi không bị chìm nữa; ví dụ cho hàng Nội phàm đầy đủ 4 thiện căn: Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp, vĩnh viễn không bị rơi vào 3 đường ác nữa. 4. Hạng người thứ 4 xuống nước liền chìm, chìm rồi ngoi lên, ngoi lên liền dừng lại, quán sát khắp 4 phương; ví dụ cho hàng Thanh văn. 5. Hạngngườithứ 5 xuống nước liền chìm, chìm rồi ngoi lên, ngoi lên liền dừng lại, dừng lại quán sát các phương, quán sát rồi đi; ví dụ cho hàng Duyên giác. 6. Hạng người thứ 6xuống nước liền bơi đi, đến chỗ cạn thì dừng lại, ví dụ Bồ tát.7. Hạng người thứ 7 bơi đến bờ kia, leo lên núi lớn, không còn sợ hãi, lìa các giặc oán, hưởng sự yên vui to lớn, ví dụ chư Phật.
thất chủng biện
The seven rhetorical powers or methods of bodhisattvas: (1) Tiệp tật biện, direct and unimpeded; (2) Lợi biện, acute and deep; (3) Bất tận biện, unlimited in scope: (4) Bất khả đoạn biện, irrefutable; (5) Tùy ứng biện, appropriate, or according to receptivity; (6) Nghĩa biện, purposive or objective (i.e. nirvàna); (7) Nhất thiết thế gian tối thượng biện, proving the universal supreme method of attainment, i.e. Mahàyàna.
; (七種辯) Cũng gọi Thất biện. Bảy biện tuệ thù thắng của Bồ tát. A. Theo phẩm Huyễn thính trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 8 và luận Đại trí độ quyển 55 thìthất biện là: 1. Tiệp tật biện: Biện luận mau lẹ, vì Bồ tát đối với tất cả pháp đều thông suốt vô ngại. 2. Lợi biện: Biện luận rất sắcsảo, vì Bồ tát thâm nhập tất cả pháp. 3. Bất tận biện: Biện luận thao thao như dòng nước chảy, vì Bồ tát rõ suốt thực tướng các pháp nên giảng nói bất tận. 4. Bất khả đoạn biện: Vì trong Bát nhã không có các hí luận nên không thể dùng các vấn nạn để làm gián đoạn tài biện luận của Bồ tát. 5. Tùy ứng biện: Tùy theo yêu cầu của chúng sinh mà nói pháp, vì Bồ tát đã dứt hẳn pháp ái. 6. Nghĩa biện: Bồ tát giảng nói về sự lợi ích hướng tới Niết bàn. 7. Nhất thiết thế gian tối thượng biện: Nói tất cả những việc bậc nhất ở thế gian, tức chỉ cho Đại thừa. B. Cứ theo kinh Đại bát nhã quyển 99 thì thất biện là: 1. Vô ngại biện: Tươngđươngvới Lợi biện.2. Vô đoạn tận biện: Tương đương với Bất tận biện. 3. Vô sơ mậu biện: Tương đương với Bất khả đoạn biện. 4.Ứngbiện: Tương đương với Tùy ứng biện.5. Tấn biện: Tương đương với Tiệp tật biện.6. Chư sở diễn thuyết phong nghĩa vị biện: Tương đương với Nghĩa biện. 7. Nhất thiết thế gian tối thắng diệu biện: Tương đương với Nhất thiết thế gian tối thượng biện.
thất chủng bất tịnh
The seven kinds of uncleaness: (1) Hột giống chẳng sạch derived from the parental seed; (2) Thụ sinh chẳng sạch, parental intercourse; (3) Nơi đậu chẳng sạch, the womb; (4) Ăn uống chẳng sạch, the pre-natal blood of the mother; (5) Lúc mới sinh chẳng sạch, birth; (6) Tất cả thân thể chẳng sạch, one's own flesh; (7) Rốt cục chẳng sạch, one's own putrid corpse.
; (七種不淨) Bảy thứ nhơ nhớp đối với sự tham đắm thân phần của mình và người. Đó là: 1. Chủng tử bất tịnh: Hạt giống bên trong là nghiệp nhân phiền não và hạt giống bên ngoài là di thể của cha mẹ, đều là nhơ nhớp. 2. Thụ sinh bất tịnh: Khi cha mẹ giao cấu, tinh huyết hòa hợp là nhơ nhớp. 3. Trụ xứ bất tịnh:Ở trong bào thai 10 tháng là chỗ nhơ nhớp. 4. Thụ đạm bất tịnh:Ở trong thai, ăn uống máu huyết nhơ nhớp của mẹ. 5. Sơ sinh bất tịnh: Lúc sinh ra máu me bẩn tưởi. 6. Cử thể bất tịnh: Dưới lớp da mỏng khắp mình toàn là những vật nhơ nhớp. 7. Cứu cánh bất tịnh: Sau khi chết, bỏ thây ngoài nghĩa địa, dòi bọ rúc rỉa, hôi thối, nhớp nhúa.
thất chủng bố thí
The seven kinds of almsgiving: (1) Bố thí cho người khách, to callers; (2) Bố thí cho người đi đường, to travellers; (3) Bố thí cho người bệnh the sick; (4) Bố thí cho người hầu bệnh, their nurse; (5) Bố thí vườn tược cho chùa, monasteries; (6) Bố thí thức ăn hàng ngày, regular food (to mnks); (7) Tùy lúc bố thí, general alms.
Thất chủng chân như
七種眞如; C: qīzhǒng zhēnrú; J: shichishu shinnyo;|Bảy loại chân như được đề cập trong bài luận về mười tám loại tính Không (Thập bát Không luận 十八空論). Đó là: Sinh chân như (生眞如), Tướng chân như (相眞如), Thức chân như (識眞如), Y chỉ chân như (依止眞如), Tà hạnh chân như (邪行眞如), Thanh tịnh chân như (清淨眞如) và Chính hạnh chân như (正行眞如).
Thất chủng hữu lậu
xem Bảy lậu hoặc.
thất chủng lập đề
(七種立題) Chỉ cho 7 cách đặt tên kinh.Tông Thiên thai cho rằng tất cả tên kinh không ngoài 3 yếu tố Nhân, Pháp và Dụ, trong đó, lại do đơn, phức và cụ túc khác nhau mà có phân biệt, tức đơn 3, phức 3 và cụ túc 1, cộng chung là 7 thành phần. 1. Đơn nhân lập đề: Như kinh Phật thuyết A di đà. Phật là người năng thuyết, A di đà là người sở thuyết. Đây là dùng quả và nhân của 2 thế giới để đặt tên kinh. 2. Đơn pháp lập đề: Như kinh Niết bàn. Niết bàn là pháp sở thuyết trong kinh. Đây là dùng pháp để đặt tên kinh. 3. Đơn thí lập đề: Như kinh Phạm võng. Phạm võng là mành lưới của Phạm thiên, dùng các mắt lưới để ví dụ các tiết mục của giới luật giao xen nhau vô tận. Đây là dùng ví dụ để đặt tên kinh. 4. Nhân pháp lập đề: Như kinh Văn thù vấn bát nhã. Văn thù là Nhân(người), Bát nhã là pháp. 5. Pháp thí lập đề: Như kinh Diệu pháp liên hoa. Diệu pháp là pháp, liên hoa là ví dụ.6. Nhân thí lập đề: Như kinh Như lai sư tử hống. Như lai là người, sư tử là ví dụ.7. Cụ túc lập đề: Như kinh Đại phương quảng Phậthoa nghiêm. Đại phương quảng là pháp, Phật là người và hoa nghiêm là ví dụ.(xt. Đơn Tam Phức Tam Cụ Túc Nhất).
thất chủng lễ phật
Seven degrees of worshipping Buddha ranging from the merely external to the highest grade.
; (七種禮佛) Bảy cách lễ Phật. Cứ theo phần Nghi thức bộ thứ 7 trong Pháp uyển châu lâm quyển 20 thì Tam tạng Lặcna ma đề ở TrungẤn độ truyền đến Trung quốc 7 cách lễ Phật, trong đó có đúng sai, sâu cạn khác nhau, muốn cho người ta biết 2 cách lễ ngã mạn và cầu danh trong đó là sai, còn 5 cách kia là đúng. Bảy cách lễ Phật ấy là: 1. Ngã mạn lễ: Người lễ Phật tuy thân lễ lạy nhưng trong lòng thì ngã mạn. 2. Cầu danh lễ(cũng gọi là Xướng họa lễ): Người lễ Phật chỉ vì cầu danh chứ không có tâm ân trọng. 3. Thân tâm lễ: Người lễ Phật, miệng xướng danh hiệu Phật, tâm quán tưởng tướng tốt đẹp của Phật, thân nghiệp ân cần, cung kính cúng dường, không có niệm khác. 4. Phát trí thanh tịnh lễ: Người lễ Phật, tuệ tâm sáng suốt, đạt đến cảnh giới Phật, trong ngoài thanh tịnh, rỗng suốt vô ngại, khi lễmột đức Phật tứclàlễ tất cả các Phật, lễ tất cả các Phậtchính là lễ một đức Phật, vì pháp thân chưPhậtthể vốn dung thông, cho nênhễlễ một lạy thì cùng khắp pháp giới, lễ Phật như thế, lễ pháp, lễ tăng cũng giống như thế. 5. Biến nhập pháp giới lễ: Người lễ Phật, quán xét các pháp như thân tâm của chính mình, từ xưa đến nay không lìa pháp giới, chư Phật chẳng lìa tâm ta, tâm ta chẳng lìa chư Phật, tính tướng bình đẳng, vốn không thêm bớt, nay lễ một đức Phật tức lễ khắp các đức Phật, giống như trong ngôi nhà treo trăm, nghìn tấm gương, có người đến soi gương thì gương đều hiện bóng, không tấm gương nào không soi, không hình bóng nào không hiện, chính quán như thế thì công qui về pháp giới, đức dụng thì vô biên. 6. Chính quán tu thành lễ: Người lễ Phật nhiếp tâm chính niệm, tuy đối trước thân Phật nhưng đó chính là mình lễ thân Phật trong thân của chính mình. 7. Thực tướng bình đẳng lễ: Người lễ Phật, trong chính quán vừa nói trên vẫn còn có lễ có quán, mình, người khác nhau, một lễ ở đây bây giờ là không mình không người, phàm thánh là một, lễ dụng chẳng hai.
thất chủng ngư
�� Buddha's seven modes of discourse: (1) Nhân ngữ: from presentcause to future effect. (2) Quả ngữ: from present sffect to past cause. (3) Nhân quả ngữ: inherent cause and effect. (4) Dụ ngữ: illustrative or figurative. (5) Bất ứng thuyết ngữ: spontaneous or parabolic. (6) Thế lưu bố ngữ: ordinary or popular. (7) Như ý ngữ: unreserved, or as he really thought, e.g. sa when he said that all things have the Buddha-nature.
thất chủng ngữ
(七種語) Bảy loại ngữ(lời nói)mà đức Phật sử dụng khi thuyết pháp cho chúng sinh nghe, được nêu trong kinh Niết bàn quyển 35 (bản Bắc). Đó là: 1. Nhân ngữ: Đức Phật ngay nơi nhân hiện tại nói về quả vị lai, như nói chúng sinh thích giết hại, cho đến ưa làm theo tà kiến, đó chính là nhân, người ấy sẽ chịu quả báo địa ngục. 2. Quả ngữ: Đức Như lai ở ngay quả hiện tại mà nói về nhân quá khứ, như thấy chúng sinh nghèo cùng xấu xí thì nói đó đều do người ấy đời trước phá giới, ghen ghét, sân hận, không biết hổ thẹn mà ra. 3. Nhân quảngữ: Như lai nói một việc từ nhân ở quá khứ cho đến quả ở vị lai, như nói 6 nhập xúc ở hiện tại của chúng sinh là do nghiệp ở quá khứ làm nhân, 6 nhập xúc hiện tại khởi tạo hoặc nghiệp sẽ chiêu cảmquảở quả vị lai. 4. Dụ ngữ: Đức Phật vì chúng sinh độn căn nên khéo dùng ví dụ để dẫn dắt, như ví dụ thân Phật là Sư tử vương. 5. Bất ứng ngữ: Như lai thuyết pháp y cứ vào lí chân đế và tục đế, chân đế là nói tất cả pháp lìa tính lìa tướng, tất cả đều là Trung đạo; tục đế thì nói các pháp thế gian, xuất thế gian mỗi pháp đều rõ ràng, không thể đoạn diệt. Nói cả 2 đế như thế mà đế nào cũng tương ứng với lí. Tuy nhiên, cũng có khi Như lai nói trời đất có thể hợp lại, sông chẳng chảy về biển, núi từ 4 phương ập đến, cây Sa la có thể thụ 8 giới...; những lời nói này không tương ứng với lí, vì thế nên gọi là Bất ứng ngữ.6. Thế lưu bố ngữ: Như lai tùy thuận ngôn ngữ phổ thông ở thế gian, như nói nam nữ, xe ngựa, phòng xá, thành ấp... 7. Như ý ngữ: Đối với chúng sinh, hễ có điều gì dạy bảo thì Như lai đều dùng phương tiện nói những lời vừa ý mọi người.
thất chủng nhị đế
(七種二諦) Chỉ cho 7 thứ chân đế và tục đế. Đó là: 1. Hai đế của Tam tạng giáo: Các thực pháp như ấm, giới, nhập... tạo thành sum la muôn tượng là tục đế, lí thể lãnh hội được do diệt trừ tục đế này là chân đế; tức chủ trương cho rằng các pháp có sinh thật, diệt thật, vì thế cũng gọi Thực hữu nhị đế, Sinh diệt nhị đế. 2. Hai đế của Thông giáo: Có giả là tục đế, có giả tức không là chân đế; chủ trương không thừa nhận có sinh thật, diệt thật, cũng gọi Vô sinh diệt nhị đế. 3. Hai đế của Biệt tiếpThông: Lấy có giả làm tục đế; hàng Biệt tiếpThông theo giáo pháp Biệt giáo, thấy lí Đãn trung, được tiếp vào Biệt giáo, lấy cái họ thấy là chân đế, tức lấy có giả chính là không và bất không làm chân đế, cũng gọi Đơn tục phức chân nhị đế, Huyễn hữu không bất không nhị đế. 4. Hai đế của Viên tiếp Thông: Tục đế đồng với Thông giáo; hàng Viên tiếp Thông theo giáo pháp Thông giáo, thấy lí Bất đãn trung, được tiếp vào Viên giáo, lấy điều họ thấy làm chân đế, tức cho có giả chính là không bất không, tất cả pháp không bất không là chân đế. 5. Hai đế của Biệt giáo:Lấy có giả và có giả tức không làm tục đế, Trung đạo chẳng có chẳng không là chân đế. 6. Hai đế của Viên tiếp Biệt: Tục đế đồng Biệt giáo ở trước, hàng Viên tiếp Biệt theo giáo pháp Biệt giáo, ngộ nhập lí Bất đãn trung, được tiếp vào Viên giáo, lấy điều họ thấy làm chân đế, tức hợp chung Đãn trung và Bất đãn trung làm chân đế. 7. Hai đế của Viên giáo: Lấy có giả và có giả tức không làm tục đế, tất cả pháp có, không và chẳng có chẳng không là chân đế. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát Niết bàn Q.13 (bản Bắc); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2, hạ; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.15].
thất chủng sinh tử
(七種生死) Sự sinh tử luân hồi của chúng sinh trôi lăn trong 6 đường cõi mê được chia làm 2 thứ là Phần đoạn sinh tử và Biến dịch sinh tử. Các bộ luận y cứ vào 2 thứ sinh tử này mà lập ra thuyết mới là thuyết Thất chủng sinh tử. Đó là: A. Theo thuyết của luận Hiển thức và Ma ha chỉ quán quyển 7, thượng, thì Phần đoạn sinh tử y cứ vào 3 cõi: Dục, Sắc và Vô sắc, cho nên có 3 thứ sinh tử khác nhau; thêm vào 3 thứ này có 4 thứ sinh tử của giới ngoại là Phương tiện, Nhân duyên, Hữu hữu và Vô hữu mà thành 7 thứ sinh tử. B. Theo thuyết của Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 7, phần 1, và thuyết của Đại minh tamtạng pháp số quyển 30 thì Thất chủng sinh tử là: 1. Phần đoạn sinh tử: Quả báo trong 3 cõi, về thọ mệnh có phần hạn dài ngắn, về thân thì có hình đoạn lớn nhỏ, đều không tránh khỏi sinh tử. 2. Lưu nhập sinh tử: Chúng sinh từ lúc bắt đầu có thức thì quên chân theo vọng, trôi vào biển khổ sinh tử, chìm nổi không dừng. 3. Phản xuất sinh tử: Nếu chúng sinh phát tâm tu hành, bỏ vọng về chân thì có thể ra khỏi sinh tử, đạt đến Niết bàn. 4. Biến dịch sinh tử(cũng gọi Phương tiện sinh tử): Nhân dời quả đổi, gọi là biến dịch. Nghĩa là các bậc A la hán, Bích chi Phật, Bồ tát... đã ra khỏi sinh tử của 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc mà sinh vào các cõi Phương tiện... y cứ vào lúc đoạn hoặc chứng quả, vì nhân dời quả đổi nên gọi là Sinh tử. 5. Nhân duyên sinh tử: Các Bồ tát từ Sơ địa trở lên đều lấy líbất tư nghị của sở quán làm nhân, lấy chân vô lậu trí của năng quán làm duyên, cùng phá hoặc vô minh, rồi vì hóa độ chúng sinh mà thị hiện sinh tử. 6. Hữu hậu sinh tử: Vì Bồ tátĐệ thập địa(Pháp vân địa) còn một phẩm vô minh cuối cùng chưa đoạn trừ nên còn có một lần Biến dịch sinh tử. 7. Vô hậu sinh tử: Bồ tát Đẳng giác phá trừ một phẩm vô minh phiền não cuối cùng, rốt ráo hết hẳn, chứng nhập địa vị Diệu giác, không thụ thân sau. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.17]. (xt. Sinh Tử).
thất chủng sám hối tâm
The seven mental attitudes in penitential meditation or worship: shame, at not being free from mortality; fear, of the pains of hell,etc.; turning from the evil world; desire for enlightenment and complete renunciation; impartiality in love to all; gratitude to the Buddha; meditation on the unreality of the sin nature.
; (七種懺悔心) Chỉ cho 7 thứ tâm được tỏ bày lúc sám hối, đó là: 1. Sinh đại tàm quí tâm: Sinh tâm rất hổ thẹn. Nghĩa là hổ thẹn rằng mình và đức Thích ca Như lai cùng là phàm phu mà nay đức Thế tôn đã thành Phật trải qua nhiều kiếp, trong khi mình vẫn còn luân hồi sinh tử, không biết đến bao giờ mới ra khỏi.2. Sinh khủngbố tâm: Sinh tâm sợ hãi. Nghĩa là các nghiệp do thân, khẩu, ý của lũ phàm phu như ta tạo tác thường tương ứng với tội lỗi, vì nhân duyên ấy nên sau khi chết sẽ phải đọa vào các đường địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, chịu vô lượng khổ, do đó mà sinh sợ hãi. 3. Sinh yếm li tâm: Sinh tâm chán lìa. Nghĩa là lũ chúng ta trôi lăn trong sinh tử, hư giả chẳng thật, như đám bọt nước chợt nổi chợt tan, trôi chảy qua lại. Hơn nữa, thân này là do các khổ gom lại, tất cả đều nhơ nhớp, do đó mà sinh tâm chán lìa. 4. Phátbồ đềtâm: Phát tâm bồ đề. Nghĩa là muốn thành tựu thân Như lai thì phải nên phát tâm bồ đề để cứu độ chúng sinh, đối với thân mệnh và tài vật đều không sẻn tiếc. 5. Oán thân bình đẳng tâm: Coi kẻ oán người thân đều bình đẳng. Nghĩa là đối với tất cả chúng sinh khởi tâm từ bi, không có tướng mình, người, bình đẳng cứu độ, dùng tâm này để sám hối. 6. Niệm báo Phật ân tâm: Tâm nhớ nghĩ báo ân Phật. Nghĩa là Như lai đã vì chúng ta mà tu hành khổ hạnh trong vô lượng kiếp xa xưa, ân đức ấy thật khó báo đền; cho nên ngay trong đời này phải dũng mãnh tinh tiến, không tiếc thân mệnh, rộng độ chúng sinh, lên ngôi Chính giác, nên luôn nhớ nghĩ như thế. 7. Quán tội tính không: Tính chất của tội vốn không, không có thực thể, chỉ do nhân duyên điên đảo mà sinh. Quán xét như thế thì biết được tội tính xưa nay vốn không, cho nên tội cũng là không. [X. Từ bi thủy sám pháp Q.thượng].
thất chủng tam muội
Xem Thất giác phần Tam muội.
thất chủng thiện
(七種善) Chỉ cho 7 thứ thiện là Sinh đắc thiện, Văn thiện, Tư thiện, Tu thiện, Học thiện, Vô học thiện và Thắng nghĩa thiện, do ngài Phổ quang y cứ vào luận Câu xá mà lập ra. Sinh đắc thiện là thiện tâm nhậm vận sinh khởi mộtcách tự nhiên. Ba thiện Văn, Tư, Tu cũng gọi Tam tuệ, là 3 thứ thiện trong các thiện nhờ gia hành như phát tâm tu hành vàoKiến đạo, trì giới, tu quán... mà có được. Văn thiện do nghe mà thành gọi là Văn tuệ; Tư thiện do suy tư mà thành gọi là Tư tuệ; Tu thiện do tu định mà thành gọi là Tu tuệ. Bốn thứ trên đây đều thuộc hữu lậu thiện. Còn vô lậu thiện thì được chia làm 2 thứ làhữu vi và vô vi. Trong đó, Học thiện và Vô học thiện thuộc vô lậu hữu vi. Học thiện do giai vị Hữu học của Tứ hướng, Tam quả sinh khởi; còn Vô học thiện thì chính làVô học vị, là thiện do quả A la hán sinh khởi. Thắng nghĩa thiện thuộc vô lậu vô vi, là pháp Niết bàn của Trạch diệt vô vi. [X. luận Câu xá Q.4, 22; Câu xá luận quang kí Q.1]. (xt. Tam Tính).
thất chủng thụ thai
(七種受胎) Chỉ cho 7 cách thụ thai theo thuyết của luật Thiện kiến tì bà sa quyển 6.Đó là: 1. Tương xúc thụ thai: Khi người nữ có kinh nguyệt, ưa thích người nam, nếu người nam giao hợp(tương xúc) với người nữ thì người nữ sinh tâm tham đắm mà mang thai. 2. Thủ y thụ thai: Như trường hợp 2 vợ chồng Ưuđàdi cùng xuất gia, sau đó Ưuđàdi đến chỗ vợ, vì cả 2 đều chưa dứt tình cảm ái dục, nên khi nói chuyện với nhau tinh dục thoát ra làm dơ quần áo, người vợ được quần áo này(thủ y) mà thụ thai.3. Hạ tinh thụ thai: Thủa xưa, có một Đạo sĩ đi tiểu tiện tinh trùng chảy ra theo nước tiểu(hạ tinh), có con naicáiuống nhằm nước ấy liền mang thai, sau sinh ra Đạo sĩ Lộc tử. 4. Thủ ma thụ thai: Như trường hợp Thiểm bồ tát, cha mẹ đều mù, xuất gia học đạo, nghe theo lời dạy củaĐế thích, lấy tay xoa(thủ ma) dưới rốn mà thụ thai, sinh ra Thiểm tử. 5. Kiến sắc thụ thai: Có người con gái đến tuổi có kinh nguyệt, dục tình rất mạnh, chỉ nhìn người nam (kiến sắc) mà thụ thai. 6. Văn thanh thụ thai: Như loài chim cò trắng đều là con mái, không có con trống, khi mùa xuân đến, khí dương lan khắp, tiếng sấm vừa vang thì cò trắng lắng nghe liền thụ thai. 7. Khứu hương thụ thai: Như con trâu cái chỉ ngữi hơi(khứu hương) con trâu đực liền thụ thai.
thất chủng thực
(七種食) Bảy thứ thức ăn của mắt, mũi, lưỡi, thân, ý và niết bàn. Tức mắt lấy ngủ làm thức ăn, tai lấy tiếng làm thức ăn, mũi lấy mùi thơm làm thức ăn, lưỡi lấy vị làm thức ăn, thân lấy trơn láng làm thức ăn, ý lấy pháp làm thức ăn và niết bàn lấy không buông lung làm thức ăn. Vì 7 thứ trên có công năng làm lợi ích cho thân tâm, nuôi lớn và phát triển thân tâm, nên gọi là Thực.
Thất chủng tác pháp
xem bảy hình thức yết-ma.
thất chủng tịnh
(七種淨) I. Thất Chủng Tịnh. Tên khác của Thất tịnh hoa. (xt. Thất Tịnh Hoa). II. Thất Chủng Tịnh. Chỉ cho 7 tướng thanh tịnh nguyện cầu tịnh độ của Bồ tát Sơ địa. Đó là: 1. Đồng thể tịnh:Đây là nói về thể không sai khác của các cõi nước. Tức tất cả Báo ứng độ lấy Pháp tính độ làm thể, tất cảỨng độ lấy Chân độ làm thể. Các độ trongỨng độ cũng đều đồng thể không khác. 2. Tự tại tịnh: Đây là nói về thể thanh tịnh của các cõi nước. Tức như thể tính trong sáng của viên ngọc thanh tịnh có công năng hiển bày tính chất đẹp, xấu của nó một cách tự tại, vì thể của cõi nước thanh tịnh, cho nên nhiễm tịnh viên thông, pháp giới bình đẳng. 3.Trang nghiêm tịnh:Đây là nói về tướng của cõi nước. Tức dùng thần biến tự tại để trang nghiêm Tịnh độ, lại thường có ánh sáng, chiếu phá mê tối, gom chứa các thứ báu để trang nghiêm. 4. Thụ dụng tịnh:Đây nói về Dụng của cõi nước. Tức khi thụ dụng cảnh giới Tịnh độ thì diệt được phiền não, sinh ra Thánh đạo. 5. Trụ xứ chúng sinh tịnh: Đây là nói về người cư trú để hiển bày tính chất thù thắngcủacõi nước. Tức là chúng sinh có vô lượng công đức trí tuệ đầy khắp Tịnh độ.6. Nhân tịnh:Đây là nói về nhân để nêu rõ quả. Tức đức nghiệp mà chúng sinh ở Tịnh độ có được chính là nhờ tu pháp môn Tam muội tịnh độ. 7. Quả tịnh:Đây là nói nhìn vào nhân mà rõ quả. Tức y cứ vào đức nghiệp của Tam muội tịnh độ, tùy theo tâm ưa thích của chúng sinh mà thị hiện các thứ quả. [X. Thập địa kinh luận Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.19].
thất chủng tự tính
(七種自性) Cũng gọi Thất chủng tính tự tính. Chỉ cho 7 tự tính của các pháp nhiễm tịnh. Đó là: 1. Tập tính tự tính (Phạm:Samudayasvabhàva), cũng gọi Tập tự tính. Nghĩa là tính gom góp thiện ác mà thành tựu các pháp nhiễm tịnh. 2. Tính tự tính (Phạm: Bhàvasvabhàva):Tính tự giữ gìn của các pháp. 3. Tướng tính tự tính (Phạm: Lakwaịa-svabhàva), cũng gọi Tướng tự tính. Nghĩa là tướng trạng của các pháp mỗi tướng đều có tính khác nhau. 4. Đại chủng tính tự tính (Phạm: Mahà-bhùta-svabhàva), cũng gọi Đại tính tự tính. Nghĩa là cái nhân làm ra tất cả sắc pháp cũng chính là cái tính riêng của mỗi chủng trong 4 đại chủng (đất, nước, lửa, gió). 5. Nhân tính tự tính (Phạm: Hetusvabhàva), cũng gọi Nhân tự tính. Chỉ cho tính của nhân gần sinh khởi các pháp. 6. Duyên tính tự tính (Phạm: Pratyaya-svabhàva), cũng gọi Duyên tự tính. Tức tính của trợ duyên giúp cho việc sinh khởi các pháp. 7. Thành tính tự tính (Phạm: Niwpatti-svabhàva), cũng gọi Thành tự tính. Chỉ cho thực tính của các pháp, tức là tâm Như lai tạng tự tính thanh tịnh thành tựu các pháp thanh tịnh. [X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.1; kinh Nhập lăng già Q.1; ăng già kinh thông nghĩa Q.1].
thất chủng viên mãn
(七種圓滿) Cũng gọi Thất chủng viên đức. Chỉ cho 7 đức viên mãn của pháp thân Phật là Thuộc tự tâm viên mãn, Cụ thường trụ viên mãn, Cụ thanh tịnh viên mãn, Vô công dụng viên mãn, Năng thí hữu tình đại pháp lạc viên mãn, Biến hành vô y chỉ viên mãn và Bình đẳng lợi đa sinh viên mãn. Bảy thứ viên mãn này có xuất xứ từ phần Quả trí trong Nhiếp đại thừa luận bản quyển hạ, nhưng các tên gọi đều được biểu thị bằng kệ tụng.Ý nghĩa Thất chủng viên mãn được giải thích rộng như sau: 1. Thuộc tự tâm viên mãn: Tất cả pháp đều thuộc tự tâm của Phật, đức tự tại vô ngại viên mãn. 2. Cụ thường trụ viên mãn: Thân Như lai viên mãn trọn đủ đức thường trụ. 3. Cụ thanh tịnh viên mãn: Phật đã vĩnh viễn diệt trừ tập khí nhơ nhớp của phiền não, cho nên đức thanh tịnh của Phật viên mãn. 4. Vô công dụng viênmãn: Đối với tất cả Phật sự, Như lai có đức vô công dụng đầy đủ. 5. Năng thí hữu tình đại pháp lạc viên mãn: Pháp thân Phật trụ ở cõi Phật thanh tịnh, không những thụ dụng đại pháp lạc mà còn ban phát đại pháp lạc cho tất cả hữu tình, viên mãn đầy đủ đức tự tại. 6. Biến hành vô y chỉ viên mãn: Phật đã xa lìa các nhơ nhớp, cho nên Ngài đi khắp thế gian mà không mảy may bị nhơ nhớp bám dính, trái lại đều chuyển thành trong sạch thông suốt. 7. Bình đẳng lợi đa sinh viên mãn: Phật dùng muôn đức làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh một cách như nhau và hoàn toàn đầy đủ.
thất chủng vô thường
(七種無常) Chỉ cho 7 thứ vô thường được nêu trong kinh Lăng già quyển 4.Bảy thứ vô thường này là của tất cả ngoại đạo chứ không phải Phật pháp. Đó là: 1. Tác xả vô thường: Vì sắc(vật chất) do 4 đại tạo ra, tạo rồi thì xả bỏ, nên là vô thường. 2. Xứ hoại vô thường: Xứ là hình dáng các sắc; ngoại đạo cho rằng 4 đại và các sắc do 4 đại tạo ra rốt ráo không hoại diệt, nhưng hình dáng bề ngoài như dài, ngắn... thì hoại diệt, cho nên là vô thường. 3. Sắc tức vô thường: Mục trên cho rằng hình dáng bề ngoài biến hoại nên là vô thường, còn mục này thì cho hình sắc tức là vô thường; đức Phật bác bỏ ý kiến này và cho rằng mục này cũng giống như mục Xứ hoại vô thường ở trước. 4. Chuyển biến vô thường: Chủ trương 4 đại và các sắc do 4 đại tạo ra là thường trụ, chỉ cósắc tướng chuyển biến là vô thường. 5. Tính vô thường: Ngoại đạo chấp trước tự tính của vô thường là bất hoại và dầu bất hoại nhưng lại có năng lực hủy hoại tất cả các pháp, làm cho các pháp vô thường, cũng giống như cậy gậy đập nát gạch ngói, hủy hoại vật khác nhưng tự nó thì bất hoại. 6. Tính vô tính vô thường: Tính của 4 đại đều không có tự tính, tướng năng tạo và sở tạo đều biến hoại, đó là vô thường. 7. Bất sinh vô thường: Tất cả pháp xưa nay vốn chẳng sinh, chẳng sinh tức vô thường; đức Phật bác bỏ quan niệm này cho rằng đã chẳng sinh thì làm gì còn có sinh diệt? Nói là vô thường nhưng thực ra chẳng thành vô thường.
thất chủng vô thượng
The seven peerless qualities of a Buddha: thân, his body with its thirty two signs and eighty four marks; đạo, his way of universal mercy; kiến, his perfect insight or doctrine; trí, his wisdom; thần lực, his supernatural power; li chướng, his ability to overcome hindrances, e.g. illusion, karma, suffering; trụ, and his abiding place i.e. nirvàna.
thất chủng xả
Seven abandonments or riddances: cherishing none and nothing; no relation with others; riddance of love and hate; of anxiety about the salvation of others; of form; giving to others (e.g. supererogation); benefiting others without hope of return.
thất chủng y
The seven kinds of clothing, i.e. of hair, hemp, linen, felt, fine linen, wool, or silk.
; (七種衣) Chỉ cho 7 thứ áo. 1. Mao y:Áo may bằng lông loài vật. 2. Dã ma y:Áo may bằng sợi cây gai hoang. 3. Thô bố y:Áo may bằng vải thô. 4. Bạch chiên y:Áo may bằng loại giạ trắng. 5. Trữ bố:Áo may bằng vải gai trồng. 6. Thượng mao y: Áo may bằng lông chim. 7. Thi quyên y:Áo may bằng lụa sống. [X. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.18].
thất chủng đại
(七種大) Bảy năng lực lớn lao của Bồ tát. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 8 thì Bồ tát có 7 năng lực to lớn, đó là: 1. Pháp đại: Pháp là pháp do chư Phật nói. Chỉ cho Bồ tát có năng lực thụ trì pháp trong 12 bộ kinh, là tối thượng tối đại.2. Tâm đại: Tâm là tâm rộng lớn của chư Phật. Chỉ cho Bồ tát có năng lực phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác. 3. Giải đại: Giải là hiểu rõ. Chỉ cho Bồ tát có năng lực hiểu rõ 12 bộ kinh, nhờ đó biết suốt nghĩa lí các pháp, hoàn toàn không nghi ngại. 4. Tịnh tâm đại: Bồ tát đã hiểu rõ 12 bộ kinh, nương vào đómà tu hành nên có năng lực xa lìa các hoặc nhiễm, vượt qua tất cả giải hành, tâm được thanh tịnh. 5. Chúng cụ đại: Phúc đức và trí tuệ mà Bồ tát tu hành đều là công cụ để thành Phật, rốt ráo chứng được Vô thượng bồ đề. 6. Thời đại: Thời là thời số. Chỉ cho Bồ tát trải qua 3 a tăng kì kiếp tu hành lục độ, cuối cùng sẽ được Vô thượng bồ đề. 7. Đắc đại: Chỉ cho Bồ tát nhờ 6 công đức trước làm nhân mà chứng được quả Bồ đề vô thượng.
thất chủng định danh
(七種定名) Chỉ cho 7 tên khác của thiền định, đó là: 1. Tam ma hi đa (Phạm: Samàhita). Hán dịch làĐẳng dẫn. 2. Tam ma địa (Phạm: Samàdhi). Hán dịch làĐẳng trì, Hán âm là Tam muội. 3. Tam ma bát để(Phạm:Samàpatti). Hán dịch là Đẳng chí. 4. Đà na diễn na (Phạm: Dhyàna), cũng gọi Thiền na, gọi tắt là Thiền. Hán dịch là Tĩnh lự. 5. Chất đa ế ca a yết la đa (Phạm: Cittaikàgratà). Hán dịch là Tâm nhất cảnh tính. 6. Xa ma tha (Phạm: Zamatha). Hán dịch là Chỉ. 7. Hiện pháp lạc trụ (Phạm:Dfwỉadharma-sukha-vihàra), cũng gọi Hiện pháp lạc hành. (xt. Tam Muội).
Thất Cá Điều Chế Giới
(七箇條制誡, Shichikajōseikai): Bảy Điều Răn Dạy của Pháp Nhiên Phòng Nguyên Không (法然房源空) đối với chúng đệ tử; còn gọi là Thất Cá Điều Khởi Thỉnh Văn (七箇條起請文). Kể từ khi Nguyên Không tuyên xướng nghĩa của Tịnh Độ Tông vào năm 1175 (An Nguyên [安元] nguyên niên) cho đến khi trước tác cuốn Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集) vào năm 1198 (Kiến Cửu [建久] thứ 9), ông bắt đầu chính thức công bố xướng đạo; trong vòng 10 năm trường, môn hạ ông tạp lẫn những hạng vô trí bất thiện, bao gồm cả chư tăng của giáo đoàn Phật Giáo cũ; cho nên chân ý của Nguyên Không bị truyền thừa sai lạc khá nhiều; cuối cùng phải chịu hậu quả bị phê phán mãnh liệt từ phía Phật Giáo Nam Đô Bắc Lãnh. Vào tháng 10 năm 1204 (Nguyên Cửu [元久] nguyên niên), đồ chúng của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) tố cáo lên Tọa Chủ Chơn Tánh (眞性), yêu cầu đình chỉ nhóm Chuyên Tu Niệm Phật. Trước tình huống đó, vào ngày mồng 7 tháng 11, đối với chúng môn đồ lấy hiệu là Niệm Phật Thượng Nhân (念佛上人), Nguyên Không đưa ra 7 điều răn dạy. Nếu ai phản lại những điều này, họ không phải là môn nhân, là quyến thuộc của ma, cấm không được vãng lai thảo am ở vùng Cát Thủy (吉水, Yoshimizu). Ngày hôm ấy, Nguyên Không và đệ tử có 80 người, đến ngày mồng 8 có 61 người, rồi đến ngày mồng 9 có thêm 49 người nữa, tổng cọng là 190 người cùng nhau ký tên vào cuối bản Thất Cá Điều Chế Giới này, và thệ nguyện bảo vệ những điều răn dạy của tôn sư. Nguyên bản hiện được bảo tồn tại Nhị Tôn Viện (二尊院), Kyoto. Có bản đề năm 1824 (Văn Chính [文政] thứ 7). Bản này được thâu lục vào Tịnh Độ Tông Toàn Thư (淨土宗全書) 9, phần Tông Điển Bộ 3 của Quốc Dịch Đại Tạng Kinh (國譯大藏經), Nhật Bản Cổ Điển Toàn Tập (日本古典全集), Pháp Nhiên Thượng Nhân Toàn Tập (法然上人全集) 6, Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ (日本思想大系) 10.
thất câu chi phật
Sapta-koṭi-buddha-matṛ (S) Thất Câu Chi, Mẫu Tôn, Thất câu đệ Phật mẫu tôn (1) Hoá thân của Bồ tát Quán Thế Âm, cũng là tên khác của Chuẩn Đề Quán Thế Âm Bồ tát. (2) Mẹ của chư Phật.
Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh
七倶胝佛母所説准提陀羅尼經; C: qī jùzhī fómǔ suǒshuō zhǔntí tuóluóníjīng; J: shichi kutei butsumo josetsu jundei darani kyō;|Kinh. Có nhiều bản dịch: 1. Thất Câu chi Phật mẫu tâm Đại Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母心大准提陀羅尼經). Viết tắt là Đại Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (大准提陀羅尼經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara) dịch; 2. Thất Câu chi Phật mẫu Chuẩn-đề đại minh đà-la-ni kinh (七倶胝佛母准提大明陀羅尼經), 2 quyển, Kim Cương Trí (金剛智; s: vajrabodhi) dịch; 3. Thất Câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母所説准提陀羅尼經), viết tắt là Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (准提陀羅尼經), 1 quyển, Bất Không dịch. Bản dịch nầy cấu trúc trong sáng hơn bản dịch trước. Luận giải bằng tiếng Hán của Hoằng Tán (弘贊) gồm có: Thất Câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh hội thích (七倶胝佛母所説準提陀羅尼經會釋) và Trì tụng Chuẩn-đề chân ngôn pháp yếu (持誦準提眞言法要).
thất câu chi phật mẫu tôn
(七俱胝佛母尊) Phạm: Sapta-koỉi-buddha-màtf. Gọi tắt: Thất câu chi. Một trong các hóa thân củabồ tát Quán âm, tức tên khác của Quán âm Chuẩn đề, là mẹ của Liên hoa bộ, chủ về đức sinh ra công đức của chư tôn thuộc Liên hoa bộ, vì thế gọi là Phật mẫu tôn. Hình tượng vị tôn này thânmàu vàng nhạt, có 18 tay, khắp mình có các nếp hoa văn gấm là màu trắng. [X. kinh Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni].
thất cú nghĩa luận
Sapta-padarthi (S) Tên một bộ luận kinh.
thất cú đáp
(七句答) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 7 cách đáp. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tập quyển 7 thì trong pháp đối luận Nhân minh có 7 cách hỏi đáp. Tức như đối với câu hỏi A là B, hoặc B có là A không thì có 7 cách đáp như sau: 1. Thuận tiền cú đáp (Phạm: Pùrvadàka): Cách đáp thuận theo câu trước và chỉ khẳng định câu trước; chẳng hạn như: A là B, nhưng B chưa hẳn là A.2. Thuận hậu cú đáp (Phạm: Pascàtpàdaka): Trái với cách đáp 1 thuận theo câu trước, cách đáp 2 này thuận theo câu sau và chỉ khẳng định câu sau. Thí dụ như B là A, nhưng A chưa hẳn là B. 3. Nhị cú đáp: Tức đáp bằng 2 câu Hoặc A chẳng phải B, hoặc B chẳng phải A.4. Tam cú đáp: Tức đáp bằng 3 câu Hoặc A chẳng phải B, hoặc B chẳng phải A, hoặc A cũng là B. 5. Tứ cú đáp: Gọi Tứ cú phân biệt, tức dùng Hoặc A mà chẳng phải B, hoặc B mà chẳng phải A, hoặc A mà cũng là B, hoặc chẳng phải A chẳng phải B. 6. Thuật khả cú đáp: Hoàn toàn đáp bằng chữ Đúng. 7. Già chỉ cú đáp: Cách đáp bằng cách ngăn chặn lời hỏi của đối phương, làm cho họ không thành lập được câu hỏi. [X. A tì đạt ma tạp tập luận Q.15]. (xt. Tứ Cú Phân Biệt).
Thất Cưu Sào
(室鳩巢, Muro Kyūsō, 1658-1734): Nho gia của phái Chu Tử Học, sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tên là Trực Thanh (直清); tự Sư Lễ (師禮); thông xưng là Tân Trợ (新助); biệt hiệu Thương Lãng (滄浪); xuất thân Giang Hộ. Ban đầu, ông phục vụ cho Tiền Điền Cương Kỷ (前田綱紀, Maeda Tsunanori), Phiên chủ Phiên Gia Hạ (加賀藩, Kaga-han), rồi vâng mệnh vị này, ông lên kinh đô Kyoto học với Mộc Hạ Thuận Am (木下順庵). Vào năm 1711 (Chánh Đức [正德] nguyên niên), nhờ Tân Tỉnh Bạch Thạch (新井白石) suy cử, ông làm Nho quan cho chính quyền Mạc Phủ. Sau đó, ông làm chức quan Thị Giảng (侍講) cho Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát (德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi) và viết cuốn Lục Dụ Diễn Nghĩa Đại Ý (六諭衍義大意). Trong thời kỳ Phái Cổ Học bộc phát mạnh mẽ, ông đã tận lực giữ gìn Chu Tử Học và trước sau vẫn với tư cách là nhà Chu Tử Học nghiêm cẩn. Trước tác của ông có Tuấn Đài Tạp Thoại (駿台雜話), Xích Tuệ Mỹ Nhân Lục (赤穗美人錄), Hiến Khả Lục (獻可錄), v.v.
thất cảnh giới
(七境界) Gọi đủ: Thất chủng đệ nhất nghĩa cảnh giới.Chỉ cho 7 thứ cảnh giới do chư Phật chứng được đến chỗ cùng tột, gọi chung là Đệ nhất nghĩa đế. Đó là: 1. Tâm cảnh giới: Tâm là lí tâm trung đạo. Cảnh giới này do lí tâm trung đạo của chư Phật và Bồ tát tạo ra. 2. Tuệ cảnh giới: Tuệ là tuệ tính. Nghĩa là tuệ tính của chư Phật, Bồ tát chiếu soi rõ ràng. 3. Trí cảnh giới: Trí là trí dụng. Nghĩa là trí lực của chư Phật, Bồ tát hiện tiền, rõ biết tất cả muôn pháp. 4. Kiến cảnh giới: Kiến là chính kiến. Nghĩa là chính kiến của chư Phật và Bồ tát hiện tiền, không có tà vọng. 5. Quá nhị kiến cảnh giới(cũng gọi Siêu nhị kiến cảnh giới): Nhị kiến là Đoạn kiến, Thường kiến. Tức chư Phật, Bồ tát vượt qua Đoạn kiến, Thường kiến. 6. Quá Phật tử địa cảnh giới(cũng gọi Siêu tử địa cảnh giới): Tử địa nghĩa là các vị Bồ tátĐăng địa(địa)coi chúng sinh như con(tử) của mình nên gọi là Tử địa. Tức là chư Phật, Bồ tát đã vượt qua Thập địa, thành Chính giác. 7. Nhập Như lai địa nội hành cảnh giới(cũng gọi Như lai tự đáo cảnh giới): Nội hành là hành vi của Quả thượng. Nghĩa là Như lai đã thấu suốt tận đáy nguồn của pháp tính, thành tựu nhị lợi, thành tựu pháp thế gian, pháp xuất thế gian thượng thượng. Bảy cảnh giới trên đây, 6 cảnh giới trước chung cho cả Phật và Bồ tát, còn cảnh giới sau cùng thì là cảnh giới riêng của Như lai. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; Đại minh tam tạng pháp số Q.29].
thất cấu
The seven defilements: dục desire, kiến false views, nghi doubt, mạn pride, kiêu arrogance, hôn trầm torpor, and san stinginess.
; (七垢) Chỉ cho 7 thứ phiền não hay làm nhơ nhớp tâm chúng sinh, đó là: Dục cấu, kiến cấu, nghi cấu, mạn cấu, kiêu cấu, tùy miên cấu và xan cấu. [X. luận Du già sư địa Q.14].
thất diệp quật
Sapta-parnaguha (S) Hang Thất Diệp Hang nằm trong núi Tỳ bà la (Vebhara) gần thành Vương xa, là nơi Phật thuyết pháp, nơi Ca Diếp nhóm họp 500 hiến Thánh kiết tập kinh điển trong 3 tháng.
; (七葉窟) Phạm: Sapta-parịa-guhà. Hán âm: Tát đa ban na cầu ha. Cũng gọi Thất diệp thụ quật, Thất diệp thụ lâm thạch thất, Sát đế sơn quật, Xà đế thạch thất, Thất diệp huyệt, Thất diệp nham, Thất diệp viên. Tên của động đá nằm trong núi Tì bà la (Pàli:Vebhàra), gần thành Vương xá, Trung Ấn độ; là 1 trong 5 tinh xá thuộc thành Vương xá. Vì trước cửa hang động có cây Thất diệp nên gọi là Thất diệp quật. Chỗ này vốn là linh tích đánh dấu nơi đức Thích tôn thuyết pháp, sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Ca diếp triệu tập 500 vị Hiền thánh về họp tại đây, các ngài A nan đà, Ưu ba li, Ca diếp... là những bậc Thượng thủ, kết tập 3 tạng Kinh, Luật, Luận, an cư 3 tháng, hoàn thành đại sự. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 1 thì 5 tinh xá là chỉ cho Tì bà la bạt thứ, Tát đa ban na cầu ha, Nhân đà thế la cầu ha, Tát pha thứ hồn trực ca bát bà la và Kì xà quật sơn. Nhưng Chỉ quật dịch thổ tậpquyển 21 thì hợp chung Tát đa ban na cầu ha và Tì bà la bạt thứ làm một gọi là Tì bà la bạt thứ tát đa ban na cầu ha, rồi thêm tinh xá Trúc viên mà thành 5 tinh xá. [X. kinh Tạp a hàm Q.39; Đại đường tây vực kí Q.9]. (xt. Ngũ Tinh Xá Thập Tháp).
thất diệp thụ
(七葉樹) Phạm: Sapta-parịa. Hán âm: Tát đa ban la na. Loại cây cao xanh quanh năm, lá kép giống như bàn tay, do 7 lá nhỏ hình thành nên gọi là Thất diệp. Nơi kết tập kinh điển lần đầu tiên của hật giáo được gọi là hang Thất diệp, vì trước cửa hang có cây Thất diệp rất to. [X. Phiên Phạm ngữ Q.9; Chỉ quật dịch thổtập Q.10].
thất diệt tránh
Sapta-dhikarana-śamathā (S) Bảy phương pháp để chấm dứt các tranh luận trong tăng ni.
; (七滅諍) Phạm: Saptàdhikaraịa-Zamathà#. Cũng gọi Thất diệt tránh pháp, Thất chỉ tránh pháp. Chỉ cho 7 cách cắt đứt sự tranh luận giữa tăng ni, đó là: 1. Hiện tiền tì ni (Phạm:Saômukhavinaya), cũng gọi Diện tiền chỉ tránh luật. Nghĩa là 2 bên tranh chấp phải giáp mặt nhau để giải quyết vấn đề, bằng cách dẫn chứng giáo pháp Tam tạng để giải quyết, hoặc trước mặt dẫn chứng các điều chế của giới luật để giải quyết. 2. Ức niệm tì ni (Phạm: Smftivinaya), cũng gọiỨc chỉ tránh luật. Nghĩa là khi tranh luận muốn biết có tội hay không thì nên hỏi phạm nhân có nhớ hay không, nếu không nhớ thì được miễn, nhưng chỉ với điều kiện người ấy trong đời sống bình thường là người tốt, thường gần gũi thiện tri thức. 3. Bất si tì ni(Phạm:Amùđha-vinaya), cũng gọi Bất si chỉ tránh luật. Nghĩa là nếu người phạm giới tinh thần không ổn định, thì đợi họ trở lại bình thường, rồi mới yết ma khiến họ sám hối tội lỗi. 4. Tự ngôn tì ni (Phạm: Pratijĩàkàraka), cũng gọi Tự phát lộ chỉ tránh luật. Nghĩa là khi tỉ khưu phạm tội, phải bảo họ tự nói rarồi mới trị tội. 5. Mịch tội tướngtì ni (Phạm: Tatsvabhàvaisìya), cũng gọi Bản ngôn trị tì ni, Cư chỉ tránh luật. Nghĩa là khi người phạm tội không thú thật, trình bày mâu thuẫn thì nêu tội trạng của họ ra, khiến suốt đời phải tuân thủ 8 pháp, không được độ người hoặc nhận người y chỉ. 6. Đa nhân mịch tộitướng tì ni(Phạm: Yad-bhùyasikìya), cũng gọi Đa mịch tì ni, Triển chuyển chỉ tránh luật. Nghĩa là khi nhiều người tranh cãi lẫn nhau, không dễ quyết đoán để chấm dứt, thì phải thỉnh các vị tăng có đức, nương vào số đông để phán định đúng sai. 7. Như thảo phú địa tì ni (Phạm: Tfịa-prastàraka), cũng gọi Thảo phục địa, Nhưkhí phẩn tảo chỉ tránh luật. Nghĩa là sau khi 2 bên tranh cãi đều nhận ra lỗi lầm của mình, thì như cỏ rạp trênmặtđất, cùng chí tâm phátlộ, xin lỗi nhau và sám hối.[X. kinh Chu na trong Trung a hàm Q.52; Tứ phần tăng giới bản; luật Tứ phần Q.47; luật Ma ha tăng kì Q.40; luật Thập tụng Q.53; luật Ngũ phần Q.23]. (xt. Tứ Tránh).
thất diệt tránh giới
Sapta-dhikkāraśamathā (P), Adhikāraśamathā (S, P) Gồm 7 giới, là đoạn chót trong 8 đoạn ghi 250 giới của tỳ kheo trong quyển Giới luật Tỳ kheo, phần thứ nhất của Luật Tạng. Là bảy phép dùng giải hoà khi có sự cãi lẫy giữa chư Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni 7 trong số 250 giới của Tỳ kheo.
thất diệt tránh pháp
xem bảy pháp dứt sự tranh cãi.
; Saptàdhikarana-samatha (S). Seven rules given in the Vinaya for setting disputes among the monks. Disputes arise from four causes: from arguments; from discovery of misconduct; judgement and punishment; the correctness or otherwise of a religious observance.
thất diệu
(七曜) Chỉ cho 7 thiên thể: Mặt trời, mặt trăng, sao Hỏa, sao Thủy, sao Mộc, sao Kim và sao Thổ. Theo kinh Tú diệu quyển thượng thì phần tinh túy của Thất diệu bay lên trời, phóng ra ánh sáng cùng khắp, phần linh thiêng thì giáng xuống, coi về các việc tốt xấu, lành dữ ở nhân gian. Thất diệu gồm: 1. Nhật tinh: Mặt trời (Phạm:Àditya). 2. Nguyệt tinh: Mặt trăng (Phạm: Soma). 3. Hỏa tinh: Sao Huỳnh hoặc (Phạm: Aígaraka). 4. Thủy tinh: Sao Thần (Phạm:Budha). 5. Mộc tinh: Sao Tuế (Phạm: Bfhaspati). 6. Kim tinh: Sao Thái bạch (Phạm: Zukara). 7. Thổ tinh: Sao Trấn (Phạm: Zanaizcara). Thông thường, 7 sao này được dùng về phương diện lịch pháp và chiêm tinh. Bảy sao này thêm 2 thực tinh là La hầu (Phạm: Ràhu) và Kế đô (Phạm:Ketu) thì gọi là Cửu chấp hoặc Cửu diệu. Chấp Diệu gọi tắt của Cửu chấp Thất diệu. Pháp tu cúng tế Thất diệu gọi là Thất diệu cúng. [X. kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ Q.trung, Thất diệu nhương tai quyết; Thất diệu tinh thần biệt hành pháp].
Thất diệu nhương tai quyết
七曜攘災決; C: qīyào răngzāi jué; J: shichiyō jōsai ketsu;|Một quyển, Kim-câu-tra (金倶吒; s: koṅta) dịch.
thất diệu pháp
(七妙法) Phạm: Sapta sat-puruwa-dharmà#. Cũng gọi Thất pháp, Thất tri, Thất thiện, Thất thiện pháp. Chỉ cho 7 pháp mầu nhiệm, đó là: 1. Tri pháp: Biết hết các pháp nói trong kinh, tức hiểu rõ giáo pháp năng thuyên có 12 bộ kinh khác nhau. 2. Tri nghĩa: Phân biệt rõ nghĩa lí được giảng giải trong giáo pháp, không bị văn tự làm trở ngại. 3. Tri thời: Biết hết thời nghi tu hành thích hợp, thích nghi tu Chỉ thì tu Chỉ, thích nghi tu Quán thì tu Quán, cho đến tùy nghi mà nói, nín, tụng niệm, truyền trao.4. Tri túc: Biết tiết chế, biết hạn lượng, tức biết hết tiết lượng về việc ăn, mặc, đi, đứng, ngồi, nằm... 5. Tri tự: Biết mình, tức biết rõ đức của mình nhiều hay ít, biết rõ về tín tâm, giới hạnh, nghe nhiều, bố thí và các phần về dòng họ, biện tài... 6. Tri chúng: Biết rõ hết sự sai khác về dòng họ và thân phận của đại chúng tập họp để quyết định đối cơ thuyết pháp như thế nào. 7. Tri tôn ti(cũng gọi Tri bổ đặc già la hữu thắng hữu liệt). Nghĩa là biết người khác hơn mình hay bằng mình. Tức biết rõ đức hạnh của mọi người hơn kém thế nào. [X. kinh Niết bàn Q.15 (bản Bắc)]. (xt. Thất Tri).
thất duy
(七惟) Bảy phương pháp không dẫn đến sự suy thoái. Đó là: 1. Duy kinh đạo: Chỉ cho sự quán xét về lí vô thường. 2. Duy nhân sinh: Chỉ cho sự quán về cái khổ. 3. Duy tinh tiến: Chỉ cho sự quán xét về lìa bỏ. 4. Duy khiêm hư: Chỉ cho sự quán xét về lí vô ngã. 5. Duy hàng ý: Chỉ cho sự quán xét về lìa tình. 6. Duy khu trung: Chỉ cho sự quán xét về dơ bẩn. 7. Duy tự quán: Chỉ cho sự quán xét về sự diệt. [X. kinh Bát nê hoàn Q.1].
thất dạ đãi
(七夜待) Gọi đủ: Thất dạ đãi đại sự. Mỗi tháng lấy 7 đêm từ đêm17 đến đêm 23, mỗi đêm phối hợp với 6 bồ tát Quán thế âm vàbồ tát Đại thế chí, mỗi đêm trụ trong Tam muội của mỗi vị tôn mà lễ bái để cầu cho các nguyện được thành tựu. Đêm 17 là Thiên thủ Quán âm, đêm 18 là Chính quán âm, đêm 19 là Mã đầu Quán âm, đêm 20 là Thập nhất diện Quán âm, đêm 21 là Chuẩn đề Quán âm, đêm 22 là Như ý luân Quán âm và đêm 23 là bồ tát Đại thế chí. [X. Thậpthất thông ấn tín, Thập kết nhị; Tu nghiệm thâm bí hành pháp phù chú tập Q.4].
thất dịch kinh điển
(失譯經典) Cũng gọi Vô dịch kinh điển, Khuyết dịch kinh điển. Chỉ cho các kinh điển mất tên người dịch, tức là những kinh điển không ghi tên người dịch. Phật giáo Trung quốc đến đời PhùTần, có ngài Đạo an (314-385) soạn Tông lí chúng kinh mục lục (hiện nay không còn) thì dừng, nói chung, các kinh điển được lưu truyền đại khái không có ghi tên kinh và tên người dịch, như các bộ kinh chép tay xưa từ đầu đờiĐườngvề trước hiện còn, không bộ nào có ghi tên người dịch ở đầu quyển, cho nên đến thời ngài Đạo an tuy có kiểm xét lại tên kinh, tên người dịch, nhưng vẫn còn nhiều kinh điển rất khó định rõ tên người dịch. Thất dịch kinh điển đa số là những trứ tác được truyền dịch vào thời kì đầu. Cứ theo sự điều tra của ngài Tăng hựu đời Lương thuộc Nam triều thì trong khoảng thời gian 300 năm từ đời Đông Hán đến giữa thời Nam Bắc triều, ở Trung quốc đã có tới hơn 2.000 bộ kinh điển được truyền dịch, trong đó, số kinh điển thất dịch ước chừng nhiều gấp 3 lần số kinh điển đã biết tên người dịch. Đến đầu đời Tùy, khi Phí trường phòng biên tập sửa chữa bộ Lịch đại tam bảo kỉ, bèn y cứ vào các bộ mục lục ngụy tác như: Hán đại Phật kinh mục lục, Chu sĩ hành hán lục, Đạo tổ lục, Thủy hưng lục... mà gán tên các nhà dịch kinh đời trước như An thế cao, Pháp cự... vào 1308 bộ kinh điển thất dịch. Các bộ mục lục kinh đời sau, như Đại đường nội điển lục, Khai nguyên thích giáo lục..., tuy có đính chính thêm bớt đôi chút, nhưng đại khái vẫn dẫn dụng những mục lục sai lầm của Tam bảo kỉ, nên đã tạo thành cục diện rối ren, lộn xộn trong lịch sử truyền dịch của Trung quốc. Về con số các kinh điển thất dịch thì các bộ mục lục kinh được biên tập qua các đời đều có ghi chép, nhưng mục lục được nêu thì có khác. Xuất tam tạng kí tậpquyển 3 của ngài Tăng hựu ghi các kinh điển thất dịch do ngài Đạo an xét định, có liệt kê 142 bộ; ngài Tăng hựu còn biên soạn Tân tập tục soạn thất dịch tạp kinh lục, trong đó ghi 1306 bộ. Ngài Bảo xướng đời Lương soạn Chúng kinh mục lục, liệt kê 321 bộ thất dịch; ngài Pháp kinh đời Tùy soạn Chúng kinh mục lục, ghi 431 bộ thất dịch; Phí trường phòng đời Tùy soạn Lịch đại tam bảo kỉ, liệt kê 309 bộ thất dịch, Đại đường nội điển lục và Cổ kim dịch kinh đồ kỉ thì ghi theo con số của Lịch đại tam bảo kỉ; Đại chu san định chúng kinh mục lục liệt 424 bộ; Khai nguyên thích giáo lục của ngài Trí thăng đời Đường ghi 741 bộ; Đại chính tân tu đại tạng kinh của Nhật bản hiện nay thì ghi 143 bộ thất dịch. Những bộ kinh lục nêu trên, như Đại đường nội điển lục, Khai nguyên thích giáo lục... đều chịu ảnh hưởng của Tam bảo kỉ, cho nên số kinh điển thất dịch trong đó được nêu đều giảm nhiều so với Xuất tam tạng kí tập. Còn Pháp kinh lục, Vũ chu lục... thì thu chép những bản hiện còn trong số các kinh điển thất dịch, nên số kinh mục được nêu cũng ít hơn so với Xuất tam tạng kí tập. Đại chính tạng thì một mặt sử dụng con số của Khai nguyên lục, mặt khác lại chỉ thu tập các bản kinh thất dịch hiện còn, cho nên kinh thất dịch được nêu ít nhất. [X. bộ thứ hai, chương 2 trong Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận (Tiểudã Huyềndiệu)].
thất dụ
The seven parables of the Lotus sùtra.
thất giai phật danh
(七階佛名) Cũng gọi Thất giai Phật danh kinh, Lễ sám, Lễ sám văn, Lễ Phật sám hối văn, Lục thời phát nguyện pháp. Tác phẩm, 1 quyển, do Tổ khai sáng Tam giai giáo là ngài Tín hành (540-594) soạn vào đời Tùy, nói về cách lễ sám của Tam giai giáo. Hiện nay có vài ba bản chép tay đào được ở Đôn hoàng mang các số hiệu 59, 236, 306... của A.Stein được cất giữ ở bảo tàng viện nước Anh, nội dung, thứ tự của các bản in đều hơi khác nhau. Quyển Quán Dược vương Dược thượng bồ tát kinh Phật danh trong kinh lục cũng chính là tên khác của sách này, quảng bản là 1 quyển 30 tờ hoặc 1 quyển 31 tờ, còn lược bản thì 1 quyển 6 tờ. Có thuyết cho rằng quảng bản chính là bản gốc của sách này. Ngoài ra, trong lời Bạt của một bản chép tay đào được ở Đôn hoàng có ghi thêm niên hiệu Thái bình hưng quốc đời vua Thái tông nhà Bắc Tống.
Thất Giác Chi
(s: saptapodhyaṅgāni, p: satta-pojjharigā, 七覺支): còn gọi là Thất Đẳng Giác Chi, Thất Biến Giác Chi, Thất Bồ Đề Phần, Thất Bồ Đề Phần Bảo, Thất Giác Phần, Thất Giác Ý, Thất Giác Chí, Thất Giác Chi Pháp, Thất Giác Ý Pháp, gọi tắt là Thất Giác, là 1 trong 37 phẩm trợ đạo, gồm có:(1). Trạch Pháp Giác Chi (s: dharma-pravicaya-sambodhyaṅga, 擇法覺支): nghĩa là chọn lựa sự đúng sai của pháp, lấy cái đúng và bỏ đi cái sai,(2). Tinh Tấn Giác Chi (s: virya-sambodhyaṅga, 精進覺支): là chọn lựa pháp đúng đắn và tinh tấn chuyên tâm tu tập pháp ấy,(3). Hỷ Giác Chi (s: srīti-sambodhyaṅga, 喜覺支): an trú trong pháp vui đúng đắn,(4). Khinh An Giác Chi (s: prasrabdhi-sambodhyaṅga, 輕安覺支): là đoạn trước tà ác đạt được sự nhẹ nhàng an lạc của thân tâm và tăng trưởng thiện căn,(5). Xả Giác Chi (s: supeksā-sambodhyaṅga, 捨覺支): là xả bỏ đi tâm phan duyên với ngoại cảnh và quay trở về sống bình an,(6). Định Giác Chi (s: sammādhi-sambodhyaṅga, 定覺支): là nhập vào thiền định, tâm và cảnh trở thành một, làm cho tâm không tán loạn gọi Định Giác Chi,(7). Niệm Giác Chi (s: smṛti-sambodhyaṅga, 念覺支): khi tu tập đạo pháp, trú trong chánh niệm và thường làm quân bình trí tuệ. Khi tâm được bình lặng với 3 Giác Chi Trạch Pháp, Tinh Tấn và Hỷ, hành giả quán sát các pháp khích lệ tâm mình. Khi tâm bị dao động thì dùng tâm Khinh An Giác Chi để nhập vào thiền định và làm cho tâm được an tịnh. Trong khi đó 3 Giác Chi trước thuộc về Tuệ và 3 Giác Chi sau thuộc Định còn Giác Chi cuối cùng thuộc về cả Định và Tuệ.
Thất giác chi
xem Bảy giác chi.
; 七覺支; C: qījuézhī; J: shichikakushi; S: sapta-bodhy-angāni.|Bảy giác chi.
thất giác chi
Xem Thất bồ đề phần.
; Xem thất bồ đề phần.
; (七覺支) Phạm: Saptabodlyaígàni. Cũng gọi Thất đẳng giác chi, Thất biến giác chi, Thất bồ đề phần,Thất giác phần, Thất giác ý, Thất giác chí, Thất giác chi pháp, Thất giác ý pháp. Gọi tắt: Thất giác. Hành pháp thuộc nhóm thứ 6 trong 37 đạo phẩm. Giác nghĩa là trí tuệ bồ đề; vì 7 pháp này có công năng giúp cho trí tuệ bồ đề khai triển, nên gọi là Giác chi. Thất giác chi gồm: 1. Niệm giác chi: Trong tâm sáng suốt, luôn nghĩ đến thiền định và trí tuệ. 2. Trạch pháp giác chi: Nhờ vào năng lực trí tuệ, lựa chọn pháp chân chính, gạt bỏ pháp hư dối. 3. Tinh tiến giác chi: Đối với việc tu hành pháp chân chính, gắng sức, không biếng nhác. 4. Hỉ giác chi: Được pháp chân chính, tâm sinh vui mừng. 5. Khinh an giác chi(cũng gọiỶgiác chi): Chỉ cho trạng thái thân tâm an ổn, khoan khoái, nhẹ nhàng. 6. Định giác chi: Vào thiền định mà tâm không tán loạn. 7. Xả giác chi: Tâm không nghiêng lệch, không chấp trước, luôn ở trong trạng thái cân bằng, không thái quá, không bất cập.
thất giác phần
Xem thất bồ đề phần.
thất giác phần tam muội
Sapta-bodhyaṅga-samādhi (S) Thất chủng Tam muội Phép tam muội dùng quán tưởng để đắc Thấbt Bồ đề phần hiệp thành quả Bồ đề. - Niệm xứ giác phần Tam muội: quán tưởng về sức niệm nơi mình. - Trạch pháp giác phần Tam muội: quán tưởng về sự phân biệt pháp lý. - Tinh tấn giác phần Tam muội: quán tưởng về sự tinh tấn nơi mình. - Hỷ giác phần Tam muội: quán tưởng để đắc sự hỷ lạc nơi mình. - Trừ giác phần Tam muội: quán tưởng để thân tâm được nhẹ nhàng yên tịnh. - Định giác phần Tam muội: nhập định phép chánh định. - Xả giác phần Tam muội: quán tưởng cho đắc lẽ xả để tâm được bình đẳng không tranh đua, đắc Bồ đề, thấy Phật tánh.
Thất giác ý
xem Bảy giác chi.
thất giác ý
Xem thất bồ đề phần.
thất giới
(七界) Cũng gọi Thất tâm giới, Thất thức giới. Bảy giới. Tức chỉ cho 6 thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý trong 18 giới và thêm ý căn trong 6 căn. Trong 12 xứ thì ý căn bao nhiếp cả 6 thức kia mà trở thành 1 ý xứ. Trong 18 giới nói riêng 6 thức thì ý căn chỉ có tên gọi, chứ ngoài 6 thức không có thể riêng, nên được xếp vào 6 thức. Vì thế biết từ ngữ Thất giới tuy có 7 tên nhưng thực chất chỉ có 1 hoặc 6, do đó, ngoài 6 thức còn thêm ý căn để lập thuyết Thất giới. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương tự tính không biết tự tính, vì không chấp nhận 2 tâm cùng khởi lên một lượt, cho nên chỉ nói 6 thức tâm vương, thì tầng tự giác của tâm tự biết ắt ẩn mất, nhưng muốn thuyết minh tầng tự giác này nên theo thời gian lần lượt dùng thuyết Tự tính tri tha tính, và ngoài 6 thức còn lậpý căn là 6 thức ở quá khứ đã tàn lụi.
thất hiền
(七賢) I. Thất Hiền. Cũng gọi Thất gia hành vị. Đối lại: Thất thánh. Chỉ cho bảy vị Phương tiện từ Kiến đạo trở xuống của Thanh văn do tông Câu xá thuộc Tiểu thừa thành lập. Đó là: 1. Ngũ đình tâm vị: Tu 5 pháp quán: Bất tịnh, từ bi, duyên khởi, giới phân biệt và sổ tức, theo thứ tự đối trị tham, sân, si, chấp ngã và tán loạn. 2. Biệt tướng niệm trụ vị: Quán xét tự tính và tướng chung của 4 đối tượng: Thân, thụ, tâm, pháp để đối trị 4 điên đảo: Tịnh, lạc, thường, ngã. 3. Tổng tướng niệm trụ vị: Quán xét chung thân, thụ, tâm, pháp và tu các hành tướng vô thường, khổ, không, vô ngã. 4. Noãn pháp vị. 5. Đính pháp vị. 6. Nhẫn pháp vị. 7. Thế đệ nhất pháp vị: Quán xét cảnh 4 đế của 3 cõi, tu 16 hành tướng, cho đến địa vị sinh ra thiện căn tối thắng ở thế gian.Ba vị trước là Tam hiền, cũng gọi Ngoại phàm; 4 vị sau là Tứ thiện căn, cũng gọi Nội phàm. Vì chưa sinh ra trí vô lậu nên chưa được gọi là Thánh. Vì đã nhập vào vị Phương tiện gia hành thuộc chính tính li sinh, nên cũng gọi là Thất phương tiện, Thất gia hành. Tông Pháp tướng lập Ngũ vị, 2 giai vị đầu tiên là Tư lương và Gia hành được gọi chung là Thất phương tiện. II. Thất Hiền. Chỉ cho Thất hiền của Đại thừa. Đó là: 1. Người mới phát tâm. 2. Người tu hành ở địa vị hữu tướng. 3. Người tu hành ở địa vị vô tướng. 4. Người tu hành ở địa vị Phương tiện. 5. Người tu hành ở địa vịTập chủng tính.6. Người tu hành ở địa vị Tính chủng tính.7. Người tu hành ở địa vị Đạo chủng tính.Thất hiền này đều đã điều tâm thuận đạo ở Địa tiền, cho nên gọi là Thất hiền.
thất hiền vị
Xem thất phương tiện vị.
thất hoa bát liệt
(七花八裂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bảy tiêu hao, tám rách nát, hàm ý là tan tành, tơi tả, nhưng cũng được dùng với ý tán thưởng sự tự tại thông đạt không chướng ngại. Thất hoặc bát biểu thị số nhiều. Phần bình xướng, tắc 9trong Bích nham lục quyển 1 (Đại 48, 149 hạ) nói: Vừa hỏi đến thì dường như đã đến chỗ cùng cực; nhưng vừa chạm tới thì 7 tiêu 8 rách(thất hoa bát liệt), ngồi ở chỗ bụng rỗng lòng cao. Về các dụng ngữ tương tự như dụng ngữ trên, còn có thất tung bát hoành, thất xuyên bát huyệt, thất thông bát đạt, thất điên bát đảo, thất chi bát tiết, thất linh bát lạc, thất ao bát đột...
thất hương thang
(七香湯) Loại nước thơm được nấu bằng 7 vị thuốc: Trần bì, phục linh, địa cốt bì, nhục quế, đương qui, chỉ xác và cam thảo. Ở Trung quốc, phong tụcuốngloại nước này đã có từ rất sớm trong dân gian, Luật tong gọi là Cam lộ thang, Thiền gia cũng có dùng, vào ngày Phật đản tắm Phật có nấu Thất hương thang cúng dường đại chúng.
thất hải
(七海) Bảy biển. Núi Tu dicó 7 lớp núi vàng bao bọc, ở khoảng giữa các núi ấy có 8 lớp biển. Ngoài lớp biển nước mặn, thì 7 lớp biển còn lại đều chứa đầy nước 8 công đức, được gọi chung là Thất hải. THẤT HẮC SƠN Chỉ cho 7 ngọn Hắc sơn ở khoảng giữa từ phía bắc thành Tì xá li, Trung Ấn độ, đến núi Hương túy (Phạm: Gandhamadana) thuộc dãy Hi mã lạp nhã ở Bắc Ấn độ. Phẩm Diêm phù đề trong luận Lập thế a tì đàm quyển 1 ghi tên của 7 ngọn núi này như sau: Núi Tiểu hắc,núi Đại hắc, núiĐa li ngưu, núi Nhật quang, núi Ngân, núi Hương thủy và núi Kim biên. Nếu người lên đỉnh núi Kim biên, đứng xoay mặt hướng bắc, trông về nơi xa thẳm thì chỉ thấy màu tối đen. Theo luận Câu xá quyển 11 thì các núi thuộc dãy Hi mã lạp nhã trên chóp núi thường có tuyết trắng bao phủ, cho nên gọi là Tuyết sơn. Còn các núi ở phía nam thì trên đỉnh không có tuyết phủ, thay vào đó là cây cối um tùm, rậm rạp, chỉ toàn một màu tối đen, cho nên gọi là Hắc sơn.
thất hữu
The seven stages of existence in a human world, or in any dục giới desire world: (1) Địa ngục hữu, in the hells; (2) Súc sinh hữu, as animals; (3) Ngạ quỉ hữu, hungry ghosts; (4) Thiên hữu, gods; (5) Nhân hữu, men; (6) Nghiệp hữu, karma; and (7) Trung hữu, the intermediate stage.
; (七有) Tất cả Hữu(các cõi tồn tại) được chia làm 7 loại là: 1. Địa ngục hữu, cũng gọi Bất khả hữu. 2. Súc sinh hữu, cũng gọi Bàng sinh hữu.3. Ngã quỉ hữu, cũng gọi Quỉ giới hữu. 4. Nhân hữu. 5. Thiên hữu. 6. Nghiệp hữu, cũng gọi Hành hữu. 7. Trung hữu. Bảy cõi trên đây được gọi là Hữu vì trong 5 đường như địa ngục... y cứ vào nghĩa quả báo tồn tại nên gọi là Hữu; Nghiệp hữu là nhân của quả báo ấy nên gọi là Hữu; Trung hữu(thân trung ấm) là phương tiện đi tới quả báo ấy nên gọi là Hữu.
thất hữu y phúc nghiệp
(七有依福業) Chỉ cho 7 cách thực hành bố thí để thành tựu phúc nghiệp. 1. Bố thí cho người đi xin. 2. Bố thí cho người lỡ đường. 3. Bố thí cho người bị bệnh. 4. Bố thí cho người săn sóc bệnh nhân. 5. Đem vườn rừng bố thí cho các chùa. 6. Đem thức ăn uống bố thí cho chúng tăng.7. Tùy theo thời tiết nóng, rét mà bố thí thức ăn, áo mặc cho người nghèo khổ... Luận Câu xá quyển 18 (Đại 29, 96 trung) ghi: Như trong Thất hữu y phúc nghiệp thì trước nói nên bố thí cho người đi xin, người tu hành, người bệnh, người săn sóc bệnh, vườn rừng, thức ăn thường dùng và các thực phẩm thích hợp với các mùa nóng, lạnh... Rồi lại nói nếu có người nam, người nữ có đầy đủ lòng tin thanh tịnh thực hành những điều được nói trong Thất hữu y phúc nghiệp trên đây thì được phúc đức không thể tính lường.
thất không
The seven unrealities, or illusions. There are two lists: (1) Tướng không, Tính tự tính không, Hành không, Vô hành không, Nhất thiết pháp li ngôn thuyết không, Đệ nhất nghĩa thánh trí đại không, Bỉ bỉ không; (2) Cái không của tính, Cái không của tướng mình, Cái không của các pháp, Chẳng thể được là không, Không có pháp là không, Cái có pháp là không, Có pháp không pháp là không.
thất kim sơn
(七金山) Chỉ cho 7 lớp núi nằm ở khoảng giữa núiTu di và núi Thiết vi, vì 7 lớp núi này đều do vàng báu cấu tạothành,nên có tên là Thất kim sơn. Đó là: 1. Du kiện đạt la sơn (Phạm: Yugaôdhara): Cao 4 vạn do tuần, bao quanh núi Tu di. 2. Y sa đà la sơn (Phạm: Ìwàdhara): Cao 2 vạn do tuần, bao quanh núi Du kiện đạt la. 3. Khiết địa lạc ca sơn (Phạm: Khadiraka). 4. Tô đạt lê xá na sơn (Phạm: Sudarzana). 5.Át thấp phượcyết noa sơn(Phạm: Azvakarịa). 6. Tì na đát ca sơn (Phạm:Vinataka). 7. Ni dân đạt la sơn (Phạm: Nimiôdhara). Bảy lớp núi vàng này, theo thứ tự, lớp sau bao quanh lớp trước, độ cao cũng giảm, lớp sau chỉ cao bằng nửa lớp trước. Nhưng kinh Trường a hàm quyển 18 và kinh Khởi thế quyển 1 đều ghi chép khác nhau.
thất kiến
(七見) Chỉ cho 7 vọng kiến là tà kiến, ngã kiến, thường kiến, đoạn kiến, giới đạo kiến, quả đạo kiến và nghi kiến. Kiến nghĩa là không hiểu chính lí, cho quấy là phải, lấy tà làm chính, cố chấp những quan niệm không chính xác, như thế gọi là Kiến. 1. Tà kiến: Chối bỏ lí nhân quả, thiện ác. 2. Ngã kiến: Không biết thân này là do 5 uẩn giả hòa hợp, mà vọng chấp có ngã chủ tể. 3. Thường kiến: Không biết thân mình và ngoại vật đều vô thường, cuối cùng đều hoại diệt, nhưng lại vọng chấp chúng là thường trụ bất biến. 4. Đoạn kiến: Chẳng biết bản tính các pháp thường trụ bất hoại, trái lại, khởi kiến chấp đoạn diệt, cho rằng thân này chết rồi không còn tiếp tục tái sinh nữa. 5. Giới đạo kiến(cũng gọiKiến thủ kiến): Không biết giới chân chính của Như lai, vọng chấp giới bò, giới chó, chẳng tu chính nhân, lại cho các giới bò, chó là thật. 6. Quả đạo kiến: Chẳng biết chính nhân, chính quả, cho bất thiện là diệu thiện, lấy các khổ hạnh như bôi tro, trát trấu lên mình, nằm trên gai nhọn... làm chính hạnh, rồi vọng chấp được chút ít thì cho đó là quả cao tột. 7. Nghi kiến: Đối với các lí chân thực tâm sinh nghi ngại, do dự không quyết.
thất la bà
(失羅婆) Phạm: Zravaịa. Hán dịch: Ngưu tú, Cát tường tú, Vô dung tú. Một trong 28 ngôi sao. Vì sự vận hành của sao Thất la bà và mặt trăng không có liên quan với nhau, nên trong lịch pháp Ấn độ không có ngôi sao này. Nhưng vì Thất la bà là ngôi sao tốt lành nhất nên được xếp vào 1 trong 28 ngôi sao. Cứ theo phẩm Thuyết tinh đồ trong kinh Ma đăng già quyển thượng và phẩm Tinh tú trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 41, thì chòm sao này có 3 ngôi (Trung quốc thì cho rằng có 6 ngôi), hình dáng giống như đầu bò, họ Phạm, thuộc về thần Phong phạm ma. Trong Mạn đồ la của Mật giáo, vị thần này được gọi là Đối chủ. Hình tượng vị tôn này bàn tay phải ngửa lên, đầu ngón tay rủ xuống, tay trái cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu màu đỏ. Kinh Bảo tinh đà la ni quyển 4 (Đại 13, 556 thượng) nói: Người nào sinh nhằm sao Thất la bà (Hán dịch là Ngưu tú) thì trên ống chân phải nhất định có 2 cái đốm, người này có tước vị bổng lộc, không bệnh tật, được mọi người yêu mến, sau khi chết được sinh cõi trời.
thất la phiệt thành
Xem Xá vệ.
thất long vương
(七龍王) Chỉ cho 7 vị vua Rồng, đó là: Liên hoa long vương,Ế la diệp long vương, Đại lực long vương, Đại hống long vương, Tiểu ba long vương, Trì dịch thủylong vương và Kim diện long vương.
thất lưu
(七流) Bảy dòng. Là sự phânloại phiền não. Các phiền não Kiến hoặc và Tư hoặc làm cho chúng sinh nổi trôi trong biển sinh tử, bậc Thánh Tứ quả dần dần ngăn dứt dòng trôi chảy này để tiến lên, vì có 7 phiền não được ngăn dứt, cho nên gọi là Thất lưu. Đó là: 1. Kiến đế sở diệt lưu: Hàng Sơ quả vào Kiến đạo, vì đã dứt trừKiến hoặc của cõi Dục nên không còn bị trôi lăn trong cõi Dục nữa. 2. Tu đạo sở diệt lưu: Hàng Nhị quả, Tam quả ở giai vị Tu đạo, tu quán Tứ đế, diệt được Tư hoặc của cõi Dục, nên không còn bị trôi lăn trong cõi Dục nữa. 3. Viễn li sở diệt lưu: Hàng Tứ quả tu quán Tứ đế, diệt sạch Kiến hoặc, Tư hoặc không sót, cho nên xa lìa 3 cõi, không bị trôi lăn nữa. 4. Số sự sở diệt lưu: Hàng Tứ quả quán xét thấy 5 uẩn, 18 giới tất thảy đều rỗng lặng, hết sạch các hoặc Kiến, Tư, không còn bị trôi lăn trong 3 cõi nữa. 5. Xả sở diệt lưu: Hàng Tứ quả đã thấy các pháp 5 uẩn... đều không, pháp được thấy là không đã không thì cũng bỏ luôn tâm thấy không, năng và sở đều mất, không còn thương ghét, bình đẳng một vị, chứng quả Vô học, không còn trôi lăn trong 3 cõi.6. Hộ sở diệt lưu: Hàng Tứ quả đã hết sạch Kiến hoặc, Tư hoặc, chứng quảVô học, đối với quả đã chứng được, sợ mình lui sụt mất, nên khéo giữ gìn, không để cho tập khí Kiến, Tư có cơ hội tái sinh khởi, thì không còn trôi lăn trong 3 cõi. 7. Chế phục sở diệt lưu: Hàng Tứ quả đã cắt đứt sự trói buộc của các phiền não Kiến, Tư, nhưng quả trói buộc sắc thân vẫn còn, vì thế nên phải chế phục tập khí Kiến, Tư, vĩnh viễn không cho sinh khởi nữa, có như thế thì sự trôi lăn trong 3 cõi mới được chấm dứt hoàn toàn.
Thất lậu
xem Bảy lậu hoặc.
thất lậu
(七漏) Chỉ cho 7 phiền não hữu lậu. Tức kiến lậu, tu lậu, căn lậu, ác lậu, thân cận lậu, thụ lậu và niệm lậu. Lậu nghĩa là rò rỉ, tức tên khác của phiền não, nghĩa là tất cả phiền não thường rò rỉ, tuôn chảy. 1. Kiến lậu: Chỉ cho cáctà kiến được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo. 2. Tu lậu: Các phiền não như tham, sân, si được trừ ở giai vị Tu đạo. 3. Căn lậu: Chỉ cho các phiền não nương vào các căn như mắt, tai, mũi, lưỡi... mà sinh ra. 4.Ác lậu: Các phiền não nương vào tất cả ác sự, ác pháp như ác tượng, ác vương, ác tri thức, ác quốc... mà sinh ra. 5. Thân cận lậu: Các phiền não nương vào 4 thứ gần gũi là quần áo, thức ăn uống, thuốc thang và phòng xá mà sinh ra. 6. Thụ lậu: Thụ gồm khổ thụ, lạc thụ, xả thụ có công năng sinh ra tham, sân và si. 7. Niệm lậu: Niệm là tà niệm. Niệm lậu và thụ lậu đều là nhân của lậu. Niệm lậu hòa hợp với ác lậu, thân cận lậu và thụ lậu mà sinh các phiền não.
thất lễ
(七禮) Gọi đủ: Thất kính lễ. Chỉ cho việc lễ bái 7 loại Phật, Bồ tát. Pháp sự tán quyển hạ của ngài Thiện đạo (Đại 47, 438 thượng) ghi: Nam mô Bản sư Thích ca mâu ni Phật... Nhất thiết Tam bảo, nay con cúi đầu đính lễ, hồi hướng nguyện sinh về cõi nước Vô lượng thọ. Nam mô Thập phương tam thế tận hư không biến pháp giới vi trần sát độ trung nhất thiết Tam bảo, nay con cúi đầu kính lễ, hồi hướng nguyện sinh về cõi nước Vô lượng thọ. Nam mô Tây phưong cực lạc thế giới A di đà Phật, nguyện cùng chúng sinh sinh về cõi nước An lạc. (...).Khắp vì 4 ân, 3 cõi,Đế vương, Nhân vương, sư tăng, phụ mẫu, thiện tri thức, pháp giới chúng sinh, đoạn trừ 3 chướng, cùng được sinh về cõi nước Phật A di đà, kính lễ tất cả Hiền Thánh, hồi hướng nguyện sinh về cõi nước Vô lượng thọ.
thất lợi
(室利) I. Thất Lợi. Phạm:Zrì. Cũng gọi Sư lợi, Thi lợi, Thất lí, Thất li. Hán dịch: Thắng, Cát tường, Đức, Hảo thiện gia lương. Chỉ cho sự tốt lành, thù thắng. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 12 (Đại 35, 591 thượng) nói: Tiếng Phạm Thất lợi, một tên mà 4 nghĩa: Thủ, thắng, cát tường, đức. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7 (Đại 35, 552 thượng) nói: Vì tiếng Phạm có bao hàm 2 nghĩa làcát tường và Thủ (...). Phần sau dịch Bạt đà thất lợi là Hiền thủ ( ), chữ ( ...) này âm đồng mà nghĩa khác với chữ (...) ở trên, tức chữ (...) này nghĩa là đứng đầu, còn chữ (...) ở trên nghĩa là giữ gìn. Cho nên trong phẩm Pháp giới, Thất lợi được dịch là Thủ hộ (giữ gìn, che chở), đó là do tiếng phương ngôn của các dịch giả, nhưng dịch như vậy thì không được dung thông lắm. Còn nếu hiểu theo nghĩa thì tăng trưởng uy lực chính là Phổ hiện cát tường. II. Thất Lợi. Gọi đủ: Văn thù sư lợi. Tứ minh giáo hành lục quyển 4 (Đại 46, 895 thượng) nói: Bồ tát Bổ xứ A dật đa còn bị cư sĩ Duy ma cật bẻ gãy, Thượng thủ Thất lợi đành chịu khuất phục trước Am đề già.
thất lợi la đa
(室利邏多) Phạm:Zrìràta hoặcZrìlabdha. Hán dịch: Thắng thụ. Người ở miền Tây Ấn độ, đệ tử của ngài Cưu ma la ra đa, là Luận sư trung hưng Kinh bộ. Đối với ngài Mã minh ở Đông thiên (trúc), ngàiĐề bà ở Nam thiên, ngài Cưu ma la ra đa ở Bắc thiên, ngài Long thụ ở Trung thiên, sư được gọi là Tây thiên Thất lợi la đa, 1 trong 5 vị Đại luận sư. Người được gọi là Thượng tọa trong luận Thuận chính lí của ngài Chúng hiền chính là chỉ cho sư. Sư từng soạn luận Tì bà sa của Kinh bộ ở nước A du đà, nhưng hiện nay đã thất truyền. Kinh bộ chia ra 2 bộ là Căn bản và Chi mạt, trong đó, Kinh bộ chi mạt tôn sư làm Tổ khai sáng. Năm sinh, năm mất của sư không rõ. Cứ theo sự suy đoán thì sư sinh và hoạt động vào khoảng thế kỉ IV Tây lịch.
thất lợi phất thệ
(室利弗逝) Phạm:Zrìboja. Cũng gọi Thi lợi phất thệ. Tên đất, tương đương với đông bộ đảo Sumatra trong quần đảo Mã lai hiện nay, lấy Balembang làm thủ ấp. Từ những năm cuối thời Lục triều, cho đến các đờiĐường, Tống, Trung quốc, nơi này nhờ Phật giáo thịnh hành mà nổi tiếng. Khi ngài Nghĩa tịnh đến Ấn độ thì nơi này chính là một đô thành lớn ở vùng Nam hải, là thủ đô của nước Mạt la du (Malaya) đương thời; trước khi đi Ấn độ, ngài Nghĩa tịnh đã lưu lại đây 2 tháng.Ở dưới điều Mạt la du quốc trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển hạ có ghi chú (Đại 51, 7 hạ): Nay đổi là Thất lợi phật thệ.
thất lỵ la
Xem xá lợi.
Thất mạn
七慢; C: qīmàn; J: shichiman;|Bảy loại kiêu mạn: 1. Mạn (慢; s: māna): Đối với người kém mình mà cho mình hơn; chưa được bằng người mà cho là bằng; 2. Quá mạn (過慢; s: ati-māna): Đối với người bằng mình mà cho là hơn, đối với người hơn mình mà cho mình bằng; 3. Mạn quá mạn (慢過慢; s: mānāti-māna): Đối với người hơn mình mà cho rằng mình hơn họ; 4. Ngã mạn (我慢; s: asmi-māna, ātma-māna): Tự hào có một hợp thể là ngã và ta là sở hữu cái ngã đó; 5. Tăng thượng mạn (增上慢; s: adhi-māna): Chưa chứng đạo mà kiêu hãnh cho rằng mình đã chứng đắc rồi; 6. Ti mạn (卑慢; s: avamāna, ūna-māna): Đối với người tài giỏi, kiêu hãnh cho rằng mình kém họ ít thôi; 7. Tà mạn (邪慢; s: mithyā-māna): Mình không có đức hạnh, trí huệ mà kiêu hãnh cho rằng mình có đủ các điều ấy (theo A-tì-đạt-ma câu-xá thích luận 阿毘達磨倶舎釋論).
thất mạn
The seven pretensions or arrogances.
thất mẫu thiên
(七母天) Cũng gọi Thất ma đát lí thiên, Thất mẫu nữ thiên, Thất tỉ muội, Thất mẫu. Chỉ cho 7 nữ quỉ, quyến thuộc của Diệm ma thiên hoặc của Đại hắc thiên. Đại nhật kinh sớ quyển 16 cho rằng Thất mẫu thiên là quyến thuộc của trời Diệm ma. Còn Đại nhật kinh nghĩa quyển 7 thì liệt kê toàn bộ tên gọi của Thất mẫu thiên như sau: 1. Tả muộn noa (Phạm: Càmuịđà). 2. Kiều phệ lí(Phạm:Kauverì). 3. Phệ sắt noa vi (Phạm:Viwịavì). 4. Kiều ma lí(Phạm:Kaumàrì). 5. Yến nại lợi(Phạm:Indrì). 6. Lão nại lí(Phạm:Raudrì). 7. Mạt la hi nhĩ (Phạm:Bràhmì). Líthú thích quyển hạ thì cho rằng Thất mẫu thiên là quyến thuộc của trời Đại hắc. Chân ngôn chung của Thất mẫu thiên là Na ma tam mạn đa bộc đà nam mang đát lí tệ sa phạ hạ. Tướng ấn là tay trái nắm lại, ngón tay cái dựng thẳng thành ấn chùy (cái dùi). Chủng tử là (mà).
thất nan
(七難) I. Thất Nạn. Chỉ cho 7 nạn nói trong phẩm Thụ trì kinh Nhân vương bát nhã quyển hạ, đó là: 1. Nhật nguyệt thất độ nạn: Sự vận hành của mặt trời, mặt trăng không đúng thời, hoặc mặt trời đỏ xuất hiện, mặt trời đen xuất hiện, hoặc nhật thực không có ánh sáng. 2. Tinh tú thất độ nạn: Hai mươi tám vì sao vận hành không đúng thời, sao kim, sao chổi... đều biến hiện. 3. Tai hỏa nạn: Lửa lớn thiêu đốt sạch cõi nước, nhân dân. 4. Vũ thủy biến dị nạn: Nước lũ cuốn trôi và nhận chìm trăm họ. 5.Ác phong nạn: Gió bảo thổi mạnh làm chết nhân dân, đất nước, núi sông, cây cối cùng lúc đều bị tiêu diệt. 6. Kháng dương nạn: Tức các loại thảo mộc bị khô hạn, ngũ cốc thất thu. 7.Ác tặc nạn: Giặc cướp từ các nơi kéo đến xâm chiếm đất nước, chiến tranh tàn phá, nhân dân lầm than. II. Thất Nạn. Bảy nạn nói trong kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức, đó là: 1. Nhân chúng tật dịch nạn: Dân chúng bị bệnh dịch. 2. Tha quốc xâm bức nạn: Nước khác đến xâm chiếm, áp bức. 3. Tự giới phản nghịch nạn: Nhân dân trong nước làm phản. 4. Nhật nguyệt bạc thực nạn: Nhật thực,nguyệt thực xảy ra. 5. Tinh tú biến quái nạn: Các vì sao biến hiệnđiềm quái gở. 6. Phi thời phong vũ nạn: Mưa gió trái mùa.7. Quá thời bất vũ nạn: Quá thời không mưa(hạn hán). III. Thất nạn. Bảy nạn nói trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa, đó là: Nạn lửa, nạn nước, nạn La sát, nạn dao gậy(bị đánh chém), nạn quỉ, nạn gông cùm và nạn oán giặc. IV. Thất Nạn. Bảy nạn nói trong kinh Đà la ni tập quyển 10, đó là: Nạn vua, nạn giặc, nạn nước, nạn lửa, nạn La sát, nạn quỉ Đồ chỉ nễ và nạn thuốc độc.
thất nghịch tội
The seven rebellious acts, or deadly sins: (1) Làm thân Phật ra máu, shedding a Buddha's blood; (2) Giết cha, killing father; (3) Giết mẹ, mother ; (4) Giết Hòa thượng, monk; (5) Giết A xà lê, teacher; (6) Phá Tăng, subverting or disrupting the moks; (7) Giết bậc Thánh, killing an Arhat.
; (七逆罪) Cũng gọi Thất già tội, Thất già. Gọi tắt: Thất nghịch. Chỉ cho 7 trọngtội là những hành vi không thuận đạo lí, gây trở ngại cho việc thụ giới: 1. Làm thân Phật chảy máu. 2. Giết hại cha. 3. Giết hại mẹ. 4. Giết Hòa thượng. 5. Giết A xà lê. 6. Phá yết ma chuyển pháp luân tăng. 7. Giết hại bậc Thánh. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 2, phần 1 (Đại 46, 184 trung) ghi: Nói Ngũ nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá tăng và làm thân Phật chảy máu (...). Trong Đại thừa thêm giết Hòa thượng, giết A xà lê thành Thất nghịch. Vì hòa thượng và A xà lê là thầy truyền giới, nếu sát hại các vị ấy thì đối với giới sư hiện tiền cũng không sinh tâm ân trọng, do đó không được thụ giới, cho nên gọi là Già tội.
thất nhân minh
(七因明) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 7 qui định về những điều kiện quan trọng của cuộc nghị luận do Luận sư Di lặc thuộc Cổ nhân minh ở Ấn độ lập ra, đó là: Luận thể tính, luận xứ sở, luận sở y, luận trang nghiêm, luận đọa phụ, luận xuất li và luận đa sở tác pháp. 1. Luận thể tính (Phạm:Vàda):Đề mục nghị luận có 6 tính chất: Ngôn luận, thượng luận, tránh luận, hủy báng luận, thuận chính lí luận, giáo đạo luận. 2. Luận xứ sở(Phạm:Vàdàdhiwỉhàna): Nơi chỗ để nghị luận. Có 6 nơi: a. Trước mặt vua. b. Trước người chấp lí. c. Giữa đám đông. d. Trước bậc Hiền triết. e. Trước các vịSa môn, Bà la môn thông hiểu pháp nghĩa. g. Trước người ưa thích pháp nghĩa. 3. Luận y sở(Phạm:Vàdàdhikaraịa): Chỗ y cứ của sự lập luận, gồm có: Nghĩa sở thành lập và Pháp năng thành lập, gọi tắt là Sở lập Năng lập. Sở lập có 2: Tự tính và Sai biệt; Năng lập có 8: Lập tông(mệnh đề), Biện nhân(lí do), Dẫn dụ(thí dụ),Đồng loại, Dị loại, Hiện lượng, Tỉ lượng và Chính giáo lượng. 4. Luận trang nghiêm (Phạm: Vàdàlaôkàra):Thái độ và sự trau chuốt ngôn từ nghị luận. Có 5 việc: a. Thông thạo cách lập tông của mình và của người. b. Ngôn từ phong phú. c. Không khiếp sợ, nhút nhát. d. Dày dạn, nghiêm túc. e. Tỏ ra xứng đáng. 5. Luận đọa phụ(Phạm:Vàdanigraha): Nguyên nhân khiến nghị luận thất bại. Có 3 nguyên nhân: a. Xả ngôn: Bỏ lập luận của mình. b. Khuất ngôn: Khuất phục trước lập luận của đối phương. c. Ngôn quá: Ngôn luận sai lầm hoặc nghĩa lí quanh co. 6. Luận xuất li (Phạm: Vàdani#= saraịa):Xét kĩ xem lập luận có thành lập được hay không, nếu thấy không thành lập được thì rút ra trước để tránh chuốc lấy thất bại. Có 3 cách xem xét: a. Xem xét được, thua. b. Xem xét thời gian và đại chúng. c. Xem xét mình có khéo léo hay không. 7. Luận đa sở tác pháp (Phạm:Vàde bahukarà dharmà): Lúc nghị luận cần có 3 niềm tin: a. Thông thạo cách lập tông của mình và của đối phương thì đối với tất cả các đề tài đều có khả năng nghị luận. b. Mạnh mẽ dày dạn, không nhút nhát khiếp sợ thì nghị luận trước đám đông một cách dễ dàng. c. Biện tài thao thao thì sẽ giải đáp được tất cả các vấn nạn.
thất như lai
(七如來) Chỉ cho 7 đức Như lai được xướng lễ trong pháp hội cúng thí ngã quỉ, đó là: 1. Bảo thắng Như lai. 2. Đa bảo Như lai. 3. Diệu sắc thân Như lai. 4. Quảng bác thân Như lai. 5. Li bố úy Như lai. 6. Cam lộ vương Như lai. 7. A di đà Như lai. Danh hiệu của 7 đức Như lai trên được nêu trong Du già yếu tập lại hơi khác, tức là: Bảo thắng Như lai, Li bố úy Như lai, Quảng bác thân Như lai, Diệu sắc thân Như lai, Đa bảo Như lai, A di đà Như lai và Quảng đại uy đức tự tại quang minh Như lai. Ngoài ra, trong các pháp hội cúng thí ngã quỉ hiện nay, danh hiệu của 7 đức Như lai này thường được viết trên 7 lá phan 5 màu, rồi treo ở chung quanh khu rạp cúng thí ngã quỉ, gọi là Thất Như lai phan.
thất nhật luân xuất
(七日輪出) Một mặt trời cho đến 7 mặt trời lần lượt xuất hiện, đó là tướng báo hiệu kiếp Mạt.Cứ theo Pháp uyển châu lâm, khi 1 mặt trời xuất hiện thì các loại cỏ cây đều héo rụng. Khi 2 mặt trời xuất hiện thì nước trong 4 biển lớn từ phạm vi 100 do tuần cho đến 700 do tuần, đều tự nhiên khô cạn. Khi 3 mặt trời xuất hiện thì nước trong 4 biển từ phạm vi 1000 do tuần cho đến 7000 do tuần đều lần lượt cạn hết. Khi 4 mặt trời xuất hiện thì nước trong 4 biển lớn sâu1000 do tuầncũng đều khô cạn. Khi 5 mặt trời xuất hiện thì nước 4 biển lớn rộng 7000 do tuần cũng đều cạn hết. Khi 6 mặt trời xuất hiện thì mặt đất này dày 68.000 do tuần đều bốc khói, từ núi Tu di cho đến 3000 thế giới Đại thiên, cho đến 8 địa ngục lớn đều bị thiêu đốt sạch, nhân dân chết hết, chư thiên ở 6 tầng trời cõi Dục cũng đều mệnh chung, cung điện đều không. Khi 7 mặt trời xuất hiện thì quả đất và núi Tu di dần dần lở đổ, trong phạm vi hàng nghìn do tuần không còn sót một vật; núi non đều trống rỗng, các vật báu vỡ nát, các tia lửa tung tóe làm rúng động đến cõi Phạm thiên, các ác đạo đều tiêu sạch.
thất nhật tác đàn pháp
(七日作壇法) Cũng gọi Thất nhật cúng dường đàn pháp. Tác pháp đắp đàn đất trong 7 ngày 7 đêm, trên đàn có vẽ Mạn đồ la chư tôn khi cử hành Quán đính hoặc Hộ ma trong Mật giáo. Đây là một trong các loại đàn pháp. Khi pháp sự kết thúc thì đàn này thường bị phá hủy. Trong thời gian làm đàn, trong vòng 3 ngày đầu, nếu xảy ra chướng nạn thì ngưng; từ ngày thứ tư trở đi, nếu có chướng nạn thì tu pháp Trừ tai để diệt, rồi lại tiếp tục làm pháp sự. Trong 7 ngày lập đàn, trước hết phải chọn đất, chọn ngày giờ, loại bỏ các vật ô uế trong đất nơi lập đàn, rồi thực hành tác pháp ghi trong các kinh quĩ của Mật giáo như kinh Đà la ni tập... Các tác pháp như đào đất, sửa đất... là y cứ theo nghi thức xây dựng nhà cửa ở Ấn độ cổ đại. Mật giáo ở Ấn độ, khi thực hành pháp tu của các vị tôn khác để truyền pháp Quán đính, thì vị A xà lê y theo phép làm đàn này để làm đàn Mạn đồ la mới.
thất niệm
Musita-smṛtita (S).
; (失念) Phạm:Musita-smftità. Cũng gọi Vong niệm. Đối lại: Niệm. Tên của tâm sở(tác dụng tâm), 1 trong 100 pháp. Chỉ cho tác dụng tâm không có khả năng ghi nhớ rõ ràng cảnh sở duyên và các thiện pháp. Tông Duy thức coi Thất niệm là 1 trong 8 đại phiền não thuộc 20 phiền não. Về thể tính của Thất niệm thì có 3 thuyết: 1. Theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì Thất niệm lấy Niệm làm thể, do đó, Thất niệm là một phần của Niệm. 2. Theo luận Du già sư địa quyển 58 thì Thất niệm lấy đẳng lưu của Si làm thể, vì thế Thất niệm là một phần của Si. 3. Tổng hợp 2 thuyết nói trên thì Thất niệm lấy một phần của Niệm và Si làm thể.
Thất niệm 失念
[ja] シツネン shitsunen ||| (smṛti-nāśa). 'forgetting.' One of the twenty secondary defilements (隨煩悩) in the doctrine of the Yogācāra school. The mental action of the mind scattering and loss of ability to hold to the object of perception, especially in the case of śamatha meditation. A mistaken or impaired memory. It is considered to be a provisional element rather than a real one. => (s: smṛti-nāśa) Một trong 20 tuỳ phiền não theo giáo lý Du-già hành tông. Tâm hành tán loạn tâm ý và mất khả năng nhận biết đối tượng nhận thức, đặc biệt trong pháp tu chỉ quán. Sai lầm do kém trí nhớ. Được xem là một yếu tố tạm thời hơn là yếu tố thực.
thất nữ kinh
(七女經) Cũng gọi Thất nữ bản kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Lúc đức Phật trụ trong vườn cây Phân nho đạt tại nước Câu lưu, có 7 cô gái Bà la môn, tính tình ngạo mạn, kiêu xa, đức Phật quở trách và nói về nhân duyên của 7 cô gái con quốc vương thủa xưa mà thành kinh này. Đức Phật dạy rằng sở dĩ người nữ phần nhiều bị đọa địa ngục là do tính nhiều ghen ghét mà ra, nếu biết ngăn ngừa thì tâm ý trở nên tốt đẹp, nhờ đó mà có thể sinh cõi trời.
thất phan cộng giải
(七番共解) Chỉ cho 7 pháp được sử dụng để giải thích Ngũ trùng huyền nghĩa của tông Thiên thai. Tông Thiên thai lập ra 5 lớp: Danh, Thể, Tông, Dụng và Giáo, rồi dùng 7 cách: Tiêu chương, Dẫn chứng, Sinh khởi, Khai hợp, Liệu giản, Quán tâm và Hội dị để lần lượt giải thích. Đó là: 1. Tiêu chương: Tức nêu danh. 2. Dẫn chứng: Trích dẫn văn kinh để làm chứng cứ. 3. Sinh khởi: Nói rõ thứ tự, lớp lang. 4. Khai hợp: Sự khai hợp phân biệt các loại. 5. Liệu giản:Đưa ra lời hỏi đáp để lựa chọn. 6. Quán tâm: Thực tế chính là quán tâm.7. Hội dị: Hội thích các điểm khác nhau. Pháp hoa huyền nghĩa quyển1(Đại 33, 682 thượng) nói: Tiêu chương giúp cho dễ ghi nhớ, là vì khởi tâm nhớ nghĩ; dẫn chứng cứ lời Phật nói là giúp để khởi tâm tin; sinh khởi khiến không rối loạn là để khởi tâm định; còn khai hợp, liệu giản, hội dị là để khởi tâm tuệ; quán tâm tức nghe rồi làm liền, là để giúp khởi tâm tinh tiến. Năm tâm đã lập thì thành tựu 5 căn, bài trừ 5 chướng thì thành tựu 5 lực, cho đến tiến vào 3 cửa giải thoát.
thất pháp bất khả tị
(七法不可避) Chỉ cho 7 pháp không thể tránh khỏi, đó là: Sinh, già, bệnh, chết, tội, phúc, nhân duyên. Pháp uyển châu lâm quyển 69 giải thích: 1. Sinh bất khả tị: Nương vào nghiệp nhân thiện ác đời trước mà sinh ra đời này chịu quả báo khổ, vui không thể tránh khỏi. 2. Lão bất khả tị: Đã có sinh thì không thể tránh khỏi già. 3. Bệnh bất khả tị: Đã có sinh thì không thể tránh khỏi tật bệnh. 4. Tử bất khả tị: Đã có sinh thì không thể tránh khỏi chết. 5. Tội bất khả tị: Đã tạo nhiều nghiệp tội thì không thể tránh khỏi quả khổ ác đạo.6. Phúc bất khả tị: Đã tạo nghiệp thiện thì không thể tránh khỏi quả vui thiện đạo.7. Nhân duyên bất khả tị: Do nhân như thế, hòa hợp với duyên như thế mà sinh ra quả lành dữ, họa phúc, nghèo giàu, thọ yểu... là đạo lí tự nhiên, không thể tránh khỏi.
thất pháp tài
The seven riches, or seven ways to become rich in the Law: tín, faith; tiến, zeal; giới, moral restraint; tàm quí, shame; văn, obedient hearing (of the law); abnegation; and định tuệ, wisdom arising from meditation.
thất phân biệt
(七分別) Nhà Duy thức chia tác dụng nhận biết của tâm thức làm 7 thứ phân biệt là Hữu tướng, Vô tướng, Nhậm vận, Tầm cầu, Tứ sát, Nhiễm ô và Bất nhiễm ô. Luận Du già sư địa quyển 1 giải thích: 1. Hữu tướng phân biệt: Đối với nghĩa đã tiếp nhận ở quá khứ, khi các căn thành thục và thạo về danh ngôn mà khởi lên phân biệt. 2. Vô tướng phân biệt: Người chỉ theo sự dắt dẫn của quá khứ và như trẻ thơ... thông thạo về danh ngôn mà khởi lên phân biệt.3. Nhậm vận phân biệt: Đối với cảnh giới hiện tiền, tùy theo thế lực của cảnh, tự do, tự tại chuyển biến mà khởi lên phân biệt.4. Tầm cầu phân biệt: Xem xét, tìm cầu các pháp mà khởi lên phân biệt. 5. Tứ sát phân biệt: Đối với điều đã tìm cầu, đã quán sát, lại thêm dò xét an lập mà khởi lên phân biệt. 6. Nhiễm ô phân biệt: Do nuối tiếc quá khứ, ước vọng tương lai, chấp trước hiện tại mà khởi lên phân biệt. 7. Bất nhiễm ô phân biệt: Chẳng hạn như các pháp thiện, vô kí... đều thuộc về Bất nhiễm ô phân biệt, là sự phân biệt khởi lên do tương ứng với xuất li phân biệt, vô khuể phân biệt, vô hại phân biệt, hoặc với bất kì một pháp thiện nào như Tín... Luận Du già sư địa quyển 8 cho rằng 7 phân biệt này đều lấy Tầm Tứ làm thể. Còn 7 Phân biệt nói trong luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 2 thì 3 phân biệt đầu đều khác với các phân biệt nói trong luận Du già sư địa; tức Hữu tướng phân biệt là chấp lấy tướng cảnh giới ở quá khứ và hiện tại; Vô tướng phân biệt khởi lên do mong cầu cảnh vị lai; Nhậm vận phân biệt nghĩa là Ngũ thức thân tự tại chuyển biến ở cảnh giới của chính nó. Bốn phân biệt còn lại là Tầm cầu phân biệt, Tứ sát phân biệt, Nhiễm ô phân biệt và Bất nhiễm ô phân biệt đều lấy sự tính toán, phân biệt làm tự tính.
thất phúc thần
(七福神) Bảy vị phúc thần của người Nhật bản thường ban cho tài bảo. Tín ngưỡng này thịnh hành trong dân gian vào cuối thời kì Thất đinh. Bảy vị thần ấy là: 1. Đại hắc thiên: Vốn không phải là Phúc thần, nhưng vì lòng tôn kính Tam bảo, che chở, giữ gìn 5 chúng, không để họ bị hao tổn, cầu gì cũng như ý, nên được liệt làm 1 trong các vị Phúc thần. 2. Huệ tỉ tu: Tín ngưỡng Tây cung từ thời Trung cổ diễn biến thành Phúc thần. 3. Tì sa môn thiên: Vốn là vị thần hộ pháp của Phật giáo, cũng diễn biến thành thần ban phúc. 4. Biện tài thiên: Vị thần làm cho tuổi thọ con ngườităng thêm, giúp cho thân thể con người đầy đủ, viên mãn. 5. Phúc lộc thọ: Hóa thân của sao Nam cực, là thần coi về việc trường thọ(hoặc phúc, lộc, thọ). 6. Thọ lão nhân: Cũng là sao Nam cực được thần cách hóa, tượng trưng cho ý nghĩa sống lâu. 7. Bố đại hòa thượng: Thiền sư Khế thử (?-916) người Trung quốc, sống vào thời Ngũ đại, được xem là hóa thân của Bồ tát Di lặc và được thờ làm vị Phúc thần. Trong 7 vị nói trên thì Đại hắc thiên, Tì sa môn thiên và Biện tài thiên là 3 vị thuộc Thiên bộ của Phật giáo; Phúc lộc thọ và Thọ lão nhân đều là thần Diên thọ của Trung quốc, 2 vị này cùng với Bố đại Hòa thượng đều là những nhân vật trong tranh tiêu biểu cho Đạo giáo và Phật giáo được lưu hành ở đời Tống.
thất phương tiện
(七方便) I. Thất Phương Tiện. Cũng gọi Thất phương tiện vị, Thất hiền, Thất hiền vị, Thất gia hành vị. Chỉ cho 7 giai vị trước khi vào ngôi Kiến đạo của hàng Thanh văn, đó là: Ngũ đình tâm quán, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ, Noãn pháp, Đính pháp, Nhẫn pháp và Thế đệ nhất pháp. II. Thất Phương Tiện. Tông Thiên thai căn cứ vào Tứ giáo mà thành lập 2 loại Thất phương tiện: 1. Y cứ theo ý nghĩa 3 cỏ, 2 cây nói trong phẩm Dược thảo dụ, kinh Pháp hoa mà thành lập các thừa: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa của Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo.2. Y cứ theo ý nghĩa đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc mà thành lập các thừa giáo gồm: Thanh văn, Duyên giác của Tạng giáo, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát của Thông giáo và Bồ tát của Biệt giáo, Viên giáo.
thất phương tiện vị
(1) The seven "expedient" or temporary attainments or positions of Hìnayàna, supersided in Mahàyàna by the thất hiền vị or thất gia hạnh vị all preparatory to the thất thánh vị. (2) The seven vehicles i.e. those of ordinary human beings, of devas, of sravakas, of pratyeka-buddhas, and of the three bodhisattvas of the three teachings tạng, thông and biệt.
thất phần hoạch nhất
(七分獲一) Bảy phần được hưởng một. Nghĩa là truy tiến, hồi hướng phúc lợi cho cha mẹ, thân tộc đời quá khứ, nhưng nếu những người ấy lúc còn sống không tin đạo đức, chẳng tu nhân thiện, gây nhiều tội ác thì chỉ được hưởng một phần trong bảy phần tất cả công đức lợi ích thánh sự.
thất phần toàn đắc
(七分全得) Bảy phần được hưởng trọn vẹn. Nếu bố thí cúng dường để cầu phúc cho người khác mà mình siêng năng gìn giữ sạch sẽ, dâng cúng Phật và tăng thì người khác được hưởng một phần công đức, bảy phần công đức còn lại thì chính mình được hưởng, cộng chung là 8 phần công đức. Nguồn gốc của thuyết này không được rõ, có lẽ đã chịu ảnh hưởng thuyết chia thân thể làm 8 phần (Phạm:Awỉaíga, tức là ngực, đầu, 2 mắt, lời nói, ý nghĩ, 2 chân, 2 tay, 2 đầu gối) của người Ấn độ. Ngoài ra, còn có thuyết Thất phần hoạch nhất.
Thất Phật
(七佛, bảy vị Phật): hay còn gọi là Quá Khứ Thất Phật (過去七佛, bảy vị Phật đời quá khứ). Phật Giáo lấy 6 vị Phật trong thời quá khứ và đức Phật Thích Ca, hình thành Thất Phật; gồm Tỳ Bà Thi Phật (s: Vipaśyin-buddha, p: Vipassin-buddha, 毘婆尸佛), Thi Khí Phật (s: Śikhin-buddha, p: Sikhin-buddha, 尸棄佛), Tỳ Xá Phù Phật (s: Viśvabhū-buddha, p: Vessabhū-buddha, 毘舍浮佛), Câu Lưu Tôn Phật (s: Krakucchanda-buddha, p: Kakusandha-buddha, 拘留孫佛), Câu Na Hàm Mâu Ni Phật (s: Kanakamuni-buddha, p: Konāgamana-buddha, 拘那含牟尼佛), Ca Diếp Phật (s: Kāśyapa-buddha, p: Kassapa-buddha, 迦葉佛), và Thích Ca Mâu Ni Phật (s: Śākyamuni-buddha, p: Sakyamuni-buddha, 釋迦牟尼佛). Như trong Trường A Hàm (長阿含經) quyển 1 có đoạn: “Thất Phật tinh tấn lực, phóng quang diệt ám minh (七佛精進力、放光滅闇冥, bảy Phật sức tinh tấn, phóng quang diệt tối tăm).”
; 七佛; C: qīfó; J: shichibutsu; S: sapta-tathā-gata.|Bảy đức Phật thời quá khứ, gồm đức Phật Thích-ca Mâu-ni (釋迦牟尼) và sáu vị Phật tiền bối: 1. Tì-bà-thi Phật (毘婆尸佛; s: vi-paśyin; p: vipassin), 2. Thi-khí Phật (尸棄佛; s: śikhin; p: sikkhin), 3. Tì-xá-phù Phật (毘舎浮佛; s: viśvabhū; p: vessabhū), 4. Câu-lưu-tôn Phật (拘留孫佛; s: krakuc-chanda; p: kondañña), 5. Câu-na-hàm Mâu-ni Phật (拘那含牟尼佛; s: kanakamuni; p: konāgamana) và 6. Ca-diếp Phật (迦葉佛; s: kāśyapa; p: kassapa).
thất phật
Seven Buddhas Có 7 đức Phật ra đời trước đây kễ cả đức Thích Ca, gồm: - Tỳ bà Thi Phật, đức Phật thứ 998 thuộc Trang nghiêm Kiếp. - Thi Khí Phật, đức Phật thứ 999 thuộc Trang nghiêm Kiếp. - Tỳ xá Phù Phật, đức Phật thứ 1000 thuộc Trang nghiêm Kiếp. - Ca la tôn đại Phật, đức Phật thứ nhất thuộc Hiền Kiếp. - Câu na hàm Mâu ni, (Kim Tịch Phật) đức Phật thứ nhì thuộc Hiền Kiếp. - Ca Diếp Phật, đức Phật thứ ba thuộc Hiền Kiếp. - Thích Ca Mâu ni Phật, đức Phật thứ tư thuộc Hiền Kiếp.
; Sapta Buddha (S). The seven ancient Buddhas: Tì bà thi, Vipasyin; Thi khí, Sikhin; Tì xá phù, Visvabhù; Câu lưu tôn, Krakucchanda; Câu na hàm mâu ni, Kanakamuni; Ca diếp, Kasyapa; Thích ca mâu ni, Sàkyamuni.
; (七佛) Cũng gọi Quá khứ thất Phật. Chỉ cho Phật Thích ca và các đức Phật đã xuất hiện trước khi Ngài ra đời. Gồm có 7 vị, đó là: Phật Tì bà thi, Phật Thi khí, Phật Tì xá phù, Phật Câu lưu tôn, Phật Câu na hàm mâu ni, Phật Ca diếp và Phật Thích ca mâu ni. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 thì 7 đức Phật quá khứ này mỗi vị đều có nói kệ đắc pháp, gọi là Thất Phật thuyết kệ. phẩm Thập bất thiện trong Tăng nhất a hàm].
thất phật bát bồ tát
(七佛八菩薩) Chỉ cho 7 đức Phật và 8 vị Bồ tát. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Thất Phật bát bồ tát thần chú kinh quyển 1. Thất Phật là: Phật Duy vệ, Phật Thức, Phật Tùy diệp, Phật Câu lưu tần, Phật Câu na hàm mâu ni, Phật Ca diếp và Phật Thích ca mâu ni. Bát Bồ tát là: Văn thù sư lợi, Hư không tạng, Quán thế âm, Cứu thoát, Bạt đà hòa, Đại thế chí, Đắc đại thế và Kiên dũng.
thất phật chân thật luận
Tattva-saptati (S) Tên một bộ luận kinh. Do Bồ tát Thiên Thân soạn.
Thất Phật danh hiệu công đức kinh
七佛名號功德經; C: qīfó mínghào gōngdé jīng; J: shichibutsu myōgō kudoku kyō;|Tên gọi tắt của Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh (受持七佛名號所生功德經).
Thất Phật danh kinh
七佛名經; C: qīfó ming jīng; J: shichibutsu myō kyō;|Tên gọi tắt của Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh (受持七佛名號所生功德經).
thất phật dược sư
The seven Healing Buddhas.
; (七佛藥師) Cũng gọi Thất cung y vương. Chỉ cho 7 đức Phật Dược sư, đó là: 1. Thiện danh xưng cát tường vương Như lai. 2. Bảo nguyệt trí nghiêm quan âm tự tại vương Như lai. 3. Kim sắc bảo quang diệu hạnh thành tựu Như lai. 4. Vô ưu tối thắng cát tường Như lai. 5. Pháp hải lôi âm Như lai. 6. Pháp hải thắng tuệ du hí thần thông Như lai. 7. Dược sư lưu li quang Như lai. Bảy đức Phật này trụ trong các thế giới ở phươngĐông cách đây bằng số cát của 4 sông Hằng cho đếnbằngsố cát của 10 sông Hằng, mỗi vị khi còn ở địa vị tu nhân đều phát nguyện cứu giúp chúng sinh khổ não. Nhưng trong kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện do ngài Huyền trang dịch, chỉ nói về một đức Phật Dược sư ở phươngĐông chứ không nêu tên 7 vị Phật. Về vấn đề này, từ xưa đã có nhiều nghị luận. Có thuyết cho rằng Thất Phật Dược Sư là 7 vị khác nhau, có thuyết thì cho là tên khác hoặc là phân thân của 1 Phật Dược sư.
thất phật dược sư pháp
(七佛藥師法) Cũng gọi Thất Phật dược sư ngự tu pháp, Thất đàn ngự tu pháp. Chỉ cho pháp bí mật của Thai mật Nhật bản thờ Thất Phật dược sư làm Bản tôn để tu các pháp Tức tai và Tăng ích. Pháp này được thành lập do y cứ vào kinh Dược sư thất Phật bản nguyện và kinh Dược sư bản nguyện. Cứ theo kinh Dược sư lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đứcquyển hạ, nếu người nào có điều cầunguyện, nên tạo hình tượng 7 đức Phật Dược sư, cúng dường hương hoa, treo cờ phướn, dâng các thức ăn uống và kĩ nhạc,ngồi ngay thẳng trước tượng Phật tụngchú, trong 7 ngày giữ 8 giới quan trai, tụng đủ 1008 biến, thì người ấy được các đức Như lai che chở, nghiệp chướng được diệt trừ, tai nạn qua khỏi, tuổi thọ tăng thêm và mọi điều mong cầu đều được như ý.
Thất Phật kinh
七佛經; C: qīfó jīng; J: shichibutsu kyō;|Kinh, một quyển, Pháp Thiên (法天) dịch, nằm trong bộ A-hàm. Là một trong năm bản dịch của kinh nầy, ghi chép hành trạng của bảy vị Phật thời quá khứ. Tên gọi đầy đủ là Phật thuyết thất Phật kinh (佛説七佛經).
thất phật kinh
(七佛經) Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Kinh này có 5 bản dịch khác nhau, nội dung rất giống truyện Phật Thích ca, là truyện kí về 7 đức Phật, nói về dòng dõi, họ tên... đặc biệt ghi chép sự tích của Phật Tì bà thi rất rõ ràng.
thất phật phạn tán
Xem Thất Phật Tán Bái Già Bà kinh.
thất phật thông giới kệ
(七佛通戒偈) Chỉ cho các bài kệ tụng về giới luật chung của 7 đức Phật quá khứ, cho đến nay vẫn còn được tín đồ Phật giáo truyền tụng. Về ý nghĩa của các kệ tụng này, phẩm Tựa trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 (Đại 2, 551 thượng) nói: Nghĩa của Tứ hàm, trong 1 bài kệ đều có đủ lời dạy của chư Phật, lời dạy của Bích chi Phật và Thanh văn. Sở dĩ như thế là vì các điều ác chớ làm thì cấm giới đầy đủ, đạo hạnh thanh bạch; các điều thiện vâng làm thì tâm ý trong sạch; tự tịnh ý mình thì trừtà điên đảo; đó là lời chư Phật dạy, diệt trừ ngu hoặc. Vì chư Phật mới ra đời, các đệ tử đều thanh tịnh, cho nên các Ngài không cần đặt ra giới cấm riêng, mà chỉ dùng 1 bài kệ chung làm giới cấm, cho nên gọi là Thông giới, cũng gọi là Lược giới. Theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 44 thì các bài kệ tụng của 7 đức Phật quá khứ là: 1. Kệ của Phật Tì bà thi: Nhẫn nhục vi đệ nhất, Phật thuyết vô vi tối; Bất dĩ thế tu phát, Hại tha vi sa môn. (Nhịn nhục là bậc nhất, Đạo vô vi (Niết bàn) cao tột; Xuất gia não hại người, Không phải là sa môn). 2. Kệ của Phật Thí kết (Thi khí): Nhược nhãn kiến phi tà, Tuệ giả hộ bất trước; Khí tổn ư chúng ác Tại thế vi hiệt tuệ. (Mắt thấy điều tà bậy, Người trí không dính mắc; Vứt bỏ các việc ác, Là bậc tuệ trong đời). 3. Kệ của Phật Tì xá la bà(Tì xá bà): Bất hại diệc bất phi, Phụng hành ư đại giới; Ư thực tri chỉ túc, Tòa sàng diệc phục nhiên; Chấp chívichuyên nhất, Thị tắc chư Phật giáo. (Không hại, không làm trái, Vâng giữ các đại giới, Ăn uống biết dừng đủ, Giườngchiếu cũng như thế; Phải giữ chí chuyên nhất, Là lời chư Phật dạy). 4. Kệ của Phật Câu lâu tôn: Thí như phong thái hoa, Kì sắc thậm hương khiết; Dĩ vị huệ thí tha, Đạo sĩ du tụ lạc, Bất phỉ báng ư nhân, Diệc bất quán thị phi, Đãn tự quán thân hành Đế quán chính bất chính. (Như ong hút mật hoa, Hương sắc hoa không tổn; Lấy vị ban cho người, Tỉ khưu vào làng xóm, Chớ nên dèm chê người, Không bàn chuyện phải quấy, Chỉ xét hành vi mình Xem chính hay bất chính). 5. Kệ của Phật Câu na hàm mâu ni: Chấp chí mạc khinh hí, Đương học tôn tịch đạo; Hiền giả vô sầu ưu, Đương diệt chí sở niệm. (Giữ tâm chớ bàn suông, Nên học đạo vắng lặng; Người trí không buồn sầu, Diệt trừ mọi tà niệm). 6. Kệ của Phật Ca diếp: Nhất thiết ác mạc tác, Đương phụng hành kì thiện; Tự tịnh kì chí ý, Thị tắc chư Phật giáo. (Phải tránh mọi việc ác, Vâng làm các điều lành; Giữ tâm ý trong sạch, Là lời chư Phật dạy). 7. Kệ của Phật Thích ca Mâu ni: Hộ khẩu ý thanh tịnh, Thân hành diệc thanh tịnh; Tịnh thử tam hành tích, Tu hành tiên nhân đạo. (Giữ miệng, ý trong sạch, Thân hành cũng trong sạch, Ba nghiệp đều trong sạch, Là tu đạo Như lai). Bài kệ Thông giới mà Phật giáo đời sau thường dùng là bài kệ của Phật Ca diếp, nhưng về mặt văn từ có hơi khác nhau, tức như 4 câu trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 do tôn giả A nan dẫn: Chư ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành; Tự tịnh kì ý, Thị chư Phật giáo.
thất phật tán bái già bà kinh
Sapta-jinastava (S) Thất Phật Phạn tán, Thất Thắng Giả tán Tên một bộ kinh.
thất phật tán bái già đà
(七佛贊唄伽陀) Phạm: Sapta-jina-stava. Cũng gọi Thất Phật phạm tán, Thất thắng giả tán. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại tạng tập 32. Nội dung sách này gồm các bài kệ tụng bằng tiếng Phạm tán thán công đức của 7 đức Phật quá khứ. Vì sách này toàn là các bài tụng tán chữ Hán phiên âm tiếng Phạm chứ không có dịch ý, cho nên từ xưa không ai hiểu được nghĩa. Sau này nhờ có Tiến sĩ Thần lượng Tam lang người Nhật khôi phục lại nguyên bản tiếng Phạm và dịch ra tiếng Nhật thì người ta mới hiểu nghĩa.
Thất Phật Đà la ni thần chú kinh
(七佛陀羅尼神咒 經) Cũng gọi Thất Phật thần chú kinh, Thất Phật bát bồ tát đại đà la ni thần chú kinh, Thất Phật thập nhất bồ tát đà la ni kinh, Thất Phật sở thuyết thần chú kinh, Quảng tế chúng sinh thần chú. Kinh, 4 quyển (mất tên người dịch), 1 trong những kinh điển Mật bộ thuộc Mật giáo tạp bộ, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này được xem như nguồn gốc của Mật giáo thuần túy ở đời sau.
thất quan âm
(七觀音) Vì mục đích giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh, nênbồ tát Quán thế âm đã biến hóa ra 7 loại thân, đó là: Thiên thủ Quán âm, Mã đầu Quán âm, Thập nhất diện Quán âm, Thánh Quán âm, Như ý luân Quán âm, Chuẩn đề Quán âm và Bất không quyên sách Quán âm.
Thất Sanh Tự
(室生寺, Murō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Thất Sanh Tự (室生寺派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiệu là Thất Sanh Sơn Tất Địa Viện (室生山悉地院), hiện tọa lạc tại Murō-mura (室生村), Uda-gun (宇陀郡), Nara-ken (奈良縣). Năm 681 (niên hiệu Thiên Võ [天武] thứ 10), thể theo ý nguyện của Thiên Võ Thiên Hoàng (天武天皇, Temmu Tennō), tương truyền Dịch Tiểu Giác (役小角, En-no-Ozunu) sáng lập ra chùa này. Trong khoảng thời gian niên hiệu Bảo Quy (寳龜, 770-780), Hiền Cảnh (賢璟, Kenkyō, 705-793) của Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) quản lý chùa và đệ tử của ông là Tu Viên (修圓, Shūen, 771-835) kiến lập các ngôi đường tháp vào khoảng thời gian niên hiệu Thiên Trường (天長, 824-834). Vào năm 824 (niên hiệu Thiên Trường thứ 1), Không Hải (空海, Kūkai) đến chùa này, dâng cúng bảo châu Ma Ni và biến nơi đây thành đạo tràng của Chơn Ngôn Mật Giáo. Sao đó, Kiên Tuệ (堅慧, Kene) đến trú trì, làm cho chùa trở nên hưng thạnh, và chùa đã trãi qua một thời gian khá dài phụ thuộc vào sự quản lý của Hưng Phước Tự. Dưới thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), các vị Luật tăng của Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji) cũng như Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) đã từng đến trú trì ở đây. Đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), vào năm 1694 (niên hiệu Nguyên Lộc [元祿] thứ 7), Hộ Trì Viện Long Quang (隆光, Ryūkō, 1649-1724) đến làm trú trì, cho nên chùa trở thành đạo tràng của Phái Phong Sơn (豐山) thuộc Chơn Ngôn Tông, và nhờ sự hiến cúng tịnh tài của Quế Xương Viện (桂昌院, mẹ của Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát [德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi]), các đường vũ của chùa được tu sửa lại hoàn chỉnh. Vào thời Cận Đại, Phái Phong Sơn tách riêng ra khỏi chùa và nơi đây trở thành ngôi chùa trung tâm của Phái Thất Sanh Tự. Khuôn viên chùa rất u nhã, người nữ bị cấm không được đến tham bái. Chùa chưa từng bị hỏa tai hay binh hỏa, cho nên các ngôi đường tháp vẫn còn giữ lại nét ngày xưa. Kim Đường (金堂) là kiến trúc được dựng vào đầu thời Bình An (平安, Heian), bên trong ở giữa thờ tượng đứng Thích Ca Như Lai, bên phải nhìn vào có tượng Dược Sư Như Lai và Địa Tạng Bồ Tát, bên trái có tượng Văn Thù Bồ Tát Và Thập Nhất Diện Quan Âm; tất cả đều những kiệt tác đầu thời Bình An. Ngoài ra, còn có tượng Thập Nhị Thần Tướng, thuộc thời đại Liêm Thương. Ngũ Trùng Tháp được kiến lập từ khoảng cuối thời đại Nại Lương (奈良, Nara) cho đến đầu thời Bình An. Chánh Điện là Quán Đảnh Đường (灌頂堂), tôn trí tượng Như Ý Luân Quan Âm (cuối thời Bình An). Ngự Ảnh Đường (御影堂) là Đại Sư Đường (大師堂), được kiến tạo dưới thời Liêm Thương. Bên cạnh đó, còn có Di Lặc Đường (彌勒堂), Hộ Ma Đường (護摩堂), Nhà Kho, v.v. Bảo vật của chùa có các tượng Phật trong Kim Đường, tượng ngồi Thích Ca Như Lai (đầu thời Bình An), tượng đứng Di Lặc Bồ Tát (thời đại Nại Lương), những pháp cụ Mật Giáo, v.v.
Thất sinh
七生; C: qīshēng; J: shichishō;|1. Bảy đời, tái sinh vào trong thế gian bảy đời; 2. Là số lần mà một vị Dự lưu (預流) sẽ phải tái sinh trong cõi luân hồi.
thất sinh
(七生) Chỉ cho 7 lần thụ sinh ở cõi người, cõi trời, là do sự chuyển đồi sai lầm tư tưởng Cực thất phản hữu mà ra.
thất sử
The seven messengers, agents, or klesas: dục ái, desire; sân nhuế, anger or hate; hữu ái, attachment; mạn, pride, or arrogance; vô minh, ignorance, or unenlightenment; kiến, false views; nghi, doubt.
thất sự tùy thân
The seven appartenances of a monk: the three garments, bowl, censer, duster (or dry brush), stool (nisidana), paper, and material for washing,
thất tai nạn
The seven calamities in the Nhân Vương Kinh Thụ trì phẩm, during which that sùtra should be recited: (1) Mặt trời mặt trăng lỗi độ, sun and moon losing their order; (2) Các vì sao lỗi độ, constellations irregular; (3) Lửa, fire; (4) Nước, water; (5) Gió dữ, wind storms; (6) Khí dương quá thịnh, drought; (7) Giặc dữ, brigands. Another set is: pestilence, invasion, rebellion, unlucky stars, eclipses, too early monsoon, too late monsoon.
thất thiên
(七篇) Pàli:Satta àpattikhandhà. Cũng gọi Thất tụ. Chỉ cho 7 nhóm tội. Giới luật được chia làm 7 khoa là Ba la di, Tăng tàn, Thâu lan già, Ba dật đề,Đề xá ni, Đột cát la vàÁc thuyết. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 1]. (xt. Thất Tụ). I. Thất Thiện. Gọi đủ: Thất xứ thiện. II. Thất Thiện. Các kinh điển Đại, Tiểu thừa do Phật nói có 7 thiện, gọi là Thất thiện. Về thất thiện này, các kinh luận Đại, Tiểu thừa giải thích cóhơikhác nhau. A. Theo phẩm Tam thiện trong luận Thành thực thì Thất thiện là: 1. Thời thiện: Giáo pháp được nói trong 3 thời sơ, trung, hậu của 1 bộ kinh đều rất sâu xa. 2. Nghĩa thiện: Nghĩa của Phật pháp rất có lợi ích, là đạo xuất thế có lợi ích đời này, đời sau. 3. Ngữ thiện: Tùy theo phương ngôn, tục ngữ của mỗi nơi mà chỉ bày chính nghĩa. 4. Độc pháp: Chỉ nói vì Niết bàn vô dư.5. Cụ túc: Các pháp viên mãn, không đợi các kinh khác mới thành. 6. Thanh tịnh điều nhu: Lời nói thanh tịnh nên gọi là thanh tịnh, nghĩa thanh tịnh nên gọi là điều nhu. 7. Phạm hạnh: Đạo này có năng lực đưa đến Niết bàn. B. Theo phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa và Pháp hoa văn cú quyển 3giải thích thì Thất thiện(cũng gọi Đốn giáo thất thiện, Đại thừa thất thiện) là: 1. Thời tiết thiện: Ba phầnTựa, Chính tông và Lưu thông của Đốn giáo đều thiện. 2. Nghĩa thiện: Trí tuệ của Nhị thừa không thể lường biết lí liễu nghĩa 3. Ngữ thiện: Dùng 8 âm(rất hay, dịu dàng, hòa nhã, trịnh trọng, mãnh mẽ, chân chính, sâu xa, vô cùng)đểtrình bày, hội lí nói thẳng, làm đẹp lòng Bồ tát. 4. Độc nhất thiện: Thuần nhất, không chung cho Nhị thừa. 5. Viên mãn thiện: Thuyết minh pháp mãn tự trong 3 cõi, ngoài 3 cõi. 6. Điều nhu thiện: Không có dấu vết thiên lệch. 7. Vô duyên từ thiện: Tức hạnh vô duyên đại từ thanh tịnh. Nghĩa thất thiện này tuy chung cho cả kinh điển Đại, Tiểu thừa, nhưng pháp thể thì tùy theo kinh luận mà có khác, như kinh Tiểu thừa giải thích Độc nhất là Niết bàn vô dư, kinh Pháp hoa thì giải thích Độc nhất là pháp Viên đốn Nhất thừa. C. Phẩm Danh tự công đức trong kinh Niết bàn(bản Bắc) cũng có nói về Thất thiện như sau (Đại 21, 385 thượng): Thượng ngữ cũng thiện, Trung ngữ cũng thiện, Hạ ngữ cũng thiện, nghĩa vị sâu xa của văn tự cũng thiện, phạm hạnh thanh tịnh thuần nhất đầy đủ, tạng báu kim cương tròn trịa không thiếu.
thất thiện
The seven excellences claimed for the Buddha's teaching: good in its thời timing or seasonableness, nghĩa meaning, ngữ expression, độc pháp uniqueness, cụ túc completeness, thanh tịnh điều nhu pure adaptability, and phạm hạnh its noble objective, nirvàna.
thất thiện luật nghi
(七善律儀) Đối lại : Thất bất hiện luật nghi. Gọi tắt: Thất luật nghi. Chỉ cho 7 giới luật: Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nóihai lưỡi, không nói ác và không nói thêu dệt. Ba điều trước là luật nghi xa lìa tội ác của nghiệp thân, 4 điều còn lại là luật nghi xa lìa tội lỗi của nghiệp khẩu; thêm 3 điều không tham, không sân, không tà kiến của nghiệp ý nữa thì gọi là Thập thiện giới. Thập địa kinh luận quyển 4, đã y cứ vào các luật nghi này mà nói về 3 thứ Nhân li, Quả hành li, và Đối trị li. Nói về giới không giết hại thì Nhân li là nhân xa lìa tâm giết hại; Quả hành li là xa lìa hành vi giết hại; Đối trị li là dùng tâm từ bi và tâm an ổn đối trị tâm giết hại, nghiệp giết hại khiến xa lìa 2 việc này. Đối với các luật nghi còn lại cứ suy đây thì rõ. Bảy luật nghi này nếu hợp lại thì thành một thiện luật nghi duy nhất, nếu mở rộng ra thì thành 7 luật nghi của 2 nghiệp thân và khẩu. Nếu mỗi luật nghi được chia theo 3 phẩm tâm thượng, trung, hạ thì thành 21 thứ; đem phối hợp với 3 thiện căn vô tham, vô sân, vô si thì thành 63 thiện luật nghi.
thất thiện sĩ thú
(七善士趣) Chỉ cho 7 nơi mà bậc Thánh Bất hoàn (thiện sĩ) hướng tới. Bậc Thánh Bất hoàn đã đoạn trừ hết phiền não cõi Dục, cho nên không còn ác nghiệp tạp hành và chứng Niết bàn. Có 3 thứ Niết bàn là Sinh ban, Trung ban và Thượng lưu ban. Sinh ban lại được chia làm 3 loại là Sinh ban, Hữu hành ban và Vô hành ban; Trung ban cũng được chia làm 3 loại là Tốc ban, Phi tốc ban và Kinh cửu ban, 6 loại này hợp chung với Thượng lưu ban, gọi là Thất thiện sĩ thú. Thú nghĩa là hành, vì hành thiện và trụ ở cõi trên, không còn trở lại cõi Dục, nên gọi là Thiện sĩ thú. Theo thuyết của luận Đại tì bà sa quyển 175 thì sở dĩ Thượng lưu ban không lập riêng vì phải thụ sinh nhiều đời, hành tướng của loại này dễ biết, cho nên không chia ra; còn Sinh ban và Trung ban mỗi loại đều là sự sai biệt trong một đời, hành tướng khó biết, cho nên cần chia ra. Tuy nhiên, cũng có thuyết lập riêng Thượng lưu ban làm 3 loại là Toàn siêu ban, Bán siêu ban và Biến một ban, gộp chung với 4 loại: Trung ban, Sinh ban, Hữu hành và Vô hành ban, gọi là Thất thiện sĩ thú.
thất thánh
(七聖) Cũng gọi Thất thánh nhân, Thất thánh giả, Thất sĩ phu, Thất trượng phu. Chỉ cho 7 bậc Thánh thuộc các giai vị Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo. Các luận nói về Thất thánh đều khác nhau. Cứ theo luận Câu xá quyển 25 thì Thất thánh là: 1. Tùy tín hành: Bẩm tính nhiều đức tin, được gặp Như lai hoặc đệ tử Phật giảng nói chính pháp, chỉ bảo răn dạy, theo đó mà tu gia hạnh, được vào Kiến đạo. 2. Tùy pháp hành:Bẩm tính nhiều tư duy, tự mình nương vào chính pháp mà tu gia hạnh để vào Kiến đạo. 3. Tín giải: Bậc thánh Tùy tín hành vào giai vị Tu đạo (16 tâm). 4. Kiến chí: Bậc thánh Tùy pháp hành vào giai vị Tu đạo. 5. Thân chứng: Tuy chưa dùng trí tuệ để trừ sạch các lậu hoặc, nhưng thân đã chứng 8 giải thoát. 6. Tuệ giải thoát: Thân tuy chưa chứng 8 giải thoát, nhưng đã vận dụng trí tuệ dứt hẳn các lậu hoặc. 7. Câu giải thoát: Thân đã chứng 8 giải thoát, đồng thời cũng dùng tuệ đoạn trừ hẳn các lậu; tức giải thoát được cả phiền não chướng và sở tri chướng.
Thất thánh giác
xem Bảy giác chi.
thất thánh tài
Seven riches Gồm: Lòng tin (faith), giới hạnh (discipline), sự nghe pháp (listening to Dharma), biết xấu hổ (shame), lòng nhiệt thành (zeal and devotion), xả bỏ (abnegation), trí huệ (meditation) Bảy món báu tinh thần, gồm: - tín: đức tin, lòng chánh tín - giới: giới hạnh trong sạch - tàm: lòng hỗ thẹn - quí: lòng quá thẹn - đa văn: nghe nhiều, biết rộng - trí huệ - xả ly: xả bỏ, rời các sự trỉu mến, ràng buộc.
; Saptadhana (S).Tín, faith; Giới, observance of the commandments; Tàm, shame (for self); Quí, shame (for others); Đa văn, hearing instruction; Trí tuệ, wisdom; Xả li, renunciation.
; (七聖財) Cũng gọi Thất tài, Thất đức tài, Thất pháp tài. Chỉ cho 7 Thánh pháp để thành tựu Phật đạo. Đó là Tín, Giới, Tàm, Quí, Văn, Thí và Tuệ. Vì 7 pháp được gìn giữ này có công năng trợ giúp cho sự nghiệp thành Phật nên gọi là Tài(của cải). 1. Tín tài: Tin nhận chính pháp. 2. Giới tài: Giữ gìn giới luật. 3. Tàm tài: Tự hổ thẹn không dám làm các việc xấu ác. 4. Quí tài: Tâm sinh hổ thẹn khi làm điều bất thiện. 5. Văn tài: Có khả năng nghe chính giáo.6. Thí tài: Lìa bỏ tất cả không đắm trước. 7. Định tuệ tài: Thu nhiếp tâm không tán loạn, chiếu soi rõ các pháp.
thất thú
(七趣) Chỉ cho 7 nơi mà chúng sinh tùy theo nghiệp nhân sẽ sinh tới. Đó là: 1. Địa ngục thú (Phạm: Narakagati). 2. Ngã quỉ thú (Phạm:Preta). 3. Súc sinh thú (Phạm: Tiryagyoni). 4. Nhân thú (Phạm: Manusya). 5. Thần tiên thú (Phạm:Rwi). 6. Thiên Thú (Phạm: Deva). 7. A tu la thú (Phạm:Asura).
thất thú ma la ngư
(室獸摩羅魚) Thất thú ma la, Phạm: Zizumara. Tên khoa học: Delphilnus gangeticus. Cũng gọi Thất thu ma la ngư, Thất thủ ma la ngư. Hán dịch: Sát tử ngư, Ngạc ngư. Một trong các loại cá sấu sống ở biển hoặc ở sông Hằng, Ấn độ. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 24 thì tính của loài cá sấu này rất hung dữ, thân hình giống như voi, dài hơn 2 trượng, có 4 chân, răng rất sắc, hễ có con cầm thú nào sa xuống sông thì bị nó cắn đứt ngang lưng.Câu xá luận quang kí quyển 2 (Đại 41, 34 hạ) nói: Cá này thuộc loại bàng sinh, nhỏ thì dài 2 trượng, lớn thì cả trăm thước. Trong kinh luận thường có sự tích bản sinh con khỉ dùng trí lừa loài cá này.
thất thường trụ quả
(七常住果) Chỉ cho 7 tên gọi được lập ra dựa theo sự chứng đắc quả vị Phật, là quả thường trụ bất sinh bất diệt. Đó là: 1. Bồ đề: Nghĩa là tri giác, cũng tức là quả Trí. 2. Niết bàn: Nghĩa là vắng lặng, cũng tức là quảĐoạn. 3. Chân như: Nghĩa là lìahư vọng và không đổi dời. 4. Phật tính: Nghĩa là chiếu soi không biến đổi. 5. Am ma la thức: A ma la, Hán dịch làvô cấu(không cấu bẩn), là thức được hiển lộ khi lìa chướng, tức là Bạch tịnh vô cấu thức.6. Không Như lai tạng: Không tương ứng với vọng nhiễm, hàm chứa vô lượng công đức. 7. Đại viên kính trí: Có năng lực hiển hiện sắc thân và cõi nước, lìa các điên đảo, thành tựu viên mãn, soi sáng khắp muôn vật.Những quả thường trụ này tuy có 7 tên gọi nhưng thể thì chỉ là một, trong sáng tròn đầy, cứng chắc bất động, như kim cương thường trụ không hoại diệt
thất thất
The period of forty nine days after death, when masses are said every seventh day till the seventh seventh day.
thất thất trai
(七七齋) Cũng gọi Thất thất kị, Lũy thất trai, Thất thất nhật, Trai thất nhật. Trai nghi được thiết cúng vào ngàythứ 49 sau khi người chết. Trong khoảng 49 ngày sau khi người qua đời, thân thuộc vì họ cứ 7 ngày cúng trai một lần, hoặc chỉ cho ngày truytiến lần thứ 7, gọi là Thất thất trai. Khoảng thời gian từ sau khi chết đến khi chịu báo gọi là Trung hữu(Trung ấm), tuổi thọ của Trung hữu chỉ được 7 ngày là chết; chết rồi sống lại, nếu chưa được duyên sinh thì cứ chết đi sống lại như thế cho đến tuần 7 ngày thứ 7 (49 ngày), từ đây về sau nhất định được duyên sinh mới thụ báo. Trong thời gian này, thân nhân vì người quá cố tu pháp truy phúc, có thể chuyển được nghiệp xấu thành tốt.
thất thập
Saptati (S). Seventy.
thất thập chân thật luận
(七十真實論) Phạm:Tattva-saptati. Luận, do Bồ tát Thiên thân soạn. Tác phẩm này được soạn ra với mục đích bác bỏ luận Kim thấtthập của phái Số luận (Tăng khư), hiện nay đã thất truyền. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện (Đại 50, 190 thượng)nói: Ngoại đạo thân đã hóa đá, ngài Thiên thân lại càng buồn bã, bèn soạn luận Thất thập chân thực để bác bỏ luận Tăng khư do ngoại đạo soạn, từ đầu đến cuối đều bị phá, không câu nào đứng vững được.
thất thập không tính luận
ŚŪnyatāsapati (S), ŚŪnyatāsapativṛtti (S) Tên một bộ luận kinh.
; (七十空性論) Luận, dobồ tát Long thụ soạn, được dẫn dụng trong Quán nhân duyên môn của luận Thập nhị môn (do ngài Cưu ma la thập dịch). Nội dung luận này nói về các pháp không có tự tính, đề xướng tư tưởng Trung đạo tính không. Ý chỉ chủ yếu và phương pháp luận chứng của luận này đại thể cũng gần với Trung luận. Toàn sách có 73 bài kệ tụng. Bàitụngthứ nhất là Tổng luận, tức phần tông yếu. Từ bài tụng thứ 2 đến bài tụng 71 trình bày nội dung của bài tụng Tổng luận thứ nhất, là phần trung tâm của luận này. Trong đó, từ bài tụng thứ 2 đến bài tụng thứ 66, đứng trên quan điểm thế tục, nói về tính sinh diệt biến hóa của sự tồn tại; còn từ bài tụng thứ 67 đến 71 thì đứng trên lập trường thắng nghĩa đế, trình bày cảnh giới không sinh diệt, biến hóa. Hai bài tụng cuối là phần Khuyến tín đắc ích(khuyên tin theo được lợi ích) là phần kết luận của tác phẩm này. Cho nên tên sách Thất thập là chỉ cho bài tụng thứ 2 đến bài 71. Luận này chỉ có bản Tạng dịch chứ không có bản Hán dịch và nguyên bản tiếng Phạm cũng không còn.
thất thập ngũ
Pancasaptati (S). Seventy-five.
thất thập ngũ pháp
The seventy-five dharmas of the Abhidharma-Kosa, which classifies all phenomena under seventy-five categories, or elements, divided into five groups: (1) Sắc pháp rùpani, material, 11; (2) Tâm pháp cittam, mind,1; (3) Tâm sở hữu pháp, citta-samprayuktasamskàràh, mental qualities, 46; (4) Tâm bất tương ưng hành pháp citta-vipravuktasamskàrah, non mental, 14; (5) Vô vi pháp asamskrta, non phenomenal elements, 3.
; (七十五法) Cũng gọi Tiểu thừa thất thập ngũ pháp. Chỉ cho 75 pháp của tông Câu xá thuộc Tiểu thừa, được chia thành 5 loại.Đó là: I. Sắc pháp có 11 thứ: 1. Nhãn căn (Phạm: Cakwur-indriya). 2. Nhĩ căn (Phạm: Zrotrendriya). 3. Tị căn (Phạm: Ghràịendriya). 4. Thiệt căn (Phạm: Jihvendriya). 5. Thân căn (Phạm: Kàyendriya). 6. Sắc cảnh (Phạm:Rùpa-viwaya). 7. Thanh cảnh (Phạm: Zabda-viwaya). 8. Hương cảnh (Phạm: Gandhaviwaya). 9. Vị cảnh (Phạm: Rasa-viwaya). 10. Xúc cảnh (Phạm: Sprawỉavyaviwaya). 11. Vô biểu sắc (Phạm:Avijĩapti-rupa). Trong 11 thứ trên, 5 thứ trước có công năng phát sinh thức và thu lấy cảnh nên gọi là 5 căn; 5 thứ kế tiếp là cảnh giới sở duyên(đối tượng) của 5 căn, nên gọi là 5 cảnh; Vô biểu sắc là thiện nghiệp và ác nghiệp nương theo sự phát động của thân, khẩu, là 1 loại sắc pháp vô hình phát sinh trong thân, là nghiệp nhân cảm nhận quả báo khổ, vui, có công năng ngăn điều quấy, dứt điều ác. II. Tâm pháp có 1 thứ: Chỉ cho 6 thức Tâm vương (Phạm: Citta): Tác dụng chung để nhận biết cảnh, do nương vào các căn mà sinh ra. III. Tâm sở hữu pháp gồm 46 thứ. Chia làm 6 nhóm: 1. Biến đại địa pháp (Phạm:Mahàbhùmikà dharmà#), có 10 thứ: -Thụ (Phạm:Vedanà): Tác dụng lãnh nạp 3 cảnh khổ, vui,xả(khôngkhổkhông vui).-Tưởng (Phạm: Saôjĩa): Tác dụng tưởng tượng sự vật. -Tư (Phạm:Cetanà): Tác dụng tạo tác các nghiệp. -Xúc (Phạm:Sparza): Tác dụng tiếp xúc với cảnh. -Dục (Phạm: Chanda): Tác dụng mong cầu.-Tuệ (Phạm:Prajĩà): Tác dụng lựa chọn pháp thiện ác. -Niệm (Phạm:Smfti): Tác dụng ghi nhớ không quên. - Tác ý (Phạm:Manasikàra): Tác dụng khiến tâmsởchú ý đến đối tượng. -Thắng giải (Phạm: Adhimokwa): Tác dụng hiểu rõ sự lí. -Tam ma địa (Phạm: Samàdhi, Hán dịch: Định): Tác dụng khiến tâm, tâm sở chuyên chú vào một cảnh không tán loạn. Mười thứ trên đây cùng khởi lên với tất cả tâm vương thiện, bất thiện, vô kí, cho nên gọi là Biến đại địa pháp, gọi tắt là Đại địa pháp. 2. Đại thiện địa pháp(Phạm:Kuzalamahà-bhùmikà-dharmà#), gồm 10 thứ: -Tín (Phạm:Zradhà): Tác dụng làm cho tâm, tâm sở lắng trong thanh tịnh. -Bất phóng dật (Phạm: Apramàda): Tác dụng dứt ác làm thiện. -Khinh an (Phạm: Prazrabdhi): Tác dụng khiến thân tâm nhẹ nhàng, an ổn. -Hành xả (Phạm:Upekwà): Tác dụng khiến thân tâm lìa bỏ ý nghĩ chấp trước các pháp và trụ trong bình đẳng, là xả thuộc về Hành uẩn. -Tàm (Phạm:Hrì): Tác dụng tự thẹn khi tạo tội. -Quí (Phạm:Apatràpya): Tác dụng xấu hổ với người khác khi mình tạo tội. -Vô tham (Phạm: Alobha): Tác dụng không tham đắm cảnh thuận. -Vô sân (Phạm: Advewa): Tác dụng không tức giận trước cảnh nghịch. -Bất hại (Phạm:Ahiôsà): Tác dụng không gây tổn hại cho người khác. -Cần (Phạm: Vìrya): Tác dụng siêng năng tu tập các thiện pháp. Mười pháp trên đây khởi lên đồng loạt với tất cả tâm thiện, nên gọi là Đại thiện địa pháp. 3. Đại phiền não địa pháp (Phạm: Kleza-mahà-bhùmikà-dharmà#), gồm 6 thứ: -Vô minh (Phạm: Avidyà): Lấy ngu si làm tính. -Phóng dật (Phạm:Pramàda): Tác dụng buông lơi đối với pháp ác. -Giải đãi (Phạm:Kausìdya): Tác dụng thờ ơ đối với pháp thiện. -Bất tín (Phạm:Azraddhya): Tác dụng không làm cho tâm lắng trong thanh tịnh. -Hôn trầm (Phạm:Styàna): Tác dụng khiến cho tâm mờ tối, nặng nề. -Trạo (điệu) cử (Phạm: Auddhatya): Tác dụng làm cho tâm xao động. Sáu thứ trên thường khởi lên với tâm ác và tâm hữu phú vô kí, nên gọi là Đại phiền não địa pháp. 4. Đại bất thiện địa pháp (Phạm: Akuzala-mahà-bhùmikau-dharmà#), gồm có 2 thứ: -Vô tàm (Phạm: Ahrìkya): Tác dụng không biết tự thẹn. -Vô quí (Phạm: Anapatràpya): Tác dụng không xấu hổ với người khác. Hai pháp trên đây tương ứng với tất cả tâm bất thiện, nên gọi là Đại bất thiện địa pháp. 5. Tiểu phiền não địa pháp (Phạm: Parìtta-kleza-bhùmikà-dharmà#), gồm 10 thứ: -Phẫn (Phạm:Krodha): Tác dụng làm cho dấy lên sự giận dữ. -Phú (Phạm: Mrakwa): Tác dụng che giấu lỗi của mình. -Khan (Phạm: Màtsarya): Tác dụng bỏn sẻn đối với việc bố thí tiền của và giáo pháp. -Tật (Phạm:Ìrwyà): Tác dụng ganh ghét. -Não (Phạm:Pradàsa): Tác dụng khư khư giữ các việc xấu ác, làm não loạn thân tâm.-Hại (Phạm:Vihiôsà): Tác dụng gây tổn hạichongười khác. -Hận (Phạm:Upanàha): Tác dụng kết oán không buông tha đối với cảnh phẫn hận.-Siểm (Phạm:Màyà): Tác dụng nịnh nọt làm cho tâm, tâm sở xiên xẹo. -Cuống (Phạm:Zàthya): Tác dụng gạt gẫm người khác. -Kiêu (Phạm: Mada): Tác dụng kiêu căng, ngạo mạn, khinh thường người khác. Mười pháp trên đây chỉ do giai vị Tu đạo đoạn trừ và cũng chỉ tương ứng với vô minh của ý thức, hiện hành riêng rẽ, chứ không khởi 10 pháp cùng một lượt, vì thế gọi là Tiểu phiền não địa pháp. 6. Bất định địa pháp(Phạm:Aniyatabhùmikà-dharmà#), gồm có 8 thứ: -Tầm (Phạm: Vitarka): Tác dụng tìm tòi sự lí một cách thô tháo. -Tứ (Phạm: Vicara): Tác dụng dò xét sự lí một cách tế nhị. -Thụy miên (Phạm: Middha): Tác dụng làm cho tâm, tâm sở mờ tối. -Ác tác (Phạm:Kaukftya): Tác dụng nghĩ nhớ đến việc đã làm khiến cho tâm truy hối. -Tham (Phạm: Ràya): Tác dụng tham đắm cảnh thuận ý. -Sân (Phạm:Pratigha): Tác dụng bực tức đối với cảnh trái ý. -Mạn (Phạm: Mana): Tác dụng khiến tâm cao ngạo, lấn lướt người khác. -Nghi (Phạm: Vicikitsà): Tác dụng khiến tâm do dự không quyết đối với chân lí. Tám pháp nói trên không thuộc về 5 nhóm trước, nhưng chung cho cả 3 tính thiện, ác, vô kí, cho nên gọi là Bất định địa pháp. IV. Tâm bất tương ứng hành pháp gồm 14 thứ: 1. Đắc (Phạm: Pràpti): Thực pháp khiến cho được các pháp nơi thân. 2. Phi đắc (Phạm:Apràpti): Thực pháp khiến cho các pháp lìa khỏi thân. 3. Chúng đồng phận (Phạm: Nikàyasa-bhàga): Thực pháp tùy theo chỗ hướng tới mà khiến cho được cùng một quả báo. 4. Vô tưởng quả (Phạm: Àsaôjĩika): Thực pháp làm cho tâm, tâm sởở cõi trời Vô tưởng đều diệt. Đây là Niết bàn do ngoại đạo chấp trước. 5. Vô tưởng định (Phạm: Àsaôjĩisamàpatti): Định vô tâm tu được nhờ chứng đắc Vô tưởng quả. 6. Diệt tận định (Phạm: Nirodhasamàpatti): Định vô tâm mà bậc thánh Bất hoàn hoặc A la hán nhập vào để tạm thời ngưng mọi hoạt động tâm lí. 7. Mệnh căn (Phạm: Jivitendriya): Thực pháp duy trì thọ mệnh. 8. Sinh (Phạm:Jàti): Thực pháp làm cho các pháp sinh khởi. 9. Trụ (Phạm:Sthiti): Thực pháp làm cho các pháp không đổi dời. 10. Dị (Phạm:Anyathàtva): Thực pháp làm cho các pháp suy hao, đổi khác. 11. Diệt (Phạm:Vyaya): Thực pháp làm cho các pháp tiêu diệt hết. 12. Danh thân (Phạm: Nàma-kàya): Tên gọi như sắc, thanh... 13. Cú thân (Phạm: Pada-kàya): Chỉ cho các câu nói như Các pháp là vô thường. 14. Văn thân (Phạm: Vyaĩjana-kàya): Chỉ cho văn tự là chỗ nương của danh thân và cú thân, vì có 2 thành phần trở lên nên gọi là Thân. Mười bốn thứ nói trên là các pháp chẳng phải sắc chẳng phải tâm, cũng không tương ứng với tâm, cho nên gọi là Tâm bất tương ứng hành pháp. V. Vô vi pháp có 3 thứ: 1. Trạch diệt vô vi (Phạm: Pratisaôkhyà-nirodha): Pháp tịch diệt do sức lựa chọn của chínhtrí mà được. 2. Phi trạch diệt vô vi (Phạm: Apratisaôkhỳa-nirodha): Pháp tịch diệt không phải nhờ sức lựa chọn của chính trí, chỉ do thiếu duyên sinh mà hiện. 3. Hư không vô vi (Phạm:Àkàza): Lấy vô ngại làm tính, dung chứa muôn vật và trùm khắp mọi nơi. Ba pháp này không có sự tạo tác của 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, cho nên gọi là Vô vi pháp. Luận Đại tì bà sa quyển 42 nói về 3 pháp vô vi hơi khác với 3 pháp ở đây. Cũng có chỗ chia 75 pháp làm Sắc phi sắc, Hữu kiến vô kiến, Hữu đối vô đối.
thất thập nhị thiên
(七十二天) Chỉ cho 72vị trời do kết hợp Thái sơn phủ quân, Ngũ đạo đại thần, Đại cát tường thiên và 69 vị trời mà thành. Sáu mươi chín vị trời tức là: Bất động, 4Đại minh vương, 12 vị trời, 7 sao Bắc đẩu, 12 cung thần, 5 sao và 28 sao.
thất thập nhị tự
(七十二字) Bảy mươi hai chữ. Thủa kiếp sơ, Phạm thiên được 72 chữ, đem xuống dạy cho thế gian, nhưng người thế gian đều không tin, Phạm thiên bèn nuốt 70 chữ chỉ giữ lại 2 chữ để ở 2 bên trong miệng, tức là chữ A và chữ Âu. Các sách của ngoại đạo đều dùng 2 chữ này đặt ở đầu quyển, A nghĩa là không, Âu nghĩa là có, tức tất cả các pháp đều không ngoài 2 nghĩa có và không. Cho nên 2 chữ này được viết ở đầu sách để biểu thị tướng tốt lành.
thất thập nhị uy nghi
(七十二威儀) Chỉ cho uy nghi của sa di, như phép thờ thầy, phép bạch thầy, phép nhập chúng... tất cả có 72 pháp .
thất thập tam tôn
The "Diamond world" mandala, or pantheon, of the esoteric sect, containing seventy three honoured ones.
thất thập thất trí
(七十七智) Bảy mươi bảy trí. Trong 12 chi duyên khởi, trừ Vô minh, 11 chi còn lại, mỗi chi đều y cứ vào trí quán xét thuận nghịch 3 đời và pháp tính thường trụ, thì mỗi chi trong 11 chi đều có 7 trí, cộng chung thành 77 trí. Bảy trí là trước quán xét do duyên sinh ở đời này mà có lão tử, là trí biết duyên sinh lão tử; kế đến quán xét chẳng pháp nào không có duyên sinh mà có lão tử, là trí biết chẳng lão tử nào mà không có duyên sinh, cứ như thế ở quá khứ, vị lai cũng đều quán 2 quán thuận, nghịch; lại biết khắp pháp sinh khởi, biết có Phật, không Phật, pháp tính thường trụ, đó là trí Pháp trụ. Như vậy, trong 11 chi, lấy chi Sinh làm thí dụ thì 7 trí là: Trí biết duyên sinh lão tử, trí biết chẳng lão tử nào không có duyên sinh, trí biết duyên sinh lão tử ở quá khứ, trí biết ở quá khứ không lão tử nào mà không có duyên sinh,trí biết duyên sinh ở vị lai, trí biết ở vị lai không lão tử nào mà chẳng có duyên sinh và trí Pháp trụ. Mười chi còn lại mỗi chi cũng đều có 7 trí, tổng cộng 77 trí.Tên của mỗi trí đều được ghi rõ ràng, đầy đủ trong luận Thành thực quyển 15, 16.
thất thắng giả tán
Xem Thất Phật Tán Bái Già Bà kinh.
thất thắng sự
The seven surpassing qualities of a Buddha. Also thất chủng vô thượng. They are his body or person, his universal law, wisdom, perfection, destination (nirvàna), ineffable truth, and deliverance.
; (七勝事) Cũng gọi Thất thắng pháp, Như lai thất thắng sự, Thất chủng tối thắng, Thất chủng vô thượng. Chỉ cho 7 việc thù thắng chỉ Phật mới có. Đó là: 1. Thân thắng:Thân Như lai được trang sức bằng 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, sức mạnh của một lóng xương có thể địch lại sức mạnh của 1 vạn 8 nghìn con hương tượng Y la bát na, chúng sinh vui mừng nhìn thân Như lai không hề nhàm chán. 2. Như pháp trụ thắng: Như lai an trụ đại đạo như pháp mà tu chính hạnh. Tức Như lai đã tự được lợi ích, lại hay thương xót cứu giúp, làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh.3. Trí thắng: Như lai thành tựu 4 trí vô ngại, thù thắng vô thượng. 4. Cụ túc thắng: Như lai viên mãn đầy đủ chính giới, chính mệnh, chính hạnh và chính kiến thù thắng vô thượng. 5. Hành xứ thắng: Như lai tu 3 Tam muội, 9 Định thứ đệ... mà Thanh văn và Duyên giác không thể sánh kịp. 6. Bất khả tư nghị thắng: Sức uy thần của Như lai không thể nghỉ bàn, vượt trên tất cả. 7. Giải thoát thắng: Như lai đã đoạn trừ vĩnh viễn phiền não chướng và sở tri chướng, đồng thời dứt hẳn tập khí của tất cả phiền não, đối với trí và duyên đều được tự tại. Bảy thắng sự trên, theo thứ tự, tương đương với 7 vô thượng: Thân vô thượng, Đạo vô thượng, Trí vô thượng, Chính vô thượng, Trụ vô thượng, Thần lực vô thượng và Đoạn vô thượng nói trong luận Du già sư địa (Biệt dịch Địa trì luận quyển 3).
Thất thức
七識; C: qīshì; J: shichishiki;|1. Bảy thức, ngoại trừ A-lại-da thức (阿頼耶識). Chuyển thức (轉識); 2. Đệ thất thức (第七識): Thức thứ bảy, Mạt-na thức (s: manas), nơi có khuynh hướng chấp giữ bản ngã.
thất thức thập danh
(七識十名) Mười tên gọi của thức Mạt na thứ bảy. Thức Mạt na có 10 tên gọi khác nhau, đó là: Thất thức, Chuyển thức, Vọng tướng thức, Tương tục thức, Vô minh thức, Giải thức, Hành thức, Vô úy thức, Hiện thức và Trí chướng thức.
thất thức trụ
Sapta-vijāna-sthitayah (S) Thất thức xứ Bảy chỗ mà thần thức loài hữu tình thích dừng trụ.
; (七識住) Phạm: Saptavijĩàna-sthitaya#. Cũng gọi Thất thức xứ, Thất thức chỉ xứ, Thất thần thức chỉ xứ. Chỉ cho 7 chỗ mà thần thức của loài hữu tình thích dừng ở tùy theo quả báo thụ sinh trong 3 cõi. Đó là: 1. Thân di tưởng di thức trụ(cũng gọi Thân dị tưởng di như nhân nhất phần thiên): Chỉ cho thế giới của loài người, 6 tầng trời cõi Dục và trừ các vị trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc ở kiếp đầu tiên; hữu tình ở những nơi này thân tướng, dung mạo đều khác, các ý tưởng khổ, vui, không khổ không vui cũng đều khác nhau, nên gọi Thân dị, Tưởng dị. 2. Thân dị tưởng nhất thức trụ(cũng gọi Thân dị tưởng nhất như Phạm chúng thiên vị kiếp sơ khởi): Chỉ cho tầng trời Phạm chúng thuộc Sơ thiền cõi Sắc ở kiếp đầu tiên; hữu tình ở cõi này đều tự tưởng rằng mình do Đại phạm vương sinh ra, Đại phạm vương cũng tưởng rằng Phạm chúng ở đây đều do mình sinh ra. Vì cùng chấp mộtnhân không có tưởng khác, nên gọi là Tưởng nhất; nhưng thân hình của Đại phạm vương cao lớn, dung mạo, uy đức, ngôn ngữ, ánh sáng, áo mũ... mỗi mỗi đều khác với Phạm chúng, nên gọi là Thân dị. 3. Thân nhất tưởng dị thức trụ(cũng gọi Thân nhất tưởng dị như Cực quang tịnh thiên): Chỉ choĐệ nhị thiềncủacõi Sắc. Thân tướng, dung mạo củahữu tình ở cõi này không khác nhau, tưởng vui và tưởng không khổ không vui xen lẫn nhau, nên gọi là Thân nhất tưởng dị. 4. Thân nhất tưởng nhất thức trụ(cũng gọi Thân nhất tưởng nhất như Biến tịnh thiên): Chỉ choĐệ tam thiền thuộc cõi Sắc; hữu tình ở cõi này thân tướng không khác nhau và chỉ có ý tưởng vui thôi, nên gọi là Tưởng nhất. 5. Không vô biên xứ thức trụ: Vượt ngoài tất cả các cõicó sắc chất. 6. Thức vô biên xứ thức trụ: Vượt ngoài tất cả các cõi Không vô biên. 7. Vô sỡ hữu xứ thức trụ: Vượt ngoài tất cả các cõi Thức vô biên. Ba thức trụ sau là 3 tầng trời dưới của cõi Vô sắc. Bảy nơi nói trên là chỗ an trụ của thức, là những nơi mà loài hữu tình đều mong được sinh đến để an trụ, cho nên gọi là Thức trụ.
thất tinh như ý luân
(七星如意輪) Chỉ cho Quán âm Như ý luân có kèm theo 7 ngôi sao. Bảy sao gồm: Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh, Vũ khúc vá Phá quân. Bí pháp thờ Thất tinh Như ý luân để tu, gọi là Thất tinh Như ý tu pháp. Cứ theo kinh Thất tinh Như ý luân bí mật yếu, vào thời đức Phật tại thế, nước Câu thi la dấy binh vây thành Ca di, vua Ba tư nặc liền saisứđến xin Phật cứu giúp, Phật bèn dạy lập hỏa đàn thất tinh trong đạo tràng Như ý bảo luân ban đa la, làm đúng như pháp một ngày một đêm, bọn giặc ngoại xăm tự nhiên rút lui. Y theo đó, người ta thường tu pháp này để đẩy lui quân địch.
thất tri
(七知) Chỉ cho phạm hạnh biết đầy đủ bảy pháp lành. Cứ theo phẩm Phạm hạnh trong kinh Niết bàn quyển 15 (bản Bắc), trên hội Niết bàn, đức Phật bảo các vị Bồ tát rằng trụ trong Đại thừa biết 7 pháp lành được gọi là phạm hạnh đầy đủ. Thất tri gồm: 1. Tri pháp: Biết pháp năng thuyên 12 bộ kinh. 2. Tri nghĩa: Biết nghĩa do tất cả văn tự ngôn ngữ trong kinh giảng nói. 3. Tri thời: Biết rõ lúc nào nên tu tịch tĩnh, tinh tiến, xuất định, cúng dường Phật, sư trưởng, bố thí, nhẫn nhục, bát nhã... 4. Tri túc: Biết dừng đủ đối với việc ăn mặc, thuốc men, đi đứng, ngồi nằm... 5. Tri tự: Biết rõ giới pháp, đa văn, trí tuệ, chính niệm, thiệnhạnhcủa mình. 6. Tri chứng: Biết phân biệt các chúng Sát lợi, Bà la môn, cư sĩ, sa môn... để tùy cơ nói pháp, hỏi đáp với họ. 7. Tri nhân tôn ti: Biết rõ sự khác nhau giữa những người có lòng tin và những người không có lòng tin, cũng biết sự tôn ti giữa tự độ và tha độ.
thất tri kinh
(七知經) Cũng gọi Thất trí kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Kinh này có 4 bản dịch khác nhau, ngoài bản dịch của ngài Chi khiêm, 3 bản còn lại là: 1. A. (Aíguttara-nikàya-Tăng chi bộ) VII.64 Dhammaĩĩù. 2. Kinh Thiện pháp trong phẩm Thất pháp của Trung a hàm (Đại chính tạng tập 1). 3. PhẩmĐẳng pháp thứ 39 trong kinh Tăng nhất a hàm (Đại chính tạng tập 2). Trong 4 bản dịch trên, bản dịch này của ngài Chi khiêm là ngắn nhất, nội dung nói rằng nếu tỉ khưu biết rõ 7 pháp (tri pháp, tri nghĩa, tri thời, tri tiết, tri kỉ, tri chúng, tri nhân) thì sẽ được chứng ngộ.
Thất Trân
(七珍): hay Thất Bảo (七寶), tức là 7 loại trân bảo quý giá của thế gian. Các kinh điển giải thích về 7 loại trân bảo này có khác nhau, như A Di Đà Kinh (阿彌陀經), Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 10, v.v., giải thích Thất Bảo là: (1) Vàng; (2) Bạc; (3) Lưu Ly (瑠璃、琉璃), thuộc loại ngọc xanh; (4) Pha Lê (頗梨), ý dịch là Thủy Tinh, chỉ loại Thủy Tinh màu đỏ, trắng, v.v.; (5) Xa Cừ (車渠), trong các kinh điển thường gộp chung loại này với Mã Não (碼瑙), chỉ cho loại San Hô trắng; (6) Xích Châu (赤珠, hạt châu đỏ), hay Xích Chơn Châu (赤眞珠); (7) Mã Não, loại ngọc có màu xanh đậm. Bên cạnh đó, Pháp Hoa Kinh (法華經) quyển 4 cho Thất Bảo là: Vàng, Bạc, Lưu Ly, Xa Cừ, Mã Não, Chơn Châu và Mân Côi (玫瑰). Như trong Di Đà Phật Minh (彌陀佛銘) của Lương Trầm Ước (梁沉約, ?-?) thời Nam Triều có câu: “Nguyện du bỉ quốc, thần kiều mộ tưởng, Thất Trân phi tiện, tam đạt tư ngưỡng (願遊彼國、晨翹暮想、七珍非羨、三達斯仰, nguyện rong chơi nước ấy, ngày trông đêm nhớ, bảy báu chẳng ham, ba lần đạt đến sự khát ngưỡng).” Hay trong Ngọc Thanh Hành (玉清行) của Liễu Bí (柳泌, ?-820) nhà Đường lại có câu: “Thất Trân phi mãn tòa, Cửu Dịch chước như tuyền (七珍飛滿座、九液酌如泉, Bảy Báu bay đầy tòa, Chín Dịch rót như suối).” Trong Tịnh Độ Tùy Học (淨土隨學) quyển hạ của Cổ Côn Pháp Sư (古崑法師) nhà Minh có câu: “Nhất thanh Phật hiệu vi vi tụng, Thất Bảo Liên Hoa đại đại khai (一聲佛號微微誦、七寶蓮花大大開, một danh hiệu Phật tụng nho nhỏ, hoa sen bảy báu lớn dần khai).”
Thất trân
七珍; C: qīzhēn; J: shichichin, shicchin;|Bảy thứ châu báu, bảy thứ ngọc quý, có nghĩa như Thất bảo (七寶).
thất trí
The seven knowins - to know the Law, its meaning, the times for all duties, moderation, oneself, the different classes of people, and people as individual.
Thất trùng hàng thọ
(七重行樹): bảy lớp hàng cây, từ xuất hiện trong A Di Đà Kinh (阿彌陀經). Con số 7 ở đây chỉ cho các phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới và ở giữa; thể hiện ý nghĩa viên mãn. Theo Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) nhà Minh giải thích trong A Di Đà Kinh Yếu Giải (阿彌陀經要解, 1 quyển, Taishō No. 1762), là “Thất trùng biểu thất khoa đạo phẩm (七重表七科道品, bảy lớp biểu thị cho bảy khoa đạo phẩm).” Như vậy, Thất Khoa Đạo Phẩm ở đây là 37 Phẩm Trợ Đạo, gồm: (1) Tứ Niệm Xứ (s: catvāri smṛti-upasthānāni, p: cattāro sati-patṭḥānāni, 四念處), tức Thân Niệm Xứ (s: kāya-smṛty-upasthāna, p: kayekāyānupassi viharati atāpi sampajāno satimā, 身念處), quán thân thể là bất tịnh; Thọ Niệm Xứ (s: vedanā-smṛty-upasthāna, p: vedanāsu vedanānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 受念處), quán sự thích ghét của các tác dụng thọ cảm, hết thảy đều là khổ; Tâm Niệm Xứ (s: citta-smṛty-upasthāna, p: citte cittānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 心念處), quán tâm là sinh diệt, vô thường; Pháp Niệm Xứ (s: dharma-smṛty-upasthāna, p: dhammesu dhammānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 法念處), quán hết thảy các pháp là vô ngã. (2) Tứ Chánh Cần (s: catvāri prahāṇāni, p: cattāri sammappadhānāni, 四正勤), tức siêng năng tinh tấn đoạn trừ các điều ác đã sanh; siêng năng tinh tấn làm cho không sanh khởi các điều ác chưa sanh; siêng năng tinh tấn làm cho sanh khởi các điều thiện chưa sanh; siêng năng tinh tấn làm cho tăng trưởng các điều thiện đã sanh. (3) Tứ Như Ý Túc (s: catur-ṛddhipāda, p: catu-iddhipāda, 四如意足), tức Dục Như Ý Túc, Tinh Tấn Như Ý Túc, Tâm Như Ý Túc, Tư Duy Như Ý Túc. (4) Ngũ Căn (s: pañcendriyāni, 五根), tức Tín Căn (s: śradhendriya, 信根), niềm tin vào Tam Bảo, đạo lý Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), v.v.; Tấn Căn (s: vīryendriya, 進根), hay còn gọi là Tinh Tấn Căn, siêng năng dũng mãnh tu các pháp lành; Niệm Căn (s: smṛtīndriya, 念根), nghĩ nhớ đến các pháp đúng; Định Căn (s: samādhīndriya, 定根), năng lực khiến cho tâm dừng lại một chỗ, không bị tán loạn; Tuệ Căn (s: prajñendriya, 慧根), nhờ có định mà trí tuệ quán xét sanh khởi, cho nên biết được như thật chân lý. (5) Ngũ Lực (s: pañca-bala, 五力), tức Tín Lực (s: raddhā-bala, 信力), năng lực tin tưởng; Tinh Tấn Lực (s: vīrya-bala, 精進力), năng lực cố gắng tinh tấn; Niệm Lực (s: smṛti-bala, 念力), năng lực bảo trì; Định Lực (s: samādhi-bala, 定力), năng lực chú tâm tập trung vào Thiền định; Tuệ Lực (s: prajñā-bala, 慧力), năng lực chọn lọc trí tuệ. (6) Thất Giác Chi (s: saptapodhyaṅgāni, p: satta-pojjharigā, 七覺支), tức Trạch Pháp Giác Chi (s: dharma-pravicaya-sambodhyaṅga, 擇法覺支), nghĩa là chọn lựa sự đúng sai của pháp, lấy cái đúng và bỏ đi cái sai; Tinh Tấn Giác Chi (s: virya-sambodhyaṅga, 精進覺支), là chọn lựa pháp đúng đắn và tinh tấn chuyên tâm tu tập pháp ấy; Hỷ Giác Chi (s: srīti-sambodhyaṅga, 喜覺支), an trú trong pháp vui đúng đắn; Khinh An Giác Chi (s: prasrabdhi-sambodhyaṅga, 輕安覺支), là đoạn trước tà ác đạt được sự nhẹ nhàng an lạc của thân tâm và tăng trưởng thiện căn; Xả Giác Chi (s: supeksā-sambodhyaṅga, 捨覺支), là xả bỏ đi tâm phan duyên với ngoại cảnh và quay trở về sống bình an. (7) Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道), tức Chánh Kiến (s: samyag-dṛṣṭi, p: sammā-diṭṭhi, 正見); Chánh Tư Duy (s: samyak-saṃkalpa, p: sammā-saṅkappa, 正思惟); Chánh Ngữ (s: samyag-vāc, p: sammā-vācā, 正語); Chánh Nghiệp (s: samyakkarmanta, p: sammā-kammanta, 正業); Chánh Mạng (s: samyag-ājīva, p: sammā-ājīva, 正命); Chánh Tinh Tấn (s: samyag-vyāyāma, p: sammā-vāyāma, 正精進); Chánh Niệm (s: samyak-smṛti, p: sammā-sati, 正念); Chánh Định (s: samyak-samādhi, p: sammā-samādhi, 正定). Cho nên thất trùng hàng thọ còn có nghĩa là bảy lớp chồng chất các pháp môn tu tập giải thoát, nhờ vậy hành giả mới có thể an nhiên, tự tại.
thất trạch tâm
(室宅心) Tâm nhà cửa. Tướng tâm giữ giới, tu thiện để phòng hộ tự thân; giống như người xây cất nhà cửa để che chở cho mình, nên gọi là Thất trạch tâm, 1 trong các tâm tự lợi của Thanh văn, là tâm thứ 35 trong 60 tâm.Phẩmtrụ tâm trong kinh Đại nhật (Đại 18, 3 thượng) nói: Thấttrạchtâm là gì? Là pháp tu theo để tự giữ mình. Hành giả nên dùng Hóa tha tâm phẩm cứu giúp tất cả chúng sinh làm phương pháp đối trị tâm này.
Thất trị pháp
xem bảy hình thức yết-ma.
thất trọng hành thụ
(七重行樹) Chỉ cho 7 lớp hàng cây, là loại cây báu ở thế giới Cực lạc. Kinh A di đà (Đại 12, 346 hạ) nói: Cõi nước Cực lạc có 7 lớp lan can, 7 lớp lưới giăng, 7 lớp hàng cây đều là các vật báu bao quanh, vì thế cõi nước ấy có tên là Cực lạc.Kinh Quán vô lượng thọ cũng có nói về quán tưởng cây báu, nhưng không thuyết minh cụ thể về thất trùng. Quán Vô lượng thọ kinh sớ quyển 3 của ngài Thiện đạo đời Đường cho rằng thất trùng không phải là 7 lớp cây báu mà chỉ cho 1 cây, từ gốc thân cho đến hoa quả đều bằng 7 lớp báu: Vàng ròng, vàng tía, bạc trắng, mã não, san hô, bạch ngọc và chân châu.
Thất trục
(七軸): bảy quyển, như trong bài kệ xưng tán Pháp Hoa Kinh có câu: “Lục vạn dư ngôn thất trục trang, vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng (六萬餘言七軸裝、無邊妙義廣含藏, hơn sáu vạn lời thành bảy quyển, vô biên nghĩa mầu rộng hàm tàng).” Hay trong Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Thập Di Kệ Tụng (古林清茂禪師拾遺偈頌, CBETA No. 1413) quyển Hạ cũng có câu: “Thất trục Liên Kinh lục vạn ngôn, Linh Sơn nhất hội thượng y nhiên, hoàng kim tự hữu hoàng kim giá, bảo sở phân minh tại mục tiền (七軸蓮經六萬言、靈山一會尚依然、黃金自有黃金價、寶所分明在目前, bảy quyển Liên Kinh sáu vạn lời, Linh Sơn nhất hội vẫn muôn đời, vàng ròng vốn có vàng ròng giá, chỗ báu rõ ràng trước mắt mình).”
thất tuỳ miên
(七隨眠) Cũng gọi Thất sử. Chỉ cho 7 Tùy miên. Trong 6 tùy miên (tham, sân, si, mạn, nghi, kiến) thì Tham tùy miên được chia làm 2 thứ là Dục tham và Hữu tham cộng chung là 7 tùy miên. Tùy miên là tên khác của phiền não căn bản, theo đuổi hữu tình mà sinh khởi và vì hình tướng của các phiền não này rất nhỏ nhiệm nên gọi là Tùy miên. Dục tham là tham đắm cảnh 5 dục vi diệu ở ngoài cõi Dục; Hữu tham là tham của cõi Sắc và cõi Vô sắc, tức tham đắm thiền định và y thân của 2 cõi ấy, cho nên gọi là Hữu tham.
Thất tài
七財; S: saptadhanāṇi; cũng được gọi là Thất thánh tài;|Bảy của báu của một tu sĩ đạo Phật, bao gồm: |1. Tín tài (信財; śraddhādhana): lòng tin vững chắc là của quý; 2. Giới tài (戒財; śīladhana): lấy giới luật thanh tịnh làm của báu; 3. Tàm tài (慚財; hrīdhana): cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh là tài của; 4. Quý tài (愧財; apatrāpya-, apatrapādhana): biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 5. Văn tài (聞財; śrutadhana): lấy việc nghe nhiều lời thuyết pháp, sự hiểu rộng làm tài của; 6. Xả tài (捨財) hoặc Thí tài (施財; tyāgadhana): xem bố thí là tài của riêng; 7. Huệ tài (慧財; prajñādhana): Trí huệ là tài của.
thất tài
Sapta-dhanāṇi (S).
Thất tâm giới
七心界; C: qī xīn jiè; J: shichishinkai;|Gồm nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý thức, cộng thêm ý căn (thức thứ bảy). Bảy loại nầy được rút ra từ mười tám giới (Thập bát giới).
Thất tâm 失心
[ja] シツシン shitsushin ||| Scattered mind, loss of mindfulness, loss of spiritual composure. 〔瑜伽論 T 1579.30.622c7〕 => Xao nhãng tâm ý, không chú tâm, tâm không điềm tĩnh.
thất tình
Seven sentiments Gồm: - Hỷ (mừng) - nộ (giận) - ai (đau đớn) - cụ (sợ sệt) - aí (yêu) - ố (ghét) - dục (muốn).
; The seven emotions: hỉ pleasure; nộ anger; ái love; ố hate; ai sorrow; dục desire; lạc joy.
; (七情) Chỉ cho 7 thứ tình cảm của con người. Tình là đầu mối của thị phi, nguồn gốc của lợi hại. Thất tình có 3 thuyết khác nhau:1. Hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục(mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét, muốn). 2. Hỉ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh(mừng, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ, hãi). 3. Hỉ, nộ, ưu, cụ, ái, tăng, dục(mừng, giận, lo, sợ, yêu, ghét, muốn).
thất tình lục dục
(七情六欲) Thất tình chỉ cho 7 thứ tình cảm mà mọi người đều có, đó là mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn. Còn Lục dục, theo luận Đại trí độ quyển 2 là chỉ cho 6 thứ dục vọng của phàm phu đối với người khác phái, đó là: Sắc dục(muốn vì nhan sắc), hình mạo dục(muốn vì vóc dáng), uy nghi dục (muốn vì cử chỉ), ngôn ngữ âm thanh dục (muốn vì giọng nói),tế hoạt dục(muốn vì làn da láng mịn) và nhân tướng dục(muốn vì tướng người khêu gợi); hoặc chỉ cho nhãn dục (muốn vì cặp mắt), nhĩ dục(muốn vì đôi tai), tị dục(muốn vì cáimũi), thân dục(muốn vì thân hình) và ý dục(muốn vì ý hợp). Từ ngữ Thất tình lục dục hiện nay được sử dụng rộng rãi chính là dùng theo từ Lục dục trong kinh điển Phật để chỉ chung cho tình cảm, dục vọng... của con người.
thất tông
Shichi-shŪ (S).
; The seven Japanese sects of Luật Ritsu (J), Pháp tướng Hossò, Tam luận Sanron, Hoa nghiêm Kegon, Thiên thai Tendai, Chân ngôn Shingon, and Thiền Zen.
; (七宗) I. Thất Tông. Chỉ cho 7 tông: Luật, Pháp tướng, Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai, Chân ngôn và Thiền. Tức trong 8 tông bỏ 2 tông Câu xá và Thành thực, rồi thêm Thiền tông mà thành 7 tông. II. Thất Tông. Chỉ cho 7 phái của Thiền tông. Từ Lục tổ Tuệ năng về sau, Thiền tông chia ra 5 phái là Tào động, Vân môn, Pháp nhãn, Lâm tế và Qui ngưỡng, rồi từ Lâm tế lại chia ra 2 phái là Dương kì và Hoàng long, đời sau gọi là Thất tông.
thất tăng
(七僧) Bảy vị tăng giữ các chức vụ quan trọng khi cử hành đại pháp hội của giới Phật giáo Nhật bản. Đó là: Giảng sư, Độc sư, Chú nguyện sư, Tam lễ sư, Bái sư, Tán hoa sư vàĐường đạt. Đại pháp hội do 7 vị tăng này cử hành được gọi là Thất tăng pháp hội.
thất tăng trai
(七僧齋) Theo phép của các nước Tây vực, đem tiền tài, hoặc ruộng vườn bố thí cho chùa viện, nhưng trai thực thì thường chỉ cúng cho 7 vị tăng, gọi là Thất tăngtrai.
thất tướng lân mẫn
(七相憐愍 ) Chỉ cho 7 tướng thương xót của Bồ tát đối với các loài hữu tình. Theo phẩm Như pháp trụ định tâm trong kinh Bồ tát thiện giới quyển 8, Bồ tát đối với các loài hữu tình khởi 7 tướng thương xót là: 1. Vô úy lân mẫn: Bồ tát đối với hữu tình dùng năng lực không sợ hãi, khởi tâm thương xót, tùy theo 3 nghiệp thân, ngữ, ý của chúng sinh mà mang lại lợi ích an vui cho họ. 2. Chân thực lân mẫn: Bồ tát thương xót và làm lợi ích cho tất cả hữu tình một cách chân thực, đúng pháp, chứ không vì phiền não ái trước, không bao giờ khuyến hóa các hữu tình theo những điều phi pháp, phi luật, phi hiền thiện hạnh, trái với chân lí. 3. Bất sầu lân mẫn: Bồ tát ân cần thương xót các hữu tình, tùy nhu cầu của họ mà phát khởi tất cả sự nghiệp lợi ích mà không lo buồn, hối hận. 4. Bất cầu lân mẫn:Đối với các hữu tình, Bồ tát không đợi họ cầu xin, mà tự mình khởi tâm thương xót, làm lợi ích cho họ.5. Bất ái lân mẫn: Bồ tát không khởi tâm ái nhiễm mà thương xót các hữu tình, làm lợi ích cho họ mà không cầu báo ân, cũng không mong quả báo ở đương lai. 6. Quảng đại lân mẫn: Tâm thương xót của Bồ tát rất sâu rộng, dù gặp nhiều khó khăn, bất lợi, nhưng thà tự mình chịu khổ, chứ không bỏ sự nghiệp mưu lợi ích an vui cho chúng sinh. 7. Bình đẳng lân mẫn: Bồ tát dùng các tướng trạng công đức thương xót đối với các hữu tình như đã nói trên để làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh một cách bình đẳng, không phân biệt.
thất tịnh hoa
(七淨華) Cũng gọi Thất tịnh. Dùng hoa để ví dụ cho 7 đức tính thanh tịnh. Theo ngài Cưu ma la thập thì thất tịnh hoa là: 1. Giới tịnh: Trước sau đều thanh tịnh. Tức mọi hành vi của thân, khẩu đều không có lỗi xấu nhỏ nào, trong tâm không khởi ý nghĩ ô nhiễm, cũng không chấp tướng, cũng không nguyện thụ sinh. Đem sự can đảm không sợ hãi đến cho người, không hạn cuộc chúng sinh nào. 2. Tâm tịnh: Tâm Tam thừa chế phục phiền não, tâm đoạn kết, cho đến tâm Tam thừa lậu tận, gọi là Tâm tịnh. 3. Kiến tịnh: Thấy tính chân thực của các pháp, không sinh khởi vọng tưởng. 4. Độ nghi tịnh: Tức kiến giải sâu sắc, dứt hết nghi hoặc. 5. Phân biệt đạo tịnh:Tức khéo phân biệt phải quấy, hợp đạo thì làm, không đúng đạo thì bỏ. 6. Hành đoạn tri kiến tịnh:Hành chỉ cho 4 hành khổ khó, khổ dễ, vui khó, vui dễ; Đoạn là đoạn trừ các kết hoặc. Tức người chứng Vô học tận trí, Vô sinh tríthìthấy biết được những gì nên thực hành, những gì nên đoạn trừ, đều thông suốt một cách rõ ràng. 7. Niết bàn tịnh. Ngoài ra, theo Duy ma nghĩa kí quyển 3, phần cuối của ngài Tuệ viễn đời Tùy thì Thất tịnh đức thanh tịnh như hoa, vì thế gọi là Thất tịnh hoa. Hoa này chỉ lấy nghĩa thanh tịnh. Trong Thất tịnh đức thì Giới tịnh, Định tịnh, Kiến tịnh, Độ nghi tịnh và Đạo phi đạo tịnh trong Đại, Tiểu thừa đều giống nhau, còn 2 tịnh đức sau thì hơi khác. Trong pháp Tiểu thừa, tịnh đức thứ 6 là Hành tịnh, tịnh đức thứ 7 là Hành đoạn trí tịnh. Còn trong pháp Đại thừa thì tịnh đức thứ 6 là Hành đoạn trí tịnh, tịnh đức thứ 7 là Tư lương bồ đề phần pháp thượng thượng tịnh. Duy ma kinh lược sớ quyển 9 của ngài Trạm nhiên đời Đường phối hợp Thất tịnh hoa với Bát chính đạo và Hành vị tam đạo.
thất tối thắng
(七最勝) Chỉ cho 7 điều tối thắng. Tất cả các hạnh như bố thí... không phải đều là ba la mật đa, mà phải có tối thắng(hơn hết) mới thành Ba la mật đa. Thất tối thắng là: 1. An trụ tối thắng: An trụ trong chủng tính Bồ tát. 2. Y chỉ tối thắng: Nương tựa vào tâm đại bồ đề. 3.Ýquả tối thắng: Thương xót tất cả loài hữu tình. 4. Sự nghiệp tối thắng: Thực hành tất cả sự nghiệp, không giới hạn ở một hạnh nào.5. Xảo thiện tối thắng: Trụ nơi trí vô tướng, rõ suốt tất cả pháp như huyễn như hóa, xa lìa chấp trước. 6. Hồi hướng tối thắng: Hồi hướng về Vô thượng bồ đề. 7. Thanh tịnh tối thắng: Không để bị phiền não chướng và sở tri chướng xen lẫn.
thất tổ
Seven patriarches, tarab dun (T).
; (七祖) Chỉ cho 7 vị Tổ sư truyền thừa pháp thống của các tông. Các tông như Tịnh độ, Hoa nghiêm, Mật giáo... đều có lập thuyết Thất tổ. I. Thất Tổ. Thất tổ của tông Tịnh độ (Liên xã), chỉ cho 7 vị: Lô sơn Tuệ viễn, Trường an Thiện đạo, Nam nhạc Thừa viễn, Trường an Pháp chiếu, Thiếu khang, Diên thọ và Tỉnh thường. Hoặc trừ Thủy tổ Tuệ viễn ra, thêm ngài Tông trách lập thành Thất tổ. Ngoài ra, Tịnh độ chân tông của Nhật bản cũng lập Thất tổ, gọi là Thất cao tổ hoặc Thất cao tăng, chỉ cho 7 vị là các ngài Long thụ, Thiên thân (Thế thân) người Ấn độ, Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo người Trung quốc và ngài Nguyên tín, Pháp nhiên (Nguyên không) người Nhật bản.II. Thất Tổ. Thất tổ của tông Hoa nghiêm, chỉ cho 7 vị: Mã minh, Long thụ, Pháp thuận, Trí nghiễm, Pháp tạng, Trừng quán và Tông mật. Ngày xưa, tông Hoa nghiêm chỉ lập 5 vị Tổ đời Đường, nhưng vì ngài Mã minh soạn luận Đại thừa khởi tín, ngài Long thụ soạn luận Thập trụ tì bà sa, là các bộ luận hoằng truyền giáo chỉ Hoa nghiêm, cho nên ngài Tịnh nguyên đời Tống vâng sắc lập ngài Mã minh và Long thụ làm 2 vị Sơ tổ mà thành thuyết Thất tổ. III. Thất Tổ. Thất tổ của Mật giáo: Tức 7 vị Tổ là Đại nhật Như lai, Kim cương tát đỏa, Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không và Huệquả. Cũng có chỗ trừ Đại nhật Như lai, Kim cương tát đỏa, thêm ngài Thiện vô úy và ngài Nhất hạnh mà thành lập thuyết Thất tổ.
thất tổ thánh giáo
(七祖聖教) Thánh giáo của 7 vị tổ do Tịnh độ chân tông Nhậtbảnlập ra, là từ gọi chung 13 bộ luận thích về Tịnh độ do 7 vị Tổ soạn thuật. Đó là: 1. Thập trụ tì bà sa luận Dị hành phẩm 1 quyển, Thập nhị lễ 1 quyển của ngài Long thụ.2. Luận Vãng sinhtịnh độ 1 quyển của ngài Thiên thân. 3. Vãng sinh luận chú 2 quyển, Tán A di đà Phật kể 1 quyển của ngài Đàm loan. 4. An lạc tập 2 quyển của ngài Đạo xước. 5. Quán kinh sớ 4 quyển, Pháp sự tán 2 quyển, Quán niệm pháp môn 1 quyển, Vãng sinh lễ tán 1 quyển và Ban chu tán 1 quyển của ngài Thiện đạo. 6. Vãng sinh yếu tập 3 quyển của ngài Nguyên tín. 7. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập của ngài Nguyên không.
thất tụ
(七聚) Cũng gọi Thất phạm, Thất tội tụ, Thất thiên. Tướng phạm giới được chia làm 7 loại, tức tóm thu các giới điều thuộc 5 thiên và ngoài 5 thiên vào làm 7 loại. Đó là: 1. Ba la di (Phạm:Pàràjika): Hán dịch là đoạn đầu (chặt đầu). 2. Tăng già bà thi sa (Phạm: Saôghàvazewa), tức Tăng tàn. Tăng gọi đủ là Tăng già; Tàn là dịch nghĩa của Bà thi sa. 3. Thâu lan giá(Phạm:Sthùlàtyaya), dịch ý là rất chướng ngại cho thiện đạo. 4. Ba dật đề(Phạm:Pàyattika hoặc Pràyazcittika), dịch ý là rơi. 5. Ba la đề đề xá ni (Phạm Pratidezanìya), dịch ý là hướng vào người ấy mà sám hối. 6. Đột cát la(Phạm: Duwkfta), Hán dịch làÁc tác. 7.Ác thuyết(Phạm:Durbhàwita). Thuyết Thất tụ có nhiều điểm khác nhau, như kinh Tì nimẫu quyển 3 dùng Ni tát kì ba dật đề thay choÁc thuyết. Còn luận Luật nhị thập minh liễu thì liệt kê thất tụ là: 1. Ba la di tụ: Gồm 4 Ba la di. 2. Tăng già đê thi sa tụ: Gồm 13 Tăng già đê thi sa. 3. Thâu lan già da tụ: Thâu lan già da do không đủ tính chất của cả 3 tụ sinh ra. 4. Ni tát kì ba la dật ni kha tụ: Gồm 30 Ni tát kì ba la dật ni kha. 5. Ba la dật ni kha tụ: Gồm 90 Ba la dật ni kha. 6. Ba đê để xá ni tụ: Gồm 4 Ba đê để xá ni. 7. Phi lục tụ sở nhiếp tội: Tội và học đối không đủ tính chất của Lục tụ sinh ra.
thất tử
(七子) Bảy người con, là ví dụ cho lòng từ bi của đức Phật. Kinh Đạiniết bàn (bản Bắc) quyển 20 (Đại 12, 481) nói: Ví như một người có bảy đứa con, một trong bảy đứa ấy bị bệnh thì cha mẹ quan tâm đến nó nhiều hơn, chứ không phải yêu thương các conmột cách thiên vị. Đại vương!Như lai cũng thế, đối với các chúng sinh chẳng phải không có tâm bình đẳng, nhưng với người có tội thì tâm nghiêng nặng về người ấy nhiều hơn. Ngoài ra, về thuyết Thất tử còn có các thuyết khác nhau; như có thuyết cho rằng Thất tử là chúng sinh trong 6 đường và người có tội; hoặc cho rằng Thất tử là Bồ tát Lục trụ và Ngoại phàm Thập tín; hoặc chủ trương Thất tử là Tứ quả, Duyên giác, Thanh văn và hàng Ngoại phàm...
thất uế hành
(七穢行) Chỉ cho 7 hạnh nhơ nhớp. Cứ theo kinh Xuất diệu quyển 10, khi giáo pháp của Như lai sắp hoại diệt thì có 7 việc nhơ nhớp là: 1. Trăm năm giữ giới bị người ác phá: Có người trì giới cả trăm năm, nhưng chỉ trong khoảng thời gian búng đầu ngón tay đã bị ác tri thức phá hoại. 2. Thực hành tâm từ bi đã lâu rồi bị sân tâm phá hoại: Có người tu hành tâm bình đẳng từ nhẫn đã lâu, bỗng nghịch cảnh hiện tiền, không an nhẫn được, tức giận nổi lên, làm cho căn lành hoại diệt. 3. Hèn kém không theo lời thầy chỉ dạy: Chỉ cho những người tu được chút ít hạnh lành rồi cho đó là Đạo, họ đều là những kẻ hèn kém xấu xa, chẳng tu uy nghi, không nghe lời dạy bảo của Sư trưởng. 4. Tranh nhau hơn thua: Không tu hành chính giáo, vọng khởi nhân ngã, tranh cãi, hủy báng lẫn nhau để tranh giành hơn thua, không biết bỏ tà về chính. 5. Làm náo loạn mọi người: Chỉ cho người xuất gia tham cầu lợi dưỡng, kiêu căng ngạo mạn, chê bai lẫn nhau, tranh đấu không thôi, chẳng biết hoằng truyền giáo pháp. 6. Ham đắm danh lợi: Người xuất gia ham đắm danh lợi, chỉ lo cung phụng cho thân, không chịu siêng năng tu tập, đến đỗi thân mang nhiều bệnh, không thể lưu thông Phật pháp. 7. Phàm thánh đều bị hủy nhục: Dạy đạo không rõ ràng, lấy ngụy làm chân, lấy tà làm chính, phải trái không rành, thánh phàm một duộc, do đó, từ tăng phàm phu đến bậc A la hán, đều bị người đời khinh rẻ, hủy nhục...
thất vô kí
(七無記) Tiểu thừa chia pháp Vô kí làm 2 thứ là Hữu phú vô kí và Vô phú vô kí, trong đó, Vô phú vô kí lại được chia làm 6 thứ Dị thục, Uy nghi, Công xảo, Thông quá, Tự tính và Thắng nghĩa, rồi cộng chung Hữu phú vô kí gọi là Thất vô kí. (xt. Tam Tính).
thất vô tận
Saptaksara (S).
thất vật
(七物) Chỉ cho 7 vật cần thiết dùng vào việc tắm gội trong các tăng viện thời xưa. Đó là: đốt lửa, nước sạch, bột đậu, dầu dừa, tro, cành dương và áo lót. Theo Động thượng già lam tạp kí thì dùng 7 vật trên đây tắm gội sẽ tiêu trừ 7 thứ bệnh, có được 7 phúc báo
thất vọng
Xem Gian truân.
thất xứ bình mãn tướng
(七處平滿相) Cũng gọi Thất xứ long mãn tướng, Thất xứ mãn túc tướng. Chỉ cho đức tướng của Như lai có 7 chỗ bằng phẳng và đầy đặn, 1 trong 32 tướng của Phật. Bảy chỗ là: 2 lòng bàn chân, 2 lòng bàn tay, 2 vai và cổ. Đó là những tướng vi diệu cảm được do đức Phật khi còn tu nhân đã bố thí không tiếc, bất luận người nhận cólàphúc điền hay không là phúc điền. Đây là 1 thứ tổng tướng biểu thị ý nghĩa đức Phật đã dứt hết 7tùy miên, đầy đủ 7 thánh tài, khiến tất cả chúng sinh được lợi ích diệt tội sinh thiện.
thất xứ tam quán kinh
(七處三觀經) Kinh, 1 quyển hoặc 2 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung kinh này thu chép các tiểu kinh nói về tu đạo, tu quán. Kinh này có 2 bản in: 1. Bản Cao li, 1 quyển, thu chép tất cả 30 bộ tiểu kinh. 2. Ba bản đời Tống, Nguyên, Minh, 2 quyển, thu chép tất cả 47 bộ tiểu kinh. Nói theo 3 bản Tống. Nguyên, Minh thì kinh thứ nhất(gọi là Thất xứ tam quán kinh) và nửa sau của kinh thứ 3(Vônhãn) nói về 7 chỗ và 3 quán. Bảy chỗ là: Sắc đế, Sắctập, Sắc tận, Sắc diệt, Sắc vị Sắc xuất yếu và Sắc khổ. Ba quán là: Quán sắc, quán 5 ấm, quán 6 suy. Vì thế có tên là kinh Thất xứ tam quán.
thất xứ thiện
(七處善) Gọi tắt: Thất thiện. Bảy phương diện quán xét các pháp một cách đúng như thực, 1 trong các pháp quán. Thuyết này nói trong kinh A hàm và Nhất thiết hữu bộ. Từ 7 phương diện mà quán xét mỗi uẩn trong 5 uẩn một cách như thực, ví dụ như Sắc thì quán xét bản thân sắc(quả) và nguyên nhân(nhân)sinh ra sắc, tướng trạng tiêu diệt(diệt) con đường thực tiễn(đạo đối trị) đưa đến Diệt, thành là phương diện khả ái(ái vị) chấp trước đối tượng và phương diện bất khả ái(quá hoạn) hiềm ghét đối tượng, thậm chí vượt lên trên 2 phương diện(xuất li) mà quán xét một cách như thực.
thất xứ thuyết
(七處說) Cũng gọi Hoa nghiêm thất xứ thuyết. Bảy chỗ đức Phật nói kinh Hoa nghiêm. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 1, thì 7 chỗ bao gồm 3 chỗ ở nhân gian và 4 chỗ trên cõi trời. Đó là: I. Chỗ thứ nhất: Bồ đề đạo tràng. Lúc mới thành Chính giác ở Bồ đề đạo tràng A la nhã tại nước Ma kiệt đề(Ma yết đà), đức Phật nói về pháp môn Y báo chính báo của Như lai ở đây, gồm có 6 phẩm kinh: 1. Phẩm Thế chủ diệu nghiêm. 2. Phẩm Như lai hiện tướng. 3. Phẩm Phổ hiền tam muội. 4. Phẩm Thế giới thành tựu. 5. Phẩm Hoa tạng thế giới. 6. Phẩm Tì lô giá na. II. Chỗ thứ hai:Điện Phổ quang minh. Ở điện Phổ quang minh bên cạnh Bồ đề đạo tràng, đức Phật 3 lần nhóm hội, giảng nói tất cả 18 phẩm kinh. Lần thứ nhất tại đây, đức Phật giảng nói các pháp môn như Thập tín... gồm 6 phẩm kinh: 1. Phẩm Như lai danh hiệu. 2. Phẩm Tứ thánh đế. 3. Phẩm Quang minh giác. 4. Phẩm Bồ tát vấn minh. 5. Phẩm Tịnh hạnh. 6. Phẩm Hiền thủ. Lần thứ hai tại đây, đức Phật giảng nói pháp môn Đẳng giác, gồm 11 phẩm kinh: 1. Phẩm Thập định. 2. Phẩm Thập thông. 3. Phẩm Thập nhẫn, 4. Phẩm A tăng kì. 5. Phẩm Thọ lượng. 6. Phẩm Bồ tát trụ xứ. 7. Phẩm Phật Bất tư nghị. 8. Phẩm Thập thân tướng hải. 9. Phẩm Như lai tùy hảo quang minh. 10. Phẩm Phổ hiền hạnh. 11. Phẩm Như lai xuất hiện. Lần thứ ba tại đây, đức Phật nói về pháp Li thế gian, tức phẩm Li thế gian. III. Chỗ thứ 3: TrờiĐao lợi. ĐứcPhật giảng nói các pháp môn như Thập trụ... trên chóp núi Tu di, nơi ở của trời Đế thích, gồm 6 phẩm kinh: 1. Phẩm Thăng tu di sơn. 2. Phẩm Sơn đính kệ tán. 3. Phẩm Thập trụ. 4. Phẩm Phạm hạnh. 5. Phẩm Phát tâm công đức. 6. Phẩm Minh pháp. IV. Chỗ thứ tư: Trời Dạ ma. Đức Phật giảng nói các pháp môn như Thập hạnh ở cung trời Dạ ma, gồm có 4 phẩm kinh: 1. Phẩm Thăng Dạ ma thiên. 2. Phẩm Dạ ma kệ tán. 3. Phẩm Thập hạnh. 4. Phẩm Thập vô tận tạng. V. Chỗ thứ năm: Trời Đâu suất. Đức Phật giảng nói các pháp môn như Thập hồi hướng..., gồmcó3 phẩm kinh: 1. Phẩm Thăng Đâu suất thiên. 2. Phẩm Đâu suất kệ tán. 3. Phẩm Thập hồi hướng. VI. Chỗ thứ sáu: Trời Tha hóa. Tại cung trời này, đức Phật giảng nói pháp môn Thập địa, tức phẩm Thập địa. VII. Chỗ thứ bảy: Rừng Thệ đa. Ở trong vườn Cấp cô độc, Đức Phật giảng nói pháp môn Nhậpphápgiới, tức phẩm Nhập pháp giới. Trên đây là 39 phẩm của bộ kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) được giảng nói trong 9 hội tại 7 chỗ(thất xứ cửu hội). Còn 34 phẩm của kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) thì được nói trong 8 hội tại 7 chỗ, tức gộp chung 2 chỗ trời Tha hóa và điện Phổ quang minh (lần thứ 2) làm 1 hội, còn 8 hội, thành là Thất xứ bát hội(7 chỗ 8 hội).
thất xứ trưng tâm
(七處徵心) Chỉ cho 7 chỗ gạn hỏi về tâm. Trên hội Lăng nghiêm, đức Phật gạn hỏi ngài A nan về 7 chỗ ở của tâm và mắt, ngài A nan lần lượt trả lời 7 chỗ, nhưng đều bị đức Phật bác, gọi là Thất xứ trừng tâm. Trước lúc hội Lăng nghiêm diễn ra, ngài A nan đi khất thực bị nàng Ma đăng già dùng bùa chú mê hoặc, gần mất giới thể, Phật ở xa biết rõ việc gì đang xảy ra cho ngài A nan, nên Phật sai bồ tát Văn thù đem thần chú Thủ lăng nghiêm đến cứu A nan đưa về. Trên hội Lăng nghiêm, đức Phật gạn hỏi ngài A nan về chỗ ở của tâm và mắt, ngài A nan thưa mắt ở ngoài, tâm ở trong, đến khi nghe đức Phật giải thích tâm không phải ở trong thì ngài A nan lại trả lời là tâm ở ngoài. Cuộc vặn hỏi như thế cứ diễn ra liên tục, dồn ngài A nan đến chỗ không còn chấp trước được nữa mới thôi. Bởi vì đức Phật muốn phá trừ tâm phan duyên vọng tưởng của ngài A nan, làm cho tâm vọng tưởng ấy không còn chỗ nào để bám níu, nương tựa, nên Phật luôn bác lời luận đáp của ngài A nan để chỉ ra rằng chân tâm thanh tịnh mầu nhiệm này bao trùm khắp mọi nơi, không ở đâu mà không đâu chẳng ở. 1. Tâm ở trong thân: Đầu tiên, ngài A nan trả lời Tâm ở trong thân, mắt ở ngoài thân. Đức Phật bảo: Nếu tâm ở trong thân thì đáng lẽ phải nhìn thấy tim,gan, tì, vị... ở trong thân trước rồi mới thấy các cảnh vậtởbên ngoài. Nếu chẳng thấy các vật ở trong thân thì lẽ đâu tâm lại ở trong thân? 2. Tâm ở ngoài thân: Ngài A nan dùng đèn sáng làm ví dụvà nói: Tâm của chúng sinh ở bên ngoài thân nên không thấy trong thân, giống như đèn sáng ở bên ngoài căn phòng, cho nên không soi sáng được trong phòng. Đức Phật gạn hỏi: Nếu nói tâm ở ngoài thân thì thân và tâm khác nhau, đều không biết nhau, nhưng thật ra hễ thân biết thì tâm cũng biết và hễ tâm biết thân cũng biết, như vậy lẽ nào tâm ở ngoài thân? 3. Tâm núp sau con mắt: Ngài A nan dùng việc đeo kính làm ví dụ và thưa: Tâm núp phía sau con mắt, nếu khi mắt thấy cảnh vật thì tâm liền phân biệt theo mà không có chướng ngại, giống như đeo kính thì mắt vẫn thấy vật mà không có chướng ngại. Đức Phật nhận thấy ngài A nan ví dụ sai và quở rằng: Nếu kính ví dụ mắt thì mắt cũng nhìn thấy được; nếu mắt thấy được thì cũng đồng với cảnh rồi! Nếu mắt đồng với cảnh thì tâm khác với cảnh và cảnh khác với tâm, vậy lẽ nào tâm núp sau con mắt mà có thể phân biệt được? 4. Tâm ở trong chỗ tối: Ngài A nan lại chấp tâm ở trong chỗ tối và bạch Phật rằng: Thân của các chúng sinh, tạng phủ ở trong, khiếu huyệt ở ngoài, như con giờ đây, mở mắt thấy sáng là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối là thấy bên trong. Đức Phật hỏi gạn: Khi nhắm mắt thấy tối thì cái cảnh tối ấy có đối trước mắt không? Nếu có đối thì cái tối ở ngay trước mắt, làm sao mà thành ở trong? Còn nếu không đối trước mắt thì làm sao gọi là thấy được? 5. Tùy theo hợp với chỗ nào thì tâm ở đó: Sau 4 lần bị Phật bác, ngài A nan thưa: Tùy theo hợp với chỗ nào thì tâm ở đó, đức Phật lại gạn hỏi: Ông nói tùy theo hợp với chỗ nào thì tâm ở đó, nếu tâm không có thể tính thì không hợp được; còn nếu tâm có thể tính thìhãythử lấy tay tự đánh vào thân ông, chắc chắn tâm ông sẽ giác biết, vậy tâm giác biết ấy từ trong thân ra hay từ bên ngoài vào? Nếu từ trong ra thì tâm ở trong thân, còn nếu ở ngoài vào thì đáng lẽ tâm phải thấy cái mặt của ông. Tâm chẳng phải ở trong ở ngoài thì không có ra vào, ra vào đã không thì làm sao có thể tính; nếu không có thể tính thì cái gì tùy hợp? 6. Tâm ở khoảng giữa: Ngài A nan bạch Phật: Tâm ở khoảng giữa căn và trần. Phật lại hỏi: Nếu tâm ở khoảng giữa căn và trần thì thể tính của tâm gồm cảcăn và trần hay không gồm cả căn và trần? Nếu gồm cả căn và trần thì căn có biết mà trần thì không biết, căn và trần đối lập, ranh giới giữa có biết và không biết rạch ròi, như vậy làm sao nói được là ở khoảng giữa? Còn nếu không gồm thì chẳng thuộc căn, trần, tức không có thể tính, làm sao có khoảng giữa? 7. Tâm không bám dính vào đâu: Sau cùng, ngài A nan trả lời: Tất cả không bám dính, gọi đó là tâm. Nhưng đức Phật lại vặn hỏi Nếu nói không bám dính gọi đó là tâm, tức là tâm ông không bám dính vào tất cả sự vật hiện tượng thuộc thủy lục không hành trên thế gian này, nhưng những sự vật hiện tượng ấy là có hay không có? Nếu nói là không có thì cũng đồng với lông rùa sừng thỏ, làm sao còn có vật để không bám dính mà nói là không bám dính? Còn nếu nói là có thì vật có tâm cũng có, làm sao mà nói không bám dính được?
Thất yết ma
xem bảy hình thức yết-ma.
thất yết ma
(七羯磨) Yết ma, Phạm: Karman. Pàli: Kamma. Chỉ cho 7 tác pháp trị phạt các tỉ khưu phạm tội, đó là: 1. Ha trách(quở trách). 2. Tẩn xuất(đuổi ra khỏi tăng đoàn). 3. Y chỉ(nương tựa). 4. Bất chí bạch gia(không được đến nhà bạch y). 5. Bất kiến cử(có lỗi không chịu thừa nhận). 6. Bất sám cử(có tội không chịu sám hối). 7.Ác kiến bất xả cử(có ác kiến không chịu bỏ).
Thất ác
七惡; C: qī è; J: shichiaku;|Bảy hành vi xấu ác: ba thuộc về thân và bốn thuộc về khẩu.
thất ích
(七益) Chỉ cho 7 lợi ích giáo hóa của Thánh nhân. Đó là: 1. Nhị thập ngũ hữu quả báo lợi ích (Địa thượng thanh lương ích): Quả báo lợi ích trong 25 Hữu(cõi tồn tại). Nghĩa là bậc Thánh có khả năng tùy theo căn cơ, trình độ của mỗi một chúng sinh trong 25 Hữu để giáo hóa, khiến họ được lợi ích trông thấy trước mắt, hoặc lợi ích âm thầm kín đáo.2. Nhị thập ngũ hữu nhân hoa khai phu ích(Tiểu thảo ích): Lợi ích hoa nhân 25 Hữu nở rộ. Nghĩa là bậc Thánh biết rõ trong tâm của mỗi chúng sinh có nhiều nhân, tùy theo chỗ họ sinh khởi 25 Hữu mà ứng cơ giáo hóa, khiến họ được lợi ích trông thấy trước mắt hay âm thầm kín đáo.3. Chân đế tam muội tích pháp ích (Trung thảo ích): Sự lợi ích dùng Tam muội chân đế phân tích các pháp. Nghĩa là bậc Thánh đối vớihàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, có khả năng ứng cơ giáo hóa khiến họ phân tích sắc, chứng nhập không, giúp họ được lợi ích trông thấy hoặc âm thầm. 4. Tục đế tam muội ngũ thông ích (Thượng thảo ích): Ích lợi được 5 thần thông. Nghĩa là đối với hàng Bồ tát thuộc Tạng giáo tu 6 độ, bậc Thánh có khả năng ứng cơ giáo hóa khiến họ chứng được 5 thần thông, qua lại trong 6 đường, nhờ đó họ được lợi ích trông thấy hoặc âm thầm. 5. Chân đế tam muội thể pháp ích (Tiểu thụ ích): Lợi ích dùng Tam muội chân đế thể nhập pháp không. Nghĩa là bậc Thánh đối vớihàng Tam thừa của Thông giáo, có khả năng ứng cơ giáo hóa khiến họ thể hội sắc chứng nhập không, do đó được lợi ích rõ rệt hoặc âm thầm. 6. Tục đế tam muội lục thông ích (Đại thụ ích): Lợi ích được 6 thần thông nhờ Tam muội tục đế. Nghĩa là bậc Thánh đối với hàng Bồ tát của Biệt giáo, có khả năng ứng cơ giáo hóa, khiến họ tu học hằng sa Phật pháp, ra khỏi Giả để thuyết pháp lợi sinh, nhờ đó họ được lợi ích rõ rệt hay âm thầm. 7. Trung đạo vương tam muội ích (Tối thực sự ích): Lợi ích nhờ Tam muội vương trung đạo. Nghĩa là bậc Thánh đối với hàng Bồ tát của Viên giáo, có khả năng ứng cơ giáo hóa, khiến họ tu Tam quán không theo thứ tự mà được lợi ích trông thấy trước mắt, hoặc âm thầm kín đáo.
thất đa la thụ
(七多羅樹) Đa la thụ, Phạm:Tàla. Cao gấp 7 lần cây đa la. Đa la là tên loài thực vật cao to, cây cao nhất có thể lên tới 25m. Vì thế, khi ví dụ về sự cao to của vật thể nào đó, người nói Cao gấp 7 lần cây đa la (Thất đa la thụ). Như phẩm Dược vương trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 53 hạ) nói: Ngồi trên đài 7 báu, bay lên hư không, cao bằng bảy lần cây đa la(Thất đa la thụ).
thất điên đảo
(七顛倒) Chỉ cho 7 thứ vọng kiến làm đảo lộn sự lí. Đó là: 1. Tưởng đảo: Tưởng phi lí. 2. Kiến đảo: Tức tà kiến. 3. Tâm đảo: Tức vọng tâm, tà thức. 4. Ư vô thường thường đảo: Tức đối với pháp thế gian vô thường mà khởi thường kiến. 5. Ư khổ lạc đảo: Đối với các khổ ở thế gian mà khởi lạc kiến. 6. Ư bất tịnh tịnh đảo: Đối với pháp bất tịnh ở thế gian mà khởi tịnh kiến. 7. Ư vô ngã ngã đảo: Đối với pháp vô ngã ở thế gian mà khởi ngã kiến.
Thất điều
七條; C: qītiáo; J: shichijō; S: uttara-āsanga;|Một trong ba y (三衣) mà Tỉ-khâu và Tỉ-khâu-ni được phép sử dụng. Đó là y phục may bằng những mảnh vải chắp lại với nhau và có bảy điều (đường may dọc).
thất điều y
The outer mantle, or toga, of a monk, composed of seven pieces.
thất đoạn diệt luận
(七斷滅論) Cũng gọi Thất đoạn kiến luận, Thất sự đoạn diệt tông. Chỉ cho 7 thứ luận thuyết đoạn diệt của ngoại đạo, 1 trong 16 tông ngoại đạo, là kiến chấp thứ 7 trong 62 kiến chấp. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 6, phần cuối thì Thất đoạn diệt là: 1. Ngã có sắc, cái do 4 đại chủng thô tạo ra là tính, sau khi chết là đoạn diệt, rốt ráo không có, thấy thân sau khi chết rõ có mà hóa ra không, cho nên cái ngã của ta hay của người đều do đại chủng thô tạo ra, sau khi chết là đoạn diệt... 2. Ngã ở các tầng trời cõi Dục sau khi chết là đoạn diệt. 3. Ngã ở các tầng trời cõi Sắc sau khi chết là đoạn diệt. 4. Ngã ở cõi Không vô biên sau khi chết là đoạn diệt. 5. Ngã ở cõi Thức vô biên sau khi chết là đoạn diệt. 6. Ngã ở cõi Vô sở hữu sau khi chết là đoạn diệt. 7. Ngã ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết là đoạn diệt.
thất đường già lam
(七堂伽藍) Cũng gọi Tất đường già lam. Chỉ cho chùa viện có 7 tòa nhà chủ yếu. Chữ thất biểu thị ý nghĩa hoàn chỉnh. Nếu các tòa nhà của chùa viện tượng trưng cho mặt Phật thì thất đường chỉ cho đỉnh đầu, mũi, miệng, 2 mắt, 2 tai; hoặc tương đương với đầu, ngực, sinh thực khí, 2 tay, 2 chân của thân thể. Tuy nhiên, không hẳn chỉ giớihạn ở thất đường, các chùa lớn đều có rất nhiều tòa nhà, như trong Nam hải kí qui nội pháp truyện có nói chùa Na lan đà ở Ấn độ có 8 tòa viện, gồm 300 phòng xá. Cũng như chùa Trúc lâm trên núi Ngũ đài của Trung quốc có 6 tòa viện, chùa Đại hoa nghiêm có 12 viện. Những ngôi chùa này đều không hạn cuộc ở con số thất đường.
thất đại
The seven elements: earth địa, water thủy, fira hỏa, wind phong, space không, sight kiến, perception thức.
; (七大) Cũng gọi Thất đại tính. Thể tính của vạn pháp sắc tâm được chia làm 7 thứ là địađại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại và thức đại. Địa, thủy, hỏa, phong gọi là Tứ đại, là thể của sắc pháp(vật chất), thêm không đại thành Ngũ đại, lại thêm thức đại thành Lục đại. Đại có nghĩa là trùm khắp pháp giới. Sự sinh thành của muôn pháp không ngoài 4 đại, nương vào hư không mà kiến lập, nương vào kiến(thấy), mà có giác(biết), nhờ thức mà phân biệt rõ các sự vật. Loài vô tình chỉ có 5 đại trước, loài hữu tình thì đủ cả 7 đại; nhưng khi nêu 7 pháp thì gồm nhiếp cả muôn pháp. Trong đó, địa đại là tính cứng của muôn pháp, hỏa đại là tính nóng, thủy đại là tính ướt, phong đại là tính động, không đại là tính thông suốt, kiến đại là tính hay biết và thức đại là tính phân biệt. Năm đại trước thuộc về 6 cảnh, kiến đại thuộc về 6 căn, thức đại thuộc về 6 thức, cho nên 7 đại và 18 giới chỉ khác nhau ở chỗ mở rộng ra hay rút gọn lại mà thôi. Bảy đại trên không phải mỗi đại đều có thực tính độc lập mà là do Chân tính Như lai tạng tùy duyên phát động ra. [X. kinh ĐạiPhật đính thủ lăng nghiêm Q.3].
thất đại sư
Seven Masters.
thất đế
(七諦) Chỉ cho 7 đế lí chân thực. 1.Ái vị đế(cũng gọi Vị đế,Ái thực): Chỉ cho lí của Tập đế, đối với các pháp hữu lậu sinh tâm ưa thích, đó chính là nhân của sinh tử lưu chuyển. 2. Quá hoạn đế(cũng gọi Hoạn đế, Khổ thực): Chỉ cho lí của Khổ đế, tức các quả hữu lậu đầy dẫy những quá hoạn như 4 khổ, 8 khổ... 3. Xuất li(cũng gọi Li đế, Giải thoát thực): Chỉ cho lí của Đạo đế, Bát chính đạo là nhân diệt khổ, là đạo đối trị để ra khỏi sinh tử. 4. Pháp tính đế(cũng gọi Pháp đế, Pháp thực): Chỉ cho lí của Diệt đế, tức là lí chân như pháp tính do nhân vô ngã, pháp vô ngã hiển bày. 5. Thắng giải đế(cũng gọi Giải đế, Giải thực): Chỉ cho lí của Đạo đế, tức tư duy và hiểu rõ cái lí do nhân không, pháp không hiển bày chính là hành tướng của cái Không. 6. Thánh đế(cũng gọi Thánh thực): Chỉ cho lí của Diệt đế, tức tất cả cảnh giới vắng lặng mà bậc Thánh chứng biết. 7. Phi thánh đế(cũng gọi Phi thánh thực): Chỉ cho lí của Khổ đế và Tập đế, tức cảnh giới trong đó phàm phu bị trói buộc. Luận Phát trí quyển 8 thì cho rằng Thất xứ thiện là Thất đế và giải nghĩa có chỗ khác nhau. [X. luận Du già sư địa Q.46; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần cuối]. (xt. Đế).
Thất địa
七地; C: qīdì; J: shichiji;|Địa thứ bảy trong Thập địa (十地). Còn gọi là Viễn hành địa (遠行地). Gồm một phần của Tu đạo vị (修道位) trong Du-già hành tông.
thất địa
(七地) Chỉ cho 7 giai đoạn tu hành từ Bồ tát địa đến Phật địa. Đó là: 1. Chủng tính địa: Hạt giống Phật đạo thành tựu bất hoại. 2. Giải hành địa: Theo thứ tự tiến tu hạnh phương tiện, đối với đạo xuất thế được hành giải. 3. Tịnh tâm địa: Tức Sơ địa. Người đến địa vị này, trên thực tế, đã chứng được một phần chân như, xa lìa hoặc Vô minh trụ địa, từ đó khởi tâm tin thanh tịnh mong cầu bồ đề. 4. Hành tích địa: Tức từ Nhị địa trở lên cho đến Thất địa, trong thời gian này bắt đầu tu chính đạo. 5. Quyết định địa: Tức Đệ bát địa. Người đến địa vị này, quyết định hướng tới Vô thượng bồ đề. 6. Quyết định hành địa: Tức Đệ cửu địa.Từ địa trước lại tiến lên hơn nữa. 7. Tất cánh địa: Tức Thập địa và Như lai địa. Thập địa nhân hạnh viên mãn, Như lai địa quả đức cùng tột, cho nên gọi là Tất cánh địa. Trong Thất địa nói trên thì Chủng tính địa và Giải hành địa, theo Đại thừa nghĩa chương, là các giai vị Bồ tát Địa tiền; Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 2 thì cho rằng Chủng tính địa là Thập giải trở xuống, còn Giải hành địa thì là Thập hạnh, Thập hồi hướng. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.10; Đại thừa nghĩa chương Q.12].
thất địa trầm không nan
(七地沈空難) Chỉ cho Bồ tát Địa thứ 7 trong Thập địa bị chìm đắm trong lí Không. Trong 10 Địa, Bồ tát Viễn hành địa trụ trong vô tướng quán, trên không cầu bồ đề, dưới không độ chúng sinh, chìm đắm trong lí tất cả không tịch, vì thế không thể khởi hạnh Lục độ. Đó là vì Bồ tát ở cõi này chìm đắm trong nạn Không, nếu sinh về Tịnh độ an lạc thì thoát được nạn này. [X. luận Đại trí độ Q.10; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vãng sinh luận chú dực giải Q.7; Vãng sinh luận chú hiểm thâm nghĩa kí Q.5].
Thất 失
[ja] シツ shitsu ||| (1) To be lost, to disappear (Skt. nāśa; Tib. nub par gyur pa). (2) Mistake, error, shortcoming, fault (vraṇa, doṣa). 〔二障義 HPC 1.791b19〕(3) A mental lapse; a lapse in consciousness. => 1. Bị mất, biến mất (Skt. nāśa; Tib. nub par gyur pa). 2. Lầm lỗi, sai lầm, thiếu sót, khuyết điểm (s: vraṇa, doṣa). 3. Lãng trí, không chú tâm.
thấu tam quan
(透三關) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vượt qua được 3 cửa ải quan trọng. Tam quan chỉ cho 3 cảnh giới tham thiền từ thấp đến cao. Nếu hành giả diệt sạch được phàm tình, thấy suốt tính chất hư dối không thật của các pháp, ngộ được cội nguồn tâm tính(mặt mày thật xưa nay hoặc bản địa phong quang) của chính mình thì gọi là Phá sơ quan(phá cửa ải đầu tiên), cũng gọi là Phá bản tham, hoặc gọi là Kiến tính. Kế đến, sau khi kiến tính, lại dụng công tu trì, thì chẳng những không bị Hữu làm trở ngại, mà còn chẳng chấp trước Không, đây gọi là Thấu trùng quan(qua cửa ải thứ hai), cũng gọi Đại tử đại hoạt(chết lớn sống lớn). Sau đó, lại dụng công tôi luyện, bèn đạt đến cảnh giới Tịch chiếu bất nhị, không hữu vô ngại thì dù 5 dục ngay trước mắt, cũng nhậm vận tự như, không mất bản tính, đây chính là Thấu mạt hậu lao quan(vượt qua cửa ải khó khăn cuối cùng).
thấu triệt
Prativedha (S), Attainment Paṭivedha (P) Chứng ngộ. Xem Liễu tri.
thấy như thật
YathābhŪtaṁnanadarśana (S), Knowing or seeing as they are Hiểu như thật.
thầm
1) To whisper (thì thầm). 2) Secretly.
thần
Shen (C), Spirit Trong tinh, khí, thần - những nguyên lý căn bản trong phép luyện thở của Đạo gia.
; Inscrutable spiritual powers, or power; a spirit; a deva, god or divinity; the human spirit; divine, spiritual, supernatural. Thần chiến tranh god of war.
; 1) Bình Minh: Dawn—Morning. 2) Nhân Thần: Human spirit. 3) Thiên Thần: A spirit—A deva—god—Divinity—Deity—The celestial spirit—Divine—Spiritual—Supernatural—Inscrutable spiritual powers.
; (神) Phạm: Deva. Một thứ đối tượng của tín ngưỡng tông giáo siêu việt nhân cách. Thông thường, Thần được coi là 1 loài tồn tại không có thân thể vật chất, nhưng không phải không có hình tượng thân thể; Thần không bị hạn chế bởi qui luật tự nhiên, có thể gây ảnh hưởng đối với thế giới vật chất, ngay cả làm chúa tể 1 phần nhất định hoặc toàn bộ thế giới vật chất. Trong quá trình phát triển quan niệm về Thần từ tông giáo nguyên thủy đến tông giáo cao đẳng, lần lượt đã tiến từ: Sùng bái Tự nhiên (Animatism), sùng bái Tinh linh (Animism) đến sùng bái Nhân cách thần. Sùng bái Tự nhiên có nghĩa là xem bản thân thế giới tự nhiên là Thần, như sùng bái mặt trời thì có tâm tôn kính và sợ hãi đối với mặt trời. Sùng bái Tinh linh thì đối với tinh linh của vật tự nhiên sinh lòng kính sợ, mà xem như Thần. Đó là do lòng sùng bái tự nhiên dần dần tiến hóa mà thành, nhưng vẫn chưa đến giai đoạn sùng bái Nhân cách thần. Sùng bái Nhân cách thần tức là những hiện tượng tự nhiên được nhân cách hóa, hoặc linh hồn người chết được Thần hóa, do 2 trường hợp ấy mà đưa đến phong tục sùng bái Nhân cách thần; từ loại Đa thần giáo này phát triển đến Giao thế thần giáo (thần tối cao từ A được thay thế thành B), Đơn nhất thần giáo(trong nhiều thần có 1 thần là Thần tối cao), Duy nhất thần giáo(tin 1 vị Thần duy nhất tồn tại tuyệt đối). Ngoài ra, như Phiếm thần luận thì chỉ chú trọng sự phản tỉnh có tính lí luận để cầu phát triển, nhưng phủ định tính nhân cách. Sau khi người Aryans xâm nhập Ấn độ, đến thời đại Lê câu phệ đà (Phạm:Fg-veda), các hiện tượng tự nhiên được thần cách hóa mà trở thành những thần tự nhiên, lại vì chiến tranh phải tiêu diệt quân địch nên mới sản sinh ra Nhân đà la (Phạm: Indra), tính cách các thần này thuộc Đa thần giáo hoặc Giao thế thần giáo. Cho đến sau khi các sinh hoạt xã hội được ổn định, do sự chế định qui ước mà có thần Luật pháp (Phạm:Varuịa) xuất hiện. Về sau, Đa thần giáo vốn đã có từ xưa đến nay không thể nào đáp ứng được các nhu cầu thông thường một cách đầy đủ, nên lại có khuynh hướng tìm cầu một vị thần tối cao cho việc thống nhất các thần. Thời đại Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa), một mặt do nhu cầu một vị thần tối cao tạo ra muôn vật (Phạm:Prajàpati, Tạo vật chủ) mà sản sinh thuyết Sáng tạo, mặt khác thì nảy sinh Hoài nghi luận, Vô thần luận và khuynh hướng Phiếm thần luận cũng đồng thời xuất hiện. Tiến hơn nữa cũng sản sinh Hữu (Phạm:Sat), Vô (Phạm:Asat) và nguyên lí Nhất nguyên siêu việt Hữu vô, hoặc nguyên lí vũ trụ hay cá thể như Phạm (Phạm: Brahman), Ngã (Phạm: Àtman), các nguyên lí trên thuộc tư tưởng của Bà la môn giáo (Brahmanism). Đến đời sau, các tín ngưỡng dân gian địa phương dung hợp mà hình thành Ấn độ giáo (Hinduism). Trong tông giáo này có thuyết Tam thần nhất thể (Phạm:Trimùrti, Tam vị nhất thể): Phạm thiên (Phạm:Brahàm, là Phạm được nhân cách hóa, tức thần sáng tạo của Ấn độ giáo), Tì thấp nô (Phạm:Viwịu, thần duy trì) và Thấp bà (Phạm:Ziva, thần phá hoại). Phật giáo thì phủ định thuyết Thần sáng tạo(thuyết Thần ý)mà chủ trương pháp Nhân duyên, Duyên khởi là nguyên lí căn bản của thế giới. Do điểm này mà Phật giáo bị phê bình là Vô thần luận. Đến đời sau, khi các thần Ấn độ được du nhập Phật giáo thì các loại Thiên giới cũng được thu dụng và Phạm thiên là đại biểu. Trong Bà la môn giáo và Ấn độ giáo, Phạm thiên là thần tối cao, nhưng trong Phật giáo thì Phật là tối cao. Phật giáo cho rằng Thiên giới(cõi trời)tuy cao hơn nhân giới (cõi người) nhưng vẫn thuộc mê giới(lục đạo), vẫn không thoát khỏi luân hồi chuyển sinh, một khi hết phúc đức thì lại bị rơi xuống các cõi dưới. Trái lại, Phật đã dứt mê, ngộ đạo, thoát li luân hồi chuyển sinh, cho nên vượt ra ngoài các trời, các thần mà tồn tại, gọi là Siêu thần (Phạm: Atideva), Thiên trung thiên (Phạm: Devàtideva), Thiên trung chi tối tôn, Thiên nhân sư... Nếu đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét thì từ Thần được chia làm những nghĩa sau đây: 1. Nghĩa thần ngã, linh hồn: Tiếng Phạm làÀtman, cũng tức là 1 trong 25 đế do học phái Số luận lập ra, nhưng quan điểm của Phật giáo thì khác với quan điểm của học phái Số luận. Học phái Số luận cho rằng Thần ngã, Linh hồn là tinh thần thuần túy, có thật, thường trụ và tồn tại độc lập; Phật giáo thì cho rằng Thần ngã, Linh hồn là cái ngã lìa uẩn mà chủ trương các pháp vô ngã, cho nên phản đối thuyết Thần ngã của phái Số luận. 2. Nghĩa tinh thần: Như kinh Hiếu tử (Đại 16, 780 trung): Khi mệnh chung thì Thần đi, trụ ở Thái sơn. 3. Chỉ cho các loài có sinh mệnh: Như kinh Tạp a hàm quyển 38 (Đại 2, 281 thượng) ghi: Ta đối với tất cả Thần, ngăn lòng nghĩ giết hại. 4. Chỉ cho tác dụng phân biệt của thức: Như chi Thức (Phạm: Vijĩàna, Pàli:Viĩĩàịa) trong 12 nhân duyên. 5. Chỉ cho các loài có tác dụng linh thiêng mầu nhiệm: Tiếng Phạm,Pàli là Devatà, như cácthầnRồng, thần A tu la, thần Quỉ tử mẫu, thần cây... thường được nói đến trong các kinh. Kinh Na tiên (Đại 32, 694 thượng) nói: Cây ấy lớn lên có thần. Còn kinh Quán đính quyển 12 thì ghi (Đại 12, 533 hạ): Chư thiên thiện thần...
thần biến
Vikurvana (S).
; Supernatural influences causing the changes in natural events; miracles; miraculous transformations, e.g. the transforming powers of a Buddha, both in regard to himself and others.
; 1) Những hiện tượng thần kỳ làm thay đổi những chuyện tự nhiên (thần là bên trong, biến là bên ngoài): Miracles or supernatural influences causing the changes in natural events. 2) Sự biến hóa kỳ diệu, như lực biến hóa của Phật, có thể tự biến hóa mình và biến hóa nơi người khác: Miraculous transformations, e.g. the transforming powers of a Buddha, both in regard to himself and others. 3) Những tác động kỳ diệu của Phật, như rắn độc không hại được, rồng lửa không đốt cháy được, vân vân: The Buddha's miraculous acts, e.g. unharmed by poisonous snakes, unburnt by dragon fire, etc. ** For more information, please see Thần Thông, Ngũ Thần Thông, and Lục Thông.
; (神變) Phạm: Vikurvaịa. Thần thông biến hiện. Vì hóa độ chúng sinh nên Phật, Bồ tát dùng năng lực siêu nhân (năng lực thần thông)không thể nghĩ bàn biến hiện ra các thứ hình tướng và động tác bên ngoài. Nói theo nghĩa hẹp thì thông thường dùng thân thể để biểu hiện, tức chỉ cho Thần túc thông trong 6 thứ thần thông; còn nói theo nghĩa rộng thì bao gồm cả thân, ngữ, ý. Kinh Đại bảo tích quyển 86 nêu ra 3 loại thần biến(chỉ cho 3 cách thị hiện)là Thuyết pháp(ý), Giáo giới(ngữ)và Thần thông(thân). Đối lại với thần biến của Thần túc thông, còn có 18 thứ khác như chấn động cho đến phóng ánh sáng chói lọi... gọi là Thập bát biến, Thập bát thần biến. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.hạ; Pháp hoa văn cú Q.1 hạ]. (xt. Thập Bát Biến).
thần biến gia trì
Vikrinitadhista (S) Vì giáo hóa chúng sanh, Bồ tát thị hiện đủ các loại biến hóa, không thể nghĩa bàn.
; (神變加持) Phạm:Vikfiịitàdhiwỉa. Cũng gọi Thần lực sở trì, Phật sở hộ niệm. Vì giáo hóa chúng sinh nên Phật, Bồ tát thị hiện trên thân các Ngài những thứ biến hóa không thể nghĩ bàn. Nhờ sức gia trì của thần biến này mà chúng sinh được lợi ích. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
thần biến nguyệt
See Thần Túc Nguyệt.
Thần biến 神變
[ja] ジンぺン jinpen ||| (1) Supernatural transformation(s); supernatural power(s); magical feat(s). Especially the supernormal powers used by of buddhas and bodhisattvas in their efforts to teach and transform sentient beings. In this sense, very close in connotation to shéntōng 神通 〔法華經 T 262.9.48c25〕 . => 1. Năng lực thần thông biến hoá, năng lực siêu nhiên, phép thần thông. Đặc biệt là năng lực thần thông của chư Phật và Bồ-tát trong việc giáo hoá chúng sinh. Trong ý nghĩa nầy, rất gần với thuật ngữ Thần thông (c: shéntōng 神通).
thần bí
Mystic(al); mysterious; occult.
thần bản phật tích
(神本佛迹) Đối lại: Bản địa thùy tích. Một trong những chủ trương mà chỉ Phật giáo Nhật bản mới có. Thông thường, thuyết Bản địa thùy tích là Phật bản thần tích, tức Phật, Bồ tát là bản địa, thần kì là thủy tích, hóa hiện, nhưng Nhật bản lại chủ trương Thần bản Phật tích, tức cho thần kì là bản địa, Phật, Bồ tát là thùy tích. Thuyết này thịnh hành ở Nhật bản vào thời Nam Bắc triều đến thời đại Thất đinh. (xt. Bản Địa Thùy Tích).
thần bổn
Original spirit.
thần châu
Deha (P) Đề ha Một trong 2 Trung châu của Đông Thắng Thần châu.
thần chí
Spirit and will.
Thần chú
神咒; S: dhāraṇī;|Ðà-la-ni, Man-tra
thần chú
Rddhi-mantra, dhàrani (S). Divine, or magic incantations.
; Rddhi-mantra (skt)—Dharani—Đà La Ni hay những lời chú thần bí—Dharani, or magic or divine incantations.
Thần chú 神咒
[ja] ジンシュ jinshu ||| One Chinese translation for mantra or dhāraṇī; see 眞言. => Một cách dịch chữ mantra hoặc dhāraṇī trong tiếng Phạn sang tiếng Hán. Xem Chân ngôn 眞言.
Thần Chủ
(神主, Kannushi, Kamunushi): xưa kia, từ này được dùng để chỉ cho người đứng đầu trong các chức vụ Thần Quan (神官, Shinkan); nhưng hiện tại thì đồng nghĩa với Thần Quan, là người đứng giữa trong khi hành lễ tế Thần; còn gọi là Tế Chủ (祭主). Thần Quan là vị quan lại (công vụ viên) chuyên trông coi việc tế tự, trước Đệ Nhị Thế Chiến thì chỉ có chức quan ở Thần Cung Ty (神宮司) của Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise Jingū) mới được gọi như vậy. Sau khi thi hành Hiến Pháp Nhật Bản, chức Thần Quan không tồn tại. Cho đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867), chức quan nữ tồn tại với danh xưng như Vật Kỵ (物忌, Y Thế Thần Cung, Lộc Đảo Thần Cung [鹿島神宮, Kashima Jingū]), Kỵ Tử (忌子, Gia Mậu Thần Xã [賀茂神社, Kamo Jinja]), v.v. Tuy nhiên, do vì chính sách tôn giáo của chính phủ Minh Trị có ảnh hưởng mạnh tư tưởng Nho Giáo, Thần Chức nữ tánh không còn tồn tại nữa. Về sau, với tư tưởng nam nữ bình quyền, cọng thêm vấn đề người kế thừa đền thờ Thần Xã (do các vị Thần Chức chết trong chiến trận, hay đi lâu không về, v.v.), Thần Chức nữ tánh được tái công nhận.
thần chủ
Ancestral tablet.
thần cung
(神供) Tác pháp cúng dường các quỉ thần trong Mật giáo. Khi tu pháp Hộ ma thì bày đàn Thần cúng ở nơi thanh tịnh bên ngoài đạo tràng, tụng chân ngôn của Thập nhị thiên và các quỉ thần, đồng thời dâng các cúng vật. Loại pháp tu này gọi là Thần cúng pháp. [X. Đại nhật kinh sớ Q.8; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.6; Chư tôn yếu sao Q.11].
Thần cánh thông 神境通
[ja] ジンキョウツウ jinkyōtsū ||| The power of unimpeded bodily action, which includes such things as the ability to fly and the ability to make oneself invisible. One of the six supernatural powers 六神通. => Năng lực vô ngại của các hành vi thuộc về thân, gồm những việc như bay được và tàng hình. Là một trong sáu thứ thần thông (Lục thần thông六神通).
thần cúng
Offerings placed before the gods or spirits.
; Những phẩm vật tế thần—Offerings placed before the gods or spirits.
thần căn
The vital spirit as the basis of bodily life.
; The vital spirit as the basis of body life.
Thần cơ
(神機): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ máy dệt vải. (2) Chỉ cho cơ vận, thời cơ. Như trong Đáp Phục Hy Thư (答伏羲書) của Nguyễn Tịch (阮籍, 210-263) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Nhược lương vận vị hiệp, thần cơ vô chuẩn (若良運未協、神機無准, nếu vận tốt không gặp thì thời cơ không đúng).” Hay trong truyện Tái Sanh Duyên (再生緣), hồi thứ 63 lại có câu: “Ngộ triệt thần cơ nhất niệm chơn, tiện tùng Cực Lạc chuyển kim luân (悟徹神機一念眞、便從極樂轉金輪, rõ biết thần cơ một niệm chơn, bèn từ Cực Lạc chuyển pháp luân).” Trong Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 1, phần Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Sở Thạch Thiền Sư Lục Hội Ngữ Lục Tự (佛日普照慧辯楚石禪師六會語錄序) có câu: “Đại Huệ đề xướng Viên Ngộ chi đạo ư Kính Sơn, thần cơ diệu dụng, quảng đại vô ngại (大慧提唱圜悟之道於徑山、神機妙用、廣大無礙, Đại Huệ đề xướng, Viên Ngộ truyền đạo ở Kính Sơn, thần cơ mầu nhiệm, rộng lớn không ngăn ngại).” Hoặc trong Ngốc Am Phổ Trang Thiền Sư Ngữ Lục (呆菴普莊禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1418) quyển 3 có đoạn: “Vạn duyên tịch tức, nhất tánh dung thông, đại dụng toàn chương, thần cơ độc lộ, cổ Phật dữ lộ trụ giao tham (萬緣寢息、一性融通、大用全彰、神機獨露、古佛與露柱交參, vạn duyên lặng dứt, một tánh thông suốt, đại dụng lộ rõ, thần cơ hiện bày, Phật xưa cùng cột trụ tham vấn).”
thần cốt
Spiritual bones.
thần diệt bất diệt luận tranh
(神滅不滅論爭) Sự tranh luận về vấn đềthầnthức diệt hay bất diệt. Từ khi Phật giáo truyền vào Trung quốc cho đến thời đại Lục triều, giữa những người tin thờ Phật giáo và những người phê phán Phật giáo nảy sinh các kiến giải khác nhau, trong đó, lấy thuyết Luân hồi báo ứng của Phật giáo làm chủ đề để tiến hành cuộc tranh luận, gọi là Thần diệt bất diệt luận tranh. Trước hết, những người thừa nhận thuyết Luân hồi báo ứng của Phật giáo cho rằng sau khi người ta chết, linh hồn(thần thức)ở trong thể xác không tử diệt theo mà sẽ tiếp tục chuyển sang nương gá trong 1 thể xác khác. Đồng thời, con người qua 3 đời(quá khứ, hiện tại, vị lai)luân hồi trong 5 đường hoặc 6 đường nhất định sẽ chịu thân phận tương ứng với nghiệp báo thiện ác mà mình đã tạo tác. Trái lại, những người chủ trương Thần diệt thì đứng trên lập trường tư tưởng truyền thống của Trung quốc, phủ nhận thuyết 3 đời, luân hồi báo ứng, tâm thần bất diệt mà cho rằng con người sau khi chết thì tâm thần ắt tan diệt theo nhục thể. Thuyết Thần bất diệt đầu tiên được thấy trong luận Lí hoặc của Mâu dung người đất Ngô ở thời đại Tam quốc. Nhưng có tính cách đại biểu nhất là chủ trương của ngài Lô sơn Tuệ viễn (334-416) đời Đông Tấn, trong luận Sa môn bất kính vương giả quyển 5 do ngài soạn có thuyết Hình tận thần bất diệt(Hình thể chết đi, tâm thần không diệt theo),ngài dùng mối quan hệ giữa củi và lửa để ví dụ mối quan hệ giữa thể xác và tâm thần, cho rằng tâm thần từ một thể xác này luân hồi sang một thể xác khác và tiếp tục tồn tại, giống như lửa đốt cháy củi, thanh củi này cháy hết thì lửa liền bén sang thanh củi khác, tiếp tục đốt cháy. Đệ tử ngài Tuệ viễn là Tông bính (375-443) soạn luận Minh Phật, nêu ra 2 nghĩa Thần bất diệt, một là thần thức luân hồi bất diệt, hai là thần thức pháp thân thường trụ. Có người cho rằng nghĩa Thần thức pháp thân thường trụ dung hợp thuyết Phật tính trong kinh Niết bàn với tư tưởng Đạo gia, xem Phật tính là tâm hư tĩnh vô vi trong cảnh giới lí tưởng của Đạo gia, tâm này chính là thần thức; lại Phật tính (ở đây chỉ cho pháp thân) thường trụ cũng hàm ý là tâm thần bất diệt. Ngoài ra, ngài Tông bính còn liên kết thần thức bản thể luân hồi với thần thức pháp thân, nói rõ trong quá trình luân hồi, con người dần dần dứt trừ phiền não thì thần thức luân hồi cũng có thể trở về thần thức pháp thân xưa nay vốn thanh tịnh; khi trở thành trạng thái chỉ có thần thức pháp thân thì con người liền thành Phật. Căn cứ vào những văn hiến như:1. Luận Sa môn bất kính vương giả quyển 5 của ngài Tuệ viễn. 2. Các bức thư của Hà thừa thiên (370- 447) bác bỏ luận Sa môn bất kính vương giả và luận Minh Phật. 3. Các bức thư Hà thừa thiên gửi cho người chủ trương Thần bất diệt là Nhan diên chi (384-456)... ta có thể hiểu rõ hơn về tình hình vặn hỏi lẫn nhau giữa những người chủ trương Thần diệt và Thần bất diệt.Các học giả đều cho rằng Thần diệt luận bắt nguồn từ tư tưởng truyền thống của Trung quốc, nhưng nói theo quan điểm của những người chủ trương Thần bất diệt thì việc những người chủ trương Thần diệt phủ định sự tồn tại của linh hồn và tinh linh, không khác gì phản lại truyền thống Nho gia; bởi vì khi Nho gia thực hành nghi thức cúng tế tông miếu là đã nghiễm nhiên thừa nhận sự tồn tại của tinh linh. Cho nên nhữngngườiphủ nhận sự tồn tại của thần thức sau khi chết là đã tự phản lại đạo Nho chính thống mà mình tin thờ. Ngoài ra, những người chủ trương Thần bất diệt coi thần thức bản thể của luân hồi và linh hồn sau khi chết là một, đây chính là điểm mà họ thường bị nhắm vào để phê bình. Nhưng sở dĩ có luận thuyết cho là một này là vì thần thức bản thể luân hồi có nguồn gốc từ Thần trong quan niệm truyền thống của Trung quốc. Song, loại thần thức bản thểluân hồinày thực ra là trái với luận thuyết vô ngã của Phật giáo, vốn phủ định thực thể tồn tại. Tóm lại, quan điểm Thần bất diệt được trình bày ở trên cũng chẳng phải được đặt nền tảng trên sự lí giải chính xác của Phật giáo mà chỉ là sự giải thích đặc thù do người Trung quốc suy diễn ra để giúp cho chính mình dễ dàng tiếp nhận thuyết nghiệp báo luân hồi của Phật giáo. Thời vua Lương vũ đế thuộc Nam triều, ông Phạm chẩn có soạn Thần diệt luận đã gây ra cuộc luận chiến kịch liệt giữa các học giả. Phạm chẩn cho rằng thân xác và tâm thần là một thể, thân xác là chất của tâm thần, tâm thần là dụng của thân xác, khi thân xác diệt mất thì tâm thần cũng diệt theo. Chủ trương này chẳng những phủ định thuyết nghiệp báo luân hồi mà còn phủ định cả sự tồn tại của tinh linh quỉ thần, là chủ trương phản Phật giáo điển hình, khiến các nhân sĩ tin Phật đương thời xôn xao và soạn sách bác bỏ. Như người em bên ngoại của Phạm chẩn là Tiêu sâm (476-513) soạn Nạn thần diệt luận, Tào tư văn soạn Nạn Phạm Trung thư thần diệt nghĩa, Thẩm ước soạn Thần bất diệt nghĩa, Nạn Phạm chẩn thần diệt nghĩa, Lương vũ đế soạn Đại Lương Hoàng đế lập thần minh thành Phật nghĩakí, Đại Lương Hoàng đế sắc đáp thần hạ Thần diệt luận... Vì vua Lương vũ đế thành tâm tin Phật nên Phật giáo đương thời cực kì hưng thịnh, bởi vậy, phản ứng đối với Thần diệt luận của Phạm chẩn cũng rất dữ dội. [X. Hoằng minh tập Q.1-5, 8-10; Quảng hoằng minh tập Q.22; Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử, hạ (Thang dụng đồng)]. (xt. Tam Giáo Luận Hành).
thần diệu
Wonderful, miraculous, marvellous.
; Mysterious—Mystic—Miraculous—Occult—Marvellous—Recondite.
Thần Duệ
(神叡, Shinei, ?-737): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời Nại Lương, húy Thần Duệ (神叡), thông xưng là Phương Dã Tăng Đô (芳野僧都), xuất thân nhà Đường (Trung Quốc, ?). Ông theo hầu Nghĩa Uyên (義淵, Gien) ở Long Cái Tự (龍蓋寺) vùng Đại Hòa (大和, Yamato), thông hiểu cả Pháp Tướng, Duy Thức và Tam Luận. Vào năm 693, ông theo sứ sang Tân La (新羅, Shiragi, Triều Tiên). Sau khi trở về nước, ông trú tại Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), đến năm 717 thì làm Luật Sư, danh tiếng vang khắp cùng với Đạo Từ (道慈, Dōji) ở Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Năm 729, ông được thăng chức Thiếu Tăng Đô, và tương truyền ông có sự cảm ứng của Hư Không Tạng Bồ Tát tại Hiện Quang Tự (現光寺, Genkō-ji) vùng Cát Dã (吉野, Yoshino). Ông được kính ngưỡng như là một trong 6 vị tổ của Pháp Tướng Tông Nhật Bản.
Thần dân 臣民
[ja] シンミン shinmin ||| Subjects (vijita); ministers and people. 〔法華經 T 262.9.37c24〕 => (s: vijita) Người dân; quan chức và dân chúng.
thần dược
Marvellous cure.
thần dược thụ
(神藥樹) Cây thuốc thần, loại cây thần kì có công năng trừ độc xua tà nói trong kinh Thiện tín. Theo kinh này, có cây thần dược tên là Ma đà kì chủ yếm, bấy giờ trong nước có muôn ngàn thứ độc hại, mọi người không dám đi bậy. Lúc ấy có con rắn thần to lớn, mình dài 120 trượng, bò đi kiếm ăn; lại có con trùng đầu đen, thân dài 5 trượng, trên đường đi gặp con rắn thần, rắn liền ngóc đầu lên định ăn thịt trùng, bỗng ngửi thấy mùi thơm của cây thuốc thần liền co đầu toan bỏ chạy, nhưng mình rắn bị vướng vào cây thuốc thần, bèn đứt làm 2 đoạn, nửa phần đầu còn sống chạy thoát được, còn nửa phần đuôi thì thối rữa. Về sau, hễ nghe mùi hôi của con rắn này thì các chất độc đều tiêu tan. [X.Kinhluật dị tướng Q.3].
thần giao
Spiritual relations.
thần giao cách cảm
Telepathy.
; Telepathy.
thần giáo
Xem Thần đạo.
thần hoán
(神煥) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, người ở An cát (nay là huyện Hàng, tỉnh Chiết giang), tự là Nghiêu văn. Thủa nhỏ, sư theo học ngài Tuệ giác, đức hạnh và học vấn đều hơn mọi người. Khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162), sư đến chùa Giác ngộ ở Tư khê (về phía bắc huyện Vụ nguyên, tỉnh An huy) để giảng dạy, những lúc rỗi rảnh thì sư soạn thuật, giải thích rõ các bản văn khó hiểu, nêu những nghĩa mà các bậc hiện tiền chưa nói hết, tất cả gồm 100 chương, người đời gọi là Hoán bách chương. Bấy giờ, sự thờ cúng chư thiên ở các nơi chưa phân định vị thứ, sư bèn tham cứu Đại tạng kinh, biên soạn Chư thiên truyện. Sư còn soạn An lạc kí 1 quyển, Viên giác sớ 2 quyển lưu hành ở đời.[X. Thích môn chính thống Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.15].
Thần Hành 神行
[ja] ジンギョウ Jingyō ||| Sinhaeng (704-779); Silla period Sŏn master; one of the earliest people to transmit the Chan teachings in Korea. => Sinhaeng (704-779); Thiền sư Triều Tiên; là một trong những thiền sư truyền bá thiền tông sớm nhất ở Triều Tiên.
thần hóa
Miraculous change; to spiritualize; to divinize, deify.
thần hải lộ
Xem A tu vân.
thần học
Theology.
; Theology.
; Theology.
thần hồn
Soul, mind, spirit. Liệu cái thần hồn mind yourself. Thần hồn nát thần tính to take fright, to be afraid of one's own shadow.
; Spirit—Soul.
thần hộ mạng
Externalists believe that each one of them has a so-called Guardian Angel to protect them.
thần hộ mệnh
Guardian angel, guardian spirit.
thần hộ thủ
Prajpati (S).
Thần Hộ Tự
(神護寺, Jingo-ji): ngôi chùa của Chơn Ngôn Tông Cao Dã Sơn, hiện tọa lạc tại Sakyō-ku (左京區), Kyōto-shi (京都市). Tiền thân của chùa này là Cao Hùng Sơn Tự (高雄山寺, Takaosan-ji), do dòng họ Hòa Khí (和氣, Waki) sáng lập nên vào khoảng năm 784 khi Trường Cương Kinh (長岡京) dời đô. Trước và sau khi Tối Trừng (最澄, Saichō) sang nhà Đường cầu pháp, Hòa Khí Quảng Thế (和氣廣世) đã từng cung thỉnh ông đến chùa này để thuyết giảng Kinh Pháp Hoa cũng như mở Đàn Quán Đảnh. Vào năm 806 (niên hiệu Đại Đồng [大同] nguyên niên), sau khi trở về nước, Không Hải (空海, Kūkai) cũng tiến hành lễ Quán Đảnh của hai bộ Thai Tạng tại chùa này; sự việc Tối Trừng và đệ tử ông đăng đàn thọ pháp Quán Đảnh được ghi lại trong cuốn Quán Đảnh Lịch Danh (灌頂歷名) do chính tay Không Hải viết. Đến năm 824 (niên hiệu Thiên Trường [天長] nguyên niên), Hòa Khí Thanh Ma Lữ (和氣清麻呂, Waki-no-Kiyomaro, 733-799) dời Thần Nguyện Tự (神願寺) đến Cao Hùng Sơn Tự, lấy tên là Thần Hộ Quốc Tộ Chơn Ngôn Tự (神護國祚眞言寺, Jingokokusoshingon-ji, gọi tắt là Thần Hộ Tự), trở thành ngôi chùa được cấp ngạch của triều đình và là đạo tràng trấn hộ quốc gia. Tượng thờ chính, Dược Sư Như Lai, ở Kim Đường rất nghiêm nghị, là tượng Phật có đặc trưng của nền văn hóa đầu thời Bình An (平安, Heian). Trong hai lần chùa bị hỏa hoạn vào năm 994 (niên hiệu Chánh Lịch [正曆] thứ 5) và 1149 (niên hiệu Cửu An [久安] thứ 5), may thay tượng Phật vẫn còn nguyên vẹn; nhưng cảnh quan của chùa thì bị suy tàn. Vào mùa Thu năm 1168 (niên hiệu Nhân An thứ 3), đau xót trước trước cảnh điêu tàn của chùa khi đến viếng thăm, Văn Giác (文覺, Bunkaku) có dâng lời thỉnh cầu Hậu Bạch Hà Viện (後白河院) hỗ trợ phục hưng chùa, nhưng thất bại. Đến năm 1182 (niên hiệu Thừa An [承安] thứ 3), được sự trợ duyên của Tướng Quân Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo), mục đích phục hưng chùa được hoàn thành. Quần thể kiến trúc hiện tồn có Đại Sư Đường (大師堂, còn gọi là Nạp Lương Phòng [納涼房]) được tái kiến dưới Thời Đại Đào Sơn (桃山時代, Momoyama-jidai); Tỳ Sa Môn Đường (毘沙門堂), Ngũ Đại Đường (五大堂), Minh Vương Đường (明王堂), Lầu Chuông, Kim Đường (金堂), Tháp Đa Bảo (多寳塔). Quốc bảo của chùa có các tượng Nguyên Lại Triều, Bình Trùng Thạnh (平重盛, Taira-no-Shigemori), Đằng Nguyên Quang Năng (藤原光能, Fujiwara-no-Mitsuyoshi), Thích Ca Như Lai, Dược Sư Như Lai, Ngũ Đại Hư Không Bồ Tát (五大虛空菩薩), đồ hình Lưỡng Giới Mạn Trà La (兩界曼茶羅, còn gọi là Cao Hùng Mạn Trà La [高雄曼茶羅]), danh sách Quán Đảnh (thủ bút của Không Hải), Tứ Thập Ngũ Cá Điều Khởi Thỉnh Văn (四十五箇條起請文) của Văn Giác, Phạn Chung, v.v.
Thần Hội
(神會, Jinne, 720-794): vị Thiền tăng của Tịnh Chúng Tông (淨眾宗) Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người Phụng Tường (鳳翔), Thiểm Tây (陝西), nguyên gốc Tây Vức, họ Thạch (石). Năm 30 tuổi, ông đến làm môn hạ của Vô Tướng (無相) ở Tịnh Chúng Tự (淨眾寺) vùng Thành Đô (城都). Sau đó, ông được thầy ấn khả cho, tiếp nối quản lý Tịnh Chúng Tự, nỗ lực xiển dương tông phong của mình, chủ xướng thuyết “tức tâm thị Phật (卽心是佛, ngay nơi tâm này là Phật)”. Vào năm thứ 10 niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) đời vua Đức Tông, ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 36 hạ lạp. Đệ tử của ông là Ích Châu Nam Ấn (益州南印) truyền pháp cho Toại Châu Đạo Viên (遂州道圓) và Đạo Viên truyền lại cho Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密).
; 神會|Hà Trạch Thần Hội.
thần hội
Shen hui (C) Tên một vị sư.
; (神會) I. Thần Hội (668-760). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, là Tổ khai sáng của tông Hà trạch, người ở Tương dương (tỉnh Hồ bắc), họ Cao.Thủa nhỏ, sư học Ngũ kinh, LãoTrang, Chư sử, sau theo ngài Hạo nguyên xuất gia ở chùa Quốc xương, đọc tụng các kinh dễ dàng như trở bàn tay. Năm 13 tuổi, sư tham yết Lục tổ Tuệ năng. Sau khi tổ Tuệ năng thị tịch, sư đi tham phỏng khắp nơi, lặn lội nghìn dặm. Năm Khai nguyên thứ 8 (720), sư vâng sắc trụ chùa Long hưng ở Nam dương, phát huy Thiền pháp, người đương thời gọi sư là Nam dương Hòa thượng. Sau khi Lục tổ nhập diệt khoảng 20 năm, yếu chỉ đốn ngộ của Tào Khê bị chìm lặng, người học ở 2 kinh (Nam kinh và Bắc kinh) đều hướng theo ngài Thần tú, do các vị như Phổ tịch... tiếp nối nhau nêu cao Thiền chỉ. Ban đầu, sư đến Lạc dương định chấn hưng Thiền phong của Lục tổ, nên vào năm Khai nguyên 20 (732), sư mở Đại hội Vô già ở chùa Đại vân tại Hoạt đài, tỉnh Hà nam, luận chiến với Sùng viễn ở Sơn đông. Sư chỉ trích pháp môn của ngài Thần tú Sư thừa là bàng, pháp môn là tiệm, muốn xác lập sự truyền thừa chính thống và tông chỉ của hệ thống Nam tông Tuệ năng. Đồng thời, vào năm Thiên bảo thứ 4 (745), sư soạn Hiển tông kí, định rõ 2 môn Nam đốn, Bắc tiệm, tức cho rằng Nam Năng là Đốn tông, Bắc Tú là Tiệm giáo, danh từ Nam đốn Bắc tiệm bắt nguồn từ đó. Sư cực lực công kích Tiệm môn của ngài Thần tú, do đó mà Nam tông mỗi ngày một thịnh, còn Bắc tông thì suy yếu nặng nề. Năm Thiên bảo 12 (753), sư bị quan Ngự sử là Lô dịch tấu gian, nên phải vâng sắc rời khỏi chùa Hà trạch ở Lạc dương, dời đến ở tại Dặc dương(tỉnh Giang tây), Vũ đương(tỉnh Hồ bắc). Năm sau, sư dời đến trụ ở Tương dương, rồi lại chuyển đến trụ viện Bát nhã chùa Khai nguyên tại Kinh châu. Loạn An sử nổi lên, 2 kinh đều rơi vào tình trạng vô luật pháp, bấy giờ ở các phủ lớn đều có lập đàn độ tăng, gom góp tiền lệ phí cấp độ điệp để sung vào quân nhu. Các giới đàn này thỉnh sư làm đàn chủ, thu được bao nhiêu tài vật đều sung vào quân nhu. Sau khi dẹp loạn, an bình trở lại, vua Túc tông ban chiếu thỉnh sư vào trong cung cúng dường, đồng thời xây dựng Thiền viện trong chùa Hà trạch thỉnh sư đến ở, cho nên người đời gọi sư là Hà Trạch Đại Sư. Sư trụ chùa Hà trạch vẫn xiển dương tông phong của Lục tổ. Niên hiệu Thượng nguyên năm đầu (760), sư nhập tịch, thọ 93 tuổi. Có thuyết cho rằng sư nhập tịch vào niên hiệu Càn nguyên năm đầu (758), thọ 75 tuổi. Vua ban thụy hiệu Chân Tông Đại Sư. Năm Trinh nguyên 12 (796), Hoàng thái tử triệu tập các Thiền sư, xác định tông chỉ của Thiền môn, suy tôn sư là Tổ thứ 7 của Thiền tông. Vua cho dựng bia kỉ niệm sư ở chùa Thần long. Dòng pháp của sư gọi là Hà trạch tông, đệ tử của sư có rất nhiều người tài giỏi, như các vị Vô danh, Pháp như... [X. Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh; Viên giác kinh đại sớ sao Q.3 hạ; Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6; Hà trạch đại sư Thần hội truyện (Hồ thích chi)]. II. Thần Hội (720-794). Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tịnh chúng, sống vào đời Đường, người ở Phụng tường, tỉnh Thiểm tây, nguyên quán ở Tây vực, họ Thạch. Năm 30 tuổi, sư đến tham học ngài Vô tướngở chùa Tịnh chúng, phủ Thành đô, tỉnh Tứ xuyên, sau được ngài Vô tướng ấn khả và kế thừa trông coi chùa Tịnh chúng, tận lực mở mang tông phong, đề xướng thuyết Tức tâm thị Phật, tùy theo căn cơ thượng, trung, hạ của người học mà tiếp dẫn vào đạo một cách cá biệt. Năm Trinh nguyên thứ 10 (794), sư thị tịch, thọ 75 tuổi, pháp lạp 36. Đệ tử sư là các vị: Ích châu Nam ấn truyền pháp cho Toại châu Đạo viên, Đạo viên truyền pháp cho Khuê phong Tông mật. Ngoài ra, còn có các vị như Na đề... [X. Tống cao tăng truyện Q.9].
thần hội hoà thượng di tập
(神會和尚遺集) Gọi đủ: Hồ thích giáo Đôn hoàng Đường tả bản Thần hội hòa thượng di tập. Tác phẩm, 1 tập, do thư viện Á đông ở Thượng hải ấn hành vào năm Dân quốc 19 (1930). Nội dung sách này chia làm 4 quyển, ngoài ra còn có 4 bài bạt, 1 thiên Thần hội truyện và phụ lục 1 quyển (tức Thần hội ngữ lục trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28). Đây là công trình ông Hồ thích tìm trong các bản thảo đào được ở Đôn hoàng các tư liệu về Hòa thượng Thần hội rồi so sánh, sửa chữa thêm, đồng thời y cứ vào các bộ sách khác lưu truyền ở đời như Cảnh đức truyền đăng lục, Cao tăng truyện... để sửa chữa bổ sung và phụ thêm phần trình bày về tư tưởng, hành trạng và tác phẩm của ngài, cũng có đính chính những chỗ lầm lẫn trong các tác phẩm ấy mà biên soạn thành sách này. Các bản viết tay ở Đôn hoàng được thu chép trong sách này gồm có: Thần hội ngữ lục quyển 1 còn sót lại (nửa trước của Pelliot số 3488), Thần hội ngữ lục quyển 2 còn sót lại (luận Bồ đề đạt ma nam tông định thị phi – nửa sau của Pelliot số 3047), Thần hội ngữ lục quyển 3 còn sót lại (Pelliot số 3488), Đốn ngộ vô sinh bát nhã tụng không hoàn chỉnh (A. Stein số 468). Năm 1949, học giả người Pháp là ông Jacques M.Gernet xuất bản bản dịch tiếng pháp của sách này có đính chính hơn 60 chỗ lầm lẫn trong đó, đồng thời còn phụ thêm điển cứ về ngữ cú của toàn sách và phần khảo chứng nhân danh, địa danh. Năm Dân quốc 57 (1968), Hồ thích kỉ niệm quán thuộc viện Nghiên cứu Trung ương ở Trung quốc cho ấn hành lại bộ Thần hội hòa thượng di tập bản chép tay đời Đường ở Đôn hoàng do Hồ thích kiểm xét lại, có thu chép các tư liệu gốc từ năm Dân quốc 19 (1930) về sau và 2 bài luận văn nghiên cứu: Tân giáo định đích Đôn hoàng tả bản Thần hội hòa thượng di trứ lưỡng chủng(Bản chép tay 2 tác phẩm của Hòa thượng Thần hội còn sót lại tìm thấy ở Đôn hoàng mới được kiểm xét lại) và Thần hội hòa thượng ngữ lục đích đệ tam cá Đôn hoàng tả bản: Nam dương hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa, Lưu trừng tập (Bản chép tay thứ 3: Nam dương hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa, Lưu trừng tập trong ngữ lục của Hòa thượng Thần hội tìm thấy ở Đôn hoàng). Những tư liệu gốc bản Đôn hoàng mới được kiểm xét lại gồm có: Nam dương hòa thượng Đốn giáo giải thoát thiền môn trực liễu tính đàn ngữ(văn kiện thứ 2 trong Pelliot số 2045), luận Bồ đề đạt ma Nam tông định thị phi(văn kiện thứ nhất trong Pelliot số 2045), Nam dương hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa (A.Stein số 6557) và 5 bài Ngũ canh chuyển. Điểm then chốt của 2 bài luận văn này là: 1. Bài Nam dương Hòa thượng Đốn giáo giải thoát thiền môn trực liễu tính đàn ngữ là bản thảo do ông Hồ thích soạn bằng cách kiểm xét và đối chiếu giữa bản Đôn hoàng Hòa thượng Đốn giáo giải thoát Thiền môn trực liễu tính đàn ngữ do ông D.T. Suzuki người Nhật đã phát hiện trong thư viện quốc lập ở Bắc bình và văn kiện thứ 2 Pellliot số 2045, mà cho là lời ngài Thần hội nói rõ về ý chỉ thiền Vô niệm. Hồ thích còn dựa vào điểm văn tự, tư tưởng giữa Đàn ngữ và Lục tổ Đàn kinh rất gần nhau mà cho rằng Đàn kinh do chính Thần hội soạn. 2. Ông Hồ thích cho rằng 5 bài thi ca Nam tông định tà chính ngũ canh chuyển ở sau Đàn ngữ và bài thơ Đường luật thể 5 chữ là do ngài Thần hội làm ra, nên mới chép thêm vào. 3. Lại hợp chung tấm ảnh số 2045 của P.Pelliot do ông D.T. Suzuki chụp với 2 bản sao số 3047, 3488 của Pelliot trong bản năm 1930, bổ sung cho Luận Bồ đề đạt ma Nam tông định thị phi 1 quyển, chỉ ra rằng luận này là do ngài Thần hội soạn để giúp Nam tông giành lấy địa vị chính thống trong Thiền môn, do đó mới khảo xét, sửa chữa luận này và công bố trong Đại hội Vô già được tổ chức tại chùa Đại vân ở Hoạt đài vào năm Khai nguyên 20 (732), luận này được lưu truyền rất rộng ở đương thời. 4. Lại dùng A.Stein số 296 in ảnh trong Minh sa dư vận do Thỉ xuy Khánh huyngười Nhật bản biên tập và A.Stein số 468 đã có để bổ sung cho Đốn ngộ vô sinh bát nhã tụng(cũng gọi Hà trạch đại sư hiển thị kí).5. Lại hợp chung A.Stein số 6557 do Nhập thỉ Nghĩa cao người Nhật tìm thấy và P.Pelliot số 3047 vốn có để hoàn thành Nam dương Hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa 1 quyển(cũng gọi Nam tông Hà trạch thiền sư vấn đáp tạp trưng), đồng thời giả thiết rằng quyển này chính là Hà trạch Hòa thượng thiền yếu 1 quyển.
thần hội hà trạch
Shen-Hui-He-Ze (670-762)—Thần Hội Hà Trạch, họ Cao, sanh năm 670 sau Tây Lịch, xuất gia năm 14 tuổi. Ông là một trong những đệ tử nổi bật của Lục Tổ Huệ Năng. Ông mạnh mẽ ủng hộ cho vị trí của Lục Tổ trong lịch sử Thiền Tông Trung Hoa. Thần Hội dẫn đầu Thiền Phái truyền lại bởi Lục Tổ Huệ Năng ở phương Nam, và mạnh mẽ tấn công phái Thần Tú phương Bắc. Ông đưa ra hai lý do để tấn công phái Thần Tú—Shen-Hui-He-Ze, surname was Kao. He was born in 670 A.D., and left home at the age of 14. He was one of the eminent disciples of the Sixth Patriarch. He strongly supported and promoted Hui-Neng's place in Chinese Zen history. Shen-Hui led the Southern school, and strongly attacked what became widely known as the Northern school, the school associated with Shen-Xiu. Shen-Hui put forward two reasons for his attack on the Northern school: 1) Lý do thứ nhất, ông tấn công về sự không chính thống của phái Thần Tú và mạnh mẽ cho rằng Huệ Năng mới là người truyền thừa y bát chính thống từ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Dĩ nhiên cuộc tranh luận tự nói lên rằng ông chính là Thất Tổ của dòng Bồ Đề Đạt Ma—The first reason, he attacked the legitimacy as the Dharma heir of Hung-Jen and proposed that the honour belonged to Hui-Neng. Of course the argument was self-serving, since Shen-Hui could claim to be the true Seventh Patriarch of the Bodhidharma line. 2) Lý do thứ nhì mà ông tấn công phái Thần Tú, ông cho rằng thiền phái của Thần Tú là “tiệm môn,” rất xa lạ với thiền phái “đốn ngộ” mà Lục Tổ Huệ Năng đã truyền lại—The second reason, for attacking Shen-Xiu was his Dharma gate was gradual, which was fundamentally at odds with what Shen-Hui regarded as the genuine Zen of his teacher, Hui-Neng. • Năm mười bốn tuổi, khi đang là Sa Di ở chùa Ngọc Tuyền, sư tìm đến yết kiến Lục Tổ Huệ Năng. Tổ hỏi: “Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến, có đem được bổn (gốc) theo chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?” Sư thưa: “Lấy không trụ làm gốc, thấy tức là chủ.” Tổ bảo: “Sa Di đâu nên dùng lời đó.” Sư thưa: “Hòa Thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy?” Tổ cầm gậy đánh sư ba gậy, hỏi: “Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?” Sư thưa: “Cũng đau cũng chẳng đau.” Tổ nói: “Ta cũng thấy cũng chẳng thấy.” Trong khi bị đánh, Thần Hội nghĩ: “Vị Thầy nầy thật vĩ đại. Thật khó mà gặp được một người như vậy dù trong nhiều kiếp. Đã gặp rồi không thể bỏ lỡ dịp may ngàn đời—Zen master He-Ze-Shen-Hui of the Western Capital came from Xiang-Yang, when he was a novice monk at the age of fourteen. At his first meeting with the Sixth Patriarch. The Sixth Patriarch asked Shen-Hui: “You have come on an arduous journey from afar. Did you bring what is fundamental? If you have what is fundamental then can you see the host. Let's see what you have to say.” Shen-Hui said: “I take no abode as the fundamental. What is seen is the host.” The Sixth Patriarch said: “This novice is talking nonesense!” He then took his staff and struck Shen-Hui. As he was being beaten, Shen-Hui thought: “This Master is such a great and wise sage. It is difficult to meet such a person even after many kalpas of time. Having met him today how can I lament my life?” • Một hôm Tổ bảo đại chúng: “Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết chăng?” Sư bước ra thưa: “Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh ngươi là không tên không họ, nguơi lại kêu là bản nguyên, Phật tánh. Ngươi lại đi lấy tranh che đầu, cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải.” Sư lễ bái lui ra—Once, the Sixth Patriarch addressed the congregation, saying: “I have something which has no head or tail. It is nameless and can't be described. It has no back and no front. Do any of you know what it is?” Shen-Hui came forward and said: “It is the source of all things. It is the Buddha-nature of Shen-Hui.” The Sixth Patriarch said: “I said that it has no name and no description. How can you say it is the source of the Buddha-nature?” Shen-Hui bowed and retreated. • Năm 760, Sư thị tịch trong lúc đang ngồi thiền. Tháp của sư được đặt tại Long Môn—In 760, he passed away while sitting in meditation. His burial stupa was located at Dragon Gate.
thần hội ngữ lục
(神會語錄) Sách thu gom các pháp ngữ của ngài Thần hội, Tổ khai sáng tông Hà trạch đời Đường. Bản hoàn chỉnh này đã thất truyền. Cứ theo Lạc kinh Hà trạch Thần hội đại sư thị chúng được thu chép trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 và Hà trạch đại sư hiển thị kí được thu chép trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 thì được biết ngài Thần hội chỉ soạn có Nam tông Hà trạch thiền sư vấn đáp tạp trưng 1 quyển và Hà trạch hòa thượng thiền yếu 1 quyển. Nhưng, những năm gần đây, qua các tư liệu tìm thấy ở Đôn hoàng, ta có thể biết chắclàtác phẩm của ngài Thần hội ít ra cũng có 3 ấn bản sau đây:1. Thần hội hòa thượng di tập 4 quyển, do ông Hồ thích xuất bản vào năm Dân quốc 19 (1930). Năm Dân quốc 57 (1968), Hồ thích kỉ niệm quán thuộc viện Nghiên cứu Trung ương, Trung quốc, in lại.2. Hà trạch thiền sư ngữ lục, do ông D.T.Suzuki người Nhật xuất bản vào năm Chiêu hòa thứ 7 (1932), nội dung của bộ ngữ lục này giống với quyển thứ nhất trong bản Hồ thích, nhưng ở cuối quyển có ghi việc sa môn Bảo trân và phán quan Triệu khán lâm cùng theo ý của Bắc đình Trương đại phu mà kiểm xét lại ngữ lục này vào năm Trinh nguyên thứ 8 (792) đời Đường. Ngoài ra còn ghi lược truyện của các Tổ Thiền tông từ Sơ tổ Đạt ma đến Lục tổ Tuệ năng và Đại thừa đốn giáo tụng tinh tự của ngài Thần hội. 3. Hòa thượng đốn giáo giải thoát thiền môn trực liễu đàn ngữ, 1 pho 4tập, do D.T. Suzuki xuất bản vào năm Chiêu hòa thứ 10 (1935). Bản này Suzuki có tham khảo Hồ thích, kiểm xét đối chiếu và sửa sang thêm và chia toàn sách làm một số chương tiết, đồng thời phụ thêm bản Đôn hoàng và Lục tổ đàn kinh tập giải thuyết của bản chùa Hưng thánh. [X. Đôn hoàng kiếp dư lục (Trần viên) Q.13; Đường đại trường an dữ tây vực văn minh (Hướng đạt); Đường đại văn hóa sử (La hương lâm); Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ); Hà trạch Thần hội thiền sư khảo (Sơn kì hoành, Trung quốc chi xã hội dữ tông giáo)]. (xt. Thần Hội Hòa Thượng Di Tập).
Thần Hội 神會
[ja] ジンネ Jinne ||| Shenhui (668-760): Chinese monk, disciple of Huineng 慧能, considered to be the founder of the Heze 荷澤 school of Chinese Chan, being a primary representative of what is termed as the southern "sudden" tradition. => Shenhui (668-760). Thiền sư Trung Hoa, đệ tử cuả Huệ Năng, được xem là người sáng lập dòng thiền Hà Trạch (Heze 荷澤), là biểu tượng đầu tiên của thuật ngữ Nam 'đốn' trong Thiền tông Trung Hoa.
thần kim cương
Vajra god.
Thần Kinh
(神京): (1) Đế đô, thủ đô. Như trong bài Phụng Hòa Biệt Việt Vương (奉和別越王) của Trương Đại An (張大安, ?-?) nhà Đường có câu: “Lệ nhật khai phương điện, giai khí tích thần kinh (麗日開芳甸、佳氣積神京, trời đẹp bày thơm cõi, khí tốt tụ kinh đô).” Hay trong bài Tiểu Trùng Sơn (小重山) của Hòa Ngưng (和凝, 898-955) thời Ngũ Đại có đoạn: “Xuân nhập thần kinh vạn mộc phương, cấm lâm oanh ngữ hoạt, điệp phi cuồng (春入神京萬木芳、禁林鶯語滑、蝶飛狂, xuân đến đế đô cây cỏ thơm, vườn cấm oanh líu lo, bướm bay rối rít).” Trong bài Võ Xương Khởi Nghĩa Chơn Sử (武昌起義真史) của Tào Á Bá (曹亞伯, 1875-1937) cũng có câu: “Bỉnh nhĩ bạch mao, báo nhĩ tiên đức, trùng tân Cửu Đỉnh, tái điện thần kinh (秉爾白茅、報爾先德、重新九鼎、再奠神京, giữ vững ý chí người, báo đáp đức lớn người, trùng tu mới Cửu Đỉnh, tái thiết chốn thần kinh).” (2) Giống như tiên cảnh, kinh đô của tiên nữ. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) quyển 42 có đoạn: “Chiêu chơn hạ lưu, quán ngã ngọc sương, vũ quần phân phân, y ngã tiên thường, việt quá thủy hỏa, phi đăng thần kinh (招眞下流、灌我玉霜、羽裙紛紛、衣我仙裳、越過水火、飛登神京, mời Chơn Quân xuống dòng, rưới sương ngọc ta, quần long phấp phới, mặc áo tiên ta, vượt qua nước lửa, bay lên tiên cảnh).”
Thần Kì Quan
(神祇官, Jinkikan, Kamuzukasa, Kamizukasa): (1) Tên gọi một cơ quan quốc gia được thiết lập theo Luật Lịnh Chế thời cổ đại. Từ Thần Kì (神祇) ở đây, Thần (神) tức là Thiên Thần (天神); Kì (祇) là Địa Kì (地祇); cho nên theo Luật Lịnh Chế thời xưa thì Thần Kì Quan là vị quan chuyên trách việc cúng tế Thiên Thần và Địa Kì, quản lý chung các đền thờ Thần Xã trên toàn quốc. Vị này có địa vị trên các chức quan, thậm chí trên cả Thái Chính Quan (太政官), người lo việc hành chính. Tứ Đẳng Quan (四等官) gồm Bá (伯), Phó (副, Đại Phó [大副] và Thiếu Phó [少副]), Hữu (佑, Đại Hữu [大佑] và Thiếu Hữu [少佑]) và Sử (史, Đại Sử [大史] và Thiếu Sử [少史]). Tuy nhiên, trên thực tế thì chức Thần Kì Quan nằm dưới Thái Chính Quan. (2) Tên gọi một cơ quan quốc gia được thiết lập vào đầu thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911). Vào tháng 4 năm 1868 (Khánh Ứng [慶應] 4) nhuận, thể theo Chính Thể Thư (政体書), Thần Kì Quan được chính thức thiết lập; là cơ quan chưởng quản các sự việc liên quan đến tế tự, Thần Kì, chúc từ, v.v.
thần linh
God, deity, spirit.
; Divinity.
thần linh học
Spiritism.
thần lực
Ṛddhibala (S), Ṛddhi (S), Iddhi (P), Adhitiṣṭhati (S), Iddhibala (P), Bindhu (S), tiglī (T) Supernatural powers, Magic power, Psychic energy Gia trì, Gia bị, Thần, Thần thông, Thần sắc, Thần khí. Trong: Tinh, Khí, Thần Xem Sanh lực.
; Rddhibala (S). Divine power. Superhuman strength.
; Abhijna (skt)—Abhinna (p)—Supernatural power(s)—Spiritual power(s)—Awesome spiritual power(s)—See Thần Thông.
; (神力) Phạm: Fddhi. Pàli:Iddhị. Cũng gọi Thần thông lực. Các thứ năng lực thần biến không thể nghĩ bàn do Phật và Bồ tát thị hiện. Trong các kinh có nhiều chỗ nói về việc Phật và Bồ tát hiển hiện thần lực, như phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa quyển 6 ghi rằng: Đức Thế tôn ở trước trăm ức vạn chúng trời, người hiện đại thần lực, thè lưỡi rộng dài đến tận cõi trời Phạm thế, từ tất cả lỗ chân lông của Ngài đều phóng ra vô lượng vô số ánh sáng nhiều màu, chiếu soi hết thảy các thế giới trong 10 phương. Pháp hoa văn cú quyển 29 của ngài Trí khải (Đại 34, 141 hạ) nói: Thần là không lường được, Lực là tài dùng; không lường được thì thể của thiên nhiên sâu, tài dùng thì sức chuyển biến lớn. Pháp hoa kinh huyền nghĩa tán quyển 10 của ngài Khuy cơ (Đại 34, 841 thượng) nói: Diệu dụng vô phương gọi là Thần, uy thế có công năng phá dẹp gọi là Lực.
thần lực của chư phật
The Buddhas' spiritual powers.
Thần minh
(神明): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tức thiên thần địa kỳ; không đo lường được gọi là thần, sáng trong như kính gọi là minh; là tên gọi chung của chư vị thần linh trong trời đất. Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648), nhà kinh học, sống dưới thời nhà Đường, giải thích rằng: “Vạn vật biến hóa, hoặc sanh hoặc thành, thị thần minh chi đức (萬物變化、或生或成、是神明之德, vạn vật biến hóa, hoặc sinh nở hoặc lớn lên, là đức của thần minh).” Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có đoạn: “Nhật nguyệt chiếu kiến, thần minh ký thức, cố hữu tự nhiên tam đồ vô lượng khổ não, triển chuyển kỳ trung, thế thế lũy kiếp, vô hữu xuất kỳ (日月照見、神明記識、故有自然三塗無量苦惱、展轉其中、世世累劫、無有出期, trời trăng chiếu thấy, thần minh ghi biết, cho nên tự nhiên có Ba Đường vô lượng khổ não, xoay vần trong đó, đời đời bao kiếp, không có lúc ra).” Hay trong Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師琉璃光如來本願功德經, Taishō Vol. 14, No. 450) lại có đoạn: “Sát chủng chủng chúng sanh, giải tấu thần minh, hô chư võng lượng, thỉnh khất phước hựu (殺種種眾生、解奏神明、呼諸魍魎、請乞福祐, giết các loại chúng sanh, tâu trình thần minh, gọi quỷ gỗ đá, cầu xin ban phước).” (2) Đặc biệt chỉ cho Thần Thái Dương (太陽神). Như trong Sử Ký (史記), phần Phong Thiền Sư (封禪書), có đoạn rằng: “Trường An Đông Bắc hữu thần khí, thành ngũ thái, nhược nhân quan miến yên, hoặc viết Đông Bắc, thần minh chi xá; Tây phương, thần minh chi mộ dã (長安東北有神氣、成五采、若人冠絻焉、或曰東北、神明之舍、西方、神明之墓也, phía Đông Bắc Trường An có thần khí, tạo thành năm màu, giống như người đội vương miện vậy; hoặc gọi Đông Bắc, là nhà của Thần Thái Dương; phương Tây là mộ của Thần Thái Dương).” (3) Trí sáng như thần. Như trong Hoài Nam Tử (淮南子), phần Binh Lược Huấn (兵略訓), có đoạn: “Kiến nhân sở bất kiến vị chi minh, tri nhân sở bất tri vị chi thần; thần minh giả, tiên thắng giả dã (見人所不見謂之明、知人所不知謂之神、神明者、先勝者也, thấy người ở chỗ không thấy được gọi là minh [sáng suốt], biết người ở chỗ không biết được gọi là thần; thần minh là cái biết trước vậy).” (4) Chỉ cho thần thánh, đấng cao siêu. Như trong bài thơ Thượng Lô Tam Thập Di Dĩ Ngôn Kiến Truất (上盧三拾遺以言見黜) của Từ Di (徐夤, ?-?) thời Ngũ Đại có câu: “Tật nguy tất yểm thần minh dược, tâm hoặc đa hiềm chánh trực ngôn (疾危必厭神明藥、心惑多嫌正直言, bệnh nguy ắt chán thần thánh thuốc, tâm mê lại ghét nói ngay lời).”
thần minh
The spirits of heaven and earth, the gods; also the intelligent or spiritual nature.
; The intelligent or spiritual nature—The spirits of heaven and earth, the gods.
; (神明) Không cách nào suy nghĩ phân biệt được gọi là Thần; soi thấy được gọi là Minh. 1. Chỉ cho các thần trong trời đất, vì các thần có năng lực xét biết rõ ràng thiện ác chính tà một cách đúng như thực nên gọi là Thần minh. 2. Chỉ cho thần thức của chúng sinh (chủ thể của linh hồn, tinh thần).
Thần Nghi
神儀; ?-1216|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông thứ 13, nối pháp Thiền sư Thường Chiếu.|Sư họ Quách, quê ở Ngoại Trại, xuất thân từ một gia đình mộ đạo. Sau khi xuất gia, Sư đến học với Thiền sư Thường Chiếu.|Lúc Thường Chiếu sắp tịch, Sư hỏi: »Mọi người đến thời tiết này, vì sao đều theo thế tục mà chết?« Thường Chiếu bảo: »Ngươi nhớ được mấy người không theo thế tục?« Sư thưa: »Một mình Tổ (Bồ-đề) Ðạt-ma.« Thường Chiếu hỏi: »Có những đặc biệt gì?« Sư thưa: »Một mình đạp trên sóng mà trở về Tây.« Thường Chiếu hỏi: »Núi Hùng Nhĩ là nhà ai?« Sư thưa: »Chỉ là nơi chôn chiếc gậy trong hòm mà thôi.« Thường Chiếu bảo: »Lừa người lấy lợi, đứng đầu là Thần Nghi.« Sư hỏi: »Ðâu thể nói Tống Vân truyền dối, việc vua Trang Ðế quật mồ thì sao?« Thường Chiếu bảo: »Một con chó lớn sủa láo.« Sư hỏi: »Hoà thượng cũng tuỳ tục chăng?« Thường Chiếu bảo: »Tuỳ tục.« Sư hỏi: »Vì sao như thế?« Thường Chiếu đáp: »Ấy là cùng người đồng đều.« Sư nhân đây bỗng nhiên tỉnh ngộ, lễ bái thưa: »Con đã hiểu lầm rồi.« Thường Chiếu liền hét.|Sau đó Thường Chiếu lấy bản đồ truyền thừa của Thiền sư Thông Biện ra vì Sư giảng nghĩa.|Sau khi Thường Chiếu tịch, Sư về trụ trì chùa Thắng Quang ở làng Thị Trung, Kim Bài. Ðồ chúng theo học rất đông.|Ngày 18 tháng 2 năm Bính Tí, niên hiệu Kiến Gia thứ 6 đời Lí Huệ Tông, Sư gọi đệ tử là Ẩn Không đến lấy bản đồ của Thường Chiếu trao cho và dặn: »Phương này hiện nay tuy loạn, ngươi khéo giữ bản dồ này, cẩn thận đừng để binh lửa làm hại, ắt là tổ phong của ta không mất vậy«. Nói xong, Sư tịch.
thần ngã
Puruṣa (S), Purisa (P) Nguyên thần.
; Purusa, Atman (S). The soul, the spiritual ego, or permanent person, which by non-Buddhists was said to migrate on the death of the body. Purusa is also the Supreme Soul, or Spirit, which produces all forms of existence.
; Purusa or Atman (skt). 1) Cái thực ngã mà ngoại đạo chấp rằng khi thân chết thì thần ngã xuất ra: The soul, the spiritual ego, or permanent person, which by non-Budhists was said to migrate on the death of the body. 2) Thần Thức cũng là cái tâm thức tối thượng sản sanh mọi hình thức của sự hiện hữu: Purusa is also the Supreme Soul or Spirit, which produces all forms of existence.
; (神我) Phạm: Puruwa. Cũng gọi Thần ngã đế, Ngã tri giả. Gọi tắt: Thần, Ngã. Chỉ cho bản thể tinh thần của cá nhân, đế thứ 25 trong 25 đế do học phái Số luận ở Ấn độ lập ra. Tức chủ trương cho rằng Ngã là Thực ngã thường trụ độc tồn, thụ dụng các pháp. Vì đối với Tự tính, phái Số luận lập ra 25 đế và lấy Tự tính đế (Phạm:Prakftì) đầu tiên trong 25 đế làm bản tính, 23 đế ở khoảng giữa là biến dị (đổi khác), còn Thần ngã đế thứ 25 thì chẳng phải bản tính cũng chẳng phải biến dị, thể của nó là có thật, thường còn, thanh tịnh và độc lập, thường được 24 đế còn lại bao bọc chung quanh. Nguyên tố căn bản (tức Tự tính) là nhân của chất liệu căn bản, nếu kết hợp với Thần ngã thì từ nguyên tố căn bản sẽ triển khai ra thế giới hiện tượng. Mà khi nguyên tố căn bản kết hợp với Thần ngã thì Thần ngã sẽ bị vật chất trói buộc; nhưng khi được giải thoát thì Thần ngã thoát li khỏi nguyên tố căn bản, tồn tại độc lập, trở thành cái thuần túy xưa nay vốn thanh tịnh. Theo học thuyết phái Số luận thì sự tồn tại của Thần ngã được chứng minh qua 5 tình hình sau đây: 1. Vì người khác mà tích tụ (Phạm: Saôghàtaparàrthatvàt): Tất cả sự tụ tập mà người thế gian thấy được đều chẳng phải tự thân chúng có như vậy, chẳng hạn như giường chiếu chẳng phải tự thân chúng có ra như thế, nhưng vì đáp ứng nhu cầu cần dùng của người khác mà tụ tập lại thành vật.2. Vì khác với 3 đức (Phạm: Triguịàdiviparyaryàt): Ba đức chỉ cho Hỉ, Ưu, Ám. Ngoài Thần ngã, 24 đế kia đều không lìa 3 đức, đó là người mù; còn Thần ngã thì thấy biết được tự tính, khác với 3 đức, là cái Ngã thường trụ. 3. Vì là nương gá (Phạm: Adhiwỉhànàt, cũng gọi Chi phối): Nếu nương gá vào Thần ngã thì thân này có tác dụng; nếu không thì thân này cũng không có tác dụng. Thần ngã có khả năng chi phối thân thể có tính vật chất, 24 đế còn lại thì cần phải nương vào Thần ngã mới thành ý nghĩa, cho nên Thần ngã là cái có thật. 4. Vì có người ăn (Phạm: Bhoktfbhavàt): Hai mươi bốn đế kia giống như thực phẩm, còn Thần ngã thì như người ăn; có thực phẩm thì phải có người ăn để thưởng thức mùi vị. 5. Vì độc tồn mà gắng sức (Phạm: Kaivalyartham pravftte#): Nếu không có Thần ngã thì con người dù có gắng sức đến đâu đi nữa(chẳng hạn như gắng sức cầu giải thoát) rốt cuộc cũng vô hiệu, nhân quả báo ứng cũng mất ý nghĩa, vì thế biết chắc chắn Thần ngã có thật trong con người. Phật giáo phản đối luận thuyết nói trên mà chủ trương Thần ngã là cái Ngã lìa uẩn và dùng quan điểm các pháp vô ngã để phê phán và phá dẹp các luận thuyết vọng chấp Thần ngã. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; phẩm Phá thần trong Bách luận Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối].
thần ngã ngoại đạo
(神我外道) Một trong 10 thứ ngoại đạo. Như học thuyết của phái Số luận, Thắng luận trong 6 pháiTriết học ở Ấn độ chủ trương người, trời mỗi loài đều là một thực thể thường trụ độc tồn, thực thể này vừa thụ dụng các pháp, vừa là thực ngã chủ tể vạn hữu. Những phái chủ trương thuyết này, Phật giáo đều gọi là Thần ngã ngoại đạo. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối]. (xt. Thần Ngã, Số Luận Học Phái).
thần ngôn
Atharva-veda (S) A thát bà phệ đà kinh.
thần nhân
Gods, or spirits, and men.
; Gods (spirits) and men.
; (神人) Một trong 10 danh hiệu của Phật được nêu trong kinh Bồ tát bản nghiệp. Thần nhân và Đại thánh nhân, Đại sa môn, Chúng hựu, Dũng trí, Thế tôn, Năng nho, Thăng tiên, Thiên sư, Tối thánh được gọi chung là Phật thập danh. Kinh Hoa nghiêm quyển 42 (bản dịch mới) cũng nêuPhật thập danh nhưng khác với Phật thập danh ghi trên. Đó là: Như lai, Phật, Pháp sư, Nhất thiết trí, Sở y xứ, Đạo sư, Đại đạo sư, Quang minh, Thập lực tự tại và Nhất thiết kiến giả. Ngoài ra, người đời gọi Thần nhân thì phần nhiều chỉ cho các Tiên nhân có sức thần thông.
thần nữ
A devi, a goddess, a female spirit.
; A devi, a female spirit, a sorceress.
thần phưởng
(thần phưởng) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Ban đầu, sư trụ ở chùa Pháp hải, tinh thông kinh luận Đại, Tiểu thừa. Năm Trinh quán 19 (645), ngài Huyền trang bắt đầu dịch kinh ở chùa Hoằng phúc, sư vâng sắc làm người chứng nghĩa, về sau, học trò của sư thường được mời tham gia dịch trường. Khoảng năm Hiển thánh, lúc ngài Huyền trang dịch luận Đại tì bà sa ở chùa Đại từ ân, sư giữ việc ghi chép; còn khi ngài Huyền trang dịch kinh Đại bát nhã ở cung Ngọc hoa thì sư tham gia nhuận văn. Lúc còn trẻ, sư rất kính tin kinh Địa tạng thập luân, năm Vĩnh huy thứ 2 (651), ngài Huyền trang dịch lại kinh này, sư làm bút thụ(người ghi chép). Sư để lại các tác phẩm: Thành duy thức luận yếu tập 10 quyển, Địa tạng thập luân kinh sớ 3 quyển, nay đều thất truyền. Người đời gọi sư là Đại thừa Phưởng, hoặc Phưởng pháp sư. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.6].
thần phần
(神分) Cũng gọi Thần hạ. Chia pháp thí cho các thần trong trời đất. Vì loại trừ chướng ngại do các thần xấu ác gây ra nên khi tu hành pháp Mật giáo để cầu xin sự bảo hộ của các vị thiện thần, đặc biệt hướng tới các trời hoặc thần kì tụng kinh, khiến các vị ấy nhờ nghe Phật pháp mà được pháp lạc. Thông thường đều tụng Bát nhã tâm kinh 1 quyển, gọi là Phân thần tâm kinh, tụng lúc bắt đầu tu pháp hoặc sau khi biểu bạch.
thần phận tâm kinh
Lúc khuyến thỉnh thần kỳ hay trừ tà ma khi đọc kinh—Divinely distributed Sutra, when publicly recited to get rid of evil spirits—See Bát Nhã Tâm Kinh.
thần phật
Deity and Buddhas.
thần phật phân li
(神佛分離) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Vào tháng 3 năm Khánh ứng thứ 4 (1868), chính phủ Nhật bản ra thông cáo Tế chính nhất trí, Thần kì quan tái hưng(Tông giáo và chính trị hợp nhất, phục hưng địa vị Thần kì). Từ đó, phong tập Thần Phật hợp nhất từ trước đến nay bắt đầu suy đồi. Minh trị Duy tân lấy việc khôi phục vương quyền từ ngàn xưa làm lí tưởng chính trị của ông và lấy tinh thần sáng nghiệp thần vũ làm nền tảng, cho nên bắt đầu cuộc vận động tông giáo phục hưng Thần đạo, hợp nhất tông giáo chính trị và tách rời Phật với thần, vua ban lệnh buộc các xã tăng và Biệt đương ở các Thần xã(tự viện) phải hoàn tục. Các thần của thần xã cũng thoát li sự chi phối của Phật giáo và được đặt dưới sự chỉ huy của các quan thần kì, loại bỏ các thần hiệu mang tính cách Phật hiệu như Quyền hiện, Minh thần, Bồ tát... Ngoài ra còn loại bỏ tượng Phật, tượng tăng, kinh điển, pháp cụ... Trái lại, địa vị của quan thần kì được đề cao, các Thần chức được đãi ngộ ngang với quan lại nhà nước, trở thành chính sách lấy Thần kì làm trung tâm, lấy thần đạo làm quốc giáo. Chính sách Thần Phật phân li này đã phát triển thành cuộc vận động bài trừ Phật giáo một cách quá khích, tình hình cực kì nghiêm trọng. Phật giáo Nhật bản ở Giang hộ được sự che chở của Mạc phủ, từ lâu vẫn được an ổn, bỗng trải qua biến cố này, các nhân sĩ bèn thức tỉnh và lấy việc phục hưng Phật giáo làm nhiệm vụ của mình.
thần phật tập hợp
(神佛習合) Cũng gọi Thần Phật hỗn hào. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho tư tưởng coi Thần Phật hỗn hợp cùng một thể, là tư tưởng chỉ có trong Phật giáo Nhật bản và cũng là sự biểu hiện đồng hóa giữa Phật giáo và tín ngưỡng Thần kì vốn có của Nhật bản. Sau khi Phật giáo truyền vào Nhật bản, giữa tín ngưỡng Thần kì và Phật giáo thường có mối bất hòa. Về sau, cả 2 dần dần điều hòa. Vào thời đại Nại lương (Nara), chùa chiền phụ thuộc vào Thần xã(đền thờ thần), tức ở các xã lớn có thiết lập chùa Thần cung. Thông thường, trong Thần xã phong khí cung kính cho thần, hoặc độ người làm tăng rất hưng thịnh. Đến thời đại Bình an, lại sinh ra tác pháp đọc kinh trước thần. Lại như Bát phan Bồ tát, tức là tên hiệu thần lại thêm vào danh hiệu Phật. Sau Trung kì, tư tưởng này càng sâu đậm, từ đó sinh ra thuyết Thần là Phật hóa hiện, đây chính là bối cảnh thành lập thuyết Bản Địa Thùy Tích. Vào thời kì này, chữ Thần thường được đặt trước danh hiệu Quyền hiện mà cho rằng Thần là thân thùy tích quyền xảo biến hóa của Phật, Bồ tát bản địa. Trong chùa Thần cung thì sinh ra Xã điện mang sắc thái Phật giáo sâu đậm, các Xã điện phần nhiều lấy pháp hội làm chính, Xã tăng đồng thời thờ cúng thần kì, tu trì Phật sự. Trái lại, trong khuôn viên các tự viện cũng cúng tế thần thủ hộ tự viện, gọi là Trấn thủ. Theo đà tiến triển của thuyết Bản địa thùy tích mà dần dần lấy giáo nghĩa của tông Thiên thai và tông Chân ngôn làm giáo lí cho Thần Phật tập hợp. Về sau, giáo nghĩa tông Thiên thai sinh ra Sơn vương nhất thực thần đạo và giáo nghĩa tông Chân ngôn sinh ra Lưỡng bộ tập hợp thần đạo. Từ cuối thời kì Bình an đến thời kì Liêm thương lại phối hợp các thần kì với tên gọi của các Phật ở các nơi. Ngoài ra còn lấy tư tưởng Bản địa thùy tích làm nền tảng mà sản sinh ra mĩ thuật thùy tích. Lại do ảnh hưởng của tượng Phật mà bắt đầu tạo tượng thần, rồi sinh ra rất nhiều tượng quyền hiện. Lại lấy bức họa Chư Phật bản địa làm cơ sở mà vẽ ra Bản địa mạn đồ la. Lúc này, kiểu kiến trúc thần xã cũng chịu ảnh hưởng kiểu kiến trúc các chùa Phật. Nhưng từthờiNam Bắc triều trở đi, đối với chủ trương Phật bản thần tích(Phật gốc thần ngọn) từ trước đến giờ, lại sản sinh chủ trương Thần bản Phật tích(Thần gốc Phật ngọn). Đây là chủ trương phản lại thuyết Bản địa thùy tích như Thần đạo luận của Bắc hoàng Thân phòng. Cát điền Kiêm câu thời Thất đinh đề xướng Duy nhất thần đạo. Đến thời Giang hộ, giữa các học giả Quốc học nhen nhóm tư tưởng phục hưng Thần đạo, tiến tới bài bác Phật giáo. Thời Minh trị Duy tân, sau khi lệnh Thần Phật phân li được công bố, cuộc vận động Phế Phật hủy Thích đã có lúc đạt đến cực điểm, biến thành phong trào quá khích: Tượng Phật, kinh Phật, pháp cụ đều bị thiêu hủy, tiến tới đập phá chùa chiền, bán chùa, bán pháp... từ đó, thuyết Bản địa thùy tích dần dần cáo chung. [X.Chư thần bản hoài tập Q.đầu; Xuân nhật xã cát xã kí; Nguyên hanh thích thư Q.18; Nhật bản Phật giáo sử chi nghiên cứu]. (xt. Thần Phật Phân Ly).
thần phục
To give in—To yield—To submit.
Thần Quan
(神官, Shinkan): với tư cách là quan lại của quốc gia, đây là người phụng sự cho vị Thần nào đó, hay người phụng chức ở các nơi tế tự Thần. Hiện tại, ở Nhật không còn hiện hữu chức Thần Quan nẫy nữa. Trong các thư tịch xưa liên qua đến Thần Đạo của Nhật Bản, đây là từ thỉnh thoảng có thấy vài nơi, dùng để chỉ cho Thần Chức (神職, người chuyên lo việc tế tự của Thần Xã), và hiện tại vẫn được dùng trong ngôn ngữ thường ngày. Vào đầu thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911), khi chức Thần Kì Quan (神祇官) được tái thiết lập, tất cả Thần Chức đều trở thành quan lại. Sau trận bại chiến của Nhật trong cuộc Chiến Tranh Đại Đông Á, chức Thần Quan đã bị phế bỏ.
Thần Quang
神光|Huệ Khả
Thần quang
(神光): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi khác của một kinh huyệt. Như trong tác phẩm Thiên Kim Yếu Phương (千金要方) do Tôn Tư Mạc (孫思邈, 581-682) nhà Đường sáng tác, có đoạn: “Thổ ẩu túc trấp thôn toan, cứu Thần Quang, nhất danh Đảm Mộ, Bách Tráng (吐嘔宿汁吞酸、灸神光、一名膽募、百壯, nôn mữa, giữ nước, ợ chua, lấy ngải cứu đốt huyệt Thần Quang, có tên khác là Đảm Mộ, Bách Tráng).” Trong Châm Cứu Giáp Ất Kinh (針灸甲乙經) có giải thích rằng: “Nhật Nguyệt, Thắng Mộ dã (日月、膽募也, huyệt Nhật Nguyệt là Thắng Mộ).” Cho nên, huyệt Thần Quang còn có tên là Nhật Nguyệt. (2) Đồng nghĩa với tinh thần. Như trong tác phẩm Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn (黃帝內經素問), phần Bổn Bệnh Luận (本病論) có câu: “Thần ký thất thủ, thần quang bất tụ (神旣失守、神光不聚, thần đã không giữ được, thì tinh thần không tụ lại được).” (3) Chỉ cho công năng của thị giác. Như trong tác phẩm Thẩm Thị Dao Hàm (審視瑤函) của Phó Nhân Vũ (傅仁宇, ?-?) nhà Minh giải thích rằng: “Thần quang giả, vị mục trung tự nhiên năng thị chi tinh hoa dã (神光者、謂目中自然能視之精華也, thần quang có nghĩa là tinh hoa trong con mắt tự nhiên có thể nhìn thấy được).” (4) Chỉ Huệ Khả (慧可, 487-593), hiệu là Thần Quang, Tổ sư thứ 2 của Thiền Tông Trung Hoa. (5) Ánh sáng, hào quang linh thiên, thần thánh. Như trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) quyển 7 có đoạn: “Khả dĩ phổ độc diệu chi thần quang, viên huyễn hữu chi vạn hạnh, sở vị vô thành chi thành, vô tu chi tu (可以普獨耀之神光、圓幻有之萬行、所為無成之成、不修之修, có thể riêng tỏa sáng ấy thần quang, tròn giả huyễn ấy muôn hạnh, đó gọi không thành mà thành, không tu mà tu).” Hay trong Thứ Trung Vô Uấn Thiền Sư Ngữ Lục (恕中無慍禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1416) quyển 5 lại có đoạn: “Độc Cô Tiêu Độc Cô Tiêu, nhất đạo thần quang thấu Cửu Tiêu, Niết Bàn sanh tử vô nhị pháp, Tam Thừa Thập Địa hà tu siêu (獨孤標獨孤標。一道神光透九霄。涅槃生死無二法。三乘十地何須超, Độc Cô Tiêu Độc Cô Tiêu, một đạo hào quang thấu Cửu Tiêu, Niết Bàn sanh tử không hai pháp, Ba Thừa Mười Địa cần gì siêu).”
thần quang
Deva light, the light of the gods.
; Ánh sáng của chư thiên—Deva light—The light of the gods.
; (神光) Phạm: Bandhy-prabha, Prabhàmitra. Cao tăng Ấn độ trụ ở chùa Na lan đà, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, sống vào khoảng giữa thế kỉ VI, là Luận sư phái Du già hành của Phật giáo Đại thừa. Tương truyền, sư là học trò của bồ tát Hộ pháp, sư có soạn Phật địa kinh luận. Trong luận, sư chia kinh Phật địa làm 3 phần: Giáo khởi nhân duyên phần, Thánh giáo sở thuyết phần và Y giáo phụng hành phần để chú thích, gọi là Thân quang tam phân khoa kinh. Cách phân chia này giống với thuyết Tam phân khoa kinh do ngài Đạo an (314-385) sáng lập vào đời Tấn ở Trung quốc. Tam phân khoa kinh của ngài Đạo an tức là chia phần chính văn trong mỗi bộ kinh làm 3 phần là Tự phần, Chính tông phần và Lưu thông phần. Về sau, các nhà chú thích kinh đều dùng theo phương pháp này. [X. Giải thâm mật kinh sớ Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục (bản dịch tiếng Anh)]. (xt. Tam Phân Khoa Kinh).
thần quyền
Divine right; spiritual power.
thần sa nộ nhãn tình
(神沙怒眼睛) Thần sa là quỉ thần theo hầu vua Diêm ma; Nộ nhãn tình là trợn mắt giận dữ. Thần sa nộ nhãn tình là từ ngữ được sử dụng để miêu tả dung mạo đáng sợ hãi, giận dữ cực độ.
Thần Sát
(神煞): hay Thần Sát Tinh (神煞星), là tên gọi những ngôi sao chiếu mạng quyết định việc tốt xấu của con người. Một số sao Thần Sát thường dùng như: (1) Thiên Ất Quý Nhân (天乙貴人), người gặp sao này thì có duyên với mọi người, với người lớn hơn mình, với người khác phái, thích xã giao. (2) Thiên Y (天醫), người gặp sao này thì có năng lực rất mạnh như học tập, lý giải, quán sát, mô phỏng, tâm hiếu kỳ, tâm nghiên cứu, trực giác, v.v. (3) Thiên Đức (天德), người gặp sao này thì có tài trí mưu lược xuất sắc, tâm vinh dự cao, năng lực lớn, phàm mọi việc gặp hung dữ hóa thành tốt, được quý nhân giúp đỡ. (4) Nguyệt Đức (月德), người gặp sao này thì có duyên với mọi người, xã giao, tâm cung kính, tâm trách nhiệm, năng lực thích ứng cao. (5) Nguyệt Đức Hợp (月德合), người gặp sao này thì có năng lực quán sát, đối ứng, bàn chuyện kinh doanh rất mạnh. (6) Phước Tinh (福星), người gặp sao này thì trong đời này có tiền tài dư dật, kinh tế không bao giờ gặp nguy cơ, có quý nhân giúp đỡ, thường có phước, có năng lực làm thân, kết duyên lành với mọi người. (7) Văn Xương (文昌), người gặp sao này thì có năng lực viết lách, văn nghệ, học tập. (8) Tam Kỳ Quý (三奇貴), người gặp sao này thì có năng lực học tập tinh chuyên, sức tập trung mạnh, đầu óc làm việc linh mẫn, cơ trí nhạy bén, dễ thành nhân tài có kỹ năng chuyên nghiệp, như công trình sư, nhà tư vấn, v.v. (9) Lục Tú (六秀), là ngôi sao có năng lực viết văn trác việt, người gặp sao này thì có năng lực học tập, tư duy rất mạnh, thuộc nhà nghệ thuật ở trạng thái tĩnh như họa sĩ, nhà thư pháp, sáng tác khúc từ, v.v. (10) Thập Linh Nhật (十靈日), là ngôi sao thuộc về tôn giáo, người gặp sao này thì có trực giác linh nhuệ, khéo quán sát lời nói, nhìn sắc mặt người, năng lực lãnh ngộ, khéo hiểu ý người, v.v. (11) Khôi Cương (魁罡), người gặp sao này thì về ăn uống nên thận trọng, chớ ăn thịt bò, chó; duyên hôn nhân rắc rối, tai tiếng, có đủ tinh thần độc lập tự chủ, năng lực tổ chức mạnh. (12) Học Đường (學堂), người gặp sao này thì có năng lực bắt chước, sáng tác, tưởng tượng, lý giải. (13) Học Sĩ (學士), người gặp sao này thì có tâm nghiên cứu, lòng hiếu kỳ, muốn tìm hiểu, có năng lực học thuộc lòng, nhớ dai. (14) Kim Quỹ (金匱), người gặp sao này thì có đầy đủ năng lực sáng tác, lãnh ngộ, cầm quyền, quyết đoán, quy hoạch. (15) Tấn Thần (進神), người gặp sao này thì có ý thức chủ quan rất mạnh, kiêu ngạo, tự phụ, không chịu phục tùng bất cứ ai, nóng nảy. (16) Lộc Thần (祿神), người gặp sao này thì có thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang. (17) Bối Lộc (背祿), đại diện cho những người xem thường tổ tiên, ly hương biệt xứ, không được hưởng phúc ấm của tổ tông. (18) Kiến Lộc (建祿:代表建功立業白手自足,不得雙視庇蔭,不宜合夥生意), đại diện cho những người tạo công lập nghiệp tay trắng một mình, không được phúc ấm của song thân. (19) Chuyên Lộc (專祿), đại diện cho những người thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang. (20) Quy Lộc (歸祿), đại diện cho những người giao tế rộng rãi, tài lộc đầy đủ, tránh chuyện vay mượn, có thể tránh kiện tụng. (21) Hoa Cái (華蓋), người gặp sao này thì có tâm cầu học, tự động tìm tòi, tự ngộ để đạt đến kết quả cao, có thiên tánh về mỹ thuật, thiết kế, trang hoàng, âm nhạc; về phương diện văn học thì rất hứng thú và có thiên tài; đây là ngôi sao chỉ chuyên về nghệ thuật, tôn giáo, nên có tánh nghiên cứu, muốn tìm cầu, năng lực học tập, tính chất mẫn cảm. (22) Cô Thần (孤辰), người gặp sao này thì có tánh cách cô đơn, trầm mặc, không nói nhiều, tâm trong sạch, ít ham muốn, thường an phận, không có tâm cầu tiến. (23) Quả Tú (寡宿), người gặp sao này thì có duyên với người khác phái rất ít, duyên hôn nhân cũng mong manh, chủ nghĩa độc thân. (24) Nguyên Thần (元辰), là sao hao tổn, miệng tiếng. (25) Kim Dư (金輿), là sao về tài của cùng với quan hệ phối ngẫu, được hỗ trợ về chuyện phối ngẫu, kỹ thuật. (26) Kim Tinh (金星), người gặp sao này thì anh minh, trí tuệ, dũng cảm, quả quyết, kiên nhẫn, cương nhu đều có đủ, chú trọng vinh dự, quyền uy. (27) Thiên Xá (天赦), người gặp sao này thì một đời bị kiện tụng cửa quan, lao ngục, tai hại ngoài ý muốn, một đời thường đều có thể gặp xấu hóa tốt, có kinh động nhưng không nguy hiểm. (28) Phước Tinh (福星), người gặp sao này thì có quý nhân tương trợ, kinh tế phát triển, một đời tài lộc, ăn uống sung túc, có duyên xã giao, năng lực kết duyên lành. (29) Tướng Tinh (將星), người gặp sao này thì hiển đạt về quan quyền, có thể nắm quyền bính trong tay, có năng lực quản lý, quyết đoán, cơ trí. (30) Dịch Mã (驛馬), là sao đổi dời, đi xa, biến động. (31) Âm Dương Sát (陰陽煞), người gặp sao này thì nên tiến hành duyên hôn nhân chậm, không nên sớm, mới có thể trừ được lo âu thay đổi chuyện hôn nhân, nên thận trọng trong việc giao tế với người khác phái, mới có thể tránh được chuyện thị phi, tranh giành. (32) Kiếp Sát (劫煞), người gặp sao này thì có cơ trí linh mẫn, phản ứng nhạy bén, tâm háo thắng. (33) Quải Kiếm Sát (掛劍煞), người gặp sao này thì dễ mắc phải các bệnh tật về gân cốt, đường ruột, cơ quan vận động, v.v., hằng ngày nên đề phòng các vật kim loại bén nhọn, vật nguy hiểm gây thương tích; dễ bị thương tích đánh đập, ngã quỵ, té xuống đất. (34) Câu Giao (勾絞), là sao phiền phức về chuyện cảm tình, hôn nhân. (35) Đào Hoa (桃花), đại diện cho sức hấp dẫn, thu hút, năng lực thưởng thức, trang sức, có duyên xã giao. (36) Thiên Hỷ (天喜), là sao vui sướng, như ý, có cảm giác thâm sâu, năng lực hòa đồng, tình người. (37) Hồng Diễm (紅艷), là sao nghệ thuật lãng mạn, có đủ năng lực thưởng thức, thiết kế trang phục, trang hoàng, có duyên với người khác phái. (38) Hồng Loan (紅鸞), người gặp sao này thì có duyên với người khác phái, tư tưởng lãng mạn, có năng lực phối hợp sắc màu nghệ thuật tranh tĩnh vật. (39) Lưu Hà (流霞), người gặp sao này thì trong quá trình sinh sản dễ gặp nguy hiểm, lưu sản, dễ mắc bệnh tuần hoàn huyết dịch về tim mạch. (40) Vong Thần (亡神), là sao ẩn tàng, không lộ hiện tung tích, người gặp sao này thì giỏi về mưu lược, vui, buồn, tức giận đều không thể hiện ra ngoài sắc mặt. (41) Dương Nhận (羊刃), là sao về chức võ, chủ yếu người gặp sao này thì có tâm háo thắng, không chịu khuất phục, dõng mãnh, đảm đương, lanh lẹ. (42) Huyết Nhận (血刃), là sao thương tích ngoài ý muốn, bất ngờ, người gặp sao này thì hằng ngày nên thận trọng về bỏng lửa, thương tích đánh đập, các vật kim loại, bén nhọn, chú ý về giao thông. (43) Phi Nhận (飛刃), là sao gặp công kích bất ngờ, tranh tụng, thị phi. (44) Cách Giác (隔角), là sao chủ về việc kiện tụng cửa quan, miệng tiếng, thị phi; nếu gặp Hình Xung (刑沖) thì ắt sẽ có tai họa về kiện tụng, lao ngục. (45) Không Vong (空亡), kim loại rỗng thì kêu to, lửa trống thì sẽ phát lớn, cây rỗng thì mục, đất rỗng thì lỡ sụt; người gặp sao này thì vô duyên với thân thích, nên tinh tấn tu hành. Ngoài ra, còn có 12 ngôi sao Thần Sát, được gọi là Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, gồm: (1) Thái Tuế (太歲), có câu kệ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa dương (太歲當頭坐、諸神不敢當、自身無剋害、須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao này có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao này nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện. (2) Thái Dương (太陽), có câu kệ rằng: “Thái Dương cát tinh chiếu, cầu tài ngộ trân bảo, âm dương hữu hòa hợp, định cảm phước lai bảo (太陽吉星照、求財遇珍寶、陰陽有和合、定感福來保, Thái Dương sao tốt chiếu, cầu tài gặp của báu, âm dương có hòa hợp, tất có phước đến nhà).” Người gặp sao này chủ yếu chiếu sáng hóa tốt, lấy lễ đãi người, thông minh cần mẫn, có chuyện vui giáng lâm. (3) Tang Môn (喪門), câu kệ là: “Tang Môn tối vi hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phá tài tinh ngoại hiếu, nùng huyết kiến tai nghinh (喪門最爲凶、孝服重重逢、破財幷外孝、濃血見災迎, Tang Môn thật rất hung, tang phục lại trùng phùng, phá tài thêm bất hiếu, máu chảy thấy tai ương).” Người gặp sao này chủ yếu có đám tang, khóc lóc, hiếu sự hay hung tai, bị trộm cướp, con nhỏ sợ bị mất mạng vì xe cộ. (4) Thái Âm (太陰), câu kệ là: “Thái Âm nhập mạng lai, thiêm hỷ hựu tấn tài, quý nhân tương tiếp dẫn, canh tác ngộ tài phong (太陰入命來、添喜又進財、貴人相接引、耕作遇財豐, Thái Âm gặp mạng này, thêm vui lại có tài, quý nhân thường giúp đỡ, canh tác gặp của hay).” Sao này chủ yếu tích tụ tài của hoặc thuộc loại ngũ quỷ đem tài của đến, người gặp sao này kinh doanh rất tốt, mỗi ngày càng phát tài, rất hợp với người nữ. (5) Quan Phù (官符), có câu kệ là: “Quan Phù nhập mạng hung, khẩu thiệt quan ty trùng, phá tài kiêm ngoại hiếu, tác phước đảo thương cùng (官符入命凶、口舌官司重、破財兼外孝、作福禱蒼窮, Quan Phù gặp mạng hung, miệng tiếng chốn quan trường, phá tài thêm bất hiếu, làm phước cầu khắp cùng).” Người gặp sao này thường gặp kẻ tiểu nhân, tất gây ồn ào nơi cửa quan, chọn bạn nên cẩn thận, nên khuyên kẻ tiểu nhân làm phước. (6) Tử Phù (死符), bài kệ rằng: “Tử Phù nhập mạng lai, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ mẫu thê nhi khắc, tác phước miễn tai ương (死符入命來、孝服重重逢、父母妻兒剋、作福免災殃, Tử Phù gặp mạng đây, tang phục lại chất chồng, mẹ cha vợ con khắc, làm phước miễn tai ương).” Sao này chủ yếu có tai họa đột xuất như hình phạt của quan ty, bệnh tật, tranh đấu, phá tài, v.v. Người gặp sao này nên thận trọng khi đi băng qua khe nước, nên tìn đường vòng mà đi. (7) Tuế Phá (歲破), bài kệ rằng: “Tuế Phá nhập mạng lai, nhật nguyệt phá tiền tài, lục súc hữu tổn thất, hợp gia vĩnh vô tai (歲破入命來、日月破錢財、六畜有損失、合家永無災, Tuế Phá gặp mạng đây, trời trăng phá tiền tài, gia súc có tổn thất, cả nhà hết ương tai).” Tuế Phá có nghĩa là xung phá Thái Tuế, chủ yếu làm hao phá tài vật cũng như trong nhà nhiều tai họa kéo dài trong nữa năm. (8) Nguyệt Đức (月德), bài kệ rằng: “Nguyệt Đức nhập mạng lai, tứ quý tấn hoành tài, tại gia dã vô sự, xuất lộ dã vô tai (月德入命來、四季進橫財、在家也無事、出路也無災, Nguyệt Đức gặp mạng đây, bốn mùa thêm tiền tài, trong nhà cũng vô sự, ra đường chẳng hung tai).” Sao này chủ yếu là đức của người lớn, được gọi là Long Đức (龍德), nhờ bố thí, làm việc thiện tạo lợi lạc, trăm việc gặp xấu hóa thành tốt. (9) Bạch Hổ (白虎), bài kệ rằng: “Bạch Hổ khiếu nhai nhai, nhân đinh tổn huyết tài, ngưu sự tài quá khứ, mã sự hựu tấn lai (白虎叫涯涯、人丁損血財、牛事才過去、馬事又進來, Bạch Hổ kêu hoài hoài, người thêm tổn tiền tài, chuyện trâu về quá khứ, chuyện ngựa lại về đây).” Sao này chủ yếu có tai họa về tang lễ, phá tài, họa về xe cộ, thương tật; nếu có hóa giải thì sẽ nhẹ bớt; nếu không hóa giải thì quá xấu. (10) Phước Đức (福德), bài kệ rằng: “Phước Đức nhập mạng du, niên nguyệt tấn tứ ngưu, thiêm hộ tinh tấn khẩu, tài hỷ lưỡng toàn chu (福德入命遊、年月進四牛、添戶並進口、財喜兩全週, Phước Đức đến mạng chơi, năm tháng tăng bò trâu, thêm nhà lại thêm người, tài vui cả hai tròn).” Sao này chủ yếu tốt đẹp, hanh thông, vui vẻ, có thiên tướng, được trời phù hộ, đến đâu gặp xấu hóa tốt, đại thành công. (11) Điếu Khách (吊客), bài kệ rằng: “Điếu Khách nhập mạng hung, nội ngoại hiếu phục phùng, quan tai tinh nùng huyết, tiểu khẩu đa tao độn (吊客入命凶、內外孝服逢、官災並濃血、小口多遭迍, Điếu Khách đến mạng hung, trong ngoài tang phục chung, tai vạ máu loang chảy, thận trọng miệng tiếng tăm).” Sao này chủ yếu về tang phục, chuyện hung tai, bệnh tật, lo buồn khóc than, trộm cắp, tai nạn về cốt nhục. (12) Bệnh Phù (病符), bài kệ rằng: “Bệnh Phù nhập mạng hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ phục hữu hình khắc, tác phước miễn tai ương (病符入命凶、孝服重重逢、父服有刑剋、作福免災殃, Bệnh Phù đến mạng hung, tang phục lại trùng phùng, thân phụ mang hình phạt, làm phước miễn tai ương).” Sao này chủ yếu bệnh kéo dài lâu, trong một năm hay vài tháng, kỵ thấy xe tang hoặc ăn các đồ tang lễ, nên cúng tế thì có thể giải được.
thần sắc
Appearance—Aspect.
Thần Thanh
(神清, Shinsei, ?-820): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Xương Minh (昌明, thuộc Chương Minh, Tứ Xuyên), họ Chương (章), tự Linh Dữu (靈庾). Lúc nhỏ ông học Nho điển, nghe nhiều, nhớ kỹ, rất rành về thi văn, sau lớn lên xuất gia ở Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Miên Châu (緜州, thuộc Miên Dương, Tứ Xuyên), chuyên tâm nghiên cứu kinh luận. Về sau ông vào làm việc trong Đại Nội, rất được đãi ngộ. Đến cuối đời ông từ chức trở về núi ẩn tu, sống tại Huệ Nghĩa Tự (慧義寺) vùng Tử Châu (梓州, thuộc Tam Đài, Tứ Xuyên), chuyên tâm giảng diễn và trước tác. Đến năm thứ 15 niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông thị tịch, không rõ hưởng thọ bao nhiêu tuổi. Trước tác của ông có hơn 10 loại như Pháp Hoa Huyền Tiên (法華玄箋), Thích Thị Niên Chí (釋氏年誌), Bắc Sơn Tham Huyền Ngữ Lục (北山參玄語錄), v.v.
thần thanh
(神清) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Xương minh (Chương minh, Tứ xuyên), họ Chương, tự là Linh dữu. Thủa nhỏ, sư học Nho, nghe nhiều, nhớ dai, giỏi văn thơ. Sư xuất gia ở chùa Khai nguyên tại Miên châu (Miên dương, Tứ xuyên) lúc tuổi trưởng thành, ra sức học kinh luận, sử truyện. Sau, nhờ tài văn chương mà sư làm quan trong đại nội, rất được ưu đãi. Lúc tuổi già, sư từ quan trở về núi xưa, trụ chùa Tuệ nghĩa ở Tử châu (Tam đài, Tứ xuyên), chuyên việc giảng thuyết và trứ tác. Năm Nguyên hòa 15 (820), sư tịch, không rõ tuổi thọ. Sư có các tác phẩm: Pháp hoa huyền tiên, Thích thị niên chí, Bắc sơn tham huyền ngữ lục, tất cả hơn 10 loại.
thần thiên giới
Dyans (S).
thần thiệt
Lips and tongue.
thần thoại
Myth, legend.
; Myth
thần thuật
Magic.
thần thái
(神泰) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Lúc đầu, sư trụ ở chùa Phổ cứu tại Bồ châu, đến tháng 6 năm Trinh quán 19 (645) đời vua Thái tông nhà Đường, ngài Huyền trang bắt đầu dịch kinh ở chùa Hoằng phúc tại kinh đô, sư cùng với 11 vị tăng khác như ngài Linh nhuận... cùng đến dịch trường, làm chức vụ chứng nghĩa. Năm Hiển khánh thứ 2 (657), vua ban sắc cho sư trụ chùa Tây minh. Tháng 4 năm sau, vua ban sắc triệu 7 vị thuộc Phật giáo và Đạo giáo vào cung Hợp bích để biện luận với nhau, sư lập ra Cửu đoạn tri nghĩa đã phá đổ luận thuyết của Đạo sĩ. Về sau, sư lại trụ ở chùa Thê nghiêm và chùa Đại từ ân ở Bồ châu. Sư có các tác phẩm: Câu xá luận sớ, 20 quyển (có thuyết nói 30 quyển), Nhiếp đại thừa luận sớ, 20 quyển, Chưởng trân luận sớ, 2 quyển, Quán sở duyên duyên luận sớ, 1 quyển, Đạo phẩm chương, 1 quyển, Thập nhị duyên khởi chương, 1 quyển. Trong đó Câu xá luận sớ cùng với 2 bộ sớ của các ngài Phổ quang, Pháp bảo được gọi chung là Câu xá tam đại sớ, nhưng rất tiếc không còn đầy đủ, hiện nay chỉ còn 7 quyển mà thôi. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.6, 8; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
thần thánh
Sacred—Deities and saints.
Thần thông
(s: abhijñā, p: abhiññā, 神通): âm dịch là Tác Tuần (作旬); ý dịch là thần thông lực (神通力), thần lực (神力), thông lực (通力), thông (通), v.v.; nghĩa là nương vào việc tu tập Thiền định mà đạt được tác dụng tự tại vô ngại, siêu việt con người, không thể nghỉ bàn. Có 5 loại thần thông (Ngũ Thần Thông [五神通], Ngũ Thông [五通]) là Thần Túc Thông (神足通), Thiên Nhãn Thông (天眼通), Thiên Nhĩ Thông (天耳通), Tha Tâm Thông (他心通), Túc Mạng Thông (宿命通). Nếu cọng thêm Lậu Tận Thông (漏盡通) thì trở thành Lục Thần Thông (s: ṣaḍ-abhijñāḥ, 六神通, hay Lục Thông [六通]). Ngoài ra, cũng có khi chỉ riêng Thần Túc Thông là thần thông. Theo A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 27, Lục Thông thì lấy tuệ (慧) làm bản chất (tự tánh); trong đó Ngũ Thần Thông nhờ tu Tứ Thiền (s: catvāri dhyānāni, p: cattāri jhānāni, 四禪) mà chứng được; không phải chỉ có bậc Thánh mới chứng đắc, mà ngay cả phàm phu cũng có thể chứng được. Tuy nhiên, đối với trường hợp Lậu Tận Thông thì chỉ có bậc Thánh mới có được. Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 28, Bồ Tát có Ngũ Thông, Phật thì có Lục Thông. Thành Thật Luận (成實論, Taishō Vol. 32, No. 1646) quyển 16 còn cho biết rằng ngoài Phật Giáo ra, ngoại đạo cũng có thể đạt được Ngũ Thông. Vị tiên chứng đắc được Ngũ Thông được gọi là Ngũ Thông Tiên Nhân (五通仙人). Đại Thừa Nghĩ Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 20 có nêu lên 4 phương pháp đạt được thần thông. (1) Nhờ quả báo sanh lên cõi Thiền thứ tư mà đạt được Báo Thông (報通, thần thông có được nhờ quả báo); (2) Tiên nhân nhờ năng lực của thuốc, có được Nghiệp Thông (業通, do nghiệp mà đạt được năng lực thần thông) tự do bay trên không. (3) Bà La Môn nhờ trì chú mà đạt được Chú Thông (咒通); (4) Nhờ tu Thiền định mà chứng được thần thông gọi là Tu Thông (修通). Trong đó, Nghiệp Thông và Chú Thông thuộc về thần thông của ngoại đạo. Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48) quyển 15 lại chia thần thông làm 5 loại khác: (1) Đạo Thông (道通), là thần thông đạt được sau khi ngộ lý Trung Đạo (s: madhyamā-pratipad, p: majjhima-paṭipadā, 中道), lấy vô tâm để ứng với muôn vật mà biến hiện vạn hữu. (2) Thần Thông (神通), là năng lực thần thông nương vào sự tĩnh tâm của Thiền định, quán sát tư duy mà biết được mạng sống đời trước, v.v. (3) Y Thông (依通), là năng lực thần thông nương vào dược liệu, hộ phù hay chú, v.v., mà có được. (4) Báo Thông (報通), là năng lực thần thông nương vào quả báo mà có được. (5) Yêu Thông (妖通), là năng lực thần thông của hàng yêu quái. Trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 12, chương Khiết Bàn Đà Quốc (朅盤陀國), của Huyền Trang (玄奘, 602-664) nhà Đường, có đoạn: “Thời Khiết Bàn Đà quốc, hữu đại La Hán, diêu quán kiến chi, mẫn kỳ nguy ách, dục vận thần thông, chửng tư luân nịch (時朅盤陀國、有大羅漢、遙觀見之、愍其危厄、欲運神通、拯斯淪溺, lúc bấy giờ ở nước Khiết Bàn Đà, có một vị đại La Hán, xa quán thấy như vậy, thương xót tai ách của họ, muốn vận thần thông, cứu vớt sự chìm đắm ấy).” Vua Lý Nhân Tông (李仁宗, tại vị 1072-1127) có bài thơ rằng: “Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo hựu huyền, thần thông kiêm biến hóa, nhất Phật nhất thần tiên (覺海心如海、通玄道又玄、神通兼變化、一佛一神仙, Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo lại huyền, thần thông và biến hóa, bên Phật bên thần tiên).” Hay trong bài Lục Quán Đường Tán (六觀堂贊) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Ngã quán chúng sanh, thần thông tự tại (我觀眾生、神通自在, ta quán chúng sanh, thần thông tự tại).”
; 神通; S: ṛddhi; P: iddhi; cũng được gọi là Như ý thông, Thần túc thông;|Thần thông siêu nhiên, một trong Lục thông (sáu thắng trí). Người ta hiểu thần thông với các khả năng như sau: năng lực biến ra nhiều người, lấy dạng hình người khác, tàng hình, xuyên qua đất đá, đi trên nước, rờ mặt trời mặt trăng, đến những tầng trời cao nhất, cứu độ người đang hiểm nguy… Những khả năng này được xem là kết quả phụ của các phép tu thiền định. Tuy nhiên tăng, ni không được dùng các khả năng này để biểu diễn hay lạm dụng. Phạm những quy định này có thể bị loại ra khỏi Tăng-già.
thần thông
Abhijā (S), Supernatural powers Abhiā (P), Abhijānāti (S, P) - Một vị A la hán đắc ngũ thông (tức Hữu lậu thông: Abhijĩa riddhi) gồm: thiên nhãn thông (dibbacakkhu), thiên nhĩ thông (dibbasotam), túc mạng thông (pubbenivasanussatinanam), tha tâm thông (paracittavijananam) và thần túc thông (iddhividha). Một bị Phật có lục thông (tức Vô lậu thông: Abhija asrava) gồm ngũ thông thêm lậu tận thông (asavakkhayakaran-nanam). - Ngũ thông và lục thông được cả Tiểu thừa và Đại thừa công nhận Xem Thần lực.
; Rddhi (S). Ubiquitous supernatural power, especially of a Buddha, his ten powers including power to shake the earth, to issue light from his pores, extend his tongue to the Brahma-heavens effulgent with light, cause divine flowers to rain from the sky, be omnipresent and other powers. Supernatural powers of eye, ear, body, mind etc. Thần thông thừa, the supernatural or magic vehicle, i.e. the esoteric sect of Chân Ngôn Shingon.
; Abhijna (skt)—Abhinna (p)—Sức mạnh kỳ diệu bao gồm sự hiểu biết, kỹ xảo, thông minh, trí nhớ, vân vân. Thần thông là những thứ mà sự tưởng tượng của xã hội văn minh trần tục hiện nay cho là phi thường, hay những thứ mà sự tưởng tượng trong các tôn giáo phương tây cho là siêu nhiên; thần lực đạt được bằng trí tuệ sáng suốt, được thấy qua Kinh A Di Đà, và không thể nghĩ bàn—Miracle powers include knowing, skillful, clever, understanding, conversant with, remembrance, recollection. Miracles mean ubiquitous supernatural power, psychic power, high powers, supernormal knowledges, or superknowledge. Miraculous Powers are what the Western religious imagination would regard as miraculous or supernatural, attainable only through penetrating insight, as seen in the two Amitabha Sutras as inconceivable—Supernatural science or faculty of a Buddha: 1) Thiên nhãn thông: Dibba-cakkhu—Khả năng thấy không ngăn ngại, thấy chúng sanh biến mất rồi xuất hiện, ti tiện và cao quý, đẹp xấu, tùy theo nghiệp lực của họ—Seeing to any distance—Ability to see without hindrances. Ability to see beings vanishing and reappearing, low and noble ones, beautiful and ugly ones, seeing beings are reappearing according to their deeds (karma). 2) Thiên nhĩ thông: Dibba-sota—Khả năng nghe được âm thanh của trời và người, xa hay gần—Hearing to any distance—Ability to hear sound both heavenly and human, far and near. 3) Tha tâm thông: Ceto-pariya-nana—Khả năng xuyên suốt tâm trí của người khác. Người nầy nhìn biết tâm tham, tâm sân, tâm mê mờ, cũng như tâm đắm nhiễm, tâm phát triển, tâm tập trung tâm giải thoát của người khác, hay ngược lại—Penetrating men's thoughts—Ability to know the minds of other beings, by penetrating them with one's own mind. This person knows the greedy mind, hate mind and deluded mind, shrunken and distracted mind, developed mind and free mind of others or vice sersa. 4) Thần túc thông: Iddhi-vidha—Khả năng đi xuyên qua tường vách, núi non, cũng như đi trên không, trên nước mà không chìm như đi trên đất—Magical powers—Taking any form at will—Ability to pass through walls and mountains, just as if through the air—Ability to walk on the water without sinking, just as if on the earth. 5) Lậu tận thông: Asavakhaya—Khả năng hủy diệt phiền não ngay trong đời nầy kiếp nầy bằng trí tuệ—Ability to extinct all cankers (afflictions) in this very life, extinction of cankers through wisdom. 6) Túc mạng thông: Pubbe-nivasanus-sati (skt)—Khả năng nhớ lại tiền kiếp, có thể từ một đến năm hay một trăm, một ngàn đời—Knowing their state and antecedents—Ability to remember former existences, may be from one to five or even to hundred or thousand births
; (神通) Phạm:Abhijĩà. Pàli:Abhiĩĩà. Hán âm: Tuần. Cũng gọi Thần thông lực, Thần lực, Thông lực, Thông. Năng lực siêu nhân, tự tại vô ngại không thể nghĩ bàn do tu thiền định mà được. Thần thông gồm có 5 thứ(Ngũ thông, Ngũ tuần, Ban đầu tuần)là Thần túc thông, Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông và Túc mệnh thông, nếu thêm Lậu tận thông nữa thì thành 6 thần thông (Lục thông). Ngoài ra, cũng đặc biệt chỉ cho Thần túc thông là Thần thông. Nói một cách rõ ràng hơn thì Lục thông là: 1. Thần túc thông(cũng gọi Thần cảnh trí chứng thông, Thần cảnh thông, Thân như ý thông, Như ý thông, Thân thông): Theo luận Đại trí độ quyển 5, 28 thì Thần túc thông có 3 thứ: a. Năng đáo(đi như bay): Theo ý muốn có thể đến bất cứ nơi nào. b. Chuyển biến(biến hóa): Thay đổi tướng trạng theo ý muốn. c. Thánh như ý(tùy ý tự tại): Chuyển biến các đối cảnh (6 cảnh) của thế giới bên ngoài theo ý muốn. Trong đó, loại thứ 3 chỉ riêng Phật mới có. 2. Thiên nhãn thông (cũng gọi Thiên nhãn trí chứng thông, Thiên nhãn trí thông): Tác dụng thấy suốt tất cả các việc xa gần, khổ vui, thô tế ở thế gian. 3. Thiên nhĩ thông(cũng gọi Thiên nhĩ trí chứng thông, Thiên nhĩ trí thông): Tác dụng nghe được tất cả âm thanh ở thế gian. 4. Tha tâm thông(cũng gọi Tha tâm trí thông, Tri tha tâm thông): Tác dụng có năng lực(năng lực biết rõ tâm người khác)biết rõ tất cả việc thiện ác mà người khác nghĩ tưởng trong tâm. 5. Túc mệnh thông(cũng gọi Túc trụ tùy niệm trí chứng thông, Túc trụ trì thông, Thức túc mệnh thông): Tác dụng có sức rõ suốt tất cả trạng thái sinh tồn của mình và người khác trong đời quá khứ. 6. Lậu tận thông(cũng gọi Lậu tận trí chứng thông): Năng lực giác ngộ dứt hết sạch các phiền não, vĩnh viễn không còn tái sinh trong cõi mê. Trong 6 thông trên đây, 3 thông (Túc mệnh thông, Thiên nhãn thông, Lậu tận thông) của Phật và A la hán rất thù thắng, cho nên gọi là Tam minh. Thiên nhãn(mắt trời) là năng lực thần thông thấy suốt thời gian sinh tử của chúng sinh và các loại tình huống ở đời vị lai, gọi là Sinh tử trí chứng minh. Theo luận Câu xá quyển 27 thì 6 thần thông đều lấy Tuệ làm bản chất(tự tính), trong đó, 5 thần thông là nhờ tu Tứ thiền mà được, không phải chỉ riêng bậc Thánh mới có mà phàm phu cũng có thể có; nhưng Lậu tận thông thì chỉ bậc Thánh có được. Theo luận Đại trí độ quyển 28 thì Bồ tát chỉ có 5 thần thông, Phật mới có đủ 6 thần thông. Luận Thành thực quyển 16 cho rằng, ngoài Phật giáo ra, ngoại đạo cũng có 5 thần thông. Những Tiên nhân được 5 thần thông gọi là Ngũ thông tiên nhân. Ngoài ra, sức thần thông của quỉ súc hoặc chư thiên cũng được chia ra 2 loại là Sinh đắc(sinh ra đã có) và Tu đắc(nhờ tu Thiền định mà được). Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 20, phần đầu, có 4 phương pháp chứng được thần thông là: 1. Báo thông: Do quả báo sinh về cõi trời Tứ thiền mà tự nhiên được. 2. Nghiệp thông (sức thần thông do nghiệp mà có): Các người tiên nhờ năng lực của thuốc(tiên dược)mà tự do bay đi trong hư không. 3. Chú thông: Thần thông do Bà la môn nhờ vào sức trì chú mà được. 4. Tu thông: Nhờ tu thiền định mà được sức thần thông. Trong đó, Nghiệp thông và Chú thông là thần thông thuộc ngoại đạo. Tông Kính lục quyển 15 chia Thông lực thành Ngũ chủng thông (Ngũ thông): 1. Đạo thông: Sức thần thông dùng vô tâm ứng vật, biến hiện ra vạn hữu sau khi giác ngộ lí Trung đạo. 2. Thần thông: Sức thần thông nhờ thiền định tĩnh tâm, tư duy quán xét mà biết được đời quá khứ... 3. Y thông: Sức thần thông nhờ vào thuốc, bùa hộ thân hoặc trì chú mà có. 4. Báo thông: Sức thần thông do quả báo của nghiệp mà được. 5. Yêu thông: Sức thần thông của loài yêu quái. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.34; phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa Q.5;kinh Đại tát ni kiển tử sở thuyết Q.7, 8; phẩm Thập thông trong kinh Hoa nghiêm Q.28 (bản dịch mới); luận Tập dị môn túc Q.15; luận Đại tì bà sa Q.70].
thần thông biến hiện
Xem Như ý túc thị hiện.
thần thông biến hoá
Ṛddi (S) Thí dụ: thần túc thông (Iddhividdha).
thần thông du hý kinh
Xem Phổ Diệu Kinh.
Thần thông du hý kinh 神通遊戲經
[ja] ジンツウユキキョウ Jintsū yuki kyō ||| The Shentong youxi jing; an alternative title for the Fangguang da zhuangyan jing 方廣大莊嚴經, T 187.3.539-617. => c: Shentong youxi jing; Tên gọi khác của Phương quảng đại trang nghiêm kinh (c: Fangguang da zhuangyan jing 方廣大莊嚴經).
thần thông du ký tam muội
Ṛddhivikridita (S) Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
thần thông kim cang
See Hỏa Tụ Phật Đảnh.
thần thông lực
Sappatihariyam (P).
; The resulting supernatural powers.
thần thông nguyệt
See Thần Túc Nguyệt
; (神通月) Cũng gọi Thần biến nguyệt, Thần túc nguyệt, Tam trường trai nguyệt. Chỉ cho tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 hàng năm là 3 tháng trì trai tu thiện nên gọi là Tam trường trai nguyệt. Cứ theo Thích môn chính thống quyển 4 thì trong 3 tháng này, chư thiên dùng Thần túc thông đi tuần trong thiên hạ để xem xét các việc thiện ác của chúng sinh, vì thế, thời gian này nên giữ trai tịnh, làm các việc thiện để tu phúc đức có lợi cho quả báo về sau. Pháp uyển châu lâm quyển 88 trích dẫn thuyết trong kinh Đề vị nói rằng tháng giêng nên dùng tiểu dương sự khiến vạn vật sinh sôi nảy nở, tháng 5 dùng đại dương sự để nuôi lớn muôn vật và tháng 9 dùng tiểu âm sự để thu giấu vạn vật, đó đều là theo đạo khí tự nhiên mà sinh ra và tàn diệt. Trong thời gian 3 tháng này nếu trì trai tu thiện thì muôn vật cũng đồng cảm, được nhờ sự giúp ích lớn. Theo Phạm võng kinh sớ và Thích thị yếu lãm quyển hạ thì thời gian tháng giêng trời Đế thích dùng gương chiếu xuống châu Nam thiệm bộ soi xét các việc thiện ác của loài người; tháng 2, tháng 3 và tháng 4 thì chiếu soi 3 châu kia, đến tháng 5 lại chiếu Nam châu, tháng 6, tháng 7, tháng 8 chiếu xuống 3 châu còn lại, tháng 9 lại chiếu xuống Nam châu, vì thế tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 nên trì trai tu thiện. Từ ngữ Tam trường trai nguyệt đã thấy rất sớm trong kinh Phạm võng quyển hạ, nhưng trong kinh chỉ nói trong 3 tháng này không được phạm các giới sát sinh, trộm cắp, phá trai, là vì trong thời gian này cần phải thụ trì giới thanh tịnh. Còn như các kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn quyển 2, kinh Quán đính quyển 12 và luận Đại trí độ quyển 13 đều nói giống nhau, nhưng không hề có thuyết Chư thiên dùng thần túc thông đi xem xét các việc thiện ác dưới nhân gian. Cho nên các học giả hiện đại chủ trương những điều được ghi trong Pháp uyển châu lâm, Thích môn chính thống và Thích thị yếu lãm có lẽ đã do chịu ảnh hưởng tư tưởng của Đạo giáo mà ra. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; điều Thiện nguyệt trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].
thần thông quang
(神通光) Cũng gọi Viên quang, Hiện khởi quang, Phóng quang. Ánh sáng phát ra trên thân Phật, Bồ tát, thường hằng bất diệt, chẳng phải là ánh sáng tầm thường, cho nên gọi là Thần thông quang. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 2 trung) nói: Phật phóng ánh sáng từ sợi lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày, chiếu soi 1 vạn 8 nghìn thế giới ở phương Đông. Trong luận Vãng sinh có từ ngữ Tướng hảo quang nhất tầm(Ánh sáng từ tướng tốt đẹp phóng ra một tầm) tức 8 thước Tàu, đó là luận theo Ứng thân Phật nên nói là ánh sáng một tầm; nếu nói theo Báo thân Phật thì ánh sáng không phải chỉ một tầm. Lại nữa, ánh sáng này chẳng phải chỉ có năng lực chiếu soi 10 phương mà còn biến hiện ra nhiều thứ, làm các Phật sự khiến cho chúng sinh được lợi ích. Thần thông quang gồm có nhiều loại, nếu phân biệt thì ánh sáng phát ra từ toàn thân Phật, gọi là Cử thân quang; ánh sáng phát ra từ một tướng hảo, gọi là Tùy nhất tướng quang; ánh sáng phát ra từ sợi lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày, gọi là Bạch hào quang, Mi gian quang; ánh sáng phát ra từ lỗ chân lông gọi là Mao khổng quang; ánh sáng phátratừ 2 bên cổ gọi là Viên quang; còn ánh sáng phát ra từ trên thân của Phật, Bồ tát thì gọi chung là Thân quang, Sắc quang, Ngoại quang, Thần thông quang. [X. luận Đại trí độ Q.8, 34; Vãng sinh yếu tập Q.trung].
Thần thông quang 神通光
[ja] ジンズウギョウ jinzūkō ||| The Great Bright Light emitted due to the spiritual power of the Buddha=> Hào quang Đại quang minh phóng ra do năng lực thần thông của Đức Phật.
thần thông thị hiện
Xem Như ý túc thị hiện.
thần thông thừa
Tên gọi Chân Ngôn giáo, tức thừa giáo dựa vào sức gia trì thần biến của Như Lai—The supernatural or magic vehicle, i.e. the esoteric sect or Shingon.
; (神通乘) Chỉ cho Mật giáo. Giáo pháp Tam mật có năng lực nhanh chóng cho nên ví dụ gọi là Thần thông thừa. Mục đích của Phật giáo là vượt qua biển sinh tử, đạt đến cảnh giới giải thoát, vì thế, nếu dùng giáo pháp để phân biệt thì Nhị thừa có thể dụ là xe dê, Đại thừa Hiển giáo có thể ví dụ là xe ngựa; so sánh với 2 loại xe trên thì Mật giáo có thể được gọi là Thần thông thừa (xe thần thông). Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 579 hạ) nói: Ngài Long thụ cho rằng như người đi xa, nếu ngồi xe do dê kéo thì lâu mới đến, nếu ngồi xe do ngựa kéo thì đi nhanh hơn; nhưng nếu dùng xe thần thông thì chỉ trong nháy mắt đã đến chỗ mình muốn.
thần thông tự
(神通寺) Chùa ở cách huyện Tế nam, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, khoảng 46km, về phía đông nam. Vào niên hiệu Hoằng thủy năm đầu (351) đời Tiền Tần, ngài Tăng lãng dời đến núi Thái sơn, kết giao với ẩn sĩ Trương trung. Không bao lâu, vua nhà Tần là Phù kiên ban chiếu vời Trương trung, Trương trung vâng mệnh về kinh, nhưng đến núi Hoa âm thì qua đời. Ngài Tăng lãng bèn cất tinh xá, làm thạch thất trong núi Côn luân thuộc hang Kim dư ở phía tây bắc Thái sơn, với vài mươi ngôi nhà trong ngoài, có hơn 100 người nghe tiếng tăm đến ở. Phù kiên, Mộ dung đức, Hiếu vũ đế nhà Tấn... đều kính ngưỡng đức hạnh của ngài Tăng lãng, Phù kiên muốn thỉnh sư, nhưng sư đều từ tạ không đi. Về sau, Mộ dung đức nhân danh là vua Đông Tề cấp cho sưthuế tô của 2 huyện, tiếng tăm của sư càng lừng lẫy. Người đương thời gọi hang núi Kim dư là Lãng công cốc(hang núi ông Lãng), gọi chùa là Lãng công cốc sơn tự. Thời Bắc Chu, chùa bị phá hủy, đến đời Tùy được xây dựng lại, đổi tên là Thần thông tự. Năm Trinh quán 15 (641), ngài Nghĩa tịnh được 7 tuổi, từng ở chùa này thị giả các ngài Thiện ngộ và Tuệ trí, được các ngài dạy dỗ. Về sau, sự thay đổi của chùa như thế nào thì không rõ, còn hiện nay đã hoang vắng, nhưng những di vật thời xưa thì còn rất nhiều, như tháp 4 mặt, tháp Lãng công, các tháp mộ của các vị Trụ trì qua các đời Kim, Nguyên và các bia Nguyên, Minh. Trong đó, tháp 4 mặt bằng đá được kiến trúc vào năm Vũ định thứ 2 (544) đời Đông Ngụy chỉ kém Thạch khuyết kiến trúc bằng đá vào đời Hán. Tháp Lãng công thường được gọi là tháp Long hổ, 4 mặt của cây trụ trong ruột tháp có khắc tượng Phật, có thuyết cho rằng tháp được kiến trúc vào thời Trung Đường, có thuyết lại nói vào cuối đời Đường. Còn trên sườn núi cheo leo lưng chừng núi ở mé tây chùa có Thiên Phật Nhai, khắc vài trăm pho tượng Phật bằng đá lớn nhỏ, là những tác phẩm khoảng đầu đời Đường. Lại có tượng Phậtdo vị tăng tên là Tháp bốn mặt ở chùa Thần Thông Tháp Lãng Công chùa Thần Thông Minh đức khắc tạo, trên có bài minh được khắc vào khoảng năm Trinh quán đời Đường. So với hang đá ở cácnúi Vân cương, Long môn, Thiên long... thì hang đá ở đây ít bị tổn hại hơn, rất được các thức giả kính trọng. [X. Lương cao tăng truyện Q.5; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thái sơn chí; China Phật giáo sử tích bình giải Q.1].
Thần thông 神通
[ja] ジンズウ jinzū ||| (1) Excellent wisdom. Supernatural abilities, spiritual powers. The powers of unimpeded existence, i.e., the five sagely powers or the six supernatural powers of an arhat. (ṛddhi, abhijñāna). (2) Arhat. (3) In Chan teachings, the free actions of one who demonstrates thorough great awakening, and is not caught up in anything. "Sleeping when tired and eating when hungry." => 1. Trí huệ siêu tuyệt. Năng lực siêu nhiên, năng lực thần thông. Năng lực hoạt động vô ngại, có nghĩa là Ngũ thông hoặc Lục thông của bậc A-la-hán (ṛddhi, abhijñāna). . 2. A-la-hán3. Trong Thiền tông, thuật ngữ nầy chỉ cho hành vi tự tại của bậc đã đạt ngộ, không bị vướng mắc trong bất cứ điều gì. “Đói ăn, mệt ngủ.” Thần thông đệ nhất 神通第一 [ja]ジンツウダイイチ jintsū daiichi ||| The first in the degree of attainment occult powers; a appellation given Śākyamuni's eminent disciple Maudgalyāyana 摩訶目犍連, who is said to have had supernatural abilities that surpassed the other disciples. => Bậc đạt được năng lực siêu nhiên cao tột nhất; danh hiệu mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ban tặng cho đệ tử là Ma-ha Mục-kiền-liên (s: Maudgalyāyana 摩訶目犍連), người có được năng lực thần thông trội vượt trên tất cả các đệ tử Phật.
thần thức
The intelligent spirit, also called linh hồn the soul; incomprehensible or divine wisdom.
; • Linh Hồn—Soul—The intelligent spirit—Consciousness—Incomprehensible or divine wisdom. • Về những vấn đề tâm lý học, Phật giáo không chấp nhận sự hiện hữu của một linh hồn được cho là chân thật và bất tử. Vô ngã áp dụng cho tất cả vạn hữu (sarva dharma), hữu cơ hay vô cơ: With regard to the psychological question, Buddhism does not admit the existenceof a soul that is real and immortal. Anatma or non-self refers to all things (sarva-dharma), organic and inorganic. • Theo Nhân Sinh, cũng không có linh hồn, không có cái ngã chơn thật nào là bất tử: In the case of human beings, there will accordingly to be no soul, no real self that is immortal. • Còn trong trường hợp chỉ chung cho vạn hữu, cũng không có bản thể, không có bản chất nào mà không biến dịch. Bởi vì không có một cách ngã chân thực theo không gian, nghĩa làkhông có thực thể, nên không bao giờ có thường hằng—While in the case of things in general, there will be no noumenon, no essence which is unchangeable. Because there is no real self spatially, i.e., no substance, there will be no permanent, i.e., no duration. Therefore, no bliss, is to be found in the world.
; (神識) Cũng gọi Linh hồn. Tâm thức của loài hữu tình linh thiêng mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là Thần thức. Thần thức giới không thể dùng vật chất mà thấy được, cũng không đến được bằng thể vật chất, chỉ có thể dùng hành vi thể nhập để thể hiện. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 144 trung) nói: Lúc lâm chung trước hết thấy lửa hừng khắp các thế giới trong 10 phương, thần thức người chết bay đi, theo khói mà rơi vào địa ngục Vô gián. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.7; kinh Đại bảo tích Q.109].
thần tiên
The genii, immortals, rsi, of whom the five kinds are thiên tiên deva immortals, thần tiên spirit immortals, nhân tiên human immortals, địa tiên earth (or cave) immortals and quỉ tiên preta immortals.
; (A) Nghĩa của Thần Tiên—The meanings of Deities and immortals—Thần và Tiên—Spirit-rsis who roam the air—Spirit genii—Deities and immortals. (B) Năm loại Thần Tiên—Five kinds of Deities and immortals: 1) Thiên Tiên: Deva. 2) Thần Tiên: Spirit. 3) Nhân Tiên: Human immortals. 4) Địa Tiên: Earth or cave immortals. 5) Quỷ Tiên: Preta immortals.
thần tiên ngoại đạo
Extenalist deities and immortals.
thần tiên ngũ thông
Tức là những vị tiên nhân lánh mình vào núi, tu thiền định, được trường thọ và đắc năm phép thần thông: 1. Thiên nhãn thông, 2. Thiên nhĩ thông, 3. Túc mạng thông, 4. Tha tâm thông, 5. Thần túc thông. Tuy nhiên, ngũ thông này không đồng với ngũ thông của Phật và Bồ Tát.
thần tiên tư tưởng
(神仙思想) Chỉ cho tư tưởng thần bí của Trung quốc đời xưa. Người ta đều mong sống mãi không chết, từ đó mới có các sự tích về việc tu tiên, luyện thuốc. Theo khảo chứng, vào thế kỉ III trước Tây lịch thì tư tưởng thần tiên kết hợp với tín ngưỡng núi non đã lưu hànhởcác nơi tại Trung quốc, người ta có thể thấy thần tiên núi Côn luân trong Sở từ, tiên nhân núi Miểu cô xạ trong Trang tử. Tư tưởng này có nguồn gốc ở bán đảo Sơn đông, do Hải thị thẩn lâu(lâu đài do hơi loài sò sinh ra trên mặt biển) dọc theo bờ biển phía bắc mà nảy sinh. Theo Sử kí thì Uy vương và Tuyên vương nước Tề, Chiêu vương nước Yên trong thời đại Chiến quốc đều đã từng sai các phương sĩ(người học phép tiên và các thuật trừ tà) ra biển, tìm đến đảo Bồng lai, núi Tam thần để hái thuốc trường sinh bất tử. Từ đó về sau, các phương sĩ hoạt động mạnh mẽ, thuật trường sinh và thuyết luyện kim đan rất thịnh hành. Tần thủy hoàng và Hán vũ đế cũng từng sai sứ ra biển tìm tiên, nhưng không ai tìm được. Sau khi tín ngưỡng Tam thần sơn suy đồi thì chuyển sang tôn sùng Ngũ nhạc (5 quả núi cao tiêu biểu cho 5 phương ở Trung quốc, tức là Hành sơn nam nhạc, Hoa sơn tây nhạc, Trung sơn trung nhạc, Thái sơn đông nhạc và Hằng sơn bắc nhạc), đồng thời phát triển thành thuật trường sinh. Cát hồng đời Tấn tập đại thành tư tưởng này bằng cách soạn bộ Bão phác tử, trong đó bàn về thuật trường sinh như thuốc tiên, phép luyện kim đan, tịch cốc(không ăn các loại hạt cây như lúa, bắp...), Thai tức pháp(phương pháp hô hấp)... Bấy giờ có nhiều phần tử trí thức đối với tư tưởng thần tiên cũng có hứng thú, điều này có thể thấy qua Đào hoa nguyên kí của Đào uyên minh, Dưỡng sinh luận của Kê khang... Đến những năm cuối đời Đông Hán, Trương lăng kết hợp thuyết Thần tiên với thuyết Âm dương rồi dựa vào huyền lí của Đạo gia mà thành lập Đạo giáo, đồng thời cho rằng chân nhân của Đạo gia chính là thần tiên của Đạo giáo. Đến đây, thuyết Thần tiên đã dung hòa vào Đạo giáo. Thuyết Thần tiên từ đời Đường về sau phần nhiều phụ thuộc vào Đạo giáo.
thần triêu
Một trong ba thời trong ngày, buổi sáng—The morning period, the first of the three divisions of the day—See Tam Thời (A).
thần triều
(晨朝) Phạm:Pùrvàhịa. Pàli: Pubbaịha. Cũng gọi Thanh đán, Thần đán, Bình đán.Chỉ cho giờ Thìn, tức hiện nay khoảng 8 giờ sáng. Có thuyết cho rằng Thần triêu là từ giờ Mão đến giờ Tị, tức nay là khoảng từ 6 đến 10 giờ sáng, là 1 trong 6 thời. Trong các chùa viện, vào giờ này siêng tu Phật sự, gọi là Thần triêu, hoặc gọi là Thần khóa, Triêu khóa, Tảo khóa. Trong Vãng sinh lễ tán kệ của ngài Thiện đạo cho rằng Thần triêu là thời thứ 5 trong 6 thời.[X. kinh A di đà ; kinh Bát nhã lí thú; Tăng tàn pháp trong luật Ma ha tăng kì Q.6].
thần trí
Spiritual wisdom, divine wisdom which comprehends all things, material and immaterial.
; Cái trí thông hiểu tất cả sự việc, từ vật chất đến phi vật chất—Spirit and intelligence—Spiritual wisdom—Divine wisdom which comprehends all things, material and immaterial.
; (神智) I. Thần Trí. Trí tuệ thấy suốt sự lí một cách tự tại vô ngại. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng Đại 12, 270 trung) nói: Thần trí rỗng suốt, uy lực tự tại. II. Thần Trí (1042-1091). Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tống, người ở Bình dương, Ôn châu, họ Diệp, pháp danh Tòng nghĩa, tự Thúc đoan, thụy Thần trí. Sư xuất gia năm 8 tuổi, 17 tuổi, tụng kinh Pháp hoa được độ làm tăng, theo học ngài Phù tông Kế trung ở Tứ minh. Về sau, sư trụ các chùa: Đại vân, Chân bạch, Ngũ phong, Bảo tích, Diệu quả... người đến theo học rất đông. Trong các tập giải do sư chú thích bổ sung, sư ức đoán kinh Phật theo ý mình để nghị luận tông phái khác, như bàn về việc vọng phán Hoa nghiêm của ngài Hiền thủ, luận về việc chuyên dùng Duy thức của ngài Từ ân, bài bác sự hoang đường trong việc truyền thừa giữa 28 vị Tổ Thiền tông. Về già, sư trụ ở chùa Thọ thánh, phát huy tông phong rực rỡ. Tuy sư xuất thân từ phái Sơn gia nhưng lại khác với Sơn gia chính thống, dùng nghĩa của chính mình làm nòng cốt, cho nên người đời sau gọi sư là Hậu sơn ngoại. Năm Nguyên hựu thứ 6 (1091), sư tịch, hưởng dương 50 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tam đại bộ bổ chú 14 quyển; Quang minh văn cú tân kí 7 quyển, Quán kinh sớ vãng sinh kí 4 quyển. [X. Thích môn chính thống Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.22].
thần trí huệ học vấn
Ganesa (S).
thần trí học
Theosophy.
Thần trí 神智
[ja] ジンチ jinchi ||| (1) Divine wisdom, supernatural wisdom. 〔法華經 T 262.9.51b11〕(2) Shenzi (819-886), a Tang period monk. 〔宋高僧傳卷二十五〕 => 1. Trí tuệ siêu phàm, trí huệ siêu nhiên. 2. Shenzi (819-886), Thiền sư đời Đường (Tống cao tăng truyện, quyển 25 ; 宋高僧傳卷二十五)
thần tài
Siri (P).
; Goddess of fortune
; The goddess of fortune.
thần tán thiền sư
Zen master Shen-Tsan—Thần Tán Thiền Sư là một trong những đệ tử nổi bậc của Thiền Sư Bách Trượng. Ngài xuất gia lúc tuổi còn nhỏ. Sau khi ngộ đạo với Tổ Bách Trượng , ngài còn vị bổn sư chưa thấu đạo (nhưng rất kiêu ngạo và không muốn nghe lời khuyên của đệ tử, vì nghĩ rằng đệ tử làm sao hơn thầy được). Vì thế ngài trở về quê tìm cách cảnh tỉnh bổn sư. Một hôm bổn sư đang ngồi xem kinh bên khung cửa, vì trời lạnh nên ông lấy giấy dán kín cửa lại. Thần Tán đi ngang thấy một con ong cứ bay đập vào tờ giấy để tìm lối ra, nhưng chui ra không được. Thần Tán đứng ngoài cửa sổ ngâm một bài kệ: “Không môn bất khẳng xuất Đầu song dã thái si Bách niên táng cố chỉ Hà nhật xuất đầu thì?” (Cửa không chẳng chịu ra Lại mê muội vùi đầu vào song cửa Trăm năm vùi đầu vào tờ giấy cũ ấy Cũng không có ngày nào ra được?) Zen master Shen-Tsan was one of the outstanding of Zen master Bai-Zhang. He left home to become a monk at the young age. After attaining enlightenment, he bid farewell to Master Bai-Zhang and returned to his home town hoping to help his former teacher (who was too proud to take advice from his student, as he thought disciples would never surpass their teacher) get awakened. One day, his old teacher was reading the sutra by the window. Because it was too cold outside, he sealed the window with paper. This incidentally entrapped a bee inside the room. When Shen-Tsan passed by the abbot's room and notice the bee banging itself against the taped window, trying to find its way out, he composed the following verses: “The gateless gate is there, Why don't you get out, how stupid of you! Even though you poke your nose into The old paper for hundreds of years, When can you expect to set free?”
thần tình
Marvellous—Miraculous.
thần tích
Myth, legend.
; Story of a god.
thần tính
Divinity—Deity.
Thần Tú
(神秀, Jinshū, 605-706): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, xuất thân Huyện Úy Dân (尉民縣), Biện Châu (汴州, phía Nam Khai Phong, Hà Nam), họ Lý (李), thân cao 8 thước, mắt rộng mày dài, có đức tướng uy nghiêm. Theo bia văn của Trương Thuyết (張說), lúc nhỏ ông đã đọc các kinh sử (Nho học), học rộng nghe nhiều. Vào năm thứ 8 (625) niên hiệu Võ Đức (武德), ông xuất gia tại Thiên Cung Tự (天宮寺), Lạc Dương (洛陽). Sau đó, ông đi tìm thầy học đạo, đến Song Phong Tự (雙峰寺) ở Huyện Hoàng Mai (黃梅縣), Kì Châu (蘄州) tham yết Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (弘忍), thề nguyện chịu đựng tất cả khổ nhọc chỉ một lòng cầu đạo mà thôi. Lúc đó ông đã 50 tuổi. Nhờ đức nhẫn thụyc ấy, trong chúng ai cũng kính phục và trở thành Thượng Tọa trong chúng môn hạ hơn 700 người của Ngũ Tổ; cho nên ông có tên gọi là Thượng Tọa Thần Tú. Ông cũng có quan hệ thân thiện với Đại Giám Huệ Năng (大鑒慧能). Bài kệ nổi tiếng của ông là “thân thị bồ đề thọ, tâm như minh kính đài, thời thời cần phất thức, mạc sử nhạ trần ai (身是菩提樹、心如明鏡臺、時時勤拂拭、莫使惹塵埃, thân là cây bồ đề, tâm như đài gương sáng, hằng ngày siêng lau quét, chớ để nhuốm bụi trần)”. Vào tháng 10 năm thứ 2 (675) niên hiệu Thượng Nguyên (上元) đời vua Cao Tông nhà Đường, khi Hoằng Nhẫn viên tịch, ông chuyển đến Đương Dương Sơn (當陽山) ở Giang Lăng (江陵) giáo hóa, chúng đạo tục quy tụ về rất đông, từ đó đạo phong và tiếng tăm của ông càng vang xa. Trong thời gian niên hiệu Cửu Thị (久視, 700), Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后) nghe tiếng của ông, cho triệu vào cung nội và cho xây dựng ở Đương Dương Sơn ngôi Độ Môn Tự (度門寺). Đến khi vua Trung Tông lên ngôi, vua lại càng trọng hậu ông và vị quan Trung Thư Lệnh Trương Thuyết (張說) cũng lấy lễ bái ông làm thầy. Vua Duệ Tông (睿宗) thì rất kính mộ ông, cho nên ông được gọi là Tam Đế Quốc Sư (三帝國師), được suy cử làm Pháp Chủ của Trường An và Lạc Dương trong vòng 6 năm. Chính ông đã từng tâu lên Võ Hậu cho triệu thỉnh Huệ Năng, nhưng Huệ Năng cố từ, trả lời rằng ông đã có duyên với Lãnh Nam (嶺南) rồi, nên không đến Đại Dữu Lãnh (大庾嶺) nữa, từ đó trong Thiền môn có câu “Nam Năng Bắc Tú (南能北秀, phía Nam có Huệ Năng, phía Bắc có Thần Tú)”. Ông thị tịch vào tháng 2 năm thứ 2 niên hiệu Thần Long (神龍) tại Thiên Cung Tự ở Lạc Dương (洛陽), hưởng thọ 101 tuổi. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Thông Thiền Sư (大通禪師), là người được nhận thụy hiệu Thiền sư sớm nhất. Thiền phong của ông chủ yếu là tiệm ngộ, thuyết về ly niệm và xem trọng Ngũ Phương Tiện (五方便), trái ngược với chủ trương đốn ngộ của Huệ Năng bên Nam Tông Thiền. Trong khi Nam Tông Thiền được phổ cập ở Hoa Nam (華南) và Giang Tây (江西), Bắc Tông Thiền của Thần Tú thì hưng thạnh ở Hoa Bắc (華北), hai kinh đô Trường An (長安) và Lạc Dương (洛陽) cũng như địa phương Giang Nam (江南). Môn nhân Đạo Tuyền (道璿) của ông là người đến Nhật Bản sớm nhất, cho nên những Thiền tăng thời kỳ đầu của Nhật Bản đều thuộc hệ thống này. Pháp từ của ông có Tung Sơn Huệ Tịch (嵩山慧寂), Kinh Triệu Nghĩa Phước (京兆義福), v.v. Trước tác của ông có Quán Tâm Luận (觀心論) 1 quyển, Đại Thừa Vô Sanh Phương Tiện Môn (大乘無生方便門) 1 quyển, Hoa Nghiêm Kinh Sớ (華嚴經疏) 30 quyển, Diệu Lý Viên Thành Quán (妙理圓成觀) 3 quyển. Kì Vương Phạm (岐王範), Yến Quốc Công Trương Thuyết (燕國公張說) và Trưng Sĩ Lô Hồng (徴士盧鴻) mỗi người soạn một bài bia minh.
; 神秀; C: shénxiù; J: jinshū; ~ 605-706, cũng được gọi là Ngọc Tuyền Thần Tú;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Theo truyền thuyết, Sư thua cuộc trong việc chọn người nối pháp của Hoằng Nhẫn và Huệ Năng được truyền y bát. Sư vẫn tự xem mình là người nối pháp của Hoằng Nhẫn và sáng lập Bắc tông thiền, một dòng thiền vẫn còn mang đậm sắc thái Ấn Ðộ với bộ kinh Nhập Lăng-già làm căn bản.|Sư thuở nhỏ đã thông minh hơn người. Ban đầu, Sư học Nho giáo nhưng không hài lòng, sau đó (năm 46 tuổi) đến núi Hoàng Mai nhập hội của Hoằng Nhẫn. Nơi đây, Sư là môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ (Sử sách có ghi lại tên của 11 người đệ tử của Hoằng Nhẫn đã giáo hoá danh tiếng). Sau khi Hoằng Nhẫn viên tịch, Sư rời Hoàng Mai và đi du phương gần 20 năm. Sau, khi Vũ Hậu là Tắc Thiên mời đến kinh đô, Sư chần chừ rồi nhận lời. Nơi đây, Sư giáo hoá rất nhiều người, danh tiếng lừng lẫy.|Năm Thần Long thứ hai (706), Sư viên tịch. Vua sắc phong là Ðại Thông Thiền sư. Ðến giữa thế kỉ 8, vương triều công nhận Sư là người thừa kế Ngũ tổ, nhưng dòng Thiền của Sư tàn lụi sau vài đời, có lẽ vì liên hệ chính trị nhiều với vương triều.
; (神秀) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Úy thị, Biện châu (phía nam phủ Khai phong, tỉnh Hà nam), họ Lí. Sư mình cao 8 thước Tàu, lông mày rậm, mắt đẹp, có uy đức vòi vọi, từ nhỏ đã xem kinh sử, học rộng nghe nhiều. Khi đã xuất gia thụ pháp liền tìm thầy học đạo. Sau, sư đến chùa Đông sơn ở núi Song phong thuộc Kì châu, tham yết Ngũ tổ Hoằng nhẫn, thệ nguyện kham khổ, bổ củi, gánh nước để cầu đạo. Ngũ tổ rất kính trọng sư, cho làm Giáo thụ sư, vì ở vào địa vị cao nhất trong số môn nhân của Ngũ tổ cho nên sư được gọi là Thần tú Thượng tọa. Sư rất gần gũi với ngài Đại giám Tuệ năng, có khải phát lẫn nhau. Bài kệ sau đây là bài kệ nổi tiếng của sư: Thân thị Bồ đề thụ, Tâm như minh kính đài; Thời thời cần phất thức, Mạc sử nhạ trần ai. (Thân như cây Bồ đề, Tâm là đài gương sáng; Thường siêng năng lau chùi, Chớ để dính bụi bặm.) Tháng 10 năm Thượng nguyên thứ 2 (675) đời Đường, Tổ Hoằng nhẫn thị tịch, sư dời đến núi Đương dương tại Giang lăng hoằng pháp, đức hạnh của sư cao cả, tiếng tăm vang dội, chúng tăng theo về rất đông. Vũ hậu Tắc thiên nghe danh sư liền triệu sư vào Nội đạo tràng, đặc biệt kính trọng, ban sắc xây chùa Độ môn ở núi Đương dương để biểu dương đức hạnh của sư. Khi vua Trung tông lên ngôi cũng rất kính trọng sư, quan Trung thư lệnh là Trương thuyết giữ lễ đệ tử. Sư từng tâu lên Vũ hậu triệu thỉnh ngài Tuệ năng và tự viết thư mời, nhưng ngài Tuệ năng từ chối, đáp rằng mình có duyên với Lĩnh nam nên không vượt qua dãy núi Đại dữu, do đây mà trong Thiền môn có từ ngữ Nam Năng Bắc Tú. Tháng 2 năm Thần long thứ 2 (706), sư thị tịch ở chùa Thiên cung tại Lạc dương, thọ 102 tuổi, vua ban thụy hiệu Đại Thông Thiền Sư, là thụy hiệu đầu tiên trong Thiền môn. Dòng pháp của sư hưng thịnh ở vùng Trường an, Lạc dương. Sư nêu cao Thiền chỉ, chủ trương thuyết Tiệm ngộ, ngài Tuệ năng thuộc thiền Nam tông thì chủ trương Đốn ngộ, vì thế trong lịch sử Thiền tông có danh xưng Nam Đốn Bắc Tiệm. Đệ tử sư là ngài Đạo tuyền là người đầu tiên đến Nhật bản, cho nên những người tu thiền ở thời kì đầu tại Nhật bản phần nhiều thuộc hệ thống của sư. Đệ tử nối pháp có các vị: Phổ tịch ở Tung sơn, Nghĩa phúc ở Kinh triệu... Môn đình hưng thịnh 1 thời, người đời gọi sư là Tổ của thiền Bắc tông. Nhưng dòng pháp của sư chỉ được vài đời thì suy vi. [X. Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Ngũ đăng hội nguyên Q.2].
thần tú
Chang Shuo (C), JinshŪ (J), Shenxiu (C), Shen-Hsiu (C) (?-706) Đệ tử của Hoằng Nhẫn, khai sáng dòng thiền Bắc phương Trung quốc.
; Shin Shau (C). Name.
; Shen-Hsiu (606-706)—Một trong những đệ tử nổi tiếng cũa Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, vị kia là Lục Tổ Huệ Năng. Sau khi ngũ tổ thị tịch, hai trường phái được hai vị thành lập, dòng thiền phương bắc và dòng thiền phương nam. Thần Tú đã truyền bá thiền về phương bắc và được biết đến như Tiệm Giáo; dù được Hoàng Triều nức lòng bảo trợ vẫn không tồn tại được bao lâu, chẳng bao lâu sau thì dòng thiền phương bắc tàn rụi, và được thay thế bởi dòng thiền của Lục tổ Huệ Năng được biết với tên dòng Thiền Trung Hoa. Chính dòng thiền của Lục Tổ Huệ Năng đã nẩy sanh ra các dòng Lâm Tế, Thiên Thai, vân vân—One of the most famous disciples of the Fifth Patriarch Hung-Jen, the other being Hui-Neng. After Hung-Jen passed away, the rival schools founded by the two men, the North and the South. Shen-Hsiu spread Zen Buddhism in northern China. His lineage called the Northern School and became known as the Gradual Teaching; although patronized by the reigning Emperor, did not last very long, soon later it died out and was replaced by the Hui-Neng School which became known as the Chinese Ch'an School, or Suden School of Hui Neng, which sprang the present Lin-Chi, Soto, and T'ien-T'ai schools of Zen—Shen-Hsiu is the author of this Poem: **Thân thị Bồ đề thọ, Tâm như minh cảnh đài Thời thời thường phất thức, Vật xử nhạ trần ai. (Thân là cây Bồ Đề, Tâm như đài gương sáng Luôn luôn siêng lau chùi Chớ để dính bụi bặm). **The body is like the bodhi tree, The mind is like a mirror bright, Take heed to keep it always clean, And let no dust accumulate on it.
thần túc
chỉ Tứ thần túc, cũng gọi là Tứ như ý túc (四如意足; Phạn ngữ: catvra ṛddhipdḥ), bao gồm: 1. Dục (Phạn ngữ: chanda) thần túc, sự tập trung ý chí mạnh mẽ; 2. Tinh tấn (Phạn ngữ: vỵrya) thần túc, nghị lực mạnh mẽ; 3. Tâm (Phạn ngữ: citta) thần túc, sự chú tâm; 4. Trạch pháp (Phạn ngữ: mỵmṃs) thần túc, chú tâm vào sự tra xét, tìm tòi.
; Xem Như ý túc.
; Rddhipada (skt)—Magic powers.
thần túc biến hóa thị hiện
Xem Như ý túc thị hiện.
thần túc nguyệt
Thần Biến Nguyệt—Thần Thông Nguyệt—Tam trường trai nguyệt trong tháng giêng, tháng năm, và tháng chín, vì trong những tháng nầy chư Thiên đi khắp thế giới để kiểm soát—The first, fifth, and ninth months, when the devas go on circuit throughout the earth.
thần túc thông
Iddhividhā (P), Ṛddhi-sākśākṛya (S) Phép đi khắp nơi và biến hoá. Trong lục thông gồm: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thông.
; Rddhipàda; rddhi-sàksàtkriyà (S). Supernatural power to appear at will in any place, to fly or go without hindrance, to have absolute freedom. Also thần cảnh trí thông, như ý thông. Thần túc nguyệt, the first, fifth, and ninth months, when the devas go on circuit throughout the earth.
; Rddhipada or Rddhi-Saksatkriya (skt)—Thần Cảnh Trí Thông—Như Ý Thông—Thần thông xuất hiện bất cứ đâu, bay hay đi theo ý mình không ngăn ngại—Deva-foot ubiquity—Supernatural power to appear at will in any place, to fly or go without hindrances, to have absolute freedom. ** For more information, please see Thần Thông.
; (神足通) Cũng gọi Như ý túc thông, Thần cảnh trí thông, Thần cảnh trí chứng thông. Năng lực thần thông được tự tại như ý, 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Theo luận Đại tì bà sa quyển 141 thì có 3 thứ thần dụng: 1. Vận thân thần dụng: Thân lướt trong hư không giống như chim bay, cũng hệt như vị tiên bay vẽ trên vách. 2. Thắng giải thần dụng: Ở xa mà thấy như gần, nhờ vào năng lực này, trụ ở châu Diêm phù đề mà tay với tới mặt trời mặt trăng, hoặc trong khoảng thời gian co duỗi cánh tay mà tới được tầng trời Sắc cứu cánh. 3. Ý thế thần dụng: Thức mắt đến đỉnh cõi Sắc, hoặc lên đến tầng trời Sắc cứu cánh, hoặc vượt qua vô biên thế giới. Còn theo luận Đại trí độ quyển 5 thì có 3 thứ Như ý: 1. Năng đáo, lại chia làm 4 loại: a. Thân có thể bay đi như chim, không bị chướng ngại. b. Dời xa lại gần, không đi mà đến. c. Biến mất ở nơi này, xuất hiện ở nơi kia.d. Chỉ trong một ý nghĩ đã đến nơi. 2. Chuyển biến: Lớn biến thành nhỏ, nhỏ biến thành lớn; một biến ra nhiều, nhiều biến thành một, tất cả các vật đều có thể chuyển biến được. Sự chuyển biến của ngoại đạo cùng lắm không quá 7 ngày, còn sự chuyển biến của Phật và các đệ tử thì lâu mau, xa gần đều tự tại. 3. Thánh như ý: Tức năng lực quán tưởng vật bất tịnh không đáng ưa thuộc 6 trần là tịnh, quán tưởng vật thanh tịnh đáng ưa là bất tịnh. Pháp Thánh như ý này chỉ Phật mới có. Các kinh luận khác có rất nhiều chỗ bàn về Như ý, nhưng đại khái thì đều giống nhau, chỉ khác nhau về chi tiết.[X. kinh Tăng nhất trong Trường a hàm Q. 9; luận Câu xá Q.27; luận Du già sư địa Q.37; phẩm Lục thông trí trong luận Thành thực Q.16]. (xt. Thập Bát Biến, Thần Thông).
Thần túc thông 神足通
[ja] ジンソクツウ jinsokutsū ||| The supernatural power of unimpeded bodily function, which includes such abilities as flying, making oneself invisible, etc (ṛddhi-prātihārya). One of the six supernatural powers. See 六神通. => Năng lực thần thông hoặc tác dụng vô ngại của các hành vi thuộc về thân, gồm những việc như bay được và tàng hình.v.v...(ṛddhi-prātihārya). Là một trong sáu thần thông (Lục thần thông 六神通).
thần túc trí thông nguyện
(神足智通願) Nguyện được thần thông bay đi không gì làm chướng ngại, là nguyện thứ 9 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Hàng Thánh chúng có thể dùng Thiên nhãn trông thấy suốt các cõi Tịnh độ trong 10 phương, hoặc dùng Thiên nhĩ nghe được những âm thanh ở các Tịnh độ xa xăm ấy, nhưng nếu thân muốn đến tận nơi thì không được như ý. Vì sao? Vì núi sông ngăn cách, hoặc đường biển đường bộ đều dứt, chỉ có thể trông thấy từ xa. Cho nên đức Phật A di đà mới phát nguyện này, nguyện cho tất cả chúng sinh vãng sinh Tịnh độ đều được Thần túc thông để chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn thẳng đến vô lượng thế giới trong 10 phương.
Thần Tăng
(神僧): những cao tăng có hành trạng thần bí, kỳ đặc, không thể luận bàn, không thể tư duy được. Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新脩大藏經) có thâu lục bộ Thần Tăng Truyện (神僧傳, Taishō No. 2064), 9 quyển với 208 vị Thần Tăng, bắt đầu từ nhân vật đầu tiên là Ma Đằng (摩騰) cho đến người cuối cùng là Đảm Ba (膽巴).
thần tăng truyện
(神僧傳) Truyện kí, 9 quyển, do vua Thành tổ soạn vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung sách này thu chép truyện kí của các bậc danh tăng do thần dị mà nổi tiếng. Tuy các bậc dị tăng có thần dị vạn biến vượt trội các vị tăng bình thường, xưa nay đều có truyện kí, nhưng lại nằm rải rác trong các kinh, nếu muốn xem thì lời văn trong Tam tạng quá đồ sộ, bao la, khó xem hết được, cho nên người đời phần nhiều không biết hết. Do đó, soạn giả xem kĩ các truyện, tập hợp thành sách này. Toàn truyện thu chép 208 vị như các ngài Ma đằng, Trúc pháp lan, Đạo an...
thần tịch tham khấu
(晨夕參扣) Sớm, tối gõ cửa thầy, cầu xin dạy bảo. Bích nham lục tắc 96 (Đại 48, 219 thượng) ghi: Gần đây, nghe tin Đại sư Đạt ma trụ ở chùa Thiếu lâm, liền đến chỗ ngài sớm, tối gõ cửa cầu xin chỉ dạy (Thần tịch tham khấu), nhưng ngài chỉ ngồi thẳng quay mặt vào vách, không dạy bảo lời nào.
thần tọa
Deva or spirit thrones.
; Chỗ ngồi của chư Thiên—Deva or spirit throne.
thần tốc
Lightning speed.
Thần Tử Vinh Tôn
(神子榮尊, Shinshi Esion, 1195-1272): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu là Thần Tử (神子), có thuyết cho rằng ông có húy là Khẩu Quang (口光), tự là Vinh Tôn (榮尊), họ là Bình (平). Ông xuất thân ở vùng Trúc Hậu (筑後, Chikugo, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]), con của Bình Liêm Lại (平廉賴). Năm lên 7 tuổi, ông theo hầu đệ tử của Vinh Tây là Nguyên Lâm (元淋, tức Nghiêm Lâm [嚴林]), rồi xuống tóc xuất gia và học giáo quán của Mật Giáo, sau đó ông đến hầu hạ người đệ tử nối dòng của Vinh Tây là Vinh Triêu (榮朝, Eichō) ở Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) thuộc vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬顯]). Vào năm đầu (1225) niên hiệu Gia Trinh (嘉禎), ông cùng với Thánh Nhất Quốc Sư Viên Nhĩ (聖一國師圓爾) lên thuyền sang nhà Tống cầu pháp, đến tham vấn chư lão túc ở khắp nơi, rồi làm môn hạ của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山) mà tham cứu Thiền chỉ, và ba năm sau thì ông trở về nước. Vào năm đầu (1240) niên hiệu Nhân Trị, ông sáng lập ra Vạn Thọ Tự (萬壽寺, Manju-ji) và hoằng dương Thiền phong của mình. Chính tự bản thân ông đã từng đi du hóa khắp các nơi, rồi khai sáng ra các chùa như Triêu Nhật Tự (朝日寺), Báo Ân Tự (報恩寺), Diệu Lạc Tự (妙樂寺), v.v. Đến cuối đời thì ông lên Kinh Đô Kyoto và quy y cho Nhị Điều Tướng Quốc (二條相國). Đến ngày 28 tháng 12 năm thứ 9 niên hiệu Văn Vĩnh (文永) thì ông viên tịch, hưởng thọ 78 tuổi.
thần văn biểu bạch
(神文表白) Nghi thức tu pháp của Mật giáo. Tức trước khi tu pháp, tụng thần phân để cầu chư thiên thiện thần bảo hộ. Kế đến đối trước Trụ trì Tam bảo đọc văn biểu bạch. Nội dung văn biểu bạch gồm 6 việc: 1. Tán thán thể tính của việc tu thiện. 2. Khen ngợi thiện ý của thí chủ. 3. Nguyện thành tựu bồ đề. 4. Nguyện thành tựu nguyện vọng của thính chúng. 5. Hồi hướng căn lành tu được cho hữu tình trong pháp giới. 6. Cầu xin chư thiên tăng thêm uy quang.
thần văn biểu bạch nguyện văn
(神文表白願文) Văn tùy nguyện được đọc sau khi biểu bạch. Văn nguyện này được soạn theo ý của thí chủ, cho nên gọi là Tùy nguyện văn.
thần vương hình
(神王形) Hình tượng uy nghiêm của thần Hộ pháp, 1 trong các loại tượng đắp của Phật giáo. Thông thường, hình tượng này có đội mũ sắt, mặc áo giáp. Đối lại với hình tượng sống động có dáng vẻ phẫn nộ thì Thần vương hình lại có dáng vẻ điềm tĩnh. Loại Thần vương hình này có thể thấy trong tranh vẽ Tứ thiên vương như Tì sa môn thiên và Đế thích thiên.
thần vật đồng thể luận
Spinozism Vạn vật giai thần luận.
thần vực
Cảnh giới chứng ngộ chân thật, không thể nghĩ bàn—The realm of spirit, of reality, surpassing thought, supra-natural.
Thần Xã
(神社, Jinja): cơ quan tế tự được thiết lập trên cơ sở tín ngưỡng của Thần Đạo; thường làm bằng gỗ. Cơ sở này khác với lễ bái đường, nơi thuyết pháp, truyền đạo của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo và các tự viện Phật Giáo. Về nguồn gốc, Thần Xã vốn là tế đàn gọi là Thần Li (神籬, Himorogi), được thiết lập tạm thời vào những lúc tế cúng, tiến hành ở các vùng đất cấm địa (tục gọi là Thần Thể Sơn [神体山])—Bàn Tọa (磐座, Iwakura), nơi trú ngụ của chư vị Thần. Nguyên lai, Thần Xã cũng giống như Ngự Nhạc (御嶽, Utaki) ở Xung Thằng (沖繩, Okinawa). Đối với các đền thờ Thần Xã kế tục từ thời Cổ Đại đến nay, vẫn có Thần Xã không có điện thờ chính. Đó là các đền thờ kiến lập Bái Điện (拜殿) ngay trước nơi Bàn Tọa, vùng đất cấm túc, núi rừng hay hoang đảo; tỷ dụ như trường hợp Đại Thần Thần Xã (大神神社), Thạch Thượng Thần Cung (石上神宮), Tông Tượng Đại Xã (宗像大社), v.v.; hay nơi hoàn toàn không có điện thờ như Phi Lang Thần Xã (飛瀧神社). Tín ngưỡng cho rằng Thần thường ngự nơi điện thờ vốn hình thành từ khi kiến thiết Xã Điện (社殿, điện thờ của Thần Xã). Trong quá trình kiến thiết, cũng có ảnh hưởng của các tự viện Phật Giáo. Những ngôi đền thờ Thần Xã cổ xưa thì do một nhân duyên nào đó, người ta thiết lập nên Xã Điện ở nơi gần với ngự thần thể; tỷ dụ như Việt Mộc Nham Thần Xã (越木岩神社). Mặt khác, trường hợp khi cần phải có ngôi đền thờ Thần Xã mới, khi thôn làng hình thành, người ta tạo dựng ngôi đền ở nơi thích hợp để tôn thờ các Phân Linh (分靈), Thị Thần (氏神). Cho nên, cũng có nhiều phương pháp chọn lựa vị trí để tôn tạo Thần Xã. Tỷ dụ, theo nhân duyên mà chọn lựa, như trường hợp nơi phát xuất đầu tiên của một dòng tộc, như Thái Tể Phủ (太宰府, Dazaifu), nơi đầu nguồn của dòng họ Quản (菅); hay chọn nơi thanh tịnh (kỵ ô uế), như vùng đất xây dựng Minh Trị Thần Cung (明治神宮); hoặc chọn nơi tham bái dễ dàng, thuận tiện, như trường hợp Nhị Hoang Sơn Thần Xã (二荒山神社) vốn tọa lạc trên đỉnh núi, nhưng lại có Xã Điện ở nơi khác để tiện tham bái hơn. Tùy theo từng vị trí, Xã Điện có thể ở trên biển, đỉnh núi, hay thậm chí vào thời hiện đại này, ngay trên nóc tòa nhà cao tầng vẫn có. Với nghĩa rộng, tại tư gia vẫn có thiết Thần Bằng (神棚), hình thức đền thờ thu nhỏ. Về kiến trúc, hầu hết các đền thờ Thần Xã đều có quần thể kiến trúc chung nhất, gồm: Điểu Cư (鳥居, Torii, cổng chính màu đỏ dẫn vào đền thờ), Tham Đạo (參道, Sandau, Sandō), Đăng Lung (燈籠, Tōrō, đèn lồng bằng đá), Bạch Khuyển (狛犬, Komainu), Thủ Thủy Xá (手水舍, Teuzuya, nơi rửa tay trước khi vào tham bái), Bái Điện (拜殿, Haiden, thường an trí trước điện thờ chính), Tệ Điện (幣殿, Heiden, nơi có đặt thùng đựng tiền cúng dường công đức, gọi là Tái Tiền Sương [賽錢箱], có trường hợp được nhất thể hóa với Bái Điện và Bổn Điện), Bổn Điện (本殿, điện thờ chính, nơi Thần trấn tọa), Thần Lạc Điện (神樂殿, Kaguraden), Vũ Điện (舞殿, Mahidono, Midono), Hội Mã Điện (繪馬殿, Emaden), Sự Vụ Sở (事務所, Jimusho, văn phòng làm việc điều hành), Nạp Trát Sở (納札所, Nōsatsusho, nơi thâu nạp các thẻ bài cầu nguyện hay thẻ bùa cũ), v.v.
thần y dược
Xem A tu vân.
thần ám
The darkened mind without faith.
; Tâm hôn ám không có niềm tin—The darkened mind without faith.
thần án
(thần án) Cao tăng Trung quốc, sống vào cuối đời Đường, đầu đời Ngũ đại, người ở Đại lương, họ Lí. Thủa nhỏ, sư đã không ưa mùi thịt cá tanh hôi, thích nghe tiếng chuông chùa. Năm 12 tuổi, sư nhuốm bệnh rất nặng, nằm mộng thấy thần nhân cho thuốc uống liền hết bệnh. Năm sau, sư lại mộng thấy vị Phạm tăng bảo rằng (Đại 51, 351 thượng): Đã đến lúc xuất gia!, sư bèn lễ Thiền sư Đạo qui ở núi Bạch lộc thuộc Vệ châu (Hà nam) xin xuất gia và tham học các vị Thiền đức. Đến khi sư tham yết ngài Tuyết phong Nghĩa tồn thì cơ duyên khế hợp, hoátnhiên đại ngộ, được truyền tâm ấn. Sau khi ngài Tuyết phong thị tịch, Vương diên bân ở đất Mân thường đến thưa hỏi sư về pháp yếu, đồng thời xây dựng Thiền viện Dũng tuyền ở núi Cổ sơn cách Phủ thành 20 dặm, thỉnh sư về an trụ. Tại đây, sư mở mang tông chỉ suốt hơn 30 năm. Khoảng năm Thiên phúc (936-944), sư thị tịch, thụy hiệu Hưng Thánh Quốc Sư. Sư để lại các tác phẩm: Cổ sơn tiên Hưng thánh quốc sư hòa thượng pháp đường huyền yếu quảng tập 1 quyển. [X. Tổ đường tập Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Ngũ đăng hội nguyên Q.7].
thần điểu
Garuda (S). Mystical bird. Also kim xí điểu, ca lâu la.
Thần đạo
神道; J: shintō;|Tôn giáo truyền thống của Nhật Bản bắt đầu từ Công nguyên. Trong thế kỉ thứ 5, 6, Thần đạo chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo Trung Quốc. Từ Phật giáo, Thần đạo thu nhận thêm một số tư tưởng triết học và giới luật. Năm 1868, Thần đạo trở thành quốc giáo, nhà vua được xem là có thiên mệnh. Năm 1945, Thần đạo mất tính chất quốc giáo và kể từ năm 1946, nhà vua không còn tự cho mình có tính thần quyền.|Thần đạo thời nguyên thuỷ tin tưởng đa thần: mỗi con sông, ngọn núi, mỗi hiện tượng thiên nhiên đều do một vị thần (kami) trấn giữ. Các vị thần quan trọng nhất là cha trời mẹ đất, là hai vị đã tạo nên hải đảo Nhật Bản và các vị thần khác. Thần Amaterasu Omikami được xem là vị đại thần quan trọng nhất do cha trời mẹ đất sinh ra, vị này thống lĩnh mặt trời, cho con cháu xuống đất thống lĩnh từng hòn đảo của Nhật và dựng nên vương quốc vĩnh viễn tại đó. Ðó là huyền thoại xây dựng nước Nhật và hoàng gia, trở thành quan niệm của Thần đạo. Ðến năm 1868, Thần đạo vẫn đóng một vai trò phụ thuộc bên cạnh Phật giáo. Hơn thế nữa, Thần đạo chịu ảnh hưởng của Thiên Thai tông (j: tendai), Chân ngôn tông (j: shingon) và các vị thần Thần đạo được xem là hoá thân của chư Phật và Bồ Tát. Từ thế kỉ 16 đến giữa thế kỉ 19, dưới thời Ðức Xuyên (tokugawa), Thần đạo bắt đầu kết hợp với Khổng giáo, một lí do là vì Khổng giáo tôn sùng quyền lực của triều đình. Cũng trong thời gian đó, Thần đạo bị chia thành nhiều bộ phái khác nhau, dựa trên niềm tin mỗi nơi mỗi khác. Người ta tìm thấy 13 khuynh hướng khác nhau với nhiều khía cạnh khác nhau về phong tục, trong đó có cả nhóm chuyên thờ thần núi và thực hành phép chữa bệnh đồng cốt.
thần đạo
Shintō (J), Shintoism Way of the Gods Shinto (J) Thần giáo Thần đạo là một tôn giáo thờ cúng các thần linh tự nhiên, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Khổng giáo. Từ năm 1868 đế`n 1945, Thần đạo được công nhận là quốc giáo và hoàng đế được xem như thần thánh.
; The spirit world of devas, asuras and pretas. The doctrines concerning the soul. Shintò (J), the Way of the Gods, a Japanese national religion.
; 1) Tên gọi chung ba đạo: Thiên Đạo, A Tu La Đạo, và Quỷ Đạo—The spirit world of devas, asuras and pretas. 2) Tâm Lý Học coi “Thần Đạo” như là linh hồn hay thần thức của chúng hữu tình: Psychology, or doctrine concerning the soul. 3) Thần Đạo hay quốc đạo của Nhật Bản: Shintoism, the way of the Gods, a Japanese national religion. 4) Đạo Thần Diệu hay Đạo Phật: The Teaching of Buddha.
; (神道) I. Thần Đạo. Đạo thần kì, mầu nhiệm tức Phật đạo. II. Thần Đạo. Gọi chung Thiên đạo, A tu la đạo và quỉ đạo trong Lục đạo. III. Thần Đạo. Thần là thần linh, tức là tinh linh của loài hữu tình. Đạo của thần linh ấy gọi là Thần đạo. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 1 hạ) nói: Thần đạo sâu kín, người mê hoặc nhiều tối tăm; đối với nghĩa kinh cao siêu chưa hiểu, lí dù có hợp nhưng vẫn còn mờ tối, chỉ có Phật tông mới đạt đến chỗ cùng tột.IV. Thần Đạo. Chỉ cho tông giáo có sẵn ở Nhật bản. Tông giáo này đặc biệt chú trọng việc kính thần, cúng tế, là 1 tông giáo thần xã điển hình.
Thần Đỉnh Hồng Nhân
(神鼎洪[鴻]諲, Shintei Kōin, ?-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, xuất thân Tương Thủy (襄水, Tỉnh Hồ Bắc), họ là Ung (扈). Sau khi xuất gia, ông đến tham học với Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông đến trú tại Thần Đỉnh Sơn (神鼎山) ở Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam). Ông có để lại tác phẩm Thần Đỉnh Sơn Đệ Nhất Đại Nhân Thiền Sư Ngữ Lục (神鼎山第一代諲禪師語錄) 1 quyển.
Thần 神
[ja] ジン shin ||| (1) Spirit, god. Spiritual, godly. (2) Supernatural; supernatural function. (3) Soul, ghost, spirit. (4) Living, alive. (5) Heart, essence, core. => 1. Tinh thần, tâm hồn, thần, thượng đế. (Thuộc) tinh thần, linh hồn tâm hồn. 2. Siêu nhiên, dị thường; chức năng, tác dungj siêu nhiên. 3. Linh hồn, ma, linh hồn, thần linh. 4. Sinh động, đang tồn tại, còn sống. 5. Điểm chủ yếu, cốt lõi, tinh chất.
thầy
Acaryā (S), Śastā (S), Guru (S), Ajarn (Thai), Ajahn (Thai), Acariya (P), lo pon (T), sensei (J), Master A xà lê Bậc thầy có đủ giới hạnh hạnh, đạo đức và nghi thức để truyền dạy đạo lý.
thẩm duyệt
To examine carefully.
Thẩm Hy 審希
[ja] シンキ Shinki ||| Simhŭi (fl. 9c); major figure in the establishment of the early Silla Sŏn movement. Along with his teacher Wŏngam Hyŏn'uk 圓鑑玄昱, established the Pongnim san 鳳林山 school. => k: Simhŭi Gương mặt kiệt xuất trong cuộc vận động thành lập Thiền tông của Tân La (k: Silla Sŏn ) trước đây. Sư cùng với thầy mình là Viên Giám Huyền Dục 圓鑑玄昱sáng lập Phụng Lâm sơn (k: Pongnim san 鳳林山).
thẩm kiến
Sự hiểu biết sâu xa—Profound insight.
thẩm quyền
Power.
thẩm thấu
Absorption.
Thẩm Tường
(審祥, Shinjō, ?-?): vị tăng của Hoa Nghiêm Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương. Ông sang nhà Đường cầu pháp, theo học Hoa Nghiêm Tông với Pháp Tạng (法藏), đến trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bình (天平, 729-749) thì trở về nước và trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Năm 740, thể theo lời cung thỉnh của Lương Biện (良辨, Rōben) ở Kim Chung Tự (金鐘寺, Konshō-ji), ông làm Giảng Sư đầu tiên giảng về Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) và tạo cơ sở tư tưởng để đúc tượng Đại Phật Lô Xá Na (盧舍那) ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Ông có khá nhiều kinh luận, tàng thư của ông được gọi là Thẩm Tường Sư Kinh (審祥師經) và thỉnh thoảng có người đến thỉnh kinh. Trước tác của ông có Hoa Nghiêm Khởi Tín Quán Hành Pháp Môn (華嚴起信觀行法門) 1 quyển.
; 審祥; C: shěnxiáng; J: shinshō; tk. 8;|Cao tăng Trung Quốc thuộc tông Hoa nghiêm, đã đem giáo lí của tông này truyền sang Nhật và được ở đây xem là Sơ tổ (Hoa nghiêm tông).
thẩm vấn
To interrogate—To examine—To inquire.
thẩm định
To judge.
thẩn khí lâu
See Quỷ Thành.
thẩn thơ
To stroll.
thẩn thờ
To look haggard.
thậm
1) Sâu: Deep—Profound—Abstruse. 2) Cực xa: Extreme—Very.
thậm hi hữu kinh
(甚希有經) Kinh, 1 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Kinh này đức Phật theo lời thưa hỏi của tôn giả A nan mà giảng nói khi Ngài ở trên núi Linh thứu. Nội dung kinh này nói về việc xây tháp cúng dường xá lợi của Phật thì công đức ấy thù thắng hơn nhiều so với công đức cúng dường chúng tăng 4 phương. Bản dịch khác của kinh này là phẩm Giáo lượng công đức và phẩm Chúc lụy trong kinh Vô thượng y do ngài Chân đế dịch vào đời Lương. (xt. Kinh Vô Thượng Y).
Thậm hy hữu kinh 甚希有經
[ja] シンケウキョウ Shin keu kyō ||| The Shen xiyou jing; *Adbhūta-dharma-paryāya sūtra (Sutra on Most Rarified Existence). Translated by Xuanzang 玄奘 in 649 at Cuìwēi Palace 翠微宮, Mt. Zhongnan 終南山. One fascicle, T 689.16.782-783. => (c: Shen xiyou jing; s: *Adbhūta-dharma-paryāya sūtra; e: Sutra on Most Rarified Existence). Huyền Trang dịch năm 649 tại cung Thuý Vi , núi Chung Nam. 1 quyển.
thậm khả bố úy bồ tát
Xem Kim cang Nha Bồ tát.
thậm ma xá na
Smasana (skt)—See Thi Đà Lâm.
thậm thâm
Sự thậm thâm của Phật pháp—Profundity of Buddha-truth.
Thậm thâm giáo 甚深教
[ja] シンシンキョウ jinjinkyō ||| Extremely profound teaching; esoteric teaching. In Wŏnhyo's Ijang ui, this term refers to the teaching of emptiness as seen in the prajñāpāramitā texts, as distinguished from the teaching of existence seen in Yogācāra. 〔二障義 HPC 1.814a〕 => Giáo lý rất sâu mầu; giáo lý bí truyền. Trong tác phẩm Ijang ui của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo), thuật ngữ nầy đề cập đến giáo lý về không trong kinh Bát-nhã, để phân biệt với giáo lý về Hữu trong Duy thức tông.
thậm thâm quán
(甚深觀) Tạng: Zab-mo#i lta-ba. Thậm thâm quán, Phật giáo Tây tạng gọi là Trung quán (Phạm: Màdhyamika), tương đương với tiếng Phạm Gambhìradarzana,đối lại với Quảng đại hành của Du già hành. Phật giáo Tây tạng đặc biệt quí trọng việc đem học vấn truyền trao cho nhau, đến vị Khai tổ của Hoàng giáo là Tông khách ba thì về mặt truyền thừa có 3 loại, tức nói theo tông nghĩa học của Hoàng giáo. Ba loại truyền thừa tức là 3 phái: Thậm thâm quán, Quảng đại hành và Gia trìkì đảo trao truyền cho nhau, Hoàng giáo được thành lập bởi sự tổng hợp thống nhất của Thậm thâm quán và Quảng đại hành, còn sự truyền thừa thứ 3 là của Na lạc ba (Tạng:Naro-pa), ở Tây tạng thì có sự truyền thừa cho nhau giữa Mã nhĩ ba (Tạng: Mar-pa) –Mật lặc (Tạng:Mi-la)– Đạt bảo cáp giải (Tạng: Drags-po lha-rje)... Ta có thể thấy điều này qua sự truyền thừa của phái Ca nhĩ cư, phái Ca nhĩ mã... Nói theo giáo học của học vấn Hoàng giáo thì giáo học Thậm thâm quán là để tiến vào Trung luận (Phạm: Madhyamakàvatàra); Quảng đại hành thì lấy luận Hiện quán trang nghiêm (Phạm: Abhisamayàlaôkàra) làm đại biểu, vì thế sự nghiên cứu Hiển giáo học bộ phải lấy 2 luận trên đây làm trung tâm. Nguồn gốc và sự phát triển về giáo học của Thậm thâm quán là từ ngài Văn thù - Long thụ - Đề bà; còn nguồn gốc và sự phát triển của Quảng đại hành thì từ ngài Di lặc - Vô trước - Thế thân; nguồn gốc và sự phát triển của 2 tư trào này cũng giống hệt như nguồn gốc và sự phát triển của 2 trào lưu lớn của Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ. [X. Tây tạng Phật giáo nghiên cứu; The Buddhism of Tibet by Waddell].
Thậm thâm 甚深
[ja] ジンジン jinjin ||| Incredibly profound; extremely deep. => Thâm thuý không ngờ; rất sâu mầu.
thậm tín
Deep faith.
thậm xét nghĩa lý
Artha-darśimant (S), Having insight into meanings, Attha-dassimant (P) Truy xét nghĩa lý.
thận
1) Quả thận: Kidney. 2) Thận trọng: Attentive—Careful—Cautious—Heedful.
thận na phất đát la
Jinaputra (skt)—Vị Luận Sư đã viết bộ Du Già Sư Địa Thích Luận, ngài Huyền Trang đã dịch sang Hoa ngữ vào khoảng năm 654 sau Tây Lịch—Author of the Yogacaryabhumi-sastra-karika, translated by Hsuan-Tsang around 654 A.D.
thận na thất đát la
Xem Tối Thắng Tử.
thận ngôn
Careful in speech.
thận trọng
Discreet—Careful—Cautious—Prudent.
thập
Daśa- (S), Ten Evil Deeds, Ten dark evil acts, Ten faults, Ten Evil Acts, Ten Sins Mười.
; Dasa (S). Ten.
; 1) Mười: Dasa (skt)—Ten. 2) Thâu thập: To collect—To gather—To pick up—Gathered up.
; (十) Số mười. Viên giáo Hoa nghiêm dùng số 10 để nói về số lượng của các pháp. Số 10 biểu thị cho sự viên mãn vô tận. [X. Hoa nghiêm thám huyền kí Q.3; Diễn mật sao Q.5].
thập (bất) hối giới
The ten rules which produce (no) regrets: 1) (Không) sát sanh: (Not) to kill. 2) (Không) trộm cắp: (Not) to steal. 3) (Không) gian dâm: (Not) to fornicate. 4) (Không) nói dối: (Not) to lie. 5) (Không) nói lỗi người: (Not) to tell of a fellow-Buddhist's sins. 6) (Không) uống, cũng không buôn bán rượu: (Not) to drink nor deal in wine. 7) (Không) ca ngợi mình và làm mất uy tín người: (Not) to praise oneself and discredit others. 8) (Không) hèn hạ thô lỗ: (Not) to be mean nor rude. 9) (Không) sân hận: (Not) be angry. 10) (Không) hủy báng Tam Bảo: (Not) to defame the Triratna.
thập ba la di
The ten pàràjikas, or sins unpardonable in a monk involving his exclusion from the community.
thập ba la mật
Daśapāramitā (S), Ten perfections Thập Ba la mật gồm: Bố thí Ba la mật - Trí giới Ba la mật - Nhẫn nhục Ba la mật - Tinh tấn Ba la mật - Thiền định Ba la mật - Bát nhã Ba la mật - Phương tiện Ba la mật - Nguyện Ba la mật - Lực Ba la mật - Trí Ba la mật.
; Dasapàramità (S). The ten pàramitàs: (1) Bố thí ba la mật dànapàramità, charity; (2) Trì giới silapàramità, purity (or morality); (3) Nhẫn nhục ksantipàramità, patience; (4) Tinh tiến viryapàramità, zealous progress; (5) Thiền định dhyànapàramità, meditation; (6) Bát nhã prajnàpàramità, wisdom; (7) Phương tiện thiện xảo upayapàramità adaptability (or teaching as suited to the occasion and hearer; (8) Nguyện pranidanapàramità vows; (9) Lực balapàramità, force of purpose; (10) Trí jnànapàramità, knowledge.
; Mười Ba La Mật được các Bồ Tát tu hành giác ngộ—Ten perfections—Ten paramitas cultivated by a bodhisattva who is aspirant for full enlightenment: (A) Đại Thừa Thập Ba La Mật—Mahayana Ten Parimitas: 1) Bố thí Ba la mật: Dana-paramita (skt)—Giving-paramita or generosity or charity (tài thí, pháp thí, vô úy thí). 2) Trì giới Ba la mật: Sila-paramita (skt)—Holding Precepts Paramita or morality or discipline (tự mình giữ giới, khuyên người giữ giới và phát tâm vô thượng). 3) Nhẫn nhục Ba la mật: Kshanti-paramita (skt)—Patience paramita or forebearance. 4) Tinh Tấn Ba La Mật: Virya-paramita (skt)—Effort—Vigor paramita or enegy or exertion (bất thối và nói viết pháp tối thắng khiến người nghe được về cõi Chánh giác). 5) Thiền Định Ba La mật: Dhyana-paramita (skt)—Meditation paramita or contemplation (luôn giữ chánh định, giáo hóa chúng sanh, nhập chơn pháp giới). 6) Bát nhã hay Trí Huệ Ba La Mật: Prajna-paramita (skt)—Wisdom paramita or prajna wisdom (hiểu rõ chơn lý). 7) Nguyện Ba la mật: Pranidana-paramita (skt)—Vow paramita or vow for Bodhicitta (Nguyện tu từ bi và hóa độ chúng sanh đồng đắc quả vị Phật). 8) Lực Ba la mật: Bala-paramita (skt)—(dùng sức trí huệ khiến cho chúng sanh đắc nhập pháp Đại thừa)—Power paramita or strength or manifestations of the ten powers. 9) Phương tiện Ba la mật: Upaya-paramita (skt)—(hiểu rõ cách giúp ích cho chúng sanh đáo bỉ ngạn)—Expedient paramita or right methods or means. 10) Trí Ba la mật: Jnana-paramita (skt)—Hiểu rõ các pháp, giữ vững trung đạo—Knowledge paramita or knowledge of the true definition of all dharmas. (B) Tiểu Thừa Thập Ba La Mật—Hinayana Ten Paramitas: 1) Bố Thí: Dana (p)—Generosity. 2) Trì Giới: Sila (p)—Keeping precepts—Morality. 3) Xuất Gia: Nekkhamma (p)—Renunciation. 4) Trí Tuệ: Panna (p)—Wisdom. 5) Tinh Tấn: Viriya (p)—Vigor—Energy. 6) Nhẫn Nhục: Khanti (p)—Patience. 7) Chân Thật: Sacca (p)—Truthfulness. 8) Quyết Định: Aditthana (p)—Strong determination. 9) Tâm Từ: Metta (p)—Loving-kindness. 10) Tâm Xả: Upekkha (p)—Equanimity.
; (十波羅蜜) Phạm:Daza-pàramità. Gọi đủ: Thập ba la mật đa. Hán dịch: Thập thắng hạnh, Thập độ, Thập đáo bỉ ngạn. Mười hạnh thù thắng mà Bồ tát phải tu tập đầy đủ để đạt đến Đại niết bàn. I. Thập Ba La Mật. Sáu Ba la mật thêm 4 Ba la mật: Phương tiện, nguyện, lực, trí thành 10 là: 1. Thí ba la mật (Phạm: Dànapàramità): Có 3 thứ là Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí. 2. Giới ba la mật (Phạm: Zìlapàramità): Giữ giới và thường tự xét. 3. Nhẫn ba la mật (Phạm: Kwàntipàramità): Nhẫn nại chịu sự bức hại. 4. Tinh tiến ba la mật (Phạm:Viryapàramità): Gắng sức tiến tu, không biếng nhác. 5. Thiền ba la mật (Phạm: Dhyànapàramità): Tập trung tư tưởng khiến tâm an định. 6. Bát nhã ba la mật (Phạm:Prajĩàpàramità): Mở ra trí tuệ chân thực, hiểu rõ thực tướng các pháp. 7. Phương tiện ba la mật (Phạm: Upàya-pàramità): Dùng các phương pháp gián tiếp để khơi mở trí tuệ. 8. Nguyện ba la mật (Phạm: Praịidhàna-pàramità): Thường giữ gìn nguyện tâm và thực hiện các nguyện tâm ấy trong việc tu tập hằng ngày. 9. Lực ba la mật (Phạm: Balapàramità): Năng lực bồi dưỡng những thiện hạnh thực tiễn và phân biệt chân ngụy. 10. Trí ba la mật (Phạm: Prajĩàpàramità): Trí tuệ có năng lực rõ biết tất cả các pháp. MườiBa la mật đều lấy tâm bồ đề làm nhân. Kinh Giải thâm mật quyển 4 cho rằng lí do ngoài 6 Ba la mật còn thiết lập thêm 4 Ba la mật là vì Phương tiện ba la mật giúp đỡ cho 3 Ba la mật Thí, Giới và Nhẫn; Nguyện ba la mật là giúp đỡ cho Tinh tiến ba la mật; Lực ba la mật là giúp đỡ cho Thiền ba la mật; Trí ba la mật là giúp đỡ cho Bát nhã ba la mật. Mật giáo đem 10 Ba la mật phối hợp với 10 vị Bồ tát và đặt ở viện Hư không tạng trong Mạn đồ la Thai tạng giới để biểu thị cho phúc đức và trí đức của bồ tát Hư không tạng. Tức về phía bên phải an vị 5 Bồ tát Thí, Giới, Nhẫn, Tinh tiến và Thiền, thuộc về Liên hoa bộ, biểu thị Phúc môn; về phía bên trái an vị 5 Bồ tát Bát nhã, Phương tiện, Nguyện, Lực và Trí, thuộc về Kim cương bộ, biểu thị Trí môn. Lại đem 10 ngón tay phối hợp với 10 Ba la mật, tức Thí là ngón út bên phải, Giới là ngón vô danh bên phải, Nhẫn là ngón giữa bên phải, Tinh tiến là ngón trỏ bên phải, Thiền là ngón cái bên phải, Bát nhã là ngón út bên trái, Phương tiện là ngón vô danh bên trái, Nguyện là ngón giữa bên trái, Lực là ngón trỏ bên trái và Trí là ngón cái bên trái. Thủ ấn của mỗi Ba la mật như hình vẽ dưới đây: Thí ba la mật Giới ba la mật Nhẫn ba la mậtII. Thập Ba La Mật. Mười Ba la mật được nêu trong Phật truyện kinh Bản sinh tiếngPàli là: Đàn (Thí), Thi(Giới), Bát nhã, Tì lê da(tinh tiến), Sằn đề(nhẫn), Xả thế(phủ nhận thế gian và tự kỉ), Chân thực(không nói lời dối trá làm hại chân thực), Quyết ý(ý mình đã quyết không để lay động), Từ(không màng lợi riêng, vì tất cả hữu tình mà trụ nơi từ tâm), Xả(không vì khổ vui mừng giận mà động tâm). Giai vị tu hành 10 đức mục này được gọi là Ba la mật địa (Phạm: Pàramitàbhùmi).
thập ba la mật bồ tát
(十波羅蜜菩薩) Chỉ cho 10 vị Bồ tát: Đàn ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Tinh tiến ba la mật, Thiền na ba la mật, Bát nhã ba la mật, Phương tiện ba la mật, Nguyện ba la mật, Lực ba la mật và Trí ba la mật trong viện Hư không tạng của Mạn đồ la Thai tạng giới thuộc Mật giáo. Năm vị tôn trước lấy phúc đức trang nghiêm làm bản thệ, được quả đức của Quán âm bộ, thuộc Thiên thủ Quán âm. Còn 5 vị tôn sau thì lấy trí tuệ trang nghiêm làm bản thệ, được quả đức của Kim cương bộ, thuộc bồ tát Kim cương tạng. Kinh Quán tự tại tối thắng tâm minh vương thì bỏ 4 vị: Bát nhã, Phương tiện, Nguyện, Lực và thêm 4 vị: Từ, Bi, Hỉ, Xả là 10 Ba la mật.
Thập ba la mật 十波羅蜜
[ja] ジュウハラミツ jūharamitsu ||| The ten pāramitās, or perfections. Ten Mahāyāna practices which enumerated based on the original six pāramitās 六波羅蜜, to which the four of expedient means 方便, vow 願, power 力, and wisdom are added. In the Faxiang school, these ten are attached to the ten bodhisattva stages. The ten are: the perfection of giving 施波羅蜜 (dāna-pāramitā); the perfection of morality 戒波羅蜜 (śīla-pāramitā); the perfection of forbearance 忍波羅蜜 (kṣānti-pāramitā); the perfection of effort 精進波羅蜜 (virya-pāramitā); the perfection of meditation 禪波羅蜜 (dhyāna-pāramitā); and the perfection of wisdom (that discerns the inner principle of things) 般若波羅蜜 (prajñā-pāramitā); the perfection of expedient means 方便波羅蜜 (upāya-pāramitā); the perfection of the vow (to attain enlightenment) 願波羅蜜 (praṇidhāna-pāramitā) ; the perfection of one's powers 力波羅蜜 (bala-pāramitā); and the perfection of omniscience 智波羅蜜 (jñāna-pāramitā). => Mười ba la mật. Mười pháp tu của Đại thừa mà số lượng căn cứ vào gốc là sáu ba-la-mật, thêm 4 Ba-la-mật là Phương tiện, nguyện, Lực và Trí tuệ. Theo Pháp tướng tông, 10 Ba-la-mật nầy gắn liền với 10 giai vị của đạo Bồ-tát. Đó là: 1. Thí Ba-la-mật 施波羅蜜 (dāna-pāramitā) 2. Giới Ba-la-mật 戒波羅蜜 (śīla-pāramitā). 3. Nhẫn Ba-la-mật 忍波羅蜜 (kṣānti-pāramitā). 4. Tinh tiến Ba-la-mật 精進波羅蜜 (virya-pāramitā). 5. Thiền Ba-la-mật 禪波羅蜜 (dhyāna-pāramitā). 6. Bát-nhã Ba-la-mật 般若波羅蜜 (prajñā-pāramitā). 7. Phương tiện Ba-la-mật 方便波羅蜜 (upāya-pāramitā). 8. Nguyện Ba-la-mật 願波羅蜜 (praṇidhāna-pāramitā). 9. Lực Ba-la-mật 力波羅蜜 (bala-pāramitā). 10. Trí Ba-la-mật 智波羅蜜 (jñāna-pāramitā).
Thập biến xứ
xem Mười nhất thiết nhập.
thập biến xứ
Daśa-kṛtsnayatanani (S).
; Ten objects for the attainment of absorption—See Mười Biến Xứ.
; (十遍處) Phạm: Dazakftsnàyatanàni. Cũng gọi Thập nhất thiết nhập, Thập nhất thiết xứ, Thập biến nhập, Thập biến xứ định. Chỉ cho 10 pháp trùm khắp tất cả mọi nơi. Tức nương vào thắng giải tác ý, quán xét 10 pháp: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, không và thức trùm khắp mọi nơi, cho nên gọi là Địa biến xứ cho đến Thức biến xứ. Sau khi hành giả tu Bát giải thoát, Bát thắng xứ thì đối với sắc... được tướng thanh tịnh, đối với cảnh sở quán được chuyển biến tự tại, nhưng vẫn chưa trùm khắp, cho nên còn phải tu định này. [X. luận Câu xá Q.29; phẩm Ngũ thông trong luận Giải thoát đạo].
thập báo pháp kinh
(十報法經) Gọi đủ: Trường a hàm Thập báo pháp kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Kinh này cùng với các kinh Chúng tập, kinh Tăng nhất trong Trường a hàm đều tập hợp, sắp xếp các pháp số được truyền trì trong giáo đoàn vào thời kì đầu của Phật giáo. Bản dịch khác của kinh này là kinh Thập thượng. Nội dung, theo kinh Thập thượng được chia làm 10 môn: Thành pháp, Tu pháp, Giáo pháp, Diệt pháp, Thoái pháp, Tăng pháp, Nan giải pháp, Sinh pháp, Tri pháp và Chứng pháp, tổng thu tất cả 550 pháp số.
thập bát
Astàdasa (S). Eighteen.
thập bát biến
Thần thông biến hóa hiển hiện trong Thập bát giới (Lục căn, Lục trần, Lục thức), gọi là Thập bát biến.
; (十八變) Cũng gọi Thập bát thần biến. Chỉ cho 18 thứ thần biến do chư Phật, Bồ tát, La hán... nương vào năng lực tự tại của thiền định mà thị hiện ra. Có 2 thuyết như sau: I. Thuyết của phẩm Uy lực trong luận Du già sư địa quyển 37: 1. Chấn động (Phạm: Kampana): Tức làm rúng động khắp tất cả thế giới. 2. Xí nhiên (Phạm:Jvalana): Tức trên thân phát ra lửa hừng, dưới thân tuôn ra nước lạnh, lại vào định Hỏa giới, từ khắp trên thân phát ra những ngọn lửa. 3. Lưu bố (Phạm: Spharaịa): Cũng gọi Biến mãn, tức ánh sáng tràn ngập. 4. Thị hiện (Phạm:Vidarzana): Cũng gọi Hiển thị, tức thị hiện các cõi Phật, các đường ác, thể theo ý muốn của tất cả đại chúng tham dự pháp hội. 5. Chuyển biến (Phạm: Anyatìbhàvakaraịa): Tức chuyển biến lửa thành nước, nước thành lửa, cho đến chuyển biến cỏ lá, phân bò, bùn đất, cát sỏi, gạch ngói... thành thức ăn uống, quần áo, xe cộ, ma ni, lưu li... 6. Vãng lai (Phạm: Gamanàgamana): Tức theo ý muốn, đi lại nhanh chóng, xuyên qua núi đá, tường vách... cho đến khắp trong 3 nghìn thế giới đại thiên mà không hề bị ngăn trở. 7. Quyển (Phạm: Saôkwepa): Tức thu rút tất cả núi Tuyết thành một vật nhỏ như cực vi(đơn vị vật chất bé nhỏ nhất). 8. Thư(Phạm:Prathana): Tức đànra, làmchomột cực vi thành một vật thể cực lớn như tất cả núi Tuyết. 9. Chúng tượng nhập thân (Phạm: Sarvarùpa-kàrya-pravezana): Tức làm cho tất cả sắc tướng như đại chúng hiện tiền, cho đến các núi rừng, đất liền, biển cả... đều vào trong thân mình. 10. Đồng loại vãng thú (Phạm: Sabhàgatopasaôkrànti): Tức đi vào trong chúng Sát đế lợi, chúng Bà la môn, cho đến chư thiên... thị hiện cùng sắc loại, hình lượng, ngôn ngữ như họ mà giảng nói chính pháp cho họ nghe. 11. Hiển (Phạm:Àvirbhàva): Tức trăm nghìn lần hiện thân một cách tự tại trước đại chúng. 12. Ẩn(Phạm:Tirobhàva): Tức cũng trăm nghìn lần tự tại ẩn thân. 13. Sở tác tự tại (Phạm:Vazitvakaraịa): Tức đi về qua lại trong tất cả các cõi hữu tình một cách tự tại vô ngại. 14. Chế tha thần thông (Phạm:Pararddhy-abhibhavana): Tức có năng lực chế phục, ngăn chận thần thông do người khác biến hiện. 15. Năng thí biện tài (Phạm: Pratibha-dàna): Tức khi biện tài của chúng sinh đã cùng tận thì cấp năng lực biện tài cho họ. 16. Năng thí ức niệm (Phạm: Smftidàna): Tức nếu khi chúng sinh đã quên mất chính pháp thì cấp cho họ năng lực ghi nhớ. 17. Năng thí an lạc (Phạm: Sukhadàna): Tức có năng lực mang lại cho người nghe pháp niềm an vui khiến thân tâm họ được nhẹ nhàng, lợi ích; cũng có năng lực tiêu trừ các chướng nạn như tai họa, dịch bệnh của các cõi. 18. Phóng đại quang minh (Phạm: Razmi-pramokwana): Tức dùng năng lực thần thông phóng ra vô lượng ánh sáng, làm các Phật sự để mang lại lợi ích cho vô lượng chúng sinh. II. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 10, phần 2, căn cứ vào phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa quyển 7 mà liệt kê 18 thứ thần biến là: Hông bên phải ra nước, hông bên trái ra lửa, hông bên trái ra nước, hông bên phải ra lửa, trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân ra lửa, đi trên nước như đi trên đất, đi trên đất như đi trên nước, ẩn trong hư không rồi hiện ở trên đất, ẩn trên đất lại hiện trong hư không, đi giữa hư không, đứng giữa hư không, ngồi giữa hư không, nằm giữa hư không, hiện thân to lớn đầy ắp hư không, hiện thân lớn trở thành nhỏ. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.10; Giáo thừa pháp số Q.38; Đại tạng pháp số Q.63; Chân ngôn quảng minh mục Q.3].
Thập bát bất cộng pháp
xem Mười tám pháp không chung cùng với hai thừa.
thập bát bất cộng pháp
Xem Mười tám thượng căn của đức Phật.
; Mười tám món công đức của Phật, chẳng chung cùng với hai thừa Thanh Văn và Duyên Giác nên gọi là Bất Cộng—The eighteen distinctive characteristics or unique qualities of Buddhas, so called because they are not similar to those of Sravakas and Pratyeka-buddhas. There are two definitions: (A) Tiểu Thừa Thập Bát Bất Cộng Pháp: Mười tám Bất Cộng Pháp của Tiểu Thừa—The eighteen characteristics defined by the Hinayana: 1) (10) Thập Lực: ten kinds of power. 2) (4) Tứ Vô Úy: Four Fearlessnesses. 3) (3) Ba Niệm Trụ: Three kinds of mindfulness. 4) (1) Phật Đại Bi: Đại bi của Phật—The Buddha's great pity. (B) Đại Thừa Thập Bát Bất Cộng: Mười tám điều không lỗi theo Đại Trí Độ Luận—The eighteen distinctive characteristics defined by the Mahayana or eighteen kinds of perfection, according to the Sastra on the Prajna-Paramita-Sutra: 1) Thân Vô Thất: Thân Không Lỗi—Perfection of body—Impacability of action. 2) Khẩu Vô Thất: Miệng Không Lỗi—Perfection of speech—Impacability of speech. 3) Niệm Vô Thất: Ý Không Lỗi—Perfection of memory—Impacability of mind. 4) Vô Dị Tưởng (đối với hết thảy chúng sanh đều bình đẳng không có tư tưởng khác): Không có tư tưởng phân biệt—Impartiality or universality—Having no discriminatory thoughts. 5) Vô Bất Tri Dĩ Xả (xả bỏ mọi pháp không chấp trước): Chẳng phải không biết chuyện xả bỏ—Entire self-abnegation—Unfailing discernment and relinquishment. 6) Vô Bất Định Tâm: Không bao giờ có tâm tán loạn—Ever in samadhi or unfailing concentration. 7) Dục Vô Diệt: Ý muốn cứu độ chúng sanh không hề nhàm chán và không cùng tận—Never diminishing will to save—Endless volition, or desire of saving beings. 8) Tinh Tấn Vô Diệt: Tinh Tấn Không Suy Giảm—Endless zeal or vigor. 9) Niệm Vô Diệt: Niệm Không Giảm hay tỉnh thức không cùng tận—Endless thought or endless mindfulness. 10) Huệ Vô Diệt: Tuệ Không Giảm—Endless wisdom. 11) Giải Thoát Vô Diệt: Giải Thoát Không Giảm hay giải thoát không cùng tận—Endless salvation or liberation. 12) Giải Thoát Tri Kiến Vô Diệt: Giải Thoát Tri Kiến Không Giảm hay không cùng tận—Endless insight into salvation or endless liberated knowledge and vision. 13) Nhất Thiết Thân Nghiệp Tùy Trí Huệ Hành: Mọi Thân Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—Deeds are accordant with wisdom—All actions are in accordance with knowledge and wisdom. 14) Nhất Thiết Khẩu Nghiệp Tùy Trí Huệ Hành: Mọi Khẩu Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—All speech is accordant with wisdom or knowledge and wisdom. 15) Nhất Thiết Ý Nghiệp Tùy Trí Huệ: Mọi Ý Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—Mind is accordant with wisdom or all thoughts are in accordance with knowledge and wisdom. 16) Trí Huệ Tri Quá Khứ Thế Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Quá Khứ Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the past or unobstructed insight into the past. 17) Trí Huệ Tri Vị Lai Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Vị Lai Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the future of unobstructed insight into the future. 18) Trí Huệ Tri Hiện Tại Thế Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Hiện Tại Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the present or unobstructed insight into the present.
; (十八不共法) I. Thập BátBấtCộng Pháp. Gọi đủ: Thập bát bất cộng Phật pháp. Chỉ cho 18 pháp công đức mà chỉ riêng Phật mới có chứ không chung cho hàng Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác. A. Mười tám pháp được nêu trong phẩm Quảng thừa kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5, đó là: 1. Thân vô thất: Thân không có lỗi. Phật từ vô lượng kiếp đến nay, giữ giới thanh tịnh, vì công đức này đầy đủ, tất cả phiền não hết sạch nên thân không có lỗi. 2. Khẩu vô thất: Miệng không có lỗi. Phật có vô lượng trí tuệ biện tài, pháp Phật nói ra tùy theo các cơ nghi khiến cho họ đều chứng ngộ. 3. Niệm vô thất: Ý nghĩ không có lỗi. Phật tu các thiền định rất sâu xa, tâm không tán loạn, đối với các pháp tâm không dính dấp, được sự an ổn đệ nhất nghĩa. 4. Vô dị tưởng: Không có ý tưởng khác. Phật đối với tất cả chúng sinh bình đẳng hóa độ, không có tâm lựa chọn, phân biệt.5. Vô bất định tâm: Tâm thường ở trong định. Phật đi đứng ngồi nằm thường không lìa thắng định sâu xa, thường nhiếp tâm trụ trong thiện pháp, đối với thực tướng các pháp không thoái thất. 6. Vô bất tri kỉ xả tâm: Thường ý thức xả tâm của mình. Đối với các cảm thụ như khổ, vui... Phật biết rõ các tướng sinh trụ diệt của chúng trong từng niệm và an trú trong vắng lặng bình đẳng, tức thường ở trạng thái tâm không khổ không vui (xả tâm).7. Dục vô giảm: Ý muốn không giảm. Phật đầy đủ các thiện pháp, luôn muốn hóa độ chúng sinh, tâm không chán bỏ. 8. Tinh tiến vô giảm: Tinh tiến không giảm. Thân tâm của Phật đều tinh tiến, vì độ chúng sinh nên thường thực hành các phương tiện, không dừng nghỉ. 9. Niệm vô giảm: Tâm niệm không giảm. Pháp và tất cả trí tuệ của chư Phật 3 đời tương ứng đầy đủ, không có thoái chuyển. 10. Tuệ vô giảm: Tuệ không giảm. Phật có đầy đủ tất cả trí, vả lại, còn trí tuệ của 3 đời không bị chướng ngại, nên tuệ không khuyết giảm. 11. Giải thoát vô giảm: Giải thoát không giảm. Phật xa lìa tất cả chấp trước, có đầy đủ 2 loại giải thoát hữu vi, vô vi, tất cả phiền não tập khí đều hết sạch, cho nên giải thoát không khuyết giảm. 12. Giải thoát tri kiến vô giảm: Giải thoát tri kiến không giảm. Phật thấy biết các tướng giải thoát, rõ suốt không bị ngăn ngại.13. Nhất thiết thân nghiệptùy trí tuệ hành: Tất cả hành động của thân đều được trí tuệ soi sáng, chỉ dẫn. 14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả lời nói từ miệng Phật phát ra đều theo trí tuệ. 15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả ý nghĩ đều được trí tuệ hướng dẫn. Ba pháp trên đây là khi Phật khởi động 3 nghiệp thân, khẩu, ý trước hết xem xét, cân nhắc đúng sai, lợi hại rồi sau mới thực hành theo trí tuệ, cho nên không sai lầm, đều mang lại lợi ích cho chúng sinh. 16. Trí tuệ tri kiến quá khứ thế vô ngại vô chướng:Trí tuệ thấy biết đời quá khứ không bị chướng ngại. 17. Trí tuệ tri kiến vị lai thế vô ngại vô chướng: Trí tuệ thấy biết đời vị lai không bị chướng ngại. 18. Trí tuệ tri kiến hiện tại thế vô ngại vô chướng: Trí tuệ thấy biết đời hiện tại không bị ngăn ngại. B. Chỉ cho 18 Pháp: 10 lực, 4 vô sở úy, 3 niệm trụ và đại bi mà chư Phật tu được ở giai vị Tận trí lúc các Ngài vừa thành đạo, là những pháp mà các bậc Thánh khác không có. Được 10 lực, diệt trừ hết các hoặc tập khí; được 4 vô sở úy, thuyết pháp không sợ sệt; được 3 niệm trụ, không sinh tâm vui mừng, buồn lo; được đại bi, duyên theo tất cả hữu tình, thấy rõ hành tướng 3 khổ. Mười lực là: Xứ phi xứ trí lực, nghiệp dị thục trí lực, tĩnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí trí lực, căn thượng hạ trí lực, chủng chủng thắng giải trí lực, chủng chủng giới trí lực, biến thú hành trí lực, túc trụ tùy niệm trí lực, tử sinh trí lực và lậu tận trí lực. Bốn vô sở úy là: Chính đẳng giác vô úy, lậu vĩnh tận vô úy, thuyết chướng pháp vô úy và thuyết đạo vô úy. Ba niệm trụ là: Đối với người cung kính nghe pháp, Phật giữ tâm bình đẳng, đối với người không cung kính nghe pháp, Phật giữ tâm bình đẳng, đối với người cung kính nghe pháp và không cung kính nghe pháp, Phật cũng giữ tâm bình đẳng. C. Mười tám pháp bất cộng của Phật theo thuyết của các Luận sư khác: Luận Đại trí độ quyển 26 nêu: Nhất thiết trí, công đức vô lượng, đại bi, trong trí tuệ được tự tại, trong định được tự tại, biến hóa tự tại, thụ kí vô lượng, thụ kí không hư dối, lời nói chẳng trái, trí tuệ không giảm, thường làm bố thí, thường xem xét chúng sinh, chẳng mất niệm, không còn tập khí phiền não, không thể đúng như pháp nói ra lỗi của Phật, không thấy được tướng trên đỉnh đầu của Phật, dưới lòng bàn chân mềm mại, được thần thông ba la mật, chuyển tâm chúng sinh khiến cho vui mừng được độ. Nói một cách đại khái, các pháp bất cộng này đều lấy nghĩa trí tuệ làm chính. [X. kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.17]. II. Thập Bát Bất Cộng Pháp của Bồ Tát.Mười tám Bất cộng pháp nói trong kinh Bảo vũ quyển 4, đó là: 1. Làm việc bố thí không theo người khác chỉ bảo. 2. Giữ giới không theo người khác chỉ bảo.3. Tu nhẫn không theo người khác chỉ bảo. 4. Tinh tiến không theo người khác chỉ bảo.5. Tĩnh lự không theo người khác chỉ bảo.6. Bát nhã không theo người khác chỉ bảo.7. Thực hành nhiếp sự, thu nhiếp được tất cả hữu tình. 8. Hiểu rõ hồi hướng. 9. Dùng phương tiện khéo léo là chính, tự tại khiến tất cả hữu tình tu hành, lại có năng lực thị hiện trong Tối thượng thừa mà được xuất li. 10. Không lui sụt Đại thừa. 11. Khéo thị hiện ở nơi sinh tử niết bàn mà được an vui, lời nói thuận thế tục. 12. Trí tuệ dẫn đường, tuy hiện tiền khởi các thứ thụ sinh, nhưng không tạo tác và xa lìa các lỗi lầm. 13. Đầy đủ 10 điều thiện của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 14. Vì nhiếp thụ các hữu tình nên thường không lìa bỏ, thường nhịn chịu được tất cả các khổ uẩn. 15. Có năng lực thị hiện tất cả những điều mà thế gian ưa thích. 16. Tuy sống giữa những ngu phu khổ não và Thanh văn, nhưng không mất tất cả trí tâm, như kim cương cứng chắc, thanh tịnh trang nghiêm. 17. Nếu khi nhận ngôi vị Pháp vương thì dùng lụa buộc và nước rưới lên đầu. 18. Không xa lìa chính pháp của chư Phật mà thường thị hiện tâm mong cầu. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 26 (bản dịch mới) có nêu thuyết Mười pháp bất cộng của Bồ tát giống với 10 pháp Bất cộng nói trong kinh Bảo vũ. Kinh Phấn tấn vương vấn quyển hạ, cũng nêu 18 pháp Bất cộng của Bồ tát và cũng có nhiều chỗ giống với các thuyết trên.[X. kinh Tự tại vương bồ tát Q.hạ; Hoa nghiêm kinh sớ Q.52; Đại thừa nghĩa chương Q.16].
Thập bát bất cộng pháp 十八不共法
[ja] ジュウハチフグウホウ jūhachifugūhō ||| The Eighteen Distinctive Characteristics of the Buddha. In East Asian Buddhism these are (1) Unmistaken thought, (2) unmistaken word; (3) unmistaken action; (4) mind of equality toward all beings; (5) stable mind in meditation; (6) all-embracing mind which rejects nothing; (7-11) the power of not-backsliding in terms of the aspiration, diligence, mindfulness, concentration and wisdom towards the salvation of all beings; (12) the power of not falling back from freedom into bondage; (13-15) the manifestation of wisdom power in thought, word and deed for the purpose of saving all beings; (16-18) immediate total knowledge of all affairs of past, present and future. (daśa avenika buddha dharmah).' 〔華嚴經 T 278.9.435c11〕In Indian Buddhism these are the ten powers shīi 十力, the four fearlessnesses siwuwei 四無畏, the three bases of mindfulness sannianchu 三念處, and great compassion dabei 大悲. => Mười tám pháp bất cộng. Theo Phật giáo Đông Nam Á, đó là: 1. Niệm vô thất: ý tưởng không sai sót. 2. Ngữ vô thất: lời nói không sai sót. 3. Thân vô thất: hành động không sai sót. 4. Vô dị tưởng: tâm bìmh đẳng với tất cả chúng sinh. 5. Vô bất định tâm: tâm an tịnh trong thiền định. 6. Vô bất tri dĩ xả: Tân biết rõ các pháp rồi xả bỏ. 7-11. Dục vô giảm, Tinh tiến vô giảm, Niệm vô giảm, Huệ vô giảm, và Giải thoát vô giảm. Năng lực không thối chuyển trong các lĩnh vực: mong đựơc độ thoát cho tất cả chúng sinh. 12. Giải thoát tri kiến vô giảm. 13-15. Sự biểu hiện của năng lực trí tuệ qua tư tưởng, ngôn ngữ, và hành động vì mục đích cứu độ chúng sinh. 16-18. Trí tuệ nhận biết đời quá khứ, hiện tại, vị lai (s:daśa avenika buddha dharmah). Theo kinh Hoa Nghiêm. Theo Phật giáo Ấn Độ, đó là Thập lực, Tứ vô uý (四無畏 c:siwuwei), Tam niệm xứ 三念處 c:sannianchu và Đại bi 大悲 c:dabei.
Thập bát bất cụ pháp
xem Mười tám pháp không chung cùng với hai thừa.
thập bát bất cụ pháp
Avenikadharma, buddhadharma (S). The eighteen different characteristics of a Buddha as compared with bodhisattvas: (1) his perfection of body (or person) thân vô thất; (2) mouth (or speech) khẩu vô thất; (3) memory niệm vô thất; (4) impartiality to all vô dị tưởng; (5) serenity vô bất định tâm; (6) self-sacrifice vô bất tri dĩ xả; (7) unceasing desire to save dục vô diệt; (8) unflagging zeal therein tinh tiến vô diệt; (9) unfailing thought thereto niệm vô diệt; (10) wisdom in it tuệ vô diệt; (11) powers of deliverance giải thoát vô diệt; (12) the principles of it giải thoát tri kiến vô diệt; (13) revealing perfect wisdom in deed nhất thiết thân nghiệp tùy trí tuệ hành; (14) in word nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành; (15) in thought nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành; (16) perfect knowledge of past trí tuệ tri quá khứ thế vô ngại; (17) future trí tuệ tri vị lai thế vô ngại; (18) and present trí tuệ tri hiện tại thế vô ngại.
thập bát chi
(十八支) Cũng gọi Thập bát thiền chi, Thập bát chi lâm, Thập bát tĩnh lự chi. Chỉ cho 18 thứ công đức của 4 thiền định cõi Sắc được ghi trongPháp giới thứ đệ quyển thượng, đó là: 1. Năm chi thuộc định Sơ thiền thiên: a. Giác chi(Tầm chi): Hành giả ở cõi Dục nương vào Vị đáo địa, phát khởi các pháp tịnh sắc thuộc Sơ thiền cõi Sắc, tiếp xúc với thân căn cõi Dục, tâm bỗng tỉnh ngộ, liền sinh thức thân, biết rõ sắc xúc này.b. Quán chi (Tứ tâm): Hành giả đã chứng được công đức Sơ thiền, dùng tâm vi tế phân biệt sắc pháp trong thiền định này, thấy các công đức mầu nhiệm và cảnh giới rõ ràng mà ở cõi Dục chưa thấy. c. Hỉ chi: Khi hành giả mới phát thiền thì sinh mừng(hỉ), tư duy niềm vui ở cõi Dục đã xả bỏ rất ít, nay được Sơ thiền, lợi ích rất nhiều, mừng rỡ vô lượng. d. Lạc chi: Lúc hành giả phát Sơ thiền, tâm mừng rỡ đã dứt, thì bỗng nhiên tĩnh lặng, đượcniềm vui khoan khoái. e. Nhất tâm chi (Định chi): Lúc hành giả mới chứng thiền, vì tâm nương theo pháp giác quán hỉ lạc nên có sự tán động nhỏ nhiệm, nếu tâm hỉ lạc(mừng vui) dứt bặt, thì tự nhiên tâm và định hợp nhất. 2. Bốn chi định thuộc Nhị thiền thiên: a. Nội tịnh chi(Nội đẳng tịnh chi): Hành giả muốn lìa Sơ thiền, nên diệt trừ giác quán, giác quán đã diệt thì nội tâm yên tịnh.b. Hỉ chi: Lúc hành giả vừa được nội tịnh thì thoát khỏi nỗi lo về giác quán, được định thù thắng và mừng rỡ vô lượng do nội chứng. c. Lạc chi: Tâm mừng rỡ của hành giả đã dứt thì tâm an nhiên tĩnh lặng, được niềm vui khoan khoái. e. Nhất tâm chi: Tâm mừng vui của hành giả đã dứt thì tâm và định hợp nhất, lóng lặng bất động. 3. Năm chi định thuộc Tam thiền thiên: a. Xả chi: Khi hành giả muốn lìa Đệ nhị thiền nên trừ diệt niềm mừng rỡ của Nhị thiền, mừng rỡ đã diệt thì sinh niềm vui vẻ của Đệ tam thiền; nếu chứng được niềm vui vẻ của Tam thiền thì xả bỏ sự mừng rỡ của Nhị thiền, không sinh tâm hối tiếc. b. Niệm chi: Hành giả đã phát được niềm vui vẻ của Đệ tam thiền thì vui vẻ từ bên trong sinh khởi, cần phải dứt ái niệm thì vui vẻ được tăng trưởng. c. Tuệ chi: Hành giả đã phát được niềm vui vẻ của Đệ tam thiền, nhưng niềm vui vẻ vi diệu này rất khó tăng trưởng, nếu không phải là giải tuệ thiện xảo thì không thể dùng phương tiện để nuôi lớn. d. Lạc chi: Hành giả đã phát niềm vui Đệ tam thiền rồi, nếu khéo dùng 3 chi Xả, Niệm, Tuệ để giữ gìn niềm vui ấy thì nó sẽ bao trùm khắp thân; nếu lìa Tam thiền thì các cõi khác không còn niềm vui khắp thân. e. Nhất tâm chi: Nếu tâm vui vẻ của hành giả đã dứt bặt thì tâm tự hợp nhất với định, lóng lặng bất định. 4. Bốn chi định của Tứ thiền thiên: a. Bất khổ bất lạc chi: Khi hành giả muốn lìa Đệ tam thiền nên trừ diệt niềm vui thì định bất động và xả cùng lúc phát khởi, cho nên trong tâm vắng lặng, không khổ không vui. b. Xả chi: Hành giả đã được định chân thực bất động của Đệ tứ thiền, thì xả bỏ niềm vui khó xả của Đệ tam thiền, không sinh tâm hối tiếc. c. Niệm thanh tịnh chi: Hành giả đã được định chân thực của Đệ tứ thiền, nhớ nghĩ lỗi của các cõi dưới, lại nghĩ đến công đức của chính mình, dùng phương tiện giữ gìn nuôi lớn, không để định này lui mất mà tiến vào phẩm thù thắng. d. Nhất tâm chi: Hành giả đã được định của Đệ tứ thiền, dùng 2 chi Xả và Niệm ở trước để hộ trì thì tâm không còn chỗ nương, tự nhiên vắng lặng, nhất tâm trụ định, giống như gương sáng chẳng động, nước trong không sóng, yên lặng chiếu soi, muôn tượng đều hiện. [X. luận Du già sư địa Q.11; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; Tạp tập luận Q.9; luận Câu xá Q.28].
thập bát chủng không
Eighteen kinds of Emptiness—See Mười Tám Hình Thức Của Không.
thập bát chủng tâm vô nhân
Eighteen Rootless Consciousnesses—See Mười Tám Loại tâm Vô Nhân.
thập bát chủng địa ngục
The eighteen layers of hells, which are described by one writer as the conditions in which the six sense organs, their six objects and their six perceptions do not harmonize. Another says the eighteen are the hell of knives, the boiling sands, the boiling excrement, the fiery carriage, the boiling cauldron, the iron bed, etc.
thập bát cụ pháp
Eighteen unique qualities of Buddhas—See Thập Bát Bất Cộng.
Thập bát giới
xem Mười tám giới.
thập bát giới
Aṣṭadaśa-dhatavah (S).
; The eighteen dhàtu, or realms of sense, i.e. lục căn the six organs, lục cảnh their objects or conditions, lục thức and their perceptions.
; Astadasa dhatavah (skt). (I) Eighteen spheres (six senses, their six objects, and corresponding kinds of consciousness: (A) Lục Căn: Six senses—See Lục Căn in Vietnamese-English Section. (B) Lục Cảnh: Six objects corresponding to the six senses—See Lục Cảnh in Vietnamese-English Section. (C) Lục Thức: Six sense-data or six consciousness—For more information, please see Lục Thức in Vietnamese-English Section and Loka (E) in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. (II) Eighteen realms—Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Ba, Đức Phật đã giải thích cho ông A Nan vì sao bản tính của Thập Bát Giới là Như Lai Tạng diệu chân như tính—In the Surangama Sutra, book Three, the Buddha explained to Ananda the reasons why he said that the eighteen realms were basically the wonderful nature of true suchness, the treasury of the Thus Come One: 1-2-3) Nhãn Sắc Thức Giới: Cakshu-rupa-vijnana-dhatu (skt)—The realm of eye, form, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, con mắt và sắc làm duyên, sinh ra nhãn thức. Cái thức đó nhân sinh mắt, lấy mắt làm giới, hay nhân sinh sắc, lấy sắc làm giới?: Ananda! As you understand it, the eyes and form create the conditions that produce the eye-consciousness. Is the consciousness produced because of the eyes, such that the eyes are its realm? Or is it produced because of form, such that form is its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân mắt sinh, không có sắc và không, không thể phân biệt; dù có thức dùng để làm gì?: Ananda! If it were produced because of the eyes, then in the absence of emptiness and form it would not be able to make distinctions; and, so even if you had a consciousness, what use would it be? • Cái thấy của ông, nếu phi các màu xanh, vàng, đỏ, trắng, không thể chỉ bày ra, vậy từ đâu lập ra giới hạn: Moreover, Ananda, your seeing is neither green, yellow, red, nor white. There is virtually nothing in which it is represented. Therefore, what is the realm established from? • Nếu nhân sắc sinh, khi nhìn hư không, không có sắc, đáng lẽ thức diệt, sao lại biết hư không?: Suppose it were produced because of form. In emptiness, when there was no form, your consciousness would be extinguished. Then, why is it that the consciousness knows the nature of emptiness? • Nếu khi sắc tướng thay đổi, ông cũng biết nó thay đổi, mà thức của ông không thay đổi, thì đâu lập được giới?: Suppose a form changes. You are also conscious of the changing appearance; but your eye-consciousness does not change, where is the boundary established? • Nếu theo sắc thay đổi, thức là cái thay đổi, không thể có giới hạn: If the eye-consciousness were to change when form changed, then there would be no appearance of a realm. • Nếu không thay đổi, nhãn thức là cái thường hằng, vậy đã từ sắc sinh ra, lẽ không biết được hư không là gì?: If it were not to change, it would be constant, and given that it was produced from form, it should have no conscious knowledge of where there was empty. • Nếu gồm cả hai thứ mắt, sắc cùng sinh, nói hợp, chặng giữa lại phải ly; nói ly, hai bên phải hợp, thể tính tạp loạn, làm sao thành giới?: Suppose the eye-consciousness arose both from the eyes and from form. If they were united, there would still be a point of separation. If they were separated, there would still be a point of contact. Hence, the substance and nature would be chaotic and disorderly; how could a realm be set up? b) Vậy ông nên biết, mắt và sắc làm duyên sinh nhãn, và thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới mắt, sắc và nhãn thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that as to the eyes and form being the conditions that produce the realm of eye-consciousness, none of the three places exists. Thus, the eyes, form, and the form realm, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 4-5-6)Nhĩ Thanh Thức Giới: Srota-sabda-vijnana-dhatu (skt)—The realm of ear, sound, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, tai và tiếng làm duyên, sinh ra nhĩ thức. Cái thức đó nhân tai sinh, lấy làm giới, hay nhân tiếng sinh lấy tiếng làm giới?: Ananda! As you understand it, the ear and sound create the conditions that produce the ear-consciousness. Is this consciousness produced because of the ear such that the ear is its realm, or is it produced because of sound, such that sound is its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân tai sinh, hai tướng động tĩnh đã không hiện tiền, cái căn không thành tri giác. Tri giác không thành, cái thức hóa ra hình tướng gì? Nếu cái tai không có động tĩnh, không thành cái nghe, làm sao hình cái tai xen với sắc, chạm với trần, mà gọi được là thức giới. Cái nhĩ thức giới lại từ đâu mà lập ra được?: Ananda! Suppose the ear-consciousness were produced because of the ear. The organ of hearing would have no awareness in the absence of both movement and stillness. Thus, nothing would be known by it. Since the organ would lack awareness, what would characterize the consciousness? You may hold that the ears hear, but when there is no movement and stillness, hearing cannot occur. How, then, could the ears, which are but physical forms, unite with external objects to be called the realm of consciousness? Once again, therefore, how would the realm of consciousness be established? • Nếu nhân tiếng sinh, thức nhân tiếng mà có, không quan hệ gì đến cái nghe, như thế chính cái tướng của tiếng sẽ mất. Thức do tiếng sinh, dù cho tiếng nhân nghe mà có tướng, thì cái nghe phải nghe được thức: Suppose it was produced from sound. If the consciousness existed because of sound, then it would have no connection with hearing. Without hearing, then the characteristic of sound would have no location. Suppose consciousness existed because of sound. Given that sound exists because of hearing, which causes the characteristic of sound to manifest, then you should also hear the hearing-consciousness. • Nếu không nghe được, thức giống như tiếng. Thức đã bị nghe, thì cái gì biết nghe cái thức? Còn nếu không biết, hóa ra như cỏ cây. Không lẽ tiếng và nghe xen lộn thành trung giới. Giới đã không có địa vị ở giữa, thì tướng trong và ngoài từ đâu mà thành lập được?: If the hearing-consciousness is not heard, there is no realm. If it is heard, then it is the same as sound. If the consciousness itself is heard, who is it that perceives and hears the consciousness? If there is no perceiver, then in the end you would be like grass or wood. Nor is it likely that the sound and hearing mix together to form a realm in between. Since a realm in between could not be established, how could the internal and external characteristics be delineated? b) Vậy ông nên biết, tai và tiếng làm duyên sinh nhĩ thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới tai, tiếng, và nhĩ thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that as to the ear and sound creating the conditions which produce the realm of the ear-consciousness, none of the three places exists. Thus, the ear, sound, and sound-consciousness, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 7-8-9) Tỷ Hương Thức Giới: Ghrana-gandha-vijnana-dhatu (skt)—The realm of nose, smell, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, mũi và mùi làm duyên sinh ra tỷ thức. Cái thức đó nhân mũi sinh, lấy mũi làm giới; hay nhân mùi sinh, lấy mùi làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the nose and smell create the conditions that produce the nose-consciousness. Is this consciousness produced because of the nose, such that the nose is its realm? Or, is it produced because of smell, such that smell are its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân mũi sinh, ý ông lấy gì làm tỷ căn? Cái mũi bằng thịt hay cái tính ngửi biết?: Suppose, Ananda, that the nose-consciousness were produced because of the nose, then in your mind, what do you take to be the nose? Do you hold that it takes the form of two fleshy claws, or do you hold it is an inherent ability of the nature which perceives smells as a result of movement? • Nếu lấy cái mũi bằng thịt, thịt tức là thân căn, thân biết gọi là xúc. Thân không phải là mũi. Xúc là trần của thân. Vậy không có cái gì đáng gọi là mũi, sao lập được giới?: Suppose you hold that it is fleshy claws which form an integral part of your body. Since the body's perception is touch, the sense organ of smelling would be named 'body' instead of 'nose,' and the objects of smelling would be objects of touch. Since it would not even have the name 'nose,' how could a realm be established for it? • Nếu lấy tính ngửi biết làm tỷ căn, ý ông muốn lấy cái gì làm biết ngửi? Nếu lấy chất thịt làm biết ngửi, thì cái mà thịt biết được là xúc chứ không phải tỷ căn. Nếu lấy hư không làm biết ngửi, thì hư không tự có biết, còn chất thịt lẽ ra không có biết. Như vậy đáng lẽ hư không mới thực là ông. Thân ông không phải có biết, thì ông A Nan biết nương vào đâu: Suppose you held that the nose was the perceiver of smells. Then, in your mind, what is it that perceives? Suppose it were the flesh that perceived. Basically, what the flesh perceives is objects of touch, which have nothing to do with the nose. Suppose it were emptiness that perceived. Then emptiness would itself be the perceiver, and the flesh would have no awareness. Thus, empty space would be you, and since your body would be without perception, Ananda would not exist. • Nếu lấy mùi làm biết ngửi, cái biết thuộc về mũi, nào có quan hệ gì đến ông?: If it is the smell that perceives, perception itself would lie with the smell. What would that have to do with you? • Nếu các mùi thơm thúi sinh ở mũi của ông, không phải ở cây y-lan hay chiên đàn mà ra, vậy khi không có hai thứ đó, ông thử ngửi mũi ông xem thơm hay thúi? Mùi thúi không phải thơm, mùi thơm không phải thúi. Nếu ngửi được cả hai mùi thơm thúi, thì một mình ông lẽ ra phải có hai mũi, và đứng trước tôi hỏi đạo, phải có hai A Nan, vậy ai là ông?: If it is certain that vapors of fragrance and stench are produced from your nose, then the two flowing vapors of fragrance and stench would not arise from the wood of Airavana or Chandana. Given that the smell does not come from these two things, when you smell your own nose, is it fragrant, or does it stink? What stinks does not give off fragrance; what is fragrance does not stink. Suppose you say you can smell both the fragrance and the stench; then you, one person, would have tow noses, and I would now be addressing questions to two Anandas. Which one is you? • Nếu mũi có một, thơm thúi không phải hai, thúi là thơm, thơm thành thúi, hai tính không có, vậy theo đâu mà lập giới?: Suppose there is one nose; then fragrance and stench would not be two. Since stench would be fragrance and fragrance would become stench, there would not be two natures, thus what would make up the realm? • Nếu nhân mùi sinh, cái tỷ thức nhân mùi mà có. Như con mắt thấy được, không nhìn con được mắt. Vậy tỷ thức nhân mùi mà có, lẽ ra không biết được mùi. Nếu biết được, không phải do mùi sinh. Còn nếu không biết, không phải là thức. Nếu mùi không có cái biết mùi thì không thành được giới hạn cái thức. Nếu không biết mùi, thì không phải do mùi mà lập ra giới. Không có tỷ thức là chặng giữa, thì nội căn, ngoại trần không thể thành lập, và các tính ngửi biết chỉ là hư vọng: If the nose-consciousness were produced because of smells, it follows that it is in existence just because of smells. Just as the eyes can see but are unable to see themselves, so, too, if it exists because of smells, it would not be aware of smells. If it is aware of smells, then it is not produced from smells. If it had no awareness, the realm of smelling would not come into being. If the consciousness were not aware of smells, then the realm would not be established from smells. Since there is no intermediate realm of consciousness, there is no basis for establishing anything internal or external, either. Therefore, the nature of smelling is ultimately empty and false. b) Vậy ông nên biết, mũi và mùi làm duyên sinh tỷ thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới mũi, mùi và tỷ thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the nose and smells being the conditions which produce the realm of the nose-consciousness, none of the three places exists. Thus, the nose, smells, and the realm of smelling, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 10-11-12) Thiệt Vị Thức Giới: Jihva-rasa-vijnana-dhatu (skt)—The realm of tongue, flavors, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, lưỡi và vị làm duyên sinh ra thiệt thức. Cái thức đó nhân lưỡi sinh, lấy lưỡi làm giới; hay nhân vị sinh, lấy vị làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the tongue and flavors create the conditions that produce the tongue-consciousness. Is the consciousness produced because of the tongue, such that the tongue is its realm, or is it produced because of the flavors, such that the flavors are its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân lưỡi sinh, thì các vị trong thế gian ngọt như mía, chua như me, đắng như huỳnh liên, mặn như muối, cay như gừng và quế, mấy thứ đó đều không có vị. Ông thử tự nếm lưỡi ông, xem ngọt hay đắng? Nếu đắng thì cái chi đến nếm lưỡi. Lưỡi đã không tự nếm, thì lấy cái chi mà biết vị? Nếu không đắng, lưỡi không sinh ra được vị, sao lập thành giới?: Suppose, Ananda, that it were produced because of the tongue. Then all the sugar, black plums, Huang-lien, salt, wild ginger, and cassia in the world would be entirely without flavor. Also, when you taste your own tongue, is it sweet or bitter? Suppose the nature of your tongue were bitter. Then, what would it be that tasted the tongue? Since the tongue cannot taste itself, who would have the sense of taste? If the nature of the tongue were not bitter, there would be no flavor engendered by it. Thus, how could a realm be established? • Nếu nhân vị sinh, thì thiệt thức tự mình đã là vị, giống như lưỡi, không thể tự nếm vị mình được, sao biết là vị hay không phải vị? Lại tất cả các vị không phải do một vật sinh ra. Các vị đã do nhiều vật sinh ra, lẽ ra thức có nhiều thể: If it were produced because of flavor, the consciousness itself would be a flavor. The case would be the same as with the tongue-organ being unable to taste itself. How could the consciousness know whether it had flavor or not? Moreover, flavors do not all come from one thing. Since flavors are produced from many things, the consciousness would have many substances. • Nếu thức thể là một, và thể do vị sinh ra, thì đáng lẽ những vị mặn, nhạt, chua, cay hòa hợp cùng nhau sinh ra các tướng sai khác, đồng là một vị, không có phân biệt. Đãõ không có phân biệt, không gọi là thức, sao còn gọi là Thiệt-Vị-Thức Giới? Chẳng lẽ hư không sinh ra tâm thức của ông? Còn nói lưỡi và vị hòa hợp nhau mà sinh, thì cái chặng giữa căn trần đã không có tự tính, làm sao sinh được giới?: Suppose that the consciousness were of a single substance and that the substance was definitely produced from flavor. Then, when salt, bland, sweet, and pungent were combined, their various differences would change into a single flavor and there would be no distinctions among them. If there were no distinctions, it could not be called consciousness. So, how could it further be called the realm of tongue, flavor, and consciousness? Nor can it be that empty space produces your conscious awareness. The tongue and flavors could not combine without each losing its basic nature. How could a realm be produced? b) Vậy ông nên biết, lưỡi và vị làm duyên sinh thiệt thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới lưỡi, vị và thiệt thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the tongue and flavors being the conditions and that produce the realm of tongu-consciousness, none of the three places exists. Thus, the tongue, flavors, and the realm of the tongue, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 13-14-15) Thân Xúc Thức Giới: Kaya-sparshtavya-vijnana-dhatu (skt)—The realm of body-consciousness, objects of touch: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, thân và xúc làm duyên sinh ra thân thức. Cái thức đó nhân thân sinh, lấy thân làm giới hạn, hay nhân xúc sinh, lấy xúc làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the body and objects of touch create the conditions that produce the body-consciousness. Is the consciousness produced because of the body, such that the body is its realm, or is it produced because of objects of touch, such that objects of touch are its realm? • Nếu nhân thân sinh, tất không có hai cái duyên giác quán hợp ly, thân còn biết gì nữa?: Suppose, Ananda, that it were produced because of the body. When there was no awareness of the two conditions of contact with and separation from objects of touch, what would the body be conscious of? • Nếu nhân xúc sinh, chắc không có thân ông, ai không có thân mà biết hợp, biết ly được?: Suppose it were produced because of objects of touch. Then you would not need your body. Without a body, what could perceive contact with and separation from objects of touch? b) Ông A Nan! Vật không thể biết xúc, thân mới biết có xúc. Xúc biết thân, thân biết xúc. Đã là xúc thì không phải là thân. Đã là thân, tức không phải là xúc. Hai tướng thân và xúc vốn không có xứ sở. Hợp với thân thì thành ra tự thể tính của thân. Ly với thân thành ra những tướng hư không. Nội căn và ngoại trần đã không thành, cái giữa là thức làm sao lập được? Giữa đã không lập được, tính trong ngoài là không, vậy từ đâu mà lập được cái giới sinh ra thức của ông?: Ananda! Things do not perceive objects of touch. It is the body that perceives objects of touch. What the body knows is objects of touch, and what is aware of objects of touch is the body. What is objects of touch is not the body, and what is the body is not the objects of touch. The two characteristics of body and objects of touch are basically without a location. If it united with the body, it would be the body's own substance and nature. If it were apart from the body, it would have the same appearance as empty space. Since the inside and the outside don't stand up, how can one set up a middle? The middle cannot be set up either. The inside and the outside are by nature empty. From what realm, then, is your consciousness born? c) Vậy ông nên biết, thân và xúc làm duyên sinh thân thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới thân, xúc, và thân thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the body and objects of touch being conditions that produce the realm of body-consciousness, none of the three places exists. Thus, the body, objects of touch, and the realm of the body, thse three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 16-17-18) Ý-Pháp-Thức Giới: Mano-dharma-vijnana-dhatu (skt)—The realm of mind, dharmas, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, ý và pháp làm duyên sinh ra ý thức. Cái thức đó nhân ý sinh, lấy làm giới, hay nhân pháp sinh, lấy làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the mind and dharmas create the conditions that produce the mind-consciousness. Is this consciousness produced because of the mind, such that the mind is its realm, or is it produced because of dharmas, such that dharmas are its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân ý sinh, trong ý ông chắc có suy nghĩ mới phát minh ý ông. Nếu không có sự vật ở ngoài, ý không sinh ra được. Lìa các pháp duyên, ý không có hình tướng. Vậy thức dùng để làm gì? Thức tâm của ông giống hay khác các tư tưởng và các sự rõ biết. Nếu đồng với ý, sao gọi là do ý sinh. Nếu khác với ý, đáng lẽ không biết gì. Nếu thế, sao nói là do ý sinh. Nếu có biết, sao lại chia ra thức và ý? Nguyên đồng và khác còn không lập được, sao lập được giới?: Supose, Ananda, that it were produced because of the mind. In your mind there certainly must be thoughts; these give expression to your mind. If there are no dharmas before you, the mind does not give rise to anything. Apart from conditions, it has no shape; thus, what use would the consciousness be? Moreover, Ananda, is your conscious awareness the same as your mind-organ, with its capacity to understand and make distinctions, or is it different? If it were the same as the mind, it would be the mind; how could it be something else that arises? If it were different from the mind, it should thereby be devoid of consciousness. If there were no consciousness, how would it arise from the mind? If there were consciousness, how would it differ from the mind? Since it is by nature neither the same nor different, how can a realm be established? • Nếu từ pháp trần sinh, các pháp trong thế gian, không rời năm trần. Ông hãy xem các sắc pháp, thanh pháp, hương pháp, vị pháp và xúc pháp, các tướng trạng đều phân minh, để đối với năm căn, các thứ đó đều không phải về phần trần cảnh của ý căn: Suppose it were produced because of dharmas. None of the dharmas of the world exists apart from the five defiling objects. Consider the dharmas of form, the dharmas of sound, the dharmas of smell, the dharmas of taste, and the dharmas of touch, each has a clearly distinguishable appearance and is matched with one of the five organs. They are not what the mind takes in. • Nếu thức của ngươi nhất định từ pháp trần ra, thì ngươi hãy xem xét hình tướng của mỗi pháp như thế nào? Suppose your consciousness were indeed produced through a reliance on dharmas. Take a close look at them now. What does each and every dharma look like? • Nếu lìa sắc, không, thông, nghẽn, ly, hợp, và sanh diệt, ngoài các tướng nầy chẳng có sở đắc: Underlying the characteristics of form and emptiness, movement and stillness, penetration and obstruction, unity and separation, and production and extinction there is nothing at all. • Sanh thì các pháp sắc không cùng sanh, diệt thì các pháp sắc không cùng diệt, vậy cái nhân sanh ra đã không, làm sao có thức? Thức đã chẳng có, giới từ đâu lập?: When there is production, then form, emptiness, and all dharmas are produced. When there is extinction, then form, emptiness, and all dharmas are extinguished. Since what is causal does not exist, if those causes produce the consciousness, what appearance does the consciousness assume? If there is nothing discernable about the consciousness, how can a realm be established for it? • Vì thế ông nên biết ý căn, pháp trần làm duyên với nhau sanh ra ý thứ giới, ba chỗ đều không, tức ý căn, pháp trần, ý thức giới vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the mind and dharmas being the conditions that produce the realm of the mind-consciousness, none of the three places exists. Thus, the mind, dharmas, and the realm of the mind, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously.
; (十八界) Phạm: Awỉàdaza dhàtava#. Cũng gọi Thập bát trì. Chỉ cho 18 pháp trong thân con người là: Sáu thức năng y, 6 căn sở y và 6 cảnh sở duyên. Giới nghĩa là chủng loại, chủng tộc. Vì 18 chủng loại này đều có tự tính khác nhau cho nên gọi là Thập bát giới. Tức 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý(có công năng phát sinh nhận biết), 6 cảnh đối tượng của sự nhận biết là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp và 6 thức là thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý. Trong 18 giới trừ 6 thức thì thành Thập nhị xứ, mà 6 thức thực tế cũng từ ý xứ mà được triển khai ra. Theo đây thì Thập bát giới hoặc Thập nhị xứ gồm thâu hết thảy pháp. [X. luận Đại tì bà sa Q.71; luận Câu xá Q.1]. (xt. Thập Nhị Xứ).
Thập bát giới 十八界
[ja] ジュウハッカイ jūhakkai ||| (astādaśa-dhātavah). (1) The eighteen compositional elements of human existence. The six sense faculties, their six objects and the six consciousnesses 六識. A way of pointing out the six intrinsic corresponding relationships between the six faculties (六根) and their objects (六塵) as separate functions. (2) In Consciousness-only theory, a classification of the one hundred dharmas in 18 elements. The first ten are the five sense organs and their objects. Added to this is the category of "mind elements" (manas and ālaya consciousness), the "dharma realm" (mental function dharmas, dharmas not concomitant with mind, and unconditioned dharmas), plus the six consciousnesses (六識), totaling eighteen. => (s: astādaśa-dhātavah) Có các nghĩa sau: 1. Mười tám phần tử cấu thành sự hiện hữu của con người, gồm 6 căn, 6 trần, và 6 thức. Phương pháp vạch ra sự liên hệ mật thiết bên trong của sáu căn, sáu trần thành những chức năng riêng biệt. 2. Theo giáo lý Duy thức, có sự phân loại 100 pháp thành 18 yếu tố. Mười yếu tố đầu là 5 giác quan(căn) và 5 đối tượng của giác quan(trần). Cộng thêm Tâm (Mạt-na thức và A-lại-da thức), Pháp (Tâm sở pháp, Tâm bất tương ưng hành pháp, và Vô vi pháp), và 6 thức, tổng cộng thành 18.
thập bát hội
(十八會) Gọi đủ: Kim cương đính kinh du già thập bát hội; Kim cương đính kinh thập bát hội. Chỉ cho 18 hội thuyết pháp trong kinh Kim cương đính (Đại bản 10 vạn bài kệ): 1. Hội Nhất thiết Như lai chân thực nhiếp giáo vương: Thuyết trên cõi trời Sắc cứu cánh. 2. Hội Nhất thiết Như lai bí mật chủ du già: Cũng thuyết trên cõi trời Sắc cứu cánh. 3. Hội Nhất thiết giáo tập du già: Thuyết ở cung điện Pháp giới. 4. Hội Hàng tam thế kim cương du già: Thuyết trên đỉnh Tu di lô. 5. Hội Thế gian xuất thế gian kim cương du già: Thuyết trong không giới nước Ba la nại. 6. Hội An lạc bất không tam muội da chân thực du già: Thuyết trên cung trời Tha hóa tự tại. 7. Hội Phổ hiền du già: Thuyết trong cung điện của bồ tát Phổ hiền. 8. Hội Thắng sơ du già: Thuyết trong cung điện của bồ tát Phổ hiền. 9. Hội Nhất thiết Phật tập hội noa cát ni giới võng du già: Thuyết ở cung điện Chân ngôn. 10. Hội Đại tam muội da du già: Thuyết ở cung điện Pháp giới. 11. Hội Đại thừa hiện chứng du già: Thuyết trên cõi trời A ca ni tra. 12. Hội Tam muội da tối thắng du già: Thuyết ở Bồ đề tràng không giới. 13. Hội Đại tam muội da chân thực du già: Thuyết ở Mạn đồ la đạo tràng Kim cương giới. 14. Hội Như lai tam muội da chân thực du già: Thuyết ở Mạn đồ la đạo tràng Kim cương giới. 15. Hội Bí mật tập hội du già: Thuyết ở nơi Dụ sư bà già. 16. Hội Vô nhị bình đẳng du già: Thuyết trong cung điện Pháp giới. 17. Hội Như hư không du già: Thuyết ở cung điện Thực tế. 18. Hội Kim cương bảo quan du già: Thuyết ở cõi trời Đệ tứ tĩnh lự. [X. Kim cương đính kinh du già thập bát hội chỉ qui; kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai nhiếp chân thực đại thừa hiện chứng đại giáo vương; Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng].
Thập bát hội chỉ quy 十八會指歸
[ja] ジュウハチエシキ Jūhachie shiki ||| The Shibahui zhigui; see Jingangdingjing yuqie shibahui zhigui 金剛頂經瑜伽十八會指歸 => c: Shibahui zhigui. Xem Kim cương đỉnh kinh Du già thập bát hội chỉ quy 金剛頂經瑜伽十八會指歸.
thập bát hữu
(十八有) Đối lại: Thập bát không. Chỉ cho 18 vọng chấp (có) bị phá bằng 18 không. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3, phần 1 (Đại 46, 220 hạ) ghi: Phá 18 Hữu, nói 18 không. Mười tám không là: Nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô thủy không, tán không, tính không, tự tướng không, chư pháp không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không. (xt. Thập Bát Không).
thập bát hữu học
(十八有學) Cũng gọi Thập bát học nhân. Chỉ cho 18 bậc Thánh hữu học. Đó là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Gia gia, Nhất gián, Dự lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, Trung ban, Sinh ban, Hữu hành ban, Vô hành ban và Thượng ban. Thuyết trên đây được thấy trong kinh Phúc điền thuộc Trung a hàm quyển 30, trong đó, những người độn căn trong giai đoạn Kiến đạo là Tùy tín hành, cũng gọi Tín hành; hàng lợi căn là Tùy pháp hành, cũng gọi Pháp hành. Những người Tùy tín hành, khi vào giai vị Tu đạo thì gọi là Tín giải, người Tùy pháp hành khi vào giai vị Tu đạo thì gọi là Kiến chí, cũng gọi Kiến đáo hoặc Kiến đắc. Trong quả Bất hoàn, người được định Diệt tận, gọi là Thân chứng. Trong Nhất lai hướng, người dứt được 3 phẩm cho đến 4 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, gọi là Gia gia. Trong Bất hoàn hướng, người đã đoạn 7 phẩm, cho đến 8 phẩm hoặc, chỉ còn phẩm hoặc thứ 9 làm gián cách trụ quả, gọi là Nhất gián, cũng gọi Nhất chủng, Nhất chủng tử. Tam hướng tam quả của hàng Hữu học, gọi là Dự lưu hướng cho đến Bất hoàn quả. Trong 7 loại Bất hoàn, 5 loại bậc Thánh thụ sinh nơi cõi Sắc, gọi là Trung ban cho đến Thượng lưu ban. Đại thừa nghĩa chương quyển 17, phần đầu cho rằng Tùy tín, Tùy pháp, Tín giải và Kiến chí thống nhiếp tất cả hàng Hữu học, các bậc còn lại đều từ 4 bậc này khai triển ra. Tuy nhiên, các kinh luận nói về điểm này có khác nhau. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 5, phần đầu, trừ Tùy tín, Tùy pháp ra mà thay vào đó bằng Thất cực phản hữu và A la hán hướng. Luận Thuận chính lí quyển 65 thì bỏ Thân chứng, thêm nhập A la hán hướng, còn thứ tự sắp xếp thì đầu tiên là Tứ hướng tam quả, kế là Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Gia gia, Nhất gián, Trung ban, cho đến Thượng lưu ban, đây là thuyết củaHữu bộ. Còn phẩm Phân biệt hiền thánh trong luận Thành thực quyển 1 thì liệt kê Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tùy vô tướng hành, Tu đà hoàn, Hành tư đà hàm, Tư đà hàm, Hành a na hàm, A na hàm, Trung ấm diệt giả, Hữu sinh hữu diệt giả, Hữu bất hành diệt giả, Hữu hành diệt giả, Hữu thượng hành chí A ca ni tra diệt giả, Hữu chí vô sắc xứ giả, Hữu chuyển thế giả, Tíngiải thoát, Kiến đắc và Thân chứng, đây là thuyết Thập bát hữu học của luận Thành thực. [X. luận Đại trí độ Q.22; luận Câu xá Q.24]. (xt. Hữu Học).
Thập bát không
xem Mười tám nghĩa không.
thập bát không
Aṣṭadaśa-suntyatah (S).
; (十八空) Phạm:Awỉàdaza-zùnyatà#. Mười tám thứ không được lập ra để phá các loại tà kiến. Đó là: 1. Nội không (Phạm: Adhyàtma- zùnyatà): Chỉ cho 6 chỗ bên trong như mắt... không có ngã, ngã sở và không có các pháp như mắt... 2. Ngoại không (Phạm: Bahirdhàzùnyatà): Chỉ cho 6 chỗ bên ngoài như sắc... không có ngã, ngã sở và các pháp như sắc... 3. Nội ngoại không (Phạm: Adhyàtma-bahirdhà-zùnyatà): Tức nói chung 12 chỗ trong và ngoài như 6 căn, 6 cảnh không có ngã, ngã sở và không có các pháp như 6 căn, 6 cảnh... 4. Không không (Phạm: Zùnyatàzùnyatà): Không bị vướng mắc vào 3 không nói trên. 5. Đại không (Phạm:Mahà-zùnyatà): Tức các thế giới trong 10 phương không có tướng định phương vị đây kia, xưa nay. 6. Đệ nhất nghĩa không (Phạm: Paramàrtha-zùnyatà), cũng gọi Thắng nghĩa không, Chân thực không. Tức lìa các pháp ra thì không có thực tướng Đệ nhất nghĩa đế nào khác, không chấp trước thực tướng. 7. Hữu vi không (Phạm: Saôskftazùnyatà): Tức pháp do nhân duyên sinh ra và pháp tướng của nhân duyên đều không. 8. Vô vi không (Phạm: Asaôskftazùnyatà): Không bám dính vào pháp niết bàn.9. Tất cánh không (Phạm: Atyantazùnyatà), cũng gọi Chí cánh không. Tức dùng hữu vi không, vô vi không phá tất cả pháp, rốt ráo không còn gì. 10. Vô thủy không (Phạm: Anavaràgra-zùnyatà), cũng gọi Vô hạn không, vô tế không, Vô tiền hậu không. Tức tất cả pháp tuy sinh khởi từ vô thủy nhưng cũng xa lìa tướng chấp thủ đối với pháp này(pháp vô thủy). 11. Tán không (Phạm: Anavakarazùnyatà), cũng gọi Tán vô tán không, Bất xả không, Bất xả li không. Tức các pháp chỉ do giả hòa hợp mà có, cho nên rốt cuộc thì không có tướng chia lìa tan diệt. 12. Tính không (Phạm: Prakftizùnyatà), cũng gọi Bản tính không, Phật tính không. Tức tự tính các pháp là không. 13. Tự tướng không (Phạm: Svalakwaịa-zùnyatà), cũng gọi Tự cộng tướng không, Tướng không. Tức tướng tổng biệt, đồng dị của các pháp đều không. 14. Chư pháp không (Phạm: Sarvadharma-zùnyatà), cũng gọi Nhất thiết pháp không. Tức tất cả pháp uẩn, xứ, giới... tự tướng bất định, lìa tướng chấp thủ. 15. Bất khả đắc không (Phạm: Anupalambha-zùnyatà), cũng gọi Vô sở hữu không. Tức trong các pháp do nhân duyên sinh, không có ngã và pháp. 16. Vô pháp không (Phạm: Abhàvazùnyatà), cũng gọi Vô tính không, Phi hữu không. Tức nếu các pháp đã hoại diệt thì không có tự tính, các pháp vị lai cũng vậy. 17. Hữu pháp không (Phạm: Svabhàva-zùnyatà), cũng gọi Tự tính không, Phi hữu tính không. Tức các pháp chỉdo nhân duyên mà có, cho nên cái có ở hiện tại tức chẳng phải có thật. 18. Vô pháp hữu pháp không (Phạm: Abhàva-svabhàva-zùnyatà), cũng gọi Vô tính tự tính không. Tức hết thảy pháp sinh diệt và pháp vô vi trong 3 đời đều không có thật. [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm Bát nhã Q.1; kinh Phóng quang bát nhã Q.1; kinh Quang tán bát nhã Q.1; kinh Đại bát nhã Q.479; 480; kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.thượng; luận Đại trí độ Q.31].
thập bát không luận
Aṣṭadasākasa śāstra (S) Tên một bộ luận kinh.
; (十八空論) Luận, 1 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung đầu tiên giải thích nghĩa của 18 thứ không, nói rõ 18 không này được thu vào pháp nghĩa 16 không, 14 không. Kế đến giải thích 7 chân như, nói rõ ý nghĩa chân thực của 10 thắng trí. Thực ra, luận này giải thích phẩm Tướng và phẩm Chân thực trong luận Trung biên phân biệt của ngài Thiên thân, do đó mà người xưa lầm cho luận này là tác phẩm của ngài Long thụ, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa rõ ai là tác giả. Nội dung luận này ngoài điểm bao hàm luận Trung biên phân biệt ra, các phần khác cũng rất quan trọng, nhất là về mặt lịch sử phát triển Duy thức học đáng được chú ý.
Thập bát không luận 十八空論
[ja] ジュウハチクウロン Jūhachikū ron ||| Shibakong lun; 1 fasc.; the Treatise on the Eighteen Emptinesses, T 1616.31.861-7. A commentary on Vasubandhu's Treatise on Discriminating the Middle and the Extremes 中邊分別論, translated by Paramārtha 眞諦, the authorship of which is uncertain. Explain such categories as the eighteen kinds of emptiness 十八空 the seven kinds of suchness 七種眞如, etc. => c: Shibakong lun; e: Treatise on the Eighteen Emptinesses; 1 quyển . Luận giải của Thế Thân về Trung Biên phân biệt luận, Chân Đế dịch, Tác giả cuốn luận nầy chưa xác định được. Nội dung giải thích mỗi phạm trù qua 18 loại Không và bảy loại Chân như.
Thập bát không 十八空
[ja] ジュウハチクウ jūhachikū ||| "18 aspects of emptiness." as taught in the Mahāprajñāpāramitā-sūtra (摩訶般若波羅蜜經T 223). Internal emptiness, external emptiness, internal/external emptiness, empty emptiness, great emptiness, ultimate emptiness, conditioned emptiness, unconditioned emptiness, final emptiness, beginningless emptiness, dispersed emptiness, emptiness of nature, emptiness of self-marks, emptiness of all dharmas, emptiness of non-attainability, emptiness of non-existence, emptiness of existence, emptiness of existence and non-existence. Mười tám loại Không, được đề cập trong kinh Ma ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa (摩訶般若波羅蜜經 => s: Mahāprajñāpāramitā-sūtra). Đó là: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Không không, Đại không, Đệ nhất nghĩa không, Hữu vi không, Vô vi không, Tất cánh không, Vô thuỷ không, Tán không, Tính không, Tự tướng không, Chư pháp không, Bất khả đắc không, Vô pháp không, Vô pháp hữu pháp không.
thập bát khế ấn
(十八契印) Cũng gọi Thập bát đạo khế ấn, Thập bát đạo. Chỉ cho 18 thứ ấn tướng thông dụng trong các pháp tu của Mật giáo, là hình cơ bản của ấn tướng; tức là hình tướng chắp tay chủ yếu mà người tu hành Mật giáo sử dụng khi quán pháp, được chia thành 6 pháp, thứ tự sắp xếp theo nghi thức tiếp đãi khách quí của Ấn độ. Đó là: 1. Hộ thân pháp: Cũng gọi Trang nghiêm hành giả pháp, tức là pháp Trừ uế tịnh thân. Tất cả có 5 ấn, trước hết kết ấn Tịnh tam nghiệp để làm cho 3 nghiệp của chính hành giả được trong sạch; kế đến kết ấn Tam muội da của Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ cầu sự gia bị cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý được vững chắc; sau hết kết ấn Bị giáp hộ thân cầu được mặc áo giáp mũ trụ của Như lai để trang nghiêm thân hành giả. 2. Kết giới pháp: Kết giới tức là hạn định phạm vicủađạo tràng bằng cách lập các bức tường ở 4 phía. Có 2 ấn cho việc này là Địa kết ấn làm cho nơi ở được vững chắc và Tứ phương kết ấn xây tường hoặc hàng rào bao bọc 4 phía, đề phòng người ngoài xâm nhập. 3. Đạo tràng pháp: Khu đất đã được kết giới thì nên lập đạo tràng để trang nghiêm. Có 2 ấn cho việc này là ấn Đạo tràng quán và ấn Đại hư không tạng. Nhờ năng lực gia trì của ấn ngôn (ấn khế và chân ngôn) này mà thân độ của đạo tràng sở quán và vật cúng dường sở tưởng (được nghĩ tưởng đến) đều chân thực không khác. 4. Khuyến thỉnh pháp: Khi đạo tràng đã được kiến lập xong thì chính thức cung thỉnh Bản tôn thánh chúng giáng lâm đạo tràng. Trong đó, trước hết kết ấn Bảo xa lộ (một loại xe lớn) để dâng xe 7 báu đón rước Hải hội bản tôn, kế đến kết ấn Thỉnh xa lộ để cung thỉnh Chư Tôn ngồi xe đến đạo tràng, sau cùng kết ấn Nghinh thỉnh Bản tôn để tiếp rước Chư Tôn rời xe vào đạo tràng. 5. Kết hộ pháp: Sau khi Bản tôn thánh chúng vào đạo tràng thì kết Bộ chủ ấn(ấn Minh vương) của 3 bộ thuộc pháp tu để xua đuổi tà quỉ, làm cho đạo tràng vững chắc, đồng thời, kết ấn Hư không võng, giăng lưới kim cương cứng chắc trên hư không che phủ đạo tràng, khiến cho người vào đạo tràng không bị chướng nạn; sau hết, kết ấn Hỏa viện(tường lửa) bao bọc chung quanh để bảo vệ đạo tràng. 6. Cúng dường pháp: Trước hết kết ấn Át già, dùng nước thơm rửa 2 chân cho đến tắm gội thân thể của Thánh chúng; kế đến kết ấn Hoa tọa đặt tòa hoa sen nở rộ tròn đầy để Thánh chúng an tọa; sau hết kết ấn Phổ cúng dường, dâng các vật cúng để cúngdường khắp các Thánh chúng. Sáu pháp nói trên hợp chung thành 18 khế ấn(như hình vẽ ở sau), căn cứ theo sự ghi chép trong Thập bát khế ấn, tương truyền tác giả của pháp này là ngài Huệ quả của Trung quốc, hoặc là ngài Không hải của Nhật bản. Hình Tướng Của Mười Tám Khế Ấn: Từ xưa, đối với ý nghĩa tượng trưng của con số 18, có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng số 18 biểu thị cho Thập Đại hư không tạng Bộ chủ (Mã đầu) Hoa tọa Phổ cúng dường Bảo xa lộ Tứ phương kết Thỉnh xa lộ Hư không võng Đạo tràng quán Nghinh thỉnh Hỏa viện Át già Tịnh tam nghiệp Phậtbộ tam muội da Liên hoa bộ tam muội da Kim cương bộ tam muội da Bị giáp hộ thân Địa kếtbát không của Bát nhã, hoặc biểu thị Thập bát giới, tượng trưng cho đức pháp thân của Như lai, hoặc biểu thị 5 đức Phật 4 vị Bồ tát của Kim cương giới và 9 vị tôn trong viện Trung đài bát diệp của Thai tạng giới, hoặc biểu thị hành nghi chung của Thập bát hội Kim cương giới. Pháp tu kết 18 khế ấn cúng dường Bản tôn, gọi là Thập bát đạo pháp, gọi tắt Thập bát đạo. Thập bát đạo niệm tụng thứ đệ pháp được tu hành trước tiên trong Tứ độ gia hạnh, cũng gọi tắt là Thập bát đạo. Bản tôn của pháp tu này thông thường được định theo phép Tung hoa chọn Phật (tung hoa lên các tượng Phật, hễ hoa dính vào đức Phật nào thì thờ đức Phật ấy làm Bản tôn). Thập bát đạo pháp là pháp Tô tất địa mà Thai mật Nhật bản tu riêng, còn Đông mật thì thu nhiếp chung vào pháp Kim cương giới. Ấn tướng và chân ngôn của Thập bát khế ấn như sau: 1. Tịnh tam nghiệp ấn: Liên hoa hợp chưởng, tức ngón tay dựng đứng, 2 bàn tay chắp lại. Chân ngôn là: Án tát phạ bà phạ du đà tát phạ đạt ma tát phạ bà phạ du độ hám(Qui mệnh tự tính thanh tịnh nhất thiết pháp tự tính thanh tịnh ngã). 2. Phật bộ tam muội da ấn: Hư tâm hợp chưởng, tức có 2 ngón trỏ, bấm vào đốt trên của 2 ngón giữa, 2 ngón cái bấm vào đốt dưới của 2 ngón trỏ. Chân ngôn là: Án đát tha nghiệt đô nạp bà phạ dã sa phạ ha(Qui mệnh Như lai phát sinh thành tựu viên mãn). 3. Liên hoa bộ tam muội da ấn (cũng gọi Bát diệp ấn): Hư tâm hợp chưởng, tức 2 ngón trỏ, 2 ngón giữa và 2 ngón vô danh đứng dựng mở ra. Chân ngôn là: Án bả na mô nạp bà phạ dã sa phạ ha (Qui mệnh liên hoa phát sinh thành tựu viên mãn). 4. Kim cương bộ tam muội da ấn: Tay trái úp, tay phải ngửa, lưng 2 tay áp sát, 2 ngón cái và 2 ngón út móc vào nhau, 3 ngón ở giữa như chày 3 chĩa. Chân ngôn là:Án phạ nhật lô nạp bà phạ dã sa phạ ha(Qui mệnh Kim cương phát sinh thành tựu viên mãn). 5. Bị giáp hộ thân ấn(cũng gọi Bị giáp ấn, Hộ thân tam muội da): Hai tay kết nội phược, 2 ngón giữa dựng đứng bấm đầu vào nhau, co 2 ngón trỏ như hình móc câu, 2 ngón cái dựng thẳng, 2 ngón vô danh dính vào nhau. Chân ngôn là: Án phạ nhật la nghĩ nhĩ bát la nẫm bả đá dã sa bà hạ(Qui mệnh Kim cương hỏa cực uy diệu thành tựu). 6. Địa kết ấn (cũng gọi Kim cương quyết): Ngón vô danh, ngón giữa bên trái ép sát vào ngón vô danh, ngón giữa bên phải, các ngón út, ngón trỏ, ngón cái còn lại giao nhau. Chân ngôn là: Án chỉ lí chỉ lí phạ nhật la phạ nhật lí bộ luật mãn đà mãn đà hồng phát tra(Qui mệnh cấm phạt cực cấm phạt kim cương kim cương định kiên cố kết phược cực kết phược tồi phá khủng bố).7. Tứ phương kết ấn(cũng gọi Kim cương tường ấn). Ấn tướng giống như ấn Địa kết ở trên, nhưng 2 ngón cái dang ra. Chân ngôn là: Án tát la tát la phạ nhật la bát la ca la hồng phát tra (Qui mệnh kiên cố cực kiên cố kim cương tường khủng bố). 8. Đạo tràng quán: Ấn tướng là Như lai quyền ấn, 1 trong 6 Quyền ấn, tức nắm tay phải nắm lấy ngón cái của nắm tay trái. Chân ngôn là: Án bộ khiếm, chuyển uế độ hữu tướng tuần hoàn biến thành Tịnh độ tịch tĩnh vô vi, có nghĩa đầy khắp pháp giới.9. Đại hư không tạng ấn: Chắp 2 tay, 2 ngón giữa ép sát nhau, hai ngón trỏ giao nhau như hình báu. Chân ngôn là: Án nga nga nẳng tam bà phạ nhật la hộc (Qui mệnh hư không sinh kim cương hoan hỉ). 10. Bảo xa lộ ấn(cũng gọi Tống xa lộ ấn): Hai tay giao nhau bên trong và ngửa bàn tay, cạnh 2 ngón trỏ giao nhau, 2 ngón cái bấm vào chân đốt dưới của ngón trỏ. Chân ngôn là: Án đô rô đô rô hồng. Đô rô (turu turu) là tiếng chuyển động của xe; Hồng là chủng tử của sứ giả Kim cương, cũng là chủng tử của bánh xe. 11. Thỉnh xa lộ ấn: Ấn tướng giống như ấn Bảo xa lộ, nhưng ngón cái không dính vào ngón trỏ. Chân ngôn là: Na ma tất để la dã địa vĩ ca nẫm đát tha nghiệt đa án phạ nhật lãng ngân nhĩ dã yết lợi sa dã sa phạ ha(Qui mệnh tam thế chư Như lai, qui mệnh kim cương thân triệu thỉnh thành tựu).12. Nghinh thỉnh ấn (cũng gọi Nghinh thỉnh Bản tôn ấn, Triệu thỉnh ấn): Kết nội phược, ngón trỏ bên phải dựng giống như cái móc. Chân ngôn là: Án nhĩ nẵng nhĩ ca ế hê hi sa phạ ha (Qui mệnh nhân giả triệu thỉnh). 13. Bộ chủ ấn(cũng gọi Bộ chủ kếtgiới ấn, Tịch trừ kết giới ấn): Chắp 2 tay, co 2 ngón trỏ, 2 ngón vô danh để vào lòng bàn tay, lưng 2 đầu ngón dính nhau, 2 ngón cái dựng đứng dang ra. Chân ngôn là: Án a mật lí đô nạp bá phạ hồng phát tra sa phạ ha(Qui mệnh cam lộ phát sinh tồi phá khủng bố).14. Hư không võng ấn (cũng gọi kim cương võng ấn). Ấn tướng giống như ấn Địa kết ở trên, nhưng 2 ngón cái bấm vào 2 ngón trỏ. Chân ngôn là: Án vĩ sa phổ la nại lạc khất xoa phạ nhật la bán nhạ la hồng phát tra(Qui mệnh quảng phổ ủng hộ kim cương võng tồi phá khủng bố). 15. Hỏa viện ấn(gọi đủ là Kim cương hỏa viện ấn): Tay trái che trên lưng tay phải. Chân ngôn là: Án a tam mãng nghĩ nhĩ hồng phát tra(Qui mệnh vô đẳng hỏa tồi phá khủng bố). 16. Át già ấn: Hai tay bưng đồ đựng nước át già(nước thơm). Chân ngôn là: Nẵng mạc tam mãn đa một đà nam nga nga sa mãng sa phạ ha(Qui mệnh phổ biến chư Phật hư không đẳng vô đẳng thành tựu). 17. Hoa tọa ấn: Ấn tướng giống như ấn Liên hoa bộ tam muội da ở trên. Chân ngôn là: Án ca ma la sa phạ ha (Qui mệnh liên hoa thành tựu). 18. Phổ cúng dường ấn: Hai tay kết Kim cương hợp chưởng, đầu 2 ngón trỏ dính vào nhau như hình báu, 2 ngón cái dựng đứng. Chân ngôn là: Án a mô ca bố nhạ ma ni bả nạp ma phạ nhật lệ đát tha nghiệt đa vĩ lộ chỉ đế tam mãn đa bát la tát la hồng(Qui mệnh bất không cúng dường bảo châu liên hoa kim cương Như lai thắng quán phổ biến thư triển năng mãn nguyện). [X. Vô lượng thọ Như lai tu quán hạnh cúng dường nghi quĩ; Như ý luân quĩ; Bảo sách sao Q.3; Thập bát khế ấn nghĩa thích sinh khởi].
thập bát khổ
(十八苦) Mười tám khổ. Kinh Bồ tát địa trì quyển 7 nêu 18 khổ là: Ngu si báo khổ, hành khổ, sở nhiếp cứu cánh khổ, nhân khổ, sinh khổ, tự tác khổ, tha tác khổ, ác giới khổ, ác kiến khổ, bản nhân khổ, đại khổ, địa ngục khổ, thiện thú nhiếp khổ, nhất thiết tính khổ, vô trí khổ, tăng trưởng khổ, thụ khổ và bỉ uế khổ. Luận Xá lợi phất a tì đàm quyển 12 cũng liệt kê 18 thứ khổ: Lão, tử, ưu, bi, khổ, não, đại khổ tụ, vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu và sinh.
thập bát la hán
(十八羅漢) Chỉ cho 18 vị A la hán trụ mãi trong thế gian để hộ trì chính pháp. Vì các ngài là những bậc Chân nhân đáng nhận sự cúng dường của trời và người nên cũng gọi là Thập bát Ứng thân. Trong kinh điển có chép về Thập lục La hán chứ không có thuyết Thập bát La hán. Những người đầu tiên đã vẽ tượng Thập bát La hán là các vị Trương huyền và Quán hưu sống vào thế kỉ X Tây lịch. Về sau, sa môn Giác phạm và Đại văn hào Tô đông pha đều có làm kệ tán thán Thập bát La hán, nhất là 18 bài kệ tán của Tô đông pha, mỗi bài đều có nêu tên vị La hán. Ngoài Thập lục La hán, tôn giả Khánh hữu được lấy làm vị La hán thứ 17 và tôn giả Tân đầu lô là vị La hán thứ 18. Trên thực tế, tôn giả Khánh hữu chính là ngài Nan đề mật đa la, người soạn Pháp trụ kí; còn tôn giả Tân đầu lô chính là Tân độ lô phả la đọa, vốn đã là vị đầu tiên trong 16 vị La hán, vì không thuộc kinh điển, lại cũng không hiểu tiếng Phạm nên lập thêm lầm như thế. Nhưng do đó mà Thập lục La hán đã dần dần phát triển thành Thập bát La hán. Từ đời Nguyên trở đi, trong Đại điện của nhiều chùa viện đều có thờ Thập bát La hán và đắp vẽ hoặc chạm khắc tượng La hán, nói chung phần nhiều cũng lấy Thập bát La hán làm chính, từ đó, Thập bát La hán ở Trung quốc phổ biến hơn Thập lục La hán nhiều. Ngoài ra Tượng 18 vị La hán đắp bằng đất ở chùa Báo ân, huyện Thọ, tỉnh An huy, Trung quốc còn có chỗ thêm tôn giả Ca diếp và tôn giả Quân đồ bát thán thành 18 La hán; các vùng ở Tây tạng có nơi thêm ngài Đạt ma đa la, Bố đại hòa thượng, hoặc thêm 2 tôn giả Hàng long và Phục hổ, hoặc thêm 2 vị Ma da phu nhân và Di lặc. [X. Phật tổ thống kí Q.33]. (xt. Thập Lục La Hán).
Thập bát La-hán 十八羅漢
[ja] ジュウハチラカン jūhachi rakan ||| The eighteen arhats. The scriptural tradition originally lists only sixteen arhats 十六羅漢, but later on, two more names were added (see the longer discussion under 羅漢). (1) The most commonly found two additional names are 慶友 (also known as 慶友尊者) and 賓頭盧 (also known as 賓頭盧尊者). But there are also the additions of (2) 降龍 ("Subduer of Dragons") and 伏虎 ("Suduer of Lions"), two ancient Indian Buddhist sages. (3) Queen Maya 摩耶夫人 and Maitreya 彌勒, and (4) Mahākāśyapa 迦葉 and 軍徒鉢歎. => Mười tám vị A-la-hán. Trong Kinh điển truyền thông chỉ liệt kê 16 vị, nhưng về sau, có 2 vị được thêm vào (xem trình bày kỹ hơn trong mục La hán). Có các thuyết sau: 1. Hai vị được thêm vào phổ biến nhất là: Khánh Hữu (còn gọi là Khánh Hữu Tôn giả 慶友尊者) và Tân Đầu Lô (còn gọi là Tân Tân Đầu Lô Tôn giả 賓頭盧尊者). Nhưng còn có những thuyết sau: 2. Hàng Long 降龍 và Phục Hổ 伏虎 là hai vị Thánh trong Phật giáo Ấn Độ. 3. Hoàng hậu Ma-Gia 摩耶夫人và Di Lặc 彌勒 s: Maitreya. 4. Ma-ha Ca-diếp 迦葉s: Mahākāśyapa và Quân đồ Bát thán 軍徒鉢歎.
thập bát nguyện
Eighteenth vow.
Thập Bát Nê Lê
(十八泥犁): xem Thập Bát Địa Ngục(十八地獄) bên trên.
thập bát pháp giới
See Thập Bát Giới.
thập bát sinh xứ
The eighteen Brahmalokas, where rebirth is necessary, i.e. where mortality still exists.
; (十八生處) Cũng gọi Thập bát thiên. Chỉ cho 18 tầng trời cõi Sắc là những nơi sinh đến của người tu Tứ thiền định: I. Ba tầng trời Sơ thiền: 1. Phạm chúng thiên: Phạm nghĩa là thanh tịnh. Tầng trời này không có dục nhiễm, gồm dân chúng của Thiên chủ cõi Sơ thiền. 2. Phạm phụ thiên: Tầng trời này gồm các quan liêu phụ tá của Thiên chủ Sơ thiền. 3. Đại phạm thiên: Tầng trời này là chủ của cõi trời Sơ thiền, tên tiếng Phạm làZikhi-brahman (Thi khí), đứng đầu 3 nghìn thế giới đại thiên. II. Ba tầng trời Nhị thiền: 1. Thiểu quang thiên: Tầng trời này có ánh sáng ít nhất. 2. Vô lượng quang thiên: Tầng trời này có vô lượng ánh sáng. 3. Quang âm thiên: Tầng trời này dùng ánh sáng làm ngôn ngữ. III. Ba tầng trời Tam thiền: 1. Thiểu tịnh thiên: Những lạc thụ trong ý thức của tầng trời này thanh tịnh. 2. Vô lượng tịnh thiên: Sự thanh tịnh ở tầng trời này thù thắng hơn cõi trời Thiểu tịnh không thể tính lường. 3. Biến tịnh thiên: Những lạc thụ ở tầng này là thù thắng nhất, sự thanh tịnh lan tràn khắp. IV. Chín tầng trời Tứ thiền: 1. Vô vân thiên: Các tầng trời nói trên nương vào mây mà trụ, còn tầng trời này thì ở trên mây, cho nên gọi là Vô vân. 2. Phúc sinh thiên: Những người tu phúc đức thù thắng được sinh về tầng trời này.3. Quảng quả thiên:Quả báo của tầng trời này rộng lớn không cõi trời nào sánh bằng. 4. Vô tưởng thiên: Chư thiên cõi trời này có quả báo từ khi sinh ra đến khi chết đi, các hoạt động tâm tưởng đều ngưng. 5. Vô phiền thiên: Chư thiên cõi trời này đã lìa nỗi khổ ở cõi Dục và niềm vui ở cõi Sắc nên không còn phiền não. 6. Vô nhiệt thiên: Tầng trời này xét về tâm cảnh thì không có chỗ nương, thường mát mẻ tự tại, không có các nhiệt não. 7. Thiện kiến thiên: Chư thiên ở đây thấy suốt các thế giới trong 10 phương, trong sạch không có trần cấu. 8. Thiện hiện thiên: Tầng trời này không có chướng ngại. 9. Sắc cứu cánh thiên: Chư thiên tầng trời này quán xét đến chỗ cùng cực của các trần.[X. Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Sắc Giới).
thập bát sư
(十八師) Chỉ cho 18 nhà ngoại đạo Ấn độ sống cùng thời đại với đức Phật, tức là 3 nhóm Lục sư Nhất thiết trí, Thần thông và Vi đà. 1. Nhất thiết trí lục sư: Gồm Phú lan na ca diếp, Mạc già lê câu xá lê tử, San xà da tì la chi tử, A kì đa sí xá khâm bà la, Ca la cưu đà ca chiên diên và Ni càn đà nhã đề tử. Nhóm ngoại đạo này cố chấp tà lí, phát khởi tà trí, nhưng lại có biện tài vô ngại nhờ trí tuệ sinh ra. 2. Thần thông lục sư: Chỉ cho 6 người như Tu bạt đà... được thiền định thế gian, phát 5 thần thông, là nhờ tutuệ mà sinh ra. 3. Vi đà lục sư(cũng gọi Văn tự ngoại đạo): Chỉ cho 6 người như A lan ca lan... có khả năng đọc tụng 18 kinh trong 4 bộ Vi đà, là do văn tuệ sinh ra. [X. Chú duy ma cật kinh Q.3; Ma ha chỉ quán Q.10 thượng, Bách luận sớ Q.thượng; Tứ giáo nghĩa Q.2].
thập bát thiên
Bràhmaloka (S). The eighteen heavens of form, rùpadhatu sắc giới three of the first dhyana: Phạm chúng, Phạm phụ, Đại Phạm; three of the second: Thiểu quang, Vô lượng quang, Quang âm: three of the third: Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh, Biến tịnh; and nine of the fourth: Vô vân, Phúc sinh, Quảng quả, Vô tưởng, Vô phiền, Vô , Thiện kiến, Thiện hiện, Sắc cứu kính.
thập bát trọng địa ngục
(十八重地獄) Mười tám tầng địa ngục. 1. Theo kinh Thập bát nê lê thì 18 tầng địa ngục là: Tiên tựu hồ, Cư lô tốt lược, Thừa cư đô, Lâu, Bàng tốt, Thảo ô ti thứ, Đô ý nan thả, Bất lô đô ban hô, Ô cánh đô, Nê lô đô, Ô lược, Ô mãn, Ô tịch, Ô hô, Tu kiện cừ, Mạt đầu càn trực hô, Khu bô đồ và Trầm mạc. 2. Theo kinh Vấn địa ngục thì mười tám địa ngục là: Nê lê, Đao sơn, Phí sa, Phí thỉ, Hắc thân, Hỏa xa, Hoạch thang, Thiết sàng, Ngại sơn, Hàn băng, Bác bì, Súc sinh, Đao binh, Thiết ma, Băng địa ngục, Thiết sách, Thư trùng và Dương đồng. Trong Thất tu loại cảo của Lang anh đời Minh cho rằng 6 căn, 6 trần, 6 thức không có nơi chốn là 18 tầng địa ngục.
thập bát tuệ quán
Theo Thanh Tịnh Đạo, có mười tám pháp tuệ quán—According to The Path of Purification, there are eighteen Principal Insights of the abandoning by substitution of opposites. 1) Đoạn thường tưởng bằng quán vô thường: The abandoning of the perception of permanence, through the means of the contemplation of impermanence. 2) Đoạn lạc tưởng bằng quán khổ: The abandoning of the perception of pleasure, through the means of the contemplation of pain. 3) Đoạn ngã tưởng bằng quán vô ngã: The abandoning of the perception of self, through the means of the contemplation of not self. 4) Đoạn khoái cảm bằng quán ly dục: The abandoning of delight, through the means of the contemplation of dispassion (revulsion). 5) Đoạn tham bằng quán ly tham: The abandoning of greed, through the means of the contemplation of fading away. 6) Đoạn sinh bằng quán diệt: The abandoning of originating, through the means of the contemplation of cessation. 7) Đoạn chấp thủ bằng quán từ bỏ: The abandoning of grasping, through the means of the contemplation of relinquishment. 8) Đoạn cái tưởng nguyên vẹn bằng quán hoại: The abandoning of the perception of compactness, through the means of the contemplation of destruction. 9) Đoạn tích lũy bằng quán diệt: The abandoning of accumulation, through the means of contemplation of fall. 10) Đoạn tưởng bền bỉ bằng quán biến đổi: The abandoning of the perception of lastingness, through the means of the contemplation of change. 11) Đoạn tướng bằng quán vô tướng: The abandoning of the sign, through the means of the contemplation of the signless. 12) Đoạn dục bằng quán vô dục: The abandoning of desire, through the means of the contemplation of the desireless. 13) Đoạn tà giải bằng quán không: The abandoning of misinterpreting, through the means of the contemplation of voidness. 14) Đoạn tà giải do chấp thủ vào một cái lõi kiên cố bằng quán đi sâu vào tăng thượng tuệ: The abandoning of misinterpreting due to grasping at a core, through the means of insight into states that is higher understanding. 15) Đoạn tà giải do mê mờ bằng chánh tri kiến: The abandoning of misinterpreting due to confusion, through the means of correct knowledge and vision. 16) Đoạn tà giải do y cứ các hành bằng quán nguy hiểm trong các hành: The abandoning of misinterpreting due to reliance on formations, through the means of the contemplation of danger in them. 17) Đoạn phi tư duy bằng quán tư duy: The abandoning of non-reflexion, through the means of the contemplation of reflexion. 18) Đoạn tà giải do trói buộc bằng quán quay đi: The abandoning of misinterpreting due to bondage, through the means of the contemplation of turning away.
thập bát tông
(十八宗) Chỉ cho 18 tông của Phật giáo Nhật bản. Tức là tông Hoa nghiêm, tông Tam luận, tông Pháp tướng, Luật tông, tông Câu xá, tông Thành thực, tông Thiên thai, tông Tịnh độ, Chân tông, tông Nhật liên, tông Lâm tế, tông Tào động, tông Hoàng bá, tông Tu nghiệm và Thời tông.
Thập Bát Tằng Địa Ngục
(十八層地獄): xem Thập Bát Địa Ngục(十八地獄) bên trên.
thập bát viên tịnh
(十八圓淨) Cũng gọi Thập bát viên mãn, Thập bát cụ túc. Chỉ cho 18 thứ công đức viên mãn thù thắng của Tịnh độ(Thụ dụng độ) nơi chư Phật an trụ. Đó là: 1. Sắc tướng viên tịnh(cũng gọi Hiển sắc viên mãn, Sắc loại cụ túc): Cõi thụ dụng của chư Phật phóng ra ánh sáng chiếu soi khắp tất cả thế giới. 2. Hình mạo viên tịnh (cũng gọi Hình sắc viên mãn, Tướng mạo cụ túc, Trang nghiêm cụ túc): Những nơi chư Phật du hóa và những nơi chư Phật an trụ, đều có đầy đủ các thứ trang nghiêm vi diệu. 3. Lượng viên tịnh(cũng gọi Phân lượng viên mãn, Lượng cụ túc): Tịnh độ của chư Phật rộng lớn vô biên, không thể nào đo lường được. 4. Xứ viên tịnh(cũng gọi Phương sở viên mãn, Phương sở cụ túc): Tịnh độ là nơi chốn vượt ngoài 3 cõi, không có Khổ đế và Tập đế. 5. Nhân viên tịnh(cũng gọi Nhân viên mãn, Nhân cụ túc): Tịnh độ là do công năng thiện pháp xuất thế gian sinh khởi, chứ chẳng phải lấy Tập đế của pháp thế gian làm nhân. 6. Quả viên tịnh(cũng gọi Quả viên mãn, Quả cụ túc): Tịnh độ lấy trí Thanh tịnh tự tại duy thức của Như lai và Bồ tát làm thể tính, chứ không phải lấy Khổ đế làm thể tính.7. Chủ viên tịnh(cũng gọi Chủ viên mãn, Chủ cụ túc): Tịnh độ được Như lai hộ trì, Như lai thường an trụ chính giữa Tịnh độ. 8. Trợ viên tịnh (cũng gọi Phụ dực viên mãn, Bạn cụ túc, Trợ bạn cụ túc): Tịnh độ là trú xứ an lạc của các vị đại Bồ tát, trong đó các Bồ tát thường giúp ích Phật đạo, thường tu hành chính pháp và dạy người khác tu hành chính pháp. 9. Quyến thuộc viên tịnh (cũng gọi Quyến thuộc viên mãn, Quyến thuộc cụ túc): Tịnh độ này là nơicóvô lượng bát bộ chúng tuần hành. 10. Trì viên tịnh (cũng gọi Trụ trì viên mãn, Trụ trì cụ túc): Trong Tịnh độ, các Bồ tát và quyến thuộc giữ gìn pháp vị hỉ lạc rộng lớn để nuôi lớn pháp thân. 11. Nghiệp viên tịnh(cũng gọi Sự nghiệp viên mãn): Các vị Bồ tát làm tất cả việc ích lợi cho hàng Nhị thừa và phàm phu. 12. Lợi ích viên tịnh(cũng gọi Nhiếp ích viên mãn, Thuận nhiếp cụ túc): Tịnh độ này xa lìa tất cả phiền não, tai nạn và sự trói buộc của 3 cõi. 13. Vô bố úy viên tịnh(cũng gọi Vô úy viên mãn, Vô úy cụ túc): Tịnh độ này xa lìa sự xâm nhập quấy nhiễu của các loài ma như Thiên ma, Tử ma nên không có sợ hãi.14. Trụ xứ viên tịnh(cũng gọi Trụ xứ viên mãn, Trụ chỉ cụ túc): Tịnh độ này là nơi nương ở của Như lai, cũng là nơi nương ở có đầy đủ tất cả sự trang nghiêm thù thắng. 15. Lộ viên tịnh(cũng gọi Lộ viên mãn, Đạo lộ cụ túc): Tịnh độ này dùng 3 tuệ văn, tư, tu trong chính pháp Đại thừa làm con đường qua lại thông suốt. 16. Thừa viên tịnh(cũng gọi Thừa viên mãn, Thừa cụ túc): Tịnh độ này lấy Xa ma tha(Chỉ)và Tì bát xá na(Quán) làm đạo pháp sở thừa. 17. Môn viên tịnh (cũng gọi Môn viên mãn, Môn cụ túc): Tịnh độ này lấy 3 cửa giải thoátKhông,Vô tướng, Vô nguyện làm cửa đi vào. 18. Y chỉ viên tịnh(cũng gọi Y trì viên mãn, Y trụ viên tịnh, Y trì cụ túc): Tịnh độ này lấy Đại liên hoa vương có vô lượng công đức làm y chỉ. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.hạ; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.26; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.18].
thập bát vấn
Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận Tập II, Thập Bát Vấn của Phần Dương Thiện Chiểu là đường lối thực hành của giáo lý Thiền cho đến khoảng thế kỷ thứ mười. Phần Dương Thiện Chiểu sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười, là môn nhân của Thủ Sơn Tĩnh Niệm. Sự xếp loại trong Thập Bát Vấn tuy không có tính cách khoa học nhưng các câu hỏi rất là sáng sủa vì chúng phác họa cách thức học tập của Thiền thời bấy giờ—According to Zen Master D.T. Suzuki in the essays in Zen Buddhism, Book II, The Eighteen Kinds of Question, compiled by Shan-Chao of Fen-Yang, the way Zen teaching was practiced until about the tenth century. Fen-Yang-Shan-Chao lived at the end of the tenth century and was a disciple of Sheng-Nien of Shou-Shan. The classification in the work is unscientific but the “Questions” are illuminating in many ways as they illustrate how Zen was studied in those days. 1) Thỉnh Ích: Câu hỏi xin chỉ dạy. Thông thường là câu hỏi của đệ tử hỏi thầy, muốn hiểu rõ những vấn đề như Phật Đà, Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Tàu làm gì, yếu chỉ của Phật pháp, Pháp thân, vân vân: The question asking for instruction. This is what is generally asked by a novice of the master, wishing to be enlightened on such subjects as Buddha, the signification of Bodhidharma's visit to China, the essence of the Buddhist teaching, the Dharmakaya, etc. 2) Trình Giải: Người hỏi cầu xin thầy ấn chứng bằng cách bày tỏ điều kiện tinh thần của riêng mình. Một Thầy Tăng hỏi Triệu Châu: “Thầy nói gì với một người không mang cái gì hết?” Y đang phân tích tâm trạng của riêng mình. Triệu Châu đáp: “Thì cứ mang theo.”—The question in which the questioner asks for the master's judgment by describing his own mental condition. When a monk said to Chao-Chou, “What do you say to one who has nothing to carry about?” He was analyzing his own state of mind. To this Chao-Chou replied, “Carry it along.” 3) Sát Biện: Người hỏi muốn biết rõ lập trường của Bổn Sư. Một nhà sư đến kiếm Đồng Phong cư ngụ tại một thảo am trên núi, hỏi: “Nếu có con cọp bỗng nhiên hiện ra ở đây, thầy sẽ làm gì?” Am chủ liền rống lên như một con cọp; nhà sư kia có vẻ hoảng sợ; thấy thế am chủ cả cười ha hả: The question whereby the questioner attempts to see where the master stands. A monk came to Tung-Fêng who lived in a mountain hut and asked him, “If a tiger should suddenly appear here, what would you do?” The hut-keeper roared like a tiger; the monk behaved as if terrified; whereupon the keeper laughed heartily. 4) Đầu Cơ: Trong câu hỏi nầy, người hỏi cho thấy y vẫn còn có chỗ nghi ngờ về sự thành đạt của mình và y diễn tả ước muốn được xác chứng của mình. Một nhà sư hỏi Thiên Hoàng Đạo Ngộ: “Tôi phải làm gì khi bóng mờ của nghi tình chưa dứt?” Đạo Ngộ đáp: “Giữ lấy một cái cũng còn cách xa chỗ trúng.”—The question in which the questioner shows that he still has a doubt as to his attainment and expresses his desire for confirmation. A monk asked Tao-Wu of T'ien-Huang, “What shall I do when there is still a shadow of doubt?” Tao-Wu replied, “Even oneness when held on to is wide of the mark.” 5) Thiên Tích: Câu hỏi mà người hỏi nóng lòng muốn thấy ra thái độ của thầy. Một nhà sư hỏi Triệu Châu: “Vạn pháp quy nhất; nhất quy về đâu?” Triệu Châu nói: “Khi ở Thanh Châu, tôi có may được một chiếc áo nặng bảy cân.”—The question whereby the questioner is anxious to find out the master's attitude. A monk asked Chao-Chou, “All things are reducible to the One; but where is the One reducible?” Chao-Chou replied, “When I was in the district of Ch'ing I had a robe made that weighed seven pounds.” 6) Tâm Hành: Người hỏi vì không biết tiếp tục học Thiền như thế nào. Một nhà sư hỏi Hưng Hóa: “Kẻ học nầy không phân biệt nổi đen với trắng, xin sư soi sáng cho.” Câu hỏi vừa xong thì sư cho một tát bên thân: The question asked by one who is at a loss as to how to go on with his study of Zen. A monk asked Hsing-Hua: “I am unable to distinguish black from white. Pray enlighten me somehow.” The question was hardly out when the master gave him a good slashing. 7) Thám Bạt: Câu hỏi được hỏi với ý định thăm dò sở đắc của thầy. Loại câu hỏi nầy chắc chắn đã thịnh hành khi các Thiền viện được dựng lên khắp nơi và các nhà sư bái phỏng từ thầy nầy sang thầy khác. Một nhà sư hỏi Phong Huyệt: “Kẻ ấy không hiểu mà chưa từng có chút nghi, thế là làm sao?” Sư đáp: “Khi con linh qui trèo lên đất bằng, nó không thể không để lại dấu vết nơi đất bùn.”—The question asked with the intention to probe into the attainment of the master. This kind of question must have been in vogue when Zen monasteries were every where established and the monks travelled from one master to another. A monk asked Fêng-Hsueh, “How is it that one who understand not, never cherishes a doubt?” Fêng-Hsueh replied: “When a tortoise walks on the ground, he can not help leaving traces in the mud.” 8) Bất Hội: Hỏi vì không hiểu; ở đây có vẻ không khác với loại câu “Tâm Hành.” Một nhà sư hỏi Huyền Sa: “Tôi là một người mới nhập tòng lâm; mong sư chỉ thị tôi cần phải học tập như thế nào.” Huyền Sa đáp: “Nhà ngươi có nghe dòng suối rì rào kia chăng?” Vị sư đáp: “Bẩm, có!” Huyền Sa nói: “Vậy theo lối đó mà vào.”—The question of ignorance. This does not seem to differ from the sixth question. A monk asked Hsuan-Sha: “I am a new comer in the monastery; please tell me how to go on with my study.” Hsuan Sha replied: “Do you hear the murmuring stream?” The monk said: “Yes, master.” Hsuan-Sha said: “If so, here is the entrance.” 9) Kình Đảm: Người hỏi có quan điểm nào đó về Thiền và muốn biết nhận xét của thầy ra sao: “Tôi chẳng làm gì được với thế trí biện thông; xin sư cho một thoại đầu của Thiền.” Khi nhà sư hỏi như vậy, ông thầy liền giáng cho một đòn rất nặng: The question proposed by one who has his own view of Zen and wishes to see how the master takes it. A monk asked his master: “As to worldly knowledge and logical cleverness, I have nothing to do with them; please let me have a Zen theme.” The master gave him a hearty blow. 10) Trí: Trong câu hỏi nầy có đặc ra lời nói của một bậc lão túc. Một nhà sư hỏi Vân Môn: “Trừng mắt lên mà cũng không thấy bờ mé thì làm sao?” Vân Môn bảo: “Xem kìa?”—The question in which an ancient master's saying is referred to. A monk said to Yun-Mên: “What would one do when no boundaries are seen, however wide the eyes are open?” Said Yun-Mên: “Look!” 11) Cố: Câu hỏi có chứa đựng những lời nói trong kinh. Một nhà sư hỏi Thủ Sơn: Theo kinh nói hết thảy chúng sanh đều có Phật tính; vậy sao chúng sanh không biết?” Thủ Sơn đáp: “Biết chứ.”—The question containing words from the sutras. A monk asked Shou-Shan: “According to the sutra, all beings are endowed with the Buddha-nature; how is it then that they know it not?” Shou-Shan replied: “They know.” 12) Tá: Câu hỏi gồm có những đối chiếu với một sự thực đã biết. Một nhà sư hỏi Phong Huyệt: “Biển cả có châu làm sao nhặt được?” Phong Huyệt đáp: “Lúc Võng tượng đến chói chan ánh sáng; chỗ Li lâu đi sóng vỗ trùm trời. Càng cố giữ nó càng tan, càng cố thấy nó càng tối.”—The question containing references to a known fact. A monk asked Fêng-Hsueh: “The ocean is said to contain the precious gem; how can a man lay hands on it?” Fêng-Hsueh replied: “When Wang-Hsiang comes, its brightness is dazzling; when li-lou goes, the waves roll as high as the sky. The more one tries to take hold of, the farther it vanishes; the more one attempts to see it, the darker it grows.” 13) Thật: Câu hỏi bắt đầu bằng một lối nhận xét trực tiếp. Một nhà sư hỏi Tam Thánh: “Kẻ học nầy chỉ thấy Hòa Thượng là Tăng, đâu là Phật? Đâu là Pháp?” Tam Thánh đáp: “Đây là Phật, đây là Pháp, biết chăng?”—The question starts from an immediate fact of observation. A monk as San-Shêng: “I see that you belong to the Brotherhood, what is the Buddha? What is the Dharma?” San-Shêng replied: “This is the Buddha, this is the Dharma, do you know?” 14) Giả: Câu hỏi chứa đựng một trường hợp giả thiết. Một nhà sư hỏi Kính Sơn: “Đức Phật nầy ngồi trong Điện; cái nào là Đức Phật kia?” Kính Sơn đáp: “Đức Phật này ngồi trong Điện.”—The question containing a hypothetical case. A monk asked Ching-Shan: “This Buddha sits in the Hall; what is the other Buddha?” Ching Shan replied: “This Buddha sits in the Hall.” 15) Thẩm: Câu hỏi bộc bạch một nghi tình thực thụ. Một vị sư hỏi Tổ sư: “Hết thảy các pháp bản lai đều là hữu; như vậy cái gì là Vô?” Tổ sư đáp: “Câu hỏi của ngươi rất phân minh; hỏi ta làm gì?”—The question embodying a real doubt. A monk asked his master: “All things are such as they are from he beginning; what is that which is beyond existence?' The master replied with id solution: “Your statement is quite plain; what is the use of asking me?” 16) Trưng: Câu hỏi có ý định bức bách. Một vị sư hỏi Mục Châu: “Tổ sư từ Ấn sang đây để làm gì?” Mục Châu cắt nghĩa: “Hãy nói, để làm gì?” Vị sư không đáp. Mục Châu bèn đánh cho: The question with an aggressive intent. A monk asked Mu-Chou: “The Patriarch came from India and what did he design to do here?” Mu-Chou retorted: “You tell; what did he design?” The monk gave no reply, so Mu-Chou struck him. 17) Minh: Câu hỏi được nêu lên một cách đầy đủ và chính xác. Một triết gia ngoại đạo hỏi Phật: “Tôi không hỏi hữu ngôn hay vô ngôn.” Đức Phật ngồi im lặng. Triết gia nầy nói: “Đức Thế Tôn quả đại từ, đại bi. Ngài khơi sáng những mây mờ mê hoặc cho tôi, chỉ cho tôi lối vào Chánh đạo.”—The question plainly and straightforwardly stated. A non-Buddhist philosopher asked the Buddha: “Words or no-words, I ask neither.” The Buddha remained silent. The philosopher said: “The Blessed One is indeed full of mercy and compassion. He has cleared off clouds of confusion for my sake, showing me how to enter upon the path.” 18) Mặc: Câu hỏi không diễn thành lời. Một triết gia ngoại đạo đến kiếm Phật và đứng trước ngài mà không nói một tiếng. Phật liền bảo: “Quá nhiều rồi ông ơi!” Triết gia này tán thán Phật, nói: “Do lòng từ bi của Đức Thế Tôn mà nay tôi được vào Đạo.”—The question not expressed in words. A non-Buddhist philosopher came to the Buddha and stood before him without uttering a word. The Buddha then said, “Abundantly indeed, O philosopher!” The philosopher praised the Buddha saying, “It is all owing to the Blessed One's mercy that I now enter upon the path.”
; (十八問) Cũng gọi Phần dương thập bát vấn. Chỉ cho 18 câu hỏi mà những người học đặt ra khi tham vấn bậc thầy do Thiền sư Phần dương Thiện chiêu đời Tống chia làm 18 loại. (xt. Phần Dương Thập Bát Vấn).
thập bát vật
(十八物) Chỉ cho 18 thứ vật dụng mà vị tỉ khưu Đại thừa thường mang theo bên mình khi đi du phương khất thực. Đó là: 1. Dương chi: Tăm xỉa răng, dương chi còn có tác dụng giúp cho việc tiêu hóa. 2. Tảo đậu: Bột đậu xanh, đậuđỏ dùng để rửa tay(thời xưa chưa có xà phòng). 3. Tam y: Ba tấm áo ca sa. 4. Bình: Đồ đựng nước uống. 5. Bát: Tức bát đựng thức ăn. 6. Tọa cụ: Tấm vải để trải trên đất hay trên giường khi ngồi nằm. 7. Tích trượng: Cây gây trên đầu có đeo những cái vòng bằng kim loại. 8. Hương lư: Lò đốt hương. 9. Lộc thủy nang: Túi lọc nước may bằng vài lớp vải để lựa bỏ những con trùng trong nước trước khi dùng. 10. Thủ cân: Khăn lau tay. 11. Đao tử: Dao cạo râu tóc, cắt móng tay, cắt vải may vá... 12. Hỏa toại: Vật dùng để lấy lửa. 13. Nhiếp tử: Cái nhiếp dùng để nhổ lông mũi. 14. Thằng sàng: Giường bện bằng dây.15. Kinh Phật: Kinh mang theo để đọc tụng hằng ngày. 16. Luật: Giới bản. 17. Tượng Phật. 18. Tượng Bồ tát. Mười tám vật nói trên tỉ khưu Đại thừa phải giữ gìn, nếu thiếu 1 vật thì phạm tội khinh cấu; nếu lìa 3 áo thì phạm tội xả đọa, thuộc trọng cấu(tội nặng), lìa bát thì phạm tội đột cát la, thuộc về trung cấu (tội nặng vừa), ngoài ra đều thuộc khinh cấu(tội nhẹ). [X. kinh Phạm võng Q.hạ]. (xt. Lục Vật).
thập bát ý cận hạnh
(十八意近行) Gọi đủ: Thập bát ý cận hành thụ. Gọi tắt: Thập bát ý thụ, Thập bát ý hành. Chỉ cho 18 thứ cảm thụ dùng ý thức làm duyên gần mà sinh khởi. Tức 3 cảm thụ: Hỉ(mừng), ưu(lo), xả(không mừng không lo), lấy ý thức làm duyên gần, mỗi thụ đều hiện hành trong 6 cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp mà sinh khởi 18 cảm thụ. Sáu thứ hỉ ý cận hành theo thứ tự là Sắc hỷ ý cận hành cho đến Pháp hỉ ý cận hành; 6 thứ ưu ý cận hành theo thứ tự là Sắc ưu ý cận hành cho đến Pháp ưu ý cận hành và 6 thứ xả ý cận hành theo thứ tự là Sắc xả ý cận hành cho đến Pháp xả ý cận hành. [X. kinh Tạp a hàm Q.17; luận Đại tì bà sa Q.139].
thập bát đại kinh
(十八大經) Cũng gọi Thập bát chủng đại kinh, Thập bát chủng kinh thư, Thập bát đại luận, Thập bát minh xứ. Từ ngữ gọi chung 18 bộ kinh luận của ngoại đạo ở Ấn độ, tức 4 bộ kinh Phệ đà, 6 bộ luận và 8 bộ luận. Bốn kinh Phệ đà (Phạm:Veda) gồm: Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda), Dạ nhu phệ đà (Phạm: Yajurveda), Sa ma phệ đà (Phạm: Sama-veda) và A thát bà phệ đà (Phạm: Atharvaveda). Sáu luận (Phạm: Veda-aíga) gồm: Luận Thức xoa (Phạm:Zikwà), luận Tì già la (Phạm: Vyàkaraịa), luận Kha lạt ba (Phạm: Kalpa), luận Thụ để sa (Phạm: Jyotiwa), luận Xiển đà (Phạm: Chandas) và luận Ni lộc đa (Phạm: Nirukta). Tám luận gồm: Luận Kiên vong bà(có chỗ gọi là Mi vong bà), luận Na tà ni tát đa (Phạm: Naya-vistara?), luận Y để để ha bà (Phạm: Jtihàsa), luận Tăng khư (Phạm: Saôkhya), luận Khóa già (Phạm:Garga?), luận Đà nâu (Phạm: Dhanur), luận Kiện thát bà (Phạm:Gandharva) và luận A du (Phạm:Àyur-zàstra). [X. Bách luận sớ Q.thượng; Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện].
thập bát đạo
In the two mandala Vajradhàtu and Garbhadhàtu each has nine central objects of worship. The Shingon Chân ngôn disciple devotes himself to meditation on one of these eighteen each day.
; (十八道) Gọi đủ: Thập bát đạo ấn khế. Chỉ cho 18 ấn khế của Mật giáo. Vì tu 18 ấn ngôn(ấn khế và chân ngôn) có thể đạt đến ngôi vị giác ngộ của quả Phật, cho nên gọi là Thập bát đạo(đạo nhân); lại do 18 ấn khế đều là trí ấn quả địa nội chứng của Như lai, cho nên gọi là Thập bát quả(đạo quả). Có thuyết cho rằng Thập bát đạo là hành nghi chung của Kim cương đính thập bát hội; hoặc biểu thị cho Ngũ Phật tứ ba la mật(hoặc gọi là Cửu hội) Kim cương giới và Cửu tôn của viện Trung đài bát diệp Thai tạng giới để hiển bày ý nghĩa sâu xa của hành quỹ Kim cương, Thai tạng Lưỡng bộ bất nhị. Ngoài ra, trong Mật giáo, pháp tu kết 18 ấn khế cúng dường Bản tôn, gọi là Thập bát đạo pháp, gọi tắt là Thập bát.
Thập Bát Địa Ngục
(十八地獄): còn gọi là Thập Bát Tằng Địa Ngục (十八層地獄), Thập Bát Trùng Địa Ngục (十八重地獄), Thập Bát Nê Lê (十八泥犁). Theo truyền thuyết dân gian Trung Quốc, vua Diêm La (閻羅) là đứng đầu các địa ngục, 18 vị thuộc hạ Phán Quan Theo chủ quản 18 tầng địa ngục. Sau khi truyền vào nước này, Phật Giáo đã lấy tư tưởng này để dùng và giải thích về các tầng địa ngục. Mười Tám Tầng Địa Ngục trong Thập Bát Nê Lê Kinh (十八泥犁地獄) do An Thế Cao (安世高) nhà Đông Hán dịch, lấy sự dài ngắn, tội hình, đẳng cấp, sự nhẹ nặng trong thời gian thọ tội để bài liệt thành. Mỗi địa ngục so với địa ngục trước tăng thêm nỗi khổ lên 20 lần, tăng tuổi thọ thêm 1 lần. Mười Tám Tầng Địa Ngục này có âm dịch Phạn văn như: Quang Tựu Cư (光就居), Cư Hư Thối Lược (居虛倅略), Tang Cư Đô (桑居都), Lâu (樓), Phòng Tốt (房卒), Thảo Ô Ti Thứ (草烏卑次), Đô Lô Nan Đán (都盧難旦), Bất Lô Bán Hô (不盧半呼), Ô Cánh Đô (烏竟都), Nê Lô Đô (泥盧都), Ô Lược (烏略), Ô Mãn (烏滿), Ô Tạ (烏藉), Ô Hô (烏呼), Tu Kiện Cư (須健居), Mạt Đô Can Trực Hô (末都干直呼), Khu Thông Đồ (區通途), Trần Mạc (陳莫). Chữ “tầng (層)” trong Mười Tám Tầng Địa Ngục không phải chỉ cho phương trên dưới về mặt không gian, mà đối với thời gian cũng như hình pháp vốn bất đồng, cho nên nó có ý nghĩa về mặt thời gian nhiều hơn. Tầng địa ngục thứ nhất lấy tuổi thọ con người 3750 năm là 1 ngày, 30 ngày là 1 tháng, 12 tháng là 1 năm, tội quỷ chịu hình phạt ở chốn địa ngục này đến 1 vạn năm (tức 135 ức năm trên cõi người). Thời gian thọ hình phạt ở các tầng địa ngục sau thì lấy thời gian thọ hình ở đia ngục trước tăng lên gấp hai lần. Thuyết về Mười Tám Tầng Địa Ngục vốn phát xuất từ Bà La Môn Giáo của Ấn Độ ngày xưa và về sau có những thay đổi khác. Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經) quyển 5 có nêu rõ 18 loại địa ngục (s: naraka, niraya, p: niraya, 地獄) nhỏ như A Tỳ Địa Ngục (阿鼻地獄), 18 Địa Ngục Lạnh (十八寒地獄, Thập Bát Hàn Địa Ngục), 18 Địa Ngục Tối Tăm (十八黑闇地獄, Thập Bát Hắc Ám Địa Ngục), 18 Địa Ngục Nóng Ít (十八小熱地獄, Thập Bát Tiểu Nhiệt Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Đao (十八刀輪地獄, Thập Bát Đao Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Kiếm (十八劍輪地獄, Thập Bát Kiếm Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Xe Lửa (十八火車地獄, Thập Bát Hỏa Xa Địa Ngục), 18 Địa Ngục Phân Sôi (十八沸屎地獄, Thập Bát Phí Thỉ Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vạc Nước Sôi (十八鑊湯地獄, Thập Bát Hoạch Thang Địa Ngục), 18 Địa Ngục Sông Tro (十八灰河地獄, Thập Bát Hôi Hà Địa Ngục), 18 Địa Ngục Đá Nhọn (十八尖石地獄, Thập Bát Tiêm Thạch Địa Ngục), 18 Địa Ngục Hang Thép (十八鐵窟地獄, Thập Bát Thiết Quật Địa Ngục), 18 Địa Ngục Uống Nước Đồng (十八飲銅地獄, Thập Bát ẩm Đồng Địa Ngục), v.v. Trong Lương Thư (梁書) có kể câu chuyện Lưu Tát Hà (劉薩河) người Hồ do bị bệnh nặng mà chết, nhưng 10 ngày sau thì sống lại và ông tự cho rằng đã đi qua 18 tầng địa ngục. Như vậy, đến thời nhà Lương, tín ngưỡng về 18 tầng địa ngục đã rất thịnh hành và lưu truyền trong dân gian Trung Quốc. Ngoài ra, tên gọi của 18 tầng địa ngục này có khác nhau tùy theo các thư tịch kinh điển. Theo Gián Địa Ngục Kinh (間地獄經), 18 tầng địa ngục là Nê Lê Địa Ngục (泥犁地獄), Đao Sơn Địa Ngục (刀山地獄, Địa Ngục Núi Đao), Phí Sa Địa Ngục (沸沙地獄, Địa Ngục Cát Sôi), Phí Thỉ Địa Ngục (沸屎地獄, Địa Ngục Phân Sôi), Hắc Thân Địa Ngục (黑身地獄, Địa Ngục Thân Đen), Hỏa Xa Địa Ngục (火車地獄, Địa Ngục Xe Lửa), Hoạch Thang Địa Ngục (鑊湯地獄, Địa Ngục Vạc Nước Sôi), Thiết Sàng Địa Ngục (鐵床地獄, Địa Ngục Giưòng Sắt), Cái Sơn Địa Ngục (蓋山地獄, Địa Ngục Vung Núi), Hàn Băng Địa Ngục (寒冰地獄, Địa Ngục Băng Lạnh), Bác Bì Địa Ngục (剝河地獄, Địa Ngục Lột Da), Súc Sanh Địa Ngục (畜生地獄, Địa Ngục Súc Sanh), Đao Binh Địa Ngục (刀兵地獄, Địa Ngục Đao Binh), Thiết Ma Địa Ngục (鐵磨地獄, Địa Ngục Mài Sắt), Băng Địa Ngục (冰地獄, Địa Ngục Băng), Thiết Sách Địa Ngục (鐵册地獄, Địa Ngục Sách Sắt), Thư Trùng Địa Ngục (蛆蟲地獄, Địa Ngục Con Giòi), Dương Đồng Địa Ngục (烊銅地獄, Địa Ngục Nấu Đồng). Trong Thủy Lục Toàn Đồ (水陸全圖) có Bạt Thiệt Địa Ngục (拔舌地獄, Địa Ngục Kéo Lưỡi), Tiễn Đao Địa Ngục (剪刀地獄, Địa Ngục Dao Cắt), Thiết Thọ Địa Ngục (鐵樹地獄, Địa Ngục Cây Sắt), Nghiệt Kính Địa Ngục (孽鏡地獄, Địa Ngục Kính Yêu), Chưng Lung Địa Ngục (蒸籠地獄, Địa Ngục Lồng Hơi Nóng), Đồng Trụ Địa Ngục (銅柱地獄, Địa Ngục Trụ Đồng), Đao Sơn Địa Ngục (刀山地獄, Địa Ngục Núi Đao), Băng Sơn Địa Ngục (冰山地獄, Địa Ngục Núi Băng), Du Oa Địa Ngục (油鍋地獄, Địa Ngục Nồi Dầu), Ngưu Kháng Địa Ngục (牛坑地獄, Địa Ngục Hầm Trâu), Thạch Áp Địa Ngục (壓石地獄, Địa Ngục Đá Đè), Thung Cữu Địa Ngục (舂臼地獄, Địa Ngục Cối Xay), Huyết Trì Địa Ngục (血池地獄, Địa Ngục Hồ Máu), Uổng Tử Địa Ngục (枉死地獄, Địa Ngục Chết Uổng), Trách Hình Địa Ngục (磔刑地獄, Địa Ngục Phanh Thây), Hỏa Sơn Địa Ngục (火山地獄, Địa Ngục Núi Lửa), Thạch Ma Địa Ngục (石磨地獄, Địa Ngục Mài Đá), và Đao Cứ Địa Ngục (刀鋸地獄, Địa Ngục Cưa Dao). Tại thành của Phong Đô Quỷ (酆都鬼), hai bên đại điện của Thiên Tử có chia thành Đông Địa Ngục và Tây Địa Ngục. Đông Địa Ngục gồm Ma Thôi Địa Ngục (磨推地獄, Địa Ngục Mài Kéo), Oạt Tâm Địa Ngục (挖心地獄, Địa Ngục Móc Tim), Hỏa Lạc Địa Ngục (火烙地獄, Địa Ngục Áp Lửa), Hàn Thủy Địa Ngục (寒水地獄, Địa Ngục Nước Lạnh), Đao Sơn Địa Ngục (刀山地獄, Địa Ngục Núi Đao), Xa Liệt Địa Ngục (車裂地獄, Địa Ngục Xe Nghiền), Thư Trùng Địa Ngục (蛆蟲地獄, Địa Ngục Con Giòi), Bác Bì Địa Ngục (剝皮地獄, Địa Ngục Lột Da). Tây Địa Ngục có Đối Thung Địa Ngục (碓舂地獄, Địa Ngục Cối Xay), Cứ Giải Địa Ngục (鋸解地獄, Địa Ngục Cưa Xẻ), Du Oa Địa Ngục (油鍋地獄, Địa Ngục Nồi Dầu), Bạt Thiệt Địa Ngục (拔舌地獄, Địa Ngục Kéo Lưỡi), Bổ Kinh Địa Ngục (補經地獄, Địa Ngục Vá Dây), Chuyển Luân Địa Ngục (轉輪地獄, Địa Ngục Chuyển Luân), Súc Sanh Địa Ngục (畜生地獄, Địa Ngục Súc Sanh) và Hoạch Thang Địa Ngục (鑊湯地獄, Địa Ngục Vạc Nước Sôi).
thập bình đẳng tâm
Ten kinds of equanimity of great enlightening beings—See Mười Tâm Bình Đẳng Của Chư Đại Bồ Tát.
thập bất cầu hạnh
Mười hạnh không cầu để phá mười chướng ngại lớn, cũng như mọi trở ngại và cản trở khác—Ten non-seeking practices which help eliminate the ten major obstacles as well as all other obstructions and impediments—See Ten Non-seeking practices.
thập bất hối giới
Ten rules which produce regrets—See Mười Giới Bất Hối.
thập bất nhị môn
The school of the ten pairs of unified opposites founded by Kinh Khê Đại sư on the teaching of the Lotus sùtra. The unifying principle is that of the identity of contraries, and the ten apparent contraries are matter and mind sắc tâm bất nhị môn, internal and external nội ngoại bnm, practice and proof (or realization) tu tính bnm, cause and effect nhân quả bnm, impurity and purity nhiễm tịnh bnm, objective and subjective y chính bnm, self and other tự tha bnm, action speech and thought tam nghiệp bnm, relative and absolute quyền thật bnm, the fertilized and the fertilizer (i.e. receiver and giver) thụ nhuận bất nhị môn.
; (十不二門) I. Thập Bất Nhị Môn. Chỉ cho 10 pháp môn Bất nhị do tông Thiên thai lập ra để nêu rõ ý nghĩa đại cương của pháp Quán tâm. Tức ngài Trạm nhiên căn cứ vào Tích môn thập diệu trong Pháp hoa huyền nghĩa của Đại sư Trí khải mà lập ra 10 môn Bất nhị từ Sắc tâm bất nhị cho đến Thụ nhuận bất nhị, gọi là Thập bất nhị môn. Thông thường cho rằng Thập bất nhị môn không tương dung nhau mà đối lập nhau, nhưng đứng trên lập trường của Viên giáo Pháp hoa mà nhận xét thì Thập bất nhị môn là hiển bày sự viên dung lẫn nhau, một thể không tách rời. Bởi vậy, một niệm hiện thực của phàm phu tự vốn viên mãn tất cả pháp trong vũ trụ; nếu quán xét tự thân là Không, không có thực thể, chỉ là hiện tượng hư giả thì có thể ngộ nhập lí Thập diệu. Sự thành lập Thập bất nhị môn có thứ tự trước sau, nội dung đại để như sau: 1. Sắc tâm bất nhị môn: Được y cứ vào Cảnh diệu trong Thập diệu mà lập ra. Đối tượng quán chiếu của trí tuệ gồm thu trong một niệm. Phân tích ra thì có 2 loại là Sắc pháp và Tâm pháp. Nhưng vì tất cả pháp trong vũ trụ đều thu nhiếp vào trong một niệm của phàm phu nên nói ngoài tâm không có pháp. Ngoài ra, cho dù chỉ là một mảy bụi cũng viên mãn đầy đủ tất cả vũ trụ, cho nên nói Sắc pháp và Tâm pháp là bất nhị, không thể phân chia. 2. Nội ngoại bất nhị môn: Được y cứ vào Trí diệu và Hành diệu mà lập ra. Đối tượng do trí tuệ quán chiếu tuy có chia ra trong ngoài(một niệm tâm pháp ở bên trong thuộc chính mình và tất cả hiện tượng ở bên ngoài mình), nhưng nói theo lí Tam thiên, Tam đế thì thực không có phân biệt trong ngoài, cho nên gọi là Bất nhị. Cũng chính là 3 pháp:Tâm bên trong và Phật, chúng sinh bên ngoài viên dung nhau, bản chất không khác nhau. 3.Tu tính bất nhị môn: Được căn cứ vào Trí diệu và Hành diệu mà lập ra. Tính đức của một niệm xưa nay vốn đầy đủ tất cả, nhưng phải nhờ năng lực trí tuệ và sự tu hành thực tiễn của hậu thiên mới hiển hiện được, cho nên mối quan hệ giữa tính và tu hệt như mối quan hệ giữa nước vàsóng, tức là nương vào tu để tỏ tính, nương vào tính để khởi tu, cho nên là Bất nhị.4. Nhân quả bất nhị môn: Được căn cứ vào Vị diệu và Tam pháp diệu mà lập ra. Tuy do tu đức mà có nhân vị và quả vị khác nhau, nhưng đó cũng chỉ là 3 nghìn các pháp xưa nay sẵn đủ, về mặt hiện tượng tuy có sai khác, nhưng về mặt bản thể thì nhân và quả thực không khác nhau. 5. Nhiễm tịnh bất nhị môn: Được căn cứ vào Cảm ứng diệu và Thần thông diệu mà lập ra. Do nhân quả khác nhau nên có thể chia làm Nhiễm và Tịnh, nhưng đó cũng chỉ là 2 mặt loại trừ nhau và sử dụng nhau giữa pháp tính và vô minh. Cũng tức là khi pháp tính biến thành vô minh và tạo tác thì tạo ra 9 cõi mê, còn khi vô minh biến thành pháp tính mà tạo tác thì tùy duyên mà có tác dụng giáo hóa tự do tự tại, cho nên gọi là Nhiễm tịnh mê ngộ vô biệt. 6. Y chính bất nhị môn: Được căn cứ vào Cảm ứng diệu và Thần thông diệu mà lập ra. Đối với Tịnh đã nói trên, tuy có Phật thân chính báo(Tì lô giá na Phật) và Phật độybáo(Thường tịnh quang độ) khác nhau, nhưng đứng về mặt lí mà nói thì Y báo và Chính báo đã sẵn đủ trong nhất tâm, cho nên không có Y báo, Chính báo khác nhau. 7. Tự tha bất nhị môn: Được căn cứ vào Cảm ứng diệu và Thần thông diệu mà lập ra. Tự chỉ cho Phật thi hành giáo hóa, Tha chỉ chúng sinh được giáo hóa. Phật tùy theo căn cơ chúng sinh mà giáo hóa, chúng sinh cũng thuận theo sự giáo hóa của Phật, đó là vì chúng sinh xưa nay vốn đã sẵn đủ lí 3 nghìn, nên Phật mới dùng lí 3 nghìn làm quả và hoàn thành việc giáo hóa, cho nên sự cảm ứng của tự tha là bất nhị.8. Tam nghiệp bất nhị môn: Được căn cứ vào Thuyết pháp diệu mà lập ra.Đức Phật ắt dùng 3 nghiệp thân, khẩu, ý để giáo hóa chúng sinh, mà 3 nghiệp này không ngoài sự biểu hiện lí 3 nghìn sẵn có, lí 3 nghìn này không khác gì với lí 3 nghìn sẵn đủ của chúng sinh, vì thế 3 nghiệp của Phật và 3 nghiệp của chúng sinh không khác nhau mảy may. 9. Quyền thực bất nhị môn: Được căn cứ vào Thuyết pháp diệu mà lập ra. Tác dụng 3 nghiệp của Phật khi giáo hóa là tùy theo đối tượng mà giảng nói pháp phương tiện hay pháp chân thực nhưng 3 nghiệp của Phật thì thu nhiếp vào trong một niệm về lí là đồng nhất, cho nên Quyền pháp và Thực pháp do 3 nghiệp biểu hiện là bất nhị.10. Thụ nhuận bất nhị môn: Được căn cứ vào Quyến thuộc diệu và Lợi ích diệu mà lập ra. Đối với các căn cơ đại tiểu, quyền thực, đức Phật đều ban cho lợi ích quyền thực, nhưng chúng sinh nhận lãnh vốn có đủ các căn cơ phi quyền phi thực mà thành quyền thực, nên Phật ban cho cũng vốn đủ phi quyền phi thực để tùy theo các căn cơ quyền thực mà giáo hóa. Đây chính là cùng sinh ra trên mặt đất, cùng được thấm nhuần trong một trận mưa, cho nên gọi là Thụ nhuận bất nhị.[X. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao; Thập bất nhị môn luận giảng nghĩa]. II. Thập Bất Nhị Môn. Cũng gọi: Thập bất nhị môn nghĩa, Thập bất nhị môn luận, Bản tích bất nhị môn, Bản tích thập diệu bất nhị môn, Pháp hoa bản tích bất nhị môn, Pháp hoa thập diệu bất nhị môn, Diệu pháp liên hoa kinh bản tích thập diệu bất nhị môn, Pháp hoa huyền kí thập bất nhị môn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Kinh khê Trạm nhiên (711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Tác phẩm này là 1 tiết trong Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 14 của ngài Trạm nhiên. Đây là sách chú thích Bản tích thập diệu trong bộ Pháp hoa huyền nghĩa của ngài Trí khải. Nội dung chia làm 10 pháp môn có quan hệ đối nhau là Sắc tâm, Nội ngoại, Tu tính, Nhân quả, Nhiễm tịnh, Y chính, Tự tha, Tam nghiệp, Quyền thực và Thụ nhuận, trong mỗi pháp môn lại viện dẫn luận điểm của Chỉ quán để nói rộng về ý chỉ chủ yếu của Tam thiên, Tam đế mà xác lập nghĩa chân thực của 10 pháp môn như Bản tích bất nhị, Giáo quán nhất như, Giải hành song tu... Vì thế, có thể nói, sách này đã tổng quát tông thú Giáo quán giúp nhau trong 2 bộ sách chủ yếu của tông Thiên thai là Pháp hoa huyền nghĩa và Ma ha chỉ quán mà trở thành then chốt trong các sách vở của tông này. Vào đời Tống, tông Thiên thai hưng thịnh, sách này càng được các nơi suy tôn, quí trọng, các bậc danh đức tông Thiên thai như Nghĩa tịnh, Thanh nguyên, Tông dục, Tri lễ... đều đã thuyết giảng sách này nhiều lần. Tác phẩm này có rất nhiều sách chú thích, nổi tiếng hơn cả thì có: Thập bất nhị môn nghĩa, 1 quyển, của ngài Đạo thúy, Thập bất nhị môn thị châu chỉ, 2 quyển, của ngài Nguyên thanh, Thập bất nhị môn chú, 2 quyển, của ngài Tông dục, Thập bất nhị môn chỉ yếu sao, 2 quyển, của ngài Tri lễ.
thập bất nhị môn chỉ yếu sao
(十不二門指要鈔) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Tứ minh Tri lễ (959-1028) soạn vào đời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Đây là tác phẩm quan trọng chú giải Thập bất nhị môn của ngài Trạm nhiên được coi là giáo nghĩa chính thống của tông Thiên thai đời sau. Ngài Trạm nhiên đời Đường từng soạn Huyền nghĩa thích tiêm, giải thích Bản môn thập diệu và Tích môn thập diệu trong Pháp hoa huyền nghĩa của Đại sư Trí khải. Lại ấn hành riêng Thập bất nhị môn để giải thích rõ chữ Giải trong Tích môn thập diệu và chữ Hành trong Bản môn thập diệu, cả 2 đều quan trọng như nhau, không thể chỉ chú ý một bên nào. Ngoài ra còn có sách chú thích của phái Sơn ngoại. Ngài Tứ minh Tri lễ soạn Chỉ yếu sao này chính là để phê phán sự giải thích của phái Sơn ngoại, nhấn mạnh tính cách quan trọng của Thập bất nhị môn. Trong sách tuyên dương thuyết Tính cụ của tông Thiên thai, đặc biệt cho rằng đối cảnh của quán pháp chẳng những chỉ có chân tâm mà còn có cả vọng tâm.
Thập bất thiện
xem Mười điều ác.
thập bất thiện nghiệp
Daśakuśala-karma-pathani (S), Ten unwholesome karmas.
; Akusala-kammapatha (p)—Ten unwholesome courses of action—See Mười Bất Thiện Nghiệp Đạo.
Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo
(十不善業道): xem Thập Ác (十惡) bên trên.
thập bất tri cảnh
(十不知境) Chỉ cho 10 việc mà bậc Thánh chứng được quả vị Tiểu thừa không thể biết, vì chưa dứt được Bất nhiễmôvô tri. Mười việc ấy là: 1. Vị: Chỉ cho mùi vị của các pháp. 2. Thế: Thế lực của sự tăng tổn. 3. Thục: Sự thành thục của các vật. 4. Đức: Đức dụng của các vật. 5. Số: Chỉ cho số lượng của sự vật. 6. Lượng: Lượng lớn, nhỏ. 7. Xứ: Các nơi xa, gần. 8. Thời: Thời gian lâu, mau. 9. Đồng: Sự giống nhau giữa sự vật. 10. Dị: Sự khác nhau giữa sự vật. [X. Truyền thông kí nhu sao Q.6].
thập bất trung đạo
Mười điều phản bác Trung Đạo—Ten negations in five pairs: 1) Bất Sanh Bất Tử: Không sanh không chết—Neither birth nor death. 2) Bất Tuyệt Bất Hằng: Không đoạn không hằng—Neither end nor permanence. 3) Bất Đồng Bất Dị: Không giống không khác—Neither identity nor difference. 4) Bất Khứ Bất Lai: Không đến không đi—Neither coming nor going. 5) Bất Nhân Bất Quả: Không nhân không quả—Neither cause nor effect.
thập bất tăng trưởng nghiệp
(十不增長業) Chỉ cho 10 thứ nghiệp không thêm lớn. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 9 thì Thập bất tăng trưởng nghiệp là: 1. Mộng sở tác nghiệp: Nghiệp được tạo tác trong mộng, chẳng phải cố ý tạo tác, cũng chẳng phải do thân, khẩu gây ra, cho nênlàBất tăng trưởng nghiệp. 2. Vô tri sở tác nghiệp: Nghiệp do người không hay biết gây ra, không do ý tư duy sinh khởi. 3. Vô cố tư sở tác nghiệp: Nghiệp do thân, khẩu tạo tác một cách không cố ý, nghĩa là không có ý suy tính trước. 4. Bất lợi bất sác sở tác nghiệp: Các nghiệp tạo tác không vì lợi lộc, cũng không tạo tác luôn luôn. 5. Cuồng loạn sở tác nghiệp: Nghiệp thân, khẩu do người cuồng loạn, ngây dại tạo tác, vốn chẳng phải cố ý, cũng không hay biết. 6. Thất niệm sở tác nghiệp: Những việc do người đã mất chính niệm, cũng như người ngu si đần độn gây ra, không do ý thức phát khởi. 7. Phi nhạo dục sở tác nghiệp: Nghiệp tạo tác không phải do tâm ưa muốn thích làm.8. Tự tính vô kí nghiệp: Nghiệp do vô kí tính(tính không thiện không ác) gây ra. 9. Hối sở tổn nghiệp: Trước tạo nghiệp, sau sinh tâm hổ thẹn, ăn năn sửa đổi thành thiện, nghiệp được giảm nhẹ. 10. Đối trị sở tổn nghiệp: Nghiệp đã gây ra liền dùng phương tiện đối trị, nghiệp bị tổn giảm.
thập bất tịnh
Daśa-aśubha (S).
; (十不淨) Phạm: Daza-azubha. Pàli: Dasa-asubha. Chỉ cho 10 trạng thái dơ bẩn của xác chết từ sự rữa nát đến thành xương trắng. Đó là: Sình trướng, bầm xanh, thối rữa, nát vụn, chim thú ăn còn thừa, vung vãi, chém chặt lìa ra, máu me, dòi bọ và xương khô. Nếu thoát được sự đắm trước dục thể, quán xét 10 thứ bất tịnh của nhục thân thì gọi là Thập bất tịnh tưởng. [X. luận Thanh tịnh đạo 6; luận Giải thoát đạo Q.3].
thập bồ tát hạnh
See Mười Hạnh Bồ Tát and Thập Hạnh Bồ Tát.
thập cam lộ minh
(十甘露明) Cũng gọi Thập cam lộ chân ngôn A di đà đại chú, Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ thần chú, Vô lượng thọ Như lai căn bản đà la ni, A di đà đại đà la ni, A di đà đại thân chú, Cam lộ đà la ni chú. Chỉ cho chân ngôn của A di đà Như lai. Vì trong bài chú có 10 câu A mật lật đa, được dịch là cam lộ, cho nên gọi là Thập cam lộ minh. [X. Vô lượng thọ căn bản đà la ni trong Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ]. (xt. Cam Lộ).
Thập Can
(十干): Mười Can, còn gọi là Thiên Can (天干), là 10 yếu tố được giải thích theo thứ tự cách đọc âm của tiếng Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên, thuộc Ngũ Hành (五行), Ngũ Phương (五方), âm dương, gồm: (1) Giáp (甲, kō, jiǎ, gap, Mộc [木], đông, dương); (2) Ất (乙, otsu, yǐ, eul, Mộc, đông, âm); (3) Bính (丙, hei, bǐng, byeong, Hỏa [火], nam, dương); (4) Đinh (丁, tei, dīng, jeong, Hỏa, nam, âm); (5) Mậu (戊, bo, wù, mu, Thổ [土], trung ương, dương); (6) Kỷ (己, ki, jǐ, gi, Thổ, trung ương, âm); (7) Canh (庚, kō, gēng, gyeong, Kim [金], tây, dương); (8) Tân (辛, shin, xīn, sin, Kim, tây, âm); (9) Nhâm (壬, jin, rén, im, Thủy [水], bắc, dương); (10) Quý (癸, ki, guǐ, gye, Thủy, bắc, âm). Trong 10 Can này, Giáp-Kỷ, Ất-Canh, Bính-Tân, Đinh-Nhâm, Mậu-Quý tạo thành 5 nhóm, giữa hai Can ấy có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Khi hai Can này gặp nhau thì tạo thành nhất thể, được gọi là Can Hợp (干合). Từ mối quan hệ này quyết định vị trí của Đức Thần (德神, tức Tuế Đức Thần [歳德神]). Tự bản thân của những Can thuộc về dương là Đức Thần, riêng những Can thuộc về âm, là Can Hợp mới trở thành Đức Thần. Vào thời nhà Ân (殷, khoảng 1600-1046 tcn), người ta cho rằng có tồn tại 10 mặt trời, mỗi ngày thay nhau mọc, tuần hoàn trong 10 ngày và tương truyền 10 Can được đặt tên theo các mặt trời ấy. Mặt trời tuần hoàn trong 10 ngày được gọi là tuần (旬); các danh từ Thượng Tuần (上旬), Trung Tuần (中旬) và Hạ Tuần (下旬) cũng phát xuất từ đây. Thiên Can kết hợp với Địa Chi (地支, tức Thập Nhị Chi [十二支, Mười Hai Chi]), gồm Tý (子), Sửu (丑), Dần (寅), Mão (卯), Thìn (辰), Tỵ (巳), Ngọ (午), Mùi (未), Thân (申), Dậu (酉), Tuất (戌), Hợi (亥), được gọi là Can Chi (干支), được dùng để biểu thị lịch pháp, v.v. Cứ hai yếu tố Can thuộc một yếu tố của Ngũ Hành và tương đương với âm hay dương. Tại Nhật Bản, dương (陽) được xem là huynh (兄, anh), âm (陰) là đệ (弟, em); tỷ dụ như Giáp là “ki-no-e (木の兄, mộc huynh)”, Ất là “ki-no-to (木の弟, mộc đệ)”. Cách đọc chữ Can Chi (干支) là “eto (えと)” cũng phát xuất từ cách đọc “eto (えと)” của từ “huynh đệ (兄弟)”. Chư vị Thánh nhân cũng như các nhà thiên văn học Trung Quốc quan sát cho biết rằng Can Giáp tượng trưng cho khí trời mát mẻ, cây cỏ tươi tốt; Ất là khí trời ấm áp, chim chóc, sâu bọ nhảy hót; Bính là ánh mặt trời chiếu khắp, thường có ánh Thái Dương; Đinh là ánh nắng chói chan, gió nóng bức, cảm giác tỏa nóng; Mậu là vật đến cùng cực thì phản ứng lại, chuyển sang quá độ; Kỷ là khí nóng tăng dần, khí lưu chẳng ổn định; Canh là khí trời chuyển mát, dễ sanh gió và sương mù; Tân là khí trời trở lạnh, dễ đọng mưa móc; Nhâm là trời lên lạnh ngắt, nước tràn sông hồ; Quý là khí trời âm hàn, ẩm thấp, tối tăm.
thập chi
Mười nhánh ác—The ten branches of evils: (A) Thân Tam: See Thất Chi (A) in Vietnamese-English Section. (B) Khẩu Tứ: See Thất Chi (B) in Vietnamese-English Section. (C) Ý Tam: Three sins of the mind: 1) Tham: Greed. 2) Sân: Anger. 3) Si: Ignorance.
thập chi luận
(十支論) Cũng gọi Thập chi mạt luận, Thập chi. Chỉ cho 10 bộ luận lấy luận Du già sư địa làm gốc để trình bày các nghĩa lí chi phần. Đó là: 1. Luận Bách pháp minh môn: Cũng gọi luận Lược trần danh số, do ngài Thế thân soạn. 2. Luận Đại thừa ngũ uẩn: Cũng gọi luận Thô thích thể nghĩa, luận Y danh thích nghĩa, do ngài Thế thân soạn. 3. Luận Hiển dương thánh giáo: Cũng gọi luận Tổng bao chúng nghĩa, do ngài Vô trước soạn. 4. Luận Nhiếp đại thừa: Cũng gọi luận Quảng bao đại nghĩa, do ngài Vô trước soạn, có Thích luận(luận chú thích) của ngài Thế thân, Vô tính. 5. A tì đạt ma tập luận và Tạp tập luận: Tập luận do ngài Vô trước soạn, ngài Sư tử giác chú thích; còn Tạp tập luận thì do ngài An tuệ hợp chung Tập luận và bản chú thích của ngàiSư tử giác mà thành. 6. Luận Biện trung biên: Cũng gọi luận Li tịch chương trung, do bồ tát Di lặc soạn, ngài Thế thân làm Luận thích. 7. Luận Nhị thập duy thức: Cũng gọi luận Tồi phá tà sơn, do ngài Thế thân soạn, đồng thời viết Luận thích. 8. Luận Tam thập duy thức: Cũng gọi luận Cao kiến pháp chàng, do ngài Thế thân soạn bản tụng, 10 vị Luận sư như ngài Hộ pháp... viết Thích luận, nay chỉ còn bản tụng lưu hành ở đời. 9. Luận Đại thừa trang nghiêm: Cũng gọi luận Trang nghiêm thể nghĩa, do bồ tát Di lặc soạn bản tụng, ngài Thế thân làm Thích luận. 10. Luận Phân biệt du già: Cũng gọi luận Nhiếp tán qui quán, do bồ tát Di lặc soạn bản tụng, ngài Thế thân làm Thích luận. Trong 10 bộ luận trên đây, chỉ có luận Phân biệt du già là không được truyền dịch. Đến đời sau, có chỗ bỏ luận Nhiếp đại thừa mà thay bằng luận Chính lí môn của ngài Trần na, thành Thập chi luận. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1, phần đầu; Đại tạng pháp số Q.58].
thập chân như
The ten aspects of bhùtatathatà chân như.
thập chú
Ten Small Mantras: 1) Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni: As-You-Will Jewel King Dharani. 2) Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú: Disaster Eradicating Auspicious Spirit Mantra. 3) Công Đức Bảo Sơn Thần Chú: Meritorious Virtue Jewelled Mountain Spirit Mantra. 4) Phật Mẫu Chuẩn Đề Thần Chú: Jwun Ti Spirit Mantra. 5) Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Đà La Ni: The Resolute Light King Dharani of Holy Limitless Life. 6) Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn: Medicine Master's True Words for Anointing the Crown. 7) Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn: Kuan Shi Yin's Efficacious Response True Words. 8) Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn: The True Words of Seven Buddhas for Eradicating Offences. 9) Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú: Spirit Mantra For Rebirth in the Pure Land. 10) Thiện Thiên Nữ Chú: Good Goddess Mantra.
thập chướng
Ten hindrances; bodhisattvas in the stage of thập địa overcome these ten hindrances and realize the thập chân như. The hindrances are: (1) Dị sinh tính chướng, the common illusions of the unenlightened, taking the seeming for real; (2) Tà hạnh chướng, common unenlightened conduct; (3) Ám độn chướng, ignorant and dull ideas; (4) Tế hoặc hiện hành chướng, the illusion that things are real and have independant existence; (5) Hạ thừa Niết bàn chướng, the lower ideas in Hìnayàna of nirvàna; (6) Thô tướng hiện hành chướng, the ordinary ideas of the pure and impure; (7) Tế tướng hiện hành chướng, the idea of reincarnation; (8) Vô tướng gia hành chướng, the continuance of activity even in the formless world; (9) Bất dục hành chướng, no desire to act for the salvation of others; (10) Pháp vị tự tại chướng, non attainment of complete mastery of all things.
; Mười chướng ngại mà bất cứ Bồ Tát nào cũng đều phải vượt qua—Ten hindrances that any Bodhisattva must overcome before achieving enlightenment: 1) Dị sanh tánh chướng: Chướng ngại vì tưởng rằng những cái không thật là thật—The common illusions of the unenlightened, taking the seeming for real. 2) Tà hạnh chướng: Common unenlightened conduct. 3) Ám độn chướng: Ignorant and dull ideas. 4) Vi tế hiện hành phiền não chướng: The illusions that things are real and have independent existence. 5) Hạ thừa Niết bàn chướng: The lower ideals in Hinayana of nirvana. 6) Thô tướng hiện hành chướng: The ordinary idea of pure and impure. 7) Tế tướng hiện hành chướng: The idea of reincarnation. 8) Vô tướng gia hành chướng: The continuation of activity even in the formless world. 9) Lợi tha Bất dục hành chướng: No desire to act for the salvation of others. 10) Chư pháp vị đắc tự tại chướng: Non-attainment of complete mastery.
thập chỉ
(十指) I. Thập Chỉ. Mười ngón tay. Trong ấn Liên hoa hợp chưởng(chắp tay hoa sen) của Mật giáo, 10 ngón tay biểu thị 10 Ba la mật, 10 pháp giới. Kinh Nhiếp vô ngại cho rằng 5 ngón của bàn tay trái tượng trưng cho 5 trí của Thai tạng hải, còn 5 ngón của bàn tay phải thì tượng trưng cho 5 trí của Kim cương hải; tay trái là Định, tay phải là Tuệ, 10 ngón là 10 độ, hoặc 10 pháp giới, 10 chân như. Kinh Đại nhật quyển 3 cho tay trái biểu thị nghĩa Tam muội, tay phải biểu thị nghĩa Bát nhã, 10 ngón tay biểu thị đầy đủ nghĩa 10 Ba la mật, cũng ví dụ cho Nhất thiết trí ngũ luân. (xt. Tịnh Tam Nghiệp Ấn). II. Thập Chỉ. Mười ngón chân. Kinh Tịnh ấn pháp môn quyển 17 nói: Bồ tát Hải ý vâng lời Phật dạy, từ 10 ngón chân phóng ra 10 nghìn tia sáng.
Thập chỉ 十止
[ja] ジュウウシ jūshi ||| Equivalent to 十行. => Tương đương Thập hành.
thập chủng bất thiện nghiệp
Ten kinds of unwholesome karma—See Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam.
thập chủng bất tư nghị pháp
(十種不思議法) Chỉ cho 10 pháp không thể nghĩ bàn của đức Phật, có 2 thuyết: I. Theo phẩm Như lai bất tư nghị trong kinh Đại thừa Bồ tát tạng chính pháp quyển 7 thì 10 pháp ấy là: 1. Thân tướng tối thắng không thể nghĩ bàn.2. Âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn.3. Đại trí tột cùng không thể nghĩ bàn. 4. Ánh sáng mầu nhiệm không thể nghĩ bàn.5. Giới định tròn đầy không thể nghĩ bàn.6. Thần túc rộng lớn không thể nghĩ bàn.7. Mười thứ trí lực không thể nghĩ bàn. 8. Bốn vô sở úy không thể nghĩ bàn. 9. Tâm đại từ bi không thể nghĩ bàn. 10. Bất cộng Phật pháp không thể nghĩ bàn.II. Theo phẩm Phật bất tư nghị pháp trong kinh Hoa nghiêm quyển 30 (bản dịch cũ) thì 10 pháp là: 1. Cõi nước của chư Phật không thể nghĩ bàn.2. Thệ nguyện thanh tịnh của chư Phật không thể nghĩ bàn. 3. Chủng tính của chư Phật không thể nghĩ bàn. 4. Chư Phật xuất thế không thể nghĩ bàn. 5. Pháp thân của chư Phật không thể nghĩ bàn. 6. Âm thanh của chư Phật không thể nghĩ bàn. 7. Trí tuệ của chư Phật không thể nghĩ bàn.8. Thần lực tự tại của chư Phật không thể nghĩ bàn. 9. Sự an trụ vô ngại của chư Phật không thể nghĩ bàn. 10. Sự giải thoát của chư Phật không thể nghĩ bàn.
thập chủng bất tịnh
(十種不淨) Mười thứ bất tịnh ghi trong luận Thuyết pháp minh nhãn quyển thượng, đó là: 1. Thân bất tịnh: Vì thân ở trong bùn nhơ sinhtử nên là bất tịnh. 2. Khẩu bất tịnh: Miệng nói những lời phiền não, hí luận nên là bất tịnh. 3. Ý bất tịnh: Ý sinh khởi các niệm xấu ác, vọng tưởng bất tịnh. 4. Hành bất tịnh: Du hành trong các cõi uế tạp của 6 đường luân hồi. 5. Trụ bất tịnh: Ở trong nhà lửa 3 cõi, trôi lăn sống chết. 6. Tọa bất tịnh: Ngồi trong ngục sinh tử nhơ nhớp. 7. Ngọa bất tịnh: Nằm trong nhà trọ của 4 khổ vô thường. 8. Tự hành bất tịnh: Không tu hành tính giới chân truyền của Như lai, chỉ giữ các giới phương tiện thô thiển. 9. Hóa tha bất tịnh: Dạy người chỉ chăm hành trì những điều thiện của môn phương tiện tạm thời một cách uổng công. 10. Sở kì bất tịnh: Chỉ mong cầu quả hữu lậu bất tịnh.
thập chủng bổ đặc già la
(十種補特伽羅) Bổ đặc già la, Phạm:Pudgala. Hán dịch: Hữu tình. Cũng gọi Nhân(người). Loài hữu tình tội nghiệp sâu nặng, luân hồi sinh tử khó được thân người, vì thế Phật nói 10 loại khác nhau. Đó là: 1. Bất chủng thiện căn: Chỉ cho các hữu tình trong đời trước cũng như trong đời hiện tại không trồng căn lành bồ đề, chỉ làm các việc tệ ác. 2. Vị tu phúc nghiệp: Các hữu tình chưa từng tu các nghiệp phúc đức như bố thí, trì giới... phần nhiều là làm những việc ác. 3. Tạp nhiễm tương tục: Bị tham, sân, si tạp loạn làm cho nhơ nhớp, nối tiếp không dứt. 4. Tùy ác hữu hành: Thuận theo bạn ác, quen làm các việc xấu xa. 5. Bất úy hậu thế khổ quả: Không sợ quả khổ đời sau. Nghĩa là chỉ gây nghiệp ác mà không sợ quả báo khổ đau, sống chết ở vị lai. 6. Mãnh lợi tham dục: Tham muốn mạnh mẽ. Nghĩa là tham cầu các dục lạc không biết chán đủ. 7. Mãnh lợi sân khuể: Giận dữ mạnh mẽ. Nghĩa là khi gặp nghịch cảnh thì nổi cơn thịnh nộ mà không biết kiềm chế. 8. Mãnh lợi ngu si: Ngu si cùng cực. Nghĩa là không rõ các cảnh mê hoặc, khởi các tà kiến, miệt thị chính pháp. 9. Kì tâm mê loạn: Trong tâm mê loạn: Không làm chủ được tâm mình, mê hoặc cuồng loạn, tạo các nghiệp bất thiện. 10. Thủ ác tà kiến: Chấp chặt kiến giải tà ác, không tin chính pháp Như lai. [X. kinh Địa tạng thập luân Q.5].
thập chủng cảnh giới
(十種境界) Cũng gọi Thập chủng chứng tướng. Gọi tắt: Thập cảnh giới. Chỉ cho 10 cảnh giới do bồ tát Viên giáo giai vị Thập tín chứng được, nói trong Pháp hoa tam đại bộ độc giáo kí quyển 5, đó là: 1. Thấy các việc do thần lực hóa hiện. 2. Thấy các hóa sự biến hiện. 3. Thấy bồ tát Phổ hiền thuyết pháp. 4. Thấy Phật ở phương đông. 5. Thấy Phật trong 10 phương. 6. Thấy các cõi Phật ở 10 phương. 7. Thấy Phật và các cõi nước. 8. Thấy đức Thế tôn ngồi trên tòa. 9. Thấy phân thân của đức Thích ca. 10. Thấy tháp Phật Đa bảo. Trong giai vị Thập tín, mỗi mỗi giai vị đều có 10 cảnh giới, tổng cộng thành 100 pháp, 100 pháp này chính là căn bản của tất cả pháp môn về sau. [X. kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, thượng; Tứ giáo nghĩa Q.6].
thập chủng diễn thuyết
(十種演說) Mười đề tài mà ngoại đạo Biến hành đã diễn nói cho đồng tử Thiện tài nghe, đó là: 1. Diễn nói các thứ nghề nghiệp ở thế gian, khiến chứng được đầy đủ tất cả trí xảo đà la ni. 2. Diễn nói về 4 nhiếp phương tiện, khiến chứng được đầy đủ tất cả trí đạo. 3. Diễn nói các pháp Ba la mật, khiến hồi hướng tất cả trí vị. 4. Khen ngợi tâm đại bồ đề, khiến không mất đạo ý vô thượng. 5. Khen ngợi các hạnh Bồ tát, khiến đầy đủ nguyện tịnh Phật quốc độ, hóa độ chúng sinh. 6. Diễn nói về việc tạo các nghiệp ác, sẽ phải chịu các khổ báo ở địa ngục... khiến sinh tâm chán lìa ác nghiệp. 7. Diễn nói về việc cúng dường chư Phật, trồng các căn lành, quyết định được quả Nhất thiết trí, khiến phát khởi tâm vui mừng. 8. Tán thán tất cả công đức của Như lai ứng chính đẳng giác, khiến ưa thích thân Phật, cầu nhất thiết trí. 9. Ngợi khen uy đức của chư Phật, khiến nguyện được thân Phật bất hoại. 10. Ngợi khen thân tự tại của Phật, khiến cầu thể đại uy đức của Như lai không gì che phủ được. [X. kinh Hoa nghiêm Q.67 (bản dịch mới)].
thập chủng giáo thể
(十種教體) Mười thể tính của giáo nói trong Hoa nghiêm huyền đàm của ngài Trừng quán. 1. Âm thanh ngôn ngữ thể: Lấy ngữ nghiệp làm giáo thể, tức lấy ngôn từ luận thuyết của Phật làm giáo thể. 2. Danh cú văn thân thể: Y cứ vào sự kiện mà lập danh(danh từ), nhiều danh hợp lại thành cú(câu nói), hợp các nghĩa củacáccâu nói lại thành văn; thân có nghĩa tụ tập, dùng 3 cách này làm thể để giảng rõ giáo pháp. 3. Thông thủ tứ pháp thể: Lấy chung 4 pháp: Thanh, danh, văn và cú làm thể. 4. Thông nhiếp sở thuyên thể: Gom chung những nghĩa lí đã được trình bày rõ ràng làm giáo thể. 5. Chư pháp hiển nghĩa thể: Lấy tất cả các pháp thế gian tỏ rõ được nghĩa lí làm giáo thể. 6. Nhiếp cảnh vi tâm thể: Thu nhiếp các cảnh làm tâm thể. Nghĩa là 5 pháp trước chỉ do tâm hiển hiện, cho nên lấy nhất tâm làm giáo thể. 7. Hội duyên nhập thực thể: Hợp các duyên vào thực thể. Nghĩa là gom chung 6 môn trước vào Nhất thực và lấy đó làm giáo thể. 8. Lí sự vô ngại thể: Lấy chân như làm lí, giáo pháp làm sự, cả 2 không ngăn trở nhau, cho nên được dùng làm giáo thể. 9. Sự sự vô ngại thể: Văn viên thì nghĩa cũng viên, đều đầy đủ 10 huyền môn, nên được dùng làm giáo thể. 10. Hải ấn bính hiện thể: Thể Hải ấn hiện rõ. Nghĩa là dùng tam muội Hải ấn của Như lai làm giáo thể. Hoa nghiêm huyền đàm quyển 7 phân tích thêm, cho rằng 5 giáo thể trước chỉ bao hàm Thể, 5 giáo hàm sau thì bao hàm cả Thể và Tính; 4 loại trước chung cho cả Tiểu thừa, 6 loại sau chỉ thuộc Đại thừa; 7 loại trước chung cho cả Tam thừa, 3 loại sau chỉ thuộc Nhất thừa; 8 loại trước chung cho nghĩa Đồng giáo nhất thừa, 2 loại sau thì thuộc nghĩa Biệt giáo nhất thừa.
thập chủng hoá bất thất thời
(十種化不失時) Chỉ cho 10 cách giáo hóa do đức Phật đáp ứng đúng với thời và cơ của chúng sinh mà thực hiện, không để lỡ mất. Đó là: 1. Thành đẳng chính giác hóa bất thất thời: Như lai xuất hiện trong thế gian, sau khi thành Phật đạo, tùy cơ ứng cảm, thích hợp duyên mà thực hiện việc giáo hóa. 2. Thành thục hữu duyên hóa bất thất thời: Duyên đã chín mùi thì giáo hóa, không để lỡ mất. Nghĩa là khi Như lai biết rõ thiện căn của chúng sinh đã thành thục, thì tùy thời hóa độ, khiến đều được giải thoát. 3. Thụ Bồ tát kí hóa bất thất thời: Giáo hóa để trao kí biệt cho Bồ tát không để lỡ mất thời. Nghĩa là khi biết rõ các vị Bồ tát đã trải qua nhiều kiếp tu phạm hạnh, công nghiệp thành tựu, Như lai liền thụ kí thành Phật cho các vị Bồ tát ấy. 4. Thị hiện thần lực hóa bất thất thời: Thị hiện năng lực thần thông mà giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là Như lai tùy theo chỗ ưa thích của chúng sinh mà thị hiện năng lực uy thần, khiến họ sinh tâm tin ưa mà được khai ngộ. 5. Thị hiện Phật thân hóa bất thất thời: Thị hiện thân Phật mà hóa độ, không để lỡ thời. Nghĩa là Như lai thuận theo điều chúng sinh ưa thích, hiện thân tướng tốt đẹp, khiến đều được lợi lạc. 6. Trụ ư đại xá hóa bất thất thời: Trụ nơi tâm đại xả mà giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là Như lai tu hạnh tùy thuận vô trước, có tâm đại xả, tùy duyên giáo hóa lợi ích tất cả chúng sinh, không hề có ý tưởng năng hóa(người giáo hóa)và sở hóa(người được giáo hóa). 7. Nhập chư tụ lạchóabất thất thời: Vào các xóm làng giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là vì lòng đại bi, Như lai tùy duyên nhiếp hóa, đi vào khắp thành ấp, xóm làng, mang lợi ích đến cho tất cả.8. Nhiếp chư tịnh tín hóa bất thất thời: Giáo hóa những người có lòng tin thanh tịnh không để lỡ mất thời. Nghĩa là Như lai có trí tuệ vô ngại, biết rõ tâm thanh tịnh của chúng sinh và tùy duyên nhiếp hóa.9. Điều ác chúng sinh hóa bất thất thời: Điều phục, giáo hóa những chúng sinh bạo ác, không để lỡ thời. Nghĩa là Như lai dùng năng lực uy thần lớn, điều phục các chúng sinh bạo ác, khiến chúng bỏ ác tu thiện, không để lỡ thời cơ. 10. Hiện Phật thần thông hóa bất thất thời: Hiện thần thông của Phật mà giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là năng lực thần thông mà Như lai thị hiện không thể nghĩ bàn, chỉ trong một niệm có thể làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, không mất thời cơ.
thập chủng hạnh
(十種行) Cũng gọi Tọa thiền nhân thập chủng hành. Mười hạnh của người tọa thiền nói trong phẩm Hành môn luận Giải thoát đạo quyển 4, đó là: 1. Linh quán xứ minh tịnh: Quán xứ phải trong sáng. Nghĩa là người ngồi thiền muốn có hiệu quả trước hết phải ăn uống điều độ, không no không đói, kế đến phải tùy thuận thời tiết, không sớm không trễ và chỉnh đốn uy uy, không được biếng nhác; tu 3 hạnh này phải dụng tâm quán xét rõ ràng thì các duyên dứt bặt, tâm thường vắng lặng, an trụ trong thiền định. 2. Biến khởi quán chư căn: Khởi quán khắp các căn. Nghĩa là người ngồi thiền muốn có hiệu quả thì phải quán xét khắp 5 căn tín, tiến, niệm, định, tuệ, không để lui mất, tương ứng với định, tâm không biếng nhác, liền xa lìa các lỗi nghi, cái... Tam muội được hiện tiền. 3. Hiểu liễu ư tướng: Hiểu tướng rõ ràng. Nghĩa là người tọa thiền muốn đạt được định thì phải hiểu rõ tướng tưởng nghĩ của ý thức, khiến không nhanh không chậm, điều hòa vừa phải thì không sinh vọng tưởng, dễ vào thiền định. 4. Chế linh tâm điều: Chế phục khiến tâm điều hòa. Nghĩa là người ngồi thiền muốn đạt được định thì phải tinh tiến chế phục tâm mình, điều hòa thích đáng, không để quá độ khiến tâm tán loạn thì được tướng định hiện tiền, Tam muội thành tựu. 5. Chiết phục giải đãi: Khắc phục tính lười biếng. Nghĩa là người tọa thiền nếu vì không được thắng định nên tâm mất hứng thú, trở thànhbiếngnhácmà muốn ngủ nghỉ thì lúc đó phải quán xét kĩ công đức các thiền định, hăng hái tiến tới, tướng định sẽ hiện tiền, đạt được Tam muội. 6. Tâm vô vị trước: Tâm không hứng thú ưa thích. Nghĩa là người ngồi thiền, vì tuệ căn chậm lụt lại ít phương tiện, không được tịch lặng, cho nên đối với thắng định tâm không có hứng thú và ưa thích. 7. Tâm hoan hỉ: Tâm vui mừng. Nghĩa là người tọa thiền, đối với thắng định, nếu tâm không ưa thích thì nên quán sinh, lão, bệnh, tử và các đường ác khiến tâm sợ hãi, sau đó nghĩ đến các công đức của Phật, pháp, tăng, khích lệ thân tâm, làm cho vui mừng mong được thiền định. 8. Tâm định thành xả: Tâm định xả bỏ. Nghĩa là người tu thiền muốn đạt được định thì phải điều phục các căn, tư duy đúng như lí, tâm an trụ trong vắng lặng (định), xả bỏ tất cả hạnh không chân chính. 9. Cận học định nhân: Gần gũi người tu định. Nghĩa là người tọa thiền phải xa lìa những người không tu uy nghi, không tập tịch tĩnh, mà thường gần gũi những người an trụ trong vắng lặng, uy nghi chỉnh tề, nguồn tâm thanh tịnh, tịch tĩnh; nên nghe theo lời răn dạy của những người này để thành tựu đạo nghiệp chính định. 10. Nhạo trước an định: Ưa thích sự an định. Nghĩa là người tọa thiền muốn đạt được định thì đối với những người đã được định thiện, hiểu rõ duyên khởi, trụ trong yên lặng, nên ngưỡng mộ cung kính, mong được chỉ bảo để khởi tâm định.
thập chủng hữu y hành luân
(十種有依行輪) Chỉ cho 10 hành nghiệp nếu chúng sinh nương nhờ vào mà tu hành đạo Bồ đề thì có thể phá dẹp được tất cả phiền não hoặc nghiệp. Hữu y hành là hành nghiệp có thể nương tựa được; Luân là bánh xe, có nghĩa phá dẹp. Mười hành nghiệp ấy là: 1. Cụ túc tịnh tín: Đầy đủ lòng tin thanh tịnh. 2. Cụ túc tàm quí: Đầy đủ tâm hổ thẹn. 3. An trụ luật nghi: Thu nhiếp thân, khẩu, ý, an trụ trong giới luật thanh tịnh. 4. An trụ từ tâm: An trụ nơi tâm từ bình đẳng. 5. An trụ bi tâm: An trụ trong bi tâm bình đẳng. 6. An trụ hỉ tâm: An trụ trong tâm vui mừng. 7. An trụ xả tâm: An trụ trong tâm xả bỏ.8. Cụ chính qui y: Đầy đủ qui y chân chính. Nghĩa là khi mới phát tâm tu hành, phải nương tựa vào Tam bảo Phật, Pháp, Tăng. 9. Cụ túc tinh tiến: Đầy đủ tinh tiến. Nghĩa là phải luôn tinh tiến, siêng chăm tu học.10. Thường nhạo tịch tĩnh: Thường ưa thích sự vắng lặng. Nghĩa là thường một lòng lặng lẽ, tư duy đúng như lí để dứt mọi vọng tưởng.
thập chủng không tướng hồi hướng tâm
(十種空相回向心) Chỉ cho 10 tướng Không mà Bồ tát ở giai vị Vô tận công đức tạng hồi hướng trong Thập hồi hướng biết rõ khi dùng tất cả thiện căn quán xét về chỗ mình hồi hướng. Mười tướng Không ấy là: 1. Rõ biết tất cả thế giới chúng sinh không có chúng sinh. 2. Biết tất cả pháp không thọ mệnh. 3. Biết tất cả pháp không có người tạo tác.4. Ngộ tất cả pháp không có ngã(bổ đặc già la). 5. Rõ biết tất cả pháp không có tức giận, tranh cãi. 6. Quán tất cả pháp đều do nhân duyên sinh, không có trụ xứ. 7. Biết tất cả vật đều không có chỗ nương. 8. Rõ biết tất cả các cõi đều không có chỗ trụ. 9. Quán tất cả hạnh Bồ tát đều không nơi chỗ. 10. Thấy tất cả cảnh giới đều không có.
thập chủng kiến
(十種見) Chỉ cho 10 thứ tà kiến nói trong luận Du già sư địa quyển 8, đó là: 1. Tát ca da kiến, Hán dịch:Thân kiến. Nghĩa là trong 5 uẩn vọng sinh chấp trước, chấp có ngã(ta)và ngã sở(của ta). 2. Biên kiến: Người ngoại đạo đối với thân 5 uẩn khởi chấp đoạn chấp thường, chấp một bên nào thì ngã kiến cũng tăng trưởng. 3. Tà kiến: Người ngoại đạo không rõ nhân quả của pháp Tứ đế, tà tâm suy tính, cho rằng không có lí ấy, dứt mất căn lành xuất thế gian. 4. Kiến thủ kiến: Đối với 62 kiến chấp, ngoại đạođềucho mỗi mỗi kiến chấp của mình là tối thượng, là thắng diệu, là chân thực, ngoài ra đều là hư vọng, hơn nữa còn cho rằng nhờ kiến chấp này mà được thanh tịnh giải thoát. 5. Giới cấm thủ kiến: Ngoại đạo đối với các giới mình thụ trì vọng chấp cho là tối thượng, là thắng diệu, là chân thực, ngoài ra đều hư dối, hơn nữa còn cho rằng nhờ thụ trì giới này mà được thanh tịnh giải thoát. 6. Tham kiến: Đối với tất cả cảnh vừa ý ở cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc đều đắm trước, bám lấy mà khởi các kiến chấp. 7. Khuể kiến: Đối với tất cả cảnh trái ý thì nổi tâm tức giận, làm hại các hữu tình khác, đối với những việc mà người khác ưa thích không khởi tâm giúp đỡ, lại làm các việc mà người khác không ưa thích. 8. Mạn kiến: Tâm sinh kiêu mạn, cho mình là hơn tất cả mọi người. 9. Vô minh kiến: Không biết gì về lí chân thực, chỉ chấp chặt tà kiến. 10. Nghi kiến: Đối với lí của các đế, tâm do dự, không quyết định.
thập chủng kiến phật
(十種見佛) Bồ tát tu hạnh thù thắng, hợp với hạnh Phật, được thấy 10 Phật, phân minh, rõ ràng, gọi là Thập chủng kiến Phật. Cứ theo phẩm Li thế gian trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 51 thì Thập chủng kiến Phật là: 1. An trụ thế gian thành chính giác Phật vô trước kiến: Như lai nương đạo như thực thị hiện thành Chính giác, an trụ ở thế gian, không đắm trước Niết bàn, không đắm trước sinh tử, Bồ tát thấy không đắm trước như Phật. 2. Nguyện Phật xuất sinh kiến: Như lai nương nguyện mà xuất sinh, không chỗ nào không hiện, Bồ tát thấy xuất sinh như Phật.3. Nghiệp báo Phật thâm tín kiến: Như lai tu nhân thiện nghiệp muôn hạnh, cảm được quả báo tướng hảo trang nghiêm, quả báo của tịnh nghiệp này đều từ thâm tín trong nhân mà khởi, Bồ tát thấy thâm tín như Phật. 4. Trụ trì Phật tùy thuận kiến: Như lai tùy thuận chúng sinh, dùng thân xá lợi trụ ở thế gian, mãi mãi không hoại, Bồ tát thấy tùy thuận như Phật. 5. Niết bàn Phật thâm nhập kiến: Như lai nhờ đi sâu vào cảnh giới sinh tử niết bàn nên hóa thân của ngài có năng lực thị hiện diệt độ, Bồ tát thấy thâm nhập như Phật.6. Pháp giới Phật phổ chí kiến: Thân Như lai đầy khắp pháp giới thanh tịnh, đến tất cả mọi nơi, Bồ tát thấy đến khắp như Phật.7. Tâm Phật an trụ kiến: Tâm Như lai vắng lặng bất động, an trụ trong chân tính, Bồ tát thấy an trụ như Phật. 8. Tam muội Phật vô lượng vô y kiến: Tam muội vô lượng thanh tịnh của Như lai, vô niệm vô y, thường hiện ở trước, Bồ tát thấy vô lượng vô y như Phật. 9. Bản tính Phật minh liễu kiến: Chân tính bản giác của Như lai thanh tịnh vắng lặng, rỗng suốt rõ ràng, Bồ tát thấy rõ ràng như Phật. 10. Tùy nhạo Phật phổ thụ kiến: Như lai tùy ý ưa thích của mình và người khác, ban cho tất cả thân, Bồ tát thấy ban cho khắp như Phật.
thập chủng như lai tạng
(十種如來藏) Mười loại Như lai tạng do luận Thích ma ha diễn quyển 2 căn cứ vào thuyết Như lai tạng của luận Đại thừa khởi tín mà lập riêng. Đó là: 1. Đại tổng trì Như lai tạng: Tạng này tóm thu tất cả các tạng, viên mãn bình đẳng, là gốc của tất cả Như lai tạng. 2. Viễn chuyển viễn phược Như lai tạng: Như lai tạng này không có nhân mê lầm, quả mê lầm, cũng không có nhân giác ngộ, quả giác ngộ, chỉ 1 vị thanh tịnh, viên mãn.3. Dữ hành dữ tướng Như lai tạng: Tạng này có công năng phát sinh sức lưu chuyển, che phủ pháp thân Như lai. 4. Chân như chân như Như lai tạng: Tạng này chỉ có chân như chứ không có gì khác, chẳng phải chỗ sở chứng của trí chính thể mà cũng chẳng phải cảnh sở duyên của ý thức. 5. Sinh diệt chân như Như lai tạng: Tạng này chính là chân như bất sinh bất diệt bị sinh diệt làm nhiễm ô, vì thế gọi là Sinh diệt chân như Như lai tạng. 6. Không Như lai tạng: Tất cả pháp nhiễm ô là huyễn hóa sai biệt, thể dụng không thật, tác dụng chẳng phải chân, cho nên gọi là Không. Cái Không này có công năng che phủ thực đức chân thể của Như lai, nên gọi là Không như lai tạng. 7. Bất không Như lai tạng: Tức tất cả pháp thanh tịnh xa lìa hư ngụy, thể dụng đều chân thực, gọi là Bất không. Bất không này thường bị cái Không làm ô nhiễm. 8. Năng nhiếp Như lai tạng: Tức tâm tự tính thanh tịnh trong Vô minh tạng có công năng thu nhiếp tất cả mọi công đức.9. Sở nhiếp Như lai tạng: Tức tạng ra khỏi tất cả các nhiễm pháp vô minh và được bậc giác ngộ viên mãn nhiếp trì. 10. Ẩn phú Như lai tạng: Pháp thân Như lai bị phiền não che phủ.
Thập chủng phiền não 十種煩惱
[ja] ジッシュボンノウ jisshubonnō ||| Ten kinds of affliction: (1) the view of the existence of a self 薩迦耶見; (2) extreme views 邊執見; (3) evil views 邪見; (4) view of attachment to views 見取; (5) attachment to the precepts 戒禁取; (6) desire 貪; (7) anger 恚; (8) pride 慢; (9) ignorance 無明, and (10) doubt 疑. 〔瑜伽論T 1579.30.313b12-14〕The first four of these are often separately categorized as the four attached views 四見. => Mười thứ phiền não: 1. Tát-ca-da kiến: quan niệm về chấp trước về sự hiện hữu của sắc thân. 2. Biên chấp kiến. 3. Tà kiến. 4. Kiến thủ. 5. Giới cấm thủ. 6. Tham. 7. Khuể. 8. Mạn. 9. Vô minh. 10. Nghi.
Thập chủng pháp giới 十重法界
[ja] ジュウジュウホウカイ jūjū hōkai ||| Ten realms. See 十法界. 〔二障義 HPC 1.809c〕 => Mười pháp giới. Xem Thập pháp giới.
thập chủng pháp hành
Daśa-dharma-caryāh (S) Tên một bộ luận kinh.
; (十種法行) Phạm: Daza-dharma-caryà#. Gọi tắt: Thập pháp hành. Chỉ cho 10 phương pháp và hành nghi liên quan đến việc thụ trì kinh điển. Đó là: 1. Thư tả: Viết chép. Nghĩa là sao chép kinh điển giúp cho việc lưu thông rộng rãi.2. Cúng dường: Tôn kính cúng dường nơi có kinh điển hoặc có tháp Phật. 3. Thí tha: Bố thí cho người khác. Nghĩa là nói chính pháp cho người khác nghe, đồng thời cho họ các kinh điển để giáo hóa. 4. Đế thính: Chăm chúlắngnghe người khác đọc tụng kinh văn. 5. Phi độc: Mở đọc. Nghĩa là tự mình mở kinh điển đọc tụng. 6. Thụ trì: Nhận giữ. Nghĩa là nhận lãnh giáo pháp, ghi nhớ không quên. 7. Khai diễn: Diễn nói giáo pháp cho người khác nghe, khiến họ tin hiểu. 8. Phúng tụng: Đọc tụng, tuyên dương kinh văn, khiến người sinh tâm vui vẻ. 9. Tư duy: Suy nghĩ về pháp nghĩa do đức Phật nói. 10. Tu tập hạnh: Tu tập pháp do đức Phật nói.
thập chủng phát tâm
(十種發心) Mười loại phát tâm. Chúng sinh vì mê lầm nên niệm niệm khởi tâm, tham đắm các cảnh, nghiệp báo khác nhau, khổ vui sai biệt, đều do phát tâm không đồng thuần nhất. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 35 thì 10 loại phát tâm là: 1. Phát tâm địa ngục: Chúng sinh niệm niệm khởi tâm tham sân, làm 10 điều ác thượng phẩm, thực hành địa ngục đạo. 2. Phát tâm súc sinh: Chúng sinh khởi tâm muốn có nhiều quyến thuộc, ngu si tham trước, làm 10 điều ác trung phẩm, thực hành đạo súc sinh. 3. Phát tâm ngã quỉ: Chúng sinh khởi tâm muốn được nổi tiếng, bên trong không có thực đức, chỉ biết dua nịnh, làm 10 điều ác hạ phẩm, thực hành đạo ngã quỉ. 4. Phát tâm hạ phẩm thập thiện: Hạ phẩm là sau khi làm điều thiện sinh tâm hối tiếc. Chúng sinh niệm niệm muốn hơn người, khinh người trọng mình, bên ngoài tỏ ra nhân nghĩa, thực hành đạo Tu la. 5. Phát tâm trung phẩm thập thiện: Trung phẩm là sau khi làm việc thiện khởi tâm hơi hối tiếc. Chúng sinh niệm niệm ưa thích thế gian, tu hành 5 giới, thực hành đạo làm người.6. Phát tâm thượng phẩm thập thiện: Thượng phẩm là khi thực hiện 10 điều thiện thì lúc định làm, lúc đang làm và lúc làm rồi, tâm đều không hối tiếc. Chúng sinh niệm niệm cầu sinh lên cõi trời, thu nhiếp các căn bên trong, không đắm cảnh trần bên ngoài, tu hành đạo trời. 7. Phát tâm Dục giới chủ: Dục giới chủ tức Tha hóa tự tại thiên chủ. Chúng sinh niệm niệm phô trương uy thế, chiếm đoạt thành quả hóa tha của người để tự vui chơi, tu hành đạo ma. 8. Phát tâm thế trí: Chúng sinh niệm niệm muốn được trí tuệ nhạy bén, biện luận thông suốt, không tin giáo pháp xuất thế, tu hành ngoại đạo. 9. Phát tâm Phạm thiên: Chúng sinh niệm niệm nhàm chán các trần cảnh ở cõi Dục, muốn được niềm vui thắng diệu trên cõi trời Phạm mà thực hành đạo Sắc giới và Vô sắc giới. 10. Phát tâm vô lậu: Chúng sinh niệm niệm nhàm chán và muốn thoát li nỗi sinh tử thế gian, đoạn trừ các vọng hoặc tham,sân, si... thường tu nhân vô lậu và tu hành đạo Nhị thừa(Thanh văn thừa và Duyên giác thừa).
thập chủng phương tiện
(十種方便) Chỉ cho 10 phương tiện khéo léo của người tu hạnh Bồ tát được nói trong phẩm Li thế gian kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ). Kinh Hoa nghiêm quyển 56 (bản dịch mới) gọi là Thập chủng cần tu. Đó là: 1. Bố thí phương tiện: Phương tiện bố thí. Nghĩa là Bồ tát bố thí không mảy may xẻn tiếc, xả bỏ cả thân mệnh tài sản mà không có tâm cầu báo đáp. 2. Trì giới phương tiện: Phương tiện giữ giới. Bồ tát giữ tất cả giới, tâm không nhiễm trước. 3. Nhẫn nhục phương tiện: Phương tiện nhẫn nhục. Bồ tát xa lìa các phiền não sân hận, ngã mạn, nhẫn tất cả cái xấu ác, trong tâm không lay động. 4. Tinh tiến phương tiện: Phương tiện tinh tấn. Ba nghiệp của Bồ tát không tán loạn, tất cả việc Bồ tátlàmđều không lui sụt cho đến rốt ráo. 5. Thiền định phương tiện: Phương tiện thiền định. Bồ tát xa lìa 5 dục và các phiền não, đối với thiền định, Bồ tát thường tu tập. 6. Trí tuệ phương tiện: Phương tiện trí tuệ. Bồ tát xa lìa phiền não ngu si, tu tập tất cả công đức, có năng lực khai phát tuệ giải. 7. Đại từ phương tiện: Phương tiện đại từ. Bồ tát vận dụng tâm đại từ bình đẳng, làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh. 8. Đại bi phương tiện: Phương tiện đại bi. Bồ tát biết các pháp không có tự tính, dùng tâm đại bi bình đẳng, chịu khổ thay cho tất cả chúng sinh. 9. Giác ngộ phương tiện: Phương tiện giác ngộ. Bồ tát dùng trí tuệ vô ngại biết rõ 10 căn tính của chúng sinh. 10. Chuyển bất thoái phương tiện: Phương tiện thuyết pháp không trở lui. Bồ tát quay bánh xe pháp vô thượng, giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh, khiến y theo giáo pháp mà tu học, tăng trưởng bồ đề, không trở lui khỏi giai vị tu hành.
thập chủng phật âm
Ten types of Buddha's voice—See Âm Thanh Của Đức Như Lai, and Tứ Chủng Phật Âm.
thập chủng quyết định giải
Ten kinds of certain understanding—See Mười Thứ Quyết Định Giải.
Thập chủng quảng đại phương tiện
(十種廣大方便) Mười thứ trí rộng lớn mà Bồ tát đạt được sau khi an trụ trong 10 pháp. Theo kinh Hoa nghiêm thì 10 thứ trí ấy là:1. Tri nhất thiết chúng sinh tâm hành trí: Trí biết rõ các hoạt động tâm lí của tất cả chúng sinh. 2. Tri nhất thiết chúng sinh nghiệp báo trí: Trí biết rõ nghiệp báo của tất cả chúng sinh. 3. Tri nhất thiết Phật pháp trí: Trí biết tất cả pháp của Phật. 4. Trí nhất thiết Phật pháp thâm mật lí thú trí: Trí biết lí thú sâu kín của tất cả Phật pháp. 5. Tri nhất thiết đà la ni môn trí: Trí biết tất cả các môn Đà la ni. 6. Tri nhất thiết văn tự biện tài trí: Trí biết tất cả văn tự và biện tài. 7. Tri nhất thiết chúng sinh ngữ ngôn âm thanh từ biện thiện xảo trí: Trí biết các ngôn ngữ, âm thanh, lời lẽ, biện luận khéo léo của tất cả chúng sinh. 8. Ư nhất thiết thế giới trung phổ hiện kì thân trí: Trí biết thân hiện khắp trong tất cả thế giới. 9. Ư nhất thiết chúng hội trung phổ hiện ảnh tượng trí: Trí biết các ảnh tượng hiện khắp trong tất cả chúng hội. 10. Ư nhất thiết thụ sinh xứ trung cụ nhất thiết trí: Trong tất cả các nơi thụ sinh, Bồ tát đều có đầy đủ Nhất thiết trí.
thập chủng quỷ
(十種鬼) Chỉ cho 10 loại quỉ nói trong kinh Lăng nghiêm quyển 8. Tức là : 1. Quái quỉ: Loài quỉ nương gá vào vật, tức tinh quái của vàng bạc, cây cỏ... vì nguyên nhân đời trước tham muốn nhiều, lấy các vật phi nghĩa, bất chính, nên phải chịu quả báo này. 2. Bạt quỉ: Loài quỉ nương gá vào gió, vì nguyên nhân đời trước đa dâm, hễ thấy sắc là thân tâm động loạn, như gió thổi vật, nên chịu quả báo này. 3. Mị quỉ: Loại quỉ gá vào loài súc sinh, thành tính súc sinh, tức các loài tinh như chồn cáo, hay mê hoặc người. Vì nguyên nhân đời trước lừa gạt người, chỉ nhờ dối trá làm cho con người rối loạn, nên phải chịu quả báo này. 4. Cổ độc quỉ: Loại quỉ nương gá vào cácloài có nọc độc và trở thành tính, tức các trùng độc như rắn, rết... hay hại người. Vì nguyên nhân đời trước nhiều oán và kết oán trong tâm, ôm lòng ác độc không bỏ nên phải chịu quả báo này. 5. Lệ quỉ: Loài quỉ này thường nhập vào người có thể chất suy yếu, tinh thần bạc nhược, khơi dậy những nỗi khổ não, như các chứng bệnh dịch, bệnh phổi, bệnh nhiệt... Vì nguyên nhân đời trước đa sân, tâm thường tức giận, cho nên phải chịu quả báo này. 6. Ngã quỉ: Loài quỉ này nương gá vào khí làm chất, không gặp thức ăn uống, thường chịu khổ đói khát. Vì nguyên nhân đời trước kiêu mạn, bên trong không có thực đức, nhưng lại lên mặt khinh người, ngạo vật, nên phải chịu quả báo này. 7. Yếm quỉ: Loài quỉ nhờ vào những việc hư đản, mờ ám để làm cho tâm trí người bị mê hoặc. Vì nguyên nhân đời trước có nhiều mưu gian, giả hiện người có đức để gạt gẫm người khác, nên phải chịu quả báo này. 8. Vọng lượng quỉ: Loài quỉ nương gá vào núi sông, là tinh quái của cây, đá. Vì nguyên nhân đời trướctàkiến, vọng sinh chấp trước, tự cho là sáng suốt, nên chịu quả báo này. 9. Dịch sử quỉ: Loài quỉ nương gá vào các cảnh rõ ràng mà thành hình tướng cụ thể và bị sai khiến làm các việc nặng nhọc như gánh cát, vác đá... Vì nguyên nhân đời trước làm các việc trái phép, bất chính, nhiễu hại người vô tội... nên phải chịu quả báo này. 10. Truyền tống quỉ: Loài quỉ này thường nhập vào người để truyền nói các việc lành dữ, họa phúc... Vì nguyên nhân đời trước kiện tụng, che giấu tội của mình, bị người tố cáo, cho nên chịu quả báo này.
thập chủng sở quán pháp
(十種所觀法) Chỉ cho 10 pháp sở quán của Bồ tát ở 5 giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẳng giác được nói trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng. Đó là: I. Mười pháp sở quán của giai vị Thập tâm(Thập trụ): 1. Hậu tập nhất thiết thiện căn: Quán xét sâu rộng tất cả thiện căn, như 4 thệ nguyện rộng lớn. 2. Tu tập tất cả thiện hạnh: Quán xét và tu tập tất cả hạnh lành, như 4 niệm xứ.3. Thiện tập Phật đạo pháp: Khéo tu tập theo pháp Phật đạo, như quán xét 10 nhất thiết nhập. 4. Nhất thiết Phật tiền thụ pháp nhi hành: Ở trước tất cả Phật nhận lãnh pháp mà tu hành, như quán xét Bát thắng xứ. 5. Tu chư thanh bạch pháp: Tu các pháp trong trắng, như Bát đại nhân giác. 6. Vị chư Phật sở hộ: Được chư Phật che chở, như quán xét Bát giải thoát. 7. Quảng chính pháp: Mở rộng chính pháp, như tu pháp Lục hòa kính. 8. Tín hỉ đại pháp: Kính tin, ưa thích đại pháp, như quán xét Tam không. 9. Tâm trụ tứ đẳng pháp: Tâm trụ trong 4 pháp bình đẳng, như dùng pháp 4 đế giáo hóa chúng sinh. 10. Hảo cầu Phật công đức: Ưa cầu công đức của Phật, như quán 6 niệm. II. Mười pháp sở quán của giai vị Thập hành tâm: 1. Tự đắc nhất thiết chủng trí: Tự được Nhất thiết chủng trí, như tu 4 chính pháp. 2. Vị đắc tự thân hữu đại lực: Để tự thân có sức mạnh mẽ,nên cầnquán xét Tứ như ý túc. 3. Nguyện vô úy cụ túc: Nguyện đầy đủ vô úy nên quán xét ngũ căn. 4. Cầu cụ túc Tam bảo: Cầu đầy đủ Tam bảo nên quán 5 phần pháp thân. 5. Vị hóa nhất thiết chúng sinh: Để giáo hóa tất cả chúng sinh nên tu Bát chính đạo.6. Đắc đại từ bi: Được đại từ bi như tu 7 quán môn nhập nhất tướng. 7. Vị đắc tứ vô ngại: Để được 4 vô ngại nên quán 5 thiện căn. 8. Nhập nhất thiết Phật quốc trung hành: Đi vào tất cả cõi Phật như 4 hóa pháp. 9. Vi ư nhất niệm trung chiếu nhất thiết pháp: Chỉ trong một niệm chiếu soi tất cả pháp, như quán 12 nhân duyên trong 3 đời. 10. Vị tự tại chuyển đại pháp luân: Chuyển đại pháp luân trong tư thế tự tại, như Bồ tát Tam bảo. III. Mười pháp sở quán của giai vị Hồi hướng tâm: 1. Nhị đế chính trực: Hai đế ngay thẳng, tức học tập Đệ nhất nghĩa đế. 2. Thâm đệ nhất nghĩa trí: Trí Đệ nhất nghĩa sâu xa, như 5 thần thông. 3. Thuần chí: Tức Tứ bất hoại tịnh trong Vô sinh tuệ. 4. Lượng đồng Phật lực: Lượng ngang với Phật lực, như Tam tướng. 5. Thiện kế lượng chúng sinh lực: Năng lực khéo tính lường chúng sinh, như quán xét sắc 5 ấm. 6. Phật giáo hóa lực: Năng lực giáo hóa của Phật, như 12 nhập. 7. Thú hướng vô ngại trí: Hướng tới trí vô ngại, như quán xét 18 giới. 8. Tùy thuận tự nhiên trí: Thuận theo trí tự nhiên, như quán nhân quả. 9. Năng thụ Phật pháp tăng: Có năng lực lãnh thụ Phật pháp tăng, như quán 2 Không đế. 10. Dĩ tự tại tuệ hóa nhất thiết chúng sinh: Dùng tuệ tự tại hóa độ tất cả chúng sinh, như quán xét Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. IV. Mười pháp sở quán của giai vị Thập địa tâm: 1. Hoan hỉ địa trụ Trung đạo đệ nhất nghĩa đế tuệ: Hoan hỉ địa trụ trong trí tuệ Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, như quán xét 20 tâm hoan hỉ. 2. Kim cương hải tạng pháp bảo: Như tự làm 10 điều thiện, bảo người làm 10 điều thiện, khen ngợi 10 điều thiện. 3. Nhập như huyễn tam muội: Vào tam muội Như huyễn, như 12 môn thiền. 4. Biến hành Pháp bảo tạng: Tu hành khắp tạng Pháp bảo, như quán 37 đạo phẩm. 5. Nhập Pháp giới trí quán: Như quán xét 16 đế. 6. Đạt hữu pháp duyên cố khởi trí: Đạt được hữu pháp duyên nên khởi trí, như quán xét 10 thứ Thập nhị nhân duyên, 10 thứ chiếu sáng. 7. Tận quả báo vô chướng vô ngại trí: Trí hết quả báo không chướng không ngại, như dùng trí 3 không quán xét 2 tập trong 3 cõi. 8. Bất tư nghị vô công dụng quán: Quán vô công dụng không thể nghĩ bàn: Như quán đại dụng của trí phương tiện vô tướng. 9. Nhập pháp tế trí: Như quán 40 biện tài tất cả hạnh công đức đều thành tựu. 10. Vô ngại trí quán: Trí quán vô ngại, như vô lượng trận mưa pháp thấm nhuần hết thảy chúng sinh. V. Mười pháp tâm sở hành của Đẳng giác tâm: Như ở Dũng phục định, Bồ tát vào tam muội Pháp quang tu hành 10 pháp: 1. Học năng lực biến thông không thể nghĩ bàn của chư Phật. 2. Nhóm họp quyến thuộc của Bồ tát 3. Tu lại các pháp môn đã thực hành khi trước. 4. Thuận theo tất cả cõi Phật thăm hỏi hết thảy Phật. 5. Từ biệt cha mẹ vô minh. 6. Đi vào các lớp huyền môn. 7. Hiện giống như Phật hiện tất cả hình tướng. 8. Đầy đủ 2 loại Pháp thân. 9. Không còn 2 tập. 10. Lên đỉnh núi Trung đạo đệ nhất nghĩa đế.
thập chủng tam pháp
(十種三法) Chỉ cho 10 loại Ba pháp, đó là: Ba đạo (hoặc, nghiệp, khổ), Ba thức(Am ma la thức, A lê da thức, A đà na thức), Ba Phật tính (Chính nhân Phật tính, Liễu nhân Phật tính, Duyên nhân Phật tính), Ba Bát nhã(Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã, Văn tự bát nhã), Ba bồ đề(Thực tướng bồ đề, Thực trí bồ đề, Phương tiện bồ đề), Ba Đại thừa(Lí đại thừa,Tùy đại thừa, Đắc đại thừa), Ba thân (Pháp thân, Báo thân, Ứng thân), Ba Niết bàn (Tính tịnh niết bàn, Viên tịnh niết bàn, Phương tiện niết bàn), Ba ngôi báu(Phật, Pháp, Tăng), Ba đức(Pháp thân đức, Giải thoát đức, Bát nhã đức). Trong các kinh luận, có rất nhiều trường hợp nói về 3 pháp, căn cứ vào 10 loại 3 pháp liệt kê ở trên để thuyết minh thủy chung của nhân quả, nếu lấy vô minh làm đầu thì theo thứ tự từ 3 đạo cho đến 3 đức; nếu lấy pháp tính làm đầu thì thứ tự sẽ ngược lại là từ 3 đức cho đến 3 đạo. Trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5, hạ, ngài Trí khải đem 3 quĩ là Chân tính, Quán chiếu và Tư thành phối hợp với 10 loại 3 pháp, chẳng hạn như Pháp thân phối với Chân tính quĩ, Bát nhã phối với Quán chiếu quĩ, Giải thoát phối với Tư thành quĩ. Cứ theo đó thì các loại 3 pháp, tên khác nhau mà nghĩa thì giống nhau. Lại cứ theo Kim quang minh huyền nghĩa quyển thượng thì 10 loại 3 pháp về mặt không gian có vô hạn ý nghĩa, trong 1 loại 3 pháp đồng thời có đủ 9 loại 3 pháp kia. Còn về mặt thời gian thì phối hợp với 3 vị: Bản hữu(3 đạo, 3 thức), Đương hữu(3 thức, 3 ngôi báu) và Hiện hữu(6 loại 3 pháp kia).
thập chủng thiện pháp
(十種善法) Chỉ cho 10 pháp lành của Bồ tát. I. Mười pháp lành của Bồ tát Nhật dụ ghi trong kinh Bảo vũ quyển 5: Phá vô minh, thường giác ngộ hữu tình, ánh sáng chiếu khắp 10 phương, sinh ra các pháp lành, diệt hết các lậu(phiền não), tạo ra ánh sáng, ánh sáng che khuất ngoại đạo, hay thị hiện cao thấp, phát khởi các nghiệp thiện và được các thiện nhân ưa mến II. Mười pháp lành nói trong kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn: 1. Mười pháp lành của bồ tát Nguyệt dụ: Đều sinh vui mừng, mọi người ưa thấy, pháp lành tăng trưởng, pháp ác tổn giảm, tất cả đều khen ngợi, thể tướng thanh tịnh, ngồi xe Tối thượng, thường tự trang nghiêm, du hí pháp lạc, có đại thần thông. 2. Mười pháp lành của bồ tát Hải đạo sư dụ: Được người tín nhiệm, được người tôn kính, chỉ dẫn khéo léo, làm chỗ nương tựacho người khác, thường cứu mệnh cho người, khéo chuẩn bị tư lương, có nhiều của báu, sự mong cầu không biết đủ, làm người dẫn đường, khéo đưa đến thành Nhất thiết trí. 3. Mười pháp lành của bồ tát Thủy dụ: Thấm nhuần xuống phía dưới, gieo trồng hạt giống pháp, tin ưa vui mừng, nhổ gốc phiền não, tự thể thanh tịnh, dập tắt lửa phiền não, ngăn lấp dòng khát ái, rộng sâu không bến bờ, cao thấp đều tràn đầy và rửa sạch các bụi bẩn. 4. Mười pháp lành của bồ tát Liên hoa dụ: Lìa các ô nhiễm, không đồng với cái ác, hương giới lan tỏa, bản thể thanh tịnh, nét mặt vui tươi, mềm mại mượt mà, người trông thấy đều được tốt lành, nở rộ đầy đủ, thành thục thanh tịnh và vừa sinh ra đã được tưởng nhớ giữ gìn. 5. Mười pháp lành của bồ tát Hỏa dụ: Đốt cháy củi phiền não, thành thục Phật pháp, làm khô bùn phiền não, như đống lửa lớn, làm ra ánh sáng chiếu soi, có năng lực khiến sợ hãi, có năng lực an úy, có lợi cho mọi người cùng hưởng, được người cúng dường, không ai khinh nhờn.
thập chủng thiện xảo trí
(十種善巧智) Chỉ cho 10 thứ trí tuệ khéoléođức Phật dùng làm phương tiện để tùy căn cơ giáo hóa chúng sinh được nói trong kinh Hoa nghiêm. Đó là: 1. Trí tuệ thiện xảo rõ suốtPhật pháp sâu xa. 2. Trí tuệ thiện xảo sinh ra Phật pháp rộng lớn. 3. Trí tuệ thiện xảo tuyên giảng các pháp môn của Phật pháp. 4. Trí thiện xảo chứng nhập Phật pháp bình đẳng. 5. Trí tuệ thiện xảo biết rõ chỗ sai biệt của Phật pháp. 6. Trí tuệ thiện xảo hiểu rõ chỗ không sai biệt của Phật pháp. 7. Trí tuệ thiện xảo thâm nhập Phật pháp trang nghiêm. 8. Trí tuệ thiện xảo dùng một phương tiện mà vào Phật pháp. 9. Trí tuệ thiện xảo dùng vô lượng phương tiện mà vào Phật pháp. 10 Trí tuệ thiện xảo biết Phật pháp vô biên không sai khác.
Thập Chủng Thông Hiệu
(十種通號): xem Thập Hiệu (十號) bên dưới.
thập chủng trì danh
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có mười cách trì danh khác nhau—Oral recitation is the most common Pure Land method at the present time. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm, there are ten variants in oral recitation: 1) Phản Văn Trì Danh: Phương pháp nầy, miệng vừa niệm, tai vừa nghe vào trong, kiểm soát từng chữ từng câu cho rành rẽ rõ ràng, hết câu nầy đến câu khác. Nghe có hai cách, hoặc dùng tai nghe, hoặc dùng tâm nghe. Tuy nghe vào trong nhưng không trụ nơi đâu, lần lần quên hết trong ngoài, cho đến quên cả thân tâm cảnh giới, thời gian không gian, chỉ còn một câu Phật hiệu. Cách thức phản văn khiến cho hành giả dễ gạn trừ vọng tưởng, mau được nhứt tâm. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Chân Giáo thể phương nầy Thanh tịnh do nghe tiếng. Muốn chứng vào tam muội, nên như thế mà tu hành” chính là ý trên đây—Reflecting the name recitation. With this technique, the ear catches the sound as the mouth recites, examining each individual word and each individual phrase, to make sure they are clear and distinct, phrase after phrase. There are two ways of hearing, with the ears or with the mind. Although the ears 'hear deep inside,' the sounds do not reside anywhere. The practitioner gradually forgets everything inside and out, even body, mind, realm, time and space, with only the Buddha's name remaining. This technique of 'reflecting the name,' makes it easy for the cultivator to filter out deluded thoughts and Surangama Sutra expresses this very idea when it states, in the words of the Bodhisattva Manjusri: “This common method of concentrating the mind on its sense of hearing, turning it inward, is most feasible and wise.” 2) Sổ Châu Trì Danh: Đây là cách thức miệng vừa niệm, tay vừa lần chuỗi. Ban đầu ý niệm còn ràng buộc nơi tràng hạt, sau lần buông bỏ đi đến cảnh nhứt tâm. Phương pháp sổ châu khiến cho niệm lực mạnh mẽ, ví như người yếu chân đi núi, nhờ nương cây gậy mà tiến bước lên cao mãi. Niệm cách mấy lần lại cần phải ghi số mỗi thời hoặc mỗi ngày là bao nhiêu câu. Ghi số có điểm lợi là bắt buộc người tu phải giữ định số, trừ được bệnh biếng trễ; nhưng cần chú ý đừng quá tham mau tham nhiều mà niệm không được rành rẽ rõ ràng. Người xưa tuy niệm nhiều nhưng cũng ở trong sự rành rõ, do nhờ hai điểm là thuần thục và định tâm. Ngẫu Ích Đại Sư, vị tổ thứ chín của Liên Tông, từng khai thị: “Muốn đi đến cảnh giới 'nhứt tâm bất loạn,' không có cách chi kỳ diệu khác. Trước tiên hành giả cần phải lần chuỗi ghi số, niệm niệm rành rẽ rõ ràng, mỗi ngày hoặc ba muôn, năm muôn, cho đến mười muôn câu, giữ khóa trình quyết định chẳng thiếu, thề một đời không thay đổi. Niệm như thế lâu ngày lần lần thuần thục, không niệm vẫn tự niệm, chừng ấy ghi sổ hay không ghi sổ cũng được. Và niệm như thế kèm thêm tín nguyện tha thiết, mà không được vãng sanh, thì chư Phật ba đời đều mang lỗi nói dối. Khi đã vãng sanh, tất cả pháp môn đều được hiện tiền. Nếu như ban sơ vì cầu cao tự ỷ, muốn tỏ ra không chấp tướng, muốn học theo lối viên dung tự tại, đó là tín nguyện chẳng bền sâu, hành trì không hết sức; dù có giảng suốt mười hai phần giáo, giải ngộ một ngàn bảy trăm công án, cũng là việc ở bên bờ sanh tử mà thôi.” Lời khuyên dạy nầy thật là cây kim chỉ nam cho người niệm Phật—Counting Rosary Beads Recitation. In this method, as the mouth recites, the hand fingers the rosary. At first, thoughts are tied to the rosary beads, but later on they gradually move away from the beads, leading to the state of one-pointedness of mind. This technique increases the power of recitation in the same way that a cane enables a mountain climber with weak legs to ascend higher and higher. With this technique, we should write down the number of recitations per session or per day. This has the advantage of forcing us to keep an exact count, eliminating the affliction of laziness. However, we should take care not to be too ambitious, attempting to achieve too much too soon, or our recitation will not be clear and distinct. The ancients, while reciting the Buddha's name over and over, did so in a clear, distinct manner thanks to two factors: correct understanding, and correct concentration of mind. Elder Master Ou-I, the Ninth Patriarch of Pure Land once taught: “There is no better or loftier way to reach the state of one-pointedness of mind. At first the practitioner should finger the rosary, keeping an exact count, while reciting the Buddha' name over and over in a clear, distinct manner, 30,000, 50,000 up to 100,000 times each day, maintaining that number without fail, determined to remain constant throughout his life. Such recitation will, in time, become second nature, not reciting being reciting. At that time, recording or not recording no longer matters. If such recitation, accompanied by earnest Faith and Vows, did not lead to rebirth in the Pure Land, the Buddhas of the Three Periods (past, present and future) would all be guilty of false speech. Once we are reborn in the Pure Land, all Dharma methods will appear before eyes. If at the outset we seek too high a goal, are over-confident and eager to show that we are not attached to forms and marks, preferring to study according to the free and perfect method, we reveal a lack of stability and depth in our Faith and Vows as well as perfunctoriness (làm lấy lệ) in our practice. Even if we were to lecture exhaustively on the Twelve Divisions of the Dharma and become enlightened to the 1,700 Zen koans, these would merely be activities on the fringes of life and death.” This advice is indeed a hand-guide for the Pure Land practitioners. 3) Tùy Tức Trì Danh: Niệm Phật thầm hay niệm se sẽ tiếng, nương theo hơi thở, mỗi hơi thở ra vào đều một câu Phật hiệu; đó là ý nghĩa của tùy tức trì danh. Bởi mạng sống con người liên quan với hơi thở, nếu biết nương theo đây mà niệm, thì khi sống hằng không rời Phật, lúc lâm chung tấc hơi vừa tắt, liền về cảnh giới Liên Bang. Nhưng nên chú ý là phương thức nầy khi tập đã thuần thục, cần niệm ra tiếng, chớ không nên chỉ niệm thầm. Như thế niệm lực mới mạnh, ý nguyện cầu vãng sanh dễ được phát khởi. Bằng không, ý niệm vãng sanh sẽ khó tha thiết và sợ e lại lạc vào công dụng Ngũ Đình Tâm Quán của Tiểu Thừa—Breath-by-Breath Recitation. This technique consists of reciting silently or softly, with each breath, inhaling or exhaling, accompanied by one recitation of th Buddha's name. Since life is linked to breath, if we take advantage of breath while practicing Buddha Recitation, we will not be apart from Amitabha Buddha in life and at the time of death, when breath has stopped, we will be immediately reborn in the Pure Land. The practitioner should remember, however, that once he has mastered this technique, he should recite aloud as well as silently. In this way, the power of recitation will be strengthened and the will to be reborn in the Pure Land more easily developed. Otherwise, his resolve will not be earnest and he might stray into the practice of the “Five Meditations to calm the mind” of the Theravada tradition. 4) Truy Đảnh Trì Danh: Khi dùng cách nầy, nên niệm nho nhỏ tiếng, mỗi chữ mỗi câu đều kế tiếp nhau liên tỏa chặt chẽ, thành hình thế chữ sau đuổi theo chữ trước, câu nầy gối đầu câu kia nên gọi là “Truy Đảnh.” Áp dụng phương thức như thế, nhờ sự kín đáo bền chặt, trung gian không xen hở, nên tạp niệm không có chỗ xen vào. Dùng đến pháp nầy thì tình ý khẩn trương, tâm miệng dũng tiến, oai lực của chánh niệm bao trùm tất cả, khiến cho nghiệp tưởng vô minh tạm thời chìm lắng, ánh mầu tam muội bộc phát chiếu xa. Từ xưa người tu tịnh nghiệp trong lúc tình tưởng mênh mang rối loạn, thường dùng cách thức nầy—Continuously Linked Recitation. With this technique, the practitioner recites softly, each word following the one immediately before, each phrase closely following the previous phrase. During this practice, through discretion and patience, there are no empty time frames and therfore 'sundry thoughts' cannot intrude. The cultivator's feelings and thoughts are intense, his mind and mouth move boldly forward reciting the Buddha's name, the power of right thought embraces everything, temporarily subduing ignorance and delusive thought. Thus, the light of transcendental samadhi breaks through and shines forth. From early times, Pure Land pratitioners would avail themselves of this method when their emotions and thoughts wandered or were in a state of confusion. 5) Giác Chiếu Trì Danh: Niệm Phật theo giác chiếu là một mặt niệm Phật, một mặt hồi quang soi trở lại chân tánh của mình. Do niệm như thế, hành giả sẽ đi vào cảnh giới hư linh siêu tuyệt, chỉ còn cảm giác thân tâm của mình cùng chân tâm Phật ngưng đọng thành một khối, sáng tròn rực rỡ, đầy rộng mênh mang. Khi đó phòng nhà vật dụng thảy đều ẩn mất, cho đến thân giả tứ đại của ta cũng không biết rơi lạc vào chỗ nào. Niệm theo đây thì báo thân chưa mãn đã chứng tịch quang, Phật hiệu vừa tuyên liền vào tam muội. Đem thân phàm phu mà dự vào cảnh thánh, thật không chi mau lẹ hơn phương pháp trên đây. Song chỉ tiếc, nếu chẳng phải bậc thượng thượng căn tất không thể lãnh hội thực hành, nên phần độ cơ của cách thức nầy vẫn còn sơ hẹp—Enlightened, Illuminating Recitation. With this technique, the practitioner on the one hand recites the Buddha's name and on the other hand, returns the light and illumines his True Nature. He thus enters into the realm of ultimate transcendental emptiness; what remains is only the consciousness that his body-mind and the True Mind of the Buddha have become one, all-illuminating and all-encompassing. At that time, meditation rooms, cushions, gongs and all else have disappeared. Even the illusory, composite body is nowhere to be found. With this practice, even while our present retribution body is not yet dead, silent illumination is attained. Uttering the Buddha's name, the practitioner immediately achieves the state of samadhi. There is no swifter method for common mortals to enter the realm of the saints. Unfortunately, we cannot understand or practice this method unless we are of the highest capacity. Therefore, its scope is rather modest and limited. 6) Lễ Bái Trì Danh: Phương thức nầy là vừa lạy vừa niệm Phật. Hoặc niệm một câu, lạy một lạy, hoặc một mặt niệm, một mặt lạy, không luận câu Phật nhiều hay ít. Cách lễ Phật lại phải hết sức nhẹ nhàng chậm rãi, lễ niệm song hành, thân miệng hợp nhất. Nếu thêm vào đó ý thành khẩn tha thiết, thì thành ra ba nghiệp đều tập trung, ngoài câu Phật hiệu, không còn một tơ hào vọng niệm. Phương pháp nầy có sở năng phá trừ hôn trầm, công đức và hiệu lực rất to lớn, vì hành giả vận dụng cả ba nghiệp để trì niệm. Cư sĩ Vương Nhật Hưu khi xưa từng áp dụng cách trên đây, mỗi ngày đêm ông lễ niệm trung bình là một ngàn lạy. Nhưng dường như đây là lối niệm đặc biệt của hạng người tâm lực tinh tấn, thiếu khả năng tất khó vững bền, bởi lạy lâu thân thể mõi mệt dễ sanh chán nãn. Cho nên thông thường, cách thức nầy chỉ hợp kiêm dụng, khó bề chuyên dụng—Bowing to the Buddha Recitation. This technique consists of making bows as we recite the Buddha's name. Either we recite once before each bow or we bow as we recite, regardless of the number of recitations. The bowing should be supple yet deliberate, complimenting recitation, bowing and reciting perfectly synchronized. If we add a sincere and earnest mind, body, speech and mind are gathered together. Except for the words Amitabha Buddha, there is not the slightest deluded thought. This method has the ability to destroy the karma of drowsiness. Its benefits are very great, because the practitioner engages in recitation with his body, speech and mind. A lay practitioner of old used to follow this method, and each day and night, he would bow and recite and average of one thousand times. However, this practice is the particular domain of those with strong mind-power. Lacking this quality, it is difficult to persevere, because with extended bowing, the body easily grows weary, leading to discouragement. Therefore, this method is normally used in conjunction with other methods and is not practiced in exclusively. 7) Ký Thập Trì Danh: Đây là cách niệm ký số, cứ lấy mỗi mười câu làm một đơn vị. Người hơi ngắn có thể niệm thành hai lượt, mỗi lượt năm câu; hoặc chia ra ba lượt, hai lượt ba câu, một lượt bốn câu. Sau khi niệm đủ mười câu, đều lần qua một hạt chuỗi. Niệm theo lối nầy, tâm đã niệm Phật, lại còn phải ghi nhớ số. Như thế dù không chuyên cũng bắt buộc phải chuyên, nếu không chuyên thì số mục liền sai lạc. Cho nên pháp nầy đại để là một phương tiện cưỡng bức cho hành giả chuyên tâm, rất có công hiệu với những kẻ có nhiều tạp niệm. Ấn Quang Đại Sư thường khuyên các liên hữu áp dụng cách thức trên đây—Decimal Recording Recitation. This is the inscription technique of Buddha Recitation, taking each ten utterances of the Buddha's name as a unit. Individuals with short breath spans can divide the ten utterances into two subunits (five utterances each) or three smaller subunits (two three utterance units and one four-utterance unit). One rosary bead is fingered after each group of ten utterances is completed. With this practice, the mind must not only recite, it must also remember the number of utterances. In this way, if we are not diligent we must become so; otherwise, it will be impossible to avoid mistakes. This technique, in general, is an excellent expedient forcing the cultivator to concentrate his mind and is very effective with those subject to many errant thoughts. Elder Master Yin Kuang used to recommend it to Pure Land practitioners. 8) Liên Hoa Trì Danh: Lấy bốn sắc hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, vừa niệm vừa tưởng, luân lưu chuyển tiếp, là danh nghĩa của lối niệm trên đây. Hành giả khi niệm câu Phật hiệu thứ nhứt, tưởng trước mặt mình hiện ra một đóa sen xanh to lớn, phóng ánh sáng xanh. Câu thứ hai, tưởng đóa sen vàng. Cho đến câu thứ ba, thứ tư, là hoa sen đỏ, trắng, màu nào phóng quang ánh sáng ấy. Kế tiếp lại tưởng hoa sen màu xanh, cứ như thế mà luân lưu mãi. Đồng thời khi hoa hiện, lại tưởng có hương sen thanh nhẹ phảng phất xung quanh. Bởi có nhiều hành giả trong Liên Hoa Tông dùng mọi pháp thức vẫn khó ngăn được tạp niệm, nên cổ nhân mới phát minh ra lối niệm nầy. Đây là cách dùng hình sắc thay đổi để buộc tâm tưởng cho chuyên nhứt, và hình sắc nầy lại lấy tướng hoa sen nơi ao thất bảo ở cõi Cực Lạc “Một câu Di Đà, một đóa bảo liên,” bởi hoa sen Tịnh Độ hiện thành không rời hoa sen công đức của tâm niệm Phật. Và khi mạng chung, thần thức của hành giả sẽ nương theo hoa sen báu ấy mà sanh về Cực Lạc. Chư liên hữu nếu thấy có duyên với phương thức trên đây, nên áp dụng để mau đi vào niệm Phật diệu liên hoa tam muội—Lotus Blossom Recitation. As he recites, the practitioner contemplates the four colours of the lotus blossom (blue, yelow, rd, and white), one colour after another without interruption. With his first utterance of the Buddha's name, he visualizes a huge, blue lotus blossom before his eyes, emitting a blue light. With the second utterance, he visualizes a yellow lotus blossom, emitting a yellow light. The third and fourth utterances are accompanied, respectively, by visualization of red and white lotus flowers, each colour emitting its own light. He then repeats the visualization in the same sequence. As the flowers appear, he imagines a vague, lingering touch of pure, soft lotus fragrance. Ancient masters devised this method because many practitioners in the T'ien-T'ai School, despite using all available techniques, found it difficult to stem their errant thoughts. This method uses various forms and colours to focus mind and thought. These forms and colours take the marks of lotus blossoms in the Seven-Jewel Pond of the Pure Land (one utterance of the Buddha's name, one jewelled lotus blossom), because the lotus blossom appearing in the Pure Land are inseparable from the lotus blossoms created by virtues of reciting mind. At the time of death, the mind-consciousness of the practitioner relies on these jewelled lotus blossoms to achieve rebirth in the Western Pure Land. Should the Pure Land cultivator discover that he has an affinity with this technique, he should apply it and quickly enter the Wonderful Lotus Blossom Buddha Recitation Samadhi. 9) Quang Trung Trì Danh: Vì có hành giả khi nhắm mắt niệm Phật, thường bất chợt thấy những hình tướng ô uế, hoặc màu sắc đen tối xao động nổi lên, nên cổ đức mới truyền dạy cho cách thức nầy. Đây là phương pháp vừa niệm Phật, vừa tưởng mình đang ngồi giữa vùng ánh sáng trong suốt to rộng. Khi tâm đã an định trong vùng quang minh ấy, hành giả cảm thấy thần trí sáng suốt mát mẽ, không những tạp tưởng trừ dứt, mà các tướng uế sắc cũng tiêu tan. Rồi chánh niệm do đó được bền lâu, và tam muội cũng do đó lần lần thành tựu. Đây tuy là phương tiện đặc biệt chuyên trừ tướng uế ác nhưng dù không có nghiệp bệnh ấy, nếu muốn tinh thần thơ thới để đi sâu vào niệm Phật tam muội, hành giả cũng nên áp dụng cách thức nầy—Recitation Amidst Light. This method was specially designed for certain practitioners who, as soon as they close their eyes to recite, suddenly see filthy forms and marks (ugly grimacing faces, for example), or dark forms and colours swirling around. With this technique, the practitioner, while reciting the Buddha's name, visualizes himself seated in the middle of an immense, brilliant zone of light. Within that zone of light, when his mind has quieted down, the practitioner feels bright and refreshed. At that time, not only have deluded thoughts been annihilated, filthy, evil forms have also disappeared. After that, right thought is reinforced and samadhi is, in time, achieved. Although this is a special expedient to destroy evil deluded marks, even the practitioner who is not in this predicament can apply this method to clear his mind and enter deeply into the Buddha Recitation Samadhi. 10) Quán Phật Trì Danh: Pháp quán tưởng trong Quán Kinh rất trọng yếu, công đức cực kỳ to rộng, nhưng chưa phải là phương tiện phổ thông cho chúng sanh thời mạt pháp hành trì. Nhưng vì không muốn bỏ công đức đặc biệt của quán pháp, nên cổ nhân đã thể dụng trong mười sáu phép quán, lựa cách thức dễ tu tập nhứt, lấy trì danh làm chánh, quán Phật làm phụ, gọi là Quán Phật Trì Danh. Hành giả mỗi ngày sau khi niệm Phật, lại để riêng một thời tịnh tâm quán tưởng sắc tướng quang minh của Phật A Di Đà. Cách quán Phật nầy rút lựa phép quán thứ mười ba trong Quán Kinh, tưởng Đức A Di Đà thân cao một trượng sáu, sắc vàng ròng, đứng bên bờ ao thất bảo. Nếu chưa quán tưởng được ao thất bảo, hành giả có thể tưởng Đức Phật đứng trong vùng ánh sáng giữa hư không trước mắt mình, tay trái đưa ngang ngực bắt ấn kiết tường, tay mặt buông sẻ xuống theo thể tiếp dẫn. Muốn quán Phật cho thành tựu, trước tiên nên quán đại khái toàn thân, kế chỉ chuyên tâm quán tưởng lông trắng giữa đôi mày. Tướng bạch hào nầy rỗng không trong suốt như bạch ngọc, có tám cạnh, xoay về bên hữu cao thành năm vòng. Bạch hào là tướng căn bản trong ba mươi hai tướng hảo, khi tướng ấy quán thành, do sự cơ cảm, các tướng kia đều lần lượt hiện rõ. Tuy nhiên, muốn được phần chắc chắn hành giả cũng nên duyệt xem trong kinh, để ghi nhớ rõ 32 tướng tốt của Phật trước khi dụng công. Phương pháp trên đây sở dĩ để trì danh vào phần chánh, vì nếu quán tưởng không thành vẫn còn phần trì danh để bảo đảm cho sự vãng sanh. Nhưng thật ra, trì danh cũng giúp quán tưởng, quán tưởng lại phụ lực cho trì danh; hai phần nầy hổ tương đưa hành giả đến chỗ song song thành tựu. Pháp thức nầy tuy có phần khó hơn các lối khác, song nếu thành tựu thì công đức to rộng vô biên, nên xin đưa ra sau cùng để làm duyên khuyến tấn—Contemplation of the Buddha Recitation. The methods of contemplation taught in the Meditation Sutra are very important and lead to immense virtue, but they are not a popular expedient for sentient beings in the Dharma-Ending Age. Nevertheless, since the ancient masters did not wish to see the special benefits of the meditation method go unused, they selected the easiest of the Sixteen Contemplations (Contemplation of Amitabha Buddha) and combined it with Oral Recitation to form the Contemplation of the Buddha-Oral Recitation technique. Recitation is predominant, with contemplation of the Buddha occupying a subsidiary position. Each day, after reciting the Buddha's name, the practitioner reserves a special period of time for concentrating his mind and contemplating the Embellishments and Light of Amitabha Buddha. This method derived from Contemplation Number Thirteen in the Meditation Sutra, in which Amitabha Buddha is visualized as some sixteen feet tall and of golden hue, standing at the edge of the Seven-Jewel Pond. If the practitioner cannot yet visualize the Seven-Jewel Pond, he can picture Amitabha Buddha standing before his eyes in a zone of light, in open space, the left hand held at chest level and forming the auspicious mudra, the right arm extending downward in the position of welcoming and guiding. To be successful in this meditation, it is necessary, at the outset, to visualize the body of Amitabha Buddha in general, then concentrate on the urna (white mark between the eyebrows). This mark is empty and transparent, like a white gem with eight facets. The urna is the basic mark among the thirty-two auspicious marks of the Buddhas. When this visualization is successful, thanks to the affinity thus created between Amitabha Buddha and the practitioner, other marks will appear clearly, one after another. However, to ensure success, the practitioner should read through the Meditation Sutra, memorizing the thirty-two auspicious marks of Amitabha Buddha before commencing his practice. With this method, Buddha Recitation should be primary, because if the practitioner does not succeed at visualization, he can still fall back on recitation to ensure rebirth in the Pure Land. In fact, recitation aids visualization and visualization complements recitation, so that these two aspects work in parallel, leading the practitioner toward the desired goal. Although this technique is somewhat more difficult than the others, if it can be accomplished successfully, immeasurable benefits are achieved. It is therefore described here at the very end, to foster diligent practice.
thập chủng tu tam muội pháp
(十種修三昧法) Chỉ cho 10 pháp tu Tam muội trong phẩmThập pháp hiện tiền tam muội của kinh Đại tập hiềnhộ quyển 5.Đó là: 1. Tồi chiết ngã mạn: Phá diệt ngã mạn. Tức người tu hành trước hết phải dẹp bỏ tâm ngã kiến và kiêu mạn, đối với Tam bảo và tất cả chúng sinh đều khởi tâm cung kính. 2. Tri ân niệm báo: Biết ơn nhớ báo. Tức người tu hành trước hết phải nhận biết các ơn đức của trời đất, cha mẹ, không lúc nào quên để mong báo đền. 3. Tâm vô tật đố: Tâm không ghen ghét. Tức người tu hành tâm không xiên xẹo, đối với người khác không sinh tâm ganh ghét, kèn cựa xấu xa. 4. Đoạn trừ nghi hoặc: Dứt trừ ngờ vực. Tức người tu hành phải dùng chính tri, chính kiến của chư Phật để trừ tâm nghi hoặc. 5. Thâm tín bất hoại: Tin sâu không hoại. Tức người tu hành phải có niềm tin sâu xa, đối với chính pháp giữ gìn vững chắc.6. Tinh cầu vô quyện: Siêng năng không mỏi mệt. Tức người tu hành phải chăm chỉ tiến lên, không sinh tâm biếng nhác, mỏi mệt. 7. Thường hành khất thực: Thường đi xin ăn. Tức người tu hành phải đi xin ăn để bỏ tâm kiêu căng ngã mạn, đồng thời giúp thí chủ chứa góp phúc lợi. 8. Thiểu dục tri túc: Ít muốn, biết đủ. Tức người tu hành lìa tham, ít muốn, thường tự biết đủ. 9. Nhạo vô sinh pháp nhẫn: Ưa thích vô sinh pháp nhẫn. Tức người tu hành đối với pháp không sinh không diệt, khởi tâm mong cầu, an nhẫn không lùi sụt. 10. Thường niệm tam muội: Người tu hành nên kính thờ những bậc đã chứng được Tam muội, tức khởi tưởng nhớ Phật, thường nghĩ đến Tam muội, tu tập không lùi.
thập chủng tính
(十種性) Mười chủng tính của tất cả chúng sinh. Đó là: 1. Phàm phu tính: Chỉ cho hạng người phàm phu chưa cầu Phật đạo, vì khởi các thứ dị kiến, nhận tính khác nhau trong 5 đường nên Tân dịch là Dị sinh. 2. Tín hành tính: Chỉ cho những người nghe và tin lời dạy của thiện tri thức, rồi tu hành theo đúng lời dạy ấy. Giai vị này tương đương với giai vị Văn tuệ, Tư tuệ trong Tam tuệ và các giai vị Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ trong Thất phương tiện. 3. Pháp hành tính: Chỉ cho người không đợi nghe lời dạy của thiện tri thức, trực tiếp y theo giáo pháp do đức Phật nói mà tu hành. Giai vị tương đương với giai vị Tu tuệ trong Tam tuệ và giai vị Tứ thiện căn sau trong Thất phương tiện. 4. Bát nhẫn tính: Tức giai vị 15 tâm trước trong 16 tâm Kiến đạo. Vì có đầy đủ 8 nhẫn, 7 trí nên gọi là Bát nhẫn tính, tức giai vị khởi trí vô lậu quán Tứ đế và quán Không, không gián đoạn, cũng không ngưng trệ. Lại vì quán lí Tứ đế và tướng không của Tứ đế nên cũng gọi là Vô tướng hành. 5. Tu đà hoàn tính: Chỉ cho quả Dự lưu, tương đương với tâm thứ 16. Vì mới dự vào dòng Thánh nên được gọi là Dự lưu.6. Tư đà hàm tính: Tức quả Nhất lai. Chỉ cho bậc thánh quả thứ 2, là giai vị đã đoạn trừ phẩm Tu hoặc thứ 6 ở cõi Dục. Vì vẩn còn lại 3 phẩm trong 9 phẩm Tu hoặc và phải thụ sinh trong cõi Dục một lẫn nữa nên gọi là Nhất lai. 7. A na hàm tính: Tức quả Bất hoàn, là bậc thánh quả thứ 3, đã đoạn hết 9 phẩm Tu hoặc, không còn trở lại cõi Dục nữa nên gọi là Bất hoàn. 8. A la hán tính: Đoạn hết tất cả Tư hoặc, quả báo trong một đời đã hết, vĩnh viễn vào Niết bàn không trở lại 3 cõi nữa, vì thế cũng gọi là Bất sinh. 9. Bích chi Phật tính: Tức Duyên giác, bậc thánh đã đoạn sạch tập khí. 10. Phật chủng tính: Chủng tính có khả năng thành tựu Phật quả tròn đầy, tự lợi, lợi tha. Lìa bỏ 9 tính trước(chỉ có tự lợi) trái với tâm Bồ đề Vô thượng, nhập chủng tính Phật thuận ứng đại bồ đề, tức là được tam muội Tịnh ấn, vì Tam muội này thanh tịnh, cho nên vượt hơn hàng Thanh văn, Duyên giác, ban phát quang minh cho tất cả chúng sinh, vì thế được ví dụ với bảo châu thanh tịnh.
thập chủng y
(十種衣) Chỉ cho 10 loại y phục mà chúng tỉ khưu có thể sử dụng để mặc. Theo hình dáng mà phân biệt thì gọi là Tam y, hoặc Ngũ y; còn theo chất liệu mà phân biệt thì gọi là Thập chủng y. Thập chủng y là: 1. Câu xá y (Phạm:Kauza), cũng gọi Cao thế da y, Kiêu xa da y (Phạm: Kauzeya): Áo may bằng tơ tằm(vải lụa). 2. Kiếp bối y (Phạm:Karpàsa), cũng gọi là Cát bối y, Kiếp ba dục y: Áo may bằng vải bông. 3. Khâm bà la y (Phạm: Kambara): Áo may bằng vải lông dê. Có chỗ gọi là Hệ xa (Phạm:Keza, lông tóc) Khâm bà la y. 4. Sô ma y (Phạm: Kwauma): Loại áo may bằng vải gai. 5. Xoa ma y (Phạm: Kwama), còn gọi Tiêm ma y, cũng may bằng vải gai. 6. Xá nâu y (Phạm:Zàịa), cũng gọi Xa na y, Phiến na y: Áo may bằng vỏ cây giống như gai. 7. Ma y: Áo vải gai. 8. Sí di la y (Phạm:Cìra): Áo may bằng vải vỏ cây. 9. Câu nhiếp la y, cũng gọi Câu già la y, Cưu di la y: Áo may bằng lông chim Câu sí la (Phạm:Kokila) và bằng lông chim Cưu na la (Phạm:Kuịàla)... 10. Sấn la bát ni y (Phạm:Zaraparịi, cũng gọi là Sấm la bán ni y, Sai ba la ni y, Xí la bà ni y. Tức áo được làm bằng cỏ, cũng có khi dùng sợi tăm hoang làm sợi ngang và cỏ gai làm sợi dọc. Luận Ma ha tăng kỉ quyển 28 chỉ nêu có 7 loại y, còn Thiện kiến luật tì bà sa thì nêu 6 loại.
thập chủng y quả
(十種依果) Chỉ cho 10 loại y quả, tức 10 thứ công đức mà người tu Bồ tát thừa đạt được nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 36 (bản dịch cũ).Y quả tức là hạnh trước nương vào hạnh sau, hoặc các hạnh nương nhau đều được tăng trưởng, cũng tức là quả tương y. Mười yquả là: 1. Bồ đề tâm y quả: Rốt ráo không quên tâm bồ đề. 2. Thiện tri thức y quả: Bạn tốt tùy thuận hòa hợp. 3. Thiện căn y quả: Nuôi lớn các căn lành.4. Chư ba la mật y quả: Tu hành các độ một cách rốt ráo. 5. Nhất thiết pháp y quả: Nương vào tất cả pháp, vĩnh viễn ra khỏi sinh tử. 6. Chư nguyện y quả: Phát khởi các đại nguyện nuôi lớn bồ đề. 7. Chư hạnh y quả: Tu tập rộng các hạnh. 8. Bồ tát y quả: Được Nhất sinh bổ xứ của Bồ tát. 9. Cúng dường Phật y quả: Cúng dường Phật và lòng tin vững bền. 10. Nhất thiết Như lai y quả: Như lai có năng lực trao cho chính giáo khiến lìa điên đảo. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 17 cho rằng Thập chủng y quả là điểm tựa để phát khởi các hạnh, nên cho đây là bậc nhất trong các hành tướng của Tín vị và đặt ở đầu 2000 hành pháp Phổ hiền, lại phân tích rõ về thứ tự như sau: 1. Bồ đề tâm y quả được xếp lên đầu, vì tâm bồ đề là gốc của muôn hạnh, nếu không quên mất tâm Bồ đề thì các hạnh khác mới được tăng trưởng. 2. Tuy bên trong có thắng tâm, nhưng nếu bên ngoài không có bạn tốt thì hạnh cũng không thành, nếu không thuận bạn tốt thì vô công chứ chẳng phải y quả, cho nên phải dùng tùy thuận hòa hợp mới thành y quả. 3. Nếu không có căn lành đời trước thì không thể thuận tu, nên cần phải nương vào căn lành đời trước để tăng thêm hạnh mới.4. Nếu chưa thể tu hành rốt ráo thì cũng không thể tu rộng các độ. 5. Nếu lí pháp không thông suốt rỗng rang thì đến đâu cũng thấy trệ ngại, cho nên nương tất cả pháp thì đều được xuất li. 6. Nếu không có đại nguyện thì sẽ rơi vào tịch lặng, không tăng trưởng bồ đề. 7. Nếu không tu hành thắng tiến thì không thể được rốt ráo. 8. Vì bên ngoài rất cần nương vào bạn tốt, cho nên phải coi hàng Bồ tát ngoài Bồ tát Nhất sinh bổ xứ là các huynh trưởng, mới xứng đáng làm nơi nương tựa. 9. Cúng dường Phật để thành niềm tin vững chắc. 10. Chỉ có đức Như lai là chỗ nương rốt ráo, vì Ngài có năng lực ban cho chính giáo để xa lìa điên đảo.
thập chủng đà la ni
Mười thứ Đà-La-Ni của chư Bồ Tát được Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm 38—Ly Thế Gian)—Ten kinds of mental command of Enlightening Beings mentioned by the Buddha in The Flower Adornment Sutra (Chapter 38—Detachment from the World). 1) Văn trì Đà La Ni, vì trì tất cả các pháp chẳng quên mất: Mental command of retaining what they hear, as they retain all teachings without forgetting. 2) Tu hành Đà-La-Ni, vì như thiệt khéo quán tất cả các pháp: Mental command of practice, as they skillfully observe all things as they really are. 3) Tư duy Đà-La-Ni, vì biết rõ tánh của tất cả các pháp: Mental comand of reflection, as they comprehend the nature of all things. 4) Pháp quang minh Đà-La-Ni, vì chiếu bất tư nghì Phật pháp: Mental command of light of the teachings, as they alumine the inconceivable attributes of Buddhahood. 5) Tam muội Đà-La-Ni, vì ở khắp chỗ hiện tại tất cả Phật nghe chánh pháp tâm chẳng loạn: Mental command of concentration, as their mind are not distracted as they hear the teachings of all Buddhas of the present. 6) Viên Âm Đà La Ni, vì hiểu rõ bất tư nghì âm thanh ngữ ngôn: Mental command of universal sound, as they understand inconceivable numbers of uterances. 7) Tam Thế Đà La Ni, vì diễn nói tam thế những Phật pháp bất tư nghì: Mental command of all times, as they expound the inconceivable Buddha teachings of all times. 8) Chủng Chủng Biện Tài Đà La Ni, vì diễn nói vô biên những Phật pháp: Mental command of various intellectual powers, as they expound boundless Buddha teachings. 9) Xuất Sanh Vô Ngại Nhĩ Đà La Ni, vì đều có thể nghe được pháp bất khả thuyết của chư Phật đã nói: Mental command of producing unobstructed ears, as they hear all the teachings of untold Buddhas. 10) Nhứt thiết Phật pháp Đà La Ni, vì an trụ nơi lực vô úy của Như Lai: Mental command of all qualities of Buddhahood, as they are firmly established in the powers and fearlessnesses of the enlightened.
thập chủng đại thừa luận
(十種大乘論) Luận, do ngài Tăng xán soạn vào đời Tùy.Bản luận này là do thu tập và chỉnh lí các bài thuyết giảng khi soạn giả trụ ở chùa Đại hưng thiện mà thành. Nội dung luận chia làm 10 mục: Thông, Bình, Nghịch, Thuận, Tiếp, Tỏa, Mê, Mộng, Tương tức và Trung đạo. Trong sách có viện dẫn văn kinh luận, mỗi mỗi đều có điển cứ. Tác phẩm này là 1 trong các sách nhập môn của người học đương thời. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12].
thập chủng đắc giới duyên
(十種得戒緣) Mười duyên được giới Cụ túc theo thuyết của Hữu bộ Tiểu thừa. Đó là: 1. Tự nhiên đắc: Tự nhiên phát được giới Cụ túc. Nghĩa là Phật và bậc Duyên giác, lúc phát ra Tận trí thì tự nhiên được giới Cụ túc mà không cần thầy truyền thụ.Điều này chỉ xảy ra với Phật và bậc Duyên giác mà thôi. 2. Kiến đế đắc (cũng gọi Kiến đạo đắc):Khi lên đến giai vị Kiến đạo quán xét lí 4 đế mà được. Tức khi đức Thế tôn mới thành đạo, lúc độ cho 5 vị tỉ khưu, đứng đầu là ngài A nhã kiều trần như, các vị này nghe lí 4 đế mà tự được giới. 3. Thiện lai đắc: Đến đây được. Đức Phật thấy căn cơ của ngài Da xá đã thuần thục, nên gọi Tỉ khưu đến đây!(Thiện lai tỉ khưu!), ngài Da xá liền được giới ngay tại chỗ. Trường hợp này chỉ có Phật mới làm được. 4. Tự thệ đắc: Tự mình thề mà được. Nghĩa là tự thệ nguyện vững chắc mà được giới. Như ngài Đại Ca diếp tin nhận Phật là bậc Đại sư, tự phát lời thề mà được giới. Việc tự thệ đắc giới chỉ có ngài Ca diếp mới làm được. 5. Luận nghị đắc: Do luận nghị mà được. Nghĩa là cùng vấn đáp luận nghị với Phật mà được giới, như trường hợp ngài Tô đà di. 6. Thụ trọng đắc(cũng gọi Kính trọng đắc, Bát kính đắc): Do kính trọng mà được. Nghĩa là do thụ trì 8 pháp tôn trọng (Bát kính) mà được giới, như trường hợp tỉ khưu ni Đại ái đạo, di mẫu của Phật. 7. Khiểntín đắc(cũng gọi Khiển sứđắc): Do đưa tin mà được. Nghĩa là do Phật sai đi đưa tin mà được giới, như trường hợp ni Pháp thụ. 8. Biên ngũ đắc(cũng gọi Ngũ nhân đắc): Do 5 người mà được. Nghĩa là ở vùng biên giới ít chư tăng, nếu không thể truyền giới đầy đủ Tam sư, Thất chứng(gồm 10 người) như theo qui định chính thức thì được phép tác pháp truyền giới với 4 vị tăng và 1 vị Yết ma. 9. Yết ma đắc(cũng gọi Thập chúng đắc): Do 10 người được. Nghĩa là ở những nơi đô hội có đông chư tăng phải lập đủ Tam sư, Thất chứng(gồm 10 người), y theo qui định thực hành yết ma tác pháp truyền giới.10. Tam qui đắc: Do 3 qui y mà được. Nghĩa là nghe 3 qui y Tam bảo Phật, Pháp, Tăng mà được giới. Như 16 vị Hiền Thánh 3 lần nghe qui y Tam bảo mà được giới Cụ túc.Mười duyên đắc giới trên đây có xuất xứ từ luật Thập tụng quyển 56, luận Tạp tâm quyển 3, luận Câu xá quyển 14, nhưng duyên đắc giới thì tùy theo các luật, luận mà có chỗ giống nhau, có chỗ khác nhau.
thập chủng đắc địa tam muội
(十種得地三昧) Mười công năng do Bồ tát tu đắc địa tam muội mà đạt được. Đó là: 1. Quảng đại vô biên: Rộng lớn vôbiên. Chỉ cho công đức trí tuệ của Bồ tát không thể nghĩ bàn, hành nguyện trang nghiêm vô lượng vô biên. Ví như Đại địa trùm khắp 10 phương, không có giới hạn. 2. Tồn tế chúng sinh: Dung nạp cứu giúp chúng sinh sống còn. Chỉ cho tâm từ bi rộng lớn của Bồ tát thực hành 6 độ, cứu giúp tất cả hữu tình trong pháp giới. Như mặt đất rộng lớn bao la, dung chứa tất cả chúng sinh, giúp cho sinh tồn. 3. Ân bất vọng báo: Ơn chẳng mong được báo đền. Nghĩa là Bồ tát làm lợi cho tất cả chúng sinh, nhưng tâm không mong được báo đáp. Ví như đại địa sinh ra và nuôi nấng muôn vật cũng không cầu được đền trả. 4. Phổ năng dung thụ: Có khả năng dung nạp khắp. Nghĩa là đối với vô lượng vô biên pháp do đức Phật nói, Bồ tát có khả năng nhất tâm thụ trì, không bỏ sót pháp nào. Ví như đại địa, dù trời đổ mưa bao nhiêu cũng có khả năng tiếp nhận. 5. Chúng sinh y chỉ: Chúng sinh nương tựa. Nghĩa là Bồ tát có thể làm nơi nương tựa cho tất cả hữu tình. Ví như đại địa có khả năng làm chỗ nương tựa cho hết thảy muôn vật. 6. Năng sinh thiện chủng: Có khả năng sinh ra các hạt giống lành. Nghĩa là Bồ tát dùng sức phương tiện, có thể khiến tất cả chủng tử thiện căn của hết thảy hữu tình đều được nhờ mưa pháp mà nảy nở. Ví như hết thảy hạt giống ở thế gian đều nương vào đất mà sinh trưởng. 7. Như lai bảo khí: Như đồ chứa của báu. Nghĩa là Bồ tát dùng sức phương tiện có thể giúp hết thảy hữu tình tu tập tất cả của báu công đức thiện pháp, tùy theo căn khí, đều nhờ Bồ tát mà được thành tựu. Ví như đại địa là đồ chứa các của báu. 8. Năng xuất chúng dược: Có khả năng sinh ra các loại thuốc. Nghĩa là sự nói pháp của Bồ tát có năng lực tiêu trừ tất cả bệnh phiền não của hữu tình. Ví như đại địa sinh ra tất cả các loại thuốc thần diệu, có khả năng chửa khỏi tất cả các chứng bệnh. 9. Bất khả khuynh động: Không thể nghiêng động. Nghĩa là Bồ tát dùng năng lực thiền định chịu đựng mọi cảnh thuận,nghịch, tất cả các duyên bên trong cũng như bên ngoài đều không thể nhiễu loạn. Ví như đại địa, không một sức gì làm nghiêng động được. 10. Bất kinh bất úy: Không kinh hãi sợ sệt. Nghĩa là Bồ tát dùng năng lực thiền định và trí tuệ, an trụ trong chính lí, hoàn toàn không sợ hãi sự xâm hại của tà ma ngoại đạo. Ví như đại địa, tuy gặp bão táp sấm sét cũng vẫn an nhiên tự tại.
thập cát tây minh phi
Pukkasi (S) Một trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở đông nam cung.
thập công đức
Ten merits (or powers) commended by the Buddha to his bhiksus - zealous progress, contentment with few desires, courage; learning (so as to teach), fearlessness, perfect observance of the commands and the fraternity's regulations, perfect meditation, perfect wisdom, perfect liberation, and perfect understanding of it.
; Mười công đức---The ten merits (powers) commended by the Buddha to his bhiksus: 1) Tinh tấn: Zealous progress. 2) Tri túc: Contentment with few desires. 3) Kiên trì (bất thối): Courage. 4) Học tu và chia xẻ: To learn and to teach. 5) Vô úy: Fearlessness. 6) Trì giới: Perfect observance of the commandments and fratenity's regulations. 7) Toàn định: Perfect meditation. 8) Thông hiểu hoàn toàn: Perfect understanding of the dharma. 9) Toàn huệ: Perfect wisdom. 10) Toàn giác: Perfect liberation.
; (十功德) Cũng gọi Thập đức, Thập sự công đức. Chỉ cho 10 thứ công đức mà Bồ tát tu hành kinh Đại bát niết bàn đạt được nói trong phẩm Quang minh biến chiếu cao quí đức vương bồ tát, kinh Đại bát niết bàn. Đó là: 1. Nhập trí công đức: Tức đạt được công đức quán xét, hiểu tỏ, hướng tới chỗ chân thực. Nếu biện biệt cho rõ thì có 5 tướng: a. Được nghe những điều chưa nghe. b. Nghe rồi thì làm lợi ích. c. Dứt được lòng ngờ vực. d. Tâm tuệ ngay thẳng không xiên xẹo. e. Biết được tạng sâu kín của Như lai. Trong đó, (a) là văn tuệ, (b) và (c) là tư tuệ, (d) là tu tuệ, (e) là chứng trí. 2. Khởi thông công đức: Đạt được diệu dụng tùy duyên. Có 5 tướng: a. Được những điều chưa được. b. Đến những chỗ chưa đến. c. Nghe những điều chưa nghe. d. Thấy những điều chưa thấy. e. Biết những điều chưa biết. Trong đó, (a) và (b) là thân thông, (c) là thiên nhĩ thông, (d) là thiên nhãn thông, (e) là tha tâm thông, túc mệnh thông. 3. Đại vô lượng công đức: Tâm giáo hóa rộng lớn. Tức là tâm đại bi vô duyên của Bồ tát, như hư không, không phân biệt, có năng lực mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh.4. Thập lợi ích thành tựu công đức: Thành tựu 10 lợi ích, kiến lập hạnh đức. Có 10 thứ khác nhau: a. Gốc sâu khó nhổ. b. Nơi tự thân sinh ý tưởng quyết định. c. Không thấy có ruộng phúc và chẳng phải ruộng phúc. d. Tu tịnh độ của Phật. e. Diệt trừ hữu dư. g. Đoạn trừ nghiệp duyên. h. Tu thân thanh tịnh. i. Rõ biết các duyên. k. Lìa oán địa. l. Trừ 2 bên (có, không...) 5. Ngũ sự báo quả thành tựu công đức: Quả báo thù thắng tròn đủ, tức thành tựu 5 bậc: a. Đầy đủ các căn. b. Không sinh nơi biên địa; thường tùy loại giáo hóa. c. Được chư thiên ưa mến. d. Được tất cả đại chúng người, trời cung kính cúng dường. e. Được trí túc mệnh (tức trí biết rõ đời trước). Trong đó (a) và (b) thuộc về báo, (c) và (d) thuộc về phúc, (e) thuộc trí. 6. Tâm tự tại công đức: Được tam muội Kim cương, là bậc nhất trong các Tam muội, làm việc gì cũng thông suốt, không bị trở ngại. 7. Tu tập đối trị công đức: Tức khéo tu tập 4 pháp xa lìa lỗi lầm: a. Gần gũi thiện tri thức. b. Chuyên tâm nghe pháp. c. Tập trung tâm tư duy. d. Tu hành đúng như pháp. 8. Đối trị thành tựu công đức: Kiến lập công đức giải thoát, có 8 việc: a. Đoạn sắc, thụ, tưởng, hành và thức. b. Lìa thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. c. Thành tựu niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm xứ, niệm thiên. d. Tu tri định, tịch định, thân tâm lạc định, vô lạc định và thủ lăng nghiêm định. e. Giữ tâm bồ đề. g. Gồm 4 pháp: đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả. h. Tin thuận nhất thực, tức Nhất Đại thừa.i. Tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tức diệt tham, sân, si, biết tất cả pháp vô ngại. 9. Tu tập chính đạo công đức: Tức khởi tu thượng thuận, gồm 5 pháp: a. Tín tâm. b. Trực tâm. c. Giới tâm. d. Gần bạn lành. e. Nghe nhiều. 10. Chính đạo thành tựu công đức: Tức tu tập 37 phẩm trợ đạo, nhập vào thường, lạc, ngã, tịnh của Đại niết bàn, tuyên thuyết kinh Đại niết bàn, hiển bày Phật tính. Nếu bàn chung về sự quan hệ giữa Thập công đứcnàyvà Ngũ hạnh thì cả 2 đều là các pháp trước sau do các giai vị Bồ tát tu hành; nếu bàn riêng thì Ngũ hạnh là các pháp tu của hàng Bồ tát trước giai vị Sơ địa, còn Thập chủng công đức là các pháp tu của Bồ tát từ Sơ địa trở lên.
thập công đức luận
(十功德論) Chỉ cho 10 việc công đức ghi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 43, do đức Phật giảng nói để ngăn chặn các tỉ khưu bàn luận các việc thế tục vô ý nghĩa, khiến họ tư duy về chính pháp hầu lìa bỏ các đường ác. Đó là: 1. Tinh tiến siêng năng. 2. Ý muốn biết đủ. 3. Có tâm mạnh mẽ. 4. Nghe nhiều và nói pháp cho người khác.5. Không sợ hãi. 6. Đầy đủ giới luật. 7. Thành tựu tam muội. 8. Thành tựu trí tuệ. 9. Thành tựu giải thoát. 10. Thành tựu giải thoát kiến tuệ. Nếu bàn về 10 việc trên đây thì tất cả đều được thấm nhuần, mang lại nhiều lợi ích, tu hành phạm hạnh, được đến chỗ tận diệt vô vi, là then chốt của việc đạt đến Niết bàn.
thập cú nghĩa
Daśa-padarthah (S).
; (十句義) I. Thập Cú Nghĩa. Chỉ cho 10 tinh thần cơ bản do Tăng đoàn Phật giáo kiến lập. Cứ theo luật Tứ phần quyển 1, Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 1 và luận Thập tụng quyển 1 thì Thập cú nghĩa là: 1. Thu nhiếp và hộ trì chúng tăng. 2. Làm cho chúng tăng hoan hỉ. 3. Khiến cho chúng tăng được an vui. 4. Người nào chưa tin thì làm cho tin. 5. Người tin rồi thì làm cho niềm tin ấy tăng trưởng. 6. Người nào khó điều phục thì gắng sức điều phục. 7. Người có tâm hổ thẹn thì an vui. 8. Dứt hữu lậu ở hiện tại. 9. Dứt hữu lậu trong tương lai. 10. Làm cho chính pháp ở lâu nơi đời. II. Thập Cú Nghĩa. Phạm: Daza padàrthà#. Chỉ cho 10 phạm trù dùng để trình bày về thực thể thuộc tính và nguyên lí sinh thành, hoại diệt của tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ, là chủ trương của học phái Thắng luận (Phạm:Vaizewika) ở Ấn độ, do ngài Tuệ nguyệt (Phạm: Maticandra) đề xướng. Đó là: 1. Thực(Phạm:Dravya)cú nghĩa: Thực thể của các pháp, cũng là thể sở y(chỗ nương) của 9 cú nghĩa còn lại, gồm có 9 nguyên tố: Đất, nước, lửa, gió, hư không, thời gian, phương hướng, ngã và ý. Chín nguyên tố này hình thành vạn hữu, 5 nguyên tố trước thuộc vật chất, nguyên tố thời gian, phương hướng thuộc thời, không gian, ngã và ý là chỉ cho nguyên tố tâm lí. 2. Đức (Phạm: Guịa) cú nghĩa: Chỉ cho thuộc tính và công năng của Thực cú nghĩa. Tức các nghĩa tính chất, trạng thái, số lượng... của sự vật, gồm 24 thứ: Sắc, vị, hương, xúc, số lượng, biệt thể, hợp, li, bỉ thể, thử thể, giác, lạc, khổ, dục, sân, cần dũng, trọng thể, dịch thể, nhuận, hành, pháp, phi pháp, và thanh(thuyết xưa không có 7 tính từ trọng thể trở xuống). 3. Nghiệp (Phạm: Karma) cú nghĩa : Chỉ cho động tác của thực thể, gồm có 5 thứ: Thủ nghiệp, xả nghiệp, khuất nghiệp, thân nghiệp và hành nghiệp(tức là các động tác lấy, bỏ, co, duỗi, đi...), 5 thứ nghiệp(hành động)bao hàm tất cả vận động. 4. Đồng (Phạm:Sàmànya)cú nghĩa: Tức hữu tính nên cũng gọi Hữu cú nghĩa, là nguyên lí của các nguyên nhân đồng loại hỗ tương của sự vật; là nhân để biết 3 thứ Thực, Đức, Nghiệp, cùng là Hữu, cùng để giải thích trí. 5. Dị (Phạm: Vizewa) cú nghĩa : Nguyên lí tạo cho vạn hữu tất cả tính đặc thù, tính cá biệt, khiến chúng sinh ra các nguyên nhân sai khác(dị), cho nên mới tạo ra sự sai khác giữa 9 thứ Thực cú nghĩa. 6. Hòa hợp (Phạm: Samavàya) cú nghĩa: Kết hợp 5 nguyên lí độc lập nói trên, tức chỉ cho nguyên lí hệ thuộc khiến tất cả có mối quan hệ cộng đồng. 7. Hữu năng (Phạm: Zakti)cú nghĩa: Hòa hợp với 3 cú nghĩa Thực, Đức, Nghiệp, quyết định nhân phải tạo tự quả cộng đồng hoặc cá biệt. 8. Vô năng (Phạm: Azakti) cú nghĩa: Hòa hợp với 3 cú nghĩa Thực, Đức, Nghiệp, quyết định phải có nhân để không tạo các quả khác ngoài việc tạo tự quả 3 cú nghĩa nói trên. 9. Câu phần (Phạm: Sàdfzya) cú nghĩa: Một pháp thể có nhân vừa đồng vừa khác, tức sự quan hệ giữa pháp giống nhau và khác nhau, ngoại trừ cú nghĩa đồng, dị cực đoan, còn tất cả sự quan hệ khác đều bao hàm trong cú nghĩa này. 10. Vô thuyết (Phạm: Abhàva) cú nghĩa: Đối với nguyên lí của 9 thứ tồn tại nói trên, thì Vô thuyết cú nghĩa trở thành nguyên lí phi tồn tại. Hãy lấy Thực, Đức, Nghiệp làm ví dụ, nếu nhân duyên chưa hòa hợp thì có Vị sinh vô của cái chưa sinh; năng lực nhân duyên hết thì có Dĩ diệt vô của cái đã diệt; có 1 phương thì có cánh hỗ vô của phương khác; có sự bất hòa hợp giữa Tính và Thực, Đức, Nghiệp cho nên có bất hội vô, vì không có nhân nên có tất cánh vô của bất sinh trong quá khứ, hiện tại và vị lai.
Thập cú nghĩa luận 十句義論
[ja] ジュウコウギロン Jūkōgi ron ||| The Shijuyi lun; The abbreviated title of the 勝宗十句義論. => Viết tắt của Thắng tông thập cú nghĩa luận.
thập cúng dường
Theo Kinh Pháp Hoa, có mười thứ lễ vật cúng dường—According to The Lotus Flower Sutra, there are ten kinds of offerings: 1) From (1) to (6)—See Lục Cúng Cụ. 7) Tràng Phan Bảo Cái: Pennants and Banners. 8) Quần Áo: Clothes. 9) Đàn dành cho lễ hội: Musical instruments for ceremonies. 10) Hợp Chưởng: Anjali (skt)—Salutation with joined palms—See Anjali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Thập căn bản phiền não 十根本煩惱
[ja] ジュウコンポンボンノウ jū konpon bonnō ||| The ten basic defilements. Also known as 十惑 and 十使. => Mừơi phiền não căn bản. còn gọi là Thập hoặc, Thập sử.
Thập căn bản 十根本
[ja] ジュウコンポン jū konpon ||| See next 十根本煩惱. => Xem mục Thập căn bản phiền não kế theo
thập cảnh
Ten objects of or stages in meditation quán in the Thiên Thai school, i.e. cõi ấm, the five skandhas; cảnh phiền não, life's distresses and illusion; cảnh bệnh hoạn, sickness, or dukkha, its cause and cure; cảnh nghiệp tướng, age-long karmaic influence; cảnh ma sự, màra affairs, how to overthrow their rule; cảnh thiền định, the conditions of dhyàna and samàdhi; cõi các kiến, various views and doubts that arise; cõi mạn, pride in progress and the delusion that one has attained nirvàna; cõi nhị thừa, temptation to be contest with the lower nirvàna, instead of going to the greater reward; cõi bồ tát, bodhisattvahood.
; Ten stages or objects in meditation: 1) Phiền não: Life's distress and delusion. 2) Bịnh hoạn: Dhukha—Sickness—Its cause and cure. 3) Nghiệp tướng: Age-long karmic influences. 4) Ma quân: Mara affairs—How to overthrow their rule. 5) Thiền định: The condition of meditation and concentration (Dhyana and Samadhi). 6) Chư kiến: Various views and doubts that arise. 7) Mạn: Pride in progress and the delusion that one has attained nirvana. 8) Nhị thừa Thanh Văn: Sravakas—Temptation to be content with the lower nirvana. 9) Nhị Thừa Duyên Giác: Pratyeka-buddhas. 10) Bồ Tát: Bodhisattvahood.
; (十境) Cũng gọi Chỉ quán thập cảnh, Thập chủng quán cảnh. Mười cảnh sở quán của Thập thừa quán pháp trong tông Thiên thai. Đó là: 1. Ấm giới nhập cảnh(cũng gọi Ấm nhập giới cảnh, Ấm nhập cảnh, Ấm vọng cảnh): Tức lấy 5 ấm, 12 nhập, 18 giới làm đối tượng để quán xét. Khi tu chính quán thì chỉ lấy Thức ấm trong 5 ấm làm đối tượng, tức lấy tâm tán động hiện thực hàng ngày làm đối tượng mà quán tưởng lí của tâm này tức Không, Giả, Trung. Vì thân của hành giả do 5 ấm và 12 nhập hợp thành, thường tự hiện trước, cho nên đặc biệt lấy nó làm cảnh đầu tiên để quán xét. 2. Phiền não cảnh: Tức quán xét cảnh do các hoặc(phiền não) tham, sân, si... dẫn khởi. Năm ấm, 12 nhập... là theo các phiền não mà sinh khởi, cho nên phải quán tham, sân, si, là nguyên nhân của chúng. 3. Bệnh hoạn cảnh(cũng gọi Bệnh cảnh): Bệnh hoạn do 4 đại không điều hòa hoặc do tuquánmà phát khởi, dùng nó làm đối cảnh, quán xét tướng bệnh, nguyên nhân của bệnh và phương pháp trị bệnh. 4. Nghiệp tướng cảnh(gọi tắt là Nghiệp cảnh): Quán 3 cảnh trên đều là các nghiệp tướng do phiền não thiện, ác của chính mình đã gây ra từ xưa, nay hiện hành, bởi thế, đối với cảnh này không nên vui mừng, cũng không nên sợ hãi mà phải quán xét rõ ràng, thì các cảnh tướng ấy tự nhiên tiêu diệt.5.Ma sự cảnh (gọi tắt là Ma cảnh): Khi quán xét nghiệp tướng mà cái ác tiêu diệt thì thiên ma sợ hãi và gây nhiễu loạn thêm, vì thế phải quán tưởng biết rõ sự chết. 6. Thiền định cảnh(cũng gọi Thiền môn cảnh, Thiền phát cảnh, Thế thiền cảnh, Thiền cảnh): Khi quán xét để diệt trừ ma sự nhưng chân trí vẫn chưa sinh, sẽ khởi các thiền định như Tứ thiền, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền... nhưng nếu đắm trước vào thiền vị này thì sẽ thành chướng ngại cho Chỉ quán, cho nên phải lần lượt quán xét các cảnh thiền. 7. Chư kiến cảnh(gọi tắt là Kiến cảnh): Khi quán xét các cảnh có thể sinh kiến giải tương tự chân lí, hoặc khi nghe pháp mà sinh ra trí giải tương tự diệu ngộ, nhưng đó đều thuộc tà kiến, thiên kiến chứ không phải chân lí, nếu đắm trước thì sẽ chướng ngại cho Chỉ quán, bởi vậy cần phải quán xét các kiến giải một cách sâu sắc. 8. Tăng thượng mạn cảnh (Cũng gọi Thượng mạn cảnh, Mạn cảnh): Khi quán xét các kiến giải trên đã biết là sai lầm thì có thể lại lầm tưởng chính trạng thái ấy là Niết bàn, rồi sinh tâm kiêu mạn mà chướng ngại Chỉ quán, cho nên phải quán xét tăng thượng mạn. 9. Nhị thừa cảnh: Khi kiến và mạn ngưng lặng thì sẽ sinh tâm mãn túc mà thiên chấp lí rỗng lặng, không thể nào tiến vào Đại thừa mà lại rơi vào Nhị thừa, cho nên phải quán xét Nhị thừa. 10. Bồ tát cảnh: Khi tâm Nhị thừa lắng xuống thì đồng thời sẽ sinh tâm Bồ tát Tạng, Thông, Biệt mà chướng ngại Chỉ quán, vì thế lại phải quán xét cảnh này. Như đã trình bày ở trên, theo thứ tự quán xét 10 cảnh tướng, cuối cùng sẽ phát sinh trí giải thực tướng Viên giáo. Trong 10 thì Ấm nhập cảnh thường tự hiện trước mắt chúng sinh, vì thế Thập thừa quán pháp trước hết phải dùng cảnh này làm đối tượng quán xét. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3, hạ; Tứ giáo nghi Q.11].
thập cẩm
Miscellaneous.
thập cửu chấp kim cương
(十九執金剛) Chỉ cho 19 vị Chấp kim cương được xếp vào hội tòa thuyết pháp của kinh Đại nhật, là Nội quyến thuộc của đức Đại nhật Như lai. Đó là: Hư không vô cấu, Hư không du bộ, Hư không sinh, Bị tạp sắc y, Thiện hạnh, Trụ nhất thiết pháp bình đẳng, Ai mẫn vô lượng chúng sinh, Na la diên lực, Đại na la diên lực, Diệu, Thắng tấn, Vô cấu, Nhận tấn, Như lai giáp, Như lai cú sinh, Trụ vô hí luận, Như lai thập lực sinh, Vô cấu nhãn và Kim cương thủ bí mật chủ. Mười chín vị tôn này biểu thị đức đại trí của Như lai, nếu phân biệt kĩ thì 18 vị Chấp kim cương đều là Biệt đức, còn vị Kim cương thủ bí mật chủ thứ 19 là Tổng đức. Trong các vị tôn Biệt đức, nếu phân biệt theo tự chứng, hóa tha thì 6 vị Kim cương đầu là tự chứng, 3 vị kim cương thứ 7, thứ 8, thứ 9 là các vị tôn hóa tha, 9 vị còn lại thì chung cả tự chứng và hóa tha. Con số 19 này được triển khai từ Nội chứng thập cửu bố tự của Bất động minh vương. Bất động minh vương chính là Giáo lệnh luân thân của Thai tạng giới.
thập cửu thuyết pháp
(十九說法) hỉ cho 19 thứ thân do bồ tát Quán thế âm thị hiện ra để tùy theo căn cơ và chủng loại của chúng sinh mà thuyết pháp: Đó là: Thân Phật, thân Bích chi Phật, thân Thanh văn, thân Phạm vương, thân Đế thích, thân Tự tại thiên, thân Đại tự tại thiên thân Thiên đại tướng quân, thân Tì sa môn, thân Tiểu vương, thân Trưởng giả, thân Cư sĩ, thân Tể quan, thân Bà la môn, thân Tứ chúng(tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di), thân Tứ phụ nữ(thân phụ nữ Trưởng giả, thân phụ nữ Cư sĩ, thân phụ nữ Tể quan, thân phụ nữ Bà la môn), thân Đồng nam đồng nữ, thân Thiên long bát bộ (thân trời, thân rồng, thân Dạ xoa, thân Càn thát bà, thân A tu la, thân Ca lâu la, thân Khẩn na la, thân Ma hầu la già) và thân Chấp kim cương.
thập di vãng sinh truyện
(拾遺往生傳) Cũng gọi Nhật bản thập di vãng sinh truyện. Truyện kí, 3 quyển, do ngài Tam thiện Vi khang người Nhật bản biên soạn, được thu vào Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư. Nội dung thu chép sự tích của 95 vị được vãng sinh Tịnh độ mà trong Tục bản triều vãng sinh truyện còn bỏ sót.
thập diễn thuyết môn
Ten kinds of exposition of the inumerable facets of the Teaching of the Buddhas—See Mười Môn Diễn Thuyết Vô Lượng Của Chư Phật.
thập diệu
The ten wonders or incomprehensibles; there are two groups, the tích traceable or manifested and bản môn the fundamental. The tích môn thập diệu are the wonder of: (1) cảnh diệu, the universe, sphere, or whole, embracing mind, Buddha and all things as a unity; (2) trí diệu, a Buddha's all embracing knowledge arising from such universe; (3) hành diệu, his deeds, expressive of his wisdom; (4) vị diệu, his attainment of all the various Buddha stages, i.e. thập trụ and thập địa; (5) tam pháp diệu, his three laws; (6) cảm ứng diệu, his response to appeal; (7) thần thông diệu, his supernatural powers; (8) thuyết pháp diệu, his preaching; (9) quyến thuộc diệu, his supernatural retenue; (10) lợi ích diệu, the blessings derived through universal elevation into Buddhahood. The bản môn thập diệu are the wonder of: (1) bản nhân diệu, the initial impulse or causative stage of Buddhahood ; (2) bản quả diệu, its fruit or result; (3) quốc độ diệu, his (Buddha) realm; (4) cảm ứng diệu, his response (to human needs); (5) thần thông diệu, his supernatural powers; (6) thuyết pháp diệu, his preaching; (7) quyến thuộc diệu, his supernatural retinue; (8) niết bàn diệu, his nirvàna; (9) thọ mệnh diệu, his (eternal) life; (10) lợi ích diệu, his blessings.
; The ten wonders or incomprehensibles: 1) Cảnh diệu: The universe, sphere, or whole, embracing mind, Buddha, and all things as a unity. 2) Trí diệu: A Buddha's all embracing knowledge arising such universe. 3) Hạnh diệu: Buddha's deeds, expressive of his wisdom. 4) Vị diệu: His attainment of all the various Buddha stages (thập trụ và thập địa). 5) Tam pháp diệu (Giới, Định, Huệ): His three laws (Truth, Wisdom and Vision). 6) Cảm ứng diệu: His response to appeal (his spiritual response or relation to humanity. To him, all beings are his children). 7) Thần thông diệu: His supernatural powers. 8) Thuyết pháp diệu: His preaching. 9) Quyến thuộc diệu: His supernatural retinue. 10) Lợi ích diệu: The blessing derived through universal elevation into Buddhahood.
; (十妙) Chỉ cho 10 nghĩa siêu việt, thù thắng không thể nghĩ bàn của chữ Diệu trong đề kinh Diệu pháp liên hoa (kinh Pháp hoa). Khi giải thích kinh Pháp hoa, ngài Trí khải lần lượt thuyết minh Tích môn thập diệu, Bản môn thập diệu và Quán tâm thập diệu như sau: I. Thập diệu của Tích môn: 1. Cảnh diệu: Cảnhđối tượng của trí là Diệu. 2. Trí diệu: Trí tuệ quán chiếu là Diệu. 3. Hạnh diệu: Hạnh tu giác ngộ thực tiễn là Diệu. 4. Vị diệu: Giai vị của giai đoạn thực tiễn là Diệu. 5. Tam pháp diệu: Tức Tam quĩ: Chân tính, Quán chiếu, Tư thành là Diệu. 6. Cảm ứng diệu: Căn cơ của chúng sinh và sự ứng hiện của Phật là Diệu. 7. Thần thông diệu: Nghiệp thân của Phật là Diệu. 8. Thuyết pháp diệu: Nghiệp khẩu của Phật là Diệu. 9. Quyến thuộc diệu: Người gần gũi đức Phật được Ngài giáo hóa là Diệu. 10. Lợi ích diệu(cũng gọi Công đức lợi ích diệu): Hiệu quả sự giáo hóa của Phật khiến chúng sinh được lợi ích là Diệu. Thập diệu trên đây lại được chia làm Tự hành(tự mình cầu bồ đề) và Hóa tha (giáo hóa, dắt dẫn người khác). Từ 1 đến 4 là nhân tự hành, 5 là quả tự hành, 6 đến 8 là năng hóa(giáo hóa người khác), 9, 10 là sở hóa(người được giáo hóa). II. Thập diệu của Bản môn: 1. Bản nhân diệu: Nhân tu hành của Bản Phật là Diệu. 2. Bản quả diệu: Quả của Bản Phật là Diệu. 3. Bản quốc độ diệu: Cõi nước của Bản Phật an trụ là Diệu. 4. Bản cảm ứng diệu: Bản Phật dùng trí giác ngộ cứu độ chúng sinh và căn của chúng sinh được cứu độ ứng hợp nhau, nên nói là Diệu. 5. Bản thần thông diệu: Thần thông mà Bản Phật thị hiện để cứu độ chúng sinh lúc Ngài mới thành đạo là Diệu. 6. Bản thuyết pháp diệu: Lần thuyết pháp đầu tiên lúc Bản Phật mới thành đạo là Diệu. 7. Bản quyến thuộc diệu: Những người đầu tiên được Bản Phật giáo hóa là Diệu. 8. Bản niết bàn diệu: Niết bàn của Bản Phật là thường trụ, xưa nay vốn đầy đủ, khác với Niết bàn được thị hiện để giáo hóa người, vì thế gọi là Diệu. 9. Bản thọ mệnh diệu: Bản Phật có năng lực tự tại thị hiện thọ mệnh dài, ngắn khác nhau, nên gọi là Diệu. 10. Bản lợi ích diệu: Lợi ích mà Bản Phật mang lại cho chúng sinh là Diệu. Mười diệu trên đây lại được chia làm 2 loại là Tự hành và Hóa tha: 1 là nhân tự hành, 2, 3, 8, 9 là quả tự hành, 4, 5, 6 là năng hóa, 7, 10 là sở hóa. Mục đích của Tích môn là đoạn trừ mê vọng để ngộ được Trung đạo, cho nên nói rõ về nhân tự hành; trái lại, mục đích của Bản môn là biểu thị Bản Phật đã thành Phật từ rất lâu xa, là quá trình Bồ tát tăng trưởng trí tuệ Trung đạo và dần dần giảm thiểu sinh tử biến dịch, vì thế nên nói rõ về quả tự hành. Như vậy, tuy Bản, Tích khác nhau nhưng cảnh giới bất khả tư nghị thì giống nhau. III. Thập diệu của Quán tâm: Về Thập diệu của Quán tâm tuy trong Pháp hoa huyền nghĩa không nói rõ, nhưng có thể dựa vào thuyết Thập bất nhị môn của ngài Trạm nhiên để lí giải. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2 thượng đến Q.7 hạ; Pháp hoa kinh luân quán; Pháp hoa thập môn quán tâm thập diệu thích].
thập diệu sinh khởi thứ đệ
(十妙生起次第) Chỉ cho sự quan hệ thứ tự sinh khởi của Tích môn thập diệu và Bản môn thập diệu. I. Thứ tự sinh khởi của Tích môn thập diệu là: 1. Lấy cảnh diệu làm đầu, vì đó là cảnh thể thực tướng của nhân, chẳng phải do Phật, trời, người làm ra, mà xưa nay vốn tự nhiên như thế, là chỗ chư Phật tôn sùng. 2. Thể của trí diệu là trí năng quán, nhưng người mê đối với lí cảnh thực tướng lại khởi hoặc, còn người hiểu lí thì nhờ đó mà sinh ra trí, vì thế Trí diệu được xếp sau Cảnh diệu. 3. Trí là gốc của hành, nhờ mắt trí(mắt nhìn trước) mà khởi động chân hành(chân đi trước), cho nên Hành diệu được xếp thứ 3. 4. Thể của Vị diệu là đức tướng của tri hành, nhờ nương vào 3 pháp mà bước lên các giai vị. 5. Tam pháp diệu là pháp thực hành, là nơi an trụ Vị diệu, cho nên được xếp sau Vị diệu. 6. Trụ nơi 3 pháp rồi, vắng lặng mà thường chiếu soi các căn cơ trong 10 cõi, nếu có cơ cảm thì ắt sẽ tương ứng, cho nên xếp Cảm ứng diệu sau Tam pháp diệu. 7. Tùy cơ nghi nên trước dùng thân nghiệp thị hiện thần thông, khiến đối cơ tỉnh biết, đây là thể củaThần thông diệu. 8. Nếu căn cơ có thể nhận lãnh giáo pháp thì Phật liền dùng khẩu nghiệp thuyết pháp, cho nên Thuyết pháp diệu được xếp sau Thần thông diệu. 9. Nếu người nhận pháp vào đạo thì trở thành quyến thuộc của pháp, vì thế Quyến thuộc diệu được xếp thứ 9. 10. Lợi ích diệu được xếp sau cùng, vì nếu quyến thuộc tu hành như thực, thì đều nhổ được gốc sinh tử, khai phát tri kiến của Phật, được lợi ích lớn. II. Thứ tự sinh khởi của Bản môn thập diệu. 1. Trước nhờ nhân hành mà đến quả Phật.2. Thành quả Phật nên có cõi nước. 3. Cực quả ở cõi nước, có năng lực chiếu soi căn cơ. 4. Nếu căn cơ khởi động thì sự giáo hóa được đặt bày, đặt bày thì có thần thông. 5. Dùng thần thông đánh thức căn cơ. 6. Căn cơ tỉnh rồi thì thuyết pháp. 7. Căn cơ nghe pháp, trở thành quyến thuộc. 8. Quyến thuộc được độ rồi thì duyên hết vào Niết bàn. 9. Vì niết bàn nên mới luận về thọ mệnh dài ngắn. 10. Lợi ích do thọ mệnh dài, ngắn mang lại, cho đến các lợi ích Chính pháp, Tượng pháp... sau khi Phật diệt độ.
thập duyên sinh cú
(十緣生句) Chỉ cho 10 câu trình bày về 10 hiện tượng do nhân duyên sinh ra. Mười câu này có xuất xứ từ phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1. Đó là: 1. Huyễn: Chỉ cho các hình tượng do nhà ảo thuật làm ra. 2. Dương diệm: Sóng nắng do sự hòa hợp của các nhân duyên như hơi nóng, hư không, bụi bặm giữa đồng hoang hiện ra như tướng nước. 3. Mộng: Những cảnh tượng thấy trong chiêm bao. 4. Ảnh: Bóng dáng trong gương. 5. Càn thát bà thành: Lâu đài trên mặt biển do hơi của con thẩn(loài sò lớn) ánh lên ánh sáng mặt trời hiện ra. 6. Hưởng: Tiếng dội lại trong các hang sâu, khe núi. 7. Thủy nguyệt: Bóng trăng trong nước. 8. Phù bào: Bọt nổi trên mặt nước. 9. Hư không hoa: Người bị bệnh mắt thấy trong hư không có các thứ hoa. 10. Toàn hỏa luân: Vòng lửa do người cầm cây đuốc quay tròn. Những hiện tượng trên đây đều ví dụ cho các pháp do nhân duyên sinh, không có tự tính. Y cứ vào 10 câu này quán xét các pháp không tự tính, gọi là Thập duyên sinh cú quán, Thập duyên sinh quán, Thập dụ quán. Tức là 10 quán môn để ngăn dứt tình chấp. Đại nhật kinh sớ quyển 3 cho rằng môn quán này có 3 lớp: 1. Không quán: Quán xét tất cả pháp do nhân duyên sinh đều là không. 2. Tâm quán: Quán xét muôn pháp đều từ tâm hiển hiển. 3. Bất tư nghị quán: Quán xét tâm chẳng phải một chẳng phải khác, xả bỏ tình chấp phàm phu thì không thể nghĩ bàn.
thập dạ
(十夜) Cũng gọi Thập dạ pháp yếu, Thập dạ niệm, Ngự thập dạ. Hội niệm Phật 10 ngày 10 đêm do tông Tịnh độ của Phật giáo Nhật bản tổ chức vào tháng 10 hàng năm theo lịch cũ (tức âm lịch). Kinh Đại vô lượng thọ (Đại 12, 277 hạ)nói: Ở cõi Sa bà này tu thiện 10 ngày 10 đêm công đức lớn hơn ở các cõi Phật khác làm thiện 1000 năm. Kinh A di đà cổ âm thanh vương đà la ni (Đại 12, 352 trung) nói: Nếu có người thụ trì danh hiệu của Phật A di đà, một lòng vững chắc, nhớ nghĩ không quên, 10 ngày 10 đêm trừ bỏ tán loạn, tinh tiến siêng năng tu tập Tam muội niệm Phật (...) trong 10 ngày, chắc chắn được thấy Phật A di đà.
thập dụ
(十喻) Chỉ cho 10 thí dụ hiển bày các pháp đều không và thân người vô thường. I. Mười thí dụ giải thích lí các pháp là không. 1. Huyễn dụ (Phạm: Màyà-upama): Dụ các pháp không thật có, như những vật do nhà ảo thuật làm ra. 2. Diệm dụ (Phạm: Marìci-upama): Dụ các pháp không thật có, như dợn(sóng) nắng. 3. Thủy trung nguyệt dụ (Phạm: Udaka-candra-upama): Dụ các pháp không thật có, như bóng trăng trong nước. 4. Hư không dụ (Phạm: Àkàzaupama): Dụ các pháp không thật có, như hư không. 5. Hưởng dụ (Phạm: Pratizrutka): Dụ các pháp không thật có, chỉ như tiếng vang trong hang sâu, khe núi... 6. Kiện thát bà thành dụ (Phạm: Gandharva-nagara-upama): Dụ các pháp không thật có, như lâu đài trên mặt biển do hơi con thẩn(loại sò lớn) sinh ra. 7. Mộng dụ (Phạm: Svapna-upama): Dụ các pháp không thật có, như cảnh trong giấc mộng. 8. Ảnh dụ (Phạm: Pratibhàsaupama): Dụ các pháp không thật có, như bóng sáng, có đó mà không nắm bắt được. 9. Kính trung tượng dụ (Phạm: Pratibimba-upama): Dụ các pháp không thật có, như hình bóng trong gương. 10. Hóa dụ (Phạm: Nirmita-upama): Dụ các pháp không thật có, như các vật do sức thần thông biến hóa ra. II. Mười sự tướng ví dụ thân người là không, là vô thường. 1. Thân này như đám bọt nước, không thể nắm bắt. 2. Thân này như bong bóng trên mặt nước, tồn tại không bao lâu. 3. Thân này như ngọn lửa, từ khát ái mà sinh. 4. Thân này như cây chuối, không cứng chắc.5. Thân này như huyễn, từ điên đảo mà sinh. 6. Thân này như mộng, do hư vọng mà thấy.7. Thân này như bóng sáng, từ nghiệp duyên hiện. 8. Thân này như tiếng vang, thuộc các nhân duyên. 9. Thân này như đám mây nổi, tan biến trong chốc lát. 10. Thân này như tia chớp, biến diệt trong nháy mắt.
thập dực
Shih-i (C), Ten Wings Mười biên khảo về Kinh Dịch. Theo truyền thuyết, Thập Dực là do Khổng Tử san định, nhưng các học giả ngày nay cho thấy tác phẩm này có từ thời Chiến quốc, thuộc triều Tần hay Hán.
thập giải thoát
(十解脫) Chỉ cho 10 thứ giải thoát. I. Thập Giải Thoát. Mười tướng lìa trói buộc của Bồ át: 1. Giải thoát phiền não. 2. Giải thoát tà kiến. 3. Giải thoát xí nhiên. 4. Giải thoát ấm giới nhập. 5. Giải thoát vượt ra ngoài địa vị Thanh văn, Duyên giác. 6. Giải thoát vô sinh pháp nhẫn. 7. Giải thoát không đắm trước tất cả cõi Phật, tất cả chúng sinh, tất cả các pháp. 8. Giải thoát trụ vô lượng vô biên nơi an trụ của các Bồ tát. 9. Giải thoát lìa tất cả các hạnh Bồ tát mà trụ ở địa vị Như lai. 10. Giải thoát ở trong một niệm biết rõ tất cả các pháp ở trong 3 đời. [X. kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17]. II. Thập Giải Thoát. Cũng gọi Thập chủng bất tư nghị giải thoát. Chỉ cho 10 tướng tự tại vô ngại của Phật nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 31 (bản dịch cũ). Đó là: tất cả chư Phật đều có năng lực hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật xuất thế trong một vi trần cho đến hiện các Phật sự của tất cả chư Phật 3 đời trong một vi trần, gọi chung là Thập chủng vô ngại giải thoát. Đây là đối lại với việc lấy lìa trói buộc làm giải thoát của Bồ tát nói ở trên mà cho rằng tác dụng tự tại vô ngại là giải thoát của Như lai. [X. Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.4, phần cuối].
thập giải thoát môn
Ten doors of liberation—See Mười Cửa Giải Thoát Của Chư Đại Bồ Tát.
Thập giải 十解
[ja] ジュウゲ jūge ||| The "Ten Understandings" which are equivalent to the "Ten Abidings" (十住), the 11-20th of the 52 stages of the bodhisattva's progress. This is the way the term was translated into Chinese by Paramārtha. => Tương đương với giai vị Thập trú, là giai vị thứ 11-20 trong 52 giai vị của tiến trình tu đạo Bồ-tát. Đây là lối thuật ngữ nầy được Chân đế phiên dịch sang tiếng Hán.
thập giảng
(十講) Cũng gọi Pháp hoa thập giảng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tức giảng 10 thời kinh 10 quyển, trong đó giảng kinh Vô lượng nghĩa 1 quyển, kinh Pháp hoa 8 quyển, kinh Phổ hiền 1 quyển, vào các buổi sáng và buổi chiều trong 5 ngày, gọi là Thập giảng. Các pháp hội giảng kinh này được sáng lập và lưu hành ở núi Tỉ duệ vào cuối năm Diên lịch 17 (798) thời Thiên hoàng Hoàn vũ của Nhật bản.
Thập Giới
(十界): 10 loại thế giới mê và ngộ, gồm: (1) Địa Ngục Giới (地獄界, thế giới Địa Ngục), (2) Ngạ Quỷ Giới (餓鬼界, thế giới Ngạ Quỷ), (3) Súc Sanh Giới (畜生界, thế giới Súc Sanh) hay Bàng Sanh Giới (傍生界), (4) Tu La Giới (修羅界, thế giới A Tu La), (5) Nhân Gian Giới (人界, thế giới con người), (6) Thiên Thượng Giới (天上界, thế giới trên trời), (7) Thanh Văn Giới (聲聞界, thế giới Thanh Văn), (8) Duyên Giác Giới (緣覺界, thế giới Duyên Giác), (9) Bồ Tát Giới (菩薩界, thế giới Bồ Tát) và (10) Phật Giới (佛界, thế giới Phật). Trong đó, 6 thế giới đầu là cõi mê muội của hàng phàm phu, hay còn gọi là thế giới luân hồi của Lục Đạo; 4 thế giới sau là cõi giác ngộ của bậc Thánh; cho nên 10 thế giới này được gọi là Lục Phàm Tứ Thánh (六凡四聖, sáu cõi phàm và bốn cõi thánh). Hay 9 cõi đầu là nhân và cõi cuối cùng là quả, nên có tên gọi là Cửu Nhân Nhất Quả (九因一果, chín cõi nhân một cõi quả). Hơn nữa, Mật Giáo lấy Ngũ Phàm Ngũ Thánh (五凡五聖) làm Mười Pháp Giới (十法界). Ngũ Phàm là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Người, A Tu La, và Trời. Ngũ Thánh gồm Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Quyền Phật (權佛) và Thật Phật (實佛). Trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) quyển 4, phần Diệu An Thuyết (妙安說) có đoạn: “Phù tâm tuy tùy duyên cụ thành Thập Giới, kỳ tánh nhưng phi Thập Giới, do hỏa tùy duyên cụ hữu hương xú, kỳ tánh nhưng phi hương xú dã (夫心雖隨緣具成十界、其性仍非十界、猶火隨緣具有香臭、其性仍非香臭也, phàm tâm tuy tùy duyên hình thành đầu đủ Mười Giới, nhưng tánh của nó không phải là Mười Giới, giống như lửa tùy duyen có đầy đủ thơm thối, nhưng tánh của nó không có thơm thối vậy).”
Thập giới
十戒|Giới
thập giới
Daśaśīla (S), Daśaśīlamata (S), JŪjŪ-kai (J), Daśa-silaṃ (P), Daśa-śīla (S), Ten precepts.
; Dasa-sila (S). The ten prohibitions: (1) chẳng giết mệnh sống, not to destroy life; (2) chẳng trộm cắp, not to steal; (3) chẳng dâm dục, not to commit adultery; (4) chẳng nói bậy, not to lie; (5) chẳng uống rượu, not to take intoxicating liquor; (6) chẳng đeo chuỗi anh lạc, chẳng thoa dầu thơm vào mình, not to use garlands or perfumes; (7) chẳng đóng vai trò múa hát và cố đi xem nghe, not to take part in singing, dancing, musical or theatral performances, not to see or listen to such; (8) chẳng được ngồi trên giường lớn cao rộng, not to sleep on high or broad beds; (9) chẳng được ăn trái bữa, not to eat food out of regulated hours; (10) chẳng được chứa tiền và vàng bạc châu báu, to refrain from acquiring uncoined or coined gold, silver or jewels.
; (I) Thập Giới: Mười Cảnh Giới hay mười bậc chúng sanh—The ten realms, or states of existence: 1) Địa ngục: The realm of Hell. 2) Ngạ quỷ: The realm of Hungry ghosts. 3) Súc sanh: The realm of Animals. 4) A-tu-la: The realm of Asuras. 5) Nhơn: The realm of Human beings. 6) Thiên: The realm of Gods (Devas). 7) Thanh văn: The realm of Hearers (Sravakas). 8) Duyên Giác: The realm of those who practice the twelve links (Pratyeka-buddha). 9) Bồ Tát: The realm of Bodhisattvas. 10) Phật: The realm of Buddhas. (II) Thập Giới: Mười giới của Sa Di hay Sa Di Ni—Ten basic prohibitions binding on novice monks and nuns: (A) Mười giới Sa Di—The ten commandments (precepts) observed by a novice (laity): 1) Không sát sanh: Chẳng giết mạng sống—Not to kill living beings (abstinance from taking life). 2) Không trộm cắp: Chẳng lấy của không cho—Not to steal, or not to take what is not been given (abstinance from taking what is not given). 3) Không dâm dục: Abstinance from unchasity. a) Không tà dâm (tại gia): Not to commit adultery. b) Không có hành vi dâm dục (xuất gia): Not to commit misconduct in sexual matters (monks and nuns). 4) Không nói dối: Chẳng nói láo—Not to lie—Abstinance from lying. 5) Không uống rượu: Not to drink liquor, beer or wine—Abstinance from taking fermented liquor. 6) Không ăn trái thời: Not to eat food out of regulated hours—Abstinance from taking food in unprescribed time. 7) Không dùng những chất kích thích như hành tỏi hoặc dầu thơm: Not to use garlands or perfumes. 8) a) Không nằm giường cao nệm rộng: Not to sleep on high or broad beds. b) Không mang đồ trang sức, cũng như không thoa nước hoa: Not to wear adornments and perfumes. 9) Không ca hát, đờn địch, nhảy múa: Not to take part in singing, dancing or playing musical instrument. 10) Không tích trử vàng bạc ngọc ngà: Not to possess or store gold, silver or ivory. (B) Sáu Giới Tập Sự theo Phật Giáo buổi ban sơ—Six rules for a probationer of early Buddhism: See 1 to 6 in (A). (C) The six ways of rebirth (gati) and the four holy ways of rebirth (hells, hungry ghosts, animals, asuras, men, devas, Sravakas or hearers, Pratyeka-Buddhas, Bodhisattvas, and Buddhas)—See Lục Đạo Tứ Thánh.
; (十戒) Chỉ cho 10 giới của Tiểu thừa, Đại thừa. I. Thập Giới. Cũng gọi Sa di giới, Sa di ni giới, Cần sách luật nghi, Cần sách nữ luật nghi. Chỉ cho 10 giới mà sa di, sa di ni thuộc Tiểu thừa phải thụ trì. Đó là: 1. Không sát sinh, 2. Không trộm cắp, 3. Không dâm dục, 4. Không nói dối, 5. Không uống rượu, 6. Không dùng hương hoa trang điểm thân, 7. Không hát múa xem nghe hát múa, 8. Không ngồi nằm trên giường cao rộng, 9. Không ăn phi thời, 10. Không cất giữ vàng bạc của báu. II. Thập giới. Chỉ cho 10 giới thiện chung cho cả Tiểu thừa và Đại thừa. (xt. Thập Thiện ThậpÁc). III. Thập Giới. Chỉ cho 10 trọng giới của Đại thừa nói trong kinh Phạm võng. Đó là: 1. Không giết hại, 2. Không trộm cướp, 3. Không gian dâm, 4. Không nói dối, 5. Không bán rượu, 6. Không nói lỗi của các Bồ tát tại gia, xuất gia và tỉ khưu, tỉ khưu ni, 7. Không khen mình chê người, 8. Không bỏn xẻn, 9. Không từ chối sự tạ tội của người khác, 10. Không hủy báng Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng. Mười giới trên được tông Thiên thai sử dụng làm Viên đốn giới. IV. Thập Giới. Cũng gọi Thập chủng hộ trì, Phòng hộ thập nguyện. Chỉ cho 10 giới khác mà Bồ tát giữ gìn, đó là: 1. Cấm giới: Giữ 4 giới nặng. 2. Thanh tịnh giới: Giữ gìn không phạm Tăng tàn. 3. Thiện giới: Giữ gìn ba dật đề. Ba giới trên thuộc Luật nghi giới. 4. Bất thuyết giới: Thiền định làm phát sinh Vị lai thiền, Căn bản thiền... không thiếu sót giới luật như sự hạnh, tính hạnh; giới này thuộc Định cộng giới. 5. Bất tích giới: Đối lại với Đạo cộng giới thuộc Tích không quán, hiển bày Đạo cộng giới thuộc Thể không quán. 6. Đại thừa giới: Tu cả hạnh lợi mình và lợi người. 7. Bất thoái giới: Vì cứu độ chúng sinh mà Bồ tát sử dụng phương tiện khéo léo làm nhữngviệctrái đạo nhưng không bỏ mất giới cấm. 8. Tùy thuận giới: Tức giới thuận theo đạo lí và cơ nghi của chúng sinh. 9. Tất cánh giới: Đại pháp rốt ráo không gì hơn. 10. Cụ túc thành tựu Ba la mật giới: Đầy đủ tất cả, không pháp nào không có. Sáu giới (từ 5 đến 10) trên thuộc Đạo cộng giới. [X. kinh Niết bàn Q.11 (bản Nam); Đại bát niết bàn kinh nghĩa kí Q.5 (Tuệ viễn); Ma ha chỉ quán Q.4, thượng]. V. Thập Giới. Cũng gọi Đại luận thập giới. Chỉ cho 10 giới mà Bồ tát phải nhớ nghĩ. Đó là: 1. Bất khuyết giới: Giữ gìn các tính giới như 4 giới nặng... không khuyết tổn hủy phạm, thường phải hộ trì như giữ gìn hạt minh châu. Nếu phạm tịnh giới thì như cái đồ dùng bị sứt mẻ không sử dụng được nữa.2. Bất phá giới: Giữ gìn 13 pháp Tăng tàn không được phạm, nếu có hủy phạm thì như chiếc bình bị nứt rạn, tuy không dùng được nhưng vẫn còn có thể hàn vá lại. 3. Bất xuyên giới: Giữ gìn Ba dật đề..., nếu có hủy phạm thì như cái bình đã thủng, không đựng được nước, phải hàn vá lại. 4. Bất tạp giới: Giữ gìn Định cộng giới, tâm an trụ trong thiền định, không khởi các ý nghĩ ham muốn. 5. Tùy đạo giới: Hàng Sơ quả Thanh văn, tùy thuận lí 4 đế phá được Kiến hoặc, không còn phân biệt. 6. Vô trước giới: Hàng Nhị thừa thấy lí chân đế, thành được đạo Thánh, đối với các Tư hoặc không còn nhiễm trước. 7. Trí sở tán giới: Bồ tát ở các thế giới giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, được các bậc trí khen ngợi. 8. Tự tại giới: Bồ tát giáo hóa độ sinh, nhờ có diệu dụng mà được tự tại vô ngại trong các thế gian. 9. Tùy định giới: Bồ tát theo định Thủ lăng nghiêm, hiện các uy nghi, dắt dẫn chúng sinh; tuy có biến hiện nhưng thường tĩnh lặng tự nhiên. 10. Cụ túc giới: Bồ tát giữ giới Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, dùng trí huệ Trung đạo thâm nhập tất cả pháp, không giới nào không có. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 thượng; Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng]. VI. Thập Giới. Chỉ cho 10 giới Bồ tát thụ trì ghi trong phẩm Bồ tát thập vô tận tạng, kinh Hoa nghiêm quyển 12 (bản dịch cũ). Đó là: 1. Nhiêu ích giới(cũng gọi Phổ nhiêu ích giới): Tức làm lợi ích cho khắp tất cả chúng sinh. 2. Bất thụ giới: Tức không nhận giữ các giới của ngoại đạo. 3. Vô trước giới(cũng gọi Bất trụ giới): Tức không cầu thụ sinh và trụở trong 3 cõi.4. An trụ giới(cũng gọi Vô hối hận giới): Tức không tạo tác tội Vô gián, vĩnh viễn không phạm tất cả giới, tâm không hối hận. 5. Bất tránh giới(cũng gọi Vô vi tránh giới): Tức đối với các giới cấm do đức Phật chế định, tâm thường giữ gìn, không dám trái phạm. 6. Bất não hại giới: Không học các thứ tà pháp như huyễn thuật, bùa chú và chế các thứ thuốc làm hại chúng sinh. 7. Bất tạp giới(cũng gọi Vô tạp uế giới): Tức không chấp trước biên kiến, không giữ tạp giới, một lòng chuyên giữ giới thoát li sinh tử. 8. Li tà mệnh giới(cũng gọi Vô tham cầu giới): Tức Bồ tát không vì tâm tham cầu mà hiện tướng khác người, khoe mình có đức, chỉ vì muốn có đầy đủ pháp xuất li sinh tử mà giữ giới. 9. Li ác giới(cũng gọi Vô quá thất giới): Tức một lòng giữ giới, không tự cao tự đại. 10. Thanh tịnh giới(cũng gọi Vô hủy phạm giới): Tức thụ trì giới thanh tịnh, không hủy phạm, mãi mãi đoạn trừ 10 điều ác, đầy đủ 10 điều thiện. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.6; Hoa nghiêm kinh sớ Q.24]. VII. Thập Giới. Chỉ cho 10 giới của Bồ tát thụ trì, đó là: 1. Giới không bỏ tâm bồ đề. 2. Giới xa lìađịavị Nhị thừa. 3. Giới quán xét làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 4. Giới khiến tất cả chúng sinh trụ trong Phật pháp. 5. Giới tu tất cả điều Bồ tát cần phải học.6. Giới vô sở đắc đối với tất cả pháp. 7. Giới hồi hướng tất cả thiện căn cho Bồ đề. 8. Giới không đắm trước thân của tất cả Như lai. 9. Giới tư duy tất cả pháp lìa chấp thủ. 10. Giới chư căn luật nghi. [X. kinh Hoa nghiêm Q.53 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí 17]. VIII. Thập Giới. Cũng gọi Câu mật chi trọng giới. Chỉ cho 10 giới trọng của Bồ tát thụ trì được nói trong Vô úy tam tạng thiền yếu. Đó là: 1. Không để tâm bồ đề lui sụt. 2. Không bỏ Tam bảo. 3. Không hủy Tam bảo và kinh điển Tam thừa. 4. Không sinh tâm nghi ngờ đối với các kinh điển sâu xa của Đại thừa. 5. Không làm cho những chúng sinh đã phát tâm bồ đề rơi vào Nhị thừa. 6. Đối với những người chưa phát tâm thì cũng nói pháp như thế, khiến họ không phát tâm Nhị thừa. 7. Đối với Tiểu thừa và những người tà kiến không nên vội nói Đại thừa sâu xa, vi diệu.8. Không phát khởi các pháp tà kiến. 9. Ở trước ngoại đạo, không nên tự nói mình có diệu giới Vô thượng bồ đề. 10. Đối với các việc tổn hại hoặc không mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh, đều không nên làm, không bảo người làm và thấy người khác làm không hùa theo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.17]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).
; (十界) Chỉ cho 10 thế giới mê và ngộ. Tức là: Địa ngục giới, Ngạ quỉ giới, Súc sinh giới, (Bàng sinh giới), Tu la giới, Nhân gian giới, Thiên thượng giới, Thanh văn giới, Duyên giác giới, Bồ tát giới và Phật giới. Trong đó, 6 giới trước thuộc thế giới mê của phàm phu, tức là thế giới 6 đường luân hồi. Còn 4 giới sau thuộc thế giới giác ngộ của các bậc Thánh. Đây chính là Lục phàm tứ thánh(6 phàm 4 thánh). Hoặc 9 giới là Nhân, giới thứ 10 là Quả, gọi là Cửu nhân nhất quả(9 nhân 1 quả). Mật giáo thì lấy 5 phàm 5 thánh làm 10 pháp giới, đó là 10 pháp giới của Mật giáo. Năm phàm là: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, người, A tu la và trời(là một), còn5 Thánh là: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Quyền Phật, Thực Phật. Cũng có khi chia làm 4 loại, theo thứ tự là: Tứ thú nhân thiên, Nhị thừa, Bồ tát, Phật. Lại có khi chia làm 5 loại, theo thứ tự là: Tam ác đạo(tam đồ), Tam thiện đạo, Nhị thừa, Bồ tát, Phật. Tông Thiên thai cho rằng 10 giới mỗi giới đều có quyền, thực; quyền và thực về bản chất là một thể, do đó, 10 giới đều là chân thực, cho nên gọi là Thập giới quyền thực. Trong 10 giới, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác thông thường được xem là không thể nào thành Phật, nhưng kinh Pháp hoa quyển 1 cho rằng vẫn có thể thành Phật, bởi vậy nên có thuyết chúng sinh trong 10 giới đều thành Phật, tức Thập giới giai thành. Tông Thiên thai cho rằng Phật giới là chân lí bình đẳng, 9 giới còn lại là sai biệt, là vọng pháp do lí tùy duyên mà sinh ra, cho nên phải đoạn phá, gọi là Duyên lí đoạn cửu. Đây là Phương tiện giáo của Biệt giáo nói ra, chứ chẳng phải pháp chân thực do Viên giáo chủ trương.
thập giới chân thật
(十界真實) Cũng gọi Thập giới quyền thực. Mười giới là chân thực. Đây là luận thuyết của tông Thiên thai. Theo Biệt giáo thì 10 giới là đối đãi nhau, 9 giới là vọng, Phật giới là chân thực. Viên giáo thì cho rằng tuy nói 9 giới là quyền, Phật giới là thực nhưng đó chỉ là cách phân chia tổng quát, nếu bàn kĩ hơn thì trong 10 giới mỗi giới đều có đủ cả quyền, thực và bản chất của quyền, thực là đồng thể, cho nên 10 giới đều là chân thực. Vì việc phân chia quyền, thực của 10 giới có 3 nghĩa: 1. Đứng về phương diện sự dụng của mê ngộ mà nói thì 9 giới là quyền, chỉ có Phật giới là thực. 2. Đứng về phương diện nghĩa môn của tu tính mà nói, nếu y cứ theo nghĩa tùy duyên thì 10 giới đều là quyền, nếu y cứ vào nghĩa bất biến thì 10 giới đều thực. 3. Đứng về phương diện pháp thể của tu tính mà nói thì tùy duyên và bất biến đều là 10 giới chân thực. Ở đây cho 10 giới chân thực là nói theo nghĩa thứ 3. [X. Thiên thai nhị bách đề Q.6].
thập giới chúng sanh năng thành phật
The teaching of Lotus Sutra of universalism, that all become Buddha.
thập giới giai thành
(十界皆成) Chúng sinh trong 10 pháp giới đều sẽ thành Phật, vì vậy cũng gọi là Thập giới giai thành Phật, là từ ngữ biểu trưng nét đặc sắc của kinh Pháp hoa. Trong 5 thời giáo, thì thời thứ 4 đức Phật tuyên thuyết kinh Bát nhã để chuyển hóa Nhị thừa thành Bồ tát, khiến họ hiểu biết tất cả kho pháp bảo của Phật, gột rửa và đãi lọc mọi tình chấp khác nhau về Tiểu thừa và Đại thừa. Đến thời Pháp hoa Niết bàn, Phật nói Thập giới giai thành, tuyên bố tất cả chúng sinh đều có Phật tính.[X. Ma ha chỉ quán Q.6, phần 3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Thập Giới).
thập giới hạnh
Ten virtues—Ten commandments—Ten Precepts—See Thập Giới.
thập giới hỗ cụ
(十界互具) Chỉ cho 10 cõi, từ cõi Phật đến cõi địa ngục... trong mỗi cõi đều có đủ 10 cõi kia. Đây là thuyết của tông Thiên thai. Một tâm đã có khả năng tạo ra nhân quả của 10 cõi thì tâm người có đầy đủ 10 cõi và có thể biết tâm tính của 10 cõi cũng thế. Bất cứ một cõi nào trong 10 cõi cũng đều đầy đủ 10 cõi kia, cộng chung thành100 cõi. Trong 100 cõi này mỗi cõi đều có đủ 10 như: Tính, tướng, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo, bản mạt cứu cánh, tổng cộng là 1000 như, gọi là Bách giới thiên như.(xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Thập Giới).
thập giới mạn đồ la
(十界曼荼羅) Cũng gọi Thập giới đại mạn đồ la, Thập giới khuyến thỉnh đại mạn đồ la. Bản tôn của tông Nhật liên ở Nhật bản. Là bức tranh vẽ 10 cõi do ngài Nhật liên, Tổ khai sáng của tông Nhật liên, Nhật bản, vẽ khi sư bị lưu đày đến Tá độ. Nội dung bức tranh được trình bày như sau: Ở chính giữa viết đề mục: Nam mô Diệu pháp Liên hoa kinh, bốn chung quanh viết danh hiệu Chư tôn, các thiện thần và 10 cõi, bao bọc đề mục để hiển bày diệu lí Nhất thể bất nhị. Bức Mạn đồ la này biểu hiện toàn thể thọ lượng của Bản Phật, tướng hiện tại thường trụ của 10 cõi và của bản tâm chúng sinh, vì thế, trong 1 Mạn đồ la có đủ 10 cõi, tròn đầy 3000, lí tột cùng vô thủy vô chung.
thập giới nhất niệm
(十界一念) Mười cõi một niệm. Nghĩa là 10 cõi có đủ trong 1 niệm hay là trong 1 niệm có đầy đủ 10 cõi. Đây là giáo chỉ của tông Dung thông niệm Phật ở Nhật bản. Dung thông viên môn chương (Đại 48, 4 thượng) nói: Một người là tất cả mọi người, tất cả mọi người là một người. (...) Một hạnh gồm tất cả hạnh, tất cả hạnh trong một hạnh. (...) đó gọi là Tha lực vãng sinh (...), 10 cõi trong một niệm dung thông niệm Phật, (...) trăm nghìn vạn biến, công đức tròn đầy. Tức y cứ vào thuyết Nhất niệm tam thiên, Thập giới hỗ cụ của tông Thiên thai và thuyết Viên dung vô ngại, cùng lí Tương tức tương nhập của tông Hoa nghiêm để giải thích ý chỉ dung thông niệm Phật. Thập giới nhất niệm, tức 10 cõi có đủ trong 1 niệm, 1 niệm sinh khởi 10 cõi, 10 cõi trong 1 niệm, 1 niệm gồm 10 cõi, dung thông triệt để, không hai không khác. (xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Thập Giới Hỗ Cụ, Dung Thông Niệm Phật Tông).
thập giới nhất tâm bình đẳng đại niệm
(十界一心平等大念) Mười cõi từ cõi Phật đến cõi địa ngục đều do tâm tạo ra, vì thế thể tính của 10 cõi là bình đẳng, không sai khác. Quán xét lí bình đẳng này gọi là Thập giới nhất tâm bình đẳng đại niệm. (xt. Thập Giới).
thập giới năng hoá bồ tát
(十界能化菩薩) Bồ tát giáo hóa 10 cõi. Tức Bồ tát từ Sơ địa trở lên có khả năng hiện thân trong 10 cõi để giáo hóa chúng sinh. Thập giới là nói số chẵn, thực ra chỉ có 9 cõi, trừ cõi Phật.(xt. Thập Giới).
thập giới phạm võng kinh
Kinh Phạm Võng định nghĩa thập giới như sau—The Sutra of Brahma Net has another definition for ten commandments as follow: 1) Từ 1 đến 5—From 1 to 5: See Ngũ Giới. 11) Không nói tội của chư Tăng Ni trong giáo đoàn: Not to speak the sins of those in orders. 12) Không khen mình chê người: Not to vaunt (praise) self and depreciate others. 13) Không xan tham: Not to be avaricious. 14) Không sân giận: Not to be angry. 15) Không hủy báng Tam Bảo: Not to slander the Triratna.
thập giới trì luật pháp thể
(十戒持律法體) Pháp thể nghĩa là thân thể hộ trì Phật pháp, chỉ cho người xuất gia tu hành. Thập giới trì luật pháp thể là từ ngữ tôn xưng vị Pháp sư thụ 10 giới có năng lực giữ gìn không vi phạm.
thập giới đồ
(十界圖) Cũng gọi Thậpphápgiới đồ. Chỉ cho tranh vẽ chung cảnh giới 4 Thánh và 6 đường. Bức vẽ được trình bày như sau: Trong một vòng tròn lớn vẽ 10 vòng tròn nhỏ, trong mỗi vòng tròn nhỏ vẽ 10 cõi theo thứ tự Phật, Bồ tát... Ở trung tâm củavòng tròn lớn vẽ một vòng tròn, trong vòng tròn này vẽ chữ Tâm ( ) biểu thị nghĩa 10 cõi chỉ do một tâm tạo ra. Vòng tròn vẽ các cõi này là căn cứ vào bức vẽ Ngũ thú sinh tử luân trong Hữu bộ tì nại da quyển 34 mà diễn rộng ra. Tại Nhật bản, ngoài Thập giới đồ vẽ chung 10 cõi, còn có các bức vẽ riêng mỗi cõi. Như bức tranh Thập giới được cất giữ ở chùa Lai nghinh tại Nhật bản, nguyên do vẽ bức tranh này là khi Thiên hoàng Viên dung xem Vãng sinh yếu tập, ông rất cảm động, bèn ban sắc cho ngài Nguyên tín vẽ sự tướng của 2 cõi Tịnh độ và Uế độ, tất cả có 30 bức. Trong đó, 15 bức Tứ thánh đồ đã bị binh lửa thiêu hủy, nay còn 15 bức Lục đạo giới đồ. Tức 4 bức vẽ 4 địa ngục Đẳng hoạt, Hắc thằng, Chúng hợp, A tị, 3 bức vẽ 3 đường ngã quỉ, súc sinh, A tu la, 4 bức vẽ về cõi người như bất tịnh tướng, khổ tướng, vô thường tướng... và 1 bức vẽ cõi trời, cộng tất cả 12 bức, thành bức vẽ chung về 6 đường. Thêm 2 bức tranh về sự tích kinh Thí dụ, kinh Ưu bà tắc giới và 1 bức vẽ điện vua Diêm ma cộng chung là 15 bức. Thuyết khác cho rằng tương truyền tranh này do Cự thế Kim cương vẽ, là tác phẩm đại biểu cho trường phái tả thực ở thời đại Liêm thương.
thập giới ưu bà di
Daśaśīla upasika (S), Ten precepts for lay women.
Thập giới 十戒
[ja] ジッカイ jikkai ||| The ten precepts. (1) The ten kinds of good behavior, same as 十善業. (2) The ten basic precepts for bhikkhus and bhikkunīs in Theravāda and Nikāya Buddhism, the first five of which (五戒) are also observed by lay practitioners. they are: (1) not killing 不殺生; (2) not stealing ; (3) no improper sexual behavior (such as adultery, etc.) 不邪婬; (4) 不妄語 no false speech; (5) 不飲酒 no consumption of alcohol; (6) not eating after noon 不非時食; (7) not watching dancing, singing and shows 不歌舞觀聽; (8) not adorning oneself with garlands, perfumes and ointments 不塗飾香鬘; (9) not using a high bed 不坐高廣大牀; and (10) not receiving gold and silver 不蓄金銀寶. => Mười điều giới: 1. Mười hạnh lành, như Thập thiện nghiệp. 2. Mười giới căn bản của Tỉ khưu và Tỉ khưu ni trong Thượng toạ bộ và kinh văn Phật giáo hệ Nikāya, Năm giới đầu cũng được hàng cư sĩ thọ trì ; đó là: 1. Bất sát sinh不殺生: không sát hại sinh vật. 2. Bất thâu đạo不偸盗: không trộm cắp. 3. Bất tà dâm不邪婬: không tà hạnh dâm dục. 4. Bất vọng ngữ不妄語: không nói dối. 5. Bất ẩm tửu不飲酒: không uống rượu. 6. Bất phi thời thực不非時食: không ăn trái thời. 7. Bất ca vũ quan thính不歌舞觀聽: không xem nghe đàn nhạc ca múa. 8. Bất đồ sức hương man不塗飾香鬘: không dùng hương hoa trang sức thân mình. 9. Bất toạ cao quảng đại sàng不坐高廣大牀: không nằm ngòi giường cao rộng. 10. Bất súc kim ngân bảo不蓄金銀寶: không cất giữ tiền bạc châu báu.
Thập giới 十界
[ja] ジッカイ jikkai ||| "ten realms." (1) The five organs of eyes, ears, nose, tongue and skin together with their five objects of form, sound, odor, taste and tactile objects. daśa-dhātavah (2) Ten divisions of the unenlightened and enlightened worlds, according to level. These are the realms of: hell-being 地獄, hungry ghost 餓鬼, animal 畜生, asura 阿修羅, human 人間, god 天上, śrāvaka 聲聞, pratyekabuddha 縁覺, bodhisattva 菩薩 and Buddha 佛. The six realms from hell-being to god are the unenlightened realms and the four from śrāvaka to Buddha are enlightened. They are also classified as the first three being the result of evil karma, the next three the result of good karma, the next two as Hīnayāna rewards and the final two as Mahāyāna rewards. Also written 十法界. => Mười cõi giới: 1. Năm giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, cùng với năm đối tượng của giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc (s:daśa-dhātavah). 2. Sự phân chia thành 10 cảnh giới giác ngộ và phàm phu, theo từng cấp độ. Đó là: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Người , Trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật. Sáu cõi giới từ Địa ngục đến Trời là cõi giới của hàng phàm phu, 4 cõi giới từ Thanh văn đến Phật là cõi giới của bậc giác ngộ. Cũng còn được sắp xếp ba cõi giới đầu là quả báo của ác nghiệp, ba cõi giới tiếp theo là kết quả của thiện nghiệp, hai cõi giới kế tiếp là quả báo Tiểu thừa, hai cõi giới cuối cùng là quả báo Đại thừa. Còn gọi là Thập pháp giới十法界.
Thập Hiệu
(十號): 10 danh hiệu của đức Phật Thích Ca cũng như các đức Phật khác, còn gọi là Như Lai Thập Hiệu (如來十號), Thập Chủng Thông Hiệu (十種通號), gồm: (1) Như Lai (s, p: tathagāta, 如來), âm dịch là Đa Đà A Già Đà (多陀阿伽陀), nghĩa là cỡi đạo như thật mà đến và thành chánh giác. (2) Ứng Cúng (s: arhat, p: arahant, 應供), âm dịch là A La Hán (阿羅漢), nghĩa là xứng đáng để thọ nhận sự cúng dường của trời, người. (3) Chánh Biến Tri (s: samyaksaṃbuddha, p: sammāsambuddha, 正徧知), âm dịch là Tam Miệu Tam Phật Đà (三藐三佛陀), nghĩa là biết đúng đắn, cùng khắp tất cả các pháp. (4) Minh Hạnh Túc (s: vidyā-caraṇa-saṃpanna, p: vijjācaraṇa-sampanna, 明行足), tức Tam Minh (三明) là Thiên Nhãn (天眼), Túc Mạng (宿命), Lậu Tận (漏盡) và hạnh nghiệp của thân miệng được viên mãn, đầy đủ. (5) Thiện Thệ (s, p: sugata, 善逝), có nghĩa là lấy hết thảy các trí làm cổ xe lớn và hành Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道) để nhập Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). (6) Thế Gian Giải (s: lokavid, p: lokavidū, 世間解), nghĩa là biết rõ hai loại thế gian có chúng sanh và không phải chúng sanh; cho nên biết rõ sự diệt tận của thế gian và con đường thoát ra khỏi thế gian. (7) Vô Thượng Sĩ (s, p: anuttara, 無上士), như trong các pháp, Niết Bàn là trên hết, trong tất cả chúng sanh, Phật là đấng tối thượng. (8) Điều Ngự Trượng Phu (s: puruṣa-damya-sārathi, p: purisa-damma-sārathi, 調御丈夫), là đại bi và đại trí của Phật, có khi dùng lời nhu hòa, có khi dùng lời bi thiết hay tạp ngữ, v.v., lấy đủ các loại phương tiện để điều ngự người tu hành, giúp cho họ nhập Niết Bàn. (9) Thiên Nhân Sư (s: śāstā devamanuṣyanaṁ, p: satthā devamanussānaṁ, 天人師), nghĩa là bậc thầy hướng dẫn chúng sanh việc gì nên làm, việc gì không nên làm, cái nào là thiện, là không thiện, khiến cho họ giải thoát khỏi phiền não. (10) Phật Thế Tôn (s, p: buddha-bhagavat, 佛世尊), nghĩa là bậc tự giác tỉnh chính minh, giác tỉnh mọi người, biết và thấy hết thảy các pháp trên đời, có đầy đủ các đức; cho nên được mọi người tôn trọng, cung kính. Như trong Đế Thích Sở Vấn Kinh (帝釋所問經, Taishō No. 15) có câu: “Ngã Phật Thế Tôn Thập Hiệu cụ túc, Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn (我佛世尊十號具足、如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛世尊, đức Phật Thế Tôn chúng ta có đủ Mười Hiệu là Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn).”
Thập hiệu
十號|Mười danh hiệu
thập hiệu
Ten epithets.
; Ten tittles of a Buddha: (1) Như lai Tathàgata, Thus come ones; (2) -ng cúng Arhat, worthy of offerings: (3) Chính biến tri Samyak-sambuddha, of proper and universal khowledge; (4) Minh hạnh túc Vidyàcarana, perfect in understanding and conduct; (5) Thiện thệ Sugata, skillful; Thế gian giải Lokavidin leaving the world through liberation (6) Vơ thượng sĩ Anuttara, unsurpassed knights; (7) Điều ngự trượng phu Purusa-damya-sàrathi, taming heroes; (8) Thiên nhân sư Sàstà-deva-manusyànàm, teachers of gods and people; (9) Phật Buddha, Buddhas; (10) Thế tôn lokanàtha, Bhagavàn, world honored ones.
; Mười danh hiệu của Phật—The ten titles of a Buddha: 1) Như Lai: Tathagata (skt)—Thus Come One—Như Lai là bậc đã hoàn toàn phản bổn hoàn nguyên. Bậc ấy dù có xuất hiện nơi đời, nhưng đã hoàn toàn thoát khỏi mọi hệ lụy và trói buộc của trần tục—One who is completely original in nature. He appeared in this world, yet he was not really here since he was completely free from all bondage and attachments. 2) Ứng Cúng: A-La-hán—Arhat (skt)—Người xứng đáng nhận sự cúng dường của chúng sanh và chư thiên—One Worthy of Offerings—One who can take offerings from all sentient beings, including heavenly beings. 3) Chánh Biến Tri: Samyak-Sambuddha (skt)—Người hiểu biết thông suốt vạn pháp—One of Proper and Pervasive Knowledge—One who has deep and complete understanding of all dharmas; all knowing. 4) Minh Hạnh Túc: Vidya-carana-Sampanna (skt)—Người có đủ đầy trí đức—One Complete in Clarity and Conduct—One who possesses all wisdom and virtue—The Buddha was praised as not only perfect in knowledge, but also perfect in conduct (or not only perfect in conduct, but also perfect in wisdom). 5) Thiện Thệ: Sugata (skt)—Người luôn hướng thiện, không bao giờ thối chuyển—One who is always on the path toward goodness; never regreesing toward evil. 6) Thế Gian Giải: Lokavit (skt)—Đấng có hiểu biết toàn diện về cả lý thuyết lẫn thực hành cho chúng sanh trong tam giới (dục, sắc, và vô sắc giới)—Well Gone One who understands the World—One who has total understanding of theory and practice for all beings in the three worlds (desire, form, and formless). 7) Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu: Anuttara Purusa-Damya-Sarathi (skt)—Người đứng trên cả mọi loài trong ba cõi—Unsurpassed Knight—Taming and Subduing Hero—One who stands the highest among all beings in the Three Worlds. 8) Thiên Nhơn Sư: Sasta-deva-Manusyanam (skt)—Thầy dạy khắp trời người, dẫn dạy chúng sanh điều quấy lẽ phải. Bậc có thể dạy cho chúng sanh chánh kiến chánh tri thức để từ đó họ có thể có được trí tuệ hóa giải vô minh mà đạt thành giác ngộ—Teacher of Gods and Humans—One who is the master of all humans and heavenly beings, teaching them what is right and what is wrong. One who is able to give all sentient beings the proper view and knowledge so they may gain wisdom to see through ignorance, to attain enlightenment. 9) Phật: Buddha-lokanatha—Bhagavan (skt)—Vị đã đạt được giác ngộ tối thượng—Buddha—One who has attained the Ultimate or Supreme Enlightenment—The Awakened One. 10) Thế Tôn: Lokanatha (skt)—Đấng được chúng sanh trong các cõi kính trọng—World Honored One—One who has the most respect by all realms of existence.
; (十號) Cũng gọi Như lai Thập hiệu, Thập chủng thông hiệu. Chỉ cho 10 đại tôn hiệu của chư Phật. Đó là: 1. Như lai (Phạm:Tathàgata, Hán âm: Đa đà a già đà): Nương đạo như thực (Như) mà đến(lai) và thành chính giác. 2. Ứng cúng (Phạm: Arhat, Hán âm: A la hán): Xứng đáng nhận sự cúng dường của người, trời. 3. Chính biến tri (Phạm: Samyaksaôbuddha, Hán âm: Tam miệu tam phật đà): Có năng lực biết rõ đúng đắn (chính) khắp(biến) tất cả pháp. 4. Minh hành túc (Phạm: Vidyàcaraịa-saôpanna): Tức Tam minh (Thiên nhãn, Túc mệnh, Lậu tận) và hành nghiệp của thân khẩu thảy đều viên mãn. 5.Thiện thệ (Phạm: Sugata): Dùng Nhất thiết trí làm cỗ xe lớn, đi trên 8 con đường chân chính mà vào Niết bàn. 6. Thế gian giải (Phạm: Loka-vid): Biết rõ 2 loại thế gian là Chúng sinh thế gian và Phi chúng sinh thế gian, cho nên biết thế gian diệt và con đường ra khỏi thế gian. 7. Vô thượng sĩ (Phạm: Anuttara): Trong các pháp, Niết bàn là vô thượng, trong tất cả chúng sinh, Phật cũng là vô thượng. 8. Điều ngự trượng phu (Phạm: Puruwa-damya-sàrathi): Phật là bậc Đại từ, Đại trí, có khi dùng lời dịu dàng, có khi dùng lời bi thiết, tạp ngữ... dùng mọi phương tiện điều phục, chế ngự người tu hành (trượng phu) khiến họ đến Niết bàn. 9. Thiên nhân sư (Phạm: Zàstà devamanuwyànàô): Chỉ dạy chúng sinh điều gì nên làm, điều gì không nên làm, việc này là thiện, việc này là bất thiện... giúp họ giải thoát phiền não. 10. Phật Thế tôn (Phạm: Buddhabhagavat): Tức tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, thấy biết tất cả các pháp trong 3 đời. Tôn hiệu thứ 10 này cũng có chỗ chia làm 2 là Phật, Thế tôn, tức đầy đủ mọi đức và được người đời cung kính tôn trọng. Ngoài ra, trong các kinh luận cũng có chỗ hợp chung Thế gian giải, Vô thượng sĩ làm 1 tôn hiệu, hoặc Phật, Thế tôn hợp làm 1 hiệu, hoặc Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu hợp làm 1 tôn hiệu... [X. luận Đại trí độ Q.2, 21; Đại thừa nghĩa chương Q.20, phần cuối].
Thập hiệu 十號
[ja] ジュウゴウ jūgō ||| The ten epithets of the Buddha: (1) 如來 (tathāgata), "Thus-Come"; (2) 應供 (arhat) "Worthy of Respect"; (3) 正遍知 (samyak-sambuddha) "Correctly Enlightened"; (4) 明行足 (vidyā-carana-sampanna) "Perfected in Wisdom and Action"; (5) 善逝 (sugata) "Well-Gone"; (6) 世間解 (lokavid) "Knower of the Secular World"; (7) 無上士 (anuttarā) "Unsurpassed"; (8) 調御大夫 (purusadamya-sāratha) The "Tamer"; (9) 天人師 (śāstādevamanusyānām) "Teacher of Gods and Men"; (10) 佛世尊 or 蒲伽梵 (bhagavān) "World Honored One." Mười danh hiệu của Đức Phật : 1. Như Lai 如來 s: tathāgata); 2 Ứng cúng 應供 (arhat); . Chính biến tri 正遍知 (s:samyak-sambuddha); 4. Minh hạnh túc 明行足 s: vidyā-carana-sampanna); 5. Thiện thệ 善逝 (s: sugata); 6. Thế gian giải 世間解 (s: lokavid); 7. Vô thượng sĩ 無上士 (s: anuttarā) ; 8. Điều ngự trượng phu 調御大夫 s :purusadamya-sāratha); 9. Thiên nhân sư 天人師 ( s: śāstādevamanusyānām) ; 10. Phật Thế Tôn 佛世尊 hay Bạc-già-phạm 蒲伽梵 ( s: bhagavān) .
Thập hoặc 十惑
[ja] ジュウワク jūwaku ||| Ten afflictions, ten defilements, ten delusions. The first five, which are characteristic of those of developed religious sensitivity are: view of self 身見, extreme view 邊見, evil view 邪見, view of attachment to views 見取見, and view of attachment to the precepts 戒禁取見. The second five, which are characteristic of those of undeveloped religious sensitivity are: desire 欲, hatred 瞋, ignorance 癡, pride 慢, and doubt 疑. Also called 五利使and 五鈍使. Same as 十使 => Mười thứ phiền não, mười thứ nhiễm ô, mê vọng. Năm thứ đầu tiên, những đặc tính phát sinh một cách nhạy cảm trong khi tu tập là Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến. Năm thừ tiếp theo, là những đặc tính phát sinh bình thường trong đời sống tu tập, đó là: Dục, Sân, Si, Mạn, Nghi. Còn gọi là Ngũ lợi sử 五利使và Ngũ độn sử五鈍使. Đồng nghĩa Thập sử 十使.
thập huyền diệu lý
See Thập Huyền Môn.
thập huyền duyên khởi
Theo tông Hoa Nghiêm, có mười pháp môn huyền diệu nương nhau tạo thành sự biểu lộ của thế giới lý tưởng và duyên khởi—According to The Avatamsaka School, there are ten theories that independently cause the manifestation of the ideal world: (A) Lý tắc “Một trong tất cả, tất cả trong một” hay “Tương nhập tương dung.” (một là tất cả, tất cả là một)—The principle of “One-in-all and all-in-one. 1) Vì mọi loài cũng như mọi vật đều được hiện khởi do nội thức, nên căn nguyên là một: Because all beings as well as all things are manifested from ideation, the source is one. 2) Vì mọi loài cũng như mọi vật đều không có bản tính quyết định hay vận hành tự tại, nên vô ngã là chân lý tối thượng: Because all beings as well as all things have no determinate nature, all move freely, selflessness being the ultimate truth. 3) Vì lý duyên khởi chỉ cho sự tương y tương quan, nên tất cả đều cộng đồng liên hệ: Because the causation theory means interdependence or interrelation, all are co-related. 4) Vì tất cả đều có chung pháp tánh hay Phật tánh, nên tất cả đều có khả năng chứng đắc như nhau: Because the Dharma-nature (dharmata) or the Buddha-nature (Buddha-svabhava) is possessed in common by all, they have similar liability. (B) Linh Tinh—Miscellaneous. 5) Vì thế giới hiện tượng được cho là mộng huyễn, nên thế giới nhất chân có thể bàng bạc khắp mọi nơi không bị ước thúc: Because the phenomenal world is said to be as a dream or illusion, the world of One-Truth can be molded in any way without restraint. 6) Vì thế giới hiện tượng được coi là bóng mờ hay ảo ảnh, nên thế giới nhất chân bàng bạc khắp nơi: Because the phenomenal world is said to be as shadow or image, the world of One-Truth can be molded in any way. 7) Vì trong sự giác ngộ của Phật, những căn nhân của hiện khởi được coi như vô hạn, những cảm quả là vạn trạng vô biên, nhưng chúng không chướng ngại nhau mà lại còn cộng tác để hình thành một toàn thể nhịp nhàng: Since the Enlightenment of the Buddha, the causes of production are known to be boundless, the effects are manifold or limitless, but they do not hinder each other; rather they cooperate to form a harmonious whole. 8) Vì sự giác ngộ của Phật là tối thượng và tuyệt đối, nên sự chuyển hóa của thế giới là theo ý chí của Ngài: Because the Buddha's Enlightenment is ultimate and absolute, the transformation of the world is at his will. 9) Vì tác dụng thiền định thâm áo của Phật, sự chuyển hóa của thế giới là tùy theo ý của Ngài: Because of the function of the Buddha's profound meditation the transformation of the world is at his will. 10) Vì năng lực siêu nhiên khởi lên từ sự giải thoát, sự chuyển hóa thế giới là tự tại: Because of the supernatural power originating from deliverance, the transformation of the world is free.
thập huyền môn
Để thuyết minh khả tính của thế giới “Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới,” tông Hoa Nghiêm đã đề ra mười Huyền Môn—In order to elucidate the possibility of the realm of Fact and fact world perfectly harmonized,” the Hua-Yen School set forth the “Ten Profound Theories.” 1) Đồng Thời Cụ Túc Tương Ưng Môn: Nói về sự cộng đồng liên hệ, trong đó vạn vật cộng đồng hiện hữu và đồng thời hiện khởi. Tất cả đều cộng đồng hiện hữu, không những chỉ quan hệ không gian mà cả trong quan hệ thời gian; không có sự phân biệt giữa quá khứ, hiện tại và vị lai, mỗi thời bao hàm các thời phần khác. Mặc dù chúng có vẻ sai biệt trong thời gian, nhưng tất cả đều được hợp nhất thành một thực thể, theo quan điểm viên dung—The theory of co-relation, in which all things have co-existence and simultaneous rise. All are co-existent not only in relation to space, but also in relation to time. There is no distinction of past, present and future, each of them being inclusive of the other. Distinct as they are and separated as they seem to be in time, all beings are united to make over entity from the universal point of view. 2) Quảng Hiệp Tự Tại Vô Ngại Môn: Nói về tự do toàn vẹn, trong đó mọi loài, thông minh hay ngu độn, đều tương giao với nhau không chướng ngại. Năng lực của tất cả nội hàm cũng như ngoại trương đều vô hạn như nhau. Một nghiệp, dù nhỏ bao nhiêu cũng bao hàm tất cả mọi nghiệp. Một và tất cả đều tương giao một cách tự do và bất tuyệt—The theory of perfect freedom in which all beings “broad and narrow” commune with each other without any obstacle. The power of all beings as to intension and extension is equally limitless. One action, however small, includes all actions. One and all are commutable freely and uninterruptedly. 3) Nhất Đa Tương Dung Bất Đồng Môn: Nói về sự hỗ tương nhiếp nhập của những sự thể bất đồng. Tất cả những hiện hữu bất đồng đều có những điểm tương đồng. Nhiều ở trong một, một ở trong nhiều và tất cả ở trong nhất thể—The theory of mutual penetration of dissimilar things. All dissimilar existences have something in common. Many in one, one in many, and all in unity. 4) Chư Pháp Tương Tức Tự Tại Môn: Nói về tự do, nghĩa là vượt ngoài những sai biệt kỳ cùng, trong đó tất cả các pháp đều hỗ tương đồng nhất. Đây là sự đồng nhất phổ biến của vạn hữu. Thực ra, hỗ tương đồng nhất là tự tiêu hủy. Khi đồng nhất ta với kẻ khác, ta có thể hòa hợp với kẻ khác. Tự tiêu hủy và tự đồng hóa với cái khác tạo thành một đồng nhất hóa tổng hợp. Đây là lý thuyết hay thực hành đặc biệt của Đại Thừa, áp dụng cho bất cứ lý thuyết hay thực hành nào. Hai lý thuyết đối nghịch hay những sự kiện khó dung hợp thường được kết lại thành một. Thông thường do phương pháp này mà người ta đi đến một giải pháp êm đẹp cho một vấn đề. Do kết quả của sự hỗ tương nhiếp nhập và hỗ tương hòa hợp, chúng ta có khái niệm “Một trong tất cả, tất cả trong một. Một ở đàng sau tất cả, tất cả ở đàng sau một. Lớn và nhỏ, cao hay thấp, cũng vận chuyển nhịp nhàng với nhau. Ngay cả những đóng góp khiêm nhường nhứt vào công cuộc hòa điệu, cũng không ai có thể tách khỏi hay biệt lập một mình được—The theory of freedom, i.e., freedom from ultimate disctinctions, in which all elements are mutually identified. It is a universal identification of all beings. Mutual identification is, in fact, self-negation. Identifying oneself with another, one can synthesize with another. Negating oneself and identifying oneself with another constitute synthetical identification. This is a peculiar theory or practice of Mahayana. It is applied to any theory and practice. Two opposed theories or incompatible facts are often identified. Often a happy solution of a question is arrived at by the use of this method. As the result of mutual penetration and mutual identification. We have the concept “One in All, All in One. One behind All, All behind One.” The great and small, the high or low, moving harmoniously together. Even the humblest partaking of the work in peace, no one stands separately or independently alone. It is the world of perfect harmony. 5) Ẩn Mật Hiển Liễu Câu Thành Môn: Nói về thuyết tựu thành, nhờ đó mà cái ẩn mật và cái biểu hiện cùng tạo thành một toàn thể bằng hỗ tương chi trì. Nếu cái nầy ở trong thì cái kia ở ngoài hay ngược lại. Cả hai hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một nhất thể—The theory of complementarity by which the hidden and the manifested will make the whole by mutual supply. If one is inside, the other will be outside, or vice versa. Both complementing each other will complete one entity. 6) Vi Tế Tương Dung An Lập Môn: Nói về sự thành lập bằng hỗ tương nhiếp nhập của những vật chất vi tiểu và ẩn áo. Nói một cách tổng quát, một sự thể càng vi tiểu và ẩn áo, người ta càng khó mà nhận ra nó. Những sự thể vi tế hay ẩn áo vượt ngoài lãnh hội của một người cũng phải thể hiện lý thuyết về “một trong nhiều và nhiều trong một.”—The theory of construction by mutual penetration of minute and abstruse matters. Generally speaking, the more minute or abstruse a thing is, the more difficult it is to be conceived.. Things minute or abstruse beyond a man's comprehension must also be realizing the theory of one-in-many and many-in-one. 7) Nhân Đà La Võng Cảnh Giới Môn: Nói về sự phản chiếu nội tại, như trong lãnh vực được bao quanh bằng lưới của trời Đế Thích (mỗi mắt lưới là một viên ngọc thạch lấp lánh), ở đó những hạt ngọc phản chiếu rực rỡ lẫn nhau. Cũng vậy, những sự kiện thực tế của thế giới đều chen lẫn và chiếu rọi lẫn nhau—The theory of inter-reflection, as in the region surrounded by the Indra net (a net decorated with a bright stone on each knot of the mesh), where the jewels reflect brilliance upon each other, according to which the real facts of the world are mutually permeating and reflecting. 8) Thác Sự Hiển Pháp Sinh Giải Môn: Nói về sự thuyết minh chân lý bằng những điển hình thật sự. Chân lý được biểu lộ trong sự vật và sự vật là nguồn gốc của giác ngộ—The theory of elucidating the truth by factual illustrations. Truth is manifested in fact and fact is the source of enlightening. 9) Thập Thế Cách Pháp Dị Thành Môn: Nói về “sự thành tựu từ đa thù của 10 thời gian tạo thành một thực thể.” Quá khứ, hiện tại, và vị lai, mỗi thời đều chứa đựng ba thời, như thế tạo thành chín thời, chúng hợp chung lại thành một thời duy nhất, chín và một là mười thời. Mười thời, tất cả đều khác biệt, nhưng nhiếp nhập lẫn nhau, hoàn thành cái lý tắc một-trong-tất-cả. Tất cả những lý thuyết khác, chính yếu liên hệ với sự hỗ tương nhiếp nhập nầy trong bình diện “hàng ngang,” nhưng lý thuyết nầy lại liên hệ với mọi “quan hệ hàng dọc” hay thời gian, nghĩa là mọi loài bị phân tách dọc theo chín thời, mỗi thời tự đầy đủ để cuối cùng tất cả đều tương quan tương liên trong một thời độc nhất; một thời độc nhất được hình thành bằng chín thời kia—The theory of “variously completing ten time-periods creating one entity.” Each of past, present and future contains three periods thus making up nine periods which altogether form one period, nine and one, ten periods in all. The ten periods, all distinct yet mutually penetrating, will complete the one-in-all principle. All other theories are concerned chiefly with the mutual penetration in “horizontal plane,” but this theory is concerned with the “vertical connection,” or time, meaning that all beings separated along the nine periods, each complete in itself, are, after all, interconnected in one period, the one period formed by the nine. 10) Duy Tâm Hồi Chuyển Thiện Thành Môn: Nói về sự thành tựu của những thiện đức mà nhờ đó, chủ và tớ cùng hoạt động một cách nhịp nhàng và xán lạn. Nếu cái nầy là chủ thì tất cả những cái khác sẽ hoạt động như là thần tử của nó, nghĩa là theo lý tắc “nhứt tức nhất thiết, và nhất thiết tức nhứt.” Chúng tạo thành một toàn thể viên toàn trên thực tế, cái nầy cái kia xen lẫn nhau—The theory of completion of virtues by which the chief and the retinue work together harmoniously and brightly. If one is the chief, all others will work as his retinue, i.e., according to the one-in-all and all-in-one principle, they really form one complete whole, penetrating one another.
; (十玄門) Cũng gọi Thập huyền duyên khởi. Gọi đủ: Thập huyền duyên khởi vô ngại pháp môn, Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn, Nhất thừa thập huyền môn. Gọi tắt: Thập huyền. Chỉ cho 10 môn sâu xa, mầu nhiệm biểu thị tướng của Sự sự vô ngại pháp giới, nếu thông suốt được nghĩa này thì có thể nhập vào biển huyền diệu của kinh Hoa nghiêm, cho nên gọi là Huyền môn; muời môn này làm duyên cho nhau mà khởi, vì thế gọi là Duyên khởi. Mười môn tương tức tương nhập, làm tác dụng cho nhau, không ngăn ngại lẫn nhau. Tông Hoa nghiêm lấy thuyết Thập huyền môn và Lục tướng viên dung làm giáo lí căn bản, xưa nay gọi chung là Thập huyền Lục tướng, cả 2 hội thông mà cấu thành nội dung trung tâm của Pháp giới duyên khởi. Thập huyền chính là theo 10 phương diện để thuyết minh tướng của pháp giới Sự sự vô ngại trong 4 pháp giới, biểu thị hiện tượng và hiện tượng nhất thể hóa(tương tức), dung hòa vào nhau mà không trở ngại (tương nhập), hệt như những mắt lướikết hợp với nhau, tức dùng 10 Huyền môn để biểu thị ý nghĩa sâu xa của Pháp giới duyên khởi. Thập huyền môn lại được chia làm Cổ thập huyền(Thập huyền cũ) và Tân thập huyền(Thập huyền mới). Ngài Trí nghiễm chủ trương Nhất thừa thập huyền môn, ngài Pháp tạng soạn Hoa nghiêm ngũ giáo chương kế thừa thuyết này, đó là Cổ thập huyền. Thập huyền môn nói trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí của ngài Pháp tạng được ngài Trừng quán trình bày lại trong Hoa nghiêm huyền đàm quyển 6, đó là Tân thập huyền. Sau đây là nói sơ qua về các môn của Tân thập huyền: 1. Đồng thời cụ túc tương ứng môn: Tất cả hiện tượng đồng thời tương ứng, đồng thời đầy đủ, theo lí duyên khởi mà thành lập, một và nhiều dung hợp nhau thành một thể, không có trước sau sai khác. 2. Quảng hiệp tự tại vô ngại môn: Sự đối lập giữa rộng và hẹp về không gian tựa hồ như mâu thuẫn nhau, nhưng chính sự mâu thuẫn đối lập ấy lại là môi giới của sự tương tức tương nhập, vì thế là tự tại viên dung vô ngại. 3. Nhất đa tương dung bất đồng môn: Về tác dụng của hiện tượng thì trong một có nhiều, trong nhiều dungchứamột, tướng một và nhiều không ngăn ngại, nhưng thể của chúng thì khác nhau, không đánh mất tướng một và nhiều. 4. Chư pháp tương tức tự tại môn: Về thể của hiện tượng thì một và tất cả đắp đổi là không và hữu, cả 2 đều nhất thể hóa, dung nhiếp lẫn nhau một cách tự tại vô ngại.5. Ẩn mật hiểu liễu câu thành môn: Về hiện tượng duyên khởi thì khi lấy một làm hữu mà hiển hiện ra tướng, thì nhiều là không và ẩn kín không hiện. Tức ẩn và hiển nhất thể hóa lẫn nhau đồng thời thành lập, tất cả pháp và một pháp là nhất thể của nhau. 6. Vi tế tương dung an lập môn: Khi dựa vào lí tương nhập để nói hiện tượng duyên khởi thì đặc biệt chú trọng ở điểm không hoại tự tướng. Tức trong mỗi hiện tượng, đem nhỏ hòa vào lớn, dùng một bao nhiếp nhiều, nhưng lớn và nhỏ hòa nhập vào nhau mà không loạn, không hoại tướng một và nhiều, trật tự vẫn rõ ràng. 7. Nhân đà la võng pháp giới môn: Muôn tượng sum la, mỗi mỗi hiển phát lẫn nhau, lớp lớp vô cùng tận, giống như mành lưới của Nhân đà la(mành lưới bằng ngọc châu báu trong cung điện của trời Đế thích). 8. Thác sự hiển pháp sinh giải môn: Nghĩa lí sâu xa, mầu nhiệm nương vào sự pháp nhỏ nhặt mà được hiển bày, sự được nương và lí được hiển không 2 không khác. 9. Thập thế cách pháp dị thành môn: Trong mỗi 3 đời quá khứ, vị lai, hiện tại đều có 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai, hợp chung thành 9 đời. Chín đời này cũng chỉ thu nhiếp vào trong một niệm, hợp 9 đời với 1 niệm thành 10 đời. Thời gian của 10 đời này tuy có gián cách, nhưng thời này thời kia tương tức tương nhập, trước sau, dài ngắn đồng thời hiển hiện đầy đủ, thời và pháp không lìa nhau. 10. Chủ bạn viên minh cụ đức môn: Trong các hiện tượng duyên khởi, hễ nêu một hiện tượng nào thì hiện tượng ấy là chủ, tất cả hiện tượng khác là bạn, cứ như thế làm chủ bạn lẫn nhau, đầy đủ mọi đức.Thứ tự của Cổ thập huyền và Tân thập huyền hơi khác nhau, tức trong Tân thập huyền, Quảng hiệp tự tại vô ngại môn được dùng thay cho Chư tạng thuần tạp cụ đức môn trong Cổ thập huyền và Chủ bạn viên minh cụ đức môn thay cho Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn. Lí do Cổ thập huyền được đổi thành Tân thập huyền có lẽ vì muốn tránh sự lẫn lộn giữa Chư tạng thuần tạp cụ đức môn và Lí sự vô ngại; đồng thời Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn cũng chỉ nói lên cái lí các pháp vô ngại chứ chẳng phải hiển bày cái tướng các pháp vô ngại. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10; Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn]. (xt. Tứ Pháp Giới, Hoa Nghiêm Thập Nghĩa).
thập huyền đàm
(十玄談) Tác phẩm, 1 quyển, do Thiền sư Đồng an Thường sát soạn vào đời Đường, được thu vào Cảnh đức truyền đăng lục quyển 29 và Liên đăng hội yếu quyển 30. Nội dung nói về yếu chỉ của tông môn và chỉ ra con đường quan trọng mà người học phải đi theo. Sách được viết theo thể kệ tụng 7 chữ, chia làm 10 chương, tức 10 Huyền, đó là: Tâm ấn, Tổ ý, Huyền cơ, Trần dị, Phật giáo, Hoàn hương khúc, Phá hoàn hương khúc, Hồi cơ, Chuyển vị và Chính vị tiền. Nhưng theo sự sai khác của bản in Cảnh đức truyền đăng lục (Tổ đình sự uyển, bản đời Tống, bản Cao li, bản chùa Thiên ninh, bản đời Nguyên, bản đời Minh) thì tên gọi Thập huyền có hơi khác. Như bản đời Tống không có Tổ ý, Chuyển vị, bản đời Nguyên gọi Phật giáo là Diễn giáo... Về các bản chú thíchsáchnày thì có: -Thập huyền đàm chú, do ngài Tuyết sầm người Triều tiên soạn. -Thập huyền đàm giả danh chú, do ngài Chỉ nguyệt Tuệ ấn soạn.
thập huệ chương cú
(十慧章句) Cũng gọi Thập tuệ, Thập tuệ kinh, Sa di thập tuệ chương cú. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghiêm phật điều soạn vào đời Đông Hán. Chính văn sách này đã thất lạc, nay chỉ còn bài tựa được thu vào Xuất tam tạng kí tập quyển 10.Ngài Đạo an đã sao chép Lục độ yếu mục của ngài Khang tăng hội hợp chung với sách này mà thành bộ Thập pháp cú nghĩa. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4].
thập hành
See Thập Hạnh.
thập hành ấm ma
Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật đã nhắc nhở ông A Nan về mười hành ấm ma—According to the Surangama Sutra, the Buddha remined Ananda about the ten states of formation skandha. 1) Hai thứ vô nhân: Two theories on the absence of cause—See Nhị Chủng Vô Nhân Luận. 2) Bốn thứ biến thường—Four theories regarding pervasive permanence—See Tứ Chủng Biến Thường. 3) Bốn thứ điên đảo: Four upside-down theories—See Tứ Chủng Điên Đảo. 4) Bốn thứ hữu biên: Four theories regarding finiteness—See Tứ Chủng Hữu Biên. 5) Bốn thứ kiểu loạn: Four kinds of sophistry—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện, cùng tột căn bản của các loài sanh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong tri kiến, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào bốn thứ điên đảo, bất tử kiểu loạn, biến kế hư luận—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving, and proper and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate on what he knows and sees, he could fall into error with four distorted, false theories, which are total speculation based on the sophistry of immortality. a) Một là người đó xem cái bản nguyên biến hóa; thấy cái chỗ thay đổi gọi là “biến,” thấy cái chỗ nối nhau gọi là “hằng,” thấy cái chỗ bị thấy gọi là “sinh;” chẳng thấy chỗ bị thấy gọi là “diệt;” chỗ tương tục không đoạn gọi là “tăng;” chỗ tương tục gián đoạn gọi là “giảm;” mỗi cái có chỗ sinh gọi là “có;” mỗi cái có chỗ diệt gọi là “không.” Lấy lý xem xét dụng tâm thấy riêng. Có người đến cầu pháp hỏi nghĩa, đáp: “Tôi nay cũng sinh, cũng diệt, cũng có, cũng không, cũng tăng, cũng giảm.” Các thời đều nói lộn xộn, khiến cho người nghe quên mất chương cú—First, this person contemplates the source of transformations. Seeing the movement and flow, he says there is change. Seeing the continuity, he says there is constancy. Where he can perceive something, he says there is production. Where he cannot perceive anything, he says there is destruction. He says that the unbroken continuity of causes is increasing and that the pause within the continuity are decreasing. He says that the arising of all things is existence and that the perishing of all things is nonexistence. The light of reason shows that his application of mind has led to inconsistent views. If someone comes to seek the Dharma, asking about its meaning, he replies, “I am both alive and dead, both existent and nonexistent, both increasing and decreasing.” He always speaks in a confusing way, causing that person to forget what he was going to say. b) Hai là người đó xem xét tâm kỹ càng, cái chỗ xoay vần không có. Nhân không mà có chứng được. Có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, không ngoài chữ “không,” không nói gì cả—Second, this person attentively contemplates his mind and finds that everything is nonexistent. He has a realization based on nonexistence. When anyone comes to ask him questions, he replies with only one word. He only says “no,” Aside from saying “non,” he does not speak. c) Ba là người đó xem xét kỹ càng cái tâm của mình, cái gì cũng có chỗ, nhân “có” mà chứng được. Có người đến hỏi chỉ đáp một chữ “phải.” Ngoài chữ “phải” ra không nói gì cả—Third, this person attentively contemplates his mind and finds that everything is existent. He has a realization based on existence. When anyone comes to ask him questions, he replies with only one word. He only says “yes.” Aside from saying “yes,” he does not speak. d) Bốn là người đó đều thấy hữu, vô, vì cái cảnh phân hai, tâm cũng kiểu loạn. Có người đến hỏi lại đáp “cũng có” tức là “cũng không,” trong “cũng không” chẳng phải “cũng có.” Vì so đo chấp trước kiểu loạn hư vô, nên đọa lạc ngoại đạo và mê lầm tính Bồ Đề—Fourth, this person perceives both existence and nonexistence. Experiencing this branching, his mind becomes confused. When anyone comes to ask questions, he tells them, “Existence is also nonexistence. But within nonexistence there is no existence.” It is all sophistry and does not stand up under scrutiny. Because of these speculations, which are empty sophistries, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 6) Mười sáu thứ hữu tướng: The sixteen ways in which forms can exist after death—Lại có thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện, cùng tột căn bản của các loài sanh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Chỗ lưu vô tận, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào điên đảo hữu tướng sau khi chết. Hoặc tự kiên cố thân, nói sắc là ngã, hoặc thấy ngã viên mãn, trùm khắp quốc độ. Nói ngã có sắc. Hoặc kia tiền cảnh duyên theo ngã ứng dụng. Nói sắc thuộc ngã. Hoặc ngã nương ở trong cái hành tướng tương tục, nói ngã ở sắc. Đều so đo chấp trước rằng sau khi chết có tướng. Như vậy xoay vần có mưới sáu tướng. Từ ấy hoặc chấp rằng rốt ráo phiền não, rốt ráo Bồ Đề, hai tính cách đều đi đôi, chẳng có xúc ngại nhau. Vì so đo chấp trước sau khi chết rồi có tướng, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper and can no longer be disturbed be demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting and constant fluctuation. But if he begins to speculate the endless flow, he could fall into error with the confused ideas that forms exist after death. He may strongly identify with his body and say that form is himself; or he may see himself as perfectly encompassing all worlds and say that he contains form; or he may perceive all external conditions as contingent upon himself and say that form belongs to him; or he may decide that he relies on the continuity of the formations skandha and say that he is within form. In all these speculations, he says that forms exist after death. Expanding the idea, he comes up with sixteen cases of the existence of forms. 7) Tám thứ vô tướng: Eight ideas about nonexistence of forms—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện. Cùng tột căn bản của các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong chỗ diệt trừ sắc, thụ, tưởng, khởi so đo chấp trước, sau khi chết đọa vào vô tướng điên đảo. Thấy sắc diệt, hình không sở nhân. Xem tưởng diệt, tâm không chỗ buộc. Biết cái thụ diệt, không còn nối liền. Tính ấm tiêu tan, dù có sinh lý, mà không thụ tưởng, đồng như cây cỏ. Cái chất ấy hiện tiền, còn không thể được, huống là khi chết mà lại còn các tướng? Nhân đó so đo, sau khi chết, tướng không có, như vậy xoay vần, có tám vô tướng. Từ đó cho rằng: niết bàn, nhân quả, tất cả đều không, chỉ có danh từ, hoàn toàn đoạn diệt. Vì so đo chấp trước sau khi chết, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper, and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of being and contemplate the source of the subtle, fleeting and constant fluctuation. But if he begins to speculate on the skandhas of form, feeling, and thinking, which have already ended, he could fall into error with the confused idea that forms do not exist after death. Seeing that his form is gone, his physical shape seems to lack a cause. As he contemplates the absence of thought, there is nothing to which his mind can become attached. Knowing that his feelings are gone, he has no further involvements. Those skandhas have vanished. Although there is still some coming into being, there is no feeling or thought, and he concludes that he is like grass or wood. Since those qualities do not exist at present, how can there be any existence of fors after death? Because of his examinations and comparisons, he decides that after death there is no existence. Expanding the idea, he comes up with eight cases of the nonexistence of forms. From that, he may speculate that Nirvana and cause and effect are all empty, that they are mere names and ultimately do not exist. Because of those speculations that forms do not exist after death, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 8) Tám phủ định: Eight kinds of negation—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện. Cùng tột căn bản của các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Đối trong hành ấm còn, , và thụ tường diệt, chấp cả có và không, tự thể phá nhau. Sau khi chết ngưới ấy đọa vào luận Cu-Phi, khởi điên đảo. Trong sắc, thụ, tưởng, thấy có và chẳng phải có. Trong cái hành ấm thiên lưu, xem không và chẳng không. Như vậy xoay vần cùng tột ngũ ấm, 18 giới. Tám cái tướng cu-phi, hễ theo được một cái đều nói: “chết rồi có tướng không tướng.” Lại chấp rằng các hành tính chất hay dời đổi, tâm phát ra thông ngộ, có không đều không, hư thật lầm lỗi. Vì so đo chấp trước chết rồi đều không, hậu lai mời mịt, không thể nói được, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting and constant fluctuation. In this state where the skandha of formation remains, but the skandhas of feeling and thinking are gone, if he begins to speculate that there are both existence and nonexistence, thus contradicting himself, he could fall into error with confused theories that deny both existence and nonexistence after death. Regarding form, feeling and thinking, he sees that existence is not really existence. Within the flow of the formations skandha, he sees that that nonexistence is not really nonexistence. Considering back and forth in this way, he thoroughly investigates the realms of these skandhas and derives an eightfold negation of forms. No matter which skandha is mentioned, he says that after death, it neither exists nor does not exist. Further, because he speculates that all formations are changing in nature, an “insight” flashes through his mind, leading him to deny both existence and nonexistence. He cannot determine what is unreal and what is real. Because of these speculations that deny both existence and nonexistence after death, the future is murky to him and he cannot say anything about it. Therefore, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 9) Bảy chỗ đoạn diệt: Seven theories on the cessation of existence—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện. Cùng tột căn bản của các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Đối về sau không có, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào luận bảy thứ đoạn diệt. Hoặc chấp cái thân mất, hoặc cái dục diệt tận, hoặc cái khổ mất, hoặc cực lạc mất, hoặc cực xả mất. Như vậy xoay vần cùng tột bảy chỗ hiện tiền tiêu diệt, mất rồi không còn nữa. Vì so đo chấp trước chết rồi đoạn diệt, nên đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper and can no longer be distrubed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate that there ie no existence after death, he could fall into error with seven theories of the cessation of existence. He may speculate that the body will cease to exist; or that when desire has ended, there is cessation of existence; or that after suffering has ended, there is cessation of existence; or that when bliss reaches an ultimate point, there is cessation of existence; or that when renunciation reaches an ultimate point, there is cessation of existence. Considering back and forth in this way, he exhaustively investigates the limits of the seven states and sees that they have already ceased to be and will not exist again. Because of these speculations that existence ceases after death, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 10) Năm Niết Bàn: Five kinds of immediate Nirvana—See Ngũ Niết Bàn. • Thập Hạnh: Ten necessary activities or practices of a Bodhisattva—See Thập Hạnh Bố Tát.
Thập hư 十虚
[ja] ジュウコ jūko ||| The "ten directions of space." => Mười phương hư không.
thập hạnh
Quá trình tu chứng của giáo môn từ ngôi sơ hạnh đến ngôi thập hạnh, thuc giai đoạn thứ nhì của tam hiền.
; The ten lines of actions: (1) Hoan hỉ hạnh, joyful service; (2) Nhiêu ích hạnh, beneficial service: (3) Vô sân hận hạnh, never resenting; (4) Vô tận hạnh, without limit; (5) Li si loạn hạnh, never out of order; (6) Thiện hiện hạnh, appearing in any form at will; (7) Vô trước hạnh, unimpeded; (8) Tôn trọng hạnh, exalting the pàramitàs amongst all beings; (9) Thiện pháp hạnh, perfecting the Buddha-law by complete virtue: (10) Chân thật hạnh, manifesting in all things the pure, final, true reality.
; Quá trình tu chứng của giáo môn từ ngôi Sơ hạnh đến ngôi Thập hạnh, thuộc giai đoạn thứ nhì của Tam Hiền.
; (十行) I. Thập Hạnh. Cũng gọi Thập hạnh tâm. Chỉ cho 10 hạnh tu lợi người từ giai vị 21 đến giai vị 30 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Hoan hỉ hạnh: Bồ tát dùng vô lượng diệu đức của Như lai để tùy thuận 10 phương. 2. Nhiêu ích hạnh: Bồ tát khéo làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 3. Vô sân hận hạnh: Bồ tát tu hạnh nhịn nhục, không tức giận, khiêm nhường cung kính, không hại mình hại người, đối với oán địch thường nín nhịn. 4. Vô tận hạnh(cũng gọi Vô khuất nhiễu hạnh): Bồ tát tu hạnh tinh tiến, phát tâm độ tất cả chúng sinh, đến đại Niết bàn, không biếng nhác, xao lãng. 5. Li si loạn hạnh: Bồ tát thường trụ trong chính niệm không tán loạn, đối với tất cả pháp không si loạn. 6. Thiện hiện hạnh: Bồ tát biết rõ pháp không, 3 nghiệp vắng lặng, không trói buộc, không tham đắm, nhưng cũng không bỏ việc giáo hóa chúng sinh. 7. Vô trước hạnh: Trải qua vô lượng kiếp cúng Phật cầu pháp, tâm không chán đủ, nhưng cũng dùng tâm vắng lặng quán xét các pháp, cho nên không đắm trước tất cả pháp. 8. Tôn trọng hạnh: Bồ tát tôn trọng thiện căn trí tuệ... thảy đều thành tựu, nhờ đó lại càng tiến tu hạnh lợi mình lợi người. 9. Thiện pháp hạnh: Bồ tát chứng được 4 môn Đà la ni vô ngại, thành tựu các thiện pháp giáo hóa người khác để hộ trì chính pháp, làm cho hạt giống Phật không bị dứt mất.10. Chân thực hạnh: Bồ tát thành tựu lời nói Đệ nhất nghĩa đế, nói đúng như việc làm, làm đúng như lời nói, nói và làm phù hợp nhau, sắc tâm đều thuận. Tu thập hạnh có 4 mục đích: 1. Nhàm chán các pháp hữu vi. 2. Cầu đạo Bồ đề, đầy đủ Phật đức. 3. Muốn cứu độ chúng sinh trong đời hiện tại và ở đời vị lai. 4. Cầu thực tế, chứng pháp như. Ngoài ra, về việc Bồ tát tu 10 hạnh này ở giai vị nào, thì trong các kinh luận có thuyết cho rằng 1 trong 3 Hiền vị, có thuyết cho là Tính chủng tính trong 6 chủng tính, lại có thuyết cho là Tư lương vị trong 5 vị... [X. phẩm Thập hạnh trong kinh Hoa nghiêm Q.11 (bản dịch cũ); kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8; Đại thừa nghĩa chương quyển Q.14; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. II. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh tu của Bồ tát đó là: 1. Tín: Kính tin Phật, Pháp. 2. Bi: Trừ diệt khổ đau cho chúng sinh. 3. Từ: Ban vui cho chúng sinh, đối với các chúng sinh khởi chúng sinh duyên, biết chúng sinh không có thực thể, không tự tính mà khởi pháp duyên, quán xét 5 uẩn là không mà khởi vô duyên. 4. Xả: Bên trong xả bỏ thân mệnh, bên ngoài xả bỏ tài vật để bố thí, giúp chúng sinh an tâm. 5. Bất bì quyện: Bồ tát tu hành các hạnh thế gian, xuất thế không biết mỏi mệt. 6. Tri kinh thư: Bồ tát biết rõ 5 môn học (Ngũ minh). 7. Tri thế trí: Bồ tát hiểu biết ý nghĩa của các việc thực tế ở thế gian. 8. Tàm quí: Đối với tội lỗi sinh tâm thẹn hổ. 9. Kiên cố lực: Bồ tát có năng lực bền vững, giữ gìn Phật đạo, khôngđể lui sụt. 10. Cúng dường: Bồ tát cúng dường chư Phật và tu hành đúng theo lời dạy của Phật.[X. kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản dịch cũ); kinh Bồ tát địa trì Q.3,7; Thập địa kinh luận Q.3]. III. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh bao nhiếp các thiện pháp. Đó là: 1. Từ bi hạnh(không giết hại). 2. Thiểu dục hạnh(không trộm cướp). 3. Tịnh phạm hạnh(không tà dâm). 4. Đế ngữ hạnh(không nói dối). 5. Minh tuệ hạnh(không uống rượu). 6. Hộ pháp hạnh(không nói lỗi của người khác). 7. Tức ác suy thiện hạnh (không khen mình chê người). 8. Tài pháp câu thí hạnh(không bỏn xẻn chính pháp và tài vật). 9. Nhẫn nhục hạnh(không tức giận). 10. Tán thán Tam bảo hạnh(khen ngợi Tam bảo). [X. Thiền giới thiên]. IV. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh ác do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra, gọi là Thập ác. (xt. Thập Thiện Thập Ác).
thập hạnh bồ tát
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về mười hạnh cần thiết của Bồ Tát—In the Surangama Sutra, the Buddha reminded Ananda about the ten necessary activities, or practices of a Bodhisattva: 1) Hoan hỷ hạnh: The conduct of happiness • Hạnh hoan hỷ tùy thuận mười phương—The practice of joyful service, or giving joy. • Đức Phật nói với A Nan: “Ông A Nan! Người thiện nam đó thành Phật tử rồi, đầy đủ diệu đức của vô lượng Như Lai. Tùy thuận mười phương chúng sanh để ban bố đức mầu. Đó gọi là hoan hỷ hạnh—The Buddha told Ananda: “Ananda! After these good men have become sons of the Buddha, they are replete with the limitlessly many wonderful virtues of the Thus Come Ones, and they comply and accord with beings throughout the ten directions. This is called the conduct of happiness.” 2) Nhiêu ích hạnh: The conduct of benefitting. • Hạnh làm lợi ích cho tha nhân, hay thường làm việc lợi ích cho tất cả chúng sanh—The practice of beneficial service, or beneficial practice. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Khôn khéo có thể lợi ích tất cả chúng sanh gọi là nhiêu ích hạnh.”—The Buddha told Ananda: “Being well able to accommodate all living beings is called the conduct of benefitting.” 3) Vô sân hận hạnh: The conduct of non-opposition. • Nết hạnh không giận hờn; tự giác ngộ cho mình, giác ngộ cho người, chẳng trái nghịch—The practice of never resenting, or non-opposition. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Tự giác, giác tha được khỏi chống trái, gọi là vô sân hận hành.”—The Buddha told Ananda: “Enlightening oneself and enlightening others without putting forth any resistence is called the conduct of non-opposition.” 4) Vô tận hạnh: The conduct of endlessness. • Làm việc lợi tha vô tận (tùy cơ loại của chúng sanh mà hiện cái thân mình để cứu độ chúng sanh mãi mãi)—The practice of indomitability, or without limit in helping others. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Xuất sinh chủng nầy, loại khác, cho đến mãi mãi trong tương lai. Bình đẳng với ba đời, thông đạt mười phương, gọi là vô tận hạnh.”—The Buddha told Ananda: “To undergo birth in various forms continuously to the bounds of the future, equally throughout the three periods of time and pervading the ten directions is called the conduct of endlessness.” 5) Ly si loạn hạnh: The conduct of freedom from deluded confusion. • Lìa khỏi tánh ngu si, rối loạn—The practice of nonconfusion. • Đức Phật bảo A Nan: “Tất cả hợp đồng các pháp môn, được không sai lầm gọi là ly si loạn hạnh.”—The Buddha told Ananda: “When everything is equally in accord, one never makes mistakes among the various dharma doors. This is called the conduct of freedom from deluded confusion.” 6) Thiện hiện hạnh: The conduct of wholesome manifestation. • Nết hạnh khéo hiện, nhờ rời khỏi tánh ngu si mê loạn mà có thể hiện ra các tướng ở trong đồng loại để cứu độ họ—The practice of good manifestation, or appearing in any form at will to save sentient beings. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Trong chỗ 'đồng' đó, hiện ra các 'dị.' Mỗi mỗi tướng dị, đều thấy đồng. Đó gọi là thiện hiện hành.”—The Buddha told Ananda: “Then within what is identical, myriad differences appear; the characteristics of every difference are seen, one and all, in identity. This is called the conduct of wholesome manifestation.” 7) Vô trước hạnh: The conduct of non-attachment. • Nết hạnh không chấp trước, nghĩa là ở trong cõi trần mà chẳng bị nhiễm trước—The practice of nonattachment, or unimpeded practice. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Như vậy cho đến mười phương hư không đầy vi trần, trong mỗi vi trần hiện mười phương thế giới. Hiện vi trần, hiện thế giới, mà chẳng lưu ngại nhau. Đây gọi là vô trước hạnh.”—The Buddha told Ananda: “This continues until it includes all the dust motes that fill up empty space throughout the ten directions. In each and every mote of dust there appear the worlds of the ten directions. And yet the appearance of worlds do not interfere with one another. This is called the conduct of non-attachment.” 8) Tôn trọng hạnh: The conduct of veneration. • Còn gọi là “Nan Đắc Hạnh.” Nết hạnh tôn trọng Bát Nhã—The practice of exalting the paramitas amongst all beings, or the practice of that which is difficult to attain. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Các thứ biến hiện đều là đệ nhất ba la mật đa, đó gọi là tôn trọng hành.”—The Buddha told Ananda: “Everything that appears before one is the foremost paramita. This is called the conduct of veneration.” 9) Thiện pháp hạnh: The conduct of wholesome Dharma. • Nết hạnh phép lành, đức viên dung để làm thành quy tắc của chư Phật mười phương—The practice of good teaching, or perfecting the Buddha-law by complete virtue. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Như vậy viên dung, có thể thành tựu quy tắc của các Đức Phật mười phương, đó gọi là thiện pháp hành.”—The Buddha told Ananda: “With such perfect fusion, one can model oneself after all the Buddhas of the ten directions. This is called the conduct of wholesome dharma.” 10) Chơn thật hạnh: The conduct of true actuality. • Nết hạnh chơn thật của vạn hữu đều hiện ra trong giai đoạn nầy—The practice of truth, or manifest in all things the pure, final and true reality. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Mỗi mỗi đều thanh tịnh, không mê lậu. Nhất chân vô vi, tính bản nhiên. Đó gọi là chân thật hạnh.”—The Buddha told Ananda: “To then be pure and without outflows in each and every way is the primary truth, which is unconditioned, the essence of the nature. This is called the conduct of true actuality.”
thập hạnh nguyện phổ hiền
Ten vows of conduct of Samantabhadra Bodhisattva—See Phổ Hiền Hạnh Nguyện, and Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện in Appendix A.
thập hạnh phổ hiền
Samantabhadra's Ten Practices—See Phổ Hiền Hạnh Nguyện.
thập hạnh tiên
(十行仙) Cũng gọi Thập chủng tiên. Chỉ cho 10 loại tiên nhân, đó là: 1. Địa hành tiên: Các tiên nhân sống trên mặt đất, chỉ ăn các thứ hạt của cây cỏ. 2. Phi hành tiên: Các tiên nhân ăn tùng, bách... vì cỏ cây nhẹ nên thân thể cũng nhẹ, bay đi trong hư không mà không rơi xuống đất. 3. Du hành tiên: Các tiên nhân uống đan sa liên tiếp nên hóa cốt, sống lâu, thân thể cứng chắc; lại có khả năng chuyển hóa vật, khiến nghèo hèn thành giàu sang, tự tại dong chơi trong nhân gian để giáo hóa mọi người. 4. Không hành tiên: Các tiên nhân rèn luyện mọi cử chỉ hành vi không ngừng, có khả năng lướt đi trong hư không, tinh khí viên thành. 5. Thiên hành tiên: Các tiên nhân khuấy ao trời uống thần dịch, giữ chắc tinh hoa, lâu năm thành tựu thì lìa được nhân dục(lòng ham muốn của loài người). 6. Thông hành tiên: Hớp tinh khí của mặt trời, mặt trăng, nhờ công phu lâu ngày phát ra linh tri, biết suốt tình ý của chúng sinh.7. Đạo hành tiên: Tu luyện chú thuật không ngừng, nhờ đó pháp thuật viên thành. 8. Chiếu hành tiên: Chuyên tâm tưởng niệm không ngừng, cho nên phát ra dụng mà chiếu sáng cảnh giới. 9. Tinh hành tiên: Chuyên hành giao cấu(thuật lấy âm bỏ dương) không ngừng, người này cảm người kia ứng, hút tinh khí của người kia để làm cho mình cứng chắc. 10. Tuyệt hành tiên: Tâm chuyên nghĩ việc biến hóa cây đá, cho nên thân như cây khô, dứt hẳn công dụng hữu vi. [X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.43].
Thập hạnh 十行
[ja] ジュウギョウ jūgyō ||| The ten practices. Ten of the fifty-two stages of the career of a bodhisattva enumerated in the Avataṃsaka-sūtra. These stages are practices for the benefit of others. They are. 1. huanxixing 歡喜行 - The 'practice of giving joy.' Selfless giving to sentient beings by the bodhisattva, wherein he has no feeling of desire for reward. 2. raoyixing 饒益行 - 'beneficial practice.' Here the bodhisattvas maintain pure self control and their minds have no attachment to color or form, sound, fragrance, flavor or feeling. 3. Wuweinixing 無違逆行 - The 'practice of non-opposition.' The practice by bodhisattvas of continuous forbearance and tolerance; being humble and respectful, harming neither self nor others. 4. Wuqunaoxing 無屈撓行 - The 'practice of indomitability.' The cultivation by bodhisattvas of great, unsurpassed energy. They become naturally free from the three poisons of greed, hatred and delusion. 5. Wuchīuanxing 無癡亂行 - The 'practice of non-confusion.' The practice in which bodhisattvas perfect right mindfulness, their minds are free from distraction and disturbance, firm and imperturbable, consummately pure, immeasurably vast, without any delusion or confusion. 6. shanjianxing 善見行 - The 'practice of skillful manifestation.' The bodhisattvas are pure in thought, word and deed; they abide in non-acquisition and demonstrate non-acquisitive thought, word and deed. 7. Wuzhuxing 無著行 - The 'practice of non-attachment.' In this practice, bodhisattvas, with minds free from attachment, can in every successive instant enter into countless worlds and adorn and purify these countless worlds, their minds free from attachment to anything in these worlds. 8. nandexing 難得行 - The 'practice of that which is difficult to attain.' Here, bodhisattvas perfect inconceivable roots of goodness which are difficult to attain, and supreme understanding of the Buddha's teaching which is difficult to attain. 9. shanfaxing 善法行 - The 'practice of good teachings.' Here, bodhisattvas act as pure, cool reservoirs of truth for the sake of beings of all worlds--celestial and human beings, devils and gods, ascetics and priests, etc. 10. zhenshixing 眞實行 - The 'practice of truth.' Bodhisattvas perfect true speech--they can act in accord with what they say, and speak according to what they do. => Mười công hạnh tu tập. Mười trong 52 giai vị của Bồ-tát được ghi trong Kinh Pháp Hoa. Mười hạnh nầy là tu tập vì lợi ích cho tất cả chúng sinh. 1. Hoan hỷ hạnh: Bồ-tát bố thí với tinh thần vô ngã, không mong cầu quả báo. 2. Nhiêu ích hạnh: Bồ-tát duy trì sự thanh tịnh tâm ý, không dính mắc vào sắc, thanh, hương, vị, xúc. 3. Vô vi nghịch hạnh: Bồ-tát thực hành kham nhẫn và khoan dung, khiêm hạ và cung kính, không làm tổn hại mình cũng như người khác. 4. Vô khuất náo hạnh: Bồ-tát tu tập bằng năng lực to lớn vô thượng, tự nhiên vượt khỏi tam độc tham, sân, si. 5. Vô si loạn hạnh: Bồ-tát tu tập chính niệm viên mãn, tâm không còn giãi đãi và dao động, an định, hoàn toàn thanh tịnh, không ngằn mé, không còn vô minh hay mê mờ. 6. Thiện hiện hạnh: Thân, khẩu ý của Bồ-tát đều thanh tịnh, an trú trong vô sử đắc và thể hiện vô sở đắc qua thân, khẩu, ý. 7. Vô trước hạnh: Tâm Bồ-tát không còn chấp trước, trong mọi thời có thể di vào vô số thế giới để trang nghiêm và thanh tịnh hoá vô ssố thế giới nầy mà tâm không vướng mắc vào bất kỳ điều gì trong các cõi giới nầy. 8. Nan đắc hạnh: Bồ-tát hoàn tất vô số thiện căn khó nghĩ khó thành, và thông hiểu rốt ráo giáo lý khó chứng đắc của chư Phật. 9. Thiện pháp hạnh: Bồ-tát hành xử như là biển chân như thanh tịnh, trong lành vì lợi lạc cho toàn thể chúng sinh trong mọi cõi giới-chư thiên và loài người , ma quỷ và thiện thần, ngoại đạo và tăng sĩ. 10. Chân thật hạnh: Bồ-tát thành tựu lời nói chân thực--hành xử tương ứng với điều mình nói, và nói tương ưng với điều mình làm.
thập hải
Ten oceans—See Mười Thứ Hải Của Chư Đại Bồ Tát.
; (十海) I. Thập Hải. Chỉ cho 10 cảnh giới mà đức Phật khai ngộ, rộng lớn vô biên như biển cả khó suy lường được nên dùng biển(hải) để ví dụ.Cứ theo phẩm Lô xá na Phật trong kinh Hoa nghiêm quyển 2 (bản dịch cũ) thì Thập hải là: 1. Thế giới hải: Nơi đức Phật giáo hóa. 2. Chúng sinh hải: Chúng sinh được giáo hóa. 3. Pháp giới phương tiện hải: Pháp giới này có 4 nghĩa: Lí tính(bản tính chân thực xưa nay vốn sẵn có), nhiễm sự(các hiện tượng mê), li cấu(lìa các phiền não) và tịnh dụng (tác dụng của bồ đề thanh tịnh). 4. Điều phục hải: Căn dục của chúng sinh được Phật điều phục. 5. Phật hải: Người chủ của việc giáo hóa nhiều vô lượng, thuyết pháp khắp nơi. 6. Ba la mật hải: Phương pháp thực hành do đức Phật nói và hành vi thực hành của Ngài. 7. Pháp môn hải: Giáo pháp do Phật chỉ dạy và pháp do Phật tu hành chứng ngộ.8. Hóa thân hải: Những hình tướng mà Phật biến hiện tùy theo đối tượng giáo hóa.9. Phật danh hiệu hải: Tùy theo đối tượng mà thị hiện các danh hiệu. 10. Phật thọ lượng hải: Tùy theo đối tượng mà Phật thị hiện thọ lượng dài, ngắn tự tại. Trong kinh Hoa nghiêm quyển 3 (bản dịch cũ) cũng có thuyết Ngũ hải thập trí, nhưng tên hơi khác với phẩm Như lai hiện tướng trong kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch mới). [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].II. Thập Hải. Chỉ cho 10 đức nhân của Bồ tát sâu rộng như biển nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch mới). Đó là: 1. Nhất thiết bồ tát thệ nguyện hải: Biển thệ nguyện của tất cả Bồ tát. 2. Nhất thiết bồ tát phát thú hải: Biển phát thú của tất cả Bồ tát. 3. Nhất thiết bồ tát trợ đạo hải: Biển trợ đạo của tất cả Bồ tát. 4. Nhất thiết bồ tát thừa hải: Biển pháp môn của tất cả Bồ tát. 5. Nhất thiết bồ tát hạnh hải: Biển hạnh của tất cả Bồ tát. 6. Nhất thiết bồ tát xuất li hải: Biển xuất li của tất cả Bồ tát. 7. Nhất thiết bồ tát thần thông hải: Biển thần thông của tất cả Bồ tát. 8. Nhất thiết bồ tát ba la mật hải: Biển ba la mật của tất cả Bồ tát. 9. Nhất thiết bồ tát địa hải: Biển địa của tất cả Bồ tát. 10. Nhất thiết bồ tát trí hải: Biển trí của tất cả Bồ tát.
Thập Hắc Nghiệp Đạo
(十黑業道): xem Thập Ác (十惡) bên trên.
thập hệ phược
Ten bonds—See Mười Điều Ràng Buộc.
thập hồi hướng
Quá trình tu chứng của giáo môn từ ngôi Sơ hồi hướng đến ngôi Thập hồi hướng, thuộc giai đoạn thứ ba của Tam Hiền.
; Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về thập hồi hướng như sau—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the ten transferences as follows: 1) Cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh hồi hướng: Transference apart from appearances—Người thiện nam đó, đã mãn túc thần thông, thành Phật sự rồi, thuần khiến tinh chân, xa lìa các lưu hoạn. Nên độ chúng sanh, diệt trừ tướng độ, xoay tâm vô vi đến đường Niết Bàn. Đó gọi là cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh tướng hồi hướng—When these good persons replete with spiritual penetrations, have done the Buddhas' work, are totally pure and absolutely true, and remain distant from obstacles and calamities, then they take living beings across while casting aside the appearance of taking them across. They transform the unconditioned mind and go toward the path of nirvana. This is called the transference of saving and protecting living beings, while apart from the appearance of living beings. 2) Bất hoại hồi hướng: Transference of indestructibility—Bỏ cái đáng bỏ, xa lìa cái đáng xa lìa, gọi là bất hoại hồi hướng—To destroy what should be destroyed and to remain what should be behind is called the transference of indestructibility. 3) Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng: Transference of sameness with all Buddhas—Bản giác trạm nhiên, giác trí đã đồng ngang với chư Phật—Fundamental enlightenment is profound indeed, an enlightenment equal to the Buddhas's enlightenment. 4) Trí nhất thiết xứ hồi hướng: Transference of reaching all places—Tinh chân phát minh, địa vị đồng với địa vị của chư Phật—When absolute truth is discovered, one's level is the same as the level of all Buddhas. 5) Vô tận công đức tạng hồi hướng: Transference of the treasury of inexhaustible merit and virtue—Thế giới và Như Lai xen vào nhau được không chướng ngại—Worlds and Thus Come Ones include one another without any obstruction. 6) Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: Transference of the identity of all good roots—Đối với đồng Phật địa, trong địa vị đều sinh nhân thanh tịnh. Nương theo nhân ấy phát huy để lấy đạo Niết Bàn—Since they are identical with the Buddha-ground, they create causes which are pure at each and every level. Brilliance emanates from them as they rely on these causes, and they go straight down the path to Nirvana. 7) Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng: Transference of contemplating all living beings equally—Chân căn đã thành, mười phương chúng sanh đều là bản tánh của ta. Tính viên mãn thành tựu, chẳng sót mất chúng sanh—When the true roots are set down, then all living beings in the ten directions are my own nature. Not a single being is lost, as this nature is successfully perfected. 8) Chân như tướng hồi hướng: Transference of the appearance of True Suchness—Tức tất cả pháp xa lìa hết thảy tướng. Tức và ly, hai cái đều không mắc—All dharmas are themselves apart from all appearances, and yet there is no attachment either to their existence or to separation from them. 9) Vô phược giải thoát hồi hướng: Transference of liberation—Được chân như mười phương không ngăn ngại—That which is thus is truly obtained, and thee is no obstruction throughout the ten directions. 10) Pháp giới vô lượng hồi hướng: Transference of limitlessness of the Dhama Realm—Tính đức đã thành tựu hoàn toàn, pháp giới không còn hạn lượng—When the virtue of the nature is perfectly accomplished, the boundaries of the dharma realm are destroyed. ** For more information, please see Ten kinds of Dedications expounded by the Buddhas of past, present and future (The Flower Adornment Sutra—Chapter 25—Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 25—Thập Hồi Hướng).
; (十回向) Cũng gọi Thập hồi hướng tâm. Gọi tắt: Thập hướng. Chỉ cho 10 giai vị, từ giai vị thứ 31 đến 40 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát: 1. Cứu hộ nhất thiết chúng sinh li chúng sinh tướng hồi hướng: Tức giai vị thực hành Lục độ, Tứ nhiếp, cứu hộ tất cả chúng sinh, kẻ oán, người thân đều bình đẳng. 2. Bất hoại hồi hướng: Giai vị đã có được niềm tin bất hoại đối với Tam bảo,hồi hướng căn lành này, khiến chúng sinh được lợi ích tốt đẹp. 3. Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng: Giống như sự hồi hướng của chư Phật 3 đời, tu hành không đắm trước sinh tử, không lìa bỏ bồ đề. 4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng: Đem các thiện căn đã tu được hồi hướng đến khắp tất cả các nơi từ Tam bảo cho đến chúng sinh để làm lợi ích cúng dường. 5. Vô tận công đức tạng hồi hướng: Tùy hỉ tất cả thiện căn vô tận, hồi hướng làm Phật sự để được vô tận công đức thiện căn.6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: Hồi hướng các thiện căn đã tu, được Phật che chở, thành tựu tất cả căn lành bền vững. 7. Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng: Tức nuôi lớn tất cả gốc lành để hồi hướng làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 8. Như tướng hồi hướng: Thuận theo tướng chân như mà hồi hướng các thiện căn đã thành tựu. 9. Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng: Tức đối với tất cả pháp không để bị vướng mắc, trói buộc, được tâm giải thoát, đem thiện pháp hồi hướng, thực hànhhạnhPhổ hiền, đầy đủ mọi đức. 10. Pháp giới vô lượng hồi hướng: Tức tu tập tất cả thiện căn vô tận, đem hồi hướng các thiện căn này để nguyện cầu vô lượng công đức trong pháp giới sai biệt.Hồi hướng hàm ý là dùng tâm đại bi cứu hộ tất cả chúng sinh. Thập hồi hướng thuộc về Giải hành trụ trong 13 Trụ, Tư lương vị trong 5 vị, 10 giai vị sau trong Tam hiền và Đạo chủng tính trong 6 Chủng tính. [X. kinh Hoa nghiêm Q.15-22 (bản dịch cũ); phẩm Thánh hiền danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, thượng].
Thập hồi hướng 十廻向
[ja] ジュウエコウ jū ekō ||| 'Ten dedications (of merit).' A group of ten of the fifty-two stages of the path of bodhisattvahood in Mahāyāna Buddhism. Returning the fruits of all of one's practice to all sentient beings. These ten are: 1. jiuhuzhongshenglizhongshengxiang 救護衆生離衆生相 'Dedication to saving all beings without any mental image of sentient beings.' The stage where one, while using the mind of no-aspects to save sentient beings, is still separated from the aspects of 'not-yet-saved beings.' 2. buhuai 不懷 - 'indestructible dedication.' The rank where one sees emptiness easily without analyzing all dharmas. 3. dengyiqiefo 等一 - 'Dedication equal to all Buddhas.' The stage where one continually broadly penetrates the teachings of all the Buddhas of the three worlds. 4.zhiyiqiechu 至一切處 - 'dedication reaching all places.' The stage where one enters all Buddha-lands and practices cultivation together with all Buddhas. 5.wujingongdemie 無盡功徳滅 - 'dedication of inexhaustible treasuries of merit.' The stage of teaching people the meritorious dharma of the ever-present buddha-nature without exhaustion. 6.suishunpingdengshangen 隨順平等善根 - 'Dedication causing all roots of goodness to endure.' The stage of practicing the virtues of the middle path of no-outflow, and seeing that good and evil are not two. 7.suishundengguanyiqiezhongsheng 隨順等觀一切衆生 - 'Dedication equally adapting to all sentient beings.' The stage where one sees that the good and evil actions of all sentient beings are not distinguished. 8.zhenruxiang 眞如相 - 'Dedication with the character of true thusness.' The stage where the bodhisattva, using the wisdom of the middle path, clarifies existence and non-existence, and sees that everything is the reality-realm. 9. Wufujietuo 無縛解脱 - 'unbound liberated dedication.' The stage where one breaks off attachment with the view of all dharmas being the same, which he experiences through the wisdom of prajñāpāramitā. 10. fajiewuliang 法界無量 - 'Boundless dedication equal to the cosmos.' The stage where the bodhisattva witnesses that all existences are the middle path without aspects. => Mười trong 52 giai vị của Bồ-tát đạo trong Phật giáo Đại thừa. Hồi hướng kết quả tu tập của hành giả cho tấy cả chúng sinh. Đó là: 1. Cứu hộ chúng sinh ly chúng sinh tướng hồi hướng: khi đem tâm bình đẳng cứu độ chúng sinh, mà vẫn tách rời ý tưởng "không có chúng sinh nào được cứu độ" 2. Bất hoại hồi hướng: nhận ra tính không dễ dàng không qua phân tích. 3. Đẳng nhất hồi hướng: hành giả tiếp tục thâm nhập giáo lý của chư Phật trong tam giới. 4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng: hành giả đi vào các Phật độ và thực hành các công hạnh cùng với chư Phật . 5. Vô tận công đức diệt hồi hướng 無盡功徳滅 c: wujingongdemie: giai vị có khả năng dạy cho chúng sinh biết pháp công đức Phật tính hằng hữu không bao giờ hoại diệt. 6. Tuỳ thuận bình đẳng thiện căn công đức hồi hướng 隨順平等善根 c: suishunpingdengshangen: giại vị tu tập công đức vô lậu trung đạo, thấy rằng thiện ác chẳng phải hai. 7. Tuỳ thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng 隨順等觀一切衆生 c: suishundengguanyiqiezhongsheng: thấy mọi hành vi thiện ác của chúng sinh mà không phân biệt. 8. Chân như tướng hồi hướng: 眞如相c: zhenruxiang: giai vị mà Bồ-tát dùng trí tuệ trung đạo, để gạn lọc cái có và không, thấy rằng các pháp đều là chân như. 9. Vô phược giải thoát hồi hướng 無縛解脱 c: Wufujietuo: giai vị hành giả phá vỡ mọi kiến chấp các pháp là bình đẳng, chứng nhập trí tuệ Bát-nhã. 10. Pháp giới vô lượng hồi hướng 法界無量c: fajiewuliang: giai vị Bồ-tát chứng thực rằng mọi hiện hữu đều là trung đạo, không thiên chấp.
thập khoa
(十科) Bộ Tục cao tăng truyện 30 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được chia làm 10 khoa theo hạnh tu của các bậc cao tăng trong truyện. Đó là: 1. Phiên dịch: Phiên dịch tiếng Phạm ra chữ Hán, như ngài Bảo xướng đời Lương, ngài Bồ đề lưu chi đời Bắc Ngụy... 2. Giải nghĩa: Thấu hiểu ý nghĩa sâu xa trong các kinh do đức Phật giảng nói, như ngài Tăng mân, Tuệ trừng... đời Lương. 3. Tập thiền: Các vị chuyên tu tập thiền định, như ngài Đạo trân đời Lương, ngài Pháp sung đời Tùy... 4. Minh luật: Gồm các vị hiểu rõ ý nghĩa của giới luật do đức Phật chế định, như ngài Giác lãng đời Tùy, ngài Tuệ tiển đời Đường... 5. Cảm thông: Gồm các vị hiển hiện thần diệu cảm ứng, như Thiền sư Vạn tứ, Thiền sư Nguyên Khuê đời Đường. 6. Di thân: Gồm các vị trọng pháp quên mình, phát tâm mạnh mẽ, phấn chấn tinh tiến, một niềm cầu đạo, đến nổi bỏ thân mệnh cũng không tiếc, như các ngài Pháp khoáng, Đạo hưu... đời Đường. 7. Đọc tụng: Gồm các vị chuyên đọc tụng văn kinh để cầu diệt tội sinh phúc, hoặc cầu tâm địa mở tỏ, hiển phát trí tuệ, như ngài Thiện tuệ, Tuệ thuyên đời Đường. 8. Hộ pháp: Chỉ cho các vị phát đại nguyện giữ gìn Phật pháp truyền lại cho đời sau, mong cầu giáo pháp của đức Phật trường tồn. Như ngài Đàm vô tối đời Nguyên Ngụy, ngài Tăng mãnh đời Tùy... 9. Hưng phúc: Chỉ cho các vị chuyên tạo phúc lợi, như các ngài Trí thông, Tuệ vân... đời Đường. 10. Tạp khoa: Chỉ cho các vị gồm tu cả 9 khoa nói ở trên, lại nghiên cứu cả kinh sách thế gian, ngôn ngữ răn đời, lễ nhạc văn chương... đều thông hiểu, như ngài Tuệ thường đời Tùy, ngài Bảo nham đời Đường...
thập khoái
The ten inexpressible joys of the Pure Land.
thập kim cang tâm
Mười tâm Kim Cang phát triển bởi Bồ Tát—Ten characteristics of the “Diamond heart” as developed by a Bodhisattva: 1) Giác liễu pháp tánh: Complete insight into all truth. 2) Hóa độ chúng sanh: Saving of all creatures. 3) Trang nghiêm thế giới: The glorifying of all Buddha-worlds. 4) Thiện căn hồi hướng: Transference of his good deeds. 5) Phụng sự đại sư: Services of all Buddhas. 6) Thật chứng chư pháp: Realization of the truth of all Buddha-laws. 7) Quảng hành nhẫn nhục: Manifestation of all patience and endurance. 8) Trường thời tu hành: Unflagging devotion to his vocation. 9) Tự hạnh mãn túc: perfection of his work. 10) Linh tha nguyện mãn: Aiding to all fulfill their vows and accomplish their spiritual ends.
thập kim cương tâm
Ten characteristics of the "diamond heart" as developed by a bodhisattva: (1) Giác liễu pháp tính, complete insight into all truth; (2) Hóa độ chúng sinh, saving of all creatures; (3) Trang nghiêm thế giới, glorifying all Buddha-worlds; (4) Thiện căn hồi hướng, supererogation of his good deeds; (5) Phụng sự Đại sư, service of all Buddhas; (6) Thật chứng chư pháp, realization of the truth of all Buddha-laws; (7) Quảng hành nhẫn nhục, manifestation of all patience and endurance; (8) Trường thời tu hành, unflagging devotion to his vocation; (9) Tự hạnh mãn túc, perfection of his work; (10) Linh tha nguyện mãn, aiding all to fulfil their vows and accomplish their spiritual ends.
; (十金剛心) I. Thập Kim Cương Tâm. Chỉ cho 10 nguyện tâm bền chắc như kim cương của Bồ tát nói trong phẩm Li thế gian, kinh Hoa nghiêm quyển 55. Đó là: 1. Giác liễu pháp tính: Rõ biết pháp tính. Nghĩa là Bồ tát phát thệ nguyện lớn hiểu rõ vô lượng vô biên bất khả cùng tận tất cả pháp môn vi diệu, không để sót một pháp nào. 2. Hóa độ chúng sinh: Bồ tát dùng đạo Niết bàn vô thượng độ thoát vô lượng vô biên chúng sinh trong 10 phương, khiến ra khỏi đường ác. 3. Trang nghiêm thế giới: Bồ tát cho rằng vô lượng vô biên thế giới trong 10 phương không cùng tận, ta nên dùng các vật trang nghiêm tối thượng ở các cõi nước của chư Phật để làm đẹp đẽ các thế giớiấy. 4. Hồi hướng thiện căn: Bồ tát đem tất cả thiện căn tu được để hồi hướng về quả Phật bồ đề vô thượng và chúng sinh trong pháp giới. 5. Sự phụng đại sư: Bồ tát đem tất cả căn lành tu được để dâng lên cúng dường vô lượng vô biên chư Phật và làm cho trùm khắp mọi nơi, không chỗ nào thiếu sót. 6. Thực chứng chư pháp: Thực chứng các pháp. Nghĩa là Bồ tát đối với lí thực tướng các pháp, chẳng thực chẳng hư, chẳng có chẳng không, tất cả đều chứng biết một cách như thực. 7. Quảng hành nhẫn nhục: Thực hành hạnh nhịn nhục. Nghĩa là nếu Bồ tát bị các chúng sinh chửi mắng, hoặc đánh đập, thậm chí bị chặt chân tay, cắt đứt tai mũi, tất cả cái đó Bồ tát đều chịu đựng được, không hề tức giận, oán hận. 8. Trường thời tu hành:Tu hành lâu dài. Nghĩa là Bồ tát cho rằng các kiếp trong đời vị lai vô lượng vô biên không cùng tận, ta sẽ ở trong các kiếp tu hành đạo Bồ tát, giáo hóa chúng sinh, mãi không mệt mỏi.9. Tự hành mãn túc: Tự mình tu hành đầy đủ. Nghĩa là Bồ tát kiến lập diệu hạnh, lấy tâm làm chính, tâm thể vắng lặng thì có khả năng đầy đủ tất cả công đức thiện căn, thành tựu đạo đại Bồ đề vô thượng. 10. Mãn túc tha nguyện: Làm cho nguyện tâm của người cũng được viên mãn. Nghĩa là Bồ tát tự mình đã đầy đủ các nguyện, thì tâm từ bi càng tăng thêm, cho nên vì những người cầu giải thoát mà dạy đạo Niết bàn; vì người cầu Phật pháp mà nói pháp Đại thừa, tất cả đều làm cho nguyện tâm của họ được mãn túc. II. Thập Kim Cương Tâm. Chỉ cho 10 thứ tâm tu hành của Bồ tát trước Thập địa. Kinh Phạm võng quyển thượng ghi 30 tâm, trong đó, Kim cương tâm là 10 tâm sau cùng. Từ 10 tâm Trưởng dưỡng vào trong Kiên tu nhẫn có 10 tâm Kim cương hướng quả, đó là: Tín tâm, Niệm tâm, Hồi hướng tâm, Đạt tâm, Trực tâm, Bất thoái tâm, Đại thừa tâm, Vô tướng tâm, Tuệ tâm và Bất hoại tâm. Từ 10tâmKim cương này nhập vào Kiên thánh nhẫn. Phạm võng kinh hợp chú quyển 2 của ngài Trí húc đời Minh cho rằng Thập kim cương tâm này giống với Thập tín của Viên giáo; còn Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển thượng thì cho rằng Thập kim cương chính là Thập hồi hướng.
Thập kiên tâm 十堅心
[ja] ジュウケンシン jūkenshin ||| Equivalent to 十廻向. => Tương đương Thập hồi hướng 十廻向.
thập kiến
The ten wrong views.
thập kiếp
The ten kalpas that have expired since Amitàbha made his forty vows,, or thập kiếp chính giác attained complete bodhi, hence he is styled thập kiếp Di Đà. These ten kalpas as seen by Phổ Hiền are thập kiếp tu du but as a moment.
; Mười kiếp đã qua từ khi Phật A Di Đà thệ nguyện 48 lời nguyền—The ten kalpas that have expired since Amitabha made his forty-eight vows, or to complete his bodhi.
; (十劫) Kiếp là đơn vị thời gian rất lâu dài; Thập kiếp chỉ cho 10 kiếp, tức khoảng thờigian từ khi đức Phật A di đà đã thành Phật cho đến nay. Theo kinh A di đà và kinh Vô lượng thọ quyển thượng thì đức Phật A di đà thành Phật cho đến nay đã trải qua 10 kiếp; nhưng tùy theo chỗ dịch khác nhau mà cũng có thuyết cho là 10 tiểu kiếp, hoặc 10 đại kiếp. [X. phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa; kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. (xt. Thập Kiếp Di Đà).
thập kiếp di đà
See Thập kiếp.
; (十劫彌陀) Cũng gọi Thập kiếp chính giác, Thập kiếp thành Phật. Chỉ cho đức Phật A di đà. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng thì Phật A di đà ở thời quá khứ là tỉ khưu Pháp tạng, trong khi tu hành có lập 48 điều nguyện mong cầu thành Phật, từ khi Ngài thành Phật đến nay đã qua 10 kiếp, đó là Thập kiếp Di đà. Thập kiếp Di đà là đối lại với Cửu viễn Di đà, tức Phật A di đà đã thành Phật từ rất lâu xa. Về mối quan hệ giữa Cửu viễn Di đà và Thập kiếp Di đà thì có nhiều thuyết khác nhau. Nói chung đều cho rằng Thập kiếp Di đà là Phật phương tiện, còn Cửu viễn Di đà mới là Phật chân thực. Nhưng tông Tịnh độ của Phật giáo Nhật bản thì y cứ vào Thập kiếp Di đà làm trung tâm mà lập giáo, phương tiện của Ngài chính là phương tiện vô thượng, vì thế nên Thập kiếp tức Cửu viễn, Cửu viễn tức Thập kiếp. Thập kiếp Di đà và Cửu viễn Di đà đều là chân thực, không bên nào khinh, không bên nào trọng. Đó chính là Diệu pháp thân tương tức, gọi là Thập Cửu lưỡng thực.
thập kiếp tu du
(十劫須臾) Thời gian 10 kiếp chỉ như một niệm ngắn ngủi. Đây là ý nghĩa niệm và kiếp dung thông nhau theo lí của Thập huyền môn trong kinh Hoa nghiêm. Chẳng hạn nhưviệc thành Phật của đức Di đà nếu nhận xét theo quan niệm phàm phu thì đến nay đã trải qua 10 kiếp. Nhưng theo nhãn quan Phổ hiền thì thành Chính giác trong hiện tiền. (xt. Tu Du).
thập kiết sử
See Samyojana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Kiết Sử, Ngũ Hạ Phần Kết, Ngũ Thượng Phần Kết in Vietnamese-English Section.
Thập kết 十結
[ja] ジュウケツ jūketsu ||| The ten fetters;" ten kinds of defilements which bind sentient beings to saṃsāra: desire 貪欲, anger 瞋恚, pride 慢, false views 見, doubt 疑, attachment to discipline 戒禁取, attachment to existence 有貪, jealousy 嫉, parsimony 慳, ignorance 無明. => Mười thứ nhiễm ô ràng buộc chúng sinh vào trong luân hồi: Tham dục, Sân khuể, Mạn, Kiến, Nghi, Giới cấm thủ, Hữu tham, Đố, Xan, Vô minh.
thập la sát nữ
Mười La sát Nữ được nói đến trong Kinh Liên Hoa—The ten raksasi or demonesses mentioned in the Lotus Sutra: 1) Lam-bà: Lamba—Who is associated with Sakyamuni. 2) Tỳ-lam-bà: Vilamba—Who is associated with Amitabha. 3) Khúc Xỉ: Kutadanti—Who is associated with Bhaisajya (Dược Sư Phật). 4) Hoa Xỉ: Puspadanti—Who is associated with Prabhutaratna (Đa Bảo Như Lai). 5) Hắc Xỉ: Makutadanti—Who is associated with Vairocana (Đại Nhựt Như Lai). 6) Đa Phát: Kesini—Who is associated with Samantabhadra (Phổ Hiền). 7) Vô-Yểm-túc: Acala—Who is associated with Manjusri (Văn Thù). 8) Trì-Anh-Lạc: Maladhari—Who is associated with Maitreya (Di Lặc). 9) Cao-đế: Kunti—Who is associated with Avalokitesvara (Quán Âm). 10) Đoạn nhứt thiết chúng sanh tinh khí: Sarvasattvaujohari—Who is associated with Ksitigarbha (Earth Store Địa Tạng).
; (十羅刹女) Chỉ cho 10 vị nữ La sát bảo vệ người thụ trì kinh Pháp hoa được ghi trong phẩm Đà la ni quyển 7 của kinh Pháp hoa và phẩm Tổng trì quyển 10 của kinh Chính pháp hoa, đặc biệt được các tông Thiên thai và Nhật liên của Phật giáo Nhật bản tôn sùng. Đó là: 1. Lam bà la sát nữ (Phạm:Lambà), cũng gọi Hữu kết phược la sát nữ. Vị này tay phải ấn lên thanh kiếm, tay trái cầm quyển kinh. 2. Tì lam bà la sát nữ (Phạm: Vilambà), cũng gọi Li kết la sát nữ. Vị này 2 tay gõ não bạt. 3. Khúc xỉ la sát nữ, cũng gọi Thi tích la sát nữ. Vị này tay phải cầm lẵng hoa. 4. Hoa xỉ la sát nữ (Phạm: Puwpadantì), cũng gọi Thi hoa la sát nữ. Vị này tay phải thõng xuống, tay trái co lại và cầm bảo châu. 5. Hắc xỉ la sát nữ (Phạm:Makuỉa), cũng gọi Thi hắc la sát nữ. Vị này tay trái cầm cờ báu, tay phải co lại để trước ngực. 6. Đa phát la sát nữ(Phạm:Kezìnì), cũng gọi Bị phát la sát nữ. Vị này tay phải cầm cờ báu, tay trái co để ở trước ngực. 7. Vô yếm túc la sát nữ (Phạm: Acalà), cũng gọi Vô trước la sát nữ. Vị này tay trái cầm bình nước, tay phải cầm cánh hoa sen. 8. Trì anh lạc la sát nữ (Phạm:Màlàdhàrì), cũng gọi Trì hoa la sát nữ. Vị này 2 tay cầm chuỗi anh lạc. 9. Cao đế la sát nữ (Phạm:Kuntì), cũng gọi Hà sở la sát nữ. Vị này 2 tay bưng hộp để kinh. 10. Đoạt nhất thiết chúng sinh tinh khí la sát nữ(Phạm:Sarvasttvojahàrì), cũng gọi Thủ nhất thiết tinh la sát nữ. Vị này chắp 2 tay. Tượng của 10 vị La sát nữ này đều là tượng đứng. Trong Pháp hoa thập la sát pháp ghi chép rất tường tận về Thập la sát nữ, nhưng lại khác xa với 10 vị trên đây. Ngoài ra, kinh Liên hoa tam muội cho rằng 4 vị La sát đầu là 4 vị Đại Bồ tát tịnh hạnh, vị thứ 5 là Phật Thích ca, 4 vị kế là 4 vị Đại Bồ tát bát diệp, vị thứ 10 là Đa bảo Như lai. Đồng thời cho rằng lúc Bồ tát ở trong thai, lúc mới sinh ra và sau khi sinh đều được 10 vị La sát này hộ vệ. [X. kinh Khổng tước minh vương Q.trung; Hồng ca đà dã nghi quĩ Q.hạ; Pháp hoa kinh văn cú Q.10, hạ; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12; Phật tượng đồ vậng Q.3]. (xt. Thập La Sát Nữ Thần Bản Địa).
thập la sát nữ thần bản địa
(十羅刹女神本地) Tức bản địa của 10 vị La sát nữ được nói trong kinh Diệu pháp liên hoa tam muội bí mật tam ma da. Mười La sát nữ vốn có 3 giác, tức Đẳng giác, Diệu giác và Bản giác. Bốn vị La sát nữ đầu(Lam bà, Tì lam bà, Khúc xỉ, Hoa xỉ) là 4 vị Đại Bồ tát tịnh hạnh(Thượng hạnh, Vô biên hạnh, Tịnh hạnh, An lập hạnh), vị La sát nữ thứ 5(Hắc xỉ) là Phật Thích ca Mâu ni, 5 vị trên đây thuộc Diệu giác. Bốn vị La sát kế đó (Đa phát, Vô yếm túc, Trì anh lạc, Cao đế) là 4 vị Đại Bồ tát bát diệp(Phổ hiền, Văn thù, Quan âm, Di lặc), 4 vị này thuộc về Đẳng giác. Vị La sát thứ 10(Đoạt nhất thiết chúng sinh tinh khí) là Đa bảo Như lai, thuộc Bản giác. Pháp hoa huy lâm du phong đàm quyển 7 phối hợp 10 vị La sát nữ này với chư tôn của hội Pháp hoa mạn đồ la. Còn Pháp hoa kinh thứu lâm thập diệp sao quyển 24 thì cho rằng Lam bà là Phật A súc, Văn thù, Tì lam bà là Phật Hoa khai phu, Dược vương, Khúc xỉ là Phật Di đà, Dược thượng... (xt. Thập La Sát Nữ).
thập la thanh
(十羅聲) Mười ngữ thái trong văn pháp tiếng Phạm để biểu thị thời gian và ngữ khí của động từ. Vì mười ngữ thái này đều có bao hàm thanh (la), nên gọi là Thập la thanh. Theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 của ngài Nghĩa tịnh đời Đường thì trong Thập la thanh gồm có 10 chữ La, vô luận phát ra thanh của bất cứ chữ nào trong 10 chữ này đều biết rõ sự sai khác về 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai của chữ ấy. Mười ngữ thái này lại chia làm 2 loại lớn là: A. Hiện thực pháp: Ngữ thái trình bày trực tiếp, gồm có 6 thứ: 1.Lạt, ngữ thái biểu thị thời hiện tại. 2.Laí, ngữ thái biểu thị thời quá khứ thứ nhất, cũng gọi Chính quá khứ, Tiểu quá khứ. 3.Liỉ, ngữ thái biểu thị thời quá khứ thứ 2, cũng gọi Dĩ quá khứ, Đại quá khứ. 4.Luí, ngữ thái biểu thị thời quá khứthứ 3, cũng gọi Bất định quá khứ. 5.Ơiỉ, ngữ thái biểu thị thời vị lai thứ nhất. 6.Luỉ, ngữ thái biểu thị thời vị lai thứ 2. B. Khả năng pháp: Ngữ thái biểu thị nguyện vọng, mệnh lệnh, điều kiện... gồm có 4 thứ: 1.Vidhi-lií: Ngữ thái biểu thị nguyện vọng ở thời hiện tại. 2.Àzìr-lií: Ngữ thái biểu thị nguyện vọng ở thời quá khứ. 3.Loỉ: Ngữ thái biểu thị mệnh lệnh ở thời hiện tại. 4.Lií: Ngữ thái biểu thị điều kiện ở thời quá khứ.
Thập La-sát nữ 十羅刹女
[ja] ジュウラセツニョ jū rasetsunyo ||| The ten rākṣasīs. Ten kinds of female demons that protect the dharma in the Lotus Sutra. They are: Lambā 藍婆, Vilambā 毘藍婆, Kūṭadantī 曲齒 (Crooked Teeth), Puṣpa-dantī 華齒, Makuṭa 黑齒 (Black Teeth), Keśīnī 多髮, Acalā 無厭足 (Insatiable); Mālādhāri 持瓔珞 (Necklace Holder), Kuntī 皐帝, and Sarvasattvojahārī 奪一切衆生精氣.〔法華經 T 262.9.59a23〕 => Mười loại nữ thần hộ trì Phật pháp trong Kinh Pháp Hoa. Đó là:Lam bà 藍婆 s: Lambā , Tì lam bà 毘藍婆 (s: Vilambā), Khúc xỉ 曲齒 (s: Kūṭadantī ), Hoa xỉ 華齒 (s: Puṣpa-dantī), Hắc xỉ 黑齒 (s: Makuṭa) Đa phát 多髮 (s: Keśīnī) Vô yếm túc 無厭足 (s: Acalā) Trì anh lạc 持瓔珞 (s:Mālādhāri), Cao đế 皐帝 (s: Kuntī). Đoạt nhất thiết chúng sinh tinh khí 奪一切衆生精氣 ( s: Sarvasattvojahārī).
thập lai kệ
(十來偈) Chỉ cho bài kệ gồm 10 câu nói về 10 nguyên nhân và quả báo trong 2 đời, mỗi câu đều kết thúc bằng 1 chữ Lai, cho nên gọi là Thập lai. Toàn bài kệ như sau: Đoan chính giả nhẫn nhục trung lai, Bần cùng giả khan tham trung lai, Cao vị giả lễ bái trung lai, Hạ tiện giả kiêu mạn trung lai, Ấm á giả phỉ báng trung lai, Manh lung giả bất tín trung lai, Trường thọ giả từ bi trung lai, Đoản mệnh giả sát sinh trung lai, Chư căn bất cụ giả phá giới trung lai, Lục căn cụ túc giả trì giới trung lai. (Tuấn tú đoan trang do nhẫn nhục Nghèo cùng khốn khó bởi khan tham Địa vị cao sang nhờ lễ bái Thấp hèn đê tiện bời kiêu xa Câm ngọng dại khờ do phỉ báng Mù lòa đui điếc bởi không tin Phóng sinh kết quả vui trường thọ Giết hại chuốc vời khổ chết non Các căn khiếm khuyết do phá giới Tai mắt vẹn toàn bởi giữ nghiêm).
Thập loại
(十類): 10 loại cô hồn. Theo Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (瑜伽集要焰口施食儀, Taishō No. 1320), quyển 1, cũng như Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, Taishō No. 1497) quyển 3, có liệt kê 10 loại như: (1) Nhất thiết thủ cương hộ giới, trần lực ủy mạng quân trận tương trì, vị quốc vong thân quan viên tướng sĩ binh tốt cô hồn chúng (一切守疆護界、陳力委命軍陣相持、爲國亡身官員將士兵卒孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của các quan viên, tướng sĩ, binh tốt đã trấn giữ biên cương, đem sức bỏ mạng trong chiến trận, hay vì nước quên mình). (2) Nhất thiết phụ tài thất khiếm mạng, tình thức câu hệ sinh sản trí mạng, oan gia trái chủ đọa thai cô hồn chúng (一切負財欠命、情識拘繫生產致命、冤家債主墮胎孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người không có tiền tài mất mạng, tình cảm vương vào sinh sản mà bỏ mạng, các oan gia trái chủ sẩy thai). (3) Nhất thiết khinh bạc Tam Bảo, bất hiếu phụ mẫu, thập ác ngũ nghịch tà kiến cô hồn chúng (一切輕薄三寶、不孝父母、十惡五逆邪見孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người khinh thường Tam Bảo, không có hiếu thảo với cha mẹ, phạm mười điều ác, năm tội nghịch, tà kiến). (4) Nhất thiết giang hà thủy nịch, đại hải vi thương, phong lãng phiêu trầm thái bảo cô hồn chúng (一切江河水溺、大海爲商、風浪飄沉採寶孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người chết đuối vì lặn lội khắp sông nước, biển lớn để bán buôn, sóng gió nỗi trôi trên biển cả để tìm kho báu). (5) Nhất thiết biên địa tà kiến trí mạng man di cô hồn chúng (一切邊地邪見致命蠻夷孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của mọi rợ bỏ mạng chốn biên địa, không có chánh kiến). (6) Nhất thiết phao ly hương tinh khách tử tha châu, vô y vô thác du đãng cô hồn chúng (一切拋離鄉并客死他州、無依無托游蕩孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người du đãng từ bỏ quê hương, bỏ mạng xứ người, không nơi nương tựa, không ai phó thác). (7) Nhất thiết hà tỉnh đao sách phó hó đầu nhai, tường băng ốc đảo thọ chiết nham tồi, thú giảo trùng thương hoạnh tử cô hồn chúng (一切河井刀索赴火投崖、牆崩屋倒樹折嵒摧、獸咬虫傷橫死孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn bị hoạnh tử vì sông giếng, đao chém, xông vào lửa, nhảy xuống vực, tường sụp, nhà đỗ, cây gãy, núi lỡ, thú cắn, trùng làm thương tổn). (8) Nhất thiết ngục trung trí mạng, bất tuân vương pháp, tặc khấu thiết đạo, bão khuất hàm oan, đại tịch phân thi phạm pháp cô hồn chúng (一切獄中致命、不遵王法、賊寇劫盜、抱屈銜冤、大辟分屍犯法孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người mất mạng trong ngục thất, không tuân phép vua, trộm cướp, ăn cắp, mang nỗi hàm oan, phạm pháp bị phân thây). (9) Nhất thiết nô tỳ cấp sử, cần lao trần lực, ủy mạng bần tiện cô hồn chúng (一切奴婢給使、懃勞陳力、委命貧賤孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của các nô tỳ phục dịch, lao nhọc tận sức, bỏ mạng, bần tiện). (10) Nhất thiết manh lung ám á túc bí thủ quyện, tật bệnh triền miên ung thư tàn hại, quan quả cô độc vô kháo cô hồn chúng (一切盲聾瘖啞足跛手裨、疾病纏綿癰疽殘害、鰥寡孤獨無靠孤魂眾, hết thảy linh hồn cô đơn của những người bị đui điếc, ngọng lịu, chân khập khểnh, tay tàn tật, tật bệnh triền miên, ung thư tàn hại, góa vợ cô độc không nơi nương tựa). Tuy nhiên, trong bản hiện hành Chánh Khắc Trung Khoa Du Già Tập Yếu (正刻中科瑜伽集要)—khoa nghi cúng Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn do chư tăng thường dùng—được khắc dưới thời nhà Nguyễn vào năm Mậu Tý (1888) đời vua Đồng Khánh và tàng bản tại Chùa Báo Quốc, Thành Phố Huế, lại liệt kê đến 13 loại cô hồn như: (1) vua chúa cai trị đất nước; (2) anh hùng tướng lãnh triều đình; (3) văn thần tể tướng, quan lại; (4) văn nhân tài tử; (5) tu sĩ xuất gia Phật giáo; (6) huyền môn đạo sĩ của Khổng Giáo; (7) kẻ lang thang không nơi nương tựa nơi đất khách; (8) binh sĩ chết ngoài chiến trận; (9) những phụ nữ chết vì sinh con; (10) những người phỉ báng Tam Bảo và bất hiếu với cha mẹ; (11) cung phi mỹ nữ trong cung nội; (12) những vong hồn chết oan uổng; và (13) pháp giới sáu đường, hết thảy linh hồn trong đại địa, v.v. Như vậy, con số 10 hay 13, v.v., chỉ là con số tượng trưng để liệt kê những loại cô hồn chính mà thôi. Thật ra trên thế gian có bao nhiêu hạng người thì có bấy nhiêu loại cô hồn. Cho nên, Thập Loại ở đây không phải dừng lại ở ý nghĩa 10 loại, mà còn có nghĩa vô số loại khác nhau. Trong Chúng Sanh Thập Loại Tế Văn (眾生十類祭文, Văn Tế Mười Loại Chúng Sanh) của thi hào Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) có câu: “Trong trường dạ tối tăm trời đất, có khôn thiêng phảng phất u minh, thương thay thập loại chúng sinh, hồn đơn phách chiếc linh đinh quê người…” Hay như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經) có bài tán công hạnh của Ngài rằng: “Địa Tạng Bồ Tát diệu nan luân, hóa hiện kim dung xứ xứ phân, Tam Đồ Lục Đạo văn diệu pháp, Tứ Sanh Thập Loại mông từ ân, minh châu chiếu triệt Thiên Đường lộ, kim tích chấn khai Địa Ngục môn, lụy kiếp thân nhân mông tiếp dẫn, Cửu Liên đài bạn lễ Từ Tôn (地藏菩薩妙難倫、化現金容處處分、三途六道聞妙法、四生十類蒙慈恩、明珠照徹天堂路、金錫振開地獄門、累劫親姻蒙接引、九蓮臺畔禮慈尊, Địa Tạng Bồ Tát mầu khó lường, hóa hiện dung vàng chốn chốn nương, Ba Đường Sáu Nẻo nghe diệu pháp, bốn loài mười loại đội ơn thương, châu sáng chiếu tận Thiên Đường cõi, kim tích chấn mở Địa Ngục toang, nhiều kiếp thân bằng được tiếp dẫn, sen đài Chín Phẩm lễ Từ Tôn).”
thập loại giới
Mười loại giới—Ten kinds of precepts—Theo lời Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm, có mười loại giới dành cho chư đại Bồ Tát nhằm giúp họ đạt được giới quảng đại Ba-La-Mật vô thượng của chư Như Lai According to the Buddha in The Flower Adornment Sutra (Chapter 38—Detachment From The World), great Enlightening Beings have ten kinds of precepts which help them attain the unexcelled great transcendent discipline of the Buddhas. 1) Giới chẳng bỏ Bồ Đề tâm: Not giving up the determination for enlightenment. 2) Giới xa lìa bực nhị thừa: Leaving behind the stages of individual salvation. 3) Giới quán sát lợi ích tất cả chúng sanh: Observing and benefiting all sentient beings. 4) Giới khiến tất cả chúng sanh an trụ nơi Phật pháp: Inducing all sentient beings to live by the teachings of Buddha. 5) Giới tu tất cả sở học của Bồ Tát: Cultivating all the sciences of enlightening beings. 6) Giới vô sở đắc nơi tất cả pháp: Not being acquisitive in respect to anything. 7) Giới đem tất cả thiện căn hồi hướng Bồ Đề: Dedicating all roots of goodness to enlightenment. 8) Giới chẳng tham trước tất cả thân Như Lai: Not being attached to any of the incarnations of Buddhas. 9) Giới tư duy tất cả các pháp và xa lìa nhiễm trước: Reflecting on all things and getting rid of grasping and clinging. 10) Giới chư căn luật nghi (điều tiết lục căn): Regulating all their faculties.
thập loại kinh
(十類經) Chỉ cho kinh Hoa nghiêm được chia làm 10 loại bản từ lược đến rộng. Đó là: 1. Lược bản kinh: Tức bản 80 quyển và bản 60 quyển đang lưu truyền hiện nay, đều là 1 phần trong 10 vạn bài kệ của Hạ bản, vì thế gọi là Lược bản. 2. Hạ bản kinh: Chỉ cho tạng Ma ha diễn.Bồ tát Long thụ xuống Long cung, thấy kinh Hoa nghiêm có 3 bản thượng, trung, hạ, bản hạ có 10 vạn bài kệ, 48 phẩm, ngài Long thụ tụng thuộc, đem về lưu truyền ở thế gian, cho nên gọi là Hạ bản kinh. 3. Trung bản kinh: Tức là bản ngài Long thụ thấy ở Long cung, gồm 49 vạn 8 nghìn 8 trăm bài kệ, 1200 phẩm, cho nên gọi là Trung bản kinh. 4. Thượng bản kinh: Cũng là bản ngài Long thụ thấy ở Long cung, gồm 10 lần số bụi nhỏ trong Tam thiên đại thiên thế giới bài kệ, số phẩm bằng bụi nhỏ trong 4 thiên hạ, vì thế gọi là Thượng bản kinh. 5. Phổ nhãn kinh: Tức kinh do tỉ khưu Hải vân(vị thiện tri thức thứ 3 mà đồng tử Thiện tài tham vấn) thụ trì. Nếu dùng nước biển cả làm mực, cây các núi Tu di làm bút viết 1 môn trong 1 phẩm, 1 pháp trong 1 môn, 1 nghĩa trong 1 pháp, 1 câu trong 1 nghĩa của pháp môn Phổ nhãn này, thì vẫn không thể hết được, cho nên gọi là Phổ nhãn kinh. 6. Đồng thuyết kinh: Tức bản mà Phật y cứ vào trăm ức thế giới cùng loại, đầy khắp hư không, đều có chủ bạn, cùng nói vô tận pháp luân, cho nên gọi là Đồng thuyết kinh. 7. Dị thuyết kinh: Tức bản kinh mà đức Phật hiện thân trong các thế giới khác loại, trong đó quả báo của chúng sinh cũng khác loại để tuyên thuyết, cho nên gọi là Dị thuyết kinh. 8. Chủ bạn kinh: Đức Phật Tì lô giá na và chư Phật trong 10 phương đều là chủ bạn lẫn nhau, lớp lớp vô tận, thay nhau nói kinh này, cho nên gọi là Chủ bạn kinh. 9. Quyến thuộc kinh: Những người có căn cơ thấp kém, không có khả năng nghe đại pháp Nhất thừa viên đốn, nên đức Phật tùy nghi nói pháp Tam thừa để dẫn dắt họ vào môn này, như thế, họ đều là quyến thuộc thù thắng của kinh này, cho nên gọi là Quyến thuộc kinh. 10. Viên mãn kinh: Dung hòa các bản kinh trên vào 1 biển Tu đa la lớn vô tận, trong mỗi hội mỗi phẩm, mỗi câu mỗi chữ đều bao nhiếp tất cả, không có giới hạn, vì thế gọi là Viên mãn kinh. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3].
thập loại ngạ quỷ tái sanh làm súc sanh để trả tiếp nghiệp trước
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã dạy ông A Nan về mười loại ngạ quỷ được tái sanh làm súc sanh khi trả hết nghiệp đời trước như sau: “Ông A Nan! Quỷ nghiệp đã hết rồi, tình và tưởng đều không, mới nơi thế gian cùng với người mắc nợ trước, oan nối gặp nhau, thân làm súc sanh để trả nợ trước.”—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha taught Ananda about ten kinds of ghosts that will be reborn as an animal to continue to pay their debts as follows: “Ananda! When his karma as a ghost is ended, the problem of emotion as opposed to discursive thought is resolved. At that point he must pay back in kind what he borrowed from others to resolve those grievances. He is born into the body of an animal to repay his debts from past lives.” 1) Quái quỷ: The strange Ghost. a) Nếu tham ái là nguyên nhân của hành động sai trái, sau khi trả hết tội, sẽ biến thành hình của bất cứ loài nào mà chúng gặp trong khi đọa ở địa ngục: If the craving be the cause of their misdeeds, they will, after paying for their sins, take the form of whatever they meet on living the Hells. b) Loài quái quỷ, khi đã hết báo, vật mà chúng nương bị tiêu hoại, sinh ở thế gian, phần nhiều làm loài chim cưu: The retribution of the strange ghost of material objects is finished when the object is destroyed and it is reborn in the world, usually as a species of owl (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as owls). 2) Quỷ Phong Bạt: The drought ghost. a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp là dâm dục: The cause of their misdeeds is lust. b) Loại quỷ phong bạt, báo hết, gió tiêu, sinh ở thế gian, phần nhiều làm loại chim báo điềm xấu như chim cú, chim quạ: The retribution of the drought ghost of the wind is finished when the wind subsides, and it is reborn in the world, usually as a species of weird creature which gives inauspicious prognostications (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as unlucky creatures who foretell misfortunes and calamities). 3) Mỵ quỷ—Mei Ghost (animal ghost). a) Lừa dối là nguyên nhân tạo ra ác nghiệp: The cause of their misdeeds is deceitfulness. b) Loại mỵ quỷ, báo hết, lúc chết, sinh ở thế gian, phần nhiều làm loài chồn: The retribution of the Mei ghost of an animal is finished when the animal dies, and it is reborn in the world, usually as a species of fox (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as foxes). 4) Cổ Độc Quỷ—Noxious (ku) ghost: a) Sân hận là nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy: Hate is the cause of their misdeeds. b) Loài cổ độc quỷ, báo hết, trùng chết, sinh ở thế gian, làm loại độc hại như rắn rết: The retribution of the Ku ghost in the form of worms is finished when the Ku is exhausted, and it is reborn in the world, usually as a species of venomous creature (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as venomous creatures). 5) Lệ quỷ—Cruel ghost: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là sự báo thù: The cause of their misdeeds is revengefulness. b) Loài lệ quỷ, báo hết, suy mất, sinh ở thế gian, làm loài giun sán: The retribution of a pestilence ghost found in degeneration is finished when the degeneration is complete, and it is reborn in the world, usually as a species of tapeworm (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as tapeworms). 6) Ngạ quỷ—Hungry (starved) ghost: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là kiêu ngạo: The cause of their misdeeds is arrogance. b) Loại ngạ quỷ, báo hết, khí tiêu, sinh ở thế gian, làm loài để người ta ăn thịt, như gà, vịt, lợn: The retribution of the ghost which takes shape in gases is finished when the gases are gone, and it is then reborn in the world, usually as a species of eating animal (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as creatures good for food). 7) Yểm quỷ—Nightmarish ghost: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là sự gian lận hay gian trá: The cause of their misdeeds is fraud. b) Loại yểm quỷ, báo hết, u tiêu, sinh ở thế gian, làm loài để nguời ta mặc, như con tằm, con cừu: The retribution of the ghost of prolonged darkness is finished when the darkness ends, and it is then reborn in the world, usually as a species of animal used for clothing or service (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as creatures who provide material for clothing). 8) Quỷ Vọng Lượng—Naiads: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là tà kiến: The cause of their misdeeds is wrong views. b) Loại quỷ vọng lượng, báo hết, tinh tiêu, sinh ở thế gian, làm loài biết thời tiết thứ tự, như chim yến: The retribution of the ghost which unites with energy is finished when the union dissolves, and it is then reborn in the world, usually as a species of migratory creature (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as creatures through whom the future can be foretold). 9) Quỷ Dịch sử—Servant Ghost: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là sự bất công: The cause of their misdeeds is unfairness. b) Loài quỷ dịch sử, báo hết, minh diệt, sinh ở thế gian, làm loài báo điềm tốt như chim phụng: The retribution of the ghost of brightness and intellect is finished when the brightness disappears, and it is then reborn in the world, usually as a species of auspicious creature (after expiating their misdeeds in their realms, are mostly reborn as auspicious creatures). 10) Quỷ Truyền tống—Messenger ghost: a) Nguyên nhân tạo ra ác nghiệp nầy là sự tranh cãi: The cause of their misdeeds is disputation. b) Loại quỷ truyền tống, báo hết, người chết, sinh ở thế gian, làm loài tùng phục người như mèo, chó: The retribution of the ghost that relies on a person is finished when the person dies, and it is then reborn in the world, usually as a species of domestic animal (after repaying their former debts, are reborn as domestic animals).
thập loại nhân thú
Mười loại súc sanh trả hết nghiệp báo, được tái sanh làm người—Ten kinds of animals that will be reborn as a human—Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc A Nan về mười loại thú được tái sanh làm người như sau: “Ông A Nan! Loài súc sanh trả nợ trước, nếu bắt trả quá phần, thì chúng sinh bị trả trở lại làm người để đòi nợ thừa. Như người kia có sức và phúc đức, thì chẳng bỏ thân người, chỉ trả lại nợ cũ. Nếu vô phúc, phải trở lại làm súc sanh để trả nợ kia. Ông A Nan! Ông nên biết, nếu dùng tiền, hoặc dùng sức của loài vật, chúng trả đủ thì thôi. Nếu giết hay ăn thịt chúng, qua bao kiếp giết nhau, ăn nhau, luân hồi như bánh xe xoay vần không dứt. Trừ pháp sa ma tha và Phật xuất thế, không thể nào dứt hết. Các loại ấy đều do trả hết nợ, lại sinh trong nhân đạo, đều bởi vô thủy nghiệp điên đảo sinh nhau, giết nhau, chẳng gặp Phật, nghe chánh pháp, trong cảnh trần lao cứ luân chuyển mãi. Thật đáng thương!” In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the ten kinds of animals that will be reborn as a human as follows: “Ananda! If while repaying his past debts by undergoing rebirth as an animal, such a living being pays back more than he owed, he will then be reborn as a human to rectify the excess. If he is a person with strength, blessings, and virtue, then once he is in the human realm, he will not have to lose his human rebirth after what is owed him is restored. But if he lacks blessings, then he will return to the animal realm to continue repaying his debts. Ananda! You should know that once the debt is paid, whether with money, material goods, or manual labor, the process of repayment naturally comes to an end. But if in the process he took the lives of other beings or ate their flesh, then he continues in the same way, passing through kalpas as many as motes of fine dust, taking turns devouring and being slaughtered in a cycle that sends him up and down endlessly. There is no way to put a stop to it, except through samatha or through a Buddha's coming to the world. Ananda! These are all beings that have finished paying back former debts and are born again in the human realm. They are involved in a beginningless scheme of karma and being upside down in which their lives are spent killing one another and being killed by one another. They do not get to meet the Thus Come One or hear the proper dharma. They just abide in the wearisome dust, passing through a repetitive cycle. Such people can truly be called pitiful.” 1) Loài chim cưu, khi trả nợ xong, sinh làm người, là loại tham nhũng và ngu si cứng đầu: You should know that when owls and their kind have paid back their debts, they regain their original form and are born as people, but among those who are corrupt and obstinate. 2) Loài báo trước điềm xấu, khi trả nợ xong, sinh làm người, là loài bất bình thường và quỷ quyệt: When creatures that are inauspicious have paid back their debts, they regain their original form and are born as people, but among those who are abnormal. 3) Loài chồn, là loại tầm thường: When foxes have paid back their debts, they regain their original forms and are born as people, but among those who are simpletons. 4) Loài độc, là loại bạo ngược: When creatures of the venomous category have paid back their debts, they regain their original form and are born as people, but among those who are hateful. 5) Loài giun sán, là loại đê tiện: When tapeworms and their like have paid back their debts, they regain their original form and are born as people, but among those who are lowly. 6) Loài để người ta ăn thịt, là loại nhu nhược: When the eddible types of creatures have paid back their debts, they regain their original form and are reborn as people, but among those who are weak. 7) Loài để cho người ta làm đồ mặc, là loại lao động: When creatures that are used for clothing or service have paid back their debts, they regain their original form and are reborn as people, but among those who do hard labor. 8) Loài biết thời tiết, là loại có văn học: When creatures that migrate have paid back their debts, they regain their original form and are reborn as people among those who are literate. 9) Loài báo trước điềm tốt, là loại thông minh: When auspicious creatures have paid back their debts, they regain their original form and are reborn as people among those who are intelligent. 10) Loài phục tùng người, là loại thông thạo:
thập luân
(十輪) I. Thập Luân. Chỉ cho 10 lực của đức Như lai nói trong phẩm Thập luân kinh Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân quyển 2. Bồ tát Địa tạng nương vào sức bản nguyện của Như lai, chuyển 10 Phật luân, thành tựu Như lai thập lực. (xt. Thập Lực). II. Thập Luân. Chỉ cho Thập luân của Bồ tát, tức Thập thiện nghiệp đạo, là gốc của Đại thừa, là nhân bồ đề, nói trong kinh Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân quyển 9. Đó là: 1. Viễn li sát sinh luân: Xa lìa nghiệp giết hại. 2. Viễn li bất dữ thủ luân: Xa lìa nghiệp trộm cướp. 3. Viễn li dục tà hạnh luân: Xa lìa nghiệp tà dâm. 4. Viễn li hư cuống ngữ luân: Xa lìa nghiệp nói dối. 5. Viễn li li gián ngữ luân: Xa lìa nghiệp nói đơm đặt nhằm li gián người. 6. Viễn li thô ác ngữ luân: Xa lìa nghiệp nói lời thô tháo, xấu ác. 7. Viễn li tạp uế ngữ luân: Xa lìa nghiệp nói lời tục tằng, bỉ ổi. 8. Viễn li tham dục luân: Xa lìa nghiệp ham muốn. 9. Viễn li sân khuể luân: Xa lìa nghiệp nóng giận. 10. Viễn li tà kiến luân: Xa lìa nghiệp tà kiến.
thập luân kinh
Xem Đại Phương Quảng Thập Luân kinh.
thập lạc
See Thập Khoái.
; (十樂) Cũng gọi Tịnh độ cực lạc. Chỉ cho 10 niềm vui mà hành giả niệm Phật có được khi sinh về Tịnh độ cực lạc nói trong A di đà kinh sớ sao quyển 2. Đó là: 1. Vui vì hoa nở thấy Phật, thường được gần gũi Phật. 2. Vui vì chim, nước, rừng cây đều vang lên diệu pháp. 3. Vui vì thấy các bậc thượng thiện cùng họp hội ở một nơi. 4. Vui vì được chư Phật che chở, xa lìa các ma sự. 5. Vui vì cắt ngang dòng sinh tử, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi. 6. Vui vì mãi mãi xa lìa đường ác, ngay cả tên đường ác cũng không nghe. 7. Vui vì được sự thụ dụng tự nhiên, không cần kinh doanh mới có. 8. Vui vì sống lâu bằng Phật, thọ lượng vô hạn. 9. Vui vì được vào chính định tụ, vĩnh viễn không lui sụt. 10. Vui vì tất cả hạnh nguyện được viên mãn trong một đời, những việc cần làm đã làm xong.
thập lợi
(十利) I. Thập Lợi. Chỉ cho 10 lợi ích. Chẳng hạn như Khất thực thập lợi, Thiền định thập lợi, Chúc hữu thập lợi, Tinh tiến thập lợi, Bát nhã thập lợi, Đa văn thập lợi, Bố thí thập lợi, Trì giới thập lợi, Tuệ nhẫn thập lợi... [X. kinh Nguyệt đăng tam muội Q.7; luật Ma ha tăng kì Q.29]. (xt. Khất Thực ThậpLợi, Đa Văn ThậpLợi, Trì Giới Thập Lợi, Bát Nhã ThậpLợi, Chúc Hữu Thập Lợi, Từ Nhẫn ThậpLợi, Tinh Tiến Thập Chủng Lợi Ích, Thiền Định Thập Chủng Lợi Ích). II. Thập Lợi. Chỉ cho 10 lí do đức Phật chế giới, đó là: 1. Thu nhiếp tăng. 2. Thu nhiếp thật tốt. 3. Vì muốn chúng tăng cư trụ được an vui.4. Chiết phục những người có tính cao ngạo. 5. Làm cho những người có tâm hổ thẹn được an lạc. 6. Khiến những người không tin có được tín tâm thanh tịnh. 7. Những người tin rồi thì niềm tin tăng trưởng. 8. Ngăn dứt phiền não, hữu lậu đời này. 9. Đoạn trừ thói ác đời sau. 10. Phạm hạnh được lâu dài. [X. luật Thập tụng Q.1]. III. Thập Lợi. Mười điều lợi ích của việc thụ trì kinh Thập nhất diện Quán thế âm thần chú nói trong kinh Thập nhất diện thần chú. Đó là: 1. Thân không bệnh tật. 2. Thường được chư Phật mười phương nhớ nghĩ. 3. Tất cả nhu cầu như tiền của, quần áo, thức ăn uống... đều tự nhiên đầy đủ, thường không thiếu thốn. 4. Có khả năng phá dẹp tất cả oán địch. 5. Có khả năng làm cho tất cả chúng sinh phát từ tâm. 6. Tất cả trùng độc, các chứng bệnh đều không xâm hại được. 7. Tất cả dao gậy không làm hại được. 8. Tất cả nạn lụt đều không thể cuốn trôi và nhận chìm. 9. Tất cả trận hỏa hoạn không thiêu đốt được. 10. Không bị chết oan.
thập lục
Sodaśa (S).
; Sodasa (S). Sixteen is the esoteric (Shingon) perfect number
; (十六) Mười sáu, là con số được Mật giáo sử dụng để biểu thị sự viên mãn vô tận. Chân ngôn Mật giáo dùng số 16 để thu nhiếp vô lượng vô tận, cho nên khi vẽ Mạn đồ la Thai tạng giới, trong đó, viện Trung đài bát diệp nhỏ nhất cũng phải là 16 ngón tay. Bát diệp (8 cánh sen) này mở ra Nhân và Pháp, do đó mà có 8 thiện tri thức (Nhân) và 8 Kim cương tuệ ấn (Pháp), hợp lại thành số 16. Ngoài ra, Thập lục đại bồ tát, Thập lục tôn, Thập lục chấp kim cương thần, Thập lục thiên thần của Kim cương giới, Thập lục bồ tát, Thập lục cư sĩ... nói trong các kinh của Hiển giáo, cũngđềudùng con số 16 để thu nhiếp tất cả; Thập lục không của Bát nhã, Thập lục phần của tháng... đều căn cứ vào ý này. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].
thập lục bồ tát
(十六菩薩) Chỉ cho 16 vị Bồ tát trong Mật giáo. Có 2 loại. I. Thập lục Bồ Tát. Cũng gọi Tuệ môn thập lục tôn, Thập lục đại bồ tát. Chỉ cho 16 vị Bồ tát thân cận của 4 đức Phật ở 4 phương, từ Phật A súc trở xuống, mỗi vị có 4 Bồ tát thân cận, thuộc 37 vị tôn của hội Yết ma trong Mạn đồ la Kim cương giới. Đó là: 1. Bốn vị Bồ tát thân cận của Phật A súc trong vòng tròn ở phương Đông: Bồ tát Kim cương tát đỏa, bồ tát Kim cương vương, bồ tát Kim cương ái và bồ tát Kim cương hỉ. Bốn vị Bồ tát này đều dùng việc giữ giới nhẫn nhục để thành tựu công đức của tâm bồ đề. 2. Bốn vị Bồ tát thân cận của đức Phật Bảo sinh trong vòng tròn ở phương Nam: Bồ tát Kim cương bảo, bồ tát Kim cương quang, bồ tát Kim cương chàng và bồ tát Kim cương tiếu. Bốn vị Bồ tát này đều dùng việc bố thí không chấp trước mà thành tựu công đức phúc đức trang nghiêm. 3. Bốn vị Bồ tát thân cận của đức Phật A di đà trong vòng tròn ở phương Tây: Bồ tát Kim cương pháp, bồ tát Kim cương lợi, bồ tát Kim cương nhân và bồ tát Kim cương ngữ. Bốn vị Bồ tát này đều dùng chính định đại tuệ để thành tựu công đức trí tuệ. 4. Bốn vị Bồ tát thân cận của đức Phật Bất không thành tựu trong vòng tròn ở phương Bắc: Bồ tát Kim cương nghiệp, bồ tát Kim cương hộ, bồ tát Kim cương nha và bồ tát Kim cươngquyền. Bốn vị Bồ tát này đều tu hạnh tinh tiến để thành tựu công đức sự nghiệp phương tiện. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa]. II. Thập Lục Bồ Tát. Chỉ cho 16 vị Bồ tát trong 1.000 Bồ tát ở giai vị tu nhân của 1.000 đức Phật thuộc kiếp Hiền. Tên của 16 vị Bồ tát này được ghi trong các kinh quĩ như: Kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng quyển 3, kinh Kim cương đính Q.1; Hiền kiếp thập lục tôn quĩ... (xt. Hiền Kiếp Thập Lục Tôn).
thập lục chấp kim cương
(十六執金剛) Chỉ cho 16 vị thầnởphương dưới Mạn đồ la Thành thân hội thuộc Kim cương giới Mật giáo, được ghi trong Đại nhật kinh sớ quyển 16. Đó là: 1. Hư không vô cấu kim cương, 1 trong 19 vị Chấp kim cương. 2. Kim cương luân. 3. Kim cương nha, là 1 trong 4 vị thân cận của Phật Bất không thành tựu. 4. Tô lạt đa kim cương, Hán dịch : Diệu trụ.5. Danh xưng kim cương. 6. Đại phần kim cương. 7. Kim cương lợi. 8. Tịch nhiên kim cương. 9. Đại kim cương. 10. Thanh kim cương. 11. Liên hoa kim cương. 12. Quảng nhãn kim cương. 13. Chấp diệu kim cương. 14. Kim cương kim cương. 15. Trụ vô hí luận kim cương,1 trong 19 Chấp kim cương, trụ trong Đại không tuệ.16. Hư không vô biên du bộ kim cương, 1 trong 19 Chấp kim cương. Theo Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa thì 16 vị Chấp kim cương thần là do tâm bồ đề dũng mãnh của tất cả Như lai hóa sinh, biểu thị ý nghĩa lúc Như lai tu hành, Ngài đã dùng trí tuệ kim cương phá trừ phiền não chướng tâm nhiều như số bụi nhỏ. Sau khi Như lai đại ngộ thì các phiền não ấy trở thành các loại trí môn cũng nhiều như bụi nhỏ. Vì dùng trí tuệ kim cương như thế nên lại hiện thân bạo ác đáng sợ.
thập lục huyền môn
(十六玄門) Chỉ cho 16 phương pháp do tông Chân ngôn sử dụng để giải thích ý nghĩa các chữ trong những chân ngôn tiếng Phạm. Đó là: 1. Già tình: Ngăn mê tình của phàm phu, biết rõ pháp tính là vô tướng, không vướng một pháp, không dính một tướng, không chấp không trước, tu hành Phật đạo.2. Biểu đức: Đối với tất cả các pháp, bất luận tà, chính đều biết rõ lí vốn chẳng sinh, đối với cảnh giới sở kiến, biểu hiển công đức chân ngôn. 3. Thiển lược: Ý nghĩa nông cạn, nội dung giản lược. 4. Thâm bí: Ngoài lời nói còn bao hàm ý nghĩa sâu kín, căn cơ không thích hợp thì không được truyền trao. 5. Tự tướng: Bản thân văn tự không có ý nghĩa, giữa văn tự và ý nghĩa nó biểu hiển có khác nhau. 6. Tự nghĩa: Không lìa văn tự mà quán ý nghĩa của mỗi chữ đều bất khả đắc. 7. Nhất tự nhiếp đa: Trong một chữ hàm chứa vô lượng ý nghĩa của nhiều chữ. 8. Đa tự nhiếp nhất: Nghĩa của nhiều chữ được thu nhiếp vào một chữ. 9. Nhất tự thích đa: Dùng một chữ giải thích nhiều chữ. 10. Đa tự thích nhất: Dùng nhiều chữ giải thích ý nghĩa một chữ. 11. Nhất tự thành đa: Dùng một chữ thành lập tất cả nghĩa các chữ. 12. Đa tự thành nhất: Kết hợp nhiều chữ thành một chữ. 13. Nhất tự phá đa: Dùng một chữ phá trừ nghi hoặc của nhiều chữ. 14. Đa tự phá nhất: Tức hợp nhiều chữ lại để phá trừ nghi hoặc của một chữ. 15. Thuận quán toàn chuyển(gọi tắt: Thuận toàn chuyển): Khi quán nghĩa chữ của chữ Phạm thì bắt đầu quán từ chữ A đầu tiên, cứ thế theo thứ tự quán đến chữ Hạ cuối cùng. 16. Nghịch quán toàn chuyển(gọi tắt: Nghịch toàn chuyển): Trái với Thuận quán toàn chuyển, theo thứ tự nghịch quán tự môn, nghĩa là quán từ chữ Hạ cuối cùng ngược lên đến chữ A đầu tiên. [X. Tam chủng tất địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam giới bí mật đà la ni pháp; Đại nhật kinh sớ Q.7; Pháp hoa kinh khai đề (Không hải)].
Thập lục hành quán 十六行觀
[ja] ジュウロクギョウカン jūrokugyōkan ||| See 十六行相. => Xem Thập lục hành tướng.
thập lục hành tướng
(十六行相) Phạm:Wođazàkàrà#. Cũng gọi Thập lục hành, Thập lục hành quán, Thập lục hành tướng quán, Thập lục đế, Tứ đế thập lục hành tướng. Chỉ cho phương pháp quán xét 16 hành tướng của 4 đế để diệt trừ các kiến chấp. Cứ theo luận Câu xá quyển 26 thì 16 hành tướng ấy là: 1. Bốn hành tướng của Khổ đế: a. Vô thường (Phạm: Anitya): Vì đợi duyên mới có. b. Khổ (Phạm:Du#kha): Vì có tính bức bách. c. Không (Phạm:Zùnya): Vì trái với nghã sở kiến. d. Phi ngã (Phạm: Anàtman): Vì trái với ngã kiến. 2. Bốn hành tướng của Tập đế: a. Nhân (Phạm: Hetu): Lí ấy như hạt giống. b. Tập (Phạm: Samudaya): Giống như lí hiển hiện. c. Sinh (Phạm:Prabhava): Có năng lực làm cho sinh khởi liên tục. d. Duyên (Phạm: Pratyaya): Có công năng khiến cho thành tựu; ví như các duyên (điều kiện): Đất sét, cái bàn quay, dây và nước hòa hợp thành cái bình. 3. Bốn hành tướng của Diệt đế: a. Diệt (Phạm:Nirodha): Vì các uẩn đều đã hết. b. Tĩnh (Phạm: Zànta): Vì 3 thứ lửa (tham, sân, si) đã tắt. c. Diệu (Phạm:Pranìta): Vì không còn các hoạn nạn. d. Li (Phạm:Ni#saraịa): Vì đã thoát khỏi mọi tai ách. 4. Bốn hành tướng của Đạo đế. a. Đạo (Phạm:Màrga): Vì có nghĩa là con đường thông suốt. b. Như (Phạm:Nyàya): Vì khế hợp với chính lí. c. Hành (Phạm: Pratipad): Vì hướng tới chân chính. d. Xuất (Phạm:Nairyàịika): Vì có khả năngvượtthoát vĩnh viễn. Mười sáu hành tướng tuy có 16 tên nhưng thực ra chỉ có 7. Nghĩa là khi duyên Khổ đế thì Danh, Thực đều có 4, nhưng duyên 3 đế còn lại thì Danh có 4, Thực chỉ có 1. Mục đích tu 16 hành tướng là để đối trị các kiến chấp, trong đó, vì đối trị các kiến chấp: Thường, lạc, ngã sở, ngã kiến... cho nên tu các hành tướng: Phi thường, khổ, không, phi ngã...; vì đối trị các kiến chấp như: Vô nhân, nhất nhân, biến nhân, tri tiên nhân... cho nên tu các hành tướng: Nhân, tập, sinh, duyên; vì đối trị kiến chấp giải thoát là không, nên tu hành tướng Diệt; để đối trị kiến chấp giải thoát là Khổ, nên tu hành tướng Tĩnh; để đối trị kiến chấp cho cái vui của Tĩnh lự và Đẳng chí là diệu nên tu hành tướng Diệu; để đối trị kiến chấp cho rằng giải thoát luôn luôn lui sụt chứ chẳng phải vĩnh hằng, cho nên tu hành tướng Li; vì đối trị các kiến chấp vô đạo, tà đạo, dư đạo, thoái đạo... cho nên tu các hành tướng: Đạo, Như, Hành, Xuất. [X. kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; kinh Chính pháp niệm xứ Q.34; luận Đại tì bà sa Q.79].
Thập lục hành tướng 十六行相
[ja] ジュウロクコウソウ jūroku gyōsō ||| The sixteen active aspects of the Four Noble Truths (ṣoḍāśa-ākāra), which are sixteen ways of analyzing the meaning of the Four Noble Truths, including four ways for each noble truth. The first noble truth is analyzed as containing the meanings of impermanence 無常 (anitya), unsatisfactoriness 苦 (duḥkha), emptiness 空 (śūnya), and no-self 無我 (anātmaka). The second noble truth contains the implications of cause of suffering 因 (hetu), gathering 集 (samudaya), continuation 生 (prabhava) and conditions 縁 (pratyaya). The third noble truth connotes extinction of physical attachments 滅 (nirodha), the calming of afflictions 靜 (śānta), the sublimity of no discomfort 妙 (praṇita) and the escape from all difficult circumstances 離 (niḥsaraṇa). Within the fourth noble truth are seen the path to cessation 道 (mārga), accordance with the correct principle 如 (nyāya), activity leading to nirvana 行 (pratipatti) , and transcendence of life and death 出 (nairyāṇika). 〔倶舎論; T 1558.29.119b15-19〕 => Mười sáu hành tướng của Tứ diệu đế (s: ṣoḍāśa-ākāra), là Mười sáu cách phân tích ý nghĩa của Tứ diệu đế, gồm bốn cách cho mỗi đế. Khổ đế được phân tích bao gồm ý nghĩa của Vô thường 無常(s: anitya), Khổ 苦 (s:duḥkha), Không 空 (s: śūnya), Vô ngã 無我 (s: anātmaka). Tập đế gồm quan hệ mật thiết với nhân 因 (hetu), tập 集 (samudaya), sinh 生 (prabhava), và duyên 縁 (pratyaya) của khổ. Diệt đế bao hàm sự hoại diệt luyến ái sắc thân (diệt 滅 s: nirodha), thanh tịnh các phiền não (tịnh 靜 s: śānta), giải thoát mọi phiền trược (diệu 妙 s: praṇita),xa lìa mọi khổ nạn (ly 離 s: niḥsaraṇa). Đạo đế là nhận ra con đường tu tập không còn tạo nghiệp (đạo 道 s: mārga), tuỳ thuận với chính đạo (như 如 s:nyāya), tích cực hướng đến niết bàn (hành 行 s: pratipatti), siêu việt sinh tử (xuất 出 s: nairyāṇika). Theo Câu xá luận.
Thập lục hạnh
xem Mười sáu hạnh.
thập lục hạnh
The sixteen hạnh tướng of the Four Noble Truths Tứ diệu đế, i.e. four forms of considering each of the Truths, associated with kiến đạo.
Thập lục hạnh quán
xem Mười sáu hạnh.
Thập lục hạnh tướng quán
xem Mười sáu hạnh.
Thập lục hạnh 十六行
[ja] ジュウロクギョウ jūrokugyō ||| See 十六行相. => Xem Thập lục hạnh tướng
thập lục khai sĩ
(十六開士) Cũng gọi Thập lục đại sĩ, Thập lục chính sĩ, Thập lục hiền sĩ, Thập lục thiện trượng phu chúng, Thập lục bồ tát. Chỉ cho 16 vị Bồ tát cư sĩ cầu chính đạo được nêu khắp trong các kinh luận của Hiển giáo. Đó là các vị: Hiền hộ, Bảo tích, Tinh đức, Đế thiên, Thủy thiên, Thiện lực, Đại ý, Thù thắng ý, Tăng ý, Thiện phát ý, Bất hư kiến, Bất hưu tức, Bất thiểu ý, Đạo sư, Nhật tạng và Trì địa. Về tên gọi của Thập lục khai sĩ, các kinh nêu có hơi khác nhau. [X. kinh Tư ích phạm thiên sở vấn Q.1; kinh Đại bảo tích Q.111; kinh Vô lượng thọ; Bích nham lục tắc 78].
Thập Lục La Hán
(十六阿羅漢): còn gọi là Thập Lục A La Hán (十六阿羅漢), Thập Lục Tôn Giả (十六尊者), là các đệ tử đắc đạo của đức Thích Tôn. Căn cứ vào Pháp Trú Ký (法住記) của Tôn Giả Khánh Hữu (慶友尊者) nước Sư Tử (師子) thuộc thế kỷ thứ 2, khi nhập Niết Bàn, đức Phật có phó chúc cho 16 vị A La Hán hiện hữu trên thế gian để truyền bá Phật pháp, đem lại lợi ích cho chúng sanh; cho nên tác phẩm này đã sớm ghi lại danh xưng của 16 vị La Hán này. Còn gọi là Thập Lục A La Hán (十六阿羅漢), Thập Lục Tôn Giả (十六尊者), là các đệ tử đắc đạo của đức Thích Tôn. Căn cứ vào Pháp Trú Ký (法住記) của Tôn Giả Khánh Hữu (慶友尊者) nước Sư Tử (師子) thuộc thế kỷ thứ 2, khi nhập Niết Bàn, đức Phật có phó chúc cho 16 vị A La Hán hiện hữu trên thế gian để truyền bá Phật pháp, đem lại lợi ích cho chúng sanh; cho nên tác phẩm này đã sớm ghi lại danh xưng của 16 vị La Hán này. Đến thời nhà Đường (618-907), khi nhà dịch kinh nổi tiếng Huyền Tráng (玄奘, 602-664) dịch tác phẩm Pháp Trú Ký, tên gọi của 16 vị này được biết đến bằng Hán ngữ, từ đó tín ngưỡng về Thập Lục La Hán cũng bắt đầu thịnh hành dưới thời này. Từ cuối thời nhà Đường cho đến thời Ngũ Đại Thập Quốc (907-979), các tác phẩm hội họa cũng như điêu khắc về 16 vị La Hán này bắt đầu xuất hiện. Một số danh gia như Lô Lăng Già (盧楞伽), Vương Duy (王維, 701-761), Đào Thủ Lập (陶守立), Quán Hưu (貫休, 832-912). Theo Đại A La Hán Nan Đề Mật Đa La Sở Thuyết Pháp Trú Ký (大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記, bản Hán ngữ là Pháp Trú Ký), danh xưng của 16 vị này là:(1) Tân Độ La Bạt Ra Nọa Xà (s: Piṇḍolabharadvāja, 賓度羅跋囉惰闍) cùng với 1.000 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Tây Ngưu Hóa Châu (s: Apara-godhānīya, 西牛貨洲).(2) Ca Nặc Ca Phạt Sa (s: Kanakavatsa, 迦諾迦伐蹉) cùng với 500 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại phương bắc nước Ca Thấp Di La (s: Kaśmīra, p: Kasmīra, 迦濕彌羅).(3) Ca Nặc Ca Bạt Li Nọa Xà (s: Kanakabharadvāja, 迦諾迦跋厘惰闍) cùng với 600 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Đông Thắng Thân Châu (s: Pūrva-videha, 東勝身洲).(4) Tô Tần Đà (s: Subinda, 蘇頻陀) cùng với 700 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Bắc Cu Lô Châu (s: Uttara-kuru, 北倶盧洲).(5) Nặc Cự La (s: Nakula, 諾距羅) cùng với 800 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Nam Thiệm Bộ Châu (s: Jampudīpa, 南贍部洲).(6) Bạt Đà La (s: Bhadra, 跋陀羅) cùng với 900 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Đam Một La Châu (耽沒羅洲).(7) Ca Lí Ca (s: Kālika, 迦理迦) cùng với 1.000 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Tăng Già Trà Châu (僧伽荼洲).(8) Phạt Già La Phất Đa La (s: Vajraputra, 伐闍羅弗多羅) cùng với 1.100 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Bát Thích Noa Châu (缽刺拏洲).(9) Thú Bác Ca (s: Jīvaka, 戍博迦) cùng với 900 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú trong Hương Túy Sơn (香醉山).(10) Bán Thác Ca (s: Panthaka, 半託迦) cùng với 1.300 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại cõi trời thứ 33.(11) La Hỗ La (s: Rāhula, 羅怙羅) cùng với 1.100 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Tất Lợi Dương Cù Châu (畢利颺瞿洲).(12) Na Già Tê Na (s: Nāgasena, 那伽犀那) cùng với 1.200 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Bán Độ Ba Sơn (半度波山).(13) Nhân Yết Đà (s: Aṅgaja, 因揭陀) cùng với 1.300 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Quảng Hiếp Sơn (廣脅山).(14) Phạt Na Ba Tư (s: Vanavāsin, 伐那婆斯) cùng với 1.400 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Khả Trú Sơn (可住山).(15) A Thị Đa (s: Ajita, 阿氏多) cùng với 1.500 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Thứu Phong Sơn (鷲峰山).(16) Chú Đồ Bán Thác Ca (s: Cūḍapanthaka, 注荼半托迦, tức Châu Lợi Bàn Đà Già [周利槃陀伽]) cùng với 1.600 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Trì Tụ Sơn (持軸山) Tại các già lam, tự viện có an trí 16 tôn tượng La Hán này, 18 La Hán hay 500 La Hán. Như vậy 18 La Hán cũng phát xuất từ 16 La Hán nêu trên, sau này dân gian Trung Quốc thêm vào 2 vị nữa, thành ra con số 18. Thuyết Thập Bát La Hán rất thịnh hành tại Trung Quốc cũng như Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, Việt Nam, v.v. Có nhiều nguyên nhân giải thích việc biến thành Thập Bát La Hán, trong đó có thuyết giải thích người dân cổ đại Trung Quốc cho rằng con số 9 là số cát tường, tốt đẹp; vì vậy từ cuối thời nhà Đường người ta thêm 2 vị vào trong Thập Lục La Hán. Đến sau thời nhà Tống, Nguyên, thuyết về Thập Bát La Hán trở thành rất phổ cập trong dân gian cũng như văn học Trung Quốc; như trong tác phẩm Tây Du Ký (西遊記) có câu chuyện 18 vị La Hán đấu với Ngộ Không. Theo Bí Điện Châu Lâm Tục Biên (秘殿珠林續編) được hình thành dưới thời nhà Thanh, vua Càn Long (乾隆) có bài đề tụng 2 vị tôn giả cuối cùng trong 18 vị này là Hàng Long La Hán (降龍羅漢) tức Ca Diếp Tôn Giả (迦葉尊者), Phục Ma La Hán (伏虎羅漢) tức Di Lặc Tôn Giả (彌勒尊者). Ngoài ra, còn có thuyết khác về Thập Bát La Hán như:(1) Hàng Long La Hán (降龍羅漢), tức Khánh Hữu Tôn Giả (慶友尊者), tương truyền đã từng hàng phục con rồng ác độc.(2) Tọa Lộc La Hán (坐鹿羅漢), tức Tân La Bạt La Đa Tôn Giả (賓羅跋羅多尊者), từng cỡi hươu vào hoàng cung khuyến dụ quốc vương học Phật, tu hành.(3) Cử Bát La Hán (舉缽羅漢), tức Ca Nặc Ca Bạt Li Tùy Các (迦諾迦跋厘隋閣), là hành giả từng cầm bình bát đi khất thực hóa duyên.(4) Quá Giang La Hán (過江羅漢), tức Bạt Đà La Tôn Giả (跋陀羅尊者), tương truyền ông qua sông nhẹ như con chuồn chuồn.(5) Phục Hổ La Hán (伏虎羅漢), tức Tân Đầu Lô Tôn Giả (賓頭盧尊者), từng hàng phục mãnh hổ.(6) Tĩnh Tọa La Hán (靜坐羅漢), tức Nặc Cự La Tôn Giả (諾距羅尊者), còn gọi là Đại Lực La Hán (大力羅漢), do vì trong thời quá khứ ông xuất thân là võ sĩ, cho nên sức mạnh vô song.(7) Trường Mi La Hán (長眉羅漢), tức A Thị Đa Tôn Giả (阿氏多尊者), tương truyền khi ông ra đời có hai sợi lông mi dài.(8) Bố Đại La Hán (布袋羅漢), tức Nhân Yết Đà Tôn Giả (因揭陀尊者), thường mang trên một túi vải, thường mở miệng là cười.(9) Khán Môn La Hán (看門羅漢), tức Chú Đồ Bán Thác Ca Tôn Giả (注荼半托迦), hay Châu Lợi Bàn Đà Già (周利槃陀伽), vì người tận trung giữ gìn chức phận mình.(10) Thám Thủ La Hán (探手羅漢), tức Bán Thác Ca Tôn Giả (半托迦尊者), nhân khi ngồi thường chỉ tay lên không trung nên có tên như vậy.(11) Trầm Tư La Hán (沉思羅漢), tức La Hỗ La Tôn Giả (羅怙羅尊者), một trong 10 đại đệ tử của Phật, lấy mật hạnh làm đầu.(12) Kỵ Tượng La Hán (騎象羅漢), tức Ca Lí Ca Tôn Giả (迦理迦尊者), hay Tuần Tượng Sư (馴象師, bậc thầy thuần hóa voi nên thường cỡi voi).(13) Hoan Hỷ La Hán (歡喜羅漢), tức Ca Nặc Phạt Sa Tôn Giả (迦諾伐蹉尊者), nguyên là một nhà hùng biện thời cổ đại Ấn Độ.(14) Tiếu Sư La Hán (笑獅羅漢), tức La Phất Đa Tôn Giả (羅弗多尊者), nguyên là thợ săn, nhân học Phật nên từ bỏ sát sanh, sư tử đến tạ ơn, nên có tên như vậy.(15) Khai Tâm La Hán (開心羅漢), tức Thú Bác Ca Tôn Giả (戍博迦尊者), giúp người hiểu được Phật trong tâm mình.(16) Thác Tháp La Hán (托塔羅漢), tức Tô Tần Đà (蘇頻陀), là đệ tử được đức Phật thâu nhận cuối cùng; ông nhớ đến đức Phật nên thường mang theo tháp Phật trên tay.(17) Ba Tiêu La Hán (芭蕉羅漢), tức Phạt Na Bà Tư Tôn Giả (伐那婆斯尊者), sau khi xuất gia ông thường ngồi tu hành công phu dưới gốc cây chuối, nên có tên như vậy.(18) Oạt Nhĩ La Hán (挖耳羅漢), tức Na Ca Tê Na Tôn Giả (那迦犀那尊者), do ông nổi tiếng là nhĩ căn thanh tịnh nên thường được gọi là La Hán Móc Tai.
thập lục la hán
(十六羅漢) Chỉ cho 16 vị La hán vâng giáo chỉ của đức Phật trụ mãi ở thế gian để giữ gìn che chở chính pháp được ghi trong Pháp trụ kí. Đó là: 1. Tân đầu lô bạt la đọa xà (Phạm: Piịđolabharadvàja): Vị này cùng với 1000 A la hán phần nhiều trụ ở Tây ngưu hóa châu. 2. Ca nặc ca phạt tha (Phạm: Kanakavatsa): Vị này cùng với 500 vị A la hán phần nhiều trụ ở nước Ca thấp di la. 3. Ca nặc ca bạt li đoa xà (Phạm: Kanakabharadvàja): Vị này cùng với 600 vị A la hán phần nhiều trụtạiĐông thắng thân châu. 4. Tô tần đà (Phạm:Subinda): Vị này cùng với 700 vị A la hán phần nhiều trụ ở Bắc câu lô châu. 5. Nặc củ la (Phạm:Nakula): Vị này cùng với 800 vị A la hán phần nhiều trụ ở Nam thiệm bộ châu. 6. Bạt đà la (Phạm:Bhadra): Vị này cùng với 900 vị A la hán phần nhiều trụ ở Đam một la châu. 7. Ca lí ca (Phạm:Kàlika): Vị này cùng với 1000 vị A la hán phần nhiều trụ ở Tăng già trà châu. 8. Phạt xa la phất đa la (Phạm: Vajraputra): Vị này cùng với 1100 vị A la hán phần nhiều trụ ở Bát lạt noa châu. 9. Thú bác ca (Phạm:Jìvaka): Vị này cùng với 900 vị A la hán phần nhiều trụ trên núi Hương túy. 10. Bán thác ca (Phạm: Panthaka): Vị này cùng với 1300 vị A la hán phần nhiều trụ trên cõi trời Tam thập tam. 11. La hỗ la (Phạm:Ràhula): Vị này cùng với 1100 vị A la hán phần nhiều trụ ở Tất lợi dương cù châu. 12. Na già tê na (Phạm: Nàgasena): Vị này cùng với 1200 vị A la hán phần nhiều trụ ở núi Bán độ ba. 13. Nhân yết đà (Phạm: Aígaja): Vị này cùng với 1300 vị A la hán phần nhiều trụ ở trong núi Quảng hiếp. 14. Phạt na bà tư(Phạm:Vanavàsin): Vị này cùng với 1400 vị A la hán phần nhiều trụ ở trong núi Khả trụ. 15. A thị đa (Phạm:Ajita): Vị này cùng với 1500 vị A la hán phần nhiều trụ ở trong núi Thứu phong. 16. Chú đồ bán thác ca (Phạm: Cùđapanthaka): Vị này cùng với 1600 vị A la hán phần nhiều trụ ở trong núi Trì trục. Từ khi bộ Pháp trụ kí được dịch ra chữ Hán về sau thì Thập lục la hán là các pho tượng chủ yếu trong các chùa viện thuộc Thiền tông ở Trung quốc. Về tượng vẽ của Thập lục La hán thì có các họa phẩm của các ngài Pháp nguyện, Pháp kính, Tăng dao... nhất là Thập lục La hán đồ của ngài Quán hưu đời Ngũ đại và Thập lục La hán đồ đời Bắc Tống (hiện nay được cất giữ ở chùa Thanh lương tại Nhật bản), đều là các tác phẩm được nhiều người trân trọng; các tác phẩm của ngài Quán hưu vẫn còn có thể được thấy qua di ảnh các bứcbíchhọa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng. Ngoài ra, Thập bát La hán đồ được lưu truyền rộng rãi ở thế gian chính là Thập lục La hán thêm tôn giả Đạt ma đa la và Hòa thượng Bố đại, hoặc thêm 2 tôn giả Hàng long và Phục hổ. [X. kinh Di lặc hạ sinh; luận Thập đại thừa Q.thượng; Đại minh tam tạng pháp số Q.45; môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Thập lục La-hán 十六羅漢
[ja] ジュウロクラカン jūroku rakan ||| The sixteen arhats 羅漢who vowed to stay in this world and protect the true dharma: Piṇḍolabbaradvāja 賓頭盧跋羅墮闍, Kanakavatsa 迦諾迦伐蹉, Kanakabharadvāja 迦諾迦跋釐墮闍, Subinda 蘇頻陀, Nakula 諾矩羅, Bhadra 跋陀羅, Kālika 迦理迦, Vajraputra 伐闍羅弗多羅, Jīvaka 戍博迦, Panthaka 半託迦, Rāhula 羅怙羅, Nāgasena 那伽犀那, Aṅgaja 因揭陀, Vanavasin 伐那婆斯, Ajita 阿氏多, Cūḍapantbaka 注荼半託迦. (Fa zhuji 法住記;彌勒下生經、入大乘論卷上、大明三藏法數卷四十五、禪林象器箋靈像門). For an extensive discussion of the entire Luohan tradition in China, see the essay at 羅漢. II. The sixteen disciples of the Buddha: Śāriputra, Mahāmaudgalyāyana, Mahākāśyapa, Mabakapphiṇa, Mahākātyāyana, Mahākauṣṭhila, Revata, Śuddhipanthaka, Nanda, Ānanda, Rāhula, Gavāṃpati, Bharadvāja, Kālodayin, Vakkula, Aniruddha, as given in the Smaller Sukhavati-vyūha 〔阿彌陀經〕 => Mười sáu vị A-la-hán, phát nguyện ở trong thế gian để hộ trì chính pháp. Đó là: 1. Tân đầu lô bạt la đoạ xà 賓頭盧跋羅墮闍; s: Piṇḍolabbaradvāja. 2. Ca nặc ca phạt ta 迦諾迦伐蹉; s: Kanakavatsa. 3. Ca nặc ca bạt ly đoạ xà 迦諾迦跋釐墮闍; s: Kanakabharadvāja. 4. Tô tần đà 蘇頻陀;s:Subinda. 5. Nặc cự la 諾矩羅 s: Nakula 6. Bạt đà la 跋陀羅 s: Bhadra 7. Ca lý ca 迦理迦 s:Kālika 8. Bạt xà la phất đa la 伐闍羅弗多羅 s:Vajraputra 9. Thú bác ca 戍博迦 s: Jīvaka 10. Bán thác ca 半託迦 s: Panthaka 11. La hỗ la 羅怙羅s: Rāhula. 12. Na già tê na 那伽犀那 s: Nāgasena. 13. Nhân yết đà 因揭陀 s: Aṅgaja. 14. Phạt na bà tư 伐那婆斯 s: Vanavasin. 15. A thị đa 阿氏多 s: Ajita 16. Chú đồ bán thác ca 注荼半託迦 s: Cūḍapantbaka. Theo Pháp trú ký, Kinh Di Lặc hạ sinh, Nhập Đại thừa luận quyển thượng, Đại minh Tam tạng pháp số quyển tứ thập ngũ, Thiền lâm tượng khí tiên linh tượng môn.
thập lục lưu phan
(十六旒幡) Chỉ cho 16 tràng phan(1 loại cờ của Phật giáocóphúc đức hàng ma, kéo dài tuổi thọ), được dựng lên cho 16 vị thần Chấp kim cương, hoặc cho 16 vị Đại thiên. Lưu là chỉ cho các tua may ở phần đuôi lá phan.
thập lục pháp
(十六法) Mười sáu pháp. Tức trong Trung đài Bát diệp (đài sen ở giữa 8 cánh sen ở chung quanh) thuộc Mạn đồ laThai tạng giới của Mật giáo thì 4 cánh sen ở 4 phương chính tượng trưng 4 trí của Như lai, 4 cánh sen ở 4 góc tượng trưng cho 4 hạnh của Như lai, 8 cánh sen này chia ra Nhân, Pháp mà thành là 16 pháp. Tức là 8 thiện tri thức (Nhân) và 8 ấn Kim cương tuệ (Pháp) mà các thiện tri thức ấy cầm, hợp lại thành Thập lục pháp. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].
thập lục quán
The sixteen meditations of Amitàbha on the setting sun, water (as ice, crystal, etc.), the earth and so on.
; Theo K.K. Tanaka trong Tịnh Độ Nguyên Thủy Trung Hoa, có 16 phép quán trong Tịnh Độ tông (đây là 16 cách quán tưởng đến cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà hầu có vãng sanh về đó. Theo truyền thuyết, đây là 16 phép mà Đức Phật Thích Ca đã truyền dạy theo lời cầu thỉnh của bà Hoàng thái hậu Vi Đề Hy)—According to K.K. Tanaka in The Dawn of Chinese Pure Land Doctrine, there are sixteen kinds of contemplation in the Pure Land. 1) Quán tưởng thấy mặt trời sắp lặn: Visualization of the setting sun. 2) Quán tưởng Thấy nước lắng trong: Visualization of pure water. 3) Quán tưởng thấy đất nơi cõi Cực Lạc: Visualization of the ground in the Pure Land. 4) Quán tưởng thấy cây báu: Visualization of precious trees. 5) Quán tưởng thấy bát công đức thủy, hay nước tám công đức: Visualization of eight waters of merit and virtue—See Bát Công Đức Thủy. 6) Tổng quán tưởng thấy các cảnh, thấy cây báu, thấy ao báu nơi thế giới Cực Lạc: Unified visualization of the precious trees, lakes, etc., in the Pure Land. 7) Quán tưởng thấy tòa hoa của Đức Phật A Di Đà: Visualization of the lotus throne of Amitabha Buddha. 8) Quán tưởng thấy hình Phật A Di Đà và chư Bồ Tát Quán Âm ngồi bên tả tòa, và Bồ Tát Đại Thế Chí đang ngồi bên hữu tòa: Visualization of the images of the Buddha Amitabha on the throne, Bodhisattvas Avalokitesvara on the left, and Bodhisattva Mahasthamaprapta on the right side of the throne. 9) Quán tưởng thấy tỏ rõ chơn thân mà Đức Phật A Di Đà đã thị hiện nơi cõi Cực Lạc: Visualization of the Reward body of Amitabha Buddha, i.e. the form in which he appears in the Pure Land. 10) Quán tưởng thấy rõ sắc thân của Bồ Tát Quán Thế Âm: Visualization of Avalokitesvara Bodhisattva. 11) Quán tưởng thấy rõ sắc thân của Bồ Tát Đại Thế Chí: Visualization of Mahasthamaprapta Bodhisattva. 12) Quán tưởng thấy rõ ba vị A Di Đà, Quán Thế Âm, và Đại Thế Chí đầy khắp cả hư không: Visualization of the reward bodies of Amitabha Buddha, Avalokitesvara Bodhisattva, and Mahasthamaprapta Bodhisattva are every where in the space. 13) Quán tưởng tạp, khi thì quán tưởng Đức A Di Đà, khi thì quán tưởng Đức Quán Thế Âm, khi thì quán tưởng Đức Đại Thế Chí: A mixing or intermingling visualization among Amitabha Buddha, Avalokitesvara Bodhisattva, and Mahasthamaprapta Bodhisattva. 14) Quán tưởng Thượng Bối Sanh, bao gồm thượng phẩm thượng sanh, thượng phẩm trung sanh, và thượng phẩm hạ sanh: Visualization of the rebirth of the three highest grades in the Pure Land, including the highest, the middle, and the lowest of the three highest classes. 15) Quán tưởng Trung Bối Sanh, bao gồm trung phẩm thượng sanh, trung phẩm trung sanh, và trung phẩm hạ sanh: Visualization of the rebirth of the middle grades in the Pure Land, including the highest, the middle, and the lowest of the three middle classes. 16) Quán tưởng Hạ Bối Sanh, bao gồm hạ phẩm thượng sanh, hạ phẩm trung sanh, và hạ phẩm hạ sanh: Visualization of the rebirth of the lowest grades, including the highest, the middle, and the lowest in the three lowest classes in the Pure Land.
; (十六觀) Cũng gọi Thập lục quán pháp, Thập tưởng quán, Thập lục diệu quán, Thập lục chính quán, Thập lục quán môn. Chỉ cho 16 pháp quán tưởng ghi trong kinh Quán vô lượng thọ mà người niệm Phật thực hành để được sinh về Tịnh độ phương Tây. Đó là: 1. Nhật tưởng quán(cũng gọi Nhật quán, Nhật tưởng): Ngồi ngay thẳng xoay mặt về hướng tây, quán xét kĩ mặt trời sắp lặn, hình dáng như cái trống treo, tâm an trụ vững chắc, chuyên tưởng không dời, đã thấy mặt trời rồi thì mở mắt, nhắm mắt đều thấy rõ ràng. 2. Thủy tưởng quán(cũng gọi Thủy quán), Thủy tưởng): Mới đầu thấy Tây phương đều là nước, sau đó tưởng là băng, thấy băng trong suốt lấp lánh, lại tưởng như lưu li. 3. Địa tưởng quán(cũng gọi Địa quán, Lưu li địa quán, Địa tưởng): Quán tưởng phía dưới có Kim chàng 7 báu kim cương nâng mặt đất lưu li, trên đất có dây vàng ròng đang dệt vào nhau, mỗi thứ báu đều có 500 tia sáng nhiều màu. 4. Bảo thụ quán(cũng gọiThụ quán, Thụ tưởng): Quán tưởng cõi nước Cực lạc có7 lớp hàng cây, hoa lá 7 báu đều đầy đủ, mỗi hoa mỗi lá đều có màu báu khác nhau, lại quán trên mỗi cây đều có 7 lớp lưới giăng. 5. Bảo trì quán(cũng gọi Bát công đức thủy tưởng, Trì quán): Quán tưởng cõi Cực lạc có ao nước 8 công đức, trong mỗi mỗi ao có 60 ức hoa sen 7 báu, nước ma ni trôi chảy trong đó diễn nói diệu pháp, lại có loài chim màu sắc 7 báu thường cất tiếng khen ngợi niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. 6. Bảo lâu quán: Tu pháp quán tưởng này thì lập tức thành tựu 5 pháp quán tưởng trên, cho nên cũng gọi là Tổng quán, Tổng quán tưởng, Tổng tưởng quán. Quán tưởng trên mỗi mỗi cõi có 500 ức lầu báu, trong lầu báu có vô lượng chư thiên trỗi kĩ nhạc. Lại có các nhạc khí treo lơ lửng giữa hư không, tự tấu nhạc. 7. Hoa tọa quán(cũng gọi Hoa tọa tưởng): Quán tưởng trên tòa hoa có Phật và 2 vị Bồ tát đang ngồi(tức đức Phật A di đà và 2 Bồ tát Quan âm, Thế chí). 8. Tượng quán(cũng gọi Tượng quán tưởng, Phật Bồ tát tượng quán, Tượng tưởng): Quán tượng Phật màu vàng Diêm phù đàn ngồi trên hoa sen, có tượng 2 vị Bồ tát Quan âm, Thế chí đứng hầu 2 bên, cả 3 tôn tượng đều phóng ra ánh sáng vàng ròng. 9. Chân thân quán(cũng gọi Phật quán, Phật thân quán, Biến quán nhất thiết sắc thân tưởng): Quán tưởng chân thân của đức Phật Vô lượng thọ; khi quán tưởng pháp này thì liền được thấy tất cả chư Phật. 10. Quan âm quán(cũng gọi Quan thế âm quán, Quán Quan thế âm bồ tát chân thực sắc thân tưởng): Quán tưởng bồ tát Quan thế âm đang đứng hầu Phật Di đà. 11. Thế chí quán(cũng gọi Đại thế chí quán, Quán đại thế chí sắc thân tưởng): Quán tưởng bồ tát Đại thế chí cũng đang đứng hầu Phật Di đà. 12. Phổ quán(cũng gọi Tự vãng sinh quán, Phổ vãng sinh quán, Phổ tưởng quán): Quán tưởng mình sinh về Cực lạc, ngồi kết già trong hoa sen. Khi hoa nở thì có 500 tia sáng nhiều màu chiếu soi trên thân mình, đồng thời thấy Phật và Bồ tát đầy khắp hư không. 13. Tạp tưởng quán (cũng gọi Tạp quán, Tạp minh Phật Bồ tát quán, Tạp quán tưởng): Quán tưởng tượng Phật trượng sáu ở trên mặt nước trong ao, hoặc Phật hiện thân to lớn đầy ắp hư không. Tức quán tưởng chân Phật, hóa Phật, đại thân, tiểu thân... 14. Thượng bối quán(cũng gọi Thượng phẩm sinh quán, Thượng bối sinh tưởng): Người sinh về Tịnh độ tùy theo nhân tu mà có được 3 bậc thượng, trung, hạ; 3 bậc này lại được chia làm 3 phẩm thượng, trung, hạ nữa, cộng chung thành 9 phẩm. Thượng bối quán là quán đồ chúng bậc thượng tự phát 3 tâm, tu từ tâm, không giết hại, lâm chung được Thánh chúng đón rước, sau khi vãng sinh được các tướng lợi ích thù thắng. 15. Trung bối quán (cũng gọi Trung phẩm sinh quán, Trung bối sinh tưởng): Tức quán tưởng đồ chúng bậc trung thụ trì 5 giới, 8 giới, tu hạnh hiếu dưỡng cha mẹ và cảm được các tướng Thánh chúng đón rước, vãng sinh... 16. Hạ bối quán(cũng gọi Hạ phẩm sinh quán, Hạ phẩm sinh tưởng): Tức quán đồ chúng bậc hạ, tuy tạo các nghiệp ác, nhưng lâm chung gặp được thiện tri thức, nhờ đó biết xưng niệm danh hiệu Phật A di đà mà được vãng sinh, lại cảm được tướng lợi ích thù thắng... Trong quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ phần đầu, ngài Tuệ viễn chia 16 pháp quán này làm 2 loại, 7 môn trước là quán y báo, 9 môn sau là quán chính báo. Lại trong 10 pháp quán sau thì 5 môn trước nói về quán Phật, Bồ tát; môn thứ 6 nói về Tự vãng sinh quán(quán tưởng tự mình vãng sinh); môn thứ 7 nói về quán Phật, Bồ tát, 3 môn cuối nói về Tha vãng sinh quán(quán tưởng người khác vãng sinh). Còn trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển hạ thì ngài Trí khải chia 16 pháp quán làm 3 loại: 6 pháp quán đầu là quán Ty quả, 7 pháp quán kế là quán chính báo, 3 pháp quán cuối nói về 9 phẩm vãng sinh của 3 hạng chúng sinh. Các ngài Tuệ viễn... đều cho rằng 16 pháp này là pháp quán Định thiện, nhưng ngài Thiện đạo thì chủ trương chỉ có 13 pháp quán đầu là Định thiện, còn 3 pháp quán cuối là Tán thiện. Lại trong Định thiện thì 7 pháp quán đầu là Y báo quán, 6 pháp quán kế là Chính báo quán. [X. phần Huyền nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.1; Thập lục quán tán; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.53]. (xt. Cửa Phẩm Vãng Sinh).
thập lục quán kinh
Xem Kinh Quán Vô lượng thọ Phật.
thập lục quán môn
(十六觀門) I. Thập Lục Quán môn. Chỉ cho 16 pháp môn quán tưởng ghi trong kinh Quán vô lượng thọ tu để cầu sinh về Tịnhđộcực lạc phương tây. (xt. Thập Lục Quán). II. Thập Lục Quán Môn. Chỉ cho 16 pháp quán do Mật tông dựa vào pháp quán thuận nghịch thuộc Cửu thứ đệ định của Hiển giáovà thuyết Vô tận pháp giới, vô dư chúng sinh giới mà lập ra. Tức khi Bồ tát tu thiền, trong Cửu thứ đệ định(4Thiền, 4 Không xứ và Diệt tận định), theo thứ tự thuận, nghịch mà nhập định, xuất định một cách tự tại không ngại. Các đức Như lai dần dần chứng nhập Đại bi tạng phát sinh tam ma địa cũng như thế. Hoặc quán Vô tận pháp giới, lấy tất cả tâm làm 1 tâm, lấy tất cả môn làm 1 môn; hoặc quán Vô dư chúng sinh giới, lấy 1 tâm làm tất cả tâm, lấy 1 môn làm tất cả môn. Đó là: 1. Tám môn của Vô tận pháp giới: Lấy tất cả tâm làm một tâm(quán thuận), lấy một tâm làm tất cả tâm(quán nghịch); lấy một tâm làm một tâm, lấy tất cả tâm làm tất cả tâm, lấy tất cả môn làm một môn, lấy một môn làm tất cả môn, lấy một môn làm một môn, lấy tất cả môn làm tất cả môn. Trong đó, Tâm lấy thể sở nhập làm tên, Môn lấy giáo năng nhập làm tên. 2. Tám môn của Vô dư chúng sinh giới: Cũng giống như trên. Lấy Vô tận pháp giới làm một pháp giới môn để quán chư Phật pháp giới; lấy Vô dư chúng sinh giới làm nhiều pháp giới để quán cảnh mê của 9 giới sai biệt. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3].
thập lục sinh
(十六生) Cũng gọi Thập lục đại sinh, Thập lục đại bồ tát sinh. Chỉ cho 16 thứ bậc sinh khởi trong quá trình chứng quả của chúng sinh; cũng tức là giai vị của 16 Bồ tát biểu thị quá trình tu chứng của hành giả Chân ngôn. Mười sáu Bồ tát chỉ cho 4 vị Bồ tát thân cận của 4 đức Phật ở 4 phương, tức 4 bồ tát: Tát, Vương, Ái, Hỉ của đức Phật A súc 13. Tạp tưởng quán (còn 3 ảnh 14, 15, 16 thì giống với 9 phẩm vãng sinh)ở phương Đông; 4 bồ tát: Bảo, Quang, Chàng, Tiếu, của đức Phật Bảo sinh ở phương Nam; 4 bồ tát: Pháp, Lợi, Nhân, Ngữ của đức Phật A di đà phương Tây và 4 bồ tát: Nghiệp, Hộ, Nha, Quyền của đức Phật Bất không thành tựu ở phương Bắc. Trong đó, phương đông là Phát tâm môn, phương nam là Tu hành môn, phương tây là Bồ đề môn và phương bắc là Niết bàn môn. Hành giả Chân ngôn bắt đầu từ Phát tâm vị của bồ tát Kim cương tát đỏa, cuối cùng đến Niết bàn vị của bồ tát Kim cương quyền, trải qua quá trình 16 sinh(thứ tự sinh khởi của Nhân, Hành, Chứng, Nhập) mà thành Phật. Có thuyết cho rằng 4 bồ tát: Tát, Vương, Ái, Hỉ là từ Sơ địa trở về trước, nhưng Đại nhật kinh sớ thì cho rằng Thập lục sinh đều thuộc Thập địa. [X. Kim cương đính du già tu tập Tì lô giá na tam ma địa pháp; Như ý luân du già niệm tụng pháp; Đại sớ đệ tam trùng quyển hạ; Mật giáo áo nghĩa Q.thượng; Chú lí thú kinh Q.1]. (xt. Thập Lục Bồ Tát ).
thập lục sư
The sixteen non-Buddhist Indian philosophers.
thập lục sử
(十六使) Chỉ cho 16 Tư hoặc trong 3 cõi theo thuyết của Duy thức Đại thừa. Tức là: Cõi Dục có 6 Hoặc tham, sân, si, mạn, thân kiến và biên kiến; cõi Sắc và cõi Vô sắc thì mỗi cõi đều trừ Sân hoặc nên còn 10, hợp chung lại là 16 hoặc. Sử, có nghĩa sai khiến, là tên khác của phiền não. [X. luận Thành duy thức Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.6].
thập lục tam muội
(十六三昧) Chỉ cho 16 thứ Tam muội mà Bồ tát Diệu âm đã thành tựu, được ghi trong phẩm Diệu âm kinh Pháp hoa quyển 7. Đó là: 1. Diệu chàng tướng tam muội: Thể vắng lặng, siêu việt tất cả, không tướng mà có tướng. 2. Pháp hoa tam muội: Tức nói pháp viên dung, ví dụ sự kì đặc. 3. Tịnh đức tam muội: Tức tính thanh tịnh và thường, lạc, ngã. 4. Tú vương hí tam muội: Quyền trí chiếu cơ, khéo léo ứng hợp. 5. Vô duyên tam muội: Tức duyên theo trí tuệ bình đẳng. 6. Trí ấn tam muội: Tức dùng Nhất tâm tam trí ấn chứng tất cả pháp. 7. Giải nhất thiết chúng sinh ngữ ngôn tam muội: Tức có năng lực hiểu rõ ngôn ngữ của tất cả chúng sinh một cách dễ dàng. 8. Tập nhất thiết công đức tam muội: Tức tập hợp công đức của các Tam muội. 9. Thanh tịnh tam muội: Tức 6 căn thanh tịnh, tự tại dung nhiếp lẫn nhau. 10. Thần thông du hí tam muội: Dạo đi trong các thế gian bằng năng lực thần thông và tự tại giáo hóa chúng sinh. 1. Tuệ cự tam muội: Tức thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ bình đẳng diệt trừ vô minh si ám. 12. Trang nghiêm tam muội: Tính có muôn đức, các duyên trang nghiêm, dung diệu tự tại. 13. Tịnh quang minh tam muội: Tính thanh tịnh sáng soi, lìa các cấu uế. 14. Tịnh tạng tam muội: Một niệm tịnh tâm có năng lực hàm nhiếp tất cả công đức quyền thực. 15. Bất cộng tam muội: Không chung với Thiên, Tiểu nông cạn, yếu kém. 16. Nhật toàn tam muội: Nương nơi cái không của trí chân thực, nhưng chẳng trụ ở không. Cứ theo Pháp hoa văn cú kí quyển 10 hạ thì 16 tam muội này là tên khác của Pháp hoa tam muội. Nhưng từ ngữ Pháp hoa tam muội thông thường chỉ cho pháp tu hành đạo tụng kinh, sám hối diệt tội trong 21 ngày (7 ngày thứ 3) của tông Thiên thai, thực khác với Tam muội mà bồ tát Diệu âm thành tựu như đã nói ở trên.
thập lục thiên
(十六天) Cũng gọi Thập lục đại thiên. Chỉ cho 16 vị Đại thiên ngoại hộ nói trong Bát tự văn thù nghi quĩ. Đó là: Phương đông gồm 2 vị là trời Đế thích và vợ; phương nam 2 vị là trời Diệm ma và vợ; phương tây 2 vị là Thủy thiên và vợ; phương bắc 2 vị là trời Tì sa môn và vợ; phương đông nam 2 vị là Hỏa thiên và vợ; phương tây nam 2 vị là trời La sát và vợ, phương tây bắc 2 vị là Phong thiên và vợ; phương đông bắc 2 vị là Y xá na và vợ.
thập lục thiện thần
(十六善神) Cũng gọi Thập lục thần vương, Thập lục dạ xoa thần, Thập lục đại dược xoa tướng, Bát nhã thập lục thiện thần, Bát nhã thủ hộ thập lục thiện thần. Chỉ cho 16 vị thiện thần Dược xoa giữ gìn kinh Bát nhã và che chở người trì tụng kinh này, được ghi trong kinh Đà la ni tập quyển 3. Đó là: 1. Đề đầu lại tra thần vương. 2. Cấm vĩ rô thần vương. 3. Bạt chiết rô thần vương. 4. Ca tì rô thần vương. 5. Miết đấu rô thần vương. 6. Độn đồ tì thần vương. 7. A nễ rô thần vương. 8. Sa nễ rô thần vương. 9. Ấn đà rô thần vương. 10. Bà di rô thần vương. 11. Ma hưu rô thần vương. 12. Cưu tì rô thần vương. 13. Chân đà rô thần vương. 14. Bạt tra đồ rô thần vương. 15. Vĩ ca rô thần vương. 16. Câu tì rô thần vương. Ngài Kim cương trí đời Đường có vẽ bức tranh 16 vị này với hình tướng thần vương, lấy Phật Thích ca làm trung tâm, 2 bên tả hữu có ngài Văn thù, Phổ hiền, Pháp dũng và A nan, Huyền trang và Đại tướng Thâm sa... xếp thành hàng, 2 bên có 16 vị thiện thần, nhưng tên các thần ghi trong bức tranh này của ngài Kim cương trí có hơi khác với tên 16 vị nêu trên. Ngoài ra, có thuyết cho rằng 16 thiện thần tức là 12 thần tướng Dược sư cộng với 4 Thiên vương. Y cứ theo Biệt tôn tạp kí thì tượng 16 vị thiện thần được liệt kê như hình vẽ dưới đây:
Thập lục thánh hạnh
xem Mười sáu hạnh.
Thập lục thánh hạnh 十六聖行
[ja] ジュウロクショウギョウ jūroku shōgyō ||| See 十六行相. => Xem Thập lục hạnh tướng.
thập lục tiểu địa ngục
(十六小地獄) Cũng gọi Thập lục du tăng địa ngục. Chỉ cho 16 địa ngục nhỏ phụ thuộc 8 địa ngục lớn (Bát nhiệt địa ngục). Về tên gọi của 16 địa ngục nhỏ này, các kinh nói không giống nhau. Theo luận Đại trí độ quyển 16 thì Thập lục tiểu địa ngục là chỉ cho 8 địa ngục Hàn băng và 8 địa ngục Viêm hỏa. Tám địa ngục Hàn băng là: Át phù đà, Ni la phù đà, A la la, A bà bà,, Hầu hầu, Âu ba la, Ba đầu ma và Ma ha ba đầu ma. Tám địa ngục Viêm hỏa là: Thán khanh, Phí thỉ, Thiêu lâm, Kiếm lâm, Đao đạo, Kiếm lạt lâm, Hàm hà và Đồng quyết. Cứ theo Kinh luật dị tướng quyển 49 và Chư kinh yếu tập quyển 18 thì Bát hàn, Bát nhiệt địa ngục, mỗi ngục có 4 cửa, mỗi cửa đều có 4 ngục, cộng chung là 16 ngục, chúng sinh theo thứ tự lần lượt chịu khổ qua các địa ngục này và cứ mỗi lần bị chuyển từ địa ngục này đến địa ngục khác thì nỗi khổ lại càng tăng thêm, vì thế gọi là Thập lục du tăng địa ngục. Mười sáu ngục ấy là:1. Hắc sa địa ngục: Địa ngục cát đen. Nghĩa là địa ngục có gió nóng thổi cát đen nóng, cát dính vào mình, làm cho da xương cháy bỏng, người tội chịu khổ trong một thời gian lâu dài mới ra khỏi ngục này để bị chuyển đến địa ngục Phí thỉ. 2. Phí thỉ địa ngục: Địa ngục phân nóng. Nghĩa là địa ngục có những cục phân (cứt) sắt nóng tự nhiên đầy ắp ở trước mặt người tội, quỉ tốt rượt đuổi bức bách, bắt họ phải ôm lấy những cục phân ấy, khiến thân thể tay chân đều bị đốt cháy, rồi lại nhét những cục phân ấy vào miệng người tội, suốt từ cổ họng cho đến bụng đều bị cháy bỏng. Lại có những con trùng mỏ sắt ăn từ thịt cho đến xương tủy, đau đớn, khổ sở vô cùng. Người tội chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Thiết đinh. 3. Thiết đinh địa ngục: Địa ngục đinh sắt. Nghĩa là địa ngục trong đó ngục tốt đè người tội nằm trên giường sắt nóng, kéo dang tay chân, rồi đóng 500 cây đinh cùng khắp thân thể, đau đớn, khổ sở vô cùng. Người tội chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Cơ ngã. 4. Cơ ngã địa ngục: Địa ngục đói. Nghĩa là ngục tốt lấy những viên sắt nóng bỏ vào miệng người tội, từ môi và lưỡi suốt đến bụng người tội đều bị cháy bỏng, đau đớn khổ sở vô cùng. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi người tội mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Khát. 5. Khát địa ngục: Trong ngục này, ngục tốt lấy nước đồng sôi rót vào miệng người tội, suốt từ cổ họng cho đến bụng đều bị cháy bỏng, đau đớn vô cùng. Người tội chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi mới ra khỏi nơi này để lại bị chuyển đến địa ngục Nhất đồng hoạch. 6. Nhất đồng hoạch địa ngục: Địa ngục có một vạc nước đồng sôi. Nghĩa là trong địa ngục này, ngục tốt bắt các người tội ném vào cái vạc nước đồng đang sôi, người tội chìm nổi vòng quanh theo với nước sôi trào, thân thể rữa nát. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi người tội mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Đa đồng hoạch. 7. Đa đồng hoạch địa ngục: Địa ngục có nhiều vạc nước đồng sôi. Trong địa ngục này, ngục tốt bắt người tội ném vào vạc nước đồng sôi, toàn thân nhừ nát, lại dùng móc sắt móc lấy người tội đem bỏ vào vạc đồng sôi khác, chịu khổ như thế trongmột thời gian dài rồi người tội mới ra khỏi ngục để lại được chuyển đến địa ngục Thạch ma. 8. Thạch ma địa ngục: Địa ngục đá xay. Nghĩa là ở địa ngục này, ngục tốt bắt người tội đặt trên một tảng đá nóng, dang chân tay ra, rồi lấy một tảng đá nóng lớn đè lên thân người tội, xay đi xay lại, thịt xương tan nát, đau đớn vô cùng, chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi người tội mới ra khỏi ngục để lại bị chuyển đến địa ngục Nùng huyết. 9. Nùng huyết địa ngục: Địa ngục máu mủ. Nghĩa là trong địa ngục này, người tội phải chạy từ đông sang tây trong máu mủ sôi trào, toàn thân cháy phỏng, khiến đầu mặt nát nhừ, lại vốc lấy máu mà ăn, suốt từ cổ họng đến bụng đều bị cháy bỏng. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài, người tội mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Lượng hỏa. 10. Lượng hỏa địa ngục: Địa ngục đong lường đống lửa. Nghĩa là địa ngục này lửa bóc cháy bừng bừng, ngục tốt bức ép người tội tay cầm đấu bằng sắt đong lường đống lửa đang cháy hừng hực, lửa đốt khắp thân người tội. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài họ mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Khôi hà. 11. Khôi hà địa ngục: Địa ngục sông tro. Ngục này mỗi bề rộng 500 do tuần, trong đó có dòng sông tro sôi sục, mùi hôi hám bốc lên, các đợt sóng cuồn cuộn vỗ vào nhau, phát ra tiếng ào ào đáng sợ, từ đáy sông lên đến mặt sông, gai sắt ngổn ngang, trên bờ sông thì có rừng gươm, cành lá hoa quả của các cây rừng đều là đao kiếm. Người tội bị ném xuống sông, nổi chìm theo các đợt sóng giữa dòng nước cuốn, gai sắt đâm khắp mình, đau đớn muôn bề; người tội ra khỏi sông, bước lên bờ thì bị các cây gươm sắc đâm chém, thân thể nát bấy, lại có chó sói chạy đến cắn xé người tội. Tội nhân leo lên cây gươm thì dao gươm đâm xuống, khi tuột xuống thì đao kiếm đâm ngược lên. Người tội bám vào cây thì đứt tay, đạp xuống cây thì chân đứt, da thịt rơi ra tứ tung, gân mạch thì liền nhau; lại có chim mỏ sắt mổ vào đầu để moi lấy não ăn. Sau đó, người tội lại bị ném xuống sông tro, bị các gai sắt đâm, da thịt tan nát, máu me lênh láng, chỉ còn xương trắng nổi trôi theo dòng nước, trận gió lạnh buốt thổi đến, người tội liền đứng dậy, rồi do nghiệp đời trước dắt dẫn, chợt đến địa ngục Thiết hoàn. 12. Thiết hoàn địa ngục: Địa ngục viên sắt. Ở đây, ngục tốt bắt người tội nắm lấy các viên sắt nóng, tay chân nhừ nát, khắp mình lửa cháy. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi người tội mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Cân phủ.13. Cân phủ địa ngục: Địa ngục búa sắt. Ngục tốt bắt người tội nằm trên giường sắt nóng, rồi dùng búa sắt nóng chặt đứt chân tay, tai, mũi, thân thể của người tội, đau đớn vô cùng. Chịu khổ như thế trong một thời gian dài rồi người tội lại bị chuyển đến địa ngục Sài lang. 14. Sài lang địa ngục: Địa ngục chó sói. Nghĩa là trong địa ngục này có đàn chó sói đua nhau chạy đến cắn xé người tội, làm cho xương thịt vung vãi, máu me lênh láng, đau khổ muôn vàn. Sau một thời gian lâu, người tội được cho ra khỏi ngục này để chuyển đến địa ngục Kiếm thụ.15. Kiếm thụ địa ngục: Địa ngục cây gươm. Nghĩa là những tội nhân bị đưa vào rừng gươm, gió dữ bắt đầu thổi, lá cây gươm rơi rụng trên thân tội nhân, đầu mặt, thân thể bị đứt nát, lại có chim mỏ sắt mổ vào 2 mắt người tội đau đớn vô lượng. Chịu khổ như thế lâu rồi người tội mới ra khỏi ngục này để lại bị chuyển đến địa ngục Hàn băng. 16. Hàn băng địa ngục: Địa ngục giá buốt. Nghĩa là trong địa ngục này có những trận gió giá buốt thổi trên thân tội nhân khiến cho toàn thân lạnh cóng, da thịt nứt nẻ, khổ sở kêu gào, sau đó mệnh chung. Những chúng sinh tạo các nghiệp cực ác, sau khi chết, phải đọa vào 16 địa ngục trên đây để chịu quả báo. [X. kinh Trường a hàm Q.19; kinh Tăng nhất a hàm Q.36; kinh Chính pháp niệm xứ Q.5; phẩm Nê lê trong kinh Đại lâu thán Q.2]. (xt. Địa Ngục).
thập lục tri kiến
(十六知見) Cũng gọi Thập lục thần ngã. Chỉ cho 16 kiến chấp đối với pháp 5 ấm. Tức là: 1. Ngã: Trong 5 ấm, vọng chấp có thực ngã, ngã sở. 2. Chúng sinh: Trong pháp 5 ấm hòa hợp, vọng chấp có chúng sinh từ đó sinh ra. 3. Thọ giả: Trong 5 ấm, vọng chấp có thọ mệnh dài ngắn. 4. Mệnh giả: Trong 5 ấm, vọng chấp mệnh căn của ta liên tục không dứt mất. 5. Sinh giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có khả năng sinh khởi các việc, trong vị lai ta sẽ sinh vào cõi người. 6. Dưỡng dục: Trong 5 ấm, vọng chấp ta sinh ra được cha mẹ nuôi nấng và ta có thể nuôi dưỡng người khác. 7. Chúng số: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có con số các pháp như 5 ấm, 12 nhập, 18 giới... 8. Nhân: Trong 5 ấm, vọng chấp ta là người có khả năng tu hành, khác với người không có khả năng tu hành. 9. Tác giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có sức mạnh của thân thể, tay chân và có năng lực làm việc. 10. Sử tác giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có thể sai khiến người khác làm việc. 11. Khởi giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có năng lực khởi tạo các nghiệp tội phúc ở đời sau. 12. Sử khởi giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có thể sai khiến người khác khởi tạo các nghiệp tội phúc ở đời sau. 13. Thụ giả: Trong 5 ấm, vọng chấp thân sau của ta sẽ nhận chịu quả báo tội phúc. 14. Sử thụ giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có khả năng sai khiến người khác nhận chịu quả báo tội phúc đời sau. 15. Tri giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có 5 căn và nhận biết được 5 trần. 16. Kiến giả: Trong 5 ấm, vọng chấp ta có căn mắt, thấy được tất cả sắc tướng. Lại vọng chấp ta có thể khởi lên các tà kiến, chính kiến cũng gọi là Kiến giả. Mười sáu tri kiến trên đây đều là tên khác của Ngã. [X. phẩm Tập ứng trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.35; Đại thừa nghĩa chương Q.6].
Thập lục tâm
xem Mười sáu tâm.
thập lục tâm
The bát nhẫn eight kinds of patience and bát trí eight kinds of jnàna or gnosis acquired.
; The sixteen hearts or minds: 1) Khổ pháp nhẫn: Patience with Dharmas of Suffering. 2) Khổ pháp trí: Wisdom concerning Dharmas of Suffering. 3) Khổ loại nhẫn: Patience with Kinds of Suffering. 4) Khổ loại trí: Wisdom concerning Kinds of Suffering. 5) Tập Pháp nhẫn: Patience with Dharmas of Accumulation. 6) Tập Pháp trí: Wisdom concerning Dharmas of Accumulation. 7) Tập loại nhẫn: Patience with Kinds of Accumulation. 8) Tập loại trí: Wisdom concerning kinds of Accumulation. 9) Diệt Pháp nhẫn: Patience with Dharmas of Extinction. 10) Diệt Pháp trí: Wisdom concerning Dharmas of Extinction. 11) Diệt loại nhẫn: Patience with Kinds of Extinction. 12) Diệt loại trí: Wisdom concerning Kinds of Extinction. 13) Đạo Pháp nhẫn: Patience with Dharmas of the Way. 14) Đạo Pháp trí: Wisdom concerning Dharmas of the Way. 15) Đạo loại nhẫn: Patience with Kinds of the way. 16) Đạo loại trí: Wisdom concerning Kinds of the way. ** Mười lăm tâm đầu tiên dành cho những người đang trong tiến trình tới quả vị thứ nhất: “dự lưu.” Tâm thứ 16 dành cho người đã chứng quả “vị lưu.”—The first fifteen minds are for those who are in the process towards the first fruit of “enter the stream.” The sixteenth mind is for those who are certified to the first fruit of “stream-enter”.
; (十六心) Chỉ cho 16 thứ trí tuệ do dùng trí vô lậu hiện quán Tứ đế mà đạt được, gọi là Thập lục tâm, theo thuyết của tông Câu xá. Trí vô lậu là trí dứt trừ phiền não trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà chứng được chân lí của Phật giáo(trí Xuất thế gian). Hiện quán là phương pháp nhận thức thông qua thiền định, chứ không qua các khái niệm ngôn ngữ, văn tự, khiến cho chân lí Phật giáo trực tiếp hiện bày ở trước mặt. Trong Phật giáo Tiểu thừa, phương pháp nhận thức này đặc biệt lấy Tứ đế làm đối tượng nhận thức, gọi là Thánh đế hiện quán, cũng chính là theo thứ tự quán xét lí Tứ đế trong 3 cõi: Trước hết duyênKhổ đế ở cõi Dục để quán xét thì sinh khởi Pháp nhẫn trí vô lậu, sau đó lại sinh khởi Pháp trí; kế đến duyên Khổ đế ở cõi Sắc, cõi Vô sắc mà quán xét thì sinh khởi Loại nhẫn trí, Loại trí; theo đây, 3 đế còn lại là Tập, Diệt, Đạo mỗi đế cũng đều sinh khởi 4 trí, cộng chung thành 16 thứ trí tuệ, gọi là Thập lục tâm. Cứ theo phẩm Hiền thánh trong luận Câu xá quyển 23 thì Thập lục tâm là: 1. Khổ pháp trí nhẫn (Phạm:Du#khe dharma-jĩàna-kwànti): Hiện quán khổ đế cõi Dục, dứt trừ kiến hoặc của Khổ đế mê lầm. 2. Khổ pháp trí (Phạm: Du#khe dharma-jĩàna): Hiện quán Khổ đế của cõi Dục, ấn chứng lí Khổ đế. 3. Tập pháp trí nhẫn (Phạm: Samudaye dharma-jĩàna-kwànti): Hiện quán Tập đế của cõi Dục, đoạn trừ Kiến hoặc của Tập đế mê lầm. 4. Tập pháp trí (Phạm: Samudaye dharma-jĩàna): Hiện quán Tập đế của cõi Dục, ấn chứng lí Tập đế. 5. Diệt pháp trí nhẫn (Phạm:Nirodhe dharma-jĩàna-kwànti): Hiện quán Diệt đế của cõi Dục, đoạn trừ Kiến hoặc của Diệt đế mê lầm. 6. Diệt pháp trí (Phạm: Nirodhe dharma-jĩàna): Hiện quán Diệt đế của cõi Dục, ấn chứng lí Diệt đế. 7. Đạo pháp trí nhẫn (Phạm:Màrge dharma-jĩàna-kwànti): Hiện quán Đạo đế của cõi Dục, đoạn trừ Kiến hoặc của Đạo đế mê lầm. 8. Đạo pháp trí (Phạm: Màrge dharma-jĩàna): Hiện quán Đạo đế của cõi Dục, ấn chứng lí Đạo đế. 9. Khổ loại trí nhẫn (Phạm:Du#khe ’nvaya-jĩàna-kwànti): Hiện quán Khổ đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, đoạn trừ Kiến hoặc đối với Khổ đế. 10. Khổ loại trí (Phạm: Du#khe ’nvaya-jĩàna): Hiện quán Khổ đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, ấn chứng lí Khổ đế. 11. Tập loại trí nhẫn (Phạm: Samudaye ’nvaya-jĩàna-kwànti): Hiện quán Tập đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, đoạn trừ Kiến hoặc đối với Tập đế. 12. Tập loại trí (Phạm: Samudaye ’nvaya-jĩàna): Hiện quán Tập đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, ấn chứng líTập đế. 13. Diệt loại trí nhẫn(Phạm:Nirodhe ’nvaya-jĩàna-kwànti): Hiện quán Diệt đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, đoạn trừ Kiến hoặc đối với Diệt đế. 14. Diệt loại trí (Phạm: Nirodhe ’nvaya-jĩàna): Hiện quán Diệt đế của cõi Sắc, Vô sắc, ấn chứng lí Diệt đế. 15. Đạo loại trí nhẫn (Phạm:Màrge ’nvaya-jĩàna-kwànti): Hiện quán Đạo đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, đoạn trừ Kiến hoặc đối với Đạo đế. 16. Đạo loại trí(Phạm:Màrge ’nvaya- jĩàna): Hiện quán Đạo đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc, ấn chứng lí Đạo đế. Nói một cách khái quát, trí hiện quán Tứ đế của cõi Dục gọi là Pháp trí; trí hiện quán Tứ đế của 2 cõi Sắc, Vô sắc gọi là Loại trí. Loại nghĩa là giống, tức là giống với pháp của cõi Dục đã nói ở trước. Pháp trí và Loại trí mỗi trí lại có Nhẫn và Trí, hợp chung là Bát nhẫn bát trí. Nhẫn tức là dùng Nhẫn(chấp nhận) để đoạn trừ phiền não, như Pháp nhẫn, Loại nhẫn đều thuộc về Vô gián đạo; còn Tríthìtức là dùng Trí để ấn chứng chân lí, như Pháp trí, Loại trí đều thuộc về Giải thoát đạo. Vô gián đạo và Giải thoát đạo đều là 1 trong 4 đạo để tu hành Phật đạo, cầu được niết bàn giải thoát. Ở trên cho Nhẫn thuộc về Vô gián đạo, là vì ở giai đoạn này đã chấp nhận lí Tứ đế mà không mảy may bị thể của Hoặc (phiền não) làm chướng ngại, gián cách; cho Trí thuộc về Giải thoát đạo, là vì đã rõ biết lí Tứ đế, liền tự nhiên dứt trừ thể của Hoặc mà được giải thoát. Còn trong 16 tâm thì 15 tâm trước thuộc Dự lưu hướng của quả vị tu hành Kiến đạo, cũng gọi là Thập ngũ sát na. Một tâm sau cùng thì thuộc về quả Dự lưu của quả vị Tu đạo. [X. luận Đại tì bà sa Q.196; luận Câu xá Q.25; luận Tạpa tì đàm tâm Q.5; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Kiến Đạo).
Thập lục tâm 十六心
[ja] ジュウロクシン jūrokushin ||| The sixteen minds, comprised of the eight tolerances 八忍 and eight wisdoms 八智. => Mười sáu tâm, gồm Bát nhẫn và Bát trí.
thập lục tư cụ
(十六資具) Chỉ cho 16 thứ tư cụ của hành giả Mật tông, tức là 4 thứ áo mặc, 6 nơi cư trú và 6 pháp ăn uống. I. Bốn thứ áo: 1. Phẩn tảo y: Tức áo pháp được may bằng những mảnh vải mà người khác đã vứt bỏ sau khi giặt sạch. 2. Áo may bằng lông chim được giặt sạch. Nếu hành giả không có áo phẩn tảo thì được dùng loại áo này. 3. Nạp y: Áo được may bằng những miếng vải vụn. 4. Tam y: Tức 3 áo Tăng già lê, Uất đa la và An đà hội. II. Sáu nơi cư trú: 1. Nơi A lan nhã: Tức nơi vắng vẻ, cách xa làng xóm. 2. Trủng gian: Tức nơi gò mả. 3. Thụ hạ: Dưới các gốc cây. 4. Lộ địa: Nơi ngoài trời, tức khoảng đất trống. 5. Thường tọa: Thường ngồi kết già. 6. Tùy tọa: Tùy nơi, hễcócỏ thì ngồi. III. Sáu pháp ăn uống. 1. Khất thực: Tự đi xin ăn, không nhận người mời và thụ thực trong tăng. 2. Thứ đệ khất thực: Không lựa nghèo giàu, cứ theo thứ tự xin ăn. 3. Bất tác dư thực pháp: Chỉ ăn một bữa chính trước giờ ngọ, chứ không ăn lần thứ2 trở lên trước giờ ngọ. Ăn lần thứ 2 trở lên gọi là Dư thực. 4. Nhất tọa thực: Ngoài 1 bữa ăn chính trước ngọ ra, không được nhận tiểu thực. Tiểu thực là ăn các thứ bánh, trái cây, cháo... 5. Nhất sủy thực(cũng gọi Tiết lượng thực): Tức nhận một nắm thức ăn trong bát rồi thì thôi, chứ không nhận nhiều. 6. Bất trung hậu ẩm thủy: Tức sau lúc chính ngọ không được uống nước. [X. Đại nhật kinh bất tư nghị sớ Q.thượng].
thập lục vương tử
(十六王子) Chỉ cho 16 vị Vương tử, tiền thân của 16 đức Phật nói trong phẩm Hóa thành dụ, kinh Pháp hoa quyển 3. Kinh chép: Trong đời quá khứ cách nay vô lượng vô biên bất khả tư nghị a tăng kì kiếp có đức Phật hiệu là Đại thông trí thắng Như lai, lúc chưa xuất gia Ngài có 16 vị Vương tử như Trí tích... Sau khi Phật thành đạo, 16 Vương tử đều xuất gia làm sa di, theo Phật nghe giáo pháp Tam thừa, qua 2 vạn kiếp, được nghe kinh Pháp hoa, tất cả đều tin nhận. Sau, Phật trụ trong Thiền định suốt 8 vạn 4 nghìn kiếp, trong thời gian ấy, 16 vị sa di đều lên tòa giảng nói kinh Pháp hoa cho 4 bộ chúng nghe, cuối cùng, 16 vị đều chứng quả Vô thượng chính đẳng chính giác, hiện thân thuyết pháp trong các cõi nước ở 10 phương. Đó là Phật A súc, Phật Tu di đính ở phương Đông; Phật Sư tử âm, Phật Sư tử tướng ở phương Đông nam; Phật Hư không trụ, Phật Thường diệt ở phương Nam; Phật Đế tướng, Phật Phạm tướng ở phương Tây nam; Phật A di đà, Phật Độ nhất thiết thế gian khổ não ở phương Tây; Phật Đa ma la bạt chiên đàn hương thần thông, Phật Tu di tướng ở phương Tây bắc; Phật Vân tự tại, Phật Vân tự tại vương ở phương Bắc và Phật Hoại nhất thiết thế gian bố úy, Phật Thích ca mâu ni ở Đông bắc.[X. Pháp hoa văn cú Q.7 hạ; Pháp hoa nghĩa sớ Q.8].
Thập lục ác luật nghi
mười sáu việc xấu ác mà người học Phật phải tránh xa, bao gồm: 1. Vì lợi dưỡng mà nuôi dê con cho béo mập rồi đem bán, 2. Vì lợi dưỡng mà bán dê cho người ta giết hại, 3. Vì lợi dưỡng mà nuôi lợn con cho béo mập rồi đem bán, 4. Vì lợi dưỡng mà bán lợn cho người ta giết hại, 5. Vì lợi dưỡng mà nuôi trâu, bò con cho béo mập rồi đem bán, 6. Vì lợi dưỡng mà bán trâu, bò cho người ta giết hại. 7. Vì lợi dưỡng mà nuôi gà cho béo mập rồi đem bán, 8. Vì lợi dưỡng mà bán gà cho người ta giết hại. 9. Câu cá, 10. Đi săn, 11. Cướp đoạt, 12. Mò bắt các loài cua, ốc... 13. Giăng lưới bắt chim, 14. Nói lời hai lưỡi, nói lời ly gián, trêu chọc người khác, 15. Cai ngục, 16. Dùng chú thuật.
thập lục ác luật nghi
(十六惡律儀) Chỉ cho 16 thứ ác giới ghi trong kinh Niết bàn quyển 29 (bản Bắc), đó là: 1. Vì cầu lợi dưỡng mà nuôi dê cho béo để bán. 2. Vì cầu lợi dưỡng mà mua dê để giết. 3. Vì cầu lợi dưỡng mà nuôi lợn(heo) cho béo để bán. 4. Vì cầu lợi dưỡng mà mua lợn để giết. 5. Nuôi bò cho béo rồi bán để cầu lợi dưỡng. 6. Vì cầu lợi dưỡng mà nuôi bò để giết. 7. Vì cầu lợi dưỡng mà nuôi gà béo để bán.8. Vì cầu lợi dưỡng mà mua gà để giết. 9. Câu cá. 10. Săn bắn. 11. Trộm cướp. 12. Đồ tể. 13. Giăng lưới bắt chim. 14. Nói thêu dệt nhằm li gián người. 15. Ngục tốt. 16. Tà chú(dùng chú thuật cầu lợi dưỡng). Những người làm các nghề ác hại trên đây thuộc loại ác luật nghi. Người tu học Phật pháp cần phải lánh xa. Nếu phá bỏ được 16 ác luật nghi ấy của tất cả chúng sinh và vì chúng sinh mà dứt hẳn 16 ác nghiệp ấy thì gọi là Tu giới. [X. Niết bàn kinh sớ (bản Bắc) Q.26 (Quán đính)]. (xt. Thập Nhị Ác Luật).
Thập lục đại A-la-hán 十六大阿羅漢
[ja] ジュウロクダイアラカン jūroku dai arakan ||| The sixteen great arhats. See 十六羅漢. => Mười sáu vị đại A-la-hán. Xem Thập lục La-hán.
thập lục đại hộ
(十六大護) Chỉ cho 16 vị thần Dạ xoa giữ gìn Phật Pháp và che chở đất nước. Trong Chuyển pháp luân bồ tát tồi ma oán địch pháp liệt kê 10 vị Đại dược xoa, 3 vị Long vương và 3 vị Thiên hậu thành Thập lục đại hộ. Đó là: 1. Tì thủ yết ma. 2. Kiếp tỉ la. 3. Pháp hộ. 4. Kiên mục 5. Quảng mục. 6. Hộ quân. 7. Châu hiền. 8. Mãn hiền. 9. Trì minh. 10. A tra phược câu. 11. Phạ tô chỉ. 12. Tô ma na. 13. Bổ sa tì ma. 14. Ha lợi đế. 15. Ế la phạ tha. 16. Song mục. Từ 1 đến 10 là Thập đại dược xoa, hoặc gọi là Thập hộ, Thập đại hộ; từ 11 đến 13 là Tam đại long vương và từ 14 đến 16 là Tam đại thiên hậu. Trong Đại thánh diệu cát tường Bồ tát bí mật bát tự đà la ni tu hành mạn đồ la thứ đệ nghi quĩ pháp thì lấy 16 vị Đại thiên ngoại hộ(8 vị trời ở 8 phương và 8 người vợ) làm Thập lục đại hộ. [X. Đại tập kinh nguyệt tạng phần Q.9; Kim cương giới mạn đồ la sao Q.hạ].
thập lục đại lực
The sixteen great powers obtainable by a bodhisattva: chí lực of will; ý lực mind; hạnh lực action; tàm lực shame (to do evil); cường lực energy; trì lực firmness; tuệ lực wisdom; đức lực virtue; biện lực reasoning; sắc lực personal appearance; thân lực physical powers; tài lực wealth; tâm lực spirit; thần túc lực magic; hoằng pháp lực spreading the truth; hàng ma lực subduing demons.
; Mười sáu đại lực của Bồ tát—The sixteen great powers obtainable by a bodhisattva: 1) Chí lực: Will. 2) Ý lực: Mind. 3) Hạnh lực: Action. 4) Tàm lực: Sức thẹn thùa khi làm quấy—Shame when doing evil. 5) Cường lực: Energy. 6) Trì lực: Sự bền chí tu trì—Firmness. 7) Huệ lực: Wisdom. 8) Đức lực: Công đức—Virtue. 9) Biện lực: Sức hùng biện chánh pháp—Reasoning. 10) Sắc lực: Personal appearance. 11) Thân lực: Physical powers. 12) Tài lực: Wealth. 13) Tâm lực: Spiritual powers. 14) Thần túc lực: Magic. 15) Hoằng pháp lực: Power of spreading the Truth. 16) Hàng ma lực: power of subduing demons.
; (十六大力) Chỉ cho 16 năng lực lớn mà Bồ tát đạt được khi tu tập các hạnh thanh tịnh. 1. Chí lực: Tâm chí của Bồ tát khéo giữ gìn tất cả pháp do chư Phật nói để giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh. 2. Ý lực: Tâm ý của Bồ tát giống như tâm ý của Phật, đối với những chúng sinh chưa được độ, đều nguyện độ thoát hết. 3. Hạnh lực: Bồ tát nhờ hạnh tinh tiến thông đạt nghĩa sâu xa của tất cả các pháp. 4. Tàm lực: Bồ tát thường nhờ tâm hổ thẹn mà xa lìa tất cả tội nghiệp, sinh khởi các thiện pháp. 5. Cường lực: Đối với tất cả chướng nạn, Bồ tát đều kiên nhẫn chứ không làm điều gì sai trái. 6. Trì lực: Đối với các pháp thụ trì, Bồ tát đều có khả năng diễn đạt khai đạo, không hề quên sót. 7. Tuệ lực: Bồ tát có trí tuệ lớn, quán chiếu các pháp đều không, dù có trăm nghìn muôn ức quân ma cũng không nhiễu hại được. 8. Đức lực: Bồ tát tu hạnh vô dục, đầy đủ các công đức, xa lìa nhiễm trước. 9. Biện lực: Bồ tát có đại biện tài, trong trăm nghìn kiếp, tùy thời giải nói các pháp, không bị chướng ngại. 10. Sắc lực: Bồ tát có thân tướng đoan nghiêm, nếu Đế thích, Phạm thiên và Tứ thiên vương trông thấy Bồ tát thì ánh sáng của họ liền mờ nhạt. 11. Thân lực: Thân Bồ tát thanh tịnh cứng chắc giống như kim cương, lửa đốt không cháy, dao chặt không đứt, đối với ngoại đạo là bậc tối cao, đặc thắng. 12. Tài lực: Đối với các thứ của báu, tùy theo ý Bồ tát muốn là có liền. 13. Tâm lực: Bồ tát biết rõ ý muốn của các chúng sinh, có năng lực thuận theo tâm của mỗi chúng sinh mà giáo hóa. 14. Thần túc lực: Bồ tát giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, nếu cần dùng năng lực thần thông thì liền hiện thần biến để độ thoát họ.15. Hoằng pháp lực: Bồ tát đối với pháp của chư Phật, có năng lực giảng nói rộng cho chúng sinh nghe, khiến họ tin nhận làm theo để trừ diệt các khổ. 16. Hàng ma lực: Bồ tát tu tập Thiền định, thuận theo ý chỉ của Phật, có năng lực hàng phục các ma. [X. kinh Tam muội hoằng đạo quảng hiển định ý Q.2].
thập lục đại quốc
The sixteen ancient kingdoms of India whose kings are addressed in the Nhân Vương Kinh, i.e. Vaisàli Tì xá li, Kosala Câu tát la, Sràvasti Xá vệ, Magadha Ma kiệt đề, Bàrànasi Ba la nại, Kapilavastu Ca tì la vệ, Kusinagara Câu thi na, Kausàmbi, Pancàla, Pàtaliputra Hoa thị thành, Mathurà, Usa (Usira), Punyavardhana, Devàvatara, Kàsi Ca thi, and Campà Chiêm bà.
; (十六大國) Chỉ cho 16 nước lớn ở Ấn độ vào thời đức Phật tại thế. Cứ theo kinh Xà ni sa trong Trường a hàm quyển 5 thì 16 nước lớn ấy là: 1. Ương già (Phạm: Aíga): Nằm về phía đông nước Ma kiệt đà, thời Phật tại thế, nước này lệ thuộc Ma kiệt đà, thủ đô là thành Chiêm ba (Phạm: Campà). 2. Ma kiệt đà (Phạm:Magadha): Một nước mạnh ở vùng Trung ấn đương thời, thủ đô là thành Vương xá (Phạm: Ràjagfha). 3. Ca thi (Phạm:Kàzi): Nằm về phía tây Ma kiệt đà, phía đông nam Câu tát la, hiện nay là Bối na lạp tư, có thế lực lớn. 4. Câu tát la (Phạm: Kozala hoặc Kosala): Nằm về phía bắc Trung ấn, cùng với Ma kiệt đà là 2 cường quốc đương thời, chủng tộc Thích ca lệ thuộc nước này. 5. Bạt kì(Phạm:Vfji): Nằm về phía bắc Ma kiệt đà, bên kia sông Hằng, liên minh với các chủng tộc Li xa, Tì đề ha đểthành lập nước Cộng hòa. 6. Mạt la (Phạm:Malla): Nằm về phía bắc nước Bạt kì, thủ đô là thành Câu thi na yết la. 7. Chi đề(Phạm:Ceđi): Nằm về phía tây nước Ca thi, thủ đô là thành Kiêu thưởng di. 8. Bạt sa (Phạm:Vatsa): Nằm về phía tây Ca thi, phía nam Chi đề, có khi được xem cùng là Chi đề. 9. Cư lâu(Phạm:Kuru): Nằm ở bờ tây thượng lưu sông Hằng, chính là vùng Đức lí hiện nay. 10. Ban xà la (Phạm: Paĩcala): Nằm về phía đông nước Cư lâu, bên kia sông Hằng, chia làm 2 phần Nam Bắc. 11. Bà tha (Phạm: Matsya): Nằm về phía nam nưóc Cư lâu, bờ tây sông Diêm mâu na (Phạm: Yamunà). 12. Tô la sa (Phạm: Zùrasena): Cũng nằm ở bờ tây sông Diêm mâu na, phía bắc giáp Bà tha, đô thành là Mạt thố la. 13. A thấp ba (Phạm: Azvaka): Nằm về phía nam nước Tô la sa, thủ đô là thành Bổ đa lặc ca. 14. A bát đề(Phạm:Avanti): Nằm về phía nam nước A thấp ba, đô ấp là Ô xà diễn na. 15. Càn đà la (Phạm: Gandhàra): Chiếm trọn vùng tây bắc Punjab thuộc địa phương Ngũ hà, thủ đô là thành Đát xoa thủy la. 16. Kiếm bình sa (Phạm: Kamboja): Nằm ở bờ tây sông Ấn độ (Indus), phía tây nam Càn đà la, thủ phủ là thành Đọa la bát để.
thập lục đặc thắng
(十六特勝) Cũng gọi Thập lục thắng hạnh. Chỉ cho 16 pháp quán rất thù thắng thuộc Sổ tức quán. Sổ tức quán là phương pháp theo dõi và đếm hơi thở ra vào để tập trung tư tưởng khiến tâm không tán loạn. Về nội dung, thứ tự và giải thích thì các kinh luận nói có khác nhau. Luận Thành thực quyển 14 nêu 16 pháp và giải thích như sau: 1. Niệm tức đoản: Nếu tâm thô tạp tán loạn thì hơi thở ngắn, lúc này cần tập trung niệm thì ý thức sẽ phân biệt rõ ràng hơi thở. 2. Niệm tức trường: Như phần Niệm tức đoản vừa nói, nếu tâm quán vi tế thì hơi thở cũng dài. 3. Niệm tức biến thân:Biết nhục thân là không, quán tưởng hơi thở lan tỏa toàn thân.4. Trừ thân hành: Ngưng mọi hành vi của thân thể để tâm được yên tĩnh, dứt bỏ hơi thở thô tạp. 5. Giác hỉ: Tâm được hoan hỉ. 6. Giác lạc: Thân được an lạc. 7. Giác tâm hành: Cảnh giác mối họa từ tâm hỉ có thể sinh tâm tham. 8. Trừ tâm hành: Diệt tâm tham, trừ những cảm giác thô tạp. 9. Giác tâm: Biết rõ tâm không hôn rầm, không xao động. 10. Linh tâm hỉ: Tâm hôn trầm thì làm cho phấn chấn và sinh hoan hỉ. 11. Linh tâm nhiếp: Tâm xao động thì thu nhiếp về trạng thái tĩnh lặng. 12. Linh tâm giải thoát: Lìa bỏ tâm xao động và hôn trầm để được giải thoát. 13. Vô thường hành: Biết tâm vắng lặng, tất cả là vô thường. 14. Đoạn hành: Biết vô thường để dứt trừ phiền não. 15. Li hành: Đoạn phiền não, sinh tâm chán lìa. 16. Diệt hành: Chán lìa để được tất cả diệt.Pháp giới thứ đệ quyển thượng thì liệt kê Thập lục đặc thắng là: Biết hít vào, biết thở ra, biết hơi thở dài ngắn, biết hơi thở lan khắp thân, ngưng mọi hành vi của thân, cảm nhận mừng, cảm nhận vui, cảm nhận các tâm hành, tâm hoan hỉ, tâm thu nhiếp, tâm giải thoát, quán vô thường, quán tan ra, quán lìa dục, quán diệt và quán xả bỏ. [X. luận Đại tì bà sa Q.26; luận Du già sư địa Q.27].
Thập lục đế
xem Mười sáu hạnh.
thập lục đế
Sodaśa-padarthah (S) 16 nhận thức và phương pháp luận chứng suy lý do học phái Chánh lý ở Ấn lập ra.
; (十六諦) Cũng gọi Thập lục cú nghĩa (Phạm: Wođaza padàrthà#). Chỉ cho 16 phương pháp nhận thức và luận chứng suy lí do học phái Chính lí ở Ấn độ lập ra. Đó là: 1. Lượng (Phạm: Pramàịa): Phương pháp để đạt được chân trí, có 4 thứ là hiện lượng, tỉ lượng, thanh lượng và thí dụ lượng. 2. Sở lượng (Phạm: Prameya): Chỉ T cho đối tượng được nhận biết, gồm có 12 thứ: Ngã, thân, căn, cảnh, giác, ý, tác nghiệp, phiền não, bỉ hữu, quả, khổ và giải thoát. 3. Nghi (Phạm:Saôzaya): Đối với đặc tính của sự vật được thấy không có sự nhận biết rõ ràng, chính xác, đây là nhân cơ bản của luận chứng suy lí. 4. Dụng (Phạm: Prayojana): Chỉ cho tác dụng giải nghi. 5. Dụ(Phạm: Dfwỉànta): Chỉ cho căn cứ tiêu chuẩn của luận chứng suy lí mà người thường cũng như các học giả đều thừa nhận. 6. Tất đàm (Phạm:Siddhànta): Tức tông nghĩa, chủ trương của người lập luận. 7. Chi phần (Phạm: Svayava): Hình thức luận chứng, tức chỉ cho tác pháp 5 chi.8. Tư trạch (Phạm:Tarka): Để biết rõ chân tướng của sự vật, cần phải căn cứ vào nguyên nhân của nó mà suy tư sâu hơn. 9. Quyết (Phạm:Nirịaya): Chỉ cho sự quyết định về nghĩa lí. 10. Luận nghĩa (Phạm:Vàda). 11. Phân nghĩa(Phạm:Jalpa): Vì giữ vững luận thuyết của mình nên sử dụng các phương pháp không chính đáng như nạn nạn... 12. Hoại nghĩa (Phạm:Vitaịđà): Tự mình không lập luận, mà lại dùng các phương pháp bất chính để gây khó cho lập luận của người khác. 13. Tự nhân (Phạm: Hetv-àbhàsa): Chỉ cho Nhân dường như đúng nhưng thật ra là sai, gồm 5 thứ là bất định, tương vi, vấn đề tương tự, sở lập tương tự và quá thời.14. Nạn nạn (Phạm:Chala): Cố ý hiểu sai lời nói của đối phương để làm khó. 15. Tránh luận (Phạm: Jati): Đối phương đảo lộn đồng pháp, dị pháp để chỉ trích luận chứng chính xác của người lập luận, đây tương đương với 14 lỗi của Cổ nhân minh. 16. Đọa phụ(Phạm:Nigrahasthàna): Vì hiểu lầm mà người lập luận bị thất bại. [X. Bách luận sớ Q.thượng; Ấn độ lục phái triết học; Ấn độ triết học sử; Trung quán Phật giáo luận khảo (Sơn khẩu ích)].
Thập lục đế 十六諦
[ja] ジュウロクタイ jūrokutai ||| See 十六行相. => Xem Thập lục hành tướng.
Thập Lực
(s: daśa-bala, p: dasa-bala, 十力): hay Như Lai Thập Lực (如來十力), gồm:(1) Xứ Phi Xứ Trí Lực (處非處智力, trí lực phân biệt rõ ràng đạo lý hay phi đạo lý, phải trái thiện ác), (2) Nghiệp Dị Thục Trí Lực (業異熟智力, trí lực biết được nghiệp thiện ác và quả báo của nghiệp ấy), (3) Tĩnh Lự Giải Thoát Đẳng Trì Đẳng Chí Trí Lực (静慮解脫等持等至智力, trí lực biết trọn vẹn Thiền Định của Tứ Tĩnh Lự hay Tứ Thiền, Tám Giải Thoát, các Tam Muội, Tám Đẳng Chí, v.v.), (4) Căn Thượng Hạ Trí Lực (根上下智力, trí lực biết được căn cơ của chúng sanh trên dưới lợi hay độn), (5) Chủng Chủng Thắng Giải Trí Lực (種種勝解智力, trí lực biết được ý hướng, dục vọng, v.v., của chúng sanh), (6) Chủng Chủng Giới Trí Lực (種種界智力, trí lực biết được các tánh loại, giới địa của lớp lớp chúng sanh), (7) Biến Thú Hành Trí Lực (遍趣行智力, trí lực biết được sự biến thiên của các con đường hạnh nghiệp), (8) Túc Trú Tùy Niệm Trí Lực (宿住隨念智力, trí lực nhớ rõ cuộc sống xa xưa trong kiếp quá khứ), (9) Tử Sanh Trí Lực (死生智力, trí lực sanh tử trong tương lai và con đường ác con đường thiện), và (10) Lậu Tận Trí Lực (漏盡智力, trí lực biết rõ phương pháp để đoạn tận phiền não và trở thành bậc lậu tận).
Thập lực
xem Mười sức.
; 十力; S: daśabala; P: dasabala;|Mười lực
thập lực
Daśabāla (S), Dasabāla (P), Ten powers, Ten fearless powers Mười điều không sợ hãi: 1. Trí lực biết sự hợp lý, bất hợp lý. 2. Trí lực biết nghiệp báo của tam thế. 3. Trí lực biết thiền định, giải thoát. 4. Trí lực biết các căn hay, dở. 5. Trí lực biết về kiến giải. 6. Trí lực biết về cảnh giới. 7. Trí lực biết nhân quả hành đạo. 8. Trí lực thiên nhãn thông. 9. Trí lực túc mạng thông. 10. Trí lực biết tất cả sự vật đúng như thật tế.
; Dasabala (S).The ten powers of a Buddha, giving complete knowledge of (1) tri thị xứ phi xứ trí lực what is right and wrong in every condition; (2) tri tam thế nghiệp báo trí lực what is the karma of every being, past, present and future; (3) tri chư thiền giải thoát tam muội trí lực all stages of dhyàna liberation, and samàdhi; (4) tri chúng sinh tâm tính trí lực the powers and faculties of all beings; (5) tri chủng chủng giải trí lực the desires, or moral directions of all beings; (6) tri chủng chủng giới trí lực the actual condition of every individual; (7) tri nhất thiết sở đạo trí lực the direction and consequence of all laws; (8) tri thiên nhãn vô ngại trí lực all causes of mortality and of good and evil in their reality; (9) tri túc mệnh vô lậu trí lực the end of all beings and nirvàna; (10) tri vĩnh đoạn tập khí trí lực the destruction of all illusion of every kind.
; 1. Trí lực biết sự hợp lý, bất hợp lý. 2. Trí lực biết nghiệp báo của tam thế. 3. Trí lực biết thiền định, giải thoát. 4. Trí lực biết các căn hay, dở. 5. Trí lực biết về kiến giải. 6. Trí lực biết về cảnh giới. 7. Trí lực biết về nhân quả hành đạo. 8. Trí lực thiên nhãn thông. 9. Trí lực túc mạng thông. 10. Trí lực biết tất cả sự vật đúng như thật tế.
; (十力) Phạm:Daza balàni. Mười thứ trí lực. I. Thập Lực. Chỉ cho 10 trí lực của Như lai, đó là: 1. Xứ phi xứ trí lực(cũng gọi Tri thị xứ phi xứ trí lực, Thị xứ bất thị lực, Thị xứ phi xứ lực): Xứ nghĩa là đạo lí. Tức là Như lai biết rõ đúng như thực đối với tất cả nhân duyên quả báo, nếu tạo nghiệp thiện thì biết nhất định được quả báo vui, gọi là Tri thị xứ; nếu tạo nghiệp ác mà được quả báo vui thì không có đạo lí(xứ) như thế, gọi là Tri phi xứ.2. Nghiệp dị thục trí lực(cũng gọi Tri nghiệp báo trí lực, Tri tam thế nghiệp trí lực, Nghiệp báo tập trí, Nghiệp lực): Như lai biết rõ nghiệp duyên, quả báo và nơi sinh trong 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai của tất cả chúng sinh đúng như thực. 3. Tĩnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí trí lực(cũng gọi Tĩnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí phát khởi tạp nhiễm thanh tịnh trí lực, Tri chư thiền giải thoát tam muội trí, Thiền định giải thoát tam muội tịnh cấu phân biệt trí lực, Định lực): Như lai được tự tại vô ngại đối với các thiền định và biết rõ đúng như thực thứ tự cạn, sâu của các thiền định ấy. 4. Căn thượng hạ trí lực(cũng gọi Tri chư căn thắng liệt trí lực, Tri chúng sinh thượng hạ căn trí lực, Căn lực): Như lai biết rõ căn tính hơn, kém, chứng quả lớn, nhỏ của các chúng sinh đúng như thực. 5. Chủng chủng thắng giải trí lực(cũng gọi Tri chủng chủng giải trí lực, Tri chúng sinh chủng chủng dục trí lực, Dục lực): Như lai biết rõ đúng như thực các dục lạc, thiện ác khác nhau của tất cả chúng sinh. 6. Chủng chủng giới trí lực(cũng gọi Thị tính lực, Tri tính trí lực, Tính lực): Như lai biết khắp và đúng như thực về các giới phần khác nhau của chúng sinh ở thế gian. 7. Biến thú hạnh trí lực(cũng gọi Tri nhất thiết chí xứ đạo trí lực, Chí xứ đạo lực): Như lai biết rõ đúng như thực nơi đến của hạnh hữu lậu trong 6 đường và nơi đến của hạnh vô lậu là Niết bàn. 8. Túc trụ tùy niệm trí lực(cũng gọi Tri túc mệnh vô lậu trí lực, Túc mệnh trí lực, Túc mệnh lực): Như lai biết khắp và đúng như thực về túc mệnh (đời trước), từ một đời cho đến trăm nghìn muôn đời, từ một kiếp cho đến trăm nghìn muôn kiếp, chết đây sinh kia, chết kia sinh đây, tên họ uống ăn, khổ vui thọ yểu. 9. Tử sinh trí lực(cũng gọi Tri thiên nhãn vô ngại trí lực, Túc trụ sinh tử trí lực,Thiên nhãn lực): Như lai dùng thiên nhãn thấy biết rõ ràng như thực thời gian sống chết của chúng sinh và các cõi thiện ác mà chúng sinh sẽ sinh tới trong vị lai, cho đến các nghiệp duyên tốt xấu như đẹp xấu giàu nghèo... 10. Lậu tận trí lực(cũng gọi Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực, Kết tận lực, Lậu tận lực): Đối với tập khí tàn dư của tất cả phiền não, Như lai biết rõ đúng như thực đã vĩnh viễn đoạn trừ không còn sinh khởi nữa.[X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Hoa nghiêm Q.17 (bản dịch mới); phẩm Kiến lập trong kinh Bồ tát địa trì Q.10; luận Câu xá Q.27; luận Đại tì bàsa Q.30]. II. Thập Lực. Mười lực của Bồ tát, tức chỉ cho 10 tác dụng của Bồ tát ở giai vị Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng thứ 9 trong Thập hồi hướng, đó là: Thâm tâm lực(trực tâm lực) tăng thượng thâm tâm lực (thâm tâm lực), phương tiện lực, trí lực(trí tuệ lực), nguyện lực, hạnh lực, thừa lực, thần biến lực(du hí thần thông lực), bồ đề lực và chuyển pháp luân lực. III. Thập Lực. Mười lực thế gian nêu trong kinh Tạp a hàm quyển 26, đó là: Tự tại vương giả lực, đoán sự đại thần lực, cơ quan công xảo lực, Đao kiếm tặc đạo lực, oán hận nữ nhân lực, đề khấp anh nhi lực, hủy tì ngu nhân lực, thẩm đế hiệt tuệ lực, nhẫn nhục xuất gia lực và kế số đa văn lực. [X. kinh Hoa nghiêm Q.56 (bản dịch mới); Đại thừa nghĩa chương Q.14].
thập lực bồ tát
Dasa-bodhisattva-balni (skt)—Mười năng lực của vị Bồ Tát theo Kinh Hoa Nghiêm—The ten powers of the Bodhisattva according to the Avatamsaka Sutra: 1) Thâm Tâm Lực: Asayabala (skt)—Có tâm dứt khoát tránh xa thế tục—Having a mind strongly turned away from worldliness. 2) Tăng Sinh Thâm Tâm Lực: Adhyasaya-bala (skt)—Có một niềm tin vào Phật giáo càng lúc càng mạnh—Having a belief growing ever stronger in Buddhism. 3) Phương Tiện Lực: Prayoga-bala (skt)—Năng lực tự tu trong tất cả mọi tu tập Bồ Tát đạo—The power of disciplining himself in all the exercises of Bodhisattvahood. 4) Trí Lực: Prajna-bala (skt)—Năng lực trực giác để hiểu tâm thức của mọi chúng sanh—The intuitive power to understand the mentalities of all beings. 5) Nguyện Lực: Pranidhana-bala (skt)—Năng lực làm cho mọi lời nguyện được thành tựu—The power of making every prayer fulfilled. 6) Hành Lực: Carya-bala (skt)—Năng lực vận hành cho đến khi tận cùng thời gian—The power of working till the end of time. 7) Thừa Lực: Yana-bala (skt)—Năng lực tạo ra mọi thừa mà không bao giờ bỏ Đại Thừa—The power of creating all kinds of conveyance or yana without ever giving up the Mahayana. 8) Thần Biến Lực: Vikurvana-bala (skt)—Năng lực tạo thành một thế giới thuần khiết thanh tịnh trong mỗi lổ lông của da—The power of making a world of immaculate purity in every pore of the skin. 9) Bồ Đề Lực: Bodhi-bala (skt)—Năng lực thức tỉnh cho mọi chúng sanh giác ngộ—The power of awakening every being in enlightenment. 10) Chuyển Pháp Luân Lực: Dharmacakrapravartana-bala (skt)—Năng lực của sự tuyên thuyết; một phần câu mà kêu gọi đồng bộ những cái tâm của mọi chúng sanh—The power of uttering one phrase which appeals uniformly to the hearts of all beings.
thập lực ca diếp
Vappa (S), Vāṣpa (S), Daśabāla-Kasyapa (S) Bà sa bà Một vị trong năm tỳ kheo đệ tử đầu tiên của đức Phật và đắc A la hán trước nhất. Ông là một trong năm người Bà la môn cùng tu khổ hạnh với đức Phật như: Kiều trần Như (Kodanna), Bạc đề (Bhaddiya), Thập Lực Ca Diếp (Vappa), Ma ha Nam (Mahanama) và ác Bệ (Assaji). Ông cũng là một trong những đệ tử đầu tiên và đắc quả A la hán đầu tiên của đức Phật.
; Dasabala-Kàsyapa (S). One of the five first disciples of Buddha.
; (十力迦葉) Phạm: Dazabala-kàzyapa. Pàli: Dasabala-kassapa. Cũng gọi Thập lực ca nhiếp, Bà phu ca diếp.Vị A la hán đệ tử đức Phật, là 1 trong 5 vị tỉ khưu được Phật hóa độ đầu tiên. [X. kinh Tạp a hàm Q.50; phẩm Chuyển pháp luân trong kinh Trung bản khởi Q.thượng; phẩm Chuyển pháp luân trong Phật sở hành tán Q.3].
Thập lực Ca-diếp 十力迦葉
[ja] ジュウリキカショウ Jūriki kashō ||| Daśabala-Kāśyapa, one of the five bhikṣus 五比丘 who first practiced asceticism with Śākyamuni, and later heard his first sermon and became his disciples. => s: Daśabala-Kāśyapa Một trong 5 vị Tỉ Khưu đầu tiên tu khổ hạnh cùng với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi nghe Đức Phật giảng bài pháp đầu tiên, liền trở thành đệ tử của Đức Phật .
Thập lực Huệ nhật
(mặt trời trí huệ có đủ Mười sức): một danh xưng khác để chỉ đức Phật, vì ngài là bậc duy nhất có đủ trí huệ viên mãn và Thập lực (Mười sức). Xem Mười sức.
thập lực như lai
Dasa-tathagata-balani (skt)—Mười đại lực của Phật—Như Lai Cụ Túc Thập Lực—The ten great powers of a Buddha: 1) Tri thị xứ phi xứ trí lực: Khả năng biết sự lý là đúng hay chẳng đúng—Complete knowledge of what is right or wrong in every condition—The power of knowing from awakening to what is and what is not the case—Knowing right and wrong—The power to distinguish right from wrong. 2) Tri tam thế nghiệp báo Trí lực: Tri Thượng Hạ Trí Lực—Complete knowledge of what is the karma of every being past, present and future—The power of knowing karmic retributions throughout the three periods of time—Knowing what karmic effects follow from which causes. 3) Tri chư Thiên giải thoát Tam muội: Complete knowledge of all stages of dhyana liberation and samadhi—The power of knowing all dhyanas, liberations and samadhis—Knowing the various balanced states (four dhyanas, eight states of liberation, three samadhi, etc). 4) Tri chúng sanh tâm tánh Trí lực: Complete knowledge of the powers and faculties of all beings—The power of knowing all faculties whether superior or inferior—Knowing the superior or inferior makings og others. 5) Tri chủng chủng giải trí lực: Biết được sự hiểu biết của chúng sanh—Complete knowledge of the desires or moral direction of every being—The power of knowing the various realms—Knowing the desires of others. 6) Tri chủng chủng giới trí lực: Biết hết các cảnh giới—Complete knowledge of actual condition of every individual—The power of knowing the various understanding—Knowing the states of others. 7) Tri nhứt thiết sở đạo trí lực: Biết hết phần hành hữu lậu của lục đạo—Complete knowledge of the direction and consequence of all laws—The power of knowing where all paths lead—Knowing the destinations of others, either nirvana or hell. 8) Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: Thấy biết tất cả sự việc của chúng sanh—Complete knowledge of all causes of mortality and of good and evil in their reality—The power of knowing through the heavenly eye without obstruction—Knowing the past. 9) Tri túc mạng vô lậu trí lực: Biết các đời trước rất xa của chúng sanh—Complete knowledge of remote lives of all beings, the end of all beings and nirvana—The power of knowing previous lives without outflows—Buddha-power to know life and death, or all previous transmigrations. 10) Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: Biết đoạn hẳn các tập khí—Complete knowledge of the destruction of all illusion of every kind—The power of knowing from having cut off all habits forever—Knowing how to end excesses.
Thập lực Thế hùng
Đức Thế hùng có đủ mười trí lực, là tôn hiệu của Phật. Phật có đủ 10 trí lực. Xem Mười sức.
Thập lực 十力
[ja] ジュウリキ jūriki ||| (daśa-balāni). The 'ten powers.' I. Ten kinds of powers of awareness specially possessed by the Buddha, which are perfect knowledge of the following. (1) distinguishing right and wrong; (2) knowing the karmas of all sentient beings of the past, present and future; (3) knowledge of all forms of meditation; (4) knowledge of the relative capacities of sentient beings; (5) knowledge of what sentient beings desire and think; (6) knowledge of the different levels of their existence; (7) knowledge of the results of various methods of practice; (8) knowledge of the transmigratory states of all sentient beings and the courses of karma they will follow; (9) knowledge of the past lives of all sentient beings and the nirvanic state of non-defilement; (10) knowledge of the methods of destroying all evil passions. II. One who possesses the ten powers. III. The ten powers possessed by bodhisattvas. There is another set of ten bodhisattva powers listed in the Shoulengyan sanmei jing 首楞嚴三昧經 (T vol. 15, pp. 643a-b). => (s: daśa-balāni) Có các nghĩa sau: I. Mười năng lực trí tuệ viên mãn, đặc biệt chư Phật mới có: 1. Tri giác xứ phi xứ trí lực: Trí tuệ biết phân biệt rõ pháp nào có đạo lý, pháp nào không có đạo lý. 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực: Biết rõ nhân quả nghiệp báo của chúng sinh trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai. 3. Tri chư Thiền giải thoát tam muội trí lực: Biết rõ các loại Thiền định, tám thứ giải thoát, và ba thứ Tam muội. 4. Tri chúng sinh tâm tính trí lực: Biết tâm tính của tất cả chúng sinh. 5. Tri chủng chủng giải trí lực: Biết rõ mọi loại tri giải của tất cả chúng sinh. 6. Tri chủng chủng giới trí lực: Biết rõ mọi cảnh giới khác nhau . 7. Tư nhất thiết chí sở đạo trí lực: Biết rõ mọi các pháp môn tu tập khác nhau. 8. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: Trí lực vận dụng thiên nhãn thấy rõ mọi sinh tử và nghiệp báo lưu chuyển của chúng sinh. 9. Tri túc mạng vô lậu trí lực: Biết rõ túc mạng của chúng sinh và vô lậu niết bàn . 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: Biết rõ như thực đối với mọi tập khí vọng tưởng vĩnh viễn đoạn diệt. II. Người đã đạt được mười lực. III. Mười lực của hàng Bồ-tát. Chi tiết được ghi rõ trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm tam muội 首楞嚴三昧經 c:Shoulengyan sanmei jing .
thập ma
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ ma của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát nên mau dùng phương tiện xa rời mười thứ ma nầy—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of demons of great enlightening beings. Enlightening beings should apply appropriate means to quickly escape these demons. ** See Ten ways of getting rid of demons' actions—See Mười điều rời bỏ ma nghiệp của chư Bồ Tát. 1) Ngũ uẩn ma, vì sanh các chấp thủ: The demon of the clusters of mental and material elements, giving rise to attachments. 2) Phiền não ma, vì hằng tạp nhiễm: The demon of afflictions, perpetually confusing and defiling. 3) Nghiệp ma, vì hay chướng ngại: The demon of actions, able to obstruct and inhibit. 4) Tâm ma, vì khởi ngã mạn cống cao: The demon of mind, which gives rise to pride. 5) Tử ma, vì bỏ chỗ sanh: The demon of death, which abandons life. 6) Thiên ma, vì tự kiêu căng phóng túng: The demon of heaven, being self-indulgent. 7) Thiện căn ma, vì hằng chấp thủ: The demon of roots of goodness, because of perpetual clinging. 8) Ma tam muội, vì từ lâu say đắm: The demon of concentration, because of long indulgence in the experience. 9) Thiện tri thức ma, vì khởi tâm chấp trước: The demon of spiritual teachers, because of giving rise to feelings of attachment. 10) Bồ Đề pháp trí ma, vì chẳng chịu xả lìa: The demon of phenomenon of enlightenment, because of not wanting to relinquish it.
; (十魔) I. Thập Ma. Chỉ cho 10 thứ chướng ngại của việc tu hành Phật đạo nói trong luận Đại trí độ quyển 5, đó là: Ham muốn, lo sầu, đói khát, yêu thương, thích ngủ, sợ hãi, nghi kị, tâm độc hại, lợi dưỡng và kiêu căng. II. Thập Ma. Chỉ cho 10 thứ ma nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 42, đó là: Ma ngũ ấm, ma phiền não, ma nghiệp, ma tâm, ma chết, ma trời, ma mất thiện căn, ma tam muội (chấp chặt vào thiền định đã chứng được, là ma), ma thiện tri thức(bỏn xẻn pháp, không chịu nói cho người khác nghe, là ma) và ma không biết chính pháp bồ đề.
thập ma nghiệp
Ten kinds of demons' actions—See Mười Thứ Ma Nghiệp Của Chư Đại Bồ Tát.
thập minh
Ten kinds of insight—See Mười Thứ Minh Của Chư Đại Bồ Tát.
; (十明) I. Thập Minh. Cũng gọi Thập chủng thần thông, Thập chủng thông, Thập thông. Chỉ cho 10 trí minh của hàng Bồ tát Thập địa nói trong phẩm Thập minh, kinh Hoa nghiêm quyển 28, (bản dịch cũ) và phẩm Thập thông, kinh Hoa nghiêm quyển 44 (bản dịch mới). Đó là: 1. Thiện tri tha tâm trí minh (Tha tâm trí minh): Tức trí biết rõ đúng như thật tâm niệm của tất cả chúng sinh. 2. Vô ngại thiên nhãn trí minh (Thiên nhãn trí minh): Trí thấy rõ sự chết đây sinh kia trong các ngả thiện ác của các loài chúng sinh, cho đến những việc khổ vui mà chúng lãnh nhận và ý nguyện, hành nghiệp của họ.3. Thâm nhập quá khứ tế kiếp vô ngại túc mệnh trí minh (Túc mệnh trí minh): Trí ghi nhớrõtất cả bản sự(sự tích) của mình và người ở tất cả thế giới trong đời quá khứ cũng như nhân quả của chư Phật ở đời quá khứ. 4. Thâm nhập vị lai tế kiếp vô ngại trí minh(Vị lai tế trí minh): Trí biết rõ các tướng nghiệp báo của vô lượng chúng sinh trong tất cả thế giới ở đời vị lai và nhân quả của chư Phật đời vị lai. 5. Vô ngại thanh tịnh thiên nhĩ trí minh(Thiên nhĩ trí minh): Trí nghe rõ được tất cả âm thanh xa gần ở các thế giới trong 10 phương, có năng lực nghe và thụ trì những pháp do đức Như lai giảng nói không để quên mất, đồng thời nói rộngdiệu pháp để hóa độ chúng sinh. 6. An trụ vô úy thần lực trí minh (Thần lực trí minh): Bồ tát chứng được 12 thứ thần lực từ vô tác cho đến tùy nguyện hành, có khả năng đi đến chỗ chư Phật hiện tại ở các thế giới trong 10 phương một cách tự tại vô ngại để khen ngợi cúngdường, thường nghe chính pháp, thành tựu viên mãn hạnh nguyện thù thắngvà tu tập các hạnh. 7. Phân biệt nhất thiết ngôn âm trí minh(Phân biệt ngôn âm trí minh): Trí phân biệt rõ các âm thanh ngôn ngữ ở các trung quốc(thủ đô), biên quốc(nơi biên giới),trong vô lượng thế giới, cho đến âm thanh ngôn ngữ của tất cả loài trời, rồng, người, chẳng phải người... và các pháp nghĩa trong tất cả âm thanh ngôn ngữ ấy. 8. Xuất sinh vô lượng a tăng kì sắc thân trang nghiêm trí minh (Sắc thân trang nghiêm trí minh): Bồ tát khéo biết tất cả sắc, đồng thời cũng vào sâu pháp giới vô sắc, tùy nơi nên trụ trì mà biến hiện vô lượng vô biên sắc thân để hóa độ chúng sinh.9. Nhất thiết chư pháp chân thật trí minh(Chân thực trí minh): Bồ tát rõ biết nghĩa chân thực của tất cả các pháp, không chấp trước thế đế, cũng không bám dính vào Đệ nhất nghĩa đế, không bỏ bản nguyện, nhiếp thụ chúng sinh, thường thành tựu đầy đủ trí dụng một cách tự tại vô ngại. 10. Nhất thiết chư pháp diệt định trí minh(Diệt định trí minh): Bồ tát an trụ bất động trong định Diệt tận, nhưng không lìa đại từ bi, đầy đủ tất cả hạnh Bồ tát.Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 15, thì Thập trí này đều lấy đại trí làm thể, chung cho cả trí tính khởi Phổ hiền; nếu chia theo tướng thì 8 Trí minh trước thuộc về Lượng trí, 2 Trí minh cuối thuộc về Lí trí, nhưng thực ra thì chỉ có một Vô ngại trí duy nhất. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.46; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.14; Hoa nghiêm ngũ giáo chương thônglộ kí Q.18]. II. Thập Minh. Cũng gọi Thập chủng minh, Thập chủng trí minh. Chỉ cho 10 trí minh khéo léo của Bồ tát nói trong phẩm Li thế gian, kinh Hoa nghiêm quyển 54 (bản dịch mới). Đó là: 1. Tri chúng sinh nghiệp báo trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ việc chúng sinh tạo các nghiệp ác và chịu khổ báo.2. Tri nhất thiết cảnh giới tịch diệt trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ tất cả cảnh giới thế gian thanh tịnh vắng lặng, không có các tạp nhiễm. 3. Tri nhất thiết sở duyên duy thị nhất tướng trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ các pháp sở duyên của tất cả chúng sinh chỉ là lí một thực tướng, như kim cương, không thể phá hoại. 4. Năng dĩ diệu âm phổ văn thập phương trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ chúng sinh tuy không, nhưng thường dùng diệu âm diễn giảng tất cả pháp, khắp các pháp giới trong 10 phương đều được nghe biết. 5. Phổ hoại nhiễm trước tâm trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo diệt tâm ái dục của tất cả chúng sinh. 6. Năng dĩ phương tiện thụ sinh trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, thường ở các thế giới trong 10 phương dùng nhiều phương tiện, thị hiện thụ sinh để giáo hóa, dắt dẫn loài hữu tình. 7. Xả li tưởng thụ cảnh giới trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, lìa bỏ tất cả cảnh giới tưởng niệm thụ dụng. 8. Tri nhất thiết pháp vô tướng vô tính trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ tất cả các pháp thế gian đều chẳng phải có tướng chẳng phải không tướng, chẳng phải có tính chẳng phải không tính, lìa các phân biệt. 9. Tri chúng sinh duyên khởi bản vô hữu sinh trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ pháp nhân duyên khởi ra sự thụ sinh của tất cả chúng sinh thảy đều rỗng lặng, xưa nay vốn không sinh. 10. Dĩ vô trước tâm tế độ chúng sinh trí minh: Bồ tát dùng trí minh khéo léo, biết rõ tất cả chúng sinh tuy đều rỗng lặng, nhưng thường khởi tâm vô trước, thuyết pháp giáo hóa, giúp chúng sinh vượt qua biển khổ sinh tử, thành vô thượng Chính giác.[X. kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17].
thập môn
The ten "doors" or connections between sự and lí; sự is defined as hiện tượng form, and lí as bản thể substance; the common illustration of wave and water indicates the idea thus expressed. The Lí Sự Vô Ngại thập môn means that in ten ways form and substance are not separate, unconnected entities: (1) Lí the substance is always with Sự the phenomena; (2) Sự is always present with Lí; (3) Sự depends on Lí for its existence; (4) the Sự can reveal the Lí; (5) The Sự (mere form, which is unreal) can disappear in the Lí; (6) The Sự can conceal the Lí; (7) The true Lí is the Sự; (8) The Sự is Lí; (9) The true Lí (or reality) is not the Sự; (10) The Sự is not the (whole) Lí.
; Mười cửa nối kết giữa thế giới vật chất và hiện tượng—The ten doors or connection between noumena or substance and phenomena (theory and practice): 1) Lý luôn đi với sự: Substance (Lý) is always present with the phenomena (Sự). 2) Sự luôn đi với lý: The phenomena is always present with substance. 3) Sự tùy thuộc vào lý mà tồn tại: The phenomena depend on the substance for its existence. 4) Sự phô bày lý: The phenomena can reveal the substance. 5) Sự biến mất trong lý: The phenomena (from is unreal) can disappear in the substance. 6) Sự có thể che dấu lý: The phenomena can conceal the substance. 7) Chân lý chính là sự: The true substance is the phenomena. 8) Sự chính là lý: The phenomena is the substance. 9) Chân như không phải là sự: True reality is not the phenomena. 10) Sự không phải là lý: The phenomena is not the whole substance.
thập môn biện hoặc luận
(十門辯惑論) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Phục lễ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung sách này giải thích 10 điều nghi hoặc của Thái tử Văn học Quyền vô nhị đối với kinh Phật. Thập môn là: Thông lực thượng cảm môn, Ứng hình phủ hóa môn, Tịnh uế độ biệt môn, Mê ngộ kiến thù môn, Hiển thực đắc kí môn, Phản kinh tán đạo môn, Quán nghiệp cứu xả môn, Tùy giáo ức dương môn, Hóa Phật ẩn hiển môn và Thánh vương hưng thế môn. Sau khi Quyền vô nhị xem luận này thì mối nghi hoặc từ lâu bỗng tiêu sạch. Các sách chú thích tác phẩm này có: Soạn thuật 4 quyển của ngài Long không, Bị kiểm 5 quyển của ngài Nghĩa kính. [X. Khai nguyên thíchgiáolục Q.9; Tống cao tăng truyện Q.17].
Thập môn biện hoặc luận 十門辯惑論
[ja] ジュウモンベンワクロン Jūmon benwaku ron ||| Shimen bianhuo lun; 3 fasc., by Fu-li 復禮; T 2111.52.551-559. => Luận, gồm 3 quyển , Phục Lễ 復禮 c: Fu-li soạn.
Thập môn hoà tránh luận 十門和諍論
[ja] ジュウモンワソウロン Jūmon wasō ron ||| Simmun hwajaeng non (Reconciliation of Disputes in Ten Aspects) by Wŏnhyo 元曉. An essay by the famous Silla scholiast, in which he attempted to synthesize the views of the various Buddhist teachings which had been transmitted into Korea during his era. Unfortunately, only fragments of this text are extent.HPC 1.838-841. => k: Simmun hwajaeng non; e: Reconciliation of Disputes in Ten Aspects của Nguyên Hiểu 元曉 k:Wŏnhyo. Là luận giải của một học giả nổi tiếng người Cao ly, trong đó, sư nỗ lực tổng hợp mọi quan điểm giáo lý Phật giáo khác nhau được phiên dịch sang tiếng Cao ly trong thời đại của sư. Không may, chỉ còn những đoạn rời của kinh nầy còn hiện hành.
thập môn thích kinh
(十門釋經) Chỉ cho 10 nghĩa môn do ngài Trừng quán đời Đường lập ra khi soạn bộ Hoa nghiêm kinh sớ, nói rõ đại ý của kinh để giúp người đọc dễ dàng hiểu biết về giáo pháp và nguyên do của bộ kinh Hoa nghiêm đã phát khởi như thế nào. Đó là: 1. Giáo khởi nhân duyên: Nói rõ về nhân duyên hưng khởi giáo pháp của kinh. Nghĩa là đức Như lai biết rõ tất cả chúng sinh đều có đức tướng trí tuệ của Như lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước nên không hay biết, vì thế đức Phật khai thị chúng sinh đều có nhân duyên Phật trí, đó là nguyên do hưng khởi giáo pháp của kinh này.2. Tạng giáo sở nhiếp: Tạng là Tam tạng kinh, luật, luận; Giáo là 12 phần giáo. Nghĩa là kinh này và Tam tạng 12 phần giáo tương nhiếp lẫn nhau. 3. Nghĩa lí phân tề: Nghĩa tức nghĩa huyền diệu do Viên giáo giải thích; Lí là lí viên dung được hiển bày trong pháp giới. Tức nghĩa lí mà kinh Hoa nghiêm giải thích chính thuộc Viên giáo, nêu một pháp thì hàm nhiếp tất cả pháp, nói một giai vị thì bao gồm tất cả giai vị. Còn Phân tề thì Sự sự vô ngại pháp giới được Viên giáo nói rõ và lí xứng tính viên dung được hiển bày chính là phân tề(nội dung sai khác) của kinh này.4. Giáo sở bị cơ: Giáo pháp viên dung cụ đức này bao trùm 10 căn cơ Nhất thừa Viên đốn, đó là: Vô tín cơ, Vi chân cơ, Đại thực cơ, Hiệp liệt cơ, Thủ quyền cơ, Chính vị cơ, Kiêm vị cơ, Dẫn vị cơ, Quyền vị cơ và Viễn vị cơ. 5. Giáo thể thiển thâm: Như lai thuyết giáo ắt có giáo thể, nay bàn chung thì một đại tạng giáo, từ cạn đến sâu, nếu nói sơ lược thì gồm có 10 thể, tức Âm thanh ngữ ngôn thể, Danh cú văn thân thể, Thông thủ tứ pháp thể, Thông nhiếp sở thuyên thể, Chư pháp hiển nghĩa thể, Nhiếp cảnh duy tâm thể, Hội duyên nhập thực thể, Lí sự vô ngại thể, Sự sự vô ngại thể và Hải ấn bính hiện thể. 6. Tông thú thông cục: Tông là chủ của lời nói, Thú là chỗ nương của Tông, Thông là bàn chung về giáo pháp trong một đời, từ hẹp đến rộng gồm 10 tông, từ Ngã pháp câu hữu tông đến Viên dung cụ đức tông. Cục là chỉ hạn cuộc ở một kinh. 7. Bộ loại phẩm hội: Bộ là các bộ; Loại tức là Lưu loại. Nghĩa là từ bộ kinh này lưu xuất ra biệt kinh(bản kinh lưu hành riêng), từ hẹp đến rộnglượcnêu 10 loại: Lược bản kinh, Hạ bản kinh, Trung bản kinh, Thượng bản kinh, Phổ nhãn kinh, Đồng thuyết kinh, Dị thuyết kinh, Chủ bạn kinh, Quyến thuộc kinh và Viên mãn kinh. Trong đó, Lược bản kinh có 4 vạn 5 nghìn bài kệ. 8. Truyền dịch cảm thông: Truyền dịch là từ Tây thiên truyền đến Đông độ, dịch từ tiếng Phạm sang chữ Hán. Kinh này trước sau có 2 bản dịch: Một do ngài Phật đà bạt đà la, vịcao tăng người Bắc Thiên trúc, dịch vào năm Nghĩa hi 14 (418) đời Đông Tấn, ở chùa Tạ tư không tại Dương châu, nguyên bản tiếng Phạm gồm 3 vạn 6 nghìn bài kệ, dịch thành 60 quyển. Một do ngài Thực xoa nan đà, vị cao tăng người nước Vu điền, dịch lại bản cũ vào niên hiệu Chứng thánh năm đầu (695) đời Đường, ở chùa Phật thụ kí tại Đông đô (Lạc dương). Bản dịch này có bổ sung những chỗ còn thiếu, thêm 9 nghìn bài kệ, cộng chung với bản dịch cũ gồm tất cả 4 vạn 5 nghìn bài tụng, dịch thành 80 quyển, tức là bản lưu truyền hiện nay. Cảm thông, tức khi ngài Phật đà bạt đà la dịch kinh cảm đến Long vương, nên Long vương sai 2 đồng tử mặc áo màu xanh hàng ngày từ trong ao xuất hiện dâng nước mài mực; còn khi ngài Thực xoa nan đà dịch kinh thì cảm được trời mưa cam lộ và hiện nhiều điều linh ứng. 9. Tổng thích kinh đề: Dùng diệu nghĩa để giải thích tổng quát đề mục Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh. 10. Biệt giải văn nghĩa: Giải thích riêng văn kinh, lược chia làm 3 khoa chính: a. Phẩm thế chủ diệu nghiêm là phần Tựa.b. Từ phẩm Như lai hiện tướng đến phẩm Nhập pháp giới là phần Chính tông. c. Trong phẩm Nhập pháp giới, từ câu Bấy giờ, ngài Văn thù sư lợi từ lầu gác Thiện trụ đi ra... trở xuống, là phần Lưu thông.
thập môn thập triết
(什門十哲) Chỉ cho 10 vị học trò ưu tú của ngài Cưu ma la thập, đó là: Đạo sinh, Đạo dung, Tăng triệu, Tăng duệ, Đàm ảnh, Tuệ quán, Tuệ nghiêm, Tăng khế, Đạo thường (Đạo hằng) và Đạo tiêu. Ngoài ra còn có thuyết Thập môn bát tuấn, thông thường chỉ cho các vị: Đạo sinh, Tăng triệu, Đạo dung, Tăng duệ, Đạo hằng, Đàm ảnh, Tuệ quán và Tuệ nghiêm. [X. Thích thị kê cổ lược Q.2].
thập mộng
(十夢) I. Thập Mộng. Chỉ cho 10 việc mộng của vua Ba tư nặc được ghi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 51, đó là: 1. Mộng thấy 3 cái bình(phũ la), 2 cái 2 bên đầy, cái ở giữa rỗng không, hơi nước nóng trong 2 bình 2 bên bốc lên giao nhau, nhưng không vào bình trống ở giữa. 2. Mộng thấy con ngựa, miệng đang ăn mà đốt xương sống cuối cùng cũng ăn. 3. Mộng thấy cây lớn nở hoa. 4. Mộng thấy cây nhỏ kết quả. 5. Mộng thấy một người tìm sợi dây, sau đó thấy đàn dê, con dê đầu đàn ăn sợi dây.6. Mộng thấy con chồn ngồi trên cái giường bằng vàng, ăn thức ăn đựng trong bát vàng. 7. Mộng thấy con bò lớn lại theo phía sau con bò con bú sữa. 8. Mộng thấy một con trâu đen từ bốn phía vừa rống vừa chạy đến, định húc nhau, nhưng chưa chạm thì biến mất, không biết trâu ở đâu. 9. Mộng thấy nước ở trong một cái ao lớn, giữa ao đục, 4 phía trong. 10. Mộng thấy dòng suối lớn, sóng màu đỏ.Sau khi tỉnh giấc, nhà vua sợ hãi, bèn đến xin Phật giải mộng, Phật nói về ý nghĩa các điềm mộng, đồng thời bảo rằng các điềm mộng ấy sẽ ứng hiện ở đời sau. [X. kinh Xá vệ quốc vương thập mộng; luật Ngũ phần Q.26]. II. Thập Mộng. Mười việc mộng của vua Ngật lật chỉ chép trong kinh Cấp cô trưởng giả nữ đắc độ nhân duyên quyển hạ. Đó là: 1. Mộng thấy một con voi lớn từ trong cửa sổ đi ra, toàn thân qua được, nhưng cái đuôi bị kẹt. 2. Mộng thấy có một người khát nước, phía sau anh ta có giếng nước, nhưng thà chịu khát chứ anh ta nhất định không uống. 3. Mộng thấy có người đem ngọc chân châu đổi lấy miến. 4. Mộng thấy người đem gỗ chiên đàn đổi lấy gỗ tầm thường. 5. Mộng thấy một khu vườn rộng, hoa quả sum suê, bỗng bị cuồng phong thổi tan tác. 6. Mộng thấy các con voi nhỏ đuổi con voi rất lớn chạy ra. 7. Mộng thấy một con khỉ, trên mình dính đầy phân, chạy khắp 4 phía, làm dính bẩn các con voi khác, chúng đều sợ bỏ chạy trốn.8. Mộng thấy một con khỉ ngồi ở một chỗ, có các con khỉ khác đem nước rưới lên đầu nó. 9. Mộng thấy một tấm dạ trắng, có 18 người, mỗi người chiếm lấy một phần mà tấm dạ không bị xé rách. 10. Mộng thấy có rất đông người tụ tập một chỗ tranh luận nhau, bàn cãi phải trái.Đức Phật Ca diếp giải thích từng điều mộng cho vua nghe, Ngài dạy rằng các điều mộng ấy chẳng phải việc của nhà vua, cũng không phải là tướng thiện ác đương thời, đối với tuổi thọ của vua cũng không hại gì. Như điều mộng thứ nhất là nói sau khi Phật Thích ca nhập Niết bàn, trong di pháp của Ngài có những Bà la môn, trưởng giả, cư sĩ, hoặc nam hoặc nữ, từ bỏ quyến thuộc, xuất gia học đạo, tuy thân xuất gia nhưng tâm còn tham đắm danh lợi thế tục, nên không thể giải thoát. [X. phẩm A xà thế vương thụ kí trong kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.10; luận Câu xá Q.9].
Thập mục ngưu đồ
十牧牛圖; J: jūgyū-no-zu;|Mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng trong Thiền tông, tương ưng với quá trình hành đạo của một người phát nguyện đạt Giác ngộ. Mười bức tranh này có thể xem là biểu hiện cô đọng nhất, trình bày tinh hoa của Phật giáo Ðại thừa.|Các bức tranh chăn trâu được sáng tạo trong thời nhà Tống (960-1279) và ngay từ đầu đã được xem như những bức hoạ tiêu biểu, trình bày tinh hoa, cốt tuỷ của Thiền Trung Quốc. Có nhiều bộ tranh – có thuyết nói là bốn, thuyết khác nói là 5, 6 chăn trâu khác nhau – nhưng có lẽ nổi danh nhất và cũng bao hàm ý nghĩa nhiều nhất là bộ với mười bức tranh của Thiền sư Khuếch Am Sư Viễn (廓庵師遠; c: kuòān shīyuǎn; j: kakuan shion; ~ 1150), được lưu lại trong bản sao của hoạ sĩ người Nhật tên Châu Văn (周文; shūbun; ?-1460). Một bộ khác với sáu bức tranh cũng thường được nhắc đến. Ban đầu, Thiền sư Thanh Cư (清居; c: qīngjū; j: seikyo) chỉ vẽ có năm bức nhưng sau, Thiền sư Tự Ðắc (自得; c: zìdé; j: jitoku; tk. 12) vẽ thêm bức tranh thứ sáu. Trong bộ này, con trâu dần dần trắng ra và cuối cùng thì trắng hoàn toàn, một biểu tượng cho chân tâm thanh tịnh, vô cấu.|Mười bức tranh sau được xem là của Thiền sư Khuếch Am, được trích từ tác phẩm Thiền nhục, Thiền cốt (Zen flesch, Zen bones) của Paul Reps. Những bức tranh này cũng được chú thích rất rõ, rất hay trong Thiền luận của Dai-setz Tei-ta-ro Su-zu-ki, bản dịch của Trúc Thiên và Tuệ Sĩ. Bài tụng của Thiền sư Khuếch Am được Thích Thanh Từ dịch.||H 53: Tìm trâu (tầm ngưu 尋牛, 1)|Nao nao vạch cỏ kiếm tìm trâu|Núi thẳm đường xa nước lại sâu|Kiệt sức mệt nhoài tìm chẳng thấy|Chỉ nghe réo rắt giọng ve sầu.||H 54: Thấy dấu (kiến tích 見跡, 2)|Ven rừng bến nước dấu liên hồi|Vạch cỏ ruồng cây thấy được thôi|Ví phải non sâu lại sâu thẳm|Ngất trời lỗ mũi hiện ra rồi.||H 55: Thấy trâu (kiến ngưu 見牛, 3)|Hoàng anh cất tiếng hót trên cành|Nắng ấm gió hoà bờ liễu xanh|Chỉ thế không nơi xoay trở lại|Ðầu sừng rành rõ vẽ khôn thành||H 56: Bắt trâu (đắc ngưu 得牛, 4)|Dùng hết thần công bắt được y|Tâm hùng sức mạnh khó khăn ghì|Có khi vừa hướng cao nguyên tiến|Lại xuống khói mây mãi nằm ì||H 57: Chăn trâu (mục ngưu 牧牛, 5)|Nắm chặt dây roi chẳng lìa thân|Ngại y chạy sổng vào bụi trần|Chăm chăm chăn dữ thuần hoà dã|Dây mũi buông rồi vẫn theo gần||H 58: Cỡi trâu về nhà (kị ngưu quy gia 騎牛歸家, 6)|Cỡi trâu thong thả trở về nhà|Tiếng sáo vi vu tiễn vãn hà|Một nhịp một ca vô hạn ý|Tri âm nào phải động môi à||H 59: Quên trâu còn người (vong ngưu tồn nhân 忘牛存人, 7)|Cỡi trâu về thẳng đến gia san|Trâu đã không rồi người cũng nhàn|Mặt nhật ba sào vẫn say mộng|Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng||H 60: Người, trâu đều quên (nhân ngưu câu vong 人牛俱忘, 8)|Roi gậy, người trâu thảy đều không|Trời xanh thăm thẳm tin chẳng thông|Lò hồng rừng rực nào dung tuyết|Ðến đó mới hay hiệp Tổ Tông||H 61: Trở về nguồn cội (phản bản hoàn nguyên 返本還源, 9)|Phản bản hoàn nguyên đã phí công|Ðâu bằng thẳng đó tợ mù câm|Trong am chẳng thấy ngoài vật khác|Nước tự mênh mông hoa tự hồng||H 62: Thõng tay vào chợ (nhập triền thuỳ thủ 入廛垂手, 10)|Chân trần bày ngực thẳng vào thành|Tô đất trét bùn nụ cười thanh|Bí quyết thần tiên đâu cần đến|Cây khô cũng khiến nở hoa lành|… Lúc còn trụ tại Quy Sơn, sư Trường Khánh Ðại An dạy chúng: »… Sở dĩ, Ðại An này ở tại Quy Sơn ba mươi năm, ăn cơm Quy Sơn, đại tiện Quy Sơn mà không học thiền Quy Sơn, chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ liền lôi nó lại. Nếu nó ăn lúa mạ của người liền dánh đập điều phục nó… Bây giờ nó đã trở thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi…«.|Mã Tổ hỏi sư Thạch Củng Huệ Tạng: »Làm việc gì?« Sư thưa: »Chăn trâu.« Tổ hỏi: »Làm sao chăn?« Sư đáp: »Một khi vào cỏ thì nắm mũi kéo lại.« Tổ nghe bảo: »Con thật là khéo chăn trâu.«
thập mục ngưu đồ
Jugyu-zu (C), Ten Oxherding Pictures.
; See Thập Ngưu Đồ.
thập nghi luận
(十疑論) Gọi đủ: Tịnh độ thập nghi luận, A di đà thập nghi luận, Thiên thai thập nghi luận, Tây phương thập nghi. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này nêu ra 10 nghi vấn về pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ, rồi đề ra giải đáp cho từng nghi vấn một. Chẳng hạn như các câu hỏi: Vì sao cầu sinh Tịnh độ? Vì sao chỉ cần niệm riêng đức Phật A di đà ở phương Tây? Làm thế nào để được sinh về Tịnh độ phương Tây? Tại sao phải cầu sinh về Tịnh độ phương Tây?... Các sách chú thích có: Thập nghi luận chú, Thập nghi luận khoa(của ngài Nguyên chiếu đời Tống) Thăng lượng lục (Tăng phác). [X. Lạc bang văn loại Q.3; Tịnh độ thập yếu Q.4].
thập nguyện
Ten vows: (1) Nhất giả lễ kính chư Phật, the first is to worship and respect all Buddhas; (2) Nhị giả xưng tán Như lai, the second is to praise the Thus-Come-Ones; (3) Tam giả quảng tu cúng dường, the third is to cultivate the giving of offerings; (4) Tứ giả sám hối nghiệp chướng, the fourth, to repent and reform all karmic faults; (5) Ngũ giả tùy hỉ công đức, the fifth, to compliantly rejoice in merit and virtue; (6) Lục giả thỉnh chuyển pháo luân, the sixth, to request the turning of Dharma-wheel; (7) Thất giả thỉnh Phật trụ thế, the seventh, to request that Buddhas dwell in the world; (8) Bát giả thường tùy Phật học, the eighth is to always follow Buddhas in study; (9) Cửu giả hằng thuận chúng sinh, the ninth; (10) Thập giả phổ giai hồi hướng, the tenth, to universally transfer all merit and virtue.
thập nguyện bồ tát
Theo Nghiên Cứu Kinh Lăng Già của Thiền Sư D.T. Suzuki, theo trí tuệ siêu việt các Bồ Tát biết rằng chân lý Bồ Tát vượt khỏi mọi sự định tính và không hề chịu bất cứ hình thức miêu tả nào, nhưng vì tâm các ngài đầy từ bi đối với tất cả chúng sanh, là những kẻ không thể nào bước ra khỏi vùng nước xoáy của hữu và phi hữu, nên các ngài hướng những nguyện ước mãnh liệt của các ngài đến sự cứu độ và giải thoát chúng sanh. Trái tim của chính ngài thì thoát khỏi những chấp trước như những kẻ chưa chứng ngộ thường tôn giữ, mà lại cảm thấy kiên định vì trí tuệ cùa các ngài đã không phá diệt điều nầy, và từ đó mà có các bổn nguyện, các phương tiện thiện xảo và các Hóa Thân của các ngài. Nhưng tất cả những gì mà các ngài làm để làm chín muồi tất cả mọi chúng sanh để đáp ứng yêu cầu của họ và cũng giống như ánh trăng trong nước, các ngài hiện ra đủ mọi hình tướng mà thuyết pháp. Hoạt động của các ngài thuật ngữ Đại Thừa gọi là Vô Công Dụng Hạnh, nghĩa là những hành động không dụng công, không tác động, không mục đích. Khi vị Bồ Tát nhập vào địa thứ nhất gọi là Hoan Hỷ Địa, trong sự nghiệp tu tập tâm linh, ngài phát ra mười lời nguyện bao trùm toàn bộ vũ trụ, trải rộng tới cuối chỗ không gian, đạt đến tận cùng của thời gian, hết tất cả các kiếp và vẫn vận hành không gián đoạn khi có Đức Phật xuất hiện—According to The Studies in The Lankavatara Sutra, written by Zen Master D.T. Suzuki, according to his transcendental insight into the truth of things, the Bodhisattva knows that it is beyond all oredicates and not at all subject to any form of description, but his heart full of compassion and love for all beings who are unable to step out of the dualistic whirlpools of “becoming” or not becoming,” he directs his vows towards their salvation and emancipation. His own heart is free from such attachments as are ordinarily cherished by the unemancipated, but that which feels persists, for his insight has not destroyed this, and hence his Purvapranidhana, his Upayakausalya, his Nirmanakaya. Yet all that he does for the maturity of all beings in response to their needs, is like the moon reflection in water, showing himself in all forms and appearances he preaches to them on the Dharma. His activity is what is in Mahayana phraseology called “Anabhogacarya,” deeds that are effortless, effectless, and purposeless. When the Bodhisattva enters upon the first stage called Joy or Pramudita, in the career of his spiritual discipline, he makes the following solemn vows, ten in number, which, flowing out of his most earnest determined will, are as all-inclusive as the whole universe, extending to the extremity of space itself, reaching the end of time, exhausting all the number of kalpas or ages, and functioning uninterruptedly as long as there is the appearance of a Buddha. 1) Nguyện thứ nhất—The first vow: Tôn kính và phụng sự hết thảy chư Phật, một vị và tất cả, không trừ ra vị nào—To honour and serve all the Buddhas, one and all without a single exception. 2) Nguyện thứ hai—The second vow: Mãi mãi hộ trì giáo pháp của chư Phật—To work for the preservation and perpetuation of the teaching of all the Buddhas. 3) Nguyện thứ ba—The third vow: Có mặt khi mỗi Đức Phật xuất hiện, dù bất cứ ở đâu hay bất cứ lúc nào—To be present at the appearance of each Buddha, wherever and whenever it may be. 4) Nguyện thứ tư—The fourth vow: Thực hành Bồ Tát hạnh là rộng lớn vô lượng, vô tận, vượt khỏi mọi ô nhiễm, và mở rộng các ba la mật hay đức hạnh toàn hảo đến tất cả chúng sanh—To practice the proper conduct of Bodhisattvahood which is wide and measureless, imperishable and free from impurities, and to extend the Virtues of Perfection (paramitas) towards all beings. 5) Nguyện thứ năm—The fifth vow: Đưa chúng sanh bằng những lời lẽ dễ hiểu nhất để đến với giáo lý của chư Phật khiến họ có thể tìm thấy chỗ an trú tối hậu trong trí tuệ của các bậc toàn trí—To induce all beings in the most comprehensive sense of the term to turn to the teaching of the Buddhas so that they may find their final abode of peace in the wisdom of the all-wise ones. 6) Nguyện thứ sáu—The sixth vow: Có một nhận thức tự nội về vũ trụ rộng rãi và vô tận trong tất cả các mọi khía cạnh phức tạp của nó—To have an inner perception of the universe, wide and inexhaustible, in all its possible multitudinousness. 7) Nguyện thứ bảy—The seventh vow: Thể hội mối tương quan hỗ tương xâm nhập chặt chẻ của một và tất cả, của tất cả và một, và làm cho mọi quốc độ của chúng sanh thanh khiết như một quốc độ của Phật—To realize the most closely interpenetrating relationship of each and all, of all and each, and to make everyland of beings immaculate as a Buddha-land. 8) Nguyện thứ tám—The eighth vow: Kết hợp với hết thảy chư Bồ Tát trong sự nhất thể của ý định, trở nên thân thiết với phẩm chất, sự hiểu biết và điều kiện tâm linh của chư Như Lai, khiến cho vị Bồ tát có thể nhập vào mọi giới chúng sanh mà thành tựu Đại Thừa, là giáo pháp vượt khỏi mọi tư nghì—To be united with all the Bodhisattvas in oneness of intention, to become intimately acquainted with the dignity, understanding, and psychic condition of the Tathagatas, so that the Bodhisattva can enter any society of beings and accomplish the Mahayana which is beyond thought. 9) Nguyện thứ chín—The ninth vow: Xoay bánh xe bất thối chuyển mà từ đó thực hiện công việc phổ độ của mình bằng cách tự làm cho mình giống như vị đại y sư hay như viên ngọc Mani—To evolve the never-receding wheel whereby to carry out his work of universal salvation, by making himself like unto the great lord of medicine or wish-fulfilling gem. 10) Nguyện thứ mười—The tenth vow: Thể chứng sự chứng ngộ tối thượng trong mọi thế giới bằng cách vượt qua các Bồ Tát địa và thành tựu các nguyện ước của mọi chúng sanh bằng một tiếng nói, và trong khi tỏ hiện mình ở trong Niết Bàn, vẫn không ngừng thực hiện các mục đích của quả vị Bồ Tát—To realize the great supreme enlightenment in all the worlds, by going through the stages of Buddhahood, and fulfilling the wishes of all beings with one voice, and while showing himself to be in Nirvana, not to cease from practicing the objects of Bodhisattvahood.
thập nguyện vương
The King of the ten vows, Phổ Hiền Bồ Tát, Samantabhadra.
; The King of the Ten Vows—Samantabhadra—See Thập Đại Nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền.
thập ngũ quán niệm
Theo Kinh Duy Ma Cật, ngài Duy Ma Cật đã nói về mười lăm pháp quán niệm về không trụ vô vi—According to the Vimalakirti Sutra, Honorable lay man Vimalakirti explained about fifteen modes of contemplation on “staying in the supramundane state” or “non-active state” of a Bodhisattva: 1) Tu học môn Không; không lấy không làm chỗ tu chứng: Studying and practicing the immaterial or emptiness without abiding in voidness. 2) Tu học môn vô tướng, vô tác, không lấy vô tướng, vô tác làm chỗ tu chứng: Studying and practicing formlessness (nonappearance) and inaction (non pursuit) without abiding in them. 3) Tu học pháp Vô Sanh không lấy Vô Sanh làm chỗ tu chứng: Contemplating the reality of noncreation but does not take noncreation as an object of attainment. 4) Quán Vô Thường mà không nhàm việc lành (lợi hành): Looking into the impermanence without discarding the performance of good deeds (a Bodhisattva meditates on the truth of Impermanence but does not abandon his work to serve and save sentient beings). 5) Quán Thế Gian Khổ mà không ghét sanh tử: Looking into suffering in the world without hating birth and death, i.e. samsara (a Bodhisattva contemplates on suffering but does not reject the world of births and deaths). 6) Quán Vô Ngã mà dạy dỗ người không nhàm mỏi: Looking into the absence of the ego while continuing to teach all living beings indefatigably. 7) Quán Tịch Diệt mà không tịch diệt hẳn;: Looking into nirvana with no intention of dwelling in it permanently (a Bodhisattva contemplates on extinction but does not embrace extinction). 8) Quán xa lìa (buông bỏ) mà thân tâm tu các pháp lành: Looking into the relinquishment (of nirvana) while one's body and mind are set on the practice of all good deeds (a Bodhisattva meditates on detachment but goes on realizing good things in the world). 9) Quán Không Chỗ Về (không quy túc) mà vẫn về theo pháp lành: Looking into the non-existing destinations of all things while the mind is set on practicing excellent actions as true destinations (a Bodhisattva meditates on the homeless nature of all dharmas but continues to orient himself toward the good). 10) Quán Vô Sanh mà dùng pháp sanh (nương theo hữu sanh) để gánh vác tất cả: Looking into the unborn, i.e. the uncreate while abiding in the illusion of life to shoulder responsibility to save others (a Bodhisattva contemplates on the reality of neither-creation-nor-destruction but still undertakes the responsibility in the world of creations and destructions). 11) Quán Vô Lậu mà không đoạn các lậu: Looking into passionlessness without cutting off the passion-stream in order to stay in the world to liberate others. 12) Quán không chỗ làm (vô hành) mà dùng việc làm (hành động) để giáo hóa chúng sanh: Looking into the state of non-action while carrying out the Dharma to teach and convert living beings (a Bodhisattva contemplates on nonaction but continues always his acts of service and education). 13) Quán Không Vô mà không bỏ đại bi: Looking into nothingness (emptiness) without forgetting (abandoning) about great compassion. 14) Quán Chánh Pháp Vị (chỗ chứng) mà không theo Tiểu thừa: Looking into the right position (of nirvana) without following the Hinayana habit of staying in it (a Bodhisattva meditates on the position of the True Dharma but does not follow a rigid path). 15) Quán các pháp hư vọng, không bền chắc, không nhân, không chủ, không tướng, bổn nguyện chưa mãn mà không bỏ phước đức thiền định trí tuệ. Tu các pháp như thế gọi là Bồ Tát không trụ vô vi: Looking into the unreality of all phenomena which are neither firm nor have an independent nature, impermanence, and are egoless and formless (markless), but since his own fundamental vows are not entirely fulfilled, he should not regard merits, serenity and wisdom as unreal and so cease practicing them.
thập ngũ quỷ thần
(十五鬼神) Chỉ cho 15 loại quỉ thần thường đi dạo chơi trong thế gian để dọa nạt, làm não loạn trẻ con. Đó là: Di thù ca (Phạm: Maĩjuka), Di ca vương (Phạm: Mfgaràja), Khiên đà (Phạm: Skanda), A ba tất ma la (Phạm: Apasmàra), Mâu trí ca (Phạm: Muwỉika), Ma trí ca (Phạm: Màtrikà), Diêm di ca (Phạm: Jàmikà), Ca di ni (Phạm:Kàminì), Lê bà chi (Phạm:Revatì), Phú đa na (Phạm: Pùtana), Mạn đa nan đề (Phạm:Màtfnàndà), Xá cứu ni (Phạm: Zakunì), Càn tra bà ni (Phạm: Kaịỉhapaninì), Mục khư mạn đồ (Phạm: Mukhamaịđitikà) và Lam bà (Phạm: Àlambà). Về cách đối trị 15 quỉ thần này, cứ theo kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ quyển hạ, nếu có người kết chỉ 5 màu, miệng tụng Đà la ni của thần Càn thát bà vương, tụng 1 biến chú thì tay tết một nút, cứ như thế tết được 108 nút thì thần Càn thát bà vương liền đến trói các quỉ này để bảo vệ trẻ con. [X. kinh Hộ chư đồng tử đà la ni].
thập ngũ trí đoạn
(十五智斷) Chỉ cho 15 trí đức và 15 đoạn đức. Phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 20 (Đại 12, 481 trung) nói: Ví như mặt trăng từ ngày mồng 1 đến ngày 15 thì hình thể và ánh sáng dần dần tăng trưởng (...), từ ngày 16 đến ngày 30 thì hình thể và ánh sáng dần dần suy giảm. Trong thí dụ này, dùng thể của mặt trăng dụ cho pháp thân, dùng hình và ánh sáng tăng trưởng dụ cho Ma ha bát nhã của 15 trí đức, nghĩa là cội gốc các pháp thiện dần dần tăng trưởng. Dùng hình và ánh sáng dần dần suy giảm dụ cho Giải thoát không ràng buộc của đoạn đức, nghĩa là phiền não dần dần suy giảm. Lấy 13 tâm của Địa tiền làm 3 trí đoạn, Thập địa là 10 trí đoạn, Đẳng giác, Diệu giác, mỗi giai vị là 1 trí đoạn, cộng chung thành 15 trí đoạn. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần 1].
thập ngũ tâm thiện sắc giới
Fifteen Kinds of Fine-Material-Sphere Wholesome Consciousness—See Mười Lăm Tâm Thiện Thuộc sắc Giới.
thập ngũ tôn
(十五尊) Chỉ cho 15 vị tôn mà hành giả Chân ngôn nên quán tưởng phân bố trên thân mình. Đó là: 1. Quán thân như thân Phật: Trước hết quán tưởng toàn thân như thân Phật, tức là Lí pháp thân. 2. Quán căn bản mệnh là kim cương: Quán tưởng thân Kim cương tát đỏa phát tâm đầu tiên, là Trí pháp thân, thuộc Ngũ Phật.3. Quán thích luân là tòa ngồi: Quán tưởng lấy cõi trời Đao lợi, chỗ ở của trời Đế thích, làm tòa ngồi, đây là đàn Mạn đồ la. 4. Quán Đa la là 2 mắt: Quán tưởng lấy quyến thuộc của bồ tát Quán âm là Đa la làm 2 mắt. 5. Quán Tì câu chi là tai: Tì câu chi cũng là quyến thuộc của bồ tát Quán âm, cùng với Đa la là 4 vị Bồ tát thuộc Yết ma bộ.6. Quán Cát tường là miệng lưỡi: Vì ngài Văn thù dùng đại trí để chuyển pháp luân, lại vì Liên hoa bộ nói pháp môn để lợi ích các Bồ tát, cho nên lấy Ngài làm miệng lưỡi. 7. Quán bồ tát Kim cương Hi hí trong Bát cúng dường là mũi. 8.9. Quán Kim cương và Quán tự tại là 2 cánh tay, trong đó, Kim cương nghiệp thuộc Kim cương bộ là cánh tay trái, Quán tự tại thuộc Liên hoa bộ là cánh tay phải, tức 2 vị tôn này là các vị thuộc 2 bộ Kim cương và Liên hoa. 10.11. Quán Tam thế và Bất động tôn là 2 đầu gối, tức Hàng tam thế là chân phải, Bất động là chân trái, 2 vị Minh vương này gồm nhiếp Tứ nhiếp bồ tát. 12. Quán tâm là Biến chiếu tôn, trên ngực là Đại nhật Như lai, tức lấy Đại nhật Như lai làm Ngũ Phật tâm. 13. Quán rốn là Hư không nhãn, rốn ở chính giữa thân, biểu thị trung tâm của pháp giới; Hư không nhãn tức Phật nhãn Phật mẫu, tượng trưng đức năng sinh của chư Phật, cho nên thuộc Tề luân. Vị tôn này thuộc Nhị thập thiên của Ngoại kim cương bộ. 14. Quán Hư không bảo là mũ, Hư không bảo là Bồ tát Kim cương bảo thuộc Bảo bộ, tức Hư không tạng; Bảo bộ biểu thị đức Quán đính, cho nên là đỉnh đầu. 15. Quán Kim cương nhật tướng hảo, bồ tát Kim cương nhật tướng hảo nhiếp thuộc 4 bồ tát Ba la mật. Hành giả Chân ngôn nhờ Thập ngũ tôn này mà thành một thân, Thập ngũ tôn này thống nhiếp toàn thể chư tôn của Kim cương bộ và Thai tạng bộ. [X. phẩm Kim cương tát đỏa bồ đề tâm nội tác nghiệp quán đính tất địa trong kinh Du kì; Du kì kinh sớ Q.hạ].
thập ngũ tôn quan âm
(十五尊觀音) Chỉ cho 15 vị tôn Quán âm, đó là: 1. Chính Quán âm. 2. Thiên thủ Quán âm. 3. Mã đầu Quán âm. 4. Thập nhất diện Quán âm. 5. Chuẩn đề Quán âm. 6. Như ý luân Quán âm. 7. Bất không quyên sách Quán âm. 8. Bạch y Quán âm. 9. Diệp y Quán âm. 10. Thủy nguyệt Quán âm. 11. Dương liễu Quán âm. 12. A ma lai Quán âm. 13. Đa la Quán âm. 14. Thanh cảnh Quán âm. 15. Hương vương Quán âm.
thập ngũ y xứ
(十五依處) Cũng gọi Thập ngũ chủng nhân duyên y xứ.Chỉ cho 15 chỗ nương của 15 nhân do tông Duy thức lập ra. Đó là: 1. Ngữ y xứ: Chỉ cho ngữ tính khởi lên cùng với pháp, danh và tưởng; nương theo chỗ này mà lập Tùy thuyết nhân. 2. Lãnh thụ y xứ: Chỉ cho tính năng thụ, sở thụ của sở quan đãi, Năng thụ này là tâm sở của Thụ, còn Sở thụ thì chung cho tất cả pháp. Nương theo chỗ này mà lập Quan đãi nhân.3. Tập khí y xứ: Chỉ cho giai vị hữu lậu, vô lậu, chủng tử trong ngoài chưa thuần thục, nương vào chỗ này mà lập Khiên dẫn nhân. 4. Hữu nhuận chủng tử y xứ: Chỉ cho giai vị hữu lậu, vô lậu, chủng tử trong ngoài đã thuần thục, nương theo chỗ này mà lập Sinh khởi nhân. 5. Vô gián diệt y xứ: Chỉ cho Đẳng vô gián duyên của tâm, tâm sở. 6. Cảnh y xứ: Chỉ cho Sở duyên duyên của tâm, tâm sở. 7. Căn y xứ: Chỉ cho 6 căn sở y của tâm, tâm sở. 8. Tác dụng y xứ: Đối với nghiệp sở tác có tác dụng của công cụ tạo tác, chỉ cho Trợ hiện duyên ngoài các loại chủng tử khác. 9. Sĩ dụng y xứ: Chỉ cho nghiệp sở tác có tác dụng của tác giả, tức các Tác hiện duyên khác ngoài chủng tử. 10. Chân thực kiến y xứ: Kiến giải vô lậu ngoài việc huân tập để sinh ra tự chủng, còn có công năng giúp cho việc chứng được pháp vô lậu. Nương vào 6 y xứ trên đây (từ y xứ 5 đến y xứ 10) mà lập Nhiếp thụ nhân. 11. Tùy thuận y xứ: Chỉ cho các chủng tử hiện hành hữu lậu, vô lậu, tam tính, có công năng tùy thuận các pháp đồng loại và thắng phẩm, nương theo chỗ này mà lập Dẫn phát nhân. 12. Sai biệt công năng y xứ: Tức pháp hữu vi đối với mỗi mỗi tự quả có công năng khởi chứng và thế lực sai biệt, nương theo chỗ này mà lập Định dị nhân. 13. Hòa hợp y xứ: Từ Lãnh thụ y xứ đến Sai biệt công năng y xứ, trong các quả Sinh, Trụ, Thành, Đắc có năng lực hòa hợp, nương theo chỗ này mà lập Đồng sự nhân. 14. Chướng ngại y xứ: Chỉ cho pháp có khả năng gây chướng ngại trong việc sinh trụ thành đắc, nương theo chỗ này mà lập Tương vi nhân. 15. Bất chướng ngại y xứ: Chỉ cho pháp không ngăn trở việc sinh trụ thành đắc, nương theo chỗ này mà lập Bất tương vi nhân. [X. luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận diễn bí Q.6, phần cuối].(xt. Thập Nhân).
Thập Ngưu Đồ
(十牛圖): do Quách Am Sư Viễn (郭庵師遠) soạn, là tác phẩm dụ con trâu như là tự kỷ xưa nay của mình, miêu tả quá trình dẫn dắt con trâu trở về sau khi nó chạy đi mất, được phân chia thành 10 giai đoạn gồm: (1) Tìm Trâu, - (2) Thấy Dấu, (3) Thấy Trâu, - (4) Được Trâu, (5) Chăn Trâu, - (6) Cỡi Trâu Về Nhà, (7) Quên Trâu Còn Người, - (8) Người Trâu Đều Quên, (9) Về Lại Nguyên Gốc, - (10) Thỏng Tay Vào Chợ. Mỗi giai đọan như vậy được biểu hiện bằng tranh, lời giải thích và thơ. Tác phẩm này đã được truyền vào Nhật rất sớm, được thâu tập vào trong Tứ Bộ Lục (四部錄, Shiburoku) cũng như Ngũ Vị Thiền (五味禪, Gomizen), và thỉnh thoảng cũng được san hành phổ biến. Với nội dung rất đơn giản nhằm mục đích miêu tả hết toàn bộ diện mạo tu hành Thiền như thế nào, cho nên mãi đến ngày nay người ta vẫn còn quan tâm đến. Điều này vốn phát xuất từ khuynh hướng muốn truy tìm cho bằng được về mặt nhất nguyên tâm con người mang tính đặc trưng nhất. Khuynh hướng này có điểm cọng thông với Thiền Công Án, phản ánh trạng huống đương thời của tùng lâm. Hơn nữa, loại trước tác như vậy đã thấm sâu vào trong tận cùng thể chế quản lý mà bao trùm khắp chốn tùng lâm, và chúng ta cũng không thể nào bỏ qua được mặt trái của nó. Tuy nhiên, ngoài bản này ra còn có bản Thập Ngưu Đồ khác của Phổ Minh (普明, ?-?, đệ tử của Viên Thông Pháp Tú [圓通法秀, 1027-1090] thuộc Vân Môn Tông) cũng rất nổi tiếng. Nó cũng được lưu nhập vào Nhật vào thời Cận Đại.
thập ngưu đồ
The ten oxherding pictures. I-Mahàyàna: (1) Vị mục, undisciplined; (2) Sơ điều, discipline begun; (3) Thụ chế, in harness; (4) Hồi thủ, faced round; (5) Tuần phục, tamed; (6) Vô ngại, unimpeded; (7) Nhậm vận, laissez faire; (8) Tương vong, all forgotten; (9) Độc chiếu, the soltary moon; (10) Song dẫn, both vanished. II- Zen: (1) Tầm ngưu, searcing for the ox; (2) Kiến tích, seeing the traces; (3) Kiến ngưu, seeing the ox; (4) Đắc ngưu, catching the ox; (5) Mục ngưu, herding the ox; (6) Kị ngưu qui gia, coming home on the ox's back; (7) Vong ngưu tồn nhân, the ox forgotten leaving the man alone; (8) Nhân ngưu câu vong, the ox and the man both gone out of sight; (9) Phản bản hoàn nguyên, returning to the origin, back to the source; (10) Nhập triền thùy thủ, entering the city with bliss-bestowing hands.
; The ten ox-pictures: 1) Tìm trâu: Looking for an ox—Seeking the ox. 2) Thấy dấu: Seeing its tracks—Finding the tracks. 3) Thấy trâu: Seeing the ox—First glympse of the ox. 4) Được trâu: Catching it—Catching the ox. 5) Chăn trâu: Feeding the ox—Taming the ox. 6) Cỡi trâu về nhà: Riding the ox home—Riding the ox home. 7) Quên trâu còn người: Ox dies, man lives—Forgetting the ox—Self alone. 8) Người trâu đều quên: Both dead—Forgetting the ox and self. 9) Trở về nguồn cội: Return whence both came—Returning to the source. 10) Thõng tay vào chợ (vào chốn trần ai): Enter the dust—Entering the market place with helping hands.
; (十牛圖) Chỉ cho 10 bức tranh lấy việc chăn trâu làm chủ đề nói về phương pháp và thứ tự tu thiền do ngài Quách am Sư viễn vẽ vào đời Tống(có thuyết nói do Thiền sư Thanh cư vẽ), có phụ thêm lời tựa và kệ tụng của tác giả. Tức Thập ngưu đồ tụng (gọi đủ: Trụ Đỉnh châu Lương sơn Quách am hòa thượng thập ngưu đồ tụng tinhtự), 1 quyển, được thu vào Vạn tục tạng tập 113. Toàn tập sách gồm 10 bức tranh chăn trâu, dưới mỗi bức có một bài kệ 4 câu nói rõ nội dung của bức tranh.Mười bức theo thứ tự như sau: 1. Tìm trâu: Dụ cho việc đánh mất bản tâm viên thành sẵn có mà đi tìm kiếm trong các cảnh được mất, phải quấy. 2. Thấy dấu chân trâu: Dụ cho việc xem kinh hiểu nghĩa, dần dần thấy được dấu vết của bản tâm. 3. Thoáng thấy bóng trâu: Dụ cho công đức nghe pháp tu học mà thấy được tâm sẵn có. 4. Đã bắt được trâu: Dụ cho việc tuy đã được tâm nhưng tập khí phiền não vẫn còn đó, sợ lại phóng tâm, cho nên cần phải gia công tu luyện. 5. Chăn trâu: Dụ cho việc điều hòa tâm sau khi ngộ khiến tâm thuần thục hoàn toàn, tức tiếp tục tu luyện. 6. Cỡi trâu về nhà: Dụ cho việc thoát khỏi sự ràng buộc của tình thức vọng tưởng, trở về quê hương xưa nay của chính mình. 7. Quên trâu còn người: Dụ cho việc đã trở về quê hương bản giác vô vi, không còn cần tu luyện thì an nhàn vô sự. 8. Trâu người đều quên: Dụ cho việc đã trút sạch phàm tình, toàn cõi không một vật, phàm thánh cũng mất, chúng sinh và Phật đều không. 9. Trở về cội nguồn: Dụ cho bản tâm của mình xưa nay vốn thanh tịnh, không phiền não, vọng niệm, đương thể tức thực tướng các pháp. 10. Thõng tay vào chợ: Dụ cho việchòa quang đồng trần làm lợi ích chúng sinh. 1. Bức tranh tìm trâu 2. Bức thấy dấu chân trâu 3. Bức thoáng thấy bóng trâu 4. Bức đã bắt được trâu 5. Bức chăn trâu 6. Bức cỡi trâu về nhà 7. Bức quên trâu còn người 8. Bức quên cả trâu và người 9. Bức trở về cội nguồn 10. Thõng tay vào chợ Thập ngưu đồ, Tín tâm minh, Chứng đạo ca và Tọa thiền nghi, hợp lại in chung, gọi là Tứ bộ lục. Mười bài tụng (dịch thoát): 1. Tìm trâu: Nước biếc non xanh nhuộm một màu. Um tùm lối cỏ biết tìm đâu? Hơi tàn chân mỏi hồn hiu quạnh, Chiều xuống ve kêu gợi nỗi sầu! 2. Thấy dấu chân trâu: Ven suối bìa rừng in dấu chân, Hỏi tin hoa lá đứng tần ngần, Trời xa ráng nhạt mờ sương khói, Núi thẳm rừng sâu một chiếc thân. 3. Thoáng thấy bóng trâu: Trên cành thỏ thẻ tiếng hoàng oanh, Gió nhẹ trời quang dặm liễu xanh, Thấp thoáng đâu đây hình bóng cũ, Mơ màng giấc mộng vẫn chưa thành. 4. Đã bắt được trâu: Giờ đây trâu đã dắt nơi tay, Cố giữ làm sao khỏi sút dây, Có lúc như trèo lên đỉnh núi, Nhưng rồi chợt thấy ngủ trong mây. 5. Chăn trâu: Sợ quen đường cũ lại đi hoang, Từng phút từng dây phải buộc ràng; Đến một ngày kia nên thuần thục, Tha hồ trời rộng bước thênh thang. 6. Cỡi trâu về nhà: Cỡi trâu lững thững trở về nhà, Tiếng địch chiều thu tiễn ráng xa; Bát ngát bốn bề hương trầm tỏa, Tri âm nào biết cõi lòng ta. 7. Quên trâu còn người: Cỡi trâu giờ đã đến nhà rồi, Roi gác trâu buông ngủ thảnh thơi; Rực rỡ vầng hồng còn dệt mộng, Trong gian nhà cỏ một mình thôi. 8. Trâu người đều quên: Trâu người nhà cỏ thảy đều không, Lồng lộng trời xanh tin chẳng thông; Sợi tuyết trên lò đang rực lửa, Đến được đấy rồi hợp tổ tông. 9. Trở về cội nguồn: Tìm gốc quay về những uổng công, Nào biết xưa nay lí vốn không; Trước mắt bao la nhưng chẳng thấy, Hoa cười tươi thắm nước mênh mông. 10. Thõng tay vào chợ: Mình trần lem luốt cười ha ha, Ngất ngưỡng rong chơi chốn chợ xa; Phép lạ thần tiên không màng đến, Cây cỗi cành khô khiến trổ hoa!
thập nhân
Daśa-hetavah (S) 10 nguyên phát sinh các hiện tượng vật chất và tinh thần.
; Ten Causes—See Thập Nhân Thập Quả.
; (十因) Phạm: Daza hetava#. Cũng gọi Thập chủng nhân. I. Thập Nhân. Chỉ cho 10 nguyên nhân sinh ra tất cả hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần được thuyết minh theo các Sở y xứ (chỗ nương theo). A. Thuyết của tông Duy thức. 1. Tùy thuyết nhân: Nương theo Ngữ y xứ mà lập ra. Khi tùy theo chỗ thấy nghe mà nói các nghĩa thì ngữ năng thuyết là nhân sở thuyết. 2. Quan đãi nhân: Nương theo Lãnh thụ y xứ mà lập ra. Như do quan đãi A mà có các việc sinh, trụ, thành, đắc B, A sở đãi là nhân đẳng đãi; chẳng hạn vì lấy tay làm nhân mà có động tác nắm giữ. 3. Khiên dẫn nhân: Nương theo Tập khí y xứ mà lập ra. Ở giai vị các chủng tử chưa thuần thục thì đưa đến tự quả lâu xa. 4. Sinh khởi nhân: Nương theo Hữu nhuận chủng tử y xứ mà lập ra. Chủng tử đã thuần thục thì sinh khởi tự quả tương đối gần hơn. 5. Nhiếp thụ nhân: Nương theo 6 y xứ: Vô gián diệt, cảnh giới, căn, tác dụng, sĩ dụng và chân thực mà lập ra. Tức ngoài chủng tử, các duyên nhiếp thụ nhau mà sinh ra quả. 6. Dẫn phát nhân: Nương theo Tùy thuận y xứ mà lập ra. Các pháp chủng tử hiện hành của thiện, nhiễm, vô kí có năng lực sinh ra nhân của thắng hạnh và pháp vô vi. 7. Định biệt nhân (cũng gọi Định dị nhân): Nương theo Sai biệt công năng y xứ mà lập ra. Tất cả pháp hữu vi đều dẫn phát chứng đắc tự quả mà không tạp loạn. 8. Đồng sự nhân: Nương theoHòa hợp y xứ mà lập ra. Do 7 nhân nói trên cùng với quả hòa hợp làm một. 9. Tương vi nhân: Nương theo Chướng ngại y xứ mà lập ra. Lấy duyên trái ngược làm tính, gây ra chướng ngại cho việc sinh, trụ, thành, đắc của các pháp. 10. Bất tương vi nhân: Nương theo Bất chướng ngại y xứ mà lập ra. Không cản trở việc sinh, trụ, thành, đắc của các pháp. Mười nhân này dùng chủng tử của ngũ cốc từ khi còn là hạt giống tới lúc thành thục(đã chín) làm thí dụ để thuyết minh tác dụng có tính cách quyết định của chủng tử thức A lại da đối với việc sinh khởi các hiện tượng của thế giới, các hoạt động chi phối con người cùng với tính tất nhiên của nghiệp báo luân hồi. B. Thuyết của các kinh: 1. Mười nhân được lập trong kinh Bồ tát địa trì quyển 3, đó là: Tùy thuyết nhân, Dĩ hữu nhân, Chủng thực nhân, Nhiếp nhân, Sinh nhân, Trưởng nhân, Tự chủng nhân, Cộng sự nhân, Tương vi nhân và Bất tương vi nhân. 2. Mười nhân được lập trong kinh Bồ tát giới quyển 3, đó là: Lưu bố nhân, Tòng nhân, Tác nhân, Nhiếp nhân, Tăng trưởng nhân, Chuyển nhân, Bất cộng nhân, Cộng nhân, Hại nhân và Bất hại nhân. [X. luận Du già sư địa quyển 38; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Thập Ngũ Y Xứ). II. Thập Nhân. Chỉ cho 10 hành pháp mà nếu Bồ tát thành tựu thì sẽ được cảnh giới Niết bàn, bởi thế, 10 hành pháp này cũng được gọi là Niết bàn thập nhân. Đó là: Tín, Giới, Cận thiện hữu, Tịch tĩnh, Tinh tiến, Chính niệm cụ túc, Nhu ngữ (Nhuyến ngữ) Hộ pháp, Bố thí và Chính ý. [X. kinh Niết bàn Q.29 (bản Nam); Đại thừa nghĩa chương Q.14].
thập nhân duyên
(十因緣) Chỉ cho 10 chi duyên khởi trong 12 nhân duyên. Tức đối với Duyên khởi quan, các kinh có nói khác nhau. Chủ yếu có 2 thuyết: 1. Mười chi từ Thức đến Sinh, Lão tử, tức trong 12 nhân duyên trừ Vô minh và Hành. Các kinh được dẫn dụng trong luận Bà sa và Tạp a hàm Hán dịch nhất trí chủ trương Sinh quán(quán thuận) 10 chi, Diệt quán(quán nghịch) 12 chi. Còn kinh điển tiếng Pàli thì Sinh quán và Diệt quán đều là 10 chi. 2. Mười chi từ Vô minh đến Hữu, tức Trong 12 nhân duyên, trừ Sinh và Lão tử. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 21 (Đại 12, 490 hạ) nói: Pháp 10 nhân duyên là Sinh tác nhân, tức cho rằng 2 chi Sinh và Lão tử thuộc vị lai, bởi vậy, nếu thuyết minh nhân duyên từ quá khứđến hiện tại thì chỉ có 10 chi. Kinh Đại bát niết bàn quyển 19 (bản Nam) dùng 12 chi để giải thích 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai, cho Vô minh và Hành là 2 chi thuộc quá khứ, 10 chi còn lại thì thuộc vị lai. [X. kinh Tạp a hàm Q.12; kinh Trung a hàm Q.24; luận A tì đàm tì bà sa Q.13; luận Phát trí Q.1; luận A tì đàm bát kiền độ Q.2; Nguyên thủy Phật giáo tư tượng luận (Kimura Taiken)].
thập nhân thập quả
Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về thập nhân thập quả như sau—According to the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the ten causes and ten effects as follows: 1) Dâm Tập Nhân: Habits of lust or the habit of sexual desire. a) Dâm dục phát triển thành thói quen vì sự giao hợp trong đó hai người âu yếm nhau và phát sanh sức nóng kích thích sự ham muốn. Chuyện nầy cũng giống như việc chà xát hai tay với nhau: Lust grows into a habit because of sexual intercourse in which two people caress each other thereby producing heat that in turn stimulates desire. This is like the heat caused by rubbing the hands together. b) Nhân dâm dục có quả báo là giường sắt nóng, cột đồng, tám địa ngục nóng (giường sắt có nghĩa là sự ham muốn, và cột đồng có nghĩa là sự thèm muốn tình dục): Adultery results in the iron bed, the copper pillar, and the eight hot hells (the bed stands for sexual desire and the pillar for the partner on whom the sinner depends to stimulate his sexual appetite). c) Đức Phật dạy: “Dâm tập giao tiếp, phát ra từ nơi cọ xát mãi không thôi. Như vậy nên lúc chết thấy có lửa sáng, trong đó phát động. Ví dụ như người lấy tay cọ xát nhau thấy có hơi nóng. Hai cái tập nương nhau khởi, nên có việc giường sắt trụ đồng. Cho nên mười phương các Đức Phật nói dâm là lửa dục. Bồ Tát thấy sự dâm dục như tránh hầm lửa.”—The Buddha taught: “Habits of lust and reciprocal interactions which give rise to mutual rubbing. When this rubbing continues without cease, it produces a tremendous raging fire within which movement occurs, just as warmth arises between a person's hands when he rubs them together. Because these two habits set each other ablaze, there come into being the iron bed, the copper pillar, and other such experiences. Therefore, Thus Come Ones of the ten directions look upon the practice of lust and name it the 'fire of desire.' Bodhisattvas avoid desire as they would a fiery pit.” 2) Tham Tập Nhân: Habits of greed (craving). a) Nhân tham lam quả báo là địa ngục lạnh: Covetousness results in the cold hells. b) Đức Phật dạy: “Tham tập giao kết, phát ra thu hút mãi không thôi. Như vậy nên có chứa cái giá lạnh, trong đó lạnh lẽo. Ví dụ người lấy miệng hít gió, thấy có hơi lạnh. Hai cái tập xô đẩy nhau, nên có những việc ba ba, tra tra, la la, như băng lạnh, hoa sen trắng, đỏ, xanh. Vì thế mười phương các Đức Phật nói tham cầu như là nước tham. Bồ Tát nên tránh tham như tránh biển độc.”—The Buddha taught: “Habits of greed and intermingled scheming which give rise to a suction. When this suction becomes dominant and incessant, it produces intense cold and solid ice where freezing occurs, just as a sensation of cold is experienced when a person draws in a blast of wind through his mouth. Because these two habits clash together, there come into being chattering, whimpering, and shuddering; blue, red, and white lotuses; cold and ice; and other such expeirences.” 3) Mạn Tập Nhân: Habits of arrogance. a) Nhân ngã mạn quả báo là bị rơi vào sông máu biển độc: Conceit results in blood rivers and poisonous seas. b) Đức Phật dạy: “Mạn tập giao lấn, phát ra ỷ nhau, tuôn chảy mãi không thôi. Như vậy nên có cuồn cuộn chảy, chứa sóng thành nước. Như lưỡi nếm vị, chảy nước dãi vậy. Hai tập cổ động nhau, nên có các việc sông huyết, tro cát nóng, biển độc, nước đồng, vân vân. Vì thế mười phương Phật gọi ngã mạn là uống nước si. Bồ Tát nên tránh ngạo mạn như tránh chỗ sa lầy lớn.”—Habits of arrogance and resulting friction which give rise to mutual intimidation. When it accelerates without cease, it produces torrents and rapids which create restless waves of water, just as water is produced when a person continuously works his tongue in an effort to taste flavors. Because these two habits incite one another, there come into being the river of blood, the river of ashes, the burning sand, the poisonous sea, the molten copper which is poured over one or which must be swallowed, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon self-satisfaction and name it 'drinking the water of stupidity.' Bodhisattvas should avoid arrogance as they would a huge deluge.” 4) Sân Tập Nhân: Habits of hatred (anger)—Nhân sân hận quả báo là bị thiến, cắt, đẽo: Hatred results in emasculation of sex organ—Đức Phật dạy: “Sân tập xung đột xen nhau, phát từ nơi giận nhau, kết mãi không thôi. Tâm nóng nảy phát ra lửa, hun đúc khí kết lại thành loại kim. Như vậy nên có các việc đao sơn, kiếm thụ, và phủ việt. Như người bị hàm oan, đằng đằng sát khí. Hai tập kích thích nhau, nên có các việc bị hình, chém, đâm, đánh, đập. Vì thế mười phương Phật nói nóng giận tên là đao kiếm sắc. Bồ Tát tránh sân như tránh sự tàn sát.”—Habits of hatred which give rise to mutual defiance. When the defiance binds one without cease, one's heart becomes so hot that it catches fire, and the molten vapor turns into metal. From it produced the mountain of knives, the iron cudgel, the tree of swords, the wheel of swords, axes and halberds (cây kích), and spears and saws. It is like the intent to kill surging forth when a person meets a mortal enemy, so that he is roused to action. Because these two habits clash with one another, there come into being castration and hacking, beheading and mutilation, filing and sticking, flogging and beating, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon hatred and name it 'sharp knives and swords.' Bodhisattvas should avoid hatred as they would their own execution.” 5) Trá Tập Nhân: Gian trá lừa đảo quả báo là bị gông cùm roi vọt—Habits of deceptions (deceitfulness) result in yokes and being beaten with rods—Đức Phật dạy: “Trá tập dụ nhau, phát từ nơi dỗ nhau, dẫn dắt không thôi. Vì vậy như dây quấn cây để sống, nước tưới ruộng thì cây cỏ sinh trưởng. Hai tập nhân nhau, nên có các việc gông, xiềng, cùm, xích, roi, đánh, vân vân. Vì thế mười phương Phật gọi gian ngụy là giặc hiểm. Bồ Tát nên tránh gian trá như tránh lang sói.”—The Buddha taught: “Habits of deception and misleading involments which give rise to mutual guile. When such maneucering continues without cease, it produces the ropes and wood of gallows for hanging, like the grass and trees that grow when water saturates a field. Because these two habits perpetuate one another, there come into being handcuffs and fetters, cangues and locks, whips and clubs, sticks and cudgels, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon deception and name it a 'treacherous crook.' Bodhisattvas fear deception as they would a savage wolf.” 6) Cuốn Tập Nhân: Habits of lying—Đức Phật dạy: “Cuốn tập dối nhau, phát từ nơi dối gạt nhau, dối và vu khống mãi không thôi, buông tâm làm gian. Như vậy nên có đồ bẩn thỉu, bụi bậm ô uế, như bụi theo gió, đều không thấy. Hai tập giao nhau, nên có các việc chìm đắm, vụt, bay. Vì thế mười phương Phật gọi lừa gạt là cướp giết. Bồ Tát tránh dối gạt như tránh rắn độc.”—The Buddha taught: “Habits of lying and combined fraudulence which give rise to mutual cheating. When false accusations continue without cease, one becomes adept at corruption. From this there come into being dust and dirt, excrement and urine, filth, stench, and impurities. It is like the obscuring of everyone's vision when the dust is stirred up by the wind. Because these two habits augment one another, there come into being sinking and drowning, tossing and pitching, flying anf falling, floating and submerging, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon lying and name it 'robbery and murder.' Bodhisattvas regard lying as they would treading on a venomous snake.” 7) Oan Tập Nhân: Habits of animosity (resentment)—Đức Phật dạy: “Oan tập hiềm nhau, phát từ nơi hàm hận. Như vậy nên có những việc ném đá, ném gạch, nhốt cũi, rọ, như người âm độc, lòng chất chứa các sự ác. Hai tập lấn át nhau, nên có những việc ném bắt, đánh, bắn. Vì thế mười phương Phật gọi oan gia là quỷ phá hoại. Bồ Tát tránh oan gia như rượu độc.”—Habits of animosity and interconnected enmity which give rise to grievances. From this there come into being flying rocks, thrown stones, caskets and closets, cages on wheels, jars and containers, and bags and rods. It is like someone harming others secretly. He harbors, cherishes, and nurtures evil. Because these two habits swallow one another up, there come into being tossing and pitching, seizing anf apprehending, striking and shooting, casting away and pinching, and other such experiences. . Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon animosity and name it a 'disobedient and harmful ghost.' Bodhisattvas regard animosity as they would drinking poisonous wine.” 8) Kiến Tập Nhân: Habits of views (wrong views)—quả báo của kiến tập là bị tra tấn khảo đảo: Wrong views result in torture—Đức Phật dạy: “Kiến tập giao minh, như thân kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà giải, các nghiệp. Phát từ nơi chống trái, sinh ra trái nhau. Như vậy nên có sứ vua, chủ lại cầm văn tịch làm chứng. Ví như người đi đường qua lại gặp nhau. Hai tập giao nhau, nên có các việc tra hỏi, gian trá, xét gạn, khám tra, vạch cứu, soi rõ, và thiện ác đồng tử tay cầm quyển sổ để biện bạch. Vì thế mười phương Phật gọi ác kiến là hầm ái kiến. Bồ Tát tránh các sự thiên chấp hư vọng như xa vũng nước độc.”—The Buddha taught: “Habits of views and the admixture of understandings, such as Satkayadrishti, views, moral prohibitions, grasping, and deviant insight into various kinds of karma, which bring about opposition and produce mutual antagonism. From them there come into being court officials, deputies, certifiers, and registrars. They are like people traveling on a road, who meet each other coming and going. Because these two habits influence one another, there come into being official inquiries, baited questions, examinations, interrogations, public investigations, exposure, the youth who record good and evil, carrying the record books of the offenders' arguments and retionalizations, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon evil views and name them the 'pit of views.' Bodhisattvas regard having false and one-sided views as they would standing on the edge of a steep ravine full of poison.” 9) Uổng Tập Nhân: Habits of injustice (unfairness)—Đức Phật dạy: “Uổng tập xen nhau, phát từ nơi vu báng. Như vậy cho nên có các việc hai hòn núi đá ép lại, nghiền, xay. Ví dụ đứa giặc dèm pha, hại người lương thiện. Hai tập xô đẩy nhau, nên có các việc giằng, ép, đè, nén, lọc, cân. Vì thế mười phương Phật gọi vu oan là cọp biết dèm nói. Bồ Tát tránh sự vu oan như tránh sét đánh.”—Habits of injustice and their interconnected support of one another; they result in instigating false charges and libeling. From them are produced crushing between mountains, crushing between rocks, stone rollers, stone grinders, plowing, and pulverizing . It is like a slanderous villain who engages in persecuting good people unjustly. Because these two habits join ranks, there come into being pressing and pushing, bludgeons and compulsion, squeezing and straining, weighing and measuring, and other such experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon harmful accusations and name them a 'treacherous tiger.' Bodhisattvas regard injustice as they would a bolt of lightning.” 10) Tụng Tập Nhân: Habits of litigation (disputation)—Đức Phật dạy: “Tụng tập giao huyên, phát từ che dấu. Như vậy nên có những việc gương soi thấy tỏ rõ, ví như giữa mặt trời không thể dấu hình ảnh. Hai tập bày ra, nên có các bạn ác tố cáo, nghiệp cảnh hỏa châu, vạch rõ và đối nghiệm nghiệp đời trước. Vì thế mười phương Phật gọi che dấu là âm tặc. Bồ Tát tránh che dấu như bị đội núi cao đi trên biển cả.”—Habits of litigation and the mutual disputations which give rise to covering. From them there are produced a look in the mirror and illumination by the lamp. It is like being in direct sunlight. There is no way one can hide one's shadow. Because these two habits bicker back and forth, there come into being evil companions, the mirror of karma, the fiery pearl, exposure of past karma, inquests, and other such experiences. Therefore, all the Thus Come Ones of the ten directions look upon covering and name it a 'yin villain.' Bodhisattvas regard covering as they would having to carry a mountain atop their heads while walking upon the sea.”
thập nhãn
The ten kinds of eye: (1) Nhục nhãn, eyes of flesh; (2) thiên nhãn, deva eyes; (3) tuệ nhãn, wisdom eyes; (4) pháp nhãn, dharma eyes; (5) Phật nhãn. Buddha eyes; (6) trí nhãn, eyes of judgement; (7) quang minh nhãn, eyes shining with Buddha light; (8) xuất sinh tử nhãn, immortal eyes; (9) vô ngại, unhindered eyes; (10) nhất thiết trí nhãn, omniscient eyes.
; Ten kinds of eyes: 1) Nhục nhãn: Eyes of flesh—Ordinary eyes—Worldly eyes. 2) Thiên nhãn: Deva eyes. 3) Huệ nhãn: Wisdom eyes. 4) Pháp nhãn: Dharma eyes. 5) Phật nhãn: Buddha eyes. 6) Trí nhãn: Eyes of judgment. 7) Quang minh nhãn: Eyes shining with Buddha-light. 8) Xuất sinh tử nhãn: Immortal eyes. 9) Vô ngại nhãn: Unhindered eyes. 10) Nhứt thiết trí nhãn: Omniscient eyes.
thập nhĩ
(十耳) Chỉ cho 10 thứ lực dụng nghe âm thanh mà hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên đạt được: 1. Nghe âm thanh khen ngợi, đoạn trừ tham ái. 2. Nghe âm thanh chê trách, đoạn trừ sân khuể. 3. Nghe các âm thanh Thanh văn, Duyên giác không khởi tâm mong cầu. 4. Nghe âm thanh Bồ tát đạo, phát khởi tâm hoan hỉ kì đặc. 5. Nghe các âm thanh của tất cả nơi tai nạn, nghèo khổ như địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, Diêm la vương, A tu la... phát khởi tâmđại bitựtrang nghiêm. 6. Nghe các âm thanh thù thắng, vi diệu của cõi trời,cõingười thì quán xét tất cả pháp thảy đều vô thường. 7. Nghe âm thanh công đức của Phật, thì tinh tiến siêng tu đầy đủ mọi công đức.8. Nghe âm thanh kinh tạng Tứ nhiếp bồ tátba la mật thì phát tâm rốt ráo đến bờ kia. 9. Nghe âm thanh của tất cả thế giới trong 10 phương đều biết rõ như tiếng vang. 10. Từ lúc mới phát tâm cho đến ngồi đạo tràng, thường chính thụ pháp nhĩ mà không bỏ việc giáo hóa thành thục tất cả chúng sinh. [X. kinh Hoa nghiêm Q.41 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17; Hoa nghiêm kinh sớ Q.53].
thập như quyền thật
(十如權實) Chỉ cho tính quyền biến và chân thực của Thập như thị. Về vấn đề này, có nhiều thuyết khác nhau. Theo ngài Pháp vân chùa Quang trạch thì 5 Như thị trước: Tướng, Tính, Thể, Lực và Tác là Quyền, thuộc phàm phu; 4 Như thị kế tiếp: Nhân, Duyên, Quả, Báo là Thực, thuộc Thánh nhân. Một như thị cuối cùng: Bản mạt cứu cánh đẳng là tổng kết Quyền(bản mạt) và Thực(cứu cánh đẳng). Còn các Luận sư miền Bắc thì chủ trương 5 Như thị trước là Quyền, 5 Như thị sau là Thực. Đối với 2 luận thuyết trên đây, ngài Trí khải bình phẩm thuyết trước, cho rằng phàm phu thiếu Nhân, Duyên, Quả, Báo; Thánh nhân thiếu Tướng, Tính, Thể, Lực, Tác, tức phàm phu không có Thực, Thánh nhân không có Quyền. Bình phẩm thuyết sau cho rằng thiên về cái thấy của nhân tình. Vì thế, ngài Trí khải mới y cứ vào Thập giới mà luận về Thập như thị, cho rằng 1 pháp giới có đủ 10 Như thị, 10 pháp giới có 100 Như thị. Lại trong 1 pháp giới có đủ 9 pháp giới, cho nên mới có thuyết Bách giới thiên như(100 pháp giới 1000 như thị). Thập như thị của 9 giới là Quyền; Thập như thị của Phật giới là Thực; đồng thời chia 10 giới làm 5 loại: Ác, thiện, Nhị thừa, Bồ tát, Phật và 4 loại trước là Quyền, 1 loại sau là Thực. Nhưng đây là nói về mặt Sự, chứ nói theo mặt Lí thì 10 giới xưa nay vốn bình đẳng vô sai biệt, mỗi giới đều có đủ Quyền, Thực. (xt. Thập Như Thị, Quyền Thực).
Thập Như Thị
(十如是, Mười Pháp Như Vậy) gồm có: (1) như thị tướng (如是相), - (2) như thị tánh (如是性), (3) như thị thể (如是体), - (4) như thị lực (如是力), (5) như thị tác (如是作), - (6) như thị nhân (如是因), (7) như thị duyên (如是緣), - (8) như thị quả (如是果), (9) như thị báo (如是報), - (10) như thị bản mạt cứu cánh đẳng (如是本末究竟等).
thập như thị
The ten essential qualities, or characteristics, of a thing, according to the phẩm phương tiện of the Lotus sùtra: như thị tướng, form; như thị tính, nature; như thị thể, corpus or embodiment; như thị lực, powers; như thị tác function; như thị nhân, primary cause; như thị duyên, environmental cause; như thị quả, effect; như thị báo, karmaic reward; như thị bản mạt cứu kính, the inseparability, or inevitability of them all.
; (十如是) Cũng gọi Thập như. Chỉ cho 10 Như thị cần được nắm vững để tìm cầu thực tướng các pháp, đó là: Như thị tướng, Như thị tính, Như thị thể, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên, Như thị quả, Như thị báo và Như thị bản mạt cứu cánh đẳng. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 5 hạ) nói: Chỉ có Phật với Phật mới thấu suốt được thực tướng các pháp. Nghĩa là các tướng như thế, tính như thế, thể như thế, lực như thế, tác như thế, nhân như thế, duyên như thế, quả như thế, báo như thế và đầu cuối rốt ráo như thế. Tức tướng trạng(Thực tướng) của hết thảy các pháp xưa nay đều có đủ 10 thứ Như thị. Ngài Trí khải phối hợp 10 Như thị này với 10 pháp giới và 3 loại thế gian mà cấu thành thuyết Nhất niệm tam thiên(Một niệm ba nghìn). Nhưng xưa nay các nhà giải thích 10 Như thị đều khác nhau. Như ngài Tuệ tư chủ trương trong đoạn văn trên nên ngắt câu ở chữ Như mà gọi là Thập như, hoặc gọi là Thập như thực tướng, Thập như cảnh. Lại đoạn văn kinh này là qui nạp yếu nghĩa khai hội trong kinh Pháp hoa, tức trong tư tưởng Khai quyền hiển thực, Phế quyền lập thực, Hội tam qui nhất... cho nên gọi tắt là Khai tam hiển nhất, Lược pháp hoa... Về việc giải thích đoạn văn này, các vị Luận sư trước ngài Trí khải, có vị chỉ gọi là tác dụng của trí tuệ, hoặc gọi là tác dụng 10 lực của Phật, hoặc giải thích đó là sự trình bày về nội dung của pháp Tam thừa. Đối với các giải thích trên đây, ngài Trí khải đều không đồng ý, bởi vì, theo ngài, Thập như thị này nhiếp các lí: Mê ngộ, y chính, sự lí nhất thể, quyền thực viên dung. Pháp hoa văn cú quyển 3 hạ, thì giải thích theo 4 phương diện: Thập pháp giới, Phật giới, Li hợp và Vị thứ. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 thượng, thì trong 3 đế Không, Giả, Trung, Thập như thịnàynên đọc theo 3 cách khác nhau, đó là Thị tướng như (tức Không), Như thị tướng(tức Giả)và Tướng như thị (tức Trung). Trong Thập như thị, Tướng nghĩa là tướng trạng, chỉ cho các hình tướng bên ngoài; Tính hàm ý là bất biến, chỉ cho bản tính bên trong; Thể tức chủ thể lấy tướng và tính làm thuộc tính; Lực tức là năng lực tiềm tàng sẵn trong Thể, Tác là động tác hiển hiện; Nhân chỉ cho nguyên nhân trực tiếp; Duyên là nguyên nhân gián tiếp; Quả là kết quả do Nhân và Duyên hòa hợp sinh ra; Báo chỉ cho quả báo. Trong Bản mạt cứu cánh đẳng thì Bản chỉ cho tướng mở đầu, Mạt chỉ cho báo cuối cùng, Đẳng chỉ cho bình đẳng, tức từ Như thị tướng cho đến Như thị báo nói ở trên đều hướng về Thực tướng đồng nhất và rốt ráo bình đẳng, cho nên nói là Bản mạt cứu cánh đẳng. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, thượng]. (xt. Tam Chuyển Độc Văn, Biệt Giải Tứ Loại Thập Như Thị, Thông Giải Thập Như Thị).
Thập như thị 十如是
[ja] ジュウニョゼ jū nyoze ||| The ten factors, or ten "suchnesses" of existent things as taught in the Tiantai Buddhism 天台宗, based on the Lotus Sutra. These are marks 如是相, nature 如是性, substance 如是體, power 如是力, activity 如是作, primary causes 如是因, conditions 如是縁, effects 如是果, rewards and retributions 如是報, and the totality of the nine factors. Abbreviated as 〔法華經 T 262.9.5c12〕 => Mười Như thị do tông Thiên thai đề xướng, căn cứ trong kinh Pháp Hoa. Đó là: Như thị tướng, Như thị tánh, Như thị thể, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên, Như thị quả, Như thị báo, Như thị cứu cánh bản mạt. Gọi tắt là Thập như十如.
thập nhất biến sử
(十一遍使) Cũng gọi Thập nhất biến hành hoặc.Chỉ cho 11 hoặc(phiền não) của nhân Biến hành, cũng là nhân sinh ra tất cả phiền não. Đó là: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, nghi, vô minh trong 10 hoặc do mê Khổ đế và 4 oặc: Tà kiến, kiến thủ kiến, nghi và vô minh trong 7 hoặc do mê Tập đế. [X. luận Câu xá Q.19]. (xt. Lục Nhân).
thập nhất chủng bất hoàn
(十一種不還) Chỉ cho 11 bậc Thánh Bất hoàn được nêu trong luận Thành thực, đó là: 1. Hiện ban: Bậc Thánh Bất hoàn không thụ sinh ở các cõi trên mà ngay nơi thân cõi Dục đoạn trừ các hoặc còn lại và nhập Niết bàn. 2. Chuyển thế: Đã chứng quả Dự lưu, trải qua nhiều đời thụ sinh ở cõi Dục mà được quả A la hán. 3. Trung ban: Chết ở cõi Dục mà lên cõi Sắc, ở giai đoạn Trung hữu đoạn trừ các hoặc còn lại rồi nhập Niết bàn. 4. Sinh ban: Sinh lên cõi Sắc, mau chóng đoạn trừ các hoặc còn lại mà nhập Niết bàn. 5. Hữu hành ban: Sinh lên cõi Sắc, gia hạnh siêng tu, chỉ trong thời gian ngắn là nhập Niết bàn. 6. Vô hành ban: Sinh lên cõi Sắc, nhưng biếng tu gia hạnh, nên phải trải qua thời gian dài đoạn hoặc còn lại để tự giải thoát mà nhập Niết bàn. 7. Lạc tuệ. 8. Lạc định: Hai bậc này đều thuộc Thượng lưu ban; bậc Lạc tuệ sinh lên cõi trời Sắc cứu cánh, đoạn trừ các hoặc còn lại mà nhập Niết bàn; bậc Lạc định thì sinh lên tầng trời Hữu đính cõi Vô sắc đoạn trừ các hoặc còn lại rồi nhập Niết bàn. Bậc này tuy sinh lên cõi Vô sắc, nhưng vì sinh qua cõi Sắc nên cũng thuộc cõi Sắc. 9. Tín giải. 10. Kiến chí: Hai bậc này là 2 căn cơ độn, lợi trong Tu đạo, là các bậc Thánh thứ 3, thứ 4 trong 7 bậc Thánh của luận Câu xá. 11. Thân chứng giả: Bậc Thánh vào định Diệt tận, thân được tĩnh lặng, yên vui. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.11, phần đầu].
thập nhất chủng nguyệt dụ
(十一種月喻) Chỉ cho 11 điều lợi ích của việc Như lai Nói pháp được ví dụ như ánh sáng của vầng trăng tròn. Đó là: 1. Phá trừ bóng tối: Lời nói pháp của đức Như lai có năng lực phá trừ vô minh tăm tối của tất cả chúng sinh, giống như khi trăng tròn thì ánh sáng trong mát chiếu soi làm cho khắp mặt đất đều sáng tỏ. 2. Giúp chúng sinh thấy rõ chính đạo, tà đạo: Như lai nói pháp mở bày chính đạo, tà đạo, khiến mọi người đều biết rõ điều gì nên làm điều gì không nên làm; giống như khi trăng tròn ánh sáng soi rọi khắp mặt đất, mọi người đều thấy rõ đâu là đường đi đâu không phải đường đi. 3. Khiến chúng sinh thấy rõ đường tà chính: Đức Như lai chỉ bày con đường sinh tử tà hiểm, khiến chúng sinh hướng tới đường Niết bàn bằng phẳng thênh thang; giống như vầng trăng tròn, ánh sáng chiếu khắp mặt đất, giúp mọi người thấy rõ con đường bằng phẳng, khúc khuỷu. 4. Trừ nóng bức, được mát mẻ: Đức Như lai thuyết pháp khiến chúng sinh xa lìa các khổ tham dục, sân khuể, ngu si, sinh tử và được niềm vui Niết bàn mát mẻ; giống như vầng trăng tròn, mặc dầu trời nóng bức, vẫn tỏa ra ánh sáng mát dịu, mang lại hơi lạnh thấm vào người. 5. Phá tan tâm tự cao: Đức Như lai ra đời, chính pháp sáng rỡ, làm cho ánh sáng của tất cả ngoại đạo tà kiến đều lu mờ; giống như vầng trăng tròn, ánh sáng chiếu rọi tất cả núi sông, đất đai, không đâu không sáng tỏ, khiến cho ánh sáng của loài đom đóm đều bị tan mất. 6. Ngăn dứt ý tưởng trộm cướp: Đức Như lai nói pháp khiến chúng sinh phá trừ bóng tối vô minh, tất cả phiền não mãi mãi không khởi; giống như vầng trăng tròn, ánh sáng soi rọi tất cả các nơi tăm tối, làm cho các ý nghĩ trộm cướp tự nhiên dứt bặt. 7. Trừ bỏ tâm sợ ác thú: Như lai nói pháp mở bày chính kiến cho chúng sinh khiến tất cả phiền não nghiệp chướng đềubị tiêu trừ; giống như vầng trăng tròn ánh sáng soi chiếu tất cả chỗ tối tăm, giúp người đi trong đêm tối giữa đồng hoang thấy rõ các ác thú khi chúng xuất hiện.8. Làm cho hoa Ưu bát la nở rộ: Hoa Ưu bát la chỉ cho hoa sen xanh. Nghĩa là đức Như lai thuyết pháp chỉ bày rõ ràng, khiến cho hoa tâm của tất cả chúng sinh đều nở rộ tươi thắm; giống như vầng trăng tròn tỏa ánh sáng khiến hoa nở rộ. 9. Làm cho hoa sen cúp trở lại: Như lai nói pháp chỉ bày rõ ràng khiến tâm ngũ dục của chúng sinh không còn phát khởi nữa; giống như vầng trăng tròn, tỏa ánh sáng chiếu rọi, khiến cho hoa sen nở rồi cúp trở lại. 10. Làm cho người đi đường mạnh mẽ tiến bước: Đức Như lai thuyết pháp khiến chúng sinh dũng mãnh tiến tu, hướng tới con đường đại Niết bàn; giống như vầng trăng tròn, tất cả con đường chính tà, an nguy đều soi rõ hết, làm cho tâm người lữ hành vui mừng tiến lên. 11. Làm cho chúng sinh được vui: Đức Như lai thuyết pháp chỉ bày rõ ràng, khiến chúng sinh tu tập thiền định, phá trừ các phiền não, được niềm vui giải thoát; giống như vầng trăng tròn, khiến người ngắm trăng sinh tâm vui thích. [X. kinh Niết bàn Q.9 (bản Nam)].
Thập nhất chủng thô trọng 十一種麁重
[ja] ジュウイチシュ ソジュウ jūichishu sojū ||| The eleven coarse and heavy hindrances which accord with each of the pairs of the twenty-two kinds of folly 二十二種愚痴, and which are severed at each of the eleven bodhisattva stages 十一地. 〔瑜伽論 T 1579.30.730a9〕 => Mười một loại chướng ngại thô trọng, mỗi thứ cùng kết hợp thành một cặp trong Hai mươi hai loại ngu si (Nhị thập chủng ngu si 二十二種愚痴) mà hàng Bồ-tát thập nhất địa phải đối trị với từng loại một rất khó khăn.
thập nhất chủng trù lâm
(十一種稠林) Chỉ cho 11 thứ rừng rậm. Tức dụ cho 11 loại phiền não rối rắm chằng chịt ràng buộc chúng sinh, đó là: Tâm, phiền não, nghiệp, căn, giải, tính, lạc dục, tùy miên, thụ sinh, tập khí tương tục và tam tụ sai biệt.
thập nhất diện chân ngôn
(十一面真言) Chỉ cho Chân ngôn của Bồ tát Thập nhất diện Quan âm, gồm có Đại chú và Tiểu chú. -Đại chú (Căn bản đà la ni): Án na la na la địa lí địa lí độ rô độ rô nhất tri phạ tri giả lệ giả lệ bát la giả lệ bát la giả lệ củ tô minh củ tô ma phược lệ nhất lí nhĩ lí chỉ lí chỉ trí nhạ la ma bả nẵng dã bả la ma truật đà tát đát phược ma ha ca rô ni ca sa phụ ha.-Tiểu chú: Án rô kê nhập phược la hột lí. [X. Đà la ni tập Q.4; kinh Thập nhất diện Quán tự tại bồ tát tâm mật ngôn niệm tụng nghi quĩ (Bất không); Thập nhất diện thần chú tâmkinh (Huyền trang)].
thập nhất diện phán quan bồ tát
Ekadaśa-mukha (S) Đại Quang Phổ Chiếu Quán Thế Âm Bồ tát Tên một vị Bồ tát.
thập nhất diện quan âm
Ekadaśa-mukha-avalokiteśvara (S) Thập Nhất Diện Quán Thế Âm Tên một vị Bồ tát.
; (十一面觀音) Phạm: Ekàdaza-mukha. Cũng gọi Thập nhất diện Quán tự tại bồ tát, Đại quang phổ chiếu Quán thế âm bồ tát. Bồ tát Quán âm 11 mặt, 1 trong 6 vị Quán âm, 1 trong 7 vị Quán âm. Vị tôn này có nguồn gốc từ Thập nhất hoang thần (Phạm: Ekàdaza-rudra) của Bà la môn giáo ở Ấn độ, có lẽ đã được du nhập Phật giáo vào khoảng thế kỉ thứ V, VI. Cách phối trí 11 mặt có nhiều thuyết khác nhau và hình thức 2 tay, 4 tay, 8 tay... cũng bất đồng. Kinh Thập nhất diện Quán tự tại bồ tát tâm mật ngôn niệm tụng nghi quĩ quyển hạ nói rằng: Tượng Ngài có 4 tay, thân cao 1 thước 3 tấc (Tàu), 3 mặt trước mang vẻ tĩnh lặng, 3 mặt bên phải hiện tướng phẫn nộ, 3 mặt bên trái nhe răng nanh bén nhọn, mặt chính lộ vẻ mỉm cười, mặt thứ 11 trên đỉnh đầu hiện tướng Như lai. Tượng 11 mặt an trí ở hang đá Cam hách thụy (Kanheri) gần Bombay, Ấn độ, thì trên đỉnh đầu của mặt chính có 3 tầng, mỗi tầng có 3 mặt, trên 3 tầng ấy lại có thêm 1 mặt, tất cả gồm 11 mặt. Trong 4 tay thì tay thứ nhất bên trái cầm hoa sen, tay thứ nhất bên phải kết ấn Thí vô úy. Tại Trung quốc, trong hang đá thứ 9 ở núi Thiên long thuộc tỉnh Sơn tây và Pelliot số 102 ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng đều có tượng Thập nhất diện Quán âm. Tượng ở núi Thiên long có 2 tay, tượng ở động Đôn hoàng có 8 tay. Về ý nghĩa thị hiện 11 mặt, theo Thập nhất diện thần chú tâm kinh nghĩa sớ thì mặt Như lai trên đỉnhđầu biểu thị cho Phật quả; 3 mặt phía trước hiện tướng Đại từ, hễ thấy chúng sinh làm điều thiện thì sinh từ tâm, ban cho niềm vui; 3 mặt bên trái hiện tướng phẫnnộ, hễ thấy chúng sinh làmviệcác thì sinh bi tâm, xót thương cứu khổ; 3 mặt bên phải hiện tướng Tượng Quán âm 11 mặt ở hang đá Cam hách thụy (Kanheri), Ấn độ Tượng Thập nhất diện Quán âm được khắc vào đời Đường, Trung quốcnhe răng, hễ thấy chúngsinh tutịnh nghiệp thì khen ngợi là hiếm có và khuyến khích tiến vào Phật đạo; mặt cuối cùng hiện tướng cười tươi, vì thấy chúng sinh bỏ điều ác hướng về Đạo. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo thì Thập nhất diện Quan âm được đặt ở vị trí cuối cùng bên trái của viện Tô tất địa, có 4 tay, 2 bên của mặt chính có 2 mặt đều hiện tướng phẫn nộ, bên trên 3 mặt này lại có 5 mặt, bên trên 5 mặt này lại có 3 mặt nữa. Tay thứ nhất bên trái cầm hoa sen, tay thứ 2 cầm quân trì(bình), tay thứ nhất bên phải co ngón út, ngón trỏ, tay thứ 2 co ngón út, ngón vô danh. Tu pháp Thập nhất diện Quan âm cầu trừ bệnh, diệt tội. Mạn đồ la thờ Thập nhất diện Quan âm làm Trung tôn gọi là Thập nhất diện Quán âm mạn đồ la. Ngoài ra, ở Nhật bản, tượng Thập nhất diện Quán âm bằng gỗ tạc vào thời Thiên bình, được cất giữ ở chùa Thánh lâm, chùa Quán âm là nổi tiếng hơn cả. [X. kinh Thập nhất diện Quán âm thần chú; Thập nhất diện thần chú tâm kinh; kinh Đà la ni tập Q.4].
thập nhất diện quán thế âm
Xem Thập Nhất Diện Quan Âm.
thập nhất diện quán thế âm thần chú kinh
Mukhadaśaikavidyā-mantra-hṛdaya (S) Tên một bộ kinh.
; (十一面觀世音神咒經) Phạm: Mukhadazuikavidyà-mantrahfdaya. Gọi tắt: Thập nhất diện thần chú kinh, Thập nhất diện kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Da xá quật đa dịch vào đời Bắc Chu, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về thần chú và chú pháp của Thập nhất diện Quán âm. Kinh chép: Thủa xưa, khi đức Phật trụ trong núi Kì xà quật gần thành Vương xá; bấy giờ, trong chúng hội, bồ tát Quán thế âm vì diệt trừ các ưu não, bệnh khổ, chướng nạn, tai quái, ác mộng... cho tất cả chúng sinh, nên Bồ tát nói chú tâm Thập nhất diện Quán âm, rồi nói về công đức trì tụng chú này, đồng thời lại nói về 7 loại chú pháp. Kinh này có bản dịch khác đề là Thập nhất diện thần chú tâm kinh do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường.
Thập nhất diện Quán thế âm thần chú kinh. 十一面觀世音神呪經
[ja] ジュウイチメンカンゼイオンシンジュキョウ Jūichimen kanzeon shinjukyō ||| Skt. Avalokiteśvara-ekadaśamukha-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] spyang ras gzigs dbang phyug shal bcu gcig pa shes bya ba'i gzungs [To.693/899, P.373/524]; (Dhāraṇī of the Eleven-Faced Contemplator of the World's Sounds). Spoken by the Eleven-Faced One, Ekadaśamukha, from his residence on Śravasti; whoever upholds the dhāraṇī may gain the ten boons 利益 and four merits 功德. Source text for a maṇḍala centred Ekadaśamukha [Ngor.13]. Four Chinese translations are extant: (1) 1 fasc. (T 1070.20.149-152), Incantation of the Eleven-Faced Contemplator of the World's Sounds 十一面觀世音神呪經, tr. Yaśogupta 耶舍崛多. (2) 1 fasc. (T 1071.20.152-155) Essential Incantation of the Eleven-Faced One 十一面神呪心經 tr. 玄奘. Chinese commentary: Commentary on the Meanings 十一面神呪心經義疏 (T 1802) by Huizhao 慧沼. (3) in the 4th fasc. of the Dhāraṇī Collection 陀羅尼集經 (4) 3 fasc. (T 1069.20.139-152) Ritual Procedure of Recitation based on Spontaneous Contemplation, the Eleven-Faced Bodhisattva 十一面觀自在菩薩念誦儀軌經 abbr. 十一面觀音軌經, tr. Amoghavajra 不空. BGBT4/128-9. => s: Avalokiteśvara-ekadaśamukha-dhāraṇī; t: ['phags pa] spyang ras gzigs dbang phyug shal bcu gcig pa shes bya ba'i gzungs; e; Dhāraṇī of the Eleven-Faced Contemplator of the World's Sounds. Kinh do vị Bồ-tát Quán Thế Âm có 11 mặt (Ekadaśamukha) thuyết giảng từ trú xứ của ngài ở Śravasti, bất kỳ người nào thọ trì thần chú nầy đều có thể đạt được 10 lợi ích và 4 công đức. Nguồn gốc của kinh văn là về một mạn-đà-la có trung tâm là Ekadaśamukha [Ngor.13]. Có 4 bản dịch chchữ Hán hiện đang lưu hành: 1. Thập nhất diện Quán thế âm thần chú kinh. Một quyển. Da-xá-quật-đa (耶舍崛多; s:Yaśogupta) dịch.2. Thập nhất diện thần chú tâm kinh. Ngài Huyền Trang dịch. Bản chú giải tiếng Hán về kinh nầy của Huệ Chiểu 慧沼có tên Thập nhất diện thần chú tâm kinh nghĩa sớ十一面神呪心經義疏.3. Trong quyển thứ 4 của bộ Đà-la-ni tập kinh (T 901) ( Phật thuyết tác sổ châu pháp tướng phẩm 佛説作數珠法相品). 4. Bộ 3 quyển có nhan đề Thập nhất diện Quán Tự Tại Bồ-tát niệm tụng nghi quỹ kinh 十一面觀自在菩薩念誦儀軌經 Gọi tắt là Thập nhất diện Quán Âm quỹ kinh 十一面觀音軌經, Ngài Bất Không (s: Amoghavajra 不空) dịch. Thập nhất diện thần chú tâm kinh 十一面神咒心經 [ja] ジュウイチメンジンジュシンキョウ Jūichimen jinju shin kyō ||| The Shiyimian shenzhou xin jing; Avalokiteśvaraikādaśamukha-dhāranī (Sutra of the Spiritual Mantra of the Eleven-Faced [Avalokiteśvara]). One fascicle, T 1071.20.152-155. Translated by Xuanzang in 656. One version of the . => j: Jūichimen jinju shin kyō; c: Shiyimian shenzhou xin jing; k: Avalokiteśvaraikādaśamukha-dhāranī; e: Sutra of the Spiritual Mantra of the Eleven-Faced [Avalokiteśvara]. Một quyển. Huyền Trang dịch năm 656. Là một bản dịch từ Thập nhất diện Quán thế âm thần chú kinh十一面觀世音神呪經.
thập nhất hiệu
(十一號) Chỉ cho 11 danh hiệu chung của chư Phật, đó là: Như lai, Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế tôn. Hiệu chung của chư Phật tuy là 11 nhưng cũng có kinh luận nói 10 hiệu. Như trong kinh Thập hiệu thì Thế gian giải và Vô thượng sĩ được hợp chung lại làm 1 hiệu; luận Đại trí độ quyển 21, luận Thành thực quyển 1 và kinh Bồ tát địa trì quyển 3 thì đều hợp chung Vô thượng sĩ và Điều ngự trượng phu làm 1 hiệu. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa; phẩm Trợ niệm Phật tam muội trong luận Thập trụ tì bà sa Q.12; luận Đại trí độ Q.2]. (xt. Như Lai).
Thập nhất không
xem Mười một pháp không.
thập nhất không
(十一空) Chỉ cho 11 không dùng để phá dẹp các tà kiến, đó là: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Hữu vi không, Vô vi không, Vô thủy không, Tính không, Vô sở hữu không, Đệ nhất nghĩa không, Không không và Đại không. Không nghĩa là rốt ráo không có thực thể.[X. kinh Niết bàn Q.17 (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.4]. (xt. Thập Bát Không).
Thập nhất không 十一空
[ja] ジュウイチクウ jūichikū ||| , 'Eleven kinds of emptiness' I. (1) Internal Emptiness; (2) External Emptiness; (3) Internal/External Emptiness; (4) Conditioned Emptiness; (5) Unconditioned Emptiness; (6) Beginningless Emptiness; (7) Essential Emptiness; (8) The Emptiness of no possession; (9) Ultimate Emptiness; (10) Empty Emptiness; (11) Great Emptiness. II. (1) Dharma-realm nature Emptiness; (2) Emptiness of Dharma-nature; (3) Emptiness of non-difference in nature; (4) Emptiness of unchanging nature; (5) Emptiness of equal nature; (6) Emptiness of the nature as free from arising; (7) Emptiness of the nature of the fixed dharma; (8) Emptiness of the dharma-abiding nature; (9) Emptiness of the nature of true reality; (10) Emptiness of the nature of the realm of the void; (11) Nature of Emptiness of the inconceivable realm. => Mười một loại không: Có 2 sự phân loại I. 1. Nội không, 2. Ngoại không, 3. Nội ngoại không, 4. Hữu vi không, 5. Vô vi không, Vô thuỷ không, 7. Tính nghĩa không, 8. Vô sở hữu không, 9. Đệ nhất nghĩa không, 10. Không không, 11. Đại không. II. 1. Pháp giới tính không 2. Pháp tính không 3. Vô phân biệt tính không 4. Bất biến tính không 5. Bình đẳng tính không 6. Vô sinh khởi không 7. Bất đinh pháp tính không 8. Vô trụ pháp tính không 9. Chân thực tính pháp không 10. Pháp giới tính không không 11. Bất tư nghì pháp giới không.
thập nhất khổ pháp
(十一苦法) Chỉ cho 11 pháp khổ hạnh. Đó là: Ở nơi vắng vẻ, đi xinăn, ngồi một chỗ, ăn một bữa, ăn vào giờ ngọ, xin ăn không chọn nhà, giữ 3 áo, ngồi nơi gốc cây, ngồi nơi trống vắng, mặc áo vá, ở nơi gò mả. Nếu hành giả làm được 11 hạnh này trong khoảng thời gian 11 năm thì ngay nơi thân này thành tựu quả A na hàm, đời sau chắc chắn thành tựu quả A la hán. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.46].
thập nhất lực
(十一力) Chỉ cho 11 lực dụng mà đức Phật A di đà gia trì hành giả niệm Phật. Đó là: Sức đại từ bi, sức đại thệ nguyện, sức đại trí tuệ, sức đại tam muội, sức đại uy thần, sức đại tồi tà, sức đại hàng ma, sức thiên nhãn thấy xa, sức thiên nhĩ nghe xa, sức tha tâm thấu suốt và sức quang minh chiếu khắp nhiếp thủ chúng sinh. Nhờ 11 năng lực này mà tất cả ma sự đều bị trừ diệt hết. Trong đó, sức đại từ bi và đại thệ nguyện là Nhân lực...... của Phật A di đà. Khi bồ tát Pháp tạng còn ở địa vị tu nhân, đã dùng đại từ bi phát khởi 48 đại nguyện. Nhờ nhân lực đại từ bi và đại thệ nguyện này mà hành giả lúc mệnh chung được lợi ích hộ trì và không bị chướng ngại. Sức đại trí tuệ và đại tam muội là quả lực của Phật A di đà, tức là sức định và tuệ của Phật. Vì 2 đức thiền định và trí tuệ của Phật rốt ráo viên mãn, đối với tất cả các pháp tự tại không chướng ngại, cho nên gọi là Đại trí tuệ, Đại tam muội. Sức đại uy thần chính là thần lực tự tại của quả Phật; sức đại tồi tà là năng lực phá dẹp các ngoại đạo tà ác bằng thần lực tự tại của Phật; sức đại hàng ma là năng lực hàng phục ma chướng bằng thần lực đồng với thần lực tự tại của quả Phật. Sức thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm là từ Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông và Tha tâm thông trong 6 thần thông mà ra. Năng lực của thiên nhãn là quán xét được các việc khác lạ ở phương xa, năng lực của thiên nhĩ là nghe được bất cứ một âm thanh nhỏ nhiệm nào ở phương xa, năng lực của tha tâm thông là soi xét được ma lực, vì thế, nhờ 3 năng lực này mà thấy biết trước được các ma sự, không để bị chúng gây ra chướng hại. Còn như sức quang minh chiếu khắp nhiếp thủchúng sinh là năng lực thu lấy chúng sinh không bỏ, đây là đức riêng của Phật A di đà; các Phật khác tuy cũng có ánh sáng này nhưng chẳng phải là năng lực thu lấy hành giả, cho nên mới nói là năng lực riêng của đức Phật A di đà. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh nghĩa sớ Q.thượng (Nguyên chiếu)].
thập nhất môn khoa
(十一門科) Cũng gọi Thập nhất môn nghĩa. Chỉ cho 11 môn do ngài Thiện đạo lập ra trong Quán kinh sớ tán thiện nghĩa để giải thích ý nghĩa của Cửu phẩm trong kinh Quán vô lượng thọ. Đó là: 1. Bàn chung về lời khuyến cáo. 2. Lập ra các vị thứ. 3. Nêu chung các loại hữu duyên. 4. Quyết định 3 tâm là nhân chính yếu. 5. Nói rõ về căn cơ có khả năng và không có khả năng. 6. Nói rõ về việc lãnh thụ giáo pháp khác nhau. 7. Nói rõ về thời gian tu tập có dài ngắn khác nhau. 8. Nói rõ về hồi hướng công đức tu hành, nguyện sinh về Tịnh độ của Phật A DI ĐÀ. 9. Nói rõ lúc mệnh chung, thánh chúng đến đón rước có khác nhau và khi đi có mau, chậm. 10. Nói rõ khi về đến Tịnh độ thì hoa sen nở có mau, chậm khác nhau. 11. Nói rõ khi hoa nở rồi được lợi ích cũng khác nhau. Trong 9 phẩm mỗi phẩm đều có đủ 11 nghĩa trên đây, nhân lên thành 99 nghĩa, thêm một nghĩa chung nữa, thành là 100 nghĩa. [X. Quán kinh tán thiện yếu nghĩa thích quán môn nghĩa sao Q.1].
thập nhất pháp
(十一法) Chỉ cho 11 pháp mà vị tỉ khưu nên thành tựu, đó là: 1. Giới. 2. Định. 3. Tuệ. 4. Giải thoát. 5. Giải thoát kiến tuệ. 6. Căn tịch, tức 6 căn vắng lặng. 7. Tri túc. 8. Tu pháp. 9. Biết phương tiện. 10. Phân biệt nghĩa. 11. Không ham lợi.
thập nhất sinh loại
(十一生類) Chỉ cho 11 loài sinh khác nhau, tức là: Thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh, hữu sắc sinh, vô sắc sinh, hữu tưởng sinh, vô tưởng sinh, phi hữu tưởng sinh, phi vô tưởng sinh và thêm một loài bao gồm tất cả loài thành 11 loài. Thai sinh, như người thành hình trong thai mẹ rồi mới sinh ra. Noãn sinh, như các loài chim thành hình trong trứng rồi mới sinh ra. Thấp sinh, như các loài côn trùng sinh ra từ nơi ẩm ướt. Hóa sinh, như các cõi trời, địa ngục và chúng sinh ở kiếp sơ, chỉ nương vào nghiệp lực sinh ra mộtcách tự nhiên chứ không phải gá thai. Hữu sắc sinh, như chúng sinh ở Tứ thiền thiên cõiSắc. Vô sắc sinh, như chúng sinh ở Tứ không xứ cõi Vô sắc. Hữu tưởng sinh, như tất cả chúng sinh trong 3 cõi 9 địa, trừ cõitrời Vô tưởng thuộc Đệ tứ thiền. Vô tưởng sinh, như chúng sinh ở cõi trời Vô tưởng. Phi hữu tưởng và Phi vô tưởng sinh là chia Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm 2, tức là chúng sinh ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ. [X. kinh Kim cương, Tính linh tập Q.6].
thập nhất sắc
Mười một loại sắc—Eleven kinds of rupa—See Sắc (C).
thập nhất thanh
(十一聲) Cũng gọi Thập nhất chủng thanh. Chỉ cho 11 thứ âm thanh nêu trong luận A tì đạt ma tạp tập quyển 1. Đó là: 1. Khả ý thanh: Âm thanh vui vẻ vừa ý. 2. Bất khả ý thanh: Âm thanh sầu khổ trái ý. 3. Câu tương vi thanh: Âm thanh không khổ không vui. 4. Nhân thụ đại chủng thanh, cũng gọi Chấp thụ(hữu cảm giác) đại chủng thanh. Chỉ cho âm thanh do 4 đại bên trong phát ra, như âm thanh của ngôn ngữ... 5. Nhân bất thụ đại chủng thanh, cũng gọi Bất chấp thụ đại chủng thanh. Chỉ choâm thanh do 4 đại chủng bên ngoài phát ra, như các âm thanh của cây cối...6. Nhân câu đại chủng thanh, cũng gọi Chấp thụ bất chấp thụ đại chủng thanh. Chỉ cho những âm thanh do 4 đại bên trong và bên ngoài nương nhau phát ra, như tiếng trống là do tay đánh trống mà phát ra. 7. Thế sở cộng thành thanh: Chỉ cho âm thanh như tiếng nói bàn của người đời. 8. Thành sở dẫn thanh: Chỉ cho âm thanh do bậc Thánh nói để tế độ chúng sanh.9. Biến kế sở chấp thanh: Chỉ cho âm thanh chấp trước hữu vô, đoạn thường do các ngoại đạo nói ra. 10. Thánh ngôn sở nhiếp thanh: Chỉ cho 8 thứ âm thanh chân thực của bậc Thánh như: Thấy nói thấy, không thấy nói không thấy, nghe nói nghe, không nghe nói không nghe, hay nói hay, không hay nói không hay, biết nói biết, không biết nói không biết. 11. Phi thánh ngôn sở nhiếp thanh: Chỉ cho các âm thanh bất chính trái với 8 thứ âm thanh chân thực nói trên, tức thấy nói không thấy, không thấy nói thấy... Có 5 nguyên nhân tạo thành 11 thứ âm thanh này, đó là: Tướng, tổn ích, nhân sai biệt, thuyết sai biệt và ngôn sai biệt. [X. Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.7 (Trừng quán)].
Thập nhất thiết nhập
xem Mười nhất thiết nhập.
Thập nhất thiết xứ
xem Mười nhất thiết nhập.
thập nhất thiết xứ
Ten universals, or modes of contemplating the universe from ten aspects, i.e from the viewpoint of earth, water, fire, wind, blue, yellow, red, white, space or mind
thập nhất thiện
(十一善) Chỉ cho 11 thứ thiện, là 1 trong 6 nhóm tâm sở do tông Duy thức thành lập. 1. Tín: Đối với tất cả thiện pháp tin nhận, ưa thích và không nghi ngờ. Có 3 thứ:a. Tín thực hữu: Tin nhận sâu sắc lí chân thực của các pháp. b. Tín hữu đức: Tin ưa sâu sắc đức chân tịnh của Tam bảo. c. Tín hữu năng: Có sức tin rất sâu đối với tất cả thiện pháp thế gian, xuất thế gian. 2. Tàm: Tâm thường biết thẹn, quí trọng bậc hiền thiện, nếu biết thẹn với các việc xấu xa mình đã làm trong quá khứ thì đối trị được tâm vô tàm và ngăn dứt được những hành vi tội lỗi. 3. Quí: Tâm biết xấu hổ với người. Nghĩa là tâm thường xấu hổ, không làm những việc xấu ác, ăn năn những tội lỗi quá khứ thì đối trị được tâm vô quí, ngăn dứt các nghiệp ác. 4. Vô tham: Tâm chán lìa và không đắm nhiễm cảnh 5 dục vừa ý. 5. Vô sân: Tâm thường nhẫn chịu, không sinh tức giận trước cảnh 5 dục trái ý. 6. Vô si: Hiểu biết và quyết đoán rõ ràngđốivới sự lí của tất cả pháp, không mê lầm. 7. Cần: Đối với tất cả thiện pháp, siêng năng tu tập, không sinh biếng nhác, viên mãn thiện nghiệp. 8. An: Tức khinh an. Xa lìa tâm não loạn thô trọng và tiêu trừ các pháp gây chướng ngại thiền định, điều hòa thân tâm, trở nên an vui nhẹ nhàng. 9. Bất phóng dật: Tinh tiến tu 3 nghiệp thân, khẩu, ý, gia công mạnh mẽ diệt trừ các phiền não phải đoạn và thực hành các thiện pháp phải tu, mau chóng thành tựu tất cả thiện pháp thế gian, xuất thế gian, không buông lung. 10. Hành xả: Tu tinh tiến 3 nghiệp thân, khẩu, ý, khiến tâm bình đẳng, an trụ tĩnh lặng, xa lìa tất cảcácchướng như trạo cử, hôn trầm. 11. Bất hại: Đối với tất cả chúng sinh hữu tình, không làm tổn não, không khởi sân hận, thường vận dụng tâm từ bi cứu các nỗi khổ ách, mang lại an vui cho họ. [X. luận Thành duy thức Q.6].
Thập nhất thô trọng 十一麁重
[ja] ジュウイチソジュウ jūichisojū ||| The eleven coarse and heavy hindrances which are severed at each of the eleven bodhisattva stages 十一地. See 十一種麁重. => Mười một loại chướng ngại thô trọng, mỗi thứ cùng kết hợp thành một cặp trong Hai mươi hai loại ngu si (Nhị thập chủng ngu si 二十二種愚痴) mà hàng Bồ-tát thập nhất địa phải đối trị với từng loại một rất khó khăn. Xem Thập nhất chủng thô trọng.
thập nhất thù thắng
(十一殊勝) Chỉ cho 11 việc mạnh mẽ của chi Vô minh trong 12 nhân duyên. Đó là: 1. Sở duyên thắng: Vô minh duyên cả nhiễm và tịnh. 2. Hành tướng thắng: Vô minh che lấp chân, hiển bày vọng. 3. Nhân duyên thắng: Vô minh là gốc sinh ra các hoặc nghiệp. 4. Đẳng khởi thắng: Vô minh có năng lực phát động các pháp duyên khởi như: Năng dẫn(chi Hành), Sở dẫn(5 chi như Thức...), Năng sinh(3 chi như Ái...), Sở sinh (2 chi như Sinh...). 5. Chuyển dị thắng: Vô minh có công năng chuyển biến tướng dụng của 4 chuyển khởi như tùy miên, triền phược, tương ứng và bất cộng thành sai khác. 6. Tà hành thắng: Do mê lầm lí 4 đế nên vô minh khởi lên các hành tướng: Tăng ích(thường kiến chấp Hữu) tổn giảm(đoạn kiến chấp Không). 7. Tướng trạng thắng: Tự tướng nhỏ nhiệm của vô minh chuyển khắp cộng tướng của các pháp ái và phi ái. 8. Tác nghiệp thắng: Vô minh là sự nghiệp cho sinh tử nương tựa, đồng thời cũng là sự nghiệp làm chướng ngại Niết bàn.9. Chướng ngại thắng: Vô minh có năng lực làm chướng ngại thắng pháp(hữu vi vô lậu), quảng pháp(vô vi vô lậu). 10. Tùy chuyển thắng: Vô minh có năng lực chuyển theo từ tam đồ đến Hữu đính. 11. Đối trị thắng: Vô minh không thể đối trị bằng trí hữu lậu mà phải dùng trí vô lậu của Kiến đạo, Tu đạo mới đối trị được vô minh.
thập nhất thức
(十一識) Chỉ cho 11 thức do sự biến khác của thức A lại da sinh khởi, đó là: 1. Thân thức: Chỉ cho 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. 2. Thân giả thức: Tức thức nhiễm ô. 3. Thụ giả thức(cũng gọi Năng thụ thức): Chỉ cho ý căn, tức 3 thức sau: thứ 6, thứ 7, và thứ 8. 4. Ứng thụ thức(cũng gọi Bỉ sở thụ thức, Trần thức): Chỉ cho 6 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. 5. Chính thụ thức(cũng gọi Bỉ năng thụ thức, Dụng thức): Chỉ cho 6 thức giới năng duyên như thức mắt... 6. Thế thức: Thức sinh tử tương tục không dứt mất. 7. Số thức: Thức tính toán đo lường từ 1 cho đến vô số. 8. Xứ thức(cũng gọi Khí thức): Tức các khí thế gian như 4 đại, 5 trần. 9. Ngôn thuyết thức: Tức tất cả ngôn thuyết y cứ vào các sự thấy, nghe, hay, biết. 10. Tự tha sai biệt thức(cũng gọi Tự tha dị thức): Tức sự sai biệt về y báo của thân mình, thân người. Có 6 đường khác nhau như địa ngục, cõi người, cõi trời... 11. Thiện ác lưỡng đạo sinh tử thức: Tức tất cả sự sống chết không lìa 2 ngả thiện và ác. [X. Nhiếp đại thừa luận bản Q.trung; Nhiếp đại thừa luận thích Q.5 (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.4 (bản dịch đời Đường)].
Thập nhất thức 十一識
[ja] ジュウイチシキ jūichishiki ||| The eleven consciousnesses taught in the Summary of the Great Vehicle 攝論. These are eleven kinds of distinctions to be observed in the transformations that are produced from the ālayavijñāna 阿賴耶識. (1) bodily consciousness 身識,which refers to the five sense faculties. (2) the consciousness of attachment to body身者識, which is defiled consciousness. (3) the reception consciousness 受者識, which refers to the subsequent three mental consciousness (6th,7th, and 8th) which receive the impressions from the sense faculties. (4) The concomitant reception consciousness 應受識, which refers to the objective data fields 六塵. (5) the reception consciousness proper 正受識, which refers to the six realms of consciousness 六識界 that bind the data fields to the faculties. (6) the time consciousness 世識, through which life and death continue without lapse. (7) the calculating consciousness 數識, which counts all things from one to infinity. (8) the locus consciousness 處識, also called the container consciousness 器識, referring to the container world 器世間 which houses the four elements 四大, five data fields and so forth. (9) the linguistic consciousness 言説識, which sees, hears and understands linguistic information. (10) the consciousness of distinction of self and other 自他差別識; this consciousness also distinguishes differences in types of beings, such as those in the six destinies: hell-being 地獄, human人間, god 天, etc. (11) the consciousness that distinguishes the two paths of good and evil in saṃsāra 善惡兩道生死識. 〔攝大乘論 T 1593.31.118a22-29〕 => Mười một thức đề cập trong Nhiếp Đại thừa luận (攝論; e: Summary of the Great Vehicle). Đây là 11 thức phân biệt được thấy trong sự chuyển biến phát sinh từ A-lại-da thức: 1. Thân thức: liên quan đến năm giác quan. 2. Thân giả thức: là ô nhiễm thức. 3. Thọ giả thức: ba tâm ý thức (thức thứ sáu, bảy, và tám) tiếp nhận mọi cảm giác từ các giác quan. 4. Ứng thọ thức 應受識: là sáu trần. 5. Chính thọ thức 正受識: nói đến sáu lĩnh vực của thức nối kết các trần với các giác quan. 6. Thế thức 世識 : trải qua sinh tử tương tục không gián đoạn 7. Số thức 數識 : tính đếm các pháp từ một đến vô tận. 8. Xứ thức 處識: còn gọi là khí thức 器識, đế cập đến khí thế gian 器世間 chứa đựng tứ đại , ngũ trần... 9. Ngôn thuyết thức 言説識 : là sự thấy nghe hiểu biết các thông tin ngôn ngữ. 10. Tự tha sai biệt thức自他差別識: thức nầy còn có những phân biệt khác nhau trong lục đạo: địa ngục, nhân gian, thiên ... 11. Thiện ác lưỡng đạo sinh tử thức 善惡兩道生死識: phân biệt 2 đường thiện ác trong cõi luân hồi.
Thập nhất trí 十一智
[ja] ジュウイチチ jūichichi ||| The 'eleven wisdoms.' (1) conventional knowledge (samvrti-jñāna); (2) knowledge of dharmas (dharma-jñāna); (3) subsequent knowledge (anavaya-jñāna); (4) knowledge of suffering c (5) knowledge of arising (samudaya-jñāna); (6) knowledge of cessation (nirodha-jñāna) (7) knowledge of the path (mārga-jñāna); (8) knowledge of other's minds (para-mano-jñāna); (9) knowledge of extinction (kṣaya-jñāna); (10) knowledge of non-arising (anutpāda-jñāna) and (11) knowledge of reality (yathābhūta-jñāna). A Tiantai analysis of these eleven knowledges can be found in T 1925.46.683b-4a. => 1. Thế tục trí (s: samvrti-jñāna); 2. Pháp trí (s:dharma-jñāna); 3. Loại trí (s: anavaya-jñāna); 4. Khổ trí (s: anavaya-jñāna); 5. Tập trí (s: samudaya-jñāna); 6. Diệt trí (s: nirodha-jñāna) 7. Đạo trí (s: mārga-jñāna); 8. Tha tâm trí (s: para-mano-jñāna); 9. Tận trí (s: kṣaya-jñāna); 10. Vô sinh trí (s: anutpāda-jñāna) 11. Thực trí (s: yathābhūta-jñāna).
thập nhất tưởng
(十一想) Mười một điều tưởng niệm mà tỉ khưu phải nhớ để nghĩ đến đức Như lai. 1. Giới ý thanh tịnh. 2. Đầy đủ uy nghi. 3. Các căn không lỗi lầm. 4. Tín ý không hỗn loạn. 5. Thường có ý mạnh mẽ. 6. Khổ, vui không đáng lo. 7. Không để mất chính niệm.8. Chỉ quán hiện trước mặt. 9. Chính định không dứt. 10. Trí tuệ vô lượng. 11. Quán tưởng Phật không nhàm chán. [X. kinh Thập nhất tưởng tư niệm Như lai].
thập nhất tịnh
(十一淨) Chỉ cho 11 pháp tịnh(thanh tịnh) của các Bồ tát từChủng tính trụ đến Thập địa.1. Chủng tính tịnh: Bồ tát ở giai vị Chủng tính trụ, chứa góp tất cả chủng tử (hạt giống) Phật pháp, thân xa lìa các phiền não thô trọng. 2. Giải hành tịnh: Bồ tát giai vị Giải hành trụ, tu tập tịnh niệm, đoạn trừ các lỗi lầm, hướng tới đạo xuất thế. 3. Tịnh tâm tịnh: Bồ tát Hoan hỉ địa Được tịnh pháp bất hoại, tin tưởng và luôn nhớ đến Tam bảo, mong cầu tâm thanh tịnh đại bồ đề. 4. Hoặc tịnh: Bồ tát Li cấu địa đầy đủ tính giới, xa lìa các lỗi nhỏ nhặt. 5. Y tịnh: Bồ tát Minh địa chứng được thiền thế đế, ép phục phiền não, định tâm thanh tịnh. 6. Chính kiến tịnh: Bồ tát các địa thứ 4, 5, 6 quán xét Bồ đề phần, biết các duyên khởi, diệt trừ tà hoặc. 7. Nhất thiết phương tiện hạnh mãn túc tịnh: Bồ tát Viễn hành địa tu tập tất cả 10 tuệ phương tiện, phát khởi thắng hạnh, tăng thượng mãn túc. 8. Chân thực trí thần thông tịnh: Bồ tát địa thứ 8 thành tựu xảo tuệ, đủ 5 thần thông, tác dụng vô tận. 9. Chính nghĩa vô tận thuyết vô ngại tịnh: Bồ tát địa thứ 9 chứng được trí thành tựu, biết vô tận nghĩa, khởi 4 biện tài vô ngại, tự tại vô ngại. 10. Tùy nhất thiết chủng sở tri tịnh: Bồ tát địa thứ 10 thành tựu 7 thứ trí tuệ của Phật, trong tất cả các pháp, thấy biết vô ngại. 11. Nhất thiết phiền não trí chướng tập sử tịnh: Bồ tát chứng nhập Phật địa, vĩnh viễn dứt trừ tất cả tập khí chướng ngại, quả đức viên mãn. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.15].
Thập nhất địa 十一地
[ja] ジュウイチチ jūichichi ||| The eleven stages taught in the Saṃdhinirmocana-sūtra 解深密經, which include the first ten bodhisattva stages 十地 plus the Buddha stage. These are the stage of joy 極喜地, stage of freedom from defilement 離垢地, the stage of emission of light 發光地, the stage of burning wisdom 焰慧地, stage of overcoming difficulty 極難勝地,stage of becoming directly apparent 現前地, stage of far-reaching 遠行地, the immovable stage 不動地, the stage of excellent wisdom 善慧地, the stage of the dharma cloud 法雲地, and the buddha-stage 佛地. For detailed explanations of the hindrances removed at each of these stages, see 二十二種愚癡.〔瑜伽論 T 1579.30.729a21〕 => Giai vị thứ 11 được đệ cập trong Kinh Giải Thâm Mật 解深密經; s: Saṃdhinirmocana-sūtra, gồm 10 giai vị đầu của hàng Bồ-tát, cộng thêm quả vị Phật. Đó là: Cực hỷ địa, Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm huệ địa, Cực nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện huệ địa, Pháp vân địa, và Phật địa
thập nhẫn
Thập nhị ác luật nghi. The twelve bad occupations: sheep-butcher; poulterer (or hen-breeder); pork-butcher; fowler; fisherman; hunter; thief; executioner; jailer; juggler; dog-butcher; beater (i.e. hunt-servant).
; Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 29—Thập Nhẫn, có mười loại nhẫn. Chư Bồ Tát được mười nhẫn nầy thời được đến nơi vô ngại nhẫn địa của tất cả Bồ Tát—According to The Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of acceptance. Enlightening Beings who attain these ten acceptances will manage to arrive at the stage of unhindered acceptance. 1) Âm thanh nhẫn: They are acceptance of the voice of the Teaching. 2) Thuận nhẫn: Conformative acceptance. 3) Vô sanh pháp nhẫn: Acceptance of the nonorigination of all things. 4) Như huyễn nhẫn: Acceptance of illusoriness. 5) Như diệm nhẫn: Acceptance of being miragelike. 6) Như mộng nhẫn: Acceptance of being dreamlike. 7) Như hưởng nhẫn: Acceptance of being echolike. 8) Như huyễn nhẫn: Acceptance of being like a reflection. 9) Như hóa nhẫn: Acceptance of being fanthomlike. 10) Như hư không nhẫn: Acceptance of being spacelike.
; (十忍) I. Thập Nhẫn. Chỉ cho 10 tâm an nhẫn mà Bồ tát đạt được khi đoạn trừ hoặc vô minh, chứng đắc lí các pháp xưa nay vốn vắng lặng. Đó là: 1. Âm thanh nhẫn(cũng gọi Tùy thuận âm thanh nhẫn, Tùy thanh nhẫn): Nghe nói tất cả pháp chân thực, tâm không sợ hãi, tin hiểu thụ trì, tu tập an nhẫn. 2. Thuận nhẫn: Như thực quán xét các pháp, không chống trái, tùy thuận rõ biết, khiến tâm thanh tịnh. 3. Vô sinh pháp nhẫn(gọi tắt: Vô sinh nhẫn): Quán xét tất cả pháp không sinh không diệt, bình đẳng tĩnh lặng. 4. Như huyễn nhẫn: Quán xét tất cả pháp đều như huyễn, trong một có tất cả, trong tất cả có một, nhân duyên tụ tập một cách hư giả, không có định tính. 5. Như diệm nhẫn: Giác ngộ tất cả thế gian như sóng nắng, là sự nhóm họp hư vọng của các tướng hư dối, không có thực thể.6. Như mộng nhẫn: Hiểu biết rõ ràng ất cả thế gian chỉ là những cảnh tượng thấy trong giấc mộng, chẳng phải có chẳng phải không, không chối bỏ, không đắm trước. 7. Như hưởng nhẫn: Giác ngộ rốt ráo đến bờ kia, biết tất cả pháp đều như tiếng vang, chẳng phải từ bên trong bên ngoài phát ra, cũng chẳng phải trong ngoài hợp lại phát ra, mà chỉ từ duyên khởi, rồi khéo dùng phương tiện để nói pháp. 8. Như điện nhẫn (cũng gọi Như ảnh nhẫn): Bồ tát soi thấy tất cả pháp như ánh chớp chiếu các sắc tượng, không phân biệt. 9. Như hóa nhẫn: Bồ tát ý thức rõ tất cả pháp chẳng phải có chẳng phải không, như các việc huyễn hóa ở thế gian, nên chẳng lấy chẳng bỏ. 10. Như hư không nhẫn (cũng gọi Như không nhẫn): Rỗng lặng như hư không, thể tính thanh tịnh, bình đẳng không sai biệt, chẳng sinh chẳng diệt, Bồ tát biết tất cả pháp cũng hệt như thế. Tâm của Bồ tát cũng như hư không không phân biệt, đối với tất cả pháp không pháp nào không dung; thân khẩu ý của Bồ tát cũng rộng lớn như hư không, chẳng sinh chẳng diệt. Cứ theo Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ thì Bồ tát Thông giáo quán xét 5 ấm của 3 cõi và nhân quả 2 đế, thành tựu Thập nhẫn là: Giới nhẫn, Tri kiến nhẫn, Định nhẫn, Tuệ nhẫn, Giải thoát nhẫn, Không nhẫn, Vô nguyện nhẫn, Vô tướng nhẫn, Vô thường nhẫn và Vô sinh nhẫn. [X.phẩm Thập nhẫn kinh Hoa nghiêm Q.28 (bản dịch cũ); Đại thừa nghĩa chương Q.14]. II. Thập Nhẫn. Chỉ cho 10 hạnh của Bồ tát nhẫn chịu: 1. Nội nhẫn: Bồ tát có năng lực nhẫn chịu sự đau đớn của thân tâm, không sinh khổ não. 2. Ngoại nhẫn: Nhẫn chịu được khổ não từ bên ngoài đến, không sinh sân hận. 3. Pháp nhẫn: Nếu nghe pháp nghĩa của các kinh cao siêu mầu nhiệm thì chẳng những không sợ hãi mà còn siêng cầu đọc tụng.4. Tùy Phật giáo nhẫn(cũng gọi Phật ấn khả nhẫn): Nếu khi khởi tâm sân não độc hại thì Bồ tát tư duy thân này nương vào đâu mà sinh, pháp tướng do đâu mà khởi; vì chẳng thấy nguyên nhân của sân, không thấy từ đâu phát sinh, duyên khởi từ đâu, tư duy như thế tâm sân hận liền diệt.5. Vô phương sở nhẫn(cũng gọi Vô phần hạn nhẫn): Bất luận lúc nào và ở đâu, Bồ tát cũng thường sinh tâm nhẫn. 6. Tu xứ xứ nhẫn(cũng gọi Vô phân biệt nhẫn, Bình đẳng nhẫn): Bất luận là thân sơ Tôn ti, thậm chí Chiên đà la (tiện dân), Bồ tát đều nhẫn chịu bình đẳng. 7. Phi sở vi nhẫn(cũng gọi Bất đãi sự nhẫn, Bất kiến sự nhẫn): Chẳng phải vì các lí do như sựduyên, sợ hãi, làm ơn, thuận theo đời hoặc vì hổ thẹn... mới nhẫn chịu mà lúc nào cũng tu nhẫn. 8. Bất bức não nhẫn(cũng gọi Vô khuể nhẫn, Bất nhiễu động nhẫn, Bất dao động nhẫn): Nếu bị ngược đãi phải khuất nhục thì Bồ tát cũng có năng lực chịu đựng được. 9. Bi tâm nhẫn: Dù bị chúng sinh nhục mạ, xúc não, Bồ tát cũng không sinh tâm tức giận, trái lại, khởi tâm từ bi thương xót chúng sinh. 10. Thệ nguyện nhẫn(cũng gọi Thành tựu thệ nguyện nhẫn): Bồ tát nhớ lại thủa ban đầu đã ở trước chư Phật phát thệ nguyện cứu giúp chúng sinh, nếu giờ đây lại sân hận đối với chúng sinh, thì mình đã chẳng độ được mình, còn làm lợi ích cho ai? Do đó, Bồ tát không khởi tâm sân, mà sẵn sàng nhẫn chịu. [X. kinh Bảo vân Q.1; kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
thập nhị
Dvādaśa (S), Twelve Mười hai.
Thập nhị bộ kinh
xem Mười hai bộ kinh.
thập nhị bộ kinh
Dvādaśanga-buddha-vacana (S).
; Twelve divisions of the Mahàyàna canon: (1) khế kinh sùtra; (2) ứng tụng geya; (3) phúng tụng gàtha; (4) nhân duyên nidàna; (5) bản sự itivrttaka; (6) bản sinh jàtaka; (7) vị tằng hữu adbhuta-dharma, i.e. the abhidharma; (8) thí dụ avadàna; (9) luận nghị upadesa; (10) tự thuyết udàna; (11) phương quảng vaipulya; (12) thụ kí vyàkarana.
; Twelve sutras (which are classifications of the Buddha's teachings. 1) Khế Kinh: Sutra (skt)—Những bộ kinh lớn ghi lại những lời Phật dạy hay toàn bộ Phật Pháp—Large volumes of the Buddha teachings; sutra is also often used in general to refer to all Buddha Teachings. 2) Kỳ Dạ: Geya (skt)—Giáo thuyết mà Đức Phật lặp lại lời thuyết giảng của Ngài bằng thi thơ—Teachings in which the Buddha repeats his verbal teaching in poetry. 3) Thọ Ký: Vyakarana (skt)—Những lời Đức Phật thọ ký cho các đệ tử của Ngài—Doctrine containing Buddha giving prophecies of attaining Buddhahood for his disciples. 4) Phúng Tụng: Gatha (skt)—Doctrine for chanting such as Amitabha Buddha Sutra. 5) Tự Thuyết: Vdana (skt)—Những kinh mà Đức Phật tự thuyết, chứ không cần phải đợi ai hỏi—Sutras the Buddha taught without anyone asking a question, such as the Amitabha Buddha Sutra, etc. 6) Nhơn Duyên: Nidana (skt)—Những kinh điển mà Đức Phật dựa vào điều kiện hay hoàn cảnh bên ngoài để giáo thuyết như Kinh Hoa Nghiêm—Sutras in which the Buddha relied on a condition or circumstance to teach, such as the Avatamsaka Sutra. 7) Thí Dụ: Avadana (skt)—Kinh điển Đức Phật dùng những thí dụ để giáo thuyết—Sutras where the Buddha uses an example to teach the Dharma. 8) Bổn Sự: Iturtaka (skt)—Kinh điển nói về giáo thuyết và bổn hạnh của các Đức Phật thời quá khứ—Teachings where the Buddha speaks of the actions or the Dharma Past Buddhas taught. 9) Bổn Sanh: Jataka (skt)—Kinh điển nói về Đức Phật Thích Ca trong những đời quá khứ khi Ngài còn là Bồ Tát—Teachings giving accounts of the practices of Sakyamuni Buddha while he was still a Bodhisattva cultivating to attain Buddhahood. 10) Phương Quảng: Vaipulya (skt)—Những kinh điển Đại Thừa từ thấp đến cao như Kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm và Đại Bát Niết Bàn, vân vân—Various Mahayana Sutras which are encompassing all Dharmas from lowest to highest level, such as the Dharma Flower Sutra, Avatamsaka Sutra, Maha-Nirvana Sutra, etc. 11) Vị Tằng Hữu: Adbhutahdharma (skt)—Kinh điển nói về những thần thông siêu việt, ngoài sức tưởng tượng của phàm phu—Sutras which teach various extremely extraordinary spiritual penetrations beyond the scope of the unenlightened sentient beings. 12) Luận Nghị: Upadesa (skt)—Những luận nghị về kinh điển Phật pháp—Commentaries and explanations of the Buddha's teachings.
; (十二部經) Phạm: Dvàdazàíga-buddha-vacana. Cũng gọi Thập nhị phần giáo, Thập nhị phần thánh giáo, Thập nhị phần kinh. Chỉ cho 12 loại kinh được phân biệt theo hình thức và nội dung giáo pháp của Phật.1. Khế kinh (Phạm: Sùtra, Hán âm: Tu đa la), cũng gọi Trường hàng. Tức thể văn xuôi, trực tiếp ghi chép giáo thuyết của đứcPhật. 2. Ứng tụng (Phạm: Geya, Hán âm: Kì dạ), cũng gọi Trùng tụng. Tức phần kệ tụng giải thích lại cho rõ những giáo thuyết mà Khế kinh đã nói. 3. Kí biệt (Phạm:Vyàkaraịa, Hán âm: Hòa giàlana), cũng gọi Thụ kí. Vốn là thể loại giải thích về giáo nghĩa, đời sau đặc biệt chỉ cho những lời ấn chứng trước của Phật về các việc làm trong vị lai của các đệ tử. 4. Phúng tụng (Phạm:Gàthà, Hán âm: Già đà), cũng gọi Cô khởi. Tức là thể loại kệ tụng độc lập, trực tiếp ghi chép giáo thuyết của Phật, chứ không lập lại ý nghĩa trong phần văn trường hàng đã nói trước đó như vai trò của Ứng tụng. 5. Tự thuyết (Phạm:Udàna, Hán âm: Ưu đà na): Nghĩa là đức Phật không đợi người khác thưa hỏi mà ngài tự khai thị giáo pháp. 6. Nhân duyên (Phạm: Nidàna, Hán âm: Ni đà na). Ghi chép nhân duyên (nguyên do) thuyết pháp giáo hóa của Phật, như phẩm Tựa của các kinh. 7. Thí dụ (Phạm: Avadàna, Hán âm: A ba đà na). Dùng thí dụ để giảng nói pháp nghĩa. 8. Bản sự (Phạm:Itivfttaka, Hán âm: Y đếviết đa già). Thể loại ghi chép về hành trạng của Phật và các đệ tử ở đời quá khứ, ngoài Bản sinh đàm. Hoặc các kinh mở đầu bằng câu Phật như thị thuyết cũng thuộc thể loại này. 9. Bản sinh (Phạm: Jàtaka, Hán âm: Xà đà già). Thể loại ghi chép những hạnh đại bi mà đức Phật tu hành trong các đời quá khứ. 10. Phương quảng (Phạm: Vaipulya, Hán âm: Tì Phật lược): Các kinh giảng nói giáo nghĩa sâu xa rộng lớn. 11. Hi pháp (Phạm: Adbhutadharma, Hán âm: Aphù đà đạt ma), cũng gọi Vị tằng hữu pháp. Tức thể loại kinh ghi chép những việc hiếm có của Phật và các đệ tử. 12. Luận nghị (Phạm: Upadeza, Hán âm: Ưu ba đề xá): Thể loại kinh ghi chép việc đức Phật nghị luận về thể tính các pháp, phân biệt rõ ràng ý nghĩa. Mười hai thể loại trên đây, Đại thừa, Tiểu thừa đều có. Nhưng có chỗ cho rằng Phương quảng là các kinh mà chỉ Đại thừa mới có; lại có thuyết chủ trương ngoài Kí biệt, Tự thuyết và Phương quảng ra, 9 thể loại còn lại đều thuộc kinh Tiểu thừa. Hoặc có thuyết cho rằng ngoài Nhân duyên, Thí dụ và Nghị luận ra, 9 thể loại kia đều thuộc kinh Đại thừa. Hoặc có thuyết cho rằng 9 thể loại trừ Thí dụ, Bản sinh và Nghị luận, là 9 bộ kinh, hoặc trừ Tự thuyết, Thí dụ và Nghị luận là 9 bộ kinh. [X. chương 8 trong Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành (Ấn thuận)].
Thập nhị bộ kinh 十二部經
[ja] ジュウニブキョウ jūnibu kyō ||| The twelve divisions of the Buddhist canon, according to genre (dvādaśa-anga). For explanation of the meaning of each, please consult the entry for the individual term. (1) sūtra 修多羅 (also translated as 契經 or simply 經); (2) geya 祇夜 (translated as 應頌 and 重頌); (3) gāthā 伽陀 (translated as 諷頌 and 孤起頌); (4) nidāna 尼陀那 (translated as 因縁); (5) itivṛttaka 伊帝目多伽 (translated as 本事); (6) jātaka 闍多伽 (translated as 本生); (7) abdhuta-dharma 阿浮達磨 (未曾有); (8) avadāna 阿波陀那 (譬喩); (9) upadeśa 優婆提舎 (論議); (10) udāna 優陀那 (自説); (11) vaipulya 毘佛略 (方廣); (12) vyākaraṇa 和伽羅 (授記). => Sự phân chia mười hai phần của kinh điển Phật giáo theo thể loại (s: dvādaśa-anga). Về giải thích của mỗi từ, xin tra cứu riêng từng mục. 1. Tu-đa-la 修多羅 s: sūtra, còn được dịch là Khế kinh hoặc đơn giản là Kinh. 2. Kỳ-dạ 祇夜 s: geya, còn được dịch là Ứng tụng hoặc Trùng tụng. 3. Già-đà 伽陀 s: gāthā, còn được dịch là Phúng tụng và Cô khởi tụng. 4. Ni-đà-na 尼陀那s: nidāna, dịch là Nhân duyên. 5. Quân-đế-mục-đa-già: 伊帝目多伽 s: itivṛttaka, dịch là Bản sự. 6. Xá-đa-già: 闍多伽 s: jātaka, dịch là Bản sinh. 7. A-phù đạt-ma: 阿浮達磨 s: abdhuta-dharma , còn gọi là Vị tằng hữu (未曾有) 8. A-ba-đà-na: 阿波陀那s: avadāna, còn gọi là Thí dụ (譬喩). 9. Ưu-ba-đề-xá: 優婆提舎 s: upadeśa, dịch là Luận nghị (論議). 10. Ưu-đà-na: 優陀那 s: udāna, Tự thuyết (自説). 11. Tỳ-phật-lược: 毘佛略 vaipulya, Phương quảng (方廣) 12. Hoà-già-la: 和伽羅s: vyākaraṇa, Thọ ký(授記)
Thập nhị bộ tuyến 十二部線
Thập nhị bộ 十二部 [ja] ジュウニブセン jūnibusen ||| See => Xem Thập nhị bộ kinh 十二部經.
Thập nhị chi
tên khác của Mười hai nhân duyên. Xem Mười hai nhân duyên.
thập nhị chi
(十二支) Phạm: Dvàdazaíga. I. Thập Nhị Chi. Gọi đủ: Thập nhị chi duyên khởi. Tức chỉ cho 12 nhân duyên. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên). II. Thập Nhị Chi. Chỉ cho 12 phần kinh điển của Kì na giáo ở Ấn độ.
thập nhị chân như
The twelve aspects of the bhùtatathatà or the ultimate, which is also styled thập nhị vô vi "inactive", or nirvàna-like; and the thập nhị không "void" or immaterial: (1) chân như itself; (2) pháp giới as the medium of all things; (3) pháp tính as the nature of all things; (4) bất hư vọng thuyết its reality contra the unreality of phenomena; (5) bất biến dị tính its immutability contra mortality and phenomenal variation; (6) bình đẳng tính as universal or undifferentiated; (7) ly sinh tính as immortal, i.e. apart from birth and death, or creation and destruction; (8) pháp định as eternal, its nature ever sure; (9) pháp trụ as the abode of all things; (10) thật tế as the bounds of all reality; (11) hư không giới as the realm of space, the void or immateriality; (12) bất tư nghì giới as the realm beyond thought or expression.
; Mười hai chân như—The twelve aspects of the Bhutatathata: 1) Chân như: Void—Immaterial. 2) Pháp giới: Dharma—As the medium of all things. 3) Pháp tánh: As the nature of all things. 4) Bất hư vọng tánh: Reality contra the unreality of phenomena. 5) Bất biến dịch tánh: Immutability contra mortality and phenomenal variation. 6) Bình đẳng tánh: Universal—Undifferentiated. 7) Ly sanh tánh: Immortal—Apart from birth and death—Creation and destruction. 8) Pháp định: Eternal—Nature ever sure. 9) Pháp tánh: The abode of all things. 10) Thực tế (chỗ chân thật của chư pháp): The bound of all reality. 11) Hư không giới: Immortality—The void—The realm of space. 12) Bất tư nghì giới: The realm beyond thought of expression.
; (十二真如) Cũng gọi Thập nhị vô vi, Thập nhị không. Chỉ cho 12 tên gọi của Chân như. 1. Chân như: Chân là chân thực, như là thường như. Thể tính của các pháp chân thực thường như. 2. Pháp giới: Giới nghĩa là chỗ nương. Chân như là chỗ nương của các pháp. 3. Pháp tính: Tức là thể tính của các pháp. 4. Bất hư vọng tính: Pháp tính chân thực, xa lìa hư vọng. 5. Bất biến dị tính: Tức pháp thể không biến đổi. 6. Bình đẳng tính: Lìa tướng sai biệt của các pháp, bình đẳng không hai. 7. Li sinh tính: Tức lìa sinh diệt. 8. Pháp định: Tức pháp tính thường trụ.9. Pháp trụ: Trụ trong pháp vị chân như.10. Thực tế: Thực lí chân như rất mực, đến mé cùng cực. 11. Hư không giới: Tức lí thể của chân như cùng khắp. 12. Bất tư nghị giới: Lí thể chân như dứt bặt mọi suy tư nói năng, không thể nghĩ bàn. [X. kinh Đại bát nhã 360]. (xt. Chân Như).
thập nhị chân thật hảo tâm bố thí nhân
Mười hai hạng người chân thật hảo tâm bố thí—twelve kinds of people who have a truly good heart and genuinely give. 1) Làm việc lợi ích cho người mà chẳng cần trả ơn: benefit others without asking for anything in return. 2) Làm việc giúp đỡ cho người mà chẳng cần quả báo: Help others without wishing for something in return. 3) Cúng dường cho người mà chẳng cần sự báo ơn: Make offerings to others without wishing for compensation, not even to be thanked. 4) Tự nhún nhường để làm cho lòng muốn của kẻ khác được đầy dủ: Lower themselves, or less emphasis on self-importance, so others' wishes will be fully realized. 5) Việc khó bỏ xả mà bỏ xả được: Let go of things that are difficult to let go. 6) Việc khó nhịn mà nhịn được: Tolerate things that are difficult to tolerate. 7) Việc khó làm mà làm được: Able to accomplish things that are difficult to accomplish. 8) Việc khó cứu mà cứu được: Able to rescue when it is difficult to rescue. 9) Chẳng luận thân sơ, cũng vẫn cứ một lòng lấy cái tâm bình đẳng như nhau ra mà cứu giúp và làm đúng như sự thật: Do not discriminate between relatives or strangers, but maintain an equal and fair mind in helping others as well as carrying out conducts that are proper to the truths. 10) Hễ miệng nói tốt là thực hành được ngay lời nói tốt ấy, có nghĩa là ngôn hành tương ưng: If able to speak of goodness, then they should be able to “make good” what they say. This means speech and action are consistent with one another. 11) Tâm hiền thường làm các việc tốt mà miệng chẳng khoe khoang: Kind and gentle souls who often carry out wholesome conducts without boasting to everyone. 12) Ý nghĩ chỉ đơn thuần là muốn giúp đỡ cho người mà thôi, chớ chẳng cần danh vọng, khen tặng, hay lợi ích chi cho mình: Their only intent is simply to help others. Otherwise, they do not hope for fame, praise, notoriety or for self-benefits.
thập nhị chủng sanh tử
Thập Nhị Phẩm Sanh Tử—Mười hai loại sanh tử—The twelve kinds of life and death: 1) Vô Dư Tử: Arhat (skt)—Final separation from mortality of the arhat, with no remains of its causing return—See A La Hán, A La Hán Quả, and Tứ Thánh Quả. 2) Độ Ư Tử: Anagamin (skt)—Final death and no rebirth—See A Na Hàm, and Tứ Thánh Quả. 3) Hữu Dư Tử: Tư Đà Hàm—Once-returner—See Sakradagamin (skt) and Tứ Thánh Quả. 4) Học Độ Tử: Tu Đà Huờn—Dự Lưu hay Thất Lai—Stream-enterer or seven advancing rebirths of the Srta-apanna—See Srota-apanna (skt), and Tứ Thánh Quả. 5) Vô Số Tử: Hạng người với bát nhẫn trí—Rebirths as human beings with eight ksanti or powers of patience endurance. 6) Hoan Hỷ Tử: Hạng người chịu tu tập Nhất Thiền—Rebirths as human beings with mental development powers. 7) Số Số Tử: hạng người ác giới—rebirths as evil human beings. 8) Hối Tử: Rebirths as ordinary human beings. 9) Hoạnh Tử: Hạng người cô độc cùng khổ—Rebirths as extremely solitary and miserable human beings. 10) Phược Khổ Tử: Súc sanh—Rebirths as animals. 11) Thiêu Lạn Tử: Sanh tử trong địa ngục—Rebirths in the hells. 12) Cơ Khát Tử: The births-cum-deaths of hungry ghosts.
Thập Nhị Cung
(十二宮): 12 cung. Theo quan niệm Thiên Văn Học của Phật Giáo, 12 cung này có tên như sau (theo thứ tự tiếng Phạn, âm dịch, ý dịch và tiếng Anh): (1) Meṣa (Mê Sa [迷沙], Dương Cung [羊宮, cung con dê], Aries); (2) Vṛṣabha (Tỳ Lợi Sa [毘利沙], Ngưu Cung [牛宮, cung con trâu], Taurus); (3) Mithuna (Di Thâu Na [彌偷那], Nam Nữ Cung [男女宮, cung nam nữ], Gemini); (4) Karkaṭaka (Yết Ca Tra Ca [羯迦吒迦], Giải Cung [蟹宮, cung con cua], Cancer); (5) Siṃha (Sư Tử Cung [獅子宮, cung sư tử], Leo); (6) Kanyā (Ca Nhã [迦若], Nữ Cung [女宮, cung người nữ], Virgo); (7) Tulā (Suất La [兜羅], Xứng Cung [秤宮, cung cái cân], Libra); (8) Vṛgścika (Tỳ Ly Chi Ca [毘離支迦], Hiết Cung [蝎宮, cung con bò cạp], Scorpius); (9) Dhanus (Đàn Dật Bà [檀逸婆], Cung Cung [弓宮, cung cái cung], Sagittarus); (10) Makara (Ma Già La [摩伽羅], Ma Yết Cung [摩羯宮], Capricornus); (11) Kumbha (Cưu Bàn [鳩槃], Bình Cung [缾宮, cung cái bình], Aquarius); và (12) Mīna (Di Na [彌那], Ngư Cung [魚宮, cung con cá], Pisces) Theo Đạo Giáo Trung Quốc, quan niệm của 12 cung này có khác nhau về nội dung, được thể hiện trên khuôn mặt của con người. (1) Mạng Cung (命宮, Cung Mạng), hay Bạch Dương Tọa (白羊座), là cung chủ yếu về vận mạng, năng lực tinh thần; nằm ở khoảng giữa hai chân mày, thế gian thường gọi là Mi Gian (眉間), Tướng Số gọi là Ấn Đường (印堂), mỗi bộ phận biểu thị cá nhân thiên phú ít nhiều. Nếu như sanh tốt đẹp, thể hiện đầu não ưu tú, tinh thần khoan dung, có phước lộc thọ, là đứa trẻ may mắn của trời đất. Hai hàng lông mày không nên quá tiếp cận với nhau; nếu gần quá thì Cung Mạng bị hẹp đi, rút ngắn lại, chứng tỏ người này một đời lao khổ, nhiều âu lo. Nếu người có Cung Mạng tròn đầy như kính, thể hiện người đó thiên tánh mạnh mẽ, trí tuệ thông minh; và nếu có chí học tập, nhất định sẽ thành công. Vả lại nó còn thể hiện người đó thọ mạng lâu dài, có phước phần. Nếu người có Cung Mạng uất ức, nhăn nhó, người đó thường mang hoài bão lớn, bi quan, phần lớn việc làm đều không được như ý và thọ mạng lại ngắn. Đối với người có Ấn Đường khí sắc hồng hào, thể hiện vạn sự đều tốt đẹp, là điềm thể hiện danh lợi song toàn. Nếu như biểu hiện khí sắc u ám, tối tăm, tức là điềm xấu báo hiệu tai họa sắp giáng xuống, cho nên tất cả cử động đều phải cẩn trọng, đề phòng. Nói chung, cát hung, họa phước đều thể hiện vào khí sắc của con người. (2) Tài Bạch Cung (財帛宮, Cung Tài Của) hay Kim Ngưu Tọa (金牛座), chủ yếu về vận tài sản, tiền bạc; gồm toàn thể chóp mũi, tức đầu mũi, Tướng Số gọi là bộ phận Chuẩn Đầu (準頭). Do vì lỗ mũi thuộc Thổ, mà Thổ thì có thể sinh Kim, nên có câu: “Hữu Thổ tư hữu tài (有土斯有財, có đất là có tài).” Vì vậy Cung Tài Của thuộc vào lỗ mũi. Người nào có bộ phận lỗ mũi hoàn mỹ, được gọi là có tài khí, áo quần, thức ăn, nơi ở đều sung túc; chẳng cầu giàu sang mà giàu sang tự có. Từ đó có thuyết cho rằng lỗ mũi thuộc về Sao Tài, khí sắc cần sáng sủa, có thịt nhô lên; lỗ mũi không quá lộ, quá hở, tất đó là nhà phú quý. Nếu như hở lộ quá, tức là nhà bần tiện, nghèo túng. Nếu Cung Tài Của khí sắc sáng sủa, thể hiện tài lợi thuận điều. Nếu như khí sắc tối tăm, u ám, là điềm báo cho biết hao tài hay vận trì trệ. (3) Huynh Đệ Cung (兄弟宮, Cung Anh Em) hay Song Tử Tọa (雙子座), chủ yếu về vận mạng xã giao, anh em thế nào; bao gồm toàn thể lông mi; nếu nói về nghĩa hẹp thì chỉ anh chị em ruột, về nghĩa rộng là thân tộc, hay anh em bốn biển. Cho nên lông mi dài, ư nhã, ngay thẳng, biểu thị tánh tình hiền lương, anh em cùng nhau đối đãi tốt đẹp, xã giao trọn vẹn. Nếu lông mi hoàn mỹ, thể hiện anh em nhiều, thân thích sâu đậm, có nhiều trợ lực. Nếu lông mi mỏng mà ít, tức anh em ít, duyên thân thích bạt bẽo, trợ lực ít. Về lông mi, người nam nên to, người nữ nên nhỏ. Người có lông mi to thì tâm lượng rộng lớn. Người có lông mi nhỏ thì tâm nhỏ hẹp. Người nam mà sanh lông mi nữ, tánh tình như phụ nữ. Người nữ mà sanh lông mi nam, tánh tình như đàn ông. (4) Điền Trạch Cung (田宅宮, Cung Ruộng Nhà) hay Cự Giải Tọa (巨蟹座), chủ yếu về vận mạng gia đình, ái tình; tuy chỉ bộ phận giữa lông mày và con mắt, nhưng theo nghĩa rộng của Cung Ruộng Nhà, nó chỉ cho cả hai mắt. Ruộng là gốc để nuôi dưỡng mạng sống, nhà là nơi để an thân; nên nói theo ngôn từ hiện đại là Cung Gia Đình, thể hiện hoàn cảnh gia đình như thế nào. Nếu bộ phận này rộng, có thịt, thể hiện hoàn cảnh gia đình tốt đẹp. Tròng mắt trắng đen rõ ràng, cho biết gia đình tròn vẹn, lại có sản nghiệp. Nếu tròng mắt tối tăm, thể hiện ruộng nhà phá sản, tha hương bất hạnh. Nếu tròng mắt phủ đầy tơ hồng, biểu thị bần cùng đến già. Người có tròng mắt màu đỏ, hình như vòng tròn lửa, hay màu xanh, được gọi là mắt hung dữ, là điềm báo trước không bị giết cũng tự sát. (5) Nam Nữ Cung (男女宮, Cung Nam Nữ) hay Tử Nữ Cung (子女宮, Cung Con Gái), còn gọi là Sư Tử Tọa (獅子座), chủ yếu về vận mạng đối với người khác phái hay đối với người nữ; nằm ngay dưới hai con mắt, còn gọi là bộ phận Lệ Đường (淚堂) hay Ngọa Tàm (臥蠶), thể hiện có con gái hay không, có ít hay nhiều, tốt xấu thế nào. Bộ phận này nếu tròn đầy, tức thể hiện có cảm tình thích ứng, con cháu duyên sâu dày, có tiền của dư dật cho đến chết. Nếu quả nơi ấy lõm vào, không có da thịt, thể hiện sự xung khắc với con gái, hay vô duyên. Người có khí sắc nơi Lệ Đường màu xanh, phụ nữ ấy chủ yếu nguy hiểm về sinh sản. Nếu thấy có màu đen hay trắng, chủ yếu người ấy có chuyện bi ai; nếu thấy màu hồng thì sẽ sanh con vui vẻ. (6) Nô Bộc Cung (奴僕宮, Cung Nô Bộc) hay Xử Nữ Cung (處女座), chủ yếu về vận mạng có bộ hạ thế nào, nơi ở ra sao; nằm dưới cằm má, tức ở bộ phận xương quai hàm, thể hiện năng lực thống lãnh và chế ngự, bộ hạ có ít nhiều thế nào. Nếu bộ phận này to lớn, biểu hiện khí hồn giàu có, thống lãnh, được bộ hạ nhiều. Còn nếu quai hàm nhọn và nhỏ, tức không có duyên với bộ hạ cấp dưới và thiếu tài năng lãnh đạo. Về khí sắc của bộ phận này, nếu có màu hồng vàng, sáng tỏ, chủ yếu có nhiều nô bộc, người hầu kẻ hạ tấp nập. Nếu là màu xanh, đen, tối tăm, cho biết tôi tớ chạy mất và có bệnh tật, tai ách. (7) Phu Thê Cung (夫妻宮, Cung Vợ Chồng) còn gọi là Thê Thiếp Cung (妻妾宮), hay Thiên Bình Tọa (天秤座), chủ yếu về vận mạng phối ngẫu, kết hôn; nằm nơi đuôi lông mày của hai con mắt, thường được gọi là đuôi cá; do vì đuôi cá ấy vươn đến bộ vị vủa tóc mai, nên có tên là Gian Môn (奸門). Thê Thiếp Cung chỉ về bộ phận Gian Môn này. Nó thể hiện việc vợ chồng, hôn nhân có mỹ mãn hay không. Nếu sắc màu sáng sủa, đầy đặn, cho biết việc hôn nhân mỹ mãn. Nếu phần đuôi cá sạm đen, hay có hoa văn chữ thập, tức cho biết vợ chồng vô duyên. Người có nhiều hoa văn nơi đuôi cá, tức tình dục rất phong phú, sung mãn. (8) Tật Ách Cung (疾厄宮, Cung Tật Ách), hay Thiên Hiết Tọa (天蠍座), chủ yếu về tai họa, tật bệnh thế nào; nằm ngay trên sống mũi, giữa hai con mắt; còn gọi là sơn căn (山根), thể hiện người ấy có sức khỏe thế nào và tai nạn ra sao. Nếu bộ phận sống mũi dài, nhô đầy, không bị khuyết lõm, cho biết suốt đời bình an, thân tâm sức khỏe. Còn nếu gãy đứt, thấp lõm, e rằng sẽ có nhiều tật bệnh và tai ách. (9) Thiên Di Cung (遷移宮, Cung Thiên Di), hay Nhân Mã Tọa (人馬座), chủ yếu về vận mạng du lịch, di chuyển; nằm ở hai góc lông mày phía trên cho đến bộ phận mái tóc, thế gian thường gọi là bộ vị của Huyệt Thái Dương (太陽穴). Sách Tướng Số gọi nó là Thiên Thương (天倉), Dịch Mã (驛馬). Người xưa căn cứ vào đây để đoán về nơi ăn chốn ở, di chuyển, chức vị biến động cũng như du lịch thế nào. Nếu bộ phận này có sắc màu sáng, tức biến động có lợi, mưu sự thuận thành. Nếu sắc màu xấu, chủ yếu hung tai, hoặc có lo âu mất mác chức vị; nếu là màu xanh thì cho biết sẽ gặp trộm cắp trong nhà. (10) Quan Lộc Cung (官祿宮, Cung Quan Lộc), hay Sơn Dương Tọa (山羊座), chủ yếu về công danh, sự nghiệp; nằm ngay chính giữa trán, còn gọi là bộ vị Trung Chánh (中正). Bộ phận này thể hiện năng lực trí thức trời phú có ít nhiều thế nào, liên quan đến công danh, địa vị của cá nhân. Nếu cung này phẳng, đầy, sáng tỏ, cho biết người ấy có ý chí bất khuất, công danh thuận lợi, địa vị xã hội cao. (11) Phước Đức Cung (福德宮, Cung Phước Đức), hay Thủy Bình Tọa (水瓶座), chủ yếu về vận mạng cơ hội, vật chất; nằm hai bên trán, thể hiện cơ hội, tài vận, lợi hại, được mất thế nào. Về phương pháp xem Cung Phước Đức này, chủ yếu lấy bộ phận Thiên Thương, cọng thêm phần Địa Khố (地庫) dưới cằm. Nếu tương đối tốt đẹp, tướng đẹp, thể hiện vận buôn bán rất hanh thông, có phước đức, ngồi không cũng được hưởng giàu sang. (12) Tướng Mạo Cung (相貌宮, Cung Tướng Mạo), hay Song Ngư Tọa (雙魚座), chủ yếu về một đời người, phần cuối đời thế nào; được gọi là Ngũ Nhạc Tam Đình (五岳三停). Ngũ Nhạc chỉ cho má bên trái, là Đông Nhạc Thái Sơn (東岳泰山), má bên phải là Tây Nhạc Hoa Sơn (西岳華山), trán phía trên là Nam Nhạc Hành Sơn (南岳衡山), trên mũi là Trung Nhạc Tung Sơn (中岳嵩山), phần dưới xương quai hàm là Bắc Nhạc Hằng Sơn (北岳恆山). Tam Đình gồm Thượng Đình, Trung Đình và Hạ Đình. Nếu Ngũ Nhạc Tam Đình tương ứng, cân đối với nhau, chủ yếu thể hiện giàu sang, sống lâu. Nếu ngược lại tắc khốn khổ, vạn sự đều không thành. Ngoài ra Thập Nhị Cung còn là thuật ngữ được sử dụng trong Mật Giáo, nằm ở vị trí Kim Cang Bộ Viện (金剛部院), ngoài Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅), chia làm 4 phương. Đại Sớ cho rằng 12 cung này là quyến thuộc của Nguyệt Thiên (月天), phân phối phương vị có khác với Thiên Văn Học hiện đại, nhưng đại thể giống nhau. Tại phương Đông có Phu Phụ Cung (夫婦宮, hay Song Nữ Cung [雙女宮]), Dương Cung (羊宮, hay Bạch Dương Cung [白羊宮]), Ngưu Cung (牛宮, hay Kim Ngưu Cung [金牛宮]). Tại phương Tây có Bình Cung (秤宮, hay Thiên Bình Cung [天秤宮], Bình Lượng Cung [秤量宮]), Hiết Cung (蝎宮, hay Thiên Hiết Cung [天蝎宮], Hiết Trùng Cung [蝎蟲宮]), Cung Cung (弓宮, hay Nhân Mã Cung [人馬宮]). Tại phương Nam có Bình Cung (瓶宮, hay Bảo Bình Cung [寶瓶宮]), Nhị Ngư Cung (二魚宮, hay Song Ngư Cung [雙魚宮], Hiền Bình Cung [賢瓶宮]), Mật Ngưu Cung (密牛宮, hay Ma Hiết Cung [摩蝎宮]). Tại phương Bắc có Bàng Giải Cung (螃蟹宮, hay Cự Giải Cung [巨蟹宮]), Sư Tử Cung (獅子宮), Song Nữ Cung (雙女宮, hay Thất Nữ Cung [室女宮], Tiểu Nữ Cung [小女宮]).
thập nhị cung
(十二宮) Chỉ cho 12 cung của các vì tinh tú trong pháp xem thiên văn. Tên gọi và hình tượng 12 cung được liệt kê trong viện Ngoại kim cương bộ của Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, hơi khác với tên gọi các cung nêu trong kinh Tú diệu. Mười hai cung này là quyến thuộc của Nguyệt thiên, tức Thái dương được chia làm 6 cung: Sư tử cung, Nữ cung, Xứng cung, Yết cung, Cung cung và Ma yết cung; Thái âm được chia làm 6 cung: Bảo bình cung, Ngư cung, Bạch dương cung, Kim ngưu cung, Nam nữ cung và Giải cung. Mỗi cung đều phân định chủ quản một việc để phán định tốt xấu, như 6 cung Thái dương theo thứ tựchủvề quân lữ, cung phòng, kho tàng, bệnh hoạn, tướng tướng, hình sát; 6 cung của Thái âm theo thứ tự chủ quản về việc học, quan chức, bếp núc, chuồng ngựa, cửa nẻo và ngục tụng. Thập nhị cung phối trí với phương vị thuộc 4 phương thì phương Đông là Nam nữ cung, Bạch dương cung và Kim ngưu cung; phương Tây là Xứng cung, Yết cung và Cung cung; phương Nam là Bảo bình cung, Ngư cung và Ma yết cung; phương Bắc là Giải cung, Sư tử cung và Nữ cung. Trong đó, Nam nữ cung, Xứng cung và Bảo bình cung, nếu đi về hướng Đông thì rất tốt; Cung cung, Sư tử cung thì đi về hướng Tây cũng rất tốt, Bạch dương cung đi về hướng Tây thì rất xấu; Giải cung, Nữ cung, Yết cung và Ngư cung đi về hướng Nam thì rất tốt, Ma yết cung đi về hướng Nam thì rất xấu; Kim ngưu cung đi về hướng Bắc cũng rất xấu. [X. kinh Tú diệu Q.thượng, hạ; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.42].
thập nhị cung dưỡng bồ tát
(十二供養菩薩) Gọi tắt: Thập nhị cúng dường. Chỉ cho 12 vị tôn Bồ tát cúng dường, tức là 8 bồ tát Cúng dường cộng thêm 4 Nhiếp bồ tát trong Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo. Cúng dường nghĩa là dâng hiến, cho nên 4 Nhiếp cũng thuộc Cúng dường. Kinh Diệu cát tường bình đẳng bí mật tối thượng quán môn quyển 1 xếp 8 vị bồ tát Quang minh: Kim cương Đăng, Kim cương Thanh, Kim cương Hương, Kim cương Cam lộ, Kim cương Y, Kim cương Chàng, Kim cương Vũ và Kim cương Đồ hương ngồi ở 2 bên của 4 cửa thuộc viện thứ 3 và 4 vị Bồ tát : Kim cương Tán hoa quang minh, Kim cương Quán hoa quang minh, Kim cương Bảo cái quang minh và Kim cương Thiện tai quang minh ở 4 góc bên ngoài viện thứ 2 vào hàng Thập nhị Cúng dường Bồ tát. [X. kinh Thủ hộ Q.9].
thập nhị danh hiệu
Twelve epithets 112 danh hiệu.
Thập nhị danh thần chú hiệu lượng công đức trừ chướng diệt tội kinh 十二佛名神呪校量功德除障滅罪經
[ja] ジュウニブツミョウシンジュキョウリョウクドクジョショウメツザイキョウ Jūni butsumyō shinju kyōryō kudoku joshō metsuzai kyō ||| The Shier fo ming shenzhou jiaoliang gongde chuzhang miezui jing; Skt. Dvādaśabuddhaka-sūtra; Tib. sangs rgyas bcu gnyis pa [To.273/511/853]; (Sutra of the Twelve Buddha Names). (1) 1 fasc. (T 1348.21.860-863), Sutra of the Twelve Buddha Names [An Incantation for Scholastic Merit, Dispelling Harm and Extinguishing Sin] 十二佛名神呪校量功德除障滅罪經 trans. Jñānagupta 闍那崛多. (2) 1 fasc. (T 1349.21.863-864), Incantation of the Praises of the Tathāgata's Merits 稱讚如來功德神呪經, trans. Yijing 義淨. => s: Dvādaśabuddhaka-sūtra; t: sangs rgyas bcu gnyis pa; e: Sutra of the Twelve Buddha Names. 1. Thập nhị danh thần chú hiệu lượng công đức trừ chướng diệt tội kinh . Gồm 1 quyển. Xà-na-quật-đa dịch. 2. Xưng tán Như Lai công đức thần chú kinh. 1 quyển. Nghĩa Tịnh dịch.
thập nhị diện quan âm
(十二面觀音) Chỉ cho hóa thân của Đại sĩ Quán âm có 12 mặt. Tuy nhiên, trong các kinh và nghi quĩ không thấy có thuyết Thập nhị diện Quán âm. Phật tổlịch đại thông tải quyển 9 (Đại 49, 544 trung) nói: Vua từng ban sắc cho họa sĩ Trương tăng diêu vẽ tượng Đại sĩ Quán âm, Tăng diêu hạ bút nhưng không thể xác định hình tướng Đại sĩ, liền dùng ngón tay vạch ngang dọc trên mặt mình, bỗng hiện ra Thập nhị diện Quán âm, hình tướng thù thắng đẹp đẽ, có mặt thì từ hòa, có mặt thì uy dũng, nhưng cuối cùng thì Tăng diêu không vẽ ra được. [X. Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục].
thập nhị du kinh
Dvàdasaviharana-sùtra (S). The life of Sàkyamuni to his twelfth year, translated by Kàlodaka AD 392.
; Dvadasaviharana sutra (The life of Sakyamuni to his twelfth year).
thập nhị duyên khởi
The twelve links of “Cause and Effect” or “Karmic Causality.” 1) Vô minh: Ignorance—Unenlightenment. 2) Hành: Action—Moving—Activity—Conception—Disposition. 3) Thức: Consciousness. 4) Danh sắc: Name and Form. 5) Lục Nhập: Six Organs (mắt,tai mũi, lưỡi, thân, ý/eye, ear, nose, tongue, body, mind). 6) Xúc: Contact—Touch. 7) Thọ: Feeling or Perception—Sensation. 8) Ái: Thirst—Desire—Craving—Attachment. 9) Thủ: Grasping—Laying hold of. 10) Hữu: Being—Existing—Owning or Possessing. 11) Sanh: Birth. 12) Lão Tử: Old Age, Illness and Death. Vì vô minh mà tâm nầy vọng động. Vọng động là mắc xích thứ hai. Nếu tâm vọng động, mọi thứ vọng động từ từ sinh khởi là Hành. Do Hành mà có Tâm Thức, mắc xích thứ ba. Do Thức mà có Cảnh, là mắc xích thứ tư. Do cảnh mà khởi lên mắc xích thứ năm là Danh Sắc. Danh sắc hợp nhau lại để thành lập mọi thứ khác và dĩ nhiên trong thân chúng sanh khởi lên sáu căn. Khi sáu căn nầy tiếp xúc với nội và ngoại trần thì mắc xích thứ sáu là Xúc khởi dậy. Sau Xúc là mắc xích thứ bảy Cảm Thọ. Khi những vui, buồn, thương, giận, ganh ghét, vân vân đã được cảm thọ thì mắc xích thứ tám là Ái sẽ khởi sinh. Khi luyến ái chúng ta có khuynh hướng giữ hay Thủ những thứ mình có, mắc xích thứ chín đang trỗi dậy. Chúng ta luôn luôn nắm giữ sở hữu chứ không chịu buông bỏ, mắc xích thứ mười đang cột chặt chúng ta vào luân hồi sanh tử. Do Hữu mà có Sanh (mắc xích thứ mười một), Lão, Bịnh, Tử (là mắc xích thứ mười hai)—Because of ignorance, the mind is moved. This Moving is the second link. If the mind is moved, it will move everything. So everything else comes into being due to that initial Moving. Subsequent to this Moving, the third link of Consciousness arises. Owing to the consciousness wrong views arise, that's the fourth link. Because of the wrong views, arising the fifth link of Form and Name. Form (visible), Name (invisible) combine themselves together to form everything else and of course there arises the Six Roots or Six Senses. When the six senses come into contact with the internal and external, the sixth link of Contact arises. After the arising of Contact, Perception or Feeling is brought forth. When happiness, unhappiness, anger, love, jealousy, etc are all perceived, the eighth link of attachment arises. When we attached to our perceptions, we have a tendency to grasp on whatever we have. It's very difficult to detach ourselves from them, the ninth link of Grasping arises. We always grasp our feelings very strongly and never let go what we grasp in hands, the tenth link of Owning or Possessing arises to bind us tightly with the samsara. Subsequent to Owning, there will arise Birth (the eleventh link), Old Age, Illness and Death (the twelfth link).
Thập nhị duyên 十二縁
Thập nhị chi 十二支 [ja] ジュウニエン jūnien ||| See 十二因縁. => Xem Thập nhị nhân duyên 十二因縁
Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng
(十二藥叉大將): 12 vị Dược Xoa Đại Tướng, còn gọi là Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng (藥師十二神將), Thập Nhị Thần Vương (十二神王), Thập Nhị Thần Tướng (十二神將), là quyến thuộc của đức Phật Dược Sư, những vị phát nguyện hộ trì người nào trì tụng Dược Sư Kinh. Đôi khi họ cũng được xem như là phân thân của Phật Dược Sư để hộ trì 12 lời nguyện của Ngài. Như trong Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師瑠璃光如來本願功德經) có nêu rõ tên của 12 vị Đại Tướng này, gồm: (1) Cung Tỳ La (s: Kumbhīra, 宮毘羅), còn gọi là Kim Tỳ La (金毘羅), ý dịch là Cực Úy (極畏); thân màu vàng, tay cầm cây chày báu, thuộc chi Hợi, lấy Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) làm bản địa. (2) Phạt Chiết La (s: Vajra, 伐折羅), còn gọi là Bạt Chiết La (跋折羅), Hòa Kì La (和耆羅), ý dịch là Kim Cang (金剛), thân màu trắng, tay cầm kiếm báu, chi Tuất, lấy Bồ Tát Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至) làm bản địa. (3) Mê Xí La (s: Mihira, 迷企羅), còn gọi là Di Khư La (彌佉羅), ý dịch là Chấp Nghiêm (執嚴), thân màu vàng, tay cầm cây gậy báu hay Độc Cô (獨鈷), chi Dậu, lấy Phật A Di Đà (s: Amitābha; 阿彌陀佛) làm bản địa. (4) An Để La (s: Aṇḍīra, 安底羅), còn gọi là Át Nễ La (頞儞羅), An Nại La (安捺羅), An Đà La (安陀羅); ý dịch là Chấp Tinh (執星), thân màu xanh, tay cầm chùy hay hạt châu báu, chi Thân, lấy Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) làm bản địa. (5) Ngạch Nễ La (s: Anila, 額儞羅), còn gọi là Mạt Nhĩ La (末爾羅), Ma Ni La (摩尼羅), ý dịch là Chấp Phong (執風), thân màu hồng, tay cầm cây xoa báu hay cái nỏ, chi Mùi, lấy Bồ Tát Ma Lợi Chi (摩利支) làm bản địa. (6) San Để La (s: Śaṇḍila, 珊底羅), còn gọi là Ta Nễ La (娑儞羅), Tố Lam La (素藍羅); ý dịch là Cư Xứ (居處); thân màu khói lam, tay cầm bảo kiếm hay vỏ sò; chi Ngọ, lấy Bồ Tát Hư Không Tạng (s: Ākāśagarbha, 虛空藏) làm bản địa. (7) Nhân Đạt La (s: Indra, 因達羅), còn gọi là Nhân Đà La (因陀羅); ý dịch là Chấp Lực (執力), thân màu hồng, tay cầm côn báu hay cái mâu, chi Tỵ, lấy Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏) làm bản địa. (8) Ba Di La (s: Pajra, 波夷羅), còn gọi là Bà Da La (婆耶羅); ý dịch là Chấp Ẩm (執飲); thân màu hồng, tay cầm chùy báu hay cung tên, chi Thìn, lấy Bồ Tát Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊) làm bản địa. (9) Ma Hổ La (s: Mahoraga, 摩虎羅), còn gọi là Bạc Hô La (薄呼羅), Ma Hưu La (摩休羅); ý dịch là Chấp Ngôn (執言); thân màu trắng, tay cầm búa báu, chi Mão; lấy Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師) làm bản địa. (10) Chơn Đạt La (s: Kinnara, 眞達羅), còn gọi là Chơn Trì La (眞持羅); ý dịch là Chấp Tưởng (執想); thân màu vàng, tay cầm cây Quyên Sách (羂索) hay gậy báu, chi Dần; lấy Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) làm bản địa. (11) Chiêu Đỗ La (s: Catura, 招杜羅), còn gọi là Chiêu Độ La (招度羅), Châu Đỗ La (朱杜羅), Chiếu Đầu La (照頭羅); ý dịch là Chấp Động (執動); thân màu xanh, tay cầm chùy báu; chi Sửu, lấy Bồ Tát Kim Cang Thủ (金剛手) làm bản địa. (12) Tỳ Yết La (s: Vikarāla, 毘羯羅), còn gọi là Tỳ Già La (毘伽羅); ý dịch là Viên Tác (圓作), thân màu hồng; tay cầm vòng tròn báu; chi Tý, lấy Phật Thích Ca Mâu Ni (s: Śākyamuni, p: Sakyamuni, 釋迦牟尼) làm bản địa. Cho nên, 12 vị Thần Tướng này cũng là tên gọi của Kinh Dược Sư như trong Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh cho biết rằng: “Thử pháp môn danh thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, diệc danh thuyết Thập Nhị Thần Tướng Nhiêu Ích Hữu Tình Kết Nguyện Thần Chú, diệc danh Bạt Trừ Nhất Thiết Nghiệp Chướng (此法門名說藥師琉璃光如來本願功德、亦名說十二神將饒益有情結願神咒、亦名拔除一切業障, pháp môn này có tên là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, cũng gọi là Thập Nhị Thần Tướng Nhiêu Ích Hữu Tình Kết Nguyện Thần Chú, cũng gọi là Bạt Trừ Nhất Thiết Nghiệp Chướng).”
thập nhị dược xoa đại tướng
Theo Kinh Dược Sư, có mười hai vị Dược Xoa đại tướng—According to the Bhaisajyaguru vaidurya Prabhasa Sutra, there are twelve Yaksha generals, they are : 1) Cung tì la Đại tướng: General Kumbhira. 2) Phạt chiếc la đại tướng: General Vajra. 3) Mê-Súy-La đại tướng: General Mihira. 4) An-Để-La đại tướng: General Andira. 5) Át Nể La đại tướng: General Majira. 6) San-Để-La đại tướng: General Shandira. 7) Nhơn Đạt La đại tướng: General Indra. 8) Ba Di La đại tướng: General Pajra. 9) Ma Hổ La đại tướng: General Makuram. 10) Chơn Đạt La đại tướng: General Sindura. 11) Chiêu Đỗ La đại tướng: General Catura. 12) Tỳ Yết La đại tướng: General Vikarala. ---Mười hai vị đại tướng nầy mỗi vị đều có bảy ngàn Dược Xoa làm quyến thuộc đồng cất tiếng bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay chúng tôi nhờ oai lực của Phật mà được nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, không còn tâm sợ sệt trong các đường ác thú nữa. Chúng tôi cùng nhau, đồng một lòng trọn đời quy-y Phật, Pháp, Tăng, thề sẽ gánh vác cho chúng hữu tình, làm việc nghĩa lợi đưa đến sự nhiêu ích an vui. Tùy nơi nào hoặc làng xóm, thành, nước, hoặc trong rừng cây vắng vẻ, nếu có kinh nầy lưu bố đến hay có người thọ trì danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và cung kính cúng dường Ngài, thì chúng tôi cùng quyến thuộc đồng hộ vệ người ấy thoát khỏi tất cả ách nạn và khiến họ mong cầu việc chi cũng đều được thỏa mãn. Nếu có ai bị bịnh hoạn khổ ách, muốn cầu cho khỏi thì cũng nên đọc tụng kinh nầy và lấy chỉ ngũ sắc gút danh tự chúng tôi, khi đã được như lòng mong cầu thì mời mở gút ra. Each of the twelve Yaksha General has an army of seven thousand Yakshas. The unanimously pledged to the Buddha. “Lokajyestha, by the Buddha's power, we have learned of the name Lokajyestha Bhaisajyaguru vaidurya Prabhasa Tathagata, we have no more fear or evil rebirth. We all sincerely take refuge in the Buddha, the Dharma and the Sangha for the rest of our natural lives. We will serve all beings, promote their benefit and comfort. Any town or village, country or forest, wherever this Sutra is preached, and wherever the name Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata is venerated, we and our army will protect the faithful and rescue them from calamity. All their wishes will be fulfilled. Those in sickness and danger should recite this sutra. They should take a five colored skein, and tie it into knots to form our names. They can untie the knots when the wishes are fulfilled.
thập nhị dụ
(十二喻) Chỉ cho 12 thí dụ đức Phật dùng để đối trị các vọng chấp như: Nhất dị, câu bất câu, hữu vô, phi hữu phi vô, thường vô thường... Đó là: 1. Khát lộc dương diệm: Nai khát gặp dương diệm(sóng nắng). Nghĩa là đàn nai bị cơn khát bức ngặt, thấy sóng nắng liền tưởng là nước, mê loạn chạy đến. Cũng thế, chủng tử tập khí tham ái từ vô thủy của phàm phu, bên trong thì xông ướp 3 độc, bên ngoài thì phát khởi hiện hành, bị khát ái bức ngặt, vọng khởi tham cầu dục lạc trong các sắc cảnh. 2. Thành Càn thát bà (Phạm: Gandharva-pura): Lúc mặt trời mới mọc, trên mặt biển, do hơi của loài sò lớn bốc lên, người ta thấy hiện ra nào là thành quách, cung điện, lâu đài, người qua lại... đến khi mặt trời lên cao thì liền tan biến. Cũng thế, người phàm phu không có trí thấy thế tưởng là thành quách, thực ra không có thành, cũng chẳng phải không thành. 3. Cảnh trong mộng: Ví như người nằm mộng, thấy có người, ngựa, xe cộ, vườn rừng, sông núi, ao hồ..., khi tỉnh dậy còn hoài niệm không thôi. 4. Tượng vẽ: Ví như tượng vẽ không cao không thấp, nhưng kẻ phàm ngu lại tưởng có cao thấp. Cũng thế, tất cả các pháp đều do tâm hiện ra, không có cao thấp, nhưng ngoại đạo nương vào ác kiến sinh diệt, khoe mình là cao. 5. Mắt nhặm: Ví như mắt nhặm mù mờ thấy tóc rũ, nhưng tóc rũ rốt ráo chẳng phải tính chẳng phải không tính, chỉ do thấy suốt hay không mà biết tính ấy. Ví dụ ngoại đạo dựa vào tà kiến, dạy người khác giống như mình. 6. Vòng lửa: Ví như vòng lửa là do xoay tròn đốm sáng mà thành, thực ra chẳng có, nhưng phàm phu lại cho là thật có vòng lửa, đó chẳng phải là người có trí tuệ.7. Bọt nước: Ví như bọt nước tương tự như những hạt châu ma ni, nhưng người ngu tưởng là ma ni thật mà sinh tâm mong cầu. Thật ra, bọt nước chẳng phải châu ma ni, cũng chẳng phải chẳng là châu ma ni, chỉ vì mê chấp mà cho bọt nước là châu ma ni. 8. Bóng cây trong nước: Ví như bóng cây hiện ra ở trong nước, chẳng phải bóng, cũng chẳng phải không bóng, chẳng phải hình cây, cũng chẳng phải không là hình cây. Ví dụ sự hiện thân của Phật như bóng trong nước, nước ví dụ tâm chúng sinh, cây ví dụ pháp thân của Phật. Cảnh hiện ra vốn là pháp thân sẵn có của chúng sinh, do hiện lượng của tự tâm nên bóng và cây đều chẳng phải. Vì ngoại đạo không thấu suốt lí duy tâm sở hiện nên vọng khởi các kiến chấp nhất dị... 9. Hình tượng trong gương: Ví như gương sáng, tùy duyên hiển hiện tất cả hình tượng, nhưng không vọng tưởng chấp trước. Những hình tượng ấy chẳng phải hình tượng cũng chẳng phải chẳng là hình tượng mà thấy hình tượng chẳng phải hình tượng, nhưng kẻ phàm ngu thì vọng tưởng cho là hình tượng. 10. Gió thổi nước phát ra tiếng: Ví như gió và nước hòa hợp phát ra tiếng, tiếng ấy chẳng phải tính cũng chẳng phải chẳng tính. Ví dụ sự thuyết pháp của Phật là do duyên phát khởi, giống như gió và nước hòa hợp mà có tiếng, cho nên tất cả thanh giáo vốn chẳng phải thực pháp, nhưng người ngu lại vọng cho là thực.11. Mặt trời chiếu soi hiện ra sóng nắng: Ví như mặt đất chỗ không có cây cối, mặt trời chiếu nóng hiện ra sóng nắng, nổi lên cuồn cuộn, sóng này chẳng phải có tính cũng chẳng phải không tính. 12. Chú thuật phát động: Chẳng thuộc chúng sinh, do quỉ Tì xá xà phương tiện hợp thành, kẻ phàmngu vọng tưởng chấp có qua lại. Ví dụ thân Phật chẳng phải thân, chỉ do diệu dụng vô tác thành tựu chúng sinh, vốn không tướng đến đi, ra vào, kẻ phàmngu không rõ biết vọng tưởng là thật. [X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.2; kinh Nhập lăng già Q.3; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.3; luận Đại trí độ Q.6].
thập nhị hoả
(十二火) Tạng: Me mam-pa-bcu-gĩis. Cũng gọi Thập nhị hỏa thiên. Chỉ cho 12 hỏa pháp của Mật giáo lập ra để đối lại với 44 thứ tà hộ ma của ngoại đạo, hoặc chỉ cho 12 vị Bản tôn của 12 hỏa pháp này. Đó là: 1. Trí hỏa (Tạng: Ye-zes-me): Nội chứng của Đế thích, biểu thị ý nghĩa ánh sáng trí tuệ của tâm bồ đề đốt phá vô minh, tương đương với pháp Tức tai. Đế thích là vuacủacác trời, nên được dùng để tượng trưng cho ánh sáng trí tuệ của Đại nhật Như lai, có đầy đủ công đức của tất cả Như lai. Vị tôn này có màu vàng, tóc mượt rực rỡ tỏa ánh sáng chung quanh, trụ trong tướng Chính thụ tam muội, người tu pháp này lập đàn vuông để quán tưởng. 2. Hành mãn (Tạng:Fdsin-bye): Biểu thị hạnh đại bi, cũng tương đương với pháp Tức tai. Hình tượng vị tôn này như trăng thu, mình mặcáo màu trắng tinh, tay phải cầm tràng hạt, tay trái cầm quân trì(cái bình). 3. Ma rô đa (Tạng:Rluí): Hán dịch là Phong táo. Như gió thổi làm tan mây, biểu thị nghĩa làm tiêu tan các chướng, tương ứng với pháp Điều phục. Vị tôn này có màu đen, ngồi ngay thẳng trong hình bán nguyệt, tay cầm giải lụa như chiếc áo chư thiên. 4. Lô hê đa(Tạng:Dmar-po): Hán dịch là Xích sắc, biểu thị ý nghĩa trí tuệ bén nhạy. Hình tượng vị này màu đỏ, ngồi ngay thẳng trong hình tam giác, tay phải cầm dao, lộ vẻ hơi giận. 5. Một lật noa (Tạng:Mfđa): Biểu thị nghĩa từ bi và trí tuệ hợp nhất. Hình tượng vị này nửa mình bên trái có màu đỏ, lộ vẻ hơi giận, nửa mình bên phải có màu vàng, lộ vẻ mỉm cười, tay trái cầm dao, tay phải cầm chày kim cương. 6. Phẫn nộ (Tạng: Khro-bo): Tương ứng với pháp Hàng phục và pháp Tức tai. Thân hình vị này màu khói rất đen, nhắm một mắt như Bất động tôn, tóc rực lửa, miệng há ra như dáng đang gào to, nhe 4 răng nanh. 7. Xà tra la (Tạng:Itc-ba): Hán dịch là Ôn phúc. Hình tượng vị này có 5 màu, hiện tướng rất phẫn nộ. 8. Ngật sái da (Tạng:Braí-ba): Hán dịch là Phí hao, biểu thị nghĩa diệt trừ nghiệp chướng. Hình tượng vị này giống như nhiều tia sáng tụ lại mà có, không thể nhìn bằng mắt. 9. Ý sinh (Tạng:Yid-las-skyes): Biểu thị nghĩa trí tuệ tự tại, dùng thân, khẩu, ý khéo léo ứng hợp với chúng sinh, tùy ý thành tựu các Phật sự to lớn. 10. Yết la vi (Tạng:Fjig-rten-#dsinpa): Hán dịch là Thụ thực hỏa, biểu thị nghĩa lãnh thụ quả 3 thân. Hình tượng vị này tay cầm ấn chữ Án. 11. Kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ đều thiếu tôn vị này. 12. Mô hạ na (Tạng: Rmugs-byed): Hán dịch là Tất thành, biểu thị ý nghĩa hàng phục các ma và những việc phải làm đều đã hoàn thành. Trong Thập nhị hỏa nói trên, ngoại trừ vị tôn thứ 11, hình tướng các vị còn lại đều được ghi trong Đại nhật kinh sớ quyển 20, trong đó, đồng thời còn nêu tác pháp của 3 pháp tu: Trí hỏa, Hành mãn và Một lật noa. Nhưng ở bên trái viện Ngoại kim cương bộ trong Mạn đồ la Thai tạng giới do A xà lê Thiện vô úy truyền được nói trong Đại nhật kinh sớ quyển 6 thì chỉ ghi tên của 12 vị Hỏa thần. [X. phẩm Hộ ma kinh Đại nhật]. (xt. Sự Hỏa Ngoại Đạo).
thập nhị hạnh đầu đà
Hạnh tu đầu đà nhằm giúp hành giả thanh tịnh thân tâm và giải thoát khỏi tham dục về ăn uống, áo quần, nơi ở. Có 12 phép tu đầu đà quan hệ đến quần áo, thực phẩm, và nơi ở—Ascetic practices help practitioners purify the body and mind and free from the desire of food, clothing and shelter. There are twelve kinds of dhuta relating to release from ties to clothing, food, and dwelling. 1) Mặc áo nạp y hay phấn tảo y, thứ áo khâu lại bằng những mảnh vải mà người ta đã vứt đi: Garments of cast-off rags. 2) Chỉ có tam y hay ba loại áo Tăng Già Lê, Uất Đa La, và An Đà Hội: To wear only three garments. 3) Chỉ ăn đồ khất thực, chứ không nhận đồ ăn của người khác mời: Eat only food begged. 4) Chỉ ăn sáng và bữa ngọ là chính (không ăn sau giờ ngọ, nghĩa là sau 1 giờ chiều): Eat only breakfast and the main noon meal. 5) Nhất tọa thực, nghĩa là chỉ ăn đúng buổi chứ không ăn vặt: No food between them (breakfast and the noon meal). 6) Tiết Lượng Thực: Ăn uống tiết độ, chỉ được ăn cơm và thức ăn đựng trong bát khất thực của mình, hết thì thôi, chứ không lấy thêm—Eat with limited amount, only eat what you have in the begging bowl without asking for more. 7) A Lan Nhã Xứ hay Viễn Ly Xứ, tức là ở nơi đồng không mông quạnh xa hẳn nơi dân cư: Dwelling as a hermit. 8) Trủng Gian Tọa: Ở nơi mồ mã nghĩa địa—Dwelling among tombs. 9) Thụ Hạ Tọa: Ở dưới gốc cây—Dwelling under a tree. 10) Lộ Địa Tọa: Ở nơi trống trải không cần có thứ gì che mát—Dwelling under the open sky. 11) Tùy tọa: Chỗ nào cũng có thể ở được—Dwelling anywhere. 12) Thường tọa bất ngọa: Thường ngồi chứ không nằm—Sitting and not lying down.
thập nhị hợp chưởng
(十二合掌) 1. Kiên thực tâm hợp chưởng 2. Hư tâm hợp chưởng 4. Sơ cát 3. Vị phu liên hợp chưởng liên hợp chưởng 5. Hiển lộ hợp chưởng 6. Trì thủy hợp chưởng 7. Qui mệnh hợp chưởng 8. Phản xoa hợp chưởng 9. Phản tích hỗ tương trước hợp chưởng 10. Hoành trụ chỉ hợp chưởng 11. Phúc thủ hướng hạ hợp chưởng 12. Phúc thủ hợp chưởng 10. Hồi văn hướng hạ: Đưa câu văn ở dưới lên trên, trước dẫn văn kinh, sau mới giải thích. 11. Trị định: Chỉ cho văn kinh đã được sửa chữa. 12. Ngữ lược: Chọn lựa văn kinh để trích dẫn, có 2 thứ tiền lược, hậu lược. Xưa nay Mật giáo lấy khẩu truyền làm giáo quyền, nếu khi nghi quỉ khác với kinh chính thì y cứ theo nghi quĩ; nếu khi nghi quĩ khác với khẩu truyền thì chọn lấy khẩu truyền.
; (十二合掌) Chỉ cho 12 cách chắp tay, tức 12 ấn tướng làm nền tảng cho các ấn khế, gọi là Ấn mẫu(mẹ của các ấn). Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không nêu dưới đây theo thứ tự là tên khác của các ngón tay: Ngón út(địa), ngón vô danh(thủy), ngón giữa(hỏa), ngón trỏ(phong)và ngón cái(không). Thập nhị hợp chưởng gồm: 1. Kiên thực tâm hợp chưởng: Tức 2 bàn tay chắp lại thật kín khít, không trống ở giữa. 2. Hư tâm hợp chưởng(cũng gọi Không tâm hợp chưởng): Tức giống như Kiên thực tâm hợp chưởng, nhưng giữa 2 lòng bàn tay hơi để trống. 3. Vị phu liên (hoa) hợp chưởng (cũng gọi Vị khai liên hợp chưởng, Như lai khai liên hợp chưởng): Hình dáng như Hư tâm hợp chưởng, nhưng 2 mu bàn tay hơi khum khum giống như hình đóa sen chưa nở. 4. Sơ cátliên (hoa) hợp chưởng: Tức chắp tay, nhưng đầu 2 ngón Địa và 2 ngón Không dính vào nhau, còn 3 ngón Thủy, Hỏa, Phong thì hơi cách nhau, như đóa sen vừa hé nở. 5. Hiển lộ hợp chưởng: Tức 2 cạnh bàn tay kề nhau, đặt song song, 2 ngón Địa dính sát nhau theo chiều dọc, 2 lòng bàn tay hướng lên. 6. Trì thủy hợp chưởng:Tức 2 bàn tay đều ngửa, cácđầungón Địa, Thủy, Hỏa và Phong hơi co và dính sát nhau, chỉ trừ 2 ngón Không, mỗi ngón đều tựa vào cạnh 2 ngón Phong, giống như vụm tay lại để hứng nước. 7. Qui mệnh hợp chưởng(cũng gọi Kim cương hợp chưởng): Tức 10 đầu ngón tay đan xen kẽ nhau, 5 ngón tay phải đặt trên 5 ngón tay trái. 8. Phản xoa hợp chưởng: Tức lưng (mu) 2 bàn tay dựa vào nhau, 10 ngón tay đan xen kẽ. 9. Phản tích (bối) hỗ tương trước hợp chưởng: Tức bàn tay phải ngửa, bàn tay trái úp, mu 2 bàn tay dính sát nhau. 10. Hoành trụ chỉ hợp chưởng: Tức 2 bàn tay ngửa, chỉ có đầu 2 ngón Hỏa dính vào nhau, đầu các ngón còn lại thì hơi mở xòe ra. 11. Phúc thủ hướng hạ hợp chưởng: Tức úp 2 bàn tay, 2 ngón Không sát cạnh nhau theo chiều dọc, đầu 2 ngón Hỏa dính nhau. 12. Phúc thủ hợp chưởng: Tức 2 bàn tay đều úp, 2 ngón Không đặt sát nhau, đầu 10 ngón tay đều hướng ra ngoài. Mười hai cách chắp tay trên đây, mỗi cách đều mang ý nghĩa sâu kín. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
thập nhị khẩu truyện
(十二口傳) Chỉ cho 12 thức truyền miệng khi học các kinh, luận, chương, sớ của Mật giáo, nhất là khi sớ giải nghĩa sâu kín của kinh Đại nhật. Đó là: 1. Vị hội: Loại sách chưa được sửa chữa. 2. Lạn thoát: Kinh văn ghi lại những điều trước sau lầm lẫn. 3. Dẫn điệp: Trước giải thích, sau dẫn văn kinh để hợp. 4. Tổng điệp: Ghi lại các đoạn văn kinh dài đã trích dẫn. Điệp là ghi lại. 5. Biệt điệp: Lần lượt giải thích văn Tổng điệp. 6. Giáo điệp: Đọc chung phần văn kinh đã được sửa chữa và văn giải thích. 7. Thủ ý: Văn kinh không có giải thích thì chỉ ghi đại ý của đoạn văn kinh. 8. Hồi văn: Tức ghi văn kinh không theo thứ tự mà chuyển đổi, lúc trước lúc sau.9. Hồi văn hướng thượng: Chuyển câu văn ở trên xuống dưới, trước giải thích, sau lại dẫn văn kinh. 10. Hồi văn hướng hạ: Đưa câu văn ở dưới lên trên, trước dẫn văn kinh, sau mới giải thích. 11. Trị định: Chỉ cho văn kinh đã được sửa chữa. 12. Ngữ lược: Chọn lựa văn kinh để trích dẫn, có 2 thứ tiền lược, hậu lược. Xưa nay Mật giáo lấy khẩu truyền làm giáo quyền, nếu khi nghi quỉ khác với kinh chính thì y cứ theo nghi quĩ; nếu khi nghi quĩ khác với khẩu truyền thì chọn lấy khẩu truyền.
Thập nhị kiến phược 十二見縛
[ja] ジュウニケンバク jūnikenbaku ||| The twelve binding views: (1) view of self 我見縛; (2) view of sentient beings 衆生見縛; (3) view of life 壽命見縛; (4) view of person 人見縛; (5) nihīistic view 斷見縛; (6) eternalistic view 常見縛; (7) the view of "doing" 我作見縛; (8) the view of subject and object 我所見縛; (9) view of existence 有見縛; (10) view of non-existence 無見縛; (11) view of this and that 比彼見縛; (12) the view of all dharmas 諸法見縛. (From the Shouleng yan sanmeijing 首楞嚴三昧經, T vol. 15, p. 637B). => Mười hai quan niệm chấp trước: 1. Ngã kiến phược; 2.Chúng sinh kiến phược; 3. Thọ mạng kiến phược; 4. Nhân kiến phược; 5. Đoạn kiến phược; 6. Thường kiến phược; 7. Ngã tác kiến phược; 8. Ngã sở kiến phược; 9. Hữu kiến phược; 10. Vô kiến phược; 11.Thử bỉ kiến phược; 12. Chư pháp kiến phược. Theo Thủ Lăng Nghiêm Tam muội kinh.
thập nhị loại chúng sanh
Twelve categories of living beings—Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Bảy, Đức Phật đã nhắc ngài A Nan về mười hai loại chúng sanh—In the Surangama Sutra, book Seven, the Buddha reminded Ananda about the twelve categories of living beings. 1) Noãn sanh (trứng sanh): Born through egg—Bởi nhân thế giới hư vọng luân hồi, động điên đảo, hòa hợp với khí thành tám vạn bốn nghìn loài bay, bơi loạn tưởng. Như vậy nên có loài từ trứng sinh, lưu chuyển trong các quốc độ, như loài cá, chim, rùa, rắn, đầy dẫy trong thế giới—Through a continuous process of falseness, the upside-down state of movement occurs in this world. It unites with energy to become eighty-four thousand kinds of random thoughts that either fly or sink. From this there come into being the egg kalalas which multiply throughout the lands in the form of fish, birds, amphibians, and reptiles, so that their kinds abound. 2) Thai sinh: Born through womb—Bởi nhân thế giới tạp nhiễm luân hồi, dục điên đảo, hòa hợp thành tám vạn bốn nghìn loài hoành thụ, loạn tưởng. Như vậy nên có loài từ thai sinh, như người, vật, tiên, rồng, đầy dẫy khắp thế giới—Through a continuous process of defilement, the upside-down state of desire occurs in this world. It unites with stimulation to become eighty-four thousand kinds of random thoughts that are either upright or perverse. From this there come into being the womb arbudas, which multiply throughout the world in the form of humans, animals, dragons, and immortals until their kinds abound. 3) Thấp sinh: Born through moisture—Bởi nhân thế giới chấp trước luân hồi, thù điên đảo, hòa hợp khí nóng thành tám vạn bốn nghìn loài phiên phúc loạn tưởng. Như vậy nên có loài từ chỗ ẩm thấp sinh, như các loài trùng, sâu bọ, vân vân, lưu chuyển đầy dẫy quốc độ—Through a continuous process of attachment, the upside-down state of inclination occurs in this world. It unites with warmth to become eighty-four thousand kinds of random thoughts that are vacillating and inverted. From this there come into being through moisture the appearance of peshis, which multiply throughout the lands in the form of insects and crawling invertebrates, until their kinds abound. 4) Hóa sinh: Born through transformation—Bởi nhân thế giới biến dịch luân hồi, giả điên đảo, hòa hợp xúc thành tám vạn bốn nghìn loạn tưởng tân cố. Như vậy có loài tự biến hóa sinh, như loài thay vỏ, thoát xác bay đi, lưu chuyển đầy dẫy quốc độ—Through a continuous process of change, the upside-down state of borrowing occurs in this world. It unites with contact to become eighty-four thousand kinds of random thoughts of new and old. From this there come into being through transformation the appearance of ghanas, which multiply throughout the lands in the form of metamorphic flying and crawling creatures, until their kinds abound. 5) Sắc tướng sanh: Born through form—Bởi nhân thế giới lưu ngại luân hồi, chướng điên đảo, hòa hợp chấp trước thành tám vạn bốn nghìn tinh diệu loạn tưởng, như vậy nên có loài sắc tướng sanh, như loài tinh minh, xấu tốt, lưu chuyển đầy dẫy trong quốc độ—Through a continuous process of restraint, the upside-down state of obstruction occurs in this world. It unites with attachment to become eighty-four thousand kinds of random thoughts of refinement and brilliance. From this there come into being the ghanas of appearance that possess form, which multiply throughout the lands in the form of auspicious and inauspicious essences, until their kinds abound. 6) Vô sắc tướng sanh: Formless beings—Bởi nhân thế giới tiêu tản luân hồi, hoặc điên đảo, hòa hợp u ám thành tám vạn bốn nghìn âm ẩn loạn tưởng. Như vậy nên có loài vô sắc sinh, như loài không tản tiêu trầm lưu chuyển đầy dẫy trong quốc độ—Through a continuous process of annihilation and dispersion, the upside-down state of delusion occurs in this world. It unites with darkness to become eighty-four thousand kinds of random thoughts of obscurity and hiding. From this there come into being the ghanas of formless beings, which multiply throughout the lands as those that are empty, dispersed, annihilated, and submerged until their kinds abound. 7) Tưởng tướng sanh: Beings with thought—Bởi nhân thế giới vọng tưởng luân hồi, ảnh điên đảo, hòa hợp với 'nhớ' thành tám vạn bốn nghìn tiềm kiết loạn tưởng. Như vậy nên có loài tưởng tướng sanh, như là quỷ thần, tinh linh, lưu chuyển đầy dẫy trong quốc độ—Through a continuous process of illusory imaginings, the upside-down state of shadows occurs in this world. It unites with memory to become eighty-four thousand kinds of random thoughts that are hidden and bound up. From this there come into being the ghanas of those with thought, which multiply throughout the lands in the form of spirits, ghosts, and weird essences, until their kinds abound. 8) Vô tưởng sanh: Beings without thought—Bởi nhân thế giới ngu độn luân hồi, si điên đảo, hòa hợp ngu ngoan, thành tám vạn bốn nghìn khô khan loạn tưởng. Như vậy nên có loài vô tưởng sinh, như loài tinh thân hóa ra thảo mộc kim thạch, lưu chuyển đầy dẫy quốc độ—Through a continuous process of dullness and slowness, the upside-down state of stupidity occurs in this world. It unites with obstinancy to become eighty-four thousand kinds of random thoughts that are dry and attenuated. From this there come into being the ghanas of those without thought, which multiply throughout the lands as their essence and spirit change into earth, wood, metal, or stone, until their kinds abound. 9) Chẳng phải có sắc tướng sinh: Beings not totally endowed with form—Bởi nhân thế giới tương đãi luân hồi, ngụy điên đảo, hòa hợp nhiễm thành tám vạn bốn nghìn nhân y loạn tưởng. Như vậy nên có các loài chẳng phải có sắc tướng sinh, như loài thủy mẫu, lưu chuyển đầy dẫy quốc độ—Through a continuous process of parasitic interaction, the upside-down state of simulation occurs in this world. It unites with defilement to become eighty-four thousand kinds of random thoughts of according and relying. From this there come into being those not totally endowed with form, who become ghanas of form which multiply throughout the lands until their kinds aboud, in such ways as jellyfish that use shrimp for eyes. 10) Chẳng phải vô sắc sinh: Beings not totally lacking form—Bởi nhân thế giới tương dẫn luân hồi, tính điên đảo, hòa hợp với phù chú mà thành tám vạn bốn nghìn hô triệu loạn tưởng. Như vậy nên có loài chẳng phải không sắc sinh, như loài yểm chú, lưu chuyển đầy dẫy quốc độ—Through a continuous process of mutual enticement, an upside-down state of the nature occurs in this world. It unites with mantras to become eighty-four thousand kinds of random thoughts of beckoning and summoning. From this there come into being those not totally lacking form, who take ghanas which are formless and multiply throughout the lands, until their kinds abound, as the hiden beings of mantras and incantations. 11) Chẳng phải có tưởng sinh: Beings not totally endowed with thought—Bởi nhân thế giới hợp vọng luân hồi, vỏng điên đảo, hòa hợp với các chất khác thành tám vạn bốn nghìn hồi hỗ loạn tưởng. Như vậy nên có các loài chẳng phải có tưởng sinh, như loài bồ lao, lưu chuyễn đầy dẫy quốc độ—Through a continuous process of false unity, the upside-down state transgression occurs in this world. It unites with unlike formations to become eighty-four thousand kinds of random thoughts of reciprocal interchange. From this come into being those not totally endowed with thought, which become ghanas possessing thought and which multiply throughout the lands until their kinds aboud in such forms as the varata, which turns a different creature into its own species. 12) Chẳng phải không tưởng sinh: Beings not totally lacking thought—Bởi nhân thế giới oán hại luân hồi, sát điên đảo, hòa hợp quái thành tám vạn bốn nghìn loài tưởng ăn thịt cha mẹ. Như vậy nên có các loài chẳng phải không tưởng, mà vô tưởng, như loài thổ cưu và chim phá cảnh, lưu chuyển đầy dẫy quốc độ—Through a continuous proces of empty and harm, the upside-down state of killing occurs in this world. It unites with monstrosities to become eighty-four thousand kinds of random thoughts of devouring one's father and mother. From this there come into being those not totally lacking thought, who take ghanas with no thought and multiply throughout the lands, until their kinds abound in such forms as the dirt owl, which hatches its young from clods and dirt, and which incubates a poisonous fruit to create its young. In each case, the young thereupon eat the parents.
thập nhị loại sinh
(十二類生) Chỉ cho 12 loại hình thụ sinh của hữu tình do vọng tưởngđiên đảo khởi hoặc tạo nghiệp, rồi tùy nghiệp mà chiêu cảm quả báo khác nhau. Đó là: 1. Noãn sinh: Từ trong trứng sinh ra, như các loài cá, chim, rùa, rắn... 2. Thai sinh: Từ bào thai sinh ra, như các loài người, súc sinh, rồng, tiên... 3. Thấp sinh: Từ chỗ ẩm ướt sinh ra, như các loài côn trùng, giun dế... 4. Hóa sinh: Tức từ không chợt có, bỏ hình cũ, đổi chất mới, như các loài lột xác bay đi trong hư không, như con tằm lột xác thành con ngài, con ngài hóa bướm... 5. Hữu sắc: Có hình sắc chướng ngại, như các loài hưu, cữu, tinh minh... sao tốt là hưu, sao xấu là cữu; đom đóm, ngọc trai là tinh minh. 6. Vô sắc: Không có hình sắc. Tức các loài không tán tiêu trầm, như ngoại đạo ở cõi Vô sắc. 7. Hữu tưởng: Tức từ sự nhớ tưởng mà sinh, như các loài quỉ thần tinh linh. 8. Vô tưởng: Tức tâm tưởng mê tối, không rõ biết gì, như các loài gỗ, đất, đá, vàng... như ngoại đạo Hoàng đầu hóa làm đá. 9. Phi hữu sắc: Tuy có hình sắc nhưng là mượn vật khác mà thành, tức như loài thủy mẫu lấy tôm làm mắt. 10. Phi vô sắc: Tức nhân âm thanh kêu gọi mà thành hình, như các loại chú trở yểm sinh. 11. Phi hữu tưởng: Mượn thân loài khác để thành loài của mình, tức loài nhờ các chất khác nhau mà thành, như bồ lô... 12. Phi vô tưởng: Tức tuy thâncậnmà thành oán hại, như loài chim Thổ kiêu đắp đất làm con, chim Phá kính ấp trái cây độc làm con, khi chim con thành hình thì chim bố mẹ đều bị chúng ăn thịt. [X. kinh ĐạiPhật đính Thủ Lăng Nghiêm Q.7; Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh Q.7].
Thập Nhị Luân Chuyển
(十二輪轉, Mười Hai Luân Chuyển): tức là sự luân hồi chuyển sanh theo Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣), gồm (1) Vô Minh (s: avidyā, p: avijjā, 無明), (2) Hành (s: saṁskāra, p: saṅkhāra, 行), (3) Thức (s: vijñāna, p: viññāṇa, 識), (4) Danh Sắc (s, p: nāma-rūpa, 名色), (5) Lục Xứ (s: saḍ-āyatana, p: salāyatana, 六處, hay Lục Nhập [六入]), (6) Xúc (s: sparśa, p: phassa, 觸), (7) Thọ (s, p: vedanā, 受), (8) Ái (s: tṛṣṇā, p: taṇhā, 愛), (9) Thủ (s, p: upādāna, 取), (10) Hữu (s, p: bhava, 有), (11) Sanh (s, p: jāti, 生), (12) Lão Tử (s, p: jarā-maraṇa, 老死).
thập nhị lễ
(十二禮) Cũng gọi Thập nhị lễ văn, Thập nhị lễ kệ. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Long thụ soạn, ngài Thiền na quật đa dịch, được thu vào Vạn tục tạng tập 2. Nội dung sách này gồm 12 bài kệ tụng (48 câu, mỗi câu 7 chữ), khen ngợi công đức trang nghiêm của Phật A di đà, vì thế gọi là Thập nhị lễ. Về sách chú sớ thì có: Kết sám pháp 1 quyển, Khoa giải 1 quyển của ngài Giác thụ, Giảng lục 1 quyển của ngài Tăng phác.
thập nhị lễ bái
(十二禮拜) Chỉ cho 12 lễ được soạn theo thứ tự của 12 bài kệ tán tụng đức Phật A di đà của bồ tát Long thụ. (xt. Thập Nhị Lễ).
thập nhị ma đa
(十二摩多) Cũng gọi Thập nhị chuyển thanh, Tất đàm thập nhị vận. Chỉ cho 12 nguyên âm trong các chữ cái Tất đàm. Ma đa, Phạm: Màtfkà, nghĩa là mẫu (mẹ), cũng gọi là Vận(mẫu âm). Mười hai ma đa gồm: (a), (à), (i), (ì), (u), (ù), (e), (ai), (o), (au), (aô), (a#). [X. Tất đàm tạng Q.2, 5; Tất đàm tự kí]. (xt. Tất Đàm).
thập nhị môn luận
Dvādaśamukha-śāstra (S), Svasanikāya śāstra (S), Dvādaśa-nikāya śāstra (S), Dvādaśadvāra-śāstra (S). Tên một bộ luận kinh. Một trong ba bộ kinh luận căn bản của phái Tam luận tông: Trung luận, Thập nhị môn luận, Bá luận của phái Tam luận tông. Bộ này do Tổ Long Thọ soạn, ngài Cưu ma la thập dịch ra chữ Tàu.
; Dvàda-sanikàya-sàstra (S). One of the Tam luận composed by Nàgarjuna, translated by Kumàrajiva AD 408.
; Dvadasanikaya sastra (skt)—Thập Nhị Môn Luận được Ngài Long Thọ biên soạn, nguyên bản tiếng Phạn đã bị thất lạc, nhưng dịch bản Hán Văn hiện vẫn còn tồn tại. Tác phẩm nầy có tất cả 12 chương, chủ đích nhằm cải sửa những sai lầm của các nhà Phật giáo Đại Thừa thời bấy giờ—The Dvadasanikaya Sastra or the Twelve Gates was composed by Nagarjuna, which is not known in Sanskrit, but is preserved in Chinese translation. It has twelve chapters in all, and is devoted chiefly to correcting the errors of the Mahayanists themselves at that time.
; (十二門論) Phạm: Dvàdazamukha-zàstra. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Long thụ soạn, ngài Cưu ma la thập (344-413) dịch vào năm Hoằng thủy 11 (409) đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Đây là bộ luận y cứ quan trọng của tông Tam luận. Nội dung gồm 12 môn, chủ yếu phát huy không quán của Đại thừa, là sách cương yếu của Trung luận. Mười hai môn là: Quán nhân duyên môn, Quán hữu quả vô quả môn, Quán duyên môn, Quán tướng môn, Quán hữu tướng vô tướng môn, Quán nhất dị môn, Quán hữu vô môn, Quán tính môn, Quán nhân quả môn, Quán tác giả môn, Quán tam thời môn và Quán sinh môn.Luận này tuy gồm có 26 bài kệ và chú thích, nhưng trong đó có 2 bài kệ được trích dẫn từ luận Không thất thập của soạn giả, 17 bài kệ trích dẫn từ Trung luận, các bài kệ còn lại phần nhiều cũng giống với Trung luận, cho nên luận này có phải do ngài Long thụ soạn hay không, xưa nay có nhiều thuyết khác nhau. Luận này cùng với Trung luận, Bách luận gọi chung là Tam luận, được giới Phật giáo Trung quốc và Nhật bản coi trọng. Có chỗ hợp chung Tam luận và luận Đại trí độ, gọi là Tứ luận. Về sách chú thích luận này thì có: Cát tạng sớ 6 quyển, Lược sớ 1 quyển, Nguyên khang sớ 2 quyển và Pháp tạng tông trí nghĩa kí 2 quyển. (xt. Thập Nhị Môn Luận Giảng Thoại (Từ hàng)).
thập nhị môn luận sớ
(十二門論疏) Luận sớ, 6 quyển (hoặc 3 quyển), do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 42. Đây là sách chú thích bộ Thập nhị môn luận của ngài Long thụ. Nội dung, trước hết lập 6 khoa giải thích bài tựa luận Thập nhị môn: Nêu tông chỉ, giải thích đề mục, ý nghĩa của sự tạo luận, khen ngợi công năng của luận, khen ngợi sự lợi ích của luận, sự khiêm nhường của tác giả. Kế đến lập 5 môn Huyền đàm: Thích danh môn, Thứ đệ môn, Căn bản môn, Hữu vô môn và Đồng dị môn, sau cùng lại chia làm 3 chương để giải thích chính văn. Sách này cùng với bộ Thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí của ngài Pháp tạng đời Đường là 2 viên ngọc bích trong các sách chú sớ luận Thập nhị môn. Về các bản chú thích sách này thì có: Văn tư kí 1 quyển và Dực tán sao tự 1 quyển. [X. Tam luận tông chương sớ; Đông vực truyền đăng mục lục].
thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí
(十二門論宗致義記) Luận sớ, 2 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 42. Đây là sách chú thích luận Thập nhị môn của ngài Long thụ. Nội dung gồm có 2 phần, trước lập 10 môn huyền đàm, sau chia ra các khoa nhỏ để giải thích chính văn. Tác giả đứng trên lập trường viên dung vô ngại của Hoa nghiêm để giải thích, so với Thập nhị môn luận sớ của ngài Cát tạng thì đây là điểm đặc sắc của sách này. Về phần chú sớ sách này thì có Huyền đàm 1 quyển của ngài Minh đạo.
Thập nhị môn luận 十二門論
[ja] ジュウニモンロン Jūnimonron ||| The "Treatise of the Twelve Aspects." The Dvādaśanikāya-śāstra, 1 fascicle, attributed to Nāgārjuna 龍樹 and translated by Kumārajīva 鳩摩羅什. One of the three main treatises valued by the Sanlun 三論 and Mādhyamika 中觀派 schools. The doctrine of "all is empty" is explained in twelve aspects. T 1568.30.159c-167c. => s: Dvādaśanikāya-śāstra; e: Treatise of the Twelve Aspects, 1 quyển, của Long Thụ, Cưu ma la thập (鳩摩羅什s: Kumārajīva) dịch. Một trong ba bộ luận chính được Tam luận tông và Trung quán tông quý trọng. Trong đó, giáo lý "tất cả đều không " được giảng giải qua 12 chương.
thập nhị môn thiền
(十二門禪) Gọi tắt: Thập nhị môn. Tức chỉ cho 12 môn thiền định: Tứ thiền định(Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền), Tứ vô lượng(Từ, Bi, Hỉ, Xả) và Tứ không định(Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ). Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 thượng, thiền được chia làm 3 loại là Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Xuất thế gian thượng thượng thiền. Trong Thế gian thiền thì Thập nhị môn thiền này là Căn bản vị thiền đối lại với Căn bản tịnh thiền. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q. thượng; Ma ha chỉ quán Q.9, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.4, thượng].
thập nhị nguyện của dược sư lưu ly quang phật
See Mười Hai Lời Nguyện của Dược Sư Lưu Ly Quang Phật in Vietnamese-English Section.
thập nhị nguyện vương
The twelve vows of the Master of Healing Dược Sư.
thập nhị nguyệt
Mười hai tháng trong năm ở Ấn Độ—Twelve months of a year: 1) Caitra: Giữa khoảng tháng ba và tháng tư dương lịch (từ 16 tháng giêng đến 15 tháng hai âm lịch)—Between the months of March and April (16 of 1st Chinese moon to 15th of 2nd ). 2) Vaisakha: Giữa khoảng tháng tư và tháng năm dương lịch (từ 16 tháng hai đến 15 tháng ba âm lịch). Đây cũng là tháng thứ hai của mùa xuân—Between the months of April and May (16th of 2nd Chinese moon to 15th of 3rd). The second month of spring. 3) Jyaistha: Giữa khoảng tháng năm và tháng sáu dương lịch (từ 16 tháng ba đến 15th tháng tư âm lịch)—Between the months of May and June (16th of 3rd Chinese moon to 15th of 4th). 4) Asadha: An Sa Đồ—Át Xã Gia—Át Sa Trà—Giữa khoảng tháng sáu và tháng bảy dương lịch (từ 16th tháng tư đến 15th tháng 5th âm lịch)—Between the months of June and July (or 16th of 4th Chinese moon to 15th of 5th ). 5) Sravana: Giữa tháng bảy và tháng tám dương lịch (từ 16 tháng năm đến 15th tháng hai âm lịch)—Between the months of July and August (16th of 5th Chinese moon to 15th of 6th). 6) Prausthapada or Bhadrapada: Bạt Nại La Bà Nã—Giữa khoảng tháng tám và tháng chín dương lịch (từ 16th tháng sáu đến 15th tháng bảy âm lịch)—Between the months of August and September (16th of 6th Chinese moon to 15th of 7th). 7) Asvina or Asvayuja: Giữa khoảng tháng chín và tháng mười dương lịch (Từ 16th tháng bảy đến 15 tháng tám âm lịch)—Between the months of September and October (16th of 7th Chinese moon to 15th of 8th). 8) Karttika: Giữa khoảng tháng mười và tháng mười một dương lịch (từ 16th tháng tám đến 15th tháng 9th)—Between the months of October and November (16th of 8th Chinese moon to 15th 9th). 9) Margasira or Agrahayana: Giữa khoảng tháng mười một và tháng mười hai dương lịch (từ 16th tháng 9th đến 15th tháng 10th)—Between the months of November and December (16th of 9th Chinese moon to 15th of 10th). 10) Pausa or Taisa: Giữa khoảng tháng mười hai và tháng giêng dương lịch (từ 16th tháng 10th đến 15th tháng 11th)—Between the months of December and January (16th of 10th Chinese moon to 15th of 11th). 11) Magha: Giữa khoảng tháng giêng và tháng hai dương lịch (từ 16th tháng 11th đến 15th tháng 12th) —Between the months of January and February (16th of 11th Chinese moon to 15th of 12th) . 12) Phalguna: Giữa khoảng tháng hai và tháng ba dương lịch (từ 16th tháng 12th đến 15th tháng 1st)—Between the months of February and March (16th of 12th Chinese moon to 15th of 1st).
thập nhị nguyệt danh
(十二月名) Chỉ cho tên gọi 12 tháng theo lịch Ấn độ.Một tháng ở Ấn độ được tính từ ngày 16 tháng này(ngày trăng tròn)theo âm lịch, cho đến hết ngày 15 tháng sau. Tên các tháng được lập theo sự xuất hiện của các vì tinh tú vào ngày trăng tròn. Nửa tháng trước là khoảng thời gian 15 ngày tính từ ngày trăng tròn (16) đến ngày trăng mới (mồng 1 tháng sau), gọi là Hắc phần(phần đen), hoặc Hắc nguyệt(tháng đen); nửa tháng sau là khoảng thời gian 15 ngày bắt đầu từ trăng mới(ngày mồng 1) đến trăng tròn(ngày 16), gọi là Bạch phần(phần trắng), hoặc Bạch nguyệt(tháng trắng). Bởi thế,mộttháng của Ấn độ tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng này đến ngày 15 tháng sau theo âm lịch (lịch Trung quốc). Một năm có 12 tháng chia làm 6 tiết, hoặc 2 hành. Lấy ngày Xuân phân làm đầu năm, sự vận hành từ Xuân phân đến ngày Thu phân là Bắc hành; sự vận hành từ Thu phân đến ngày Xuân phân là Nam hành. Lịch Thái âm xưa của Trung quốc lấy Kiến Dần làm đầu năm. Xuân phân phần nhiều rơi vào tháng 2, phối hợp tháng này với tháng thứ nhất của Ấn độ. Sự quan hệ giữa tên gọi 12 tháng, 12 chi và lịch Thái dương (Dương lịch) được đồ biểu như sau: Tên Tháng Chế đát la (Phạm:Caitra) Phệ xá khư (Phạm:Vaizàkha) Thệ sắt tra (Phạm:Jyaiwỉha) Át sa đồ (Phạm:Àwàđha) Thất la phạt noa (Phạm:Zravaịa) Bà la bát đà (Phạm:Bhàdrapada) Át thấp phược dữu xà (Phạm:Azvayuja) Ca lạt để ca (Phạm:Kàrttika) Mạt già thủy la (Phạm:Màrgazìrwa) Báo sa (Phạm:Pauwa) Ma già (Phạm:Màgha) Phả lặc lũ noa (Phạm:Phàlguna) Sao Giốc Sao Đê Sao Tâm Sao Cơ Sao Nữ Sao Thất Sao Lâu Sao Mão Sao TuySao Quỉ Sao Tinh Sao Dực Mão ThìnTỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi TýSửu Dần Tháng 3, 4 .Tháng 4, 5 .Tháng 5, 6. Tháng 6, 7. Tháng 7, 8 .Tháng 8, 9 .Tháng 9, 10 .Tháng 10, 11 .Tháng 11, 12 .Tháng 12, 1 .Tháng 1, 2 .Tháng 2, 3Tên Sao 12 Chi Lịch Thái Dương
Thập Nhị Nhân Duyên
(s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣): 12 loại nhân duyên sanh khởi, 12 điều kiện để cấu thành nên loại hữu tình, nói lên mối quan hệ nhân quả của cõi mê; còn gọi là Thập Nhị Chi Duyên Khởi (十二支緣起), Thập Nhị Nhân Duyên Khởi (十二因緣起), Thập Nhị Duyên Khởi (十二緣起), Thập Nhị Duyên Sanh (十二緣生), Thập Nhị Duyên Môn (十二緣門), Thập Nhị Nhân Sanh (十二因生), Thập Nhị Trùng Thành (十二重城), Thập Nhị Khiên Liên (十二牽連), Thập Nhị Luân Chuyển (十二輪轉), v.v. Theo Kinh A Hàm (阿含經), Thập Nhị Nhân Duyên là giáo nghĩa căn bản của Phật Giáo, gồm: (1) Vô Minh (s: avidyā, p: avijjā, 無明), do vì căn bản của sự mê lầm là vô trí, nên không biết rõ thế giới quan cũng như nhân sinh quan đúng đắn của Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), Nhân Duyên (因緣), v.v. (2) Hành (s: saṁskāra, p: saṅkhāra, 行) là hạnh nghiệp, hành vi thiện ác sai lầm do vì Vô Minh, cũng như hành vi ấy được phản tỉnh và trở thành sức mạnh tập quán. (3) Thức (s: vijñāna, p: viññāṇa, 識) là nhận thức sanh khởi trên cơ sở của Vô Minh và Hành, hay còn là thức thể có năng lực tập quán theo Vô Minh và Hành; đặc biệt nó còn chỉ cho Kiết Sanh Thức (結生識) trong sát na đầu tiên khi mới vào bào thai mẹ. (4) Danh Sắc (s, p: nāma-rūpa, 名色), Danh là cái thuộc về tinh thần, Sắc là cái thuộc về vật chất; tức là các pháp thuộc về vật chất cũng như tinh thần với tư cách là sở duyên của Thức; gồm 6 cảnh là Sắc (色), Thanh (聲), Hương (香), Vị (味), Xúc (觸), Pháp (法). (5) Lục Xứ (s: saḍ-āyatana, p: salāyatana, 六處, hay Lục Nhập [六入]), gồm 6 khí quan xúc lực của cảm giác và tri giác là Nhãn (眼, mắt), Nhĩ (耳, tai), Tỷ (鼻, mũi), Thiệt (舌, lưỡi), Thân (身), Ý (意). (6) Xúc (s: sparśa, p: phassa, 觸) là sự hòa hợp, tiếp xúc của 3 yếu tố là thức thể, Sáu Căn và Sáu Xứ; nhờ yếu tố Xúc này mà tác dụng nhận thức có mặt. (7) Thọ (s, p: vedanā, 受) là tác dụng cảm thọ sanh khởi từ Xúc; nguyên lai từ này có nghĩa là tác dụng của lãnh vực nhận thức. (8) Ái (s: tṛṣṇā, p: taṇhā, 愛) là căn bản dục vọng làm sanh khát vọng yêu thương với niềm vui và chán ghét khổ đau. (9) Thủ (s, p: upādāna, 取) là hành vi chọn lọc như bỏ những gì đau khổ và chọn lấy những gì ái lạc. (10) Hữu (s, p: bhava, 有) là sức mạnh tập quán sinh khởi thông qua việc chọn lọc được lập đi lập lại nhiều lần; hay là sự tồn tại với tư cách là tính cách, nhân cách. (11) Sanh (s, p: jāti, 生) là cái sanh ra, có đầy đủ tính cách của Hữu; (12) Lão Tử (s, p: jarā-maraṇa, 老死), sau khi sinh khởi, có đủ loại kinh nghiệm nhận thức và thọ nhận sự khổ đau, phiền não của già, chết. Bên cạnh đó, xưa nay Thập Nhị Nhân Duyên được thuyết với tính cách nhân quả lưỡng trùng và có tên là Nghiệp Cảm Duyên Khởi (業感緣起). Trong đó, thực chất Vô Minh, Hành—2 nhân của quá khứ—không khác gì với Ái, Thủ, Hữu—3 nhân của hiện tại; Thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ—5 quả của hiện tại—cũng chẳng khác gì Sanh, Lão Tử—2 quả của tương lai; chỉ khác nhau qua tên gọi mà thôi, và tất cả đều sanh khởi trong một tâm. Hơn nữa, trong Đại Thừa có lập ra Ba Thừa, Thanh Văn Thừa (聲聞乘) thì ngộ nhờ lý Tứ Đế, Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道); Duyên Giác Thừa (緣覺乘) thì quán Thập Nhị Nhân Duyên để khai ngộ; Bồ Tát Thừa (菩薩乘) thì thực hành Lục Độ Ba La Mật (六度波羅蜜) để thành Phật. Thuyết Duyên Khởi thông cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, là tư tưởng căn bản của Phật Giáo. Tuy nhiên, thuyết này không những được xem như là mối quan hệ nhân quả về mặt thời gian như Nghiệp Cảm Duyên Khởi, mà còn là mối quan hệ luận lý tương quan tương duyên lẫn nhau. Trong Hòa Hán Lãng Vịnh Tập (和漢朗詠集) quyển hạ có câu: “Tam thiên thế giới nhãn thiền tận, Thập Nhị Nhân Duyên tâm lí không (三千世界眼前盡、十二因緣心裏空, Ba ngàn thế giới trước mắt sạch, Mười Hai Nhân Duyên trong tâm không).”
Thập nhị nhân duyên
xem Mười hai nhân duyên.
; 十二因緣|Mười hai nhân duyên
thập nhị nhân duyên
Pratītyasamutpāda (S), Dvādaśa Nidanas (S), Dvādaśaṃgha pratītyasamutpadah (S), Paticcasamuppada (P), Twelve dependent originations Nghĩa là Nhân duyên, nhưng hay được dùng chỉ Thập nhị nhân duyên. Gồm: Vô minh (Avidya, Ignorance), Hành (Samskara, formations), Thức (Vijana, Consciousness), Danh sắc (Namarupa, Name and Form), Lục nhập (Śadayatana, Six bases), Xúc (Sparśa, Contact), Thọ (Vedana, Sensation), ái (Trishna, Craving), Thủ (Upadana, Clinging), Hữu (Bhava, Becoming), Sanh (Jati, Birth), Tử (Jara-maranam, Old age and Death).
; Dvàdasànga-pratiyasamùtpàda (S). The twelve nidànas. They are the twelve links in the chain of existence: (1) vô minh avidyà, ignorance; (2) hành samskàra, karma formation; (3) thức vijnàna, consciousness; (4) danh sắc nàmarùpa, name and form; (5) lục nhập sadàyatana, the six sense organs; (6) xúc sparsa, contact, touch; (7) thụ vedàna, sensation, feeling; (8) ái trsnà, thirst, desire, craving; (9) thủ upàdàna, laying hold of, grasping; (10) hữu bhava, being, existing; (11) sinh jàti, birth; (12) lão tử jaràmarana, old age death.
; (十二因緣) Phạm: dvādaśāṅgapratītya-samutpāda. Cũng gọi Nhị lục chi duyên, Thập nhị chi duyên khởi, Thập nhị nhân duyên khởi, Thập nhị duyên khởi, Thập nhị duyên sinh, Thập nhị duyên môn, Thập nhị nhân sinh. Chỉ cho 12 điều kiện(tức 12 Hữu chi) cấu thành sự sinh tồn của loài hữu tình. I. Theo giáo nghĩa cơ bản nói trong kinh A hàm thì 12 nhân duyên là: Vô minh (Phạm: Avidỳa), Hành (Phạm: Saôskàra), Thức (Phạm: Vijĩàna), Danh sắc (Phạm:Nàma-rùpa), Lục xứ (Phạm: Wađ-àyatana), Xúc (Phạm: Sparza), Thụ (Phạm:Vedanà), Ái (Phạm:Tfwịà), Thủ (Phạm: Upàdàna), Hữu (Phạm: Bhava), Sinh (Phạm:Jàti) và Lão tử (Phạm:Jaràmuraịa). Cứ theo kinh Đại duyên phương tiện trong Trường a hàm quyển 10 thì nhân nơi si mà có hành, nhân hành có thức, nhân thức có danh sắc, nhân danh sắc có lục nhập(lục xứ), nhân lục nhập có xúc, nhân xúc có thụ, nhân thụ có ái, nhân ái có thủ, nhân thủ có hữu, nhân hữu có sinh, nhân sinh mà có các đại hoạn: Lão, tử, ưu, bi, khổ não nhóm họp, đó chính là ấm duyên đại khổ này. Trong 12 chi này, mỗi chi trước là nhân sinh khởi của chi sau, nếu chi trước diệt thì chi sau cũng diệt, bởi thế trong kinh dùng câu (Đại 1, 67 thượng): Do đây có nên kia có, đây sinh nên kia sinh; (...) do đây không nên kia không, đây diệt nên kia diệt để nói rõ mối quan hệ nương nhau, đợi nhau của tất cả các hiện tượng. Trong kinh A hàm, ngoài thuyết Thập nhị duyên khởi ra, còn có các thuyết Thập chi, Cửu chi, Bát chi, Thất chi duyên khởi..., nhưng nói theo nghĩa rộng, tất cả các thuyết vừa kể đều bao hàm trong thuyết Thập nhị nhân duyên. Kinh Tạp a hàm quyển 12 cho rằng phápDuyên khởi là chân lí vĩnh hằng bất biến, đức Phật nhờ quán xét chân lí này mà được khai ngộ, đồng thời chỉ bày pháp này cho chúng sinh tu tập. Nếu đứng về phương diện giá trịvàý nghĩa sự sống còn của loài hữu tình mà quán xét ý nghĩa của 12 duyên khởi thì 12 duyên khởi cho thấy những khổ não của đời sống con người hình thành như thế nào (Lưu chuyển môn) và làm thế nào để diệt trừ khổ não mà đạt đến khai ngộ(Hoàn diệt môn). Tức sự sinh tồn(Hữu) của loài người bắt đầu từ sự hoạt động của Thức, các hoạt động của Thức trở thành kinh nghiệm sinh hoạt (Hành), rồi lại do sự tích lũy các hoạt động mà hình thành nội dung của Thức; nhưng sự hoạt động của Thức là thông qua các khí quan cảm giác(tức Lục nhập: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà tiếp xúc(Xúc) với các đối tượng của sự nhận thức(tức tất cả tâm, vật– Danh sắc), đây là việc cảm nhận (Thụ)về mặt chủ quan. Thức của phàm phu lấy Vô minh làm nội tướng, lấy khát ái(Ái, tham yêu không chán) làm ngoại tướng, khát ái là tướng căn bản của Thức, rồi từ đó phát triển mà nắm giữ lấy tất cả làm ngã để trở thành ngã chấp(Thủ), Thức được huân tập bởi các hoạt động nhiễm ô này mà phải trải qua các nỗi thống khổ của cảnh sống, già, chết... vô thường ở thế gian. Trái lại, bậc Thánh nhờ diệtđược vô minh và khát ái mà các nỗi thống khổ sinh, già, chết của thế gian cũng diệt. II. Luận Câu xá quyển 9 nêu ra 4 cách giải thích về Thập nhị duyên khởi như sau:1. Sát na duyên khởi: Tức khoảng 1 sát na, trong tâm có đủ 12 chi, chẳng hạn như trong khoảng nháy mắt do lòng tham mà giết hại thì ngay giây phút ấy trong tâm đầy đủ ngu si, vô minh, nên mới nảy sinh ý giết hại. 2. Liên phược duyên khởi: Tức 12 chi này liên tục không gián đoạn, hình thành mối quan hệ nhân trước quả sau. 3. Phần vị duyên khởi: Chẳng hạn như sự giải thích về 2 lớp nhân quả trong 3 đời thì 12 chi phần là biểu thị quá trình và trạng thái sinh tử lưu chuyển của hữu tình.4. Viễn tục duyên khởi: Chỉ cho sự liên tục duyên khởi của 12 chi có thể cách xa nhiều đời. Hữu bộ sử dụng thuyết Phần vị(2 lớp nhân quả trong 3 đời), cho Vô minh và Hành là phần vị của hữu tình khi khởi phiền não tạo nghiệp ở đời quákhứ, tức chỉ cho thân tâm(5 uẩn). Nương vào 2 nhân ở đời quá khứ này, trong cái sát na đầu tiên khi tâm thức vừa gá sinh vào thai mẹ, thì phần vị của hữu tình ấy là Thức; từ sát na thứ 2 sau khi gá sinh trở lại, thì phần vị chưa đủ 6 căn được gọi là Danh sắc; phần vị đã đầy đủ 6 căn khi còn ở trong thai, gọi là Lục xứ; phần vị sau khi sinh ra chỉ có cảm giác tiếp xúc, cho đến 2,3 tuổi, gọi là Xúc; các phần vị từ khoảng 4,5 tuổi, chođến14, 15 tuổi, tính cảm nhận rất nhạy và mạnh, gọi là Thụ; từ Thức đến Thụ là 5 quả đời hiện tại. Từ 16, 17 tuổi trở đi, ái dục phát triển mạnh mẽ nên gọi là Ái; từ 30 tuổi về sau, tâm tham đắm rất sâu nên gọi là Thủ; các phần vị tạo nghiệp như thế gọi là Hữu; ba phần vị Ái, Thủ, Hữu gọi là nhân đời hiện tại. Phần vị do nhân này cảm sinh ở đời vị lai gọi là Sinh; từ đó đến già và chết gọi là Lão tử; 2 phần vị này thuộc về 2 quả đời vị lai. Như vậy, Phần vị duyên khởi được chia làm 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai, lại lập 2 lớp nhân quả để giải thích, gọi là Tam thế lưỡng trùng nhân quả, đồ biểu như sau:(xem đồ biểu cuối trang). Trong nhân bao hàm hoặc và nghiệp, còn quả thì chính là khổ, cho nên 12 duyên khởi thuộc về 3 đường Hoặc, Nghiệp, Khổ nhân quả không dứt, không đầu không cuối. Kinh bộ không tán đồng thuyết của Hữu bộ, chủ trương Vô minh chẳng phải chỉ chỉ cho vô trí ở quá khứ, cũng chẳng phải chỉ cho 5 uẩn. Ba đời hai lớp nhân quả Quá Khứ Hành Vô minh Vị Lai Lão tử Sinh Hiện Tại Hữu Thủ Ái Thụ Xúc Lục xứ Danh sắc Thức Hai quả vị lai Ba nhân hiện tại Năm quả hiện tại Hai nhân quá khứ Quá khứ hiện tại một lớp nhân quả Hiện tại vị lai một lớp nhân quả III. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 8 thì từ Vô minh đến Hữu là nhân, Sinh và Lão tử là quả, cho nên lập một lớp nhân quả. Nhân và quả phải khác đời, do đó mà lập một lớp nhân quả trong 2 đời. Hai chi Vô minh và Hành là nhân của 5 chi từ Thức đến Thụ, vì thế 2 chi là năng dẫn, 5 chi là sở dẫn, 7 chi này cũng được gọi chung là Khiên dân nhân. Vì 3 chi Ái, Thủ, Hữu làm nhân, có năng lực sinh ra 2 chi Sinh và Lão tử ở vị lai, cho nên 3 chi được gọi là Năng sinh chi, hoặc gọi là Sinh khởi nhân; còn 2 chi Sinh và Lão tử thì được gọi là Sở sinh chi, hoặc gọi là Sở dẫn sinh.IV. Tông Thiên Thai lập 4 loại Thập nhị nhân duyên là Tư nghị sinh diệt, Tư nghị bất sinh bất diệt, Bất tư nghị sinh diệt và Bất tư nghị bất sinh bất diệt, rồi đem phối hợp với 4 giáo Hóa pháp(Tạng, Thông, Biệt, Viên). Viên giáo gọi 12 nhân duyên là Phật tính, tức biểu thị ý nghĩa tất cả hiện tượng do nhân duyên sinh đều là lí Trung đạo. Quán 12 duyên khởi và quán 4 đế đều là pháp quán trọng yếu của Phật giáo, theo truyền thuyết, đức Thích tôn nhờ các pháp quán này mà khai ngộ chứng quả. Cứ theo luận A tì đạt ma tạp tập quyển 4 thì từ Vô minh và Hành theo thứ tự quán xét sự sinh khởi của mê, gọi là Tạp nhiễm thuận quán; các chi Lão tử... mỗi chi đều lập 4 đế khổ, tập, diệt, đạo, theo thứ tự ngược quán xét sự sinh khởi của mê, gọi là Tạp nhiễm nghịch quán. Theo thứ tự thuận do Vô minh diệt nên Hành diệt... mà quán ngộ hiện thành thì gọi là Thanh tịnh thuận quán. Theo thứ tự nghịch do Lão tử diệt nên Sinh diệt... mà quán ngộ hiện thành thì gọi là Thanh tịnh nghịch quán. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 24 thì quán Lưu chuyển môn do mê sinh khởi là quán 10 chi trừ Vô minh và Hành, còn quán Hoàn diệt môn do ngộ mà hiện thành là quán 12 chi. Nhưng theo Đại phẩm luật bằng tiếngPàli thì Lưu chuyển môn là thuận quán, Hoàn diệt môn là nghịch quán, đến nay, thuyết này vẫn còn được sử dụng. Tông Thiên thai chỉ ra rằng y theo 3 loại 12 nhân duyên quánlà 3 đời 2 lớp, 2 đời 1 lớp và sát na 1 niệm, theo thứ tự có thể phá trừ 3 kiến chấp là đoạn kiến(bao hàm thường kiến), trước ngã kiến và tính thực kiến. [X. kinh Niết bàn trong Trung a hàm Q.10; kinh Đại nhân trong Trung a hàm Q.24; phẩm Lục trọng trong kinh Tăng nhất a hàm Q.30; phẩm Phóng ngưu trong kinh Tăng nhất a hàm Q.46; Pháp hoa huyền nghĩa Q.2; Pháp hoa thứ đệ sơ môn Q.trung].
thập nhị nhân duyên (thập nhị duyên khởi)
Nidana (skt)—Pratitya-samutpada (skt)—Patichcha-samuppada (p). (I) Đại cương về Thập Nhị Nhân Duyên—An overview of the Twelve Conditions of Cause-and-Effect: (A) Ý nghĩa của Thập Nhị Nhân Duyên—The meanings of Nidana: • Theo đạo Phật, mọi sự mọi vật trong vũ trụ không thể đứng riêng một mình mà có được; trái lại phải nương nhờ nhau mà thành. Riêng về loài hữu tình như con người thì do mười hai nhân duyên nương nhau mà thành một chuỗi sinh tử vô hạn, nối tiếp từ quá khứ đến hiện tại và vị lai. Muốn hiểu rõ guồng máy của của sự sinh tử luân hồi của kiếp người trong bể khổ trần gian, Phật tử nên thông đạt thuyết “Thập Nhị Nhân Duyên” và phải tìm hiểu phương pháp để diệt trừ cái vòng lẩn quẩn sinh tử luân hồi ấy. Nhân là công năng sinh trưởng tất cả sự vật, duyên là sự trợ giúp cho công năng được thực hiện. Cũng như gieo đậu được đậu, nhưng trước hết chúng ta phải có hạt đậu giống, gieo xuống đất, rồi nhờ ánh sáng mặt trời, mưa, tưới, bón phân, nhân công chăm sóc mới có sự nẩy mầm thành cây đậu, trái đậu. Hạt giống là nhân; đất, ánh sáng, nước, vân vân là duyên. Do nhân có duyên trợ giúp nên có quả. Theo Phật giáo, quả không bao giờ do một nhân duy nhất mà thành; nhiều nhân và nhiều duyên mới thành một quả. Vì vậy chúng ta có thể kết luận vạn vật trong vũ trụ nương nhau mà phát sanh, đây là định luật tất yếu. Thập Nhị Nhân Duyên là mười hai mắt xích trong vòng sanh tử. Nhân duyên sinh sản trong lệ thuộc. Tất cả các hiện tượng thể chất và tâm thần tạo thành sự sống của chúng sanh đều có những liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Đây là mười hai ràng buộc sinh linh vào luân hồi sinh tử—In the Buddhist view, nothing in the world can exist alone; it must depend on others to maintain its presence. With regard to sentient being, especially human life, it is composed of twelve links in the chain of Dependent Origination from the past to the present and future. To understand the mechanism of birth, death, and reincarnation in this world, Buddhists should read and try to grasp the method of breaking this chain of Dependent Origination. The cause is the primary force that produces an effect. The condition is something indispensable to the production of effect. For instance, if we grow beans, we will harvest beans, but first we must have bean seeds and sow them in the soil. With sunlight, rain, watering, fertilizers and care, the seed will grow, become a plant and finally produce beans. The seed is the cause; the soil, sunlight, and water are the conditions. Cause combined with conditions give effect. In Buddhist view, a unique cause cannot produce anything. It should be combined with some conditions to create effect. Therefore, we can conclude that all living beings and things in the universe are interrelated in order to come into being. This is a “must.” The twelve nidanas is the twelve links of Dependent Origination—The twelve links in the chain of existence. Conditioned arising or interdependent arising. All psychological and physical phenomena constituting individual existence are interdependent and mutually condition each other. This is the twelve-link chain which entangles sentient beings in samsara. • Hai mươi lăm thế kỷ về trước Đức Phật đã nói rằng: “Chúng sanh và thế giới là do nhân duyên kết hợp mà thành.” Câu nói ấy đã phủ nhận cái gọi là “Đấng Tạo Hóa” hay “Thượng Đế” sáng tạo ra muôn vật. Câu nói ấy đặt ra một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới thực tại hay “Duyên Khởi Luận.” Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa hỗ tương lẫn nhau mà sinh thành và tồn tại. Không có cái gì có thể tự mình sinh ra mình và tự tồn tại độc lập với những sự vật khác. Tất cả mọi sự mọi vật trên thế giới nầy đều phải tuân theo định luật “Duyên Khởi” mà Thành, Trụ, Hoại và Không. Con người là một tiểu vũ trụ cũng không phải tự nhiên mà có, mà là do nghiệp lực kết hợp các duyên mà thành, và cũng nằm trong định luật “Thành Trụ Hoại Không.” Mười hai nhân duyên nầy nghĩa lý rất thâm diệu. Đây là những cửa ngỏ quan trọng để cho chúng sanh bước vào Thánh quả, thoát khỏi sanh tử, trói buộc, và khổ não trong ba cõi sáu đường, để chứng thành quả vị Duyên Giác Thừa—Twenty centuries ago, the Buddha said: “Humanity and the world are the cause and conditions to be linked and to become.” His words have denied the prsence of a Creator or God. They give us a scientific and objective outlook of the present world, related to the law of Conditioning. It means that everything is dependent upon conditions to come into being or survive. In other words, there is nothing that can be self-creating and self-existing, independent from others. All sentient beings, objects, elements, etc., in this world are determined by the law of conditioning, under the form of formation, stabilization, deterioration, and annihilation. Man is a small cosmos. He comes into being not by himself but by the activation of the law of transformation. The meaning of the Twelve Conditions of Cause-and-Effect are extremely deep and profound. They are important doors for cultivators to step into the realm of enlightenment, liberation from the cycle of birth, death, bondage, sufferings, and afflictions from the three worlds and six paths, and to attain Pratyeka-Buddhahood. (B) Nội dung của Thập Nhị Nhân Duyên—The contents of the Twelve Conditions of Cause-and-Effect: 1) Vô minh: Avidya (skt)—Ignorance. a) Vô minh có nghĩa là ngu dốt, hay hiểu sai lầm, không sáng, mê muội, không đúng như thật, mờ ám. Ngoài ra, vô minh còn có nghĩa là hoặc, mê tối, mù quáng tối tăm: Avidya means ignorance, stupidity, or unenlightenment. Avidya also means misunderstanding, being dull-witted ignorant, not conforming to the truth, not bright, dubious, blind, dark. b) Vô minh còn có nghĩa là không hiểu được tứ diệu đế, không hiểu được thực chất và nguyên nhân khổ đau cuộc đời, không biết được diệt khổ, không biết được con đường diệt khổ. Từ vô minh sanh ra hành: Avidya also means being dull-witted ignorant not knowing the four noble truths, not knowing sufferings, the causes of sufferings, the mental state after severing sufferings, and the way to sever sufferings. Through ignorance are conditioned volitional actions. c) Sự ngu dốt lầm nhận những hiện tượng huyễn hóa trên đời nầy mà cho rằng chúng là có thật—Ignorance which mistakes the illusory phenomena of this world for realities. 2) Hành: Samskara (skt)—Hành có nghĩa là hành vi, hoạt động do vô minh phiền não nổi lên làm cho thân, khẩu, ý tạo tác các nghiệp lành dữ, tức là sẽ tự thắt vào vòng luân hồi sanh tử, hay tiến dần đến giải thoát. Từ hành sanh ra thức—Action—Activity—Conception—Disposition—Volitional actions—Karma formation—Impulse—Moral conduct—Acting from ignorance would result in bad or favorable karma which is conductive to reincarnation or liberation. Through volitional actions is conditioned consciousness. 3) Thức: Vijnana (skt). a) Lục thức: The six forms of perception, awareness or discernment—See Lục Thức, and Bát Thức. b) Thần thức là phần tinh thần. Nếu chưa được giải thoát thì sau khi chết, thân xác tiêu tan, nhưng do thân khẩu ý tạo những nghiệp lành dữ, ý thức ấy sẽ đi theo tiến trình luân hồi mà đi vào bụng mẹ. Chỉ khi nào tam nghiệp đồng thanh tịnh thì người ấy được giải thoát. Từ ý thức ấy sanh ra một cái tên hay danh sắc—Vijnana means consciousness. If not liberated yet, after death, the body decays, but the subject's knowledge commonly called soul follows its reincarnation course in accordance with the three karmas of body, speech and mind. Only when his knowledge gains the status of purification, then he would be liberated from reincarnation. Through consciousness are conditioned name and form. 4) Danh sắc: Namarupa (skt)—Sau khi sanh ra, nhờ vào ý thức mà chúng sanh ấy biết rằng nó có tên và thân thể, từ đó có ý thức về giác quan—Name and form—Individuality of things—Mind and matter—After birth, thanks to his consciousness, the subject recognizes that he now has a name and a form (body). Through name and form are conditioned the six senses-organs. 5) Lục nhập: Sadayatana (skt)—Sáu cơ quan bao gồm ngũ quan và tâm, nơi tiếp xúc với đối tượng bên ngoài—Six entrances—The six sense organs (eye—form, ear—sound, nose—scent, tongue—taste, body—Texture, mind—mental object)—Six faculties—He is now has five senses and mind to get in touch with respective counterparts. Through the six senses-organs is conditioned contact. 6) Xúc: Sparsa (skt)—Sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài, từ đó sanh ra cảm giác—Contact—Touch—Feeling—Texture—Contact develops after the six senses-organs are made. Through contact is conditioned feeling. 7) Thọ: Vedana—Những cảm giác vui, buồn, sướng khổ. Qua cảm giác đưa tới sự ham muốn—Receiving—Perceiving—Contact—Sensation—Contact provokes all kinds of feelings, feelings of joy, sadness, pleasure or pain. Through feeling is conditioned craving. 8) Ái: Trsna (skt)—Ham muốn vui sướng kéo dài. Từ ham muốn đưa đến trói buộc—Love—Thirst—Desire—Craving—From the feeling of joy and pleasure, the subject tends to prolong it as much as possible. Through craving conditioned clinging. 9) Thủ: Upadana (skt)—Chấp thủ vào những thứ mà mình ham thích—Laying hold of—Grasping—Clinging to existence—He becomes attached to what he likes or desires. Through clinging is conditioned the process of becoming. 10) Hữu: Bhava (skt)—Being—Existence—Existing—Từ những tham dục mà chấp hữu, cố gắng làm chủ những gì mình muốn như tiền bạc, nhà cửa, danh vọng, vân vân. Qua chấp hữu mà “sanh” theo liền—Becoming and re-becoming—Driven by his desires, the subject tries to take in possession of what he wants such as money, houses, fame, honor, etc. Through the process of becoming is conditioned birth. 11) Sinh: Jati (skt)—Birth or rebirth—The final outcome of karma—Craving, clinging and becoming make up the present causes which will accompany the subject in his birth. Through birth are conditioned decay, sorrow and death. 12) Lão Tử: Jaramarana (skt)—Old age and death—In his new life, he will become old and die as every being does. (II) Lời Phật dạy về Thập Nhị Nhân Duyên--The Buddha's teachings on the Nidana: 1) Tùy nơi Vô Minh mà phát sanh Hành: Từ nơi vô minh mà phát sanh ra các hành động điên đảo mê lầm—Dependent on Ignorance arises Conditioning Activities (ignorance gives rise to actions). Ignorance (stupidity or darkness) develops into various crazy, chaotic, and delusional conducts and practices. 2) Tùy nơi Hành mà phát sanh Thức: Do nơi các hành động của thân khẩu ý hành xử sai quấy mà sanh ra cái thức tánh phân biệt phải quấy, vân vân—Dependent on Conditioning Activities arises Relinking Consciousness (Actions give rise to consciousness). Improper and delusional actions of body, speech, and mind give rise to a consciousness filled with discriminations of right, wrong, etc. 3) Tùy nơi Thức phát sanh Danh Sắc: Do nơi thức phân biệt sai quấy mà cảm thọ thành thân tứ đại hay danh sắc—Dependent on Relinking Conciousness arises Mind and Matter (consciousness gives rise to form name). It is to say, consciousness (false discriminations) leads to having a physical body or form-name. 4) Tùy nơi Danh Sắc phát sanh Lục Căn: Do nơi thân tứ đại mà sanh ra sáu căn, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, và ý—Dependent on Mind and Matter arises the Six Spheres of Sense (form name gives rise to six entrances). It is to say, the physical body gives birth to the six entrances of sight, hearing, scent, taste, body, and mind. 5) Tùy nơi Lục Căn phát sanh Xúc: Do nơi lục căn bất tịnh mà sanh ra các sự xúc cảm và va chạm với lục trần, sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp, như là sự xúc chạm thân mật giữa người nam và người nữ—Dependent on the Six Spheres of Sense arises Contact (six entrances give rise to interactions). It is to say six entrances give rise to interactions, or the impure six faculties will breed attachments and wanting to connect with the six elements of form, sound, fragrance, flavor, touch, and dharma, such as sexual intimacies between a man and a woman. 6) Tùy nơi Xúc phát sanh Thọ: Từ nơi những cảm xúc trên mà sanh ra các sự thọ lãnh hay thọ dụng, như ham muốn sắc đẹp, ham muốn ăn ngon, vân vân—Dependent on Contact arises Feeling (Interaction gives rise to reception), which means attachments and interactions with these elements breed yearnings to receive them, such as sight yearn for beautiful forms, taste yearn for great delicacies, etc. 7) Tùy nơi Thọ phát sanh Ái: Thọ duyên ái, tức là do từ nơi các sự thọ nhận kia mà cảm ra những sự yêu ái, say mê, vân vân—Dependent on Feeling arises Craving (reception gives rise to love). It is to say, having received and accepted such pleasures gives rise to love, fondness, etc. 8) Tùy nơi Ái phát sanh Thủ: Ái duyên thủ,tức là từ nơi yêu ái mà sanh ra sự chấp chặt, giữ lấy không chịu buông bỏ—Dependent on Craving arises Grasping (love gives rise to possessiveness). It is to say, love gives rise to covetousness, fixation, unwilling to let go. 9) Tùy nơi Thủ phát sanh Hữu: Thủ duyên hữu, tức là do từ nơi cái chấp giữ kia mà sanh cái tánh tư hữu, nghĩa là cái của ta, và cái không phải của ta, hay tất cả là của ta, chớ không phải của ngươi, vân vân—Dependent on Grasping arises Becoming (possessiveness gives rise to existence). It is to say, from being possessive gives rise to the characteristic of private existence by discriminating what is 'mine' and what is not 'mine,' or everything is mine and nothing is yours, etc. 10) Tùy nơi Hữu có Sanh: Hữu duyên sanh, tức là do nơi tư hữu ấy mà phải trầm luân vào vòng luân hồi sanh tử, tức là đầu thai, chuyển kiếp, trôi lăn trong ba cõi sáu đường như một chúng sanh—Dependent on Becoming arises Birth (existence gives rise to birth). It is to say, having the concept of private existence gives rise to rebirth, which is to change lives, and continue drowning in the cycle of birth and death in the three worlds and six realms as a sentient being. 11) Tùy nơi Sanh có Già Yếu Khổ Đau: Sanh duyên lão, tức là hễ có sanh là có thân tứ đại, và dĩ nhiên là có già yếu khổ đau—Dependent on Birth arises Old Age and Sorrow (birth gives rise to old age and sufferings). It is to say, if there is birth, then there has to be a physical body of impermanence, and naturally, there is also old age and sufferings. 12) Tùy nơi Già yếu Khổ Đau mà lại Tử: Lão duyên tử, tức là hễ có già yếu khổ đau là cuối cùng có chết—Dependent on Old Age and Sorrow arises Death (old age and sufferings give rise to death). It is to say, if there are old age and sufferings, there is eventualy death. (III) Tận diệt Vô Minh—Eradication of Ignorance: Muốn diệt trừ vô minh chúng ta phải quán sát trạng thái sinh khởi trong quá khứ xa xưa và sự luân lưu của 12 nhân duyên trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Tuy nhiên, phàm phu chúng ta căn cơ thấp kém không thể làm những điều vừa kể trên được để trực tiếp diệt trừ vô minh gốc rễ như các vị Bồ Tát Đại Thừa, hay những vị Phật tương lai, nhưng chúng ta có thể diệt trừ vô minh ngọn là “Ái, Thủ, và Hữu.” Vì thế, chúng ta phải cố gắng thực hiện sao cho không phát sinh tâm tham ái. Không tham ái mới không thủ hay không tìm cầu. Không tìm cầu nên không có hữu hay thọ quả sinh tử về sau nầy—To eradicate ignorance, we must go back to the past and observe the first step of the conditioning process and study how the twelve links operate in the past, present and future. However, as ordinary people, our level of understanding and practicing dharmas is still low; therefore, we cannot apply the first method of eradicating ignorance at the root like Bodhisattvas and Becoming-Buddhas, but we can do it by eradicating desire, clinging, and becoming. Therefore, we must keep from amnifesting any strong desire, covetousness for acquisition. Without such a desire, we will be freed from clinging. If we are not attached to anything, we will be liberated from the cycle of birth and death. (IV) Lời kết luận của Đức Phật về Vô Minh—The Buddha conclusion about Nidana: Hễ vô minh không sanh thì các hành trực thuộc khác cũng không có. Ví như hạt giống mà không có mộng thì chồi không sanh. Chồi đã không sanh thì không có thân cây; thân cây đã không thì không có nhánh lá hoa quả chi cả—If a seed does not germinate, a shoot will not rise, and if a shoot does not rise, then there will be no plant. And if there is no plant, there won't be any leaves and branches. 1) Tận diệt Vô Minh dẫn đến chấm dứt Hành: Do cái vô minh kia diệt, các hành động sai lầm cũng không do đâu mà có được—The cessation of igonorance leads to the cessation of Conditioning Activities (when Ignorance is extinguished, Action is extinguished). It is to say, if ignorance ceases then all the false and mistaken conducts and practices will not transpire. 2) Chấm dứt Hành dẫn đến chấm dứt Thức: Do các hành động sai quấy của thân khẩu ý không còn, thì thức tánh phân biệt cũng không sao sanh khởi được—The cessation of Conditioning Activities leads to the cessation of relinking-Consciousness (when Action is extinguished, Consciousness is extinguished). It is to say, if the improper and delusional actions of body, speech, and mind no longer exist, then the various consciousnesses filled with discriminations will also cease. 3) Chấm dứt Thức dẫn đến chấm dứt Danh Sắc: Một khi cái thức phân biệt phải quấy không sanh thời không có thân danh sắc—The cessation of Relinking-Consciousness leads to the cessation of Mind and Matter (when consciousness is extinguished, form name is extinguished). It is to say, if the consciousness of false and mistaken discriminations of right and wrong is no longer born, then there will not be a body of form name (there is no reincarnation or rebirth). 4) Chấm dứt Danh Sắc dẫn đến chấm dứt Lục Căn: Khi không có thân danh sắc thì lục căn cũng không thành—The cessation of Mind and Matter leads to the cessation of the Six Spheres of Sense (when form name is extinguished, the six entrances are extinguished). It is to say, if the body of form-name does not exist, then the six entrances of sight, hearing, smell, taste, body, and mind cannot exist. 5) Chấm dứt Lục Căn dẫn đến chấm dứt Xúc: Khi thân lục căn bất tịnh không có, thời sự tiếp giao giữa nam nữ cũng như cảm xúc với lục trần cũng không có—The cessation of the Six Spheres of Sense leads to the cessation of Contact (when the six entrances are extinguished, interactions are extinguished). In other words, if the impure body of six faculties does not exist, then the matter of lusts, attachments, and intimacies between men and women, and the desires for the six elements of form, sound, fragrance, flavor, touch, and dharma will also cease. 6) Chấm dứt Xúc dẫn đến chấm dứt Thọ: Khi sự tiếp xúc với nhau không có, thì sự thọ lãnh cũng không có—The cessation of Contact leads to the cessation of Feeling (when interaction is extinguished, reception is extinguished). In other words, if there are no interactions and no connections, then there is no acceptance and reception. 7) Chấm dứt Thọ dẫn đến chấm dứt Ái: Khi sự thọ dụng không có thì không có yêu ái, thương mến, và ham mong, vân vân—The cessation of Feeling leads to the cessation of Craving (when reception is extinguished, love is extinguished). In other words, if acceptance and reception do not occur, then there is no love, fondness, or yearning, etc. 8) Chấm dứt Ái dẫn đến chấm dứt Thủ: Do sự yêu ái không sanh thời sự chiếm hữu hay chấp giữ cũng không do đâu mà sanh khởi được—The cessation of Craving leads to the cessation of Grasping (when love is extinguished, possessivenes is extinguished). That is to say, if love and fondness do not rise, then there is no covetousness, fixation, or the unwillingness to let go, etc. 9) Chấm dứt Thủ dẫn đến chấm dứt Hữu: Do sự chấp giữ không còn, thời cũng không có cái của ta hay của người—The cessation of Grasping leads to the cessation of Becoming (when possessiveness is extinguished, existence is extinguished). In other words, if the characteristic of private existence and the possessive nature do not exist, then there is no separation of what belongs to me, and what belongs to others. 10) Chấm dứt Hữu dẫn đến chấm dứt Sanh: Do cái của ta hay của người không còn, thời không còn tái sanh nữa—The cessation of Becoming leads to the cessation of Birth (when existence is extinguished, rebirth is extinguished). This means, if the ideas of what's mine and what's yours cease, then there is no more rebirth and reincarnation. 11) Chấm dứt Sanh dẫn đến chấm dứt Già Cả Bệnh Hoạn Khổ Đau: Khi sanh diệt, nghĩa là không có thân tứ đại, thời già cả, bệnh hoạn, khổ đau cũng không còn—The cessation of Birth leads to the cessation of Old Age, Sickness and Sorrow (when birth is extinguished, old age, sickness, and sorrow are also extinguished). In other words, if there is no birth, which means there is no physical body of impermanence, then there is no old age, sickness, and pain. 12) Chấm dứt sanh còn dẫn tới chấm dứt Lão, Tử, Sầu Muộn, Ta Thán, Đau Khổ, Phiền Não, và Thất Vọng: The cessation of Birth also leads to the cessation of Old Age, Death, Sorrow, Lamentation, Pain, Grief, and Despair.
thập nhị nhân duyên dị danh
(十二因緣異名) Chỉ cho các tên khác của Thập nhị nhân duyên, gồm có 3: 1. Thập nhị trùng thành: Mười hai lớp thành. Kinh Ngũ khổ chương cú (Đại 17, 544 trung) nói: Tất cả chúng sinh thường ở trong địa ngục rộng lớn, có 12 lớp thành bao quanh với 3 lớp rào dậu bằng gai sắt. Mười hai lớp thành ví dụ 12 nhân duyên; 3 lớp rào gai ví dụ 3 đời. Chúng sinh nương vào 12 nhân duyên liên kết với 3 đời(quá khứ, hiện tại, vị lai) mà luân hồi trong 6 đường, bị 12 lớp thành bao quanh, nên gọi là Thập nhị trùng thành. 2. Thập nhị suất liên: Vì bị 3 đời ràng buộc nên gọi là Suất liên. Từ ngữ có xuất xứ từ kinh Tăng nhất a hàm quyển 40. 3. Thập nhị luân: Mười hai nhân duyên xoay vần nối tiếp nhau không cùng tận giống như bánh xe quay, nên gọi là Thập nhị luân. Từ ngữ này có xuất xứ từ Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3, phần 3.
thập nhị nhân duyên dữ tứ đế
(十二因緣與四諦) Mười hai nhân duyên phối hợp với 4 đế. Nếu y theo Sinh quán và Thuận quán thì 5 chi: Vô minh, hành, ái, thủ và hữu là Tập đế; 7 chi: Thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thụ, sinh và lão tử là Khổ đế. Nếu y theo Sinh quán, Diệt quán và Thuận quán, Nghịch quán, thì 2 quán Sinh, Thuận là 2 đế Khổ, Tập; còn 2 quán Diệt, Nghịch là 2 đế Diệt, Đạo.
thập nhị nhân duyên kinh
(十二因緣經) Cũng gọi Bối đa thụ hạ tư duy thập nhị nhân duyên kinh, Văn thành thập nhị nhân duyên kinh, Thụ hạ tư duy thập nhị nhân duyên kinh, Tư duy thập nhị nhân duyên kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này nói về 12 nhân duyên, là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu thuyết Thập nhị nhân duyên. Kinh này và kinh Duyên khởi thánh đạo tuy cùng bản tiếng Phạm, nhưng kinh này chỉ nói về 12 nhân duyên, còn kinh Duyên khởi thánh đạo thì có nói thêm về Bát thánh đạo. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.2; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.3].
thập nhị nhân duyên luận
(十二因緣論) Luận, 1 quyển, do ngài Tịnh ý soạn, ngài Bồ đềlưu chi dịch vào đời Hậu Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này gồm 2 phần: Trước hết, nêu ra 6 bài kệ rưỡi, kế đến, dùng văn xuôi, theo thể vấn đáp, giải thích pháp Thập nhị nhân duyên.
Thập nhị nhân duyên quán
xem quán Mười hai nhân duyên.
Thập nhị nhân duyên 十二因縁
[ja] ジュウニインネン jūniinnen ||| (dvādaśa-astanga). The 'twelve limbs of dependent origination.' When inquiring into what it is that gives rise to human suffering, the Buddha found it to be a continūm of twelve phases of conditioning in a regular order. These twelve limbs of conditioned existence are. (1) 無明 ignorance; (2) 行 action-intentions; (3) 識 consciousness; (4) 名色 name and form; (5) 六處 the six-fold sphere of sense contact; (6) 觸 contact; (7) 受 sensation; (8) 愛 craving; (9) 取 grasping; (10) 有 becoming; (11) 生 birth; (12) 老死 old age and death (impermanence). In this order, the prior situation is the condition for the arising of the next situation. Also, in the same order, if the prior condition is extinguished, the next condition is extinguished. => (s: dvādaśa-astanga; e: 'twelve limbs of dependent origination). Khi quan sát về điều gì gây nên khổ đau cho con người, Đức Phật nhận ra một tiến trình liên tục của 12 nhân duyên trong một quy luật nhất định. Mười hai nhân duyên là: 1. Vô minh; 2. Hành; 3. Thức; 4. Danh sắc; 5. Lục xứ; 6. Xúc; 7. Thọ; 8. Ái; 9. Thủ; 10. Hữu; 11. sinh; 12. Lão tử (vô thường). Trong trật tự nầy, yếu tố trước là nhân duyên để cho yếu tố kế tiếp theo sinh khởi. Cũng vậy, trong cùng một chuỗi xích của tiến trình, nếu nhân duyên trước hoại diệt, thì nhân duyên kế tiếp cũng hoại diệt.
thập nhị nhập
Dvadasayatanani (skt). (I) Mười hai thứ can thiệp vào nhau, như sáu căn nhập với sáu trần (nhãn nhập với sắc, gọi là nhãn nhập, sắc nhập với nhãn kêu là sắc nhập, hai thứ nhập lại gọi là thấy; nhĩ nhập với thanh gọi là nhĩ nhập, thanh nhập với nhĩ gọi là thanh nhập, hai thứ nhập lại gọi là nghe; vân vân. Sáu căn nhập với sáu trần gọi là thập nhị nhập)—The twelve entrances (entries—places): (A) Lục Căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý—Six sense-organs (eye, ear, nose, tongue, body, and mind)—See Lục Căn in Vietnamese-English Section. (B) Lục Cảnh: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp—Six objects which are corresponding to the six senses (forms, sounds, scents, tastes, textures, and mental objects)—See Lục Cảnh in Vietnamese-English Section. (II) Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Ba, Đức Phật giải thích cho ông A Nan biết tại sao bản tánh của Thập Nhị Xứ là Như Lai Tạng Diệu Chân Như tính như sau—According to the Surangama Sutra, book Three, the Buddha explained to Ananda why he said that the twelve places were basically the wonderful nature of true suchness, the treasury of the Thus Come One. 1-2) Nhãn sắc Xứ: Cakshu-rupayatana (skt)—The place of the eye and form: Ông A Nan! Ông xem rừng Kỳ Đà và các suối ao. Ý ông nghĩ sao? Vì là sắc tướng sinh ra mắt thấy, hay là mắt sinh ra sắc tướng?—Ananda! Look again at the trees in the Jeta Grove and the fountains and pools. What do you think? Do these things come into being because the forms are produced and thus the eyes see, or because the eyes produce the characteristics of form? a) Ông A Nan! Nếu nhãn căn sinh các sắc tướng, vậy khi nhìn hư không, không phải là sắc tướng, cái tính sinh sắc tướng phải tiêu diệt, tiêu rồi thì rõ ràng là hết thảy các sắc tướng đều không. Sắc tướng đều không, lấy gì so sánh mà biết hư không? Đối với hư không, lại cũng như vậy: Ananda! If the organ of sight were to produce the characteristics of form, then the nature of form would be obliterated when you see emptiness, which is not form. Once it was obliterated, everything that is manifest would disappear. Since the characteristics of form would then be absent, who would be able to understand the nature of emptiness. The same is true of emptiness. b) Lại nếu sắc trần sinh ra cái thấy. Khi nhìn hư không, không phải là sắc, cái thấy phải tiêu mất. Cái thấy đã mất thì mọi thứ đều không, lấy chi mà rõ là không hay là sắc?: If, moreover, the defiling objects of form were to produce the eye's seeing, then seeing would perish upon looking at emptiness, which is not form, and once it perished, everything would disappear. Then who would be able to understand emptiness and form? c) Vậy ông nên biết, cái thấy với sắc không, đều không có xứ sở. Hai xứ 'thấy và sắc' đều là hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that neither seeing nor form nor emptiness has a location, and thus the two places of 'form and seeing' are empty and false. Their origin is not in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 3-4) Nhĩ Thanh Xứ: Srotra-sabda (skt)—The place of the ear and sound: Ông A Nan! Ông lại nghe trong vườn Kỳ Đà, lúc thức ăn dọn rồi thì đánh trống, lúc nhóm chúng thì đánh chuông. Tiếng chuông, tiếng trống trước sau nối nhau. Ý ông nghĩ sao? Như thế là tiếng đến bên tai, hay tai đến chỗ tiếng?—Ananda! Listen again to the drum being beaten in the Jeta Grove when the food is ready. The assembly gathers as the bell is struck. The sounds of the bell and the drum follow one another in succession. What do you think? Do these things come into existence because the sound comes to the region of the ear, or because the ear goes to the place of the sound? a) Ông A Nan! Nếu là tiếng đến bên tai, ví dụ tôi đi khất thực trong thành Thất La Phiệt, ở rừng Kỳ Đà chắc là không có tôi nữa; tiếng đã đến tai ông A Nan, lẽ ra ông Mục Liên, ông Ca Diếp không thể cùng nghe một lần, huống chi trong nầy có đến một nghìn hai trăm năm mươi vị Sa Môn đều nghe tiếng chuông cùng một lúc, cùng đến chỗ ăn cơm: Again, Ananda, suppose that the sound comes to the region of the ear. Similarly, when I go to beg for food in the city of Shravasti, I am no longer in the Jeta Grove. If the sound definitely goes to the region of Ananda's ear, then neither Maudgalyayana nor Kasyapa would hear it, and even less the twelve hundred and fifty Sramanas who, upon hearing the sound of the bell, come to the dining hall at the same time. b) Nếu là tai đến bên tiếng, ví dụ tôi đã trở về trong rừng Kỳ Đà rồi, ở thành Thất La Phiệt không có tôi nữa; nay ông nghe tiếng trống, tai ông đã đi đến chỗ đánh trống, thì khi tiếng chuông phát ra, lẽ ra ông không thể cùng nghe một lần. Thế mà ông lại nghe được bao tiếng khác trong rừng nầy, nào các tiếng voi, ngựa, trâu, dê: Again, suppose that the ear goes to the region of the sound. Similarly, when I return to the Jeta Grove, I am no longer in the city of Sravasti. When you hear the sound of the drum, your ear will already have gone to the place where the drum is beaten. Thus, when the bell peals, you will not hear the sound, even the less that of the elephants, horses, cows, sheep, and all the other various sounds around you. c) Còn như nếu không đi qua đi lại, sẽ không có sự nghe: If there is no coming or going, there will be no hearing either. d) Vậy ông nên biết, cái nghe cùng cái tiếng, đều không có xứ sở. Hai xứ 'nghe và tiếng' đều hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that neither hearing nor sound a location, and thus the two places of 'hearing and sound' are empty and false. Their origin is not in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 5-6) Tỷ Hương Xứ: Ghrana-gandha (skt)—The place of nose and smell: Ông A Nan! Ông lại ngửi hương Chiên đàn trong lư nầy. Hương đó chỉ đốt một ít, cả thành Thất La Phiệt trong vòng bốn mươi dặm đều ngửi thấy. Ý ông nghĩ sao? Mùi thơm đó ở gỗ chiên đàn ra, ở mũi ông ra, hay ở lư hương ra?: Moreover, Ananda, you smell the chandana in this censer. You sniff the burning incense burning. When one particle of this incense is lit, it can be smelled simultaneously through forty miles around the city of Sravasti. What do you think? Is this fragrance produced from the chandana wood? Is it produced in your nose? Or does it arise from the censer, or within emptiness? a) Ông A Nan! Nếu ở mũi ông ra, gọi là mũi sinh mùi, thì mùi phải từ mũi ra. Song mũi không phải là Chiên đàn, vì sao trong mũi lại có mùi chiên đàn? Đã gọi là ngửi mùi, mùi thơm phải từ ngoài vào mũi, chứ ở trong mũi bay ra mùi thơm, không gọi là ngửi: Again, Ananda! Suppose this fragrance is produced from your nose. What is said to be produced from the nose should come forth from the nose. Your nose is not chandana, so how can the nose have the fragrance of chandana? When you say you smell fragrance, it should enter your nose. For the nose to emit fragrance is not the meaning of smelling. b) Nếu ở hư không ra, tính hư không có mãi, mùi thơm cũng phải có mãi, sao lại phải đốt gỗ chiên đàn khô trong lư mới có?: Suppose it is produced from within emptiness. The nature of emptiness is everlasting and unchanging, and so the fragrance should be eternally present. What need should there to be to rely on burning the dry wood in the censer? c) Nếu ở gỗ ra, mùi thơm do gỗ đốt thành khói, khói bay tới mũi mới ngửi thấy. Sao khói kia bay lên hư không chưa được bao xa mà trong vòng bốn mươi dặm đã ngửi thấy cả?: Suppose it is produced from the wood. Now, the nature of this incense is such that it gives off smoke when it is burned. If the nose smells it, it should be filled with smoke. The smoke rises into the air, and before it has reached the distance, how is it that the fragrance is already being smelled at a distance of forty miles? d) Vậy ông nên biết, ngửi và mùi hương, đều không có xứ sở. Hai xứ 'ngửi và mùi hương' đều hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that neither the fragrance nor the nose's smelling has a location, and so the two places of smelling and fragrance are empty and false. Their origin is not in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 7-8) Thiệt Vị Xứ: Jihva-rasa (skt)—The place of the tongue and taste: Ông A Nan! Ông thường hai buổi ở trong chúng cầm bình bát đi khất thực, có khi gặp món ăn ngon. Ông nghĩ sao? Vị đó sinh từ hư không, từ lưỡi, hay từ món ăn?—Ananda! Twice everyday you take your bowl along with the rest of the assembly, and among what you receive may be things of supreme flavor, such as curds, butter milk, and clarified butter. What do you think? Are these flavors produced from emptiness, do they come forth from the tongue, or are they produced from the food? a) Ông A Nan! Nếu vị đó sinh từ lưỡi ông, trong miệng ông chỉ có một lưỡi, lưỡi đã thành vị ngon rồi, gặp món hắc thạch mật, lẽ ra không dời đổi được. Nếu không dời đổi, không gọi là biết vị. Còn nếu dời đổi được, lưỡi không phải có nhiều như thế, làm sao lại biết nhiều vị?: Again, Ananda, suppose that the flavors came from your tongue; now there is only one tongue in your mouth. When that tongue had already become the flavor of curds, then it would not change if it encountered some dark rock-candy. Suppose it did not change, that would not be what is called knowing tastes. Suppose it did change, the tongue is not many substances, and how could one tongue know so many tastes? b) Nếu sinh từ món ăn, món ăn không có tính biết, sao biết vị mình. Nếu tự biết, cũng như người khác ăn, có quan hệ gì tới ông mà nói rằng ông biết vị?: Suppose it were produced from the food. The food does not have consciousness; how could it know tastes? Moreover, if the food itself were to recognize them, that would be the same as someone else eating. Then what connection would that have with what is called your recognition of tastes? c) Nếu sinh từ hư không, ông thử nếm hư không, xem là vị gì? Nếu là vị mặn, hư không đã làm mặn lưỡi ông, cũng làm mặn mặt ông, vậy người ở thế gian nầy giống như cá biển, quen với mặn, không biết nhạt. Nếu không biết nhạt, lại cũng không biết mặn. Như thế là không biết gì, sao gọi là vị?: Suppose it were produced in emptiness. When you eat emptiness, what flavor does it have? Suppose that emptiness had the flavor salt. Then since your tongue was salty, your face would also be salty, and likewise everyone in the world would be like fish in the sea. Since you would be constantly influenced by salt, you would never know tastelessness. If you did not recognize tastelessness, you would not know anything at all. How could that be what is called taste? d) Vậy ông nên biết, nếm và vị đều không có xứ sở. Hai xứ 'nếm và vị' đều hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that neither flavors nor the tongue's tasting has a location; and, so the two places of tasting and flavor are empty and false. Their origin is not in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 9-10) Thân Xúc Xứ: Kaya-sparshtavya (skt)—The place of the body and touches: Ông A Nan! Ông thường buổi sáng lấy tay xoa đầu. Ý ông nghĩ sao? Cái biết có xoa như vậy, ở đâu ra? Ở tay hay ở đầu?: Ananda! Early every morning you rub your head with your hand. What do you think? When there is a sensation of the rubbing, where does the ability in the hands or is it in the head? a) Nếu ở tay, chắc đầu không biết, sao lại thành ra xúc?: If it were in the hands, then the head would have no knowledge of it, and how could that be what is called touch? b) Nếu ở đầu, chắc tay không cần đến, sao gọi là xúc?: If it were in the head, then the hands would be useless, and how could that be what is called touch? c) Nếu ở cả hai nơi, chắc ông A Nan phải có hai thân: If each had it, then you, Ananda, would have two bodies. d) Nếu một xúc sinh ra cái biết ở đầu và ở tay, hai thứ đó phải cùng một thể. Nếu cùng một thể, cái nghĩa xúc lại không còn. Nếu là hai thể, cái xúc ở bên nào? Ở bên năng không có sở, ở bên sở không có năng. Chẳng lẽ hư không làm xúc cho ông?: If they were two substances, to which would the touch belong? The one which was capable of touch would not be the one that was touched. The one that was touched would not be the one that was capable of touch. Nor should it be that the touch came into being between you and emptiness. e) Vậy ông nên biết, cái biết khi sờ mó, đụng chạm và thân, đều không có xứ sở. Hai xứ 'xúc và thân' đều hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that neither the sensation of touch nor the body has a location, and so the two places of the body and touch are empty and false. Their origin is not in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 11-12) Ý Pháp Xứ: Mano-dharma (skt)—The place of mind and dharmas: Ông A Nan! Ông thường trong ý duyên với ba tính thiện, ác, và vô ký, sinh ra các phép tắc. Các phép đó do tâm sinh ra, hay là rời tâm, riêng có nơi chỗ?—Ananda! Your mind is always conditioned by three qualities, good, bad, and indeterminate, which produce patterns of dharmas. Ananda! Are these dharmas produced by the mind, or do they have a special place apart from the mind? a) Ông A Nan! Nếu do tâm, các pháp không phải là trần, không phải là cái sở duyên của tâm, sao thành xứ được?: Ananda! If they were the mind, the dharmas would not be its defiling objects. Since they would not be conditions of the mind, how could you say that they had a location? b) Nếu rời tâm, riêng có nơi chỗ, thì cái tự tính của pháp là có biết hay không biết? Nếu có biết phải gọi là tâm: Suppose they were to have a special place apart from the mind, then would the dharmas themselves be able to know? If they were to have a sense of knowing, they would be called a mind. • Nếu nó khác với ông, và không phải là trần, thì nó đồng với tâm lượng của người khác: If they were something other than you, they would be someone else's mind, since they are not defiling objects. • Nếu nó tức là ông và cũng tức là tâm, sao ở ông lại có hai tâm? (nhưng làm sao tâm ông có thể tách rời khỏi ông?): If they were the same as you, they would be your own mind. But how can you have two minds? (But how could your mind stand apart from you?). • Còn nếu không biết, thì cái pháp trần ấy đã chẳng phải là sắc, thanh, hương, vị, ly, hợp, lạnh và nóng, và tướng hư không, vậy nó ở đâu? Nay nơi sắc không kia, đều không thể chỉ cái gì là pháp trần, không lẽ ở nhân gian lại có những cái ngoài vòng hư không. Nếu nó chẳng phải là cái sở duyên của tâm, từ đâu lập ra có xứ?: Suppose they were to have no sense of knowing; yet these defiling objects are not forms, sounds, smells, or tastes; they are neither cold nor warmth, nor the characteristic of emptiness. Where would they be located? We have established that they are represented in neither form nor emptiness; nor is it likely that they exist somewhere in the human realm beyond emptiness, for if they did the mind could not be aware of them. Whence, then, would they raise? c) Vậy nên biết pháp và tâm đều không có xứ sở. Hai xứ 'ý và pháp' đều hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that neither dharmas nor the mind has a location, and, so the two places of mind and dharmas are empty and false. Their origin is not in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously.
thập nhị pháp nhân
Those who follow the twelve practices of the ascetics: (1) live in a hermitage; (2) always beg for food; (3) take turns at begging food; (4) one meal a day; (5) reduce amount of food; (6) do not take a drink made of fruit or honey after midday; (7) wear dust-heap garments; (8) wear only the three clerical garments; (9) dwell among graves; (10) stay under a tree; (11) on the dewy ground (12) sit and never lie.
Thập nhị phần giáo 十二分教
Thập nhị phần kinh 十二分經 [ja] ジュウニブンキョウ jūnibunkyō ||| See 十二部經. => Xem Thập nhị bộ kinh十二部經.
thập nhị phẩm sanh tử
The twelve kinds of rebirth—See Thập Nhị Chủng Sanh Tử.
thập nhị phẩm sinh tử
(十二品生死) Chỉ cho 12 phẩm sinh tử từ 4 quả Thanh văn cho đến 3 đường ác, được nói trong kinh Thập nhị phẩm sinh tử (Đại chính tạng tập 17). Đó là: 1. Vô dư tử: Bậc A la hán không còn dính mắc. 2. Độ ư tử: Bậc A na hàm không còn trở lại. 3. Hữu dư tử: Bậc Tư đà hàm còn trở lại. 4. Học độ tử: Bậc Tu đà hoàn thấy Đạo đế. 5. Vô khi tử: Chỉ cho hàng bát đẳng nhân. 6. Hoan hỉ tử: Chỉ cho hàng hành nhất tâm.7. Sác sác tử: Chỉ cho người ác giới. 8. Hối tử: Chỉ cho phàm phu. 9. Hoạnh tử: Chỉ cho người cô độc, khổ đau. 10. Phược trước tử: Chỉ cho súc sinh. 11. Thiêu lạn tử: Chỉ cho địa ngục. 12. Cơ khát tử: Chỉ cho quỉ đói.
thập nhị phẩm vô minh
(十二品無明) Chỉ cho 12 phẩm vô minh mà hàng Bồ tát từ Sơ địa trở lên đến quả Phật(gồm 12 giai vị) phải đoạn trừ. Theo tông Thiên thai, nếu nương 3 quán Không, Giả, Trung thì Không quán đoạn trừ Kiến tư hoặc, Giả quán đoạn trừ Trần sa hoặc và Trung quán đoạn trừ Vô minh hoặc. Hàng Biệt giáo đoạn diệt Kiến tư hoặc gọi là Thập trụ; đoạn diệt Trần sa hoặc, gọi là Thập hạnh, Thập hồi hướng; đoạn diệt Vô minh hoặc, gọi là Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác. Hàng Viên giáo đoạn các hoặc Kiến tư, Trần sa, gọi là Thập tín, đoạn diệt Vô minh hoặc, gọi là Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác. [X. Ma ha chỉ quán (hội bản) Q.1, phần 4]. (xt. Ngũ Thập Nhị Vị).
thập nhị phật danh thần chú kinh
(十二佛名神咒經) Gọi đủ: Thập nhị Phật danh thần chú giáo lượng công đức trừ chướng diệt tội kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này nói về pháp trừ chướng diệt tội. Trong đó, đức Phật đã nói cho bồ tát Di lặc nghe về danh hiệu và công đức của 12 đức Phật. Nếu ai chí tâm xưng niệm danh hiệu 12 đức Phật, trì Đà la ni trong kinh, đồng thời sám hối tất cả các tội và thực hành pháp môn hồi hướng thì diệt được các tội, thanh tịnh hóa nghiệp chướng, được nhiều công đức. Về 12 danh hiệu Phật thì 10 phương mỗi phương 1 vị: Phương Đông có Nhất thiết trang nghiêm vô cấu quang Như lai, phương Nam có Biện tài anh lạc tư niệm Như lai, phương Tây có Vô cấu nguyệt tướng vương danh xưng Như lai, phương Bắc có Hoa trang nghiêm tác quang minh Như lai, phương Đông nam có Tác đăng minh Như lai, phương Tây nam có Bảo thượng tướng danh xưng Như lai, phương Tây bắc có Vô úy quán Như lai, phương Đông bắc có Vô úy vô khiếp mao khổng bất thụ danh xưng Như lai, phương dưới có Sư tử phấn tấn căn Như lai, phương trên có Kim quang uy vương tương tự Như lai. Riêng phương Đông có thêm 2 vị là Hư không công đức thanh tịnh vi trần đẳng mục đoan chính công đức tướng quang minh hoa ba đầu ma lưu li quang minh bảo thể hương tối thượng hương cúng dường ngật chủng chủng trang nghiêm đính kế vô biên nhật nguyệt quang minh nguyệt lực trang nghiêm biến hóa trang nghiêm pháp giới xuất sinh vô chướng ngại vương Như lai và Hào tướng hật nguyệt quang minh hoa bảo liên hoa kiên như kim cương thân Tì lô giá na vô chướng ngại nhãn viên mãn thập phương phóng quang chiếu nhất thiết Phật sát tướng vương Như lai. Mười hai danh hiệu Phật trên đây cũng được chép trong các kinh như kinh Ngũ thiên ngũ bách Phật danh thần chú trừ chướng diệt tội, kinh Thánh thập nhị Phật đại thừa và kinh Phật thuyết xưng tán Như lai công đức thần chú...
thập nhị quang
(十二光) Chỉ cho 12 danh xưng tán thán ánh sáng của đức Phật A di đà. Đó là: 1. Vô lượng quang: Ánh sáng của Phật không thể tính lường. 2. Vô biên quang: Ánh sáng của Phật khôngcóbiên giới. Nghĩa là chúng sinh có nhân duyên hay không nhân duyên đều được soi chiếu. 3. Vô ngại quang: Nhân, Pháp không thể làm chướng ngại được ánh sáng của Phật.4. Vô đối quang: Ánh sáng của các Bồ tát không thể sánh bằng. 5. Diệm vương quang: Ánh sáng chói lọi không gì sánh bằng. 6. Thanh tịnh quang: Ánh sáng thanh tịnh từ thiện căn vô tham của Phật phát ra, có năng lực tiêu trừ tâm tham trược của chúng sinh. 7. Hoan hỉ quang: Ánh sáng hoan hỉ từ thiện căn vô sân của Phật phát ra có năng lực tiêu trừ tâm sân hận của chúng sinh.8. Trí tuệ quang: Ánh sáng trí tuệ từ tâm thiện căn vô si của Phật sinh khởi, có công năng tiêu trừ tâm vô minh của chúng sinh.9. Bất đoạn quang: Ánh sáng thường hằng chiếu soi, không gián đoạn. 10. Nan tư quang: Ánh sáng khó nghĩ bàn. Nghĩa là hàng Nhị thừa không thể đo lường được. 11. Vô xưng quang: Ánh sáng mà hàng Thanh văn, Bồ tát khó khen ngợi hết được. 12. Siêu nhật nguyệt quang: Ánh sáng chiếu soi cả ngày lẫn đêm, vượt cả ánh sáng củamặt trời, mặt trăng. Nếu có chúng sinh nào gặp được ánh sáng này thì thân ý trở nên dịu dàng, vui vẻ mà sinh thiện tâm. Nếu chúng sinh nào đang ở trong 3 đường khổ não mà thấy ánh sáng này thì các khổ đều dứt, sau khi mệnh chung đều được giải thoát. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng (bản dịch đời Ngụy); Tán A di đà Phật kệ; Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.hạ].
thập nhị quang phật
Amitàbha's twelve tittle of light.
; (十二光佛) Chỉ cho 12 danh hiệu Phật được lập ra để khen ngợi trí thể và đức dụng thuộc về ánh sáng của đức Phật A di đà. Đó là: Vô lượng quang Phật, Vô biên quang Phật, Vô ngại quang Phật, Vô đối quang Phật, Diệm vương quang Phật, Thanh tịnh quang Phật, Hoan hỉ quang Phật, Trí tuệ quang Phật, Bất đoạn quang Phật, Nan tư quang Phật, Vô xưng quang Phật và Siêu nhật nguyệt quang Phật. 1. Vô lượng quang Phật 2. Vô biên quang Phật 6. Thanh 5. Diệm vương quang Phật tịnh quang Phật 3. Vô ngại quang Phật 4. Vô đối quang Phật
thập nhị thiên
The twelve devas (especially of the Shingon sect Chân ngôn tông): Brahmà; the deva of earth; of the moon; ofthe sun; Indra; of fire; Yama; of the raksa(or demons); of water; of wind; Vaisramana (wealth); and Mahesrava (Siva). Thập nhị xứ.
; (十二天) Chỉ cho 12 vị trời hộ trì Phật pháp, đó là: 1. Đế thích thiên (Phạm: Indra) ở phương đông. 2. Hỏa thiên (Phạm: Agni) ở phương Đông Nam. 3. Diệm ma thiên (Phạm: Yama) ở Phương nam. 4. La sát thiên (Phạm:Nifiti) ở phương Tây nam. 5. Thủy thiên (Phạm: Varuịa) ở Phương Tây. 8. Trí 7. Hoan hỉ quang Phật tuệ quang Phật 11. Vô xưng quang Phật 12. Siêu nhật nguyệt quang Phật 9. Bất đoạn quang Phật 10. Nan tư quang Phật 6. Phong thiên (Phạm:Vàyu) ở phương Tây bắc. 7. Đa văn thiên (Phạm: Vaizravaịa, cũng gọi Tì sa môn thiên) ở Phương Bắc. 8. Y xá na thiên (Phạm:Ìzàna, cũng gọi Đại tự tại thiên) ở Đông Bắc. Trên đây là Bát phương thiên trấn thủ 8 phương. 9. Phạm thiên (Phạm: Brahma) ở phương trên. 10. Địa thiên (Phạm: Pfthivì) ở phương dưới. 11. Nhật thiên (Phạm:Àditya). 12. Nguyệt thiên (Phạm: Candra). Cúng dường thập nhị đại uy đức thiên báo ân phẩm (Đại 21, 385 thượng) nói: Mười hai vị trời này đã thành Phật từ lâu xa, vì độ chúng sinh mà thị hiện đến đây, bởi vậy hành giả không nên nương vào hình thể các trời mà phải quán tưởng pháp thân trang nghiêm của các Ngài. Thập nhị thiên gồm chung tất cả chư thiên, quỉ thần hộ vệ thế gian. Nếu để cầu nguyện tiêu trừ các tai nạn khiến đất nước thanh bình, nhân dân yên vui mà cúng dường 12 vị trời này, thì gọi là Thập nhị thiên cúng. Thập nhị thiên báo ân phẩm (Đại 21, 385 thượng) ghi: Nếu cầu dứt trừ tai ách thì cúng dường trời Đế thích; nếu cầu tăng thêm lợi ích thì cúng dường Phạm thiên; (...) nếu muốn trừ bệnh sốt rét thì tùy ý cúng dường Nhật thiên, Nguyệt thiên. [X. Thập nhị thiên cúng nghi quĩ].
thập nhị thán thích
(十二嘆釋) Chỉ cho 12 câu tán thán lòng tin đối với tha lực do ngài Thân loan, Tổ khai sáng của Tịnh độ chân tông, Nhật bản, lập ra được ghi trong tác phẩm Giáo hành tín chứng quyển 3. Đó là: 1. Phương thuốc thần diệu làm cho người ta sống mãi không chết. 2. Thuật mầu nhiệm khiến người thích tịnh độ, chán uế độ. 3. Trực tâm lựa chọn hồi hướng. 4. Tâm tin ưa sâu rộng đối với hạnh lợi tha.5. Chân tâm kim cương bất hoại. 6. Niềm tin thanh tịnh vào việc dễ vãng sinh mà không người tin. 7. Nhất tâm được tâm quang nhiếp hộ. 8. Niềm tin chân thành hơn hết hiếm có. 9. Con đường thẳng tắt mà người đời khó tin. 10. Nhân chân chính chứng đại Niết bàn.11. Con đường sáng mau chóng đạt đến viên dung. 12. Biển tin chân như nhất thực.
thập nhị thú
Mười hai con giáp tiêu biểu cho 12 tháng trong năm, cũng tiêu biểu cho 24 giờ trong ngày—The twelve animals which represent the twelve months of the year, which also represent the 24 hours of the day: 1) Tý: Rat (from 11 to 1 midnight). 2) Sửu: Buffalo (from 1 to 3 a.m.). 3) Dần: Tiger (from 3 to 5 a.m.). 4) Mẹo: Cat (from 5 to 7 a.m.). 5) Thìn: Dragon (from 7 to 9 a.m.). 6) Tỵ: Serpent (from 9 to 11 a.m.). 7) Ngọ: Horse (from 11 a.m. to 1 p.m.). 8) Mùi: Goat (from 1 p.m. to 3 p.m.). 9) Thân: Monkey (from 3 p.m. to 5 p.m.). 10) Dậu: Cock (from 5 p.m. to 7 p.m.). 11) Tuất: Dog (from 7 p.m. to 9 p.m.). 12) Hợi: Pig (from 9 p.m. to 11 p.m.).
; (十二獸) Cũng gọi Thập nhị thời thú. Chỉ cho 12 con vật luân phiên trông coi, xem xét trong 12 ngày, thường du hành giáo hóa trong cõi Diêm phù đề. Đó là: Chuột(Tí), trâu(Sửu), hổ(Dần), thỏ(Mão), rồng(Thìn), rắn(Tị), ngựa(Ngọ), dê(Mùi), khỉ(Thân), gà(Dậu), chó(Tuất) và lợn (Hợi). Mười hai con thú này đều do Bồ tát biến hiện ra để hóa độ chúng sinh. Trong một ngày một đêm, một con thú đi khắp nhân gian và cõi trời, giáo hóa chúng sinh, 11 con thú còn lại thì an trụ trong từ bi, cứ như thế đến con thú cuối cùng thì trở lại từ đầu. [X. phẩm Tịnh mục trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.23; kinh Luật dị tướng Q.47; Bồ tát bộ trong Pháp uyển châu lâm Q.30].
Thập Nhị Thần
(十二辰): tức 12 Chi, Tý (子), Sửu (丑), Dần (寅), Mão (卯), Thìn (辰), Tỵ (巳), Ngọ (午), Mùi (未), Thân (申), Dậu (酉), Tuất (戌) và Hợi (亥). Xưa kia, người ta dùng 12 Chi này để ghi giờ, ngày, tháng và năm. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Phùng Tướng Thị (馮相氏), có đoạn: “Chưởng thập hữu nhị tuế, thập hữu nhị nguyệt, thập hữu nhị thần, thập nhật, nhị thập hữu tinh chi vị, biện kỳ tự sự, dĩ hội thiên vị (掌十有二歲、十有二月、十有二辰、十日、二十有八星之位、辨其敘事、以會天位, nắm trọn 12 năm, 12 tháng, 12 giờ, 10 ngày, phương vị của 28 ngôi sao, biết rõ thứ tự của chúng, để hợp với vị trí của trời).”
thập nhị thần (minh vương)
The twelve spirits connected with the cult of Dược Sư the Master of Healing. Also thập nhị thần tướng. They are: Cung tì la Kumbhira; Phạt chiết la Vajra; Mê si la Mihira; An để la Andira; At nễ la Anila; San để la Sandila; Nhân đạt la Indra; Ba gi la Pajra; Ma hổ la Mahoraga; Chân đạt la Kinnara; Chiêu đỗ la Catura; Tì yết la Vikarala. Also Mười hai Đại tướng Dược xoa.
thập nhị thần minh vương
Mười hai vị thần liên hệ với Dược Sư—The twelve spirits connected with the Master of Healing (Dược Sư): 1) Cung Tỳ La Đại Tướng: Kumbhira. 2) Phạt Chiết La Đại Tướng: Vajra. 3) Mê Xí La Đại Tướng: Mihira. 4) An Để (Lễ) La Đại Tướng: Andira. 5) Át Nể (Lễ) La Đại Tướng: Anila. 6) San Để La Đại Tướng: Sandila. 7) Nhân Đà (Đạt) La Đại Tướng: Indra. 8) Ba Di La Đại Tướng: Pajra. 9) Ma Hổ La Đại Tướng: Mahoraga. 10) Chân Đạt La Đại Tướng: Kinnara. 11) Chiên Đổ La Đại Tướng: Catura. 12) Tỳ Yết La (Bì Kiết La) Đại Tướng: Vikarala.
Thập Nhị Thần Tướng
(十二神將): xem Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng bên trên.
thập nhị thần tướng dược sư
See Thập Nhị Thần Minh Vương.
Thập Nhị Thần Vương
(十二神王): xem Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng bên trên.
thập nhị thời
(十二時) Chỉ cho một loại văn thể được soạn theo thứ tự 12 thời trong 1 ngày dùng để khuyến tu, là một trong các tục khúc đời Đường. Các tục khúc này lấy 12 chi trong thời gian 1 ngày do người Trung quốc phân chia làm đơn vị; hình thức văn thể y theo cách thức câu chữ giống nhau, cứ mỗi một thời soạn một bài hoặc nhiều bài, rồi thu tập thành thiên, gọi là Định cách liên chương. Cách thức các câu chữ đa số theo tỉ lệ 3, 7, 7, 7, cũng có thể lệ 3, 5, 5, 5. Chẳng hạn như: Vào giờ ăn, gắng sức sớm xuất trần; luôn luôn nhớ nghĩ khổ, sớm được nhân Niết bàn. Có nhiều loại Thập nhị thời như: Thiền môn thập nhị thời, Thái tử thập nhị thời, Pháp thể thập nhị thời, Pháp giới thập nhị thời, Thánh giáo thập nhị thời, Duy ma ngũ canh chuyển thập nhị thời, Thiên hạ truyền hiếu thập nhị thời...
thập nhị trước tác của đại sư huệ viễn
Hui-Yuan's twelve texts—Dầu Đại Sư Huệ Viễn chủ trương xiển dương Tịnh Độ, nhưng Ngài cũng lưu tâm đến các pháp môn khác. Ngài viết nhiều bài tựa về kinh, luận cùng hoàn thành được 12 tác phẩm—Although Great Master Hui-Yuan concentrated his energy into propagating Pureland Buddhism, he still devoted some of his time to other Dharma Doors. He wrote 12 Buddhist texts, based on sutras and others' commentary texts—See Huệ Viễn.
thập nhị tuỳ miên
(十二隨眠) Chỉ cho 12 thứ phiền não trường kì ẩn nấp trong thức thứ 8, nói trong luận Chúng sự phần a tì đàm quyển 3. Đó là: 1. Tham dục: Đối với cảnh vừa ý sinh tâm ái nhiễm, đắm trước và vui thích. 2. Sân khuể: Đối với cảnh trái ý, sinh tâm tức giận.3. Sắc tham: Ưa thích tịnh pháp, tham đắm thiền vị ở cõi Sắc. 4. Vô sắc tham: Đối với các thiền định ở cõi Vô sắc nhưThức xứ... thì ưa thích, vừa ý và sinh tâm đắm trước. 5. Vô minh: Đối với sự lí các pháp không chút hiểu biết, chân tính bị ngăn che.6. Thân kiến: Đối với pháp 5 uẩn giả hợp, vọng chấp là thân. 7. Biên kiến: Đối với thân 5 uẩn giả hợp, vọng chấp có ngã, hoặc đoạn hoặc thường. 8. Tà kiến: Do vọng chấp đoạn, thường nên không tin nhân quả, cho rằng vô tác vô đắc, khởi kiến chấp phỉ báng. 9. Kiến thủ: Do kiến chấp này mà có năng lực đạt đến cõi trời Phi phi tưởng, cho rằng ngoài cõi trời này không có cõi trời nào khác, chấp hạ liệt làm thù thắng. 10. Giới thủ: Chấp tà giới là chính đạo, chẳng phải nhân chấp là nhân, như giữ các giới gà, chó cho là nhân thanh tịnh giải thoát. 11. Mạn: Kiêu mạn cống cao, trọng mình khinh người. 12. Nghi: Đối với chân lí không có khả năng hiểu rõ, nên sinh tâm do dự, không quyết đoán được đúng sai.
thập nhị tâm vô sắc giới
Twelve kinds of Immaterial-Sphere Consciousness—See Mười Hai Tâm Thiện Vô Sắc Giới.
thập nhị xảo phương tiện
(十二巧方便) Chỉ cho 12 thứ phương tiện khéo léo mà bậc Bồ tát Đại thừa ứng dụng được ghi trong kinh Bồ tát địa trì quyển 7. Đó là: A. Sáu phương tiện hưng khởi Phật pháp bên trong: 1. Bồ tát đem tâm từ bi đoái nghĩ đến tất cả chúng sinh, vì đoái nghĩ đến chúng sinh ở trong tâm nên gọi là hưng khởi Phật pháp bên trong. 2. Rõ biết một cách như thực tất cả các hạnh, tức tâm nhàm chán hữu vi. 3. Bồ tát cầu trí Vô thượng bồ đề. 4. Nhớ nghĩ chúng sinh, lìa bỏ sinh tử. 5. Rõ biết các hạnh đúng như thực, dùng tâm vô nhiễm đi lại trong sinh tử. 6. Bồ tát cầu trí tuệ Phật, tiến bước không lùi. Trong 6 thứ phương tiện hưng khởi bên trong trên đây thì 3 phương tiện trước là gốc, 3 phương tiện sau nương vào 3 phương tiện trước để hiển bày. B. Sáu phương tiện thành thục chúng sinh bên ngoài: 1. Tạo ít thiện căn mà được vô lượng quả, tức dùng chút ít tài vật bố thí để gieo hạt giống trong ruộng phúc, rồi hồi hướng thiện căn này để cầu công đức bồ đề; vì hồi hướng nên được vô lượng quả. 2. Dùng ít phương tiện mà hưng khởi vô lượng thiện căn, lại chia làm 2 cách: a. Dạy chúng sinh bỏ tà để quay về chính. b. Dạy chúng sinh bỏ Tiểu để hướng Đại.3. Khuyên chúng sinh hủy hoại Phật pháp hãy bỏ tính bạo ngược của họ, làm cho họ sinh tín tâm. 4. Khiến các chúng sinh ấy vào trong Phật pháp, giáo hóa làm cho họ tin hiểu. 5. Đối với các chúng sinh đã vào Phật pháp, dạy họ tu hành để thành tựu. 6. Đối với các chúng sinh căn cơ đã thành thục thì giáo hóa cho họ được quả giải thoát. (xt. PhươngTiện).
thập nhị xứ
Dvādaśa-ayatana (S), Twelve bases Là sáu căn và sáu trần.
; See Thập Nhị Nhập.
; (十二處) Cũng gọi Thập nhị nhập, Thập nhị nhập xứ. Chỉ cho 12 pháp nuôi lớn tâm và tâm sở. Xứ (Phạm: Àyatana) nghĩa là nuôi nấng, sinh trưởng. Thập nhị xứ gồm: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý, cộng với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu xứ trước là 6 căn, tức các cơ quan cảm giác thuộc về chủ quan, là chỗ nương tựa của tâm, tâm sở, được gọi là Lục nội xứ(6 chỗ bên trong); sáu xứ sau là 6 cảnh, tức các đối tượng của nhận thức thuộc về khách quan, là chỗ mà tâm, tâm sở duyên theo, được gọi là Lục ngoại xứ(6 chỗ bên ngoài). Thập nhị xứ này thu nhiếp hết tất cả các pháp, nếu phối hợp với 5 uẩn, thì 10 sắc xứ: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc tương đương với Sắc uẩn; Ý xứ chính là Thức uẩn, bao gồm 6 thức và 7 tâm giới của Ý giới; Pháp xứ là 3 uẩn Thụ, Tưởng, Hành, gồm thu 64 pháp là 46 tâm sở, 14 bất tương ứng hành, vô biểu sắc và 3 vô vi. [X. kinh Tạp a hàm Q.13; luận Đại tì bà sa Q.71].
Thập nhị xứ 十二處
[ja] ジュウニショ jūnisho ||| (1) The twelve loci (the six sense organs 六根 and their objects 六境). (2) In Consciousness-only 唯識 theory, the one hundred elements are divided up according to an arrangement that counts each of the sense organs and each one of their objects as one of these 'loci', making ten. To this, the mind locus and 'dharma locus' are added, totaling twelve. => Có hai nghĩa: 1. Mười hai địa điểm(sáu căn và sáu trần). 2. Theo giáo lý Duy thức, một trăm pháp được chia theo sự sắp xếp tương ứng với 5 giác quan(căn), 5 cảnh (đối tượng của các giác quan), lập thành 10 . Thêm vào đó, là tâm và pháp, tổng cộng là 12.
thập nhị ác luật nghi
(十二惡律儀) Cũng gọi Thập nhị chủng ác giới. Chỉ cho 12 ác luật nghi. Đó là: 1. Giết dê ăn thịt, hoặc bán kiếm lời để sinh nhai. 2. Nuôi gà để ăn thịt. 3. Nuôi lợn(heo) để ăn thịt, hoặc để bán kiếm lời. 4. Giăng lưới bắt chim để ăn thịt, hoặc để bán. 5. Thả lưới bắt cá để ăn, hoặc đem bán. 6. Làm bẫy, dương rập bắt các muông thú để ăn thịt, hoặc đem bán. 7. Trộm cướp tài vật của người, khiến họ nghèo khổ. 8. Đao phủ, vì việc quan mà hành hình, quen nghiệp chém giết, tàn hại đồng loại. 9. Giữ ngục: Làm người cai ngục, dùng các khổ cụ như gông cùm xiềng xích tra tấn tội nhân, không có chút tâm từ thiện. 10. Chú long: Học các chú thuật tà pháp, chú nguyện vào rồng, rắn để vui chơi. 11. Giết chó: Giết chó ăn thịt, hoặc đem bán kiếm lời. 12. Chủ phường săn: Cầm đầu nhóm người săn bắn muông thú làm kế mưu sinh, tích chứa tội ác. [X. luận A tì đạt ma ma đại tì bà sa Q.107; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.15].
thập nhị đăng
(十二燈) Chỉ cho 12 ngọn đèn cúng dường 12 vị thần tướng Dược sư, là 1 trong những vật cúng dường của pháp Cứu bệnh nhân trong Lục thiên chuyển đà la ni quĩ. [X. kinh Đà la ni tập].
thập nhị đại nguyện y vương thiện thệ
(十二大願醫王善逝) Tức là Dược sư Như lai. Dược sư cũng gọi là Y vương, Thiện thệ, 1 trong 10 hiệu của chư Phật, cũng như nói Như lai. Dược sư Như lai phát 12 đại nguyện chữa trị căn bệnh vô minh của chúng sinh đã lâu ngày và rất khó chữa, giống như vị vua trong các thầy thuốc, cho nên gọi là Thập nhị đại nguyện y vương thiện thệ.
thập nhị đại thừa kinh
Xem thập nhị bộ kinh. Thập nhị địa. To the thập địa add đẳng giác and diệu giác.
; Anga or Tripitaka (skt)—Mười hai bộ kinh Đại Thừa gồm nhiều thể loại khác nhau—The twelve divisions of Mahayana canon—The twelve kinds of Buddhist scriptures distinguished according to different styles of exposition: (A) Arranged in Pali Scriptures—Sắp xếp trong Kinh Tạng Pali. 1) Tu-Đa-La (Khế Kinh): Sutra (skt)—Kinh Trường hàng là những bài pháp dài, ngắn hay trung bình do Đức Phật thuyết giảng trong nhiều trường hợp như kinh Hạnh Phúc, Kinh Trân Bảo, kinh Từ Tâm, vân vân—The Buddha's exposition of the Dharma in prose. These are short, medium, and long discourses expounded by the Buddha on various occasions, such as the Discourse on Blessings (Mangala Sutta), The Jewel Discourse (Ratana Sutta), Discourse on Goodwill (Metta Sutta), etc. 2) Kỳ Dạ (dịch theo mới là Ứng Tụng—dịch theo cũ là Trùng Tụng): Geya (skt)—Kệ trùng tụng, có nghĩa là lặp lại kinh văn giảng thuyết ở đoạn trên (xưa Đức Phật vì muốn lợi lạc chúng sanh nên sau khi thuyết giảng cho các Tỳ Kheo ngài đã đặt tụng giải thích cho người đời sau), như Kinh Tương Ưng Bộ—Singing—songs, or verses which repeat the ideas already expressed in the preceding prose, in honour of the saints, such as the Sagathavagga of the Samyutta Nikaya. 3) Già Đà (Phúng tụng—Cô khởi tụng hay những bài kệ chưa có trong bài thuyết giảng. Già Đà gồm những bài kệ trong Kinh Pháp Cú, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, vân vân: Gatha (skt)—Verses containing ideas not expressed in prose. Gatha includes verses found in the The Way of Truth (Dhammapada), Psalms of the Brethren (Theragatha), and Psalms of the Sisters (Therigatha), etc. 4) Ni Đà Na: Nidana (skt)—Thuyết giảng nhơn duyên—Narratives of the past which explain a person's present state. 5) Y Đế Mục Đa Già: Itivrttaka (skt)—Itivuttaka (p)—Nói về tiền thân của các vị đệ tử của Phật. Itivuttaka gồm 112 bài thuyết pháp của Đức Phật nằm trong bộ Tạp A Hàm—Narratives of past lives of the Buddha's disciples. Itivuttaka includes 112 discourses in the Khuddaka Nikaya. 6) Xà Đa Già (Bổn Sanh): Jataka (skt)—Bổ Sanh Kinh, gồm 547 chuyện kể về tiền thân Đức Phật—Jataka includes 547 birth-stories or narratives of past lives of the Buddha. 7) A-Phù-Đạt-Ma (Vị Tằng Hữu): Adbhuta-dharma (skt)—Vị Tằng Hữu, thuyết về những pháp vi diệu mà Phật hay chư Thiên đã từng thực hành. Kinh Vị Tằng Hữu gồm những bài kinh trong Kinh Trung A Hàm—Accounts of miracle or wonderful dharmas performed by the Buddha or a deva. The Adbhutadharma includes a portion of the Majjhima Nikaya. 8) A-Ba-Đà-Na (Thí Dụ): Avadana (skt)—Kinh Thí Dụ—An exposition of the Dharma through allegories. 9) Ưu-Ba-Đề-Xá: Upadesa (skt)—Kinh Luận Nghị, thuyết về lý luận—Discussions of doctrine. 10) Ưu Đà Na (Tự Thuyết): Udana (skt)—Kinh Vô Vấn Tự Thuyết, hay kinh mà Đức Phật tự thuyết vì thấy nhu cầu cần thiết của chúng sanh, chứ không cần đợi ai hỏi, như Kinh A Di Đà, và một phần của Tạp A Hàm—Sutra which spoken voluntarily without being asked. An exposition of the Dharma by the Buddha without awaiting questions or requests from his disciples, i.e. Amitabha Sutra, and a portion of the Khuddaka Nikaya. 11) Tỳ Phật Lược (Phương Quảng): Vaipulya (skt)—Phương Quảng—An extensive exposition of principles of truth. 12) Hòa Ca La (Thọ Ký): Vyakarana (skt)—Veyyakarana (p)—Kinh Thọ Ký, Phật nói về tương lai thành Phật của những vị đệ tử của Ngài—Prophecies by the Buddha regarding his disciples' attainment of Buddhahood. (B) Sắp xếp trong Kinh Tạng Trung Hoa—Arranged in Chinese Scriptures. 1) Chánh Kinh: Principal Sermons. 2) Ca Vịnh: Metrical Pieces. 3) Ký Thuyết: Prophecies. 4) Kệ Tha: Verses. 5) Nhơn Duyên: Introductory Parts. 6) Tuyển Lục: Selections—Quotations. 7) Bổn Khởi: Story of the Past. 8) Thử Thuyết: This is said. 9) Sanh Khởi: Birth Places. 10) Quảng Giải: Detailed Explanations. 11) Vị Tằng Hữu: Wonderful Dharmas. 12) Thuyết Nghĩa: Explanation of Meaning.
thập nhị đầu đà hạnh
(十二頭陀行) Cũng gọi Thập nhị thệ hạnh, Thập nhị đỗ đa công đức, Đầu đà thập nhị pháp hạnh. Chỉ cho 12 Phạm hạnh tu sửa thân tâm, trừ sạch phiền não trần cấu. Đó là: 1. Ở nơi vắng vẻ yên tĩnh(A lan nhã), cách xa xóm làng đông đúc, ồn ào. 2. Thường đi xin ăn, được thức ăn không sinh ý niệm ngon hay dở. 3. Theo thứ tự xin ăn, không lựa chọn nhà giàu nghèo. 4. Chỉ ăn ngày một bữa để tránh trở ngại việc nhất tâm tu đạo. 5. Trong bữa ăn phải tiết chế lượng thức ăn, nếu ăn nhiều thì bụng đầy khí, chướng ngại đạo nghiệp. 6. Sau giờ ngọ không được uống nước trái cây, nếu uống thì tâm sẽ sinh đắm trước, không thể nhất tâm tu tập các thiện pháp. 7. Mặc áo vá, nếu ham áo mới tốt đẹp thì có hại cho việc tiến tu đạo hạnh. 8. Chỉ giữ 3 áo, không hơn không kém. 9. Ở nơi gò mả, thường thấy xác chết rữa nát, hôi thối, bị chim mổ ăn, hoặc bị thiêu đốt, tử khí bốc lên, nhân đó tu quán vô thường, khổ không để xa lìa 3 cõi. 10. Nghỉ dưới gốc cây, noi theo hạnh Phật, ngồi nơi gốc cây tư duy cầu đạo. 11. Ngồi nơi đất trống, khiến tâm sáng suốt bén nhạy để vào Không định. 12. Chỉ ngồi không nằm, nếu nằm thoải mái thì bọn giặc phiền não nắm được cơ hội thuận tiện để phá hoại công đức tu hành. Về hạnh đầu đà cũng có thuyết 13 hạnh, 16 hạnh... Người tu 12 hạnh đầu đà gọi là Thập nhị pháp nhân. [X. kinh Thập nhị đầu đà; phẩm Lưỡng thông trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.14; luận Du già sư địa Q.25].
Thập nhị đầu đà kinh 十 二 頭 陀 經
[ja] ジュウニドウタキョウ Jūnidōtakyō ||| The Sutra on the Twelve Disciplines. One fascicle, translated into Chinese by Gunabhadra 求那跋陀羅. T 783.17.720-722 => Kinh, 1 quyển. Cầu na bạt đa la 求那跋陀羅 s: Gunabhadra dịch sang chữ Hán.
Thập nhị đầu-đà 十二頭陀
[ja] ジュウニドウタ Jūnidōta ||| Twelve disciplines of restraint concerning food, clothing and shelter. See . => Mười hai điều luật tiết chế sử dụng thực phẩm, áo quần, chỗ ở. Xem Đầu-đà頭陀.
thập nhị địa
Gồm: - Hoan hỉ địa - Ly cấu địa - Phát quang địa - Diệm tuế địa - Nam thắng địa - Hiện tiền địa - Viễn hành địa - Bất động địa - Thiện tuệ địa - Pháp vân địa - Đẳng giác địa - Diệu giác địa.
; (十二地) Chỉ 12 giai vị từ Thập địa đến Đẳng giác và Diệu giác trong quá trình tu hành của Bồ tát. Đại nhật kinh sớ quyển 10 (Đại 39, 689 trung) nói: Một năm do 12 tháng mà thành, lại trở về bản tế mà được bản nguyên, cũng thế, 12 địa của Bồ tát, tức Thập trụ, Đẳng giác và Diệu giác, giống như 12 tháng. (xt. Bồ Tát Giai Vị).
thập niệm
The ten repetitions of an invocation, e.g. Namo Amitàbha.
; The ten repetitions of an invocation (Namo Amitabha).
; (十念) I. Thập Niệm. Cũng gọi Thập tùy niệm. Chỉ cho 10 pháp cần phải nhớ nghĩ ghi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 1, đó là: Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên, niệm hưu tức(tức ngăn dứt các tư tưởng động loạn của tâm ý), niệm an ban(đếm hơi thở), niệm thân vô thường và niệm tử (nghĩ đến sự chết). II. Thập Niệm. Chỉ cho 10 niệm xưng danh. Nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng có câu (Đại 12, 268 thượng): Dù chỉ 10 niệm, kinh Quán vô lượng thọ cũng nói (Đại 12, 346 thượng): Đầy đủ 10 niệm xưng Nam mô A di đà Phật, tức 2 kinh đều nói 10 niệm niệm Phật liền được sinh về cõi Tịnh độ của Phật A di đà. Đây là căn cứ quan trọng về giáo nghĩa của tông Tịnh độ. Về sự giải thích Thập niệm, các Luận sư cócácthuyết khác nhau. Cứ theo Vãng sinh luận chú quyển thượng của ngài Đàm loan thì 10 niệm nói trong Quán kinh (kinh Quán vô lượng thọ) là nhớ nghĩ tổng tướng và biệt tướng của đức Phật A di đà; lại khi xưng niệm danh hiệu Ngài, không xen lẫn tư tưởng khác, chỉ chuyên tâm trì niệm liên tục, thì có thể nhờ đó mà hoàn thành nhân vãng sinh, vì thế nên có thuyết Không cần phải đủ 10 niệm. Ngài Thiện đạo giải thích 10 niệm là 10 tiếng xưng danh, Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập của ngài Nguyên không, người Nhật, thừa kế thuyết này, cho rằng các vị Luận sư y cứ vào Thập niệm trong kinh Quán vô lượng thọ mà chủ trương phải đủ số 10 niệm mới có thể vãng sinh, đây là thuyết Thập niệm vãng sinh. Nhưng 10 niệm của ngài Thiện đạo là chỉ cho việc xưng danh hiệu Phật trong 1 đời cho đến xưng danh chỉ 1 tiếng cũng đều được vãng sinh, vì thế mới lập thuyết Niệm Phật vãng sinh. Lại niệm và thanh giống nhau, cho nên 10 niệm, 1 niệm cũng gọi là Thập thanh, nhất thanh. Các Luận sư khác đối với Thập niệm cũng có nhiều thuyết, như trong Vô lượng thọ kinh tông yếu của ngài Nguyên hiểu có các từ ngữ Hiển liễu thập niệm(10 niệm rõ ràng), Ẩn mật thập niệm(10 niệm kín đáo) và cho rằng 10 niệm trong Quán kinh là hiển liễu, 10 niệm như Từ... là ẩn mật; còn 10 niệm trong nguyện thứ 18 của kinh Vô lượng thọ thì vừa hiển liễu vừa ẩn mật. Ngài Nghĩa tịch cho rằng mỗi lần xưng niệm 6 chữ Nam mô A di đà Phật, gọi là 1 niệm; Thần triêu thập niệm pháp của ngài Tuân thức đời Tống có nói về thuyết 10 niệm hơi thở như sau (Đại 47, 210 trung): Người tu tịnh nghiệp hằng ngày vào buổi sáng sớm sau khi phục sức chỉnh tề, đứng chắp tay xoay mặt về hướng tây, niệm liên tiếp A di đà Phật, hết một hơi là một niệm, cứ như thế 10 hơi gọi là 10 niệm, nhưng tùy theo hơi dài ngắn, chứ không giới hạn ở số câu niệm Phật. Còn Bí tạng kí của ngài Không hải thì giải thích nghĩa Thập niệm là Thập ba la mật. III. Thập Niệm. Chỉ cho việc nhớ nghĩ 10 pháp Từ, Bi, Hộ pháp... để được vãng sinh Tịnh độ nói trong kinh Di lặc sở vấn. Kinh Đại bảo tích quyển 92 cũng có thuyết này và gọi là Niệm Phật thập chủng tâm. IV. Thập Niệm. Chỉ cho 10 niệm mà Bồ tát phải nhớ nghĩ được ghi trong kinh Bồ tát thụ trai, đó là: Niệm Phật quá khứ, niệm Phật vị lai, niệm Phật hiện tại ở tất cả 10 phương, niệm Thi la ba la mật(giới), niệm Thiền ba la mật, niệm Âu hòa câu xá la (phương tiện), niệm Bát nhã ba la mật, niệm Thiền tam muội lục vạn Bồ tát ở trụ xứ của Phật A di đà và niệm Hòa thượng A xà lê ở quá khứ, đương lai và hiện tại. Mười niệm này của Bồ tát là để đối lại với 10 niệm của pháp Thanh văn Tiểu thừa đã nói ở trên.
thập niệm huyết mạch
(十念血脉) Chỉ cho việc truyền trao pháp Thập niệm giữa thầy và trò. (xt. Huyết Mạch). Do mười niệm nối tiếp nhau không gián đoạn mà thành tựu sự nghiệp vãng sinh.Vãng sinh luận chú quyển thượng của ngài Đàm loan (Đại 40, 834 hạ) ghi: Kinh nói 10 niệm là nêu rõ sự nghiệp đã thành tựu, chứ không cần tính số. Đây là ngài Đàm loan giải thích 10 niệm nói trong kinh Quán vô lượng thọ thành nghĩa nhớ nghĩ, cho rằng tâm tương tục niệm Phật A di đà đến số 10 là đủ 10 niệm, nhưng 10 niệm ở đây là nêu rõ ý sự nghiệp đã thành tựu, nếu hành giả không duyên theo việc khác mà chỉ chuyên tâm niệm Phật liên tục, thì dù có đầy đủ 10 niệm hay không đều có thể thành tựu sự nghiệp. Ngoài ra, ngài Thiện đạo giải thích 10 niệm là 10 tiếng xưng niệm danh hiệu Phật, đồng thời cho rằng xưng niệm trọn đời hoặc từ 10 tiếng cho đến 1 tiếng, đều được vãng sinh. Ngài Nguyên không y cứ vào thuyết này, chủ trương bất luận niệm Phật nhiều hay ít, 1 niệm, 10 niệm đều được vãng sinh. Về sau này phát sinh sự tranh luận về 1 niệm thành tựu, hay nhiều niệm thành tựu sự nghiệp vãng sinh. (xt. Thập Niệm, Nghiệp Sự Thành Tựu).
thập niệm ký số
Ten Recitation in One Breath—Thập là mười, niệm là hơi thở, ký số là đếm số. Đây là phương pháp của ngài Từ Vân, tổ thứ ba của Trung Quốc Tịnh Độ Liên Tông. Chính yếu của phương pháp nầy là trong một hơi thở, hành giả phải xưng đủ mười câu Phật hiệu. Trước hết hít một hơi thở vào, ngưng lại, niệm đủ số mười câu Phật hiệu, . Kế đến thở ra hít vào một hơi khác, rồi tiếp tục niệm y như trước. Nếu người hơi ngắn thì có thể chia làm hai phần, mỗi hơi chỉ niệm năm câu Phật hiệu thôi. Phương pháp nầy có nhiều điểm lợi, trong khi miệng niệm Phật thì tai nghe tiếng và tâm trí ghi nhớ số. Như thế dù không chuyên tâm cũng phải chuyên, vì nếu không thì số mục mà mình đang đếm sẽ bị sai lạc. Đây là một trong những phương pháp rất tốt cho những ai có tâm tán loạn. Nên nhớ, khi xưng niệm danh hiệu Phật, chẳng nên nghĩ gì khác, cũng chẳng nên nghi hoặc. Nếu chí tâm thành ý niệm như thế, thì mỗi câu niệm Phật mới đủ sức diệt được tội nặng trong 80 ức kiếp sanh tử. Nếu chẳng như vậy thì sức diệt tội sanh phước sẽ giảm đi và nghiệp chướng cũng khó mau dứt trừ—The “Ten Recitation in One Breath” method was taught by the great Venerable Tsu-Yun, the Third Patriarch of the Thirteen Patriarchs of Chinese Pureland Buddhism. Essentially, this method requires the practitioner to recite the Buddha's name ten times per breath. First, inhale, hold breath, and begin reciting 'Namo Amitabha Buddha' ten times. Next, exhale, then inhale and repeat the process as done previously. If a practitioner is short of breath, it is acceptable to divide the segment of ten recitations into two; with each breath, recite Amitabha Buddha's name five times. There are many advantages to practicing this method: speech reciting the Buddha's name, ears listening, and mind counting the number of recitations. Thus, if able to concentrate, it will lead the practitioner to focus the mind because if not not focused, the count will be lost. Therefore, the ultimate goal of this method is to force the Pureland cultivator into achieving 'singlemindedness' while engaging in Buddha Recitation. This is one of the best methods for those who are easily distracted or have a wandering mind. It is important to remember while reciting the Buddha's name, try not to think of anything else, and not to be doubtful or skeptical. If the practitioner is able to maintain a sincere and truthful mind in this way, then each recitation will eliminate many karmic offenses in eight million past reincarnations. If not practiced this way, the power to eliminate karmic offenses as well as gaining merits will not be as great. Thus, it will be difficult to eliminate many of one's karmic offenses.
thập niệm thành tựu
See Thập niệm Vãng Sanh.
thập niệm vãng sanh
These ten invocations will carry a dying man with an evil karma into the Pure Land.
thập niệm vãng sinh
These ten invocations will carry a dying man with an evil karma into the Pure-land.
; (十念往生) Chỉ cho 10 niệm được vãng sinh. Tức người phạm tội ngũ nghịch, lúc hấp hối, nhờ sự chỉ bảo của thiện tri thức mà xưng niệm 10 tiếng Nam mô A di đà Phật, liền được vãng sinh Cực lạc. Thuyết này có xuất xứ từ Hạ hạ phẩm trong kinh Quán vô lượng thọ và từ nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ Q.thượng. (xt. Thập Niệm, Niệm Phật Vãng Sinh Nguyện).
thập niệm xưù
The ten repetition of an invocation (Namo Amitabha)—These ten invocations will carry a dying man with an evil karma into the Pure Land—A Bodhisattva's ten objects of thought or meditation (body, senses, mind, things, environment, monastery, city or district, good name, Buddha-learning, riddance of all passion and delusion): 1) Niệm thân: Thought of the impure body. 2) Niệm thọ: Thought of sufferings caused by senses. 3) Niệm tâm: Thought of impermanent mind. 4) Niệm pháp: Thought of non-self things. 5) Niệm cảnh giới: Thought of non-stop changeable environment. 6) Niệm nơi tu hành vắng vẻ: Thought of cultivating in a monastery—Thought of tranquility. 7) Niệm đô ấp: Thought of cultivating wherever opportunity arises, even in a noisy city or district. 8) Niệm hồng danh chư Phật: Thought of names of all Buddhas. 9) Niệm học pháp Như Lai: Thought of learning Buddha Dharma. 10) Niệm đoạn chư phiền não: Thought of riddance of all passion and delusion.
thập niệm xứ
A bodhisattva's ten objects of thought or meditation, i.e. body, the senses, mind, things, environment, monastery, city, good name, Buddha-learning, riddance of all passion and delusion.
; (十念處) Cũng gọi Thập chủng niệm xứ. Chỉ cho 10 pháp tu tập của Bồ tát. Đó là: 1. Thân niệm xứ: Quán xét thân là bất tịnh, diệt trừ tất cả các pháp bất thiện từ trong thân khởi lên. 2. Thụ niệm xứ: Quán xét các thụ (cảm nhận) là khổ, đối với các thụ ấy không sinh ái nhiễm, không khởi sân khuể. 3. Tâm niệm xứ: Quán xét tâm thường chấp trước các tướng điên đảo để điều phục tâm.4. Pháp niệm xứ: Như thực quán xét sự tai hại của các pháp bất thiện để đoạn trừ.5. Cảnh giới niệm xứ: Quán xét các cảnh giới vừa ý, trái ý đều chẳng phải có thật, không sinh tâm tham đắm, chẳng khởi tức giận. 6. A lan nhã niệm xứ: Đúng như lí pháp mà tu hạnh vô tránh và hạnh tịch tĩnh.7. Đô ấp tụ lạc niệm xứ: Khi vào thành ấp, làng xóm, theo hạnh Bồ tát xa lìa những nơi vui chơi ồn ào. 8. Danh văn lợi dưỡng niệm xứ: Chỉ nhằm làm phúc điền cho thí chủ mà nhận những việc có tiếng tăm, có lợi dưỡng, nhưng không tham đắm, không chấp trước, mà cùng với tất cả hữu tình chung lo giúp đỡ, nuôi dưỡng những người khổ não. 9. Như lai học vấn niệm xứ: Đối với sự nghiệp học vấn thành Chính giác của tất cả Như lai, sinh tâm thanh tịnh tinh tiến dũng mãnh tu học. 10. Đoạnchưphiền não niệm xứ: Rõ biết tất cả nguyên do sinh ra các phiền não, tạp nhiễm... mà xa lìa chúng. [X. kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn Q.13; Đại minh tam tạng pháp số Q.39].
thập não loạn
The ten disturbers of the religious life: (1) hào thế, a domineering (spirit); (2) tà nhân pháp, heretical ways; (3) hung hí, dangerous amusements; (4) chiên đà la, a butcher's or any low occupation; (5) nhị thừa, asceticism (or selfish hìnayàna salvation); (6) bất nam, the condition of an eunuque; (7) dục tưởng, lust; (8) nguy hại, endangering (the character by improper intimacy; (9) cơ hiềm, contempt; (10) súc dưỡng, breeding animals.
; Mười phiền não hay nhiễu loạn trong cuộc sống tu hành—The ten disturbers of the religious life: 1) Hào thế: Thế lực—Domineering spirit. 2) Tà nhơn pháp: Ngoại đạo pháp—Heretical ways. 3) Hung hý: Đùa giỡn hung ác—Dangerous amusements. 4) Chiên đà la: Chuyên nghề làm thịt—A butcher's or other low occupations. 5) Nhị thừa: Asceticism or selfish Hinayana salvation. 6) Bất nam: The condition of an eunuch. 7) Dục tưởng: Tư tưởng dâm dục—Lust. 8) Nguy hại: Một mình xông vô nhà người—Endangering the character by improper intimacy. 9) Cơ hiềm: Chê bai việc làm của người—Contempt. 10) Súc dưỡng: Nuôi súc vật—Breeding animals for slaughter.
; (十惱亂) Chỉ cho 10 thứ não loạn mà người tu hành an lạc nên xa lánh, đó là: 1. Hào thế: Chỉ cho hàng quốc vương, vương tử. 2. Tà nhân pháp: Tức pháp của ngoại đạo.3. Hung hí: Tức trò chơi đùa hung ác. 4. Chiên đà la: hạng người làm nghề đồ tể. 5. Nhị thừa: Tức những người tu hành không hồi tâm hướng Đại thừa mà vào Niết bàn. 6. Bất nam: Tức người có nam căn không hoàn toàn. 7. Dục tưởng: Tức tình ý dâm dục. 8. Nguy hại: Tức một mình đi vào nhà người khác. 9. Cơ hiềm: Tức những việc làm bị người đời chêcười. 10. Súc dưỡng: Nuôi dưỡng, cất giữ 8 thứ bất tịnh, như nuôi chó, mèo... [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, phần 2].
Thập phiền não 十煩惱
[ja] ジュウボンノウ jūbonnō ||| See 十種煩惱. => Xem Thập chủng phiền não
thập pháp
The ten thành tựu perfect or perfecting Mahàyàna rules; i.e. in (1) right belief; (2) conduct; (3) spirit; (4) the joy of the bodhi mind; (5) joy in the dharma; (6) joy in meditation in it; (7) pursuing the correct dharma; (8) obedience to, or accordance with it; (9) departing from pride, etc.; (10) comprehending the inner teaching of Buddha and taking no pleasure in that of the sravaka and pratyekabuddha order.
; The ten perfecting Mahayana rules: 1) Chánh tín: Right belief. 2) Thiện hạnh: Good conduct. 3) Tỉnh giác: Alertness—Spirit. 4) Vui sướng phát tâm bồ đề: The joy of the bodhi mind. 5) Vui sướng hành trì Phật pháp: Joy in Dharma. 6) Vui trong thiền định: Joy in meditation. 7) Hành trì chánh pháp: Pursuing the correct dharma. 8) Tuân giữ giới luật Phật: Obedience precepts. 9) Dứt bỏ cống cao ngã mạn: Departing from pride. 10) Hiểu sâu Phật pháp: Comprehending the inner of Buddha teaching.
; (十法) Chỉ cho 10 pháp mà Bồ tát thành tựu được nói trong kinh Đại thừa thập pháp. Đó là: 1. Thành tựu chính tín. 2. Thành tựu hạnh thanh tịnh. 3. Thành tựu tính chân thực. 4. Ưa thích tâm bồ đề. 5. Ưa chính pháp. 6. Ưa thích quán xét chính pháp. 7. Tu hành chính pháp và thuận theo chính pháp. 8. Xa lìa thói kiêu căng, ngã mạn. 9. Khéo thông suốt những lời nói kín đáo, sâu xa. 10. Không chuộng pháp Thanh văn và Duyên giác.
thập pháp cú của chư bồ tát trong kinh hoa nghiêm
Ten indications used by Bodhisattvas in the Flower Adornment Sutra: 1) Diễn thuyết pháp cú thị hiện đồng trong pháp giới tất cả Phật sát vi trần, chư Phật thứ đệ xuất thế, các cõi thứ đệ thành hoại: Indication of the succession of all Buddhas and the succession of lands in the atoms of the Buddha-lands throughout all universes. 2) Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong hư không pháp giới tất cả các cõi Phật, tận vị lai kiếp, âm thanh tán thán công đức của Như Lai: Indication of the seeking and following of virtues of the Buddhas in all Buddha-lands in space throughout the future. 3) Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong hư không giới tất cả cõi Phật, Như Lai xuất thế vô lượng vô biên thành Chánh Giác Môn: Indication of Buddhas emerging in all Buddha-lands and showing the ocean of infinitely various doors of enlightenment. 4) Diễn thuyết pháp cú có thể thị hiện đồng trong hư không giới tất cả cõi Phật, Đức Như Lai ngồi đạo tràng giữa chúng hội Bồ Tát: Indication of the hosts of enlightening beings in the circles of the Buddhas in the Buddha-lands throughout space facing the terrace of enlightenment. 5) Diễn thuyết pháp cú nơi tất cả các lỗ lông niệm niệm xuất hiện đồng tam thế thân biến hóa của tất cả chư Phật khắp pháp giới: Indication of pervading the cosmos in a moment of thought with emanations in the forms of the Buddhas of past, present and future, emitted in every pore. 6) Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho một thân đầy khắp mười phương tất cả sát hải bình đẳng hiển hiện: Indication of the light of magical pervasion of all multitudes of lands in all the oceans in all directions equally with one body. 7) Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho trong tất cả những cảnh giới hiện khắp tam thế chư Phật thần biến: Indication of revelation of the power of concentration of all pasts, presents and futures of the transfigurations of the state of Buddhahood in the surface of all objects. 8) Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho trong tất cả Phật sát vi trần hiện khắp tam thế tất cả Phật sát vi trần số Phật, những thần biến trải qua vô lượng kiếp: Indication of manifestation of the oceans of eons of various successive transfigurations of Buddha in the lands of past, present and future, equal to the atoms of all the lands. 9) Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho tất cả lỗ lông xuất sanh âm thanh đại nguyện hải của tất cả tam thế chư Phật, tận vị lai kiếp, khai phát hóa đạo tất cả Bồ Tát: Indication of the birth of Enlightening Beings from the endless power emanating from every pore by the ocean of vows of all Buddhas of past, present, and future. 10) Diễn thuyết pháp cú có thể làm cho tòa sư tử của Phật lượng đồng pháp giới, chúng hội Bồ Tát, đạo tràng trang nghiêm, tận vị lai kiếp chuyển những pháp luân vi diệu: Indication of endless manifestation of varied expositions of truth amid equal adornments of sites of enlightenment with circles of Enlightening Beings around lion thrones equal in extent to the cosmos.
Thập Pháp Giới
(十法界, Mười Pháp Giới): hay còn gọi là Thập Giới (十界), là 10 cảnh giới bao gồm hết thảy những hang mê muội cũng như đã giác ngộ, gồm có: (1) Địa Ngục (地獄), - (2) Ngạ Quỷ (餓鬼), (3) Súc Sanh (畜生), - (4) Tu La (修羅), (5) Nhân Gian (人間, cõi người), - (6) Thiên Thượng (天上, trên trời), (7) Thanh Văn (聲聞), - (8) Duyên Giác (緣覺), (9) Bồ Tát (菩薩) - (10) Phật (佛).
thập pháp giới
The ten dharma-worlds, or states of existence, i.e. địa ngục the hells; ngạ quỉ, pretas; súc sinh,animals; a tu la, asuras; người, men; trời, devas; thanh văn, sravakas; duyên giác, pratyekabuddhas; bồ tát,bodhisattvas; Phật, Buddhas.
; Mười pháp giới—Ten Dharma Realms: 1) Phật Pháp Giới: Pháp giới của chư Phật—The Dharma Realm of Buddhas. 2) Bồ Tát Pháp Giới: Pháp giới của chư Bồ Tát—The Dharma Realm of Bodhisattvas. 3) Duyên Giác Pháp Giới: Pháp giới của chư Độc Giác Phật (Duyên Giác)—The Dharma Realm of the Conditionally Enlightened Ones. 4) Thanh Văn Pháp Giới: Pháp giới của chư Thanh Văn—The Dharma Realm of Sound Hearers. 5) Thiện Pháp Giới: Pháp giới của chư Thiên—The Dharma Realm of gods. 6) Nhân Pháp Giới: Pháp giới của con người—The Dharma Realm of humans. 7) A-Tu-La Pháp Giới: Pháp giới của loài A-tu-la—The Dharma Realm of Asuras. 8) Súc Sanh Pháp Giới: Pháp giới của loài súc sanh—The Dharma realm of animals. 9) Quỷ Pháp Giới: Pháp giới của loài ngạ quỷ—The Dharma Realm of hungry ghosts. 10) Địa Ngục Pháp Giới: Pháp giới của những chúng sanh địa ngục—The Dharma realm of hell-beings.
Thập pháp giới 十法界
[ja] ジュウホウカイ jū hōkai ||| Ten realms. In Tiantai these are the realms of hell denizens 地獄, hungry ghosts 餓鬼, animals 畜生, asuras 阿修羅, humans 人間, gods 天上, śrāvakas 聲聞, pratyekabuddhas 縁覺, bodhisattvas 菩薩, and buddhas 佛. Same as => Mười cõi giới. Theo tông Thiên thai, đó là: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và Phật. Đồng nghĩa Thập giới十界. .
thập pháp hạnh
Ten ways of devotion to the Buddhist sùtras: to copy them; serve the places where they are kept, as if serving the Buddha's shrine; preach or give them to others; listen attentively to their exposition; read; maintain; discourse on them to others; intone them; ponder over them; observe their lessons.
Thập pháp hạnh 十法行
[ja] ジュウホウギョウ jūhōgyō ||| The 'ten teaching practices.' Ten kinds of practices related to the scriptures (daśa-dharma-caritam). (1) The copying and preservation of the Great Vehicle teachings. (2) Performance of memorial services. (3) Bestowal of wisdom upon others. (4) Listening to explanations of the teachings by others. (5) To study and read with enthusiasm oneself. (6) to comprehend them. (7) To recite them. (8) To explain them for others. (9) To think them through for oneself. (10) To practice them. There are other sets which vary according to the text. For instance another set of ten can be found in the Shoulengyan sanmei jing in T vol. 15, p. 641b. => Mười hạnh tu tập đối với kinh điển (s: daśa-dharma-caritam): 1. Biên chép và giữ gìn kinh điển Đại thừa. 2. Cúng dường. 3. Ban tặng trí tuệ cho người khác. 4. Nghe giảng giải kinh luận . 5.Ham thích nghiên cứu và đọc tụng. 6. Thọ trì. 7. Khai diễn. 8. Giảng giải kinh luận cho người khác 9. Tự chiêm nghiệm. 10. Tu tập. Có nhiều bảng liệt kê 10 pháp hạnh khác nhau tuỳ theo từng kinh văn, như trong kinh Thủ Lăng Nghiêm tam muội首楞嚴三昧經.
thập pháp kiến niết bàn
(十法見涅槃) Cũng gọi Bồ tát tu thập pháp kiến Niết bàn. Chỉ cho 10 pháp nếu Bồ tát thành tựu thì thấy được Niết bàn vô tướng cho đến vô sở hữu. Đó là: 1. Tín tâm cụ túc: Tu hạnh Bồ tát phải phát khởi tâm chính tín viên thường, tin tất cả pháp đều là Phật pháp, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. 2. Tịnh giới cụ túc: Tu hạnh Bồ tát thân tâm phải thanh tịnh, thụ trì cấm giới, mong thành tựu quả bồ đề. 3. Thân cận thiện tri thức: Tu hạnh Bồ tát phải xa lìa các ác tà kiến, gần gũi thiện tri thức. 4. Nhạo ư tịch tĩnh: Tu hạnh Bồ tát nên tránh xa những nơi ồn ào, trụ nơi vắng lặng để tĩnh tâm cầu Phật đạo. 5. Tinh tiến: Tu hạnh Bồ tát nên nhất tâm dũng mãnh, an trụ trong chỉ quán, không lui sụt. 6. Niệm cụ túc: Tu hạnh Bồ tát tâm phải nhớ nghĩ Tam bảo, tư duy thực lí, không quên trì giới và bố thí. 7. Nhuyến ngữ: Tu hạnh Bồ tát phải giữ khẩu nghiệp thanh tịnh, nói những lời chân thực, dịu dàng, không giả dối, nịnh hót.8. Hộ pháp: Tu hạnh Bồ tát phải hoằng dương chính pháp, giảng nói diệu nghĩa, không để hạt giống Phật bị dứt mất. 9. Cung cấp đồng hành: Tu hạnh Bồ tát hễ người đồng sự bị thiếu thốn thì phải giúp đỡ khiến họ được an tâm, thành tựu đạo nghiệp, tránh cái nạn xuôi ngược tìm cầu.10. Cụ túc trí tuệ: Tu hạnh Bồ tát thường dùng trí diệu quán, quán xét tất cả pháp thảy đều rõ ràng, thông suốt vô ngại.
thập pháp thọ ký
Mười pháp thọ ký—According to the Buddha in The Flower Adornment Sutra (Chapter 38—Detachment From The World)—Great Enlightening Beings have ten ways of receiving prediction of Budhahood. (A) 1) Dùng thù thắng nguyện phát Bồ Đề tâm, tự biết thọ ký: Arousing the determination for enlightenment with extraordinary will. 2) Trọn chẳng nhàm bỏ hạnh Bồ Tát, tự biết thọ ký: Never giving up the practices of Enlightening Beings. 3) Tất cả kiếp, thực hành hạnh Bồ Tát, tự biết thọ ký: Continuing to carry out the practices of Enlightening Beings in all ages. 4) Tu tập tất cả Phật pháp, tự biết thọ ký: Practicing all Buddha teachings. 5) Nơi tất cả Phật giáo, một bề thâm tín: Having complete faith in the guidance of all Buddhas. 6) Tu tất cả thiện căn đều khiến thành tựu, tự biết thọ ký: Cultivating all roots of goodness and bringing them to fulfillment. 7) Đặt tất cả chúng sanh nơi Phật Bồ Đề, tự biết thọ ký: Placing all sentient beings in the enlightenment of Buddhas. 8) Với tất cả thiện hữu tri thức hòa hiệp không hai, tự biết thọ ký: Harmonizing and unifying with all spiritual friends. 9) Nơi tất cả thiện tri thức tưởng là Phật, tự biết thọ ký: Thinking of all spiritual friends as Buddhas. 10) Hằng siêng thủ hộ bổn nguyện Bồ Đề, tự biết thọ ký: Perpetually preserving the fundamental aspiration for enlightenment with diligence. (B) 1) Nội trí giải thậm thâm: Having extremely profound inner understanding. 2) Tùy thuận phát khởi những thiện căn của Bồ Tát: Being able to develop the roots of goodness of enlightening beings as appropriate. 3) Tu quảng đại hạnh: Cultivating extensive great practices. 4) Hiện tiền: Open receiving of the prediction. 5) Chẳng hiện tiền: Occult receiving of the prediction. 6) Nhơn tự tâm chứng Bồ Đề: Realizing enlightenment by their own minds. 7) Thành tựu nhẫn: Accomplishing tolerance. 8) Giáo hóa điều phục chúng sanh: Teaching and taming sentient beings. 9) Rốt ráo tất cả kiếp số: Comprehending the number of all ages. 10) Tất cả Bồ Tát hạnh tự tại Mastery of all practices of Enlightening Beings.
thập pháp trụ
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33, có mười pháp trụ, để an trụ tất cả các pháp của chư Phật—According to The Flower Adornment Sutra, Chapter 33, there are ten kinds of abode, abiding therein in all things of all Buddhas. 1) Chư Phật trụ nơi giác ngộ tất cả pháp giới: All Buddhas abide in awareness of all realms of reality. 2) Chư Phật trụ nơi đại bi ngữ: All Buddhas abide in compassion speech. 3) Chư Phật trụ nơi bổn đại nguyện: All Buddhas abide in the fundamental great vow. 4) Chư Phật trụ nơi chẳng bỏ điều phục chúng sanh: All Buddhas abide in persistence in civilizing sentient beings. 5) Chư Phật trụ nơi pháp không tự tánh: All Buddhas abide in the principle of absence of selfhood. 6) Chư Phật trụ nơi bình đảng cứu độ chúng sanh: All Buddhas abide in impartial salvation. 7) Chư Phật trụ nơi pháp không quên mất: All Buddhas abide in recollection of truth. 8) Chư Phật trụ nơi tâm không chướng ngại: All Buddhas abide in the unobstructed minds. 9) Chư Phật trụ nơi tâm hằng chánh định: All Buddhas abide in the constantly rightly concentrated minds. 10) Chư Phật trụ vào khắp tất cả pháp chẳng trái tướng thực tế: All Buddhas abide in equal comprehension of all things without violating the character of ultimate reality.
thập pháp vô học
Asekha (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có mười Pháp Vô Học—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are ten qualities of the non-learner—See Mười Pháp Vô Học.
thập phát thú tâm
The ten directional decisions: (1) Xả tâm, renouncement of the world; (2) giới tâm, observance of the commandments; (3) nhẫn tâm, patience or endurance; (4) tiến tâm, zealous progress; (5) định tâm, meditation; (6) tuệ tâm, wisdom or understanding; (7) nguyện tâm, the will for good for oneself and others; (8) hộ tâm. protection (of Buddha, Dharma and Sangha); (9) hỉ tâm, joy; (10) đỉnh tâm, highest wisdom.
; The ten directional decisions: 1) Xả tâm: The mind of renouncement of the world. 2) Giới tâm: The mind of observance of the commandments. 3) Nhẫn nhục tâm: The mind of patience or endurance. 4) Tấn tâm: The mind of zealous progress. 5) Định tâm: The mind of meditation. 6) Huệ tâm: The mind of wisdom or perfect understanding. 7) Nguyện tâm: The mind of the will for good for oneself and others. 8) Hộ tâm: The mind of protection of the Triratna (Buddha, Dharma, Sangha). 9) Hỷ tâm: The mind of joy. 10) Đỉnh tâm: Highest wisdom.
; (十發趣心) Gọi tắt: Thập phát thú. Chỉ cho 10 thứ tâm mà hàng Bồ tát trước Thập địa phát khởi để hướng tới Đại thừa. Đó là: Xả tâm, Giới tâm, Nhẫn tâm, Tinh tiến tâm, Định tâm, Tuệ tâm, Nguyện tâm, Hộ tâm, Hỉ tâm và Đính tâm. Trong Phạm võng kinh hợp chú quyển 1, ngài Đạo phưởng phối hợp 10 tâm này với 10 Ba la mật. Còn trong Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 1 thì ngài Pháp tạng đem 10 tâm này phối hợp với Thập trụ nói trong kinh Anh lạc, cho rằng Thập trụ là giai vị đầu tiên của Tam hiền, cho nên gọi là Phát thú. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng Thập phát thú tức giống với phẩm Thập trụ của kinh Hoa nghiêm và thuyết Thập trụ trong kinh Bồ tát bản nghiệp. Nhưng hành tướng của Thập phát thú với hành tướng của Thập trụ trong kinh Hoa nghiêm và kinh Bồ tát bản nghiệp e rằng có khác nhau. Lại có thuyết cho rằng Thập phát thú và Thập kim cương đều là giai vị của Bồ tát. [X. kinh Phạm võng Q.thượng; Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng (Trí khải); Bồ tát giới bản thuật kí Q.1; Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ Q.2 (Trí chu)]. (xt. Ngũ Thập Nhị Vị).
thập phương
xem mười phương.
; Daśa-disah (S), Daśadiśa (S), Ten directions.
; The ten directions of space, i.e. the eight points of the compass tám phương của địa bàn and the nadir hạ phương the, zenith thượng phương. There is a Buddha for each direction.
; (十方) Phạm: Daza diza#. Pàli:Dasa disà. Tức chỉ cho 10 phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông nam, Tây nam, Đông bắc, Tây bắc, trên, dưới. Phật giáo chủ trương trong 10 phương có vô số thế giới và Tịnh độ, gọi là Thập phương thế giới, Thập phương pháp giới, Thập phương tịnh độ, Thập phương sát... Còn chư Phật và chúng sinh trong đó thì gọi là Thập phương chư Phật, Thập phương chúng sinh. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.4; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.4; phẩm Trừ nghiệp trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5].
thập phương hiện tại phật tất tại tiền lập định kinh
Xem Bát chu Tam muội kinh.
thập phương niệm phật
(十方念佛) Chỉ cho việc xướng niệm 10 danh hiệu Phật và Bồ tát trong 10 phương khi tu sám pháp A di đà. Tức xướng: Na mô Thập phương Phật, Na mô Thập phương pháp, Na mô Thập phương Tăng, Na mô Thích ca mâu ni Phật, Na mô Thế tự tại vương Phật, Na mô A di đà Phật, Na mô Quán thế âm bồ tát, Na mô Đại thế chí bồ tát, Na mô Văn thù sư lợi bồ tát, Na mô Phổ hiền bồ tát, Na mô Thanh tịnh đại hải chúng bồ tát. Trước khi xướng tụng, vị Đạo sư từ lễ bàn(sư tử sàng) đứng dậy, tay cầm lư hương và khay đựng hoa, một mình xướng câu đầu, chúng tăng mỗi vị cũng cầm khay hoa. Từ câu thứ 2 trở xuống chúng tăng cùng xướng, vái một vái rồi đi nhiễu, từ câu thứ 3 về sau, mỗi lần xướng đến chữ Na mô thì tán hoa.
thập phương phật độ
A Buddha-realm. Also đại thiên thế giới.
thập phương phổ hiện sắc thân
(十方普現色身) Thị hiện sắc thân khắp trong 10 phương. Tức Phật, Bồ tát vì giáo hóa lợi tha nên tùy ý nghiệp của chúng sinh trong 10 phương mà hiện vô lượng sắc thân, như 33 thân của bồ tát Diệu âm và bồ tát Quán âm.(xt. Phổ Hiện Sắc Thân).
thập phương sát
(十方刹) Cũng gọi Thập phương trụ trì sát, Thập phương tùng lâm. Chỉ cho chùa viện thuộc quyền chư tăng 10 phương. Tức các chùa viện Thiền tông, khi vị Trụ trì thị tịch thì thỉnh các bậc cao tăng danh đức từ các nơi khác đến trụ trì kế tiếp, chứ không cho đệ tử thừa kế.
thập phương thường trụ tăng vật, hiện tiền tăng vật
Xem tứ chủng tăng vật.
thập phương thế giới
The worlds in all directions.
thập phương tịnh độ
(十方淨土) Cũng gọi Thập phương Phật sát, Thập phương Phật độ, Thập phương Phật quốc, Thập phương diệu độ. Chỉ cho Tịnh độ của chư Phật trong 10 phương. Cứ theo kinh Bảo nguyệt đồng tử sở vấn được dẫn trong phẩm Dị hành của luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 thì ở phương Đông có thế giới Vô ưu, Phật hiệu là Thiện đức Như lai; phương Nam có thế giới Hoan hỉ, Phật hiệu là Chiên đàn đức; phương Tây có thế giới Thiện giải, Phật hiệu là Vô lượng minh; phương Bắc có thế giới Bất khả động, Phật hiệu là Tướng đức; phương Đông nam có thế giới Nguyệt minh, Phật hiệu là Vô ưu đức; phương Tây nam có thế giới Chúng tướng, Phật hiệu là Bảo thí; phương Tây bắc có thế giới Chúng âm, Phật hiệu là Hoa đức; phương Đông bắc có thế giới An ổn, Phật hiệu là Tam thừa hành; phương dưới có thế giới Quảng đại, Phật hiệu là Minh đức; phương trên có thế giới Chúng nguyệt, Phật hiệu là Quảng chúng đức. Kinh Diệt thập phương minh cũng nói ở phương Đông có Đẳng hành Như lai... cho đến thập phương thập Phật; kinh Xưng tán Tịnh độ Phật nhiếp thụ nói phương Đông có Phật A súc bệ, cho đến chư Phật ở 10 phương. Nhưng thuyết chư Phật 10 phương xuất hiện ở hiện tại chỉ thấy trong kinh điển Đại thừa, còn Tiểu thừa thì không tin có Tịnh độ ở 10 phương. Lại trong các Tịnh độ ở 10 phương, tông Tịnh độ đặc biệt chọn Cực lạc Tịnh độ ở phương Tây để xưng dương, tán thán, chính là vì Di đà tịnh độ là sơ môn của Tịnh độ, cơ duyên giữa Tịnh độ cực lạc và cõi Sa bà này rất sâu dày. [X. kinh Đâu sa; kinh Xưng tán Như lai công đức thần chú; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng); luận Tịnh độ Q.trung (Ca tài)]. (xt. Thập Phật).
thập phương vãng sinh
(十方往生) Gọi đủ: Thập phương tùy thuận vãng sinh. Tùy nguyện sinh về cáctịnh độ trong 10 phương. Thập phương tịnh độ chỉ cho: Cõi Hương lâm ở phương Đông (Phật Nhập tinh tiến), cõi Kim lâm ở phương Đông nam (Phật Tận tinh tiến), cõi Lạc lâm ở phương Nam(Phật Bất xả lạc), cõi Bảo lâm ở phương Tây nam(Phật Thượng tinh tiến), cõi Hoa lâm ở phương Tây(Phật Tập tinh tiến), cõi Kim cương ở phương Tây bắc (Phật Nhất thừa độ), cõi Đạo lâm ở phương Bắc(Phật Hành tinh tiến), cõi Thanh liên hoa ở phương Đông bắc(Phật Bi tinh tiến), cõi Thủy tinh ở phương dưới(Phật Tịnh mệnh tinh tiến) và cõi Dục lâm ở phương trên (Phật Chí thành tinh tiến). Người nguyện cầu sinh về các cõi Phật trong 10 phương, vào ngày lâm chung phải tắm gội thân thể, mặc áo mới sạch, đốt các thứ hương thơm, treo phan phướn cờ lọng, xưng tán Tam bảo, đọc tụng tôn kinh. [X. kinh Đại quán đính thần chú Q.11; kinh Quán đính tùy nguyện vãng sinh thập phương tịnh độ].
Thập Phản Xá Nhất Cửu
(十返舍一九, Jippensha Ikkū, 1765-1851): nhà viết kịch sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ, tên thật là Tùng Điền Trinh Nhất (松田貞一), xuất thân vùng Tuấn Phủ (駿府). Ông lên Đại Phản (大阪, Ōsaka), lấy hiệu là Cận Tùng Dư Thất (近松余七), làm nhà trước tác ra loại kịch Tịnh Lưu Ly (淨瑠璃, Jōruri). Đến năm 1793, ông xuống Giang Hộ (江戸, Edo), chuyên viết Hý Khúc và rất đắc ý với Haiku. Trước tác của ông có Đông Hải Đạo Trung Tất Lật Mao (東海道中膝栗毛), Giang Chi Đảo Thổ Sản (江之島土産), v.v.
thập phẫn nộ minh vương
(十忿怒明王) Chỉ cho 10 vị Minh vương mặt hiện tướng giận dữ. Đó là: 1. Diệm man đắc ca (Phạm: Yamàn= taka), Hán dịch: Hàng diệm ma, tức là Đại uy đức. 2. Vô năng thắng: Không ai hơn được. 3. Bát nột man đắc ca (Phạm: Pad= màntaka), Hán dịch: Liên hoa hàng phục, tức là Mã đầu. 4. Vĩ cận nan đắc ca (Phạm: Vig= hàntaka), Hán dịch: Hàng phục chấn động giả.5. Bất động tôn. 6. Tra chỉ(Phạm:Taki): Tức Ái nhiễm vương. 7. Nễ la nan noa (Phạm: Nìladaịđa), Hán dịch: Thanh trượng. 8. Đại lực. 9. Tống bà(Phạm:Sambha), Hán dịch: Hàng tam thế. 10. Phạ nhật la bá đa la (Phạm:Vaj= rapàỉala). Hình tượng của 10 vị tôn này đa số có nhiều mặt, nhiều tay, mặt chính lộ vẻ mỉm cười, mặt bên trái hiện tướng giận dữ, đầu đội mũ có hình Phật A súc, các tay hoặc cầm kiếm, chày kim cương, mũi tên, dây lụa, kinh Bát nhã ba la mật đa... [X. kinh Huyễn hóa võng đại du già giáo thập phẫn nộ minh vương đại minh quán tưởng nghi quĩ; kinh Diệu cát tường bình đẳng bí mật tối thượng quán môn đại giáo vương Q.1].
thập phật
(十佛) I. Thập Phật. Chỉ cho 10 thân Phật nói trong phẩm Li thế gian, kinh Hoa nghiêm quyển 57. (xt. Thập Thân). II. Thập Phật. Chỉ cho 10 đức Phật trong kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ, đó là: 1. Bất động Như lai ở phương Đông. 2. Nhật nguyệt quang Như lai ở phương Nam. 3. Vô lượng thọ Như lai ở phương Tây. 4. Vô lượng quang nghiêm thông đạt giác tuệ Như lai ở phương Bắc. 5. Nhất thiết diệu pháp chính lí thường phóng hỏa vương thắng đức quang minh Như lai ở phương dưới. 6. Phạm âm Như lai ở phương trên. 7. Tối thượng quảng đại vân lôi âm vương Như lai ở phương Đông nam. 8. Tối thượng nhật quang danh xưng công đức Như lai ở phương Tây nam. 9. Vô lượng công đức hỏa vương quang minh Như lai ở phương Tây bắc. 10. Vô số bách thiên câu chi quảng tuệ Như lai ở phương Đông bắc. III. Thập Phật. Chỉ cho 10 đức Phật nói trong phẩm Dị hành, luận Đại tì bà sa quyển 5, đó là: 1. Thiện đức Như lai ở thế giới Vô ưu phương Đông. 2. Chiên đàn đức Như lai ở thế giới Hoan hỉ phương Nam. 3. Vô lượng minh Như lai ở thế giới Thiện phương Tây. 4. Tướng đức Như lai ở thế giới Bất khả động phương Bắc. 5. Vô ưu đức Như lai ở thế giới Nguyệt minh phương Đông nam. 6. Bảo thí Như lai ở thế giới Chúng tướng phương Tây nam. 7. Hoa đức Như lai ở thế giới Chúng âm phương Tây bắc. 8. Tam thừa hành Như lai ở thế giới An ổn phương Đông bắc. 9. Minh đức Như lai ở thế giới Quảng đại phương dưới. 10. Quảng chúng đức Như lai ở thế giới Chúng nguyệt phương trên. IV. Thập Phật. Chỉ cho 10 đức Phật ở phương Đông nói trong kinh Thập cát tường. Đó là: 1. Đại quang diệu Như lai ở thế giới Trang nghiêm. 2. Tuệ đăng minh Như lai ở thế giới Đế thắng chư thắng. 3. Đại hùng Như lai ở thế giới Kim cương. 4. Vô cấu trần Như lai ở thế giới Tịnh tôn trụ. 5. Thượng tượng chàng thập cái vương Như lai ở thế giới Kim quang minh. 6. Uy thần tự tại vương Như lai ở thế giới Đại uy thần. 7. Cực thụ thượng ảnh vương Như lai ở thế giới Hương huân. 8. Nội bảo Như lai ở thế giới Bảo nghiêm. 9. Đại hải Như lai ở thế giới Hải đăng minh. 10. Thập lực hiện Như lai ở thế giới Thập lực Đăng Minh. V. Thập Phật. Chỉ cho 10 đức Phật quá khứ diễn nói diệu pháp ở điện Diệu thắng trên cung trời Đao lợi ghi trong phẩm Thăng Tu di sơn đính kinh Hoa nghiêm quyển 16. Đó là: 1. Ca diếp Như lai. 2. Câu na mâu ni Như lai. 3. Ca la cưu đà Như lai. 4. Tì xá phù Như lai. 5. Thi khí Như lai. 6. Tì bà thi Như lai. 7. Phất sa Như lai. 8. Đề xá Như lai. 9. Ba đầu ma Như lai. 10. Nhiên đăng Như lai.
thập phật danh
(十佛名) Cũng gọi Thực thời thập niệm. Chỉ cho 10 danh hiệu Phật được xướng tụng vào 2 thời cơm, cháo hằng ngày. Thập chỉ là số ước lượng, thật ra là xướng niệm 12 danh hiệu Phật. Tương truyền, pháp này do ngài Đạo an đặt ra đầu tiên vào đời Đông Tấn. Cứ theo Phúng xướng loại trong Thiền lâm tượng khí tiên thì khi dùng cháo, cơm, trước xướng chung Tam bảo Thanh tịnh Bạc già Phạm(Phật), viên mãn Tu đa la(Pháp), Đại thừa Bồ tát chúng(Tăng) công đức nan tư nghị, kế đến xướng Thanh tịnh pháp thân Tì lô giá na Phật, viên mãn báo thân Lô xá na Phật, thiên bách ức hóa thân Thích ca mâu ni Phật, đương lai hạ sinh Di lặc tôn Phật, Tây phương Vô lượng thọ Phật, thập phương tam thế nhất thiết chư Phật, đại thánh Văn thù sư lợi bồ tát, đại thừa Phổ hiền bồ tát, đại bi Quán thế âm bồ tát, đại trí Thế chí bồ tát, chư tôn Bồ tát ma ha tát, ma ha Bát nhã ba la mật. Còn theo Luật uyển sự qui thì ở dưới Thập phương tam thế nhất thiết chư Phật thêm 2 câu Đại Tiểu lưỡng thừa Tì ni tạng và nhất thiết Pháp bảo; dưới Đại thế chí bồ tát thêm 5 câu Thập phương tam thế chư đại bồ tát, Nam sơn Thánh sư bồ tát, Đại trí luật sư bồ tát, Tây thiên thử độ truyền pháp Tổ sư Thanh văn Duyên giác và Đắc đạo chân tăng và bỏ 2 câu cuối cùng là Chư tôn bồ tát ma ha tát, Ma ha bát nhã ba la mật.
thập phật dị hành
(十佛易行) Pháp môn xưng niệm danh hiệu của 10 đức Phật ở 10 phương, là 1 pháp môn dễ thực hành(dị hành) của chư Phật được nói trong phẩm Dị hành, luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 của ngài Long thụ. Phẩm Dị hành ghi: Nếu người tu hành muốn mau đến chỗ không trở lui thì tâm nên cung kính thụ trì danh hiệu chư Phật. Danh hiệu của 10 đức Phật ở 10 phương được nêu trong các kinh có hơi khác nhau, nay liệt kê như đồ biểu sau đây: I. Theo phẩm Dị hành: 1. Phật Thiện đức, thế giới Vô ưu, phương Đông. 2. Phật Chiên đàn đức, thế giới Hoan hỉ, phương Nam. 3. Phật Vô lượng minh, thế giới Thiện, phương Tây. 4. Phật Tướng đức, thế giới Bất khả động, phương Bắc. 5. Phật Vô ưu đức, thế giới Nguyệt minh, phương Đông nam. 6. Phật Bảo thí, thế giới Chúng tướng, phương Tây nam. 7. Phật Hoa đức, thế giới Chúng âm, phương Tây bắc. 8. Phật Tam thừa hành, thế giới An ổn, phương Đông bắc. 9. Phật Quảng chúng đức, thế giới Chúng nguyệt, phương trên. 10. Phật Minh đức, thế giới Quảng đại, phương dưới. II. Theo kinh Quán Phật tam muội Quyển 6: 1. Phật Thiện đức. 2. Phật Chiên đàn đức. 3. Phật Vô lượng minh. 4. Phật Tướng đức. 5. Phật Vô ưu đức. 6. Phật Bảo thí. 7. Phật Hoa đức. 8. Phật Tam thừa hành. 9. Phật Quảng chúng đức. 10. Phật Minh đức(các thế giới và các phương cũng giống như phẩm Dị hành ở trên). III. Theo kinh Bồ tát tạng: 1. Phật Nguyệt thắng, thế giới A du ca (Vô ưu), phương Đông. 2. Phật Chiên đàn cát, thế giới Nan đà (Hoan hỉ), phương Nam. 3. Phật Vô biên quang minh, thế giới Bả đà la(Hiền), phương Tây. 4. Phật Tràng cát, thế giới Nhiêu ích nhãn, phương Bắc. 5. Phật Vô ưu cát, thế giới Nguyệt quang, phương Đông nam. 6. Phật Bảo sát, thế giới Tràng, phương Tây nam. 7. Phật Hoa đức, thế giới Minh, phương Tây bắc. 8. Phật Tam dũng mãnh, thế giới An ổn, phương Đông bắc. 9. Phật Đại công đức cát, thế giới Nguyệt, phương trên. 10. Phật Quang minh cát, thế giới Đại danh, phương dưới. IV. Theo kinh Bảo nguyệt đồng tử vấn pháp: 1. Phật Hiền cát tường, thế giới Vô ưu, phương Đông. 2. Phật Vô biên quang, thế giới Tịch tĩnh, phương Nam. 3. Phật Hỉ cát tường, thế giới Hoan hỉ, phương Tây. 4. Phật Bảo tràng, thế giới Bất động, phương Bắc. 5. Phật Vô ưu cát tường, thế giới Chính hành, phương Đông nam. 6. Phật Bảo tràng, thế giới Bảo cát tường, phương Tây nam. 7. Phật Cát tường hoa, thế giới Diệu thanh, phương Tây bắc. 8. Phật Liên hoa quang hi hí trí, thế giới An lạc, phương Đông bắc. 9. Phật Tài cát tường, thế giới Nguyệt quang, phương trên. 10. Phật Quang minh cát tường, thế giới Quảng đại, phương dưới. V. Theo kinh Đại bảo tích quyển 101: 1. Phật Vô lượng công đức bảo trang nghiêm uy đức vương, thế giới Nhất thiết pháp công đức trang nghiêm, phương Đông. 2. Phật Công đức bảo thắng trang nghiêm uy đức vương, thế giới Công đức bảo trang nghiêm, phương Nam. 3. Phật Nhất thiết thù thắng biện tài trang nghiêm, thế giới Li nhất thiết ưu ám, phương Tây. 4. Phật Tích tập vô lượng biện tài trí tuệ, thế giới Li trần ám, phương Bắc. 5. Phật Thiên vân lôi hống thanh vương, thế giới Thắng diệu trang nghiêm, phương Đông nam. 6. Phật Tối thượng diệu sắc thù thắng quang minh, thế giới Vô lượng trang nghiêm, phương Tây nam. 7. Phật Chủng chủng thắng quang minh uy đức vương, thế giới Li cấu, phương Tây Bắc.8. Phật Vô số kiếp tích tập bồ đề, thế giới Vô ưu, phương Đông bắc. 9. Phật Hư không hống thanh tịnh diệu trang nghiêm quang minh chiếu, thế giới Vô lượng công đức trang nghiêm uy đức, phương trên. 10. Phật Nhất thiết pháp môn thần biến uy đức quang minh chiếu diệu, thế giới Chủng chủng âm thanh, phương dưới.
thập phật lực
Ten powers of the Buddha.
Thập Phật 十佛
[ja] ジュウブツ jubūtsu ||| 'Ten buddhas.' In the Huayan kongmu zhang 華嚴孔目章, there are two kinds of ten Buddhas. The first ten are the ten buddhas of the realm of understanding. The bodhisattva, relying on the true wisdom of awakening, perceives that the dharma realm is all Buddha in ten aspects (bodies). These are the body of sentient beings, the body of lands, the karma reward body, the body of Buddhist disciples (arhats), the pratyekabuddha body, the bodhisattva body, the body of completely enlightened ones (tathāgatas), the body of knowledge, the reality-body, and the body of space. The second group of ten are the buddhas of the realm of practice. These are the correct enlightenment Buddha, the desire-to-save-sentient- beings Buddha, the karma-reward Buddha, the holding-fast Buddha, the transformation Buddha, the dharma-realm Buddha, the mind Buddha, the samādhi Buddha, the original nature Buddha, and the Buddha who becomes what he wishes. => Theo Hoa Nghiêm khổng mục chương, có hai loại: 1. Mười Đức Phật trong cảnh giới giác ngộ. Hàng Bồ-tát an trú vào chân trí tuệ tỉnh thức, nhận biết toàn thể pháp giới chính là chư Phật trong 10 phương (thể). Đó là thân của chúng sinh, thân quốc độ (y báo ), thân nghiệp báo (chính báo), thân đệ tử Phật (A-la-hán), thân Duyên giác, thân Bồ-tát, thân Phật (Như Lai; s: tathāgatas), thân chân như, và thân hư không. 2. Mười Đức Phật trong cảnh giới tu tập: Đức Phật giác ngộ viên mãn, Đức Phật mong muốn cứu độ hết thảy chúng sinh. Đức Phật báo thân, (Đức Phật chóng thành tựu (holding-fast Buddha), Đức Phật hoá thân, Đức Phật pháp giới, Tâm Phật, Tam muội Phật, Đức Phật Bản tâm, Đức Phật thành tựu như ý.
thập phổ môn
The ten universals of a bodhisattva: từ bi phổ môn, universal pity: hoằng triết pm, vow of universal salvation; tu hành pm, accordant action; li hoặc pm, universal cutting off delusions; nhập pháp môn pm, freedom of entry into all forms of truth; thần thông pm, universal superhuman powers; phương tiện pm, universal accordance with conditions of the receptivity of others; thuyết pháp pm, powers of universal explication of the truth; cúng dường chư Phật pm, power of universal service of all Buddhas; thành tựu chúng sinh pm, the perfecting of all beings universally.
; (十普門) Chỉ cho 10 pháp môn viên mãn trùm khắp, có năng lực giúp hành giả thâm nhập thực tướng các pháp, đó là: 1. Từ bi phổ: Tức tâm từ bi vô duyên đồng thể với thực tướng, trùm khắp tất cả, tự tại tương ứng. 2. Hoằng thệ phổ: Tứ đế vô tác có nănglực thu nhiếp tất cả pháp, vì thế nương vào đó mà phát thệ nguyện rộng lớn. 3. Tu hành phổ: Nếu theo thứ tự mà thực hành 5 hạnh(Thánh hạnh, Phạm hạnh, Thiên hạnh, Anh nhi hạnh, Bệnh hạnh) thì gọi là Bất phổ, còn không theo thứ lớp mà thực hành, một hạnh tức Như lai hạnh, thì gọi là Phổ. 4. Đoạn hoặc phổ: Nếu dùng Nhất thiết trí và Đạo chủng trí đoạn trừ 4 trụ hoặc và trần sa hoặc thì như chặt cành; còn nếu dùng Nhất thiết chủng trí đoạn trừ vô minh và 5 trụ thì giống như nhổ hết gốc rễ nên gọi là Phổ. 5. Nhập pháp môn phổ: Hàng Nhị thừa phân biệt được thiền định của các Địa có sâu, cạn khác nhau, chỉ có Trung đạo vương tam muội không khởi diệt định, bao gồm tất cả Tam muội, cho nên vào Trung đạo vương tam muội là Nhập pháp môn phổ.6. Thần thông phổ: Thần thông của La hán và của Bích chi Phật có cảnh duyên hạn hẹp; nếu duyên theo thực tướng mà tu mới là thần thông chân thực, hễ phát khởi một thì phát khởi tất cả nên gọi là Phổ.7. Phương tiện phổ: Phương tiện trước khi chứng ngộ thực đạo không được gọi là Phổ, chỉ có phương tiện hóa dụng sau khi tự chứng thực đạo, ứng cơ lợi vật, nhất thời tròn đủ mới gọi là Phổ. 8. Thuyết pháp phổ: Có năng lực dùng một âm thanh vi diệu ứng theo các căn cơ trong 10 pháp giới, nói pháp thích hợp khiến chúng sinh được giải thoát. 9. Thành tựu chúng sinh phổ: Thường làm lợi ích cho chúng sinh đầy khắp trong pháp giới ở 10 phương. 10. Cúng dường chư Phật phổ: Có thể đem tài vật cho đến thân mệnh cúng dường chư Phật trong khắp 10 phương. Đây chính là lí Trung đạo thực tướng bao trùm khắp tất cả, không bị ngăn ngại, cho nên chư Phật, Bồ tát nương theo lí này mở ra vô lượng pháp môn, thị hiện các loại thân để cứu tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ não, thành tựu bồ đề. Năm phổ đầu thuộc về tự hành, 3 phổ kế thuộc về hóa tha, 2 phổ sau cùng thì kiêm cả tự hành và hóa tha.
Thập Quy Luận
(十規論, Jukkiron): xem Tông Môn Thập Quy Luận (宗門十規論, Shūmonjukkiron) bên dưới.
thập quyển chương
(十卷章) Cũng gọi Thập quyển thư, Thập quyển sớ. Chỉ cho 7 bộ sách trọng yếu gồm 10 quyển của tông Chân ngôn Nhật bản, tức Bát nhã tâm kinh bí kiện 1 quyển,Tức thân thành Phật nghĩa 1 quyển, Thanh tự thực tướng nghĩa 1 quyển, Hồng tự nghĩa 1 quyển, Biệt HiểnMật nhị giáo luận 2 quyển, Bí tạng bảo thược 3 quyển của ngài Không hải và luận Bồ đề tâm 1 quyển của ngài Long mãnh, được ấn hành vào thời đại Thất đinh ở Nhật bản. [X. Chư tông chương sớ lục Q.3]. Chỉ cho 10 ngôi chùa do ông Sử di viễn tâu vua xin được xếp vào hàng chùa nhà nước dưới thời vua Ninh tông nhà Nam Tống, được thiết lập đồng thời với chế độ tự viện Ngũ sơn. Mười chùa đó là: 1. Chùa Vạn thọ Vĩnh tộ tại núi Trung thiên trúc, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. 2. ChùaHộ thánh Vạn thọ ở núi Đạo tràng, tại Ngô hưng, tỉnh Chiết giang. 3. Chùa Thái bình Hưng quốc ở núi Tưởng sơn tại Giang ninh, tỉnh Giang tô. 4. Chùa Báo ân Quang hiếu ở núi Vạn thọ, huyện Ngô, tỉnh Giang tô. 5. Chùa Tư thánh ở núi Tuyết đậu, huyện Ngân, tỉnh Chiết giang. 6. Chùa Long tường ở núi Giang tâm, huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết gaing. 7. Chùa Sùng thánh ở núi Tuyết phong, Mân hầu, tỉnh Phúc kiến. 8. Chùa Bảo lâm ở núi Vân hoàng, Kim hoa, tỉnh Chiết giang. 9. Chùa Linh nham ở núi Hổ khâu, huyện Ngô, tỉnh Giang tô. 10. Chùa Kính trung ở núi Thiên thai, huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang. Tại Nhật bản cũng có chế độ Ngũ sơn thập sát. [X.môn Khu giới trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thập quá
(十過) Chỉ cho 10 lỗi. I. Mười lỗi của việc ăn thịt: 1. Tất cả chúng sinh đều là lục thân quyến thuộc, nay ta ăn thịt đều là ăn thịt người thân. 2. Chúng sinh ngửi thấy hơi của người ăn thịt đều sợ hãi bỏ chạy, bởi thế, nếu Bồ tát muốn hóa độ chúng sinh thì không nên ăn thịt. 3. Người ăn thịt dứt mất tín căn của chúng sinh, khiến họ sinh tâm hủy báng Tam bảo. 4. Nếu người tu hành ăn thịt thì không thể ra khỏi 3 cõi, vì vậy không nên ăn thịt.5. Những người ăn thịtlà do tập khí ác la sát từ đời quá khứ. 6. Người ăn thịt thì học chú thuật còn chẳng thành được, huống chi là Thánh đạo vô thượng. 7. Người học đạo nên xem tất cả chúng sinh không khác gì mình, vì thế không nên ăn thịt. 8. Những người ăn thịt thì đều bị chư thiên hiền thánh xa lánh. 9. Do bất tịnh sinh ra: Tất cả súc sinh do nghiệp bất tịnh mà thành thân bất tịnh, nếu ta ăn thịt chúng thì cũng thành bất tịnh.10. Những người ăn thịt sau khi chết đọa vào đường ác. [X. Pháp uyển châu lâm Q.93]. II. Mười lỗi của việc uống rượu: 1. Sắc mặt xấu ác, không có vẻ lương thiện. 2. Uy nghi không nghiêm chỉnh, cử chỉ thô lỗ, bị người khinh ghét. 3. Mắt nhìn không rõ, không phân biệt được cảnh tượng. 4. Hiện tướng sân khuể, làm các việc bất lương, phóng túng giận dữ. 5. Phá hoại sản nghiệp, tiền của tiêu hao, lâm vào cảnh khốn khó. 6. Thân thể mất điều hòa, từ đó sinh ra các bệnh. 7. Thường hay tranh cãi, kiện tụng người khác. 8. Tiếng xấu đồn xa, ai cũng chê cười. 9. Càng say sưa thì ngu si càng tăng, trí sáng sút kém. 10. Nghiệp ác ngày càng chồng chất nên sau khi mệnh chung rơi vào đường ác. [X.luật Tứ phần Q.16].
thập quân
The ten armies of Màra, which the Buddha attacks and destroys; the armies are desire, anxiety, hunger and thirst, longing, torpidity, fear, doubt, poison, gain, haughtiness (i.e. disdaining monks)
; (十軍) Cũng gọi Thập chủng ma quân. Chỉ cho 10 loại ma dụ cho phiền não nói trong luận Đại trí độ quyển 15. Đó là: Dâm dục, lo buồn, đói khát, khát ái, ngủ nghỉ, sợ hãi, ngờ vực, tức giận, lợi dưỡng và kiêu ngạo. Mười loại ma này nhận chìm người xuất gia, Bồ tát dùng năng lực thần trí phá dẹp quân ma, thành tựu Phật đạo, hóa độ chúng sinh. Tiểu chỉ quán cũng dẫn dụng Thập quân, tên gọi hơi khác nhưng ý nghĩa thì giống nhau.
thập song thiếp thích quan âm phổ môn
(十雙貼釋觀音普門) Chỉ cho 10 đôi do ngài Trí khải tông Thiên thai lập ra để giải thích phẩm Quán thế âm bồ tátphổ môn khi ngài soạn Quan âm huyền nghĩa. Mười đôi là: 1. Nhân pháp: Nhân là Quán thế âm, pháp là Phổ môn. Phẩm này có hỏi và đáp, trước nói về người, sau luận về pháp, vì người giữ pháp nên gọi là Nhân pháp. 2. Từ bi: Từ là nhớ mến, là tâm đại từ ban vui; bi là thương xót, là lòng đại bi cứu khổ.3. Phúc tuệ: Phúc là phúc đức, chỉ cho 5 độ bố thí, trì giới, tinh tiến, nhẫn nhục và thiền định; tuệ là trí tuệ, chỉ cho bát nhã. 4. Chân ứng: Chân là chân thực, chỉ cho Chân thân; Ứng là ứng hiện, chỉ cho Ứng thân. 5. Dược châu: Dược là cây thuốc, dụ cho Chân thân; Châu là như ý châu, dụ cho Ứng thân. 6. Minh hiển: Minh là thầm kín, tức Chân thân bao trùm mọi vật, âm thầm làm lợi ích; hiển là hiển hiện, tức Ứng thân tùy cơ nói pháp, làm lợi ích rõ ràng. 7. Quyền thực: Quyền là quyền trí quyền biến, thực là thực trí chân thực. 8. Bản tích: Bản là căn bản, tích là thùy tích. Bồ tát Quán thế âm là Phật Chính pháp minh đời quá khứ, Bản của Ngài đã cao mà Tích của quyền thực lại diệu, không có Bản không lấy gì để thùy tích, không có Tích không lấy gì để hiển Bản. 9. Duyên liễu: Duyên là trợ duyên, liễu là hiểu rõ, tức tính đức vốn có đủ nghĩa của Duyên nhân và Liễu nhân, cũng chính là bồ tát Quán âm và pháp Phổ môn đều do 2 chủng tử Liễu nhân và Duyên nhân của tính đức hiển phát. 10. Trí đoạn: Trí có công năng chiếu soi lí, đoạn có công năng đoạn trừ hoặc; chỉ cho 2 đức trí và đoạn của Phật quả hiển hiện, cũng tức là chỉ cho Niết bàn.
thập sơn vương
(十山王) Mười vua núi, tức chỉ cho 10 ngọn núi nổi lên giữa biển khơi, cao hơn tất cả các ngọn núi khác nên gọi là Thập sơn vương, ví dụ các giai vị tu hành của Bồ tát Thập địa cùng vào biển trí của Như lai, cao hơn tất cả các hạnh của Nhị thừa. 1. Tuyết sơn vương (Phạm:Himàlayagiriràja): Trong núi này có đủ các loại cây thuốc, chữa khỏi mọi chứng bệnh, lấy mãi không hết; ví dụ thuốc pháp thánh trí của Bồ tát Hoan hỉ địa vô tận, dùng để phá vô minh, vượt qua các hànhvị trước. 2. Hương sơn vương (Phạm: Gandhamàdana-giriràja): Trong núi này, mùi thơm của tất cảcácloại hương lan tỏa mọi nơi; ví dụ giới hạnh uy nghi của Bồ tát Li cấu địa, công đức của hương vi diệu xông khắp. 3. Bệ đà lê sơn vương (Phạm: Vaidhari): Bệ đà lê nghĩa là chủng chủng trì, núi này được cấu tạo thuần bằng vật báu, giữ gìn các thứ báu; ví dụ Bồ tát Phát quang địa, được các pháp như thiền định, thần thông, giải thoát... đều quí như của báu.4. Thần tiên sơn vương: Trong núi này có nhiều thần tiên cư trú; ví dụ Bồ tát Diệm tuệ địa vượt ra ngoài thế gian, được đại tự tại.5. Do càn đà sơn vương (Phạm: Yugaôdhara): Do càn đà nghĩa là Trì song; núi này được cấu tạo thuần bằng các thứ báu, là nơi cư trú của các Dạ xoa vương; ví dụ cho sức thần thông tự tại như ý của Bồ tát Nan thắng địa. 6. Mã nhĩ sơn vương (Phạm: Azvakarịa): Núi này được cấu tạo thuần bằng các thứ báu, sinh sản tất cả các loại quả; ví dụ cho Bồ tát Hiện tiền địa, từ lí thể khởi lên các tác dụng vi diệu, giáo hóa dắt dẫn chúng sinh để chứng các quả Thanh văn.7. Ni dân đà la sơn vương (Phạm: Nemindhara): Ni dân đà la nghĩa là: trì biên; núi này cấu tạo thuần bằng các thứ báu, là nơi cư trú của các đại long thần; ví dụ cho trí tuệ phương tiện của Bồ tát Viễn hành địa, giáo hóa các chúng sinh khiến chứng quả Duyên giác. 8. Chước ca la sơn vương (Phạm: Cakravàđa): Chước ca la nghĩa là luân vi; núi này cấu tạo thuần bằng các thứ báu, có vòng tròn kim cương bao bọc(luân vi), là chỗ ở của các tiên tự tại; ví dụ cho vô công dụng đạo của Bồ tát Bất động địa, được tâm tự tại, giáo hóa các chúng Bồ tát. 9. Kế độ mạt để sơn vương (Phạm: Ketumati): Kế độ mạt để nghĩa là chàng tuệ; núi này được cấu tạo thuần bằng các thứ báu, là nơi cư trú của các đại uy đức A tu la vương; ví dụ cho hạnh trí tuệ giáo hóa chúng sinh một cách khéo léo của Bồ tát Thiện tuệ địa. 10. Tu di lô sơn vương (Phạm: Sumera): Tu di lô nghĩa là diệu cao; núi này được cấu tạo thuần bằng các thứ báu, là chỗ ở của cácĐại uy đức thiên; ví dụ cho Bồ tát Pháp vân địa đầy đủ năng lực của Như lai, thành tựu vô úy, dùng pháp bất động, vì chúng sinh thuyết pháp, vấn đáp vô tận. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Hoa nghiêm đại sớ Q.44].
Thập sắc nhập
xem Mười sắc nhập.
thập sử
Sanyojanas (S) Mười đại phiền não (chướng ngại) cho sự tu hành gồm: thân kiến, nghi, giới cấm thủ kiến, tham dục, sân nhuế, tam sắc giới, tham vô sắc giới, mạn, kiến thủ kiến và vô.
; Dasa-samyojana (S). Ten fetters, deluders, fundamental passions. They are divided in five sharp lợi sử and five dull độn sử. The five dull ones are: tham desire, sân hate, si stupidity, mạn pride, nghi doubt; the five sharp ones are: thân kiến personality belief, biên kiến taking side views, tà kiến wrong views, kiến thủ kiến to hold heterodox doctrines and be obsessed with the sense of the self, giới cấm thủ kiến clinging to mere rules and rituals. Also thập đại hoặc, thập căn bản phiền não.
; Cũng gọi là Thập hoặc, tức là tham, sân, si, mạn, nghi (Ngũ độn sử) và thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến (Ngũ lợi sử), gọi chung là Thập sử. (Kiến thủ kiến: chấp cái thành kiến cho là chân lý; Giới thủ kiến chấp cái tà kiến cho là chánh giới).
Thập sử 十使
[ja] ジュウシ jūshi ||| The ten fetters (delusions, afflictions): desire 欲, hatred 瞋, ignorance 癡, pride 慢, doubt 疑, view of self 身見, extreme view 邊見, evil view 邪見, view of attachment to views 見取見, view of morality 戒禁取見. The first five affect those of lower spiritual development while the second five affect those of greater spiritual development. Same as 十惑. => Mười sự câu thúc (mê lầm, phiền não): dục, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến. Năm thứ đầu tiên tác động đến sự phát triển tâm linh bậc thấp, trong khi năm thứsau tác động đến sự phát triển tâm linh bậc cao hơn. Đồng nghĩa Thập hoặc 十惑.
thập sự công đức
The bodhisattva merit resulting from the attainment of ten groups of excellences in the southern version of the Nirvàna sùtra nam bản Niết bàn kinh. Thập tam lực.
thập sự phi pháp
(十事非法) Cũng gọi Thập phi sự, Thập sự, Thập tịnh.Chỉ cho 10 việc không hợp với luật Phật chế do Bạt xà tử (Pàli:Vajjiputtaka) chủ xướng sau khi đức Phật nhập diệt 100 năm. Đó là: 1. Giác diêm tịnh: Được phép ướp muối vào thức ăn để hôm khác dùng. 2. Nhị chỉ tịnh: Trong khoảng thời gian từ khi bóng mặt trời ở giữa ngày xê dịch đến 2 ngón tay vẫn được phép ăn. 3. Tha tụ lạc tịnh: Sau khi dùng bữa ở một làng xóm, đến làng xóm khác được phép ăn thêm. 4. Trụ xứ tịnh: Tỉ khưu cùng ởtrong một giáokhu (giới nội) thì không cần bố tát ở một chỗ. 5. Tùy ý tịnh: Khi chúng tăng bàn luận xử quyết một việc gì, tuy số tăng không đủ như luật qui định, nhưng vẫn được dự đoán là số thiếu ấy sẽ đồng ý, mà làm pháp yết ma.6. Sở tập tịnh: Thuận theo tiền lệ. 7. Sinh hòa hợp tịnh (Bất tán dao tịnh): Sau khi ăn no, cũng được phép uống loại sữa bò chưa khuấy bỏ lớp váng trên mặt. 8. Ẩm xà lâu nghĩ tịnh: Được phép uống nước dừa chưa lên men, hoặc mới lên men một nửa. 9. Vô duyên tọa cụ tịnh: Được phép may tọa cụ không cần viền chung quanh và lớn nhỏ tùy ý. 10. Kim ngân tịnh: Được phép tiếp nhận và cất giữ tiền bạc... Trưởng lão Da xá cho 10 việc trên đây trái với luật Phật chế, là phi pháp. Để xét lại căn cứ giới luật của 10 việc này, ngài bèn tổ chức cuộc kết tập lần thứ 2. Kết quả, Thượng tọabộđã nhất trí cho rằng 10 việcnàytrái với giới luật của Phật chế. [X. Ấn độ chi Phật giáo đệ tứ chương đệ nhị tiết (Ấn thuận)]. (xt. Bạt Xà Tử).
Thập sự phi pháp 十事非法
[ja]ジュウジヒホウ jūjihihō ||| Ten immoral practices. These were found in the behavior of the monks of the Vajjiputtaka sect by Yaśas, whose critique brought about the Second Buddhist Council. The ten kinds of behavior the Vajjis regarded to be pure are: (1) preserving salt in a horn 角鹽淨; (2) taking food when the shadow is beyond two fingers wide 二指淨; (3) after finishing one meal, going to another town for another meal 他聚落淨; (4) holding several confession ceremonies within the same monastic boundary 住處淨; (5) confirming a monastic act in an incomplete assembly 隨意淨; (6) carrying out an act improperly and justifying it by its habitual performance in this way 所習淨; (7) after eating, drinking unchurned milk that is somewhere between the states of milk and curd 生和合; (8) drinking unfermented wine 飲闍樓&FK-FB54;淨; (9) using a mat without a border 無縁坐具淨; and (10) accepting gold and silver 金銀淨. => Mười điều không đúng giới luật. Những điều nầy phát xuất từ sinh hoạt hằng ngày của chư tăng thuộc dòng họ Bạt kỳ (s: Vajjiputtaka) do Trưởng lão Da-xá (s: Yaśas) nêu ra, người chỉ trích nầy đã dẫn đến hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai. Mười hành vi mà nhóm tăng sĩ Bạt kỳ cho là đúng giới luật như sau: 1. Giác diêm tịnh: đựng muối trong dụng cụ bằng sừng. 2. Nhị chỉ tịnh: khất thực khi bóng mặt trời đã quá hai ngón tay. 3. Tha tụ lạc tịnh: sau khi thọ trai xong, còn đi vào làng khác để khất thực. 4. Trú xứ tịnh: cử hành nhiều lễ bố tát trong cùng một trú xứ. 5. Tuỳ ý tịnh6. Sở tập tịnh7. Sinh hoà hợp8. Ẩm xà lâu tịnh9. Vô duyên toạ cụ tịnh10. Kim ngân tịnh.
thập tam duyên
(十三緣) Cũng gọi Nhật lãnh thập tam duyên. Chỉ cho 13 nguyên nhân làm cho ánh mặt trời bị lạnh ghi trong kinh Trường a hàm quyển 22.Đó là: 1. Giữa 2 núi Tu di và núi Khư đà la có khe nước rộng 8 vạn 4 nghìn do tuần, trong đó có sinh các loại tạp hoa chiếu rọi lẫn nhau, do đó mà ánh sáng mặt trời bị lạnh.2. Giữa 2 núi Khư đà la và núi Y sa đà la có khe nưóc rộng 4 vạn 2 nghìn do tuần, trong đó sinh các loại tạp hoa chiếu soi lẫn nhau khiến cho ánh sáng mặt trời bị lạnh.3. Giữa 2 núi Y sa đà la và núi Thụ đề đà la có khe nước rộng 2 vạn do tuần, trong đó sinh các loại tạp hoa, chiếu soi lẫn nhau làm cho ánh sáng mặt trời bị lạnh.4. Giữa 2 núi Thụ đề và Thiện kiến có khe nước rộng 1 vạn 2 nghìn do tuần, trong đó có sinh các loại tạp hoa chiếu rọi lẫn nhau, do đó mà ánh sáng mặt trời bị lạnh. 5. Giữa 2 núi Thiện kiến và Mã tự có khe nước rộng 6 nghìn do tuần, trong đó có sinh các loại tạp hoa, chiếu soi lẫn nhau, khiến cho ánh sáng mặt trời bị lạnh. 6. Giữa 2 núi Mã tự và Ni di đà la có khe nuớc rộng 1 nghìn 2 trăm do tuần, trong đó mọc các loại tạp hoa, chiếu rọi lẫn nhau, làm cho ánh sáng mặt trời bị lạnh.7. Giữa 2 núi Ni di đà la và núi Điều phục có khe nước rộng 600 do tuần, trong đó có sinh các loại tạp hoa, chiếu soi lẫn nhau, do đó mà ánh sáng mặt trời bị lạnh. 8. Giữa 2 núi Điều phục và Kim cương luân có khe nước rộng 300 do tuần, trong đó có mọc các loài tạp hoa chiếu soi lẫn nhau, làm cho ánh sáng mặt trời bị lạnh.9. Giữa núi Kim cương luân và cõi Diêm phù đề có khe nước phản chiếu lên làm cho mặt trời bị lạnh. 10. Nam diêm phù đề ít sông, Tây câu da ni nhiều sông, nước phản ánh lên làm cho mặt trời bị lạnh. 11. Tây câu da ni ít sông, Đông phất vu đãi nhiều sông, nước phản ánh lên làm cho mặt trời bị lạnh. 12. Đông phất vu đãi ít sông, Bắc uất đơn việt nhiều sông, nước phản ánh lên làm cho mặt trời bị lạnh. 13. Ánh sáng của cung điện mặt trời chiếu xuống mặt biển, nước biển phản ánh lên làm cho mặt trời lạnh.
thập tam lực
(十三力) Các vị Bồ tát ở Tịnh độ phương Tây có 13 năng lực thực hiện hạnh tự lợi,lợitha, đó là: 1. Nhân lực: Năng lực thiện căn ở đời quá khứ. 2. Duyên lực: Năng lực dạy dỗ của thiện tri thức. 3. Ý lực: Năng lực tác ý đúng như lí. 4. Nguyện lực: Năng lực cầu bồ đề. 5. Phương tiện lực: Năng lực khéo tu theo chính pháp. 6. Thường lực: Năng lực thường tu theo chính pháp. 7. Thiện lực: Năng lực thiện căn chính tu. 8. Định lực: Năng lực thành tựu tu Chỉ.9. Tuệ lực: Năng lực thành tựu tu Quán. 10. Đa văn lực: Năng lực nghe nhiều và tin sâu chính pháp. 11. Trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định lực. 12. Năng lực thành tựu chính niệm, chính quán, lục thông, tam minh. 13. Năng lực như pháp điều phục các chúng sinh ương ngạnh, cứng cỏi. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].
thập tam nan thập già
(十三難十遮) Cũng gọi Già đạo pháp, Thập tam già nạn.Gọi tắt: Giànạn. Chỉ cho 13 lỗi nặng và 10 lỗi nhẹ mà vị Giáo thụ sư gạn hỏi giới tử trước khi trao cho giới Cụ túc. Theo luật của Tiểu thừa, khi truyền giới Cụ túc, để phân biệt rõ người thụ giới có thực là pháp khí hay không, vị Giáo thụ sư đặt ra 13 nạn và 10 già để gạn hỏi người thụ giới. Già vốn chẳng phải những điều ác thuộc về tự tính(tự tính ác) nhưng vì chúng không thích hợp cho việc thụ giới, cho nên phải ngăn (già) không cho thụ; còn Nạn là những điều ác thuộc tự tính, rốt ráo không phải pháp khí để tiếp nhận giới Cụ túc, mà cũng không được thụ giới Cụ túc. Vì thế, trước khi truyền giới, vị Giáo thụ sư phải theo tội nhẹ nặng mà lần lượt hỏi người thụ giới xem có giànạn hay không. Phân biệt tỉ mỉ thì già tội tuy có 16 thứ, nhưng lúc chất vấn người thụ giới thì thực tế chỉ có 10 già; vì hợp áo, bát làm một, hợp cha, mẹ làm một, hợp 5 thứ bệnh(hủi, ung thư, bạch lại, gầy ốm, điên khùng) làm một. Mười già gồm:1. Họ tên người thụ giới. 2. Tên Hòa thượng. 3. Đủ 20 tuổi hay chưa? 4. Có đầy đủ áo, bát không? 5. Cha mẹ có cho phép xuất gia thụ giới không? 6. Có mắc nợ ai không? 7. Có phải là tôi đòi không? 8. Có phải đang làm quan mà bỏ đi tu không? 9. Có phải là chồng không? 10. Có 5 thứ bệnh không? Còn 13 nạn là: 1. Biên tộinạn: Trước đã thụ giới Cụ túc, sau phạm 4 trọng cấm mà xả giới, bây giờ lại thụ lại. 2. Phạm tỉ khưu ni: Lúc còn là cư sĩ có phạm tỉ khưu ni tịnh giới. 3. Tặc tâm nhập đạo: Vì lợi dưỡng để sống còn hoặc vì trộm pháp mà xuất gia. 4. Phá nội ngoại đạo: Vốn là ngoại đạo, đi theo Phật pháp, sau khi thụ giới Cụ túc lại trở về ngoại đạo, sau đó bỏ ngoại đạo muốn vào Phật giáo trở lại. 5. Hoàng môn: Năm hạng người không có nam tính. 6. Giết cha. 7. Giết mẹ. 8. Giết A lahán. 9. Phá tăng: Phá pháp luân tăng. Nhưng nếu phá Yết ma tăng thì không phải nạn.10. Làm cho thân Phật chảy máu. Năm nạn vừa kể (từ 6 đến 10) là tội ngũ nghịch. 11. Phi nhân nạn: Tám bộ quỉ thần biến hóa thành người. 12. Súc sinh nạn: Súc sinh biến làm người. 13. Nhị hình nạn: Người có cả nam căn và nữ căn. Già nạn của tỉ khưu ni hơi khác với già nạn của tỉ khưu, mà các luật truyền cũng không phải hoàn toàn giống nhau. Cứ theo Tứ phần tỉ khưu ni yết ma pháp thì trong 13 nạn, nạn thứ 2 là phạm tỉ khưu tịnh hạnh; trong 10 già thì già thứ 5 là cha mẹ và chồng có cho phép xuất gia hay không? Già thứ 7 là đầy tớ gái, già thứ 8 thiếu, già thứ 9 được thay bằng già thứ 8 người nữ, già thứ 10 được thay bằng già thứ 9 bệnh hủi, thêm già thứ 10 khác là học giới thanh tịnh.[X.luật Thập tụng Q.54; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 3; Tăng già na Q.thượng; Ni yết ma Q.thượng].
thập tam ngoại đạo
(十三外道) Chỉ cho 13 thứ ngoại đạo ở Ấn độ, đó là: 1. Kiếp tỉ la ngoại đạo: Tức Số luận sư. 2. Ốt lộ ca ngoại đạo: Tức Thắng luận sư. 3. Đại tự tại thiên ngoại đạo: Chấp trời Tự tại là nhân sinh ra muôn vật. 4. Đại phạm ngoại đạo: Chấp Phạm thiên là nhân sinh ra muôn vật. 5. Thời ngoại đạo: Chấp thời gian là nhân sinh ra muôn vật. 6. Phương ngoại đạo: Chấp phương hướng là nhân sinh ra muôn vật. 7. Bản tế ngoại đạo: Chấp lúc ban đầu ở quá khứ có bờ mé đầu tiên là nhân sinh ra muôn vật. 8. Tự nhiên ngoại đạo: Chấp muôn vật do tự nhiên sinh ra. 9. Hư không ngoại đạo: Chấp hư không là nhân sinh ra muôn vật. 10. Ngã ngoại đạo: Chấp thường có 1 Đại ngã, muôn vật từ đó mà sinh ra. 11. Thanh hiển luận sư: Chấp âm thanh tuy do nhân duyên mà ẩn hiển, nhưng xưa nay thường có. 12. Thanh sinh luận sư: Chấp âm thanh vốn không có, nhờ vào nhân duyên mà sinh, sinh rồi thì thường trụ. 13. Thuận thế ngoại đạo: Chỉ có 4 đại là đất, nước, lửa, gió sinh ra tất cả loài hữu tình, sau khi hữu tình chết, lại trở về 4 đại. [X. luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối].
thập tam phật
(十三佛) Chỉ cho 13 tôn vị Phật. Bồ tát được phối hợp với 13 lần kị từ tuần thất đầu tiên năm thứ 33. Đây là tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ thời đại Thất đinh của Nhật bản. Cách phối hợp như biểu đồ sau đây: (xem trang sau)
thập tam quán môn
(十三觀門) Chỉ cho 13 quán môn, là pháp tu hành của giai vị Tam hiền Thập thánh. Tức phối hợp với 5 nhẫn thì Phục nhẫn, Tín nhẫn, Thuận nhẫn, Vô sinh nhẫn, mỗi nhẫn đều có 3 nhẫn thượng, trung, hạ, cộng chung là 12, lại thêm hạ nhẫn của Tịch diệt nhẫn là 13 nhẫn. Người tu 13 quán môn này gọi là Thập tam đại pháp sư, là bậc Đại pháp vương đáng được mọi người cúng dường. [X. phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương bát nhã].
thập tam sự pháp
(十三事法) Chỉ cho 13 hành pháp mà người xuất gia phải tuân giữ. Tức 4 việc liên quan đến khất thực, 4 việc liên quan đến uy nghi và 5 việc về phiền não. 1. Bốn việc liên quan đến khất thực là: a. Trụ chính giới: Khi vàolàng xóm khất thực, phải thu nhiếp thân tâm, an trụ nơi chính giới. b. Trụ chính uy nghi: Khi khất thực phải giữ đúng uy nghi, làm cho người sinh tâm kính tin. c. Trụ chính mệnh: Phải y theo Phật giới, khất thực để nuôi thân tu đức, phải xa lìa 5 thứ tà mệnh thực. d. Trụ chính giác: Nên biết thân là gốc khổ, biết nhàm chán xa lìa, chỉ vì tu đạo mà xin ăn để trừ bệnh đói khát của thân, không tham nhiều làm trở ngại đạo nghiệp. 2. Bốn việc liên quan đến uy nghi là: a. Y pháp: Lúc kinh hành trong đạo tràng hay khi vào khất thực trong làng xóm, phải y theo phép bước đi khoan thai chậm rãi.b. Y thời: Nên nghĩ đến vô thường nhanh chóng, ngày đêm phải tự thức tỉnh. c. Y xứ: Mong cầu niềm vui tĩnh lặng vô vi, xa chỗ ồn ào, ở nơi vắng vẻ, tư duy diệt trừ gốc khổ. d. Y thứ: Ở trong đại chúng phải ngồi Số TT Danh hiệu Phật, Bồ tát Thùy tích Ngày Kỵ Bất động minh vương Thích ca Như lai Văn thù Bồ tát Phổ hiền Bồ tát Địa tạng Bồ tát Di lặc Bồ tát Dược sư Như lai Quan âm Bồ tát Thế chí Bồ tát Di đà Như lai A súc Như lai Đại nhật Như lai Hư không tạng Bồ tát 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 Tuần thứ 1 Tuần thứ 2 Tuần thứ 3 Tuần thứ 4 Tuần thứ 5 Tuần thứ 6 Tuần thứ 7 100 ngày Tiểu tường (1 năm) 3 năm 7 năm 13 năm 33 năm Tần quảng vương Sơ giang vương Tống đế vương Ngũ quan vương Diêm ma vương Biến thành vương Thái sơn vương Bình đẳng vương Đô thị vương Ngũ đạo chuyển luân vương theo thứ tự tuổi hạ, không ngồi trên người thụ giới trước mình. 3. Năm việc lìa phiền não là: a. Li tham: Đã trụ nơi chính giới, phải chế phục 5 căn, không sinh tâm tham đắm. b. Li sân: Lấy từ bi làm gốc, nhẫn chịu lời ác, nhục mạ như uống nước cam lộ, không sinh tức giận. c. Li thủ trước: Dùng trí tuệ quán xét thân mình và ngoại vật đều hư huyễn, không vọng sinh chấp trước. d. Li thô khoáng: Dùng sự dịu dàng hòa thuận để thành tựu đức tính thanh nhã, dứt bỏ tính khí thô bạo cục cằn. e. Li kiêu mạn: Khiêm nhường nhũn nhặn, không tự khoe mình có đức. [X. Giáo thừa pháp số; Đại minh tam tạng pháp số Q.44].
thập tam trụ
(十三住) Cũng gọi Thập tam hành. Chỉ cho 13 trụ vị, tức 13 hành vị từ nhân đến quả của Bồ tát. Đó là: 1. Chủng tính trụ: Chỉ cho hàng Bồ tát Tập chủng tính và Tính chủng tính. Tính của trụ vị này hiền thiện, tu hành các công đức thiện pháp, là giai vị giữ gìn hạt giống Phật bền chắc, không để hư nát. 2. Giải hành trụ(cũng gọi Thắng giải hành trụ): Tức Bồ tát Giải hành địa vẫn chưa lìa được 5 sự sợ hãi, đối với đạo xuất thế tu hành chính quán, tiến vào giai vị bất thoái. 3. Hoan hỉ trụ: Tức Sơ hoan hỉ địa trong Thập địa. Bồ tát niệm niệm xuất thế, sinh tâmbồ đề chân chứng, an trụ vững chắc không chuyển lui, tự vui mừng với giai vị đã chứng được. 4. Tăng thượng giới trụ: Tức Li cấu địa thứ 2 trong Thập địa, làgiai vị Bồ tát đầy đủ tịnh giới, không phạm lỗi nhỏ. 5. Tăng thượng ý trụ: Tức Minh địa thứ 3 trong Thập địa, là giai vị Bồ tát thành tựu 10 thứ tư duy, định tâm thù thắng. 6. Bồ đề phần pháp tương ứng tăng thượng tuệ trụ: Tức Diệm địa thứ 4 trong Thập địa, là giai vị Bồtát thành tựu 10 pháp minh và quán xét 37 pháp Bồ đề phần. 7. Đế tương ứng tăng thượng tuệ trụ: Tức Nan thắng địa thứ 5 trong Thập địa, làgiai vị Bồ tát thành tựu 10 tịnh tâm bình đẳng, như thực quán xét pháp Tứ đế.8. Duyên khởi sinh diệt tương ứng tăng thượng tuệ trụ: TứcHiện tiền địa thứ 6 trong Thập địa, là giai vị Bồ tát thành tựu 10 pháp bình đẳng, như thực rõ biết pháp duyên khởi. 9. Hữu hành hữu khai phát vô tướng trụ: Tức Viễn hành địa thứ 7 trong Thập địa, là giai vị Bồ tát thành tựu tuệ phương tiện, lần lượt sinh raCộng bất cộng thắng tiến đạo của thế gian, tịch(lặng lẽ)và dụng (chiếu soi) đều thực hành, lìa tướng hữu vô gián cách. 10. Vô hành vô khai phát vô tướng trụ: TứcBấtđộng địa thứ 8 trong Thập địa, là giai vị Bồ tát thành tựu 10 Nhập nhất thiết pháp đệ nhất nghĩa trí, báo hành thuần thục, vô công dụng hạnh phát khởi, xa lìa tính công dụng gián cách. 11. Vô ngại trụ: Tức Thiện tuệ địa thứ 9 trong Thập trụ, là giai vị Bồ tát ưa thích trí thâm giải thoát thượng thắng tiến, có năng lực dùng 40 biện tài vô ngại thuyết pháp lợi ích chúng sinh. 12. Tối thượng trụ: Tức Pháp vân địa thứ 10 trong Thập địa, là giai vị Bồ tát chứng được Vô thượng chính đẳng chính giác, Đại pháp quán đính một đời tương tục, làm tất cả Phật sự. 13. Như lai trụ: Tức Phật quả cứu cánh địa, là quả vị cùng tột, quả đức tròn đầy, rời cảnh giới thanh tịnh, làm các Phật sự để mang lại lợi ích cho chúng sinh. Trong 13 trụ thì 12 trụ của Bồ tát bao nhiếp tất cả trụ và tất cả hạnh của Bồ tát, còn Như lai trụ thứ 13 thì siêu việt tất cả trụ của Bồ tát, là trụ vị hiện tiền của đẳng giác.[X. Đại thừa nghĩa chương Q.15]. (xt. Thập Địa).
thập tam tông
(十三宗) Chỉ cho 13 tông phái của Phật giáo. Tại Trung quốc, 13 tông là: Tì đàm tông (hoặc thay bằng Câu xá tông), Thành thực tông, Tam luận tông, Niết bàn tông, Luật tông, Địa luận tông, Tịnh độ tông, Thiền tông, Nhiếp luận tông, Thiên thai tông, Hoa nghiêm tông, Pháp tướng tông và Mật tông. ỞNhật bản, 13 tông là: Hoa nghiêm tông, Pháp tướng tông, Luật tông, Thiên thai tông, Chân ngôn tông, Lâm tế tông, Tào động tông, Hoàng bá tông, Tịnh độ tông, Chân tông, Dung thông niệm Phật tông, Thời tông và Nhật liên tông. [X. luận Trung quốc Phật giáo vô thập tông (Thang dụngđồng); Trung quốc Phật giáo đích đặcchấtdữ tông phái (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 31)]. (xt. Tông Phái).
Thập tam tông 十三宗
[ja] ジュウサンシュウ jūsanshū ||| The thirteen major Buddhist sects in China and Japan. (1) In China, these were the Satyasiddhi school 成實宗, the Sanlun (Three Treatise) school 三論宗, the Nirvana school 涅槃宗, the Vinaya school 律宗, the Dilun school 地論宗, the Pure Land school淨土宗, the Chan (Meditation) school 禪宗, the Shelun (Saṃgrāha) school 攝論宗, the Tiantai school 天台宗, the Huayan school 華嚴宗, the Faxiang school 法相宗, and the Esoteric (Vajrayāna , True Word) school 密宗. (2) In Japan, they were the the Kegon school 華嚴宗, Hossō school 法相宗, Vinaya school 律宗, Tendai school 天台宗, Shingon school 眞言宗 (also categorized as Mikkyō 密教), Rinzai school 臨濟宗, Sōtō school 曹洞宗, Ōbaku school 黄檗宗, Pure Land (Jōdo) school 淨土宗, Jōdo Shin school 眞宗, Yūzū-nembutsu school 融通念佛宗, the Ji school 時宗 , and the Nichiren school 日蓮宗. => Mười ba tông phái Phật giáo chính của Trung Hoa và Nhật Bản: 1. Ở Trung Hoa, đó là: Thành thật tông, Tam luận tông, Niết bàn tông, Luật tông, Địa luận tông, Tịnh Độ tông, Thiền tông, Nhiếp luận tông, Thiên thai tông, Hoa Nghiêm tông, Pháp tướng tông và Chân ngôn tông. (Chú ý: Theo Cmuller, Trung Hoa chỉ có 12 tông !) 2. Ở Nhật Bản, đó là: Hoa Nghiêm tông, Pháp tướng tông, Luật tông, Thiên thai tông, Chân ngôn tông ( còn được gọi là Mật tông 密教; j: Mikkyō), Lâm tế tông, Tào đông tông, Hoàng Bá tông, Tịnh Độ tông, Chân tông, Dung thông niệm Phật tông (融通念佛宗; j:Yūzū-nembutsu school ), Nhật Liên tông, và Thời tông ( 時宗; j: Ji )
thập tam tư cụ y
(十三資具衣) Cũng gọi Thập tam chủng y. Chỉ cho 13 thứ vật dụng thuộc về y phục của tỉ khưu được giới luật cho phép sử dụng, đó là: 1. Tăng già lê: Hán dịch là đại y, trọng y, tức áo 9 điều, áo 25 điều. 2. Uất đa la tăng: Hán dịch là thượng y, tức áo 7 điều. 3. An đà hội: Hán dịch là nội y, tức áo 5 điều. 4. Ni sư đàn: Hán dịch tọa cụ, phu cụ, tức đồ dùng để ngồi hoặc nằm. 5. Quần: Cũng gọi Lí y, Niết bàn y. Tức tấm vải quấn nửa mình phía dưới. 6. Phó quần: Một loại quần. 7.Tăng kì chi: Hán dịch là phú dịch y, yểm dịch y. Tức mảnh vải được dùng để che phần nách. 8. Phó tăng kì chi: Cũng là loại áo mặc để che phần nách. 9. Thức thân cân: Khăn lau mình. 10. Thức diện cân: Khăn lau mặt. 11. Thế phát y: Khăn choàng lúc cạo tóc.12. Cái sang cân: Cũng gọi già sang giới y. Tức miếng vải để băng ghẻ lở. 13. Dược tư cụ y: Cũng gọi dược trực y. Chỉ cho mảnh vải dùng để thay đổi thuốc khi bị bệnh. Phiên dịch danh nghĩa đại tập thì thay 3 thứ 9, 10, 13 bằng khăn tay, áo mưa và cái đãy, gọi là Thập tam tư cụ y. (xt. Pháp Y).
thập tam đại viện
(十三大院) Cũng gọi Thập tam đại hội. Chỉ cho 13 viện lớn trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, đó là: Viện Trung đài bát diệp, viện Biến tri, viện Trì minh, viện Quán âm, viện Tát đỏa, viện Thích ca, viện Văn thù, viện Hư không tạng, viện Tô tất địa,viện Địa tạng, viện Trừ cái chướng, viện Ngoại Kim cương bộ và viện Tứ đại hộ. Trong Mạn đồ la hiện nay không có viện Tứ đạihộ mà chỉ có 12 viện. (xt. Thai Tạng Giới Mạn Đồ La).
thập thiền
(十禪) Chỉ cho 10 giai đoạn của thiền định từ thấp lên cao. Đó là: 1. Xuất gia thanh tịnh thiền: Thiền xuất gia thanh tịnh. 2. Cận thiện tri thức thanh tịnh thiền: Thiền thanh tịnh gần thiện tri thức. 3. A lan nhã xứ thiền: Thiền ở nơi vắng vẻ. 4. Li hí luận hội náo thiền: Thiền xa lìa hí luận ồn ào. 5. Thân tâm nhu nhuyến thiền: Thiền thân tâm nhẹ nhàng êm dịu. 6. Trí tuệ tịch tĩnh nhất thiết âm thanh thiền: Thiền trí tuệ dứt bặt tất cả âm thanh. 7. Thất giác bát đạo thiền: Thiền thuộc Thất giác chi và Bát thánh đạo. 8. Li vị trước chư phiền não thiền: Thiền xa lìa các phiền não đắm trước. 9. Thông minh thanh tịnh thiền: Thiền thông minh thanh tịnh. 10. Nội trí phương tiện du hí thần thông thiền: Thiền phương tiện hiện trí thần thông du hí.
Thập thiện
(十善): hay Thập Thiện Nghiệp (s: daśakuśala-karmāni, 十善業), Thập Thiện Nghiệp Đạo (十善業道), Thập Thiện Đạo (十善道), Thập Thiện Căn Bản Nghiệp Đạo (十善根本業道), Thập Bạch Nghiệp Đạo (十白善道), tức là 10 việc làm tốt lành của thân, miệng và ý; gồm 3 nghiệp của thân là: (1) Không Sát Sanh, (2) Không Trộm Cắp, (3) Không Tà Dâm; 4 nghiệp của miệng là (1) Không Nói Dối, (2) Không Nói Lời Thêu Dệt, (3) Không Nói Lời Thô Ác, (4) Không Nói Hai Lưỡi; và 3 nghiệp của ý là (1) Không Tham Dục, (2) Không Sân Nhuế, (4) Không Tà Kiến. Mười điều trên được gọi là Thập Thiện Giới (十善戒). Những pháp hành này nhằm đối trị với 10 điều bất thiện, hay 10 nghiệp ác là (1) Sát Sanh, (2) Trộm Cắp, (3) Tà Dâm, (4) Nói Dối, (5) Nói Lời Thêu Dệt, (6) Nói Lời Thô Ác, (7) Nói Hai Lưỡi, (8) Tham Dục, (9) Sân Nhuế, (10) Tà Kiến. Trong Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh (十善業道經, Taishō No. 600, 1 quyển) do Thật Xoa Nan Đà (s: Śikṣānanda, 實叉難陀, 652-710) nhà Đường dịch, giải thích rất rõ và chi tiết về công đức hành trì từng nghiệp một của Thập Thiện; tỷ dụ như xa lìa việc sát sanh thì sẽ được thành tựu 10 pháp xa lìa phiền não: “Long Vương, nhược ly sát sanh, tức đắc thành tựu Thập Ly Não Pháp. Hà đẳng vi thập ? Nhất ư chư chúng sanh phổ thí vô úy, nhị thường ư chúng sanh khởi đại bi tâm, tam vĩnh đoạn nhất thiết sân nhuế tập khí, tứ thân thường vô bệnh, ngũ thọ mạng trường viễn, lục hằng vi phi nhân chi sở thủ hộ, thất thường vô ác mộng tẩm giac khoái lạc, bát diệt trừ oán kết tự giải, cửu vô ác đạo bố, thập mạng chung sanh thiên (龍王、若離殺生、卽得成就十離惱法、何等爲十、一於諸眾生普施無畏、二常於眾生起大慈心、三永斷一切瞋恚習氣、四身常無病、五壽命長遠、六恆爲非人之所守護、七常無惡夢寢覺快樂、八滅除怨結眾怨自解、九無惡道怖、十命終生天, Long Vương, nếu xa lìa sát sanh, tức đạt được Mười Pháp Lìa Phiền Não. Thế nào là mười ? Một là ban khắp sự không sợ hãi cho các chúng sanh; hai là thường khởi tâm từ bi lớn đối với chúng sanh; ba là mãi đoạn tất cả tập khí sân nhuế; bốn là thân thường không bệnh; năm là thọ mạng dài lâu; sáu là thường được hàng phi nhân bảo hộ; bảy là ngũ thường không có ác mộng, tỉnh thức khoái lạc; tám là diệt trừ mọi oan kết, các oan khiên tự giải mở; chín là không sợ hãi trong đường ác, mười là khi mạng hết được sanh lên Trời).” Hay như trong Phật Thuyết Tín Giải Trí Lực Kinh (佛說信解智力經, Taishō No. 802) có đoạn: “Hựu phục chúng sanh, dĩ thân khẩu ý hành Thập Thiện Nghiệp, bất báng hiền thánh, khởi ư Chánh Kiến, tác chư thiện nghiệp, hành chư thiện pháp, giai thị chánh nhân sở khởi, do thử Chánh Kiến nhân duyên cố, mạng chung chi hậu, sanh ư thiên giới (又復眾生、以身口意行十善業、不謗賢聖、起於正見、作諸善業、行諸善法、皆是正因所起、由此正見因緣故、命終之後、生於天界, lại có chúng sanh, lấy thân miệng ý hành Mười Nghiệp Thiện, không phỉ báng hiền thánh, khởi lên Chánh Kiến, làm các nghiệp thiện, hành các pháp thiện, đều là do khởi lên nhân đúng, do nhân duyên Chánh Kiến này, sau khi mạng hết, sanh lên cõi Trời).”
; xem Mười điều lành.
; 十善; S: daśakuśalakarmāṇi|Là mười việc thiện được thực hiện qua thân (3), khẩu (4) và ý (3). Thập thiện bao gồm: |1. Bất sát sinh (不殺生; s: pāṇāṭipātā paṭi-virati); 2. Bất thâu đạo (不偷盜; adat-tādānādvirati), tức là không trộm cắp; 3. Bất tà dâm (不邪婬; kāmamithyācārādvira-ti); 4. Bất vọng ngữ (不妄語; mṛṣāvā-dātvirati), nghĩa là không nói xằng, nói bậy; 5. Bất lưỡng thiệt (不兩舌; paisunyātvira-ti), không nói hai lời; 6. Bất ác khẩu (不惡口; pāruṣyātprativirati), không nói xấu người; 7. Bất ỷ ngữ (不綺語; saṃbinnapra-lāpātprativirati), không dùng lời thêu dệt không đâu; 8. Bất tham dục (不貪欲; abhi-dhyāyāḥprativirati); 9. Bất thận khuể (不慎恚; vyāpādātprativirati), không giận dữ; 10. Bất tà kiến (不邪見; mithyādṛṣṭi-prativi-rati), không ôm ấp những ý niệm, kiến giải sai lầm.
thập thiện
Daśākuśala (S), Ten whole-someness.
; The ten good characteristics, or virtues, defined as the non-committal of the ten evils. Thân tam khẩu tứ ý tam. The three commandments dealing with the body, probihiting taking of life, thief, unchastity; the four dealing with the mouth against lying, exaggeration, abuse and ambiguous talk; the three belonging to the mind, covetousness, malice and unbelief. Thập thiện giới. The ten commandments (as observed by the laity).
thập thiện bồ tát
(十善菩薩) Chỉ cho hàng Bồ tát giai vị Thập tín thuộc Viên giáo, tông Thiên thai, tương đương với giai vị Lục căn thanh tịnh của phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa quyển 6. Hàng Bồ tát này biết rõ Thập tín đoạn hoặc, mỗi Tín đều có đủ 10 thiện. Phẩm Bồ tát giáo hóa trong kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng (Đại 8, 827 trung) nói: Bồ tát thập thiện phát đại tâm, lìa hẳn biển khổ luân ba cõi. Tông Chân ngôn của Nhật bản thì cho rằng Bồ tát Thập thiện không hạn cuộc ở Thập tín mà chung cho cả hàng Bồ tát Thập tín, Tam hiền. [X. Pháp hoa huyền nghĩa (hội bản) Q.5, thượng; Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.27; luận Thập trụ tâm Q.2]
Thập thiện Chánh pháp
xem Mười điều lành.
Thập Thiện Nghiệp
(s: daśakuśala-karmāni, 十善業): xem Thập Thiện (十善) bên trên.
Thập thiện nghiệp
xem Mười điều lành.
thập thiện nghiệp
Daśakuśala-karmani (S), Ten wholesome karmas.
; The excellent karma resulting from practice of the ten commandments.
thập thiện nghiệp đạo kinh
(十善業道經) Kinh, 1 quyển, do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này nói về công đức 10 nghiệp thiện. Kinh nói: Người bỏ hẳn 10 điều ác mà tu hành 10 điều thiện thì có các công đức sau đây: Người không giết hại thành tựu 10 pháp lìa ưu não; người không trộm cướp được 10 pháp đáng tin cậy, người không tà dâm được 4 pháp người trí ngợi khen, người không nói dối được 8 pháp chư thiên khen ngợi, người không nói 2 lưỡi được 5 pháp không thể hư hoại, người lìa ác khẩu thành tựu 8 nghiệp thanh tịnh, người không nói thêu dệt thành tựu 3 thứ quyết định, người xa lìa tham dục thành tựu 5 thứ tự tại, người không giận tức được 8 pháp khiến tâm vui mừng, người không tà kiến thành tựu 10 pháp công đức... Kinh này là bản dịch lại phẩm Thập đức lục độ trong kinh Hải long vương. Kinh Phật vị Sa già la long vương sở thuyết Đại thừa do ngài Thí hộ dịch vào đời Bắc Tống là cùng bản tiếng Phạm với kinh này.
Thập thiện nghiệp 十善業
[ja] ジュウゼンゴウ jūzengō ||| The 'ten good acts.' (1) 不殺生 not killing; (2) 不偸盗 not stealing; (3) 不邪淫 not committing adultery; (4) 不妄語 not lying; (5) 不惡口 not speaking harshly; (6) 不兩舌 not speaking divisively; (7) 不綺語 not speaking idly; (8) 不貪欲 not being greedy (9) 不瞋恚 not being angry; (10) 不邪見 not having wrong views. => Mười việc thiện: 1.Bất sát hại, 2. Bất thâu đạo, 3. Bất tà dâm, 4. Bất ỷ ngữ, 5. Bất ác khẩu, 6. Bất lưỡng thiệt, 7. Bất lưỡng thiệt, 8. Bất tham dục, 9. Bất sân nhuế, 10. Bất tà kiến.
thập thiện thập ác
(十善十惡) Mười nghiệp thiện và 10 nghiệp ác. Thập thiện nghiệp (Phạm: Dazakuzala-karmàni), cũng gọi Thập thiện nghiệp đạo, Thập thiện đạo, Thập thiện căn bản nghiệp đạo, Thập bạch nghiệp đạo, là hành vi thiện do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra. Trái lại, 10 hành vi ác do thân, khẩu, ý gây ra gọi là Thập ác, Thập ác nghiệp. Thập ác nghiệp (Phạm: Dazakuzalakarma-pathàni), cũng gọi Thập bất thiện nghiệpđạo, Thập ác nghiệp đạo, Thập bất thiện căn bản nghiệp đạo, Thập hắc nghiệp đạo. Đó là: Giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối, hai lưỡi(tức nói lời li gián), ác khẩu (tức nói những lời độc ác,nguyềnrủa...), nói thêu dệt, tham dục, sân khuể và tà kiến. Không làm 10 điều ácnàythì tức là làm 10 việc thiện. Theo thứ tự này thì 3 nghiệp đạo đầu thuộc về thân nghiệp, gọi làThân tam, 4 nghiệp đạo kế thuộc vềKhẩu nghiệp, gọi làKhẩu tứ và 3 nghiệp đạo cuối thuộc về ý nghiệp, gọi là Ý tam. Quá trình tạo nghiệp được chia làm 3 giai đoạn là gia hành, căn bản và hậu khởi; 10 nghiệp đạo này thuộc về căn bản, cho nên được lập làm Căn bản nghiệp đạo. Thuyết Thập thiện thập ác được thấy trong nhiều kinh điển Đại, Tiểu thừa. Kinh A hàm cho rằng làm 10 việc thiện sẽ được sinh vào cõi người, cõi trời, còn làm 10 việc ác thì sẽ phải đọa vào 3 đường ác là địa ngục, ngã quỉ và súc sinh. Các bộ phái như Thuyết nhất thiết hữu bộ...chia quả báo thập thiện, thập ác thành 3 loại là Dị thục quả, Đẳng lưu quả và Tăng thượng quả để giải thích. Nhân của việc làm 10 điều ác mà đọa vào 3 đường ác thành quả Dị thục, nhân của nghiệp giết hại phải chịu nhiều bệnh và chết non thành quả Đẳng lưu; nhân của nghiệp sát sinh bị mưa đá, bụi nhơ làm hại thành quả Tăng thượng. Ngoài ra, Thập ác khởi lên từ Gia hành (hành vi dự bị) của bất cứ một bất thiện căn nào trong 3 bất thiện căn tham, sân, si thì ngay lúc hiển hiện liền thành nghiệp đạo. Tức nương vào một bất thiện căn đặc định hoặc bất cứ một bất thiện căn nào trong 3 bất thiện căn mà khởi. Trong 10 việc ác thì sát sinh và tà kiến là nặng nhất. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 35 (bản dịch mới) thì người làm 10 nghiệp thiện, tùy theo mức độ mạnh yếu của thiện mà người ấy được sinh làm người, làm trời, chứngquả Tam thừa, quả Phật; còn người làm ác thì tùy theo mức độ của điều ác mà đọa vào 3 đường ác, tức tính ác mạnh thì rơi vào địa ngục, vừa thì làm súc sinh, yếu thì làm ngã quỉ; hoặc được sinh làm người cũng bị chết yểu, nhiều bệnh và các bất hạnh khác. Thập thiện có ý nghĩa dứt ác làm lành, vì thế cũng gọi là Thập thiện giới, Thập thiện tính giới, Thập căn bản giới. Thập thiện còn là chính pháp thuận lí, cho nên cũng được gọi là Thập thiện chính pháp. Cứ theo kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ thì tu Thập thiện hạ phẩm được làm vua cõi người; Thập thiện trung phẩm làm vua Túc tán, tức vua nước nhỏ; còn Thập thiện thượng phẩm thì làm vua Thiết luân, tức 1 trong các Chuyển luân Thánh vương. Nói theo ý nghĩa này thì Vương vị gọi là Thập thiện vị, Đế vương gọi là Thập thiện quân. Nếu ở đời quá khứ nhờ tu Thập thiện giới mà được công đức này thì gọi là Thập thiện giới lực. Trong tông Thiên thai, hàng Bồ tát Thập tín vị thuộc Viên giáo được gọi là Thập thiện bồ tát. Ngoài ra, theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì: 1. Giết hại, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Nói 2 lưỡi –nói ác –nói dối–nói thêu dệt, 5. Uống rượu, gọi là Ngũ ác, làm trái lại thì gọi là Ngũ thiện. Năm việc này giống với các đức mục của 5 giới, cho nên giữ gìn 5 giới gọi là Ngũ thiện, trái phạm 5 giới thì gọi là Ngũ ác. [X. kinh Trường a hàm Q.15; kinh Tăng nhất a hàm Q.43, 44; kinh Chính pháp niệm xứ Q.1, 2]. (xt. Nghiệp, Nghiệp Đạo).
thập thiện xảo
(十善巧) Mười pháp thiện xảo(khéo léo) do hàng Tam thừa tu tập và quán sát. Đó là: 1. Uẩn thiện xảo: Chỉ cho 5 uẩn. 2. Xứ thiện xảo: Chỉ cho 12 xứ. 3. Giới thiện xảo: Chỉ cho 18 giới. 4. Duyên khởi thiện xảo: Chỉ cho 12 nhân duyên. 5. Xứ phi xứ thiện xảo: Xứ là nhân quả thiện, phi xứ là nhân quả ác. 6. Căn thiện xảo: Chỉ cho 22 căn. 7. Thế thiện xảo: Lí 3 đời vô thường. 8. Đế thiện xảo: Tứ đế và nhân quả thế gian, xuất thế gian. 9. Thừa thiện xảo: Tức Nhị thừa, Tam thừa.10. Hữu vi vô vi thiện xảo: Chỉ cho 2 tính Y tha khởi và Viên thành thực. Vì các pháp uẩn, xứ, giới là đối tượng (sở duyên) cho việc lập bày trí khéo léo để tu tập quán xét, cho nên đặc biệt gọi là Thiện xảo. Có người cho rằng các pháp này có năng lực sinh ra diệu trí thiện xảo. [X. luận Biện trung biên Q.trung; luận Du già sư địa Q.34].
Thập thiện đạo
xem Mười điều lành.
thập thiện đạo
Gồm: + Nghiệp của Thân: - không sát sanh (sát) - không trộm cắp (đạo) - không tà dâm (dâm) + Nghiệp của Khẩu: - không nói láo - không nói lời ác độc - không nói hai lưỡi (nói lời xúc xiểm) - không vọng ngữ (bịa đặt, vu khống, thêu dệt) + Nghiệp của ý: không tham, sân, tà kiến.
Thập thiện 十善
[ja] ジュウゼン jūzen ||| See . => Xem Thập thiện nghiệp 十善業.
thập thành chứng
(十誠證) Chỉ cho cácđức Như lai ở 10 phương thành thực chứng minh bản nguyện của đức Phật A di đà. Kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ (Đại 12, 351 thượng) ghi: Này Xá lợi phất! Vì kinh này khen ngợi công đức cõi Cực lạc của đức Phật Vô lượng thọ không thể nghĩ bàn, chư Phật Thế tôn ở 10 phương cũng vì muốn làm lợi ích an lạc cho các hữu tình nên mỗi vị đều trụ ở cõi nước của mình, hiện thần biến lớn, nói lời thành thực, khuyên các hữu tình tin nhận pháp này, cho nên kinh này được gọi là Xưng tán bất khả tư nghị Phật độ công đức nhất thiết chư Phật nhiếp thụ pháp môn.
Thập thành 十成
[ja] ジュウジョウ jūjō ||| Complete; the full number. => Hoàn toàn; con số trọn vẹn.
thập thánh
Người chứng đắc quả vị từ Sơ địa đến Thập địa, tức là Bồ tát Sơ địa đến Thập địa.
; (十聖) Chỉ cho hàng Bồ tát ở giai vị Thập địa. Vì đối lại với Tam hiền nên gọi là Thập thánh. Nhân vương bát nhã kinh hợp sớ quyển trung cho rằng Tam hiền tức 30 tâm trước 10 Địa, còn Thập thánh tức là hàng Bồ tát Thập địa. Vì Bồ tát Thập địa đều đã đoạn hoặc, chứng được chính tính, cho nên gọi là Thập thánh. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, thượng].
Thập Thánh Tam Hiền
(十聖三賢): Thập Thánh là những vị Bồ Tát thuộc giai vị từ Sơ Địa (初地), tức Hoan Hỷ Địa (s: pramudhitā-bhūmi, 歡喜地), đến Thập Địa (十地), tức Pháp Vân Địa (s: dharmameghā-bhūmi, 法雲地). Tam Hiền là những Bồ Tát thuộc giai vị của Thập Trụ (十住), Thập Hạnh (十行) và Thập Hồi Hướng (十迴向). Như trong Tổ Đình Sự Uyển (祖庭事苑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1261) quyển 8 có định nghĩa rằng: “Tam Hiền Thập Thánh, Hoa Nghiêm minh Thập Trú, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng vi hiền; Thập Địa vi thánh, Diệu Giác vi Phật. Thập Thánh giả, tức Thập Địa thánh nhân; nhất Hoan Hỷ, nhị Ly Cấu, tam Phát Quang, tứ Diệm Huệ, ngũ Nan Thắng, lục Hiện Tiền, thất Viễn Hành, bát Bất Động, cửu Thiện Huệ, thập Pháp Vân. Niết Bàn vân: 'Bồ Tát vị giai Thập Địa, thượng bất năng liễu liễu tri kiến Phật tánh, hà huống Thanh Văn, Duyên Giác chi nhân năng đắc tà kiến; thí như túy nhân dục thiệp viễn lộ, mông lung kiến đạo; Thập Địa Bồ Tát ư Như Lai tri kiến thiểu phân, diệc phục như thị' (三賢十聖、華嚴明十住、十行、十回向爲賢、十地爲聖、妙覺爲佛、十聖者、即十地聖人、一歡喜、二離垢、三發光、四焰慧、五難勝、六見前、七遠行、八不動、九善慧、十法雲、涅槃云、菩薩位階十地、尚不能了了知見佛性、何況聲聞、緣覺之人能得見邪、譬如醉人欲涉遠路、蒙籠見道、十地菩薩於如來知見少分、亦復如是, Ba Hiền Mười Thánh, Kinh Hoa Nghiêm cho biết rõ rằng Mười Trụ, Mười Hạnh và Mười Hồi Hướng là hiền; Mười Địa là thánh, Diệu Giác là Phật. Mười Thánh, tức thánh nhân của Mười Địa; một là Hoan Hỷ, hai Ly Cấu, ba Phát Quang, bốn Diệm Huệ, năm Nan Thắng, sáu Hiện Tiền, bảy Viễn Hành, tám Bất Động, chín Thiện Huệ và mười là Pháp Vân. Kinh Niết Bàn dạy rằng: 'Bồ Tát đang ở giai vị Mười Địa còn không thể liễu ngộ tri kiến Phật tánh, huống gì hạng người Thanh Văn, Duyên Giác tất có thể bị tà kiến; giống như người say muốn vượt con đường xa, thấy đường quờ quạng, Bồ Tát của Mười Địa ít phân biệt được tri kiến của Như Lai, cũng giống như vậy').” Trong Thiền Môn Bảo Tạng Lục (禪門寶藏錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1276) có câu rằng: “Chúng sanh nhược nhất niệm bất sanh, tức đồng chư Phật, hựu Sơ Địa tức Phật Địa, Tam Hiền Thập Thánh do như không trung điểu tích (眾生若一念不生、卽同諸佛、又初地卽佛地、三賢十聖猶如空中鳥跡, nếu chúng sanh một niệm không sanh, tức cùng với chư Phật, và Sơ Địa tức là Phật Địa, Ba Hiền Mười Thánh cũng giống như dấu viết chim trong hư không).”
thập thánh xứ
(十聖處) Chỉ cho 10 pháp tu của hành giả Tiểu thừa, có năng lực sinh ra bậc Thánh, lại vì là chỗ nương của bậc Thánh nên gọi là Thập thánh xứ. Đó là: 1. Đoạn ngũ pháp: Dứt 5 pháp. Tức là đoạn trừ 5 kết sử(phiền não) ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà chứng được A la hán. 2. Thành lục pháp: Thành 6 pháp. Tức thành tựu 6 diệu hạnh. 3. Thủ nhất pháp: Giữmột pháp. Tức chuyên tâm quán xét vô thường, khổ của thân... 4. Y tứ pháp: Nương vào 4 pháp. Tức nương vào 4 Thánh chủng, suốt đời đi xin ăn và khi có bệnh thì chỉ uống thuốc tầm thường. 5. Xả ngụy đế: Bỏ đế giả. Tức đạt được thực tướng, dứt bỏ tất cả kiến chấp, chứng đượcSơ quả. 6. Xả chư cầu: Bỏ các mong cầu. Tức bỏ Dục cầu(cầu pháp cõi Dục), Hữu cầu (cầu pháp cõi Sắc và cõi Vô sắc), Phạm hạnh cầu(cầu học đạo), chứng được quả Vô học.7. Bất trược tư duy: Không tư duy nhơ đục. Tức diệt các phiền não của Tu đạo (Tư hoặc) trong cõi Dục, chứng được 3 quả trước (Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm). 8. Li thân hành: Lìa cáchạnhcủa thân. Tức đoạn trừ các phiền não của cõi Dục, chứng được Tứ thiền. 9. Thiện đắc tâm giải thoát: Khéo được tâm giải thoát. Tức chứng được Tận trí. 10. Thiện đắc tuệ giải thoát: Khéo được tuệ giải thoát. Tức chứng được Vô sinh trí. Thánh xứ 1, 2 là từ A na hàm chứng được A la hán; Thánh xứ 3, 4, 5, 6 là từ phàm phu theo thứ tự tiến lên chứng A la hán; Thánh xứ 7, 8, 9, 10 là từ Tu đà hoàn đến cuối cùng chứng được quả A la hán. [X. kinh Tạp a hàm Q.3; luận Thành thực Q.2; Thập thánh xứ nghĩa trong Đại thừa nghĩa chương Q.14]. (xt. Ngũ Thượng Phần Kết].
Thập Thân
(十身): 10 loại thân của chư Phật, Bồ Tát, còn gọi là Thập Phật (十佛), có 8 loại khác nhau. (1) Mười Thân do đức Như Lai chứng đắc, Hoa Nghiêm Tông gọi là Hành Cảnh Thập Phật (行境十佛), gồm: Bồ Đề Thân (菩提身, là thân Phật thị hiện Tám Tướng thành đạo), Nguyện Thân (願身, thân Phật nguyện sanh về cõi trời Đâu Suất [s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率天]), Hóa Thân (化身, hóa thân sanh trong vương cung), Trú Trì Thân (, thân sau khi tịch diệt để lại Xá Lợi để giữ gìn Phật pháp), Tướng Hảo Trang Nghiêm Thân (相好莊嚴身, thân Phật với vô biên tướng hảo trang nghiêm), Thế Lực Thân (勢力身, thân Phật lấy từ tâm nhiếp phục tất cả), Như Ý Thân (如意身, thân Phật hiện sanh như ý), Phước Đức Thân (福德身, thân Phật thương trú nơi định Tam Muội), Trí Thân (智身, chỉ Bốn Trí như Đại Viên Cảnh Trí [大圓境智], v.v.), Pháp Thân (法身, bản tánh hiểu được Trí Thân). (2) Mười Thân do vị Bồ Tát Thập Địa chứng đắc, gồm: Bình Đẳng Thân (平等身, Bồ Tát ở Địa Thứ Nhất rời các tà khúc, thông đạt pháp tánh, hiện thân bình đẳng), Thanh Tịnh Thân (清淨身, Bồ Tát ở Địa Thứ Hai xa lìa những tổn thất về phạm giới, giới thể thanh tịnh, nên chứng được thân này), Vô Tận Thân (無盡身, Bồ Tát ở Địa Thứ Ba rời các tham sân, đạt được định thù thắng, nên có thân này), Thiện Tu Thân (善修身, Bồ Tát ở Địa Thứ Tư thường siêng năng tu tập Bồ Đề Phần, nên có được thân này), Pháp Tánh Thân (法性身, Bồ Tát ở Địa Thứ Năm quán lý của các Đế, chứng các pháp tánh, nên có được thân này), Bất Khả Giác Tri Thân (不可覺知身, Bồ Tát ở Địa Thứ Sáu quán lý Duyên Khởi [s: pratītya-samutpāda, p: paticca-samppāda, 緣起], xa rời các Tầm, Tứ, nên có được thân này), Bất Tư Nghì Thân (不思議身, Bồ Tát ở Địa Thứ Bảy thiện xảo phương tiện, trí hạnh viên mãn, nên có được thân này), Tịch Tĩnh Thân (寂靜身, Bồ Tát ở Địa Thứ Tám xa lìa các việc hý luận phiền não, nên có được thân này), Hư Không Thân (虛空身, Bồ Tát ở Địa Thứ Chín có thân tướng vô tận, biến khắp tất cả, nên có tên gọi như vậy), Diệu Trí Thân (妙智身, Bồ Tát ở Địa Thứ Mười chứng đắc tất cả các loại trí, tu hành viên mãn, nên có được thân này). (3) Trong Hư Không Nhẫn Thứ Mười của Mười Nhẫn (十忍), vị Bồ Tát chứng đắc 10 loại thân, gồm: Vô Lai Thân (無來身), Bất Sanh Thân (不生身), Bất Tu Thân (不修身), Cụ Túc Bất Thật Thân (具足不實身), Nhất Tướng Thân (一相身), Vô Lượng Thân (無量身), Bình Đẳng Thân (平等身), Bất Hoại Thân (不壞身), Chí Nhất Thiết Xứ Thân (至一切處身), Ly Dục Tế Thân (離欲際身). (4) Tại Thiện Pháp Hạnh Thứ Chín của Mười Hạnh (十行), vị Bồ Tát chứng đắc 10 loại thân, gồm: Vô Lượng Vô Biên Pháp Giới Thân (無量無邊法界身), Vị Lai Thân (未來身), Bất Sanh Thân (不生身), Bất Diệt Thân (不滅身), Bất Thật Thân (不實身), Ly Si Vọng Thân (離癡妄身), Vô Lai Khứ Thân (無來去身), Bất Hoại Thân (不壞身), Nhất Tướng Thân (一相身), Vô Tướng Thân (無相身). (5) Sau khi tu hành viên mãn Mười Hồi Hướng (十廻向), vị Bồ Tát chứng đắc 10 loại thân, gồm: Bồ Tát Bất Lai Thân (菩薩不來身), Bồ Tát Bất Khứ Thân (菩薩不去身), Bồ Tát Bất Thật Thân (菩薩不實身), Bồ Tát Bất Hư Thân (菩薩不虛身), Bồ Tát Bất Tận Thân (菩薩不盡身), Bồ Tát Kiên Cố Thân (菩薩堅固身), Bồ Tát Bất Động Thân (菩薩不動身), Bồ Tát Tướng Thân (菩薩相身), Bồ Tát Vô Tướng Thân (菩薩無相身), Bồ Tát Phổ Chí Thân (菩薩普至身). (6) Trong Mười Hồi Hướng, Hồi Hướng Thứ Mười là vị Bồ Tát hồi hướng cho chúng sanh 10 loại thân, gồm: Minh Tịnh Thân (明淨身), Ly Trược Thân (離濁身), Cứu Cánh Tịnh Thân (究竟淨身), Thanh Tịnh Thân (清淨身), Ly Trần Thân (離塵身), Ly Chủng Chủng Trần Thân (離種種塵身), Ly Cấu Thân (離垢身), Quang Minh Thân (光明身), Khả Ái Lạc Thân (可愛樂身), Vô Ngại Thân (無礙身). (7) Trong Mười Địa, tại Hoan Hỷ Địa (歡喜地), vị Bồ Tát chứng đắc 10 loại thân, gồm: Ba La Mật Thân (波羅蜜身), Tứ Nhiếp Thân (四攝身), Đại Bi Thân (大悲身), Đại Từ Thân (大慈身), Công Đức Thân (功德身), Trí Tuệ Thân (智慧身), Tịnh Pháp Thân (淨法身), Phương Tiện Thân (方便身), Thần Lực Thân (神力身) và Bồ Đề Thân (菩提身). (8) Trong Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) có thuyết về 10 loại thân, gồm: Chúng Sanh Thân (眾生身), Quốc Độ Thân (國土身), Nghiệp Báo Thân (業報身), Nhất Văn Thân (一聞身), Độc Giác Thân (獨覺身), Bồ Tát Thân (菩薩身), Như Lai Thân (如來身), Trí Thân (智身), Pháp Thân (法身) và Hư Không Thân (虛空身). Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Hải Ấn Đạo Tràng Thập Trùng Hạnh Nguyện Thường Biến Lễ Sám Nghi (大方廣佛華嚴經海印道塲十重行願常遍禮懺儀) có câu: “Nam Mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Trung Hoa Tạng Thế Giới Hải Thập Thân Vô Ngại Bổn Tôn Tỳ Lô Giá Na Phật (南無大方廣佛華嚴經中華藏世界海十身無礙本尊毗盧遮那佛).”
thập thân
Ten aspects of the Buddhakàya.
; (十身) Thân, Phạm: Kàya. Cũng gọi Thập Phật. Chỉ cho 10 thứ thân của Phật, Bồ tát. Gồm có 9 loại là: I. Mười thân dung 3 thế gian: TứcGiải cảnh thập Phật theo danh xưng của tông Hoa nghiêm. Hàng Bồ tátBất động địa thứ 8 thuộc Thập địa biết rõ những điều mà trong tâm chúng sinh ưa thích, liền dùng 10 thân là Chúng sinh thân, Quốc độ thân, Nghiệp báo thân, Thanh văn thân, Độc giác thân, Bồ tát thân, Như lai thân, Trí thân, Pháp thân và Hư không thân làm thân mình để tùy căn cơ hóa độ chúng sinh. Trong 10 thân này thì thân Quốc độ thuộc khí thế gian; thân Chúng sinh, thân Nghiệp báo cho đến thân Bồ tát thuộc hữu tình thế gian; thân Như lai cho đến thân Hư không thì thuộc Chính giác thế gian. Tức 10 thân này dung nhiếp các pháp của 3 thế gian, lại do 10 thân và tự thân tác dụng lẫn nhau, dung thông vô ngại, cho nên gọi là Dung tam thế gian thập thân. [X. kinh Hoa nghiêm Q.26 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản dịch mới); Thập địa kinh luận Q.10]. II. Mười thân mà Như lai chứng được: Tức Hành cảnh thập Phật theo danh xưng của tông Hoa nghiêm. Đó là: 1. Bồ đề thân: Thân Phật thị hiện 8 tướng thành đạo. 2. Nguyện thân: Thân Phật nguyện sinh lên cung trời Đâu suất. 3. Hóa thân: Hóa thân sinh trong cung vua.4. Trụ trì thân: Thân xá lợi duy trì Phật pháp sau khi Hóa thân diệt độ. 5. Tướng hảo trang nghiêm thân: Chỉ cho thân Phật có vô biên tướng hảo trang nghiêm. 6. Thế lực thân: Thân Phật dùng đức từ bi nhiếp phục tất cả chúng sinh. 7. Nhưýthân: Thân Phật đối với hàng Bồ tát Địa tiền, Địa thượng mà tùy ý hiện sinh.8. Phúc đức thân: Thân Phật an trụ trong Tam muội(Tam muội là sự tột cùng của phúc đức, vì thế gọi là Phúc đức thân). 9. Trí thân: Chỉ cho 4 trí (Đại viên kính trí)...10. Pháp thân: Tức bản tính mà trí thân rõ suốt. [X. kinh Hoa nghiêm Q.26 (bản dịch cũ)].III. Mười thân mà Bồ tát Thập địa chứng được. Đó là: 1. Bình đẳng thân: Bồ tát Sơ địa lìa các tà khúc, thông suốt pháp tính, cho nên hiện thân bình đẳng. 2. Thanh tịnh thân: Bồ tát Nhị địa xa lìa lỗi phạm giới, giới thể thanh tịnh, cho nên được thân này. 3. Vô tận thân: Bồ tát Tam địa nhờ xa lìa các tham sân, được thắng định, cho nên có thân này. 4. Thiện tu thân: Bồ tát Tứ địa thường siêng năng tu tập Bồ đề phần, cho nên được thânThiện tu. 5. Pháp tính thân: Bồ tát Ngũ địa quán xét lí các đế, chứng tính của các pháp, cho nên được thân Pháp tính. 6. Bất khả giác tri thân: Bồ tátLục địa quán xét lí duyên khởi, xa lìa tầm và tứ, vì thế được thân này. 7. Bất tư nghị thân: Bồ tátThất địa, nhờ phương tiện khéo léo, trí và hạnh tròn đầy, cho nên được thân này. 8. Tịch tĩnh thân: Thân vắng lặng. Bồ tát Bát địa nhờ xa lìa các phiền não và các hí luận mà được thân này. 9. Hư không thân: Bồ tát Cửu địa, có thân tướng vô tận, trùm khắp tất cả, cho nên gọi Hư không thân. 10. Diệu tríthân: Bồ tát Thập địa đã chứng Nhất thiết chủng trí, tu hành viên mãn, cho nên được thân Diệu trí. [X. phẩm Pháp giới trong kinh Thắng thiên vương bát nhã ba la mật Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần đầu].IV. Mười thân mà hàng Bồ tát Như hư không nhẫn trong Thập nhẫn chứng được. Đó là: Vô lai thân, Bất sinh thân, Bất tụ thân, Cụ túc bất thực thân, Nhất tướng thân, Vô lượng thân, Bình đẳng thân, Bất hoại thân, Chí nhấtthiếtxứ thân và Li dục tế thân. [X. phẩm Thập nhẫn trong kinh Hoa nghiêm Q.28 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.44 (bản dịch mới). V. Mười thân mà hàng Bồ tát Thiện pháp hạnh trong Thập hạnh chứng được. Đó là: Nhập vô lượng vô biên pháp giới thân, Vị lai thân, Bất sinh thân, Bất diệt thân, Bất thực thân, Li si vọng thân, Vô lai khứ thân, Bất hoại thân, Nhất tướng thân và Vô tướng thân. [X. kinh Hoa nghiêm Q.11 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.20 (bản dịch mới)] VI. Mười thân mà hàng Bồ tát ở giai vị cuối Thập hồi hướng chứng được. Đó là: Bồ tát bất lai thân, Bồ tát bất khứ thân, Bồ tát bất thực thân, Bồ tát bất hư thân, Bồ tát bất tận thân, Bồ tát kiên cố thân, Bồ tát bất động thân, Bồ tát tướng thân, Bồ tát vô tướng thân và Bồ tát phổ chí thân. [X. kinh Hoa nghiêm Q.40 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17] VII. Mười thân hồi hướng chúng sinh của hàng Bồ tát Pháp giới đẳng vô lượng hồi hướng trong Thập hồi hướng chứng được. Đó là: Minh tịnh thân, Li trược thân, Cứu cánh tịnh thân, Thanh tịnh thân, Li trần thân, Li chủng chủng trần thân, Li cấu thân, Quang minh thân, Khả ái nhạo thân và Vô ngại thân. [X. kinh Hoa nghiêm Q.22 (bản dịch cũ)]VIII. Mười thân mà hàng Bồ tát Hoan hỉ địa trong Thập địa chứng được. Đó là: Ba la mật thân, Tứ nhiếp thân, Đại bi thân, Đại từ thân, Công đức thân, Trí tuệ thân, Tịnh pháp thân, Phương tiện thân, Thần lực thân và Bồ đề thân. [X. kinh Hoa nghiêm Q.40 (bản dịch cũ)].IX. Mười thân mà hàng Bồ tát Pháp vân địa thứ 10 trong Thập địa chứng được. Đó là: Nhân thân, Phi nhân thân, Thiên thân, Học thân, Vô học thân, Duyên giác thân, Bồ tát thân, Như lai thân, Ma nâu ma thân và Vô lậu pháp thân. [X. kinh Hoa nghiêm Q.41 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.57 (bản dịch mới)].
Thập thân 十身
[ja] ジュウシン jūshin ||| The ten bodies of the Buddha; two kinds of ten bodies are presented in the Avataṃsaka-sūtra 華嚴經. I. The ten bodies of the realm of understanding, associated with Vairocana Buddha. (1) zhongshengshen 衆生身 sentient being body; (2) guotushen 國土身 lands body; (3) yebaoshen 業報身 Karma-reward body; (4) shengwenshen 聲聞身śrāvaka-body; (5) dujueshen 獨覺身 pratyekabuddha body; (6) pusashen 菩薩身 bodhisattva body; (7) rulaishen 如来身 tathāgata-body; (8) zhishen 智身 wisdom body; (9) fashen 法身 dharma-body and (10) xukongshen 虚空身 body of absolute space. II. The ten bodies of the realm of practice are. (1) putishen 菩提身 the enlightenment body, the manifestation of a buddha-body attaining enlightenment; (2) yuanshen 願身 vow body, aspiring to be born in Tuṣita Heaven; (3) huashen 化身 'transformation body;' (4) zhuchishen 住持身 'retaining body;' (5) xianghaozhuangyanshen 相好荘嚴身 body adorned with excellent physical characteristics; (6) shīishen 勢力身 body of power; (7) ruyishen 如意身 body manifested at will; (8) fudeshen 福徳身 body of merit and virtue; (9) zhishen 智身 wisdom body; (10) fashen 法身 dharma body, the quintessential buddha-body. => Mười thân của chư Phật. Trong Kinh Hoa Nghiêm trình bày 2 loại 10 thân Phật: I. Mười thân trong cảnh giới giác ngộ, liên hệ với Phật Tỳ lô giá na s: Vairocana Buddha: 1. Chúng sinh thân; 2. Quốc độ thân; 3. Nghiệp báo thân; 4. Thanh văn thân; 5. Độc giác thân; 6. Bồ-tát thân; 7. Như lai thân; 8. Trí thân; 9. Pháp thân; 10. Hư không thân. II. Mười thân trong cảnh giới tu tập. Đó là: 1. Bồ đề thân: thân giác ngộ, ̣ thị hiện thân Phật đã giác ngộ. 2. Nguyện thân: thân phát nguyện sẽ sinh ở cõi trời Đâu suất. 3. Hoá thân. 4. Trú trì thân. 5. Tướng hảo trang nghiêm thân: thân trang nghiêm bằng những tướng tốt đẹp. 6. Thế lực thân: thân sức mạnh. 7. Như ý thân: thân biểu hiện ý nguyện. 8. Phước đức thân. 9. Trí thân. 10. Pháp thân.
thập thí
(十施) Chỉ cho 10 hạnh thí xả mà Bồ tát tu tập. Đó là: 1. Tu tập thí pháp(cũng gọi Phân giảm thí): Bẩm tính của Bồ tát là nhân từ, ưa thích làm việc huệ thí; đối với các thức ăn uống ngon ngọt, tự mình không tham đắm mà ban phát cho chúng sinh, các vật khác cũng thế, còn thừa thì Bồ tát mới thụ dụng. 2. Tối hậu nan thí pháp(cũng gọi Kiệt tận thí): Bồ tát bố thí hết những vật cần thiết cho sự sống của mình cho chúng sinh để làm lợi cho họ. 3. Nội thí pháp: Bồ tát thương xót chúng sinhkhổvì già yếu, tật bệnh, cho nên xả thân bố thí để cứu giúp mệnh sống của họ. 4. Ngoại thí pháp(cũng gọi Ngoại xả): Tức bố thí những thứ bên ngoài như ngôi vua, phúc lạc, vật báu... 5. Nội ngoại thí pháp: Ngôi vua là ngoại, thân làm các việc khó nhọc là nội; nội ngoại đều bố thí. 6. Nhất thiết thí pháp: Tất cả ân ái rồi sẽ chia lìa, chẳng lợi ích gì, vì thế Bồ tát phải xa lìa hạnh tham ái, buông bỏ tất cả để huệ thí chúng sinh. 7. Quá khứ thí: Vì độ hóa chúng sinh nên Bồ tát thị hiện thân mình giảng nói đạo pháp, giúp chúng sinh thành tựu Phật pháp; lại quán xét các pháp quá khứ, dù có tìm cầu khắp 10 phương cũng đều không được, nên đều xa lìa. 8. Vị lai thí: Bồ tát nghe chư Phật và Bồ tát đời vị lai tu hành thiện căn, đầy đủ công đức, Bồ tát chẳng vì các công đức ấy mà chuyên tu thiện căn, cũng không phế bỏ, chỉ nhân cảnh giới ấy giáo hóa chúng sinh, quán xét chân thực, chẳng phải có xứ sở, chẳng phải không xứ sở, chẳng phải trong chẳng phải ngoài, nếu pháp là chẳng có thì nên buông bỏ. 9. Hiện tại thí: Nghe các công đức của 6 tầng trời cõi Dục, cõi Sắc, Ngũ tịnh cư, Nhị thừa... ở hiện tại, như huyễn như hóa, vì chúng sinh không biết nên bị trôi lăn trong đường ác, Bồ tát bèn nói pháp cho họ nghe, giúp họ xa lìa ác đạo, thành tựu Phật pháp, tu đạo Bồ tát, tâm không hoặc loạn.10. Cứu cánh thí: Bồ tát quán xét thân người hư dối, nên nghĩ đến việc xả bỏ thân này để bố thí cho chúng sinh kia, mong tròn thệ nguyện của mình khiến các chúng sinh tùy theo sở nguyện được khai ngộ mà thành tựu pháp thân thanh tịnh. [X. Hoa nghiêm kinh đại sớ sao Q.21; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.7].
thập thù thắng ngữ
(十殊勝語) Chỉ cho 10 thù thắng ngữ, là giáo thể của Đại thừa. 1. Sở tri y thù thắng thù thắng ngữ: Thức A lại da là bản thể sở tri, nên gọi là Sở tri y. 2.Sở tri tướng thù thắng thù thắng ngữ: Sở tri tướng là chỉ cho 3 tự tướng của thức A lại da, tức tự tính Biến kế sở chấp, tự tính Y tha khởi và tự tính Viên thành thực. 3. Nhập sở tri tướng thù thắng thù thắng ngữ: Duy thức tính là thể của sự nhập sở tri tướng, là chỗ chứng nhập của hành giả.4. Bỉ nhập nhân quả thù thắng thù thắng ngữ: Sáu Ba la mật thế gian và xuất thế gian là thể nhập nhân quả kia, 6 Ba la mật của Địa tiền thế gian là Nhân, 6 Ba la mật của Địa thượng xuất thế gian là Quả, là nơi hành giả tu nhập. 5. Bỉ nhân quả tu sai biệt thù thắng thù thắng ngữ: Tức nhân quả sai biệt(6 Ba la mật thế gian, xuất thế gian vừa nói trên) trong hành pháp Thập địa mà hành giả nên tu tập. 6. Tăng thượng giới thù thắng thù thắng ngữ: Luật nghi là thể của Tăng thượng giới, tức trong Thập địa tu sai biệt thì đặc biệt nương vào giới mà tu học, không được làm tất cả việc bất thiện. 7. Tăng thượng tâm thù thắng thù thắng ngữ: Lấy các Tam ma địa của Thủ lăng già ma hư không tạng... làm thể, tức trong Thập địa tu sai biệt, đặc biệt nương vào tâm mà tu học nhằm phát sinh các Tam ma địa. 8. Tăng thượng tuệ thù thắng thù thắng ngữ: Tuệ này lấy trí vô phân biệt làm thể, trong pháp tu Thập địa sai biệt, đặc biệt nương vào tuệ mà tu học, nhằm phát sinh trí vô phân biệt. 9. Bỉ quả đoạn thù thắng thù thắng ngữ: Lấy vô trụniết bàn thể, y cứ theo việc hành giả đoạn trừ 2 chướng chứng được mà gọi là Bỉ quả đoạn. 10. Bỉ quả trí thù thắng thù thắng ngữ: Ba thân Phật(Tự tính thân, Thụ dụng thân, Biến hóa thân) là thể của quả trí kia; quả trí chỉ cho 4 trí như Đại viên kính trí... mà 3 thân nương tựa, là trí đức phát sinh khi hành giả đã lìa tất cả chướng. Mười pháp trên đây gọi là Nhân của Thù thắng thù thắng ngữ, vì thể của 10 pháp thù thắng nên gọi là thù thắng; do thể đã thù thắng mà ngôn ngữ nói ra cũng thù thắng, cho nên gọi là Thù thắng thù thắng ngữ. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.1 (bản dịch của ngài Huyền trang)].
thập thất chủng trang nghiêm
(十七種莊嚴) Chỉ cho 17 thứ y báo trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạccủaPhật A di đà nói trong luậnTịnh độ của ngài Thiên thân, tức sự thanh tịnh của khí thế gian. Đó là: Thanh tịnh trang nghiêm, Lượng trang nghiêm, Tính trang nghiêm, Hình tướng trang nghiêm, Chủng chủng sự trang nghiêm, Diệu sắc trang nghiêm, Xúc trang nghiêm, Tam chủng trang nghiêm, Vũ trang nghiêm, Quang minh trang nghiêm, Diệu thanh trang nghiêm, Chủ trang nghiêm, Quyến thuộc trang nghiêm, Thụ dụng trang nghiêm, Vô chư nạn trang nghiêm, Đại nghĩa môn trang nghiêm và Nhất thiết sở cầu mãn túc trang nghiêm.
thập thất chủng tịnh độ
(十七種淨土) Mười bảy Tịnh độ của Bồ tát, tức là 17 pháp đức Phật nói cho đồng tử Bảo tích nghe ở trong vườn cây Am ma la (cây xoài)tại nước Tì da li, ghi trong phẩm Phật quốc kinh Duy ma cật quyển thượng. Đó là: Trực tâm, Thâm tâm, Đại thừa tâm, Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tiến, Thiền định, Trí tuệ, Tứ vô lượng, Tứ nhiếp pháp, Phương tiện, 37 đạo phẩm, Hồi hướng tâm, Trừ 8 nạn, Giữ giới hạnh, Thập thiện.
thập thất cú
(十七句) Chỉ cho 17 câu nói về pháp môn nội chứng của Kim cươngtát đỏa, có xuất xứ từ đoạn đầu của kinh Bát nhã lí thú. Đó là: Diệu thích thanh tịnh cú, Dục tiễn thanh tịnh cú, Xúc thanh tịnh cú, Ái phược thanh tịnh cú, Nhất thiết tự tại chủ thanh tịnh cú, Kiến thanh tịnh cú, Thích duyệt thanh tịnh cú,Ái thanh tịnh cú, Mạn thanh tịnh cú, Trang nghiêm thanh tịnh cú, Ý tư trạch thanh tịnh cú, Quang minh thanh tịnh cú, Thân lạc thanh tịnh cú, Sắc thanh tịnh cú, Thanh thanh tịnh cú, Hương thanh tịnh cú và Vị thanh tịnh cú. Kinh Lí thú dùng dục lạc giữa nam nữ để biểu thị pháp môn đại lạc nội chứng của Kim cương tát đỏa nhằm hiển bày ý nghĩa cùng tột Phiền não tức bồ đề. Lí thú thích phối hợp 17 câu này với 17 chữ chân ngôn của Kim cương tát đỏa và 17 vị tôn trong Mạn đồ la làm pháp nội chứng của Tát đỏa. Sự phối hợp ấy được đồ biểu như sau. (Thiếu đồ biểu)
thập thất quần tỉ khâu
(十七群比丘) Chỉ cho nhóm tăng trẻ gồm 17 người sống ở thành Vương xá được tôn giả Mục liên hóa độ làm đệ tử Phật. Theo Chỉ trì hội tập âm nghĩa thì trong thành La duyệt có 17 đồng tử kết làm bạn thân, các đồng tử muốn cùng xuất gia, bèn đến tăng già lam cầu xin được độ, các vị tỉ khưu liền chấp nhận cho xuất gia và truyền trao giới Cụ túc. Nhưng phần nhiều vẫn còn quen tính đùa giỡn, ít tu tập thiền định, trong đó chỉ có đồng tử Ưu bà li (không phải tôn giả Ưu bà li trì luật), là người trước tiên đoạn hết phiền não, chứng qủa A la hán.
Thập thất thiên 十七天
[ja] ジュウシチテン jūshichiten ||| The seventeen dhyāna heavens of the form realm. See 色界十七天. => Cõi trời thiền thứ 17 của cõi Sắc. Xem Sắc giới thập thất thiên 色界十七天.
thập thất tôn
(十七尊) Chỉ cho 17 vị tôn trong hội Lí thú của Mạn đồ la Kim cương giới và trong Mạn đồ la thập thất đoạn của kinh Lí thú, tức Bản tôn, Tứ thân cận, Bát cúng dường và Tứ nhiếp. Trong đó, Tứ thân cận tượng trưng cho 4 trí của Bản tôn, cùng với Bản tôn hợp thành 5 trí.
thập thất điều hiến pháp
(十七條憲法) Hiến pháp gồm 17 điều do Thái tử Thánh đức soạn vào năm 604 đời Thiên hoàng Suy cổ của Nhật bản. Hiến pháp là những lời huấn dụ về chính trị, đạo đức đối với hạng hào tộc, quan lại đương thời tại Nhật bản. Nội dung chủ yếu nhấn mạnh các việc: Lấy hòa hợp làm trọng, tôn sùng Phật giáo, uy quyền của nhà vua, chính trị công chính... đã phảnánh rất rõ tinh thần Phật giáo... Ngoài ra, về tôn ti giữa vua và quan cũng phân rõ ràng, điều này chịu ảnh hưởng tư tưởng của các Nho gia, Pháp gia Trung quốc. Đương thời, Thái tử Thánh đức có ý đối kháng với Trung quốc, Triều tiên nên gấp rút hình thành thể chế chính trị trung ương tập quyền lớn mạnh, lấy Thiên hoàng làm trung tâm, do đó dùng Hiến pháp 17 điều làm chính sách để sửa đổi mối tệ của chế độ thị tộc. Tuy nhiên, cũng có người ngờ rằng bản Hiến pháp này là ngụy tạo.
thập thất địa
(十七地) Chỉ cho 17 cảnh giới được chia theo hạnh tu của hành giả Du già, ghi trong luận Du già sư địa quyển 1 50.Đó là: 1. Ngũ thức thân tương ứng địa. 2.Ý địa. 3. Hữu tầm hữu tứ địa. 4. Vô tầm duy tứ địa. 5. Vô tầm vô tứ địa. 6. Tam ma hi đa địa. 7. Phi tam ma hi đa địa. 8. Hữu tâm địa. 9. Vô tâm địa. 10. Văn sở thành địa. 11. Tư sở thành địa. 12. Tu sở thành địa. 13. Thanh văn địa. 14. Độc giác địa. 15. Bồ tát địa. 16. Hữu dư y địa. 17. Vô dư y địa. Trong 17 cảnh địa trên, 9 địa đầu thuộc về cảnh giới của Tam thừa, quán xét các cảnh này sẽ sinh khởi hạnh của 6 địa sau, lại nương vào hạnh này mà chứng được quả của 2 địacuối. Đây là biểu thị thứ tự của Cảnh, Hành, Quả.
thập thần lực
(十神力) I. Thập Thần Lực. Chỉ cho 10 thứ thần biến mà đức Phật thị hiện sau khi giảng nói kinh Pháp hoa. Đó là: 1. Hiện tướng lưỡi rộng dài đến tận cõi trời Phạm thế. 2. Từ vô số lỗ chân lông phóng ra vô số tia sáng nhiều màu sắc, chiếu khắp các thế giớitrong 10 phương. 3. Thu nhiếp tướng lưỡi và đằng hắng. 4. Khảy móng tay. 5. Do 2 âm thanh đằng hắng và khảy móng tay mà mặt đất rúng động 6 cách. 6. Do sự rúng động này mà chúng sinh ở khắp các thế giới trong 10 phương đều đến nhóm họp. 7. Trời,rồng, Dạ xoa... thấy sự trang nghiêm của pháp hội này, trăm nghìn muôn ức Bồ tát và các tứ chúng cung kính vây quanh đức Phật Thích ca mâu ni, sinh tâm vui mừng và ở trong hư không xướng lớn những lời khuyến khích lễ bái cúng dường Phật Thích ca mâu ni. 8. Các chúng sinh nghe tiếng trong hư không, chắp tay hướng về thế giới Sa bà, qui mệnh xưng danh. 9. Từ xa rải các thứ hoa hương, anh lạc, phan lọng... vào cõi Sa bà. 10. Các thế giới ở 10 phương thông suốt vô ngại như một cõi Phật. [X. phẩm Thần lực kinh Pháp hoa; Pháp hoa văn cú kí Q.29]. II. Thập Thần Lực. Chỉ chomười lực của Như lai và Bồ tát. (xt. Thập Lực).
thập thần lực vô ngại dụng
(十神力無礙用) Cũng gọi Thần lực tự tại. Mười thần lực vô ngại của hàng Bồ tát thuộc giai vị Như tướng hồi hướng thứ 8 trong giai vị Thập hồi hướng. Đó là: 1. Đặt bất khả tư nghị thế giới vào một hạt bụi mà không trở ngại. 2. Trong một hạt bụi hiển hiện tất cả pháp giới và cõi Phật mà không trở ngại. 3. Trong mỗi lỗ chân lông chứa đựng nước của tất cả biển lớn, rồi qua lại vòng quanh các thế giới trong 10 phương mà không va chạm, phiền nhiễu chúng sinh. 4. Trong tự thân của bất khả thuyết thế giới thị hiện tất cả thần thông mà không trở ngại. 5. Dùng một sợi lông buộc vô lượng núi Kim cương vi đem đi khắp 10 phương mà không làm cho chúng sinh sợ hãi. 6. Thu rút bất khả thuyết kiếp vào làm một kiếp, một kiếp kéo dài ra làm bất khả thuyết kiếp, hiển hiện sự thành hoại khác nhau mà không làm cho chúng sinh sợ hãi. 7. Trong tất cả thế giới hiển hiện các tai nạn nước, lửa, gió... biến hoại mà không gây phiền nhiễu cho chúng sinh. 8. Khi 3 tai nạn hủy hoại tất cả thế giới, giữ gìn các vật dụng sinh hoạt cho tất cả chúng sinh không để bị tổn hại, thiếu thốn. 9. Dùng một tay cầm bất khả thuyết thế giới ném ra ngoài bất khả thuyết thế giới, mà không làm cho chúng sinh kinh hãi.10. Nói tất cả các cõi đồng với hư không khiến các chúng sinh đều được hiểu tỏ. (xt. Thập Vô Ngại Dụng).
thập thắng hạnh
(十勝行) Chỉ cho 10 hạnh tu thù thắng. I. Thập Thắng Hạnh. Mười thắng hạnh mà Bồ tát Thập địa phải tu để đạt đến Đạiniết bàn, tức là Thập ba la mật. (xt. Thập Ba La Mật). II. Thập Thắng Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh tu thù thắng của bồ tát Du hí tự tại, đó là: 1. Thắng hạnh dùng vô lượng phương tiện môn hiện bày chúng sinh trong khắp tất cả pháp giới. 2. Thắng hạnh dùng vô lượng thứ trang nghiêm hiện bày chúng sinh trang nghiêm khắp tất cả pháp giới. 3. Thắng hạnh biết rõ tất cả chúng sinh giới thảy đều như hóa. 4. Thắng hạnh ở trong thân Như lai sinh ra thân Bồ tát, ở trong thân Bồ tát sinh ra thân Như lai. 5. Thắng hạnh tronghư không giới sinh ra thế giới, trong thế giới sinh ra hư không giới.6. Thắng hạnh ở trong sinh tử giới sinh raniết bàn giới, ở trongniết bàn giới sinh ra sinh tử giới. 7. Thắng hạnh trong một âm thanh chúng sinh sinh ra tất cả âm thanh Phật pháp. 8. Thắng hạnh trong vô lượng thân môn thị hiệnmột thân, trong một thân môn lần lượt thị hiện tất cả các thân. 9. Thắng hạnh dùng một thân trùm khắp tất cả thế giới. 10. Thắng hạnh chỉ trong một niệm khiến tất cả chúng sinh sinh ra vô lượng vô biên pháp môn thành đẳng chính giác. Kinh Hoa nghiêm quyển 56 (bản dịch mới), gọi Thập thắng hạnh này là Thập chủng cảnh giới. [X. kinh Hoa nghiêm Q.39 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17]. III. Thập Thắng Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh(việc làm) được sinh lên cõi trời Phạm phụ. Đó là: 1. Xây tháp để cúng dường xá lợi Như lai. 2. Làm chùa, lập vườn và tứ sự cúng dường chư tăng 4 phương. 3. Làm cho các đệ tử Phật không hòa hợp được hòa hợp. 4. Tu tập 4 vô lượng(từ, bi, hỉ, xả). 5. Xả bỏ mệnh sống của mình để cứu mẹ.6. Xả bỏ thân mệnh của mình để cứu cha.7. Xả bỏsinhmệnh mình để mệnh của Như lai. 8. Xuất gia trong chính pháp. 9. Khuyên người khác xuất gia. 10. Khi Phật chưa thuyết pháp, xinNgài thuyết pháp. Nhờ 10 thắng hạnh trên đây mà được sinh lên cõi trời Phạm phụ, hưởng thụ khoái lạc trong 40 trung kiếp, vì thế gọi là Thắng hạnh. [X. luận Câu xá Q.18; luận Thuận chính lí Q.44; luận A tì đạt ma hiển tông Q.24; Câu xá luận quang kí Q.18].
thập thế
(十世) Mười đời. Tức 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai, mỗi đời đều có 3 đời, cộng chung thành 9 đời; 9 đời này dung hòa vào nhau thànhmột đời, hợp lại thành 10 đời. Hoa nghiêm kinh vấn đáp quyển thượng y cứ vào sự tiếp nối của một đời người mà chủ trương Thập thế, như quá khứ làm súc sinh, hiện tại làm người, vị lai làm Phật. Trong đó, 3 đời của quá khứ là: 1. Quá khứ của quá khứ: Tự thân là súc sinh. 2. Hiện tại của quá khứ: Súc sinh ấy là người ở hiện tại. 3. Vị lai của quá khứ: Súc sinh ấy là Phật ở vị lai. Ba đời của đời hiện tại là: 1. Quá khứ của hiện tại: Người ở đời hiện tại là súc sinh của đời quá khứ. 2. Hiện tại của hiện tại: Ngườinày tự là người ở đương thời. 3. Vị lai của hiện tại: Người hiện tại là Phật ở vị lai. Ba đời của đời vị lai là: 1. Vị lai của vị lai: Phật ở vị lai tức là Phật của thời ấy. 2. Hiện tại của vị lai: Phật ấy đang là người của hiện tại. 3. Quá khứ của vị lai: Phật ấy chính là súc sinh ở quá khứ. Pháp 9 đời như vậy tức là ở một niệm, cho nên là đời thứ 10. [X. kinh Hoa nghiêm Q.37 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp Q.hạ]. (xt. Tam Thế).
thập thế cách pháp dị thành môn
(十世隔法異成門) Một trong 10 huyền môn của tông Hoa nghiêm, biểu thị tính chất viên dung vô ngại của thời gian. Môn này hiển bày các pháp đều là duyên khởi nhất thể, để phá sự nghi chấp của chúng sinh cho rằng thời gian có dời đổi và không thể đầy đủ trong một niệm. Ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, mỗi đời đều có bao hàm 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai, cộng chung là 9 đời, các pháp trong 9 đời không ngoài một niệm hiện tiền, 9 đời trước là riêng, một niệm là chung, riêng chung hợp lại, gọi là Thập thế. Thập thế phân chia riêng biệt, không lẫn lộn nhau, gọi là Cách pháp, thập thế, cách pháp tương tức tương nhập, không mất tướng trước sau, dài ngắn khác nhau, gọi là Dị thành. Thời gian vốn không đầu không cuối, 3 đời làm nhân làm quả lẫn nhau, vì thế một niệm tức vô lượng kiếp, vô lượng kiếp tức một niệm, như giấc mộng trong một đêm thấy suốt trăm năm, lúc nhập lúc xuất, nhập thế xuất thế dung hòa vào nhau không ngăn ngại, là một trong các tướng vô ngại được biểu hiện trong định Phật hải ấn. Như Đại sư Trí khải lúc xem kinh Pháp hoa, nhập vào Tam muội Pháp hoa, thần thức đến núi Linh thứu tham dự hội Pháp hoa mà đức Phật Thích ca đã khai giảng nghìn năm trước, đồng thời lại nói chuyện với Thiền sư Tuệ tư cách Phật Thích ca nghìn năm sau.[X. phẩm Bất tư nghị pháp; phẩm Li thế gian, phẩm Phổ hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa nghiêm; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).
thập thế giới
(十世界) I. Thập Thế Giới. Cũng gọi Thập trùng thế giới. Chỉ cho 10 thế giới thuộc cảnh giới Bồ tát từ Sơ địa trở lên ngoài 3 nghìn thế giới được nêu trong kinh Hoa nghiêm quyển 56 (bản dịch cũ). Đó là: 1. Thế giới tính: Có nghĩa đồng loại. 2. Thế giới hải: Có nghĩa nhiều sắc loại, sâu rộng. 3. Thế giới luân: Có nghĩa đồng dụng. 4. Thế giới viên mãn: Có nghĩa đầy đủ mọi đức. 5. Thế giới phânbiệt: Có nghĩa không xen lẫn. 6. Thế giới toàn: Có nghĩa xoay tròn. 7. Thế giới chuyển: Có nghĩa xoay nghiêng. 8. Thế giới liên hoa: Có nghĩa phô bày. 9. Thế giới tu di: Có nghĩa thù thắng, vi diệu. 10. Thế giới tướng: Có nghĩa hình dáng. [X. Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1, hạ].II. Thập Thế Giới. Chỉ cho vô lượng thế giới ở 10 phương thuộc Hoa tạng thế giới hải khác với Thập thế giới nói ở trên, tức chẳng phải 10 thế giới khác nhau mà là tướng trạng được biết củamột thế giới. [X. kinh Hoa nghiêm Q.75 (bản dịch mới); phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm; Hoa nghiêm kinh sớ Q.59].
thập thụ sinh tạng
(十受生藏) Chỉ cho 10 pháp nếu Bồ tát tu tập thành tựu viên mãn thì sẽ được sinh vào nhà Như lai, ghi trong kinh Hoa nghiêm quyển 17. Thụ sinh nghĩa là sinh vào nhà Như lai; Tạng nghĩa là chứa đựng lí sở tu sở chứng. Mười thụ sinh tạng là: 1. Cúng dường chư Phật thụ sinh tạng: Bồ tát nguyện thường cung kính cúng dường tất cả chư Phật, tu các công đức không biết chán đủ, thì được sinh vào nhà Như lai. 2. Phát Bồ đề tâm thụ sinh tạng: Bồ tát phát vô lượngbồ đề tâm, hằng khởi đại bi cứu hộ chúng sinh, nhiếp hóa thành tựu thì được sinh vào nhà Như lai. 3. Quán chư pháp môn tu hành thụ sinh tạng: Bồ tát quán xét tất cả pháp môn, tu học các hạnh nguyện Phổ hiền, giáo hóa điều phục hết thảy chúng sinh thì được sinh vào nhà Như lai. 4. Thâm tịnh tâm phổ chiếu tam giới thụ sinh tạng: Bồ tát có đầy đủ thâm tâm tăng thượng thanh tịnh, được ánh sáng trí tuệ của Như lai, chiếu sáng khắp các núi chướng ngại trong 3 đời thì được sinh vào nhà Như lai. 5. Bình đẳng quang minh thụ sinh tạng: Bồ tát thành tựu pháp nhẫn của chư Phật, ánh sáng bình đẳng chiếu soi tất cả thế gian, ai thấy cũng vui mừng và đều được lợi ích, liền được sinh vào nhà Như lai. 6. Sinh Như lai gia thụ sinh tạng: Bồ tát sinh vào nhà Như lai, được pháp môn rất sâu xa, đầy đủ hạnh nguyện rộng lớn, đồng với thiện căn của Phật cùng một thể tính.7. Phật lực quang minh thụ sinh tạng: Bồ tát sinh trong nhà Như lai, vào trí lực của Phật, được đại quang minh, cúng dường thừa sự tất cả chư Phật. 8. Quán phổ trí môn thụ sinh tạng: Bồ tát sinh trong nhà Như lai, trụ nơi Đồng chân vị, có khả năng quán sát khắp tất cả các pháp môn trí tuệ, hết vô lượng kiếp diễn nói hạnh Bồ tát. 9. Phổ hiện trang nghiêm thụ sinh tạng: Bồ tát sinh trong nhà Như lai, có khả năng trang nghiêm vô lượng cõi Phật, hóa tất cả thân khắp các pháp giới, thành thục chúng sinh. 10. Nhập Như lai địa thụ sinh tạng: Bồ tát sinh trong nhà Như lai, vào nơi Như lai, nhận pháp quán đính, dự vào hàng Phật, biết tất cả hạnh và biết hết thảy chúng sinh tùy thuận điều phục.
thập thức
(十識) Chỉ cho 10 thức: Nhãn thức tâm, nhĩ thức tâm, tị thức tâm, thiệt thức tâm, thân thức tâm, ý thức tâm, mạt na thức tâm, a lại da thức tâm, đa nhất thức tâm (nhất thiết nhất tâm thức) và nhất nhất thức tâm (nhất tâm nhất tâm thức). Tính linh tập quyển 7 gọi 10 thức trên là Thập lự. Thập thức gồm 3 loại: 1. Thập thức của Chân như môn: Tức 8 thức thêm Đa nhất thức tâm và Nhất nhất thức tâm. Theo luận Thích ma ha diễn quyển 2 thì trong 10 thức, 9 thức trước không duyên theo chân lí, còn thức thứ 10 thì duyên theo chân lí và lấy đó làm cảnh giới; đây là đối với Sinh diệt môn mà lập 8 thức, lấy Sinh diệt sở nhập làm thức thứ 9, Chân như sở nhập làm thức thứ 10. 2. Thập thức của Sinh diệt môn: Cũng luận Thích ma ha diễn quyển 2 còn nêu ra thuyết Tăng số thập thức, tức ngoài 8 thức A lại da... còn thêm Am ma la thức và Nhất thiết nhất tâm thức thành là 10 thức. Mười thức này đối với vị Sinh diệt môn mà lập 9 thức, lấy Sinh diệt sở nhập làm thức thứ 10.3. Thập thức của Chân sinh bất nhị môn: Cứ theo Bí tạng kí thì Mật giáo cho rằng các vị tôn trong Bát diệp (8 cánh sen) bao hàm tất cả tâm chủ, đó là 8 thức; các vị tôn trong Bát diệp và Trung đài(đài sen ở giữa 8 cánh sen) bao hàm tất cả tâm chủ, đó là 9 thức; đem tất cả tâm chủ nhiều như số bụi nhỏ trong 10 cõi Phật thu nhiếp vào một thức, đó là thức thứ 10. (xt. Nhất Nhất Tâm Thức, Nhất Thiết Nhất Tâm Thức).
thập thừa quán
A Thiên Thai mode of meditation in ten "vehicles", or stages for the attainment of bodhi.
thập thừa quán pháp
(十乘觀法) Cũng gọi Thập chủng quán pháp, Thập thừa quĩ hành, Thập quán thành thừa, Thập pháp thành thừa, Thập pháp thành quán, Thập pháp chỉ quán, Thập trùng quán pháp, Thập thừa quán, Thập thừa, Thập quán. Chỉ cho 10 pháp quán làm khuôn mẫu cho đối tượng chính quán sau khi đã tu tập xong 25 phương tiện(điều kiện) dự bị trong pháp tu Chỉ quán viên đốn của tông Thiên thai. Đó là: 1. Quán bất tư nghị cảnh: Quán xét về cảnh không thể nghĩ bàn. Tức quán trong một niệm tâm mà phàm phu khởi lên hằng ngày có đủ tất cả những gì của đời sống con người, tam đế nhất thể hóa lẫn nhau, là cảnh giới mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. 2. Phát chân chính bồ đề tâm (cũng gọi Khởi từ bi tâm): Khi hành giả nương vào sơ quán mà chưa thành công, thì đổi sang phát tâm bồ đề vô tác của Viên giáo, vì cầu bồ đề cứu độ chúng sinh mà lập 4 thệ nguyện lớn. 3. Thiện xảo an tâm chỉ quán (cũng gọi Xảo an chỉ quán): Khéo dùng Chỉ quán làm cho tâm an trụ nơi bản tính chân thực. 4. Phá pháp biến: Phá khắp các pháp. Tức trừ diệt tâm chấp trước nơi tất cả các pháp. 5. Thức thông tắc: Biết chỗ thông suốt, bít lấp. Tức đối với quán năng quán biết rõ chỗ thông suốt, chỗ bít lấp, phân biệt rõ chỗ ưu, khuyết của tình thức. 6. Đạo phẩm điều thích(cũng gọi Tu đạo phẩm): Điều hòa việc tu đạo cho thích hợp. Tức quán xét 37 đạo phẩm để tùy theo tính chất năng lực của hành giả mà tu cho thích hợp. 7. Đối trị trợ khai(cũng gọi Trợ đạo đối trị): Diệt trừ các chướng ngại để giúp cho việc tu đạo. Tức tu các thiện pháp thấp, gần gũi và cụ thể để giúp thêm cho việc tu đạo, tức mở ra Tam giải thoát môn để đối trị chướng ngại. 8. Tri thứ vị: Biết thứ bậc. Tức không khởi tâm kiêu mạn tự cho đã chứng Tánh vị, mà phải biết rõ giai vị tu hành của mình, nghĩa là khéo phân biệt và ý thức được sự tu chứng của mình đã tới đâu. 9. Năng an nhẫn: Có khả năng chịu đựng. Tức đối với các chướng ngại bên trong cũng như bên ngoài, tâm không dao động, nhưng chịu đựng để thành tựu Phật sự. 10. Vô pháp ái(cũng gọi Li pháp ái): Không đắm pháp. Tức diệt trừ tâm bám dính vào pháp chẳng phải là bồ đề đích thực để tiến vào bồ đềvịchân chính. Vì 10 pháp quán trên đây theo thứ tự từ nhân đến quả, cho nên gọi là Thập pháp thành thừa quán. Lại vì 10 pháp này có khả năng làm cho tâm chúng sinh an trụ, cho nên dùng chỗ ngồi để ví dụ mà gọi là Thập thừa sàng(giường Thập thừa). Lại vì 10 pháp quán này có năng lực diệt trừ mê vọng, giống như gió có khả năng thổi sạch tro bụi, cho nên ví dụ gọi là Thập thừa phong(gió Thập thừa). Trong Ma ha chỉ quán từ quyển 5 trở đi, ngài Trí khải đã giải thích về Thập thừa quán pháp rất tỉ mỉ rõ ràng. Tức Thập thừa là 10 pháp như Quán bất tư nghị cảnh... có năng lực vận chuyển người tu hành đến quả vị Bồ đề; các pháp quán của Viên giáo đều nương vào 10 pháp này. Trong 10 pháp, Quán bất tư nghị cảnh là chính quán, bản thể của quán pháp, bậc thượng căn chỉ nương theo pháp này là đủ. Nếu vẫn chưa thành công hoặc là bậc trung căn thì tiến tu pháp quán thứ 2 cho đến thứ 7; còn hàng Hạ căn thì lại tu từ pháp thứ 8 trở xuống, tức cũng phải tu đủ 10 pháp quán. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8, hạ; Ma ha chỉ quán Q.5, thượng-10 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 1-10, phần 2]. (xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Thập Cảnh).
thập tiên
(十仙) I. Thập Tiên. Mười vị tiên. Tức chỉ cho 10 người Bà la môn được nêu trong kinh Niết bàn, đó là: Xà đề thủ na, Bà tư tra, Tiên ni, Ca diếp, Phú na, Thanh tịnh, Độc tử, Nạp y, Hoằng quảng và Tu bạt đà. Họ đều là những vị tiên từng nghị luận với đức Phật, được giáo hóa, chứng quả A la hán. [X. phẩm Kiều trần như trong kinh Niết bàn Q.39 (bản Bắc); kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam)]. II. Thập Tiên. Chỉ cho 10 loại tiên nhân. (xt. Thập Hành Tiên).
thập tiến cửu thoái
(十進九退) Mười tiến 9 lui. Tức trong 10 người tiến tu thì hết 9 người trở lui, dụ cho Phật đạo khó thực hành. Ngũ bí mật quĩ (Đại 20, 535 trung) nói: Người tu theo Hiển giáo trải qua khoảng 3 đại vôsốkiếp lâu dài mới chứng thành Vô thượng bồ đề, trong thời gian đó thì 10 người tu có 9 người trở lui(thập tiến cửu thoái). [X. luận Nhị giáo Q.hạ].
thập trai
(十齋) Cũng gọi Thập trai nhật. Chỉ cho 10 ngày ăn chay giữ giới trong tháng. Đó là các ngày: Mồng 1, mồng 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30. Trong phẩm Như lai tán thán kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện, quyển thượng, có nói: Vào 10 ngày này kết tập các tội, quyết định nặng nhẹ, tất cả cử chỉ động niệm của chúng sinh ở cõi Sa bà đều là nghiệp, đều là tội, huống chi còn giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối... có trăm nghìn tội trọng. Nếu vào 10 ngày trai mà đối trước tượng các Hiền Thánh như Phật, Bồ tát đọc tụng kinh này một biến thì trong phạm vi 100 do tuần 4 phía đông, tây, nam, bắc không xảy ra các tai nạn, những người già trẻ đang ở trong nhà lúc ấy, trong trăm nghìn năm ở hiện lại, vị lai xa lìa hẳn các đường ác. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 42 thì trong 10 ngày trai, ngày mồng 1 Thái tử của Tứ thiên vương xuống nhân gian, nên niệm danh hiệu Phật Định quang; ngày mồng 8 Ma hê thủ la thiên vương xuống nhân gian, nên niệm danh hiệu Phật Dược sư lưu li quang; ngày 14 Ma hê thủ la thiên vương xuống nhân gian, nên niệm danh hiệu nghìn đức Phật của kiếp Hiền; ngày 15 Thái tử của Tứ thiên vương xuống nhân gian, nên niệm danh hiệu Phật A di đà; ngày 18 sứ giả của Thái tử của Tứ thiên vương xuống nhân gian, nên niệm danh hiệu bồ tát Địa tạng; ngày 23 Ma hê thủ la thiên vương xuống nhân gian, nên niệm danh hiệu bồ tát Đại thế chí; ngày 24 Thái tử của Tứ thiên vương xuống nhân gian, nên niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm; ngày 28 sứ giả của Tứ thiên vương xuống nhân gian, nên niệm danh hiệu của Phật Tì lô giá na; ngày 29 Ma hê thủ la thiên vương xuống nhân gian, nên niệm danh hiệu bồ tát Dượcvương; ngày 30 sứ giả của Tứ thiên vương xuống nhân gian, nên niệm danh hiệu Phật Thích ca. Ở Trung quốc, từ cuối đời Đường về sau thực hành pháp Thập trai này; vào các ngày trai, trì niệm danh hiệu Phật, Bồ tát để cầu phúc, diệt tội. Nhưng vị Bản tôn của 10 ngày trai thời gần đây đã được thay đổi, tức nghìn đức Phật kiếp Hiền của ngày 14 được thay bằng bồ tát Phổ hiền; Bồ tát Địa tạng của ngày 18 được thay bằng Bồ tát Quán thế âm; bồ tát Quán thế âm của ngày 24 được thay bằng bồ tát Địa tạng. [X. Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.33; Pháp uyển châu lâm Q.88]. (xt. Thập Trai Nhật Phật).
thập trai nhật
The ten "fast" days of a month are 1, 8, 14, 15, 23, 24, 28, 28, and 30.
thập trai nhật phật
The ten Buddhas or bodhisattvas connected with these days who in turn are: Ngày 1: Định Quang Phật; 8: Dược Sư Như Lai; 14: Phổ Hiền Bồ tát; 15: A di Đà Như lai; 18: Quán Âm Bồ tát; 23: Thế Chí Bồ tát; 24: Địa Tạng Bồ tát; 28: Tì lô giá na Phật; 29: Dược Vương Bồ tát; 30: Thích Ca Như lai.
; (十齋日佛) Chỉ cho một đức Phật hoặc một vị Bồ tát được lễ kính trong mỗi một ngày vào 10 ngày trai hằng tháng của giới Phật giáo Trung quốc. Đó là: Mồng 1 là Phật Định quang, mồng 8 là Dược sư Như lai, 14 là bồ tát Phổ hiền, 15 là Di đà Như lai, 18 là bồ tát Quán âm, 23 là bồ tát Thế chí, 24 là bồ tát Địa tạng, 28 là Phật Tì lô giá na, 29 là bồ tát Dược vương, 30 là Thích ca Như lai.
thập trai nhựt phật
Mười ngày chay của 10 vị Phật trong tháng. - Mùng 1: Đinh quang Phật. - Mùng 8: Dược Sư Phật - Ngày 14: Phổ Hiền Bồ tát - Ngày 15: A di đà Như Lai - Ngày 18: Quan Âm Bồ tát - Ngày 23: Đại Thế Chí Bồ tát - Ngày 24: Địa Tạng Vương Bồ tát - Ngày 28: Tỳ Lư Giá Na Phật - Ngày 29: Dược Vương Bồ tát - Ngày 30: Thích Ca Như Lai.
Thập Triền
(十纒): 10 loại phiền não trói buộc chúng sanh trong vòng sanh tử luân hồi, theo các phiền não căn bản như tham, sân, si, v.v., mà sanh khởi, tạo ra các loại ác hạnh. Mười loại này gồm có: (1) Vô Tàm (無慚), đối với những người có công đức cũng như có đức độ mà không cung kính, tôn trọng, lại còn tránh xa mà không tự biết xấu hổ; (2) Vô Quý (無愧), không thấy hổ thẹn đối với tội do người khác thấy được; (3) Tật (嫉), tâm không vui vẻ, hoan hỷ đối với sự thành công của người khác; (4) Xan (慳), keo kiệt, bỏn xẻn đối với việc bố thí tài vật thế gian hoặc pháp tài của xuất thế gian; (5) Hối (悔), hối hận đối với các việc làm sai lầm, khiến cho tâm bất an; (6) Miên (眠), khiến cho tâm hôn trầm, trì trệ, không có năng lực giác tỉnh; (7) Trạo Cử (掉舉), khiến cho tâm không vắng lặng, không thể nào thành tựu các Thiền quán; (8) Hôn Trầm (昏沉), thần thức si độn, thân tâm không có năng lực an trú đối với các thiện pháp; (9) Phẫn (忿), gặp lúc bị làm sai ý mình, tất phát sanh giận dữ nên mất đi chánh niệm; (10) Phú (覆), tức che giấu tội lỗi, sai lầm của bản thân. Trong Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Sám Pháp (消災延壽藥師懺法) quyển hạ có câu: “Đệ tử mỗ giáp, tự vi chơn tánh, uổng nhập mê lưu, tùy sanh tử dĩ phiêu trầm, trục sắc thanh nhi tham nhiễm, Thập Triền Thập Sử, tích thành Hữu Lậu chi nhân, Lục Căn Lục Trần, vọng tác vô biên chi tội (弟子某甲、自違眞性、枉入迷流、隨生死以飄沉、逐色聲而貪染、十纏十使、積成有漏之因、六根六塵、妄作無邊之罪, Đệ tử …, tự sai chơn tánh, lầm nhập dòng mê, theo sanh tử mà trôi giạt, lấy sắc thanh mà tham nhiễm, Mười Triền Mười Sử, tích thành Hữu Lậu nhân sâu, Sáu Căn Sáu Trần, sai tạo vô biên tội nghiệt).”
thập triền
The ten bounds that bind men to mortality: (1) Vô tàm, to be shameless; (2) Vô quí, unblushing; (3) Tật, envious; (4) San, mean; (5) Sân, regretful; (6) Thụy miên, torpid; (7) Trạo cử, busy; (8) Hôn trầm, absorbed; (9) Sân nhuế, anger; (10) Phúc (tráo trở), secretive (of sin).
; (十纏) Chỉ cho 10 thứ phiền não nương theo tham, sân, si... mà khởi, tương ứng với tâm ô nhiễm, tạo tác các nghiệp ác trói buộc chúng sinh trong vòng sinh tử, cho nên gọi là Triền(trói buộc). Đó là: 1. Vô tàm: Không quí chuộng các công đức và đối với những người có đạo đức chẳng những không kính trọng, lại sinh tâm ghen ghét, không biết tự thẹn. 2. Vô quí: Không biết xấu hổ đối với tội lỗi của mình khi bị người khác phát giác. 3. Tật: Ganh tị. Nghĩa là thấy việc hưng thịnh của người khác, tâm mình không vui. 4. Xan(khan): Bỏnsẻn không chịu bố thí tài vật, tiền của hoặc nói pháp cho người khác nghe. 5. Hối: Hối hận về những lỗi xấu mình đã làm khiến tâm bất an. 6. Miên: Mê ngủ khiến tâm mờ tối, không có năng lực tỉnh xét. 7. Trạo cử: Thân thô động khiến tâm không tĩnh lặng, không cách nào thành tựu được các thiền quán. 8. Hôn trầm: Thần thức tối tăm, thân tâm không có năng lực an trụ trong các thiện pháp. 9. Phẫn: Trước cảnh trái với ý mình thì sinh tâm tức giận mà quên mất chính niệm. 10. Phú: Che giấu tội lỗi của mình. Luận Phẩm loại túc quyển 1 chỉ lập 8 triền; luận Đại tì bà sa quyển 47 đến quyển 50 thêm 2 triền Phẫn và Phú mà thành 10 triền. [X. luận Câu xá Q.21; luận Đại trí độ Q.7].
thập trí
The ten forms of understandings: I-Tiểu thừa, Hìnayàna: (1) thế tục trí, common understanding; (2) pháp trí, enlightened understanding, i.e. on the Four Truths in this life; (3) loại trí, ditto, applied to the two upper realms; (4) khổ trí; (5) tập trí; (6) diệt trí; (7) đạo trí, understanding each of the Four Truths separately both in the upper and lower realms; (8) tha tâm trí, understanding of the minds of others; (9) (lậu) tận trí, the understanding that puts an end to all previous faith in or for self; (10) vô sinh trí, nirvàna wisdom. II-Đại thừa, Mahàyàna. A Tathagata's ten powers of understanding or wisdom: (1) tam thế trí, perfect understanding of past, present and future; (2) Phật pháp trí, ditto of Buddha-Law; (3) pháp giới vô ngại trí, unimpeded understanding of the whole Buddha-realm; (4) pháp giới vô biên trí, unlimited or infinite ditto; (5) sung mãn nhất thiết thế gian trí, of ubiquity; (6) phổ chiếu nhất thiết thế gian trí, of universal enlightenment; (7) trụ trì nhất thiết thế gian trí, of omnipotence, or universal control; (8) tri nhất thiết chúng sinh trí, of omniscience re all living beins; (9) tri nhất thiết pháp trí, of omniscience re the laws of universal salvation; (10) tri vô biên chư Phật trí. of omniscience re all Buddha wsdom.
; (十智) Phạm:Daza jĩànàni. I. Thập Trí. Chỉ cho 10 trí được phân biệt theo tính chất hữu lậu, vô lậu. Đó là: 1. Thế tục trí(Phạm:Saôvftì-jĩàna): Trí thường chấp vào các cảnh thế tục gọi chung làHữu lậu tuệ. 2. Pháp trí (Phạm: Dharma-jĩàna): Trí vô lậu duyên theo lí Tứ đế ở cõi Dục, đoạn trừ các phiền não cõi Dục. 3. Loại trí(Phạm:Anvaya-jĩàna): Trí vô lậu theoPháp trí mà phát sinh, duyên theo lí Tứ đế ở cõi Sắc, cõi Vô sắc và đoạn trừ phiền não của các cõi này. 4. Khổ trí(Phạm: Du#kha-jĩàna). 5. Tập trí (Phạm: Samudaya-jĩàna). 6. Diệt trí(Phạm:Nirodha-jĩàna). 7. Đạo trí(Phạm:Màrga-jĩàna). Bốn trí này theo thứ tự đoạn trừ phiền não của Tứ đế. 8. Tha tâm trí (Phạm: Para-cittajĩàna): Trí biết rõ tâm, tâm sở hiện tại của cõi Dục, cõi Sắc và tâm, tâm sở vô lậu.9. Tận trí(Phạm:Kwaya-jĩàna): Trí tuệ của bậc Thánh ở giai vị Vô học, biết rõ rằng ta đã biết khổ, ta đã đoạn tập, ta đã chứng diệt, ta đã tu đạo, là trí vô lậu sinh cùng lúc với Đắc của lậu tận. 10. Vô sinh trí (Phạm: Anutpàdajĩàna): Trí tuệ của bậc Thánh ở giai vị Vô học biết ta đã biết khổ, không còn gì để biết; ta đã đoạn tập, không còn gì để đoạn; ta đã chứng diệt, không còn gì để chứng; ta đã tu đạo, không còn gì để tu, là trí vô lậu sinh cùng lúc với Đắc của phi trạch diệt. Kinh Đại bát nhã quyển 489, ngoài 10 trí trên đây còn nêu thêm Như thuyết trí, cộng chung là 11 trí. Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết tướng như thuyết của tất cả pháp, thì chính là trí Nhất thiết tướng của Như lai, gọi là Như thuyết trí. [X. luận Câu xá Q.26]. II. Thập Trí. Chỉ cho 10 trí mà hàng Bồ tát Quán đính trụ trong Thập trụ đạt được. Đó là: 1. Trí làm rúng động tất cả vô lượng thế giới. 2. Trícónăng lực chiếu sáng vô lượng thế giới. 3. Trí có khả năng trụ trì vô lượng thế giới.4. Trí có năng lựcđidạo khắp vô lượng thế giới. 5. Trí có khả năng nghiêm trang thanh tịnh vô lượng thế giới. 6. Trí biết rõ tâm hành của vô lượng chúng sinh. 7. Trí biết rõ chỗ tùy tâm hành của chúng sinh. 8. Trí biết rõ căn cơ của vô lượng chúng sinh.9. Trí có năng lực phương tiện độ tất cả vô lượng chúng sinh. 10. Trí có năng lực điều phục hết vô lượng chúng sinh. Trong 10 trí trên thì 5 trí đầu biết rõ thế giới một cách vô ngại, một là tùy tâm xoay chuyển, hai là ánh sáng soi rọi rõ biết, ba là nguyện đẳng trụ trì, bốn là tự tại vào khắp các cõi, năm là đến đâu cũng đều trang nghiêm. Ba trí kế là trí biết tâm hành của chúng sinh, một là biết tâm, hai là biết cảnh của tâm sở hành, ba là biết căn hải. Hai trí sau cùng là trí truyền pháp, một là tùy theo căn cơ mà nói pháp, hai là diệt hoặc thành đức, gọi là Điều phục. [X. phẩm Bồ tát thập trụ trong kinh Hoa nghiêm Q.8 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5]. III. Thập Trí. Chỉ cho 10 trí mà hàng Bồ tát Quán đính trụ trong Thập trụ tu học ở Thắng tiến phần được nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 16 (bản dịch mới). Đó là: 1. Tam thếtrí: Trí đối với các pháp trong 3 đời đều thông suốt rõ biết. 2. Phật pháp trí: Trí rõ biết tự tính các pháp, khéo xuất thế gian, hiện các uy nghi, thuyết pháp độ sinh. 3. Pháp giới vô ngại trí: Trí biết rõ tất cả chúng sinh vốn sẵn đủ thể của pháp giới, sự lí dung thông, tính phần giao thoa, không ngăn ngại lẫn nhau. 4. Pháp giới vô biên trí: Trí biết các pháp sắc, tâm của chúng sinh chính là pháp giới, đầy khắp tất cả thế gian, không có ngằn mé.5. Sung mãn nhất thiết thế giới trí: Trí Như lai từ trong định phát khởi diệu dụng rộng lớn, trùm khắp thế gian, chiếu soi tất cả. 6. Phổ chiếu nhất thiết thế gian trí: Đại trí tuệ của Như lai soi sáng khắp vô lượng thế giới. 7. Trụ trìnhất thiết thế giới trí: Trí Như lai có đại thần lực, giữ gìn thế giới, biết rõ căn khí lớn nhỏ của hết thảy chúng sinh để hóa độ. 8. Tri nhất thiết chúng sinh trí: Trí Như lai biết rõ nhân duyên thiện ác của hết thảy chúng sinh được Như lai hóa độ. 9. Tri nhất thiết pháp trí: Trí Như lai đã biết rõ các chúng sinh được hóa độ(sở hóa), cũng lại biết rõ các pháp hóa độ(năng hóa).10. Tri vô biên chư Phật trí: Trí Như lai biết rõ các việc vô biên chư Phật xuất hiện nơi thế gian và thuyết pháp hóa độ hết thảy chúng sinh. IV. Thập Trí. Chỉ cho 10 trí được ghi trong phẩm Bồ tát thập trụ kinh Hoa nghiêm quyển 8 (bản dịch cũ), đó là: 1. Tam thếtrí. 2. Nhất thiết Phật pháp trí. 3. Pháp giới vô chướng ngại trí. 4. Pháp giới vô lượng vô biên trí. 5. Sung mãn nhất thiết thế giới trí. 6. Phổ chiếu nhất thiết thế giới trí. 7. Năng trì nhất thiết thế giới trí. 8. Phân biệt nhất thiết chúng sinh trí. 9. Nhất thiết chủng trí. 10. Phật trí vô lượng vô biên trí. Ngoài ra, phẩm Thập trụ còn liệt kê 10 trí từ Vô ngại trí cho đến Vô thoái trí và 10 trí từ Thị xứ phi xứ trí cho đến Tam thế lậu tận trí. Phẩm Lô xá na Phật kinh Hoa nghiêm quyển 3 (bản dịch cũ) cũng liệt kê 10 trí từ Nhập vô lượng vô biên pháp giới trí cho đến Nhất thiết chư Phật âm thanh trí và 10 trí từ Nhất thiết thế giới hải thành bại thanh tịnh trí cho đến Như lai chủng chủng tự tại trí. [X. phẩm Thập địa kinh Hoa nghiêm Q.24 (bản dịch cũ); kinh Bồ tát bản nghiệp; Hoa nghiêm kinh sớ Q.17; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5].
Thập trí lực
xem Mười sức.
thập trí đồng chân
(十智同真) Cũng gọi Thập đồng chân trí. Chỉ cho 10 trí cùng trở về một chân như, là phương pháp dẫn dắt người học do Thiền sư Thiện chiêu ở Phần dương lập ra. Mười trí ấy là: Đồng nhất chất, Đồng đại sự, Tổng đồng tham, Đồng chân trí, Đồng biến phổ, Đồng cụ túc, Đồng đắc thất, Đồng sinh sát, Đồng âm hống và Đồng đắc nhập. Thiền sư Phần dương Thiện chiêu dạy chúng (Vạn tục 113, 420 thượng): Người thuyết pháp phải có đủ thập trí đồng chân; nếu không có thập trí đồng chân thì không phân biệt được tà chính, không rõ thánh phàm, không thể làm con mắt cho trời và người để quyết đoán đúng sai.
Thập trú Tỳ-bà-sa luận 十住毘婆沙論
[ja] ジュウジュウ ビバシャロン Jūjū bibasharon ||| The Daśabhūmika-vibhāṣā 17 fasc., T 1521.26.20-123 Attributed to Nāgārjuna 龍樹, translated by Kumārajīva 鳩摩羅什. Consists primarily of an explanation of the bodhisattva stages contained in the Huayan jing. => (s: Daśabhūmika-vibhāṣā), 17 quyển, của Long Thụ, Cưu ma la thập dịch. Chủ yếu bao gồm giải thích về các giai vị tu đạo của Bồ-tát đề cập trong kinh Hoa Nghiêm.
Thập trú 十住
[ja] ジュウジュウ jūjū ||| The "ten abidings" among the fifty two stages of the bodhisattva as listed in the Avataṃsaka-sūtra. So-called because the mind dwells peaceably in the principle of emptiness. They are: 1. 發心住fa-hsin-chu, the "abiding of awakening operation." The 'ten faiths' stage of provisionally following to enter the view of emptiness is completed, the true wisdom of no outflow arises, and the mind dwells in the principle of absolute reality. 2. 治地住zhidizhu - the "abiding of nurturing." The stage of always practicing the view of emptiness, and clearing and nurturing the mind-ground. 3. 修行住xiuxingzhu - The "abiding of practice." Cultivating all good practices. 4. 生貴住shengguizhu - The "abiding of producing virtues." The stage of dwelling peaceably in the principle of "no-self' where the seed natures are purified. 5. 具足方便住 juzufangbianzhu - The "abiding of replete with expedient means." Innumerable good roots are possessed, and expedient means are used to aid in the view of emptiness. 6. 正心住zhengxinzhu - The "abiding of correct mind." The stage of the completion of the wisdom of emptiness of the prajñāpāramitā sutras. 7. 不退住butuizhu - The "abiding of no-backsliding." The stage where one does not backslide from the experience of emptiness, no aspects and no desires. 8. 童眞住tongzhenzhu - The "abiding of the 'true chīd.'" The deluded view does not arise, and awakening does not cease. 9. 法王子住fawangzizhu - The "abiding of the dharma-prince." The stage of producing wisdom in accordance with the Buddha's teaching, and being assured of becoming a Buddha in the future. 10. 灌頂住 guandingzhu - the "abiding of sprinkling water on the head." The stage of being able to view the principle of emptiness and no-aspects without producing wisdom. => Mười trong 50 giai vị của hàng Bồ-tát được đề cập trong kinh Hoa Nghiêm. Có tên gọi như vậy vì tâm an trú trong nguyên lý Tính không. Đó là: 1.Phát tâm trú 發心住 c: fa-hsin-chu: giai vị Thập tín, khi niềm tin vào quan niệm tính Không đã được hoàn chỉnh, trí tuệ vô lậu chân chính phát sinh, và tâm hoàn toàn an trú trong thực tại tuyệt đối. 2. Trị địa trú 治地住 c: zhidizhu: giai vị luôn luôn tu tập tính Không, làm thanh tịnh và trưởng dưỡng tâm địa. 3. Tu hành trú 修行住 c: xiuxingzhu: tu tập các thiện pháp. 4. Sinh quý trú 生貴住shengguizhu: giai vị tâm an trú trong đạo lý "vô ngã", nơi các chủng tử tâm được thanh tịnh hoá. 5. Cụ túc phương tiện trú 具足方便住c: juzufangbianzhu: Có được vô số thiện căn và vận dụng được nhiều phương tiện hỗ trợ cho quan niệm tính Không. 6. Chính tâm trú 正心住zhengxinzhu: giai vị hoàn chỉnh trí tuệ tính Không từ kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa. 7. Bất thối trú 不退住c: butuizhu: giai vị không còn lui sụt từ kinh nghiệm về tính Không, không còn xu hướng và ham muốn. 8. Đồng chân trú 童眞住c: tongzhenzhu: vọng tưởng không còn sinh khởi nữa, và sự tỉnh giác được duy trì. 9. Pháp vương tử trú 法王子住c: fawangzizhu: giai vị hiển bày trí tuệ đúng với giáo lý của chư Phật, tin chắc sẽ thành Phật trong tương lai. 10. Quán đỉnh trú: 灌頂住c: guandingzhu: giai vị nhận ra đạo lý tính Không và ở mọi phương diện thường lưu xuất trí tuệ.
thập trưởng dưỡng
(十長養) I. Thập Trưởng Dưỡng. Chỉ cho giai vị Thập hạnh, tức 10 giai vị từ 21 đến 30 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát. Ở giai vị này, trước hết nuôi cho mầm thánh lớn dần, sau đó mới nhập vào giai vị Thập thánh. II. Thập Trưởng Dưỡng. Chỉ cho 10 thứ tâm mà Bồ tát tu tập để tăng trưởng căn lành và nuôi lớn mầm thánh. Đó là: Từ tâm, Bi tâm, Hỉ tâm, Xả tâm, Thí tâm, Hảo ngữ tâm, Ích tâm, Đồng tâm, Định tâm và Tuệ tâm. Trong Phạm võng kinh hợp chú, ngài Trí húc đời Minh cho rằng Thập trưởng dưỡng tâm chính là Thập hạnh pháp môn. [X. phẩm Tâm địa trong kinh Phạm võng].
thập trưởng dưỡng tâm
The ten kinds of well-nourished heart, essential to entry into the cult of higher patience and endurance: (1) Từ tâm, a heart of kindness; (2) Bi tâm, of pity; (3) Hỉ tâm, of joy (in progress toward salvation of others); (4) Xả tâm, renunciation; (5) Thí tâm, almsgiving; (6) Hảo ngữ tâm, delight in telling the doctrine; (7) Ích tâm, benefiting or aiding others to salvation; (8) Đồng tâm, unity, or amity; (9) Định tâm, concentration in meditation; (10) Tuệ tâm, wisdom.
thập trọng chướng
(十重障) Gọi tắt: Thập Chướng. Chỉ cho 10 trọng chướng mà hàng Bồ tát Thập địa phải đoạn trừ, đó là: 1. Dị sinh tính chướng: Y cứ vào chủng tử do 2 chướng phiền não và sở tri phân biệt khởi lên mà lập Dị sinh tính, tính này làm chướng ngại Thánh tính vô lậu; khi vào Kiến đạo thuộcSơ địa mới đoạn được chướng này. 2. Tà hạnh chướng: Do một phần câu sinh trong sở tri chướng và 3 ác hạnh do nó khởi lên mà lầm phạm, gây chướng ngại cho giới cực thanh tịnh; khi vào Địa thứ 2 mới đoạn được chướng này. 3. Ám độn chướng: Do một phần câu sinh khởi trong sở tri chướng làm quên mất pháp văn tư tu, thường chướng ngại thắng định, tổng trì và Tam tuệ mà nó phát khởi; khi vào Địa thứ 3 thì đoạn trừ chướng này.4. Vi tế phiền não hiện hành chướng: Chấp trước các pháp có thật, từ vô thủy đến nay theo sát bên thân, thường gây chướng ngại cho pháp Bồ đề phần của Địa thứ 4, khi vào địa thứ 4 thì đoạn trừ chướng này.5. Ư hạ thừa ban niết bàn chướng: Nhàm chán sinh tử, ưa thích niết bàn, cản trở đạo vô sai biệt, khi vào Địa thứ 5 thì đoạn trừ chướng này. 6. Thô tướng hiện hành chướng: Chướng chấp các thô tướng như: Chấp khổ, tập có tướng nhiễm, diệt, đạo có tướng tịnh, thường chướng ngại đạo vô nhiễm tịnh; khi vào Địa thứ 6 thì đoạn trừ chướng này.7. Tế tướng hiện hành chướng: Chướng chấp tướng sinh diệt vi tế, thường trở ngại đạo vô tướng diệu không; khi vào Địa thứ 7 thì đoạn trừ chướng này. 8. Vô tướng trung tác gia hành chướng: Chướng khiến cho vô tướng quán không tự nhiên vận hành, vì còn có gia hành, thường chướng ngại đạo vô gia hành; khi vào Địa thứ 8 thì đoạn trừ chướng này.9. Lợi tha trung bất dục hành chướng: Không muốn siêng năng làm những việc lợi lạc cho hữu tình, mà chỉ muốn tu lợi mình, thường trở ngại cho Tứ vô ngại giải; khi vào Địa thứ 9 thì đoạn trừ chướng này.10. Ư chư pháp trung vị đắc tự tại chướng: Đối với các pháp không được tự tại, thường chướng ngại mây đại pháp trí; khi vào Địa thứ 10 thì đoạn trừ chướng này.Hàng Bồ tát Thập địa tu 10 thắng hạnh để đoạn trừ 10 trọng chướng này mà chứng được 10 chân như. Cho nên, Bồ tát đến Địa thứ 10, tuy đối với các pháp đã được tự tại nhưng vẫn còn sở tri chướng nhỏ nhiệm và chủng tử tự nhiên của phiền não chướng; có đoạn trừ hết chướng tàn dư này mới lên được địa vị Như lai. Bởi thế, thêm một trọng chướng này nữa mà gọi chung là Thập nhất trọng chướng. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; luận Thành duy thức Q.9; luận Du già sư địa Q.78]. (xt. Thập Địa Đoạn Chướng Chứng Chân, Chân Như).
thập trọng cấm giới
(十重禁戒) I. Thập Trọng Cấm Giới. Cũng gọi Thập trọng ba la đề mộc xoa, Thập ba la di, Thập bất khả hối giới, Thập trọng cấm, Thập trọng giới, Thập vô tận giới, Thập trọng. Chỉ cho 10 giới nặng, tức 10 tội Ba la di của hàng Bồ tát nói trong kinh Phạm võng; đó là: Giới giết hại, giới trộm cướp, giới dâm dục, giới nói dối, giới bán rượu, giới nói lỗi của 4 chúng, giới khen mình chê người, giới bỏn sẻn hủy báng, giới sân tâm không nhận sự sám hối của người khác và giới phỉ báng Tam bảo. Dù tự mình làm hay bảo người khác làm đều bị cấm chỉ. [X. thiên thứ 7 trongGiới luật học cương yếu (Thánh nghiêm)]. II. Thập Trọng Cấm Giới. Cũng gọi Mật giáo thập trọng giới. Chỉ cho 10 giới Ba la di trong Mật giáo. Có 2 loại: A. Mười giới nặng ghi trong Đại nhật kinh sớ quyển 17. 1. Không bỏ Phật bảo. 2. Không bỏ Pháp bảo. 3. Không bỏ Tăng bảo. 4. Không bỏ tâmbồ đề. 5. Không hủy báng tất cả kinh pháp của Tam thừa. 6. Không bỏn xẻn tất cả pháp. 7. Không khởi tà kiến. 8. Không ngăn cản người khác phát đại tâm, cũng không được thấy người biếng nhác mà không khuyến phát. 9. Không nói pháp sai căn cơ. 10. Không làm tất cả việc không có lợi ích cho chúng sinh. B. Mười giới nặng ghi trong Thiền yếu của Tam tạng Thiện vô úy. 1. Không nên lui sụt tâmbồ đề. 2. Không nên lìa bỏ Tam bảo, qui y ngoại đạo. 3. Không được hủy báng Tam bảo và giáo điển Tam thừa. 4. Không nên sinh tâm nghi hoặc đối với những điều không thông hiểu trong giáo điển Đại thừa. 5. Đối với những người đã phát tâm bồ đề thì không nên nói những pháp làm cho họ trở lui. 6. Đối với những người chưa phát tâm bồ đề thì cũng không nên nói những pháp khiến họ phát tâm Nhị thừa. 7. Ở trước hàng Tiểu thừa và người tà kiến không nên nói ngay pháp Đại thừa sâu xa. 8. Không được phát khởi các pháp tà kiến.9. Ở trước ngoại đạo không nên tự nói mình có diệu giới vô thượng, khiến họ dùng tâm sân hận cầu giới ấy, khi không được thì lui sụt tâm bồ đề. 10. Đối với chúng sinh, điều tổn hại hoặc không lợi ích thì không được làm và bảo người khác làm; hay thấy người ta làm mà mình vui theo, vì như thế là trái với pháp lợi tha và tâm từ bi. [X. Tam muội da giới nghi tư bỉnh kí]. (xt. Thập Giới).
thập trọng duy thức
(十重唯識) Cũng gọi Thập môn duy thức. Chỉ cho 10 lớp Duy thức nói trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 13 của ngài Pháp tạng. Đó là: 1. Kiến tướng câu tồn duy thức: Tuy có chủ quan(Kiến phần) và khách quan (Tướng phần) khác nhau, nhưng cả hai đều do tâmbiến hiện, vì thế chủ quan và khách quan đều tồn tại trongmột tâm. 2. Nhiếp tướng qui kiến duy thức: Khách quan tùy theo tác dụng của chủ quan màhiển hiện, do đó được bao nhiếp trong tâm, tâm sở của chủ quan. 3. Nhiếp số qui vương duy thức: Trong tâm và tâm sở thì tâm sở nương vào tâm vương mà sinh khởi chứ không có tự thể độc lập, vì thế tâm sở do tâm vương biến ra; nghĩa là tất cả đều thu nhiếp về tâm vương. 4. Dĩ mạt qui bản duy thức: Trong tâm vương thì ngoài bản thức ra(thức thứ 8), 7 chuyển thức không có thể riêng biệt, cho nên tất cả đều qui về bản thức. 5. Nhiếp tướng qui tính duy thức: Bốn lớp duy thức trình bày trên đây là nói theo tướng của thức, nhưng tướng của thức này là do chân như tùy duyên mà biến hiện, cho nên nếunói theo bản tính thì không ngoài Như lai tạng của bản giác. 6. Chuyển chân thành sự duy thức: Trở lên là lấy chân như làm bản tính mà bàn, còn bây giờ thì lấy lí chân như theo duyên nhiễm tịnh mà nói về các pháp hữu vi được hiển hiện như thế nào. 7. Lí sự câu dung duy thức: Lí của chân như bản thể và sự của các pháp hiện tượng dung hợp lẫn nhau. 8. Dung sự tương nhập duy thức: Tức các hiện tượng(Sự) dung hợp lẫn nhau một cách vô ngại. 9. Toàn sự tương tức duy thức: Ở trên là nói về tác dụng của các hiện tượng hòa nhập vào nhau, còn ở đây thì bàn về thể của các hiện tượng là một, một tức tất cả. 10. Đế võng vô ngại duy thức: Như các hạt châu trên mành lưới của trời Đế thích, từng lớp từng lớp chiếu rọi phản ánh lẫn nhau, trong một có tất cả, trong tất cả có một, trùng trùng vô tận. Trong Ngũ giáo thì Tiểu thừa không bàn về Duy thức, còn giáo thuyết của Đại thừa nói về Duy thức cũng có sâu cạn khác nhau, cho nên các lớp thứ 1, 2, 3 là Thủy giáo; các lớp 4, 5, 6, 7 là Chung giáo và Đốn giáo; các lớp 8, 9, 10 là Biệt giáo trong Viên giáo; còn gom chung cả 10 lớp lại là biểu thị nghĩa Đồng giáo trong Viên giáo.
thập trọng thâm hạnh
(十重深行) Chỉ cho 10 lớp A xà lê của hạnh Thập địa sâu xa. Phẩm Bí mậtmạn đồ la trong kinh Đại nhật chia A xà lê truyền pháp quán đính làm 2 loại thiểnlược(nông cạn) và thâm bí (sâu kín). Đại nhật kinh sớ quyển 3 thì chia chung thâm, thiển làm 16 lớp. Trong đó, A xà lê của Thập địa thâm hạnh có 10 lớp, nên gọilàThập trùng thâm hạnh. A xà lê của Thập địa thâm hạnh là A xà lê thâm hạnh(sâu kín) xuất thế gian, đã đến giai vị Thập địa, trí vô lậu hiện tiền, khế hợp với đế lí vốn chẳng sinh, chứng ngộ nguồn gốc của tự tâm. (xt. Thâm Hạnh A Xà Lê).
Thập trụ
xem Mười trụ.
thập trụ
The ten stages, or periods, in bodhisattva wisdom: (1) phát tâm trụ the purposive stage, the mind set upon Buddhahood; (2) trì địa trụ clear understanding and mental control; (3) tu hành trụ unhampered liberty in every direction; (4) sinh quí trụ acquiring the Tathàgata nature or seed; (5) phương tiện cụ túc trụ perfect adaptability and resemblance in self development and development of others; (6)chính tâm trụ the whole mind becoming Buddha-like; (7) bất thoái trụ no retrogression, perfect unity and constant progress; (8) đồng chân trụ as a Buddha-son now complete; (9) pháp vương tử trụ as prince of the law; (10) quán đỉnh trụ baptism as such, e.g. the consecration of king.
; Quá trình tu chứng của giáo môn từ Sơ trụ đến Thập trụ, thuộc giai đoạn đầu của Tam Hiền.
; (十住) Cũng gọi Thập địa trụ, Thập pháp trụ, Thập giải. Quá trình tu hành của Bồ tát được chia làm 52 giai vị, trong đó, từ giai vị 11 đến 20 thuộc Trụ vị, gọi là Thập trụ. Đó là: 1. Sơ phát tâm trụ(cũng gọi Ba lam kì đâu ba bồ tát pháp trụ, Phát ý trụ): Hàng Thượng tiến phần thiện căn dùng phương tiện chân chính phát khởi tâm Thập tín, tin thờ Tam bảo, thường trụ trong 8 vạn 4 nghìn Bát nhã ba la mật, thụ trì tu tập tất cả hạnh, tất cả pháp môn, thường khởi tín tâm, không sinh tà kiến, không phạm Thập trọng, Ngũ nghịch, Bát đảo, không sinh vào nơi có tai nạn, thường được gặp Phật pháp, học rộng, nhiều trí tuệ, cầu nhiều phương tiện, mới nhập không giới, trụ nơi giai vị không tính, đồng thời, dùng không lí trí tâm tu tập giáo pháp của cổ Phật, trong tâm sinh ra tất cả công đức. 2. Trị địa trụ(cũng gọi A xà phù bồ tát pháp trụ, Trì địa trụ): Thường theo tâm không, làm thanh tịnh 8 vạn 4 nghìn pháp môn, tâm Bồ tát trong sáng, giống như trong lưu li hiện vàng ròng; vì lấy diệu tâm mới phát làm Địa để tu tập nên gọi là Trì địa trụ. 3. Tu hành trụ(cũng gọi Du a xàbồ tát pháp trụ, Ứng hành trụ): Trí tuệ của Phát tâm trụ và Trị địa trụ ở trước đều đã sáng tỏ, cho nên dạo khắp 10 phương mà không bị ngăn ngại. 4. Sinh quí trụ(cũng gọi Xà ma kì bồ tát pháp trụ): Nhờ diệu hạnh ở trước thầm hợp với diệu lí, đã sinh vào nhà Phật làm con bậc Pháp vương; tức hạnh đồng với Phật, chịu ảnh hưởng khí phần của Phật, như thân trung ấm tự tìm cha mẹ, cả hai thầm hợp, nhập vào chủng tính Như lai. 5. Phương tiện cụ túc trụ(cũng gọi Ba du tambát bồ tát pháp trụ, Tuthành trụ): Tu tập vô lượng thiện căn, lợi mình lợi người, đầy đủ phương tiện, tướng mạo vẹn toàn. 6. Chính tâm trụ(cũng gọi A kì tam bát bồ tát pháp trụ, Hành đăng trụ): Nghĩa là thành tựu Bát nhã thứ 6, cho nên chẳng những chỉ có tướng mạo mà cả tâm cũng đồng với Phật. 7. Bất thoái trụ(cũng gọi A duy việt trí bồ tát pháp trụ, Bất thoái chuyển trụ): Nghĩa là đã vào cảnh giới vô sinh rốt ráo không, tâm thường tu hạnh không, vô tướng, vô nguyện, thân tâm hòa hợp, mỗi ngày một tăng trưởng. 8. Đồng chân trụ(cũng gọi Cưu ma la phù đồng nambồ tát pháp trụ): Nghĩa là từ khi phát tâm trở đi, trước sau không sụt lùi, không khởi tà ma phá hoại tâmbồ đề, đến đây thì 10 thân linh tướng của Phật cùng lúc đầy đủ. 9. Pháp vương tử trụ(cũnggọiDu la xà bồ tát pháp trụ, Liễu sinh trụ): Từ Sơ phát tâm trụ đến Sinh quí trụ gọi là Nhập thánh thai; từ Phương tiện cụ túc trụ đến Đồng chân trụ gọi là Trưởng dưỡng thánh thai; đến Pháp vương tử trụ này thì hình tướng đã đầy đủ, liền ra khỏi thai, giống như từ trong giáo pháp của Phật vương sinh ra hiểu biết mới tiếp nối được ngôi vị của Phật. 10. Quán đính trụ(cũng gọi A duy nhan bồ tát pháp trụ, Bổ xứ trụ): Bồ tát đã là con của Phật, có khả năng gánh vác việc Phật, cho nên Phật đem nước trí tuệ rưới lên đầu (quán đính) Bồ tát, giống như việc quán đính lên ngôi của vị Vương tử dòng Sát đế lợi.VịBồ tát đã đến Quán đính trụ thì có 3 tướng đặc biệt là: a. Độ chúng sinh: Nghĩa là có khả năng tu hành thành tựu 10 thứ trí, độ được các chúng sinh. b. Vào được cảnh giới rất sâu xa mà tất cả chúng sinh cho đến hàng Bồ tát Pháp vương tử trụ cũng không thể tính lường được. c. Học rộng 10 thứ trí, rõ biết tất cả pháp. [X. phẩm Bồ tát thập trụ trong kinh Hoa nghiêm Q.8 (bản dịch cũ); phẩm Thập địa trong kinh Bồ tát bản nghiệp; phẩm Thích nghĩa trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; kinh Thập trụ đoạn kết Q.1- 4; Đại thừa nghĩa chương Q.14].
thập trụ kinh
Xem Thập đạo chương.
; (十住經) Phạm: Dazabhùmika. Kinh, 4 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào đại chính tạng tập 10. Kinh này là bản dịch khác của phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm, cũng tức là bộ phận của hội Tha hóa tự tại thiên thứ 6 trong 8 hội. Nội dung do Bồ tát Kim cương tạng, nhờ sức uy thần của đức Phật, giảng nói về thứ bậc tu hành pháp môn Thập địa của Bồ tát cho Bồ tát Giải thoát nguyệt nghe. Pháp môn này được gọi là Tập địa trí tuệ công đức pháp môn. Kinh Tiệm bị nhất thiết trí đức, 5 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn và kinh Thập địa, 9 quyển, do ngài Thi la đạt ma dịch vào đời Đường, đều là các bản dịch khác của kinh này. Còn luận Thập trụ tì bà sa, 17 quyển, của ngài Long thụ và Thập địa kinh luận, 12 quyển, của ngài Thế thân, đều là các sách chú thích về kinh này.
thập trụ luận
Xem Thập địa Luận.
thập trụ tiểu bạch hoa vị
(十住小白華位) Chỉ cho giai vị Thập trụ tiểu bạch hoa. Tiểu bạch hoa cũng gọi Bạch hoa, là 1 trong 4 loại hoa trời. Tông Thiên thai phối hợp điềm lành mưa hoa thứ 3 trong 6 điềm lành của kinh Pháp hoa với Tứ luân, Tứ chủng tính, Tứ vị... Tiểu bạch liên hoa(hoa sen trắng nhỏ) tượng trưng cho Đồng luân tập chủng tính thập trụ, mở ra tri kiến Phật, cho nên gọi là Thập trụ tiểu bạch hoa vị. Ngoài ra, Đại bạch liên hoa(hoa sen trắng lớn) tượng trưng cho Ngân luân tính chủng tính thập hạnh, hiển bày tri kiến Phật. Tiểu xích liên hoa(hoa sen đỏ nhỏ) tượng trưng cho Kim luân đạo chủng tính thập hồi hướng, tỏ ngộ tri kiến Phật; Đại xích liên hoa(hoa sen đỏ lớn) tượng trưng cho Lưu li luân thánh chủng tính thập địa, nhập vào tri kiến Phật. [X. Diệu pháp liên hoa kinh văn cú Q.2, hạ]. (xt. Tứ Hoa).
thập trụ tâm
Ten stages of mental or spiritual development in the Chân ngôn tông, beginning with the human animal and ending with perfect enlightenment.
; (十住心) Gọi tắt: Thập trụ. Chỉ cho 10 trạng thái của tâm, do ngài Không hải–vị tăng người Nhật bản thuộc tông Chân ngôn– căn cứ vào kinh Đại nhật, luận Bồ đề tâm... mà đề xướng. Đó là: 1. Dị sinh đê dương tâm: Phàm phu (dị sinh) như con dê đực(đê dương), suốt đời chỉ biết sống theo bản năng là thực dục và tính dục, ác nhiều, thiện ít. 2. Ngu đồng trì trai tâm: Như đứa trẻ ngu si(ngu đồng), ngẫu nhiên cũng phát tâm giữ trai giới, dùng đạo đức nhân gian để phản tỉnh chính mình và có tâm thận trọng trong các hành vi ngày thường. Tâm này tương đương với Nhân thừa. 3. Anh đồng vô úy tâm: Như trẻ nít trong vòng tay ôm ấp của mẹ, không hề sợ hải điều gì; nhờ lòng tin sau khi chết được lên cõi trời mà được an tâm về mặt tông giáo. Đây tương đương với Thiên thừa. Ba tâm trên thuộc về tư tưởng thế tục, các tâm sau đây mới là tư tưởng Phật giáo. 4. Duy uẩn vô ngã tâm: Tuy biết tất cả pháp đều do 5 uẩn giả hòa hợp mà thành, cũng biết lí vô ngã, nhưng vẫn cố chấp 5 uẩn là có thật. Đây tương đương với Thanh văn thừa nương theo giáo pháp Tứ đế mà cầu quả A la hán. 5. Bạt nghiệp nhân chủng tâm: Quán xét 12 nhân duyên, diệt hết hạt giống của hoặc nghiệp nhân duyên, ra khỏi 3 cõi. Đây tương đương vớiDuyên giác thừa. 6. Tha duyên đại thừa tâm: Tha duyên đồng nghĩa với vô duyên. Nghĩa là dùng tâm từ bi tuyệt đối để cứu độ chúng sinh. Tâm này thuộc tông Pháp tướng. 7. Giác tâm bất sinh tâm: Giác ngộ tâm tính vốn chẳng sinh chẳng diệt; đây là cảnh giới Bát bất trung đạo của tông Tam luận.8. Nhất đạo vô vi tâm(cũng gọi Như thực nhất đạo tâm): Như thực tỏ ngộ chân lí tuyệt đối. Đây là cảnh giới Nhất thực trung đạo của tông Thiên thai. 9. Cực vô tự tính tâm: Giác ngộ tất cả muôn vật đều không có tự tính, chỉ là cảnh giới dochân như tùy duyên mà hiển hiện. Tâm này thuộc tông Hoa nghiêm. 10. Bí mật trang nghiêm tâm: Mở bày sự sâu kín của tâm địa, tất cả công đức đều trang nghiêm viên mãn. Đây là cảnh giới củatông Chân ngôn. Luận Thập trụ tâm cho rằng mục đích của thuyết Thập trụ tâm trên đây là hiển bày tướng chuyển lên(tiến lên) của hành giả Chân ngôn theo quá trình tu tập, vì thế xưa nay cho Thập trụ tâm là pháp tướng Cửu hiển thập mật. Trái lại, Bí tạngbảo thược thì chủ trương mục đích của Thập trụ tâm là phân định thứ lớp cạn sâu của Hiển giáo và Mật giáo, vì thế xưa nay cho Thập trụ tâm là giáo tướng Cửu hiển nhất mật.Đối với giáo phán Thập trụ tâm này, giới Phật giáo Nhật bản, bắt đầu là tông Thiên thai, rồi đến các tông Tịnh độ, Nhật liên... đều bắt bẻ. Còn trong Chân ngôn tông giáo thời vấn đáp quyển 2 của ngài An nhiên thuộc Thai mật cũng nêu ra 5 lỗi, cho rằng giáo phán này trái với kinh Đại nhật, kinh Kim cương đính, kinh Thủ hộ, luận Bồ đề tâm và luậnthuyết của các nhà.[X. Bí tạngbảo thược Q.thượng, hạ; Pháp hoa chân ngôn thắng liệt sự (Nhật liên)].
Thập Trụ Tâm Luận
(十住心論, Jūjūshinron): 10 quyển, gọi cho đủ là Bí Mật Mạn Đà La Thập Trụ Tâm Luận (秘密曼陀羅十住心論), một trong những trước tác đại biểu của Không Hải (空海, Kūkai), là thư tịch thuật rõ toàn bộ hệ thống Chơn Ngôn Mật Giáo, được viết theo yêu cầu của sắc chỉ của Thuần Hòa Thiên Hoàng (淳和天皇, Junna Tennō, tại vị 758-764) vào khoảng năm 830, được xem như là thư tịch lập giáo khai tông. Đây là trước tác chia tâm con người thành 10 giai đoạn, rồi phối trí tư tưởng đại biểu đương thời cho mỗi tâm ấy và cấu trúc thành hệ thống. Bộ sách chủ trương rằng chính Chơn Ngôn Mật Giáo là cảnh giới tối cao mà tâm con người có thể đạt đến được. Mười tâm ấy gồm: (1) Dị Sanh Đê Dương Tâm (異生羝羊心, Dị Sanh là phàm phu, tâm cảnh bị chi phối theo bản năng ăn uống, tánh dục giống như con dê đực); (2) Ngu Đồng Trì Trai Tâm (愚童持齋心, tâm cảnh của Phật tánh vốn có xưa nay được khai mở từng chút một, tiết chế tự kỷ và thực hành con đường luân lý đạo đức, là cảnh giới của Nho Giáo); (3) Anh Đồng Vô Úy Tâm (嬰童無畏心, tâm cảnh sợ khổ não cõi người và mong cầu quả vui trên cõi Trời, là cảnh giới của triết học Ấn Độ và tư tưởng Lão Trang); (4) Duy Uẩn Vô Ngã Tâm (唯蘊無我心, tâm cảnh Ngã là không và pháp Ngũ Uẩn cấu thành nên Ngã ấy hiện hữu, là cảnh giới của Thanh Văn trong Phật Giáo Nguyên Thủy); (5) Bạt Nghiệp Nhân Chủng Tâm (拔業因種心, tâm cảnh thể hiện nghiệp, phiền não tiêu diệt nhờ quán Thập Nhị Nhân Duyên, nhưng không có từ bi lợi tha, là cảnh giới của Duyên Giác trong Phật Giáo Nguyên Thủy); (6) Tha Duyên Đại Thừa Tâm (他緣大乘心, từ đây trở về sau là tâm cảnh của Đại Thừa, tâm thường nghĩ đến việc cứu độ chúng sanh, nhưng vẫn chưa triệt để về lý Không, nên lập nên Ngũ Tánh Các Biệt, là cảnh giới của Duy Thức, Pháp Tướng Tông trong Phật Giáo Đại Thừa); (7) Giác Tâm Bất Sanh Tâm (覺心不生心, Thức cũng như cảnh đều không, dừng lại và chấm dứt ở mặt phủ định, là cảnh giới của Trung Quán cũng như Tam Luận Tông trong Phật Giáo Đại Thừa); (8) Nhất Đạo Vô Vi Tâm (一道無爲心, hay còn gọi là Như Thật Tri Tự Tâm [如實自知心], Không Tánh Vô Cảnh Tâm [空性無境心], cảnh giới thể đắc lý thú Nhất Niệm Tam Thiên, Tam Đế Viên Dung, nhưng đó vẫn là cảnh giới của nhân từ Duyên Khởi, là cảnh giới của Trung Quán cũng như Thiên Thai Tông trong Phật Giáo Đại Thừa); (9) Cực Vô Tự Tánh Tâm (極無自性心, cảnh giới sự sự vô ngại, quán sát lý thú vô hạn trong tướng trạng của vạn hữu, là cảnh giới cực ý của Hiển Giáo, hết thảy đều quy về Không Vô Tướng, là cảnh giới của Trung Quán cũng như Hoa Nghiêm Tông trong Phật Giáo Đại Thừa); và (10) Bí Mật Trang Nghiêm Tâm (秘密莊嚴心, cảnh giới phá tan chấp thủ về Không, biết rõ tận cùng tự tâm, thể nghiệm Pháp Thân Tự Nội Chứng, thực tại căn nguyên của Sắc Tâm Bất Nhị hay Vật Tâm Nhất Như, lấy ba bí mật của thân, miệng và ý để trang nghiêm quả vị tối cùng của Phật Tự Chứng, là cảnh giới của Chơn Ngôn Mật Giáo). Tác phẩm giới thiệu nội dung giản lược của Thập Trụ Tâm Luận là bộ Bí Tạng Bảo Thược (秘藏寶鑰), 3 quyển.
thập trụ tâm luận
(十住心論) Gọi đủ: Bí mật mạn đồ la thập trụ tâm luận.Luận, 10 quyển, do ngài Không hải người Nhật bản soạn vào khoảng năm Thiên trường (824-833) và khắc bản in vào năm Kiến trường thứ 6 (1254) theo sắc chỉ của Thiên hoàng Thuần hòa, được thu vào Đại chính tạng tập 77. Nội dung luận này lập ra 10 trụ tâm để nói về thứ tự tâm phẩm chuyển lên của hành giả Chân ngôn, đồng thời phán thích giáo thuyết của các tông Hiển, Mật. Về các sách chú thích luận này thì có: -Lược tụng, 1 quyển, của ngài Giác tông. -Tha duyên sao, 3 quyển, của ngài Đạo phạm. -Giác tâm sao, 3 quyển, của ngài Đạo phạm. -Khám văn, 24 quyển, của ngài Lại du. -Nghĩa phê, 36 quyển, của ngài Ngưng nhiên. -Khoa chú, 1 quyển, của ngài Tú ông. Ngoài ra, tác phẩm Bí tạng bảo thược, 3 quyển, cũng do ngài Không hải soạn, là đại cương của luận này. (xt. Thập Trụ Tâm, Bí Tạng Bảo Thược).
thập trụ tì bà sa luận
(十住毗婆沙論) Phạm:Dazabhùmika-vibhàwà-zàstra. Gọi tắt: Thập trụ luận. Luận, 17 quyển, do Bồ tát Long thụ soạn, ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 26. Nội dung luận này giải thích đại ý phẩm Thập địa (kinh Thập địa) trong kinh Hoa nghiêm. Trong bản Hán dịch, ngài La thập gọi Thập địa là Thập trụ. Thập địa là chỉ cho 10 giai đoạn tu đạo của hàng Bồ tát Đại thừa. Nhưng ngài Long thụ chưa chú thích hoàn chỉnh kinh Thập địa mà chỉ mới chú thích Sơ địa(Hoan hỉ địa) và một nửa địa thứ 2(Li cấu địa), đây vì nguyên điển không đủ, hay vì phiên dịch chưa hoàn thành Phẩm Tựa của luận này trước nói về Bồ tát, sau đó, trình bày ý nghĩa của Thập địa và phân biệt Tam thừa. Toàn văn chia làm 35 chương (phẩm), từ chương 1 đến chương 27 Lược hành là chú thích Sơ địa, từ chương 28 trở đi mới nói về Địa thứ 2. Phần Sơ địa thì trước thuyết minh về nội dung Hoan hỉ địa, kế đến nói về lí tưởng (nguyện), thực tiễn(hành) và quả báo(quả) của Bồ tát. Đến Địa thứ 2 thì tận lực trình bày về tính chất quan trọng của 10 tâm phương tiện, đồng thời nói rõ về Thập thiện nghiệp đạo của Bồ tát Đại thừa. Phẩm Dị hành trong thiên thứ 9 thuộc 35 chương của luận này là phần trọng yếu của pháp môn Tịnh độ.
thập trụ tỳ bà sa luận
DaśabhŪmika-vibhāṣā-śāstra (S) Tên một bộ luận kinh.
thập tuế giảm kiếp
(十歲减劫) Trong kiếp giảm, con người sống đến 10 tuổi(thập tuế), là thọ nhất, cho nên gọi là Thập tuếgiảmkiếp. Trong 20 trung kiếp của kiếp Trụ thì kiếp đầu tiên là kiếp giảm; kiếp giảm là khoảng thời gian mà tuổi thọ con người từ 8 vạn 4 nghìn tuổi, cứ mỗi 100 năm giảm đi một tuổi, cho đến chỉ còn 10 tuổi là hết kiếp giảm. [X. luận Đại tì bà sa Q.135; luận Câu xá Q.12]. (xt. Kiếp).
thập tuỳ miên
(十隨眠) Cũng gọi Thập sử, Thập kiến, Thập đại hoặc. Chỉ cho 10 phiền não căn bản là tham, sân, si, mạn, nghi, hữu thân kiến, biên chấp kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. Trong đó, 5 phiền não đầu vì có tính chất chậm lụt nên gọi là Ngũ độn sử, còn 5 phiền não sau thì tính chất lanh lợi nên gọi là Ngũ lợi sử. Nhưng các nhà phiên dịch mới thì không dùng danh từ Ngũ độn, Ngũ lợi. [X. luận Câu xá Q.19]. (xt. Ngũ Lợi Sử; Ngũ Độn Sử; Kiến Hoặc; Căn Bản Phiền Não; Tùy Miên).
thập tâm
Ten minds.
; The ten kinds of heart or mind; there are three groups. I-Thuận lưu thập tâm, the ten minds remaining in the flow of reincarnation: (1) vô minh hôn ám, minds ignorant and dark; (2) ngoại gia ác hữu, affected by evil companions; (3) thiện bất tùy tùng, not following the good; (4) tam nghiệp tạo ác tâm, doing evil in thought, word, deed; (5) ác tâm biến bố, spreading evil abroad; (6) ác tâm tương tục, unceasingly wicked; (7) phú quí quá thất tâm, secret sin; (8) bất úy ác đạo, open crime; (9) vô tàm vô quí, utterly shameless; (10) xả vô nhân quả, defying cause and effect (retribution). II-Nghịch lưu thập tâm, the ten minds striving against the stream of perpetual reincarnation: (1) thâm tín nhân quả, it shows itself in devout faith; (2) sinh trọng tàm quí, shame for sin; (3) sinh đại bố úy, fear of wrong doing; (4) phát lộ sám hối, repentance and confession; (5) đoạn tương tục tâm, reform; (6) phát bồ đề tâm, bodhi i.e. the bodhisattva mind; (7) đoán thiện ác tu, doing good; (8) thủ hộ chính pháp, maintaining the right law; (9) niệm thập phương Phật, thinking on all the Buddha; (10) quán tội tính không, meditating on the void (or the unreality of sin) III-The third is the Chân Ngôn group: the "seed" heart (i.e. the original good desire), the sprout (under Buddhist religious influence), the bud, leaf, flower, fruit, its serviceableness; the child-heart, the discriminating heart, the heart of settled judgement (or resolve). III-Thập tâm của Bồ tát, the ten minds of a Bodhisattva: (1) tín tâm trụ (2) niệm tâm trụ; (3) tinh tiến tâm; (4) tuệ tâm trụ; (5) định tâm trụ (6) bất thoái tâm, no retrogression; (7) hộ pháp tâm (8) hồi hướng tâm (9) giới tâm trụ (10) nguyện tâm.
; (十心) I. Thập Tâm. Chỉ cho 10 tâm mà Bồ tát an trụ. Đó là: 1. Đại địa đẳng tâm: Tâm rộng lớn như mặt đất. Nghĩa là nâng đỡ và nuôi lớn các căn lành của tất cả chúng sinh. 2. Đại hải đẳng tâm: Tâm bao la như biển cả. Nghĩa là nước pháp đại trí của chư Phật đều chảy vào. 3. Tu di sơn vương đẳng tâm: Tâm cao vòi vọi như núi Tu di. Nghĩa là làm cho tất cả chúng sinh an trụ nơi thiện căn tối thượng xuất thế gian. 4. Ma ni bảo tâm: Tâm quí báu như ngọc Ma ni. Nghĩa là tâm ưa muốn thanh tịnh như ngọc báu Ma ni không tạp nhiễm. 5. Kim cương tâm: Tâm sắc bén như kim cương, có khả năng ngộ nhập tất cả pháp. 6. Kiên cố kim cương vi sơn tâm: Tâm bền chắc như núikim cương bao bọc. Nghĩa là tâm không bị các ma, ngoại đạo phá hoại, lay động. 7. Liên hoa đẳng tâm: Tâm như hoa sen. Nghĩa là tâm không bị tất cả pháp thế gian làm ô nhiễm. 8. Ưu đàm bát hoa đẳng tâm: Tâm như hoa sen xanh. Nghĩa là tâm rất quí, hiếm có. 9. Tịnh nhật đẳng tâm: Tâm thanh tịnh như mặt trời. Nghĩa là ánh sáng của tâm có năng lực diệt trừ sự ngu si ám chướng của tất cả chúng sinh. 10. Hư không đẳng tâm: Tâm như hư không. Nghĩa là tâm rộng lớn không thể lường biết được. [X. kinh Hoa nghiêm Q.40 (bản dịch cũ)]. II. Thập tâm. Chỉ cho 10 đức tướng của tâm trong Pháp giới tính khởi, đó là: 1. Bình đẳng vô y tâm. 2. Tính vô tăng giảm tâm. 3. Ích sinh vô niệm tâm. 4. Dụng hưng thể mật tâm. 5. Diệt hoặc thành đức tâm. 6. Y trụ vô ngại tâm. 7. Chủng tính thâm quảng tâm. 8. Tri pháp cứu tận tâm. 9. Xảo tiện lưu hoặc tâm. 10. Tính thông bình đẳng tâm. [X. kinh Hoa nghiêm Q.51 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.16; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.27]. III. Thập Tâm. Chỉ cho các loại Thập tâm nói trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) : 1. Mười tâm do Bồ tát Thập trụ phát khởi.2. Mười tâm do các hàng Bồ tát Hồi hướng thứ nhất, Hồi hướng thứ 6, Hồi hướng thứ 9 trong Thập hồi hướng phát khởi.3. Mười tâm mà Bồ tát Sơ hoan hỉ địa chứng được nhờ đã phát 10 nguyện rộng lớn.4. Mười tâm do hàng Bồ tát Nhị địa, Tam địa, Ngũ địa, Lục địa, Cửu địa phát khởi.5. Mười tâm mà Bồ tát an trụ khi phân biệt 10 thứ nhập pháp. 6. Mười loại phát tâm Phổ hiền. 7. Mười tâm bình đẳng. 8. Mười loại phát tâm bất động. 9. Mười loại bất xả thâm tâm. 10. Mười loại phát tâm vô giải đãi. 11. Mười loại tâm Tu di sơn vương chính trực. 12. Mười loại tâm Kim cương. 13. Mười loại phát vô lượng vô biên quảng tâm. [X. kinh Hoa nghiêm Q.14, 16, 20, 23 - 26, 33, 37 - 41, 55, 60]. IV. Thập Tâm. Chỉ cho 2 loại Thập tâm nói trong Ma ha chỉ quán quyển 4, thượng. A. Mười tâm thuận lưu: Tức 10 tâm làm cho chúng sinh thuận theo phiền não mà bị trôi giạt trong dòng sinh tử. Đó là: 1. Tâm vô minh hôn ám: Từ vô thủy đến nay, các chúng sinh vì tối tăm mê muội, nên tạo nhiều nghiệp ác. 2. Tâm gần bạn xấu: Các chúng sinh bên trong có phiền não, bên ngoài gặp bạn xấu, khích động pháp tà, mê hoặc tâm mình, không tu nghiệp thiện. 3. Tâm không vui theo điều thiện: Các chúng sinh trong ngoài đều là duyên ác, tức bên trong diệt tâm thiện, bên ngoài phá việc thiện, thấy người khác làm điều thiện tâm chẳng vui theo. 4. Banghiệptạo ác: Các chúng sinh buông lơi 3 nghiệp thân, khẩu, ý, chẳng từ một điều ác nào không làm. 5. Tâm ác trùm khắp: Tâm ác của các chúng sinh trùm khắp các nơi, não hại mọi người. 6. Tâm ác nối tiếp nhau: Các chúng sinh sinh khởi tâm ác, ngày đêm liên tục không dứt. 7. Che giấu lỗi lầm: Các chúng sinh không chịu phát lộ những việc làm xấu ác, không có tâm ăn năn sửa đổi. 8. Không sợ đường ác: Các chúng sinh không biết giới luật, khôngkiêng việc ác, chẳng sợ đường ác. 9. Không biết hổ thẹn: Các chúng sinh tạo các nghiệp ác, tâm không hổ thẹn. 10. Không tin nhân quả: Các chúng sinh sinh khởi tà kiến, cho rằng không có thiện ác nhân duyên quả báo... B. Mười tâm nghịch lưu: Tức 10 tâm giúp người tu hành diệt trừ các pháp ác do 10 tâm thuận lưu tạo ra. Đó là: 1. Tin sâu nhân quả: Tiêu trừ tâmbác không có nhân quả. 2. Tâm hổ thẹn: Diệt trừ tâm không biết hổ thẹn. 3. Sinh tâm sợ hãi: Phá tâm không sợ đường ác. 4. Biết ăn năn sửa đổi: Phá trừ tâm che giấu tội lỗi. 5. Dứt tâm tương tục: Diệt ác niệm nối tiếp nhau. 6. Phát tâm bồ đề: Phá tâm ác lan tràn. 7. Đoạn ác tu thiện: Trừ diệt tâm 3 nghiệp tạo tội. 8. Thủ hộ chính pháp: Phá diệt tâm không vui theo việc thiện. 9. Niệm Phật ở 10 phương: Phá trừ tâm thuận theo bạn ác. 10. Quán xét tính của tội vốn không: Phá vỡ tâm vô minh ám muội. Nếu muốn sám hối trọng chướng 2 đời và thực hành 4 loại Tam muội, thì phải biết rõ lỗi lầm của 10 tâm thuận lưu, rồi vận dụng 10 tâm nghịch lưu để đối trị. Hai mươi tâm trên đây là gốc của các pháp sám hối.V. Thập Tâm. Chỉ cho 10 tâm niệm Phật. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 92 thì chúng sinh nào phát 10 thứ tâm, rồi tùy theo bất cứ một tâm nào, nếu chuyên tâm niệm danh hiệu Phật A di đà thì lúc lâm chung liền được sinh về thế giới Cực lạc. Mười tâm ấy là: 1. Vô tổn hại tâm: Tâm không gây tổn hại. Nghĩa là người niệm Phật khởi tâm đại từ đối với chúng sinh, không gây tổn hại cho họ, khiến đượcyên vui. 2. Vô bức não tâm: Tâm không bức não. Nghĩa là người niệm Phật thân tâm yên tĩnh, đối với chúng sinh thường khởi tâm đại bi, thương xót cứu giúp, khiến họ được thoát khổ. 3. Lạc thủ hộ tâm: Tâm vui giữ gìn. Nghĩa là người niệm Phật không tiếc thân mệnh giữ gìn chính pháp của đức Phật. 4. Vô chấp trước tâm: Tâm không dính mắc. Nghĩa là người niệm Phật thường dùng trí tuệ quán xét, đối với tất cả pháp, tâm không bám níu. 5. Khởi tịnh ý tâm: Sinh khởi tâm ý thanh tịnh. Nghĩa là người niệm Phật thường lìa các pháp tạp nhiễm của thế gian, đối với việc lợi dưỡng, thường sinh tâm biết đủ. 6. Vô vong thất tâm: Tâm không quên mất. Nghĩa là người niệm Phật cầu sinh Tịnh độ, thành chủng trí Phật, trong tất cả các thời, niệm niệm không bỏ.7. Vô hạ liệt tâm: Không sinh tâm chê bai hèn kém. Nghĩa là người niệm Phật thường có tâm bình đẳng, đối với các chúng sinh tôn trọng cung kính, không sinh tâm khinh mạn. 8. Sinh quyết định tâm: Sinh tâm quyết định. Nghĩa là người niệm Phật, không chấp trước ngôn luận của thế gian, đối vớibồ đề vô thượng, chính tín sâu xa, rốt ráo không nghi hoặc. 9. Vô tạp nhiễm tâm: Không sinh tâm tạp nhiễm. Nghĩa là người niệm Phật tu tập công hạnh, vun bồi căn lành, tâm thường xa lìa tất cả phiền não tạp nhiễm. 10. Khởi tùyniệm tâm: Khởi tâm tùy niệm. Nghĩa là người niệm Phật tuy quán tưởng các tướng tốt đẹp của Như lai, nhưng tâm không đắm trước, trong vô niệm vẫn thường niệm Phật. VI. Thập Tâm. Chỉ cho 10 thứ tâm được ghi trong Đại nhật kinh sớ quyển 2, đó là: Chủng tử, nha chủng, pháo chủng, diệp chủng, phu hoa, thành quả, thụ dụng chủng tử, anh đồng, thù thắng và quyết định. (xt. Bát Tâm).
Thập tâm 十心
[ja] ジッシン jisshin ||| Ten minds, of which there are numerous lists in various scriptures. A couple of sets are (1) the mind of benefit 利益心, flexible mind 柔輭心, accordant mind 随順心, still mind 寂静心, suduing mind 調伏心, annihīated mind 寂滅心, humble mind 謙下心, abundant mind 潤澤心, unmoveable mind 不動心, unsullied mind 不濁心. (2) The ten minds in the Sutra of Original Karma 本業經: the mind of faith 信心, the mind of effort 精進心, the mind of mindfulness 念心, the mind of wisdom 慧心, the mind of concentration 定心, the mind of generosity 施心, the mind of moral discipline 戒心, the mind of watchfulness 護心, the mind of the vow 願心, the mind of dedication of merit 迴向心. (3) The minds of the ten faiths 十信. Mười tâm, có nhiều liệt kê trong các kinh điển khác nhau. Đó là: => 1. Lợi ích tâm, Nhu nhuyến tâm, Tuỳ thuận tâm, Tịch tĩnh tâm, Điều phục tâm, Tịch diệt tâm, Khiêm hạ tâm, Nhuận trạch tâm, Bất động tâm, Bất trọc tâm. 2. Mười tâm trong Bản nghiệp kinh: Tín tâm, Tinh tiến tâm, Niệm tâm, Huệ tâm, Định tâm, Thí tâm, Giới tâm, Hộ tâm, Nguyện tâm, Hồi hướng tâm. 3. Các tâm trong Thập tín.
thập tín
The ten grades of bodhisattva faith: (1) tín tâm faith (which destroys illusion and results in); (2) niệm tâm remembrance, or unforgetfulness; (3) tinh tiến tâm zealous progress; (4) tuệ tâm wisdom; (5) định tâm settled firmness in concentration; (6) bất thoái tâm non-retrogression; (7) hộ pháp tâm protection of the Truth; (8) hồi hướng tâm reflexive powers, e.g. for reflecting the Truth; (9) giới tâm the nirvàna mind in effortlessness; (10) nguyện tâm action at will in anything and everywhere.
; Từ Sơ tín đến Thập tín, sức tin đối với tự tâm đã thành tựu viên mãn.
; (十信) Gọi đủ: Thập tín tâm. Gọi tắt: Thập tâm. Chỉ cho 10 tâm mà Bồ tát của 10 giai vị đầu tiên trong 52 giai vị tu hành. Mười tâm này thuộc Tín vị, có khả năng giúp cho hành giả thành tựu hạnh tín. Về tên gọi và thứ tự thì các kinh điển ghi có hơi khác nhau. Cứ theo phẩm Hiền thánh danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng thì 10 tâm là: 1. Tín tâm: Nhất tâm quyết định, mong muốn thành tựu. 2. Niệm tâm: Thường tu 6 niệm: Phật, Pháp, Tăng,giới,thí vàthiên. 3. Tinh tiến tâm: Nghe Bồ tát tạng, siêng năng tu tập thiện nghiệp không gián đoạn. 4. Định tâm: Tâm an trụ nơi sự và nghĩa, xa lìa tất cả hư ngụy, vọng tưởng phân biệt. 5. Tuệ tâm: Nghe Bồ tát tạng, tư duy quán sát, biết tất cả pháp vô ngã, vô nhân, tự tínhrỗng lặng. 6. Giới tâm: Thụ trì luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, thân, khẩu, ý thanh tịnh, không phạm các lỗi, nếu có phạm thì sám hối trừ diệt. 7. Hồi hướng tâm: Đem các thiện căn đã tu được hồi hướng về bồ đề, không nguyện sinh vào các cõi hữu lậu, hồi thí cho chúng sinh,không vì riêng mình; hồi hướng cầu chứng được thực tế, không chấp danh tướng. 8. Hộ pháp tâm: Phòng ngừa tâm mình, không khởi phiền não, lại tu 5 hạnh: Mặc hộ, niệm hộ, trí hộ, tức tâm hộ và tha hộ. 9. Xả tâm: Không tiếc thân mệnh, tài vật, tất cả những gì có được đều buông bỏ.10. Nguyện tâm:Thường tu các nguyện thanh tịnh. Mười tâm được liệt kê trong phẩm Bồ tát giáo hóa kinh Nhân vương quyển thượng do ngài Cưu ma la thập dịch là: Tín tâm, Tinh tiến tâm, Niệm tâm, Tuệ tâm, Định tâm, Thí tâm, Giới tâm, Hộ tâm, Nguyện tâm và Hồi hướng tâm, cho đó là 10 tâm của Tập chủng tính. Kinh Phạm võng quyển thượng thì nêu 10 tâm là: Xả tâm, Giới tâm, Nhẫn tâm, Tiến tâm, Định tâm, Tuệ tâm, Nguyện tâm, Hộ tâm, Hỉ tâm, Đính tâm và cho đó là 10 tâm Phát thú trong Kiên tín nhẫn. Còn kinh Lăng nghiêm quyển 8 thì gọi đó là Thập tâm trụ, tức Tín tâm trụ, Niệm tâm trụ, Tinh tiến tâm trụ, Tuệ tâm trụ, Định tâm trụ, Bất thoái tâm trụ, Hộ pháp tâm trụ, Hồi hướng tâm trụ, Giới tâm trụ và Nguyện tâm trụ. Về việc phối hợp Thập tínvớinày các vị thứ của Bồ tát thì xưa nay cũng cócác thuyết khác nhau. Tứ giáo nghĩa quyển 5 phối Thập tín với 10 giai vị đầu tiên trong 52 giai vị của Biệt giáo; Viên giáo lại lập riêng Lục tức, phối Thập tín với Tương tự tức, là giai vị Nhu thuận nhẫn 6 căn thanh tịnh. Hoa nghiêm ngũ giáo chương dẫn dụngluậnNhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) cho rằng như trước Tu đà hoàn đạo có 4 giai vị là Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp, đối với hàng Nguyện lạc hành thì có 4 loại là Thập tín, Thập giải, Thập hành, Thập hồi hướng; Thủy giáo thì cho rằng 4 giai vị Thập tín, Thập giải, Thập hành, Thập hồi hướng là Tư lương vị. Trong Chung giáo thì trước Sơ địa chỉ có Tam hiền (Thập giải, Thập hành, Thập hồi hướng), là vì Thập tín chưa đạt đến giai vị Bất thoái. Các nhà Duy thức cũng cho rằng trước Thập địa chỉ có 30 tâm, chứ không lập giai vị Thập tín. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Nhân vương kinh hợp sớ Q.trung; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1 hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần cuối]. (xt. Bồ Tát Giai Vị).
thập tín tương tự đạo
(十信相似道) Chỉ cho đạo tương tự của giai vị Thập tín.Tức hành giả Viên giáo tông Thiên thai vào giai vị Thập tín, đoạn Kiến hoặc, Tư hoặc trong 3 cõi, được 6 căn thanh tịnh 3quán viên dung, phát được trí tuệ chân chứng tương tự với giai vị Sơ trụ trở lên.
Thập tín 十信
[ja] ジッシン jisshin ||| "Ten Faiths." The first ten stages in the 52 stage path of the bodhisattva. They are called the ten faiths, since faith is the entry of Buddhist practice. They are: 1. The Stage of Faith xinxin 信心; of the arousal of true aspiration. 2. The Stage of Mindfulness nianxin 念心; the stage of the cultivation of six kinds of mindfulness. 3. The Stage of Endeavor jingjinxin 精進心. 4. The Stage of Mental Stability dingxin 定心. 5. The Stage of the Wisdom of Understanding Emptiness huixin 慧心. 6. The Stage of Pure Self-restraint jiexin 戒心. 7. The Stage of the Returning of Merit huixiangxin 廻向心. 8. The Stage of Maintaining the dharma Within Oneself hufaxin 護法心. 9. The Stage of Detachment 捨心. 10. The Stage of Aspiration yuanxin 願心. Different sutras have their own versions of these ten. Among the sutras with alternative versions are: the Renwang jing 仁王經 , the Fanwangjing 梵網經, the Shoulengyan jing 首楞嚴經 and others. => Mười giai vị đầu tiên trong 52 giai vị tu đạo của Bồ-tát. Gọi Thập tín là vì niềm tin là lối vào trong muôn hạnh tu tập Phật đạo. Đó là: 1. Tín tâm 信心 c: xinxin: phát khởi tâm nguyện chân chính 2. Niệm tâm 念心 c: nianxin: tu tập sáu loại chính niệm. 3. Tinh tiến tâm 精進心c: jingjinxin. 4. Định tâm 定心 c: dingxin. 5. Huệ tâm 慧心 c: huixin. 6. Giới tâm 戒心 c: jiexin. 7. Hồi hướng tâm 廻向心 c: huixiangxin . 8. Hộ pháp tâm 護法心 c: hufaxin . 9. Xả tâm 捨心. 10. Nguyện tâm 願心. Các kinh luận khác nhau đưa ra những lối giải thích khác nhau về Mười tâm nầy. Các kinh đó là: kinh Nhân Vương, kinh Phạm võng, kinh Thủ Lăng Nghiêm và một số kinh khác.
thập tông
The ten shools of Chinese Buddhism: (1) Luật tông, vinaya-discipline or Nam sơn tông; (2) Câu xá tông, Kosa, Abhidharma, or Reality (Sarvàstivàdin) hữu tông; (3) Thành thật tông, satya-siddhi sect founded on this sàstra by Harivarman; (4) Tam luận tông, màdhyamika or không tông; (5) Pháp hoa tông, lotus, "law-flower" or Thiên thai tông; (6) Hoa nghiêm tông, Hua yen; (7) Pháp tướng tông, dharmalaksana; (8) Thiền tông, ch'an or zen, mind only, or intuitive; (9) Chân ngôn tông, Japanese Shingon , esoteric mật tông; (10) Liêntông, Amitabha-lotus, or Pure-Land, Japanese Jòdo, Tịnh độ.
; (十宗) Chỉ cho 10 tông của Phật giáo do tông Hoa nghiêm phân loại và phán định theo chủ trương giáo nghĩa của các tông ấy. Đó là: 1. Ngã pháp câu hữu tông: Tông này chủ trương ngã chủ quan và sự vật khách quan đều có thật, tồn tại. Nhân thiên thừa nói về giáo nghĩa thiện ác báo ứng và các bộ phái như Độc tử bộ... trong Tiểu thừa đều thuộc về tông này. 2. Pháp hữu ngã vô tông: Tông này chủ trương sự vật khách quan trùm khắp trong 3 đời và có thật, pháp thể hằng hữu, nhưng không có ngã chủ quan. Các bộ phái như Thuyết nhấtthiếthữu bộ của Tiểu thừa thuộc về tông này. 3. Pháp vô khứ lai tông: Tông này chủ trương tất cả pháp ở hiện tại có thực thể, còn các pháp ở quá khứvàvị lai thì không có thực thể. Các bộ phái như Đại chúng bộ... thuộc về tông này. 4. Hiện thông giả thực tông: Tông này chẳng những nói các pháp quá khứ, vị lai không có thực thể mà đối với cả các pháp hiện tại cũng chủ trương có giả có thực. Vạn hữu được chia làm 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, trong đó, pháp 5 uẩn có thực thể, còn 12 xứ, 18 giới là sở y, sở duyên, thuộc pháp tích tụ, là giả có chứ không phảithậtcó. Thuyết giả bộ, luận Thành thực... thuộc tông này. 5. Tục vọng chân thực tông: Tông này chủ trương muôn pháp thế tục đều là hư dối, chỉ có chân lí Phật giáo nói về chân đế xuất thế gian là có thật. Thuyết xuất thế bộ thuộc về tông này. 6. Chư pháp đãn danh tông: Tông này chủ trương tất cả sự vật thế gian, xuất thế gian, hữu lậu, vô lậu đều chỉ có cái danh chứ không có thực thể. Các bộ phái như Nhất thuyết bộ... thuộc về tông này. 7. Nhất thiết giai không tông: Chủ trương tất cả muôn pháp thảy đều là chân không. Chânkhôngnày chẳng phải là cái không mà tâm mê vọng có thể hiểu thấu được, đó là bản lai vô phân biệt tức không. Chỉ cho kinh Bát nhã. 8. Chân đức bất không tông: Muôn pháp cuối cùng trở về nhất chân như, vì thế tông này gọi chân như bị phiền não che lấp là Như lai tạng và chủ trương Như lai tạng có công đức chân thực, cho nên thể bất không, có vô số tính chất thanh tịnh. Chung giáo trong 5 giáo thuộc về tông này, tức chỉ cho kinh Lăng nghiêm. 9. Tướng tưởng câu tuyệt tông: Chân lí là cảnh giới trong đó đối tượng khách quan và tâm chủ quan đều vắng bặt, dứt tướng đối đãi, bất khả thuyết, bất khả tư nghị, là Đốn giáo trong 5 giáo. Như thuyết Mặc bất nhị trong kinh Duy ma thuộc về tông này. 10. Viên minh cụ đức tông: Chủ trương muôn pháp mỗi mỗi đều đủ tất cả công đức, hết thảy hiện tượng không ngăn ngại nhau, có quan hệ lẫn nhau trùng trùng vô tận. Biệt giáo Nhất thừa của Hoa nghiêm thuộc về tông này. Mười thuyết được trình bày trên đây có mối quan hệ mật thiết với thuyết Ngũ giáo, thu chép và giải thích Thánh giáo trong một đời đức Phật, cùng suốt các lí, trong đó từ tông thứ nhất đến tông thứ 6 thuộc về Tiểu thừa giáo, tông thứ 7 là Đại thừa thủy giáo, tông thứ 8 là Đại thừa chung giáo, tông thứ 9 là Đốn giáo và tông thứ 10 là Viên giáo, cho nên gọilàThập tông thu giáo. Còn theo Hoa nghiêm huyền đàm quyển 8 của ngài Trừng quán thì tông thứ 7 thuộc về Tam tính không hữu tông, là Tướng thủy giáo chủ trương Tam tính tam vô tính; tông thứ 8 thuộc Chân không tuyệt tướng tông, tương đương với Tướng tưởng câu tuyệt tông nói ở trên; tông thứ 9 thuộc Không hữu vô ngại tông, tương đươngvới Chân đức bất không tông; tông thứ 10 thuộc Viên dung cụ đức tông, tương đương với Viên minh cụ đức tông. Ngài Pháp tạng lấyTính tướng dung hội(thừa nhận bản thể và hiện tượng dung hợp nhất trí) làm chủ, ngài Trừng quán thì biểu thị tính tướng quyết phán(chủ trương bản thể và hiện tượng có phân chia riêng biệt). Lại trong Bát tông giáo phán của tông Pháp tướng thì từ tông thứ nhất đến tông thứ 6 giống với 6 tông đầu trong 10 tông, tông thứ 7 Thắng nghĩa giai không tông là thuyết của kinh Bát nhã và Tam luận; tông thứ 8 Ứng lí viên thực tông là thuyết của các kinh Thâm mật, Pháp hoa, Hoa nghiêm... hoặc là thuyết của các ngài Thế thân, Vô trước... [X. Pháp hoa huyền tán Q.1 (Khuy cơ)]. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).
Thập tông 十宗
[ja] ジュウシュウ jūshū ||| 'Ten schools.' The division of Chinese schools of Buddhism into ten schools of thought. There are variations in the ordering of these ten. {I} The Huayan classification (by Fazang 法藏) is as follows. (1) the self and elements are both real; (2) elements are real but the self is not; (3) elements are not created or destroyed; (4) the manifest world is both provisional and real; (5) the worldly view is delusion and fundamental reality is true; (6) things are merely names; (7) all things are unreal; (8) the bhūta-tathatā is not unreal; (9) 相想倶絶宗 phenomena and their perception are to be gotten rid of, and (10) the all inclusive teaching of the single vehicle. Fazang's classification is also called the Xianshou shizong 賢首十宗. => Mười tông phái. Phật giáo Trung Hoa chia thành 10 trường phái tư tưởng: {I} Pháp Tạng 法藏 c: Fazang phân loại theo Hoa Nghiêm tông: 1. Ngã pháp câu hữu tông: Ngã và pháp đều thực 2. Hữu pháp vô ngã tông: Pháp thực, ngã không. 3. Pháp vô khứ lai không: Pháp không sinh không diệt. 4. Hiện thông giả thực tông: Sự biểu hiện của thế giới là tạm thời và có thực. 5. Tục vọng chân thực tông: Quan niệm các pháp thế gian là huyễn còn bản tế là chân thực. 6. Chư pháp đản danh tông: Các pháp chỉ là danh xưng. 7. Nhất thiết giai không tông: Các pháp đều là không . 8. Chân đức bất không tông: Chân như chẳng phải là không . 9. Tướng tưởng câu tuyệt tông: tướng và tưởng đều dứt sạch. 10. Viên minh cụ đức tông: bao quát mọ giáo lý nhất thừa.
thập tướng
xem mười tướng.
; (十相) I. Thập Tướng. Chỉ cho 10 tướng của biển cả dùng để ví dụ 10 hành tướng của 10 Địa Bồ tát được ghi trong phẩm Thập địa kinh Hoa nghiêm quyển 27 (bản dịch cũ). Đó là: 1. Sâu dần. 2. Không nhận xác chết. 3. Các sông chảy vào thì mất tên gốc. 4. Một vị(mặn). 5. Nhiều của báu. 6. Rất sâu khó vào. 7. Rộng lớn vô lượng. 8. Có nhiều chúng sinh thân to lớn. 9. Nước lên xuống đúng giờ. 10. Chứa nhận được tất cả các trận mưa lớn mà nước không đầy thêm. Hành tướng của 10 Địa Bồ tát cũng giống như 10 đức tướng của biển cả. Đó là: 1. Hoan hỉ địa: Vì sâu dần dần nên có khả năng phát sinh nguyện lớn. 2. Li cấu địa: Không ở chung với kẻ phá giới, cũng như biển cả không nhận xác chết.3. Phát quang địa (Minh địa): Lìa bỏ tên giả của thế gian, cũng như các sông chảy vào biển liền mất tên gọi cũ. 4. Diệm tuệ địa: Cùng một vị với công đức của Phật. 5. Nan thắng địa: Sinh vô lượng phương tiện thần thông thế gian để khởi các việc thế gian, giống như biển cả sinh ra vô lượng châu báu. 6. Hiện tiền địa: Quán xét lí duyên sinh sâu xa. 7. Viễn hành địa: Dùng tuệ giác rộng lớn khéo quán xét các pháp. 8. Bất động địa: Thị hiện các việc trang nghiêm rộng lớn. 9. Thiện tuệ địa: Chứng được giải thoát sâu xa, thông suốt hạnh thế gian, như thật chẳng sai. 10. Pháp vân địa: Có khả năng nhận lãnh pháp vũ của tất cả chư Phật Như lai mà không nhàm đủ. Thập địa kinh luận quyển 12 thu nhiếp 10 tướng này vào 8 thứ công đức của biển cả, đó là: Công đức dễ vào, công đức thanh tịnh, công đức bình đẳng, công đức giúp đỡ, công đức lợi ích, công đức khôngcạn, công đức chỗ ở và công đức ủng hộ thế gian.[X. kinh Hoa nghiêm Q.39 (bản dịch mới)]. (xt. Đại Hải Thập Tướng). II. Thập Tướng. Chỉ cho 10 tướng của người thiện nói trong phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa. Đó là: 1. Lợi căn: Người có trí tuệ sáng suốt, nghe nhiều nhớ dai, mong cầu Phật đạo. 2. Thựcthiện: Người đã gặp ức trăm nghìn Phật, vun trồng các căn lành, thâm tâm vững chắc. 3. Tu từ: Người tinh tiến thường tu tâm từ, không tiếc thân mệnh. 4. Cung kính: Người có tâm cung kính không hai, lìa các phàm ngu, một mình ở nơi núi rừng. 5. Xả ác thân thiện: Người xa lìa bạn xấu ác, gần gũi thiện tri thức. 6. Trì giới như châu:Người giữ giới thanh tịnh như viên ngọc sáng, cầu kinh Đại thừa. 7. Chất trực kính Phật: Người ngay thẳng dịu dàng, không sân hận, hay thương xót tất cả, cung kính chư Phật. 8. Thí dụ thuyết pháp: Người ở trong đại chúng, với tâm thanh tịnh, dùng ngôn từ thí dụ giảng nói các nhân duyên một cách vô ngại. 9. Tứ phương cầu pháp: Người vì Nhất thiết trí mà cầu pháp khắp 4 phương, chắp tay cung kính, ưa thích thụ trì kinh điển Đại thừa, không thụ trì dù chỉ một bài kệ của các kinh điển khác. 10. Đính thụ chuyên tu: Dốc lòng cầu kinh như cầuxá lợi Phật, được rồi thì cung chính chuyên tu, không còn mong cầu kinh khác, cho đến không nghĩ đến sách vở của ngoại đạo. Đối với 10 hạng người thiện như trên thì mới giảng nói kinh Diệu phápliên hoa cho họ nghe. [X. Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.16].
Thập tướng 十相
[ja] ジュウソウ jūsō ||| The 'ten aspects' of existence listed in the Nirvāna Sutra are. form, sound, smell, taste, touch, arising, abiding, ceasing, male, female (T vol. 12, p. 755a). The ten found in the Huayan jing 華嚴經 are. Buddha, bodhisattva, pratyekabuddha, śrāvaka, god, man, demigod, animal, hungry ghost, hell-being. => Mười tướng trạng hiện hữu được ghi trong kinh Niết-bàn: sắc, thanh hương, vị, xúc, sinh, trụ, diệt, nam, nữ. Mười tướng trong kinh Hoa Nghiêm là: Phật, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn, Trời, Người, A-tu-la, Ngạ quỷ, Địa ngục.
thập tưởng
(十想) Chỉ cho 10 tư tưởng hoặc 10 điều phải quán tưởng. Đó là: 1. Vô thường tưởng: Quán xét tất cả cácpháp hữu vi luôn luôn sinh diệt, vô thường biến hoại. 2. Khổ tưởng: Quán xét tất cả pháp hữu vi là vô thường, luôn bị 3 khổ, 8 khổ bức bách. 3. Vô ngã tưởng: Quán tưởng tất cả pháp là khổ, cũng không tự tại, đều do nhânduyên sinh và không có tự tính, cho nên là vô ngã. 4. Thực bất tịnh tưởng: Quán tưởng tất cả thức ăn uống của thế gian đều từ các nhân duyên nhơ nhớp sinh ra, tất thảy là vật bất tịnh. 5. Nhất thiết thế gian bất khả lạc tưởng: Quán tưởng tất cả thế gian không có một điều gì là vui thú, chỉ toàn là tội lỗi, xấu ác. 6. Tử tưởng: Quán tưởng về tướng của cái chết. 7. Bất tịnh tưởng: Quán tưởng 36 vật bên trong thân con người và 9 cái lỗ ở ngoài thân đều bài tiết ra những thứ hôi thối, nhớp nhúa. 8. Đoạn tưởng. 9. Li dục tưởng. 10. Tận tưởng. Ba tưởng sau cùng là quán tưởng được Bồ đề niết bàn, đoạn trừ phiền não, lìa bỏ cõi mê sống chết và dứt hết hoặc nghiệp sinh tử. Về sự đồng dị giữa Thập tưởng và Cửu tướng quán(tức Cửu tưởng, là 9 pháp quán bất tịnh về xác chết của con người nhằm diệt trừ tham dục) thì luận Đại trí độ quyển 21 có nêu ra nhiều thuyết. Có thuyết cho rằng Cửu tướng quán chưa được thiền định, vẫn còn bị dâm dục ngăn che, còn Thập tưởng thì có năng lực diệt trừ 3 độc như dâm dục... Hoặc cho rằng Cửu tướng quán là sơ học, còn Thập tưởng là thành tựu. Hoặc có thuyết chủ trương Thập tưởng và Cửu tướng quán đồng là lìa dục, đều là Niết bàn. Cũng có thuyết cho rằng Cửu tướng quán là nhân, còn Thập tưởng là quả. Lại có thuyết chủ trương Cửu tướng quán là môn ngoài, mà Thập tưởng là môn trong. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.14].
thập tạng
(十藏) Chỉ cho 10 loại tạng. Tạng nghĩa là bao gồm, chứa đựng, sinh ra, vì có khả năng chứa đựng các công đức nên gọi là tạng. I. Thập Tạng. Cũng gọi Thập vô tận tạng. (xt. Thập Vô Tận Tạng). II. Thập Tạng. Chỉ cho 10 pháp tạng mà Bồ tát ở giai vị thứ 5(Vô tận công đức tạng hồi hướng) trong Thập hồi hướng biết rõ. Đó là: 1. Phân biệt số tri nhất thiết pháp tạng. 2. Xuất sinh nhất thiết pháp tạng. 3. Phổ chiếu nhất thiết đà la ni pháp tạng.4. Phân biệt giải thoát nhất thiết pháp biện tạng. 5. Ư nhất thiết pháp giác bất khả thuyết xảo phương tiện tạng. 6. Thị hiện nhất thiết Phật tự tại lực đại thần biến tạng. 7. Ư nhất thiết pháp xuất sinh bình đẳng xảo phương tiện tạng. 8. Bất li thường kiến nhất thiết Phật tạng.9. Nhập bất tư nghị kiếp giai tất như huyễn xảo phương tiện tạng. 10. Ư nhất thiết chư Phật Bồ tát hoan hỉ cung kính tạng. Nếu Bồ tát an trụ nơi Thập tạng này thì được đại trí tuệ tạng của tất cả chư Phật, có khả năng cứu độ hết thảy chúng sinh. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 17 gọi Thập tạng này là: Tự tạng, Nghĩa tạng, Trì tạng, Biện tạng, Tuệ tạng, Thông tạng, Xảo tạng, Kiến Phật tạng, Nhập kiếp tạng và Hỉ kính tạng. Vì trong 10 tạng này không có các hoặc chướng nên cũnggọi là Thập chủng phục tạng, Thập sự tạng. [X. phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm Q.39 (bản dịch cũ)]. III. Thập Tạng. Chỉ cho 10 nội đức của Bồ tát từ Bát địa trở lên, ví như các cơ quan trong nội tạng nên cũng gọi là Tạng. Đó là: 1. Không dứt chủng tính Như lai. 2. Giữ gìn hộ vệ chính pháp Như lai. 3. Trưởng dưỡng tăng bảo. 4. Giác ngộ chúng sinh chính định. 5. Giáo hóa thành thục chúng sinh bất định. 6. Phát tâm đại bi cứu giúp chúng sinh tà định. 7. Đầy đủ 10 lực không thể phá hoại của Như lai. 8. An trụ nơi Tứ vô úy đại sư tử hống. 9. Được 18 pháp bất cộng của Phật. 10. Bình đẳng giác ngộ tất cả chúng sinh, tất cảcõi, tất cảPhật, tất cả pháp. Nếu Bồ tát an trụ nơi 10 tạng này thì chứng được vô thượng thiện căn đại trí tuệ tạng của hết thảy chư Phật. [X. phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm Q.41 (bản dịch cũ)].
thập tập nhân
(十習因) Cũng gọi Thập tập, Thập nhân thập quả.Chỉ cho 10 tập nhân chiêu cảm quả báo địa ngục trong vị lai được nêu trong kinh ĐạiPhật đính thủ lăng nghiêm quyển 8, đó là: 1. Dâm tập nhân: Tập khí dâm dục giao tiếp, cọ xát không ngừng, cho nên có ánh lửa phát động, như người xoa hai bàn tay liền thấy có hơi nóng, 2 tập khí hun đốt nhau, nên cảm thụ quả báo giường sắt, cột đồng ở địa ngục Bát nhiệt. 2. Tham tập nhân: Tập khí tham lam giao kết nhau, phát ra sức hút không ngừng, cho nên có sự lạnh giá đóng băng, như người dùng miệng hút hơi gió thì có cảm giác lạnh, 2 tập lấn lướt nhau,chonên chiêu cảm quả báo địa ngục Hàn băng. 3. Mạn tập nhân: Tập khí kiêu mạn lấn át nhau, nương tựa nhau, trào chảy không ngừng, như người dùng lưỡi nếm vị mà chảy nước miếng, cho nên cảm quả báo sông máu, biển độc, nước dung đồng rót vào miệng. 4. Sân tập nhân: Tập khí sân hận xung đột, tâm nóng nảy phát ra lửa, hun đúc khí thành vàng, như người ngậm nỗi oan, sát khí đằng đằng, do sự chiêu cảm của nghiệp này nên có các quả báo cắt đứt, chém chặt... 5. Trá tập nhân: Tập khí dối trá dẫn dụ, phát khởi sự lừa gạt không dứt, như nước tưới ruộng, cây cỏ sinh trưởng, 2 tập duyên theo nhau nên có quả báo gông cùm, xiềngxích, roi gậy đánh đập. 6. Cuống tập nhân: Tâm lừa gạt phát động không ngừng, cho nên có các vật ô uế bất tịnh như bụi đất, phẩn giải bốc lên theo gió, không ai trông thấy, bởi thế chịu các quả báo chìm đắm, rơi rớt, nổi trôi... 7. Oan tập nhân: Tập khí oan gia hiềm khích nảy sinh xung đột, như người âm hiểmômlòng độc ác, cho nên chiêu cảm các quả báo quăng ném, bắt bớ, giam cầm... 8. Kiến tập nhân: Chấp các tà kiến của mình là phải là quấy mà sinh ra chống trái, cho nên chịu các quả báo bị xét hỏi, tra tấn...9. Uổng tập nhân: Vu báng, oan khuất người lương thiện, do nghiệp này chiêu cảm mà chịu các quả báo thân bị đè ép, bức ngặt, đau đớn rướm máu. 10. Tụng tập nhân: Do tập khí tranh tụng, kiện cáo huyên náo giao nhau mà sinh tâm che giấu, cho nên chịu quả báo hỏa châu, gương nghiệp, hiện rõ sự đối nghiệm của đời trước. [X. Thủ lăng nghiêm kinh hội giải Q.16].
thập tội
Ten sins.
thập tụng luật
(十誦律) Cũng gọi Tát bà đa bộ thập tụng luật. Quảng luật, 61 quyển, do các ngài Phất nhã đa la và Cưu ma la thập dịch chung vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 23. Bộ luật này chia giới luật làm 10 hạng mục(10 tụng) để tường thuật, cho nên gọi là Thập tụng luật, là bộ Quảng luật của Tát bà đa bộ(Thuyết nhất thiết hữu bộ trong Phật giáo bộ phái). Luật tạng nguyên là chỉnh lí các giới luật do đức Phật chế định, cho nên sự truyền thừa của các bộ phái, về tổng thể, tuy giống nhau nhưng về chi tiết thì giữa các bộ phái cũng có những điểm bất đồng. Luật Thập tụng trước hết nêu giới Tỉ khưu có 4 pháp Ba la di, 13 pháp Tăng tàn, 2 pháp Bất định, 30 pháp Xả đọa, 90 pháp Ba dật đề, 4 pháp Ba la đề đề xá ni, 107 pháp Chúng học và 7 pháp Diệt tránh, cộng chung là 257 pháp và giải thuyết từng pháp một. Kế đến nói về 17 pháp (17 chương), như 7 pháp, 8 pháp, 2 pháp tạp tụng... là thuyết minh về sự tổ chức và quản lí tăng già, tương đương với phần Kiền độ của các luật khác. Tiếp theo là thuyết minh về các giới của tỉ khưu ni, tất cả có 355 pháp. Sau cùng, có phụ thêm Tăng nhất pháp, Ưu ba li vấn pháp và Tỉ khưu tụng. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 của ngài Nghĩa tịnh đời Đường nói rằng luật Thập tụng và Hữu bộ tì nại da do ngài Nghĩa tịnh dịch đều là những luật căn bản của Hữu bộ. Đem so sánh luật Thập tụng với Hữu bộ tì nại da 50 quyển và Hữu bộ Bật sô ni tì nại da 20 quyển, thì bản do ngài Nghĩa tịnh dịch tương đương với các giới pháp tỉ khưu, tỉ khưu ni của luật Thập tụng, nhưng nội dung thì rộng hơn luật Thập tụng, vì có ghi chép nhiều sự tích nhân duyên bản sinh.Cứ theo bài tựa trong Tân tập luật lai Hán địa tứ bộ được thu vào Xuất tam tạng kí tập quyển 3, thì Pháp tạng do ngài Đại ca diếp truyền vốn là Bát thập tụng, đến thời ngài Ưu ba quật đa vì sợ người độn căn đời sau không có khả năng thụ trì hoàn toàn nên ngài rút gọn thành Thập tụng. Cũng có thuyết cho rằng bản dịch của ngài Cưu ma la thập là luật tóm lược được lưu truyền ở nước Ca thấp di la, còn bản dịch của ngài Nghĩa tịnh là luật đầy đủ được lưu truyền ở nước Ma thâu la. Trong 4 quảng luật được truyền đến Trung quốc thì luật Thập tụng được dịch ra sớm nhất, thịnh hành ở miền Nam, các ngài Tăng nghiệp, Tăng cừ, Đạo nghiễm, Trí xứng... đều nghiên cứu luật này. Các trứ tác có liên quan đến luật bộ và bộ luật này có: Tát bà đa tì ni tì bà sa 9 quyển, Tát bà đa bộ tì ni ma đắc lặc già 10 quyển, Đại sa môn bách nhất yết ma pháp 1 quyển, Thập tụng yết ma tỉ khưu yếu dụng 1 quyển... Về các sách chú thích bộ luật này thì có: -Thập tụng nghĩa kí 8 quyển của ngài Trí xứng. -Thập tụng nghĩa kí 10 quyển của ngài Tăng hựu. -Thập tụng nghĩa kí sớ 10 quyển của ngài Đàm viện. Nhưng rất tiếc là hiện nay đã bị thất lạc.[X. luận Đại trí độ Q.2, 100; truyện Ti la ma xoa trong Lương cao tăng truyện Q.2, 11; Xuất tam tạng kí tập Q.12; Pháp kinh lục Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7, 8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục (bản dịch tiếng Anh); Đại tạng kinh Nam điều mục lục bổ chính sách dẫn; Luật tạng chi nghiên cứu (Bình xuyên chương)].
Thập tụng luật 十誦律
[ja] ジュウジュリツ Jūjuritsu ||| The "Ten Recitations Vinaya " of the Sarvāstivāda 有部 sect. => Bộ luật của Hữu bộ 有部 s: Sarvāstivāda.
thập tụng tỉ khâu ba la đề mộc xoa giới bản
(十誦比丘波羅提木叉戒本) Cũng gọi Thập tụng tỉ khưu ba la đề mộc xoa giới, Thập tụng ba la đề mộc xoa giới bản, Thập tụng tỉ khưu giới bản. Luật, 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 23. Đây là giới bản Tỉ khưu do Tát bà đa bộ(Hữu bộ) truyền. Nội dung theo nghi thức Bồ tát thuyết giới liệt kê các giới điều gồm: Bốn Ba la di, 13 Tăng già bà thi sa, 2 Bất định, 30 Ni tát kì ba dật đề, 90 Ba dạ đề, 4 Ba la đề đề xá ni, 113 Chúng học và 7 Diệt tránh, tổng cộng 263 giới điều. Cuối quyển còn ghi lược giới của 7 đức Phật ở quá khứ và kệ lưu thông. So với Quảng luật của luật Thập tụng thì số mục và thứ tự các giới điều trong luật Thập tụng có hơi khác nhau. Trong số các kinh điển cổ đào được ở Đôn hoàng, có 1 quyển viết tay của giới bản này được chép vào niên hiệu Kiến sơ năm đầu (405) đời Tây Lương, hiện nay đang được cất giữ tại Bảo tàng viện nước Anh. Học giả người Pháp là ông Paul, Pelliot cũng đã tìm thấy giới bản này bằng tiếng Phạm ở Khố xa (tỉnh Tân cương, Trung quốc), sau đó đem so sánh, đối chiếu với bản dịch của ngài Cưu ma la thập để giáo đính và xuất bản. [X. Lương cao tăng truyện Q.11; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.3, 4; Đôn hoàng xuất thổ thập tụng tỉ khưu ni giới bản giải thuyết].
thập tụng tỉ khâu ni ba la đề mộc xoa giới bản
(十誦比丘尼波羅提木叉戒本) Cũng gọi Thập tụng tỉ khưu ni đại giới, Tỉ khưu ni đại giới, Tỉ khưu ni ba la đề mộc xoa giới bản, Thập tụng tỉ khưu ni giới bản. Luật, 1 quyển, do ngài Pháp dĩnh biên tập vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 23. Nội dung giới bản này được soạn tập từ quảng luật, gồm có 354 học xứ. Trong bản chép tay xưa, 1 quyển, thuộcthời đại Lục triều đào được ở Đôn hoàng thiếu phần mở đầu và phần kết thúc, ghi 358 học xứ, nội dung và ngôn ngữ dùng trong giới bản này cũng giống như giới bản của ngài Cưu ma la thập dịch. Ngoài ra cũng có bản tiếng Phạm rời rạc của giới bản tỉ khưu ni được tìm thấy tại Khố xa. Đại chính tạng ghi giới bản này là Lưu Tống Pháp Hiển Tập Xuất, nhưng đúng ra phải nói là Pháp dĩnh. [X. Đôn hoàng xuất thổ tỉ khưu ni giới bản giải thuyết].
thập tứ
Caturdasa (S). Fourteen.
thập tứ biến hoá tâm
(十四變化心) Cũng gọi Thập tứ biến hóa, Thập tứ hóa tâm. Chỉ cho 14 thứ tâm có năng lực biến hóa sau khi đạt được Thần cảnh trí chứng thông của Tiểu thừa. Tức Sơ tĩnh lự có 2: Tâm năng biến hóa ở cõi Dục và tâm năng biến hóa ở Sơ tĩnh lự. Đệ nhị tĩnh lự có 3: Tâm năng biến hóa ở cõi Dục, Sơ tĩnh lự và Đệ nhị tĩnh lự. Đệ tam tĩnh lự có 4: Tâm năng biến hóa ở cõi Dục, Sơ thiền, Nhị thiền và Tam thiền. Đệ tứ tĩnh lự có 5: Tâm năng biến hóa ở cõi Dục, Sơ, Nhị, Tam và Tứ thiền. Tâm năng biến hóa ở cõi Dục là tâm biến hóa ra 4 cảnh sắc, hương, vị, xúc. Tâm năng biến hóa ở Tứ thiền thuộc cõi Sắc là tâm biến hóa ra 2 cảnh sắc và xúc. Còn Đại thừa thì có 20 tâm năng biến hóa, vì Bồ tát có thần thông tự tại, cho nên trong 4 Tĩnh lự đều có 5 tâm năng biến hóa. [X. luận Câu xá Q.27; Đại thừa nghĩa chương Q.15].
thập tứ biến hóa
The fourteen transformations that are connected with the four dhyàna heavens.
thập tứ căn
(十四根) Mười bốn căn. 1. Chỉ cho 5 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), 5 thụ(lo, mừng, khổ, vui, không khổ không vui) và 4 căn(nam, nữ, ý, mệnh). Kinh Nhân vương bát nhã ba la mật, quyển hạ, cho rằng tỉ khưu, tỉ khưu ni xuất gia tu hành 10 điều thiện, tự quán chiếu thân mình gồm những thành phần bất tịnh là đất, nước, lửa, gió, hư không, thức..., lại quán xét 14 căn, 5 thụ, nam, nữ, ý, mệnh có vô lượng tội lỗi, cho nên phát tâm bồ đề vô thượng. 2. Chỉ cho 5 tri căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, da), 5 tác nghiệp căn(tay, chân, miệng, đường đại tiện, đường tiểu tiện) và 4 căn bên trong (ý, giác, ngã chấp, niệm) theo thuyết của học phái Phệ đàn đa.
thập tứ cấu nghiệp
(十四垢業) Chỉ cho 14 thứ nghiệp xấu ác gồm: Bốn kết, 4 xứ và 6 pháp tổn tài. Bốn kết là giết hại, trộm cướp, gian dâm và nói dối;4xứ là tham lam, giận dữ, sợ hãi và ngu si; 6 pháp tổn tài là say sưa, bài bạc, chơi bời, mê hát xướng, bạn xấu rủ rê, lười biếng và hút sách. Tức say sưa có 6 lỗi là: Sinh bệnh, mất của, tranh cãi, tiếng xấu lan truyền, hung bạo dữ tợn và trí tuệ giảm tổn. Bài bạc có 6 lỗi: Tài sản mỗi ngày một hao tổn, nếu được thì sinh oán ghét, kẻ trí chê cười, không ai kính tin, mọi người xa lánh và sinh tâm trộm cắp. Chơi bời có 6 lỗi: Không tự giữ mình, không giữ được tiền của, không che chở được con cháu, thường tự sợ hãi, những cái xấu xa thường trói buộc mình và hay sinh giả dối. Mê hát xướng có 6 lỗi: Thích nghe hát, thích nhảy múa, thích tiếng đàn, mê tích truyện, thích tiếng sênh, mê kèn trống. Bạn xấu rủ rê có 6 lỗi: Dễ sinh dối trá, thích chỗ vắng vẻ, dụ dỗ người khác, mưu tính lấy vật của người, thích thu tài lợi về mình và ưa tìm lỗi của người khác. Biếng nhác có 6 lỗi: Giàu có không chịu làm việc, nghèo cùng không chịu tu tỉnh, khi lạnh, khi nóng, buổi sớm, buổi chiều đều không chịu tu tỉnh. [X. kinh Trường a hàm Q.11; Đại thừa nghĩa chương Q.15].
thập tứ hạnh kệ
(十四行偈) Cũng gọi Qui tam bảo kệ. Chỉ cho bài kệ qui kính gồm 14 hàng mỗi hàng 5 chữ được chép ở đầu quyển Quán kinh huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo.Trước văn kệ có ghi 9 chữ Tiên khuyến đại chúng phát nguyện qui Tam bảo để nêu rõ một cách tổng quát ý nghĩa bài kệ, sau đó là bài kệ. Hai hàng đầu(8 câu) là phát nguyện, 12 hàng tiếp sau là qui mệnh Tam bảo. Bài kệ này thường được sử dụng trong các pháp hội của tông Tịnh độ. [X. Quán kinh huyền nghĩa yếu nghĩa thích quán môn nghĩa sao Q.1; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.1].
thập tứ nhẫn
(十四忍) Chỉ cho 13 nhẫn (Tam hiền, Thập thánh) và Chính giác nhẫn. Tức là: Trụ, Hạnh, Hồi hướng, Hoan hỉ, Li cấu, Phát quang, Diệm tuệ, Nan thắng, Hiện tiền, Viễn hành, Bất động, Thiện tuệ, Pháp vân và Chính giác nhẫn. [X. kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.thượng].
thập tứ phật quốc vãng sinh
(十四佛國往生) Chỉ cho 14 cõi Phật mà chúng sinh phát nguyện vãng sinh. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ ghi rằng, ngoài 67 ức Bồ tát Bất thoái ở thế giới của đức Phật Thích ca nguyện sinh về Tịnh độ cực lạc của Phật A di đà, còn có vô số chúng Bồ tát nguyện vãng sinh Tịnh độ của 13 đức Phật ở các phương khác. Danh hiệu của 13 đức Phật ở các cõi nước ấy được ghi trong kinh Vô lượng thọ tùy theo các bản dịch vào các đời mà có khác nhau, biểu đồ như sau. (thiếu biểu đồ)
thập tứ quá loại
(十四過類) Cũng gọi Thập tứ chủng tương tự quá loại.Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 14 lỗi thuộc về Tự năng phá do vị tổ của Nhân minh cũ là Túc mục tiên nhân nêu ra. Tự là tương tự, nghĩa là chỉ ang áng như Chân năng phá chứ không phải đúng Chân năng phá. Những lỗi như thế gọi là Tương tự quá loại. Đó là: 1. Đồng pháp tương tự quá loại: Lỗi cố ý cho Dị dụ (vốn chính xác) là Đồng dụ với hi vọng phá được lập luận đúng đắn của đối phương. 2. Dị pháp tương tự quá loại: Lỗi cố ý cho Đồng dụ (vốn chính xác) là Dị dụ để phản bác luận thức của đối phương. 3. Phân biệt tương tự quá loại: Lỗi không thể phân biệt được mà cưỡng phân biệt để phá lậpluậncủa địch luận. 4. Vô dị tương tự quá loại: Lỗi đối với pháp đồng loại cưỡng nêu ra các điểm khác biệt để nạn phá. 5. Khả đắc tương tự quá loại: Đối với Nhân(lí do) chính xác cưỡng nói có lỗi, rồi dùng Nhân khác để bắt bẻ Nhân chính xác.6. Do dự tương tự quá loại: Lỗi đối với Nhân chính xác cưỡng viện cớ do dự để thành lậpnghĩa dị biệt. 7. Nghĩa chuẩn tương tự quá loại: Lỗi y cứ vào nghĩa của người lập luận mà đảo ngược lập lượng để nạn phá. 8. Chí bất chí tương tự quá loại: Lỗi dựa vàoquỉbiện để luận về chí, bất chí của Tông(mệnh đề) và Nhân(lí do). 9. Vô nhân tương tự quá loại: Đối với Tông của luận thức chính xác phân tích một cáchquỉbiện về 3 thời trước, sau, đồng thời của Nhân khiến rơi vào tình trạng vô nhân để nạn phá. 10. Vô thuyết tương tự quá loại: Lỗi cho rằng trước khichưanói ra Nhân thì không thể thành lập luận chứng, do đó, thành lập Tông tương phản để nạn phá. 11. Vô sinh tương tự quá loại: Trước khi tiền trần(chủ từ) của Tông sinh khởi thì lẽ ra không có Nhân, nhưng thành lập nghĩa trái với nghĩa của người lập luận, cho nên phạm lỗi này. 12. Sở tác tương tự quá loại: Lỗi do phân biệt Nhân, Dụ để cưỡng lập nạn vấn giả dối.13. Sinh quá tương tự quá loại: Vì tìm cầu Nhân đồng dụ nên không lỗi mà thành có lỗi. 14. Thường trụ tương tự quá loại: Lỗi chủ trương các pháp thường không xa lìa tự tính nên là thường trụ, âm thanh luôn không lìa tính vô thường nên cũng là pháp thường trụ. [X. luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh chính lí môn luận bản; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.6, phần cuối; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy hiền, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san, 21)]. (xt. Nhân Minh).
thập tứ sinh
(十四生) Chỉ cho 14 phẩm sinh thành Phật theo thuyết của Mật giáo, tức là: Hạ phẩm của Phục nhẫn là Thập trụ, trung phẩm là Thập hạnh, thượng phẩm là Thập hồi hướng; hạ phẩm của Tín nhẫn là Sơ địa, trung phẩm là Nhị địa, thượng phẩm là Tam địa; hạ phẩm của Thuận nhẫn là Tứ địa, trung phẩm là Ngũ nghĩa, thượng phẩm là Lục địa; hạ phẩm của Vô sinh nhẫn là Thất địa, trung phẩm là Bát địa, thượng phẩm là Cửu địa; hạ phẩm của Tịch diệt nhẫn là Thập địa và thượng phẩm là Phật địa. (xt. Thập Lục Sinh).
thập tứ sắc
(十四色) Chỉ cho 14 sắc pháp, tức là 5 căn, 5 cảnh và 4 đại đất, nước, lửa, gió, được lập ra trong luận Thành thực quyển 3. Luận Thành thực cho rằng 4 trần sắc, hương, vị, xúc là thực sắc năng tạo, nhờ 4 trần này mà thành4đại đất, nước, lửa, gió; đồng thời, 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân từ 4 đại này mà thành, do các pháp này cọ xát nhau mà có tiếng, cho nên 10 pháp: 4 đại, 5 căn và tiếng đều là giả sắc, giả thật hợp chung thành 14 sắc. Nhưng phẩm Phân biệt căn trong luận Câu xá quyển 4 thì cho rằng 4 đại là thực sắc, thuộc về Xúc cảnh, cùng với căn, cảnh sở tạo đều là thực sắc.
thập tứ thần cửu vương
(十四神九王) Chỉ cho 14 thần chúng và 9 bộ loại vua thường cùng vớibồ tát Văn thù du hành nơi nhân gian, được ghi trong kinh Hoa nghiêm. Đó là: I. Mười bốn thần chúng: 1. Các thần Kim cương thường theo hầu bảo vệ. 2. Các thân thần chúng vì tất cả chúng sinh mà cúng dường chư Phật. 3. Các thần Túc hành phát thệ nguyện kiên cố đã lâu. 4. Thần Chủ địa ưa thích nghe pháp nhiệm mầu. 5. Thần Chủ thủy thường tu hạnh đại bi. 6. Thần Chủ hỏa dùng ánh sáng trí tuệ chiếu soi. 7. Thần Chủ phong(chủ về gió) đội mũ bằng ngọc ma ni. 8. Thần Chủ phương biết rõ tất cả các nghi thức trong 10 phương. 9. Thần Chủ về đêm chuyên việc trừ diệt vô minhđen tối. 10. Thần Chủ ban ngày một lòng siêng năng làm sáng tỏ mặt trời Phật. 11. Thần Chủ hư không trang nghiêm tất cả cõi không trong pháp giới. 12. Thần Chủ về biển độ tất cả chúng sinh vượt qua các biển Hữu(biển sinh tử). 13. Thần Chủ về núi thường siêng năng tích tập, hướng tới Nhất thiết trí, thiện căn trợ đạo to lớn như núi. 14. Thần Chủ về thành quách thường siêng năng phòng vệ tường thành tâm bồ đề của hết thảy chúng sinh. II. Chín bộ loại vua: 1. Các vua rồng thường siêng năng giữ gìn tòa thành pháp Nhất thiết trí trí vô thượng. 2. Các vua Dạ xoa thường siêng năng che chở cho tất cả chúng sinh. 3. Các vua Càn thát bà thường làm cho chúng sinh tăng thêm niềm vui mừng. 4. Các vua Cưu bàn đồ thường siêng năng diệt trừ các đường quỉ đói. 5. Các vua Ca lâu la thường nguyện cứu vớt tất cả chúng sinh ra khỏi biển sinh tử. 6. Các vua A tu la nguyện thành tựu được thân Như lai cao hơn thế gian. 7. Các vua Ma hầu la già thấy Phật hoan hỉ, sinh tâm cúi mình cung kính. 8. Các vua Đại thiên thường nhàm chán sinh tử và ưa thích thấy Phật. 9. Các vua Đại phạm thường tôn trọng, tán thán và cúng dường Phật. [X. kinh Hoa nghiêm Q.61 (bản dịch mới)].
thập tứ vô kí
(十四無記) Cũng gọi Thập tứ bất khả kí, Thập tứ nan.Chỉ cho 14 ý kiến điên đảo mà ngoại đạo gạn hỏi nhưng không được đức Phật giải đáp, đây là Xả trí kí đáp(gác lại không trả lời) trong 4 kí đáp của Phật. Mười bốn ý kiến ấy là: 1. Thế gian là thường? 2. Thế gian là vô thường? 3. Thế gian cũng thường cũng vô thường? 4. Thế gian chẳng phải thường chẳng phải vô thường? 5. Thế gian có biên giới? 6. Thế gian không có biên giới? 7. Thế giancũngcó biên giới cũng không có biên giới? 8. Thế gian chẳng phải có biên giới chẳng phải không có biên giới? 9. Sau khi chết, Như lai có? 10. Sau khi chết, Như lai không có? 11. Sau khi chết, Như laicũng có cũng chẳng phải có? 12. Sau khi chết, Như Laichẳng phải có chẳng phải chẳng có? 13. Mệnh(tinh thần) và thân(vật chất) là một? 14. Mệnh và thân là khác? Còn luận Đại trí độ quyển 2 thì nêu 14 điều gạn hỏi mà không trả lời như sau (Đại 25, 74 hạ): Thế giới và ngã là thường? Thế giới và ngã là vô thường? Thế giới và ngã cũng thường cũng vô thường? Thế giới và ngã cũng chẳng phải thường cũng chẳng phải vô thường? Thế giới và ngã có biên giới? Không có biên giới? Sau khi chết, có thần thức đến đời sau? Không có thần thức đến đời sau? Thân và thần thức là một? Thân và thần thức là khác?... Trên đây là nêu chung các tà chấp của ngoại đạo do những vọng kiến về thường và đoạn, một và khác mà sinh khởi; 12 câu trước thuộc về thường, đoạn, 2 câu sau thuộc một, khác. Sở dĩ đức Phật không trả lời các câu hỏi trên đây là vì 3 lí do: 1. Những sự kiện được nêu ra đều là hư vọng, không thật. 2. Các pháp chẳng phải thường có, chẳng phải đoạn diệt. 3. Mười bốn vấn đề trên là đầu mối của các cuộc biện luận, tranh cãi, là sự bàn suông, vô ích, chẳng có lợigì cho việc tu hành thoát khổ cả, vì thế đức Phật gác ra một bên, không đáp. [X. kinh A hàm Q.34; kinh Hoa nghiêm Q.21 (bản dịch mới); kinh Đại phẩm bát nhã Q.14; kinh Đại bát niết bàn Q.39 (bản Bắc); luận Câu xá Q.19, Đại thừa nghĩa chương Q.6]. Chỉ cho 14 công đức vô úy mà bồ tát Quán thế âm giúp cho chúng sinh đạt được, ghi trong kinh Lăng nghiêm quyển 6. Đó là: 1. Bất tự quán âm dĩ quán quán giả: Bất tự quán âm nghĩa là sự thấy biết không theo thanh trầnmà sinh khởi; dĩ quán quán giả nghĩa là chiếu soi lại tự tính. Không sinh khởi thấy biết thì không bị gạt; chiếu soi lại tự tính thì tất cả đều chân thực vắng lặng, không còn khổ não; cho nên giúp các chúng sinh đangchịu khổ được sự quán xét chân thực này thì liền hết khổ, đó là vô úy. 2. Tri kiến toàn phục: Ở nơi tâm gọi là tri(biết), ở nơi mắt gọi là kiến(thấy); tính nóng của tri và kiến thuộc về lửa. Nghĩa là Bồ tát có năng lực xoay chuyển tri kiến trở lại chân không, khiến cho chúng sinh dù có vào lửa thì lửa cũng không đốt được, đó là vô úy. 3. Quán thính toàn phục: Tính của quán(quánxét) và thính(lắng nghe) là động, thuộc về nước. Nghĩa là Bồ tát có năng lực xoay chuyển quán thính trở lại chân không, khiến cho chúng sinh dù bị nước cuốn cũng không chìm được, đó là vô úy. 4. Đoạn diệt vọng tưởng tâm vô sát hại: Bồ tát chứng ngộ thực tính, diệt hết vọng tưởng, phát tâm đại từ, không có ý niệm giết hại, giúp cho chúng sinh dù gặp nạn quỉ La sát thì quỉ cũng tự diệt tâm ác hại, đó là vô úy. 5. Huân văn thành văn lục căn tiêu phục đồng thanh thính: Huân tập tính nghe thuộc về tư, tư duy về âm thanh nghe được thì âm thanh không có thực tính, trở thành cái nghe chân thực; 6 căn hại người hệt như dao gươm. Sáu căn của Bồ tát đều đã tiêu diệt, trở lại chân không, tất cả trần cảnh giống như thanh thính, làm cho chúng sinh lúc đang bị hại thì dao gươm bỗng bị gãy ra từng khúc, đó là vô úy. 6. Văn huân tinh minh minh biến pháp giới: Bồ tát un đúc tính nghe thànhtính tuệ, cực kì trong sáng, chiếu khắp 10 phương, bao trùm pháp giới, bóng tối tiêu tan. Dù chúng sinh bị các Dược xoa trong bóng tối đến gần bên cạnh, nhưng tinh minh của Bồ tát có năng lực làm cho mắt Dược xoa choáng ngợp, tự không thấy được, đó là vô úy. 7. Âm tính viên tiêu quán thính phản nhập: Bị thanh trần hư vọng trói buộc không khác gì gông cùm xiềng xích, nhờ tính động, tĩnh của Bồ tát đều đã bị trừ diệt, nên quán, thính bỏ vọng về chân, giải thoát khỏi thanh trần, có năng lực giúp chúng sinh thân thể không bị trói buộc, đó là vô úy. 8. Diệt âm viên văn biến sinh từ lực: Bồ tát tiêu diệt âm thanh, viên thành văn tuệ, nhờ đó sức từ bi trùm khắp, có năng lực mang lại lợi ích lớn khiến chúng sinh được an vui, cho dù chúng sinh đang đi trên đườnghiểm, gặp giặc cướp thì cũng không làm hại được, đó là vô úy. 9. Huân văn li trần sắc bất năng kiếp: Bồ tát dùng tư tuệ để huân tập nghe thành tính, lìa các vọng trần, không bị sắc trần cướp đoạt, có năng lực làm cho tất cản người có tính đa dâm không sinh tham muốn, đó là vô úy. 10. Thuần âm vô trần căn cảnh viên dung: Tính âm thanh của Bồ tát thuần tịnh, lìa các vọng trần, căn cảnh hòa nhập vào nhau, viên dung vô ngại, có năng lực làm cho những người ôm lòng phẫn hận không sinh bực tức, đó là vô úy. 11. Tiêu trần toàn minh: Bồ tát tiêu trừ tối tăm bụi bặm, trở lại tính sáng, có năng lực làm cho những người ngu độn không có thiện tâm, xa lìa si ám, đó là vô úy. 12. Dung hình phục minh: Hình tướng dung thông thì chướng ngại trừ diệt, trở về tính nghe thì tính nghe chân thực, cho nên đi vào thế gian mà không hoại tướng thế gian, có năng lực biến khắp 10 phương, cúng dường chư Phật nhiều như bụi nhỏ, làm pháp tử thừa kế Chính pháp của các Ngài, đó là vô úy. 13. Lục căn viên thông minh chiếu vô nhị: Sáu căn của Bồ tát viên dung, thông suốt vô ngại, bao hàm pháp giới, như gương tròn lớn, chiếu sáng không hai, nhờ đó có khả năng thừathuận pháp môn, lãnh nhận không để mất, đó là vô úy. 14. Ngã nhất danh dữ lục thập nhị hằng hà sa danh đẳng vô hữu dị: Bồ tát đã được viên thông chân thực, có năng lực làm cho người thụ trì danh hiệu của mình, cùng vớingười thụ trì danh hiệu của vô số Bồ tát, được công đức bằng nhau không khác, đó là vô úy.
thập tứ đẳng
(十四等) Chỉ cho 14 pháp bình đẳng mà đồng tử Thiện tài đạt được khi đến tham học nơi bồ tát Phổ hiền được ghi trong kinh Hoa nghiêm quyển 80, đó là: 1. Viên nhân đẳng của bồ tát Phổ hiền. 2. Quả mãn đẳng của chư Phật. 3. Sát đẳng. 4. Hạnh đẳng. 5. Chính giác đẳng. 6. Thần thông đẳng. 7. Pháp luân đẳng. 8. Biện tài đẳng. 9. Ngôn từ đẳng. 10. Âm thanh đẳng. 11. Lực vô úy đẳng. 12. Phật sở trụ đẳng. 13. Đại từ bi đẳng. 14. Bất khả tư nghị giải thoát tự tại đẳng.
thập tự danh hiệu
(十字名號) Chỉ cho 10 chữ danh hiệu. Tức Qui mệnh thập phương vô ngại quang Như lai. Đây là danh hiệu do Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản sử dụng để biểu thị đức riêng của Bản tôn A di đà Phật. (xt. Cửu Tự Danh Hiệu).
thập tự phật đỉnh ấn chân ngôn
(十字佛頂印真言) Chỉ cho chân ngôn 10 chữ và ấn khế của Phật đính tôn ghi trong Chuyển pháp luân bồ tát tồi ma oán địch pháp. Ấn tướng là: Hai tay đan vào nhau làm thành nắm tay, 2 ngón cái đều co vào trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ co lại và tựa lưng vào nhau, đặt ở lưng của 2 ngón cái. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la (vajra, kim cương) tát đát phạ (sattva, hữu tình) ô sắt ni sái (uwnìwa, đính kế) hồng phát tra (hùô phaỉ, phẫn nộ phá hoại).
thập vãng sinh a di đà phật quốc kinh
(十往生阿彌陀佛國經) Cũng gọi Quán A di đà Phật sắc thân chính niệm giải thoát tam muội kinh, Độ chư lưu sinh tử bát nạn hữu duyên chúng sinh kinh, Thập vãng sinh kinh. Kinh, 1 quyển (khuyết tên dịch giả), được thu vào Vạn tục tạng tập 87. Nội dung kinh này nói về 10 pháp chính niệm sinh về Tịnh độ phươngtây. Đó là: 1. Quán thân chính niệm: Tâm thường hoan hỉ, dâng thức ăn, áo mạc cúng Phật và tăng. 2. Cúng dường thuốc hay cam lộ cho tỉ khưu bị bệnh và tất cả chúng sinh. 3. Không làm hại một sinh mệnh nào, từ bi đối với tất cả chúng sinh. 4. Tâm thường vui mừng đối với việc tu phạm hạnh và giữ gìn giới pháp thanh tịnh đã được thầy truyền cho. 5. Hiếu thuận với cha mẹ, tôn kính sư trưởng, không sinh tâm kiêu mạn. 6. Khi đến chỗ chư tăng phải giữ chính niệm, ở nơi chùa pháp, giữ tâm cung kính, khi nghe pháp phải hiểu rõ nghĩa... 7. Trong một ngày một đêm, thụ trì 8 trai giới, không được hủy phạm một giới. 8. Trong tháng giữ trai giới và vào các ngày trai nên tránh xa việc phòng xá, thường đến chỗ Thiện sư. 9. Thường trì tịnh giới, siêng tu thiền định, giữ pháp, không nói ác. 10. Nếu không sinh tâm chê bai đạo Vô thượng, mà tinh tiến tu trì, lại dạy những người không có trí tuệ, lưu truyền kinh này rộng rãi, giáo hóa tất cả chúng sinh tin theo kinh này thì thường được 25 vị Bồ tát giữ gìn che chở. Nhưng Đại chu san định chúng kinh mục lục quyển 15 và Khai nguyên thích giáo lục quyển 18 thì cho kinh này là kinh giả.
thập vô học chi
(十無學支) Cũng gọiThập vô học pháp. Chỉ cho 10 pháp vô lậu mà bậc Vô học của quả A la hán thành tựu, đó là: 1. Vô học chính kiến: Tuệ tương ứng với tác ý vô lậu. 2. Vô học chính tư duy: Tư duy sinh khởi cùng lúc với chính kiến. 3. Vô học chính ngữ: Bốn ngữ nghiệp thanh tịnh nương vào tác ý vô lậu mà phát sinh.4. Vô học chính nghiệp: Ba nghiệp thân nương vào vô lậu tác ý mà sinh khởi. 5. Vô học chính mệnh: Xa lìa các tà mệnh, tức mưu sinh đúng như pháp. 6. Vô học chính tinh tiến: Ưa thích chính cần, mạnh mẽ gánh vác. 7. Vô học chính niệm: Trong tâm rõ ràng, đối với các pháp không quên mất. 8. Vô học chính định: Tâm an trụ, cận trụ, không tán loạn. 9. Vô học chính giải thoát: Chỉ cho giải thoát hữu lậu xa lìa sự trói buộc của phiền não. 10. Vô học chính trí: Tức là tận trí và vô sinh trí. Trong 10 chi trên đây, 8 chi trước là Bát chính đạo, đến giai vị Vô học mới được thêm 2 chi Giải thoát và Chính trí. Luận Câu xá quyển 25 giải thích về lí do lập 2 chi cuối như sau: Bậc Vô học đã thoát được sự trói buộc của các phiền não, lại phát khởi được 2 trí Liễu giải thoát, nhờ 2 hiển liễu nên có thể lập 2 chi; còn bậc Hữu học thì khác, cho nên chỉ có 8 chi. Con số 10 chi này thành tựu cả ở 3 đời trong thân Vô học, tùy theo sự sai khác về định hữu tầm hữu tứ... mà có bất đồng. Luận Đại thừaa tì đạt ma tạp tập quyển 10 nói rằng 10 chi này là nương vào 5 uẩn(giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát trí kiến) của bậc Vô học. [X. kinh Lệ trong Trung a hàm Q.60; luận Phát trí Q.7].
thập vô ngại
(十無礙) I. Thập Vô Ngại. Chỉ cho 10 thứ vô ngại của thế giới hải Hoa tạng trang nghiêm nói trong phẩm Lô xá na Phật kinh Hoa nghiêm. Đó là: 1. Tình sự vô ngại: Tùy theo tình hiển hiện mà sự vượt ngoài tình. 2. Lí sự vô ngại: Tất cả đều là chân tính thì tướng trạng của cõi nước rõ ràng. 3. Tương nhập vô ngại: Một cõi Phật đầy khắp 10 phương, 10 phương vào một cõi mà không thừa. 4. Tương tức vô ngại: Vô lượng thế giới tức là một thế giới. 5. Trùng hiển vô ngại: Trong một hạt bụi thấy tất cả cõi, trong một hạt bụi của cõi ấy thấy các cõi cũng như vậy, cứ thế lớp lớp vô tận như mành lưới của trời Đế thích. 6. Chủ bạn vô ngại: Một thế giới là chủ thì tất cả thế giới là bạn, chủ và bạn không ngăn ngại nhau. 7. Thể dụng vô ngại: Một sát hải ắt có đại dụng, ứng theo cơ nói pháp. 8. Ẩn hiển vô ngại: Nhiễm tịnh ẩn hiển, dị loại ẩn hiển... là y cứ theo duyên mà quyết định. 9. Thời xứ vô ngại: Hoặc ở trong một cõi hiện ra kiếp 3 đời, hoặc ở trong một niệm hiện vô lượng cõi, như thế mà không trở ngại. 10. Thànhhoại vô ngại: Thành chính là hoại, hoại chính là thành, có năng lực hiển hiện một cách vô ngại. Sáu vô ngại trước là nói theo tự thể của cõi nước, còn4 vô ngại sau là y cứvào cái dụng mà bàn, có thể phối với Thập huyền môn. Thập vô ngại nói trên hơi khác với Thập vô ngại nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 11. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.26]. II. Thập Vô Ngại. Chỉ cho 10 vô ngại của thân Phật Giá na. Đó là: 1. Dụng chu vô ngại: Trong các cõi nước nhiều như bụi, Phật hiện mây thân pháp giới, nghiệp dụng vô biên, trùm khắp tất cả. 2. Tướng biến vô ngại: Trong tất cả thế giới và vô lượng cõi Phật ở 10 phương, Phật hiện các thần biến, đều có Như lai thị hiện tướng thụ sinh, hễ hiện một tướng thì mọi tướng đều đủ, muôn đức tròn đầy. 3. Tịch dụng vô ngại: Phật thường trụ trong định là tịch(vắng lặng) nhưng vẫn không trở ngại việc lợi sinh là dụng; tức định chính là dụng, vô ngại tự tại. 4. Y khởi vô ngại: Phật tuy tịch dụng vô tâm nhưng có thể nương vào năng lực của định Hải ấn mà khởi dụng một cách vô ngại. 5. Chân ứng vô ngại: Chân là chân thân của đức Phật Giá na; Ứng là ứng thân của đức Phật Thích ca. Chân thân là thể, Ứng thân là dụng; toàn thể khởi dụng thì dụng chính là thể, cho nên Thích ca, Giá na viên dung tự tại, vốn không 2 thể. 6. Phần viên vô ngại: Phần chỉ cho các chi phần như chân tay, mắt tai, da lông...; cònViên thì chỉ cho toàn thân. Nghĩa là chi phần không ngăn ngại toàn thân; toàn thân cũng không ngăn ngại chi phần, mỗi mỗi thân phần đủ cả toàn thân. 7. Nhân quả vô ngại: Phật nhờ vào nhân tu hạnh Bồ tát mà chứng được quả Phật Giá na, có năng lực hiện khắp 10 phương, tự tại vô ngại. 8. Y chính vô ngại: Y là y báo, chỉ cho cõi nước trong đó Phật nương ở;Chính là chính báo, chỉ cho sắc thân nương ở của Phật. Nghĩa là y, chính hòa nhập vào nhau, cả 2 đều vô ngại. 9. Tiềm nhiếp vô ngại: Trí của Phật tiềm tàng trongchúng sinh giới, chính là Như lai tạng, tuy làm chúng sinh nhưng không mất tự tính. 10. Viên thông vô ngại: Phật lấy đại pháp giới làm thân, lí đều đầy đủ, sự đều dung nhiếp, không một pháp nào chẳng là thân Phật, đó chính là Pháp giới thân vân đồng nhất vô ngại. [X.Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.4]. (xt. Vô Ngại).
thập vô ngại dụng
(十無礙用) Chỉ cho 10 lực dụng tự tại vô ngại của hàng Bồ tát giai vị Như tướng hồi hướng: 1. Chúng sinh vô ngại dụng. 2. Quốc độ vô ngại dụng. 3. Pháp vô ngại dụng. 4. Thân vô ngại dụng. 5. Nguyện vô ngại dụng. 6. Cảnh giới vô ngại dụng. 7. Trí vô ngại dụng. 8. Thần thông vô ngại dụng. 9. Thần lực vô ngại dụng. 10. Lực vô ngại dụng. Thập vô ngại dụng này có xuất xứ từ phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 56 (bản dịch mới), vì trong Thập hồi hướng, Bồ tát ở giai vị Như tướng hồi hướng thứ 8 thành tựu 10 vô ngại dụng như thế cho đến 100 vô ngại dụng, đối với sự và trí đều không bị trở ngại. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.52].
thập vô nhị
Ten powers only possessed by Buddhas: (1) prediction; (2) knowing and fulfilling the desires of the living; (3)-(10) are various forms of omniscience, i.e. (3) of all Buddha-realms and their inhabitants; (4) their natures; (5) good roots; (6) laws; (7) wisdom; (8) every moment; (9) evolving domains, or conditions; (10) language, words, and discussions.
; (十無二) Chỉ cho 10 pháp thực hành tự tại không hai củachưPhật Thế tôn, đó là: 1. Khéo nói lời thụ kí, quyết định không hai.2. Thuận theo tâm niệm của chúng sinh khiến họ vừa ý, quyết định không hai. 3. Biết rõ tất cả chư Phật trong 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai và thể tính bình đẳng của hết thảy chúng sinh được các Ngài giáo hóa, quyết định không hai. 4. Biết rõ các thế pháp và pháp tính không sai khác của chư Phật, quyết định không hai. 5. Biết rõ tất cả thiện căn của chư Phật 3 đời là đồng nhất thiện căn, quyết định không hai. 6. Biết rõ tất cả các pháp, giảng nói ý nghĩa, quyết định không hai. 7. Đầy đủ trí tuệ của chư Phật 3 đời, quyết định không hai. 8. Biết rõ tất cả sát na trong 3 đời, quyết định không hai. 9. Biết tất cả cõi Phật trong 3 đời hòa nhập vào một cõi Phật, quyết định không hai.10. Biết rõ ngôn ngữ của tất cả Phật trong 3 đời tức là ngôn ngữ của một đức Phật, quyết định không hai. [X. Tông kính lục Q.99].
thập vô tận cú
(十無盡句) Cũng gọi Thập bất khả tận pháp, Thập vô tận pháp. Chỉ cho 10 pháp vôtận (không bao giờ cùng tận). Đó là: 1. Chúng sinh giới vô tận: Tất cả chúng sinh không cùngtận. 2. Thế giới vô tận: Thế giới trong 10 phương không cùng tận. 3. Hư không giới vô tận: Tất cả hư không trong 10 phương trùm khắp đến cõi Sắc phi sắc mà không cùng tận. 4. Pháp giới vô tận: Thế giới chân như không cùng tận. 5. Niết bàn giới vô tận: Phật độ chúng sinh rồi thì vào cõi Niết bàn, vào rồi lại ra, ra rồi lại vào, cứ thế mãi mãi không cùng tận.6. Phật xuất hiện thế giới vô tận:Phật ra đời, thuyết pháp độ sinh, phương tiện khéo léo, thần thông trí tuệ không cùng tận. 7. Như lai trí giới vô tận: Trí tuệ của Như lai có năng lực biết rõ pháp giới mà tâm mình duyên theo là không cùng tận. 8. Tâm sở duyên vô tận: Chỉ cho cảnh giới mà trí tuệ của Phật chiếu soi là không cùng tận. 9. Phật trí sở nhập cảnh giới vô tận: Trí của Phật chính là chân tính, thường biết rõ ràng, có khả năng nhập vào cảnh giới không cùng tận. 10. Thế gian chuyển, pháp chuyển, trí chuyển vô tận: Nương nơi thế gian, pháp và trí xoay vần lẫn nhau dung nhiếp 9 vô tận nói trên, mối quan hệ giữa thế gian, pháp và trí này là vô tận. [X. phẩm Thập địa kinh Hoa nghiêm; Hoa nghiêm kinh sớ Q.23]. (xt. Thập Địa).
thập vô tận tạng
(十無盡藏) Gọi tắt: Thập tạng. Mười tạng vô tận, chỉ cho giáo nghĩa của tông Hoa nghiêm. Tông Hoa nghiêm chia giáo pháp của đức Phật thành 10 tạng để làm hành pháp tu tập cho Bồ tát. Mười tạng này mỗi tạng đều bao hàm vô hạn công đức. 1. Tín tạng: Tín là ưa muốn Thực, Đức, Năng, lấy tâm thanh tịnh làm tính, đối trị bất tín, lấy việc ưa thích điều thiện làm nghiệp. Do đó hàm nhiếp các đức xuất sinh, nên gọi là Tạng. 2. Giới tạng: Ngăn ngừa điều sai trái là giới, 3 nghiệp thiện là tính, dứt việc ác làm việc lành là nghiệp. 3. Tàm tạng: Tàm là nương vào pháp lực của mình, kính trọng bậc hiền thiện làm tính, đối trị tâm không biết hổ thẹn, ngăn dứt hành vi xấu ác làm nghiệp. 4. Quí tạng: Quí là nhờ vào năng lực thế gian, chống lại bạo ác làm tính, đối trị tâm không biết xấu hổ, ngăn dứt các việc xấu ác làm nghiệp. 5. Văn tạng: Pháp tạng rộng lớn, lấy văn tuệ làm tính, thông minh làm nghiệp. 6. Thí tạng: Xả bỏ tài vật của mình bố thí cho người, không tham lam làm tính, diệt bỏn sẻn làm nghiệp. 7. Tuệ tạng: Tuệ là cảnh sở quán, lựa chọn làm tính, dứt ngờ làm nghiệp. 8. Niệm tạng: Đối với cảnh từng tu tập, tâm sáng suốt ghi nhớ rõ không quên là tính, nương vào định làm nghiệp. 9. Trì tạng: Thụ trì giáo pháp của chư Phật, niệm tuệ làm tính, ghi nhớ là nghiệp. 10. Biệntạng: Khéo giảng nói Phật pháp,lấy tuệ làm tính, tùy cơ căn làm nghiệp. Về thứ tự sinh khởi 10 tạng thì Tín là bước đầu vào pháp nên trước nói về Tín; nương Tín khởi hạnh, trước phải xa lìa tội lỗi, cho nên kế nói về Giới; nếu giới có phạm thì sinh tâm hổ thẹn, trang nghiêm giới hạnh, khiến được trong sạch nên nói có 2 bạch pháp(tức Tàm và Quí tạng) cứu được tội lỗi của chúng sinh. Đã ngăn ngừa và xa lìa tội lỗi thì tăng thêm thiện phẩm, phải lấy việc nghe rộng(Văn tạng) làm đầu. Vì cầu được nghe pháp nên phải xả bỏ(Thí tạng). Đã quên mình vì pháp thì tuệ chân chính hiện tiền(Tuệ tạng). Tuệ đã hiện tiền thì chính niệm(Niệm tạng)chắc phải sáng thêm. Chính niệm đã sáng thì ghi nhớ (Trì tạng)được lâu. Ghi nhớ đã không quên thì ắt biện luận(Biện tạng)với người khác, khiến mình và người đều được lợi ích đầy đủ, rốt ráo. Thập tạng lấy nhất chân pháp giới làm tính. Còn theo Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 2 thì Biệt giáo Nhất thừa của Hoa nghiêm dùng Thập tạng này để phân loại giáo pháp mà đức Phật đã nói trong một đời. Ngoài ra, thuyết Thập vô tận tạng này là căn cứ của pháp Vô tận tạng trong Tam giai giáo. [X. kinh Hoa nghiêm Q.12 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.21 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.6].
thập vô uý
(十無畏) Gọi đủ: Thập chủng vô úy. Cũng gọi Thập vô sở úy. Chỉ cho 10 điều không sợ của hàng Bồ tát ở giai vịPháp giới vô lượng hồi hướng trong Thập hồi hướng. Đó là: 1. Văn trì vô úy: Bồ tát nghe và ghi nhớ tất cả vấn đề nghi nan, đồng thời có khả năng giải đáp để đoạn trừ mối ngờ vực, khiến tâm an trụ trong vô úy. 2. Biện tài vô úy: Bồ tát được Như lai quán đính nên có biện tài vô ngại, giải đáp được tất cả các vấn nạn, đoạn trừ mối ngờ vực mà không hề sợ hãi. 3. Nhị không vô úy: Thấu suốt lí ngã không, pháp không, xa lìa các tà kiến, tâm như hư không mà không sợ hãi. 4. Uy nghi vô khuyết vô úy: Nhờ sự gia hộ của Phật nên thành tựu uy nghi của Như lai mà không dời đổi, ở giữa đại chúng nói pháp vi diệu, chẳng hề sợ hãi. 5. Tam nghiệp vô quá vô úy: Ba nghiệp của Bồ tát thanh tịnh, không có gì đáng trách, cho nên tâm không sợ hãi, thường giáo hóa chúng sinh. 6. Ngoại hộ vô úy: Thường được 8 bộ chúng và các thiện thần hộ vệ, vì thế đối với các ma chướng không mảy may sợ hãi. 7. Chính niệm vô úy: Bồ tát lìa si và trụ trong chính niệm, cho nên không sợ quên mất chính pháp đã thụ trì. 8. Phương tiện vô úy: Bồ tát trụ trong bi nguyện, thị hiện sinh tử, nhưng không tham đắm, thường tu thiền định giải thoát và các tam muội biện tài, không bỏ đạo pháp Bồ tát, vì thế không sợ bị phiền não nhiễu loạn. 9. Nhất thiết trí tâm vô úy: Bồ tát trụ nơi Nhất thiết trí, hiển bày uy nghi đồng với Nhị thừa, nhưng khôngsợrơi vào hàng Nhị thừa. 10. Cụ hạnh vô úy: Bồ tát ứng theo căn cơ mà giáo hóa chúng sinh, khéo hiện cảnh giới của Như lai, nhưng không sợ dứt mất hạnh nguyện Bồ tát. Khi bàn về điểm đồng dị giữa Thập vô úy này và Tứ vô úy(Tổng trì thuyết pháp vô úy, Tri pháp dược cập tri chúng sinh căn dục tính tâm thuyết pháp vô úy, Thiện năng vấn đáp thuyết pháp vô úy và Năng đoạn vật nghi thuyết pháp vô úy), Đại thừa nghĩa chương quyển 14 cho rằng Văn trì vô úy là các vô úy thứ nhất, thứ ba trong Tứ vô úy, Biện tài vô úy là vô úy thứ tư trong Tứ vô úy, Nhị không vô úy, Chính niệm vô úy và Nhất thiết trí tâm vô úy tức là vô úy thứ hai trong Tứ vô úy, các vô úy còn lại đều khác nhau. [X. phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm Q.39 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.56 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17]. (xt. Tứ Vô Sở Úy).
thập vô y hạnh
(十無依行) Cũng gọi Thập vô y chỉ. Chỉ cho 10chỗnương tựa mà các hành pháp không sinh ra công đức thiện căn. 1. Gia hành hoại, ý lạc không hoại. 2.Ý lạc hoại, gia hành chẳng hoại. 3. Cả gia hành và ý lạc đều hoại. 4. Giới hoại, kiến không hoại. 5. Kiến hoại, giới chẳng hoại. 6. Cả kiến và giới đều hoại. 7. Gia hành, ý lạc,giớivà kiến đều chẳng hoại, nhưnglạinương tựa vào sức giúp đỡ của bạn xấu. 8. Tuy nương tựa vào sức giúp đỡ của bạn tốt mà tu hành, nhưng vì ngu ngơ như con dê câm, không phân biệt được sự lí, không có khả năng hiểu được ý nghĩa của các pháp thiện, bất thiện mà bạn tốt nói cho nghe. 9. Đối với các của báu thì tham lam không chán, xuôi ngược tìm cầu khiến tâm mê loạn. 10. Bị các chứng bệnh bức não nên cầu xin các việc cúng tế, chú thuật. [X. kinh Đại tập địa tạng thập luân Q.5].
thập vương
The ten kings presiding over the ten departments of purgatory.
; (十王) Cũng gọi Thập điện Diêm vương. Chỉ cho 10 vị phán quan ở âm phủ quyết đoán tội nghiệp của người chết. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất thì sau khi người chết xuống âm phủ, 7 ngày đầu đến Tần quảng vương, 14 ngày đến Sơ giang vương, 21 ngày đến Tống đế vương, 28 ngày đến Ngũ quan vương, 35 ngày đến Diêm la vương, 42 ngày đến Biến thành vương, 49 ngày đến Thái sơn vương, 100 ngày đến Bình đẳng vương, 1 năm đến Đô thị vương và 3 năm thì đến Ngũ đạo chuyển luân vương, cứ như thế lần lượt được 10 vương xét hỏi và phán quyết. Tín ngưỡng Thập vương bắt đầu vào cuối đờiĐường đầu đời Ngũ đại. Về nguồn gốc thuyết Thập vương, theo Thích môn chính thống quyển 4 và Phật tổ thống kí quyển 33 đều cho rằng người đầu tiên khởi xướng thuyết này là ngài Đạo minh sống vào đờiĐường. Có thuyết chủ trương trong Thập vương chỉ trừ Diêm la vương, 9 vương còn lại đều là truyền thuyết của giới Phật giáo Trung quốc, Nhật bản chứ không phải của Ấn độ. Tuy nhiên, còn có nhiều thuyết khác nữa. Về tranh vẽ Thập vương, Thích môn chính thống quyển 4 cho rằng bắt đầu có từ Trương quả lão đời Đường. Về sau, các nơi n h ư Đ ô n hoàng, Triều tiên, Nhật bản cũng lần lượt vẽ họa, còn rất nhiều di phẩm. Tranh Địa tạng thập vương do ông A.Stein tìm thấy ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng có 2 loại, là các tác phẩm đời Tống. [X. kinh Dược sư lưuliquang trong kinh Quán đính Q.12; kinh Tịnh độ tam muội; Phật tổ thống kỉ Q.45; Thích thị lục thiếp Q.16]. (xt. Diêm La Thập Điện).
thập vương hoa báo
(十王華報) Thiện báo làm 10 Đại thiên vương của Bồ tátThập địa. Hàng Bồ tátThập địa tự tu hành cho mình và giáo hóa người khác, thành tựu các công đức lớn nên chiêu cảm thiện báo làm Thập đại thiên vương từ vua cõi Diêm phù đề đến vua cõi trời Ma hê thủ la, hóa đạo chúng sinh. Thiện báo của Thập vương này là nói theo quả của Bồ tát Thập địa, cho nên gọi là Hoa báo. (xt. Thập Địa Kí Báo, Hoa Báo).
thập vương kinh
(十王經) Kinh điển do tín ngưỡng dân gian Trung quốc và tín ngưỡng Phật giáo hỗn hợp mà sản sinh, tức do sự kết hợp giữa tín ngưỡng âm phủ và tín ngưỡng Địa tạng mà có. Nội dung kinh này miêu tả thế giới mà con người phải đến sau khi chết để chịu sự phán xét của Thập vương, về các tội nghiệp mà mình đã tạo lúc còn sống. Kinhnày có nhiều bản khác nhau, như kinh Diêm la vương thụ kí tứ chúng nghịch tu sinh thất vãng sinh tịnh độ, Địa tạngbồ tát phát tâm nhân duyên thập vương kinh... (xt. Thập Vương, Địa Tạng Bồ Tát Phát Tâm Nhân Duyên Thập Vương Kinh).
thập vương pháp
Daśarājadhamma (P), Ten royal dharmas.
Thập vương 十王
[ja] ジュウオウ jūō ||| "Ten Kings" of the dark realms as listed in the Sūtra of the Ten Kings . (1) 秦廣王; (2) 初江王; (3) 宋帝王; (4) 伍官王; (5) 閻魔王; (6) 變成王; (7) 泰山府君; (8) 平等王; (9) 都市王; (10) 五道轉輪王. Also written => Mười vị vua ở cõi giới địa ngục được đề cập trong Thập vương kinh十王經: 1. Tần quảng vương, 2. Sơ giang vương; 3. Tống đế vương; 4. Ngũ quan vương; 5. Diêm ma vương; 6. Biên thành vương; 7. Thái sơn phủ quân; 8. Bình đẳng vương; 9. Đô thị vương; 10. Ngũ đạo chuyển luân vương. Còn gọi là Thập điện diêm vương十殿閻王.
thập vạn bạch long
(十萬白龍) Tạng: Klu-#bum-dkar-po. Gọi đủ: Thần thánh thập vạn bạch long đại bảo bất khả tư nghị đại thừa kinh điển.Kinh điển trọng yếu của phái Bạch bổng thuộc Bổng giáo, Tây tạng, cùng với Thập vạn hắc long (Tạng: Klu-#bum-nag-po) và Thập vạn ban long (Tạng: Klu-#bumkhra-po) được gọi chung là Tam đại thánh điển.Tương truyền, đây là giáo nghĩa của Bổng giáo do Giáo tổ là Đôn ba tiên lạp phổ (Tạng: Ston-pa-gshen-rabs) tuyên giảng theo lời thưa hỏi của loài rồng. Toàn sách gồm có 238 tờ(bản chép tay cũ bằng tiếng Tây tạng) chia làm 2 quyển. Quyển thượng 31 chương, quyển hạ 24 chương. Các chương 1, 2 là phần trọng yếu nhất của sách này. Nội dung nói về chân lí Bổng pháp cấu thành vũ trụ được chia làm 2 loại: 59 vị Bổng thuộc luân hồi (Tạng: Fkhor) và 83 vị Bổng thuộc giải thoát niết bàn (Tạng: Mya-ían-las-#das). Ở đây, danh từ Bổngđược dùngđể thay cho Pháp, nhưng thực tế vẫn là cách phân loại của Phật giáo. Chẳng hạn như 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 5 độ(thiếu trí độ), 5 trí... đại khái đều thấy trong sách này. Mục đích của sách này là nói rõ pháp luân hồi không có thực thể, chỉ vì chấp trước nên có sinh tử luân hồi, từ đó hiểu được pháp luân hồi là nếu lìa vọng chấp, cầu sám hối thì liền được giải thoát.
thập vạn ca tập
(十萬歌集) Tạng: Mgur-#bum. Gọi đủ: Rjebtsum mi-la-ras-pa#i rnam-thar rgyas-par phye-ba mgur-#bum(Thập vạn ca tập thuộc phần quảng thuyết trong truyện kí của Thánh giả mật lặc nhật ba). Cũng gọi Thập vạn ca dao. Chỉ cho tập thi ca của Mật lặc nhật ba thuộc Du già tự tại giả– Thánh thi Tây tạng – được biên tập theo thể truyện kí. Sách này gồm có 61 chương, toàn thiên được nối kết với nhau bằng những câu thơ giản dị, trong sáng. Nội dung không ngoài việc ca tụng thiên nhiên và các sinh hoạt tông giáo, sau đó bao hàm các việc như kính lễ thầy của tác giả là ngài Mã nhĩ ba, đề cao cuộc sống giới luật nghiêm túc, hoằng dương giáo nghĩa về nghiệp và tính không, cùng những lời răn dạy về các sinh hoạt tông giáo hằng ngày. Bởi vậy, sách này là tư liệu qúy báu cho việc nghiên cứu về phong thổ, sinh hoạt, tông giáo... ở Tây tạng đương thời. Sách này có bản dịch Trung văn của Trương trừng cơ và các bản dịch tiếng Nhật, Mông cổ... được lưu hành rất rộng. [X. Problem aus dem Tibetischen Legendenbuche, ZDMG. 1896, by H.A. Jschke; The Tibetan Hundred Thousand Songs of Milaraspa, PAOS, 1884, by W.W.Rockhill; The Tibet and the Tibetan, 1906, by H.Sandberg; Milaraspa, 1922, by B.Laufer; The Religion of Tibet, 1932, by Ch.Bell; The Hundred Thousand Songs, 1960, by A.K.Gordon].
thập vạn ức độ
(十萬億土) Gọi đủ: Thập vạn ức Phật độ. Chỉ cho 10 vạnứccõi Phật nằm trong khoảng cách từ thế giới Sa bà đến thế giới Cực lạc phương Tây của đức Phật A di đà.Kinh A di đà (Đại 12, 346 hạ) nói: Từ đây(cõi Sa bà) đi về phíatây quamười vạn ức cõi Phật(Thập vạn ức Phật độ) thì có thế giới tên là Cực lạc. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 270 thượng) nói: Bồ tát Pháp tạng nay đã thành Phật hiện nay ở phương Tây cách thế giới này mười vạn cõi nước(Thập vạn ức sát), thế giới của Phật ấy tên là An lạc.
thập vấn
(十問) Chỉ cho 10 vấn đề do Bồ tát Kim cương thủ thưa hỏi đức Phật được ghi trong kinh Đại nhật. Đó là: 1. Tính chất của tâm bồ đề như thế nào?2. Tướng dáng của tâm bồ đề như thế nào?3. Có mấy tâm theo thứ tự được tâm bồ đề? 4. Tướng khác nhau của các tâm này như thế nào? 5. Phải trải qua thời gian bao lâu mới được tâm bồ đề rốt ráo? 6. Công đức vi diệu của tâm bồ đề là những gì? 7. Phải tu theo hạnh gì? 8. Tu hành như thế nào? 9. Tâm dị thục của chúng sinh là gì? 10. Tại sao tâm của hành giả Du già lại khác với tâm dị thục của chúng sinh? [X.Đại nhật kinh sớ Q.1].
thập vấn tấn
(十問訊) Cũng gọi Phổ đồng vấn tấn. Tức cúi đầu, chắp tay, quay mặt về phía trái rồi phía phải, cung kính thăm hỏi. Vì quay mặt về bên trái bên phải hình thế như viết nét ngang của chữ nhất ...; rồi lại hướng về phía trước mặt thưa hỏi, chắp tay để ngayngực thì giống như viết nét sổ dọc .. của chữ thập... nên gọi là Thập vấn tấn. Môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Thập vấn tấn là phép thăm hỏi chung mọi người. Chắp tay ngang dọc giống như vẽ chữ thập(...) nên gọi là Thập vấn tấn.
thập vật
(什物) Cũng gọi Thập chí, Thập bảo. Chỉ cho các vật dụng linh tinh trong các chùa viện. Ở Ấn độ, vật tùy thân của mỗi vị tăng gọi là Khinh vật, còn những vật thuộc toàn thể chúng tăng thì gọi là Trọng vật. Về sau, trọng vật chỉ cho những đồ dùng cho việc sinh hoạt và tu hành trong Tăng viện. Tại Trung quốc từ xưa gọi những đồ dùng linh tinh này là Thập vật, Tư tài. Trong Thập vật, vật đặc biệt được quí trọng gọi là Pháp bảo vật. [X. [X.phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm; kinh Hoa nghiêm Q.28 (bản dịch mới); luận Du già sư địa Q.35, 36, 39; luận Hiển dương thánh giáo Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
thập xứ
Cũng gọi thập hoặc, tức là tham, sân, si, mạn, nghi (ngũ đn xưắ) và thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến (ngũ lợi xưắ), gọi chung là thập xứ. (kiến thủ kiến: chấp cái thành kiến cho là chân lý; giới thủ kiến: chấp cái tà giới cho là chánh giới).
Thập Ác
(s: daśākuśala-karma-pathāni, 十惡): còn gọi là Thập Ác Nghiệp Đạo (十惡業道), Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo (十不善業道), Thập Bất Thiện Căn Bổn Nghiệp Đạo (十不善根本業道), Thập Hắc Nghiệp Đạo (十黑業道); là 10 hành vi ác, không tốt của ba nghiệp thân, miệng và ý; gồm: (1) Sát sanh; (2) Trộm cắp; (3) Tà dâm; (4) Nói dối; (5) Nói hai lưỡi, tức nói lời ly gián; (6) Nói thô ác, tức mắng nhiếc thậm tệ, nói lời ác độc; (7) Nói lời thêu dệt; (8) Tham dục; (9) Sân si; (10) Tà kiến. Tu tập Thập Thiện Nghiệp (s: daśakuśala-karmāni, 十善業) để chuyển hóa 10 nghiệp ác kể trên. Theo Tân Hoa Nghiêm Kinh (新華嚴經) quyển 35, Phẩm Thập Địa (十地品), có nêu lên quả báo của 10 nghiệp ác như sau: (1) Quả báo sát sanh, ở trong loài người thì bị đoản mạng, nhiều bệnh. (2) Quả báo trộm cắp, ở trong loài người thường bị bần cùng, tài của không có. (3) Quả báo tà dâm, ở trong loài người thường bị vợ không trinh tiết, không có quyến thuộc tùy ý. (4) Quả báo nói dối, ở trong loài người thường bị mọi người phỉ báng, khinh khi. (5) Quả báo nói lời hai lưỡi, ở trong loài người thường bị quyến thuộc xa lìa, thân tộc tệ ác. (6) Quả báo nói lời thô ác, ở trong loài người thường nghe tiếng ác, nói lên thường bị tranh cãi, kiện tụng. (7) Quả báo nói lời thêu dệt, ở trong loài người thường nói ra không ai tin, nói không rõ ràng. (8) Quả báo tham dục, ở trong loài người thường tâm không biết đủ, tham nhiều không bỏ. (9) Quả báo sân si, ở trong loài người thường bị người khác gây tổn hại. (10) Quả báo tà kiến, ở trong loài người thường sanh vào nhà tà kiến, tâm khúc mắc, không ngay thẳng.
Thập ác
xem Mười điều ác.
thập ác
Dasàkusala (S). Ten evil things: (1) sát sinh, pànatipàto (P) killing; (2) trộm cướp, àdinnàdànam (P) stealing; (3) tà dâm, kamesumicchàcàro (P) adultery; (4) vọng ngữ, musàvàdo (P) lying; (5) ỷ ngữ, sambhàppalàpo (P) filthy language; (6) lưỡng thiệt, pisunàvàcà (P) double tongue; (7) ác khẩu, pharusavàcà (P) coarse language; (8) tham, abhijjhà (P) covetousness; (9) sân, byàpàto (P) anger; (10) si, micchàditthi (P), perverted views. Also thập ác nghiệp, thập bất thiện nghiệp.
; I. Thập bất hối giới: Mười ác nghiệp—Ten Evil Actions—The ten rules which produce regrets: (A) Thân—Body: 1) Sát sanh: Killing. 2) Trộm cắp: Stealing. 3) Tà dâm: Fornicate or sexual misconduct (commit sexual intercourse with prostitutes). 4) Uống rượu: To drink wine. (B) Khẩu—Speech: 5) Nói dối: lying. 6) Nói lỗi của người Phật tử: To tell a fellow-Buddhist' sins.. 7) Tự cho mình hay giỏi và chê người dở: To praise onself and discredit others. 8) Hèn mọn: Be mean. 9) Sân hận: Be angry. 10) Hủy báng Tam Bảo: To defame the Triratna (Buddha, Dharma, Sangha/Fraternity). II. Thập Ác Nghiệp: Ten evil actions—Tất cả nghiệp được kiểm soát bởi ba thứ thân, khẩu, ý. Có ba nghiệp nơi thân, bốn nghiệp nơi miệng, và ba nghiệp nơi ý—All karmas are controlled by the threefold deed (body, speech, and mind). Three deeds of the body, four deeds of the mouth, and three deeds of the mind: (A) Thân Nghiệp—Action of Body: Kaya Karma (skt) 1) Sát sanh: Killing—Sát sanh gồm giết sanh mạng cả người lẫn thú—Taking the life of any beings, including human or animal. 2) Trộm cắp: Stealing—Mọi hình thức đem về cho mình cái thuộc về người khác—All forms of acquiring for onself that which belongs to another. 1) Tà dâm: Sexual misconduct—Những ham muốn nhục dục bằng hành động hay tư tưởng—All forms of sex-indulgence, by action or thoughts wants. (B) Khẩu Nghiệp—Action of Mouth: Vac Karma (skt)—Khẩu nghiệp rất ư là mãnh liệt. Chúng ta nên biết rằng lời ác còn quá hơn lửa dữ bởi vì lửa dữ chỉ đốt thiêu tất cả tài sản và của báu ở thế gian, trái lại lửa giận ác khẩu chẳng những đốt mất cả Thất Thánh Tài (see Thất Thánh Tài) và tất cả công đức xuất thế, mà còn thêm chiêu cảm ác báo về sau nầy—The evil karma of speech is the mightiest. We must know that evil speech is even more dangerous than fire because fire can only destroy all material possessions and treasures of this world, but the firece fire of evil speech not only burns all the Seven Treasures of Enlightened beings and all virtues of liberation, but it will also reflect on the evil karma vipaka in the future. 2) Nói dối: Lying. 3) Nói lời mắng chửi hay nói lời thô ác: Insulting or coarsing abusuve language. 4) Nói chuyện vô ích hay nói lời trau chuốt: Gossiping and frivolous chattering. 5) Nói lưỡi hai chiều: To slander or Speak with a double-tongue. To speak ill of one friend to another. (C) Ý Nghiệp—Action of Mind: Moras Karma (skt) 6) Tham: Libho (skt)—Greed or covetousness. 7) Sân: Dosa (skt)—Hatred or loss of temper profanity. 8) Si: Moha (skt)—Ignorance.
thập ác nghiệp
Ten wrongs. 1) Sát sanh: Killing. 2) Trộm Cắp: Stealing. 3) Tà dâm: Committing adultery. 4) Vọng ngữ: Telling lies or using obscene and lewd words or speech. 5) Nói lưỡi hai chiều: Speaking two-faced speech. 6) Nói lời phỉ báng: Abusive slandering. 7) Nói lời vô ích: Useless gossiping or chattering. 8) Tham: Greed. 9) Sân: Anger. 10) Tà Kiến: Devoting to wrong views. ** For more information, please see Thập Ác.
Thập Ác Nghiệp Đạo
(十惡業道): xem Thập Ác (十惡) bên trên.
Thập ác nghiệp 十惡業
[ja] ジュウアクゴウ jūakugō ||| Ten evil deeds. See above. => Mười việc ác. Xem Thập ác十惡.
thập ác quả báo
(十惡果報) Chúng sinh tạo 10 nghiệp ác ở đời trước phải chịu quả báo trong 3 đường địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, sau nếu được sinh làm người thì còn phải chịu 10 loại dư báo vì nghiệp đời trước còn rớt lại, gọi là Thập ác quả báo. Đó là: 1. Quả báo giết hại: Sinh làm người bị quả báo chết non và lắm bệnh. 2. Quả báo trộm cướp: Sinh làm người bị quả báo nghèo cùng, hoặc có tiền của nhưng không được tự do sử dụng. Tượng Thần Thấp Bà ngồi bán già 3. Quả báo tà dâm: Sinh làm người bị quả báo vợ chồng không chung thủy, quyến thuộc không như ý. 4. Quả báo nói dối: Sinh làm người chịu quả báo bị người phỉ báng và lừa gạt. 5. Quả báo nói 2 lưỡi: Sinh làm người chịu quả báo quyến thuộc chia rẽ, kình chống nhau và thân tộc xấu xa, đồi tệ. 6. Quả báo nói ác: Sinh làm người chịu quả báo thường phải nghe những lời nói thô ác và hễ nói là tranh cãi. 7. Quả báo nói thêu dệt: Sinh làm người chịu quả báo mình nói không ai tin và nói không rõ ràng. 8. Quả báo tham dục: Sinh làm người chịu quả báo tâm không bao giờ biết đủ và muốn nhiều không chán. 9. Quả báo tức giận: Sinh làm người chịu quả báo thường bị người tìm các khuyết điểm của mình và thường bị não hại.10. Quả báo tà kiến: Sinh làm người chịu quả báo sinh vào nhà tà kiến và tâm hay dua nịnh quanh co. [X. phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm Q.35 (bản dịch mới)].
Thập ác 十惡
[ja] ジュウアク jūaku ||| The ten evils, ten evil deeds: killing 殺生, stealing 偸盜, adultery 邪婬, lying 妄語, using immoral language 綺語, slandering 惡口, equivocating 兩舌, coveting 貪欲, anger 瞋恚, and false views 邪見. Also called . => Mười việc ác: Giết hại (Sát sinh殺生), Trộm cắp (Thâu đạo偸盜), Tà hạnh dâm dục (Tà dâm邪婬), Nói dối (Vọng ngữ妄語), Nói thêu dệt (Ỷ ngữ綺語), Nói lời thô ác (Ác khẩu惡口), Nói đôi chiều (Lưỡng thiệt兩舌), Tham muốn (Tham dục貪欲), Sân hận (Sân nhuế瞋恚), Tà kiến 邪見. Còn gọi là Thập ác nghiệp十惡業.
thập ân
Mười ân Phật—Ten kinds of the Buddha's grace: 1) Ân Cứu độ chúng sanh: Grace of Initial resolve to universalize (salvation). 2) Ân hy sinh trong tiền kiếp: Grace of self-sacrifice in previous lives. 3) Ân vị tha đến muôn loài: Grace of complete altruism. 4) Ân giáng trần cứu thế: Grace of descending into all the six states of existence for their salvation. 5) Ân cứu khổ và viễn ly sanh tử: Grace of relief of the living from distress and mortality. 6) Ân Đại bi: Grace of profound pity. 7) Ân soi rạng Chân lý cho nhân loại: Grace of revelation of himself in human and glorified form. 8) Ân tùy thuận hóa chúng, trước tiên là giáo pháp Tiểu Thừa rồi sau là giáo pháp Đại Thừa: Grace of teaching in accordance with the capacity of his hearers, first Hinayan, then Mahayana doctrine. 9) Ân soi rạng Niết bàn cho chúng đệ tử: Grace of revealing his nirvana to stimulate his disciples. 10) Ân Đại bi thương xót chúng sanh mà nhập niết bàn ở tuổi 80 thay vì 100 và để lại Tam Tạng kinh điển phổ cứu cứu chúng sanh: Pitying thought for all creatures, in that dying at 80 instead of 100 he left twenty years of his own happiness to his disciples; and also the tripitaka for universal salvation.
; (十恩) Cũng gọi Như lai thập ân. Đối với Như lai, chúng sinh mang 10 thứ ân đức, đó là: 1. Phát tâm phổ bị ân: Ơn phát tâm trùm khắp. Như lai vì chúng sinh mà phát tâm bồ đề, đem lại lợi ích an vui cho tất cả. 2. Nan hành khổ hạnh ân: Ơn làm các việc khó làm. Thủa xưa, khi Như lai tu nhân hạnh, đã từng xả bỏ đầu mắt, đất nước, vợ con... làm những việc khổ khó làm, đều là vì lợi ích của chúng sinh. 3. Nhất hướng vị tha ân: Ơn chỉ một lòng vì người khác. Như lai đã nhiều kiếp tu các công đức, chỉ vì muốn độ thoát chúng sinh chứ chưa từng có một ý nghĩ vì mình. 4. Thùy hình lục đạo ân: Ơn hiện thân trong 6 đường. Vì cứu giúp các nỗi thống khổ cho chúng sinh nên Như lai đã hóa hiện sinh trong 6 đường. 5. Tùy trục chúng sinh ân: Ơn dõi theo chúng sinh. Như lai thấy chúng sinh không có tâm muốn ra khỏi sinh tử, cho nên vận dụng tâm đại từ bình đẳng, dõi theo chúng sinh để cứu giúp, khiến được an lạc. 6. Đại bi thâm trọng ân: Ơn đại bi sâu nặng. Như lai thấy chúng sinh làm điều ác, sinh tâm đau xót, lại quán thấy chúng sinh rơi vào 3 đường ác chịu các nỗi khổ, lòng rất lo buồn, cho nên phát khởi đại bi cứu hộ, nếu thấy chúng sinh làm các việc thiện thì tâm Như lai rất vui mừng. 7. Ẩn thắng chương liệt ân: Ơn ẩn thân hơn hiện thân kém. Như lai vì hàng đại Bồ tát như Phổ hiền... thị hiện Thắng ứng thân thực báo; nếu nói giáo nghĩa Tam thừa thì ẩn tướng thù thắng vi diệu, hiển hiện Liệt ứng thân 32 tướng làm cho hàng Bồ tát Nhị thừa, Bồ tát Tiểu thừa đều được lợi ích.8. Ẩn thực thi quyền ân: Ơn ẩn Thực hiện Quyền. Như lai quán biết căn cơ chúng sinh yếu kém thì ẩn Đại thừa thực giáo(giáo pháp chân thực) mà dùng Quyền pháp(giáo pháp quyền biến tạm thời) Tam thừa nhân thiên để dẫn dụ khiến được thành tựu, sau đó mới dùng Đại thừa để độ thoát. 9. Thị diệt linh mộ ân: Ơn hiện diệt khiến nhớ nghĩ. Như lai thị hiện diệt độ để chúng sinh biết rằng gặp được Phật ra đời là việc rất khó, khiến những người phúc đức mỏng manh phát tâm vun trồng gốc lành, sinh ý tưởng khó gặp. 10. Bi niệm vô tận ân: Ơn niệm thương xót vô tận. Nếu Như lai thị hiện tuổi thọ giống với loài người thì lẽ ra trụ ở thế gian 100 năm, nhưng Như lai đã nhập diệt lúc 80 tuổi là vì muốn lưu lại 20 năm dư phúc để che chở cho các đệ tử đời mạt pháp. Và lưu lại 3 tạng giáo pháp khiến cho khắp cả chúng sinh nương theo đó mà tu hành. [X. Hoa nghiêm đại sớ sao Q.23; Đại minh tam tạng pháp số Q.36].
thập ích
(十益) Cũng gọiKhai kinh thập ích. Chỉ cho 10 điều lợi ích của việc nghe kinh Hoa nghiêm. Cứ theo Hoa nghiêm sớ quyển 1 thì nghe kinh Hoa nghiêm được 10 điều lợi ích như sau: 1. Kiến văn ích: Lợi ích thấy nghe. Nghĩa là thấy nghe Như lai thường giảng nói đại kinh này ở khắp nơi, đạo của chư Phật giống nhau, pháp nên như thế, khiến các chúng sinh vào cảnh giới Phật, thành kiến văn ích. 2. Phát tâm ích: Lợi ích của sự phát tâm. Nghĩa là nghe Như lai giảng nói đại nguyện đại hạnh trong bản nhân, thệ độ chúng sinh, bèn phát tâm tin, học theo hạnh nguyện của Phật, thành phát tâm ích. 3. Tạo tu ích: Lợi ích của sự tạo tu. Nghĩa là nghe Như lai giảng nói đại kinh Hoa nghiêm mà phát khởi thiện nghiệp trí tuệ của đương cơ, khiến các chúng sinh như pháp tiến tu, thành lợi ích tạo tu. 4. Đốn đắc ích: Lợi ích mau được. Nghĩa là nghe Như lai lúc mới thành Chính giác liền nói kinh này, là pháp luân căn bản, nghĩa lí mầu nhiệm, hàm chứa mọi đức, khiến các chúng sinh được khai ngộ liền, thành lợi ích đốn đắc. 5. Diệt chướng ích: Lợi ích của việc diệt chướng. Nghĩa là nghe Như lai giảng nói đại kinh này thì biết rõ công đức thù thắng, trang nghiêm của 2 quả Y báo và Chính báo, liền ưa thích tu hành, diệt trừ phiền não chướng, thành lợi ích diệt chướng. 6. Nhiếp vị ích: Bao gồm các giai vị. Nghĩa là nghe kinh này hiển bày sự viên dung của các giai vị, tức trong 1 giai vị bao gồm công đức của các giai vị, tâ mong chứng nhập để thành lợi ích nhiếp vị. 7. Khởi hành ích: Lợi ích của việc khởi tâm tu hành. Nghĩa là nghe kinh này nói rộng về các diệu hạnh viên dung, tức một hạnh mau thành các hạnh, liền được tín giải sâu xa, phát tâm tu hành, thành ích lợi khởi hành. 8. Xứng tính ích: Lợi ích xứng tính. Nghĩa là nghe kinh này nói pháp xứng tính, chân thực, cần phải hiểu rõ ràng, nương theo tính mà phát khởi tu để thành lợi ích xứng tính. 9. Chuyển lợi ích: Lợi ích của việc chuyển hóa. Nghĩa là nghe kinh này nói tất cả chúng sinh đều có đầy đủ trí tuệ của Như lai, liền chuyển hóa các người khác bằng cách diễn nói kinh này cho họ cùng nghe khiến đều được khai ngộ, thành lợi ích chuyển hóa. 10. Tốc chứng ích: Lợi ích của sự mau chứng. Nghĩa là tổng hợp các pháp môn nói trên, rộng tu các công đức, thì mau ra khỏi sinh tử, chóng chứng Bồ đề, thành lợi ích tốc chứng.
Thập Ðắc
拾得|Xem dưới Hàn Sơn
thập ô nhiễm
Ten defilements—See Thập Phiền Não.
thập úy
Ten fears Mười điều lo sợ.
thập điện
The ten palaces of Yama king.
thập điện diêm vương
The ten Yama courts.
Thập điện diêm vương 十殿閻王
[ja] ジュウテンエンオウ jū tenen ō ||| See 十王. => Xem Thập vương.
Thập đáo bỉ ngạn 十到彼岸
[ja] ジュウトウヒガン jūtōhigan ||| The ten perfections. See 十波羅蜜. => Xem Thập Ba-la-mật.
thập đại
See Kasina in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
thập đại hạnh của bồ tát phổ hiền
Ten vows of Samantabhadra Bodhisattva: 1) Nhứt giả lễ kỉnh chư Phật: First, worship and respect all Buddhas. 2) Nhị giả xưng tán Như Lai: Second, praise the Thus Come Ones. 3) Tam giả quảng tu cúng dường: Third, make abundant offerings. 4) Tứ giả sám hối nghiệp chướng: Fourth, repent misdeeds and hindrances. 5) Ngũ giả tùy hỷ công đức: Fifth, rejoyce at others' merits and virtues. 6) Lục giả thỉnh chuyển Pháp Luân: Sixth, request the Buddha to turn the Dharma Wheel. 7) Thất giả thỉnh Phật trụ thế: Seventh, request the Buddha to remain in the world. 8) Bát giả thường tùy học Phật: Eighth, follow the teachings of the Buddha at all times. 9) Cửu giả hằng thuận chúng sanh: Ninth, accommodate and benefit all sentient beings. 10) Thập giả phổ giai hồi hướng: Tenth, transfer merits and virtues universally.
Thập đại luận sư
十大論師|Mười đại luận sư
thập đại luận sư
(十大論師) Gọi đủ: Duy thức thập đại luận sư. Cũng gọi: Thập luận tượng. Chỉ cho 10 vị Luận sư chú thích Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân, đó là: 1. Hộ pháp, Phạm: Dharmapàla, Hán âm: Đạt ma ba la. 2. Đức tuệ, Phạm:Guịamati, Hán âm: Lũ noa mạt để. 3. An tuệ, Phạm:Sthiramati, Hán âm: Tất sỉ la mạt để. 4. Thân thắng, Phạm:Bandhuzri, Hán âm: Bạn đồ thất lợi. 5. Hoan hỉ, Phạm: Nanda, Hán âm: Nan đà. 6. Tịnh nguyệt, Phạm: Zuddhacandra, Hán âm: Thú đà chiến đạt la. 7. Hỏa biện, Phạm:Citrabhàna, Hán âm: Chất đán la bà noa. 8. Thắng hữu, Phạm: Visewamitra, Hán âm: Tì thế sa mật đa la. 9. Thắng tử, Phạm: Jinaputra, Hán âm: Thìn na phất đa la. 10. Trí nguyệt, Phạm: Jĩànacandra, Hán âm: Nhã na chiến đạt la. Về sự lập nghĩa, các vị Luận sư nói trên có những điểm khác nhau, chẳng hạn về Chủng tử luận thì ngài Nan đà... chủ trương thuyết Tân huân, ngài Hộ nguyệt (ngoài Thập đại luận sư) chủ trương thuyết Bản huân, còn ngài Hộ pháp thì chủ trương thuyết Bản hữu Tân huân hợp sinh. Lại đối với thuyết Tứ phần thì các ngài Hỏa biện và Trần na(ngoài Thập đại luận sư) cùng lập thuyết Tam phần, ngài Thân thắng, Đức tuệ... thì đề xướng thuyết Nhị phần, ngài An tuệ thì chủ trương thuyết Nhất phân, còn ngài Nan đà và Tịnh nguyệt thì chủ trương thuyết Nhị phần. Trong 2 luận điểm trên đây thì thuyết của các ngài Hộ pháp và An tuệ có thế mạnh nhất, sau này cũng lần lượt được các ngài Chân đế và Huyền trang truyền đến Trung quốc. Tương truyền, luận Thành duy thức là tổng hợp các tác phẩm Thích luận của 10 vị Đại luận sư, nhưng chủ yếu thì y cứ vào thuyết của ngài Hộ pháp và rõ ràng luận Thành duy thức là tác phẩm thuộc hệ thống ngài Hộ pháp. Trong các Thích luận của 10 vị Đại luận sư hiện nay chỉ còn lưu truyền bộ Tam thập tụng thích luận (Phạm:Triôzikà-bhàwya, bản Phạm, bản Tạng dịch đều còn) của ngài An tuệ.
thập đại nguyện
Ten great vows.
; (十大願) Cũng gọi Thập nguyện. Mười đại nguyện. I. ThậpĐạiNguyện. Chỉ cho 10 đại nguyện của bồ tát Phổ hiền.II. Thập Đại Nguyện. Chỉ cho 10 đại nguyện của bồ tát Sơ địa nói trong phẩm Trụ kinh Bồ tát địa trì. Đó là: 1. Cúng dường nguyện: Nguyện đem tâm thanh tịnh cúng dường chư Phật. 2. Thụ trì nguyện: Nguyện thụ trì các pháp giáo, hành, chứng của chư Phật không để mất. 3. Nguyện chuyển pháp luân: Nguyện khuyến thỉnh tất cả chư Phật quay bánh xe chính pháp. 4. Tu hành nguyện: Nguyện đem các hạnh tu của Bồ tát giáo hóa tất cả khiến họ vâng làm để tăng trưởng tâm thiện. 5. Thành thục nguyện: Nguyện biết rõ chỗ sai khác của tất cả chúng sinh sở hóa để tùy theo chỗ họ biết mà giáo hóa khiến khởi tâm tin mà vào đạo Tam thừa. 6. Thừa sự nguyện: Nguyện biết rõ sự sai khác của tất cả thế giới tịnh, uế mà chúng sinh cư trú. 7. Tịnh độ nguyện: Nguyện cầu Tịnh độ của chư Phật để nhiếp thủ chúng sinh. 8. Bất li nguyện: Nguyện cùng chung tâm trí tuệ, hạnh công đức với tất cả Bồ tát.9. Lợi ích nguyện: Nguyện các nghiệp thân khẩu ý làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.10. Chính giác nguyện: Nguyện thành vô thượng bồ đề, đem đạo Bồ đề làm lợi ích chúng sinh. Mười đại nguyện này lấy chân như làm thể, vì các bồ tát Sơ địa đã thấy chân như nên có khả năng thành lập 10 đại nguyện này. Ngoài ra, phẩm Minh pháp trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) cũng nêu 10 thứ nguyện thanh tịnh; Hoa nghiêm kinh sớ quyển 20 cho rằng ý nghĩa của 10 nguyện thanh tịnh và 10 đại nguyện trên đây giống nhau, chỉ hơi khác nhau về thứ tự các nguyện mà thôi. III. Thập Đại Nguyện. Chỉ cho 10 nguyện của Bồ tát Sơ học nói trong kinh Thắng nghĩa đế phẩm và được ghi trong Đại thừa tu hành bồ tát hành môn chư kinh yếu tập quyển thượng. Mười nguyện này cũng được gọi là Thập chủng hành nguyện và gồm có 2 loại: A. Mười nguyện thuộc loại thứ nhất: 1. Nguyện độ tất cả chúng sinh. 2. Nguyện xa lìa tất cả phiền não. 3. Nguyện trừ diệt tập khí tương tục. 4. Nguyện đối với tất cả Phật pháp không hề ngờ vực. 5. Nguyện trừ tất cả khổ để cứu chúng sinh.6. Nguyện cứu chúng sinh lìa khỏi 3 đường 8 nạn. 7. Nguyện qui y thừa sự tất cả chư Phật.8. Nguyện học tất cả giới hạnh của Bồ tát.9. Nguyện bay lên hư không thị hiện vô lượng Phật sự trên đầu mảy lông. 10. Nguyện đem trống đại pháp dóng lên trong tất cả cõi Phật, khiến chúng sinh nghe rồi thì tùy theo căn cơ mà mau được vào Niết bàn vô dư. B. Mười nguyện thuộc loại thứ hai: 1. Nguyện vì chúng sinh mà trụ ở thế gian cho đến hết kiếp vị lai. 2. Nguyện được gần gũi, hầu hạ và cúng dường tất cả chư Phật cho đến thân cuối cùng. 3. Nguyện giúp tất cả chúng sinh trụ trong hành nguyện của bồ tát Phổ hiền. 4. Nguyện chứa góp tất cả công đức giới hạnh. 5. Nguyện tu tập tất cả 6 Ba la mật. 6. Nguyện đầy đủ giới hạnh bồ đề. 7. Nguyện trang nghiêm thanh tịnh tất cả cõi Phật. 8. Nguyện được sinh về các cõi Phật trong 10 phương. 9. Nghuyện tìm cầu tất cả Phật pháp sâu xa và có đủ năng lực tự mở tỏ. 10. Nguyện thành Đẳng chính giác ở các cõi Phật. Mười nguyện nói trên đều là nguyện tu tất cả thiện pháp.
thập đại số
(十大數) Mười số cực lớn lấy 1 A tăng kì làm đơn vị, theo thứ tự nhân dần lên cho đến bất khả thuyết. Đó là: A tăng kì, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng và bất khả thuyết bất khả thuyết. Cách tính 10 số cực lớn là: A tăng kì nhân với A tăng kì thành A tăng kì chuyển; A tăng kì chuyển nhân với A tăng kì chuyển thành Vô lượng. Cứ theo đó suy ra các số kế tiếp. Ngoài ra, luận Câu xá cho rằng có 52 hoặc 60 số cực lớn.
thập đại thụ
(十大受) Cũng gọi Thập thụ, Thập hoằng thệ. Chỉ cho 10 pháp lớn đã lãnh nhận, tức là 10 thệ nguyện mà phu nhân Thắng man đã thành kính lập ra ở trước đức Phật lúc bà được Phật thụ kí. Theo chương Thập thụ trong kinh Thắng man thì 10thệ nguyện gồm (Đại 12, 217 trung): 1. Từ hôm nay cho đến khi chứng Bồ đề, con không khởi tâm phạm các giới đã thụ.2. Từ hôm nay cho đến khi chứng Bồ đề, con không khởi tâm kiêu mạn đối với các bậc tôn trưởng. 3. Từ hôm nay cho đến khi chứng Bồ đề, đối với chúng sinh, con không khởi tâm tức giận. 4. Từ hôm nay cho đến khi chứng Bồ đề, con không khởi tâm ghen ghét đối với sắc thân người khác và các vật dụng bên ngoài. 5. Từ hôm nay cho đến khi chứng Bồ đề, con không khởi tâm bỏn sẻn đối với các pháp nội ngoại. 6. Từ hôm nay cho đến khi chứng Bồ đề, con không vì mình nhận lãnh và chứa góp tài vật, nếu có nhận chứa thì đều vì cứu giúp các chúng sinh nghèo khổ. 7. Từ hôm nay cho đến khi chứng Bồ đề, con không vì mình mà thực hành 4 nhiếp pháp. Vì tất cả chúng sinh, dùng tâm không ái nhiễm, tâm không nhàm chán, tâm không quải ngại, nhiếp thụ chúng sinh. 8. Từ hôm nay cho đến khi chứng Bồ đề, nếu thấy các chúng sinh bị các ách nạn khốn khổ cô độc, bị giam cầm trong bóng tối, bị các tật bệnh hành hạ thì con không bao giờ bỏ rơi, mà sẽ làm cho họ được an ổn, giảng nói nghĩa lí để họ được lợi ích giúp họ thoát khỏi các khổ, rồi sau mới xa rời.9. Từ hôm nay cho đến khi chứng Bồ đề, nếu thấy chúng sinh làm các ác luật nghi như bắt, nuôi súc vật và phạm các giới cấm thì không bao giờconbỏ họ; khi con có đủ sức thì bất cứ ở nơi nào hễ thấy người phải chiết phục thì chiết phục, người đáng nhiếp thụ thì nhiếp thụ. 10. Từ hôm nay cho đến khi chứng Bồ đề, con sẽ giữ gìn chính pháp, không bao giờ quên mất. Trong Thắng man bảo quật quyển thượng phần cuối, ngài Cát tạng đời Tùy giải thích nghĩa Thập đại thụ, cho rằng Đại có 5 nghĩa: Đương thể đại, đắc quả đại, pháp thực hành của bậc Đại nhân, thời đại và không bao giờ mất. Giữ tâm rỗng lặng, cung kính nạp thụ, tự chế và vâng làm, cho nên gọi là Thụ. Còn trong Thắng man kinh sớ thì Pháp sư Chiêu đời Bắc Ngụy phối hợp Đại thụ thứ nhất với Thệ trì, 4Đại thụ kế phối với Nhiếp luật nghi giới, 4 Đại thụ kế nữa phối với Nhiếp chúng sinh giới và Đại thụ thứ 10 phối với Nhiếpthiện pháp giới. Đây là mối quan hệ giữa Thập đại thụ và Tam tụ tịnh giới.
thập đại tự
(十大寺) I. Thập Đại Tự. Chỉ cho 10 ngôi chùa do vua Thái tông ban sắc xây dựng để truy điệu các tướng sĩ thương vong ở những nơi có kịch chiến xảy ra trong cuộc tranh đấu thống nhất Trung quốc, kiến lập triều đại nhà Đường. Đó là: 1. Chùa Chiêu nhân: Ở U châu (Bắc bình, Hà bắc), là nơi phá dẹp Tiết cử; Chu tử xa soạn bia. 2. Chùa Chiêu giác: Ở Lạc châu (Lạc dương, Hà nam), là nơi đánh phá Vương doãn, Ngu thế nam soạn bia. 3. Chùa Hoằng tế: Ở Phần châu (Phần dương, Sơn tây), là nơi đánh dẹp Lưu vũ chu; Lí bách dược soạn bia. 4. Chùa Từ vân: Ở Tấn châu (Lâm phần, Sơn tây), là nơi đánh dẹp Tống kim cương; Chử toại lương soạn bia. 5. Chùa Phổ tế: Ở Cử châu (Lâm nghi, Sơn đông), là nơi đánh dẹp Tống lão sinh; Hứa kính tông soạn bia. 6. Chùa Đẳng từ: Ở Trịnh châu (huyện Trịnh, Hà nam), là nơi đánh dẹp Đậu kiến đức; Nhan sư cổ soạn bia. 7. Chùa Chiêu phúc: Ở Lạc châu (Lạc dương, Hà nam), là nơi đánh dẹp Lưu hắc thát; Sầm bản văn soạn bia. Trong 10 chùa thì chỉ có 7 chùa nói trên là thấy ghi trong Đại đường nội điển lục quyển 5 và Phật tổ thống kỉ quyển 39, 3 chùa còn lại thì không thấy nói đến. Có lẽ hợp với 3 chùa Thái nguyên, Hưng thánh và Nghĩa hưng ở Thái nguyên là nơi khởi nghĩa mà gọi chung là Thập đại tự. II. Thập Đại Tự. Chỉ cho 10 ngôi chùa được xây dựng vào khoảng năm Diên lịch (782-806) đời Hoàn vũ Thiên hoàng ở Nhật bản. Đó là các chùa: Đông đại, Hưng phúc, Nguyên hưng, Đại an, Dược sư, Tây đại, Pháp long, Hoằng hưng, Tứ thiên vương và Sùng phúc. Trong 10 chùa này thì 7 ngôi được xây cất tại Kyoto, 3 ngôi còn lại thì ở các nơi khác.
Thập đại đệ tử
十大弟子|Mười đại đệ tử
thập đại đệ tử
The ten chief disciples of Sakyamuni, each of whom was master of one power or gift: (1) Xá lợi phất, trí tuệ đệ nhất, Sariputra of wisdom; (2) Mục kiền liên, thần thông đệ nhất, Maudgalyàyana of supernatural powers; (3) Ma ha Ca diếp, đầu đà đệ nhất, Mahàkàsyapa of discipline; (4) A na luật, thiên nhãn đệ nhất, Aniruddha of deva-vision; (5) Tu bồ đề, giải không đệ nhất, Subhùti of explaining the void or immaterial; (6) Phú lâu na, thuyết pháp đệ nhất; Pùrna of expounding the law; (7) Ca chiên diên, luận nghị đệ nhất, Kàtyàyana of its fundamental principles; (8) Ưu na li, trì luật đệ nhất, Upàli of maintaining the rules; (9) La hầu la, mật hạnh đệ nhất, Ràhula of the esoteric; (10) A nan đà, đa văn đệ nhất, Ananda of hearing and remembering.
; Mười đệ tử lớn của Phật—Ten great major disciples of the Buddha—See Ten chief disciples of Sakyamuni: 1) Xá Lợi Phất: Sariputra (skt)—Foremost in wisdom—Trí tuệ. 2) Mục Kiền Liên: Maudgalyayana (skt)—Foremost in spiritual or supernatural powers—Thần thông. 3) Ma Ha Ca Diếp: Mahakasyapa (skt)—Foremost in samadhi and disciplines—Chief of the order—Khổ hạnh—Đầu đà. 4) A Na Luật: Aniruddha (skt)—Deva vision. 5) Tu Bồ Đề: Subhuti (skt)—Foremost among Arhats in understanding and explaining the void of immaterial—Giải không. 6) Phú Lâu Na: Purna (skt)—Expounding the law—Thuyết pháp. 7) Ca Chiên Diên: Katyayana (skt)—Fundamental principles—Luận nghĩa. 8) Ưu Ba Ly: Upali (skt)—Foremost in observing the precepts and maintaining the rules for the order—Trì luật. 9) La Hầu La: Rahula (skt)—Foremost in inconspicuous practice or Esoteric—Mật hạnh. 10) A Nan Đà: Ananda (skt)—Foremost in wide-erudition and was famed in his excellent hearing and memory—Remembering—Đa văn. Ông là người đã trùng tụng lại kinh điển trong lần kiết tập đầu tiên 4 tháng sau ngày Phật nhập diệt—He was the one who recited the sutra-tripitaka at the first council four months after the death of the Buddha.
; (十大弟子) Cũng gọi Thích ca thập thánh, Thập đệ tử. Chỉ cho 10 vị đệ tử kiệt xuất của đức Phật Thích ca. Đó là: 1. Xá lợi phất: Vị đại đệ tử được tôn xưng là Trí tuệ đệ nhất. 2. Ma ha mục kiền liên: Vị đại đệ tử được tôn xưng là Thần thông đệ nhất. 3. Ma ha ca diếp: Vị đại đệ tử được tôn xưng là Đầu đà đệ nhất. 4. Tu bồ đề: Vị đại đệ tử được tôn xưng là Giải không đệ nhất. 5. Phú lâu na(cũng gọi Mãn nguyện tử): Vị đại đệ tử được tôn xưng là Thuyết pháp đệ nhất. 6. Ma ha ca chiên diên(gọi tắt: Ca chiên diên): Vị đại đệ tử được tôn xưng là Luận nghĩa đệ nhất. 7. A na luật(cũng gọi A ni luật đà): Vị đại đệ tử được tôn xưng là Thiên nhãn đệ nhất. 8. Ưu ba li(cũng gọi Ưu bà li): Vị đại đệ tử được tôn xưng là Trì luật đệ nhất. 9. La hầu la: Vị đại đệ tử được tôn xưng là Mật hạnh đệ nhất. 10. A nan(gọi đủ: A nan đà): Vị đại đệ tử được tôn xưng là Đa văn đệ nhất. Tại Trung quốc, từ đời Tề, Lương về sau, việc sùng bái Thập đại đệ tử đã thịnh hành, hình tượng Thập đại đệ tử cũng được lưu truyền ở đời. Trong bức bích họa trên vách động thứ 138 của Thiên Phật động tại huyện Đôn hoàng, tỉnh Thiểm tây, ở chính giữa đắp tạo tượng Phật Thích ca, ở vách phía sau vẽ tượng đứng của Thập đại đệ tử ở 2 bên phải và trái, mỗi bên đều có 5 tôn tượng và có phụ thêm bài minh bên cạnh. Nghi dung các tượng vẽ đoan nghiêm, rất có sinh khí, được coi là các tác phẩm đầu đời Tống.
Thập đại đệ tử 十大弟子
[ja] ジュウダイデシ jū dai deshi ||| The ten principal disciples of Śākyamuni: Ānanda 阿難, Aniruddha 阿那律, Mahākāśyapa 摩訶迦葉, Mahākātyāyana 摩訶迦旃延, Maudagalyāyana 摩訶目犍連, Pūrṇa 富樓那, Rāhula 羅怙羅, Śāriputra 舍利弗, Subhūti 須菩提, and Upāli 優婆離. => Mười đệ tử lớn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: A Nan 阿難 s: Ānanda, A ns luật 阿那律 s:Aniruddha , Ma ha Ca diếp 摩訶迦葉 s: Mahākāśyapa , Ma ha Ca chiên diên 摩訶迦旃延 s: Mahākātyāyana , Ma ha Mục kiền liên 摩訶目犍連 s: Maudagalyāyana , Phú lâu na 富樓那s: Pūrṇa , La hầu la 羅怙羅s: Rāhula , Xá lợi phất 舍利弗 s: Śāriputra Tu bồ đề 須菩提 s: Subhūti , và Ưu ba li 優婆離s: Upāli .
Thập đại địa
xem Mười đại địa.
Thập đại địa pháp
xem Mười đại địa.
thập đại đức
(十大德) Chỉ cho 10 vị quan tăng được triều đình lập ra ở chùa Từ bi vào năm Vũ đức thứ 3 (620) đời vua Cao tổ nhà Đường để thống lãnh, quản lí chúng tăng và công việc của giáo đoàn, gọi là Thập đại đức. Trong đó, các Đại đức như: Giác lãng, Bảo cung, Cát tạng, Pháp khản, Tuệ nhân, Hải tạng, Trí tạng, Minh chiêm... đều là các bậc cao tăng xuất thân vào đời Trần thuộc Nam triều và có quan hệ gắn bóvớicác chùa Đại thiền định và Đại hưng thiện ở Trường an. Cơ cấu này thành lập được vài năm thì giải tán.Ngoài ra, cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 12 và truyện Xà na quật đa trong Tục cao tăng truyện quyển 2 thì vào năm Khai hoàng thứ 7 (587), vua Văn đế nhà Tùy, có lập cơ cấu Thập đại đức sa môn ở chùa Đại hưng thiện để giúp đỡ ngài Xà na quật đa trong việc phiên dịch kinh điển tiếng Phạm. Mười vị cao tăng này là: Tăng hưu, Pháp xán, Pháp kinh, Tuệ tạng, Hồng tuân, Tuệ viễn, Pháp toản, Tăng huy, Minh mục và Đàm thiên.
thập đạo
The ten good ways for deliverance form mortality—See Thập Thiện.
; (十道) Chỉ cho 10 việc thiện được ghi trong kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 6. Đó là: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói 2 lưỡi, không nói lời ác, không nói thêu dệt, không tham lam, không sân hận và không tà kiến. Văn kinh này nói: Có 1 pháp đến 10 pháp là pháp chướng ngại, 1 đạo đến 10 đạo(Thập đạo) là đạogiải thoát.
thập đạo binh ma
Theo Kinh Nipata, có Mười Đạo Binh Ma—According to the Nipata Sutta, there are ten armies of mara. 1) Nhục dục: Kama (p)—Sensual desires. 2) Nản chí: Arati (p)—Discouragement. 3) Đói và khát: Khuppipasa (p)—Hunger and thirst. 4) Ái dục: Tanha (p)—Attachment. 5) Dã dượi hôn trầm: Thinamiddha (p)—Sloth and torpor. 6) Sợ sệt: Bhaya (p)—Fear. 7) Hoài nghi: Vicikiccha (p)—Doubt. 8) Dèm pha và cố chấp: Makkha-thambha (p)—Detraction and stubborness. 9) Thâu đoạt bất chánh, tiếng tốt, danh vọng, lời khen tặng và lợi lộc: Labha-siloka-sakkara-micchayasa (p)—Gain, praise, honour, and ill-gotten fame. 10) Tự phụ và khinh miệt: Attukkamsanaparavambhana (p)—Self-praise and contempt for others.
thập đạo chương
DaśabhŪmikā (S), Ten Stages Chapter Thập trụ kinh, Thập địa kinh Là chương thứ 26 trong kinh Hoa nghiêm và cũng là phần quan trọng nhất vì phần này chỉ rỏ 10 giai đoạn hay 10 thứ bậc cuối cùng mà một vị Bồ tát phải trải qua trước khi đạt giác ngộ. 10 giai đoạn đó là: - Hoan hỷ địa (Joyful stage: pramudita-bhumi) - Ly cấu địa (Immaculate Stage: vimala-bhumi) - Phát quang địa (Radiant stage: prabhakari-bhumi) - Diễm huệ địa (Blazing stage: arcismati-bhumi) - Cực nan thắng địa (Hard-to-Conquer stage: sudurjaya-bhumi) - Hiện tiền địa (Face-to-face stage: abhimukhi-bhumi) - Viễn hành địa (Going-Far-Beyond stage: durangama-bhumi) - Bất động địa (Immovable stage: acala-bhumi) - Thiện huệ địa (Good-Thought stage: sadhumati-bhumi) - Pháp vân địa (Cloud of Dharma stage: dharmamegha-bhumi).
thập đắc
See Thập (2).
; (拾得) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Đường, trụ ở chùa Quốc thanh trên núi Thiên thai. Sư vốn là 1 em bé bị bỏ rơi, Thiền sư Phong can gặp ở giữa đường liền dẫn về chùa Quốc thanh giao cho chư tăng nuôi dưỡng. Lớn lên, sư được cho làm Hương đăng ở Trai đường. Một hôm, sư lên bàn thờ ngồi đối diện với các tượng Phật mà ăn, còn gọingàiKiều trần như là tiểu quả Thanh văn, xem như chỗ không người, cầm đũa cười lớn, chư tăng bèn quở mắng và không cho làm Hương đăng nữa, đuổi xuống bếp làm các việc vặt. Ngày thường, sư giống như kẻ điên khùng, kết bạn với Hàn sơn, thường thu lượm cơm canh thừa của chúng tăng, bỏ vào cái ống tre rồi Hàn sơn đến mang đi. Trong chùa có ngôi miếu thờ thần Thủ hộ già lam. Hàng ngày cúng thức ăn đều bị chim đến ăn hết, Thập đắc bèn cầm gậy đánh tượng thần và nói (Đại 50, 832 thượng): Thức ăn của ông mà ông không giữ được thì làm sao giữ được già lam?. Đêm ấy, thần báo mộng cho chư tăng cả chùa rằng: Thập đắc đánh tôi!. Đến sáng, chư tăng đều kể lại mình đã thấy mộng như thế, cả chùa đều hoang mang, mới biết Thập đắc là người phi thường. Lúc chư tăng trong chùa đang bố tát, Thập đắc lùa đàn trâu đến trước Tăng đường nói rằng: Tôi không đi thả trâu, vì trong đàn trâu phần nhiều là những người trông coi việc chúng tăng trong chùa này, đồng thời gọi pháp hiệu của những vị tăng đã qua đời, từng con trâu đều nghe tên của mình mà đi qua, làm mọi người đều kinh ngạc. Quan Thứ sử châu Thai là Lư khâu dận hỏi ngài Phong can: Ở chùa Quốc thanh núi Thiên thai có một bậc hiền đạt phải không?. Thiền sư Phong can trả lời (Đại 50, 986 trung): Hàn sơn là Văn thù, Thập đắc là Phổ hiền, Ông nên đến đó yết kiến. Lư khâu dận liền đến chùa lễ 2 vị Đại sĩ. Hai người bỏ chạy và nói: Phong can lắm lời, Di đà đó mà chẳng biết, lễ chúng tôi làm gì?. Rồi 2 người khoắc tay cười to, đi ra khỏi chùa, sau không rõ kết cuộc ra sao. Đương thời, ngài Đạo kiều sưu tập văn thơ của Hàn sơn, thấy bài kệ của sư đề trên vách miếu thờ thần Thổ địa trong chùa, bèn ghi vào tập thơ của Hàn sơn.
thập đế
(十諦) I. Thập Đế. Chỉ cho 10 đế lí chân thực mà Bồ tát địa thứ 5 phải biết để tùy thuận giáo hóa chúng sinh. Đó là: 1. Thế đế: Đối với những người căn cơ chưa thuần thục, không kham nổi Đại thừa, thì nói pháp 4 đế, 16 hành tướng cho họ nghe. 2. Đệ nhất nghĩa đế: Đối với những Thập Đắc người căn cơ đã thuần thục, có khả năng vào Đại thừa thì nói pháp không Đệ nhất nghĩa cho họ nghe. 3. Tướng đế: Những người không hiểu Đệ nhất nghĩa, nghi ngờ đoạn diệt thì nói cho họ nghe về lí các pháp phi hữu phi vô, là nhất thực tướng. 4. Sai biệt đế: Người nghe lí nhất thực liền ngờ, cho đế là một thì nói cho họ nghe về nhị đế sai biệt bất nhất. 5. Thuyết minh đế: Người đã nghe về lí sai biệt, liền chấp có các thể riêng, xa lìa chính niệm thì nói các pháp 4 đế chỉ tùy ngôn thuyết và do nhân duyên tập thành, thể của chúng không có tự tính. 6. Sự đế: Vì các chúng sinh chính kiến nói về việc nếu mê 4 đế sẽ khởi quả khổ, tức nói về khổ đế. 7. Sinh đế: Nếu mê 4 đế sẽ tạo nhân nghiệp, thường sinh ra khổ về sau, tức nói Tập đế. 8. Tận vô sinh trí đế: Nếu hiểu 4 đế thì có khả năng diệt trừ phiền não ô nhiễm, tức nói Diệt đế. 9. Linh nhập đạo trí đế: Vì các chúng sinh có chính kiến, nói phải hiểu thấu các khổ, tức nói Đạo đế trong 4 đế. 10. Nhất thiết Bồ tát thứ đệ thành tựu chư địa khởi Như lai trí đế: Nói việc thành tựu hạnh đức Đại thừa như thực cho các chúng sinh có thể dùng Đại thừa để nhiếp hóa. II. Thập Đế. Chỉ cho 10 đế lí được triển khai từ 4 đế khổ, tập, diệt, đạo, đó là: 1. Bức thiết khổ đế: Tức 4 nỗi khổ sinh, lão, tử, oán tăng hội trong quả khổ bức não các chúng sinh. 2. Tài vị quĩ phạp khổ đế: Khổ vì tiền của và danh vọng thiếu thốn, mong cầu chẳng được. 3. Giới bất bình hòa khổ đế: Khổ vì bệnh tật sinh ra do 4 đại đất, nước, lửa, gió không điều hòa. 4. Sở ái biến hoại khổ đế: Khổ vì những người mình thương yêu phải xa lìa. 5. Thô trọng khổ đế: Tức ngũ thủ uẩn khổ.6. Nghiệp đế: Chỉ cho tất cả nghiệp nhân mang lại khổ quả. 7. Phiền não đế: Chỉ cho tất cả các hoặc. 8. Thinh văn chính pháp như lí tác ý đế: Nghe chính pháp vô lậu, như lí tư duy tu tập. 9. Chính kiến đế: Chỉ cho chính kiến trung đạo. 10. Chính kiến quả đế: Chỉ cho quả vắng lặng vô vi. Đại thừa nghĩa chương quyển 2 phần cuối, đem 10 đế trên phối hợp với 4 đế, trong đó, 5 đế đầu gồm 8 khổ là khổ đế, 2 đế kế tiếp thuộc Tập đế, 2 đế kế nữa thuộc Đạo đế và đế thứ 10 thuộc Diệt đế.
thập đệ tử
(十弟子) Cũng gọi Thập đại đệ tử. Chỉ cho 10 vị sa di trẻ tuổi tay cầm pháp cụ, theo sau vị Đạo sư Đại a xà lê khi cử hành các nghi thức tác pháp như quán đính... trong Mật giáo. Có thuyết cho rằng Thập đệ tử là chỉ cho con số 10 người; hoặc bắt chước Thập đại đệ tử của đức Thích tôn.
Thập đệ tử 十弟子
[ja] ジュウデシ jū deshi ||| The ten disciples of Śākyamuni. See 十大弟子. => Mười đệ tử lớn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Xem Thập đại đệ tử .
Thập Địa
(s: daśa-bhūmi, 十地): tính từ quả vị thứ 41 đến 50 trong 52 quả vị (gồm Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác) tu hành của vị Bồ Tát. Thập Địa là 10 quả vị được thuyết trong Phẩm Thập Địa (十地品) của Kinh Hoa Nghiêm (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra華嚴經), gồm có Hoan Hỷ Địa (s: pramudhitā-bhūmi, 歡喜地), Ly Cấu Địa (s: vimalā-bhūmi, 離垢地), Phát Quang Địa (s: prabhākarī-bhūmi, 發光地), Diệm Huệ Địa (s: arciṣmatī-bhūmi, 焰慧地), Cực Nan Thắng Địa (s: sudurjayā-bhūmi, 極難勝地), Hiện Tiền Địa (s: abhimukhī-bhūmi, 現前地), Viễn Hành Địa (s: dūraṅgamā-bhūmi, 遠行地), Bất Động Địa (s: acalā-bhūmi, 不動地), Thiện Huệ Địa (s: sādhumatī-bhūmi, 善慧地) và Pháp Vân Địa (s: dharmameghā-bhūmi, 法雲地), và được gọi là Hoa Nghiêm Thập Địa. Trong các Kinh Bát Nhã, v.v., cũng có nói về Thập Địa cọng thông cả ba thừa, với tên gọi khác là Càn Huệ Địa (乾慧地), Tánh Địa (性地), Bát Nhân Địa (八人地), Kiến Địa (見地), Bạc Địa (薄地), Ly Dục Địa (離欲地), Dĩ Biện Địa (己辨地), Bích Chi Phật Địa (辟支佛地), Bồ Tát Địa (菩薩地) và Phật Địa (佛地).
Thập địa
xem Mười địa vị.
; 十地; S: daśabhūmi;|Mười quả vị tu chứng của các vị Bồ Tát. Có nhiều hệ thống khác nhau nhưng theo Bồ Tát địa (菩薩地; s: bodhisattva-bhūmi) và Thập địa kinh (十地經; s: daśabhūmika-sūtra) thì Thập địa gồm:|1. Hoan hỉ địa (歡喜地; pramuditā-bhūmi): Ðắc quả này Bồ Tát rất hoan hỉ trên đường Giác ngộ (bodhi). Bồ Tát đã phát Bồ-đề tâm và thệ nguyện cứu độ tất cả các chúng sinh thoát khỏi Luân hồi (saṃsāra), không còn nghĩ tới mình, Bố thí (dāna) không cầu phúc và chứng được tính Vô ngã (anātman) của tất cả các Pháp (dharma).|2. Li cấu địa (離垢地; vimalā-bhūmi): Bồ Tát giữ Giới (śīla) và thực hiện thiền định (dhyāna, samādhi).|3. Phát quang địa (發光地; prabhākārī-bhūmi): Bồ Tát chứng được quy luật Vô thường (anitya), tu trì tâm Nhẫn nhục (kṣānti) khi gặp chướng ngại trong việc cứu độ tất cả chúng sinh. Ðể đạt đến cấp này, Bồ Tát phải diệt trừ Ba độc là tham, sân, si, thực hiện được bốn cấp định an chỉ (dhyāna) của Bốn xứ và chứng đạt năm thành phần trong Lục thông (abhijñā).|4. Diệm huệ địa (燄慧地; arciṣmatī-bhūmi): Bồ Tát đốt hết tất cả những quan niệm sai lầm, tu tập trí huệ, Bát-nhã (prajñā) và 37 Bồ-đề phần (bodhipākṣika-dharma).|5. Cực nan thắng địa (極難勝地; sudurja-yā-bhūmi): Bồ Tát nhập định, đạt trí huệ, nhờ đó liễu ngộ Tứ diệu đế và Chân như, tiêu diệt nghi ngờ và biết phân biệt. Bồ Tát tiếp tục hành trì 37 giác chi.|6. Hiện tiền địa (現前地; abhimukhī-bhū-mi): Bồ Tát liễu ngộ mọi pháp là vô ngã, ngộ lí Mười hai nhân duyên và chuyển hoá trí phân biệt thành trí bát-nhã, nhận thức tính Không. Trong xứ này, Bồ Tát đã đạt đến trí huệ Bồ-đề (bodhi) và có thể nhập Niết-bàn thường trụ (pratiṣṭhita-nirvāṇa). Vì lòng từ bi đối với chúng sinh, Bồ Tát lưu lại trong thế gian, nhưng không bị sinh tử ràng buộc, đó là Niết-bàn vô trụ (apratiṣṭhita-nirvāṇa).|7. Viễn hành địa (遠行地; dūraṅgamā-bhū-mi): đạt tới cảnh giới này, Bồ Tát đầy đủ khả năng, có mọi phương tiện (upāya) để giáo hoá chúng sinh. Ðây là giai đoạn mà Bồ Tát tuỳ ý xuất hiện trong một dạng bất kì.|8. Bất động địa (不動地; acalā-bhūmi): trong giai đoạn này, không còn bất kì cảnh ngộ gì làm Bồ Tát dao động. Bồ Tát đã biết lúc nào mình đạt Phật quả.|9. Thiện huệ địa (善慧地; sādhumatī-bhū-mi): Trí huệ Bồ Tát viên mãn, đạt Mười lực (daśabala), Lục thông (ṣaḍabhijñā), Bốn tự tín, Tám giải thoát. Biết rõ cơ sở mọi giáo pháp và giảng dạy giáo pháp.|10. Pháp vân địa (法雲地; dharmameghā-bhūmi): Bồ Tát đạt Nhất thiết trí (sarvajña-tā), đại hạnh. Pháp thân của Bồ tát đã đạt tới mức viên mãn. Ngài ngự trên toà sen với vô số Bồ Tát chung quanh trong cung trời Ðâu-suất. Phật quả của Ngài đã được chư Phật ấn chứng. Những Bồ Tát đạt cấp này là Di-lặc (maitreya), Quán Thế Âm (avaloki-teśvara) và Văn-thù (mañjuśrī).
thập địa
DaśabhŪmi (S), Ten Bodhisattva-stages, Ten Stages of a Bodhisattva's Progress.
; Dasabhùmi (S). Ten grounds, ten stages in the fifty two sections of the development of a bodhisattva into a Buddha. After completing the thập tứ hướng he proceeds to the thập địa. There are several groups. I-The ten stages common to the three vehicles are: (1) càn tuệ địa dry wisdom stage, i.e. unfertilized by Buddha-truth; (2) tính địa the embryo stage of the nature of Buddha-truth; (3) nhập nhân (or nhẫn) địa the stage of the eight patient endurances; (4) kiến địa of freedom from wrong views; (5) bạc địa of freedom from the firstsix of the nine delusions in practice; (6) li dục địa of freedom from the remaining three; (7) dĩ biện địa complete discrimination in regard to wrong views and thoughts, the stage of an arhat; (8) chi Phật địa pratyekabuddhahood, only the dead ashes of the past left to sift; (9) bồ tát địa bodhisattvahood; (10) Phật địa Buddhahood. II-Đại thừa bồ tát thập địa the ten stages of Mahàyàna bodhisattva development are: (1) hoan hỉ địa pramudita, joy at having overcome the former difficulties and now entering on the path to Buddhahood; (2) li cấu địa vimalà, freedom from all possible defilement, the stage of purity; (3) phát quang địa prabhàkari, stage of further enlightenment; (4) diệm tuệ địa arcismati, of glowing wisdom; (5) cực nan thắng địa sudurjayà, mastery of utmost or final difficulties; (6) hiện tiền địa abhimukhi, the open way of wisdom above definitions of impurity and purity; (7) viễn hành địa dùramgamà, proceeding afar, getting above ideas of self in order to save others; (8) bất động địa acalà, attainment of calm unperturbedness; (9) thiện tuệ địa sàdhumati, of the finest discriminatory wisdom, knowing where and how to save, and possessed of the thập lực ten powers; (10) pháp vân địa dharmamega, attaining to the fertilizing powers of the law-cloud. Each of the ten stages is connected with each of the ten pàramitàs. III-Thanh văn thừa thập địa, ten Sràvaka stages are: (1) thụ tam qui địa, initiation as a disciple by receiving the three refuges in the Buddha, Dharma and Sangha; (2) tín địa, belief, or the faith-root; (3) tín pháp địa, belief in the four truths; (4) nội phàm phu địa, ordinary disciples who observe the ngũ đình tâm quán etc.; (5) học tín giới địa, those who pursue the tam học three studies; (6) nhập nhân địa, the stage of kiến đạo seeing the true Way; (7) Tu đà hoàn địa, Srota-àpanna, now definitely in the stream and assured of nirvàna; (8) Tư đà hàm địa, sakrdàgàmin, only one mere rebirth; (9) A na hàm địa, anàgàmin, no rebirth; (10) A la hán địa, arhatship. IV-Duyên giác thừa, the ten stages of the Pratyekabuddha are: (1) khổ hạnh cụ túc địa, perfect asceticism; (2) tự giác thậm thâm thập nhị nhân duyên địa, mastery of the twelve links of causation; (3) giác liễu Tứ thánh đế địa, of the four noble truths; (4) thậm thâm lợi trí địa, of the deeper knowledge; (5) cửu Thánh đạo địa, of the eightfold noble path; (6) giác liễu pháp giới, hư không, chúng sinh giới địa, of the three realms; (7) chứng tịch diệt địa, of the nirvàna stage; (8) lục thông địa, of the six supernatural powers; (9) triệt hòa-mật địa arrival at the intuitive stage; (10) tập khí tiệm bạc địa, mastery of the remaining influence of the former habits. V-Phật thừa thập địa: (1) thậm thâm nan tri quảng minh trí tuệ địa; (2)thanh tịnh tự phân oai nghiêm bất tư nghị minh đức địa; (3) thiện minh nhật tràng thật tướng hải tạng địa, ; (4) tinh diệu kim quang công chư thần thông trí đức địa; (5) đại luân oai tạng minh đức địa; (6) hư không nội thanh tịnh vô cấu viêm quang khai tường địa; (7) quảng thắng pháp giới tạng minh giới địa; (8) phổ thông trí tạng năng tịnh vô cấu biên vô ngại trí thông địa; (9) Vô biên đức trang nghiêm hồi hướng năng chiếu minh địa; (10) tì lô xá na trí hải tạng địa. The ten stages, or characteristics of a Buddha are those of the sovereign or perfect attainment of wisdom, exposition, discrimination, màra-subjugation, suppression of evil, the six transcendent faculties, manifestation of all bodhisattva enlightenment, powers of prediction, of adaptability, of powers to reveal the bodhisattva Truth.
; Tức là Bồ tát Thập địa, cũng gọi là Thập Thánh.
; Dasabhumi (skt). (A) Thập Địa Bồ Tát (Tam Thừa): The “ten stages” of the development of a bodhisattva into a Buddha: 1) Càn Huệ Địa: Dry or unfertilized stage of wisdom—Unfertilized by Buddha-truth—Worldly wisdom. 2) Tánh địa: The embryo-stage of the nature of Buddha-truth. 3) Nhập nhơn địa (Nhẫn địa): Bát Nhân Địa—The stage of patient endurances. 4) Kiến địa: The stage of freedom from wrong views. 5) Bạc địa: The stage of freedom from the first six of nine delusions in practice. 6) Ly dục địa: The stage of freedom from the remaining worldly desires. 7) Dĩ biện địa: The stage of complete discrimination in regard to wrong views and thoughts—The stage of an arhat. 8) Bích Chi Phật địa: Pratyekabuddhahood. 9) Bồ Tát địa: Bodhisattvahood. 10) Phật địa: Buddhahood. (B) Thập Địa Bồ Tát: The ten stages of Bodhisattvabhumi—Mười địa vị Đại Thừa Bồ Tát trong Kinh Hoa Nghiêm. Thập Địa Bồ Tát hay mười giai đoạn của Bồ Tát nguyên lai được tìm thấy trong Thập Địa Kinh của tông Hoa Nghiêm, chẳng qua chỉ dùng như những danh xưng cho những phàm phu chưa có sự chứng nghiệm trong Vô Học Đạo. Mười giai đoạn của Đại Thừa Giáo nầy được coi như là được xiển dương để phân biệt địa vị của Bồ Tát với địa vị của Tiểu Thừa Thanh Văn và Duyên Giác—According to the Flower Adornment Sutra (Avatamsaka Sutra), there are ten stages or characteristics of a Buddha. The ten stages of a Mahayana Bodhisattva development. The Ten Stages of the Bodhisattva, originally found in the Dasa-bhumi Sutra of the Avatamsaka School, are simply name sakes for ordinary people who have no experience in the Path of No Learning (asaiksa-marga). These Mahayanistic Stages are said to have been profounded in order to distinguish the position of the Bodhisattva from those of the Hinayanistic sravaka and pratyeka-buddha: 1) Hoan Hỷ địa: Paramudita (skt)—Land of joy, or ground of happiness or delight. • Giai đoạn Bồ Tát cảm thấy niềm vui tràn ngập vì đang vượt thắng những khó khăn trong quá khứ, phần chứng chơn lý và bây giờ đang tiến vào trạng thái của Phật và sự giác ngộ. Trong giai đoạn nầy Bồ Tát đạt được bản tánh Thánh Hiền lần đầu và đạt đến tịnh lạc khi đã đoạn trừ mê hoặc ở kiến đạo, và đã hoàn toàn chứng đắc hai thứ tánh không: nhân và pháp không. Đây là giai đoạn mà vị Bồ Tát cảm thấy hoan hỷ khi Ngài dẹp bỏ được lý tưởng hẹp hòi của Niết Bàn cá nhân đi đến lý tưởng cao đẹp hơn để giúp cho tất cả chúng sanh giải thoát mọi vô minh đau khổ—The first stage of Joy (or utmost joy) at having overcome the former difficulties, realizing a partial aspect of the truth, and now entering on the path to Buddhahood and enlightenment. In this stage, the Bodhisattva attains the holy nature for the first time and reaches the highest pleasure, having been removed from all errors of Life-View (darsana-marga) and having fully realized the twofold sunyata: pudgala and dharma. In this stage, a Bodhisatva feels delight because he is able to pass from the narrow ideal of personal Nirvana to the higher ideal of emancipation all sentient beings from the suffering of ignorance. • Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật bảo ngài A Nan: “Ông A Nan! Người thiện nam đó, đối với đại Bồ Đề khôn khéo được thông đạt, về giác phần thân với Như Lai, cùng tột cảnh giới Phật. Đó gọi là Hoan Hỷ Địa.”—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha told Ananda: “Ananda, these good men have successfully penetrated through to great Bodhi. Their enlightenment is entirely like the Thus Come One's. They have fathomed the state of Buddhahood. This is called the ground of happiness.” 2) Ly Cấu địa: Vimala (skt)—Land of purity, or ground of leaving filth—Land of freedom from defilement. • Ly cấu theo nghĩa tiêu cực là 'không bị ô uế,' nhưng theo nghĩa tích cực là 'tâm thanh tịnh.' Đây là giai đoạn mà vị Bồ Tát thanh tịnh, hoàn thiện đạo đức của mình, và tự giải thoát khỏi mọi khuyết điểm bằng cách thực hành thiền định. Giai đoạn ly cấu là giai đoạn mà vị Bồ Tát lìa bỏ mọi phiền não (dục vọng và uế trược) của dục giới. Trong giai đoạn nầy vị Bồ Tát đạt đến giới đức viên mãn và hoàn toàn vô nhiễm đối với giới hạnh—Negatively speaking, Vimala means 'freedom from defilement;' positively speaking, Vimala means 'purity of heart.' This is the stage of purity, perfect of discipline, and freedom from all possible defilement through practices of dhyana and samadhi. The stage of purity in which a bodhisattva overcomes all passions and impurity. In this stage, the Bodhisattva reaches the perfection of discipline (sila) and becomes utterly taintless with regard to morality. • Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật bảo ngài A Nan: “Tính khác nhập vào đồng. Đồng tính cũng diệt, đó gọi là ly cấu địa.”—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha told Anana: “The differences enter into identity; the identity is destroyed. This is called the ground of leaving filth.” 3) Phát Quang địa: Prabhakari (skt)—Land of radiance, or ground of emitting light. • Giai đoạn Bồ Tát hiểu thấu triệt tính cách vô thường của tất cả sự vật. Ngài thấy rõ tính chất tạm bợ của cuộc đời và phát triển đức tính kiên nhẫn bằng cách chịu đựng những khó khăn và tích cực giúp đở sinh linh. Trong giai đoạn nầy, sau khi đã đạt được nội quán thâm sâu, vị Bồ Tát phát ra ánh sáng trí tuệ, đạt được nhẫn nhục viên mãn và thoát khỏi những mê vọng của tu đạo—The stage of further enlightenment where bodhisatva's insight penetrates into the impermanence of all things, or where he gains insight into impermanence (anitya) of existence and develops the virtue of patience (kshanti) in bearing difficulties and in actively helping all sentient beings. In this stage of the emission of light, after having attained the deepest introspective insight, the Bodhisattva radiates the light of wisdom, gets the pefection of forbearance (ksanti) and becomes free from the errors of Life-Culture (bhavana-marga). • Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật bảo ngài A Nan: “Trong sạch cùng tột, sáng phát sinh ra thì gọi là phát quang địa.”—According to the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha told Ananda: “At the point of ultimate purity, brightness comes forth. This is called the ground of emitting light.” 4) Diễm Huệ địa: Archishmati (skt)—The blazing land, or the ground of blazing wisdom. • Trong giai đoạn nầy, Bồ Tát thực hành sự an nhiên tự tại và đốt bỏ những thứ ô nhiễm và vô minh. Đây là giai đoạn mà vị Bồ Tát đạt được sự viên mãn của tinh tấn, nhân đó ngày càng tăng năng lực quán hạnh, thiêu đốt những dục lạc trần thế cũng như những tư tưởng sai lạc còn nằm trong đầu, trau dồi trí năng cũng như hoàn thiện ba mươi bảy phẩm trợ đạo để đạt tới giác ngộ—Archismati is the stage in which the Bodhisattva practices passionlessness and detachment and burns the twin coverings of defilement and ignorance. This is the stage of glowing or flaming wisdom where Bodhisattva attains the perfection of bravery or effort (virya), thereby increasing the power of insight more and more. He is able to burn away earthly desires as well as remaining false conceptions, develops wisdom and perfects the thirty-seven requisites of enlightenment. • Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật bảo ngài A Nan: “Sáng cùng tột rồi được giác phần viên mãn thì gọi là diễm huệ địa.”—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha told Ananda: “When the brightness becomes ultimate, enlightenment is full. This is called the ground of blazing wisdom.” 5) Cực Nan Thắng địa: Sudurjaya (skt)—The land extremely difficult to conquer, or the ground of invincibility. • Giai đoạn Bồ tát vượt thắng mọi khó khăn và phiền não cuối cùng. Trong giai đoạn nầy, Bồ Tát phát huy tinh thần bình đẳng đồng nhất và đắm mình vào thiền định, đạt được sự viên mãn của thiền định nhằm đạt được nhận thức trực giác về chân lý, hiểu được tứ đế, từ bỏ mọi hoài nghi và do dự, biết phân biệt đúng sai, trong khi vẫn tiếp tục hoàn thiện ba mươi bảy phẩm trợ đạo (trong giai đoạn nầy Bồ Tát thuận nhẫn tu đạo, các loại vô minh, nghi kiến của tam giới, hết thảy đều thấy là không)—The stage of mastery of utmost or final difficulties, or illusions of darkness, or ignorance. In this stage, the Bodhisattva develops the spirit of sameness and absorbs himself in meditation, gets the perfection of meditative concentration, in order to achieve an intuitive grasp of the truth, to understand the four noble truths, to clear away doubt and uncertainty, to know what is proper and what is not. During this stage Bodhisattva continues to work on the perfection of the thierty-seven requisites of enlightenment. • Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật bảo ngài A Nan: “Tất cả đồng và khác không thể đến, đó gọi là cực nan thắng địa.”—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha told Ananda: “No identity or difference can be attained. This is called the ground of invincibility.” 6) Hiện Tiền địa: Abhimukhi (skt)—Land in view of wisdom, or the ground of manifestation. • Giai đoạn Bồ Tát đạt được sự viên mãn của trí huệ, hiểu ra các pháp đều không có dấu phân biệt, không có nguồn gốc, không có tồn tại với không tồn tại. Bồ Tát hiểu được quá trình thập nhị nhơn duyên. Nhờ hiểu được tính hư không và hoàn thiện trí năng. Trong giai đoạn nầy, Bồ Tát trực diện với thực tại, và ý thức được sự đồng nhất của tất cả các hiện tượng. Nhờ đó mà trí huệ tối thượng ló dạng và vị Bồ Tát có thể tịch diệt mãi mãi, Bồ Tát giữ mãi bình đẳng tính đối với tịnh và bất tịnh, nhưng vì cảm thông với chúng sanh, Bồ Tát vẫn trở lại thế gian—In this stage, the bodhisattva attains the perfection of wisdom or insight (prajna), recognizes that all dharmas are free from characteristics origins, and without distinction between existence and nonexistence. In this stage, the Bodhisattva stands face to face with Reality. He realizes the sameness of all phenomena. Thus, the sign of supreme wisdom begins to appear; owing to the perfection of the virtue of wisdom and comprehension of nothingness, Bodhisattva can enter nirvana; however, also retains equanimity as to purity and impurity, so he still vow to come back to the world to save beings. This is the stage of the open way of wisdom above definitions of impurity and purity. • Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật bảo ngài A nan: “Vô vi chân như, tính tịnh sáng suốt lộ ra, đó gọi là hiện tiền địa.”—According to the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha told Ananda: “With unconditioned true suchness, the nature is spotless, and brightness is revealed. This is called the ground of manifestation.” 7) Viễn Hành địa: Duramgama (skt)—The far-reaching land, or the ground of traveling far. • Bồ tát đã bỏ xa tình trạng ngã chấp của nhị thừa, có đầy đủ nhận thức về mình cũng như đạt được kiến thức về các phương tiện thiện xảo khiến Bồ Tát có lòng đại bi và khả năng dẫn dắt tha nhân tiến về nẻo bồ đề. Sau khi đã vượt qua giai đoạn nầy, Bồ Tát vượt lên trên hàng Nhị Thừa, và sẽ không bao giờ rơi trở lại vào ác đạo. Trong giai đoạn nầy, Bồ Tát đã lãnh hội được kiến thức có thể giúp Ngài giải thoát, đã chứng đắc Niết Bàn nhưng vẫn chưa tiến vào, vì còn bận rộn dấn thân vào việc giúp cho những chúng sanh đều được giải thoát—The stage of proceeding afar, or far-going, which is the position farthest removed the selfish state of the two Vehicles. He is getting above ideas of self, gaining knowledge and skillful means which enable him to exercise great mercy to all beings by helping them proceed the way to enlightenment. After passing through this stage, the Bodhisattva rises above the states of the Two Vehicles, and it's impossible to fall back to lower levels. In this stage, the Bodhisattva acquires the knowledge that enable him to adopt skillful means for his work of salvation. He has won Nirvana, but without entering it, for he is busily engaged for the emancipation of other sentient beings. • Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật bảo ngài A Nan: “Cùng tột đến chân như gọi là viễn hành địa.”—In the Surangama Sutra, book Eight, the Budha told Ananda: “Coming to the farthest limits of true suchness is called the ground of traveling far.” 8) Bất Động địa: Acala (skt)—The immovable land. • Bất Động Địa hay giai đoạn không chuyển động. Khi vị Bồ Tát đạt đến đây, Ngài trải qua 'vô sanh pháp nhẫn' (anutpattika-dharma-ksanti), tức là chấp nhận sự bất sanh của tất cả các hiện tượng. Nơi đây Ngài tri nhận sự tiến hóa và thoái hóa của vũ trụ. Trong giai doạn nầy, vị ấy đoạn trừ phân biệt, hiểu thấu suốt bản chất của hiện hữu, hiểu tại sao hiện hữu giống như huyễn ảo, vân vân, hiểu phân biệt xuất phát từ sự mong mỏi vốn có của chúng ta để được thấy từ sự hiện hữu phân chia chủ khách như thế nào, hiểu tâm và những gì thuộc về tâm bị khuấy động lên như thế nào; thế rồi vị ấy sẽ thực hiện hiện tất cả những gì gắn liền với đời sống của một Phật tử tốt, để từ đó giúp đưa đến con đường chân lý những ai chưa đến được. Đây là Niết Bàn vốn không phải là sự đoạn diệt của một vị Bồ Tát—The immovable land (the stage of immovability), or the ground of immovability. When the Bodhisattva reaches here, he experiences the anutpattika-dharma-ksanti or the acquiescence in the unoriginatedness of all phenomena. He knows in detail the evolution and involution of the universe. In this stage, he gets rid of discrimination and has a thorough understanding of the nature of existence, realizing why it is like maya, etc., how discrimination starts from our inmate longing to see existence divided into subject and object, and how the mind and what belongs to it are stirred up; he would then practice all that pertains to the life of a good Buddhist, leading to the path of truth all those who have not yet come to it. This is the Bodhisattvas' nirvana which is not extinction. • Trong giai đoạn nầy vị Bồ Tát thành tựu nguyện viên mãn và trụ trong vô tướng, mà du hành tự tại tùy cơ. Từ đây không có gì làm rối được sự thanh tịnh của Bồ tát. Trong giai đoạn nầy, Bồ Tát trụ vững vàng trong Trung Đạo, và đạt được khả năng truyền thụ những giá trị của mình cho người khác và từ chối tích trữ thêm nghiệp—In this stage, the Bodhisattva completes the perfection of vow (pranidhana) and abiding in the view of “No Characteristic” (alaksana), wanders freely according to any opportunity. In this stage, the Bodhisattva dwells firmly in the truth of the Middle Way; he reaches the stage of attainment of calm unperturbedness where he no longer be disturbed by anything. He gains the ability to transfer his merit to other beings and renounce the accumulation of further karmic treasures. • Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật bảo ngài A Nan: “Một tâm chân như gọi là bất động địa.”—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha told Ananda: “The single mind of true suchness is called the ground of immovability.” 9) Thiện Huệ địa: Sadhumati (skt)—The land of good thoughts, or the ground of good wisdom. • Trong giai đoạn nầy, Bồ Tát chứng ngộ tri thức bao quát mà trí huệ thông thường của nhân loại khó có thể hiểu được. Bồ Tát có thể biết được những dục vọng và tư tưởng của người khác, và có thể giáo dục họ tùy theo khả năng của mỗi người. Lúc nầy trí năng của Bồ Tát đạt tới toàn thiện, Bồ Tát nắm được mười sức mạnh (dashabala), sáu thần thông (Abhijna), bốn xác định (four certainties), tám giải thoát (eight liberations) và các Dharani. Lúc nầy Bồ Tát thông biết về các pháp và giảng dạy học thuyết không ngăn ngại, Bồ Tát cũng biết khi nào, tại đâu và làm thế nào cứu vớt chúng sanh. Trong giai đoạn nầy, Bồ Tát giảng pháp khắp nơi, đồng thời phán xét những người đáng cứu độ và những người không cứu độ được—In this stage, the Bodhisattva acquires comprehensive knowledge, unfathomable by ordinary human intelligence. He knows the desires and thoughts og men and is able to teach them according to their capacities. This is the stage of wisdom of the bodhisattva is complete (all-penetrating wisdom). In this stage he possesses the finest discriminatory wisdom, six supernatural powers, four certainties, eight liberations, all dharanis. He knows the nature of all dharmas and expound them without problems (without restriction). He also knows when, where and how to save other sentient beings. In this stage, the Bodhisattva preaches everywhere discriminating between those who are to be saved and those who are not. • Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật bảo ngài A Nan: “Phát khởi ra dụng của chân như mà tùy duyên ứng hóa thì gọi là thiện huệ địa. Ông A Nan! Đây các vị Bồ tát, từ địa vị nầy trở đi, công tu tập xong, công đức viên mãn, nên cũng gọi địa nầy là tu tập địa.”—According to the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha told Ananda: “Bringing forth the function of true suchness is called the ground of good wisdom. Ananda! All Bodhisattvas at this point and beyond have reached the effortless way in their cultivation. Their merit and virtue are perfected, and so all the previous positions are also called the level of cultivation.” 10) Pháp Vân địa: Dharmamegha (skt)—Land of dharma clouds, or the ground of the Dharma cloud. • Bồ Tát đã thực hiện mọi hiểu biết và phẩm chất vô hạn. Trong giai đoạn nầy, Bồ Tát thực hành hạnh nguyện cứu độ đồng đều hết thảy chúng sanh, giống như mưa rơi trên vạn hữu không phân biệt. Pháp thân Bồ tát đầy đủ. Phật quả vị của Bồ tát được chư Phật thọ ký. Trong giai đoạn nầy, Bồ Tát chứng ngộ được sự minh tưởng một cách viên mãn, biết được sự huyền bí của sự sinh tồn, và được tôn sùng là một bậc hoàn mỹ. Kỳ thật, đây là địa vị của Đức Phật biểu hiện nơi một Bồ Tát (đến đây Bồ Tát đã thành Phật). Trong giai đoạn nầy vị Bồ Tát có thể giảng pháp cho tất cả thế giới một cách bình đẳng như những đám mây tuôn xuống những cơn mưa lớn trong mùa đại hạn vậy—The stage of attaining to the fertilizing powers of the Law-cloud (the Cloud of Teaching). Bodhisattva has realized all understanding and immeasurable virtue. The dharmakaya of the bodhisattva is fully developed. In this stage, the Bodhisattva benefits all sentient beings with the Law just as a cloud sends down rain impartially on all things. His Buddhahood is confirmed by all Buddhas. In this he acquires perfection of contemplation, knows the mystery of existence, and is consecrated as perfect. In fact, this is the stage of the Buddha who is represented by such a Bodhisattva (he attains Buddhahood). In this stage, the Bodhisattva is able to preach the Dharma to all the world equally, just as the rainclouds pour down heavy rains during drought. • Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật bảo ngài A Nan: “Tiếng nói của đức từ bao dung, che chở như mây nhiệm mầu bao trùm bể Niết Bàn nên gọi là pháp vân địa.”—The with a wonderful cloud of compassionate protection one covers the sea of Nirvana. This is called the ground of the Dharma cloud.” (C) Thập Địa Thanh Văn: Mười địa vị của Thanh Văn Thừa—The ten stages for a hearer—Ten Sravaka stages: 1) Thọ Tam Quy địa: Trong giai đoạn nầy, hành giả bắt đầu bằng cách thọ tam quy ngũ giới—The stage of initiation as a disciple by taking (receiving) the three refuges in the Buddha, Dharma and Sangha and observing the basic five commandments. 2) Tín địa: Giai đoạn tin tưởng hay cội rễ tin tưởng—The stage of belief or faith-root. 3) Tín pháp địa: Giai đoạn tín thọ Tứ Thánh Đế—The stage of belief in the four noble truths. 4) Nội phàm phu địa: Giai đoạn tu tập ngũ đình tâm quán—The stage of an ordinary disciple who observe the five basic contemplations. 5) Học tín giải địa: Giai đoạn Văn Tư Tu—The stage of those who pursue the three studies (Listening, Reflecting, Cultivating). 6) Nhập Nhơn địa (Nhẫn địa): Giai đoạn thấy được chân lý—The stage of seeing the true way. 7) Tu Đà Hườn (Dự Lưu) địa: Giai đoạn Dự lưu hay Nhập lưu và chắc chắn được đạo quả Niết bàn—Srota-apanna—The stage of a definite stream-winner and assure Nirvana. 8) Tư Đà Hàm (Nhất Lai) địa: Sakrdagamin—Giai đoạn Nhứt Lai (chỉ còn tái sanh một lần nữa mà thôi)—The stage of only one more rebirth. 9) A Na Hàm (Bất Lai) địa: Giai đoạn Bất Lai (không còn tái sanh nữa)—The stage of no-return (no rebirth). 10) A La Hán địa: A La Hán quả—Arhatship—The stage of an arhat. (D) Thập Địa (Duyên Giác): Mười địa vị Duyên Giác Thừa—The ten stages of the pratyekabuddha: 1) Khổ Hạnh cụ túc địa: Giai đoạn tu hành khổ hạnh—The stage of perfect asceticism. 2) Tự giác thậm thâm thập nhị nhơn duyên địa: Giai đoạn tu tập và thông hiểu mười hai nhơn duyên—The stage of mastery of the twelve links of causation. 3) Giác Liễu Tứ Thánh đế địa: Giai đoạn tu tập Tứ Thánh đế—The stage of the four noble truths. 4) Thậm thâm Lợi trí địa: Giai đoạn trí huệ phát triển thâm hậu—The stage of deeper knowledge. 5) Bát Thánh Đạo địa: Giai đoạn tu tâp Bát Thánh đạo—The stage of the eightfold noble path. 6) Giác Liễu Pháp Giới (Tam Pháp Giới) địa: Giai đoạn liễu pháp trong tam giới—The stage of the three realms. 7) Chứng tịch Diệt địa: Giai đoạn Niết bàn—The stage of the nirvana. 8) Lục Thông địa: Giai đoạn đạt được lục thông—The stage of the six supernatural powers. 9) Triệt Hòa Mật địa: Giai đoạn đi đến trực giác—The stage of arrival at the intuitive state. 10) Tập Khí Tiệm Bạc địa: Giai đoạn chế ngự những ảnh hưởng còn lại của thói quen trong quá khứ—The stage of mastery of the remaining influences of former habits.
; (十地) Cũng gọi Thập trụ. Chỉ cho 10 địa vị. Địa, Phạm: Bhùmi. Hán dịch: Trú xứ, trụ trì, sinh thành. Tức trụ ở địa vị mình để duy trì pháp, nuôi dưỡng pháp khiến sinh ra quả. Trong các kinh luận nêu tên của Thập địa gồm 5 loại:I. Thập Địa Chung Cho Tam Thừa. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Đại phẩm bát nhã quyển 6, 17, vì Thập địa này chung cho cả Tam thừa, nên gọi là Tam thừa cộng thập địa, hoặc Cộng thập địa, Cộng địa. Tông Thiên thai gọi là Thông giáo thập địa. Trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 hạ và Ma ha chỉ quán quyển 6 thượng, ngài Trí khải giải thích ý nghĩa của Thập địa này như sau: 1. Can tuệ địa (Phạm: Zukla-vidar= zanà-bhùmi), cũng gọi Quá diệt tịnh địa, Tịch nhiên tạp kiến hiện nhập địa, Siêu tịnh quán địa, Kiến tịnh địa, Tịnh quán địa. Nghĩa là địa vị này chỉ có tuệ chứ chưa có định, tương đương với giai vị Tam hiền của Thanh văn và Giác vị của Bồ tát từ Sơ phát tâm cho đến trước khi được Thuận nhẫn. 2. Tính địa (Phạm: Gotra-bhùmi), cũng gọi Chủng tính địa, Chủng địa. Tức địa vị tương đương với giai vị Tứ thiện căn của Thanh văn và giai vị Thuận nhẫn của Bồ tát, tuy đắm trước thực tướng các pháp, nhưng không sinh tà kiến, đầy đủ trí tuệ và thiền định. 3. Bát nhân địa (Phạm: Awỉamakabhùmi), cũng gọi Đệ bát địa, Bát địa. Nhân nghĩa là nhẫn. Tương đương với 15 tâm kiến đạo của Thanh văn và vô sinh pháp nhẫn của Bồ tát. 4. Kiến địa (phạm: Durzana-bhùmi), cũng gọi Cụ kiến địa. Tương đương với quả Tu đà hoàn của Thanh văn và địa vị A bệ bạt trí(bất thoái chuyển) của Bồ tát. 5. Bạc địa (Phạm:Tanù-bhùmi), cũng gọi Nhu nhuyến địa, Vi dục địa. Tức giai vị đã đoạn trừ 1 phẩm trong 9 phẩm Tu hoặc (phiền não) ở cõi Dục, tức quả Tu đà hoàn hoặc Tư đà hàm. Cũng chỉ cho địa vị Bồ tát đã đoạn trừ các phiền não, nhưng vẫn còn các tập khí mỏng(bạc), tức địa vị từ A bệ bạt trí trở lên cho đến trước quả Phật.6. Li dục địa (Phạm:Vìta-ràga-bhùmi), cũng gọi Li tham địa, Diệt dâm nộ si địa. Tức giai vị Thanh văn đoạn hết phiền não cõi Dục được quả A na hàm và địa vị Bồ tát lìa dục được 5 thần thông. 7. Dĩ tác địa (Phạm:Kftàvì-bhùmi), cũng gọi Sở tác biện địa, Dĩ biện địa. Tức địa vị Thanh văn được tận trí, vô sinh trí chứng đắc A la hán quả, hoặc Bồ tát thành tựu Phật địa. 8. Bích chiphật địa: Duyên giác quán xét 12 nhân duyên mà thành đạo. 9. Bồ tát địa: Chỉ cho các địa vị từ Can tuệ địa cho đến Li dục địa đã nói ở trên, hoặc chỉ cho Hoan hỉ địa cho đến Pháp vân địa(từ Sơ phát tâm đến Kim cương tam muội) sẽ nói ở sau, tức địa vị Bồ tát từ Sơ phát tâm đến trước khi thành đạo. 10. Phật địa: Chỉ cho địa vị hoàn toàn đầy đủ các pháp của chư Phật như Nhất thiết chủng trí... Theo luận Đại trí độ quyển 75 thì hàng Bồ tát tam thừa cộng vị này, nương vào trí vô lậu đoạn trừ hết nghi hoặc mà khai ngộ; như ngọn đèn tâm được thắp lên không nhất định làởngọn lửa đầu tiên hay ngọn lửa sau cùng, sự đoạn hoặc của hàng Thập địa cũng thế, không cố định ở bất cứ 1 Địa nào, mà là mỗi địa đều đưa đến quả Phật, vì thế mà ví dụ Thập địa như việc đốt đèn. [X. phẩm Thập trụ trong kinh Quang tán bát nhã Q.7; phẩm Trị địa trong kinh Phóng quang bát nhã Q.4, phẩm Thậm thâm Q.13; phẩm Tu trị trong kinh Đại bát nhã Q.415]. II. Thập Địa Theo Kinh Hoa Nghiêm. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Hoa nghiêm quyển 23 (bản dịch cũ), kinh Hoa nghiêm quyển 34 (bản dịch mới), kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng và kinh Hợp bộ kim quang minh quyển 3. Đó là: 1. Hoan hỉ địa (Phạm: Pramuditàbhùmi), cũng gọi Cực hỉ địa, Hỉ địa, Duyệt dự địa. Tức địa vị rất vui mừng, vì mới thành bậc Thánh. 2. Li cấu địa (Phạm:Vimalà-bhùmi), cũng gọi Vô cấu địa, Tịnh địa. Tức địa vị thanh tịnh, lìa các cấu nhiễm, lìa tâm sai lầm, phá giới và phiền não. 3. Phát quang địa (Phạm:Prabhàkarìbhùmi); cũng gọi Minh địa, Hữu quang địa, Hưng quang địa. Tức địa vị phát ra ánh sáng nhờ tu thiền định, chân lí dần sáng tỏ. 4. Diệm tuệ địa (Phạm: Arciwmatìbhùmi), cũng gọi Diệm địa, Tăng diệu địa, Huy diệu địa. Tức địa vị tăng thêm ánh sáng nhờ lìa bỏ kiến giải phân biệt của 3 địa trên. 5. Nan thắng địa (Phạm: Sudurjayàbhùmi), cũng gọi Cực nan thắng địa. Tức địa vị đã được chính trí xuất thế gian, nương vào phương tiện tự tại mà cứu độ chúng sinh.6. Hiện tiền địa (Phạm: Abhimukhìbhùmi), cũng gọi Hiện tại địa, Mục kiến địa, Mục tiền địa. Địa vị sinh khởi đại trí nhờ nghe Bát nhã ba la mật. 7. Viễn hành địa (Phạm: Dùraôgamà-bhùmi), cũng gọi Thâm hành địa, Thâm nhập địa, Thâm viễn địa, Huyền diệu địa. Tức địa vị tu hành vô tướng, tâm xa lìa thế gian. 8. Bất động địa (Phạm:Acalà-bhùmi), cũng gọi Sắc tự tại địa, Quyết định địa, Vô hành vô khai phát vô tướng trụ, Tịch diệt tịnh địa. Tức địa vị tuyệt đối không bị phiền não làm lay động, nhờ không ngừng sinh khởi trí tuệ vô tướng. 9. Thiện tuệ địa (Phạm:Sàdhumatìbhùmi), cũng gọi Thiện tai ý địa, Thiện căn địa. Tức địa vị trí tuệ được tự tại, Bồ tát dùng sức vô ngại nói pháp, đầy đủ hạnh lợi tha. 10. Pháp vân địa (Phạm: Dharma= meghà-bhùmi), cũng gọi Tác vũ địa. Tức địa vị được đại pháp thân, có năng lực tự tại.Trong Thập nhị trụ của kinh Bồ tát địa trì quyển 9 thì Thập địa tương đương với Hoan hỉ trụ thứ 3 cho đến Tối thượng bồ táttrụthứ 12. Cũng trong kinh này quyển 10 có thuyết Thất địa thì Sơ địa tương đương với Tịnh tâm địa thứ 3, địa thứ 2 cho đến địa thứ 7 tương đương với Hành tích địa thứ 4, địa thứ 8 tương đương với Quyết định địa thứ 5, địa thứ 9 tương đương với Quyết định hành địa thứ 6, địa thứ 10 và Phật địa tương đương với Tất cánh địa thứ 7. Ngoài ra, có thuyết cho rằng Sơ địa tương đương với Kiến đạo (Thông đạt vị), Nhị địa trở lên tương đương với Tu đạo(Tu tập vị), hoặc Thất địa trở về trước là Hữu công dụng địa, Bát địa trở lên là Vô công dụng địa. Hoặc Sơ, Nhị và Tam địa là Tín nhẫn, Tứ, Ngũ và Lục địa là Thuận nhẫn, Thất Bát và Cửu địa là Vô sinh nhẫn, Thập địa là Tịch diệt nhẫn. Lại có thuyết cho rằng 5 địa trước là Vô tướng tu, địa 6, 7, là Vô tướng tu tịnh, địa thứ 8, 9 là Vô tướng tu quả, địa thứ 10 là Vô tướng tu quả thành. Hoặc Sơ địa là Nguyện tịnh, Nhị địa là Giới tịnh, Tam địa là Định tịnh, Tứ, Ngũ, Lục địa là Tăng thượng tuệ, Thất địa trở lên là Thượng thượng xuất sinh tịnh. Nếu gọi các giai vị dưới Thập địa là Tín địa thì Thập địa được gọi chung là Chứng địa. Lại nữa, mỗi địa trong Thập địa đều Còn đối với tông Hoa nghiêm thì trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 9, khi giải thích về Thập địa, cho rằng nói về căn bản thì Thập địa thuộc tính chất quả hải bất khả thuyết; nói theo nội dung giác chứng thì có Li cấu chân như; nói theo giác trí thì có Căn bản trí, Hậu đắc trí và Gia hạnh trí; nói theo quan điểm đoạn phiền nãothìlà xa lìa 2 chướng Phiền não và Sở tri; nói theo quan điểm tự tu hành thì có Tu nguyện hạnh cho đến Thụ vị hạnh; nói theo phương diện thành tựu sở tu thì Sơ địa tu hạnh Tín nhạo, Nhị địa tu hạnh Giới, Tam địa tu hạnh Định, Tứ địa trở lên tu hạnh Tuệ; nói theo quả vị tu hành thì có Chứng vị và A hàm vị; nói theo kí thừa của Thập địa thì Sơ, Nhị, Tam địa là Nhân thiên thừa, Tứ, Ngũ, Lục, Thất địa là Tam thừa, Bát địa trở lên là Nhất thừa, đây là dựa(gửi gắm= kí) vào giai vị để nêu rõ hạnh tu tương đương với 10 Ba la mật; nói theo kí báo của Thập địa thì bao gồm hết Thập vương, từ vua cõi Diêm phù đề cho đến vua cõi trời Ma hê thủ la, nhớ nghĩ Tam bảo, dắt dẫn chúng sinh... Trong tông Chân ngôn cũng có thuyết Thập địa, nhưng kinh Đại nhật chỉ nêu ra địa thứ 8 và địa thứ 10, kinh Kim cương đính cũng chỉ nói địa đầu tiên và địa thứ 10. Như vậy, tông Chân ngôn chỉ viện dẫn các kinh luận của Hiển giáo như Hoa nghiêm, Nhân vương... để thiết lập từng danh mục và nội dung của Thập địa. Thập địa của tông Chân ngôn được chia làm 2 nghĩa sâu, cạn. Về Thập địa theo nghĩa nông cạn thì cũng giống như Thập địa của Hiển giáo đã nói ở trên, còn Thập địa theo nghĩa sâu kín thì qui kết về thực nghĩa của Mật giáo, tức cho rằng giữa Sơ địa và Thập địa hoàn toàn không có cao thấp khác nhau, Sơ địa chính là cực quả, đó là vì Sơ địa có năng lực ngộ được cực quả. Từ Nhị địa trở lên có 3 tâm: Nhập, trụ, xuất; khi vào mà chưa an trụ là Nhập tâm, lúc dừng lâu ở Địa này là Trụ tâm, lúc gần vào địa kế tiếp là Xuất tâm. Luận thành duy thức quyển 9 cho rằng 10 địa này theo thứ tự tu tập 10 Ba la mật(Thập thắng hạnh): Thí, giới, nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã, phương tiện thiện xảo, nguyện, lực và trí, nhờ đó mỗi Địa đều trừ được 10 trọng chướng là Dị sinh tính chướng, Tà hành chướng, Ám độn chướng, Vi tế phiền não hiện hành chướng, Ư hạ thừa bát niết bàn chướng, Thô tướng hiện hành chướng, Tế tướng hiện hành chướng, Vô tướng trung tác gia hạnh chướng, Lợi tha môn trung bất dục hành chướng và Ư chư pháp trung vị đắc tự tại chướng; mỗi Địa đều chứng được 10 chân như là Biến hành chân như, Tối thắng chân như, Thắng lưu chân như, Vô nhiếp thụ chân như, Loại vô biệt chân như, Vô nhiễm tịnh chân như, Pháp vô biệt chân như, Bất tăng giảm chân như, Trí tự tại sở y chân như và Nghiệp tự tại đẳng sở y chân như. Nhờ chuyển 2 phiền não và sở tri chướng này mà chứng được quả Bồ đề, Niết bàn. Trong đó, hàng Bồ tát từ Sơ địa đến Thất địa, tâm hữu lậu và tâm vô lậu xen tạp lẫn nhau, cho nên có chia làm Phần đoạn sinh tử và Biến dịch sinh tử. Hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên chỉ có tâm vô lậu, vì thế là Biến dịch sinh tử. Tông Thiên thai cho rằng Biệt giáo, Viên giáo mỗi giáo đều có giai vị Thập địa, nhưng nói theo quan điểm hàng Bồ tát Sơ địa của Biệt giáo đoạn 1 phẩm Vô minh Thì trí chứng ngang bằng với Sơ trụ của Viên giáo, cho nên nói Sơ địaSơ trụ chứng đạo đồng viên. Do đó, hàng Bồ tát Biệt giáo từ Sơ địa trở lên đều có khả năng trở thành hành nhân của Viên giáo nhưng đây chỉ là mặt lí thuyết, chứ trên thực tế không có người nào tu thành, vì thế nói là Hữu giáo vô nhân địa trở lên thì theo thứ tự nêu bày tổng đức của Sơ địa, đồng thời giải thích rõ 2 nghĩa cạn, sâu. Vì để biểu trưng quả đức của Đại Nhật Như lai nên phối hợp 16 vị Đại Bồ tát thuộc Tứ Phật Tứ thân cận(tức 4 đức Phật mỗi vị có 4 Bồ tát thân cận) với Thập địa. Nếu lại hiểu theo 2 mặt Bản hữu (vốn có sẵn) và Tu sinh(do tu hành mới có) thì Thập địa thuộc Bản hữu vô cấu ngầm chỉ cho tâm bồ đề thanh tịnh vô hạn lượng vốn có sẵn của tất cả chúng sinh, vì thế giữa Thập địa không có cao thấp khác nhau; còn Thập địa thuộc Tu sinh hiển đắc là nương vào hạnh Tam mật để đoạn trừ 3 thứ vọng chấp mà hiển bày Thập địa sẵn có; bởi thế, muốn đến được quả Phật,còn phải đoạn một chướng. Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản cho rằng nếu hành giả đạt được tín tâm tha lực, tức dốc lòng tin vào năng lực cứu độ của Phật A di đà, thì chắc chắn được thành Phật, bấy giờ trong tâm tràn đầy niềm vui mừng, nên gọi là Hoan hỉ địa. Cứ theo luận Tịnh độ của ngài Thế thân, vì cứu độ chúng sinh nên Bồ tát thị hiện ra nhiều hình tướng, giai vị này gọi là Giáo hóa địa. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan cho rằng Giáo hóa địa là giai vị của hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên, Bồ tát sinh về Tịnh độ và thành Phật, lại nương vào tác dụng Hoàn tướng hồi hướng mà trở lại cõi mê để giáo hóa cứu độ chúng sinh. Vì chữ địa trong Giáo hóa địa có nghĩa là nơi chốn, tức là cõi mê, cho nên giáo hóa địa là nơi Bồ tát giáo hóa độ sinh. Ngoài ra, phẩm Hiền thánh giác quán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng có thuyết 42 Hiền thánh, trong đó, bậc Hiền thánh thứ 31 đến 40 tương đương với Thập địa. Đó là: 1. Cưu ma la già (Nghịch lưu hoan hỉ địa). 2. Tu a già nhất ba(Đạo lưu li cấu địa). 3. Tu na ca(Lưu chiếu minh địa). 4. Tu đà hoàn(Quán minh viêm địa). 5. Tư đà hàm(Độ chướng nan thắng địa). 6. A na hàm(Bạc lưu hiện tiền địa). 7. A la hán(Quá tam hữu viễn hành địa). 8. A ni la hán(Biến hóa sinh bất động địa).9. A na ha(Tuệ quang diệu thiện địa). 10. A ha la phất(Minh hành túc pháp vân địa). [X. kinh Bồ tát thập trụ; kinh Giải thâm mật Q.4; kinh Đại bảo tích Q.115; luận Đại tì bà sa Q.1; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.13]. (xt. Thập Địa Đoạn Chướng Chứng Chân, Nhân Phần Quả Phần, Bồ Tát Giai Vị). III. Thập Địa Của Thanh Văn. Chỉ cho giai vị tu hành của hàng Thanh văn, đó là: 1. Thụ tam qui địa (cũng gọi Tam qui hành vị): Giai vị vào Phật pháp, lãnh nhận và thực hành 3 pháp qui y. 2. Tín địa(cũng gọi Tùy tín hành địa): Hàng độn căn trong giai vị Tư lương thuộc Ngoại phàm. 3. Tín pháp địa(cũng gọi Tùy pháp hành địa): Tức chỉ cho hàng lợi căn trong giai vị Tư lương. 4. Nội phàm phu địa(cũng gọi Thiện phàm phu địa): Tức giai vị thuộc Gia hành tứ thiện căn của Nội phàm. 5. Học tín giới địa(cũng gọi Học giới địa): Chỉ cho bậc tin hiểu từ Kiến đạo trở lên.6. Bát nhân địa(cũng gọi Đệ bát nhân địa): Chỉ cho giai vị của 15 tâm kiến đạo, tức Tu đà hoàn hướng. 7. Tu đà hoàn địa: Chỉ cho Sơ quả. 8. Tư đà hàm địa: Chỉ cho Đệ nhị quả. 9. A na hàm địa: Chỉ cho Đệ tam quả. 10. A la hán: Tức Đệ tứ quả. [X. kinh Đại thừa đồng tính Q.hạ; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3, Thích Tịnh độ nhị tạng nghĩa Q.7]. IV. Thập Địa Bích Chi Phật. Cũng gọi Chiphật thập địa, Duyên giác thập địa, Độc giác thập địa. Chỉ cho 10 giai vị tu hành của Bích chi phật, đó là: 1. Tích hành cụ túc địa(cũng gọi Chúng thiện tư địa, Phương tiện cụ túc địa): Tức giai vị tu khổ hạnh trong 4 đời 100 kiếp ở quá khứ.2. Tự giác thậm thâm thập nhị nhân duyên địa(cũng gọi Tự giác thâm duyên khởi địa): Giai vị không nhờ thầy dạy mà tự biết lí 12 nhân duyên. 3. Giác liễu tứ thánh đế địa(cũng gọi Giác tứ thánh đế địa): Tức giai vị biết rõ lí của 4 Thánh đế. 4. Thậm thâm lợi trí địa (cũng gọi Thắng thâm lợi trí địa): Tức giai vị phát khởi trí sâu xa. 5. Bát thánh đạo địa(cũng gọi Bát thánh chi đạo địa): Tức giai vị tu 8 chính đạo. 6. Giác liễu pháp giới hư không giới chúng sinh giới địa(cũng gọi Tri pháp giới hư không giới chúng sinh giới địa, Giác liễu pháp giới đẳng địa): Tức giai vị biết rõ tướng của pháp giới hư không giới chúng sinh giới.7. Chứng tịch diệt địa(cũng gọi Chứng diệt địa): Tức giai vị chứng Niết bàn vắng lặng.8. Lục thông địa(cũng gọi Lục thông tính địa, Thông địa): Tức giai vị chứng được 6 thần thông lậu tận. 9. Triệt bí mật địa(cũng gọi Nhập vi diệu địa, Triệt vi mật địa): Tức giai vị thông suốt lí duyên khởi sâu kín. 10. Tập khí tiệm bạc địa(cũng gọi Tập khí bạc địa): Tức giai vị đoạn trừ tập khí dần dần đến chỗ nhỏ nhiệm mỏng manh. [X. Đại thừa đồng tín Q.hạ; kinh Chứng khế Đại thừa Q.hạ; luận Thập trụ tâm 5]. V. Thập Địa Của Phật. Tức chỉ cho 10 thứ công đức của Phật địa. Đó là: 1. Thậm thâm nan tri quảng minh trí đức địa: Cũng gọi Tối thắng thậm thâm nan thức tì phú la quang minh trí tác địa. 2. Thanh tịnh thân phân uy nghiêm bất tư nghị minh đức địa. 3. Thiện minh nguyệt chàng bảo tướng hải tạng địa: Cũng gọi Diệu quang minh nguyệt chàng bảo xí hải tạng địa. 4. Tinh diệu kim quang công đức thần thông trí đức địa: Cũng gọi Tịnh diệu kim quang công đức thần thông trí đức tác địa. 5. Hỏa luân uy tạng minh đức địa: Cũng gọi Quang minh vị trường uy tạng chiếu tác địa. 6. Hư không nội thanh tịnh vô cấu diệm quang khai tướng địa: Cũng gọi Không trung thắng tịnh vô cấu trì cự khai phu tác địa. 7. Quảng thắng pháp giới tạng minh giới địa: Cũng gọi Thắng quảng pháp giới tạng quang minh khởi địa. 8. Tối tịnh phổ giác trí tạng năng tịnh vô cấu biến vô ngại trí thông địa: Cũng gọi Tối thắng diệu tịnh Phật trí tạng quang minh biến chiếu thanh tịnh chư chướng trí thông địa. 9. Vô biên ức trang nghiêm hồi hướng năng chiếu minh địa: Cũng gọi Vô biên trang nghiêm câu chi nguyện Tì lô giá na quang tác địa. 10. Tì lô giá na trí hải tạng địa: Cũng gọi Trí hải bồi lô giá na địa. Kinh Đại thừa đồng tính quyển hạ (Đại 16, 649 trung) nói: Công đức Thập địa của Như lai không thể nghĩ bàn. Này Thiện trượng phu! Sơ địa của Phật, tất cả tập khí nhỏ nhiệm đã bị diệt hết, được tự tại với tất cả pháp. Đệ nhị địa, chuyển pháp luân nói pháp sâu xa. Đệ tam địa, giảng nói các giới của Thanh văn, nói rõ Tam thừa. Đệ từ địa, giảng nói 8 vạn 4 nghìn pháp môn, hàng phục 4 thứ ma. Đệ ngũ địa, như pháp hàng phục các ngoại đạo, hàng phục ngạo mạn và chúng số. Đệ lục địa, chỉ dạy vô lượng chúng sinh được 6 thần thông, hiển hiện 6 thứ đại thần thông. Nghĩa là hiện vô biên cõi Phật thanh tịnh công đức trang nghiêm, hiển hiện vô biên Bồ tát đại chúng vây quanh, hiển hiện vô biên cõi Phật rộng lớn, hiển hiện vô biên tự thể cõi Phật, hiển hiện vô biên hình tướng từ cõi trời Đâu suất xuống trần gian gá thai cho đến lúc pháp diệt trong các cõi Phật, thị hiện vô biên thứ thần thông. Đệ thất địa vì các Bồ tát giảng nói như thực 7 phần Bồ đề vô sở hữu, cũng vô sở trước. Đệ bát địa, trao cho tất cả Bồ tát 4 thứ thụ kí A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Đệ cửu địa, vì các Bồ tát hiện các phương tiện thiện xảo. Đệ thập địa, vì các Bồ tát giảng nói tất cả các pháp vô sở hữu, lại nói cho biết tất cả các pháp xưa nay vốn là đại Niết bàn vắng lặng. Thập địa của Thanh văn, Thập địa của Bích chiphật và thập địa của Phật nói trên đây đều có xuất xứ từ kinh Đại thừa đồng tính quyển hạ, hợp cả 3 với Thập địa của Bồ tát mà gọi chung là Tứ thừa Thập địa. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.6].
thập địa bồ tát
DaśabhŪmi bodhisattva (S) Tên một vị Bồ tát.
thập địa hổ lang
(十地虎狼) Chỉ cho hàng Bồ tát vẫn còn nỗi sợ hãi bị loài hùm sói ăn thịt. Từ ngữ này có xuất xứ từ phẩm Đà la ni tối tịnh địa trong kinh Hợp bộ kim quang minh quyển 3. Theo Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa quyển 2 hạ thì Viên giáo cho rằng tuy nhục thân của hàng Bồ tát có thể bước lên giai vị Thập địa, vì đã phá được phiền não và không có nghiệp báo địa ngục, nhưng vẫn còn nhục thân do tiền nghiệp chiêu cảm nên không tránh khỏi nỗi lo sợ bị hùm sói ăn thịt. Các giáo khác thì chủ trương nhục thân trong 1 đời không thể bước lên Thập địa, cho nên hổ lang được hiểu là phiền não.
Thập địa kinh
十地經; S: daśabhūmika, daśabhūmīśvara;|Một phần độc lập của Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) do Bồ Tát Kim Cương Tạng (s: vajra-garbha) trình bày với Ðức Phật về các giai đoạn tu chứng. Một bài luận quan trọng của Thế Thân (s: vasubandhu) về Thập địa được Bồ-đề Lưu-chi (bodhiruci) dịch ra chữ Hán, đã trở thành kinh sách cơ bản của Ðịa luận tông, một tông phái cổ của Phật giáo Trung Quốc.
thập địa kinh luận
DaśabhŪmika sŪtra śāstra (S) Tên một bộ luận kinh do ngài Thế Thân biên soạn.
; (十地經論) Gọi tắt: Thập địa luận. Luận, 12 quyển, do bồ tát Thế thân soạn, các ngài Bồ đề lưu chi và Lặc na ma đề dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 26. Đây là sách chú thích kinh Thập địa (biệt dịch phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm). Nội dung giải thích về các giai vị tu hành của Bồ tát, cho rằng 10 Địa dung nhiếp tất cả thiện pháp, trong đó, 3 Địa đầu nói về thiện pháp thế gian; 4 Địa kế tiếp nói về tướng trạng tu hành của Tam thừa; 3 Địa cuối thì nói về giáo pháp Nhất thừa.Luận này là sách y cứ quan trọng của học phái Địa luận ở thời đại Lục triều, đến đời Tùy, ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh soạn Thập địa nghĩa kí 14 quyển (hiện nay chỉ còn 8 quyển) tập đại thành học phái này.
thập địa kinh luận nghĩa kí
(十地經論義記) Cũng gọi Thập địa nghĩa kí, Thập địa luận sớ. Luận sớ, 14 quyển (nay còn 8 quyển), do ngài Tuệ viễn soạn vào đời Tùy, được thu vào Vạn tục tạng tập 71. Đây là tác phẩm chú thích Thập địa kinh luận của bồ tát Thế thân. Nội dung trước hết nói rõ nhiều lần về tâm, ý, thức trong Thập địa kinh luận và dùng từ ngữ A lê da thức để thuyết minh. Cho rằng thức A lê da khác với tâm, ý, thức, thức A lê da là chân, tâm, ý, thức là vọng; nhưng nếu không dùng thức A lê da làm thức thứ 8 thì không thể dùng 8 thức của A lại da duyên khởi để so sánh trực tiếp với Chân như duyên khởi. Ngài Tuệ viễn dùng tâm ý thức(vọng thức) phối hợp với 7 thức trước, hợp chung chân thức thứ 8 và 7 vọng thức trước mà thành Chân như duyên khởi luận. Nghĩa Lục tướng viên dung của tông Hoa nghiêm tuy cũng y cứ vào Thập địa kinh luận của bồ tát Thế thân, nhưng thực tế thì đã y theo sự giải thích của ngài Tuệ viễn.Về các sách chú thích tác phẩm này thì có: Thập địa kinh luận nghĩa kí sao xuất, 2 quyển, Thập địa nghĩa kí tâm ý thức khảo lược, 1 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.8; Đông vực truyền đăng mục lục].
Thập địa kinh luận 十地經論
[ja] ジュウジキョウロン Jūjikyō ron ||| (Daśabhūmikasūtra-śāstra; Dasabhūmikabhāsya); 12 fasc.; T 1522.26.123b-203b. Written by Vasubandhu 世親, translated into Chinese by Bodhiruci 菩提流支 and others in the sixth century; also called the Shidilun 十地論 and Dilun 地論. An extensive explanation of the gist of the "Ten Stages" chapter of the Huayan jing 華嚴經 which covers many topics, such as the eight consciousnesses, ignorance, the three bodies 三身 of the Buddha, the three cumulative rules of discipline, the cause and effect aspects of Buddhahood, etc. The Chinese Di Lun school [地論宗] was established solely on this treatise, and the Huayan 華嚴宗 school used it to explain many of its teachings. => (s: Daśabhūmikasūtra-śāstra; Dasabhūmikabhāsya); 12 quyển.Thế Thân trứ tác, Bồ-đề Lưu-chi và nhiều người khác dịch vào thế kỷ thứ 6; còn được gọi là Thập địa luận 十地論 c: Shidilun và Địa luận 地論 c: Dilun. Là bản giải thích rộng về điểm chính của chương 'Thập địa' trong kinh Hoa Nghiêm, bao gồm nhiều vấn đề, như tám thức, vô minh, tam thân Phật, tam tụ tịnh giới, nhân quả của Phật tính...Địa luận tông của Trung Hoa được lập chỉ căn cứ trên luận nầy, và tông Hoa Nghiêm dùng luận nầy để giải thích nhiều giáo lý trong kinh.
Thập địa kinh 十地經
[ja] ジュウジキョウ Jūjikyō ||| The Daśabhūmika-sūtra. The full Chinese title is Foshuo shidi jing. 佛説十地経; 9 fasc. T 287.10.535a-573. Trans. Śīladharma 尸羅達摩 and Dharmarakṣa 竺法護. A chapter of the Hua-yen sūtra 華嚴經 which became so popular that it was translated into Chinese and circulated as a separate sutra. It gives an in-depth explanation of the ten stages (bhūmi) of the bodhisattva's progress. See also T 278, 279, 285, 286. => s: Daśabhūmika-sūtra. Tên gọi tiếng Hán đầy đủ là Phật thuyết Thập địa kinh 佛説十地経 c:Foshuo shidi jing; 9 quyển. Thi-la Đạt ma 尸羅達摩 Śīladharma và Trúc pháp hộ 竺法護 Dharmarakṣa dịch. Là một chương trong kinh Hoa Nghiêm, rất thông dụng nên được dịch sang tiếng Hán và lưu truyền như một bán kinh riêng. Nội dung kinh giải thích sâu vào Thập địa (s:bhūmi) của tiến trình tu Bồ-tát đạo. .
thập địa kí báo
(十地寄報) Chỉ cho các Bồ tát Thập địa nhờ vào quả báo vãng sinh làm các vị Thiên vương để giữ gìn chính pháp và tu hành Phật sự. Đó là: 1. Sơ địa vãng sinh làm vua cõi Diêm phù đề, giàu sang tự tại, thường hộ trì chính pháp. 2. Nhị địa vãng sinh làm Chuyển luân thánh vương, được pháp lực rộng lớn, thành tựu 7 báu, có sức tự tại. 3. Tam địa vãng sinh làm vua cõi trời Đao lợi, trí tuệ nhạy bén, thường dùng phương tiện chuyển hóa các chúng sinh, khiến lìa dâm dục. 4. Tứ địa vãng sinh làm vua cõi trời Dạ ma, giáo hóa chúng sinh, khiến phá trừ tâm chấp ngã. 5. Ngũ địavãng sinh làm vua cõi trời Đâu suất, hàng phục tất cả ngoại đạo. 6. Lục địa vãng sinh làm vua cõi trời Thiện hóa tự tại, phá dẹp tất cả kẻ tăng thượng mạn. 7. Thất địa vãng sinh làm vua cõi trời Tha hóa tự tại, các căn nhạy bén, có khả năng làm nhân duyên ngộ đạo cho chúng sinh.8. Bát địa vãng sinh làm vua cõi trời Đại phạm thuộc Đệ nhị thiền, vì các chúng sinh, Thanh văn, Bích chiphật... khéo léo giảng nói đạo Ba la mật. 9. Cửu địa vãng sinh làm vua cõi trời Đại phạm thuộc Đệ tam thiền, thống lãnh 3 nghìn thế giới đại thiên không ai hơn được, hiểu nghĩa chân thực, được tự tại giữa tự tại. 10. Thập địa vãng sinh làm vua cõi trời Ma hê thủ la, trí tuệ sáng suốt, khéo vì Thanh văn, Bích chi phật giảng nói các hạnh Ba la mật của Bồ tát. Quả báo Thập vương này của các Bồ tát Thập địa được gọi là Thập vương hoa báo. Lại vì Thập địa có thể cảm được hoa báo này, nên cũng gọi là Thập địa chứng vương. [X. kinh Hoa nghiêm Q.23-27 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.11].
thập địa kí thừa
(十地寄乘) Thập địa được kí thác vào các thừa. Nghĩa là tông Hoa nghiêm đem các giai vị Thập địa kí thác vào Nhân thiên thừa thế gian, Tam thừa xuất thế gian và Nhất thừa thế xuất thế gian để phân biệt sự sâu, cạn của pháp môn. Đó là: 1. Hoan hỉ địa kí thác vào nhân thừa: Bồ tát Sơ địa tu hạnh bố thí, thị hiện sinh vào thế gian, làm vua cõi người. 2. Li cấu địa kí thác vào Thiên thừa cõi Dục: Nhị địa Bồ tát tu hành Thập thiện, thị hiện sinh trong các tầng trời cõi Dục, làm vua cõi trời. 3. Phát quang địa kí thác vào Thiên thừa cõi Sắc, cõi Vô sắc: Bồ tát Tam địa tu hành 8 thiền định, giống với 4 thiền cõi Sắc và 4 Không xứ cõi Vô sắc. 4. Diệm tuệ địa kí thác vào thừa Tu đà hoàn: Bồ tát Tứ địa bắt đầu đoạn trừ câu sinh thân kiến, quán xét đạo phẩm, giống với Sơ quả Tu đà hoàn. 5. Nan thắng địa kí thác vào thừa A la hán: Bồ tát Ngũ địa đã quán xét các hạnh Tứ đế xong, giống với Tứ quả A la hán. 6. Hiện tiền địa kí thác vào thừa Duyên giác: Bồ tát Lục địa quán xét lí 12 nhân duyên sinh diệt, giống với Duyên giác.7. Viễn hành địa kí thác vào thừa Bồ tát: Bồ tát Thất địa tu hành pháp Bồ đề phần, phương tiện đi vào 3 cõi hóa độ chúng sinh, giống với Bồ tát. 8. Bất động địa kí thác vào Nhất thừa: Bồ tát bát địa xả bỏ hạnh đã tu, khế hợp thực lí, lìa tướng, lìa lời nói, siêu việt thế gian, xuất thế gian, là pháp Nhất thừa. 9. Thiện tuệ địa kí thác vào Nhất thừa: Bồ tát Cửu địa dùng vô lượng trí tuệ quán xét vô biên cảnh giới, thuyết pháp giáo hóa chúng sinh, siêu việt thế gian, xuất thế gian, là pháp Nhất thừa. 10. Pháp vân địa kí thác vào Nhất thừa: Bồ tát Thập địa dùng pháp thân làm mây, che cho khắp cả chúng sinh, quán thấy rõ ràng, ý nghiệp tự tại, siêu việt thế gian, xuất thế gian, là pháp Nhất thừa. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.9; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. (xt. Thập Địa).
thập địa luận
DaśabhŪmi śāstra (S), Jujiron (J) Thập trụ luận Kinh căn bản của phái Địa Luận tông giảng về 10 địa vị tu chứng Xem Dasabhumi Sastra.
Thập địa luận 十地論
[ja] ジュウチロン Jūji ron ||| Daśabhūmikasūtra-śāstra; Dasabhūmikabhāsya; T 1522.26.123b-203b. See 十地經論 (T 1522.26.123b-203b). => s: Daśabhūmikasūtra-śāstra; Dasabhūmikabhāsya; Xem Thập địa kinh luận 十地經論.
Thập địa nghĩa ký 十地義記
[ja] ジュウジギキ Jūchi gi ki ||| Shidi yiji; 1 fasc., T 2758.85.236a-239c. => c: Shidi yiji; 1quyển.
thập địa nguyện hành
(十地願行) Chỉ cho 10 hạnh Ba la mật mà Bồ tát Thập địa tu tập. Khi tu tập các hạnh Ba la mật đa này, phải phát đầy đủ 4 thệ nguyện rộng lớn, cho nên gọi là Nguyện hạnh. (xt. Thập Ba La Mật).
thập địa phẩm
DaśabhŪmīsvara (S) Một bộ trong Hoa Nghiêm bộ.
; (十地品) Chỉ cho tên phẩm của kinh Hoa nghiêm. Tức phẩm thứ 22 (từ quyển 23 đến quyển 27) của kinh Hoa nghiêm (loại 60 quyển, bản dịch cũ), hay là phẩm thứ 26 (quyển 34 đến quyển 39) của kinh Hoa nghiêm (loại 80 quyển, bản dịch mới). Nội dung của phẩm này nói về pháp tu của hàng bồ tát Thập địa, do đức Phật tuyên giảng trong hội tòa thứ 6(cõi trời Tha hóa tự tại).
thập địa phế lập
(十地廢立) Sự phế bỏ và lập nên của Thập địa. Tông Chân ngôn chia Thập địa làm 2 môn Phế và Lập, đó là: 1. Phế môn: Ngoài 3 kiếp, không lập Thập địa, dùng 3 kiếp để đoạn 3 vọng chấp mà đạt đến Thập địa rốt ráo. Đây là thuyết của Bí tạng kí. 2. Lập môn: Phẩm Nhập mạn đồ la cụ duyên chân ngôn trong Đại nhật kinh sớ quyển 3 cho rằng trên 3 kiếp lập Thập địa và dùng Thập địa này để khai phát giai vị Kim cương bảo tạng.
thập địa tâm
Ten stages of mind, or mental development, i.e. (1) tứ vô lượng tâm, the four kinds of boundless mind; (2) thập thiện tâm, the mind of the ten good qualities; (3) minh quang tâm, the illuminated mind; (4) diệm tuệ tâm, the mind of glowing wisdom; (5) đại thắng tâm, the mind of mastery; (6) hiện tiền tâm the mind of the open way (above normal definitions); (7) vô sinh tâm, the mind of no rebirth;; (8) bất tư nghị tâm, the mind of the inexpressible; (9) tuệ quang tâm, the mind of wisdom-radiance; (10) thụ vị tâm, the mind of perfect receptivity.
; (十地心) Chỉ cho tên gọi khác của Thập địa, có xuất xứ từ kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng. Đó là: Tứ vô lượng tâm, Thập thiện tâm, Minh quang tâm, Diệm tuệ tâm, Đại thắng tâm, Hiện tiền tâm, Vô sinh tâm, Bất tư nghị tâm, Tuệ quang tâm và Thụ vị tâm.
thập địa tì bà sa luận
Dasbhùmivibhàsa-sàstra (S). Treatise on the Explanation of the ten bhùmi (grounds, stages)
thập địa đoạn chướng chứng chân
(十地斷障證真) Chỉ cho sự đoạn trừ hoặc chướng và chứng đắc chân như của 10 địa Bồ tát. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 31 thì sự đoạn chướng, chứng chân của Thập địa đều khác nhau, đó là: 1. Hoan hỉ địa đoạn chướng chứng chân: Bồ tát tu hạnh thí xả, không tham tiếc thân mình và của cải, do nhân cảm quả, chứng được Sơ địa, tâm sinh hoan hỉ, liền đoạn trừ sự chướng ngại về dị sinh tính (tính phàm phu), chứng được Biến hành chân như; chân như này do nhân không và pháp không hiển bày có mặt khắp trong hết thảy các pháp. 2. Li cấu địa đoạn chướng chứng chân: Bồ tát tu nghiệp Thập thiện, xa lìa dục nhiễm, xả niệm thanh tịnh, tức dứt trừ sự chướng ngại về tà hạnh, chứng được Tối thắng chân như; chân như này đầy đủ vô biên công đức, thù thắng nhất trong các pháp. 3. Phát quang địa đoạn chướng chứng chân: Bồ tát gia công dụng hạnh, phát khởi tâm rộng lớn, như pháp tu hành, trí tuệ phát sáng liền đoạn trừ sự chướng ngại về ám độn, chứng được Thắng lưu chân như; chân như này lưu xuất ra giáo pháp thù thắng nhất. 4. Diệm tuệ địa đoạn chướng chứng chân: Bồ tát tu đầy đủ 37 phẩm đạo pháp,phát khởi ngọn lửa trí tuệ, liền đoạn trừsự chướng ngại của các phiền não nhỏ nhiệm hiện hành, chứng được Nhiếp thụ chân như, chứng được chân như này thì không còn bị hệ thuộc. 5. Nan thắng địa đoạn chướng chứng chân: Bồ tát tu tập gia hạnh bình đẳng, ngộ được trí vô sai biệt đối với chân đế và tục đế, không có ai hơn được, liền đoạn trừ sự chướng ngại về niết bàn của Thanh văn thừa và Duyên giác thừa mà chứng được Loại vô sai biệt chân như(tức sinh tử và niết bàn bình đẳng, không sai khác). 6. Hiện tiền địa đoạn chướng chứng chân: Bồ tát tu hạnh bình đẳng lợi sinh, trí tuệ hiện tiền, liền đoạn trừ sự chướng ngại của thô tướng(trong 4 đế, chấp khổ và tập là nhiễm, chấp diệt và đạo là tịnh) hiện trước, chứng được Vô nhiễm tịnh chân như. 7. Viễn hành địa đoạn chướng chứng chân: Bồ tát tu tất cả pháp Bồ đề phần, ngộ được Không, Vô tướng, Vô nguyện tam muội, liền đoạn trừ sự chướng ngại tế tướng (chấp tất cả pháp duyên sinh và chấp vô tướng) hiện hành, chứng được Pháp vô biệt chân như(biết rõ các pháp đều cùng một chân như, không có tướng sai khác). 8. Bất động địa đoạn chướng chứng chân: Bồ tát tu hành đạo thanh tịnh, lìa tâm ý thức, được Vô sinh pháp nhẫn, tất cả phiền não đều không làm lay động được, liền đoạn trừ chướng ngại về gia hạnh trong vô tướng(Vô tướng chỉ cho địa thứ 7), chứng được Bất tăng giảm chân như; chân như này không tùy thuộc vào tịnh nhiễm mà có tăng giảm. 9. Thiện tuệ địa đoạn chướng chứng chân: Bồ tát dùng vô lượng trí quán xét cảnh giới chúng sinh, đều biết đúng như thực, được trí tuệ vô ngại, nói tất cả các pháp khiến đều được lợi ích, liền đoạn trừ sự chướng ngại không muốn hóa độ người khác, chứng được trí Tự tại chân như; chứng chân như này thì tự tại đối với Tứ vô ngại trí. 10. Pháp vân địa đoạn chướng chứng chân: Bồ tát dùng vô lượng trí tuệ, quán sát, biết rõ, Tam muội hiện tiền, ngộ được đại pháp, dùng pháp thân làm mây, che rợp khắp tất cả chúng sinh, đầy đủ tự tại, liền đoạn trừ chướng ngại không được tự tại trong các pháp, chứng được Nghiệp tự tại chân như(giải thoát khỏi tất cả hoặc nghiệp mà tương ứng với chân như).
Thập địa 十地
[ja] ジュウジ jūji ||| (daśabhūmi) The 'ten stages.' Bhūmi means "stage" and the ten bhūmis are the forty-first through the fiftieth stages in the path of the bodhisattva, which are designated as one through ten. In various Mahāyāna texts, each of the stages is associated with the subjugation or elimination of a certain type of obstruction to enlightenment. The ten are: 1. 歡喜地 huanxidi - The 'stage of joy.' (pramuditā) The stage where the wisdom of the middle path is first produced to benefit self and others, and where there is great happiness. 2. 離垢地 - ligoudi - 'freedom from defilement.' (vimalā) Dwelling in the principle of the middle path, to be able to enter the dust of the world of sentient beings, yet remain detached. 3. 發光地faguangdi - the 'stage of emission of light.' (prabhākarī) The stage of following the buddha-path and emitting the clear light of wisdom. 4. 焰慧地 yanhuidi - The 'stage of glowing wisdom.' (arcismatī) The stage of the light of wisdom burning bright according to its clear cognition of the unborn nature of all existence. 5. 難勝地 nanshengdi - The 'stage of overcoming the difficult.' (sudurjayā) The stage of overcoming the prior stage by emptying all ignorance. 6. 現前地 xianqiandi - The 'stage of manifestation of reality.' (abhimukhī) The stage where the practitioner is facing reality. The stage of manifestation of the aspect that in contemplating the dharma, nirvana and samsāra are not two. 7. 遠行地 yuanxingdi - the 'stage of far-reaching.' (dūramgamā) The stage of attaining the middle way and advancing to a higher realm with every thought. 8. 不動地 budongdi - The 'immovable stage.' (acalā) The stage of abiding peacefully in the wisdom of (no aspects) of the middle path without change. 9. 善慧地 shanhuidi - The 'stage of wondrous wisdom.' (sādhumatī) The stage of using the skill of wisdom contemplation to enter the path of clear cognition regarding the unborn nature of all existence. 10. 法雲地 fayundi - the 'stage of the dharma-cloud.' (dharma-megha) The stage of attaining the level of buddhahood, and covering the dharma-world with wisdom and compassion like a great cloud. In the doctrine of the Faxiang 法相 school, the stage of 'equal enlightenment' (等覺) is included here, being considered as within the limits of bodhisattva practice. => (s: daśabhūmi) Địa, s:bhūmi, có nghĩa là giai vị, và Thập địa là giai vị thứ 41 đến giai vị thứ 50 trong quá trình tu đạo Bồ-tát, được đặt tên từ 1đến 10. Trong nhiều kinh văn Đại thừa, mỗi địa gắn liền với sự chinh phục hoặc giải trừ một thứ chướng ngại để đạt được giải thoát. Đó là: 1. Hoan hỷ địa 歡喜地 c: huanxidi; s: pramuditā: trí tuệ trung đạo phát khởi đầu tiên để làm lợi ích cho mình và cho người khác. 2. Ly cấu địa 離垢地 c: ligoudi; s: vimalā: an trú trong đạo lý trung đạo, có thể đi vào thế giới trần lao của chúng sinh mà không dính mắc. 3. Phát quang địa 發光地 c: faguangdi; s:prabhākarī: đi vào Phật đạo và phát ra ánh sáng trí tuệ. 4. Diệm huệ địa 焰慧地 c: yanhuidi; s:arcismatī: ánh sáng trí tuệphát sáng tương ứng nhận thức rõ ràng về bản tính vô sinh của các pháp. 5. Nan thắng địa 難勝地c: nanshengdi; s: sudurjayā: vượt qua giai vị trước bằng cách làm trống không mọi vô minh. 6. Hiện tiền địa 現前地 c: xianqiandi; s: abhimukhī: hành giả tiếp xúc với thực tại. giai vị biểu hịên sự quán chiếu các pháp, niết bàn và luân hồi là không hai. 7. Viễn hành địa 遠行地 c: yuanxingdi; s: dūramgamā: chứng đạt được trung đạo, tiến lên cảnh giới cao hơn trong mọi tâm niệm. 8. Bất động địa 不動地 c: budongdi ; s: acalā: an trú trong trí tuệ trung đạo không biến đổi. 9. Thiện huệ địa 善慧地 c: shanhuidi ; s: sādhumatī: đem trí tuệ quán chiếu vi diệu thể nhập con đường nhận thức sáng suốt thể tính vô sinh của các pháp giới. 10. Pháp vân địa法雲地c: fayundi ; s: dharma-megha: chứng được quả vị Phật, bao trùm pháp giới bằng trí tuệ và lònh từ bi như một đám mây lớn. Theo giáo lý Pháp tướng tông, giai vị Đẳng giác là ở đây, xem đây như là giới hạn của tiến trình tu đạo Bồ-tát.
thập định
See Thập Tam Muội.
; (十定) Cũng gọi Thập đại tam muội, Thập tam muội. Thập(số 10) biểu thị sự tròn đầy của số; Đại tam muội biểu thị thiền định hạnh nguyện viên mãn gọi là Pháp giới định. Tức nói về thiền định sâu xa, diệu dụng vô tận của bồ tát Phổ hiền. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch mới) thì đức Như lai bảo bồ tát Phổ hiền vì bồ tát Phổ nhãn và các chúng Bồ tát hiện diện trong Pháp hội nói cho các vị ấy nghe 10 môn Tam muội để giúp họ thiện nhập và thành tựu tất cả hạnh nguyện Phổ hiền. Đó là: 1. Phổ quang đại tam muội: Nghiệp dụng của thân tâm tràn khắp, bao trùm tất cả gọi là Phổ, trí chiếu tự tại gọi là Quang. 2. Diệu quang đại tam muội: Lực dụng thù thắng ánh hiện giao nhau, gọi là Diệu; trí thân chiếu khắp gọi là Quang. 3. Thứ đệ biến vãng chư Phật quốc độ thần thông đại tam muội: Đến khắp các cõi nước ở 10 phương mà nhập định, gọi là Biến vãng; đi đến không tạp loạn, phân minh rõ ràng, gọi là Thứ đệ; khởi lên lực dụng gọi là Thần thông. Vì trí dụng như lí vốn tự trùm khắp. 4. Thanh tịnh thâm tâm hành đại tam muội: Thấu suốt các pháp vốn tự thanh tịnh, lìa mọi nhớ tưởng, thâm tâm khế hợp với lí, nương vào đó mà khởi dụng, cúng dường hết thảy chư Phật, cung thỉnh thuyết pháp, gọi là Hành. 5. Tri quá khứ trang nghiêm đại tam muội(cũng gọi Quá khứ thanh tịnh tạng): Phật đã trải qua các việc như kiếp(thời gian) và sát(không gian) gọi là trang nghiêm; trong quá khứ bao hàm các việc trang nghiêm vô tận này, gọi là Tạng. Nhập định thường nhập kiếp số, 1 niệm cũng không duyên theo; xuất định thường thụ pháp, tam luân(3 nghiệp thân, khẩu, ý của Phật) không đắm trước, đều gọi là Thanh tịnh. Tức biết rõ thứ tự xuất hiện, số kiếp, cõi nước, độ sinh và thọ mệnh của chư Phật quá khứ. 6. Trí quang minh tạng tam muội: Trong tạng vị lai bao hàm chư Phật và Phật pháp, gọi là Tạng; trí tuệ chiếu suốt gọi là Quang minh. Tức biết rõ chư Phật đã nói pháp và chưa nói pháp trong kiếp vị lai. 7. Liễu tri nhất thiết thế giới Phật trang nghiêm đại tam muội: Tác dụng của chư Phật hiện tại và thân tướng của chúng hội làm lợi ích chúng sinh, gọi là Trang nghiêm; trùm khắp 10 phương nên gọi là Nhất thiết. Tức có năng lực đi vào khắp các thế giới trong 10 phương để thấy sự giáo hóa trang nghiêm của tất cả chư Phật. 8. Chúng sinh sai biệt thân tam muội: Ở trong và ngoài thân chúng sinh sai biệt, nhập định, xuất định đều tự tại, tuy thông 3 thứ thế gian, nhưng theo số nhiều mà gọi là chúng sinh, các định trước sau đều gọi theo số nhiều. 9. Pháp giới tự tại đại tam muội: Đối với 18 giới(6 căn, 6 cảnh, 6 thức) tự tại ra vào, lại biết ngằn mé của sự pháp giới và lí pháp giới tự tại vô ngại. 10. Vô ngại luân đại tam muội: Ba luân(thân, khẩu, ý) nhiếp hóa đều tự tại, lại được 10 vô ngại của quả Phật viên mãn, cho nên vô tận đại dụng mỗi mỗi đều vô ngại, đều viên mãn và đều có thể hàng phục tất cả, vì thế không có mé trước sau. Tức trụ nơi cõi Phật 3 nghiệp (tam luân) vô ngại, thành tựu việc giáo hóa chúng sinh quay bánh xe pháp thanh tịnh, tiếp nối hạt giốngchư Phật. [X. Hoa nghiêm kinh hợp luận Q.68; Hoa nghiêm kinh sớ Q.45; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.73; Đại tạng pháp số Q.58].
thập đối
(十對) Chỉ cho 10 nghĩa đối nhau tóm thu tất cả pháp nghĩa do ngài Pháp tạng qui nạp từ nghĩa Sự pháp giới trong kinh Hoa nghiêm mà lập thành. Đó là: 1. Giáo nghĩa nhất đối: Giáo chỉ cho ngôn giáo năng thuyên; Nghĩa chỉ cho nghĩa lí sở thuyên. 2. Lí sự nhất đối: Lí chỉ cho lí thể thường hằng bất biến; Sự chỉ cho sự tượng duyên khởi biến thiên. 3. Cảnh trí nhất đối: Cảnh chỉ cho diệu cảnh chân tục sở quán; Trí chỉ cho đại trí Phổ hiền năng quán. 4. Hành vị nhất đối: Hành chỉ cho việc tu hành thực tiễn; Vị chỉ cho các giai vị tiến tới nhờ tu hành mà được. 5. Nhân quả nhất đối: Nhân chỉ cho sự tu hành trước quả Phật; Quả chỉ cho việc đạt đến cảnh giới của quả Phật. 6.Y chính nhất đối: Y chỉ cho y báo, tức cõi nước mà hữu tình cư trụ; chính chỉ cho chính báo, tức Phật, Bồ tát và tất cả mọi loài chúng sinh nương ở trong các cõi nước y báo. 7. Thể dụng nhất đối: Thể chỉ cho thể tính bất biến; Dụng chỉ cho hóa dụng tùy duyên. 8. Nhân pháp nhất đối: Nhân chỉ cho chủ thể năng tri năng quán; Pháp chỉ cho khách thể sở tri sở quán. Nghĩa là Phật và Bồ tát thầy trò nói rõ các pháp môn hải trong pháp giới. 9. Nghịch thuận nhất đối: Nghịch chỉ cho tác dụng trái ngược với bản tính, tức nghịch pháp giáo hóa; Thuận chỉ cho tác dụng thuận theo bản tính, tức thuận pháp giáo hóa. 10. Ứng cảm nhất đối: Ứng chỉ cho sự ứng hóa tùy theo các căn cơ khác nhau; Cảm chỉ cho chúng sinh đương cơ cảm được lí ứng. Nghĩa là cơ cảm của chúng sinh có nhiều mối nên Thánh ứng thị hiện cũng vô biên.
thập độ
The ten pàramitàs or virtues. Xem thập ba la mật.
; (十土) Mười cõi nước được lập ra tùy theo thắng đức chân như của mỗi Địa mà Bồ tát Thập địa chứng được. Đó là: Biến hành độ, Tối thắng độ, Thắng lưu độ, Vô nhiếp thụ độ, Loại vô biệt độ, Vô nhiễm tịnh độ, Pháp vô biệt độ, Bất tăng giảm độ, Trí tự tại độ và Nghiệp tự tại độ. [X. Đại pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần cuối]. (xt. Chân Như).
thập độ ba la mật
The ten paramitas or ten virtues of perfection—Theo các nhà triết gia Du Già thì bốn thứ Ba La Mật sau cùng đều được xem là sự nhấn mạnh của Trí Tuệ Ba La Mật—According to the Yogacara philosophers all the last four paramitas are regarded as the amplification of the sixth paramita: 1) Thí Ba La Mật: Bố thí—Dana-paramita (skt)—Charity (Almsgiving). 2) Giới Ba La Mật: Trì giới—Morality—Holding precepts (Discipline)—Moral conduct. 3) Nhẫn Ba La Mật: Nhẫn nhục—Ksanti (skt)—Patience (Forebearance). 4) Tinh Tấn Ba La Mật: Tinh Tấn—Virya- paramita (skt)—Energy—Zealous progress—Vigor (Zeal). 5) Thiền Định Ba La Mật: Dhyana samadhi—paramita (skt)—Meditation (Concentration)—Contemplation--Abstraction. 6) Trí huệ Ba La Mật: Prajna Wisdom. *** From (1) to (6), please see Lục Độ Ba La Mật. 7) Phương tiện Ba La Mật: Upaya (skt)—Expedients—Adaptability (Skill-in-means)—Use of expedient or proper means. 8) Nguyện Ba La Mật: Pranidhana (skt)—Vows for bodhi and helpfulness. 9) Lực Ba La Mật: Bala-paramita (skt)—Force of purpose—Strength (Power). 10) Trí tuệ Ba La Mật: Prajna paramita (skt)—Knowledge—Real wisdom. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật.
thập độ tam hạnh
(十度三行) Chỉ cho mỗi độ trong 10 độ đều có 3 môn tu hành thù thắng. Độ nghĩa là đến bờ bên kia. Bồ tát tu hành các môn này thì lợi mình lợi người, độ các chúng sinh, lìa bờ sinh tử bên này, đến bờ Niết bàn bên kia, cùng chứng Vô thượng bồ đề. Thập độ tam hành là: 1. Ba môn tu hành của Thí độ. a. Tài thí: Dùng tất cả tài vật bố thí cho người khác. b. Pháp thí: Giảng nói Phật pháp cho mọi người nghe. c. Vô úy thí: Đối với chúng sinh không có tâm giết hại khiến chúng không sợ. 2. Ba môn tu hành của Giới độ. a. Nhiếp luật nghi giới: Tức giữ gìn giới luật của Phật, đầy đủ các uy nghi. b. Nhiếp thiện pháp giới: Thu giữ tất cả thiện pháp đã tu hành được. c. Nhiêu ích hữu tình giới: Tức cho vui cứu khổ, mang lại lợi ích đồng đều. 3. Ba môn tu hành của Nhẫn độ. a. Nại nhẫn oán hại: Nhịn chịu những sự oán ghét gia hại, không ôm lòng thù hận báo oán. b. An thụ khổ nhẫn: Nhịn chịu mọi nỗi khổ bức hại. c. Đế sát pháp nhẫn: Xét rõ tính các pháp hư huyễn, siêu việt sinh diệt. 4. Ba môn tu hành của Tiến độ. a. Bị giáp tinh tiến: Khởi tâm đại nguyện, tu các hạnh thù thắng. b. Nhiếp thiện tinh tiến: Tu hành phương tiện, tiến tới vô thượng bồ đề. c. Lợi lạc tinh tiến: Khuyến hóa chúng sinh, khiến đều tu Phật đạo. 5. Ba môn tu hành của Thiền độ. a. An trụ tĩnh lự: Trừ diệt các vọng tưởng, lắng tâm đi sâu vào Thiền định. b. Dẫn phát tĩnh lự: Làm cho trí tuệ hiện trước, sinh ra các công đức. c. Biện sự tĩnh lự: Tức công hạnh viên thành, lợi ích chúng sinh. 6. Ba môn tu hành của Tuệ độ. a. Sinh không vô phân biệt tuệ: Tức chiếu soi rõ pháp tục đế một cách bình đẳng. b. Pháp không vô phân biệt tuệ: Tức chiếu soi rõ pháp chân đế một cách bình đẳng. c. Câu không vô phân biệt tuệ: Tức siêu việt 2 không ở trên, tất cả đều bình đẳng. 7. Ba môn tu hành của độ Phương tiện.a. Tiến thú quả hướng phương tiện: Tức tu các công đức, hồi hướng cho quả Phật. b. Xảo hội hữu vô phương tiện: Tức dung hợp chân đế, tục đế. c. Bất xả bất thụ phương tiện: Tức thấu suốt năng sở đều không. 8. Ba môn tu hành của nguyện độ: a. Cầu bồ đề nguyện: Tự cầu quả Phật. b. Lợi lạc tha nguyện: Cứu độ tất cả chúng sinh. c. Ngoại hóa nguyện: Ngoài giáo hóa hữu tình. 9. Ba môn tu hành của Lực độ. a. Tư trạch lực: Do tư duy lựa chọn tất cả thiện pháp mà có được năng lực của các pháp ấy. b. Tu tập lực: Luôn luôn tu tập các hạnh thù thắng. c. Biến hóa lực: Tức năng lực thần thông. 10. Ba môn tu hành của Trí độ. a. Vô tướng trí: Quán xét suốt tính tự không. b. Thụ dụng pháp lạc trí: Chứng Nhấtthiết chủng trí, hằng tự thụ dụng, được đại tự tại. c. Thành thục hữu tình trí: Giáo hóa làm lợi ích tất cả chúng sinh, thành tựu đạo quả. [X. luận Thành duy thức Q.9].
Thập độ 十度
[ja] ジュウド jūdo ||| The 'Ten Perfections.' See 十波羅蜜. => Xem Thập Ba-la-mật.
thập đức
Ten acts of virtue, Ten elements of virtue, Ten virtues.
; The ten virtues, powers, or qualities of which there are several groups.
; (十德) I. Thập Đức. Chỉ cho 10 đức của Pháp sư. Đó là: Khéo biết pháp nghĩa, có khả năng giảng nói rộng, ở giữa đại chúng không sợ, biện tài lưu loát, phương tiện giảng nói khéo léo, tùy theo pháp mà hành sử, đầy đủ uy nghi, tinh tiến mạnh mẽ, thân tâm không mỏi mệt, thành tựu sức chịu đựng. Phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm quyển 38 (bản dịch mới) cho rằng Bồ tát địa thứ 9 làm đại pháp sư, đầy đủ hạnh pháp sư, khéo giữ gìn Pháp tạng của Như lai. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 43, Luận sư Từ thị giải thích rằng người có đầy đủ 10 đức được gọi là Đại pháp sư nhiếp nghĩa cụ túc. [X. luận Du già sư địa Q.81]. II. Thập Đức. Chỉ cho 10 đức của vị Trưởng giả. Đó là: Dòng họ tôn quí, có địa vị cao, giàu có, uy mãnh, trí sâu xa, tuổi cao, hạnh thanh tịnh(giữ tâm, khắc kỉ), lễ bị(uy nghi kỉ luật, người đời noi gương), được người trên thán phục, người dưới hướng về. [X. Pháp hoa văn cú Q.5 thượng; thiên Trưởng giả trong Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5; Duy ma kinh sớ Q.3]. III. Thập Đức. Chỉ cho 10 đức của người đệ tử phải có nếu muốn thụ Quán đính theo Đại nhật kinh sớ quyển 4. Đó là: Lòng tin, dòng họ thanh tịnh, cung kính Tam bảo, trí tuệ sâu, chịu khó không biếng nhác, giới hạnh thanh tịnh, nhịn nhục, không bỏn xẻn, mạnh mẽ và hạnh nguyện vững chắc. Tuy nhiên, 10 đức trên đây rất ít người hội đủ, chỉ mong được mấy đức, có thể hi vọng thành bậc pháp khí thì cũng được thu nhận. IV. Thập Đức. Một trong các loại pháp y do chư tăng Nhật bản sử dụng, hình thức đơn giản. Đây là từ đọc lầm của từ Trực xuyết. (xt. Trực Xuyết)
thật
Real, true, honest, sincere; solid; fixed; full; to fill; fruit, kernel, effects; verily, in fact; it is used for chân as in chân thật the supreme fact, or ultimate reality; also for bhùta.
thật báo vô chướng ngại độ
(實報無障礙土) Gọi tắt: Thực báo độ. Đồng nghĩa: Thụ dụng độ. Một trong 4 độ do tông Thiên Thai thành lập, chỉ cho cõi nước an trụ của các Bồ tát Pháp thân từ sơ địa trở lên. Cũng tức là Quả báo độ của các bậc đã đoạn trừ vô minh và chứng được 1 phần lí trung đạo, là nơi an trụ của các BồtátBiệt giáo từ sơ địa trở lên và Bồtát Viên giáo từ sơ địa trở lên. Nhờ tu hành nhân chân thực mà được quả báo chân thực nên gọi Thực báo; lại do sắc tâm vô ngại, một thế giới thu nhiếp tất cả thế giới, nên gọi là Vô chướng ngại. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.1]. (xt. Tứ Độ).
thật báo độ
The land of Buddha-reward in Reality free from all barriers, that of the bodhisattva, the third of the four lands of Thiên Thai. A Buddha ksetra.
thật chứng chủ nghĩa
(實證主義) Cũng gọi Thực chứng triết học, Thực chứng luận. Học thuyết chủ trương căn cứ vào kinh nghiệm khoa học và những tài liệu cơ bản để cấuthành hệ thống triết học, cho rằng đối tượng tri thức của người ta chỉ hạn cuộc ở những sự thực do kinh nghiệm mang lại thôi. Chủ trương này được hình thành vào lúc nền khoa học tự nhiên bộc phát ở thế kỷ XIX. Trong các nhà triết học thực chứng của lịch sử triết học Tây phương, nhân vật đại biểu đầu tiên phải kể đến là nhà triết học người Pháp là Comte (Khổng Đức, 1798-1857), ông có 2 chủ trương lớn là về phương pháp nghiên cứu thì loại bỏ tư duy mà chú trọng kinh nghiệm, còn về đối tượng nghiên cứu thì loại bỏ các tư liệu siêu hình mà chỉ lấy những tư liệu thực tế. Các học giả Phật giáo Tây phương thường đề cập đến tính chất đặc biệt giống nhau giữa tư tưởng của Tây phương và tư tưởng của đức Phật, như cho rằng giáo lí của đức Phật là bác bỏ tính chất độc đoán về siêu hình mà nhìn thẳng vào hiện thực, đồng thời, ở ngay trong hiện thực phát hiện ra chân lí(pháp) hiện thực, nghĩa là chủ trương ở trong tất cả thế gian mà quán xét tất cả thế gian một cách đúng như thực, hoặc Pháp tức hiện thực. Nếu nhận xét theo quan điểm này thì có thể nói giáo pháp của đức Phật cũng là 1 thứ chủ nghĩa Thực chứng. Nhưng thái độ này của đức Phật đã không nảy sinh từ sự phát triển của khoa học tự nhiên giống như Âu châu thời cận đại. Ở thời đức Phật, tại Ấn độ, đối với vấn đề siêu hình đã phát sinh các cuộc tranh luận kịch liệt, như kinh Tiễn dụ trong Trung a hàm quyển 60 có ghi trường hợp Man đồng tử đã từng thưa hỏi đức Phật về 10 vấn đề lớn siêu kinh nghiệm như: Thế gian là thường còn hay không thường còn? Thế gian có đáy hay không có đáy?. Đối với các vấn đề thuộc loại này, đức Phật đều dùng như thực quán sát, như thực thấy biết, tất cả các pháp làm cơ sở giải quyết các phiền não của con người, mang đậm sắc thái tinh thần phê phán của Ngài đối với những người có khuynh hướng tìm hiểu các vấn đề có tính chất siêu hình.
thật chứng luận
Positivism.
thật cú nghĩa
Draya (S) Chủ đế, Sở y đế Một trong Lục cú nghĩa, chỉ thực thể các pháp. Có 9 thứ: Địa, thuỷ, hoả, phong, không, thời, phương, ngã, ý.
thật dụng phật học từ điển
(實用佛學辭典) Bộ sách tra cứu những từ ngữ thường dùng trong Phật học do cơ sở in sách Phật học ở Thượnghải biên soạn và ấn hành vào năm Dân quốc 23 (1934). Sách này dùng bộ Phật giáo đại từ điển của Chức điền Đắc năng người Nhật bản làm bản gốc, tham khảo các bộ Phiên dịch danh nghĩa tập, Nhất thiết âm nghĩa kinh, Tam tạng pháp số, Giáo thừa pháp số và Phật học đại từ điển của Đinh phúc bảo để biên soạn. Tài liệu được thu tập trong sách này chủ yếu là những từ ngữ Phật học thường dùng cần thiết nhất. Giải thích phần nhiều dùng văn cổ và trực tiếp dùng nghĩa lí của Phật giáo để giải thích.
thật giáo
The teaching of Reality; also the real, or reliable teaching.
Thật Hiền
(實賢, Jitsuken, 1176-1249): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, Tự Trưởng đời thứ 63 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), trú trì đời thứ 33 của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji); húy là Thật Hiền (實賢), thông xưng là Kim Cang Vương Viện Đại Tăng Chánh (金剛王院大僧正), tự là Thai Liên (胎蓮), con của vị quan Đằng Nguyên Cơ Phụ (藤原基輔). Ông xuất gia từ thưở ấu thơ, và học các kinh luận với Long Trừng (隆澄), Thắng Viên (勝圓). Năm 1196, ông thọ phép Quán Đảnh với Khoan Kế (寛繼) của Tam Bảo Viện (三寶院) ở Đề Hồ Tự; rồi lại thọ thêm hai bộ Quán Đảnh với Thắng Hiền (勝賢) cùng viện trên, và với Hiền Hải (賢海) của Kim Cang Vương Viện (金剛王院). Sau đó, ông làm trú trì đời thú 5 của Kim Cang Vương Viện, và vào năm 1232 thì được Thắng Hiền truyền trao cho Xá Lợi Phật. Năm 1236, ông được bổ nhiệm làm Tọa Chủ cũng như Đại Tăng Đô của Đề Hồ Tự; đến năm 1238 thì làm Tự Trưởng và Đại Tăng Chánh của Đông Tự. Năm 1244, thể theo sắc mệnh của triều đình, ông tiến hành phép cầu mưa và có linh nghiệm. Ông chuyên tâm tu tập các bí pháp của Chơn Ngôn. Trước tác của ông có Thập Bát Đạo Gia Hành Tác Pháp (十八道加行作法) 1 quyển, Bí Sao Khẩu Quyết (秘鈔口決) 3 quyển, Truyền Thọ Khẩu Truyền Sao (傳授口傳鈔) 3 quyển, Bí Mật Yếu Thư (秘密要書) 1 quyển, v.v.
thật hiền
(實賢) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Thanh, Tổ thứ 9 của Liên tông, người Thường thục, tỉnh Giang tô, họ Thời, tự Tư tề, hiệu Tỉnham. Sư xuất thân trong một gia đình Nho học truyền thống. Sư rất thông minh và sớm có chí xuất trần. Sư xuất gia năm 15 tuổi, kinh điển chỉ xem qua một lần là nhớ mãi không quên. Năm 24 tuổi, Sư thụ giới Cụ túc, nghiêm trì giới luật, không lìa áo bát, ngày ăn một bữa, thường ngồi không nằm. Về sau, sư lễ yết ngài Thiệu đàm, nghe giảng các kinh luận như Thực Hiền Duy thức, Lăng nghiêm, Ma ha chỉ quán và thông hiểu học thuyết Thiên thai, Pháp tướng..., ngài Thiệu Đàm truyền cho sư Thiên thai chính tông đời thứ 4 thuộc phái Linh phong. Sư nhập thất 3 năm ở chùa Chân tịch, ngày xem Tam tạng, tối niệm danh hiệu Phật. Sau, nhận lời thỉnh của tùng lâm các nơi, sư giảng kinh hơn 10 năm, tăng tục vùng Giang nam về qui y sư rất đông. Sư từng trụ chùa A dục vương ở Mậu sơn, chùa Thiên lâm ở Hàng châu... Về già, sư dứt bỏ các ngoại duyên, kết tập Liên xã, chuyên tu tịnh nghiệp, người đương thời thường gọi sư là Vĩnh minh tái lai. Năm Ungchính 11 (1733), sư biết trước thời kì sắp đến, ngày đêm niệm Phật hơn 10 vạn tiếng. Tháng 4 năm sau sư thị tịch, hưởng dương 49 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Tịnh độ thi 108 bài, Tây phương phát nguyện văn chú, Tục vãng sinh truyện 1 quyển, Niết bàn sám, Khuyết phát bồ đề tâm văn 1 quyển. [X. Tịnh độ thánh hiền lục Q.6; Tân tục cao tăng truyện Q.45; Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng Duy Kiều)].
Thật Huệ
(實惠, Jitsue, 786-847): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời đại Bình An, cao đệ của Không Hải, trú trì đời thứ 2 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), người khai sáng ra Quán Tâm Tự (觀心寺, Kanshin-ji) ở vùng Hà Nội (河內, Kawachi), thụy hiệu là Đạo Hưng Đại Sư (道興僧都), Cối Vĩ Tăng Đô (檜尾僧都), xuất thân vùng Tán Khi (讚岐, Sanuki, thuộc Kagawa-ken [香川縣] ngày nay). Ông xuất gia ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), theo hầu Không Hải sau khi vị này từ Trung Quốc du học về, đến năm 810 ông thọ pháp Quán Đảnh và vâng mệnh của thầy lên khai sáng Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan). Năm 836, ông kế thừa Không Hải làm Tự Trưởng của Đông Tự, và năm sau thì ủy thác cho đệ tử Viên Hành (圓行, Engyō) và sang nhà Đường cầu pháp. Môn đệ của ông có Huệ Vân (惠雲, Eun), Chơn Thiệu (眞紹, Shinshō), Tông Duệ (宗叡, Shūei). Ông có để lại tác phẩm Cối Vĩ Khẩu Quyết (檜尾口訣).
thật hóa
The real or noumenal Buddha as contrasted with quyền hóa the temporal or phenomenal Buddha; the thật hóa nhị thân are his báo thân sambhogakàya and his hóa thân nirmànakàya.
thật hữu
(實有) Có thật. Chỉ cho thực thể thường hằng bất biến. Tức tự thể thực tế tồn tại, gọi là Thực hữu. Phật giáo cho rằng Chân như pháp tính là thực hữu; trái lại, tất cả các pháp do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, không có tự thể thực tại thì gọi là Giả hữu.(xt. Hữu Vô).
thật không
Absolute sùnya, or vacuity; all things being produced by cause and environment are unreal.
thật kinh
The true sùtra as contrasted to the relative or temporary sùtras, a term of the Lotus school.
thật lợi luận
Arthaśāstra (S) Luận của Vệ đà..
; (實利論) Phạm:Arthazàstra. Thông thường, Arthazàtra là chỉ cho bộ luận của Ấn độ đời xưa bàn về các vấn đề như xử thế, tài, lợi... Loại luận thuyết này được thấy trong Lê câu phệ đà, về sau, trong văn học Thiên khải như Phạm thư... cũng tiếp tục phát triển luận thuyết này. Trong các luận điểm thuộc loại này, nổi tiếng nhất là bộ Khảo đề lạp thực lợi luận (Phạm:Kauỉiliya Arthazàstra). Sách này do Tể tướng của vua Chiên đà la cấp đa thuộc vương triều Khổng tước là Khảo đề lạp soạn, được viết bằng tiếng Phạm theo thể văn xuôi, gồm 15 thiên, 150 chương, cuối mỗi chương đều có thêm bài văn vần ngắn gọn, tóm tắt nội dung của chương ấy. Vào đầu thế kỷ XX, người ta đã phát hiện được bản chép tay của sách này. Đây là sách chỉ nam của các vấn đề xử thế, chính trị, quân sự, ngoại giao... Nội dung sách này bao gồm học thuật, ý nghĩa giáo dục, bí mật trinh thám, đô thành, thu thuế, các quan hành chính, tư pháp, các pháp chế, chính trị quốc tế, khai chiến và đồng minh, chiến đấu, chiếm lĩnh và hòa bình, chính sách làm cho đất nước giàu mạnh... Đối với Ấn độ là nước rất thiếu thốn về sách sử mà nói, thì sách này thật là sử liệu quí giá, là bộ sách rất quan trọng để hiểu rõ về tình hình thực tế liên quan đến trạng thái xã hội, tổ chức quốc gia... ở Ấn độ vào thời đại vua Chiên đà la cấp đa, đồng thời, cũng là sách tham khảo cần phải có trong tay các học giả cận đại khi viết về lịch sử Ấn độ. [X. Arthazàstra of Kauỉiliya, 1924, by Shamasastry; Geschichte der indischen Literatur, Bd. III, S.523, by M.Winternitz].
Thật Mẫn
(實敏, Jitsubin, 788-856): vị tăng của Tam Luận Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời kỳ Bình An, vị trú trì đời thứ 21 của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), húy Thật Mẫn (實敏), xuất thân vùng Ái Trí (愛智), Vĩ Trương (尾張, Owari, thuộc Aichi-ken [愛知縣]), họ Vật Bộ (物部, Mononobe). Năm 800, ông cùng với người bác Trung An (中安) lên kinh đô, theo học Tam Luận với Huyền Duệ (玄叡, Genei) ở Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji), rồi theo hầu vị tăng đã từng sang nhà Đường cầu pháp là Vĩnh Trung (永忠) để nghiên cứu thêm kinh luận. Đến năm 806, ông đến trú tại Bát Đảo Tự (八嶋寺) vùng Đại Hòa (大和, Yamato) và năm sau thì thọ giới Cụ Túc. Vào năm 819, ông làm giảng sư cho Duy Ma Hội của Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), đến năm 838 thì làm chức Biệt Đương (別當, Bettō) của Đông Đại Tự. Năm 841, ông giảng Kim Quang Minh Kinh (金光明經) tại Đại Cực Điện (大極殿), đến năm 843 thì được bổ nhiệm làm Luật Sư, và năm 850, ông đã cùng với nhóm Minh Thuyên (明詮, Myōsen) của Pháp Tướng Tông cũng như nhóm Quang Định (光定, Kōjō) của Thiên Thai Tông luận về tông nghĩa của các tông phái tại Thanh Lương Điện (清涼殿). Vào năm 853, ông được thăng cử chức Đại Tăng Đô.
thật ngã
The true ego, in contrast with giả ngã phenomenal ego.
thật ngã thật pháp
(實我實法) Chỉ cho 10 lỗi của việc ăn thịt. Pháp uyển châu lâm quyển 92 ghi 10 lỗi của việc ăn thịt như sau: 1. Chúng sinh là thân thuộc của mình: Tất cả chúng sinh sống chết vòng quanh trong 6 ngả, từng sinh ra và nuôi sống lẫn nhau, là họ hàng thân thuộc của nhau, do nhân duyên ấy, nếu ta ăn thịt tức là ăn thịt những người thân của ta. 2. Chúng sinh trông thấy thảy đều sợ hãi: Tất cả chúng sinh giữ mình, tiếc mệnh sống, cho nên hễ gặp người ăn thịt thì đều sợ hãi, tránh xa. 3. Làm mất lòng tin của người: Những người làm việc thiện ở thế gian, nếu thấy vị tăng ăn thịt liền sinh tâm hủy báng, cho rằng trong cửa Phật không có người tu hành phạm hạnh chân thực. 4. Người tu hành không được ăn thịt: Bồ Tát vì cầu ra khỏi sinh tử nên tu hạnh từ bi, thiểu dục tri túc, cho nên không được ăn thịt. 5. Tập khí La sát: La sát tức là quỉ Tốc tật(nhanh chóng); Tập khí là các thói quen của đời trước còn sót lại. Nghĩa là sa môn trong đời trước đã từng là họ hàng với La sát, nay tuy xuất gia trong cửa Phật, nhưng vì tập khí nhiều đời còn rớt lại, cho nên thấy người ăn thịt thì vui mừng gần gũi. 6. Học thuật không thành: Nếu người học đạo thích ăn thịt, thì phạm hạnh bị ô nhiễm, đối với Thánh đạo vô thượng của Nhưlai và giải thoát xuất thế... không thành tựu được. 7. Chúng sinh sợ chết cũng như mình: Người học đạo phải khởi tâm từ bi, quán xét tất cả chúng sinh đều tham sống sợ chết như ta không khác, cho nên phải che chở và thương tiếc chúng. 8. Chư thiên và Thánh nhân xa lánh: Những người ăn thịt đều bị chư thiên và Thánh nhân chán ghét xa lánh, không thích gần gũi. 9. Sinh ra từ sự nhớp nhúa: Tất cả súc sinh vì nhân nghiệp nhơ nhớp đời trước mà thành thân nhớp nhúa, những thức ăn mà chúng ăn phần nhiều cũng bẩn thỉu. Người học đạo muốn tu phạm hạnh mà ăn thịt súc sinh, thì cũng là nhớp nhúa. 10. Sau khi chết bị đọa ác đạo: Người ăn thịt tất nhiên thường giết hại súc sinh, tích lũy nghiệp ác hàng ngày, vì thế sau khi chết phải đọa ác đạo.
thật ngữ
Satya-vada (S), Bhuta-vadi (S), Sacca-vada (P).
; True, or reliable words; words corresponding to reality; discussions of Reality.
; (實語) Phạm:Satya-vàda. Pàli:Sacca-vàda. Chỉ cho lời nói chân thật, không hư dối, không lập dị. Tức lời nói của Phật hoặc của người tu hành. Kinh Kim cương bát nhã (Đại 8, 750 trung) ghi: Như lai thị Chân ngữ giả, Thực ngữ giả, Như ngữ giả, Bất cuống ngữ giả, Bất dị ngữ giả (Như lai là bậc nói lời chân thật, như thực không dối láo, không lập dị).Kinh Chúng tập trong Trường a hàm quyển 8, khi nói về 4 hạnh lành của miệng thì nêu Thực ngữ (Pàli:Musà-vàdì, lìa nói dối) với 3 thứ: Nhuyến ngữ(lời nói dịu dàng), Bất ỷ ngữ (không nói thêu dệt) và Bất lưỡng thiệt(không nói 2 lưỡi). Kinh Thanh tịnh trong Trường a hàm quyển 12 thì nêu Thực ngữ (Pàli:Bhùta-vàdì) với 5 thứ: Ứng thời ngữ, Nghĩa ngữ, Lợi ngữ, Pháp ngữ và Luật ngữ. Còn kinh Phạm động trong Trường a hàm quyển 14 nêu Thực ngữ chung với 5 thứ: Tri thời ngữ, Lợi ngữ, Pháp ngữ, Luật ngữ và Chỉ phi ngữ(lời ngăn điều quấy). Về Thực ngữ, giữa Hiển giáo và Mật giáo chủ trương có hơi khác nhau. Hiển giáo cho rằng lời nói tương xứng với sự thật, việc làm đúng với lời nói và lời nói ứng hợp với việc làm, gọi là Thực ngữ. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 6 (Đại THỰC NGỮ 35, 229 hạ) ghi: Lời nói đúng với việc làm nên gọi là Thực ngữ. Mật giáo thì chủ trương lời nói dùng để nói về chân như là Thực ngữ, tức Như nghĩa ngữ thứ 5 trong 5 thứ ngữ nói trong luận Thích ma ha diễn quyển 2. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 579 trung) nói: Chân ngôn, tiếng Phạm là Mạn đát la, chính là âm của Chân ngữ, Như ngữ, Bất vọng bất dị ngữ. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.4, 14; kinh Chính pháp niệm xứ Q.54; kinh Đại bảo tích Q.79; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.10].
thật nhãn
An eye able to discern reality, i.e. the Buddha-eye.
Thật Phong Lương Tú
實峰良秀; J: jippō ryōshū; 1318-1405; |Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365). Sư là một Thiền sư rất tài năng uyên bác. Tương truyền rằng, khi nhìn thấy Thập mục ngưu đồ, Sư quyết tâm tu học thiền. Sư lưu lại nơi Nga Sơn hơn mười năm giữ chức thị giả. Sư có công khai sáng Vĩnh Trường tự (eishō-ji) tại Bitchū. Môn đệ của Sư hoằng hoá khắp cả nước Nhật.
thật pháp tông
(實法宗) Tông Thực pháp, 1 trong 3 tông Chế giáo.Phán giáo của Luật tông Nam sơn chia giáo pháp của một đời đức Phật làm Chế giáo và Hóa giáo, 3 tông Chế giáo là chỉ cho Thực pháp tông, Giả danh tông và Viên giáo tông, gọi tắt là Hữu, Không, Viên tam tông. Trong đó, Thực pháp tông chỉ cho tông Tát bà đa hữu bộ, tông này chủ trương tất cả các pháp đều có thật, nên gọi là Thực pháp tông. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q. thượng]. (xt. Chế Giáo).
Thật Phạm
(實範, Jippan, ?-1144): vị Tăng chuyên học cả Pháp Tướng và Chơn Ngôn, sống vào khoảng cuối thời Bình An, tự là Thật Phạm (實範), thường được gọi là Trung Xuyên Thiếu Tướng Thượng Nhân (中川少將上人), hay Trung Xuyên Luật Sư (中川律師), tự là Bổn Nguyện (本願); con thứ 4 của quan Tham Nghị Đằng Nguyên Hiển Thật (藤原顯實). Ông theo tu về Pháp Tướng ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), rồi học Mật Giáo với Nghiêm Giác (嚴覺) ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji) cũng như với Minh Hiền (明賢) ở Tỷ Duệ Sơn. Sau ông đến ẩn cư ở Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) thuộc vùng Đại Hòa (大和, Yamato) và khai sáng nên Thành Thân Viện (成身院) ở vùng Trung Xuyên (中川). Ông đã từng khởi xướng phong trào phục hưng giới luật, nghiên cứu về Tứ Phần Luật, và năm 1116 thì tu bổ các đường tháp của Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji). Đến năm 1122, thể theo lời thỉnh cầu của Hân Tây (欣西) ở Hưng Phước Tự, ông viết cuốn Đông Đại Tự Giới Đàn Viện Thọ Giới Thức (東大寺戒壇院受戒式), và trở thành một nhân vật rất nổi bật trong phong trào vận động phục hưng giới luật dưới thời đại Liêm Thương. Đến cuối đời ông chuyển đến sống ở Quang Minh Sơn Tự (光明山寺) thuộc vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) và chuyên tâm tín phụng Tịnh Độ Giáo. Ông đã từng thân giao với hai vị tướng quân Đằng Nguyên Tông Trung (藤原宗忠) và Đằng Nguyên Lại Trường (藤原賴長). Trước tác của ông có Đông Đại Tự Giới Đàn Viện Thọ Giới Thức 1 quyển, Đại Kinh Yếu Nghĩa Sao (大經要義抄) 7 quyển, v.v.
thật sắc thân
The real Buddha-body, or his sambhogakàya in contrast with his nirmànakàya.
thật trí
Xem Căn bản trí.
; The knowledge or wisdom of Reality in contrast with quyền trí knowledge of the relative.
thật tánh
Xem Chân như.
thật tính
Real nature, or essence, i.e. the chân như bhùtatathatà.
thật tướng
Reality, in contrast with hư vọng; absolute fundamental reality, the ultimate, the absolute; the pháp thân dhamakàya, or chân như bhùtatathatà. Other terms are nhất thật, nhất như, nhất tướng, vô tướng, pháp chứng, niết bàn, vô vi, chân đế, chân tính, chân không, thật tính, thật đế, thật tế.
; Bản thể Phật tánh cùng khắp thời gian không gian, pháp tự như thế chẳng do tạo tác, chân thật bất hư, nên gọi là Thật tướng.
; (實相) Phạm: Dharmatà bhùta-tathatà. Vốn có nghĩa là bản thể, thực thể, chân tướng, bản tính...; từ đó được khai triển để chỉ cho thể tướng chân thực bất hư của tất cả muôn pháp, hoặc lí pháp chân thực, lí bất biến, chân như, pháp tính... Đây là nội dung giác ngộ của đức Phật, hàm ý là chân thực bản nhiên; tất cả danh từ: Nhất như, thực tính, thực tế, chân tính, Niết bàn, vô vi, vô tướng... đều là tên khác của Thực tướng. Vì hết thảy hiện tượng mà thếtục nhận biết đều là giả tướng, chỉ khi nào thoát khỏi sự nhận biết của thế tục mới hiển bày được cái tướng trạng chân thực thường trụ bất biến của các pháp, cho nên gọi là Thực tướng. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 36 (bản Nam) và luận Đại trí độ quyển 32 thì tất cả tướng sai biệt của các pháp(như tướng cứng của đất, tướng ướt của nước, tướng nóng của lửa) đều là hư giả, tất cả đều có thể phá hoại; trái lại, Thực tướng mà trí vô lậu chứng được thì lìa các tướng hư giả và bình đẳng nhất như. Nếu còn vọng tâm thì không thể nào thấy được thực tướng. Trong các dịch phẩm của ngài Cưu ma la thập, Thực tướng cũng bao hàm ý nghĩa Không, từ ngài Long thụ về sau thì Thực tướng được xem là nội dung Chân đế của Phật giáo. Còn thuyết Chư pháp thực tướng là tiêu biểu(tức pháp ấn) của Phật giáo Đại thừa cũng chính là đối lại với Tam pháp ấn(Vô thường, Vô ngã, Niết bàn) của Phật giáo Tiểu thừa mà được thành lập và được gọi là Thực tướng ấn. Tướng trạng chân thực của tất cả các pháp gọi là Chư pháp thực tướng, tuy nội dung chư pháp thực tướng tùy theo các tông mà có khác nhau, nhưng phán đoán theo lập trường của mỗi tông, bất cứ pháp nào hễ được xem là tối hậu và rốt ráo thì đều dùng từ Thực tướng để biểu thị. Tướng trạng của thực tướng thông thường cho rằng không thể dùng lời nói để diễn đạt, hay tâm trí để suy lường được. Từ sự phát triển của lập trường này, đến tông Thiên Thai thì lấy việc phát hiện ra tự ngã hoàn toàn nhất, gọi là Chư pháp thực tướng, cũng tức là dứt bặt sự sai khác giữa bản chất(Lí) và hiện thực(Sự), một thế giới trong đó tất cả các pháp hoàn toàn dung hợp, điều hòa, phàm phu trong cõi mê cũng có khả năng thể hiện cảnh giới Phật giác ngộ cao siêu, nêu tỏ tinh thần hiện tượng tức thực tại, sai biệt tức bình đẳng.Thiền tông cho rằng Chư pháp thực tướng là sự hiện thành của Phật Tổ hoặc bản lai diện mục; tông Tịnh độ thì lấy danh hiệu của Phật A di đà làm Thực tướng pháp; Mật tông thì có thuyết Thanh tự thực tướng. Còn tông Nhật liên của Nhật bản thì giải thích thực tướng là đề mục của Bản môn, dẫn thực tướng của chân như đến hiện thực, bàn về sự dung hợp tương tức của cả 2, đây chính là từ mặt lí luận mà nói rõ thái độ khẳng định hiện thực của Phật giáo Đại thừa. [X. Trung luận Q.3; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.33; Chú duy ma cật kinh Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.1; Vãng sinh luận chú Q. hạ; Duy ma kinh nghĩa kí Q.4, phần cuối; Pháp hoa kinh văn cú kí Q.4 trung].
thật tướng chân như
Lakṣaṇatathatā (S) Tướng chân như, Không tướng như Thật tướng do Nhân vô ngã và Pháp vô ngã các pháp hiển bày.
thật tướng hoa
(實相花) Chỉ cho diệu lí của Thực tướng. Đây là cái mà người tu hành mong muốn chứng ngộ được, cho nên đem diệu lí của Thực tướng ví dụ là hoa, gọi là Thực tướng hoa.
thật tướng luận
(實相論) Phương pháp tư khảo lấy thực tướng làm chủ yếu để nói rõ về bản thể của tất cả các pháp.Luận thuyết này đối lại với Duyên khởi luận lấy chuyển khởi làm chủ yếu. Thực tướng luận và Duyên khởi luận là 2 hệ thống lớn của giáo lí Phật giáo. Nói theo quan điểm Không, Hữu thì Thực tướng luận thuộc về Không luận, chủ trương Chân không Tục hữu (Chân đế không, Tục đế có), nghĩa là các pháp đều không, bất khả đắc và chủ trương Tam đế viên dung(Không đế, Giả đế và Trung đạo đế viên dung). Trong các kinh như Pháphoa, Bátnhã, Duyma... và trong các luận như Trung, Bách, Thập nhị môn, Thành thực... đều là những kinh điển thuộc hệ thống Thực tướng luận. Về phương diện các tông phái thì như Thành thực, Tam luận, Thiên thai... đều là các giáo pháp thuộc hệ thống Thực tướng luận. (xt. Thực Tướng, Duyên Khởi Luận).
thật tướng niết bàn
(實相涅槃) Lấy thực tướng các pháp làm Niết bàn, đặc biệt do học phái Trung quán đề xướng. Phẩm Quán niết bàn trong Trung luận quyển 4 (Đại 30, 36 trung) nói: Phân biệt tìm cầu đến ngọn nguồn các pháp thì có cũng không, không cũng không, có không cũng không, chẳng có chẳng không cũng không, đó gọi là Chư pháp thực tướng, cũng gọi là Như pháp tính thực tế niết bàn. Ýnói thực tướng của các pháp ở thế gian tức rốt ráo là không, cũng chính là không sinh không diệt, Niết bàn vắng lặng. Do đó thế gian và Niết bàn, Niết bàn và thế gian cả 2 đều không sai khác. Thuyết này là chỗ y cứ quan trọng của chủ trương nhập thế trong Phật giáo Đại thừa.
thật tướng phong
(實相風) Gió thực tướng. Diệu lí của thực tướng có năng lực thổi sạch bụi nhơ mê vọng của phàm phu, giống như gió ở thế gian thổi sạch bụi bẩn, cho nên gọi là Thực tướng phong.
thật tướng pháp giới
The first half is a Lotus sùtra term for Reality, the latter half a Hoa Nghiêm term for the same.
thật tướng quán
Insight into, or meditation on Reality.
; (實相觀) Cũng gọi Lí quán. Hành pháp quán xét thực tướng. Trái lại, quán xét các sự tướng sai biệt do nhân duyên sinh ra thì gọi là Duy thức quán, đó là Sự quán. Thực tướng quán và Duy thức quán được nói trong kinh Chiêm sát quyển hạ, tông Thiênthai cho 2 pháp quán này là Sự quán và Lí quán. Trong Mật giáo, Thực tướng quán có Kim cương giới và Thai tạng giới khác nhau, Thực tướng quán của Kim cương giới tức là Nguyệt luân quán, còn Thực tướng quán của Thai tạng giới thì chính là Ngũ đại quán. [X. Trung luận sớ Q.7; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q. thượng].
thật tướng tam muội
The samàdhi of reality, in which the unreality of the phenomenal is realized.
; (實相三昧) Chỉ cho 3 tam muội Không, Vô tướng và Vô tác. Không tam muội là tam muội tương ứng với 2 hành tướng Không và Vô ngã của Khổ đế; Vô tướng tam muội là tam muội tương ứng với 4 hành tướng Diệt, Tĩnh, Diệu, Li của Diệt đế; còn Vô tác tam muội là tam muội tương ứng với 2 hành tướng Không, Vô ngã của Khổ đế và 4 hành tướng Nhân, Tập, Sinh, Duyên của Tập đế, cũng tức là hạnh tuyệt đối Vô sở đắc, Vô sở cầu và Vô sở ngộ. Nói theo Thiền tông thì Thực tướng tam muội là chỉ cho trạng thái tọa thiền chỉ cần ngồi mà thôi. Luận Đại trí độ quyển 5 (Đại 25, 97 thượng) nói: Nếu có người tu hạnh Không, Vô tướng, Vô tác thì đó gọi là được Thực tướng tam muội.
thật tướng thân vi vật thân
(實相身爲物身) Chỉ cho thân thực tướng và thân vị vật của Phật. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàmloan (Đại 40, 835 trung) ghi: Thế nào là không tu hành như thực, chẳng tươngứng với danh nghĩa? Nghĩa là không biết Nhưlai là thực tướng thân, là vị vật thân. Tướng công đức chân thực của Phật gọi là Thực tướng thân; còn thân vì cứu vớt chúng sinh mà ứng hiện ra thì gọi Vị vật thân. Thuyết này có lẽ đã y cứ theo thuyết Phật có 2 loại thân: Pháp tính sinh thân và Tùy thế gian thân, Pháp tính sinh thân Phật và Tùy chúng sinh ưu liệt hiện hóa Phật lần lượt được nêu trong luận Đại trí độ quyển 33 và 34 mà ra. Còn chỗ y cứ của danh từ Thực tướng thân thì Đại thừa đại nghĩa chương quyển thượng (Đại 45, 123 thượng) nói: Pháp thân thực tướng không đi, không đến, giống như nê hoàn. Chú duy ma cật kinh quyển 3 (Đại 38, 359 hạ) nói: Thực tướng các pháp hòa hợp là Phật, vì thế thực tướng cũng gọi là Pháp thân. Tịnh độ chân tông của Nhật bản thì lấy ánh sáng của Phật A di đà làm Thực tướng thân, lấy danh hiệu của Ngài làm Vị vật thân; có thuyết thì lấy pháp thân Pháp tính làm Thực tướng thân, pháp thân Phương tiện làm Vị vật thân.
thật tướng trí thân
The body of absolute, knowledge or of complete knowledge of reality, i.e. that of Vairocana.
thật tướng tuệ
Wisdom in regard to reality.
thật tướng vô lậu đại hải
(實相無漏大海) Biển cả thực tướng vô lậu. Chân như thực tướng lìa tất cả vọng nhiễm, cho nên gọi là Vô lậu, đó là Không chân như; Chân như thực tướng cũng chứa đựng tất cả công đức, cho nên gọi là Đại hải, đó chính là Bất không chân như.
thật tướng vô tướng
Reality is Nullity, i.e. is devoid of phenomenal characteristics, unconditioned.
; (實相無相) Chỉ cho tướng chân thực của muôn tượng trong vũ trụ, là tướng lìa các sai biệt tương đối và là cái chân thực tuyệt đối. Đây là pháp giới mầu nhiệm mà hàng phàm phu mê muội không thể nào thấu suốt được. Phẩm Thuyết pháp trong kinh Vô lượng nghĩa (Đại 9, 385 hạ) nói: Một pháp ấy chính là Vô tướng, Vô tướng bất tướng, bất tướng vô tướng, gọi là Thực tướng. Vô môn quan tắc 6 (Đại 48, 293 hạ) ghi: Đức Thế tôn dạy: Ta có chính pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, phápmôn vi diệu, chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nay phó chúc cho Ma ha Ca diếp. Bởi vì thực trí không duyên theo đối cảnh thì thực tướng không có tướng. Nếu thực trí có duyên theo đối cảnh, tức đã không còn giống với thực thể thì chẳng phải là thực trí nữa; còn đối với tướng mà có tướng, tức đã trái với cảnh của thực trí, thì chẳng phải là thực tướng nữa. [X. Vãng sinh luận chú Q. hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1, phần 5].
thật tướng ấn
The seal or witness of reality, which is passed on from Buddha to Buddha.
; (實相印) Cũng gọi Nhất pháp ấn. Thực tướng chỉ cho nghĩa lí của Chư pháp thực tướng. Thực tướng này là dấu ấn của chân lí mà Phật Phật truyền trì cho nhau, vì thế gọi là Thực tướng ấn. Tất cả kinh Tiểu thừa được ấn chứng bằng Tam pháp ấn: Vô thường, Vô ngã, Niết bàn, còn tất cả kinh Đại thừa thì được ấn chứng bằng Thực tướng ấn này. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 trung) nói: Ta dùng tướng nghiêm thân Ánh sáng soi thế gian Vô lượng chúng tôn kính Vì nói Thực tướng ấn.
thật tại luận
(實在論) Chỉ cho kiến giải triết học về Bản thể luận. Luận thuyết này chủ trương tính chất trừu tượng hoặc mối quan hệ(cộng tướng) do những danh từ trừu tượng biểu đạt, chính là sự tồn tại chân thực. Đứng về phương diện Siêu hình học và Nhận thức luận mà nhận xét thì lập trường của Thực tại luận và Duy tâm luận tương phản nhau. Duy tâm luận cho rằng chỉ có tâm(ý thức) là sự tồn tại duy nhất, tất cả vật chất khách quan(vạn hữu) đều tùy thuộc vào các tác dụng tinh thần, tư tưởng, quan niệm... của con người mới tồn tại được, vì thế, Duy tâm luận còn được gọi là Quan niệm luận. Thực tại luận thì trái lại chủ trương thế giới khách quan vốn tự tồn tại mà không cần nhờ đến nhận thức của con người. Về lập trường của Phật giáo thì Phật giáo Tiểu thừa đối với các yếu tố(pháp) cấu thành muôn vật có tính thực tại hay không, cũng có nhiều thuyết khác nhau. Như hệ thống Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương ba đời có thật, pháp thể hằng có; hệ thống Đại chúng bộ thì cho rằng hiện tại có thật, quá khứ không có thực thể. Đến Phật giáo Đại thừa thì như tông Duy thức và tông Hoa nghiêm chủ trương Muôn pháp chỉ do tâm hiện, chỉ có thức không có cảnh, chẳng những chủ trương muôn pháp do tâm biến hiện, mà còn cho rằng ngay cả tâm thức cũng là không, vô tự tính. Do đó biết cái gọi là Thực tại luận của Phật giáo, không những chẳng phải Duy tâm luận, cũng chẳng phải Duy vật luận, mà chỉ là 1 thứ Không luận, Vô tự tính luận.Đối lại với quan điểm Duy thức và Hoa nghiêm, tông Thiên thai đứng trên lập trường Sắc tâm song cụ(Vật, tâm đầy đủ), cho nên các ngài Trạmnhiên và Tri lễ chủ trương: Tư tưởng duy tâm đã thành lập được thì tư tưởng Duy sắc cũng thành lập được. Chẳng hạn như Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 7, phần 4 của ngài Trạmnhiên (Đại 46, 388 thượng) nói: Cho nên, nếu đã nói là viên mãn thì cũng nói được là duy sắc, duy thanh, duy hương, duy vị, duy xúc... chứ tại sao lại chỉ nói được là Duy thức? Nếu nói chung lại thì cái duy nào cũng đều phải có đầy đủ pháp giới. Lại nữa, nếu nói theo ngọn thì tất cả chúng sinh có 2 loại khác nhau, chúng sinh các cõi trên phần nhiều đắm trước thức, chúng sinh cõi dưới phần nhiều đắm trước sắc. Nếu thu tóm bên ngoài hướng vào bên trong, khiến quán xét nội thứcthìđều là 1 thức. Thức đã không rồi thì 10 cõi đều không, nếu thức là giả thì 10 cõi đều giả, nếu thức là trung thì 10 cõi đều trung, chỉ dùng nội tâm quán xét tất cả pháp, quán 10 cõi bên ngoài thì liền thấy nội tâm. Vì thế nên biết, dù thức dù sắc, đều là Duy sắc.
thật tế
BhŪtakoṭi (S), Reality-limit Chân thật tế cực, chỉ Niết bàn thật chứng lìa hẳn hư vọng.
; The region of Reality.
thật tế lí địa
The noumenal universe, the bhùtatathatà.
thật xoa nan đà
Siksànanda (S). A sramana of Kustana (Khotan) who in A.D. 695 introduced a new alphabet into China and translated nineteen works.
; (實叉難陀) Phạm: Zikwànanda. Cũng gọi Thí khất xoa nan đà. Hán dịch: Học hỉ, Hỉ học. Cao tăng nước Vuđiền(Hòa điền thuộc Tân cương), đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đường. Sư giỏi cả Đại thừa và Tiểu thừa, lạithông hiểu ngoại học. Niên hiệu Chứng thánh năm đầu (695), sư đem bản tiếng Phạm kinh Hoa nghiêm đến Lạc dương, Võ hậu Tắc thiên ban sắc thỉnh sư cùng với các vị Bồ đề lưu chí và Nghĩa tịnh dịch sang Hán văn ở chùa Đại biến không trong Đại nội, Đông đô, đó chính là bản dịch mới của kinh Hoa nghiêm gồm 80 quyển. Ngoài ra, sư còn dịch các kinh như kinh Đại thừa nhập lăng già, kinh Văn thù thụ kí... gồm 19 bộ, 107 quyển. Năm Trườngan thứ 4 (705), sư trở về nước, sau ít lâu, qua 3 lần nghinh thỉnh, vào năm Cảnh long thứ 2 (708) đời vua Trungtông, sư lại đến Trung quốc, vua đích thân ra đón sư ở ngoại thành. Không bao lâu, sư lâm bệnh và thị tịch vào tháng 10 niên hiệu Cảnhvân năm đầu (710), hưởng thọ 59 tuổi. Sau khi hỏa táng, lưỡi vẫn còn nguyên vẹn. Các đệ tử sư như Bi trí... đưa linh cốt và lưỡi của sư về Vuđiền xây tháp cúng dường. Người đời sau cũng xây tháp 7 tầng ở chỗ hỏa táng, gọi là Hoanghiêm tam tạng tháp. [X. Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13; Tống cao tăng truyện Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.39; Phật tổ lịch đại thông tải Q.12, 15].
thật đại thừa
(實大乘) Đối lại: Quyền đại thừa. Cũng gọi Thực giáo đại thừa, Đại thừa thực giáo. Chỉ cho giáo pháp Đại thừa nêu tỏ nghĩa lí chân thực không vướng mắc vào phương tiện quyền biến giả tạm. Đây là căn cứ vào điều được nói trong Đại thừa nghĩa chương quyển 9. Thực Đại thừa vốn chỉ cho giáo thuyết Nhất tính giai thành được hiển bày trong kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa... nghĩa là giáo thuyết này trực tiếp nói rõ pháp tự chứng của Phật, cho nên là Đại thừa giáo chân thực liễu nghĩa. Giáo thuyết này đối lại với các giáo thuyết Tam thừa các biệt, Lịch kiếp tiệm tu...do luận Duy thức chủ trương. Do đó mới lấy 2 tông Hoa nghiêm và Thiênthai làm Thực đại thừa, về sau lại thêm Chân ngôn tông và Thiền tông... (xt. Quyền Đại Thừa).
thật đại thừa giáo
The real Mahàyàna, freed from temporal, relative or expedient ideas; the Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Thiền, Chân ngôn schools claim to be such.
thật đạo
The true way, the true religion, absolute Buddha-truth.
thật đế
A truth; the true statement of a fundamental principle.
; (實諦) Cũng gọi Nhất thực đế, Nhất thực, Nhất đế. Đồng nghĩa: Chân đế. Chỉ cho đế lí chân như nhất thực. Cái lí mà bậc Thánh thấy biết là đế lí chân thực, cho nên gọi là Thực đế. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 13 (Đại 42, 443 trung) nói: Thực đế được gọi là chân pháp (...), nếu pháp chẳng chân thì chẳng gọi là Thực đế. Cũng theo kinh Niếtbàn quyển 13 thì nhất đạo Phật tính thường trụ là Thực đế. Tông Thiênthai thì chủ trương lí tột cùng bất đản Trung viên dung 3 đế Không, Giả, Trung nói trong Viên giáo là Nhất thực đế. (xt. Nhất Thực).
thắm
Bright red.
Thắng
勝; C: shèng; J: shō; |Có các nghĩa sau: 1. Xuất sắc, đặc biệt, nổi bật, cao cấp, trội hơn, cao cả (s: viśista, viśa-da, parama, agra); 2. Trội hơn, vượt hơn; 3. Khắc phục, chế ngự. Đủ khả năng đáp ứng được, giữ vững được, chống đỡ được; 4. Điểm xuất sắc, điều xuất sắc; 5. Tính ưu việt, trạng thái chiếm ưu thế (s: prādhānya); 6. Chinh phục; 7. Người thông minh thính nhạy khác thường; đức Như Lai.
thắng
Jina (S). Victorious; to overcome, surpass.
; 1) Chiến thắng: Jina (skt)—Victorious—To win—To conquer—To defeat. 2) Hãm thắng xe lại: To stop—To put on the brake. 3) Thắng đường: To boil sugar—To melt fat. 4) Vượt thắng: Surpassing—All-pervading.
thắng biện châu
Kurava (P) Cu lạp ba Một trong hai Trung châu của Bắc câu lô châu.
thắng bại
Victory or defeat.
thắng châu
Xem Đông thắng thần châu.
; Uttarakuru (skt)—Bắc Cu Lô Châu—The continent north of Mount Meru.
thắng chỉ
(勝指) Cũng gọi Thực chỉ. Tức ngón tay trỏ. Kinh Đại giáo vương quyển 3 (Đại 18, 223 thượng) nói: Từ tự tâm khởi lên Kim cương bảo ấn đặt vào chỗ quán đính, dùng ngón trỏ(thắng chỉ)tự quán đính, rưới đầu, buộc tóc.
thắng cung dưỡng
(勝供養) Phương pháp cúng dường Phật thù thắng nhất, là 1 trong 10 cách cúng dường của Bồ tát. Thắng cúng dường lạicó 3 phương pháp: 1. Chuyên thiết lập các thứ cúng dường. 2. Đem tín tâm thuần tịnh để cúng dường. 3. Đem tâm hồi hướng đặt bày cúng dường.
thắng công đức
Surpassing merits.
thắng cảnh
Fine (beautiful) scenery.
thắng duyên
Auspicious conditions.
thắng giả
Pradhàna (S). Pre-eminent, predominant
; Pradhana (skt)—Thắng Luận Sư—Pre-eminent, predominant.
Thắng giải
勝解; C: shèngjiĕ; J: shōge; S: adhimukti, adhi-mokṣa; T: mospa;|Theo giáo lí của Du-già hành phái (瑜伽行派; s: yogācāra), tâm hành nhận biết rõ các pháp. Một trong 5 Biệt cảnh của Tâm sở hữu pháp (theo Thành duy thức luận 成唯識論).
thắng giải
Strong inclination Adhimutti (P), Abhibhu (P), Adhimokkha (P), Adhimukti (S), Adhimokṣa (S), mos pa (T) Hiện tiền, Đối diện, Tín giải Nương vào tín mà thắng giải. Một trong 10 đại địa pháp. Tác dụng nhận biết rõ ràng sự lý.
; To win a prize.
; (勝解) Phạm: Adhimokwa. Pàli:Adhimutti. Cũng gọi Tín giải. Tên của tâm sở, 1 trong 10 Đại địa pháp thuộc 75 pháp của Câu xá, 1 trong 5 Biệt cảnh thuộc 100 pháp của Duy thức. Nghĩa là sự hiểu tỏ thù thắng, tức đối với các cảnh sở duyên (đối tượng nhận thức) khởi lên tác dụng phán đoán chính xác. Nhưng về tâm sở này, các phái giải thích có khác nhau. Thuyết nhất thiết hữu bộ và tông Câu xá cho rằng Thắng giải là 1 trong 10 Đại địa pháp, có thể tương ứng với tất cả tâm sở, tức trùm khắp tất cả tâm phẩm. Luận Câu xá quyển 4, (Đại 29, 19 thượng) nói: Thắng giải nghĩa là đối với các cảnh có năng lực hiểu rõ chính xác. Tức bất luận là thị phi, tà chính, tác dụng của tâm sở này đều có thể quyết đoán rõ ràng, chính xác. Ví dụ khi tâm đối trước cảnh, dù cảnh đó là hoa hay trăng, tâm liền quyết đoán là hoa, là trăng, cho nên tất cả tâm phẩm đều có tâm sở này. Nhưng tông Duy thức thì cho rằng Thắng giải là 1 trong 5 Biệt cảnh, không có công năng trùm khắp tất cả tâm sở. Luận Thành duy thức quyển 5 (Đại 31, 28 trung) nói: Thế nào là thắng giải? Nghĩa là khi đối trước cảnh tâm quyết định rõ ràng, phán đoán chính xác, đó là Thắng giải; còn nếu đối trước cảnh tâm còn do dự, nghi ngờ, không thể quyết đoán, thì không phải là Thắng giải, không thể trùm khắp. Còn Thượng tọa bộ thì chủ trương Thắng giải chính là quyết định và không khác gì với Trí tướng. Thuyết Nhất thiết hữu bộ thì cho rằng ấn khả là tác dụng khác của Thắng giải, vì thế khác với Thắng giải hoặc Trí tướng. Luận Đại tì bà sa quyển 101 cho rằng Trạch diệt là tự tính của giải thoát vô vi, còn Thắng giải thì là tự tính của giải thoát hữu vi. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.16, 28].
Thắng giải hạnh vị
勝解行位; C: shèngjiĕxíngwèi; J: shōgegyōi; |Thắng giải hạnh địa (勝解行地).
Thắng giải hạnh địa
勝解行地; C: shèngjiĕxíngdì; J: shōgegyōji; S: adhimukti-caryā-bhūmi.|Thuật ngữ nói đến toàn bộ các giai vị Thập tín (十信), Thập trú (十住), Thập hạnh (十行), và Thập hồi hướng (十廻向; theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Thắng giải hạnh địa 勝解行地
Thắng giải hạnh vị 勝解行位 [ja] ショウゲギョウジ shōgegyōji ||| A reference to the combined stages of the ten faiths 十信, ten abidings 十住, ten practices 十行 and ten dedications of merit 十廻向 (adhimukti-caryā-bhūmi). 〔二障義HPC 1.805a〕 => (s: adhimukti-caryā-bhūmi) Thuật ngữ nói đến toàn bộ các giai vị Thập tín, Thập trú, Thập hạnh, và Thập hồi hướng. Theo Nhị chương nghĩa (二障義).
thắng giải tác ý
(勝解作意) Một trong 3 thứ tác ý nói trong luận Câu xá, cũng là 1 trong 7 thứ tác ý nói trong luận Du già sư địa. Tác ý chỉ cho tác dụng tinh thần của tâm trong trạng thái luôn tỉnh thức. Cứ theo luận Câu xá quyển 7 thì nếu tác ý tương ứng với các pháp quán như: Bất tịnh quán, Tứ vô lượng, Giải thoát ở cõi Sắc, Thắng xứ, Biến xứ... đều gọi là Thắng giải tác ý. Thắng giải tác ý đối lại với Chân thực tác ý trong pháp quán của Mật giáo. Nghĩa là nếu dùng vật cụ thể như các pho tượng của chư tôn làm đối tượng để quán tưởng thì gọi là Chân thực tác ý; ngược lại, nếu lìa thực thể, chỉ nương vào trí giải tác ý mà quán tưởng thì gọi là Thắng giải tác ý, chẳng hạn như quán tưởng vềsự trang nghiêm của cõi Tịnh độ là thuộc về Thắng giải tác ý. (xt. Chân Thực Tác Ý).
Thắng giải 勝解
[ja] ショウゲ shōge ||| 'Verification' (Skt. adhimukti, adhimokṣa; Tib. mospa). According to the doctrine of the Yogācāra 瑜伽行派 school, the mental function of making clear exactly what the object is. One of the five "object dependent" mental function elements. 〔成唯識論T 1585.31.27b〕 => (S. adhimukti, adhimokṣa; T. mospa). Theo giáo lý của Du Già Hành phái, tâm hành nhận biết rõ các pháp. Một trong năm Biệt cảnh của Tâm sở hữu pháp. Theo Thành Duy thức luận (成唯識論)
thắng hạnh
Surpassing action, virtues.
; (勝行) Hành vi thù thắng. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 9 thì hạnh tu của Bồ tát được chia làm 2 loại là Phúc thắng hạnh và Trí thắng hạnh.Khi phân tích 6 Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, nếu đứng về phương diện toàn thể mà nói thì 6 Ba la mật đều thuộc Phúc thắng hạnh, hoặc Trí thắng hạnh; còn nếu tách rời ra mà bàn thì 5 Ba la mật đầu đều thuộc Phúc thắng hạnh, còn Trí tuệ(Bát nhã) ba la mật thì thuộc Trí thắng hạnh. Cũng có thuyết cho rằng 3 Ba la mật trước thuộc Phúc thắng hạnh, tinh tiến và thiền định thì vừa thuộc Phúc thắng hạnh vừa thuộc Trí thắng hạnh, còn Bát nhã thì thuộc Trí thắng hạnh. Ngoài ra, tông Hoa nghiêm cho rằng Bồ tát tu du hí tự tại có 10 thắng hạnh; tông Duy thức cho rằng Bồ tát tu Thập địa có 10 Thắng hạnh (10 Ba la mật); tông Câu xá cũng cho rằng nếu muốn được sinh lên cõi trời Phạm phụ thì phải có đủ 10 thắng hạnh như: Cúng dường Như lai đà đô, Cúng dường tứ phương tăng già... [X. kinh Hoa nghiêm Q.39 (bản dịch cũ); luận Câu xá Q.18]. (xt. Thập Ba La Mật, Thập Thắng Hạnh).
thắng hội
A pleasant gathering; a happy meeting.
thắng hữu
Visesamitra (S), Jinamitra (S) Một trong 10 Đại Luận sư chú thích bộ "Duy thức Tam Thập Luận" của ngài Thế Thân.
; Jinamitra (S). Name of an eloquent monk at Nàladà, circa AD 630, author of Sarvastivàda-vinaya-sangraha.
; 1) Làm bạn với người chiến thắng, ý nói về quy y Phật: Friend of the Jina, or, having the Jina for friend, or to take refuge in the Triratna. 2) Tên của một vị Tăng có tài hùng biện tại tu viện Na Lan Đà, vào khoảng năm 630 sau Tây Lịch, tác giả của bộ Đại Chúng Bộ Luật, được dịch sang Hoa ngữ khoảng năm 700 sau Tây Lịch: The name of an eloquent monk of Nalanda, around 630 A.D., author of Sarvastivadah-vinaya-sangraha, translated into Chinese in 700 A.D.
; (勝友) I. Thắng Hữu. Chỉ cho đạo hữu, lương hữu, thiện hữu. Tức chỉ cho người bạn có đạo tâm, tu hành tinh tiến. Như đức Như lai Thích ca mâu ni, khi khen ngợi công đức của người niệm Phật cho rằng 2 bồ tát Quán thế âm và Đại thế chí đều là Thắng hữu của người ấy. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 346 trung) nói: Nếu có người nào niệm Phật thì nên biết người ấy chính là hoa phân đà lợi(hoa sen trắng) trong loài người, các bồ tát Quán thế âm và Đại thế chí đều là Thắng hữu của người ấy. II. Thắng Hữu. Phạm: Vizewamitra. Hán âm: Tì thế sa mật đa la. Hán dịch: Thù thắng thân, Thắng thân. Một trong 10 vị Đại luận sư Duy thức. Sư sinh ở Ấn độ vào cuối thế kỉ VI, là đệ tử của ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla), trụ ở chùa Na lan đà tại Trung Ấn Độ, nổi tiếng về tài biện luận. Tác giả của Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp cũng có tên là Thắng hữu nhưng có lẽ là người khác. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1; Đại đường tây vực chí Q.9; Chỉ quật dịch thổ tập Q.21].
thắng kim châu
Xem Diêm phù đề.
thắng kim sắc quang minh đức nữ kinh
Majuśrī-vikridita sŪtra (S) Đại Trang nghiêm Pháp môn kinh Tên một bộ kinh.
; (勝金色光明德女經) Phạm:Maĩjjuzrì-vikrìđita-sùtra. Cũng gọi Đại trang nghiêm pháp môn kinh, Văn thù sư lợi thần thông lực kinh, Thắng kim hoa minh đức nữ kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Na liên đề da xá dịch vào khoảng năm Khai hoàng thứ 2 đến thứ 5 (582-585) đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này nói về việc bồ tát Văn thù sư lợi hiển hiện sức thần thông đểgiáo hóa dâm nữ Thắng kim sắc ở thànhVương xá, chỉ bày giáo pháp phiền nãotức bồ đề và ý nghĩa chân thực của sự xuấtgia không phải chỉ là việc cạo tóc, mà phảithành tựu việc tự lợi và lợi tha. Những điều được chỉ dạy trong kinh này đều thuộc giáolí Đại thừa.[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đườngnội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].
thắng kiện
To win one's case.
Thắng luận
xem Vệ-thế-sư.
; 勝論; C: shènglùn; J: shōron; S: vaiśeṣika-śāstra.|Tên một bộ luận và tông phái triết học Ấn Độ mang tên bộ luận ấy. Thắng Luận tông (勝論宗).
thắng luận
Vaiśeṣika-śāstra (S) Thắng Tông.
; Vaisesika-sàstra (S).
; See Thắng Luận Tông.
thắng luận học phái
(勝論學派) Thắng luận,Phạm:Vaizewika. Pàli:Visesikà. Hán âm: Phệ thế sắc ca, Phệ thế sử ca, Tì thế sư, Vệ thế sư, Vệ sinh tức, Bệ tỉ ca. Cũng gọi: Tối thắng luận học phái, Dị thắng luận học phái, Thắng tông. Học phái Thắng luận, 1 trong 6 phái Triết học, 1 trong các ngoại đạo Tứ chấp, 1 trong 16 tông ngoại đạo, 1 trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ. Người sáng lập ra học phái này là Ưu lâu già (Phạm:Ulùka, còn có tên khác là Cát na già (Phạm:Kaịàda). Cứ theo truyền thuyết thì Ưu lâu già có soạn Thắng luận kinh(Phạm: Vaizewikasùtra), sách này được coi là Thánh điển của học phái Thắng luận. Trong kinh Phật nguyên thủy cũng như các sách ngoại đạo lưu hành ở thời đức Phật đều không thấy nói đến tên của học phái Thắng luận và học thuyết của phái này, cứ đó mà suy đoán thì có lẽ sau khi Phật nhập diệt học phái này mới hưng khởi. Còn các học giả cận đại thì căn cứ vào kết quả của sự nghiên cứu, phê phán nguyên điển mà cho rằng học phái này được thành lập từ khoảng thế kỉ III trước Tây lịch đến thế kỉ I, II sau Tây lịch, từ sau Ưu lâu già, sự truyền thừa của phái này không được rõ. Nhưng học thuyết của phái này trước ngài Long thụ rất thịnh, thường tranh luận với Phật giáo, như trong Quảng bách luận bản, Bách luận, Ngoại đạo tiểu thừa tứ tông luận của ngài Đề bà, trong Trung luận thích của ngài Thanh mục và trong Bách luận thích của ngài Bà tẩu (Thế thân)... đều có luận thuyết phê phán bác bỏ học phái này. Bởi lúc bấy giờ, học thuyết của Thắng luận và Số luận là nổi bật nhất trong các học thuyết ngoại đạo, cho nên gọi chung 2 phái là Thắng Số. Còn đối với các Luận sư của học phái Thắng luận thìnhữngngười tôn sùng gọi là Thắng luận sư, Thắng giả, những người chê bai thì gọi họ là Thắng luận ngoại đạo. Học thuyết của phái này có khuynh hướng Thực tại luận, bác bỏ vạn sự vạn vật chỉ tồn tại trong khái niệm, chủ trương tất cả sự vật đều có thực thể của chúng và đều có thể qui vào 6 phạm trù lớn. Tức dùng 6 cú nghĩa (Phạm: Waỉpadàrtha, 6 nguyên lí): Thực, Đức, Nghiệp, Đồng, Dị, Hòa hợp do Ưu lâu già lập ra để thống nhiếp thực thể, thuộc tính của tất cả các pháp và nguyên lí sinh thành, hoại diệt của chúng. Khoảng thế kỉ V, VI, Luận sư Tuệ nguyệt lại căn cứ vào 6 cú nghĩa mà tăng thêm 4 cú nghĩa: Hữu năng, Vô năng, Câu phân và Vô thuyết, soạn thành Thắng tông thập cú nghĩa luận, đề xướng thuyết Thập cú nghĩa. Phái này chủ trương do Chân tri và Du già mà đạt được sự giải thoát chân thực. Chân tri nhờ nghiên cứu triết học của 6 cú nghĩa mà có; chủ trương Ý là cội nguồn của thiện ác, cho nên phải kiềm chế ý nghĩ của con người, tức phải tu Du già. Căn cứ vào 6 cú nghĩa mà nhận xét chung thì học thuyết cốt lõi của phái này thuộc về Đa nguyên luận, trong đó bao gồm: Cực vi thuyết, Thực ngã luận, Tam thế thực hữu luận, Nhân trung vô quả thuyết... Còn đối với Thanh luận thì phái này chủ trương Âm thanh vô thường. [X. Đại trang nghiêm kinh luận Q.1; luận Nhân minh nhập chính lí; luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn; Bách luận sớ Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.1; Ấn độ lục phái triết học]. (xt. Thập Cú Nghĩa).
thắng luận kinh
Vaiśeṣika sŪtra (S) Tên một bộ kinh.
; (勝論經) Phạm:Vaizewika-sùtra. Hán âm: Phệ thế sử ca tát đa la, Phệ thế sư ca kinh. Thánh điển của học phái Thắng luận (Vaizewika) trong 6 phái triết học Ấn độ, gồm 10 thiên 370 bài tụng, tương truyền do Ưu lâu già (Phạm:Ulùka, tên khác là Cát na đà, Phạm: Kaịàda) soạn, thành lập khoảng thế kỉ III trước Tây lịch đến thế kỉ I, II sau Tây lịch; có thuyết cho rằng những lời nói của Ưu lâu già truyền cho phái Thắng luận, về sau mới được biên soạn thành sách. Kinh này lấy 6 cú nghĩa (Phạm: Waỉpadartha, 6 phạm trù): Thực thể (Thực cú nghĩa), Thuộc tính(Đức cú nghĩa), Vận động (Nghiệp cú nghĩa), Phổ biến (Đồng cú nghĩa), Đặc thù(Dị cú nghĩa)và Nội thuộc(Hòa hợp cú nghĩa) làm chủ đề, nội dung trình bày gồm có: Sự tất yếu của việc nghiên cứu 6 cú nghĩa, bàn tỉ mỉ về Thực cú nghĩa, ngã cá nhân và khí quan nội thể, thân thể, Pháp và Phi pháp trong Đức cú nghĩa, Tri thức luận, Tạp luận(bàn về vấn đề trong nhân không có quả, mối quan hệ giữa có và không...), Tỉ lượng (do thuyết minh về khổ, vui mà bàn đến các vấn đề nhân quả)...Về các sách chú thích kinh này thì có: - Cú nghĩa pháp cương yếu (Phạm: Padàrthadharmasaôgraha) của Prazastapàda. - Chú (Phạm: Upaskàra) của Zaíka= ramizra. - Thắng tông thập cú nghĩa luận của Maticandra (Tuệ nguyệt). - Thất cú nghĩa luận (Phạm: Saptapadàrthi) củaZivàditya. [X. luận Thắng tông thập cú nghĩa (ngài Huyền trang dịch); Ấn độ triết học nghiên cứu Q.1, 3 (Vũ tỉnh Bá thọ)].
thắng luận phái
Vaiśeṣika (S) Vệ thế sư phái, Tối Thắng học phái, Đa nguyện thực tại luận phái, Phệ thế sử ca phái Một trong 6 học phái ra đời vào khoảng thế kỳ thứ nhất lấy 6 nguyên lý: thực thể, tánh chất, vận động, phổ biến, đặc thù, nội thuộc để nói về những hiệntượng. Tổ là ngài Kiết na đà (Kanada), Kinh căn bản là Kinh Thắng luận.
Thắng luận sư
勝論師; C: shènglùnshī; J: shōronshi; |Các luận sư hay triết gia của Thắng luận tông.
Thắng luận sư 勝論師
[ja] ショウロンシ shōronshi ||| A Vaiśeṣika teacher or philosopher. => Các luận sư hay triết gia của Thắng luận tông. [ja]ショウシンシュウ shōshinshū ||| See 東勝身洲.
Thắng luận tông
勝論宗; C: shènglùn zōng; J: shōron shū; S: vaiśeṣika-śāstra;|Một tông phái triết học Ấn Độ mang tên bộ luận Vaiśeṣika, phiên âm là Vệ-thế-sư (衛世師), người sáng lập được xem là Ca-na-đà (迦那陀; s: kaṇāda). Là tông phái xưa nhất trong »Sáu tông phái ngoại đạo« của triết học Ấn Độ (lục ngoại đạo 六外道). Vaiśeṣika theo tiếng Phạn có nghĩa là »sai biệt« (差別) và »thù thắng« (殊勝; s: viśeṣa). Tông nầy chia trạng thái đa dạng của bản chất thành 6 phạm trù (lục cú nghĩa 六句義; s: padārtha), hơi có khuynh hướng khoa học. Thắng luận tông giữ quan niệm là thông qua sự thực hành trọn vẹn các bổn phận đặc thù mà con người có thể hiểu được 6 phạm trù (lục cú nghĩa), và sự hiểu biết nầy có thể đưa đến phúc lạc. Ca-na-đà trình bày hệ thống quan điểm của ông trong luận Vaiśeṣika-sūtra, gồm 10 chương.
thắng luận tông
The Vaisesika school of Indian philosophy, whose foundation is ascribed to Kanàda (Ulùka); he and his successors are respectfully styled luận sư or slightinly luận ngoại đạo; the school when combined with the Nyàya, is also known as Nyàya-vaisesika.
; Vaisesika-sastra (skt)—Còn dịch là Tông của Vệ Thế Sư. Thắng Luận là một trong sáu phái triết học ở Ấn Độ do Âu Lộ Ca Tiên (Uluka), còn có tên là Ca Na Đà, sáng lập. Người ta đã đặc cho ông và hàng đệ tử nối tiếp ông danh hiệu luận sư hay luận sư ngoại đạo. Về sau phái nầy họp lại với phái Nyaya thành phái Nyaya-Vaisesika (trường phái nầy là luận phái duy vật chuyên phân tích vũ trụ vạn hữu thành không gian)—The Vaisesika-sastra sect of Indian philosophy, whose foundation is ascribed to Kanada (Uluka); he and his successors are respectfully styled sastra-writers (philosophers) or slightingly styled heretical philosophers; the school when combined with the Nyaya, is also known as Nyaya-Vaisesika
Thắng Luận tông 勝論宗
[ja] ショウロンシュウ Shōron shū ||| The Vaiśeṣika school of Indian philosophy, transcribed as 衛世師), whose foundation is ascribed to Kaṇāda 迦那陀. The oldest of the so-called "six non-Buddhist schools" of Indian philosophy (liuwaidao 六外道). The Sanskrit vaiśeṣika literally means "referring to the distinctions (viśeṣa)". This school it divides the multiplicity of nature into six categories 六句義 (padārthas), being somewhat scientifically oriented. Vaiśeṣika maintains the view that through the fulfillment of particular duties one may come to know the six padārthas, and that this knowledge leads to bliss. Kaṇāda presents his system in the Vaiśeṣika-sūtra, which consists of ten adhyāyas (chapters).. => Một tông phái triết học Ấn Độ mang tên bộ luận Vaiśeṣika, phiên âm là Vệ thế sư 衛世師, người sáng lập được xem là Ca-na-đà ( 迦那陀; s: Kaṇāda).Là tông phái xưa nhất được gọi là "Sáu tông phái ngoại đạo" của triết học Ấn Độ ( lục ngoại đạo 六外道; c: liuwaidao). Vaiśeṣika theo tiếng Sanskrit có nghĩa là " sai biệt 差別 và thù thắng 殊 勝 (s: viśeṣa)". Tông nầy chia vô số trạng thái tự nhiên thành 6 phạm trù ( lục cú nghĩa 六句義; s: padārthas), hơi có khuynh hướng khoa học. Thắng luận tông duy trì quan niệm thông qua sự thực hành trọn vẹn các bổn phận đặc thù mà con người có thể hiểu được 6 phạm trù (lục cú nghĩa), và sự hiểu biết nầy có thể đưa đến phước lạc. Ca-na-đà ( 迦那陀; s: Kaṇāda) trình bày hệ thông quan điểm của ông trong Kinh Thắng luận (s: Vaiśeṣika-sūtra), gồm 10 chương.
Thắng luận 勝論
[ja] ショウロン Shōron ||| The Vaiśeṣika-śāstra and the Vaiśeṣika school of Indian philosophy. See 勝論宗. => Một bộ luận (s: Vaiśeṣika-śāstra) và tông phái triết học Ấn Độ mang tên bộ luận ấy. Xem Thắng Luận tông (勝論宗).
thắng lâm
The Jeta Grove, Jetavana—See Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.
thắng lạc quốc
Ramswaranta (S).
thắng lợi
See Thắng.
thắng man bảo quật
(勝鬘寶窟) Cũng gọi Thắng man kinh bảo quật. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Cát tạng (549-623) soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Đây là tác phẩm chú giải tỉ mỉ rõ ràng nhất trong các sách chú giải kinh Thắng man. Trước hết nói rõ về 5 huyền nghĩa, tức giải thích tên kinh, trình bày về duyên khởi, biện minh tông chỉ, nêu ra sự khác nhau giữa các giáo và bàn về phạm vi giải thích kinh... Kế đến, dùng 15 chương như Tán thán Như lai chân thực nghĩa công đức, Thụ thập đại thụ, Vô biên Thánh đế, Tự tính thanh tịnh, Thắng man sư tử hống... để bàn rõ yếu chỉ của kinh Thắng man. Trong sách này trích dẫn hơn 40 bộ kinh luận như Pháp hoa, kinh Duy ma, luận Đại trí độ... và các kinh điển ngoài tạng như kinh Tượng pháp quyết nghi, kinh Xà vương sám hối... Lại trích dẫn Thắng man kinh chú sớ yếu nghĩa của các nhà như Lương vũ biệt thích, Cổ chú, Cổ sớ, Chú duy ma, cho đến các giáo thuyết của các ngài Đàm lâm, Tăng triệu, Trúc đạo sinh, Đàm ảnh, Bồ đề lưu chi và các Luận sư Thành thực ở Giang nam... Các sách chú sớ kinh Thắng man được soạn vào thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều phần lớn đã bị thất lạc, hiện naychỉcòn thấy sơ lược một vài đoạn được trích dẫn trong sách này mà thôi. [X. Tam luận tông chương sớ].
thắng man hoàng hậu
Ṣrīmālā (S).
Thắng Man kinh
勝鬘經; C: shèngmán jīng; J: shōmangyō; S: śrīmālādevī-sūtra; là tên gọi ngắn của Thắng Man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng kinh (śrīmālādevī-siṃhanāda-sū-tra);|Kinh Ðại thừa, được hai vị Cao tăng Ấn Ðộ dịch sang Hán văn. Bản thứ nhất của Cầu-na Bạt-đà-la (求那跋陀羅; s: guṇabhadra), được dịch đời Lưu Tống (tk. 5, ~ 435-443) dưới tên trên. Bản thứ hai được Bồ-đề Lưu-chi (bodhruci) dịch (~ 508-535) dưới tên Thắng Man phu nhân hội, bởi vì kinh này cũng là một phần của bộ kinh Ðại bảo tích, hội 48. Một bản dịch cũ của kinh nầy có tên Phu nhân kinh (夫人經). Kinh này tương đối ngắn, bao gồm 15 phẩm. Phẩm thứ nhất nói về đức tính chân thật của Như Lai và sự việc công chúa Thắng Man được Phật thụ kí. Phẩm 2 – 4 nói về việc phát triển Bồ-đề tâm. Nội dung của phẩm thứ 5 – 15 có thể gọi chung là »nhập Như Lai tạng« nói về việc xác quyết Nhất thừa (s: ekayāna), về Như Lai tạng (s: tathagātagarbha), Pháp thân (s: dharmakāya), bản tính thanh tịnh. Vì bản chất nội dung, kinh thường được bàn luận và so sánh với các kinh luận như Bảo tính luận, Lăng-già (楞伽經; s: lankāvatāra-sūtra), Đại thừa khởi tín luận (大乘起信論)… Kinh này đã được Wayman dịch sang Anh ngữ năm 1974.|Công chúa Thắng Man, nhân vật chính trong kinh này có quan điểm rằng, Phật chỉ vì Ðại thừa thuyết pháp và pháp này bao gồm tất cả ba cỗ xe (Ba thừa). Thắng Man nêu ba hạng người có thể đi trên đường Ðại thừa, đó là 1. Hạng người thực hiện được Trí huệ vô thượng một mình; 2. Hạng người nhờ nghe pháp mà đạt trí huệ; 3. Hạng người có Tín tâm (s: śraddhā), tin tưởng nơi Phật pháp, mặc dù không đạt được trí huệ tột cùng.|Thắng Man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng kinh|勝鬘獅子吼一乘大方便方廣經; C: shèngmán shīzǐ hŏu yīshèng dàfāngbiàn fāng-guăng jīng; J: shōman shishikō ichijō daihōben hōkō kyō; S: śrīmālādevī-siṃhanāda-sūtra;|Tên gọi đầy đủ của kinh Thắng Man.
thắng man kinh
Śrīmala-siṃha-nada sŪtra (S) Sư tử hống kinh, Thắng Man Sư tử hống Nhất thừa phương tiện Phương quảng kinh Xem Thắng man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng kinh.
; (勝鬘經) Phạm:Zrìmàlà-siôha-nada-sùtra. Gọi đủ: Thắng man sư tử hống nhất thừa đại phươngtiệnphương quảng kinh. Cũng gọi Sư tử hống kinh, Thắng man sư tử hống kinh, Sư tử hống phương quảng kinh, Thắng man đại phương tiện phương quảng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cầu na bạt đà la (Phạm:Guịabhadra, 394-468) dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này nói về việc phu nhân Thắng man lập 10 đại thệ nguyện, 3 đại nguyện trước đức Thích tôn, đồng thời tự nói pháp môn Nhất thừa của Đại thừa giải thích rõ Thánh đế, Pháp thân, Như lai tạng... Kinh này chủ trương Tam thừa qui về Nhất thừa của Đại thừa, được Nhất thừa tức là đượcpháp thân. Chúng sinh tuy bị phiền não trói buộc nhưng bản tính của chúng sinh thì vẫn thanh tịnh, đồng với Như lai, cho nên có đầy đủ tính Như lai(Phật tính, Như lai tạng). Vì lấy Như lai tạng làm nền tảng, nên dù có ở trong thế giớisinh tửluân hồi cũng có khả năng đạt được Niết bàn. Tư tưởng Nhất thừa của kinh này chính là thừa kế kinh Pháp hoa mà trở thành trọng điểm của Phật giáo Đại thừa. Lại đặc sắc của kinh này là ở chỗ dùng người nữ tại gia nói pháp, cho nên cùng với Kinh Duy ma do cư sĩ Duy ma nói đều là tác phẩm đại biểu cho Phật giáo tại gia của Phật giáo Đại thừa. Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai thành lập thì kinh này thuộc về 2 giáo Biệt và Viên, còn trong 5 giáo Tiểu thừa, Thủy, Chung, Đốn, Viên do tông Hoa nghiêm thành lập thì kinh này thuộc về Chung giáo. Toàn kinh chia làm 15 chương, đó là: Như lai chân thực công đức, Thập thụ, Tam nguyện, Nhiếp thụ, Nhất thừa, Vô biên thánh đế, Như lai tạng, Pháp thân, Không nghĩa ẩn phú chân thực, Nhất đế, Nhất y, Điên đảo chân thực, Tự tính thanh tịnh, Chân tưởng và Thắng man. Về các bản dịch khác của kinh này thì có: Thắng man kinh 1 quyển do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương và Hội Thắng man phu nhân thứ 48 trong kinh Đại bảo tích do ngài Bồ đề lưu chi dịch, nhưng bản dịch này của ngài Cầu na bạt đà la được lưu thông rộng rãi nhất. Có rất nhiều sách chú thích kinh này, hiện còn thì có: Thắng man kinh nghĩa kí (khuyết quyển hạ) của ngài Tịnh ảnh Tuệ viễn, Thắng man bảo quật của ngài Cát tạng, Thắng man kinh thuật kí của ngài Khuy cơ và Thắng man kinh nghĩa sớ của Thái tử Thánh đức người Nhật bản. Ngoài ra còn có 3 bộ Chú sớ đào được ở Đôn hoàng. Nguyên văn tiếng Phạm của kinh này đã bị thất lạc, chỉ còn thấy những đoạn rải rác được trích dẫn trong luận Bảo tính và luận Đại thừa tập bồ tát học. [X. kinh Đại thừa mật nghiêm Q.thượng; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.5, 10].
Thắng man kinh 勝鬘經
[ja] ショウマンギョウ Shōmangyō ||| Skt. Śrīmālā-sūtra. The full title of this text is Shengman shizi hu yisheng da fangbian fangguang jing 勝鬘師子吼一乘大方便方廣經 Śrīmālādevī-siṃha-nāda-sūtra); trans. to Chinese in 436 CE by Gunabhadra 求那跋陀羅 (394-468). One fasc., T 353.12.217a-223b. An older version of this text was known by the title of 夫人經. This sutra is one of the main early Mahāyāna texts that taught teach the theories of tathāgatagarbha 如來藏and the Single Vehicle 一乘, through the words of the Indian Queen Śrīmālā. Because of the nature of its content, it is often discussed in comparison with such texts as the Jewel Nature Treatise, the Lankāvatāra-sūtra 楞伽經, the Awakening of Mahāyāna Faith 大乘起信論, etc. It has been translated into English in Wayman (1974). => S. Śrīmālā-sūtra. Tên gọi đầy đủ là Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh 勝鬘師子吼一乘大方便方廣經 (c: Shengman shizi hu yisheng da fangbian fangguang jing ; s: Śrīmālādevī-siṃha-nāda-sūtra); được Cầu-na-bạt-đà-la (求那跋陀羅; s: Gunabhadra 394-468 ) dịch sang tiếng Hán năm 436. Gồm 1 quyển. Một bản dịch cũ của Kinh nầy có tên Phu Nhân Kinh 夫人經. Kinh nầy là một trong những kinh văn chính của Đại thừa Phật giáo dạy giáo lý Như lai tạng ̣(如來藏; s: tathāgatagarbha) và Nhất thừa ( 一乘; e: Single Vehicle), thông qua sự diễn đạt của Hoàng hậu Ấn Độ Thắng Man (s: Śrīmālā). Vì tính chất nội dung kinh, nó thường được được bàn đến khi so sánh với các kinh luận như Bảo tính luận (e: Jewel Nature Treatise); Kinh Lăng già (楞伽經; s: Lankāvatāra-sūtra), Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論; e: Awakening of Mahāyāna Faith)... Đã được Wayman dịch sang Anh ngữ năm 1974.
thắng man phu nhân
(勝鬘夫人) Phạm:Zrìmàlà. Hán âm: Thi lợi ma la, Thất lợi mạt la. Con gái của vua Ba tư nặc, nước Xá vệ, Trung Ấn độ. Mẹ của bà là phu nhân Mạt lợi. Bà là người rất thông minh, mẫn tiệp, là vợ của vua Hữu xứng nước A du xà (Phạm:Ayodhyà). Do ảnh hưởng của cha mẹ nên bà qui y Phật rất sớm, kính lễ tán thán đức Như lai và được thụ kí thành Phật trong vị lai, hiệu là Phổ quang Như lai. Bà từng được Phật lực gia bị tuyên thuyết kinh Thắng man sư tử hống Nhất thừa đại phương tiện phương quảng. Sau bà lại nói pháp Đại thừa cho vua Hữu xứng nghe và cùng với vua hợp lực giáo hóa dân chúng trong nước. Trong kinh luật Phật giáo, Thắng man phu nhân và mẹ củabà là Mạt lợi phu nhân –vợ vua Ba tư nặc– thường được nói đến.[X. Thắng man bảo quật Q.thượng; Thắng man kinh thuật kí Q.thượng]. (xt. Mạt Lợi Phu Nhân).
thắng man sư tử hống nhất thừa phương tiện phương quảng kinh
Śrīmālādevī-sŪtra (S) Thắng Man kinh Tên một bộ kinh.
Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh
(s: Śrīmālā-siṁha-nāda-sūtra, t: Ḥphags-pa-lha-mo-dpal-phreṅ-giseṅ-geḥi sgra shes-bya-ba theg-pa, c: Shêng-man-shih-tzŭ-hou-i-ch'êng-ta-fang-pien-fang-kuang-ching, j: Shōmanshishikōichijōdaihōbenhōkōkyō, 勝鬘師子吼一乘大方便方廣 經): còn gọi là Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Kinh (勝鬘師子吼一乘大方便經), Thắng Man Kinh (勝鬘經), Sư Tử Hống Kinh (師子吼 經), Thắng Man Sư Tử Hống Kinh (勝鬘師子吼經), Sư Tử Hống Phương Quảng Kinh (師子吼方廣經), Thắng Man Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh (勝鬘大方便方廣經), 1 quyển, hiện còn, Taishō 12, 217, No. 353, Cầu Na Bạt Đà La (s: Guṇabhadra, 求那跋陀羅, 394-468) dịch từ năm 435~443 (niên hiệu Nguyên Gia [元嘉] thứ 12-20), đời Lưu Tống.
Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh 勝鬘師子吼一乘大方便方廣經
[ja] ショウマンシシコイチジョウダイホウベンホウコウキョウ Shōman shishikō ichijō daihōben hōkō kyō ||| Shengman shizi hu yisheng da fangbian fangguang jing; the full title of the Śrīmālā Sutra 勝鬘經 (T 353.12.217a-223b). => Tên gọi đầy đủ của Kinh Thắng Man ( 勝鬘經; s: Śrīmālā Sutra )
thắng miêu ngưu châu
Vara-camara (P) Một trong 2 Trung châu của Nam Thiệm Bộ châu.
thắng mạn kinh
Srimàla-sùtra (S). Sùtra of the queen Srimàla.
thắng mạn phu nhân
Malyaśrī (S).
; Màlyasrì, Srimàla (S). Daughter of Prasenajit, wife of the king of Kosala (Oudh), after whom the Srimàlà-devi-simhanàda hội and kinh are named.
; Malyasri (skt)—Con gái của vua Ba Tư Nặc, nước Xá Vệ, mẹ là Mạt Lợi Phu Nhân. Tên tiếng Phạn của bà là Thi Lợi Ma La, nàng vương phi của vua A Du Xà. Về sau người ta lấy tên nàng mà đặt cho một chúng hội và Kinh Thắng Mạn—Daughter of Prasenajit, wife of the king of Kosala (Oudh), after whom the Srimaladevi-simhanada assembly and sutra are named—See Mạt Lợi Phu Nhân, and Kinh Thắng Man.
thắng mật
Xem Cát Hộ. Xem Đức Hộ.
; Srgupta (S). Also Đức Hộ.
thắng nghiệp
Surpassing karma.
; Hành nghiệp thắng diệu—Surpassing karma.
Thắng nghĩa
xem Đệ nhất nghĩa.
; 勝義; C: shèngyì; J: shōgi; |Có các nghĩa sau: 1. Nghĩa cao tột; nghĩa vi diệu nhất. Thực tại tối thượng. Nghĩa chân thật (s: pāramārthika, paramārtha); 2. Cõi giới vi diệu. Chân như; 3. Lí sâu mầu từ kinh nghiệm chứng ngộ, khác hẳn cảnh giới của người chưa chứng ngộ.
thắng nghĩa
Beyond description, that which surpasses mere earthly ideas; superlative, inscrutable.
; Nghĩa đúng như thực tế, tất cả nghĩa lý khác chẳng thể so bằng, cũng gọi là Đệ nhất nghĩa.
; Không thể giải thích bằng lời hay đối lại với lời của thế tục mà gọi là thắng nghĩa (diệu lý sâu xa vượt hơn hẳn lý thời gian thế tục)—Beyond description which surpasses mere earthly ideas; superlative; inscrutable.
; (勝義) Phạm: Paramàrtha. Pàli: Paramattha. Cũng gọi Đệ nhất nghĩa, Chân thực. Chỉ cho đạo lí chân thực tối thắng vượt lêntrên nghĩa thế tục của thế gian. Tức những hành vi vô tướng, không thể nói năng, vượt ngoài mọi biểu tượng, dứt bặt tranh luận, siêu việt tất cả cảnh giới tầm tư. Cứ theo luận Hiển dương thánh giáo quyển 19 và luận Biện trung biên quyển trung thì Thánh đạo, Niết bàn, Chân như... đều là chân lí siêu việt tập tục thế gian, vì thế gọi là Thắng nghĩa đế (Phạm:Paramartha-satya, Pàli: Paramatthasacca);trái lại, đạo lí thông tục của thế gian thì gọi là Thế tục đế. Ngoài ra, lấy theo nghĩa chân thực hữu, đối lại với sự an lập thi thiết của thế tục mà gọi là Thắng nghĩa, như thắng nghĩa thiện và thế tục thiện, thắng nghĩa căn và phù trần căn, thắng nghĩa pháp và pháp tướng pháp. Trong đó, thiện pháp vô vi thuộc về thắng nghĩa thiện, thiện pháp hữu vi thì thuộc về thế tục thiện, hoặc gọi là Hữu lậu thiện. Bất cứ làm điều gì, hễ nương vào thế tục mà làm thì thuộc thế tục, cho nên tâm hữu lậu chính là tâm thế tục; trí hữu lậu lấy thế tục làm đối tượng là trí thế tục; dùng trí thế tục để đoạn trừ phiền não chính là đạo thế tục. Ngoài ra, Phật giáo thông thường bàn rộng về nghĩa lí của pháp môn, gọi là Pháp tướng pháp; trạch diệt niết bàn chân thực không hư dối, không dời không đổi, gọi là Thắng nghĩa pháp. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 8 thì thắng nghĩa và thế tục đều chia làm 3 thứ, vì thế lập 3 thắng nghĩa và 3 thế tục. Phân biệt như sau: 1. Nghĩa thắng nghĩa: Chỉ cho Chân như, là đối tượng của trí tuệ thù thắng. 2. Đắc thắng nghĩa: Chỉ cho Niết bàn chứng được. 3. Hành thắng nghĩa(cũng gọi Chính hành thắng nghĩa): Chỉ cho trí vô lậu hướng tới thắng cảnh tu hành. Trên đây tương đương với Thắng nghĩa đế thứ tư, thứ ba và thứhaitrong 4 Thắng nghĩa đế. Lại phối hợp với 3 tính Duy thức là Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính mà lập 3 thế tục như sau:1. Giả thế tục: Chỉ cho thực thể không có tự tính mà chỉ có giả danh, phối với Biến kế sở chấp tính. 2. Hành thế tục: Chỉ cho tất cả pháp hữu vi vô thường dời đổi, phối với Y tha khởi tính. 3. Hiển liễu thế tục: Chỉ cho Viên thành thực tính của Chân như, Chân như là Y tha khởi tính đã đoạn trừ hết sạch phiền não, cũng không còn dính với Biến kế sở chấp tính. Trên đây tương đương với các Thế tục đế thứ nhất, thứ hai, thứ ba, và thứ tư trong 4 Thế tục đế. Ngoài ra, luận Hiển dương thánh giáo quyển 6 lập 3 thế tục như sau: 1. Thế gian tục: Chỉ cho vật không có thực thể, chỉ nương vào giả danh mà lập, như ruộng vườn, nhà cửa... 2. Đạo lí tục: Chỉ cho những cái nương vào uẩn, xứ, giới mà lập. 3. Chứng đắc tục: Chỉ cho đạo nương vào 4 quả Sa môn hướng tới Bồ đề mà lập. Trên đây tương đương với 3 thế tục đế trước trong 4 thế tục đế. [X. phẩm Thắng nghĩa đế tướng trong kinh Giải thâm mật Q.1; luận Đại trí độ Q.31; luận Câu xá Q.1, 13, 22; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4]. (xt. Nhị Đế, Đệ Nhất Nghĩa Đế).
Thắng nghĩa căn
勝義根; C: shèngyì gēn; J: shōgikon; |Căn (根; s: indriya).
thắng nghĩa căn
The surpassing organ, i.e. intellectual perception, behind the ordinary organs of perception, e.g. eyes, ears, etc.
; Đối lại với trần căn mà lập ra thắng nghĩa căn. Thực thể của năm căn nhãn, nhĩ, vân vân (nhờ vào nó mà có tác dụng phát thức thủ cảnh, do tứ đại chủng tạo thành)—The surpassing organ, i.e. intellectual perception, behind the ordinary organs of perception, e.g. eyes, ears, etc.
; (勝義根) Cũng gọi Chính căn. Chỉ cho các quan năng thù thắng của con người. Hữu bộ của Tiểu thừa chia 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ra làm Phù trần căn và Thắng nghĩa căn. Phù trần căn chỉ cho các bộ phận trông thấy được như tròng mắt, lỗ tai, sống mũi..., còn Thắng nghĩa căn thì lấy Phù trần làm chỗ nương gá, lấy Tịnh sắc căn do 4 đại chủng đất, nước, lửa, gió tạo ra làm thể, co tác dụng khởi động thức và thu lấy cảnh (đối tượng nhận thức). Vì thế mà biết Phù trần căn là chỗ nương gá của Thắng nghĩa căn, có công năng nâng đỡ giúp thành, như tròng mắt, lỗ tai... nói ở trên đều là những khối thịt do 4 trần sắc, hương, vị, xúc tạo thành, thể của chúng thô to, hiện rõ, bản thân chúng không có tác dụng cảm giác nhận thức; còn Thắng nghĩa căn thì lấy Phù trần căn làm chỗ nương gá, thu lấy cảnh(đối tượng) của thế giới bên ngoài, còn thế giới bên trong thì khởi động thức, thể của thức này cực kì thanh tịnh vi diệu, mắt thường của người ta không thể trông thấy được, đó là thể tập hợp của những cực vi do 4 đại chủng tạo ra, là thực thể mà 5 căn nương gá vào để sinh ratác dụng cảm giác nhận thức, tương đương với cái mà người hiện đại gọi là thần kinh của 5 cảm quan. Nhưng Đại chúng bộ thì lại có thuyết khác, cho rằng thể của 5 căn chính là 4 trần sắc, hương, vị, xúc, lấy khối thịt làm tính, chứ không có thể của tịnh sắc nào khác, nó cũng không có công năng thu lấy cảnh. Vì thế nên biếtĐại chúng bộ trực tiếp lấy Phù trần căn làm 5 căn, chứ không lập riêng Thắng nghĩa căn. Ngoài ra, Luận sư Hộ pháp trong số 10 vị Đại luận sư Duy thức căn cứ vào giáo nghĩa Duy thức của Đại thừa, chủ trương Phù trần căn là chỗ nương gá của các căn, Thắng nghĩa căn là sắc thanh tịnh hiện hành do 4 đại chủng tạo ra, thuyết này đại khái cũng giống với thuyết của Hữu bộ Tiểu thừa, nhưng ngài Hộ pháp không thừa nhận cực vi của căn là sắc pháp ngoài tâm có thực thể như Tiểu thừa chủ trương. Còn luận sư Nan đà cũng là 1 trong 10 vị Đại luận sư Duy thức thì chủ trương 5 căn chỉ có chủng tử chứ không có tịnh sắc hiện hành riêng. [X. luận Câu xá Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3]. (xt. Phú Trần Căn).
Thắng nghĩa căn 勝義根
[ja] ショウギコン shōgikon ||| See 根 (indriya). => Xem Căn (根 ; s: indriya).
Thắng nghĩa giai không tông
勝義皆空宗; C: shèngyì jiēkōngzōng; J: shōgikaikūshū; |Giáo lí tối thượng, cho rằng các pháp đều trống không.
Thắng nghĩa giai không tông 勝義皆空宗
[ja] ショウギカイクウシュウ shōgikaikūshū ||| The superior teaching that all is emptiness=> Giáo lý tối thượng, cho rằng các pháp đều là không. Thắng nghĩa vô tính 勝義無性 [ja] ショウギムショウ shōgimushō ||| One of the 'three non-natures' (三無性) of the Faxiang 法相 sect. The non-nature of ultimate reality. => Một trong Tam vô tính (三無性) của Pháp tướng tông. Tính chất vô tự tính của thực tại tối thượng.
thắng nghĩa giản
(勝義簡) Tiếng dùng trong Nhân minh. Giản là tiếng giản biệt, là tiếng tự giới hạn mà trong đối luận Nhân minh, được người lập luận đặt ở trước Tông, Nhân, hoặc Dụ để tránh lỗi lầm về mặt biện luận. Tiếng tự giới hạn này là chiếu theo thắng nghĩa hoặc chiếu theo chân lí mà lập chủ trương, cho nên gọi là Thắng nghĩa giản. Nhờ Thắng nghĩa giản mà tránh được lỗi Tự giáo tương vi. Tự giáo là giáo nghĩa mà chính người lập luận tôn thờ. Vì pháp tắc Nhân minh vốn đã qui định phàm khi lập luận thì không được trái với học thuyết mà tự tông tự giáo chủ trương, như học phái Thắng luận vốn đã chủ trương Âm thanh là vô thường, thì khi Thắng luận sư đối luận với người khác không được lập Tông Âm thanh là thường trụ. Nhưng, để tránh lỗi lầm cố hữu của các học thuyết nên pháp Nhân minh cũng cho phép người lập luận được lập ra thuyết mới thay thế cho thuyết cũ đã có lỗi. Tuy nhiên, khi lập luận, nếu gặp trường hợp trái với thuyết cũ thì trước phải đặt một tiếng giản biệt đặc thù ở trên để chứng tỏ rằng thuyết mới chẳng phải dựa theo thuyết cũ của tự phái, màlàdựa theo chủ trương của Thắng nghĩa(hoặc Chân lí) hầu tránh lỗi Tự giáo tương vi. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung]. (xt. Tự Giáo Tương Vi Quá Giản Biệt, Giản Ngôn).
thắng nghĩa không
Xem Đệ nhất nghĩa không.
; Nirvàna as surpassingly real or transcendental.
; Tính siêu việt hay tính không của Niết Bàn—Nirvana as surpassingly real or transcendental.
thắng nghĩa không kinh
(勝義空經) Kinh, 1 quyển, do ngài Thíhộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 15.Nội dung kinh này đức Phật giải thích đơn giản về Thắng nghĩa không. Nghĩa là khi tất cả các pháp như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý sinh ra thì pháp ấy thực không từ đâu đến, mà khi các pháp diệt thì pháp ấy cũng không lìa tan. Phật lại nói pháp 12 nhân duyên, cho rằng vô minh duyên hành, hành duyên thức, cho đến sinh duyên lão tử, cứ như thế sinh khởi một chuỗi khổ uẩn; cho nên hễ vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, cho đến sinh diệt thì lão tử diệt, như thế thì cả chuỗi khổ uẩn đều diệt. Đây chính là yếu chỉ của Thắng nghĩa không.
thắng nghĩa pháp
The superlative dharma, nirvàna.
; Tên khác của Niết Bàn—The superlative dharma, or nirvana.
thắng nghĩa thiện
(勝義善) Cũng gọi Chân thực thiện. Chỉ cho thiện pháp vô vi, tức niết bàn nương vào chân giải thoát (Thắng nghĩa đế môn), là 1 trong 4 thứ thiện, 1 trong 7 thứ thiện. Vì niết bàn an ổn, trong tất cả pháp, thể của niết bàn là tôn quí nhất, cho nên gọi là Thắng nghĩa thiện. Đó cũng chính là cái mà tông Câu xá gọi là Trạch diệt vô vi và tông Pháp tướng gọi là Lục vô vi. [X. luận Đại tì bà sa Q.50; luận Câu xá Q.13]. (xt. Thằng Nghĩa, Thiện).
Thắng nghĩa vô tính
勝義無性; C: shèngyì wúxìng; J: shōgimushō; |Một trong Tam vô tính (三無性) của Pháp tướng tông. Tính chất vô tự tính của thật tại tối thượng.
Thắng nghĩa đế
勝義諦; C: shèngyì dì; J: shōgitai; S: paramār-tha-satya.|Nguyên lí tột cùng, thực tại tối thượng. Thực tại được nhận biết trên căn bản liễu tri về tính không. Còn gọi là Chân đế (眞諦) và Đệ nhất nghĩa đế (第一義諦). Là một trong hai phương diện của thật tại, phương diện kia là Thế tục đế (世俗諦).
thắng nghĩa đế
Paramārtha-satya (P), Paramattha-sacca (P) Chân đế, Đệ nhất nghĩa đế.
; Paramàrtha-satya (S). The superior truth, enlightened truth as contrasted with wordly truth. Also chân đế, đệ nhất nghĩa đế.
; Chân đế hay chân lý cao tuyệt đối lại với tục đế hay chân lý của thế tục—The superior truth, enlightened truth, as contrast with worldly truth.
thắng nghĩa đế luận
Paramàrtha-satya-sàstra (S). A philosophical work by Vasubandhu Thế Thân.
; Paramartha-sastra (skt)—Tập luận về Thắng Nghĩa Đế của ngài Thế Thân Bồ Tát—A philosophical work by Vasubandhu.
Thắng nghĩa đế 勝義諦
[ja] ショウギタイ shōgitai ||| (paramārtha-satya) The first principle, the ultimate reality. The reality understood on the basis of the view of emptiness. Also眞諦; c:zhendi and 第一義諦; :diyiyidi . One of the two aspects of reality, the other being reality in the worldly sense shisudi 世俗諦. => (s: paramārtha-satya). Nguyên lý tột cùng, thực tại tối thượng. Thực tại được nhận biết trên căn bản liễu tri về tính không. Còn gọi là Chân đế (眞諦; c:zhendi) và Đệ nhất nghĩa đế (第一義諦; c :diyiyidi). Là một trong hai phương diện của thực tại, phương diện kia là Thế tục đế 世俗諦.
Thắng nghĩa 勝義
[ja] ショウギ shōgi ||| (1) The highest meaning; the most sublime meaning. The highest reality. True meaning (pāramārthika, paramārtha). (2) A sublime realm. True thusness. (3) The profound principle of enlightened experience as opposed to unenlightened existence. (4) great wisdom. The mind of the intention to attain nirvāna. (5) Arousing the intention to attain enlightenment. => Có các nghĩa sau: 1. Nghĩa cao tột; nghĩa vi diệu nhất. Thực tại tối thượng. Nghĩa chân thật (s: pāramārthika, paramārtha). 2. Cõi giới vi diệu. Chân như. 3. Lý sâu mầu từ kinh nghiệm chứng ngộ, khác hẳn cảnh giới của người chưa chứng ngộ.
; [ja] ショウギ shōgi ||| (1) The highest meaning; the most sublime meaning. The highest reality. True meaning (pāramārthika, paramārtha). (2) A sublime realm. True thusness. (3) The profound principle of enlightened experience as opposed to unenlightened existence. (4) great wisdom. The mind of the intention to attain nirvāna. (5) Arousing the intention to attain enlightenment. => Có các nghĩa sau: 1. Nghĩa cao tột; nghĩa vi diệu nhất. Thực tại tối thượng. Nghĩa chân thật (s: pāramārthika, paramārtha). 2. Cõi giới vi diệu. Chân như. 3. Lý sâu mầu từ kinh nghiệm chứng ngộ, khác hẳn cảnh giới của người chưa chứng ngộ. Thập Cú Nghĩa Luận 十句義論 Vaiśeṣika-daśapadārtha śāstra; (Treatise on the Ten Padārthas), by Maticandra 慧月, 1 fascicle, T 2138.54.1262-1266. Translated by Xuanzang 玄奘 at Hongfu Monastery in 647. A Hindu Vaiśeṣika 勝宗 text. Padārthas 句義 are the basic components of reality in the Vaiśeṣika system. Vaiśeṣikas more commonly list nine, rather than six, padārthas. English translation in Ui. => Thập Cú Nghĩa Luận (s: Vaiśeṣika-daśapadārtha śāstra; e: Treatise on the Ten Padārthas), Huệ Nguyệt soạn, một quyển. Huyền Trang dịch tại chùa Hoằng Phước năm 647. Kinh căn của Thắng tông Ấn Độ. Cú nghĩa (s: Padārthas) là nội dung cơ bản cấu thành Thực tại trong hệ thống triết học Thắng tông. Thắng tông thường đề ra chín, đúng hơn là sáu cú nghĩa. Bản dịch tiếng Anh của luận nầy, xin xem ở Ui.
Thắng Ngu
(勝虞, Shōgu, 732-811): tức Thắng Ngộ (勝悟, Shōgo), vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới hai thời đại Nại Lương và Bình An, húy Thắng Ngộ (勝悟) hay Thắng Ngu (勝虞), xuất thân vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣]), họ Phàm Trực (凡直). Ông theo học Pháp Tướng và Duy Thức với Hành Cơ (行基, Gyōki), rồi theo hầu Tôn Ứng (尊應, Sonō) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) và rất tinh thông về Nhân Minh Học. Năm 793, trong lễ hội cúng dường tại Văn Thù Đường (文殊堂) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), ông làm đạo sư rãi hoa. Đến năm 797, ông làm Luật Sư, trú tại Nguyên Hưng Tự. Vào năm 805, trong khi Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō) bị bệnh nặng, ông thuyết pháp cho nhà vua nghe, tương truyền nhà vua giác ngộ và từ đó trở đi phát nguyên không đi săn bắn nữa. Năm sau, ông được thăng chức Đại Tăng Đô. Môn đệ của ông có Hộ Mạng (護命, Gomyō), Từ Bảo (慈寳, Jihō), Thái Diễn (泰演, Taien), v.v.
thắng nguyện
(勝願) Cũng gọi Thắng tâm. Chỉ cho thệ nguyện thù thắng. Tức tâm nguyện thù thắng rộng lớn mà hành giả phát khởi để mong thành tựu hết thảy Tất địa thế gian và xuất thế gian khi tu pháp Kim cương giới trong Mật giáo. Lúc phát nguyện này thì kết ấn Kim cương hợp chưởng ở trước ngực, tụng chân ngôn xong thì xả ấn trên đỉnh đầu. Chân ngôn được tụng là: Án (oô, qui mệnh) tát phạ đát tha nghiệt đa (sarva tathàgata, nhất thiết Như lai), thương tư đa (zaôsita#, sở xưng tán), tát phạ đát tha phạ nam (sarvasattvànàm, nhất thiết chư chúng sinh) tát phạ tất đà dược (sarva siddhaya#, nhất thiết thành tựu) tam ba nễ diễn đam (sampadiyantaô, đẳng nguyện) đát tha nghiệt đa (tathàgata, Như lai) thất giả địa để sắt sá đam (azcadhìtiwỉhatam, vị kì gia trì). Kinh Lược xuất quyển 1 giải thích ý nghĩa của bài chú trên như sau: Tất cả các đức Như lai đều cùng khen ngợi hết thảy chúng sinh, hết thảy nguyện Tất địa đều được thành tựu. Thắng nguyện và Tứ vô lượng tâm có Tổng (chung) và Biệt (riêng)khác nhau. Tứ vô lượng là nội chứng của Tứ trí tứ Phật, vì thế là Biệt; còn Thắng nguyện là đức chung của Tứ trí, là nội chứng của Pháp giới trí Đại nhật Như lai, cho nên là Tổng. Tức khi trước đã phát nguyện Tứ vô lượng tâm, đã đầy đủ nguyện Tứ Phật; sau lại trụ trong Tam muội của Đại nhật Như lai, phát nguyện rộng lớn thù thắng của tổng đức. Vì cả 2 chỉ khác nhau về Tổng và Biệt nên có thể tùy theo ý muốn của hành giả mà lược bỏ một trong hai. Trong các kinh quĩ cũng có chỗ nêu chung cả hai, hoặc chỉ đề cập một trong hai. [X. Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; Nhũ vị sao Q.3].
thắng nhân
(勝因) I. Thắng Nhân. Chỉ cho nhân duyên thù thắng. Thung dung lục tắc 3 (Đại 48, 229 thượng) nói: Quốc vương xứ Đông ấn thỉnh Tổ thứ 27 là Bát nhã đa la đến cúng dường trai tăng. Nhà vua hỏi Tổ: Sao sư không xem kinh? Tổ đáp: Bần đạo thở vào không trụ ấm giới, thở ra không vướng các duyên, thường chuyển trăm nghìn vạn ức quyển kinh như thế.(Phần giảng tán trên đây có vô hạn thắng nhân). II. Thắng Nhân. Chỉ cho Thiện nhân Thù thắng. Kinh Phật thuyết vô thường (Đại 17, 746 thượng) nói: Thánh nhân sinh thiện đạo, ác nghiệp rơi vào địa ngục.
thắng niên
Xem Ba tư nặc vương.
thắng phan
(勝幡) Chỉ cho lá cờ biểu thị sự thắng lợi. Nếu khi giao chiến với quân địch mà thắng trận thì dựng thắng phan. Ấn độ đời xưa đã có phong tục này, cho nên trong đạo tràng hàng ma cũng dựng thắng phan để tượng trưng sự thắng lợi. Phẩm Phật đạo trong kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 549 hạ) nói: Hàng phục 4 loài ma, Thắng phan lập đạo tràng. Ngoài ra, cây cờ tượng trưng sự chiến thắng gọi là Thắng chàng.
thắng phan anh lạc đà la ni kinh
(勝幡瓔珞陀羅尼經) Kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Mục đích kinh này nói rõ về pháp trừ chướng. Thủa xưa, đại Thiên cung trên đỉnh núi Hỉ lạc, đức Thích tôn giảng nói kinh Thắng phan anh lạc đà la ni cho Đại Phạm vương và bồ tát Quán thế âm nghe, Ngài dạy rằng nếu thụ trì đọc tụng Đà la ni này thì diệt hết 5 tội nghịch sâu nặng, được phúc đức lớn và giàu có sang trọng. Bản dịch khác của kinh này là kinh Thắng chàng tí ấn đà la ni, 1 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường.
Thắng pháp
勝法; C: shèngfă; J: shōhō; |Có các nghĩa sau: 1. Giáo pháp siêu việt; 2. Giai vị giác ngộ thù thắng (s: śreyas, dharma-netrī); 3. Việc chưa từng xảy ra, chuyện trước đây chưa từng có (vị tằng hữu 未曾有; s: adbhuta).
thắng pháp
Paramattha-dhamma (P), Paramātha-dharma (S).
; The superlative dharma.
thắng pháp không
Nirvana as surpassingly real or transcendental.
thắng pháp tạng
Xem Luận Kinh.
Thắng pháp tập yếu luận
勝法集要論; S: abhidharma; P: abhidham-ma;|Tên dịch nghĩa của A-tì-đạt-ma, Luận tạng.
thắng pháp tập yếu luận
Abhidham-mattha saṃghata (P) Một trong những bộ chú giải kinh điển quan trọng bằng tiếng Pali do ngài Anuruddha viết vào giữa khoảng thế kỷ thứ 8 đến 12.
thắng pháp yếu luận
Compendium of Philosophy. 1) Thắng Pháp Yếu Luận là một trong những bộ luận của Câu Xá Tông, trong đó tất cả các pháp được chia làm hữu vi và vô vi—Compendium of Philosophy is one of the chief sastras or commentaries of the Abhidharma-kosa School, which is classified into two kinds: conditioned and non-conditioned. a) Hữu Vi Pháp: The created or unconditioned—See Hữu Vi Pháp. b) Vô Vi Pháp: Asamskrta (skt)—See Vô Vi Pháp. 2) Những pháp nầy đều là hữu vi, tổng cộng có 72, cùng với 3 pháp vô vi tạo thành 5 bộ loại với 75 pháp: These are all created things, 72 in number and with uncreated things, 3 in number, constitute the five categories and the seventy-five dharmas—See Bảy Mươi Lăm Pháp Câu Xá Tông.
thắng pháp đế
The superior truth, enlightened truth, in contrast with worldly truth (Tục pháp).
thắng pháp đế luận
Paramartha-satya-sastra—A philosophical work by Vasubandhu (Thế Thân Bồ Tát).
Thắng pháp 勝法
[ja] ショウホウ shōhō ||| (1) An excellent teaching (). (2) An excellent stage of attainment (śreyas, dharma-netrī). (3) Unprecedented; never before experienced (adbhuta) 未曾有. => Có các nghĩa sau: 1. Giáo pháp siêu việt. 2. Giai vị giác ngộ thù thắng (s: śreyas, dharma-netrī). 3. Việc chưa từng xảy ra, chuyện trước đây chưa từng có (vị tằng hữu ).
thắng phương
(勝方) Chỉ cho phương Bắc. Phẩm Trì pháp tắc trong kinh Đại nhật (Đại 18, 53 thượng) nói: Ngồi tòa sen nhìn về phương Bắc (Thắng phương),Tâm đạm bạc dứt việc tai ương. Trên tòa cát tường xoay phía Đông, Vẻ tươi vui tăng thêm lợi ích.
thắng phương tiện
(勝方便) Phương tiện thù thắng, chỉ cho pháp xưng niệm danh hiệu Phật A di đà. Theo luận Đại thừa khởi tín thì chuyên niệm Phật A di đà là Thắng phương tiện, pháp này vì những người nội tâm yếu đuối, lại thiếu thắng duyên gần gũi chư Phật, Bồ tát mà lập ra. Vì pháp môn xưng niệm Di đà là phương tiện chắc chắn đạt đến địa vị Bất thoái, cho nên được khen ngợi là Thắng phương tiện. Phần Tu hành tín tâm trong luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 582 thượng) nói: Nên biết Như lai có Thắng phương tiện nhiếp hộ tín tâm, nghĩa là nhờ nhân duyên chuyên tâm niệm Phật mà được tùy nguyện được sinh về cõi Phật ở các phương khác, thường được thấy Phật, mãi mãi xa lìa đường ác. Như kinh nói: Nếu người chuyên niệm Phật A di đà ở thế giới Cực lạc phương Tây, đem hồi hướng các căn lành đã tu được, nguyện cầu sinh về thế giới kia thì liền được vãng sinh, vì thường được thấy Phật nên không bao giờ lui sụt. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ; Đại thừa khởi tín luận sớ bút tước kí Q.6].
thắng phật đảnh
Uṣnīṣajaya (S), Jayosnisa (S) Tên một vị Phật hay Như Lai.
thắng phật đỉnh
(勝佛頂) Phạm: Jayowịìwa. Tạng: Rgyal-ba#i-gtsug-tor. Hán âm: Dục ô sắc ni sái. Cũng gọi Thắng đính luân vương, Thắng Phật đính chuyển luân. Vị tôn ngồi ở ngôi thứ 2 phía dưới đức Trung tôn Thích ca mâu ni trong viện Thích ca trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là 1 trong 5 vị Phật đính, 1 trong 8 vị Phật đính. Phẩm Cụ duyên, phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật, Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, Thai tạng đồ tượng,Thai tạng cựu đồ dạng... đều cho rằng vị tôn này là quyến thuộc của đức Phật Thích ca. Trong các Mạn đồ la Phật đính như kinh Đại diệu kim cương, Tôn thắng Phật đính quĩ, kinh Nhất tự Phật đính luân vương... đều có nêu bày vị tôn này. Vì vị tôn này đã đoạn trừ gốc rễ vô minh, diệt hết nguồn của Ngũ trụ nhị tử, cho nên Niết bàn mà vị tôn này chứng ngộ được là Niết bàn hoàn toàn vắng lặng của Như lai, khác xa với niết bàn tịch tĩnh của Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, vì thế gọi là Thắng Phật đính. Mật hiệu của vị tôn này là Đại tôn kim cương, Vô tỉ kim cương. Về hình tượng của vị tôn này thì các kinh quĩ nói có khác nhau. Cứ theo sự miêu tả trong Thai tạng hiện đồ và Thai tạng đồ tượng thì thân vị tôn này màu vàng, hình tướng Bồ tát, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, tay phải cầm hoa sen búp, tay trái nắm lại thành quyền, cầm hoa sen nở, trên hoa dựng 1 thanh kiếm chung quanh phát ra ánh lửa, mặt xoay về bên phải. Chủng tử là (zaô) biểu thị đức Niết bàn vắng lặng, hình Tam muội da là kiếm trên hoa sen, hoặc dao trên hoa sen, hoặc hình báu trên hoa sen. Theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng (chắp tay để rỗng ở giữa), ngón cái và ngón trỏ của 2 tay chấm đầu vào nhau, tức là Đao ấn, Đại tuệ đao ấn. Cứ theo Tứ bộ nghi quĩ thì chân ngôn của vị tôn này là: Nam ma tam mạn đa bột đà nam (Qui mệnh phổ biến chư Phật) thiêm (zaô, chủng tử) nhạ dục ô sắc ni sái (jayowịìwa, Thắng Phật đính) sa phạ hạ (svàhà). Nhưng Nhất tự đính luân vương quĩ thì chép là: Na mạc tam mạn đa bột đà nam a bát la để ha đa (apratihata, bất hoại, vô gián đoạn) xá sa na nam (wasananàm, sát lục) án (oô) nhập phạ la (jvala, quang minh) nhạ du sắt ni sa (jayowịìwa, Thắng Phật đính) sa phạ hạ (svàhà). [X. kinh Bất không quyên sách Q.9; kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.10].
thắng quang
Xem Ba tư nặc vương.
thắng quán phật
(勝觀佛) Một trong các đức Phật thời quá khứ, là một trong vô lượng chư Phật mà đức Thích tôn đã cúng dường trong các kiếp trước, là đức Phật cuối cùng được cúng dường ở kiếp a tăng kì thứ 3. [X. luận Câu xá Q.18; Chính pháp nhãn tạng cúng dường chư Phật].
thắng quân
Jayasina (S) Xem Ba tư nặc vương.
; Prasenajit (S). Conquering army, or conquerer of an army; king of Kosala and patron of Sàkyamuni. Also Ba tư nặc.
; Prasenajit (skt)—Vua Ba Tư Nặc của xứ Kosala, người hộ trì Phật pháp đắc lực trong thời Đức Phật còn tại thế—Conquering army, or conqueror of an army; king of Kosala and patron of sakyamuni—See Prasenajit in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (勝軍) Phạm: Jayasena. Hán âm: Xà da tê na. Cao tăng nước Tô lạt đà miền Tây Ấn độ, thuộc dòng Sát đế lợi. Thủa nhỏ, sư ham học, ban đầu theo Luận sư Hiền ái học Nhân minh, sau, sư theo ngài Giới hiền học luận Du già sư địa, lại học Thanh minh và luận Đại, Tiểu thừa nơi ngài An tuệ. Các học thuyết của ngoại điển như Tứ phệ đà, thiên văn, địa lí, y phương, thuật số... sư đều nghiên cứu đến nguồn gốc, rất được người đương thời kính trọng. Lúc bấy giờ, vua Mãn trụ nước Ma yết đà và vua Giới nhật nước Yết nhã cúc xà đều thỉnh sư làm Quốc sư, phong cho sư 20, 80 đại ấp, nhưng sư đều từ chối. Về sau, sư trụ ở núi Trượng lâm giảng kinh thuyết pháp, rất đông tăng tục đến qui y học đạo. Khi du học Ấn độ, ngài Huyền trang cũng từng theo sư 2 năm học các bộ luận như luận Duy thức quyết trạch, luận Ý nghĩa lí thành, luận Thành vô úy, luận Bất trụ niết bàn, luận Thập nhị nhân duyên và Trang nghiêm kinh luận, đối với Du già, Nhân minh có chỗ nào thắc mắc nghi ngờ đều được sư chỉ dạy rõ ràng. Sư cho rằng Lượng(luận thức) Đại thừa Phật thuyết do ngài Vô trước lập trong Nhiếp Đại thừa luận có chỗ sai lầm, cho nên sư lập Lượng mới Lưỡng câu cực thành phi Phật ngữ sở bất nhiếp cố, để luận chứng rằng các kinh Đại thừa đều do Phật nói, người đời gọi sư là Thắng quân tỉ lượng. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4, phần đầu; Thành duy thức luận diễn kí Q.3, phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung, phần cuối; Đại từ âm tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; Đại đường tây vực kí Q.9].
thắng quân bất động
(勝軍不動) Thân phẫn nộ biến hình của Minh vương Bất động trong Mật giáo. Thắng quân nghĩa là tự tại. Cứ theo Thắng quân bất động minh vương tứ thập bát sứ giả bí mật thành tựu nghi quĩ thì vị Minh vương này là do tâm của Đại nhật Như lai sinh ra, là phân thân của Ngũ minh vương. Toàn thân vị Minh vương này màu vàng cam, nhướng mày trừng mắt đầy vẻ giận dữ, uốn cong mình đứng trên tảng đá quí. Mình mặc áo đỏ, quấn khăn quanh eo. Phía bên trái mặt có 1 chùm tóc rủ xuống mang tai, mắt trái hơi nghiêng. Tay trái cầm vòng dây, tay phải cầm kiếm, đầu kiếm hình lá sen. Vị Minh vương này bảo hộ hành giả, nên hiện thân của 48 sứ giả. Bốn mươi tám sứ giả hàm ý là 24 sứ giả bên trái tượng trưng cho nghĩa Phát tâm tu hành, còn 24 sứ giả bên phải thì biểu thị nghĩa Tu quả thành Phật. Về đạo tràng quán, các tác pháp như Lược bố tự pháp, Hộ thân pháp, ấn minh khi tu pháp của vị tôn này, cho đến hình tượng của 48 sứ giả... đều được ghi chép rõ ràng trong Thắng quân bất động minh vương tứ thập bát sứ giả bí mật thành tựu nghi quĩ.
thắng quân bất động minh vương tứ thập bát sứ giả bí mật thành tựu nghi quỹ
(勝軍不動明王四十八使者秘密成就儀軌) Cũng gọi Thắng quân bất động bí mật nghi quĩ, Thắng quân bất động nghi quĩ, Thắng quân nghi quĩ. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Biến trí và Bất không biên tập vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Minh vương Thắng quân bất động được sinh ra từ tâm của Đại nhật Như lai, vì bảo hộ hành giả nên hiển hiện thân của 48 sứ giả. Nội dung của Nghi quĩ này bao gồm: Công đức, pháp chú trở, pháp họa tượng, đạo tràng quán, lược bố tự pháp, pháp cúng dường, Bất động tôn tán, hình tượng và bản địa của 48 sứ giả, chú pháp của Đại tự tại tô tức...
thắng quân tì sa môn pháp
(勝軍毗沙門法) Pháp tu cầu xin Thiên vương Tì sa môn ban cho chiến thắng khi 2 quân đội giao tranh, 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Theo truyền thuyết, ngày xưa, vào đời Đường, Trung quốc gặp nạn giặc ngoại xâm, nhờ tu pháp này mà hàng phục được quân địch, đất nước được bình an. Về các nghi quĩ thì có: - Bắc phương Tì sa môn thiên vương tùy quân hộ pháp nghi quĩ, 1 quyển. - Bắc phương Tì sa môn thiên vương tùy quân hộ pháp chân ngôn, 1 quyển. Pháp tu này hiện nay đã thất truyền.
thắng quân vương sở vấn kinh
(勝軍王所問經) Kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 14.Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật giảng nói pháp 12 nhân duyên cho vua nước Kiêu tát la là Thắng quân (tức vua Ba tư nặc) nghe, Ngài dạy rằng thể tính của các pháp trong thế gian là rỗng không, hoại diệt trong từng sát na, bởi vậy nên cầu pháp xuất thế. Kinh này cùng với các kinh như: Kinh Gián vương do cư sĩ Thư cừ kinh thanh dịch, kinh Như lai thị giáo Thắng quân do ngài Huyền trang dịch và kinh Phật vị Thắng quang thiên tử thuyết vương pháp do ngài Nghĩa tịnh dịch có nội dung đại đồng tiểu dị, đều nói về sự vô thường của các pháp thế gian để khuyên tu hành chính pháp.
thắng quả
The surpassing fruit.
; Quả Thắng Diệu hay Phật quả, đối với Tiểu Thừa là Thanh Văn quả hay Duyên Giác quả; còn đối với Thập Địa Bồ Tát thì gọi là Thắng quả—The surpassing fruit, i.e. that of the attainment of Buddhahood, in contrast with Hinayana lower aims; two of these fruits are transcendent nirvana and complete bodhi.
thắng quả đạo
(勝果道) Cũng gọi Thắng thắng đạo, Thắng đạo. Chỉ cho đạo hướng tới quả thù thắng, tức là đạo trông mong quả thắng thượng mà muốn cầu tới được. Trong 4 quả, ngoài quả A la hán, 3 quả còn lại đều có quả Thắng thượng để cầu, cho nên sau khi đắc quả còn cần phải cầu tới nữa, gọi là Thắng quả đạo. Các đạo hướng tới như Nhất lai hướng, Bất hoàn hướng, A la hán hướng... tức là đạo hướng tới Nhất lai quả, Bất hoàn quả và A la hán quả. Vì các quả vị này thù thắng hơn các quả vị trước, vả lại hướng tới các quả vị sau nên gọi là Thắng quả đạo.[X. luận Đại tì bà sa Q.66, 171; luận Câu xá Q.23, 25].
thắng sinh nghiêm
(勝生嚴) Tên một vị Bồ tát. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1 thì Thắng sinh nghĩa là tiên sinh, tức là người giác ngộ pháp thanh tịnh trước. Ở đời quá khứ, vị Bồ tát này giác ngộ pháp thanh tịnh, có đầy đủ thần lực diệu tuệ và trang nghiêm vô tận, cho nên gọi là Thắng sinh nghiêm. Phẩm Tất địa xuất hiện kinh Đại nhật (Đại 18, 17 hạ) nói: Pháp thanh tịnh này cũng như thế, thanh tịnh sinh này đầy khắp 3 cõi; thủa xưa, Thắng sinh nghiêm nhờ tu pháp này mà được tất cả hạnh Như lai.
thắng sĩ
Victor, one who keeps the commandments.
; Kẻ chiến thắng, ý nói người tinh chuyên giữ giới—Victor, one who keeps the commandments.
thắng tam thế kim cang
Xem Thắng Tam Thế Minh vương.
thắng tam thế minh vương
Trelokavijaya (S) Hàng Tam thế Minh vương, Thắng Tam thế Kim Cang.
; (勝三世明王) Thắng tam thế, Phạm:Treloka-vijaya. Hán âm: Đát lệ lộ ca tì nhạ đa. Cũng gọi Hàng tam thế minh vương, Tam thế thắng minh vương, Thánh tam thế minh vương, Thắng tam thế kim cương, Kim cương hồng ca la (Phạm: Vajra-hùôkara). Tên vị Minh vương thuộc viện Trì minh trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, mật hiệu là Tối thắng kim cương, chủ về quả đức trừ diệt hoặc chướng. Vị Minh vương này và Minh vương Hàng tam thế là cùng thể mà khác tên. Nhưng viện Trì minh trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới thì vẽ riêng 2 vị Hàng tam thế và Thắng tam thế, có lẽ vì 2 từ ngữ Hàng tam thế và Thắng tam thế trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ đã bị dùng lẫn lộn; còn trong Mạn đồ la, Minh vương Thắng tam thế có 2 tay là được vẽ theo kinh Đại nhật, còn Minh vương Hàng tam thế có 8 tay là được vẽ theo các kinh quĩ khác. Về hình tượng của vị tôn này, theo phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật thì có ngọn lửa bừng bừng bao quanh mình, đầu đội mũ báu, tay cầm chày kim cương, hiện tướng giận dữ cực độ. Còn hình tượng vị tôn này được vẽ trong Hiện đồ Mạn đồ la là mình màu đen, đầu đội mũ báu, tóc lửa dựng ngược, có 3 mắt, hiện tướng phẫn nộ, 2 răng nanh chìa lên trên, tay phải cầm cây kích có phụ chày 3 chĩa, cánh tay co lại; tay trái cầm chày 3 chĩa, chung quanh mình cũng có ngọn lửa bừng bừng, ngồi trên bệ đá. Chủng tử của vị tôn này là (ha#) hoặc (ha). Hình Tam muội da thì trong kinh Đại nhật phẩm Cụ duyên ghi là chày 5 chĩa, còn phẩm Chuyển tự luân thì ghi là chày 3 chĩa. Ấn khế là ấn Ngoại ngũ cổ, tức là ấn Kim cương tuệ trong phẩm Mật ấn kinh Đại nhật. Theo phẩm Chân ngôn kinh Đại nhật, chân ngôn của vị tôn này là: Phẫn qui mệnh ha ha ha (ha ha ha, Tam thừa hạnh) tì tát ma duệ (vismaye, kỳ quái tai) tát phạ đát tha yết đa (sarvatathàgata, nhất thiết Như lai) tì xá dã (viwaya, cảnh giới) tam bà phược (saôbhava, sinh) đế lệ lộ ca (treloca, tam thế) phệ xà dã (vijaya, hàng thắng) hồng (hùô, phẫn nộ) nhạ (ja#, hô triệu cảnh giác) sa ha (svàhà). Hàm ý là: Qui mệnh khắp năng lực chẳng thể nghĩ bàn của các hạnh Phật kim cương, Thắng tam thế từ cảnh giới của tất cả Như lai sinh ra, dùng tướng phẫn nộ thức tỉnh chúng sinh, khiến họ trừ hết hoặc chướng.
Thắng Thiên Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh
(s: Pravara-deva-rāja-paripṛccha-prajñāpāramitā, 勝天王般若經): 7 quyển, do Nguyệt Bà Thủ Na (月婆首那) dịch vào năm thư 6 (565) niên hiệu Thiên Gia (天嘉), còn được gọi là Thắng Thiên Vương Kinh (勝天王經), Thắng Thiên Vương Vấn Bát Nhã Kinh (勝天王問般若經), Thắng Thiên Vương Bát Nhã Kinh (勝天王般若經), Taishō, quyển 8.
thắng thiên vương bát nhã ba la mật kinh
Suvikrantavikrami-prajāpāramitā (S) Xem Thắng Thiên Vương kinh.
; (勝天王般若波羅蜜經) Phạm: Pravara-deva-ràjaparipfcchà. Cũng gọi Thắng thiên vương kinh, Thắng thiên vương vấn bát nhã kinh, Thắng thiên vương bát nhã kinh. Kinh, 7 quyển, do ngài Nguyệt bà thủ na dịch vào năm Thiên gia thứ 6 (565) đời Trần thuộc Nam triều, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Nội dung kinh này thuật lại việc Phật theo lời thưa hỏi của Thiên vương Bát bà la mà giảng nói nghĩa sâu xa của Bát nhã và phương pháp tu tập cho đại chúng nghe. Toàn kinh chia làm 16 phẩm, cùng với kinh Đại Bát nhã từ quyển 566 đến quyển 573 của hội thứ 6, do ngài Huyền trang dịch, là cùng bản mà khác dịch. Minh vương Thắng tam thế (Mạn đồ la Thai tạng giới)
thắng thiên vương kinh
Pravara-deva-rāja-pariprccha (S) Thắng Thiên Vương Bát nhã Ba la mật kinh Tên một bộ kinh.
Thắng thân châu
勝身洲; C: shèngshēnzhōu; J: shōshinshū; |Đông thắng thân châu (東勝身洲).
Thắng thân châu 勝身洲
[ja]ショウシンシュウ shōshinshū ||| See 東勝身洲. => Xem Đông thắng thân châu 東勝身洲.
thắng thượng đại thừa
(勝上大乘) Chỉ cho Chân ngôn Mật giáo. Danh từ Đại thừa xưa nay vốn được dùng chung cho cả Hiển giáo và Mật giáo, nhưng theo lập trường của Mật giáo thì Chân ngôn Mật giáo là giáo nghĩa vô thượng tối thắng trong các giáo pháp Đại thừa, vì thế gọi là Thắng thượng Đại thừa. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1 thì từ ngữ Đại thừa bao hàm 7 nghĩa: Pháp đại, phát tâm đại, tín giải đại, tính đại, y chỉ đại, thời đại và trí đại. Vì Chân ngôn Mật giáo có đủ 7 nhân duyên như thế, cho nên trong các pháp môn Đại thừa, giống như đề hồ, là vị thuần túy bậc nhất, nên cũng gọi Tối thắng Đại thừa.
thắng thần châu
Videha (P), PŪrvavideha (S), Pubbavideha (P) Đông Tì Đề Ha châu, Đông Đại châu 1- Một trong 2 Trung châu của Đông Thắng Thần châu. 2- Tỳ đề ha, tên một vương quốc Ấn độ có chủng tộc tên bạt kỳ (Vrji) = Châu Phất bà đề, Đông Phất bà đề, Phất vu đại châu, Thắng thần châu. Một trong bốn châu lớn, ở đông núi Tu di, người ở đây có thân hình to lớn hơn các châu khác nên còn gọi là Thắng thân, sống đến 600 tuổi. Châu này ở hướng Đông núi Tu di Xem Đông thắng Thần châu.
; Videha or Purvavideha (skt)—Đông Thắng Thần châu—The continent east of Sumeru Mountain.
thắng thừa
The victorious vehicle, i.e. Màhayàna.
; Đức danh của Đại Thừa (theo Kinh Hoa Nghiêm, vượt qua nhị thừa là Đại Thừa, Đệ Nhất Thừa, Thắng Thừa, Tối Thắng Thừa)—The victorious vehicle—Mahayana—See Đại Thừa.
Thắng tiến
勝進; C: shèngjìn; J: shōshin; |Có các nghĩa sau: 1. Tiến đến tầng bậc kế đến; hành giả đạt mức độ công phu gần đến giai vị kế đến; 2. Xuất sắc, cao cả, ngoại hạng, hoàn hảo, thù thắng (s: vaiśesika); 3. Tiến lên chiều hướng xuất sắc, tiến bộ vĩ đại.
Thắng tiến phần
勝進分; C: shèngjìnfēn; J: shōshinbun; |Một phần trong các giai vị tu đạo (Thập địa 十地 hay Ngũ vị 五位), nơi ấy hành giả đã đạt được giai vị đó rồi và bây giờ tiến lên giai vị kế tiếp. Ngược với Tự phần (自分), là hành giả mới đạt được một giai vị riêng biệt (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Thắng tiến phần 勝進分
[ja] ショウシンブン shōshinbun ||| The portion of one of the stages of practice (such as the ten bhūmis 十地 or five stages 五位) wherein one has already well-entered into the stage and is now advancing toward the next stage. This is as contrasted to 自分, which refers to one's initial attainment of the particular stage. 〔二障義HPC 1.805a〕 => Một phần trong các giai vị tu đạo (Thập địa hay Ngũ vị), nơi ấy hành giả đã đạt được giai vị đó rồi và bây giờ tiến lên giai vị kế tiếp. Ngược với Tự phần 自分, là hành giả mới đạt được một giai vị riêng biệt.
Thắng tiến đạo
勝進道; C: shèngjìndào; J: shōshindō; |Có các nghĩa sau: 1. Đạo tu tập để tiến đến giai vị kế tiếp; 2. Đạo thăng tiến siêu tuyệt. Một trong 9 pháp Du-già (Cửu Du-già 九瑜伽, theo Du-già luận 瑜伽論).
thắng tiến đạo
(勝進道) Phạm: Vizewa-màrga. Pàli: Vìsesa-magga. Cũng gọi Thắng đạo. Chỉ cho con đường tu hành so với các giai đoạn trước đó thì càng thù thắng hơn và từ đây tiến thẳng đến đạo giải thoát hoàn toàn, là 1 trong 4 đạo. Tức là sau Giải thoát đạo lại tiến thêm bước nữa đoạn trừ các phẩm phiền não còn lại và tiến tu phương tiện; hoặc ở yên trong các giai đoạn: Gia hạnh(phương tiện), Vô gián, Giải thoát. Thắng tiến đạo có 2 loại, loại thứ nhất vì đoạn trừ các phẩm phiền não còn lại mà tiến lên, tức là Giải thoát đạo trong 4 đạo; hoặc sau khi đoạn trừ được 1 phẩm phiền não, lại ở trong Vô gián đạo mà tu phương tiện để đoạn trừ các phẩm phiền não còn lại. Ở đây, đối với các phẩm phiền não đã đoạn trừ ở trước, gọi là Thắng tiến đạo, còn trông về các phẩm phiền não sẽ được đoạn ở sau thì gọi là Phương tiện đạo, hoặc Vô gián đạo, Giải thoát đạo. Loại thứ 2 là không cầu thắng tiến mà sinh tướng tri túc (biết đủ), hoặc đối với các phiền não đã đoạn trừ rồi thì chỉ quán sát mà thôi. Tức là sau Giải thoát đạo, không tu phương tiện ở Vô gián đạo, chỉ sinh ý tưởng tri túc đối với các phẩm phiền não đã đoạn ở trước, cho thế là đủ rồi, không cầu thắng tiến, hoặc nguy hại hơn, lại rơi vào tình trạng buông thả, không tiến tu. Hoặc đối với các phiền não đã đoạn trừ, dùng trí quán sát để quán xét kĩ lại một lần nữa, cũng gọi là Thắng tiến đạo. Trong đó, nghĩa trước là nhìn về các phiền não sẽ đoạn ở sau mà tu phương tiện, đây là nguyên ý của Thắng tiến, như thế thì 3 đạo: Gia hạnh, Vô gián, Giải thoát đồng với Thắng tiến đạo, ngoài 3 đạo không có tự thể của Thắng tiến riêng, cũng không cần phải lập riêng Thắng tiến nữa. Nếu nói theo nghĩa sau thì ngoài 3 đạo còn có riêng Thắng tiến đạo, tức ở yên tại các phẩm phiền não trước đã đoạn rồi, hoặc chỉ quán sát tư duy lại một lần nữa mà thôi, chứ không tiến tới các phẩm còn lại ở sau nữa. [X. luận Du già sư địa Q.69; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.9; luận Đại tì bà sa Q.66; luận Thuận chính lí Q.71].
Thắng tiến đạo 勝進道
[ja] ショウシンドウ shōshindō ||| (1) The path of advancing on to the next level. (2) The path of superb advancement. One of the nine yogas 九瑜伽. 〔瑜伽論T 1579.30.346c27〕 => Có các nghĩa sau: 1. Đạo tu tập để tiến đến giai vị kế tiếp. 2. Đạo thăng tiến siêu tuyệt. Một trong 9 pháp Du già (Cửu Du già 九瑜伽).
Thắng tiến 勝進
[ja] ショウシン shōshin ||| (1) Advancing onto the next level; to be at the level in one's practice where one is ready to move up to the next stage. (2) Excellent, superb, exceptional, impeccable, superior (vaiśesika). (3) To be advancing in an excellent direction; great progress. => Có các nghĩa sau: 1. Tiến đến tầng bậc cuối cùng; hành giả đạt mức độ công phu gần đến giai vị tột cùng. 2. Xuất sắc, cao cả, ngoại lệ, hoàn hảo, cao cấp (s: vaiśesika). 3. Tiến lên chiều hướng xuất sắc, tiến bộ vĩ đại.
thắng trang
(勝莊) Cao tăng người nước Tân la sống vào đời Đường. Sư du học Trung quốc lúc còn rất trẻ, từng trụ ở chùa Tiến phúc, chùa Sùng nghĩa, học tập và nghiên cứu Duy thức. Về sau, sư thờ ngài Viên trắc làm thầy. Sư từng tham dự dịch trường của các Tam tạng: Huyền trang, Nghĩa tịnh và Bồ đề lưu chi với chức vụ chứng nghĩa. Sư cũng soạn thuật rất nhiều như: Thành duy thức luận chú xu yếu, Thành duy thức luận quyết, Thành duy thức luận yếu tập, A tì đạt ma tạp tập luận sớ, A tì đạt ma tạp tập luận thuật kí, Du già sư địa luận sớ, Hiển dương thánh giáo luận lược thuật chương... nhưng đáng tiếc ngày nay những tác phẩm ấy đều đã bị thất lạc, hiện chỉ còn có: Phạm võng kinh bồ tát giới bản thuật kí 4 quyển.
thắng tràng tí ấn đà kinh ni kinh
(勝幢臂印陀經尼經) Phạm:Dhvajàgra-keyùrà. Cũng gọi Thắng chàng tí ấn kinh, Thắng chàng ấn kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Huyền trang (602-664) dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này nói rõ về pháp đắc đạo Cứu khổ ban vui. Nội dung thuật lại việc thủa xưa khi đức Thích tôn ở trong Thiên tiên thần cung trên đỉnh núi Kê la (Phạm: Hi la) giảng nói Thắng chàng tí ấn đà la ni cho đại vương và bồ tát Quán thế âm nghe, bảo rằng nếu thụ trì đọc tụng Đà la ni này thì xa lìa khổ nạn trong các ác thú và được lợi lạc thù thắng. Kinh này còn có 2 bản dịch khác là: -Kinh Diệu tí ấn chàng đà la ni, 1 quyển, do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường. -Kinh Thắng phan anh lạc đà la ni, 1 quyển,do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống.
Thắng tràng tí ấn đà-la-ni kinh
勝幢臂印陀羅尼經; C: shèng chuáng bì yìn tuóluóníjīng; J: shōtō hiin darani kyō; |Kinh, 1 quyển. Huyền Trang dịch năm 654.
thắng tràng tý ấn đà la ni kinh
Xem Thắng Tràng Ấn kinh.
Thắng Tràng Tý Ấn Đà-la-ni Kinh 勝幢臂印陀羅尼經
[ja] ショウトウヒインだラニキョウ Shōtō hiin darani kyō ||| The Sheng chuang bi yin tuoluonijing (Sutra of the Dhāranī for Bearing the Banners and Seals). One fascicle, T 1363.21.882-883. Translated by Xuanzang in 654. => (c: Sheng chuang bi yin tuoluonijing; e: Sutra of the Dhāranī for Bearing the Banners and Seals), 1 quyển. Huyền Trang dịch năm 654.
thắng tát dỏa bồ tát
Xem Kim Cang Tát Đỏa.
thắng tâm
The victorious mind, which carries out the Buddhist discipline.
; Tâm chiến thắng, hay tâm tinh chuyên hành trì theo giới luật nhà Phật—The victorious mind, which carries out the Buddhist discipline.
thắng tích
Famous places of ruins; famous historical vestiges, or monuments.
Thắng tông
勝宗; C: shèngzōng; J: shōshū; |Thắng luận tông (勝論宗).
thắng tông
Xem Thắng Luận.
Thắng tông thập cú nghĩa luận
勝宗十句義論; C: shèngzōng shíjùyì lùn; J: shōshū jūkōgi ron; S: vaiśeṣika-daśapadārtha śāstra;|Luận, được Huệ Nguyệt (慧月; s: mati-candra) soạn, 1 quyển. Huyền Trang dịch tại chùa Hoằng Phúc năm 647. Một bộ kinh của Thắng luận tông Ấn Độ. Cú nghĩa (s: padārtha) là nội dung cơ bản cấu thành Thực tại trong hệ thống triết học Thắng tông. Thắng tông thường đề ra 9, đúng hơn là 6 cú nghĩa.
thắng tông thập cú nghĩa luận
Vaiśe-ṣika-daśapadartha-prakarana (S), Vaiśeṣikani-kāya-daśapadārtha-śāstra (S) Do ngài Huệ Nguyệt biên soạn.
; (勝宗十句義論) Phạm: Vaizewika-daza-padàrthaprakaraịa. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ nguyệt (Phạm: Maticandra) soạn, ngài Huyền trang dịch ở viện Phiên kinh chùa Hoằng phúc, ngài Linh tuấn biên chép vào năm Trinh quán 22 (648) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Sách này trình bày giáo nghĩa của tông Thắng luận trong 6 phái Triết học Ấn độ, chủ trương Thập cú nghĩa(tức 10 nguyên lí: Thực, đức, nghiệp, đồng, dị, hòa hợp, hữu năng, vô năng, câu phân, vô thuyết) bao hàm tất cả pháp. Toàn sách chia làm 2 phần trước và sau, phần trước nói về thể tính của Thập cú nghĩa, phần sau là phân biệt nghĩa tướng và sự quan hệ lẫn nhau của Thập cú nghĩa. Tương truyền, Tổ sáng lập ra tông Thắng luận là Ưu lâu già (Phạm: Ulùka) từng soạn kinh Thắng luận, trở thành Thánh điển căn bản của phái này, trong kinh nêu ra 6 cú nghĩa: Thực, đức, nghiệp, đồng, dị và hòa hợp, đồng thời cho rằng từ chân trí của 6 cú nghĩa sinh ra các pháp, đó là tông nghĩa của phái này. Đến khoảng thế kỉ V, VI, Luận sư Tuệ nguyệt của phái này mới soạn luận và mở rộng 6 cú nghĩa thành 10 cú nghĩa, bàn rộng về yếu chỉ của Thắng luận, gọi là Thắng tông thập cú nghĩa luận. Năm 1927, học giả Vũ tỉnh Bá thọ người Nhật bản dịch sách này sang tiếng Anh và xuất bản dưới tựa đề: The Vaizewìka Philosophy according to the Dazapadàrtha-zàstra. Về các sách chú thích luận này thì có: Thắng luận thập cú nghĩa chương(1 quyển, do ngài Đạo thế, hoặc Khuy cơ soạn), Thắng luận thập cú nghĩa khoa chú(1 quyển, do ngài Nhất quán soạn), Thắng luận thập cú nghĩa thích (2 quyển, do ngài Cơ biện soạn). [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Câu xá luận quang kí Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
Thắng tông thập cú nghĩa luận 勝宗十句義論
[ja] ショウシュウジュウコウギロン Shōshū jūkōgi ron ||| The Shengzong shijuyi lun => (c: Shengzong shijuyi lun).
Thắng tông 勝宗
[ja] ショウシュウ shōshū ||| See . => Xem Thắng luận tông勝論宗.
Thắng tướng
勝相; C: shèngxiāng; J: shōsō; |Tướng tiêu biểu, tướng nổi bật, tướng thù thắng (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).
Thắng tướng 勝相
[ja] ショウソウ shōsō ||| Distinguishing characteristics, predominant characteristics; excellent characteristics. 〔攝大乘論 T 1593.31.118a21〕 => Tướng tiêu biểu, tướng nổi bật, tướng thù thắng.
thắng tấn chấp kim cương
(勝迅執金剛) Một trong 19 vị Chấp kim cương nội quyến thuộc củahộiMạn đồ la nói trong kinh Đại nhật. Trong Mật giáo, vị tôn này chủ về việc trông coi công đức thần thông mau lẹ. Về tên gọi của vị tôn này, theo Đại nhật kinh sớ quyển 1 thì Thắng nghĩa là Đại không, Đại không tức là bao trùm tất cả mọi nơi mọi chốn, cho nên có khả năng khởi động thần thông mau lẹ(Tấn); vì người ở vào địa vị của thừa này thì khi mới phát tâm liền thành chính giác, không động đến sinh tử mà đến thẳng Niết bàn, nên gọi là Thắng tấn.
thắng tấn đạo
Visesa-mārga (S).
thắng tử thọ
Trước kia gọi là Kỳ Đà Lâm hay Kỳ Hoàn, Thắng Tử Thọ, dịch là Thệ Đa Lâm (Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên)—The Jeta Grove, Jetavana.
thắng tử thụ
Jetavana (S). The Jeta grove.
Thắng Vĩ Tự
(勝尾寺, Katsuō-ji): ngôi chùa của Chơn Ngôn Tông thuộc Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan), hiện tọa lạc tại 2914-1 Aomatani (粟生間谷), Minoo-shi (箕面市), Ōsaka-fu (大阪府), hiệu núi là Ứng Đảnh Sơn (應頂山), nơi tham bái hành hương thứ 23 trong số 33 nơi tham bái chính ở vung Tây Quốc (西國, Saikoku). Tên chính thức của chùa là Ứng Đảnh Sơn Thắng Vĩ Tự (應頂山勝尾寺); còn gọi là Di Lặc Tự (彌勒寺). Tương truyền ban đầu hai người con song sinh của Đằng Nguyên Chính Phòng (藤原政房, Fujiwara-no-Munefusa) là Thiện Trọng (善仲) và Thiện Toán (善算) dựng một ngôi thảo am gần bên thác Ky Diện (箕面) vào năm 727 (niên hiệu Thần Quy [神龜] thứ 4) mà tu hành. Đến năm đầu (765) niên hiệu Thiên Bình Thần Hộ (天平神護), vị Hoàng Tử của Quang Nhân Thiên Hoàng (光仁天皇, Kōnin Tennō) là Khai Thành (開成) mới vào núi hầu hạ hai vị Thượng Nhân này. Sau khi thầy qua đời, thể theo di chí của thầy, ông sao chép lại 600 quyển Kinh Đại Bát Nhã, rồi đem chôn xuống đất, phía trên dựng ngôi nhà hình lục giác. Vào năm thứ 8 (777) niên hiệu Bảo Quy (寶龜), Khai Thành dựng lên nơi đây ngôi Đại Giảng Đường, lấy tên gọi là Di Lặc Tự. Về bức tượng bổn tôn Thập Nhất Diện Thiên Thủ Quan Thế Âm Bồ Tát (十一面千手観世音菩薩) hiện vẫn còn truyền thuyết lưu lại. Từ ngày khai sơn chùa trở đi, Hoàng Tử đã cất công tìm kiếm những bậc thầy tạc tượng Phật, nhưng bỗng một hôm ông thấy một vị Tỳ Kheo tên là Diệu Quán (妙觀) dẫn theo 18 vị đồng tử đến và bảo rằng muốn tạc tượng thờ. Vì thế vào ngày 18 tháng 7 năm 780 thì bắt đầu công việc và đến ngày 18 tháng 8 thì hoàn thành xong công việc tạc tượng bổn tôn. Như vậy từ khi khởi công cho đến khi làm xong chỉ mất tròng vòng 1 tháng và đều khởi đầu cũng như kết thúc bằng ngày 18, nên ngày tế lễ cúng dường đức Quan Âm cũng được bắt đầu vào ngày này. Về sau, Thanh Hòa Thiên Hoàng (清和天皇, Seiwa Tennō) đến đây tham bái, rồi ban sắc ngạch cho chùa, và đổi tên chùa cho đến ngày nay. Trong cuộc chiến loạn năm Nguyên Bình (源平), đại bộ phận đường tháp của chùa bị cháy rụi, nhưng sau đó thì được Tướng Quân Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo) cúng dường, rồi Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) hỗ trợ; nên ngôi chùa lại được phục hưng và long thạnh một thời gian dài. Bảo vật của chùa có 1 quyển Pháp Hoa Kinh được viết bằng mực đen trên giấy bồi, tượng Dược Sư Như Lai bằng gỗ.
thắng xứ
Abhibhāvāyatana (S).
; Place of victory.
thắng âm thành
(勝音城) Thắng âm, Phạm, Pàli:Roruka. Hán âm: Lộ lâu thành, Lao rô ca thành, hạt lao lạc ca thành. Tên một tòa thành cổ ở Ấn độ thời đức Phật tại thế. Theo kinh Đại điển tôn (Pàli: Mahàgovinda-suttunta), trong Trường bộ kinh 19 thì vua Ba lạp tha (Pàli: Bharota), là 1 trong 7 vua thống trị nước Tô duy lạp (Pàli:Sovìra), kinh đô nước này là Thắng âm thành. Ở thời đức Phật, thành này được ngài Đại ca chiên diên (Pàli:Mahàkàtyàyana) và tỉ khưu ni Thế la (Pàli:Selà) giáo hóa, vua thành này là Tiên đạo (Phạm: Rudràyana) dốc lòng kính tin Phật pháp, về sau, vua xuất gia làm tỉ khưu, con là Đính kế (Phạm: Sikhandi) lên nối ngôi, xua đuổi 2 vị Đại thần già cả là Lợi ích (Phạm:Hiru) và Trừ hoạn (Phạm:Bhiru), rồi nghe lời nịnh thần mà giết cha mình, đồng thời giết 2 vị A la hán, khiến cho cuồng phong bỗng nổi lên, cát bụi mịt mù, che lấp cả nước. Điều Cù tát đán na quốc trong Đại đường Tây vực kí quyển 12, ngài Huyền trang có nói rõ sự tích của nước này. [X. kinh Bản sinh 424 (tiếngPàli); Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.45, 46].
thắng ý sinh minh
(勝意生明) Chỉ cho thần chú của trời Ma hê thủ la (Phạm:Mahezvara). Trời Ma hê thủ la là tên khác của trời Đại tự tại, vốn được Ấn độ giáo phụng thờ làm thần tối cao sáng tạo ra vũ trụ, còn Phật giáo thì coi vị thần này là thần đứng đầu tầng trời Sắc cứu cánh trên đỉnh cõi Sắc. Minh là thần chú, là Đà la ni bí mật. Đà la ni của trời Ma hê thủ la có năng lực tùy theo ý muốn thắng diệu của trời này mà sinh ra nhiều việc lợi ích, vì thế nên gọi là Thắng ý sinh minh. Kinh Đại nhật quyển 3 (Đại 18, 18 thượng) nói: Trời Ma hê thủ la có Thắng ý sinh minh, có năng lực làm lợi ích cho chúng sinh trong ba nghìn thế giới đại thiên, hóa ra tất cả đồ thụ dụng cho hết thảy chúng sinh thụ dụng. Trong Đại nhật kinh sớ quyển 11 của mình, ngài Nhất hạnh đời Đường giải thích nghĩa ấy như sau (Đại 39, 693 hạ): Trời Ma hê thủ la có một bài chú gọi là Thắng ý sinh minh. Nhờ năng lực của chân ngôn này có thể cùng một lúc tạo ra cuộc biến hóa to lớn, tràn khắp ba nghìn thế giới đại thiên này, hiện thành mỗi mỗi chúng sinh, hiện ra các việc lợi ích mà chúng sinh ấy ưa thích, tùy theo sự thụ dụng của những chúng sinh ấy đều chân thực không hư dối. Qua đó mà biết lực dụng của chân ngôn này thù thắng, vi diệu không gì sánh được, có khả năng làm lợi ích cho tất cả chúng sinh trong Tam thiên đại thiên thế giới. Nhưng nội dung của chân ngôn này trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ đều không ghi chép.
thắng định
Xem Đẳng dẫn.
thắng ứng thân
Còn gọi là Tôn Đặc Thân, một trong ba thân Phật Pháp thân, Báo thân, và Ứng thân do tông Thiên Thai lập ra. Báo thân lại chia làm hai Tự Thụ Dụng và Tha Thụ Dụng thân. Tha Thụ Dụng của báo thân đối với Tự thụ dụng mà gọi là Thắng Ứng thân (Tha thụ dụng thân vừa là báo thân mà cũng là ứng thân)—A T'ien-T'ai term for the the superior incarnational Buddha-body, i.e. his compensation-body under the aspect of saving others.
; (勝應身) Cũng gọi: Tôn đặc thân. Đối lại: Liệt ứng thân. Tông Thiên thai chia Ứng thân của Phật làm 2 loại Thắng và Liệt, loại Thắng gọi là Thắng ứng thân. Đây là thân Tôn đặc xá na đối với các bồ tát Sơ địa trở lên mà ứng hiện. Thân này là thân Phật mà hàng lợi căn(người đã thấy suốt lí bất đãn không của Thông giáo trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên) thấy được, cũng tức là thân tướng hảo trùm khắp pháp giới hiện ra trên thân Phật trượng sáu. Ma ha chỉ quán quyển 1, phần 2, khi giải thích về lí thấy tướng phát tâm đã cho rằng hành giả của 4 giáo tùy theo căn cơ khác nhau, thấy tướng hảo của Phật khác nhau mà phát tâm bồ đề, theo đó thì hành giả Tạng giáo quán tưởng tướng hảo của Liệt ứng thân; hành giả Thông giáo quán tưởng tướng hảo của Thắng ứng thân, hành giả Biệt giáo quán tưởng tướng hảo của Báo thân Phật, hành giả Viên giáo thì quán tưởng tướng hảo của Pháp thân Phật. Đây là y cứ vào Ứng thân trong 3 thân mà chia ra Thắng và Liệt đối với thân Phật trượng sáu để phối với sự quán tưởng cạn và sâu của hành giả 4 giáo. Bởi vì thân Phật mà hành giả Tạng giáo trong 4 giáo được thấy là Liệt ứng thân, mà Liệt ứng thân cũng hiển hiện ra tướng trượng sáu, an trụ trong cõi Thánh phàm đồng cư của 4 cõi; còn Thắng ứng thân mà hành giả Thông giáo được thấy thì tuy cũng cùng là thân Phật với thân tướng trượng sáu nhưng lại có năng lực biến hiện thân thông, tùy ý tự tại hiển hiện thân tướng cao 10 dặm cho đến trăm ức dặm, trong 4 cõi thì an trụ ở cõi Phương tiện hữu dư, về hình tướng thì thân này thù thắng hơn Liệt ứng thân. Ngoài ra, Thắng ứng thân cũng chỉ cho Tha thụ dụng thân trong Báo thân. Tông Thiên thai chia thân Phật làm 3 thân: Pháp, Báo, Ứng, trong đó, Báo thân lại được chia làm 2 là Tự thụ dụng thân và Tha thụ dụng thân. Tha thụ dụng thân là thân công đức thanh tịnh vi diệu, thân chuyển chính pháp luân do trí bình đẳng của các đức Như lai thị hiện. Còn Tự thụ dụng thân là thân hằng tự thụ dụng pháp lạc rộng lớn do các đức Như lai tu tập vô lượng phúc đức trí tuệ mà được. Cho nên Tha thụ dụng là đối với Tự thụ dụng mà gọi là Ứng thân, lại đối với tính cách kém cỏi của Ứng thân thứ 3 mà gọi là Thắng. Thắng ứng thân là Báo thân của Tha thụ dụng. Pháp hoa văn cú quyển 9 hạ (Đại 34, 330 trung) nói: ... Cho nên Tha thụ dụng cũng được gọi là Báo, cũng được gọi là Ứng. Dù thắng hay liệt đều gọi là Ứng. [X. Pháp hoa văn cú Q.9, phần 1; Kim quang minh văn cú Q.1, Q.2; Kim quang minh văn cú kí Q.1; Tứ giáo nghi tập chú bán tự đàm Q.5 (Si không)]. (xt. Tam Thân, Liệt Ứng Thân, Ứng Thân).
Thắng 勝
[ja] ショウ shō ||| (1) Excellent, exceptional, outstanding, superior, surpassing, superb (viśista, viśada, parama, agra). (2) To ., surpass. (3) To overcome; to vanquish. To be equal to, to sustain, to bear. (4) An excellent point; something excellent. (5) Superiority, predominance (prādhānya). (6) Subject. (7) Someone exceptionally sharp; the Tathāgata. => Có các nghĩa sau: 1. Xuất sắc, đặc biệt, nổi bật, cao cấp, trội hơn, cao cả (s: viśista, viśada, parama, agra). 2. Trội hơn, vượt hơn. 3. Khắc phục, chế ngự. Đủ khả năng đáp ứng được, giữ vững được, chống đỡ được. 4. Điểm xuất sắc, điều xuất sắc. 5. Tính ưu việt, trạng thái chiếm ưu thế (s: prādhānya) 6. Chinh phục. 7. Người thông minh thính nhạy khác thường; Đức Như Lai.
thắp hương
To burn incense.
thắp nhang
See Thắp Hương.
thắt
To tighten—To tie.
thắt chặt
See Thắt.
thằng
Sơi dây—String—Cord.
thằng sàng
Võng giường dây—A string-bed.
; (繩牀) Phạm,Pàli:Pìỉha. Cũng gọi Tọa sàng, Tọa thiền sàng, Giao ỷ, Hồ sàng, Giao sàng. Loại tọa cụ(ghế)làm bằng dây, dùng để ngồi, nằm, 1 trong 18 vật của tỉ khưu. Đây thường là vật đã được chúng tăng sử dụng lúc đức Phật còn tại thế. Cứ theo luật Thập tụng quyển 39 thì Trưởng giả Cấp cô độc có lần đem 500 giường dây chân sơn màu đỏ đến tinh xá Kì hoàn bố thí cho chúng tăng. Thiền lâm tượng khí tiên thì dẫn bài Lang da đại túy nói: Thời xưa, người Trung Quốc đều trải chiếu ngồi dưới đất, chưa có ghế, đến đời Tấn mới có giường dây(thằng sàng), tức loại giường gấp. Ở Ấn độ, giường phần nhiều là hình chữ nhật, dùng để ngồi, nằm đều được; Trung quốc, Nhật bản thường gọi là ghế. [X. luật Tứ phần Q.50; Tứ phần luật tỉ khưu giới bản]. (xt. Sàng).
thằng thúc
Xem Hệ phược.
Thằng 繩
[ja] ジョウ shō ||| (1) Rope (made of straw or hemp). (2) A plumb line; straight. (3) Rule, principle, pattern (法). (4) Limitless, manifold. (5) Barely. => 1. Dây thừng (làm bằng rơm hay cỏ gai). 2. Dây dọi, thẳng đứng. 3. Phép tắc, nguyên tắc, mẫu mực (pháp). 4. Vô hạn, nhiều vẻ. 5. Công khai, rõ ràng, vừa mới, vừa đủ.
thẳng
1) Straight. 2) At one (a) stretch. 3) Inexorably.
thẳng băng
Perfectly straight.
thẳng một mạch
At one stretch.
thẳng thắn
Straightforward—Downright.
thẳng tính
Straightforward character.
thẳng tắp
See Thẳng Băng.
thặng dư
Excess—Surplus.
thẹn
To be ashamed.
thẹn thuồng
To feel ashamed.
Thế
世; C: shì; J: se;|1. Thế giới, vũ trụ, vạn vật; 2. Một thế hệ, một thời đại, 1 kỉ nguyên; 3. Kế thừa, cha truyền con nối; 4. Sống trong thế gian, thuộc về cõi trần, thế tục; 5. Trong Phật pháp, đó là 3 thời: quá khứ, hiện tại, vị lai.
; 勢; C: shì; J: sei; |Có các nghĩa sau: 1. Sức mạnh, năng lực, sức lực, sinh lực; 2. Nghị lực, nhiệt tình, sinh khí (s: vega); 3. Thế lực, sức mạnh, quyền lực, uy thế; 4. Lực thúc đẩy, sức đẩy tới; 5. Tiến trình của các pháp, chiều hướng hay khuynh hướng chung; 6. Phương diện, trường hợp, điều kiện.
thế
Xem Cảnh giới.
; Yuga (S). An age, 1,000th part of a kalpa. Loka (S). The world.
; Yuga (skt). 1) Một thế hệ (30 năm)—A human generation (a period of thirty years). 2) Thế lực: Bala or Sthaman (skt)—Power—Influence—Authority. 3) Tình thế: Circumstances. 4) Trong Phật giáo—In Buddhism: a) Trong Phật giáo có nghĩa là thế giới: In Buddhism, it means the world. b) Một khoảng thời gian trôi qua: A period of time ever flowing. c) Thế tục là thứ có thể bị phá hủy hoại diệt, hay chìm sâu trong luân hồi sanh tử, che mất chân lý: The world, worldly or earthly, the world is that which is to be destroyed; it is sunk in the round of mortality, or transmigration; and conceals, or is a veil over reality. 5) Nhân danh: On behalf of. 6) Thay thế: To substitute—To replace. 7) Thay vì: Instead of—For. 8) Như thế: Thus—So—Such. 9) Thế phát: Cạo tóc: To shave.
; (世) Phạm: Yathà-abhyupagamaô. Thề, hẹn. Tức lập chí cầu đạt được một việc gì đó và thầm quyết tâm đạt bằng được mới thôi. Cũng có nghĩa ước hẹn một điều gì đó và hứa quyết định không bao giờ thay đổi hoặc nuốt lời. Thệ có 2 hình thái là tự mình phát thệ ngầm trong tâm và nói lời ước hẹn bên ngoài. Trong Phật giáo, hình thái căn bản nhất của Thệ là lời thệ qui y Tam bảo được phát ra lúc thụ giới. Lời thệ do Phật, Bồ tát lập dựa trên tâm đại từ bi cứu giúp chúng sinh, gọi là Thệ nguyện, Thệ ước. Thường thấy nhất là 4 thệ nguyện rộng lớn: 1. Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ. 2. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. 3. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học. 4. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
thế anh
World hero, like Buddha. Also Thế hùng.
; World hero or Buddha—See Thế Tôn.
; (世英) Từ tôn xưng đức Phật. Đức Phật là bậc đầy đủ trí tuệ mầu nhiệm, tất cả người đời không ai sánh bằng, là bậc anh tài tối thắng tối thượng trên tất cả thế gian, nên được tôn xưng là Thế anh. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) nói: Ngày nay, bậc Thế anh trụ trong đạo tối thắng.
thế cho
To replace.
thế cho nên
Therefore.
Thế Chí
(s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至): âm dịch là Ma Ha Bà Thái Ma Bát La Bát Đa (摩訶婆太摩鉢羅鉢跢), Ma Ha Na Bát (摩訶那鉢), ý dịch là Đắc Đại Thế (得大勢), Đắc Đại Thế Chí (得大勢至), Đại Tinh Tấn (大精進), gọi tắt là Thế Chí, là một trong A Di Đà Tam Tôn, cùng với Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) làm thị giả cho đức Phật A Di Đà. Đối xứng với tâm từ bi của đức Quan Thế Âm, ngài thể hiện trí tuệ. Năng lực trí tuệ ấy biến mãn khắp ba ngàn đại thiên thế giới cho đến cung điện Ma Vương, chiếu khắp hết thảy, khiến cho chúng hữu tình rời xa nỗi khổ của Ba Đường. Hơn nữa, khi lâm chung ngài đến tiếp rước hành giả về thế giới Cực Lạc. Theo Đại A Di Đà Kinh (大阿彌經) cho biết rằng trong tương lai sau khi Phật A Di Đà diệt độ, Bồ Tát Quan Thế Âm sẽ được bổ xứ về cõi ấy và thành Phật, rồi sau khi Bồ Tát Quan Thế Âm nhập diệt thì Bồ Tát Thế Chí sẽ được bổ xứ về cõi ấy, thành Phật, hiệu là Thiện Trú Trân Bảo Vương Như Lai (善住珍寳王如來) và trú trì thế giới Tây Phương An Lạc. Trong Mật Giáo, vị Bồ Tát này trú trì ở Quán Âm Viện (觀音院) của Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼茶羅). Ngài thường hầu bên phải đức Phật A Di Đà, cai quản cửa trí tuệ của Phật. Trí lớn của vị Bồ Tát này đạt đến khắp mọi nơi nên được gọi là Đại Thế Chí.
thế chí
Mahasthamaprapta (skt)—See Đại Thế Chí Bồ Tát.
thế chí bồ tát
Xem Đại thế chí Bồ tát.
; (勢至菩薩) Thế chí, Phạm:Mahàsthàma-pràpta. Cũng gọi Đại thế chí bồ tát, Đắc đại thế bồ tát. Vị Bồ tát trụ trong viện Quan âm thuộc Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Động Đại Phật chùa Thê hà
thế chí phật
Vị Phật có năng lực cứu độ vĩ đại—The Buddha of mighty power to heal and save all sentient beings.
thế chí quán
(勢至觀) Cũng gọi Đại thế chí quán. Chỉ cho pháp quán thứ 11 trong 16 pháp quán nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Khi hành giả tu pháp quán này, quán tưởng Bồ tát Đại thế chí thân cao 80 vạn ức na do tha do tuần, dùng ánh sáng trí tuệ soi khắp tất cả, làm cho chúng sinh xa lìa 3 đường ác; đồng thời, quán tưởng trong chiếc mũ trời của Ngài hiển hiện tướng cõi Phật trong 10 phương, trên nhục kế của Ngài có 1 chiếc bình báu, trong bình chứa các ánh sáng, hiện khắp các Phật sự.
thế chủ
Loka-nātha (S)Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đức Phật.
; Thế Chủ Thiên—Phạm Thiên—Đại Chí Tại Thiên hay vua của thế gian—The lord of the world—World ruler—Brahma (Phạm Thiên)—Mahesvara—The four Maharajas (Tứ Thiên Vương). ** For more information, please see Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương, and Đại Tự Tại Thiên.
thế chủ thiên
See Thế Chủ.
; (世主天) Cũng gọi Thếvươngthiên, Phạm thiên, Đại tự tại thiên.
thế cuộc
Life.
thế cô
All alone.
thế da na tát nam
(世耶那薩喃) Phạm: Zayanàsana. Pàli:Sayanàsana. Chỉ chongọa cụ(đồ dùng để nằmnhư giường, chiếu...), là 1 trong những vật dụng sinh hoạt của chúng tăng.
Thế gian
世間; C: shìjiān; J: seken;|1. Thế giới phàm trần. Thuật ngữ thế (世) có nghĩa dời đổi; trong khi chữ gian (間) có nghĩa là hạn cuộc. Có nghĩa là thế giới hiện tượng, thế giới của sự biến hoại (s: loka-dhā-tu, sarva-loka, sarga); 2. Khí thế gian (器世間): thế giới tự nhiên; 3. Trong thế gian; 4. Con người trong trần gian, chúng sinh; 5. Tập quán, phong tục của thế giới phàm trần.
thế gian
Lokiya (S), MundaneXem Cãnh giới.
; The world; in the world; the finite impermanent world. Also Thế giới..
; The world—In the world—The finite impermanent world—Secular world—Mundane world—See Thế giới. Những lời Phật dạy về Thế Gian trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings in the Dharmapada Sutra: 1) Người nào xem thế gian nầy như bọt nước, như ảo ảnh thì sẽ chấm dứt mọi đau khổ và chẳng còn sợ thần chết kéo lôi—Look upon the world as one would look upon a bubble, just as one would look upon a mirage. If a man thus looks down upon the world, the king of death does not see him (Dharmapada 170). 2) Giả sử thế gian nầy có được trang hoàng lộng lẫy như chiếc xe của vua đi nữa, thì trong số người đến xem, chỉ người ngu mới tham đắm, chứ kẻ trí nào hề bận tâm—Supposed this world is like a brilliantly ornamented royal chariot; the foolish are immersed in it, but the wise do not attach to it (Dharmapada 171). 3) Người nào trước buông lung sau lại tinh tấn, người đó là ánh sáng chiếu cõi thế gian như vầng trăng ra khỏi mây mù—Whoever was formerly heedless and afterwards overcomes his sloth; such a person illuminates this world just like the moon when freed from clouds (Dharmapada 172). 4) Người nào trước làm ác sau lại làm lành, người đó là ánh sáng chiếu cõi thế gian như vầng trăng ra khỏi mây mù—Whoever was formerly heedless and afterwards does good deeds; such a person illuminates this world just like the moon when freed from clouds (Dharmapada 173). 5) Như chim thoát khỏi lưới, chẳng mấy con bay thẳng lên trời cao, trong thế gian nầy mù mịt chẳng mấy người sáng suốt trông thấy cao xa—This work is so dark that only a few can see it clearly, like birds escape from a net but very few of them fly up straight (Dharmapada 174).
; (世間) Phạm: Loka. Hán âm: Lộ ca, Hán dịch: Hủy hoại. Phạm: Laukika, Hán dịch: Thế tục, phàmtục. Đồng nghĩa: Thế giới: Gọi tắt: Thế. Chỉ cho 3 cõi bị các phiền não trói buộc và tất cả hiện tượng thuộc về các pháp hữu vi hữu lậu. Thế nghĩa là đổi dời; gian nghĩa là gián cách. Thế gian bao hàm hữu tình và quốc độ(khí thế gian). Luận Phật tính quyển 2 thì cho rằng Thế có 3 nghĩa: 1. Đối trị: Vì có thể bị tiêu diệt hết. 2. Bất tĩnh trụ: Vì niệm niệm sinh diệt khôngdừng. 3. Hữu đảo kiến: Vì điên đảo, hư vọng. Về phân loại thế gian thì luận Câu xá quyển 8 nêu 2 loại thế gian: 1. Hữu tình thế gian(cũng gọi Chúng sinh thế gian, Hữu tình giới): Chỉ cho tất cả hữu tình chúng sinh (chúng sinh có tình thức). 2. Khí thế gian(cũng gọi Vật khí thế gian, Khí thế giới, Khí giới, Khí): Chỉ cho đất nước, núi sông là nơi các loài hữu tình cư trú. Luận Đại trí độ quyển 70 nêu 3 loại thế gian:1. Chúng sinh thế gian(cũng gọi Giả danh thế gian): Nghĩa là giả lập các danh tự trên các pháp như 10 cõi, 5 ấm... mỗi mỗi khác nhau. 2. Ngũ ấm thế gian(cũng gọi Ngũ chúng thế gian, Ngũ uẩn thế gian): Chỉ cho thế gian do 5 ấm: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức hình thành. 3. Quốc độ thế gian: Chỉ cho khí thế gian, tức là nơi nương ở của các loài chúng sinh.Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 nêu 3 loại thế gian: 1. Khí thế gian: Chỉ cho 3 nghìn thế giới, là những cảnh giới được đức Như lai hóa độ. 2. Chúng sinh thế gian: Chỉ cho những căn cơ được đức Như lai giáo hóa. 3. Trí chính giác thế gian: Chỉ cho thân trí năng hóa của đức Như lai. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí thì Ngũ uẩn thế gian và Chúng sinh thế gian là đồng nghĩa; Hữu tình thế gian và Khí thế gian giống với cách phân loại Chính báo và Y báo. Từ ngữ Thế gian chỉ được dùng cho cõi mê, còn từ Báo thì thông dụng cả cõi mê và cõi ngộ. Vượt khỏi thế gian(thế tục) thì gọi là Xuất thế gian, cho nên đối với các giai vị Bồ tát, trí, thiền định... có lập thế gian và xuất thế gian khác nhau. Chẳng hạn như thường nói nhân quả của cõi mê(khổ đế, tập đế) thuộc thế gian, nhân quả của cõi ngộ(diệt đế, đạo đế) thuộc xuất thế gian; trước giai vị Kiến đạo(Sơ địa) thuộc thế gian, Kiến đạo trở lên thuộc xuất thế gian. Ở đây tông Hoa nghiêm cho rằng người tu hành còn phải vượt qua xuất thế gian thông thường(xuất thế của Tam thừa), cho nên lập riêng xuất xuất thế(tức Xuất xuất thế gian). Ngoài ra, Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển trung, phần đầu, lập 2 loại thế gian là Phi học thế gian và Họcgiảthế gian. Đại bátNiết bàn kinh sớ quyển 18 thì nêu 6 loại thế gian như Ngũ ấm thế gian, Ngũ dục thế gian...
thế gian bát tâm
(世間八心) Cũng gọi Thuận thế bát tâm. Đối lại: Vi thế bát tâm. Chỉ cho 8 tâm thiện của phàm phu thế gian từ lúc mới sinh khởi đến giai đoạn cuối cùng. Mật tông dùng các giai đoạn sinh trưởng của thực vật làm ví dụ, theo thứ tự sinh khởi của phàm phu thế gian trước Kiến đạo thuộc Thanh văn mà chia thiện tâm này làm 8 thứ gọi là Thế gian bát tâm. Đó là: 1. Chủng tử tâm: Tức thiện tâm đầu tiên của thế gian. Nghĩa là phàm phu bỗng nhiên sinh khởi tâm niệm tiết thực trì trai (nhưng không phải giới Bát quan trai trong Phật pháp), vì trì trai nên ít muốn, biết đủ, tâm sinh hoan hỉ và luôn luôn tu tập. Đây là tâm đầu tiên biết nhân quả thiện ác, giống như hạt giống của thực vật nên gọi là Chủng tử tâm. 2. Nha chủng tâm: Từ đó tiến thêm bước nữa, vào ngày trì trailại bố thí tài vật cho những người thân tộc; do đó, một mặt không còn phải bận tâm lo cất giữ tài vật, mặt khác lại được họ hàng khen ngợi, kính yêu, cho nên cảm thấy vui vẻ, tâm thiện hơi tăng lên; giống như cái mầm (nha) của thực vật từ trong hạt giống hơi nhú ra, cho nên gọi là Nha chủng tâm. 3. Pháo chủng tâm: Muốn thành tựu thiện pháp trì trai ở giai đoạn trước thì thường phải tu tập tâm vô tham, mở rộng phạm vi bố thí cho đến những người ngoài thân tộc họ hàng, nhờ công đức lợi ích của tâm bố thí bình đẳng này mà thiện tâm tăng thêm gấp bội; giống như cái thân của mầm thực vật được nuôi lớn, cho nên gọi là Pháo chủng tâm. 4. Diệp chủng tâm: Phạm vi huệ thí tuệ xả trong giai đoạn trên được mở rộng, dần dần lựa chọn đối tượng bố thí, gần gũi cúng dường những bậc đức hạnh cao cả; giống như thân cây đã lớn, cành lá dần dần nảy sinh, cho nên gọi là Diệp chủng tâm. 5. Phu hoa tâm: Tức tính trí tuệ dần dần khơi mở, lại chọn ra đối tượng bố thí, hoan hỉ bố thí nhữngngườilàm nghề kĩ nhạc và các bậc tôn túc, vì những người làm kĩ nhạc có khả năng giáo hóa đại chúng, làm cho họ vui vẻ, còn các bậc tôn túc thì có học vấn, đức hạnh cao thượng làm khuôn mẫu cho người đời, cho nên khi bố thí cho các ngài thì tâm vui mừng gấp bội; giống như sau khi cành lá sumsuê, tươi tốt thì hoa tự nhiên trổ và nở rộ, cho nên gọi là Phu hoa tâm. 6. Thành quả tâm: Đối với việc tu tập đã thuần thục, chẳng những chỉ hoan hỉ mà còn bố thí tâm thân ái cho người có học vấn, đức hạnh cao cả, nhờ nhân duyên này mà được lợi nghe pháp, từ đó sinh tâm kính tín qui y, xa lìa dục vọng phiền não; giống như hoa đã nở rộ thì dần dần kết thành trái, cho nên gọi là Thành quả tâm. 7. Thụ dụng chủng tử tâm: Rõ biết 3 nghiệp ác đều là nhân của các loại phiền não, cho nên giữ gìn giới pháp, nhờ đó, đời hiện tại được ích thiện, tiếng tăm vang vọng và sau khi chết được sinh lên cõi trời; giống như quả đã chín thì được dùng hạt của nó, cho nên gọi là Thụ dụng chủng tử tâm. 8. Vô úy y tâm: Chỉ cho thiện tâm trên hết của thế gian, tức ở trong dòng sinh tử trôi chảy, cầu được tâm nương tựa không sợ hãi. Nghĩa là mình biết gần gũi cúng dường bậc có học vấn, đức hạnh cao cả, lại thấy trì giới được lợi thiện mà dần dần biết nhân quả, lại nghe thiện tri thức nói có Đại thiên ban cho mọi điều vui thích, nếu thành kính cúng dường thì mọi điều mong cầu đều được như ý, liền khởi tâm qui y, tuy chưa nghe Phật pháp nhưng biết chư thiên nhờ tu nhân lành mà được quả báo lành. Lại nghe Phật pháp, nhất định tin nhận qui y mà được tâm vô úy. Trong Đại nhật kinh sớ của ngài Thiện vô úy, thì Vô úy y tâm lại được chia làm 2 là Thù thắng tâm và Quyết định tâm, nên cộng thành 10 tâm.Thù thắng tâm là tâm sinh khởi trí quánKhông để cầu giải thoát, còn Quyết định tâm là tâm tu nhân thành tựu mà chứng được lí không.
thế gian duy thị tâm
Cittamatramlokam (skt)—Thế giới là duy tâm—The world is Mind only.
thế gian dụng
(世間用) Đối lại: Cổ qui tắc dụng. Trong tùng lâm, khi dùng phép tắc, nếu cần phải đáp ứng nhu cầu tùy thuận thế gian mà không dùng phép xưa, thì gọi là Thế gian dụng. Trái lại, dùng theo phép xưa thì gọi là Cổ qui tắc dụng.
thế gian giáo
The ordinary teaching of a moral life.
Thế Gian Giải
(s: lokavid, p: lokavidū, 世間解): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Lộ Ca Bại (路迦憊); hoặc dịch là Tri Thế Gian (知世間); nghĩa là đức Phật có thể hiểu biết hai loại chúng sanh và không phải chúng sanh; biết được nhân của thế gian, sự hoại diệt của thế gian, và con đường của xuất thế gian. Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 giải thích rằng: “Lộ Ca Bại, Lộ Ca, Tần ngôn thế, Bại danh tri, thị danh tri thế gian, …, tri nhị chủng thế gian, nhất chúng sanh, nhị phi chúng sanh (路迦憊、路迦、秦言世、憊名知、是名知世間…知二種世間、一眾生、二非眾生, Lộ Ca Bại, Lộ Ca, Tàu gọi là thế [thế gian, cuộc đời]; Bại là tri [biết], nghĩa là biết thế gian, …, biết hai loại thế gian, một là thế gian, hai là không phải thế gian).” Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 18, Phạm Hạnh Phẩm (梵行品) thứ 8, còn giải thích thêm rằng: “Thế Gian giả danh vi Ngũ Ấm, Giải giả danh tri, chư Phật Thế Tôn thiện tri Ngũ Ấm cố danh Thế Gian Giải; hựu Thế Gian giả danh vi Ngũ Dục, Giải danh bất trước, bất trước Ngũ Dục cố danh Thế Gian Giải (世間者名爲五陰、解者名知、諸佛世尊善知五陰故名世間解、又世間者名爲五欲、解名不著、不著五欲故名世間解, Thế Gian nghĩa là Năm Ấm, Giải là biết, vì chư Phật Thế Tôn khéo biết Năm Ấm nên gọi là Thế Gian Giải; lại nữa Thế Gian nghĩa là Năm Dục, Giải là không mắc kẹt, vì không mắc kẹt vào Năm Dục nên gọi là Thế Gian Giải).”
; 世間解; C: shìjiānjiě; J: sekenge; S: lokavid; P: loka-vidū;|Người biết thế giới phàm trần. Người hiểu biết toàn triệt về bản chất và sự vận hành của thế giới hiện tượng. Một trong Mười danh hiệu của Đức Phật.
thế gian giải
Lokavid (S)Rỏ biết 2 thứ thế gian. Một trong 10 Phật hiệu.
; Lokavid (S). Knower of the World, one of the ten titles of a Buddha.
; Lokavid (skt)—Người biết tất cả thế gian, một trong mười danh hiệu của Phật—Knower of the world, one of the ten titles of a Buddha.
; (世間解) Phạm: Lokavid. Pàli:Lokavidù. Hán âm: Lộ ca bị. Cũng gọi Tri thế gian. Biết rõ thế gian. Là từ ngữ tôn xưng đức Phật, 1 trong 10 hiệu của Ngài,vì đức Phật biết rõ chúng sinh thế gian và phi chúng sinh thế gian; chẳng nhữngNgài biết rõ nhân của thế gian, diệt của thế gian, mà còn biết rõ đạo xuất thế gian. Luận Đại trí độ quyển 2 (Đại 25, 72 thượng) nói: Lộ ca bị, Lộ ca, Hán dịch là Thế, Bị là Tri, nên gọi là Tri thế gian (...) Tri 2 loại thế gian: Một là Chúng sinh thế gian, hai là Phi chúng sinh thế gian. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Đại 37, 101 trung) nói: Thế gian giải là trí giáo hóa người khác; hiểu thế gian gọi là Thế gian giải.
thế gian kinh
Kinh luận về Khổ Tập Diệt (ba đế đầu trong Tứ Diệu Đế)—A sutra discussing causality in regard to suffering (khổ), Accumulated consequences in karma (tập) and extinction (diệt), the first three of the Four Dogmas in Agamas (A Hàm Kinh).
thế gian nan tín thọ kinh
Kinh nói về con đường nhanh và thẳng đến quả vị Phật quả là khó mà tin được trên thế gian nầy—Sutra contains the speedy and straight way to Buddhahood which the world finds it hard to believe.
thế gian nan tín tiệp kính
(世間難信捷徑) Thế gian khó tin con đường thẳng tắt, 1 trong 12 thán thích do vị tăng Nhật bản lập ra. Tức tâm tin vào tha lực là pháp không thể nghĩ bàn, là con đường thẳng tắt dễ đi dẫn kẻ ác phàm phu mau đi tới quả Phật. Nhưng đây là điều mà thế gian rất khó tin, cho nên gọi là Thế gian nan tín tiệp kính.
thế gian ngũ chủng nan đắc bảo
(世間五種難得寶) Chỉ cho 5 điều quí báu mà thế gian khó có được. Đó là: 1. Gặp Phật ra đời: Pháp thân của chư Phật Thế tôn tuy thường trụ bất diệt, nhưng vì chúng sinh vô minh khó có thể thấy được; nay Phật xuất hiện ở thế gian là muốn khiến chúng sinh thành tựu đại sự nhân duyên. 2. Nghe Phật nói pháp, giảng lại cho người khác nghe: Những chúng sinh đã được thấy Phật nghe pháp, lại tùy căn cơ giảng nói cho người khác nghe, giúp họ ra khỏi sinh tử, thành đạo Vô thượng. 3. Nghe pháp tin hiểu: Chúng sinh đã được nghe Phật pháp, lại sinh khởi lòng tin chân chính, tư duy nghĩa lí rồi nương theo đó mà tu hành. 4. Thực hành đúng như pháp: Chúng sinh tin nhận chính pháp rồi, tư duy về nghĩa lí, lại có khả năng y theo pháp mà tinh tiến tu hành thì sẽ chứng được đạo Bồ đề vô thượng. 5. Luân chuyển giáo hóa, khiến được tin ưa: Chúng sinh giảng diễn chính pháp cho người nghe, khiến họ tin ưa không chỗ nghi ngờ thì giáo pháp sẽ được lưu thông và luân chuyển giáo hóa.
thế gian nhãn
The Eye of the world, the eyes that see for all men. Worldly or ordinary eyes. Also Thế nhãn.
; 1) Nhục nhãn—The eye of the world—Worldly or ordinary eyes. 2) Phật Nhãn: Đức Phật là mắt của người thế gian, chỉ bảo dẫn dắt họ đi theo chánh đạo. Đức Phật mở mắt cho người thế gian để họ thấy được chánh đạo—The Buddha is the eye of the world, the eye that sees for all men. The Buddha, who is also one of that opens the eyes of men.
thế gian như xa luân
(世間如車輪) Ví dụ thế gian chuyển biến không ngừng như cái bánh xe quay mãi. Luận Đại trí độ quyển 1 (Đại 25, 65 trung) nói: Thế gian như xa luân, thời giờ chuyển biến như bánh xe lăn; người cũng xoay chuyển như bánh xe, hoặc lên hoặc xuống.
thế gian pháp
Loka-dharma (S).
; The world-law, or law of this world, especially of birth and death.
; Pháp thế gian (của tất cả các loại hữu tình và phi tình), đặc biệt về sanh tử và liên hệ tới Khổ Tập Diệt Đạo—The world law—Law of this world, especially of birth-and-death; in this respect, it is associated with suffering (khổ) and accumulated consequences in karma (tập).
; (世間法) Phạm: Loka-dharma. Pàli: Loka-dhamma. Chỉ cho tất cả pháp như hữu tình, phi tình... trong 3 cõi từ hoặc nghiệp nhân duyên sinh ra. Các pháp này đều là hữu lậu vô thường. Khổ đế và Tập đế trong 4 đế thuộc thế gian pháp. Trong tất cả pháp thế gian thì 8 pháp lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ và lạc đặc biệt được gọi là Bát thế gian pháp, cũng gọi là Bát phong(tám gió).
thế gian thiên
Chư thiên của thế gian hay những bậc quân vương—World-devas or Earthly kings.
; (世間天) Chỉ cho các vị quốc vương, thiên tử ở thế gian, 1 trong 4 loại thiên. Các vị quốc vương, thiên tử tuy ở nhân gian, nhưng được hưởng phúc giống như phúc báo trên cõi trời, cho nên gọi là Thế gian thiên. Tương đương với Danh thiên nói trong luận Đại trí độ quyển 22.
thế gian thiên viện
Viện thứ ba trong Thai Tạng Giới—The third court in the Garbhadhatu.
; (世間天院) Chỉ cho viện ở ngoài cùng trong Tam trùng mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là nơi ở của Thế thiên, nên gọi là Thế gian thiên viện. Tam chủng tất địa đà la ni pháp (Đại 18, 911 trung) nói: Chư tôn theo đó mà hiện thành Mạn đồ la lớp thứba, chính là Thế gian thiên viện vậy.
thế gian thiền
Lokiya-samādhi (S).
; (世間禪) Pàli:Lokiya-samàdhi. Cũng gọi Hữu lậu thiền, Thế định, Thế gian định. Đối lại: Xuất thế gian thiền. Chỉ cho thiền định hữu lậu mà phàm phu tu hành, 1 trong 3 thứ thiền định. Tức là định cõi Dục, định Tứ thiền của cõi Sắc, định Tứ vô sắc giới của cõi Vô sắc và định Tứ vô lượng tâm. Chẳng hạn như Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, bất cứ pháp thiền định nào hễ tu bằng trí hữu lậu thì đều thuộc Thế gian thiền.
thế gian thù thắng trí môn
The highest knowledge in the world.
thế gian thừa
The Vehicle, or teaching for the attainment of good fruit in the present life, in contrast with Xuất thế gian thừa that for attainment in lives outside this world.
; Giáo pháp dạy về cách thành tựu thiện nghiệp trong kiếp nầy, ngược lại với Xuất thế gian thừa—The Vehicle or teaching for the attainment of good fruit in the present life, in contrast with that for attainment in lives outside this world (Xuất thế gian thừa).
; (世間乘) Cũng gọi Thế gian giáo. Đối lại: Xuất thế gian thừa. Chỉ cho giáo pháp có năng lực mang lại quả báo lành ở thế gian, tức là Nhân thừa và Thiên thừa trong 5 thừa.
thế gian thực
(世間食) Đối lại: Xuất thế gian thực. Chỉ cho thức ăn nuôi dưỡng sắc thân. Tức đoạn thực, xúc thực, tư thực, thức thực... trong 9 thứ thực.
thế gian trí
Laukika-jāna (S), Jānam-laukikam (S) Tâm chấp trước hữu-vô, không ra khỏi thế gian.Xem Thế gian giải.
; Wordly knowledge.
; Jnanam-laukikam (skt)—Phàm trí hay trí của người phàm, chưa được giác ngộ—Worldly knowledge or knowledge of ordinary men and those unenlightened by Buddhism.
Thế gian tĩnh lự
世間靜慮; C: shìjiān jìnglǜ; J: sekenjōryo;|Thiền định thế gian, một dạng Thiền định ở cấp thấp, trong cõi hữu lậu, giúp cho hành giả giải trừ những phiền não thô trọng (麁重), nhưng không thể chuyển hoá được những chủng tử phiền não nhiễm ô. Phản nghĩa với Vô lậu tĩnh lự (無漏靜慮, theo Du-già luận).
thế gian tương vi
Lokaviruddha (skt)—Một trong 33 lỗi lý luận, lập ra tông pháp mà chẳng biết đó là trái với kinh nghiệm hiểu biết của mọi người—One of the thirty-three logical errors, set up a premise contrary to human experience.
thế gian tương vi quá
(世間相違過) Thế gian tương vi, Phạm: Lokavuruddha. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi lập luận thức trái với sự hiểu biết thông thường của thế gian, 1 trong 9 lỗi thuộc về Tông, 1 trong 33 lỗi Nhân minh. Luận Nhân minh nhập chính lí (Đại 32, 11 trung) nói: Thế gian tương vi, như lập luận thức: Tông: Xương sọ của người là sạch. Nhân: Vìlàmột phần củaconngười. Dụ: Như vỏ ốc. Ngoại đạo Ca la dùng các xương đầu người xâu lại làm đồ trang sức đeo ở cổ, do đó người lập luận cho là sạch mới dùng để lập Tông. Nhưng đối với người thế gian thì những cái đầu lâu không phải là vật sạch sẽ, đó là sự thực phổ biến, hiển nhiên ai cũng biết. Bởi vậy, trong luận thức trên, mặc dầu Nhân và Dụ chính xác, nhưng Tông đã trái với thường thức thế gian nên phạm lỗi này.
thế gian tướng thường trụ
World-forms, systems, or states are eternal (as existing in the Absolute, the chân như).
; World-forms, systems or states are eternal as existing in the absolute (chân như).
; (世間相常住) Tướng thế gian hằng thường bất biến, làtừngữ được dùng để biểu thị ý nghĩa Tục đế thường trụ. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa(Đại 9, 9 trung) nói: Pháp ấy trụ ngôi pháp, Tướng thế gian thường trụ; Nơi đạo tràng đã biết, Đạo sư phương tiện nói. Nghĩa là chân như thường trụ, tướng thế gian cũng thường trụ; tất cả các hiện tượng hữu vi biến hóa đều hàm chứa lí chân như bất biến. Ngoài tướng của các hiện tượng thế gian ra, không có lí bất biến. Đạo lí Tính tướng như như– Sự lí bất nhị này là thuyết tột cùng rốt ráo của Phật giáo Đại thừa. Nhưng nếu chỉ thấy tính thường trụ của tướng thế gian mà không thấy tính vô thường thì đó là cái thấy nông cạn, hẹp hòi của phàm phu; trái lại, chỉ thấy tính vô thường của tướng thế gian mà không biết tính thường trụ thì đó là cái thấy thiên về mặt không của Tiểu thừa. Nếu trong tướng vô thường mà thấy được tính thường trụ, lại trong tính thường trụ mà thấy được tướng vô thường, thì đó là thấythựctướng của Bồ tát. Trong Mật giáo, từ ngữ tương đương với từ ngữ này là Các pháp sinh diệt, thường hằng sinh khởi như thế, nghĩa là tất cả sự chuyển biến như sinh, trụ, dị, diệt; tất cả sự chuyển vận như xuân, hạ, thu, đông đều thuộc sự diệu dụng tự nhiên của pháp tính.
thế gian đàn
Worldly dana or giving with thoughts of possession.
; (世間檀) Đàn, Phạm:Dàna, Hán dịch: Bố thí. Bố thí mà tâm còn chấp có người thí, vật bố thí và người nhận thì gọi là Thế gian đàn. Luận Đại trí độ quyển 11 (Đại 25, 142 thượng) nói: Nếu tâm có 3 điều trở ngại ràng buộc thì đó là thế gian đàn. Vì sao? Vì các pháp nhân duyên thật không có ta, mà nói ta cho, người nhận nên gọi là Thế gian đàn.
thế gian đạo
Lokiyamagga (P).
thế giới
Loka-dhātu (S)GiớiXem giới.
; Loka (S). The finite world, the world, a world, which is of two kinds: (1) Chúng sinh thế giới, that of the living, who are receiving their chính báo correct recompense of karma; (2) Khí thế giới, that of the material, or that on which karma depends for expression.
; Loka—The finite world. There are two kinds: 1) Chúng sanh thế giới: Thế giới của chúng sanh, những nguời đang nhận lấy chánh báo của chính họ—The world of the living beings, who are receiving their correct recompense (chánh báo) or karma. 2) Khí thế giới: The world of the material, or that on which karma depends for expression.
; (世界) Phạm,Pàli:Loka-dhàtu. Hán âm: Lộ ca đà đổ. Gọi tắt: Giới. Nơi có thể bị hủy hoại. Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 4 thì Thế nghĩa là đổi dời; Giới chỉ cho phương vị. Tức về mặt thời gian có 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai dời đổi, về mặt không gian thì có định vị nơi chốn như đông, tây, nam, bắc, trên, dưới 10 phương, cũng chính là chỉ cho nơi chốn nương ở của chúng sinh, như núi sông, cõi nước... Như trên đã nói, thế giới vốn chỉ cho thế giới hữu vi trong 3 cõi; nhưng Phật giáo Đại thừa cũng chỉ cho thế giới Liên hoa tạng (cảnh giới Phật do tông Hoa nghiêm nói), Tịnh độ của Phật A di đà... Tức bao hàm thế giới tuyệt đối siêu việt thế giới tương đối, là thế giới vô vi. Ấn độ đời xưa y cứ vào Thuyết núi Tu di để thành lậpVũ trụ luận, tức lấy núi Tu di làm trung tâm, 4 phía chung quanh có 9 núi 8 biển, 4 châu(4 thiên hạ) bao bọc và mặt trời, mặt trăng hợp lại làmmộtđơn vị, gọi là một thế giới. Hợp chung lại 1000 cái một thế giới làm mộtTiểu thiên thế giới; hợp chung 1000 cái Tiểu thiên thế giới, gọi là Trungthiên thế giới; hợp 1000 cái Trung thiên thế giới thành một Đại thiên thế giới (Đại thiên giới, Đại thiên). Một Đại thiên thế giới bao gồm 3 thứ Tiểu, Trung, Đại thiên thế giới, cho nên Đại thiên thế giới cũng gọi là Tam thiên đại thiên thế giới(Tam thiên thế giới). Vũ trụ được cấu thành bởi vô số Tam thiên đại thiên thế giới, do đó có thể thấy thế giới rộng lớn vô biên. Phạm vi giáo hóa của một đức Phật(tức một cõi Phật) hoặc là một thế giới, hoặc là một Tam thiên đại thiên thế giới, hoặc một thế giới to rộng hơn nữa. Từ thế giới vốn đồng nghĩa với Thế gian, bao gồm Hữu tình thế gian và Khí thế gian, nhưng thông thường quen chỉ cho Khí thế gian. Chúng sinh hữu tình trụ trong một thế giới được phân loại làm 6 đường khác nhau là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh,A tu la, cõi người và cõiTrời. Trong đó, thế giới mà 5 đường trước an trú gọi là Dục giới; thế giới mà chư thiên có sắc chất an trú gọi là Sắc giới; thế giới mà chư thiên không có sắc chất cư trú gọi là Vô sắc giới. Nhưng theo các kinh luận Đại thừa thì còn có Tịnh độ của chưPhậttồn tại ngoài 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc nói trên. Như Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng, ngoài 6 đường còn lập Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật, gọi chung là Thập giới, trong Thập giới này mỗi giới đều có cõi nước an trụ. Lại như Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 3 y cứ theo thuyết trong kinh Hoa nghiêm mà nêu ra nơi an trụ cúa 10 cảnh giới Phật là Quốc độ hải và Thế giới hải. 1. Quốc độ hải: Nơi an trụ của tự thể Thập Phật, là y báo viên dung tự tại không thể nghĩ bàn. 2. Thế giới hải: Nơi 10 thân Xá na nhiếp hóa, lại được chia làm 3 loại: Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Thập trùng thế giới hải và Vô lượng tạp loại thế giới hải.
Thế giới An Lạc
cũng gọi là Cực Lạc, là nơi có đức Phật A-di-đà.
thế giới chủ
The lord, or ruler over a world or dhyàna heaven, one for each of the four dhyàna heavens.
; 1) Chủ thế giới hay chúa tể thế giới. Phạm vương của cõi sơ thiền thiên là chủ của một cõi trong tứ thiền—The lord, or ruler over a world Dhyana Heaven, one for each of the four Dhyana-Heavens. 2) Phật: The Buddha.
; (世界主) Người đứng đầu thế giới. Trong kinh Phật thường cho rằng các thế giới có lớn nhỏ khác nhau, một Tiểu thế giới, Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới, Đại thiên thế giới... và rằng mỗi một thế giới đều có người đứng đầu. Như Phạm vương cõi Sơ thiền đứng đầu một Tiểu thế giới(tức 4 thiên hạ); Phạm thiên cõi Đệ nhị thiền đứng đầu một Trung thiên thế giới; Phạm vương cõi Đệ tam thiền đứng đầu một Trung thiên thế giới; Đại phạm thiên cõi Đệ tứ thiền đứng đầu một Đại thiên thế giới. Phạm vi rộng lớn của Tứ thiền thiên, theo thứ tự, tương đương với một thế giới, Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới và Đại thiên thế giới.
thế giới cực lạc
Quốc độ mà người tu Tịnh độ cầu vãng sanh. Vì quốc độ chỉ có vui chẳng có khổ, nên gọi là Cực lạc.
; Ultimate Bliss World.
thế giới hoà bình tháp
(世界和平塔) Tháp, ở ngoại ô phía đông thủ đô Ngưỡng quang (Rangoon) của Miến điện, được xây dựng vào thời gian diễn ra Đại hội lần thứ 3 của Hội Phật giáo đồ liên nghị thế giới năm 1954(cũng là lần kết tập thứ 6 của Phật giáo). Kiến trúc chủ yếu ở núi Cát tường, dưới chân núi có một hang đá, gọi là Đại thánh quật, có đủ chỗ cho hơn 10.000 vị tỉ khưu nhóm họp. Hang đá có 6 cửa, 6 cột đá, trên tường có 6 bánh xe pháp được khắc nổi, trên đài trang trí 6 cây nến điện, tượng trưng cho cuộc kết tập lần thứ 6. Bên phía trái núi Cát tường là tháp Thế giới hòa bình, cũng có 6 cửa, thờ 6 đức Phật; ở phía sau núi Cát tường có giới đàn, bên phải là viện Phật họcPàli, phía trước bên phải là trụ sở của Hội Phật Giáo Liên bang Miến điện. Trên núi có điện Phật, phòng xem kinh và hang ngồi thiền. Hiện nay, tháp này là đạo tràng chung của các hoạt động chúc mừng ngày Phật đản trên toàn cõi Miến điện.
thế giới hải
(世界海) Đối lại: Quốc độ hải. Chỉ cho các thế giới do Thập Phật giáo hóa.Cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 3 thì có 3 loại thế giới hải, đó là: 1. Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải(cũng gọi Liên hoa tạng thế giới, Hoa tạng giới): Tương đương với cảnh giới của Thập Phật, là nói theo giai vị Chứng nhập sinh. 2. Tam thiên giới ngoại thập trùng thế giới hải(cũng gọi Giới ngoại thập trùng thế giới hải, Thập trùng thế giới): Tương đương với cảnh giới của Địa thượng Bồ tát, là nói theo giai vị Giải hành sinh. 3. Vô lượng tạp loại thế giới hải(cũng gọi Tạp loại thế giới): Tức các thế giới có hình núi Tu di cho đến hình các chúng sinh đầy khắp pháp giới, là nói theo giai vị Kiến văn sinh. Trong 3 thế giới hải nói trên, về hình loại của Tạp loại thế giới, kinh Hoa nghiêm bản dịch cũ nêu ra 9 loại và kinh Hoa nghiêm bản dịch mới nêu 20 loại.
thế giới hồng vạn hội đạo viện
(世界紅卍會道院) Đoàn thể tín ngưỡng bắt nguồn từ Đạo viện của Trung quốc. Đạo viện là từ gọi chung các đoàn thể tông giáo kết xã bí mật và các chùa viện của họ. Khoảng năm Dân quốc thứ 5, 6 (1916-1917), nhóm quan lại như Lưu phúc duyên ở huyện Tân, tỉnh Sơn đông, thiết đàn cầu cơ, thực hành thuật lên đồng giáng bút, lấy việc tu thân xử thế, tinh tiến tu đạo, phát triển hoạt động cứu tế xã hội làm tông chỉ của việc sáng lập Đạo viện. Về sau, soạn Thái ất Bắc cực chân kinh 12 quyển làm kinh điển căn bản, qui định cách ngồi và nghi thức cúng tế, lấy Sơn đông làm trung tâm, truyền bá đến các vùng như Hà bắc, An huy, Giang tô và miền đông Bắc. Tháng 4 năm Dân quốc 11 (1922), Đạo viện Thượng hải được thiết lập, đặt ra các qui chế, làm các việc từ thiện. Vào tháng 9, tổ chức ĐạihộiHồng hội, đồng thời suy tôn ngài Huyền cơ làm Chủ tịch. Vào tháng 10, chính thức đăng kí với chính phủ thành lập đoàn thể từ thiện Thế giới Hồng hội. Hoạt động của hội này rất sôi nổi, không chỉ giới hạn ở Trung quốc, mà tại Hương cảng và Tân gia ba đều có thiết lập chi hội, đồng thời, truyền đến Nhật bản, tổ chức của hội này có tới hơn 400 nơi. Nhưng từ sau đại chiến thế giới lần thứ 2, Hồng hội Đạo viện dần dần suy vi. Nghi thức quan trọng nhất của Đạo viện là Phù kê(lên đồng giáng bút), lấy kết quả của phù kê làm nòng cốt cho tất cả hoạt động tông giáo. Nghi thức của thuật phù kê là: Lập một Kê đàn, trên đàn bày cúng hoa thơm, rượu và thức ăn, phía trước đàn có 2 ông đồng, mỗi ông đều cầm 2 đầu cây chiêm bút (cái que hình chữ T). Sau khi thần linh giáng lâm Kê đàn nhập vào ông đồng rồi cầm chiêm bút viết chữ lên giấy hoặc lên mâm cát, gọi là Thần linh chỉ bảo. Về phương diện tu đạo, Hội này dung hợp pháp Thai tức của Đạo giáo và pháp Tọa thiền của Phật giáo, rất coi trọng tĩnh tọa, cho nên chủ trương thực tiễn thì lấy tĩnh tọa làm nội công và lấy hành thiện làm ngoại công. Người tu đạo phải giữ 6 điều răn và 4 điều khuyên. Thế giới hồng hội lấy việc đẩy mạnh nền hòa bình thế giới và cứu hộ tai nạn làm mục đích, nhằm bổ sung cho các hoạt động còn thiếu sót của hội Hồng thập tự quốc tế. Công việc của hội này đại khái được chia làm 2 phần: Cứu hộ lâm thời và Bảo trợ lâu dài. Cứu hộ lâm thời chuyên cấp cứucáctai nạn; còn bảo trợ lâu dài thì lập các y viện, trường học cho người nghèo, mở các công xưởng để đào tạo nhân viên kĩ thuật người nghèo, cho họ vay tiền dài hạn không lấy lãi để làm vốn kinh doanh, mở các viện dục anh, cô nhi, dưỡng lão, tàn phế, nhà in miễn phí... Ngoài ra, còn cung cấp y phục, lương thực vào mùa đông và cung cấp phí tổn cho việc chôn cất...
thế giới phật giáo thanh niên hội
(世界佛教青年會) World Fellowship of Buddhist Youth. Gọi tắt: Thế Phật thanh. Cơ cấu lãnh đạo cao nhất của tổ chức Thanh niên Phật giáo toàn cầu, được thành lập tại thủ đô Colombo của Tích lan vào thánh 5 năm 1972. Đến nay, hội viên gồm 13 quốc gia và khu vực tham dự,có tất cả 23 địa khu trung tâm. Tiền thân của Thế Phật thanh là Thanh niên ủy viên hội thuộc Thế giới Phật giáo hữu nghị hội (World Fellowship of Buddhists, gọi tắt là Thế Phật hữu), về sau thành một tổ chức độc lập hoàn chỉnh vào kì Đại hội lần thứ 10 của Thế Phật hữu. Từ khi được thành lập đến nay, Thế Phật thanh đãnỗ lựcphát triển tình đoàn kết giữa thanh niên Phật giáo trên thế giới và đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, xuất bản, nghệ thuật, nghiên cứu học thuật, giáo dục..., cùng công tác phục vụ nhân đạo cho toàn nhân loại. Hoạt động nổi bật nhất vào thập niên 80 là việc Phật quang sơn tổ chức Thế giới Phật giáo thanh niên học thuật hội nghị tạiĐài loan vào tháng 7 năm 1985, sau hội nghị có công bố tuyên ngôn 1985 của hội Thanh niên Phật giáo thế giới, đồng thời, biên soạn và ấn loát Thực lục để lưu hành. Hiện nay, Tổng bộ của hội được đặt ở Bangkok, Thái lan. Ủy ban điều hành thường vụ của Tổng hội gồm 1 vị Hội trưởng, 6 vị Phó hội trưởng và 6 ủy viên. Hội trưởng hiện nay là ông Phallop Thairry, người Thái lan, Đại sư Tinh vân của Trung quốc (Đài loan) là Hội trưởng danh dự. Từ sau khi Tiến sĩ Du tường châu của Trung quốc đảm nhiệm chức vụ Phó hội trưởng vào năm 1984 thì các hoạt động của hội ngày càng trở nên tích cực và quan trọng. Trong số các tổ chức hội viên,vềquá trình phát triển, qui mô tổ chức vận động và đa nguyên hóa các hoạt động của Tổng hội Thanh niên Phật giáothìMã lai á rất được các nơi chú ý.
thế giới phật giáo đồ liên nghị hội
(世界佛教徒聯誼會) World Fellowship of Buddhists. Cũnggọi Thế giới Phật giáo hữu nghị hội, Thế giới Phật giáo đồ hội nghị. Gọi tắt: Thế Phật hữu nghị hội, Thế Phật liên, Thế Phật hữu. Tổ chức Phật giáo quốc tế, do học giả Phật giáo người Tích lan là Tiến sĩ G.P Malalasekera đề xướng sáng lập. Vào tháng 5 năm 1950, Đại hội lần thứ nhất được tổ chức tại Colombo, Thủ đô nước Tích lan, gồm các đại biểu của 29 quốc gia và khu vực tham dự. Tôn chỉ của hội là phổ biến giáo nghĩa của đức Phật và đẩy mạnh việc liên hợp các tín đồ Phật giáo, đồng thời, qua sự quyết định của hội nghị, lấy ngày trăng tròn tháng 5 dương lịch hằng năm làm ngày Phật đàn (Nam truyền), bầu Tiến sĩ Malalasekera làm Chủ tịch, phát hành tờ báo củaHội lấy tên là Thế Phật liên bình luận. Tổng bộ ban đầu được đặt ở Colombo, Tích lan. Năm 1952, Đại hội lần thứ 2 được tổ chức tại Nhật bản, quyết định dùng lá cờ 6 màu làm giáo kì của Phật giáo thế giới. Từ khi được thành lập đến nay. Hội này đã tổ chức tất cả 15 lần Đại hội: Đại hội thứ nhất được tổ chức tại Kandy và Colombo, Tích lan, vào năm 1950, Đại hội lần thứ 2 được tổ chức tại Tokyo và Kyoto ở Nhật bản vào năm 1952, Đại hội lần thứ 3 được cử hành tại Rangoon, thủ đô Miến điện, vào năm 1954, Đại hội lần thứ 4 được khai diễn ở Katmandu, thủ đô nước Nepal, vào năm 1956, Đại hội lần thứ 5 được triệu tập tại Bangkok, Thái lan, vào năm 1958, Đại hội lần thứ 6 nhóm họp ở Kim biên tại Cao miên vào năm 1961, Đại hội lần thứ 7 được tổ chức ở Tân đề li tại Ấn độ vào năm 1964, Đại hội lần thứ 8 tại Thái lan vào năm 1966, Đại hội lần thứ 9 tại Cát long pha và Tân thành ở Mã lai á vàonăm 1969, Đại hội lần thứ 10 tại Colombo ở Tích lan vào năm 1973, Đại hội lần thứ 11 ở Bangkok, Thái lan, vào năm 1976, Đại hội lần thứ 12 ở Đông kinh và Kinh đô tại Nhật bản vào năm 1978, Đại hội lần thư 13 tại Bangkok, Thái lan, vào năm 1980, Đại hội lần thứ 14 tại Colombo, Tích lan, vào năm 1984, Đại hội lần thứ 15 ở Ketmandu, Nepal, vào năm 1986. Đại hội cứ cách 2 năm hoặc 3 năm được cử hành một lần, thành viên của Hội gọi là Địa khu trung tâm, gồm 34 quốc gia và địa khu gia nhập, có tất cả 71 địa khu trung tâm.
thế giới ta bà
Thế giới Ta Bà, thế giới chịu đựng để chỉ thế giới của chúng ta, nơi có đầy những khổ đau phiền não; tuy thế chúng sanh trong đó vẫn hân hoan hưởng thụ và chịu đựng—Saha World—Universal Monarch—World of endurance refers to our world which is filled with sufferings and affections, yet gladly enjoyed and endured by its inhabitants.
thế giới thần tiên
Fairy land.
thế giới tông giáo
(世界宗教) Tông giáo có tínhcách quốc tế. Vị thần mà tông giáo này tin thờ được xem là chúa tể thế giới, hoặc vị Giáo tổ mà tông giáo này tín ngưỡng được coi là người chỉ đường cho sự sinh hoạt tinh thần của toàn thể nhân loại; giáo nghĩa chú trọng về vấn đề linh hồn và tâm linh của con người; phạm vi của tông giáo này không chỉ hạn cuộc trong một dân tộc cá biệt nào, giới qui và lễ nghi lại dễ thích ứng với phong tục tập quán của các dân tộc khác nhau, cho nên truyền bá khắp thế giới. Sự xuất hiện của các tông giáo loại này là do nền văn minh cổ đại đã phát triển đến giai đoạn nhất định, đẩy mạnh việc giao lưu và thông thương có tính cách thế giới, giúp cho hệ thống triết học tông giáo trở nên hoàn thiện, lễ nghi điển chế ngày càng có xu hướng long thịnh và phức tạp, tổ chức qui chương cũng dần dần trở nên tinh tường, chặt chẽ để đạt đến hình thái phát triển cao nhất của tông giáo. Các tông giáo có tính cách thế giới hiện còn thì có Phật giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo... Quá trình thế giới hóa của các tông giáo này được hoàn thành đều là do sự duy trì của các quốc gia theo các tông giáo ấy.
thế giới tông giáo nghiên cứu viện
(世界宗教研究院) Cơ sở nghiên cứu tông giáo, do ông Trầm gia trinh, một Hoa kiều sáng lập tại New York, Mĩ quốc, vào năm 1970. Trọng tâm nghiên cứu của viện này là 5 tông giáo lớn: Phật giáo, Cơ đốc giáo, Ấn độ giáo, Hồi giáo và Do thái giáo. Vì Cơ đốc và Do thái tại nước Mĩ đã có nhiều thành tích nghiên cứu, nên trọng tâm nghiên cứu hiện nay là 3 tông giáo còn lại. Mục tiêu của viện này gồm có các việc sau: Sưu tập và bảo tồn các tư liệu tông giáo; dịch ra tiếng Anh và xuất bản các tư liệu tông giáo quan trọng; liên kết các tông giáo để hợp lực phục vụ nhân loại; nghiên cứu và giới thiệu các phương pháp thực hành tĩnh tu và cầu nguyện, để giúp cho nhân loại đạt được thân tâm yên tĩnh và đời sống hạnh phúc.
thế giới tất đàn
One of the four siddhantas; the Buddha's line of reasoning in earthly or common terms to draw men to the higher truth.
; Một trong bốn loại tất đàn, ám chỉ việc Thế Tôn thuyết pháp để gây niềm tin ở thế gian, đưa chúng sanh về với chân lý—One of the four siddhantas: The Buddha's line of reasoning in earthly or common terms to draw men to the higher truth.
; (世界悉檀) Phương pháp mà đức Phật sử dụng trong việc giáo hóa chúng sinh được chia ra làm 4, gọi là Tứ tất đàn, mà Thế giới tất đàn là một.Tất đàn nghĩa là thành tựu. Tức trước đức Phật tùy thuận phàm tình, dùng các tên giả của thế gian như nhân ngã, dục lạc... để nói các pháp thế gian mà thành tựu Phật đạo cho chúng sinh, gọi là Thế giới tất đàn.
thế giới tứ trì
(世界四持) Chỉ cho 4 thứ có năng lực bảo bọc và giữ gìn thế giới khiến được tồn tại. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số thì 4 thứ ấy là: 1. Phong luân năng trì: Núi Tu di có những lớp phong luân nhiều như bụi nhỏ, lớp trên cùng gọi là Thù thắng uy quang phong luân, lớp phong luân này nâng đỡ, giữ gìn biển nước thơm Phổ quang ma ni trang nghiêm khiến nó được an trụ, cho nên gọi là Phong luân năng trì. 2. Hương hải sở trì: Biển nước thơm nhờ phong luân nâng đỡ giữ gìn mà được an trụ, cho nên gọi là Hương hải sở trì. 3. Hải xuất liên hoa: Trong biển nước thơm mọc lên một hoa sen lớn, là thế giới chủng, các cõi nước 10 phương đều nằm ở trong đó, và được bảo bọc, cho nên gọi là Hải xuất liên hoa. 4. Hoa trì sát hải: Hoa sen lớn ấy có năng lực giữ gìn nâng đỡ vô lượng thế giới nhiều như nước biển khiến được an trụ, giúp cho 4 phương bình ổn và thanh tịnh vững chắc, cho nên gọi là Hoa trì sát hải.
thế giới vương phật
Xem Thế Tự Tại vương Phật.
thế giới đầy giông tố và xung đột
The world full of storms and conflicts—The world of storm and strife (xung đột).
thế hùng
World hero or Buddha—See Thế Tôn.
; (世雄) Từ tôn xưng đức Phật, vì Phật có sức đại định và hùng mạnh, chế phục và dứt trừ hết sạch tất cả phiền não. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) nói:Ngày nay, bậc Thế hùng trụ nơi Phật đã an trụ. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 5 hạ) nói: Không thể suy lường được bậc Thế hùng.
thế hùng lưỡng túc tôn
The World-hero and two-legged (or human) honoured one—The Buddha, or the honoured among human bipeds.
; (世雄兩足尊) Từ tôn xưng đức Phật. Phật là bậc hùng mạnh nhất thế gian, cho nên gọi là Thế hùng, cũng là bậc tôn quí nhất trong các loài hữu tình 2 chân, nên gọi là Lưỡng túc tôn. Nêu chung cả 2tôn hiệunên gọilà Thế hùng lưỡng túc tôn.
thế hệ
Generation.
thế hộ
Lokarakṣa (S)Chi Câu La Sấm.
Thế Hữu
世友; C: shìyǒu; J: shou; S: vasumitra; dịch âm là Bà-tu Mật-đa;|Cao tăng Ấn Ðộ sống khoảng đầu thế kỉ thứ hai, người xứ Càn-dà-la (s: gandhāra). Là thượng thủ kiệt xuất của trường phái Hữu bộ (有部; s: sarvāstivāda). Vào lần Kết tập thứ tư, do Vua Ca-nị sắc-ca triệu tập. Sư phục vụ như là vị hướng dẫn 500 vị A-la-hán, những vị hỗ trợ sư biên soạn A-tì-đạt-ma đại tì-bà-sa luận (阿毘達磨大毘婆沙論; s: abhidharma-mahāvibhāṣā-śāstra). Sư được xem là tác giả của A-tì-đạt-ma giới thân túc luận (阿毘達磨界身足論).|Tương truyền Sư cũng là tác giả của hai bộ luận là Dị bộ tông luân luận (s: samayabhe-davyūhacakra-śāstra) và Tôn Bà-tu-mật Bồ Tát sở tập luận (ārya-vasumitra-bodhi-sattva-saṃcita-śāstra). Dưới tên Bà-tu Mật-đa, Sư là Tổ thứ 7 của Thiền tông. Giáo lí của Sư nằm giữa Tiểu thừa và Ðại thừa.
thế hữu
Xem Bà tu mật.
; Vasumitra (S).
; Vasumitra (skt). Tên của một vị Bồ Tát ra đời 400 năm sau ngày Phật nhập diệt—Name of a Bodhisattva, born 400 years after the Buddha's death.
; (世友) Phạm: Vasumitra. Hán âm: Bà tu mật đa, Hòa tu mật đa, Phiệt tô mật đát la, Phạt tô mật đa la. Cũng gọi Thiên hữu. VịTổ của Thuyết nhất thiết hữu bộ, người nước Kiện đà la, Bắc Ấn độ, sống vào thế kỉ I, II. Khi vua Ca nị sắc ca cử hành cuộc kết tập lần thứ 4 ở Ca thấp di la thì ngài Thế hữu là người chỉ đạo trong 500 bậc Hiền thánh, biên tập luận A tì đạt ma Đại tì bà sa, tổng kết học thuyết lí luận của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Sư và các ngài Pháp cứu, Diệu âm, Giác thiên được khen là Bà sa tứ bình luận gia, hoặc Bà sa tứ đại luận sư. Sư cũng là tác giả của luận Dị bộ tông luân 1 quyển, nói về 20 bộ phái Tiểu thừa. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 12 thì sư là 1 trong các vị Tổ của thuyết Nhất thiết hữu bộ, ra đời sau ngài Ca đa diễn ni tử, trước ngài có Hiếp tỉ khưu... Nhưng kinh Nhật tạp nan nói rằng sư đã chứng quả A lahán và tiên đoán sẽ thành Phật trong tương lai. Kinh Sư tử nguyệt Phật bản sinh lại ghi rằng sư sẽ thành Phật kế ngài Di lặc, hiệu là Sư tử Như lai. Ngoài ra còn có các luận sư cũng tên là Thế hữu, như Thế hữu tác giả của luận Phẩm loại túc và luận Giới thân túc nói trong Câu xá luận quang kí quyển 1 và Đại đường tây vực kí quyển 2, Thế hữu dị sư của kinh bộ nói trong Câu xá luận quang kí quyển 5 và luận Thành nghiệp; Thế hữu tuyên dương tông nghĩa của Hữu bộ ở nước Ca thấp di la khi ngài Huyền trang đến Ấn độ du học nói trong Từ ân truyện quyển 2...
thế hỷ
The pleasures of the world.
thế la
Saila (skt). 1) Ngọn núi—A mountain. 2) Núi non trùng điệp: Mountainous.
; (世羅) Phạm:Zaila. Cũng gọi Thi la. Hán dịch: Sơn, Thạch. Tức tảng đá, hoặc là ngọn núi. Huyền ứng âm nghĩa quyển 25 nói: Thế la ô ba, Hán dịch làtiểu thạch (tảng đá nhỏ). Câu xá quang kí quyển 8 (Đại 41, 155 trung) nói: Thế la, Hán dịch là sơn(núi); Ô ba thế la, Hán dịch là tiểu sơn (núi nhỏ).
Thế lai
世來; C: shìlái; J: serai;|Từ quá khứ đến nay, xưa nay.
thế luân
Bhavacakra (S).
thế luận
Wordly discussions; ordinary unenlghtened ways of description or definition; also styled ác luận evil discussions, especially when applied to the hedonistic Lokàyatika teachings.
; Đàm luận hay bàn luận theo kiểu thế gian, kiểu của những người chưa giác ngộ—Worldly discussion—Ordinary unenlightened ways of description or definition—Evil discussion.
; (世論) Cũng gọiÁc luận. Chỉ cho ngôn luận của ngoại đạo Thuận thế.Ngoại đạo này sống cùng thời đại với đức Thế tôn, họ thường cho rằng mọi sự vật trong vũ trụ đều sinh và diệt 1 cách tự nhiên, chẳng phải do thiên thần, chẳng phải do tự tính mà có. Tất cả chim thú, cây cỏ, núi đá..., hình sắc khác nhau, thảy đều tự nhiên tồn tại. Họ cũng chủ trương linh hồn và trí lực đều phụ thuộc vào thân thể con người, thân thể do 4 đại hòa hợp mà thành, ngã cũng theo đó mà sinh khởi một cách tự nhiên; khi con người chết, 4 đại phân tán, thần ngã liền diệt, vì thế tất cả chẳng có thiện ác báo ứng, chỉ có việc vui chơi trước mắt là mục đích chung cuộc của con người. Do chủ trương luận điểm này mà họ được gọi là ngoại đạo Thuận thế và bị Sa môn, Bà la môn chê bai, chỉ trích.
thế lưu bố tưởng
Thế là thế gian, lưu là lưu hành, bố là phổ biến, tưởng là tư tưởng. Nghĩa là những tư tưởng mà thế gian phổ biến lưu hành như vậy rồi. Cũng như kêu trâu là trâu, kêu ngựa là ngựa.
thế lộ
1) Đường đời: Path of life—Way of the world. 2) Mọi hiện tượng thế gian: The phenomenal.
Thế lực
勢力; C: shìlì; J: seiriki; |1. Sinh khí, sinh lực, tính hăng hái, tinh sôi nổi (s: vega; theo Câu xá luận 倶舎論); 2. Năng lực lớn lao, sức mạnh to lớn (s: vibhutva); 3. Sức mạnh, năng lực (s: thāma-bala, utsāha); 4. Uy lực lớn (s: virya).
thế lực
Authority—Influence—Power.
thế lực quỷ
Loài quỷ cực mạnh—A powerful demon.
Thế lực 勢力
[ja] セイリキ seiriki ||| (1) Vitality, energy, spirit, liveliness. (vega) 〔倶舎論〕(2) Great power; great strength. (vibhutva) (3) Strength, energy. (thāma-bala, utsāha) (4) Potency. (virya) => 1. Sinh khí, sinh lực, tính hăng hái, tinh sôi nổi. (vega). Theo Câu xá luận. 2. Năng lực lớn lao, sức mạnh to lớn. (s: vibhutva). 3. Sức mạnh, năng lực (s: thāma-bala, utsāha). 4. Uy lực lớn (s: virya).
thế mạt luận
Trong Phật giáo không có vấn đề Thế Mạt Luận thông thường, bởi vì tất cả chúng sanh đều chìm đắm trong dòng sinh hóa vô cùng tận. Tuy nhiên, nên nhớ rằng, cái sống mở đường cho cái chết, và rồi cái chết lại mở đường cho cái sống. Sống và chết là hai hiện tượng tất nhiên của chu kỳ sự sống, nó không ngớt tái diễn. Cùng đích của chuỗi tự tạo đó chỉ giản dị là thể hiện cuộc sống lý tưởng, nghĩa là không gây ra mọi điều kiện thọ sinh; nói cách khác, là thành tựu tự do toàn vẹn, không còn bị lệ thuộc vào nhân duyên trong thời-không nữa. Niết Bàn là trạng thái tự do toàn vẹn đó—In Buddhism, there are no ordinary eschatological questions because all beings are in the eternal flux of becoming. One should note, , however, that birth incurs death, and death again incurs birth. Birth and death are two inevitable phenomena of the cycle of life which ever repeats its course. The end of self-creation is simply the realization of the Life-Ideal, that is, the undoing of all life-conditions, in other words, the attainment of perfect freedom, never more to be conditioned by causation in space-time. Nirvana is the state of perfect freedom.
thế nhiên vương phật
Xem Thế Tự Tại vương Phật.
thế nhiêu vương
See Thế Tự Tại Vương and Nhiêu Vương Phật.
thế nhiêu vương phật
See Nhiêu Vương Phật in Vietnamese-English Section.
thế nhãn
Xem thế gian nhãn.
; See Thế Gian Nhãn.
; (世眼) Cũng gọi Thế gian nhãn. Con mắt của thế gian. Đức danh của Phật. Trí tuệ của Phật viên mãn, có đủ 5 mắt, có thể làm con mắt cho tất cả thế gian, chỉ dạy chính đạo và khơi mở con mắt cho người đời khiến thấy được chính đạo, cho nên gọi là Thế nhãn. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) nói: Ngày nay, bậc Thế nhãn trong hạnh đạo sư. Luận Câu xá quyển 29 (Đại 29, 152 trung) nói:Thế nhãn của bậc Đại sư đã khép lại lâu rồi.
thế năng
Potential energy.
Thế pháp
世法; C: shìfǎ; J: sehō;|Các pháp thế tục, các sự việc của cõi trần. Các pháp sinh khởi và hoại diệt theo nhân duyên.
thế pháp
Common or ordinary dharmas.
; Pháp thế đế hay pháp thế gian—Common or ordinary dharmas (truth, laws, things, etc).
; (世法) Chỉ cho các phápthế đế, tức pháp thế gian, do nhân duyên sinh và có tính bịhủy diệt.Kinh Thắng man (Đại 12, 218 trung) nói:Đại bi thương xót và an úy chúng sinh, là mẹ của thế pháp. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch đời Đường) quyển 2 (Đại 10, 6 trung) nói: Phật xem thế pháp như bóng sáng.
thế phát
Mundāna (S), Teihatsu (J), Muṇḍa (S), Muṇḍaka (S), Shaving Muṇḍa (S)Lễ cắt tóc, Thế trừ tu phát
; Mundaka, munda (S). To shave the hair, following Sàkyamuni, who cut off his locks with a sharp sword to signify his cutting himself off the world. Also Thế trừ tu phát, Cắt tóc cạo râu.
; Cạo râu tóc, theo chân Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi Ngài dùng lưỡi gươm bén cắt bỏ búi tóc với ý nghĩa cắt đứt những hệ lụy của trần thế—To shave one's head—To shave the hair, following Sakyamuni, who cut off his locks with a sharp sword or knife to signify his cutting himself off from the world.
; (剃髮) Phạm: Maịđanà. Cũng gọi Trĩ phát, Tước phát, Chúc phát,Lạc thế, Lạc sức, Lạc phát, Tịnh phát, Trang phát. Tức cạo bỏ râu tóc khi xuất gia làm tăng, ni. Đệ tử Phật vì trừ bỏ tính kiêu mạn, hoặc tránh sự trang sức không cần thiết của thế tục nên thực hành việc cạo tóc. Lúc cạo tóc xuất gia phải mặc áo nhuộm (ca sa), gọi là Thế phát nhiễm y, hoặc gọi là Thế nhiễm, Thế độ. Nghi thức cạo tóc được độ, gọi là Thế độ thức, hoặc Đắc độ thức. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 2 nói rằng khi đức Thích tôn thế phát, Ngài có phát nguyện (Đại 13, 634 thượng): Nay tôi cạo bỏ râu tóc, nguyện cùng với tất cả đoạn trừ phiền não và tập chướng. Luận Đại trí độ quyển 49 (Đại 25, 412 hạ) nói: Ta cạo tóc mặc áo nhuộm, cầm bát xin ăn, đó là cách phá trừ kiêu mạn. Phong tục Ấn độ xưa nay coi việc cạo trọc đầu là sự sỉ nhục rất lớn, đối với những người phạm trọng tội thường áp dụng hình phạt này; ngoài ra, các ngoại đạo xuất gia đương thời cũng đều tết tóc. Nhưng đức Phật thì tự cạo râu tóc, mặc áo hoại sắc, các đệ tử Phật cũng làm như vậy, đó là cách lìa bỏ tâm kiêu mạn, dứt trừ sự dụ hoặc để tiện tĩnh tâm tu đạo. Do đó đủ biết tinh thần tổ chức của giáo đoàn đức Phật khác hẳn với các giáo phái khác.
thế phúc
Những điều thiện lành hay phước báo thế gian—Worldly happiness—Earthly happiness, arising from the ordinary good living of those unenlightened by Buddhism—The blesing of this world. ** For more information, please see Tam Phước.
; (世福) Chỉ cho phúc báo do làm các việc thiện thế gian như trung hiếu, nhân nghĩa mà được sinh vào cõi người, cõi trời, 1 trong 3 phúc. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ thì hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, từ tâm không giết hại, siêng tu 10 nghiệp thiện... đều thuộc về thế phúc, là 1 trong các hành nghiệp vãng sinh Tịnh độ cực lạc.Quán kinh tán thiện nghĩa (Đại 37, 270 trung) nói: Phúc bậc nhất chính là căn lành thế tục. Từ trước đến nay chưa từng nghe biết Phật pháp, chỉ tự thực hành hiếu dưỡng nhân nghĩa lễ trí tín, cho nên gọi là thế tục thiện.
thế sự
The affairs of this world.
thế thiên
The Lord of the world, Brahmà Phạm thiên; Mahesvara Đại tự tại thiên; The four mahàrajàs tứ đại thiên vương. Also thế chủ.
thế thiện
Những điều thiện lành hay phước báo thế gian—The pleasures of the world.
; (世善) Cũng gọi Thế tục thiện. Chỉ cho thiện căn thế gian. Tức giữ 5 giới, làm 10 điều thiện sẽ được thiện căn quả báo sinh ở cõi người, cõi trời, gọi là Thế thiện. Tất cả thiện pháp hữu vi đều gọi là Thế tục thiện, đối lại với thiện pháp vô vi (Thắng nghĩa thiện, cũng chính là chân như). Cứ theo Duy thức luận thuật kí quyển 3, phần cuối, thiện pháp hữu vi tuy có khả năng mang lại quả thiện, nhưng chưa thoát khỏi những hiện tượng do nhân duyên hòa hợp sinh ra như sinh, trụ, dị, diệt..., cò thiện pháp vô vi thì lìa hẳn sinh diệt, thường trụ bất biến, vì thế được gọi là Thắng nghĩa thiện. Lại Thế thiện cũngđồng với Thế phúc trong 3 phúc, tức là tuy chưa từng được nghe Phật pháp nhưng tự thực hành các thiện pháp như hiếu dưỡng, nhân nghĩa, lễ trí tín... thì cũng xứng đáng được gọi là thiện trong thế tục, cho nên gọi là Thế thiện.
thế thuyết tân ngữ
(世說新語) Tác phẩm, 3 quyển, do ông Lưu nghĩa khánh soạn vào đời Tống thuộc Nam triều và do ông Lưu hiếu tiêu đời Lương chú giải.Sách này vốn có tên là Thế thuyết, đến đời Đường được gọi là Thế thuyết tân thư, từ đời Ngũ đại, đời Tống về sau mới đổi tên là Thế thuyết tân ngữ như hiện nay. Nội dung nói về những việc trong dân gian không thấy ghi chép trong sử sách, chỉ nghe truyền miệng và những việc lặt vặt diễn ra từ đời Đông Hán đến đời Đông Tấn. Toàn sách chia làm 38 môn như: Đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự, văn học, phương chính... miêu tả thực trạng của phong khí thanh đàm(những lời bàn suông, trống rỗng) ở đương thời và tình hình giao tiếp giữa giới quí tộc và tăng sĩ. Đây là tư liệu quan trọng choviệc nghiên cứu, tìm hiểu phong tục xã hội và sự phát triển của Phật giáo lúc bấy giờ. Bản chú giải của ông Lưu hiếu tiêu đã sửa chữa nhiều chỗ sai lầm của tác giả.
thế thái
The ways of this world.
Thế Thân
世親; C: shìqīn; J: seshin; S: vasubandhu; ~ 316-396; cũng được dịch là Thiên Thân (天親), gọi theo Hán âm là Bà-tu Bàn-đầu;|Một Luận sư xuất sắc của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) và Duy thức tông (s: vijñānavāda), được xem là Tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Ðộ. Người ta cho rằng Sư sinh tại Peshāwar (địa danh ngày nay), sống tại Kashmir và chết tại A-du-đà (ayodhyā). Sư vừa là em vừa là đệ tử của Vô Trước (asaṅga), người sáng lập phái Duy thức. Vô Trước là người đã khuyến dụ Thế Thân theo Ðại thừa.|Có nhiều giả thuyết về con người Thế Thân, trong đó Erich Frauwallner – một nhà Phật học người Ðức – cho rằng có hai người tên Thế Thân, một là luận sư của Nhất thiết hữu bộ, là người soạn A-tì-đạt-ma câu-xá luận nổi danh của phái này. Người kia là em của Vô Trước, đã soạn bộ Duy thức nhị thập luận. Bộ này là sự tổng kết quan điểm của Duy thức tông, được dịch ra chữ Hán và Tây Tạng. Sư cũng là tác giả của Duy thức tam thập tụng, luận giải quan điểm của Duy thức tông, cũng như tác giả của nhiều bài luận về các tác phẩm của Vô Trước và về giáo lí Ðại thừa như Thập địa, kinh Kim cương, Diệu pháp liên hoa, Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (s: sukhāvatī-vyūha).|Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn, một năm sau khi người anh là Vô Trước thụ giới cụ túc. Lúc đầu, Sư học giáo lí Tiểu thừa tại Phú-lâu-sa Phú-la (s: puruṣapura), sau đó tại Kashmir. Sau bốn năm ngụ tại Kashmir (342-346), Sư trở về Phú-lâu-sa Phú-la và soạn bộ luận A-tì-đạt-ma câu-xá (abhidharmakośa). Sau đó, Sư đi du phương và danh tiếng của Sư là một nhà biện luận xuất chúng vang dội. Khi gặp Vô Trước tại Phú-lâu-sa Phú-la và được người anh giảng giải giáo lí Ðại thừa, Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, bắt đầu say mê nghiên cứu Ðại thừa và viết luận về kinh điển hệ này, nhất là Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh. Sư biên soạn nhiều bài luận, trong đó Sư hệ thống hoá tư tưởng »Duy thức« được lập nên bởi Vô Trước.||H 63: Thế Thân trong tư thế dương cung, bắn một mũi tên vô hình để phá những thuyết giải của địch thủ.|Khoảng năm 383, vua Candragupta II. Vikramā-ditya (Siêu Nhật) mời Sư làm đạo sư cho vương tử Govindagupta Bālāditya (Tân Nhật) trong cung điện tại A-du-đà (ayodhyā). Sư nhận lời và nhân thời cơ này khuyến khích vương triều làm những việc thiện như xây dựng bệnh viện, trường học và nhà ở công cộng. Sau đó một thời gian, Sư cũng hoằng hoá tại viện Na-lan-đà. Ðệ tử xuất sắc nhất của Sư là nhà Nhân minh học lừng danh Trần-na (diṅnāga). Sau khi Govindagupta lên ngôi, ông lại mời Sư đến triều đình giảng dạy và định cư tại đây. Sư nhận lời mời nhưng vẫn thường hay du phương và tuỳ cơ giáo hoá. Những bài luận cuối cùng của Sư được soạn tại Sa-ka-la (śākala) và Kiều-thướng-di (kauśambī). Năm 396, Sư tịch tại A-du-đà (một thuyết khác là tại Nepāl).|Các tác phẩm còn lưu lại dưới tên Sư (trích): 1. A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośaśāstra), bao gồm A-tì-đạt-ma câu-xá luận tụng (abhidharmako-śa-śāstra-kārikā) và A-tì-đạt-ma câu-xá luận thích (abhidharmakośa-bhāṣya); 2. Duy thức nhị thập luận (tụng) (viṃśatikāvijñāptimātratāsiddhi-kārikā), còn bản Tạng và Hán ngữ. Có ba bản Hán văn, Huyền Trang dịch 1 quyển, Chân Ðế (paramārtha) dịch riêng 1 quyển dưới tên Ðại thừa duy thức luận, Bát-nhã Lưu-chi (prajñāruci) dịch 1 quyển dưới tên Duy thức luận; 3. Duy thức nhị thập luận thích (viṃśatikā-vṛtti), còn bản Tạng và Phạn; 4. Duy thức tam thập tụng (triṃśikā-vijñāptimātratāsiddhi-kāri-kā), còn bản Tạng và Hán ngữ, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 5. Tam tính luận (trisvabhāva-nirdeśa), còn bản Phạn và Tạng ngữ; 6. Biện trung biên luận thích (madhyānta-vibhāga-bhāṣya), còn bản Tạng và Hán ngữ, Huyền Trang dịch; 7. Kim cương bát-nhã ba-la-mật kinh luận (vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra-śāstra), chỉ còn bản Hán ngữ; 8. Thập địa kinh luận (ārya-daśabhūmi-vyākhyāna), còn bản Tạng và Hán ngữ, bản Hán ngữ được Bồ-đề Lưu-chi (bo-dhiruci) dịch; 9. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận thích (mahāyāna-sūtralaṅkāra-vyākhyā), còn bản Tạng và Hán ngữ; 10. Nhiếp đại thừa luận thích (mahāyānasaṃgraha-bhāṣya), còn bản Tạng và Hán ngữ. Có ba bản Hán văn, Huyền Trang dịch gồm 10 quyển, Chân Ðế (paramārtha) dịch gồm 15 quyển, Ðạt-ma Cấp-đa (dharmagupta) dịch riêng 10 quyển dưới tên Nhiếp Ðại thừa thích luận; 11. Ngũ uẩn luận (pañcaskandha-prakaraṇa), chỉ còn bản Tạng và Hán ngữ; 12. Phật tính luận (buddhagotra-śāstra), Chân Ðế dịch, 4 quyển; 13. Ðại thừa bách pháp minh môn luận (mahāyāna-śatadharmavidyā-dvāra-śāstra), 1 quyển, Huyền Trang dịch; 14. Diệu pháp liên hoa kinh ưu-ba-đề-xá (saddharmapuṇḍa-rīka-sūtropadeśa), 2 quyển, Bồ-đề Lưu-chi cùng Ðàm Lâm dịch; 15. Chuyển pháp luân kinh ưu-ba-đề-xá (dharmacakra-pravartana-sūtropadeśa), 1 quyển, Tì-mục Trí Tiên dịch; 16. Vô lượng thọ kinh ưu-ba-đề-xá (amitāyussūtropadeśa), 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chi dịch; 17. Lục môn giáo thụ tập định luận (Phạn?), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch; 18. Niết-bàn kinh bản hữu kim vô kệ luận (Phạn?), 1 quyển, Chân Ðế dịch; 19. Niết-bàn luận (Phạn?), 1 quyển, Ðạt-ma Bồ-đề (dharmabodhi) dịch; 20. Như thật luận; 21. Thắng tư duy phạm thiên sở vấn kinh luận; 22. Thành nghiệp luận (karmasiddhi-prakara-ṇa), còn bản Hán và Tạng ngữ; 23. śīlaparikathā, một bài luận ngắn về giới, cho rằng giữ giới luật hiệu nghiệm hơn bố thí (dāna), chỉ còn bản Tạng ngữ; 24. Duyên khởi kinh thích (pratītyasamutpāda-sūtrabhāṣya), một phần Phạn ngữ đã được tìm lại, giáo sư Giuseppe Tucci xuất bản.
thế thân
Vasubhandu (S). Also Thiên Thân.
; Vansubandhu (skt)—See Thiên Thân in Vietnamese-English Section and Vasubandhu in Vietnamese-Sanskrit/Pali Section.
; (世親) Phạm: Vasubandhu. Hán âm: Bà tẩu bàn đậu, Phiệt tô bạn đồ, Bà tẩu bàn đầu, Bà tu bàn đầu.I. Thế Thân. Tổ thứ 21 được phó pháp tạng, người ở thành La duyệt, họ Tì xá khư, cha tên là Quang cái; mẹ tên là Nghiêm nhất; ông bà nhà rất giàu nhưng chưa có con, nên đến tháp Phật cầu xin. Đêm kia, mẹ sư nằm mộng thấy mình nuốt 2 viên ngọc một sáng một tối, khi tỉnh dậy liền mang thai, sau sinh ramột người con, đó là tôn giả Bà tu bàn đầu. Năm 15 tuổi, sư lễ La hán Quang độ cầu xuất gia, cảm đượcbồ tát Tì bà ha trao cho giới pháp. Khi chưa thờ ngài Xà dạ đa làm thầy, sư thường ăn một bữa mỗi ngày và không nằm, ngày đêm 6 thời lễ Phật, thanh tịnh vô dục, làm chỗ nương tựa cho mọi người. Tôn giả Xà dạ đa muốn độ sư, nên nói với mọi người rằng (Đại 51, 213 thượng): Ta không cầu đạo, cũng không điên đảo; ta không lễ Phật, cũng không khinh mạn; ta không ngồi hoài, cũng không biếng nhác; ta không biết đủ, cũng không tham muốn; ta không ăn một bữa, cũng không ăn tạp. Tâm không mong cầu, đó gọi là Đạo. Bà tu bàn đầu nghe những điều ngài Xà dạ đa nói liền phát sinh trí vô lậu, sau được thừa kế y bát của ngài, rộng truyền tạng kinh, độ khắp chúng sinh. Khi hành hóa đến nước Hậu na đề, sư phó pháp cho ngài Ma nô la rồi ngồi kết già thị tịch. II. Thế Thân. Cũng gọi Thiên thân. Đại luận sư người Ấn độ, sống vào thế kỉ IV, V người ở thành Phú lâu sa phú la, nước Kiện đà la, Bắc Ấn độ, là con thứ 2 của Quốc sư Bà la môn Kiều thi ca. Mới đầu, sư cùng với anh là Vô trước (Phạm: Asaíga) xuất gia theo Tát bà đa bộ (Hữu bộ). Sau, ngài Vô trước chuyển sang Đại thừa còn sư thì theo Kinh lượng bộ, lập chí cải thiện giáo nghĩa Hữu bộ, nên sư đến nước Ca thấp di la nghiên cứu luận Đại tì bà sa. Bốn năm sau, sư trở về nước, giảng dạy luận Đại tì bà sacho đại chúng, đồng thời, soạn luận A tì đạt ma câu xá. Ban đầu, sư công kích Phật giáo Đại thừa, cho rằng Đại thừa chẳng phải là pháp do Phật nói. Sau, được ngài Vô trước mở bày, sư mới ngộ lí Đại thừa và chuyển sang tin thờ và hoằng dươnggiáo pháp Đại thừa. Sư soạn rất nhiều luận và sách chú thích, đặt nền tảng vững chắc cho phái Du già trong Phật giáo Đại thừa. Tác phẩm quan trọng của sư gồm hơn 40 loại như: -Luận Câu xá, 30 quyển. -Nhiếp đại thừa luận thích, 15 quyển. -Thập địa kinh luận, 12 quyển. -Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận. -Quảng bách luận. -Bồ đề tâm luận. Thế Thân Thiên Thân-Tam thập duy thức luận tụng. -Luận Đại thừa bách pháp minh môn. -Vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá. Theo sự khảo chứng của các học giả hiện đại thì Thế thân tác giả luận Câu xá và Thế thân em ngài Vô trước là 2 người cùng tên. Ngài Thế thân tác giả luận Câu xá là Luận sư (Thế thân mới) của Thuyết nhất thiếthữu bộ, còn ngài Thế thân em của ngài Vô trước là Luận sư (Thế thân cũ) của Du già hành phái. Nguyên nhân chính khiến xưa nay xem 2 người là một là vì bộ Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện do ngài Chân đế dịch; sách này cho rằng 2 người là một,phần chủ yếu ở giữa sách là tư liệu về ngài Thế thân mới, còn phần trước và sau là tư liệu về ngài Thế thân cũ. Thế thân cũ là con của Quốc sư Kiều thi ca, em ngài Vô trước ở thành Phú lâu sa phú la, sau khi xuất gia học giáo nghĩa của Thuyết nhất thiết hữu bộ, về sau, chuyển sang học giáo pháp Đại thừa, niên đại của sư ở khoảng từ 320-380. Còn Thế thân mới thì thờ ngài Phật đà mật đa la làm thầy, thuộc Hữu bộ, nhưng lại có khuynh hướng Kinh lượng bộ. Theo truyền thuyết, sư rất được vua Chính cần nhật và Thái tử Bà la dật để dã (Phạm:Bàlàditya) kính trọng. Sư sống và hoạt động vào khoảng 400-480. Luận Câu xá, luận Thất thập chân thực... đều là những tác phẩm của ngài Thế thân mới này.
thế thân bồ tát
Vasubandhu (S), yik nyen (T)Bàn tu bàn đầu, Phạt tô bàn độ, Thiên Thân Bồ tát, Bà tẩu thiên, Bà tẩu bàn đậuThế kỷ thứ tư AD. Tổ thứ 21 trong hàng 28 tổ sư Phật giáo ở Ấn độ. Quê quán ở thành Bạch sa ngoã (Peshawar), Bắc Ấn, em ruột ngài, Asamgha, là tổ Vô trước. Ngài Vô trước và Thế Thân là con của quốc sư Kiều thi Ca nước Phú lân sa phú la, Bắc Ấn.
thế thường
Habit—Custom.
thế thần
To be influential.
Thế thế
世世; C: shìshì; J: seze;|Đời nầy kế tiếp đời khác. Thế hệ nầy nối tiếp thế hệ khác. Thời nầy tiếp theo thời khác.
thế thế
From generation to generation.
thế thế sinh sinh
Transmigration after transmigration in the six stages of mortal existence.
; Hết đời nầy qua đời khác trong lục đạo—Transmigration after transmigration in the six states of mortal existence.
thế thủ
Cạo đầu—To shave the head.
thế thức
(世識) Chỉ cho thức sinh tử lưu chuyển, dời đổi không ngừng trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai.
Thế trí
世智; C: shìzhì; J: sechi;|Tri thức thế gian, tri thức thuộc về cõi phàm trần. Là tri thức nhiễm ô của hàng phàm phu. Còn gọi là Thế tục trí (世俗智).
thế trí
Xem thế tục trí.
; (世智) Cũng gọi Thế tục trí, Thế gian trí. Đối lại: Xuất thế gian trí. Trí tuệ thế tục, 1 trong 3 trí, là trí thông hiểu sự tướng của thế đế, như trí hữu lậu của phàm phu hoặc ngọai đạo do vọng chấp Hữu, Vô mà phát sinh, tức là Thế trí.Loại trí tuệ này phần nhiều duyên theo cảnh thế tục mà sinh khởi, cho nên cũng phải tùy theo sự biến hóa của các việc thế gian mà chuyển.
thế trí biện thông
Worldly eloquent.
; (世智辯聰) Trí thông minh sắc sảo về mặt thế tục của phàm phu, 1 trong 8 nạn. Người phàm phu chỉ ham mê học tập kinh sách ngoại đạo, không có khả năng tin nhận chính pháp xuất thế, trở thành chướng nạn cho việc tin hiểu Phật đạo. Cũng có người cho rằng Thế trí biện thông là giàu kiến thức thế gian, giỏi biện luận, khéo xử thế. Đại thừa nghĩa chương quyển 8 (Đại 44, 629 thượng) nói: Vì thế trí biện thông chỉ làm tăng thêm điều ác cho nên gọi là Nạn, tà kiến này trái với chính đạo.
thế trừ tu phát
Xem Thế phát.
Thế Tôn
(世尊): đấng được thế gian tôn kính, hay chỉ cho đấng tối tôn trên thế gian này; là một trong 10 danh hiệu của đức Phật. Có nhiều Phạn ngữ dịch chữ Thế Tôn này; như loka-nātha (đấng chủ tể của thế gian), loka-jyeṣṭha (đấng tối tôn trên thế gian), lokādhipati (đấng nổi bậc nhất trên thế gian), v.v. Tuy nhiên, các kinh luận sử dụng từ bhagavat nhiều hơn. Từ này âm dịch là Bà Già Bà (婆迦婆), Bà Nga Phạ Đế (婆誐嚩帝), Bà Già Phạm (婆伽梵), Bạc Già Phạm (薄伽梵); ngoài ý dịch là Thế Tôn, còn có nghĩa là hữu đức (có đủ đức hạnh), hữu danh thanh (có tiếng tăm); trong đó nghĩa Thế Tôn là dễ hiểu nhất, nên từ xưa nay dịch giả vẫn thường lấy ý này để chuyển dịch. Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 2 có câu: “Thế Tôn vị ly Đâu Suất dĩ giáng vương cung, vị xuất mẫu thai độ nhân dĩ tất (世尊未離兜率已降王宮、未出母胎度人已畢, Thế Tôn chưa rời Đâu Suất đã xuống vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ mà độ người đã xong).” Hay trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 23 lại có đoạn: “Thế Tôn tại Pháp Hoa Hội thượng, chỉ độ đắc nhất cá nữ tử thành Phật, Niết Bàn Hội thượng diệc chỉ độ đắc nhất cá Quảng Ngạch đồ nhi thành Phật (世尊在法華會上、只度得一箇女子成佛、涅槃會上亦只度得一箇廣額屠兒成佛, Thế Tôn ở trên Hội Pháp Hoa chỉ độ được một người nữ thành Phật, trên Hội Niết Bàn cũng chỉ độ được một người đồ tể Quảng Ngạch thành Phật).”
; (s, p: bhagavat, 世尊): dịch âm là Bà Già Bà (婆伽婆), Bà Già Phạm (婆伽梵), Bạc Già Phạm (薄伽梵). Bên cạnh đó có nguyên ngữ loka-nātha (s, p) cũng được dịch là Thế Tôn, nhưng người ta thường sử dụng từ bhagavat nhiều hơn. Đây là từ để chỉ cho người nổi bật nhất, đặc biệt là đức Thích Tôn.
; 世尊; C: shìzūn; J: seson;|Chuyển ngữ của chữ Bhagavat từ tiếng Phạn và Pa-li và lokanātha từ Phạn ngữ, có nghĩa là »Đấng dược thế gian tôn trọng«. Một trong Mười danh hiệu cua Đức Phật (thập hiệu 十號).
thế tôn
Bhagava (S), Bhagavant (S), Bhagavatī (S), Bhagavān (S), Bhāgavat (S), Lokanātha (S), Lokamatha Bagavat (S), Sugata (S), Buddha-lokānātha (S, P), Bhagavato (P),Perfected One, Blessed One, Exalted one, The World-Honoured One Phật Thế Tôn, Chí tôn, Thánh, Bạc già phạm, Bạc già thinh, Bà già bà, Bà già phạm(Bhaga: phá, vat: phiền não). Xem Lokanatha. Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đức Phật.Một trong mười danh hiệu Phật. (Loka: thế giới, natha: được tôn trọng) Người đáng được tôn trọng hơn hết trong các bậc chúng sanh
; Lokajyestha (S). World's most Venerable, World's Honoured One. World-honoured, an epithet of all Buddhas.
; Bhagava (skt)—Lokajyestha (skt)—Tôn hiệu của Đức Phật, vị có đủ muôn đức được thế gian tôn trọng. Một trong mười danh hiệu của Phật—World Most Venerable or Lokanatha—Lord of worlds—World's Honored One—One of the ten epithets of a Buddha.
; (世尊) Người được thế gian tôn kính, cũng là bậc tối thắng trong thế giới, 1 trong 10 tôn hiệu của đức Như lai. Trong tiếng Phạm có rất nhiều từ được dịch là Thế tôn, nhưLoka-nàtha(Thế chủ),Loka-jyewỉha(Bậc tối tôn trong thế gian), Loka-vid (Thế gian giải), Lokàdhipati(Bậc tối thắng trong thế gian), Nàtha (Chủ),Nàyaka (Đạo sư), Sugata (Thiện thệ),Mahà-fwi(Đại tiên),Mahàvìra(Bậc Đại hùng),Tàyin(Người cứu độ), Anuttara (Vô thượng sĩ), Dharma-ràja (Pháp vương)... Nhưng trong các kinh luận thường sử dụng từ ngữ Bhagavat, Hán âm: Bà già bà, Bà nga phạ đế, Bà già phạm, Bạc già phạm. Ngoài dịch ý là Thế tôn, còn dịch thẳng là Hữu đức, Hữu danh thanh... Nghĩa là người có uy đức, tiếng tăm, tôn quí... Trong đó, từ ngữ Thế tôn là dễ hiểu nhất, cho nên xưa nay phần nhiều dịch giả Trung quốc thường dùng. Nhưng ở Ấn độ, từ ngữ Thế tôn thường được dùng để tôn xưng những người cao quí nói chung, chứ không phải chỉ dùng trong Phật giáo. Còn trong Phật giáo thì từ ngữ Thế tôn chỉ đặc biệt được dùng để tôn xưng đức Phật.
thế tôn chỉ địa
(世尊指地) Tên công án trong Thiền tông. Thế tôn chỉ đất. Nội dung công án này thuật lại việc đức Thế tôn chỉ đất bảo đại chúng chỗ ấy có thể xây dựng chùa Phật. Thung dung lục tắc 4 (Đại 48, 230 thượng) nói: Có lần đức Thế tôn đang đi cùng đại chúng, Ngài đưa tay chỉ xuống đất, bảo: Chỗ này nên dựng chùa Phật, Trời đế thích cắm một cọng cỏtrên mặtđất, nói: Xây chùa Phật xong rồi. Đức Thế tôn mỉm cười. Chương Thế tôn trong Ngũ đăng hội nguyên (Vạn tục 138, 3 thượng) ghi: Khi còn ở địa vị tu nhân, đức Thế tôn từng trải tóc trên chỗ bùn lầy, dâng hoa cúng dường Phật Nhiên đăng, Phật Nhiên đăng thấy chỗ trải tóc bèn ngăn đại chúng lại và chỉ xuống đất, bảo: Chỗ này nên xây dựng một ngôi chùa. Lúc đó, trong chúng có một Trưởng giả tên là Hiền vu cắm cây cọc xuống chỗ ấy, nói: Xây chùa xong rồi. Bấy giờ, chư thiên rải hoa.
Thế Tôn Khánh Đản
(世尊慶誕): ngày đản sanh hân hoan, vui mừng của đức Thế Tôn, còn gọi là Phật Đản Tiết (佛誕節), Dục Phật Tiết (浴佛節, Lễ Hội Tắm Phật), Quán Phật Hội (灌佛會, Hội Tắm Phật), Long Hoa Hội (龍華會), Hoa Nghiêm Hội (華嚴會), v.v. Tùy theo mỗi quốc gia, tên gọi lễ hội linh thiêng, trọng đại này có khác nhau. Tại Nhật Bản lễ hội này được gọi là Giáng Đản Hội (降誕會, Gōtane), Phật Sanh Hội (佛生會, Busshōe), Dục Phật Hội (浴佛會, Yokubutsue), Quán Phật Hội (灌佛會, Kambutsue), Long Hoa Hội (龍華會, Ryūgee), Hoa Hội Thức (花會式, Hanaeshiki), Hoa Tế (花祭, Hanamatsuri). Trong khi đó, Hàn Quốc gọi là Thích Ca Đản Thần Nhật (釋迦誕辰日, Ngày Đản Sanh Của Đức Thích Ca), Đài Loan là Phật Đà Đản Thần Kỷ Niệm Nhật (佛陀誕辰紀念日, Ngày Kỷ Niệm Đản Sanh Của Đức Phật Đà), Việt Nam là Lễ Phật Đản, v.v. Qua các tên gọi liệt kê ở trên, Lễ Phật Đản còn được gọi là Lễ Hội Tắm Phật. Truyền thống Lễ Hội Tắm Phật vốn phát xuất từ truyền thuyết có 2 con rồng phun nước hương thơm rưới lên kim thân của của đức Phật khi ngài hạ sanh, như trong Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō No. 189) quyển 1 có diễn tả như sau: “Nan Đà Long Vương, Ưu Ba Nan Đà Long Vương, ư hư không trung, thổ thanh tịnh thủy, nhất ôn nhất lương, quán Thái Tử thân, thân hoàng kim sắc hữu tam thập nhị tướng, phóng đại quang minh, phổ chiếu tam thiên đại thiên thế giới, thiên long Bát Bộ diệc ư không trung tác thiên kỷ nhạc, ca bối tán tụng, thiêu chúng danh hương, tán chư diệu hoa, hựu vũ thiên y nãi dĩ Anh Lạc, tân phân loạn trụy bất khả xưng sổ (難陀龍王、優波難陀龍王、於虛空中、吐清淨水、一溫一涼、灌太子身、身黃金色有三十二相、放大光明、普照三千大千世界、天龍八部亦於空中作天伎樂、歌唄讚頌、燒眾名香、散諸妙花、又雨天衣及以瓔珞、繽紛亂墜不可稱數, Nan Đà Long Vương, Ưu Ba Nan Đà Long Vương ở trong không trung, phun nước trong sạch, một dòng ấm một dòng mát, rưới lên mình Thái Tử; thân người màu vàng ròng, có ba mươi hai tướng, phóng ra ánh sáng lớn, chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới; trời rồng tám bộ chúng cũng ở trên hư không tạo các thứ nhạc trời, ca xướng tán tụng, đốt các loại hương thơm, rãi các loại hoa quý, rồi lại mưa áo trời và lấy Anh Lạc rãi cùng khắp, không thể nào đếm kẻ xiết).” Hay như trong Phổ Diệu Kinh (普曜經, Taishō No. 186) quyển 2 cho là có 9 con rồng: “Cửu long tại thượng nhi hạ hương thủy, tẩy dục thánh tôn, tẩy dục cánh dĩ, thân tâm thanh tịnh (九龍在上而下香水、洗浴聖尊、洗浴竟已、身心清淨, chín con rồng ở trên không trung mà rưới nước hương thơm xuống, tắm rửa đấng thánh tôn; tắm rửa xong rồi, thân tâm trong sạch).” Nghi thức tắm các tôn tượng này vốn đã có từ thời xa xưa ở Ấn Độ, là một nhu cầu cần thiết về mặt tôn giáo để cầu phước diệt tội. Như trong Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō No. 310) quyển 100 có đề cập đến câu chuyện công chúa Vô Cấu Thí (無垢施), con gái của vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) như sau: “Kỳ nữ ư nhị nguyệt bát nhật Phật tinh hiện nhật, dữ ngũ bách Bà La Môn câu, trì mãn bình thủy, xuất chí thành ngoại dục tẩy thiên tượng (其女於二月八日佛星現日、與五百婆羅門俱、持滿瓶水、出至城外浴洗天像, người nữ ấy vào ngày mồng 8 tháng 2, ngày sao Phật xuất hiện, cùng với 500 vị Bà La Môn, cầm một cái bình đầy nước, ra ngoài thành tắm rửa bức tượng trời).” Trong Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳) quyển 4 của Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) nhà Đường có đoạn rằng: “Đại sư tuy diệt, hình tượng thượng tồn, kiều tâm như tại, lý ứng tôn kính; hoặc khả hương hoa mỗi thiết, năng sanh thanh tịnh chi tâm, hoặc khả quán mộc hằng vi, túc đãng hôn trầm chi nghiệp; … đản Tây quốc chư tự, quán mộc tôn nghi, mỗi ư nam trung chi thời, thọ sự tiện minh kiền chùy, tự đình trương thí bảo cái, điện trắc la liệt hương bình, thủ kim, ngân, đồng, thạch chi tượng, trí dĩ đồng, kim, mộc, thạch bàn nội, linh chư kỷ nữ tấu kỳ âm nhạc, đồ dĩ ma hương, quán dĩ hương thủy, dĩ tịnh bạch diệp nhi giai thức chi; nhiên hậu an trí điện trung, bố chư hoa thái, thử nãi tự chúng chi nghi (大師雖滅、形像尚存、翹心如在、理應尊敬、或可香花每設、能生清淨之心、或可灌沐恆爲、足盪昏沉之業、…但西國諸寺、灌沐尊儀、每於男中之時、授事便鳴楗椎、寺庭張施寶蓋、殿側羅列香瓶、取金、銀、銅、石之像、置以銅、金、木、石盤內、令諸妓女奏其音樂、塗以磨香、灌以香水、以淨白氎而揩拭之、然後安置殿中、布諸花彩、此乃寺眾之儀, Đại sư tuy đã diệt độ, nhưng hình tượng vẫn còn, tâm thành như còn sống, lý hợp với sự tôn kính; hoặc có thể mỗi lần thiết bày hương hoa, làm cho sanh tâm trong sạch; hay có thể tắm rửa tượng thường xuyên để tẩy sạch nghiệp hôn trầm; … hơn nữa, các chùa ở phương Tây [Ấn Độ], có nghi thức tắm tửa tôn tượng, mỗi khi đúng dịp người nam, người chịu trách nhiệm bèn đánh kiền chùy; nơi sân chùa giăng lọng báu, bên chánh điện bày biện các bình hương; lấy tượng bằng vàng, bạc, đồng, đá, đem dặt vào trong chậu bằng đồng, vàng, gỗ, đá; sai các kỷ nữ tấu âm nhạc, thoa hương thơm lên tượng, rưới nước hương thơm, rồi lấy khăn trắng lau sạch tượng; sau đó, đem tượng an trí trong điện, phủ các sắc hoa, đây là nghi thức của các chùa).” Khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, nghi thức này cũng được lưu truyền theo và ban đầu nó rất thịnh hành trong triều đình cũng như trong tầng lớp quan lại. Mãi cho đến thời đại Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều, nó trở thành phổ biến rộng khắp. Như trong Truyện Phật Đồ Trừng (佛圖澄傳) của Cao Tăng Truyện (高僧傳) quyển 10 có đề cập đến câu chuyện vị quốc chủ của nhà Hậu Triệu (後趙, 319-352) là Thạch Lặc (石勒, 319-333) đã từng vì con mà đến chùa hành lễ Tắm Phật: “Thạch Lặc chư trĩ tử, đa tại Phật tự trung dưỡng, mỗi chí tứ nguyệt bát nhật, Lặc cung tự nghệ tự quán Phật, vi nhi phát nguyện (石勒諸稚子、多在佛寺中養之、每至四月八日、勒躬自詣寺灌佛、爲兒發願, các con nhỏ của Thạch Lặc, phần lớn được nuôi dưỡng trong chùa; mỗi khi vào ngày mồng 8 tháng tư, Thạch Lặc kính thành đích thân đến chùa làm lễ Tắm Phật, vì con nhỏ mà phát nguyện như vậy).” Hoặc như trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) quyển 36, Điều Tống Hiếu Võ Đế Đại Minh Lục Niên (宋孝武帝大明六年, năm 462) có đoạn: “Tứ nguyệt bát nhật, đế ư nội điện quán Phật trai tăng (四月八日、帝於內殿灌佛齋僧, vào ngày mồng 8 tháng tư, nhà vua hành lễ Tắm Phật và Trai Tăng trong nội điện).” Hay trong Lưu Kính Tuyên Truyện (劉敬宣傳) của Tống Thư (宋書) quyển 47 có kể rằng: “Tứ nguyệt bát nhật, Kính Tuyên kiến chúng nhân quán Phật, nãi hạ đầu thượng kim kính dĩ vi mẫu quán, nhân bi khấp bất tự thắng (四月八日、敬宣見眾人灌佛、乃下頭上金鏡以爲母灌、因悲泣不自勝, vào ngày mồng 8 tháng tư, Kính Tuyên thấy mọi người tắm Phật, bèn lấy cái kính vàng trên đầu xuống, vì mẹ mà dội nước tắm, nhân đó buồn khóc chẳng tự kiềm chế được).” Cho nên, nghi thức Tắm Phật được thịnh hành từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Về ngày tiến hành Lễ Phật Đản hay Lễ Tắm Phật, xưa nay có nhiều ký lục bất đồng như ngày mồng 8 tháng 2, mồng 8 tháng 4, hay mồng 8 tháng 12. Dưới thời Hậu Hán (後漢, 25-220), trong Ngô Thư (吳書) không ghi rõ ngày Tắm Phật của Trách Dung (笮融, ?-195); đến thời Bắc Triều thì phần lớn người ta tiến hành lễ này vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Tuy nhiên, từ thời nhà Lương (梁, 502-557), qua nhà Đường (唐, 618-907) đến đầu thời nhà Liêu (遼, 907-1125), đại để lễ hội này được tiến hành vào ngày mồng 8 tháng 2. Dưới thời nhà Bắc Tống (北宋, 960-1127) lại tổ chức vào ngày mồng 8 tháng chạp; nhưng Nam Tống thì tiến hành ngày mồng 8 tháng 4. Như đã nêu trên, trường hợp của Thạch Lặc nhà Hậu Triệu, Hiếu Võ Đế (孝武帝, 453-464) của nhà Lưu Tống (劉宋, 420-479), Lưu Kính Tuyên (劉敬宣, ?-415), v.v., đều tiến hành vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Trong khi đó, tác phẩm Kinh Sở Tuế Thời Ký (荊楚歲時記) dưới thời nhà Lương lại ghi là ngày mồng 8 tháng 2. Trong Thích Huyền Uyển Truyện (釋玄琬傳) nhà Đường của Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳) quyển 22 có đoạn rằng: “Uyển dĩ nhị nguyệt bát nhật Đại Thánh Đản Mộc chi thần, truy duy cựu chư, kính sùng dục cụ, mỗi niên như thử, khai giảng thiết trai, đại hội đạo tục (琬以二月八日大聖誕沐之辰、追惟舊緒、敬崇浴具、每年此日、開講設齋、大會道俗, Huyền Uyển lấy ngày mồng 8 tháng 2 làm ngày tắm Đản Sanh Đức Đại Thánh, theo lề lối xưa, kính sùng vật dụng tắm rửa, mỗi năm vào ngày này, thuyết giảng và bày cỗ chay, tập trung cả tăng lẫn tục).” Phần Lễ Chí (禮志) của Liêu Sử (遼史) quyển 53 cũng ghi ngày mồng 8 tháng 2 là ngày sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa (s: Siddhārtha, p: Siddhattha, 悉達多). Trong phần Phật Đản Sanh Niên Đại (佛誕生年代) của Tăng Sử Lược (僧史略) quyển Thượng do Tán Ninh (贊寧, 919-1001) nhà Bắc Tống biên soạn có đoạn: “Kim Đông Kinh dĩ lạp nguyệt bát nhật dục Phật, ngôn Phật sanh nhật (今東京以臘月八日浴佛、言佛生日, nay kinh đô [lúc bấy giờ kinh đô nhà Tống là Khai Phong] lấy ngày mồng 8 tháng chạp làm ngày Tắm Phật, xem đó là ngày Phật hạ sanh).” Hay như Sự Văn Loại Tụ (事文類聚) của Chúc Mục (祝穆, ?-?) nhà Tống có ghi rằng: “Hoàng triều đông kinh thập nhị nguyệt sơ bát nhật, đô thành chư đại tự tác Dục Phật Hội, tinh tạo thất bảo ngũ vị chúc, vị chi Lạp Bát Chúc (皇朝東京十二月初八日、都城諸大寺作浴佛會、並造七寶五味粥、謂之臘八粥, vào ngày mồng 8 tháng 12, kinh đô hoàng triều, các chùa lớn trong thành đô đều tiến hành Lễ Hội Tắm Phật, làm thứ cháo có bảy loại báu và năm vị, gọi đó là Cháo Mồng Tám Tháng Chạp).” Bên cạnh đó, tác phẩm Tuế Thời Tạp Ký (歲時雜記) có đề cập rằng: “Chư kinh thuyết Phật sanh nhật bất đồng, kỳ chỉ ngôn tứ nguyệt bát nhật sanh giả vi đa; … cố dụng tứ nguyệt bát nhật quán phật dã; kim đản Nam phương giai dụng thử nhật, Bắc nhân chuyên dụng lạp nguyệt bát nhật, cận tuế nhân Viên Chiếu Thiền Sư lai Huệ Lâm, thỉ dụng thử nhật hành Ma Ha Sát Đầu Kinh pháp, tự thị sảo sảo tuân; … kỳ hậu Tống đô Khai Phong chư tự, đa thái dụng tứ nguyệt bát nhật dục Phật (諸經說佛生日不同、其指言四月八日生者爲多、…故用四月八日灌佛也。故用四月八日灌佛也、今但南方皆用此日,北人专用腊月八日,近岁因圆照禅师(1020—1099)来慧林(禅院),始用此日行《摩诃刹头经》法;自是稍稍遵(之)。今但南方皆用此日、北人專用臘月八日、近歲因圓照禪師來慧林、始用此日行摩訶剎頭經法、自是稍稍遵、…其後宋都開封諸寺、多采用四月八日浴佛, các điển tịch nói về ngày đản sanh của đức Phật không đồng nhất với nhau, phần lớn đều chỉ ngày mồng 8 tháng tư; … cho nên mới dùng ngày mồng 8 tháng tư để tiến hành Lễ Tắm Phật; nay phương Nam đều dùng ngày này, người phương Bắc lại chuyên dùng ngày mồng 8 tháng chạp; gần đây nhân khi Thiền Sư Viên Chiếu [1020-1099] đến Thiền Viện Huệ Lâm, bắt đầu dùng ngày này để hành pháp tu của Ma Ha Sát Đầu Kinh, từ đó có tuân theo chút ít; … về sau, các chùa trong Phủ Khai Phong thuộc kinh đô nhà Tống, phần lớn đều chọn lấy ngày mồng 8 tháng tư làm ngày Tắm Phật).” Từ đó, tác phẩm Đông Kinh Mộng Hoa Lục (東京夢華錄) quyển 8 ghi rõ rằng: “Tứ nguyệt bát nhật Phật sanh nhật, thập đại Thiền viện các hữu Dục Phật Trai Hội, tiễn hương dược đường thủy tương di, danh viết Dục Phật Thủy (四月八日佛生日、十大禪院各有浴佛齋會、煎香藥糖水相遺、名曰浴佛水, ngày mồng 8 tháng tư là ngày đản sanh của đức Phật, 10 Thiền viện lớn, mỗi chùa đều có Lễ Hội Trai Tăng Tắm Phật, nấu nước đường thuốc hương thơm ban bố khắp, tên gọi là Nước Tắm Phật).” Trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, do Trung Phong Minh Bổn [中峰明本, 1263-1323] biên soạn vào năm 1317) cũng như Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修百丈清規, được tu chỉnh vào năm 1336) dưới thời nhà Nguyên cũng quy định ngày mồng 8 tháng tư là ngày Khánh Đản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Từ đó, trên toàn lãnh thổ Trung Quốc cũng thống nhất tổ chức Lễ Phật Đản vào ngày này. Như trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy quyển 2, Chương Báo Bổn (報本章), điều Phật Giáng Đản (佛降誕) có quy định cụ thể nghi thức Tắm Phật như sau: “Chí tứ nguyệt bát nhật, Khố Ty nghiêm thiết hoa đình, trung trí Phật giáng sanh tượng, ư hương thang bồn nội, an nhị tiểu tiêu; Phật tiền phu trần cúng dường tất; Trú Trì thượng đường chúc hương vân: 'Phật Đản linh thần, mỗ tự trú trì … kiền nhiệt bảo hương, cúng dường Bổn Sư Thích Ca Như Lai Đại Hòa Thượng, thượng thù từ ấm, sở kí pháp giới chúng sanh, niệm niệm chư Phật xuất hiện ư thế.' Trú Trì thuyết pháp cánh, lãnh chúng đồng đáo điện thượng; Trú Trì thượng hương tam bái nhiên hậu quỳ lô; Duy Na bạch Phật vân: 'Nhất nguyệt tại thiên, ảnh hàm chúng thủy; nhất Phật xuất thế, các tọa nhất hoa; Bạch Hào thư nhi Tam Giới minh, Cam Lồ sái nhi Tứ Sanh nhuận; … tuyên sớ tất, xướng Dục Phật Kệ (至四月八日、庫司嚴設花亭、中置佛降生像、於香湯盆內、安二小杓、佛前敷陳供養畢、住持上堂祝香雲、佛誕令辰,某寺住持…虔爇寶香、供養本師釋迦如來大和尚、上酬慈蔭、所冀法界眾生、念念諸佛出現於世、住持說法竟、領眾同到殿上、住持上香三拜然後跪爐、維那白佛云、一月在天、影涵眾水、一佛出世、各坐一華、白毫舒而三界明、甘露灑而四生潤、…宣疏畢、唱浴佛偈, đến ngày mồng 8 tháng tư, vị Tri Khố trang nghiêm thiết bày nhà hoa, bên trong an trí tượng Phật Đản Sanh, bỏ hai cái muỗng nhỏ bên trong cái bồn nước nóng hương thơm; trước tượng Phật bày biện các vật phẩm cúng dường; xong vị Trú Trì thượng đường niệm hương rằng: 'Khoảnh khắc linh thiêng đức Phật đản sanh, con Trú Trì chùa …, kính dâng hương báu tỏa khắp, cúng dường lên đức Đại Hòa Thượng Bổn Sư Thích Ca Như Lai, trên đền đáp ơn từ, mong khắp pháp giới chúng sanh, thường nhớ chư Phật xuất hiện trên đời; vị Trú Trì thuyết pháp xong, dẫn đại chúng cùng lên Chánh Điện, ông dâng hương, lạy ba lạy, sau đó quỳ xuống; vị Duy Na bạch Phật rằng: 'Một trăng trên trời, bóng hiện khắp chốn; một Phật ra đời, đều ngồi tòa sen; mày trắng buông mà Ba Cõi sáng, Cam Lồ rưới mà Bốn Loài thấm, … tuyên sớ xong, xướng bài Kệ Tắm Phật).” Đối với Việt Nam, bên cạnh ngày mồng 8, Lễ Phật Đản thường được tổ chức vào ngày rằm tháng tư Âm Lịch hằng năm. Như có đề cập ở trên, khi tiến hành Lễ Tắm Phật, bài Kệ Tắm Phật (căn cứ vào bài kệ trong Dục Phật Công Đức Kinh) được xướng tụng là: “Ngã kim quán mộc chư Như Lai, tịnh trí trang nghiêm công đức tụ, Ngũ Trược chúng sanh linh ly cấu, đồng chứng Như Lai tịnh Pháp Thân (我今灌沐諸如來、淨智莊嚴功德聚、五濁眾生令離垢、同證如來淨法身, con nay tắm gội các Như Lai, trí sạch trang nghiêm công đức lớn, chúng sanh Năm Trược xa cấu nhiễm, cùng chứng tịnh Pháp Thân Như Lai).” Về công đức Tắm Phật, trong Dục Phật Công Đức Kinh có liệt kê 15 loại: “Thiện nam tử, nhược hữu chúng sanh, năng tác như thị thắng cúng dường giả, thành tựu thập ngũ thù thắng công đức nhi tự trang nghiêm; nhất giả thường hữu tàm quý, nhị giả phát tịnh tín tâm, tam giả kỳ tâm chất trực, tứ giả thân cận thiện hữu, ngũ giả nhập vô lậu tuệ, lục giả thường kiến chư Phật, thất giả hằng trì chánh pháp, bát giả năng như thuyết hành, cửu giả tùy ý đương sanh tịnh Phật quốc độ, thập giả nhược sanh nhân trung đại tánh tôn quý nhân sở kính phụng sanh hoan hỷ tâm, thập nhất giả sanh tại nhân trung tự nhiên niệm Phật, thập nhị giả chư ma quân chúng bất năng tổn não, thập tam giả năng ư mạt thế hộ trì chánh pháp, thập tứ giả thập phương chư Phật chi sở gia hộ, thập ngũ giả tốc đắc thành tựu Ngũ Phần Pháp Thân (善男子、若有眾生、能作如是勝供養者、成就十五殊勝功德而自莊嚴、一者常有慚愧、二者發淨信心、三者其心質直、四者親近善友、五者入無漏慧、六者常见诸佛。 六者常見諸佛、七者恆持正法、八者能如說行、九者隨意當生淨佛國土、十者若生人中大姓尊貴人所敬奉生歡喜心、十一者生在人中自然念佛、十二者諸魔軍眾不能損惱、十三者能於末世護持正法、十四者十方諸佛之所加護、十五者速得成就五分法身, này thiện nam tử, nếu có chúng sanh nào có thể thực hiện sự cúng dường như vậy, sẽ thành tựu 15 loại công đức thù thắng để tự trang nghiêm; một là thường có sự hổ thẹn, hai là phát tín tâm trong sạch, ba là tâm của vị ấy ngay thẳng, bốn là gần gủi bạn tốt, năm là vào trí tuệ vô lậu, sáu là thường thấy chư Phật, bảy là thường giữ gìn chánh pháp, tám là có thể hành theo đúng với lời dạy, chín là tùy ý sẽ sanh về quốc độ thanh tinh của Phật, mười là nếu sanh vào cõi người thì được người dòng họ tôn quý kính phụng và sanh tâm hoan hỷ, mười một là nếu sanh trong cõi người thì tự nhiên niệm Phật, mười hai là chúng ma quân không thể làm cho tổn hại và gây rối, mười ba là có thể hộ trì chánh pháp vào thời mạt pháp, mười bốn là được mười phương chư Phật gia hộ, mười lăm là mau chóng thành tựu Năm Phần Pháp Thân).”
thế tôn sơ sinh
(世尊初生) Cũng gọi Thế tôn giáng đản. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về lúc đức Thế tôn mới sinh ra. Chương Vân môn trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 15 (Vạn tục 138, 277 hạ) ghi: Lúc Thế tôn vừa sinh ra, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, bước đi 7 bước, mắt nhìn 4 phía nói rằng: Trong tất cả cõi trời, cõi người, chỉ có Ta là tôn quí! Sư nói: Lúc ấy nếu ta thấy thì đánh cho một gậy chết tốt rồi ném cho chó ăn mới mong thiên hạ được thái bình. Về sau, Thiền sư Tuệ giác ở Long gia có bình xướng rằng (Vạn tục 117, 6 hạ) nói: Có thể nói ngài Vân môn đem tấm lòng sâu xa phụng sự chúng sinh trong các cõi nước nhiều như bụi nhỏ, đó mớigọi là báo đền ơn Phật.
thế tôn thăng toà
(世尊升座) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này thuật lại sự tích đức Thế tôn lên tòa, ngài Văn thù bạch chùy. Tắc 92, Bích nham lục (Đại 48, 216 trung) ghi: Một hôm, đức Thế tôn thăng tòa, ngài Văn thù gõ kiền chùy bạch rằng: Hãy quán xét kĩ pháp của đấng Pháp vương, pháp của đấng Pháp vương là như thế! Đức Thế tôn liền rời khỏi tòa. Có thuyết cho rằng 2 công án Thế tôn thăng tòa và Niêm hoa vi tiếu (Đưa cành hoa lên mỉm cười) đều không thấy được ghi trong các sách Thiền ở thời kì đầu, cho nên ngờ rằng có lẽ các bậc tông tượng trong Thiền môn đã vì cơ duyên mà đặt ra.
thế tôn vị thuyết
(世尊未說) Tên công án trong Thiền tông. Đức Thế tôn chưa nói. Nghĩa là đức Thế tôn chuyển pháp luân trong 49 năm (có thuyết nói 45 năm) nhưng thực ra Ngài chưa từng nói một lời. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 16, 498 hạ) ghi: Trong khoảng thời gian từ đêm chứng được Vôthượng chính giác cho đến đêm nhập Niết bàn,ta chưa từng nói một lời.Chương Thế tôn trong Ngũ đăng hội nguyên (Vạn tục 138, 4 thượng) ghi: Đức Thế tôn sắp vào Niết bàn, Bồ tát Văn thù thỉnh Phật tái chuyển pháp luân, đức Thế tôn quở rằng: Này Văn thù! Trong 49 năm trụ thế, ta chưa từng nói một lời. Nay ông thỉnh ta tái chuyển pháp luân, vậy ta đã từng chuyển pháp luân ư?
thế tăng
Một vị Tăng trẻ dẫn dắt vị hoàng tử mới sanh—A youth who becomes a monk as deputy for a new-born prince.
; (替僧) Làm tăng thay thế cho Vua, Thái tử. Cứ theo văn bia chùa Thừa ân do Trương cư chính dựng, mỗi khi có Hoàng thái tử, các vua ra đời thì độ cho một đứa bé làm tăng thay thế, gọi là Thế tăng. Thế tăng của vua Thần tông tên là Chí thiện, trụ ở chùa Long tuyền. Bức tranh Thế độ ở đời Đường (Đôn Hoàng)
thế tướng
Theo Kinh Pháp Hoa, đây là sự tướng thế gian—According to the Lotus Sutra, “Thế Tướng” means the condition, appearance, phenomena or world-state.
Thế tốc
勢速; C: shìsù; J: seisoku; |Sự nhanh chóng, tức thời. Một trong 24 Tâm bất tương ưng hành pháp trong giáo lí Duy thức. Một phần tử tạm thời được lập ra rất nhanh chóng trong năng lực của pháp hữu vi sinh khởi và hoại diệt không dừng nghỉ.
thế tốc
Java (S)Sự biến hóa hay động tác mau chóng.
; (勢速) Phạm:Java. Chỉ cho sự biến hóa hoặc động tác nhanh chóng, 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành do tông Duy thức lập ra. Theo luận Du già sư địa quyển 56 thì có 3 loại Thế tốc, đó là: 1. Chư hành thế tốc: Sự sinh diệt của các pháp hữu vi vô thường nhanh chóng. 2. Sĩ dụng thế tốc: Tác dụng của 3 nghiệp thân, khẩu, ý con người rất nhanh chóng,. 3. Thần thông thế tốc: Tác dụng thần thông rất nhanh chóng.
Thế tốc 勢速
[ja] セイソク seisoku ||| 'Rapidity', 'instantaneousness.' One of the 24 conditioned elements 'not concomitant with mind' in Consciousness-only theory. An element provisionally established on the rapid energy of conditioned elements to arise and cease without an instant of pause. => "Sự nhanh chóng, tức thời". Một trong 24 món Tâm bất tương ưng hành pháp trong giáo lý Duy thức. Một phần tử tạm thời được lập ra rất nhanh chóng trong năng lực của pháp hữu vi sinh khởi và hoại diệt không dừng nghỉ.
thế tổ
Forefather—Ancestor—Founder.
Thế tục
世俗; C: shìsú; J: sezoku;|1. Thế gian, trần tục, thế tục, không giải thoát; phản nghĩa với thiêng liêng, siêu phàm, giải thoát, xuất thế gian. Cũng gọi là Thế gian (世間); 2. Chỉ Thế tục đế (世俗諦), để phân biệt với Chân đế.
thế tục
Samisa (S), Worldly, Sammuti (P), Saṃvṛti (S), Sammuti (P)Qui ước.
; Laukika (S). Common or ordinary things, custom, experiences, common or wordly ways (or views).
; Laukika (skt)—Tục đế hoặc pháp thế gian—Common or ordinary things—Common or worldly ways or views—World.
; (世俗) Phạm: Saôvfti. Pàli: Sammuti. Gọi tắt: Thế,Tục. Đối lại: Thắng nghĩa. Nghĩa là thế gian thông tục, là pháp hư vọng giả lập. Thế ó nghĩa là che giấu chân lí, có thể bị hủy hoại; Tục nghĩa là xuôi theo dòng đời, thuận với lòng người. Tất cả pháp thế tục trong 3 cõi đều không ngoài 2 nghĩa này. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 16 (Đại 31, 559 thượng) nói: Giảng nói về cái dụng của ngã pháp, đều gọi là thế tục. Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31, 1 trung) nói: Cảnh nương vào nội thức mà giả lập, cho nên chỉ có ở thế tục. Ởđây nói Ngã và Pháp chẳng phải thật có, chỉ theo thế tình mà giả đặt tên gọi, cho nên gọi là Thế tục. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 6 nêu 3 loại tục được an lập, đó là: 1. Thế gian tục: Như ruộng nương, nhà cửa, cái bình... 2. Đạo lítục: Như 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... 3. Chứng đắc tục: Như 4 quả Sa môn Dự lưu, Nhất lai... Luận Thành duy thức quyển 8 cũng nêu 3 thứ thế tục, đó là: 1. Giả thế tục: Có giả, thuộc về Biến kế sở chấp tính. 2. Hành thế tục: Có giả, thuộc về tính Y tha khởi. 3. Hiển liễu thế tục: Có thật, thuộc về tính Viên thành thực. Ngoài ra, trong các luận thường gọi tâm hữu lậu là Thế tục tâm, gọi trí hữu lậu do duyên theo cảnh thế tục mà khởi là Thế tục trí; dùng trí thế tục đoạn trừ các hoặc nhiễm, gọi là Thế tục đạo.
Thế tục khổ
世俗苦; C: shìsúkǔ; J: sesokko;|Cái khổ trong thế gian, khổ của hàng phàm phu.
Thế tục trí
世俗智; C: shìsúzhì; J: sezokuchi;|Trí thế gian. Tri thức của người chưa giác ngộ, tương đương với »nhiễm ô trí« hoặc Hữu lậu trí (有漏智). Một trong 10 loại trí (Thập trí 十智).
thế tục trí
Saṃvṛti-jāna (S).
; Ordinary, or worldly knowledge, or wisdom.
; Common understanding—Ordinary or worldly knowledge or wisdom.
Thế tục đế
世俗諦; C: shìsúdì; J: seizokutai;|Chân lí tương đối, chân lí của thế gian. Là thật tại được nhìn từ phía chúng sinh chưa giác ngộ. Con gọi là Thế đế, Tục đế (s: loka-saṃvṛti-satya, saṃvṛti-satya; t: kun rdsob bden pa). Phản nghĩa với Thắng nghĩa đế (勝義諦), Chân đế (眞諦). Nhị đế (二諦).
thế tục đế
See Phú Tục Đế.
; (世俗諦) Phạm: Saôvftti-satyatva, Saôvfttisatya. Gọi tắt: Thế đế, Tụcđế. Đối lại: Thắng nghĩa đế. Chân lí, đạo lí thông thường của thế gian, là 1 trong 2 đế chân và tục. Vì Đệ nhất nghĩa đế là chân lí tối cao tuyệt đối, người bình thường khó mà hiểu được cho nên trước dùng đạo lí và sự thực của thế tục làm điểm xuất phát, sau đó mới dần dần hướng dẫn họ đến cảnh giới cao hơn. Như ngón tay chỉ mặt trăng, con thuyền vượt sang bờ bên kia đều là những phương tiện cần thiết để đạt đến Đệ nhất nghĩa đế chân thực. Tên cũ của Thế tục đế là Phú tục đế, gọi như vậy là vì nó hiển hiện hữu tướng và che lấp(phú) chân lí. Phần chú thích trong Nam hải kí qui nội pháp truyện (Đại 54, 228 trung) ghi: Thế tục đế xưa gọi là Phú tục đế, nghĩa chưa rốt ráo; ý nói tục sự che lấp chân lí. Sắc vốn chẳng là cái bình mà lầm hiểu là cái bình, âm thanh không phải là bài ca mà cứ cho là bài ca (...), do che lấp chân lí nên gọi là Phú tục. (xt. Chân Tục Nhị Đế).
thế tự tại vương
Lokesvararàja (S). A Buddha under whom Amitàbha, in a previous existence, entered into the ascetic life and made his forty-eight vows.
; Lokesvararaja—Thế Nhiêu Vương—Vị Phật mà Phật A Di Đà trong tiền kiếp đã xuất gia tòng tu và thệ nguyện 48 lời nguyền—Buddha under whom Amitabha, in a previous existence, entered into the ascetic life and made his forty-eight vows.
thế tự tại vương phật
Lokesvararāja (P), Lokeśvara (S), Lokeśvara-Buddha (S)Tự tại vương PhậtMột vị Phật quá khứ chứng minh cho Pháp Tạng tỳ kheo (tiền thân Phật A di đà) phát 48 điều đại nguyện thanh tịnh để độ chúng sanh về cõi cực lạc Thế Nhiên Vương Phật, Nhiên Vương PhậtThế giới vương Phật.
; (世自在王佛) Thế tự tại vương, Phạm: Lokezvara= ràja hoặcLokezvara, Hán âm: Lâu di cắng la Phật. Cũng gọi Thế nhiêu vương Phật, Nhiêu vương Phật, Thế gian tựtại vương. Danh hiệu của đức Phật đã ra đời kế sau 53 đức Phật từ Phật Định quang đến Phật Xử thế ở quá khứ, làThầy của tỉ khưu Pháp tạng(tiền thân đức Phật A di đà) khi còn ở địa vị tu nhân; Ngài từng giảng nói về tướng trạng của 210 ức cõi nước chư Phật cho tỉ khưu Pháp tạng nghe, do đó mà tỉ khưu Pháp tạng đã phát khởi 48 điều thệ nguyện. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 thượng) nói: Bấy giờ, có đức Phật hiệu là Thế tựtạivương Như lai, (...) khi ấy có vị Quốc vương nghe Phật nói pháp lòng thấy vui mừng, liền phát đạo tâm chính chân vô thượng, nhường ngôi bỏ nước, xuất gia làm sa môn, hiệu là Pháp tạng. Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán quyển trung (Đại 37, 148 thượng) nói: Tiếng Phạm Lâu di cắng la, Hán dịch là Thế tự tại vương, vì được tự tại đối với tất cả pháp nên có danh hiệu này. Nhưng, về thứ tự ra đời của đức Phật này tron chư Phật ở quá khứ, trừ kinh Vô lượng thọ, còn các kinh khác như Đại a di đà quyển thượng, kinh Bình đẳng giác quyển 1, hội Vô lượng thọ Như lai trong kinh Đại bảo tích quyển 17, kinh Đại thừa Vô lượng thọ quyển thượng, kinh Vô lượng thọ bản tiếng Phạm và kinh Vô lượng thọ bản Tạng dịch... đều chép khác nhau. Còn theo phẩm Xuất thế giải thoát đàn tượng trong kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn thì vị Phật này là hiếp sĩ đứng ở bên phải đức Phật Tì lô giá na, hiếp sĩ đứng ở bên trái đức Phật A di đà.
thế y
He on whom the world relies - Buddha.
; Từ tôn xưng Đức Phật vì Ngài là chỗ nương tựa trông cậy của tất cả thế gian—He on whom the world relies—Buddha.
; (世依) Từ ngữ tôn xưng đức Phật, vì Phật là bậc mà tất cả thế gian nương tựa, nên gọi là Thế y. Kinh Đại nhật quyển 4 (Đại 18, 25 thượng) ghi: Những điều do bậc Thế y nói...
thế y tứ pháp dụ như lai
(世醫四法喻如來) Vị thầy thuốc giỏi ở thế gian biết rõ 4 phương pháp chữa bệnh, ví dụ Như lai khéo trị các bệnh hoặc nghiệp tham, sân, si của chúng sinh. Bốn phương pháp ấy là: 1. Thiện tribệnh: Biết rõ bệnh. Nghĩa là thấy thuốc giỏi ở thế gian biết rõ các chứng bệnh của con người, ví dụ Như lai biết rõ các bệnh hoặc nghiệp của tất cả chúng sinh. 2. Thiện tri bệnh nguyên: Biết rõ gốc bệnh. Nghĩa là thầy thuốc giỏi ở thế gian biết rõ các nguyên nhân sinh ra bệnh, hoặc do phong thấp, lạnh nóng, cho đến do ăn uống, sắc dục... ví dụ Như lai biết rõ chúng sinh đều do vô minh phiền não mà có bệnh sinh tử luân hồi. 3. Thiện tri bệnh đối trị: Biết rõ cách chữakhỏi bệnh. Nghĩa là thầy thuốc giỏi trong thế gian biết rõ phương pháp trị liệu, như người bị bệnh lạnh thì chữa bằng thuốc nóng...; ví dụ Như lai nói pháp chữa khỏi các thứ tâm bệnh của chúng sinh, nếu người nhiều tham dục thì nói pháp quán bất tịnh, nhiều sân hận thì nói pháp quán từ bi... 4. Thiện tri trị dĩ cánh bất động phát: Biết rõ bệnh khỏi rồi thì sẽ không tái phát. Nghĩa là thầy thuốc giỏi ở thế gian, tùy bệnh cho thuốc, nếu người bệnh nghe lời uống thuốc thì bệnh sẽ lành và không tái phát; ví dụ Như lai vì cácchúng sinh nói thuốc pháp để chữa các bệnh hoặc nghiệp, nếu chúng sinh theo đúng pháp ấy mà tu thì sẽ thoát khỏi sinh tử trong biển khổ, được Niết bàn an vui vĩnh viễn, tất cả hoặc nghiệp không sinh khởi lại nữa.
thế đao
Dao cạo râu—Razor.
thế điển
Non-Buddhist classical works.
; Kinh điển hay sách vở của thế gian (không phải Phật pháp)—Non-Buddhist classical works.
thế đại
A generation, a life time; the world.
; Thế hệ—A generation—A lifetime—The world.
thế đạo
Worldly path.
Thế đế
xem Hai chân lý.
; 世諦; C: shìdì; J: setai;|Chân lí, sự thật thế gian hoặc Chân lí tương đối. Thật tại được nhìn từ quan điểm của tâm phân biệt.
thế đế
Ordinary or worldly truth, opposite to Chân đế truth in reality. Also Tục đế, Thế tục đế.
; Sự thực của thế gian, ngược lại chân đế—Ordinary or worldly truth, opposite of truth in reality (chân đế).
thế đế bất sinh diệt
Thế đế chẳng sanh chẳng diệt. Phàm phu cho rằng sự tướng thế đế là thường trụ nên chấp trước, ngược lại nhị thừa cho rằng thế đế vô thường mà chán ghét. Cả hai đều bị tông Thiên Thai gạt bỏ, tông nầy cho rằng chư pháp thực tướng có đủ đầy lý bất sanh bất diệt—Ordinary worldly postulates that things are permanent, as contrasted with the doctrine of impermanence advocated by Hinayana; both positions are controverted by T'ien-T'ai which holds that the phenomenal world is neither becoming nor passing, but is an aspect of eternity.
thế đế tính
Prajāptisatyatā (S)Tục đế tính.
Thế đệ nhất pháp
là pháp cao nhất của thế gian, nhưng chưa đạt đến quả thánh, chỉ trí tuệ hữu lậu cao nhất trong thế gian. Hành giả tu tập Vô gián định phát khởi Thượng phẩm như thật trí, quán chiếu sở thủ và năng thủ đều là không, trực nhập được địa vị Kiến đạo, có được trí tuệ này. Người đắc pháp này lìa xa các phiền não thô lậu nhưng chưa được hoàn toàn giải thoát, phải tiếp tục tu pháp Tứ đế mới có thể chứng được các mức thiền từ Sơ thiền cho đến Tứ thiền.
; 世第一法; C: shìdìyīfǎ; J: sedaiippō;|Pháp cao nhất trong thế gian. Theo các trường phái A-tì-đạt-ma thì đây đó là dạng thứ tư của Tứ thiện căn (四善根). Giai vị sau cùng trong hàng Hữu lậu (有漏), khi đến cuối giai đoạn Gia hạnh vị (加行位), sau khi hành giả đạt giai vị Kiến đạo (theo Câu-xá luận). Theo Du-già hành tông, giai vị nầy gọi là Sơ địa (初地), sau đó, hành giả nhập vào Kiến đạo (theo Du-già luận).
thế đệ nhất pháp
The highest of the Tứ gia hạnh vị.
; Gia Hạnh thứ tư cũng là gia hạnh cao nhứt trong bốn gia hạnh—The fourth and the highest disciplinary process. See Tứ Hạnh.
; (世第一法) Chỉ chogiai vị Gia hành thứ 4 trong 4 giai vị Gia hành, làgiai vị tột cùng của trí hữu lậu, cũng là pháp thù thắng nhất trong các pháp thế gian. Ở giai vị này, hành già nương vào định Vô gián mà phát trí như thực thượng phẩm, quán xét sở thủ năng thủ đều không để vào thẳng địa vị Kiến đạo. Thế đệ nhất pháp là từ Nhẫn vị tiến lên, qua giai đoạn này thì chỉ trong sát na kế tiếp là tiến vào kiến đạo, cho nên được gọi là pháp bậc nhất trong các pháp hữu lậu thế gian.Luận Câu xá quyển 23 (Đại 29, 119 hạ) nói: Pháp này là pháp hữu lậu nên gọi là thế gian, là pháp tối thắng nên gọi là Đệ nhất. Pháp hữu lậu này thù thắng nhất trong pháp thế gian, cho nên gọi là Thế đệ nhất pháp.
Thế 勢
[ja] セイ sei ||| (1) Strength, power, force, vigor. (2) Energy, spirit, vitality. (vega) (3) Power, might, authority, influence. (4) Impetus, an impulse. (5) The course of things, a trend or tendency. (6) Aspect, circumstances, conditions.[姿] => Có các nghĩa sau: 1. Sức mạnh, năng lực, sức lực, sinh lực. 2. Nghị lực, nhiệt tình, sinh khí (s: vega). 3. Thế lực, sức mạnh, quyền lực, uy thế. 4. Lực thúc đẩy, sức đẩy tới.5. Tiến trình của các pháp, chiều hướng hay khuynh hướng chung. 6. Phương diện, trường hợp, dáng vẻ ( tư-姿 ).
thết
Thiết đãi—To entertain—To feast.
thề
To swear—To take (make) an oath.
thề dối
To swear falsely.
thề nguyền
See Thề.
thề thốt
See Thề.
thề trung thành
To take an oath of allegiance.
thềm
Threshold—Veranda.
thều thào
To speak with weak voice.
thể
1) Có thể: Possible. 2) Thân thể: Body—Limbs—Corpus--Corporeal. 3) Vật thể: The substance—The essentials 4) Trọng thể: To show respect to.
; (體) Phạm:Loka. Hán âm: Lộ ca. I. Thế. Gọi đủ: Thế gian. Chỉ cho thế tục, phàm tục. Có các nghĩa: Bị hủy hoại, có pháp đối trị, che lấp chân lí...II. Thế. Tên khác của Thời. Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 4 thì Thế nghĩa là đổi dời. Tức về mặt thời gian có 3 đời(thời) quá khứ, hiệntại, vị laidời đổi.
thể chất
Constitution.
thể chế
System.
thể cách
Manner—Way.
thể cụ
See Tánh Cụ.
thể của chư pháp (hiện tượng) là không
All phenomena dharma are by nature empty.
thể diệt
(體滅) Đối lại: Dụng diệt. Các pháp hữu vi đều do nhân duyên sinh, nên thể của chúng diệt vong trong từng sát na, gọi là Thể diệt. Các tông Thành thực và Duy thức cho rằng thể ấy diệt rồi làm nhân cho pháp kế tiếp sinh, do đó lại sinh sự thể mới và cứ thế tương tục, nối tiếp nhau không dứt, cho nên diệt là chỉ nói theo đương thể của pháp ấy. Nhưng diệt ở đây chẳng phải nghĩa diệt hẳn mà là nói theo quan hệ nhân quả, vì thế không phải tuyệt đối đoạn diệt. Tát bà đa bộ (Thuyết nhất thiết hữu bộ) tuy chủ trương Ba đời thực có, pháp thể hằng có, nhưng bất luận chỉ trong thời gian ngắn hay lâu dài, đều không thừa nhận có sự diệt vong về mặt thể, mà chỉ nói về tác dụng của thể, cho nên chủ trương chỉ có dụng diệt chứ không có thể diệt.
thể dục
Physical cultivation (culture).
thể dụng
Thực tướng (thể) và sự hoạt động trên luật nhân quả (dụng)—Substance, or body, and function; the fundamental and phenomenal; the function of any body.
; (體用) Chỉchothể tính và tác dụng của các pháp. Thể là thể tính, là thực tướng chân lí bất biến, không phân biệt; Dụng là tác dụng, là sự biểu hiện cụ thể các hiện tượng sai biệt. Luận Đốn ngộ yếu môn quyển hạ (Vạn tục 110, 430 thượng) nói: Tịnh là bản thể, Danh là tích dụng. Từ bản thể khởi lên tích dụng, từ tích dụng trở về bản thể, thể dụng chẳng hai, bản tích không khác.
thể dụng môn
(體用門) Đối lại: Nhân quả môn. Pháp môn dùng sự quan hệ năng trì, sở trì của thức thứ 8 và chủng tử để nêu rõ mối quan hệ giữa 7 chuyển thức, thức thứ 8 và sự hiện hành của chủng tử; tức thức thứ 8 năng trì là Thể, chủng tử sở trì là Dụng. Bởi vì các chủng tử do 7 chuyển thức huân tập đều rơi vào trong tự thể của bản thức A lại da thứ 8, bản thức thứ 8 thu nhiếp, nắm giữ các chủng tử ấy làm tự thể, cho nên tất cả chủng tử không có tướng riêng, mà chỉ trở thành công năng sinh ra quả nằm trong bản thức thứ 8, vì thể lấy hiện hành của bản thức thứ 8 làm Thể, chủng tử làm Dụng, nhưng vì nhiếp dụng làm thể nên tất cả chủng tử và bản thức thứ 8 đều không có tính vô kí; đây là nghĩa của Thể dụng môn.
thể hiện
To represent.
thể không
Theo Duy Thức Học hay giáo thuyết Đại Thừa, vạn hữu vi không, nghĩa là tất cả các pháp hữu vi tự nó là không chứ không cần phải lý luận phân tách mới làm cho chúng thành không. Mọi pháp đều do nhân duyên sanh diệt, chứ không có thực thể (trực tiếp căn cứ vào thể của pháp mà quán như huyễn như mộng là không; ngược lại, Tiểu Thừa giáo phân tách con người ra làm ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới, v.v., phân tách sắc ra những phần cực kỳ nhỏ, tâm ra thành một niệm, rồi từ kết quả của sự phân tách đó mới thấy vạn hữu vi không thì gọi là “tính không”)—The emptiness, unreality, or immateriality of substance, the “mind-only” theory, that all is mind or mental, a Mahayana doctrine. Corporeal entities are unreal, for they disintegrate.
thể không giáo
(體空教) Chỉ cho giáo môn nói rõ về Đương thể tức không. Theo 4 giáo hóa pháp do tông hiên thai thành lập thì Thể không giáo chỉ cho Thông giáo trong 4 giáo. Vì Thông giáo nói rõ giáo chỉ nhân duyên tức không, vô sinh tứ đế... trong 2 thời Phương đẳng và Bát nhã, cho nên gọi Thể không giáo. Như 6 thí dụ trong kinh Kim cương bát nhã, 10 thí dụ trong kinh Duy ma... đều thuộc về giáo pháp Thể không.
thể không quán
(體空觀) Gọi đủ: Thể sắc nhập không quán, Thể giả nhập không quán, Thể pháp nhập không quán, Thể pháp quán. Đối lại: Tích không quán. Quán xét các pháp do nhân duyên sinh đương thể tức không. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 4 thượng) nói: Tiểu thừa chia chẻ các pháp để rõ tính không, còn Đại thừa thì thấy các pháp tính vốn không tịch. Tông Thiên thai cho rằng Thể không quán này là pháp quán Không của bồ tát Thông giáo, còn Tích không quán là pháp quán của bồ tát Tạng giáo. Nếu so sánh Thể không quán với Tích không quán thì cả 2 đều là pháp quán từ Giả vào Không, cùng phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc trong 3 cõi. Nhưng pháp quán này có xảo(khéo) và chuyết(vụng) khác nhau, Thể không quán là xảo đạc quán, còn Tích không quán là chuyếtđạcquán.
thể không vô sinh quán pháp
(體空無生觀法) Chỉ cho pháp quán trực tiếp thể đạt tất cả các pháp đương thể tức không, không có thực sinh thực diệt. Kinh Kim cương (Đại 8, 752 trung) nói: Tất cả pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng,như hạt sương, như ánh chớp; nên quán xét như thế.
thể lệ
Regulation.
thể lộ
Complex exposure or manifestations.
thể lộ kim phong
(體露金風) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thể lộ là toàn thể lộ rõ chân tướng của sự vật, kim phong là gió thu. Nghĩa là khi gió thu thổi thì lá cây rụng hết, lộ rõ toàn thể thân cây trơ trụi. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ khi diệt trừ hết vọng tưởng phân biệt thì bản lai diện mục hiển lộ hoàn toàn. Bích nham lục tắc 27 (Đại 48, 167 trung) ghi: Có vị tăng hỏi ngài Vân môn: Khi cây tàn lá rụng thì thế nào? Sư đáp: Thể lộ Kim phong.
thể lực
Physical strength.
thể nghĩa
(體義) I. Thể Nghĩa. Thể và nghĩa. Thể chỉ cho lí thể bình đẳng của các pháp; Nghĩa chỉ cho tướng dụng sai biệt của các pháp. II. Thể Nghĩa. Thể tức là Nghĩa, vìNghĩa cũng bao hàm Đệ nhất nghĩa đế, tức chỉ cho thể tính bình đẳng của pháp giới.
thể nhập
• Thể nhập: Pativijjhati (p)—Anubhodhate (skt)—To penetrate. • Sự thể nhập: Pativijjhanam (p)—Penetration.
thể nội phương tiện thể ngoại phương tiện
Theo tông Thiên Thai, Đức Phật phương tiện giảng trong Kinh Liên Hoa, phẩm Phương Tiện là thù thắng trong vòng chân lý tuyệt đối nên gọi là thể nội phương tiện, trong khi các tông phái khác không dùng phương tiện nên gọi là thể ngoại phương tiện—The T'ien-T'ai school indicating that the expedients in the “Tactiful Chapter” in the Lotus Sutra are within the ultimate reality of that sutra, while those of other schools are without it.
thể pháp
Tính phổ quát hay sự không thật của chư pháp theo quan điểm của Thông Giáo, đối lại với quan điểm của Tạng Giáo—The universality of substance and the unreality of dharmas or phenomena, the view of the “interrelated or intermediate teaching” as contrasted with that of the “tripitaka teaching.” ** For more information, please see Thiên Thai Tam Giáo.
; (體法) Thấu suốt đương thể các pháp tức không. Tông Thiên thai cho rằng hàng Tam thừa Thông giáo không cần chia chẻ các pháp sắc, tâm mà trực tiếp thấu suốt các pháp nhân duyên sinh đương thể tức không vô sinh, đoạn sạch phiền não, chứng đắc chân không
thể quang giáp
Xem Tỳ xa mật đa la.
thể thao trên trời
Gaganavihārin (S), Sporting in the sky.
thể trí
Trí huệ thể hội chân không—Fundamental wisdom which penetrates all reality.
; (體智) Chỉ cho trí tuệ thấu suốt chân không diệu hữu. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, hần đầu (Đại 33, 710 hạ) nói: Thông giáo cũng có 3 bậc, đều dùng thể trí quán xét lí 12 nhân duyên trong 3 cõi.
thể tài
Method.
thể tánh
Xem Pháp thể.
thể tì lí
Xem Trưởng lão.
thể tín
(體信) Thông hiểu tâm người có khả năng tin sâu.Phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 17 thượng) nói: Thể tín tướng tâm, ra vào không khó. Chỉ cho thực thể, tức thực chất của sự vật là Thể;thể không biến đổi gọi là Tính, cho nên thể tức là tính, thể tính của Phật và của chúng sinh là đồng nhất không sai khác. Luận Câu xá quyển 13 (Đại 29, 71 thượng) nói: Thể tính là thiện, giống như thuốc hay.
thể tính
Atmakatva or Dharmata (skt)—Sự không thay đổi của thực chất của vạn hữu—The essential or substantial nature of all things—Self-substance.
thể tướng
Thực chất là bản thể, dựa vào thực chất mà hiện thành các chi phần sai biệt bên ngoài là tướng, như sức nóng trong lửa—Substance and phenomena, or characteristics; substance being unity and phenomena diversity—Qualitatives as heat is in fire.
; (體相) Chỉ cho thể và tướng. Bản chất không thay đổi, làm chỗ dựa cho hiện tượng sai biệt, gọi là Thể; hiện tượng sai biệt nương vào thể mà hiện ra bên ngoài, gọi là Tướng. Thể là pháp tính có tính cách nhất, tuyệt đối, vô hạn, chân thường; cònTướng là pháp tướng có tính cách phi nhất, tương đối, hữu hạn, vô thường. Về Thể và Tướng thì giữa tông Pháp tướng và tông Pháp tính nói có khác nhau. Tông Pháp tướng cho rằng ngoài tướng năng y ra còn có thể sở y; tức ngoài tướng vạn hữu thuộc Y tha khởi còn có chân như thuộc Viên thành thực làm sở y, như ngoài cây cỏ còn có đất đai làm chỗ nương. Còn tông Pháp tính thì chủ trương Tướng năng y tức là Thể sở y, mà tướng vạn hữu thuộc Y tha chính là chân thể của Viên thành thực.
thể tướng dụng
Ba thứ lớn trong Khởi Tín Luận—Substance, characteristics, function, the three great fundamentals in the Awakening of Faith. ** For more information, please see Tam Đại.
; (體相用) Từ ngữ được sử dụng để thuyết minh giáo nghĩa của Phật giáo, khi khảo sát về 3 phương diện bản thể(thể), hiện tượng (tướng) và tác dụng (dụng) của tự pháp. Tức là Thể đại, Tướng đại và Dụng đại nói trong luận Đại thừa khởi tín.
thể tỳ lý
Sthavira (skt)—Tha Tỳ Lý—Tha Tỷ La—Thượng Tọa—Trưởng Lão—Elder—President.
thể vô bất tại
Omnipresent (a).
thể đại
Một trong tam đại mà Đại Thừa Khởi Tín Luận đã đề cập. Tâm tính của hết thảy chúng sanh là duy nhất tuyệt đối, chẳng sinh, chẳng diệt, chân thực như thường là thể, đầy rẫy trong pháp giới là đại—The Awakening of Faith mentioned the greatness in substance, the greatness of quintessence, or fundamental immutable substance of all things, one of the three characteristics of all things. **For more information, please see Tam Đại.
thể đạt
Nguyên tắc phổ quát tỏa khắp vạn hữu—The universal fundamental principle all pervasive.
; (體達) Thấu suốt thực tướng các pháp một cách vô ngại. Kim quang minh huyền nghĩa quyển hạ (Đại 39, 10 hạ) nói: Thểcó hàmnghĩa suốt qua, có được thể ý này thì thông đạt không trệ ngại.
thệ
1) Ký hợp đồng: To sign a contract. 2) Thề nguyền: To swear—To take an oath. 3) Thệ thế: Chết—To pass away—To depart—To die.
; (誓) Phạm: Svabhàva hoặc Bhàva. Pàli:Sabhàva hoặcBhàva. I. Thể. Chỉ cho thực thể hoặc thể tính, là bản chất của pháp, cũng là điều kiện căn bản để pháp tồn tại. Tại Ấn độ đời xưa, học phái Số luận chủ trương thể của tất cả các pháp là một; còn phái Thắng luận thì chủ trương ngược lại là thể của tất cảcác pháp đều khác. Thuyết nhất thiết hữu bộ cũng cho rằng thể củacác pháp đều khác, đều là có thật; tông Duy thức thì chủ trương tất cả các pháp có 3 tính khác nhau là Biến kế sở chấp, Y tha khởi, Viên thành thực và cho tính Viên thành thực là thể tính chân thật của tất cả pháp. Ngoài ra, các bộ luận như luận Thập bát không, luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính, luận Đại thừa khởi tín... thì chủ trương Chân như là thực thể của hết thảy các pháp. II. Thể. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho danh từ trước(tiền trần) của Tông(mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Như trong mệnh đề Âm thanh là vô thường thì âm thanh là Thể, vô thường (danh từ sau của Tông) là Nghĩa. Vì danh từ trước và danh từ sau chỉ biểu thị sự khác nhau về vị trí chứ không thể biểu thị tác dụng và sự quan hệ giữa 2 Tông y(chỗ nương của Tông thể, tức danh từ trước và danh từ sau), cho nên các học giả Nhân minh mới lập riêng tên gọi Thể và Nghĩa để nêu rõ tác dụng và mối quan hệ giữa các Tông y. Lập Tông là dùng nghĩa trong danh từ sau để nêu rõ thể của danh từ trước; như trong mệnh đề âm thanh là vô thường thì dùng vô thường(Nghĩa) để nêu rõ tính năng, đặc sắc của âm thanh (Thể), đồng thời cũng để phân biệt với vật khác. Thể có 3 tên là Tự tính, Hữu pháp và Sở biệt; Nghĩa cũng có 3 tên là Sai biệt, Hữu pháp và Pháp. Trong đó, tự tính và sai biệt, hữu pháp và pháp, sở biệt và năng biệt đều đối nhau, được trình bày như sau: 1. Tự tính và sai biệt: Có 3 tiêu chuẩn để phân biệt giữa tự tính và sai biệt: a. Cục thông đối: Lấy cục và thông làm tiêu chuẩn để phân biệt giữa tự tính và sai biệt. Những điều được trình bày trong danh từ trước(Tiền trần) chỉ hạn cuộc ở Tông chư không quán thông ngoài Tông, vì thế danh từ trước còn được gọi là Tự tính; còn những điều được trình bày trong danh từ sau (Hậu trần) thì thông suốtđến ngoài Tông, cho nên danh từ sau cũng được gọi làSai biệt. Tự tính chỉ hạn cuộc ở Tông, cho nên phạm vi hẹp hơn sai biệt. Như mệnh đề (Tông): Âm thanh là vô thường thì âm thanh(danh từ trước) chỉ hạn cuộc ở Tông, không quán thông đến sắc, hương... ở ngoài Tông; còn Vô thường(danh từ sau) thì không chỉ hạn cuộc ở Tông mà quán thông đến các vật khác ngoài Tông. Nghĩa là không phải chỉ có âm thanh là vô thường mà cái bàn, cái ghế... cũng có tính vô thường, cho nên phạm vi của sai biệt rộng hơn phạm vi của tự tính. Cứ theo đó thì Tự tính và Sai biệt được dùng để nêu rõ sự quan hệ Thể hẹp Nghĩa rộng. b. Tiên hậu đối: Thể(danh từ trước) là phần đầu của Tông thể mà đặc sắc và chủng loại được nói rõ trong danh từ sau, trước Thể không có danh từ nào khác, cho nên nó được gọi là Tự tính. Nghĩa(danh từ sau) là phần cuối của Tông thể, tác dụng của Nghĩa là nói rõ tính loại biệt của danh từ trước, vì thế được gọi là Sai biệt. Danh từ trước mới chỉ nói âm thanh chứ chưa nói rõ đặc sắc cũng như chủng loại của âm thanh, cho nên được gọi là Tự tính; đến khi nói ra vô thường thì đặc sắcvà chủng loại của âm thanh mới được nêu rõ ràng; vô thường trong danh từ sau đã phân biệt âm thanh trong danh từ trước từ các loại khác và cũng đặt âm thanh vào chủng loại của chính nó, cho nên danh từ sau được gọi là Sai biệt. Cứ theo đó thì mục tiêu của Tự tính và Sai biệt là nêu rõ tác dụng phân loại giữa Thể và Nghĩa. c. Ngôn hứa đối: Ngôn chỉ cho ngôn trần, tức những điều được trình bày rõ ràng qua ngôn ngữ; Hứa chỉ cho ý hứa, tức những điều ý ngầm chấp nhận(chứ không nói rõ ra bằng lời). Nhưng đứng trên quan điểm tương đối giữa Tự tính và Sai biệt mà nói thì Ngôn trần là chỉ cho những điều mà lời nói trình bày và những điều mà ý ngầm chấp nhận đã nhất trí với nhau; còn Ýhứa là chỉ cho những điều mà lời nói trình bày và những điều mà ý ngầm chấp nhận không hoàn toàn nhất trí với nhau. Ngôn trần thì trong ngoài khớp nhau nên gọi là Tự tính; Ý hứa thì trong ngoài khác nhau nên gọi là Sai biệt. Bởi vì giữa Tự tính và Sai biệt được thành lập theo Ngôn hứa đối với Tự tính và Sai biệt được thành lập theo Thông cục đối và Tiên hậu đối, tên gọi tuy giống nhau nhưng ý nghĩa thì khác nhau. Tự tính nói trong Thông cục đối và Tiên hậu đối nhất định là Thể; Sai biệt nói trong Thông cục đối và Tiên hậu đối nhất định là Nghĩa; còn Tự tính nói trong Ngôn hứa đối thì có thể là Thể, mà cũng có thể là Nghĩa, Sai biệt nói trong Ngôn hứa đối có thể là Nghĩa, mà cũng có thể là Thể. Nếu điều được trình bày trong Thể nhất trí với Ý hứa thì Thể là Tự tính, nếu không nhất trí thì Thể là Sai biệt. Còn điều được nói trong Nghĩa không nhất trí với Ý hứa thì cố nhiên là Sai biệt, nhưng, nếu nhất trí thì Nghĩa cũng là Tự tính. 2. Hữu pháp và Pháp: Danh từ trước cũng gọi là Hữu pháp, danh từ sau cũng gọi là Pháp. Pháp có 2 nghĩa: 1. Năng trì tự thể(có công năng giữ gìn được tự thể của nó). 2. Quĩ sinh tha giải(cái khuôn phép khiến người khác nhìn thấy là hiểu được), phải có đủ 2 nghĩa trên mới được gọi là Pháp. Như trong mệnh đề âm thanh là vô thường thì âm thanh(danh từ trước) tuy giữ gìn được tự thân, nhưng không giới hạn được việc khác, không thể từ đó có được sự hiểu biết khác; còn vô thường(danh từ sau) thì chẳng những giữ gìn được tự thân vô thường, mà còn có thể giới hạn âm thanh (danh từ trước), giúp người ta nảy sinh hiểu biết mới(tức vô thường chẳng phải là thường trụ). Do đó, danh từ sau vừa có nghĩa trì lại đủ nghĩa quĩ, nên được gọi là Pháp. Còn âm thanh(danh từ trước) tuy không là Pháp nhưng lại có thuộc tính vô thường nên gọi là Hữu pháp. Theo đó có thể nói danh từ trước là năng hữu, danh từ sau là sở hữu. 3. Sở biệt và năng biệt: Danh từ trước cũng gọi là Sở biệt, danh từ sau cũng gọi là Năng biệt. Như trong mệnh đề âm thanh là vô thường thì dùng vô thường để bàn về âm thanh, nêu rõ âm thanh thuộc loại vô thường và khác với loại thường trụ, cho nên âm thanh là sở biệt, vô thường là năng biệt. Tên gọi này do suy diễn theo Tiên hậu đối của Tự tính và Sai biệt mà có, chia Sai biệt thành Năng và Sở để gọi là Nghĩa và Thể.
thệ bất thành chính giác
(誓不成正覺) Thề chẳng thành bậc Chính giác. Đức Phật A di đà khi còn là tỉ khưu Pháp tạng ở địa vị tu nhân, ngoài 48 nguyện, Ngài còn tự lập thệ rằng nếu các nguyện của Ngài không được đầy đủ thì Ngài sẽ không thành Phật. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 trung) nói: Ta lập nguyện hơn đời, Quyết đến Vô thượng đạo; Nếu nguyện này không đạt, Thề chẳng thành Chính giác. Ta trong vô lượng kiếp, Chẳng là đại thí chủ, Giúp khắp người nghèo khổ, Thề chẳng thành Chính giác. Đến khi ta thành Phật, Danh vang khắp mười phương, Nếu đâu không nghe được, Thề chẳng thành Chính giác.
thệ cung
1) Tên gọi cung điện của Phạm Vương và của con người: The transcient mansions of Brahma and of men. 2) Thiên cung: Cung điện của mặt trời, mặt trăng, và các vì sao—Astronomical mansions.
; (逝宮) I. Thệ Cung. Chỉ cho cung điện của Phạm thiên vương và cung điện của loài người, vì các cung này biến thiên dời đổi(thệ),chonên gọi là Thệ cung. Câu xá luận kí quyển 18 (Đại 41, 282 hạ) nói: Thệ cung là cung của Phạm vương, vì Phạm vương chấp trước cung này là thường, để đối trị chấp thường nên Phật gọi cung này là Phạm cung. Thệ nghĩa là vô thường. Lại Thệ cung là cung của loài người, vì cung của loài người rất mau hoại diệt nên gọi là Thệ cung. II. Thệ Cung. Cũng gọi Du hư không thiên. Thệ nghĩa là vận hành, chỉ cho cung điện của mặt trời, mặt trăng và các vì sao.
thệ hải minh sơn
To call the seas and mountains to witness—To swear by the seas and by the mountains.
thệ nguyện
Usitavrata (S), Prani (S)Thệ: đem lòng chí thành, cầu Phật chứng minh, quyết theo đuổi mục đích không thối bước. Nguyện: Trong lòng mong cầu đạt những chỗ quyết định của mình vì chúng sanh Xem Nguyện.
; Pranidhàna (S). Vow.
; To vow—To swear. 1) Phật tử chân thuần thệ nguyện từ Phật giáo mà sanh, hộ trì chánh pháp, chẳng để dứt Phật chủng, để sanh vào nhà như Lai cầu nhứt thiết trí—Devoted Buddhists should be issued from the realm of the Buddha-teaching, always accomplish the preservation of the Buddha-teaching, vow to sustain the lineage of Buddhas, be oriented toward rebirth in the family of Buddhas, and seek omniscient knowledge. 2) Bốn mươi tám lời thệ nguyện cứu độ chúng sanh của Đức Phật A Di Đà: The forty-eight vows of Amitabha to save all beings—See Tứ Thập Bát Nguyện.
; (誓願) Phạm: Praịidhàna. Pàli:Paịìdhàna. Khởi tâm mong cầu, tự ước thúc tâm mình, tức phát nguyện, lập thệ hoàn thành một việc gì đó. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 8 trung) nói: Xá lợi phất nên biết, ta vốn lập thệ nguyện, muốn tất cả chúng sinh, được như ta không khác. Bồ tát từ lúc mới phát khởi tâm bồ đề, cho đến khi thành tựu thì dừng mà không thành Phật, đó là vì thệ nguyện của vị ấy lập ra. Nguyện chung của Phật và Bồ tát, gọi là Tổng nguyện, tức chỉ cho 4 thệ nguyện rộng lớn, còn các nguyện riêng của mỗi đức Phật và Bồ tát thì gọi là Biệt nguyện, như 48 nguyện của Phật A di đà, 12 nguyện của Phật Dược sư, 10 đại nguyện của bồ tát Phổ hiền... đều thuộc Biệt nguyện. Tông Tịnh độ đặc biệt gọi bản nguyện của Phật A di đà là Thệ nguyện. Vì Ngài thệ nguyện cứu độ khắp cả chúng sinh nên gọi là Hoằng nguyện, Hoằng thệ; lại vì tâm nguyện của Ngài rất sâu nặng nên gọi là Trọng nguyện, cũng gọi Bất xả thệ ước, Bản thệ. Năng lực của thệ nguyện gọi là Thệ nguyện lực; tác dụng của thệ nguyện phàm phu không thể nghĩ bàn được, nên gọi là Thệ nguyện bất tư nghị. Về sự dị, đồng giữa Thệ và Nguyện, Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển hạ, phần đầu cho rằng tự ước thúc tâm mình gọi là Thệ, chí cầu đầy đủ gọi là Nguyện. Còn Thắng man bảo quật quyển thượng, phần cuối của ngài Cát tạng thì cho rằng Thệ và Nguyện có đồng, cũng có dị, về đồng thì giống như trí và tuệ, nhãn và mục; về dị ở ngay việc, lấy hành làm Thệ, như Thập thụ...; mong cầu điều chưa được là Nguyện như Tam nguyện... Bởi thế biết thệ nguyện phải kèm theo nghĩa yêu chế (tức chí cầu, ước thúc – tự chế tâm mình), chứ không phải chỉ phát nguyện mong cầu mà thôi. Như lời văn nguyện ủa mỗi nguyện trong 48 nguyện của Phật A di đà đều có 2 câu Nếu tôi thành Phật và Không thành chính giác, trong đó, Nếu tôi thành Phật tức là nghĩa phát nguyện mong cầu, còn Không thành Chính giác thì nghĩa là yêu chế .
thệ nguyện an lạc hành
(誓願安樂行) Cũng gọi Từ bi tiếp dẫn an lạc hành, Mộng trung thành tựu thần thông trí tuệ Phật đạoniết bàn an lạc hành. Hành thứtưtrong 4 hành an lạc. Bồ tát thương xót chúng sinh đối với Pháp hoa Nhất thừa không nghe, không biết, không hay, không hỏi, không tin, không hiểu, bèn tự thệ mong được vô thượngbồ đề, dùng năng lực thần thông, năng lực trí tuệ để dẫn dắt chúng sinh đi vào pháp này. Bồ tát phát thệ nguyện ấy rồi, an vui thực hành phápPháp hoa, gọi là Thệ nguyện an lạc hành.
thệ nguyện giác ngộ
Praṇidhāna-bodhichittot-pada (S), Aspirational mind of enlightenment.
thệ nguyện giữ giới hạnh
Prātimokṣa (P), vows, so sor tar pa (T).
thệ nguyện lực
(誓願力) Chỉ cho năng lực củađại thệ nguyện do đức Phật phát khởi khi tu hành ở đời quá khứ. Những năng lực công đức do quả vị Phật đạt được đều hoàn toàn do thệ nguyện ở Nhân vị quá khứ mà thành.
thệ nguyện nhất thừa
(誓願一乘) Cũng gọi Bản nguyện nhất thừa, Hoằng nguyện nhất thừa, Bi nguyện nhất thừa. Tông Tịnh độ lấy bản nguyện của đức Phật A di đà làmpháp nghĩacủa Nhất Phật thừa, mà cho tất cả pháp môn còn lại đều là phương tiện giả tạm, gọi là Thệ nguyện nhất thừa. Tức ngoài bảnnguyệncủa Phật A di đà ra, không thừa nhận có bất cứ pháp môn nào khác có thể sánh bằng. Nhất thừa tức là pháp môn duy nhất vận chuyển chúng sinhđếnĐạibồ đề. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 thượng) nói: Cứu cánh nhất thừa, đến bờ bên kia, nghĩa là pháp môn nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà là đại đạo vô thượng duy nhất, dùng đạo này cứu giúp muôn loài, cùng khế hợp Nhất Phật thừa.
thệ nguyện thứ mười bảy
Seventeenth Vow.
thệ ngôn
Vow—Oath—Swear.
thệ phù tập sinh
(誓扶習生) Cũng gọi Phù tập nhuận sinh. Dùng thệ nguyện nâng đỡ tập khí phiền não để thụ sinh. Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của giáo phán tông Thiên thai, thì Bồ tát Thông giáo địa thứ 9 trong Thập địa dùng năng lực thệ nguyện nâng đỡ tập khí của phiền não, thụ sinh trong 3 cõi, làm lợi ích cho chúng sinh để thành tựu hạnh lợi tha. Vì Dĩ biện địa thứ 7 trong Thập địa đã đoạn trừ hết sạch Kiến hoặc, Tư hoặc cho nên không thể thụ sinh trong 3 cõi 6 đường để cứu độ chúng sinh. Vì các phiền não Kiến, Tư đã bị dứt hết, chỉ còn lại tập khí, cho nên nay thêm năng lực thệ nguyện và năng lực từ bi tưới nhuần tập khí để được thụ sinh mà tự tại hóa độ, cho nên gọi là Thệ phù tập sinh. Nghĩa Lưu hoặc nhuận sinh của Bồ tát Sơ địa trở lên và Thất địa trở xuống trong tông Duy thức tương đưong với nghĩa này.
thệ sắt tra
Tên tháng từ 15 tháng 3 đến 15 tháng 4 âm lịch (vào khoảng tháng năm và tháng sáu)—The month Jyaistha (May-June), when the full moon is in the constellation Jyestha.
thệ sắt trá
(逝瑟吒) Phạm: Jyewỉha. Pàli:Jeỉỉha. Cũng gọi Nễ sắt tra, Tế sắt tra. Hán dịch: Mạnh hạ. Tên của tháng thứ 3 theo lịch Ấn độ,tương ứng với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 âm lịch của Trung quốc. Tháng này nhân lúc trăng tròn gặp ngay sao Tâm (Phạm: Jyewỉha, Thệ sắt tra) xuất hiện, cho nên tên của sao này được dùng để đặt tên cho tháng 3. Tháng này thuộc mùa Xuân trong 4mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; thuộc Xuân thời trong 5 thời Đông, Xuân, Vũ, Chung, Trưởng, là mùa nóng (Phạm: Grìwma) trong 3 mùa: Nóng, mưa, rét.
thệ thế
To pass away—To die.
thệ thủy
See Kim Cang Thủy.
; (誓水) Cũng gọi Kim cương thủy (Phạm: Vajrodaka), Kim cương thệ thủy. Chỉ cho thứ nước thơm mà hành giả Mật giáo uống lúc quán đính thụ giới Tam ma da, tiêu biểu cho thệ nguyện không lui sụt tâmbồ đề. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 630 thượng) nói: Lại điều chế nước thơm bằng cácchấtliệu uất kim, long não, chiên đàn... rồi đựng vào chiếc bình riêng, cũng gia trì chân ngôn vào, sau đó trao cho hành giả uống chút ít, đó gọi là Kim cương thủy. Nhờ bí mật gia trì nên trọng chướng địa ngục đều bị trừ diệt, trong ngoài đều thanh tịnh, xứng đáng là pháp khí. A xà lê nói: Đây chính là Thệ thủy, cũng là thuận theo thế đế, giống như pháp minh thệ(thề ước), tức là dạy hành giả phải uống nước thơm này và tự thệ với tâm mình ở trước tất cả thánh chúng, cốt cho họ không chuyển lui đại bồ đề nguyện. Khi cử hành Quán đính theo Thất nhật tác đàn pháp(phép lập đàn trong 7 ngày), thì vào ngày thứ 6 hoặc ngày thứ 7 trao giới Tam ma da và uống nước thơm này. Hiện nay phần nhiều cử hành trong một ngày, ban ngày trao giới Tam ma da, ban đêm cử hành Quán đính. Tức khi trao giới xong, vị A xà lê đưa cây tăm cho đệ tử để thử xem xét tài đức, sau đó thì cho uống nước này. Ngoài ra, nước quán đính đựng trong 5 chiếc bình là nước trí biểu trưng cho bản thệ của chư Phật nên cũng gọi là Thệ thủy.
thệ đa
Jeta or Jetr (skt)—Kẻ Chiến Thắng—Con trai vua Ba Tư Nặc của xứ Câu Tát La, là chủ trước đây của Thệ Đa Lâm (ngày thái tử chào đời cũng là ngày mà vua Ba Tư Nặc vừa chiến thắng địch quân, nên thái tử mang tên “Kẻ Chiến Thắng.”)—Victor—Son of king Prasenajit of Kosala, previous owner of the Jetavana. ** For more information, please see Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.
thệ đa lâm
Xem Kỳ Đà tinh xá.
; Jetavana (S)
; Jetavana (skt)—See Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.
thệ ước
Thề đính ước với ai—To swear and engage to.
thỉ
1) Mũi tên: An arrow. 2) Phân: Excrement.
thỉ chung
Beginning and end.
thỉ phẩn địa ngục
Địa ngục chứa đầy phân hôi thúi—The excrement hell.
thỉ thạch
Mũi tên và đá là hai thứ chống chọi lại với nhau vì tên không xuyên qua đá được—Arrow and rock are two incompatibles, for an arrow cannot pierce a rock.
; (矢石) Mũi tên bắn vào đá không thể xuyên qua, ví dụ 2 vật không cách nào dung hợp nhau. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 5, phần 3 (Đại 46, 298 trung) nói: Thỉ thạch là bắn mũi tên vào đá, tức hàm ý chẳng thể nào dung nhập, vì mỗi bên đều cố chấp riêng, không vào được lí viên dung.
thỉ xuy khánh huy
(矢吹慶輝) Vị tăng học giả thuộc tông Tịnh độ Nhật bản, người ở quận Tín phu, huyện Phúc đảo, thủa nhỏ tên là Thiển cát, hiệu Ôi khê.Năm lên 7 tuổi, sư thờ ngài Thỉ xuy Lương khánh ở chùa Vô năng làm thầy, được chọn làm đệ tử nối pháp, sau khi xuất gia đổi tên là Khánh huy. Sau, sư vào Đại học Đế quốc ở Đông kinh chuyên nghiên cứu tông giáo học. Lần lượt làm giảng sư Đại học Thiên thai tông, Giáo sư Đại học Tông giáo. Năm 1913, sư sang Hoa kì quan sát các sự nghiệp xã hội, sau đó, sư đến Âu châu điều tra các bản kinh chép tay xưa ở Đôn hoàng, 2 năm sau sư về nước. Vào tháng 7 năm 1923, sư công bố công trình Nghiên cứu Tam giai giáo, nhờ đó đạt học vị Tiến sĩ Văn học.Các tác phẩm của sư gồm có: Tịnh nghiệp từ huấn(soạn chung với Thế bản Giới tịnh), Nghiên cứu về đức Phật A di đà, Tư tưởng Phật giáo cận đại, Minh sa dư vận...
thỉ đảm tử
Gánh phân, ý nói thân nguời trong chứa đầy phân mà con người phải luôn gánh nó đi khắp nơi—A load of night-soil, i.e. the human body that has to be carried about.
; (屎擔子) Gã gánh phân. Chỉ cho hình hài con người. Vì hình hài là vật chứa đầy phẩn giải mà con người thường đeo mang. Lâm tế lục (Đại 47, 501 trung) nói:Này Đại đức! Ông mang túi đựng bát cùng gã gánh phân(Thỉ đảm tử)đến nhà bên cầu Phật, cầu pháp.
thỉnh
Mời một cách thành kính—To invite (request—ask) respectfully.
thỉnh an
Vấn an—To ask after someone's health.
thỉnh chiết
Hỏi hay yêu cầu—To ask for.
; (請折) Thỉnh nghĩa là nhận thức ăn; Chiết nghĩa là xả bỏ. Tức khi nhận thức ăn, đòi được nhiều hơn định lượng, đồngthời đổ bỏ thức ăn thừa thãi(quá lượng). Nhập chúng tu tri (Vạn tục 111, 475 thượng) nói: Tùy theo sức ăn của mình mà nhận vật thực để tránh việc nhận thức ăn dư rồi đổ bỏ(thỉnh chiết). Trong tùng lâm có qui định nghiêm khắc rõ ràng về phép thụ thực, không được thỉnh chiết(lấy nhiều và đổ bỏ thức ăn) là 1 trong các qui định ấy, ngoài ra còn có các pháp tới ăn, rửa bát... [X. Nhập chúng nhật dụng].
thỉnh chuyển pháp luân
(請轉法輪) Thỉnh quay bánh xe pháp, nguyện thứ 6 trong 10 đại nguyện của bồ tát Phổ hiền. Tức chỉ cho nguyện khuyến thỉnh chư Phật thuyết pháp. Nghĩa là bồ tát Phổ hiền dùng các phương tiện của 3 nghiệp thân, khẩu, ý, ân cần khuyến thỉnh hết thảy chư Phật quay bánh xe diệu pháp. Phẩm Phổ hiền hành nguyện, kinh Hoa nghiêm (Đại 10, 485 trung) ghi: Thỉnh chuyển pháp luân, (...) tôi thường khuyến thỉnh hết thảy chư Phật quay bánh xe chính pháp, không có cùng tận, niệm niệm nối nhau, không có gián đoạn, nghiệp thân ngữ ý, không hề mỏimệt. (xt. Chuyển Pháp Luân).
thỉnh chủ táng
(請主喪) Mời người làm chủ tang. Trong tùng lâm, khi có vị tăng thị tịch, thường thỉnh bậc Đạo sư hoặc vị lão thành có đức làm chủ lễ tang, gọi làThỉnh chủ tang. Điều Thỉnh chủ tang trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1127 hạ) nói: Thỉnh chủ tang, khi chủ tang đến, đánh chuông lớn, họp chúng đứng đón ở cửa.
thỉnh chức
(請職) Chỉ cho việc mời nhân sự và sắp xếp, phân phối các chức vụ trong Thiền viện tùng lâm. Thông thường cử hành 2 lần trong năm vào 2 đầu kì là ngày 16 tháng giêng và 16 tháng 7 âm lịch. Theo các chức vụ được đặt ra trong tùng lâm, có thể chia làm 2 loại là Tự chức và Liệt chức: -Tự chức là theo tuổi tác và đức hạnh của cá nhân mà xếp đặt chức vụ; chức vụ này có tính chất lâu dài, không cần theo nhiệm kì xin từ rồi tái cử. -Liệt chức thì cứ 6 tháng là 1 nhiệm kì, mỗi năm chia làm 2 nhiệm kì, đầu kì của mỗi kì là ngày 16 tháng giêng và 16 tháng 7 âm lịch.Bảy ngày cuối cùng của mỗi nhiệm kì, các chức vụ y theo lệ xin từ Liệt chức để đợi nhận lãnh chức vụ trong nhiệm kì tới. Nửa tháng trước khi bắt đầu 1 nhiệm kì, vịKhách đường ghi tên những người mới đến tùng lâm (nếu có) và trụ chúng cũ trình lên Phương trượng (Trụ trì) tra duyệt, vài ngày trước khi nhiệm kì mới bắt đầu, vị Phương trượng triệu tập các vị Đầu thủ Khách đường,Thiều đường, Khố phòng... để cùng bàn việc phân phối công tác cho các chức vị. Đợi đến ngày nhiệm kì chính thức bắt đầu, vị Phương trượng công bố tên các chứcsựmới được thỉnh cử, đồng thời giảng thanh qui. Các chức sự mới được thỉnh cử phải đến Pháp đường yết kiến Phương trượng, rồi đến Thiền đường lễ 10 phương, sau đó theo các chức vụ mà thi hành. [X. Cận thế Trung quốc Phật giáo chế độ (Duy từ); điều Thanh qui trong Trung quốc Phật giáo nghi quĩ chế độ; Phật giáo nghi thức tu tri(Tuệ chu)]. (xt. Thiền Lâm Chức Vị).
thỉnh cầu
To ask—To request.
thỉnh giáo
To ask for (religious) advice.
thỉnh giáo nơi thiện hữu tri thức
Seeking guidance from spiritual advisors.
thỉnh giả
Tạm Giả—Xin phép nghỉ hay xin phép đi ra ngoài—To ask for leave of absence or permission to go out.
; (請假) Cũng gọi Thỉnh hạ, Tạm giả, Tạm hạ. Giả là mượn ngày làm việc chung để lo việc riêng; Thỉnh giả nghĩa là tạm thời được phép ra ngoài làm việc riêng. Sau thỉnh giả, trở về Tăng đường, gọi là Tham giả, Tham hạ. Theo qui định xưa, thời hạn Thỉnh giả là 15 ngày, quá thời hạn này thì người khởi đơn(Tức người rời bỏ Thiền viện, tùng lâm), về sau, khởi đơn được chuyển đổi làm tạm hạ.Điều Du phương tham thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1140 hạ) nói: Hoặc có việc ra vào, phải giữ phép của Tăng đường, nửa tháng mới được thỉnh giả. (...) Nếu người có việc khẩn cấp như sư trưởng, cha mẹ bệnh nặng, qua đời thì không bị chi phối bởi qui định này. Điều Niên trung hành sự trong Oánh sơn thanh qui quyển hạ (Đại 82, 447 hạ) nói: Người không thỉnh hạ mà khởi đơn (không xin phép mà ra khỏi Thiền viện) thì không được tái tham hạ(tức không được trở lại); vì người đã khinh thường qui luật thì không được nhập chúng. [X.điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thỉnh giới sư
(請戒師) Thỉnh Giới sư vào đạo tràng truyền trao giới pháp. Phép lễ thỉnhGiới sư như sau: Vị Duy na đến Phưong trượng, trải tọa cụ, lễ 3 lễ thỉnh Giới sư, Giới sư không lễ đáp lại; xong rồi, vị Duy na lại dẫn thỉnh, sau khi đánh 7 tiếng chuông, Giới sư tiến vào điện nhìn thẳng, vị Duy na lui ra khoảng 8 thước (hơn 3 mét), hướng về phía bắc cúi đầu, vị Thị giả theo sau Duy na vào điện, đứng theo vị trí qui định. Khi Giới sư ở giữa thăm hỏi, chúng tăng phải cúi đầu. [X.điều Lược bố tát tác pháp khảo đính trong Tăng đường thanh qui biệt lục Q.3].
thỉnh khách
To invite guests.
thỉnh khách thị giả
(請客侍者) Chỉ cho chức vụ phụ trách việc tiếp đãi tân khách, 1 trong 5 vị Thị giả phụ tá Trụ trì trong Thiền lâm, 1 trong 3 Thị giả lớn trong sơn môn. Điều Tây tự đầu thủ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1131 hạ) nói: Phàm các việc của vị Trụ trì như đón tiếp tân khách, khoản đãi các bậc tôn túc, hoặc hành lễ trong các tiết lạp đặc biệt... đều do Thỉnh khách thị giả phụ tá. Năm thị giả của vị Trụ trì gồm: Thiêu hương thị giả, Thư trạng thị giả, Thỉnh khách thị giả, Y bát thị giả và Thang dược thị giả. Còn 3 thị giả lớn trong sơn môn thì gồm: Thiêu hương thị giả, Thư trạng thị giả và Thỉnh khách thị giả. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Thị Giả).
thỉnh lai mục lục
(請來目錄) Cũng gọi Tương lai mục lục, Tương lai lục, Thỉnh lai lục. Loại mục lục này chuyên biên tập danh mục của các kinh luật luận, chương sớ, pháp cụ... do các bậc cao tăng đến nước ngoài cầu pháp thỉnh về. Thỉnh lai nghĩa là thỉnh ích đem về. Trong Đại đường tây vực kí quyển 10, ngài Huyền trang có nói đến tượng Phật, kinh luận... do ngài thỉnhđược từ Ấn độ đem về như: 150 viên xá lợi nhục thân của Phật, 1 pho tượng Phật bằng vàng và 13 bộ Thanh luận, gồm 520 cặp, tổng cộng 657 bộ. Còn ở Nhật bản thì từ triều đại Nại lương (Nara) về trước đã có nhiều vị tăng đến Trung quốc cầu pháp, như các ngài Đạo chiêu, Đạo từ, Huyền phưởng... và đem về rất nhiều kinh luận, nhưng không truyền mục lục. Từ sau thời đại Nại lương trở đi thì Thỉnh lai mục lục được rất nhiều người biết đến, như Cầu pháp mục lục của 8 vị tăng đến Trung quốc (đờiĐường) là các ngài: Tối trừng ở Duệ sơn, Không hải ở Đông tự, Thường hiểu ở Tiểu lật thê, Viên hạnh ở chùa Linh nham, Viên nhân ở Duệ sơn, Huệ vận ở chùa An tường, Viên trân ở Duệ sơn và Tông duệ ở Thiền lâm, gọi là Bát gia thỉnh lai lục. Trong đó, Thỉnh lai lục của ngài Tối trừng có 2 loại: Một là Truyền giáo đại sư tương lai Thai châu lục; hai là Truyền giáo đại sư tương lai Việt châu lục.
thỉnh mời
To invite respectfully.
thỉnh nguyện
To demand—To request—To ask.
thỉnh phật
To invite a Buddha.
thỉnh phật chuyển pháp
To request the Buddha to turn the dharma wheel—Đây là hạnh nguyện thứ sáu trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Thỉnh Phật chuyển Pháp (thuyết pháp) là đem ba nghiệp thanh tịnh thân khẩu ý thỉnh chư Phật nói pháp nhiệm mầu nhằm giúp giác ngộ chúng sanh—This is the sixth of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. To request the Buddhas to turn the dharma wheel means using all manner of skillful means of body, mouth and mind, we sincerely and diligently request that all Buddhas turn the wonderful dharma wheel to enlighten sentient beings.
thỉnh phật trụ thế
To request the Buddha to remain in the world—Đây là hạnh nguyện thứ bảy trong Phổ Hiền Thập Hạnh nguyện. Thỉnh Phật trụ thế là thỉnh xin chư Phật ở lại đời trải qua vô lượng kiếp vì lợi lạc của chúng sanh—This is the seventh of the ten conducts and vows of Universal Worthy Bodhisattva. To request the Buddha to remain in the world means to request the Buddhas to remain in the world for as many kalpas to continue to bring benefits and bliss to all living creatures.
thỉnh quan âm kinh
(請觀音經) Cũng gọi Thỉnh Quán thế âm kinh, Thỉnh Quán thế âm tiêu phục độc hại đà lanikinh, Thỉnh Quán thế âmbồ tát tiêu phục độc hại đà la ni kinh, Tiêu phục độc hại đà la ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc nan đề dịch vào đời ĐôngTấn, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này thuật lại việcbồ tát Quán thế âm giải trừ tật bệnh khốn ách cho dân chúng nước Tì xá li, dạy họ xưng niệm Tam bảo và danh hiệu của chính Ngài, đồng thời nói các thần chú như: Thập phương chư Phật cứu hộ chúng sinh thần chú, Phá ác nghiệp chướng tiêu phục độc hại đà la ni chú...Kế đó, đức Phật giảng nói về công đứccủadanh hiệubồ tát Quán thế âm và công đức của đà la ni, đồng thời tuyên thuyết về Đại cát tường lục tự chương cú cứu khổ thần chú và Quán đính cát tường đà la ni, Phật lại nói cho ngài Xá lợi nghe về nguồn gốc và công đức của các thần chú này. Kinh này từ xưa vốn được tông Thiên thai coi trọng. Nghi thức thỉnhbồ tát Quán thế âm và pháp sám Quán thế âm được thực hành lúc sám hối, cũng đều y cứ theo kinh này. Ngoài ra, Thỉnh Quán thế âm kinh sớ, 1 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy, rồi Ma ha chỉ quán quyển 2 thượng thì y cứ theo kinh này mà nói rõvề tướng của tam muội Phi hành phi tọa, còn Quốc thanh bách lục quyển 1 cũng thuyết minh về pháp sám Quán âm, đến cả Thỉnh Quán thế âmbồ tát tiêu phục độc hại đà la ni tam muội 1 quyển, do ngài Tuân thức soạn vào đời Tống, cũng là hành nghi nói về pháp sám Quán âm. Về niên đại phiên dịch và dịch giả của kinhnày thì có 3 thuyết khác nhau: Thứ nhất: Khai nguyên thích giáo lục cho kinh này được dịch vào niên hiệu Nguyên hi năm đầu (419) đời Đông tấn. Nhưng không thấy nói về dịch giả. Thứ hai: Pháp kinh lục và Nhân thọ lục nói kinh này do ngài Trúc nan đề dịch vào thời Lưu Tống (420-479) thuộc Nam triều. Thứ ba: Xuất tam tạng kí tập thì ghi dịch giả kinh này không được rõ. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Pháp kinh lục Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; Đại đường nội điển lục Q.3; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2].
thỉnh quan âm pháp
(請觀音法) Cũng gọi Dương chi tịnh thủy pháp. Bí pháp y cứ theo kinh Thỉnh Quán âm mà tu để tiêu trừ tật bệnh. Khi tu pháp này phải có đủ 2 thứ là dương chi (cành dương liễu)và tịnh thủy(nước sạch); dương chi thì sinh động, dùng để tượng trưng cho Tuệ, còn tịnh thủy thì lắng trong, dùng để tượng trưng cho Định. [X.kinh Thỉnh Quán thế âmbồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú;Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2].
thỉnh thoảng
Sometimes—At times—From time to time—Now and then—On and off (off and on).
thỉnh thần
(請神) Một loại nghi thức tông giáo. Tức y theo một nghi tắc nhất định, cung thỉnh thần linh giáng lâm, nghe những lời cầu xin, thăm hỏi và chúc mừng của người thỉnh. Phần nhiều nghi thức này do một vị Tế tư chuyên nghiệp chủ trì.
thỉnh vũ
Cầu Mưa—To pray for rain.
thỉnh vũ kinh
Xem Đại Van luân Thỉnh vũ Kinh.
thỉnh vũ pháp
(請雨法) Cũng gọi Kì vũ pháp. Khất vũ pháp. Pháp cầu mưa. Đặc biệt chỉ cho pháp tu y theo kinh Thỉnh vũ, vì thế cũng gọi là Thỉnh vũ kinh pháp. Tức là pháp tu cầu mưa cho ngũ cốc xanh tốt nói trong kinh Đại vân luân thỉnh vũ và kinh Đại khổng tước chú vương. Đây là pháp tu dựa theo các kinh và nghi quĩ của Mật giáo. Pháp hội được cử hành ở bên bờ ao, bờ suối, chung quanh vây màn màu xanh, bên trong màn lập đàn, cử hành đúng như pháp. Mạn đồ la trong pháp tu này vẽ hình Long vương... chính giữa là Phật Thích ca, gọi là Thỉnh vũ kinh mạn đồ la. Pháp Thỉnh vũ từ xưa được cử hành ở Ấn độ, ngài Trúc pháp hộ đời Tây Tấn từng dịch kinh Hải long vương 4 quyển. Còn điều Ca tất thí quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 1 nói rằng: Trên đỉnh núi Đại tuyết có 1 cái ao, ở đó cầu mưa, cầu tạnh mưa, đều được linh ứng.ỞTrung quốc sớm đã truyền thừa pháp này, như truyện ngài Phật đồ trừng trong Lương cao tăng truyện quyển 9 ghi rằng, trong năm Kiến vũ đời Hậu triệu, Thạch hổ thỉnh ngài Phật đồ trừng cầu mưa, ngày hôm ấy, cả một vùng rộng vài nghìn dặm đều có mưa lớn. Lại theo truyện ngài Kim cương trí trong Tống cao tăng truyện quyển 1 thì vào năm Khai nguyên thứ 7 (719), suốt từ tháng giêng đến tháng 5 trời không mưa, nhà vua thỉnh ngài Kim cương trí cầu mưa, ngài liền y theo pháp Bất không câu bồ tát lập đàn, vẽ tượng bồ tát Thất câu chi để cầu mưa, quả nhiên đến chiều ngày thứ 7 thì mưa trút xuống như thác đổ, xa gần đều kinh ngạc. Còn truyện ngài Thiện vô úy trong Tống cao tăng truyện quyển 2 cũng ghi việc ngài Thiện vô úy vâng sắc cầu mưa. Ngoài ra, như Đại đường cố đại đức tặng Tư không đại biện chính Quảng trí bất không tam tạng hành trạng, Pháp uyển châu lâm quyển 60... cũng có ghi chép việc cầu mưa. Nhìn chung những điều đã nói ở trên thì ta biết ở Ấn độ, Trung quốc từ xưa, việc cầu mưa đã thịnh hành. Ở Nhật bản thì pháp Thỉnh vũ lấy pháp kinh Thỉnh vũ và pháp kinh Khổng tước làm chính. Năm Suy cổ Thiên hoàng 33 (625), vị tăng Cao li tên là Tuệ quán đã tu pháp cầu mưa, đó là lần tu pháp Thỉnh vũ đầu tiên ở Nhật bản.[X. kinh Đại vân luân thỉnh vũ Q.thượng; phẩm Thỉnh vũ trong kinh Đại phương đẳng đại vân; Đại vân kinh kì vũ đàn pháp; Đà la ni tạp tập Q.5; kinh Đại khổng tước chú vương Q.thượng; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].
Thỉnh ích
(請益): có ba nghĩa chính:(1) Thỉnh cầu thầy giảng lại một đoạn văn hay một chương nào đó. Như trong Lễ Ký (禮記), phần Khúc Lễ (曲禮) có câu: “Thỉnh nghiệp tắc khởi, thỉnh ích tắc khởi (請業則起、請益則起, thỉnh cầu dạy thì phải đứng dậy, thỉnh cầu giảng lại cũng phải đứng dậy).” Hay trong Đường Quốc Sử Bổ (唐國史補) quyển Hạ của Lý Triệu (李肇, ?-?) nhà Đường có đoạn: “Hàn Dũ dẫn trí hậu tấn, vi cầu khoa đệ, đa hữu đầu thư thỉnh ích giả, thời nhân vị chi Hàn môn đệ tử (韓愈引致後進、爲求科第、多有投書請益者、時人謂之韓門弟子, Hàn Dũ hết mình hướng dẫn lớp đi sau, để cầu thi đỗ, có nhiều người đem sách đến xin giảng cho một đoạn, người đương thời gọi họ là môn đệ của Hàn Dũ).” (2) Thỉnh cầu thêm nữa. (3) Trong Thiền lâm, phần lớn học trò sau khi thọ giáo xong, vẫn có chỗ chưa rõ ràng, thấu triệt, nên lại đến cầu xin thầy chỉ giáo cho lần nữa; đó gọi là thỉnh ích. Về nguyên tắc thỉnh ích, trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 6, phần Thỉnh Ích có giải thích rõ rằng: “Phàm dục thỉnh ích giả, tiên bẩm Thị Giả, thông phú Trú Trì: 'Mỗ giáp Thượng Tọa kim vãn dục nghệ Phương Trượng thỉnh ích.' Như duẫn sở thỉnh, định chung hậu nghệ Thị Ty, hầu Phương Trượng bỉnh chúc trang hương, Thị Giả dẫn nhập Trú Trì tiền vấn tấn sáp hương, đại triển cửu bái, thâu Tọa Cụ tấn vân: 'Mỗ vi sanh tử sự đại, vô thường tấn tốc, phục vọng Hòa Thượng từ bi phương tiện khai thị.' Túc cung trắc lập đế thính thùy hối tất, tấn tiền sáp hương, đại triển cửu bái, vị chi tạ nhân duyên, tắc miễn xúc lễ, thứ nghệ thị ty Trí Tạ (凡欲請益者、先稟侍者、通覆住持、某甲上座今晚欲詣方丈請益、如允所請、定鍾後詣侍司、候方丈秉燭裝香、侍者引入住持前問訊插香、大展九拜、收坐具進云、某爲生死事大、無常迅速、伏望和尚慈悲方便開示、肅恭側立諦聽垂誨畢、進前插香、大展九拜、謂之謝因緣、免則觸禮、次詣侍司致謝, phàm có người xin chỉ giáo, trước thưa với Thị Giả để thông qua trước với vị Trú Trì rằng: 'Có Thượng Tọa … chiều nay muốn đến gặp Phương Trượng để xin thỉnh giáo.' Như được chấp thuận lời thỉnh cầu, sau khi cử chuông xong thì đến gặp người hầu cận, hầu Phương Trượng cầm đuốc dâng hương; Thị Giả dẫn vào trước mặt vị Trú Trì thưa hỏi, cắm hương lên, rồi lạy xuống chín lạy, gấp Tọa Cụ lại và thưa rằng: 'Con vì sanh tử chuyện lớn, vô thường chóng qua, cúi mong Hòa Thượng từ bi phương tiện khai thị.' Xong cung kính đứng qua một bên lắng nghe lời dạy xong, tiến về phía trước cắm hương, lạy xuống chín lạy, đó gọi là lạy nhân duyên; nếu được miễn thì chỉ vái thôi, tiếp theo đến gặp người hầu cận tạ lễ).” Cho nên, quy tắc thỉnh ích rất nghiêm cẩn. Trong các Ngữ Lục của Thiền Tông thường thấy xuất hiện rất nhiều ký lục liên quan đến việc thỉnh ích. Như trong Tục Chỉ Nguyệt Lục (續指月錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1579) quyển 4 có đoạn: “Lâm An Kính Sơn Vô Chuẩn Sư Phạm Thiền Sư, sanh ư Thục chi Tử Đồng Ung thị, cửu tuế xuất gia, trường du Thành Đô chi tọa hạ, thỉnh ích Tọa Thiền chi pháp ư lão túc Nghiêu Thủ Tòa (臨安徑山無準師範禪師、生於蜀之梓潼雍氏、九歲出家、長遊成都坐夏、請益坐禪之法於老宿堯首座, Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm ở Kính Sơn, Lâm An, sanh ra trong nhà họ Ung ở Tử Đồng nước Thục, năm 9 tuổi xuất gia, giao du thân mật với chư vị tăng An Cư Kiết Hạ ở Thành Đô, thỉnh giáo pháp môn Tọa Thiền với bậc lão túc Nghiêu Thủ Tòa).” Hay trong Vân Cốc Hòa Thượng Ngữ Lục (雲谷和尚語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1454) quyển Hạ có câu: “Tài đáo nhất sở tại, tu thị tiên thỉnh ích nhân duyên, phương hứa nhập thất (纔到一所在、須是先請益因緣、方許入室, mới đến một nơi nào, trước nên xin chỉ giáo nhân duyên, mới cho vào thất).”
thỉnh ích
Yêu cầu tăng thêm—To ask for an increase (for more or for advancement).
; (請益) Người học xin thầy chỉ dạy. Vốn là tiếng dùng trong sách Lễ kí, Luận ngữ của Nho gia. Lễ kí ghi: Thỉnh nghiệp thì đứng dậy, thỉnh ích thì đứng dậy. Trong Thiền lâm, thông thường, người học sau khi thụ giáo, đối với những điều chưa được thấu triệt rõ ràng, lại xin thầy chỉ dạy thêm, gọi là Thỉnh ích. Về phépThỉnh ích có qui định rõ ràng, tỉ mỉ. Điều Thỉnh ích, chương Đại chúng trong Sắc tuBách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1143 hạ) nói: Hễ người muốn thỉnh ích thì trước nên nhờ vị Thị giả thưa với vị Trụ trì: Tối nay, có Thượng tọa tên là...muốn đến Phương trượng thỉnh ích. Nếu được chấp thuận thì sau khi đánh chuông, vị ấy đến Thị ti, đợi Phương trượng đốt đèn, thắp hương, Thị giả dẫn vị ấy vào trước vị Trụ trì thăm hỏi, cắm hương, trải tọa cụ, lạy 9 lạy, sau đó, xếp tọa cụ, bước lên thưa rằng: Con vì việc lớn sinh tử, vô thường nhanh chóng, cúi mong Hòa thượng từ bi phương tiện chỉ dạy. Thưa xong, cung kính đứng ra 1 bên lắng nghe lời khai thị, nghe xong, bước lên cắm hương, trải tọa cụ lạy 9 lạy, gọi là Tạ nhân duyên, nếu được miễn thì chỉ váitạ, sau đó đến Thị ti để cám ơn. Điều này cho ta thấy nghi thức, qui củ của Thiền lâm rất trang nghiêm. Ngoài ra, Nhật bản xưa nay đã có nhiều vị tăng đến Trung quốc thỉnh giáo các bậc danh đức, gọi là Nhập Đường thỉnh ích. Theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 1 của Ngài Viên nhân thì Thỉnh ích Pháp sư và các lưu học tăng cùng nghỉ đêm ở một chỗ. [X. môn Tham thỉnh trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Thỉnh Ích Lục
(請益錄, Shinekiroku): 2 quyển, có bài tụng cổ của Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺), lời bình xướng của Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀), san hành vào năm thứ 35 (1607) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆) nhà Minh. Nguyên văn là Vạn Tùng Lão Nhân Bình Xướng Thiên Đồng Giác Hòa Thượng Niêm Cổ Thỉnh Ích Lục (萬松老人評唱天童覺和尚拈古請益錄, Manshōrōjinhyōshōtendōkakuoshōnenkoshinekiroku). Đây là tập thâu lục 99 tắc công án, Vạn Tùng Hành Tú thêm vào niêm đề các Cổ Tắc Công Án của Chánh Giác những trước ngữ và lời bình xướng. Hình thức và nội dung của nó cũng giống như Tùng Dung Lục (從容錄). Điểm khác với Tùng Dung Lục là không có bài tụng và dạy chúng đối với mỗi tắc. Dưới thời nhà Tống không thấy có san hành, nhưng vào năm thứ 35 niên hiệu Vạn Lịch, Giác Hư Tánh Nhất (覺虛性一) hiệu đính và Sanh Sanh Đạo Nhân Từ Lâm (生生道人徐琳) cho san hành.
thỉnh ích lục
(請益錄) Gọi đủ: Vạn tùng lão nhân bình xướng Thiên đồng Giác hòa thượng niêm cổ thỉnh ích lục. Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Chính giác đời Tống niêm cổ, ngài Hành tú đời Nguyên bình xướng, được thu vào Vạn tục tạng tập 117.Cứ theo bản Tục tạng thì ở đầu sách là bài tựa của Vạn tùng lão nhân bình xướng Thiên đồngGiác hòathượng niêm cổ thỉnh ích lục và tên sách, đồng thời cóphụthêm bài tựa của chính tác giả soạn vào ngày 28 tháng 9 năm Thiệu định thứ 3 (1280) đời Nam Tống và bài tựa của Thiếu thất hậu tham Giác hư Tính nhất soạn vào tháng 11 năm Vạn lịch thứ 35 (1607) đời Minh. Kế đó là mục lục 99 tắc Cổ tắc công án. Quyển thượng thu chép 50 tắc, sau đó là phần âm nghĩa của Thỉnh ích lục quyển thượng; Quyển hạ chép từ tắc 51 đến tắc 99, cuối sách thu chép phần âm nghĩa của Thỉnh ích lục quyển hạ. Chín mươi chín tắc Cổ tắc được liệt kê như sau: Văn thù quá hạ, Ngọa luân kĩ lưỡng, Bách trượng thướng đường, Nam tuyền viên tướng, Đông sơn tôn quí, Pháp đăng khai đường, Hương nghiêm thướng đường, Phong nguyệt li vi, Huyền sa quá hoạn, Liên hoa bất trụ, Tuyết phong phạn la, Trí môn liên hoa, Vân cái vạn hộ, Mục châu tại ngã, Pháp nhãn Như lai, Mã tổ viên tướng, Quảng đức linh lợi, Tuyết phong phổ thỉnh, Tiệm nguyên quyển liêm, Bảo phúc quang cảnh, Càn phong tam bệnh, Qui sơn vấn ngưỡng, Triệu châu hữu vô, Lâm tế tân chủ, Động sơn tân chủ, Vân môn Phật pháp, Qui ngưỡng trích trà, Lăng nghiêm suy tâm, Trường khánh hữu vọng, Thạch sương xuất thế, Tuyết phong cổ giản, Quốc sư thị giả, Thiều sơn thị phi, Lâm tế họa sự, Động sơn thể Phật, Tu sơn phàm phu, Thạch thê vấn khứ, Pháp nhãn thanh sắc, Giáp sơn mục tiền, Triều châu bả định, Linh vân lộ trụ, Thạch củng cung tiễn, Vân môn pháp thân, Tào sơn phụ tử, Bạch thủy sa thủy, Tham đồng hồi hỗ, Ba tiêu trụ trượng, Hương nghiêm khô thủy, Tam tạng tha tâm, Lục cắng tọa ngọa. Trở lên là quyển thượng, sau đây là quyển hạ: Văn thù xuất định, Tuyết phong cổ kính, Trường khánh thị chúng, Bàn sơn tâm Phật, Kim phong phân viện, Tào sơn xuất thế, Vân môn vô trệ, Càn phong nhất nhị, Nham đầu từ sơn, Nam tuyền thủy cổ, Hoàng bá vấn sự, Ngưỡng sơn vấn tăng, Tam thánh phùng nhân, Thanh minh huyền sa,Trường sa chuyển vật, Quán khê nhị thược, Tăng vấn mục châu, Nam viên phủ chưởng, Vân môn tiền hậu, Thọ thánh điếu chùy, Tào sơn tử miêu, Đại từ thức bệnh, Tuyết phong tam hạ, Vân nham thạch thất, Nam tuyền ngọa nguyệt, Huyền sa vô phùng tháp, Cổ đức đạo tràng, Long nha ô qui, Khâm sơn tam quan, Triệu châu đấu liệt, Huyền sa tam bệnh, Đại từ hợp bạn, Tăng vấn thạch sương, Tam bình kiến văn, Đại tùy Phổ hiền, Huyền sa viên tướng, Tuyết đậu sa thủy, Mật sư bả châm, Trần tháo khám tăng, Tuyết phong đào mễ, Ba tiêu hảo ố, Đại từ hành thuyết, Thủy lạo đại ngộ, Cổ đức pháp thân, Bố đại Di lặc, Triệu châu giản trạch, Mục châu mao đoan, Nam tuyền chí trang, Động sơn bát đại. Bộ lục này được ngài Giác hư Tính nhất kiểm xét, sửa chữa lại vào năm Vạn lịch 35 (1607) đời Minh và do Sinh sinh khắc bản ấn hành. Sách này không có chú sớ. [X. Thiền tịch mục lục; Thiền học tư tưởng sử Q.hạ (Hốt hoạt cốc khoái thiên].
Thị
是; C: shì; J: ze; |1. Phải, đúng; 2. Đây, nầy (此); 3. Là; chính là (hệ từ); 4. Đúng là. Thích đáng, thích hợp hoàn toàn; 4. Chính là đây; 5. Hoàn hảo.
thị
To indicate, notify, proclaim.
; 1) Là—Đúng: To be—Right. 2) Là: The verb to be, i.e. is, are, was, were, etc. 3) Chợ hay nơi hội họp công cộng: A market—A fair—An open place for public assembly. 4) Mê: To be fond of—Given up to. 5) Nhìn thấy: To look—To see—To behold. 6) Thông báo: To indicate—To notify—To proclaim. 7) Trông coi: To attend—To wait on—Attendant.
thị chân
(侍真) Cũng gọi Thị chân thị giả. Chỉ cho vị tăng chuyên trôngcoi, giữ gìn các tháp Tổ trongtùng lâm, cũng tức chức Tháp chủ. Chân nghĩa là tranh, tượng của Tổ sư. Ngoài ra, vị tăng chuyên trách về nghi thức tống táng các bậc tôn túc cũng gọi là Thị chân thị giả. Người đứng giữ gìn bên cạnh linh cữu, gọi là Thị linh. Phòng ở của vị Thị chân gọi là Thị chân liêu. Còn chức vụ trông coi việc dâng lễ vật cúng dường ở Khai sơn đường(tòa nhà thờ tranh, tượng hoặc bài vịcủaTổ sư khai sơn), thì gọi là Cúng chân.
thị chúng
(示衆) Cũng gọi Thùy ngữ, Thùy thị. Thiền sư khai thị(mở bày)tông yếu cho đại chúng. Phẩm Định tuệ trong Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 352 hạ) ghi: Sư thị chúng rằng: Này thiện tri thức! Pháp môn của ta lấy định tuệ làm gốc. Trong các kinh lục của Thiền tông thì Lục tổ đàn kinh là bộ kinh đầu tiên dùng từ ngữ Thị chúng.
thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt
There is no appearance and disappearance of real dharmas—Real dharmas are bare manifestations. They neither appear nor disappear.
thị cảm
Visual sensation.
Thị cố
是故; C: shìgù; J: shiko, zeko, konoyueni; |1. Cho nên, như vậy; 2. Vì lí do nầy, vì việc nầy.
Thị cố 是故
[ja] ゼコ shiko, zeko, konoyueni ||| (1) Therefore, so; for this (that) reason. Because of this. => 1. Cho nên, như vậy; Vì lý do nầy, vì việc nầy.
thị diễn đắc ca
Jetaka (skt)—Sa Đa Bà Hán Na—Sadvahana (skt)—Quốc vương của xứ Nam Kosala—A king of southern Kosala, patron of Nagarjuna.
thị dục
To desire.
thị giác
1) Vision. 2) Initial enlightenment.
thị giáo
To point out and instruct.
; To point out and instruct.
thị giáo lợi hỉ
(示教利喜) Cũng gọi Thị giáo tán hỉ, Thị giáo chiếu hỉ. Thị, giáo, lợi, hỉ là 4 việc theo thứ tự thuyếtpháp, giáo hóa của đức Phật. 1. Thị: Hiển bày, tức chỉ bày cho người ta thấy việc thiện, bất thiện, việc nào nên làm, việc nào không nên làm, hoặc phân biệt các ý nghĩa sinh tử và niết bàn, 3 Thừa và 6 Ba la mật. 2. Giáo: Dạy bảo dắt dẫn thực hành, như dạy bảo chúng sinh bỏ ác làm thiện. 3. Lợi: Đạt được lợi ích, tức khi chúng sinh chưa được mùi vị thiện pháp, sợ họ thoái tâm nên khuyên bảo họ siêng năng khổ hạnh tu hành để đạt được lợi ích lớn về pháp vị. 4. Hỉ: Vui mừng khi thành tựu, nghĩa là chúng sinh đã thành tựu các hạnh lành thì khen ngợi khiến họ sinh tâm vui mừng. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển hạ, phần đầu (Đại 44, 272 trung) nói: Khởi tâm chán khổ, tin có Niết bàn, tu tập thiện căn; do tu thiện căn thành thục mà được gặp thị giáo lợi hỉ của chư Phật và Bồ tát, nhờ đó có thể hướng tới đạo Niết bàn. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ quyển hạ, phần đầu của ngài Tịnh ảnh có nêu ra 2 thuyết phối hợp Thị giáo lợi hỉ với Tứ đế và Tam chuyển pháp luân: 1. Thị tương đương với Thị chuyển, giáo tương đương với khuyến chuyển, lợi, hỉ tương đương với Chứng chuyển. 2. Thị tương đương với Thị khổ, giáo tương đương với Đoạn tập, lợi tương đương với Tu đạo và hỉ tương đương với Chứng diệt.
Thị giả
侍者|Là người hầu cận của một vị thầy, của một vị Thiền sư, một Cao tăng. Thị giả nổi danh nhất có lẽ là Tôn giả A-nan-đà, người hầu cận đức Phật Thích-ca khi Ngài còn tại thế.
thị giả
người đệ tử được giao nhiệm vụ theo hầu thầy. Ngài A-nan được chọn làm thị giả của Phật nên lúc nào cũng có mặt bên cạnh Phật.
; Antevasin (S), Personal attendant Trong Phật giáo, những bậc cao tăng vì cần phương tiện cho sự hoằng pháp, nên đều có một hay hai người bên cạnh hầu hạ ngày đêm, người hầu hạ bên cạnh gọi là thị giảMỗi đức Phật khi đi hóa độ đều có một đệ tử, một vị Bồ tát, theo hầu. Những thị giả của các chư Phật trong quá khứ là: - A Thúc Ca, thị giả Phật Tỳ bà Thi. - Sai Ma Ca La, thị giả Phật Thi Khí Như Lai. - Ưu Bà Phiến Bà, thị giả Phật Tỳ Xá Phù. - Bạt Đề, thị giả Phật Ca La Cưu Thôn Đại. - Tô Trì, thị giả Phật Ca Na Mâu Ni. - Diếp Bà Mật Đa, thị giả Phật Ca Diếp.
; A senior bonze's attendant.
; Trong Phật giáo, những bậc cao Tăng vì cần phương tiện cho sự hoằng pháp, nên đều có một hay hai người bên cạnh hầu hạ ngày đêm, người hầu hạ bên cạnh gọi là thị giả.
; Người giúp đỡ như ông A Nan làm thị giả cho Đức Phật—Companion—Attendant—Servant—Helper, e.g. as Ananda was to the Buddha.
; (侍者) Phạm,Pàli:Ante-vàsin. Chỉ cho vị tăng theo hầu bên cạnh sư phụ hoặc bậc Trưởng lão. Cứ theo kinh Đại bát Niết bàn quyển 40 (bản Bắc) thì trong 7 Phật ở đời quá khứ, đệ tử thị giả của Phật Tì bà thi tên là A thúc ca, đệ tử thị giả của Thi khí Như lai tên là Sai ma ca la, đệ tửthị giảcủa Phật Tì xá phù tên là Ưu ba phiến đà ca la, đệ tử thị giả của Phật Cưu thôn đà tên là Bạt đề, đệ tử thị giả của Phật Ca na hàm mâu ni tên là Tô để, đệ tử thị giả của Phật Ca diếp tên là Diệp bà mật đa và đệ tử thị giả của Phật Thích ca tên là A nan. Cũng kinh trên còn nói rằng đệ tử thị giả của 7 đức Phật đều đầy đủ 8 pháp như: Tín căn vững chắc, tâm ý ngay thẳng... cho nên có khả năng giữ gìn 12 thể tài kinh. Trong các tùng lâm, chức vụ thị giả thông thường do vị sa di lợi căn hoặc vị tỉ khưu mà tuổi hạ còn thấp đảm nhận, quan hệ giữa vị này và Trưởng lão (hoặc Sư phụ, hoặc Trụ trì) rất gần gũi, ngoài việc xử lí các việc lặt vặt, vị thị giả chẳng những sớm hôm nghe theo lời chỉ dạy, mà còn học tập, quán xét về đạo đức của các ngài, cho nên đặc biệt được bậc Trưởng lão xem trọng và thường được coi là người kế thừa y bát hoặc pháp tịch. Lại tùy theo chức vụ khác nhau, thị giả được chia làm nhiều loại. Theo Thiền uyển thanh qui, Thị giả được chia làm 2 loại là Nội thị và Ngoại thị. Còn theo Sắc tu Bách trượng thanh qui thì Thị giả được chia làm 5 loại: Thiêu hương thị giả: Thị giả theo hầu vị Trụ trì ở điện Phật để thắp hương; Thị hương: Người ở bên cạnh vị Trụ trì để đốt hương, ghi chép các pháp ngữ khi vị Trụ trì thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, khai thất, niệm tụng, phóng tham... nhưng trong Thanh qui chỉ nêu danh xưng Thiêu hương thị giả và công việc mà vị này phụ trách, chứ không có chức Thị hương; Thư trạng thị giả: Người thay thế vị Trụ trì phụ trách việc thư tín qua lại và tất cả văn kiện trong Sơn môn; Thỉnh khách thị giả(cũng gọi là Thị khách): Người phụ trách việc tiếp dẫn tân khách, nhưng chỉ tiếp những khách có quan hệ với vị Trụ trì, còn khách về các việc khác thì do vị Tri khách tiếp đãi; Thang dược thị giả(cũng gọi Thị dược): Trông coi việc thuốc thang cho vị Trụ trì; Y bát thị giả(cũng gọi Thị y): Phụ trách việc áo bát và các đồ dùng của vị Trụ trì. Tóm lại, 5 vị Thị giả là: Thiêu hương thị giả, Thư trạng thị giả, Thỉnh khách thị giả, Thang dược thị giả và Y bát thị giả. Ngoài ra, người theo hầu bên cạnh vị Trưởng lão, gọi là Thị lập. Người phụng sự Thánh tăng trong Tăng đường, gọi là Thánh tăng thị giả, Kiêm Bỉnh phất thị giả. Nơi các vị Thị giả ở, gọi là Thị giả liêu, Thị tư, Trạch mộc liêu; người ở trong Liêu thị giả mà không giữ chức vụ Thị giả, gọi là Bất li vụ thị giả. Ngoài Thánh tăng thị giả và Y bát thị giả, các thị giả khác trong 5 chức thị giả sau này sẽ được kế nhiệm chức Lập ban đầu thủ của Tây tự, cho nên cũng gọi là Lập ban tiểu đầu thủ.
thị giả bát pháp
(侍者八法) Chỉ cho 8 điều kiện mà người đảm nhiệm chức vụ Thị giả trong tùng lâm phải hội đủ, được ghi trong kinh Đại bátNiết bàn quyển 40 (bản Bắc). Đó là: 1. Tín căn kiên cố: Tín căn vững chắc. 2. Kì tâm chất trực: Tâm ý ngay thẳng. 3. Thân vô bệnh khổ: Thân không bệnh khổ. 4. Thường cần tinh tiến: Siêng năng tinh tiến. 5. Niệm tâm cụ túc: Tâm niệm đầy đủ. 6. Tâm bất kiêu mạn: Tâm không kiêu căng, ngạo mạn. 7. Thành tựu định tuệ: Thành tựu định tuệ.8. Cụ túc tòng văn sinh trí: Đủ khả năng nghe pháp sinh trí tuệ. Trên đây vốn là những lời đức Phật khen ngợi thị giả A nan, vì ngài A nan có đầy đủ 8 điều kiện nêu trên nên có khả năng thụ trì 12 thể tài kinh.
thị giả tuần phổ
(侍者巡鋪) Tên công án trong Thiền tông. Thị giả và nhà trạm. Nội dung công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Triệuchâu Tùng thẩm đời Đường và thị giả Văn viễn. Thiền uyển mông cầu quyển thượng (Vạn tục 148, 109 thượng) ghi: Một hôm, ngài Triệu châu cùng đi với thị giả Văn viễn, bèn chỉ vào một mảnh đất nói: Mảnh đất này có thể làm một ngôi nhà trạm(phố) được không? Thị giả Văn viễn liền đứng sang một bên đường, nói: Phải cần văn thư của quan địa phương nghiệm xét và cho phép đã! Sư liền đánh một bạt tai. Văn viễn nói: Quan đã nghiệm xét rõ ràng.
thị hiếu
Taste—Fondness—Desire—Liking.
thị hiện
Vidarśana (S), Pratiharya (S).
; To appear, to manifest
; Pakasati (p)—Vyaktaya (skt)—Bày tỏ ra ngoài—To manifest—To make manifest.
; (示現) Phạm:Pràtihàrya. Hàm ý là hiển bày, hiển hiện. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 23 (bản dịch cũ) và luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 4, vì giáo hóa chúng sinh nên chư Phật vàBồ tát biến hiện ra nhiều thân hình, như 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của đức Phật và 33 thân tướng của bồ tát Quán âm... Ngoài ra, chữ sắc của cõi Sắc, thông thường có nghĩa là vật chất, nhưng trong ngữ ý cũng có hàm nghĩa biến ngại, thị hiện. Luận Câu xá quyển 2 (Đại 29, 7 thượng) nói: Trong 18 cõi thì cõi Sắc có thấy, vì có thể thị hiện đây, kia sai khác. Trong các kinh có ghi chép rất nhiều về danh tướng thị hiện và giải thích rõ ý nghĩa các danh tướng này. Như 3 thị hiện nói trong kinh Thương ca la trong Trung a hàm quyển 35 như sau: 1. Như ý túc thị hiện (Phạm:Fddhipràtihàrya,Pàli:Iddhi-pàỉihàriya). Cũng gọi Thầntúcbiến hóa thị hiện, Thần túc biến hóa, Thần túc thông thị hiện, Thần túc giáo hóa, Vô lượng thần túc, Thần thông biến hiện, Thần lực thần biến, Thần cảnh thần biến, Thần biến thị đạo, Thần thông luân, Thần biến luân, Thân luân. Nghĩa là Sa môn Phạm chí có đầy đủ đại uy đức, có năng lực từ 1 thân biến ra vô số thân, lại nhập vô số thân vào 1 thân, đi qua tường vách giống như đi giữa đồng trống, lướt trên mặt nước giống như đi trên đất liền, ngồi kếtgià phóng lên giống như chim bay liệng trong hư không, vô ngại tự tại. Tướng thị hiện này lấy Thần cảnh thông trong 6 thông làm tự tính. 2. Chiêm niệm thị hiện (Phạm: Àdezanà-pràtihàrya,Pàli:Àdesanàpàỉihàriya). Cũng gọi Tha tâm thị hiện, Ngôn giáo giáo hóa, Quán sát tha tâm thần túc, Tri tha tâm tùy ý thuyết pháp, Kí thuyết biến hiện, Kí thuyết thần biến, Kí tâm thị đạo, Kí tâm luân, Tha tâm luân, ý luân. Nghĩa là Sa môn Phạm chí dùng tha tướng, tha niệm, tha tư, tha thuyết để xem xét các pháp như tha ý, quá khứ, hiện tại, vị lai, tâm, tâm sở hữu... Tướng thị hiện này lấy Tha tâm thông(Thần thông biết được ý nghĩ của người khác) trong 6 thông làm tự tính. 3. Giáo huấn thị hiện (Phạm: Anuzàsana-pràtihàrya), Pàli: Anusasana-pàỉihàriya). Cũng gọi Giáo giới thị hiện, Lậu tận thị hiện, Huấn hối thị hiện, Giáo giới thần túc, Giáo giới thị đạo, Giáo giới luân, Thuyết pháp luân, Khẩu luân. Nghĩa là Sa môn Phạm chí đã tu đạo hạnh, diệt sạch các phiền não, chứng được tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự biết tự giác, tự chứng thành tựu, không còn chịu sinh tử luân hồi nữa, đồng thời đem điều mình chứng mình biết chỉ bảo cho người khác, rồi người này chỉ cho người kia cho đến vô lượng trăm nghìn người... Tướng thị hiện này lấy Lậu tận thông trong 6 thông làm tự tính. Bời vì, trong 6 thông chỉ lấy 3 thông trên đây (Thần cảnh thông, Tha tâm thông, Lậu tận thông) làm tự tính của 3 loại thị hiện, cho nên rất thù thắng. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần cuối, gọi 3 loại thị hiện nêu trên là Thần biến luân, Kí tâm luân và Giáo giới luân, đồng thời giải thích rõ tướng thị hiện như sau: 1. Tướng thần biến: Gồm có Năng biến và Năng hóa. Năng biến lại được chia làm 18 thứ và Năng hóa được chia làm 2 thứ.2. Tướng kí tâm: Gồm 6 thứ kí về tâm của 3 cõi, 5 đường có triền, có nhiễm, thắng trong liệt. 3. Tướng giáo giới: Gồm có 5 thứ như Già chỉ(ngăn cấm),Khai hứa(cho phép)... Ba thị hiện này là đức dụng thuộc 3 nghiệp thân, khẩu, ý của Như lai, tức Tha tâm luân là ý nghiệp của Như lai, Thần thông luân là thân nghiệp của Như lai và Thuyết pháp luân là khẩu nghiệp của Như lai, do đó mà làm cho chúng sinh thoát li ác nghiệp phiền não, hướng tới chính đạo.
Thị hiện 示現
[ja] ジゲン jigen ||| (1) The showing of form. An early colloquial translation of rūpa. (2) The revealing of various forms (bodies) by Buddhas and bodhisattvas to sentient beings in order to teach them. Also refers to the 32 marks of the Buddha's body, the 33 bodies of Avalokiteśvara bodhisattva, etc. (darśana, saṃdarśana). (3) The manifestation of a body by an historical sage-personage. (4) The teaching of sentient beings by a buddha or bodhisattva. => 1. Sự hiện bày của sắc tướng. Từ cựu dịch của chữ rūpa. 2. Sự hiển lộ của các hình tướng khác nhau của Đức Phật và bồ-tát để giáo hoá chúng sinh. Còn chỉ cho đến 32 tướng tốt của Đức Phật, 33 hoá thân của Bồ-tát Quán Thế Âm v.v...(s: darśana, saṃdarśana). 3. Thân hoá hiện của một bậc thánh có lịch sử với nhân cách như người. 4. Sự giáo hoá chúng sinh của chư Phật hay Bồ-tát
Thị Lang
(侍郎): tên gọi một chức quan. Dưới thời nhà Đường các chức Môn Hạ Thị Lang (門下侍郎), Trung Thư Thị Lang (中書侍郎) là cấp thứ quan của Môn Hạ Tỉnh (門下省) và Trung Thư Tỉnh (中書). Chức Thị Lang của 6 Bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) là cấp Phó Bộ Trưởng. Các chức quan này tùy theo thời đại mà có sự thay đổi.
thị lực
Power of eyesight (vision--seeing).
thị na da xá
Jinayasas (skt)—Một vị Tăng nổi tiếng người Ấn—A noted monk from India.
thị oai
Thị uy—To display (show) one's force—To intimidate—To concuss.
Thị phi
是非; C: shìfēi; J: zehi;|Được và không. Đúng và sai; xác định và phủ định.
thị phi
Gossips of right and wrong. (I) Nghĩa của Thị Phi—The meanings of “Right and Wrong”—Phàm phu chúng ta cứ luôn chấp chặt vào hai tướng ngã nhân, do đó thường hay cho rằng ta hay, người dở, ta cao quý, người thấp hèn, vân vân Vì thế mà xưa nay chúng ta cứ mãi phân loại và biện biệt trăm ngàn các sự thị phi, hơn thua, phải quấy. Đừng nói chi chúng ta là hàng phàm phu bạt địa, nghiệp chướng nặng nề phải bị ảnh hưởng của thị phi, mà ngay cả đến chư Phật và chư Bồ Tát, vì tâm đại bi, lòng bi mẫn thương xót chúng sanh mà thị hiện ra nơi đời để giáo hóa chúng sanh cũng không sao tránh khỏi bị tiếng thị phi làm cho thương tổn. Chính vì thế mà Cổ đức dạy rằng: “Thùy nhơn bối hậu vô nhân thuyết, na cá nhơn tiền bất thuyết nhơn.” Nghĩa là chớ nói ta không người chỉ trích, âm thầm chi thiếu kẻ dèm pha. Trước mặt chúng ta thì họ cúi đầu lịch sự, kính trọng, thân thiện; nhưng sau lưng chúng ta thì nào ai có biết họ chưởi mẹ mắng cha của chúng ta. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy: “Không có người nào trọn đời được khen mà chẳng bị chê. Cũng không có người nào trọn đời bị chê mà chẳng được khen.” Cho nên làm người trên đời cũng có khi vui, lúc buồn, khi thành, lúc bại, vân vân, không ai tránh khỏi tiếng thị phi, lời thương ghét và chỉ trích. Phải nên nhớ rằng một khi tiếng thị phi đến với ta, nếu như chúng ta không sáng suốt và bình tĩnh thì chắc rằng tâm chúng ta phải xao động, não phiền. Như vậy là chướng ngại cho con đường tu tập. Muốn phá trừ thị phi, chúng ta trước hết nên xét lỗi mình, chứ đừng nhìn ngó lỗi người. Phàm phu chúng ta thường thích được thương yêu, khen tặng, kính trọng, chứ không ưa bị chỉ trích lỗi mình. Có ngờ đâu điều xấu dở của mình đôi khi còn nhiều và tệ hại hơn nữa. Phật tử thuần thành không nên nói người nầy thế nầy, người khác thế nọ, mà nên luôn nghĩ lại rằng mình cũng chẳng tốt đẹp hơn ai. Cho nên người tu học Phật pháp cần nên phản tỉnh, xét sửa lấy mình, chớ nên nhìn nói hay phê bình đến việc hay dở của người. Được như thế thì đường đạo ngày càng thêm tốt đẹp, nếu không như thế ắt sẽ bị lắm oan gia. Khi bị thị phi oan uổng, người con Phật phải an nhẫn, chớ nên tìm cách biện bạch. Trong Luận Bảo Vương Tam Muội,” Đức Phật dạy: “Oan ưng không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.” Vì một khi người đã ác tâm cố ý nói xấu ta, mà ta biện minh, tức là ta muốn tỏ cho các người chung quanh biết rằng kẻ đó nói sai, dĩ nhiên sẽ sanh ra những tranh cãi, oán thù, rồi phải chuốc lấy thêm điều buồn bực, giận hờn, và cay đắng. Thói thường phàm phu chỉ thấy mình phải, còn người thì quấy; người con Phật nên luôn thấy lỗi mình, chớ không nên thấy lỗi của người. Phật tử thuần thành nên luôn nhớ rằng mọi tiếng khen chê bên ngoài không làm cho ta tốt hoặc xấu thêm, cũng không làm cho ta được siêu hay đọa, mà mọi xấu tốt siêu đọa đều ở nơi ta. Tóm lại, nếu ta gây tạo nhân lành, thì dù người có ghét hận mà dùng lời khinh báng, hay có kẻ ác tâm nói rằng ta là người đáng đọa địa ngục, cũng không làm sao mà ta đọa địa ngục cho được; nhưng ngược lại, chúng ta cũng vẫn gặt hái những phước đức mà chúng ta đã gieo tạo. Ví bằng chúng ta gieo nhiều nhân xấu ác, thì tuy có được người nể trọng mà dùng lời lẽ trau chuốt ngợi khen, tâng bốc, thì chúng ta vẫn phải chịu điều đọa lạc—The unenlightened sentient beings such as ourselves have always clung very tightly to the two characteristics of egotism of self and non-self; we always assume self-importance, we are talented, others are untalented, we are noble, others are lowly and ignoble, etc. Therefore, we have classified and discriminated everything into hundreds of thousands of better, worse, right, wrong, etc. When talking about gossip, let's not even talk of us, the unenlightened mortals bound by heavy karma, indeed, even the Buddhas and Bodhisattvas of great compassion who appear in this world to teach and guide sentient beings, are not spared from sentient beings' gossip. Therefore, the ancient sage taught: “Do not claim one is free from criticisms, silently there are plenty of people degrading.” In front of us, they are polite, respectful, and friendly, but behind us, who knows they insult even our mother and father. In the Dharmapada Sutra, the Buddha taught: “No one is praised all his life and not received critizisms, and no one is criticized all his life and not received any praises.” Therefore, to a human being living in this world, life brings happiness, sadness, success, failure, etc., no one can avoid gossip, praise, and criticism at one time or another. We should always remember that once the words of gossip reach us, if we are not wise and calm, it is inevitable that our minds will be disturbed by afflictions. This is a great obstruction and is detrimental to our cultivated path. To destroy gossip, we must first examine and change our own mistakes, not to search and look for others' mistakes. We, ordinary people, always hope to be loved, praised, and admired, but no one likes to be criticized. It is possible that our mistakes and deficiencies are more abundant and worse than other people's. Sincere Buddhists should never say this person is this way and that person is that way; we should never forget we are not better than anyone. Therefore, those who study and cultivate the Buddha Dharma must be awakened to examine and change themselves, and don't look for and speak of others' mistakes. If this is accomplished, the cultivated path will improve with each passing day, if not, many enemies will be created. When receiving gossip and false accusations, Buddhists should tolerate peacefully, do not try to justify the situation. In the book of “Buddha Recitation Samadhi Jewel King Commentary,” the Buddha taught: “If falsely accused, it is not necessary to seek vindication because to do so will lead to increase hatred and resentment.” People who have wicked minds, intentionally saying unkind things about us, by trying to shed light in the matter means we are trying to prove to everyone that the matter was falsely accused. Naturally, this will worsen the situation because it will give rise to more hatreds and arguments, which will further increase anger, resentment, and bitterness. In general, ordinary people always see they are right and others are wrong. Buddhists should always see our transgressions, not to see others' transgressions. Sincere Buddhists should always remember that all the praises and criticisms in the world cannot make one good or bad, nor can they lead one to enlightenment or darkness, but all good, evil, enlightenment, and darkness is up to each individual. In summary, if we create many wholesome conducts, then regardless whether someone hates and despites us, falsely accusing us as wicked and evil beings, and saying that we deserve to be condemned to hell; we will not be condemned to hell, but we still reap the merits and blessings. In contrast, if we plant unwholesome seeds, then even if our admirers praise and glorify us, we still must endure in the lower realms. (II) Những lời Phật dạy về “Thị Phi” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Right and Wrong” in the Dharmapada Sutra: 1) A-Đa-La nên biết: Đây không phải chỉ là chuyện đời nay mà đời xưa người ta cũng từng nói: Làm thinh bị người chê, nói nhiều bị người chê, nói ít cũng bị người chê. Làm người mà không bị chê, thật là chuyện khó có thể có ở thế gian nầy—Atula! There is an old saying, it is not one of today only: “They blame those who sit silent, they blame those who speak too much. They blame those who speak little too.” There is no one who is not blamed in this world (Dharmapada 227). 2) Toàn bị người chê cả, hay toàn được người khen cả, là điều quá khứ chưa từng có, hiện tại tìm không ra, và vị lai cũng không dễ gì thấy được—There never was, there never will be, nor is there now, a person who is wholly blamed or wholly praised (Dharmapada 228). 3) Cứ mỗi buổi mai thức dậy tự biết phản tỉnh, hành động không sai quấy, trí tuệ hiền minh và giới hạnh thanh tịnh, đó là người đáng được kẻ trí tán dương—Examining day by day, the wise praise him who is of flawless life, intelligent, endowed with knowledge and virtue (Dharmapada 229). 4) Phẩm đúng loại vàng Diêm phù ai lại chê bai được? Hạnh đúng Bà la môn, chư thiên nào lại không tán thưởng ?—Who would dare to blame him who is like a piece of pure gold? Even the gods and Brahma praise him (Dharmapada 230).
thị phi giao kết xứ
(是非交結處) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho trạng thái đúng sai lẫn lộn, thiện ác xen lẫn nhau khó có thể phân định. Bích nham lục tắc 41 (Đại 48, 178 hạ) ghi: Nơi thị phi giao kết, Thánh cũng không thể biết được; khi thuận nghịch tung hoành thì Phật cũng không thể biện biệt. Bậc quán thế siêu quần thì hiển bày năng lực của đại sĩ tuyệt luân.
Thị phi 是非
[ja] ゼヒ zehi ||| Yes and no; right and wrong; positive and negative. => Phải và không phải. Đúng và sai; xác định và phủ định.
thị quan
Mắt—Organ of sight.
thị sở phạm giả du già pháp kính kinh
(示所犯者瑜伽法鏡經) Gọi tắt: Du già pháp kính kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Sư lợi soạn vào đời Đường, iện nay chỉ còn bản đứt nát đào được ở Đôn hoàng, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung gồm có 3 phẩm: Phẩm Phật lâm niết bàn vị A nan thuyết pháp trụ diệt, phẩm Địa tạng bồ tát thán pháp thân quán hạnh và phẩm Thường thí bồ tát sở vấn. Trong đó, phần trước của phẩm 1 và 2 đã bị thất lạc, nhưng theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 18 thì phẩm 1 là do sửa đổi thêm bớt bộ kinh Phật lâm niết bàn kí pháp trụ do ngài Huyền trang dịch mà thành; phẩm 2 căn cứ vào phần hiện còn mà nhận xét thì có nội dung tương ứng với Địa tạng bồ tát thỉnh vấn pháp thân tán do ngài Bất không dịch; còn phẩm 3 làbản sửa đổi ngụy kinh Tượng pháp quyết nghi. Theo Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 26 thì mạch văn của kinh này thứ tự không nhất quán, phần nhiều dùng từ vựng của các kinh sách xưa biên tập mà thành, thật giả lẫn lộn.Tác giả Sư lợi là vị tăng học giả thuộc Tam giai giáo đời Đường, cho nên kinh này có thể được xem là tư liệu nghiên cứu giáo nghĩa mà Tam giai giáo sử dụng để giáo hóa dân chúng kể từ ngài Tín hành (Tổ khai sáng Tam giai giáo sống vào đời Tùy) về sau. Trong Minh sa dư vận giải thuyết cũng thu chép kinh này và có giải thích, phê bình.
thị thế
To rely upon one's influence.
thị thực
To attest—To certify.
thị triện
(視篆) Cũng gọi Địch triệnXem xét con dấu. Tức vị Tân trụ trì kiểm tra, xem xét lại con dấu của chùa khi mới đến nhậm chức. Trong Thiền lâm, khi vị Trụ trì thoái viện(rời khỏi chức vụ), dùng cuộn giấy nhỏ ghi tên đại chúng toàn chùa, đóng dấu của chùa ở phía dưới rồi lấy mảnh giấy khác dán(niêm) kín con dấu lại, đặt trong hộp ấn, nhờ vịĐô tự trao lại cho vịTrụ trì mới. Đến ngày vị Tân trụ trì nhập tự thì vị Đô tự xuất trình con dấu của chùa, vị Tân trụ trì mở ra xem, gọi là Thị triện. Phương pháp này có thể ngăn chặn các việc như tạm trú lén khi thiếu vắng Trụ trì.
thị trấn miền núi
Giripura (S), Mountain town.
thị tâm thị phật
Tâm tức Phật—This mind is Buddha—The mind is Buddha.
; (是心是佛) Tâm này là Phật. Nghĩa là tâm của chúng sinh chính là tâm của chư Phật. Nếu tâm mê thì không có Phật, nhưng đi tìm cầu Phật ở ngoài tâm mê này thì cũng không có Phật nào khác. Như lúc chúng ta quán tưởng tướng hảo trang nghiêm của chư Phật, thì ngay lúc đó tâm hiển hiện chính là tâm của chư Phật. Kinh Quán vô lượng thọ nói rằng khi tâm tưởng Phật thì tâm này chính là 32 tướng, 80 vẻ đẹp
Thị Tâm Tác Phật
(是心作佛, tâm ấy làm Phật): cũng có cùng ý nghĩa với Tức Tâm Thị Phật (卽心是佛), có nghĩa rằng tâm thanh tịnh tức là Phật. Phật vốn không, nhưng tâm thanh tịnh nên có; vì vậy ngoài tâm ra không có Phật, ngoài Phật không có tâm; tâm và Phật không phải là hai chủ thể. Trong Tịnh Độ Thập Yếu (淨土十要, CBETA No. 1164) quyển 9 có đoạn rằng: “Chư Phật Như Lai thị Pháp Giới Thân, nhập nhất thiết chúng sanh tâm tưởng trung; thị cố tâm tưởng Phật thời thị tâm tức thị Tam Thập Nhị Tướng Bát Thập Chủng Hảo; thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật (諸佛如來是法界身、入一切眾生心想中、是故心想佛時是心卽是三十二相八十種好、是心作佛、是心是佛, Chư Phật Như Lai là Pháp Giới Thân, nhập vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh; cho nên khi tâm tưởng nhớ Phật thì tâm ấy chính là Ba Muơi Hai Tướng Tốt, Tám Mươi Vẻ Đẹp; tâm này làm Phật, tâm này là Phật).” Hay như Lăng Già Sư Tư Ký (楞伽師資記, Taishō No. 2837) cũng có giải thích tương tự như vậy: “Chư Phật Pháp Thân, nhập nhất thiết chúng sanh tâm tưởng, thị tâm tác Phật; đương tri Phật tức thị tâm, tâm ngoại cánh vô biệt Phật dã (諸佛法身、入一切眾生心想、是心作佛、當知佛卽是心、心外更無別佛也, Pháp Thân của chư Phật nhập vào tâm tưởng của hết thảy chúng sanh, tâm ấy làm Phật; phải biết Phật chính là tâm này, ngoài tâm ra không có Phật nào cả).”
thị tâm tác phật
This mind becomes Buddha.
Thị tòng
侍從; C: shìcóng; J: shijū.|Theo hầu; chăm sóc; phục vụ (theo Pháp Hoa kinh 法華經).
Thị tùng 侍從
[ja] シジュウ shijū ||| To attend on; wait on. 〔法華經 T 262.9.59c16〕 => Theo hầu; chăm sóc; phục vụ.
thị tướng chuyển
(示相轉) Cũng gọi Thị chuyển. Nghĩa là hiển bày pháp lí Tứ thánh đế, tức khẳng định đây là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế, cùng với Khuyến tướng chuyển, Chứng tướng chuyển gọi chung là Tam chuyển. Bậcthượng căn ở lần Thị chuyển thì liền ngộ đạo. Tam chuyển tương đương với Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo.
Thị tịch
(示寂): ý dịch của từ nirvāṇa (s.), nibbāna (p.), tức chỉ Niết Bàn; còn gọi là viên tịch (圓寂), quy tịch (歸寂), nhập tịch (入寂), tịch diệt (寂滅), tịch (寂). Đây là từ đặc biệt dùng cho việc thị hiện Niết Bàn, xả Báo Thân của chư Phật, Bồ Tát, cao tăng. Trong các thư tịch Phật Giáo, thuật ngữ này xuất hiện khá nhiều, như trong Thiền Đăng Thế Phổ (禪燈世譜, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1601) quyển 9, phần Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷), có đoạn: “Đường Đức Tông Trinh Nguyên lục niên Canh Ngọ thị tịch, thụy Vô Tế, tháp viết Kiến Tướng (唐德宗貞元六年庚午示寂、諡無際、塔曰見相, sư thị tịch vào canh ngọ, Trinh Nguyên thứ 6 [790] đời vua Đức Tông [tại vị 779-805] nhà Đường, thụy hiệu là Vô Tế, tháp tên là Kiến Tướng).” Hay trong Phật Pháp Kim Thang Biên (佛法金湯編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628) quyển 4, phần Võ Đế (武帝), lại có đoạn: “Thập tam niên, Bảo Chí tương thị tịch, nghệ nội điện biệt đế, đế đại kinh (十三年、寶誌將示寂、詣內殿別帝、帝大驚, vào năm thứ 13 [514 niên hiệu Thiên Giám, đời vua Lương Võ Đế], Bảo Chí sắp thị tịch, bèn vào nội điện từ biệt nhà vua, vua vô cùng kinh ngạc).” Hoặc trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 23, phần Hoàng Long Thanh Thiền Sư Pháp Từ (黃龍清禪師法嗣), Đông Kinh Thiên Ninh Trường Linh Thủ Trác Thiền Sư (東京天寧長靈守卓禪師), cũng có đoạn: “Tuyên Hòa ngũ niên thập nhị nguyệt nhị thập thất nhật yểm nhiên thị tịch, Xà Duy nhật Hoàng Đế khiển Trung Sứ tứ hương (宣和五年十二月二十七日奄然示寂、闍維日皇帝遣中使賜香, vào ngày 27 tháng 12 năm Tuyên Hòa thứ 5 [1123], Thiền Sư đột nhiên thị tịch, ngày làm lễ Trà Tỳ [hỏa thiêu], Hoàng Đế [vua Huy Tông nhà Tống] sai Trung Sứ đến tặng hương).”
thị tịch
To indicate the way of nirvàna.
; Thị hiện niết bàn—To indicate the way of nirvana.
; (示寂) Phạm:Nirvàịa. Cũng gọi Viên tịch, Qui tịch, Nhập tịch, Tịch diệt, Tịch. Chỉ cho Niết bàn hoặc sự thị hiện niết bàn của chư Phật, Bồ tát và các bậc cao tăng...
Thị Tử
(市子, Ichiko): hay Thần Vu (神巫, Ichiko), Vu Tử (巫子, Ichiko): tên gọi những cô gái tấu Thần Nhạc trước thần linh.
thị vô bồ tát
Xem Vô trước Bồ tát.
thị xứ phi xứ lực
Khả năng biết sự lý đúng hay không đúng, một trong Thập Lực—The power to distinguish right from wrong, one of the ten Buddha-powers—See Thập Lực (1).
thị đàm
(示談) Cũng gọi Tín ngưỡng tọa đàm. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Bồ tát Thí Vô Úy (Mạn đồ la Thái tạng giới) Ấn Thí Vô ÚyChỉ cho các buổi tọa đàm do Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản tổ chức. Tức là người thuyết pháp trả lời các câu hỏi của tín đồ tại gia để củng cố và tăng thêm niềm tin tông giáo của họ.
thị đạo
To indicate the Way.
thị đạo sa môn
(示道沙門) Cũng gọi Thuyết đạo sa môn. Vị sa môn nói pháp, giảng đạo cho chúng sinh nghe, 1 trong 4 loại sa môn.
Thị 恃
[ja] ジ ji ||| (1) To depend on [依]. To presume upon; to trust to. (2) A mother [母]. => 1. Nương vào [ y 依]. Lợi dụng; tin cậy. 2. Người mẹ [母].
Thị 是
[ja] ゼ ze ||| (1) Yes, correct. (2) This [此]. (3) Is; identical (copula). Exactly. Appropriate, perfectly appropriate. (4) It is this. (5) Perfectly. => 1. Phải, đúng. 2. Đây, nầy [此]. 3. Là; chính là (hệ từ). Đúng là. Thích đáng, thích hợp hoàn toàn. 4. Chính là đây. 5. Hoàn hảo.
Thị 示
[ja] ジ ji ||| (para-darśana). To show to someone else. Clarification (pari-dīpaka). Teach, show. Manifest, proclaim. To exhibit. => Chỉ bày cho người khác. Làn cho sáng sủa, dễ hiểu (pari-dīpaka). Dạy bảo, chỉ bày. Biểu hiện, tuyên bố. Trưng bày.
thịnh
Strong—Prosperous.
thịnh danh
Great fame.
thịnh giả tất suy
(盛者必推 ) Đồng nghĩa: Sinh giả tất diệt. Có thịnh thì chắc chắn có suy. Nghĩa là kẻ có thế lực cường thịnh thì tất sẽ có ngày suy vong, đó là qui luật vô thường, không ai tránh khỏi, là chân lí của Phật giáo về cuộc đời. [X. phẩm Thọ mệnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.2 (bản Bắc), kinh Vị sinh oan].
thịnh hành
To be in use popularly.
thịnh lợi
Prosperous and lucrative.
thịnh nộ
To fly into (be in) a rage—To get angry.
thịnh soạn
Plentiful.
thịnh suy
Properous and decadence.
thịnh sắc
Beauty.
thịnh thế
Time of prosperity and peace.
thịnh thời
Prosperous time.
thịnh trị
See Thịnh thế.
thịnh tình
Kindness.
thịnh vượng
Prosperous—Thriving—Flourishing.
thịnh ý
Good will.
thịnh đạt
See Thịnh.
thịt
Meat.
thịt xương
Flesh and bones.
thọ
tức là cảm thọ (cũng đọc là cảm thụ), sanh ra do sự tiếp xúc giữa tâm và cảnh. Tùy theo tính chất của sự tiếp xúc đó mà có cảm thọ vui sướng (lạc thọ), đau khổ (khổ thọ) hoặc không vui không khổ. Thọ cũng là một trong năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
; Vedaniya (S).
; (壽) Phạm:Àyus. Đồng nghĩa với Mệnh (Phạm: Jìvita), Mệnh căn, nên cũng gọi Thọ mệnh (sự sống). Tức chỉ cho thời kì kéo dài liên tục do các hành vi(nghiệp lực)tạo tác trước kia mà sinh ra cõi đời này cho đến lúc chết, có tác dụng duy trì Noãn (hơi ấm trong thân) và Thức(tâm thức) của thân thể người ta. Tông Câu xá và tông Duy thức xếp mệnh căn vào làm 1 trong các pháp Bất tương ứng hành. Như thế thì Thọ duy trì Noãn và Thức; Noãn và Thức lại duy trì Thọ, cả hai đều có mối quan hệ nương nhau, nhưng lúc sắp chết thì cả 3 Thọ, Noãn, Thức cuối cùng đều ra khỏi nhục thể, là lúc con người chết hẳn. Về sự đồng (giống nhau) và dị (khác nhau) giữa Thọ và Mệnh có nhiều thuyết khác nhau. Luận Đại tì bà sa quyển 126 nêu ra những 14 thuyết, trong đó luận Câu xá quyển 3 chỉ lấy 3 thuyết chủ yếu. Đó là: 1. Thọ và Mệnh không khác, có xuất xứ từ Phẩm loại túc luận quyển 15, luận Phát trí quyển 14. 2. Lấy nghiệp quả của đời trước làm Thọ và lấy nghiệp quả đời này làm Mệnh, đây là thuyết thứ 14 trong luận Bà sa, do tôn giả Diệu âm chủ xướng. 3. Cho trụ lại trong thờikì lâu dài là Thọ, cho tạm trụ trong sát na là Mệnh, đây là thuyết thứ 6 trong luận Bà sa. Trong 3 thuyết trên, luận Câu xá lấy thuyết thứ nhất, các nhà Duy thức cũng theo thuyết thứ nhất, còn các sư tông Thiên thai thì lấy thuyết thứ ba, tức xuất xứ từ Duy thức luận thuật kí quyển 2, phần đầu và Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1 phần 4. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 7,phần 3 (Đại 46, 374 thượng) nói: Một thời kì là Thọ, kéo dài liên tục là Mệnh; kéo dài liên tục trong một thời kì, hơi thở không dứt đoạn, cho nên hơi thở ra vào gọi là thọ mệnh. Theo thuyết của Câu xá luận quang kí quyển 5 thì Mệnh nghĩa là sống, nêu rõ nghĩa niệm niệm tương tục; Thọ nghĩa là kì gian, nói lên nghĩa trụ lại một kì. Về Thể của Thọ mệnh thì phái Thắng luận ở Ấn độ đem xếp vào Hành của Đức cú nghĩa trong 10 cú nghĩa, cái gọi là Hành tức có nghĩa là thế dụng, bởi vì sự kéo dài liên tục là nương vào Hành lực (sức đi), ví như thời gian của mũi tên bắn ra mà chưa rơi xuống đất thì nó còn thế dụng đi mãi không ngừng. Chính lượng bộ chủ trương Thọ mệnh có thực thể trụ lại qua thời gian lâu dài, cho nên hữu tình sống còn, sự bắt đầu của thực thể thọ mệnh là Sinh, sự kết thúc của thực thể thọ mệnh là Diệt,giữa khoảng sinh, diệt là Trụ, Dị. Còn thuyết Nhất thiết hữu bộ thì cho rằng Thọ có biệt pháp, tức mệnh căn, có thực thể, có năng lực duy trì Noãn, Thức. Kinh bộ cũng chủ trương Thọ có biệt pháp, nhưng cách nhìn hơi khác, cho rằng cái thế phần khi đồng phần(nhân xoay vần giống nhau về thân hình, nghiệp dụng, lạc thú, của các hữu tình)bị nghiệp đời trước dắt dẫn mà trụ lại, gọi là Thọ; ví như ngũ cốc, nhờ thế phần của sức sống liên tục mà hạt giống từ lúc nảy mầm đến lúc chín không mục nát. Thuyết của luận Thành thực và luận Duy thức đại khái cũng giống với Kinh bộ, nhất là quan điểm luận Duy thức, cho rằng chủng tử danh ngôn của thức thứ 8 thân sinh bị nghiệp đời trước dắt dẫn mà duy trì công năng sai khác của thân. Đại, Tiểu thừa đều cho rằng Thể của Thọ chính là mệnh căn, nhưng sự giải thích về mệnh căn của mỗi bên lại khác nhau. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 15, Mệnh lại có thể được chia làm 3 loại:1. Báo mệnh: Trong lúc chưa bỏ Noãn, Thức, Chúng đồng phần chưa dứt và lấy Bất tương ứng hành làm tính, thì Thọ mệnh chịu quả báo của nghiệp đời trước, nên gọi là Báo mệnh. 2. Giới mệnh: Không phá giới, cho nên không mất pháp tỉ khưu. Vì tỉ khưu lấy giới hạnh làm sinh mệnh, nên lấy tịnh giới làm Thể, vì thế Giới mệnh cũng gọi là Tịnh mệnh. Trái lại, người không giữ giới, nương vào tà kiến mà sống, gọi là Tà mệnh. 3. Tuệ mệnh: Nhờ không buông lung, phóng túng nên không đánh mất chính pháp, mà lấy chính tuệ làm sinh mệnh, gọi là Tuệ mệnh. [X.luận Câu xá Q.5, Phẩm loại túc luận Q.1; luận Thành duy thức Q.1; Ma ha chỉ quán Q.4 hạ; Huyền ứng âm nghĩa Q.2]. (xt. Thọ Noãn Thức).
thọ báo
Resolve in samsara.
Thọ bồ-đề tâm giới nghĩa 受菩提心戒義
[ja] ジュボダイシンカイギ Ju bodaishin kaigi ||| (Bodhicitta-śīlādānakalpa*). (Taking the Precepts of Bodhi-Mind). 1 fasc. (T 915.18.940-941) attr. Amoghavajra 不空 (possibly compiled by Yixing 一行). Outlines the taking of precepts 戒 according to the Vajrayāna. KI (mb) 3; IB327 => (s: Bodhicitta-śīlādānakalpa; e: Taking the Precepts of Bodhi-Mind). 1 quyển. Bất Không dịch, có lẽ do Nhất Hạnh (一行 c: Yixing) sưu tập. Nội dung chính là sự thọ giới theo nghi thức của Kim Cương thừa (s:Vajrayāna).
thọ chung
Chết—To pass away—To die.
thọ cụ
Thọ cụ túc giới—To receive the entire commandments, as does a fully ordained monk or nun—See Thọ Giới.
thọ dụng
Saṃbhoga (P), Enjoyment Thọ hưởng.
; To receive for use.
thọ dụng thân
Saṃbhogakāya (S), long ch dzok ku (T)Báo thânThân đầy đủ công đứcthọ dụng pháp lạc.
; Sambhogakaya (skt)—Báo Thân, một trong tam thân Phật—The functioning glorious body, one of the Buddha's Trikaya. ** For more information, please see Tam Thân Phật.
thọ dụng độ
Quốc độ của báo thân Như Lai—The realm of Sambhogakaya.
thọ giáo
To receive instructions.
thọ giả
1) Người được thọ giới và phép quán đảnh: A recipient, e.g. of the rules. 2) Tà kiến cho rằng cái “ngã” sẽ nhận sự thưởng phạt trong kiếp tương lai, đây là một trong mười sáu tri kiến: The illusory view that the ego will receive reward or punishment in a future life, one of the sixteen false views.
thọ giả ngoại đạo
(壽者外道) Tên của 1 trong 30 loại ngoại đạo. Phàm những phái chủ trương tất cả pháp, cho đến 4 đại, cây cỏ...đều có thọ mệnh thì gọi là Thọ giả ngoại đạo. [X.phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1]. (xt. Tam Thập Chủng Ngoại Đạo).
thọ giả tướng
Jivasaṃjā (S)Tướng pháp bảo tồn cá thể (Jiva) có sinh mạng.
; (壽者相) Phạm:Jìvasaôjĩà. Tướng của thọ mệnh. Tức tư tưởng chủ trương Cá thể (jìva) có sinh mệnh. Thông thường cho rằng cá thể tức là linh hồn hoặc chủ thể của nhân cách, nhưng nói theo lập trường tư tưởng Phật giáo, nhất là quan điểm của Bát nhã thì không thừa nhận thật có sự tồn tại của loại cá thể, tính mệnh, linh hồn...như vậy. Kinh Kim cương (Đại 8, 749 thượng) nói: Tu bồ đề! Nếu Bồ tát cho rằng có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng thì chẳng phải là Bồ tát. Chữ Tướng trong đoạn trích dẫn trên đây, hàm ý là chấp trước thật có Tướng, chấp trước Tướng có thực chất cụ thể, là pháp có thật. Còn từ ngữ Thọ giả thì ngoài cách giải thích trên, trong Kim cương bát nhã sớ quyển 3 của ngài Cát tạng cũng nói (Đại 33, 106 trung): Ngoại đạo chấp có thần ngã, chết nơi này sinh nơi khác, vòng quanh 6 đường, cho nên gọi Thọ giả. Kim cương bát nhã kinh tán thuật quyển thượng của ngài Khuy cơ (Đại 33, 131 trung) ghi: Thấy mệnh căn đoạn diệt ở quá khứ, đời sau sinh trong 6 đường, gọi là Thọ giả tướng. Ngoài ra, kinh Đại phẩm bát nhã quyển 2 thì cho rằng danh từ Thọ giả là 1 trong 16 tên gọi khác của Ngã.
thọ giới
Śīla-samadhana (S).
; Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms: 1) Thọ giới là thọ nhận giới luật do Phật chế ra: To embrace Buddhism—Receiving the precepts—To receive or accept the commandments. 2) Đệ tử sơ cơ thọ lãnh ngũ giới: A novice disciple, or the beginner receives the first five commandments. 3) Chư Tăng Ni và Phật tử thuần thành tiến hành thọ lãnh bát giới: The monks, nuns, and the earnest laity proceed to the reception of eight commandments. 4) Chư Tăng Ni Thọ giới đầy đủ có thể thọ trì từ thập giới trở lên: Fully ordained monks and nuns can receive or accept ten or more commandments—See Cụ Túc Giới. 5) Từ thọ giới còn dùng để chỉ người thọ giới Tam Muội Da Chân Ngôn: The term is also applied by the esoteric sects to the reception of their rules on admission.
thọ hình
To suffer punishment.
thọ hưởng
Xem Thọ dụng.
thọ hạ tọa
Rukkha-mŪla-senasana (P), Viksa-mŪla (S).
thọ khổ nhẫn
Patience under suffering.
Thọ ký
Phạn ngữ là Vykaraṇa, dịch âm là Hòa-ca-la-na, nghĩa là nói trước cho biết về những quả vị mà ai đó sẽ được thành tựu trong tương lai. Đức Phật dùng trí tuệ giác ngộ mà thấy biết được, nên nói ra nhằm mục đích sách tấn việc tu tập cho các đệ tử. Tên gọi này dùng để chỉ một trong mười hai bộ kinh, phần có nội dung thọ ký cho các vị đệ tử. Xem Mười hai bộ kinh.
thọ ký
Vyākaraṇa (S), Veyyakarana (P), PredictionHoà ca la na, Thọ ký kinh, Ký biệt, Thanh minh ký luận1- Thọ ký 2- Tỳ gia la luận của Vệ đàXem Thọ ký.
; Vyakarana (skt). 1) Còn gọi là Thọ Biệt hay Thọ Quyết. Những người đi theo Đức Phật sẽ nhận được sự tiên đoán của Đức Phật về sự giác ngộ và thành Phật trong tương lai—To receive from a Buddha predestination, prophecy or giving of a record, prediction, fortelling (to become a Buddha). 2) Sự thọ ký thành Phật trong tương lai của những Bồ Tát. Chỉ có chư Phật mới có khả năng và trí huệ để đưa ra những quyết định hay lời thọ ký như vậy—The prophecy of Bodhisattva's future Buddhahood. Only Buddhas possess the power and wisdom to give decisions, and/or such prophecies.
thọ ký kinh
Vyākaraṇa sŪtra (S)Tỳ già la naLoại kinh trong đó có đoạn đại khái như :"...về sau ông sẽ thành Phật...", ghi lời ấn chứng trước của Phật đối với đệ tử.
thọ ký quán đảnh
Phật thọ ký đệ tử bằng cách xoa đầu—Buddha predicts Buddhahood to someone (the gesture of rubbing the crown).
thọ luận a do
Ayurveda (skt)—Sách Vệ Đà Y Dược—The Ayurveda, the medical veda.
thọ lãnh
To receive.
thọ lượng
(壽量) Sự dài ngắn của mệnh sống. Về thọ lượng của chúng sinh trong 3 cõi 6 đường thì luận Câu xá quyển 11 cho rằng, trong cõi người, người ở châu Bắc câu lô sống đến 1000 tuổi, người ở châu Tây ngưu hóa sống khoảng 500 tuổi, người ở châu Đông thắng thân sống khoảng 250 tuổi, còn người ở châu Nam thiệm bộ thì thọ lượng không nhất định, như thọ mệnh ở thời kì cuối cùng của kiếp Giảm là 10 tuổi, thọ mệnh ở thời kì kiếp Sơ là vô lượng. Cứ 1 tuổi nói trên là 1 năm ở nhân gian.Về thọ lượng ở cõi trời thì thọ mệnh của Tứ thiên vương (tầng trời thấp nhất trong 6 tầng trời cõi Dục) là 500 tuổi (một ngày đêm ở đây bằng 50 năm ở nhân gian). Năm tầng trời còn lại, cứ theo thứ tự thêm lên gấp đôi, tức thọ mệnh ở tầng trời thứ 2 là 1000 tuổi(một ngày đêm ở đây bằng 100 năm ở nhân gian). Thọ mệnh ở tầng trời thứ 3 là 2000 tuổi(một ngày đêm ở đây bằng 200 năm ở nhân gian). Thọ mệnh ở tầng trời thứ 4, thứ 5 và thứ 6 lại theo thứ tự thêm lên gấp đôi nữa. Về thọ lượng của chư thiên ở cõi Sắc thì tiêu chuẩn của thân lượng đối với sự dài ngắn của thọ mệnh cũng có ảnh hưởng. Chư Thiên cõi Phạm chúng thân cao nửa do tuần(du thiện na), cõi Phạm phụ 1 do tuần, cõi Đại phạm 1,5 do tuần, cho đến cõi trời Sắc cứu cánh là 1 vạn 6 nghìn do tuần, theo đó thì thọ mệnh ở các cõi Phạm thiên này là từ nửa kiếp cho đến 1 vạn 6 nghìn kiếp. Về thọ lượng của chư thiên ở cõi Vô sắc thì được tính từ dưới lên trên: Tức 2 vạn kiếp, 4 vạn kiếp, 6 vạn kiếp và 8 vạn . Về cách tính kiếp thì từ cõi trời Thiểu quang trở lên là Đại kiếp (80 kiếp), 3 tầng trời cõi Sơ thiền là nửa Đại kiếp. Nếu trong Ác thú thì thọ mệnh ở địa ngục Đẳng hoạt là 500 tuổi(một ngày đêm ở địa ngục này bằng 500 tuổi ở Tứ thiên vương), cho đến thọ mệnh ở địa ngục Viêm nhiệt là 1 vạn 6 nghìn tuổi(một ngày đêm ở địa ngục này bằng thọ lượng 1 vạn 6 nghìn tuổi của chư Thiên cõi Tha hóa tự tại). Còn thọ mệnh ở địa ngục Cực nhiệt là nửa Trung kiếp (10 kiếp), ở địa ngục Vô gián là 1 Trung kiếp. Về thọ lượng trong cõi bàng sinh (súc sinh đạo) thì phần nhiều không có hạn nhất định, sống lâu nhất thì như Đại long vương Nan đà... là 1 Trung kiếp, còn lại như loài quỉ thì thọ mệnh 500 tuổi(một ngày đêm ở quỉ đạo bằng 1 tháng ở nhân gian). Về thọ lượng của chư Phật, theo kinh Phật danh quyển 7, 8 thì thọ mệnh của Phật Diệu thanh 6 phân thanh là 6 nghìn tuổi, đức Trí tự tại Như lai là 12 nghìn tuổi, Phật Uy đức tự tại 76 nghìn tuổi, Phật Đại chúng tự tại 60 nghìn tuổi, Phật Thắng thanh 1 trăm nghìn tuổi, Phật Nguyệt diện chỉ một ngày đêm, Phật Nhật diện 1 nghìn 8 trăm tuổi, Phật Ca diếp 20tiểu kiếp, Phật Thích ca 100 tuổi. Theo thuyết của phẩm Thọ lượng trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới), một kiếp ở thế giới Sa bà của Phật Thích ca mâu ni là một ngày đêm ở thế giới Cực lạc của Phật A di đà; một kiếp ở thế giới Cực lạc là một ngày đêm ở thế giới Ca sa chàng của Phật Kim cương kiên; một kiếp ở thế giới Ca sa chàng là một ngày đêm ở thế giới Bất thoái chuyển âm thanh của Phật Thiện thắng quang minh liên hoa khai phu; cho đến một kiếp ở thế giới cuối cùng trải qua trăm vạn a tăng kì thế giới là 1 ngày đêm ở thế giới Thắng liên hoa của Phật Hiền thắng. [X. kinh Tạp a hàm Q.48; phẩm Địa ngục trong kinh Trường a hàm Q.19; phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; phẩm Thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1; luận Đại tì bà sa Q.116, 135; luận Tạp tâm Q.2; luận Du già sư địa Q.4; luận Đại trí độ Q.13].
thọ lượng phẩm
Phẩm Vô Lượng Thọ trong Kinh Pháp Hoa, khi Đức Phật tuyên bố rằng thọ mạng của Phật là vô lượng—The chapter in the Lotus Sutra where Buddha declares his eternity.
thọ lượng tứ độ kệ
(壽量四土偈) Bài kệ nói về thọ lượng ở 4 cõi: Thường tịch quang độ, Thực báo trang nghiêm độ, Phương tiện hữu dư độ và Phàm thánh đồngcư độ. Phẩm Thọ lượng trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 34 hạ) ghi: Thường tại Linh thứu sơn Cập dư chư trụ xứ Chúng sinh kiến kiếp tận Đại hỏa sở thiêu thời Ngã thử độ an ẩn Thiên nhân thường sung mãn. (Thường ở núi Linh thứu Và các trụ xứ khác Chúng sinh thấy kiếp hết Lúc lửa lớn đốt sạch Cõi ta đây an ổn Trời người thường đầy đủ). Sáu câu này là kệ Pháp giới đạo tràng, vì trong 6 câu này có đủ 4 cõi, cho nên cũng gọi là Thọ lượng tứ độ kệ. Pháp hoa văn cú quyển 9 hạ giải thích Thường ở núi Linh thứu là Thực báo độ, là Tịnh độ thường trụ trong 3 đời, nên gọi là Thực báo độ, nơi ở của Tha dụ dụng báo thân, là quả báo do chứng lí thực tướng mà có được, nên gọi là Thực báo, là trụ xứ của hàng Bồ tát Biệt giáo từ Sơ địa trở lên và của Bồ tát Viên giáo từ Sơ trụ trở lên. Hai chữ thường ở bao hàm Thường tịch quang độ, Thường tịch quang độ chỉ cho lí thực tướng(lí Tam đế). Trong đó, Thường nghĩa là thường trụ, cho nên là Trung đế; Tịch nghĩa là không, cho nên là Không đế, Quang nghĩa là chiếu soi ba nghìn các pháp, cho nên là Giả đế. Lí thường tịch quang này chính là do báo thân Tự tha thụ dụng chứng được, là nơi thường ở thường còn, vì thế 2 chữ thường ở được dùng để nêu rõ ý ấy. Kế đến là từ ngữ các trụ xứ khác thì trong đó gồm có Phương tiện độ và Đồng cư độ, cộng chung là 4 độ, nên gọi là Tứ độ kệ.
thọ lạc
(壽樂) Sống lâu và an vui. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 trung) nói: Sao chẳng giũ bụi trần, Siêng năng cầu học đạo; Để được sống lâu dài, Thọ lạc không cùng tận.
thọ mạng
Jivita (skt)—Đời sống (một thời kỳ mà hơi thở được giữ không dứt)—Life.
thọ mạng kiến
Fate—Determination of length of life.
thọ mạng ngắn
Short lifespan.
thọ mạng vô biên
Life span is inexhaustible.
thọ mạng vô hữu lượng
See Thọ Mạng Vô Số Kiếp.
thọ mạng vô số kiếp
Cuộc sống vô tận của Phật—The infinite life of Buddha.
thọ mệnh
Jīvita (S).
; Jìvita (S). Span of life, life.
thọ mệnh vô lượng nguyện
(壽命無量願) Cũng gọi Đắc thọ cửu trụ nguyện, Tự thân thọ vô hạn nguyện, Trường thọ nguyện, Thọ mệnh vô cùng an khả trắc lượng nguyện, Phật thọ vô lượng nguyện. Nguyện thứ 13 trong 48 nguyện của Phật A di đà. Khi còn làbồ tát Pháp tạng ở địa vị tu nhân, đức Phật A di đà đã từng phát 48 nguyện, trong đó, Thọ mệnh vô lượng nguyện là nguyện được sống lâu vô lượng để mang lại lợi ích vô tận cho chúng sinh.Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Nếu khi tôi thành Phật mà thọ mệnh còn có hạn lượng, thậm chí là trăm nghìn ức na do tha kiếp thì tôi không thành Chính giác. Kinh A di đà thì nói (Đại 12, 347 thượng): Thọ mệnh củađứcPhật kia và của nhân dân cõi ấy vô lượng vô biên a tăng kì kiếp, vì thế gọi là A di đà. Đây nói về tướng thành tựu nguyện ấy, tức quả thể thọ mệnh của Báo Phật A di đà là sống lâu vô lượng. Ngài Tuệ viễn cho nguyện này là 1 trong các nguyện thuộc về Nhiếp pháp thân nguyện, còn sư Thân loan người Nhật thì cho là 1 trong các nguyện thuộc Chân thực nguyện. [X. kinh Đại a di đà Q. thượng; kinh Phóng quang bát nhã Q.13; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng].
thọ nghiệp
nghiệp được tạo thành do các cảm thọ khác biệt như khổ, vui, không khổ không vui. Nghiệp này không do phiền não tạo thành.
; Thọ lãnh quả báo của nghiệp—To receive the results of karma of one's deeds—Duties of the receiver of the rules.
thọ niệm xứ
Vedanānupassana (S), Contemplation of feelings.
thọ noãn thức
(壽暖識) Thọ là thọ mệnh, chỉ cho sự sống; Noãn là hơi ấm, chỉ cho nhục thể; Thức là tâm thức, chỉ cho tinh thần. Mối quan hệ giữa 3 yếu tố này, theo kinh Tạp a hàm quyển 10 và kinh Trung a hàm quyển 58 là quan hệ hỗ tưong y trì, nghĩa là 3 yếu tố phải nương tựa lẫn nhau thì sự sống mới được duy trì liên tục, hệt như sự quan hệ giữa dầu, bấc đèn và lửa đèn, thiếu một trong 3 thì đèn liền tắt. Kinh Tạp a hàm quyển 21 (Đại 2, 150 trung) nói: Thọ,noãn cùng vớithức, lúc bỏ thân đều bỏ, thân ấy để ngoài gò mả, vô tâm như gỗ đá. Luận Câu xá quyển 5 (Đại 29, 26 thượng) nói: Thọ, noãn cùng với thức, ba pháp lúc lìa thân, thân ấy nằm cứng đờ, như gỗ không hay biết. Luận Thành duy thức quyển 3 (Đại 31, 16 hạ) ghi: Khế kinh nói: Ba thứthọ, noãn và thức, phải nương tựa lẫn nhau mới tồn tại liên tục. Ngoài ra, về mối quan hệ hỗ tương giữa thọ, noãn và thức, các nhà Câu xá cũng như Duy thức còn có nhiều thuyết phức tạp.[X. Duy thức luận nghĩa bí Q.3, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.4, hạ].(xt. Thọ).
thọ pháp
The receiving of the Law.
Thọ Phước Tự
(壽福寺, Jufuku-ji): ngôi chùa cuối cùng của Phái Kiến Trường Tự (建長寺派) thuộc Lâm Tế Tông, hiệu núi là Quy Cốc Sơn (龜谷山), ngọn núi đứng hạng thứ 3 trong năm ngọn núi nổi tiếng ở vùng Liêm Thương; hiện tọa lạc tại Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣). Chùa này vốn do Cương Kỳ Nghĩa Thật (岡崎義實) kiến lập nên, nhưng đến năm 1200 (Chánh Trị [正治] 2), phu nhân của Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo) là Bắc Điều Chính Tử (北條政子, Hōjō Masako) mới phát nguyện dựng lập ngôi già lam, rồi mời Vinh Tây làm vị Tổ khai sơn ngôi chùa này. Ban đầu thì cũng giống như Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), chùa là đạo tràng kiêm tu cả Thiền, Thiên Thai và Chơn Ngôn, nhưng dần dần nó lại được chỉnh bị trở thành quy mô của ngôi Thiền tự. Vào những năm 1247, 1258 thì Tổng Môn, Điện Phật, Nhà Kho, Phương Trượng của chùa bị cháy rụi, rồi đến năm 1278 chùa lại được tái kiến nguyên vẹn như xưa. Kế thừa Vinh Tây có Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇), Vô Bổn Giác Tâm (無本覺心), Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓), Đại Hiết Liễu Tâm (大歇了心), Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆), Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念), Nghĩa Đường Châu Tín (義堂周信), và nếu như nói về Thiền Tông thời kỳ đầu của nước ta thì chùa này chiếm một vị trí vô cùng quan trọng.
thọ quyết
See Thọ Ký.
thọ sanh đắc
Xem Sanh đắc.
Thọ sinh 受生
[ja] ジュショウ jushō ||| (1) To be born, receive life, undergo birth. (upapatti)〔瑜伽論T 1579.30.629c12〕 (2) To be born into suffering. (3) The jātaka--the life stories of the Buddha, which are one of the twelve divisions of the Buddhist canon. (jātaka) => Có các nghĩa sau: 1. Được sinh ra, tiếp nhận mạng sống, trải qua cuộc sống(s: upapatti). 2. Được sinh ra trong đâu khổ. 3. Bản sinh, chuyện cuộc đời của Đức Phật, là 1 trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo (s: jātaka).
thọ sự
Karmadana (skt)—Âm theo Phạn ngữ là Yết Ma Đà Na, vị sư phân phối công việc tạp sự trong chùa, xưa gọi là Duy Na—The director of duties, the one who gives out the work.
thọ tam qui
An initiation celebration where a person becomes a disciple by receiving the three refuges in the Buddha, Dharma and Sangha.
thọ tam quy, trì ngũ giới, giữ oai nghi
Quy-y Tam Bảo, thọ giới luật do Phật chế ra, và giữ đúng uy nghi của người tu Phật. Quy-y Tam Bảo như hai mắt, trì ngũ giới như hai chân. Chúng ta luôn cần mắt để thấy đường thấy nẻo, và cần chân để du hành đến mục tiêu đã định—Take refuge in the three jewels (Triratna), accept and perfectly observe all moral precepts, and maintain a dignified conduct (an appropriate dignity for a monk). In Buddhism, taking refuge in the Three Gems is like having two eyes; observing the five precepts is like two legs. We always need eyes to see the path, and legs to travel on the path to reach the aiming goal—See Tam Quy-Y, and Ngũ Giới in Vietnamese-English Section.
thọ thai lễ
Xem Cầu tự.
thọ tháp
(壽塔) Cũng gọi Thọ tàng, Thọ lăng. Chỉ cho tháp cầu nguyện sống lâu, là bia tháp xây dựng trước cho mình khi còn sống. Theo thông lệ, trên tháp có khắc chữ đỏ, để phân biệt với các bia mộ khác. Ban đầu, việc này thịnh hành trong Thiền tông, sau thì các tông khác cũng làm theo. Ngoài ra, Quang vũ đế kỉ thứ 1, hạ trong Hậu Hán thư có ghi: Năm Kiến vũ 26 bắt đầu xây dựng thọ lăng. Điều Triệu kì trongLiệt truyện thứ 54 của sách trên ghi: Kì làm quan đến chức Thái thường, thọ hơn 90 tuổi, năm Kiến an thứ 6 ông mất. Ông đã xây thọ tàng cho mình từ trước, vẽ tượng 4 ông Quí trát, Tử sản, Án anh và Thúc hướng ở địa vị khách, lại tự vẽ tượng của mình ở địa vị chủ, đều là tán tụng. Nhờ đó mà người ta được biết vào thời nhà Hán, thọ tháp đã được xây dựng.
thọ thủ
Người vãng sanh ở hàng thượng phẩm thượng sanh thì khi vãng sanh sẽ được chư Phật đến đón tận tay, như một số trường hợp Đức Quán Âm đi tiếp dẫn vậy—To proffer the hand, to come in person to welcome the dying, as e.g. does Kuan-Yin in certain cases.
Thọ Tinh
(壽星): tên của một vị thần tiên, ngôi sao chủ quản về tuổi thọ của con người, như trong Sử Ký Sách Ẩn (史記索隱) có giải thích rằng: “Thọ Tinh, cái Nam Cực Lão Nhân tinh dã; kiến tắc thiên hạ lý an, cố từ chi dĩ kỳ phước thọ (壽星、蓋南極老人星也、見則天下理安、故祠之以祈福壽, Thọ Tinh là sao Nam Cực Lão Nhân; thấy sao này tất thiên hạ được yên; cho nên thờ phụng sao này để cầu phước thọ).” Vì vậy, Thọ Tinh còn có tên gọi khác là Thọ Tinh Công (壽星公), Nam Cực Lão Nhân (南極老人), Nam Cực Lão Nhân Thọ Đức Tinh Quân (南極老人壽德星君), Nam Cực Tiên Ông (南極仙翁). Nguyên lai, xưa kia Nam Cực Lão Nhân chủ quản về vận mạng đất nước, quốc gia; nhưng đến thời nhà Chu (周, 1134-250 ttl) thì biến thành quản lý về thọ mạng con người. Trong Sử Ký Chánh Nghĩa (史記正義) gọi Thọ Tinh là “vi nhân chủ chiêm thọ mạng diên trường chi ứng (爲人主占壽命延長之應, chủ yếu chiếm đoán ứng nghiệm thọ mạng dài lâu cho con người).” Sao này thường đi chung với Phước Tinh (福星), Lộc Tinh (祿星), được gọi là Phước Lộc Thọ Tam Tinh (福祿壽三星). Trong bài Thái Thượng Huyền Linh Bắc Đẩu Bổn Mạng Diên Sanh Chơn Kinh (太上玄靈北斗本命延生眞經) thường được Hoàng Triều đọc tụng hằng ngày để cầu nguyện chư vị thần linh gia hộ, ngoài tên Tam Thanh (三清), Ngọc Đế (玉帝), Bắc Đẩu Cửu Tinh Quân (北斗九星君), còn có các danh hiệu như Nam Cực Lão Nhân Thọ Đức Tinh Quân (南極老人壽德星君), Thượng Thanh Phước Đức Tinh Quân (上清福德星君), Thượng Thanh Lộc Đức Tinh Quân (上清祿德星君). Sau này trong Nam Lục Kỳ Thọ Tảo Triêu Nghi (金籙祈壽早朝儀) được biên soạn dưới thời nhà Minh có câu: “Nam Cực Lão Nhân Phước Lộc Thọ Tam Tinh Chơn Quân (南極老人福祿壽三星眞君).” Như vậy, cả ba sao Phước Lộc Thọ đều quy về danh xưng Nam Cực Lão Nhân. Hiện tại, trong Đạo Giáo cho rằng Phước Tinh là Thiên Quan (天官), Lộc Tinh là Văn Xương (文昌) và Thọ Tinh là Nam Cực Lão Nhân.
thọ tinh
Shou-hsing (C), Star of Long Life Shouxing (C).
Thọ toán
(壽算): tuổi thọ, thọ số. Như trong Huyền Quái Lục (玄怪錄), phần Tề Suy Nữ (齊推女), của Ngưu Tăng Nhụ (牛僧孺, 779-848) nhà Đường, có đoạn: “Lý thị thọ toán trường, nhược bất tái sinh, nghị vô áp phục (李氏壽算長、若不再生、議無厭伏, họ Lý tuổi thọ lâu, nếu không sống lại, bàn luận chẳng ai nể phục).” Hay trong Tục Thanh Lương Truyện (續清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2100) quyển Hạ, phần Hậu Tự (後序), lại có đoạn: “Trợ duyên thí chủ, tăng thiêm thọ toán, pháp giới hữu tình, đồng đăng giác ngạn (助緣施主、增添壽算、法界有情、同登覺岸, trợ duyên thí chủ, tăng thiêm tuổi thọ, pháp giới hữu tình, cùng lên bờ giác).” Hoặc trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 4, phần Vãng Sanh Trưng Tín Lục Hạ (往生徵信錄下), cũng có đoạn rằng: “Quang âm dị quá, thọ toán nan tăng, tiền trình tốc biện, mạc ngộ nhân thân, trì trai niệm Phật, quảng độ chúng sanh, lưỡng vong nhân ngã, tức chứng Vô Sanh (光陰易過、壽算難增、前程速辦、莫誤人身、持齋念佛、廣度眾生、兩忘人我、卽證無生, thời gian dễ qua, tuổi thọ khó tăng, tính mau nẻo trước, chớ lỡ thân người, ăn chay niệm Phật, rộng độ chúng sanh, ta người quên hết, liền chứng Vô Sanh).”
thọ trì
Udgrahana (S)Lãnh thọ vào tâm, ghi nhớ không quên.
; Nhận lãnh và hành trì những giáo thuyết của Phật—To receive and retain (to hold on or keep) the Buddha's teaching.
Thọ Trường
(壽長, Juchō, ?-896): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, Tọa Chủ đời thứ 1 của Cao Dã Sơn, húy là Thọ Trường (壽長). Ông lên Cao Dã Sơn, theo làm đệ tử của Chơn Nhiên (眞然). Trong khoảng thời gian niên hiệu Nhân Hòa (仁和, 885-889), vì Chơn Nhiên được bổ nhiệm làm Tự Trưởng của Đông Tự, nên ông phải thay thế thầy quản lý Sơn Môn, và đến năm 889, ông làm Tọa Chủ Cao Dã Sơn. Vào năm 894, ông nhường chức Tọa Chủ lại cho Vô Không (無空) rồi lui về ẩn cư.
thọ tuế
Nhận thêm một tuổi hạ lạp vào cuối kỳ an cư kiết hạ—To receive or to add one year to one's monastic age on the conclusion of the summer's retreat.
thọ tùy
Thọ Thể Tùy Hành—Tỳ Kheo khi mới thọ giới thể mà giữ đủ cho bản thân mình tức là “Thọ,” về sau tùy theo giới thể mà tu trì giới hạnh như giáo pháp đã định thì gọi là “Tùy”—To receive the rules and follow them out
thọ tưởng hành thức
Bốn uẩn trong ngũ uẩn hay tứ uẩn phi sắc—The four immaterial skhandhas (feeling: vedana, ideation: samjna, reaction: samskara, consciousness: vijnana).
thọ tượng
Bức hình hay tượng lâu năm của một người hãy còn tại thế—A portrait, or statue of a man of years while still alive.
thọ tội
To undergo (receive) a punishment.
thọ uẩn
Vedanākkhandha (P), Vedanā-skandhah (S), Vedanā-skandha (S), Aggregate of feeling, Aggregate of sensationTrong ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và Thập nhị nhân duyên.
; Vedana (skt)—Một trong năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)—The aggregate of feeling—Sensation, one of the five skandhas.
Thọ vực
(壽域): có hai nghĩa. (1) Cõi thái bình, thịnh trị. Như trong bài thơ Quận Trai Độc Chước (郡齋獨酌) của Đỗ Mục (杜牧, khoảng 803-852) nhà Đường có câu: “Sanh nhân đản miên thực, thọ vực phú nông tang (生人但眠食、壽域富農桑, người sống chỉ ăn ngủ, an bình giàu ruộng dâu).” Hay trong bài thơ Ngô Minh Phủ Sinh Nhật (吳明府生日) của Kim Nhân Thụy (金人瑞, 1608-1661) nhà Thanh cũng có câu: “Thập vạn hộ tề đăng thọ vực, hồ thiên khởi độc nhất nhân trường (十萬戶齊登壽域、壺天豈獨一人長, mười vạn hộ đều vui sống thọ, cảnh tiên sao chỉ có một người).” (2) Huyệt mộ được chuẩn bị khi còn sống.
thọ xúc kim cang
Xem Uế tích Minh vương.
Thọ Xương Tự
(壽昌寺, Jushō-ji): hiện tọa lạc tại Trấn Thạch Hạp (石峽鎭), phía Đông Huyện Tân Thành (新城縣), Phủ Kiến Xương (建昌府, Tỉnh Giang Tây), được kiến lập dưới thời nhà Đường với tên là Vĩnh Cư Viện (永居院). Dưới thời nhà Tống, chùa được gọi là Thọ Xương Viện (壽昌院), nhưng đến thời nhà Minh thì dời đến dưới Hoàng Long Phong (黃龍峰) và nhận sắc ngạch với tên là Thọ Xương Thiền Tự (建昌禪寺). Đến năm thứ 10 (1653), chùa được trùng kiến lại; Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經), Giác Lãng Đạo Thạnh (覺浪道盛), v.v., đã từng đến trú trì nơi đây.
thọ y
Đệ tử được sư phụ ban cho y áo trong ngày kết của mùa kiết hạ an cư—Master gives out winter garments in the ninth month.
thọ y ca-thi-na
Xem Dâng Y cà ca.
thọ đề
Tejas (S)Hỏa, lửaTên một đứa trẻ sinh ra trong đám lửa.
thọ ơn
To receive a favor.
thọ ấm
xem năm ấm.
thọc
To thrust.
thọc gậy
To put a spoke in someone's wheel.
thọc miệng
To meddle in a conversation.
thỏ
Rabbit.
thỏ thẻ
To babble (talk of baby).
thỏa
Appropriate—Fitting--Satisfactory.
thỏa chí
Pleased—Satisfied—Content.
thỏa dạ
See Thỏa Chí.
thỏa hiệp
To come to an agreement (understanding)—To agree.
thỏa lòng
See Thỏa Chí.
thỏa mãn
To satisfy—To pander—To indulge.
thỏa mãn tham dục
To satisfy one's passion.
thỏa mãn xúc động
Emotional satisfaction
thỏa nguyện
Satisfied with one's vow or wish.
thỏa thuận
Agreement—Accord—Concord—To understand one another—To consent—To agree.
thỏa thích
See Thỏa chí.
thỏa đáng
See Thỏa.
thỏi
See Thoi (1)
thố
Nhổ ra—To spit—To excrete—To put forth.
Thố giác
(兔角): sừng thỏ. Cụm từ “quy mao thố giác (龜毛兔角, lông rùa sừng thỏ)” là dụng ngữ Phật Giáo, thường được dùng trong Thiền Tông. Con rùa không bao giờ có lông và con thỏ chẳng khi nào mọc sừng cả; cho nên từ này được dùng để chỉ cho tồn tại không thể có, cái có tên mà không thật có; đặc biệt, trong các điển tịch Phật Giáo thường dùng từ này để chỉ cho lý của Không. Như trong Sưu Thần Ký (搜神記) quyển 6 của Cán Bảo (幹寶, ?-336) nhà Tấn có câu: “Thương Trụ chi thời, đại quy sanh mao thố sanh giác, binh giáo tương hưng chi tượng dã (商紂之時、大龜生毛兔生角、兵甲將興之象也, dưới thời vua Thương Trụ, rùa lớn có lông, thỏ mọc sừng, là tượng trưng cho binh lính sẽ hưng thịnh).” Hay trong Kim Cang Kinh Tụng (金剛經頌) có câu: “Như quy mao bất thật, tợ thố giác vô hình (如龜毛不實、似兔角無形, như lông rùa chẳng thật, giống sừng thỏ vô hình).” Hoặc trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, Taishō No. 1565) quyển 5 có đoạn: “Như hà thị Tổ Sư Tây lai ý ? Sư viết: 'Quy mao phất tử, thố giác trụ trượng, Đại Đức tàng hướng thậm ma xứ ?' Viết: 'Quy mao thố giác khởi thị hữu da ?' (如何是祖師西來意、師曰、龜毛拂子、兔角拄杖、大德藏向甚麼處、曰、龜毛兔角豈是有邪, Ý của Tổ Sư từ Ấn Độ sang là gì ? Sư đáp: 'Lông rùa phất trần, sừng thỏ chống gậy, Đại Đức hướng nơi nào trốn vậy ?' Đáp: 'Lông rùa sừng thỏ liệu có thật sao ?').” Bồ Tát Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250) có khẳng định trong Tán Pháp Giới Tụng (讚法界頌) rằng: “Thố giác thể phi hữu, vọng chấp linh chân thật, pháp giới ly vọng chấp, vọng chấp chơn phi hữu (兔角體非有、妄執令眞實、法界離妄執、妄執眞非有, sừng thỏ thể chẳng có, chấp lầm khiến thành thật, pháp giới lìa chấp lầm, chấp lầm thật không có).”
; 兎角; C: tùjiǎo; J: tokaku;|Sừng thỏ, vật chỉ có trong trí tưởng tượng.
thố giác
Sasa-visàna (S). A rabbit's horns, i.e. the non existent; all phenomena are as unreal as a rabbit's horns.
; Sasa-visana or sasa-srnga (skt)—Sừng thỏ (người ngu nhận lầm đôi tai thỏ là sừng, kỳ thật thỏ không có sừng). Từ nầy dùng để chỉ những cái không thể có được (mọi hiện tượng đều không thực)—Rabbit's horns, i.e. non-existent; all phenomena are as unreal as rabbit's horns
Thố giác 兎角
[ja] トカク tokaku ||| The horns of a rabbit--something imaginary. => Sừng thỏ-- vật chỉ có trong tưởng tượng.
thố mao trần
Hạt vị trần nhỏ hơn hạt bụi. Một hạt bụi bám trên đầu lông thỏ lớn gấp bảy lần hạt bụi bám trên lông trừu—The peck of dust that can rest on the point of a hare's down, one-seventh of that on a sheep's hair.
; (兔毛塵) Phạm:Zaza-rajas. Mảy bụi đậu trên đầu lông con thỏ, tương đương với 1/7 của mảy bụi dính trên đầu sơi lông con dê. Bụi nhỏ (vi trần) là yếu tố cấu thành vật chất, mảy bụi cực nhỏ (cực vi)là đơn vị nhỏ nhất, không thể chia được nữa. Hợp 7 vi trần thành 1 kim trần, 7 kim trần là 1 thủy trần, 7 thủy trần là 1 thỏ mao trần. [X.luận Câu xá Q.12]. (xt. Cực Vi).
thốc
Bald. Thốc cư sĩ. Thốc nhân. A monk, sometimes used as a term of abuse.
; Người sói đầu—A bald.
thốc nhân
Thốc Cư Sĩ—Thốc Nô—Chỉ Tăng Ni lạm dụng danh nghĩa tu trì—A monk, or a nun, sometimes used as a term of abuse.
thối
1) Hư rữa: Rotten—Stinking. 2) Đi ngược lại: To move (step) back. 3) Nhượng bộ: To yield.
thối bộ
To recede—To move (step—draw) back—A backward step to one's original state.
thối canh
Tui keng (C)Tên một vị sư.
Thối Canh Hành Dũng
(退耕行勇, Taikō Gyōyū, 1163-1241): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, Trú Trì đời thứ 2 của Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), húy là Hành Dũng (行勇), đạo hiệu Thối Canh (退耕), thường được gọi là Trang Nghiêm Phòng (莊嚴房); xuất thân vùng Tửu Câu (酒勾), Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]), họ Tứ Điều (四條). Ban đầu ông quy y theo Chơn Ngôn Tông, làm tăng ở Bát Phan Cung (八幡宮) vùng Hạc Cương (鶴岡, Tsuruoka), Liêm Thương (鎌倉, Kamakura); rồi đến trú tại hai chùa Vĩnh Phước (永福) và Đại Từ (大慈). Đến tháng 9 niên hiệu Chánh Trị (正治) thứ 2 (1200), ông theo hầu Vinh Tây (榮西) của Lâm Tế Tông trên đường đi xuống vùng Liêm Thương, và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đã từng trú trì các chùa như Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji), Kiến Nhân Tự ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Đến năm 1214, khi bà Bắc Điều Chính Tử (北條政子, Hōjō Masako) kiến lập ngôi Kim Cang Tam Muội Viện (金剛三昧院) trên Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan), ông được cung thỉnh làm Viện Chủ ở đây. Ông từng làm chức Đại Khuyến Tấn (大勸進), chuyên trách công việc trùng tu Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Ông cũng còn làm giới sư cho Chính Tử. Đến cuối đời, ông quay trở về Liêm Thương, kiến lập nên Tịnh Diệu Tự (淨妙寺, Jōmyō-ji), Đông Thắng Tự (東勝寺, Tōshō-ji), rồi đến ngày mồng 5 tháng 7 niên hiệu Nhân Trị (仁治) thứ 2 thì viên tịch (có thuyết cho là vào ngày 21 tháng 10), hưởng thọ 79 tuổi.
Thối Canh Đức Ninh
(退耕德寧, Tsuikan Tokunei, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Nguyên, thuộc Phái Dương Kì và Phái Phá Am của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Thối Canh (退耕). Ông theo tham học với Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Đức Sơn (德山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến trú tại Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Rồi ông chuyển đến trú trì các chùa như Báo Ân Tự (報恩寺), Huệ Nhật Tự (慧日寺), Vĩnh Thiên Tự (永天寺), Vạn Thọ Tự (萬壽寺), cuối cùng lại quay về Linh Ẩn Tự.
thối chuyển
Vaivarti (S)Tỳ bạt tríThụt lui, quay trở lại, chẳng tu tập thêm.
thối chí
Discouraged—Broken-spirited.
thối nát
Rotten.
thối tâm
Retrogress.
thối đại
See Thoái Đại.
thối ẩn
Tui yin (C)Tên một vị sư.
thốn
Một tấc Tàu—A Chinese inch.
thốn ti bất quải
(寸絲不挂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chẳng đeo một tấc tơ. Trong Thiền tông, nhóm từ này được dùng để ví dụ tâm tính không nhiễm một mảy bụi nhơ. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 258 trung) ghi: Hòa thượng Nam tuyền hỏi Đại phu Lục hoàn rằng: Trong 12 thời (24 giờ) Đại phu làm việc gì? Lục hoàn đáp: Chẳng đeo một tấc tơ (thốn ti bất quải).
thốn trường xích đoản
(寸長尺短) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tấc dài, thước ngắn. Trong khái niệm thường thức phổ thông thì ai cũng cho rằng thước dài, tấc ngắn, nhưng y cứ theo khái niệm thông thường này thì không có cách nào nắm bắt được chân lí tuyệt đối, cho Thôn Thượng Chuyên Tinh nên nêu ra khái niệm tương phản tấc dài, thước ngắn, đồng thời dùng tinh thần siêu việt loại khái niệm tương đối này để nắm bắt tướng chân thực, đây cũng là 1 trong các tinh thần cơ bản của Thiền tông. [X. Động thượng vân nguyệt thượng Q.hạ].
Thốn tâm
(寸心): tấc lòng, có 2 nghĩa chính. (1) Chỉ cho tâm. Xưa kia, người ta cho rằng tâm lớn nhỏ chỉ trong khoảng một tấc vuông; cho nên có tên gọi như vậy. Trong bài thơ Ngẫu Đề (偶題) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Văn chương thiên cổ sự, đắc thất thốn tâm tri (文章千古事、得失寸心知, văn chương thiên cổ việc, được mất tấc lòng hay).” Hay trong tác phẩm Phù Sanh Lục Ký (浮生六記), phần Khảm Khả Ký Sầu (坎坷記愁), của Thẩm Phú (沉覆, 1763-1825) nhà Thanh, có đoạn rằng: “Đương thị thời, cô đăng nhất trản, cử mục vô thị, lưỡng thủ không quyền, thốn tâm dục toái (當是時、孤燈一盞、舉目無親、兩手空拳、寸心欲碎, ngay lúc ấy, ánh đèn đơn một chén, dương mắt mà chẳng thấy, hai tay đấm không gian, tấc lòng muốn vỡ tan).” Hoặc trong Bát Nhã Tâm Kinh Chú Giải (般若心經註解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 575) quyển 2 lại có câu: “Thốn tâm bất muội, vạn pháp giai minh (寸心不昧、萬法皆明, tấc lòng không mê muội, vạn pháp thảy sáng trong).” (2) Chỉ cho tâm sự, tâm nguyện. Như trong bài thơ Phùng Hiệp Giả (逢俠者) của Tiền Khởi (錢起, 710-782) nhà Đường có câu: “Thốn tâm ngôn bất tận, tiền lộ nhật tương tà (寸心言不盡、前路日將斜, tấc lòng sao nói hết, nẻo trước ánh chiều tà).” Hay trong bài thơ Mậu Tuất Bát Nguyệt Cảm Sự (戊戌八月感事) của Nghiêm Phục (嚴復, 1854-1921) lại có câu: “Lâm hà minh độc thán, mạc khiển thốn tâm hôi (臨河鳴犢嘆、莫遣寸心灰, đến sông nghe nghé than thở, chớ để tấc lòng nát tan).”
thốn đinh nhập mộc
(寸釘入木) Cũng gọi Thốn thiết nhập mộc. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tấc đinh đóng vào cột. Nghĩa là cây đinh dài chỉ 1 tấc nhưng 1 khi đã đóng nó vào cột gỗ thì không ai có thể nhổ ra được. Vì thế Thiền lâm thường dùng sự kiện này để ví dụ đạo niệm bền chắc của người học, không có bất cứ cảnh vật bên ngoài nào lay chuyển được. [X. Tắc 60 trong Thiết địch đảo xuy].
thống cảm
Afflictive emotion.
thống khổ
Unhappy—Suffering.
thống mạ
To abuse severely.
thống thiêu chúng sinh
(痛燒衆生) Chỉ cho ác báo của chúng sinh ở hiện tại và vị lai. Thống(đau đớn)chỉ cho ác báo ở hiện tại; Thiêu (thiêu đốt)chỉ cho ác quả ở vị lai. An lạc tập quyển hạ (Đại 47, 18 trung) nói: Các kinh diệt hết, Như lai thương xót thống thiêu chúng sinh, đặc biệt lưu lại kinh này ở thế gian 100 năm. Ngoài ra, kinh Vô lượng thọ quyển hạ có thuyết Ngũ thống ngũ thiêu. (xt. NgũThốngNgũThiêu).
thống thiết
Moving—Touching.
thống thiết tự răn
Earnestly restrain oneself.
thống trị
To dominate—To rule.
Thống xứ chùy
(痛處錐): mũi chùy đâm vào chỗ đau. Cụm từ nầy thỉnh thoảng thấy có xuất hiện trong các ngữ lục Thiền xưa nay như Đại Ứng Lục (大應錄), Hư Đường Lục (虛堂錄), Bảo Lâm Ngữ Lục (寳林語錄). Đại Đăng Quốc Sư (大燈國師) cũng có dùng nhiều cụm từ nầy trong bộ Bích Nham Lục (碧巖錄) của mình. Như trong tác phẩm Cuồng Vân Tập (狂雲集, Kyōunshū) của Nhất Hưu Tông Thuần (一休宗純, Ikkyū Sōjun, 1394-1481) có câu: “Từ Minh hiệp lộ đắc Dương Kì, địch diện chi cơ thống xứ chùy, Thiên Trạch sầu ngâm phong nguyệt khách, tú liêm xuy động nhuyễn phong bài (慈明狹路得楊岐、覿面之機痛處錐、天澤愁吟風月客、繡簾吹動軟風扉, Từ Minh ngõ hẹp gặp Dương Kì, căn cơ xáp mặt đau mũi chùy, Thiên Trạch buồn ngâm trăng gió khách, rèm thưa thổi động cửa gió lay).” Hay trong (林間錄, CBETA, No. 1624) cũng có câu: “Lương ôn viễn cận chuyển tăng nghi, bất đáp đương cừ thống xứ chùy, thượng trục tiểu nhi tranh vị dĩ, Trọng Ni hà độc cổ nan tri (涼溫遠近轉增疑、不答當渠痛處錐、尚逐小兒爭未已、仲尼何獨古難知, gần xa tươi mát càng thêm nghi, chẳng đáp phải chịu đau mũi chùy, lại đuổi lũ nhóc tranh giành mãi, Trọng Ni xưa mãi chẳng hay gì).”
thốt
To speak.
thốt nhiên
Suddenly—All of a sudden—All at once.
thổ
Bhu or Bhumi—Earth—Ground—Land—Soil.
Thổ Công
(土公): tên gọi khác của Phước Đức Chánh Thần (福德正神), Thổ Chánh (土正), Xã Thần (社神), Xã Công (社公), Thổ Địa (土地), Thổ Bá (土伯), Thổ Địa Công (土地公). Vị này nguyên lai là Địa Thần, cũng là một loại thần tự nhiên. Từ thời cổ đại, người Trung Quốc đã có thờ Thần Đất rồi. Con người thường cho rằng đất đai có tài nguyên phong phú, sinh trưởng ngũ cốc, ngũ cốc lại có khả năng nuôi sống nhân loại, cho nên thường tâm niệm cám ơn đất đai, từ đó tôn sùng đất đai như là vị Thần. Trung Quốc cũng như Việt Nam đều phát triển nhờ nền văn minh lúa nước, làm nông; vì vậy ai ai cũng đều tôn trọng Thần Thổ Địa. Trong Lễ Ký (禮記), phần Giao Đặc Tánh (郊特性), có đoạn rằng: “Gia chủ Trung Lựu nhi quốc chủ xã (家主中霤而國主社, Chủ nhà Trung Lựu là thần chủ của nước)”; sớ giải thích: “Trung Lựu vi Thổ Thần (中霤爲土神).” Kế đến, Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋), phần Mạnh Đông Ký (孟冬記) ghi rằng: “Thị nguyệt dã … đại hại, từ ư công xã cập môn lư, hưởng tiên tổ ngũ tự (是月也...大割、祠於公社及門閭、饗先祖五祀, Tháng này … hại lớn, thờ nơi công xã và cổng làng, nhà, dâng cúng năm nơi thờ tự của tiên tổ).” Cao Dụ (高誘) chú thích rằng: “Ngũ tự, Mộc chánh Cú Mang kỳ tự Hộ, Hỏa chánh Chúc Dung kỳ tự Táo, Thổ chánh Hậu Thổ Kì tự Trung Lựu, Hậu Thổ vi xã, Kim chánh Nhục Thâu kỳ tự Môn, Thủy chánh Huyền Minh kỳ tự Tỉnh (五祀、木正句芒其祀戶、火正祝融其祀竈、土正后土其祀中霤、后土爲社、金正蓐收其祀門、水正玄冥其祀井, Năm nơi thờ tự gồm Mộc là Cú Mang thờ Thần Nhà, Hỏa là Chúc Dung thờ Thần Bếp, Thổ là Hậu Thổ thờ Trung Lựu, Hậu Thổ là thần, Kim là Nhục Thâu thờ Thần Cửa, Thủy là Huyền Minh thờ Thần Giếng).” Sách Bạch Hổ Thông (白虎通) cho rằng: “Xã, Thổ Địa chi thần dã (社、土地之神也, Xã là thần Thổ Địa).” và giải thích thêm: “Nhân phi thổ bất lập, phi cốc bất thực, cố phong thổ vi xã, thị hữu Thổ Địa dã (人非土不立、非穀不食、故封土立社、示有土地也, Con người không có đất thì không thể đứng được, không có lúa thóc thì không thể ăn được được; cho nên phong đất làm thần, từ đó có Thổ Địa).” Từ ngàn xưa, người Trung Quốc đã có nghi thức cùng tế Thổ Địa, như trong Lễ Ký có trích dẫn cho biết rằng: “Thiên tử xã tắc đều có chuồng nuôi lớn, chư hầu xã tắc thì có chuồng nuôi nhỏ; Xã là Thổ Thần, Tắc là Cốc Thần; Thiên tử tế Địa Thần thì lấy ba vật cúng trâu, dê, lợn làm chuồng lớn, còn chư hầu tế Địa Thần thì lấy hai vật cúng dê, lợn làm chuồng nhỏ.” Như vậy từ vị thần tự nhiên, Thổ Công đã được tôn vinh thành thần nhân cách, thậm chí được phong chức quan. Ông có thể cai quản một địa phương nhỏ, một khu, một dặm, hay một làng; nên được gọi là Tiểu Thần (thần nhỏ). Thế nhưng, cũng không nên khinh thường ông, như dân gian có tục ngữ rằng: “Đắc tội Thổ Địa Công, tự vô kê (得罪土地公、飼無雞, đắc tội với Ông Thổ Địa thì không nuôi gà được).” Bên cạnh vai trò làm cho người dân được ấm no, Thổ Thần còn giúp cho họ thêm giàu có; nên ông được xem như là Thần Tài (財神). Bằng chứng là những người làm nghề nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp đều tôn thờ vị thần này. Ngoài ra, vị này còn được xem như là thần giữ mộ, nên có tên là Hậu Thổ (后土). Tương truyền rằng những người làm việc tốt, quân tử, sau khi chết sẽ được ông Thành Hoàng cử đi làm Thổ Địa tại các địa phương. Trong Đạo Giáo, Thái Xã Thần (太社神), Thái Tắc Thần (太稷神), Thổ Ông Thần (土翁神), Thổ Mẫu Thần (土母神) đều là những vị thần có trách nhiệm quản lý đất đai. Tuy nhiên, trong thánh điển Phật Giáo không đề cập tên mấy vị này. Về việc Thổ Thần được tôn xưng là Phước Đức Chánh Thần, có câu chuyện như sau. Dưới thời nhà Chu, có Trương Phước Đức (張福德), là gia bộc của Thượng Đại Phu (上大夫) trong gia đình một nọ. Khi chủ nhân đi nhậm quan phương xa, trong nhà chỉ còn lại người con gái nhỏ, thường thương nhớ cha, muốn đi tìm thăm. Thấy vậy, Trương Phước Đức bèn dẫn cô bé đi ngàn dặm tìm cha, giữa đường gặp gió tuyết bão bùng, bé gái bị lạnh cóng sắp chết; khi ấy, Trương Phước Đức cởi áo mình ra để che lấy thân em bé, tự nhiên tánh mạng em nhỏ được cứu sống; nhưng ông thì bị chết cóng. Khi lâm chung, trên không trung hiện ra 7 chữ “Nam Thiên Môn Đại Tiên Phước Đức Thần (南天門大仙福德神)”, như để phong cho tấm lòng trung nghĩa của người nô bộc như ông. Cảm niệm sự trung thành ấy, Thượng Đại Phu cho lập miếu để thờ Trương Phước Đức. Chu Võ Vương (周武王) tặng cho hiệu là Hậu Thổ (后土); từ đó Thổ Thần cũng có tên gọi là Thần Phước Đức. Lại có truyền thuyết Ông Thổ Địa hạ phàm nhậm chức, hy vọng mọi người trên thế gian đều có tiền của, ai ai cũng đều sống an vui. Hay câu chuyện Minh Thái Tổ Chu Hồng Võ (明太祖洪武) cũng khá lý thú. Nhà vua thường giả dạng thường dân ra ngoài dân dã tuần du. Có hôm nọ, vua chợt gặp một gã thư sinh, cả hai cùng vào quán rượu bên đường đối ẩm; nhưng lúc ấy quán đầy ắp người, cả hai đành phải đứng chờ. Chợt nhìn phía sau, thấy có bàn thờ Phước Đức Chánh Thần, nhà vua bèn bưng bỏ xuống dưới đất sát vách tường và bảo rằng: “Ta tạm mượn chỗ ngồi của nhà ngươi chút nhé !” Rồi hai người ngồi xuống bàn uống rượu, một lúc sau nhà vua hỏi: “Ngươi quê ở làng nào ?” Thư sinh đáp: “Trùng Khánh (重慶)”. Nhân đó, nhà vua cử ngay một câu đối rằng: “Thiên lí vi trùng, trùng thủy trùng sơn Trùng Khánh Phủ (千里爲重、重水重山重慶府, Ngàn dặm muôn trùng, trùng nước trùng non Trùng Khánh Phủ).” Chàng thư sinh kia đáp ngay: “Nhất nhân thành đại, đại bang đại quốc đại minh quân (一人成大、大邦大國大明君, Một người thành lớn, lớn bang lớn nước lớn minh quân).” Cả hai hứng chí nhìn nhau cười thỏa thích, tận hứng mới trở về và quên không đặt bàn thờ Thổ Địa lại vị trí cũ. Đêm hôm đó,nhà vua mộng thấy Ông Thổ Địa về thưa rằng: “Hoàng Đế đã ra lệnh cho thần ngồi dưới đất, ngài không cần phải dời thần lên bàn nữa.” Qua câu chuyện này, chúng ta thấy rằng Ông Thổ Địa có cá tánh nhu hòa, bất kể giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, già trẻ, nơi nào có cầu thì nơi đó ông ứng thân ngay. Có lẽ cũng vì lý do này, hiện tại chúng ta thấy bàn thờ Thổ Địa thường được đặt dưới đất. Có thuyết cho rằng nơi miếu thờ Thổ Địa có Ông Cọp, là con vật do Ông Thổ Địa cỡi lên. Vị này cũng có công dụng trấn hộ miếu đường và xua đuổi các dịch bệnh. Nếu trẻ nhỏ bị sốt nóng, viêm nhiệt, có thể dùng giấy tiền xoa vào dưới cổ Ông Cọp, rồi đem dán lên chỗ bị đau thì sẽ hết bệnh. Dân gian Việt Nam có câu: “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”; cho nên mỗi khi đào đất xây nhà, đào giếng, đào huyệt, v.v., đụng đến đất đai, người dân Việt Nam thường phải khấn vái vị thần này. Đặc biệt, vào dịp lễ Trung Thu hằng năm, trong các đoàn múa lân, chúng ta vẫn thấy có người đóng vai trò Ông Địa đi theo đoàn lân, cầm cây quạt phe phẩy với cái bụng bự như Thần Tài. Mặc dầu được gọi là Ông Đại, nhưng có thể theo thuyết của người Trung Hoa cho ông là Thần Tài, hơn nữa, tục lệ người Việt cho rằng lân vào nhà là đem tài lộc đến, nên ông cũng là hiện thân của Thần Tài trong dịp Trung Thu.
Thổ Kì
(土岐, Toki): tên gọi của một dòng họ, thuộc chi lưu của Thanh Hòa Nguyên (清和源), trấn thủ Quận Thổ Kì (土岐郡), rồi làm Thủ Hộ vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino). Đến cuối thời Chiến Quốc thì dòng họ này tiêu tan.
thổ lộ
To outflow—To reveal.
thổ ngữ
Dialect.
Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng
(土御門天皇, Tsuchimikado Tennō, tại vị 1198-1210): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời Liêm Thương, Hoàng Tử thứ nhất của Hậu Điểu Vũ Thiên Hoàng (後鳥羽天皇, Gotoba Tennō), tên là Vi Nhân (爲仁, Tamehito), còn gọi là Thổ Tá Viện (土佐院), A Ba Viện (阿波院). Sau vụ loạn Thừa Cửu (承久), tự ông đến tiểu quốc Thổ Tá (土佐, Tosa) và A Ba (阿波, Awa).
thổ phỉ
Bandit.
thổ sa gia trì
(土砂加持) Cũng gọi Gia trì thổ sa. Gia trì trong cát, 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Tức tụng 108 biến chân ngôn Quang minh trong cát, rồi dùng để chữa bệnh thì trừ diệt được khổ não; nếu đem cát ấy rải trên xác người chết, trên phần mộ thì được lợi ích diệt tội sinh thiện, chuyển phàm thành thánh, vãng sinh Cực lạc. Cát dùng vào việc này phải lấy từ những nơi ít người đặt chân tới như hang sâu, núi thẳm, hoặc sông biển, tức là cát rất thanh tịnh. Trước khi gia trì, cát phải được rửa sạch bằng nước thật trong, rồi đem phơi khô, đựng trong hộp sạch, đặt tên mật đàn. Khi tu pháp, đầu tiên, đem hộp cát đặt lên trên đàn tràng trước Phật, vị Tam lễ sư (1 trong 7 chức vụ phụ trách tụng niệm trong Pháp hội: Đạo sư, Độc sư, Chú nguyện sư, Tam lễ sư, Bái sư, Tán hoa sư và Đường đạt) tụng Như lai bái, phát nguyện và 108 biến chân ngôn Quang minh, kết Quang ấn 5 màu gia trì vào cát. Tại Trung quốc, nghi thức này được thịnh hành từ đời Đường về sau, còn ở Nhật Bản thì nó được thịnh hành từ sau thời đại Liêm thương. Và pháp tu này được y cứ vào phẩm Quán đính chân ngôn thành tựu trong kinh Bất không quyên sách quyển 18 do ngài Bồ đề lưu chí dịch và Quang minh chân ngôn pháp trong kinh Bất không quyên sách đại quán đính quang chân ngôn, do ngài Bất không dịch.
thổ thần
God of the soil.
thổ tinh
Sanaiscara (S)Sao Trấn.
thổ tinh (planet)
Sanaiscara—Saturn.
Thổ Đan Gia Mục Thố
(土丹嘉穆錯) Tạng: Thub-bstan-rgya-mtsho. Cũng gọi A vương la bốc tạng thổ đan gia mục thố. Tên vị Đạt lai lạt ma đời thứ 13 của Tây tạng. Sư sinh ở vùng Đạt bố lam tại đông nam Lạp tát (Lha-sa). Năm Quang tự 19 (1893), Trung quốc, Anh quốc, Tây tạng và Ấn độ kí kết điều ước bổ sung, đồng ý mở cửa thông thương giữa các quốc gia, thế lực người Anh ở Tây tạng mỗi ngày một tăng, đưa đến việc hiềm khích của người dân Tây tạng, họ rất oán giận triều đình Mãn thanh nhu nhược, bất tài nên có khuynh hướng liên kết với Nga. Đối với Tây tạng và Mông cổ, người Nga vốn đã có dã tâm mượn danh nghĩa đề xướng Phật giáo, tôn thờ Lạt ma để gây thế lực ở Tây tạng và Mông cổ. Người Anh biết rõ ý đồ này của người Nga nên nhân dịp chiến tranh giữa Nhật, Nga vào năm 1904, nên viện cớ người Tây tạng bài Anh mà thừa cơ đánh phá Tây tạng. Đạt lai lạt ma lánh nạn tại Mông cổ. Sau khi được kho bạc nhà nước nhận bồi thường 70 vạn lượng cho phí tổn chiến tranh, người Anh mới rút quân. Năm Quang tự 34 (1908), theo lời mời của triều đình nhà Thanh, Đạt lai lạt ma đến Bắc kinh yết kiến vua, được nhà vua phong hiệu Thuận Tán Hóa Tây Thiên Đại Thiện Tự Tại Phật, hàng năm ban cho lúa gạo, vạn lượng vàng. Niên hiệu Tuyên thống năm đầu (1910), Đạt lai lạt ma trở về Lạp tát (Lha- sa). Đại thần Liên dự (Sứ thần nhà Thanh) ở Tây tạng bất hòa với Đạt lai lạt ma, Chung dĩnh đem lục quân tiến vào Tây tạng, Đạt lai lạt ma ra lệnh cho quân dân chống lại, quân Tứ xuyên của Triệu nhĩ phong bị tổn thất, triều đình nhà Thanh bèn phái quân đến tiếp viện, quân Tây tạng chống cự không nổi, Đạt lai lạt ma phải chạy sang Đạt Lai đời thứ 13Ấn độ, quan lại người Anh thừa cơ trọng đãi sư, mời sư sang thăm nước Anh, triều đình nhà Thanh áp dụng chủ trương của Liên dự bãi bỏ danh hiệu Đạt lai đời thứ 13, sai Sứ thần ở Tây tạng đi tìm linh đồng khác để lập Đạt lai lạt ma thứ 14, dư luận thế giới xôn xao, sự quan hệ giữa Tây tạng và triều đình Thanh trở nên xấu đi. Năm sau, (1911), cuộc cách mệnh Tân hợi bắt đầu nổi lên, Đạt lai tự trở về Tây tạng tuyên bố độc lập, đồng thời phái quân đến biên giới Tứ xuyên, bài xích chính phủ trung ương ở Bắc kinh, thi hành chính sách đóng cửa, nắm toàn quyền chính giáo Tây tạng, từ đó, quan hệ giữa Tây tạng và Trung quốc lúc cắt đứt, lúc nối lại, không còn mật thiết như trước kia nữa. Năm Dân quốc 22 (1933), Đạt lai lạt ma nhập tịch ở Lạp tát, hưởng thọ 58 tuổi, chính phủ Dân quốc tặng sư danh hiệu Hộ Quốc Hoằng Hóa Phổ Từ Viên Giác Đại Sư.[X. Thanh sử cảo Q.530; Mông Tạng Phật giáo sử; Mông Tạng tânchí; Tây tạng lạt ma giáo]. (xt. Đạt Lai Lạt Ma).
Thổ Địa
(土地): tên gọi của vị thần cai quản đất đai, thường được gọi là Phước Đức Chánh Thần (福德正神), là vị thần được Đạo Giáo và dân gian tôn thờ. Trong thần thoại cổ đại, vị này có tên là Xã Thần (社神), chuyên quản lý một vùng đất nhỏ. Sau đó, thần này trở thành thần cúng bái, có mối quan hệ mật thiết với hết thảy những vật sinh sản, vật nuôi, vật nông canh, v.v.; cho nên trong dân gian tôn thời ngài như là vị Thần Tài ban phước đức. Bất kể người nông dân, thương nhân, người đánh cá, giới kinh doanh, nghề mộc, v.v., đều có thờ vị thần này. Ngoài ra, vị này còn được xem như là thần giữ mộ, nên có tên là Hậu Thổ (后土). Tương truyền rằng những người làm việc tốt, quân tử, sau khi chết sẽ được ông Thành Hoàng cử đi làm Thổ Địa tại các địa phương. Trong Đạo Giáo, Thái Xã Thần (太社神), Thái Tắc Thần (太稷神), Thổ Ông Thần (土翁神), Thổ Mẫu Thần (土母神) đều là những vị thần có trách nhiệm quản lý đất đai. Tuy nhiên, trong thánh điển Phật Giáo không đề cập tên mấy vị này.
thổ địa công
(土地公) Vị thần chuyên coi về đất đai. Đúng ra phải gọi là Phúc đức chính thần, là vị thần được Đạo giáo và dân gian Trung quốc tôn thờ. Trong thần thoại cổ đại, Thổ địa công được gọi là Xã thần, là thần quản lí 1khu vực nhỏ. Sau, chuyển biến thành vị thần có quan hệ mật thiết với năm được mùa của tất cả các vật sinh sản trên mặt đất như gia súc, nông phẩm...và đượcdân gian thờ phụng, cúng tế như một vị phúc lộc tài thần. Bất luận nông dân, ngư dân, thương gia, giới luyện kim, thợ mộc...đều thờ thần này. Ngoài ra, vị thần này còn được xem là thần giữ mồ mả, hoặc gọi là Hậu thổ(thần đất). Tương truyền những người hiền lành, quân tử sau khi chết, được thần Thành hoàng cho giữ chức Thổ địa công ở các địa phương. Trong Đạo giáo, các vị thần như thần Thái xã, thần Thái tắc và thần Thổ ông, thần Thổ mẫu...đều là các thần trông coi về đất đai. Nhưng tất cả các thần ghi trên không một vị nào có xuất xứ từ kinh điển Phật.
thổ địa thần
The local guardina deity of the soil or locality—God of the soil.
thổ địa đường
Local Deities Hall—Lands Hall.
Thổ 土
[ja] ド do ||| (1) Earth, ground, land, soil. (2) Country, region. (3) A residence. (4) Countryside, hometown. (5) As "earth" one of the five elements (Wuxing 五行) in early Chinese cosmology. => Có các nghĩa sau: 1. Đất, mặt đất, đất liền, đất trồng. 2. Đất nước, quốc gia, lãnh thổ. 3.Nơi cư trú. 4. Vùng quê, quê nhà. 5. Một trong 5 nguyên tố thuộc Ngũ hành (五行c: Wuxing) trong vũ trụ học cổ Trung Hoa .
thổi
To blow.
thổn thức
To sob one's heart out.
thộp
To seize—To grasp—To grip—To grab suddenly.
thờ
To adore—To worship
thờ cúng
To worship—Theo cổ tục, Phật tử chúng ta thờ cúng tổ tiên là để tỏ lòng biết ơn. Theo đạo Phật thì thờ cúng tổ tiên, không phải là một phong tục xấu, với hy vọng mong cho họ được nhẹ nghiệp. Người Phật tử nên luôn nhớ rằng tu hành tinh tấn là cách đền đáp tổ tiên xứng đáng nhất. Tuy nhiên, một số Phật tử vì hiểu lầm Phật giáo nên xem chuyện thờ cúng là tối quan trọng trong đạo Phật—According to our old customs, Buddhists worship ancestors to show our appreciations. According to Buddhism, worshiping ancestors, with the hope of relieving their karma, is not a bad custom. Buddhists diligently cultivate is the best way to show our appreciations to our ancestors. However, some Buddhists misunderstand about Buddhism and consider the worshiping the most important issue in Buddhism.
thờ cúng tổ tiên
Ancestor worship—Đạo Phật luôn khuyến tấn việc thờ cúng tổ tiên bằng cách tụng kinh cầu siêu cho người quá vãng với hy vọng làm cho họ được nhẹ nghiệp—Buddhism always promotes ancestor worship by the practice of chanting sutras for the dead, hoping to relieve their karma.
thờ phượng
Xem Kính lễ.
; See Thờ.
thờ phật
To worship the Buddha—Tại Ấn Độ, sau khi Đức Phật nhập diệt, các tín đồ dành cho Đức Phật tất cả những tôn vinh của một vị thần hiện thân trong Ấn Độ giáo. Họ chuyển qua thờ cúng tượng Phật, bởi những lý do giống như tín đồ Ấn Độ giáo, đó là để kích thích cảm nghĩ và thiền định. Ngày nay ai cũng biết sự thờ cúng thần tượng trong Ấn Độ giáo đã có từ khoảng từ năm 500 đến 450 trước Tây Lịch. Ngày nay ở các nước Tích Lan, Miến Điện, Trung Hoa, Việt Nam, và các nước Phật giáo khác, người ta cũng thờ tượng Đức Phật theo kiểu người Ấn Độ giáo thờ thần, bằng cách dâng cúng hoa quả, thức ăn, vải vóc, nhang đèn và sự cầu khẩn. Thậm chí, họ còn điểm nhãn bức tượng mới làm ra. Đây là một nghi thức thần bí của Ấn Độ. Họ tin tưởng rằng làm như vậy thì bức tượng sẽ trở nên linh thiêng hơn. Tuy nhiên, Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ rằng Đức Phật chẳng bao giờ chấp nhận việc dựng tượng Ngài để thờ cúng trong tháp như vậy—In India, after the Buddha's parinirvana, Buddhists give the Buddha all the honours due to a Hindu Incarnate God. They began to worship the image of the Buddha for the same reasons as the Hindu, namely to stimulate feeling and meditation. It is now everyone accepted that the worship of idols among the Hindus is as old as 500 to 450 B.C. Nowadays, in Ceylon, Burma, China, Vietnam, and other Buddhist countries, people worship the Buddha's image in the same fashion as the Hindus do in India, by offering flowers, food, cloth, incense and prayers. They also act in the making of an image is the painting of the eyes, a magical rite as in India. They believe that to do this the image is vivified into godship. However, sincere Buddhists should always remember that the Buddha never approved of the idea of installing his image for worship in stupas
thờ phụng
Apacàyana (P). Worship, reverence. Also Kính lễ.
thờ thẫn
To look haggard.
thờ ơ
Cold—Disinterested—Indifferent.
Thời
時; C: shí; J: ji;|1. Thời gian. Một thời gian hay giờ phút nào đó. Một mùa. Một dịp; 2. Mọi lúc, luôn luôn. Lúc nầy đến lúc khác; [Phật học] 3. Là một trong 24 pháp bất tương ưng hành theo giáo lí Duy thức; 4. Thời gian ương tục. »Thời gian« được thiết định căn cứ vào sự phân biệt quá khứ, hiện tại, tương lai (s: adhvan); 5. Hoàn cảnh, tình thế (s: avasthā); 6. Thỉnh thoảng, đôi khi; 7. Bây giờ, trong thế giới hiện tại.
thời
1) Giờ: Hour. 2) Lúc: Moment. 3) Mùa: Season. 4) Sát na: Samaya (skt)—See Sát Na. 5) Thời gian: Time. 6) Thời kỳ: Period. 7) Tức thời: Instantly.
; (時) I.Thời. Phạm,Pàli:Kàla. Hán âm: Ca la. Chỉ cho thời tiết, một trong nhóm 24 pháp Bất tương ứng hành gồm trong 100 pháp do tông Duythức lập ra. Chỉ cho hữu vi liên tục đổi dời, tạo ra sự sai khác về thời gian giữa 3 đời(quá khứ, hiện tại, vị lai). Quan niệm của Phật giáo nói chung đều cho rằng Thời là giả lập, còn ngoại đạo Thắng luận, hoặc Thời luận sư thì cho rằng Thời là thực tại có thật. Hữu bộ thì chủ trương 3 đời không có tự thể riêng, chỉ y cứ vào pháp mà được lập ra. Vì thế nên luận Đại trí độ quyển 1 cho rằng kinh điển Phật giáo không dùng từ ngữ Ca la để biểu thị Thời, mà gọi Thời là Tam ma da (Phạm: Samaya). [X.luận Dugià sư địa Q.51; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Tam Ma Da, Ca La). II. Thời. Ấn Độ chia một năm làm 3 thời kì, gọi chung là Thiên trúc tam kì. Đó là: 1. Thời kì nóng: Từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 5. 2. Thời kì mưa: Từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9. 3. Thời kì lạnh: Từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 1 năm sau. Ba thời kì trên đây cũng gọi là 3 mùa: Mùa nóng, mùa mưa và mùa lạnh. Về sự phân phối 3 thời kì và ngày tháng có nhiều thuyết khác nhau. III. Thời. Chỉ cho hai thời sáng và tối, hoặc chỉ cho hai thời là thời Cala và thời Tam ma da(thời Tam muội da). IV. Thời. Người Ấn Độ đời xưa cho đơn vị nhỏ nhất của thời gian là sát na, 120 sát na bằng 1 đát sát na, 60đátsát na bằng1 lạp phược, 30 lạp phược bằng 1 mâu hô lật đa, 30 mâu hô lật na thì bằng 1 ngày đêm. Còn đơn vị thời gian dài nhất thì là A tăng kỳ kiếp. (xt. Sát Na).
thời bình
Peace time.
thời chánh pháp
The Perfect Age of the Dharma—See Chánh Pháp.
thời chúng
Cộng đồng gồm chư Tăng Ni và Phật tử tại gia—The present company, i.e. of monks and laity; the community in general.
thời cuộc
Situation.
thời cơ
Opportunity—Occasion.
thời cơ thuần thục
(時機純熟) I. Thời CơThuầnThục. Phật thích ứng với căn cơ của chúng sinh mà nói pháp, dắt dẫn theo thứ lớp, tùy cơ hóa độ. Ban đầu giảng nói các pháp môn nông cạn, sơ lược, dần dần mới đưa vào nghĩa sâu xa, thù thắng, mầu nhiệm. Thời tiết thay đổi, căn cơ chúng sinh cũng dần dần thành thục, cho đến khi có đủ năng lực nhận lãnh ích lợi của giáo pháp, đến khi căn cơ đã chín muồi thì tự có thể chuyển yếu thành mạnh, bỏ Tiểu về Đại. II. Căn Cơ Thuần Thục. Sau khi đức Phật nhập diệt, Phật pháp được chia làm3thời kì: Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp, do thứ tự này mà căn cơ dần dần yếu kém, lợi ích do sự truyền bá giáo pháp mang lại cũng dần dần thưa mỏng; pháp môn thù thắng mà dễ tu mới truyền bá được. Pháp môn dễ tu này chính là giáo pháp thời cơ thuần thục, thời cơ tương ứng.
thời cơ tương ưng
(時機相應) Thời và cơ ứng hợp nhau. Tức thời đại (thời)nói giáo pháp và đối tượng(cơ)tiếp nhận giáo pháp thích hợp, gọi là thời cơ tương ứng. Còn thời và cơ đã hoàn toàn thành thục thì gọi là thời cơ thuần thục.
thời dược
Uống thuốc đúng giờ, đặc biệt là những loại rễ cây được dùng đề chữa bệnh—Time medications or drugs, especially roots used as food in sickness, part of the five kinds of drugs (turnip, onion, arrowroot, radish or carrot, and a root curing poison).
thời gian
Kala (S). Time. Also Thật thời.
; Time.
Thời giáo
時教; C: shí jiāo; J: jikyō; |Sự phân loại giáo lí căn cứ vào từng thời kì.
Thời giáo 時教
[ja] ジキョウ jikyō ||| Classification of doctrine based upon time period. => Sự phân loại giáo lý căn cứ vào từng thời kỳ.
thời giải thoát
Loại căn tánh độn thì phải mất thời giờ và từ từ đợi lúc có cơ hội mới có thể nhập định giải thoát được—The dull who take time or are slow in attaining to meditative vision—The other five groups of Arhats who have to bide their time and opportunity for liberation in samadhi. ** For more information, please see Nhị Giải Thoát.
; (時解脫) Cũng gọi Đãi thời giải thoát, Thời ái tâm giải thoát. Đối lại: Bất thời giải thoát. Chờ thời được giải thoát. Bậc A la hán trong 4 quả Thanh văn được chia làm 6 loại, trong 6 loại A la hán này thì 5 loại độn căn trước gồm: Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trụ pháp và Kham đạt pháp, nếu muốn nhập vào Hiện pháp lạc trụ thì phải đợi khi nào đầy đủ các thắng duyên mới thoát khỏi Phiền não chướng, cho nên gọi là Thời giải thoát. Những thắng duyên mà các vị này chờ đợi đuợc chia làm 6 thứ là thức ăn ngon, y phục tốt, ngọa cụ tốt, thuyết pháp hay, chỗ ở tốt và người tốt. [X. kinh Đại thông trong Trung ahàm Q.49; luận Câu xá Q.25; luận Đại tì bà sa Q.101].
thời giờ
See Thời Gian.
thời hạn
Time-limit.
thời khoá công phu
Trong chùa có 4 thời: - Thời cúng ngọ: 11 - 12g trưa - Thí thực cô hồn: 5g chiều - lễ Tịnh độ: 7 hay 8g tối - công phu khuya: 5g sáng.
thời khất phọc
(時乞縛) Phạm:Jhvà. Hán dịch: Thiệt(lưỡi). Nghĩa gốc của từ này là ngọn lửa, nghĩa là nếm. Bởi vì vật cúng được bỏ vào trong lửa lúc tế thần thì ngọn lửa tượng trưng cho sự nếm của thần, cho nên xưa nay chữ jh và đều được dịch là lưỡi và chữ jihvendriyađược dịch là căn lưỡi. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần đầu].
thời khắc
See Thời Gian.
thời khắc giải thoát
GotrabhŪ (S), Maturity moment.
thời kỳ
Period—Term.
thời luân
Kālacakra (S), du kyi khor lo (T), the Wheel of Time,
thời luân giáo
Kālacakra-tantra (S), Kalapakkha (P).
; Kàlacakra-Tantra (S). Name of a sect.
thời luân mật pháp
Paramadibuddhod-dhṛtaśrīkalacakra-nāma-tantrarāja (S), Kalacakra-tantra (S).
Thời luân tan-tra
S: kālacakra-tantra; nghĩa là »Bánh xe thời gian«;|Tên của một Tan-tra Phật giáo, xuất phát từ thế kỉ thứ 10, tương truyền do nhà vua thần bí Sam-ba-la (s: śambhala) biên soạn. Trong bộ Mật kinh này, cách tính thời gian và thiên văn học đóng một vai trò quan trọng. Khi được đưa vào Tây Tạng năm 1027, Thời luân được sử dụng và trở thành gốc của lịch Tây Tạng. Ngoài việc này, Thời luân cũng trở thành một đối tượng quán sát của Mật tông, trong đó yếu tố Bản sơ Phật (A-đề-phật; s: ādi-buddha; Phổ Hiền) được thêm vào hệ thống Ngũ Phật, trở thành một Man-đa-la (s: maṇḍala) với tên là »Mười phần uy lực« của Mật tông.|Theo truyền thống Tây Tạng thì Thời luân được bảy nhà vua xứ Sam-ba-la và 25 vị truyền nhân chính tông lần lượt truyền lại. Ðến vị truyền nhân thứ 12 thì giáo pháp này đến Ấn Ðộ và sau đó qua Tây Tạng. Một trong những dòng truyền quan trọng là dòng qua Bố-đốn (t: buton, 1290-1364) đến Tông-khách-ba và ngày nay mật giáo Thời luân được tông Cách-lỗ (t: gelugpa) tu tập. Thời luân này gồm có ba phần: ngoại giáo, nội giáo và tha giáo. Ngoại giáo lấy thế giới vật chất làm đối tượng, giáo pháp này mô tả sự hình thành của vũ trụ và nói về thiên văn, địa lí. Trọng tâm của giáo lí này đặt vào tính lịch và thời gian, và vì vậy nó tập trung vào toán học. Ngược lại, phần nội giáo lấy thế giới tâm lí làm đối tượng, tập trung giảng giải về các kênh năng lượng (s: nāḍī; Trung khu). Phần tha giáo đề cập đến các linh ảnh nhận thức được trong các Nghi quỹ (s: sādhana). Cả ba phần này đều được xem là ba dạng của A-đề-phật (xem Phổ Hiền). Giáo pháp Thời luân chỉ một loạt sáu phương pháp Thiền định. Sáu phép này tuy cũng được Na-rô-pa (t: nāropa) luận giải, nhưng không giống với sáu phép Na-rô lục pháp (t: nāro cho-drug) của sư, chỉ có chung phép tu luyện để phát triển Nội nhiệt.
thời luân đát đặc la
(時輪怛特羅) Phạm: Paramàdibuddhoddhftazrìkàlacakra nàmatantraràja. Gọi tắt:Kàlacakra-tantra(pháp thời luân bí mật). Cũng gọi: Thời luân mật pháp. Một trong các nội dung giáo học chủ yếu của Hoàng giáo Tây tạng. Cứ theo sách chú thích Đát đặc la căn bản là Duy mã lạp phổ lạp ba (Phạm:Vimalaprabhà)thì Đátđặcla căn bản gồm 12.000 bài tụng lời của vua Tô khảm đức lạp (Phạm: Sucandra), hóa thân của bồ tát Kim cương thủ, thưa hỏi đức Phật 2 năm trước khi Ngài vào Niết bàn được ghi lại và lưu hành ở các nước như Hương ba lạp (Phạm: Sambhala)... Sáu trăm năm sau, Ca nhĩ cơ (Kalki) đời thứ nhất của nước Hương ba lạp là vua Da xá (Phạm:Yaza),hóathân của bồ tát Văn thù, vì chống đối Hồi giáo sẽ nổi lên ở Mạch gia (Makkah) 200 năm sau có khả năng tiêu diệt nước Hương ba lạp, nên ông kết hợp giáo đồ của các phái Phạm thiên, Thấp bà, Tì sắt nô, đồng thời đưa họ vào trong Mạn đồ la Thời luân, cấm ngặt sát sinh, cấp cho họ đại mật pháp quán đính Thời luân và tuyên thuyết 3000 bài tụng Lạp cốc đát đặc la (Phạm:Laghutantra), đây chính là Đát đặc la thời luân hiện hành. Về sau, Ca nhĩ cơ đời thứ hai là vua Phân đà lợi (Phạm: Puịđarìka), hóa thân của bồ tát Quán Âm, được đức Phật thụ kí, tùy thuậnCăn bản đát đặc la, soạn sách chú thích gọi là Duy mã lạp phổ lạp ba. Liên quan đến việc truyền thừa Thời luân đát đặc la và Duy mã lạp phổ lạp ba có nhiều thuyết khác nhau, tổng kết các thuyết thì hai nhà học giả Đại thời túc (Phạm:Kàlamahàpàda, Tạng:Dusshabs chen po) và Tiểu thời túc (Tạng: Dus shabs chuííu), người nước Ma yết đà ở Ấn độ, sống và hoạt động từ năm 1040 Tây lịch về sau, được suy đoán là các tác giả của Thời luân đát đặc la và Duy mã lạp phổ lạp ba, cho nên biết niên đại thành lập Thời luân đát đặc la sớm nhất là năm 1027. Nội dung của Thời luân đát đặc la nói về tính song nhập vô nhị của Bát nhã liễu nghĩa(Mẫu đát đặc la) và Phương tiện (Phụ đát đặc la), lấy việc thực hiện trí tuệ chân thật làm mục đích tối cao. Phương pháp thực hiện là quán sát sự kết cấu và các hoạt động của vũ trụ, tức quan sát sự vận hành cũng như sự đổi dời biến hóa của mặt trời, mặt trăng và các vì sao, đồng thời khống chế sự đổi dời biến hóa trong mạch quản (Phạm: Nàdì), luân (Phạm: Cakra), hơi thở (Phạm:Pràịa-vàyu) của thân người đối ứng với sự vận hành và biến hóa dời đổi của các thiên thể nói trên, để mong đạt đến cảnh giới hợp nhất cùng tột, cho nên sự trình bày về thiên văn học có liên quan đến lịch học là tính chất quan trọng của bản chất Đát đặc la này. Ngoài ra, nó cũng phản ánh được trạng thái sợ hãi và hỗn loạn khi Hồi giáo xâm lăng Ấn Độ lúc bấy giờ. Từ truyền thuyết thành lập Đát đặc la, ta có thể thấy truyền thuyết này đã vay mượn truyền thuyết về nước Hương ba lạp có dính dáng đến Tì sắt nô giáo và tư tưởng về Tì sắt nô thứ 10 quyền hiện Ca nhĩ cơ tái thế cứu người, đồng thời kết hợp các tông giáo vốn có của Ấn Độ để đánh tan ý đồ xâm chiếm Ấn độ của tín đồ Hồi giáo, cho thấy rõ sự xung đột giữa văn hóa Ấn Độ và văn hóa Hồi giáo.[X. Bố đốn (Tạng: Bu-ston) toàn thư bộ thứ 1 đến bộ thứ 5].
thời luận ngoại đạo
(時論外道) Cũng gọi Thời kế ngoại đạo, Thời kính ngoại đạo, Thời tán ngoại đạo. Một trong các phái ngoại đạo ở Ấn độ. Ngoại đạo này cho rằng thời gian là nhân sinh ra muôn vật, là thường trụ bất biến; sự thành hoại, sống chết của muôn vật đều do thời gian chi phối, cho nên thời gian thường sinh ra tất cả vật, là nhân của Niết bàn. Trong luận Ngoại đạotiểu thừa niết bàn, Thời luận ngoại đạo được xếp vào hàng thứ 17 trong 20 thứ ngoại đạo. [X.phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật; luận Hiển dương thánh giáo Q.5; luận Đại trí độ Q.1].
Thời lượng
時量; C: shíliáng; J: jiryō; |Khoảng thời gian; thời gian tịch tụ – hay trôi qua. Viết tắt của Thời lượng vô gián (時量無間).
thời lượng
(時量) Chỉ cho những đơn vị nói về thời gian. Theo luận Câu xá quyển 12, người Ấn độ thời xưa cho rằng đơn vị thời gian nhỏ nhất là sát na (Phạm:Kfaịa), 120 sát na là 1 đát sát na (Phạm:Tat-Kfaịa), 60 đát sát na là 1 lạp phạ (Phạm:Lava), 30 lạp phạ là 1 mâu hô lật đa (Phạm: Muhàrta), 30 mâu hô lật đa là 1 ngày đêm (Phạm: Ahoràtra), 30 ngày đêm là 1 tháng (Phạm: Màsa), 12 tháng là 1 năm (Phạm: Varwa). Lại còn có các đơn vị như tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp, a tăng kì kiếp... Một năm lại chia ra 3 thời kì hoặc 3 mùa là mùa lạnh, mùa nóng và mùa mưa. Ngoài ra, về sự quan hệ giữa một niệm, sát na và sinh diệt thì kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng cho rằng 1 niệm là 90 sát na, 1 sát na có 900 sinh diệt, cho nên trong khoảng thời gian 1 niệm có 81000 sinh diệt. Còn theo luận Tạp tâm quyển 2 thì 1 cái khảy móng tay, có 64 sát na; luận Đại trí độ quyển 15 thì cho rằng 1 cái khảy móng tay là 60 sát na.[X. luận Đại tì bà sa Q.136; Ma ha chỉ quán Q.3 thượng].
Thời lượng vô gián
時量無間 (閒); C: shíliángwújian; J: jiryō mu-gen; |Thời gian trôi qua, không ngắt quãng hoặc gián đoạn.
Thời lượng vô gián 時量無閒
[ja] ジリョウムゲン jiryō mugen ||| The passing of time, with no break or interruption. => Thời gian trôi qua, không ngắt quãng hoặc gián đoạn.
Thời lượng 時量
[ja] ジリョウ jiryō ||| The accumulation of time; time piling up--or passing. Abbreviation of 時量無間. 〔瑜伽論 T 1579.30.562b12〕 => Khoảng thời gian; thời gian tịch tụ -- hay trôi qua. Viết tắt của Thời lượng vô gián時量無間.
thời mạt pháp
The Dharma-Ending Age—Degenerate Age of the Dharma or the last age—See Mạt Pháp.
thời mị quỷ
(時媚鬼) Cũng gọi Tinh mị quỉ. Một trong 3 thứ quỉ. Vào giờ Tí nửa đêm, quỉ này hóa làm tinh linh con chuột, hoặc biến thành hình thiếu nam thiếu nữ, hoặc tướng đáng sợ để hù dọa và mê hoặc người tọa thiền. Lúc đó, người tọa thiền đều biết giờ ấy là giờ Tí, biết nó là loài chuột, gọi thẳng tên nó thì nó sẽ tự tan biến.[X. Thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.4].
thời ngoại đạo
Còn gọi là Thời Tán Ngoại Đạo, ngoại đạo coi chân thực thời là tạo hóa sinh ra vạn vật—The non-Buddhist sect which regarded Time, or Chronos, as creator of all things.
thời phân
Cách phân chia thời giờ trong ngày. Có nhiều cách chia thời giờ trong một ngày—Time-division of the day. There are several ways of division of time during the day: 1) Ngày ba thời đêm ba thời (theo phép thường pháp): Three periods each of day and night. 2) Ngày bốn thời đêm bốn thời (chia giờ theo thế tục): Eight periods of day and night, each divided into four parts. 3) Ngày sáu thời đêm sáu thời, đặt tên theo 12 con giáp; 12 con giáp nầy cũng tiêu biểu cho 12 tháng trong năm (theo thuyết Thần Thú): Twelve periods, each includes two hours and under the name of an animal of the 12 animals which represent the 24 hours of the day; these 12 animals also represent the twelve months of the year. 4) Cách chia ngày ra làm 30 giờ: Thirty hours. 5) Cách chia ngày ra làm 60 giờ: Sixty hours.
; (時分) Cách phân chia ngày đêm theo lịch pháp Ấn độ cổ đại có nhiều cách như sau: 1. Phật giáo chia ngày đêm làm 6 thời: Ban ngày3thời, ban đêm3thời. Kinh Phật thuyết Adiđà (Đại 12, 347 thượng) nói: Ngày đêm 6 thời, mưa hoa mạn đà la từ cõi trời. 2. Dân gian phổ thông chia ngày đêm làm 8 thời:Đạiđườngtâyvực kí quyển 2 (Đại 51, 875 hạ) nói: Thế tục chia ngày đêm làm 8 thời. 3. Chia ngày đêm làm 12 thời: Tức phỏng theo thuyết Thập nhị thời thần thú nói trong kinh Đại tập quyển 23. Trung quốc và Nhậtbản đã dùng theo cách phân chia này từ xưa. 4. Chia ngày đêm làm 30 thời: Luận Đạitríđộ quyển 48 (Đại 25, 409 trung) nói: Một ngày là từ sáng sớm hôm nay cho đến sáng sớm ngày mai, gồm sơ phần, trung phần, hậu phần, ban đêm cũng 3 phần: 1 ngày 1 đêm có 30 thời. 5. Chia ngày đêm làm 60 thời: Đại nhật kinh sớ quyển 4 cho rằng theo lịch pháp Ấnđộ thì ngày đêm đều có 30 thời, mỗi thời đều có tên gọi, ban ngàythì theo bóng mặt trời dài ngắn mà tính giờ, việc làm trong ngày đều có qui định, giờ nào làm việc thì tốt, giờ nào thì xấu, giờ nào trung bình, mỗi giờ đều có loài thú tượng trưng. (xt. Thập Nhị Thú).
thời phược ca
Jivaka (skt). 1) Một trong tám loại thuốc: One of the eight principal drugs; living, making, or seeking a living, causing to live, ect. 2) Người con không chánh thức của vua Bình Sa Vương với Amradarika, không tranh ngôi vị với A Xà Thế mà học thuốc và về sau trở thành một bậc đại danh y—An illegitimate son of king Bimbisara by Amradarika, who resigned his claim to the throne to Ajatasatru and practised medicine; a physician.
thời suy
Period of decadence.
thời thuỷ
Xem Ca lưu đà già.
thời thành tựu
Câu thứ ba trong sáu câu bắt đầu của một quyển kinh, “nhứt thời”—The third of the six initial statements in a sutra, i.e. “at one time” or “once.” The third of the six perfections found in the opening phrase of each sutra—See Lục Thành Tựu.
thời thượng ngươn
First Special Period.
thời thực
Ăn uống đúng thời—Seasonable or timely food.
; (時食) I. Thời thực: Chỉ cho Thời dược trong bốn thứ dược, gồm bồ xà ni, khư xà ni, thời thực và thời tương. Thời thực được thay đổi mỗi ngày, từ sáng sớm đến giữa ngày được dùng 5 thứ bồ xa ni (Phạm: Bhojanìya, Hán dịch là chính thực), gồm: Miến, cơm, cơm khô, cá, thịt. Còn 5 thứ khư xà ni (Phạm: Khàdaniya, Hán dịch là bất chính thực), gồm: Cành, lá, hoa, quả và thức ăn được xay thành bột. Ngoài ra còn có Thời thực và Thời tương. Thời thực chỉ cho đậu lạc (đậu phộng), củ hành, ngó sen, củ cải, rễ cây cỏ trị độc..., Thời tương thì chỉ cho tất cả các loại nước trái cây, nước bột gạo, sữa... [X. Hữu bộ bách nhất yết ma Q.5; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.2].II. Thời thực. Phạm,Pàli:Kàla-bhojana. Chỉ cho việc ăn trong thời gian chính đáng. Sự sinh hoạt của người xuất gia qui định chỉ được ăn trong khoảng thời gian từ sáng sớm đến đúng giữa trưa (giờ Ngọ), sau giờNgọ không được ăn, nếu ăn thì gọi là Phi thời thực (ăn ngoài giờ qui định). Đây chính là lí do cắt nghĩa tại sao Trung Quốc và Nhậtbản gọi bữa ăn chiều là Thạch dược. [X. Xuất gia đại cương]. (xt. PhiThời Thực).
thời tiết
Samaya (S). Time, Season. Also Giả thời.
thời trường hoa nghiêm
(時長華嚴) Đối lại: Tiền phần hoa nghiêm. Chỉ cho Hậu phần hoa nghiêm do tông Thiên Thai chủ trương. Trong 8 hội Hoa nghiêm ở 7 nơi (bản dịch mới thì có 9 hội ở 7 nơi) thì 7 hội 6 nơi từ hội thứ nhất(hội ở đạo tràng Tịch quang) đến hội thứ 7(trùng hội ở Pháp đường Phổ quang), gọi là Tiền phần hoa nghiêm, tức pháp môn Hoa nghiêm mà đức Phật giảng nói cho hàng Bồ tát trí tuệ lợi căn nghe sau khi Ngài thành đạo 21 ngày. Hội thứ 8 (hội ở rừng Thệ đa), tức hội của phẩm Nhập pháp giới được Phật giảng nói trong thời gian dài(thời trường) từ vườn Lộc dã đến Pháp hoa Niết bàn, gọi là Hậu phần hoa nghiêm. Khi mới thành Phật, đức Phật quay bánh xe pháp vô thượng, giảng nói đại nghĩa Hoa nghiêm, nhưng vì chúng sinh căn cơ chậm lụt, chưa có khả năng tiếp nhận, như câm như điếc, cho nên đức Phật bèn xoay chuyển Đại thừa về Tiểu thừa, tạm thời gác lại Hoa Nghiêm mà giảng nói A hàm Tiểu thừa, đợi nhân duyên thành thục, gặp căn cơ Đại thừa nhạy bén mới diễn giảng diệu nghĩa Hoa nghiêm. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10 hạ; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.1].
thời trẻ
In one's prime time.
thời tán ngoại đạo
See Thời Ngoại Đạo.
Thời tông
時宗;; C: shízōng; J: jishū|Một nhánh của Tịnh độ tông Nhật Bản, xuất hiện thông qua sự giáo hoá của Nhất Biến (一遍, j: ippen) vào khoảng năm 1278, với ngôi chùa Du Hành tự (遊行寺, j: yugyōji) làm trụ sở. »Thời« nghĩa là niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà vào mọi lúc. Trước khi sư viên tịch, phái nầy có được hơn 200 tín đồ nam nữ, và Nhất Biến đã đặt ra giới luật hành trì là an bần và thường xuyên đi bộ. Thời tông thực hành một điệu nhảy đặc biệt (j: odori nembutsu) để ca ngợi sự cứu độ tức thời khi niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà. Vốn mang tính ngẫu hứng tự nhiên và xuất thần, vũ điệu ấy trở thành nghi lễ được các môn đệ thực hiện trước chánh điện và bàn thờ, cùng các nơi công cộng khác như trên bãi biển hoặc trong chợ. Sau khi bị trục xuất ra khỏi thủ đô Liêm Thương (kamakura) trong thời Mạc phủ, vảo năm 1282, Nhất Biến truyền bá Thời tông qua Kinh Đô. Ở đây sư thành công lớn, thường được những ngôi chùa và đền thờ quý tộc thỉnh đến. Năm 1288, Nhất Biến đưa nhóm của mình trở về quê hương Iyo rồi trở lại bên kia Inland Sea, nơi sư viên tịch vào năm 1289. Thời tông còn lưu truyền đến ngày nay với khoảng 500 ngôi chùa chi nhánh. Về kinh điển, tông nầy phần lớn căn cứ vào kinh A-di-đà, nhưng cũng công nhận kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm.
thời tông
Ji (J).
; Còn gọi là Lục Thời Vãng Sanh Tông, tông phái Phật Giáo Nhật Bản lấy ngày đêm 6 giờ chuyên tu phép vãng sanh (lấy phép tu của ngài Thiện Đạo làm nghiệp nhân vãng sanh). Thời Tông được Nhất Biến (1238-1289) sáng lập tại Nhật năm 1276. Ông nêu ra nghi thức tụng niệm của Thiện Đạo, 6 thời trong ngày. Do đó mà có tên là Thời Tông. Trên lý thuyết, ông lấy từ Kinh Pháp Hoa, cũng như Lương Nhẫn của phái Dung Thông Niệm Phật, nhưng khi thực hành ông lại theo cách của Ngài Không Dã, là người sáng lập ra lối múa ca bình dân để phổ biến tín ngưỡng Di Đà. Do đó mà tông nầy có sắc thái hoàn toàn khác biệt với các tông khác của Di Đà giáo. Theo truyền thuyết thì Nhất Biến có đến miếu Hung Dã ở Kỷ Y năm 1275, nơi nầy ông được gợi bởi một bài kệ mà ông tin rằng do nơi các thần linh trong miếu nầy tạo nên. Mỗi một trong ba câu của bài kệ đều bắt đầu bằng số 6, 10, và 10.000 theo thứ tự, và câu chót bằng chữ “dân” cộng chung lại là 600.000 dân. Tức thì ông lập nguyện phải cứu độ cho được một số chúng sanh nhiều như thế, bằng cách truyền bá tín ngưỡng nầy—A Japanese sect, whose members by dividing day and night into six periods of worship seek immortality. The Shih School in Japan was founded in 1276 by I-Bien (1238-1289). He set forth the rule of reciting the hymns of Shan-Tao six times every day, hence the name 'time.' In theory, he derived his idea from the Lotus Sutra as did Liang-Ran of Yuzunembutsu, but in practice he followed K'ung-de who invented a popular dance for the popularization of the Amita-faith. Thus the school has a totally different feature from the other schools of Amita-pietism. I-Bien is said to have visited Kumano Shrine in Kii in 1275 where he was inspired by a holy verse of four lines which he believed to have come from the deity of the shrine. Each of the first three lines was headed by a numeral 6, 10, and 10,000 and the last line by 'people,' altogether making up six hundred thousand people. At once he made up his mind to save that number of people by a propagation of the Amita-faith—See Thiện Đạo (2).
; (時宗) Cũng gọi Du hành tông, Du hành chúng, Thời chúng. Một trong các dòng phái của tông Tịnh độ ở Nhậtbản, do ngài Tríchân (cũng gọi Nhấtbiến, 1239-1289) sáng lập vào năm Kiếntrị thứ 2 (1276). Ngài Trí chân được Thần dụ(thần bảo cho biết)ở đền thờ thần tại Ki y hùng dã, liền đốn ngộ mật ý tha lực. Về sau, sư du hành các nước khuyến hóa mọi người niệm Phật. Tông này lấy chùa Thanh tịnh quang(chùa Du hành)ở Đằng trạch thuộc huyện Thần nại xuyên làm Bản sơn(Đạo tràng chính). Trong 3 bộ kinh Tịnh độ (kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô lượng thọ và kinh A di đà)thì tông này y cứ vào kinh A di đà mà lập tông nghĩa. Tên tông được đặt theo từ ngữ lâm mệnh chung thời trong kinh A di đà. Tông chỉ của Thời tông là: Danh hiệu A di đà có vô hạn công đức, nếu chúng sinh hàng ngày chí thành niệm Phật, đến lúc lâm chung nhất tâm niệm Phật thì sau khi chết sẽ được vãng sinh Tịnh độ. Tín đồ Thời tông, theo bước chân của vị Tổ khai sáng, cũng du hành khắp trong nước khuyến hóa việc bố thí. Khi truyền giảng giáo pháp thì dùng nơi đền thờ thần ở các địa phương (như Y thế thần cung, Hùng dã thần xã...)để thuyết pháp. Sau khi ngài Trí chân tịch, ngài Tha a đời thứ 2 kế thừa, xác lập tông qui. Đến thời ngài An quốc đời thứ 5 mới chính thức lấy chùa Thanh tịnh quang làm Bản sơn và tôn ngài Quán pháp thân vương làm tổ trung hưng đời thứ 12. Về sau, tông này chia ra thành 12 chi phái, nay chỉ còn 7 chi phái. [X. Nhất biến thượng nhân ngữ lục; Tha a thượng nhân pháp ngữ; Thần tuyên du hành niệm Phật kí; luận Tịnh độ huyết mạch Q.hạ].
Thời tông 時宗
[ja] ジシュウ Jishū ||| The Jishū, or "Time School," a branch of the Japanese Pure Land school, which came into existence through the teachings of Ippen 一遍, around 1278, and which has the Yugyōji 遊行寺 as its head temple. "Time" 時 refers to the chanting of Amida's 阿彌陀 name at all times. Before his death, this group numbered perhaps over two hundred men and women, and Ippen had established rules for group poverty and incessant wayfaring. The Jishū practiced a distinctive dance (odori nembutsu) celebrating the instantaneous salvation available in Amida's name. Originally spontaneous and ecstatic, the dance became a regularized performance by members of the Jishū on the grounds of shrines and temples, and in other public areas such as beaches and markets. After being driven out of the shogunate capital of Kamakura, in 1282, Ippen led the Jishū to the provinces around Kyoto. Here he met with great success and was even invited to many notable temples and shrines. In 1288, Ippen led his group to his home in Iyo and then back across the Inland Sea, where he died in 1289. The Jishū exists to the present day, with some five hundred temples affiliated. Scripturally, it places greatest emphasis on the Amitābha-sūtra 阿彌陀經, but also recognizes the Huayan jing 華嚴經 and Lotus Sutra 法華經. => (j: Jishū) Một nhánh của Tịnh độ tông Nhật Bản, xuất hiện thông qua sự giáo hoá của Nhất Biến (j: Ippen 一遍) vào khoảng năm 1278, với ngôi chùa Du Hành tự (j Yugyōji 遊行寺) làm trụ sở. “Thời” nghĩa là niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà vào mọi lúc. Trước khi sư viên tịch, phái nầy có được hơn 200 tín đồ nam nữ, và Nhất Biến đã đặt ra giới luật hành trì là an bần và thường xuyên đi bộ. Thời tông thực hành một điệu nhảy đặc biệt (j: odori nembutsu) để ca ngợi sự cứu độ tức thời khi niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà. Vốn mang tính ngẫu hứng tự nhiên và xuất thần, vũ điệu ấy trở nên được các môn đệ thực hiện thành nghi lễ trước chánh điện và bàn thờ, cùng các nơi công cộng khác như trên bãi biển hoặc trong chợ. Sau khi bị trục xuất ra khỏi thủ đô Kamakura trong thời Mạc phủ, vảo năm 1282, Nhất Biến truyền bá Thời tông qua Kyoto. Ở đây sư gặp thành công lớn, thường được những ngôi chùa và đền thờ quý tộc thỉnh đến. Năm 1288, Nhất Biến đưa nhóm của mình trở về quê hương Iyo rồi trở lại bên kia Inland Sea, nới sư viên tịch vào năm 1289. Thời tông còn lưu truyền đến ngày nay, với chừng 500 ngôi chùa chi nhánh. Về kinh điển, tông nầy phần lớn căn cứ vào Kinh A-di-đà, nhưng cũng công nhận Kinh Pháp Hoa và Kinh Hoa Nghiêm.
thời tương
(時漿) Chỉ cho loại nước thuộc về thời dược Trong 4 thứ dược, tức là nước trái cây, nước bột gạo, sữa... [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.2]. (xt. Tứ Dược).
thời tượng pháp
The Dharma-Semblance Age—See Tượng Pháp.
thời tỳ đa ca la
Jivitakara (skt)—Tên của một vị Thần nuốt trửng thời gian hay độ dài của ngày—Name of a spirit described as a devourer of life or length of days.
thời vận
Fortune—Luck.
thời xưa
Old time.
thời xứ chi duyên
Điều kiện thời gian và nơi chốn mà một người phải tái sanh vào (theo Vãng sanh Yếu Tập, bất kể trai gái, già trẻ, sang hèn, việc đi đứng nằm ngồi bất luận thời xứ, việc tu tập quả là khó khăn; tuy nhiên, việc cầu nguyện vãng sanh chẳng gì bằng niệm Phật)—The conditions or causes of time and place into which one is born.
thời xứ chư duyên
(時處諸緣) Thời chỉ cho 12 thời; Xứ chỉ cho nơi thanh tịnh hoặc nơi không thanh tịnh; Chư duyên tức sinh hoạt, nhân sự, kĩ nghệ... Như vậy biết từ ngữ Thời xứ chư duyên tương đối với ý nghĩa tùy lúc tùy chỗ.
Thời xứ quỹ
時處軌; c: shíchùguĭ; J: jishoki;|Kim cương đỉnh kinh nhất tự đỉnh luân vương Du-già nhất thiết thời xứ niệm tụng Phật nghi quỹ (金剛頂經一字頂輪王瑜伽一切時處念誦成佛儀軌).
Thời xứ quỹ 時處軌
[ja] ジショキ Jishoki ||| The Shichugui (Anywhere-Anytime Procedure); see Jingangdingjing yizi dinglunwang yuqie yiqieshichu niansong chengfo yigui 金剛頂經一字頂輪王瑜伽一切時處念誦成佛儀軌 => (c: Shichugui; c: Anywhere-Anytime Procedure); Xem Kim cương đỉnh kinh nhất tự đỉnh luân vương Du-già nhất thiết thời xứ niệm tụng Phật nghi quỹ (c: Jingangdingjing yizi dinglunwang yuqie yiqieshichu niansong chengfo yigui 金剛頂經一字頂輪王瑜伽一切時處念誦成佛儀軌).
thời y
Đúng thời ăn mặc, như vào kinh thành thì mặc áo Tăng Già Lê, khi ở phòng thì mặc áo An Đà Hội, vân vân (theo Phật giáo, uống thuốc đúng thời gọi là thời dược, ăn uống đúng thời gọi là thời thực)—Garments suited to the time or occasion (according to the Buddhism, Buddhists shouls always take medications when needed, eat in accordance with Buddhist regulations, etc.).
; (時衣) Ti khưu phải mặc áo đúng với thời nghi. Như khi vào cung vua, làng xóm thì mặc Tăng già lê, lúc ở trong phòng thì mặc An đà hội, lúc vào nhà tắm thì mặc áo tắm... [X. luận Đại trí độ Q.22].
thời đại
Era—Age—Epoch.
Thời đại Bình An
(平安, Heian, 794-1185): kéo dài khoảng chừng 400 năm, tính từ khi Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō, tại vị 781-806) dời kinh đô về Bình An cho đến thời kỳ Liêm Thương Mạc Phủ (鎌倉幕府). Đây là thời đại lấy kinh đô Bình An làm trung tâm chính quyền. Thời đại này được phân ra làm 3 kỳ là Sơ (Luật Lịnh Chế Tái Hưng Kỳ [律令制再興期]), Trung (Nhiếp Quan Kỳ [攝關期]) và Hậu (Viện Chính Kỳ [院政期]).
thời đại cộng sinh
Common Era.
Thời đại Giang Hộ
(江戸, Edo, 1600-1867): tên gọi của thời đại kéo dài trong khoảng 260 năm, kể từ khi Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) giành được thắng lợi trong trận chiến ở Sekigahara (関ヶ原, thuộc Gifu-ken [岐阜縣]) vào năm 1600, rồi năm 1603 mở ra chế độ Mạc Phủ ở vùng Giang Hộ, cho đến năm 1867 khi Tướng Quân Đức Xuyên Khánh Hỷ (德川慶喜, Tokugawa Yoshinobu) thành công lớn về mặt chính trị. Đây còn gọi là thời đại của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa).
Thời đại Liêm Thương
(鎌倉, Kamakura, 1185-1333): kéo dài khoảng 150 năm, được tính từ khi Tướng Quân Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto Yoritomo, 1147-1199) mở ra chế độ Mạc Phủ ở Liêm Thương cho đến năm 1333 (năm thứ 3 niên hiệu Nguyên Hoằng [元弘]), năm Tướng Quân Bắc Điều Cao Thời (北條高時, Hōjō Takatoki, 1303-1333) diệt vong.
Thời đại Nại Lương
(奈良, Nara, 710-794): tức là thời đại tính từ khi kinh đô được dời về Nại Lương, kéo dài hơn 70 năm với 7 đời vua là Nguyên Minh (元明, Gemmei, tại vị 707-715), Nguyên Chánh (元正, Genshō, tại vị 715-724), Thánh Võ (聖武, Shōmu, tại vị 724-749), Hiếu Khiêm (孝謙, Kōken, tại vị 749-758), Thuần Nhân (淳仁, Junnin, tại vị 758-764), Xưng Đức (稱德, Shōtoku, tại vị 764-770) và Quang Nhân (光仁, Kōnin, tại vị 770-781).
Thời đại Phi Điểu
(飛鳥, Asuka, 593-710): thời đại trước và sau Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628), người đã lấy vùng địa phương Phi Điểu thuộc Nam bộ Nại Lương (奈良, Nara) làm kinh đô cho vương triều của mình. Theo như sự phân chia thời đại mang tính mỹ thuật sử thì từ khi Phật Giáo được truyền vào Nhật thì lấy vương triều Suy Cổ làm trung tâm cho đến thời kỳ dời đô về Bình Thành, nguyên lai thời đại này bao quát trong một khoảng thời gian rộng lớn. Nhưng hiện tại nếu xét về mặt chính trị và văn hóa sử thì tính từ cuối thế kỷ thứ 6 cho đến tiền bán thế kỷ thứ 7.
Thời đại Thất Đinh
(室町, Muromachi, 1292-1573): thời đại mà dòng họ Túc Lợi (足利, Ashikaga) nắm chính quyền và mở ra chế độ Mạc Phủ ở vùng Thất Đinh, thuộc kinh đô Kyoto. Đây là thời đại kéo dài 180 năm kể từ năm 1392 lúc Nam Bắc Triều hợp nhất cho đến năm 1573 khi vị tướng quân đời thứ 15 của dòng họ này là Nghĩa Chiêu (義昭, Yoshiaki) bị Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) truy đuổi ra khỏi kinh đô. Thời hậu kỳ của thời đại này tức là sau vụ loạn Ứng Nhân (1467-1477) thì được gọi là thời đại Chiến Quốc (戰國, Sengoku). Hơn nữa, cũng có thuyết cho rằng thời đại Nam Bắc Triều (1336-1392) nằm trong thời tiền kỳ của thời đại Thất Đinh.
Thời 時
[ja] ジ ji ||| (1) Time. A certain time or hour. A season. An opportunity. (2) All the time, always. From time to time. (3) In Consciousness-only theory, one of the twenty-four elemental construct (法) not concomitant with mind. (4.) Sequential time. The "time" established based on the discrimination of past, present and future (adhvan). (5) Situation, condition (avasthā). (6) From time to time. (7) Now; in the present world. => 1. Thời gian. Một thời gian hay giờ phút nào đó. Một mùa. Một dịp. 2. Mọi lúc, luôn luôn. Lúc nầy đến lúc khác. 3. Theo giáo lý Duy thức, là một trong 24 pháp bất tương ưng hành. 4. Thời gian ương tục. “Thời gian” được thiết định căn cứ vào sự phân biệt quá khứ, hiện tại, tương lai (s: adhvan). 5. Hoàn cảnh, tình thế (s: avasthā). 6. Thỉnh thoảng, đôi khi. 7. Hiện tại. Trong đời nầy.
thở dài
To sigh.
thở hào hển
To pant—To breath hard.
thở khó
To breath with difficulty.
thở không ra hơi
Out of breath.
thở ra
Out-breathing—Expiration.
thở than
To lament.
thở vào
In-breathing—Inspiration.
Thụ
受; C: shòu; J: ju; S: vedanā.|Thuật ngữ Phật học tiếng Hán phiên dịch chữ vedanā từ tiếng Phạn, nghĩa là cảm giác; 1. Thụ uẩn, thành phần thứ hai trong Ngũ uẩn (五蘊); 2. Chi phần thứ 7 trong 12 nhân duyên; 3. Đón nhận, trải qua, kết quả của nghiệp thiện và ác. Nhận chịu nghiệp quả (s: paribhoga; t: so sor myoṅ ba); 4. Kiềm chế, hạn chế, câu thúc, ràng buộc; 5. Nhận chịu sự tương tục của Ngũ uẩn.
thụ
Vrksa (S). A tree; to stand, erect, establish.
; (豎) I. Thụ. Phạm,Pàli:Vedanà. Cũng gọi Thống, Giác. Tên của một tâm sở, là1trong5uẩn. Tông Câu xá cho rằng Thụ là 1 trong các tâm sở sinh khởi ở khắp tất cả tâm, là 1 trong 10 Đại địa pháp; tông Duy thức thì cho rằng Thụ là 1 trong 5 Biến hành Thụ sinh ra từ Xúc(tức cảm giác tiếp xúc), là sự hòa hợp của 3 thứ: Căn(cảm quan), cảnh(đối tượng)và thức(chủ thể nhận thức). Nói cách khác, Thụ nghĩa là cảm nhận, tức là cảm nhận các thứ xúc trái ý, thuận tình, không trái không thuận do đó mà sinh ra các cảm giác khổ, vui. Cho nên Thụ là do ảnh hưởng của thế giới bên ngoài đối với sinh lí, tâm lí, tư tưởng... mà phát sinh những cảm giác khổ vui, lo mừng, ưa ghét... từ đó có các cảnh giới lợi (thuận), bất lợi(nghịch), quan hệ không lợi không hại(câu phi), mà sinh ra những cảm nhận chủ quan như khổ, vui... tương ứng, rồi đưa đến một chuỗi những hoạt động tâm lí xa lìa cảnh trái ý và tìm kiếm những cảnh thuận tình. Về ý nghĩa của Thụ, các luận đều có những giải thích khác nhau như: 1. Luận Câu xá quyển 1 cho rằng những cảm giác theo sau Xúc, gọi là Thụ. 2. Luận Thuận chính lí quyển 2 cho rằng, cảm nhận cảnh sở duyên, gọi làChấp thủ thụ; lãnh nạp Xúc theo sau, gọi là Tự tính thụ. 3. Theo luận A tì đạt ma tạng hiển tông quyển 2, căn cứ vào nghĩa lãnh nhận cảnh sở duyên mà bàn về Thụ, cho rằng tất cả tâm, tâm sở đều gọi là Thụ, đặc biệt là chỉ cho cảm nhận theo sau Xúc. 4. Luận Ngũ sự tì bà sa quyển hạ... cho rằng, cảm nhận cảnh sở duyên gọi là Thụ.5. Luận Thành duy thức quyển 3 và Thành duy thức luận thuật kí quyển 3, phần cuối chủ trương Thụ không thể duyên theo Xúc câu sinh, cho nên lãnh nhận tướng của các cảnh giới thuận nghịch... là nghĩa gốc của Thụ. Thuyết này bác bỏ ý nghĩa của 4 thuyết nói ở trước. Về cách phân loại Thụ cũng có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 17 thì Thụ có:Mộtthụ, 2 thụ, 3 thụ, 4 thụ, 5 thụ, 6 thụ, 18 thụ, 36 thụ, 108 thụ, vô lượng thụ... A. Một thụ(Nhất thụ): Tự tướng của khổtuy có 3 thứ là khổ, lạc(vui)và xả(không khổ không vui), nhưng khổ thụ thuộc về khổ khổ, lạc thụ thuộc về hoại khổ và xả thụ thuộc về hành khổ; tất cả đều khổ, vì thế gọi là Một thụ. B. Hai thụ (Nhị thụ): Tâm thụ và thân thụ hợp lại gọi chung là Hai thụ. Những cảm thụ của 5 thức trước như thức mắt cho đến thức thân... là thuộc cảm thụ của nhục thể, cho nên gọi là Thân thụ.Cảm thụ của ý thức thứ 6 là cảm thụ thuộc tinh thần, cho nên gọi là Tâm thụ. Luận Đại tì bà sa quyển 115 có nêu ra sự giải thích của các nhà về Tâm thụ và Thân thụ như sau: 1. Không phân biệt là Thân thụ, có phân biệt là Tâm thụ. 2. Duyên theo cảnh của tự tướng là Thân thụ, duyên theo cảnh của tự tướng và cộng tướng là Tâm thụ. 3. Duyên theo cảnh hiện tại là Thân thụ, duyên theo cảnh 3 đời, cảnh vô vi là Tâm thụ. 4. Duyên theo cảnh có thật là Thân thụ, duyên theo cảnh có thật và có giả là Tâm thụ.5. Đối với cảnh một lần chấp lấy là Thân thụ, đối với cảnh luôn luôn chấp lấy là Tâm thụ.6. Đối với cảnh tạm duyên theo liền rõ biết là Thân thụ, đối với cảnh suy tìm mới rõ biết là Tâm thụ. 7. Nương vào sắc mà duyên theo sắc là Thân thụ, nương vào phi sắc mà duyên theo sắc và phi sắc là Tâm thụ. 8. Luậnsư Thếhữu cho rằng tất cả Thụ đều là Tâm thụ chứ không có Thân thụ C. Ba thụ(Tam thụ): Nương theo tự tướng của Thụ mà có chỗ phân biệt. Tức lãnh nhận những cảm xúc ái, phi ái và loại cảm xúc không thuộc 2 thứ cảm xúc nói trên mà sinh ra 3 thứ cảm giác khổ, lạc, xả. 1. Lạc thụ:Cảm thụ đối với cảnh đáng ưa(vừa ý). 2. Khổ thụ: Cảm nhận đối với cảnh không đáng ưa(không vừa ý). 3. Xả thụ(cũng gọi Bất khổ bất lạc thụ, Phi khổ lạc thụ): Cảm giác đối với cảnh chẳng phải đáng ưa, chẳng phải chẳng đáng ưa (không khổ không vui). D. Bốn thụ(Tứ thụ): Y cứ vào giới hệ khác nhau mà chia thành bốn thứ Thụ: 1. Dục giới hệ thụ (cũng gọi Hữu vị trước thụ): Thuộc về loại Thụ tương ứng với tự thể của ái. 2. Sắc giới hệ thụ. 3. Vô sắc giới hệ thụ. 4. Bất hệ thụ. Ba loại thụ (2, 3, 4) này cũng gọi là Vô vị trước thụ, thuộc loại Thụ bất tương ứng. E. Năm thụ(Ngũ thụ): Cũng gọi Ngũ thụ căn. Căn cứ vào tự tướng của Thân thụ và Tâm thụ mà chia ra 5 thứ: 1. Lạc thụ(cũng gọi Lạc căn): Chỉ cho thân vui thích tương ứng với 5 thức trước và tâm vui thích tương ứng với ý thức thứ 6 của Đệ tam tĩnh lự. 2. Hỉ thụ(cũng gọi Hỉ căn): Chỉ cho tâm vui mừng tương ứng với ý thức của Sơ, Nhị tĩnh lự và cõi Dục. 3. Khổ thụ(cũng gọi Khổ căn): Chỉ cho thân không vui thích tương ứng với 5 thức. 4. Ưu thụ(cũng gọi Ưu căn): Chỉ cho tâm không vui thích tương ứng với ý thức. 5. Xả thụ(cũng gọi Xả căn): Chỉ cho trạng thái chẳng vui thích, chẳng phải chẳng vui thích của thân và tâm. F. Sáu thụ(Lục thụ): Cũng gọi Lục thân thụ, Lục thụ pháp. Chỉ cho 6 căn. Nhờ 6 căn, 6 thức mà được biết 6 cảnh, lại do 6 xúc nhờ sự hòa hợp của căn, cảnh, thức mà có Thụ do nhãn xúc sinh ra, cho đến Thụ do ý xúc sinh ra. G. Mười tám thụ(Thập bát thụ): Cũng gọi Thập bát ý cận hành thụ. Gồm có 6 hỉ ý cận hành, 6 ưu ý cận hành và 6 xả ý cận hành. Nghĩa là 3 Thụ hỉ(mừng), ưu(lo)và xả(không mừng không lo) lấy ý thức làm duyên gần, mỗi thứ đều hoạt động trong 6 cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, cho nên có 18 Thụ.H. Ba mươi sáu thụ(Tam thập lục thụ): Cũng gọi Tam thập lục sư cú. Nghĩa là 18 ý cận hành nói ở trên, mỗi ý cận hành đều có nhiễm phẩm và thiện phẩm khác nhau. Như trong 6 hỉ cận hành có đam thị y thuộc thuận nhiễm thụ và xuất li thuộc thuận thiện thụ, tổng cộng thành 36 thụ. I. Một trăm linh tám thụ (Bách bát thụ):Ba mươi sáu thụ nói trên đều có 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai khác nhau cộng lại thành 108 thụ. K. Vô lượng thụ: Căn cứ vào các loạiThụđược trình bày trên đây thì biết tướng củaThụ có vô lượng thứ khác nhau. [X. kinh Tạp a hàm Q.13; Pháp uẩn túc luận Q.9, 10; luận Phát Trí Q.14; luận Thành thực Q.6, 8; luận Câu Xá Q.10; luận Du Già sư địa Q.53; Đại thừa nghĩa chương Q.7; Tạp tập luận thuật kí Q.35]. II. Thụ. Chi thứ 6 trong 12 chi duyên khởi gọi là Thụ chi, là sự rõ biết đối với các thứ tướng khổ, vui... ở thời kì ấu niên, thiếu niên. Thuyết nhất thiết hữu bộ căn cứ vào thuyết Phần vị duyên khởi mà chủ trương thời kì ấu niên, thiếu niên tuy đã rõ biết tướng khổ, vui... nhưng chưa sinh khởi dâm ái, phần vị ở thời kì này gọi là Thụ, đó là lấy 5 uẩn làm thể, chứ không phải lấy Thụ làm thể. Theo quan điểm của Duy thức Đại thừa thì Vô minh và Hành là chi Năng dẫn, 5 chi từ Thức cho đến Thụ là chi Sở dẫn; lại lấy Vô minh và Hành làm Năng huân, 5 chi như Thức... làm chủng tử Sở huân; cũng tức là Thức, Danh sắc, Lục xứ, Xúc... do Vô minh và Hành mà ảnh hưởng đến chủng tử của thức A lại da, gọi là Thụ. [X. kinh Đại nhân trong Trung a hàm Q.24; kinh Đại duyên phương tiện trong Trường a hàm Q.10; luận Du già sư địa Q.56, 93; Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần đầu]. III. Thụ. Từ dịch cũ của Thủ (Phạm:Upàdàna). Tên gọi khác của phiền não.
; (受) Đối lại: Hoành. Thụ có các nghĩa sau đây: 1. Thụ(thẳng): Theo thứ lớp tiến lên dần dần là Thụ; không theo thứ lớp mà đi đến ngay tức khắc thì là Hoành (ngang). 2. Tung(dọc): Thời gian suốt 3 đời(quá khứ, hiện tại, vị lai) là Tung; không gian khắp 10 phương là Hoành. Vì thế có câu Thụ suốt 3 đời, Hoành khắp 10 phương. 3. Thụ xuất: Nhờ vào tự lực dần dần tiến tu để ra khỏi luân hồi sinh tử; còn nương vào tha lực mà nhanh chóng thoát li thì gọi Hoành xuất. (xt. Hoành Xuất).
thụ (thọ)
Vedanà (S). To receive, be, bear. Perception, knowledge obtained by the senses, feeling, sensation.
thụ báo
Receive the retribution, the reward.
thụ bồ tát giới nghi
(授菩薩戒儀) Từ gọi chung các tác phẩm nói về nghi thức, phép tắc truyền thụ giới Bồ tát. Cứ theo Bồ tát giới nghĩa sớ quyển thượng của ngài Thiên thai Trí khải thì loại giới nghi này có 6 thứ: Bản Phạm võng, bản Địatrì, bản Caoxương, bản Anhlạc, bản Tân soạn và bản Chế chỉ. Ngoài ra còn có mười mấy loại như: 1. Thụ Bồ tát giới nghi,1 quyển, do ngài Tuệ tư (cũng gọi Huệ tư, 513-577)soạn vào đời Nam triều. Cũng gọi Thụ bồ tát giới pháp, Thụ bồ tát giới văn, được thu vào Vạn tục tạng tập 105. Nội dung trình bày về thứ tự truyền thụ giới pháp Đại thừa, sơ lược như sau: Dẫn thỉnh, quán 5 pháp, lập 3 nguyện, phát 4 thệ nguyện rộng lớn, thỉnhGiới sư, pháp vấn nạn, chính thức thụ giới, nguyện quảng đại...Giới nghi này là phép tắc thụ giới Đại thừa sớm nhất ở Trung quốc, nhưng Tục cao tăng truyện quyển 17 và Đại đường nội điển lục quyển 5 đều không nói giới nghi này là tác phẩm của ngài Tuệ tư. 2. Thụ Bồ tát giới nghi, 1 quyển, do ngài Trạm nhiên (711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 105.Nội dung Giới nghi này gồm 12 môn: Khai đạo, Tam qui, Thỉnh sư, Sám hối, Phát tâm, Vấn giá, Thụ giới, Chứng minh, Hiện tướng, Thuyết tướng, Quảng nguyện và Khuyến trì. 3. Đại đường Tam tạng pháp sư truyền tây vực chính pháp tạng thụ Bồ Tát giới pháp, do ngài Tuệ chiểu soạn vào đời Đường, được thu vào Khuyết phát bồ đề tâm tập quyển hạ trong Vạn tục tạng tập 98. 4. Phạmvõng kinhbồtát giới bản sớ, 3quyển, do ngài Nghĩatịch người nước Tân la (nay là Triềutiên) soạn vào đời Đường. Quyển thượng y theo thuyết Bồtát địa trong luận Dugià sư địa mà lập 8 môn Bồ tát giới nghi: Thỉnh sư, Cầu lực, Khất giới, Trưởng dưỡng, Tịnh tâm, Vấn duyên, Chính thụ, Khải bạch thỉnh chứng và Lễ thoái. 5. Thụ Bồ Tát giới nghi thức, do ngài Tuân Thức (964-1032) soạn vào đời Tống, được thu vào Kim viên tập quyển thượng trong Vạn tục tạng tập 101. Nội dung bao gồm 10 khoa giới nghi: Khai đạo tín tâm, Thỉnh Tam bảo chư thiên gia hộ, Qui y Tam bảo, Thỉnh ngũ thánh sư, Hạ tọa Phật tiền khất giới, Phát tứ hoằng thệ nguyện, Khai giá vấn nạn, Tam phiên yết ma, Thỉnh Phật chứng minh và Thị trì phạm giới tướng. 6. Thụ trìbồtát giới nghi, do ngài Tri lễ soạn vào đời Tống, được thu vào Tứ minh tôn giả giáo hành lục quyển 1 trong Đại chính tạng tập 46. Nội dung liệt kê 12 khoa giới nghi: Cầu sư thụ pháp, Sách đạo khuyến tín, Thỉnh thánh chứng minh, Thụ tam quy y, Triệu thỉnh thánh sư, Bạch Phật khất giới, Sám hối tội khiên, Vấn vô giá nạn, Yết ma thụ giới, Lược thuyết giới tướng, Phát hoằng thệ nguyện và Kết toát hồi hướng. 7. Thụ đại thừa bồ tát giới nghi, do ngài Nguyên chiếu (1048-1116) soạn vào đời Tống, được thu vào Chi uyển di biên quyển trung trong Vạn tục tạng tập 105. Nội dung sách này bao gồm 10 môn giới nghi: Cầu sư thụ pháp, Thỉnh thánh chứng minh, Qui Phật cầu gia, Sách đạo khuyến tín, Lộ quá cầu hối, Thỉnh sư khất giới, Lập thệ vấn giá, Gia pháp nạp thể, Thuyết ư thị giới và Thán đắc phát nguyện. 8. Thụ bồ tát giới pháp, 1 quyển (cũng gọi Thụ bồ tát giới pháp tịnh tự), do ngài Vĩnh minh Diên thọ (904-957) soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 105.Sách này được chia làm 2 phần: Tựa và Thụ giới pháp, phần Thụ giới pháp đã bị thất lạc, chỉ còn lại phần tựa. Nội dung lấy thuyết Giáo Thiền nhất trí làm cơ sở, nói về công đức truyền thụ giới Bồ tát, cho rằng giới Bồ tát là cội gốc của tất cả các hạnh. 9. Thiền môn thụ Bồ Tát giới nghi, 1 quyển, do ngài Ẩn nguyên Long kì (1592- 1673) biên soạn vào đời Minh. 10. Hòa bồ tát giới văn, 1 bản, được thu vào đoạn sau bản Đôn hoàng mang số A.Stein 1073, hoàn thành vào năm Càn phù thứ 4 (877) đời vua Hi tông nhà Đường. 11. Xuất gia nhân thụbồtát giới pháp, bản Đôn hoàng mang số Pelliot 2196. (xt. Thụ Bồ Tát Giới Nghi).
; (受菩薩戒儀) Cũng gọi Thụ bồ tát giới văn, Thập nhị môn giới nghi, Diệu lạc thập nhị môn giới nghi.Tác phẩm,1quyển, do ngài Trạm Nhiên soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 105. Sách này trình bày về nghi thức truyền giới Bồtát thuộc hệ thống Thiênthai, rất được các nhà Viên đốn giới xem trọng, tài liệu tham chiếu gồm có Phạm võng, Địa trì, Caoxương, Anhlạc, Tân soạn và Chế chỉ, nội dung chia thành 12 môn: Khai đạo, Tam qui, Thỉnh sư, Sám hối, Phát tâm, Vấn giá, Thụ giới, Chứng minh, Hiện tướng, Thuyết tướng, Quảng nguyện và Khuyến trì. Sách chú thích có Yếu giải 1quyển (Nghĩa sơn). Ngoài ra, những sách ghi chép về giới nghi còn có: Thụ bồ tát giới nghi 1 quyển (cũng gọi Thụ bồ tát giới pháp, Thụ bồ tát giới văn, được thu vào Vạn tục tạng tập 105) của ngài Tuệ tư đời Trần, Thụ bồ tát giới nghi (được thu vào Kim viên tập quyển thượng) của ngài Tuân Thức đời Tống, Thụ bồ tát giới nghi (được thu vào Tứ minh tôn giả giáo hành lục quyển 1, của ngài Tri lễ đời Tống, Thụ đại thừa bồ tát giới nghi (được thu vào Chi uyển di biên quyển trung) của ngài Nguyên chiếu, Thụ bồ tát giới nghi thức 1 quyển (được thu vào Đại chính tạng tập 17) của ngài Tối trừng người Nhật bản, là sách mở rộng thêm Thập nhị môn giới nghi của ngài Trạm nhiên. [X. Phật tổ thống kỉQ.7; Bồtát giới nghĩa sớ Q. thượng (Trí khải); Đông vực truyền đăng mục lục Q. hạ].
Thụ bồ-đề tâm giới nghĩa
受菩提心戒義; C: shòupútíxīnjièyì; J: jubo-daishinkaigi; S: bodhicitta-śīlādānakalpa;|1 quyển. Bất Không (不空) dịch, có lẽ do Nhất Hạnh (一行) sưu tập. Nội dung chính là sự thụ giới theo nghi thức của Kim Cương thừa (s: vajrayāna).
thụ chức quán đỉnh
(受職灌頂) I. Thụ Chức Quán Đính. Cũng gọi Truyền pháp quán đính, Đắc a xà lê vị quán đính, truyền giáo pháp đính. Gọi tắt: Thụ chức. Đối với các đệ tử đủ học vấn và đức hạnh, xứng đáng được chức vị A xà lê trong Mật giáo thì cho vào đàn Truyền pháp quán đính để thụ quán đính. Pháp được truyền thụ là Nghi quĩ minh pháp của Phổ môn Đại nhật và Chân ngôn sâu kín nhất. Tác pháp trao truyền như sau: Người thụ quán đính trước hết là tu gia hạnh, sau đó, vào đạo tràng Quán đính, cầm hoa gieo vào Mạn đồ la, nếu gieo trúng đức Đại nhật, đức Di đà... thì đức Phật ấy sẽ truyền trao pháp này cho đệ tử; vị A xà lê lấy nước trong bình Ngũ trí rưới lên đầu đệ tử, trao cho pháp cụ tương thừa. Sau đó, đệ tử lễ chư Tôn trong Mạn đồ la, lễ xong, đệ tử tự lên ngồi trên tòa A xà lê, đồng thời kết ấn Đại nhật Như lai, tự tu hành giác ngộ đã thành Đại nhật Như lai. Đây là địa vị tu hành tột cùng lớn nhất trong Mật giáo, mang ý nghĩa là thân này do cha mẹ sinh ra đã mau chóng chứng được địa vị Đại giác. Ngoài ra, nhận lãnh quán đính, gọi là Nhập đàn (vào đàn), người nhập đàn gọi là Quán đính thụ giả (người nhận quán đính); người dẫn đệ tử nhận quán đính vào đạo tràng, chỉ dạy phép tắc quán đính, đồng thời điều khiển uy nghi tiến thoái, gọi là Quán đính giáo thụ sư; người phụ trách việc truyền trao quán đính, gọi là Quán đính đại A xà lê. Vị A xà lê gia trì cho người nhận quán đính, gọi là Thụ giả gia trì; ấn khế được trao cho người nhận lúc gia trì, gọi là Thụ giả gia trì ấn; dâng 6 thứ vật cúng như hoa, hương... cúng dường người thụ quán đính, gọi là Thụ giả cúng dường. [X. Đại nhật kinh sớ Q.15]. (xt. Truyền Pháp Quán Đính, Quán Đính). II. Thụ Chức Quán Đính. Lúc Bồtát từ Địa thứ 9 tiến lên địa Pháp vân thứ 10 thì chư Phật dùng nước trí rưới lên đầu vị ấy để làm chứng cho việc nhận lãnh chức Pháp vương. [X. phẩm Thập địa kinh Hoa nghiêm Q.27 (bản dịch cũ); Thiênthai tứ giáo nghi tập chú Q. hạ].
thụ cụ
To receive the entire precepts.
Thụ dụng
受用; C: shòuyòng; J: juyū; |Có các nghĩa sau: 1. Nhận biết các cảnh trần qua các căn (giác quan). Trải qua (s: pratyu-pabhoga, upabhoga); 2. Tiếp nhận và sử dụng. Cách dùng; 3. Thưởng thức điều mình đang có; 4. Viết tắt của Thụ dụng thân (受用身), một trong các thân của Phật.
thụ dụng
Received for use.
; (受用) Tiếng dùng trong Thiềnlâm. Thông thường chỉ cho sự hưởng thụ. Trong Thiền lâm, từ này được dùng để chỉ cho cơ pháp được vận dụng một cách linh hoạt. Như khi đã đạt đến cảnh giới tự do tự tại thì tùy theo ý mình mà vận dụng một cách tự như, gọi là Thụ dụng như ý. Hoặc người học được sư gia điểm hóa, thình lình khai ngộ, về sau không còn bị bất cứ cái gì ràng buộc, gọi là Thụ dụng bất tận. Cứ theo Thiền tông vô môn quan tắc 3 thì trước khi thị tịch, Thiền sư Câu chi đã nói với đại chúng là mình chỉ được Thiền một ngón tay của Thiền sư Thiên Long mà thụ dụng cả đời không hết. [X.chương Vụ châu Câu chi trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.4].
thụ dụng tam thủy yếu hành pháp
(受用三水要行法) Cũng gọi Thụ dụng tam thủy yếu pháp. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh (635-713) soạn vào đời nhà Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này nêu rõ tính chất và cách sử dụng 3 thứ nước mà tăng tục dùng hàng ngày. Ba thứ nước là: 1. Thời thủy: Chỉ cho thứ nước mà sa di và người thế tục lọc bằng tay, thấy không có trùng, tùy ý được dùng uống trướcNgọ. 2. Phi thời thủy: Chỉ cho nước sạch mà đúng thời hay không đúng thời đều được tùy ý uống dùng. 3. Xúc dụng thủy: Chỉ cho thứ nước dùng rửa tay chân, chỗ đại, tiểu tiện. Trong sách này còn cho rằng nếu sử dụng, chuẩn bị, cất chứa... nước không thích đáng sẽ phạm 6 thứ tội, cho đến 15.480 tội. Ngài Nghĩa tịnh xem rộng Thánh giáo, căn cứ vào luật Thậptụng, luật Hữubộtìnạida và chính những điều mắt thấy tai nghe khi ngài du học ở Ấnđộ mà soạn thành sách này.
Thụ dụng thân
受用身; C: shòuyòng shēn; J: juyūshin; S: saṃ-bhogakāya; |Là kết quả của sự giác ngộ, hưởng niềm vui của chính pháp và giúp cho người khác cùng được hưởng. Là một trong các thân của chư Phật, đồng nghĩa với Báo thân (報身). Từ nầy thường có nghĩa là thân tiếp nhận và hưởng niềm vui của chính pháp cho chính mình. Còn thân giúp người khác có được niềm vui thì gọi là Tha thụ dụng thân (他受用身). Một trong Ba thân
thụ dụng thân
The Sambhogakàya, i.e. the functioning glorious body, tự thụ dụng for a Buddha's own use, or bliss; tha thụ dụng for the spiritual benefit of others.
; (受用身) Phạm: Saôbhoga-Kàya. Chỉ cho thân đầy đủ tất cả công đức, an trụ ở cõi thuần tịnh, thường thụ dụng pháp lạc,1trong3thân,1trong4thân. Các tông giải thích về Thụ dụng thân có khác nhau: 1. Tông duy thức: Chủ trương Thụ dụng thân chính là Phật thân, tự thân này thụ dụng pháp lạc rộng lớn, đồng thời khiến các chúng sinh khác cũng thụ dụng pháp lạc. Thụ dụng thân lại được chia làm 2: a. Tự thụ dụng thân: Thân tựthụdụng pháp lạc của Phật. Tức thực trí thân, do thức thứ 8 vô lậu tương ứng với trí Đại viên kính biến hiện ra; trải qua 3 vô số kiếp, chứa góp vô lượng phúc trí, tu hạnh tự lợi, sinh khởi vô lượng công đức chân thực và sắc thân thường biến cực diệu viên tịnh, tự thụ dụng sự vui mừng vi diệu. Thân này có nghĩa đền đáp lại nhân mà chiêu cảm được quả, nên cũng gọi là Báo thân. b. Tha thụ dụng thân: Thân công đức thanh tịnh vi diệu thuộc về hóa tha do trí tính bình đẳng của Phật thị hiện ra. Đức Phật dùng sức đại từ bi thích ứng với căn tính của hàng Bồ tát Thập địa, hiện bày ra 10 lớp tướng hải, trụ nơi cõi Phật thuần tịnh, hiện thân thuyết pháp, khiến các Bồ tát thụ dụng pháp lạc Đại thừa. Thân tướng mà đức Phật hiện ra để độ hàng Bồ tát sơ địa là thân ngồi trên đài sen trăm cánh; thân Phật hiện ra để độ hàng Bồ tát Đệ nhị địa là thân ngồi trên đài sen nghìn cánh; cho đến thân Phật thị hiện để độ hàng Bồ tát Thập địa là thân ngồi trên đài sen mà số cánh là bất khả thuyết bất khả thuyết. Một cánh sen ở đây là thế giới ba nghìn đại thiên. Hàng Đại bồ tát Thập địa trải qua 3 vô số kiếp tu hạnh lợi tha, đầy đủ các hóa thân chứng được; vì chúng sinh mà hiện ra nhiều tướng, nói các pháp môn, thụ dụng đại pháp lạc, gọi là Tha dụng thụ thân. Thân này có nghĩa là ứng thân thị hiện nên cũng gọi là Ứng thân. 2. Tông Thiên Thai: Chủ trương Thụ dụng thân là nội chứng và ngoại dụng của Báo thân, có nghĩa thụ dụng, nên gọi là Thụ dụng thân. Cũng được chia làm2loại là Tự thụ dụng và Tha thụ dụng. a. Tự thụ dụng thân: Thân tự thụ pháp lạc thuộc nội chứng của Phật, đầy đủ vô biên sắc tướng trang nghiêm, trùm khắp pháp giới và vô vi thường trụ, có diệu trí bản hữu, quốc độ mà thân này an trụ là Thường tịch quang độ. b. Tha thụ dụng thân: Báo thân Phật thị hiện để độ hàng BồtátBiệt giáo Địa thượng và Viên giáo Trụ thượng trong bốn giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên; quốc độ mà thân này an trụ gọi là Thực báo vô chướng ngại độ. 3. Mật tông: Chủ trương Thụ dụng thân chính là Thụ dụng pháp thân. Cứ theo Lược thuật Kim cương đính Du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn thì Pháp thân Tì lô giá na Phật chứng được 4 trí là Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quán sát trí và Thành sở tác trí, lí và trí ứng hợp nhau, tự thụ pháp lạc, gọi là Tự thụ dụng. Còn 4 vị Phật là A súc, Bảo sinh, Di đà và Bất không thì ứng hiện Thập địa, khiến chúng sinh thụ dụng pháp lạc, gọi là Tha thụ dụng báo thân. [X. kinh Kim cương đính Q.1; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.3; Phật địa kinh luận Q.7; luận Thành duy thức Q.10; Hoa Nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Tam Thân, Tứ Thân).
Thụ dụng thân 受用身
[ja] ジュユウシン ||| As the result of enlightenment, enjoyment of the dharma and causing others to receive this enjoyment. One of the bodies of the Buddha, synonymous with baoshen 報身. This usually refers to the reception of enjoyment of the dharma for oneself. The body that causes others to receive enjoyment is called tashouyongshen => Là kết quả của giác ngộ, hưởng niềm vui của chính pháp và giúp cho người khác cùng được hưởng. Là một trong các thân của chư Phật, đồng nghĩa với Báo thân. Từ nầy thường có nghĩa là thân tiếp nhận và hưởng niềm vui của chính pháp cho chính mình. Còn thân giúp người khác có được niềm vui thì gọi là Tha thụ dụng thân他受用身.
thụ dụng độ
The realm of Sambhogakayà.
; (受用土) Cũng gọi Báo độ, Báo địa. Chỉ cho cõi nước trong đó thân Thụ dụng của chư Phật an trụ. Nói theo cõi nước mà thânThụ dụng của Phật an trụ thì đây là Tịnh độ của Tự thụ dụng pháp lạc và Tha thụ dụng pháp lạc. Cứ theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 13, 15 (bản dịch đời Lương) thì Thụ dụng độ nương vào Thụ dụng thân mà có; Thụ dụng độ của Bồtát cũng có thể được gọi là Phật độ thanh tịnh của Tự thụ dụng pháp lạc và Tha thụ dụng pháp lạc. Tướng của Tịnh độ này có đầy đủ 18 thứ viên tịnh: Sắc tướng viên tịnh, Hình mạo viên tịnh, Lượng viên tịnh, Xứ viên tịnh, Nhân viên tịnh,Quảviên tịnh, Chủ viên tịnh, Trợ viên tịnh, Quyến thuộc viên tịnh, Trì viên tịnh, Nghiệp viên tịnh, Lợi ích viên tịnh, Vô bố úy viên tịnh, Trụ xứ viên tịnh, Lộ viên tịnh, Thừa viên tịnh, Môn viên tịnh và Y chỉ viên tịnh. Luận Nhiếp đại thừa... đều cho rằng Thụ dụng độ chỉ có1Phật độ thanh tịnh, nhưng Phật địa kinh luận thì chủ trương Thụ dụng thân có Tự thụ dụng thân và Tha thụ dụng thân khác nhau, thì Thụ dụng độ cũng theo đó mà có Tự thụ dụng độ và Tha thụ dụng độ. Theo Phật địa kinh luận quyển1thì Tự thụ dụng độ là nơi chỗ của Tự thụ dụng thân an trụ, rộng lớn vô biên, trùm khắp pháp giới; Tha thụ dụng độ là nơi an trụ của Tha thụ dụng thân, tùy cơ nghi mà thị hiện, có lớn, nhỏ, hơn, kém khác nhau, nó chuyển đổi bất định, giống như cõi biến hóa. Về chỗ dị, đồng giữa tịnh độ và tam giới cũng có các thuyết khác nhau. Theo Phật địa kinh luận quyển 1 thì: 1. Tịnh độ và tam giới không phân biệt, cùng ở một chỗ. 2. Tịnh độ ở trên cõi trời Tịnh cư. 3. Tịnh độ ở phương tây. 4. Tịnh độ không có biên tế, trùm khắp pháp giới. Vì Thụ dụng độ trùm khắp pháp giới nên không thể chỉ ra một cách chính xác nó ở chỗ nào, chỉ tùy theo cơ nghi mà bảo nó ở cõi trời Tịnh cư hoặc ở phương tây.[X. Nhiếp đại thừa luận bản Q. hạ; luận Thành duy thức Q.10; Đại thừa nghĩa chương Q.9; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.52]. (xt. Tứ Độ).
Thụ dụng 受用
[ja] ジュユウ juyū (1) Reception of objects by the faculties ||| To experience. (pratyupabhoga, upabhoga) (2) To receive and put to use. Usage. (3) To enjoy what one has. (4) An abbreviation for shouyongshen 受用身, one of the bodies of the Buddha; "enjoyment body."
thụ giáo
To receive instructions.
thụ giả
The recipient (e.g. of the rules). The illusory view that the ego will receive reward or punishment in a future life.
; (竪者) Cũng gọi Lập giả, Thụ nghĩa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho người vấn nạn. Tức trong luận trường, người hỏi vặn lại(phản luận)luận đề, tông nghĩa của đối phương gọi là Thụ giả.(xt. ThụNghĩa). Lại theo Hành sự sao (hội bản) quyển 15 của ngài Đạo tuyên thì vào khoảng năm Gia bình (249-253) đời Tào Ngụy, sa môn Đàm ma ca la đến Lạc dương, lập ra tác pháp yết ma, đó là giới nghi Cụ túc đầu tiên ở Trung quốc. Ở Nhật bản thì bắt đầu vào năm Thiên bình thắng bảo thứ 6 (754),Hòa thượng Giámchân người Trung quốc đến truyền giới trước điện Lô xá na chùa Đông đại. Bất luận là người xuất gia, tại gia, đã là người vâng giữ giáo pháp của đức Phật thì phải thệ nguyện tuân thủ giới luật và nương theo một nghi thức nhất định. Nói theo phương diện truyền trao giới pháp, gọi là Thụ giới; người tiếp nhận và vâng giữ giới pháp, gọi là Thắng sĩ, vì lẽ giới pháp có nhiều và nghiêm ngặt. Giáo đoàn Phật giáo có 7 chúng khác nhau, cũng gọi là Thụ giới thất chúng(7 chúng tiếp nhận giới), tức là Ưu bà tắc, Ưu bà di, Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na, Tỉ khưu và Tỉ khưu ni. Những giới(giới tại gia) mà các Ưu bà tắc(chỉ cho các tín sĩ tại gia) và Ưu bà di (chỉ cho các tín nữ tại gia)được thụ gồm có 3 qui y, 5 giới, 8 giới quan trai và giới Bồ tát.Giới phần nhiều do người khác truyền trao mà được, gọi là Tòng thathụ,như chúng tăng đắc giới từ Hòa thượng, A xà lê..., cũng có trường hợp tự nhiên được giới, như trong Tì nại da tì bà sa sư thập chủng đắc giới cho rằng tự nhiên được giới là Phật và Độc giác, ở địa vị cùng tột của trí tuệ, không thầy mà được giới Cụ túc. Ngoài ra, về việc thụ trì giới pháp, trong kinh điển còn có nhiều qui định. Về việc thụ trì 5 giới thì kinh Ưu bà tắc quyển 3 nói rằng, người muốn thụ giới này phải hướng về 6 phương cúng dường, tức là: 1. Phương đông: Hướng về cha mẹ cúng dường. 2. Phương nam: Hướng về sư trưởng cúng dường. 3. Phương tây: Hướng về vợ con cúng dường. 4. Phương bắc: Hướng về thiện tri thức cúng dường. 5. Phương dưới: Hướng về người giúp việc cúng dường. 6. Phương trên:Hướng về sa môn, Bà la môn cúng dường. Vì cúng dường cha mẹ, sư trưởng, cho đến sa môn, Bà la môn cúng dường chính là hướng về phương đông, phương nam, cho đến phương trên cúng dường. Ngoài việc cúng dường 6 phương còn phải được cha mẹ chấp thuận mới được đến chỗ Đại đức thụ giới. Còn về thứ tự thụ 3 qui y và 8 giới quan trai thì phải thụ 3 qui y trước sau mới thụ 8 giới quan trai. Cứ theo Chư giới thụ pháp trong San bổ tùy cơ yết ma quyển thượng thì pháp thụ trì Đại giới tỉ khưu phải đầy đủ 5 duyên mới được thành tựu. Đó là: 1. Người thụ cụ: Tức người thụ giới Cụ túc phải là người chứ không phải A tu la, súc sinh... Hơn nữa, các căn phải đầy đủ, thân tâm thanh tịnh... 2. Cảnh sở đối: Nghĩa là phải kết giới, các vị tăng tu hành đúng chính pháp, tăng số đầy đủ, theo pháp Bạch tứ yết ma... Trong đó, tăng số đầy đủ là chỉ cho Tam sư thất chứng, Tam sư nhị chứng... 3. Phát tâm cầu xin giới pháp. 4. Tâm và cảnh ứng hợp nhau. 5. Sự thành tựu cứu cánh: Từ đầu đến cuối y theo pháp hoàn thành. Khi chính thức thụ giới lại có 8 pháp phải thực hiện đầy đủ, đó là: 1. Pháp thỉnh sư. 2. Sắp xếp chỗ ở cho người thụ giới. 3. Sai người vấn duyên. 4. Xuất chúng hỏi pháp. 5. Pháp bạch gọi nhập chúng. 6. Pháp cầu xin giới. 7. Hòa thượngGiới sư hỏi pháp. 8. Pháp chính vấn. Luận Du già sư địa thì nêu ra 6 nguyên do không được thụ giới Tỉ khưu: 1. Ý muốn bị tổn hại. 2. Ý chỉ bị tổn hại. 3. Nam căn bị tổn hại. 4. Pháp bạch bị tổn hại. 5. Bị người khác trói buộc. 6. Vì hộ trì các tỉ khưu khác nên không cho người có khả năng biến hóa thân hình thụ giới. Ngoài ra, có thuyết cho rằng giới của 5 chúng xuất gia đều phải thụ toàn phần, tức thụ đủ toàn bộ. Còn 5 giới tại gia thì có toàn thụ, phần thụ khác nhau, tức người tại gia được phép thụ một phần giới pháp, chứ không bắt buộc phải thụ toàn bộ.Năm giới, 8 giới, 10 giới và Cụ túc giới (gọi chung là 5 8 10 Cụ) nói trên và nhân duyên thụ giới cũng như pháp thụ giới đều thuộc phạm vi giới Tiểu thừa. Còn về giới pháp Đại thừa thì có chia ra các thứ giới như Tam tụ, Thập trọng... Tam tụ tịnh giới là Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. Trong đó, Nhiếp luật nghi giới cũng giống như giới Tiểu thừa. Còn 10 giới trọng và 48 giới khinh nói trong kinh Phạm võng là giới tướng của giới Bồ tát Đại thừa. Về pháp thụ 10 giới trọng 48 giới khinh, cứ theo Bồtát giới nghĩa sớ quyển thượng của ngài Tríkhải thì nhân duyên thụ giới được chia làm 3 giai đoạn: 1. Lòng tin: Người thụ giới phải tin nhân quả thiện ác,4đức tính thường lạc ngã tịnh của quả Phật... 2. Không có ba chướng:Người thụ giới không có phiền não chướng, nghiệp chướng và Báo chướng. 3. Lấy nhân, pháp làm duyên: Nhân chỉ cho Giới sư; Pháp chỉ cho các loại giới nghi nói về pháp thụ giới. Giới sư chia làm 3 loại là chư Phật, Thánh nhân và Phàm sư. Trong đó, Phàm sư phải là người chân chính, đầy đủ 5 đức: Giữ giới, 10 hạ trở lên, hiểu rõ tạng Luật, thông suốt thiền tư và biết đến chỗ huyền diệu của tạng luận. VềGiới nghi thì Bồtát giới nghĩa sớ liệt kê 6 bản: Phạm võng, Địatrì, Cao xương, Anh lạc, Tân soạn và Chế chỉ, nhưng thông thường đều y cứ vào bộ Thụ bồtát giới nghi của ngài Trạmnhiên, trong đó có liệt kê 12 môn về thứ tự truyền giới, đó là: Khai đạo, Tam qui, Thỉnh sư, Sám hối, Phát tâm, Vấn giá, Thụ giới, Chứng minh, Hiện tướng, Thuyết tướng, Quảng nguyện và Khuyến trì. Thụ trì Phạm Võng Bồ Tát giới có 2 cách là Thông thụ và Biệt thụ. 1. Thông thụ: Nhận lãnh chung Tam tụ tịnh giới(10 giới nặng, 48 giới nhẹ thuộc về luật nghi giới) của 7 chúng. 2. Biệt thụ: Chỉ nhận lãnh riêng giới pháp khác nhau của mỗi chúng trong 7 chúng, như Ưu bà tắc và Ưu bà di nhận lãnh 5 giới Bồtát, Sa di và Sa di ni nhận lãnh 10 giới Bồtát, Thức xoa ma na nhận lãnh 6 pháp giới, Tỉ khưu và Tỉ khưu ni nhận lãnh 10 giới trọng 48 giới khinh của Bồtát cụ túc giới. Về công đức của việc thụ giới, theo kinh Thất Phật, nếu thụ trì giới 3 qui y thì được 9 vị thần hộ vệ; thụ trì 5 giới thì được 25 vị thần hộ vệ; thụ trì Cụ túc giới, Tam tụ tịnh giới... thì được vô lượng công đức. Nếu một ngày kia ngộ được ý chỉ viên dung thì tam tụ dung nhiếp lẫn nhau, các giới dung thông, mọi giới đều viên mãn, tu trì tùy theo muôn hạnh mà tròn đủ, một niệm trải qua 3 a tăng kì, chúng sinh và chư Phật bình đẳng, sâu xa mầu nhiệm
Thụ giới
受戒; J: jukai;|Chỉ ngày lễ mà một người gia nhập Tăng-già, tự nguyện giữ Giới luật dành cho họ. Có nhiều loại giới, giới luật cho Cư sĩ, cho Tỉ-khâu (Cụ túc giới; p: upasampadā) v.v.
thụ giới
Jukai (J).
; To receive or accept the commandments, or rules.
; (受戒) Phạm:Zìla-samàdhàna. Cũng gọi Nạp giới, Bẩm giới. Nhận lãnh pháp giới do đức Phật chế định. Tức chỉ cho hành vi tuân thủ qui định(giới, trừng phạt) của giáo đoàn. Giới là gốc của Bồ đề vô thượng, sự tôn nghiêm của giới luật chính là tinh thần căn bản của Phật giáo. Về giới thì có giới Đại thừa, giới Tiểu thừa khác nhau; giới Đại thừa lấy 10 giới trọng, 48 giới khinh nói trong kinh Phạm võng làm đầu và Tam tụtịnh giới nói trong kinh Bồtátanh lạc bản nghiệp và luận Du già sư địa; còn giới Tiểu thừa thì có các giới tướng như 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới Cụ túc...Trong luật Tứ phần quyển 31 trở đi, phần luận thích về Kiền độ (chương) thụ giới có nói đến nguồn gốc của việc thụ giới, cho rằng đức Thế Tôn đầu tiên thụ 2 giới qui y cho 2 thương gia là Đề vị và Ba lợi, nhờ qui y Phật, qui y pháp mà trở thành tín sĩ. Về sau dần dần có qui tắc truyền thụ giới Cụ túc với 10 vị Yết ma.vô tận, đó là ý chỉ cao nhất của việc thụ giới, trì giới. [X. kinh Phạm võng Q. hạ; kinh Tì ni mẫu Q.1; kinh Ưu bà tắc giới; kinh Đại ái đạo tỉ khưu ni Q. thượng;kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.thượng;luật Ngũ phần Q.15-17; luật Tứ phần Q.31-35; luật Ma ha tăng kì Q.23; luận Đại tì bà sa Q.12; luận Hiển giới Q. trung; luận Câu xá Q.14; Đại thừa nghĩa chương Q.10; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.1; Xuất gia thụ giới tác pháp]. (xt.ThậpChủngĐắcGiớiDuyên, Bồ TátGiới, TruyềnGiới). Trao cho giới pháp khiến người nhận lãnh thụ trì. Nói theo Năng thụ gọi là Thụ giới ( ); nói theo Sở thụ, gọi là Thụ giới ( ). Nhận lãnh giới được giới thể, gọi là Đắc giới. Nghi thức truyền trao 5 giới, 10 giới, Cụ túc giới, gọi là Giới nghi. (xt. ThụGiới).
thụ giới kiền độ
(受戒犍度) Cũng gọi Thụ cụ túc giới pháp, Đại kiền độ.Một trong 20 Kiền độ. Chỉ cho pháp hành trìbạchTứ yết ma thụ giới Cụ túc. Tức qui định pháp Hòa thượng, pháp Đệ tử, pháp A xà lê... đồng thời nêu ra 13 già nạn chẳng phải căn khí xuất gia. (xt. Kiền Độ).
thụ giới quán đỉnh
(受戒灌頂) Cũng gọi Trùng thụ giới quán đính, Giới quán đính. Tức thụ Tam muội da giới chân ngôn, là pháp truyền giới của phái Chân thịnh thuộc tông Thiên thai Nhật bản. Nghĩa là lập đàn rong đạo tràng, lấy nước trí của Như lai rưới lên đầu người đã thụ giới Viên đốn, sau đó người thụ bước lên đàn để thành địa vị Pháp vương. Sở dĩ pháp quán đính này được gọi là Trùng thụ(thụ lại) là vì những nguời tu học sau khi cạo đầu được 3 năm thì thụ giới Viên đốn, 12 năm sau lại chọn ra người có khả năng nhận lãnh Đại pháp, thì truyền trao lại Đại giới này, rồi mới cấp cho giới điệp, giới nghiệm.
thụ hình
To suffer punishment.
thụ hưởng
Sambhoga (S). Enjoyment.
thụ hạ thạch thượng
(樹下石上) Đồng nghĩa: Thụ hạ lộ địa. Ngồi trên tảng đá dưới gốc cây. Chỉ cho lúc đức Thếtôn thành đạo Ngài ngồi ngay thẳng tư duy trên tòa Kim cương ở gốc cây Bồ đề. Người đời sau gọi việc xuất gia tu hành, hoặc tùy duyên du hóa là Thụ hạ thạchthượng. Công phu tọa thiền trong Thiền tông, không xen lẫn việc khác, chỉ cầu1việc hướng thượng, cũng gọi là Thụ hạ thạch thượng. Hoặc dùng nhóm từ này để hình dung việc hoàn toàn không nghĩ đến danh lợi thế gian. [X. kinh Dị xuất bồ tát bản khởi; kinh Vô lượng thọ Q. thượng; Cao tăng pháp hiển truyện; Đại đường Tây vực kí Q.8; mục Đại thụ thí sự trong Tạp đàm tập Q.6].
thụ hạ toạ
(樹下坐) Phạm: Vfkwa-mùla. Pàli: Rukkha-mùla-senàsana. Ngồi dưới gốc cây,1trong 12 hạnh đầu đà,1trong4y trụ. LuậtNgũ phần quyển 4 (Đại 22, 26 thượng) nói: Nếu có người theo ta cầu xuất gia thì ta dạy họ tu 12 hạnh đầu đà, (...) mặc áo phẩn tảo, giữ 3 áo, ngồi bất cứ chỗ nào, ngồi dưới gốc cây(thụ hạ tọa), ngồi chỗ đất trống.
thụ hạ tư thập nhị nhân duyên kinh
(樹下思十二因緣經) Cũng gọi Bối đa thụ hạ tư duy thập nhị nhân duyên kinh, Văn thành thập nhị nhân duyên kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô thời Tam quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Đây là bản dịch khác của kinh Duyên khởi thánh đạo, nhưng nội dung chỉ nói về phần 12 nhân duyên, chứ không liệt kê phần 8 Thánh đạo.
thụ học vô học nhân kí phẩm
(授學無學人記品) Chỉ cho phẩm thứ 9 trong 28 phẩm kinh Pháp hoa. Kinh Chính Pháp Hoa gọi là Thụ A Nan La Vân Quyết phẩm, thuộc về Nhân duyên chu trong 3 chu thuyết pháp của kinh Pháphoa. Trong phẩm này, đức Phật thụ kí cho các ngài A-nan, La-hầu-la và 2000 vị Học, Vô học. Trong 4quả Thanh văn thì 3 quả Dự lưu, Nhất lai và Bất hoàn được gọi là Học nhân; còn quả A-la-hán thì được gọi là Vô học nhân. Các vị này được nghe đức Phật nói về nhân duyên nhiều đời trước của mình, liền bỏ tâm Tiểu thừa mà phát tâm Bồ đề vô thượng, nên Phật thụ kí cho họ đời đương lai sẽ thành Phật.(xt. Tam Chu Thuyết Pháp).
thụ kinh
Các loại kinh điển tiếng Phạn được khắc trên lá hay vỏ cây, chủ yếu là trên lá bối đa la (như lá kè)—Scriptures written on tree-leaves or bark, chiefly on palm-leaves.
; (樹經) Kinh cây. Chỉ cho kinh điển. Vì kinh điển bằng tiếng Phạm phần nhiều được khắc hoặc viết trên vỏ cây hoặc lá cây Bối đa la, cho nên gọi là Thụ kinh. ĐạiChu tân phiên tam tạng Thánh giáo tự nói: Số năm mà áo trời phủi trên đá đã hết, nhưng thụ kinh thì vô cùng.
thụ kinh a xà lê
(受經阿闍棃) Gọi tắt: Thụ kinh xà lê. Vị A xà lê truyền thụ kinh điển,1trong 5loại A xà lê. Lúc truyền giới Cụ túc, vị Quĩ phạm sư đọc kinh, đồng thời giảng nói nghĩa lí của kinh điển khiến cho người nhận lãnh giới thụ trì kinh điển, được gọi là Thụ kinh A xà lê. [X. luật Ngũ phần Q.16]. (xt. A Xà Lê).
Thụ kí
受 (授) 記; C: shòujì; J: juki; S: vyākaraṇa.|Một người nhận lời báo trước của đức Phật rằng mình sẽ thành tựu huệ giác viên mãn trong tương lai (s: vyākaraṇa). Là 1 trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo. Thập nhị bộ kinh (十二部經).
thụ kí
To receive from a Buddha predestination (to become a Buddha); the prophecy of a bodhisattva's future Buddhahood. Also thụ quyết, thụ biệt.
; (授記) Phạm: Vyàkaraịa. Pàli:Veyyàkaraịa. Hán âm: Tì da khư lê na, Tệ ca lan đà, Hòa già la na, Hòa la na. Cũng gọi Thụ quyết, Thụ biệt, Ký biệt, Ký thuyết, Ký. Nghĩa là khu biệt, phân tích, phát triển, 1trong 12 thể tài kinh, 1 trong 9 thể tài kinh. Vốn chỉ cho sự phân tích giáo thuyết, hoặc dùng phương thức vấn đáp để giải thích giáo lí; sau chuyển sang chỉ cho việc các đệ tử chứng ngộ, hoặc chỉ cho nơi sinh đến sau khi chết; sau cùng lại chuyên chỉ cho lời đoán trước(cũng gọi Dự kí) về việc chứng quả và danh hiệu thành Phật của các đệ tử trong vị lai. Như kinh Xà ni sa trong Trườngahàm quyển 5 nói: Phật thụ kí cho Đại thần Già giàla (Pàli: Kakkata), sau khi mệnh chung sẽ sinh lên cõi trời, còn 50 người khác thì được quả Tư đà hàm, 500 người được quả Tu đà hoàn. Thụ kí chủ yếu là chỉ cho lời chứng minh sự thànhPhật ở vị lai, nổi tiếng nhất như đức Thích tôn ở quá khứ đã được Phật Nhiên đăng thụ kí; hoặc như bồ tát Di lặc đã được đức Thích tôn thụ kí. Những trường hợp này được ghi trong các kinh A hàm. Đến kinh điển Đại thừa thì lại càng phổ biến, như kinh Vô lượng thọ ghi việc tỉ khưu Pháp tạng được đức Phật Thế tự tại vương thụ kí thành Phật A di đà; kinh Pháp hoa quyển 2 ghi việc hàng Thanh văn như ngài Xá lợi phất... được đức Phật thụ kí; còn kinh Pháp hoa quyển 4 thì ghi việc người độc ác là Đề bà đạt đa được Phật thụ kí, thậm chí như người nữ bị coi là không có khả năng thành Phật cũng đều được thụ kí. Có rất nhiều chủng loại thụ kí thành Phật. Đại thừa trang nghiêm kinh luận đại khái chia làm 2 loại thụ kí khác nhau là Nhân(người) và Thời. 1. Nhân sai biệt thụ kí: Nói về thời gian thụ kí trước và sau khi phát tâm bồ đề thì có hai loại là Vị phát tâm thụ kí(thụ kí khi chưa phát tâm) và Dĩ phát tâm thụ kí (thụ kí khi đã phát tâm). Nói về việc người thụ kí có hiển hiện trước mặt người được thụ kí hay không thì cũng có 2 loại là Hiện tiền thụ kí và Bất hiện tiền thụ kí(thụ kí trước mặt và không thụ kí trước mặt). 2. Thời sai biệt thụ kí: Nói về thời gian đến khi thành Phật là nhất định hay không nhất định thì được chia làm Hữu số thời thụ kí(thụ kí có số hạn thời gian) và Vô số thời thụ kí(thụ kí không có số hạn thời gian). Cứ theo kinh Đại nhật quyển 1 thì thụ kí hoàn thành quả Phật, đó là thụ kí hoàn toàn, gọi là Vô dư kí; còn thụ kí trong vị lai có thể diệt hết các chướng thì đó là thụ kí không hoàn toàn, gọi là Hữu dư kí. Kinh Thủ lăng nghiêm tam muội quyển hạ nêu 4 loại thụ kí: Thụ kí khi chưa phát tâm, Khi phát tâm rồi liền thụ kí, Thụ kí kín đáo và Thụ kí trước mặt. Kinh Bảo vũ quyển 6 thì liệt kê 3 loại thụ kí: Thụ kí trước mặt, Không thụ kí trước mặt và Thụ kí kín đáo. Luận Đại trí độ quyển 76 nêu 2 loại thụ kí: Thụ kí trước mặt và Không thụ kí trước mặt. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 39 (bản dịch cũ) ghi 10 loại thụ kí. Cũng kinh này quyển 37, nêu rõ 10 loại pháp tự biết thụ kí. Phẩm Vô trước trong kinh Bồ tát anh lạc quyển 9 có nói đức Như lai ở giữa đại chúng thụ quyết cho các Bồ tát, y cứ vào hay biết, không hay biết mà chia thành 8 thứ. Tám thứ thụ kí này được giải thích rõ trong Pháp hoa văn cú quyển 7 thượng. Phẩm như Lai tính trong kinh Đại bát niết bàn quyển 10 (bản Bắc) có nêu 2 loại thụ kí là Tốc kí và Viễn kí(thụ kí nhanh chóng và thụ kí lâu xa). Tốc kí là thụ kí cho những người phát nguyện nhanh chóng, còn Viễn kí là thụ kí cho những người hộ trì chính pháp, trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 8 cógiải thích rõ, đồng thời còn nêu hai loại Thông kí và Biệt kí khác nhau. Về điều kiện thụ kí thì Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 12 có ghi 6 thứ là tên cõi nước, tên Phật, thời tiết, tên kiếp, quyến thuộc và thời gian chính pháp tồn tại, nhưng các kinh đều nói rộng, lược khác nhau. Về hình thức thụ kí đều khởi đầu bằng việc trước hết Phật mỉm cười, từ trên trán của Ngài phóng ra ánh sáng chiếu khắp 10 phương, kế đến là vị đệ tử thuộc hàng Thượng thủ thưa hỏi đức Phật về nhân duyên Ngài mỉm cười. Về nguyên nhân thụ kí thì Kim quang minh tối thắng Vương kinh sớ quyển 6 nêu ra 3 lí do: 1. Vì Bồtát tu nhiều công đức, chứng được pháp tính, cho nên thụ kí. 2. Các vị Tiểubồtát có giai vị tu chứng tương đối còn nông cạn, chủng tính thành Phật vẫn còn chưa quyết định, có lúc sinh nghi; để đoạn trừ mối nghi ấy và làm cho đạo tâm của các vị này thêm vững chắc, nên thụ kí cho họ. 3. Để cho người thích cầu quả Phật thấy việc thụ kí này mà vui mừng rằng trong đương lai mình cũng sẽ được thụ kí thành Phật.Ngoài ra, trong kinh Ngũ Phật đính tam muội đà la ni quyển 3 có ghi ấn chú thụ kí của Như Lai. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.14 (bản Nam); phẩm Thụ quyết định kí trong kinh Phật bản hạnh tập Q.4; phẩm Bồ tát công đức trong kinh Bồ tát địa trì Q.8; phẩm Thập nhị bộ kinh trong luận Thành thực Q.1; luận Đại tì bà sa Q.126]. (xt. Dự Ngôn).
thụ kí phẩm
(授記品) Chỉ cho phẩm thứ 6 trong 28 phẩm kinh Pháp hoa. Kinh Chính pháp hoa gọi là Thụ thanh văn quyết phẩm. Phẩm này thuộc về Thí thuyết chu trong 3 chu thuyết pháp(Pháp thuyết chu, Thí thuyết chu và Nhân duyên chu) của kinh Pháp hoa. Đức Phật khiến cho 4 vị Đại thanh văn thuộc hàng trung căn là Cadiếp, Tubồđề, Cachiên diên và Mụckiềnliên bỏ Tiểu thừa hướng Đại thừa, đồng thời tuyên thuyết phẩm Đương lai tác Phật hiện tiền thụ kí cho các vị nghe. (xt. Tam Chu Thuyết Pháp).
thụ kí quang
(授記光) Chỉ cho ánh sáng chiếu trên thân hành giả khi được đức Phật thụ kí. Luận Đại trí độ quyển 33 nói rằng: Khi Phật muốn thụ kí cho chúng sinh, trước Ngài mỉm cười, sau đó ánh sáng từ trong 4 chiếc răng lớn phóng ra, có các màu xanh, vàng, đỏ, trắng, lục, tía... (xt. ThụKí).
Thụ ký 受記
[ja] ジュキ juki ||| To receive a prediction from the Buddha that one will achieve perfect enlightenment in the future (vyākaraṇa). Also commonly written as 〔法華經 T 262.9.36a8〕One of the twelve divisions of the Buddhist canon . => Một người nhận lời báo trước của Đức Phật rằng mình sẽ thành tựu tuệ giác viên mãn trong tương lai (s: vyākaraṇa). Thường gọi là Thụ ký授記. Là một trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo. Xem Thập nhị bộ kinh十二部經.
Thụ ký 授記
Sự ấn chứng của Đức Phật cho một người trong tương lai sẽ thành Phật (s, p: vyākaraṇa); Phiên âm là hoà-già-la 和伽羅, được dịch là Thụ ký 受記 và Ký biệt記別. Kinh Thủ Lăng Nghiêm kể ra bốn loại thụ ký. Xem Tứ chủng Thụ ký (四種授記 c: sizhongshouji). Là một trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo.
thụ lâm
A grove—A forest.
thụ minh quán đỉnh
(受明灌頂) Cũng gọi Thụ pháp quán đính, Trì minh quán đính, Thụ học quán đính, Học pháp quán đính, Đệ tử quán đính. Pháp quán đính mà hành giả Mật giáo thụ trì ấn minh(ấn khế và chân ngôn)của một vị tôn nào đó, cũng chính là Tam muội da thứ 3 trong 5 thứ Tam muội da nói trong phẩm Bí mật mạn đồ la của kinh Đạinhật, là pháp quán đính để được giai vịĐệ tử; đối lại với Truyền pháp quán đính để được địa vị A xà lê. Tác pháp này như sau: Trước kiến lập Mạn đồ la, rồi dẫn đệ tử tiến vào, đồng thời gieo hoa vào Mạn đồ la, A xà lê liền căn cứ theo vị tôn mà hoa đã gieo trúng mà truyền trao Tam mật của 1bộ, hoặc 3 bộ, hoặc 5 bộ, vì vị tôn và bộ này có nhân duyên với đệ tử ấy. Thụ minh quán đính này được trao truyền chung cho cả tăng lẫn tục, là tư cách tu học của đệ tử mới được thụ trì Mật pháp. Nếu chưa thụ pháp quán đính này mà tu tập Mật pháp hoặc lật xem Mật kinh thì giống với nghe trộmbốtát và phạm tội Việt tam muội da. Ngoài ra, điểm tương đồng giữa Thụ minh quán đính và Hứa khả quán đính là trước hết phải giảng truyền Mạn đồ la. [X. phẩm Thụ trì pháp tắc trong kinh Đại nhật Q.7; Đại nhật kinh sớ Q.15; Đạinhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q. hạ]. (xt. Đầu Hoa Đắc Phật, Quán Đính).
thụ mệnh
To carry out an order.
thụ nghiệp
Duties of the receiver of the rules; also to receive the results or karma of one's deeds.
thụ nghiệp viện
(受業院) Chỉ cho ngôi chùa viện người tu học ở khi mới xuất gia. Người học xuất gia theo thầy học đạo, gọi là Thụ nghiệp; thông thường chỉ cho việc cầu thụ giới pháp để được tư cách tăng ni, cho nên ngôi chùa viện mà người mới xuất gia cư trú được gọi là Thụ nghiệp viện. Còn bậc Thân giáo sư sau khi được độ, gọi là Thụ nghiệp sư (Phạm:Upàdhyàya), hoặc Thụ nghiệp hòa thượng. [X. Thích thị yếu lãm Q. thượng; môn Khu giới trongThiền lâm tượng khí tiên].
thụ ngũ giới bát giới văn
(受五戒八戒文) Tác phẩm, 1 quyển, không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 18, thông thường được đọc tụng khi thụ giới. Nội dung sách này được chia làm 2 phần là Bát giới văn và Ngũ giới văn. A. Bát giới văn: chia làm 5 phẩm: 1. Khể thủ thỉnh chứng minh phẩm: Phẩm cúi đầu thỉnh chứng minh. 2. Tẩy sám vãng nghiệp phẩm: Phẩm sám hối tẩy sạch nghiệp đời trước. 3. Đắc giới tam qui phẩm: Phẩm được giới 3 qui y. 4. Vấn trì thuyết phẩm: Phẩm thuyết giới và hỏi có giữ được không. 5. Hồi hướng phát nguyện phẩm: Phẩm hồi hướng phát nguyện. Hạng mục bát giới (8 giới) thấy trong phẩm thứ 4. B. Ngũ giới văn: Cũng chia làm 5 chương: 1. Phát thành khải thỉnh chương: Chương phát tâm thành khải thỉnh. 2. Sám quá tẩy tội chương: Chương sám hối tẩy sạch tội lỗi. 3. Chuyển tà qui kính chương: Chương chuyển tà về qui y kính tin Tam bảo. 4. Thuyết tương hợp (linh) tu chương: Chương nói hòa hợp khuyên tu. 5. Hồi hướng nguyện hải chương: Chương hồi hướng phát nguyện rộng lớn. Hạng mục Ngũ giới thấy trong chương thứ 4. Có thuyết cho rằng Giới văn này do ngài Bất Không (705-774) dịch vào đời Đường.
thụ nhật
(受日) Ngày nghỉ. Tức ngày nghỉ đúng phép khi tỉ khưu vì duyên sự phải ra khỏi chúng trong lúc đang an cư. Pháp xin nghỉ này được thực hiện đúng theo luật qui định, gọi là Thụ nhật pháp, được giới hạn trong vòng 7 ngày hoặc 15 ngày. Trong thời gian an cư, nếu vì các lí do như cha mẹ bệnh nặng, hoặc vì phá trừ ác kiến của ngoại đạo, hoặc vì thỉnh tam tạng để nói pháp cho họ nghe... thì được phép xin nghỉ để ra khỏi phạm vi kết giới. Tỉ khưu trình bày lí do ra khỏi chúng, do đó mà được phép ra ngoài 7 ngày, thuộc về pháp Đối thủ, gọi là Thất nhật pháp, Thụ thất nhật pháp. Nếu thời gian Thụ nhật đã hết mà công việc chưa xong, phải cần thêm Thụ nhật thì dùng pháp Cải thụ, thuộc về pháp Yết ma, gọi là Thụ quá thất nhật pháp(phép nghỉ hơn 7 ngày), Thụ quá thất nhật yết ma, Yết ma thụ nhật pháp. ĐiềuThụ nhật xuất giới ngoạibạch nhị trong Hữu bộbách nhất yết ma quyển 4 (Đại 24, 471 trung) nói: Bấy giờ, đối trước một vị bật sô, quì gối chắp tay bạch rằng: BạchCụ thọ từ bi, con là tỉ khưu...ở nơi trụ xứ này, hoặc trước hoặc sau 3 tháng an cư, con là tỉ khưu...vì duyên sự, xin ra ngoài giới 7 ngày, nếu không bị nạn duyên thì con sẽ trở lại trụ xứ này (...). Người nhận tác bạch phải nói: Áo tì ca!Người xin ra ngoài giới đáp: Sa độ!. Áo tì ca (Phạm: Aupayika), Hán dịch: Khả nhĩ, Như thị (Được!); Sa độ (Phạm:Sàdhu), Hán dịch: Thiện tai(Lành thay!). Đối với thời hạn vượt quá 7 ngày, quan điểm của các nhà đều khác nhau. Như Sa di tắc yết ma bản và luật Ngũ phần quyển 19 cho rằng quá 15 đêm đến 30 đêm; Đại sa môn bách nhất yết ma pháp, Thập tụng yết ma tỉ khưu yếu dụng... cho rằng quá 39 đêm; Hữu bộ bách nhất yết ma quyển 4 cho rằng quá 40 đêm; luật Ma ha tăng kì quyển 20 cho rằng quá nửa tháng, 1 tháng, 2 tháng cho đến ngày tự tứ là quá 7 ngày; luật Nhị thập minh liễu luận chorằng trước xin 7 ngày, nếu duyên sự chưa xong thì xin 7 ngày nữa. Ngoài ra, người tiếp nhận Thụ nhật pháp xin nghỉ, nếu không gặp các tai nạn như lụt lội, cọp beo, chó sói... mà không trở về đúng thời hạn thì tức đã phá an cư, phạm tội Đột cát la. [X. thiên Thụ nhật trong Tăng yết ma Q. thượng; Hành sự sao tư trì kí Q. thượng, phần 4].
thụ oan
To suffer an injustice.
thụ oán
create hatred.
thụ pháp
(受法) Đồng nghĩa: Thụ giới. Tiếp nhận giới pháp. Giới pháp do đức Phật chế định có công năng ngăn ác, làm thiện, phải thụ trì vĩnh viễn, không để cho giới đức bị tổn thất. Cứ theo kinh Phạm võng quyển hạ thì chúng sinh tiếp nhận giới của Phật tức là đã vào địa vị của chư Phật, đây gọi là Thụ giới nhập vị. Con đường chung của việc trao nhận giới pháp gọi là Thụ lộ; như tư cách nhận lãnh giới pháp, điều kiện thầy trò truyền trao giới pháp... Ngoài ra, trong Mật giáo, hành giả theo thầy vào đàn Quán đính, nhận lãnh 1 ấn(ấn khế), 1 minh(chân ngôn), cho đến pháp của 3 bộ, 5 bộ, cũng gọi là Thụ pháp. Nhưng đều y cứ theo pháp ấy mà có các nghi thức tác pháp cạn, sâu, rộng, lược, người có ý muốn thụ pháp, trước hết phải thụ Quán đính kết duyên, sau mới theo thứ lớp nhận lãnh. (xt. Thụ Giới).
thụ phát bồ đề tâm giới
(授發菩提心戒) Cũng gọi Thụ quán đính kim cương tối thượng thừa bồ đề tâm giới văn, Thụ quán đính kim cương tối thượng thừa bồ đề tâm giới nghi, Thụ bồ đề tâm giới nghi. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Bất không (705-774) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Giới nghi này được sử dụng khi đệ tử thụ pháp Mật giáo tiếp nhận giới Tâm bồ đề. Nội dung bao gồm: 1. Lễ Phật. 2. Vận tưởng cúng dường. 3. Sám hối. 4. Tam qui y. 5. Thụ bồ đề tâm giới. 6. Tối thượng thừa giáo thụ phát bồ đề tâm giới sám hối văn. Tất cả giới pháp của Hiển giáo và Mật giáo đều quan trọng, nhưng Phát bồ đề tâm giới là giới pháp đặc thù của Mật giáo. Ngoài ra, ngài Trừngquán (737-838) đời Đường cũng có soạn Thụ bồ đề tâm giới nghi, 1 quyển.
Thụ quyết
受決; C: shòujué; J: juketsu; S: vyākaraṇa;|Cựu dịch từ chữ vyākaraṇa tiếng Phạn, có nghĩa sự nói trước tương lai sẽ thành Phật, do đức Phật truyền cho cho đệ tử. Về sau trong tiếng Hán thường dịch là Thụ kí (授記 hoặc 受記). cũng là một trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo. Thập nhị bộ kinh (十二部經).
thụ quyết
Buddha's prediction. Also thụ kí.
thụ quyết tập
(授决集) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Viên Trân, người Nhậtbản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 74. Nội dung sách này, đối với nghĩa chủ yếu của tông Thiên thai, soạn giả vì đệ tử Lương dũng mà bài trừ kiến giải khác nhau của các nhà và nêu tỏ chính nghĩa. Sách này là do thu tập các ghi chép khẩu quyết của Tọa chủ Lương tư chùa Thiền lâm, núi Thiên thai, đối diện trao cho khi soạn giả đến Trung quốc cầu pháp vào đời Đường và các ghi chép bình thường của soạn giả, tất cả gồm 54 hạng mục, trở thành giáo điển căn bản của phái Tự môn thuộc tông Thiên thai Nhật bản. Sách này rất được những người cùng phái tôn trọng và trở thành Huyết mạch phổ tương thừa. Trong sách thu tập những tác phẩm như Thảo cảo bản 1 quyển, và bút tích trong Thanh thư 2 quyển của ngài Viên trân, Thư tả bản 2 quyển của đệ tử Ngộ nhẫn... Sách này xưa nay là bí quyết được phái Tự môn thuộc tông Thiên thai Nhật bản sử dụng khi truyền pháp ấn tín của tông Thiênthai Pháp hoa, cho nên thường gọi là Bí quyển mà kiêng gọi Thụ quyết tập.
Thụ quyết 受決
[ja] ジュケツ juketsu ||| An early translation of the Sanskrit vyākaraṇa, which means the prediction of future buddhahood, given by the Buddha toward one of his disciples; later commonly rendered into Chinese as 授記 and 受記. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Cựu dịch chữ vyākaraṇa từ tiếng Sanskrit, có nghĩa sự nói trước tương lai sẽ thành Phật, do Đức Phật truyền cho cho đệ tử. Về sau trong tiếng Hán thường dịch là Thụ ký授記 hoặc 受記. cũng là một trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo. Xem Thập nhị bộ kinh十二部經.
Thụ sinh
受生; C: shòushēng; J: jushō; |Có các nghĩa sau: 1. Được sinh ra, tiếp nhận mệnh sống, trải qua cuộc sống (s: upapatti); 2. Được sinh ra trong đau khổ; 3. Bản sinh (s: jātaka), chuyện cuộc đời của Đức Phật, là 1 trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo.
thụ sinh tâm
(受生心) Tạng: Skye-bar-#gyur-ba#i sems. Hành giả cầu mong các hạnh mà mình tu được đều hồi hướng cho việc thụ sinh, gọi là Thụ sinh tâm, 1 trong 60 vọng tâm nói trong kinh Đạinhật. Về pháp đối trị, hành giả phải lựa chọn giữa thiện và ác, diệt trừ bất thiện, chuyên tâm tinh tu thiện pháp, lại dùng trí tuệ rèn luyện tâm tính để dần dần đạt đến diệu quả đề hồ, thanh tịnh, thuần nhất. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật; Đại Nhật kinh sớ Q.2].
thụ sinh đắc
(受生得) Cũng gọi Sinh đắc (Phạm: Upapattipratilambhika). Đối lại: Li nhiễm đắc, Tu đắc, Gia hành đắc.Sinh ra đã có sẵn, đây là tính trời cho, vì thế cho nên gọi là Sinh đắc. Trái lại, nhờ công phu nghe pháp mà được thì gọi là Gia hành đắc. Cũng có thuyết cho rằng khi tu hành từ cõi trên sinh xuốngcõi dưới thì được định thanh tịnh của cõi ấy, hoặc được sự nhiễm ô của cõi ấy. Về tuệ thuộc sinh đắc, theo luận Đại tì bà sa quyển 42, trước hết thụ trì, đọc tụng 3 tạng, 12 phần giáo thì sẽ được tuệ, gọi là Sinh đắc tuệ; theo thứ tự do nghe pháp mà thành tuệ, do tư duy mà được tuệ, do tu hành mà có tuệ, cuối cùng dứt trừ hết phiền não mà chứng nhập Niết bàn. Nhưng Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần cuối, thì cho rằng Sinh đắc tuệ chỉ là thiện tâm yếu kém, vì tính của nó không sáng tỏ, vả lại không tùy thuận pháp xuất thế. Ngoài ra, điều thiện không do công lao mà được thành tựu, gọi là Sinh đắc thiện; năng lực thần thông tự nhiên mà có, gọi là Sinh đắc thông. [X. luận Câuxá Q.4; luận Đại tì bà sa Q.144; Câu xá luận quang kí Q.7]. (xt. Gia Hành Đắc).
thụ sớ chi pháp
(受疏之法) Chỉ cho phép tiếp nhận văn sớ khi được mời giữ chức vịTrụ trì. Khi chùa viện lậpTân trụ trì, trước phải có văn sớ bái thỉnh, như khi chùa A định mời vịTrụ trì chùaBđến nhận chứcTrụ trì chùa A thì vị hiện đang là trụ trì chùa A trước phải đến nhà Phương trượng của chùa Bthưa thỉnh 3 lần, nếu có ý bằng lòng thì đánh trống triệu tập đại chúng. Lúc đó, vị sư được mời phải từ chối 3 lần để tỏ rằng việc nhận lời thỉnh cầu là tình huống bất đắc dĩ. Sau đó, đốt hương để tuyên đọc văn sớ và mời vị Duy na đọc; kế tiếp, vị sư nhận lời thỉnh lên tòa tuyên giảng pháp ngữ, sau khi rời tòa, tiếp nhận sự chúc mừng của đại chúng.
thụ tang
Thọ tang—To be in mourning.
thụ thai lễ
(受胎禮) Phạm: Garbhadàna. Một trong những lễ nghi của Ấnđộ giáo, là nghi thức kì đảo mà cặp vợ chồng mới cưới thực hành để cầu mang thai con, mục đích có người nối dõi tông đường, đồng thời, sau khi chết, nhờ có con cúng dường mà bố mẹ được sinh lên cõi trời. Thông thường, mỗi tháng cử hành một lần. Nghi thức này là vợ chồng ăn chung cháo sữa, đồng thời dâng cháo sữa cúng 10 vị Thiên thần như thần lửa A kỳ ni, thần mặt trời Tô lợi da... sau đó vợ chồng hợp hoan, trì tụng văn chú, cầu mong sớm sinh quí tử.
thụ thư
(受書) Chỉ cho cách thu nhận thư tín trong Thiền lâm. Theo điều Thụ thư trong Thiền uyển thanh qui quyển 6 thì có 3 cách nhận thư: 1. Đối với thư tín của bậc tôn túc thì trước phải xông hương đón nhận, lại từ xa hướng về phía chỗ vị tôn túc ấy cư trú mà lễ bái rồi mới mở thư ra đọc. 2. Đối với thư tín tình cảm giao hảo bình thường thì do thị giả hoặc hành giả mở thư đọc thay, rồi cất vào một nơi. 3. Đối với thư tín của các quan lại thì chăm chú đọc kĩ, rồi cũng để vào một chỗ cẩn thận.
Thụ thập thiện giới kinh
受十善戒經; C: shòu shíshànjiè jīng; J: ju jū-zenkai kyō; |Kinh, 1 quyển. Dịch giả khuyết danh.
thụ thập thiện giới kinh
(受十善戒經) Kinh, 1 quyển (khuyết dịch), được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này chia làm 2 phần là phẩm Thập ác nghiệp và phẩm Thập thí báo.1. Phẩm Thập ác nghiệp: Hiển bày lí trọng yếu là diệt trừ 10điều ác, giữ gìn 10 giới thiện; đồng thời nêu ra tác pháp nhận lãnh 10 giới thiện, 8 giới trai... 2. Phẩm Thập thí báo:Trình bày tướng ác báo của 10 việc ác: Giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói 2 lưỡi, nói ác, nói thêu dệt, tham muốn, tức giận và ngu si, đồng thời nói rõ về công đức của việc diệt trừ 10 điều ác, giữ gìn 10 giới thiện. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.12].
Thụ thập thiện giới kinh 受十善戒經
[ja] ジュジュウゼンカイキョウ Ju jūzenkai kyō ||| Shou shishanjie jing; 1 fasc., translator unknown. T 1486.24.2023a-1028c. => c:Shou shishanjie jing; 1quyển. Dịch giả vô danh.
thụ thể tuỳ hành
(受體隨行) Cũng gọi Thụ thể tùy giới. Gọi tắt: Thụ tùy. Thụ thể và Tùy hành gộp chung lại. Trong tâm ta thụ giới và giữ giới thể, quyết tâm không phá giới, gọi là Thụ thể; từ đó về sau, tương ứng với quyết tâm ấy mà thực hành trong sinh hoạt hàng ngày, gọi là Tùy hành hoặc Tùy giới. Cũng tức là nhờ việc thụ giới mà được bản thệ tự nguyện dứt ác tu thiện, lúc nào và ở đâu cũng thực hiện bản thệ ấy. Giới có hai loại là Tác giới và Vô tác giới, mỗi loại đều có Thụ thể và Tùy hành. 1. Thụ thể tác giới: Nhờ nhân duyên tác lễ cầu giới mà ngăn dứt lỗi lầm của tâm.2. Tùy hành tác giới: Sau khi thụ được giới thì khởi hạnh hộ giới; trước mọi cảnh ngộ đều phải giữ giới hạnh. Thụ tùy của Tác giới có 5 đồng, 4 dị. Năm đồng là Danh đồng, Nghĩa đồng, Thể đồng, Đoản đồng, Hiệp đồng. Bốn dị là Tổng biệt dị, Căn điều dị, Huyền đối dị và Nhất đa dị. 3. Thụ thể vô tác giới: Trong đạo tràng thụ giới đầy đủ Nhân và Duyên, phát được giới thể. Trong đó, Nhân tức phát tâm dứt hoặc ngăn ác, ở trướcGiới sư phát ra lời thành thật xin giới; Duyên tứcGiới sư chấp nhận, chính thức tác lễ xin giới. Vô tác giới của Thụ thể một khi đã phát được thì bản thể ngăn ngừa sai trái tự nhiên sinh khởi. 4. Tùy hành vô tác giới: Từ khi thụ giới về sau thì thành tựu nghiệp ngừa lỗi ngăn ác. Thụ tùy củaVô tác giới cũng có 5 đồng, 4 dị. Năm đồng là Danh đồng, Nghĩa đồng, Thể đồng, Địch đối đồng và Đa phẩm đồng; Bốn dị tức Tổng biệt dị, Trường đoản dị, Khoan hiệp dị và Căn điều dị. [X. Tứ phần luật hành sự sao Q. trung, phần 1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3;thiênChư giới thụ pháp trong Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q. thượng].
thụ thỉnh thăng toà
(受請升座) Bậc tôn túc trong Thiền lâm nhận lời thỉnh mời lên tòa cao tuyên giảng Phật pháp. Thông thường nhận lời thỉnh hôm trước, hôm sau lên tòa. Cách thức thăng tòa giống với Thướng đường, còn pháp được tuyên giảng thì giống với Phổ thuyết. Theo Tuyết đậu Minhgiác thiền sư ngữ lục quyển 1 thì Thiền sư Minhgiác ở chùa Linhẩn tại Hàngchâu, sau khi thụ sớ, ngài được đại chúng thỉnh thăng tòa. (xt. Thụ Sớ Chi Pháp).
thụ thủ
(授手) Trao tay, duỗi tay. Thụ thủ có nhiều nghĩa, nhưng có thể chia thành 3 nghĩa chính: 1. Nghĩa là Phật duỗi tay ra để dắt dẫn chúng sinh về Tịnh độ. Trong các kinh điển Tịnh độ, như văn trình bày về Thượng phẩm thượng sinh trong kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 344 hạ) nói: Đức Phật Adiđà phóng ánh sáng lớn chiếu trên thân hành giả, cùng các Bồtát trao tay(thụ thủ)đón rước. Văn nói về Thượng phẩm trung sinh (Đại 12, 345 thượng) ghi: Ngươi tu hành Đại thừa, hiểu Đệ nhất nghĩa, cho nên nay ta đến đón rước ngươi, cùng với nghìnvịHóa Phật đồng thời trao tay.2. Nghĩa là truyền trao giáo pháp. ĐiềuSa di đắc giới trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1137 trung) nói: Phật Phật trao tay(thụ thủ),Tổ Tổ truyền nhau, không nhiễm thế duyên, mới nên pháp khí. Thụ thủ ở đây chỉ cho ý nghĩa truyền trao giáo pháp. 3. Nghĩa là gần nhau không xa. Kinh Phạm Võng quyển hạ (Đại 24, 1009 hạ) nói: Người thụ trì giới Bồtát phải giữ gìn, đọc tụng, giảng nói, viết chép quyển giới Phật tính thường trụ, lưu thông cho tất cả chúng sinh trong 3 đời, hoằng hóa không dứt, được thấy 1000 đức Phật, Phật Phật trao tay(thụ thủ)đời đời không rơi vào đường ác 8 nạn. Khi giải thích từ ngữ Phật Phật thụ thủ trong văn kinh Phạmvõng, Bồtát giới kinh nghĩa sớ quyển hạ cho rằng Thụ thủ chẳng phải là đưa tay trao, mà có nghĩa là vâng giữ giới pháp như đồng với Phật gần gũi không xa, cho nên gọi là Thụ thủ.
thụ thủ ấn
(授手印) Trong Mật giáo, khi vào đàn Quán đính, vị Bản tôn trao cho hành giả ấn Ngoại ngũ cổ và chức vị Quán đính, gọi là Thụ thủ ấn, trao từ tay phải qua tay trái, từ tay trái qua tay phải. Ở đây có nghĩa là cha con hợp nhau, Hòm và nắp khít nhau (nồi nào vung ấy); cũng tức là nghĩa dẫn dắt, gần gũi. Để biểu tỏ chính pháp đã truyền, tông Tịnh độ Nhậtbản trao cho tấm giấy có đóng dấu ấn cũng gọi là Thụ thủ ấn.Theo sách Mạt đại niệm Phật thụ thủ ấn của ngài Biệntrường người Nhật thì khi trao sách này cho ngài Lươngtrung có đóng Tả thủ ấn, Hữu thủ ấn để biểu thị cho việc các ngài Nguyênkhông, Biệna, Nhiêna... đời đời dùng Thụ thủ ấn làm yếu chỉ tương thừa. Đây là khởi đầu việc trao Thủ ấn của tông Tịnh độ Nhậtbản. Ý nghĩa và chỉ thú của Thụ thủ ấn cũng giống với Mật giáo, nhưng không phải ấn khế mà chỉ dùng để tượng trưng cho việc truyền nối tông nghĩa mà thôi.
Thụ thức
受識; C: shòushì; J: jushiki; |Thức trải qua các kinh nghiệm, thường được gọi là Chuyển thức (轉識). Bảy thức khác bên cạnh Duyên thức (縁識), đồng nghĩa với Tạng thức (藏識; theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).
Thụ thức 受識
[ja] ジュシキ jushiki ||| The experiential consciousnesses, more commonly expressed as "changing consciousnesses" . The other seven consciousnesses besides the causal consciousness 縁識, which is a synonym for container consciousness (藏識). 〔攝大乘論 T 1593.31.115c18〕 => Thức trải qua các kinh nghiệm, thường được gọi là Chuyển thức轉識. Bảy thức khác bên cạnh Duyên thức縁識, đồng nghĩa với Tàng thức藏識.
thụ thực
(受食) I. Thụ thực. Thông thường, thụ thực là chỉ cho chúng tăng nhận thức ăn do tín đồ bố thí. [X. luật Tứ phần Q.15; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.1 hạ]. II. Thụ thực. Việc thụ thực trong Thiền lâm. Chỉ cho 3 buổi ăn sáng, trưa và chiều. Tức ăn cháo buổi sáng, ăn cơm buổi trưa bằng bát, còn bữa ăn chiều là dược thạch. Phép tắc thụ thực gọi là Thụ thực pháp, tức lúc ăn cơm, cháo phải có thái độ kính cẩn, 2 tay bưng bát đưa lên vừa tầm để tiện cho người phục vụ trao thức ăn. Văn kệ phải nhớ nghĩ lúc ăn, gọi là Thụ thực văn, như Nhập chúng nhật dụng thanh qui ghi (Vạn tục 111, 472 hạ): Nguyện cho chúng sinh, ăn bằng thiền duyệt, pháp hỉ tràn đầy. Trong Thụ thực ngũ quán huấn mông (1 quyển) do vị tăng người Nhật là Diệu sơn Đoanphương soạn, bài kệ Ngũ quán mà Thiền tăng lúc ăn cơm phải nhớ nghĩ được giải thích rất rõ ràng, dễ hiểu. Bài kệ Ngũ quán vốn do cư sĩ Hoàng đìnhkiên ở Sơn cốc soạn vào đời Tống, văn kệ dựa theo yếu chỉ văn quán của Luật sư Đạotuyên soạn cho các sĩ đại phu tu học Phật pháp. Về sau, ngài Trường Lô Tông trách chép văn kệ này vào điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 thượng): Một là tính xem công đức tu hành của mình nhiều hay ít so với thức ăn thí chủ đem đến.Hai là xét đức hạnh của mình đủ hay thiếu mà nhận của cúng dường. Ba là phòng ngừa tâm ý, tránh xa tội lỗi mà cội gốc là tham, sân, si... Bốn là biết thức ăn chỉ là phương thuốc hay để chữa bệnh gầy ốm của thân thể. Năm là vì thành tựu đạo quả mà nhận thức ăn này. Người đời cho rằng bài kệ này dành riêng cho giới Thiền tăng sử dụng mà thôi, nhưng tìm đến nghĩa nguyên thủy của nó thì bài kệ này dùng chung cho việc thụ thực của cả tăng lẫn tục.
Thụ trì
受持; C: shòuchí; J: juji; |Có các nghĩa sau: 1. Tiếp nhận và ghi nhớ lời dạy; nhận và giữ lấy; ghi nhận và tán trợ (s: dhārayati, dhāraṇa); 2. Tiếp nhận và mặc y phục tuỳ theo từng nghi lễ riêng biệt.
thụ trì
To receive and retain, or hold on to, or keep (the Buddha's teaching).
; (受持) Phạm: Udgrahaịa. Lãnh nhận vào tâm, ghi nhớ không quên, chia ra 3 phương diện: 1. Thụ trì giới luật: Bất luận người xuất gia hay tại gia, một khi đã nhận lãnh giới pháp do đức Phật chế định thì phải thệ nguyện giữ gìn, không được trái phạm. 2. Thụ trì kinh điển: Mười pháp hành, 1 trong 5 hạnh pháp sư trong kinh Pháp hoa. Tức khi thụ học kinh điển thì phải phát tâm tin hiểu thanh tịnh, xem và đọc với tâm cung kính, đồng thời phải luôn luôn phúng tụng, nhớ nghĩ. Lại tin nhận giáo pháp của Phật, gọi là Thụ trì Phật ngữ; tin nhận một bộ kinh nào đó, như tin nhận kinh Pháphoa, gọi là Thụ trì Pháp hoa. Tông Nhậtliên ở Nhậtbản cho rằng hành giả thụ trì kinh Pháphoa, khi xướng tụng đề kinh Na mô Diệu phápliênhoakinh thì liền từ thân phàm phu chuyển thành thân Phật, gọi là Thụ trìdiệu pháp thành Phật, gọi tắt là Thụ trì thành Phật. 3. Thụ trì tam y: Nhận giữ 3 áo. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển thượng, sau khi tăng chúng được nhận 3 áo ca sa thì phải theo đúng pháp, tùy thời gian và nơi chốn mà mặc cho thích đáng, như những lúc vào làng xóm, nghe pháp... thì mặc áo lớn(9 điều hoặc 25 điều); ở chỗ thanh tịnh, tụng tập... thì mặc áo 7 điều; còn ở bất cứ chỗ nào khác đều được mặc áo 5 điều. [X. phẩm Phổhiền khuyến phát trong kinh Pháp hoa; Thắng man bảo quật Q. thượng, phần đầu; Đắc độ lược tác pháp; Thung dung lục tắc 3].
Thụ trì thất Phật danh hiệu kinh
受持七佛名號經; C: shòuchí qīfó mínghào jīng; J: juji shichibutsu myōgō kyō; |Tên gọi khác của Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh (受持七佛名號所生功德經).
Thụ trì thất Phật danh hiệu kinh 受持七佛名號德經
[ja] ジュジシチブツミョウゴウキョウ Juji shichibutsu myōgō kyō ||| An alternative title for the 受持七佛名號所生功德經. => Tên gọi khác của Thọ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh受持七佛名號所生功德經.
Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh
受持七佛名號所生功德經; C: shòuchí qī-fó mínghào suŏshēng gōngdé jīng; J: juji shi-chibutsu myōgō shoshō kudoku kyō; |Còn gọi là Thụ trì thất Phật danh hiệu kinh (受持七佛名號經), Thất Phật danh hiệu công đức kinh (七佛名號功德經), Thất Phật danh kinh (七佛名經). 1 quyển. Với nội dung đức Phật nói về danh hiệu và công đức của bảy vị Phật cho Xá-lợi-phất. Huyền Trang dịch năm 651.
Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh 受持七佛名號所生功德經
[ja] ジュジシチブツミョウゴウショショウクトクキョウ Juji shichibutsu myōgō shoshō kudoku kyō ||| The Shouchi qifo minghao suosheng gongde jing. Also known as the 受持七佛名號所生功德經、受持七佛名號經、七佛名號功德經、七佛名經. One fascicle, T 436.14.107-108. The Buddha expounds the names and merits of the seven Buddhas 七佛 to Śāriputra. Translated by Xuanzang in 651. => Còn gọi là Thọ trì thất Phật danh hiệu kinh, Thất Phật danh hiệu công đức kinh, Thất Phật danh kinh. Một quyển. Nội dung Đức Phật nói về danh hiệu và công đức của bảy vị Phật cho Xá lợi phất. Huyền Trang dịch năm 651.
Thụ trì 受持
[ja] ジュジ juji ||| (1) To receive and remember the teachings; to accept and embrace; to accept, uphold (dhārayati, dhāraṇa). 〔法華經 T 262.9.62a29〕(2) To receive and wear one's clothing according to the proper ritual form. => Có các nghĩa sau: 1. Tiếp nhận và ghi nhớ lời dạy; nhận và giữ lấy; ghi nhận và tán trợ (s: dhārayati, dhāraṇa). 2. Tiếp nhận và mặc y phục tuỳ theo từng nghi lễ riêng bịêt.
thụ tuế
To receive, or add, a year to his monastic age, on the conclusion of the summer's retreat.
; (受歲) Cũng gọi Tân Tuế. Nhận tuổi(tuổi mới). Nghĩa là các tỉ khưu sau mỗi kì hạ an cư 3 tháng lại được thêm một tuổi pháp(hạ lạp), gọi là Thụ tuế. Tức tỉ khưu từ sau khi thụ giới Cụ túc, căn cứ vào số lần hạ an cư mà tính tuổi thụ giới, gọi là Pháp lạp kỉ niên(bao nhiêu tuổi pháp), hoặc Giới lạp kỉ niên. Vì hạ an cư, các nhà dịch cũ dịch là Thụ tuế. Trong Thiền lâm, ngày đầu tiên của đông an cư, cũng gọi là Thụ tuế. [X. kinh Thụ tuế; kinh Tân tuế]. (xt. AnCư, Pháp Hạ).
thụ tuế kinh
(受歲經) Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháphộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Thụ tuế(nhận tuổi)nghĩa là sau hạ an cư, tỉ khưu thêm được 1 tuổi pháp. Nội dung kinh này thuật lại việc tôn giả Mục liên vì các tỉ khưu mà nói về ý nghĩa giới nghi Tự tứ được thực hành sau khi kết thúc hạ an cư. Nếu tỉ khưu khiêm nhường tự xét, thẳng thắn nói ra những lỗi lầm mà mình đã phạm, cầu xin đại chúng chỉ dạy thì đại chúng liền hoan hỷ nêu ra những lỗi lầm của vị tỉ khưu ấy và chỉ bảo cho. Trái lại, nếu tỉ khưu ngang ngược, ương bướng, khó dạy, lại toàn làm các việc xấu ác thì đại chúng sẽ không cử tội, răn dạy và đoái hoài đến. Kinh này gần giống nội dung bài kinh Tỉ khưu thỉnh thứ 89 trong Trung ahàm, có thể đây là kinh Biệt sinh của kinh Trung ahàm.
thụ tân tuế kinh
(受新歲經) Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháphộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Thụ tuế nghĩa là sau khi hạ an cư kết thúc, tỉ khưu được thêm một tuổi hạ (hạ lạp). Nội dung kinh này nói về nghi thức Tự tứ mà các vị tỉ khưu thực hành sau khi hết hạ an cư. Đức Phật thực hànhpháp Tự tứ trước tiên trong đại chúng, ngài Xá lợiphất liền vì Phật nói thanh tịnh; kế đó, ngài Xálợiphất cầu xin tự tứ, đức Phật liền vì ngài Xá Lợi Phất nói thanh tịnh. Sau cùng, Phật cũng vì tất cả đại chúng chứng minh và nói thanh tịnh. Tự tứ(tự mình buông thả)có nghĩa là các tỉ khưu mỗi người ở trước đại chúng tự nói ra các lỗi lầm mà mình đã phạm phải trong thời gian 3 tháng hạ an cư để xin đại chúng cử tội và dạy răn. Ngoài ra, văn kinh này giống với bài kinh thứ 5 trong phẩm 32 của kinh Tăng nhất a hàm(do ngài Cùđàm tăng già đề bà dịch), vì thế có thuyết cho rằng kinh này không phải do ngài Trúc pháp hộ dịch.
thụ tưởng
(樹想) Cũng gọi Bảo thụ quán, Thụ quán. Quán tưởng cây, là pháp quán thứ 4 trong 16 pháp quán nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Thời đức Phật tại thế, có phu nhân Vi đề hi (Phạm:Vaidehì,Pàli:Vedehì) phát nguyện sinh về thế giớiCực lạc phương Tây, đồng thời bà cũng muốn chúng sinh đời vị lai đều được vãng sinh thế giới cực lạc. Cho nên đức Phật bèn vì bà mà nói 16 quán pháp, trong đó, Thụ tưởng là quán pháp thứ 4.Khi tu pháp này, hành giả quán tưởng 7 hàng cây ở Tịnh độ, mỗi cây đều cao 8000 do tuần, trang sức bằng 7 thứ báu sáng lấp lánh, bên trên giăng lưới châu che phủ; các hàng cây đều nhau, lá cây có thứ lớp kề nhau, nở hoa vi diệu, kết quả 7 báu; lá cây có nghìn màu, tỏa ra ánh sáng rực rỡ, chiếu khắp 3000 thế giới và các cõi nước trong 10 phương. (xt. Thập Lục Quán).
thụ tội
Thọ tội—To undergo punishment.
Thụ uẩn
受蘊; C: shòuyùn; J: ju-un; S: vedanā-skandha.|Một trong Ngũ uẩn (五蘊). Là một chức năng của tâm, tiếp nhận cảm giác từ ngoại cảnh. Theo giáo lí phân tích tâm sở hữu pháp của Duy thức tông, thụ uẩn bao gồm những yếu tố của chức năng cảm thụ qua giác quan.
thụ uẩn
Vedanà (S). Sensation, one of the five skandhas.
; (受蘊) Phạm: Vedanà-skandhà#. Pàli: Vedanakkhandha. Chỉ cho các cảm thụ như khổ, lạc(vui), xả(không khổ không vui)... và sự tích tụ(uẩn) của các cảm giác như nhãn xúc... sinh ra; cũng tức là sự cảm thụ của nhục thể và tác dụng cảm thụ tri giác của tinh thần..., là1 trong5uẩn. Ngoài ra, sự tập hợp các thụ, cũng gọi là Thụ chúng. Theo luận Đạitríđộ quyển 68 thì sự hòa hợp các thụ của 108 thứ phiền não... gọi là Thụ chúng. (xt. Ngũ Uẩn, Thụ).
Thụ uẩn 受蘊
[ja] ジュウン ju-un ||| (vedanā-skandha). One of the five aggregates (wuyun 五蘊). 'Feeling.' A mental function that receives sensations from external objects. In Consciousness-only elemental theory, it includes the elements of sensory mental function. => (vedanā-skandha). Một trong Ngũ uẩn(五蘊 c: wuyun). Là tâm sở tiếp nhận cảm giác từ ngoại cảnh. Theo giáo lý căn bản của Duy thức tông, nó bao gồm những yếu tố của tâm sở cảm thụ qua giác quan.
thụ vô ký
Adukkhamasukhā-vedanā (P), Indifferent feeling.
thụ vương
King of the trees, the Bodhi-tree.
; (樹王) Cây chúa trong loài cây. Có hai thuyết: 1. Chỉ cho cây Bồ đề (Phạm: Bodhidruma, Bodhi-taru, Bodhi-vfkwa, Bodhi; Pàli: Bodhi-rukkha). 2. Chỉ cho cây Ba lợi chất đa la (Phạm: Pàrijàtaka), cũng gọi là Thiênthụvương, Hán dịch là Caobiếnthụ, Trúđộthụ, là vua cây trên cung trời Đaolợi. Pháphoa nghĩa sớ quyển 1 (Đại 56, 67 hạ) nói: Cõi nước tự nhiên trang nghiêm thanh tịnh, như Thiênthụvương. (...) Thụ vương là cây Ba lợi chất đa la. Trong kinh Đạibátniết bàn quyển 29 (bảnBắc), đức Phật đã từng dùng trạng thái sinh trưởng của cây Ba lợi chất đa la để dụ cho các đệ tử Phật, tức thuộc Biến dụ trong 8 dụ; cũng tức là Phật thuyết pháp đầu, cuối đều dùng giả dụ để hiển bày. Như: Lá vàng dụ cho việc muốn xuất gia; lá rụng dụ cho cạo bỏ râu tóc, cho đến 3 tháng hạ ví dụ 3 Tam muội; chư thiên cõi trời Ba mươi ba hưởng thụ khoái lạc, ví dụ chư Phật an trụ đại Niết bàn được thường lạc ngã tịnh. [X. kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.18; phẩm Tựa kinh Pháp hoa; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú].
Thụ vọng 竪望
[ja] シュモウ shumō ||| Temporally; to see from the perspective of past, present and future. 〔二障義 HPC 1.795a22〕 => Thời gian, nhìn từ phương diện quá khứ, hiện tại và tương lai.
thụ xuất
(豎出) Đối lại: Hoành xuất. Giáo nghĩa dùng tự lực tu hành các pháp như 4 đế, 12 nhân duyên, 6 độ... theo thứ lớp trải qua các giai vị mà ra khỏi sinh tử, gọi là Thụ xuất(đi ra theo đường thẳng). Ngài Trạch anh đời Tống chia giáo pháp đức Phật nói trong 1 đời làm 2 loại là Hoành xuất và Thụ xuất. [X. Lạc bang văn loại Q.4]. (xt. Hoành Xuất).
thụ y tiết
(授衣節) Chỉ cho thời gian cấp y vật, tức vào tháng 9 hàng năm theo âm lịch. Cuối mùa thu, hành giả chưa chuẩn bị áo ấm, nên Thiền viện phải tổ chức cấp phát y vật ở Tăng đường, do đó mới có việc Thướng đường thụ y(lên nhà Tăng trao áo cho). Điều thụ y tiết thướng đường trong Kính đường Viên thiền sư kiến nhân lục nói: Tháng chín bắt đầu có heo may, Thiền tăng áo rách vẫn chưa hay! Trời còn ấm áp nên vá gấp, Kẻo lạnh đổ về thực khổ thay!.
thụ ân
To receive a favour.
thụ đại nhân
(受代人) Thông thường chỉ cho người nghỉ việc quan. Trong Thiền lâm, từ ngữ này đặc biệt được sử dụng để chỉ cho người mới thay thế(đại) công việc của người cũ. Các chức sự của chúng tăng trong Thiền viện được chia làm Đông tự và Tây tự, gọi là Lưỡng tự. Khi Lưỡng tự mãn nhiệm kì thì cử hành nghi thức bàn giao công việc giữa tân và cựu Lưỡng tự, trong nghi thức này, cựu Lưỡng tự tức gọi là Thụ đại nhân. Nghĩa là cựu Lưỡng tự giao chức vụ lại cho tân Lưỡng tự để họ thay thế làm mọi việc trong thiền viện.Lưỡng tự giao đại trà trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1136 thượng) nói: Mang hương đến chỗ các Thụ đại nhân, cắm hương rồi lễ một lạy.
thụ đầu
(樹頭) Chỉ cho chức tăng phụ trách việc trông coi cây cối núi rừng trong Thiền lâm. [X.mônChức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Liệt chức năng trong Tăng đường thanh qui Q.5]
thụ đề
Tejas (S). Fire.
thụ đề ca
Jyotiska (skt)—Còn gọi là Thù Để Sắc Ca, Thụ Đề Già, Tụ Để Sắc Ca. 1) Chiếu Diệu hay chiếu sáng: A luminary heavenly body—Shining. 2) Tinh Tú: Asterisms. 3) Hữu Mệnh: Fate. 4) Hỏa (lửa): Fire. 5) Tên của một vị trưởng giả (người nhà giàu) trong thành Vương Xá, đã đem cho hết của cho người nghèo; có một bộ kinh công đức đặt theo tên của ông ta—A wealthy man, a native of Rajagrha, who gave all his goods to the poor; there is a sutra called after him.
thụ đề già
(樹提伽) Phạm:Jyotiwka. Pàli:Jotika. Cũng gọi Tụ để sắc ca, Thù để sắc ca, Tàn để sắc ca, Thù đề, Thụ đề. Hán dịch: Tinh lịch, Hữu mệnh, Hỏa sinh, Quang minh. Tên người ở thành Vương xá, nước Ma yếtđà, Ấnđộ(có thuyết nói là người nước Chiêmbà),1trong các vị đệ tử Phật. Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 28 (bản Nam), ở thành Chiêm bà có ông Đại trưởng giả, tuổi già mà không có con, cung phụng Lục sư ngoại đạo để cầu con. Không bao lâu, vợ ông mang thai, bèn hỏi Lục sư, Lục sư đều nói sẽ sinh con gái và đứa bé không sống được lâu. Ông trưởng giả lại đến thưa hỏi đức Phật, Ngài nói chắc chắn sẽ sinh con trai, đầy đủ diệu tướng, phúc đức. Lục sư nghe được việc ấy, sinh tâm ganh ghét, bèn pha nước quả am la với thuốc độc cho vợ ông trưởng giả uống, không bao lâu bà ta chết. Trưởng giả chất củi hỏa táng vợ, lúc lửa đốt xác chết thì bụng nứt ra, đứa bé từ trong bụng chui ra, ngồi ngay thẳng trên ngọn lửa, Phật liền bảo một bà lão đi vào trong lửa giống như đi vào sông lớn mát mẻ bồng đứa bé ra, ông trưởng giả lại xin đức Phật đặt tên cho đứa bé. Phật bảo đứa bé này sinh ra từ trong lửa dữ (Phạm: Jyotis, Hán âm: Thụ đề) nên đặt tên là Thụ đề già. Còn theo kinh Quang minh đồng tử nhân duyên thì về sau Thụ đề già đến chỗ Phật xuất gia, dứt trừ phiền não, chứng quả A la hán. [X. kinh Thụ đề già; kinh Đạibátniết bàn Q.30 (bảnBắc); kinh Phật ngũ bách đệ tử thuyết bản khởi; Đại trang nghiêm kinh luận Q.13; Tì nại da Q.6; Câu xá luận quang kí Q.5; Đại Đường tây vực kí Q.9].
thụ đề già kinh
(樹提伽經) Kinh,1quyển, do ngài Cầunabạtđàla dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này nói về nhân duyên quá khứ của trưởng giả Thụ đề già ở thời đức Phật tại thế và về công đức bố thí của ông. Ngoài ra, ngài Bạtđàla còn dịch bản khác, cũng có tên là Thụ đề già kinh, 1 quyển, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 14.
thụ địch
(豎敵) Cũng gọi Lậpđịch. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho người lập luận(Lập giả) và người vấn nạn(Địch giả). Tức trong cuộc tranh luận, người thành lập tông nghĩa của mình gọi là Lập giả, còn người vấn nạn thì gọi là Địch giả. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 9 (Đại 29, 671 trung) ghi: Hay lắm! Ngươi có thể cùng tranh luận với ta và Bà la môn chăng? Đáp: Tôi có thể. Vua bảo bầy tôi: Khanh hãy trang hoàng luận trường(nơi tranh luận) để hai bên Lập, Địch thi thố.
thụ động
Inactivity
thụ đức
To cultivate virtues.
thụ ơn
See Thọ Ân.
Thụ 受
[ja] ジュ ju ||| The Chinese Buddhist translation of the Sanskrit term vedanā, meaning sensation. (1) As sensation, the third of the five skandhas (wuyun 五蘊). (2) The seventh of the twelve limbs of dependent origination 十二因縁. (3) To receive, or undergo, the results of good and evil actions. To experience karma (Skt. paribhoga; Tib. so sor myoṅ ba). 〔二障義 HPC 1.812a〕 (4) Restrain, restriction, fetters, yoke. (5) To receive the continuation of the five skandhas. => Thuật ngữ Phật học tiếng Hán phiên dịch chữ vedanā từ tiếng Sanskrit, nghĩa là cảm giác. 1. Thọ uẩn, thành phần thứ hai trong Ngũ uẩn (五蘊c: wuyun ). 2. Chi phần thứ 7 trong 12 nhân duyên. 3. Đón nhận, trải qua, kết quả của nghiệp thiện và ác. Nhận chịu nghiệp quả. 4. Kiềm chế, hạn chế, câu thúc, ràng buộc. 5. Nhận chịu sự tương tục của Ngũ uẩn.
Thụ 授
[ja] ジュ ju ||| (prahinoti). Give, grant, confer, invest with, impart, teach. => Ban tặng, cấp cho, phong cho, trao truyền, truyền đạt, dạy dỗ.
Thụ 竪
[ja] ジュ ju ||| (1) [ジュ] To cause; bring about [on]; lead to; give rise to (añcita). (2) [シュ] Vertical--the opposite of horizontal. (3) Temporal; to pass through the three times of past, present and future. 〔二障義 HPC 1.795a22〕(4) To be separated temporally. (5) The teaching of the attainment of enlightenment by self-power 自力. => 1. Nguyên do; gây ra, dẫn đến; đưa đến; sinh ra (s: añcita). 2. Chiều thẳng đứng, chiều dọc- ngược với đường chân trời. 3. Thời gian; suốt 3 thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. 4. Tạm thời phân chia. 5. Giáo lý đạt đến chứng ngộ bằng tự lực 自力.
thụ, tưởng, hành, thức
The four immaterial skandhas: vedanà feeling, samjnà ideation, samskàra reaction, vijnàna consciousness.
thục
1) Chín: Mature—Ripe. 2) Chuộc: To redeem—To ransom.
Thục biến 熟變
[ja] ジュクヘン jukuhen ||| Transformation in accordance with the fruition of karma. 〔倶舎論、 T 1558.29.0048.c16〕 => Chuyển biến phù hợp với sự chín muồi của nghiệp.
thục bản
(蜀板) Cũng gọi: Khai bảo tạng. Chỉ cho Đại tạng kinh do vua Thái Tổ nhà Tống ban sắc khắc bản tại Thành đô (đất Thục) từ năm Khai Bảo thứ 4 (971) đến năm Tháibình hưng quốc thứ 8 (983) thì hoàn thành. Đây là lần đầu tiên Đại tạng Hán dịch được khắc in ở Trung quốc. Đến nay, bản khắc này đã thất truyền(Nhật Bản còn giữ được 1, 2 quyển kinh trong bản này), cả phần mục lục cũng không còn, cho nên nội dung thu chép kinh điển ra sao, không được rõ, chỉ thấy trong Phật tổ lịch đại thông tải quyển 26 cho biết số bản gỗ được sử dụng lúc bấy giờ gồm hơn 130.000 bản. Còn theo Nguyên hanh thích thư của ngài Sưluyện người Nhật bản thì vào niên hiệu Vĩnh diên năm đầu (987) đời Thiên hoàng Nhất điều, ngài Điêu nhiên đã thỉnh được bản Đại tạng này mang về Nhật bản, số quyển kinh thời ấy tính chung gồm 5048 quyển, số mục này giống với số mục ghi trong Nhập tạng lục của Khai nguyên thích giáo lục. Bản tạng này đến đời sau được ấn hành nhiều lần, vả lại, theo nhu cầu của các nước mà được truyền bá rộng rãi, như Nhật bản, Cao ly, Nữ chân, Tây hạ... đến triều cống, sau đó, đều thỉnh được bản Đại tạng này đưa về nước. Bởi thế, Thục bản đã có ảnh hưởng rất lớn đối với việc điêu khắc và ấn loát kinh Phật ở các nước sau này. Hình thức của Thục bản theo ghép xếp và dán lại, cho nên không có đường chỉ may. Còn về số chữ viết trên mặt tờ kinh thì có nhiều thuyết khác nhau; theo Nhật bản thì nửa tờ kinh(1 trang, tức 1 mặt của tờ giấy) có 6 dòng, mỗi dòng 14 chữ. Nhưng, theo Trung quốc Đại tạng kinh phiên dịch khắc ấn sử của ngài Đạo An thì mỗi nửa tờ kinh Thục bản có 5 dòng, mỗi dòng 15 hoặc 14 chữ, mỗi bản 25 dòng, đánh số theo Thiên tự văn, bản theo hình thức cuốn tròn. Lại kinh Đại bát nhã quyển 511 là Thục bản đời Tống được tìm thấy ở chùa Hiếu nghĩa Hưng phúc tại tỉnh Sơn tây vào năm Dân quốc 48 (1959) cũng theo kiểu cuốn tròn, mỗi bản khắc 23 dòng, mỗi dòng 14 chữ. [X. Phật tổ thống kỉ Q.43; Thích thị kê cổ lược Q.4; Cao li sử Q.93; Nguyên hanh thích hư Q.16].
thục mạng
1) Vào lúc nguy hiểm: At the risk of one's life. 2) Chuộc mạng: To redeem life. 3) Người chuộc mạng, nói về Kinh Niết Bàn: Vì Tỳ Kheo vào thời mạt pháp để mất tuệ mạng của Pháp Thân, nên Đức Phật đã vì họ mà thuyết Kinh Niết Bàn, đề cao giới luật mà nói về cái lý viên thường để làm của quý báu chuộc mạng cho họ—Redeemer of life, said of the Nirvana Sutra.
thục mệnh
See Thục Mạng.
thục nữ
Virtuous girl.
Thục thủy chi hoan
(菽水之歡): thục thủy (菽水) là đậu hòa với nước, món ăn rất tầm thường, đạm bạc, hình dung sinh hoạt đơn sơ, thanh đạm. Như trong phần Đàn Cung Hạ (檀弓下) của Lễ Ký (禮記) có đoạn rằng: “Tử Lộ viết: 'Thương tai ! Bần tai ! Sanh vô dĩ vi dưỡng, tử vô dĩ vi lễ dã.' Khổng Tử viết: 'Xuyết thục ẩm thủy tận kỳ hoan, tư chi vị hiếu' (子路曰:傷哉!貧也!生無以爲養、死無以爲禮也。孔子曰:啜菽飲水盡其歡、斯之謂孝, Tử Lộ nói rằng: 'Thương thay ! Nghèo thay ! Cha mẹ sống không có gì để nuôi dưỡng, chết chẳng lấy gì để cúng lễ.' Khổng Tử dạy: 'Mút đậu uống nước mà vui vẻ đến tột cùng, đó chính là hiếu').” Cho nên, người ta thường dùng câu “thục thủy chi hoan” hay “thục thủy thừa hoan (菽水承歡)” để ví dụ cho người con gái hiếu thuận, hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, tuy thức ăn thô sơ, đạm bạc, nhưng cũng có thể làm cho cha mẹ vui lòng với tất cả tâm hiếu kính của mình. Như trong Tỳ Bà Ký (琵琶記), phần Thái Trạch Chúc Thọ (蔡宅祝壽) của Cao Minh (高明, 1305-1368) nhà Nguyên có đoạn rằng: “Nhập tắc hiếu, xuất tắc để, chẩm ly bạch phát chi song thân, đáo bất như tận thục thủy chi hoan (入則孝、出則弟、怎離白髮之雙親、到不如盡菽水之歡, vào thì hiếu, ra thì thuận, sao rời được song thân bạc đầu, không gì bằng tận hưởng niềm vui ăn món đạm bạc [hiếu kính]).”
thục tô kinh
Bộ Kinh Bát Nhã vì coi chúng như là vị thục tô trong ngũ vị—The sutras of ripe curds or cheese, the Prajna group.
thục tô vị
(熟酥味) Phạm: Ghfta. Vị thứ 4 trong thí dụ 5vịcủa kinh Đại bát niết bàn, chỉ cho Bát nhã ba la mật; cũng là thời Bát nhã thứ 4 trong 5 thời phán giáo do tông Thiên Thai phối với 5 vị. Thục tô cũng là 1 trong 5 thứ thuốc mà Mật tông, khi tu pháp Hộ ma, thường chôn dưới đàn cùng với 5 thứ hạt(ngũ cốc)và 5 thứ báu, tượng trưng việc dùng thuốc pháp của đức Phật để chữa bệnh vô minh phiền não cho chúng sinh. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.14 (bản Bắc); Đại nhật kinh sớ Q.8; Pháp hoa văn cú Q.6, hạ]. (xt. Ngũ Vị, Ngũ Dược).
thục để sa luận
Jyotisa (S)Tên một bộ luận kinh. Vệ đà.
thục đức
Good virtue.
Thục 熟
[ja] ジュク juku ||| (1) Experienced, apt, mature, accustomed to. (2) Intimate, well-acquainted. (3) Cooked, prepared, manufactured, as opposed to raw. To cook. (4) Sometimes used colloquially for 孰: who? which? what? [Buddhism] (1) The fruition of the result of karma (pāka). (2) [異熟] the different kinds of rewards that come from various causes. (3) Complete, perfect. (4) To open up, cut through. => 1. Từng trải, lão luyện, chính chắn, quen thuộc với. 2. Mật thiết, thông thạo. 3. Nấu chín, chuẩn bị chu đáo, phản nghĩa với thô, sống. 4. Có khi dùng để hỏi: Ai? Cái nào? Cái gì?. [Phật học] 1. Sự chín muồi kết quả của nghiệp (pāka). 2. Dị thục[異熟]: quả báo kết thành từ một nhân khác loại. 3. Hoàn chỉnh, thành thục. 4. Mở ra, khai phá.
thụt
To draw (pull) in.
thụt lui
To move (step—draw) back—To recede.
thụy
Saya (skt)—Ngủ—To sleep—To be asleep.
; (瑞) Phạm,Pàli:Nimitta.Gọi đủ: Thụy tướng (Phạm: Pùrvanimitta,Pàli:Pubba-nimitta). Cũng gọi Thụy ứng, Kỳ thụy, Tường thụy, Linh thụy. Điềm hiển hiện sự tốt lành. Sự đản sinh, thành đạo, thuyết pháp và niết bàn của đức Phật đều hiển hiện những điềm tốt lành, khiến cho chúng sinh sinh khởi tâm kính ngưỡng đức Phật và ưa mến chính pháp. Những ghi chép về điềm lành được thấy rải rác trong các kinh Tiểu thừa và kinh Đại thừa. Như phẩm Tam thập nhị thụy tướng trong kinh Phổ diệu quyển 2 nói rằng: Ngay đêm hôm đức Phật đản sinh, có 32 điềm lành xuất hiện. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1 thì nói rằng: Bảy ngày sau khi đức Phật đản sinh, có 5 điềm lành xuất hiện. Lại như khi đức Phật nói kinh Pháp hoa, trước nói kinh Vô lượng nghĩa, thính chúng vì đợi nghe kinh Pháp hoa mà Phật sẽ nói sau đó nên không rời chỗ ngồi, lúc ấy thấy đức Thế tôn nhập tam muội Vô lượng nghĩa xứ hiện ra 6 tướng điềm lành(Pháp hoa lục thụy) là: Điềm thuyết pháp, điềm nhập định, điềm mưa hoa, điềm động đất, điềm chúng vui, điềm phóng ánh sáng. Còn khi nói kinh Vô lượng thọ thì đức Thích tôn nập định đại tịch, đặc biệt hiện ra 5 đức của Như lai (Ngũ đức hiện thụy). Khi hiện ra điềm lành thì mặt đất rúng động, có thuyết Lục chủng chấn động, cũng gọi Lục biến chấn động, Lục phản chấn động, Lục chấn, Lục động... Theo kinh Hoa nghiêm quyển 16 (bản dịch mới), nếu chia theo hình dáng rúng động và âm thanh phát ra lúc đó thì có 6 thứ: Động, dậy lên, vọt lên, rung, gầm, va chạm (trong đó, mỗi thứ lại được chia nhỏ ra làm 3 mà thành 18 tướng chấn động). Theo kinh Đại phẩm bát nhã quyển 1 thì có 6 tướng động: Đông trồi tây sụt, tây trồi đông sụt, nam trồi bắc sụt, bắc trồi nam sụt, bên trồi giữa sụt và giữa trồi bên sụt. Theokinh Trường a hàm quyển 2 thì đức Phật từ khi gá thai, sinh ra, cho đến khi ngộ đạo, thuyết pháp, niết bàn... đều hiện các thứ điềm tốt lành. Ngoài những việc nói trên, trong lịch sử cũng có rất nhiều trường hợp các vị cao tăng đại đức, hoặc những người có tâm chính tín, lúc sinh ra hoặc khi lâm chung cũng xuất hiện các điềm lành. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.3; phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Vô lượng thọ Q. thượng; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1].
thụy cảnh phái
Shwegyin Một tông phái Phật giáo Miến điện.
thụy du
Somnambulant.
thụy hiệu
(諡號) Danh hiệu truy tặng cho người có đức hạnh đã qua đời để tưởng nhớ họ. Trên từ bậc Đế vương, công khanh cho đến những người có đức hạnh đều được tặng thụy hiệu. Thông thường, các thụy hiệu tặng cho những vị cao tăng thì có: Đại sư, Bồ tát, Quốc sư, Thiền sư, Hòa thượng, Pháp sư, Thượng nhân... (xt. Sư Hiệu).
Thụy lộ
(瑞露): có hai nghĩa. (1) Tượng trưng loại sương cát tường, tốt lành, cam lộ (甘露). Như trong bài Trần Văn Hoàng Đế Ai Sách Văn (陳文皇帝哀冊文) của Từ Lăng (徐陵, 507-583) nhà Trần thời Nam Triều có câu: “Đông Kinh phi kỳ thụy lộ, Bắc Lục vẫn kỳ tường tinh (東京飛其瑞露、北陸霣其祥星, Đông Kinh bay đầy sương tốt, Bắc Lục rơi rụng sao lành).” Hay trong bài Mạch Tuệ Lưỡng Kì (麥穗兩歧) của Trịnh Điền (鄭畋, 825-883) nhà Đường lại có câu: “Thụy lộ tung hoành trích, tường phong tả hữu xuy (瑞露縱橫滴、祥風左右吹, sương tốt ngang dọc nhỏ, gió lành phải trái bay).” (2) Tên một loại rượu. Như trong bài Tiểu Phố Ngũ Vịnh (小圃五詠), đoạn Địa Hoàng (地黃), của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống, có câu: “Dung vi hàn thực đường, yên tác Thụy Lộ trân (融爲寒食餳、嚥作瑞露珍, hòa làm kẹo ăn lạnh, nuốt trọn rượu thơm ngon).”
thụy miên
Middha (S), Torpor, Thina-middha Thuỳ miên; MiênSự tối tăm bản hữu trong tâm, ở vào trạng thái lười mỏi, lơ là, một trong những bất định địa pháp, tác động vào tinh thần làm cho tâm ám muội, mất sự tri giác, ham ngủ, hay mê, thân tâm hôn ám.
; Styàna-middha (S). Sloth-torpor
; Middham (p)—Middha (skt)—Ngủ (một trong những bất định pháp tác động vào tâm thần làm cho nó ám muội, mất sự tri giác)—To sleep—Torpor—Sloth—Drowsiness.
; (睡眠) Phạm: Middha. Gọi tắt: Miên. Tên của tâm sở, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Thụy miên là bản tính mờ tối sẵn có ởtrong tâm, dưới trạng thái lười mệt, chểnh mảng. Khi 1 người đang ngủ (thụy miên) thì sự quan sát của họ lúc ấy đối với thế giới bên ngoài đã mất hết tác dụng, trái với tâm lúc thức. Lúc ấy, ý thức tối tăm, mô hồ, chỉ khác với trạng thái thất thần, vô ý thức. Vì ngủ có khả năng khôi phục tinh lực của thân tâm, tiêu trừ sự mệt nhọc, nên có thể xem là đồng nghĩa với nghỉ ngơi(hưu tức). Tông Câu xá chia tâm sở (46 thứ) làm 6 loại, Thụy miên là thuộc 1 trong Bất định địa pháp. Tông Duy thức cũng chia tâm sở (51 thứ) làm 6 loại, Thụy miên thuộc một trong Bất định pháp. Ngoài ra, Thụy miên có nhiễm phiền não làm cho tâm mờ tối, chướng ngại tâm thiện; Thụy miên hợp chung với Hôn trầm trong Đại phiền não địa pháp được gọi là Hôn miên, là 1 trong Ngũ cái, tức là Hôn miên cái, hoặc Thụy miên cái; cũng là 1 trong Thập triền. Nếu nói theo nghĩa rộng thì Thụy miên đồng nghĩa với Phiền não.[X. luận Đại tì bà sa Q.48; luận Câu xá Q.21; luận Duy thức Q.7; Pháp uẩn túc luận Q.6].
thụy miên cái
Styāna-middha-āvaraṇa (S), Hindrance by torpor-languor Chúng sanh bị phiền não ngủ nghỉ che lắp tâm thức nên không thể nào tiến lên được.
; Sự ngủ nghỉ cũng là một chướng ngại che lấp mất tâm thức không cho chúng ta tiến gần đến thiện pháp được—Sleep—Drowsiness, or sloth as a hindrance to progress to fulfil good deeds.
; (睡眠蓋) Phạm: Stỳana-middha-àvaraịa. Cũng gọiHôn trầm thụy miên cái, Hôn miên cái. Tên khác của phiền não, 1 trong Ngũ cái. Thụy miên cái tức là Thụy miên và Hôn trầm ghép chung lại. Nghĩa là chúng sinh bị phiền não Thụy miên hoặc Hôn trầm che lấp tâm thức, không thể tiến hành các pháp thiện, trái lại, chìm đắm trong 3 cõi, không biết đến bao giờ mới thoát ra được, vì thế gọi là Cái. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; luận Đại tì bà sa Q.48].
thụy miên dục
Sự ham muốn ngủ nghỉ—The lust or desire for sleep, physical and spiritual.
; (睡眠欲) Sự thích ngủ nghỉ,1trong5dục, cũng là1 trong3 thứ ham muốn của cõi Dục. Nghĩa là phàm phu không thích tinh tiến, lườibiếng, buông lung, chỉ thích ngủ nghỉ và đắm chìm trong dục lạc. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.24].
thụy miên hôn trầm
Styāna-middha (S), Torpor-languor Thīna-middha (P)Hôn trầm thùy miên cái, Hôn miên cáiHai món phiền não: hôn trầm và thùy miên. Một trong ngũ cái, thân tâm tối tăm, nặng nề, đ6àn độn, si mê, mất chí tiến thủ.
thụy nham sư ngạn
Xem Đoan Nham Sư Nhan.
Thụy sắc
(瑞色): khí sắc tốt lành, đồng nghĩa với thụy khí (瑞氣). Như trong bài thơ Thái Tử Nạp Phi Thái Bình Công Chúa Xuất Giáng (太子納妃太平公主出降) của vua Cao Tông (高宗, tại vị 649-683) nhà Đường có câu: “Ngọc đình phù thụy sắc, ngân bảng tảo tường huy (玉庭浮瑞色、銀牓藻祥徽, đình ngọc vươn khí tốt, bảng đồng lưu tiếng thơm).” Hay trong Song Châu Ký (雙珠記), phần Ngộ Xá Điều Biên (遇赦調邊), của Thẩm Kình (沉鯨, ?-?) nhà Minh cũng có câu: “Phong vân sanh thụy sắc, trất cốc động hoan thanh (風雲生瑞色、桎梏動歡聲, gió mây sinh khí tốt, gông cùm động tiếng reo).” Trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 30, bài Tán Phật (讚佛), lại có câu: “Anh lạc tụ trung đằng thụy sắc, hoa man ảnh lí đoạt phương xuân (瓔珞聚中騰瑞色、華鬘影裡奪芳春, trong ngọc anh lạc bốc khí tốt, dưới bóng tràng hoa ngát hương xuân).”
Thụy thái
(瑞彩): sắc thái ánh sáng cầu vồng tốt lành. Như trong bài Phụng Hòa Nguyệt Dạ Quán Tinh Ứng Lịnh (奉和月夜觀星應令) của Ngu Thế Nam (虞世南, 558-638) nhà Đường có câu: “Hưu quang chước tiền diệu, thụy thái tiếp trùng luân (休光灼前曜、瑞彩接重輪, hào quang rực trời tỏ, sắc lành tiếp trời trăng).” Hay trong hồi thứ 82 của Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義) cũng có câu: “Nhị lục liên đài sanh thụy thái, Ba La hoa phóng mãn viên hương (二六蓮臺生瑞彩、波羅花放滿園香, mười hai đài sen sanh sắc đẹp, Ưu Đàm hoa tỏa ngát vườn hương).” Trong Biện Chánh Luận (辯正論, Taishō Vol. 52, No. 2110) quyển 6, phần Nội Kiến Tạo Tượng Tháp Chỉ (內建造像塔指), lại có câu: “Thần quang đạo ư Tương Thủy, thụy thái phát ư Đàn Khê (神光導於湘水、瑞彩發於檀溪, hào quang tỏa tràn Tương Thủy [sông Tương], sắc lành phát khắp Đàn Khê).”
thụy tướng
PŪrva-nimitta (S), Pubba-nimitta (P)Điềm lành.
thụy tượng
(瑞像) Tượng điềm lành. Nghĩa là việc tạo vẽ hình tượng chư Phật, Bồ tát phần lớn có điềm lành viên mãn, gọi là Thụy tượng. Như Đại đường tây vực kí quyển 5 nói rằng: Sau khi đức Thế tôn thành Chính giác, Ngài lên cung trời Đao lợi thuyết pháp cho thân mẫunghe trong suốt thời gian 3 tháng, vua Ưu điền sớm hôm tưởng nhớ, nên xin tôn giả Một đặc già la tử dùng sức thần thông đưa người thợ tạo tượng lên thiên cung để tận mắt nhìn thấy diệu tướng củađứcThế tôn, rồi trở lại thế gian dùng gỗ chiên đàn khắc hình tượng Ngài, đó là khởi đầu cho việc điêu khắc hình tượng Phật về mặt lịch sử. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28].
Thụy ái
(瑞靄): khí mây tốt lành, cũng dùng như là tiếng mỹ xưng của sương khói. Như trong bài từ Hoán Khê Sa (浣溪沙) của Triệu Trường Khanh (趙長卿, ?-?) nhà Tống có đoạn: “Kim thú phún hương thụy ái phân, dạ lương như thủy sái huân huân (金獸噴香瑞靄氛、夜涼如水酒醺醺, thú vàng nhã hương khí mây lành, đêm mát như nước rưới hân hoan).” Hay trong bài từ Mộc Lan Hoa Mạn (木蘭花慢) của Vương Uẩn (王惲, 1227-1304) nhà Nguyên lại có câu: “Hòa khí nhất gia thụy ái, từ nhan cửu thập nhu nghi (和氣一家瑞靄、慈顏九十柔儀, hòa khí một nhà tươi tốt, hiền từ chín chục uy nghi).” Lại trong bài Chủng Ngọc Ký (種玉記), phần Phong Công (封功) của Uông Đình Nột (汪廷訥, 1573-1619) nhà Thanh có câu: “Thụy ái mông lung, hương phiêu kim điện lô yên ủng (瑞靄朦朧、香飄金殿爐煙擁, khói sương mờ ảo, hương vờn điện báu lò khói nghi ngút).” Hay như trong bài Tán Hương “Tâm Nhiên Ngũ Phận (心然五分)” rất phổ biến trong Thiền môn có câu: “Tâm nhiên ngũ phận, phổ biến thập phương, hương yên đồng tử ngộ chơn thường, tỷ quán diệu nan lường, thụy ái tường quang, kham hiến pháp trung vương (心然五分、普遍十方、香煙童子悟眞常、鼻觀妙難量、瑞靄祥光、堪獻法中王, tâm đốt năm phần, biến khắp mười phương, khói hương đồng tử ngộ chơn thường, mũi quán mầu khó lường, sương khói hào quang, dâng cúng đấng pháp vương).” Trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1297) quyển 67 có đoạn: “Thụy ái tường yên tỏa ngọc lâu, diệu niên vương tử tứ ưu du, lưu ly điện thượng kỵ kim mã, minh nguyệt đường tiền cổn tú cầu (瑞靄祥煙鎖玉樓、妙年王子恣優遊、琉璃殿上騎金馬、明月堂前輥繡毬, sương khói mây lành quyện ngọc lầu, năm mới vương tử mặc ngao du, lưu ly trên điện cỡi vàng ngựa, trăng sáng trước nhà quay tú cầu).” Hay trong bài Nhất Động Sơn (一洞山) của Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư Ngữ Lục (雪峰義存禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1333) quyển Hạ cũng có đoạn: “Thiên hạ danh truyền đệ nhất sơn, sơn trung hữu động dị nhân hoàn, quỳnh chi dao thảo phương phi ngoại, thụy ái tường vân phiêu miểu gian, ngẫu kiến kim liên tùng địa dũng, thúc khan bạch hạc tự thiên hoàn (天下名傳第一山、山中有洞異人寰、璚芝瑤草芳菲外、瑞靄祥雲縹緲間、偶見金蓮從地湧、倏看白鶴自天還, thiên hạ nổi tiếng số một non, núi trong có động người lạ sống, cành son lá ngọc thơm xinh ngát, sương khói mây lành mù mịt trong, chợt thấy sen vàng từ đất vọt, thoáng nhìn hạc trắng bay trở về).”
thụy đức cung phật tháp
(瑞德宮佛塔) Cũng gọi Ngưỡng quang đại kim tháp, Đại kim ngõa tự. Tòa tháp ở phía bắc thành phố Ngưỡng quang (Rangoon), Miến điện. Tên tháp bao hàm ý nghĩa ngôi tháp bằng vàng ròng, tượng trưng cho điềm lành, là tòa tháp lớn nhất tại nước Miến điện. Cứ theo lịch sử Phật giáo Miến điện thì lúc đức Phật mới thành đạo, 2 anh em ông Đề vị (Pàli: Tapussa) và Ba lợi (Pàli: Bhallixa), người Miến điện, xuất thân ở Tháp lạp nhân (Talaing) là 2 người đầu tiên được đức Phật giáo hóa. Sau đó đức Phật ban cho 2 người này 8 sợi tóc của Ngài, đồng thời dạy bảo 2 người hãy cất giữ 8 sợi tóc ấy ở gò núi Tiên Ca đa la (Seingouttara) nơi đang bảo tồn di vật của 3 đức Phật đời quá khứ. Sau khi trở về nước, 2 anh em Đề vị và Ba lợi được chư thiên Để cân (Deckima)... chỉ dẫn mới xác định được vị trí của gò núi, lại được sự giúp đỡ của dân trong nước nên đã xây dựng 1 tòa tháp để an trí tóc Phật, đó chính là nguồn gốc tòa tháp này. Về sau, vương triều Bồ cam (849-1287) có sửa chữa thêm nhiều lần. Đến thời vua Tí cổ Tần da vũ (Binngau, ở ngôi 1353-1385) có trùng tu vào năm 1362, chiều cao từ 9m được thêm lên tới hơn 20m. đến sau khi Tì cổ nữ vương Tín tu phù (Shinsawbu, ở ngôi 1453-1472) thoái vị thì tháp này lại được sửa thêm,đỉnh tháp được đúc bằng vàng ròng, chung quanh kiến trúc lộ đài cao khoảng 15m, rộng tới 270m, được bảo vệ bởi một lan can bằng đá và các bậc thềm cũng bằng đá, 4 chung quanh có trồng cây cọ. Đến đời sau, tháp lại được tu bổ thêm nhiều lần.Tháp này dựa vào địa hình tự nhiên của gò núi mà kiến trúc làm 2 đoạn: Đoạn trên khoảng 50m, mỗi bên và chính giữa là các bậc thềm, phía dưới đặt một cặp tượng sư tử lớn. Trên thềm đài có mái nhà, trên xà ngang và vách ván đều có vẽ tranh truyện Phật, truyện các đệ tử Phật, tranh các ác ma... Ở chính giữa đoạn trên có xây 1 ngôi tháp lớn, bên cạnh có 4 điện Phật, vô số tháp nhỏ, Phật thất nhỏ, cao trụ (Tagundaing), chuông, phần mộ... Toàn tháp cao khoảng 111m, thân tháp và lọng, tàn đều được mạ vàng, đỉnh tháp được đúc bằng vàng ròng, trang sức bằng hơn 5000 viên đá mài, hơn 1000 viên đá quí, 4 chung quanh treo các chuông nhỏ bằng vàng, bạc, rực rỡ, chói lọi dưới ánh chiều tà và những đêm trăng sáng. Trong 4 điện Phật đều có tượng Phật Thích ca ngồi mạ vàng rất lớn, chung quanh còn có mấy trăm tượng Phật Thích ca đứng, ngồi, nằm lớn nhỏ được làm bằng thạch cao, đất nung và gỗ. Ở góc tây tháp có 1 quả chuông xưa, nặng 25 tấn, do vua Tân cố đúc vào năm 1778 mà người Miến điện xem là tượng trưng cho hạnh phúc. Phía nam Đại tháp có chỗ nghỉ ngơi do quốc vương Thái lan xây dựng cho nhân dân mình. Tháp này chẳng những là trung tâm của Phật giáo Miến điện, mà còn là nơi hành hương hằng năm của vô số người đến từ các nước Thái lan, Tích lan,Cao miên... Trong đại chiến lần thứ 2 (tháng 2 năm 1943), tháp này từng bị oanh tạc. [X. History of Burma by G.E.Harvey; Hand Book India Burma anh Ceylon by Marray; Ấn Độ cổ Phật quốc du kí (Lítuấn thừa)].
Thụy ải
(瑞靄): khí mây tốt lành, cũng là từ mỹ xưng của khói mây. Như trong bài từ Hoán Khê Sa (浣溪沙) của Triệu Trường Khanh (趙長卿, ?-?) nhà Tống có câu: “Kim thú phún hương thụy ải phân, dạ lương như thủy tửu huân huân (金獸噴香瑞靄氛、夜涼如水酒醺醺, thú vàng nhã hương khói mây thơm, đêm mát như nước rượu hân hoan).” Hay trong bài Chủng Ngọc Ký (種玉記) của Uông Đình Nột (汪廷訥, 1573-1619) nhà Minh cũng có câu: “Thụy ải mông lung, hương phiêu kim điện lô yên ủng (瑞靄朦朧、香飄金殿爐煙擁, khói mây mờ ảo, hương phảng phất điện báu lò khói nâng).” Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 1, phần Thích Ca Sinh Nhật (釋迦生日), có đoạn: “Thích Viêm Đế thanh hòa chi hậu, nãi Như Lai giáng đản chi thời, tường quang xán xán ải Thiền lâm, thụy ải thông thông lung Phạm vũ, kiền sư thành khổn, đặc triển hạ nghi (適炎帝清和之候、乃如來降誕之時、祥光燦燦靄禪林、瑞靄蔥蔥籠梵宇、虔攄誠悃、特展賀儀, đúng Viêm Đế yên bình ấy lúc, là Như Lai đản sanh thời kỳ; hào quang rực rỡ khắp Thiền lâm, khói mây nghi ngút vây tự viện; bày tấc lòng thành, kính dâng lễ cúng).”
thụy ứng hoa
(瑞應華) Phạm: Udumbara. Hán âm: Ưu đàm bà la. Cũng gọi Ưu đàm hoa. Hoa báo điềm lành. Hoa Ưu đàm thường được nói đến trong kinh điển Phật. Sự xuất hiện của hoa này là tượng trưng cho điềm lành và việc hiếm có. Pháphoa văn cú quyển 10 thượng (Đại 37, 49 trung) nói: Hoa Ưu đàm Hán dịch là Linh thụy(điềm thiêng), 3000 năm mới xuất hiện1lần; khi hoa Ưu đàm xuất hiện thì Kimluânvương ra đời. (xt. Ưu Đàm Bạt La Hoa).
thụy ứng san truyện
(瑞應删傳) Gọi đủ: Vãng sinhtây phương thụy ứng san truyện. Cũng gọi Tây phương vãng sinh thụy ứng truyện. Gọi tắt: Thụy ứng truyện. Truyện kí, 1 quyển, do hai ngài Thiết khang và Văn thẩm cùng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51.Nội dung sách này thu chép sự tích nguyện sinh Tây phương của 48 vị từ ngài Tuệviễn đời Đông Tấn đến ngài Thiệu nguyệnbảo đời Đường.
Thụy 瑞
[ja] ズイ zui ||| Auspicious marks; portents; good omens. (nimitta, pūrva-nimitta) => Tướng tốt; điềm báo trước; điềm lành (s: nimitta, pūrva-nimitta) .
Thủ
取; S, P: upādāna;|Là sự chấp giữ, lưu luyến vướng mắc làm loài Hữu tình cứ lẩn quẩn trong Vòng sinh tử. Ngũ uẩn chính là đối tượng của Thủ, cho nên người ta gọi Thủ là Uẩn thủ. Theo Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), Ái (s: tṛṣṇā) là lòng ái dục sinh Thủ (ở đây là sự ham muốn được có thân, tìm cha mẹ) và Thủ lại sinh Hữu (bhava), tức là có đời sống mới.|Theo luận A-tì-đạt-ma câu-xá (abhidharma-kośa) thì có bốn loại Thủ: Dục thủ (欲取), Kiến thủ (見取; giữ những quan niệm sai lầm), Giới cấm thủ (戒禁取; ràng buộc nơi luật lệ, quy định) và Ngã luận thủ (我論取; chấp nơi một cái ta).
; [ja] シュ shu ||| (1) Keep, preserve, maintain. (2) Guard, protect, defend. (3) Cleave to. (4) A keeper. (5) A feudal lord. => 1. Giữ gìn, bảo quản, duy trì. 2. Thủ thế, bảo vệ, phòng hộ. 3. Trung thành với. 4. Người canh giữ. 5. Quan đứng đầu một quận.
thủ
Upādāna (S), Clinging (S, P)ThọChi thứ 9 trong 12 nhân duyên: chấp trước vào cảnh sở đối.
; Head
; Upadana (p). 1) Chấp Thủ: Upadana (skt)—Nắm giữ—Chấp trước đối với cảnh giới mà mình đang đối diện—Attachment—Clinging—Clinging to existence—Grasping—Laying hold of—Holding on to—To be attached to—To be held by. 2) Từ dùng để chỉ “Ái”: A term used to indicate “love” or “desire.” 3) Từ dùng để gọi “Phiền não”: A term for vexing passions and illusions. 4) Một trong 12 nhân duyên, chấp trước vào sự hiện hữu của mình và sự vật: One of the twelve nidanas, the grasping at or holding on to self-existence and things. 5) Đầu: Head. 6) Cánh tay: Pani (skt)—Arm—Hand. 7) Thủ thế (tự vệ): To defend. 8) Giữ lấy: To keep—To guard.
; (取) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Giữ gìn, che chở. Tức vẽ hình tượng Phật, Bồ tát, các thần, trời... hoặc viết Đà la ni, danh hiệu... để trong cái túi mà mang theo mình, gọi là Thủ. Tượng Phật ở trong túi, gọi là Thủ bản tôn; còn cái túi thì gọi là Thủ nang, Thủ đại, phần nhiều may bằng gấm, lụa, đoạn, đeo ở cổ hoặc ở lưng. Lại tấm thẻ có vẽ hình tượng Phật, hoặc viết Đà la ni trên đó, gọi là Thủ trát. Thẻ có nhiều loại như thẻ giấy, thẻ gỗ, thẻ vàng...
; (守) Phạm,Pàli:Upàdàna. Nhận lấy, nắm chặt lấy. Tên khác của phiền não. Trong kinh điển Hán dịch, Upàdànacũng thường được dịch là Thụ ( ). Thủ là chi thứ 9 trong 12 duyên khởi, nghĩa là nắm chặt lấy đối tượng, không buông bỏ; cũng tức là sự hoạt động mãnh liệt do chi Ái thứ 8 hiện hành dẫn sinh, đặc biệt chỉ cho sự chấp trước đối với dâm dục, thức ăn uống, đồ dùng... và các tác dụng của tâm dục vọng tham cầu. Thuyết nhất thiết hữu bộ dựa vào thuyết Phần vị duyên khởi cho rằng Thủ là giai đoạn chúng sinh thanh xuân sung sức, lòng khao khát đối với dâm dục, ăn uống... đang cháy bỏng, cho nên rong ruổi khắp nơi tìm cầu mà không từ nhọc mệt, gọi là Thủ. Còn kinh bộ thì y cứ vào nghĩa Sát na duyên khởi mà cho rằng Thủ là chỉ cho các phiền não dục tham... nên dùng hành tướng mãnh liệt, có khả năng thổi ngọn lửa nghiệp bùng cháy để giải thích chi Thủ. Tông Duy thức Đại thừa thì xếp Thủ vào chi năng sinh, là thể của tất cả phiền não và chung cho các chủng tử hiện hành. Ngoài ra, thông thường Thủ được chia làm 4 thứ là: 1. Dục thủ: Chỉ cho sự tham cầu đối với 5 cảnh rất hấp dẫn: Sắc, thanh, lương, vị và xúc. 2. Kiến thủ: Chấp chặt lấy các quan điểm thế tục chẳng phải Phật giáo. 3. Giới cấm thủ: Bám chặt lấy các giới luật không phải của Phật giáo. 4. Ngã ngữ thủ:Chấp trước các ngôn ngữ thuộc ngã kiến. Lại nữa, chúng sinh là chủ thể, gọi là Năng thủ; đối tượng bên ngoài là khách thể, gọi là Sở thủ. [X. kinh Tạp a hàm Q.14; Thức thân túc luận Q.3; luận Đại tì bà sa Q.23; luận Câu xá Q.9; luận Dugià sư địa Q.9; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Tứ Thủ).
thủ an
Shuan (J), ShouAn (C), Shuan (J)Tên một vị sư. (Nam Đài).
thủ ba la
(首波羅) Phạm:Sùrparaka, Sùrpàraka. Pàli:Suppà-raka. Hán âm: Tô ba la ca. Địa danh. Chỉ cho châu Thái na (Thàna) nằm về phía tây bắc Bombay, tức là hải cảng Tôphạlạp (Sopàra) ở bờ biển phía tây Ấnđộ hiện nay, từ xưa nơi đây đã là trung tâm buôn bán với nước ngoài. Tôn giả Phúlâuna (Pàli:Puịịa) chính là con của một thương gia ở vùng này. Một chuyến, ngài cùng đoàn thương gia đến thành Xávệ (Pàli:Sàvatthì), gặp đức Thíchtôn và xuất gia, sau ngài trở về Tô balaca truyền đạo, có tất cả 500 thiện nam, tín nữ tại gia. Hải cảng này ở thời đức Phật tại thế đã có tổ chức nghiệp đoàn mậu dịch, cho nên cấm chỉ cá nhân không được buôn bán đơn lẻ. Trong kinh Phật, địa danh này thường được nói đến. [X. kinh Soạn tập bách duyên Q.10; luật Ma ha tăng kì Q.23].
thủ bí mật chủ
Xem Kim Cang Tát Đỏa.
thủ bút
Autograph.
thủ bản
(首板) Đồng nghĩa: Bản thủ, Bản đầu. Bản chỉ cho dãy giường nằm trong Tăng đường. Thủ bản chỉ cho người nằm ở hàng đầu các dãy giường.
Thủ Bồi
(守培 ) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Thanh, đầu đời Dân quốc, người huyện Thái, tỉnh Giangtô, họ Trần, pháp danh Ấnquang, tự Hiểnđạo. Năm 10 tuổi, sư theo ngài Tam thừa xuất gia, 18 tuổi thụ giới Cụ túc ở Tiêu sơn. Năm Tuyên thống thứ 3 (1911) đời Thanh, sư được ngài Viên giác chùa Siêu ngạn truyền pháp chính tông Lâm tế đời thứ 44. Sư vốn thông minh hơn người, ngoài trình độ Phật học uyên bác, sư còn am hiểu các thuyết của bách gia chư tử, sư cũng nghiên cứu cả về thư họa, kim thạch. Đầu năm Dân quốc (1912), sư trụ trì chùa Siêu ngạn, 10 năm sau, sư nhập thất tự tu. Năm Dân quốc 14 (1925), sư sáng lập Ngọc sơn Phật học xã, là cơ sở giáo dục tăng già đầu tiên ở Trấn giang. Vào những năm cuối đời, sư giảng nói kinh Phật tại các vùng thuộc Thượng hải. Năm Dân quốc 44 (1955) sư thị tịch, thọ 72 tuổi; 63 tuổi đạo. Sư có các tác phẩm: Tân bát thức qui củ tụng, Kim cương kinh nghiên cứu, Đại thừa khởi tín luận diệu tâm sớ, Phật giáo bản lai diện mục, Duy thức luận tân cựu nhị dịch bất đồng chi ý kiến, Duy thức luận tam thập luận thích.
thủ chấp kim cang chử
Vajrapani or Vajradhara (skt)—Vị Thần tay cầm Kim Cang Chùy—One who holds the thunderbolt.
thủ cân
(手巾) Phạm:Snàtra-zaỉaka. Cũng gọi Thức thủ cân, Tịnh cân. Miếng vải để lau mặt, lau tay, tương đương với chiếc khăn tay, khăn mặt ngày nay, là1trong 18 vật dụng hàng ngày của tỉ khưu. Kinh Tì ni mẫu quyển 8 nêu ra 3 loại khăn: khăn lau mình, khăn lau mặt và khăn lau mắt. Trong các luật cũng có các tên gọi như: Khăn lau mặt, khăn lau mình, khăn lau chân, khăn lau bát... Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ cũng liệt kê 3 loại khăn là khăn lau mình, khăn lau tay và khăn lau mặt... [X. kinh Phạmvõng Q. hạ; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q. hạ; điều Đại tọa tham, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. hạ; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Thủ cảnh 取境
[ja] シュキョウ shukyō ||| To cognize an external object (grahaṇa) => Nhận biết ngoại cảnh (s: grahaṇa).
thủ cựu
Conservative.
thủ dâm
To masterbate.
thủ dữ
Phalam Prati-grhnati (skt)—Thủ quả và Dữ quả (phàm cái có thể là hạt giống sinh ra thành vạn pháp hiện tại là nhân, từ nhân sinh ra quả với sức tác dụng sản sanh các pháp tương ứng gọi là “thủ quả.” Khi vạn pháp sắp sinh thành, sức tác dụng cho nó nảy sinh kết quả gọi là “dữ quả.”)—The producing seed and that which it gives, or produces.
thủ hạ
Subordinate.
thủ hối
Tự nguyện phát lồ sám hối tội lỗi—Voluntary confession and repentance.
thủ hộ
To guard—To protect.
Thủ hộ căn môn 守護根門
[ja] シュゴ コンモン shugo konmon ||| Literally, preserving the gates of the senses. To practice morality and patience 〔二障義 HPC 1.802c〕 => Giữ gìn lối vào của các giác quan. Tu tập giới luật (尸羅thi-la) và nhẫn nhục忍辱 .
thủ hộ kinh
(守護經) I. Thủ hộ kinh. Gọi đủ: Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni kinh. Bộ kinh của Mật giáo nói rõ về nghĩa lí của Hư không tính, Tâm tính, Bồ đề tính, Đà la ni tính... (xt. Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni Kinh). II. Thủ hộ kinh. Thủ hộ,Pàli:Paritta. Kinh văn quan trọng của Phật giáo Tích lan được tụng niệm trong nghi thức hàng ngày. Văn kinh này được trích ta từ trong Trung bộ kinh và Tăng nhất bộ kinh Nam truyền, gồm có 8 loại là: Kinh Tam bảo (Ratanasutta), kinh Ngũ uẩn hộ (Khandha Paritta), kinh Khổng tước hộ (Moraparitta), kinh Chàng đính hộ (Phajaggaparitta), kinh Cát tường (Maígalasutta), kinh Từ bi (Mettasutta), kinh A tra nẵng chi hộ (Àỉànàỉiyaparitta) và kinh Ương quật ma la hộ (Aígulimàlaparitta), văn kinh đều rất ngắn gọn. Nghi thức tụng niệm kinh Thủ hộ cũng gọi là Thủ hộ tụng, bắt đầu vào thời đại vua Tối thắng bồ đề đời thứ IV (Pàli: AggabodhiIV, ở ngôi 658-674) ở Tích lan, được tín đồ Phật giáo Tích lan xem trọng; vào những dịp như đám cưới, đám tang, chúc mừng, cầu phúc, tiêu tai, dời chỗ ở, về nhà mới, chúc thọ, siêu độ vong linh, chữa bệnh, đuổi tà...; hoặc những ngày lễ lớn như mừng năm mới, lễ Phật đản, rước răng Phật... đều cung thỉnh 15 vị tăng trở lên tụng niệm kinh này, có khi tụng liền 5 ngày, có khi chỉ tụng 1 ngày, mỗi lần tụng khoảng 1 giờ đồng hồ. Trước khi tụng niệm phải lập đàn tràng, cung nghinh xá lợi Phật, đồng thời cung thỉnh Tứ đại thiên vương, Hộ pháp chư thiên... giáng lâm đạo tràng. [X. Nam truyền Phật giáo sử (Tịnhhải)].
thủ hộ kinh pháp
(守護經法) Chỉ cho pháp tu trấn hộ quốc gia y theo kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni. Trong Giác thiền sao nói về Thủ hộ kinh pháp, cho rằng tu pháp này có nhiều công đức như: Đầy đủ các nguyện, mệnh sống lâu dài, cầu mưa, cầu nắng, trừ bệnh quỉ, diệt tội nghịch, cứu khổ vô gián... Từ xưa, pháp này cùng với Nhân vương kinh pháp và Khổng tước kinh pháp được gọi chung là Tam đại pháp. Bản tôn của pháp tu này là Đại nhật Như lai của Kim cương giới, Mạn đồ la Bản tôn là Mạn đồ la của 37 vị tôn thuộc Kim cương giới, thêm10 vị trời của Ngoại kim cương bộ là Bát phương thiên, Phạm thiên và Địa thiên, gọi là Thủ hộ kinh mạn đồ la. Chủng tử là (oô) hoặc (vaô), hình Tam muội da là tháp hoặc bảo châu, ấn tướng là Trí quyền ấn, chân ngôn là: Án (oô) hồng (hùô) nhạ (ja) hộ (ho) sa (sa).
Thủ hộ kinh 守護經
[ja] シュゴキョウ shugokyō ||| The shouhujing; see Shŏuhù guójièzhŭ tuóluóní jīng 守護国界主陀羅尼經. => (c: shouhujing); Xem Thủ hộ quốc giới vương đà-la-ni kinh (守護国界主陀羅尼經c: Shŏuhù guójièzhŭ tuóluóní jīng) .
thủ hộ quốc gia luận
(守護國家論) Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng Nhật bản là Nhậtliên soạn vào niên hiệu Chính nguyên năm đầu (1259) lúc sư 38 tuổi. Năm Kiếntrường thứ 5 (1253), sư Nhật liên lập giáo khai tông, đưa ra tuyên ngôn, sau do tai trời ách đất liên tục xảy ra, sư liền đến chùa Thực tướng tại Nham bản nghiên cứu lại tất cả các kinh, rồi soạn luận Thủ hộ quốc gia. Nội dung nhắm vào tập sách Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập của ngài Phápnhiên, phê phán giáo nghĩa Tịnh độ, chủ trương tu hành theo kinh Pháphoa mới có thể làm cho quốc gia xã hội thái bình an lạc.
thủ hộ quốc giới chương
(守護國界章) Gọi tắt: Thủ hộ chương. Tác phẩm, 3 quyển(mỗi quyển lại chia thượng, trung, hạ hợp thành 9 quyển), do ngài Tốitrừng, người Nhậtbản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 74. Ngài Đứcnhất, vị tăng học giả của tông Pháptướng, đứng trên lập trường tư tưởng Duy thức soạn bộ Trung biên nghĩa kính đặt ra vấn nạn đối với tư tưởng Thiênthai. Trong sách này, ngài Tốitrừng nhằm vào tư tưởng, quan điểm của ngài Đức nhất trong Trung biên nghĩa kính để phê phán, luận phá, đồng thời, đứng trên lập trường Nhất thừa bình đẳng của Pháphoa mà bác bỏ thuyết Tam thừa sai biệt. Ngoài ra, sách này cũng đề cập đến bản tuyên ngôn sáng lập tông Thiên thai Nhật bản. Toàn sách chia làm 51 chương, đầu mỗi chương đều có phụ thêm phần tiểu dẫn, đồng thời nói rõ về chỉ thú Tam quyền Nhất thực (Tam thừa là quyền biến, Nhất thừa là chân thực). Sách này soạn xong vào năm Hoằng nhân thứ 9 (818), là 1trong các tác phẩm quan trọng của ngài Tốitrừng, sánh ngang với Hiển giới luận của cùng tác giả.
thủ hộ quốc giới chủ đà la ni kinh
(守護國界主陀羅尼經) Gọi tắt: Thủ hộ quốc giới kinh, Thủ hộ kinh. Kinh, 10 quyển, do 2 ngài Bát nhã và Mâunithấtlợi cùng dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật nói về hư không tính, tâm tính, bồ đề tính, đà la ni tính... cho bồ tát Nhất thiết pháp tự tại vương nghe, tất cả gồm 11 phẩm. 1. PhẩmTựa: Nói về việcbồtát Văn thù dùng kệ vi diệu khen ngợi đức Phật. 2. Phẩm Đà la ni: Nói vềHồi hướng đà la ni, 5 thứTam muội, 8 môn đà la ni. 3. Phẩm Đại bi thai tạng xuất sinh: Nói về 3 tâm đại bi củabồtát và 32 thứ sự nghiệp bất cộng. 4. Phẩm Nhập Như Lai đại bi bất tư nghị: Nói về tướng đại bi tùy chuyển của Như lai. 5. Phẩm Nhập Như lai bất tư nghị thậm thâm sự nghiệp: Nói về 32 thứ sự nghiệp chính giác sâu xa của Như lai. 6. Phẩmbồtát anh lạc trang nghiêm: Nói về 4 thứ anh lạc là giới, định, tuệ và Đà la ni môn. 7. Phẩm Đại quang phổ chiếu trang nghiêm:Nói về 8 thứ pháp môn Đại quang phổ chiếu trang nghiêm là: Niệm quang, Ý quang,Giải quang,Pháp quang,Trí quang, Đế quang, Thần thông quang và Tu hành quang. 8. Phẩm Bát nhã căn bản sự nghiệp trang nghiêm:Nói rộng về Mẹ bát nhã(Trí tuệ bát nhã có năng lực sinh ra tất cả, giống như mẹ của muôn vật)và các sự nghiệp do Bát nhã sinh ra. 9. Phẩm Đà la ni công đức quĩ nghi: Nói về nghĩa chữ Án, đàn pháp, đàn pháp Đại mạn đồ la thành Kim cương, nghi tắc niệm tụng, pháp cầu mưa cầu dứt mưa, chú Quân đồ lợi và công đức của thần chú này... 10. Phẩm A xà thế vương thụ kí: Nói về 2 điềm mộng để diệt trừ sự ngờ vực của vua A xà thế, đồng thời chỉ rõ cho vua thấy về các tướng trước lúc mệnh chung sẽ đầu thai vào 5 đường, khiến nhà vua tỏ ngộ mà qui y Tam bảo, sau khi mệnh chung, vua sinh lên cõi trời Đâu suất đượcbồtát Từ thị thụ kí thành Phật. 11. Phẩm Như Lai chúc lụy: Nói về công đức trì tụng và lí do đặt tên kinh này.Theo thuyết trong Duyệt tạng tri tân quyển 12 thì kinh này là cùng bản tiếng Phạm với phẩm Đà la ni tự tại vương bồ tát của kinh Đại tập, chỉ hơi khác về thứ tự. Còn theo Duyên sơn tam đại tạng mục lục quyển hạ thì kinh Đại ai và kinh này cũng là cùng bản Phạm. Nhưng 2 kinh Đại tập và Đại ai đều không nói về Đà la ni và việc đàn pháp. Pháp tu nương theo kinh này gọi là Thủ hộ kinh pháp, cùng với Nhân vương kinh pháp và Khổng tước kinh pháp gọi chung là Tam đại pháp. [X. Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q. trung; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.17]. (xt. Thủ Hộ Kinh Pháp).
Thủ hộ quốc giới vương kinh 守護国界主經
[ja] シュゴコクカイスキョウ Shugo kokkaisu kyō ||| ; see Shŏuhù guójièzhŭ tuóluóní jīng 守護国界主陀羅尼經. => Xem Thủ hộ quốc giới vương kinh đà-la-ni kinh (c: Shŏuhù guójièzhŭ tuóluóní jīng 守護国界主陀羅尼經).
Thủ hộ quốc giới vương đà-la-ni kinh 守護国界主陀羅尼經
[ja] シュゴコクカイスダラニキョウ Shugo kokkaishu darani kyō ||| The Shouhu guojiezhu tuoluoni jing; Skt. Āryadhāraṇīśvararāja-sūtra; Tib. de bzhin gshegs pa'i snying po [To.147]; (Dhāraṇīs for Safeguarding the Nation, the Realm and the Chief of State); 11 chapters in 10 fasc. (T 997.19.525-577), abbr. Sutra for Safeguarding the Nation, the Realm and the Chief of State 守護国界主經, Safeguarding Sutra 守護經, tr. Prajñā 般若 and Muniśrī 牟尼室利 in 790 CE. One of the three state-protecting Sutras in East Asia, partly adapted to local conditions by the translators; about two-thirds of the text conforms to the Tibetan version. IB326; KI (mb) 4. => (c: Shouhu guojiezhu tuoluoni jing; s: Āryadhāraṇīśvararāja-sūtra; t: de bzhin gshegs pa'i snying po; e: Dhāraṇīs for Safeguarding the Nation, the Realm and the Chief of State); 11 phẩm trong 10 quyển. Viết tắt là Thủ hộ quốc giới vương kinh, Thủ hộ kinh; Bát Nhã và Mâu-ni Thất-lợi (s: Muniśrī 牟尼室利 ) dịch năm 790. Là một trong 3 bản kinh có nội dung thủ hộ quốc gia ở vùng Đông Á; phần nào được điều chỉnh cho hợp với tình hình địa phương bởi các dịch giả; có vào khoảng hai phần ba kinh văn là thích ứng với bản dịch tiếng Tây Tạng.
thủ hộ thần
(守護神) Thần giữ gìn, che chở một phạm vi, một lãnh vực nhất định nào đó. Như ở Ai cập đời xưa, thần Tắc đặc (Sét) và thần An cát thái (Andjty) được chia ra thờ làm thần thủ hộ của thượng Ai cập và hạ Ai cập. Ngoài ra, các dân tộc của nhiều quốc gia trên thế giới cũng thờ thần thủ hộ cho nghề nghiệp, che chở trẻ con hoặc phụ nữ... (xt. Hành Nghiệp Thần).
Thủ Hộ Đại Danh
: (守護大名, Shugodaimyō): khái niệm về vị quan Thủ Hộ dưới thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi, 1292-1573) quản lãnh một hay nhiều tiểu quốc, không những chỉ có quyền năng tối cao về quân sự, cảnh sát mà còn cả về chính trị nữa. Đến thời đại Chiến Quốc (戰國, Sengoku), phần lớn những vị quan Thủ Hộ này bị mất chức, mà thay vào đó những vị quan gọi là Chiến Quốc Đại Danh (戰國大名, Sengokudaimyō).
thủ hộ đại thiên quốc độ kinh
Ārya-mahā-sahasra-pramardini sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; Mahāsahasrapra mardanā (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
; Mahàsahasrapramardana (S). Name of a sùtra.
; (守護大千國土經) Phạm: Àrya-mahà-sahasrapramardinì. Kinh, 3 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này thuật lại việc lúc đức Phật trụ ở rừng cây Phật cảnh giới tại phía nam núi Thứu phong gần thành Vương xá, thì thành Tì da li bị các quỉ thần gây não loạn, tai nạn nổi lên, nhân dân trong nước ngửa mặt lên trời cầu xincứu hộ, Phật liền dùng thần lực nhóm họp tất cả quỉ thần, thiên long... để điều phục họ bằng cách giảng nói thần chú. Phật lại đến thành Tì da li thị hiện thân Đại minh vương diễn nói Thủ hộ đại thiên quốc độ Đại minh vương giải thoátphápmôn, đồng thời tuyên thuyết Đại minh vương đà la ni, nhờ vào công năng của pháp môn và đà la ni này mà thành Tì da li qua khỏi tai nạn. Sau đó, đức Phật lại nói về phương pháp và công đức trì tụng đà la ni, Đại Phạm vương cũng nói Hộ chư đồng tử pháp để kết thúc kinh này. Trong đó, Hộ chư đồng tử pháp và Hộ chư đồng tử đà la ni kinh do ngài Bồ đề lưu chi dịch có nội dung giống nhau. Kinh này là 1 trong 5 bộ kinh Thủ hộ (Phạm: Paĩca-rakwà) được lưu truyền ở vùng Ni ba la (nay là Nepal). Kinh này cũng có các bản dịch Tây tạng, Tây hạ. [X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.5; Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.2].
Thủ hộ đại thiên quốc độ kinh 守護大千國土經
[ja] シュゴダイセンコクトキョウ Shugo daisenkokudo kyō ||| The Shouhu daqianguotu jing; Skt. Mahāsāhasrapramardanī-nāma-mahāyānasūtra; Tib. stong chen mo rab tu 'joms pa zhes bya ba'i mdo [To.558, P.177] (Sutra of the Great Thousand [Destructions, Defender of the Land]). 3 fasc., tr. Dānapāla 施護 (T 999.19.578-594). Second text of the Pañcarakṣā corpus, devoted to Mahāsāhasrapramardanī, who defends against various kinds of malicious spirits. Includes sections on ritual and homa 護摩. BGBT4/85-6. => (c: Shouhu daqianguotu jing; Skt. Mahāsāhasrapramardanī-nāma-mahāyānasūtra; Tib. stong chen mo rab tu 'joms pa zhes bya ba'i mdo; e: Sutra of the Great Thousand [Destructions, Defender of the Land]). 3 quyển; Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch. Là bản kinh thứ hai trong Ngũ vị lục (s: Pañcarakṣā corpus); nói đến sự tận tuỵ nhiệt tâm của Thủ hộ đại thiên quốc độ, chống lại vô số những loại ác thần. kinh bao gồm những chương về Nghi quỹ và pháp hộ-ma (s: homa 護摩).
thủ hộ đạo
Nāṭa-mārga (S)Tên một giáo đoàn ở Đông Ấn vào thế kỷ XI.
; (守護道) Phạm: Nàtha-màrga. Tên giáo đoàn xuất hiện ở vùng Bengal, Đông Ấn độ vào thế kỷ XI Tây lịch. Những người tu hành thuộc giáo đoàn này đều được lấy vợ, hình thành một giáo đoàn nửa tăng nửa tục. Về giáo lí và nguồn gốc giáo đoàn này tuy không rõ, nhưng được biết vào thế kỷ VIII, ngài Liên hoa sinh (Phạm: Padmasambhava) thuộc Mật giáo từng cưới em gái ngài Tịch hộ làm vợ. Ngoài ra, còn có Tát cáp ca thừa (Phạm:Sahajayàna, Sahajivà), một chi phái của Tả đạo Mật giáo (Phạm: Vànàcàra-vajrayàna) cho rằng thiếu nữ 16 tuổi là Bát nhã, nếu giao hoan với thiếu nữ ở độ tuổi này thì thành tựu Đại lạc giải thoát. Cứ đó suy ra thì biết giáo thuyết của Thủ hộ đạo giống với Tát cáp ca thừa, có lẽ thuộc 1 trong các pháp Mật giáo Đại lạc đạo. Đến thế kỷ XIV, giáo đoàn nàytrở thành đoàn thể gồm những người du hành nay đây mai đó, sống theo 1 thiểu số tín đồ Phật giáo và tín đồ Ấn độ giáo. Giáo đoàn này phủ định giáo nghĩa của Phật giáo và Ấn độ giáo. Trên thực tế, giáo pháp của họ đặc biệt chỉ ảnh hưởng đến giai tầng thấp nhất dưới chế độ chủng tính ở Ấn độ. [X. B.Bhattacharyya: An Introduction to Buddhist Esoterism, Oxford 1932; Sir C.Eliot: Hinduism and Buddhism, vol.II, London].
Thủ hộ 守護
[ja] シュゴ shugo ||| To protect, defend, guard (saṃdhāraṇa). 〔法華經 T 262.9.54c14〕 => Bảo vệ, che chở, giữ gìn (s: saṃdhāraṇa).
thủ khánh
Chuông cầm tay hay khánh được thỉnh bằng một cái dùi nhỏ cầm tay—A hand-chime (bell) struck with a small stick.
thủ khẩu ý tương ưng
In Yoga practices, it means correspondance of hand, mouth, and mind, i.e. manual signs, esoteric words, and thought or mental projection.
; Trong thực tập Du Già, đây là sự tương ứng giữa tay, miệng và ý—In Yoga practices it means correspondence of hand, mouth and mind.
thủ kim cương chử
Vajrapàni (S). Who holds the thunderbolt. Also Cầm chày kim cương.
thủ kinh
(取經) Lấy kinh. Nghĩa là chư tăng Trung quốc ra nước ngoài cầu học Phật pháp và thỉnh kinh sách mang về. Khoảng năm Vĩnh bình (58-75) đời vua Minhđế nhà Đông Hán, sau khi Phật giáo từ Ấnđộ truyền sang phía đông đến Trung quốc, kinh điển Phật vì thiên chương không đầy đủ, hoặc truyền dịch không chính xác, hoặc các kinh điển trọng yếu chưa được truyền đến, chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu học hỏi, nghiên cứu của đương thời, cho nên trải qua các đời đã rất nhiều vị tăng lặn lội đến các nước Tâyvực hoặc Ấn độ xưa để cầu thỉnh các bản kinh điển Phật tận gốc đem về truyền dịch, trước sau có tất cả hơn 100 vị. Về trục lộ giao thông giữa Trung quốc và Ấn độ, thiên Di tích trong Thích ca phương chí quyển thượng nêu 3 con đường là: 1. Con đường xuất phát từ Hà châu, băng qua Thổcốchồn, Thổphồn, đến nước Nibala (Nibạcnhĩ, tức Nepal ngày nay) ở Bắc Ấnđộ, đây có lẽ là con đường mà các ngài Huyền chiếu, Huyền thái, Đạo phương... đời Đường đã đi qua. 2. Con đường bắt đầu phát xuất từ Thiện Châu, băng qua nước Kiết bànđà, nước Tàocủtra, đến nước Phạtlạtnoa thuộc Tây Ấnđộ, rồi nhập vào con đường thứ ba. 3. Con đường từ kinh đô Trường an vòng qua các nước Nô xích kiến, Đổ hóa la... mà vào nước Ô trượng na, đây có lẽ là con đường mà các ngài Huyền trang, Pháp sư Long,Tín trụ... đời Đường đã đi qua.Ba con đường nêu trên đều là những lộ tuyến giao thông chủ yếu giữa Trung quốc và Ấnđộ vào các thời đại Tùy, Đường. Còn theo điều Già ma lũ ba quốc trong Đại đườngtâyvực kí quyển 10, Tiền Hán thư Tâyvực truyện thứ 66 thì cũng có con đường băng qua Bathục và vượt qua Huyền độ. Theo truyền thuyết, các ngài Trímãnh, Tuệduệ... đời Lưu Tống đi qua con đường Bathục; còn các vị Thái hâm, Tầncảnh đời Đông Hán, Đạodược... đời Hậu Ngụy thì chọn con đường Tâyvực. Nhìn chung, con đường giao thông từ miền bắc Trung quốc đến Ấn độ phần nhiều trải qua Tân cương và Trung á tế á hiện nay. Con đường này, tại Tân cương, được chia thành 2 đường Nam, Bắc. Một đường từ Lương châu ra khỏi Quan trung đến Đôn hoàng, vượt Sa mạc(cũng gọi Lưu sa) đến Thiện thiện, rồi men theo dãy núi phía nam đến Vu điền, lại từ phía tây bắc tiến đến Sa xa, đây là con đường phía Nam. Lại từ con đường phía Nam qua phía Nam núi Ba đạt khắc, rồi vượt núi Đại tuyết đến nước Kế tân(tức Ca thấp di la). Con đường thứ hai từ phía bắc Đôn hoàng, đi về phía tây bắc tiến đến Y ngô, qua Thổ phồn, Yên kì tiến đến Cưu tư, rồi đến Sớ lặc, đây là con đuờng phía bắc; từ đây lại đi qua Thông lãnh về phía tây nam mà đến Kế tân. Ngoài ra, có thể đi từ phía nam Yên kì của con đường phía bắc xuôi xuống để đến Vu điền. Vào thời đại Đông Tấn thuộc Nam Bắc triều, con đường đến phía Đông thường từ phía nam Lương châu qua Ba thục, xuống Gianglăng ở phía đông để đến Giang đông. Những người thời Nam triều muốn đi đến Tâyvực cũng có thể chọn con đường này. Lại nữa, Tâyvực và Trungá tuy là con đường giao thông quan trọng giữa miền bắc Trung quốc và Ấnđộ, nhưng cũng không ít người chọn con đường biển Nam xa xôi, quanh co, như ngài Pháp hiển đời Đông tấn, ngài Phápdũng đời Lưutống, ngài Nghĩalãng đời Tùy và các ngài Thường mẫn, Minhviễn, Khuyxung, Tríhành, Đại thừa đăng, Đàm nhuận, Đạo lâm, Tuệ mệnh, Linhvận, Tríhoằng... đều đi bằng đường biển. Ngài Chu sĩ hành đời Tào Ngụy là vị sa môn Trung quốc đầu tiên đi Tây vực cầu pháp thỉnh kinh. Sau ngài Chu sĩ hành thì việc đi Tây vực cầu pháp thỉnh kinh thịnh nhất là vào cuối đời Tấn và đầu đời Tống thuộc Nam triều. Vào niên hiệu Cảnh nguyên năm đầu (260) đời Ngụy, ngài Chu sĩ hành từ Ung châu đến Vu điền thỉnh kinh Bát nhã. Vào thời Tây Tấn, ngài Trúc pháp hộ theo thầy đến Tây vực thỉnh các kinh bản tiếng Hồ mang về. Vào năm Long an thứ 3 (399) đời vua An đế nhà Đông Tấn, ngài Pháp hiển và các ngài Tuệ cảnh, Đạo chỉnh, Tuệ ứng, Tuệ ngôi... phát xuất từ Trường an sang Thiên trúc cầu pháp, vượt qua sa mạc, núi Thông lãnh suốt 6 năm, qua hơn 30 nước, đến được Trung thiên trúc, thỉnh được các kinh điển như: Phương đẳng, Đại bát nê hoàn, luật Ma ha tăng kì, Tát bà đa luật sao, luận Tạp a tì đàm tâm... Sau, ngài Pháp hiển vượt biển đến Tích lan thỉnh được Sa di tắc luật tạng bản, Trường a hàm, Tạp a hàm, Tạp tạng... bằng tiếng Phạm. Sau khi về nước, ngài Pháp hiển bắt đầu dịch các bộ như:Kinh Đại bát nê hoàn 6 quyển, luật Ma ha tăng kì, kinh Phương đẳng nê hoàn, kinh Tạp tạng, luận Tạp a tì đàm tâm... Ngài Pháp hiển là vị sa môn Trung quốc đầu tiên đến Trung thiên trúc cầu pháp thỉnh kinh. Vì trước ngài Pháp hiển 8 năm đã có các vị khác như ngài Pháp tịnh, Pháp lãnh... cũng đi Tây vực cầu pháp, nhưng chỉ mới đến nước Vu điền thỉnh được bộ kinh Hoa nghiêm bằng tiếng Phạm mang về, chứ chưa đến Thiên trúc. Vào thời Lưu Tống, cư sĩ Thư cừ Kinh thanh(em họ vua nước Lương Mông tốn)từng vượt sa mạc đến nước Vu điền, gặp Thiền sư Phật đà tư na, được ngài trao cho kinh Thiền yếu bí mật trị bệnh(Trị thiền bệnh yếu pháp);lại ở quận Cao xương, cư sĩ thỉnh được kinh Quán Di lặc bồ tát thướng sinh Đâu suất thiên, kinh Quán thế âm quán và dịch kinh Thiền yếu 2 quyển. Sau vì Bắc Ngụy diệt nước Lương nên Thư cừ Kinh thanh phải chạy đến Tống. Còn ngài Đạo thái là sa môn Lương châu, đi Tây vực, thỉnh được luận Tì bà sa gồm 10 vạn bài kệ bằng tiếng Phạm. Các thời Nguyên Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu, vào niên hiệu Thần qui năm đầu (518), các ngài Tốngvân và Huệsinh đi Tâyvực thỉnh kinh, vượt qua sa mạc đi về phía tây đến Vuđiền, rồi vượt dãy núi Thônglãnh đến Thiêntrúc, thỉnh được 170 bộ kinh điển Đại thừa. Năm Chính quang thứ 2 (521), các ngài trở về nước. Vào các đời Nam Tề, Lương, Trần và Tùy, ít có người đi Tâyvực cầu pháp. Sang đến đời Đường thì có các ngài Huyền trang, Nghĩa tịnh, Tuệ nhật... đi Tây vực cầu pháp thỉnh kinh. Vào năm Trinh quán thứ 3 (629, có thuyết nói Trinh quán năm đầu) đời Đường, ngài Huyền trang một mình đi về phía tây, qua Tần châu, Lan châu, Lương châu, Qua châu, qua cửa ải Ngọc môn, qua sa mạc đến khắp 111 nước thuộc Ngũ Ấn ở Tây vực, mang về 520 cặp, gồm 657 bộ kinh tiếng Phạm chép tay, rồi dịch được các kinh luận như kinh Bát nhã, kinh Bồ tát tạng, kinh Giải thâm mật, luận Thành duy thức, luận Đại tì bà sa, luận Câu xá... tất cả 75 bộ, 1335 quyển.Vì ngưỡng mộ phong độ cao thượng của ngài Pháp hiển, ngài Huyền trang, nên ngài Nghĩa tịnh nảy chí Tây du. Vào năm Hàm hanh thứ 2 (671) đời Đường, ngài vượt biển Nam, trải qua bao nhiêu gian nan nguy hiểm mới đến được Ấn độ, qua hơn 30 nước, thỉnh được 400 bộ kinh luật luận tiếng Phạm và Xá lợi mang về. Ngài dịch các kinh như Kim quang minh tối thắng vương, kinh Khổng tước vương... trước sau tổng cộng dịch được 56 bộ, gồm 230 quyển. Còn ngài Tuệ nhật thì vào năm Tự thánh 19 (702) đời vua Trung tông nhà Đường, vượt biển qua Côn lôn, Thất phật thệ (đảo Sumatra), châu Sư tử (Tích lan)... mà đến Ấn độ, lưu lại 18 năm, đến năm Khai nguyên thứ 7 (719), ngài mang tượng Phật và kinh tiếng Phạm về Trường an. Trong số các vị tăng Trung quốc đi Tây vực thỉnh kinh, cầu pháp thì ngài Huyền Trang là nổi tiếng nhất và những thành tựu đạt được cũng lớn nhất. Ngoài ra, các vị khác như Tăng thuần, Trímãnh, Pháp dũng, Pháphiến, Bảoxiêm, Đạothúy... cũng đều là những vị tăng đến Thiêntrúc cầu pháp thỉnh kinh và tên tuổi được ghi trong sách sử. [X. Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử (Thang tích dư); Trung quốc Phật giáo sử (Hoàng sám hoa); Lịch đại cầu pháp phiên kinh lục (Phùng thừa quân); Trung quốc Phật giáo cầu pháp sử tạp khảo (Tào sĩ bang, Phật quang học báo kì 2).
thủ kiến
See Kiến Thủ.
thủ kiết
Paramarsa-samyojana (S)Phiền não trói buộc chúng sanh trong luân hồi sanh tử.
thủ kết
(取結) Thủ và Kết, có hai nghĩa: I. Thủ kết. Thủ và Kết đều là tên khác của phiền não. Phiền não hay nắm lấy sanh tử, nắm lấy cảnh sở đối nên gọi là Thủ; phiền não lại thường trói buộc chúng sinh, nên gọi là kết.II. Thủ kết. Phạm: Paràmarza-saôyojana. Phiền não trói buộc chúng sinh khiến cho họ không được giải thoát, cứ mãi trôi lăn trong vòng sinh tử. Thủ kết gồm 2 thứ là Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến. 1. Kiến thủ kiến: Chấp chặt vào thân kiến, biên kiến, tà kiến và các kiến giải hư vọng lệch lạc, cho đó là trên hết, hơn hết, như chấp chặt vào cái thấy và chỗ dựa của cái thấy là thân thể, cho đó là cái thấy biết trên hết, hơn hết. 2. Giới cấm thủ kiến: Chủ trương giữ gìn các thứ giới tà hành trái đạo như giới bò, giới nai, giới chó... và cho đó là nhân đưa đến lìa khổ, giải thoát vĩnh viễn. Như các ngoại đạo ở Ấnđộ đời xưa chấp trước một cách ngu si rằng hành vi ăn cỏ, ăn phân như bò, chó... là nhân giải thoát và sinh lên cõi trời, nên mới giữ gìn các giới bò, chó trái đạo này, đồng thời cho kiến giải ấy là kiến giải hơn hết, vì họ cho nhục thân liên tục chịu đựng các giới cấm này là trên hết, thanh tịnh nhất. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; luận Câu xá Q.19; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Thành duy thức Q.6].
thủ la tỉ khâu kiến nguyệt quang đồng tử kinh
(首羅比丘見月光童子經) Cũng gọi Thủlatỉ khưu kinh. Kinh, 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Kinh này là một trong các bản chép tay xưa đào được ở Đôn hoàng do học giả người Anh là M.A.Stein, (1862- 1943) sưu tập, bị nghi là kinh giả tạo. Phần đầu đã bị rách nên không còn thấy được tên kinh, nhưng ở cuối kinh có đề mấy chữ Thủ la tỉ khưu kinh. Nội dung kinh lẫn lộn các dụng ngữ của Phật giáo và của Đạo giáo, phần nhiều có quan hệ với tín ngưỡng thần tiên yêu thuật, tín ngưỡng Quán âm, Duy ma cư sĩ... lưu hành ở thời đại Lục triều, chứng tỏ kinh này mượn danh Phật giáo để trà trộn tư tưởng Phật giáo với Đạo giáo. Bởi thế người ta e rằng tác giả kinh này đã lợi dụng tên Đồng tử Nguyệt quang của Phật giáo để truyền bá tư tưởng thần tiên của Đạo gia ở thời đại Lục triều. [X. Pháp kinh lục Q.2; Nhân thọ lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.18].
thủ luân
Những đường trên lòng bàn tay hay ngón tay, đặc biệt là “một ngàn” đường trên tay Phật—The lines on the palm and fingers, especially the “thousand” lines on a Buddha's hand.
thủ lô ca
(首盧迦) Phạm:Zloka. Cũng gọi: A nậu tốt đổ bà (Phạm: Amwỉbh), A nâu tra xiển đề thủ lô kha, Thất lộ ca, Thất lô ca, Thâu lô ca, Thâu lô ca ba. Gọi tắt: Thủ lô. Hán dịch: Tụng. Chỉ cho đơn vị dùng để tính số kinh luận ở Ấn độ. Trong kinh luận, bất cứ là trường hàng(văn xuôi)hay kệ tụng(văn vần), hễ đủ 32 chữ là thành 1 tiết(1 bài kệ), gọi là 1 Thủ lô ca. Còn theo thuyết của luận Đại tì bà sa quyển 14 thì cứ 8 chữ là 1 câu, 32 chữ là 1 bài tụng; các bài tụng trong kinh luận phần nhiều y theo pháp này, tính số chép tay cũng theo pháp này. [X. luận Thuận chính lí Q.14; Trung quán luận sớ Q.1, phần đầu; Huyền ứng âm nghĩa Q.25].
thủ lăng già ma
ŚŪraṅgama (S)Thủ lăng nghiêmMột phép thiền định.
; Surangama (S). Also Thủ lăng nghiêm.
thủ lăng già ma kinh
Xem Kinh Thủ Lăng nghiêm.
thủ lăng nghiêm
Xem Thủ lăng già ma.
; Suramgama (S). Heroic, resolute; the virtue or power which enables a Buddha to overcome every obstacle, obtained in the Thủ lăng nghiêm định or tam muội.
; Suramgama (skt)—Âm chữ Hán là Thủ Lăng Già Ma, dịch là “Kiện Tướng” hay công đức và lực làm cho Phật có khả năng vượt qua những trở ngại và đạt được “Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội” hay “Thủ Lăng Nghiêm Định”—Interpreted as heroic, resolute; the virtue or power which enables a Buddha to overcome every obstacle, obtained in the Suramgama dhyana or samadhi.
thủ lăng nghiêm kinh
Suramgama-sùtra (S).
; The Sutra of Heroic One—The sutra emphasizes the power of samadhi, through which enlightenment can be attained, and explained the various methods—See Kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Thủ Lăng Nghiêm kinh 大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經
[ja] ダイブツチョウニョライミツインシュショウリョウギショボサツマンギョウシュリョウゴンキョウ Dai butchō nyorai mitsuin shushō ryōgi shobosatsu mangyō shuryōgon kyō ||| The Śūraṃgama-sūtra (Da foding rulai miyin xiuzheng liaoyi zhupusa wanxing shoulengyan jing). See 首楞嚴經. => Đại Phật đảnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư bồ-tát vạn hạnh (s: Śūraṃgama-sūtra; c: Da foding rulai miyin xiuzheng liaoyi zhupusa wanxing shoulengyan jing). Xem Thủ Lăng Nghiêm kinh (首楞嚴經).
thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh
(首楞嚴義疏注經) Cũng gọi Thủ lăng nghiêm kinh sớ. Kinh sớ, 20 quyển, do ngài Tử tuyền biên tập vào thời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Đây là sách chú sớ bộ kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, nội dung chia làm 10 môn: Giáo khởi nhân duyên, Tạng thừa phân nhiếp, Giáo nghĩa phân tề, Sở bị cơ nghi, Năng thuyên thể tính, Sở thuyên tông thú, Giáo tích tiền hậu. Truyền dịch thời niên, Thông thích danh đề và Biệt giải văn nghĩa.
thủ lăng nghiêm tam muội
Xem Lăng Nghiêm Tam muội.
; Xem thủ lăng nghiêm định.
; (首楞嚴三昧) Phạm: Zùraôgama-samàdhi. Cũng gọi Thủ lăng nghiêm tam ma địa, Thủ lăng già ma tam ma đề, Thủ lăng nghiêm định. Hán dịch: Kiện tướng tam muội, Kiện hành định, Dũng kiện định, Dũng phục định, Đại căn bản định. Tam muội thu giữ các pháp một cách chắc chắn,1 trong 108 tam muội, là loại thiền định do chư Phật và hàng BồtátThập địa chứng được. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 398 hạ) nói: Thủ lăng nghiêm tam muội, Hán dịch là Kiện tướng, phân biệt rõ hành tướng các Tam muội nhiều ít, sâu cạn, như vị Đại tướng biết rõ năng lực binh sĩ mạnh hay yếu. Lại nữa, các Bồtát được tam muội này thì các ma phiền não và ma người không cách nào phá hoại được, ví như Chuyển luân Thánhvương cầm đầu các binh tướng hùng mạnh, đi đến bất cứ đâu kẻ địch cũng đều phải hàng phục. Cứ theo kinh Thủ lăng nghiêm tam muội quyển thượng thì Tam muội Thủ lăng nghiêm chẳng phải hàng Bồ tát Sơ địa đến Cửu địa chứng được mà chỉ có hàng Bồ tát Thập địa mới có năng lực chứng được Tam muội này. Thủ lăng nghiêm tam muội gồm 100 hạng mục như tu sửa tâm giống như hư không, quán xét các tâm của chúng sinh hiện tại, phân biệt các căn cùn lụt hay sắc bén của chúng sinh, quyết định biết rõ nhân quả của chúng sinh... Tam muội này không thể dùng 1 việc 1 duyên 1 nghĩa mà biết được, tất cả thiền định giải thoát tam muội, thần thông như ý, trí tuệ vô ngại đều ở trong định Thủ lăng nghiêm, ví như các dòng nước từ khe, suối, sông, ngòi... đều chảy ra biển cả. Cho nên các thiền định của Bồ tát đều nằm trong Tam muội Thủ lăng nghiêm; tất cả Tam muội môn, Thiền định môn, Biện tài môn, Giải thoát môn, Đà la ni môn, Thần thông môn, Minh giải thoát môn... đều được thu nhiếp trong Thủ lăng nghiêm Tam muội. Kinh Niết bàn quyển 25 (bản Nam) cho rằng Phật tính tức là Thủ lăng nghiêm tam muội; Thủ lăng nghiêm tam muội này có 5 tên gọi: Thủ lăng nghiêm tam muội, Bát nhã ba la mật, Kim cương tam muội, Sư tử hống tam muội và Phật tính. Thủ lăng nghĩa là tất cả đều rốt ráo; Nghiêm nghĩa là cứng chắc. Tất cả rốt ráo mà được vững chắc, gọi là Thủ lăng nghiêm, cho nên gọi Thủ lăng nghiêm tam muội là Phật tính. [X. kinh Đại bátniết bàn Q.27 (bản Bắc); Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.9].
thủ lăng nghiêm tam muội kinh
Shou-leng-yen san-mei ching (C), ŚŪraṅgama-samādhi-nirdeśa-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; (首楞嚴三昧經) Phạm: Zùraôgaôa-mahà-sùtra. Gọi tắt: Thủ lăng nghiêm kinh, Cựu Thủ Lăng Nghiêm kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Cưu malathập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Bản dịch khác là Đại Phật đính thủ lăng nghiêm kinh (10 quyển, do ngài Bátlạtmậtđế dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 19). Nội dung kinh này tường thuật việc bồ tát Kiên ý thưa hỏi đức Phật có thể mau chứng được tam muội Bồ đề chăng, Phật bèn giảng cho nghe về Thủ lăng nghiêm tam muội(Dũng phục định). Sau đó, tôn giả Xá lợi phất thỉnh vấn đức Phật là Tam muội có thể xa lìa cảnh ma được không thì Phật liền phóng ánh sáng, hiện rõ tất cả cảnh ma và dùng Thủ lăng nghiêm tam muội hàng phục các cảnh đó. Ngày xưa, kinh này còn có các bản dịch khác của các ngài Chi lâu ca sấm, Chi khiêm, Bạch diên, Trúc pháp hộ, Trúc thúc lan, Chi thi luân... nhưng nay đều đã thất truyền. Ngài Chi mẫn độ từng căn cứ vào các bản dịch khác ghi trên mà vựng tập 3 bản của ngài Chi khiêm, Trúc pháp hộ và Trúc thúc lan mà soạn thành Hợp thủ lăng nghiêm kinh 8 quyển. Vào thời đại Lục triều, kinh Thủ lăng nghiêm rất được trân trọng. Như Pháphiển truyện (Đại 51, 863 thượng) nói: Thủa xưa, đức Phật nói kinh Thủ lăng nghiêm ở đây, Pháphiển sinh ra không được gặp Phật, chỉ thấy di tích chỗ này mà thôi, rồi tụng Thủ lăng nghiêm trước hang đá và nghỉ lại đó một đêm. Kinh này từ xưa đã thịnh hành ở Ấn độ, thời gần đây, các nhà khảo cổ đã tìm được những mảnh rời rạc bằng tiếng Phạm của kinh này ở vùng Tâncương. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.3].
thủ lăng nghiêm định
Suramgama dhyàna or samàdhi.
; Samadhi as a state of valiant onward progress. ** For more information, please see Vương Tam Muội.
thủ lư
Lư hương có thể mang tay được (thường có tay cầm)—A portable censer (usually with handle).
thủ môn thiên
Dvārapala (S)Vị trời gát cửa.
; Vị trời giữ cửa tự viện—The deva gate-guardian of a temple.
; (守門天) Phạm:Dvàrapàla. Hán âm: Na phạ la bát la. Trời giữ cửa. Chỉ cho 2 vị tôn ở hai bên cửa viện ngoài của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn ở cửa Bắc tay phải cầm kiếm, tay trái cầm hoa sen, mặt hướng về bên trái, ngồi chống thẳng gối bên trái; còn vị tôn ở cửa Nam thì tay phải cầm kiếm, tay trái nắm lại đặt ngang hông và ngồi. Hình tượng2vị tôn này đều có màu da người mặc áo giáp. Về ấn ngôn(ấn khế và chân ngôn) thì vị tôn ở cửa Bắc dùng ấn ngôn của Bất khả việt thủ hộ môn, vị tôn ở cửa Nam sử dụng ấn ngôn Tương hướng thủ hộ môn.
thủ môn thiên nữ
Dvārapali (S).
; (守門天女) Phạm:Dvàrapàlì. Hán âm: Na phạ la bát lê. Thiên nữ đứng giữ cửa. Chỉ cho 2 vị tôn ở hai bên cửa Đông viện ngoài của Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn ở cửa Bắc có thân hình màu da người, 2 tay cầm hoa sen nở, quì gối hướng về bên trái. Vị tôn ở cửa Nam cũng có thân hình màu da người, tay phải nắm lại đặt ở trước ngực, tay trái cầm chày một chĩa, đứng hướng về bên phải. Về ấn ngôn thì vị tôn ở cửa Bắc dùng ấn ngôn Tương hướng thủ hộ môn, vị tôn cửa Nam thì dùng ấn ngôn Bất khả việt thủ hộ môn.
thủ nhân giả thiết luận
Prajāpti-hetu-sangraha śāstra (S)Do ngài Trần Na biên soạn.
; (取因假設論) Tác phẩm, 1 quyển, dobồtát Trầnna soạn, ngài Nghĩatịnh dịch vào đời Đường, được xếp vào Đại chính tạng tập 31. Trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 do ngài Nghĩa tịnh soạn có liệt kê Nhân minh bát luận do bồ tát Trần na soạn, trong đó Thủ sự thi thiết luận có lẽ là giống với sách này. Nội dung luận này nói về việc đức Phật tiếp hóa chúng sinh đều dựa vào việc giả thi thiết mà nói pháp yếu. Thủ nhân giả thiết có nghĩa là giả đặt ra các phương tiện. Nhân chỉ cho tổng tụ, tương tục, phần vị sai khác... những việc ở thế gian đều là giả thiết dựa theo 3 nhân vừa kể trên đây mà được lập ra, cho nên không thể chấp trước 1 tính, nhiều tính, không có tính... đối với các giả thuyết này. Tìm hiểu ý nghĩa giả thuyết trong luận này có thể thấy được phần nào sự giải thích của ngài Trần na đối với thuyết Duy thức.
thủ nhất
(守一) Đồng nghĩa: Thủ tâm. Giữ một. Nghĩa là giữ một tâm chân như. Lại quán xét bản thể của tâm chính là Phật tính, hai bên động, tĩnh đều dứt bặt, đạt đến cảnh giới bình đẳng nhất vị, gọi là Thủ nhất bất di(giữ một không dời). Đây là 1 trong 5 phương pháp xét tâm do ngài Đạo tín (580-651) đề xướng. [X. chương Tứ tổ Đạo tín trong Lăng Già sư tư kí].
thủ nhất thiết tinh la sát nữ
Xem Đoạn Nhất Thiết Chúng sanh Tinh khí La sát nữ.
thủ pháp
To observe the laws—To kep the law.
thủ phận
To be content with one's lot.
thủ quả dữ quả
(取果與果) Thủ quả (Phạm:Phalaô pratigfhịàti; Dữ quả (Phạm:Phalaô dadàti); gọi tắt là Thủ dữ. Nói theo đời hiện tại (tức 1 sát na trong hiện tại) thì tất cả muôn pháp sinh thành hiện tại đều gọi là Nhân, từ trong nhân chọn lấy quả có năng lực sinh ra pháp tương ứng, tức gọi là Thủ quả. Trái lại, đứng về phương diện giúp cho năng lực tác động mà nói, thì khi vạn pháp sắp sinh thành, cái năng lực tác động giúp cho chúng nãy sinh kết quả, tức gọi là Dữ quả. Các học giả Tiểu thừa cho đây là tác dụng nhân duyên sinh khởi tất cả pháp, đồng thời, khi giải thích về 6 nhân, 4 duyên... trong Nhân quả luận, có nói rất rõ về vị trí trong 3 đời (hiện tại, quá khứ, vị lai) của Thủ quả và Dữ quả. Theo thuyết của luận Câu xá quyển 6 thì trong 6 nhân, trừ Năng tác nhân thuộc pháp hữu vi, 5 nhân còn lại là Câu hữu nhân, Đồng loại nhân, Tương ưng nhân, Biến hành nhân và Dị thục nhân đều có Thủ quả, Dữ quả. Vì Thủ quả có khả năng trở thành nhân để nhận lấy hậu quả, cho nên tác dụng của nó đều ở hiện tại, còn Dữ quả thì tùy theo nhân của nó mà có 3 đời khác nhau. Tức là Câu hữu nhân và Tương ứng nhân đều là sinh cùng một lúc và lần lượt nhận lấy quả Sĩ dụng, cho nên chúng cùng với quả cũng ở hiện tại, tức là Thủ quả và Dữ quả đồng thời. Còn Đồng loại nhân và Biến hành nhân, khi nhận lấy quả Đẳng lưu cách xa thì Dữ quả ở quá khứ, nếu khi nhận lấy quả Đẳng lưu không gián cách thì Dữ quả ở hiện tại. Nhưng nói chung theo Đồng loại nhân thì khi Dữ quả tất nhiên cũng Thủ quả; tuy vậy, cũng có trường hợp Thủ quả mà không Dữ quả, như thân Ngũ uẩn sau cùng của bậc A la hán. Còn về quả Dị thục thì vì quả này không sinh khởi cùng lúc với nhân, cũng không sinh một cách liên tục, cho nên Dữ quả của nhân Dị thục chỉ có trong quá khứ chứ không có ở hiện tại. Lại theo luận Đại tì bà sa quyển 21 thì có thuyết cho rằng Năng tác nhân cũng có Thủ quả và Dữ quả, nghĩa là Năng tác nhân ở hiện tại Thủ quả, ở quá khứ, hiện tại Dữ quả; cũng có thuyết chủ trương Năng tác nhân ở quá khứ, hiện tại Thủ quả; ở quá khứ, hiện tại Dữ quả. Về Thủ quả, Dữ quả của 4 duyên thì có thuyết cho rằng Thủ quả, Dữ quả của Nhân duyên giống với 5 nhân, của Tăng thượng duyên giống với Năng tác nhân, của Đẳng vô gián duyên và Sở duyên duyên thì Thủ quả, Dữ quả ở quá khứ và hiện tại. Nhưng vì thuyết Thủ quả, Dữ quả mỗi nhà giải thích một cách khác nên chưa thể kết luận một cách dứt khoát. [X. luận Thuận chính lí Q.8; luận A tì đạt ma hiển tông Q.3; Câu xá luận quang kí Q.6; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần cuối]. (xt. Lục Nhân).
thủ sơn cương yếu
(首山綱要) Giềng mối cốt yếu của Thủ Sơn. Chỉ cho 8 câu pháp kệ biểu thị tông phong của Thiền sư Thủ sơn Tỉnh niệm. Chương Thủ sơn Tỉnh niệm trong Thiền lâm tăng bảo truyện quyển 3 (Vạn tục 137, 228 thượng) ghi: Đốt tai chuyết lang quân! Xảo diệu vô nhân thức Đả phá Phụng lâm quan Trước hài thủy thượng lập. Đốt tai xảo nữ nhi! Thoán toa bất giải chức Khán tha đấu kê nhân Thủy ngưu dã bất thức. (Chao ôi! Anh chàng vụng Khéo léo chẳng ai biết Phá vỡ ải Phượng lâm Xỏ giày đứng trên nước Chao ôi! Cô nàng khéo Đưa thoi không biết dệt Xem người khác đá gà Con trâu cũng không biết). Tám câu pháp kệ này nổi tiếng trong Thiền lâm, người đời gọi là Thủ sơn cương yếu.
thủ sơn tam cú
(首山三句) Tên công án trong Thiền lâm. Cơ duyên ngữ cú tiếp hóa người học của Thiền sư Thủ sơn Tỉnh niệm. Thung dung lục tắc 76 (Đại 48, 275 thượng) ghi: Thủ sơn dạy chúng rằng: Câu thứ nhất tiến lên được, cùng với Phật, Tổ làm thầy; câu thứ 2 tiến lên được, cùng với người, trời làm thầy; câu thứ 3 tiến lên được, cứu mình không xong! Tăng hỏi: Hòa thượng tiến lên ở câu thứ mấy? Sư đáp: Trăng lặn canh ba xuyên qua chợ.
thủ sơn trúc bề
(首山竹篦) Tên công án trong Thiền lâm. Thanh tre của Thiền sư Thủ sơn Tỉnh niệm. Thiền sư dùng cây trúc bề để đánh thức người học trút bỏ các kiến chấp, mở ra cho họ cảnh giới vô ngôn. Điều Nhữ châu Diệp huyện Qui tỉnh thiền sư trong Thiên thánh quảng đăng lục quyển 16 (Vạn tục 135, 372 hạ) ghi: Về sau, sư xuống miền Nam tham kiến Thiền sư Tỉnh niệm ở Nhữ châu, thấy sư đến, ngài Tỉnh niệm dựng cây trúc bề lên nói:- Không được gọi là trúc bề,vì nếu gọi là trúc bề thì tức Xúc(tham đắm các trần cảnh) mà không gọi là trúc bềthì tức Bội (nhàm chán sinh tử). Vậy thì gọi là gì? Sư bước tới gần, cầm cây trúcbề ném xuống dưới thềm, hỏi:Ô đâu? Ngài Tỉnhniệm nói: Đồ mù! Ngay câu nói đó sư đại ngộ. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.11; Tông môn thống yếu tục tập Q.11; Tông môn niêm cổ vậng tập Q.39; Thung dung lục tắc 65].
thủ sơn tân phụ
(首山新婦) Tên công án trong Thiền tông. Thủ sơn và người con dâu mới cưới. Thiền sư Thủ sơn Tỉnh niệm mượn câu chuyện nàng dâu mới cưới cỡi lừa về nhà chồng để ví dụ cảnh giới Phật vốn tự nhiên phong quang, tức là cảnh giới thiên chân củaTự tính.Cổ tôn túc ngữ lục quyển 8 (Vạn tục 118, 125 thượng) ghi: Hỏi: Phật là thế nào? Sư đáp: Cô dâu cỡi lừa, mẹ chồng dắt đi. Tăng hỏi: Chưa biết câu nói này được thu vào đâu? Sư đáp: Tam huyền thu chẳng được, Tứ cú há được sao? Tăng hỏi: Ý này thế nào? Sư đáp: Trời dài đất lâu, mặt trời mặt trăng đều sáng. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.11; Tông môn niêm cổ vậng tập Q.39].
Thủ Sơn Tỉnh Niệm
(首山省念, Shuzan Shōnen, 926-993): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người kế thừa dòng pháp của Phong Huyệt Diên Chiểu (風穴延沼), xuất thân vùng Lai Châu (萊州, thuộc Tỉnh Sơn Đông), họ là Địch (狄). Ông đến xuất gia tại Nam Thiền Viện (南禪院) ở trong làng và đắc độ với Phong Huyệt (風穴). Sau ông đến trú tại Thủ Sơn (thuộc Lâm Nhữ, Tỉnh Hà Nam) và trở thành vị tổ khai sáng nơi đây. Về sau, ông lại chuyển đến sống ở Quảng Giáo Thiền Viện (廣敎禪院) tại Bảo An Sơn (寳安山), rồi đến Bảo Ứng Thiền Viện (寳應禪院). Vào ngày mồng 4 tháng 12 năm thứ 4 niên hiệu Thuần Hóa (淳化), ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi đời và 49 hạ lạp. Ông có để lại cuốn Nhữ Châu Thủ Sơn Niệm Hòa Thượng Ngữ Lục (汝州首山念和尚語錄) 1 quyển.
; 首山省念; C: shǒushān xǐngniàn; J: shuzan shōnen; 925-993;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, đệ tử xuất sắc nhất của Phong Huyệt Diên Chiểu. Sư là người gìn giữ tông Lâm Tế trước cơ nguy tàn lụi. Thiền sư Phong Huyệt đã tỏ nỗi lo rằng chính pháp của Lâm Tế sẽ thiên hoá cùng với mình vì không tìm được người nối dõi. Nhưng sau đó Sư đến hội Phong Huyệt và được ấn chứng. Trong thời loạn (hậu Ðường sang đời Tống), Sư ẩn cư không để lộ tung tích. Sau khi bình yên lại, Sư mới bắt đầu tụ chúng và giáo hoá. Sư có 16 truyền nhân, trong đó Phần Dương Thiện Chiêu xuất sắc nhất, người đã đưa Thiền tông lên hàng đầu trong các môn phái đạo Phật đời Tống.|Sư họ Ðịch, quê ở Lai Châu, xuất gia tại chùa Nam Thiền. Vừa thụ giới cụ túc xong, Sư diêu du khắp nơi và thường tụng kinh Pháp hoa nên Sư cũng có biệt danh là Niệm Pháp Hoa.|Sau, Sư đến pháp hội của Thiền sư Phong Huyệt và được cử làm Tri khách. Một hôm, Sư đứng hầu, Phong Huyệt than với Sư: »Bất hạnh! Ðạo Lâm Tế ta sắp chìm lặng vậy.« Sư nghe vậy thưa: »Xem trong đại chúng đâu không có người kế thừa Hoà thượng?« Phong Huyệt bảo: »Người thông minh thì nhiều, kẻ kiến tính rất ít.« Sư thưa: »Như con, Hoà thượng xem thế nào?« Phong Huyệt bảo: »Ta tuy trông mong ở ngươi đã lâu nhưng vẫn e ngại đắm mến kinh này không thể buông rời.« Sư thưa: »Việc này có thể làm được, mong nghe yếu chỉ ấy.« Phong Huyệt thượng đường, nhắc lại việc đức Phật dùng cặp mắt như sen xanh nhìn đại chúng, bèn hỏi: »Chính khi ấy hãy bảo nói cái gì? Nếu bảo chẳng nói mà nói, lại là chôn vùi thánh trước. Hãy bảo nói cái gì?« Sư liền phủi áo đi ra. Phong Huyệt ném gậy trở về phương trượng. Thị giả chạy theo Phong Huyệt hỏi: »Niệm Pháp Hoa sao chẳng đáp lời Hoà thượng?« Phong Huyệt bảo: »Niệm Pháp Hoa đã hội.«|Sư đến Thủ Sơn trụ trì. Ngày khai đường có vị tăng hỏi: »Thầy xướng gia khúc tông phong ai, Nối pháp người nào?« Sư đáp: »Thiếu Thất trước núi xem bàn tay.« Tăng hỏi: »Lại thỉnh hồng âm hoà một tiếng?« Sư đáp: »Như nay cũng cần toàn thể biết.«|Sư dạy chúng: »Phật pháp không nhiều, chỉ vì nơi các ông tự tin chẳng đến. Nếu các ông tự tin thì ngàn vị Thánh ra đời cũng không làm gì được các ông. Vì sao như thế? Vì trước mặt các ông không có chỗ mở miệng. Chỉ vì các ông không có tự tin, chạy ra ngoài tìm cầu. Sở dĩ đến được trong ấy bèn là Phật Thích-ca, sẽ cho các ông ba mươi gậy. Tuy nhiên như thế, kẻ sơ cơ hậu học vào bằng đạo lí nào? Hãy hỏi các ông được cùng ấy hay chưa?« Sư im lặng giây lâu nói tiếp: »Nếu được cùng ấy mới là vô sự.«|Một giai thoại của Sư được nhắc lại trong Vô môn quan, Công án 43. Sư giô gậy trúc lên nói: »Này các ông, nếu gọi là gậy trúc thì xúc phạm, không gọi là gậy trúc thì trái nghịch, vậy gọi là gì?«|Ðời Tống, niên hiệu Thuần Hoá năm thứ ba (992), giờ Ngọ ngày mùng 4 tháng chạp, Sư nói kệ:|Kim niên lục thập thất|Lão bệnh tuỳ duyên thả khiển nhật|Kim niên kí thước lai niên sự|Lai niên kí trước kim triêu nhật.|*Năm nay sáu mươi bảy|Già bệnh tuỳ duyên hãy đuổi theo|Năm nay ghi lại việc năm tới|Năm tới ghi chắc việc ngày nay.|Ðến năm sau đúng ngày giờ nói trước, Sư từ biệt chúng và nói kệ:|Chư tử mạn ba ba|Quá khước cơ Hằng hà|Quan Âm chỉ Di-lặc|Văn-thù bất nại hà?|*Các con dối lăng xăng|Lỗi nhiều cát sông Hằng|Quan Âm chỉ Di-lặc|Văn-thù biết làm sao?|Sau khi im lặng giây lát, Sư lại nói kệ:|Bạch ngân thế giới kim sắc thân|Tình dữ phi tình cộng nhất chân|Minh ám tận thời câu bất chiếu|Nhật luân ngọ hậu kiến toàn thân.|*Thế giới bạch ngân thân sắc vàng|Tình với phi tình một tính chân|Tối sáng hết rồi đều chẳng chiếu|Vầng ô vừa xế thấy toàn thân.|Mặt trời vừa xế, Sư ngồi yên thị tịch, thọ 68 tuổi.
thủ sơn tỉnh niệm
Shou-shan Sheng-nien (C), ShŪzan Shōnen (J), Shou-shan Hsing-nien (C)(926-993) Thuộc dòng thiền Lâm Tế Nghĩa huyền, đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Phong Huyệt Diên Chiểu.
thủ sơn tỉnh niệm thiền sư ngữ lục
(首山省念禪師語錄) Cũng gọi Nhữ châu Thủ sơn Niệmhòa thượng ngữ lục, Thủ sơn Niệm hòa thượng ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Thủsơn Tỉnh niệm soạn vào đời Tống, ấn hành vào khoảng năm Thiệuhưng (1131-1162), được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 8 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung sách này thu chép các mục như: Thướng đường thị chúng ngữ yếu lúc đầu ở Thủsơn, kế ở Quảng giáo viện và Thướng đường ngữ, Tiểu tham thị chúng, Kính thanh thập nhị vấn đáp đại ngữ, Khám biện, Thị chúng kệ tạng, Tứ tân chủ tụng... ở Bảo ứng nam viện.
thủ tháp tỉ khâu
(守塔比丘) Cũng gọi Thủtháp tăng. Chỉ cho vị tỉ khưu giữ gìn thápTổ, hoặc chuyển sang chỉ cho lời tự xưng của 1vị Trụ trì.
thủ thân
To protect oneself.
thủ thế
To take one's guard—Defensive.
thủ thỉ
To talk confidentially—To whisper.
thủ thứ ngữ
Sự giải thích lỏng lẻo kém cỏi—Easy, facile, loose talk or explanations.
; (取次語) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho lời nói khinh suất, dễ dãi. Nghĩa chủ chốt của tông môn không thể dùng lời nói mà diễn đạt hết được, cho nên không thể dùng lời khinh suất mà luận đoán yếu nghĩa của tông môn. Còn người học thì cũng phải bước vào lãnh vực thực tế, đích thân chứng ngộ, chứ không thể dễ dãi tin vào lời nói suông của người khác và lấy đó làm con đừơng cầu đạo của chính mình. Lâm tế lục thị chúng (Đại 47, 498 trung) nói: Này người cầu đạo! Chớ lấy những lời(thủ thứ ngữ)ấn chứng hay phá bỏ của các bậc tông sư các nơi làm cứu cánh mà cho mình đã hiểu thiền hiểu đạo.
thủ tiêu
To abolish—To annul.
thủ tiết
To remain unmarried after the death of one's husband.
thủ toà
(首座) I. Thủ tọa. Tên một chức quan Tăng. Theo Thích thị kê cổ lược quyển 3 thì năm Đại trung thứ 10 (856) đời vua Tuyên tông nhà Đường,Pháp sư Biệnchương được ban chức Tam giáo thủ tọa. Đây là lần đầu tiên chức Tam giáo thủ tọa được thiết lập; sau, cácvị tăng tinh thông kinh luận cũng được sắc phong làm Thủ tọa. Đến cuối đời Đường, đầu đời Tống, chức này mới được Thiền gia chuyên dùng. II. Thủ tọa. Cũng gọi Thượng tọa, Thủ chúng. Một trong 6 vịĐầu thủ của Tăng đường, tức vị tăng đứng đầu tiêu biểu cho uy nghi, làm khuôn phép, gương mẫu cho chúng tăng. Trong tùng lâm, vị này ngang hàng với bậc trưởng lão; ở trongam, đồng vị với Am chủ. Làm việc siêng năng, đức hạnh trong sáng, không tình yêu ghét, dứt niệm thị phi, là tấm gương cho đại chúng soi chung, là đạo nghiệp của một chúng. Thông thường chuyên dùng trong Thiền gia cũng gọi là Đệ nhất tọa, Tọa nguyên, Lập tăng, Thiền đầu, Thủ chúng... có thể được chia làm mấy loại như: Tiền đường thủ tọa, Hậu đường thủ tọa, Lập tăng thủ tọa, Danh đức thủ tọa, Khước lai thủ tọa... [X. điều Thủ tọa trong Thiền uyển thanh qui Q.3; Huyễn trụ am thanh qui; điều Tây tự đầu thủ, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. hạ].
thủ trung
Loyal.
thủ trì y
(守持衣) Chỉ cho tấm áo ca sa nhỏ nhất, được mặc khi làm việc hàng ngày, hoặc mặc lúc ngủ.Theo Thích thị yếu lãm quyển thượng thì An đà hội(ca sa 5 điều) có hai loại: 1. Chiều dọc 3 khuỷu tay, chiều ngang 5 khuỷu tay. 2. Chiều dọc 2 khuỷu tay, chiều ngang 4 khuỷu tay. Loại thứ hai này là Thủ trì y, chỉ đủ che kín phần rốn và 2 đầu gối, xem kĩ thì biết rõ là loại Lạc tử(xà rông) ngày nay. [X.Hữu bộbách nhất yết ma Q.10; Hữu bộ tì nại da Q.17]. (xt. An Đà Hội).
thủ trước
To grasp, hold on to, or be held by any thing or idea
; Thủ chấp các pháp không lìa bỏ (theo Kinh Niết Bàn: “Hết thảy phàm phu đều thủ trước từ sắc đến thức. Vì mê chấp sắc mà sinh lòng tham, vì tham mà bị trói buộc vào sắc và thức, vì bị ràng buộc nên không thể tránh khỏi khổ đau phiền não, buồn lo, sinh, lão, bệnh, tử)—To grasp—To hold on to, or be held by anything or idea.
; (取著) Chấp chặt lấy đối tượng, tham đắm không chịu lìa bỏ. Đây là cảnh giới của phàm phu. Phàm phu thấy các đối tượng ngoài tâm là có thật, còn đối với bản thân thì chấp có ta và của ta, đây đều do tác dụng chấp ngã mà khởi. Vì sự thủ trước này mà sinh tham dục, có tham dục nên bị tất cả phiền não sinh não, bệnh tử trói buộc không gỡ ra được. [X. luận Đại thừa khởi tín (Bản dịch của ngài Chânđế)]
thủ tuân phật đăng
See Phật Đăng Thủ Tuân.
thủ tín
To inpsire confidence.
Thủ Tòa
(首座, shuso): người đứng đầu của tăng chúng trong Thiền lâm, còn được gọi là Thiền Đầu (禪頭), Thủ Chúng (首眾), Thượng Tòa (上座), Tòa Nguyên (座元), Lập Tăng (立僧), Đệ Nhất Tòa (第一座), v.v. Ngoài ra còn có 4 loại Thủ Tòa khác là Tiền Đường Thủ Tòa (前堂首座), Hậu Đường Thủ Tòa (後堂首座), Lập Tăng Thủ Tòa (立僧首座) và Danh Đức Thủ Tòa (名德首座). Ngày xưa, chức này là một trong 6 vị đứng đầu và chiếm hàng nhất trong Thiền lâm; nhưng sau đó trong thời gian 9 tuần An Cư (s: vārṣika, p: vassa, 安居), nó được dùng như là chức danh đứng hàng đầu trong Tăng chúng mà thôi.
thủ tòa
Chỗ ngồi chính trong tự viện hay pháp hội—The chief seat in a monastery, or in an assembly.
thủ túc
Hands and feet—Loyal followers.
thủ túc chỉ mạn võng tướng
(手足指縵網相) Phạm: Jàlàvanaddha-hasta-pàda. Cũng gọi Chỉ võng man tướng, Câu hữu võng mạn tướng, Thủ túc võng man tướng, Thủ túc chỉ mạn tướng. Tướng tay chân có mạng, 1 trong 32 tướng của đức Phật. Tay chân của Phật kẽ giữa mỗi ngón có một màng da màu vàng mỏng như mạng lưới nối liền các ngón tay, giống như chân của loài ngỗng chúa. Vì khi còn ở địa vị tu nhân, đức Phật thường tu 4nhiếp pháp, nhiếp thủ chúng sinh, cho nên cảm được diệu tướng này; giống như loài chim bắt cá, nó có thể bay đi trên cạn hay bơi lặn dưới nước dễ dàng. Hình ảnh này dùng để ví dụ đức Phật vào sông ái, lưu chuyển trong 3 cõi một cách tự tại vô ngại để cứu vớt chúng sanh trong 5 đường đang bị các đợt sóng phiền não ác nghiệp cuốn trôi mà đưa họ đến bến bờ vô vi giải thoát. [X. kinh Đại bát nhã Q.381; luận Đại tì bà sa Q.117]. (xt. Tam Thập Nhị Tướng).
thủ tướng
The state of holding to the illusions of life as realities,
; Vọng hoặc chấp thủ vào tướng sự lý hay mê chấp thế giới hiện tượng—The state of holding to the illusions of life as realities. **For more information, please see Tam Hoặc
thủ tướng hoặc
(取相惑) Phiền não chấp chặt lấy tướng. Tức là chấp lấy tướng 2 bên là sinh tử và Niết bàn, gọi là Thủ tướng hoặc. Thông thường chỉ cho 3 hoặc Kiến tư, Trần sa và Vô minh. Cứ theo Thiên thai tứ giáo nghi thì Tập đế chính là Kiến tư hoặc, cũng gọi Kiến tu hoặc, Tứ trụ hoặc, Nhiễm ô vô tri, Thủ ướng hoặc. Vì chẳng biết các pháp không nên lấy Kiến tư hoặc làm chính, vọng thủ tướng sinh tử trong 6 đường nên gọi là Thủ tướng hoặc. Còn trần sa hoặc thì chấp lấy tướng Niết bàn, Vô minh hoặc chấp lấy tướng 2 bên, cũng gọi là Thủ tướng hoặc. Từ ngữ Thủ tướng có xuất xứ từ luận Đại trí độ quyển 46 (Đại 25, 395 hạ) nói: Lúc đầu còn chấp tâm thủ tướng, Bồ tát tu phúc đức, như trong cỏ sinh lửa, dễ bị dập tắt; nếu thể ngộ thực tướng, Bồ Tát dùng tâm đại bi tu hành các hạnh, như lửa sinh trong nước, không thể dập tắt được. [X. chương Bồ đềđạtma trong Lăng già sư tư kí; Thiênthai tứ giáo nghi tập chú Q. trung; Ma ha chỉ quán Q.6 hạ]. (xt. Tam Hoặc).
thủ tướng phân biệt chấp trước trí
Cái trí làm cho người ta chấp vào các tướng trạng của đặc thù và tiến hành sự phân biệt sai lầm. Trí nầy trái nghịch với Quán Sát Trí—The knowledge which makes one clings to signs of individuality and work out false discrimination. This knowledge is contrasted to the Pravicaya-buddhi—See Quán Sát Trí.
thủ tướng sám
To hold repentance before the mind until the sign of Buddha's presence annihilates the sin.
; (取相懺) Cũng gọi Thủ tướng sám hối, Quán tướng sám hối. Một trong 3 pháp sám hối được ghi trong Kim quang minh kinh văn cú kí quyển 3, thuộc về Sự sám pháp. Thủ tướng có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho sự vọng chấp lấy tướng các pháp. 2. Chỉ cho sự cảm lấy điềm tướng tốt lành của Phật, Bồtát. Thủ tướng sám là dùng nghĩa cảm lấy, tức pháp sám này là nhập thiền định lắng tâm tưởng niệm sám hối để mong cảm lấy điềm lạ của Phật, Bồ tát mà tiêu trừ phiền não tính tội. Cũng có nghĩa là nếu cảm được một tướng tốt lành thì trừ diệt được 1 tội nghiệp. Tướng tốt lành(thụy tướng) nói ở đây tức chỉ cho 12 thứ hảo tướng như gió mát mẻ, hương thơm vi diệu, ánh sáng, lầu gác báu... mà Phật hiển hiện. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.2; Duy ma kinh văn sớ quyển 15].
thủ tướng sám (hối)
Một trong ba phép sám hối, cầu sự có mặt của Phật để được tận trừ tội lỗi. Định tâm tin chắc rằng Phật xoa đầu và xả tội cho mình—One of the three ways of repentance, to seek the presence of the Buddha to rid one of sinful thoughts and passions. To hold repentance before the mind until the sign of Buddha's presence annihilates the sin. ** For more information, please see Tam Chủng Sám Hối Pháp.
thủ tả
Lekhana (S)Vết chép kinh điển.
thủ tọa
The chief seat, president, chief.
; Vị tăng đứng đầu trong tự viện—Head Monk, or president of a monastery.
thủ tục
Procedure—Formality.
thủ từ
Temple (pagoda, monastery) guardian or caretaker.
thủ tự
See Thủ từ.
thủ tự tỉ khâu
(守寺比丘) Chỉ cho vị tỉ khưu thay phiên canh giữ chùa. Đại tống tăng sử lược quyển trung (Đại 54, 245 thượng) nói: Hoặc cắt trực tuế thì trực 1 năm; hoặc cắt trực nguyệt thì trực 1 tháng; hoặc cắt bán nguyệt thì trực nửa tháng; hoặc cắt trực nhật thì trực 1 ngày, đều là để làm đẹp lòng chúng.
thủ uẩn
Upādāna-kkhandha (P), Upādāna-skanda (S), Aggregate Sự thủ trước các pháp hữu lậu.
; The skandhas which give rise to grasping or desire, which in turn produces the skandhas.
; Ngũ uẩn sanh ra chấp trước và ham muốn, rồi từ chấp trước ham muốn lại nảy sanh ra ngũ uẩn—The skandhas which give rise to grasping or desire, which in turn produces the skandhas.
; (取蘊) Phạm: Upàdàna-skandha. Tên khác của hữu lậu. Có 3 nghĩa: 1. Do Uẩn(sự chứa nhóm, tụ tập)mà sinh Thủ(sự nắm giữ lấy). 2. Do Thủ mà sinh Uẩn. 3. Uẩn nương tựa vào Thủ. Thủ cũng là tên khác của phiền não, còn Uẩn thì thông cả 3 đời, có trong ngoài, gần xa, hơn kém khác nhau, là pháp hữu vi có khả năng tụ tập. Bởi vì pháp hữu lậu là do Thủ sinh ra, thuộc về Thủ, rồi lại sinh khởi sự thủ trước(nắm chặt lấy)các pháp phiền não hữu lậu, cho nên gọi là Thụ uẩn. [X. kinh Tạp a hàm Q.2; luận A tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Du già sư địa Q.65; luận Thành duy thức Q.1]. (xt. Hữu Lậu).
thủ xướng
Khởi xướng—To make the first move—To initiate—To take the initiative.
Thủ xả 取捨
[ja] シュサ shusa ||| Grasping and letting go. Choice, option (ādāna-tyāga). => Lấy và xả bỏ. Chọn lựa (s: ādāna-tyāga).
thủ ôn
(守溫) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư thông hiểu các học thuyết nội, ngoại. Tương truyền, sư từng y cứ vào văn tự Ấn độ, tham cứu âm vận Trung quốc mà đặt ra 30 tự mẫu thuộc Hán ngữ cổ, là bản gốc của 36 tự mẫu đời Tống(chữ đại biểu cho 36 thanh mẫu của ngữ âm Hán ngữ). Các nhà âm vận học từ đời Tống về sau phần nhiều dùng theo những tự mẫu này. Sư để lại tác phẩm: Thanh trược vận kiềm 1 quyển. Các học giả thời gần đây đã tìm được bản chép tay Thủ ôn vận học tàn quyển của sư ở Đônhoàng, tỉnh Camtúc, Trung quốc.
thủ đoan bạch vân thiền sư
Thiền Sư Thủ Đoan Bạch Vân sanh năm 1025 tại Hàn Giang, thuộc tỉnh Hồ Nam. Từ thuở thiếu niên sư đã có khiếu về nghệ thuật. Năm hai mươi tuổi sư thọ cụ túc giới với Thiền sư Úc ở Trà Lăng. Về sau sư đến tham vấn với sư Dương Kỳ, một vị thầy lớn của trường phái Lâm Tế, và sư giác ngộ ở đây—Shou-Tuan-Bai-Yun was born in 1025 in Heng-Yang, Hunan province. As youth, he was skilled at scholarly arts. He received ordinationation at age twenty from Zen master named You in Cha-Ling. Later he traveled to study with Yang-Xi, the great teacher of the Lin-Chi lineage, with whom he attained enlightenment. • Một hôm Dương Kỳ thình lình hỏi sư: “Bổn sư ngươi là ai?” Sư thưa: “Hòa Thượng Úc ở Đồ Lăng.” Dương Kỳ bảo: “Ta nghe ông ấy qua cầu bị té có tỉnh, làm một bài kệ kỳ đặc, ngươi có nhớ không?” Sư bèn nói lại bài kệ “Ngã hữu minh châu nhất khỏa, Cửu bị trần lao quan tỏa, Kim triệu trần tận quang sanh, Chiếu phá sơn hà vạn đóa.” (Ta có một viên minh châu, Đã lâu vùi tại trần lao, Hôm nay trần sạch sáng chiếu, Soi tột núi sông muôn thú. Zen Master Thích Thanh Từ dịch). One day Yang-Xi suddenly asked Bai-Yun: “Under what teacher were you ordained?” Bai-Yun said: “Master You in Tu-Ling.” Yang-Chi said: “I heard that he stumbled while crossing a bridge and attained enlightenment. He then composed an unusual verse. Do you remember it or not?” Bai-Yun then recited the verse: “I possess a lustrous pearl Long locked away by dust and toil. Now the dust is gone and a light shines Forth, Illuminating myriad blossoms with the mountains and rivers.” • Bất chợt Dương Kỳ cười rồi nhẩy tửng lên. Sư Bạch Vân ngạc nhiên suốt đêm không ngủ. Hôm sau sư đến thưa hỏi, gặp ngày cuối năm, Dương Kỳ hỏi: “Ngươi thấy mấy người hát sơn đông đêm qua chăng?” Sư thưa: “Thấy.” Dương Kỳ bảo: “Ngươi còn thua y một bậc.” Sư lấy làm lạ thưa: “Ý chỉ thế nào?” Dương Kỳ bảo: “Y thích người cười, ngươi sợ người cười.” Sư liền đại ngộ. Sư hầu Dương Kỳ thời gian khá lâu mới giã từ đi Viên Thông. Sư được Thiền Sư Nột cử sư trụ trì chùa Thừa Thiên.Tại đây tiếng tăm của sư lừng lẫy—Yang-Xi suddenly laughed out loud and jumped up. Bai-Yun was shocked by this behavior so much that he hardly slept that night. Early the next morning Bai-Yun came to question Yang-Xi about what had happened the night before. Yang-Xi asked: “Did you witness an exorcism last night?” Bai-Yun said: “Yes.” Yang-Xi said: “You don't measure up to it.” This startled Bai-Yun. He asked: “What do you mean?” Yang-Xi said: “I enjoyed someone's laughter. You fear someone's laughter.” Upon hearing these words, Bai-Yun experienced great enlightenment. Bai-Yun then served as Yang-Xi's attendant for a long period of time. He later travelled to Yuan-T'ung temple where, at the recommendation of the abbot Zen master Yuan-T'ung Na, he then assumed the abbacy of the temple and taught at Cheng-T'ien temple. There his reputation became widely known. • Một ngày nọ có một vị Tăng hỏi sư: “Thế nào là Phật?” Sư đáp: “Chảo dầu không chỗ lạnh.” Tăng hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Sư đáp: “Đáy nước thả trái bầu.” Tăng hỏi: “Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?” Sư đáp: “Quạ bay thỏ chạy.” Tăng hỏi: “Chẳng cầu chư Thánh, chẳng trọng kỷ linh, chưa phải là việc phần trên của nạp Tăng, thế nào là phần trên của nạp Tăng?” Sư đáp: “Nước chết chẳng chứa rồng.” Tăng hỏi: “Khi thế ấy đi thì sao?” Sư đáp: “Lừa chết ngươi.”—A monk asked Bai-Yun: “What is Buddha?” Bai-Yun said: “A hot soup pot has no cool spot.” A monk asked: “What is the great meaning of Buddhism?” Bai-Yun said: “Push the gourd beneath the water.” A monk asked: “Why did Bodhidharma come from the west?” Bai-Yun said: “Birds fly, rabbits walk.” A monk asked: “Praying to the holy ones, believing in one's self, there are not the concerns of a monk. What are the concerns of a monk?” Bai-Yun said: “Dead water does not conceal a dragon.” The monk asked: “And when it's like that, then what?” Bai-Yun said: “Gain kills you.” • Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Cổ nhân để lại một lời nửa câu, khi chưa thấu sờ đến giống hệt vách sắt, bỗng nhiên một hôm sau khi nhìn được thấu, mới biết chính mình là vách sắt. Hiện nay làm sao thấu? Sư lại nói: Vách sắt! Vách sắt!”—One day Zen master Bai-Yun entered the hall and addressed the monks, saying: “The ancients have passed down a few words, and before we penetrate them they are like an iron wall. Suddenly, one day, after we see through it, we know that we ourselves are an iron wall. What can be done to see through this question?” Zen master Bai-Yun also said: “An iron wall! An iron wall!” • Một hôm khác sư thượng đường thuyết pháp: “Nếu quả thực được một phen xuất hạn, liền nhằm trên một cọng cỏ hiện lầu quỳnh điện ngọc; nếu chưa quả thực được một phen xuất hạn, dù có lầu quỳnh điện ngọc lại bị một cọng cỏ che lấp mất, thế nào xuất hạn? Tự có một đôi tay khéo ấy, đâu từng xem nhẹ vũ tam đài.”—Another day Zen master Bai-Yun entered the hall to address the monks, saying: “If you go out and really work up a sweat, then when you see a single stalk of grass a jade palace is revealed. But if you don't put forth this type of effort, then even if you have a jade palace, a single stalk of grass will confound you. How can you really work up a sweat like this? As long as your two hands are tired, you'll never dance gaily in the three palaces.” • Sư thị tịch năm 1072—Zen master Shou-Tuan-Bai-Yun died in 1072.
thủ đoạn
Artifice—Plan—Trick.
thủ đà
Sùdra (S). The fourth of the four castes, peasants.
thủ đà la
SŪdra (S)Thú đà laGiai cấp thứ tư trong xã hội Ấn thời xưa còn gọi là người nô lệ, chỉ làm thuê, làm mướn.
; Sudra (skt)—Giai cấp thứ tư là giai cấp nô lệ, người làm mướn, lao động, và nông dân ở Ấn Độ—The fourth caste, i.e. of slaves, servants, labourers, farmers, etc.
; (首陀羅) Phạm:Zùdra. Pàli:Sudda. Cũng gọi Thú đà la, Thú đạt la. Gọi tắt: Thủ đà. Chỉ cho giai cấp thấp nhất trong 4 giai cấp ở xã hội Ấnđộ. Họ làm những việc thấp hèn như khiêng xác chết, hốt phân, nuôi gà lợn, đi săn bắn, làm đồ tể, bán rượu, đi lính... Họ là dân bản xứ bị giống người Aryans chinh phục, áp bức, không có quyền theo tông giáo, lễ thần, bị Bà la môn giáo khinh miệt là dân hèn hạ không có đời sau, cho nên gọi là Nhất sinh tộc(chủng tộc chỉ có1đời). Đối với vấn đề giai cấp, đức Phật chủ trương 4 giai cấp bình đẳng và chấp nhận cho giai cấp Thủ đà la xuất gia học đạo. [X. luận Đại trí độ Q25].
thủ đại
(守袋) Cũng gọi Thủ nang. Tiếng dùng của Phật giáo Nhậtbản. Chỉ cho loại túi nhỏ, may bằng vải kim lan, lụa hay gấm. Túi được dùng để đựngcác thứ như tượng Phật, tượng Bồtát, chủng tử mạn đồ la, bùa hộ thân, quyển kinh Phật khổ nhỏ, tượng chư thiên... Người mang túi này ở cổ, hoặc đeo ngang lưng, có công năng tránh được tai nạn. THỦ ĐOAN (1025-1072) Thiền sư Trung quốc thuộc phái Dương kì, tông Lâmtế, sống vào đời Tống, người ở Hànhdương, tỉnh Hồ nam, họ Chu (có thuyết nói họ Cát). Năm 20 tuổi, sư theo ngài Nhân úc ở Trà lăng xuất gia, sau đi các nơi tham học, khi tham yết Thiền sư Phương hội ở Dương kì được ấn khả và nối pháp của ngài. Về sau, do Thiền sư Viên thông Cư nột đề cử, sư trụ trì thiền viện Thừa thiên ở tỉnh Giang tây. Sau sư còn lần lượt trụ ở các Thiền viện như: Thiền viện Viên thông Sùng thắng, Thiền viện Chứng đạo, núi Pháp hoa, tỉnh An huy, Thiền viện Càn minh ở núi Long môn, Thiền viện Hưng hóa, Thiền viện Hải hội ở núi Bạch vân... để hoằng dương Phật pháp, mở rộng thiền phong. Năm Hininh thứ 5 (1072) đời Tống, sư thị tịch, hưởng dương 48 tuổi. Sư có các tác phẩm: Bạchvân Thủđoan thiền sư ngữ lục 2 quyển, Bạch vânđoan hòa thượng ngữ lục 4 quyển. [X. Tục truyền đăng lục Q.13; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Thích thị kê cổ lược Q.4].
thủ đồ đà na
Suddhodana (S). Xem Tịnh Phạn Vương.
; Suddhodana (skt)—See Tịnh Phạn Vương in Vietnamese-English Section.
thủ ấn
Muddāhattha (P), Mudrāhasta (S), Muddāhattha (P).
; Mudràhasta (S). Mystic positions of the hand (to make a seal).
; Mudra (skt)—Vị trí bí mật hay Ấn kết bằng những ngón tay—Mystic position of the hand (finger-prints).
; (手印) Cũng gọi Ấn khế, Ấn tướng, Mật ấn. Chỉ cho ấn khế được kết bằng các ngón tay.Ấn (Phạm:Mudrà;Pàli:Muddà; Hán âm: Mẫu đà la) nghĩa là kí hiệu, biểu thị qui phạm của giáo nghĩa, như Nhất pháp ấn, Tam pháp ấn. Bốn loại Mạn đồ la của Mật giáo gọi là Tứ trí ấn, đó là: Đại trí ấn (chỉ cho hình tượng của Phật, Bồ tát), Tam ma da trí ấn(biểu thị vật cầm hoặc hình dáng tay kết ấn của Phật và Bồ tát), Pháp trí ấn(biểu thị văn tự hình dung đức hạnh của Phật và Bồ tát), Yết ma trí ấn(biểu thị trí dụng tự lợi lợi tha của Phật và Bồ tát). Đây là dùng các khí vật cụ thể, hoặc tư thế tay kết ấn để biểu đạt cảnh giới chứng ngộ của Phật, Bồ tát. Ấn có hai loại Hữu tướng và Vô tướng khác nhau. Ấn Hữu tướng được biểu trưng bằng màu sắc, hình dáng, tư thái...; còn ấn Vô tướng thì không biểu trưng bằng màu sắc, hình dáng, tư thái... mà là ở chỗ thể hội được ý nghĩa chân thực. Nói chung, tất cả động tác như để chân xuống, giơ tay lên...đều là Vô tướng ấn. Thủ ấn có rất nhiều chủng loại. Phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật cho rằng 12 hợp chưởng(kiểu ấn chắp tay)và 6 thứ quyền(kiểu ấn nắm tay) là những Thủ ấn cơ bản(6 thứ quyền là Kim cương quyền, Liên hoa quyền, Nội phược quyền, Ngoại phược quyền, Nhưlai quyền và Phẫn nộ quyền). Vì người tu hành kết thủ ấn thì cảm nhận được uy lực của Phật, Bồ Tát và cùng với các Ngài trở thành một thể, cho nên lúc kết ấn, giải ấn cần phải cung kính, trân trọng và xin thầy đích thân trao cho. Hai tay(nhật nguyệt chưởng, nhị vũ)và 10 ngón tay kết thủ ấn đều bao hàm ý nghĩa khác nhau. Tay trái, tay phải lần lượt tượng trưng cho chỉ quán(tay trái là chỉ, tay phải là quán), định tuệ, quyền thực, từ bi..., từ ngón út đến ngón cái theo thứ tự biểu thị sắc, thụ, tưởng, hành, thức, hoặc địa, thủy, hỏa, phong, không. Thủ ấn đại biểu cho Phật là Trí quyền ấn của Đại nhật thuộc Kim cương giới; còn Thai tạng giới thì dùng Pháp giới định ấn của Đại nhật, Lực đoan định ấn của Di đà để tượng trưng cho Ngũ cổ ấn của Ngũ trí, Ngũ Phật. Ngoài ra còn có các ấn khác như Thí vô úy ấn, Dữ nguyện ấn, Xúc địa ấn... Hoa sen của bồ tát Quán âm, kiếm sắc của bồ tát Văn thù cho đến cây gậy mang đầu người của Diệm ma pháp vương... đều là Khế ấn cả. Lại nữa, người mới vào Mật giáo, trước hết phải học tập 18 đạo Khế ấn. (xt. Ấn Tướng).
Thủ ấn 手印
[ja] シュイン shuin ||| To indicate an encoded religious message with a hand sign. A mūdra; see 印相. => Biểu hiện điều ẩn mật thiêng liêng bằng qua các dấu hiệu bằng tay. Một loại ấn; Xem Ấn tướng 印相.
Thủ 取
[ja] シュ shu ||| (1) Obtain, take, hold, seize, grasp, gather. (2) Cognition through the faculties of perception (anupalabdhi). (3) To grasp, comprehend, understand. (4) Attachment. The mental function of incessant desiring and grasping (anupādāna). (5) As 'attachment' or 'grasping,' the ninth of the twelve factors of conditioned arising. (6) An indicator of the accusative case. => Có các nghĩa sau: 1. Đạt được, nắm lấy, giữ lấy, nắm, níu lấy, thu thập lại. 2. Nhận thức thông qua ý căn(s: anupalabdhi). . 3. Hiểu thấu, Nhận ra, Biết. 4. Sự chấp trước. Tâm hành không ngừng ham muốn và chấp giữ (s: anupādāna). 5. Thủ, chi phần thứ 9 trong 12 nhân duyên. 6. Biểu thị của đối cách.
Thủ-lăng-nghiêm tam-muội kinh
首楞嚴三昧經; S: śūraṅgama-samādhi-nirdeśa-sūtra; cũng được gọi ngắn là Thủ-lăng-nghiêm hoặc Lăng-nghiêm kinh;|Một bộ kinh Ðại thừa chỉ còn được lưu lại qua bản chữ Hán, nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) đã thất truyền. Kinh này ảnh hưởng quan trọng lên Phật giáo Ðại thừa tại Trung Quốc. Kinh nhấn mạnh tầm quan trọng của Ðịnh (samādhi) để đạt giác ngộ. Kinh giải thích nhiều phương pháp quán tính Không (s: śūnyatā), nhờ đó mà tu sĩ cũng như cư sĩ đạt được tâm giác ngộ của Bồ Tát. Kinh này rất được phổ biến trong Thiền tông.
thủ-đà
xem bốn giai cấp.
thủ-đà-la
xem bốn giai cấp.
thủi
Alone—Lonely.
thủng
Holed—Pierced.
thủng thẳng
Gently—Slowly—Leisurely.
thủy
Xem Thủy đại.
; Jala (S). Water; liquid.
thủy (planet)
1) Thủy tinh: Mercury. 2) Nước: Water. 3) Bắt đầu: Beginning—Initial. 4) Thoạt kỳ thủy: First. 5) Do đó: Thereupon.
thủy ba
Waves of water; the wave and the water are two yet one - an illustration of the identity of differences.
; Nước và sóng nước, tuy hai mà một—Water and waves of water—The water and the wave are two yet one—An illustration of the identity of differences.
; (水波) Nước và sóng. Nước và sóng tuy có 2 tên gọi nhưng thực ra chỉ là 1 thể, ví dụ tính chất chẳng phải 1 chẳng phải khác của sự vật. Nói theo trạng thái tĩnh thì gọi là Nước; nói theo trạng thái động thì gọi là Sóng. Do đó biết nước và sóng chỉ khác nhauvềtên gọi và trạng thái mà thôi, chứ bản thể của chúng thì không hề thay đổi.
thủy bào
Bong bóng nước—A bubble on the water—See Thuỷ thượng bào.
thủy bình
Kuṇḍi (P), Kuṇḍikā (P), Kuṇḍa (S), Kuṇḍikā (P), Kuṇḍi (P)Quân trì, Tịnh bình, Quân đồ lị.
; (水瓶) Phạm: Kuịđikà. Hán âm: Quân trì. Cũng gọi Táo quán. Đồ đựng nước,1trong 18 vật của vị tỉ khưu mang theo bên mình. Thủy bình có 2 loại là Tịnh bình và Xúc bình. Bình đựng nước sạch gọi là Tịnh bình, nếu tay sạch mới được cầm và để chỗ sạch sẽ; trái lại, Xúc bình là loại bình đựng nước dùng vào việc tiện lợi, tay sạch hay dơ đều cầm được và để ở chỗ dơ. Ngoài ra, để tiện việc mang đi, nên có may túi đựng bình. [X. Nam Hải kí qui nội pháp truyện Q.1; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Bình).
thủy chung
Beginning and end
; Trước sau—Beginning and end—First and last.
thủy chung lưỡng ích
(始終兩益) Thủy ích và chung ích. Trước sau đều ích lợi. Chỉ cho lợi ích đặc biệt mà hành giả niệm Phật sẽ được hưởng ở đời hiện tại và sau khi vãng sinh. Thủy ích là những lợi ích trước tiên có được là diệt tội, sinh thiện, thu nhiếp không bỏ ngay ở cõi này; Chung ích là lợi ích thường được thấy Phật A di đà sau khi sinh về cõi Cực lạc tịnh độ. Bởi vì tu hành chư thiện vạn hạnh tuy cũng được vãng sinh, nhưng lâu hơn so với niệm Phật vãng sinh, cho nên trong An lạc tập, ngài Đạo xước mới đặc biệt đề cao sự lợi ích của việc niệm Phật. [X. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].
thủy chung tâm yếu
(始終心要) Tác phẩm,1quyển, do ngài Kinh khê Trạmnhiêm soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 100. Nội dung sách này nói rõ về yếu chỉ của giáo nghĩa tông Thiên thai, như Tam đế(Chân đế, Tục đế, Trung đế), Tam quán (Không quán, Giả quán, Trung quán), Tam hoặc(Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc, Vô minh hoặc), Tam trí(Nhất thiết trí, Đạo chủng trí, Nhất thiết chủng trí), Tam đức(Bát nhã đức, Giải thoát đức, Pháp thân đức)... Nghĩa là Tam đế là tính đức tự tồn một cách tự nhiên; nếu chúng sanh mê chấp Tam đếthì sẽ sinh ra Tam hoặc; để đối trị, phải nương vào Tam quán để phá trừ Tam hoặc, phá trừ Tam hoặc thì thành tựu Tam trí, lại nhờ Tam trí mà chứng được Tam đức. Tuy nói rất ngắn gọn nhưng tác phẩm này cũng đã trình bày đầy đủ về những điểm cốt lõi của Thiên thai Viên tông. Hệ thống giáo học một đời của ngài Thiên thai Trí khải là sắp xếp lại nội dung, tác dụng, sự thành tựu... của Nhất tâm tam quán để trở thành lí luận tu hành riêng của tông Thiên thai. Nhưng vì liên quan quá nhiều, hệ thống thiếu mạch lạc nên người học không dễ lần ra đầu mối. Vì thế, ngài Trạm nhiên mới rút lấy phần tinh túy mà soạn ra sách này. Chữ Thủy trong tên sách chỉ cho khởi đầu của Viên quán, tức tác dụng; còn chữ Chung thì chỉ cho kết thúc Viên quán, tức thành tựu. Thủy là nhân, Chung là quả. Tuy nhiên, nếu nói theo ý đích thực của Thiên thai Viên quán thì 2 chữ thủy chung thật ra là chỉ cho quá trình xuyên suốt, tổng nhiếp toàn bộ Viên quán, chứ không phải riêng chỉ cho 2 đầu khởi thủy và chung kết. Chú thích sách này có: Khoa văn của ngài Tịnh Nhạc, Chú của ngài Tòngnghĩa, Mỗ huấn của ngài Từđẳng, Đại nghĩa của ngài Diệulập, Dị giải của ngài Quangliêm, Tiên chú của ngài Bảnthuần.
Thủy Cung
(水宮): cung điện thần thoại ở trong nước, hay ngôi điện vũ bên nước. Như trong Tập Dị Ký (集異記), phần Tương Sâm (蔣琛) của Tiết Dụng Nhược (薛用弱, ?-?) nhà Đường có câu: “Hành Điện thu vị vãn, Thủy Cung phong sơ lương (行殿秋未晚、水宮風初涼, Hành Điện thu chưa muộn, Thủy Cung gió mát tươi).” Hay trong bài thơ Đề Tào Nga Miếu Bích (題曹娥廟壁) của Dương Trác (楊焯, ?-?) nhà Minh lại có câu: “Hán An niên đại việt Giang Đông, giang thượng linh kỳ ánh Thủy Cung (漢安年代越江東、江上靈旗映水宮, niên đại Hán An vượt Giang Đông, trên sông cờ xí hiện Thủy Cung).” Trong truyền thuyết dân gian Việt Nam có câu chuyện Công Chúa Thủy Cung cũng khá lý thú. Chuyện kể rằng ngày xưa, có một nàng công chúa xinh đẹp con của vua Thuỷ Tề, một hôm hóa thành con cá bơi ngược dòng sông để du ngoạn. Chẳng may, cá mắc phải lưới của một người thuyền chài, cá công chúa bị bắt, thả vào gầm thuyền, bị đói cả ngày không có gì ăn. May có người con trai ông thuyền chài ngồi ăn, làm rớt cơm xuống, cá công chúa mới khỏi chết đói. Trông thấy cô cái xinh đẹp, người con trai chủ thuyền bắt lên chơi, rồi anh tuột tay làm rơi cá xuống sông. Nhờ vậy, công chúa được trở về Thủy Cung an toàn. Tuy nhiên, từ ngày trở về cung điện, nàng đâm ra tương tư, nhớ đến người con trai ở trần gian đã vô tình cứu mình. Công chúa sinh ốm bệnh tương tư. Vua cha là Thủy Vương hỏi duyên cớ, nàng thật tình thưa lại đầu đuôi câu chuyện, rồi xin phép vua cha đội lốt làm người lên ở trên mặt đất để kết duyên vợ chồng cùng chàng trai nọ. Lúc bấy giờ, chàng trai đang ở Hang Non Nước, thuộc Tỉnh Ninh Bình ngày nay. Sau khi cha mẹ đã qua đời, chàng ngày ngày đi câu cá để kiếm sống. Một hôm, nàng công chúa Thủy Cung tìm đến gặp, làm quen, rồi hai bên lấy nhau thành vợ chồng. Tuy họ sống trong cảnh nghèo túng, nhưng rất hạnh phúc và hết sức thương yêu nhau. Chàng và nàng sống giữa hòn đảo Non Nước vắng vẻ, cách biệt đời sống dân gian. Vợ chồng có tình duyên đằm thắm, cho đến một ngày kia, nàng đưa chồng cùng về thăm Thuỷ Cung. Từ đó trở đi, không còn ai thấy bóng dáng hai người nữa. Dân gian ngày nay có truyền câu ca dao: “Chung quanh những chị em người, giữa Hòn Non Nước mình tôi với chàng” để nhắc đến mối tình hi hữu của nàng công chúa, con của Thần Nước, với anh chàng đánh cá ở miền Bắc Việt Nam.
thủy cát tường bồ tát
(水吉祥菩薩) Thủy cát tường, Phạm:Daka-zrì. Cũng gọi Đại thủy cát tườngbồtát. Vị tôn thứ 5 ở phương trên (Đông) thuộc Quan âm ngoại viện trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, mật hiệu là Nhuận sinh kim cương, chủng tử là (sa), hình Tam muội da là hoa sen.Hình tượng vị tôn này thân màu vàng lợt, ngồi trên hoa sen đỏ, tay trái cầm hoa sen búp, tay phải kết ấn Thí vô úy; bên tả có sứ giả cúng dường hương đốt và bên hữu có sứ giả cúng dường hương xoa. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.9, 15; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp quĩ nghi Q. hạ; Đại nhật kinh sớ Q.6, 16].
thủy diệu
Budha (S)Thuỷ tinh.
; Thủy Tinh, một trong cửu diệu, ở về phía nam của Kim Cang Viện trong Thai Tạng Giới—The planet Mercury, one of the nine luminaries; it is shown south of the west door of the Diamond Court in the Garbhadhatu.
; (水曜) Phạm: Buddha. Cũng gọi Thủy tinh, Trích tinh, Thủy đại diệu. Sao thủy, 1 trong 7 sao, 1 trong 9 sao. Trong Mật giáo, vị tôn này được an vị ở phía tây Ngoại viện trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới; hình tượng vị này chắp 2 tay, ngồi tréo chân. Còn trong Thai tạng đồ tượng thì tay trái vị này cầm chiếc bình, tay phải cầm tràng hạt, ngồi bán già trên hoa sen. Trong Phạm Thiên hỏa la cửu diệu đồ thì Thủy tinh mang hình người đàn bà, đầu đội mũ có hình khỉ, 2 tay 1 bên cầm giấy 1 bên cầm bút. Trong Bắc đẩu mạn đồ la, Thủy tinh được đặt ở phía bắc của Nội viện. Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì giải thích Chấp diệu theo nghĩa sâu xa, bí mật, phối hợp Thủy diệu với Liên hoa bộ ở bên phải Mạn đồ la. [X. Bắc đẩu hộ ma pháp; Tú diệu nghi quĩ].
thủy dã hoằng nguyên
(水野弘元) Học giả Phật giáo Nhật bản. Năm 1928, sư tốt nghiệp môn Triết học Ấn độ thuộc Văn khoa trường Đại học Đông kinh (Tokyo) Từ đầu năm 1940, sư lần lượt giữ các chức vụ: Giáo sư Đại học Câu trạch, Giáo sư Đại học Đông kinh, Giảng sư Đại học Khánh ứng nghĩa thục, Trụ trì chùa Thiên hựu tông Tào động. Năm 1982, Sư làm Viện trưởng viện Đại học Câu trạch. Sư có các tác phẩm: Nguyên thủy Phật giáo,Pàli ngữ văn pháp, Pàli ngữ từ điển, Nam truyền Đại tạng kinh tổng sách dẫn (3 tập), Phật giáo tâm thức luận (lấy Phật giáoPàli làm trung tâm), Thích tôn chi sinh nhai, Tu chứng nghĩa đích Phật giáo. Dịch phẩm: Kinh tập, Thanh tịnh đạo luận...
thủy dụ bồ tát thập chủng thiện pháp
(水喻菩薩十種善法) Nước ví dụ cho 10 pháp lành của Bồ tát.Theo kinh Trừ cái chướng Bồtát sở vấn quyển 6, Bồtát đã trừ sạch hoặc nghiệp, thân tâm vắng lặng, có khả năng dùng nước pháp tưới tắm khắp chúng sinh, khiến cho thiện căn của họ lớn mạnh, gột sạch tội nhơ, xa lìa sự nóng bức của sinh tử, dứt lòng khát nước tham ái, thành tựu bồ đề, bước lên bến giác, giống như tính chất trong sạch của nước, có khả năng nuôi lớn muôn vật, rửa sạch nhơ nhớp, nóng bức, gặp nước thì mát mẻ, khô khát thì uống vào thì tươi tỉnh, cho nên dùng nước làm thí dụ. Mười thí dụ như sau: 1. Lưu nhuận phó hạ: Chảy thấm vào lòng đất. Nghĩa là Bồtát thường tu hành tâm từ bình đẳng, nhu hòa thiện thuận, dùng nước pháp thanh tịnh điều phục chúng sinh, khiến tất cả đều được thấm nhuần và thiện căn lớn mạnh; giống như dòng nước chảy tràn khắp mặt đất rồi thấm sâu xuống, giúp cho tất cả mầm mộng của cây cỏ đều được thấm nhuần và nảy nở. 2. Thực thiện pháp chủng: Gieo hạt giống pháp lành. Nghĩa là Bồ tát gieo trồng tất cả hạt giống bồ đề, thường dùng nước định tưới khắp, làm cho tăng trưởng mà thành quả vi diệu; ví như tất cả cây thuốc, ngũ cốc được gieo trồng trên mặt đất, nhờ có nước tưới rảy mà được lớn lên, rồi sau xanh tốt, sum suê và khai hoa kết quả. 3. Tín nhạo hoan hỉ: Tin ưa vui mừng. Nghĩa là Bồtát tự tính tín thuận Tam bảo, ưa cầu pháp xuất thế, do tâm thanh tịnh liền sinh vui mừng, lại có năng lực làm cho tất cả hữu tình cũng đều tin ưa và sinh vui mừng; ví như dòng nước, tự tính chảy thấm, lại có khả năng làm cho các loài thực vật tươi tốt. 4. Hoại phiền não căn: Phá hoại gốc rễ phiền não. Nghĩa là Bồtát dùng nước thiền định dầm thấm gốc rễ phiền não của tất cả hữu tình, làm cho mục nát hết, không sinh trở lại được nữa; ví như nước lớn ngập lụt mặt đất, khiến cho cây cỏ đều bị thối rữa.5. Tự thể vô tạp thanh tịnh: Thể tính nước trong sạch, không xen tạp. Nghĩa là Bồtát xa lìa các pháp tạp nhiễm như tham, sân, si... giữ gìn các căn, đều được thanh tịnh; ví như nguồn của dòng nước lớn vốn trong sạch, không xen lẫn. 6. Tức phiền não nhiệt: Dập tắt lửa phiền não. Nghĩa là Bồtát dùng nước pháp mát mẻ để diệt trừ nỗi khổ của tất cả hữu tình do các phiền não thiêu đốt; ví như trời mùa hạ, mặt đất rất nóng, con người bị nhiệt độ bức bách, nếu được nước giải trừ thì tất cả đều mát mẻ. 7. Chỉ dục khát ái: Ngăn dứt tham muốn khát ái. Nghĩa là tất cả hữu tình đối với các trần cảnh đều sinh tâm tham đắm, như khát thèm uống nước, bị khát ái bức ngặt, Bồtát liền khai thị, khiến họ không sinh tâm đắm đuối đối với cảnh dục trần; ví như nước mát rượi có năng lực tiêu trừ cái khổ khát bỏng. 8. Thâm quảng vô nhai: Sâu rộng không bờ bến. Nghĩa là Bồ tát do tu hết thảy thiện pháp, tích tập trí tuệ thù thắng, sâu rộng không bờ mé, các ma và ngoại đạo không thể đo lường được; ví như sông lớn, các dòng đều đổ dồn về, vừa sâu vừa rộng, không ai có thể biết được bờ bến của nó.9. Cao hạ sung mãn: Chỗ cao chỗ trũng đều đầy tràn. Nghĩa là Bồtát dùng tâm đại bi, đối với tất cả hữu tình, tùy theo căn khí cao thấp mà phương tiện chỉ bày, dạy bảo, khiến tất cả đều được lợi ích đầy đủ; ví như sông lớn, chảy tràn tất cả, tùy theo chỗ cao, chỗ trũng, tất cả đều đầy đủ, không tổn hại. 10. Tức chư trần bộn: Dứt các bụi nhơ. Nghĩa là Bồtát dùng nước định tuệ thấm nhuần tất cả hữu tình, khiến họ trừ bỏ thói quen thô ác, phát tâmnhu nhuyến, dứt bỏ hẳn phiền não bụi nhơ, cùng vào cảnh giới thanh tịnh; giống như dòng nước lớn cuốn trôi tất cả rác rưởi thô xấu, làm cho cả vùng trở lại trong sạch.
thủy dụ chân tâm thập nghĩa
(水喻真心十義) Mười nghĩa của nước ví dụ cho chân tâm.Cứ theo Tông kính lục quyển 7 thỉ tâm chân như của chúng sinh vốn tự thanh tịnh, không có cấu nhiễm, vắng lặng chẳng động, không sinh cũng không diệt; giống như tính nước, bản thể thanh tịnh, lắng trong yên lặng, cho nên được dùng làm ví dụ. Mười nghĩa của nước dụ cho chân tâm như sau: 1. Thủy thể trừng thanh: Thể của nước lắng trong yên lặng. Nghĩa là tâm chân như của chúng sinh tự tính thanh tịnh, lặng lẽ sáng suốt, xưa nay vốn không nhơ nhuốm; giống như sự lắng trong của nước. 2. Đắc nê thành trược: Do bùn mà trở thành đục. Nghĩa là tâm chân như của chúng sinh, bản tính tuy thanh tịnh, nhưng bị vô minh làm cho ô nhiễm, đang trong trạng thái giác(tỉnhthức) bỗng trở thành bất giác; giống như nước vốn trong sạch, nhưng do bùn mà trở thành đục. 3. Tuytrược bất thất tịnh tính: Tuy đục nhưng bản tính trong sạch vẫn không mất đi. Nghĩa là tâm chân như của chúng sinh, tuy bị vô minh làm bẩn, nhưng tính tự nhiên vẫn trong sạch, ngay từ ban đầu đã không đổi khác; giống hệt như nước, tuy bị nhơ đục nhưng tính thì không mất. 4. Nê trừng tịnh hiện: Bùn lắng xuống, tính trong hiện. Nghĩa là tâm chân như của chúng sinh, bị vô minh che lấp trở nên mờ tối, nếu trừ diệt được hoặc vô minh thì bản tính thanh tịnh tự nhiên lắng hiện; giống như sự nhơ đục của nước, để bùn lắng xuống thì thể trong sạch tự hiện. 5. Ngộ lãnh thành băng, nhi hữu ngạnh dụng: Gặp lạnh thành băng và có công dụng cứng chắc. Nghĩa là tâm chân như của chúng sinh, khi hợp với vô minh thì có công năng theo các nhiễm duyên mà kiến tạo các pháp trong 9 cõi và thành cái dụng của bản thức(thức thứ 8); giống như nước gặp lạnh thành băng mà có cái dụng của sự cứng chắc. 6. Tuy thành ngạnh dụng, bất thất nhu tính: Tuy thành cái dụng cứng chắc nhưng không mất tính ướt. Nghĩa là tâm chân như của chúng sinh tuy theo vô minh mà sinh khởi các pháp có công dụng nhiễm ô, nhưng tính bất biến của nó thì chưa baogiờ mất; giống như nước tuy thành công dụng cứng chắc nhưng tính thấm ướt thì vẫn không mất. 7. Noãn dung thành nhu: Băng gặp hơi nóng chảy thành nước. Nghĩa là tâm chân như của chúng sinh tuy theo duyên vô minh mà khởi các công dụng nhiễm ô, nhưng nếu hết vô minh thì bản thức trở lại thanh tịnh; giống như nước thành băng, gặp hơi nóng tan ra thì tính ướt tự thành. 8. Tùy phong ba động, bất cải tĩnh tính:Gió thổi sóng động, nhưng tính yên lặng của nó vẫn không thay đổi. Nghĩa là tâm chân như của chúng sinh tuy theo gió vô minh mà khởi lên sóng phiền não lúc sanh lúc diệt, nhưng tính bất sinh bất diệt của nó thì vẫn tự nhiên không thay đổi; giống như nước tùy theo gió mà nổi sóng, nhưng tính yên lặng của nó thì không thay đổi.9. Cao hạ lưu chú, bất động tự tính: Nước tuy chảy từ cao xuống thấp nhưng tự tính thì không động. Nghĩa là tâm chân như của chúng sinh tuy theo duyên trôi chảy nhưng tính thì thường lặng lẽ bất động; giống như nước chảy theo thế đất cao thấp, nhưng tự tính thì không động. 10. Tùy khí phương viên, bất thất tự tính: Tùy theo đồ đựng vuông hay tròn, tự tính của nước vẫn không thay đổi. Nghĩa là tâm chân như của chúng sinh hiện hữu khắp trong các pháp hữu vi, nhưng tự tính thì không mất; giống như nước tùy theo đồ đựng vuông hay tròn, nhưng không mất tính nước.
thủy giác
Initial knowledge. Xem Bản giác.
; Theo Đại Thừa Khởi Tín Luận, Thủy giác hay bản giác nguyên thủy là tâm thanh tịnh hay tự tính của bản tính vốn có của hết thảy chúng sanh. Thủy giác khởi lên từ bổn giác cùng sự dạy dỗ bên ngoài, theo Kinh Niết Bàn, từ đó phát sanh ra bốn đức “thường, lạc, ngã, tịnh—According to the Awakening of Faith, the initial enlightenment or beginning of illumination. The initial functioning of mind or intelligence as a process of becoming, arising from the original enlightenment which is Mind or Intelligence, self-contained, unsullied, and considered as universal, the source of all enlightenment. The initial intelligence or enlightenment arises from the inner influence of the Mind and from external teaching. In the original intelligence are the four values adopted and made transcendented by the Nirvana-sutra, perpetuity, joy, personality, and purity; these are acquired through the process of enlightenment.
; (始覺) Đối lại: Bản giác. Sự giác ngộ do quá trình tu tập hậu thiên mà đạt được. Luận Đại thừa khởi tín cho rằng thức A lại da có 2 nghĩa là Giác và Bất giác, Giác lại có Thủy giác và Bản giác khác nhau. Trong đó, trải qua quá trình tu tập hậu thiên, dần dần đoạn trừ vọng nhiễm từ vô thủy đến giờ mà biết được nguồn tâm tiên thiên, gọi là Thủy giác, cũng tức là phát tâm tu hành, lần lượt sinh khởi trí đoạn hoặc, phá vô minh, trở về bản tính thanh tịnh của Bản giác. Đại thừa cho rằng tâm người ta xưa nay vốn lặng lẽ bất động, không sinh không diệt, thanh tịnh vô nhiễm, gọi là Bản giác(tâm thể giác biết xưa nay vốn lìa niệm); sau vì gióvô minh dấy động, sinh ra các hoạt động ý thức thế tục, từ đó có các sự sai biệt ở thế gian, đó gọi là Bất giác; cho đến khi được nghe Phật pháp, mở ra Bản giác, huân tập Bất giác, đồng thời dung hợp Bất giác và Bản giác làm một, tức gọi là Thủy giác. Luận Đại thừa khởi tín lại chia Thủy giác làm 4 giai vị, đồng thời phối hợp 4 giai vị này với các giai đoạn tu hành của Bồtát Đại thừa, đó là: 1. Bất giác: Giai vị Thập tín(Ngoại phàm vị) tuy đã biết quả khổ là do các nghiệp ác mang lại, nên thân, khẩu không còn tạo tác các việc ác, nhưng vẫn chưa sinh khởi trí đoạn hoặc. 2. Tương tự giác: Hàng Nhị thừa và Bồtát giai vị Tam hiền tuy đã xa lìa ngã chấp, biết lí ngã không, đoạn trừ các phiền não tham, sân, kiến, ái.. nhưng vẫn chưa lìa bỏ ý niệm phân biệt pháp chấp. 3. Tùy phần giác: Hàng Bồtát từ Sơ địa trở lên đến Địa thứ 9 đã xa lìa niệm pháp chấp, rõ biết tất cả pháp đều do tâm biến hiện, tức sự giác biết tùy theo cảnh giới tu chứng và địa vị chuyển lên mà ngộ 1phần lí chân như pháp thân. 4. Cứu cánh giác: Hàng Bồtát Địa thứ 10 đã đầy đủ nhân hạnh, dùng tuệ giác tương ứng với1niệm để giác biết chỗ sơ khởi của tâm, đồng thời xa lìa niệm vi tế, thấy suốt toàn bộ tâm tính. Theo luận Thích ma ha diễn thì giáo nghĩa của Mật giáo cũng chia Giác tính làm 4 thứ, trong đó 2 thứ trước tức là Bản giác và Thủy giác, rồi lại y cứ theo sự nhiễm, tịnh khác nhau của mỗi thứ mà chia thành Thanh tịnh bản giác, Nhiễm tịnh bản giác, Thanh tịnh thủy giác, Nhiễm tịnh thủy giác..., đồng thời nói rõ về mỗi thứ mà luận chỉ, ý thú khác với thuyết của luận Đại thừa khởi tín được trình bày ở trên. Mật giáo lại gọi Hiển giáo là Thủy giác tông và gọi tông mình là Bản giác tông. Vì Mật giáo cho rằng Hiển giáo phải tu hành trải qua nhiều kiếp mới giác ngộ được bản chân, trừ bỏ mê tình mà trở về chân lí vô tướng. [X. luận Thích ma ha diễn Q.3; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q. trung, phần đầu]. (xt. Bản Giác).
thủy giáo
Theo tông Thiên Thai, Thủy Giáo là giáo thuyết sơ bộ Đại Thừa của tông Hoa Nghiêm—According to T'ien-T'ai, the preliminary teaching of the Mahayana, made by the Avatamsaka School. 1) Tướng Thủy Giáo: Bàn về bản chất của vạn hữu trong Duy Thức Luận—It discussed the nature of all phenomena as in the Only Consciousness. 2) Không Thủy Giáo: Bàn về tánh không của vạn hữu, nhưng không dạy rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh—Held to the immateriality of all things, but did not teach that all beings have the Buddha-nature.
; (始教) Cũng gọi Phần giáo, Sinh giáo,Quyền giáo. Chỉ cho Đại thừa thủy giáo, hàm ý là cửa đầu tiên của Đại thừa, là giáo thứ 2 trong 5 giáo(Tiểu thừa giáo, Đại thừa thủy giáo, Đại thừa chung giáo, Đốn giáo, Viên giáo) theo giáo phán của tông Hoa nghiêm. Giáo này được chia làm Không môn và Tướng môn, đó là: 1. Không thủy giáo: Diệt trừ chấp trước hữu sở đắc(có cái để được), nói tất cả đều không, tương đương với giáo nghĩa của tông Tam luận. 2. Tướng thủy giáo: Phân biệt rộng về tính tướng của các pháp, dùng tính chất không dung hợp giữa sự và lí để nói về 5 tính khác nhau, tương đương với giáo nghĩa của tông Pháp tướng. Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm tùy theo Không môn và Tướng môn này để giải thích rõ về Thủy giáo và lập ra Thủy giáo để dung hợp thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 của kinh Giải thâm mật. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 thì giáo pháp thuộc thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 nói trong kinh Giải thâm mật đều hiển bày giáo nghĩa của Thủy giáo. Nhưng theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1 thì giáo nghĩa thuộc thời giáo thứ 2 là hiển bày giáo nghĩa của Thủy giáo, còn giáo nghĩa thuộc thời giáo thứ 3 thì hiển bày giáo nghĩa của Chung giáo. Bởi vì giáo nghĩa thuộc thời giáo thứ 2 ấy bàn rõ về nghĩa Không, Không là cửa đầu tiên của Đại thừa, còn thời giáo thứ 3 tuy không nói về nghĩa Không nhưng lại khẳng định thuyết Tam thừa, chứ không bàn về Nhất cực, cho nên đều gọi là Sơ giáo. Lại vì thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 đều không chấp nhận Định tính Nhị thừa thành Phật,nên cũng gọi là Phần giáo. So sánh Thủy giáo của tông Hoa nghiêm và Thông giáo trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên Thai thì cả 2 đều y cứ vào Bát nhã mà nói Tam thừa thông nhập. Có khác nhau là ở chỗ: 1. Thông giáo nói 6 thức, Thủy giáo nói 8 thức. 2. Thông giáo chủ trương Tam thừa cộng Thập địa, Thủy giáo nói Thập địa bất cộng. 3. Thủy giáo bàn rõ về Thủy môn, Chung môn, cũng bàn về sự sai biệt giữa các pháp tướng, hồi tâm và thẳng tiến, sự biến đổi ngoài 3 cõi, quả Phật thường trụ... còn Thông giáo thì không nói đến nghĩa lí này. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).
thủy giới
The realm of water—See Thủy Đại.
; (水界) I. Thủy giới. Tên khác của Thủy đại(nguyên tố nước) trong 4 đại. Tính của Thủy đại là ẩm ướt; ẩm ướt là tính chung của tất cả vật chất, cho nên gọi là Thủy giới. Thủy giới có công dụng nhiếp dẫn vật chất. [X. kinh Phân biệt lục giới trong Trung a hàm Q.42; luận Câuxá Q.1]. II. Thủy giới. Ranh giới được đánh dấu bằng dòng nước,1trong4loại ranh giới tự nhiên của việc kết giới. Bất luận là nước sâu hay cạn, chỉ cần lấy chỗ nước thường chảy làm ranh giới. Như khi đi thuyền mà cần bỏ neo để kết giới Bồ tát thì phải lìa đất liền, chứ không được buộc thuyền vào gốc cây ở trên bờ hay ở dưới nước. (xt. Kết Giới).
thủy hoạn
Flood—Inundation.
thủy hoả định
(水火定) Thủy định và Hỏa định. Thiền định đối với nước được tự tại, gọi là Thủy định; thiền định từ nơi thân phát ra lửa thì gọi là Hỏa định. Trong Pháp uyển châu lâm có ghi việc ngài Pháp thông ở chùa Cảnh không tại Nam Tương dương vào thời Hậu Lương nhập Thủy hỏa định.
thủy hành nhân
Người mới bắt đầu—A beginner.
; (始行人) Đối lại: Cửu hành nhân. Chỉ cho người mới tu tập trong đạo Phật. Thời gian tu tập đạo Phật chưa lâu, gọi là Sơ tu nghiệp. Những người tu hành mới hồi tâm sám hối, siêng tu Phật pháp này được gọi là Thủy hành nhân; còn sự tu hành Phật đạo tích lũy đã lâu ngày thì gọi là Cửu tu nghiệp. Những người tu hành thuộc loại này được gọi là Cửu hành nhân.
thủy hóa
To hydrate.
Thủy hưng tông 始興宗
[ja] シコウシュウ Shikōshū ||| Sihŭng chong; the name of a Koryŏ period school of Buddhism; thought to be a later manifestation of the Yŏlban chong 涅槃宗. => (k: Sihŭng chong). Tên một tông phái Phật giáo thời Cao Lệ (k: Koryŏ); được xem là hiện thân của Niết-bàn tông (k: Yŏlban chong 涅槃宗) sau nầy.
thủy hỏa
Water and fire.
thủy hữu kiến lập huân
(始有建立薰) Cũng gọi: Thủy hữu huân. Đối lại: Vô thủy tự nhiên huân. Nhờ sự tu hành do sức giúp đỡ của các duyên bên ngoài mà hiển hiện nhân quả sẵn có để huân tập và sinh khởi các pháp thanh tịnh. Cứ theo luận Thích ma ha diễn quyển 5, do sức tu hành mà có nhân vị, quả vị, gọi là Thủy hữu huân. [X. Thích ma ha diễn luận kí Q.5].
thủy khí
Bình chứa nước, được dùng trong lễ quán đảnh và các nghi thức khác của Mật tông—Water vessel—A filter used by the esoterics in baptismal and other rites.
; (水器) Đồ đựng nước. Tức chỉ cho vật được dùng để đựng nước sái tịnh khi tu pháp Hộ ma hoặc pháp Quán đính trong Mật giáo.
thủy la
A gauze filter.
thủy luân
Jala-maṇdala (S)Một trong tam luân, 3 lớp vật chất, cấu tạo thành thế giới.
; The third of the four "wheels" on which the earth rests - space, wind (or air), water and metal.
; Một trong tứ luân thành lập nên thế giới. Những luân khác là Hư Không, Phong và Kim—The third of the four “wheels” on which the earth rests. The other wheels are Space, Wind, and Metal. ** For more information, please see Tứ Luân and Ngũ Luân.
; (水輪) Phạm: Jala-maịđala. Một trong 3 luân. Vũ trụ quan của Phật giáo cho rằng sự thành lập đầu tiên của khí thế giới bắt đầu từ dưới lên trên, theo thứ tự do 3 lớp cứng chắc là phong luân, thủy luân và kim luân nâng đỡ, giữ gìn. Thủy luân ở trên phong luân và ở dưới kim luân. Có thuyết cho rằng thủy luân sâu tới 1.120.000 do tuần, rộng 2.203.450 do tuần, chu vi 3.610.350 do tuần. Tuy nhiên, về sự sâu cạn, rộng hẹp của 3 luân, các kinh có rất nhiều thuyết khác nhau. [X. kinh Trường a hàm Q.18; luận Câu xá Q.11]. (xt. Tu Di Sơn).
thủy luân tam muội
The samàdhi of the above water wheel, one of the ngũ luân tam muội; water is fertilizing and soft, in like manner the effect of this samàdhi is the fertilizing of good roots, and the softening or reduction of ambition and pride.
; Thủy Luân Tam Muội là một trong ngũ luân tam muội. Thứ nước công đức định thủy làm cho tâm được rưới nhuần, thiện căn tăng trưởng. Cùng cách ấy (do đắc tam muội nầy) mà thân tâm nhu nhuyễn, chế phục được tham vọng và cao mạn mà thuận theo thiện pháp—The samadhi of the water wheel, one of the five samadhi wheels. Water is fertilizing and soft, in like manner the effect of this samadhi is the fertilizing of good roots, and the softening or reduction of ambition and pride. ** For more information, please see Ngũ Luân Quán.
; (水輪三昧) Công đức do tu thiền định (tam muội) mà có được,1trong 5 luân tam muội. Thủy (nước)có 2 đặc tính là thấm nhuần sinh trưởng và thể tích mềm mịn. Nếu người tu hành ở trong địa luân mà chứng được Thủy luân tam muội thì sẽ phát các công đức về thiền, nước định thấm tâm, thiện căn tăng trưởng, tức là nghĩa thấm nhuần; nhờ được định nên thân tâm nhu nhuyến, chiết phục kiêu mạn, tùy thuận thiện pháp, đó là nghĩa mềm mịn. [X. Thứ đệ thiền môn Q.3 thượng].
thủy lão hạc
Một loại ngỗng tuyết rất hiếm thấy xuất hiện—A snow-goose, very rarely seen.
; (水老鶴) Cũng gọi Thủy lạo hạc, Thủy bạchhạc, Thủy bạch lộ. Chỉ cho loài chim hạc quí lạ, khó được thấy. Theo Tì nại da tạp sự quyển 40 thì có 1 vị bật sô ở trong vườn Trúc lâm nói bài kệ (Đại 24, 409 hạ): Nếu người sống trăm tuổi Chẳng thấy Thủy bạch hạc Không bằng sống một ngày Được thấy Thủy bạch hạc. Ngài A nan nghe được, liền bảo vị bật sô kia rằng: Bài kệ mà đức Phật Thế tôn nói là như thế này: Nếu người sống trăm tuổi Mà không rõ sinh diệt Chẳng bằng sống một ngày Biết rõ được sinh diệt. Vị bật sô bèn đem việc này thưa với thầy của mình, vị thầy liền cho rằng ngài Anan khôngcó trí nhớ, không thể tin theo. Câu chuyện này ví dụ người thế gian phần nhiều quên mất sự sai lầm của chính mình, trái lại cho rằng giáo phá chân chính là sai lầm.
thủy lục hội
See Thủy Lục Trai.
; (水陸會) Cũng gọi Thủy lục trai, Thủy lục đạo tràng, Bi trai hội. Chỉ cho pháp hội bố thí thức ăn cho các loài hữu tình ở dưới nước(thủy)và ở trên cạn(lục)để cứu các quỉ đói,1 trong các pháp hội cúng thí ngã quỉ. Theo Thích môn chính thống quyển 4 thì thủy lục là lấy ý nghĩa từ câu Các vị tiên đặt thức ăn ở dòng nước(thủy), các quỉ đặt thức ăn trên đất(lục)sạch. Lại vua Vũ nhà Lương là Tiêu diễn đêm nằm mộng thấy vị thần tăng dạy thiết lập Thủy lục trai, cứu độ khắp chúng sinh trong 4 loài 6 đường, vua bèn mở kinh luận ra xem, y theo ý nghĩa của việc ngài A nan gặp quỉ vương Diện nhiên mà kiến lập Bình đẳng hộc thực(các hộc đựng thức ăn bằng nhau) và soạn nghi văn, tu Thủy lục trai ở chùa Kim sơn. Phật tổ thống kỉ quyển 33 cũng nói đến thuyết này và cho rằng hội Thủy lục đầu tiên được thiết lập ở chùa Kim sơn vào năm Thiên giám thứ 4 (505) đời Lương. Về sau, nghi văn này bị thất lạc, trai hội do đó cũng bị đứt quãng trong một thời gian dài. Đến khoảng năm Hàm hanh (670-674) đời Đường, ngài Đạo anh ở chùa Pháp hải tại Trường an nhờ một vị dị nhân chỉ cho mới tìm được khoa nghi này và thiết lập lại Thủy lục hội tại chùa Bắc sơn. Năm Nguyên hựu thứ 8 (1093) đời Tống, Tô thức soạn Thủy lục pháp tượng tán 16 thiên, cúng dường trên dưới mỗi phương 8 vị, gọi là Mi sơn thủy lục. Ngụy côngsử đời Nam Tống rất ngưỡng mộ nghi văn cũ của Kim sơn thủy lục nên kiến lập Tứ thời phổ độ đại trai ở núi Nguyệt ba tại Đông hồ, đồng thời soạn nghi văn 4 quyển, ngài Chí bàn soạn lại thành Pháp giới thánh phàm thủy lục thắng hội tu trai nghi quĩ 6 quyển, vẽ lại 26 bức tượng, từ đó, pháp hội Phổ độ rất hưng thịnh; đối lại với nghi văn Kim sơn gọi là Bắc thủy lục, nghi quĩ này gọi là Namthủy lục. Ngài Vân thê Châu hoành đời Minh cũng chuyên thực hành nghi quĩ này. Ngài Chỉ Quán đời Thanh thì soạnPháp giới thánh phàm thủy lục đại trai phổ lợi đạotràng tính tướng thông luận 9 quyển và pháp giới thánh phàm đại trai pháp luân bảo sám 10 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.37, 46; Tịnh độ thánh hiền lục Q.5; Thích thị kê cổ lược Q.2; môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Thí Ngã Quỉ Hội).
thủy lục trai
The festival of water and land, attributed to Vũ Đế of the Lương dynasty consequent on a dream; it began with placing food in the water for water sprites, and on land for ghosts.
; Trai Đàn Thủy Lục—Pháp hội cúng dường trai thực đối với hai loài hữu tình ma da ở dưới nước và quỷ trên cạn, được vua Lương Vũ Đế khởi xướng—The festival of water and land, attributed to Wu-Ti of the Liang dynasty consequent on a dream; it began with placing food on the water for the water sprites, and on the land for ghosts.
thủy lục trai nghi
(水陸齋儀) Chỉ cho nghi thức hoặc nghi văn tu Thủy lục trai. Cứ theo Sự vật kỉ nguyên quyển 8 thì Vũ đế nhà Lương là Tiêu diễn nằm mộng thấy thần tăng dạy kiến lập Thủy lục trai, khi tỉnh dậy vua đi tìm nghi văn ấy, nhưng ở thế gian không có thuyết này, cho nên vua tự soạn ra. Vào năm Thiên giám thứ 7 (508), vua kiến lập Thủy lục trai ở Kimsơn. Thuyết này khác với thuyết trong Phật tổ thống kỉ quyển 33 nói rằng Thủy lục trai được kiến lập lần đầu tiên vào năm Thiên Giám thứ 4 (505). (xt. Thủy Lục Hội).
thủy mãn
Jalambara (skt)—Con trai thứ ba của Lưu Thủy, tái sanh là La Hầu La, con trai của Phật—Third son of Jalavahana (Lưu Thủy), reborn as Sakyamuni's son, Rahula.
thủy mạt
1) Từ đầu đến cuối: From the beginning to the end. 2) Bọt nước: Water spume.
thủy mạt bào diệm
Chư pháp như bọt nước, như bong bóng nước hay như diêm lửa; tất cả đều không thật và vô thường—All phenomena are like spume, bubbles and flames, all is unreal and transient.
; (水沫泡焰) Chỉ cho bọt nước(mạt), bong bóng nước (bào) và ánh dương(diệm). Bọt nước và bong bóng nước đều là những vật mong manh, chỉ tồn tại trong giây lát liền tan vỡ; còn ánh dương là gió thổi bụi bay giữa đồng không mông quạnh, dưới ánh mặt trời thiêu đốt, ta thấy giống như nước, như ngựa hoang, như tướng nam nữ, đều là những vật tướng ảo ảnh, không chân thực, bền chắc, ví dụ cho các pháp thế gian hư giả không thật và thân người biến ảo vô thường. [X. phẩm Phương tiện trong kinh Duy ma Q. thượng; Chú duy ma kinh Q.2].
thủy mạt, bào, diệm
Spume, bubbles and flame, e.g. that all is unreal and transient.
Thủy nguyệt
(水月): có mấy nghĩa. (1) Nước và trăng. Như trong bài Động Đình Thu Nguyệt Hành (洞庭秋月行) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu; “Sơn thành thương thương dạ tịch tịch, thủy nguyệt uy di nhiễu thành bạch (山城蒼蒼夜寂寂、水月逶迤繞城白, thành núi xanh xanh đêm vắng vẻ, trăng nước lượn quanh thành trắng xóa).” (2) Chỉ mặt trăng trong sáng vằng vặc như nước. Như trong bài thơ Nam Khang Quận Mục Lục Quăng Lang Trung Tích Hứa Đường Tiên Bối Vi Quận Tùng Sự Hữu Ký Tặng (南康郡牧陸肱郎中辟許棠先輩爲郡從事有寄贈) của Trịnh Cốc (鄭谷, 849-911) nhà Đường có câu: “Dạ thanh tăng bán túc, thủy nguyệt tại tùng tiêu (夜清僧伴宿、水月在松梢, đêm thanh tăng chưa ngũ, trăng sáng trên ngọn tùng).” (3) Thủy nguyệt (s: udaka-candra), chỉ mặt trăng hay bóng trăng trong nước, là một trong 10 ví dụ của Phật Giáo Đại Thừa. Mặt trăng ở trong nước là bóng hiện ra, không phải là thật thể của mặt trăng; nên được dùng làm ví dụ cho cái không có tự tánh của các pháp. Kẻ phàm phu lầm chấp trong lòng nước tâm có hiện hữu các tướng tôi và của tôi, rồi bám chặt vào các pháp; nhưng thật ra các pháp không có thật thể của chúng, hết thảy đều do nhân duyên mà sanh diệt. Như trong bài thơ Tặng Tuyên Châu Linh Nguyên Tự Trọng Tuấn Công (贈宣州靈源寺仲濬公) của Lý Bạch (李白, 710-762) nhà Đường có câu: “Quán tâm đồng thủy nguyệt, giải lãnh đắc minh châu (觀心同水月、解領得明珠, quán tâm cùng trăng nước, lãnh ngộ được minh châu).” Hay trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 5, phần Xích Tùng Lãnh Thiền Sư Pháp Từ (赤松領禪師法嗣), Mi Đàm Phụng Hoàng Đại Chuyết Tịnh Hà Thiền Sư (眉潭鳳凰大拙淨霞禪師), lại có đoạn: “Pháp Thân thanh tịnh đẳng hư không, ứng vật hiện hình thủy nguyệt đồng, mạc đạo tha sơn phương thảo lục, xuân lai xữ xứ bách hoa hồng (法身清淨等虛空、應物現形水月同、莫道他山芳草綠、春來處處百花紅, Pháp Thân thanh tịnh tợ hư không, theo vật hiện hình trăng nước cùng, chớ bảo núi kia cỏ thơm lục, xuân về chốn chốn trăm hoa hồng).” Hoặc trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 21, phần Thư Châu Bạch Vân Sơn Hải Hội Diễn Hòa Thượng Ngữ Lục (舒州白雲山海會演和尚語錄), cũng có câu: “Cúc thủy nguyệt tại thủ, lộng hoa hương mãn y (掬水月在手、弄花香滿衣, vớt nước trăng trên tay, đùa hoa hương đầy áo).” Trong Tăng Bảo Chánh Tục Truyện (僧寶正續傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1561) quyển 1, phần La Hán Nam Thiền Sư (羅漢南禪師), lại có đoạn khác: “Yến tọa thủy nguyệt đạo tràng, hàng phục kính lí ma quân, thành tựu mộng trung Phật quả, kim triêu pháp tuế dĩ viên (宴坐水月道塲、降伏鏡裏魔軍、成就夢中佛果、今朝法歲已圓, ngồi Thiền trăng nước đạo tràng, hàng phục trong kính ma quân, thành tựu trong mộng quả Phật, sáng nay tuổi pháp đã tròn).”
thủy nguyệt
Udakacandra (S). The moon reflected in the water, i.e. all is illusory and unreal.
; Udakacandra (skt)—Jalacandra (skt)—Mặt trăng phản chiếu trên mặt nước (các pháp hư huyễn và không thật như bóng trăng trong nước)—The moon reflected in the water (all is illusory and unreal).
; (水月) Phạm: Udaka-candra. Cũng gọi Thủy trung nguyệt. Trăng dưới nước, 1 trong 10 thí dụ của Đại thừa,1trong 10 câu thí dụ về duyên sinh.Mặt trăng dưới nước chỉ là bóng mặt trăngchứ không phải thực thể của mặt trăng, hình ảnh này được dùng để thí dụ các pháp không có tự tính, phàm phu vọng chấp tướng Ngã(ta), Ngã sở(của ta) hiện ra trong nước tâm mà tham đắm các pháp, chứ thật ra các pháp hoàn toàn không có thực thể. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 101 hạ) nói: Hiểu rõ các pháp như huyễn hóa, như ánh dương, như trăng dưới nước (...), như bóng trong gương.... (xt. Thập Dụ).
thủy nguyệt quan âm
(水月觀音) Một trong 33 hóa thân củabồtát Quán âm. Hình tượng bồ tát Quánâm được khắc hoặc vẽ trong tư thế đang ngắm bóng trăng trong nước(thủy nguyệt) thường thấy thờ trong các chùa viện ở Trung quốc. Có thuyết cho rằng đây là hình tượng bồ tát Thủy cát tường thuộc viện Quán âm trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Hình tượng của Thủy nguyệt Quán âm có nhiều loại. Cứ theo Đồ tượng sao quyển 7 thì Thủy nguyệt Quán âm ngồi trên một gộp đá giữa biển cả, chân trái thõng xuống, đầu gối bên phải dựng đứng, mặt hơi ngước lên, trong dáng đang tư duy. Còn có tượng 3 mặt, 6 tay, 3 tay trái lần lượt cầm hoa sen báu, bánh xe vàng và lông đuôi chim công, 3 tay phải theo thứ tự cầm kiếm sắc, bảo châu và hoa sen xanh, thân sắc sáng như ánh mặt trời, ngồi trên núi báu. Lại theo Tôn dung sao thì hình tượng của Thủy Nguyệt Quánâm ngồi kết già(xếp bằng)trên tòa sen đặt trên gộp đá, tay trái cầm hoa sen búp, tay phải kết ấn Dữ nguyện, nước từ trong lòng bàn tay chảy ra. [X. Phật tượng đồ vậng Q.2].
thủy nguyệt quán âm
Bức tranh Quán Âm đang quán trăng đáy nước (nói lên sự giả hợp của chư pháp)—Kuan-Yin gazing at the moon in the water (the unreality of all phenomena).
thủy nguyệt thông giác
Thiền Sư Thủy Nguyệt Thông Giác (1637-1704)—Zen Master Thủy Nguyệt Thông Giác—Thiền sư Việt Nam, quê ở quận Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng, đạo Sơn Nam, Bắc Việt. Ngài xuất gia lúc 20 tuổi. Sau đó ngài sang Trung Quốc tầm sư học đạo và trở thành đệ tử của Thiền sư Thượng Đức. Trở về nước, sư trụ tại Hạ Long, thuộc quận Đông Triều để hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Một ngày vào khoảng đầu năm 1704, sư lên Thượng Long gặp sư Thiện Hữu, bảo rằng: “Nay tôi tuổi đã cao, và tôi cũng đã trụ thế đủ rồi, tôi muốn cùng Thầy lên núi nhập Niết Bàn.” Sư Thiện Hữu thưa: “Đạo quả của huynh nay đã chín muồi, còn tôi chưa tròn nên cần ở lại độ đời.” Hôm ấy sư trở về chùa bảo đồ chúng, nay ta lên chơi núi Nhẫm Dương, nếu bảy ngày mà không thấy ta về. Các ông lên ấy tìm chỗ nào có mùi thơm là kiếm được ta. Đến bảy ngày sau, đồ chúng không thấy ngài về, bèn lên núi tìm. Nghe mùi thơm, đi theo và tìm thấy ngài ngồi kiết già thị tịch trong một hang núi—A Vietnamese Zen Master from Ngự Thiên village, Tiên Hưng district, Sơn Nam province, North Vietnam. He left home and became a monk at the age of 20. In 1664, he went to China to seek a good master. He met Zen Master Thượng Đức and became the latter's disciple. He was the Dharma heir of the thirty-sixth generation of the T'ao-T'ung Zen Sect. When he returned home, he went to Hạ Long area, Đông Triều district to built a temple to expand Buddhism. One day in the beginning of 1704, he went to Thượng Long Temple and said to Zen Master Thiện Hữu: “Now I am old and I have been in the world long enough, let's go to the mountain to enter Nirvana.” Zen master Thiện Hữu said: “You, senior monk, have already completed your cultivation, but I have not. I must stay here longer to save more people.” He returned to Hạ Long Temple and told his disciples that he wanted to go wandering on Mount Nhẫm Dương. If after seven days, he would not return, they should go to Mount Nhẫm Dương and follow a fragrant smell in the mountain, then they could find him. After seven days, his disciples went to Mount Nhẫm Dương, followed a strangely fragrant smell, and found his body sitting in lotus posture.
thủy ngọc
Sphatika (skt)—Water crystal—Rock crystal.
thủy nhũ
Water and milk - an illustration of the intermingling of things; but their essential separateness is recognized in that the ràja-hamsa (a kind of goose) is said to be able to drink up the milk leaving behind the water.
; (水乳) Nước và sữa. Dùng nước hòa lẫn với sữa để ví dụ sự hòa hợp tự nhiên tốt đẹp giữa các sự vật. Kinh Tốithắngvương quyển 6 (Đại 16, 428 thượng) nói: Trên dưới hòa hợp như sữa với nước. (xt. NhũThủy).
thủy nhủ
Nước và sữa có thể pha trộn được—Water and milk which can be intermingled—The intermingling of things.
thủy nạn
See Thủy Hoạn.
thủy phong hỏa tai
Ba tai họa lớn—The three final catastrophes—See Tam Tai.
thủy phạn
(水飯) Cũng gọi Thủy chúc, Hàn chúc. Chỉ cho loại cơm được chế nước sôi rồi quấy đều, trông giống như cháo, nên gọi là Thủy phạn(cơm nước). Thiền lâm dùng loại cơm này để ăn lót lòng. [X. điều Trụ trì nhật dụng trongSắc tu Bách trượng thanh qui Q.2].
Thủy Phủ
(水府): nơi Thủy Thần trú ngụ. Ở Trung Quốc có Thủy Phủ Miếu (水府廟) được kiến lập vào năm thứ 12 (207) niên hiệu Kiến An (建安), cách 1.5 dặm về phía nam Thôn Trương Doanh (張營村), Làng Thành Giao (城郊鄉), Huyện Tân Dã (新野縣). Tương truyền, lúc bấy giờ Lưu Bị (劉僃) đang đóng binh tại Tân Dã (新野) để chiêu hiền nạp sĩ, sau ba lần đến thảo lư và cuối cùng mời được Gia Cát Lượng (諸葛亮) ra làm phụ tá. Khi Gia Cát Lượng tiến hành khảo sát địa lý quân sự vùng Tân Dã, phát hiện ra có hình dáng lưng con thủy xà (rắn nước) cách 3 dặm về phía nam Thành Tân Dã, lại gặp nước song tràn lên quá bờ đê, làm cho bá tánh phải khổ sở vì nạn nước lũ. Gia Cát Lượng đích thân thiết kế phương án trị thủy, động viên toàn quân dân cải cách đường sông, làm cho kiên cố đê điều và cho thiết lập một bến đò tại đây (tức Bến Đò Hán Tân [漢津碼頭]) để trấn thủy và đề phòng thủy tai. Người dân vùng này lại kiến lập một quần thể miếu điện ở phía đông bắc bến đò này trong vòng nửa năm trường, lấy tên là Thủy Phủ Miếu. Dưới thời nhà Đường và Tống, nơi đây trở thành trung tâm lưu thông các thương phẩm quan trọng của địa khu Trung Nguyên và trung tâm giao lưu văn hóa phồn thịnh. Đến thời nhà Minh, phần lớn các kiến trúc bị hư hại do binh hỏa. Bên trong điện có tôn thờ 58 tượng các vị thần như Thần Sông (河神), Ngọc Hoàng (玉皇), v.v. Mỗi năm những hoạt động tôn giáo quan trọng của khu miếu này có Miếu Hội vào ngày mồng 8 tháng 4, tế tự vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm Lịch, v.v. Ngoài ra, theo tín ngưỡng của Đạo Mẫu ở Việt Nam, Thủy Phủ (miền sông nước) là một trong Tứ Phủ, do mẫu đệ tam (Mẫu Thoải) trị vì. Trong truyện cổ tích của Việt Nam có câu chuyện Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy Phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân. Trong Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) quyển 152, phần Trịnh Đức Cự (鄭德苣) có câu: “Vi thị nãi ngộ, khủng quý, chiêu Tẩu đăng thuyền, bái nhi tấn tửu quả, khấu đầu viết: 'Ngô chi phụ mẫu, đương tại Thủy Phủ, khả tỉnh cận phủ ?' (韋氏乃悟、恐悸、召叟登舟、拜而進酒果、叩頭曰、吾之父母、當在水府、可省覲否, Họ Vi bèn tỉnh ngộ, sợ mà động lòng, mời Tẩu lên thuyền, lạy và dâng rượu quả, cúi đầu thưa: 'Cha mẹ tôi đang ở tại Thủy Phủ, liệu có thể thức tỉnh mà thân cận chăng ?').” Hay như trong Thái Thượng Tam Nguyên Tứ Phước Xá Tội Giải Ách Tiêu Tai Diên Sanh Bảo Mạng Diệu Kinh (太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經) của Đạo Giáo lại có đoạn: “Thiên Tôn ngôn: 'Thiên hạ chúng sanh, giang hà hồ hải, chu hàng thương cổ, phong ba hung dũng, kinh hoàng ưu cụ; nhược tụng thử kinh, quy y thiên địa Thủy Quan, Thủy Phủ chúng Thánh, tức sử phong điềm lãng tĩnh, thủy đồ an thỏa' (天尊言、天下眾生、江河湖海、舟航商賈、風波洶湧、驚惶憂懼、若誦此經、皈依天地水官、水府眾聖、卽使風恬浪靜、水途安妥, Thiên Tôn dạy rằng: 'Chúng sanh trong thiên hạ, sông nước hồ biển, thuyền bè buôn bán, sóng gió ầm ầm, kinh hoàng hãi sợ; nếu tụng kinh này, quy y thiên địa Thủy Quan, các bậc Thánh của Thủy Phủ, tức sẽ khiến cho gió yên sóng lặng, đường thủy yên ổn).” Hoặc trong Thái Nhất Cứu Khổ Hộ Thân Diệu Kinh (太一救苦護身妙經) của Đạo Giáo cho rằng Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn (太乙救苦天尊) ở dưới Thủy Phủ thì được gọi là Động Uyên Đế Quân (洞淵帝君): “Thử Thánh tại thiên hô vi Thái Nhất Phước Thần, tại thế hô vi Đại Từ Hành Giả, tại Địa Ngục hô vi Nhật Diệu Đế Quân, tại ngoại đạo nhiếp tà hô vi Sư Tử Minh Vương, tại Thủy Phủ hô vi Động Uyên Đế Quân (此聖在天呼爲太一福神、在世呼爲大慈行者、在地獄呼爲日耀帝君、在外道攝邪呼爲獅子明王、在水府呼爲洞淵帝君, vị Thánh này ở trên trời được gọi là Thái Nhất Phước Thần, trên thế gian được gọi là Đại Từ Hành Giả, dưới Địa Ngục được gọi là Nhật Diệu Đế Quân, nơi ngoại đạo trừ tà được gọi là Sư Tử Minh Vương, dưới Thủy Phủ được gọi là Động Uyên Đế Quân).”
Thủy Quan
(水官): tên gọi của một trong 3 vị của Tam Quan Đại Đế (三官大帝), tức Thủy Quan Đại Đế (水官大帝), Hạ Nguyên Giải Ách Thủy Quan Tam Phẩm Động Âm Đại Đế (下元解厄水官三品洞陰大帝), lệ thuộc Ngọc Thanh Cảnh (玉清境). Thủy Quan do khí của Phong Trạch (風澤) hòa với tinh của Thần Hạo (晨浩) mà thành, tổng chủ quản các vị thần tiên trong nước. Mỗi năm vào dịp rằm tháng 10, ông hạ phàm răn dạy tội phước, giải trừ các tai nạn, hạn ách cho con người. Có vài truyền thuyết về Thủy Quan Đại Đế như ông nguyên là vua Vũ (禹), nhờ có công lao trị thủy, nên được phong làm chức này. Vũ là con của vua Cổn (鯀), dưới thời vua Nghiêu (堯) trị thủy trong 9 năm trường mà vẫn không có kết quả, sau sai Vũ thay thế và trãi qua 13 năm thì thành công. Ông đặt quốc hiệu là Hạ (夏), vì vậy Trung Quốc có tên gọi khác là Hoa Hạ (華夏). Sau khi vua Vũ qua đời, Đạo Giáo tôn phụng ông là Hạ Nguyên Giải Ách Thủy Quan Tam Phẩm Động Âm Đại Đế; lấy Tiết Hạ Nguyên là ngày Vũ Đế giáng phàm giải ách cứu nạ cho muôn dân. Vì thế, ngày này còn được gọi là Tiêu Tai Nhật (消災日). Thuyết khác cho rằng Thủy Quan là Cát Ung (葛雍), một trong ba vị quan thường can gián nhà vua dưới thời Chu U Vương (周幽王). Họ từ quan, sống cuộc tự tại với thiên nhiên và sau được phong làm Tam Quan Đại Đế. Ngoài ra, có thuyết cho rằng Ngôn Vương Gia (言王爺) có 3 người con gái đều gả cho Trần Tử Thung (陳子摏) làm vợ; mỗi người hạ sanh được một trai, bẩm tánh khác người; nhân đó, Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) phong cho cả ba làm Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan, sắc mệnh chuyên cai quản Ba Cõi. Trong Thái Thượng Tam Nguyên Tứ Phước Xá Tội Giải Ách Tiêu Tai Diên Sanh Bảo Mạng Diệu Kinh (太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經), phần Thủy Quan Bảo Cáo (水官寶誥) của Đạo Giáo có đoạn về Thủy Quan rằng: “Chí tâm quy mạng lễ: Dương Cốc Động Nguyên, Thanh Hoa Cung trung, bộ tứ thập nhị tào, giai cửu thiên vạn chúng, chưởng quản giang hà Thủy Đế, vạn linh chi sự, thủy tai đại hội kiếp số chi kỳ, Chỉ Nhất Pháp Vương, chưởng trường dạ tử hồn quỷ thần chi tịch, Vô Vi Giáo Chủ, lục chúng sanh công quá tội phước chi do, thượng giải thiên tai, độ nghiệp mãn chi linh, hạ tế u cục, phân nhân quỷ chi đạo, tồn vong giai thái, lực tế vô cùng, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Hạ Nguyên Ngũ Khí, Giải Ách Thủy Quan, Kim Linh Động Âm Đại Đế, Dương Cốc Đế Quân (志心皈命體、暘谷洞元、青華宮中、部四十二曹、偕九千萬眾、掌管江河水帝、萬靈之事、水災大會劫數之期、芷一法王、掌長夜死魂鬼神之籍、無為敎主、錄眾生功過罪福之由、上解天災、度業滿之靈、下濟幽扃、分人鬼之道、存亡皆泰、力濟無窮、大悲大願、大聖大慈、下元五氣、解厄水官、金靈洞陰大帝、暘谷帝君, Một lòng quy mạng lễ: Dương Cốc Động Nguyên, trong Thanh Hoa Cung, cai quản 42 bộ quan, nhiếp chín ngàn vạn chúng, Thủy Đế chưởng quản sông hồ, mọi chuyện của muôn loài, khi có tai họa về nước, kiếp số đến kỳ; Chỉ Nhất Pháp Vương, quản lý hồ sơ hồn chết đêm dài của quỷ thần; Vô Vi Giáo Chủ, phán công quá tội phước của chúng sanh; trên giải trừ thiên tai, độ các linh hồn hết nghiệp; dưới cứu đường tối tăm, chia rõ đường quỷ và người, người còn kẻ mất được an thái, sức tế độ vô cùng, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Hạ Nguyên Ngũ Khí, Giải Ách Thủy Quan, Kim Linh Động Âm Đại Đế, Dương Cốc Đế Quân).”
thủy quan
Cái mũ của Tăng có hình giống như chữ “Thủy” ở phía trước—A monk's hat shaped like the character “Water” in front.
thủy quán
Xem thủy định. Also thủy tưởng, thủy tưởng quán.
; See Thủy Định.
; (水觀) I. Thủy Quán. Cũng gọi Thủy tưởng quán, Thủy tướng quán. Chỉ cho pháp quán tưởng về nước, 1 trong 16 pháp quán nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Nghĩa là thấy sự trong suốt của băng mà quán tưởng về đất lưu li ở cõi nước Tịnh độ cực lạc, tức trước hết quán tưởng sự lắng trong của nước, kế đến quán tưởng băng, thấy sự trong suốt của băng mà quán tưởng lưuli, rồi quán tưởng đất lưu li ở Tịnh độ cực lạc trong ngoài đều trong suốt. (xt. Thập Lục Quán). II. Thủy Quán. Cũng gọi Thủy tam muội, Thủy luân quán. Quán tưởng nước. Tức quán xét nước mũi, nước miếng, nước tiểu... trong thân mình cùng một tính chất với nước, hoàn toàn không khác với nước biển Hương hải (biển nước thơm). Nếu quán xét thành tựu thì đối với nước được tự tại, có năng lực tùy ý từ trong và ngoài thân hiện ra nước, gọi là Thủy định. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.5].
; (水冠) Loại mũ được sử dụng trong Thiền lâm. Mũ dài hơn một thước (Tàu), hình bán nguyệt, phần trước trán có phụ thêm nếp gấp hình chữ thủy ( ), vì thế gọi là Thủy quan. Lại do hình dáng mũ giống như con ve nên tục gọi là Thiền mạo tử, thông thường được may bằng vải đen, cho nên cũng gọi là Ô mạo tử. [X. Khải mông tùy lục; môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên].
thủy quán âm
Quán âm gazing at the moon in the water.
thủy quán đảnh
Kalābhisheka (S), Vase initiation.
thủy sinh thiên hữu ngũ chủng tướng
(始生天有五種相) Năm tướng của người lúc mới sinh lên cõi trời. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 39, lúc con người mới sinh cõi trời có 5 thứ tướng: 1. Quang minh phú thân tướng: Ánh sáng che thân, chứ thân không mặc áo, nên cảm thấy bẽn lẽn, thẹn thùng, không muốn để những người trời khác trông thấy thân hình lõa lồ của mình. Khi cảm nghĩ ấy nảy sinh thì các người trời khác thấy được và mình liền thấy có áo che thân, nhưng đó chỉ do ý nghĩ nảy sinh mà cảm thấy như thế thôi chứ thật ra thì không có áo. 2. Dục kiến viên lâm tướng: Muốn thấy vườn rừng. Nghĩa là sau khi đã thấy mọi vật trên cõi trời, liền sinh khởi tâm hiếm có; nhưng đối với những nơi vườn rừng thì chưa từng thấy, cho nên khi nảy sinh ý niệm muốn thấy vườn rừng thì được trông thấy vườn rừng khắp nơi. 3. Kiến thiên nữ sinh tàm tướng: Khi thấy các người nữ trên cõi trời thì trên mặt lộ vẻ bẽn lẽn và không dám nhìn thẳng. 4. Kiến thiên sinh nghi tướng: Khi thấy người trời khác, tuy muốn đến gần, nhưng tâm sinh nghi ngại và ý chí bất định. 5. Thăng không sinh bố tướng: Khi muốn bay lên hư không thì tâm sinh sợ hãi, hoặc không dám bay cao, bay xa, hoặc dựa vào vách thành hay nương trên mặt đất.
thủy sám
(水懺) Cũng gọi Thủy sám pháp, Tam muội thủy sám, Từ bi thủy sám, Từ bi thủy sám pháp. Sám pháp, 3 quyển, do Quốc sư Ngộ đạt Trihuyền soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Pháp sám này dùng nước từ bi tam muội để rửa sạch oan nghiệp nhiều đời, nhiều kiếp nên gọi là Thủy sám. Theo bài Tựa Từ bi đạo tràng thủy sám thì Quốc sư Ngộ đạt trong 1 kiếp quá khứ có tên là Viên áng,vì thù oán, Viên áng đã chém đầu Triệu thố. Về sau, trong 10 đời, Viên áng đều xuất gia tu hành, giới luật tinh nghiêm, cho nên trong suốt thời gian đó, Triệu thố vẫn nghĩ đến việc báo thù nhưng chưa có cơ hội. Sau, vì được vua Ý tông cung kính đãi ngộ nên ngài Tri huyền khởi tâm danh lợi, giới đức bị tổn giảm, oan nghiệp mới thừa cơ xâm nhập, bỗng nhiên trên đầu gối ngài mọc 1 cái nhọt mặt người, đầy đủ mày mắt, miệng răng, mỗi khi cho ăn uống thì nó há miệng, nhai nuốt giống hệt như người, tuy danh y khắp trong nước đã được mời đến để chữa trị nhưng không có hiệu quả. Sau, nhờ sự giúp đỡ của tôn giả Ca nặc ca dùng nước pháp tam muội rửa sạch, cái nhọt mới khỏi. Để mở bày pháp môn sám hối này cho người đời sau, Quốc sư Ngộ đạt Tri huyền mới soạn Sám văn 3 quyển (Từ bi thủy sám pháp, gọi tắt là Thủy sám), giúp chúng sinh chí thành sám hối tội lỗi để tiêu trừ oan nghiệp đời trước. [X. bài Tựa Từ bi đạo tràng thủy sám].
thủy sĩ
1) Bậc phát tâm đầu tiên: An initiator. 2) Bậc Bồ Tát khuyến tấn người khác tu hành giác ngộ: A Bodhisattva who stimulates beings to enlightenment.
; (始士) Chỉ cho Bồ tát. Tức lấy nghĩa Thủy phát tâm(phát tâm từ vô thủy) mà gọi là Thủy sĩ. Niết bàn kinh sớ tam đức chỉ qui quyển 2 (Vạn tục 58, 196 thượng) nói: Bồ đề tát đỏa, (...) Đại sư Đạo an dịch là Khai sĩ, Thủy sĩ. Bởi vì Bồ tát đã phát tâm bồ đề từ vô thủy đến nay để cứu vớt chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, nên gọi là Thủy sĩ.
thủy tai
xem ba tai kiếp lớn.
; The calamity of water, or flood; one of the three final world catastrophes of fire, wind and water, tam tai.
; Thủy tai là một trong ba tai họa lớn vào thời hoại kiếp là lửa, gió và nước (hỏa, phong, thủy)—The calamity of water—Flood (one of the three final world catastrophes: fire, wind and water)—See Tam Tai.
; (水灾) Phạm: Ap-saôvartanì. Tai nạn nước như lụt lội,1trong3tai họa lớn. Trong 4 kiếp Thành, Trụ, Hoại, Không thì vào thời gian cuối cùng của kiếp Hoại, 3 tai nạn lớn là nạn nước, nạn lửa và nạn gió sẽ lần lượt xảy ra để quét sạch thế giới. Nạn nước nổi lên để rửa sạch thế giới sau 7 lần nạn lửa đã thiêu rụi, từ địa ngục Vô gián lên đến trời Thiền thứ 2 thuộc cõi Sắc đều bị chìm ngập dưới làn nước. Qua 1 lần nạn nước này, lại nổi lên 7 lần nạn lửa nữavà sau 56 lần nạn lửa và 7 lần nạn nước thì nạn gió thổi lên để quét sạch toàn thế giới. [X. luận Câuxá Q.12]. (xt. Tam Tai).
thủy thiên
Varuna (S). The heavens, or the sky, where are clouds and dragons.
; Varuna (skt)—Thủy thiên, một trong những vị thần lớn của Mật Giáo Mạn Đà La, vị nầy cai trị mây, mưa và nước—Water deva—Dragon-king, one of the great spirits in the esoteric mandalas, who rules the clouds, rains and water.
; (水天) Phạm: Varuịa. Hán âm: Phạ rô noa, Phạ lâu na, Bà lâu na, Phật lâu nã. Một trong 12 vị trời của Mật giáo, 1 trong 8 vị trời che chở cho thế gian ở 8 phương, là vị trời giữ gìn phương tây, là chúa dòng họ Rồng. Thủy thiên vốn là vị thần của Bà la môn giáo ở Ấn độ đời xưa, chủ về sông ngòi, coi việc cúng tế, duy trì đạo đức, thưởng thiện phạt ác... Trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo có 2 vị Thủy thiên: 1. Thủy thiên ở phía bắc của cửa Tây thuộc viện Ngoại kim cương bộ, thân có màu đỏ, trên đầu có 9 cái đầu rồng(hình dáng con rắn), tay phải để ngang ngực, cầm vòng dây, tay trái đặt ở cạnh sườn. Có thuyết cho rằng đây là vợ của Thủy thiên, còn vị trời trên đầu có 7 đầu rồng, tay trái nắm lại đặt ngang eo mới là Thủy thiên. 2. Thủy thiên ở phía nam của cửa Tây, tay phải cầm thanh gươm, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có ngôi sao. Vị trời này thường bị ngờ lầm là Thủy diệu. Trong Ngoại kim cương bộ thuộc Mạn đồ la Kim cương giới, Thủy thiên được an trí ở phía bắc, tay phải cầm dây rồng, tay trái đặt ở eo, ngồi trên lá sen. Hình tượng Thủy thiên phổ thông thường dùng là theo thuyết của Lược bản Du già hộ ma quĩ và Thập nhị thiên quĩ, tức là Thủy thiên ở trong nước, đầu đội cái mũ có 5 con rồng, ngồi trên lưng con rùa, tay trái cầm dây rồng, tay phải cầm thanh gươm. Ngoài ra, pháp tu thờ Thủy thiên làm Bản tôn, gọi là Thủy thiên pháp. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Bí mật Mạn đồ la Q.5; kinh Đà la ni tập Q.11; kinh Đại luân vân thỉnh vũ Q. thượng; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.3]. (xt. Bát Phương Thiên; Thập Nhị Thiên).
thủy thiên cúng
See Thủy Thiên Pháp.
thủy thiên hậu
Varunani (S)Nữ thủy thần.
; (水天後) Phạm:Varuịànì. Cũng gọi Long vương phi. Vợ của Thủy thiên trong 12 vị trời của Mật giáo. Trong các Mạn đồ la của Mật giáo, Thủy thiên(chồng)thường bị lẫn lộn với Thủy thiên hậu(vợ)và quyến thuộc của Thủy thiên cũng thường bị lẫn lộn với quyến thuộc của Thủy thiên hậu. Như ở phía bắc cửa tây của Ngoại viện thuộc Hiện đồMạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, có bày 3 vị là Thủy thiên, Thủy thiên hậu và Thủy thiên quyến thuộc. Trong đó, Thủy thiên hậu trên đầu có 7 con rắn, tay phải cầm dây rồng, tay trái nắm lại đặt ở chỗ eo, có thuyết cho hình tượng này là của Thủy thiên, còn hình tượng bên cạnh Thủy thiên, đầu đội 9 con rắn, bàn tay trái đặt ở eo, mới là Thủy thiên hậu. Thai tạng đồ tượng và Thai tạng cựu đồ dạng thì nêu 2 vị hậu và phi, Thủy thiên hậu cỡi cá Ma kiệt, tay trái cầm rắn, tay phải cầm hoa. [X. Chư thuyết bất đồng kí Q.10].
thủy thiên phi
Người phi của Thủy Thiên bên cánh trái—The consort of the Water-deva, represented on his left.
thủy thiên pháp
Thủy Thiên Cúng—Phương pháp cúng Thủy Thiên để cầu mưa—The method of worshipping the Water Deva for rain.
; (水天法) Cũng gọi Thủy thiên cúng. Pháp cúng dường Thủy thiên. Tức pháp tu để cầu mưa trong Mật giáo, thờ Thủy thiên làm Bản tôn, là pháp tu y cứ theo Thủy thiên ấn chú pháp nói trong kinh Đà la ni tập quyển 11 và trong Cúng dường thập nhị đại uy đức thiên báo ân phẩm...
thủy thiên phật
The 743rd Buddha of the present universe.
thủy thiên quyến thuộc
Quyến thuộc của Thủy Thiên, bên cánh phải—Chief retainers of the Water Deva, placed on his right.
; (水天眷屬) Quyến thuộc của Thủy thiên trong 12 vị trời thuộc Mật giáo. Các vị tôn này được xếp ở viện ngoài của Mạn đồ la Thai tạng giới. Trong Hiện đồ Mạn đồ la thì ở phía nam và phía bắc của cửa Tây mỗi phía đều có một vị Thủy thiên. Vị tôn ở phía nam của cửa Tây 2 tay chắp, cầm cây kích 3 chĩa, ngồi quị trên tòa hình tròn; còn vị tôn ở phía bắc của cửa Tây có lẽ là quyến thuộc của vợ Thủy thiên, đầu đội 8 con rắn, tay phải cầm mâu, tay trái cầm dây rắn, đặt ở chỗ cạnh sườn, ngồi tréo chân trên tòa hình tròn.
thủy thiên thần
Xem Bà lâu na Long vương.
thủy thiên đức phật
Vị Phật thứ 743 của vũ trụ hiện tại—The 743rd Buddha of the present universe.
thủy thiện kị
(始善忌) Cũng gọi Sơ (Sở) nguyện kị, Khốc thiêm kị. Chỉ cho lễ kị do thân thuộc cử hành tu thiện cúng dường để cầu phúc cho người chết vào 7 ngày đầu tiên(thủy)người ấy qua đời. Cứ theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 5 và Vu lan bồn kinh sớ quyển thượng, nếu tu phúc cúng dường hồi hướng cho người quá cố thì vong linh người ấy sẽ không bị đọa trong đường ngã quỉ, lại được vô lượng phúc đức.[X. Truy kị danh số chi thứ đệ trong Chư hồi hướng thanh qui Q.4].
thủy thoa hoa
Water shuttle flower (fish).
; (水梭花) Cái thoi dưới nước. Tiếng lóng chỉ cho con cá. Chúng tăng bị cấm uống rượu, ăn cá thịt tanh hôi, cho nên đặc biệt dùng tiếng óng này để gọi con cá. Vì cá bơi lội trong nước qua lại như cái thoi đưa trên khung cửi nên gọi là Thủy thoa hoa. Đông pha chí lâm nói: Chúng tăng gọi rượu là Bát nhã thang (nước trí tuệ), gọi cá là Thủy thoa hoa, gọi gà là Toản li thái (rau khoan bờ dậu). [X. Thư ngôn cố sự thủy tộc loại].
thủy thuyết kệ
(水說偈) Kệ nói trong nước. Tức chỉ cho bài kệ do ngài Kiều phạm ba đề nói lúc ngài nhập Thủy định để vào Niết bàn. Cứ theo luận Đại Trí độ quyển 2 thì ngài Kiều phạm ba đề là đệ tử của tôn giả Xá lợi phất, trụ trong vườn cây Ni lợi sa trên cõi trời; sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Đại Ca diếp có thỉnh ngài đến để kết tập Tam tạng. Ngài Kiều phạm ba đề nghe đức Phật và 2 tôn giả Xá lợi phất và Ma ha Mục kiền liên đều đã diệt độ, ngài bèn nhập Thủy định, từ trong thân tuôn ra nước, chảy đến chỗ tôn giả Đại Ca diếp và ở trong nước phát ra tiếng nói bài kệ rằng (Đại 25, 69 thượng): Kiều phạm bát đề khể thủ lễ, Diệu chúng đệ nhất đại đức tăng; Văn Phật diệt độ ngã tùy khứ, Như đại tượng khứ tượng tử tùy. (Kiều phạm bát đề cúi đầu lạy, Đại đức tăng đứng đầu trong chúng; Nghe Phật diệt độ tôi diệt theo, Như voi mẹ đi voi con theo. Còn Thủy thuyết kệ trong A di đà kinh thông tán sớ quyển thượng thì cũng ý ấy, nhưng lời hơi khác, bài kệ đó như sau (Đại 37, 336 trung): Kiều phạm ba đề đầu diện lễ, Diệu chúng đoan nghiêm đệ nhất tượng; Tượng vương kí khứ tượng tử tùy, Đại sư nhập diệt ngã diệc diệt. (Kiều phạm ba đề đầu mặt lễ, Bậc đoan nghiêm đứng đầu trong chúng; Voi chúa đi rồi voi con theo, Đại sư nhập diệt, tôi cũng diệt).
thủy thượng bào
A bubble on the water, emblem of all things being transient.
; 1) Bong bóng nước: A bubble on the water. 2) Một biểu tượng vô thường của vạn hữu: Emblem of all things being transient.
; (水上泡) Bọt trên mặt nước. Ví dụ sự vô thường và chuyển biến của các hiện tượng. Các pháp do nhân duyên hòa hợp mà thành, chẳng phải là những cái thường hằng bất biến, giống như đám bọt bong bóng trên mặt nước, hư giả chẳng thật, tiêu tan trong giây lát. [X. phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy Ma].
thủy thần
Water-deva—See Thủy Thiên.
thủy tinh
Xem Pha lê.
; 1) Hành tinh Thủy Tinh: Mercury (planet). 2) Pha Lê: Sphatika (skt)—Crystal.
; (水精) Phạm: Sphaỉika. Hán âm: Phả lê, Phả trí ca. Cũng gọi Bạch châu. Tăng quảng bản thảo cương mục quyển 8 có nêu tên thủy tinh, cho rằng thủy tinh sáng trong như nước, cứng chắc như ngọc, vì thế cũng gọi là Thủy ngọc. Nhưng Tuệ lâm âm nghĩa thì lại cho rằng xưa dịch phả lê thành thủy tinh là sai, vì phả lê là loại đá quí được xếp hạng là 1 trong 7 thứ báu, nó trong suốt, sáng óng ánh, lại có nhiều màu như tía, trắng, hồng, biếc... trong đó loại có màu hồng và biếc là quí nhất. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.4; Huyền ứng âm nghĩa Q.6]. (xt. Phả Lê).
Thủy Tiên
(水仙、水僊): có mấy nghĩa. (1) Vị thần tiên dưới nước trong truyền thuyết. Như trong Đạo thư Thiên Ẩn Tử (天隱子), Thần Giải Bát (神解八), của Đạo sĩ Tư Mã Thừa Trinh (司馬承禎, 647-735) nhà Đường giải thích rằng: “Tại nhân vị chi nhân tiên, tại thiên viết thiên tiên, tại địa viết địa tiên, tại thủy viết thủy tiên, năng biến thông chi viết thần tiên (在人謂之人仙、在天曰天仙、在地曰地仙、在水曰水仙、能變通之曰神仙, ở cõi người thì gọi là nhân tiên, trên trời gọi là thiên tiên, dưới đất gọi là địa tiên, trong nước gọi là thủy tiên, có thể biến hóa thông suốt gọi là thần tiên).” (2) Chỉ cho người được chôn dưới nước. (3) Chỉ người rong chơi khắp giang hồ mà quên trở về. (4) Tên một loại cầm khúc.
thủy trung nguyệt
Udaka-candra (S), Jalacandra (S), Moon reflection on the waterMặt trăng dưới nước.
; Jalacandra (S). The moon's reflexion on the water.
; Jalacandra (skt)—Mặt trăng trong nước—Water-moon.
thủy trần
Arājas (S).
; An atom of dust wandering freely in water - one of the smallest of things.
; 1) Một nguyên tử (hạt) bụi dong ruổi tự do trong nước—An atom of dust wandering freely in water. 2) Những vật thể nhỏ nhất—One of the smallest things.
; (水塵) Bụi nước. Một trong các loại bụi nhỏ, nhỏ hơn 7 lần so với thỏ mao trần (hạt bụi nhỏ bằng đầu sợi lông con thỏ). Vì mảy bụi này có thể đi qua kẽ hở các phân tử nước không trở ngại, cho nên gọi là Thủy trần.
thủy táng
Water-burial, casting a corpse into the water, one of the four forms of burial địa, thủy, hỏa, điểu táng.
; Water-burial—Ném xác xuống nước, một trong bốn loại mai táng—Casting a corpse into the water, one of the four form of burial (Hỏa táng: Fire, Thủy táng: Water, Thổ táng: Ground, and Lâm táng: Buried in the forest).
; (水葬) Cũng gọi Hà táng. Chỉ cho phép an táng người chết bằng cách bỏ xác xuống sông cho trôi theo dòng nước đến khi tan rã, gọi là Thủy táng. Đây là 1 trong 4 cách an táng ở Ấn độ, tức là hỏa táng(đốt xác), thủy táng, thổ táng(chôn xác dưới đất) và lâm táng(bỏ xác trong rừng). Trong đó, cách thủy táng đến nay vẫn còn được tín đồ Ấn độ giáo thực hành. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q. hạ, phần 4].
thủy tướng quán
See Thủy Định.
thủy tưởng
See Thủy định.
thủy tưởng quán
(水想觀) Gọi tắt: Thủy tưởng, Thủy quán. Quán tưởng về nước, là pháp quán thứ 2 trong số 16 pháp quán nói trong kinh Quánvô lượng thọ. Khi thực hành pháp quán này thì trước hết quán tưởng nước, thấy sự lắng trong của nước, kế đến quán tưởng băng, do sự trong suốt của băng mà khởi tưởng lưu li, khi tưởng lưu li thành tựu thì thấy đất lưu li của Tịnh độ cực lạc trong ngoài sáng sạch trong suốt, rõ ràng hiện ra trước mắt. [X. Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q. thượng (Tuệ viễn); Quán kinh định thiện nghĩa]. (xt. Thập Lục Quán).
thủy tạng
Kho tàng dưới nước, một trong các con trai của Lưu Thủy—Water-store or treasury, one of the sons of Jalavahana (Lưu Thủy).
thủy tạng phật
Mamaki (P), Water-Element Buddha Ma Ma Kê Bồ tát, Mang Mãng Kê Bồ tát, Ma Mạc Chi Bồ tátMột vị nữ Phật hóa thân địa đại của tất cả chư Phật. Bà đi cùng Phật Bảo sanh (TT).
thủy tịnh
Jalogokappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.
; Cleansed by water; edibles recovered from flowing water are "clean" food to a monk.
; 1) Được tẩy sạch bằng nước—Cleansed by water. 2) Tất cả những thức ăn được lấy lên từ dòng nước chảy đều là “tịnh thực” cho chư Tăng Ni: Edibles (eatables) recovered from flowing water are “clean” food to monks and nuns.
thủy tịnh thực
(水淨食) Một trong 5 thứ tịnh thực do đức Phật qui định. Nghĩa là tỉ khưu lấy những thực vật trôi trên mặt nước mà dùng thì không phạm giới luật, gọi là Thủy tịnh thực.
thủy viên
Danh từ dùng để gọi “hỏa châu,” còn gọi là “châu viên,” là viên ngọc báu trên tháp các tự viện—Water globule, a term used for fire-pearl or ruby, also altered to Pearl-ball; it is the ball on top of a pagoda.
thủy yên
(水烟) Cũng gọi Thủy viên, Châu viên. Vốn gọi là Hỏa châu, là bảo châu hình ánh lửa đặt ở chóp của Cửu luân trên tháp. Người thế gian kiêng hỏa(lửa) nên gọi Hỏa châu là Thủy yên. [X. Cốc hưởng tập Q.1].
thủy điền y
Áo Cà Sa được nối lại bằng những mảnh vuông giống như những mảnh ruộng—A monks' robe, because its patches resemble rice-fields.
thủy đàn
Nước (bàn nước tròn) vòng theo hỏa lò, dành cho các nghi lễ về lửa trong Mật Tông—The water, or round altar in the Homa, or Fire ceremonial of the esoterics.
; (水壇) Đàn nước, một loại đàn Hộ ma của Mật giáo. Cách làm đàn Hộ ma trong Mật giáo, vốn phải cần 7 ngày để chuẩn bị các việc như: Chọn đất, chọn giờ, đào đất, rửa đất và rảy nước thơm để gia trì, nhưng nếu khi có bệnh cấp cứu hoặc các tai biến như chiến loạn... nổi lên thì chỉ cần rảy nước trên mặt đất sạch, trong vòng 1 ngày có thể lập đàn, gọi là Thủy đàn; lại vì dùng đất đắp đàn nên cũng gọi là Thổ đàn. Ngoài ra, Mộc đàn (đàn gỗ)cũng thực hành rảy nước gia trì; vả lại không bị hạn chế nơi chốn, có thể tự do hành trì, như nước chảy một cách tự nhiên, cho nên cũng gọi là Thủy đàn.
thủy đăng
Lễ rước đèn nước vào tháng bảy—Water-latern festival in the seventh month.
thủy đại
Water-element, Āpo-dhātu (P), Āpo (P)ThủyMột trong tứ đại.
; Apo-dhàtu (S). Water element, one of the four elements tứ đại.
; Thủy đại là một trong tứ đại (đất, nước, lửa, gió)—The element water, one of the four elements (earth, water, fire, and wind).
; (水大) Phạm:Ab-dhàtu. `Yếu tố nước,1trong4yếu tố tạo thành tất cả sắc pháp(vật chất). Tính của nước là ướt, hay thấm vào các vật nên gọi là Thủy; Thể của nước rộng lớn, bao trùm tất cả sắc pháp nên gọi là Đại. [X. kinh Tượng tích dụ trong kinh Trường a hàm Q.7; luận Đại tì bà sa Q.127]. (xt. Lục Đại, Tứ Đại).
thủy đầu
Vị sư chăm lo về nước nôi trong tự viện—The waterman in a monastery.
; (水頭) Cũng gọi Thủy khán. Chức vụ phụ trách việc gánh nước, đun nước cho đại chúng tắm gội trong tùng lâm.Thiền uyển thanh qui quyển 8 (Vạn tục 111, 460 thượng) nói: Nước nóng không đủ, lạnh ấm thất thường, nếu chẳng phải là Dục chủ(người phụ trách việc tắm gội) và Thủy đầu thì ai chịu trách nhiệm trước đại chúng?. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.16].
thủy định
The water dhyàna, in which one becomes identified with water, for during the period of trance one may become water.
; Thủy Quán—Thủy Tướng Quán—Thủy Tưởng—Thiền định được tự tại về nước (làm cho thân mát tâm tịnh như nước)—The water dhyana, in which one becomes identified with water (calm, pure, fresh, etc).
; (水定) Chỉ cho thiền định nhờ tu tập Thủy quán mà có được. Tức nhất tâm quán tưởng về nước, đối với nước được tự tại, có năng lực tùy ý khiến cho trong thân, ngoài thân hiện thành nước. (xt. Thủy Quán).
thủy đức phật
Vị Phật thứ 743 trong 1000 vị Phật Hiền Kiếp—The 743rd Buddha of the present universe.
Thứ
次; C: cì; J: shi;|1. Tiếp theo, theo sau; người thứ hai; 2. Thứ bậc, theo thứ bậc; 3. Kém hơn, thấp hơn, thứ yếu; 4. Một lượt, một loạt, một quãng; 5. Một nơi, chỗ ngập ngừng. Đến, đạt đến; 6. Vị trí của mặt trời và mặt trăng.
thứ
1) Thứ Thiếp: A multitude—A concubine. 2) Con Thứ: A second-born child. 3) Tha Thứ: To pardon—To forgive. 4) Hạng Thứ: Second—Secondary.
thứ ca
Cakra (skt)—See Thứ La.
thứ dân
The common people.
thứ la
Cakra (skt)—Bánh xe—A wheel.
thứ loại
1) Loại: Kind—Sort. 2) Thường dân: Common people.
thứ mẫu
Stepmother.
thứ nam
Second son.
thứ nhất tại gia, thứ nhì tại chợ, thứ ba tại chùa
The most difficult setting to practice and cultivate the dharma is at home, next is at the market, and the easiest and most favorable place is in a temple.
thứ tha
To pardon—To forgive.
thứ xấu
Bad quality.
thứ đẳng
Second rank.
Thứ đệ
次第; C: cìdì; J: shidai; S: krama. |Một trong 24 pháp tâm bất tương ưng hành theo giáo lí Duy thức. Khả năng thiết lập tạm thời của các pháp hữu vi trong tiến trình sinh diệt của chúng, theo trật tự trước sau liên quan đến nhân quả, có nghĩa: đặc tính của các pháp là sinh khởi và hoại diệt không đồng thời.
thứ đệ
Anukrama (S), Vihārapāla (P)Thứ lớp trước sau của pháp hữu viNgười coi chùaXem Yết ma.
; Vihàrapàla (S). Keeper of the pagoda. Also Bà la. Xem Duy na.
; In turn—One after another.
; (次第) Phạm: Anukrama. Thứ lớp, 1 trong 100 pháp, 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành. Tất cả pháp hữu vi không phải cùng chuyển biến một lúc mà có thứ tự trước sau, gọi là Thứ đệ. Theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 2 thì các tên gọi được giả lập trong sự lưu chuyển của mỗi pháp nhân quả, gọi là Thứ đệ. Còn trong luận Du già sư địa quyển 56 thì nêu ra 3 loại thứ đệ sau đây: 1. Sát na lưu chuyển thứ đệ(cũng gọi Chư hành lưu chuyển thứ đệ): Thứ lớp lưu chuyển nối nhau giữa niệm trước và niệm sau của các hành(hiện tượng). 2. Nội thân lưu chuyển thứ đệ: Thứ lớp của 10 thời trong 1 thân. 3. Thành lập sở tác lưu chuyển thứ đệ: Thứ lớp sắp đặt trước sau của khí thế giới bên ngoài thân. Ba loại thứ đệ nói trên là y cứ vào phần vị lưu chuyển của các pháp mà giả lập, cho nên chẳng phải là pháp thật. Ngoài ra, thứ lớp ghi chép nghi thức của các pháp tu, pháp hội, hành sự... trong Mật giáo cũng gọi là Thứ đệ. Như Kim cương giới thứ đệ, Thập bát đạo thứ đệ, Tôn thắng Phật thứ đệ, Bất động thứ đệ... [X. luận Du già sư địa Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa bách pháp minh môn; Du già luận kí Q.15 hạ]. (xt. Nhị Thập Tứ Bất Tương Ứng Pháp).
thứ đệ chứng
(次第證) Cũng gọi Thứ đệ đoạn. Hàng Thanh văn Tiểu thừa thứ lớp tu hành trải qua các giai vị Tứ hướng Tứ quả để chứng được quả vị A la hán, gọi là Thứ đệ chứng. Trái lại, người không trải qua giai vị Tứ hướng, nhưng vượt ngaylên từ Sơ quả đến Tam quả để chứng quả vị A la hán thì gọi là Siêu việt chứng, Siêu việt đoạn (gọi tắt là Siêu chứng). Hàng phàm phu từ Kiến đạo trở xuống, do mức độ tu trì 6 hành quán hữu lậu, đoạn trừ 9 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục có khác nhau, cho nên sự chứng ngộ cũng có Thứ đệ chứng và Siêu việt chứng khác nhau. Cứ theo luận Câu xá quyển 23, 24, người đã đoạn trừ và chưa đoạn trừ 5 phẩm Tu hoặc trước của cõi Dục cũng nhập vào Kiến đạo, gọi là Dự lưu hướng; nhưng đoạn đến 6, 7, 8 phẩm thì trở thành Nhất lai hướng; đoạn đến phẩm thứ 9 và đoạn cả Tu hoặc của cõi Sắc, cõi Vô sắc (trừ Hữu đính địa) thì gọi là Bất hoàn hướng, khi đến tâm thứ 16 lúc Kiến đạo kết thúc(tức lúc bắt đầu vào Tu đạo) thì lần lượt chứng được quả Nhất lai, quả Bất hoàn, các bậc Thánh này được gọi là Siêu việt Nhất lai hoặc siêu việt Bất hoàn. Đồng thời, tùy theo mức độ lìa bỏ các phiền não trong cõi Dục như tham... mà có danh xưng khác nhau, bậc Thánh siêu việt Nhất lai gọi là Bội li dục, bậc Thánhsiêu việt Bất hoàn gọi là Toàn li dục. Bội nghĩa là lìa bỏ tham dục gấp bội số lần của người tu chứng theo thứ lớp; còn toàn thì chỉ cho sự hoàn toàn xa lìa các phiền não cõi Dục.[X. luận Câu xá Q.3, 21]. (xt. Siêu Việt Chứng).
Thứ đệ duyên
次第縁; C: cìdìyuàn; J: shidaien; |Nhân duyên tiếp nối trước sau (s: anantara-pratyaya). Một trong Tứ duyên theo giáo lí Du-già hành tông, trong đó các hiện tượng có một trật tự trước sau nghiêm mật. Đây là thuật ngữ được Chân Đế dùng trong khi Huyền Trang dịch là Đẳng vô gián duyên (等無間縁)
thứ đệ duyên
Vô Gián Duyên—Connected or consequent causes—Continuous conditional or accessory cause.
Thứ đệ duyên 次第縁
[ja] シダイエン shidaien ||| Causality of precedence; antecedent causality (anantara-pratyaya). One of the four kinds of causes 四縁 in Yogācāra thought, wherein mental phenomena have a direct order of prior and subsequent. 〔攝大乘論 T 1593.31.115c27〕 This is Paramārtha's 眞諦 translation of the term, whereas Xuanzang's 玄奘 translation is deng wujian yuan 等無間縁. => Nhân duyên tiếp nối trước sau (s: anantara-pratyaya). Một trong Tứ duyên 四縁theo giáo lý Du-già hành tông, trong đó các hiện tượng có một trật tự trước sau nghiêm mật. Đây là thuật ngữ do Chân Đế dịch眞諦, trong khi Huyền Trang dịch là Đẳng vô gián duyên 等無間縁.
thứ đệ khất thực
(次第乞食) Pàli:Sapadànacàrin. Không lựa chọn nghèo giàu, cứ theo thứ lớp khất thực, 1 trong 12 hạnh đầu đà. Người tu hành nhờ hạnh này mà bồi dưỡng tâm bình đẳng để tiêu trừ phiền não. [X. luật Thậptụng Q.11]. (xt. Thập Nhị Đầu Đà Hạnh).
thứ đệ tam quán
(次第三觀) Cũng gọi Biệt tướng tam quán, Cách lịch tam quán. Đối lại: Bất thứ đệ tam quán, Viên dung tam quán. Pháp quán của Biệt giáo trong 4 giáo Hóa pháp do tông Thiên thai lập ra. Nghĩa là tu tập 3 quán Không, Giả, Trung lần lượt theo thứ lớp. Trái lại, pháp quán Nhất tâm tam quán của Viên giáo thì gọi là Bất thứ đệ tam quán. Bởi vì Biệt giáo cho rằng 3 quán Không, Giả, Trung theo thứ lớp cách nhau chứ không dung nhau, cho nên phải quán xét lần lượt theo thứ lớp từ Không đến Giả, đến Trung, nhờ đó mà theo thứ lớp phá trừ 3 hoặc Kiến tư, Trần sa và Vô minh để chứng đắc 3 trí: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí và Nhất thiết chủng trí. Nhưng Viên giáo thì cho rằng trong một niệm tâm có thể quán đủ 3 đế Không, Giả, Trung chứ không cần phải tu tập theo thứ lớp, vì thế 3 quán của Viên giáo được gọi là Viên dung tam quán, Bất thứ đệ tam quán. Nếu đem 3 quán phối hợp với các hành vị của Biệt giáo thì Thập trụ vị tu tập Không quán, Thập hành vị tu tập Giả quán và Thập hồi hướng vị tu tập Trung đạo quán. Nhưng cũng có trường hợp tu cả 3 quán, như Bồ tát Thập trụ vị, ngoài việc tu tập không quán, cũng gồm tu cả Giả quán và Trung đạo quán. Bởi vì tông Thiên thai chia 3 quán làm 2 loại là Thứ đệ và Bất thứ đệ, dùng Thứ đệ tam quán của Biệt giáo hiển bày Bất thứ đệ tam quán của Viên giáo để nêu tỏ giáo tướng của Viên giáo. [X. kinh Bồtát anh lạc bản nghiệp Q. thượng; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ (Tríkhải); Ma ha chỉ quán Q.3 thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3 thượng, Q.4 hạ; Tứ giáo nghĩa Q.1, 5; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q. hạ, phần đầu]. (xt. Tam Quán).
Thứ đệ 次第
[ja] シダイ shidai ||| (krama); 'order', 'precedence.' One of the twenty-four elements not concomitant with mind in Consciousness-only theory. The provisionally established capacity of conditioned elements (dharmas) in their arising and ceasing, to follow the order of before and after in regard to cause and effect, i.e., the characteristic of elements (法) is that their arising and cessation is not simultaneous. => (s: krama). Một trong 24 pháp tâm bất tương ưng hành theo giáo lý Duy thức. Khả năng thiết lập tạm thời các pháp trong tiến trình sinh diệt của chúng, theo trật tự trước sau liên quan đến nhân quả, có nghĩa là đặc tính của các pháp sinh khởi và hoại diệt nhưng không đồng thời.
Thứ 次
[ja] シ shi ||| (1) Next, the following; the second one. (2) In order; to follow in order. (3) Inferior, lower, secondary. (4 A time, a series, an interval. (4) A place; a halting place. To reach, to arrive at. (5) The astrological position of the sun and the moon. => 1. Tiếp theo, theo sau; người thứ hai. 2. Thứ bậc, theo thứ bậc. 3. Kém hơn, thấp hơn, thứ yếu. 4. Một lượt, một loạt, một quãng. 5. Một nơi, chỗ ngập ngừng. Đến, đạt đến. 6. Quan điểm chiêm tinh học về mặt trời và mặt trăng.
Thức
識; S: vijñāna; P: viññāṇa; J: shiki;|1. Một thuật ngữ quan trọng trong Phật pháp chỉ sự »nhận biết.« Có sáu thức thông thường gồm năm thức của năm giác quan và ý thức. Ðó là hoạt động tâm lí sau khi giác quan (căn) tiếp xúc với đối tượng (trần), thức được sinh ra. Thức là một yếu tố của Ngũ uẩn và là yếu tố thứ 3 trong Mười hai nhân duyên.|Thức là »giác quan« tâm lí, ở đây được xem là ngang hàng với năm giác quan kia nhằm tránh quan niệm cho rằng thức chính là cái chứa đựng cái »Ta«, một cái gì độc lập thường hằng. Thức chỉ là một yếu tố tạo nên cái mà ta tưởng là một con người mà thật chất con người đó chỉ là sự cảm nhận giả hợp (xem thêm Tâm sở). Ðặc biệt là trong Duy thức tông, người ta phân biệt tám loại thức khác nhau (Pháp tướng tông).|2. Theo Ấn Ðộ giáo thì »vijñāna« là trạng thái cao nhất của kinh nghiệm giác ngộ, trong đó, Bậc giác ngộ không trực nhận Chân lí (s: brahman) ở một trạng thái định (s: samādhi) riêng biệt nào đó mà trực nhận nó ngay ở trong thế giới hiện hữu. Ðối với ông ta thì thế giới chính là hiện thân của cái Chân lí đó. Hệ thống Vê-đan-ta (s: vedānta) gọi trạng thái này là »Nhìn Chân lí với cặp mắt mở to« và người đạt trạng thái này được gọi là một »Vijñānin.«
thức
là khả năng nhận biết và phân biệt khi tiếp xúc với trần cảnh. Tùy chỗ nhận biết và phân biệt mà chia ra sáu thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Thức cũng là một trong năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
; Vijāna (S), nam shī (T), Vijāna (S), Viaṇa (P),Consciousness Trong ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và Thập nhị nhân duyênTrong ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
; Vijnàna (S). Consciousness; mind; perception.
; Vinnana (p)—Parijnana or Vijnana (skt)—Bà Di Nặc Nễ—Consciousness. (A) Nghĩa của Thức—The meanings of Vijnana: 1) Hình thức: Form. 2) Thử: To test—To try—To tempt—To attempt. 3) Thức khuya: To sit (stay) up late. 4) Tỉnh thức: To awake. 5) Vijnana (skt)—Tên gọi khác của tâm. Thức có nghĩa là liễu biệt, phân biệt, hiểu rõ. Tâm phân biệt hiểu rõ được cảnh thì gọi là thức—Another name for consciousness or mind. Consciousness means the art of distinguishing, or perceiving, or recognizing, discerning, understanding, comprehending, distinction, intelligence, knowledge, learning. It is interpreted as the “mind,” mental discernment, perception, in contrast with the object discerned. (B) Các Loại Thức—A varities of Vijnana: 1) Nhất Thức: One Vijnana—See Nhất Thức. 2) Nhị Thức: Two kinds of vijnana—See Nhị Thức. 3) Tam Thức: Three kinds of vijnana—See Tam Thức. 4) Ngũ Thức: Five kinds of vijnana—See Ngũ Thức. 5) Lục Thức: Six kinds of vijnana—See Lục Thức. 6) Bát Thức: Eight kinds of vijnana—See Bát Thức. 7) Cửu Thức: Nine kinds of vijnana—See Cửu Thức. 8) Vô Lượng Thức: Mật giáo xem vạn tượng duy tâm, và một tâm là vô lượng tâm—The esoterics considered that all phenomena are mental and all things are the one mind, hence the one mind is unlimited mind or knowledge, every kind of knowledge, or omniscience. (C) Ảnh hưởng của Thức—The influence of Parijnana: Thức gì không bị ràng buộc bởi những đối nghịch như đồng và dị, vừa đồng vừa dị, vừa không đồng vừa không dị, thì Thức ấy vượt khỏi mọi cái nhìn lý luận—Parijnana which is not bound by such opposites as oneness and otherness, bothness and not-bothness, is beyond all logical survey. ** For more information, please see Bát Thức.
; (識) Phạm:Vijĩàna. Pàli:Viĩĩàịa. Hán âm: Ti xà na, Tì nhã nam. Vijĩàna là từ tiếng Phạm được hợp thành bởi các ngữ căn Vi(chia chẻ, chia cắt) vàjĩàna(biết), nghĩa là tác dụng phân tích, phân loại đối tượng rồi sau mới nhận biết. Tuy đến đời sau, 3 danh từ Tâm (Phạm, Pàli:Citta), Ý (Phạm, Pàli: Mano) và Thức được phân biệt sử dụng, nhưng ở thời kì đầu chúng được sử dụng lẫn lộn. Theo sự giải thích của tông Duy thức thì khả năng nhận biết và phân biệt rõ ngoại cảnh của con người là do tác dụng hiển hiện của Thức đối với ngoại cảnh, cho nên Thức ở trạng thái này gọi là Biểu thức, Kí thức (Phạm: Vijĩapti, Hán âm là Tì nhã để). Trong Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa đều có lập thuyết 6 thức. Sáu thức lấy 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý làm chỗ nương, đối với 6 cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh ra các tác dụng phân biệt thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, đó chính là 6 thứ tâm thức: Thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân và thức ý. Ví dụ như Sáu cửa sổ một con vượn, thể của 6 thức là 1, nhưng có 6 cửa để khởi tác dụng, đây đại khái là ý nghĩa ban đầu của thuyết 6 thức. Trong 6 thức thì ý thức thứ 6 được gọi là Đệ lục thức, đời sau lại đặt thêm 10 tên: Lục thức, Ý thức, Phân biệt sự thức, Tứ trụ thức, Phan duyên thức, Tuần cựu thức, Ba lãng thức, Nhân ngã thức, Phiền não chướng thức và Phần đoạn tử thức, gọi là Lục thức thập sinh. Ngoài 6 thức nói trên, tông Duy thức lại nêu thêm Mạt na thức và A lại da thức (tức A lê da thức) mà thành lập thuyết Tám thức. Trong đó, 5 thức từ thức mắt đến thức thân (cũng giống với thuyết 6 thức), gọi chung là Tiền ngũ thức(5 thức trước). Đến thức thứ 6 gọi là Tiền lục thức(6 thức trước). Đến thức Mạt na thứ 7(tức thức thứ 7, gọi tắt là 7 thức), gọi là Tiền thất thức(7 thức trước, hoặc gọi tắt 7 thức). Bảy thức trước lấy thức A lại da làm chỗ nương mà duyên theo các cảnh chuyển khởi, cho nên gọi là Thất chuyển thức hoặc Chuyển thức. Sáu thức trước có khả năng nhận biết và phân biệt các đối tượng một cách rõ ràng cho Ngài Thừa Viễn nên gọi là Liễu biệt cảnh thức, thức Mạt na thứ 7 gọi là Tư lương thức và thức A lại da thứ 8 gọi là Dị thục thức. Theo thuyết Duy thức của ngài Hộ pháp thí thức thứ 6 và thứ 7 trong 8 thức đều có tính Biến kế, chấp trước các đối tượng hư vọng là Ngã hoặc Pháp, cho nên gọi là Lục thất năng biến kế. Còn 5 thức trước và thức A lại da thứ 8 thì vì không chấp trước Ngã, Pháp, cho nên gọi là Ngũ bát vô chấp. Lại nữa, phái Vô tướng duy thức ở Ấn độ cho rằng thể tính của 8 thức đều giống nhau, cho nên chủ trương thuyết Bát thức thể nhất(8 thức 1 thể). Nhưng phái Hữu tướng duy thức và tông Duy thức thì cho rằng thể tính của 8 thức đều khác nhau, cho nên chủ trương thuyết Bát thức thể biệt(8 thức thể khác). Hai thức cho đến 8 thức cùng khởi 1 lúc, cùng chuyển (câu chuyển) 1 lúc, gọi là Bát thức câu chuyển. Nhưng, Hữu bộ tông của Tiểu thừa không chủ trương 2 thức cùng khởi 1 lúc, nên khác với thuyết trên. Tông Nhiếp luận (do ngài Chân đế sáng lập), ngoài 8 thức còn thêm thức A ma la(thức Am ma la) thứ 9 mà thành lập thuyết Cửu thức. Tên khác của thức A ma la và Vô cấu thức, Chân như thức, Chân thức, tức là Tịnh thức. Theo đây thì thức A lê da thứ 8 được hiểu là vọng thức hoặc chân vọng hòa hợp. Trong tông Địa luận và tông Thiên thai cũng có người chủ trương thuyết này. Tông Chân ngôn lập 10 thức, tức ngoài 8 thức còn lập riêng 2 loại: 1. Đa nhất thức tâm: Chỗ nương của môn Sinh diệt, tương đương với trí Hậu đắc, biết rõ thế giới hiện tượng sai biệt. 2. Nhất nhất thức tâm: Chỗ nương của môn Chân như, tương đương với trí Căn bản thể ngộ chân lí nhất như bình đẳng. Theo Nhiếp luận thích quyển 5 của ngài Thế thân do ngài Chânđế dịch thì thức do A lê da biến đổi mà sinh ra gồm có 11 thứ khác nhau, đó là: Thân thức, Thân giả thức, Thụ giả thức, Ứng thụ thức, Chính thụ thức, Thế thức, Số thức, Xứ thức, Ngôn thuyết thức, Tự tha sai biệt thức và Thiện ác lưỡng đạo sinh tử thức. Ở đây, luận Hiển thức nêu ra 2 loại là Hiển thức và Phân biệt thức, trong đó, Hiển thức do thức A lê da hiển hiện lại được chia làm 9 thức là Thân thức, Trần thức, Dụng thức, Thế thức, Khí thức, Số thức, Tứ chủng ngôn thuyết thức, Tự tha dị thức và Thiện ác sinh tử thức; còn Phân biệt thức thì là chủ thể của sự phân biệt hư vọng, lại được chia thành 2 thứ là Thân giả thức và Thụ giả thức, quan điểm này của luận Hiển thức đại khái phù hợp với thuyết của ngài Chân đế. Kinh Lănggià quyển 1 nên ra 3 thức, đó là: 1. Chân thức: Tương đương với thức A ma la, hoặc tương đương với thức A lê da. 2. Hiện thức: Tương đương với thức A lại da hiển hiện muôn pháp, hoặc thức A đà na(tức thức Mạt na). 3. Phân biệt sự thức: Tức 7 chuyển thức, hoặc 6 thức trước. Nhưng thuyết của ngài Chânđế chỉ thấy trong kinh Lănggià chứ không thấy trong bản tiếng Phạm và các bản dịch khác. Cứ theo phần chú thích kinh Lănggià của ngài Trícáttườnghiền thì Hiện thức là 5 thức trước, còn Phân biệt sự thức thì là ý thức thứ 6. Luận Đại thừa khởi tín cho rằng do vô minh căn bản trong thức A lê da khởi động vọng niệm và nhận thức đối tượng mà sinh khởi tâm chấp trước, tướng trạng của thức này được chia làm 5 loại: 1. Nghiệp thức:Tướng đầu tiên khởi động nghiệp tạo tác. 2. Chuyển thức:Tướng tác dụng chủ quan của sự chiếu thấy do tác dụng của nghiệp thức sinh ra. 3. Hiện thức:Tướng hiển hiện khi Chuyển thức trở thành là cảnh khách quan. 4. Trí thức:Tướng chấp trước Hiện thức làm thực tại. 5. Tương tục thức: Tướng chấp trước Hiện thức một cách liên tục không gián đoạn. Năm loại thức trên đây được gọi chung là Ngũ ý, hoặc Ngũ thức, tương đương với 5 thức trước trong Tam tế lục thô. Ngoài ra, y cứ vào vô minh khởi động ra thức A lê da, mở ra tướng trạng của cõi mê, như gió thổi nước biển thành sóng, cho nên ví dụ gọi là Thức lãng(sóng thức). [X. kinh Tạp a hàm Q.36; luận Đại tì bà sa Q.9, 23; luận Câu xá Q.2, 9; luận Thích ma ha diễn Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần cuối; Câu xá luận quang kí Q.4; Tông kính lục Q.50; luận Thập trụ tâm Q.10]. (xt. Mạt Na Thức, A Ma La Thức, A Lại Da Thức).
thức a lại da
Alaya consciousness—Store or eighth consciousness—See A Lại Da Thức, and Bát Thức.
thức biến
Mental changes, i.e. all transformations or phenomenal changes, are mental, a term of the Pháp tướng school.
; Hết thảy các pháp môn là do thức biến ra. Tông Pháp Tướng đặc biệt tu pháp môn nầy—Mental changes, i.e. all transformations, or phenomenal changes, are mental, a term of the Dharmalaksana School.
; (識變) Tông Duy thức chủ trương hết thảy muôn pháp đều do thức biến hiện, gọi là Thức biến. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 7 trung) nói: Nhưng căn cứ vào Thức biến để phá trừ vọng chấp thực ngã thực pháp của chúng sinh mà tạm nói là tương tự.
thức biến lục vô vi
(識變六無爲) Sáu pháp vô vi do thức biến hiện ra. Lục vô vi là cách phân loại của tông Duy thức đối với các pháp vô vi, tức là 6 pháp vô vi: Hư kông, Trạch diệt, Phi trạch diệt, Bất động, Diệt tận định và Chân như. Trong đó, tướng phần do thức biến mà hiện ra ở trong tâm giống như 6 vô vi, gọi là Thức biến lục vô vi. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 6 hạ) nói: Dựa theothứcbiến mà giả đặt ra có, như từng nghe nói đến danh từ hư không rồi theo đó phân biệt mà có tướng hư không (...) các tướng hiện ra này trước sau giống nhau, không có thay đổi nên giả nói là thường. (xt. Lục Vô Vi).
thức ca la ni
Siksakarani (skt)—A female preceptor—See Thức Xoa Ma Na.
thức chủ
The lord of the intellect, the mind, the àlaya-vijnàna as discriminator.
; Tâm phân biệt, tâm làm chủ—The lord of the intellect, the mind, the alaya-vijnana as discriminator.
; (識主) Chỉ cho chủ của thức tâm, tức thức thứ 8. Tông kính lục quyển 47 (Đại 48, 696 hạ) nói: Chân thức thứ 8 thường như xả tướng, duyên theo tự nhiên, hợp đạo thường hằng, (...) không bị sinh tử ràng buộc, lôi kéo, vì thế gọi là Thức chủ. (xt. A Lại Da Thức).
thức căn
Ājendriya (S), Aindriya (P), Viāna-dhātu (P).
; Ajnendriya (S). Faculty of knowledge.
thức dậy
To get up.
thức giả
Learned man.
thức giấc
To awake from sleep.
thức giới
Vijāna-dhātu (S), Viāṇa-dhatu (P).
; Vijnàna-dhàtu (S). The elements of consciousness, the realm of mind, the sphere of mind, mind as a distinct realm.
; Vijnana-dhatu (skt)—Tâm vương (lục thức và bát thức tâm vương) tự giữ lấy thể mà có sai biệt với các loại khác—The elements of consciousness, the realm of mind, the sphere of mind, mind as a distinct realm.
; (識界) Phạm:Vijĩàna-dhàtu. Pàli:Viĩĩa-dhàtu. Một trong những yếu tố cấu tạo thành vạn hữu trong vũ trụ, là 1 trong 6 giới, 1 trong 18 giới. Thức giới là từ gọi chung 6 thức.Kinh Chúng tập trong Trường a hàm quyển 8 (Đại 1, 52 thượng) nói: Lại có sáu pháp gọi là Lục giới: Địa giới, Hỏa giới, Thủy giới, Phong giới, Không giới và Thức giới. [X. Tập dị môn túc luận Q.2; luận Câu xá Q.1]. (xt. Lục Thức).
thức hàm tông
(識含宗) Tên một trong 6 nhà 7 tông thuộc học phái Bát nhã ở đời Đông Tấn. Trong Trung luận sớ, ngài Cáttạng cho rằng tông này do ngài Vuphápkhai thành lập. Tông này chủ trương 3 cõi là mộng huyễn, tất cả đều do tâm thức hiển hiện. Trung luận sớ kí quyển 3, phần cuối (Đại65, 94 hạ) nói: Ngài Vu pháp khai soạn luận Hoặc thức nhị đế, cho rằng 3 cõi là ngôi nhà trong đêm dài, tâm thức là chủ của cơn đại mộng. Nếu biết rõ 3 cõi vốn không thì Hoặc thức liền diệt, bước lên giai vị Thập địa. Ở đây, ý nói khi còn trong Hoặc là Tục, lúc biết tất cả đều không là Chân. Ngài Vu pháp khai cho thần và thức là hai, thần là chủ tể, thức là công dụng do thần phát ra. Theo luận Minh Phật do Tông thiếu văn soạn thì Thức hàm có nghĩa là Thức hàm chứa trong Thần. [X. Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử (Thang tích dư)].
thức hải
The ocean of mind, i.e. the bhùtatathatà as the store of all mind.
; Biển của tạng thức. Gọi chân như là Như Lai tạng của tạng thức (chân như tùy duyên mà sinh ra các pháp giống như nước là chân như sanh ra sóng biển là các pháp, nên gọi là thức hải)—The ocean of mind, i.e. the bhutatathata as the store of all mind.
; (識海) Chỉ cho biển tàng thức. Vì chân như là Như lai tạng thức, chân như theo duyên mà sinh khởi các pháp, giống như sóng biển, cho nên gọi là Thức hải. Kinh Lăng già quyển 1 (Đại 16, 484 thượng) nói: Ví như sóng biển cả Do gió mạnh nổi lên Sóng lớn vỗ khe ngầm Không có lúc nào dứt Biển tàng thức thường lặng Gió cảnh giới làm động Tất cả đợt sóng thức Cuồn cuộn chuyển sinh ra.
thức khuya
To stay up late.
thức kinh
Hội đồng kết tập họp lại để xem xét coi kinh điển in ra có đúng như lời Phật dạy hay không—To test or prove the scriptures; to examine them.
thức la
Sila (skt). 1) Cục đá phẳng—A flat stone. 2) Ngọc trai: Mother of pearl.
thức lãng
The waves or nodes of particularized discernment, produced on the bhùtatathatà considered as the sea of mind.
; Chân như của tâm thể ví như biển, duyên động của chư thức ví như sóng (chỗ dòng nước do tạng thức chuyển động mà sinh ra thức lãng)—The waves or nodes of particularized discernment, produced on the bhutatathata considered as the sea of mind.
; (識浪) Sóng thức. Chân như của tâm thể ví như biển, duyên động của các thức ví như sóng, cho nên gọi là Thức lãng. Kinh Lăng già quyển 1 (Đại 16, 484 thượng) nói: Chỗ nước chảy, tạng thức chuyển, sóng thức (thức lãng) sinh. [X. kinh Lăng già Q.2; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2, 7].
thức mạt na
Ý Căn—Klistamanas consciousness—Seventh consciousness—See Bát Thức 7.
thức ngoại vô pháp
See Duy Tâm, and Duy Sắc.
thức ngưu
Thân ví như chiếc xe, thức ví như con trâu—Intellect the motive power of the body, as the ox is of the cart.
; (識牛) Thức và bò. Thân ví dụ xe, Thức ví dụ bò. Nghĩa là chúng sinh bị nghiệp thức dắt dẫn, trôi lăn trong 6 đường, không được giải thoát, như con bò kéo xe, đi về không dừng. Luận Đại trí độ quyển 19 (Đại 25, 203 trung) nói: Như xe có 2 bánh, nhờ sức bò kéo mà đến được nơi muốn đến. Nhân duyên 2 đời trở thành xe thân, bò thức(thức ngưu)kéo đi, vòng quanh qua lại.
thức suốt đêm
To have a sleepless night.
thức sư
(式師) Chỉ cho vị Đạo sư lúc cử hành nghi thức pháp hội giảng thuyết. Cũng tức là người đọc tụng văn nghi thức. VịĐạo sư của pháp hội cũng gọi là Thức sư. [X. điều Nguyệt trung hành sự Oánh sơn thanh qui Q. thượng].
thức thân
(識身) I. Thực Tế. Phạm: Bhùta-Koỉi. Tột cùng chân thực. Chỉ cho thực chứng Niết bàn, lìa hẳn hư vọng. Cũng chỉ cho lí thể của Chân như. Kinh Kim cương tam muội (Đại 9, 370 thượng) ghi: Đức Phật dạy: Pháp là thực tế, Pháp không có bờ mé (vô tế); tâm không bờ mé thìvàođược thực tế. Luận Đại trí độ quyển 32 (Đại 25, 297 hạ) nói: Thực tế là lấy pháp tính làmThực, chứng được pháp tính là Tế. Như bậc A la hán được gọi là trụ trong Thực tế. (...) khéo chứng nhập pháp tính, đó là Thực tế (...) .Thực tế chính là Niết bàn. Trung luận quyển 4 (Đại 30, 36 thượng) nói: Rốt ráo tìm cầu thực tế vô sinh tế của thế gian, Niết bàn, vì bình đẳng bất khả đắc nên không mảy may sai khác. Ý nói Niết bàn chính là Thực tế, còn sinh tử và Niết bàn cũng đều bình đẳng bất khả đắc, cho nên giống hệt nhau, không hề sai trái. Thiền tông thường dùng từ ngữ Thực tế lí địa để biểu thị thế giới bình đẳng nhất như, siêu việt tất cả vọng kiến sai biệt; hoặc biểu thị cảnh giới rốt ráo chân thực. Ngoài ra, từ Thực tế còn được dùng để biểu thị ý nghĩa thực sự hoặc thực tiễn, đối lại với lí luận, không luận... [X. phẩm Thực tế trong Đại phẩm bát nhã Q.25; kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.2; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1; luận Đại trí độ Q.90; Đại thừa nghĩa chương Q.1; chương Qui sơn Linh hựu trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.9]. (xt. Chân Như). II. Thực Tế (?-?) Tên vị tỉ khưu ni Trung Quốc, sống vào đời Đường, là 1 trong các vị đệ tử nối pháp của Thiền sư Mã tổ Đạo Nhất. Ni sư là người khích lệ Hòa thượng Câu chi, khiến Hòa thượng khởi tâm kính mộ Đại thừa. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 288 thượng) nói: Hòa thượng Câu chi ban đầu trụ ở am, có vị Ni tên là Thực tế đến am đội nón, cầm gậy tích đi nhiễu quanh sư 3 vòng rồi thưa: Hễ nói được thì bỏ nón xuống. Ni sư nói 3 lần, sư đều không đáp được, Ni sư liền bỏ đi. Sư nói: Trời đã về chiều, hãy lưu lại một đêm! Ni sư nói: Hễ nói được thì ở. Sư cũng không đáp được, Ni sư lại bỏ đi.[X. Thiền uyển mông cầu Q. trung].
thức thân túc luận
Vijānakāyapada (S), Vijiānakāya-śāstra (S)Do Ngài Đề Bà Thiết Ma soạnXem A tỳ đạt ma Thức Thân Túc luận.
thức thần
Xem Thiền đậu.
; (識神) I. Thức Thân. Chỉ cho thân có tác dụng tinh thần, tức thân và tâm. Kinh Bản sự quyển 5 (Đại 17, 686 thượng) nói: Do định này mà đối hữu thức thân và tất cả tướng sở duyên bên ngoài (...) khéo phục khéo đoạn. [X. kinh Tạp a hàm Q.35]. II. Thức Thân. Chỉ cho các chủng loại của tác dụng nhận thức. Thân nghĩa là tập, chủng loại. Kinh Tạp a hàm quyển 12 (Đại 2, 85 thượng) nói: Thức là gì? Nghĩa là 6 thức thân: Nhãn thức thân,nhĩ thức thân (...) ý thức thân. I. Thức Thần. Pàli:Viĩĩàịa. Chủ thể của tâm thức,tức chỉ cho tâm.Kinh Tạp a hàm quyển 39 (Đại 2, 286 trung) nói: Lúc bấy giờ, ma Ba tuần nói kệ rằng:Trên và dưới tám phương Tìm khắp thức thần ấy Đều không thấy nơi chốn Cù đê ở chỗ nào?. II. Thức Thần. Pàli:Jantu. Chỉ cho loài có mệnh sống. Kinh Ngũ túc quyển thượng (Đại 4, 179 thượng) nói: Sau khi chết, đến nơi nào? Thức thần đirồi, chỉ còn lại tên. III. Thức Thần. Trong Thiền tông, Thức thần chuyên chỉ cho tác dụng tinh thần, tức cái có công năng sinh khởi tác dụng của ý thức. Vô môn quan (Đại 48, 294) nói: Người học đạo không biết được chân tính, vì từ trước chỉ nhận thức thần, người ngu trong vô lượng kiếp sinh tử vẫn cứ gọi đó là bản lai nhân.
thức thật tính duy thức
(識實性唯識) Đứng về phương diện pháp tướng duy thức mà nói thì vạn hữu trong vũ trụ được chia làm 5 loại: Tâm pháp, Tâm sở hữu pháp, Sắc pháp, Tâm bất tương ứng hành pháp và Vô vi pháp. Nếu nhận xét theo 4 loại trước thì tất cả Tướng đều do Thức biến hiện, thuộc về huyễn tướng của các pháp; nếu lìa bỏ 4 tướng này mà nhận xét theo pháp Vô vi thứ 5 thì pháp này hiển bày pháp tính viên mãn, thành tựu và chân thực, tức là tính Viên thành thực, vì thế nên lấy Thức làm thực tính duy thức. [X. luận Thành duy thức Q.7].
thức thực
xem nuôi sống bằng thức.
; Vijāna-ahara (S), Viāṇa-ahara (P)Lấy tinh thần làm thức ăn.
; Spiritual food, mental food, by which are kept alive the devas of the formless realms and the dwellers in the hells.
; Thức ăn tinh thần hay lấy thức mà duy trì thể để nuôi sống những chúng sanh trong địa ngục và chư Thiên—Spiritual food, mental food, by which are kept alive the devas of the formless realms and the dwellers in the hells. ** For more information, please see Tứ Thực.
; (識食) Phạm:Vijĩàna-àhàra. Pàli:Viĩĩàịa-àhàra. Ăn bằng tinh thần. Nghĩa là trạng thái lấy tinh thần làm chủ thể để bảo trì sự sống còn, gọi là Thức thực. Phẩm Khổ lạc trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 21 (Đại 2, 656 hạ) nói: Thế ý, bắt đầu là Phạm Thiên cho đến Hữu tưởngVô tưởng thiên đều lấy thức làm thức ăn, cho nên gọi là Thức thực.. [X. kinh Tạp a hàm Q.15; kinh Chúng tập trong Trường a hàm Q.8; luận Câu xá Q.10; Hoàng bá đoạn tế thiền sư truyền tâm pháp yếu].
thức tinh
Tinh yếu của tâm (thức đúng và thanh tịnh)—Pure or correct discernment or knowledge; the essence of mind.
; (識精) Chân tâm của chúng sinh biết rõ sáng suốt, gọi là Thức tinh. Tông kính lục quyển 3 (Đại 48, 430 trung) nói: Bồ đề niết bàn từ vô thủyvốn là thể thanh tịnh, thì nay chính là ở nơi ông, thức tinh trong sáng có năng lực sinh ra các duyên. [X. kinh Viên Giác].
thức trú
See Thức Trụ and Tứ Thức Trú.
thức trụ
Chỗ an trụ của tâm thức—Vijnana on which perception, or mind, is dependent. ** For more information, please see Tứ Thức Trú.
thức tâm
The percaption mind.
; Tâm vương của thức (lục thức hay bát thức)—The perceptive mind.
; (識心) Đối lại với Tâm sở pháp thì Thức tâm chỉ cho 6 thức hoặc 8 thức tâm vương. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 107 thượng) nói: Mười loài dị sinh(chúng sinh) trong tất cả thế gian đều cho thức tâm ở trong thân.
thức túc mạng thông
Purva-nivasanusmrti-jnana (skt)—Cái thức biết được các đời trước của mình và của người khác—Knowledge of all forms of previous existence of oneself and others.
thức túc mệnh thông
Pùva-nivàsànusmrti-jnàna (S). Knowledge of all forms of previous existence of oneself and others.
thức tạng
Như Lai Tạng—Như Lai tạng cùng với vô minh hòa hợp mà tạo thành A Lại Da thức, sinh ra hết thảy pháp môn—The storehouse of Tathagata—The storehouse of mind, or discernment, the alaya-vijnana whence all intelligence or discrimination comes.
; (識藏) Chỉ cho Nhưlai tạng. Nhưlai tạng của chân như hòa hợp với vô minh mà thành thức A lại da, có công năng biến hiện ra tất cả muôn pháp, vì thế Như lai tạng được gọi là Thức tạng. Kinh Lăng già quyển 4 (Đại 16, 510 trung) nói: Như lai tạng là nhân thiện và bất thiện, (...) bị các thói xấu ác, hư dối huân tập(xông ướp)từ vô thủy, gọi là Thức tạng. (xt. Như Lai Tạng).
thức tỉnh
To awaken.
thức tự tông
(識自宗) Một trong 16 tâm yếu ngộ đạo của người tu hành do Thiền sư Phù sơn Pháp viễn (991-1067) đời Tống đề ra. Điều này nêu rõ chỉ thú không rơi vào lời nói, suy nghĩ mà ngay đó nhận ra bản lai diện mục, gọi là Thức tự tông. Ngũ gia tông chỉ toản yếu quyển trung (Vạn tục 114, 274 hạ) nói: Thức tự tông nghĩa là phải biết tông thú xưa nay, không rơi vào lời nói, vừa mống lên ý nghĩ, suy xét thì đã cách xa muôn sông ngàn núi.
thức uẩn
Viāna-khandha (P), Vijāna-skandha (S), Rnam shes kyi phung po (T), Aggregate of consciousness.
; Vijnàna-skandha (S). One of the five aggregates or attributes.
; Vijnana-skandha (skt)—Theo Câu Xá và Thành Thực tông, thức uẩn là một trong ngũ uẩn—The Abhidharma-kosa and Satyasiddhi sects, vijnana-skandha is one of the five aggregates or attributes.
; (識蘊) Phạm: Vijĩàna-skandha. Pàli: Viĩĩaịa-khandha. Cũng gọi Thức ấm, Thức thụ ấm. Chỉ cho sự tụ tậpcủacác thức như thức mắt, thức tai..., 1 trong 5 uẩn. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 4 thượng) nói: Mỗi thức đều phân biệt rõ ràng từng cảnh giới trong các giới, rồi thu lấy toàn bộ cảnh giới, cho nên gọi là Thức uẩn. Đây lại có 6 thức thân khác nhau, tức từ Nhãn thức thân đến Ý thức thân. Bởi vì 6 thức như thức mắt..., khi đối trước cảnh, chỉ thu lấy tướng chung để phân biệt, cho nên gom 6 thức này vào nhóm loại mà đặt tên là Thức uẩn. Trong 12 xứ, 6 thức này hợp chung làm 1 Ý xứ, trong 18 giới thì chia 6 thức thành Nhãn thức giới cho đến Ý thức giới và lại lập riêng Ý căn không gián đoạn mà thành 7 tâm giới. Luận Đại thừaa tì đạt ma tạp tập quyển 2 (Đại 31, 701 thượng) nói: Thế nào là kiến lập Thức uẩn? Nghĩa là Tâm, Ý, Thức khác nhau. Trong đó, thức A lại da thứ 8 là Tâm, thức Mạt na thứ 7 là Ý và 6 thức trước là Thức, tức gọi chung 8 thức này là Thức uẩn. Còn luận Du già sư địa quyển 54 thì nêu 5 loại Thức uẩn khác nhau, đó là: 1. An trụ: Đối với 3 cõi, các thức chấp trước trong, ngoài mà an trụ. 2. Tạp nhiễm:Các phàm phu, trong pháp hiện tại do cảnh giới thụ dụng, trong pháp vị lai do môn sinh tử mà bị ô nhiễm. 3. Sở y: Thức nương theo 6 chỗ như mắt... và 6 thân thức mà chuyển. 4. Trụ: Thức nương vào 4 thức trụ mà an trụ. 5. Dị tướng:Thức có các tướng khác nhau như tâm tham, hoặc lìa tâm tham, thiện hoặc bất thiện hoặc vô kí... [X. kinh Tạp a hàm Q.3; kinh Tăng nhất a hàm Q.28; Tập dị môn túc luận Q.1; luận Đại tì bà sa Q.74].
thức uống
Pāṇa (S), Sinh kh.
thức uống có rượu
Surāmaireya (S), Surāmeraya (P).
thức vô biên xứ
Vijānanantyayatana (S)Tên một cõi giới.
; Vijnànancàyatana (S). Sphere of the boundless of Consciousness. Thức vô biên xứ định, the dhyàna corresponding to it. Thức vô biên xứ giải thoát, the vimoksa, or liberation from it to a higher stage.
; The state of boundless knowledge (limitless perception). ** For more information, please see Tứ Thiền Vô Sắc (2), Tứ Không Xứ, Tứ Vô Sắc Định, and Tứ Vô Sắc Thiên.
thức vô biên xứ thiên
(識無邊處天) Thức vô biên xứ, Phạm: Vijĩ ànànantỳayàtana. Pàli: Viĩĩàịaĩcayatana. Cũng gọi Thức vô biên xứ, Vô biên thức xứ, Thức vô biên xứ địa, Vô lượng thức xứ thiên, Thức nhập xứ. Gọi tắt: Thức xứ. Chỉ cho tầng trời thứ 2 trong 4 tầng trời cõi Vô sắc. Tức quả báo do xa lìa tầng trờiKhông vô biên xứ mà tu định Thức vô biên chiêu cảm. Nghĩa là tư duy về tướng của 6 thứ thức như Thanh tịnh nhãn... quán sát rõ ràng thức tướng vô biên, do trước tư duy về thức tướng vô biên mà tu gia hạnh, dần dần dẫn khởi định Vô sắc thứ 2, gọi là Thức vô biên xứ. [X. kinh Tạp a hàm Q.7; kinh Đại nhân trong Trung a hàm Q.24; kinh Khởi thế Q.7; Pháp uẩn túc luận Q.8; luận Thành thực Q.13; luận Đại tì bà sa Q.84; luận Câu xá Q.8]. (xt. Không Vô Biên Xứ, Vô Sắc Giới).
thức vô biên xứ định
Vijānanantya-yatana-Samādhi (S)Vô biên thức xứ giải thoát, Vô biên thức xứ định, Thức vô biên xứ địnhXem Thức vô biên xứ định.
thức xoa
Siksa (skt)—To learn—To study.
thức xoa luận
Śikṣā (S)Vệ đà.
thức xoa ma na
Sikhaimānā (P)Phái nữ xuất gia phải 2 năm chuẩn bị họv giới trước khi thọ tỳ kheo ni.
; Siksamànana (S). Novice observer of six precepts.
; Siksamana (skt)—Người nữ tu tập sự bằng cách thực tập sáu giới—Một trong năm chúng xuất gia, tuổi từ 18 đến 20, học riêng lục pháp để chuẩn bị thọ cụ túc giới—A novice, observer of the six commandments—One of the five classess of ascetics, a female neophyte who is from 18 to 20 years of age, studying six rules (aldutery, stealing, killing, lying, alcoholic liquor, eating at unregulated hours) to prepare to receive a full ordaination.
; (式叉摩那) Phạm:Zikwamàịà. Pàli:Sikkhamànà. Cũng gọi Thức xoa ma na ni, Thức xoa ma ni, Thức xoa ni, Thức xoa ma xoa. Hán dịch: Học giới nữ, Chính học nữ, Học pháp nữ. Chỉ cho ni chúng trong học pháp chưa thụ giới Cụ túc, 1 trong 7 chúng, 1 trong 5 chúng xuất gia. Trong 2 năm trước khi thụ giới Cụ túc, ni chúng này phải học 4 giới căn bản và 6 pháp, tức học tập tất cả giới hạnh của tỉ khưu ni; nhờ khoảng thời gian 2 năm ấy mà nghiệm biết ni chúng này có thai hay không, đồng thời nhờ tu hành giới pháp và rèn luyện tâm tính mà tập quen với nếp sống xuất gia, khiến cho đạo tâm vững chắc. Bốn giới căn bản tức 4 giới trọng: Giới dâm, giới sát, giới đạo và giới đại vọng ngữ. Sáu pháp chỉ cho: Tâm nhiễm ô đụng chạm người nam, lấy trộm 4 tiền của người, giết hại chúng sinh, nói dối việc nhỏ, ăn phi thời và uống rượu. Theo luận Du già sư địa thì vì người nữ nhiều phiền não nên phải thực hành pháp thụ giới theo thứ lớp dần dần này. [X. luật Tứ phần Q.48; luận Du già sư địa Q.57; luận Đại trí độ Q.13; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q. hạ, phần 4]. (xt. Thất Chúng).
thức xoa ma ni
See Thức Xoa Ma Na.
thức xoa ni
See Thức Xoa Ma Na.
thức xứ thiên
The heaven of (limitles) knowledge, the second of the catur àrùpya brahmaloka, or four formless heavens.
; Thức Vô Biên Xứ, cõi trời thứ hai trong tứ Vô Sắc Thiên—The heaven of limitless knowledge, the second of the four formless heavens (Catur-arupya-brahmalokas).
thức xứ định
Trạng thái thiền định trong Thức Xứ Thiên—The dhyana, or abstract state, which corresponds to the heaven of limitless knowledge.
thức ăn
Ahàra (S). Food, nutriment.
thức đêm
To stay up late.
thức ảo
The illusion of perception, or mind.
; Ảo giác của tâm thức—The illusion of perception, or mind.
thức ấm
xem năm ấm.
Thức-xoa-ca-la-ni
xem Đột-kiết-la.
Thức-xoa-ma-na 式叉摩那
[ja] シキサマナ shikisamana ||| A śikṣamāṇā 式叉摩那 (Pali sikkhamānā)--an ordained practitioner between the ages of 18 and 20 who accepts the six precepts 六法事 of abstinence from sex, stealing, killing, lying, consumption of alcohol, and eating at improper times. One of the five groups of practitioners 五衆 and seven groups of practitioners 七衆. => (s: śikṣamāṇā; p: sikkhamānā) Nữ học chúng, ni giới tuổi từ 18 đến 20, thọ nhận sáu giới gọi là Lục pháp sự六法事: không dâm dục, không trộm cắp, không sát hại, không nói dối, không uống rượu và không ăn phi thời. Là một trong năm chúng xuất gia, và là một trong bảy chúng đệ tử của Phật.
thứu
Chim kên kên—A vulture.
thứu lĩnh
See Thứu Sơn.
Thứu Phong
(鷲峰): hay Thứu Lãnh (鷲嶺), Thứu Đài (鷲臺), Thứu Đầu Sơn (鷲頭山); là từ gọi tắt của Linh Thứu Sơn (靈鷲山), phiên âm của nguyên ngữ Sanskrit là Kỳ Xà Quật Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山), tên ngọn núi nằm ở phía Đông Bắc Thành Vương Xá thuộc nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), hiện tại nằm ở phía Đông Rajgir của Ấn Độ. Đây là một trong những Thánh địa của Phật Giáo, là nơi đức Phật đã từng thuyết pháp; cho nên người ta cho rằng phần lớn các kinh điển Đại Thừa như Pháp Hoa, Bát Nhã, Đại Bảo Tích, Vô Lượng Thọ, v.v., và cũng như câu chuyện Niêm Hoa Vi Tiếu của Thiền Tông đều phát xuất từ đây. Trong bộ Long Hưng Phật Giáo Biên Niên Thông Luận (隆興佛敎編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 12 do Thạch Thất Sa Môn Tổ Tú (石室沙門祖琇) ở phủ Long Hưng (隆興府) soạn, có đoạn: “Huyền Trang … sưu dương Tam Tạng tận Long Cung chi sở trữ, nghiên cứu Nhất Thừa cùng Thứu Lãnh chi di chỉ, tinh dĩ tải ư Bạch Mã hoàn hiến Tử Thần, tầm mông hạ chiếu sắc sứ phiên dịch (玄奘…搜揚三藏盡龍宮之所儲、研究一乘窮鷲嶺之遺旨、並已載於白馬還獻紫宸、尋蒙下詔敕使翻譯, Huyền Trang … tìm tòi Tam Tạng kinh điển tàng trữ tận chốn Long Cung, nghiên cứu giáo lý Nhất Thừa soi rõ yếu chỉ của Thứu Lãnh, cùng bỏ lên Bạch Mã mang về dâng Hoàng triều, mong trên hạ chiếu cho người phiên dịch).” Trong bài thơ Linh Ẩn Tự (靈隱寺) của thi sĩ Tống Chi Vấn (宋之問, khoảng 656-712) đầu thời nhà Đường có câu trứ danh là: “Thứu Lãnh uất thiều nghiêu, Long Cung tỏa tịch liêu, lâu quán thương hải nhật, môn đối Triết Giang triều, quế tử nguyệt trung lạc, thiên hương vân ngoại phiêu (鷲嶺鬱岧嶢、龍宮鎖寂寥、樓觀滄海日、門對浙江潮、桂子月中落、天香雲外飄, Thứu Lãnh rậm vút cao, Long Cung mờ tịch liêu, trên lầu biển xanh ngắm, cửa tựa Triết Giang triều, hàng quế trăng thầm rụng, hương trời mây trắng bay).” Hoặc trong bài Hòa Vương Ký Thất Tùng Triệu Vương Xuân Nhật Du Đà Sơn Tự (和王記室從趙王春日遊陀山寺) của Lạc Tân Vương (駱賓王, khoảng 619-687) nhà Đường cũng có câu: “Điểu dư bồi phỏng đạo, Thứu Lãnh hiệp thê chơn, Tứ Thiền minh tĩnh nghiệp, Tam Không quảng thắng nhân, tường hà sơ điệp giản, huệ nhật kiểu trùng luân, diệp ám Long Cung mật, hoa minh Lộc Uyển xuân (鳥旟陪訪道、鷲嶺狎棲眞、四禪明靜業、三空廣勝因、祥河疏疊澗、慧日皎重輪、葉暗龍宮密、花明鹿苑春, cờ xí lên vấn đạo, Thứu Lãnh dưỡng nuôi chơn, Bốn Thiền sáng nghiệp lắng, Ba Không rõ duyên nhân, sông từ trong khe mát, trời tuệ tỏ thế nhân, lá che Long Cung thẳm, hoa tươi Lộc Uyển xuân).” Trong Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大唐大慈恩寺三藏法師傳, Taishō Vol. 50, No. 2053) quyển 6, bài Đại Đường Tam Tạng Thánh Giáo Tự (大唐三藏聖教序), lại có đoạn: “Song Lâm, Bát Thủy, vị đạo xan phong; Lộc Uyển, Thứu Phong, chiêm kỳ ngưỡng dị (雙林、八水、味道餐風、鹿苑、鷲峰、瞻奇仰異, Song Lâm, Tám Sông [của Ấn Độ], nếm đạo ăn phong; Lộc Uyển, Thứu Phong, nhìn kỳ trông lạ).” Ngoài ra, từ Thứu Phong còn từ dùng thay thế cho tự viện Phật Giáo. Như trong bài thơ Tái Tập Chu Lâm Tu Trạch (再集朱林修宅) của Đỗ Giới (杜岕, 1617-1693) nhà Thanh có câu: “Tửu hát thi nhân ái vũ thiên, hồi quang tháp hỏa Thứu Phong yên (酒喝詩人愛雨天、迴光塔火鷲峰煙, rượu uống thi nhân thích trời mưa, chiều tà tháp rực chùa khói mờ).”
thứu phong
See Thứu Sơn.
thứu phong kệ
The Vulture Peak Gatha—See Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
thứu phong sơn
Xem Linh thứu sơn.
thứu sơn
Grdhrakuta (skt)—Linh Thứu Sơn—Thứu Đầu Sơn—Thứu Lĩnh—Thứu Phong—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thứu Sơn (trong núi Kỳ Xà Quật), gần thành Vương Xá, bây giờ gọi là Giddore, được gọi như vậy vì một thời ma vương Pisuna đã giả dạng làm chim kên kên quấy phá thiền hành của Ngài A Nan Đà; cũng có thể vì hình dáng của núi giống như con chim kên kên, hay là vì nơi đó chim kên thường lui tới ăn thịt người chết (theo tục lâm táng của người bắc Ấn). Nơi đây Đức Phật thường lui tới để thuyết giảng kinh pháp; một cảnh tưởng tượng về Phật giảng kinh Pháp Hoa tại đây. Nơi nầy còn được gọi là Linh Thứu Sơn, và Kinh Pháp Hoa cũng còn được gọi là Thứu Phong Kệ—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vulture Peak, near Rajagrha, the modern Giddore, so called because Mara Pisuna once assume there in guise of a vulture to interrupt the meditation of Ananda; more probably because of its shape, or because of the vultures who fed there on the dead; a place frequented by the Buddha; the imaginary scene of the preaching of the Lotus Sutra, and called the Spiritual Vulture Peak, as the Lotus sutra is also known as the Vulture Peak Gatha.
thứu đầu sơn
See Thứu Sơn.
Thừa
乘; C: shèng; J: jō; S: yāna; cũng đọc »Thặng«;|1. Lợi dụng; trèo lên, đi lên, lên (ngôi); đi (bằng phương tiện giao thông); 2. Phép nhân; 3. Cỗ xe bốn ngựa kéo; 4. Đồng hồ đo tốc độ xe; 5. Xe; 6. Giáo lí nhà Phật.|Trong Phật giáo, danh từ này đã có từ thời Tiểu thừa, quan niệm giáo pháp là »xe« đưa người tới Giác ngộ. Các cỗ xe khác nhau vì mỗi chặng đường đi có những quan niệm khác nhau, chủ tâm của hành giả và phương tiện đến mục đích cũng khác nhau. Theo Phật giáo Tây tạng thì sự lựa chọn cỗ xe nào là tuỳ căn cơ của hành giả và tuỳ trình độ của đạo sư. Người ta phân biệt ba thừa: Tiểu thừa, Ðại thừa và Kim cương thừa. Theo Kim cương thừa, thì cả ba thừa đều có thể được thực hành đồng thời, quan diểm này được gọi là Nhất thừa (s: ekayāna).|Trong giai đoạn đầu của sự phát triển Phật giáo tại Tây Tạng, người ta phân chia các Thừa theo nhiều cách, trong đó quan điểm »chín thừa« được trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) đại diện và được nhóm Ri-mê chấp nhận trong thế kỉ thứ 19. Theo quan điểm này thì Hiển giáo gồm có 3 thừa như sau: 1. Thanh văn thừa, 2. Ðộc giác thừa, 3. Bồ Tát thừa. Ðó là cách chia theo Tiểu thừa và Ðại thừa. Còn trong Mật giáo lại chia làm hai: Ngoại Tan-tra và Nội tan-tra. Ngoại tan-tra là ba loại Tan-tra được mọi trường phái Mật tông chấp nhận, đó là: 4. Tác tan-tra, 5. Hành tan-tra và 6. Du-già tan-tra. Theo phái Ninh-mã lại có thêm ba phép Nội tan-tra nữa, là ba phép Tan-tra cao nhất, đó là: 7. Ma-ha du-già (mahā-yoga), 8. A-nậu du-già (s: anu-yoga) và 9. A-tì du-già (atiyoga đồng nghĩa với dzogchen, Ðại cứu kính). Theo quan điểm của phái Ninh-mã thì ba thừa đầu tiên (Thanh văn, Ðộc giác, Bồ Tát) do đức Thích-ca truyền lại, đó là Ứng thân (s: nirmāṇakāya, xem Ba thân) của Pháp giới. Ba Ngoại tan-tra là do Báo thân chân truyền (xem Kim cương Tát-đoá). Ba Nội tan-tra là do Phổ Hiền (s: saman-tabhadra) chân truyền và Phổ Hiền là hiện thân của Pháp thân. Vì thế, theo quan điểm của Ninh-mã thì Bồ Tát không phải qua Thập địa mà phải qua 16 cấp bậc tu học, vì thật sự không phải ba thừa mà chín thừa.
thừa
thek pa (S), Yāna (S), thek pa (T)cỗ xe, như Đại thừa (mahāyāna), Tiểu thừa (hinayāna) Khởi đầu đức Phật dạy Tứ diệu đế để đệ tử đắc A la hán nên gọi là Thinh văn thừa hay Tiểu thừa. Kế đó Ngài dạy Duyên giác thừa cũng có thể gọi là Trung thừa, dạy Thập nhị nhân duyên để đắc quả Duyên giác (Bích chi Phật). Tấn lên nữa, Ngài dạy Bồ tát thừa, tức Đại thừa, dạy lục độ để thành Bồ tát Ma ha tát,. Sau cùng Ngài gom tam thừa thành một thừa (Nhứt thừa), cũng gọi là Đại thừa, Phật thừa, Thượng thừa, Thắng thừa, Vô thượng thừa, Vô đẳng thừa, Vô đẳng đẳng thừa.
; 1) Dư Thừa: Superflous. 2) Kế thừa: To succeed to—To undertake. 3) Nhận: To receive—To recognize. 4) Thừa (cỗ xe): Yana (skt)—Diễn—Da Na. (A) Nghĩa của Thừa—The meaning of “Yana.” a) Xe hay bè, bất kỳ loại nào: Yana (p & skt)—A vehicle or a ferryboat of any kind. b) “Cỗ xe” dùng để chuyên chở; từ áp dụng cho Phật pháp, với ý nghĩa là đưa người đến cõi Niết Bàn—Vehicle—Wain, any means of conveyance; a term applied to Buddhism as carrying men to salvation. c) Từ ngữ “cỗ xe” được phát triển từ buổi đầu của Phật giáo Tiểu Thừa. Cỗ xe là phương tiện được môn đồ xử dụng để đi đến con đường đại giác—The term “yana” was developed in Hinayana Buddhism. Yana means a vehicle in which the practitioner travels on the way to enlightenment. (B) Phân loại “Thừa.” Có ba loại “thừa”—Categories of “Yana.” There are three kinds of yana. a) Tiểu Thừa: Hinayana—See Tiểu Thừa. b) Đại Thừa: Mahayana—See Đại Thừa. c) Kim Cang Thừa: Vijrayana (skt)—The Diamond Vehicle.
; (乘) Phạm:Yàna. Hán âm: Diễn na. Hán dịch: Thừa vật, vận tải, vận độ. Chỉ cho vật có khả năng chuyên chở chúng sinh đến bờ bên kia, cũng tức là chỉ cho giáo pháp của đức Phật. Thừa có Đại thừa, Tiểu thừa, Nhất thừa, Nhị thừa, Tam thừa, Ngũ thừa... Giáo pháp chân thực gọi là Chính thừa; giáo pháp phương tiện được tạm thời giả đặt ra để đưa đến giáo pháp chân thực, gọi là Phương tiện thừa. Giáo pháp chuyển Phương tiện thừa thành Tu chính thừa gọi là Cứu tế thừa. [X. kinh Chứng khế đại thừa Q. thượng; luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa tứ pháp kinh thích; luận Thập trụ tì bà sa Q.1 (phẩm Tựa); luận Nhiếp đại thừa Q.15 (bản dịch đời Lương)].
thừa (thặng)
Yana (S). A vehicle, wain, any means of conveyance; a term applied to Buddhism as carrying men to salvation.
Thừa Chuyên
(承專, Jōsen, 1274-1295?): vị tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Liêm Thương và Nam Bắc Triều, người khai sáng Hào Nhiếp Tự (毫攝寺, Gōshō-ji), húy là Thanh Phạm (清範), Viên Không (圓空), Thừa Chuyên (承專), xuất thân vùng Kyoto, con trai thứ 2 của quan Hình Bộ Thiếu Phu Cao Kiều Cao Cảnh (高橋高景). Ban đầu, ông lập một ngôi chùa nhỏ ở vùng Đơn Ba (丹波, Tamba) để tu Thiền và Thiên Thai, sau đó ông quy y theo Giác Như (覺如) ở Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), và được truyền trao cho hai bộ Khẩu Truyền Sao (口傳抄) và Cải Tà Sao (改邪抄). Ông tự cải đổi nơi mình ở thành chùa, lấy tên là Hào Nhiếp Tự, rồi dời chùa về vùng Xuất Vân Lộ (出雲路), Kyoto. Sau ông đi tuần hóa khắp các địa phương như Đơn Ba, Đản Mã (但馬, Tajima), Đại Hòa (大和, Yamato), và tận lực sao chép bộ Giáo Hành Tín Chứng (敎行信証) cũng như Mạt Đăng Sao (末燈抄). Sau khi Giác Như qua đời, ông khuyên con của Giác Như là Tùng Giác (從覺) sáng tác bài Mộ Quy Hội Từ (慕歸繪詞), rồi đến năm 1352, chính tự tay ông viết bộ Tối Tu Kính Trọng Hội Từ (最須警重繪詞) gồm 7 quyển.
thừa chủng
Chủng tử Phật thừa—The vehicle-seed, or seed issuing from the Buddha-vehicle.
thừa cơ hội
To take (catch) an opportunity.
thừa dã na
Yana (skt)—See Thừa (1).
thừa giáo
To receive instructions.
Thừa giới
乘戒; C: shèngjiè; J: jōkai;|Thừa nghĩa là giáo pháp giúp người giác ngộ, giới là những điều luật giúp người phòng tránh các việc ác. Hai từ nầy được dùng chung với nhau để chỉ bốn loại giới thứ thông dụng, gọi là Giới thừa tứ cú (戒乘四句).
thừa giới
(乘戒) Thừa và Giới. Thừa chỉ cho trí tuệ nhờ đó mà tỏ ngộ thực tướng, ra khỏi sinh tử; Giới chỉ cho pháp chế dùng để ngừa điều sai trái, ngăn việc xấu ác, có khả năng mang lại quả báo cõi trời, cõi người. Kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 6 (đại 12, 641 trung) nói: Đối với Thừa có thể khoan cho, nhưng đối với Giới thì không thể như thế. Trí tuệ chứng được quán trí, 4 đế, 12 nhân duyên, 6 độ... đều gọi là Thừa; còn vâng giữ 3 qui y, 5 giới, 10 giới, 8 giới, cho đến các luật nghi xuất gia, đều gọi là Giới. [X. Nhân vương kinh sớ Q.2; Duy ma kinh văn sớ Q.5; Ma ha chỉ quán Q.4, thượng; Pháp hoa văn cú Q.2, hạ].
thừa hành
To execute—To carry out
thừa hưởng
To inherit.
thừa kế
To inherit—To succeed.
thừa lệnh
By order (command) of.
thừa lộ bàn
Những lớp hình vòng tròn trên đỉnh tháp—The “dew-receivers,” or metal circles at the top of a pagoda.
; (承露盤) Gọi tắt: Lộ bàn. Cũng gọi Bàn cái, Luân cái, Tướng luân. Lối kiến trúc có hình mâm tròn nhiều tầng trên đầu bằng của tháp Phật. Trung tâm lộ bàn có cây cột xuyên qua, cột này cũng gọi là Luân can, Tâm trụ, Sát, Sát trụ. Ban đầu, ở Ấn độ, trong đầu bằng có thờ xá lợi Phật, trên đầu bằng lại có cây lọng che để bảo vệ xá lợi, đó là khởi nguồn của lộ bàn. Về số vòng tròn(mâm, bánh xe)của lộ bàn, theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 18, tùy theo sự bất đồng giữa tháp Phật, tháp Thanh văn mà có 1 vòng, 2 vòng, đến 13 vòng khác nhau. Về hình thức cấu trúc thì hoặc 1 cột nhiều vòng, hoặc 3 cột, 5 cột đứng riêng và mỗi cột đều thêm nhiều vòng. Như Đại tháp ở Sơn kì (Sànchi) là hình thức 1 cột 3 vòng, còn tháp đào được ở Yusafzai tại Bắc Ấn độ là 1 cột 8 vòng. Theo truyền thuyết, tháp Tước li do vua Ca nị sắc ca kiến tạo có 13 tầng vòng tròn bằng vàng. Còn tháp chùa Vĩnh minh tại Lạc dương, Trung quốc, có 30 tầng thừa lộ bàn bằng vàng. Tháp 5 tầng ở chùa Pháp long tại Nhật bản là 1 cột 9 vòng. Bức khắc nổi mang hình tháp A ma la bà đề (Phạm: Amaravatì) được cất giữ ở viện bảo tàng Madrastại Ấn độ là 2 cột, mỗi cột 1 vòng; tháp 5 tầng được khắc trên vách phía đông nam trong động đá thứ 6 tại Vân cương, Trung quốc, là 3 cột, mỗi cột 5 vòng; còn tháp do trời Đa văn cầm ở tay trong Kim đường chùa Pháp long, Nhật bản là 5 cột, mỗi cột 5 vòng. Tại Nhật bản, Thừa lộ bàn trên đỉnh tháp cũng gọi là Kim sát, Kim chàng. Lộ bàn trên các tháp 3 tầng, 5 tầng được xây dựng tại các chùa Nhật đã mất dáng vẻ nguyên thủy của chúng, chỉ giữ lại hình tròn rỗng bên trong, đặc biệt gọi là Không luân; lại số các vòng tròn cố định là 9 vòng, gọi là Cửu luân; nếu chỉ tạo lập phần tướng luân, cấu trúc cách nào cho có dáng cột tháp và được coi là tháp, thì gọi là Tướng luân đường, Tướng luân tháp. [X. luật Tứ phần Q.52; luật Ma ha tăng kì Q.33; điều Vĩnh ninh tự tháp trong Lạc dương già lam kí Q.1]. (xt. Tướng Luân, Tháp).
thừa nhận
Recognition—Assumption—Tất cả những tôn giáo nhất thần bắt đầu bằng những giả thuyết và khi những giả thuyết nầy mâu thuẫn với sự phát triển của kiến thức thì khổ đau tăng trưởng—All monotheistic religions start with certain assumptions, and when these assumptions are contradicted by the growth of knowledge, sorrows increase and increase.
Thừa Sĩ
(承士, shōji): (1) Tên gọi của một trong 17 tạp cúng dường được dùng trong Kim Cang Giới Pháp (金剛界法). (2) Tên của vị Tăng chuyên trách làm các việc tạp sự như sắp xếp hương đăng, vật cúng, lau quét nhà cửa, cắm hoa, thắp hương, v.v., làm cho trang nghiêm trong chánh điện cũng như các nơi thờ tự.
thừa sự
Được giao phó nhiệm vụ—Entrusted with duties—To serve—To obey.
thừa thiên
(承遷) Danh tăng Trung quốc sống vào thời vua Chântông (ở ngôi 997-1022) nhà Tống. Sư từng trụ viện Chân dung ở núi Ngũđài, là thầy của Thủytịnhnguyên (1101-1188) đời Hậu Tấn. Sư có soạn Chú kim sư tử chương, là tác phẩm chú sớ Kim sư tử chương của ngài Pháptạng, được thu vào Đại chính tạng tập 45.
Thừa Thiên Tự
(承天寺, Jōten-ji): còn gọi là Sắc Tứ Thừa Thiên Thiền Tự (勅賜承天禪寺), ngôi chùa của Phái Đông Phước Tự (東福寺派) thuộc Lâm Tế Tông; hiện tọa lạc tại số 1-29-9 Hakataekimae (博多驛前), Hakata-ku (博多區), Fukuoka-shi (福岡市), Fukuoka-ken (福岡縣); hiệu núi là Vạn Tùng Sơn (萬松山). Vào năm thứ 2 (1241) niên hiệu Nhân Trị (仁治), Thái Tể Thiếu Nhị Đằng Nguyên Tư Lại (大宰少弍藤原資賴) kiến lập ra chùa và cung thỉnh Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓) đến làm Tổ khai sơn. Hai năm sau (1243), nơi đây trở thành chùa quan và tồn tại cho đến ngày nay. Trong khuôn viên chùa có một số kiến trúc như Điện Phật (tức Giác Hoàng Điện [覺皇殿]), Phương Trượng, Khai Sơn Đường, v.v.; các tài sản văn hóa quan trọng như tượng Thích Ca Tam Tôn, Chuông Đồng, Chuông Triều Tiên, v.v.
thừa thiên tự
(承天寺) I. Thừa thiên tự. Chùa ở Giang lăng thuộc tỉnh Hồ bắc, được sáng lập vào khoảng năm Vĩnh hòa (345-356) đời Đông Tấn, sau, theo sự tấu thỉnh của ngài Đàm dực ở Cối kê, chùa được đổi lại tên là Thừa thiên tự. Vua Dượng đế nhà Tùy từng xây cất thêm điện đường lầu gác. Khoảng năm Thiệu định đời Tống chùa được xây lại, Hoàng đình Kiên soạn bài Thừa thiên tăng già diệu ứng pháp để kỉ niệm. Năm Hoằng trị thứ 3 (1490), chùa lại được trùng tu, Liêu vương tự tay soạn bài văn Trùng tu Thừa thiên năng nhân thiền tự tam môn kí bi. II. Thừa thiên tự. Chùa ở Ngânxuyên, Ninhhạ. Niên đại sáng lập không rõ. Tương truyền, trên đường đến Thổ phồn vào năm Trinh quán 15 (641), công chúa Văn thành từng lưu lại chùa này trong một thời gian ngắn để nghỉ ngơi. Trên vách chùa có tạo tượng công chúa Vănthành. Trong chùa có ngôi tháp Thừa thiên, cao 11 tầng, là kiến trúc hình bát giác mặt bằng, người đời thường gọi là Tháp tây. Tháp này được xây dựng vào năm Thiênkhánh thứ 3 (1196) đời Tây Hạ.
thừa triều
Lợi dụng thủy triều—To take advantage of the tide.
Thừa trí 承智
[ja] ショウチ shōchi ||| Consent, assent, acknowledgement. => Sự tán thành, sự đồng ý, sự công nhận.
thừa tân
(乘津) Nương thuyền bè của Phật, Bồtát mà vượt qua biển sinh tử. Cũng có nghĩa là nhờ sự tu trì Phật pháp mà chúng sinh đoạn trừ được phiền não; hoặc nhờ nguyện lực của Phật, Bồtát dắt dẫn mà đạt đến tịnh độ Cực lạc. [X. lời Tựa trong Tứ phần luật giới bản sớ].
thừa viễn
(承遠) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, Tổ thứ 3 của tông Tịnh độ, người ở Hán châu (huyện Quảng hán, tỉnh Tứ xuyên), họ Tạ. Tháp Thừa Thiên ở Ngân xuyên Mới đầu, sư trụ dưới gộp đá ở phía tây nam Hoànhsơn, hễ có người cho thức ăn thì ăn, không có thì ăn bùn đất, thân hình ốm o, mặt mày lem luốc, túp lều tranh sư ở gọi là Di đà đài. Sư ở đây chuyên tu tam muội Niệm Phật. Lâu ngày xa gần đều biết tiếng, cả vạn người được sư giáo hóa, Quốc sư Phápchiếu thời vua Đạitông chính là học trò của sư, vua Đạitông cũng từng đến tham lễ sư, đồng thời ban cho đạo tràng của sư hiệu là Bát Chu Đạo Tràng, biển ngạch Di Đà Tự. Năm Trinh nguyên 18 (802), sư thị tịch, hưởng thọ 91 tuổi. Liễu tông nguyên soạn văn bia kỉ niệm sư, bia được dựng ở phía bên phải của cổng chùa. Đệ tử của sư có hơn 1000 vị, trong đó có các vị Pháp chiếu, Nhật ngộ, Huệ thuyên, Tri minh, Siêu minh... là nổi tiếng hơn cả. [X. Tịnh độ thánh hiền lục Q.3; Phật tổ thống kỉ Q.26].
thừa viễn đại sư
Người đời nhà Đường, nguyên quán chưa rõ xuất xứ. Ban sơ ngài theo thọ học với Đường Thiền sư ở Thành Đô. Kế đến, ngài theo học với Tản Thiền Sư ở Tứ Xuyên. Sau ngài đến Kinh Châu tham học với Chân Pháp sư ở chùa Ngọc Tuyền. Sau khi học nghiệp đã xong, tu hành đã ngộ. Chân Pháp sư dạy ngài đến Hoành Sơn để ứng duyên hoằng hóa. Trước tiên khi mới đến, đại sư cất thảo am dưới gộp đá ở phía Tây Nam của núi Hoành Sơn, chuyên tâm tu tập. Người có đạo tâm hay biết, đem cúng thí cho thức ăn thì ngài dùng, hôm nào không có thí ngài ăn bùn đất, tuyệt nhiên không hề đi quyên xin, khất thực chi cả. Ngài khổ tu như thế trải qua nhiều năm đến nỗi mình gầy, mặt nám, trên thân thể chỉ còn có một chiếc y cũ, rách mà thôi. Về phần truyền giáo, đại sư đứng lên lập trường Trung Đạo, tùy theo căn cơ của mỗi người mà quyền biến chỉ dạy. Thấy cư dân quanh vùng phần nhiều đều nghèo khổ, tật bệnh, nên ngài truyền rộng Pháp Môn Tịnh Độ, khuyên tất cả mọi người nên niệm Phật. Trên đá, nơi gốc cây, ven đường, nơi tường vách, bên hang đá hoặc khe suối, đại sư đều có biên lời Thánh giáo khuyên mọi người nên tỉnh ngộ lẽ đạo, việc đời, cần chuyên niệm Phật. Do nơi đức hóa của ngài, từ đó trở đi, không cần chỉ dẫn nhiều mà lần lượt kẻ mang vải, gạo, người khiêng gỗ, đá, đến càng lúc càng đông, xây dựng thành ra một cảnh chùa, đồ tứ sự nhiều đến nỗi dư để bố thí cho những người nghèo. Đại sư vẫn thản nhiên, không khước từ cũng không khuyến khích, để yên cho dân chúng xây cất chùa miễu, sửa soạn tùy tâm. Chẳng mấy chốc, nơi vùng hoang dã trước kia nay đã thành ra một cảnh lan nhã thanh u đồ sộ. Lần lần về sau, bốn phương xa gần, người tín hướng quy-y, niệm Phật càng ngày càng nhiều, tựa như nước trăm sông đổ dồn về biển cả, tính ra đến hàng chục vạn người. Vào năm Trinh Nguyên thứ 18 đời nhà Đường, nhằm ngày 19 tháng 7, đại sư an lành thị tịch—Great Venerable Master Thừa Viễn, the third Patriarch of Chinese Pureland Buddhism, lived during the T'ang Dynasty, but his origin is unknown. In the beginning, he studied with Zen Master T'ang in the Imperial City. He then went to learn from Zen Master Tan at Tzu-Chuan. Thereafter, he came to Ching-Chou to seek the teachings from Dharma Master Chan of Clear Creek Temple. After he completed his studies of the philosophy of Buddhism and his cultivated path had reached a high level, Dharma Master Chan encouraged him to go up to the region of Hung-Shan Mountain to propagate Buddhism. He was told that that region was his destined land where he could greatly benefit people by teaching the Buddha Dharma. When he first arrived, he built a small thatched hut under a cave in the Northwest direction of Hung-Shan Mountain to cultivate with one mind. Those with a religious mind who knew of him, brought food as an offering, he would eat, but on the days when he did not receive food offerings, he would eat mud. Not once did he wander out to beg or ask for food from anyone. He cultivated asceticism in this way for many years. It came to a point where he was merely a skeleton covered by a worn out Buddhist robe. With regard to the propagation of Buddhism, he practiced the “Middle Way” by following and adapting accordingly to the cultivated capacity of each individual to teach and guide him or her. Seeing the local residents suffering from poverty and illnesses, he spread widely the teachings of Pureland Buddhism, encouraging everyone to practice Buddha Recitation. On rocks, trees, road sides, walls, caves, creeks, he would write the teachings of the Enlightened to encourage everyone to be awakened to the Way and see the truths of existence, life is full of pain, suffering, impermanence, etc., to practice Buddha Recitation diligently. Through his transforming virtues, from that time on, without even teaching and guiding others significantly, gradually more and more people came bringing fabric, rice, wood, stones, etc. to build a temple. In fact, the goods they brought were so much in excess many items were donated to the poor in the surrounding community. Throughout this process, he remained undisturbed and peaceful; he did not resist nor did he encourage, but let the people to build the temple and decorate as they pleased. Before long, an isolated area of the past was transformed into a large tranquil and enchanting temple. In time, gradually, from the four directions near and afar, people of faith who gathered to rely on him increased more and more, similar to hundreds of rivers all converging to the sea. There were hundreds of thousands of faithful disciples followed him to cultivate at the time.
thừa đương
Nghĩa là ngay đó lãnh hội ý của chư Phật chư Tổ.
Thừa 承
[ja] ショウ shō ||| (1) To receive, to accept, to inherit. (2) To hold, contain, support. (3) To hear, listen, be informed. (4) To contract for, to undertake. (5) To continue, to carry on (a theme, etc.) (6) To confess, to acknowledge. => 1. Nhận, chấp thuận, kế thừa. 2. Nắm giữ, chịu đựng, đảm đương. 3. Nghe được, nhận ra, hiểu được. 4. Nhận lời làm, đảm nhận. 5. Tiếp tục, xúc tiến (một đề tài...) 6. Thú nhận, thừa nhận.
thử lâu lật nhị đế
(鼠嘍栗二諦) Chỉ cho loại Nhị đế không cùng tột, giống như chuột ăn hạt dẻ. Nhị đế là Chân đế và Tục đế. Về ý nghĩa Nhị đế, các kinh luận Đại thừa, Tiểu thừa nói khác nhau, các Luận sư xưa nay cũng tự lập ra nhiều nghĩa mới. Đại sư Giatường Cáttạng thuộc tông Tam luận đã gọi thuyết cho Chân đế là không, Tục đế là giả bằng một từ ngữ mỉa mai là Thử lâu lật nhị đế, nghĩa là thứ Nhị đế giống như chuột ăn hạt dẻ(thử lâu lật), chỉ ăn hột mà bỏ vỏ. (xt. Nhị Đế).
thử lòng
To try someone's courage.
Thử Nguyệt
(暑月): tên gọi khác của tháng 6, nghĩa là tháng nóng bức, thời tiết oi bức. Như trong Kim Cang Kinh Tân Dị Lục (金剛經新異錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1633), phần Thử Thệ Sanh Hương (暑逝生香, trời nắng qua đời có hương thơm) có đoạn: “Một thời thị tật, chánh đương Sùng Trinh Nhâm Thân Thử Nguyệt, khởi cánh y mộc dục lễ Phật viết: 'Mỗ nhất sanh kính Phật, quả hữu Phật duyên, đương linh di thể khí tức bất uế, tùy già phu đoan tọa hiệp chưởng nhi thệ.' Thệ hậu thất nhật nhan sắc hàm tiếu như sanh (歿時示疾、正當崇禎壬申暑月、起更衣沐浴禮佛曰、某一生敬佛、果有佛緣、當令遺體氣息不穢、隨跏趺端坐合掌而逝、逝後七日顏色含笑如生, trước khi mất thì cáo bệnh, đúng vào tháng 6 năm Nhâm Thân [1632] niên hiệu Sùng Trinh, ngồi dậy lại thay y phục, tắm rửa, lễ Phật và bảo rằng: 'Con một đời kính Phật; nếu quả là có duyên với Phật, xin hãy khiến cho thân thể này khi dừng hơi thở thì không ô uế.' Bèn ngồi xếp bằng ngay ngắn, chấp tay mà ra đi, sau khi từ trần được bảy ngày mà nhan sắc vẫn cười hàm tiếu như còn sống).” Hay trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Thuật Nghĩa (沙彌律儀要略述義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1119) quyển 1 có câu: “Phùng hà lạc thủy, trì đăng thất hỏa, thử nguyệt nhiệt vong, hàn Đông đống tử (逢河落水、持燈失火、暑月熱亡、寒冬凍死, gặp sông rơi xuống nước, cầm đèn thì mất lửa, tháng oi bức chết vì nóng, mùa Đông lạnh thì chết cóng).”
thử ngạn
Bờ nầy hay đời sống hiện tại—This shore or the present life.
; (此岸) Đối lại: Bỉ ngạn. Thử ngạn là bờ bên này, chỉ cho thế giới sinh tử; Bỉ ngạn là bờ bên kia, chỉ cho cảnh giới Niết bàn. Chú duy ma cật kinh quyển 9 (Đại 38, 410 hạ) nói: Bờ bên này(thử ngạn)là sinh tử, bờ bên kia(bỉ ngạn)là Niết bàn, giữa dòng là kết sử(phiền não).
thử sinh
Thử Thế—This world or this life.
thử suy nghĩ lại xem
Think again.
thử sức
To try one's strength.
thử thách
To challenge.
thử thách khuấy nhiễu
Challenges and harassment.
thử thế
Thử Sinh—This world or life.
thử thời vận
To try one's luck.
thử tức điểu không
Nhàn đàm hý luận vô bổ vô ích, ví như tiếng chuột kêu tức tức và chim hú không không vậy—Vain discussions, like rat-squeakings and cuckoo-callings.
thử độ
(此土) I. Thử độ. Đối lại: Tha độ, Bỉ độ. Chỉ cho thế giới Sa bà. Thế giới Sa bà là nơi cư trú của chúng sinh gọi là Thử độ (cõi này), còn các thế giới ở các phương khác thì gọi là Tha độ. Riêng Bỉ độ(cõi kia)thì chủ yếu là chỉ cho thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà. Cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 6 hạ, chúng sinh trong các cõi Phật ở phương khác thì các căn như mắt, tai... đều bén nhạy, cho nên Phật dùng cả 6 trần sắc, hương, vị... nói pháp cho họ nghe, làm cho họ được lợi ích, còn chúng sinh ở thế giới Sa bà này thì căn tai nhạy bén nhất, cho nên đức Phật dùng thanh trần nói pháp cho họ nghe, khiến họ được lợi ích. [X. phẩm Tựa kinh Pháphoa Q.1; Pháp hoa kinh văn cú Q.2, hạ]. II. Thử độ. Đối với các nước khác mà nói thì đất nước của chính mình gọi là Thử độ (đất nước này). Như trong bài Tựa kinh Quán vô lượng thọ Phật, ngài Tông trách đời Tống đã gọi Trung quốc là Thử độ. Cũng như Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục quyển 4, gọi bộ phận kinh sách soạn thuật ở Trung quốc được thu chép trong Đại Tạng kinh là Thử độ trứ thuật.
thử độ nhĩ căn lợi
Sự trong sáng rõ ràng của thính giác, thí như nhĩ căn được dùng để nghe Phật Kinh—Clearness of hearing in this world, i.e. the organ of sound fitted to hear the Buddha-gospel and transcendental.
thử độ trứ thuật
Những bài thuật lại về hiện kiếp (một phần trong Tạp A Hàm Kinh)—Narratives in regard to the present life (part of the Miscellaneous Pitaka).
thửng
Lửng thửng—To walk slowly.
thực
Fact.
; Xem Thật.
; (I) Nghĩa của “Thực”—The meanings of “ahara” 1) Chân thực: True—Honest—Sincere. 2) Sự thực: Real—Absolute—Fundamental. 3) Ăn: To eat—To feed. 4) Thức ăn: Ahara (skt)—Tiếng Phạn gọi là A Hạ La, nghĩa là thức ăn—Food. 5) Thực vật: A plant—Trồng cây—To plant. 6) Thực vậy: In fact. (II) Phân loại “Thực”—Categories of “ahara” (A) Tam Tịnh Nhục: Three kinds of clean flesh—See Tam Tịnh Nhục. (B) Ngũ Thực: Five kinds of spiritual food—See Ngũ Thực. (C) Ngũ Tịnh Nhục: The five kinds of clean flesh—See Ngũ Tịnh Nhục. (D) Cửu Tịnh Nhục: Nine kinds of clean flesh—See Cửu Tịnh Nhục.
; (食) Đối lại: Quyền. Từ dùng trong phán giáo, nghĩa là chân thực bất diệt. Thực và Quyền gọi chung là Quyền Thực. Quyền nghĩa là quyền biến tạm thời. Như Quyền giáo là giáo pháp phương tiện tạm thời được lập ra để dắt dẫn những người có căn cơ yếu kém. Vì thế Quyền giáo cũng được gọi là Phương tiện giáo. Còn Thực giáo là giáo pháp chân thực, rốt ráo. (xt. Quyền Thực). Phạm,Pàli:Àhàra. Sự uống ăn để duy trì và nuôi lớn nhục thân của chúng sinh hoặc pháp thân của bậc thánh khiến được tồn tại, đồng thời mãi mãi giữ gìn trạng thái ấy và các tác dụng tinh thần(tâm, tâm sở) như xúc, tư... Thức ăn có công năng nuôi lớn nhục thân của chúng sinh trong 3 cõi, gọi là Thế gian thực; thức ăn nuôi dưỡng trí giác ngộ(Pháp thân)của bậc thánh, gọi là Xuất thế gian thực.Thực được chia làm các loại sau đây: 1. Thế gian thực – có 4 loại: a. Đoạn thực(cũng gọi Sủy thực, Đoàn thực, Kiến thủ thực): Thức ăn uống lấy các sắc pháp như hương, vị, xúc... làm thể để nuôi dưỡng các căn. b. Xúc thực(cũng gọi Cánh lạc thực, Lạc thực, Ôn thực): Tức chủ thể tinh thần thông qua các khí quan cảm giác, do tác dụng của tâm trong việc tiếp xúc giữa chủ và khách khởi lên khi thu lấy ngoại cảnh, nhờ đó mà bồi bổ cảm giác, ý chí hoặc nuôi lớn nhục thể, cho nên gọi là Thực. c. Tư thực(cũng gọi Ý tư thực, Niệm thực, THỨC XOA MA NA Ý thực, Nghiệp thực): Tức tác dụng của ý chí(tư), là trạng thái mong cầu những cái mình ưa thích được tồn tại, vì là trạng thái có khả năng kéo dài sự sống nên gọi là Thực. d. Thức thực: Chỉ cho chủ thể của tinh thần. Nhờ thế lực của 3 loại thực trên có khả năng tạo ra chủ thể của quả báo ở vị lai, vì nó là chủ thể duy trì thân mệnh, cho nên gọi là Thực. Tất cả pháp hữu lậu đều có tác dụng làm cho những cái tồn tại tiếp tục được sống còn ở thế gian, trong đó đặc biệt tác dụng của 4 loại trên đây là rõ rệt nhất, cho nên được gọi là Thực. Xúc thực, Tư Thực và Thức thực có ở cả 3 cõi, còn Đoạn thực thì chỉ có ở cõi Dục mà thôi. Lại nữa, tùy theo trạng thái tồn tại của các hữu tình trong 5 đường, 4 loài khác nhau, nên thức ăn chính của chúng cũng khác nhau, chúng sinh nhờ 4 loại thực mà sống còn có phàm thánh bất đồng, được chia làm 4 loại: Bất tịnh y chỉ trụ thực(4 loại thực của phàm phu ở cõi Dục), Tịnh bất tịnh y chỉ trụ thực (3 loại thực của chúng sinh ở cõi Sắc và cõi Vô sắc), Thanh tịnh y chỉ trụ thực(4 loại thực của Thanh văn, Duyên giác, nhưng đối với hàng hữu học thì là Tịnh bất tịnh y chỉ trụ thực)và Năng hiển y chỉ trụ thực(cũng gọi Thị hiện y chỉ trụ thực), tức 4 loại thực của chư Phật, Bồ tát. 2. Xuất thế gian thực– có 5 loại: a. Thiền duyệt thực: Hành giả dùng thiền pháp bồi bổ tâm thần, được niềm vui và thiền định. b. Pháphỉ thực: Hành giả nghe pháp hoan hỉ, tăng trưởng thiện căn, nuôi dưỡng trí tuệ. c. Nguyện thực: Hành giả phát thệ nguyện rộng lớn, muốn độ chúng sinh, đoạn trừ phiền não, chứng đắc bồ đề, dùng nguyện duy trì thân, thường tu muôn hạnh. d. Niệm thực: Hành giả luôn nhớ nghĩ đến các thiện pháp xuất thế mà mình đã đạt được, tâm ý luôn ở trong định, thường hộ niệm không quên. e. Giải thoát thực: Hành giả tu Thánh đạo xuất thế, dứt nghiệp phiền não trói buộc, không bị cái khổ sinh tử bức bách. Tên gọi của 5 loại thực Xuất thế gian này thấy được nêu trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 28, nhưng hơi khác với những tên gọi được ghi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 41. Năm loại thực như Thiền duyệt thực... là nhờ vào năng lực thiền định, chính nguyện, chính tư, sự tự do nhờ xa lìa phiền não và sự vui mừng nhờ học Phật pháp. Vì 5 loại thức ăn này có khả năng nuôi dưỡng hạt giống giác ngộ, đồng thời duy trì sinh mệnh trí tuệ, cho nên gọi là Thực. Bốn loại thực(Thế gian thực) và 5 loại thực(Xuất thế gian thực) ghi trên, cộng chung lại là 9 loại thực, gọi là Cửu thực, Cửu chủng thực. 3. Lục chủng thực: Sáu căn mắt, tai, mũi,lưỡi, thân, ý theo thứ tự dùng sự ngủ, tiếng, mùi thơm, vị ngon ngọt, sự mịn màng trơn láng và pháp để nuôi dưỡng, cho nên ngủ, tiếng... được dụ là thức ăn nên gọi là Lục chủng thực. Lục chủng thực thêm Bất phóng dật (không buông lung – thức ăn của Niết bàn) gọi chung là Thất chủng thực. 4. Ngũ chủng thực: Tất cả các vật thực được qui vào 5 loại, đó là cơm, miến, cơm đậu mạch, thịt, bánh hoặc là miến, cơm, cơm khô, cá và thịt gọi là Ngũ chủng bồ thiện ni thực (cũng gọi là Ngũ đạm thực, Ngũ chính thực. Bồ thiện ni, Phạm: Bhojanìya, chỉ cho thực vật, tức thức ăn mềm). Ngoài ra, 5 thứ như cành, lá, hoa, quả, bột, hoặc rễ, thân, lá, hoa, quả được gọi là Ngũ chủng khư xà ni thực (cũng gọi là Ngũ chủng kha đãn ni thực, Ngũ tước thực, Ngũ bất chính thực. Khư xà ni, Phạm: THỰC Khàdanìya, chỉ cho thức ăn phải nhai nhấm, tức thức ăn cứng). Trên đây gọi chung là 2 loại 10 thứ. Ngoài ra, nếu thêm 5 thứ Xa da ni thực (dầu, váng sữa, cao sữa, một, đường phèn) thì thành 15 thứ thực. Trong đó, Chính thực nghĩa là uống ăn đầy đủ. Trong Mật giáo, sữa, cao sữa và gạo được gọi là Tam bạch thực, hoặc Tam tịnh thực, là thứ cơm mà hành giả dùng khi tu pháp.5. Ngũ chủng tịnh thực: Tỉ khưu không được ăn các thực vật có sinh khí, có 5 cách làm cho thực vật không còn sinh khí, đó là: Hỏa tịnh, đao tịnh, trảo tịnh (tức dùng lửa, dao và móng tay để làm cho vật thực không còn sinh khí), yên can tịnh (khô tự nhiên) và điểu trác tịnh(chim đã mổ ăn). Hoặc 5 cách: Bạt căn tịnh(nhổ gốc rễ), thủ chiết tịnh(dùng tay bẻ gãy), tiệt đoạn tịnh(cắt đứt), phách phá tịnh(đập vỡ nát)và vô tử tịnh(bỏ hột đi)(nhưng có thuyết nói khác). Thức ăn được làm cho thanh tịnh bằng 5 cách trên gọi là Ngũ chủng tịnh thực. 6. Chính mệnh thực và Tà mệnh thực: Người xuất gia chỉ được phép sống bằng hạnh khất thực, đó là Chính mệnh thực, còn các cách mưu sinh khác là Tà mệnh thực và bị cấm chỉ. Tà mệnh thực gồm có 4 thứ: a. Hạ khẩu thực: Làm ruộng, bán thuốc... để mưu sinh. b. Ngưỡng khẩu thực: Xem thiên văn, thuật số... để mưu sinh. c. Phương khẩu thực: Dựa vào thế lực của các nhà quyền quí, giàu có làm sứ đi khắp 4 phương cho họ để mưu sinh. d. Tứ duy khẩu thực: Làm nghề bói toán lành dữ để mưu sinh. 7. Tứ thực thời: Về giờ ăn(thực thời), giáo đoàn Phật giáo qui định người xuất gia được ăn từ buổi sáng đến giờ Ngọ, quá ngọ mà ăn là Phi thời thực. Tương truyền, buổi sáng là giờ chư thiên ăn, giờ Ngọ là giờ người xuất gia thụ trai do Phật qui định, gọi là Pháp thực thời; buổi tối là giờ ăn của súc sinh và nửa đêm là giờ ăn của quỉ thần. 8. Bất chính thực: Ngoài trai thực(bữa ăn cơm vào giờ Ngọ)thì cháo là Bất chính thực, từ xưa, cháo được dùng vào bữa ăn sáng. Đến đời sau, bữa ăn cháo(chúc) vào buổi sáng và bữa ăn cơm(phạn) vào giờ Ngọ trong các chùa viện được gộp lại gọi chung là Chúc phạn, nhưng sau này thì cháo cũng dùng làm bữa ăn chiều. Trong các chùa viện Thiền tông, cháo gọi là Tiểu thực. Bữa ăn được làm riêng cho 1 người đặc biệt nào đó, gọi là Đặc vị phạn. Văn chú hoặc danh hiệu Phật được xướng niệm lúc thụ trai để bày tỏ lòng cảm tạ, gọi là Xướng thực. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.31; kinh Tì la tam muội; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.36; luận Câu xá Q.10; Phật địa kinh luận Q.1; luận Đại trí độ Q.3]. (xt. Tịnh Nhục, Giới).
thực báo vô chướng ngại
Final unlimited reward—The Bodhisattva realm.
thực báo độ
Phật Độ hay tên gọi tắt của thực tướng vô chướng ngại độ, độ thứ ba trong tứ độ Thiên Thai—Buddha-ksetra, or the land of Buddha-reward in Reality free from all barriers, that of the Bodhisattva, the third of the four lands of T'ien-T'ai. **For more information, please see Tứ Độ (3).
thực bổn
Chân lý cơ bản, áp dụng cho Kinh Pháp Hoa, đối lại với giáo thuyết Phật pháp trước đó—Fundamental reality, applied to the teaching of the Lotus sutra, as opposed to the previous Buddhist teaching.
thực bụng
Frank—Sincere.
thực chúng đức bổn
Tích tập hay vun trồng vô số công đức—To plant all virtuous roots, cultivate all capacities and powers.
thực chất
• Bản chất thực sự: True (real) nature. • Những phần hợp thành hay vật chất của bất cứ vật gì: Dravya (skt)—The substance, ingredients or materials of anything or object.
thực chất tính
Dravyatva (skt)—Substantiality.
thực chứng
Verification—To acquire by ourselves.
thực chứng pháp
Dharma of realization, tog pay ch (T).
thực chứng qua kinh nghiệm
Verification through experience.
thực chứng trực giác về tánh không
Intuitive realization of emptiness.
thực dạ
See Thực Bụng.
thực dục
Ham muốn ăn uống, một trong bốn thứ ham muốn—Desire, or lust for food, one of the four cravings—See Tứ Dục.
thực dụng
Practical.
thực gia
(食家) Nhà ăn. Chỉ cho nhà người tại gia. Theo giới luật, nếu không có lí do (nhân duyên) thích đáng, hoặc không được chủ nhà chấp nhận thì người xuất gia không được tự tiện vào thực gia. Tứ phần tăng giới bản (Đại 22, 1027 thượng) nói: Nếu trong thực gia có vật báu mà tỉ khưu miễn cưỡng ngồi lại thì phạm Ba dật đề. Vật báu ở đây là chỉ cho những đồ trang sức quí giá, hoặc nói về sự quan hệ giữa nam nữ. Nếu không có lí do chính đáng mà tỉ khưu đến thực gia thì dễ bị việc thế tục gây phiền não, cho nên đức Phật chế định giới này. Đối lại: Quyền giáo. Chỉ cho pháp chân thực tự ý của Như lai; trái lại, giáo pháp phương tiện theo ý người khác thì gọi là Quyền giáo. Tông Thiênthai lập ra 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên, trong đó 3 giáo Tạng, Thông, Biệt là Quyền giáo, còn Viên giáo thì thuộc Thực giáo.[X. Ma ha chỉ quán Q.3, hạ].
thực giáo
Giáo pháp chân thực của Như Lai (đối lại với quyền giáo là giáo pháp tùy căn cơ mà dùng phương tiện thuyết pháp độ sanh)—The teaching of reality; the real or reliable teaching. ** For more information, please see Thiên Thai Hóa Nghi Tứ Giáo.
thực giả
True and false.
thực hiện
To realize—To carry out.
thực hành
To carry out—To practice—To effect—To carry into effect.
thực hành bản nguyện
To fulfill one's original vow.
thực hành bố thí
To practice charity.
thực hành bồ tát đạo
To practice the Bodhisattva's way—Nếu muốn thực hành Bồ Tát đạo, chúng ta phải luôn thân nhẫn ý nhẫn—If we want to practice the Bodhisattva's way, we should always be forebearing the body and the mind.
thực hành giác ngộ
To achieve enlightenment.
thực hành hạnh hiểu và thương
To practice understanding and love.
thực hành hạnh yêu thương
To practice love.
thực hành pháp
Patipatti (P).
thực hành thiền định
A practice of meditation—To practise meditation.
thực hành thiền định khiến tâm an, tánh tốt và tướng hảo
To practise meditation will lead to a calm mind, better character and form.
Thực hành 實行
[ja] ジツギョウ jitsugyō ||| (1) Action that accords with reality. (2) Actual religious practice. (3) To carry out; to put into practice. => 1. Hành động phù hợp với thực tế. 2. Công phu tu tập thực tế. 3. Tiến hành, đi vào công phu tu tập.
thực hóa
Chân lý vĩnh hằng đối lại với quyền hóa với hiện tượng nhất thời—The real or noumenal Buddha as contrasted with the temporal or phenomenal Buddha.
thực hóa nhị thân
two real Buddha bodies: 1) Báo thân: Sambhogakaya. 2) Hóa thân: Nirmanakaya. ** For more information, please see Nhị Thân.
thực hậu
Sau khi ăn, không phải là sau giờ ngọ, mà là sau khi ăn sáng cho tới bữa ăn chánh ngọ—After food, not after the principal meal at noon, but after breakfast till noon.
thực khí
(食器) Những vật dùng lúc ăn cơm. Thông thường gồm có bát lớn, bát nhỏ, túi đựng thìa, đũa, khăn sạch để lau tay, khăn lau bát, thìa, đũa, bàn chải để cọ bát... [X. điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thành qui Q.1].
thực không
Nhất thiết chư pháp đều do nhân duyên sinh ra, không có tự tính—Absolute sunya, or vacuity; all things being produced by cause and environment are unreal.
thực kinh
Thực kinh đối lại với quyền kinh (theo Kinh Trung A Hàm: “Con người coi luyến ái là món ăn, luyến ái coi vô minh là món ăn, vô minh coi ngũ cái là món ăn, bất tín coi ác pháp là món ăn, biển cả coi sông lớn là món ăn, sông lớn coi sông nhỏ là món ăn, khe suối, ao đầm coi giọt mưa là món ăn)—The true sutras as contrasted to the relative or temporary sutras, a term of the Lotus school.
; (食經) Kinh ăn. Chỉ cho một bài kinh nhỏ trong kinh Trung a hàm quyển 10. Nội dung kinh này nói về việc con người lấy ái dục làm thức ăn, ái dục lấy vô minh làm thức ăn, vô minh lấy Ngũ cái(5 thứ phiền não che lấp chân tính) làm thức ăn và bất tín lấy việc nghe các pháp ác làm thức ăn... Ví như biển cả lấy sông lớn làm thức ăn, sông lớn lấy sông nhỏ làm thức ăn, cho đến khe, lạch, suối, đầm, ao, hồ... lấy nước mưa làm thức ăn.
thực lạc
Xem Nguyệt Quang.
thực lợi
Relics—See Xá Lợi.
thực lực
Real strength (force—power).
thực mật
To eat honey, i.e. to absorb the Buddha's teaching.
; (食蜜) Ăn mật. Ví dụ người tu học Phật đạo. Người tu học Phật đạo, đối với những lời Phật dạy đều tin phục vui theo; giống như người ăn mật, dù mật ở giữa hay cạnh bát cũng đều ngon ngọt. [X. kinh Tứ thập nhị chương].
Thực nghĩa 實義
[ja] ジツギ jitsugi ||| (1) True meaning (Skt. bhūta-artha; Tib. yaṅ dag paḥi don). (2) The true teaching, or true principle. (3) The real situation, in actuality. 〔二障義 HPC 1.804a〕 => 1. Ý nghĩa chân thực (s: bhūta-artha; t: yaṅ dag paḥi don). 2. Giáo lý chân thực, hay nguyên lý chân thực. 3. Tình hình thực tế, thực tại..
thực ngã
Real self—Thực ngã đối lại với giả ngã—The true ego, in contrast with the phenomenal ego.
Thực ngã 實我
[ja] ジツガ jitsuga ||| Belief in an eternally abiding ātman or soul. => Tin có một linh hồn hay bãn ngã thường hằng.
thực ngữ
1) Lời nói đúng với sự thật của Đức Phật và các bậc tu hành: True or reliable words. 2) Lời nói tương xứng với sự thực, hay hành động tương xứng với lời nói: Words corresponding to reality. 3) Giảng thuyết của chân ngôn (Mật ngữ): Discussions of reality.
thực nhãn
Mắt có thể thấy được chân lý, như Phật nhãn—An eye able to discern reality, i.e. the Buddha-eye. **For more information, please see Ngũ Nhãn.
thực nhục thập quá
(食肉十過) Chỉ cho thực ngã và thực pháp. Ngã thể thực tại có đủ các nghĩa: Thường, nhất, chủ, tể... gọi là Thực ngã; sự tồn tại có thực thể cố định bất biến, gọi là Thực pháp. Chủ trương có thực ngã, thực pháp là kiến giải của ngoại đạo và phàm phu. Tông Duy thức Đại thừa cho rằng không có thực ngã, thực pháp, sự tồn tại của tất cả hiện tượng đều là những hình ảnh giống như ngã, pháp từ trong tâm của chính mình biến hiện ra, cho nên nói ngã, pháp đều là giả ngã, giả pháp. Vì phàm phu và ngoại đạo chấp lầm giả ngã và giả pháp, cho là thực ngã, thực pháp nên mới phải luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, Thuyết nhất thiết hữu bộ của Tiểu thừa thì chủ trương pháp thể cấu thành yếu tố tồn tại chính là thực pháp; tức cho rằng thân người do 5 uẩn hòa hợp mà thành là giả, nhưng pháp thể của 75 pháp như 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... thì là thật.[X. luận Thành duy thức Q.1, 2, 7; luận Hiển dương thánh giáo Q.14, 15; luận Thành thực Q.11]. (xt. Tự Ngã Tự Pháp).
Thực phiền não 實煩惱
[ja] ジツボンノウ jitsubonnō ||| Substantial afflictions, which are removed upon the attainment of the undefiled paths. 〔般若燈論釋 T 1566.30.124a8〕 => Phiền não căn bản, chỉ được chuyển hoá khi chứng được quả vô lậu. (Bát-nhã đăng luận thích).
Thực pháp 實法
[ja] ジッポウ jippō ||| 'Real elements (dharmas).' According to the doctrine of the Faxiang school, elemental constructs which have their own seeds in the ālaya-vijñāna. (2) Belief in the inherent existence of a certain set of causes and conditions, things, called dharmas (法). (3) The true dharma; the real teaching. 〔法華經 T 262.9.15a21〕 => 1. Theo giáo lý Pháp tướng tông, đó là yếu tố căn bản có chủng tử trong A-lại-da thức. 2. Tin vào sự tồn tại trên cơ sở tự tính của chuỗi nhân duyên, gọi là Pháp (法s: dharmas ).
thực phẩm
Āhāra (S), Food.
thực ra
In fact—In reality.
thực sắc thân
Báo thân, đối lại với Pháp thân—Sambhogakaya—The real Buddha-body, in contrast with his Nirmanakaya. ** For more information, please see Sắc Thân.
thực tam chủy
(食三匙) Ăn ba thìa. Theo Pháp uyển châu lâm quyển 42, ăn là vì hành đạo chứ không phải ăn để cho sướng miệng, béo thân; người tu đạo khi ăn phải phát ba điều nguyện như sau:1. Khi lấy thìa thứ nhất, tâm phải tưởng niệm: Nguyện tất cả nghiệp ác do thân, khẩu, ý tạo tác trong đời này đều tiêu sạch.2. Khi lấy thìa thứ 2,tâm phải tưởng niệm: Nguyện tất cả pháp lành tu trong đời này đều được trọn vẹn đầy đủ. 3. Khi lấy thìa thứ 3, tâm phải tưởng niệm: Nguyện đem các căn lành tu được trong đời này hồi hướng cho khắp cả chúng sinh để cùng được thànhPhật.
thực tam đức
(食三德) Chỉ cho 3 tính chất của thức ăn. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 1 (bản Nam) thì thức ăn mà các Ưu bà tắc dâng cúng đức Phật có 3 tính chất sau đây: 1. Tinh khiết: Trong sạch, không có mùi hôi dơ. 2. Khinh nhuyến: Mềm dẻo, ngon ngọt, không thô cứng. 3. Như pháp: Tùy thời sắm sửa, nấu nướng đúng cách. (xt. Tam Đức Lục Vị).
thực thà
Naive—Honest—Candid—Sincere.
thực thể
Dravya (S), Dabba (P), Dabba Malaputtra (P), Draya Mallaputra (S), ObjectĐà bà, Đà la phiền, Đạt la tệTên một vị đệ tử của đức Phật đã đắc A la hán, gọi đủ là Draya Mallaputra (S), hay Dabba Mullaputta (P)Xem Pháp tánhXem Pháp thể.
; Entity.
thực thể của tái sinh
Upadhi (S). Substratum of rebirth, of being.
thực thời
Giờ ăn bữa chính trong tự viện là giờ ngọ. Đây là phép của tam thế chư Phật mà chư Tăng Ni phải tuân giữ, quá trưa (sau 1 giờ trưa) là không thể ăn được nữa—The time of eating the principal meal, i.e. noon; nothing might be eaten by members of the Order after noon.
; (食時) Giờ ăn. Là thời gian thụ trai do giới luật qui định, tức giờ Ngọ. Pháp của chư Phật 3 đời đều lấy giữa ngày làm thời gian thụ trai thực, nên gọi là Thực thời; hễ đã qua giờ Ngọ thì không được ăn, nếu ăn là phạm giới Phi thời, 1 trong 90 Đơn đọa. Luật Tứ phần quyển 14 (Đại 22, 662 hạ) nói: Thời là từ lúc ánh sáng mặt trời xuất hiện cho đến giữa ngày, xét giờ này là đúng pháp, 4 thiên hạ cũng ăn vào giờ này. Còn Phi thời là từ giữa ngày cho đến lúc ánh sáng mặt trời chưa xuất hiện. [X. kinh Xứ xứ; kinh Sa di thập giới nghi tắc; luật Ma ha tăng kì Q.17; luận Tát bà đa Q.8].
thực thời ngũ quán
(食時五觀) Chỉ cho 5 điều quán tưởng trước khi ăn cơm. Trong Thiền lâm, khi thụ trai thực, trước phải xướng tụng văn Thực thời ngũ quán và quán tưởng về nội dung của bài kệ 5 điều này. Điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 thượng) nói: Đợi khi nghe tiếng kiểng (chùy), chắp tay vái, sau đó tưởng Ngũ quán. Văn Ngũ quán như sau: Nhất kế công đa thiểu lượng bỉ lai xứ. Nhị thổn kỉ đức hạnh toàn khuyết ứng cúng. Tam phòng tâm li quá tham đẳng vi tôn. Tứ chính sự lương dược vị liệu hình khô.Ngũ vị thành đạo nghiệp ứng thụ thử thực. (Dịch ý: 1. Tính xem công lao mình nhiều hay ít, thức ăn này từ đâu đến? 2. Tự xét đức hạnh của mình có xứng đáng được cúng dường không? 3. Đề phòng tâm không phạm lỗi, không tham lam... 4. Coi thức ăn này chính là vị thuốc hay chữa bệnh hình khô. 5. Vì sự nghiệp thành đạo mà nhận thức ăn này.)
Thực thực 實實
[ja] ジツジツ jitsujitsu ||| Paramārtha's translation of parinispanna. => Chân Đế (Paramārtha) dịch chữ parinispanna (viên thành thực).
thực tiền
Probhakta (skt)—Tiếng Phạn nói là Bố La Phược Hạ Noa, ý nói trước bữa ăn chánh ngọ—Before food, i.e. before the principal meal at noon.
thực tiễn
Pragmatism—Practically—Realistic—Buddhism is realistic.
thực trí
Sự hiểu biết hay thông đạt về thực tướng của chư pháp, đối lại với quyền trí là sự thông đạt về sự sai biệt của các quyền pháp—The knowledge or wisdom of reality, in contrast with knowledge of the relative.
thực trí bồ đề
The knowledge of enlightened Reality (S).
Thực trí 實智
[ja] ジッチ jitchi ||| Real wisdom (agra-dharma), which is based on direct perception of reality as it is, rather than on discrimination. It is the wisdom that does not rely upon relative truths 權智. => Trí tuệ chân thực (s: agra-dharma), dựa trên tri giác trực tiếp về thực tại như nó đang hiện hữu, hơn là dựa vào sự phân biệt. Là trí tuệ không dựa trên chân lý tương đối (quyền trí 權智).
Thực tu 實修
[ja] ジツシュ jisshu ||| 'True practice.' => Chân thực tu hành.
thực tài
Real talent.
thực tác pháp
(食作法) Tác pháp được thực hành lúc dùng cơm. Việc ăn uống của người xuất gia vốn lấy khất thực làm nguyên tắc, cho nên có qui luật nghiêm khắc. Trong giới luật có nhiều giới nói về phép ăn uống, như trong 90 Đơn đọa có 14 thứ giới nói về phép ăn uống như: Bất thụ thực, Phi thời thực, Khuyến túc thực, Thực gia cưỡng tọa... Trong 100 pháp chúng học có 22 giới nói về phép ăn uống như Dụng ý thụ thực, Bình bát thụ thực, Tự sách thực, Thiệt thỉ thực... Ngoài ra, như Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 7, Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển hạ, Sa di thập giới tinh uy nghi, kinh Chính pháp niệm xứ quyển 61... cũng đều có nêu rõ các qui định về phép ăn uống. Trong điều Thụ trai qui tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1, ngài Nghĩa tịnh có thuật lại rất rõ ràng tỉ mỉ về phép thụ trai được thực hành ở Ấn độ lúc bấy giờ (thế kỷ VII). Ở Trung quốc, từ thời ngài Đạo tuyên về sau, giáo giới luật nghi rất được coi trọng. Trong bộ Giáo giới tân học tỉ khưu hành hộ luật nghi do ngài Đạo tuyên soạn, có 80 điều qui định về phép ăn cháo và ăn cơm, 10 điều về phép ra khỏi nhà ăn sau khi ăn xong, 17 điều về phép rửa bát và 13 điều về phép giữ gìn bát. Còn Thích thị yếu lãm quyển thượng thì nêu phép quán tưởng 5 việc trước khi ăn. Trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ ở chương Đại chúng cũng liệt kê các điều qui định về tác pháp hàng ngày liên quan đến việc thụ thực. Theo luật qui định, mỗi ngày ăn một bữa, quá giờ Ngọ mà ăn là Phi thời thực, trái với giới luật, cho nên phải ăn đúng giờ Ngọ. Ngoài ra, còn có các qui định như: Triển bát, thụ thực, chú nguyện, quán niệm, tẩy bát, thuyết pháp... (xt. Ngũ Quán, Giới).
thực tâm
frank—Sincere.
thực tình
Real situation—Reality—Sincerity.
thực tính
Tathatà (S). Suchness, the real truth of things. Also Như như.
; Tên khác của chân như (thực tính của chư pháp là thanh tịnh bình đẳng, chẳng phải có chẳng phải không)—Real nature or essence, i.e. the bhutatathata.
thực tướng
Xem Pháp tánh.
; Dharmata or Bhutatathata (skt)—Chân như (tính chất chân thực thường trụ)—Pháp tánh (thể tính vạn pháp)—Bản thể—Thực thể—Nhất thực—Nhất như—Nhất tướng—Vô tướng—Pháp chứng—Pháp vị—Niết bàn—Vô vi—Chân đế—Chân tánh—Chân không—Thực tánh—Thực đế—Thực tế—Chân tướng, bản tánh, là bản thể của vạn hữu (tướng là vô tướng), đối lại với hư vọng—Reality, in contrast with unreal or false; absolute fundamental reality, the ultimate, the absolute; the Dharmakaya, or the Bhutatathata.
Thực tướng Bát-nhã ba-la-mật kinh 實相般若波羅蜜經
[ja] ジッソウハンニャハラミツキョウ Jissō hannyaharamitsu kyō ||| Shixiang boruo boluomi jing; 1 fasc., trans. Bodhiruci 菩提流支. T 240.8.776a-778b. => (c: Shixiang boruo boluomi jing); 1 quyển, Bồ-đề Lưu-Chi (s: Bodhiruci 菩提流支) dịch.
thực tướng hoa
Thực Tướng Phong—Chân lý Phật pháp—The flower, or breeze, of Reality, i.e. the truth, or glory, of Buddhist teaching.
thực tướng huệ
Chứng đắc lý thực tướng hay chân tuệ chứng thực—Wisdom in regard to reality.
Thực tướng nghĩa 實相義
[ja] ジッソウギ jissōgi ||| The truth of the reality of all things; essential character of phenomena; the principle of the true nature of things (dharma-svabhāva-mudrā). 〔法華經 T 262.9.5a10〕 => Chân lý thực tế của vạn pháp, thể tính của các hiện tượng, chân thể của các pháp (s: dharma-svabhāva-mudrā).
thực tướng pháp giới
Pháp Giới Thực Tướng—Một nửa đầu của Kinh Pháp Hoa và một nửa cuối của Kinh Hoa nghiêm nói về thực tướng—The first half of a Lotus sutra term for Reality, the latter half a Hua-Yen term for the same—See Pháp Giới Thực Tướng.
thực tướng quán
Quán sát chân lý—Insight into, or meditation on Reality.
Thực tướng sơn 實相山
[ja] ジッソウザン Jissouzan ||| Silsangsan; one of the "nine mountain" 九山 early schools of Silla Korean Buddhism, founded by Hongch'ŏk 洪陟. => k: Silsangsan. Một trong Cửu sơn, một tông phái Phật giáo Tân La Triều Tiên trước đây, do Hồng Trắc (洪陟k: Hongch'ŏk ) sáng lập.
thực tướng tam muội
Thiền định về lý không để đạt được tính không thực của hiện tượng—The samadhi of reality, in which the unreality of the phenomenal is realized.
thực tướng thân
The absolute truth or light of the Buddha.
thực tướng trí thân
Đức Đại Nhật Như Lai coi pháp giới thể tính trí là thân—The body of the absolute knowledge, or complete knowledge of reality, i.e. that of Vairocana. ** For more information, please see Thập Thân Phật.
thực tướng tuệ
See Thực Tướng Huệ.
thực tướng vi vật nhị thân
Pháp thân và hóa thân Phật—The Dharmakaya or spiritual Buddha, and the Nirmanakaya, i.e. manifested or phenomenal Buddha. ** For more information, please see Nhị Thân.
thực tướng vô tướng
Tướng thân chân thực của vạn hữu hay là cái chân thực tuyệt đối (cái tướng xa lìa sự sai biệt tương đối)—Reality is Nullity, i.e. is devoid of phenomenal characteristics, unconditioned.
Thực tướng ấn 實相印
[ja] ジッソウイン jissōin ||| The seal of reality-marks; the seal of reality; the signs of the true aspects of the phenomenal world; the signs of the true nature of things (dharma-svabhāva-mudrā). 〔法華經 T 262.9.8b3〕 => Dấu ấn của tướng chân thực, dấu ấn thực tế; dấu hiệu chân tính của vạn pháp (s: dharma-svabhāva-mudrā).
Thực tướng 實相
[ja] ジッソウ jissō ||| (tattvasya-lakṣaṇam). (1) The true form of all things as they are. True original nature. Reality; real aspect. The unchanging, equal reality-principle. (2) 'It is real.' A true observation (bhūta-saṃjñā, dharmatā). => (s: tattvasya-lakṣaṇam) 1. Thể chân thực của các pháp như nó vốn là. Bản tính chân thực. Thực tế; khía cạnh chân thực. Nguyên lý bình đẳng, bất biến. 2. Cái thấy chân thực (s: bhūta-saṃjñā, dharmatā).
thực tại
Tattva (skt). • Tinh túy hay bản thể của điều gì: The essence or substance of anything. • Trạng thái thực: Real state—Reality. • Theo triết học Trung Quán, Thực Tại là bất nhị. Nếu giải lý một cách thích đáng thì bản chất hữu hạn của các thực thể biểu lộ vô hạn định không những như là cơ sở của chúng mà còn là Thực Tại Tối Hậu của chính những thực thể hữu hạn. Thật ra, vật bị nhân duyên hạn định và vật phi nhân duyên hạn định không phân biệt thành hai thứ, vì tất cả mọi thứ nếu được phân tích và tìm về nguồn cội đều phải đi vào pháp giới. Sự phân biệt ở đây, nếu có, chỉ là tương đối chứ không phải là tuyệt đối. Chính vì thế mà Ngài Long Thọ đã nói: “Cái được xem là cõi trần thế hay thế gian từ một quan điểm, thì cũng chính là cõi Niết Bàn khi được nhìn từ một quan điểm khác.”—According to the Madhayamaka philosophy, Reality is non-dual. The essential conditionedness of entities, when properly understood, reveals the unconditioned as not only as their ground but also as the ultimate reality of the conditioned entities themselves. In fact, the conditioned and the unconditioned are not two, not separate, for all things mentally analyzed and tracked to their source are seen to enter the Dharmadhatu or Anutpadadharma. This is only a relative distinction, not an absolute division. That is why Nagarjuna says: “What from one point of view is samsara is from another point of view Nirvana itself.”
thực tại luận
Ontology, Realism.
thực tại tế
Bhutakoti (skt)—Theo triết học Trung Quán, Thực Tại Tế là sự thâm nhập khôn khéo của trí tuệ vào pháp giới. Chữ 'Bhuta' có nghĩa là thực tại không bị nhân duyên hạn định, tức là pháp giới. Còn chữ 'Koti' có nghĩa là sự không khéo để đạt đến giới hạn hay chỗ tận cùng; nó nhấn mạnh sự thể hiện, tức là một loại thành toàn. Thực tại tế cũng được gọi là 'vô sanh tế,' có nghĩa là chốn tận cùng ở ngoài cõi sanh tử—According to the Madhyamaka philosophy, Bhutakoti refers to the skilful penetration of the mind into the Dharmadhatu. The word 'Bhuta' means the unconditioned reality, the Dharmadhatu. The word 'Koti' means the skill to reach the limit or the end; it signifies realization. Bhutakoti is also called anutpadakoti, which means the end beyond birth and death.
thực tập
On-the-job-training.
thực tế
1) Practical. 2) The region of reality: See Không Tế.
thực tế lý địa
Chân như—The noumenal universe, the bhutatathata.
thực vật
Bijājatani (P), Bhutāgama (P), Plants, Vegetation.
; (食物) Trong các kinh luận có nêu nhiều tên gọi thực vật. Thông thường có 5 thứ là cơm, cơm khô, miến, thịt và cá. Lại có thuyết Ngũ tước thực(cũng gọi Ngũ bất chính thực, như rễ, thân, lá, hoa, quả) và Ngũ đạm thực(cũng gọi Ngũ chính thực, như cơm, cơm đậu, miến, thịt, bánh). Trong kinh Trường a hàm thì có thuyết Tứ chủng thực (đoàn thực, xúc thực, tư thực và thức thực). Đoàn thực chỉ cho các thực vật phổ thông. Đối lại những thức ăn nói trên đây, còn có các thức ăn như thiền định, chính nguyện, chính niệm... mà người tu hành dùng để nuôi tâm, cũng tức là những thực vật nuôi lớn gốc lành, gọi là Xuất thế gian thực. (xt. Thực).
thực vật ngũ quả
The five kinds of edible fruits and grains: hose with stones (pips), rinds, shells, seeds (e.g. grains), pods.
thực vật sùng bái
(植物崇拜) Thuộc 1 trong các loại sùng bái tự nhiên. Bắt đầu vào thời kì cuối của tông giáo tự nhiên. Trong đó phần lớn phản ánh ý thức xã hội nguyên thủy tiến vào thời kì canh nông. Đa số các xã hội nông nghiệp ở thời kì đầu đều sùng bái cốc linh (tinh linh của ngũ cốc). Trong bộ sách The Golden Bough (Cánh vàng), ông James George Frazer (1854-1941) đã thu chép những chuyện về sùng bái thực vật của các dân tộc. Tại Trung quốc, dân tộc Dao và dân tộc Bố lãng cũng có tín ngưỡng và nghi thức cúng tế đối với Cốc thần và Cốc hồn. Còn sự sùng bái đối với các loại cây thánh thì có lẽ đã xuất hiện sớm hơn, thậm chí đã phát sinh vào thời kì kinh tế hái lượm, đặc biệt đối với một số cây nào có khả năng kết trái ăn được thì còn sớm hơn thế nữa. Ngoài ra, trong sự sùng bái Vật tổ(Totem) của rất nhiều xã hội nguyên thủy, cũng phổ biến tồn tại một số cây cối hoa cỏ nào đó được coi là những hiện tượng có liên quan đến nguồn gốc của dân tộc mình.
thực vị
(食位) Cũng gọi Bát vị. Chỗ ngồi ăn trong nhà trai. Trong tùng lâm, mỗi người đều có chỗ ngồi cố định trong Tăng đường, hễ tiến hành các việc như thụ trai... thì cứ theo thứ tự thực vị mà ngồi.
thực xoa
Xem Táng Chi đại tướng.
thực xoa nan đà
Xem Học Hỷ sư.
; Siksananda (skt)—Thí Khất Xoa Nan Đà—Một vị Sa Môn người nước Vu Điền đã giới thiệu một mẫu tự mới vào Trung Quốc khoảng năm 695 sau Tây Lịch; ông được Vũ Hậu mời đến Lạc Dương (? cùng ngài Bồ Đề Lưu Chi) dịch 19 bộ kinh, tức là 107 quyển Kinh Hoa Nghiêm, sau nầy 16 dịch phẩm khác cũng được người ta xem là của ông (ông thị tịch lúc 59 tuổi, hỏa táng xong cái lưỡi vẫn không cháy)—A sramana of Kustana (Khotan) who in 695 A.D. introduced a new alphabet into China and translated nineteen works; the Empress Wu invited him to bring a complete copy of the Hua-Yen sutra to Lo-Yang; sixteen works in the present collection are assigned to him.
thực xướng
Diễn nói thực pháp của Như Lai—Reality-proclamation, i.e. to preach the Tathagata's law of reality.
thực yếm tưởng
(食厭想) Phạm:Àhàre pratikùla-saôjĩà. Pàli:Àhàre patikùla-saĩĩà. Cũng gọi Thực bất tịnh tưởng, Bất nại thực tưởng, Yếm thực tưởng. Pháp quán tưởng khiến hành giả xa lìa tâm tham đắm đối với các thức ăn, 1 trong 10 tưởng, 1 trong 40 nghiệp xứ. Các thức ăn uống ở thế gian là do những nhân duyên bất tịnh mà sinh ra, quán tưởng sự bất tịnh của các thức ăn ấy, như thịt thì từ tinh huyết mà ra, đó là chỗ ở của các vi khuẩn, lại như sữa, bơ, phó mát... thì từ máu biến thành, giống như mủ vữa ra. Vì pháp quán này có công năng xa lìa tâm tham đắm đối với thực vật mà thống nhất tinh thần, cho nên gọi là Thực yếm tưởng, là 1 pháp tu hành dự bị cho thiền định căn bản. [X. Pháp uyển châu lâm Q.42].
thực đường
Phòng ăn trong tự viện—The dining hall of a monastery.
thực đại thừa giáo
Giáo lý Đại Thừa tỏ rõ chân thực, chứ không mang quyền giả phương tiện (đối lại với Quyền Đại Thừa Giáo); các tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm cho rằng mình là Thực Đại Thừa Giáo—The Real Mahayana, freed from temporal, relative, or expedient ideas; the T'ien-T'ai, Hua-Yen, Intuitional, and Shingon schools claim to be such.
thực đạo
Con đường chân đạo, hay chân lý của Phật pháp—The true way, the true religion, absolute Buddha-truth.
thực đế
Lý chân thực hay là chân pháp—The true statement of a fundamental principle.
Thực đức 實徳
[ja] ジットク jittoku ||| (1) a real quality. (2) The buddha-nature, originally possessed by all people. (3) In the Nirvāna-sūtra, the dharma-body (). => 1. Đức tính chân thực. 2. Phật tính, vốn mọi người đều sẵn có. 3. Trong kinh Niết-bàn, nghĩa là Pháp thân法身.
Thực-xoa Nan-đà 實叉難陀
[ja] ジッシャナンダ Jisshananda ||| Śikṣānanda; A monk from Khotan who arrived to China around 695 CE, and translated nineteen works into Chinese. Among these are important texts such as the later version of the Huayan jing 華嚴經 and the Lankāvatāra-sūtra 入楞伽經. => (s: Śikṣānanda) Tăng sĩ xữ Kế-tân (Khotan) đến Trung Hoa vào khoảng năm 695, đã dịch 19 bộ kinh sang chữ Hán. Trong số đó là những bản quan trọng như sau nầy là kinh Hoa Nghiêm và kinh Nhập Lăng-già
ti
Ti tiện—Low—Inferior.
ti bát la
Pippala (skt)—Bồ Đề thọ—The bodhidruma.
ti hạ mạn
Người tự ti ngạo mạn cho rằng mình chỉ kém người (thật sự vượt thật xa mình) chút ít mà thôi—The pride of regarding self as little inferior to those who far surpass one. **For more information, please see Thất Mạn.
ti ma la xoa
Vimalaksa (skt)—Vô Cấu Nhãn Pháp Sư, thầy của Ngài Cưu Ma La Thập ở Karashahr—The pure-eyed, described as of Kabul, teacher of Kumarjiva at Karashahr, came to China in around 406 A.D., translated two works.
ti ma la xoa pháp sư
Xem Vô cấu nhãn sư.
ti đế la
Xem quỉ đóiXem Ngạ quỉ.
ti đế lợi
Pitr (skt)—Một loại quỷ đói—A kind of hungry demon.
tia hy vọng
(Ray—Gleam—Flash) of hope.
tia sáng
Raśmi (S), Ray.
tilopa
Tilopa (T), Ti-lo-pa (T)(989-2069) Một trong những đại giác giả nổi tiếng nhất của Tây tạng, vị tổ thứ nhất của dòng truyền thừa Đại thủ ấn và là thầy của Naropa.
tim
Heart.
tim tím
Somewhat purple.
tin
To credit—To trust—To believe.
tin buồn
Sad news.
tin chắc
To convince.
tin cậy
To rely (depend—build up) on.
tin giờ chót
Latest news.
tin hải
1) Đại dương của niềm tin: The ocean of faith. 2) Thực đức của lòng tin, rộng lớn vô biên như biển cả: The true virtue of the believing heart is vast and boundless as the ocean.
tin lành
Good news.
tin lý nhân quả
To believe in the principle of cause and effect.
tin mù quáng
Blind acceptance.
tin mật
Secret intelligence.
tin mừng
See Tin Lành.
tin nhơn quả
To believe in cause and effect.
tin nhảm
Superstitious.
tin sâu lý nhân quả
To deeply believe in the principle of cause and effect.
tin sâu vào thuyết nghiệp báo và sự chuyển nghiệp trong nhà phật
To deeply believe in the Buddha's teachings of karma and the possibility of transforming (changing) for the better result of our past actions.
tin theo
To believe.
tin tưởng
1) Confident—Confidence. 2) To believe—To have confidence in.
tin tức
Intelligence—Information—News.
tin vắn
Brief news.
tin vịt
False report (news).
tin đồn
Hearsay—Rumour.
tinh
Ching (C), Essence Trong tinh, khí, thần - những nguyên lý căn bản trong phép luyện thở của Đạo gia.
; Cleaned rice, freed from the husk, pure; essential, essence, germinating principle, spirit; fine, best, finest.
; 1) Gạo trắng: Pure or cleaned rice (free from the husk). 2) Tinh thần: Spirit—Vitality, or the pure and spiritual, the subtle, or recondite. 3) Tinh thông: Clever—Intelligent. 4) Tinh tú: Tara (skt)—Star. 5) Tinh yếu: Essential—Essence. 6) Trắng tinh: Pure white.
tinh anh
Quintessence.
tinh bạch
Pure—White.
tinh chiêm pháp
Astrology.
tinh chuyên
Honest effort—Earnestly.
tinh chuyên niệm phật
Earnestly reciting the Buddha's name.
tinh chân
Pure truth, apprehension of ultimate reality.
; Chân lý tối thượng—Pure truth, apprehension of ultimate reality.
; (精真) Chỉ cho bản tính yên lặng, trong sáng của Chân như. Kinh Đại Phật đính Như lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh thủ lăng nghiêm quyển 10 (Đại 19, 151 hạ) nói: Giác minh rỗng lặng (...), quán thấy đất đai, sông núi ở thế gian như tấm gương sáng tỏ, hình bóng đến không dính, hình bóng đi không dấu vết, dứt sạch tập nhiễm, chỉ một tinh chân, nguồn gốc sinh diệt từ đó phơi bày.
tinh chất
Essence.
tinh cung
(星供) Cũng gọi Tinh tế. Cúng sao. Phép cúng tế 7 sao Bắc đẩu, 9 Chấp diệu, 12 cung, 28 sao... trong Mật giáo để cầu tiêu trừ tai ách, thêm ích lợi, tăng tuổi thọ. Kinh Xí thịnh quang đại uy đức tiêu tai cát tường đà la ni nói rằng: Nếu nơi ở và các cõi nước của Quốc vương, Đại thần bị các hung tinh như sao La hầu, sao chổi... bức hiếp sao Bản mệnh, hoặc đến chỗ vua ngồi gây ra các chướng nạn thì nên thiết lập đạo tràng ở nơi thanh tịnh, kiến tạo đàn tràng đúng như pháp, rồi tụng niệm Đà la ni này thì tất cả tai nạn thảy đều tiêu diệt. Ngoài ra, các kinh khác như kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển hạ, kinh Bắc đẩu thất tinh diên mệnh... đều có nói về tác pháp cúng sao.
tinh cần
Theo Phật giáo, tinh cần có nghĩa là cố gắng làm điều thiện và đồng thời cố gắng triệt tiêu điều ác—According to Buddhism, virya means zeal, or vigour in progressing in the good and eliminating the evil.
tinh cầu
Star.
Tinh củng Bắc
(星拱北): sao chầu hướng Bắc. Nguyên văn của nó là “chúng tinh củng Bắc (眾星拱北)”, xưa kia được dùng chỉ cho vị minh quân (vua) có đức độ, được tất cả thần dân trong thiên hạ ủng hộ. Nó vốn xuất xứ từ chương Vi Chính (爲政) của Luận Ngữ (論語): “Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi (爲致以德、譬如北辰、居其所而眾星共之, làm chính trị phải dùng đức, giống như sao Bắc, tuy ở tại chỗ của nó mà các sao khác đều hướng về).” Trong tác phẩm Lệ Xuân Đường (麗春堂) của Vương Thật Phủ (王實甫, 1260-1336) nhà Nguyên cũng có câu: “Cáp tiện tợ chúng tinh củng Bắc, vạn thủy triều Đông (恰便似眾星拱北、萬水朝東, cũng giống như các ngôi sao chầu hướng Bắc, vạn sông đều đỗ về hướng Đông).” Câu “ngưỡng khán đẩu tinh tinh củng Bắc, hồi đầu vọng nguyệt nguyệt khuynh Tây (仰看斗星星拱北、回頭望月月傾西)” ở trên có nghĩa là ngẩng đầu lên nhìn các vì sao thì sao đều chầu về phương Bắc, quay đầu ngắm trăng thì trăng đã ngã về hướng Tây rồi. Có nghĩa rằng khi mất mẹ là mất hết tất cả; vạn sự vạn vật trên cõi đời đều xa vời, trống vắng, không còn giá trị đối với người con mất mẹ.
tinh hoa
See Tinh Anh.
tinh hộ
Santa-Raksita (S)Người Ấn độ, cùng sư Liên Hoa Sanh vào Tây tạng vào thế kỷ VIII truyền Du già pháp quán.
tinh khiết
Pure—Clean.
tinh khí
Vitality—Virility.
tinh khôn
Sage—Wise.
tinh lam
(精藍) Chỉ cho già lam là nơi chúng tăng cư trụ. Lam nói đủ là già lam. Vì già lam là nơi ở của những người tinh tiến tu hành, nên gọi là Tinh lam. (xt. Già Lam).
tinh linh
(精靈) Cũng gọi: Tinh thần, Tinh hồn, Hồn thần tinh thức. Gọi tắt: Linh, Tinh. Chỉ cho thần thức của con người hoặc tinh của loài vật. Cứ theo kinh Trủng mộ nhân duyên tứ phương thần chú trong kinh Quán đính quyển 6, tất cả linh hồn, cúng quỉ mị của con người và tinh của ngũ cốc, đều gọi là Tinh linh.Bởi vì tâm thức của con người được gọi là Hồn thần, hoặc Tinh hồn, cho nên ở Trung quốc đời xưa(như Đạo giáo) đã có thuyết Hồn thần rồi. Còn theo Phật giáo Đại thừa thì tâm thức do nghiệp thiện, ác mà chiêu cảm quả báo khổ,vui thì gọi là A lại da thức. Tinh linh có các loại như tử linh, oán linh, ác linh, yêu linh, u linh... Dân gian thông thường cho rằng: Linh của người chết có thể manglạitai họa, cho nên phần đông họ rất sợ hãi. Lại vì tôn kính người chết nên gọi linh của họ là Tôn linh, Anh linh, Thánh linh, Giác linh, Thục linh, Quí linh... Phật giáo không thừa nhận thật có một linh hồn tồn tại, nhưng tùy duyên phương tiện, thích ứng với tín ngưỡng dân gian, cho nên trong Phật giáo cũng thực hành pháp sự truy tiến vong linh như hội Vu lan bồn... Đây cũng có thể được coi như một nghi thức tế tự tinh linh. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Tứ phần luật yết ma sớ Q.4; Tứ phần luật yết ma sớ tế duyên kí Q.4, phần 4; Thích thị yếu lãm Q. hạ; Lăng nghiêm kinh văn cú Q.6]. (xt. A Lại Da Thức, Hồn Thần Tinh Thức).
tinh linh bằng
Tấm bạt che nắng mưa khi ăn uống trong lễ hội cúng cô hồn hay Vu Lan Bồn—The booth, or canopy, where the feast of all souls is provided.
; (精靈棚) Cũng gọi Linh bằng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Đàn cúng tinh linh. Chỉ cho đàn thờ cúng tinh linh được thiết lập trong thời gian lễ hội Vu lan bồn, bắt đầu từ thời đại Giang hộ. Trong thời gian lễ hội Vu lan bồn (từ ngày 13 đến 16 tháng 7 âm lịch), mọi nhà đều thiết lập Tinh linh bằng gần đàn Phật, dùng tre làm cột, bề ngang giăng các sợi dây, trên có treo miến, bông lúa, bông cỏ vực, quả cà,cái bầu, dưa... để trang sức. Trong đó, những quả cà, dưa... phải khéo léo khắc thành hình con bò, con ngựa... tượng trưng các con vật để vong linh cỡi khi trở về âm phủ. Đến chiều ngày 15 hoặc 16, Tinh linh bằngvàcác vật trangsức đều được ném xuống sông, biển.
tinh linh hội
(精靈會) Tiếng dùng của Phật giáo Nhậtbản. Tại Nhậtbản, hội Vu lan bồn cũng được gọi là hội Tinh linh. Ngày đầu tiên hội Vu lan bồn, đón mời các tinh linh về đàn tràng, vào ngày cuối thì tiễn đưa tinh linh đi. Một đón, một đưa như vậy, gọi là Tinh linh nghinh, Tinh linh tống. (xt. Vu Lan Bồn).
tinh linh sùng bái
Animism.
; (精靈崇拜) Animism, Spiritism. Cũng gọi Hữu linh quan, Vạn vật hữu linh luận, Hồn phách sùng bái, Sinh khí chủ nghĩa. Tín ngưỡng sùng bái tinh linh, tức tin rằng con người và tất cả loài động thực vật, tự nhiên vật... đều có linh hồn. Trong tác phẩm Premitive Culture (Văn hóa thái cổ), xuất bản năm 1871, nhà Nhân loại học người Anh là ông E.B.Tylor (1832 -1917) có thảo luận về vấn đề Sùng bái tinh linh, cho rằng tín ngưỡng linh hồn là định nghĩa cơ bản nhất về tông giáo. Ông chủ trương trước khi hình thành tông giáo, người thời nguyên thủy đã nảy sinh quan niệm muôn vật có linh hồn, cho nên nhận thức về linh hồn tồn tại là từ trong kinh nghiệm sinh hoạt ngày thường của loài người chưa khai hóa mà phát sinh. Bởi vì loài người thời nguyên thủy, do thấy sống, chết khác nhau, đời người phù du, mộng ảo mà cảm nhận ngoài nhục thể, còn có một nguyên lí sinh mệnh, đó chính là nhận thức sớm nhấtvề sự tồn tại của linh hồn. Tylor tiến bước nữa cho rằng người nguyên thủy quan sát trạng huống chết và ngủ có thể hiểu được ý nghĩa về linh hồn. Chết và ngủ là hiện tượng linh hồn vĩnh viễn hay tạm thời lìa khỏi nhục thể, có thể nói linh hồn chính là hình thái Ngã(ta)thứ 2 đối lại với nhục thể. Cũng có thể nói linh hồnlàbóng dáng của một loại hình thái nhân cách có sinh mệnh sinh ra từ nhục thể của chúng ta. Từ quan niệm về linh hồn ấy suy rộng ra, lấy linh hồn loài người làm tiêu chuẩn mà khoáng trương đến muôn sự muônvật, bèn tin rằng tất cả mọi hiện tượng tự nhiên, vật tự nhiên, sinh vật, vô sinh vật... đều có linh hồn phổ biến tồn tại, đó chính là sự biểu hiện sinh hoạt của các dân tộc chưa khai hóa mà trên phương diện nhân loại học, tông giáo học được coi là Phiếm tinh linh sùng bái. Như người Indonesia cho rằng lúa nếp cũng có linh hồn, linh hồn này chính là suối nguồn sinh mệnh của lúa nếp và có quan hệ rất mật thiết với sự nảy nở, trưởng thành, tốt tươi, khô héo... của lúa nếp, còn lúa nếp lúc chín thì chính như đàn bà cóthai, bông của nó tức là đứa bé; đến mùa thu hoạch, người cắt lúa hết sức cẩn thận khiến cây lúa không cảm thấy đau đớn, phải chế tạo một loại liềm đặc biệt cho loại lúa này, khi gặt hái không để cho linh hồn của lúa cảm nhận sự khổ não.Một học giả khác là ông R.R.Marett (1866-1943) phê bình chủ trương của ông Tylor, cho là một loại giải thích quá phần lí trí và hợp lí. Theo sự giải thích này thì các dân tộc chưa khai hóa đã có một trình độ nào đó về hình thái tông giáo. Nhưng sự thực thì các dân tộc chưa khai hóa chẳng hề coi tất cả hiện tượng tự nhiên, vật tự nhiên... đều có linh hồn nhân cách hóa tồn tại, mà chỉ cảm biết sự tồn tại của sự sống mà thôi, đây gọi là Tiên linh quan (Preanimism), hoặc Sinh mệnh quan (Animatism), cũng chính là khởi nguồn của tông giáo, loại lập luận này thông thường được gọi là Sinh mệnh thuyết (Vitalism). Bởi vì loài người ở thời thái cổ xa xưa khi mà tông giáo vẫn chưa hình thành, phương thức tư duy của họ vẫn chưa đạt đến trình độ tổng hợp các loại hiện tượng để suy lí một cách trừu tượng. Vả lại, từ các tư liệu khảo cổ đào được và sự quan sát nghiên cứu về các xã hội nguyên thủy, cho đến nay cũng chưa phát hiện trường hợp cụ thể nào đủ minh chứng trong lịch sử xác thực đã từng sản sinh quan niệm Vạn vật hữu linh luận(muôn vật đều có linh hồn). Chỉ có thể suy biết là các nền văn hóa trên thế giới đã tồn tại một cách phổ biến hiện tượng Sùng bái tổ tiên, có lẽ đã do kết hợp sự sùng bái tinh linh với sùng bái tử linh mà thành. Ngoài ra, một phái học giả khác thì cho rằng hiện nay do ấn chương và các loại phẩm đã đào được đã có thể biết một cách đích xác là 3 nghìn năm trước Tây lịch, văn hóa vùng sông Ấnđộ (Indus) đã từng thịnh hành sự sùng bái cây Thánh (Holy tree) và sùng bái động vật. Lại nữa, xem các thần thoại Phệ đà mà biết được hình thái tín ngưỡng của Ấnđộ giáo cũng lấy việc tìm về nguồn gốc làm chính, những điều đó hoàn toàn phù hợp với sùng bái tinh linh. Phật giáo vốn phản kháng uy quyền truyền thống của Bà la môn giáo mà ứng vận quật khởi, đề xướng 4 giai cấp đều bình đẳng, giải thoát nỗi khổ nạn căn bản của con người, tìm cầu chân lí và quí trọng cuộc sống tu hành thực tiễn, cho nên tư tưởng và nghi thức sùng bái tinh linh không có trong Phật giáo truyền thống. Nhưng sau khi đức Phật nhập diệt, Phật giáo được mở rộng trong tình hình phức tạp, cho nên tông chỉ giáo lí đã không tránh khỏi bị biến chất. Vào thế kỉ IV Tây lịch, trong Phật giáo đã sản sinh nền giáo lílấyvăn chú làm trung tâm. Đến thế kỷ VII, Mật giáo được thành lập, lại kết hợp với phái Tính lực của Ấn độ giáo để rồi du nhập sự sùng bái tinh linh mà ở thời đại Phật không hề có. Ở Trung quốc, sau khi Phật giáo được truyền đến, tư tưởng giáo lí khiến người Trung quốc quan tâm hơn hết là thuyết Luân hồi chuyển thế và Nhân quả báo ứng, do đó, tư tưởng địa ngục và Cực lạc quốc độ đặc biệt được nhân sĩ dân gian Trung quốc tiếp nhận. Ngoài ra, kinh Vu lan bồn từ Ấnđộ truyền đến được lưu truyền rất phổ biến trong dân gian Trung quốc, các pháp hội tông giáo như hội Thủy lục, hội Vu lan bồn, hội Thí ngã quỉ... được tổ chức khắp nơi, vì thế nên ngày nay Phật giáo dân gian mang đậm sắc thái Tinh linh sùng bái.
tinh luyện
To refine.
tinh lạc
Falling star.
tinh lịch
Jyotiska (skt)—See Thụ Đề (5) in Vietnamese-English Section.
tinh lực
Force—Energy.
tinh ma
Cunning—Wily—Artful—Sly—Crafty.
tinh minh
(精明) Tinh là ròng; Minh là sáng. Chỉ cho sự trong sáng mầu nhiệm sẵn có trong tâm tự tính thanh tịnh. [X. kinh Vô lượng thọ Q. hạ; kinh Thủ lăng nghiêm Q.6].
tinh mắt
Quick eyes.
tinh nghiên
To study carefully.
tinh nghịch
Mischievous.
tinh nhanh
Alert—Quick.
tinh quái
Queer.
tinh ranh
See Tinh Ma.
tinh thuần
Pure.
tinh thành
Sincere.
tinh thông
Well-versed.
tinh thất
A place for pure, or spiritual cultivation, a pure abode, the abode of the celibate, a monastery or nunnery. Also Tinh xá.
; See Tịnh Thất.
; (精室) Đạo tràng tu pháp của Mật giáo. Tức đạo tràng hoặc ngôi nhà mà hành giả an trụ để tinh chuyên tu luyện. [X.Kim cương đính kinh du già tu tập Tì lô giá na tam ma địa pháp].
tinh thần
Vitality; also the pure and spiritual, the subtle or recondite.
; Moral—Spirit—Mind—Mental—Intellectual—See Tinh (2).
tinh thần bình đẳng
The spirit of equality.
tinh thần căng thẳng
Stress.
tinh thần hợp lý
Spirit of reason.
tinh thần suy nhược
Breakdown of the mind
tinh thần trao đổi ý kiến
The spirit of consultation
tinh thần tự túc
Spirit of self-reliance.
Tinh tiến
精進; S: vīrya; P: viriya;|Chỉ năng lực, ý chí làm những điều thiện, tránh những điều bất thiện. Tinh tiến là yếu tố thứ 6 trong Bát chính đạo và chính là Bốn tinh tiến, ngoài ra Tinh tiến là một trong Năm lực, một hạnh Ba-la-mật-đa, một trong Bảy giác chi, một trong năm Căn (indri-ya).
tinh tiến
Vìrya (S). One of the seven Bodhyanga; vigour, valour, fortitude. Pure, or unadulterated progress. Zeal, zealous, courageously progressing in the good and eliminating the evil.
; Virya (skt)—Còn gọi là tinh cần, một trong thất bồ đề phần, nghĩa là tinh thuần tiến lên, không giải đãi, và không có tạp ác chen vào—One of the seven bodhyanga, vigour, valour, fortitude, virility—See Tinh Tấn.
; (精進) Phạm:Vìrya. Pàli:Viriya. Hán âm: Tì lê da, Tì li da. Cũng gọi: Tinh cần, Cần tinh tiến, Tiến, Cần.Siêng năng, mạnh mẽ tiến tu các thiện pháp. Tức nương theo lời dạy của đức Phật gắng sức tiến lên trong quá trình tu hành làm thiện, dứt ác, chuyển nhiễm thành tịnh. Tinh tiến là gốc của việc tu đạo, tông Câu xá xếp Tinh tiến vào 1 trong 10 Đại thiện địa pháp, còn tông Duy thức thì cho Tinh tiến là 1 trong 11 tâm sở thiện. Tinh tiến cũng là 1 trong 4 Chính cần, trong 5 căn, 5 lực, 7 Giác chi, 8 Chính đạo thuộc 37 đạo phẩm. Ngoài ra, Tinh tiến cũng còn là 1 trong 6 Ba la mật, 1 trong 10 Ba la mật. Về sự sai biệt giữa Tinh tiến và Tinh tiến Ba la mật, trong các kinh luận cũng có những thuyết khác nhau. Cứ theo phẩm Tì lê da ba la mật trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 7 và luận Đại trí độ quyển 16, Tinh tiến là chỉ cho sự gắng sức tu tập các thiện pháp thế gian và 37 đạo phẩm; còn Tinh tiếnba la mật thì chỉ cho sự mạnh mẽ tiến lên của hạnh Bồ tát để chứng quả Phật. Về chủng loại Tinh tiến, theo các kinh luận cũng có nhiều thuyết, nay liệt kê như sau:1. Hai loại: Luận Đại trí độ quyển 16 chia Tinh tiến của Bồ tát làm 2 là Thân tinh tiến và Tâm tinh tiến. Tinh tiến tuy là tâm sở pháp nhưng lại từ thân lực mà ra, nên gọi là Thân tinh tiến, như làm việc bố thí, giữ gìn giới luật là Thân tinh tiến, còn tu nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ là Tâm tinh tiến; siêng làm các việc thiện bên ngoài là Thân tinh tiến, bên trong tinh chuyên tự tu là Tâm tinh tiến; Tinh tiến thô là Thân tinh tiến, Tinh tiến tế là Tâm tinh tiến; Tinh tiến làm các việc phúc đức là Thân tinh tiến, Tinh tiến tu trí tuệ là Tâm tinh tiến... Theo phẩm Tinh tiến trong kinh Đại phương quảng thập luân thì Tinh tiến có 2 loại là Thế gian và Xuất thế gian. Tinh tiến thế gian là siêng tu các nghiệp hữu lậu như bố thí, giữ giới... còn Tinh tiến xuất thế gian thì siêng tu các nghiệp vô lậu như diệt trừ tất cả phiền não, hoặc chướng... 2. Ba loại: Luận Thành duy thức quyển 9 nêu 3 loại Tinh tiến là Bị giáp(mặc áo giáp thì mạnh mẽ), Nhiếp thiện(tu các pháp lành) và Lợi lạc(làm lợi ích cho chúng sinh). Luận Nhiếp đại thừa quyển trung (bản dịch đời Lương) nêu ra 3 loại Tinh tiến là Cần dũng, Gia hạnh, Bất hạ nan hoại vô túc.3. Năm loại: Đại thừa trang nghiêm luận quyển 8 nêu 5 loại Tinh tiến là Hoằng thệ, Phát hạnh, Vô hạ, Bất động và Vô yếm. 4. Sáu loại: Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 8 nêu 6 loại tinh tiến là Tăng giảm, Tăng thượng, Xả chướng, Nhập chân, Chuyển y và Đại lợi. Đồng thời phối hợp Tinh tiến của Tam thừa với 3 phẩm thượng, trung, hạ; trong đó Tinh tiến của Thanh văn là hạ phẩm, Tinh tiến của Duyên giác là trung phẩm, còn Tinh tiến của Bồ tát thì thuộc về thượng phẩm. Lại cho rằng Tinh tiến tiểu lợi của Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác là hạ giác, Tinh tiến đại lợi của Bồ tát là thượng giác. 5. Chín loại: Phẩm Tinh tiến trong luận Du già sư địa quyển 42 nêu 9 loại Tinh tiến là Tự tính, Nhất thiết, Nan hành, Nhất thiết .môn, Thiện sĩ, Nhất thiết chủng, Toại cầu, Thử thế tha thế lạc và Thanh tịnh. 6. Mười loại: Kinh Hoa nghiêm quyển 24 (bản dịch cũ) nêu 10 loại Tinh tiến là Bất chuyển, Bất xả, Bất nhiễm, Bất hoại, Bất yếm quyện, Quảng đại, Vô biên, Mãnh lợi, Vô đẳng đẳng và Cứu nhất thiết chúng sinh. Về công đức lợi ích của Tinh tiến thì Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 8 nêu ra 7 thứ sau đây: 1. Được hiện pháp lạc trụ. 2. Được pháp thế gian. 3. Được pháp xuất thế gian. 4. Được tài sản. 5. Được động tĩnh. 6. Được giải thoát. 7. Được Bồ đề. [x. kinh Tạp a hàm Q.26, 27; kinh Lục độ tập Q.6; phẩm Tựa kinh Pháp hoa; phẩm Tì lợi da ba la mật đa trong kinh Đại bảo tích Q.45; kinh Duy ma Q.thượng; kinh Trì thế Q.3, 4; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q. hạ; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.7; phẩm Tinh tiến trong kinh Chư pháp tập yếu; luận Đại tì bà sa Q.80, 142; luận Du già sư địa Q.78].
tinh tiến ba la mật
Vìrya-pàramità (S). Perfection of energy.
tinh tiến ba la mật bồ tát
(精進波羅蜜菩薩) Tinh tiến ba la mật, Phạm:Àryavìryapàramità. Hán âm: A lợi dã vi lợi dã ba la mật đa. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3 phía trái hàng trên trong viện Hư không tạng thuộc Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, 1 trong 10 vị Bồ tátBa la mật. Mật hiệu là Huệ hộ kim cương. Về hình tượng thì thân vị Bồ tát này màu da người, mặc áo yết ma, ngồi trên hoa sen đỏ, tay trái cầm cây kích 1 chĩa, ngón vô danh, ngón út tay phải co lại, các ngón còn lại thì dựng đứng kết Đao ấn. Chủng tử là (vì), hình Tam muội da là cây kích.Chân ngôn là: Án vĩ lí dã ca lí hồng vĩ lí duệ vĩ lí duệ sa phạ hạ. Vị tôn này được ghi trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển hạ và Thanh long tự nghi quĩ quyển trung; còn trong kinh Đại nhật, Đại nhật kinh sớ và Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền thì đều không thấy nói đến vị tôn này. Cứ theo Kim cương đính du già Thiên thủ thiên nhãn Quán tự tạibồ tát tu hành nghi quĩ quyển hạ, nếu kết ấn của bồ tát Tinh tiến ba la mật, tụng chân ngôn 3 biến thì diệt trừ nghiệp lười biếng trong vô lượng kiếp, được 3 loại Tinh tiến(Bị giáp Tinh tiến, Nhiếp thiện pháp tinh tiến, Lợi lạc hữu tình tinh tiến). Tinh tiến ba la mật tròn đầy thì thân tâm yên vui, xa lìa các tật bệnh khổ não,những điều mong cầu đều được như ý. [X. Thai tạng giới đại pháp đối thụ kí Q.3; Thai tạng giới thất tập Q. trung; Chư thuyết bất đồng kí Q.6].
tinh tiến cung
(精進弓) Tiếng dùng cùng loại: Trí tuệ tiễn(mũi tên trí tuệ),Tuệ kiếm(thanh gươm trí tuệ). Cây cung (nỏ) tinh tiến. Cây cung có sức đẩy rất mạnh mẽ và mau chóng, bởi thế, trong các kinh luận nó thường được. Bồ tát Tinh tiến Ba la mật (Mạn đồ la Thai tạng giới) 6120 T dùng để ví dụ cho Tinh tiến. Vì Tinh tiến có công năng giúp người tu hành mau đạt đến đạo quả. Luận Đại trí độ quyển 10 (Đại 25, 133 thượng) nói: Giáp nhẫn nhục cứng chắc, cung tinh tiến mạnh mẽ, tên trí tuệ bén nhọn, phá bọn giặc kiêu căng.
tinh tiến cung trí tuệ tiễn
Zeal as the bow, wisdom the arrow.
tinh tiến lực
Vìryabala (S). The power of unfailing progress.
tinh tiến phật thất
(精進佛七) Bảy ngày tinh tiến niệm Phật. Tức pháp hội tu trì chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A di đà trong thời gian 7 ngày. Hành giả tông Tịnh độ thường nhóm họp đông người cùng tu để định ra thời hạn niệm Phật, hoặc trong 7 ngày, hoặc nhiều lần 7 ngày để cầu đạt được chứng ngộ, đó là Phật thất. Trong thời kì Tinh tiến Phật thất, lấy việc tinh chuyên niệm Phật để được nhất tâm bất loạn làm tông chỉ. Trong thời gian Phật thất có các qui định như: Mỗi ngày niệm bao nhiêu cây hương, hoặc thay phiên xướng niệm ngày đêm không gián đoạn... đều phải tùy theo thời gian và địa điểm mà định. Trong Phật thất, thông thường qui định mỗi ngày niệm Phật trong thời gian cháy hết 9 cây hương, lễ Phật một nghìn lạy, đồng thời giữ giới Bát quan trai, tịnh khẩu và tuyệt đối không được liên lạc với bên ngoài. [X. Linh nham niệm tụng nghi qui].
tinh tiến thập chủng lợi ích
(精進十種利益) Mười điều lợi ích của việc tinh tiến. Cứ theo kinh Nguyệt đăng tam muội quyển 6, người tu hạnh Bồ tát, siêng năng tinh tiến tu trì các phạm hạnh thì sẽ được 10 điều lợi ích sau đây: 1. Tha bất chiết phục: Không bị tất cả tà thuyết, vọng chấp bẻ gãy. 2. Đắc Phật sở nhiếp: Được chư Phật thu nhận không bỏ. 3. Vị phi nhân sở hộ: Ở mọi nơi, mọi lúc đều được các quỉ thần(phi nhân) hộ vệ. 4. Văn pháp bất vong:Tất cả pháp được nghe đều ghi nhớ không quên. 5. Vị văn năng văn: Đối với pháp chưa nghe thì được nghe. Nghĩa là người tu hạnh Bồ tát, tâm ưa chính pháp, không biết nhàm chán, nếu các pháp trước chưa được nghe thì nay đều lắng nghe. 6. Tăng trưởng biện tài: Tinh thông các pháp nghĩa, biện tài tăng trưởng, hỏi đâu đáp đó, không hề trở ngại. 7. Đắc tam muội tính:Được tam muội tính. Tức thân tâm vắng lặng, định tính hiện tiền, không bị các tướng thế gian làm thay đổi. 8. Thiểu bệnh thiểu não: Ít bệnh, ít phiền não. Nghĩa là người tu hành có khả năng điều hòa thân tâm, thường được nhẹ nhàng, yên tịnh, ít bệnh, ít não. 9. Đắc thực năng tiêu:Ăn dễ tiêu hóa. Nghĩa là việc ăn uống được dễ dàng, không có các chứng bệnh về đường tiêu hóa. 10. Như ưu đàm bát la hoa: Như hoa sen trắng. Nghĩa là ở trong cảnh sinh tử nhưng không bị các phiền não làm nhơ nhớp; giống như hoa sen trắng tuy mọc trong bùn mà không nhiễm mùi tanh hôi, khiến mọi người trông thấy đều sinh tâm ưa mến.
Tinh tiết
(旌節): lá cờ mà người sứ giả thường cầm đi. Trong Chu Lễ (周禮), phần Chưởng Tiết (掌節) có đoạn rằng: "đạo lộ dụng tinh tiết" (道路用旌節, lá cờ dùng trên đường).
Tinh tú
(星宿): còn gọi là tú diệu (宿曜), tinh tú chia thành 7 diệu (七曜), 12 cung (十二宮), 28 ngôi sao (二十八宿), v.v. Các tinh tú này là chỗ ở của các thần hay tự thân các thần, có thể phản ảnh hết thảy hiện tượng của cõi người và cõi trời, từ đó hiện ra các tướng tốt xấu, hay nương theo sự vận hành của các vì sao mà có thể dự đoán vận mạng của cõi người. Trong Phật Giáo có Vị Lai Tinh Tú Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (未來星宿劫千佛名經, Taishō No. 448b) liệt kê danh hiệu của chư Phật nhiều như các vì sao.
tinh tú
Xem Ki bà đa.
; Stars—Constellations—See Thất Diệu.
tinh tú kiếp
Nakṣatra-kalpa (S)Kỳ kiếp kế tiếp sau Hiền kiếp, kiếp này.
; Kiếp vị lai trong đó có 1.000 vị Phật ra đời (vì Phật xuất hiện như tinh tú trên trời nên gọi là tinh tú kiếp, bắt đầu là Nhựt Quang Phật và sau cùng là Tu Di Tướng Phật)—A future kalpa of the constellations in which a thousand Buddhas will appear.
; (星宿劫) Phạm: Naksatra kalpa. Tên một đại kiếp trong đời vị lai. Ở Ấn độ từ xưa đến nay đã thịnh hành thuyết Tam đại kiếp: Kiếp Trang nghiêm ở quá khứ, kiếp Hiền ở hiện tại và kiếp Tinh tú ở vị lai. Trong 3 đại kiếp quá khứ, hiện tại, vị lai thì trong kiếp vị lai sẽ có một nghìn đức Phật ra đời, đầu tiên là đức Phật Nhật quang và sau cùng là đức. Vì mỗi đức Phật ra đời giống như ngôi sao trên trời, nên gọi là Tinh tú kiếp. [X. Tam kiếp tam thiên Phật duyên khởi; Phật tổ thống kỉ Q.30; Di lặc thướng sinh kinh tông yếu].
tinh tú vương
Nakṣatra-rāja (S).
; Naksatranatha (skt)—Lord of constellations.
tinh túy
See Tinh Anh.
tinh tường
Distinctly—Clearly.
tinh tấn
Vīrya (S), Vāyāma (S, P), Viriya (P), Vyāyāma (S), Endeavour, Striving, Energy 1- Tinh tấn thì trừ được giải đãi. Hành tinh tấn pháp thì phải: - Tinh tấn lánh xa phiền não, tội lỗi và việc dữ khi chưa phát khởi. - Tinh tấn lướt khỏi phiền não, tội lỗi khi đã phạm. - Tinh thấn rộng mở đức lành chưa có. - Tinh tấn duy trì, tăng trưởng đức lành hiện có. 2- Cần: Tâm dũng mãnh tu thiện dứt ác. Một trong thất bồ đề phần: ý, phân biệt, tinh tấn, khả, y, định, hộMột trong ngũ căn, ngũ lực.
; Viriyam (p)—Virya (skt)—Tinh cần—Diligence—Effort—Enthusiastic—Earnestly trying—Exertion—Fortitude—Perseverence—Zeal—Unchecked progress—Virility—Vigor.
tinh tấn ba la mật
Ārya-virya-pāramitā (S), Vīrya-pāramitā (S), Viriya-pārami (P), Perfection of Energy Tỳ lê da Ba la mật, Phẩm Bồ đề tâm Tinh tấn Ba la mật đaMột trong Thập Ba la mật. Tấn tới chẳng ngừng, liều bỏ thân mạng vì đạo. Nóipháp tối thắng khiến người nghe được tới cõi Chánh giác. Một trong sáu ba la mật tức là sáu phương pháp đạt giác ngộ, gồm: - dana-paramita: bố thí ba la mật - sila-paramita: giới hạnh ba la mật - ksanti-paramita: nhẫn nhục ba la mật - virya-paramita: tinh tấn ba la mật - dhyana-paramita: thiền định ba la mật - praja-paramita: bát nhã ba la mậtTì lê gia Ba la mật.
; Virya-paramita (skt)—Diligence-paramita. 1) See Lục Độ Ba La Mật, Nhị Chủng Tinh Tấn, Tam Chủng Tinh Tấn. 2) Tinh tấn Ba la mật còn là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó mà chúng ta đạt được những pháp cao thượng, và cũng nhờ đó mà chúng ta có thể dạy dỗ và hướng dẫn những chúng sanh trây lười. Đây là Ba La Mật thứ tư trong lục Ba La Mật—Virya paramita is a gate of Dharma-illumination; for with it, we completely attain all good dharmas, and we teach and guide lazy living beings. This is the fourth of the six paramitas. 3) Theo Thiền Sư Thích Nhất Hạnh trong phần giảng giải kinh Bát Đại Nhân Giác, Tinh Tấn Ba La Mật là một trong những đề tài thiền quán quan trọng trong Phật giáo. Tinh Tấn phá biếng lười. Sau khi đã ngừng theo đuổi tham dục, sau khi đã biết thực hành tri túc để thân tâm được thảnh thơi, người hành đạo không vì sự thảnh thơi đó mà giải đãi để cho ngày tháng trôi qua một cách uổng phí. Tinh tấn là cần mẫn ngày đêm, cần mẫn dồi mài sự nghiệp trí tuệ. Phải dùng bất cứ thì giờ nào mình có được để quán chiếu “Tứ Niệm Xứ” (vô thường, khổ không, vô ngã, bất tịnh). Phải đi sâu thêm vào giáo nghĩa “Tứ Niệm Trú,” phải học phép quán niệm về hơi thở, về các tư thế của thân thể, về sự thành trụ hoại không của thể xác, về cảm giác, tư tưởng, hành nghiệp và những nhận thức của mình. Phải tìm đọc kinh điển chỉ dẫn rành rẽ về phương pháp tu tập và thiền quán, điều hòa hơi thở và quán niệm, như Kinh Quán Niệm (Niệm Xứ), Kinh An Bang Thủ Ý và Kinh Đại Bát Nhã. Phải theo lời chỉ dẫn trong các kinh ấy mà hành trì một cách thông minh, nghĩa là phải chọn những cách tu thích hợp với trường hợp cá nhân của mình. Nếu cần thì có thể sửa đổi cho phù hợp. Hạ thủ công phu cho tới khi nào những phiền não căn bản như tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến đều bị nhổ tận gốc, thì tự nhiên ta thấy thân tâm vượt thoát khỏi ngục tù của sinh tử, ngũ ấm và tam giới—According to Zen Master Thích Nhất Hạnh in the explanation of the sutra on the Eight Realizations of the Great Beings, diligence-paramita is one of the most important subjects of meditation in Buddhism. Diligent practice destroys laziness. After we cease looking for joy in desires and passions and know how to feel satisfied with few possessions, we must not be lazy, letting days and months slip by neglectfully. Great patience and diligence are needed continually to develop our concentration and understanding in the endeavor of self-realization. We must whatever time we have to meditate on the four truths of impermanence, suffering, selflessness, and impurity. We must penetrate deeply into the profound meaning of the Four Foundations of Mindfulness, practicing, studying, and meditating on the postures and cycles of becoming, maturing, transformation, and destruction of our bodies, as well as our feelings, sensations, mental formations, and consciousness. We should read sutras and other writings which explain cultivation and meditation, correct sitting and controlling the breath, such as The Satipatthana Sutta and The Maha Prajna Paramita Heart Sutra. We have to follow the teachings of these sutras and practice them in an intelligent way, choosing the methods which best apply to our own situation. As necessary, we can modify the methods suggested in order to accommodate our own needs. Our energy must also be regulated until all the basic desires and passions, greed, anger, narrow-mindedness, arrogance, doubt, and preconceived ideas, are uprooted. At this time we will know that our bodies and minds are liberated from the imprisonment of birth and death, the five skandhas, and the three worlds.
tinh tấn cung trí tuệ tiễn
Tinh tấn được ví như cung và trí tuệ như tên—Zeal as the bow, wisdom the arrow.
Tinh tấn căn
xem năm căn lành.
tinh tấn căn
Viryendriya (skt)—Một trong ngũ căn—One of the five roots—See Ngũ Căn (C) (2).
tinh tấn giác chi
Viriyayaṅga (S)Một trong Thất giác chi.
tinh tấn giác phần tam muội
Virya-saptabodhyaṅga-samādhi (S)Một trong Thất giác phần Tam muội.
tinh tấn giữ gìn
To keep something steadfastly.
tinh tấn lực
Vīrya-bāla (S), Viriya-bala (P).
; Viryabala (skt)—Một trong ngũ lực, lực giúp chúng ta luôn tiến mà không thối chuyển, hay là nghị lực giúp chúng ta vượt qua mọi trở ngại—One of the five moral powers, the power of unfailing progress; or the power of zeal which leads to overcoming all obstacles.
Tinh tấn như ý túc
xem Bốn như ý túc.
tinh tấn tu tập
Diligent Cultivation—Trong tu tập theo Phật giáo, tinh tấn tu tập không chỉ đơn thuần là thiền quán, ngồi cho đúng, kiểm soát hơi thở, đọc tụng kinh điển, hoặc chúng ta không lười biếng cho thời gian trôi qua vô ích, mà còn là biết tri túc thiểu dục để cuối cùng chấm dứt tham dục hoàn toàn. Tinh tấn tu học còn có nghĩa là chúng ta phải dùng hết thì giờ vào việc quán chiếu tứ diệu đế, vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh. Tinh tấn tu học cũng là quán sâu vào chân nghĩa của Tứ niệm xứ để thấy rằng vạn hữu cũng như thân nầy luôn thay đổi, từ sanh, rồi đến trụ, dị, và diệt. Tinh tấn tu học còn có nghĩa là chúng ta phải tu tập cho được chánh kiến và chánh định để tận diệt thiển kiến. Trong nhân sinh, thiển kiến là cội rễ sâu nhất. Vì thế mà khi thiển kiến bị nhỗ thì tham dục, sân, si, mạn, nghi đều bị nhỗ tận gốc—In Buddhist cultivation, diligent cultivation does not only include meditation, correct sitting and controlling the breath; or that we must not be lazy, letting days and months slip by neglectfully, we should also know how to feel satisfied with few possessions and eventually cease loking for joy in desires and passions completely. Diligent cultivation also means that we must use our time to meditate on the four truths of permanence, suffering, selflessness, and impurity. We must also penetrate deeply into the profound meaning of the Four Foundations of Mindfulness to see that all things as well as our bodies are constantly changing from becoming, to maturing, transformation, and destruction. Diligent cultivation also means to obtain correct understanding and concentration so that we can destroy narrow-mindedness. Among the basic desires and passions, narrow-mindedness has the deepest roots. Thus, when these roots are loosened, all other desires, passions, greed, anger, ignorance, and doubt are also uprooted.
tinh tấn và thối chuyển
Great effort and retrogression—Lòng người dễ tinh tấn mà cũng dễ thối chuyển; khi nghe pháp và lời khuyên thì tinh tấn tiến tu, nhưng khi gặp chướng ngại thì chẳng những ngại ngùng muốn thối lui, mà còn muốn chuyển hướng khác và lắm khi phải sa vào tà đạo—Our mind is easy to set great effort but is also easily prone to retrogression; Once hearing the dharma and advice, we bravely advance with our great efforts, but when we encounter obstacles, we not only grow lax and lazy retrogression, but also change our direction and sometimes fall into heterodox ways.
Tinh tấn độ
xem bờ bên kia.
tinh tế
1) Tinh cúng: Cúng bái sao, đặc biệt là sao bổn mệnh (đây là lối tu hành của tà giáo ngoại đạo)—To sacrifice, or pay homage to a star, especially one's natal star (this is the way of worship of heretic sects). 2) Tinh tế: Delicate—Discerning.
tinh tế thậm thâm
Subtle and profound.
tinh vi
To be sophisticated—Delicate.
tinh vân
(星雲) Danh tăng Trung quốc, người ở Giang Đô, tỉnh Giangtô, hiệu Kim giác, bút hiệu Ma ca. Năm 12 tuổi, sư lễ Chí khai thượng nhân, chùa Đại giác, ở Nghi hưng, núi Thê hà, Nam kinh, xin xuất gia, được đặt pháp danh là Ngộ triệt. Năm Dân quốc 30 (1941), sư thụ giới Cụ túc ở núi Thê hà và ở lại đây học Luật, sau sư lại đến tham học ở Phật học viện Tiêu sơn. Sau khi rời viện, sư làm Hiệu trưởng trường Bạch tháp quốc dân, chủ biên nguyệt san Nộ đào, trụ trì chùa Hoa tạng tại Nam kinh. Năm Dân quốc 38 (1949), sư đến Đài loan trụ ở chùa Viên quang tại Trung lịch. Năm D.Q. 39 (1950), sư làm Chủ biên nguyệt san Nhân sinh. Năm D.Q. 40 (1951), sư làm Chủ nhiệm Giáo vụ hội Phật giáo giảng tập Đài loan. Năm D.Q. 41 (1952), sư đến chùa Lôi âm ở Nghi lan, thành lập các hội như: Niệm Phật, Hoằng pháp, Học sinh, đồng thời mở vườn trẻ và giảng pháp trên đài Phát thanh. Năm D.Q. 44 (1955), sư sáng lập Phật giáo đường tại Cao hùng. Năm D.Q. 46 (1957), sư sáng lập Phật giáo văn hóa phục vụ xứ ở Đài bắc, xuất bản kinh sách để mở rộng văn hóa Phật giáo. Năm D.Q. 51 (1962), sư sáng lập chùa Thọ sơn ở Cao hùng, mở Phật học viện Thọ sơn tại chùa này để đào tạo nhân tài cho Phật giáo. Năm D.Q. 56 (1967), sư lại sáng lập Phật quang sơn ở làng Đại thụ, huyện Cao hùng và giữ chức Trụ trì đời thứ nhất. Từ đó về sau, sư lấy Phật quang sơn làm đạo tràng căn bản cho công cuộc hoằng pháp. Ngoài việc tích cực xây dựng Phật quang sơn thành một ngôi chùa danh tiếng trên toàn Đài loan, sư còn hết sức phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hóa Phật giáo, từ thiện xã hội... Sư đặt hết kì vọng vào việc phục hưng Phật giáo và lấy việc giáo dục nhân tài làm gốc, cho nên ra sức xây dựng các viện Phật học các cấp, đồng thời, năm D.Q. 62 (1973), sư sáng lập Đại học Phật giáo đầu tiên (Đại học Tùng lâm) để giáo dục thanh niên Phật giáo, sau được đổi thành viện nghiên cứu Phật giáo Trung quốc, lại thiết lập Nghiên cứu bộ để giúp cho thanh niên Phật giáo, sau khi tốt nghiệp Đại học, hay viện Phật học, tiếp tục nghiên cứu Phật giáo sâu hơn, mở đường cho nền giáo dục Cao đẳng Phật giáo chuyên môn trong nước. Đồng thời, sư làm Trưởng sở Sở nghiên cứu văn hóa Ấn độ thuộc Đại học Văn hóa Trung quốc, Giáo sư Đại học Đông hải, người đầu tiên chính thức đưa Phật giáo vào lãnh vực giáo dục Cao đẳng. Sư còn mở các lớp học mùa hè dành cho các sinh viên, học sinh học tập, nghiên cứu Phật pháp. Sư cũng cảm thấy cần có nhân tài hoằng pháp với tầm cỡ quốc tế nên đã cho nhiều học trò và đệ tử có năng lực du học các nước như Nhật bản, Hoa kỳ, Ấn độ, Hàn Quốc... có tới mấy mươi người đạt được học vị trên cấp Đại học. Mục đích một đời của sư là mở rộng sự nghiệp văn hóa Phật giáo, cho nên ngay từ lúc còn trẻ, sư đã làm Chủ biên các nguyệt san Nhân sinh, Kim nhật Phật giáo..., sau đó lại phát hành Giác thế tuần san, Giác thế nguyệt san, Phổ môn nguyệt san... đồng thời sáng lập Phật quang xuất bản xã, Phật quang Đại tạng kinh biên tu ủy viên hội... Ngoài ra, sư cũng đẩy mạnh công cuộc .giao lưu Phật giáo quốc tế, từng nhiều lần tổ chức Hội nghị học thuật Phật giáo quốc tế đại qui mô. Năm D.Q. 68 (1979), sư giữ chức Hội trưởng Hội xúc tiến Phật giáo quốc tế Mỹ quốc (International Buddhist Progress Society), chủ trương phát triển Phật pháp Đại thừa ở Hoa kỳ. Năm Dân quốc 69 (1971), trường Đại học Đông Phương (University of Oriental Studies) ở Los Angeles, Hoa kỳ, tặng sư bằng Tiến sĩ Triết học danh dự về những thành tựu hoằng pháp của sư, sau sư làm Hội trưởng Tổng hội Thanh niên Phật giáo Hoa kỳ. Năm Dân Quốc 71 (1982), Phật quang sơn kết nghĩa huynh đệ với Thông đệ tự của Hàn quốc, xúc tiến việc giao lưu văn hóa, tông giáo giữa 2 nước Trung, Hàn. Ngoài ra, sư cũng đến hoằng pháp tại các nước Thái lan, Mã lai, Hương cảng... Sư có các tác phẩm: Thích ca mâu ni Phật truyện, Thập đại đệ tử truyện, Ngọc lâm quốc sư, Giác thế luận tùng, Vô thanh tức đích ca xướng, Tinh vân đại sư giảng diễn tập.
tinh xá
Xem tinh thất.
; See Tịnh Thất.
; (精舍) Cũng gọi Tinh lô. Chỉ cho ngôi nhà của những người tinh chuyên tu luyện trí đức, tức tên khác của chùa viện. Danh từ Tinh xá tuy thường được thấy trong các kinh điển, nhưng tiếng gốc của danh từ này không giống nhau, như Kê lâm Tinh xá (Phạm:Kukkuỉàsàma) trong kinh Tạp a hàm quyển 21, Mĩ viên tinh xá (Phạm:Ghowitàràma) trong kinh Pháp cú thí dụ quyển 1, Kì đà tinh xá (Phạm: Jetavanànàthapiịđadasyàràma) trong kinh Biệt dịch a hàm quyển 2, Bất xuyên nhĩ tinh xá (Phạm: Avidhakarịasaôghàràma) trong Đại đường tây vực kí quyển 7..., ở đây hoặc dùng từ ngữ A lam ma (Phạm,Pàli:Àràma), hoặc dùng từ ngữ Tăng già lam (Phạm, Pàli: Saôghàràma) mà dịch là Tinh xá. Còn Gia la thích tinh xá (Phạm: Ghaỉayasakkassa-vihàra) trong kinh Đại không thuộc Trung a hàm quyển 49, Ca la sai ma thích tinh xá (Phạm: Kàlawemakasyasakyasya-vihàra), cũng nói trong kinh Đại không thuộc Trung a hàm quyển 49, Tiên nhân tụ lạc tinh xá (Phạm:Fwigràmavihàra), Tùng lâm tinh xá (Phạm: Piịđavana-vihàra) trong luật Ma ha tăng kỳ quyển 8... thì dùng danh từ Tì ha la (Phạm,Pàli:Vihàra) mà dịch là Tinh xá. Ngoài ra cũng có chỗ dùng từ ngữ A luyện nhã (Phạm:Àraịya,Pàli:Araĩĩa), Cầu ha (Phạm,Pàli:Guhà) và Phạm,Pàli: Nivàsana, Phạm: Agara-zàla (Pàli: Agarasàla), Phạm,Pàli:Avasatha... mà dịch là Tinh xá. [X. kinh Xuất diệu Q.2; Pháp hiển truyện; luật Ma ha tăng kì Q.1; Thích thị yếu lãm Q. thượng]. (xt. Tự Viện).
Tinh xá Kỳ-hoàn
tinh xá (精舍) là nơi tinh khiết, sạch sẽ, yên tĩnh, các vị xuất gia tập trung nơi đây để học đạo và tham thiền. Rất nhiều người đọc là tịnh xá vì nhầm lẫn giữa chữ tinh (精) và chữ tịnh (淨), âm đọc gần nhau, ý nghĩa cũng có phần giống nhau. Tinh xá Kỳ-hoàn là vùng đất trước đây của trưởng giả Kỳ-hoàn (cũng đọc là Kỳ-đà), do ông Cấp-cô-độc mua lại rồi xây dựng thành tinh xá, cúng dường cho đức Phật và Giáo hội. Trưởng giả Kỳ-hoàn bán phần đất ấy nhưng không bán cây cối trên đất, mà tự mình dâng cúng cho đức Phật và Giáo hội. Vì vậy, nơi này có tên gọi đầy đủ là Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên, nghĩa là khu vườn của ông Cấp-cô-độc, cây cối của trưởng giả Kỳ-hoàn. Tinh xá này rất lớn, nằm tại thành Xá-vệ, nước Kiều-tát-la.
tinh ý
Intelligent.
Tinh Định Nguyên Chí
(星定元志, Seijō Genshi, 1816-1881): vị tăng của Tông Lâm Tế Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Giang Hộ và Minh Trị, húy Nguyên Chí (元志), đạo hiệu Tinh Định (星定), xuất thân vùng Vĩ Trương (尾張, Owari, thuộc Aichi-ken [愛知縣]). Năm 19 tuổi, ông theo xuất gia với Cố Giám (顧鑑) ở Huy Đông Am (輝東庵) của Thoại Tuyền Tự (瑞泉寺) vùng Vĩ Trương. Sau khi thầy qua đời, ông được ấn khả của Tổ Triệt (祖徹). Năm 1851, ông đến trú tại Long Trạch Tự (龍澤寺, Ryōtaku-ji) vùng Y Đậu (伊豆, Izu), đến năm 1854 khi Tổ Triệt qua đời, môn hạ của vị nầy đến thọ giáo với ông. Vào năm 1860, ông tổ chức lễ húy kỵ lần thứ 100 của Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴, Hakuin Ekaku), và đến năm 1866 thì truyền Tâm Địa Giới Pháp tại Thoại Tuyền Tự. Ông đã nổ lực giáo hóa chúng đạo tục khắp các vùng Y Đậu cũng như Tuấn Hà (駿河, Suruga).
tinh độ kinh
Sukhāvatīvyuaha sŪtra (S)A di đà KinhTên một bộ kinh.
tiu nghỉu
Dejected (person).
tiêm
(尖) I. Tiêm. Một dụng cụ nhỏ làm bằng tre hoặc gỗ, đầu nhọn và sắc có thể đâm thủng ác vật.Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 3 (Đại 24, 218 thượng) nói: Khi các tỉ khưu khâu 3 áo, nếu dùng thẻ tre đầu nhọn hay cuống lông cánh chim đâm thủng áo, thì áo sẽ bị tổn hại. Phật dạy: Phải dùng kim. [X. Căn bản Tát bà đa bộ luật nhiếp Q.5; Tuệ lâm âm nghĩa Q.60]. II. Tiêm. Thanh tre hoặc miếng giấy dùng để viết chữ, phù hiệu... hầu dễ ghi nhớ. Trong Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 1, thượng, ngài Trạm nhiên đời Đường thuật lại nguyên do ngài soạn bộ Pháp hoa huyền nghĩa chú sớ như sau: Trước đây, lúc còn ở trên núi Thailãnh, có nhiều người đến hỏi nghĩa kinh, tôi tạm ghi vào các tấm thẻ(tiêm), chưa thành văn. Sau này, tôi xem lại, sửa chữa và trau chuốt các câu để trình bày kiến thức cạn hẹp của mình. Ngoài ra, cái thẻ tre dùng để cầu thần xem việc lành dữ cũng là một loại Tiêm. Người ta làm những chiếc thẻ tre có ghi số đếm để trong một cái ống, khấn thần rồi lắc ống, hễ thẻ nào rơi ra thì lấy thẻ ấy mà đoán lành dữ, gọi là Linh tiêm(thẻ linh nghiệm), cũng gọi là Thi tiêm, vì mỗi thẻ đều có một bài thơ ứng theo để xem tốt hay xấu.
tiêm nhiễm
To contract a bad habit.
Tiên
仙; C: xiān; J: sen;|Có các nghĩa: 1. Người tu trong núi; người sống ẩn dật, ẩn sĩ; 2. Hiền nhân đạo Lão, sống nơi rừng núi xa xôi, xa lánh thế tục; 3. Là những ẩn sĩ tu trong rừng, xả li thế tục tại Ấn Độ; 4. Bậc Đạo sư (s: ṛṣi), những tác giả của kinh Vệ-đà cổ xưa (s: veda).
tiên
Ṛṣi (S), Isi (P)Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật bảo ngài A nan có 10 hàng tiên: Địa hành tiên, Phi hanh tiên, Du hành tiên, Không hành tiên, Thiên hành tiên, Thông hành tiên, Đạo hành tiên, Chiếu hành tiên, Tinh hành tiên, Tuyệt hành tiên. Mười hàng tiên này khi mãn kiếp cũng thác sanh vào luân hồi.
; Rsi (S). An immortal; an ascetic, a man of the hills; a hermit; the Buddha. The Lăng Nghiêm Kinh gives ten kinds of immortals: walkers on the earth, địa hành tiên; fliers phi hành tiên; wanderers at will du hành tiên; into space không hành tiên; into the deva heavens thiên hành tiên; transforming themselves in any form tuyệt hành tiên etc.. A classification of five is deva genii thiên tiên; spirit genii thần tiên; human genii nhân tiên; earth or cavern genii địa tiên; and ghost genii quỉ tiên.
; (A) Trước: Before—Former—First. (B) Đạo thờ Thần Lửa ở Ba Tư: A religion in Iran of which followers worship the god of fire. (C) Giấy: A tablet—A slip. (D) Rsi (skt)—An immortal—The genii. There are five kinds of genii: 1) Thiên Tiên: Deva genii. 2) Thần Tiên: Spirit genii. 3) Nhân Tiên: Human genii. a) • Nhóm Bát Tiên: There is a famous group of eight immortals. • Kinh Lăng Già đưa ra mười loại Tiên, như Tiên đi trên đất, bay trên trời, hay lang thang tùy ý vào không gian, lên trời hay tự biến hóa thân mình, vân vân—The Lankavatara Sutra gives ten kinds of immortals, walkers on the earth, fliers, wanderers at will, into space, into the deva heavens, transforming themselves in any form, etc. b) Người tu khổ hạnh: An ascetic, a man of the hills. c) Người ẩn dật: A hermit. d) Phật: The Buddha. 4) Địa Tiên: Earth genii. 5) Quỷ Tiên: Ghost genii.
tiên bối
Monks of senior ranks.
tiên chiếu cao sơn
Mặt trời mới mọc chiếu trên những ngọn núi cao trước (ví như Phật thuyết kinh Hoa nghiêm đầu tiên để cho những người có căn cơ Đại Thừa)—The rising sun first shines on the highest mountains, compared with the Buddha's first preaching of the Flower Adornment Sutra.
tiên chiếu hậu dụng
(先照後用) Chỉ cho Chiếu dụng thứ nhất trong 4 chiếu dụng mà Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền đời Đường dùng làm phương tiện tiếp dắt người học. Chiếu là chiếu soi; Dụng là tác dụng. Nghĩa là đối với những người chấp pháp nặng thì trước dùng lời nói(Chiếu)để phá trừ quan điểm chấp trước cho khách thể là thực có của họ, nếu vẫn cố chấp thì sau đó phải sử dụng phương tiện đánh, hét (Dụng) để chỉ rõ nhận thức của chủ thể. Cũng tức là dùng phương pháp trước đoạt sau cho để dắt dẫn người học. Nhân thiên nhãn mục quyển 1 (Đại 46, 304 thượng) ghi: Một hôm, sư dạy chúng rằng: Có khi ta dùng tiên chiếu hậu dụng, có khi dùng tiên dụng hậu chiếu, có khi chiếu dụng đồng thời, có khi chiếu dụng chẳng đồng thời. (xt. Tiên Dụng Hậu Chiếu).
tiên châu
Tên một ngôi chùa trong tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam, chùa đã được nhắc đến trong bộ Đại Nam Nhất Thống Chí. Chùa tọa lạc trên cù lao An Thành. Tên cũ là Di Đà. Cảnh chùa tịch tĩnh và được sông Cửu Long bao quanh. Chùa được kiến lập vào thế kỷ thứ 19 và đã được trùng tu nhiều lần. Giữa chánh điện có một pho tượng A Di Đà khá lớn—Name of a temple in Vinh Long, South Vietnam, mentioned in “Đại Nam Nhất Thống Chí.” It is located in An Thanh island. The temple formerly named Di Đà. It is a quiet, secluded and surrounded by the Mekong River. The temple was built in the nineteenth century and had been restored many times. There is a pretty big statue of Amitabha Buddha in the main hall.
tiên cô
Fairy.
tiên cảnh
Fairyland; elysium.
; Fairyland.
Tiên cấm
(仙禁): chỉ cho hoàng cung; do vì canh phòng nghiêm mật, cấm vệ chặt chẽ, ngay cả các quan cũng không được tự ý ra vào, nên có tên gọi như vậy. Như trong bài Phụng Hòa Thánh Chế Tống Thượng Thư Yến Quốc Công Thuyết Phó Sóc Phương Quân (奉和聖制送尚書燕國公說赴朔方軍) của Trương Cửu Linh (張九齡, 678-740) nhà Đường có câu: “Sủng tích tùng tiên cấm, quang hoa xuất Hán Kinh (寵錫從仙禁、光華出漢京, ân sủng từ cung cấm, vinh quang ra Hán Kinh).” Hay trong Ngọc Quyết Ký (玉玦記), phần Đối Sách (對策), của Trịnh Nhược Dung (鄭若庸, khoảng thế kỷ 16) nhà Minh, có đoạn: “Bào tứ tiêu cung, lư truyền kim điện, danh đề tiên cấm (袍賜椒宮、臚傳金殿、名題仙禁, áo bào ban ở tiêu cung, bảng vàng truyền nơi kim điện, tên đề chốn cấm cung).”
tiên du
To visit the fairyland; to depart this life.
; To pass away—To die—To go to the fairyland.
tiên dược
Miraculous drug.
tiên dụ
(先喻) Thí dụ trước. Tức trước nêu thí dụ, sau nói pháp nghĩa. Chẳng hạn như trước nêu thí dụ: Có ngườivì tham đắmđóahoa thơm đẹp, muốn hái lấy, nên bị nước cuốn chìm, sau nói pháp nghĩa: Chúng sinh vì tham đắm 5 dục lạc mà bị sóng sinh tử cuốn trôi, chìm mất. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.29 (bản Bắc)]. (xt. Thí Dụ).
tiên dụng hậu chiếu
(先用後照) Chỉ cho chiếu dụng thứ 2 trong 4 Chiếu dụng mà Thiền sư Lâmtế ghĩahuyền đời Đường dùng để dắt dẫn người học. Dụng là tác dụng, chỉ cho động tác đánh, hét, là đối với nhận thức của chủ thể; Chiếu là chiếu soi, chỉ cho cơ duyên vấn đáp, là đối với nhận thức của khách thể. Tức bậc sư gia thích ứng với căn cơ của người học, đối với người chấp ngã nặng thì trước dùng thủ đoạn đánh, hét để phá trừ quan điểm cho rằng chủ thể là có thật, sau đó dùng cơ duyên vấn đáp để hiển bày nhận thức của khách thể. Nhân thiên nhãn mục quyển 1 (Đại 48, 304 thượng) nói: Tiên chiếu hậu dụng thì còn chấp nhân(ngã), tiên dụng hậu chiếu thì còn chấp pháp. (xt. Tứ Chiếu Dụng).
tiên dự
(仙豫) Tên vị Quốc vương ở đời quá khứ, là tiền thân của đức Phật Thíchca. Thuở nhỏ, khi đức Thíchca Nhưlai là vua Tiêndự, Ngài rất kính tin, quí trọng kinh điển Đại thừa. Một hôm, vua nghe tin có 500 Bà la môn báng bổ kinh Phương đẳng, vua liền giết hết 500 Bà la môn. Sau khi các Bà la môn mệnh chung, phải đọa vào địa ngục, bèn ăn năn tội lỗi và phát tâm kính tin Đại thừa, tức thời được sinh về thế giới của đức Cam lộ cổ Nhưlai. [X. kinh Niết bàn Q.12 (bản Bắc); kinh Niết bàn Q.1 (bản Nam)].
Tiên giá
仙駕; C: xiānjià; J: senga;|Phong thái của một vị tiên nhân ẩn sĩ.
Tiên giá 仙駕
[ja] センガ senga ||| The carriage of a recluse sage. => Phong thái của một vị tiên nhân ẩn sĩ.
tiên giác hải tịnh
Zen Master Tiên Giác Hải Tịnh (1788-1875)—Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh, quê ở Gia Định, Nam Việt. Vào năm 1802, cha ngài cho phép ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc. Về sau nầy ngài thọ cụ túc giới với Thiền sư Tổ Tông Viên Quang, một trong những đại đệ tử của ngài Phật Ý Linh Nhạc. Sau khi Phật Ý Linh Nhạc thị tịch vào năm 1821, ngài trụ tại chùa Từ Ân. Đến năm 1825 vua Minh Mạng gửi sắc chỉ triệu hồi ngài về kinh đô. Ngài trụ tại chùa Thiên Mụ. Đến năm 1847, ngài trở về Gia Định để chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại phương Nam cho đến khi ngài thị tịch năm 1875—Zen Master Tiên Giác Hải Tịnh, a monk from Gia Định, South Vietnam. In 1802, his father allowed him to leave home to become a disciple of Zen Master Phật Ý Linh Nhạc. Later, he received complete precepts with Zen Master Tổ Tông Viên Quang, one of the great disciples of Phật Ý. He became the Dharma heir of the thirty-seventh generation of the Linn-Chih Zen Sect. After Phật Ý Linh Nhạc passed way in 1821, he stayed at Từ Ân Temple. In 1825, king Minh Mạng sent an Imperial Order to summon him to the Capital. He stayed at Thiên Mụ Temple. He returned to Gia Định in 1847 and stayed at Viên Giác temple (used to be Quan Âm Viện, founded by Zen Master Hương Đăng in 1802 in Gia Định) to revive and expand Buddhism in the South until he passed away in 1875.
Tiên Giác Tông Thừa
(先覺宗乘, Senkakushūjō): 5 quyển, do Ngữ Phong Viên Tín (語風圓信) nhà Minh hiệu đính, Quách Ngưng Chi (郭凝之) biên tập. Dựa trên cơ sở bộ Tiên Giác Tập (先覺集, tập ngữ yếu cơ duyên của chư vị cư sĩ giác ngộ, 2 quyển) do Đào Minh Tiềm (陶明潛) nhà Minh biên soạn, trước tác này thâu tập tất cả những cơ duyên ngữ yếu của 184 người, gồm 111 cư sĩ có xuất xứ rõ ràng và 73 cư sĩ vô danh, để lưu truyền cho hậu thế đạo nghiệp của chư vị tiền bối và làm mô phạm cho tiến trình học đạo. Ngoài ra, trong quyển đầu có thâu lục 3 bài tựa của Đạo An Tĩnh (道安靜), Chuyết Am Trí Phác (拙庵智朴), Viên Giáo Giải Tam Hồng (圓敎解三洪).
tiên giác tông thừa
(先覺宗乘) Tác phẩm, 5 quyển, do cư sĩ Quách ngưngchi thu tập, ngài Ngữ phong Viên tín (1571-1647) hiệu đính vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 148. Nội dung sách này thu chép cơ duyên ngữ yếu của 184 vị cư sĩ được nối pháp, trong đó, 111 vị có ghi tên rõ ràng, còn 73 vị khuyết danh. Một cơ một cảnh, một lời một câu của các bậc Tiên giác ghi trong sách này cũng đủ làm tấm gương sáng cho người học đời sau. Sách này và Cư sĩ phần đăng lục do Chu thừaấn soạn vào đời Minh, Cư sĩ truyện do Bành tếthanh soạn vào đời Thanh và Cư sĩ tham thiền lan lục do Lưuđạitâm soạn vào thời Dân quốc đều là những tư liệu quan trọng để tham cứu về đạo nghiệp của hàng cư sĩ trong Phật giáo.Ngoài ra, Tiên giác tông thừa là do cải biên bộ Tiên giác tập, 2 quyển, do cư sĩ Đào minh tiềm soạn vào đời Minh mà thành, cho nên Vạn tục tạng mới chép các bài tựa Tiên giác tập của 3 vị: Đạo an tĩnh, Chuyết am Trí phác và Viên giáo giải Tam hồng ở đầu quyển của Tiên giác tông thừa.
tiên giới
Fairyland.
tiên hậu đối
(先後對) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trước sau đối nhau, 1 trong 3 tiêu chuẩn để phân biệt giữa Tự tính và Sai biệt trong Nhân minh. Tiên là trước, tức chỉ cho Tiền trần (danh từ trước – chủ từ)của Tông(mệnh đề); Hậu là sau, tức chỉ cho Hậu trần(danh từ sau – thuật từ) của Tông. Tiền trần đứng đầu Tông thể, trước nó không có pháp nào để trình bày phân biệt, cho nên gọi là Tự tính; Hậu trần đứng sau Tông thể, có nhiệm vụ trình bày rõ đặc sắc của Tiền trần, vì thế nên gọi là Sai biệt. Chẳng hạn như trong luận thức: Tông:Đá kim cương có thể đốt cháy. Nhân:Vì có thán tố. Trong luận thức trên, Đá kim cương là Tiền trần, trước nó không có một pháp nào để trình bày, phân biệt. Còn có thể đốt cháy là Hậu trần nói rõ về tính chất của Tiền trần là Đá kim cương. Nếu chỉ có một vế Tiền trần Đá kim cương thì không đủ ý nghĩa, phải nối liền với vế Hậu trần có thể đốt cháy mới nói lên được cái đặc sắc của Tông và cấu thành điều kiện tất yếu của cuộc tranh luận. [X. Nhân minh học (Ngu ngu); Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Thể).
tiên khiết
To clean.
tiên kinh
Kinh điển của Lão Giáo nói về thuật trường sinh bất tử—Taoist treatises on alchemy and immortals.
; (仙經) Từ ngữ chỉ chung cho kinh điển của Đạo giáo nói về thuật trường sinh bất tử. Đạo giáo chú trọng phương pháp tu luyện tinh, khí, thần, nội đan, ngoại đan... để cầu sống mãi không chết, cho nên các kinh điển mà Đạo giáo y cứ được gọi chung là Tiên kinh.
Tiên lai
先來; C: xiānlái; J: senrai;|Từ trước, từ lúc bắt đầu, từ quá khứ (theo Du-già luận 瑜伽論).
Tiên lai 先來
[ja] センライ senrai ||| From before; originally; since the past. 〔瑜伽論 T 1579.30.365b29〕 => Từ trước, từ lúc bắt đầu, từ quá khứ.
tiên lộc vương
The royal-stag Genius—The Buddha.
; (仙鹿王) Chỉ cho con nai chúa. Vì nai sống trong núi sâu nên được ví dụ là Tiên; vì vượt trội hơn trong đồng loại nên gọi là Vương. Trong 32 tướng của Phật, có tướng Lộc vương sủy, nghĩa là chân của Phật tròn thon giống như bắp chân của nai chúa. Vãng sinh yếu tập quyển thượng (Đại 84, 45 thượng) nói: Chân tròn thon giống như bắp chân Tiên lộc vương, lòng bàn chân có nghìn bánh xe phúc.
tiên mẫu
Late mother.
tiên nga
Fairy.
tiên nghiệp
Nghiệp từ kiếp trước—Karma from a previous life.
Tiên ngự
(仙馭): có ba nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho con hạc do tiên nhân cỡi đi. Như trong bài thơ Đáp Giả Chi Sứ Ký Hạc (答賈支使寄鶴) của Tiết Năng (薛能, ?-?) nhà Đường có câu: “Thụy vũ kỳ tư lượng thương hình, xưng vi tiên ngự quá thanh minh (瑞羽奇姿踉蹌形、稱爲仙馭過青冥, lông đẹp dáng kỳ bước loạng choạng, xưng là tiên hạc qua trời xanh).” (2) Xưa kia cho rằng người chết đi là cỡi hạc rong chơi cõi tiên, nên gọi là tiên ngự. Như trong bài Đại Hành Hoàng Thái Hậu Vãn Ca Từ (大行皇太后輓歌詞) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có câu: “Vân tùy tiên ngự viễn, phong trợ thánh tình ai (雲隨仙馭遠、風助聖情哀, mây theo tiên hạc đi xa, gió thêm buồn bã bao la thánh tình).” (3) Chỉ cho xa giá của Hoàng đế. Như trong bài thơ Phú Thu Nhật Huyền Thanh Quang Tứ Phòng Huyền Linh (賦秋日懸清光賜房玄齡) của vua Thái Tông (太宗, tại vị 626-649) nhà Đường có câu: “Tiên ngự tùy luân chuyển, linh ô đới ảnh phi (仙馭隨輪轉、靈烏帶影飛, xe vua theo bánh chuyển, quạ thiêng cỡi bóng bay).” Trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 17 cũng có câu: “Ngũ thất tiến nghiêm Hoàng Thái Hậu, vị tri tiên ngự vãng hà phương (五七薦嚴皇太后、未知仙馭往何方, ngũ tuần hiến cúng Hoàng Thái Hậu, chưa hay tiên hạc về chốn nào).”
Tiên Nhai Nghĩa Phạm
(仙厓義梵, Sengai Gibon, 1750-1837): vị Thiền tăng Phái Cổ Nguyệt (古月派) thuộc Lâm Tế Tông; húy Nghĩa Phạm (義梵), đạo hiệu Tiên Nhai (仙厓[崖]), hiệu Viên Thông (圓通), Thiên Dân (天民), Bách Đường (百堂), Hư Bạch (虛白), Vô Pháp Trai (無法齋), thụy hiệu Phổ Môn Viên Thông Thiền Sư (普門圓通禪師), xuất thân vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino, thuộc Gifu-ken [岐阜縣]). Ông xuất gia theo Không Ấn Viên Hư (空印圓虛) ở Thanh Thái Tự (清泰寺) vùng Mỹ Nùng, sau đến tham Thiền với Thiền Tuệ (禪慧) ở Cao Càn Viện (高乾院) vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku, thuộc Fukushima-ken [福島縣]) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Kế đến ông theo hầu Bàn Cốc (盤谷) ở Thánh Phước Tự (聖福寺, Shōfuku-ji) vùng Bác Đa (博多, Hakata), Khủng Tiền (筑前, Chikuzen), trú tại Hư Bạch Viện (虛白院) trong sơn nội và nổ lực phục hưng chùa nầy. Ông thể hiện Thiền yếu với tính cách đùa giỡn, phiêu dật, nên rất gần gủi với mọi người. Cùng với Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴, Hakuin Egaku), ông là một trong những đại biểu cho bộ mặt Thiền Tông thời Cận Đại. Trước tác của ông để lại có Tiên Nhai Hòa Thượng Ngữ Lục (仙厓和尚語錄) 5 quyển, Xả Tiểu Chu (捨小舟) 1 quyển, Xúc Tỷ Dương (觸鼻羊) 1 quyển, v.v.
Tiên Nhai Nghĩa Phạm
仙崖義梵; J: sengai gibon; 1751-1837; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế (j: rinzai-shū), hệ phái Diệu Tâm tự (myōshin-ji). Sư nối pháp Thiền sư Nguyệt Thuyền Thiền Huệ (月船禪慧; gessen zenne, 1702-1781).|Sư xuất gia năm 11 tuổi và Hành cước năm lên 19. Sau khi yết kiến Nguyệt Thuyền, Sư lưu lại tu học nơi đây và được Nguyệt Thuyền Ấn khả. Sau đó Sư lại cất bước du phương, nhận lời trụ trì chùa Thánh Phúc (shōfuku-ji), Thiền viện đầu tiên tại Nhật – được Thiền sư Minh Am Vinh Tây khai sáng năm 1195 –, và trở thành vị trụ trì thứ 123 của thiền viện này.|Sư nổi danh vì phương pháp giáo hoá nghiêm khắc nhưng vô cùng hiệu nghiệm, những đặc tính được phản ánh lại trong những tác phẩm nghệ thuật thiền như Mặc tích và những bức tranh mực tàu của Sư – hiện rất được ưa chuộng trong giới hâm mộ Thiền trên khắp hoàn cầu.
tiên nhai nghĩa phạm
Sengai Gibon (J)Tên một vị sư.
tiên nhân
See Tiên (B) (3).
; (仙人) Phạm:Fwi. Pàli:Isi. I. Tiên Nhân. Hán âm: Sư lợi, Lí thủy. Cũng gọi: Thần tiên, Đại tiên, Tiên thánh. Gọi tắt: Tiên. Người ở núi rừng giữ được mệnh sống dài lâu. Theo kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển hạ, những tiên nhân này đều giữ giới cấm được trọn vẹn, thường tu khổ hạnh, đầy đủ uy đức, có ánh sáng lớn, hoặc ở nơi sông ngòi, hoặc ở chỗ núi rừng, ăn trái cây, uống nước suối, có 5 thần thông, bay đi trong hư không, tất cả đều không bị chướng ngại. Phật được gọi là Đại tiên, vì Ngài là bậc tôn quí nhất trong hàng Tiên nhân. Trong kinh điển Phật giáo có nói đến rất nhiều chủng loại và danh xưng của hàng Tiên nhân. Như kinh Giáo Đàm di trong Trung a hàm quyển 30 có nêu tên của 7 vị Cổ tiên; phẩm Vấn a la la trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 32, liệt kê tên của 29 Tiên nhân; kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển hạ, nêu tên của 68 vị Đại tiên; kinh ĐạiPhật đính thủ lăng nghiêm quyển 8 thì liệt kê 10 loại Tiên nhân. Ngoài ra, ở Trung quốc từ nghìn xưa cũng thịnh hành thuyết Thần tiên. [X. phẩm Thế bản duyên trong kinh Trường a hàm Q.22; phẩm Tinh Tú trong kinh Phương đẳng đại tập Q.41; phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa Q.4]. II. Tiên Nhân. Chỉ chung các tác giả của những bài thơ kệ trong kinh Phệ đà của Ấn độ cổ đại; về sau cũng chỉ chung cho các Thánh nhân, tức những người có năng lực thần thông rất lớn. Thông thường được chia làm 3 loại: 1. Người xuất thân từ thần, gọi là Thiên tiên (Phạm:Devafwi). 2. Người xuất thân từ Bà la môn, gọi là Phạm tiên (Phạm: Brahmafwi). 3. Người xuất thân từ Sát đế lợi, gọi là Vương tiên (Phạm:Ràjafwi). Cũng có khi chia làm 7 loại, tức ngoài 3 loại nói trên, còn có Đại tiên (Phạm: Mahàfwi), Chí thượng tiên (Phạm: Paramafwi) và Đa văn tiên (Phạm: Zrutafwi).
tiên nhân hậu tông
(先因後宗) Tiếng dùng trong Nhân minh. Nhân trước, Tông sau, là vị trí quan hệ giữa Nhân đồng phẩm và Tông đồng phẩm trong Đồng dụ thể. Tức Nhân đồng phẩm của Đồng dụ thể bắt buộc phải là Tiền trần (danh từ trước – chủ từ), còn Tông đồng phẩm thì phải là Hậu trần(danh từ sau – tân từ), trong luận thức Nhân minh, vị trí của 2 phần này không được đảo lộn. Chẳng hạn như trong luận thức sau đây: Tông:Âm thanh là vô thường. Nhân:Vì do động tác mà có ra. Thì Đồng dụ thể phải là: Những gì do động tác mà có ra (Nhân đồng phẩm) thì đều là vô thường (Tông đồng phẩm) chứ không được nói đảo lộn: Những gì là vô thường thì đều do động tác mà có ra. Có 2 lí do qui định Nhân trước, Tông sau, đó là: 1. Nếu phạm vi của Nhân đồng phẩm và Tông đồng phẩm rộng, hẹp bằng nhau, thì nói xuôi, nói ngược đều được cả. Chẳng hạn như phạm vi của vô thường và do động tác rộng hẹp bằng nhau, thì hoặc nói Những gì do động tác mà có ra, đều là vô thường, hoặc nói Những gìvô thường đều do động tác mà có ra cũng đều được cả. Nhưng, nếu phạm vị của Nhân đồng phẩm hẹp hơn phạm vi của Tông đồng phẩm thì chỉ được nói xuôi, chứ không được nói ngược. Chẳng hạn như Vì từ tính mạnh mẽ liên tục phát ra và tính vô thường thì chỉ được nói xuôi mà thôi, bởi nếu nói ngược thì không còn phù hợp với sự thực nữa. Vì chính nhân của Nhân minh có 2 loại như thế nên phải qui định Nhân trước Tông sau để chỉ cho Đồng dụ thể được ứng dụng một cách phổ biến và thích hợp. 2. Tỉ lượng của Nhân minh là dùng pháp cộng hứa(cùng chấp nhận) để chứng thành pháp Bất cộng hứa(không cùng chấp nhận). Nhiệm vụ của Đồng dụ thể là kiến lập mối quan hệ tùy thuộc vào nhau không thể tách lìa giữa Năng chứng và Sở chứng, tức sau tính động tác phải có tính vô thường. Tính động tác là Sở tùy, tính vô thường là Năng tùy. Trước phải có Sở tùy rồi mới đến Năng tùy, nghĩa là Sở tùy phải ở trước, Năng tùy ở sau, đây là vị trí tự nhiên, không được dời đổi. Đồng dụ thể y cứ vào thứ tự này để nói rõ cả 2 có mối quan hệ tất nhiên. Các nhà Nhân minh học gọi tác dụng này của Đồngdụthể là Thuận thành. Cho nên phải Nhân trước Tông sau, nói Tất cả những gì do tác động mà có ra đều làvô thường thì chỗ thuận thành này mới là Tông Âm thanh là vô thường. Nếu nói Tất cả những gì là vô thường đều do tác động mà có ra thì, trong trường hợp này, thuận thành phải là Âm thanh là do tác động mà có ra chứ không phải là Âm thanh là vô thường, bởi thế, Đồng dụ thể phải phù hợp với qui định Nhân trước, Tông sau. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Tiên Tông Hậu Nhân).
tiên nhân lộc dã uyển
Vườn Lộc Dã, nằm về phía đông bắc của thành Ba La Nại, nơi Đức Phật thường hay lui về trong mùa an cư kiết hạ—Mrgadava, a deer park, north east of Varanasi, a favourite resort of sakyamuni (Sarnath near Benares).
tiên nhân lộc viên
Rsipatana (S) Isipatana (P). Deer Park. Also Thiên nhân viên, Chư thiên đọa xứ.
tiên nhân thuyết
(仙人說) Lời do Tiên nhân Ngũ thông nói ra. Có 5 hạng người đủ tư cách tuyên thuyết kinh Phật, Tiên nhân là một trong sốđó, gọi là Tiên nhân thuyết, tức Tiên nhân Ngũ thông theo Phật ngộ đạo, thuyết pháp giáo hóa mọi người. [X. Luận Đại trí độ Q.2, 17].
tiên nhân tục lạc tinh xá
Ṛṣigrama-Vihāra (S).
tiên nhân điểu
(仙人鳥) Cũng gọi Táng sa. Tên một loài chim sẻ màu xanh. Khi đức Phật sắp thành đạo, có Tiên nhân điểu xuất hiện để báo điềm lành. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 9, sau khi trải qua 6 năm tu khổ hạnh, Thái tử Tất đạt đa biết không có lợi ích gì, nên nhận bát cháo sữa của cô gái chăn bò để dùng, sau đó Ngài xuống sông tắm gội, tướng hảo biểu hiện viên mãn. Bấy giờ, đường dẫn đến Phật đạo đã gần hơn, có vô lượng điềm lành ứng hiện như chim sẻ màu xanh... Hình dáng chim này giống như chim sẻ nhưng nhỏ hơn, đó chính là Tiên nhân điểu mà dân gian Ấn độ thường nói.
tiên ni
Sainika or Senika (skt)—Tây Nhĩ Ca—Tên gọi của một phái ngoại đạo—A class of non-Buddhists.
tiên ni ngoại đạo
(先尼外道) Tiên ni, Phạm: Senika. Hán dịch: Hữu quân, Thắng quân. Cũng gọi: Tây ni ngoại đạo, Tây nễ ca ngoại đạo, Tản ni ngoại đạo. Ngoại đạo tin vào Thần ngã và chủ trương Tâm thường tướng diệt. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.29, 39 (bản Bắc); kinh Lăng nghiêm Q.10; Khả hồng âm nghĩa Q.11; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
Tiên nữ
仙女; C: xiānnǚ; J: sennyo;|Nữ đạo sĩ; nữ ẩn sĩ xả li thế tục.
Tiên nữ 仙女
[ja] センニョ sennyo ||| A female sage; a female renunciant religious practitioner. => Nữ đạo sĩ; nữ ẩn sĩ xả ly thế tục.
tiên phong
Pioneer—Vanguard.
tiên phụ
Late father.
tiên quyết
Prerequisite.
tiên rồng
The fairy and the dragon.
tiên sinh
1) Ông—Senior—Sir—Teacher—Master—Mr. 2) Kiếp trước: A previous life.
tiên sư
Late master—Founder of a doctrine.
tiên thiên
Xiantian (C), Hsien-t'ien (C), Xiantian (C).
tiên thiên nguyên khí
Adya-sakti (S), Primal power, Adya-shakti (S)Bổn nguyên khí, bổn nguyên lực, lực tạo dựng trời đất.
tiên thiên tử
người tu pháp khổ hạnh dứt hết mọi tham dục nên sau khi mạng chung liền được sanh lên cõi trời, gọi là tiên thiên tử.
tiên thuật
Magic power.
tiên thành
1) Thành phố của chư Tiên: The Rsi's city. 2) Thành phố nơi Phật đản sanh: The Buddha's native city.
; (仙城) Chỉ cho thành Ca tì la vệ (Phạm: Kapila-vastu), là nơi đức Phật giáng sinh. (xt. Ca Tì La Vệ).
tiên thánh
Fairy and saint.
tiên thư
Kinh điển—Sutras.
Tiên thế
先世; C: xiānshì; J: senze;|Đời sống trong kiếp trước của một người; sinh mệnh trong kiếp trước (s: pauruva-jan-mika, theo Du-già luận 瑜伽論).
tiên thế
A previous life—Past generation—Previous world.
Tiên thế 先世
[ja] センゼ senze ||| One's prior lifetime; life in a prior existence, or in a prior world (pauruva-janmika). 〔瑜伽論T 1579.30.625c4〕 => Đời sống trong kiếp trước của một người; sinh mạng trong kiếp trước (s: pauruva-janmika).
tiên thừa bẩm tông
(先承禀宗) Cũng gọi Tự sở học tông. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, nếu người lập luận và người vấn nạn thuộc cùng một tông phái mà Tông(mệnh đề)do người lập luậnnêura, nếu là chủ trương được người cùng tông phái với mình tin theo, thì gọi là Tiên thừa bẩm tông, 1 trong 4 tông Nhân minh. Tác pháp 3 chi của Nhân minh qui định: Nếu là Tiên thừa bẩm tông thì không thể trở thành Tông chân thực, bởi vì Tông thể phải là cái mà người vấn nạn không đồng ý mới có thể cấu thành điều kiện tranh luận. Như các hành là vô thường là giáo nghĩa căn bản của Phật giáo mà tất cả tín đồ Phật giáo đều tin theo. Cho nên, trong trường hợp 2 Phật tử A và B tranh luận với nhau, Phật tử A(người lập luận) lập Tông: Các hành là vô thường, thì Tông này cũng được Phật tử B(người vấn nạn)đồng ý,như vậy thì không còn gì để tranh luận nữa, vì thế không là Tông chân thực được. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trầnđạitề)].
tiên tiến
Advanced—Senior rank or achievement.
tiên tri
To predict—To foretell—To prophesy.
tiên triết
Tiên Đạt—Bậc đã vượt trội hơn người về sự hiểu biết và thành tựu—One who has preceded someone in understanding or achievement.
tiên trần
(先陳) Cũng gọi: Tiền trần, Hữu pháp, Sở biệt, Tự tính. Đối lại: Hậu trần. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho chủ từ của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Trái lại, tân từ của Tông thì gọi là Hậu trần. Chẳng hạn như trong Tông âm thanh là vô thường thì âm thanh chính là Tiên trần, vô thường chính là Hậu trần. (xt. Tiên Hậu Đối).
tiên tông hậu nhân
(先宗後因) Tiếng dùng trong Nhân minh. Tông trước, Nhân sau, là vị trí quan hệ giữa Tông dị phẩm và Nhân dị phẩm trong Dị dụ thể theo luận thức Nhân minh. Tức Tông dị phẩm của Dị dụ thể phải là Tiền trần (danh từ trước – chủ từ) và Nhân dị phẩm phải là Hậu trần (danh từ sau – tân từ), thứ tự của vị trí này không được đảo lộn. Mục đích của Dị dụ thể chẳng lập riêng một nguyên lí nào, mà chỉ là giúp cho Đồng dụ thể, làm cho nguyên lí đã được thành lập càng thêm vững chắc. Các nhà Nhân minh học gọi công dụng này của Dị dụ thể là Phản hiển, nghĩa là hiển bày Đồng dụ thể từ mặt trái. Chẳng hạn như nói: Nếu là thường thì chẳng phải được tạo ra, tức là hiển bày từ mặt trái của Tất cả những gì do tạo tác mà có ra đều là vô thường. TIÊN TÔNG HẬU NHÂN Sở dĩ Dị dụ thể phản hiển được Đồng dụ thể là vì Dị dụ thể sau khi thay đổi vị trí và biến chất, liền có thể chuyển thành Đồng dụ thể. Chẳng hạn như: Nếu là thường thì chẳng phải là cái được tạo ra, thay đổi vị trí thì thành Tất cả cái được tạo ra đều chẳng phải là thường, biến chất thì thành Đồng dụ thể: Tất cả những cái được tạo ra đều là vô thường. Đồng dụ thể thì phải Nhân trước, Tông sau mới thành lập được Tông thể âm thanh là vô thường, đây gọi là Thuận thành. Trái lại, Dị dụ thể thì phải Tông trước, Nhân sau, nói Tất cả những gì là thường đều chẳng phải được tạo ra mới có thể phản hiển Tất cả những gì được tạo ra đều là vô thường. Nếu Nhân trước, Tông sau mà nói Tất cả những gì được tạo ra thì đều chẳng phải là thường, thì sau khi thay đổi vị trí và biến chất sẽ thành là Tất cả những gì là vô thường đều do tạo tác mà có, kết quả hoặc làm cho Dị dụ thể tự đánh mất công dụng phản hiển, hoặc khiến Đồng dụ thể chứng thành cái không muốn chứng và không có cách nào chứng minh cái muốn chứng, cho nên Dị dụ thể phải phù hợp với qui định Tông trước, Nhân sau. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha mônthiển thích (Trầnđạitề)]. (xt. Tiên Nhân Hậu Tông).
tiên tổ
Forefathers—Ancestors.
Tiên uyển
仙苑; S: ṛṣipatana; P: isipatana; cũng được gọi là Tiên nhân uyển, Thấu Thị uyển;|Một khu rừng cạnh thành phố Benares. Trong khu này, tại Lộc uyển, đức Phật đã chuyển Pháp luân, thuyết bài pháp đầu tiên cho năm vị bạn cùng học trước khi đạt đạo (Năm tỉ-khâu).||H 66: Hàn Sơn & Thập Ðắc, Tiên Nhai Nghĩa Phạm minh hoạ, được lưu lại tại viện bảo tàng Idemitsu, Tōkyō, Nhật Bản.
tiên âm
Tiếng nói của Phật—The voice of Buddha.
; (仙音) Chỉ cho âm thanh của Phật. Âm thanh của Phật vi diệu, chẳng phải âm thanh bình thường có thể sánh được, vì thế gọi là Tiên âm.Kinh Lăngnghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 trung) nói: Già lăng tiên âm vang khắp các thế giới trong 10 phương.
tiên đà bà
Saindhava (skt)—Từ dùng cho bốn nghĩa (chỉ một kẻ bề tôi hiểu được mật ngữ của đại thần; khi vua tắm mà đòi lấy tiên-đà-bà thì liền dâng nước; khi vua ăn mà đòi tiên-đà-bà thì liền dâng muối; khi vua ăn xong mà đòi tiên-đà-bà thì liền dâng tách để uống trà, khi vua muốn đi du ngoạn mà đòi tiên-đà-bà liền dâng ngựa)—A term used for four meanings (a minister of state in personal attendance on the king): 1) Muối: Salt. 2) Chén: Cup. 3) Nước: Water. 4) Ngựa: Horse.
; (先陀婆) Phạm: Saindhava. Cũng gọi: Tiên đà. Hán dịch: Thạch diêm. Chỉ cho loại muối được sản xuất ở bờ sông Ấnđộ (Indus). Cứ theo kinh Đại bátniết bàn quyển 9 (bản Nam) thì mật ngữ của Nhưlai rất sâu xa khó hiểu; ví như các quangần gũi hầu hạ vua, khi vua muốn rửa mặt gọi Tiên đà bà thì viên quancó trí liền dâng nước; khi vua muốn ăn gọi Tiênđàbà, viên quan có trí liền dâng muối; khi vua muốn uống gọi Tiên đà bà, viên quan có trí liền dâng chén uống nước; khi vua muốn đi chơi gọi Tiên đà bà, viên quan có trí liền dắt ngựa đến. Như vậy, viên quan có trí đáng được gọi là người khéo hiểu được ý 4 loại mật ngữ của vua. Vì thế nên biết 1 danh từ Tiên đà bà thực có đủ 4 nghĩa: Muối, chén, nước và ngựa. Tức Nhất danh tứ thực(một danh từ có 4 nghĩa)được dùng để ví dụ sự sâu xa khó hiểu của mật ngữ Nhưlai. Ngoài ra, Pháp hoa kinh khoa chú quyển 8 cho rằng người khéo hiểu mật ngữ, Tiên đàbà được gọi là Tiên đà khách. [X. kinh Hoa nghiêm Q.67 (bản dịch mới); Đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa Q. thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3]. (xt. Nhất Danh Tứ Thực).
tiên đà khách
Một người nổi tiếng, giàu có và có trí tuệ (chỉ một người hiểu được mật nghĩa của Tiên Đà Bà)—A man of renown, wealth and wisdom—See Tiên Đà Bà.
; (仙陀客) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ co đệ tử hoặc người học khéo hiểu ý người khác, có khả năng thể hội mau chóng cơ pháp của sư gia mà khế ngộ. Tiên đà, gọi đủ: Tiên đà bà (Phạm: Saindhava, Pàli: Sindhava). Tại miền tây Ấnđộ đời xưa có 4 sản vật nổi tiếng là muối, khí cụ, ngựa và nước. Tiên đà bà vốn là một hình dung từ tả về phẩm vật được sản xuất ở bờ sông Tín độ (Sindhu), sau chuyển sang chỉ cho 4 sản vật có tiếng nói trên. Theo kinh Niết bàn quyển 9 (bản Bắc và bản Nam) thì thuở xưa có vịQuốc vương được một đại thần khôn ngoan hầu hạ. Khi vua cần dùng bất cứ vật gì trong 4 sản vật nói trên thì đều gọi Tiên đà bà! Tiên đà bà!, vị đại thần này biết ngay là vua muốn vật gì. Về sau, Thiền tông y cứ vào sự tích này mà dùng danh từ Tiên đà bà để hình dung linh cơ của người học, có năng lực nhậm vận tự tại, khéo khếnhập với cơ pháp của sư gia. Còn Tiên đà khách thì chỉ cho người Thiền khách hoặc đệ tử có khả năng lí giải đúng ý của chủ nhân hoặc sư gia; hoặc chỉ cho người thông minh, tài trí, có khả năng phán đoán chính xác ý nghĩa mà đối phương muốn biểu đạt qua sự nói, nín, động, tĩnh của họ. Bích nham lục tắc 92 (Đại 48, 216 hạ) nói: Trong đây nếu có Tiên đà khách thì đâu cần Vănthù gõ một chùy!.
tiên đạo sư
(先導師) Người hướng dẫn đại chúng hành sự đứng ở đầu hàng khi cử hành nghi thức Pháp hội; hoặc chỉ cho vị tăng đứng trước vị Đạo sư trong nghi thức pháp hội, làm công việc tiếp đãi mời gọi.
Tiên đạt
先達; C: xiāndá; J: sendatsu;|Có các nghĩa sau: 1. Bậc tu đạo lâu năm; 2. Sự hướng dẫn việc tu hành khổ hạnh trên núi; 3. Hạng người Tu nghiệm đạo (修驗道; j: shugendō).
tiên đạt
See Tiên Triết.
; (先達) Người đạt đạo trước, tức bậc tiền bối tu hành đã đạt đạo. Pháp hoa văn cú quyển 9 thượng (Đại 34, 126 thượng) nói: Các vị Đại sĩ ấy là những bậc Tiên đạt tiền tiến, còn Dilặc là người học thuộc lớp sau. Tại Nhậtbản thì Tiên đạt là chỉ cho người hướng dẫn phong nhập(lên núi tu đạo)của phái Tu nghiệm đạo. Tùy theo số người phong nhập nhiều hay ít mà có Chính tiên đạt và Đại tiên đạt khác nhau. Chính tiên đạt là người xuất gia tu hành được quán đính nơi thâm sơn, cũng tức là người đã nhận lãnh pháp Tứ độ gia hạnh; còn Đại tiên đạt là người truyền pháp đã thụ giớiCụ túc, có khả năng làm Đại a xà lê. Về sau, từ ngữ Tiên đạt được sử dụng để gọi chung những người dẫn đường lên núi.
Tiên đảo
(仙島): đảo tiên, là hải đảo do tiên nhân cư trú trong truyền thuyết; còn gọi là Bồng Lai Sơn (蓬萊山), Bồng Lai (蓬萊), Bồng Sơn (蓬山), Bồng Hồ (蓬壺), Bồng Lai Tiên Đảo (蓬萊仙島), v.v. Truyền thuyết cho rằng trong Bột Hải (渤海) có ba tòa thần sơn Bồng Lai, Doanh Châu (瀛州), Phương Trượng (方丈), được xem như là nơi cư trú của thần tiên. Từ xưa, Tần Thủy Hoàng (秦始皇, tại vị 247-210 ttl.), Hán Võ Đế (漢武帝, tại vị 141-87 ttl.) đã từng đến đây tìm thuốc tiên. Muôn vật ở đây đều có màu trắng; như cung điện màu hoàng kim bạch ngân. Như trong bài từ Hạ Tân Lang (賀新郎) của tác giả vô danh nhà Tống có câu: “Tinh lang niên thiếu, đồng cọng nhập Bồng Lai tiên đảo (星郎年少、同共入蓬萊仙島, lang quan tuổi nhỏ, cùng đi vào đảo tiên Bồng Lai).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 6, phần Tiến Thê (薦妻), có câu: “Vân quy tiên đảo cảnh hoang lương, huyền đoạn linh nhân diệc đoạn trường (雲歸仙島景荒涼、絃斷令人亦斷腸, mây về tiên đảo cảnh thê lương, dây đứt người đi luống đoạn trường).”
tiên đức
(先德) Chỉ cho bậc cổ đức là bậc tiền bối có đầy đủ đức hạnh. Thiền uyển thanh qui quyển 2 (Vạn tục 111, 444 thượng) nói: Có những người ngại khó sợ khổ, không chịu gánh vác việc tùng lâm, đã chẳng phải cùng sống cùng chết, mà còn là kẻ cô phụ bậc Tiên đức. Từ ân truyện quyển 1 (Đại 50, 222 trung) nói: Về sau, sư lại lên miền Bắc, tham vấn các bậc Tiên đức. Ngoài ra, bậc hiền triết tiền bối, gọi là Tiên triết. Còn tiền bối thì chỉ cho nguời tiên tiến tiên đạt.
Tiên 仙
[ja] セン sen ||| (1) A mountain man; hermit, recluse. (2) A Taoist sage, living in the lofty mountains, away from the secular world. (3) In India, forest dwelling, world-renunciant religious practitioners. (4) The ṛṣi, the ancient authors of the Vedas. => Có các nghĩa: 1. Người tu trong núi; người sống ẩn dật, ẩn sĩ 2. Hiền nhân đạo Lão, sống nơi rừng núi xa xôi, xa lánh thế tục. 3. Ở Ấn Độ, là những ẩn sĩ tu trong rừng, xả ly thế tục. 4. Bậc Đạo sư (s: ṛṣi), những tác giả của kinh Vệ-đà cổ xưa (s: Vedas)
Tiên-ni
phiên âm từ Phạn ngữ là Seuika, dịch nghĩa là Hữu Quân hay Thắng Quân, là tên một vị Phạm chí ngoại đạo sau quy y Phật.
tiên-đà-bà
phiên âm từ Phạn ngữ saindhava, nghĩa thường dùng là thạch diêm (muối), nhưng theo kinh này thì gồm đủ bốn nghĩa là diêm, khí, thủy, mã (muối, bát đựng, nước, ngựa). Các bản luận giải thường trích dẫn ví dụ này với tên là “nhất danh tứ thật” (một tên bốn nghĩa).
Tiêu
標; C: biāo; J: hyō;|1. Giải thích (s: uddiśati); 2. Bày tỏ, biểu thị, biểu lộ, chỉ ra; 3. Dấu hiệu, sự chỉ dẫn.
tiêu
Melt, disperse, expend, digest, dispose of.
; 1) Lá cờ: Flag—Banner. 2) Nấu kim loại: To melt metal. 3) Thiêu: Cháy nám—Scorch—Harass. 4) Tiêu hóa thực phẩm: To digest (food). 5) Tiêu tan: To disperse. 6) Tiêu xài: To spend. 7) Triệt Tiêu: To dissolve—To dissipate—To end.
tiêu biểu
To symbolize.
tiêu chuẩn
Norm—Standard.
tiêu chụ thập địa
(燋炷十地) Gọi đủ: Bồ tát tiêu chú thập địa. Thập địa chung cho Tam thừa. Đây là mượn thí dụ tiêu chú để nêu tỏ ý chỉ sâu xa về trí đoạn của Bồ tát là tâm đầu và tâm sau đều bất khả đắc. Tiêu chỉ cho lửa, ví dụ trí vô lậu; Chú là tim đèn, ví dụ cho phiền não bị đoạn trừ; Thập địa chỉ cho 10 giai vị chung của Tam thừa nói trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 6, 17, đó là: Can tuệ địa, Tính địa, Bát nhân địa, Kiến địa, Bạc địa, Li dục địa, Dĩ tác địa, Bích chi Phật địa, Bồ tát địa và Phật địa.Bởi vì cơ nghi đoạn phiền não (hoặc) trong quá trình tu hành của Bồ tát không cố định ở bất cứ một Địa nào, mà mỗi mỗi Địa trong 10 Địa đều có khả năng đạt đến quả Phật. Sự đoạn trừ phiền não của Bồ tát tất nhiên là bắt đầu từ một sát na phát tâm đầu tiên, nhưng một khi đã vào Thập địa thì không thể cho rằng sự đoạn trừ phiền não ấy là do tâm đầu hoặc là do tâm sau, nhưng cũng không lìa tâm đầu tiên mà đoạn được. Ý chỉ sâu xa này giống như dùng lửa đốt tim đèn ắt sinh ra ngọn lửa, trong đó có ngọn lửa đầu, ngọn lửa sau khác nhau, tim đèn tuy cháy từ ngọn lửa đầu, nhưng không thể cho rằng chỉ cháy từ ngọn lửa đầu, cũng không thể cho rằng cháy từ ngọn lửa sau, mà là không lìa ngọn lửa đầu, cũng chẳng lìa ngọn lửa sau.Phẩm Thâm áo trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 17 (Đại 8, 346 thượng) nói: Tu bồ đề! Ví như đốt đèn là do ngọn lửa đầu đốt cháy, hay ngọn lửa sau đốt cháy? (...) Đại Bồ tát cũng như thế, không dùng tâm đầu được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng chẳng lìa tâm đầu được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề; không dùng tâm sau được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cũng chẳng lìa tâm sau được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Do vậy mà được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. [X. luận Đại trí độ Q.75; Tứ niệm xứ Q.2; Tứ giáo nghĩa Q.8; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4 hạ; Ma ha chỉ quán Q.6 thượng]. (xt. Thập Địa).
Tiêu chủng 燋種
[ja] ショウシュ shōshu ||| Same as jiaozhong 焦種. A person who has burnt the seeds of the possibility of awakening; a person who has committed evil crimes. icchantika. => Đồng nghĩa với Tiêu chủng (焦種c: jiaozhong). Người đã thiêu huỷ hạt giống khả năng giác ngộ; người đã phạm các tội trọng. Nhất-xiển-đề (s: icchantika).
Tiêu cử
標擧; C: biāo jǔ; J: hyōkyo;|Tán dương. Ca ngợi đức hạnh cao lớn. Ca ngợi.
Tiêu cử 標擧
[ja] ヒョウキョ hyōkyo ||| To extol. To raise to high honors. To praise. => Tán dương. Ca ngợi đức hạnh cao lớn. Ca ngợi.
tiêu cực
Negative, passive, pessimistic.
; Negative.
tiêu dao
To roam about leisurely.
; At leisure—Free.
tiêu dao miền cực lạc
To be at leisure in the blissing world.
tiêu dao tự tại
Tự tại đến đi bất cứ chỗ nào tùy ý—To go anywhere at will, to roam where one will.
Tiêu Diện Đại Sĩ
(焦面大士): còn gọi là Tiêu Diện Đại Quỷ Vương (焦面大鬼王), Diện Nhiên Đại Sĩ (面燃大士), Diện Nhiên Quỷ Vương (面燃鬼王), Diện Nhiên (面燃、面然); người đời thường gọi là Ông Đại Sĩ (大士爺), Đại Sĩ Vương (大士王); là vua của loài Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼) có khuôn mặt đỏ, hay khuôn mặt bốc cháy; là vị thần nổi tiếng của Phật Giáo cũng như Đạo Giáo. Vị này còn có tên gọi khác là Diệm Khẩu Quỷ Vương (焰口鬼王), có thân hình gầy ốm, miệng luôn bốc cháy lửa và cổ họng nhỏ như cây kim, do vì đời trước tham lam, keo kiệt, bỏn xẻn nên bị quả báo như vậy. Vị quỷ vương này thống lãnh tất cả chúng Ngạ Quỷ và người ta cho đó là Hóa Thân (s: nirmāṇa-kāya, j: keshin, 化身) của Bồ Tát Quán Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音). Trong Lăng Nghiêm Kinh Tông Thông (楞嚴經宗通, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 16, No. 318) có nêu rõ điều này: “Du Già Diệm Khẩu Tiêu Diện Quỷ Vương, tức Quan Âm Đại Sĩ sở hóa (瑜珈燄口焦面鬼王、卽觀音大士所化, Tiêu Diện Quỷ Vương trong khoa Du Già Diệm Khẩu là do Quan Âm Đại Sĩ hóa hiện).” Đạo Giáo gọi vị này là U Minh Giáo Chủ Minh Ty Diện Nhiên Quỷ Vương Giám Trai Sứ Giả Vũ Lâm Đại Thần (幽冥敎主冥司面燃鬼王監齋使者羽林大神), tôn xưng là Phổ Độ Chơn Quân (普渡眞君); thế gian thường gọi là Ông Phổ Độ (普渡公). Không ít các địa phương vào dịp Tiết Trung Nguyên (中元節), trước khi vái lạy tổ tiên, người ta thường bái tế Diện Nhiên Đại Sĩ. Mọi người đều tin rằng vào dịp tháng 7 Âm Lịch, các vong linh trên dương thế đều do vị Thần này quản lý; cho nên tại Đài Loan còn có miếu thờ Ông Đại Sĩ. Nguồn gốc Tiêu Diện Đại Sĩ được tìm thấy qua một số kinh điển của Phật Giáo như Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh (佛說救拔焰口餓鬼陀羅尼經, Taishō Vol. 21, No. 1313), Phật Thuyết Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni Thần Chú Kinh (佛說救面然餓鬼陀羅尼神咒經, Taishō Vol. 21, No. 1314), Du Già Tập Yếu Cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu Quỹ Nghi Kinh (瑜伽集要救阿難陀羅尼焰口軌儀經, Taishō Vol. 21, No. 1318), Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Khởi Giáo A Nan Đà Duyên Do (瑜伽集要焰口施食起敎阿難陀緣由, Taishō Vol. 21, No. 1319), v.v, với câu chuyện kể rằng có một đêm nọ trong khi đang hành Thiền định quán chiếu những lời dạy của đức Phật, vào canh ba tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難) chợt nhìn thấy một con quỷ đói thật hung tợn tên là Diệm Khẩu (s: Ulkā-mukha, 焰口) có thân hình gầy ốm, miệng rực cháy lửa và cổ họng nhỏ như cây kim. Con quỷ ấy đến trước mặt tôn giả thưa rằng ba ngày sau mạng của tôn giả sẽ hết và sanh vào thế giới Ngạ Quỷ (ma đói). Nghe vậy, tôn giả A Nan vô cùng ngạc nhiên và lấy làm sợ hãi, bèn hỏi con quỷ kia xem có cách nào thoát khỏi tai họa ấy không. Con quỷ trả lởi rằng: “Vào sáng ngày mai nếu tôn giả có thể cúng dường thức ăn và nước uống cho trăm ngàn ức chúng Ngạ Quỷ nhiều như cát sông Hằng, cho vô số đạo sĩ Bà La Môn, cho chư thiên và các vị thần cai quản việc làm của con người, cho quá cố các vong linh, dùng cái hộc của nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀) để cúng dường cho họ 49 hộc thức ăn và nước uống, và vì họ mà cúng dường cho Tam Bảo, như vậy tôn giả sẽ được tăng thêm tuổi thọ, cùng lúc đó sẽ làm cho chúng tôi thoát khỏi cảnh khổ đau của Ngạ Quỷ và sanh lên cõi Trời.” Sau khi A Nan bạch lên đức Thế Tôn sự việc như vậy, Ngài chỉ cho nghi thức hành trì và thiết Cúng Thí Thực. Trên cơ sở của nguồn gốc này, nghi lễ Cúng Thí Thực hay Chẩn Tế cho âm linh cô hồn Ngạ Quỷ ra đời cho đến ngày nay. Vì vậy, trong các đàn tràng Chẩn Tế thường có thiết bàn thờ Tiêu Diện Đại Sĩ. Theo Đạo Giáo, Tiêu Diện Đại Sĩ được xem như là hóa thân của Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn (太乙救苦天尊), chủ tể thống lãnh các quỷ, hộ trì hai cõi âm dương. Vị này thường trú duới núi Ốc Tiêu (沃焦), làm thống soái các loài quỷ ở cõi âm, được hưởng hương hỏa cúng cấp của con người. Hình tượng của Ngài thường được vẽ với trên đỉnh đầu có hai sừng, mặt xanh, răng nanh nhọn hoắt, cao lớn uy vũ; trên đầu lại có hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh của Nguyễn Du có đoạn rằng: “Nhờ đức Phật thần thông quảng đại, chuyển pháp luân tam giới thập phương, nhơn nhơn Tiêu Diễn (Tiêu Diện) Đại Vương, linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.” Trong Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Hạ có đoạn: “Dĩ thử phổ thí công đức, hồi hướng Thiết Vi Sơn nội, Diện Nhiên Đại Sĩ, thống lãnh Tam Thập Lục Bộ, vô lượng vô biên, hằng hà sa số, chư Ngạ Quỷ chúng (以此普施功德、迴向鐵圍山內、面燃大士、統領三十六部、無量無邊、恒河沙數、諸餓鬼眾, lấy công đức thí thực này, hồi hướng trong núi Thiết Vi, Diện Nhiên Đại Sĩ, thống lãnh Ba Mươi Sáu Loại, vô lượng vô biên, hằng hà sa số, các chúng Ngạ Quỷ).” Hay cùng điển tịch trên lại có đoạn rằng: “Kim tắc Vô Già Hội khải Quan Âm, hiện Tiêu Diện chi hình, đại thí môn khai, Tôn giả thiết Ma Già chi hộc, thỉnh Thất Như Lai nhi tác chứng (今則無遮會啟觀音、現焦面之形、大施門開、尊者設摩伽之斛、請七如來而作證, nay tất Vô Già Hội nghinh Quan Âm, hiện Tiêu Diện hình tướng, cửa Thí Thực bày, Tôn giả thiết hộc cúng Ma Già, thỉnh Bảy Như Lai chứng minh).” Hoặc như trong Tùy Duyên Tập (隨緣集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 57, No. 975) tập I có câu: “Diệm Khẩu nhất hộc nhĩ, ngộ tắc Đề Hồ, bất ngộ tức vi độc dược, Tiêu Diện nhất sĩ tai, thức tức Bồ Tát, bất thức tức thị Quỷ Vương (燄口一斛耳、悟則醍醐、不悟卽爲毒藥、焦面一士哉、識卽菩薩、不識卽是鬼王, hộc cúng Diệm Khẩu ấy, ngộ là Đề Hồ, chẳng ngộ tức là thuốc độc; Tiêu Diện Đại Sĩ, biết là Bồ Tát, chẳng biết tức là Quỷ Vương).”
tiêu diệt
Xem diệt.
; To disperse—To annihilate—To put an end to—To cause to cease.
tiêu dùng
To use.
tiêu dụng
To spend.
tiêu giảm
To lessen—To diminish.
tiêu hoang
To waste money—To squander.
tiêu hóa
To digest.
tiêu hủy
To demolish—To destroy.
tiêu hủy thiện nghiệp
Destruction of wholesome karma—Nguyên nhân chính đưa đến việc tiêu hủy thiện nghiệp là sân hận—The principal cause of the destruction of wholesome karma is anger and hatred.
tiêu khiển
To kill time—To recreate.
Tiêu kim 銷金
[ja] ショウキン shōkin ||| 'To smelt gold.' A metaphor for religious practice, which purifies and discloses the real person. => 'Chảy vàng'. Dụ cho công phu tu tập, làm thanh tịnh và hiển bày chân tánh.
Tiêu kiệt
消竭; C: xiāojié; J: shōketsu;|Trừ sạch, loại ra hết, trừ diệt sạch.
Tiêu kiệt 消竭
[ja] ショウケツ shōketsu ||| To remove, eliminate, extinguish. 〔華嚴經、 T 279.10.263b19〕 => Trừ sạch, loại ra hết, trừ diệt sạch.
Tiêu kí
標記; C: biāojì; J: hyōki; |Tiêu chuẩn, đặc trưng. Điểm chỉ dẫn cho tàu thuyền; điểm đánh dấu để phân biệt.
Tiêu ký 標記
[ja] ヒョウキ hyōki ||| A mark; marking. Marks for navigating; distinguishing marks. To write and put up sign or indicator. => Tiêu chuẩn, đặc trưng. Điểm chỉ dẫn cho tàu thuyền; điểm đánh dấu để phân biệt.
tiêu lãnh
Vị lãnh đạo—The leader—Chief.
tiêu ma
To be gone—To wear out.
tiêu nguyệt
Chỉ trăng—To indicate the moon.
tiêu nguyệt chỉ
(標月指) Ngón tay chỉ mặt trăng. Tiêu nghĩa là nêu rõ ra; Chỉ là ngón tay; dùng ngón tay để chỉ rõ mặt trăng cho người thấy, gọi là Tiêu nguyệt chỉ. Ngón tay là phương tiện để chỉ, còn mặt trăng là cứu cánh để thấy. Trong Phật giáo, giáo pháp của đức Phật chỉ là phương tiện(ngón tay) dắt dẫn, chỉ bày cho chúng sinh thấy được Chân như thực tướng(mặt trăng), chứ giáo pháp chẳng phải là Chân như thực tướng, cũng như ngón tay chẳng phải là mặt trăng. Nếu người lầm ngón tay là mặt trăng thì chẳng biết ngón tay cũng chẳng biết mặt trăng. Kinh Viên giác (Đại 17, 917 thượng) nói: Tu đa la giáo như ngón tay chỉ mặt trăng(như tiêu nguyệt chỉ). Nếu thấy mặt trăng rồi thì biết rõ ngón tay chẳng phải mặt trăng.
tiêu nha bại chủng
(焦芽敗種) Mầm mộng bị cháy khô, hạt giống bị hư thối, ví dụ hàng Nhị thừa không thể phát tâmbồ đề vô thượng, hệt như hạt giống đã bị thối rữa thì không thể nào mọc thành cây để khai hoa kết trái, cho nên gọi là Tiêu nha bại chủng. Kinh Duy ma cật nói: Hàng nhị thừa như hạt giống cây cỏ bị khô cháy, thối rữa, không thể phát tâm vô thượng bồ đề.
tiêu nhiệt địa ngục
(焦熱地獄) Tiêu nhiệt, Phạm:Pàli:Tapana. Cũng gọi Thiêu nhiệt địa ngục, Thiêu chá địa ngục, Viêm nhiệt địa ngục, Nhiệt não địa ngục, Nhiệt địa ngục. Địa ngục đốt cháy tội nhân, 1 trong 8 địa ngục nóng lớn. Những người lúc còn sống, nếu tạo các nghiệp ác như nấu luộc kén tằm, rang nướng chúng sinh thì sau khi chết bị đọa vào địa ngục này để chịu các thống khổ do những hình phạt hệt như mình đã gây cho chúng sinh. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 10 thì địa ngục Tiêu nhiệt có 16 nơi chịu khổ: Đại thiêu, Phân đồ lê ca, Long toàn, Xích đồng di nê toàn, Thiết hoạch(vạc bằng sắt để nấu tội nhân),sông máu(tội nhân bơi lội trong đó), những trùng mồm sắt ăn xương tủy tội nhân, tội nhân bị nấu chín, Đại bát đầu ma, bờ hiểm ác, xương kim cương, giây sắt đen nóng để trói và dao sắc chémchặt, cột sắt nung đỏ để buộc tội nhân vào đó, gió lửa, trùng mỏ kim cương... [X. phẩm Địa ngục trong kinh Trường a hàm Q.19; kinh Đại lâu thán Q.2; kinh Khởi thế Q.3; luận Lập thế a tì đàm Q.8]. (xt. Bát Nhiệt Địa Ngục).
Tiêu phục độc hại kinh
消伏毒害經; C: xiāofú dúhài jīng; J: shōfuku dokugai kyō;|Tên gọi khác của bản dịch Lục tự thần chú vương kinh (六字神呪王經).
Tiêu phục độc hại kinh 消伏毒害經
[ja] ショウフクドクガイキョウ Shōfuku dokugai kyō ||| The Xiaofu duhai jing (T 1043.20.34-38); an alternative version of the Liuzi shenzhou wang jing 六字神呪王經. (j: Shōfuku dokugai kyō; c: Xiaofu duhai jing) => Tên gọi khác của bản dịch Lục tự thần chú vương kinh (c: Liuzi shenzhou wang jing 六字神呪王經).
tiêu sâm
(蕭琛) Cũng gọi Tiêu xán. Danh tăng Trung quốc sống vào đời Nam Tề, Lương thuộc Nam triều, người ở Lanlăng (tỉnh Sơnđông), tự Ngạnchu, thụy hiệu Bìnhtử. Sư rất thích âm nhạc, thi họa, giỏi văn chương và có tài biện luận. Sư rất được Vũ Đế nhà Lương trọng dụng, về già sư giữ chức Kim tử quang lộc đại phu. Nhân việc Phạm chẩn soạn Thần diệt luận phủ định nhân quả luân hồi, gây ra tranh luận, sư cũng soạn Nạn thần diệt luận để phê phán, đồng thời xiển dương Phật pháp. Sư có các tác phẩm: Nạn thần diệt luận, Hán thư văn phù, Tề Lương thập di văn tập.[X. Lương thư Q.26; Nam sử Q.18].
Tiêu sí
標幟; C: biāozhì; J: hyōji; |1. Dấu vết, kí hiệu. Theo Phật giáo Mật tông, thì từ này chỉ việc dùng ấn chú và các phương tiện để bày tỏ công đức giác ngộ của chư Phật.
tiêu sơn hệ
(焦山系) Một hệ phái của tông Tàođộng lấy chùa Địnhtuệ ở Tiêusơn làm trung tâm. Chùa Định tuệ được sáng lập vào khoảng năm Hưng bình (194-195) đời Đông Hán, bấy giờ được gọi là chùa Phổ Tế. Vào đời Tống, có ngài Phật ấn Liễu nguyên thuộc tông Vân môn trụ ở chùa này; khoảng năm Cảnh định (1260-1264) đời Nam Tống, chùa được xây lại, đổi tên là chùa Tiêu sơn. Khoảng năm Hoằng trị (1488-1505) đời Minh, ngài Tuệ ấn trùng tu. Năm Khang hi 38 (1699) đời Thanh, vua ban tấm biển hiệu Định Tuệ Tự. Về sau, pháp tôn của ngài Thụy bạch Minhtuyết tông Tào động là Cổ tiều Trí tiên trụ chùa này trong 40 năm, ngài đổi chế độ Phi thế tử tôn(chùa riêng của một tông phái do con cháu của tông phái ấy thừa kế)thành chế độ Thập phương truyền huyền(chùa chung của 10 phương do các bậc Hiền đức thừa kế), mở rộng tông phong Tào động và từ đó chùa Định tuệ trở thành đạo tràng chủ yếu của tông Tào động thời cận đại ở Trung quốc. Đến đầu đời Thanh có ngài Cự siêu Thanh hằng giỏi thơ văn, soạn Tá am thi thảo; đệ tử ngài là Tính nguyên Giác thuyên tinh thông Hoa nghiêm, giữ luật nghiêm cẩn, siêng tu tịnh nghiệp, soạn rất nhiều sách như: Tông kính mục lục, Tất cảnh tì ni, Phổ minh quán pháp, Xuất thế thượng thượng thiền, Phản ước tập... Thời loạn Thái bình Thiên quốc (1851-1864), các vị Ngộ xuân, Phàm địch, Siêu trần, Nhất thành... tử thủ chùa Định tuệ. Sau khi thái bình được lập lại, ngài Giới hằng đại trùng tu, truyền trao giới pháp, kết hợp giữa Thiền và Tịnh độ, nêu cao tông phong Thiền Tịnh song tu.
tiêu sấu phục
Tên khác gọi áo cà sa là tiêu trừ phiền não—The monk's robe as putting an end to illusion.
; (消瘦服) Cũng gọi Tiêu sấu y. Tên khác của ca sa. Tiêu sấu, tiêu nghĩa là mất đi; sấu nghĩa là gầy ốm, còm cõi. Tiêu sấu ở đây có nghĩa là phiền não dần dần tiêu giảm đi; tức mặc ca sa có công năng tiêu giảm phiền não, vì thế nên gọi là Tiêu sấu phục. [X. Kim cương bát nhã sớ Q.2]. (xt. Ca Sa).
tiêu sầu
To relieve the sadness (tedium).
tiêu tai
To disperse, dissipate, or put an end to calamity. To get rid of misfortune.
; To disperse, or put an end to calamity.
tiêu tai chú
(消災呪) Cũng gọi Tiêu tai cát tường chú, Tiêu tai chân ngôn, Tiêu tai đà la ni. Thần chú tiêu trừ các tai nạn, thành tựu các việc tốt lành, là1trong 4 Đà la ni được sử dụng trong Thiền lâm, cũng là pháp Tức tai thông dụng trong Mật giáo. Thần chú này có xuất xứ từ kinh Xí thịnh quang đại uy đức tiêu tai cát tường đà la ni(ngài Bấtkhông dịch vào đời Đường) và kinh Đại uy đức kim luân Phật Xí thịnh quang Như lai tiêu diệt nhất thiết tai nạn đà la ni(được dịch vào đời Đường, mất tên người dịch). Pháp cầu tạnh cầu mưa ghi trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 1 đều sử dụng thần chú này. Văn chú là: Nẵng mồ tam mãn đa mẫu đà nẫm (Qui mệnh khắp cả chư Phật) a bát ra để hạ đa xá sa na nẫm(khó địch, đánh, giết)đát điệt tha(liền nói) án khư khư khư hê khư hê hồng hồng nhập phạ ra (ánh sáng) bát la nhập phạ ra (ánh sáng chói lọi) bát la nhập phạ ra để sắt tra(phát khởi)để sắt tra sắt trí rị(vững chắc) sắt trí rị tát phổ tra(kích phát)tát phổ tra phiến để ca (dứt tai nạn)thất rị duệ(tốt lành) sa phạ hạ(thành tựu).
Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni
(消災吉祥陀羅尼). Như tên gọi của nó, tương truyền rằng thần chú nầy có công năng làm cho cát tường, tiêu trừ mọi tai ách, hoạn nạn, và đặc biệt có hiệu lực rất lớn trong việc trấn hộ các thiên tai, địa biến. Tên gọi chính xác của nó là Xí Thạnh Quang Đại Uy Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni (熾盛光大威德消災吉祥陀羅尼), còn gọi là Đại Hỏa Luân Kim Cang Chú (大火輪金剛咒), Xí Thạnh Quang Phật Đảnh Chơn Ngôn (熾盛光佛頂眞言). Ở Nhật Bản, đặc biệt Phái Sơn Môn (山門派) của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) thuộc Thiên Thai Tông (天台宗, Tendai-shū) thì rất coi trọng thần chú nầy. Một số tư liệu Hán dịch về thần chú nầy như Phật Thuyết Xí Thạnh Quang Đại Uy Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni Kinh (佛說熾盛光大威德消災吉祥陀羅尼經, Taishō No. 963) do Đường Bất Không (不空) dịch; Phật Thuyết Đại Uy Đức Kim Luân Phật Đảnh Xí Thạnh Quang Như Lai Tiêu Trừ Nhất Thiết Tai Nạn Đà La Ni Kinh (佛說大威德金輪佛頂熾盛光如來消除一切災難陀羅尼經, Taishō No. 964), thất dịch; Đại Diệu Kim Cang Đại Cam Lồ Quân Noa Lợi Diệm Man Xí Thạnh Phật Đảnh Kinh (大妙金剛大甘露軍拏利焰鬘熾盛佛頂經, Taishō No. 965), Đường Đạt Ma Sài Na (達磨栖那) dịch; Đại Thánh Diệu Cát Tường Bồ Tát Thuyết Trừ Tai Giáo Lịnh Pháp Luân (大聖妙吉祥菩薩說除災敎令法輪, Taishō No 966). Nội dung của thần chú này bằng nguyên bản Sanskrit là namaḥ samanta-buddhāṃ, apratihataśāsanānāṃ, tad yathā, Oṃ kha kha khāhi khāhi hūṃ hūṃ jvala jvala prajvala prajvala tiṣṭha tiṣṭha ṣṭri ṣṭri sphuṭ sphuṭ śāntikaśrīye svāhā (Con xin quy y chư Phật mà lời dạy của quý ngài biến mãn vô ngại. Tức là, Oṃ [Án]. Hỡi hư không ! Hỡi hư không ! Hãy tiêu diệt ! Hūṃ [hồng] ! Hūṃ [hồng] ! Hãy tỏa sáng ! Hãy tỏa sáng ! Hãy khéo tỏa sáng ! Hãy khéo tỏa sáng ! Hãy dừng lại ! Hãy dừng lại ! Hỡi các vì sao ! Hỡi các vì sao ! Hãy xuất hiện ngay ! Hãy xuất hiện ngay ! Để tiêu tai cát tường. Svāhā [ta phạ ha] !). Bản dịch âm Hán ngữ (theo bản của Phật Thuyết Xí Thạnh Quang Đại Uy Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni Kinh) là “Nẵng mồ tam mãn đa, một đà nẫm, a bát ra để hạ đa xá ta na nẩm, đát điệt tha. Án, khê khê, khê hế khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, tát phổ tra, tát phổ tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ hạ (曩謨、三滿跢没駄喃、阿鉢囉底賀哆舍娑娜喃、怛姪他、唵佉佉、佉弖佉弖、吽吽、入嚩攞、入嚩攞、鉢囉入嚩攞、鉢囉入嚩攞、底瑟位、底瑟位、瑟致哩、瑟致哩、薩普吒、薩普吒、扇底迦、室哩曵、娑嚩賀)”. Thần chú này thường được tụng chung với Thập Chú trong thời công phu khuya và được dùng trong các khóa lễ cầu an.
tiêu tan
To be snuffed out—To dissipate—To lose.
tiêu tan chí nguyện độ tha
To lose one's vow to save other sentient beings—To lose one's altruistic determination.
Tiêu thích
消釋; C: xiāoshì; J: shōshaku;|Giảng giải và phân tích rõ.
tiêu thích
Giải quyết hay giải thích—To solve—To explain.
; (消釋) Tiêu trừ ý khó hiểu trong các kinh, giải thích chỗ sâu xa của nghĩa lí để giúp người xem kinh dễ hiểu. [X. Ma ha chỉ quán Q.7]
Tiêu thích 消釋
[ja] ショウシャク shōshaku ||| To solve and explain. => Giảng giải và phân tích rõ. [ja] カンコ Kanko ||| See 涵虚得通.
Tiêu thú
標趣; C: biāoqù; J: hyōshu; |Tuyên bố, bày tỏ, biện hộ.
Tiêu thú 標趣
[ja] ヒョウシュ hyōshu ||| To profess, advocate. => Tuyên bố, bày tỏ, biện hộ.
tiêu thống
(蕭統) Con trưởng của Vũđế nhà Lương thuộc Nam triều, tự Đứcthi, tiểu tự uyma. Niên hiệu Thiêngiám năm đầu (502) được lập làm Hoàng thái tử. Thái tử thông minh hiếu học, 5 tuổi đã thông suốt Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu), chỉ đọc qua một lần là ghi nhớ không quên. Lớn lên, Thái tử rất hiếu thảo và khoan dung, ai cũng khen là nhân từ. Tính không ưa ca nhạc, thường ngày ăn cơm rau, được ban cho vật gì đều đổi ra để làm việc Phật pháp. Thái tử thụ giới Bồ tát và vâng giữ nghiêm cẩn. Xem khắp các kinh và thấu suốt nghĩa lí sâu kín. Thái tử lập riêng điện Tuệnghĩa ở trong cung, lễ thỉnh các bậc cao tăng vào giảng đạo. Sau vì mẹ mất, xót thương quá mức, cho nên vào tháng 4 năm Đạithông thứ 3 (529), Thái tử cũng qua đời, hưởng dương 31 tuổi, thụy hiệu là Chiêuminh, người đời gọi là ChiêuminhThái tử. Thái tử có các tác phẩm: Giải nhị đế nghĩa chương, Văn tập, Văn chương anh hoa, Văn tuyển... Tại Đông cung, Thái tử cất chứa sách vở có tới 30.000 quyển, thực là một việc hiếm có từ đời Tấn Tống về sau. [X. Phật tổ thống kỉ Q.37; Lương Thư Q.8]. (xt. Chiêu Minh Thái Tử).
tiêu thụ
To consume.
tiêu thục đại tiêu thục địa ngục
Địa ngục thứ bảy trong bát nhiệt địa ngục—Pratapana, the seventh of the eight hot hells—See Địa Ngục (a) (7).
tiêu thục địa ngục
Viêm Nhiệt Địa Ngục, địa ngục thứ sáu trong bát nhiệt địa ngục—Tapana, the sixth of the eight hot hells—See Địa Ngục (a) (6).
tiêu trưởng
To decay and grow; waxing and waning.
tiêu trưởng mậu
(蕭長懋) Con trưởng vua Vũ đếnhà Tề thuộc Nam triều. Sau khi lên ngôi, Vũđế lập làm Hoàng thái tử, tự là Vânkiều. Thái tử và người em là Cánh lăng Văn tuyên vương Tửlương đều rất kính tin Phật pháp, qui y các bậc cao tăng. Thái tử tinh thông các kinh luận như Niết bàn, Tịnh danh, Thành thực..., qua lại rất thân mật với các ngài Cầunabạtđàla, Tăngchung, Phápviện, Tăngviễn, Tăngnhu... Sau khi Thái tử mất, được đặt thụy hiệu là VănHuệ, người đời gọi là Văn Huệ Thái tử.
tiêu trừ
To abolish, suppress, eradicate.
; To eliminate—To exterminate—To obliterate—To eradicate.
tiêu trừ tội chướng trong nhiều kiếp
To obliterate grave sins (wrongdoings) of countless eons.
tiêu tán
To melt away.
tiêu tức
Nghĩa là tin tức tham thiền công phu thành khối đạt đến thoại đầu không thấy mùi vị nào cả, ấy là tin tức sắp kiến tánh.
tiêu tử lương
(蕭子良) Con thứ của vua Vũ đế nhà Nam Tề, được phong là Cánh lăng vương, tự Vân anh.Lúc còn trẻ, ông đã thanh liêm, cao thượng, giao du với nhữngbậc tài giỏi học thức trong nước. Ông học rộng, hiểu nhanh, thông suốt kinh sử, Hoàng Lão, đặc biệt thích đọc kinh Phật, nghiên cứu Bát nhã, Thắng man... Niên hiệu Vĩnh minh năm đầu (483), ông thỉnh các bậc danh tăng đến Đế kinh, thiết lập tòa giảng ở tinh xá Pháp vân. Năm Vĩnh minh thứ 5 (487), ông làm chức Chính vị tư đồ, dời đến ở núi Kê lung, nhóm họp các học sĩ chép kinh ở Tây để. Năm Vĩnh minh thứ 7 (489), ông thỉnh các ngài Tăng nhu, Huệ thứ... giảng luận Thành thực ở chùa Phổ hoằng, soạn Thành thực luận yếu lược 9 quyển. Năm Vĩnh minh thứ 9 (491), ở Kinh ấp bị nạn lụt, ông mở kho cứu trợ nạn nhân, nhiều lần thiết trai cúng dường chúng tăng ở Để viên và đích thân tiếp đãi chư tăng. Ông hoặc tự lên tòa giảng kinh, khuyên người làm thiện, hoặc soạn ra lời bái tán mới rồi tự cầm lư xướng tán. Các Nho thần cho hành động của ông là không đúng, nhưng trước sau ông vẫn hộ trì Phật pháp, không thoái chí, chán nản. Mùa xuân niên hiệu Long xương năm đầu (494), ông qua đời, hưởng dương 35 tuổi (có thuyết nói 31 tuổi), thụy hiệu là Văn Tuyên. [X. Lương cao tăng truyện Q.8; Tân tập sao kinh lục trong Xuất tam tạng kí tập Q.5; phần Tề thái tể Cánh lăng Văn tuyên vương pháp tập lục trong Xuất tam tạng kí tập Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Nam Tề thư Q.21].
tiêu tự
Tên gọi khác của tự viện duới đời nhà Lương, khoảng 502-557 sau Tây Lịch, vì vua Lương Võ Đế xây quá nhiều chùa đến độ dân chúng dùng họ của ông để gọi tên chùa—A name for monasteries in the Liang dynasty, 502-557 A.D., because Liang Wu Ti built so many that they called after his surname “Hsiao.”
tiêu xí
Phép của tông Chân Ngôn là lấy thân ấn như cờ xí, khí cụ, vân vân để làm tỏ rõ cái đức nội chứng của Phật—Signals, symbols, especially those used by the Yoga sect.
; (標幟) Tiêu là nêu ra cho người ta thấy; Xí là lá cờ hiệu. Tiêu xí ở đây nghĩa là hiển bày, tức mượn các danh tự, phù hiệu, khí vật cụ thể của thế gian để hiển bày ý chỉ sâu xa, mầu nhiệm ẩn chứa trong kinh điển. Trong Mật giáo, các vị tôn thường dùng thân ấn, khí cụ... để hiển bày đức bản thệ nội chứng của các Ngài; chẳng hạn như dùng ấn khế, hình Tam muội da... để biểu thị bản thệ của chư tôn, dùng 3 mật thân, ngữ, ý để hiển bày đức nội chứng của chư tôn, hoặc dùng những danh từ nông cạn của thế gian để biểu thị yếu chỉ sâu xa của pháp tính. Tất cả điều này đều là những tiêu xí thông dụng trong Mật giáo. Trong đó, dùng ấn khế làm tiêu xí thì, nói theo nghĩa rộng, ngoài ý nghĩa tượng trưng cho công đức bản thệ nội chứng của chư tôn ra, ấn khế cũng còn bao hàm 4 loại Mạn đồ la: Đại mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la và Yết ma mạn đồ la, đó là vì các môn Thế đế như 4 loại Mạn đồ la... đều là biểu trưng của pháp giới. Còn nói theo nghĩa hẹp thì chỉ chỉ riêng cho Tam muội da mạn đồ la trong 4 loại mạn đồ la, thân mật trong 3 mật và thân Tam muội da của chư tôn mà thôi. Đứng về phương diện hình Tam muội da của các loại khí cụ do chư tôn của Mật giáo cầm ở tay mà nói, thì các khí cụ đó có các ý nghĩa như bình đẳng, bản thệ, trừ chướng, kinh giác..., chư tôn cầm các khí cụ ấy để biểu trưng(tiêu xí)cho đức bản thể nội chứng của các Ngài, hoặc biểu thị việc khiến chúng sinh xa lìa 3 chướng phiền não, nghiệp và khổ. Như thanh kiếm sắc do bồ tát Văn thù cầm là biểu thị nguyện đời trước dùng đại trí để dứt trừ phiền não; đài sen của bồ tát Quán âm biểu thị cho bản thệ đồng thể đại bi, không có nhiễm trước; bánh xe báu mà bồ tát Chuyển pháp luân cầm là biểu thị cho bản thệ thuyết pháp phá chấp. Còn chày kim cương mà chư tôn của Mật giáo và hành giả Chân ngôn cầm thì tượng trưng cho trí dụng của Như lai Kim cương, có năng lực phá trừ các ma chướng ngu si vọng tưởng của nội ma và ngoại đạo. Ngoài ra, 3 mật thân, khẩu, ý của Như lai, hoặc hiện đại thần biến, hoặc thuyết pháp, hoặc tư duy quán sát, mỗi mỗi đều bất khả tư nghị, đầy khắp vũ trụ, hàm nhiếp mọi đức, cho nên trong Mật giáo, 3 mật cũng được dùng để biểu trưng cho nội chứng của Đại nhật Như lai và chư tôn.[X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đạinhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.4, 14; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.48; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.5, 9; Huyền ứng âm nghĩa Q.25]. (xt. Tượng Trưng).
Tiêu xí 標幟
[ja] ヒョウジ hyōji ||| (1) A mark, a sign. In Esoteric Buddhism, the use of bodily marks and implements to express the merits of the Buddha's enlightenment. => 1. Dấu vết, ký hiệu. Theo Phật giáo Mật tông, việc dùng ấn chú và các phương tiện để bày tỏ công đức giác ngộ của chư Phật.
tiêu điều
Deserted and dreary.
tiêu đề
Heading—Subject.
tiêu độc
Antitoxic.
Tiêu 標
[ja] ヒョウ hyō ||| (1) Explaining (uddiśati). (2) Show, indicate, express, point out. (3) A sign, an indication. => 1. Giải thích (s: uddiśati). 2. Bày tỏ, biểu thị, biểu lộ, chỉ ra. 3. Dấu hiệu, sự chỉ dẫn.
tiếc
1) Nuối tiếc: To regret—To be sorry. 2) Thương tiếc: Compassionate—Pity.
tiếc công
To sorrow over the futility of one's efforts.
tiếc của
To sorrow over the loss of one's money.
tiếm đoạt
To seize—To usurp.
tiến
Tấn lên hay tiến bộ—To advance—To progress—To move forward.
tiến bộ
Progress, improvement
tiến bộ (a)
Advanced (n): Progress—Advanced—To make progress.
tiến chỉ
Tiến tới và ngừng lại—Progressing and stopping—A combination of active and passive behavior.
tiến cống
To pay tribute.
tiến cụ
To reach the age (20) and advance to full ordination.
; Hàng Sa Di đủ tuổi 20 tiến lên nhận Cụ Túc Giới của hàng Tỳ Kheo—To reach the age of 20 and advance to full ordination.
; (進具) Tiến lên để thụ giới Cụ túc. Tức người xuất gia thụ giới Cụ túc để trở thành tỉ khưu, tỉ khưu ni. [X. truyện ngài Tuệviễn trong Tục cao tăng truyện Q.8 và truyện ngài Linh dụ Q.9].
tiến hóa
To evolve, develop.
; Evolution.
tiến hóa nhị nguyên luận
Xem Số luận phái.
; Samkhya (S). Name of a non-buddhist sect. Also Số luận.
tiến hương
To ofer incense to Buddha.
Tiến Phước Thừa Cổ
(薦福承古, Sempuku Shōko, ?-1045): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, được gọi là Cổ Tháp Chủ (古塔主), xuất thân Tây Châu (西州, Tỉnh Thiểm Tây). Ông ngao du đến Liễu Sơn (了山) ở Đàm Châu (潭州), tham yết Đại Quang Kính Huyền (大光敬玄), và xuống tóc xuất gia theo vị này. Ngoài ra, ông còn đến tham học với Nam Nhạc Lương Nhã (南岳良雅, đệ tử của Động Sơn Thủ Sơ [洞山守初] thuộc Vân Môn Tông). Chính trong thời kỳ này, ông ngộ được lời nói của Vân Môn (雲門), rồi đến ở tại Lô Sơn (廬山) cũng như Hoằng Giác Tháp Viện (弘覺塔院) tại Vân Cư Sơn (雲居山). Ban đầu ông khai mở đạo tràng thuyết pháp tại Chi Sơn (芝山), tự cho là người kế thừa dòng pháp của Vân Môn Văn Yển (雲門文偃). Vào tháng 10 năm thứ 4 (1037) niên hiệu Cảnh Hựu (景祐), thể theo lời thỉnh cầu của Phạm Trọng Yêm (范仲淹), ông đến trú trì Tiến Phước Tự (薦福寺) và tại đây ông đã hoằng truyền tông phong của mình. Ông thị tịch vào ngày mồng 4 tháng 11 năm thứ 5 niên hiệu Khánh Lịch (慶曆). Chính do vì ông không được trực tiếp ấn chứng, mà tự xưng là người kế thừa, nên đã tạo ra nhiều dư luận lớn về vấn đề này.
tiến sĩ
Doctorate.
tiến sĩ phật học
Geshe (T).
tiến thoái
To advance and to retreat.
tiến thủ
To make an effort to advance.
Tiến thủ 薦取
[ja] センシュ senshu ||| To take all to oneself; to monopolize; get complete possession of. Stealing, pilfering. A pilferer; a sneak thief. => Nhận tất cả cho chính mình; giữ độc quyền; giữ toàn bộ sở hữu. Ăn cắp. Kẻ cắp, người ăn cắp vặt.
tiến triển
To develop—To evolve—To progress.
tiến trình giác ngộ
Xem Bồ đề đạo thứ đệ luận.
tiến trình thời gian
The march of time.
tiến tu
Advance in the cultivation.
tiến tới
To move forward—To advance.
tiến vong phan
(薦亡幡) Cũng gọi Mệnh quá phan. Chỉ cho lá phướn treo trên cột phướn ở trước cửa chùa tháp khi có người lâm chung. Khi người đang hấp hối, thân trung ấm như đứa bé, tội phúc chưa quyết định, cho nên làm lá phướn màu vàng để cúng dường, mong nhờ công đức cúng dường này mà người chết được nhiều phúc đức, lìa các khổ nạn, tùy theo tâm nguyện, sinh về Tịnh độ, thành tựubồ đề. [X. kinh Quán đính Q.11; Thích thị yếu lãm Q. hạ].
Tiến đắc 薦得
[ja] セントク sentoku ||| "To seize the mat." As in gambling when one wins the whole pot (all the money on the mat), one takes all of it and puts it in his own pocket. To take everything for oneself. => Vơ tất cả về phần mình.
tiến, tấn
Advance, progress, enter.
tiếng
Xem Phạm bái.
; 1) Sound—Voice. 2) Language. 3) Reputation.
tiếng chuông
Sound of a bell.
tiếng chân
Footstep.
tiếng chưởi
Insulting words.
tiếng câm
deaf sound.
tiếng gió
Sound of wind.
tiếng gọi
Call.
tiếng gọi của lương tâm
Call or voice of conscience.
tiếng nói có tám loại âm thanh
(bát chủng thanh): Tiếng nói của Phật có đủ tám loại âm thanh mang những tính chất khác nhau là: 1. Cực hảo âm: Tiếng nói rất tốt, rất vi diệu. 2. Nhu nhuyễn âm: Tiếng nói êm dịu, nhu thuận. 3. Hòa thích âm: Tiếng nói điều hòa, đúng mực. 4. Tôn huệ âm: Tiếng nói làm người nghe tôn trọng và khai sáng trí huệ. 5. Bất nữ âm: Tiếng nói hùng hồn, khác với tiếng nữ nhân. 6. Bất ngộ âm: Tiếng nói rõ rệt, không thể lẫn lộn. 7. Thâm viễn âm: Tiếng nói rất sâu xa, ở gần nghe không quá lớn, ở xa nghe không quá nhỏ. 8. Bất kiệt âm: Tiếng nói không bao giờ cạn kiệt, dứt mất.
tiếng sét
Stroke of lightning.
tiếng sóng
Sound of waves.
tiếng súc vật
Tiracchāna-katha (P).
tiếng sấm
Stroke of thunder.
tiếng thơm
Good name.
tiếng trong
Clear voice.
tiếng tăm
Fame.
tiếng tốt
1) Nổi tiếng: Good name—See Tiếng Tăm. 2) Tốt giọng: Beautiful voice.
tiếng vang
Echo.
tiếng xấu
Bad name (reputation).
tiếng ác
Ill news.
tiếng đồn
Rumour.
tiếng động
Noise—Sound.
tiếp
To receive, take; join on; graft.
; 1) Tiếp cận: Adjoining. 2) Tiếp diễn: To go on—To continue. 3) Tiếp nhận: To receive—To take. 4) Tiếp xúc: To join—To touch.
tiếp cứu
To rescue—To relieve.
tiếp diễn
To go on—To continue.
tiếp dẫn
To receive and lead, to welcome.
; Tiếp nhận và hướng dẫn—Welcoming and escorting—To receive and lead.
; (接引) Cũng gọi Nhiếp dẫn, Tiếp hóa. Dắt dẫn, thu nhận. Nghĩa là chư Phật, Bồ tát dắt dẫn, thu nhận chúng sinh, hoặc sư gia tiếp dẫn, chỉ dạy đệ tử. Trong tông Tịnh độ thì Tiếp dẫn là chỉ cho đức Phật Adiđà dắt dẫn chúng sinh, chúng sinh tiếp nhận ánh sáng của Phật mà sinh về Tịnh độ. Theo thuyết của tông Tịnh độ, người tu pháp môn Tịnh độ, có đủ nhân duyên phúc đức thiện căn, trì danh niệm Phật, cho đến một lòng không lay động, tán loạn thì lúc lâm chung, đức Phật Adiđà sẽ tiếp dẫn sinh về Tịnh độ. [X. kinh Quán vô lượng thọ].
tiếp dẫn về tịnh độ
Welcoming and escorting to the Pure Land.
tiếp dẫn đạo sư
Chúng sanh được vãng sanh Tịnh Độ nhờ sự trợ giúp của hai vị Phật—Sentient beings are reborn in the Pure Land owing to the assistance of the following Buddhas: 1) Sự chỉ dẫn của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật: The guidance of our original teacher, Sakyamuni Buddha, and his teachings. 2) Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật: The welcoming and escorting of Amitabha Buddha. 3) Chư Phật mười phương hộ niệm: The support and protection of the Buddhas of the ten directions.
Tiếp dẫn 接引
[ja] ショウイン shōin ||| (1) The Buddha's guidance of people to the Pure Land 淨土. (2) A teacher's guidance of her/his students. => 1. Sự tiếp độ của chư Phật đưa chúng sinh đến cõi Tịnh độ. 2. Sự chỉ dạy của thầy cho đệ tử.
tiếp khách
To receive (greet) guests.
tiếp kiến
To receive in audience.
tiếp liên
Continuous.
tiếp nhân nhất lộ
(接人一路) Chỉ cho phương pháp tiếp hóa người học.Nhất lộ(một con đường)nghĩa là phương pháp, thủ đoạn. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 22 (Đại 51, 384 hạ) ghi: Hỏi: Phương pháp dắt dẫn người học(tiếp nhân nhất lộ) của Hòa hượng như thế nào? Sư đáp: Sáng mai mới dâng cho vua Sở xem.
tiếp nhận
To admit—To receive.
tiếp nhập viên
(接入圓) Cũng gọi Viên tiếp thông, Viên nhập thông. Căn cơ Thông giáo dung nhập Viên giáo.Một trong các cảnh giới tu hành do tông Thiênthai thiết lập, cũng chỉ cho người tu theo cảnh giới này. Tức sau khi quán xét lí nhân duyên tức không, đồng thời vượt qua Không quán mà chứng nhập pháp giới Trung đạo, dứt trừ 2 phẩm Vô minh thì được dung nhập Viên giáo. Tông Thiên thai lập 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên, cho rằng trong giáo nghĩa của Thông giáo tuy có nói lí Không nhưng cũng bao hàm cả lí Trung đạo. Bồ tát lợi căn của Thông giáo sau khi chứng biết lí này liền được tiếp nhận giáo nghĩa của Viên giáo. Đây gọi là Tiếp nhập Viên. [X. Ma ha chỉ quán Q.6 hạ; Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Bị Tiếp).
tiếp nối
To join; to abut; to resume, take up again.
tiếp rước
See Tiếp Đón.
tiếp sinh
Tiếp đón sự sống, như cô mụ đở đẻ—To receive the living; also to receive at birth as a midwife does.
tiếp theo
To ensue—To follow.
tiếp thu
To receive.
tiếp trúc điểm nguyệt
(接竹點月) Tiếng dùng trong Thiền tông. Nối tre chấm mặt trăng. Nghĩa là muốn nối liền các cây tre lại để mong đánh được mặt trăng. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho người ôm cuồng vọng làm một việc không thể đạt được, giống như việc leo cây bắt cá. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 1 (Đại 47, 984 trung) nói: Nếu muốn dựng lập Lâm tế chính tông thì thật giống như việc nối tre đánh trăng(tiếp trúc điểm nguyệt).
Tiếp tâm
接心; J: sesshin; nghĩa là »thâu nhiếp tâm«; |Danh từ chỉ một khoảng thời gian tu tập thiền định cao độ thường được tổ chức trong các Thiền viện tại Nhật.|Trong những ngày thường thì ngoài vài giờ Toạ thiền, các vị tăng còn phải làm việc, thi hành bản phận của mỗi người. Nhưng đặc biệt trong giai đoạn Tiếp tâm – được xem là đỉnh cao của quá trình tu học – các vị tăng ni chỉ chú tâm đến một việc duy nhất là toạ thiền. Những chu kì toạ thiền dai dẳng chỉ được gián đoạn bằng vài giờ ngủ trong đêm, lúc tụng kinh và một thời gian nghỉ ngắn sau hai bữa ăn trưa và tối. Ngay trong những khoảng thời gian gián đoạn để nghỉ này thì sự chú tâm tuyệt đối vào chủ đề (Thoại đầu) mà vị Lão sư đã giao phó cho mỗi thiền sinh cũng không được xao lãng. Các buổi Ðộc tham (j: dokusan) trong ngày cũng có nhiệm vụ giúp đỡ các thiền sinh bảo trì sự tập trung tuyệt đối vào Công án đang được quán.
tiếp tâm
Sesshin (J).
; (接心) Cũng gọi Tiếp tâm hội, Nhiếp tâm hội. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Nghĩa là tọa thiền liên tục trong một thời gian nhất định để nhiếp tâm, khiến cho tâm không tán loạn. Hiện nay ở Nhật bản mỗi năm có 2 mùa an cư là Vũ an cư và Tuyết an cư. Trong 1 hạ lại chia ra 2 kì: Chế trung và Chế gian. Trong 90 ngày Chế trung lại đặt ra sơ, trung, hậu đại tiếp tâm, mỗi mỗi gồm 7 ngày, gọi là Kết chế đại tiếp tâm(cũng gọi Nhập chế đại tiếp tâm), Bán hạ đại tiếp tâm, Giải chế đại tiếp tâm(cũng gọi Hạ mạt đại tiếp tâm). Trước, sau mỗi Đại tiếp tâm lại đặt ra Tiểu tiếp tâm trong thời gian 7 ngày, trước gọi là Địa thủ tiếp tâm, sau gọi là Luyện phản tiếp tâm. Trong thời gian tiếp tâm, mỗi ngày nhiều lần nhập thất, chuyên tâm vào công án. Trong thời gian Tuyết an cư, ngoài 3 lần Đại tiếp tâm ra, đặc biệt còn thực hành Lạp bát đại tiếp tâm(cũng gọi Lạp bát tiếp tâm tọa thiền). Tức y cứ theo sự tích thành đạo của đức Phật, bắt đầu từ ngày mồng 1 tháng chạp, đại chúng rũ bỏ tất cả mọi việc, ngoại trừ đại tiểu tiện, không được đứng dậy, cũng không được nằm, ngủ, nghỉ, chỉ được ngồi thiền, đến sáng sớm ngày mồng 8 tháng chạp(Lạp bát) mới xả thiền, sau khi tắm tượng Phật thì mọi người bắt đầu tắm gội, rửa sạch cáu bẩn của thân thể trong 7 ngày vừa qua rồi tu hội thành đạo, cúng cháo 5 vị. [X. Ngũ gia tham tường yếu lộ môn phụ lục; Viên giác kinh lược sớ chú Q. hạ, phần 2; môn Thời tiết trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Niên phần hành trì trong Hành trì quĩ phạm].
tiếp tân
To receive guests.
tiếp túc
Ôm chân, như ôm chân Phật để tỏ lòng tôn kính—To embrace the feet, i.e. Buddha's feet in reverence or pleading.
tiếp túc tác lễ
To embrace the (Buddha's) feet in reverence or pleading, or to extend the arms in that posture.
; Hai tay chạm chân vị Thế Tôn hay ôm chân Phật để tỏ lòng tôn kính, rồi ngữa hai tay nâng chân Phật như tiếp nhận lấy—To embrace the Buddha's feet in reverence or pleading, or to extend the arms in that posture.
; (接足作禮) Phạm:Pàdau ziràsà vandati. Gọi đủ: Đầu diện tiếp túc tác lễ. Cũng gọi: Khể thủ tiếp túc, Đầu diện lễ túc, Đính lễ song túc. Lễ phép bày tỏ lòng tôn kính nhất của người Ấnđộ. Tức khi lễ thì đầu, mặt và 2 bàn tay chạm vào chân người được lễ kính. Đây là phép lễ Ngũ thể đầu địa(đầu, 2 tay và 2 đầu gối sát mặt đất). Trong thân người, đầu là tôn quí nhất, chân là thấp hèn nhất, đem đầu lễ chân là biểu thị lòng tôn kính tột độ. [X. kinh Chúng tập trong Trường a hàm Q.8; luận Câu xá Q.1; luận Đại trí độ Q.100; Thích môn qui kính nghi Q. hạ]. (xt. Ngũ Thể Đầu Địa).
tiếp tế
To supply.
tiếp tục
To go on—To keep on—To carry on—To continue.
tiếp vật lợi sinh
(接物利生) Tiếp dẫn, giáo hóa chúng sinh, tùy theo căn cơ mà mang lại lợi ích cho họ. Bích nham lục tắc 88 (Đại 48, 212 hạ) ghi: Ngài Huyềnsa Sưbị dạy chúng rằng: Các bậc lão túc các nơi đều nói tiếp vật lợi sinh.
tiếp xúc
Touch—Contact.
tiếp xúc tâm lý
Khi đối tượng, căn và thức gặp nhau, sự tiếp xúc tâm lý nầy làm cho chúng ta biết đối tượng là cái gì—Mental factor contact—When the object, the sense faculty and the consciousness meet, it is the mental factor contact which knows the object for what it is.
tiếp xúc vật lý
Physical contact.
tiếp đãi
To receive and to entertain—To receive and treat, or wait upon.
; (接待) Cũng gọi: Nhiếp đãi, Môn trà. Cung cấp những vật dụng cần thiết cho người qua lại trên đường. Ở Ấnđộ có lập ra Phúc xá để làm nơi nghỉ đêm cho người đi đường. Tại Trung quốc, Nhậtbản cũng có đào giếng(gọi là giếng nghĩa), đặt bàn ghế bên lề đường hoặc trước cửa nhà để giúp người đi đường nghỉ ngơi, uống trà, nước. Điều Tônghiểu pháp sư trong Phật tổ thống kỉ quyển 18 (Đại 49, 239 hạ) nói: Ở Lịch xã phía nam Thành có đào giếng nghĩa, gọi là suối Pháphoa, trên có làm mái che; gần giếng dựng mấy gian nhà, bố thí nước trà, người đi đường, bất luận tăng, tục đều có thể ghé lại nghỉ ngơi dùng trà, uống nước. Tất cả đều được tiếp đãi. [X. môn Tạp hành trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tiếp đón
To meet—To receive—To greet.
tiếp đắc
(接得) Đồng nghĩa: Tiếp hóa. Đích thân tiếp nhận vị tăng tu hành để dắt dẫn, giáo hóa. Ngoài ra, cũng có nghĩa tiếp lấy, nhận được. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 17 (Đại 51, 337 trung) ghi: Ngài Thúyvi nói: Đem thiền bản đến đây cho ta! Sư đem thiền bản đến, ngài Thúyvi tiếp lấy(tiếp đắc) liền đánh.
tiết
1) Rau đay: A kind of vegetable—Wild hemp. 2) Rỉ ra hay làm cho bớt lại—To leak—To diminish.
tiết chế
Abstention.
; To control, to restrain, to moderate, to temper (desires, passions)
; To bound—To limit.
; (節制) Hi Lạp: Sophrosyné. Nghĩa là tự chế, tức dùng lí trí đè nén những dục vọng của mình để giữ gìn trí sáng suốt, hoặc ức chế các ham muốn của nhục thể đối với việc ăn uống, sắc dục... khiến cho ý chí không bị rơi vào thói quen buông thả. Trong Phật giáo, từ ngữ tương đương với Tiết chế là Giới, là dịch ý của tiếng PhạmZìla. Nghĩa gốc của Zìlalà tập quán, tính hướng, mở rộng thành nghĩa ngăn dứt điều xấu ác, tức chẳng những chỉ có tính hướng không phóng túng mà còn có những hành vi do ý chí sinh ra tập quán tự giác. Hành vi giữ giới trong đạo Phật chính là một thứ hành vi tông giáo tự giác, cũng tức là dùng trí tuệ ức chế mọi hành vi bất chính và những ham muốn thấp hèn của bản năng, là một loại nỗ lực của ý chí. Nội dung cụ thể của Giới gồm 5 điều: Không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu, gọi là Ngũ giới, là những giới điều căn bản nhất của Phật giáo.
tiết dục
To restrain one's desires; to restrict procreation; continence, chastity.
; To bound one's desires.
tiết giảm
To diminish.
tiết hạnh
Chastity.
; Virtue—Chasity.
tiết kiệm
Thrifty—Economical—Saving.
tiết la y
See La Y.
tiết lộ
To reveal—To let out—To unfole—To disclose.
tiết phục
Y phục cho Tăng Ni làm bằng loại cây đay mọc hoang—Hemp garments, the coarse monastic dress.
tiết tháo
Fidelity.
Tiết Trùng Dương
(重陽節): còn gọi là Trùng Cửu (重九), lễ hội vào ngày mồng 9 tháng 9 Âm Lịch. Theo quan niệm âm dương của Nho gia vào thời nhà Hán, có “lục âm cửu dương (六陰九陽, 6 âm 9 dương)”, 9 là số dương; cho nên Trùng Cửu còn gọi là Trùng Dương. Vào dịp này, trong dân gian có tập tục leo lên núi cao chơi; vì vậy tiết này còn gọi là Đăng Cao Tiết (登高節), Thù Du Tiết (茱萸節), Cúc Hoa Tiết (菊花節). Do vì tiết này nhằm vào cửu nguyệt sơ cửu nhật (九月初九日, mồng 9 tháng 9), viết là cửu cửu (九九), đọc âm trùng với cửu cửu (久久), ý nghĩa là dài lâu; nên ngày này người ta cũng tiến hành cúng tế tổ tiên và hoạt động kính trọng người lớn tuổi. Về nguồn gốc của Tiết Trùng Dương, có nhiều thuyết khác nhau. (1) Theo Tục Tề Hài Ký (續齊諧記) của Ngô Quân Chi (吳均之) nhà Lương (梁, 502-557) thời Nam Triều, vào thời Đông Hán (東漢, 25-220), tại Huyện Nhữ Nam (汝南縣) có một người tên là Hoàn Cảnh (桓景), nơi địa phương anh ở bỗng nhiên phát sinh ôn dịch; do đó, cả song thân Hoàn Cảnh đều bị bệnh mà tử vong. Từ đó, ông đến Đông Nam Sơn, tìm thầy học bí thuật; tiên nhân Phí Trường Phòng (費長房) trao cho ông một cây Hàng Ma Thanh Long Kiếm (降妖青龍劍). Hoàn Cảnh thức khuya dậy sớm, trãi qua tháng ngày, siêng năng học tập và khổ luyện. Một hôm nọ, Phí Trường Phòng bảo rằng: “Vào ngày mồng 9 tháng 9, ma dịch bệnh lại đến, ngươi có thể xua đuổi yêu ma trừ hại.” Bèn trao cho Hoàn Cảnh một bao lá Thù Du (茱萸, loại thực vật có chức năng sát trùng, tiêu độc), một bình rượu Hoa Cúc, để cho người già trong làng dùng khi lên núi cao tránh tai họa. Nhân đó, ông trở về cố hương, đúng ngày mồng 9 tháng 9, ông dẫn vợ con, mọi người trong làng lên trên một ngọn núi cao; lấy lá Thù Du phân phát cho mọi người đeo bên mình, nhờ vậy ma dịch bệnh không đến gần được. Rồi lấy rượu Hoa Cúc cho mỗi người uống một hớp, để đề phòng dịch bệnh. Ông cùng với ma dịch bệnh đánh nhau kịch liệt, cuối cùng giết được yêu ma kia. Từ đó, bá tánh lấy ngày mồng 9 tháng 9 làm ngày leo lên núi cao tránh tai họa, và tập tục lên núi cao, đeo túi Thù Du, uống rượu Hoa Cúc cũng hình thành từ đây. Các tác phẩm như Sơ Học Ký (初學記) nhà Đường (唐, 618-907), Thái Bình Ngự Lãm (太平御覽) nhà Tống (宋, 960-1279), v.v., đều có thuật lại sự tích này. (2) Trong Tây Kinh Tạp Ký (西京雜記) của Lưu Hâm (劉歆, khoảng 50 ttl.-23 stl.) có ghi rằng người ái thê của Hán Cao Tổ Lưu Bang (漢高祖劉邦, tại vị 206 ttl.~195 ttl.) là Thích Phu Nhân (戚夫人) bị Lữ Hậu (呂后) sát hại, sau đó người thị nữ của phu nhân là Giá Bội Lan (賈佩蘭) cũng bị trục xuất khỏi cung nội. Khi nói chuyện nhàn hạ, cô thường đề cập đến tập tục trong cung đình, cứ mỗi năm vào ngày mồng 9 tháng 9, mọi người thường mang lá Thù Du, ăn bánh cỏ Bồng, uống rượu hoa cúc, để tránh tà ma, kéo dài mạng sống. (3) Trong Truyện Vương Bột (王勃傳) của Cựu Đường Thư (舊唐書) có ghi rằng bài Tựa Đằng Vương Các (滕王閣序) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường được viết nhân Tiết Trùng Dương này. Đương thời phụ thân Vương Bột làm quan ở Giao Chỉ (交趾), ông lê đường đến thăm cha; vào ngày mồng 9 tháng 9 chỉ mới đi qua Nam Xương (南昌). Lúc bấy giờ, vị quan Châu Mục của Hồng Châu (洪州) là Diêm Bá Tự (閻伯嶼) đang mời quan khách, thuộc hạ của ông đến dự yến tiệc trùng tu Đằng Vương Các (滕王閣); nhân đó khoe khoang với mọi người về tài trí của người con rễ Ngô Tử Chương (吳子章), rồi mời quan khách viết bài tựa cho Đằng Vương Các. Ai cũng biết dụng ý của ông, nên chẳng người nào dám viết cả. Chỉ có mình Vương Bột không biết, bèn tự nhiên tiếp bút viết liền. Quan Châu Mục thấy trong lòng sảng khoái, lập tức sai người đứng hai bên xem Vương Bột viết. Không ngờ Vương Bột tài khí phi phàm, văn chương lưu loát, bất ngờ đến câu: “Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cọng trường thiên nhất sắc (落霞與孤鶩齊飛、秋水共長天一色, ráng chiều cùng vịt trời đều bay, nước thu với trời xanh một sắc)”, quan Châu Mục không chịu được nữa bèn thốt lên rằng: “Tuyệt hảo !” Và từ đó, Vương Bột nổi danh trong thi đàn. Đối với người Trung Quốc, nhân dịp này họ có một số tập tục đặc biệt như ăn Bánh Trùng Dương, bắn tên, hoạt động kính lão, cúng tế tổ tiên, v.v. Đối với người Nhật Bản thì có tục ăn trái Cà Tím (茄子, eggplant), Hạt Dẻ (栗子, chestnut), Lễ Hội Hoa Cúc, v.v. Đây là lễ hội quan trọng đối với người Trung Quốc, nên từ xưa nay đã có nhiều thơ văn bất hủ đề cập đến, như trong bài Cửu Nhật Đăng Lý Minh Phủ Bắc Lâu (九日登李明府北樓) của Lưu Trường Khanh (劉長卿, 709-780) nhà Đường có câu: “Cửu nhật đăng cao vọng, thương thương viễn thọ đê, nhân yên hồ thảo lí, sơn thúy hiện lâu Tây (九日登高望、蒼蒼遠樹低、人煙湖草裡、山翠現樓西, mông chín lên cao ngắm, xanh um cây rạp đầu, khói vương hồ cỏ rậm, núi biếc hiện lầu Tây).” Thiệu Đại Chấn (邵大震, ?-?), thi nhân nhà Đường, người đồng thời với Vương Bột có làm bài Cửu Nhật Đăng Huyền Võ Sơn Lữ Thiếu (九日登玄武山旅眺): “Cửu nguyệt cửu nhật vọng diêu không, thu thủy thu thiên sanh tịch phong, hàn nhạn nhất hướng nam phi viễn, du nhân kỉ độ cúc hoa tùng (九月九日望遙空、秋水秋天生夕風、寒雁一向南飛遠、遊人幾度菊花叢, mồng chín tháng chín ngắm trời không, nước thu trời thu sanh gió vương, nhạn bay một hướng về nam tít, du nhân mấy độ hoa cúc mừng).” Trong bài Cửu Nguyệt Thập Nhật Tức Sự (九月十日卽事) của thi hào Lý Bạch (李白, 701-762) có câu: “Tạc nhật đăng cao bãi, kim triêu tái cử thương, cúc hoa hà thái khổ, tao thử lưỡng Trùng Dương (昨日登高罷、今朝再舉觴、菊花何太苦、遭此兩重陽, hôm qua lên cao mệt, sáng nay lại nâng ly, hoa cúc sao quá đắng, gặp lại hai Trùng Dương).” Bên cạnh đó, thi hào Vương Duy (王維, 701-761) cũng có bài Cửu Nguyệt Cửu Nhật Ức Sơn Đông Huynh Đệ (九月九日憶山東兄弟) rất nổi tiếng: “Độc tại dị hương vi dị khách, mỗi phùng giai tiết bội tư thân, diêu tri huynh đệ đăng cao xứ, biến tháp Thù Du thiểu nhất nhân (獨在異鄉爲異客、每逢佳節倍思親、遙知兄弟登高處、遍插茱萸少一人, mình chốn tha phương làm lữ khách, mỗi khi tiết đẹp nhớ người thân, xa biết anh em lên cao chốn, ngắt cánh Thù Du chỉ riêng ta)”, v.v.
tiết đa
Preta (skt)—Loài quỷ đói có thể làm tổn hại đến con người—A hungry ghost who is harmful to human beings.
Tiết Đoan Dương
(端陽節): tên gọi khác của Tiết Đoan Ngọ (端午節), còn gọi là Tiết Ngọ Nhật (午日節), Ngũ Nguyệt Tiết (五月節), Ngũ Nhật Tiết (五日節), Ngải Tiết (艾節), Đoan Ngũ (端五), Trùng Ngọ (重午), Ngọ Nhật (午日), Hạ Tiết (夏節), Bồ Tiết (蒲節); là lễ hội nhằm ngày mồng 5 tháng 5 Âm Lịch hằng năm. Nguyên gốc, đây là ngày xua đuổi ôn dịch của mùa Hè; sau đó, nhân sự việc thi nhân Khuất Nguyên (屈原, 340-278 ttl.) nước Sở nhảy xuống sông Mịch La (汨羅) tự tử để hy sinh cho quốc gia, nên ngày này biến thành ngày kỷ niệm Khuất Nguyên. Tuy nhiên, cũng có thuyết cho rằng ngày này là ngày kỷ niệm vị trung thần Ngũ Tử Tư (伍子胥, ?-484 ttl.) nhà Ngô. Cùng với lễ Tết, Trung Thu, Tiết Đoan Ngọ được xem như là ngày lễ truyền thống quan trọng của các nước thuộc văn hóa Đông Á như Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam, v.v. Vào dịp này, người ta có tập tục treo cây Cỏ Ngải; hay một số địa phương dùng cây Xương Bồ (菖蒲), lá Cỏ Ngải, hoa Lựu, củ Tỏi, Hoa Long Thuyền (龍船花) bện thành hình người, gọi là Người Ngải để xua đuổi tà ma, khí độc. Trong bài thơ Đoan Ngọ Nhật (端午日) của Ân Nghiêu Phiên (殷堯藩, ?-?) có đoạn: “Thiếu niên giai tiết bội đa tình, lão khứ thùy tri cảm khái sinh, bất hiệu Ngải Phù xu tập tục, đản kỳ Bồ Tửu thoại thăng bình (少年佳節倍多情、老去誰知感慨生、不效艾符趨習俗、但祈蒲酒話昇平, tuổi trẻ tiết đẹp thật đa tình, già đến ai hay cảm khái sinh, chẳng theo Bùa Ngải xua tập tục, chỉ mong rượu quý chuyện an bình).” Trong Ứng Am Đàm Hoa Thiền Sư Ngữ Lục (應菴曇華禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1359) quyển 3 cũng có đoạn: “Ngũ nguyệt ngũ nhật Đoan Ngọ Tiết, hảo sự đương dương nan yểm tắc, Quy Tông đột xuất trụ trượng đầu, nhàn thần dã quỷ câu tiêu tức (五月五日端午節、好事當陽難掩塞、歸宗突出拄杖頭、閑神野鬼俱消滅, ngày năm tháng năm Đoan Ngọ Tết, chuyện tốt rõ ràng khó che bít, Quy Tông đột xuất chống trượng đầu, thần tiên quỷ mị thảy tiêu dứt).” Hay trong Suất Am Phạn Tông Thiền Sư Ngữ Lục (率菴梵琮禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1364) có đoạn như: “Kim triêu chánh đương Đoan Ngọ Tiết, nạp tăng đảo dụng chơn diệu quyết, chuyển Thánh tác phàm, điểm kim thành thiết (今朝正當端午節、衲僧倒用眞妙訣、轉聖作凡、點金成鐵, sáng nay đúng dịp Tết Đoan Ngọ, nạp tăng dùng bí quyết thần diệu ngược lại, chuyển Thánh làm phàm, biến vàng thành thép).”
tiết đà luận
Xem Vệ đà.
tiết độ
Temperate—Moderate.
tiết độ trong ăn uống
Theo Kinh Hữu Học trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy 'Thế nào là vị Thánh đệ tử biết tiết độ trong ăn uống?'—According to the Sekha Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha confirmed his noble disciples on moderating in eating as follows: 1) Quán sát một cách khôn ngoan: reflecting wisely. 2) Khi thọ dụng các món ăn—When taking food: a) Không phải để vui đùa: Not for amusement. b) Không phải để đam mê: Not for intoxication. c) Không phải để trang sức hay tự làm đẹp mình: Not for the sake of physical beauty and attractiveness. d) Chỉ để thân nầy được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì phạm hạnh: Only for the endurance and continuance of this body, for enduring discomfort, and for assisting the holy life. 3) Vị ấy nên nghĩ rằng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn.”—Considering: “Thus I shall terminate old feelings without arousing new feelings and I shall be healthy and blameless and shall live in comfort.”
Tiết 節
[ja] セツ、セチ setsu, sechi ||| (1) Joint, knuckle, knob, knot (esp. as is found in bamboo). (2) Up to a certain level, therefore the meaning of moderation, economy, temperance, restraint, control. (3) Integrity, honesty, chastity, purity. (4) A certain period of time; a season, a term, a holiday. (5) A verse, a section, a chapter, a clause. => 1. Mấu, đốt, khớp, mắt gỗ (đặc biệt là ở thân cây tre). 2. Còn có nghĩa sự tiết chế, sự điều độ, sự tiết kiệm; sự chừng mực, sự tự kiềm chế; sự tự chủ. 3. Tính chính trực. liêm chính; tính lương thiện, trung thực; sự trong trắng, sự trinh tiết; sự thuần khiết. 4. Thời kỳ nhất định trong năm; mùa ; kỳ lễ. 5. Đoạn thơ, tiết đoạn (sách), điều khoản.
tiếu
Sự rãi rượu cúng tế, đặc biệt cúng tế tổ tiên hay cúng Vu Lan Bồn—Libations or offerings, especially to ancestors; the offerings of All Souls Day.
tiếu lâm
Funny stories.
tiếu phật
(笑佛) Phật cười. Chỉ cho những tôn tượng Phật được khắc hoặc vẽ có tướng mỉm cười. Trong các kinh có ghi chép, lúc đức Phật thuyết pháp, Ngài thường hiện tướng mỉm cười.Theo kinh Xứ xứ thì khi Phật mỉm cười, từ miệng của Ngài phóng ra ánh sáng 5 màu, có 5 lí do: 1. Vì muốn khiến người nghe pháp nêu các câu hỏi có lợi ích. 2. Vì sợ người nói Phật không biết cười.3. Hiện ánh sáng trong miệng. 4. Cười những người không chí thành. 5. Cười A la hán chấp không, chẳng được đạoBồ tát. Trong hang thứ 19 ở động A chiên đa (Ajanta) tại Ấn độ có bức bích họa vẽ hình Phật mỉm cười khi Ngài nhận thức ăn của một em bé cúng dường, trong hang thứ 111 ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng, Trung quốc, cũng có tượng điêu khắc Phật Thích ca và Phật Đa bảo ngồi mỉm cười. [X. kinh Vô lượng thọ Q. hạ; kinh Kim cương đính Q.1].
tiếu vân thanh tam
(笑雲清三) Thiền sư Nhậtbản thuộc tông Lâmtế, sống vào cuối thời đại Thất đinh, người ở Y thế (huyện Tam trọng). Sư xuất gia lúc tuổi trẻ, kế thừa dòng pháp chùa Đông phúc ở kinh đô (Kyoto). Sư thông hiểu nội ngoại đạo, rất thích thơ văn, đặc biệt là thơ Tôđôngpha. Sư có tác phẩm: Tứ hà nhập hải, 100 quyển, Cổ văn chân bảo.
Tiếu Ông Diệu Kham
(笑翁妙堪, Shōō Myōtan, 1177-1248): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Tiếu Ông (笑翁), xuất thân vùng Từ Khê (慈溪) thuộc Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), họ là Mao (毛). Ban đầu ông đến tham học với Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺) vùng Lâm An (臨安, Tỉnh Triết Giang), và lãnh hội được huyền chỉ nhờ Vô Dụng Tịnh Toàn (無用淨全) ở Thiên Đồng (天童). Sau đó, ông bắt đầu tuyên xướng Thiền phong của mình ở Diệu Thắng Tự (妙勝寺) vùng Minh Châu, và sống qua một số nơi như Quang Hiếu Tự (光孝寺) ở trong vùng, Báo Ân Tự (報恩寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), Hổ Kheo Tự (虎丘寺) ở Bình Giang (平江, Tỉnh Giang Tô), và Vân Phong Tự (雲峰寺) ở Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến). Nhân vị Tể Tướng Sử Di Viễn (史彌遠) quy y theo, ông khai sáng ra Đại Từ Tự (大慈寺) ở Minh Châu, rồi sau lại chuyển đến Thoại Nham Tự (瑞巖寺) ở Đài Châu, Giang Tâm Tự (江心寺) ở Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang) và các nơi khác nữa. Vào ngày 27 tháng 3 năm thứ 8 niên hiệu Thuần Hựu (淳祐) ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 52 hạ lạp.
tiếu đạo luận
(笑道論) Luận, 3 quyển, do Chân loan soạn vào đời Bắc Chu. Năm Thiênhòa thứ 4 (569) đời vua Vũ đế nhà Bắc Chu, vua sắc lệnh quan Tư lệ đại phu là Chânloan bình luận về Phật giáo và Đạo giáo. Tháng 2 năm sau, Chân loan dâng tấu sách này, trong lời tựa nói rằng (Đại 52, 144 thượng): Luận Tiếu đạo có 3 quyển, gồm 36 điều. Lí do có 3 quyển là để cười tên của 3 động; còn 36 điều là để cười 36 bộ kinh. Trong luận mỗi điều đều trích dẫn kinh sách Đạo giáo, phân tích những điểm nông nổi của Đạo giáo và cho rằng Đạo này không đáng tin. Nhưng Vũ đế sùng tín Đạo giáo, đã quyết định phá bỏ đạo Phật, nên đối với bộ luận rất không vui và cho đốt ngay trong điện. [X. Quảng hoằng minh tập Q.9].
Tiếu Ẩn Đại Hân
(笑隱大訢, Shōin Daikin, 1284-1344): vị tăng của phái Dương Kì và Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Tiếu Ẩn (笑隱), sinh tháng 8 năm thứ 21 niên hiệu Chí Nguyên (至元) ở Nam Xương (南昌, Tỉnh Giang Tây), họ Trần (陳). Ông xuất gia tại Vĩnh Lục Viện (永陸院) trong quận, rồi sau khi thọ giới Cụ Túc, ông đến tham yết Nhất Sơn Vạn (一山萬) ở Khai Tiên Tự (開先寺), Lô Sơn (廬山), kế đến ông tham học với Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙) trên Bách Trượng Sơn (百丈山) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Khi Hối Cơ chuyển đến Tịnh Từ Tự (淨慈寺), ông đi theo làm Thư Ký phụ tá. Ngoài ra, ông còn đến tham vấn Trung Phong Minh Bổn (中峰明本). Vào năm thứ 4 (1311) niên hiệu Chí Đại (至大), ông khai đường thuyết giáo ở Ô Hồi Tự (烏回寺) thuộc Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang), sau đó ông chuyển đến sống ở một số nơi như vào tháng 4 năm thứ 7 (1320) niên hiệu Diên Hựu (延祐) tại Đại Báo Quốc Tự (大報國寺) vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), tháng 10 năm thứ 2 (1325) niên hiệu Thái Định (泰定) tại Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺), tháng 2 năm thứ 2 (1329) niên hiệu Thiên Lịch (天曆) tại Đại Long Tường Tập Khánh Tự (大龍翔集慶寺) ở Kim Lăng (金陵). Nhà vua ban tặng cho ông chức quan Đại Trung Đại Phu (大中大夫) và hiệu là Quảng Trí Toàn Ngộ Đại Thiền Sư (廣智全悟大禪師). Khi ông vào cung nội thuyết pháp, nhà vua tặng cho ông y cũng như dây đai vàng, đổi Trung Thiên Trúc Tự thành Thiên Lịch Vĩnh Tộ Tự (天曆永祚寺) và đặt tên cho cái am nơi ông thường ở là Quảng Trí (廣智). Hơn nữa, vào năm thứ 2 (1336) niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông được ban cho danh hiệu Thích Giáo Tông Chủ (釋敎宗主) thống lãnh toàn bộ Ngũ Sơn. Ông viết bộ Bồ Thất Tập (蒲室集) 2 quyển và trùng tu bộ Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規) 8 quyển. Đến ngày 24 tháng 5 năm thứ 4 niên hiệu Chí Chánh (至正), ông thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời và 46 hạ lạp. Ông có bộ Tiếu Ẩn Hân Thiền Sư Ngữ Lục (笑隱訢禪師語錄) 4 quyển. Ngu Tập (虞集) soạn bài Nguyên Quảng Trí Toàn Ngộ Đại Thiền Sư Đại Trung Đại Phu Trú Đại Long Tường Tập Khánh Tự Thích Giáo Tông Chủ Kiêm Lãnh Ngũ Sơn Tự Tiếu Ẩn Hân Công Hành Đạo Ký (元廣智全悟大禪師大中大夫住大龍翔集慶寺釋敎宗主兼領五山寺笑隱訢公行道記), còn Hoàng Tấn (黃溍) soạn bản Nguyên Đại Trung Đại Phu Quảng Trí Toàn Ngộ Đại Thiền Sư Trú Trì Đại Long Tường Tập Khánh Tự Thích Giáo Tông Chủ Kiêm Lãnh Ngũ Sơn Tự Hân Công Tháp Minh (元大中大夫廣智全悟大禪師住持大龍翔集慶寺釋敎宗主兼領五山寺訢公塔銘).
tiếu ẩn đại hân thiền sư ngữ lục
(笑隱大欣禪師語錄) Cũng gọi Quảng trí toàn ngộ thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 4 quyển, do ngài Tiếuẩn Đại hân soạn vào đời Nguyên, các vị Diêutuấn, Tuệđàm biên tập, được thu vào Vạn tục tạng tập 121. Nội dung thu chép các ngữ lục như: Ô hồi thiền tự ngữ lục, Thiền tông Đại báo quốc tự ngữ lục, Trung thiên trúc thiền tự ngữ lục và các phần: Chân tán, Kệ tụng, Nguyệt giang hòa thượng ngữ lục tự, Chứng đạo ca tự, ĐềTrung phong hòa thượng ngữ lục...
Tiềm
潛; C: qián; J: sen;|Ẩn náu, bí mật, nằm khuất dưới nước; giấu diếm, giữ kín, bưng bít. Ẩn núp, tiềm tàng, che đậy, như những phiền não vi tế.
tiềm chân
(潜真) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người ở Sóc phương, Hạ châu (phía tây huyện Hoànhsơn, tỉnh Thiểmtây), họ Vương, tự là Nghĩa chương. Sư xuất gia năm 20 tuổi ở chùa Linh giác, Lệ danh, năm sau thụ giới Cụ túc, học tập luật luận, siêng nghe diễn giảng. Về sau, sư ở chùa Đại hưng thiện phiên dịch kinh luận, giữ chức Chứng nghĩa kinh Nhân vương bát nhã do ngài Bất không dịch và nhuận văn kinh Đại tập đại hư không bồ tát sở vấn, kinh Văn thù sư lợi bồ tát Phật sát trang nghiêm... Đồng thời, sư còn theo ngài Bất không tu tập Mật giáo, đã đăng đàn thụ pháp Quán đính và được truyền trao ấn thành Phật. Sư thông suốt cả Hiển giáo và Mật giáo, đệ tử rất đông. Năm Trinh nguyên thứ 4 (788), sư thị tịch, thọ 71 tuổi. Sư có các tác phẩm: Vănthùsưlợibồ tát Phật sát trang nghiêm kinh sớ 3 quyển, Bồ đề tâm nghĩa 1 quyển, Bồ đề tâm giới 1 quyển, Tam tụ tịnh giới và Thập thiện pháp giới 1 quyển. [X. Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q. trung; Trinh nguyên tân định thích giáo mụclục Q.15, 16; Tống cao tăng truyện Q.5; Lục học tăng truyện 18].
tiềm lực
Potential.
tiềm năng giác ngộ
Potential enlightenment.
tiềm năng tinh thần
Mental potential
Tiềm phục
潛伏; C: qiánfú; J: senpuku;|Sự giấu diếm, sự che đậy, sự ủ bệnh. Bí mật, tiềm tàng. Ẩn nấp. Mặc dù hành giả tiến hành công phu tu tập và được xem là người thanh tịnh, nhưng phiền não vi tế vẫn còn tiềm tàng trong tạng thức.
Tiềm phục 潛伏
[ja] センフク senpuku ||| (1) Concealment, hiding, incubation. Secret, latent. To hide oneself. Although one might be carrying out religious practice and consider him/herself to be pure, the subtler defilements lie dormant in the store consciousness. => 1. Sự giấu diếm, sự che đậy, sự ủ bệnh. Bí mật, tiềm tàng. Ẩn nấp. Mặc dù hành giả tiến hành công phu tu tập và được xem là người thanh tịnh, nhưng phiền não vi tế vẫn còn tiềm tàng trong tạng thức.
tiềm thức
Psyche—Subconscious mind.
tiềm ẩn
To latent—To be hidden.
tiềm ẩn trong tâm của con người
To abide in the human heart.
Tiềm 潛
[ja] セン sen ||| To hide away, secret oneself; lie hid under water; conceal, hide, be hushed. Lurk, lie dormant, be hidden, as do the subtle defilements. => 1. Ẩn náu, bí mật, nằm khuất dưới nước; giấu diếm, giữ kín, bưng bít. Ẩn núp, tiềm tàng, che đậy, như những phiền não vi tế.
Tiền
前; C: qián; J: zen;|1. Phía trước, phần trước mặt, phần đầu, mặt tiền; 2. Trước đó, trước hết, trước đây, trước nay, cho đến bây giờ (s: pūrva); 3. Một khoảng thời gian trước đây, cách đây lâu. Nguyên thuỷ là, trước đó.
tiền
Pùrva (S). Before, former, previous; in front.
; 1) Tiền bạc: Cash—Currency—Money. 2) Trước: Purva (skt)—Before—Previous—Former—In front.
tiền bao hậu bao
(前包後包) Bao trước bao sau. Khi vị tăng vân thủy hành cước, các vật dụng được chia làm 2 phần đựng vào cái túi hay gói trong bao để đeo trên vai. Tiền bao đeo phía trước mình, trong đựng ca sa, Tổ lục... hậu bao đeo phía sau lưng, trong đựng các vật dụng hàng ngày như khăn lau mặt... [X. Thiền uyển thanh qui Q.1].
tiền bối
Elders.
tiền chánh giác sơn
Pragbodhi (skt)—Vùng phụ cận sông Ni Liên Thiền thuộc xứ Ma Kiệt Đà. Trong Tây Vực Ký, ngài Huyền Trang cho rằng trước khi Đức Như Lai chứng được Chánh Giác, ngài đã trèo lên núi nầy, cho nên nó có tên là Tiền Chánh Giác Sơn—A mountain in Magadha. According to The Great T'ang Chronicles of the Western World, Hsuan-Tsang reported that Sakyamuni might have been ascended on this mountain before his enlightenment, hence its name.
tiền chế
Prefabricated.
tiền cung dưỡng
(前供養) Đối lại: Hậu cúng dường. Cúng dường 6 thứ trước khi thực hành pháp quán Nhập ngã ngã nhập trong pháp tu Nhất tòa hành pháp của Mật giáo. Giải thích theo nghĩa sâu kín thì Tiền cúng dường là cúng dường vị tôn Tu đắc còn Hậu cúng dường là cúng dường vị tôn Tính đức. Khi thực hành Sự cúng dường (tức sắm sửa các vậtcúngđể cúng dường, đối lại với Lí cúng dường)là cúng dường các vật cúng đặt ở trên đàn phía bên phải của hành giả. Nếu 4 mặt đều bày 6 thứ vật cúng thì cúng dường các vật cúng ở 3 mặt trái, phải và Bản tôn. [X. Thành tựu Diệu pháp liên hoa kinh vương Du già quán trí nghi quĩ].
tiền căn
Earlier root, earlier cause; cause generated from an earlier life.
Tiền cảnh
前境; C: qiánjìng; J: zenkyō;|Một vật hiển hiện (s: avabhāsa); Một đối tượng trình hiện trước tâm thức, một vật mà tâm thức nhận ra được.
Tiền cảnh 前境
[ja] ゼンキョウ zenkyō ||| A manifest object (avabhāsa). An object apparent to the mind. => Một vật hiển thị hiển nhiên. Một hiện tượng trình hiện trong tâm.
tiền của
Wealth.
tiền duyên
Earlier conditions. Predestined affinity; predestined union.
; Predestined affinity.
tiền hoằng thúc
(錢弘俶) Cũng gọi: Tiền thúc. Vị vua nước Ngô việt thời Ngũ đại, người ở Lâman, Hàng châu, tự Vănđức, là con thứ 9 của Văn mụcvương Tiềnnguyên quán. Bản tính ông thành thật, nhân hậu, thâm tín Phật pháp. Năm 20 tuổi ông kế thừa ngôi vua. Sau khi lên ngôi, ông tôn ngài Đứcthiều thuộc tông Thiênthai làm Quốc sư, đồng thời theo ngài Đạo tiềm nhận lãnh giới Bồ tát, tự lấy hiệu là Từ hóa định tuệ thiền sư. Năm Hiển đức thứ 2 (955) đời HậuChu, vì ngưỡng mộ việc tạo tháp của vua A dục nên ông cho đúc 84000 ngôi tháp nhỏ, bên trong có để tâm chú Bảo khiếp ấn rồi ban cho khắp nơi, người đời gọi là tháp Tiền hoằng thúc, tiếng tăm vang đến tận Nhậtbản. Niên hiệu Kiếnlong năm đầu (960) đời Tống, ông phục hưng chùa Linhẩn tại Hàng châu, thỉnh ngài Trí giác Diênthọ làm Tổ Trung hưng đời thứ nhất, thỉnh ngài Loa khêNghĩatịch giảng kinh Pháp hoa, đặc biệt ban hiệu Tịnh Quang Đại Sư. Ông lại sai sứ đến Nhậtbản, Caoli thỉnh các luận sớ của tông Thiênthai đã bịthất tán mang về, làm choGiáo quán của tông Thiên thai hưng thịnh. Ông còn xây chùa Phổ môn ở Hàngchâu và viện Đâusuất ở Tiền đường. Năm Tháibình Hưngquốc thứ 3 (978), cả nước đều qui phục nhà Tống, Hoàng đế nhà Tống phong ông là Hoài Hải Quốc Vương, năm Thái bình Hưng quốc thứ 8 (983) đổi làm Nam Hải Quốc Vương. Đến niên hiệu Đoan củng năm đầu (988), ông lại được phong Đặng Vương, năm ấy ông qua đời, thọ 60 tuổi. Sau, ông được truy phong Thái Quốc Vương, thụy hiệu Trung Ý Vương. [X. Tống cao tăng truyện Q.7; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.10, Tháp Tiền Hoằng Thúc 23, 43; Tống sử liệt truyện thứ 239].
tiền hậu
Before and after.
Tiền hậu tế đoạn
前後際斷; C: qiánhòu jì duàn; J: zengo-saidan;|Sự phủ nhận của quá khứ và vị lai. Chẳng có gì hết ngoài hiện tại vĩnh hằng. Một quan điểm của Trung quán tông, có sự tương quan trực tiếp với hiện thật Bất sinh bất diệt.
tiền hậu tế đoạn
Discontinuous function, though seemingly continuous, e.g. a "Catherine wheel" , or torch whirled around.
; Các pháp hữu vi đời trước và đời sau đều cắt đứt, mà dường như liên tục (ai còn thấy cái dường như liên tục nầy, người đó vẫn còn trăn trở trong vòng luân hồi sanh tử; ngược lại ai chứng ngộ được lẽ nầy tức là chứng đắc Niết Bàn)—Discontinuous function, though seemingly continuous, e.g. “catherine-wheel,” or torch whirled around.
; (前後際斷) Cắt đứt mé trước, mé sau. Mé trước chỉ cho quá khứ, mé sau chỉ cho vị lai; nghĩa là dứt bỏ mọi kiến giải đối đãi quá khứ, vị lai. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ, phần 1 (Đại 48, 407 hạ) nói: Nghe một ngộ nghìn, được Đại tổng trì; một niệm chẳng sinh, cắt đứt mé trước, mé sau.
Tiền hậu tế đoạn 前後際斷
[ja] ゼンゴサイダン zengosaidan ||| The negation of past and future. There is nothing but the eternal present. A view of the Middle Way 中觀派 school, directly related to the fact that in reality there is neither arising nor ceasing. => Phủ nhận quá khứ và tương lai. Chẳng có gì ngoài hiện tại hằng vĩnh. Đó là quan điểm của trường phái Trung đạo (Trung quán phái), liên hệ trực tiếp đến sự thật là trong Thực tế, vốn không có sự sinh khởi cũng như hoại diệt.
Tiền khiên
(前愆): tội lỗi, sai lầm trước đây, hay đời trước. Như trong Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖大師法寶壇經, Taishō No. 2008), phẩm Sám Hối thứ 6 có đoạn giải thích về ý nghĩa sám hối rằng: “Sám giả, sám kỳ tiền khiên, tùng tiền sở hữu ác nghiệp, ngu mê, kiêu cuống, tật đố đẳng tội, tất giai tận sám, vĩnh bất phục khởi, thị danh vi sám (懺者、懺其前愆、從前所有惡業、愚迷、憍誑、嫉妒等罪、悉皆盡懺、永不復起、是名爲懺, Sám nghĩa là ăn năn những tội lỗi trước đây, từ trước đến nay các tội ác nghiệp, ngu mê, kiêu ngạo, ganh tỵ, v.v., thảy đều sám hối, mãi không phạm lại, đó nghĩa là sám).” Hay trong Ngụy Thư (魏書) quyển 100 có câu: “Nhược thiên tử thứ kỳ tiền khiên, cẩn đương phụng chiếu (若天子恕其前愆、謹當奉詔, nếu thiên tử tha thứ tội trước, thì kính cẩn vâng chiếu).” Hơn nữa, trong Thiền Tông Quyết Nghi Tập (禪宗決疑集, Taishō No. 2021) cũng có câu: “Ngũ thể đầu địa nhiên chỉ nhiên hương, phát lộ tiền khiên cầu ai sám hối (五體投地然指然香、發露前愆求哀懺悔, năm vóc gieo xuống đất đốt tay đốt hương, phơi bày tội trước cầu xin sám hối).”
; (前愆): tội lỗi, sai lầm trước kia. Như trong Khổng Tùng Tử (孔叢子), phần Luận Thư (論書) thứ 2, của Khổng Phụ (孔鮒, 264-208) nhà Tần, có câu: “Ưu tư tam niên, truy hối tiền khiên (憂思三年、追悔前愆, ưu tư ba năm, hối hận lỗi trước).” Hay trong Tịnh Độ Tư Lương Toàn Tập (淨土資糧全集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 3 có đoạn: “Phàm phu ngu mê, chỉ tri sám kỳ tiền khiên, bất tri hối kỳ hậu quá, dĩ bất hối cố, tiền khiên bất diệt, hậu quá hựu sanh (凡夫愚迷、只知懺其前愆、不知悔其後過、以不悔故、前愆不滅、後過又生, phàm phu ngu mê, chỉ biết ăn năn những sai lầm trước kia, mà chẳng biết hối hận những tội lỗi sau này; do vì không hối hận, nên sai lầm trước không diệt, mà tội lỗi sau vẫn phát sinh).”
tiền khiên
Past sins.
tiền kiếp
PŪrvakalpa (S), Pubbakappa (P), Previous life
; Pùrvakalpa (S). Former existence; previous life.
; Past (previous) life—Past or previous incarnation.
tiền kê nghi
Chien chi I (C).
tiền linh
(前鈴) Cũng gọi Chấn Linh. Rung chuông trước. Nghĩa là rung chuông kim cương trước khi cúng dường át già(nước thơm) trong pháp tu của Mật giáo. Trái lại, rung chuông sau khi cúng dường thì gọi là Hậu linh.
tiền lệ
Precedent.
tiền nghiệp
Earlier, former karma.
tiền nhân
Predecessor, antecessor.
; Predecessors.
tiền niệm hậu niệm
(前念後念) Niệm trước niệm sau, tức là sự biến hóa của ý niệm trong từng nháy mắt. Niệm đã qua gọi là Tiền niệm, niệm nối tiếp gọi là Hậu niệm. Vãng sinh lễ tán của ngài Thiệnđạo (Đại 47, 439 hạ) nói: Mệnh chung ở niệm trước thì niệm sau sinh về nước kia. Nghĩa là hành giả niệm Phật mệnh chung ở niệm trước thì niệm sau sinh ngay về nước Cực lạc của đức Phật Adiđà. Cổ tôn túc ngữ lục quyển 1 (Vạn tục 118, 80 hạ) nói: Lúc khởi chỉ có pháp khởi, lúc diệt chỉ có pháp diệt; lúc pháp này khởi chẳng nói ta khởi, lúc diệt chẳng nói ta diệt, niệm trước, niệm sau, niệm giữa, niệm niệm chẳng đợi nhau.
tiền oan
A calamity which is the effect of a misdeed perpatrated during an anterior life; malediction, curse. Also Tiền oan nghiệp chướng.
Tiền phi
前非; C: qiánfēi; J: zenpi;|Những lỗi lầm trước đây.
Tiền phi 前非
[ja] ゼンピ zenpi ||| One's prior mistake(s) or error(s). => Sai lầm trước đây của một người.
tiền phong
Vanguard—Pioneer.
tiền phương trượng
Front of Abbot's Quarters.
tiền phật
Đức Phật vào Niết Bàn trước (chỉ Phật Thích Ca)—A preceding Buddha—Former Buddhas who have entered into nirvana.
tiền phật hậu phật
Phật Thích Ca và Phật Di Lặc—Sakyamuni and Maitreya Buddhas.
tiền sanh
Đời trước hay thân trước—Former life or lives—The previous body, ot incarnation.
Tiền sinh
前生; C: qiánshēng; J: zenshō;|1. Thế giới trước đó, cuộc sống trước đây, cuộc sống trước đây của một người nào đó (s: pūrva-jāta); 2. Sinh trởi trước đây (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
tiền sinh
Xem tiền thế.
Tiền sinh 前生
[ja] ゼンショウ zenshō ||| (1) A prior world, prior existence; one's previous lifetime (pūrva-jāta). (2) Previously arisen. 〔二障義HPC 1.794c2〕 => Có hai nghĩa: 1. Cuộc sống trước, sự hiện hữu trong dời sống trước, sinh mạng trong kiếp trước của một chúng sinh (s: pūrva-jāta). 2. Sinh khởi từ trước. .
tiền sảnh
Xem Viễn Công.
; Antechamber.
tiền sử
PŪrvayoga (S), Prehistory.
; Pùvayoga (S). Former connections.
; Prehistoric.
tiền tam tam, hậu tam tam
Những sự kiện thực, đối lại với những sự kiện trừu tượng (câu hỏi và trả lời giữa ngài Vô Trước và ngài Văn Thù)—Three and three before, three and three behind—Concrete facts as opposed to general abstractions.
tiền thân
The previous body, or incarnation.
; See Tiền Sanh.
tiền thế
Former life, or lives.
; See Tiền Sanh.
tiền thế chi giới
(前世之戒) Chỉ cho giới hạnh ở đời trước đã giữ gìn.Nếu đời trước giữ 5 giới thì đời này được sinh làm người; nếu đời trước giữ 10 giới thiện thì đời này sinh lên cõi trời, hoặc sinh làm vua trong cõi người.
tiền tiến
Advanced.
tiền triết
The ancient sages.
tiền trung hậu
Former, intermediate, after.
tiền trác
(前桌) Cũng gọi Đại trác. Chiếc bàn lớn bằng gỗ được đặt ở mặt tiền đàn Tu di trước tượng Bản tôn. Trên bàn này cúng dường 2 bình hoa thơm, lư hương và 2 ngọn đèn. Hình dáng bàn lớn, nhỏ khác nhau, thông thường cao 3, 4 thước (Tàu), rộng 2, 3 thước, dài 7, 8 thước. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tiền trảm hậu tấu
To behead first and to report afterward.
tiền trần
Previous impure conditions (influencing the succeeding stage or stages.
; Sáu trần trước đây làm ảnh hưởng đến những giai đoạn tu hành (Đức Phật bảo ông A Nan trong Kinh Lăng Nghiêm, đó là tưởng tượng của tiền trần hư vọng tướng, làm mê hoặc chân tính của ông)—Previous impure conditions, influencing the succeeding stage or stages.
; (前陳) Cũng gọi Tiên trần, Tiền thuyết. Đối lại: Hậu trần. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ choChủ từ của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Chẳng hạn như trong mệnh đề Âm thanh là vô thường thì âm thanh là Tiền trần. Thể của Tiền trần gồm 3 nghĩa: Tự tính (Phạm: Svarùpa), Hữu pháp (Phạm: Dharmin) và Sở biệt (Phạm:Vizewya). [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q. thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.2, phần đầu]. (xt. Thể).
tiền trọng bát pháp bát môn
(前重八法八門) Tám pháp 8 môn của lớp trước trong 33 pháp môn nói trong luận Thích ma ha diễn quyển 1. Trong 33 pháp môn thì Nhất tâm và Tam đại của lớp trước, mỗi mỗi đều có 2 pháp là chân như sở nhập, sinh diệt sở nhập và 2 môn là chân như năng nhập, sinh diệt năng nhập, hợp chung lại là 8 pháp 8 môn.
tiền tán hậu tán
(前贊後贊) Gọi tắt: Tiền hậu tán. Chỉ cho bài Tán bái được phổ thành khúc điệu để xướng trong các pháp hội của Mật giáo. - Bài tán được xướng sau 5 đại nguyện của Kim cương giới và 5 thệ nguyện của Thai tạng giới, gọi là Tiền tán. - Bài tán được xướng sau Hậu linh của Kim cương giới và Hậu cúng át già của Thai tạng giới, gọi là Hậu tán. Nhưng cũng có thuyết cho rằng bài tán được xướng lúc Tiền cúng dường gọi là Tiền tán, được xướng lúc Hậu cúng dường, gọi là Hậu tán. Lại một thuyết khác cho rằng Tiền tán được xướng trước khi tụng kinh, còn Hậu tán thì được xướng sau Hậu linh. Thông thường, Tiền tán là dùng âm Phạm tán: Tứ trí, Tâm lược, Bất động; Hậu tán thì dùng âm Hán xướng: Tứ trí, Tâm lược và Phật tán.
tiền tích
Past history of someone—Antecedents.
tiền tông
Marammasaṃghanikāya (S)Chi phái Thượng tọa bộ ở Miến điện từ thế kỷ II.
tiền tư
(前資) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Từ ngữ tôn xưng các vị tăng đã nghỉ hưu mà trước(tiền) đã từng 3 lần giữ các chức vụ từ Phó tự trở xuống thuộc Đông tự để giúp đỡ(tư) tùng lâm. [X. điều Thỉnh tri sự trong Thiền uyển thanh qui Q.2; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tiền tế
PŪrvanta (S)Quá khứ.
tiền vệ
Advanced guard.
Tiền Điền Lợi Gia
(前田利家, Maeda Toshiie, 1538-1599): vị Võ Tướng dưới thời đại An Thổ Đào Sơn, Tổ khai sáng ra vùng Gia Hạ (加賀, Kaga); xuất thân vùng Vĩ Trương (尾張, Owari); tên lúc nhỏ là Khuyển Thiên Đại (犬千代); biệt danh là Hựu Tả Vệ Môn (又左衞門), Hựu Tả (又左), Hựu Tứ Lang (又四郎), Tôn Tứ Lang (孫四郎), Việt Trung Thiếu Tướng (越中少將), Vũ Sài Trúc Tiền Thủ (羽柴筑前守); giới danh là Cao Đức Viện Đào Vân Tịnh Kiến Đại Cư Sĩ (高德院桃雲淨見大居士); thân phụ là Tiền Điền Lợi Xuân (前田利春, Maeda Toshiharu), thân mẫu là Trường Linh Viện (長齡院). Ông từng làm việc cho Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) cũng như Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi). Sau khi Tú Cát qua đời, ông trợ tá cho Tú Lại (秀賴, Hideyori) với tư cách là một trong 5 Lão Nhân hàng đầu.
tiền đường
The front hall, or its front part.
; The front hall or the front part of a monastery.
; (前堂) I. Tiền Đường. Cũng gọi: Tiền bản. Chỉ cho gian phía trước Xuất nhập bản trong Tăng đường của chùa viện Thiền tông.Hai bên khám thờ Thánh tăng trong Tăng đường có Xuất nhập bản(lối ra vào), phía trước bản gọi là Tiền đường, phía sau bản gọi là Hậu đường, mỗi gian đều do 1 vị Thủ tọa cai quản. [X. điều Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2]. II. Tiền Đường. Gọi đủ: Tiền đường thủ tọa. Gọi tắt: Thủ tọa. Vị tăng cai quản chúng tăng ở Tiền đường. ĐiềuTây tự đầu thủ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1130 hạ) nói: Tiền đường thủ tọa là khuôn phép của tùng lâm, là con mắt của trời người, chia tòa nói pháp, dắt dẫn người sau, lãnh chúng ngồi thiền, giữ gìn phép tắc, xem xét cơm cháo ngon dở, khuyên bảo làm việc, tăng chúng không giữ uy nghi thì cứ theo thanh qui trị phạt. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Tiền Đại Hân
(錢大昕, Sen Daikin, 1728-1804): học giả sống dưới thời nhà Thanh, xuất thân Gia Định (嘉定), Tỉnh Giang Tô (江蘇省), tự là Hiểu Trưng (曉徴), hiệu Trúc Đinh (竹汀). Ông tinh thông cả kinh thư, chư tử, lịch sử, lịch toán, kim thạch. Trước tác của ông có Nhị Thập Nhị Sử Khảo Dị (二十二史考異), Thập Hạ Trai Dưỡng Tân Lục (十賀齋養新錄), v.v.
tiền đạo
Rudrayāna (S)Vua thành Thăng Âm (Roruka), nước Tô duy lạp (Sovira) trong kinh Đại Điển tôn.
; 1) To lead. 2) Forward.
tiền định
Preordained, predetermined, predestined.
; Fate—Predestination.
tiền đồ
The road ahead—Future.
Tiền 前
[ja] ゼン zen ||| (1) Front, fore part, head, ahead, the facing. (2) Before, prior; previously, ago, up till now. (pūrva) (3) A while ago, a long time ago. Originally, former, previous. => Có các nghĩa sau: 1. Đằng trước, phía trước, phần trước, phần đầu, sự hướng về trước. 2. Trước, ưu tiên; trước đây, cách đây, cho đến nay (s: pūrva). 3. Cách một khoảng thời gian, cách một thời gian dài. Đầu tiên, nguyên, trước đây.
tiều tụy
Broken down
Tiều Đàm Trị Yếu
(樵談治要, Shōdanchiyō): thư tịch viết về sách lược chính trị cho Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Thượng (足利義尚, Ashikaga Yoshihisa), 1 quyển, tác phẩm của Nhất Điều Kiêm Lương (一條兼良, Ichijō Kanera), được dâng trình lên cho triều đình vào năm 1480.
tiển
Mũi tên—An arrow.
tiển đạo
Đường tên bay từ xa—An arrow-shot, or bow-shot, in distance.
tiểu
Small, little; mean, petty; inferior.
; Small—Inferior—Little—Petty—Mean—Minor.
tiểu a hàm
Khuddaka Nikāya (P), Collection of Little Texts Tiểu bộ kinhMột trong 5 phẩm của Kinh Tạng.
; Khuddaka Nikaya (p)—Những câu kệ ngắn, chia làm 15 tập—Smaller collection consists of fifteen books: 1) Những bài kệ ngắn: Khuddaka Patha (p)—Short texts 2) Kinh Pháp Cú: Dhammapada (p)—Còn gọi là “Con Đường Chơn Lý”—The Way of Truth. 3) Hoan Hỷ Ca: Udana (p)—Paeans of Joy. 4) Những bài kinh bắt đầu bằng “Dạy như thế nầy”: Itivuttaka (p)—“Thus said” Discourses. 5) Những bài kinh sưu tập: Sutta Nipata (p)—Collected Discourses. 6) Câu chuyện những cảnh Trời: Vimana Vatthu (p)—Stories of Celestial Mansions. 7) Câu chuyện cảnh giới ngạ quỷ: Peta Vatthu (p)—Stories of Petas. 8) Kệ của người thiện nam: Theragatha (p)—Psalms of the Brethren. 9) Kệ của người tín nữ: Therigatha (p)—Psalms of the Sisters. 10) Túc Sanh Truyện: Jataka (p)—Những câu chuyện tái sanh của Bồ Tát—Birth Stories of the Bodhisattva. 11) Những bài trần thuật: Niddesa (p)—Expositions. 12) Những bài đề cập đến kiến thức phân giải: Patisambhida (p)—Book on Analytical Knowledge. 13) Đời sống của chư vị A La Hán: Apadana (p)—Lives of Arahants. 14) Tiểu sử của Đức Phật: Buddhavamsa (p)—History of the Buddha. 15) Những phẩm hạnh: Cariya Pitake (p)—Modes of Conduct.
tiểu a sư
See Tiểu Sư.
; (小阿師) Cũng gọi Tiểu sư. Chỉ cho vị tiểu tăng. Chữ A ở đây chỉ là trợ từ, chứ không có nghĩa gì. Lâm tế lục (Đại 47, 499 hạ) nói: Hậu sinh tiểu a sư không hiểu. Người đời sau dùng từ ngữ này để châm biếm kẻ thấp hèn.
tiểu bạch hoa
Một trong bốn loại hoa, tên dịch của hoa Mạn Đà La—One of the four divine flowers, the mandara-flower.
tiểu bản
Small volume. Thiên Thai term for the (tiểu) A di đà kinh; the large sùtra being the Vô lượng thọ kinh.
tiểu bễ
Upacàru (S). Name of a cakravartiràja. Also Ô ba giá lô.
Tiểu Bồ-tát 小菩薩
[ja] ショウボサツ shōbosatsu ||| Lesser bodhisattvas, who are below the stage of the seventh bhūmi 七地, and who therefore still have the possibility of backsliding. => Bồ-tát sơ phát tâm, chưa đến giai vị Thất địa, vẫn còn có khả năng thối chuyển.
tiểu bổn a di đà kinh
Kinh A Di Đà được Tịnh Độ Tông của phái Thiên Thai dùng như Kinh Tiểu Bổn—The T'ien-T'ai takes the Amitabha Sutra as one of the minor sutras of the Pure-Land Sect.
tiểu bộ
(小部) Pàli: Khuddaka-nikàya. Bộ thứ 5 trong 5 bộ thuộc kinh tạng tiếngPàli. (xt. Khuất Đà Ca Ni Ca Da, Nam Truyền Đại Tạng Kinh).
Tiểu bộ kinh
小部經; P: khuddaka-nikāya;|Bộ kinh thứ năm của Kinh tạng (p: sutta-piṭaka), gồm có 15 phần:|1. Tiểu tụng (小頌; khuddaka-pātha): bao gồm quy định về thực hành nghi Lễ; 2. Pháp cú (法句; dhammapada): gồm 426 câu kệ trong 26 chương về các nguyên lí căn bản đạo Phật, được lưu truyền rộng trong các nước theo Thượng toạ bộ; 3. Tự thuyết (自說; udāna): gồm 80 bài giảng của đức Phật; 4. Như thị ngữ (如是語; »Tôi nghe như vầy«; p: itivuttaka) gồm các kinh dựa trên hỏi đáp với đức Phật; 5. Tập bộ kinh (集部經; sutta-nipāta): một trong những kinh điển cổ nhất, đặc biệt có giá trị văn chương cao; 6. Thiên cung sự (天宮事; vimāṇa-vatthu): kể lại 83 truyền thuyết nêu rõ, có một đời sống phạm hạnh sẽ được sinh vào cõi của chư Thiên (deva); 7. Ngạ quỷ sự (餓鬼事; peṭa-vatthu): nói về sự tái sinh làm Ngạ quỷ sau một cuộc đời nhiều ác nghiệp; 8. Trưởng lão tăng kệ (長老僧偈; thera-gāthā): ghi lại 107 bài kệ của các vị Thượng toạ (thera); 9. Trưởng lão ni kệ (長老尼偈; therī-gāthā): gồm 73 bài kệ của các vị ni trưởng lão (therī); 10. Bản sinh kinh (本生經; jātaka); 11. Nghĩa thích (義釋; niddesa): luận giải về Tập bộ kinh (sutta-nipāta), phần thứ 5; 12. Vô ngại giải đạo (無礙解道; paṭisam-bhidā-magga): luận thuyết về vô ngại, theo phương pháp của A-tì-đạt-ma (abhidham-ma); 13. Thí dụ (譬喻; apadāna): kể lại tiền kiếp các vị sư danh tiếng; 14. Phật chủng tính (佛種性; buddhavaṃsa): truyện thơ kể đời sống 24 đức Phật có trước Phật Thích-ca; 15. Sở hạnh tạng (所行藏; cariya-piṭaka): kể tiền kiếp đức Phật, trong đó nêu rõ trong các đời sống cũ, Ngài đã đạt mười Ba-la-mật-đa (pāramitā).
tiểu bộ kinh
Khuddaka-nikàya (P).
tiểu bộ tập
Khuddakapatha (S), Sutra of Little Reading Tiểu tụngMột tập trong 15 tập của Kinh Tiểu bộ.
tiểu chỉ quán
(小止觀) Cũng gọi Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu, Tọa thiền pháp yếu, Đồng mông chỉ quán. Tác phẩm, 1 quyển (hoặc 2 quyển) do ngài Tríkhải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này nói về những điểm then chốt của Ma ha chỉ quán và chỗ trọng yếu của con đường vào đạo mà ngài Thiên thai Tríkhải đã soạn cho người anh ruột của ngài là cư sĩ Trầnchâm. Sách này chủ trương vào cửa Nê hoàn tuy có nhiều đường, nhưng hiệu quả thì Chỉ và Quán là nhanh chóng và tiện lợi hơn cả. Chỉ là pháp thiện bồi bổ tâm thức, Quán là thuật hay kích phát ý giải, cho nên 2 pháp này phải luôn có đủ và quân bình, không được thái quá và bất cập. Kế đến lập ra 10 khoa nói rõ về các điểm cốt yếu của việc tu tập Chỉ quán. Mười khoa tức là 10 chương: Cụ duyên, Ha dục, Khí cái, Điều hòa, Phương tiện, Chính tu, Thiện phát, Giác ma, Trị bệnh và Chứng quả. [X. Nhập đường tân cầu thánh giáo mục lục; Truyền giáo đại sư tương lai Thai châu lục; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Đông vực truyền đăng mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1].
tiểu căn
Having a mind fit only for Hìnayàna doctrine.
; Căn tính chỉ có thể tiếp thụ được giáo lý của Tiểu Thừa—Have a mind fit only for Hinayana doctrine.
tiểu cơ
See Tiểu Căn.
tiểu dã huyền diệu
(小野玄妙) Danh tăng kiêm học giả Phật giáo Nhật bản thuộc tông Tịnh độ, người huyện Thần nạixuyên, tên là Kimthứlang, hiệu Nhị Lăng học nhân. Năm 14 tuổi, sư xuất gia ở chùa Quang minh tại Liêm thương, đổi tên là Huyền diệu; sau, sư vào học tại Đại học tông giáo (hiện nay là Đại học Đại chính). Năm 1921, sư được viện Mĩ thuật Đế quốc phái đến 2 huyện Đại phân và Tá hạ để điều tra về Thạch Phật. Năm sau, sư đến chiêm bái các linh tíchởnúi Ngũ đài, Trung quốc. Năm 1923, sư được cử làm Chủ nhiệm biên soạn Đại chính tân tu Đại tạng kinh. Năm 1924, sư ấn hành các sách: Cực đông chi tam đại nghệ thuật và Ngũ Đài sơn tả chân tập. Năm 1925, sư phát hiện tác phẩm Tịnh độ từ bi tập của Tam tạng Từ mẫn ở chùa Đồng khê tại Triều Tiên. Về sau, sư diễn thuyết ở viện Học sĩ Đế quốc về đề tài Nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Phật giáo Đại thừa. Năm 1932, sư được học vị Tiến sĩ Văn học của trường Đại học Đế quốc tại kinh đô (Kyoto). Năm 1934, sư được cử làm Ủy viên điều tra Quốc bảo tỉnh Văn bộ, điều tra các tạng kinh của các chùa danh tiếng trên toàn Nhật bản. Năm 1937, dưới sự bảo trợ của viện Học sĩ Đế quốc, sư chuyên tâm nghiên cứu về đồ tượng và 1 trong các thành quả đạt được có Lí đa tăng nghiệt lí Ngũ bộ tâm quán chi nghiên cứu, đã giải quyết được vấn đề trọng yếu của lịch sử giáo học Mật giáo. Còn khi biên tập Đại chính tân tu Đại tạng kinh, sư đã soạn bộ Phật thư giải thuyết đại từ điển. Tháng 6 năm 1939, sư tịch, thọ 57 tuổi. Sư có các tác phẩm: Phật giáo niên đại khảo, Phật giáo chi nghệ thuật cập lịch sử, Cực đông chi tam đại nghệ thuật, Ngũ đài sơn tả chân tập, Đại thừa Phật giáo nghệ thuật sử chi nghiên cứu, Phật giáo kinh điển tổng luận, Lí đa tăng nghiệt lí ngũ bộ tâm quán chi nghiên cứu, Phật thư giải thuyết đại từ điển 12 tập, Quán âm đại sĩ lược tán, Phật giáo mĩ thuật khái luận, Phật giáo mĩ thuật, Phật giáo văn học khái luận, Phật tượng khái thuyết, Phật giáo thần thoại.
Tiểu Dã Sầm Thủ
(小野岑守, Ono-no-Minemori, 778-830): vị công khanh và văn nhân sống vào đầu thời Bình An, có sở trường về Hán Thi, cha là Chinh Di Phó Tướng Quân Vĩnh Kiến (永見, Nagami). Vào năm 822 (niên hiệu Hoằng Nhân [弘仁] thứ 12), ông thiết lập Công Doanh Điền (公營田) ở Đại Tể Phủ (大宰府, Dazaifu) và dâng lời xin dựng Tục Mạng Viện (續命院) làm phòng ở cho khách lữ hành. Ông đã từng có công trong việc soạn Lăng Vân Tập (凌雲集)—bộ Hán Thi do triều đình sắc soạn, và biên tập Nhật Bản Hậu Kỷ (日本後紀), Nội Lí Thức (內裏式). Tương truyền ông có mối thâm giao với Không Hải (空海, Kūkai) qua Hán Thi. Thơ của ông được thâu lục trong Văn Hoa Tú Lệ Tập (文華秀麗集) và Kinh Quốc Tập (經國集). Ông từng trãi qua các chức quan như Trưởng Quan Kami vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku), Nội Tạng Đầu (內藏頭), Đại Phu của Hoàng Hậu Cung, Tham Nghị (參議), Đại Tể Đại Nhị (大宰大弐).
tiểu dẫn
Foreword.
tiểu dụ kinh
Culla Màlinkyaputta-sutta (P)
tiểu giáo
Giáo pháp kém cỏi. Tiểu thừa rõ ràng là giáo pháp ban sơ của Đức Phật, chỉ dạy phương cách tìm đến niết bàn bằng khổ hạnh, diệt bỏ tri thức và tìm đến chỗ tịch tịnh cô độc; những tín đồ của trường phái Tiểu Thừa, những Thanh Văn, Duyên Giác, là những vị cố gắng tự tu hành giải thoát qua thực tập khổ hạnh—The smaller or inferior. Hinayana which is undoubtedly nearer to the original teaching of the Buddha, is fairly described as an endeavour to seek nirvana through an ash-covered body, an extinguished intellect, and solitariness; its followers are Sravakas and Pratyeka-buddhas, those who strive for their own deliverance through asetic works.
tiểu giới
Xem Phẩm Ba dật đề.
; Một chúng hội nhỏ trong cuộc lễ—A small assembly of monks for ceremonial purposes.
tiểu giới nhi (mà) phàm phu tán thán như lai
Theo Kinh Phạm Võng trong Trường Bộ Kinh, kẻ phàm phu tán thán Như Lai vì những tiểu giới nhỏ nhặt không quan trọng—According to the Brahmajala Sutta in the Long Discourses of the Buddha, ordinary people would praise the Tathagata for elementary, inferior matters of moral practice: 1) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh: Abandoning the taking of life, the ascetic Gotama dwells refraining from taking life. 2) Từ bỏ đao kiếm, biết tàm quý, có lòng sống từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình: Without stick or sword, scrupulous, compassionate, trembling for the welfare of all living beings. 3) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ lấy của không cho, tránh xa sự lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, sự sống thanh tịnh không có trộm cướp: Abandoning from taking what is not given, the ascetic Gotama dwells refraining from taking what is not given, living purely, accepting what is given, awaiting what is given, without stealing. 4) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ tà hạnh, tịnh tu phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ: Abandoning unchasity, the ascetic Gotama lives far from it, aloof from the village-practice of sex. 5) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời: Abandoning false speech, the ascetic Gotama dwells refraining from false speech, a truth-speaker, one to be relied on, trustworthy, dependable, not a deceiver of the world. 6) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ nầy, không đi nói đến chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người nầy; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người nầy để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Sa môn Cồ Đàm sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp: Abandoning malicious speech, he does not repeat there what he has heard here to the detriment of these, or repeat what he as heard there to the detriment of those. Thus he is a reconciler of those at variance and an encourager of those at one, rejoicing in peace, loving it, delighting in it, one who speaks up for peace. 7) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, mà chỉ nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người: Abandoning harsh speech, he refrains from it. He speaks whatever is blameless, pleasing to the ear, agreeable, reaching the heart, urbane, pleasing and attractive to the multitude. 8) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ lời nói ỷ ngữ, tránh xa lời nói ỷ ngữ, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có hệ thống và mạch lạc, có ích lợi: Abandoning idle chatter, he speaks at the right time, what is correct and to the point, of Dhamma and discipline. He is a speaker whose words are to be treasured, seasonable, reasoned, well-defined and connected with the goal. 9) Sa môn Cồ Đàm không làm hại đến các hạt giống và ác loại cây cỏ; sa môn Cồ Đàm dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn phi thời: The ascetic Gotama is a refrainer from damaging seeds and crops. He eats once a day and not at night, refraining from eating at improper times. 10) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch: The ascetic Gotama avoids watching dancing, singing, music and shows. 11) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang: The ascetic Gotama abstains from using garlands, perfumes, cosmetics, ornaments and adornments. 12) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn: The ascetic Gotama avoids using high or wide beds. 13) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không nhận vàng bạc: The ascetic Gotama avoids accepting gold and silver. 14) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không nhận các hạt giống: The ascetic Gotama avoids accepting raw grain. 15) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không nhận thịt sống: The ascetic Gotama avoids accepting raw flesh. 16) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không nhận đàn bà con gái: The ascetic Gotama does not accept women and young girls. 17) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai: The ascetic Gotama does not accept male or female slaves. 18) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không nhận cừu và dê, gà và heo, voi, bò, ngựa, và ngựa cái: The ascetic Gotama does not accept sheep and goats, coks and pigs, elephants, cattle, horses and mares. 19) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không nhận ruộng đất: The ascetic Gotama does not accept fields and plots. 20) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không phái người môi giới hoặc tự mình làm môi giới: The ascetic Gotama refrains from running errands. 21) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không buôn bán: The ascetic Gotama refrains from buying and selling. 22) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường: The ascetic Gotama refrains from cheating with false weights and measures. 23) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ cá tánh tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo: The ascetic Gotama refrains from bribery and corruption, deception and insincerity. 24) Sa môn Cồ Đàm từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá: The ascetic Gotama refrains from wounding, killing, inprisoning, highway robbery, and taking food by force.
tiểu hiền
Bhadrika (S). One of the five first disciple of the Buddha. Also Bạt Đề.
tiểu hoa thụ sơn
Xem Quang minh sơn.
Tiểu hoặc 小惑
[ja] ショウワク shōwaku ||| Lesser afflictions; the secondary afflictions (upakleśa) 隨煩惱. => Phiền não nhỏ nhiệm; tuỳ phiền não (隨煩惱s: upakleśa).
tiểu huyền
(篠懸) Áo pháp ngắn của hành giả Tu nghiệm đạo ở Nhậtbản. Áo này được may bằng 9 mảnh vải tượng trưng cho 9 hội của Kim cương giới. Khi hành giả Tu nghiệm đạo vào núi sâu thì đắp áo này lên y phục đang mặc để phòng sương giá. Về sau, loại áo pháp này trở thành áo có tính cách trang sức.
tiểu hành
(小行) I. Tiểu Hành. Sự tu hành theo Tiểu thừa giáo, vì đối lại với hành pháp của Đại thừa nên gọi là Tiểu hành. II. Tiểu Hành. Cũng gọi Tiểu giải, Tiểu di. Tức chỉ cho tiểu tiện. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 300 thượng) nói: Tiểu tiện, trong luật gọi là Tiểu hành, cho nên khi tiểu tiện nói rằng đến nhà Tiểu hành.
tiểu hạnh
Hạnh tu Tiểu Thừa—The practice, or discipline of Hinayana.
tiểu không
Triết lý “Tánh Không” trong Tiểu Thừa, ngược lại với triết lý “Tánh Không” trong Đại Thừa—The Hinayan doctrine of the void, as contrasted with that of Mahayana—For more information, please see Đại Không.
; (小空) Cũng gọi Vô tính tự tính không. Tức vô tính và tự tính đều là không, 1 trong 20Không nói trong kinh Bát nhã. Tướng của 4 quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán đều là không, chẳng có thật, nên gọi là Tiểu không. Lại Tiểu dã Huyền diệuthông thường cho giáo thuyết của Tiểu thừa chỉ nói Nhân không chứ không nói Pháp không, chỉ biết Tích không mà không biết Thể không, chỉ nghiêng về không, chứ không biết yếu nghĩa của chân không và cảnh của diệu hữu, cho nên cũng bị coi là Tiểu không. (xt. Không).
tiểu kinh
Smaller sŪtraXem Tiểu Vô lượng thọ Kinh.
; See Tiểu Bổn A Di Đà Kinh.
tiểu kinh dấu chân voi
Culahatthi-padopamasutta (P).
tiểu kinh giáo giới la hầu la
Cula-rahulovada suttam (P), The Smaller Sutra of Advice to Rahula, (MN147) Tên một bộ kinh.
tiểu kinh khổ uẩn
Culadukkhakkhandha suttam (P), The Smaller Sutra on the Mass of Suffering Tên một bộ kinh.
tiểu kinh malunkya
Malunkyasuttam (P).
tiểu kinh malunkyaputta
Culamalun-kyovada sutta (P), Sutra on The Shorter Instructions to Malunkya Tên một bộ kinh.
tiểu kinh mãn nguyệt
Culapunnama suttam (P), The Shorter Sutra on the Full-moon Night Tên một bộ kinh.
tiểu kinh nghiệp phân biệt
Culakamma-vibhaṅga suttam (P), Sutra on The Shorter Exposition of Kamma Tên một bộ kinh.
tiểu kinh người chăn bò
(MN34).
tiểu kinh pháp hành
Cula-dhamma-samadana sutta (P), The Shorter Sutra on Taking on Practices Tên một bộ kinh.
tiểu kinh pháp hạnh
Culadhamma-samadanasuttam (P).
tiểu kinh phương quảng
Culavedalla sutta (P), Sutra on The Shorter Set of Questions-and-Answers Tên một bộ kinh.
tiểu kinh rừng sừng bò
Culagosinga-suttam (P).
tiểu kinh saccaka
Culasaccaka sutta (P), The Smaller Sutra to Saccaka Tên một bộ kinh.
tiểu kinh sakuludayi
(MN79).
tiểu kinh sư tử hống
Culasihanada suttam (P), The Shorter Sutra on the Lion's Roar Tên một bộ kinh.
tiểu kinh thiện sanh ưu đà di
Culasakul-udayisuttam (P).
tiểu kinh thí dụ lõi cây
Culasaro-pamasuttam (P).
tiểu kinh ví dụ dấu chân voi
(MN27).
tiểu kinh ví dụ lõi cây
(MN30).
tiểu kinh xóm ngựa
Cula-assapurasuttam (P).
tiểu kinh đoạn tận ái
Culatanhasankhava suttam (P), (MN37).
Tiểu kinh 小經
[ja] ショウキョウ Shōkyō ||| The Xiaojing; Small Sutra, an abbreviation of the name of the Smaller Sukhāvatī-vyūha 小無量壽經, in turn another name for the Amitābha-sūtra 阿彌陀經. => (c: Xiaojing;e: Small Sutra). Viết tắt của Kinh Tiểu vô lượng thọ.
tiểu kiếp
Antarà-kalpa (S). Intermediate kalpa.
; 1) Một giai đoạn tăng giảm thành hoại của vũ trụ—A small kalpa—A period of growth and decay of the universe—An intermediate kalpa. 2) Theo Câu Xá Luận thì kiếp sống con người cứ mỗi thế kỷ là tăng một tuổi, cứ tăng như thế cho đến khi tăng tới 8 vạn tư tuổi thì lại bắt đầu giảm dần cũng mỗi trăm năm một tuổi, cho đến khi tuổi thọ chỉ còn 10 tuổi. Mỗi chu kỳ tăng hoặc giảm như vậy là một tiểu kiếp—According to the Kosa Sastra, the period in which human life increases by one year a century until it reaches 84,000; then it is reduced at the same rate till the life-period reaches ten years of age. These two are each a small kalpa. 3) Theo Trí Độ Luận thì hai chu kỳ tăng giảm tuổi thọ được Câu Xá Luận nói ở trên là một “Tiểu Kiếp”—According to the Sastra on the Prajna-Paramita Sutra, the two above mentioned cycles together as one small kalpa—See Tiểu Kiếp (2).
; (小劫) Phạm: Antara-kalpa. Chỉ cho thời gian Đề bà đạt đa chịu khổ báo trong địa ngục, hoặc chỉ cho tuổi thọ của đức Thích tôn trong 1 kiếp. Về khoảng thời gian dài, ngắn của 1 Tiểu kiếp, các kinh nói không giống nhau. Theo luận Câu xá quyển 12 thì con người sống lâu từ 8 vạn tuổi, cứ mỗi 100 năm giảm 1 tuổi, giảm xuống còn 10 tuổi; hoặc từ 10 tuổi, cứ mỗi 100 năm tăng 1 tuổi, tăng đến 8 vạn tuổi. Số tăng của tất cả kiếp đều không vượt quá 8 vạn tuổi; số giảm của tất cả kiếp cũng không dưới 10 tuổi, 1 kiếp tăng, 1 kiếp giảm như thế, mỗi mỗi đều gọi là 1 Tiểu kiếp; nhưngluận Đại trí độ thì gộp chung 1 tăng 1 giảm làm 1 Tiểu kiếp. Luận Lập thế a tì đàm quyển 9 thì cho rằng 1Tiểu kiếp cũng gọi là 1 Trung kiếp, 20 Trung kiếp tức là 1 kiếp Trụ, là thọ lượng của cõi trời Phạm chúng; 40 Tiểu kiếp, tức là 2 kiếp Thành và Trụ, là thọ lượng của cõi trời Phạm phụ; 60 Tiểu kiếp, tức là 3 kiếp Thành, Trụ và Hoại, là thọ lượng của cõi trời Đại Phạm; 80 Tiểu kiếp, tức là 4 kiếp hành, Trụ, Hoại và Không, cũng gọi 1 Đại kiếp,là thời gian bắt đầu và kết thúc của vũ trụ. Còn theo thuyết trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ thì có 1 tảng đá lớn hình vuông, mỗi bề 40 dặm, có vị trời Trường thọ, cứ cách 3 năm (tính theo thời gian ở cõi trời Trường thọ) 1 lần bay đến tảng đá, cho đến dùng áo cõi trời(chỉ nặng bằng 1/8 lượng)phất vào tảng đá, cho đến khi tảng đá ấy mòn hết thì gọi là 1 Tiểu kiếp.[X. kinh Khởi thế nhân bản Q.9; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1, phần 1]. (xt. Kiếp).
Tiểu kiếp 小劫
[ja] ショウゴウ shōgō ||| A minor kalpa. A part of a kalpa. See 劫. => Một phần của đại kiếp. Xem Kiếp 劫.
tiểu kế
Cuda (skt)—See Chu La Phát.
tiểu kỳ kiếp
Smaller kalpa.
tiểu luật nghi
Luật nghi dành cho chư Tăng Ni thuộc hệ phái Tiểu Thừa—The rules and regulations for monks and nuns in Hinayana.
tiểu lợi
Small profit.
tiểu mục liên
The small Maudgalyayana—See Ma Ha Mục Kiền Liên.
tiểu ngã
Ego—Self.
tiểu ngũ điều
Áo năm mảnh mà các nhà sư Trung Quốc và Tịnh Độ Nhật Bản thường mặc—The robe of five patches worn by some monks in China and by monks in the Pure Land in Japan.
tiểu nhân
Small-minded—Mean-spirited
tiểu nhạn tháp
(小雁塔) Ngôi tháp ở chùa Đại tiến phúc tại thành phố Tây an thuộc tỉnh Thiểm tây, do Vũ hậu Tắc thiên xây dựng để cầu phúc siêu độ cho vua Cao tông nhà Đường. Đây là ngôi tháp gạch 15 tầng, hình vuông, đỉnh tháp đã hư hoại, hiện nay cao 43m, 4 mặt tầng nền được trang sức bằng những viên gạch chạm trổ rất tinh vi. Tháp là 1 kiến trúc theo kiểu mái dày, khoảng cách giữa các mái rất hẹp. Trong đó, tầng một cao nhất, các tầng còn lại thì hẹp dần, giống như hình dáng viên đạn. Chính giữa 2 mặt nam, bắc mỗi tầng đều có 1 cửa sổ nhỏ hình bán nguyệt. Lối vào tầng một chỉ mở cửa nam, cửa bắc nay đã bị đóng bít, bên trong có một nội thất vuông vức khoảng 4m. Giữa mặt chính có tượng Bồ tát đặt trong khám thờ, 2 bên mỗi bên đều có 5 tượng Phật, ở trên gác, mặt chính thờ Thích catam tôn, 2 bên mỗi bên có 8 tượng La hán. Trong vòng ơn 1000 năm, đã có hơn 70 trận động đất, trong đó có 2 trận rất mạnh vào khoảng năm Gia tĩnh đời Minh nên Tháp Tiểu Nhạnthân tháp đã bị nứt dọc bên trong, nhưng nhờ xây dựng chắc chắn nên chỉ nghiêng đổ 2 tầng trên cùng. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.23; Cựu đường thư bản kỉ thứ 7].
tiểu niệm
Niệm thầm danh hiệu Phật, ngược lại với niệm lớn là đại niệm—To repeat Buddha's name in a quiet voice, opposite of to repeat loudly.
tiểu phiền não địa pháp
Upaklesabhùmikàh (S). The ten lesser evils or illusions, or temptations, one of the five groups of mental conditions of the seventy five Hìnayàna elements. They are the minor moral defects arising from vô minh unenlightenment; i.e. phẫn anger; hận hate; phú hidden sin; não vexation; tật envy; san stingines; cuống deceit; xiểm adulation; hại ill will ; kiêu pride Tiểu sư. A junior monk of less than ten years full ordination, also a courtesy tittle for a disciple; and a self-depreciatory tittle of any monk.
; Upaklesabhumikah—Theo Câu Xá Luận, có mười tâm sở khởi dậy từ sự vô minh chưa giác ngộ—According to the Kosa Sastra, there are ten lesser evils or illusions or temptations—Minor moral defects arising from unenlightenment: 1) Phẫn: Tức giận—Anger. 2) Phú: Che đậy tội lỗi—Hidden sin. 3) Khan (Xan): Bủn xỉn—Stinginess. 4) Tật đố: Ghen ghét—Envy. 5) Não: Phiền Toái—Vexation. 6) Hại: Ác ý—Ill-will. 7) Hận thù: Hate. 8) Dâm loạn: Adultation, 9) Cuống: Dối trá—Deceit. 10) Mạn: Ngã mạn cống cao—Pride.
tiểu pháp
The laws or methods of Hìnayàna.
; Giáo lý Tiểu Thừa—The laws or methods of Hinayana.
Tiểu pháp 小法
[ja] ショウホウ shōhō ||| The "lesser dharma"--hīnayāna teachings 小乘. 〔法華經 T 262.9.9c25〕 => Pháp Tiểu thừa.
tiểu phẩm
Culavagga (S), Sutra on The Lesser Chapter Một trong sáu phẩm của Luật Tạng.
; Summarized version.
; Phẩm kinh tóm tắt—A summarized version.
tiểu phẩm bát nhã ba la mật kinh
Aṣṭasāhasrikā-prajāpāramitā (S)Tiểu phẩm Bát nhã kinh, Bát Thiên Tụng Bát Nhã Kinh, Đạo hành Bát nhã Ba la mật kinh, Đạo hành bát nhã kinhGồm 10 quyển có 28 phẩm, là phẩm thứ 4 (từ quyển 538 đến 555) trong bộ Đại Bát nhã. Nội dung xiển minh về pháp Bát nhã Ba la mật.
tiểu phẩm bát nhã kinh
Astasàhasrikà-prajnàpàramità-sùtra (S). Kumàrajiva's abbreviated version, in 10 quyển, of the Mahà-pràjnà-pàramità-sùtra.
; (小品般若經) Phạm: Awỉasàhasrikà-prajĩà= pàramità. Cũng gọi: Ma ha bát nhã ba la mật kinh, Tiểu phẩm kinh, Tân tiểu phẩm kinh. Kinh, 10 quyển, 29 phẩm, do ngài Cưu malathập dịch vào năm 408 đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Đây là 1 trong các kinh điển căn bản về Bát nhã không quán của Phật giáo Đại thừa thời kì đầu. Nội dung kinh gồm 8000 bài tụng giải thích rõ về Bát nhã ba la mật của Bồ tát, Chư pháp vô thụ tam muội của Bồ-tát, ý nghĩa của Bồ tát ma ha tát và Đại thừa, lại nêu rõ mối quan hệ giữa Bát nhã ba la mật và 5 uẩn, công đức thụ trì tu tập Bát nhã ba la mật, các pháp không vô sở đắc và lí không tam muội... Kinh này còn có các bản dịch khác như sau:1. Kinh Đạo hành bát nhã, 10 quyển, do ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời Hậu Hán.2. Kinh Đại minh độ vô cực, 6 quyển, do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô. 3. Kinh Ma ha bát nhã ba la mật sao, 5 quyển, do các ngài Đàm ma ti và Trúc Phật niệm cùng dịch vào đời Tiền Tần. 4. Kinh Đại bát nhã hội thứ 4, 18 quyển, 29 phẩm, hội thứ 5, 10 quyển, 24 phẩm do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường. 5. Kinh Phật mẫu xuất sinh tam pháp tạng bát nhã ba la mật đa, 25 quyển, do ngài Thíhộ dịch vào đời Tống. Ngoài ra còn có bản dịch Tâytạng và bản Phạm. [X. Đại bát nhã kinh khái luận (Độ biên Hải húc)].
tiểu phẩm kinh
Xem Tiểu dụ kinh.
tiểu phẩm kinh bát nhã ba la mật
Bản Kinh Đại Bát Nhã tóm lược, được Cưu Ma La Thập dịch ra Hoa ngữ, 10 quyển—A summarized or abbreviated version of the Maha-Prajna Paramita Sutra, translated into Chinese by Kumarajiva in 10 books.
tiểu quy mô
Small scale.
tiểu suy tướng
Minor signs of decay—See Ngũ Suy Tướng.
tiểu sư
1) Một vị Tăng với ít hơn mười tuổi hạ lạp: A junior monk of less than ten years full ordination. 2) Danh hiệu tự nhún nhường để tự xưng của một vị Tăng: A self-depreciatory title of any monk.
; (小師) Phạm: Dahra#. Hán âm: Đạc hạt la. Cũng gọi Tiểu tăng, Sồ tăng. I. Tiểu Sư. Chỉ cho vị tăng thụ giới Cụ túc chưa đầy 10 năm, nếu đã đủ 10 năm thì gọi là Trụ vị (Phạm:Sthavira, Hán âm: Tất tha tiết la). [X. điều Thụ giới qui tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3].II. Tiểu Sư. Lời tự xưng cách khiêm tốn của vị tăng. Tì nại da từng nói về việc tỉ khưu Nanđà gọi nhóm 17 tỉ khưu là tiểu sư với ý khinh chê, nhưng về sau, Tiểu sư được chuyển làm từ khiêm xưng của sa môn. [X. Thích thị yếu lãm Q. hượng]. III. Tiểu Sư. Chỉ cho đệ tử. Đây là đối lại với Sư phụ mà gọi là Tiểu sư. [X. điềuPháp sư kị trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tiểu sư tăng
See Tiểu Sư in Vietnamese-English Section.
tiểu sử
Culavaṃsa (J).
; Biography.
; (小史) Pàli:Cùơavaôsa. Cũng gọi: Tiểu vương thống sử. Bộ sử biên niên nói về các vương triều và Phật giáo Tíchlan, là tục biên của bộ Đại sử Pàli:Mahàvaôsa). Nội dung ghi chép về sự thịnh suy của các triều vua, sự phát triển của Phật giáo và sự xâm chiếm đảo Tích lan của người Anh từ thế kỷ IV đến thế kỷ XVIII. Các học giả Tíchlan vốn hợp biên Đại sử và Tiểu sử, gọi chung là Đại sử, nhưng học giảPàli người Đức là ông Wilhelm Geiger (1856-1943) lại chia bộ này thành Đại sử và Tiểu sử, đồng thời dịch ra tiếng Đức và hiệu đính bản gốc rồi hợp chung xuất bản. Đại sử bao gồm từ chương 1 đến bài kệ thứ 50 của chương 37, Tiểu sử bao gồm từ bài kệ thứ 51 của chương 37 đến chương 101. (xt. Đại Sử).
Tiểu Tham
(小參, shōsan): còn gọi là Gia Huấn (家訓) hay Gia Giáo (家敎), nghĩa là tại Phương Trượng, người đệ tử thọ pháp từ vị Trú Trì. Tiểu Tham đối với Đại Tham (大參, daisan), vốn thọ pháp nơi Pháp Đường. Chính vì nói về những lời dạy trong nhà, nên pháp này được tiến hành rất tinh tế, nhỏ nhặt, từ pháp thoại, Tông yếu cho đến những sinh hoạt hằng ngày. Khi cả đại chúng cùng đến tham vấn thì được gọi là Quảng Tham (廣參); còn đứng nghe thuyết pháp là Lập Tham (立參). Như trong Thiền Môn Quy Thức (禪門規式) có dạy rằng: “Kỳ hạp viện đại chúng, triêu tham tịch tụ (其闔院大眾、朝參夕聚, toàn thể đại chúng trong chùa, cùng nhau sáng chiều tập trung tham vấn)”; dưới thời nhà Đường (唐, 618-907) thì tùy thời mà tiến hành nghi thức này; nhưng đến thời nhà Tống (宋, 960-1279) thì được gọi là Vãn Tham (晩參), và theo Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) thì nó được tiến hành mang tính định kỳ vào tối ngày mồng 3 và 8 mỗi tháng. Theo Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規), tùy theo chúng ít hay nhiều mà pháp Tiểu Tham được tiến hành tại Pháp Đường. Trường hợp đến tham vấn vào sáng sớm thì được gọi là Tảo Tham (早參), Triêu Tham (朝參). Hiện tại trong Tào Động Tông, mỗi tháng vào ngày mồng 1 và 15, người ta tiến hành pháp này ở Pháp Đường. Như trong Ứng Am Đàm Hoa Thiền Sư Ngữ Lục (應菴曇華禪師語錄, CBETA No. 1359) quyển 4 có đoạn: “Tăng vấn: 'bất điểm đăng, Đức Sơn Tiểu Tham bất đáp thoại, vị thẩm ý chỉ như hà' (僧問、藥山小參不點燈、德山小參不答話、未審意旨如何, có vị tăng hỏi rằng: 'Dược Sơn Tiểu Tham không thắp đèn, Đức Sơn Tiểu Tham chẳng đáp lời, chưa rõ ý chỉ như thế nào ?').” Hay như trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, CBETA No. 1571), quyển 101, phần Tùy Châu Phổ Chiếu Chúc Phong Thiện Thiền Sư (隨州普照祝峰善禪師) cũng có đoạn: “Trừ Tịch Tiểu Tham, kim triêu Phật pháp bất tương đồng, niên nguyệt tuế thiên vật vật cùng, duy hữu nạp tăng phân thượng sự, minh thần y cựu chúc Nghiêu phong (除夕小參、今朝佛法不相同、年月歲遷物物窮、惟有衲僧分上事、明晨依舊祝堯風, vào đêm Trừ Tịch, Thiền Sư hành pháp Tiểu Tham, bảo rằng sáng nay Phật pháp chẳng tương đồng, năm tháng đất trời vạn vật cùng, chỉ có lão tăng biết rõ thảy, mai này như cũ chúc bình yên).”
tiểu tham
Một cuộc pháp đàm ngắn—An informal short dharma talk—An informal and unscheduled instruction or questions and answers—A small groups, a class for instruction outside the regular morning or evening services.
; (小參) Tiếng dùng trong Thiền lâm.Chỉ cho các thời hỏi đạo, nói pháp ngoài các thời đã qui định, vì để phân biệt với thời Đại tham của Thướng đường thuyết pháp nên gọi là Tiểu tham. Tiểu tham vốn không có nơi chốn nhất định, thông thường vào lúc chiều tối đánh chuông, kiểm chúng nhiều hay ít, rồi đến các nơi như Tẩm đường, Pháp đường, Phương trượng... thăng tòa thuyết pháp. Nội dung Tiểu tham bao gồm các pháp ngữ, tông yếu và những việc lặt vặt hằng ngày, đại khái là một phương thức hỏi đáp chủ khách đơn giản. Mãi đến đời Nam Tống, Tiểu tham mới phát triển thành thời thuyết pháp theo định kì và có nghi thứ đàng hoàng. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Tổ đình sự uyển Q.8; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tiểu tham đầu
Người lãnh đạo—A leader.
Tiểu tham 小參
[ja] ショウサン shōsan ||| Literally "small gathering." A smaller, especially impromptu, dharma-lecture. => Nghĩa đơn giản là 'buổi hỏi pháp nhỏ'. Một cuộc hỏi pháp và trả lời đơn giản, đặc biệt là không định trước.
tiểu thiên thế giới
Sahassilokadhātu (P), Culalokadhātu (P).
; A small chiliocosm, consisting of a thousand worlds, each with its Mt Sumeru, continents, seas and ring of iron mountain etc...
; Gồm một ngàn thế giới, mà mỗi thế giới lấy núi Tu Di làm trung tâm được bao bọc xung quanh bởi các núi Thiết Vi và biển—A small chiliocosm, consisting of a thousand worlds each with its Mt. Sumeru, continents, seas and ring of iron mountains.
tiểu thánh
Hìnayàna saint, or arhat. The inferior saint, or bodhisattva, as compared with the Buddha.
; 1) Vị Thánh Tiểu Thừa hay A-La-Hán: The Hinayana saint or Arhat. 2) Vị Thánh ở bậc thấp hay là vị Bồ tát, so với Phật: The inferior saint, or Bodhisattva, as compared with the Buddha.
; (小聖) Đối lại: Đại thánh. Từ tôn xưng đối với các bậc có quả vị chứng ngộ còn thấp. Nói chung, ngoại trừ đức Phật, các bậc Thánh Tiểu thừa và các Bồ tát Đại thừa đều gọi là Tiểu thánh. Nhưng nếu chỉ so sánh giữa Tiểu thừa và Đại thừa thì 4 quả Thanh văn là Tiểu thánh, các Bồ tát Đại thừa là Đại thánh.
tiểu thảo
Smaller herbs, those who keep the five precepts and do the ten good deeds, thereby attaining to rebirth as men or devas.
; 1) Những loại cây nhỏ: Smaller herbs. 2) Những vị chỉ giữ năm giới và tu hành thập thiện, vì thế mà được tái sanh lại cõi người hay cõi trời: Those who keep the five commandments and do the ten good deeds, thereby attaining to rebirth as men or devas.
tiểu thế giới
Cakkavala (P).
; Microcosm—Little world.
tiểu thụ
Small trees, bodhisattvas in the lower stages.
; Cây nhỏ hay là những vị Bồ Tát còn trụ tại các địa thấp—Small trees—Bodhisattvas in the lower stages.
tiểu thủy xuyên thạch
1) Nước chảy đá mòn: A little water or dripping water penetrates stone. 2) Trong phạm trù tôn giáo, những thành quả khó đạt đều do những cố gắng liên tục hay có công mài sắt có ngày nên kim: The reward of the religious life, though difficult to attain, yields to persistent effort.
tiểu thủy xuyến thạch
(小水穿石) Cũng gọi Trích thủy xuyên thạch. Nước giọt thủng đá hay nước chảy đá mòn, là lời khuyên người siêng năng tinh tiến tu hành. Nghĩa là việc chứng quả tuy rất khó, nhưng nếu cần cù, gắng sức, kiên trì, bền bỉ thì cũng có thể đạt được. Ví như giọt nước tuy bé nhỏ, nhưng cứ rỏ mãi không ngừng thì một ngày kia cũng có thể xuyên thủng đá cứng.
Tiểu thừa
xem Ba thừa.
; 小乘; S: hīnayāna; nghĩa là »cỗ xe nhỏ«;|Nguyên là danh từ của một số đại biểu phái Ðại thừa (s: mahāyāna) thường dùng chỉ những người theo »Phật giáo nguyên thuỷ«. Biểu thị này được dùng để lăng mạ, chỉ trích. Ngày nay ý nghĩa chê bai của danh từ này đã mất đi và nó chỉ còn có tính chất mô tả. Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo có ý định thay thế danh từ này nhưng không đạt kết quả vì danh từ này đã khắc sâu trong tư tưởng của nhiều Phật tử. Các đại biểu của Tiểu thừa tự xem mình theo phái Thượng toạ bộ (p: theravāda), mặc dù Thượng toạ bộ chỉ là một trong những trường phái Tiểu thừa, và là trường phái duy nhất của Tiểu thừa còn tồn tại đến ngày nay. Tiểu thừa cũng được gọi là Nam tông Phật pháp vì được thịnh hành tại các nước Nam Á như Tích Lan (śrī laṅkā), Thái lan, Miến Ðiện (myanmar), Cam-pu-chia, Lào.|Theo truyền thuyết, Tiểu thừa gồm có 18 bộ phái khác nhau, xuất phát từ Tăng-già nguyên thuỷ. Trong lần kết tập thứ ba, Tăng-già phân ra thành hai phái: Trưởng lão bộ (長老部; s: sthavira) và Ðại chúng bộ (大眾部; s: mahāsāṅghika). Giữa năm 280 và 240 trước Công nguyên, Ðại chúng bộ lại bị chia thành sáu phái: Nhất thuyết bộ (一說部; s: ekavyāvahārika), Khôi sơn trụ bộ (灰山住部; s: gokulika). Từ Nhất thuyết bộ lại sinh ra Thuyết xuất thế bộ (說出世部; s: lokottaravāda). Từ Khôi sơn trụ bộ lại tách ra 3 bộ phái là Ða văn bộ (多聞部; s: bahuśrutīya), Thuyết giả bộ (說假部; s: prajñaptivāda) và Chế-đa sơn bộ (制多山部; s: caitika). Từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) của thời gian đó, khoảng năm 240 trước Công nguyên, phái Ðộc Tử bộ (犢子部; s: vātsīputrīya) ra đời, gồm có bốn bộ phái nhỏ là Pháp thượng bộ (法上部; s: dharmottarīya), Hiền trụ bộ (賢胄部; s: bhadra-yānīya), Chính lượng bộ (正量部; s: saṃmitīya) và Mật lâm sơn bộ (密林山部; s: sannagarika, sandagiriya). Từ Trưởng lão bộ (sthavira) lại xuất phát thêm hai phái: 1. Nhất thiết hữu bộ (一切有部; s: sarvāstivāda), từ đây lại nẩy sinh Kinh lượng bộ (經量部; s: sautrāntika) khoảng năm 150 trước Công nguyên và 2. Phân biệt bộ (分別部; s: vibhajyavāda). Phân biệt bộ tự xem mình là hạt nhân chính thống của Trưởng lão bộ (s: sthavira). Từ Phân biệt bộ (s: vibhajyavāda) này sinh ra các bộ khác như Thượng toạ bộ (上座部; p: thera-vāda), Hoá địa bộ (化地部; s: mahīśāsaka) và Ẩm Quang bộ (飲光部; cũng gọi Ca-diếp bộ; 迦葉部; s: kāśyapīya). Từ Hoá địa bộ (s: mahīśāsa-ka) lại sinh ra Pháp Tạng bộ (法藏部; s: dhar-maguptaka).|Tiểu thừa được phát triển nhất giữa thời gian Ðức Phật nhập Niết-bàn và Công nguyên. Ðại biểu phái này cho rằng mình theo sát những lời dạy nguyên thuỷ của Ðức Phật, do chính Ðức Phật nói ra. Giới luật của Tiểu thừa hoàn toàn dựa vào Luật tạng. Trong A-tì-đạt-ma, Tiểu thừa dựa trên Kinh tạng để phân tích và hệ thống hoá giáo lí của Phật.|Tiểu thừa tập trung tuyệt đối vào con đường đi đến giải thoát. Các lí luận triết học không đóng vai trò quan trọng – chúng thậm chí được xem là trở ngại trên đường giải thoát. Tiểu thừa phân tích rõ trạng thái của đời sống con người, bản chất sự vật, cơ cấu của chấp ngã và chỉ ra phương pháp giải thoát khỏi sự Khổ (s: duḥkha). Tất cả các trường phái Tiểu thừa đều có một quan điểm chung về sự vật đang hiện hữu: khổ có thật, phải giải thoát khỏi cái Khổ. Giải thoát khỏi Luân hồi (s, p: saṃsāra), thoát khỏi sự tái sinh và đạt Niết-bàn (s: nirvāṇa) là mục đích cao nhất của Tiểu thừa. Muốn đạt được mục đích này, hành giả phải dựa vào sức mình, xa lánh thế gian. Vì vậy Tiểu thừa quan niệm phải sống viễn li, sống cuộc đời của một kẻ tu hành. Ðối với Tiểu thừa, cuộc sống tại gia không thể nào đưa đến sự giải thoát. Hình ảnh tiêu biểu của Tiểu thừa là A-la-hán (s: arhat), là người dựa vào tự lực để giải thoát.|Tiểu thừa tránh không đưa lí thuyết gì về Niết-bàn, mục đích cuối cùng, là kinh nghiệm của sự giác ngộ, trong đó, hành giả chứng được vô ngã và từ bỏ tham ái. Ðối với Tiểu thừa, Phật là một nhân vật lịch sử, được xem là một con người và thầy dạy, không phải là Hoá thân của một thật thể nào. Giáo pháp cơ bản của Tiểu thừa gồm có Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), thuyết Vô ngã (s: anātman) và luật nhân quả, Nghiệp (s: karma). Phép tu hành của Tiểu thừa dựa trên Bát chính đạo. Theo quan điểm của Ðại thừa, sở dĩ phái này được gọi là »tiểu thừa« vì – ngược lại với chủ trương của Ðại thừa là nhằm đưa tất cả loài Hữu tình đến giác ngộ – phái tiểu thừa chỉ quan tâm đến sự giác ngộ của cá nhân mình. Chủ trương này được xem là giáo pháp sơ cấp của đức Phật vì sau đó Ngài giảng giáo pháp toàn vẹn hơn, đó là giáo pháp Ðại thừa (xem thêm biểu đồ của các bộ phái Phật giáo Ấn Ðộ cuối sách).
tiểu thừa
Hīnayāna (P), tek pa chung wa (T), Shōjō (J),Shōjō-zen (J), Small Vehicle, The lesser Vehicle.
; Dụ cho xe nhỏ chở một mình. Pháp Tiểu thừa phá nhân ngã chấp, nghi ngơi nơi Hóa thành chẳng đến Bảo sở (quả Phật), cũng gọi là Thinh văn thừa.
; Hinayana (skt). 1) Trường phái Theravada hay Nam Tông—Trường phái Tiểu thừa được thành lập sau khi Đức Phật nhập diệt, vào khoảng kỷ nguyên Thiên Chúa, cũng vào lúc mà trường phái Đại thừa được giới thiệu. Cứu cánh giải thoát của Tiểu thừa là tự độ—Southern or Theravada school—Minor Vehicle—The small or inferior vehicle as compared with the greater teaching (Đại thừa)—Hinayana is the form of Buddhism which developed after Sakyamuni's death, at about the beginning of the Christian era, when Mahayana doctrine were introduced—The objective is personal salvation. 2) Tìm quả vị Phật là Đại Thừa, cầu quả A La Hán và Bích Chi Phật là Tiểu Thừa: To seek for Buddhahood is Mahayana, to seek for Arahathood, Sravakas or Pratyeka-buddhahood are Hinayana. 3) Đại Thừa nhấn mạnh đến “vị tha phổ cứu,” phát triển trí huệ, và hóa độ chúng sanh trong kiếp tương lai; trong khi Tiểu Thừa chỉ mong cầu tự độ qua sự tịch diệt nơi niết bàn: The Mahayanists emphasize the universalism and altruism, develop wisdom and the perfect transformation of all living in the future state; while the Hinayanists seek for narrow personal salvation, seek for the destruction of body and mind and extinction in nirvana. 4) Bồ Tát Đại Thừa tu hành lục độ Ba La Mật; trong khi bên Tiểu Thừa thì A La Hán lấy Tứ Diệu Đế làm bổn giáo, và Độc Giác lấy Thập Nhị Nhân Duyên làm bổn giáo tu hành: Bodhisattvas in the Mahayana practice six paramitas; while for the Arahanship the Four Noble Truths are the foundation teaching, for pratyeka-Buddhahood the twelve nidanas.
; (小乘) Phạm: Hìna-yàna. Cũng gọi Thanh văn thừa. Đối lại: Đại thừa, Bồ tát thừa. Tiểu thừa nghĩa là cổ xe nhỏ hẹp, ví dụ giáo pháp cạn hẹp chỉ có thể đưa những căn cơ thấp kém đạt đến tiểu quả, tức giáo, lí, hành, quả sở tu và căn cơ năng tu đều nông cạn, yếu kém. Danh từ Tiểu thừa vốn là lời chê bai mà tín đồ Phật giáo Đại thừa dùng để gọi Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái, về sau, giới học thuật dùng theo chứ hoàn toàn không có ý khen chê. Giáo nghĩa Tiểu thừa chủ yếu lấy việc cầu giải thoát cho chính mình làm mục tiêu, cho nên thuộc về đạo Thanh văn, Duyên giác tự độ (tức diệt trừ phiền não, chứng quả, khai ngộ), khác với đạo Bồ tát Đại thừa kiêm cả 2 việc lợi mình, lợi người. Trong các kinh luận Đại thừa có sự so sánh giữa Tiểu thừa và Đại thừa như sau: 1. Theo luận Đại trí độ quyển 4 và 18 thì Thanh văn thừa nhỏ hẹp, Phật thừa rộng lớn; Thanh văn thừa chỉ làm lợi cho mình, Phật thừa mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh; Thanh văn thừa chỉ nói chúng sinh không, Phật thừa thì nói cả chúng sinh không và pháp không; Tứ thiện căn vị: Noãn, Đính, Nhẫn, Pháp là sơ môn của Tiểu thừa; Bồ tát pháp nhẫn là sơ môn của Đại thừa; trong pháp Thanh văn không bàn về tâm đại từ bi, trong pháp Đại thừa thì thường xem trọng tâm đại từ bi; trong pháp Thanh văn không có tâm muốn biết rộng các pháp, trong pháp Đại thừa muốn biết tất cả pháp; công đức của pháp Thanh văn có hạn lượng, công đức của pháp Bồ tát thì không có hạn lượng. 2. Theo luận Nhập đại thừa quyển thượng, tu học Thanh văn chỉ đoạn kết chướng, quán hành vô thường, nghe pháp từ người; Bồ tát thì đoạn trừ tất cả tập khí nhỏ nhiệm, cho đến quán tất cả pháp không, chẳng nghe pháp từ người, được trí tự nhiên và trí vô sư. Sự giải thoát của Thanh văn gọi là Ái tận giải thoát, chứ không phải Nhất thiết giải thoát, chỉ là tạm lập ra để độ những chúng sinh độn căn tiểu trí; còn giải thoát của Đại thừa thì đoạn tận gốc tất cả tập khí phiền não, được lập ra để độ Bồ tát lợi căn. 3. Phẩm Thành tông trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận thì nêu ra 5 điểm khác nhau giữa Thanh văn thừa và Đại thừa như sau: Phát tâm khác, giáo thụ khác, phương tiện khác, trụ trì khác và nhân duyên khác. Trên đây là những điểm khác nhau giữa Đại thừa và Tiểu thừa được nói trong các kinh luận Đại thừa. Giáo pháp Tiểu thừa được nói trong các kinh A hàm, các luật Tứ phần, Ngũ phần, các luậnPhát trí, luận Bà sa..., cho nên luận Đại trí độ gọi Tiểu thừa là Tam tạng giáo. Trong đó tuy phân chia ra 20 bộ phái như Thượng tọa bộ, Đại chúng bộ khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là thuyết Ngã không pháp hữu, quán lí Tứ đế, chứng quả A la hán, để được vào Niết bàn vô dư. Ở Trung quốc, thuyết Phán giáo rất thịnh hành và các nhà Phán giáo đều chủ trương Tiểu thừa là sơ môn của Phật giáo. Như ngài Cưu ma la thập cho rằng Tiểu thừa chỉ nói Chúng sinh không; các ngài Tuệ quán và Cấp pháp sư chủ trương Tiểu thừa chỉ nói pháp Kiến hữu đắc đạo, cho nên xếp vào Hữu tướng giáo trong Ngũ giáo; ngài Bảo lượng thì phối hợp Tiểu thừa với Nhũ vị trong 5 vị của Niết bàn; ngài Bồ đề lưu chi lập Bán giáo, Mãn giáo và xếp Tiểu thừa vào Bán tự giáo... Ngoài ra còn nhiều thuyết khác, nhưng nói chung thì các nhà đều đồng nhất ở quan điểm cho rằng Tiểu thừa là giáo pháp phương tiện quyền biến, tạm thời được lập ra để độ hàng Thanh văn và xem như là ngưỡng cửa đầu tiên để bước vào tòa nhà Phật giáo. Tuy nhiên, các học giả nghiên cứu Phật giáo thời cận đại thì gọi Tiểu thừa là Nguyên thủy Phật giáo hoặc Căn bản Phật giáo, trong đó chứa đựng nhiều giáo thuyết được trực tiếp khẩu truyền từ đức Thích tôn, còn Đại thừa Phật giáo sau này là giáo thuyết được phát triển rộng ra từ giáo thuyết khẩu truyền ấy. Trong các nước ở Á đông hiện nay thì Tíchlan, Miếnđiện, Tháilan... chuyên truyền bá Phật giáo Tiểu thừa; còn Nepal, Tâytạng, Môngcổ, Trung quốc, Việtnam, Nhậtbản... thì chủ yếu là truyền bá Phật giáo Đại thừa nhưng cũng học tập và nghiên cứu cả Tiểu thừa. [X. luận Phân biệt công đức Q.1; phẩm Vô thượng thừa trong luận Trung biên phân biệt Q. hạ; luận Phật tính Q.1; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.8; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q. thượng; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Đại Thừa, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
tiểu thừa (thặng)
Hìnayàna (S). The small, lesser vehicle.
tiểu thừa cửu bộ
Chín bộ kinh thuộc về Tiểu Thừa, gồm 12 bộ của Đại Thừa bỏ ra ba bộ Vô Vấn Tự Thuyết, Phương Quảng và Thọ Ký—The nine classes of work belonging to the Hinayana, including the whole of the twelve classes of the mahyana less (minus) the Udana or Voluntary Discourses, the Vaipulya or Broader Teaching, and the Vyakarana or Prophecies—See Thập Nhị Đại Thừa Kinh.
; (小乘九部) Chín bộ Tiểu thừa. Nội dung kinh Phật được chia làm 9 loại, gọi là Cửu bộ kinh(9 thể tài kinh), Cửu phần giáo(9 phần giáo). Danh xưng Cửu bộ giữa Nam, Bắc truyền có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Tam tạng pháp số quyển 34 thì các kinh Tiểu thừa được chia làm 9 loại sau đây: 1. Tu đa la, Hán dịch: Khế kinh, chỉ cho văn trường hàng (văn xuôi) trong kinh. 2. Kỳ dạ, Hán dịch: Ứng tụng, Trùng tụng, Kệ, chỉ cho văn vần. 3. Già đà, Hán dịch: Phúng tụng, Cô khởi.4. Ni đà la, Hán dịch: Nhân duyên. 5. Y đế mục đa, Hán dịch: Bản sự. 6. Xà đa già, Hán dịch: Bản sinh. 7. A phù đạt ma, Hán dịch: Vị tằng hữu.8. Bà đà, Hán dịch: Thí dụ. 9. Ưu ba đề xá, Hán dịch: Luận nghị. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 thượng; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.22]. (xt. Cửu Bộ Kinh, Đại Thừa Cửu Bộ).
Tiểu thừa giáo 小乘教
[ja]ショウジョウキョウ shōjō kyō ||| The teaching of the lesser vehicle, which is the second level in Zongmi's 宗密 fivefold scheme of the teachings 五教. The main point of this teaching is that of no-self 無我--refuting the belief in an unchanging self. => Giáo lý Tiểu thừa, xép hàng thứ 2 trong Ngũ giáo (五教) của Tông Mật (宗密c: Zongmi ). Điểm chính của giáo lý nầy là về Vô ngã--bác bỏ niềm tin vào một bản ngã bất biến.
tiểu thừa giới
The precepts of the Hìnayàna also recognized by the Mahàyàna: the five, eight, and ten precepts, the 250 for the monks, and the 348 for the nuns.
; Giới luật được nói trong Luật Tạng của Tiểu Thừa, cũng được Đại Thừa công nhận—The commandments of Hinayana, also recognized by the Mahayana: 1) Tại gia năm và tám giới: Five and eight commandments for laymen. 2) Sa Di thập giới: Ten commandments for the novice. 3) Tỳ kheo 250 giới: 250 commandments for the monks. 4) Tỳ Kheo Ni 348 giới: 348 commandments for the nuns.
; (小乘戒) Cũng gọi: Tiểu thừa, Thanh văn giới. Chỉ cho các giới của Tiểu thừa như 5 giới, 10 giới, 8 giới, giới Cụ túc... được ghi trong các bộ luật Tứ phần, Thập tụng... Luận Phân biệt công đức quyển 2 (Đại 25, 36 trung) nói: Giới của Thanh văn như hoa để trên đầu gối, hơi động là rơi; còn giới của Bồ tát thì như hoa cài trên đầu, dù đi hay đứng hoa cũng không rơi. Tại sao? Vì Tiể thừa chỉ chú trọng ở hình tướng, hễ gặp cảnh động thì trái phạm uy nghi; còn Đại thừa lãnh nạp trong tâm, không chấp nê hình tướng. Nói tóm lại, Tiểu thừa kiềm chế thân, Đại thừa điều phục tâm, chỗ khác nhau là ở đó. [X. luận Hiển dương đại giới Q.1; Bồ tát giới nghĩa sớ Q. thượng; Lịch đại tam bảo kỉ Q.15]. (xt. Giới).
tiểu thừa kinh
The Hìnayàna sùtras, the four sections of the Agamas.
; Kinh điển Tiểu Thừa, đó là bốn bộ Kinh A Hàm—The Hinayana Sutras, the four sections of Agama Sutras.
tiểu thừa kinh điển
(小乘經典) Cũng gọi Tiểu thừa tu đa la, Thanh văn khế kinh. Đối lại: Đại thừa kinh.Chỉ cho các bộ kinh thuộc về Tiểu thừa, tức các kinh nói về nghĩa lí Tứ đế, Bát chính đạo, Thập nhị nhân duyên... như Tứ a hàm của Bắc truyền, Ngũ ni kha da của Nam truyền... Tiểu thừa kinh là từ ngữ có hàm ý chê bai của tín đồ Phật giáo Bắc truyền đặt ra,chứ chẳng phải Phật giáo nguyên thủy ở Ấn độ vốn có, mà tín đồ Phật giáo Nam truyền cũng không thừa nhận danh từ này. Xét theo các bộ kinh lục thì như Đạo an lục, Xuất tam tạng kí tập đều không phân biệt kinh Đại thừa, kinh Tiểu thừa. Theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 15 thì Tề thế chúng kinh mục lục của ngài Pháp Thượng cũng không phân biệt kinh Đại thừa và kinh Tiểu thừa. Nhưng Tống thế chúng kinh biệt lục thì chia ra Đại thừa kinh lục và Tiểu thừa kinh lục khác nhau, trong đó, Tiểu thừa kinh lục tổng cộng có 651 bộ, 1682 quyển và có 174 bộ, 184 quyển không phân biệt Đại thừa hay Tiểu thừa được xếp riêng ra, gọi là Đại Tiểu thừa bất phán lục. Ngụy thế chúng kinh mục lục của Lí quách cũng lập riêng kinh, luật, luận của Đại thừa và Tiểu thừa, trong đó mục lục kinh, luật Tiểu thừa có 69 bộ. Lương thế chúng kinh mục lục của ngài Bảo xướng ghi kinh Tiểu thừa 285 bộ, 400 quyển. Chúng kinh mục lục của ngài Pháp kinh đời Tùy thì chia kinh, luật, luận Tiểu thừa, Đại thừa làm 6 loại: Nhất dịch(chỉ có 1 bản dịch), Dị dịch(có các bản dịch khác), Thất dịch(mất tên người dịch), Biệt sinh(kinh sao chép thành 1 bản lưu hành riêng rẽ), Nghi hoặc (ngờ là kinh giả) và Ngụy vọng(kinh giả), trong đó, kinh Tiểu thừa tổng cộng có 842 bộ, 1201 quyển. Cũng sách đã dẫn quyển 14, chia kinh Tiểu thừa làm 2 loại: Hữu dịch(có tên dịch giả)và Thất dịch(mất tên dịch giả), tất cả gồm 425 bộ, 1009 quyển. Ngoài ra, Khai nguyên thích giáo lục quyển 20 thì nêu kinh Tiểu thừa gồm 240 bộ, 618 quyển. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.23, 25, 26, 30; Ngạn tông lục; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục]. (xt. Đại Thừa Kinh, Tu Đa La Tạng, Kinh).
Tiểu thừa kinh 小乘經
[ja] ショウジョウキョウ shōjōkyō ||| The scriptures of the lesser vehicle, usually a reference to the four Āgamas: 長阿含, 中阿含, 増一阿含 and 雜阿含. => Kinh luận của Tiểu thừa, thừơng đề cập đến 4 bộ kinh A-hàm: Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tăng nhất A-hàm, và Tạp A-hàm.
tiểu thừa luận
The Hìnayàna sàstras or Abhidharma. The philosophical canon of the Hìnayàna, now supposed to consist of some thirty seven works, the earliest of which is said to be the Gunanirdesa sàstra Phân biệt công đức luận before AD 220.
; Abhidharma (skt)—Theo Keith trong Tự Điển Từ Ngữ Phật Giáo Trung Quốc, thì những bộ luận về triết lý của trường phái Tiểu Thừa, bây giờ gồm khoảng chừng 37 bộ, bộ luận sớm nhứt là bộ “Phân Biệt Công Đức Luận” được biên soạn trước năm 220 sau Tây Lịch. Cho tới bây giờ thì chúng ta vẫn chưa biết rõ bộ A Tỳ Đạt Ma Luận hay Vi Diệu Pháp được biên soạn hồi nào—According to Keith in the Dictionary of Chinese Buddhist Terms, the Hinayana sastras, the philosophical canon of the Hinayana, now supposed consist of some thirty-seven works, the earliest of which is said to be the Gunanirdesa sastra before 220 A.D. The date of the Abhidharma is still unknown to us.
; (小乘論) Cũng gọi A tì đàm, Tiểu thừa a tì đàm. Chỉ cho các bộ luận thuộc về Tiểu thừa, như các luận Phát trí, Lục túc... trong tạng A tì đàm(tạng Luận)và các sách chú thích các luận này. Theo phần ghi chú trong luận Tạp a tì đàm tâm quyển 1 thì ngài Hòa tubànđầu từng y cứ vào luận A tì đàm tâm để giải thích 6000 bài kệ, mộtLuận sư khác cũng soạn lời giải thích 16000 bài kệ; Tổ của Kinh lượng bộ là ngài Cưu ma la đa thì soạn các luận Dụ man, Si man, Hiển liễu... ngài Thấtlợilađa thì soạn luận Tì bà sa củaKinh bộ. Theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 15 thì Ngụy thế chúng kinh mục lục có chia ra luận Đại thừa và luận Tiểu thừa, trong đó luận Tiểu thừa có tất cả 6 bộ; Tề thế chúng kinh mục lục thì ghi A tì đàm Tiểu thừa có tất cả 54 bộ, 421 quyển; Chúng kinh mục lục quyển 5 của ngài Pháp kinh đời Tùy thì chia A tì đàm của Tiểu thừa thành 6 thứ: Nhất dịch, Dị dịch, Thất dịch, Biệt sinh, Nghi hoặc và Ngụy vọng, tổng cộng 116 bộ, 482 quyển. Khai nguyên thích giáo lục quyển 27 thì liệt luận Tiểu thừa gồm 36 bộ, 698 quyển. Súc loát Đại tạng kinh của Nhật Bản thì thu 46 bộ, 722 quyển luận Tiểu thừa. Tiểu thừa Hữu bộ vốn lấy A tì đạt ma làm tông, nên chủ trương Luận tạng là do chính đức Phật nói ra và được ngài Đại Ca diếp tụng lại trong kì kết tập kinh điển lần thứ nhất sau khi đức Phật nhập diệt.Luận Đại trí độ quyển 2 cũng cho rằng Luận tạng do đức Phật nói và do ngài A nan kết tập. [X. Ngạn tông lục; Lịch đại tam bảo kỉ Q.14; Đại Đường tây vực kí Q.12; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.23, 25, 30; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục; Tùy thư kinh tịch chí thứ 30]. (xt. Tiểu Thừa Phật Giáo).
tiểu thừa luật
(小乘律) Cũng gọi Tiểu thừa tì ni, Thanh văn luật tạng. Chỉ cho các bộ luật thuộc về Tiểu thừa. Luật tiểu thừa từ xưa đã có 5 bộ, tức luật Tứ phần của Đàm vô đức bộ, luật Thập tụng của Tát bà đa bộ, luật Ngũ phần của Sa di tắc bộ, luật Giải thoát của Ca diếp di bộ và luật Ma ha tăng kì của Ma ha tăng kì bộ(tức Đại chúng bộ). Trong đó, trừ Quảng luật do Ca diếp di bộ truyền, các luật còn lại đều đã được dịch ra chữ Hán từ đời Đông Tấn về sau. Nhưng Đại đường tây vực kí quyển 12 có ghi: Ngài Huyền trang mang về 14 bộ kinh, luật, luận của Thượng tọa bộ, 15 bộ kinh, luật, luận của Đại chúng bộ, như vậy, trừ 5 bộ luật nói trên ra, luật của các bộ khác như Thượng tọa bộ... cũng được truyền dịch. Các Kinh lục từ đời Tùy về sau, trong Luật bộ phần nhiều chia ra luật Đại thừa và luật Tiểu thừa khác nhau, như Chúng kinh mục lục quyển 5 của ngài Pháp kinh nêu tên của 64 bộ, 382 quyển luật Tiểu thừa, Khai nguyên thích giáo lục quyển 20 liệt kê 54 bộ, 446 quyển, Súc loát đại tạng kinh thu chép 71 bộ, 496 quyển. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.14, 15; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.23, 25; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục; Tùy thư kinh tịch chí thứ 30]. (xt. Ngũ Bộ Luật).
tiểu thừa ngoại đạo
Tiểu thừa và các tông phái ngoại đạo—Hinayana and the heretical sects
tiểu thừa nhị bộ
Two major classes of Hinayana: 1) Thượng Tọa Bộ: Sthaviravadin, school of presbyters—Thượng Tọa Bộ được biết dưới sự lãnh đạo của Tỳ Kheo Đại Thiên, một trăm năm sau ngày Phật nhập diệt, dưới triều A Dục—This division is reported to have taken place under the leadership of the monk named Mahadeva, a hundred years after the Buddha's nirvana and during the reign of Asoka. Mahadea's sect became the Mahasanghika—For more information, please see Mahasanghika. 2) Đại Chúng bộ: Sarvastivadin (skt)—See Sarvastivada.
tiểu thừa nhị thập bộ
(小乘二十部) Hai mươi bộ phái của Tiểu thừa giáo. Về số lượng, nguyên nhân và niên đại phân chia các bộ phái từ xưa đã có rất nhiều thuyết, nhưng cho đến nay vẫn chưa xác định được. Theo luận Dị bộ tông luân, sau khi đức Phật nhập diệt hơn 100 năm, nước Ma yết đà có các bậc Long tượng trong 4 chúng bàn luận về 5 việc do tỉ khưu Đại thiên nêu ra, vì các ý kiến không được nhất trí cho nên đã chia thành 2 bộ là Thượng tọa và Đại chúng. Về sau, Đại chúng bộ lại chia thành 9 bộ, Thượng tọa bộ chia thành 11 bộ, cộng chung là 20 bộ. Ngoài 2 bộ căn bản là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ ra, 18 chi phái còn lại được gọi là Thập bát dị bộ. Luận chủ của 18 bộ phái này được gọi là Thập bát bộ chủ.I. Chín bộ của Đại chúng bộ. 1. Đại chúng bộ (Phạm: Mahà= saôghikà#), Hán âm là Ma ha tăng kì bộ (cũng gọi Mạc ha tăng kì ni ca da, Phạm: Mahàsaôghika-nikàya), Tổ khai sáng là ngài Đại thiên, dùng Duyên khởi quan để lập luận, chủ trương Hiện tại có thực thể, quá khứ, vị lai không có thực thể.2. Nhất thuyết bộ (Phạm: Ekavyàvahàrika#): Kinh Văn thù vấn gọi là Chấp nhất ngữ ngôn bộ, chủ trương Pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều không có thực thể, chỉ là giả danh, gần giống như thuyết Vô tướng giai không của Bát nhã Đại thừa. 3. Thuyết xuất thế bộ (Phạm: Lokottaravàdina#), cũng gọi Xuất thế gian thuyết bộ, Xuất thế gian ngôn ngữ bộ. Bộ này chủ trương pháp thế gian từ điên đảo sinh ra phiền não, phiền não sinh ra nghiệp, nghiệp sinh ra quả báo, quả báo là khổ. Pháp xuất thế gian thì từ đạo sinh ra, đạo quả do tu đạo mà sinh chính là Niết bàn.4. Kê dận bộ (Phạm: Kaukyỉikà#), cũng gọi Khôi sơn trụ bộ, Quật cư bộ, Cao câu lê ha bộ. Chủ trương Tùy nghi sinh hoạt, tùy nghi ăn uống, tùy nghi cư trú, chỉ cầu mau dứt phiền não chính là ý Phật. 5. Đa văn bộ (Phạm: Bahuzrutìyà#): Bộ chấp dị luận gọi là Đắc đa văn bộ. Tư tưởng của bộ này phảng phất hình thái triết học Áo nghĩa thư. 6. Thuyết giả bộ (Phạm: Prajĩaptìvàdinà#), cũng gọi Thi thiết luận bộ, Phân biệt thuyết bộ, Phân biệt bộ. Bộ này cho rằng thế giới hiện thực có 2 mặt giả và thực. 7. Chế đa sơn bộ (Phạm: Caitya= zailà#). 8. Tây sơn trụ bộ (Phạm: Apara= zailà#). 9. Bắc sơn trụ bộ (Phạm: Uttasa= zailà#). Ba bộ (7, 8, 9) này do bàn lại 5 việc của Đại thiên mà chia ra 2 phái tán thành và phản đối. Trong đó, những người vốn đã ở tại núi Chế đa tức là Chế đa sơn bộ, những người dời đến trụ ở phía tây núi, tức là Tây sơn trụ bộ, còn những người trụ ở phía bắc núi thì gọi là Bắc sơn trụ bộ.II. Mười một bộ của Thượng tọa bộ. 1. Tuyết sơn bộ(Phạm:Haimavatà#), cũng gọi Bản thượng tọa bộ, Tiên thượng tọa bộ, Thượng tọa đệ tử bộ. Bộ này chủ trương không có Trung hữu (thân trung ấm).2. Thuyết nhất thiết hữu bộ (Phạm: Sarvàstivàdà#): Dùng vô thường vô ngã làm cơ sở để lập luận, chủ trương Ba đời thật có, pháp thể hằng có. 3. Độc tử bộ(Phạm:Vàtsiputrìyà#), cũng gọi Khả trụ đệ tử bộ, Bá thư tử bộ. Bộ này lấyBản thể luận làm trung tâm, tức là dùng tạng Bất khả thuyết Ngã chẳng phải tức là uẩn chẳng phải lìa uẩn để phá trừ vọng chấp Ngã tức là uẩn của phàm phu và Ngã lìa uẩn của ngoại đạo.4. Pháp thượng bộ (Phạm: Dharmo= ttarìyà#), cũng gọi Đạt ma uất đa lê bộ, Pháp thắng bộ. 5. Hiền trụ bộ (Phạm: Bhadra= yànìyà#), cũng gọi Hiền thừa bộ, Hiền bộ, Bạt đa la da ni bộ. 6. Chính lượng bộ (Phạm: Saômitìyà#), cũng gọi Nhất thiết sở quí ộ, Tam di để bộ, Chính lượng đệ tử bộ. Chủ trương Hữu ngã luận. 7. Mật lâm sơn bộ (Phạm: Saịịàgarikà#), cũng gọi Nhận sơn bộ, Lục thành bộ, Mật lâm trụ bộ. Cứ theo luận Dị bộ tông luân thì 4 bộ (4, 5, 6, 7) trên đây được tách ra từ Độc tử bộ, do bất đồng ý kiến về bài kệ Dĩ giải thoát cánh đọa, Đọa do tham phục hoàn, Hoạch an hỉ sở lạc, Tùy lạc hành chí lạc. 8. Hóa địa bộ(Phạm:Mahìzàsakà#), cũng gọi Đại bất khả khí bộ, Di sa bộ, Chính địa bộ, Giáo địa. Bản thể luận của bộ phái này lập thuyết 9 vô vi, chủ trương Phật và Nhị thừa đều cùng một đạo, cùng một giải thoát. 9. Pháp tạng bộ (Phạm: Dharmaguptà#), cũng gọi Pháp hộ bộ, Đàm vô đức bộ. Bộ này lập thuyết Ngũ tạng: Kinh, Luật, Đối pháp(A tì đạt ma), Minh chú và Bồ tát bản hạnh sự, đặc biệt xem trọng Minh chú tạng và Bồ tát tạng, mở đường cho Mật giáo Đại thừa ở đời sau.10. Ẩm quang bộ (Phạm: Kàzya= pìyà#), cũng gọi Ca diếp tỉ bộ, Ưu lê sa bộ, Thiện tuế bộ, Ẩm quang đệ tử bộ, Ca diếp duy, Ca diếp di bộ. Chủ trương tất cả các hành đều diệt trong khoảng sát na. 11. Kinh lượng bộ (Phạm: Sautràntika), cũng gọi Thuyết độ bộ, Kinh bộ, Thuyết kinh bộ, Tăng ca lan đa, Tu đa la luận, Sư trưởng bộ. Bộ phái được chia ra từ Thuyết nhất thiết hữu bộ, nhưng khác với Thuyết nhất thiết hữu bộ vốn xem trọng Luận thì bộ này là xem trọng Kinh, cho kinh là Chính lượng và lập thuyết Tâm vật nhị nguyên. Ngoài ra, về tình hình chia rẽ và tên gọi của các bộ phái thì trong kinh Xá lợi phất vấn, kinh Văn thù sư lợi vấn, Đại sử, Đảo sử, Giáo đoàn phân liệt tường thuyết của ngài Thanh biện, Ấn độ Phật giáo sử của Đa la na tha, Ấn độ chi Phật giáo, Thuyết nhất thiết hữu bộ vi chủ đích luận sư dữ luận thư chi nghiên cứu của ngài Ấn Thuận... đều có ghi chép, nhưng có hơi khác nhau, nay đồ biểu như sau: 1. Thuyết củaluận Dị bộ tông luân: Đại Chúng Bộ –Nhất thuyết bộ –Thuyết xuất thế bộ– –Kê dận bộ –Đa văn bộ –Thuyết giả bộ –Chế đa sơn bộ –Tây sơn trụ bộ –Bắc sơn trụ bộ Phân chia lần 1 trong vòng 200 năm sau Phật nhập diệt Phân chia lần 2 trong vòng 200 năm sau Phật nhập diệt Phân chia lần 3 trong vòng 200 năm sau Phật nhập diệt Phân chia lần 4 trong vòng 200 năm sau Phật nhập diệt Thượng Tọa Bộ Tuyết sơn bộ (Phân chia lần 1 trong vòng 300 năm sau Phật nhập diệt) (Phân chia lần 4 trong vòng 300 năm sau Phật nhập diệt) (Phân chia lần 5 cũng trong vòng 300 năm sau Phật nhập diệt) (Phân chia lần 6 vào giai đoạn cuối 300 năm sau Phật nhập diệt) (Phân chia lần 7 vào giai đoạn đầu 400 năm sau Phật nhập diệt) –Hóa địa bộ –Pháp tạng bộ –Ẩm quang bộ –Kinh lượng bộ Thuyết nhất thiết hữu bộ –Pháp thượng bộ –Hiền trụ bộ –Chính lượng bộ –Mật lâm sơn bộ Độc tử bộ là phân chia lần 2 trong vòng 300 năm sau Phật nhập diệt. Bốn phái sau đó là phân chia lần 3, cũng trong vòng 300 năm sau Phật nhập diệt. –Độc tử bộ 2. Thuyết của kinh Xá lợi phất vấn: Ma ha tăng kỳ Tha Ty La –Di sa tắc –Đàm vô khuất đa ca –Tô bà lợi sư –Đàm ma úy đa biệt ca –Bạt đà la da ni –Sa ma đế –Sa na lợi ca –Tì bà ha la –Lô ca úy đa la –Câu câu la –Bà thu lũ đa kha –Bát lạp nhã đế bà da na –Ma ha đề bà –Chất đa la –Mạt đa lợi –Tát bà đa –Độc tử bộ Ca diếp duy Tu đa lan bà đề na Tăng già lan đề ca3. Thuyết của kinh Văn thù sư lợi vấn: Ma ha tăng kì Chấp nhất ngữ ngôn Xuất thế gian ngữ ngôn Cao câu lợi kha Đa văn Chỉ để kha Đông sơn Bắc sơn Đại bất khả khí Ca diếp tỉ Thể tì lí Nhất thiết ngữ ngôn Tuyết sơn Độc tử Pháp thắng Hiền trụ Nhất thiết sở quí Nhận sơn Pháp hộ Tu đố lộ cú 4. Thuyết của Đại sử do Nam phương truyền: Đại chúng bộ Thượng tọa bộ Đời sau, Ấn Độ lại chia ra Các bộ phái ở Tích lan–Ngưu gia bộ –Nhất thuyết bộ –Chế đa bộ (Án đạt la phái) –Hóa địa bộ –Độc tử bộ –Tuyết sơn bộ –Vương sơn bộ –Nghĩa thành bộ –Đông sơn bộ –Tây sơn bộ –Kim cương bộ –Hữu bộ – Ẩm quang bộ – Thuyết chuyển bộ – Kinh bộ –Pháp tạng bộ –Thuyết giả bộ –Đa văn bộ –Đại tự phái –Vô úy sơn tự phái –Pháp hỉ bộ –Kỳ đà lâm tự phái –Hải bộ –Pháp thượng bộ –Hiền trụ bộ –Lục thành bộ –Chính lượng bộ5. Thuyết của Đảo sử do Nam phương truyền: Mahàsaíghika Gokulika Ekalbohàrika Cetiya Bahussutaka Paĩĩtti Thera Mahiôsàsaka Vajjiputtaka –Dhammuttarika –Bhaddàyanìya –Channàgarika –Sammiti –Sabbatthivàda Kassapika Saôkantika Suttavàda –Dhammagutta 6. Thuyết thứ nhất của ngài Thanh biện vàThuyết của Thượng tọa bộ nói trong Ấnđộ Phật giáo sử của Đa la na tha: Đại Chúng Bộ Thượng Tọa Bộ –Căn bản đại chúng bộ –Nhất thuyết bộ –Thuyết xuất thế bộ –Đa văn bộ –Thuyết giả bộ –Chế đa sơn bộ –Đông sơn trụ bộ –Tây sơn trụ bộ –Căn bản thượng tọa bộ –Thuyết nhất thiết hữu bộ –Độc tử bộ –Pháp thượng bộ –Hiền trụ bộ –Nhất thiết sở quí bộ –Hóa địa bộ –Pháp tạng bộ –Thiên tuế bộ –Thượng nhân bộ 7. Thuyết thứ 2 của ngài Thanh biện vàThuyết của Đại chúng bộ nói trong Ấn độ Phật giáo sử của Đa la na tha: –Thượng tọa bộ –Hóa địa bộ –Ẩm quang bộ –Pháp tạng bộ –Đồng diệp bộ –Đại chúng bộ –Căn bản đại chúng bộ –Đông sơn bộ –Tây sơn bộ –Vương sơn bộ –Tuyết sơn bộ –Chế đa bộ –Lục đế bộ –Kê dận bộ Hữu bộ Độc tử bộ –Căn bản hữu bộ –Kinh bộ –Chính lượng bộ –Pháp thượng bộ –Hiền trụ bộ –Lục thành bộ –Phân Biệt Thuyết Bộ 8. Thuyết thứ 3 của ngài Thanhbiện: Thượng Tọa Bộ Căn bản thượng tọa bộ Tuyết sơn bộ Độc tử bộ Đại sơn bộ Chính lượng bộ Pháp thượng bộ Hiền trụ bộ Lục thành bộ Thuyết nhất thiết hữu bộ Phân biệt thuyết bộ Hóa địa bộ Pháp tạng bộ Đồng diệp bộ Ẩm quang bộ Căn bản hữu bộ Thuyết chuyển bộ Đại Chúng Bộ Nhất thuyết bộ Kê dận bộ Đa văn bộ Thuyết giả bộ Chế đa bộ9.Thuyết của Chính lượng bộ ghi trong Ấn độ Phật giáo sử của Đa la na tha: –Căn bản đại chúng bộ –Nhất thuyết bộ –Kê dận bộ –Đa văn bộ –Thuyết giả bộ –Chế đa bộ –Căn bản hữu bộ –Phân biệt thuyết bộ –Hóa địa bộ –Pháp tạng bộ –Đồng diệp bộ –Ẩm quang bộ –Thuyết chuyển bộ –Đại Chúng Bộ –Hữu Bộ –Độc Tử Bộ –Tuyết Sơn Bộ –Căn bản độc tử bộ –Pháp thượng bộ –Hiền trụ bộ –Chính lượng bộ 10. Thuyết của Hữu bộ ghi trong Ấn độ Phật giáo sử của Đa la na tha: –Đông sơn bộ –Tây sơn bộ –Tuyết sơn bộ –Thuyết xuất thế bộ –Thuyết giả bộ –Căn bản hữu bộ –Ẩm quang bộ –Hóa địa bộ –Pháp tạng bộ –Đa văn bộ –Đồng diệp bộ –Phân biệt thuyết bộ –Kỳ đa lâm trụ bộ –Vô úy sơn bộ –Đại tinh xá bộ –Địa thuyết sơn bộ –Thủ hộ bộ –Độc tử bộ –Đại Chúng Bộ –Hữu Bộ –Thượng Tọa Bộ –Nhất Thiết Sở Quí Bộgiáo (Pàli:Thera-vàda). Trong 45 năm, từ sau khi đức Phật bắt đầu giáo hóa độ sinh cho đến lúc Ngài nhập diệt, thì giáo pháp cơ bản và chế độ giới luật, trên đại thể, đã được xác lập. Nhưng, sau khi đức Phật nhập diệt hơn 100 năm, Tiểu thừa Phật giáo vì có chủ trương khác nhau về Luật học và Nghĩa học nên đã chia thành 2 phái lớn là Bảo thủ(Thượng tọa) và Cách tân(Đại chúng). Đến khoảng 300 năm sau Phật nhập diệt, lại từ 2 phái lớn này chia ra thành 20 bộ phái, mỗi bộ phái đều là 1 giáo đoàn tỉ khưu lấy hệ thống luận thư A tì đạt ma (Phạm: bhidharma) làm trung tâm. Tông Hoa nghiêm Trung quốc đã y cứ vào sự sâu cạn của giáo lí mỗi phái mà phân loại 20 bộ phái làm 6 tông sau đây: 1. Pháp ngã câu hữu tông: Chủ trương
tiểu thừa phật giáo
(小乘佛教) [X. kinh Đại phương đẳngđạitập Q.22; luật Ma ha tăng kì Q.40; luận Đại trí độ Q.63; luận Đại tì bà sa Q.99; Bộ chấp dị luận, Thập bát bộ luận; Đại thừa huyền luận Q.5; Tứ phần luật khai tông kí Q.1; Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập Q.5; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Early Buddhist monasticism, by S.Dutt; Life of the Buddha, by W.W.Rockhill]. (xt. Tiểu Thừa, Bộ Phái Phật Giáo). Phạm: Hìnayàna. Vốn chỉ cho Phật giáo bộ phái, sau khi Đại thừa Phật giáo hưng khởi mới có danh từ Tiểu thừa Phật giáo, nhưng các đoàn thể Phật giáo trên thế giới hiện nay đều gọi Tiểu thừa Phật giáo là Thượng tọa bộ Phật 11. Thuyết của ngài Ấn Thuận: Đại Chúng Bộ Lần 1 chia ra 3 bộ Lần 2 từ Kê dận bộ chia ra 2 bộ Nhất thuyết bộ Thuyết xuất thế bộ Kê dận bộ Đa văn bộ Thuyết giả bộ Ở vùng Ương quật đa la phía bắc hành Vương xá. Sau Phật nhập diệt khoảng 200 năm, đệ tử của Phật xuất định từ Tuyết sơn đến chia ra. Lần 3 từ Chế đa bộ chia ra nhiều bộ như Đông sơn bộ Tây sơn bộ Phật diệt độ đã 200 năm, các học giả thuộc hệ thống Đại thiên, vì ảnh hưởng của hoàn cảnh và văn hóa địa phương nên đã chia ra một số bộ phái. Thượng Tọa Bộ –Độc tử bộ Chính lượng bộ Pháp thượng bộ (Pháp thắng) Hiền đạo bộ (Hiền trụ) Lục thành bộ (Đại sơn, Mật lâm sơn) –Nhất thiết hữu bộ ––– Thuyết chuyển bộ (bản kế) ––– Kinh bộ (mạt kế, tức Thí dụ sư) –Tuyết sơn bộ –Phân biệt thuyết bộ (Xích) Đồng diệp bộ (truyền ở Tích Lan) Pháp tạng bộ Ẩm quang bộ Hóa địa bộpháp và ngã đều thực có, như Độc tử bộ.2. Pháp hữu ngã vô tông: Phủ định nhân ngã, chỉ thừa nhận pháp là có thật như Thuyết nhất thiết hữu bộ, Thượng tọa bộ.3. Pháp vô khứ lai tông:Chủ trương chỉ có pháp hiện tại là có thật, còn các pháp quá khứ, vị lai thì không có thực thể, như Đại chúng bộ.4. Hiện thông giả thực tông: Chủ trương trong các pháp ở hiện tại thì 5 uẩn là có thật, còn 12 xứ, 18 giới thì là có giả, như Thuyết giả bộ. 5. Tục vọng chân thực tông: Chủ trương trong 5 uẩn, chỉ có pháp xuất thế gian là có thật, còn pháp thế tục là hư vọng, như Thuyết xuất thế bộ. 6. Chư pháp đãn danh tông: Chủ trương chẳng có cái gì là thực tại, tất cả đều chỉ là những hiện tượng giả danh hư vọng mà thôi, như Nhất thuyết bộ. (xt. Tiểu Thừa, Bộ Phái Phật Giáo).
tiểu thừa tam bảo
(小乘三寶) Quan niệm của Tiểu thừa về Tam bảo. Cứ theo Hoa nghiêm kinh Minh pháp phẩm nội lập Tam bảo chương quyển thượng quan niệm của Tiểu thừa đối với Tam bảo là: 1. Phật bảo:Chỉ cho thân vàng cao 1 trượng 6 thước mà đức Nhưlai thị hiện để thích ứng với các căn cơ Thanh văn, Duyên giác, trời, người... 2. Pháp bảo: Chỉ cho các kinh A hàm... Nhưlai nói pháp Tứ đế cho Thanh văn, nói Thập nhị nhân duyên cho Duyên giác, khiến họ y theo đó tu hành, vượt phàm vào thánh. 3. Tăng bảo: Các đệ tử Phật tu tập theo Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, chứnglí chân không, thành bậc Tứ hướng tứ quả Thanh văn và quả vị Duyên giác.
tiểu thừa tam tông
Ba trong số 18 tông phái Tiểu Thừa đã được truyền đến Trung quốc—Three of the eighteen Hinayana schools were transported to China: 1) Câu Xá Tông: Abhidharma (skt)—Kosa. 2) Thành Thật Tông: Satya-siddhi. 3) Luật Tông: Vinaya school or the school of Harivaman.
tiểu thừa tam tạng
(小乘三藏) Ba tạng Kinh, Luật, Luận thuộc Tiểu thừa.Cứ theo luận Đại trí độ quyển 100 thì Tam tạng của Tiểu thừa gồm: 1. Kinh tạng:Chỉ cho 4 bộ kinh A hàm, nội dung bàn về lí chân không tịch diệt, chỉ bày phương pháp tu hành chứng quả Thanh văn, Duyên giác. 2. Luật tạng:Chỉ cho các bộ luật Tứ phần, Ngũ phần, Thập tụng... là giới luật mà hàng Thanh văn, Duyên giác thụ trì. 3. Luận tạng:Chỉ cho các bộ luận như Câu xá, Lục túc, Phát trí..., có nội dung biện biệt, giải thích và quyết định phương pháp tu chứng của hàng Tiểu thừa Thanh văn, Duyên giác. Căn bản của 3 tạng này đều do đức Phật nói, sau khi đức Phật nhập diệt được kết tập và chia ta thành pho bộ. [X. phẩm An lạc hạnh trong kinh Pháp hoa]. (xt. Đại Thừa Tam Tạng).
tiểu thừa tam ấn
The three characteristic marks of all Hìnayàna sùtras: the impermanence of phenomena chư hành vô thường; the unreality of the ego chư pháp vô ngã; and nirvàna Niết bàn tịch tĩnh.
; The three characteristic marks of all Hinayana sutras: 1) Vô thường: Impermanence of phenomena—See Vô Thường. 2) Vô ngã: The unreality of the ego—See Vô Ngã. 3) Niết Bàn: Nirvana—See Niết Bàn.
tiểu thừa thiên tiệm giới
Sự tuân thủ giới luật từng phần và từ từ của Tiểu Thừa, so với cụ túc giới và tức thì cứu độ của Đại Thừa—The Hinayana partial and gradual method of obeying laws and commandments, as compared with the full and immediate salvation of Mahayana.
; (小乘偏漸戒) Đối lại: Đại thừa Viên đốn giới. Giới Tiểu thừa là thiên tiệm. Vì giới Tiểu thừa công đức chưa tròn đủ, nên gọi là Thiên(một nửa, lệch về một bên), chẳng phải là pháp mau chóng đưa đến quả Phật nên gọi là Tiệm(dần dần). (xt. Tiểu Thừa Giới, Giới).
tiểu thừa thiền
(小乘禪) Pháp thiền của Tiểu thừa, người tu pháp thiền này sẽ chứng được quả A la hán, là 1 trong 5 loại thiền(Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền và Tối thượng thừa thiền) do ngài Khuêphong Tông mật, Tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm lập ra. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng (Đại 48, 399 trung) nói: Người tu thiền ngộ được lí ngã không thiên chân, đó là Tiểu thừa thiền.
tiểu thừa thất thánh
(小乘七聖) Cũng gọi Thất sĩ phu thú, Thất trượng phu.Chỉ cho 7 bậc thánh của Tiểu thừa đã lìa bỏ tính phàm phu mà vào chính tính. Cứ theo Thiên thai tứ giáo nghi tập chú thì 7 bậc thánh ấy như sau: 1. Tùy tín hành: Hàng độn căn nương nhờ người khác mà phát sinh hiểu biết, tin theo sự hiểu biết ấy mà tu hành để tiến tới đạo, cho nên gọi là Tùy tín hành. 2. Tùy pháp hành: Hàng lợi căn dùng năng lực trí tuệ của chính mình để tu hành theo pháp mà tiến vào đạo, cho nên gọi là Tùy pháp hành. 3. Tín giải:Hàng Tín hành chuyển vào Tu đạo, nhưng vì độn căn, phải dựa vào năng lực của lòng tin để phát khởi sự hiểu biết chân chính, nên gọi là Tín giải. 4. Kiến đắc: Hàng Pháp hành chuyển vàoTu đạo, nhờ lợi căn mà thấy pháp được lí, cho nên gọi là Kiến đắc. 5. Thân chứng: Tâm thụ tưởng diệt, ngay thân này chứng thiền định niết bàn vắng lặng, cho nên gọi là Thân chứng. 6. Thời giải thoát: Hàng Tín hành độn căn phải đợi thời tiết và các duyên đầy đủ mới có thể vào đạo, cho nên gọi là Thời giải thoát. 7. Bất thời giải thoát:Hàng Pháp hành lợi căn có khả năng tiến tu thiện pháp trong tất cả thời, chứ không phải đợi thời tiết nhân duyên đầy đủ mới vào được đạo, vì thế gọi là Bất thời giải thoát.
tiểu thừa thập bát bộ
Muời tám phái Tiểu thừa—Eighteen sects of Hinayana: (A) Đại Chúng Bộ—Mahasanghikah: 1) Nhứt Thuyết Bộ: Ekavya-vaharikah. 2) Thuyết Xuất Thế Bộ: Lokottaravadinah. 3) Đa Văn Bộ: Bahusrutiyah. 4) Thuyết Giả Bộ: Prajanptivadinah. 5) Chế Đa Sơn Bộ: Jetavaniyah (Caityasailah). 6) Tây Sơn Trụ Bộ: Aparasailah (Bắc Sơn Trụ Bộ: Uttarasailah). 7) Kê Li Bộ: Gokulika—Kaukkutikah. (B) Thượng Tọa Bộ—Aryasthavirah: 8) Tuyết Sơn Bộ: Haimavatah. 9) Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ: Sarvastivadah. 10) Độc Tử Bộ: Vatsiputriyah. 11) Pháp Thượng Bộ: Dharmottariyah. 12) Hiền Vị Bộ: Bhadrayaniyah. 13) Chính Lượng Bộ: Sammatiyah. 14) Mật Lâm Sơn Bộ: Sannagarikah. 15) Hóa Địa Bộ: Mahisasakah.. 16) Pháp Tạng Bộ: Dharmaguptah. 17) Ẩm Quang Bộ: Kasyahpiya. 18) Kinh Lượng Bộ: Sautrantikah.
tiểu thừa tứ bộ
Theo Nhất Hạnh thì Tiểu Thừa có bốn tông—According to I-Ching, there are four schools in Hinayana: 1) Đại Chúng Bộ: A-Li-Da-Mạc-Ha-Tăng-Kỳ-Ni-Ca-Da—Arya Mahasanghanikaya. 2) Thượng Tọa Bộ: A-Li-Da-Tất-Tha-Bệ-Da—Arya-Sthavirah (skt). 3) Căn Bản Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ: A-Li-Da-Mộ-La-Tát-bà-Tất-Để-Bà-Đà—Arya-Mulasarvastivadah (skt). 4) Chánh Lượng Bộ: A-Li-Da-Tam-Mật-Lật-Để—Arya-Sammatiyah (skt).
tiểu thừa tứ môn
Thiên Thai's division of Hìnayàna into four schools or doctrines: (1) hữu môn of reality, the existence of all phenomena, the doctrine of being; (2) không môn of unreality, or non-existence; (3) diệc hữu diệc không môn of both, or relativity of existence and non-existence; (4) phi hữu phi không of neither, or transcending existence and non-existence.
; Bốn cửa, bốn trường phái hay bốn giáo pháp Tiểu Thừa—Four schools or doctrines of Hinayana: 1) Tiểu Thừa Hữu Môn: Nói về lý “Hữu”—The door of reality, the existence of all phenomena, the doctrine of being. 2) Tiểu Thừa Không Môn: Nói về lý “Không”—The door of unreality, door of non-existence. 3) Tiểu Thừa Diệc Hữu Diệc Không Môn: Nói về lý vừa “Hữu” vừa “Không”—The door of both reality and unreality or relativity of existence and non-existence. 4) Tiểu Thừa Phi Hữu Phi Không Môn: Nói về lý “Phi Hữu,” “Phi Không”—The door of neither, or transcending existence or non-existence.
; (小乘四門) Bốn pháp môn của Tiểu thừa do tông Thiên thai phân lập. Đó là: 1. Hữu môn: Tức như Tì đàm chủ trương quán Hữu (có) của nhân duyên sinh diệt, phá trừ 16 cái thấy biết sai lầm để thấy rõ lí thiên chân mà đắc đạo. 2. Không môn: Tức như luận Thành thực chủ trương dùng pháp nhân duyên sinh diệt giả thực vào không, phá trừ hoặc giả thực để thấy rõ lí không mà đắc đạo. 3. Diệc hữu diệc không môn: Tức như luận Côn lặc chủ trương quán nhân duyên sinh diệt cũng có cũng không(diệc hữu diệc vô) để phá trừ sự thiên chấp hữu, không tương đối mà thể nhậpĐệ nhất nghĩa đế. 4. Phi hữu phi không môn: Tức như kinh Ca chiên diên hoặc pháp tu tập của Xa nặc chủ trương quán nhân duyên sinh diệt chẳng phải có chẳng phải không(phi hữu phi không) để phá trừ tà chấp hữu, không đối lập nhau mà phát khởi chân trí vô lậu.
Tiểu thừa 小乘
[ja] ショウジョウ shōjō ||| (hīnayāna). 'Small vehicle.' As opposed the term 大乘 (mahāyāna), hīnayāna refers in general to Buddhist practices which are centered on self-salvation, or which are not based upon the true experience of emptiness. When used in a somewhat inaccurate historical interpretive sense, the term is applied to the early Indian groups typified by Theravādins 上座部 and Sarvāstivādins 有部, who held to a monastically centered approach to Buddhist practice. In the Mahāyāna texts, the hīnayāna practices of the śrāvakas and pratyekabuddhas are held to be flawed, in that they lack the dimensions of a penetrating view of emptiness as well as a universally functioning compassion, both of which are considered to be the possession of bodhisattvas. => (s: hīnayāna). 'Cỗ xe nhỏ'. Ngược với Đại thừa ( 大乘 s:mahāyāna).Thuật ngữ Tiểu thừa đề cập đến pháp tu tập nói chung quy hướng đến sự giải thoát cho cá nhân, hoặc là không căn cứ vào thực chứng về Tính không. Khi dùng trong ý nghĩa hơi có chút diễn dịch xa lịch sử một chút, thì thuật ngữ nầy dùng để nói đến các bộ phái Phật giáo Ấn Độ thời xưa điển hình là Thượng toạ bộ (s: Theravādins 上座部) và Hữu bộ (s: Sarvāstivādins 有部), duy trì sự tập trung vào giới luật tăng đoàn trong việc tu tập. Trong kinh văn Đại thừa, pháp tu của hàng Thanh văn và Bích chi Phật được xem là không hoàn thiện, vì thiếu chiều hướng siêu việt quan niệm Tính không cũng như hoặt dụng của lòng từ bi rộng lớn, hai khía cạnh được xem là của riêng hàng Bồ-tát.
tiểu thực
The small meal, breakfast, also called điểm tâm.
; Bữa ăn nhẹ hay bữa điểm tâm—A small meal, breakfast.
; (小食) Bữa ăn lót lòng vào buổi sáng. Theo Phật chế, người xuất gia chỉ ăn một bữa vào lúc giữa ngày, nếu ăn vào buổi sáng thì gọi là Tiểu thực; ăn sau giờNgọ thì gọi là Hậu thực, đều không hợp với luật Phật. Cũng có thuyết cho rằng bữa ăn sáng gọi là Khinh thực(bữa ăn nhẹ); nếu ăn vào khoảng thời gian giữa sáng sớm và đúng ngọ thì gọi là Tiểu thực. Trong Thiền lâm thì gọi bữa ăn cháo buổi sáng là Tiểu thực. [X. luật Tứ phần Q.22].
tiểu tiết
Detail.
tiểu tiện
1) To urinate. 2) Tăng Ni Phật giáo bắt buộc chỉ tiểu tiện ở một điểm cố định—Buddhist monks and nuns are enjoined to urinate only in one fixed spot.
tiểu trừ
See Tiêu Trừ.
tiểu tuỳ phiền não
(小隨煩惱) Phạm: Parìta-Kleza-bhùmikadharmàh. Cũng gọi: Tiểu phiền não địa pháp. Chỉ cho các phiền não tương ứng với 1 phần nhỏ tâm nhiễm ô và mỗi mỗi đều hiện khởi một cách riêng rẽ. Gồm có 10 thứ:1. Phẫn(Phạm:Krodha): Khởi tâm tức giận đối với loài hữu tình, phi tình. 2. Phú (Phạm: Mrakwa): Vì sợ danh dự bị tổn thương nên che giấu (phú)tội lỗi của mình. 3. Khan (Phạm: Màtsarya): Bởi vì tham tiếc tiền của và giáo pháp, nên bỏn sẻn(khan)không có tâm bố thí. 4. Tật(Phạm:Ìrwyà): Ghen ghét (tật) đối với sự thành công của người khác. 5. Não(Phạm:Pradàza): Đau khổ, tức cố chấp giữ việc xấu ác, không chịu sửa đổi đúng lí, nên thân tâm bị não loạn. 6. Hại (Phạm : Vihiôsà): Làm tổn thương người khác. 7. Hận(Phạm: Upanàha): Oán hận, tức không buông bỏ những việc đã làm cho mình tức giận, lúc nào cũng nghĩ đến nên kết thành oán. 8. Siểm(Phạm:Màyà): Nịnh hót, luồn cúi mong vừa ý người. 9. Cuống(Phạm:Zàỉhya): Dối trá, mê hoặc, tức dùng mọi thủ đoạn để lừa gạt, làm hoặc loạn người khác, khiến cho phải, trái đảo lộn. 10. Kiêu (Phạm: Mada): Phóng túng, cậy quyền thế hoặc sự thành công của mình mà sinh tâm cao ngạo. Trong 10 phiền não nói trên, 4 thứ: Phẫn, Phú, Khan, Tật cùng với 6 thứ như: Vô tàm, Hôn trầm... thuộc về Thập triền, 6 thứ còn lại là Lục cấu(6 thứ bụi bẩn). Phú, Khan, Cuống, Kiêu đồng loại với Tham; Phẫn, Tật, Hại, Hận đồng loại với Sân; Não, đồng loại với Kiến thủ; Siểm đồng loại với các Kiến. Ngoài ra, đối với 3 cõi thì Phẫn, Phú, Khan, Tật, Não, Hại và Hận chỉ trói buộc ở cõi Dục, Siểm và Cuống trói buộc ở cõi Dục và Sơ thiền, còn Kiêu thì có khắp trong 3 cõi. Cứ theo luận Thuận chính lí quyển 11 thì Tiểu phiền não địa pháp, ngoài 10 thứ được nêu ở trên còn có 3 thứ nữa là Bất nhẫn, Bất lạc và Phẫn phát. Nhưng cácnhà Câu xá thì cho rằng Bất nhẫn, Bất lạc thuộc về Tật, còn Phẫn phát thì thuộc về Phẫn. Nói tóm lại, 10 thứ phiền não trên đây chỉ là Hoặc do Tu đạo đoạn trừ, khởi từ ý thức và mỗi thứ đều tương ứng với vô minh mà khởi, chứ không như tâm sở của Đại phiền não địa pháp cùng khởi lên với tất cả tâm nhiễm ô, cho nên gọi là Tiểu phiền não địa pháp. [X. luận Thành thực Q.6; luận Câu xá Q.4; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần cuối].
tiểu tâm
1) Tâm nhỏ mọn: Base—Mean—Vile. 2) Cẩn thận: Prudent—Careful—Cautious.
tiểu tông
The sects of Hìnayàna.
; Những tông phái Tiểu Thừa—The sects of Hinayana.
tiểu tùy phiền não
Parītta-kleśa-bhumikadharmah (S)Các phiền não tương ưng một phần nhỏ tâm nhiễm ô mà hiện khởi riêng biệt, gồm 10 thứ: Phẫn, Phú, San, Tật, Não, Hại, Hận, Siểm, Cuống, Kiêu.
tiểu tăng
Dahrah (S)Sơ tăngSư thọ cụ túc chưa đủ 10 năm. Nếu đủ 10 năm thì gọi là Trụ vi (Sthavira).
tiểu tướng
(小相) Cũng gọi Tùy tướng, Tiểu tứ tướng. Chỉ cho 4 tướng: Sinh sinh, Trụ trụ, Dị dị, Diệt diệt, đối lại với 4 bản tướng Sinh, Trụ, Dị, Diệt nên gọi là Tiểu tướng. Đó là: 1. Sinh sinh tướng:Khi căn(chủ thể) đối với trần(khách thể)thì một niệm tâm sinh.2. Trụ trụ tướng:Một niệm tâm tạm thời nối tiếp. 3. Dị dị tướng:Một niệm tâm, trước sau khác nhau. 4. Diệt diệt tướng: Khi trần cảnh đã mất thì tâm niệm cũng diệt. [X. luận Câu xá Q.5].
tiểu tường kỵ
An anniversary.
tiểu tịnh
Minor purity.
tiểu tụng
Kṣudrakadhyaya (S)Một phần trong Luận tạng của Đại chúng bộ.
; (小誦) Pàli: Khuddaka-pàỉha. Tập kinh trong Tiểu bộ kinh (Pàli: Khuddada-nikàya) của Phật điển Nam truyền, thu chép các bài văn quan trọng và các bản kinh ngắn của Phật giáo. Nội dung toàn tập có 4 thứ Tụng văn và 5 loại kinh điển. Tụng văn thứ nhất là Tam qui (Pàli: Saranattaya). Tụng văn thứ 2 là Thập giới (Pàli: Dasasikkhàpada), liệt kê 10 giới từ sát sinh cho đến nhận lãnh vàng bạc. Tụng văn thứ3 là Tam thập nhị thân phần (Pàli: Dvattiôsàkàra),nói về pháp quán bất tịnh từ tóc cho đến óc não. Tụng văn thứ 4 là văn Vấn sa di (Pàli:Kimàra-paĩha), gồm các mục: Xuất thực, Danh sắc, Tam thụ, Tứ đế, Ngũ uẩn, Lục xứ, Thất bồ đề phần, Bát thánh đạo, Cửu hữu tình cú, Thập chi... Còn 5 loại kinh điển là: 1. Kinh cát tường (Pàli: Maígalasutta), gồm bàitựa và 12 bài tụng, nói về các việc cát tường tối thượng, nội dung giống kinh Đại cát tường thứ 4trong Tiểu phẩm của Kinh tập. 2. Kinh Tam bảo (Pàli: Ratanasutta) gồm 17 bài tụng, giải thích nguyên do Tam bảo thù thắng, nội dung giống với bài kinh cùng tên trong Tiểu phẩm của Kinh tập. 3. Kinh Hộ ngoại (Pàli:Triokuđđa) gồm 13 bài tụng, nói về quả báo thí thực cho ngã quỉ và tăng già, nội dung giống với Hộ ngoại quỉ sự trong phẩm Xà thuộc Ngã quỉ sự. 4. Kinh Phục tàng(Pàli:Nidhikanđasutta) gồm 16 bài tụng, nói vềviệcphải tôn trọng phúc nghiệp. 5. Kinh Từ bi (Pàli: Karuịàmettasutta) gồm 10 bài tụng, nói về từ bi và lí Phạm trụ, nội dung giống với bài kinh Từ trong phẩm Xà của Kinh tập. Kinh này vốn được biên soạn dành cho những sa di mới xuất gia học thuộc, hoặc để tụng đọc trong các nghi thức cúng bái. Ngoài kinh Hộ ngoại, kinh Phục tàng, 4 tụng 3 kinh còn lại hiện nay được Phậtgiáo Tích lan đọc tụng trong các nghi thức cầu phúc như phổ thỉnh, an táng, trị bệnh... Sách chú thích bộ Tiểu tụng này hiện còn trong tác phẩm Chân đế quang minh (Pàli:Paramattha-jotikà), theo truyền thuyết, do ngài Phật âm (Pàli:Buddha= ghosa)soạn. Nguyên văn của kinh này đã được xuất bản, đồng thời có bản dịch tiếng Anh (Sacred Books of Buddhist, No. 71931) và bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 23). [X. A History of Pàli Literature by B.C.Law; Dictionary ofPàli Proper Names by G.P.Malalasekera].
tiểu viễn
Tên của Tăng Huệ Viễn dưới thời nhà Tùy—Name of Hui-Yuan of the Sui dynasty—See Huệ Viễn.
; (小遠) Chỉ cho ngài Tuệviễn trụ ở chùa Tịnh ảnh vào đời Tùy. Để phân biệt với ngài Tuệviễn trụ ở Lôsơn vào đời Tấn nên gọi là Tiểu Viễn. (xt. Tuệviễn).
tiểu viện
A junior teacher.
tiểu vô lượng thọ kinh
Sukhāvatī-vyŪha-sŪtra (S), The Smaller Sukhavativyuha Sutra Kinh Nhất Thiết chư Phật Sở hộ niệm, Tiểu Kinh, Tứ chỉ Kinh, Kinh Chư Phật Sở Hộ niệmĐại Chánh Tạng, tập 12, Bộ A di đà Kinh, 1 quyền.
Tiểu vô lượng thọ kinh 小無量壽經
[ja] ショウムリョウジュキョウ Shō muryōju kyō ||| The Xiao wuliangshou jing; the Smaller Sukhāvatī-vyūha. See 阿彌陀經. => (c: Xiao wuliangshou jing; e:the Smaller Sukhāvatī-vyūha). Xem A-di-đà kinh 阿彌陀經.
tiểu vũ trụ
Microcosm.
tiểu vương
The small Rajas.
tiểu xích hoa
Manjusaka (skt)—Mạn Thù Sa Hoa—Rubia cordifolia.
tiểu đề bà
Culadeva (P).
tiểu định
Culaggata-samādhi (S)Định ở cõi Dục.
tiểu ẩn sĩ
Vị Tăng ở ẩn trong tịnh thất, ít lui tới với xã hội bên ngoài—A small hermit who lives in a pure hut, seldom frequents with outside society.
tiễn
To see someone off.
tiễn biệt
To say good-bye—To bid farewell.
tiễn chân
See Tiễn.
tiễn hành
See Tiễn.
tiễn đưa
See Tiễn.
tiệc
Banquet—Feast.
tiệm
Gradual, by degrees, to flow little by little.
; 1) Tiệm: Store—Shop. 2) Tiệm tiến: Đến từ từ—Gradually—Slowly—By degree—To flow little by little.
tiệm giang
(漸江) Danh tăng kiêm họa sĩ Trung quốc sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở huyện Hấp, tỉnh An huy, họ Giang, tên Thao, tên nữa là Phưởng, hiệu Âu minh, Lục kì. Sư rất nổi tiếng về làm thơ viết chữ và hội họa nên được khen là Tam tuyệt, là 1 trong 4 vị đại tăng kiêm họa sĩ trong lịch sử hội họa Trung quốc ở cuối đời Minh. Thủa nhỏ, sư theo ông Uông vô nhai học 5 kinh (kinh Dịch, kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ và kinh Xuân thu), thờ mẹ rất có hiếu, sư đã đậu Tú tài. Sau khi quân Thanh kéo vào biên giới, sư đến núi Vũ di lễ ngài Cổ hàng xin xuất gia, đổi tên là Hoằng nhân, tự Tiệm giang, hiệu là Tiệm giang học nhân, Tiệm giang tăng, Vô trí. Vì sư rất thích hoa mai nên người đời gọi sư là Mai hoa cổ nạp. Lúc còn trẻ sư trụ tại núi Vũdi, Hoàng sơn, Bạchnhạc, khi về già, sư đến Lôsơn. Giữa cảnh sắc thiên nhiên, núi xanh, trăng sáng, khói mây biến ảo, sư quan sát sâu sát, thích vẽ những cây tùng ở Hoàngsơn, nét bút sắc sảo, linh hoạt. Tranh sơn thủy do sư vẽ rất thanh u, kì ảo. Năm 46 tuổi, sư đã nổi tiếng về hội họa, thư pháp, là nhân vật chủ yếu của trường phái hội họa Tân an. Năm Khang hi thứ 2 (1663), sư thị tịch ở Thiền viện Ngũ minh, thọ 54 tuổi, được an táng dưới ngọn Phi vân, núi Hoàng sơn.
Tiệm giáo
漸教; C: jiàn jiāo; J: zengyō;|1. Giáo lí giảng dạy pháp tiến tu từ bậc thấp tiến dần lên bậc cao; khác hẳn với Đốn giáo; 2. Một trong 4 phương pháp giảng dạy giáo lí của Đức Phật, theo tông Thiên Thai, đó là sự chỉ dạy cho căn cơ từ thấp đến cao; 3. Theo giáo lí Hoa Nghiêm, thời kì đầu và cuối của giáo lí Đại thừa gọi là Tiệm giáo, vì nó đáp ứng phương pháp tu tập tiệm tiến dưa đến giác ngộ. Ngũ giáo (五教).
tiệm giáo
Pháp tu của giáo môn từ thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa cho đến đẳng giác, diệu giác, từng bực dần dần tiến lên, cũng gọi là pháp thiền gián tiếpĐời Tấn, ẩn sĩ núi Vũ đô là Lưu Cầu phân giáo pháp ra làm 2 khoa: đốn (vắn tắt) và tiệm (lần lượt), lấy Kinh Hoa Nghiêm làm Đốn giáo còn ngoài ra đều là Tiệm giáo.
; The gradual method of teaching by beginning with the Hìnayàna and proceeding to the Mahàyàna in contrast with đốn giáo.
; Pháp tu của giáo môn từ Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa cho đến Đẳng giác, Diệu giác, từng bậc từng bậc tiến lên, cũng gọi là Pháp thiền gián tiếp.
; Phương pháp tiến tu từ từ, đi từ Tiểu Thừa lên Đại Thừa, đối lại với phương pháp đi thẳng vào giáo thuyết Đại Thừa của đốn giáo. Tông Hoa Nghiêm cho rằng kinh Hoa Nghiêm là giáo điển đốn ngộ và kinh Pháp Hoa vừa tiệm vừa đốn; trong khi tông Thiên Thai lại cho rằng kinh Pháp Hoa là vừa là đốn giáo mà cũng là viên giáo—The gradual method of teaching by beginning with the Hinayana and proceeding to the Mahayana, in contrast with the immediate teaching of the Mahayana doctrine, or of any truth directly, e.g. Hua-Yen school considers the Hua-Yen sutra as the immediate or direct teaching, and the Lotus sutra as both gradual and direct; T'ien-T'ai considers the Lotus sutra direct and complete—See Đốn Giáo.
; (漸教) Đối lại: Đốn giáo. Giáo pháp chỉ dạy người tu học Phật đạo tuần tự theo thứ lớp từ cạn đến sâu, từ các giai vị thấp dần dần đến quả Phật, là 1 trong 3 giáo của ngài Nam trung, 1 trong 3 giáo của ngài Quangthống, 1 trong 4 giáo Hóa nghi của tông Thiên thai. Nếu phân biệt theo nội dung nói pháp Tiểu bích cô tùng do Tiệm giang vẽ Tranh do Tiệm giang vẽ thì sau khi tu hành trải qua thời gian dài mới giác ngộ, gọi là Tiệm giáo; nếu một bước mà tiến ngay đến quả Phật thì gọi là Đốn giáo. Còn phân biệt theo hình thức nói pháp thì giáo pháp được thuyết giảng theo thứ tự từ cạn đến sâu, gọi là Tiệm giáo; giáo pháp ngay từ đầu đã nói về nội dung sâu xa thì gọi là Đốn giáo. Như 5 thời phán giáo của tông Thiên thai, thời Hoa nghiêm đầu tiên thuộc về Đốn giáo, đối lại, các thời A hàm, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa Niết bàn thì thuộc về Tiệm giáo. Sự đặt bày từ thấp đến cao, từ giáo pháp phương tiện tạm thời đến giáo pháp rốt ráo chân thực, được gọi là Tiệm giáo.Ngoài ra, sự tu hành đạt đến quả Phật của Đại thừa thủy giáo và của Đại thừa Chung giáo trong 5 giáo do tông Hoa nghiêm thành lập là sự tu hành tuần tự theo thứ lớp, nên cũng gọi chung là Tiệm giáo.[X. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q. thượng]. (xt. TamGiáo, NgũGiáo, Thập Tông, Hóa Nghi Tứ Giáo, Đốn Giáo, Đốn Tiệm Nhị Giáo).
Tiệm giáo 漸教
[ja] ゼンギョウ zengyō ||| The 'gradual teaching.' (1) The teaching preached for a gradual advancement from a lower level to a higher one; the opposite of tun-chiao "sudden teaching [頓教]." (2) One of the four methods of preaching by the Buddha, according to the Tiantai sect; exposition of the teaching from a shallow to deeper level. (3) In Huayan teaching, the elementary and final doctrines of Mahāyāna are called 漸教 because they provide methods of gradual advancement towards enlightenment. See wu-chiao 五教. => 1. Giáo lý giảng dạy pháp tiến tu từ bậc thấp tiến dần lên bậc cao; khác hẳn với Đốn giáo. 2. Một trong bốn phương pháp giảng dạy giáo lý của Đức Phật, theo tông Thiên Thai, đó là sự chỉ dạy cho căn cơ từ thấp đến cao. 3. Theo giáo lý Hoa Nghiêm, thời kỳ đầu và cuối của giáo lý Đại thừa gọi là Tiệm giáo, vì nó đáp ứng phương pháp tu tập tiệm tiến dưa đến giác ngộ. Xem Ngũ giáo (c: wu-chiao 五教).
tiệm nguyên
Chien yuan (C)Tên một vị sư.
Tiệm Nguyên Trọng Hưng
(漸源仲興, Zengen Chūkō, ?-?): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường. Ban đầu ông đến tham học với Đạo Ngô Viên Trí (道吾圓智), làm thị giả và sau kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến sống tại Tiệm Nguyên Sơn (漸源山) ở Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam) và nỗ lực cử xướng Thiền phong của mình tại đây.
; 漸源仲興; C: jiànyuán zhòngxīng; J: zengen chūkō; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Thanh Nguyên Hành Tư, môn đệ của Ðạo Ngô Viên Trí.|Sư được xem là người nối pháp Ðạo Ngô mặc dù chưa triệt ngộ khi rời thầy. Sự việc này được ghi lại trong Công án 55 của Bích nham lục: |Một hôm Sư cùng Ðạo Ngô đến một đám tang phúng điếu. Sư vỗ quan tài nói: »Sinh ư? Tử ư?« Ðạo Ngô nói: »Sinh cũng chẳng nói, Tử cũng chẳng nói!« Sư hỏi: »Vì sao chẳng nói?« Ðạo Ngô bảo: »Chẳng nói chẳng nói!« Trên đường về Sư thưa: »Hôm nay Hoà thượng phải vì con nói, nếu không nói, con đánh Hoà thượng.« Ðạo Ngô nói: »Ðánh thì mặc cho ông đánh, nói tức chẳng nói.« Sư liền đánh. Khi đến viện, Ðạo Ngô khuyên Sư lánh đi kẻo có ngại trong chúng. Sư từ giã thầy đi. Một hôm nghe một người tụng phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa đến chỗ »Nên dùng thân tỉ-khâu được độ tức hiện thân tỉ-khâu«, Sư bỗng nhiên Ðại ngộ, đốt hương lễ bái nói: »Rõ thật lời của Tiên sư để lại, trọn chẳng hư dối, tự ta chẳng hội lại oán trách Tiên sư.«|Sau, Sư đến Thạch Sương Khánh Chư nhờ thay mặt sư phụ chứng minh và làm lễ sám hối.
tiệm nguyên trọng hưng
Zengen ChŪkō (J)Tên một vị sư.
Tiệm ngộ
漸悟; J: zengo;|Giác ngộ từ từ, theo từng cấp bậc. Thuyết này được Bắc tông thiền đề cao và cũng được ghi lại trong kinh Nhập Lăng-già.
tiệm ngộ
Zengo (J), Gradual enlightenment.
; Gradual awakening—Progressive awakening for beginners.
; (漸悟) Cũng gọi: Tiệm liễu. Đối lại: Đốn ngộ. Ngộ dần. Chỉ cho sự tu tập phải trải qua thứ lớp dần dần mới đạt tới cảnh giới triệt ngộ thành Phật. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ, phần 1 (Đại 48, 407 hạ) ghi: Có người nói: Nhân đốn tu mà tiệm ngộ (như người học bắn. Đốn nghĩa là các mũi tên đều nhắm thẳng, chủ yếu là trúng đích; Tiệm nghĩa là lâu ngày luyện tập, từ gần trúng dần dần đến trúng đích. Thuyết này là nói về việc dụng tâm đốn tu, chứ không phải nói về công hạnh mau thành). Có người nói nhân tiệm tu mà tiệm ngộ(như lên đài 9 tầng, chân bước từ tầng thấp dần dần đến tầng cao, chỗ thấy dần dần cao xa). Tông Pháp tướng cho rằng: Bồ Tát định tính không cần trải qua quá trình tu chứng Thanh văn, Duyên giác, mà vào ngay địa vị Bồ tát, đó là Bồ tát đốn ngộ; còn chủng tính bất định thì phải trải qua quá trình tu hành Thanh văn, Duyên giác, rồi mới được vào đạo Bồ tát, đó là Bồ tát tiệm ngộ. (xt. Đốn Ngộ Tiệm Ngộ).
tiệm nhiệt
Grisma (skt)—Sức nóng (ở Ấn Độ) tăng từ từ trong hai tháng, giữa tháng năm đến giữa tháng bảy—Increasing heat, the two months from middle of May to middle of July.
Tiệm thứ
漸次; C: jiàncì; J: zenji;|Tiến lên dần; giai vị tu tập tiến lên từ từ (s: upanisad, kramaśas).
tiệm thứ
Step by step, by degrees, gradually.
; Từng bước một—Step by step—By degree—Gradually.
tiệm thứ chỉ quán
(漸次止觀) Cũng gọi Tiệm thứ quán. Pháp quán tưởng từ cạn đến sâu, 1 trong 3 pháp quán do tông Thiên Thai lập ra. Pháp này giống như leo thang phải từ bậc thấp lên bậc cao, trước phải giữ 5 giới, tu 10 điều thiện, thứ đến tu các thiền định như Vô lậu, Từ bi... tiến dần đến quán xét chân lí thực tướng. Đây cũng chính là pháp Thứ đệ thiền môn do Đại sư Thiên thai Trí giả thuyết giảng ở chùa Ngõa quan. Ma ha chỉ quán quyển 1 thượng (Đại 46, 1 hạ) nói: Tiệm quán ban đầu, cũng nhằm đạt đến thực tướng, nhưng thực tướng khó hiểu, phải dần dần mới dễ thực hành. Trước tu qui giới, bỏ tà theo chính, dứt 3 đường ác, được 3 đường thiện. Kế đến tu thiền định, xé lưới tham dục tán loạn, được định Sắc, Vô sắc. Kế nữa tu Vô lậu, phá ngục 3 cõi, được đạo Niết bàn. Kế nữa, là tu Từ bi, dừng ở tự chứng, được đạo Bồ tát. Sau cùng tu quán thực tướng, xa lìa chấp trước 2 bên, được đạo Thường trụ. Đó là tướng trước cạn sau sâu, tiệm thứ chỉ quán. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10 thượng]. (xt. Tam Chủng Chỉ Quán).
Tiệm thứ 漸次
[ja] ゼンジ zenji ||| 'gradual advancement'; stages of gradual advancement (upanisad, kramaśas). Gradually. => 'Tiến lên dần'; giai vị tu tập tiến lên từ từ (s: upanisad, kramaśas).
tiệm tiến
To advance progressively.
tiệm tiệm đốn đốn
Từ từ cắt đứt (dục vọng và phiền não), đối lại với việc cắt đứt tức thời—Gradually to cut off, in contrast with sudden or instantaneous excision.
Tiệm tu
漸修; C: jiànxiū; J: senshū;|Pháp tu tiệm tiến; chỉ cho sự chuyển hoá dần tập khí phiền não thông qua thực hành Tam vô lậu học: Giới (戒, s: śīla), định (定, s: samādhi), huệ (慧, s: prajñā). Có rất nhiều giáo lí được xem là tiệm tu thật sự đã từng dẫn đến giác ngộ. Chẳng hạn có người tin rằng tiệm tu là con đường thích hợp để tiép cận sự giải thoát tối hậu. Phần nhiều các Thiền sư bác bỏ cách tiếp cận nầy, cho đó là cơ sở của nhị nguyên, nên cho đó là sai lầm. Những Thiền sư như Tông Mật (宗密) và Tri Nột (知訥, k: chinul) thừa nhận tiến trình tiệm tu, nhưng giải thích rằng đó chỉ là công phu phải thực hành sau khi đã đạt kinh nghiệm đốn ngộ (頓悟). Những các nhà tư tưởng khác như Tính Triệt (性徹, k: sŏng-ch'ŏl) phủ nhận bất kì dạng tiệm tu nào. Xem Tiệm giáo (漸教) và Đốn ngộ (頓悟) ở dưới.
tiệm tu
To cultivate gradually (Little by little or step by step).
Tiệm tu 漸修
[ja] ゼンシュ senshū ||| gradual practice; refers mainly to the gradual removal of habituation afflictions through the triple practice of morality, concentration and wisdom (śīla [chieh 戒], samādhi [ting 定], and prajñā [hui 慧]). There are numerous theories regarding the possibility of gradual practice ever truly leading to awakening. For example, some people believe that gradual practice is an appropriate avenue for the approach to eventual enlightenment. Most major Chan and Sŏn teachers reject this approach, seeing it as fundamentally dualistic, and therefore erroneous. Ch'an/Sŏn thinkers such as Tsung-mi 宗密 and Chinul 知訥accept the course of gradual practice, but explain that it is only viable after one has had an experience of sudden enlightenment 頓悟. Other thinkers, represented by such masters as Sŏngch'ŏl 性徹, reject the possibility of any sort of gradual practice whatsoever. See 漸教 below. Also see "sudden enlightenment" 頓悟. => Pháp tu tiệm tiến; chỉ cho sự chuyển hoá dần tập khí phiền não thông qua thực hành Tam vô lậu học: giới [s: śīla; c: chieh 戒], định [s: samādhic; c: ting 定], huệ [s: prajñā; c: hui 慧]). Có rất nhiều giáo lý được xem là tiệm tu thực sự đã từng dẫn đến giác ngộ. Chẳng hạn có người tin rằng tiệm tu là con đường thích hợp để tiép cận sự giải thoát tối hậu. Phần nhiều các Thiền sư bác bỏ cách tiếp cận nầy, cho đó là cơ sở của nhị nguyên, nên cho đó là sai lầm. Những Thiền sư như Tông Mật (c: Tsung-mi 宗密) và Trí Nột (k: Chinul 知訥) thừa nhận tiến trình tiệm tu, nhưng giải thích rằng đó chỉ là công phu phải thực hành sau khi đã đốn ngộ 頓悟. Những các nhà tư tưởng khác như Tính Triệt (k: Sŏngch'ŏl 性徹), phủ nhận bất kỳ dạng tiệm tu nào. Xem Tiệm giáo漸教 và Đốn ngộ 頓悟 ở dưới.
tiệm tả
(漸寫) Đối lại: Đốn tả. Viết dần. Chỉ cho văn kinh được viết chép trong nhiều ngày. Tức vì việc bố thí pháp mà viết chép thành văn kinh trong nhiều ngày, thông thường là viết chép kinh Pháphoa. [X. môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Đốn Tả).
tiệm đoạn
(漸斷) Đối lại: Đốn đoạn. Dứtdần. Tức dứt trừ phiền não dần dần trong thời gian dài. Nghĩa là đoạn trừ từ từ tất cả 81 phẩm Tu hoặc trong 3 cõi 9 địa.Luận Đại tì bà sa quyển 145 (Đại 27, 742 thượng) ghi: Có người nói rằng đó là đốn đoạn chẳng phải tiệm đoạn; vì khi Kim cương dụ định hiện tiền thì tất cả phiền não cùng lúc dứt bặt. Vì mục đích ngăn sự chấp trước của người nên phải nói Tiệm đoạn, bởi lẽ 4 quảSa môn theo thứ lớp dần dần chứng được. [X. luận Đại tì bà sa Q.19].
tiệm định
Vào định một cách từ từ, từ cạn đến sâu, từ đơn giản đến phức tạp—To enter dhyana (To concentrate) gradually, from the shallow to the deep, from the simple to the complex.
Tiện
便; C: biàn; J: ben;|Có các nghĩa sau: 1. Sự cảm ứng với cảnh giới Phật viên mãn; 2. Rất thích hợp, lí tưởng, ổn đáng, thuận lợi; 3. Giáo lí phương tiện; 4. Nương vào, sự trông cậy vào; 5. Ngay lập tức, tức thì, nhanh chóng, thanh thản, thoải mái.
tiện
1) Dễ dàng: Easy. 2) Đê tiện: Cheap. 3) Tiện lợi: Convenient and beneficial. 4) Tiện đây: So—By the way. 5) Tiện đồ vật (gỗ hay sắt thép): To lathe—To turn—Turner. 6) Tiểu tiện: To urinate or evacuate the bowels.
tiện dân
Lower classes.
tiện dịp
To take advantage of the opportunity (occasion).
tiện dụng
Convenient for use (Convenience or expedient method).
tiện lợi
Expedient—Advantageous—Serviceable—Convenient and beneficial.
tiện nghi
Comfort—Convenience.
tiện nghi vật chất
Material comforts.
tiện thiện na
Vyanjana (skt)—Biển Thiện Na—Tiện Xã Na. 1) Văn (cách dịch mới—new interpretation): Năng hiển hay làm rõ cái nghĩa—Making clear—Making distinguishing—A mark, sign or script which manifests the meanings. 2) Vị (cách dịch cũ—old interpretation): Phân biệt hay làm rõ mùi vị nầy với mùi vị kia—A taste or flavour, that which distinguishes one taste from another.
tiện thể
For convenient's sake.
tiện tặn
To economize—To save little by little.
Tiện 便
[ja] ベン ben ||| (1) Tidings of the perfect Buddha-realm. (2) Very suitable, ideal, will do, advantageous. (3) A teaching of expedient means. (4) Rely on, have recourse to. (5) Immediately, readily, promptly, easily, comfortably. => Có các nghĩa sau: 1. Sự cảm ứng với cảnh giới Phật viên mãn. 2. Rất thích hợp, lý tưởng, ổn đáng, thuận lợi. 3. Giáo lý phương tiện. 4. Nương vào, sự trông cậy vào. 5. Ngay lập tức, tức thì, nhanh chóng, thanh thản, thoải mái.
tiệp
The success of an army, victory; quick, swift, prompt, active.
tiệp kính
Compendious way, short cut.
tiệp tật la-sát
xem dạ-xoa và la-sát.
tiệp tật quỷ
Xem Dạ xoa.
Tiệp tật quỷ 捷疾鬼
[ja] ショウシツキ shōshitsuki ||| A Chinese translation of the Sanskrit term yakṣa 夜叉. => Hán dịch chữ yakṣa trong tiếng Sanskrit ( dạ-xoa夜叉).
tiệt
1) Chặt đứt—To cut off. 2) Ngăn cản: To intercept.
tiệt vũ chú
Chú cầu ngưng mưa—Incantations for the cessation of rain.
; (截雨咒) Thần chú cầu tạnh mưa. Mật chú viên nhân vãng sinh tập ghi văn chú (Đại 47, 110 thượng) như sau: Án tát lãnh mạt ma mã hợp ra ma đế ngật linh đế hồng... Chú này có thể tụng 3 biến, 7 biến hoặc 21 biến tùy ý.
toa
1) Toa xe: Waggon—Sleepng-car. 2) Toa thuốc: Prescription.
toan
To attempt—To intend to.
toan làm
To intend to do something.
toan trốn
To intend (attempt) to escape
toang
See Toác.
tom góp
To gather (bring) together—To collect.
ton hót
To flatter.
tonglen
Sending and taking, practice tong len (T)Một phương pháp hành thiền của tổ Atisha, hành giả quán tưởng nhận hết những tiêu cực của tha nhân và trả lại bằng những điều tích cực.
toà
(座) Phạm:Àsana. Hán âm: A tát nẵng. Chỉ cho tòa ngồi của Phật, Bồ tát, chư thiên, tỉkhưu, hoặc chỉ cho chỗ ngồi nói chung. Theo các kinh thì đức Thíchcamâu ni khai ngộ dưới gốc cây Bồ đề lúc Ngài ngồi trên tòa kim cương được trải bằng cỏ cát tường. Người đời sau phỏng theo tòa ngồi này mà gọi chỗ ngồi của các bậc Trưởng lão, hoặc chỗ ngồi trong pháp hội là Thảo tòa(Tòa cỏ). Lại cái vật mà hành giả sử dụng để ngồi khi tu pháp, cũng gọi là Thảo tòa. Đài tòa để an vị tượng Phật, Bồ tát được gọi là Sư tử tòa, Liên hoa tòa, Tu di tòa…... Vì Phật là bậc thù thắng nhất trong nhân gian, được ví như sư tử, chúa của muôn loài thú, cho nên đài tòa Phật ngồi được gọi là Sư tử tòa. Nhưng Mật giáo thì cho rằng Sư tử tòa là tòa ngồi có khắc hình tượng sư tử thật, chứ không phải chỉ hàm ý thí dụ. Ngoài ra, cũng có chỗ dùng con toan nghê(một giống sư tử) để ví dụ Phật mà gọi đài tòa mà Phật, Bồ tát (hoặc bậc vua chúa) ngồi là Nghê tòa; các vị Đại sư đức cao học rộng được tôn xưng là Nghê tòa hạ, từ ngữ Nghê hạ do đây mà ra. Chữ Hạ có hàm ý cúi lạy dưới tòa. Liên hoa tòa là đài tòa hình hoa sen, cũng gọi là Hoa tòa, Hoa đài. Trong kinh Quán vô lượng thọ có nói đức Phật A di đà và 2 vị bồ tát Quan âm, Thế chí đều ngồi trên hoa sen báu và những người được vãng sinh thuộc 9 phẩm cũng ngồi trên hoa sen ở Tịnh độ. Ngoài ra, trong Mật giáo, Đại nhật Như lai của Kim cương giới ngồi trên tòa sư tử, A súc Như lai ngồi trên tòa voi, Bảo sinh Như lai ngồi tòa ngựa, Phật A di đà ngồi tòa chim công, Bất Không thành tựu Như Lai ngồi tòa chim cánh vàng, bồ tát Phổ hiền ngồi tòa voi trắng, bồ tát Văn thù ngồi tòa sư tử, còn chư thiên thì ngồi trên tòa hình lá sen. Tòa Tu di là đài tòa phỏng theo hình núi Tu di, đài tòa lớn gọi là Tu di đàn. Các sư thuyết pháp, thuyết giới và giảng sư trong pháp hội thông thường ngồi trên tòa cao. Trong Thiền tông, khi thuyết pháp, giảng sư bước lên tòa cao, gọi là Thăng tòa. Còn vật ngồi của chư tăng thì có giường dây, ghế dựa…... Chia nửa chỗ cho người khác ngồi gọi là Phân tòa. Trong kinh Trung bản khởi quyển hạ có nói đức Thích tôn nhường nửa chỗ ngồi cho ngài Ca diếp, còn trong kinh Pháp hoa quyển 4 cũng có thuyết đức Phật Đa bảo nhường nửa tòa ngồi cho đức Thích tôn. Vị thủ tọa trong Thiền tông thay thế Trụ trì đảm nhiệm một phần việc giáo hóa cũng gọi là Phân tòa; Thủ tọa thay thế trụ trì nói pháp cho đại chúng nghe thì gọi là Phân tòa thuyết pháp. Ngoài ra, tòa còn được dùng như một đơn vị để đếm tượng Phật hoặc đếm số lần thuyết pháp. [X. kinh Tạp a hàm Q.41; kinh Phật bản hạnh Q.3; phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa Q.6; phẩm Tựa kinh Đại phẩm Bát nhã Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Tôn thắng Phật đính tu du già pháp nghi quĩ Q. thượng; luận Đại trí độ Q.7, 8].
toà chủ
(座主) I. Tòa Chủ Chỉ cho người có học vấn và đức hạnh, xứng đáng là bậc Thượng thủ ở trong chúng; hoặc chỉ cho vị chỉ đạo,Trụ trì một ngôi chùa. II. Tòa Chủ Cũng gọi Tọa chủ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. TrongThiền lâm, vị tăng giảng kinh từ phương xa đến tham vấn thường được gọi là Tòa chủ. Chương Giang tây Đạo nhất thiền sư trongCảnh đức truyền đăng lục quyển 6 (Đại 51, 246 trung) nói: Có một vị giảng tăng đến hỏi rằng: Chẳng hay Thiền tông truyền trì pháp gì? Sư liền hỏi lại: Thế tòa chủ truyền pháp gì? III. Tòa Chủ Tại Nhật bản, người chủ quản một ngôi chùa lớn được gọi là Tòa chủ, thông thường do Chính phủ ra lệnh bổ nhiệm.
toà công đức
(座功德) Một trong 8 công đức của Phật thuộc 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc; tức chỉ cho vẻ trang nghiêm mầu nhiệm của đài hoa sen màđức PhậtA di đà ngồi. Đài hoa Đại bảo vương vô lượng thanh tịnh vi diệu nói trong luận Tịnh độ, tức chỉ cho tòa này. Tịnh độ luận chú có nói rõ về sự trang nghiêm của tòa này, cho rằng đây là đài hoa thanh tịnh mầu nhiệm do vô lượng thứ báu đan dệt vào nhau mà hình thành. Các thứ báu chẳng phải một nên nói là Vô lượng; châu ma ni trang sức cho tòa này là thứ quí báu nhất trong các thứ báu, nên gọi là Đại bảo vương. Vì tòa này là do Đại bảo vương tạo thành nên gọi là Vi diệu tịnh hoa đài. [X. Hoa tòaquán trong kinh Quán vô lượngthọ; Tịnh độ luận tùy thích].
toà nguyên
(座元) Cũng gọi Thủ tọa, Đệ nhất tọa. Chỉ cho chỗ ngồi đầu tiên trong các chỗ ngồi ở Tăng đường. [X.điều Tạquảiđáp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5].
toà quang
(座光) Cũng gọi: Quang tòa. Chỉ cho đài tòa và viên quang. Tức phía sau tượng Phật, Bồ tát, Công đức thiên…... thường có vầng hào quang tròn bao quanh. [X.kinh Đà la ni tập Q.11].
toà thang
(座湯) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tiệc nước. Có Đại, Tiểukhác nhau. Như vị Khố ti(chủ kho) mời toàn thể đại chúng trong chùa dự tiệc vào 4 tiết, gọi là Đại tòa thang. Vào cuối hạ, đặc biệt mời tất cả mọi người phục dịch trong hạ tham dự, gọi là Tiểu tòa thang. [X. môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên].
toà vong
(座忘) Cũng gọi Tọa vong. Ngồi quên. Tức lúc ngồi thiền quên hẳn cái thế giới trước mắt trong đó mình đang sống. Đạo gia từ xưa cũng có thuyết Tòa vong, chỉ cho trạng thái ngồi yên lặng mà đạt đến cảnh giới quên mình, cùng với ý vị mầu nhiệm của nhà Phật, nhờ tọa thiền mà quên hết cảnh vật nhân ngã, có chỉ thú tương đồng. (xt. Tọa Vong).
toà đầu
(座頭) I. Tòa Đầu Chỉ cho người ở đầu hàng phía bên phải. II. Tòa Đầu Gọi đủ: Tòa đầu bình phong. Cũng gọi: Cánh bản. Bức bình phong nhỏ cao khoảng 1m được đặt ở chỗ ngồi đầu tiên tại 2 bên cửa. [X.mônKhí vật trong Thiềnlâm tượng khí tiên].
Toàn
旋; C: xuán; J: sen;|1. Đi quanh, quay trở lại, quay tròn, quay xung quanh, di chuyển quanh một quỹ đạo; 2. Xoáy nước; 3. Sự trở về, trở lại; 4. Chẳng bao lâu, ngay sau đó.
toàn
Complete—All—Whole.
toàn bộ
Whole.
toàn chân giáo
(全真教) Cũng gọi Toàn chân đạo, Toàn chân phái.Tên một giáo phái của Đạo giáo tại Trung quốc. Toàn chân giáo và Chính nhất đạo là 2 phái lớn của Đạo giáo từ đời Nguyên về sau. Tổ khai sáng là Vương trùng dương, tương truyền từng được dị nhân Lã đồng tân trao cho đạo bí mật mà sáng lập giáo phái này vào năm Đại định thứ 7 (1167) đời Kim tại am Toàn chân ở Ninh hải thuộc tỉnh Sơn đông. Ông cho rằng Biết tâm thấy tính tức là toàn chân, đồng thời chủ trương Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo bình đẳng hợp nhất, đem trung hiếu của Nho, giới luật của Phật và vạc thuốc của Đạo để hòa tan, nấu chảy trong một lò, loại trừ các yếu tố chú thuật, mê tín, xem trọng tọa thiền, tu trì. Ông có bảy người đệ tử lớn, gọi là Thất chân nhân, về sau 7 người này sáng lập ra 7 Chân phái như: Ngộ tiêu, Nam vô...…, trong đó, Khâu xử cơ ở Long môn từng được Vua Thái tổ nhà Nguyên mời đến gặp, ban hiệu là Thần tiên, đồng thời vâng mệnh trông coi Đạo giáo trong nước, nhờ thế mà Toàn chân giáo được truyền bá rộng rãi, cực thịnh một thời. Từ các đời Minh, Thanh về sau, giáo phái này dần dần suy vi.
toàn diện
Total.
toàn già phu tọa
Thế ngồi kiết già, bàn chân nầy đặt lên đùi kia và ngược lại—The legs completely crossed as in a completely seated image.
toàn giác
Tathàgata (S). One who has found the Truth, Buddha.
; Full enlightenment—Buddhahood.
toàn giác phật
Perfect Buddha
toàn hoát
(全奯) Cũng gọi Toàn khoát. Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Nam an, tỉnh Phúc kiến, họ Kha. Sư và các ngài Tuyết phong Nghĩa tồn, Khâm sơn Văn thúy là bạn đồng tu, giúp đỡ lẫn nhau, cùng tham phỏng ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch, lại tham học ngài Đức sơn Tuyên giám và được nối pháp của ngài. Sau, sư mở rộng tông phong ở núi Ngọa long (Nham đầu) gần hồ Động đình, vì thế nên sư còn được gọi là Nham đầu Toàn khoát. Tháng 4 năm Quang khải thứ 3 (887) đời Đường, quân giặc nổi loạn, mặc dù bị đâm chết nhưng sư vẫn an nhiên tự tại, hét to một tiếng rồi tịch, thọ 60 tuổi, thụy hiệu là Thanh Nghiễm Đại Sư. [X. Tống cao tăng truyện Q.23; Tổ đường tập Q.7; Cảnh đức truyền đăng lục Q.16 ].
Toàn hoả luân
旋火輪; C: xuánhuŏ lún; J: senkarin;|Khi cầm một sợi dây hay cây gậy bằng lửa quay quanh, trông giống như có một vòng lửa. Được dùng trong kinh Viên Giác để ẩn dụ cho tính vọng tưởng của chúng sinh.
toàn khoát nham đầu thiền sư
Thiền Sư Toàn Khoát Nham Đầu sanh năm 828 tại Tuyền Châu. Sư thọ cụ túc giới tại chùa Bảo Thọ tại Trường An. Sư là môn đồ và là người kế vị Pháp của ngài Đức Sơn Tuyên Giám. Ông là thầy của Đoan Nham Sư Nhan. Tên ông được nhắc đến trong thí dụ thứ 13 của Vô Môn Quan và hai thí dụ 51 và 66 của Bích Nham Lục—He was born in 828 in Quan-Chou. He received full precepts at Bao-Shou Temple in Chang-An. He was a student and Dharma successor of Te-Shan-Hsuan-Chien. Yan-T'ou appears in example 13 of the Wu-Men-Kuan and in examples 51 and 66 of the Pi-Yen-Lu. • Nham Đầu Toàn Khoát nổi tiếng về cái nhìn và tinh thần sắc xảo—Yan-T'ou was known for his clear and sharp mind. • Sư dạo khắp các thiền uyển, kết bạn cùng Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Khâm Sơn Văn Thúy. Từ núi Đại Từ sang Lâm Tế, Lâm Tế đã qui tịch, đến yết kiến Ngưỡng Sơn. Vừa vào cửa, sư đưa cao tọa cụ, thưa: “Hòa Thượng.” Ngưỡng Sơn cầm phất tử toan giở lên. Sư thưa: “Chẳng ngại tay khéo.”—Yan-T'ou, Xue-Feng, and Qin-Shan went traveling to visit Lin-Ji, but they arrived just after Lin-Ji had died. They went to Mount Yang. Yan-T'ou entered the door, picked up a sitting cushion, and said to Zen master Yang-Shan: “Master.” Before Yang-Shan could raise his whisk into the air, Yan-T'ou said: “Don't hinder an adept!” • Đến tham yết Đức Sơn, sư cầm tọa cụ lên pháp đường nhìn xem. Đức Sơn hỏi: “Lão Tăng có lỗi gì?” Sư thưa: “Lưỡng trùng công án.” Sư trở xuống nhà tham thiền. Đức Sơn nói: “Cái ông thầy in tuồng người hành khất.”—Yan-T'ou went to study with Te-Shan. There, Yan-T'ou took a meditation cushion into the hall and stared at Te-Shan. Te-Shan shouted and said: “What are you doing?” Yan-T'ou shouted. Te-Shan said: “What is my error?” Yan-T'ou said: “Two types of koans.” Yan-T'ou then went out. Te-Shan said: “This fellow seems to be on a special pilgrimage.” • Hôm sau lên thưa hỏi, Đức Sơn hỏi: “Xà Lê phải vị Tăng mới đến hôm qua chẳng?” Sư thưa: “Phải.” Đức Sơn bảo: “Ở đâu học được cái rỗng ấy?” Sư thưa: “Toàn Khoát trọn chẳng tự dối.” Đức Sơn bảo: “Về sau chẳng được cô phụ lão Tăng.”—The next day, during a question-and-answer period, Te-Shan asked Yan-T'ou: “Did you just arrive here yesterday?” Yan-T'ou said: “Yes.” Te-Shan said: “Where have you studied to have come here with an empty head?” Yan-T'ou said: “For my entire life I won't deceive myself.” Te-Shan said: “In that case, you won't betray me.” • Hôm khác đến tham vấn, sư vào cửa phương trượng đứng nghiêng mình hỏi: “Là phàm là Thánh?” Đức Sơn hét! Sư lễ bái. Có người đem việc ấy thuật lại cho Động Sơn nghe. Động Sơn nói: “Nếu chẳng phải Thượng Tọa Khoát rất khó thừa đương.” Sư nghe được lời nầy bèn nói: “Ông già Động Sơn chẳng biết tốt xấu lầm buông lời, ta đương thời một tay đưa lên một tay bắt.”—One day, when Yan-T'ou was studying with Te-Shan, Yan-T'ou stood in the doorway and said to Te-Shan: “Sacred or mundane?” Te-Shan shouted. Yan-T'ou bowed. A monk told Tong-Shan about this. Tong-Shan said: “If it wan't Yan-T'ou, then the meaning couldn't be grasped.” Yan-T'ou said: “Old Tong-Shan doesn't know right from wrong. He's made a big error. At that time I lifted up with one hand and pushed down with one hand.” • Tuyết Phong ở Đức Sơn làm trưởng ban trai phạn (phạn đầu). Một hôm cơm trễ, Đức Sơn ôm bát đến pháp đường. Tuyết Phong phơi khăn lau, trông thấy Đức Sơn bèn nói: “Ông già nầy, chuông chùa chưa kêu, trống chưa đánh mà ôm bát đi đâu?”—Xue-Feng was working at Mount Te as a rice cook. One day the meal was late. Te-Shan appeared carrying his bowl to the hall. When Xue-Feng stepped outside to hang a rice cloth to dry, he spotted Te-Shan and said: “The bell hasn't been rung and the drum hasn't sounded. Where are you going with your bowl?” • Đức Sơn trở về phương trượng. Tuyết Phong thuật việc nầy cho sư nghe. Sư bảo: “Cả thảy Đức Sơn chẳng hiểu câu rốt sau.”—Te-Shan then went back to the abbot's room. Xue-Feng told Yan-T'ou about this incident. Yan-T'ou said: “Old Te-Shan doesn't know the final word.” • Đức Sơn nghe, sai thị giả gọi sư đến phương trượng, hỏi: “Ông chẳng chấp nhận lão Tăng sao?” Sư thưa nhỏ ý ấy—When Te-Shan heard about this, he had his attendant summon Yan-T'ou. Te-Shan then said to Yan-T'ou: Don't you agree with me?” Yan-T'ou then told Te-Shan what he meant by his comments. Te-Shan then stopped questioning Yan-T'ou. • Đến hôm sau, Đức Sơn thượng đường có vẻ khác thường. Sư đến trước nhà Tăng vỗ tay cười to, nói: “Rất mừng! Ông già Đường Đầu biết được câu rốt sau, người trong thiên hạ không bì được ông, tuy nhiên chỉ sống được ba năm (quả nhiên ba năm sau Đức Sơn tịch)—The next day, Te-Shan went into the hall and addressed the monks. What he said was quite unlike his normal talk. Afterward, Yan-T'ou went to the front of the monk's hall, clapped his hands, laughed out loud and exclaimed: “I'm happy that the old fellow who's the head of the hall knows the last word after all.” • Một hôm sư cùng Tuyết Phong, Khâm Sơn ba người họp nhau, bỗng dưng Tuyết Phong chỉ một chén nước. Khâm Sơn nói: “Nước trong, trăng hiện.” Tuyết Phong nói: “Nước trong, trăng chẳng hiện.” Sư đá chén nước rồi đi. Từ đó về sau, Khâm Sơn đến Động Sơn. Sư và Tuyết Phong nối pháp Đức Sơn—One day, Yan-T'ou was talking with Xue-Feng and Qin-Shan. Xue-Feng suddenly pointed at a basin of water. Qin-Shan said: “When the water is clear the moon comes out.” Xue-Feng said: “When the water is clear the moon does not come out.” Yan-T'ou kicked over the basin and walked away. • Sư cùng Tuyết Phong đến từ Đức Sơn. Đức Sơn hỏi: “Đi về đâu?” Sư thưa: “Tạm từ giả Hòa Thượng hạ sơn.” Đức Sơn hỏi: “Con về sau làm gì?” Sư thưa: “Chẳng quên.” Đức Sơn hỏi: “Con nương vào đâu nói lời nầy?” Sư thưa: “Đâu chẳng nghe 'Trí vượt hơn thầy mới kham truyền trao, trí ngang bằng thầy kém thầy nửa đức.'” Đức Sơn bảo: “Đúng thế! Đúng thế! Phải khéo hộ trì.” Hai vị lễ bái rồi lui ra—One day, Yan-T'ou and Xue-Feng were leaving the mountain. Te-Shan asked: “Where are you going?” Yan-T'ou said: “We're going down off the mountain for awhile.” Te-Shan said: “What are you going to do later?” Yan-T'ou said: “Not forget.” Te-Shan said: “Why do you speak thus?” Yan-T'ou said: “Isn't it said that only a person whose wisdom exceeds his teacher's is worthy to transmit the teaching, and one only equal to his teacher has but half of his teacher's virtue?” Te-Shan said: “Just so. Just so. Sustain and uphold the great matter.” The two monks bowed and left Te-Shan. • Khi Đức Sơn mất, Toàn Khoát được 35 tuổi, ông đã trải qua sự cô đơn ít lâu. Sau đó các học trò tụ tập lại xung quanh ông, và ông trở thành viện trưởng một tu viện lớn—When Te-Shan died, Yan-T'ou was thirty-five years old. After he had lived in solitude for some time, students began to gather around him and he became the abbot of a large monastery. • Một lần vị Tăng hỏi: “Không thầy lại có chỗ xuất thân chăng?” Sư đáp: “Trước tiếng lông xưa nát.” Vị Tăng nói: “Kẻ đường đường đến thì sao?” Sư nói: “Đâm lủng con mắt.” Vị Tăng hỏi: “Thế nào là ý Tổ Sư từ Ấn sang?” Sư đáp: “Dời ngọn núi Lô đi, ta sẽ vì ông nói.”—Once a monk asked: “Without a teacher, is there still a place for the body to manifest or not?” Yan-T'ou said: “Before the sound, an old ragged thief.” The monk said: “When he grandly arrives, then what?” Yan-T'ou said: “Pokes out the eye.” A monk asked: “What is the meaning of the Patriarch's coming from the west?” Yan-T'ou said: “When you move Mount Lu to this place, I'll tell you.” • Trong thời hổn loạn vào cuối đời nhà Đường. Một hôm các toán cướp tấn công tu viện; được báo trước, các sư khác đều chạy trốn, chỉ có thầy Nham Đầu ở lại. Khi bọn giặc đến, lúc sư còn đang chìm sâu trong đại định, chúng trách sư không có gì dâng biếu, cũng như không tìm thấy được gì trong tự viện, tên đầu đảng bèn đâm sư. Thần sắc sư không đổi, chỉ rống lên một tiếng rồi chết. Tiếng ấy vang xa đến mười dậm. Tiếng kêu ấy theo truyền thống thiền Trung Quốc được biết dưới tên gọi là “Tiếng Thét Nham Đầu,” là điều bí ẩn với nhiều môn đồ thiền về sau nầy, vì nó trái với quan niệm sống chết của một người thầy. Đăc biệt đại sư Bạch Ẩn cũng thấy như vậy. Chỉ khi ngài đã đạt được đại giác sâu, ngài mới hiểu được ý nghĩa của tiếng kêu ấy và thốt lên rằng: “Yan-T'ou đang sống thật, đầy khỏe mạnh.”—It was a chaotic period during the decline of the T'ang dynasty. One day, robber bands local bandits came to attack the temple. Other monks, forewarned, fled; only Master Yan-T'ou remained in the monastery. The bandits found him sitting in meditation, disappointed and engraged because there was no booty (của cướp được) there, the head of the bandits brandished his knife and stabbed Yan-T'ou. Yan-T'ou remained composed, then let out a resounding scream and died. The sound was heard for ten miles around. The sound is renowned in the tradition as “Yan-T'ou's cry.” This cry has presented a knotty problem to many Zen students for so long, whose conception of the life and death of a Zen master this story did not match. This was also the case for the great Japanese master, Hakuin Zenji. Only when Hakuin had realized enlightenment did he understand, and he cried out: “Truly, Yan-T'ou is alive, strong and healthy.” • Sư Nham Đầu thị tịch nhằm ngày mồng tám tháng tư năm 887 sau Tây Lịch—Yan-T'ou died on the eighth day of the fourth month of the year 887 A.D.
toàn lực
All of one's strength—All forces.
toàn mỹ
Perfect beauty.
toàn năng
Almighty—Omnipotent.
toàn phúc
Complete happiness
toàn phần
Complete.
toàn phần giới
Giới thọ trì toàn phần từ ngũ giới cho đến cụ túc giới—Fully ordained by receiving all the commandments (from five to full commandments).
; (全分戒) Thụ trì toàn bộ 5 giới, 10 giới, gọi là Toàn phần giới.Nếu chỉ thụ trì một điều giới trong đó thì gọi là Nhất phần giới. Còn người thụ trìtoàn phần giới thì gọi là Toàn phần thụ. [X.phẩm Đại chúng thụ học trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q. hạ].
toàn phần nhất phần
(全分一分) Tiếng dùng trong Nhân minh. Toàn phần là chỉ cho toàn thể sự vật. Như nói về danh tướng chẳng hạn, nếu nêu ra một danh tướng mà có thể chỉ ra toàn thể sự vật, hoặc có thể nói chung cho tất cả danh tướng liên hệ thì đó gọi là Toàn phần. Ngược lại, nếu chỉ nói được một bộ phận trong các danh tướng ấy, hoặc chỉ nói được một danh tướng trong nhiều loại danh tướng thì gọi là Nhất phần. Toàn phần và Nhất phần trong Nhân minh cũng gần giống với ý nghĩa Toàn xưng và Đặc xưng trong Luận lí học(logic). Như trong Ngã là vô thường, Tất cả lời nói đều là vọng thì 2 danh từ Ngã và Lời nói bao quát toàn thể, phù hợp với danh từ Toàn xưng của Luận lí học. Nhưng Toàn xưng và Đặc xưng của Luận lí học nghiêng nặng về hình thức; trong khi Toàn phần, Nhất phần của Nhân minh thì nghiêng nặng về thực chất. Toàn phần thì hoặc dùng một danh tướng để nói về toàn thể sự vật, hoặc nói chung nhiều danh tướng liên hệ; còn Nhất phần thì hoặc chỉ cho một bộ phận của danh tướng, hoặc chỉ cho phần ít của nhiều loại danh tướng, đều thuộc về hàm nghĩa bên trong, không quan hệ gì với hình thức. Lại nữa, Toàn phần có ý nghĩa toàn bộ, Nhất phần có ý nghĩa bộ phận. Như nói A và B có quan hệ toàn phần, tức biểu thị mối quan hệ toàn bộ giữa A và B; còn nói Nhất phần quan hệ thì biểu thị chỉ có một bộ phận quan hệ giữa A và B mà thôi. [X. Nhân minh đại sớ lê trắc (Trầnđại tề)].
toàn thiện
Perfect.
toàn thân
The whole body.
toàn thắng
Total (complete) victory.
toàn thể
All—Complete—Entire.
toàn thức
See Toàn trí.
toàn thực
Total eclipse.
toàn tri
Xem Nhất thiết trí.
toàn trí
Omniscent—Perfect knowledge or wisdom (by which a man become a Buddha).
toàn tài
Perfect talent.
Toàn Tông
(全宗, Zenshū, 1528-1596): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới hai thời đại Chiến Quốc và An Thổ Đào Sơn, húy là Toàn Tông (全宗), hiệu Đức Vận Viện (德運院), Đức Vận Hiên (德運軒), Thí Dược Viện (施藥院); xuất thân vùng Giáp Hạ (甲賀, Kōga), Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]), thuộc dòng họ Đơn Ba (丹波). Ông xuất gia ở Hoành Xuyên (横川, Yokogawa) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), chuyên tâm tu học hai môn Giáo Quán. Vào năm 1571, trong trận binh hỏa do Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga, 1534-1582) gây nên, toàn thể chúng sơn tăng đều phải ly tán, vì vậy ông hoàn tục, làm nghề Y Sĩ. Về sau, ông phục vụ cho Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi, 1537-1598), được phong làm Chánh Tứ Phẩm. Lần thứ hai ông xuất gia, trú tại Dược Thọ Viện (藥樹院), chuyên đi giáo hóa các địa phương, tận lực phục hưng lại Giới Đàn Viện (戒壇院) cũng như các gian nhà trên Tỷ Duệ Sơn.
toàn tế
(全祭) Phạm: Sarvamedha. Cũng gọi Chư từ. Một loại tế lễ được cử hành trước khi xuất gia của tăng lữ Bà la môn giáo, Ấn độ. Thời gian cử hành kéo dài trong 10 ngày. Người yêu cầu tế lễ đem tài sản và vợ con, quyến thuộc bố thí cho Bà la môn cử hành tế lễ, sau đó một mình đi đến rừng sâu tu đạo. Tất cả những vị tăng du phương đều phải cử hành loại tế lễ này.
toàn vẹn
Perfect—Flawless.
toàng hoạc
See Toác.
toác
Wide-open.
toái
1) Nghiền nát: Broken—Fragments. 2) Phiền toái—Troubled.
toái thân xá lợi
Xá lợi còn lại sau lễ trà tỳ—Relics of a cremated body.
; (碎身舍利) Chỉ cho xương còn lại sau khi xác thân đã bị thiêu; hoặc chỉ cho di cốt sau khi thiêu được chia ra để thờ ở nhiều nơi. Như xá lợi của Phật Thích ca là Toái thân xá lợi. Còn như xá lợi của Phật Đa bảo ở trong tháp Đa bảo thì là Toàn thân xá lợi.[X.phẩm Thường vô thường trong kinh Bồ tát xử thai Q.3; Pháp uyển châu lâm Q.40]. (xt. XáLợi).
Toái 碎
[ja] サイ sai ||| (1) Smash into tiny bits, pound, grind, pulverize. (2) Be pulverized, smashed into particles. => 1. Vỡ ra từng mảnh nhỏ, nghiền nát, xay vụn, tán thành bột. 2. Bị nghiền vụn, bị tan thành tứng mảnh nhỏ.
toán
1) Tính toán: Mathemetics—To reckon—To count—To calculate. 2) Toán nhóm: Team—Party—Crew—Group. 3) Toán số: To count numbers, to count, to number.
toán sa pháp môn
(算沙法門) Pháp môn đếm cát. Pháp môn này do Đồng tử Thiệntài học được từthiện tri thứcTự tại chủ, 1 trong 55 vị Thiện tri thức mà Đồng tử đến tham vấn. Tự tại chủ từng học được pháp môn Thư toán tự ấn từ ngài Văn thù sư lợi và nhập vào pháp môn Công xảo thần thông trí, có năng lực biết tất cả pháp môn, chữa được các chứng bệnh như bệnh phong, gầy ốm, quỷ ám...…, có năng lực tạo lập các thành ấp, vườn rừng, quán đài, thạo tất cả các nghề như làm ruộng, buôn bán...… lại khéo biết rõ thân tướng của chúng sinh do làm thiện hay tạo ác mà sẽ sinh vào đường thiện hay đường ác, cũng biết rõ toán pháp của Bồ tát, nghĩa là cứ 100 lạc xoa thì bằng 1 câu chi, câu chi nhân với câu chi là 1 a dữu đa, cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết chuyển, vì toán pháp này có thể đếm biết được có bao nhiêu hạt cát trong 1 đống cát rộng lớn bằng vô lượng do tuần, cũng có thể tính biết được tất cả các loại thế giới khác nhau. Do việc 10 nghìn đứa trẻ vun cát thành đống để chơi đùa trên bãi sông, y cứ vào pháp môn này mà tính biết được các pháp xứ, giới...… ở thế gian, cho đến toán pháp của Bồ tát, nên gọi là Toán sa pháp môn.[X. phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa Nghiêm Q.65 (bản 80 quyển)].
Toán số 算數
[ja] サンジュ sanju ||| To count, count up, add up, calculate (gaṇana, gaṇita). => Đếm, tính; việc đếm; thêm vào, tính toán (s: gaṇana, gaṇita).